Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18 TN-C Bài 51-100 Người giàu khờ dại

Thứ hai - 29/07/2019 09:21
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18 TN-C Bài 51-100 Người giàu khờ dại
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18 TN-C Bài 51-100 Người giàu khờ dại
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18 TN-C Bài 51-100 Người giàu khờ dại
TN18-C51. Hạnh phúc không nơi tiền của. 2
TN18-C52. Nâng cao chất lượng cuộc sống–ĐTGM. Ngô q. Kiệt 4
TN18-C53. Dồ dại! 6
TN18-C54. Hãy làm giàu trước mặt Thiên Chúa. 7
TN18-C55. TÌM SỰ AN TOÀN VĨNH CỬU.. 11
TN18-C56. Phù Vân. 14
TN18-C57. PHÙ VÂN, QUẢ LÀ PHÙ VÂN! 17
TN18-C58. THEO CHÚA.. 21
TN18-C59. LƯƠNG THỰC SỐNG.. 23
TN18-C60. CƠM BÁNH TÌNH THƯƠNG.. 25
TN18-C61. CỘNG TÁC VỚI CHÚA.. 27
TN18-C62. QUẢNG ĐẠI 28
TN18-C63. TRÊN ĐỈNH PHÙ VÂN! 30
TN18-C64. Tiền bạc và giàu sang. 33
TN18-C65. Suy niệm của Charles E. Miller 34
TN18-C66. Bao nhiêu mới đủ - McCarthy. 36
TN18-C67. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin. 38
TN18-C68. Chú giải của Noel Quesson. 39
TN18-C69. Lòng ham hố của cải - R. Gutzwiller 43
TN18-C70. Chú giải của Lm Vũ Phan Long. 46
TN18-C71. SUY NIỆM CHỦ NHẬT XVIII 50
TN18-C72. Đừng tham muốn cách ích kỷ. 52
TN18-C73. THẾ NÀO LÀ LÀM GIẦU ?. 56
TN18-C74. BẤP BÊNH.. 58
TN18-C75.  Chúa Nhật 18 quanh năm.. 62
TN18-C76. Thánh ca và lời nguyện mở đầu. 67
TN18-C77. CHÚA NHẬT 18 QUANH NĂM... 69
TN18-C78. CUỘC ĐỜI LÀ PHÙ VÂN.. 73
TN18-C79. MỘT CƠ HỘI LÀM GIÀU.. 75
TN18-C80. LÀM GIẦU.. 81
TN18-C81. LÀM GIẦU TRƯỚC THIÊN CHÚA.. 83
TN18-C82. Lời cảnh giác về sự giàu có. 85
TN18-C83. ĐỔI MỚI CUỘC ĐỜI 87
TN18-C84. KHÔN CHỌN NƯỚC TRỜI, DẠI CHỌN HỎA NGỤC.. 93
TN18-C85. ĐỜI SỐNG CHẲNG NHỜ NƠI CỦA CẢI 95
TN18-C86. Chúa Nhật 18 Thường niên. 98
TN18-C87. TÍCH LŨY KHO TÀNG TRÊN TRỜI 100
TN18-C88. CHÚA NHẬT 18 TN C.. 101
TN18-C89. SỐNG SIÊU NHIÊN.. 103
TN18-C90. "HÃY GIỮ MÌNH KHỎI MỌI THỨ THAM LAM". 104
TN18-C91: SỐNG SIÊU THOÁT.. 107
TN18-C92: CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN.. 108
TN18-C93: CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN.. 112
TN18-C94: CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN.. 116
TN18-C95: ĐI TÌM HẠNH PHÚC.. 118
TN18-C96: BIẾT THẾ NÀO ĐỦ LÀ ĐỦ VẬY! 121
TN18-C97: PHÙ VÂN.. 125
TN18-C98: ÔNG PHÚ HỘ NGU DẠI 127
TN18-C99: ĐIỀU GÌ LÀM CHO TÔI NÊN GIẦU CÓ TRƯỚC MẶT CHÚA.. 129
TN18-C100: Mức độ của đời sống như là giá trị lớn nhất 133

 

TN18-C51. Hạnh phúc không nơi tiền của

“Những của cải ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai!”
 

Chúng ta thường nói: “Đồng tiền nối liền khúc ruột”. Tiền của cần cho sự sống, cho việc sống: TN18-C51

Chúng ta thường nói: “Đồng tiền nối liền khúc ruột”. Tiền của cần cho sự sống, cho việc sống đạo nữa. Có thực mới vực được đạo.
Thái độ của Chúa Giêsu đối với tiền bạc như thế nào? Chúa không ngại nói đến tiền bạc. Ngài nói đến như một thứ cần dùng, có giá trị nữa. Ngài nói đến người đàn bà đánh mất một đồng bạc, thắp đèn quét nhà tìm kiếm, kiếm được vội chạy đi khoe đầu làng cuối xóm. Ngài nói đến người đầy tớ nhận năm nén bạc làm lợi thành mười và Ngài khen là đầy tớ tốt và trung tín.
Đành rằng Phúc Âm không cho biết Chúa Giêsu có cầm tiền không? Nhưng không lạ, nếu Ngài cũng dùng tiền như mọi người. Các tông đồ có một túi tiền chung do Giuđa giữ và Chúa dạy đi mua sắm (Ga 12,6; 13,29). Chúa sống trong thế giới Do thái tiền bạc và Ngài là nạn nhân tiền bạc, Ngài bị bán với giá 30 đồng.
Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa dạy dùng tiền nhưng đừng ham tiền. Hạnh phúc con người không lệ thuộc vào tiền của. Và Chúa kể câu chuyện người giàu có thiếu khôn ngoan, xây mộng vàng hạnh phúc trên tiền của rồi chết bất ưng. Chúa kết luận: “Đồ ngốc! ngay đêm nay, người ta sẽ đòi ngươi trả lại hồn ngươi, mọi điều ngươi đã soạn kia sẽ về tay ai?”. Và thánh Luca kết luận bằng một câu, có lẽ lấy ở nơi khác: “Như thế đó, kẻ lo chất kho cho mình, mà không biết làm giàu nơi Thiên Chúa”.
Năm 1923, tại Chicago, có hội nghị các thương gia Mỹ. Chín người được coi là thành công nhất, trong số có ông chủ hãng thép, điện, xăng, hỏa xa, ngân hàng International Settlement. Nhưng mà, gần hết các ông vua tiền ấy đã kết thúc cuộc đời trong cảnh nghèo túng, thất vọng hay đã tự tử.
Thánh Phaolô nói: “Vì tham tiền là cội rễ mọi sự dữ. Cầu thỏa lòng tham, thì có kẻ đã lạc xa đức tin và bị bao nỗi đớn đau xâu xé” (1Tm 6,10).
Lạy Chúa, muôn loài ngước mắt trông lên Chúa, và chính Ngài đúng bữa cho ăn. Khi Ngài rộng mở tay ban, là bao sinh vật muôn vàn thoả thuê (Tv 144).

 

TN18-C52. Nâng cao chất lượng cuộc sống–ĐTGM. Ngô q. Kiệt

Từ khi cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới ít chú ý đến chính trị. Mọi nỗ lực đều tập trung vào: TN18-C52 FB

Từ khi cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới ít chú ý đến chính trị. Mọi nỗ lực đều tập trung vào phát triển kinh tế. Xưa kia, nước mạnh dùng sức mạnh quân sự để áp chế những nước yếu. Ngày nay những nước giàu dùng sức mạnh kinh tế để chèn ép những nước nghèo. Kinh tế trở thành một sức mạnh. Tiền bạc trở thành một vũ khí lợi hại. Chính vì thế ai cũng mong làm ăn phát đạt để trở nên giàu có. Thế mà Lời Chúa trong các bài đọc hôm nay dường như đi ngược chiều với xã hội. Phải chăng Chúa chống lại sự phát triển, sự sung túc thịnh vượng của xã hội?
Nếu đọc kỹ Lời Chúa và quan sát đời sống của Chúa Giêsu, ta sẽ thấy.
1) Chúa Giêsu xuống trần gian không nhằm giải quyết vấn đề kinh tế.
Khi người thanh niên đến xin Người phân xử vụ chia gia tài, Người đã trả lời: “Ai đặt ta làm quan án cho các ngươi?” Người đến không phải để giải quyết các vấn đề kinh tế. Việc phân chia tài sản là việc giữa con người với nhau.
Sau khi chứng kiến phép lạ bánh hoá ra nhiều, dân chúng muốn tôn Đức Giêsu lên làm vua. Nhưng Người đã lánh đi nơi khác. Người muốn cho con người thoát ra khỏi lãnh vực vật chất trong cuộc sống.
2) Chúa Giêsu muốn nâng cao chất lượng cuộc sống.
Tuy không quan tâm đến vấn đề kinh tế, nhưng Chúa Giêsu không chống lại việc làm giàu, tích lũy của cải. Người chỉ muốn cho việc tích lũy của cải có một ý nghĩa.
Khi nói với đám đông: “Anh em phải coi chừng, phải tránh xa mọi thứ tham lam, vì dẫu có dư giả thì mạng sống con người cũng không nhờ của cải mà được bảo đảm đâu”, Chúa Giêsu muốn cho ta hiểu: đời sống đâu chỉ gói gọn trong vấn đề cơm, áo, gạo, tiền. Đời sống còn là cái gì cao hơn thế, đẹp hơn thế.
Triết học phân chia con người ra hai phạm trù: “avoir” (có) và “être” (là). Tôi có gì thuộc phạm vi khối lượng. Tôi là gì thuộc phạm vi chất lượng. Những gì tôi có như của cải, quần áo, chỉ là những gì ở ngoài, không làm thành giá trị con người. Những gì tôi là mới tạo thành bản thân tôi, gắn bó thân thiết với tôi, tạo thành giá trị đời tôi.
Khối lượng không quí hơn chất lượng. Đừng lầm tưởng rằng ý nghĩa cuộc đời sẽ tăng theo khối lượng của cải. Chúa Giêsu muốn đời nghèo khổ, không của cải, nhưng không phải vì thế mà cuộc sống của Người không có giá trị. Giuđa chết khi túi đầy tiền bạc, nhưng không phải vì thế mà ông có giá trị hơn người khác.
Truyện kể: xưa có nhà hiền triết sống rất đơn sơ. Ông không cần quần áo, nhà cửa. Nhà của ông là một chiếc thùng phuy. Một hôm, vị hoàng đế đến thăm hỏi xem ông có cần gì không. Ông trả lời: “Tôi chỉ cần nhà vua đứng tránh ra, kẻo che mất ánh mặt trời của tôi”. Trong hai người ấy, ai cao quý hơn, ai đáng kính trọng hơn?
Chất lượng cuộc sống làm con người sống nên người hơn, cao quý hơn, sung mãn nhân cách hơn. Của cải chỉ có ý nghĩa khi giúp con người đạt được chất lượng cuộc sống. Của cải chỉ là phương tiện. Đừng biến phương tiện thành mục đích.
3) Chúa Giêsu mở tầm nhìn vô biên
Ông phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay đã coi của cải là mục đích. Có được của cải rồi, ông không còn biết làm gì hơn là hưởng thụ. Tầm nhìn của ông quá hạn hẹp. Chỉ biết có vật chất. Chỉ nhìn thấy đời này. Lời Chúa phán: “Hỡi đồ ngốc! Nội đêm nay người ta sẽ đòi mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sửa đó sẽ về tay ai” đã mở tầm nhìn ra vô biên. Người ta đâu sống mãi mà hưởng thụ. Khi chết thì của cải dù nhiều cũng tan theo mây khói.
Nhưng chưa hết, chết rồi người ta còn phải ra trước toà Chúa mà chịu phán xét. Chúa không đánh con người theo khối lượng những gì họ có, nhưng đánh giá theo chất lượng của đời sống. Theo cách đánh giá của Chúa, những gì ta thu tích cho bản thân sẽ hết, sẽ qua đi. Nhưng những gì ta cho đi sẽ tồn tại.
Lời Chúa hôm nay dạy ta đừng hạ thấp đời sống con người trong một tầm nhìn hạn hẹp vào việc thu tích của cải cho riêng mình. Nhưng hay nâng cao cuộc sống, mở rộng tầm nhìn để biết tích trữ những kho tàng nơi Thiên Chúa, kho tàng ấy sẽ không bao giờ mất được.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG 
1- Tiền bạc cần thiết cho cuộc sống, nhưng tiền bạc cũng nguy hiểm. Theo bạn đâu là những nguy hiểm do tiền bạc?
2- Tham nhũng, hối lộ đang trở thành phổ biến, người tín hữu phải có thái độ nào đối với tiền bạc?
3- Bạn nghĩ gì về Lời Chúa: “Hãy dùng tiền của phi nghĩa mà mua lấy bạn hữu trên trời”?
4- Tiền bạc có phải là tất cả? Hay đời sống con người còn cần nhiều thứ khác cao quý hơn?

 

TN18-C53. Dồ dại!

Tôi lắng nghe người dại này đang suy tính như thể ông là người duy nhất trên thế giới và hoàn: TN18-C53

Tôi lắng nghe người dại này đang suy tính như thể ông là người duy nhất trên thế giới và hoàn toàn làm chủ cuộc đời của mình: Tôi… tôi… Những kho lẫm của tôi, lúa gạo của tôi… Tích trữ, lợi dụng cuộc sống lâu dài, luôn mãi. Ông ta điên, ông ta làm tôi ghê tởm. Ông ta là người duy vật đến độ đó! Ăn uống phủ phê, từ chối nhìn xa hơn. Tôi vỗ tay khi Chúa la ông ta: “Dồ dại!” Thật là đúng.
Nhưng thế giới đã trở nên một xã hội tiêu thụ trứ danh. Xã hội này có sản sinh loại người dốt đặc cán mai này hay không? Sự “Khắc Khổ” Tây phương dù sao thì cũng là sự dồi dào và tôi không thoát được sự tìm kiếm an ninh và tiện nghi như tất cả mọi người. Những ý tưởng của tôi là gì? Sức khoẻ, lương bổng, căn nhà phải trả góp, cái máy truyền hình phải đổi, chiếc xe hơi, số tiền hưu…
Những ý tưởng xấu chăng? Đúng, nếu đó là những ý tưởng hoàn toàn cai trị tôi, xua đuổi dần những ý tưởng Kitô lớn lao của tôi: Yêu mến Chúa, thay đổi thế giới, hiến thân cho anh em, dùng thì giờ để cầu nguyện.
Chúng ta là một chiến trường thật sự đối với hai loại ý tưởng độ lượng và ích kỷ, tin tưởng và duy vật. Khi Chúa thấy chúng ta đang sa lầy trong những dự định trong đó chỉ có vấn đề tham vọng và tiện nghi, làm sao Ngài không la lên “Dồ dại!” được?
May cho người vừa nghe tiếng la này đúng lúc! Bởi vì có câu tiếp theo: “Đêm nay, linh hồn ngươi sẽ bị đòi lại”
Điều đó có lẽ không gây ấn tượng cho chúng ta. Toàn là thấy những người khác chết mà thôi. Tuy nhiên, rồi chúng ta cũng phải chết!
Nếu chúng ta để mình bị lây nhiễm; có ai mà hoàn toàn miễn nhiễm! - do thuyết định mệnh của người ngoại đạo, chúng ta hãy xem lời mắng của Chúa Giêsu là dành cho chúng ta: “Dồ dại!” Một người khôn, một Kitô hữu, không thể sống mà không nghĩ rằng cuộc sống của mình bao gồm hai giai đoạn: ở dưới thế này và vĩnh cửu. Cuộc sống trần thế của chúng ta chỉ huy cuộc sống vĩnh cửu của chúng ta. Thực sự là dại dột khi chỉ nghĩ đến những gì sắp diệt vong mà không chú ý tới những gì sẽ tồn tại. Chúng ta có nguy cơ chết như người đặt cuộc đời mình trên những vựa lúa: “Đó là điều xảy đến với kẻ thu tích của cải cho mình thay vì làm giàu trước nhan Thiên Chúa.”
“Trước nhan Thiên Chúa” Điều này cho chúng ta biết ý nghĩa của từ dại trong Thánh Kinh: “Người dại dột chính là kẻ quên lãng Thiên Chúa.” Chính vì thế, người ấy mất dần điều mà người ấy có được khi lui tới với Chúa nhờ sự khôn ngoan. Người ấy dấn sâu vào chủ nghĩa duy vật và sự bế tắc của tất cả những gì người ấy không thể để vào quan tài của mình.
Vở kịch nhỏ về tâm lý: tôi thấy mình đang nằm trên giường bệnh viện, đang hấp hối. Tôi mang gì theo lên trời? Người ta chỉ mang theo tình yêu thực sự đã được sống, thứ tình yêu dần dần dệt nên ở dưới thế này hữu thể vĩnh cửu của chúng ta. Lạy Chúa, xin hãy làm cho con từ bây giờ lại trở nên ham mê tình yêu chứ không phải của cải.

 

TN18-C54. Hãy làm giàu trước mặt Thiên Chúa

Giọng văn mở đầu bài đọc 1 hôm nay thật ảm đạm: “Ông Côhelet nói: Phù vân, quả là phù: TN18-C54

Giọng văn mở đầu bài đọc 1 hôm nay thật ảm đạm: “Ông Côhelet nói: Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân.” Thực tế, những dòng này gồm tóm toàn bộ nội dung sách giảng viên. Sách thuộc truyền thống khôn ngoan và là một trong những áng văn cuối cùng của Cựu Ước. Khi đọc xong, quý vị có cảm tưởng như nó được viết ra cho tầng lớp thượng lưu trong xã hội. Cộng đồng chúng ta đâu giàu có gì nhiều. Đa phần chỉ tạm đủ sống với những tiện nghi tối thiểu như TV, vi tính, xe hơi đi làm, thì nào có liên hệ chi? Tuy nhiên nếu so sánh với đại dương nghèo khó của thế giới thì chúng ta sang giàu chán. Cho nên xin đừng vội vàng thoái thác kẻo gây phí uổng cả một sự thật quý báu.
Giảng viên là bậc thầy khôn ngoan suy tư về cuộc sống. Chỉ bằng vài câu ngắn gọn ông đã chỉ cho thiên hạ biết trong nhân gian chẳng có chi tồn tại sau cái chết: Danh vọng, thành công, của cải, lợi lộc đều tiêu tan như mây khói khi thân xác nằm xuống. Ở Việt Nam, Cao Bá Quát cũng có cùng tư tưởng: “Núi quan san thấp thoáng bóng thiều quang. Ngoảnh mặt lại vũ hoàn coi cũng nhỏ. Cảnh trời đất cổ kim, kim cổ? Mảnh hình hài không có, có không. Nọ là thiên tứ vạn chung?” Nhà thông thái Côhelét nhìn cuộc đời bằng con mắt yếm thế và tâm hồn nhạy bén. Ông quyết định coi mọi sự đều phù vân, giả dối. Thật khó cho độc giả ngày nay mường tượng được tại sao một cuốn sách chán đời như vậy, lại lọt vào kinh điển Do Thái! Có thể do bởi nó được gán cho Salomôn, con vua Đavít. Còn tác giả thực thì chưa ai rõ. Nhưng xét theo tư tưởng đạo đức thì quan điểm của ông mãi mãi là sự thật phũ phàng và có linh hứng từ trời cao, để nhắc nhở nhân gian về số kiếp của mình. Chúng ta hãy suy nghĩ kỹ hơn bài đọc hôm nay.
Nó liên hệ trực tiếp với dụ ngôn người giàu có ngu ngốc của bài Phúc Âm. Và trong ý nghĩa luân lý nó thức tỉnh các linh hồn đang ngụp lặn trong thành công nhất thời hoặc vật chất. Nếu chúng ta đánh giá mình theo chiều hướng đó, ông Côhelét nói: “Xin các bạn thức dậy, đừng mơ ngủ nữa. Kho tàng quý báu của các bạn chỉ là phù du, thiếu hẳn tính chất bền vững, không ích lợi chi cho phần rỗi”. Lời khuyên mang tính cảnh báo cao. Chúng ta sẽ được ích lợi nhiều nếu biết nghe theo mà xét lại cuộc sống. Tìm hiểu xem mình đang đầu tư sức lực, tiền tài, khả năng vào điều chi? Đúng hướng hay chệch đường? Cái gì thu hút tâm trí nhiều nhất? Trong cuộc tĩnh tâm gần đây, vị linh mục hướng dẫn đã nói với chúng tôi: “Nếu các bạn muốn biết trái tim mình ở đâu, thì xin mở sổ chi tiêu hằng ngày. Tiền bạc thế nào, được tiêu pha vào việc chi? Số dư ra sao? Đấy, trái tim các bạn đang có mặt tại đó”. Mọi người đều có thể nói về mình như vậy nếu nhìn vào lịch hoạt động trong vài tháng vừa qua, chúng ta đã sử dụng thời gian thế nào? Với ai? Làm gì? Ở đâu? Khi xét duyệt lại các ưu tiên đó, lời lẽ của ông Côhelét có làm cho chúng ta quặn đau không? “ Phù vân, quả là phù vân… mọi sự chỉ là phù vân”. Chúng ta có thấy hối hận về những ngông cuồng của mình? Những giả dối, những bình phong và những “hợp lý hoá” bậy bạ của mình? Thời nay, hàng giả, hàng nhái tràn ngập thị trường. Bên cạnh một món hàng thật thì hàng chục, hàng trăm món giả. Bên cạnh một lương tâm ngay chính thì hàng trăm, hàng ngàn lương tâm bậy bạ. Tu sĩ giả, giáo dân giả, linh mục giả, chẳng thiếu vắng trong lòng Giáo Hội. Cho nên, lời lẽ của Côhelét không phải là yếm thế quá đáng. Tuy nhiên chúng ta phải dành chỗ cho luật trừ. Thí dụ trong các tiệc tùng, đám xá chính đáng mà chúng ta trưng lời sách giảng viên thì quả là không đúng chỗ. Lúc ấy Côhelét đích thực là kẻ phá hoại niềm vui. Nhưng trong thánh lễ hôm nay, ông là ngôn sứ vĩ đại, kêu gọi lương tâm, hướng dẫn nó theo đường chính nẻo ngay, giúp chúng ta tránh xa những phù vân, giả trá mà trở về với chân thật, vĩnh cửu. Ông làm giàu thiêng liêng cho bản thân, gia đình mỗi người và trong đường lối đó, góp phần xây dựng thế gian tốt đẹp hơn.
Một đóng góp khác của sách giảng viên là, tuy thuộc dòng mô phạm, nhưng Côhelét rất khác với truyền thống khôn ngoan đương thời. Truyền thống này dạy rằng thưởng phạt cho một cuộc đời xảy ra ngay trên cõi dương gian. Kẻ lành cuối cùng được giàu sang phú quý, kẻ dữ phải nghèo hèn đói khát. Thí dụ lời sách Châm Ngôn: “Giàu sang, vinh dự và sự sống là phần thưởng Đức Chúa dành cho kẻ khiêm nhu và kính sợ Người. Đường kẻ quanh co thì có gai, có bẫy” (22,4) hay: “Người trung tín được đầy dư phúc lành, kẻ muốn mau giàu sẽ không thoát khỏi hình phạt” (28,20). Thực vậy không? Kinh nghiệm cho hay thực tế không luôn đúng như thế. Người bị áp bức không luôn được giải oan, kẻ nghèo hèn không luôn được tôn trọng. Ngược lại cường hào ác bá, tham nhũng đâu bị trừng phạt ngay? Nhiều khi họ còn được suốt đời giàu sang! Cho nên chúng ta cần Côhelét để cho thấy sự thật ở trên đời. Người lành không phải lúc nào cũng được bênh vực, kẻ ác đâu phải lúc nào cũng bị trừng phạt, công lý không phải lúc nào cũng sáng tỏ. Đời này còn nhiều bất công, oan ức. Bởi lẽ nó là một thế giới bất toàn, hạn chế và gian ác. Thế giới do Satan và tội lỗi ngự trị. Côhelét đúng là quả chuông cảnh tỉnh. Ông thúc giục mọi người thức giấc khỏi những ảo tưởng màu hồng, khỏi những giấc mộng mị trên xa hoa nhung lụa. Đành rằng trong giáo xứ không mấy người đựơc kinh nghiệm những thứ đó. Chúng ta còn phải vất vả kiếm sống cho gia đình, vợ con. Nhưng không ít đã bắt đầu đi vào con đường gấm vóc, hưởng thụ bất chính, sa đoạ luân lý: Xì ke, ma tuý, dâm dục, trác táng. Họ cần phải đề phòng kẻo quá muộn, cần nghe lời ông Côhelét cảnh báo: Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân…
Thánh Luca trong Tin Mừng hôm nay thuật lại trường hợp tương tự với dụ ngôn người phú hộ ngốc nghếch. Rõ ràng ông ta chưa hề nghe biết sự khôn ngoan của Côhelét về tính chóng qua của vật chất đời này. Ông ta hoàn toàn đặt tin tưởng vào kho lẫm của mình và quên đi tất cả. Ông không giao tiếp với ai, nói chuyện với ai. Ông ta độc thoại, dự tính một mình. Vợ con cũng không hề được biết chương trình của ông. Một con người hoàn toàn tham lam, ích kỷ giống như đa phần nhân loại thời đại văn minh ngày nay. Thánh Luca thật tinh đời khi đặt ông ta làm mẫu số chung cho các lời giảng dạy của Chúa Giêsu về của cải vật chất, các lo lắng tham lam của con người tội lỗi (xem 12,13;12,22-34). Truyện này chỉ Luca mới có. Khởi đầu để một thanh niên xin Chúa Giêsu can thiệp: “Thưa Thầy, xin thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi”. Lời cầu xin chính đáng bởi các kinh sư Do Thái thường được dân chúng yêu cầu làm việc này. Luật Môsê tỏ ra khiếm khuyết, không dự trù hết mọi trường hợp, chỉ có vài quy định sơ sài (Đnl 21,15). Chúa Giêsu từ chối bởi nó không nằm trong nội dung sứ vụ của Ngài. Và nhân cơ hội Ngài đưa ra lời cảnh cáo về thói xấu tham lam: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu.” Sau đó Chúa kể dụ ngôn cho các môn đệ nghe. Người giàu có ghim chặt mọi hy vọng của mình vào kho tàng và quên mất mình chỉ là phàm nhân hay chết. Ông ta bằng lòng với của cải vật chất mà quên bẵng số phận đời đời. Ông ta dự tính phá kho lẫm cũ chật hẹp để xây những cái mới rộng rãi hơn, chứa được nhiều của cải hơn. Ông không nhớ: Vua Nghiêu 36 lọng vàng, chết xuống âm phủ chẳng mang được gì.
Còn chúng ta? Khi nào thì cho là đủ? Không có câu trả lời, bởi “lòng tham vô đáy”. Mặc dầu thánh hiền đã dạy: “Tri túc tiện túc hà thời túc” (biết thế nào là đủ, bằng lòng với cái đủ là đủ vậy). Tôi có một người bạn hàng ngày nhắc lại câu ấy để ngăn lòng mình khỏi tham lam và cuộc sống được đơn sơ thanh đạm. “Tôi có tất cả những chi tôi muốn, tất cả những chi tôi cần” có thể là một lời tạ ơn vang lên từ cõi lòng trứơc bàn thờ Thánh Thể hôm nay. Mặc dầu chúng ta luôn luôn phải cầu xin cho nhu cầu của thế giới, giáo hội, gia đình, bạn bè và chính bản thân. Nhưng nếp sống thanh bạch có nhiều khả năng giúp nhìn ra những điều quan trọng thực sự của cuộc sống. Dụ ngôn thúc giục chúng ta suy nghĩ cặn kẽ hơn về tài sản của mình, kho lẫm nhà mình để xử lý chúng cho hợp lẽ phải. Những chi chúng ta không cần thiết thì có thể người khác cần. Trước mắt, trong cộng đoàn giáo xứ còn biết bao người nghèo đói, di dân, thiếu thốn gần như mọi sự. Trên các phương tiện truyền thông, chúng ta luôn được nghe lời kêu gọi đóng góp để giúp đỡ những trường hợp nghèo đói, thiên tai. Dụ ngôn luôn nhắc nhở chúng ta cân nhắc lòng hảo tâm của mình để cộng đồng bớt phần nghèo khổ “tri túc, tiện túc, hà thời túc. Tôi có tất cả những gì tôi muốn, những gì tôi cần, nhưng người khác không có”, và những câu tương tự, áp dụng vào các quốc gia giàu có để thế giới đủ lương thực, thực phẩm nuôi dưỡng các nước đang lâm cảnh hạn hán, mất mùa. Nó giúp thiên hạ mạnh dạn phá bỏ kho lẫm để nuôi dưỡng các kẻ nghèo khổ, neo đơn.
Bác nông gia giàu có trong dụ ngôn không phải là người xấu, bởi lẽ giàu có đâu phải là một tội? Nhưng Chúa Giêsu gọi ông ấy là “đồ ngốc” vì không biết làm giàu trước mặt Chúa. Ông ta tham lam và tham lam thì luôn ích kỷ, tách mình ra khỏi đám đông, không dám chia sẻ tài sản của mình với kẻ khác, nhất là với những cùng đinh trong xã hội. Ông ta chỉ nghĩ đến “nghỉ ngơi, ăn sài, vui chơi cho đã”. Thời Chúa Giêsu “cá nhân” không có ý nghĩa, hắn phải là thành viên của gia đình, xóm làng, tôn giáo và xã hội. Đứng một mình không phải là con người mà là cây cối. Bác nông gia xem chừng sống đời thực vật, cô đơn như cây cối. Ông ta chẳng bàn hỏi ai, ngay cả với Thiên Chúa. Ông chỉ một mình bụng bảo dạ: “Mình sẽ làm thế này: Phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa mình vào đấy”. Ông chẳng hề nghĩ đến cái chết bất thần. Sau đó mọi sự ông thu tích đều tiêu tan, con cháu ông sẽ tàn phá như câu tục ngữ của Pháp: “à père avare, fils prodigue” (người cha hà tiện thì người con phung phí). Cho nên Côhelét đúng lý khi viết: “Quả thế, có người đã đem hết khôn ngoan và hiểu biết mà làm việc vất vả để thành công, rồi lại phải trao sự nghiệp mình cho một người đã không vất vả gì hết. Điều ấy chỉ là phù vân và đại hoạ.” Còn Chúa Giêsu gọi những kẻ như thế là ngu ngốc, vì không làm giàu trước mặt Thiên Chúa, tức không bố thí cho những kẻ thiếu thốn.
Ở những quốc gia giàu có Au Mỹ, cá nhân chủ nghĩa rất được đề cao trọng vọng, nhất là những cá nhân tự mình làm giàu. Chẳng hạn như Bill Gate, Rockefeller, Google. Người ta khâm phục họ, hoặc một người nào đó lao động cực nhọc, và “phất” lên được, rồi tự nhủ: Nay ta đã thực sự giàu có, mua thêm xe hơi, mở rộng xưởng, xây thêm nhà, thuê kẻ ăn người ở, dọn vào khu giai cấp thượng lưu… hắn không phải là người xấu, nhưng Thiên Chúa gọi là “ngốc”. Hắn cần đọc sách giảng viên và sắp xếp cho tương lai bền vững. Đây cũng là điều thánh Luca nhắn nhủ các tín hữu qua dụ ngôn hôm nay. Chúng ta phải chia sẻ với kẻ khác những gì mình sở hữu và cậy trông vào Chúa quan phòng. Ngài sẽ ban cho con cái Ngài tất cả những chi cần thiết. Nhất là một cuộc sống ý nghĩa sâu thẳm của bánh ăn hàng ngày mà chúng ta suy niệm tuần qua: Chúa Thánh Linh, một ân huệ vô giá và hoàn toàn miễn phí, để biết sống khôn ngoan trên cõi dương gian.
Phỏng theo cha Fr Jude Siciliano, OP.

 

TN18-C55. TÌM SỰ AN TOÀN VĨNH CỬU

Chúa Nhật 18 Thường Niên, Năm C
Gv 1:2, 2:21-23; Cl 3:1-5, 9-11; Lc 12:13-21

 

Một trong những bản năng của loài người là ước muốn được an toàn. Nghệ thuật quảng cáo bảo: TN18-C55

Một trong những bản năng của loài người là ước muốn được an toàn. Nghệ thuật quảng cáo bảo ta cần mua bảo hiểm sức khoẻ, bảo hiểm nhân mạng, mở chương mục tiết kiệm, vào chương trình an sinh xã hội.. đều đánh đúng vào bản năng muốn được an toàn và sinh tồn. Xét về đời sống vật chất, người ta sửa soạn dự liệu cho tương lai khi về hưu. Người ta mong có tiền an sinh xã hội khi về già. Người ta cũng sửa soạn chia của con cháu, cho những người tuỳ thuộc vào họ trong trường hợp họ nằm xuống mà không dậy nổi.

Con người ý thức về những thiếu thốn của mình, và rồi tìm đến người này, vật nọ mà có thể cung ứng những thiếu thốn của họ. Họ cần đến người nọ, vật kia đ cậy dựa, đ cho họ có gì bảo đảm an toàn và mang lại ý nghĩa và mục đích cho cuộc sống. Kết quả là nhiều người đi tìm sai chỗ. Do đó họ không tìm thấy điều mà họ muốn tìm vì họ cậy dựa vào những sự vật trần thế mong manh, làm mất thế đứng của mình. Mặc dầu với những bảo đảm về phương diện vật chất, nhiều người vẫn không tìm thấy hạnh phúc.

Như vậy ta phải giải quyết thế nào cho vấn đ thiếu hạnh phúc đời này? Có phải ta cần tìm đến khoa học, kỹ thuật, tìm đến y học, thuốc an thần, thuốc chống lo âu, thuốc trị chán đời, hay tìm đến xì ke ma tuý, hay đến thứ gì khác?

Tác giả bài trìch sách Giảng viên hôm nay nhận thức rằng mọi sự con người làm ra vất vả đời này là vô ích vì phải trao lại cho người khác đã không phải làm ra. Sách Giảng viên gọi những cố gắng của họ là phù vân (Gv 2:21). Vì thế mà thánh Phaolô trong Thư gửi tín hữu Colossê căn dặn ta hãy hướng lòng trí về những sự thuộc thượng giới và đừng quá lo bận tâm tìm kiếm những gì thuộc hạ giới (Cl 3:2). Còn bài Phúc âm thì ghi lại câu chuyện: có một người đến xin Ðức Giêsu bảo anh mình chia gia tài (Lc 12:13). Chúa bảo anh ta phải tránh mọi thứ tham lam, vì tiền của không bảo đảm cho mạng sống con người. Rồi Chúa kể dụ ngôn về người phú hộ có ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, đến nỗi anh ta không có đ kho nẫm đ chứa. Anh ta bèn xây nhà kho mới. Và rồi anh ta tự nhủ mình: Hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư sài nhiều năm. Thôi cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã (Lc 12: 19). Ðến đây thì Chúa bảo người phú hộ: Ð ngốc! Nội đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai (Lc 12:20).

Tại sao tác giả sách Giảng viên lại gọi người làm việc vất vả với sự hiểu biết và khôn ngoan đời này là phù vân (Gv 2:23)? Tại sao Chúa Giêsu gọi người phú hộ đã tích trữ của cải trần gian là đ ngốc (Mt 5:20). Thưa là vì trong cả hai trường hợp họ làm việc vì công việc, coi việc làm là cùng đích và cứu cánh thay vì coi việc làm và của cải trần gian chỉ là phương tiện đ hiện hữu và sống đời trần thế

Chúa Giêsu thấu hiểu ước muốn được an toàn của loài người. Chúa muốn ta đáp ứng bản năng muốn được an toàn về phương diện vật chất. Tiền của là phương tiện cần thiết cho đời sống thể chất. Do đó ta cần làm việc và đ dành tiền cho những ngày trời mưa, phòng khi bệnh hoạn hay thất nghiệp. Chính Chúa cũng đã đặt một tông đ lo việc giữ tiền. Tuy nhiên ta sẽ phạm một điều sai lầm lớn, nếu ta nghĩ rằng tiền của có thể bảo đảm cho ta một đời sống an toàn lâu dài. Tuy nhiên mối khát vọng cho đời sống an toàn vĩnh cửu không thể nào được thoả mãn với những sự vật có tính cách chóng qua. Do đó trong Phúc âm Chúa muốn ta đặt cho đúng chỗ ước muốn được an toàn vĩnh cửu. Chúa muốn ta làm giàu trước mặt Thiên Chúa (Lc 12:21).

Ð
ọc Tin mừng Phúc âm hôm nay, ta không thấy có dấu hiệu gì ám chỉ người phú hộ kia đã làm giàu cách bất chính hay lường gạt ai. Ðiều sai lầm của người phú hộ là ông ta nghĩ rằng mình nắm được vận mệnh trong tương lai. Ông ta cậy dựa vào chính mình và tiền của đ bảo đảm đời sống an toàn vật chất mà quên lãng việc tìm kiếm sự an toàn vĩnh cửu. Ông ta chỉ tìm sự an toàn đời này mà không nhìn xa trông rộng đ đ tìm kiếm một thứ an toàn mà chí có Thiên Chúa mới có thể cung ứng và bảo đảm. Ông ta đã không nhìn ra ngoài chính bản thân cho tới lúc quá trễ.

Lời cầu nguyện xin cho biết tìm kiếm những sự vật vững bền:

Lạy Chúa, Chúa là thành luỹ và là nơi con nương tựa.
Xin
dạy con biết hướng lòng trí về trời
đ tìm kiếm những của cải vững bền.
Xin
dạy con biết đặt trọn niềm tin tưởng,
cậy
trông phó thác vào Chúa
trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời con:
khi
vui hay buồn, thành công hay thất bại.
yếu
đau hoặc mạnh khoẻ.
Xin
đừng đ con bao giờ ngã lòng trông cậy Chúa. Amen.

Lm Trần Bình Trọng


TN18-C56. Phù Vân
Phù vân nối tiếp phù vân.
Tất
cả chỉ là phù vân (Giảng Viên 1:2).

 

Phù vân là hơi nước tụ họp gặp mặt nhau trên bầu trời. Từ những dòng sông ngòi cong mình: TN18-C56

Phù vân là hơi nước tụ họp gặp mặt nhau trên bầu trời. Từ những dòng sông ngòi cong mình uốn khúc và ngũ đại dương bao la xanh đậm, hơi nước nho nhỏ bốc cao lơ lửng ngập ngừng. Hơi nước của sông gặp gỡ hơi nước của biển. Cả hai cộng lại hóa ra tơ trời. Ngàn vạn sợi tơ của trời đan kết lụa là dệt ra mây trắng lững lờ trôi nổi bồng bềnh. Mây trời nối tiếp mây trời, lang thang nối tiếp lang thang. Mặt trời bình minh phương Đông vươn cao ném tung xuống cõi trần gian hơi nóng. Hơi nóng tỏa nhiệt đốt cháy mây trời, tẩy xóa phù vân. Phù vân biến thành vô thường. Vô thường tiếp nối phù vân. Phù vân nối tiếp vô thường chầm chậm loãng tan biến mất. Có đó rồi mất đó. Mất đó rồi lại hiện ra. Hiện ra rồi lại biến mất, y như hơi nước, y như tơ trời, y như phù vân, y như vô thường, y như cuộc sống nhân sinh thoáng hiện thoáng mất.

Vô thường! Vô thường! Đại vô thường!

Phù vân! Phù vân! Đại phù vân!

Những chú khủng long T-Rex của 65 triệu năm về trước đang cúi đầu gầm gừ nhai xé thịt tươi đ máu của đồng loại cũng đâu ngờ thiên tai đang rớt xuống trên đầu. Chỉ trong thoáng chốc, vẩn thạch từ không gian đâm sầm vào mặt quả địa cầu xanh lơ. Lửa đ từ trời rớt xuống. Cát bụi trở về cát bụi. Trời và đất khoác lên mầu áo tối đen. Tối đen thổi tắt ánh sáng mặt trời. Tối đen buông màn giăng mắc che phủ địa cầu. Khủng long T-Rex biến mất nhường chỗ cho con người thấp nhỏ đứng lên trên hai bàn chân. Giờ này khủng long và những chú T-Rex chỉ còn lại xương khô hóa thạch sừng sững vươn cao đe dọa trong Viện Bảo Tàng. Những chú khủng long to lớn, sức mạnh đập xuống tan đá vụn sỏi tưởng chừng như là trường tồn vĩnh cửu rồi cũng biến dạng hóa thành cát bụi. Khi vẩn thạch của vũ trụ ghé vào viếng thăm, triệu triệu ngôi mộ lăng tẩm của khủng long ngổn ngang gò đống trải rộng thênh thang khắp mặt địa cầu.

Ngày xưa có một ông phú hộ rất thành công trên thương trường. Ông làm ăn ngày càng phát đạt, lúa thóc đầy kho, nhiều tiền nhiều của. Một hôm hứng chí với những thành quả mình đã đạt được, người nhà giàu mở miệng nói,

Bây giờ phải làm chi đây đ mà hưởng thụ, ăn chơi sung sướng? Thôi, thì mình sẽ làm như thế này. Việc đầu tiên là sẽ phá những kho thóc cũ đi, xây dựng những kho thóc mới, lớn hơn, đẹp hơn, huy hoàng hơn. Và rồi ta sẽ nói, “Hồn ta ơi, hãy vui lên, hãy hưởng thụ”.

Nhưng Trời Cao nói với ông phú hộ,

Ngốc ơi là ngốc! Đêm nay ta sẽ lấy mạng của nhà ngươi đi, thì nhà ngươi làm được cái chi với tất cả những tài sản thóc lúa trong vựa? (Luca 12:13-21).

Cụ Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng đã từng than thở về nét phù vân và vô thường của cuộc đời qua câu truyện của tố nga Đạm Tiên, một người con gái đẹp, khi còn sống, người người tấp nập ghé nhà thăm viếng nâng niu đóa quốc sắc thiên hương. Nhưng rồi, cuối cùng cành hoa vàng ngọc cũng nằm xuống. Ngàn vàng một đóa hoa quỳnh bị vùi dập bên đường, trở thành nấm mộ hoang cỏ dại, đ rồi đúng ngày

Thanh Minh trong tiết tháng ba,

Lễ
là tảo mộ, hội là đạp thanh,

Hai nàng Kiều cùng đi qua. Thấy ngôi mộ bỏ hoang trống vắng,

Sè sè nắm đất bên đường,

D
àu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh,

Thúy Kiều mới hỏi em trai là Vương Quan,

Rằng: “Sao trong tiết Thanh Minh,

M
à đây hương khói vắng tanh thế này?

Ý Thúy Kiều muốn nói hôm nay là ngày tảo mộ mà tại sao ngôi mộ này lại hương khói lạnh tanh không nhang không khói y như một ngôi mộ hoang? Vương Quan mới nói với nàng Kiều là người này hồi xưa đẹp nổi tiếng, nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc, quay đầu liếc nhìn một cái thành quách nghiêng ngả, quay đầu liếc nhìn thêm một lần nữa, quốc gia suy tàn. Nhưng rất tiếc, người hoa chết sớm. Bởi không thân nhân, không thân thích, không họ hàng, cho nên thân xác của hoa lý hoa quỳnh bị chôn vùi nông cạn bên vệ đường. Đ rồi tới ngày hôm nay, ngày của tảo mộ, hội của đạp cỏ xanh, không ai nhìn ngó, không ai thương tiếc cắm cho một cây nhang đ linh hồn dưới cõi tuyền đài bớt tẻ lạnh.

Suy Niệm

Cuộc sống này nguyên thủy đã là phù phiếm, đã là phù vân, đã là vô thường. Nhưng tạ ơn Chúa và tạ ơn cho niềm tin, chỉ có trong Thiên Chúa, con người mới sống trường sinh, sống vĩnh viễn, sống tràn đầy, và sống sung mãn. Vào buổi sáng Phục Sinh đầu tiên của nhân loại, Đức Kitô Phục Sinh đã sống lại, Đức Kitô đã chiến thắng tử thần và lẽ vô thường của cõi nhân sinh. Bởi vì Ngài sống lại trong vinh hiển, Đức Giêsu Phục Sinh đã thay đổi lại thân phận phù vân của con người.

Lời Nguyện

Lạy Chúa, cuộc sống này vô thường và phù vân. Nhưng tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con niềm tin sắt son vào Đức Kitô Phục Sinh.

www.nguyentrungtay.com

LM Nguyễn Trung Tây, SVD

 

TN18-C57. PHÙ VÂN, QUẢ LÀ PHÙ VÂN!

 [CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN NĂM C (05.08.2007)]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ  
 

Nhà tôi ở rất gần ngã với tư Trường Chinh - Tân Kỳ Tân Quý nên khi ra đường thường gặp cảnh TN18-C57

                   Nhà tôi ở rất gần ngã với tư Trường Chinh - Tân Kỳ Tân Quý nên khi ra đường thường gặp cảnh kẹt xe đám ma, vì đây là một trong những con đường dẫn tới Lò Thiêu và Nghĩa Trang Bình Hưng Hòa nổi tiếng của Sài-gòn. Tôi thường suy gẫm và chia sẻ với bạn bè là giầu nghèo sang hèn thì cuối cùng cũng tới Bình Hưng Hòa với hai bàn tay trắng! Thế mà người ta “chạy như điên” để tìm kiếm của cải, danh vọng, chức quyền và lạc thú. Người ta không biết hoặc làm như không biết sự phù vân của thế giới này.
                   Các bài Sách Thánh hôm nay đều nhấn mạnh đến sự phù vân của thế gian và khuyên nhủ người theo Chúa hãy tìm kiếm những gì thuộc về thượng giới. Nói cách khác, các Ki-tô hữu được mời sống như “người cõi trên” tức coi thường, coi khinh những điều như chức tước, công danh, của cải, lạc thú …, mà người đời coi trọng và tìm kiếm bằng mọi giá. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và trong một xã hội tiêu thụ thì việc sống như những “người cõi trên” quả là một thách đố lớn và khó thực hiện. Nhưng đó lại là con đường dẫn tới sự sống thật.

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1: Gv 1,2; 2,21-23: Chuyện gì xẩy ra cho con người sau bao mối bận tâm và bao gian lao vất vả và nó phải chịu dưới ánh mặt trời.
             2 Ông Cô-he-lét nói : "Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân.
            21 Quả thế, có người đã đem hết khôn ngoan và hiểu biết mà làm việc vất vả mới thành công, rồi lại phải trao sự nghiệp của mình cho một người đã không vất vả gì hết. Điều ấy cũng chỉ là phù vân và lại là đại hoạ. 22 Chuyện gì xảy ra cho con người sau bao mối bận tâm và bao gian lao vất vả nó phải chịu dưới ánh mặt trời ?
            23 Phải, đối với con người ấy, trọn cuộc đời chỉ là đau khổ, bao công khó chỉ đem lại ưu phiền ! Ngay cả ban đêm, nó cũng không được yên lòng yên trí. Điều ấy cũng chỉ là phù vân !
(2) Bài đọc 2: Cl 3,1-5.9-11: Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc về thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự.
              1 Thưa anh em, anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. 2 Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới. 3 Thật vậy, anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa. 4 Khi Đức Ki-tô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang.
             5 Vậy anh em hãy giết chết những gì thuộc về hạ giới trong con người anh em: ấy là gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu và tham lam; mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng.
             9 Anh em đừng nói dối nhau, vì anh em đã cởi bỏ con người cũ với những hành vi của nó rồi, 10 và anh em đã mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hóa, để được ơn thông hiểu. 11 Vậy không còn phải phân biệt Hy Lạp hay Do Thái, cắt bì hay không cắt bì, man di, mọi rợ, nô lệ, tự do, nhưng chỉ có Đức Ki-tô là tất cả và ở trong mọi người.
(3) Bài Tin Mừng: Lc 12,13-21: Những gì ngươi sắm sằn đó sẽ vế tay ai?
            13 Khi ấy có người trong đám đông nói với Đức Giê-su rằng: "Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi." 14 Người đáp: "Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh?" 15 Và Người nói với họ: "Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu."
             16 Sau đó Người nói với họ dụ ngôn này: "Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, 17 mới nghĩ bụng rằng: "Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu! 18 Rồi ông ta tự bảo: "Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. 19 Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã! 20 Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: "Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? 21 Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó."
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 (Gv 1,2; 2,21-23) là trích đoạn của Sách Giảng Viên là một trong những Sách Giáo Huấn hay Khôn Ngoan của bộ Thánh Kinh. Trích đoạn trên là một đúc kết kinh nghiệm về cuộc sống của con người với bao lầm than, vất vả và khổ đau.
         Qua đoạn Sách Gv 1,2; 2,21-23 chúng ta không thấy nhắc đến Thiên Chúa một cách rõ ràng; nhưng chúng ta hiểu được ẩn ý của tác giả là muốn khuyên nhủ mọi người tìm kiếm Thiên Chúa là Đấng duy nhất có thể đem lại hạnh phúc thật  cho con người vì chỉ có một mình Thiên Chúa mới thỏa mãn được những khát vọng thâm sâu và chính đáng của con người về chân-thiện-mỹ, về trường-sinh-bất-tử. 
(2) Bài đọc 2 (Cl 3,1-5.9-11) là những lời khuyên chí tình của Thánh Phao-lô về cách người Ki-tô hữu phải sống: đó là tìm kiếm những gì không hư nát nhưng tìm kiếm những gì tồn tại vĩnh cửu trong Vương quốc của Thiên Chúa, của Chúa Ki-tô Giê-su. Cách thế là tiêu diệt con người cũ của chúng ta để con người mới phát triển. Con người cũ thì tham sân si tức ưa chuộng gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu và tham lam; còn con người mới thì sống thanh thoát, không nô lệ cho tình dục, của cải, hay danh vọng.
            Trong đoạn thư gửi tín hữu Cl 3,1-5.9-11 chúng ta khám phá ra Chúa Giê-su Ki-tô là Con Người Mới tuyệt hảo mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại để Người trở thành đối tượng và gương mẫu cho mọi Ki-tô hữu tìm kiếm và noi theo. 
(3) Bài Tin Mừng (Lc 12,13-21) là quan điểm của Chúa Giê-su Ki-tô về giá trị “tương đối” của của cải vật chất đời này. Dù của cải vật chất có giá trị và cần thiết cho cuộc sống, nhưng không đáng để con người phải bỏ hết sức lực mà thu vén đến độ quên lãng những thứ còn quan trọng và giá trị hơn nhiều đối với con người. Nguy cơ của con người là để lòng tham chi phối, thậm chí điều khiển và định hướng cách sống của mình.
                 Qua Bài Phúc Âm Lc 12,13-21 chúng ta khám phá ra Chúa Giê-su là Thày Dạy về giá trị đích thực của con người. Theo quan niệm thông thường của người đời thì người giầu có là người được bảo đảm. Vì thế mà ai nấy đều tìm mọi cách để trở nên giầu có. Nhưng theo quan điểm của Chúa Giê-su thì giầu có đích thực là giầu có trước mặt Thiên Chúa, tức giầu về lòng tin, lòng cậy và lòng mến, giầu về nhân đức và ơn sủng, giầu về hy sinh từ bỏ và khiêm nhường phục vụ tha nhân.
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?    
          Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay được gói gọn trong lời này: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu."
III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
Lời Chúa hôm nay mời tôi nhìn vào tâm hồn và cách sống của mình: Trong ngày, trong tuần
* tôi bận tâm nhiều nhất về chuyện gì? (tìm cách có thêm của cải vật chất, danh vọng, chức quyền, lạc thú hay tìm cách sống phó thác vào Chúa Quan Phòng và thanh thoát, từ bỏ, không vướng bận của cải, chức quyền, danh vọng, lạc thú?).
                   * và tôi dành nhiều thời gian nhất cho công việc gì? (kiếm tiền, hưởng thụ hay trau dồi đời sống văn hóa, tâm linh?).
IV. CẦU NGUYỆN  (Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân)
          4.1 "Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân”. Lạy Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng vũ trụ, vạn vật và con người, Chúa là Đấng đã sắp đặt và ấn định các giá trị trong thế giới tạo dựng. Chúng con dâng lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa, vì Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Chúa và đặt con người làm chủ thế giới. Xin Chúa giúp chúng con nhận ra sự phù vân của thế gian và sự vĩnh cửu của thượng giới, để chúng con khôn ngoan chọn lựa một lối sống đẹp lòng Chúa và hữu ích cho bản thân và xã hội.
       Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
          4.2 "Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới”. Lạy Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng vũ trụ, vạn vật và con người, Chúa là Đấng đã sắp đặt và ấn định các giá trị trong thế giới tạo dựng. Chúng con dâng lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa, vì Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Chúa và đặt con người làm chủ thế giới. Xin Chúa giúp chúng con luôn biết hướng trí, hướng lòng lên cùng Chúa và tìm kiếm những giá trị đích thực và trường tồn.
          Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
          4.3 “Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó". Lạy Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng vũ trụ, vạn vật và con người, Chúa là Đấng đã sắp đặt và ấn định các giá trị trong thế giới tạo dựng. Chúng con dâng lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa, vì Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Chúa và đặt con người làm chủ thế giới. Xin Chúa giúp chúng con luôn biết làm giầu về lòng tin, lòng cậy và lòng mến; biết tích lũy hy sinh và từ bỏ; biết quên mình phục vụ tha nhân để chúng con trở nên người giầu có trước mặt Chúa như Chúa Giê-su Ki-tô, Con Chúa, đã dạy chúng con.
         Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
        Giêrônimô Nguyn Văn Ni. 
        Seattle (WA, USA) 24.07.2007.

 

TN18-C58. THEO CHÚA

Mt 14,13-21
 

Lòng quãng đại yêu thương của Thiên Chúa biểu hiện cụ thể, rõ ràng nơi Ngôi Hai là Đức Giêsu: TN18-C58

Lòng quãng đại yêu thương của Thiên Chúa biểu hiện cụ thể, rõ ràng nơi Ngôi Hai là Đức Giêsu Kitô. Ngài yêu thương loài người hơn cả mạng sống của mình và Ngài biểu lộ tình yêu ấy trong cuộc đời Ngài. Tấm lòng của Người đã được dân chúng hồ hởi đón nhận. Đám đông theo Chúa Giêsu như đàn chiên khao khát lương thực lời Chúa và được Chúa cho thoã lòng. Ngài đã chữa lành họ, cả bệnh thể xác và tinh thần, Ngài dạy dỗ họ cả ngày không kể mệt nhọc và họ ở đó nghe Ngài không biết đói.
Chúa Giêsu đến để cứu chữa không chỉ phần hồn mà cho cả phần xác nữa. Ngài cho linh hồn ăn no và không để xác phải đói khổ. Ngài đã hoá bánh ra nhiều cho hơn 5000 người ăn sau khi giảng dạy lời Chúa cho họ. Ngài đã cứu giúp họ về cả hồn và xác nữa. Đối với Chúa không có chi là khó, chỉ cần con người thành tâm, phó thác thì Ngài sẽ lo cho, chỉ cần chúng ta quãng đại với Chúa thì lòng quãng đại của Chúa sẽ tỏ ra gấp bội phần, chỉ cần năm chiếc bánh nhỏ góp vào trong niềm tin có thể đủ cho bao nhiêu người ăn no nê mà còn dư dật. Tuy chúng ta tin tưởng và phó thác cho Chúa tất cả nhưng chúng ta không được tự miễn trừ những việc bổn phận trong cuộc sống hàng ngày như việc lao động kiếm sống, dưỡng nuôi con cái, cha mẹ…
Chúa có thể ban ơn trực tiếp cho chúng ta. Tuy nhiên, Chúa thường ban ơn dồi dào cho chúng ta trong các Bí tích nhờ qua thân thể Người là Hội thánh, có khi Chúa ban ơn huệ gián tiếp qua những người thân, ân nhân nào đó. Chúng ta hãy nhận ra tình thương của Chúa trong Hội thánh, qua tha nhân và những biến cố cuộc đời và cám ơn Người. Trong những lúc đói khát, chúng ta cũng hãy tin tưởng và kêu xin Chúa. Nếu chúng ta sống theo lệnh truyền của Chúa thì sẽ được Chúa ban ơn như Chúa đã hứa: hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho. (Lc 11, 9-10)
Chúa Giêsu có cái nhìn xa hơn một đám đông đói khát đáng thương này. Ngài còn thấy những đám đông khác ở những thời đại kế tiếp. Vì thế, Ngài đã thiếp lập Bí tích Thánh thể để trở nên Bánh cho chúng con trong Bí tích Thánh thể để nuôi dưỡng phần hồn, và ban ơn phần xác. Phép lạ hoá bánh hôm nay nhằm ám chỉ mà Ngài sẽ thiết lập để ở lại với loài người chúng con. Cái chết của Ngài mang lại sự sống Phục sinh cho những kẻ tin giữ lời Ngài.
Chúa thương chúng con và đã không bỏ chúng con, những người thuộc thế hệ mai sau nên đã thành lập Giáo hội, trao quyền cho các Tông đồ cử hành các Bí tích và rao giảng Tin mừng, lo cho sự sống của mỗi người trên thế giới. Không chỉ lo cho đời sống thiêng liêng nhưng phải quan tâm đến đời sống vật chất nữa: các con hãy cho họ ăn. Chúng con là những người thuộc thế hệ sau này đã được thừa hưởng trọn vẹn ơn chuá cứu chuộc. Chúng con có bổn phận tiếp tục truyền lại cho thế hệ mai sau những ơn chúng con đang được hưởng. Việc đóng góp cho Chúa 5 chiếc bánh trong Giáo hội là một trong những bổn phận căn bản của Kitô hữu. Mỗi người có quyền và bổn phận đóng góp phần mình cho Giáo hội và xã hội mình đang sống. Mỗi người có trách nhiệm với những người thuộc quyền cũng như phải bác ái với anh em xa gần với khả năng của mình. Nếu chúng ta biết san sẻ trong tinh thần đức tin, Chúa sẽ thực hiện những gì còn lại.
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến và ở trong chúng con cho chúng con được no đầy ơn lành của Chúa cả hồn lẫn xác để chúng con ca tụng Chúa và biết phục vụ cho Tin mừng để Nước Chúa mau trị đến.

 

TN18-C59. LƯƠNG THỰC SỐNG

Mt 14,13-21
 

Đức Giêsu thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương và chữa lành các bệnh nạn của: TN18-C59

Đức Gisu thy mt đòn người đông đảo thì chnh lng thương v chữa lnh cc bnh nhn ca h”. Không có gì có thể ngăn lại được tấm lòng chạnh thương của đức Giêsu dành cho con người, bởi vì Ngài là hiện thân của một Thiên Chúa tình yêu.
Bài Tin mừng mà chúng ta nghe hôm nay được đặt ngay sau hai đoạn Tin mừng thuật lại những câu chuyện buồn của Đức Giêsu. Đó là việc người đồng hương của Ngài đã không đón tiếp Ngài và không tin vào Ngài. Rồi Ngài lại nghe tin Gioan Tẩy Giả, người anh em họ của Ngài và đồng thời là người được Thiên Chúa sai đi dọn đường cho Ngài vừa bị hành quyết bởi sự ác độc của con người. Sau những biến cố ấy, Ngài cùng các môn đệ muốn tìm một nơi riêng biệt để cầu nguyện, để tìm biết thánh ý Chúa Cha và cũng để củng cố tinh thần cho các môn đệ, chuẩn bị cho các ông tinh thần để bước vào những giai đoạn khó khăn trong sứ mạng của loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, đặc biệt là việc Ngài phải trải qua cuộc khổ nạn và phục sinh để cứu độ con người.
Nhưng Tin mừng thuật lại là ngay khi Ngài vừa đến nơi định tới thì đám đông đã chờ đón gặp Ngài trước ở đó. Ngài không tỏ ra khó chịu hay bực bội vì họ. Trái lại, Ngài lại chạnh lòng thương xót họ và tiếp tục trao ban cho họ tất cả theo những nhu cầu của họ. Ngài không tiếc để trao ban chính mình Ngài cho họ, mang lại niềm vui cho họ. Đức Giêsu đã hành động theo đúng căn tính của Ngài “Thiên Chúa là Tình yêu”.
Bài hát “khi yêu”, dân ca Bình trị Thiên có một câu rất hay; “khi yêu thấy tiếc từng giờ, thấy không thể sống hững hờ vô tư’. Quả thật, tình yêu thôi thúc con người phải làm việc, phải hành động, phải ra đi để chia sẻ, để mang niềmvui và hạnh phúc đến cho người mình yêu. Trong con mắt của người đang yêu, không có ai là thù địch, không ai là người xấu, không có ai mà không đáng yêu cả. Ai cũng là đối tượng của Thiên Chúa tình yêu.
Mẹ Têrêsa lúc sinh thời đã từng phải cung cấp thức ăn cho 9000 người ở Calculta mỗi ngày. Chắc chắn mẹ đã không thể làm nổi việc đó nếu có sự quảng đại của nhiều người trên khắp thế giới cộng tác với Mẹ. Mẹ đã kể ra một điển hình về sự quảng đại khiến cho Mẹ có thể thực hiện “phép lạ” nuôi sống nhiều ngàn người mỗi ngày.
Một ngày nọ, có một đôi vợ chồng tìm đến ngôi nhà nơi Mẹ Têrêsa đang chăm sóc những người nghèo khổ, bệnh tật và trao cho Mẹ một số tiền khá lớn. Mẹ hỏi: “Ở đâu chúng con có số tiền lớn như vậy?” Họ trả lời: “chúng con mới lấy nhau cách đây 2 ngày. Chúng con quyết định không làm đám cưới và thay vào đó là tặng số tiền làm đám cưới để nuôi sống những ngươi nghèo”. Mẹ Têrêsa lại hỏi: “Tại sao chúng con hành động như vậy?” Họ trả lời: “Vì chúng con yêu nhau và chúng con muốn bắt đầu đời sống hôn nhân của chúng con bằng một cử chỉ hy sinh”. Điều đáng nói là hơn nữa là đôi vợ chồng này đều thuộc tầng lớp thượng cấp của đạo Hindus. Đó là hạng người mà theo lẽ thường là không bao giờ làm điều gì cho người nghèo cả. Đứng là “khi yêu nhau thấy tiếc từng giờ, thấy không thể sống hững hờ vô tư”.
Khi thấy đám đông dân chúng đi theo mình, Đức Giêsu động lòng thương xót họ.Và ngài đã biểu lộ tình yêu ấy bằng việc chữa lành bệnh tật cho họ và làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi sống họ. Nói cách khác, Đức Giêsu đã mang lại niềm vui và hạnh phúc cho con người bằng việc trao ban chính bản thân Ngài cho họ. Ngài không hề nghĩ đến bản thân Ngài nhưng chỉ nghĩ đến người khác. Ngài không ngần ngại hy sinh thời giờ,sức lực . . . để tìm lo hạnh phúc cho người khác. Là môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta có nhiệm vụ tiếp tục sứ mạng của Thầy chí Thánh là mang lại niềm vui và hạnh phúc cho người khác bằng việc trao ban chính mình chúng ta cho họ. Chúng ta phải chấp nhận trở thành tấm bánh bị bẻ ra cho người khác hưởng dùng. Nhưng đây là một việc làm không dễ chút nào.
Để tập sống thân phận của của tấm bánh bị bẻ ra và trao ban, chúng ta phải tập cho đi từ những chuyện nhỏ nhặt trong đời sống hằng ngày, biết quên đi những lời nói hơn thua, quên đi và tha thứ những lầm lỗi của anh em mình . . . có như thế, chúng ta mới có thể theo gương Chúa Giêsu trong việc trao ban chính mình cho người khác. Cho đi những gì mình có đã là một điều khó, nhưng cho đi chính mình thì càng khó khăn hơn rất nhiều. nhưng vì lòng yêu mến Chúa, chúng ta hãy cố gắng sống và tập cho đi mỗi ngày. Đây quả là một thách đố, một trắc nghiệm về lòng mến cho những người môn đệ Chúa Giêsu. Đức hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn thuận đã nói: “Yêu người là trắc nghiệm chắc chắn nhất về lòng yêu mến Chúa của con”.
Chúa Giêsu ngày nay vẫn tiếp tục trao ban chính mình Ngài cho chúng ta qua Bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể là bí tích của tình yêu, của lòng quảng đại bao la của Thiên Chúa dành cho con người. Chúa Giêsu trao ban chính mình cho chúng ta qua nhiều phướng cách khác nhau, nhưng Bí tích Thánh Thể là cách thế tuyệt đỉnh của việc trao ban đó. Phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi sống đám đông dân chúng ngày xưa là hình ảnh báo trước của Bí tích Thánh Thể ngay nay. Và đến lượt mình, Bí tích Thánh Thể là hình ảnh báo trước tiệc Nước trời mai sau.
Ước gì mỗi người chúng ta biết quí trọng và ý thức khi tiếp nhận Chúa Giêsu Thánh Thể vào lòng. Xin cho chúng ta biết có tấm lòng chạnh thương trước những hoàn cảnh khốn khó của con người để không bao giờ từ chối chia sẻ với họ. Làm được như thế, chúng ta sẽ trở thành tấm bánh được bẻ ra để nuôi sống người khác, trở thành lương thực sống cho những người chung quanh chúng ta. Đó chính là tinh thần chính yếu nhất của phép lạ Hóa bánh ra nhiều mà Chúa Giêsu đã thực hiện ngày xưa.

 

TN18-C60. CƠM BÁNH TÌNH THƯƠNG

Mt 14,13-21
Anh chị em thân mến,
 

Thượng. Đức Cha nói: Người Thượng ở đây, họ rất nghèo, lại không biết phòng xa, vì vậy một năm: TN18-C60

Thượng. Đức Cha nói: Người Thượng ở đây, họ rất nghèo, lại không biết phòng xa, vì vậy một năm họ đói cả 3 tháng. Ngay lúc giáp hạt, giữa hai mùa lúa, họ nhịn đói, vì lúa cũ đã hết, lúa mới chưa có. Họ đói cả tháng...Vì vậy truyền giáo cho họ phải nhắm đến 3 điểm: phát triển – y tế – và giáo dục. Thứ nhất phát triển: là phải nói ngay đến chuyện ăn. Phải cho họ ăn. Khi họ đến nhà thờ đi lễ, phải cho họ ăn. Có những làng ở xa nhà thờ, nên khi đi lễ, họ phải đi từ chiều thứ bảy, vì vậy phải cho họ ăn bữa chiều đó; rồi sáng Chúa nhật lo cho ăn sáng; lễ xong phải cho họ ăn nữa, họ mới ra về. Nếu không cho ăn, có khi họ phải… đói xỉu dọc đuờng….Câu chuyện trên đây xem ra sao cũng giống câu chuyện Tin mừng của ngày Chúa nhật hôm nay. Kính mời anh chị em cùng suy niệm…
Qua bài Tin Mừng này, Chúa Giêsu muốn nói gì?
Chúa Giêsu yêu thương chúng ta, bằng tấm lòng hết sức chân thành . Câu chuyện Phúc âm hôm nay là một bằng chứng. Chúa không chỉ yêu thương lo lắng cho linh hồn chúng ta mà thôi, Người còn lo lắng cho ta, ngay trong những chuyện hết sức tầm thường: lo cái ăn cái mặc, Chúa sợ dân chúng đói. Hóa ra Chúa không chỉ bận tâm lo cứu rỗi linh hồn, Người còn bận tâm lo chuyện ăn uống đói khát vật chất nữa. Lẽ ra Chúa có thể để dân chúng giải tán, tự mua thức ăn, tự lo cho mình như lời các môn đệ nói. Thực ra, chính Kinh Lạy Cha, cũng nhắc nhở cho ta điều đó: xin Cha cho chúng con lương thực hằng ngày…Rõ ràng ta thấy Chúa Giêsu dù là Thiên Chúa Ngôi Hai, dù là Đấng Cứu thế, Người không “siêu” đến nỗi chỉ biết có linh hồn mà thôi. Cũng chính điều này cho ta thấy: Chúa Giêsu, dù là Thiên Chúa, nhưng trong bản tính nhân loại, người lại rất là người.Cũng chính vì đó, cái chết của người trên thập giá mới thực sự đem lại ơn cứu rỗi…..
Chúa muốn các tông đồ, là Hội thánh, cộng tác với Chúa, để lo cho dân chúng ăn: Chúa mời gọi các tông tham gia vào việc lo cho dân chúng. Dĩ nhiên không có Chúa, các ông chẳng làm nên việc gì; nhưng ở đây, Chúa muốn các ông cộng tác với Chúa…Ta thấy rõ điều đó ở câu: Chúa trao bánh cho các môn đệ, và họ phân phát cho dân chúng…
Trở lại câu chuyện truyền giáo cho người Thượng, Đức Cha Đà Lạt nói: Truyền giáo nhắm đến 3 điểm: phát triển – y tế - và giáo dục. Ba điểm này phải thực hành song song, cùng một lúc. Muốn cho đời sống họ phát triển, không phải chỉ cho họ ăn, xây nhà xây cửa cho họ là đủ, phải đi kèm với việc giáo dục. Vì họ kém văn hóa, nhưng lại cũng lười nữa nên cần phải lo giáo dục họ. Một buôn Thượng nọ cách xa nhà thờ chỉ 3 cây số. Đám thanh niên người Kinh muốn giúp họ nuôi tầm vì tầm đang có giá. Họ lựa con giống và chở lên tận nơi cho họ, chỉ sơ cách thức nuôi tầm. Hai tuần sau trở lên, đám tầm giống vẫn còn để y nguyên một chổ. Hỏi ra họ không biết phải làm sao, dù được chỉ dạy nhưng quên cả rồi. Vì sự việc trên, từ năm 1995, Đức Cha đưa ra “chương trình 25 đô la” = 400.000$, cho các trẻ em Thượng đi học, khởi đầu từ Mẫu giáo. Chương trình này phải được tiếp tục trong vòng 7 năm. Tiền thì Tòa Giám mục lo. Các họ đạo đăng ký, thực hiện và theo dõi…
Câu chuyện truyền giáo cho người Thượng trên đây cho ta thấy, yêu thương họ không phải chỉ cho họ ăn, cho nhà họ ở, mà còn chính là cộng tác với Thiên Chúa, làm sao giúp họ phát triển đời sống đi lên ngang với mọi người trong xã hội. Đó cũng chính là cộng tác với Chúa nuôi sống dân chúng và yêu thương họ bằng chính tình yêu Chúa Kitô.
Gợi ý sống và chia sẻ:
Bài Tin mừng hôm nay tường thuật, Chúa thấy dân chúng đói, nên Người động lòng thương mà cho họ ăn. Dù vậy Chúa không chỉ chia sẻ cơm bánh, mà Chúa còn chia sẻ cả bản thân mình Chúa, sự sống của Chúa để cho nhân loại được sống nữa. Là người Kitô hữu, ta có sẵn sàng chia sẻ cơm bánh, cả khổ đau vất vả với anh em xung quanh ta không?

 

TN18-C61. CỘNG TÁC VỚI CHÚA

Mt 14,13-21
Anh chị em thân mến.
 

Vào buổi sáng sớm, khi mọi người còn yên giấc, nếu có dịp, anh chị em đi một vòng thành phố: TN18-C61

Vào buổi sáng sớm, khi mọi người còn yên giấc, nếu có dịp, anh chị em đi một vòng thành phố, anh chị em nhìn thấy những điều mà khi mặt trời lên thì không bao giờ nhìn thấy được: Những người không có nơi nương tựa, họ phải tá túc nhờ vào những mái hiên. Những ngôi nhà cao tầng, bên trong yên lặng với niệm ấm chăn êm, thì bên ngoài, ngay trước cửa nhà họ, có những con người nằm co ro chống chọi với cái lạnh thấu xương. Những dãy nhà đồ sộ nhưng yên lặng đến vô tình, đứng nhìn những con người lang thang không nơi nương tựa. Những thứ bỏ đi bên lề đường đang chờ người ta đến đem đi, vẫn là niềm hy vọng của bao nhiêu người đến tìm để sinh sống. Một xã hội văn minh, sao vẫn còn những con người khốn khổ đến như thế, sao có biết bao nhiêu nhà hảo tâm, biết bao những việc làm xoá đói giảm nghèo mà vẫn còn những cảnh thương tâm như thế? Thưa vì vẫn còn những người chưa nhìn thấy được những gì chung quanh mình, họ vẫn sợ ách giữa đàng mang vào cổ, nên vẫn còn nhiều người là nạn nhân của sự sợ hãi đến vô tâm đó.
Các môn đệ cũng tìm cách trốn chạy, khi nhìn thấy một đám đông quá sức mình, các ông muốn để cho mọi người tự lo, các ông cũng sợ trách nhiệm đến với mình, khi thấy công việc mà mình không thể làm gì được, chỉ còn cách trốn chạy. Nhưng Chúa Giêsu không chấp nhận thế, Ngài bảo các ông đối diện với thực tế và hành động: “Cc con hy cho h ăn”. Một việc làm quá sức các ông, những gì các ông có trong tầm tay không thể làm gì được. Nhưng mọi việc đã trở nên có thể vì các ông biết vâng phục, các ông biết lắng nghe, các ông dám bỏ ra phần nhỏ bé của mình mà không ngần ngại. Cùng với Chúa Giêsu, mọi sự đều trở nên có thể; các ông cũng đi phân phát phần nhỏ bé của mình khi đã trao vào tay Chúa, các ông đã hành động vì biết lắng nghe lời Chúa, nên phép lạ đã được thực hiện. Nếu các môn đệ lo sợ mất đi những gì mình có, nếu các ông e ngại trước đám đông, nếu các ông không tin tưởng vào Chúa cho đủ, mà sợ mất uy tín khi không thực hiện được điều cần thiết thì làm sao phép lạ có thể thực hiện được?
Trong cuộc sống đời thường nếu chúng ta chịu nhìn thì không biết bao nhiêu phép lạ đã xảy ra hằng ngày, đồng thời cũng có rất nhiều phép lạ không thể thực hiện được vì rất nhiều lý do:
Những lúc chúng ta nói tiếng không với những người có nhu cầu khi họ chạy đến chúng ta, để họ phải thất vọng ra đi mà không nhận được gì. Những lúc chúng ta sợ mất đi những gì mình đang có, nên không dám cho đi, cho dù chúng ta thấy người khác đang cần. Những lúc chúng ta nhận lấy một cách bất công những điều không phải của mình, khi đó chúng ta làm cho người khác phải vất vả hơn. Những lúc chúng ta lười biếng không thể cho đôi chân mình chuyển động, cũng không thể cho đôi tay có cơ hội ban phát vì chúng ta lo sợ cho bản thân. Những lúc chúng ta để cho tính ích kỷ trong con người nổi dậy và điều khiển cuộc sống của mình, không còn biết nghĩ đến ai, chỉ còn nhìn thấy có chính mình và những lợi ích của bản thân. Những lúc chúng ta chỉ biết cho đi những cái khoát tay và những cử chỉ lắc đầu xua đuổi, nếu có mở miệng nói thì chỉ là tiếng “không” khô khan; những lúc đó, chúng ta làm cho phép lạ của Chúa không thể thực hiện được trong cuộc sống của mình.
Nếu có lần nào trong cuộc sống, con tim chúng ta thổn thức trước một lời kêu xin và sẵn sàng đáp ứng; nếu đôi mắt chúng ta nhìn thấy cảnh thương tâm và đôi tay chúng ta hành động theo con tim mách bảo, để cho người khác có được một chút gì no lòng. Cho dù chúng ta không xứng đáng gì, nhưng khi nhìn thấy những người đang thất vọng nản chí, chúng ta cũng cho họ những lời khuyên, những lời động viên an ủi để cho họ thêm sức sống. Chúng ta cũng không ngại giúp đỡ người khác khi cần thiết, cho dù tốn chút ít thời gian, sức lực hay cả tiền của. Những lúc đó, chúng ta dùng chút công sức của mình, giống như năm chiếc bánh được mang đến cho Chúa, để phép lạ được thực hiện. Nếu trong cuộc sống mà thực hiện được nhiều lần như thế thì thật là hạnh phúc cho chúng ta và cả cho những người chung quanh.
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa ban ơn soi sáng cho mỗi người được biết lắng nghe lời Chúa và thi hành những gì Chúa dạy bảo.

 

TN18-C62. QUẢNG ĐẠI

Mt 14,13-21
 

Mẹ Têrêsa Calcutta đã kể lại câu chuyện một lần kia mẹ đi ngang qua một gia đình Hin-đu đã đói : TN18-C62

Mẹ Têrêsa Calcutta đã kể lại câu chuyện một lần kia mẹ đi ngang qua một gia đình Hin-đu đã đói nhiều ngày. Mẹ cầm theo một ít gạo cho gia đình ấy. Điều xảy ra sau đó làm mẹ kinh ngạc.
Không chút lưỡng lự, người mẹ trong gia đình đã chia số gạo ra làm hai phần. Rồi bà đem một nữa cho gia đình nhà bên cạnh.
Thấy điều đó, mẹ Têrêsa nói với bà mẹ “Bà còn lại được bao nhiêu? Liệu có đủ cho gia đình bà không?”. Người đàn bà ấy trả lời.“Nhưng họ cũng đã nhịn đói nhiều ngày rồi”.
Chắc chắn bà mẹ nghèo cho người kia không thể nhiều được, nhưng bà đã cho người khác bằng cả tấm lòng, bằng cả con tim và sự hy sinh, chỉ có những ai có lòng quảng đại thật sự mới có thể thấy được điều đó.
Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giêsu hoá bánh ra nhiều cũng được gọi là phép lạ của lòng quảng đại. Trước hết là mẫu gương cậu bé cho năm chiếc bánh và hai con cá, cái cậu có không phải là nhiều, chắc chắc giờ đó cậu ta cũng rất đói, nhưng vì lòng quảng đại cậu cho luôn cả cái mình đang cần. Điều quý nhất nơi người cho không phải là của cho nhưng chính là cách cho. Vì vậy của cậu bé cho không quý bằng tấm lòng cậu bé biết quan tâm đến người khác, một tấm lòng quảng đại cao thượng , biết chia sẻ đến người khác.
Nói đến từ quảng đại thì ai cũng có thể nói được, nhưng để thực hiện nó thì thật là khó khăn và nhất là khi cần phải quảng đại với những người ta không thích, không ưa nhất là với kẻ thù thì lại càng khó hơn nữa. Đến với những người khác khi không gặp sự phiền nhiễu nào là một việc dễ dàng. Nhưng đang khi mệt mỏi, buồn phiền mà phải gặp những chuyện khó khăn bực tức, thì khi đó lòng quảng đại lại càng khó mà thực hiện hơn. Lúc đó chúng ta phải biết bỏ mình đi mà hướng đến người khác. Chính Đức Giêsu đã làm như thế. Người vừa mới biết tin người anh họ là Gioan Tẩy Giả đã bị giết chết. Người cần được yên tĩnh và thinh lặng. Đó là lý do khiến Người vừa bước ra khỏi thuyền, Người thấy đám đông dân chúng chờ Người. Hẳn Người có thể tức giận và giải tán họ. Thế nhưng, Người không chút tỏ ra bực tức, nhưng lại quên mình để lo cho dân chúng. Cũng nhờ lòng quảng đại tuyệt đối, người đáp ứng cơn đói của dân chúng. Người không chỉ cho họ ăn, nhưng còn cho mỗi người nhiều hơn họ cần, và còn dư mười hai thúng đầy.
Lòng quảng đại không phải là lúc nào nào cũng biếu đồ vật. Điều đó thật dễ dàng vì mình chỉ cho đi môt phần quá nhỏ trong cuộc sống, có thể nói mình chỉ mới cho đi một phần chẳng thấm vào đâu so với những gì mình đang có, hay có thể nói là mình chỉ mới cho đi một chút chi thể trong một thân thể to lớn. Ở đây Đức Giêsu làm phép lạ hoá bánh ra nhiều là một hình thức tiên báo về Bánh Hằng Sống chính là Thân Thể Người. Vì vậy, cho chính mình không bao giờ dễ dàng, nhưng chính Đức Giêsu đã làm điều đó, Người đã ban chính mình cho dân chúng bằng nhiều cách khác nhau.
Hằng ngày Đức Giêsu vẫn không ngừng ban cho chúng ta Bánh Hằng Sống, Chỉ ở nơi Chúa, chúng ta mới có được sự nuôi dưỡng và tâm hồn chúng ta được thoả lòng ao ước. Trong Thánh Lễ chúng ta được nuôi dưỡng với Lời Chúa và Bánh Sự Sống. Đó là hình ảnh bữa tiệc thiên đàng trong tương lai.
Ly Cha, Cha đã sn sng chia s cho chng con bng c Thn Mình Cha. Xin cho chng con bit sn lng chia s cho những người khc khng phi chỉ bng vt cht nh nhoi, nhưng bng c tm hn, thn xc v c con người chng con. Amen.

TN18-C63. TRÊN ĐỈNH PHÙ VÂN!
Lc 12, 13 - 21
 

Là tựa đề một bài hát được nhạc sĩ Phó-Đức-Phương sáng tác theo làn điệu ca trù, không dính: TN18-C63

Là tựa đề một bài hát được nhạc sĩ Phó-Đức-Phương sáng tác theo làn điệu ca trù, không dính dáng gì đến câu chuyện phù vân mà chúng ta muốn bàn tới, ngoại trừ nó nhắc nhớ về vua Trần Nhân Tông thấy cuộc đời phù vân, đã bỏ ngai vàng và cuộc sống vương đế, để đến núi Yên Tử tu luyện và lập ra môn phái Thiền Trúc Lâm, cùng với truyền thuyết kể rằng ba trăm cung nữ theo hầu nhưng không được vua cho ở cùng nơi đất Phật, nên lâm vào cảnh khó. Về lại Kinh thành không được,mà ở lại cũng không xong, tất cả đã chọn giải pháp trầm mình tự tử.Người ta cũng kể rằng năm trong số ba trăm cung nữ ấy đã được năm chàng trai người Dao cứu và đã nên vợ nên chồng. Không biết trong ông vua thiền sư và các cô cung nữ, ai mới thấy và hiểu cuộc đời là phù vân! Chắc chắn không siêu thoát khảng khái và thoáng đạt như Nguyễn-Công-Trứ, kẻ sĩ “lên voi xuống chó”, nhưng dù ở thân phận nào,cũng vẫn giữ lòng than thản và khí chất người quân tử, cho nên câu cảm thán của ông nghe mới thật sự thấm thía :”cuộc đời như mây nổi,như gió thổi,như chiêm bao”.Cụ Nguyễn-Du, trong bài “Đồ trung ngẫu hứng”(*) cũng đã có những câu :”Thế gian phú quý đẳng phù vân; Bách niên đáo để giai như thị; Hồi thủ mang mang nhất phiến trần" (Chức trọng tiền nhiều mây hợp tan; Kết cục trăm năm đều thế cả; Ngoảnh trông một áng bụi mơ màng).
Cô-he-lét có quá lời chăng,khi nói: "Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân”, câu nói đầy bi quan chán chường của một người vừa gặp một thất bại,một đau thương mất mát hoặc của một người yếm thế. Nhưng hạnh các Thánh cho thấy nhiều trường hợp như vậy : do vấp ngã nặng nề, mà thấy đời phù vân,vô vị và quyết đi theo Chúa. Đó là Thánh Phanxicô Xaviê, đã bị Chúa chinh phục khi nghe Thánh Inhatiô Loyala không ngừng lập lại cho chàng trai qúy tộc và giáo sư trẻ nghe câu Tin Mừng :” Được lời lãi cả thế gian, mà mất linh hồn,thì nào được ích gì”; nhờ đó mà Phanxicô Xaviê trở thành vị thánh truyền giáo lớn nhất trong Giáo Hội. Đó là Thánh Anphongsô Liguôri,lễ kính chính ngày hôm nay,nhưng không mừng vì trùng với phụng vụ phục sinh ngày Chúa Nhật. Cuộc đời một luật sư sáng giá sẽ trôi qua êm đẹp, nếu như Thánh Anphongsô không như một Phaolô ngã ngựa trên đường Damas và rồi Người đã nhận ra tiếng Chúa gọi. Thanh bảo kiếm đặt dưới chân Đức Mẹ chuộc kẻ làm tôi nói lên sự từ bỏ danh vọng, quyền hành, địa vị, chức tước. Thánh Anphongsô đã nhận ra cái phù phiếm của cuộc đời:” Phù vân. Tất cả đều là phù vân” và chọn Chúa làm gia nghiệp cho cuộc đời mình. (trích bài viết LM Giuse Maria Nguyễn Hưng Lợi, DCCT, ngày 22.07.2005). Xin trích dẫn thêm một câu trong bài viết nầy :”Anphongsô đã hiểu thế nào là thất bại. Anphongsô thua kiện để Thiên Chúa được thắng kiện. Đó là cái nghịch lý của cuộc đời mà Anphongsô đang trải qua .Anphongsô đã bỏ tất cả. Giờ đây chỉ còn Chúa và các bệnh nhân”.
Người ta nói nhiều đến hai chữ ‘phù vân’, cảm nhận qua hai chữ nầy sự …phù vân,nhưng cái gì là ‘phù vân’ và làm sao nhận định cái nầy là phù vân, cái kia không phải,thì chưa thấy được câu trả lời rõ ràng,mà chỉ quy lỗi cho thế gian,xác thịt, vật chất. Linh mục SVD Nguyễn-Trung-Tây đã có một bài viết nói về đoạn trong sách Giảng Viên trên đây, mượt mà như một áng thơ, đọc lên thấy tâm hồn phiêu lãng, thấy thế sự thăng trầm thật vô nghĩa : “Phù vân là hơi nước tụ họp gặp mặt nhau trên bầu trời. Từ những dòng sông ngòi cong mình uốn khúc và ngũ đại dương bao la xanh đậm, hơi nước nho nhỏ bốc cao lơ lửng ngập ngừng. Hơi nước của sông gặp gỡ hơi nước của biển. Cả hai cộng lại hóa ra tơ trời. Ngàn vạn sợi tơ của trời đan kết lụa là dệt ra mây trắng lững lờ trôi nổi bồng bềnh. Mây trời nối tiếp mây trời, lang thang nối tiếp lang thang. Mặt trời bình minh phương Đông vươn cao ném tung xuống cõi trần gian hơi nóng. Hơi nóng tỏa nhiệt đốt cháy mây trời, tẩy xóa phù vân. Phù vân biến thành vô thường. Vô thường tiếp nối phù vân. Phù vân nối tiếp vô thường chầm chậm loãng tan biến mất. Có đó rồi mất đó. Mất đó rồi lại hiện ra. Hiện ra rồi lại biến mất, y như hơi nước, y như tơ trời, y như phù vân, y như vô thường, y như cuộc sống nhân sinh thoáng hiện thoáng mất”. Song thú thật, chỉ giống như nghe thuyết pháp về triết lý ‘sắc sắc,không không” của đạo Phật. Đạo Công Giáo không ngừng lại ở suy tư,nhận định về những hợp tan (phù vân) cuộc đời - kể cả như lời của Cô-he-lét trong sách Giảng Viên -, cũng không phải biết chỉ để biết, mà để hành xử thế nào với những cái phù vân ấy theo tinh thần Phúc Âm, biến nó thành những gì mang tính “cứu chuộc” khi hiệp thông với mầu nhiệm cứu độ của Chúa Kitô. ‘Phù vân’, vì thế và nhờ thế, không còn đơn thuần là phù vân, quyến rũ và trói buộc ta vào nó, khiến cho ta tan vào cõi mờ mờ ảo ảo,không nhận ra đâu là thật giả nữa, mà cứ đâm đầu chạy theo những giá trị chóng qua, chóng qua - hợp rồi tan - chứ không phải giả tạo và giả dối. Còn khi không để lòng mê theo những sự chóng qua nầy, không đánh đồng và đánh đổi cuộc sống làm người và làm con Chúa với những giá trị chóng qua nầy, hơn thế nữa, bắt chúng phải phục vụ cho các giá trị vĩnh hằng, thì ‘phù vân’ sẽ thôi là phù vân.
Cuộc sống con người có thể ví như ông nhà giàu có bốn bà vợ. Ba bà được ông chăm sóc,cưng chiều rất mực và hãnh diện khoe khoang. Riêng bà vợ cả hầu như chẳng được ông chú ý tới. Khi lâm trọng bệnh, ông gọi từng bà vợ đến. Cả ba bà đều thẳng thừng từ chối theo ông. Chỉ có bà vợ cả bị ông ruồng rẩy là quyết trung thành với ông.Thấy bà gầy gò xanh xao, ông rưng rưng xúc động: “Đáng lẽ ra trước đây tôi phải chăm sóc bà nhiều hơn”.Mỗi chúng ta ai cũng có 4 bà vợ.Bà vợ thứ tư chính là thân thể của chúng ta. Cho dù ta có chăm chút, trau chuốt đến mấy, rồi nó cũng rời bỏ ta khi ta chết. Còn bà vợ thứ ba ? Đó chính là của cải, địa vị ... Khi chúng ta chết, chúng sẵn sàng đi theo người khác.Bà vợ thứ hai chính là gia đình và bạn bè. Cho dù có thân thiết đến mức độ nào, khi ta chết, họ cũng chỉ khóc đưa ta ra mộ mà thôi. Bà vợ thứ nhất chính là tâm hồn ta, thường bị lãng quên khi ta chạy theo tiền tài, địa vị, danh vọng, của cải, nhưng nó sẽ theo ta suốt cuộc đời (http://phanchautrinhdanang.com).
Một định nghĩa cho ‘phù vân’? Trong các bức hoạ mang tựa hoặc nói về “vanité” (phù vân),như bứcVanité của Juriaen van Streeck, bức Vanité của Pieter van Steenwyck hay bức Vanité về Thánh Phanxicô Atxidi của Luis de Morales,v..v... đều tượng trưng bằng một chiếc đầu lâu. PHÙ VÂN, do vậy, có thể được định hình như sau : con người vào đời trần truồng với hai bàn tay trắng và khi chết sẽ trở về trắng tay,như khi vào đời. Đó là bộ khung mà Đấng Tạo Hoá ban cho mỗi người và mọi người. Những gì không theo chúng ta vào đời và không cùng chúng ta đi vào «cõi vĩnh hằng»,nhưng ngừng lại và chấm dứt khi ta nhắm mắt xuôi tay,là «phù vân». Chúng là những thực tại vật chất và những giá trị đi kèm : danh vọng, tiền tài,tham vọng... Những thực tại nầy, tự chúng không xấu, khi chúng được giữ chặt ở «phận tôi tớ», song sẽ tồi tệ,khi chúng leo lên được địa vị «ông bà chủ»! Còn những giá trị tinh thần mà chúng ta thu góp,tích luỹ trong suốt đời người của mình, trong đó có cả những đau khổ, thì góp phần vào việc xây dựng nhân cách, đạo đức của chúng ta, tạo nên ‘phúc’ hay ‘tội’, giúp ta được sống hạnh phúc đời đời trên thiên đàng hoặc phải trầm luân muôn kiếp trong hoả ngục : những cái nầy không phải là ‘phù vân’. Sự gì theo ta đi vào cõi đời đời – thiên đàng hay hoả ngục – không là phù vân !
Than ôi, trên đỉnh phù vân : con người dường như càng biết những gì là phù vân, càng thấy sự mong manh, trống rỗng, phù du, hợp rồi tan, thì lại càng cuống cuồng lao đầu vào! Như thế mới có chuyện những con thiêu thân !
ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI 60

 

TN18-C64. Tiền bạc và giàu sang

Có người đã kết án: Kitô giáo là đạo của những người giàu và Giáo Hội thì chạy theo tư bản!: TN18-C64

Có người đã kết án: Kitô giáo là đạo của những người giàu và Giáo Hội thì chạy theo tư bản! Vậy đâu là thái độ của Chúa Giêsu và lập trường của Giáo Hội đứng trước vấn đề của cải và giàu sang? Như chúng ta đã biết Chúa Giêsu muốn sống thật nghèo hèn. Sinh ra không nơi ẩn trú, lớn lên không chốn tựa đầu và chết đi một cách trơ trụi trên thập giá, thế nhưng, Ngài cũng đã chấp nhận quyền tư hữu.
Thực vậy, trong 10 giới răn được công bố có giới răn thứ 7 và thứ 10 cấm chúng ta không được ước ao, lấy hay giữ của người khác một cách trái phép. Với chàng thanh niên giàu có, trước hết Ngài đã phán: Hãy tuân giữ những giới luật. Sau đó, Ngài thêm: Nếu con muốn trở nên trọn lành, hãy về bán tất cả những gì con có, phân phát cho người nghèo, rồi hãy đến mà theo Ta.
Chúa Giêsu luôn tỏ ra thương xót những kẻ nghèo hèn và cùng khốn, tuy nhiên Ngài cũng có những người giàu ở bên cạnh, chẳng hạn như Giakêu, như Giuse Arimathia. Ngài cũng đã vào nhà ông Simon, một người biệt phái giàu có.
Tuy nhiên Ngài đã cảnh giác: Sự giàu sang là một nguy hiểm cho phần rỗi linh hồn và người giàu có khó mà vào được Nước Trời. Ngài nói rằng khó chứ không bảo rằng không có thể. Theo Ngài, sự giàu có, hay nói đúng hơn lòng đam mê tiền bạc là như một bụi gai, bót nghẹt hạt giống lời Chúa được gieo trồng trong tâm hồn chúng ta.
Ngài không kết án sự giàu sang chính đáng, được tạo nên bởi mồ hôi nước mắt, bởi công lao vất vả của chúng ta. Điều Ngài kết án đó là lòng đam mê tiền bạc một cách mù quáng, đến nỗi quên mất cả Thiên Chúa và linh hồn của mình. Chính trong chiều hướng này mà Ngài đã nói: Khốn cho những kẻ giàu sang, vì không ai có thể vừa làm tôi Thiên Chúa, lại vừa làm tôi tiền bạc được. Ngài cũng căn dặn chúng ta về việc sử dụng tiền của: Hãy dùng tiền của mà mua lấy bạn hữu. Đồng thời Ngài đặc biệt nhắc bảo chúng ta hãy thu tích cho mình một kho tàng thiêng liêng, trộm cắp không thể lấy đi và mối mọt không thể gậm nhấm… bởi vì được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào có ích lợi chi. Và như thế dưới mắt Chúa Giêsu thì phần rỗi linh hồn quý trọng hơn mọi của cải vật chất.
Tiếp đến là Giáo Hội, noi gương Thầy chí thánh, Giáo Hội không kết án của cải tiền bạc nhưng kết án thói xa xỉ phung phá, lòng đam mê tiền bạc quá đáng, cũng như sự keo kiệt và cõi lòng chai đá. Theo giáo huấn của Giáo Hội, thì Thiên Chúa là chủ mọi tạo vật. Vì thế, con người sẽ phạm tội nếu không sử dụng của cải trong tinh thần công bằng và bác ái. Giáo Hội không ngừng khơi dậy một tình thương: Hỡi người người giàu hãy than khóc vì những tại hoạ đổ xuống, của cải sẽ mục nát, vàng bạc sẽ bị han rỉ, tiền công của thợ gặt mà các ngươi đã gian lận đang kêu lên và tiếng kêu ấy đã thấu tới Chúa. Các thánh giáo phụ cũng đã dùng những lời lẽ gay gắt để chỉ trích những kẻ cho vay nặng lãi và những kẻ bóc lột người nghèo. Rồi các Đức Giáo Hoàng gần đây không ngừng cổ võ cho một sự công bằng xã hội. Đức Thánh Cha Léo XIII trong thông điệp “Tân sự” đã bênh vực thợ thuyền và xác định những quyền lợi của giới công nhân. Tiếp đến, các Đức Thánh Cha Piô XI, Piô XII, Gioan XXIII, Phaolô VI cũng đi vào con đường đó, các ngài lên tiếng phải cải tạo xã hội dựa theo công bằng và tình thương Kitô giáo. Như thế chúng ta thấy cả Chúa Giêsu lẫn Giáo Hội đều không phải là những người chạy theo tư bản. Mặc dù bênh vực quyền tư hữu, nhưng luôn kết án lòng đam mê tiền bạc, hoang phí tiền của và cư xử bất công đối với những người nghèo. Vì thế, hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa trước đã. Tiền bạc chỉ là phương tiện, chứ không phải là mục đích cuối cùng của đời sống chúng ta.

 

TN18-C65. Suy niệm của Charles E. Miller

CẦU NGUYỆN NHƯ NHỮNG NGƯỜI CÔNG GIÁO VỚI ĐỨC GIÁO HOÀNG.
 

Trong cuốn sách Bước qua ngưỡng cửa hy vọng, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã trả lời câu hỏi: TN18-C65

Trong cuốn sách Bước qua ngưỡng cửa hy vọng, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã trả lời câu hỏi: “Giáo Hoàng đã cầu nguyện như thế nào, cho ai và cầu nguyện những gì?” Ngài đã trả lời bằng một câu mở đầu của Hiến chế vè Giáo Hội trong thế giới ngày nay của Công đồng Vatican II, điều này không có gì ngạc nhiên bởi vì ngài là Giám mục của Công đồng, ngài có mặt trong một ủy ban soạn thảo tài liệu này và được viết bằng tiếng Latin là Vui Mừng và Hy Vọng. Đây là đoạn Đức Giáo Hoàng thuộc nằm lòng: “Niềm vui và hy vọng, đau thường và những lo âu của dân chúng trong thời đại này, đặc biệt là những người nghèo khổ hoặc bị đau buồn bởi bất cứ cách nào là niềm vui và hy vọng, những đau thương và lo âu của những người đi theo Đức Kitô”. Đây là tâm tình và sự hoàn hảo theo phẩm giá của Chúa Giêsu: “Hãy tránh tham lam trong mọi hình thức”. Tham làm thúc đẩy chúng ta cầu nguyện cho những lý do ích kỷ hơn là cầu nguyện cho những người có nhu cầu như Đức Giáo Hoàng đã làm.
Dĩ nhiên Đức Giáo Hoàng như là mục tử của Giáo Hội phổ quát, dĩ nhiên ngài không được quên bất cứ ai hoặc bất cứ nhu cầu nào có liên quan đến ngài, đặc biệt trong lời cầu nguyện của ngài. Và những gì là đúng cho Đức Giáo Hoàng thì điều đó cũng đúng với mỗi người chúng ta theo những cách thế riêng của mình khi chúng ta mang danh”là người Công giáo”, một danh xưng chỉ định rằng chúng ta là một Giáo Hội phổ quát và không giới hạn trong một dân tộc nào, một quốc gia nào, một văn hóa nào.
Chủ nghĩa Công Giáo của chúng ta và những nỗ lực của chúng ta để lướt thắng những tham lam được tỏ hiện bằng việc chúng ta cầu nguyện trong khi cử hành phụng vụ Thánh Thể. Điều đặc biệt ý nghĩa là lời kinh của các tín hữu. Danh xưng này chỉ định rằng, sự cầu nguyện là phần thực hành của chức linh mục cộng đồng, điều đó được tuôn tràn từ bí tích Rửa tội, chức linh mục cộng đồng đã được tuôn tràn từ bí tích Rửa tội. Được biết như là”sự cầu bầu phổ quát”. Danh xưng này chỉ định rằng chúng ta có bổn phận phải cầu nguyện cho tất cả mọi người chứ không phải chỉ đơn giản những nhu cầu riêng biệt của chúng ta. Chúng ta phải dâng lời cầu xin cho Giáo Hội tại địa phương cũng giống như trên khắp thế giới, cho các vị lãnh đạo đời, những người bị áp bức và những người có nhu cầu, cũng như cho tất cả mọi người được ơn cứu độ. (x.. lời giới thiệu chung của sách lễ Roma số 45).
Kinh nguyện Thánh Thể cũng liên hệ trong câu mở đầu của Hiến chế về Giáo Hội trong thế giới ngày nay. Lời kinh nguyện Thánh Thể thứ ba đã cầu nguyện một cách đặc biệt hầu như không bỏ sót hoặc quên bất cứ ai: “Lạy Chúa xin cho lễ hy sinh này tuôn đổ bình an và ơn cứu độ cho tất cả thế giới. Xin hãy cho tăng thêm sức mạnh cho đức tin và lòng mến… cho toàn thể mọi người mà con của Cha đã tụ họp lại. Trong tình yêu nhân từ và hợp nhất toàn thể con cái của Cha ở bất cứ nơi nào mà họ hiện diện… Xin hãy tiếp đón vào vương quốc của Cha… tất cả những ai rời bỏ thế gian này trong tình thân hữu với Cha”.
Dĩ nhiên, chúng ta có thể và sẽ cầu nguyện trong chính những nhu cầu của chúng ta, cho những người mà chúng ta yêu mến, chúng ta cũng cần nhắc nhở về lời của Thánh Phaolô rằng: “Chúng ta phải đưa tâm trí của chúng ta đến với những lãnh vực cao hơn. Chúng ta sẽ hướng tới những lãnh vực cao hơn khi chúng ta quảng đại và không ích kỷ trong lời cầu nguyện. Phải thêm rằng chỉ có kinh nguyện cho những người có nhu cầu thôi thì không đủ. Chúng ta cũng cần hành động, hành động đó đã được linh hứng và thúc đẩy bởi kinh nguyện. Người khác có thể lâm vào sự nghèo khổ, coi thường những người lãnh lương hưu trí, khinh bỉ dân nhập cư, và chọn lựa cuộc sống tách biệt khỏi những khốn khổ của con người nhưng họ không phải là những người Công giáo. Chúng ta tin rằng”niềm vui và hy vọng”, đau thương và những lo âu của mọi người trong thời đại này, đặc biệt là những người nghèo khổ hoặc bất cứ những đau buồn cách nào, là những niềm vui và hy vọng, đau thương và lo âu của người môn đệ Đức Kitô”.

 

TN18-C66. Bao nhiêu mới đủ - McCarthy

Suy Niệm 1. CĂN BỆNH THÍCH TÍCH TRỮ
 

Tolstoy kể lại câu chuyện về một người nông dân tên là Pakhom rất muốn có một ít đất đai: TN18-C66

Tolstoy kể lại câu chuyện về một người nông dân tên là Pakhom rất muốn có một ít đất đai. Ông ta dành dụm từng đồng và mua được bốn sào. Ông ta hết sức vui mừng. Tuy nhiên, ít lâu sau, ông ta cảm thấy còn chật chội, ông bèn bán bốn sào đất đó đi và mua tám sào ở một vùng khác. Nhưng điều đó không làm ông thoả mãn lâu, nên ông bắt đầu tìm kiếm ở chỗ khác.
Một buổi tối nọ, một người khách lạ đến. Pakhom đã nói về ước muốn của ông có thêm nhiều đất đai. Người khách lạ nói với ông rằng bên kia dãy núi nơi sinh sống của một bộ tộc. Những con người đơn sơ ở đây có rất nhiều đất đai muốn bán.
Ngày hôm sau, ông ra đi. Người tộc trưởng tiếp đón ông và nói: “Chỉ cần bỏ ra một ngàn rúp, ông sẽ có được một số đất đai mà ông rảo bước trong một ngày. Nhưng ông phải quay về điểm xuất phát cũng trong ngày hôm đó, nếu không kịp, ông phải chịu mất số tiền”.
Pakhom sung sướng rộn ràng. Suốt đêm đó ông không ngủ được mải nghĩ đến những đất đai sẽ thuộc về ông. Ngay khi mặt trời vừa ló dạng ở chân trời, người ta cắm một cái mốc trên đỉnh gò, và ông xuất phát. Có những người cỡi ngựa theo sau và đóng xuống đất những cọc để đánh dấu lộ trình mà ông đã đi qua.
Ông bước đi nhanh và mỗi lúc một nhanh hơn. Càng đi xa đất càng màu mỡ hơn. Trong lúc tham lam, ông đi một vòng thật lớn mà quên mất thời gian. Và rồi ông hoảng hốt khi thấy mặt trời bắt đầu xuống thấp. Ông quay đầu chạy về cái gò, nơi ông xuất phát thật nhanh. Khi ông vừa lên đến đỉnh gò thì mặt trời đã lặn. Tuy nhiên, ngay lúc đó ông đã ngã quỵ xuống, úp mặt trên đất.
“Tôi khen ngợi ông” người tộc trưởng nói “Ông đã có nhiều hơn bất cứ người nào mà tôi còn nhớ”. Nhưng Pakhom không đáp lại. Người ta lật ngửa ông lên. Ông đã chết.
Một số lượng nào đó về tiền bạc và của cải vật chất là cần thiết. Dụ ngôn của Đức Giêsu không nói về nhu cầu mà nói về lòng tham. Người phú hộ đã bắt đầu với sự giàu có, nhưng ông vẫn không thoả mãn. Lòng tham giống như một ngọn lửa, lửa càng lớn khi người ta càng chất củi vào, người tham có nhiều của càng tham. Một trong những vấn đề chính của thời đại chúng ta là người ta không biết khi nào mới sung túc, phong lưu.
Elvis Presley chết ở tuổi bốn mươi hai vì lạm dụng thuốc. Ông có tám ô tô, sáu mô tô, hai máy bay, mười sáu cái tivi, một lâu đài và một số tài khoản lớn ở ngân hàng.
Khi một con quạ làm tổ trong rừng, nó chỉ chiếm một cành cây mà thôi. Khi con hươu ra bờ sông để làm nguôi cơn khát, nó không uống quá nhu cầu của nó trong lúc đó. Vậy tại sao con người lại lo tích trữ?
Con người khao khát được an toàn. Trong thời đại của Kinh Thánh, khi nạn đói là một đe doạ thường tái diễn, người ta tìm kiếm sự an toàn bằng việc tích trữ ngũ cốc. Trong thời đại của chúng ta, người ta tìm sự an toàn trong việc tích trữ của cải và tài sản. Người ta tích trữ đồ vật và bám chặt vào chúng, bởi vì chúng cho họ ảo tưởng về sự an toàn. Nhưng sự an toàn không thể tìm thấy được trong của cải. Nó chỉ có thể được tìm thấy trong Thiên Chúa.
Cùng với sự an toàn, người ta cũng tìm thấy giá trị của bản thân trong của cải. Trong xã hội chúng ta, người ta đánh giá con người qua những gì họ có. Có nhiều của cải làm người ta trở thành một cái gì đó. Không có của cải trở thành không có gì cả.
Mahatma Gadhi là một trong những người vĩ đại nhất của thế kỷ hai mươi. Tuy nhiên, ông sống trong một căn nhà đơn sơ làm bằng gỗ và bùn. Về của cải ông chỉ có những vật dụng thiết yếu. Của cải sẽ không bao giờ cho chúng ta sức mạnh nội tâm. Chúng là những cái nạng cho một người què quặt tâm linh.
Đức Giêsu nói thay vì tích trữ của cải trong kho tàng, chúng ta phải tìm cách làm cho mình giàu có trước mặt Thiên Chúa. Điều làm cho chúng ta giàu có trước mặt Thiên Chúa không phải là điều chúng ta có, cũng không phải là điều chúng ta đã làm.
Không phải có của cải là có tội nhưng chính là óc chiếm hữu. Từ bỏ không có nghĩa là dửng dưng hoặc không quan tâm. Từ bỏ là không chiếm hữu. Đời sống là một quà tặng mà chúng ta phải biết ơn chứ không phải một sở hữu để chúng ta bám víu. Một đời sống không chiếm hữu là một đời sống tự do.
Của cải duy nhất đáng cho chúng ta tích luỹ là của cải của tâm hồn. Một tâm hồn quảng đại là một kho tàng. Có tâm hồn quảng đại là giàu có trước mặt Thiên Chúa. Sợ hãi và tham lam là những kẻ thù thật sự. Nỗi khiếp sợ đói khát khi kho lẫm đầy tràn là cơn đói khát không bao giờ có thể thoả mãn.

 

TN18-C67. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI CỦA CẢI ĐỜI NÀY
 

Sau khi Chúa Giêsu nói chuyện riêng với các môn đệ, đám đông nhắc đến sự hiện diện của Ngài: TN18-C67

Sau khi Chúa Giêsu nói chuyện riêng với các môn đệ, đám đông nhắc đến sự hiện diện của Ngài (xc.1). Tiếp theo một lời thỉnh cầu, Chúa Giêsu cho biết thái độ phải có đối với của cải đời này, trong khi đề phòng thính giả khỏi mọi thứ tham lam (c.13,21). Tiếp theo là một cuộc nói chuyện riêng lần thứ hai với các môn đệ kéo dài tới 12, 53. Đề tài thứ nhất kéo dài giáo huấn cho đám đông nhưng nhấn mạnh vào một điểm khác: từ lòng tham lam Chúa Giêsu nói đến sự lo lắng cho ngày mai (cc.22-34) –một tình cảm ăn rễ sâu trong con người.
 Nói với dân chúng: Giữ mình khỏi mọi thứ tham lam
Một người xin Chúa Giêsu can thiệp giúp trong vấn đề chia gia tài. Anh ta gõ lầm cửa rồi, vì Chúa Giêsu đâu phải là một Kinh sư như các vị khác mà vai trò chính là để lo những công việc luật pháp. Nhiệm vụ của Chúa Giêsu là loan báo Tin Mừng của Vương Quốc và kêu gọi người ta hoán cải; như vậy nhiệm vụ đó tác động tới tận gốc rễ của việc tranh chấp giữa hai anh em (cc.13-15); cho nên Ngài từ chối đóng vai trò mà người kia yêu cầu, rồi Ngài nói với đám đông. Vượt quá sự nhắc nhở của Lề Luật (“Ngươi không được thèm muốn nhà của người bên cạnh” Xh 20,17), đó là một cảnh giác chống lại mọi tham lam vô độ muốn chiếm hữu thêm hay là chiếm hữu hơn cả cái cần dùng. Một câu ngạn ngữ đưa ra lý do: của cải vật chất không cho ta được một sự an toàn đích thực; cuộc sống không được đảm bảo bởi có dư dật của cải (x. đã có ở 9, 25). Người ta sẽ hiểu rằng từ chối xử kiện hay chia gia tài không có nghĩa là Ngài chấp nhận trên thực tế một sự bất công.
Dụ ngôn về người phú hộ ngu ngốc là một minh hoạ cho điều này (cc. 16-21). Là địa chủ, ông quyết định nới rộng kho lẫm để chứa hoa màu thu bội và như vậy có thể dự trữ cho riêng ông, và ông có thể nghỉ ngơi một cách an toàn trong nhiều năm. Vậy thì ông sẽ phá những kho lẫm cũ quá nhỏ bé, nhưng có thể là rất hữu dụng cho người khác… Hoàn toàn hướng về một thực hiện ích kỷ chỉ nhắm vào đời sống hiện tại, ông ta không quan tâm đến cái chết, cái chết của chính ông, trong khi giải quyết vấn đề của ông. Trong việc đó, ông ta tỏ ra ngu ngốc, bởi vì Thiên Chúa, chủ tể sự sống, sẽ thu hồi sự sống của ông, ngay trong đêm đó; con người này đã thiếu khôn ngoan khi không tìm kiếm cho mình một hạnh phúc vững bền. Ở câu 21, phần áp dụng dụ ngôn cảnh giác ta về một thái độ ích kỷ như thế (thu tích của cải cho mình). Thực ra, phải làm giàu trước mặt Thiên Chúa; tuy còn một ít khó hiểu, bài học này sẽ được làm sáng tỏ một cách đầy đủ bởi kết luận của toàn bộ phần khai triển ở câu 33-34.

 

TN18-C68. Chú giải của Noel Quesson

Có người trong đám đông nói với Đức Giêsu rằng: “Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi
 

Đây là một vấn đề cụ thể, hiện thực luôn luôn mang tính thời sự. Hỡi ơi! Anh em xung đột TN18-C68

Đây là một vấn đề cụ thể, hiện thực luôn luôn mang tính thời sự. Hỡi ơi! Anh em xung đột nhau trong lúc chia gia tài là chuyện thường thấy!
Để hiểu câu trả lời của Đức Giêsu, phải biết luật pháp thời đó. Theo luật Do Thái (Đnl 21,17), trong việc thừa kế, người con trai cả được hưởng trọn phần di sản nếu là bất động sản nghĩa là đất đai và nhà cửa. Và người con trai cả ấy cũng nhận được, theo luật pháp quy định, phần gấp đôi các động sản. Chỉ có các con trai mới được quyền hưởng di sản. Luật pháp này chung cho toàn bộ Đông Phương cổ đại, và nhiều nền văn minh trong dòng lịch sử; luật ấy muốn gìn giữ di sản của gia tộc với việc lập nên “người gia trưởng” được hưởng đặc quyền: Đó là quyền con trưởng. Đức Giêsu đối diện với điều đó. Vậy hoàn cảnh xem ra đúng nhất có lẽ là một người “con trưởng” đã chiếm hết mọi tài sản và từ chối trả lại cho người em phần nhỏ bé mà người này được hưởng. Ngày nay trong giới Do Thái, người ta thường yêu cầu một giáo trưởng. Do Thái giáo danh tiếng đứng làm trọng tài trong các vấn đề về Luật.
Chính trong bối cảnh rõ ràng đó, người ấy đã cầu cứu uy tín đạo đức của Đức Giêsu. Đối với mọi người, câu trả lời chắc hẳn sẽ sáng tỏ và rõ ràng; phải nói với người anh ấy chia lại cho người em, đó là công lý đơn giản? Đó cũng là chính lộ xuyên suốt, Tin Mừng mà Đức Giêsu đã nhiều lần lặp lại: Anh em hãy yêu thương lẫn nhau... Vả lại, câu trả lời của Đức Giêsu làm người ta ngạc nhiên.
Người đáp: “Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh?
Vậy là một lời từ chối. Đức Giêsu tránh né. Trước một sự bất công lộ liễu, Đức Giêsu từ khước xem xét trường hợp đó là dường như không muốn quan tâm đến. Thật là quá đáng. Điều đó đi ngược lại với toàn bộ Tin Mừng, với mọi lời hướng dẫn của Giáo hội và với cả lương tâm đơn giản và sơ đẳng của con người. Người Kitô hữu không nên làm mọi việc để chấm dứt những bất công của thế giới này đó sao? Phải chăng Kitô hữu có quyền thờ ơ những công việc trần thế để chỉ nghĩ đến Thiên đàng? Vậy phải hiểu sự từ chối này. Có thể có nhiều lời giải thích và có lẽ chúng bổ túc cho nhau:
1. Theo Tin Mừng của Luca, Đức Giêsu đang trên đường đi lên Giêrusalem tức thành phố nơi Người sẽ chết trong vài ngày nữa: Thầy “giáo trưởng” trẻ này còn có nhiều ưu tư khác trong đầu hơn là những cuộc tranh cãi phù du ấy, mà sau cùng cũng được giải quyết ổn thỏa không ngày này thì ngày khác.
2. Với tâm thức cá nhân rất đông phương, Đức Giêsu thường trả lời bằng một “ẩn ngữ”, một “số ý lộn xộn” để làm cho người ta phải suy nghĩ. Thông thường, chúng ta thấy Đức Giêsu đưa ra một câu nghịch lý và gần như thái quá trong lời Người. Người trả lời một câu hỏi người ta đặt ra bằng cách đặt một câu hỏi khác. Tính cách này, Đức Giêsu đã có từ khi còn rất trẻ: Lúc mười hai tuổi, Người trả lời cho mẹ Người một cách bí hiểm. “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy?”. Đó là lúc cậu bé Giêsu trốn ở lại Đền Thờ đáp: “Sao cha mẹ lại tìm con?” Trong nhiều dịp, Đức Giêsu dường như không đáp lại: đó là phương cách tốt nhất của “người bị hiểu lầm”, thường gặp trong các cuộc tranh cãi giữa Đức Giêsu với giới trí thức Do Thái giáo, theo thánh Gioan, có sự chênh lệch, Người nói về các sự việc khác mặc dù cũng dùng những từ ngữ ấy.
Phải đọc lại những câu từ chối bên ngoài của Đức Giêsu. Những câu nói ấy không phải tình cờ. Ở Cana, Người dường như từ chối mẹ ruột Người, phép lạ đầu tiên (Ga 2,3-4) Người nói rằng Người không lên Giêrusalem “một cách công khai”, dù vậy Người cũng lên (Ga 7,3-6) Với các con trai của ông Dêbêđê đã xin được “ngồi bên hữu và bên tả trong Nước Người”, thì Người hỏi họ có uống nổi chén Người sắp uống không (Mt 20,23). Người từ chối nói Ngày quang lâm đồng thời khẳng định rằng Người không biết bởi vì “chỉ một mình Chúa Cha biết mà thôi” (Mt 24,36).
Khi các người Do Thái xin Người các “dấu chỉ”, Người từ chối nói rằng Người chỉ cho họ dấu lạ của ngôn sứ Giôna (Mt 16,1.4-12.38-40). Vậy ở đây cũng thế, từ chối can thiệp vào vấn đề chia di sản không nhất thiết có nghĩa là Đức Giêsu không quan tâm đến: Đã hẳn, diễn tiến của câu chuyện sẽ đem lại cho chúng ta tư tưởng sâu sắc của Người.
3. Chính Đức Giêsu đã nêu ra lý do có khả năng đúng nhất của sự “từ chối” việc can thiệp đó trong một câu hỏi: “Ai đã đặt tôi làm người xử kiện?”. Phải, qua đó Người nói rằng những việc trần thế, hoặc tiền bạc ấy không phải là vai trò và sứ mạng của Người. Con người luôn bị cánh dỗ tìm kiếm trong Tin Mừng một thứ bảo hiểm, một sự thánh thiêng hóa các chọn lựa trần tục: Sáp nhập Tin Mừng vào phe mình, vào các lợi ích của mình. Đức Giêsu từ chối sự lẫn lộn ấy. Người từ chối đặt mình vào vị trí của chúng ta. Trút trách nhiệm của chúng ta qua người khác, hoặc tìm một giải pháp có sẵn là việc quá dễ dàng.
Trong chiều hướng đó, Công đồng Vatican II đã không ngừng đưa giáo dân về với ý thức và năng lực của riêng họ: “Giáo dân hãy mong đợi ánh sáng và sức mạnh tinh thần nơi các linh mục. Tuy nhiên họ đừng vì thế mà nghĩ rằng: Các chủ chăn có đủ thẩm quyền chuyên môn để có thể có ngay một giải pháp cụ thể cho mọi vấn đề xảy ra, kể cả những vấn đề quan trọng” (G.S. 43). Đức Giêsu đã làm điều đó. Người trả vấn đề thừa hưởng di sản cho sự xét xử của cấp thẩm quyền.
Và Người nói với họ: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu”.
Sự từ chối của Đức Giêsu, không trực tiếp đảm nhận một nhiệm vụ trần thế, do đó không có nghĩa Người không có gì để nói về các vấn đề trần thế. Đức Giêsu sẽ nhắc lại một lý tưởng cũng là một nguyên tắc chủ yếu. Vai trò của Người thuộc bình diện này và có tính chính trị theo ý nghĩa sâu xa của từ này; nghĩa là sứ mệnh và sứ điệp của Đức Giêsu liên quan đến đời sống của thành đô trần thế. Giáo Hội cũng như Đức Giêsu không trung lập Giáo Hội có bổn phận phải chuyển giao một sứ điệp, phải đưa ra các phán đoán về những công việc thế trần nhưng đồng thời phải để cho các quan tòa, các thẩm phán, những người phụ trách thế tục trách nhiệm áp dụng cụ thể sứ điệp của Giáo Hội.
Nguyên tắc mà Đức Giêsu khẳng định ở đây là phần trách nhiệm của Người, sứ giả của Thiên Chúa. Các ông không nên lẫn lộn mục đích! Thành đô trần thế không có mục đích tạo ra và tiêu thụ tối đa của cải! Không, điều chủ yếu không phải là phục vụ tiền bạc và lợi nhuận, mà là phục vụ “con người”!. Chính “sự sống con người” đứng đầu chớ không phải của cải! Và sự sống này không phụ thuộc vào của cải? Đức Giêsu sẽ làm sáng tỏ tư tưởng của Người khi kể lại một dụ ngôn, đầy sự ngẫu hứng để chế giễu nhấn mạnh đến những lối lo toan của một ông phú hộ.
Sau đó Người nói với họ dụ ngôn này: “Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, mới nghĩ bụng rằng: ‘Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!’ Rồi ông ta tự bảo: ‘Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!
Người đọc ‘kinh tin kính’ của một tay duy vật hoàn hảo: đức tin dựa vào hạnh phúc do vật chất mang lại? Đức Giêsu lên án ông ta, nhấn mạnh vào tính ích kỷ của ông ta dẫu sao cũng còn được cái chân thật: “Tôi… Tôi… Tôi… Mình… Mình… Mình sẽ làm... mình sẽ phá... mình sẽ xây mùa màng của mình; của cải của mình... kho lẫm của mình... thóc lúa của mình... chính bản thân mình...”.
Nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi! Từ ngữ Hy Lạp dùng ở đây cũng là từ mà Luca sẽ dùng chỉ bữa tiệc tiếp đãi của “đứa con hoang đàng” (Lc 15,23). Phải, Đức Giêsu đã biết xung quanh Người các “tiệc tùng”, ở đó người ta “tiêu tiền như nước” “ăn uống no say” cùng với tiếng đàn, tiếng hát.
Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: ‘Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?
Điên dại! Mọi tính toán của ông phú hộ sai lầm một cách thảm hại. Ông ta nhầm lẫn hoàn toàn: Sự giàu sang không mang lại hạnh phúc. Không có mối liên hệ giữa việc có nhiều của cải trần thế và sự an toàn chân thật. Sự sống của một con người không phụ thuộc vào những của cải của người ấy. Tiền bạc không mua được thời gian! Kinh Thánh không ngừng đặt đối lập kẻ điên dại “nabal” với người khôn ngoan “maskil”. Đức Giêsu cũng khẳng định rằng không biết nhận ra của cải chân thật, ý nghĩa đích thực của đời sống quả là thiếu khôn ngoan. “Điên”, năm thiếu nữ khờ khạo không mang theo dầu dự phòng cho đèn mình trong đêm chờ đón Tân Lang (Mi 25,2). “Điên”, những người đồng thời với Đức Giêsu không biết đọc ra những “dấu chỉ của thời đại” (Lc 12,56). “Dại” người mù để cho người mù khác dẫn đường là liều mình “rơi xuống hố” (Lc 6,39). “Điên” ông nhà giàu giới hạn tầm nhìn của mình vào đất đai, mùa màng, kho lẫm, cái bụng của mình.
Và đây là lý do sâu xa (cũng là lý do thứ tư) khiến Đức Giêsu từ chối can thiệp vào những công việc trần thế một cách tức thời và trực tiếp: Một cách mạnh mẽ và khó nghe; Người khẳng định rằng “đời sống” con người không hoàn tất ở trần gian này. Sứ điệp chủ yếu, sứ mạng ngôn sứ của Đức Giêsu là đây: Phần chính yếu của đời sống, rất hay bị quên lãng thì to lớn vô cùng so với sự hạn hẹp cố chấp của chủ nghĩa duy vật. Còn, Đức Giêsu -người sắp chết trong ít ngày nữa- không muốn làm giàu cho một người, dù đó là quyền lợi chính đáng của anh ta: việc chia gia tài ấy không phải là điều tốt lành đích thực cho anh ta. Chúng ta phải thành thật thú nhận rằng một cách tự phát, chúng ta suy nghĩ ngược lại với Đức Giêsu. Tuy nhiên, có một tiếng nói nhỏ trong chúng ta nói với chúng ta: Người có lý. Người biết rõ điều Người nói.
Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó
Chúng ta chớ hiểu sai tư tưởng của Chúa. Sự giàu sang tự nó không là điều xấu. Tiền bạc có thể trở nên tốt nếu nó không chỉ “vì mình” (Lc 12,33-34).

 

TN18-C69. Lòng ham hố của cải - R. Gutzwiller

Đề nghị dân chúng phải đề cao cảnh giác khỏi men Biệt phái, coi chừng họ, xem ra còn quá dễ, vì đó: TN18-C69

Đề nghị dân chúng phải đề cao cảnh giác khỏi men Biệt phái, coi chừng họ, xem ra còn quá dễ, vì đó là đề phòng người khác; việc đề cao cảnh giác nói sau đây khó thực hiện hơn: đó là lời cảnh tỉnh nói với mỗi người, vì cái tham vọng lo tích luỹ ky cóp, ít nhiều gì cũng chi phối cuộc sống con người.
1. Đầu đuôi câu truyện
Có người đến xin Chúa Kitô chia gia tài dùm. Anh của hắn –có lẽ là anh cả- là người thừa kế chính thức, nên hắn phận em lo mình phải thiệt thòi. Hắn xin Chúa như vậy có lý lắm. Vì là con cùng cha, mà bị xử tệ như vậy sao?
Dẫu thế, Đức Giêsu vẫn từ chối không giải quyết. Xét cho cùng những thỉnh nguyện của bạn trẻ này hợp lý lắm, nhưng chỉ vì hắn bận tâm lo lắng quá về truyện đó. Cuộc đời hắn để cho vật chất đóng vai trò lớn quá. Hắn khó hội ý được những lời kỳ diệu của Chúa Kitô về nước Thiên Chúa, một thế giới linh thiêng và tình yêu Thiên Chúa. Hắn đã bị daỳ vò bởi quá lo lắng đến công kia việc nọ mà chẳng hề nghĩ đến những lý tưởng cao hơn. Đó là tình trạng cũng thường thấy thôi.
Nhiều người ‘cũng’ quan tâm đến việc đạo (thậm chí còn quan tâm nhiều nữa) nhưng thực ra đối với họ việc đó chỉ là thứ yếu. Họ chấp nhận việc đạo vơí điều kiện họ còn thời giờ, còn sức lực, khi đời sống vật chất còn được bảo đảm. Trước hết phải là kế sinh nhai, làm ăn sinh sống, của ăn áo mặc, thể thao giải trí rồi mơí nói đến đạo nghĩa. Vì chẳng những vấn đề đạo nghĩa làm mất biết bao thì giờ mà còn phải chú ý và mất sức lực nữa.
Cho nên, những việc tôn giáo đó, gác lại đến những ngày cuối đời –không hẳn là lúc gần chết-. Đàng khác, có những người coi yếu tố kinh tế như nguyên nhân gốc và ưu thắng của mọi cuộc biến hoá đến nỗi việc thiêng liêng –thậm chí cả tôn giáo- xem ra chỉ là cái phụ trội, thêm thắt không hơn, không kém (nếu không muốn nói là dư thừa hoặc nguy hại nữa)…
Tư tưởng đó đã nhiễm vào lãnh vực tinh thần: một số người công bố rằng con người hãy lo bảo đảm đời sống vật chất trước đã, rồi sau đó mới nói đến nước Chúa. Còn Tin mừng thì đã mang một thứ ngôn ngữ khác hẳn.
2. Giáo huấn của Đức Giêsu
Chúa trả lời rât minh xác: ‘Vì chẳng phải sung túc mà đời sống được của cải đảm bảo cho đâu’. Những lời này được coi như một chủ đề được phát biểu gắt gao và mang hai ý tưởng.
Trước nhất những của cải vật chất không bảo đảm cho đời sống. Điều này ngày nay là một thực tế trước mắt. Việc phát triển kinh tế đã hoàn toàn rút mất khỏi cá nhân khả năng định đoạt số mệnh.
Cá nhân lệ thuộc vào chủ mình; và ông chủ, chính ông cũng lại tuỳ thuộc vào những tương giao kinh tế qui mô của khu vực, mà khu vực kinh tế lại tuỳ thuộc vào miền Kinh tế. Và cứ thế miền kinh tế vượt khỏi ranh giới xứ sở và đại lục.
Như thế vận mệnh mỗi người nằm trong tay người khác và những thế lực vô danh không có chút khả năng cạnh tranh. Ngoài cái bấp bênh về mặt kinh tế, còn có cái bấp bênh trên thực tiễn vì vào thời đại chúng ta, cuộc chiến nào cũng mang những chiều kích vĩ đại và đưa đến biết bao đổ nát hoang tàn và tai ương khốn khó khiến hàng triệu người phải mệnh số. Không còn chi là an toàn chắc chắn cả.
Thật rất nực cười: chính vì coi vật chất là nhất mà đánh mất đi sự an toàn đó; bởi vì những hiệp ước, khế ước, bảo đảm, trách nhiệm và lương tâm là những thực tại tri thức thực tế hôm nay đã biến dạng, vì vật chất đã làm mất ý nghĩa và bản chất đích thực của những cái đó.
Chỉ có những lợi điểm và sức mạnh vật chất là đáng kể: khi vật chất làm chủ thì người ta thường hay cười trừ làm lơ với những rắc rối lương tâm, đạo đức và luật pháp.
Thứ đến, dù cá nhân được đảm bảo về mặt của cải song không phải vì thế mà cuộc sống thực danh được bảo đảm đâu.
Bằng một ví dụ, Chúa Kitô phản ảnh ý tưởng này thật rõ rệt. Ngài trình bày một người không thiếu gì cả. Ruộng vườn sinh lợi dư thừa, vừa hoàn thành kho lẫm mới, mùa màng được nhiều đem chất vào đó. Thế là không lo mất mát, tổn hại gì nữa.
Hắn được toàn quyền định đoạt mọi sở hữu của mình, tức là hắn biết cái ưu tiên hy hữu của sự an toàn thực sự vật chất. Tuy nhiên đó chỉ là ảo tưởng, vì cái chết là một sức mạnh không thể kháng cự.
Do đó, vào giờ đã định, hắn bó buộc phải từ bỏ những thứ hào nhoáng giả dối kia và dù muốn dù không cũng phải trút bỏ hết khi xuôi tay nằm xuống, trước mặt Chúa mọi sự đều bị phơi trần. Phán quyết Thiên Chúa sẽ nói hắn là kẻ ‘điên rồ’. Hắn tưởng mình có quyền sở hữu tất cả và ròi quá hiển nhiên là hắn chẳng giữ được chi hết vì chẳng mang theo được chi. Tất cả những thứ hắn có thực chẳng giá trị gì. Và cái hắn phải lo tìm kiếm, thì hắn lại không có.
Thực ra, cuộc đời hắn đã đến lúc suy sụp cả phần vật chất lẫn tinh thần. An toàn đảm bảo chỉ tìm được nơi Thiên Chúa thôi, đó là điều Chúa muốn giải thích trong phần cuối dụ ngôn. Đức Giêsu khuyên bảo hãy làm giầu cho Thiên Chúa.
Những kho tàng ân sủng thiêng liêng và những công nghiệp con người chu toàn bằng việc hợp tác với Chúa: những cái đó mới đáng kể. Cái chết vẫn là tiêu chuẩn tất yếu của tính xác thực ấy. Khi những gì thuộc phàm trần qua đi thì những gì thuộc về Chúa sẽ tồn tại. Trò chơi cao giá này người ta chỉ thắng cuộc khi nhắm đến Thiên Chúa.
Thật là điên rồ cho ai chỉ bù đầu suốt đời vào những cái phàm tục. Người khôn ngoan là người biết vượt qua của cải phù vân để nghĩ tưởng đến vĩnh cửu. Chỉ có ai biết tích luỹ tất cả những gì chắc chắn và cất giữ nơi kho cuả Chúa mới bảo đảm được cuộc sống bất diệt.

 

TN18-C70. Chú giải của Lm Vũ Phan Long

MỨC ĐỘ CỦA ĐỜI SỐNG NHƯ LÀ GIÁ TRỊ LỚN NHẤT
 

Của cải sở hữu không phải là giá trị cao nhất, khiến ta phải hy sinh mọi sự để có cho bằng: TN18-C70

Của cải sở hữu không phải là giá trị cao nhất, khiến ta phải hy sinh mọi sự để có cho bằng được. Đức Giêsu sẽ minh họa điểm này bằng dụ ngôn Ông phú hộ.
1.- NgỮ cẢnh
 Những lời Đức Giêsu ngỏ với các môn đệ trước mặt một đám đông (12,1-12.22-34) bị cắt ngang bởi lời thỉnh cầu của một người trong đám đông để xin Đức Giêsu can thiệp vào một vụ tranh tụng giữa anh ta và người anh liên hệ đến chuyện gia tài (12,13-15). Sự cố này lại là dịp để Đức Giêsu kể Dụ ngôn Ông phú hộ (cc. 16-21). Như thế, đề tài chuyển đi từ những lời nói về việc thụ hưởng cho bản thân đến những thái độ đối với của cải trần thế (12,13-34): “Phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam” (c. 15). Bài dụ ngôn tiếp theo có thể được coi như một bài bình luận cho câu nói của Đức Giêsu về sự tham lam (c. 15).
2.- BỐ cỤc
Bản văn có thể chia thành ba phần:
 1) Một vụ kiện (12,13-15);
 2) Dụ ngôn Ông phú hộ (12,16-20);
 3) Nhận định kết luận của Đức Giêsu (12,21).
3.- Vài điỂm chú giẢi
- Thưa Thầy (13): Bởi vì vấn đề chia gia tài được bàn đến trong Bộ Ngũ Thư (chẳng hạn Đnl 21,15-17; Ds 27,1-11; 36,7-9), một vị tôn sư về đạo giáo hoặc một kinh sư là những con người thích hợp để tham vấn.
- Này anh (14): Dịch sát là “này người” (hô-cách của anthrôpos, “người”; x. 5,20). Từ này thường được dùng theo dạng này để từ chối, hay diễn tả sự dè dặt.
- tham lam (15): Từ Hy-lạp pleonexia thường có trong những đoạn văn khuyến thiện của Tân Ước (Rm 1,29; 2 Cr 9,5; Cl 3,5; Ep 4,19; 5,3; 2 Pr 2,3.14). Đây là sự ham muốn có thêm nữa, quá mức cần thiết (x. 1 Tm 6,10).
- Thiên Chúa bảo ông ta (20): nghĩa là trong một giấc mơ ban đêm. Ông này được chính vị Chúa tể của sự sống ngỏ lời với, trong khi ông sắp xếp chương trình sống không có Ngài.
- ngốc (20): Từ hy-ngữ aphrôn có nghĩa là “kẻ mất trí, ngu dốt, ngu ngốc, điên, rồ dại” (x. 11,40).
- người ta sẽ đòi lại mạng ngươi (20): Động từ aitousin ở ngôi thứ ba vô định số phức tương đương với một thái bị động thay tên Thiên Chúa: “Thiên Chúa sẽ đòi lại mạng ngươi”.
- cho mình (21): nghĩa là không phải cho người khác, như người nghèo, quả phụ, trẻ mồ côi, người ngụ cư (x. Đnl 24,17-22; 2 Cr 6,10b).
4.- Ý nghĩa cỦa bẢn văn
* Một vụ kiện (13-15)
Đức Giêsu lấy khởi điểm để giáo huấn là một vụ kiện về vấn đề chia gia tài. Rất có thể đây là một người em trong gia đình không đồng ý với cách quản lý và thụ hưởng chung gia tài, nên muốn có phần của mình để dùng theo cách độc lập. Trong những vụ tranh cãi như thế, người ta thường đến gặp các kinh sư, để xin soi sáng vấn đề. Đức Giêsu dứt khoát từ chối can thiệp. Yêu cầu của người ấy và yêu cầu của Đức Giêsu ở trên hai bình diện khác nhau. Người ấy thì muốn có một phần sở hữu độc lập. Đức Giêsu thì dựa vào đó để nói về tương quan của con người với của cải. Chính các tranh chấp về gia tài thường đưa ra ánh sáng một liên hệ chặt chẽ với sở hữu và thường đưa đến những mối thù nghịch kéo dài suốt đời. Điều này có lẽ khiến chúng ta hiểu vì sao ở đây Đức Giêsu khuyến cáo chống lại lòng tham lam mạnh mẽ đến thế. Của cải sở hữu không phải là giá trị cao nhất, khiến ta phải hy sinh mọi sự để có cho bằng được. Đức Giêsu sẽ minh họa điểm này bằng dụ ngôn tiếp theo.
* Dụ ngôn Ông phú hộ (16-21)
Với dụ ngôn này, Đức Giêsu muốn cho thấy rằng giá trị của các của cải trần thế rất nhỏ bé, nên bám víu vào đó là một tính toán sai lầm.
Theo một quan niệm nào đó về cuộc sống, hoàn cảnh Đức Giêsu phác ra có thể coi là lý tưởng. Con người này giàu có. Không hề có nguy cơ là của cải của ông sẽ giảm thiểu đi, bởi vì ông đang nhắm tới một vụ thu hoạch dồi dào. Vấn đề duy nhất ông đặt ra là: “‘Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!”. Đây là một vấn đề cũng dễ giải quyết. Như thế, ông này có trong tay các phương tiện để sống một cuộc sống không phải bận tâm lo lắng; ông có thể tự do sống theo ý thích, trong sự sung túc.
Đức Giêsu mô tả là Thiên Chúa và cái chết sẽ ập vào cuộc đời ấy như thế nào. Cái chết đột ngột đảo lộn tất cả các toan tính nhắm thụ hưởng an toàn trong nhiều năm trời. Tất cả những gì đã thu tích được và tất cả những gì người ta đã dự phóng cách hợp lý trở thành vô giá trị. Đức Giêsu cho biết rằng một cuộc sống chỉ dành cho chuyện ăn uống và hưởng thụ tiện ích thì chẳng có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Một người sống như thế thì không giàu có trước mặt Thiên Chúa. Đức Giêsu khẳng định rằng để đạt được sự sống đời đời, cần có tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với người thân cận (10,25-37). Chỉ nhờ đi trên nẻo đường này, người ta mới trở thành giàu có trước nhan Thiên Chúa.
* Nhận định kết luận của Đức Giêsu (21)
Câu kết luận của Đức Giêsu cho hiểu rằng có lẽ đời sống trần thế tùy thuộc các của cải trần thế, nhưng đời sống này không được đảm bảo hay đạt được mức thành toàn nhờ các của cải ấy. Chúng ta phải nhận được sự thành toàn cuộc đời chúng ta từ lòng nhân lành của Thiên Chúa.
+ KẾt luẬn
Đức Giêsu không quan tâm đến những điểm tranh luận phụ thuộc; Người chỉ cứu xét những câu hỏi lớn liên quan đến sự sống: đâu là điều quan trọng nhất? Ta có thể tín nhiệm vào điều gì? Điều gì ta phải tìm cách đạt cho được? Ta phải sử dụng cuộc sống và dấn thân thế nào để đạt được mục tiêu cuộc đời? Đức Giêsu nói rõ ràng các của cải vật chất không thể đảm bảo cho cuộc sống và sự sung túc, thoải mái, không thể là nội dung của cuộc sống được. Sự thành toàn chỉ được một mình Thiên Chúa ban cho mà thôi. Vậy trong cuộc sống này, chúng ta có thể và phải tính sổ với Thiên Chúa. Chúng ta phải chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình trước mặt Ngài. 
5.- GỢi ý suy niỆm
1. Vấn đề thu hoạch dồi dào đến nỗi người ta không biết để của cải ở đâu đã trở thành phổ biến, vào thời đại hôm nay. Mỗi người cần phải tự hỏi theo ý mình, thế nào là cuộc sống lý tưởng, mình vận dụng sức lực cho chuyẹn gì, nếu lại không phải là “mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!”. Ở bên ngoài các giá trị này, còn những giá trị và mục tiêu nào có thể nên được nhắc đến?
2. Cái chết “phá rối”, ai cũng biết. Người ta tìm mọi cách để đối xử với nó. Người ta cản bước nó tối đa bằng các cách tri liệu y khoa. Người ta ít nghĩ tới nó chừng nào tốt chừng đó. Người ta tránh để cho lòng mình bị xúc động trước cái chết của người khác. Dĩ nhiên người ta vẫn không tránh được cái chết. Do đó, người ta phải khai thác tối đa thời gian của cuộc sống được ban cho ta. Cũng phức tạp, nhưng cách nào đó, người ta có thể “đạt thắng lợi” trên cái chết. Nhưng làm thế nào đạt thắng lợi trên vị Thiên Chúa “phá rối”? Người ta cũng tìm cách tránh xa Ngài, quên Ngài đi. Người ta có thể không nói đến Ngài nữa và sống y như thể không có Ngài. Tuy thế, người ta không thể tránh né Ngài kiểu tiêu cực. Phải sống làm sao để cuộc sống của mình có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Người nào chỉ sống cho những nhu cầu riêng và những đòi hỏi vật chất, thì đã chết trong cuộc đời này rồi, vì bị cô lập trong tính ích kỷ của mình. Tình trạng cô lập này trở nên trọn vẹn và được xác nhận bằng cái chết.
3. Cuộc sống viên mãn chỉ hệ tại tình yêu. Chỉ cuộc sống nào nhắm đến tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân thì mới là cuộc sống trung thực. Chỉ một cuộc sống như thế mới có thể được Thiên Chúa chuẩn nhận và được Ngài đưa đến chỗ thành toàn với ân ban là sự sống đời đời. Chúng ta đã nhận đời sống từ Đấng Tạo hóa, thì chúng ta cũng phải nhận cả ý nghĩa của đời sống từ Ngài. Và đối với Ngài, ý nghĩa của đời sống không phải là tiện nghi, mà là tình yêu.

 

TN18-C71. SUY NIỆM CHỦ NHẬT XVIII

5-8-2001
 

Lời sách Giảng Viên đã có một thời được đón nhận, suy niệm và lưu truyền trong xã hội Kitô Giáo, nó: TN18-C71

Lời sách Giảng Viên đã có một thời được đón nhận, suy niệm và lưu truyền trong xã hội Kitô Giáo, nó trở thành sách gối đầu giường của bao thế hệ trẻ, ngày nay người ta coi như nó là cái cản trở cho mọi tiến bộ văn minh, như tư tưởng phản động làm trì trệ mọi nhiệt tình xây dựng một xã hội thịnh vượng và trù phú. Những giòng tư duy đang có ảnh hưởng trên nhân loại ít nhiều đều chối bỏ, và kết án tính cách bi quan yếm thế của nó. Tuy nhiên, lời sách chỉ là một phản ánh trung thực tâm tư con người đứng trước những mầu nhiệm lớn lao của cuộc sống mà không có những yếu tố cho một câu trả lời. Lời sách mở ra sự trông chờ một mạc khải lớn lao hơn. Xét theo góc độ này, thì lời sách giảng viên mang tính nhân bản và hiện sinh biết bao ? Cách đặc biệt trong giai đoạn kinh tế khủng hoảng như hôm nay. Bao nhiêu tích lũy có tính toán và được kỹ thuật hỗ trợ đang đi gần đến con số không ?
Mạc khải ấy theo thánh Phaolô đã được dứt khoát trao tặng con người trong mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô. Lời sách giảng viên đưa chúng ta đến gần Đức Giêsu hơn, đó chính là khẳng định trong sách Gương Chúa Giêsu, một sách đạo đức của mọi thời đại. Ý nghĩa cuối cùng của cuộc sống đã có câu trả lời toàn vẹn trong Đức Giêsu, Đấng đã phục sinh từ cõi chết để khơi nguồn sự sống mới (Kinh nguyện Thánh Thể 4). Trong mầu nhiệm ấy, "những gì thuộc về hạ giới", "con người cũ", đều đã bị đóng đinh, để "chỉ có Đức Kitô là tất cả và ở trong mọi người".
"Con người mới" đã được đặt lên không phải để "làm người xử kiện hay người chia gia tài", hoặc "thu tích của cải cho mình", nhưng là người "trở nên giàu có trước mặt Thiên Chúa". Bởi vì, như chính Đức Giêsu khẳng định "Dẫu có được dư giả, thì mạng sống con người cũng không nhờ của cải mà được bảo đảm đâu." Lý do thật đơn giản "Nội đêm nay người sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sa#n đó sẽ về tay ai?". Vấn đề là làm sao để trở nên "giàu có trước mặt Thiên Chúa"?
Ngay sau dụ ngôn này, Đức Giêsu đã chỉ cho thấy "Chớ bồn chồn lo lắng! Các điều đó dân ngoại nơi thế gian kiếm tìm. Nhưng Cha các ngươi biết rõ, các ngươi cần đến các điều ấy. Song hãy tìm kiếm Nước của Người, và các điều ấy sẽ được ban thêm cho các ngươi.". Như vậy câu trả lời thật rõ ràng : "Nước Thiên Chúa" đó là của cải không thể hư hao mà chúng ta phải ra sức kiếm tìm.
Nước Thiên Chúa đã hiện diện với con người Đức Giêsu Kitô. Theo đó, cuộc sống là một "Tấm Bánh" được bẻ ra và trao ban cho một thế giới mới được khai sinh, là "Tình Yêu biết thí mạng sống mình vì người mình yêu".
Từ 2000 năm qua, chính "văn minh tình thương" ấy đã cứu vãn nhân loại trước những nguy cơ diệt vong và là tiếng nói sinh tồn của mọi nỗ lực nhân sinh. Ngày nay người ta say mê với những tiến bộ khoa học, với cái xu thế toàn cầu hóa, thế nhưng cũng chính những công trình ấy đang hình thành một thế lực hầu như không còn khả năng kiểm soát, nó biến con người trở thành những tù nhân của chính mình. Những suy thoái kinh tế chỉ là hậu quả tất yếu của cuộc cạnh tranh tàn nhẫn và vô nhân. Người ta bảo các đại công ty thua lỗ nên tạo ra ảnh hưởng giây chuyền : khiến cho các chỉ số cổ phiếu sụt giảm... Nhưng vấn đề không phải thế, những chỉ số cổ phiếu kia chỉ là những giá trị giả định được xã hội công nhận. Và khi xã hội có những biến động thì tất nhiên những giá trị giả định cũng đổi thay. Khi xã hội để bị lôi vào một chiều hướng phát triển không lấy con người trong sự toàn vẹn của nó làm nguyên tắc chỉ đạo, một sự phát triển phi nhân, tất nhiên xã hội không thể tồn tại. Cho dù xã hội làm ra thật nhiều của cải vật chất, nhưng ở khắp nơi con người vẫn bị thiếu thốn, và xem chừng không có chút tiến bộ nào và ngược lại còn gia tăng. Người ta đã nói tới 40% dân số thế giới sống trong sự nghèo đói. Ngày nay hơn bao giờ hết, người ta cần tới Tin Mừng "văn minh tình thương" để tránh nguy cơ bùng nổ chiến tranh địa phương cũng như chiến tranh toàn cầu.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

TN18-C72. Đừng tham muốn cách ích kỷ

ĐỌC LỜI CHÚA
· Gv 1,2; 2,21-23: (2) Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân.
· Cl 3,1-5.9-11: (1) Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. (2) Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.
· TIN MỪNG: Lc 12,13-21
Đừng thu tích của cải cho mình
(13) Có người trong đám đông nói với Đức Giêsu rằng: «Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi». (14) Người đáp: «Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh?» (15) Và Người nói với họ: «Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu».
(16) Sau đó Người nói với họ dụ ngôn này: «Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, (17) mới nghĩ bụng rằng: “Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!” (18) Rồi ông ta tự bảo: “Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. (19) Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!” (20) Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?” (21) Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó».

CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
 

Có mấy cách tham muốn? Tham muốn những điều tốt lành đặc biệt cho tha nhân và cho tâm: TN18-C72

1. Có mấy cách tham muốn? Tham muốn những điều tốt lành đặc biệt cho tha nhân và cho tâm linh mình là điều tốt hay xấu? Khi nào tham muốn trở thành xấu?
2. Yêu thương bản thân mình là tốt hay xấu? Khi nào là tốt, khi nào là xấu?
3. Quan tâm đến hạnh phúc hiện tại của mình mà không quan tâm đến hạnh phúc tương lai của mình là khôn hay dại? Muốn được hạnh phúc lâu dài trong tương lai thì phải làm gì?
Suy tư gợi ý:
 1. Ai cũng có lòng tham
Đã là con người, ai cũng có tính tham, nghĩa là lòng ham muốn có thêm những điều mà mình cho là tốt đẹp, thuận lợi, có khả năng đem lại hạnh phúc cho mình. Thiên Chúa sinh ra con người như vậy, vì có lòng tham muốn, con người mới tiến bộ, xã hội mới thăng tiến. Tham muốn rồi được thỏa mãn là một nguồn vô tận đem lại hứng thú, sinh khí và hạnh phúc cho con người. Do đó, tham muốn chính là một điều tốt đẹp mà Thiên Chúa đã đặt vào lòng của con người ngay khi tạo dựng nên họ. Tuy nhiên, tham muốn cũng là một cái bẫy để Thiên Chúa thử thách về tình yêu mà con người dành cho Ngài và cho tha nhân. Vì tình yêu đòi hỏi tâm thức ra khỏi chính mình để hướng đến đối tượng mình yêu thương.
Do đó, có hai cách tham muốn: tham muốn do tình yêu và tham muốn do ích kỷ.
a) Tham muốn do tình yêu dẫn con người đến hạnh phúc cho mình và cho người, đó là tham muốn cách khôn ngoan sáng suốt. Vì «Thiên Chúa là tình yêu» (1Ga 4,8.16), mà con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa (x. St 1,26-27; 9,6; Kn 2,23), nên con người chỉ được hạnh phúc khi sống phù hợp với bản tính yêu thương của mình. Do đó, những tham muốn mang tính vị tha, mong cho Thiên Chúa được vinh danh và tha nhân được hạnh phúc, tuy không trực tiếp nhắm đem lại ích lợi cho bản thân, nhưng lại giúp con người đạt đến hạnh phúc đích thực.
b) Còn tham muốn do tính ích kỷ dẫn con người đến đau khổ cả cho mình lẫn cho người, đó là tham muốn cách ngu xuẩn dại dột. Ích kỷ (egoism=duy ngã) là chỉ nghĩ và lo cho mình, cho hạnh phúc và đau khổ của mình, mà không nghĩ hay lo gì cho tha nhân, cho hạnh phúc và đau khổ của tha nhân. Điều này đi ngược lại bản tính yêu thương mà Thiên Chúa đã đặt để trong lòng con người. Suy nghĩ và hành động ngược với bản tính yêu thương ấy, con người sẽ gặp đau khổ.
3. Yêu mình cách sáng suốt và yêu mình cách dại dột
Đã là con người, ai cũng yêu chính bản thân mình, chính Thiên Chúa cũng yêu bản thân mình, và đã tạo dựng nên con người giống như vậy. Thật vậy, «không ai ghét thân mình bao giờ» (Ep 5,29). Người ích kỷ tự tách rời bản thân mình ra khỏi Thiên Chúa và toàn thể vũ trụ, tách rời lợi ích của mình ra khỏi lợi ích chung của Thiên Chúa và toàn vũ trụ. Trong khi Thiên Chúa và toàn vũ trụ là một toàn thể tương tự như như một thân thể duy nhất, trong đó Thiên Chúa là đầu và vũ trụ là thân mình và tay chân (x. 1Cr 12,12-27). Do đó, Thiên Chúa mới chính là «cái tôi» đúng nghĩa nhất của mỗi người, còn tha nhân và vạn vật trong vũ trụ là «cái tôi nối dài» của mỗi người. Nên bất kỳ hành động nào của ta nào nhằm đem lại vinh quang cho Thiên Chúa và hạnh phúc cho tha nhân hay vũ trụ đều đem lại kết quả tốt đẹp và hạnh phúc cho bản thân ta. Còn bất kỳ hành động nào gây bất lợi cho Thiên Chúa hay tha nhân, đều đem lại bất lợi và đau khổ cho bản thân ta.
Thánh Âu-Tinh nói: «Thiên Chúa còn thân mật với tôi hơn chính bản thân tôi» (Deus intimior intimo meo). Điều đó có nghĩa Thiên Chúa mới là «cái tôi» sâu thẳm nhất của ta, mới chính là bản thân ta cách đúng nghĩa nhất. Nên điều gì đem lại vinh quang cho Thiên Chúa đều đem lại hạnh phúc cho ta.
Còn tha nhân là «cái tôi nối dài» của ta, tương tự như tay chân và mọi bộ phận trong cơ thể của ta. Chúng không phải là ta, nhưng là «cái tôi nối dài» gần nhất của ta. Một người nọ uống rượu quá nhiều, y sĩ bảo: uống rượu nhiều sẽ làm hại gan. Nhưng anh ta nghĩ: gan ta đâu phải là ta, ta cần gì phải lo cho nó; ta cứ uống rượu cho thỏa thích bản thân ta, vì ta phải yêu bản thân ta. Cuối cùng, khi gan bị bệnh, thì chính bản thân anh cảm thấy đau đớn. Lúc đó anh mới hiểu lá của anh chính là «cái tôi nối dài» của anh, nên làm hại lá gan chính là làm hại bản thân mình. Một người khác không thèm quan tâm và lo lắng gì đến vợ con mà còn hành hạ vợ con nữa. Anh ta nghĩ: vợ con mình đâu phải là mình, cần gì phải lo cho họ. Đến khi anh bị bệnh hoặc thất thế, cần có người chăm sóc nuôi dưỡng, khi ấy vợ con anh bỏ mặc, vì trước đó anh có quan tâm đến họ đâu?! Lúc ấy anh mới nhận ra vợ con mình tuy không trực tiếp là mình nhưng là «cái tôi nối dài» của mình, là bản thân mình một cách gián tiếp. Không lo cho vợ con chính là không lo cho bản thân. Làm vợ con đau khổ thì kết quả cuối cùng là làm cho chính mình đau khổ. Tương tự, nếu ta không chịu chăm sóc cho chiếc xe của ta, thì có lúc chính chiếc xe ấy sẽ hành hạ ta. Chiếc xe của ta cũng là «cái tôi nối dài» của ta. Tất cả mọi người, mọi vật trên thế giới, kể cả thiên nhiên, đều là «cái tôi nối dài» của ta. Khi con người vì ích lợi riêng trước mắt của mình mà phá rừng, làm ô nhiễm môi trường… thì cuối cùng con người đã phá hoại chính mình.
Do đó, yêu mình cách sáng suốt nhất là yêu cả Thiên Chúa và tha nhân, mọi hành động đều phải nhắm ích lợi cho toàn thể, nghĩa là phải làm sao để «ích người, lợi ta». Kinh Thánh dạy: «Hãy yêu tha nhân như yêu chính mình», lý do rất đơn giản: vì tha nhân rốt cuộc cũng là chính mình nối dài ra. Nếu chỉ ích người mà trước mắt không lợi cho ta, thì sớm muộn gì cái ích lợi ta làm được cho người cũng trở về làm ích lợi cho ta bội phần. Không bao giờ ta làm gì ích lợi cho Thiên Chúa và tha nhân mà ta lại bị thiệt thòi, cho dù trước mắt là ta bị thiệt.
4. Đừng chỉ quan tâm đến hạnh phúc của mình trong hiện tại mà quên đi hạnh phúc của mình trong tương lai
Nhà phú hộ trong bài Tin Mừng chỉ nghĩ tới lợi ích và hạnh phúc của mình và lo cho nó ngày càng tăng thêm, ngoài ra không còn nghĩ gì tới lợi ích và hạnh phúc của ai. Ông cũng chỉ nghĩ tới lợi ích và hạnh phúc của mình trong hiện tại mà không nghĩ gì tới lợi ích và hạnh phúc cũng của mình trong tương lai, nhất là tương lai sau cái chết. Rất nhiều khi lợi ích và hạnh phúc của mình trong hiện tại đi ngược lại lợi ích và hạnh phúc của mình trong tương lai. Nghĩa là lợi ích và hạnh phúc hiện tại có thể là nguyên nhân gây nên những mất mát hoặc đau khổ trong tương lai. Nhất là khi lợi ích và hạnh phúc trong hiện tại đi ngược lại lợi ích hay hạnh phúc của Thiên Chúa và tha nhân. Vì bất kỳ điều gì ta gây thiệt hại hay đau khổ cho Thiên Chúa và tha nhân thì thiệt hại hay đau khổ ấy đều chắc chắn trở lại với chính bản thân ta một ngày nào đó trong tương lai. Đó là luật quả báo: nhân lành sinh quả lành, nhân ác sinh quả ác, «cây tốt sinh quả tốt, cây xấu sinh quả xấu» (Mt 7,17). Người khôn ngoan thật sự là người không chỉ biết lo cho hạnh phúc của mình trong hiện tại, mà còn lo cho hạnh phúc của mình trong tương lai, bằng cách ngay trong hiện tại biết lo cho vinh quang của Thiên Chúa và hạnh phúc của tha nhân. Đó chính là sự tham muốn khôn ngoan và chính đáng nhất.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, khi dựng nên con, Cha đã đặt để ở trong con lòng tham muốn để nhờ đó con có động lực mà tiến bộ về mọi mặt, nhất là về tâm linh. Nhưng lòng tham muốn là một con dao hai lưỡi: nếu tham muốn cách ích kỷ, thì lòng tham muốn ấy cuối cùng chỉ gây nên đau khổ cho bản thân con; nếu tham muốn cách vị tha, nó sẽ đem lại cho con niềm vui và hạnh phúc lâu dài. Vấn đề mấu chốt vẫn là con có tình yêu hay không. Nếu có tình yêu, mọi tham muốn của con đều là vị tha và đều đem lại hạnh phúc. Nếu không có tình yêu, mọi tham muốn của con đều là ích kỷ và đều đem lại đau khổ cho con. Xin cho con biết tham muốn cách sáng suốt nhất là tham muốn vinh danh Cha và hạnh phúc của tha nhân.
Joan Nguyễn Chính Kết

 

TN18-C73. THẾ NÀO LÀ LÀM GIẦU ?

Lc 12,13-21
 

Sống trong một thế giới văn minh, con người luôn nghĩ tới hưởng thụ. Mà đã là con người ai cũng: TN18-C73

Sống trong một thế giới văn minh, con người luôn nghĩ tới hưởng thụ. Mà đã là con người ai cũng ước mong cho có tiền có của, có nhà cao, cửa rộng, có của ăn, của để. Khuynh hướng dễ dãi, hưởng thụ là khuynh hướng phổ biến của con người. Đứng trước vật chất tiền của con người có những thái độ rất khác nhau. Tin Mừng hôm nay, cho thấy ông phú hộ đứng trước của cải như thế nào: “Ông dựa vào tiền của, cái chết bất ngờ tới, ông không thể cứu linh hồn của ông”.
PHẢI BIẾT ĐIỀU CHỈNH HƯỚNG ĐI CỦA CUỘC ĐỜI :
Văn hào Nga Léon Tolstoi có kể một câu chuyện ngụ ngôn đầy ấn tượng như sau đây: “Một ngày kia người phú hộ gọi người đầy tớ trung thành nhất đến mà nói”:
-Tôi muốn thưởng sự trung thành của anh. Vậy, bắt đầu từ sáng mai, lúc mặt trời mọc, anh hãy ra đi, và chiều khi mặt trời lặn, bao nhiêu dặm anh đi được là bấy nhiêu dặm đất thuộc về anh. Người đầy tớ khốn khổ bao nhiêu năm chỉ biết sống nương tựa vào ông chủ, tưởng mình đang sống trong mơ. Đêm hôm đó, anh không sao ngủ được, chỉ mong mau tới sáng để lên đường. Khi ánh dương vừa ló rạng, anh đã hăm hở, vội vã lên đường. Anh cố gắng đi thật nhanh, nhưng anh vẫn không thỏa mãn với tốc độ đi của mình. Thế là anh chạy. Càng quay lui nhìn đoạn đường đã đi qua, anh càng cắm cúi chạy, vừa chạy anh vừa mơ: “Rồi đây anh sẽ có nhiều đất đai, sẽ giầu có hơn người, sẽ không phải sống cảnh đầy tớ, làm mướn, làm thuê nữa” càng mơ, anh càng chạy. Giữa trưa nắng oi bức thiêu nóng, anh chẳng thiết gì ăn trưa, chẳng nghĩ gì tới việc nghỉ ngơi để lấy lại sức lực đã tiêu hao, anh không muốn mất đi một tấc đất nào. Chiều đến, khi mặt trời lặn, anh dừng lại và reo to lên : “Đây là đất của ta, ta sẽ có tất cả cho ta, cho gia đình, cho tương lai”. Thế nhưng, chính lúc anh thốt lên câu đó, thì bỗng anh thấy đôi mắt hoa lên, tay chân không cử động được và tim cũng ngừng đập. Ngày hôm sau, người ta chôn cất anh trong hai thước đất, khoảng đất vừa đủ cho một con người”.
Nỗi khốn khổ của người đầy tớ trong câu chuyện này chính là sự khờ khạo của anh, anh khờ khạo đến nỗi không nhận ra cái bẫy người phú hộ giầu có giăng ra, cũng như không đo lường được sức của mình. Tin Mừng của thánh Luca đọc sáng nay cũng na ná như câu chuyên của Léon Tolsoi, ông phú hộ gọi là ngu dại, vì ông đã vấp phải hai lỗi lầm chết người. Thứ nhất, vì ông không nhìn xa hơn chính mình, tâm trí của ông chỉ luẩn quẩn chung quanh cái tôi. Thứ hai, vì ông chỉ nghĩ tới đời sống trần gian mà quên mất số phận vĩnh cửu của mình. Tiền của, sự giầu sang ông có, ông không mang được khi ông qua đời. Ông sống mà không biết đang đi đâu, không biết đâu là ý nghĩa cuộc sống…Ông không hiểu lời Chúa: “Hãy bán của cải mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá” ( Lc 12, 33 ).
HÃY TÍCH TRỮ KHO LẪM TRÊN TRỜI :
Cuộc đời con người như hoa sớm nở tối tàn, như cơn gió thoảng, như mây bay. Đây là kinh nghiệm của những con người khôn ngoan, của những con người chỉ tìm kiếm Nước Thiên Chúa. Chúa cũng đã nói rõ: “Giầu có thì đem chia cho kẻ nghèo khó”. Đó cũng là sứ điệp của Tin Mừng, của Chúa muốn loan báo cho mọi người ở mọi thời đại trong thế giới này : “Hãy dùng của cải đời này mà làm giầu trước mặt Thiên Chúa” ( Lc 12, 21). Để có được kho lẫm trên trời, người Kitô hữu luôn nhớ tới thái độ của anh thanh niên giầu có, anh đã không thực hiện lời của Chúa, về bán hết của cải, chia sớt cho kẻ nghèo khó. Hãy làm việc bác ái chia sẻ : “Dù xây những nhà cao, những tháp rộng, những cơ ngơi đồ sộ, phù đồ, không bằng làm phước cho một kẻ khó nghèo”, tục ngữ ca dao Việt Nam quả đã nói lên kinh nghiệm xương máu, và đức ái tuyệt vời của con người để có được hạnh phúc đời sau. Do đó, để tránh hai cái ngu, cái khờ của người phú hộ và cái khờ khạo của người đầy tớ trung thành trong chuyện ngụ ngôn của Léon Tolsoi : “Giầu không phải là có nhiều” và “Thế giới, đời người chỉ là cát, chỉ là chiếc cầu bắc ngang, chúng ta không được xây nhà trên đó”. Làm giầu là để chia sẻ chứ không phải để ủ kỹ, cất giữ vào kho riêng.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho những người giầu biết chia sẻ cho những người thiếu thốn, khó nghèo. Xin cho chúng con biết nhạy cảm trước nỗi khốn khổ của anh em chúng con. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

 

TN18-C74. BẤP BÊNH

Chúa Nhật 18C Thường Niên
 

Mọi người đang chóng mặt với giá cổ phần trồi sụt thất thường. Sức mạnh nền kinh tế thể: TN18-C74

Mọi người đang chóng mặt với giá cổ phần trồi sụt thất thường. Sức mạnh nền kinh tế thể hiện rõ nét qua sinh hoạt thị trường. Mức phát triển trì trệ hôm nay đã làm cho bao người thất nghiệp. Người ta đổ xô đi tìm những phương tiện sinh sống. Bao nhiêu tay tư bản đang thi đua khám phá những cách làm giàu nhanh nhất. Nhưng cuộc chạy đua đó đang hướng về đâu ?
NHỮNG CÁCH LÀM GIÀU.
Cuộc chạy đua đó đang mang lại cho cuộc sống mọi thứ tiện nghi và bảo đảm. Con người ngày càng hạnh phúc và tin tưởng vào năng lực của mình. Chính của cải đã khiến họ có thể an tâm tọa hưởng tất cả những nguồn lợi thiên nhiên. Giữa cuộc sống dư thừa đó, con người dễ quên tất cả. Chỉ còn một mình với những phương tiện dồi dào đáp ứng những đòi hỏi ích kỷ của mình. Đó chính là tâm trạng của nhà phú hộ trong Tin Mừng hôm nay.
Nhà phú hộ tràn ngập niềm vui vì “ruộng nương sinh nhiều hoa lợi.” (Lc 12:16) Nhìn về tương lai, ông thấy rất yên tâm, vì “bây giờ ê hề của cải.” (Lc 12:19) Nhưng ông vẫn phải tính toán để bảo đảm cho những của cải khỏi hư hao vì giông bão, mối mọt, hay trộm cướp. Oâng tự nhủ : “Mình sẽ làm thế này : phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó.” (Lc 12:18) Lúc nào ông cũng chỉ có một quan tâm duy nhất về cái tôi của mình. Trên đỉnh cao danh vọng, ông thấy hoàn toàn tự mãn về sự nghiệp lớn lao của mình. Ông không cần chia sẻ với ai. Người nghèo hay cộng đồng nằm ngoài đối tượng phục vụ của ông. Thiên Chúa cũng bị gạt ra ngoài mọi ưu tư và cuộc sống của ông.
Trong khi ông quả quyết “mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã !” (Lc 12:19), “Thiên Chúa bảo ông ta: ‘Đồ ngốc ! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?’” Nhà phú hộ không suy nghĩ sâu xa. Oâng tưởng cái tôi là nền tảng vững chắc nhất cho hạnh phúc. Tất cả hạnh phúc hôm nay đều xoay quanh và dựa trên cái tôi của ông. Nhưng chính cái tôi đó lại không có mấu cứ, làm sao có thể làm nền tảng cho hạnh phúc ? Hạnh phúc chỉ lànhững dong dêu trôi nổi trên dòng sông dật dờ. Đúng là dã tràng xe cát biển đông. Khác với ông Gióp, ông không bị mất của cải. Oâng chỉ bị đòi mạng. Khi bị đe dọa trầm trọng như thế, ông giật mình. Ông không thể không suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời và giá trị những thực tại trần gian. Tiền bạc, của cải là gì trước cái chết ? Mạng sống chỉ có một. Của cải dư tràn cũng không thể sánh với mạng sống. Bởi đấy mất mạng, của cải trở thành vô nghĩa. Chính ông Côhelét đã cảm thấu được sự vô nghĩa đó khi thuật lại : “Có người đã đem hết khôn ngoan và hiểu biết mà làm việc vất vả mới thành công, rồi lại phải trao sự nghiệp của mình cho một người đã không vất vả gì hết. Điều ấy cũng chỉ là phù vân và lại là đại họa.” (Gv 2:21) Thật là cái vòng luẩn quẩn ! Bao nhiêu tim óc đầu tư tìm kiếm của cải. Bao nhiêu thời giờ và công sức xây dựng cơ ngơi, sự nghiệp. Tất cả có thể biến đi trong nháy mắt hay phải trao lại cho người khác. Nhìn lại cuộc đời, ông Côhelét phải thốt lên : “Trọn cuộc đời chỉ là đau khổ, bao công khó chỉ đem lại ưu phiền ! Ngay cả ban đêm, nó cũng không được yên lòng yên trí. Điều ấy cũng chỉ là phù vân !”(Gv 2:23) Nghĩ cho cùng, “tất cả chỉ là phù vân.” (Gv 1:2) Nếu thế, tại sao con người phải bon chen dành giựt ?
Của cải vật chất không thể mang lại ý nghĩa giá trị đích thực cho con người. Chính Đức Giêsu đã vạch trần sự thật ấy : “Aáy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.” (Lc 12:21) Cái tôi là trở ngại lớn nhất cho mọi thực tại hướng về Thiên Chúa. Muốn “làm giàu trước mặt Thiên Chúa” phải có một cái nhìn mới lạ và phải vận dụng những phương tiện khác hẳn với lối làm giàu bình thường. Quả thế, Đức Giêsu đã mách nước : “Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu,” (Lc 16:9) tức là Nước Thiên Chúa. Càng có nhiều bạn bè như thế, càng tích trữ được một kho tàng lớn lao trên trời. Bạn bè đó chính là người nghèo.
Trong khi bao người nghèo rên siết, ôâng phú hộ chỉ lo “ăn uống vui chơi cho đã !” Tiền bạc là một cám dỗ lớn lao. Oâng đã không chống cưỡng nổi ma lực của đồng tiền. Muốn làm môn đệ Chúa Kitô, “phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu.” (Lc 12:15) Chỉ có một bảo đảm duy nhất là “Đức Kitô, nguồn sống của chúng ta.” (Cl 3:4) Kho tàng của chúng ta đang được ẩn giấu nơi Đức Kitô. Đúng hơn, “sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa.” (Cl 3:3) Chúng ta phải đầu tư bao nhiêu thời giờ và tim óc để có thể tạo được một sự sống đúng nghĩa như thế ?
Đầu tư đó bắt đầu bằng nỗ lực “mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hóa, để được ơn thông hiểu.” (Cl 3:10) Con người cũ đầy những giới hạn, nên chúng ta không thấy hết vấn đề. Một khi đã tìm lại được hình ảnh Thiên Chúa nơi chính mình, chúng ta có thể dễ dàng phá tung những giới hạn trần gian để thấy “hình ảnh Đấng Tạo Hóa” nơi anh em. Tất cả giới hạn về chủng tộc, văn hóa, ngôn ngữ, đẳng cấp trở thành vô nghĩa. Trong Đức Kitô “không còn phải phân biệt Hi lạp hay Do thái, cắt bì hay không cắt bì, man di, mọi rợ, nô lệ.” (Cl 3:11) Thật là tuyệt vời ! Đức Kitô đã trở thành mối giây liên kết tất cả loài người.
Nhìn thấy đầu giây mối nhợ đó, ta sẽ thấy bản thân mình không còn là chủ thể tối cao và đối tượng phục vụ nữa. Trái lại, những người anh em nghèo khổ mới là chính Đức Kitô cần phải được chia sẻ. Ta sẽ không “thu tích của cải cho mình” nữa, nhưng cho Đức Kitô và các chi thể của Người. Phục vụ một đối tượng lớn lao như thế tức là đang “làm giàu trước mặt Thiên Chúa” vậy. Kiên nhẫn đầu tư theo lối này, ta sẽ “sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá.” (Lc 12:33) Phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có thể kiếm được những túi tiền và kho tàng đó. Tóm lại, đó là một cuộc hi sinh vô bờ bến có khi mất cả mạng sống. Thế nhưng, phàm ai từ bỏ mọi sự “vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống đời đời làm gia nghiệp.” (Mt 19:29) Chính vì mối lợi lớn lao đó, chúng ta nên tự kiểm hằng ngày về mức độ từ bỏ của mình. Nếu không, chúng ta sẽ hụt hẫng khi giáp mặt với những thực tại thiên giới.
THẾ GIỚI HÔM NAY.
Bước hụt hẫng đó chính người phú hộ đã kinh nghiệm khi rơi xuống “âm phủ, ông ta ngước mắt lên thấy Lagiarô trong lòng tổ phụ.” (Lc 16:23) Nơi trần thế, ông ngất ngưởng trên cao với những “lụa là gấm vóc, yến tiệc linh đình.” (Lc 16:19) Oâng chỉ lo “thu tích của cải cho mình” và hưởng thụ một mình. Người nghèo Ladarô không lọt vào mắt xanh của ông. Nhưng từ dưới âm phủ cũng ánh mắt đó ngước lên tìm một chút lòng thương xót từ nơi tổ phụ Abraham và Ladarô.
Ngày nay trên thế giới biết bao nhiêu phú hộ đang sống phè phỡn trên 80% tài nguyên thế giới giữa một đại dương nghèo đói chỉ chiếm khoảng 20% của cải thế giới mà thôi. Giữa đại dương nghèo đói đó, đa số nhân loại không đủ cơm ăn áo mặc, không đủ thuốc chữa trị những bệnh nguy hiểm như liệt kháng, ung thư, đau tim v.v Họ là những người thấp cổ bé họng, bị gạt ra ngoài lề xã hội, bị đàn áp bất công. Họ không có tiếng nói. Bởi vậy, nhân dịp nhóm G8 họp Hội Nghị Thượng Đỉnh tại Genova, Đức Gioan Phaolô II đã kêu gọi : “Các Siêu cường, các Vị quyền hành trên thế giới … hãy nghĩ đến các nước nghèo, hãy lắng nghe tiếng kêu than của các người nghèo.” (VietCatholic 28/7/2001) Hãy chấm dứt tình trạng “thu tích của cải cho mình.” Bao lâu còn nghèo đói, thế giới không thể hòa bình. Thế giới không thiếu lương thực, nhưng thiếu những vòng tay mở rộng. Bất công tràn lan vì người giàu ôm chặt tài sản và chỉ lo thỏa mãn những nhu cầu giả tạo, mặc cho những người nghèo phấn đấu một mình với cơn nghèo đói, rách nát. Bằng chứng, “ các vị lãnh đạo các Siêu Cường nhắc lại cam đoan dùng 0.7% lợi tức cũa mức sản xuất để dành cho việc cộng tác phát triển các dân tộc. Nhưng với thời gian qua đi, không một quốc gia ‘ân nhân’ nào đóng góp vào quĩ, trừ mấy nước miền Bắc Aâu. Thậm chí, các Siêu Cường (Pháp, Anh, Ý, Canada) đã giảm bớt số viện trợ cho các quốc gia nghèo ở miền Nam Bán Cầu.” (VietCatholic 28/7/2001) Đúng là đánh trống bỏ dùi ! Mới đây tại Genova lại hứa viện trợ 1 tỉ 200 ngàn Mỹ kim cho Phi châu chũa trị bệnh liệt kháng và các chứng bệnh thông thường. Số tiền đó chỉ bằ#ng ngân khoản Hoa Kỳ dành mỗi năm cho việc chế tạo hỏa tiễn chống hỏa tiễn mà thôi. (xc. VietCatholic 28/7/2001) Chẳng biết bao giờ mới thực hiện lời hứa đó. Các phú hộ vẫn chễm chệ trên những bàn tiệc thịnh soạn, không thèm thí những miếng bánh vụn cho người nghèo.
Nếu ngày xưa người phú hộ sớm nhận ra sự liên đới và trách nhiệm đối với Ladarô, tình trạng không đến nỗi quá cách biệt sau cái chết như vậy. Thực ra, ông đã không hề đối xử bất công với người nghèo Ladarô. Oâng không sai đầy tớ đánh đập hay xua chó cắn Ladarô. Thực tế, ông chỉ hưởng những của cải của ông, chứ không xâm phạm quyền lợi ai. Nhưng ông đã giữ một khoảng cách quá xa với Ladarô. Oâng chủ trương “sống chết mặc bay”. Tội ông ở chỗ đó !
Ngày nay, để xóa bỏ khoảng cách giữa giàu nghèo, không thể theo chủ trương “đấu tranh giai cấp”. Nhưng cần phải kêu gọi tình liên đới nhân loại. Tình liên đới là một giá trị lớn lao trong tiến trình toàn cầu hóa. Không cảm thấy liên đới, người giàu không bao giờ thấy được bổn phận đối với người nghèo. Sở dĩ # có liên đới với nhau, vì họ thuộc về một gia đình duy nhất. Theo ĐHY Sodano, “ơn gọi nguyên thủy của nhân loại là xây dựng một gia đình duy nhất.” (VietCatholic 28/7/2001) Kitô giáo là một điển hình. Tất cả các Kitô hữu đích danh đều gắng sức xây dựng Giáo hội thành một gia đình, trong đó Thiên Chúa là Cha và mọi người đều là anh em với nhau. Chính vì thế, “Kitô giáo là một tôn giáo có tính toàn cầu,” (ĐHY Sodano, VietCatholic 28/7/2001) bắt đầu từ tình liên đới giữa những người cùng chia sẻ một niềm tin và một tình yêu. Từ đó, người Kitô hữu sẽ nhận thấy trách nhiệm của mình đối với việc toàn cầu hóa tình liên đới. Ngày nay, nhân loại không còn lựa chọn nào khác. Liên đới hay là chết ! Thời gian cấp bách lắm rồi ! Trong công cuộc này, giáo dân là những đội quân tiền phong. Họ có nhiệm vụ phá tan những tảng băng giá trong lòng người và khơi dậy những ngọn lửa thương yêu, đoàn kết, liên đới.
Khi cố gắng liên đới với anh em, chúng ta đang hoàn thành ơn gọi của mình. Chính ơn gọi này giúp chúng ta nhận ra địa vị cao cả của mình trong vũ trụ và giá trị đích thực của những thực tại trần thế. Ý thức này sẽ đẩy xa mọi đam mê ích kỷ và giúp con người tìm lại được chính mình. Nhưng muốn liên đới với anh em, chúng ta phải sẵn sàng từ bỏ cái tôi. Liều thân vì anh em là liều mạng vì Thiên Chúa. Đức Giêsu nhắn nhủ : “Ai liều mất mạng sống vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” (Lc 9:24) Nhưng ai có thể đạt tới mức hi sinh lớn lao đó, nếu không phải là những người đang sống giữa những thực tại trần gian mà lòng vẫn “tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Cl 3:1) Chỉ những người siêu thoát như thế mới có thể hiệp nhất tất cả trong Đức Kitô. Nhờ sức mạnh Thánh Linh, giữa thế giới đầy xáo trộn và thù nghịch hôm nay, họ vẫn có thể làm chứng cho mọi người thấy : “chỉ có Đức Kitô là tất cả và ở trong mọi người.” (Cl 3:11)

 

TN18-C75.  Chúa Nhật 18 quanh năm

(Lu-ca 12: 13-21)
 

Phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam”. Đó là lời dạy của Chúa Giê-su. Người không viết một bài: TN18-C75 

“Phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam”. Đó là lời dạy của Chúa Giê-su. Người không viết một bài khảo luận để nói với ta về sự tham lam, nhưng Người kể một dụ ngôn, dụ ngôn nhà phú hộ. Việc làm và não trạng của nhà phú hộ phản ảnh không biết bao nhiêu người mọi thời mọi nơi và là câu truyện có thể áp dụng vào mọi lãnh vực cuộc sống, từ giàu có về vật chất của cải cho đến giàu có về danh tiếng chức vị. Dụ ngôn còn đưa ta tới một chân lý vô cùng quan trọng cho ý nghĩa cuộc đời: làm giàu trước mặt Thiên Chúa.
1) Lòng tham không đáy
Không biết ai đã nghĩ ra được hình ảnh cụ thể này để diễn tả lòng tham lam của con người! Đúng vậy, không có đáy thì chẳng bao giờ có thể đầy được. Đáy là phần cần thiết của một vật chứa đựng để giữ lại những gì trong đó và cho ta thấy thế nào là đầy là vơi. Một ly nước dù to hay nhỏ, nhờ đáy ly giữ lại phần dung tích, ta biết chúng đầy khi nước lên tới miệng ly. Không phải vì ly nhỏ mà ta bảo nó không đầy khi so sánh với ly lớn.
Làm sao ta biết nhà phú hộ trong dụ ngôn Chúa kể, lại là người có lòng tham không đáy? Lòng tham của ông ta biểu lộ qua tính toán và ích kỷ. Tính toán để làm tăng thêm của cải tiền bạc và ích kỷ vì không muốn dùng của cải tiền bạc ấy cho bất cứ người nào khác ngoài mình ra. Thoạt đầu dụ ngôn, ta đã tưởng nhà phú hộ sẽ dừng lại, bằng lòng với sự giàu có của ông và có một kế hoạch để sử dụng cho đúng những tài sản ông ta đang có. “Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!” Nhưng trái lại, ông ta đã không vượt quá con người của ông để nhìn thấy có biết bao công việc lợi ích ông có thể làm với núi tài sản của ông. Nào là giúp đỡ những người cùng khổ đang sống bên cạnh ông, tăng lương cho những người làm công cho ông. Nào là đóng góp xây dựng cho ngôi trường học tại thành phố của ông để con em có nơi học hành tử tế. Hội đường của cộng đồng ông đang cần nới rộng thêm để nơi thờ phượng được xứng đáng hơn... Chắc chắn ông đã nhìn thấy những nhu cầu đó. Tuy nhiên những nhu cầu xã hội ấy lại không thể cân nặng bằng sự “nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi cho đã” của ông. Do đó, ông ta lại thấy vẫn còn chỗ để tích trữ hoa mầu và vẫn có những việc để ông ta làm cho riêng mình. Thế là ông ta lại lên kế hoạch làm giàu. Cái đáy tưởng đã có, giờ đây lại rơi đâu mất rồi!
Người tham lam bao giờ cũng có kế hoạch. Họ chỉ nhắm một mục đích làm giàu. Cho nên họ rất nhạy bén trước cơ hội và tìm cách nắm bắt cơ hội. Vì “còn chỗ đâu mà tích trữ hoa màu” nên kế hoạch của nhà phú hộ là phá những kho cũ đi và xây những kho mới lớn hơn. Nhưng rồi chẳng biết những kho mới xây sẽ lớn hơn cho tới bao giờ, hay cũng chỉ vài ba năm lại không đủ chỗ chứa! Rồi kế hoạch sau khi xây kho mới là “nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi cho đã”. Hay kế hoạch này rồi cũng lại phải hoãn lại vì tiền bạc của cải chưa đủ? Đúng là cái vòng luẩn quẩn, cái kho không đáy và không bao giờ dừng lại được.
2) Dừng!
Năm chục năm trước, cha Vũ minh Nghiễm, dòng Chúa Cứu Thế, có viết một cuốn sách suy niệm lấy tên là Dừng! Những bài suy niệm mời gọi ta phải biết dừng lại trong mọi lãnh vực cuộc sống, để hướng về cầu nguyện, suy nghĩ và dành những giây phút cho Chúa. Một trong những lãnh vực khó dừng nhất, đó là làm giầu. Thay vì dừng để nghĩ tới Chúa và tha nhân, người ta chỉ biết nghĩ đến tiền. Họ cũng nghĩ tới Chúa và tới người khác, nhưng thường là cớ để họ lao đầu đi kiếm tiền thêm. Họ nêu lên lý do: tôi phải làm nhiều tiền để giúp nhà thờ (!), cho tương lai của con cái. Thế là lễ Chúa Nhật chẳng đi, con cái cũng chẳng được vài ba giờ với cha mẹ mỗi ngày.
Người ta không biết dừng làm giàu, vì họ gán cho tiền bạc của cải một giá trị thực sự chúng không có. Họ theo triết lý “có tiền mua tiên cũng được”. Nhưng lầm. Chúa Giê-su nói thẳng: “Không phải hễ ai được dư giả, thì mạng sống người ấy nhờ của cải mà được bảo đảm đâu”. Bao nhiêu người giàu có đã chết, cả khi chưa kịp “nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi cho đã”.
Cho nên điều quan trọng là phải biết giá trị đích thực của tiền bạc của cải. Giá trị của chúng chỉ có giới hạn và là những ơn lành Chúa ban để ta sử dụng cho những mục đích tốt lành. Vì giá trị tương đối của chúng, nên ta không thể đặt chúng lên hàng đầu được. Chúa Giê-su dạy ta biết phải làm gì. Người nói: “Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6:32-33). Làm theo lời Chúa dạy như thế là ta đang “lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa”, vì “cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho” (Lc 11:9). Những gì ta tích trữ dưới thế này ta sẽ không mang theo được khi chết, nhưng ta “hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, nơi trộm cắp không đào ngạch và lấy đi được” (Mt 6:20).
3) “Bán của cải đi mà bố thí”
Thánh Lu-ca ghi lại những lời dạy của Chúa Giê-su về việc sử dụng của cải tiền bạc trong chương 12. Kết luận là lời khuyên của Chúa: “Hãy bán của cải mình đi mà bố thí” (Lc 12:33). Tiền bạc của cải phải có một hướng đi cho đúng. Ta không thể để chúng lẩn vẩn đầu óc và chi phối cuộc sống. Nhưng chúng phải được luân lưu, chuyên chở những giá trị tinh thần và đạo đức, tạo một thế quân bình trong đời ta. Khi ta “bán” của cải đi và “bố thí” thì không có nghĩa là mất, mà là dùng nó để tạo nên một giá trị mới nơi ta và nơi tha nhân. Nếu ta chỉ ôm của cải tiền bạc cho mình, ta cũng sẽ giống như ông nhà giàu, trái tim càng ngày càng nhỏ lại và chai cứng trước nỗi khổ đau của anh La-da-rô nghèo khó (Lc 16:19-31). Trái lại, nếu ta dùng của cải tiền bạc để làm việc hữu ích và lo cho tha nhân, ta sẽ có trái tim mang chiều kích của Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, quan phòng nuôi nấng muôn loài muôn vật.
Chúa Giê-su đến để ta được sống và sống phong phú theo tầm vóc của Người (Ga 10:10). Sự sống nơi Người đã được phát triển toàn hảo theo sự giàu có Thiên Chúa muốn thực hiện, để làm gương mẫu cho mỗi người noi theo mà đạt tới sự giàu có ấy. Chúa Giê-su không chỉ bán của cải mà bố thí, nhưng Người còn “bán đi” chính thân mình để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ nhân loại. Người đã yêu thương nên cho đi tất cả những gì Người có. Người đã sống nghèo khó để làm giàu cho Thiên Chúa và nhân loại. Ước mong ta được Chúa ban cho những ơn lành vật chất, thì xin Người cũng cho ta biết cách sử dụng những ơn đó theo tình yêu, bác ái và lòng thương xót Người hằng dạy dỗ ta.
4) Suy nghĩ và cầu nguyện
Tham lam là một tính xấu rất khó nhận diện trong cuộc sống, len lỏi vào từng lãnh vực nhỏ bé nhất. Vậy có bao giờ tôi thử tìm ra những “vi khuẩn” tham lam trong đời sống của tôi không? Tôi có để ý tập sống quảng đại, để diệt trừ dần dần tính tham lam không?
Tiền bạc của cải có giá trị nào trong cuộc sống của tôi?
Tôi đang làm giàu trước mặt Chúa như thế nào?
Cầu nguyện
“Lạy Chúa Giê-su,
xin cho con một tâm hồn
theo hình ảnh Tấm Bánh Thánh
Một tâm hồn trong trắng,
cố tránh cả những ô uế nhỏ mọn
để luôn xứng đáng với Chúa.
Một tâm hồn khiêm hạ
tìm chiếm chỗ nhỏ bé,
nhưng luôn luôn muốn bày tỏ
một tình yêu lớn lao.
Một tâm hồn đơn sơ,
không biết đến những phức tạp của ích kỷ,
và tìm hiến dâng mà không đòi lại.
Một tâm hồn lặng lẽ,
hạnh phúc khi thấy sự quảng đại của mình
không được người khác biết đến.
Một tâm hồn nghèo khó,
chỉ làm giàu cho mình
nhờ chiếm được chính Chúa.
Một tâm hồn luôn hướng về tha nhân,
quan tâm đến những nhu cầu và ước muốn của họ.
Một tâm hồn luôn kết hiệp với Chúa,
và múc lấy nguồn sống từ nơi Chúa.”
- Cha Galot
(Trích RABBOUNI, lời nguyện 103)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN18-C76. Thánh ca và lời nguyện mở đầu

(5-8-01)
Kinh Thánh: Cô-lô-xê 3: 1-5, 9-11
 

Trong ba đoạn thư trích Cô-lô-xê trước đây, Phụng vụ Lời Chúa mời gọi chúng ta suy niệm ve: TN18-C76

Trong ba đoạn thư trích Cô-lô-xê trước đây, Phụng vụ Lời Chúa mời gọi chúng ta suy niệm về vai trò của Chúa Ki-tô trong kế hoạch tạo dựng-cứu chuộc của Thiên Chúa, về ý nghĩa của mầu nhiệm Chúa Ki-tô là Người hiện diện với chúng ta để đem đến cho chúng ta niềm hy vọng chắc chắn, và về ý nghĩa của sự chết và sống lại của Chúa Ki-tô là đưa chúng ta tới một đời sống mới. Với đoạn thư Cô-lô-xê cuối cùng hôm nay, Giáo Hội chọn một số tư tưởng trong đoạn thánh Phao-lô khuyến khích tín hữu Cô-lô-xê hãy sống sao cho hợp với những gì Chúa Ki-tô đã làm cho họ (3:1-4:6). Xét trên điểm này, thư Cô-lô-xê là một thí dụ điển hình cho thấy những khuyến dụ sống đạo đức của thánh Phao-lô luôn luôn đi theo sau khi đã trình bày về giáo lý trước đó. Nghĩa là: vì Chúa Ki-tô đã hòa giải họ với Thiên Chúa nhờ cái chết của Người, vậy tín hữu cần phải sống như thế nào?
Trong hai câu đầu của bài đọc hôm nay, thánh Phao-lô trình bày nguyên lý nền tảng của đời sống đạo đức cho những ai tin vào Chúa Ki-tô. Đó là nếu họ đã được sống lại với Người trong con người mới, thì họ phải "tìm kiếm những gì thuộc thượng giới." Họ không nên nghĩ đến những gì thuộc về hạ giới nữa, vì trong bí tích Rửa tội họ đã chết đi với Chúa Ki-tô rồi.
Để hiểu rõ hơn nguyên lý nền tảng trên, chúng ta nên để ý tới lời giải thích của thánh Phao-lô về thượng giới là gì. Đó là "nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa", là quê hương đích thực của chúng ta. Nếu Đức Ki-tô, sau khi phục sinh, là con người của thượng giới, thì việc chúng ta "tìm kiếm những gì thuộc thượng giới" chính là đi tìm kiếm tất cả những gì chứa đựng trong kho tàng vô giá là Chúa Ki-tô. Hay nói khác đi, tìm kiếm những gì thuộc thượng giới tức là tìm kiếm một lối sống mới, tức là lối sống của Đức Ki-tô.
Ở đây có sự tiếp nối chặt chẽ với bài đọc Chúa Nhật trước. Bí tích Rửa tội (2:12-14) giúp chúng ta đoạn tuyệt với tội lỗi và mở ra cho chúng ta một đời sống mới. Tội lỗi đã nhường chỗ cho ân sủng và sự chết đã nhường chỗ cho sự sống mới. Vì giác quan không cảm nhận được sự thay đổi ấy, nên thánh Phao-lô mới nhắc nhở rằng "sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng (dấu ẩn) với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa." Rồi ngài cũng không quên nói lên đâu là đích tới mà sự sống mới ấy sẽ dẫn chúng ta đến: cùng Đức Ki-tô hưởng phúc vinh quang. Đức Ki-tô phục sinh mang một danh hiệu mới hết sức quan trọng đối với chúng ta, đó là Đức Ki-tô, nguồn sống của chúng ta.
Sau khi trình bày nguyên lý nền tảng, thánh Phao-lô đi vào thực hành, khuyến dụ tín hữu Cô-lô-xê hãy diệt đi lối sống trái ngược với nguyên lý ấy, tức là lối sống vô luân. Đây là tiến trình con người đi tìm và xây dựng lại hình ảnh Thiên Chúa đã mất đi nơi mỗi người chúng ta. Hình ảnh Thiên Chúa ấy đã là tiêu chuẩn để Thiên Chúa dựng nên chúng ta. Rồi hình ảnh ấy bị tổn thương do tội nguyên tổ và tội riêng. Nhưng nơi Đức Ki-tô, hình ảnh Thiên Chúa được tỏ hiện rõ ràng và nguyên vẹn. Đức Ki-tô đã chiến thắng tội lỗi bằng cái chết của Người là để phục hồi hình ảnh Thiên Chúa đã bị mất đi nơi con người. Vậy liên kết với Chúa Ki-tô, nếu chúng ta càng làm chết đi con người cũ, con người tội lỗi của mình, thì con người mới là hình ảnh Chúa Ki-tô phục sinh càng hiện rõ nơi chúng ta. Đức Ki-tô đã đi trước, khởi đầu cho tiến trình biến đổi ấy và Người mở ra một viễn tượng mới. Thánh Phao-lô nhìn viễn tượng này là một "nhân loại mới" khởi sự với "trưởng tử" (1:18), hoặc A-đam mới là Đức Ki-tô. Nhân loại mới này không dựa trên những yếu tố khác biệt về mầu da, chủng tộc, nhưng dựa trên cùng một thân phận mà mọi người cùng chia sẻ, đó là "Đức Ki-tô là tất cả và ở trong mọi người."
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
Nhìn lại bốn bài đọc trích thư Cô-lô-xê từ Chúa Nhật 15-18 quanh năm, tôi nhận ra giáo lý về Chúa Ki-tô được Phụng vụ Lời Chúa trình bày như thế nào?
Những gì thuộc hạ giới đã ngăn cản tôi tìm kiếm Đức Ki-tô?
Trên đường tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, tôi đã khám phá được những đường nét nào của dung mạo Đức Ki-tô?
Nguyên lý nền tảng về đời sống đạo đức do thánh Phao-lô trình bày có thực sự là nền tảng đối với tôi không? Hay tôi chưa xác tín nguyên lý này? Nếu chưa thì tại sao?
Khi nói "Đức Ki-tô là nguồn sống của chúng ta", thánh Phao-lô đã có những cảm nghiệm nào? Và đó có là một số cảm nghiệm của chúng ta không?
Cầu nguyện kết thúc
Sau cầu nguyện bộc phát và chia sẻ, nhóm cùng hát "Đường của con là Chúa", CNLT 62.
Lm. Trần Đình Nhi

 

TN18-C77. CHÚA NHẬT 18 QUANH NĂM

(Lu-ca 12: 13-21)
 

Nếu ta sống trong mối quan hệ với Thiên Chúa như cha con và tin tưởng vào tình yêu quan: TN18-C77

Nếu ta sống trong mối quan hệ với Thiên Chúa như cha con và tin tưởng vào tình yêu quan phòng của Người thì tại sao ta còn phải tìm cách cậy dựa vào những quyền lực trần gian như tiền bạc, của cải? Trong huấn dụ về việc làm môn đệ, Chúa Giê-su đã đòi hỏi ta phải tuyệt đối gạt bỏ mọi thứ trở ngại vương vấn để hoàn toàn dấn thân theo Người (Lc 9:57-62). Một trong những trở ngại lớn lao nhất, đó là tiền bạc của cải làm cho ta bận tâm và không còn thiết tha theo Chúa nữa. Đây cũng là một đề tài căn bản dành cho mọi Ki-tô hữu suy nghĩ để biết mình phải có thái độ nào đối với tiền bạc của cải đời này. Nhân dịp một người đến xin Chúa Giê-su lấy uy tín của Người để đòi người anh của anh ta phải chia gia tài cho anh, Người đã nắm lấy cơ hội này để trình bày một chân lý căn bản cho việc chuẩn bị tương lai vĩnh cửu của ta: hãy lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa.
a) Bảo đảm mạng sống
Ta có thể hiểu là vì tham lam, người anh trong câu truyện đã không chia phần gia tài cho người em theo lẽ công bằng. Anh ta tham lam muốn có dư giả của cải để bảo đảm cho mạng sống mình. Người đời chỉ nhìn thấy sự sống trước mắt và lo lắng về sự sống ấy, chứ ít khi nghĩ đến và chuẩn bị cho sự sống đời sau. Do đó, Chúa Giê-su thường nói về sự sống đích thực tức là sự sống đời đời trong các lời giảng của Người, nhất là trong Tin Mừng Gio-an. Người đã khẳng định sự sống đời đời là: “Tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6:40).
Chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng bảo đảm sự sống đích thực cho ta, vì Người làm chủ sự sống của ta. “Anh em đừng sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt 10:28).
Chúa Giê-su, trong bài giảng trên núi đã cho ta thấy tính cách ưu việt của sự sống đích thực. Ngay đến sự sống thể xác cũng đã được Thiên Chúa quan phòng chăm sóc cho ta (Mt 6:25-34), huống chi là sự sống thiêng liêng. Người đi tới kết luận: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công bình của Người,” tức là hãy lo lắng cho tương lai vĩnh cửu của ta.
b) Nỗi ưu tư của nhà phú hộ
Đâu phải cứ giàu có, dư đầy của cải là tâm hồn được thảnh thơi! Ta cứ xem gương nhà phú hộ trong dụ ngôn Chúa Giê-su kể. Ông ta lúc nào cũng lo lắng làm giàu. Của cải đã trở thành một áp lực và một câu hỏi luôn đè nặng đầu óc: “Mình phải làm gì đây?” Ông ta mơ ước có một lúc nào đó sẽ dừng lại không còn lo làm giàu nữa và sẽ lo nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi cho đã! Nhưng sẽ chẳng bao giờ có “lúc ấy” cả, vì đối với ông không có giới hạn nào gọi là đủ, mà chỉ có thiếu thôi.
Nỗi ưu tư của nhà phú hộ không vượt quá bản thân mình. Ông ta lo cho mình, chứ không lo cho ai cả. Ông quy hướng mục đích làm giàu về một tương lai mà ông không bao giờ nắm chắc được, đó là một cuộc sống phong lưu nhờ của cải ông ta có. Ai có thể tự mình kéo dài thêm cuộc sống của mình được? (Mt 6:27). Cái chết chẳng kiêng nể một ai, kể cả nhà phú hộ. Cho nên ưu tư kiểu ấy đã được Chúa Giê-su “tặng” cho một mỹ từ là “đồ ngốc”!
Ưu tư cho những nhu cầu của anh chị em và nhất là cho những kẻ nghèo đói là ưu tư đích thực mà Chúa Giê-su đã nêu gương. Một thoáng mệt nhọc trên khuôn mặt các tông đồ cũng không qua khỏi con mắt Chúa Giê-su. Người bảo họ: “Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6:31). Bà mẹ vợ ông Phê-rô nằm liệt và lên cơn sốt là mối ưu tư của Chúa Giê-su (Mt 8:14-15). Dân chúng vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt đã làm cho Chúa Giê-su chạnh lòng thương (Mt 9:36-38). Chúa Giê-su không lo làm giàu cho mình, nhưng cho tha nhân và lợi ích của họ.
c) Lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa
Thiên Chúa là Cha. Người ban cho chúng ta mọi sự vật chất lẫn tinh thần thì Người đâu cần thấy mỗi người chúng ta phải là triệu phú. Nhưng Thiên Chúa muốn ta giàu có về phương diện khác, nghĩa là phải giàu có như chính Người. Trong Kinh Thánh, ta thường gặp đi gặp lại những tư tưởng về sự giàu có của Thiên Chúa. Người giàu có tình yêu đến độ sẵn sàng ban Con Một Người cho thế gian. Người giàu lòng từ bi và nhân hậu đến nỗi không chấp tội ta và còn tìm đủ mọi cách để cứu chuộc ta.
Thấy ta nghèo nàn vì đã bị tội lỗi tước bỏ mọi sự, Thiên Chúa muốn phục hồi sự giàu có cho ta nhờ Chúa Giê-su. Trước hết Người muốn cho ta được giàu có sự sống, nhờ Chúa Giê-su là Đấng Chăn chiên lành. “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10:10). Qua Thánh Thần, Thiên Chúa ban cho ta quyền làm con, được cùng với Chúa Giê-su thừa kế gia nghiệp của Thiên Chúa (Rm 8:14-17).
Như vậy, càng sống trọn vẹn thân phận làm con Chúa bao nhiêu, ta càng trở nên giàu có bấy nhiêu. Muốn giàu có như vậy, ta phải trải qua một cuộc biến đổi. Càng trở nên giống với Chúa Giê-su thì ta càng giàu có với những giá trị của Tin Mừng. Cuộc Ki-tô hóa thể hiện nơi ta sẽ phục hồi tất cả những gì bị mất đi do tội lỗi. Gia nghiệp của Thiên Chúa cứ mỗi ngày một thuộc về ta và vinh quang Thiên Chúa càng gần kề ta hơn nữa.
d) Suy nghĩ và cầu nguyện
Của cải tiền bạc đã chi phối cuộc sống tôi như thế nào? Tôi có thực sự làm nô lệ cho chúng không?
Tôi có lo lắng cho anh chị em trong những nhu cầu dù bé nhỏ nhất của họ không?
Là người môn đệ của Chúa Giê-su, tôi có trông lên Chúa như mẫu gương để có thái độ đúng khi sử dụng tiền của không?
Tôi khám phá được những gì nơi sự giàu có của Chúa Giê-su?
Cầu nguyện:
“Lạy Chúa Giê-su,
giàu sang, danh vọng, khoái lạc
là những điều hấp dẫn chúng con.
Chúng trói buộc chúng con
và không cho chúng con tự do ngước lên cao
để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn.
Xin giải phóng chúng con
khỏi sự mê hoặc của kho tàng dưới đất,
nhờ cảm nghiệm được phần nào
sự phong phú của kho tàng trên trời.
Ước gì chúng con mau mắn và vui tươi
bán tất cả những gì chúng con có,
để mua được viên ngọc quý là Nước Trời.
Và ước gì chúng con không bao giờ quay lưng
trước những lời mời gọi của Chúa,
không bao giờ ngoảnh mặt
để tránh cái nhìn yêu thương
Chúa dành cho từng người trong chúng con. A-men.”
(Trích RABBOUNI, lời nguyện 13)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN18-C78. CUỘC ĐỜI LÀ PHÙ VÂN

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền
 

Cuộc đời là phù vân. Đó là một chân lý mà mỗi người chúng ta đều nhìn nhận. Không có gì trong: TN18-C78

Cuộc đời là phù vân. Đó là một chân lý mà mỗi người chúng ta đều nhìn nhận. Không có gì trong cuộc đời là bền vững, là vĩnh cửu.Tất cả đều tàn phai theo thời gian. Tiền tài, danh vọng và sắc đẹp rồi cũng sẽ có một ngày vuột ra khỏi tầm tay của chúng ta. Thế nhưng, mỗi người lại sống cuộc đời gọi là phù vân này rất khác nhau. Có người nghĩ cuộc đời quá ngắn nên tranh thủ hưởng thụ bằng cuộc sống ăn chơi sa đoạ. Có người lại “tối mày tối mặt” để tích lũy cho mình thật giầu có. Có người tìm công danh. Có người trau truốt cho sắc đẹp. Có người đi tìm tình bạn. Có bao nhiêu người là có bấy nhiêu cách  sống khác nhau.
Vua Salomon đã hiểu ý nghĩa cuộc đời là phù vân, nên ông đã thốt lên rằng: “Phù vân rất mực phù vân, khó nhọc vất vả thế rồi phải trao lại cho kẻ không vất vả hưởng”.
Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy hai nhân vật tiêu biểu cho hai hạng người: tham quyền và tham tiền. Kẻ tham quyền thì dùng quyền bính để ăn chận tài sản người khác. Kẻ tham tiền thì lo vun quén cho đầy kho. Mẫu số chung của cả hai loại người này là  ích kỷ, chỉ lo cho bản thân và không màng tới tha nhân, cho dù đó là người thân của mình. Người anh đã dùng quyền bính để khước từ việc chia gia sản cho người em. Người phú hộ vì tham tiền nên chỉ lo nghĩ đến việc tích góp của cải đến nỗi không còn thời giờ dành cho tha nhân. Xem ra cuộc đời của họ không có hạnh phúc vì họ không có tình bạn. Họ coi tha nhân là kẻ thù, là kẻ đang tranh giành địa vị và tiền tài với mình. Họ không cần tình bạn, họ chỉ cần tiền. Họ không cần người thân, họ chỉ cần lợi dụng người khác cho tham vọng của mình. Sống không có tình bạn như cây xanh thiếu lá, chỉ trơ trụi và khô cần. Cuộc đời của họ sẽ không có niềm vui và hạnh phúc. Cuộc đời của họ càng không có hậu. Vì họ không có gia sản để dành cho đời sau là những việc lành phúc đức trong cuộc đời hôm nay.
Nhưng tiếc thay, nhân loại hôm nay vẫn còn đó những con người như thế. Tiền và quyền luôn làm xa lìa tình người. Tiền và quyền luôn làm cho con người biến chất đến tha hoá không còn tính người. Xã hội vẫn đầy dẫy những bất công và bất nhân. Bất công vì kẻ đổ mồ hôi lao nhọc mà vẫn đói nghèo xác xơ trong khi đó lại có kẻ “ngồi nhà mát ăn bát vàng”. Các quan tham từ nông thôn đến thành thị đều rủng rỉnh bạc vàng còn dân lành lại lầm than cơ cực. Bất nhân vì thiếu tôn trọng lẫn nhau, đến nỗi coi mạng người như phương tiện để khai thác trục lợi. Xã hội hôm nay cho rằng sống là để tranh đấu. Tranh đấu nên có kẻ được người thua. Tranh đấu nên phải giành giựt lẫn nhau, nhanh thì được chậm thì mất. Cuộc sống trở nên một bãi chiến trường. Kẻ thắng thì cười. Người thua thì khóc. Tất cả như những con thiêu thân đang lao vào cuộc chơi mà không hề biết nguy hiểm đang chờ trước mắt, cái chết gần kề mà lời Chúa hôm nay nhắc nhở: “Hỡi kẻ dại khờ, nội trong đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi thì những gì ngươi sắm sẽ thuộc về ai?”.
Có ai đó đã ví von về cách tìm kiếm và sử dụng của cải đời này như sau:
“Người công nhân thì đổ mồ hôi để có được nó
Kẻ hoang phí thì đốt nó
Chủ ngân hàng đem nó đi vay
Đàn bà xài nó
Kẻ lưu manh làm giả nó
Nhân viên thuế vụ lấy nó
Người hấp hối lìa bỏ nó
Kẻ thừa kế tiếp thu nó
Người tiết kiệm thèm khát nó
Kẻ ăn trộm chộp lấy nó
Người giầu gia tăng nó
Người cờ bạc bị mất nó
Phần tôi thì dùng nó”.
Về phần tôi thì dùng nó, có lẽ đó là sự khôn ngoan mà Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta: “Hãy làm giầu trước mặt Chúa”. Hãy sử dụng tiền bạc và quyền bính để mang lại lợi ích cho xã hội và cho con người. Đừng dùng nó cho bản thân của mình. Cũng đừng xem nó như cứu cánh đời mình. Của cải và danh vọng không thể sánh với con người nên đừng vì nó mà bán rẻ lương tri, đừng vì nó mà đánh mất tình người, đừng vì nó mà lãng quên tình Chúa. Tất cả chỉ là phù vân. Sự sống đời sau mới là vĩnh cửu. Và sự sống vĩnh hằng không thể mua bằng tiền bạc, càng không thể tìm kiếm bằng vũ lực mà bằng lòng nhân nghĩa. Lòng nhân nghĩa đối với đồng loại bao hàm tinh thần yêu thương và phục vụ.  Yêu thương nên sẵn lòng dấn thân và phục vụ vì lợi ích của tha nhân. Yêu thương nên sẵn lòng nhường nhịn và chia sẻ lẫn nhau. Yêu thương nên sẵn lòng hy sinh bản thân mình để tìm niềm vui trong phục vụ tha nhân.
Ước gì mỗi người chúng ta luôn biết dùng gia sản là tài năng và khả năng của mình để mua lấy bạn hữu Nước Trời mai sau.Amen
Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

 

TN18-C79. MỘT CƠ HỘI LÀM GIÀU

Chúa Nhật 01.08.2010
Tác giả: Cố Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, op  viết ngày: 05.08.2007.
 (Lc 12:13-21)
 

Thế giới đã xích lại gần nhau nhanh chóng nhờ toàn cầu hóa truyền thông, vận chuyển và: TN18-C79

Thế giới đã xích lại gần nhau nhanh chóng nhờ toàn cầu hóa truyền thông, vận chuyển và thị trường. Khắp thế giới sự phát triển kinh tế hầu như đã nâng cao mức sống mọi người so với những thời kỳ trước đây trong lịch sử nhân loại.[i] Một cơ hội làm giàu đang đến với nhiều người.
Từ ngày gia nhập WTO, Việt nam đã trở thành điểm thu hút đầu tư của nhiều quốc gia, nhất là Hoa Kỳ. Phải chăng đây là lúc nên nghĩ đến chuyện làm giàu ? Càng mở rộng cửa, Việt nam càng tạo nên nhiều lớp người giàu. Nhưng khoảng cách giàu nghèo ngày càng mở rộng có bảo đảm cuộc sống sẽ càng ổn định và hạnh phúc không ?
Dụ ngôn người phú hộ trong Tin Mừng hôm nay có soi sáng cho ta thấy hạnh phúc đích thực của con người không ? Phải chăng tất cả đều tùy thuộc vào của cải và tiền bạc ? Ðâu là cơ hội làm giàu đích thực ?
NGƯỜI PHÚ HỘ NGU NGỐC
Tự bản chất, của cải có một giá trị lớn lao, vì là hồng ân Thiên Chúa. Nhưng theo mẹ Têrêsa, còn có những giá trị cao cả hơn. Thiên Chúa mời gọi chúng ta lựa chọn những giá trị này. Tất cả sự thánh thiện đều tùy thuộc vào việc lựa chọn hôm nay.
Trong Tin Mừng Luca có hai ông phú hộ. Ông nào cũng có cái nhìn không vượt qua những giới hạn trần gian và chính bản thân. Nói khác, cả hai ông đều tin tưởng tuyệt đối vào của cải vật chất và không hề đoái tới những người nghèo khổ chung quanh. Ich kỷ là điểm chung của hai ông. Không gì trái ngược với Tin Mừng hơn !
Ích kỷ vì cả hai người phú hộ đều không thấy mối liên hệ với Thiên Chúa và tha nhân. Của cải là chỗ dựa duy nhất. Tất cả hạnh phúc và mọi bảo đảm đều lệ thuộc của cải, trong khi đáng lẽ phải tùy thuộc Thiên Chúa. Lòng tham đã che mờ lý trí đến nỗi con người chỉ còn một nơi trú ẩn vững chắc nhất là của cải mà thôi. Lòng tham có thể khiến kẻ thông minh và thành công nhất trong việc kinh doanh thành ngu đần và thất bại. Trong câu 18-19, người phú hộ trở nên “thằng ngốc,” vì suốt ngày say mê chính mình. Vì những bận tâm đầy ích kỷ đó, hắn đã loại trừ Thiên Chúa và tha nhân ra khỏi tầm nhìn.[ii]
Nhưng tử thần thình lình ập tới. Thời gian thật vắn vỏi, nhưng cũng đủ để con người nhìn lại toàn bộ : “Những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?” (Lc 12:20) Tất cả đều khựng lại. Câu hỏi thật bất ngờ và có sức quật ngược mọi toan tính. Mọi người buộc phải suy nghĩ về một vấn đề cơ bản nhất : cuộc sống có ý nghĩa gì ? Thánh Luca tự đưa ra câu trả lời : nhìn nhận Thiên Chúa và bố thí cho kẻ túng cực là tìm thấy ý nghĩa cuộc sống.[iii] Như thế, cuộc đời còn có một cái gì hơn của cải vật chất. Mối liên hệ với Thiên Chúa và tha nhân còn quan trọng hơn nhiều.
Khi cầu nguyện, chúng ta trình bày với Thiên Chúa những vấn đề. Ngược lại, Thiên Chúa cũng cho ta thấy những vấn đề tương tự. Người cho biết phải làm cách nào để chúng ta thay đổi và lớn lên trong thái độ của mình đối với vấn đề. Ðây thường không phải là câu trả lời chúng ta tìm kiếm, nhưng giúp chúng ta dõi theo bàn tay Thiên Chúa để tìm thấy ý Chúa trong cuộc đời mình một cách hiệu quả.
Cuộc sống tốt đẹp không liên quan gì tới việc làm giàu. Trái lại, “không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu.” (Lc 12:15) Ngày nay, các nhà quảng cáo bỏ ra hằng triệu đô la để quyến rũ chúng ta mơ tưởng rằng càng mua sắm nhiều hàng hóa của họ, càng hạnh phúc, càng thỏa mãn, càng tiện nghi. Làm cách nào phản ứng lại áp lực mua bán liên tiếp như thế ? Hãy tìm cách bưng tai bịt mắt trước những quyến dũ mắc tiền và tập trung chú ý vào cuộc sống thực sự tốt đẹp – sống tương quan với Thiên Chúa và làm công việc Người dạy.
Người phú hộ trong truyện chết trước khi có thể bắt đầu hưởng dùng những gì ông đã tích trữ trong những kho lẫm lớn. Lập chương trình về hưu – chuẩn bị cho cuộc sống trước khi chết – đó là khôn ngoan. Nhưng khinh thường cuộc sống sau khi chết, đó là một thảm họa. Nếu thu tích của cải chỉ để làm giàu, mà không quan tâm giúp đỡ tha nhân, chúng ta sẽ bước vào cõi vĩnh hằng với hai bàn tay trắng.[iv]
TIN MỪNG, MỘT ÐÒI HỎI CÔNG LÝ
Nhân danh sự an toàn cá nhân và gia đình, ngày nay rất nhiều người chỉ quan tâm tới hạnh phúc riêng và phớt lờ trước những nạn nhân đang rên siết dưới chế độ bất công. Như thế có làm chứng cho Ðức Kitô được không ? Nếu nắm vững tinh thần Ðức Kitô, sẽ thấy toàn bộ Kinh Thánh đòi chúng ta phải nỗ lực tạo nên một xã hội công bình hơn.[v] Nỗ lực đó sẽ lôi chúng ta ra khỏi những giấc mơ tầm thường của thế giới cái tôi.
Chỉ khi nào thoát khỏi mọi thứ tham lam, con người mới tiêu hủy được căn nguyên tội lỗi, bẻ gãy nanh vuốt ma quỷ và không bị tiêu hủy theo nó mà thôi. Bởi đó, Chúa Giêsu mới lên tiếng cảnh cáo : “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam.” (Lc 12:15) Không những của cải không bảo đảm hạnh phúc, mà còn gây bao tai họa nữa. Khi lòng tham vô đáy, con người chỉ còn biết quanh quẩn với cái tôi. Tình yêu trở thành tự mãn. Yêu mình quá mức là nguyên nhân sinh ra mọi tội lỗi.[vi]
Khi nào yêu mình quá mức ? Nếu bất chấp mọi luật lệ Thiên Chúa và lý trí con người, mà mải mê với những của cải vật chất và trần tục một cách thái quá, con người yêu mình quá mức. Họ có thể yêu vật tốt, nhưng theo đường lối xấu. Cũng có thể họ mải mê hưởng dùng vật tốt ấy, bất chấp sự thiệt hại xảy ra cho mình và sự xúc phạm đến Thiên Chúa. Người phú hộ không phải không thấy của cải tốt lành. Nhưng ông đã dùng để phục vụ chính mình mà thôi. Nghĩa là ông đã yêu mình quá mức. Không còn thứ tội nào không sinh ra từ tình yêu lệch lạc này.
Chính vì chỉ nghĩ đến chuyện ăn uống, tích trữ lương thực cho mình, người phú hộ không xứng đáng hưởng Nước Trời. Làm sao có thể sống bình an và xây dựng cho nhau giữa cảnh “kẻ ăn không hết, người lần không ra” ? Chỉ có Tin Mừng mới giúp ông phú hộ làm điều tốt (thực thi công lý) đối với người nghèo. Ðó là con đường đem lại hoa quả thánh thiện và lòng trắc ẩn bao la.
Muốn có một đời sống tốt lành, Kitô hữu phải ý thức và thực thi đòi hỏi duy nhất của Tin Mừng là công lý. Ðúng thế, “Nước Trời là sự công chính ...” (Rm 14:17) Công lý là bản chất của Nước Thiên Chúa trong khắp vũ trụ, chứ không của riêng giáo hội nào. Bởi đó, tranh đấu cho công bình xã hội không phải là đặc điểm của Giáo Hội Ðại Hàn, Zimbabwe, Venezuela v.v. Không thể biện minh cho thái độ ngại dấn thân cho công lý mà loại trừ đặc điểm đó ra khỏi GHVN.
Việc chia sẻ với những người cùng khổ là một đòi hỏi của công lý, chứ không tùy thuộc lòng quảng đại của ông phú hộ. Chính vì những người giàu như ông không biết chia sẻ, nên mới nảy sinh những bạo động khắp thế giới. Tính ích kỷ đã thành căn bệnh trầm kha trong xã hội hôm nay. Nó mang tầm vóc quốc tế, chứ không giới hạn trong một lãnh vực hay lãnh thổ nào. Muốn bước ra khỏi vỏ ốc ích kỷ, chúng ta không cần phải có con mắt khinh dể trần gian. Ai tưởng trần gian này quá đầy đủ và có thể thỏa mãn lòng người, họ sẽ thấy điều đó hoàn toàn dối trá và lừa phỉnh. Ðiều đó khiến chúng ta dễ dàng nhúng tay vào thế giới tội ác và gian tà. Phải tìm về sự thật là Thiên Chúa mới thấy được tất cả những của cải vô hình và làm giàu “trước mặt Thiên Chúa.” (Lc 12:21) Ðó mới là đường lối thực khôn ngoan và đầy hạnh phúc.
Muốn rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, thiết tưởng trước tiên cần phải ý thức tính cách mỏng dòn của vạn vật trên trần gian, giá trị của các thực tại và sự ngắn ngủi của cuộc đời. Tuy phù du và mỏng dòn, của cải cũng có thể trở thành phương tiện giúp chúng ta liên đới với người nghèo và đáp ứng những đòi hỏi của công lý.
Ngày nay còn nhiều người vẫn tự hỏi : đâu là giá trị cuộc đời ? Làm cách nào để biến đổi cuộc đời tầm thường này thành một giá trị phong phú và đầy ý nghĩa ? Tin Mừng trả lời bằng một phản đề : những công trình phong phú nhất không phải là những công trình kiên cố nhất. Giá trị một đời người không tính bằng số lượng của cải thâu góp cho mình. Tin Mừng mời gọi chúng ta đừng sống cho chính mình, nhưng hãy thu tích của cải để chia sẻ cho người khác. Chúng ta chỉ thành công khi tương quan với tha nhân và Thiên Chúa trở thành một hòa điệu. Chính phẩm chất các tương quan này làm nên ý nghĩa cuộc đời . Thánh Augustinô nói : “Giá trị của tôi là chính tình yêu của tôi.”
Giá trị cuộc sống hôm nay không tương đương với số tiền có trong ngân hàng hay những lời nịnh hót phe phẩy bên tai. Ðúng hơn, giá trị cuộc đời hệ tại tất cả những gì chúng ta cho đi. Ðó là chất xi măng duy nhất để Thiên Chúa củng cố công trình cuộc đời ta. Chỉ mình Chúa mới biết giá trị cuộc đời. Ðó là lý do tại sao chúng ta có thể nói với thánh Phaolô “cuộc sống chúng ta tiềm tàng với Ðức Kitô nơi Thiên Chúa.” (Cl 3:3) Không còn nơi nào kiên cố và vững bền hơn. Tình yêu Thiên Chúa vô cùng mãnh liệt và huyền nhiệm. Khi được tình yêu Thiên Chúa xác định, cuộc đời còn giá trị nào hơn ?
XÂY … CẤT
Sau khi nghe Tin Mừng hôm nay, nhiều người có những phản ứng rất khác nhau. Tin Mừng đã gây sốc cho rất nhiều người. Nhiều người cho rằng cái đáng kể trong cuộc đời là thu tích nhiều của cải, nhà cửa, bất động sản, đầu tư, xe cộ, thuyền bè v.v. Một số người khác cảm động sâu xa. Lắng nghe tiếng Chúa gọi, họ sẽ bán tất cả tài sản mà đi tu, để thu tích của cải thiêng liêng. Trong số những người cực kỳ giàu có, để hưởng lợi sau này, một số sẽ cho ướp xác ngay sau khi chết, hy vọng sẽ sống lại khi y khoa tìm được thuốc chữa bệnh cho họ. Sau khi dâng lễ, một số khác sẽ về nhà và bắt đầu làm tờ Di Chúc. Họ cố quyết định xem phải chia của cải cho ai, lựa chọn người khôn ngoan và loại bỏ người ngu đần. Ðối với nhiều người khác, Lời Thiên Chúa vô tai này ra tai kia. Họ không nhận ra sự khôn ngoan thiêng liêng của Thiên Chúa trong bài đọc.
Qua tất cả những phản ứng khác nhau đó, chúng ta thấy rõ tuy mau qua, nhưng của cải có một ảnh hưởng lạ lùng trên tâm thức nhân loại. GHVN có phản ứng nào trước Tin Mừng hôm nay ? Phải chăng giống như ông phú hộ, GHVN lo xây cất cơ sở để tích trữ của cải thi đua với đời ? Nhìn vào một xã hội đang đói khát chân lý và công lý như Việt nam hiện nay, có lẽ chúng ta sẽ xác định được vị trí và sức mạnh của GHVN.
Ðứng trước một xã hội đang băng hoại, ÐHY Phạm Minh Mẫn phải thú nhận :
“Sau 30 năm, tôi thấy báo chí thông tin kết quả của một cuộc điều tra xã hội: 30-40% học sinh Tiểu học nhiễm thói gian lận, lừa dối, 40-50% học sinh Trung học nhiễm thói đó, lên Đại học thì tỷ lệ là 50-60%. Trong một lần sinh hoạt với giáo chức công giáo, tôi hỏi tỷ lệ mà báo chí đưa ra có đúng không? Một giáo viên trả lời rằng thực tế thì còn hơn thế.”
“Trong tinh thần hợp tác, 16 dòng tu theo lời tôi kêu gọi gửi gần 100 thành viên tình nguyện đi phục vụ bệnh nhân SIDA tại Trung Tâm Trọng điểm mấy năm nay. Các vị lãnh đạo TP cho tôi biết lúc đầu chỉ có lối 20% trong số hơn 30.000 bạn trẻ cai nghiện trong lối 20 Trung Tâm là nhiễm HIV, sau những năm cai nghiện thì tỷ lệ nhiễm HIV là trên 60%, có vị nói là trên 80%.”
“Báo chí cũng thông tin những ngành liên hệ với y tế thì toa rập nhau trấn lột bệnh nhân…Hình như các ngành, thay vì biến giai cấp vô sản thành người đầy tớ phục vụ nhân dân theo như lời Bác dạy, thì thực tế cho thấy là giai cấp vô sản biến nhân dân thành vô sản, và tự biến mình thành một giai cấp mới mà tôi nghe nhiều người gọi là tư sản đỏ. Ngày nay khi mà một viên chức Nhà Nước phải chia 1.000 tỷ đồng cho người vợ ly dị, thì không còn là tư sản nữa, mà phải gọi là tư bản hay đại gia đỏ. Lâu lâu rồi, tôi thấy báo chí tường thuật lời ông Tổng Bí Thư tuyên bố tham nhũng là quốc nạn. Có lẽ là quốc nạn cho người dân, chớ còn đối với nhiều đày tớ của nhân dân, đó là cơ hội tốt để trở thành đại gia đỏ.”[vii]
Cám ơn ÐHY đã can đảm nói lên sự thật vô cùng đau lòng đó ! Sự thật đó tố cáo tầm ảnh hưởng của GHVN quá yếu ớt. Yếu ớt không phải vì GHVN chỉ là thiểu số, nhưng vì đã đánh mất hay làm phai lạt phẩm chất và bản chất sứ mệnh cứu độ. Vấn đề không phải vì cộng tác hay không cộng tác, nhưng vì GHVN đã không tìm được một thế đứng và tiếng nói giữa một xã hội quá ồn ào như Việt nam hôm nay. Sức mạnh đích thực chỉ có thể tìm thấy trong chân lý và công lý mà thôi. Dù chỉ là số ít, cha ông tử đạo Việt nam đã không hổ thẹn khi chứng minh GHVN đủ sức để phục vụ Nước Trời và làm chứng cho Thiên Chúa trong một tình huống bi đát nhất.
Lạy Chúa, không có Chúa, chúng con hoàn toàn bất lực trước những vấn đề quá lớn của xã hội hôm nay. Xin cho chúng con can đảm nhìn nhận sự thật về chính mình và chu toàn sứ mệnh Chúa trao để kịp thời đáp ứng những nhu cầu khẩn thiết của thời đại. Amen.
đỗ lực 05.08.2007
------------
[i] United States Conference of Catholic Bishops, National Directory for Catechesis 2005:26.
[ii] The New Jerome Biblical Commentary 1990:704.
[iii] ibid.
[iv] x. Life Application Study Bible 1991:1830.
[v] x. Lời Chúa Cho Mọi Người 2005:345.
[vi] Summa Theologiae, Ia-IIae, qu. 77, art. 4, corp.
[vii] http://www.vietcatholic.net/News/Html/45841.htm

 

TN18-C80. LÀM GIẦU

  1.   Anphong Trần Đức Phương

Chúa Nhật hôm nay nói đến thái độ của chúng ta phải có đổi với của cải và những thực tại : TN18-C80

Chúa Nhật hôm nay nói đến thái độ của chúng ta phải có đổi với của cải và những thực tại chóng qua ở trần gian. Bài Đọc I (Sách Giảng Viên 1: 2;2:21-23): Mọi sự trần gian sẽ qua đi.  Mọi người, dù giầu hay nghèo, bình dân hay quyền quý, cũng qua đi và khi chết phải bỏ lại tất cả không mang theo được gì, trừ những điều tốt lành người ta đã làm khi còn sống ở trần gian này. Bài Đọc II (Thơ Côlôsê 3:1-5, 9-11): Thánh Phaolô khuyên chúng ta khi còn sống ở trần gian,  hãy làm việc lành và xa tránh mọi quyến dũ của  thế gian do lòng ham danh, lợi, thú  gây ra; hãy luôn hướng tâm trí về cuộc sống đời sau, về quê hương thật nước Trời; hãy “mặc lấy con người mới, con người đã được đổi mới nên giống hình ảnh Đấng đã dựng nên chúng ta.” Bài Phúc Âm (Luca 12:13-21): Chúa Giêsu kể dụ ngôn về người phú hộ có nhiều của cải và chỉ biết thu tích cho mình để được sống sung sướng thoải mái; nhưng cái chết bất ngờ đến với ông, mọi của cải vật chất ông không mang đi được,  thật dại dột. Kết luận Chúa Giêsu dạy chúng ta một bài học và cũng là một câu hỏi “những kẻ chỉ lo tích trữ của cải trần gian mà không biết làm giầu (nhân đức và các việc lành) trước mặt Chúa thì được ích gì!”
Khi dựng nên con người, Thiên Chúa đã ban cho con người có trí thông minh để thống trị mọi loài thụ tạo. Thiên Chúa cũng ban cho con người có óc sáng tạo để con người góp phần vào việc phát triển thế giới này (Sách Khởi Nguyên 1:27-30).  Việc “làm giầu” cũng là điều rất tốt. “Làm giầu” để làm phong phú thế giới, để phát triển con người, gia đình và quê hương đất nước. Siêng năng làm việc để phát triển thế giới cũng là bổn phận của mọi người chúng ta. Nhờ bao nổ lực siêng năng làm việc của bao người trải qua các thế hệ mà nhân loại được văn minh như ngày nay.
Tuy nhiên,  “làm giầu” mà chỉ lo tích trữ của cải cho mình được thụ hưởng, mà không biết chia sẻ cho người nghèo khó như người phú hộ trong bài Phúc Âm hôm nay thì lại là điều thật dại dột. Vì của cải đời này rồi cũng qua đi, chính cuộc đời của con người cũng “chóng qua như hoa, như cỏ! ” “như bóng ngựa qua cửa sổ!” và cái chết đến với mọi người luôn là một bất ngờ.
Việc “làm giầu” cũng mang một ý nghĩa xấu,  khi làm giầu một cách bất công dưới nhiều hình thức khác nhau, như  ‘buôn người’, buôn ma túy, buôn bán gian lận, lừa đảo người khác, trốn thuế, gian lận, trộm cắp, v.v…
 Vì quá ham mê làm giầu mà nhiều khi chúng ta bỏ cả bổn phận đời sống gia đình, săn sóc con cái;  bỏ cả bổn phận thờ phượng Chúa, như đi dâng Thánh Lễ cuối tuần, chẳng hạn.
Các Bài Đọc Sách Thánh hôm nay giúp chúng ta cùng suy nghỉ về việc “xử dụng tiền của” (Luca 12:33-34; 16:9-15), suy nghỉ về cuộc sống của chúng ta ở đời này, để làm sao chúng ta sống cuộc đời này có ý nghĩa, vì luôn biết chung tay xây dựng thế giới nên tốt đẹp hơn. Một cuộc đời có ý nghĩa vì luôn biết yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau, biết phục vụ Chúa qua các người nghèo khó.  Khi nhắm mắt lìa đời vào bất cứ lúc nào, chúng ta cũng có thể mỉm cười vì đã luôn cố gắng sống một cuộc đời tốt đẹp và Thiên Chúa cũng sẽ mỉm cười với chúng ta và đón nhận chúng ta vào quê hương Nước Chúa, và nói với chúng ta “Con hãy vào dự tiệc Nước Trời, vì xưa Cha đói các con đã cho ăn, Cha khát các con cho uống, Cha trần trụi các con đã cho áo mặc…” (Matthêu 25:31-46).
Xin Chúa, nhớ lời Mẹ Maria, Thánh Giuse và các Thánh  chuyển cầu,  chúc lành cho mọi người chúng ta, giúp chúng ta luôn biết sống khiêm tốn, yêu thương và phục vụ lẫn nhau, nhất là giúp đỡ những người cùng khổ trên thế giới.
 
  1.   Anphong Trần Đức Phương
 

TN18-C81. LÀM GIẦU TRƯỚC THIÊN CHÚA

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB
 

Đọc câu chuyện dụ ngôn về ‘nhà phú hộ lo thu tích’, tôi nghĩ đức Giê-su là một hiền triết thứ : TN18-C81

Đọc câu chuyện dụ ngôn về ‘nhà phú hộ lo thu tích’, tôi nghĩ đức Giê-su là một hiền triết thứ thật. Các nhà hiền triết, từ cổ chí kim, đều dạy những điều tương tự. Không ai còn lạ gì với tư tưởng: của cải vật chất là phù phiếm, có những cải đáng giá hơn nhiều. Tư tưởng này biện minh cho thái độ khinh chê giàu sang phú quí, để có tâm hồn thanh thoát chuyên chăm vào các việc khác cao thượng hơn, như xây dựng kiến thức, sống quân tử, đắc đạo chân tu… để lưu tuyền thanh danh lâu dài cho hậu thế. Nhưng đức Giê-su, theo tôi hiểu, không tới trần gian chỉ để dạy một triết lý sống, và cũng không cần Ngài phải làm điều đó, nhất là khi nó chẳng có gì là mới mẻ cả. Tôi rất mừng vì Ngài cũng đã từ chối trở thành một người cầm cân nảy mực công lý (Ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh?), cho dầu vào thời Ngài, xã hội cũng rất cần những con người như thế (hãy thử nghĩ tới ảnh hưởng của luật pháp Rô-ma đối với toàn thế giới, hay vấn đề nô lệ). Không, dức Giê-su cũng không muốn là thày dạy luân lý.
Thái độ triết lý mà ngài muốn diễn tả qua bài du ngôn xem ra có một định hướng khác: đưa vào tương quan đích thực với Thiên Chúa là Cha. Theo Ngài, bất cứ của cải nào cản trở mối tương quan đó (làm nghèo trước mặt Thiên Chúa) đều phải dứt khoát loại bỏ. Nếu hiểu theo nội dung này, ta thấy ‘của cải’ đây bao gồm luôn cả kiến thức, thanh danh, đạo đức… mà các triết lý sống khác thường đề cao. Ngoài việc nhắc nhở phải tránh lòng tham, hình như đức Giê-su còn muốn một điều tích cực hơn, là “làm giầu trước mặt Thiên Chúa”. Rất tiếc là bài Tin Mừng CN XVIII dừng lại ở câu 21; lẽ ra nó phải tiếp tục với đoạn sau, là nội dung chính của bài huấn dụ: sống hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa.
Nếu nội dung ‘làm nghèo trước mặt Thiên Chúa’ là đã rõ ràng, qua hình ảnh thu tích của người phú hộ, thì ngược lại, ‘lo làm giầu trước mặt Thiên Chúa’ hình như lại chưa rõ mấy. Thế nào là ‘giầu’ trước mặt Chúa? Đối với Chúa, ai có thể là ‘giầu’ đây?
Đối với một thương gia thì người giầu là người có nhiều tiền, trước một nghệ sỹ thì giầu là có nhiều tài, trước nhà thông thái lại là có nhiều kiến thức, học vấn v.v… ‘Giầu trước mặt Chúa’ tùy thuộc rất nhiều vào quan niệm chúng ta có về Ngài. Cựu Ước đề cao hình ảnh một Thiên Chúa quyền phép, thánh thiện, khôn ngoan, công minh… thế là ta có các mẫu ‘giầu’ trước mặt Thiên Chúa như Mô-sê hùng mạnh, Ê-li-a thánh thiện, Sa-lô-môn khôn ngoan, Da-vít công minh…. Còn đức Giê-su, khi kêu gọi chúng ta ‘lo làm giầu trước mặt Thiên Chúa’, Ngài có hình ảnh Thiên Chúa nào? Thiên Chúa, mà đức Giê-su phác họa, chắc chắn không thiếu các nét trên, tuy nhiên, nổi bật nhất vẫn là một nét độc đáo mà Cựu Ước chưa thể có được (quá lắm thì mới chỉ phác họa mờ mờ, tiệm tiến): Thiên Chúa nhân ái và đầy lòng xót thương, Thiên Chúa cứu độ. Vì thế, hình mẫu trung thực nhất của Thiên Chúa này là chính đức Ki-tô Giê-su, và chỉ một mình Ngài mà thôi. Đó cũng là nội dung của ‘vương quốc’ giầu sang mà Ngài công bố và mời gọi ta hết lòng chăm lo tìm kiếm (Lc 12,30).
Hiểu như thế, làm giầu trước mặt Thiên Chúa, theo cách nói của đức Giê-su, còn cao xa hơn cả sống thánh thiện, khôn ngoan, công chính, làm phép lạ… Nó chính là nội dung thực của đời sống Ki-tô hữu: đón nhận lòng nhân ái và xót thương của Thiên Chúa, và rồi thực thi lòng nhân ái thương xót ấy. Đời Ki-tô hữu chắc chắn không thua gì luật pháp Do Thái, nhưng không được dừng lại ở đó. Trong các giá trị, giá trị của việc đón nhận và sống lòng xót thương là cao hơn cả. Ki-tô hữu đặt điều này lên tầm cao tuyệt đối, và toàn tâm toàn lực thực thi. Đó là mục tiêu mà chỉ những ai đứt bỏ mọi thứ thu tích, mới có thể thực hiện nổi. Tuy nhiên ngay trong công tác ‘làm giầu’ này, đức Giê-su cũng khuyến cáo: không có gì phải lo, phải thu tích, chỉ cần một điều kiện duy nhất, tín thác trọn vẹn vào lòng nhân ái đó: “Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em” (Lc 12,32).
Lạy Thiên Chúa từ nhân, cảm tạ Chúa đã đưa con vào vương quốc yêu thương của Chúa. Khi trở thành Ki-tô hữu, con đồng thời đã trở nên giầu có vô song khi được sở hữu lòng thương xót đó. Xin đừng bao giờ để con rơi trở lại tình trạng nghèo nàn, khi lo thu tích của cải, vật chất cũng như tinh thần. Xin cho con biết ngày càng ‘làm giầu’ hơn, nhờ không ngừng chìm sâu vào lòng nhân ái Chúa. Amen 
Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

 

TN18-C82. Lời cảnh giác về sự giàu có

TIN MỪNG (Lc 12: 13-21)
 

Trong phân đoạn Tin Mừng này, thánh Lu-ca kết tập nhiều lời dạy của Chúa Giê-su về tinh thần TN18-C82

Trong phân đoạn Tin Mừng này, thánh Lu-ca kết tập nhiều lời dạy của Chúa Giê-su về tinh thần siêu thoát khỏi những của cải trần thế; vài lời dạy trong số này cũng được gặp thấy tại thánh Mát-thêu. Tuy nhiên, câu chuyện mở đầu (12: 13-15) và dụ ngôn người phú hộ dại khờ (12: 16-21) thuộc nguồn riêng của thánh Lu-ca. Đoạn Tin Mừng hôm nay thuộc vào những lời cảnh giác về sự giàu có như chướng ngại trên con đường dẫn đến Nước Trời.
 
1. Đức Giê-su từ chối lời thỉnh cầu:
 Theo phong tục thời đó, khi gặp phải vấn nạn trong cuộc sống, người ta thường đến gặp thầy thông luật để xin ông một lời khuyên, thậm chí để xin ông đứng ra phân xử một sự bất đồng hay giải hòa đôi bên. Chúa Giê-su nổi tiếng là một bậc thầy đưa ra những nhận định thích đáng và khôn ngoan. Thật chính đáng khi chàng thanh niên này đến gặp Chúa Giê-su để xin Ngài đứng ra phân xử cho anh về vấn đề chia gia tài: “Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi”. Theo Luật Do thái, con trai trưởng có quyền ưu tiên thừa kế hai phần sản nghiệp (Đnl 21: 17). Có lẽ người này bị người anh cả lấy hết phần gia tài.
 Chúa Giê-su từ chối lời thỉnh cầu của anh: “Này anh, ai đã đặt tôi làm người phân xử hay người chia gia tài cho các anh?”. Chúa Giê-su cũng sẽ từ chối như vậy đối với tất cả những lời cầu xin xa lạ với sứ mạng của Ngài. Ngài đến không để giải quyết những tranh chấp về của cải vật chất, nhưng quan tâm đến của cải tinh thần. Thiết tưởng chúng ta cần nhắc lại phản ứng quyết liệt của thánh Phao-lô trong những trường hợp tương tự: những tín hữu Cô-rin-tô khi có những tranh chấp giữa nhau, đem nhau ra tòa để kiện cáo nhau, thánh nhân viết cho họ: “Dù sao, nguyên việc anh em kiện cáo nhau đã là một thất bại cho anh em rồi. Tại sao anh em chẳng thà chịu bất công? Tại sao anh em chẳng thà chịu thiệt thòi?” (1Cr 6: 6-8).
 
2. Sự giàu có đích thật:
 Chúa Giê-su chẳng những từ chối lời thỉnh cầu của anh mà còn cảnh giác đám đông về vấn đề của cải nữa: “Anh em phải coi chừng, phải tránh xa mọi thứ tham lam, vì dẫu có được dư giả, thì mạng sống con người cũng không nhờ của cải mà được bảo đảm đâu”. Để minh họa cho lời dạy của mình, Ngài kể một dụ ngôn về người phú hộ dại khờ.
 Một phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, mới tự nhủ rằng “Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. Lúc đó ta sẽ tự nhủ lòng: hồn tôi ơi, bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!”. Nổi bận lòng duy nhất của người phú hộ là làm thế nào thu tích cho thật nhiều của cải như sự đảm bảo duy nhất cho cuộc sống của mình và chỉ nghĩ đến vui hưởng một cách ích kỷ những thành quả do công lao khó nhọc của mình.
 Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: “Đồ ngốc! Nội đêm nay, Ta đòi lại mạng sống ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?”. “Đồ ngốc”, từ ngữ Kinh Thánh chỉ những ai chối bỏ sự hiện diện của Thiên Chúa: “Kẻ ngu si tự nhũ: Làm chi có Chúa Trời!” (Tv 13: 1). Ở đây, Chúa Giê-su có chung tư tưởng của sách Giảng Viên, nhưng vượt qua ngay lập tức: “Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không trở nên giàu có trước nhan Thiên Chúa, thì số phận cũng như vậy”. Lời kết này muốn nói rằng cái chết trên cõi thế không thật sự là bi thảm; chính cái chết mai hậu mới là bi thảm. Người phú hộ bị cho là dại khờ bởi vì ông đã đổ hết công sức vào việc thu tích cho thật nhiều của cải trần thế như một sự đảm bảo chắc chắn cho tương lai của mình, mà không trở nên giàu có trước nhan Thiên Chúa. “Trở nên giàu có trước nhan Thiên Chúa”, nghĩa là thu tích kho tàng trên trời, được nhắc đến nhiều lần trong Tân Ước, như: “Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm không bén mảng, mối mọt không đục phá. Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh em ở đó” (Lc 12: 33).
Một người phú hộ chỉ biết thu tích của cải trần thế và vui hưởng thành quả do công lao khó nhọc của mình một cách ích kỷ mà còn bị khiển trách đến như vậy, huống gì những kẻ làm giàu bất chính và thụ hưởng trên xương máu, mồ hôi đồng loại thì thật đáng bị khiển trách đến mức nào.   
 Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

 

TN18-C83. ĐỔI MỚI CUỘC ĐỜI

Chúa Nhật 18 Thường Niên Năm C
 (Giảng viên 1,2; 2,21-23; Thư Côlôsê 3,1-5.9.11; Tin Mừng Luca 12,13-21)
 Phúc Âm: Lc 12, 13-21
"Những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai?"
Khi ấy, có người trong đám đông thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài cho tôi". Người bảo kẻ ấy rằng: "Hỡi người kia, ai đã đặt Ta làm quan xét, hoặc làm người chia gia tài cho các ngươi?" Rồi Người bảo họ rằng: "Các ngươi hãy coi chừng, giữ mình tránh mọi thứ tham lam: vì chẳng phải sung túc mà đời sống được của cải bảo đảm cho đâu".
Người lại nói với họ thí dụ này rằng: "Một người phú hộ kia có ruộng đất sinh nhiều hoa lợi, nên suy tính trong lòng rằng: 'Tôi sẽ làm gì đây, vì tôi còn chỗ đâu mà tích trữ hoa lợi?' Đoạn người ấy nói: 'Tôi sẽ làm thế này, là phá các kho lẫm của tôi mà xây những cái lớn hơn, rồi chất tất cả lúa thóc và của cải tôi vào đó, và tôi sẽ bảo linh hồn tôi rằng: "Hỡi linh hồn, ngươi có nhiều của cải dự trữ cho nhiều năm: ngươi hãy nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi đi". Nhưng Thiên Chúa bảo nó rằng: 'Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn ngươi, thế thì những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai?' Vì kẻ tích trữ của cải cho mình mà không làm giàu trước mặt Chúa thì cũng vậy".
 Suy Niệm:
 

Bài đọc Kinh Thánh hôm nay đụng chạm đến đời sống thực tế của con người. Thoạt tiên chúng: TN18-C83

Bài đọc Kinh Thánh hôm nay đụng chạm đến đời sống thực tế của con người. Thoạt tiên chúng ta có thể đã cảm thấy nhiều điều chói tai. Bài sách Giảng viên không để lộ ra một quan điểm bi quan, yếm thế sao? Bài thư Phaolô dường như cũng có những lời khuyên xuất thế. Và bài Tin Mừng có vẻ không thích những con người tính toán làm ăn. Nhưng chính vì Lời Chúa hôm nay đề cập đến những vấn đề thực tế như vậy mà chúng ta phải tìm hiểu kỹ lưỡng. Chúng ta sẽ thấy chẳng có gì là bi quan xuất thế và mạt sát công ăn việc làm của con người. Ngược lại, chúng ta sẽ được khuyến khích nhìn xa hơn các công việc của ngày hôm nay, làm sao để lao công vất vả của con người ở đời được thành tựu lâu dài; và như vậy Lời Chúa chỉ muốn mạc khải cho chúng ta một lẽ sống để hoàn thành các nhiệm vụ ở trần gian.
 1. Trước Hết Bài Sách Giảng Viên Khuyến Khích Chúng Ta Tìm Hiểu Về Lẽ Sống Ở Đời
Đây là những lời của một con người có thao thức tìm hiểu. Người ấy tự xưng là Qohelet, con của Đavít, vua ở Giêrusalem. Thế thì ông là Salomon mất rồi. Nhưng tại sao ông lại bảo mình là Qohelet? Thật ra danh từ này chỉ có nghĩa là "cộng đoàn". Tác giả muốn nhân danh cộng đoàn dân Chúa mà giảng dạy. Thành ra chúng ta gọi là Giảng viên cho tiện. Và vì lời giảng của ông là những suy tư về sự khôn ngoan và lẽ sống ở đời, nên sách Giảng viên được liệt vào sổ các sách Khôn ngoan ở trong bộ Cựu Ước. Và hết mọi sách Khôn ngoan đều lấy Salomon làm tổ phụ. Do đó ở đây tác giả Giảng viên xưng mình là Qohelet, con của Đavít, vua ở Giêrusalem. Tất cả những điều đó chỉ có nghĩa là bài sách và quyển sách Giảng viên này nói lên giáo huấn đã suy tư một cách khôn ngoan, khởi hứng từ thời Salomon, vị hoàng đế nổi danh là khôn ngoan tuyệt trần.
Vậy, các suy nghĩ khôn ngoan đã dẫn tác giả đến những kết luận nào? Câu đầu của đoạn sách đọc hôm nay cũng là câu đầu tiên của tác phẩm, tóm tắt thành quả suy nghĩ của tác giả. Ông nhận thấy: phù vân, rất mực phù vân, thảy là phù vân.
Chúng ta muốn lắc đầu chép miệng, vì sao mà yếm thế bi quan vậy? Nhưng đó là luận điệu của hầu hết các bậc khôn ngoan thánh hiền ngày xưa, nơi bất cứ dân tộc nào. Lão Tử, Thích Ca đều có những lời lẽ tương tự. Nếu chúng ta kính trọng các ngài thì đừng vội lắc đầu, chép miệng. Hãy tự coi như chúng ta chưa nhận ra sự khôn ngoan nơi những câu nói như vậy. Nhất nữa là ở đây: sách Khôn ngoan đã mặc hình thức lời linh ứng! Chúng ta hãy thử tìm hiểu lời Giảng viên muốn nói gì.
Để dễ xét đoán chúng ta hãy đọc thêm mấy câu nữa. Tác giả nói đến mình, nói đến Salomon đã lao nhọc và trổ tài khôn ngoan dưới ánh dương. Ông đã đem lao động tay chân và trí óc ra xây dựng sự nghiệp. Nhưng bây giờ ông tự hỏi: Công trình ấy sẽ để lại cho ai, sẽ rơi vào tay người nào? Phần ông chắc chắn sẽ chẳng mang theo được gì và không hiểu sẽ đi về đâu? Nghĩ như vậy mà không thấy hết thảy là phù vân sao?
Nhận xét này không bi quan, không yếm thế mà chỉ khắc khoải. Tác giả không hề tiếc vì đã lao nhọc. Ông không mảy may buồn vì đã trổ tài khôn ngoan ra ở dưới ánh dương. Ông chỉ ưu tư thắc mắc: Sự nghiệp ấy rồi sẽ rơi vào tay ai? Chắc chắn nó sẽ thành sở đắc của con người đã không lao nhọc gầy dựng nên. Nó có được đánh giá đúng mức để được tiếp tục xứng đáng không, hay sẽ lọt vào tay kẻ không xứng đáng mà tiêu tan ra mây khói? Sự nghiệp của con người như vậy không có tương lai bảo đảm. Nó chẳng phải là phù vân, tức là mau qua như gió thổi và không có rễ sâu chắc chắn sao? Rồi đến con người làm ra nó, tác giả đã vận dụng tay chân và trí óc để xây dựng, con người sẽ đi về đâu sau khi từ giã cuộc đời? Chẳng có gì bảo đảm tương lai cả. Đời sống con người cũng thật là phù vân vậy.
Những suy tư này chân thật và thực tế. Chúng có thể dẫn sang những kết luận bi quan yếm thế. Người ta có thể dựa vào đó để suy nghĩ rằng cuộc đời chẳng có gì đáng sống; rồi lao nhọc làm gì để rồi ra đi với hai bàn tay không? Nhưng đó không phải là ý nghĩa của tác giả sách Giảng viên.
Lập trường của ông rất tích cực. Ông nêu lên những nhận định trên và đặt ra những câu hỏi về tương lai, không phải để khuyên yếm thế và vô vi. Nhưng ngược lại, ông thôi thúc độc giả và chúng ta tìm ra lẽ sống trường tồn cho cuộc đời. Ông nói lên khát vọng muốn được trường sinh và không mất mát chút gì về các sự nghiệp ở đời. Ông khắc khoải về tương lai và muốn nắm chắc định mệnh đời người. Trong cả tác phẩm của ông, không hề có thái độ nào muốn buông xuôi, chán nản chẳng muốn làm việc và xây dựng nữa. Ông tự hào vì đã lao nhọc và trổ tài khôn ngoan ở dưới ánh dương. Điều duy nhất làm cho tác phẩm của ông có vẻ ưu buồn là ông trách Chúa không cho con người biết rõ về tương lai và định mệnh của mình. Tức là ông vươn tới đời sau và bình diện cao hơn ở đời, đang khi vẫn ý thức rõ ràng cuộc sống của con người ở đời phải lao nhọc và trổ tài khôn ngoan ở dưới ánh dương.
Nói cách khác, bài đọc sách Giảng viên hôm nay khuyên chúng ta không nên thiển cận chỉ biết ngày hôm nay, nhưng phải nhìn xa về tương lai, phải nhìn cao hơn bình diện đời này để xây dựng không uổng phí và sự nghiệp khỏi trở thành phù vân. Đó dường như cũng là ý tưởng của bài Tin Mừng Luca mà chúng ta tìm hiểu bây giờ.
 2. Đức Giêsu Khuyên Chúng Ta Phải Biết Làm Giàu Nơi Thiên Chúa
Hôm ấy có người trong đám đông nói với Người: "Thưa Thầy xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài cho tôi". Không hiểu thói quen thời bấy giờ có thể chúng ta thấy hành động của người ấy lố bịch. Ai lại đưa vấn đề chia gia tài ra nói với Đức Giêsu! Và lại đưa ra khi Người đang ở giữa quần chúng như thế! Ở đây Người không phải là vị tiên tri đang rao giảng Lời Chúa sao? Người đâu có đến để làm thẩm phán hay trọng tài trên của cải vật chất?
Nhưng người kia đã theo thói quen thời bấy giờ, thời mà pháp luật và việc thi hành pháp luật khá uyển chuyển. Pháp luật dạy gia tài cha mẹ để lại thì phải chia cho con cái và người con cả có quyền được nhiều hơn. Nhưng lòng tham của người này có thể khiến việc phân chia không được công bằng và kịp thời. Người con cả có thể trì hoãn việc phân chia để có thì giờ ăn huê lợi, hoặc có thể không chia đủ phần cho các em. Những người này có thể đem nội vụ ra kiện cáo trước pháp luật. Nhưng thường khi sự thủ tục phức tạp và tốn phí, người ta có thể xin những người có uy tín trong xã hội giúp đỡ. Các tiên tri ở trong số những người này. Và uy tín của Chúa Giêsu bấy giờ có khả năng sắp đặt những câu chuyện như thế.
Tuy nhiên, Người lại không phải là hạng người như vậy. Đang lúc ở giữa đám đông rao giảng Tin Mừng cứu độ. Người càng muốn tránh những thái độ thông thường khiến người ta có thể lầm về sứ mạng của mình.
Hơn nữa, ở đây, căn cứ vào những lời Người nói tiếp theo, kẻ đứng ra kiện cáo có vẻ là con người tham lam, ít ra thánh Luca đã hiểu như vậy. Người dùng câu chuyện này làm tiền đề đi vào giáo huấn của Chúa. Chính giáo huấn này mới là cốt yếu. Chúng ta phải để ý đến giáo huấn này, chứ đừng đứng lại trong câu chuyện chia gia tài kia và thắc mắc vô ích.
Đó chỉ là cớ và khởi điểm cho một huấn thị về đời sống đạo đức. Thấy có kẻ để hở ra lòng tham lam của cải, Đức Giêsu quay ra nói với quần chúng: "Hãy coi chừng, hãy lo giữ mình khỏi mọi thứ tham lam vì không phải ai được sung túc là đời sống kẻ ấy được bảo đảm đâu".
Rồi Đức Giêsu kể ví dụ về người phú hộ tưởng có nhiều của là được hạnh phúc vững bền, bởi vì nhỡ đêm nay chết, mọi điều người ấy đã sửa soạn sẽ về tay ai? Không nghĩ xa như vậy, thì thật là ngốc, không khôn ngoan như tác giả các sách khôn ngoan nói chung và như tác giả sách Giảng viên nói riêng, và vì ngốc như vậy, kẻ phú hộ ở đây được mô tả với những lời lẽ không được gây thiện cảm.
Quả vậy trong bài sách Giảng viên, chúng ta đã thấy con người khôn suy nghĩ được đồng hóa với Salomon, với con người đã lao nhọc và trổ tài khôn ngoan ở dưới ánh dương. Còn ở đây kẻ phú hộ được mô tả suy tính trong lòng mình: "Ta phải làm gì? Ta phải phá các lẫm cũ đi, xây những lẫm to hơn, chất lúa má vào đó, rồi sẽ nhủ hồn ta rằng: hồn ơi mày có chán của cải, nghỉ đi, ăn đi, hưởng đi". Tất cả nói lên một lòng dạ bẩn thỉu, ích kỷ, không biết nghĩ gì tới người khác và xã hội. Tác giả Luca theo Chúa Giêsu, ghét những tâm lý như vậy; và không thể chấp nhận được những kẻ làm giàu để hưởng thụ. Chúa tể của hạng người này là cái bụng! Khốn cho kẻ giàu có! Họ cậy có chắc của cải, tưởng là bảo đảm được đời sống. Nhưng đồ ngốc, ngay đêm nay, người ta (tức là Thiên Chúa) đòi ngươi trả lại hồn ngươi, mọi điều ngươi đã sửa soạn kia sẽ về tay ai?". Dĩ nhiên người này sẽ được dùng, nhưng còn ngươi sẽ thế nào?
Kết luận Chúa Giêsu bảo người ta: "Như thế đó, kẻ lo cất cho mình mà không biết làm giàu nơi Thiên Chúa". Người muốn nói không nên chỉ lo cất cho mình; mà nhất là phải biết làm giàu nơi Thiên Chúa nữa. Người cũng không lên án việc làm ăn ở đời. Người đòi chúng ta phải biết nghĩ đến tha nhân và xã hội nữa khi làm ăn. Và nhất là Người dạy chúng ta phải chất chứa công phúc trước mặt Chúa.
Phải chăng Đức Giêsu đã chẳng trả lời cho thắc mắc xao xuyến của tác giả sách Giảng viên. Ông lo lắng về tương lai sau khi lao nhọc và trổ tài khôn ngoan ở dưới ánh dương; thì Đức Giêsu bảo đang khi sống ở đời này chúng ta phải biết làm giàu nơi Thiên Chúa. Những tích trữ này, mối mọt không làm gì được, như lời sách Tin Mừng Mátthêu đã viết. Còn những gì có thể tích trữ được như thế, thì bài thư Phaolô hôm nay có thể trả lời cho chúng ta được một phần nào.
 3. Thánh Tông Đồ Khuyên Chúng Ta Đổi Mới Cuộc Đời
Thoạt nghe, chúng ta thấy bài thư hôm nay nói đến những sự trên trời và những sự dưới đất. Chúng ta dễ tưởng tượng có những của chúng ta đem chất được vào kho tàng trên trời và có những việc chúng ta làm sẽ hư đi ở dưới đất...
Nghĩ như vậy là vong thân, là biến mình nên của cải, là đồng hóa mình thành công việc, là coi mình đã trở nên hàng hóa khi làm việc. Quan niệm lao động như vậy là quan niệm theo tư bản và bóc lột sức lao động. Chúng ta phải quan niệm ngược lại. Lao động phát triển khả năng của con người, làm giàu cho nhân cách, đưa con người vươn lên, khiến họ được vinh quang... Thành tích lao động nằm trong sự vật rất đáng kể, nhưng ghi lại trên con người và biến đổi họ thành đáng kể hơn.
Nói cách khác, con người đang thành thân bằng lao động, đang xây dựng mình bằng lao nhọc và trổ tài khôn ngoan ở dưới ánh dương. Theo Kitô giáo và như lời thư Phaolô hôm nay bản thân con người đang thành hình nơi chúng ta nhờ sinh hoạt ở đời, sẽ chỉ tỏ hiện khi Đức Kitô hiện đến. Ánh sáng của Người sẽ chiếu vào chúng ta và con người thật của chúng ta bấy giờ sẽ biểu lộ nguyên hình.
Chúng ta muốn mình khi ấy tốt hay xấu? Nếu muốn đẹp thì ngay bây giờ chúng ta phải bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới, con người cũ luôn luôn tìm kiếm dâm bôn, ô uế... tham lam, hà tiện... và nói dối người khác. Nó hướng về những sự dưới đất. Còn con người mới cư xử chiếu theo hình ảnh của Đấng đã dựng nên nó trong sự thánh thiện và duy nhất, nên không ngừng tìm kiếm những điều trong sạch và hòa thuận, là những điều mà Phaolô gọi là những điều ở trên cao, hay ở trên trời.
Dĩ nhiên chúng ta có thể trao đổi thêm với tác giả bức thư này về những điều vừa nói. Nhưng thiết tưởng vừa nhìn qua, chúng ta cũng đã hiểu được ý của tác giả. Thánh Phaolô khuyên chúng ta khi sinh sống ở đời phải nhìn đến tương lai và định mệnh, tức là phải vươn tới sự thành thân trong vinh quang. Và cho được như vậy phải sát phạt chi thể của con người cũ là từ bỏ những công việc xấu xa tội lỗi gồm tóm trong các hành vi tham lam và thiếu hòa thuận.
Ngược lại, phải mặc lấy con người đã được canh tân khỏi những khuynh hướng xấu xa trên, để thi hành những công việc trong sạch và hòa hợp theo hình ảnh con người Thiên Chúa đã dựng nên. Lời giáo huấn của Phaolô cũng nằm trong chiều hướng của bài Tin Mừng và bài sách Giảng viên. Chúng ta thấy tất cả đều tích cực và lạc quan... hơn nữa đó là quan điểm khôn ngoan và thánh thiện.
Chúng ta có thể đem ra thi hành kể từ giờ phút này. Thánh lễ có sức giúp chúng ta lột bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới. Tình bác ái của Đức Giêsu thôi thúc chúng ta đã thấy hạnh phúc ở nhà thờ, nơi chúng ta được hiệp nhất và hòa đồng trong sự thánh thiện, thì khi ra về, phải lao nhọc và trổ tài khôn ngoan ra ở dưới ánh dương, tức là trong đời sống, để xây dựng cuộc đời trong sự trong sạch và hòa thuận. Cuộc đời như vậy chắc chắn sẽ không phù vân. Sự nghiệp chúng ta xây dựng sẽ tồn tại và vinh quang.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

TN18-C84. KHÔN CHỌN NƯỚC TRỜI, DẠI CHỌN HỎA NGỤC

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 12, 13-21
 

Đọc Tin Mừng Chúa nhật XVIII thường niên, năm C và hai bài đọc Chúa nhật này, chúng ta như : TN18-C84

Đọc Tin Mừng Chúa nhật XVIII thường niên, năm C và hai bài đọc Chúa nhật này, chúng ta như bị cuốn hút vào câu chuyện xem ra rất dí dỏm nhưng cũng đầy bi hài bởi vì ai khôn thì sống ai dại thì chết. Đó là cái thường tình của con người, của loài người. Tin Mừng và hai bài đọc Chúa nhật hôm nay nhằm loan báo cho mỗi người, cho chúng ta sứ điệp của Chúa Giêsu :” Hãy dùng của cải Chúa ban ở đời này mà giàu trước mặt Thiên Chúa “.
Thường con người sinh ra và lớn lên ở trần thế này, luôn ước mong cho mình được giàu sang phú quí, mà nếu không thể sang giàu thì ít nhất cũng phải có của ăn của để. Đây là mong ước chính đáng của con người. Của cải quí hóa thực và cần thiết thực nhưng con người đâu phải chỉ thuần nhất có của cải, vật chất. Của cải đâu là cứu cánh của con người. Lý luận và suy nghĩ ấy, quả rất phù hợp với những người có lòng tin. Bởi vì, người có đức tin là người :” tìm Nước Thiên Chúa trước, còn những sự khác Ngài sẽ ban cho “. Con người nằm trong bàn tay của Chúa và dưới sự quan phòng, che chở của Ngài. Những dụ ngôn, ví dụ như con chim sẻ, hoa huệ ngoài đồng, sợi tóc trên đầu là những bằng chứng về sự quan phòng của Chúa. Đồng tiền, của cải, giầu có quí thật vì tất cả đều do Thiên Chúa quan phòng, ban cho. Tuy nhiên, ham tiền ham của đến nỗi không thể nhìn xa hơn cái kho lẫm của mình thì thật là ngu đần giống như người ngu xây nhà trên cát. Vâng, trước mặt Thiên Chúa, Đấng vô cùng quyền năng và thánh thiện, con người chỉ là thụ tạo nghèo hèn, khốn khổ mà thôi. Nên, dù con người có xây được biết bao nhiêu kho lẫm, bao nhiêu két sắt, bao nhiêu tài khoản ở biết bao ngân hàng, bao nhiêu công ty, bao nhiêu cửa tiệm, trước mặt Thiên Chúa tất cả chỉ là con số không. Con người chỉ có thể làm giàu trước mặt Thiên Chúa khi họ biết chia sẻ, biết cảm thông và quảng đại với những người nghèo, những kẻ khốn cùng, nhỏ bé, những kẻ tay trắng, tay không trước mặt Thiên Chúa. Lời Chúa phán trong Lc 12, 33 thật đanh thép, rõ ràng và khẩn trương :” Hãy bán của cải mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy túi tiền chẳng bao giờ hư nát, một kho tàng không thể hụt hao ở trên trời, nơi trộm cắp không thể lui tới, mối mọt cũng không thể đục khoét được “. Người khôn là người biết tích trữ của cải thiêng liêng, kho tàng thiêng liêng không thể mất mát, không sợ trộm cướp lấy mất.Thực tế, người nghèo là kẻ bị bóc lột và người giàu như được Chúa Giêsu nói tới trong đoạn Tin Mừng hôm nay là người quản lý tệ hại đã đánh cắp phần ăn của người nghèo. Cái trớ trêu là ông đã ích kỷ, ham ăn đến nỗi không để rơi một miểng bán vụn xuống bàn, chỉ có con chó đến liếm những chỗ ghẻ lở của người ăn xin…Đó là bi kịch của đời người. Chúa đã dùng ngôn từ” Đồ dại “. Đồ dại là người không hiểu đời sống có hai phần: phần xác và tâm linh. Cuộc sống của con người sẽ chấm dứt khi họ nhắm mắt xuôi tay và không thể đem theo được bất cứ sự gì:” Đó là điều xẩy đến với kẻ thu tích của cải cho mình thay vì làm giàu trước nhan Thiên Chúa “. Kinh Thánh cho chúng ta hiểu rõ ngôn từ “Dại khờ “ chính là kẻ lãng quên Thiên Chúa.
Thiên Chúa trao ban cho con người vốn liếng, người hai nén, người ba, người năm nén,người một nén,con người phải làm lợi cho Thiên Chúa. Nếu lười biếng, ích kỷ đem chôn dấu nén bạc Chúa trao, người đó sẽ bị Chúa lấy hết để trao cho người khác…Chúa thật công bằng. Con người phải hiểu, phải có tấm lòng đạo đức, thánh thiện mới biết thật sự chia sẻ là quan trọng thế nào ? Con người sẽ chẳng giữ được gì, đem theo đi được gì những của cải, sự giàu sang phú quí mà mình đã gầy dựng. Hãy nhớ lời Chúa dạy :” Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?”( Lc 12, 20 ).
Lạy Chúa, Chúa đã trao ban cho chúng con của cải trần gian để nuôi sống chúng con, xin tăng thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn biết sẵn sàng chia sẻ của cải cho những kẻ khó nghèo, túng cực. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

TN18-C85. ĐỜI SỐNG CHẲNG NHỜ NƠI CỦA CẢI

Chúa Nhật XVIII Thường Niên C
Lc: 12:13-21: 13 Có người trong dân chúng nói với Ngài: "Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài với tôi". 14 Ngài nói với nó: "Này anh! ai đã đặt Ta làm thẩm phán, hay làm trọng tài trên các anh". 15 Rồi Ngài nói cùng họ: "Hãy coi chừng! hãy lo giữ mình tránh mọi thứ tham lam, vì không phải ai được sung túc, là đời sống người ấy (được chắc chắn) nhờ nơi của cải".
16 Ngài nói cùng họ một ví dụ, rằng: "Có ngươì phú hộ, ruộng nương được mùa, 17 nên suy tính với mình rằng: Ta phải làm gì? vì ta không còn chỗ nào mà tích trữ hoa màu nữa. 18 Đoạn người ầy nói: Ta sẽ làm thế này: Phá quách các lẫm đi, mà xây dựng lẫm lớn hơn, rồi chất cả lúa má, và của cải vào đó, 19 rồi ta sẽ nhủ hồn ta: Hồn ơi! mầy có chán của cải, sẵn đó cho nhiều năm; nghỉ đi! ăn uống đi! hưởng đi! 20 Nhưng Thiên Chúa bảo nó: Đồ ngốc! ngay đêm nay, người ta sẽ đòi ngươi trả lại hồn ngươi, mọi điều ngươi đã soạn kia sẽ về tay ai? 21 Như thế đó, kẻ lo chất kho cho mình, mà không biết làm giàu nơi Thiên Chúa".
 

Đoạn 12:13-21 nằm trong mạch văn của hành trình lên Giêrusalem; thuộc giai đoạn thứ nhất: TN18-C85

Đoạn 12:13-21 nằm trong mạch văn của hành trình lên Giêrusalem; thuộc giai đoạn thứ nhất (9:51-13:21). Mạch văn gần là đoạn 12:1-13:9, bàn đến việc chuẩn bị cho sự phán xét sắp đến, về hành vi và thái độ đối với những chuyện ở đời nầy. Đoạn 12:13-21 nằm giữa hai đoạn đều bàn về sự sống dưới hai khía cạnh khác nhau: - Khuyến dụ đừng sợ những người chỉ giết được thân xác; do đó chỉ sợ Đấng cất luôn cả sự sống phần hồn (12:1-12); và - Khuyến dụ đừng quá lo lắng về của ăn cái mặc, mà chỉ lo tích trữ kho tàng trên trời (12:22-34). Liên hệ chặt chẽ với hai đoạn trước và sau, đoạn 12:13-21 đưa ra một dụ ngôn minh họa sự phi lý của sự tham lam và tích trữ của cải để mong bảo đảm sự sống đời nầy. Hai đoạn đối đáp giữa Chúa Giêsu với một người nào đó giữa đám đông (12:13-15) và dụ ngôn (12:16-21) có thể liên kết với nhau thành một câu chuyện và một chủ đề duy nhất.
Đoạn 12:13-15. Lời yêu cầu của một người từ giữa đám đông chuyển sự chú ý qua chủ đề về của cải: phần gia sản (c. 13), mọi thứ tham lam, sung túc, của cải riêng (c. 15). Trong câu trả lời, Chúa Giêsu trước tiên ngỏ trực tiếp đến người ấy (c. 14); sau đó, Người cho “họ”, là các môn đệ và dân chúng, một giáo huấn về thái độ đối với của cải. Một người nào đó đặt ra vấn đề chia gia tài (c.13). Ông gọi Chúa Giêsu là “Thầy”, như là người có uy quyền phán xét việc nầy (x. Ds 27:8-11; 36:7-9; Đnl 21:17). Vấn đề cụ thể về chuyện gia tài giữa hai anh em không được ghi nhận, nên có thể hiểu là nó không quan trọng. Điều đáng chú ý là lời yêu cầu về điều nầy. Từ vựng “chia phần”, merizô (c. 13), “người chia phần” meristçs (c. 14) trong lời đối đáp giữa Chúa Giêsu và người ấy rất quan trọng. Người ấy muốn chia phần gia tài, nghĩa là muốn chiếm giữ riêng phần gia sản thuộc về mình. Người ấy có thể hy sinh sự bình an của gia đình bởi đòi hỏi nầy (x. 15:12).
Chúa Giêsu từ chối can thiệp (c.14). Khi gọi “Nầy ông!” Người biểu lộ sự không hài lòng đối với người ấy. Câu hỏi của Người đặt ngược lại với người ấy là có phải Người được cắt đặt để làm chuyện ấy không. Động từ kathistçmi có nghĩa là “cắt đặt”, “thiết lập”, bổ nhiệm một người để làm một việc gì: chẳng hạn chăm sóc các gia nhân (12:42), tài sản của chủ nhân (12:44). Chúa Giêsu không để người ấy nhầm lẫn về sứ mệnh Người. Người không được sai đến để giải quyết những chuyện thế trần như thế. Hơn nữa, Người không chỉ từ chối làm người chia của cải, mà còn xem đòi hỏi của người ấy như là một sự tham lam (c.15). Đối với Luca và cộng đoàn của ông, của cải không phải là một sở hữu của riêng ai. Được thừa hưởng là để phân phát và chia sẻ. Luca ghi lại cách sống lý tưởng của những tín hữu đầu tiên và nhiều mẫu gương có thái độ đúng đắn nầy trước của cải (x. Cv 4:32.34-35.37).
 Chúa Giêsu kêu gọi giữ mình khỏi lòng tham lam (c.15). Luca muốn nhấn mạnh nên dùng liên tiếp hai động từ ở thể mệnh lệnh: “Hãy coi chừng!”, nghĩa đen là “hãy nhìn”; và “Hãy giữ mình!”, phylassô. Luca dùng động từ phylassô ở thể chủ động, chỉ việc thức đêm để quan sát và bảo vệ súc vật (2:8), canh giữ nhà cửa an toàn (11:21); tù ngục (Cv 12:4; 23:35). Luca dùng động từ nầy theo nghĩa bóng để chỉ việc giữ mình khỏi bị rơi vào thói xấu tham lam; tương tự như giữ mình khỏi những thức ăn đã cúng cho các ngẫu thần (x. Cv 21:25). Từ “tham lam”, pleonixia, chỉ xuất hiện một lần trong Luca, và được dùng nhiều trong các thư. Đó là ước ao cách ham hố chiếm hữu nhiều hơn, đặc biệt những điều thuộc về người khác (x. Rom 1:29; Eph 4:19; 5:3; Col 3:5; 1 Thess 2:5; 2 Phêrô 2:3); nên đây là ước muốn chiếm đoạt và thống trị.
Lý do của hai mệnh lệnh trên được biện bạch trong mệnh đề  tiếp theo “bởi vì không phải người ở trong sự dư dật, sự sống của họ là bởi của cải của họ” (c.15b). Từ perisseuô không chỉ có nghĩa là sung túc, đầy đủ, mà trong Luca còn có nghĩa là dư dật, dư thừa; chẳng hạn 12 thúng bánh vụn (9:17); người giàu bỏ tiền dư thừa vào hòm cúng đền thờ (21:4). Từ hypachô chỉ “của cải” (8:3; 11:21; 12:33.44; 14:33; 16:1…). Như thế, Chúa Giêsu chỉ cho thấy người tham lam sai lầm khi nghĩ rằng sự sống được bảo đảm nơi những gì họ có; nên họ tìm cách thu góp hơn cả những gì cần thiết cho cuộc sống. Điều nầy sẽ thấy rõ hơn trong dụ ngôn người giàu ngốc. Câu nầy được dùng như vừa kết luận phần đầu và chuyển ý sang dụ ngôn tiếp theo.
Dụ ngôn người giàu có ngốc (12:16-21)
Bố cục của đoạn nầy: - Người giàu có và suy nghĩ của ông (c. 16-17); - Việc làm của ông (cc. 18-19); - Việc của Thiên Chúa (c. 20); - Kết luận (c. 21). Đặc tính của câu chuyện này là độc thoại; tương tự người con hoang đàng (15:17-19); người quản lý bất trung (16:3-4); người quan toà bất công (18:4-5); người Pharisêô và người thu thuế (18:9-14). Vấn đề Luca muốn đặt ra được trình bày qua chân dung “một người” (x. 10:30; 14:2.16; 15:11; 16:1.19; 18:2; 15:8; 7:37). Đây là một người giàu có. Sự sung túc và dư dật của ông được mô tả qua sự phong phú của từ vựng: “người giàu có”, “ ruộng nương được mùa” (c. 16), “tích trữ”, “hoa màu” (c. 17), “xây lẫm lớn”, “lúa má”, “của cải” (c. 18), nghỉ, ăn uống, hưởng (c. 19). Chôra của ông có thể hiểu là đất nước, vùng (x. 3:1; 8:26; 15:14), cũng có nghĩa là cánh đồng (2:8). Euphoreô “được mùa” “sai trái”, tương đương với từ telesphoreô trong dụ ngôn Người gieo giống (8:14-15). Đất đai sinh hoa màu dư dật cho ông là điều tích cực; tuy nhiên, điểm Luca chú tâm chính là lời từ miệng ông “hoa màu của tôi” (c. 17), “của cải của tôi” (c.18). Ông có ý định phá kho lẫm cũ để xây cái lớn hơn đủ sức chứa hoa màu và của cải của ông (c.18). Sau lời độc thoại (cc. 17-18), ông nói với linh hồn của ông, psychç. Trong Luca psychç đồng hoá với con người (1:46; 6:9; 9:24; 10:27; 14:26; 17:33; 21:19). Lời của ông bộc lộ sự gắn bó bản thân ông vào những gì ông đang có: “Mầy có bao của cải” (c.19), và bày ra chương trình cho cuộc sống của ông. Điều sai lầm là ông quên rằng của cải đời nầy gắn liền cách bền vững với sự sống của ông và việc cố giữ sự sống nầy thì sẽ mất (x. 9:24; 14:26; 17:33).
Chúa Giêsu gọi người giàu có ấy là “ngốc!” (c. 20). Chữ “ngốc” trong Luca chỉ người không có một sự phán đoán đúng đắn (x. 10:40). Họ không hiểu thực tại, biết điều đúng để làm, và nhất là không biết ý của Thiên Chúa. Lời Người nói với ông như một phán quyết. “Đêm nay” gợi lên bóng tối của sự chết, hãi hùng, và sự việc sẽ xảy ra cách nhanh chóng. “Linh hồn ngươi”chính là người giàu có. Luca thường dùng động từ “chuẩn bị” cho việc dọn đường Chúa đến cứu độ (1:17.76; 3:4; 9:52; 12:47…). Tuy nhiên ở đây, những gì người giàu có nầy chuẩn bị của cải vật chất để thụ hưởng, thì dự tính ấy không thực hiện được, của cải ấy sẽ không thuộc về ông nữa và ông còn mất luôn cả sự sống!
Câu kết luận xác quyết cách gián tiếp là người giàu có đã tích trữ của cải “không trong Thiên Chúa” (c. 21), và những ai hành động như ông thì cũng sẽ bị đối xử như ông đã chịu. Cách làm giàu trong Thiên Chúa sẽ được đề cập đến trong đoạn tiếp theo. Đó là bán của cải mình có và cho người nghèo (12:33-34). Làm như thế là tích trữ kho tàng không hư mất trong Thiên Chúa.
Sự phi lý và sai lầm của con người là tìm bảo đảm cuộc sống trong của cải, nên tìm cách chiếm hữu nhiều chừng nào có thể, và dừng lại trên nó. Cái chết đến sẽ cho thấy điều nầy là sai lầm. Chỉ Thiên Chúa mới là sự sống của con người.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

TN18-C86. Chúa Nhật 18 Thường niên

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 12:13-21)
 

Hẳn Chúa Giê-su phải nổi tiếng và có thế giá lắm nên mới được người ta xin Người can thiệp vào: TN18-C86

          Hẳn Chúa Giê-su phải nổi tiếng và có thế giá lắm nên mới được người ta xin Người can thiệp vào cả những vấn đề hết sức riêng tư và nội bộ gia đình, thí dụ việc tranh giành gia tài giữa hai anh em.  Nhưng Chúa Giê-su từ chối vì nó không thuộc phạm vi sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Người.  Người đã lợi dụng cơ hội này để dạy đám đông bài học về sự tham lam.
          Sở dĩ người em đến xin Chúa Giê-su bảo người anh của anh ta chia phần gia tài cho anh ta là vì người anh quá tham lam, muốn giữ trọn phần gia tài về cho mình.  Do đó, Chúa Giê-su lấy đề tài lòng tham để giảng dạy.  Lòng tham phát xuất từ tâm hồn con người và nạn nhân của lòng tham không chỉ là người xa lạ, mà có thể là chính những người thân trong gia đình.  Hơn nữa, đối tượng của lòng tham có thể là gia tài, vật tư hoặc những những món tiền kếch sù, nhưng cũng có thể chỉ là đồ vật tầm thường hay món tiền nhỏ.  Bao nhiêu chuyện trên báo chí tin tức cho thấy, có khi chỉ vì một cái áo, một chiếc xe đạp… mà vì lòng tham, người ta có thể giết người để chiếm đoạt.  Chính vì lòng tham là một động lực lớn có thể gây nên tội ác hoặc làm cho đời sống con người thêm khổ sở, nên điều đầu tiên Chúa Giê-su cảnh báo, là “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam”.  Chúng ta thấy Chúa nhấn mạnh “mọi thứ tham lam”, nghĩa là tham lam lớn nhỏ hoặc dưới mọi hình thức.
          Tham lam ảnh hưởng rất lớn đối với lối sống chúng ta, nhất là tham lam của cải và mải mê làm giàu.  Nó khiến chúng ta hiểu sai hoàn toàn về giá trị của tiền bạc của cải, tin rằng “mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải”.    Mạng sống con người đời này còn chưa được bảo đảm nhờ của cải, huống chi là mạng sống con người đời sau, tức là sự sống đời đời!  Để lời dạy dỗ thực tế hơn, Chúa Giê-su kể câu truyện dụ ngôn về nhà phú hộ chỉ lo “tích trữ của cải đời này” mà “không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa”.  Ông ta đã bị Thiên Chúa gọi là “đồ ngốc”!  Số phận của ông ta cũng giống như số phận của cải thôi, nghĩa là sẽ không tồn tại mãi mãi.
          Nhận thức tính cách ưu tiên của việc lo làm giàu trước mặt Chúa, thánh I-nha-xi-ô Loyola đã để lại cho chúng ta kinh nghiệm Linh Thao vô cùng quý giá, giúp chúng ta sắp xếp lại cuộc sống cho đúng với những bậc thang giá trị, để chúng ta đạt cứu cánh cuộc đời là được cứu rỗi linh hồn.  Mạng sống đời đời của chúng ta được bảo đảm là nhờ những của cải đích thực của Thiên Chúa, tức là những ân sủng Người ban cho chúng ta, đặc biệt Ân Sủng sung mãn là Chúa Giê-su Ki-tô mà chúng ta cần phải chiếm hữu.  Cũng như thánh Phao-lô đã coi Đức Ki-tô là “mối lợi tuyệt vời”, chúng ta cũng phải “vì Người (Đức Ki-tô), tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như đồ bỏ để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người” (Phi-líp-phê 3:8-9).
Sống sứ điệp Tin Mừng
Chúa Giê-su không phủ nhận giá trị của tiền bạc của cải, nhưng Người nhắc nhở chúng ta về thái độ đối với tiền bạc của cải, tức là lòng tham lam.  Có biết bao người giàu có, nhưng họ không tham lam, mà lại rất quảng đại trong việc sử dụng tiền bạc để giúp đỡ người khác và những công việc chung.  Trái lại có nhiều người thật nghèo, nhưng lại tham lam hết sức.  Cuộc sống chúng ta cần có tiền bạc và chúng ta phải làm việc để kiếm sống, lo lắng cho gia đình.  Nhưng quan trọng là làm sao giữ được sự quân bình giữa cuộc sống vật chất và đời sống thiêng liêng đạo đức.  Nỗ lực làm việc và tin tưởng vào sự quan phòng của Cha trên trời phải là lối sống của mọi Ki-tô hữu chúng ta vậy.
Lm. Dominic TTL

 

TN18-C87. TÍCH LŨY KHO TÀNG TRÊN TRỜI

Lc 12, 13 - 21
 

Có thể nói một trong những điều gắn bó với đời sống con người là sự tích lũy. Và bởi vì con người: TN18-C87

Có thể nói một trong những điều gắn bó với đời sống con người là sự tích lũy. Và bởi vì con người hay có lòng tham không đáy nên họ không bao giờ vừa lòng với những gì mình đang có. Từ đó, họ làm đủ mọi cách để tích lũy cho mình càng có nhiều của cải càng tốt. Họ quên rằng những gì họ cố gắng tích lũy không thể tồn tại mãi được. Một ngày nào đó, họ sẽ phải lìa xa nó hoặc nó cũng sẽ lìa xa họ. Cho nên, một người tín hữu khôn ngoan sẽ biết lo tích lũy cho mình kho tàng trên trời.
Mở đầu đoạn Tin mừng Chúa nhật hôm nay cho thấy ngày nọ trên đường Chúa Giêsu đi rao giảng có một người trong đám đông đến xin Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi." (Lc 12, 13b). Có lẽ Chúa Giêsu đọc được tư tưởng của hai anh em của người này. Họ quá trông cậy vào những gì ở trần gian này.
Liền sau đó, Chúa Giêsu nói: "Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu." (Lc 12, 15 - 16). Ðây cũng là lời nhắc nhở vàng ngọc cho những ai quá coi trọng tiền của vật chất ở đời này. Chúa Giêsu minh họa cho chúng ta dụ ngôn người phú hộ giàu có. Thay vì với một cuộc sống dư đầy của cải ông toan tính sao để lập công đức ông chỉ lo cho bản thân mình. Ðáng tiếc những gì ông toan tính có thể chỉ trong vòng một đêm là ông phải chịu mất tất cả.
Trong kho tàng truyện cổ tích Việt nam chúng ta nhớ có câu chuyện Ăn khế trả vàng. Câu chuyện quý giá ấy chắc một phần nào cũng sẽ minh họa cho chúng ta về điều mà Chúa Giêsu muốn nhắn gởi cho chúng ta hôm nay.
Cuộc sống của một con người nếu chỉ tập trung vào đời này thôi thì thật là uổng phí. Vì con người còn hướng đến một điều gì đó cao siêu và linh thiêng hơn. Cảm nhận được điều này nên Linh mục nhạc sĩ Thái Nguyên đã sáng tác nên bài Thánh Ca như sau:
"Con người đâu chỉ là xác thân, con người đâu chỉ tìm miếng ăn, đâu chỉ là vật chất phôi pha như phù vân. Nhưng con người còn là hồng ân sự sống linh thiêng, sự sống triền miên muôn đời bất diệt tồn tại trong Thiên Chúa, Ðấng sáng tạo nên con người đẹp tươi giống hình ảnh Người. Ðời con là một khát khao mơ về tuyệt đối Chúa ơi. Trần gian mọi sự đều dở dang, bao hoang mang bao thổn thức ngập tràn. Chúa đã dựng nên con cho Chúa nên lòng con khắc khoải khôn nguôi, cho tới khi, cho tới khi nghỉ yên trong Chúa nguồn hạnh phúc đời con" .
Với những ý tưởng trên đây, chúng ta thấy một người tín hữu khôn ngoan không nên quá lo tích trữ kho tàng dưới đất mà phải hết sức chăm lo cho mình kho tàng trên trời vì: "Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi" (Mt 6, 19 - 20)

 

TN18-C88. CHÚA NHẬT 18 TN C

Lc 12, 13- 21
"Các ngươi hãy coi chừng giữ mình tránh mọi thứ tham lam" (Lc 12, 15).
 

Những người tham lam là những người thờ ngẫu tượng (Cl 3, 5; Ep 5, 5-6). Họ không chỉ bỏ quên : TN18-C88

Những người tham lam là những người thờ ngẫu tượng (Cl 3, 5; Ep 5, 5-6). Họ không chỉ bỏ quên Thiên Chúa, gia đình, con cái, và tha nhân nhưng còn quên cả ý nghĩa và phẩm chất đời sống của chính mình. Họ đánh mất chính bản thân mình và cuối cùng chẳng có gì cả.
Qua dụ ngôn người phú hộ ngu xuẩn (Lc 12,16-21) Chúa Giêsu không phải chỉ nói về những người giàu có, nhưng nói với tất cả mọi người, vì ai ai cũng có thể bị tiêm nhiễm bởi nọc độc của sự tham lam. Người nghèo cũng tham lam của cải như kẻ giàu. Không phải vì có nhiều tiền bạc hay ít của cải làm cho một người ra tham lam, nhưng khi người ta bị ám ảnh bởi của cải vật chất, người ta không còn biết thế nào là đủ. Túi tham vô đáy, có bao nhiêu cho vừa?
Chúng ta không nguyền rủa người giàu có và tán tụng kẻ nghèo, có những người nghèo tham lam ích kỷ, cũng có người giàu quảng đại, vị tha. Dĩ nhiên thường thì ngược lại. Hãy nhìn thẳng vào hoản cảnh của riêng bạn. Mỗi người chúng ta phải suy nghĩ, cân nhắc cẩn thận, và cầu nguyện chân thành về thái độ của chúng ta đối với tiền bạc dưới ánh sáng những điều Chúa Giêsu nói với chúng ta hôm nay.
Chúa Giêsu đã có thể là một người giầu nhất chưa từng có. với cách thức là người nhưng người đã chọn sống nghèo khó, người từ bỏ tất cả, ngay cả mạng sống mình để cứu chuộc chúng ta.
Hạnh phúc không phải là cái chúng ta muốn, nhưng là chấp nhận cái chúng ta có. Dù giàu hay nghèo, hạnh phúc là bằng lòng với mình đang có, và ngay cả cái mình không có nữa. Hãy biết chấp nhận mọi sự như chương trình của Thiên Chúa đã sắp đặt với lòng biết ơn rằng có Thiên Chúa là có tất cả mọi sự. Một người không bằng lòng với những gì mình đang có sẽ không bao giờ có hạnh phúc. Họ luôn sống trong bất mãn và đau khổ, vì lúc nào cũng tham muốn có thêm, không bao giờ biết tận hưởng những cái đẹp đẽ và giá trị của cuộc sống hiện tại. Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu gọi là "Đồ ngốc" hay "Kẻ ngu dại" (Lc 12, 20). Tại sao? "Vì chẳng phải sung túc mà đời sống được của cải bảo đảm cho đâu!" (Lc 12, 15). Thiên Chúa đã dựng nên con người với một chủ đích rõ ràng trên trần đời để hoàn thành nó với điều kiện là con người phải giữ Thiên Chúa làm tâm điểm của đời sống (St 2, 17). Của cải vật chất, tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng, quyền lực. Không thể hoàn thành được mục đích này. Chỉ có Thiên Chúa, Nguồn Mạch của sự sống mới có thể đưa chúng ta đến sự viên mãn (Ga 14, 6). Khi chúng ta đặt Thiên Chúa làm trung tâm điểm của mọi sinh vật, khi chúng ta biết rằng Thiên Chúa hiện diện với chúng ta và cảm nghiệm sự sống của Ngài đang tuôn chảy qua chúng ta (Pl 3, 7). Thiên Chúa bảo đảm chúng ta sẽ chia sẻ đuợc kinh nghiệm này về Ngài ở một cấp độ sâu xa nhất của con người, nếu chúng ta làm cho Ngài trở thành khuôn mặt chính trong cuộc đời của chúng ta (Gl 2, 20). Ngày nay nhiều người định giá trị dựa trên đồng tiền. Họ tin rằng câu trả lời cho tất cả những vấn đề và thắc mắc của cuộc sống sẽ được tìm thấy nếu có tiền, có của, có tài sản. Trúng số, trở thành triệu phú sẽ giải quyết hết mọi vấn đề! Sách Giảng Viên trong bài đọc thứ nhất hôm nay đã vạch ra bản chất đích thực của tiền bạc, của cải vật chất như sau: "Hư không trên các sự hư không, hư không trên các sự hư không, và mọi sự đều là hư không" (Gv 1, 2; 2, 21-23). Nó làm cho con người mù quáng trong cảm giác tự mãn, tự đầyđủ mà quên đi khát vọng tìm kiếm Thiên Chúa, Đấng ban sự sốg đời đời (Lc 6, 24; Mt 6, 19). Chỉ có tình yêu Thiên Chúa là vĩnh cửu. Và chỉ một mình Thiên Chúa mới là nơi an nghỉ bảo đảm cho con người mà thôi (Tv 39, 8 ; 16, 5).
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết dùng của cải cho thích hợp với ý Chúa nhằm hữu ích cho chúng con ở đời này và đời sau. Chúng con chỉ muốn dùng của cải để làm sáng danh Chúa mà thôi. Amen.

 

TN18-C89. SỐNG SIÊU NHIÊN

Lc 12, 13 -21
 

Chúa dựng nên loài người không phải chỉ để sống cuộc sống tự nhiên như các loài vật khác: sinh : TN18-C89

Chúa dựng nên loài người không phải chỉ để sống cuộc sống tự nhiên như các loài vật khác: sinh lão bệnh tử rồi trở về hư vô. Chúa đã ban cho loài người có linh hồn bất tử. Linh hồn sẽ giúp thân xác chúng ta hướng về Chúa, hướng đến Sự Thiện tuyệt đối. Chúa đã chuẩn bị cho linh hồn chúng ta được kết hợp thân mật với Chúa cách tương đối ở đời này và gắn bó muôn đời bên Chúa trong cõi đời đời.
Thế nhưng, loài người nhiều khi chỉ biết lo cho thân xác, bám vào của cải vật chất là những thứ tạm bợ, tưởng rằng nó đem lại hạnh phúc vĩnh cửu cho mình. Thực tế cho thấy, tiền bạc không chắc đem lại hạnh phúc đời này. Người đời cũng nói rằng: tiến bạc là một tên đầy tớ tốt, nhưng là một ông chủ xấu. Ai coi tiền bạc của cải là mục đích của đời mình thì coi chừng đang rơi vào trò lừa của ma quỷ. Vì của cải, nhiều anh em trong một nhà giận hờn nhau, vì tiền bạc nhiều người bán rẻ lương tâm. Như trong bài Phúc Âm, chúng ta thấy hai anh em trong một nhà mà người anh không muốn chia gia tài cho em mình. Và nhân đây Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn: nhà phú hộ tham lam. Ông tích trữ nhiều của cải và tưởng rằng của cải dư dật sẽ bảo đảm hạnh phúc vững bền cho ông. Nhưng Chúa bảo rằng: "Nếu đêm nay linh hồn lìa khỏi xác thì những của cải kia ngươi để lại cho ai? Của cải tích trữ có đem lại hạnh phúc đời sau không?"
Như vậy, khôn ngoan nhất là biết lo cho đời sau, không phải chỉ là tích trữ của cải đời này.
Chuyện kể rằng một ông chủ giàu có nọ, một hôm bị căn bệnh hiểm nghèo cướp đi sinh mạng của mình, ông vào Thiên Đàng thấy có cả một khu vực bán đủ thứ thức ăn ngon miệng. Ông cảm thấy bụng cồn cào muốn ăn bèn hỏi một thiên thần đứng quầy: ở đây một tô mì giá bao nhiêu? Thiên thần nói: chỉ một đồng. Ông mừng quá, nghĩ rằng mình còn cả một túi vàng ở đây thì không sợ đói. Ông tiếp tục đi sang quầy khác, thấy có nhiều món ngon liền hỏi một thiên thần khác: một bữa ăn có đầy đủ các món này giá bao nhiêu? Thiên thần trả lời: cũng chỉ một đồng! ông mừng quá, móc ra một đồng tiền vàng và hỏi thiên thần: "như vậy 1 đồng vàng này ăn được bao nhiêu lần?" Thiên thần trả lời rằng: " Ở đây chỉ sử dụng loại tiền cho đi". Nhà phú hộ chưa hiểu nên hỏi lại thiên thần: "Tiền cho đi là gì? Tiền của tôi, vàng của tôi không chẳng lẽ không xài được sao?" Thiên thần trả lời ông: "đó là loại tiền ông thu vào. Ở đây chỉ xài loại tiền ông đã gởi vào thiên đàng khi còn sống qua việc giúp đỡ người nghèo cách vô vị lợi, hoặc những việc lành phúc đức. Ông có loại tiền đó không? Ông lục mãi trong trí mính mà không thấy. Lúc đó thiên thần nói: Khi còn sống, ông không biết thương yêu anh em mình, không giúp đỡ người nghèo khổ mà chỉ sống cậy dựa vào tiền bạc của cải. Vì vậy, ông mới phải khốn khổ đời đời!"
Câu chuyện này nhắc nhở chúng ta khi còn sống đời này phải biết nghĩ đến đời sau: biết thờ phượng Chúa, biết làm việc thiện, biết quí trọng linh hồn của mình và của tha nhân. Chính nhờ phần linh hồn mà chúng ta hơn hẳn các loài vật. Loài vật chỉ có sự sống tự nhiên, sống theo bản năng, chỉ tồn tại một thời gian rồi trở về hư vô. Còn chúng ta, chết chưa phải là hết, mà chết là bước vào cuộc sống mới, cuộc sống vĩnh cữu.
Tuỳ vào cách sống của mình hiện nay mà chúng ta sẽ được thưởng hay là bị phạt. Chúng ta muốn hạnh phúc đời đời hay muốn đau khổ đời đời. Đó là tuỳ chúng ta chọn lựa ở đời này. Chúa không thể làm thế chúng ta trong việc này.
Xin chúa cho chúng ta hiểu được phẩm giá cao trọng của loài người, biết lo cho linh hồn như Chúa Giêsu đã dạy để ngày sau được hạnh phúc đời đời.

 

TN18-C90. "HÃY GIỮ MÌNH KHỎI MỌI THỨ THAM LAM"

Lc 12, 13 -21
 

Xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi (c.13) Có người tham lam. Hãy giữ mình khỏi mọi thứ : TN18-C90

Xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi (c.13) Có người tham lam.
Hãy giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải có dư thừa của cải mà bảo đảm được sự sống đâu (c.15) Ai mà không biết! Công bình là tốt, tham lam là xấu, nhưng vẫn cứ! Lòng tham vô đáy. Phát sinh vô vàn bất công. Cuộc đời vẫn cứ thế.
Ông Ngốc: Hồn ta hỡi, ta đã có ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Hãy nghĩ ngơi, ăn, uống, lễ lạc (ăn chơi). Đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn ngươi, những gì ngươi tích lũy đó sẽ về tay ai ?. (c.19). Ngoài chuyện của cải còn chuyện gì cho con nguời nữa không? Kệ linh hồn.! Chuyện linh hồn để đó.
.....thu tích của cải mà không làm giàu trước mặt Thiên Chúa..(c. 21) Không cho Chúa ăn, uống? Chì có "mình". Không biết có ai ngoài 'mình'. Không biết có câu "dùng tiền để mua bạn hữu" để họ "đón tiếp mình vào cõi đời đời".
Ngưới ta thu tích để hưởng thụ. Hưởng thụ là mục đích của cuộc sống. Sống (yêu) cuồng chết vội. Ngày mai để ngày mai tính.
Ý của Chúa Giêsu rất rõ mà không rõ vì không ai thích rõ.
Như tiếng kêu trong sa mạc, còn gây phản cảm nữa! Sức hút của mammon mạnh, không mấy người chỗng nỗi kể cả các đấng bậc. Thờ thần tài "ông địa" không thờ Chúa. Chúa phiền phức! Ví một chút lợi lộc tí xíu vô số người sẳn sàng bỏ Chúa Nhật, bỏ điều Chúa dạy, chạy theo lời của con người. Lời Chúa không bằng.
Sự tham lam của cải điều khiển tất cả, từ suy nghĩ tới hành vi con nguời. Làm mù quáng lý trí và lương tri. Mọi bất công từ đây.
Có tiền mua tiên. Tiền trước hậu sau.
Tiền là tiên là phật.
Có tiền để hưởng thụ. Thế giới ngày nay là thế giới hưởng thụ.
Mặc dù biết:
Tiền không là hạnh phúc.
Tiền không là thọ.
Tiền không là bình an.
Tiền không là sức khỏe.
Có thể không là gì cả mà trái lại còn là nhiều cái không tốt không hay. Nhưng kệ!
Trong cuộc "diểu hành tình yêu" love parade ở Đức người ta đổ xô tranh nhau tham dự đến nổi dẩm đạp lên nhau làm 19 người chết, 43 người bị thuơng trong đó nhiều người bị thương nặng sẽ chết. Sáu phụ nữ chết đến từ rất xa như Úc, Ý.. là những nguời có tiền. Chúa Nhật nếu đến nhà thờ thờ phượng Chúa thì tốt rồi. Được bình an và ơn Chúa. Vui vẻ cuộc đời.
Những từ "sự sống đời đời, hạnh phúc vĩnh cữu" xem ra xa vời như ảo ảnh không kéo được chút nào quan tâm của con người thời đại. Còn người có đạo thì để rồi xin Chúa. Khi nào tới hãy hay.
Giáo Hội có sứ mệnh ngôn sứ thì phải cứ rao giảng dù thấy là không hợp thời nữa vì thế giới nầy là thế giới kim tiền. Vạn sự chỉ ư tiền.
Nhưng hôm nay chúng ta hãy suy nghĩ một chút. Tham lam là xấu chứ không phải của cải là xấu. Tham lam là gốc mọi tội lỗi và khốn khổ nhưng khi khốn khổ người ta mới hay vì khi ấy mới mở mắt ra mới thấy được. Nên Chúa Giêsu mới bảo "coi chừng tránh mọi thứ tham lam "danh lợi" ....
Tới lúc tất cả sẽ bỏ ta hay ta sẽ bỏ tất cả. Còn lại gì? Những việc ta đã làm là của ta , là ý thức của ta, là tự do của ta, làm thành chính con người của ta, công chính hay xấu xa, việc lành hay tội lỗi làm thành chiếc áo riêng cho ta mặc ra đi gặp Chúa Giêsu để chịu phán xét.
Không có đạo thì không biết làm sao. Còn có đạo thì rước cha. Cha tha tội cho là xong tất. Không phải sợ. Cứ! Ổn không? Cứ nhắm mắt thì sẽ phải "khóc lóc nghiến răng".
Kể chuyện: Thần chết đến mời ông nầy: ông van "cho tôi ba ngày tôi cho ngài phân nữa gia sản tôi". Không được! Cho tôi 3 phút tôi cho ngài hết. Không được vì chúng không còn là của ông nữa!
Không tích lũy của cải mới thật sự tự do.
Con người nhỏ bé yếu đuối mà lòng tham thì vô tận. Làm sao con người gánh vác cho nỗi! Tội nghiệp! Ngàn lần tội nghiệp!
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy thì xin hãy giúp chung con cố gắng đủ dể tránh mọi thứ tham lam.

 

TN18-C91: SỐNG SIÊU THOÁT

Lc 12, 13 -21
 

Giữa thời buổi nền kinh tế thị trường đang chiếm chiếm lĩnh con người mà chúng ta dám bạo gan: TN18-C91

Giữa thời buổi nền kinh tế thị trường đang chiếm chiếm lĩnh con người mà chúng ta dám bạo gan và nhấn mạnh tính phù vân của trần thế, tính giả trá của của cải vật chất, thì chắc chắn chúng ta sẽ bị coi là những kẻ tâm thần. Giữa lúc giáo lý và công đồng Vat II, nhìn nhận và đề cao những thực tại trần thế mà chúng ta rao giảng sự hư vô của tiền bạc, của cải... thì phải chăng chúng ta đang đi ngược lại với chiều hướng lịch sử của Giáo Hội. Vì thế, chúng ta phải hiểu cho đúng nghĩa bài Thánh Kinh hôm nay, để tránh thái độ tai hại và có thái độ đúng đăn trong đời sống đức tin.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Luca đề cao lời rao giảng của Chúa Giêsu hơn là phép lạ, đề cao lời nhăn nhủ hơn là việc trình bày các mầu nhiệm. Ngài khuyên các môn đệ phải biết sống siêu thoát đối với những quyến rũ, hấp dẫn của vật chất. Là môn đệ Chúa Giêsu, thì phải biết tìm kiếm sự giàu có theo cái nhìn của Chúa hơn là chạy theo của cải vật chất tầm thường mà người đời vẫn tìm kiếm với bất cứ giá nào. Vì của cải vật chất tuy rất có giá trị nhưng nó chỉ là giá trị tạm bợ mà thôi. Cái chết sẽ đóng dấu chấm hết cho cuộc sống giàu nghèo sang hèn của mỗi người. Quan trọng là khi nhắm mắt số phận đời đởi của chúng ta sẽ ra sao? Của cải trần gian có giúp chúng ta tìm được cuộc sống bất diệt không?
Dưới cái nhìn đức tin, thì cuộc sống người tín hữu là sống theo những cái nhìn mà Đức Giêsu đã mặc khải cho loài người: tình yêu, lòng mến, sự siêu thoát... Của cải vật chất, danh vọng, chức quyền đều có giá trị nếu chúng ta đặt nó đúng chỗ, nếu chúng ta biết sữ dụng như công cụ xây dựng đức tin, Cậy, Mến, xây dựng yêu thương huynh đệ, hòa giải thứ tha giữa người với người. Nhưng không khéo thì tâm hồn chúng ta sẽ trở nên u mê coi tiền là cứu cánh, coi việc làm giàu là mục tiêu duy nhất của cuộc sống... thì khi ấy chúng ta rơi vào mối nguy cơ vô cùng to lớn: chúng ta sẽ mất tất cả, hoặc có được chăng nữa thì cũng chẳng được bao nhiêu. Số phận chúng ta bị đe dọa diệt vong cùng với những ham hố, đam mê thấp hèn của mình. Kitô giáo không khinh miệt những gì làm nên cuộc sống con người như của cải, niềm vui. Nhưng Kitô giáo hướng tất cả mọi thực tại vào ciệc xây dựng Nước Trời, xây dựng tình yêu thương nơi mỗi người cũng như nơi mỗi cộng đoàn. Vật chất của cải là cần thiết, là tốt đẹp, là hữu ích cho sự thăng tiến của con người, giúp con người nên trọn lành. Nhưng vật chất của cải cũng là một cái bẫy, một mối nguy hiểm nếu chúng ta không tỉnh táo, không định hướng, không làm chủ nó.
Để giúp chúng ta vươn lên không bị của cải vật chất quyến rũ, mê hoặc, Thánh Phaolô quả quyết đễ chúng ta xác tín: "chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô thì chúng ta cũng sẽ được sống lạo với Người. Nghĩa là Đức Kitô trở thành nguồn mạch, sức sống, sức lôi hút chúng ta. Người cũng là mẫu mực là Thầy dạy chúng ta biết sống như thế nào là đẹp lòng Thiên Chúa và hữu ích cho mọi người.
Giữa trao lưu chạy theo vật chất, chạy theo lợi nhuận trong kinh doanh sản xuất, chạy theo thực dụng trong quan hệ xã hội.... người Kitô hữu cần phải tỉnh táo và siêu thoát hơn. Và nhận thức rằng "giàu có trước mặt Chúa" phải là phương châm cuộc sống của mỗi người chúng ta. Để giàu trước mặt Chúa thì trước tiên chứng ta phải trở nên nghèo hèn trước mặt mọi người. Hoặc chúng ta trở nên siêu thoát với của cải hơn trong tận cõi lòng của chúng ta. Nghĩa là chúng ta bỏ bớt tham lam ô uế, gian xảo trong tư tưởng lời nói việc làm, đồng thời tích lũy Tin - Cây - Mến đối với Chúa và anh em. Sống như thế chính là "những người khôn ngoan" được Chúa khen,biết lựa chọn và sống đẹp lòng Chúa cũng như bảo đảm được sự Sống của chính mình.
Lạy Chúa, xin cho con biết nhận ra đâu là của cải đích thực, đâu là của cải mà mối mọt không làm hư nát, đâu là của cải có thể giúp con sống đời đời, để từ đó con biết "chọn Chúa làm gia nghiệp đời con". Amen

 

TN18-C92: CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN

Lc 12: 13-21
John Nguyễn
1. Sự sống duy nhất nhưng có nhiều mặt nơi con người
 

Điều quan trọng nhất đối với con người là sự sống. Sự sống là một thực tại duy nhất nhưng có nhiều: TN18-C92

Điều quan trọng nhất đối với con người là sự sống. Sự sống là một thực tại duy nhất nhưng có nhiều mặt, có thể phân loại và sắp xếp theo thứ tự từ cụ thể đến trừu tượng như sau:
• Sự sống tự nhiên hay trần thế, là sự sống có thể bị hủy hoại (nay còn mai mất), lệ thuộc vào những cái chóng qua, những cái dễ bị thay đổi, vào những điều kiện của thời và không gian của trần thế, gồm:
a) Đời sống thể chất: liên quan nhiều đến thể xác, cần được nuôi dưỡng bằng vật chất, đồ ăn thức uống, tiền bạc, tiện nghi, sắc dục, v.v...
b) Đời sống tinh thần: liên quan đến những khía cạnh tinh thần của thể xác, như tri thức, tình cảm, ý chí, sở thích, tự do, danh vọng, quyền bính, cần được nuôi dưỡng bằng học hỏi, hiểu biết, tình yêu, lời khen, địa vị, quyền lực, điều kiện và khả năng làm theo sở thích, v.v...
• Sự sống siêu nhiên hay tâm linh: là sự sống khó bị hủy hoại nơi bản thân, liên quan nhiều đến linh hồn, đến những thực tại bất tử, siêu việt, siêu thời gian và không gian; được thể hiện thành khát vọng đạt tới Chân Thiện Mỹ, vươn tới Tuyệt Đối; được nuôi dưỡng bằng sự tiếp xúc, tương giao với Tuyệt Đối, với những thực tại siêu việt, bằng những tâm tình hay ý tưởng cao thượng, bằng tình yêu phổ quát mang tính dâng hiến (tức lòng bác ái đích thực). Đây là sự sống của chính Thiên Chúa mà Ngài đã thông ban cho con người khi nâng con người lên hàng con cái Ngài.
Đó không phải là những sự sống khác nhau, biệt lập nhau, mà là những phương diện hay hình thức sống khác nhau của một sự sống duy nhất. Những phương diện ấy quyện lấy nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, và có thể phát triển với mức độ khác nhau tùy từng người.
2. Hiện nay, người ta quá quan tâm đến đời sống trần thế mà quên đi đời sống tâm linh
Phương diện của sự sống mà con người cảm nghiệm được dễ dàng nhất là đời sống thể chất, vì đó là những gì cụ thể, thấy được, sờ được, cảm nhận được. Vì thế, với những người suy tư còn thấp kém, sự sống chủ yếu chỉ là thể chất, với ham muốn ăn ngon mặc đẹp, nhiều tiền bạc, nhà cao cửa rộng, tiện nghi đầy đủ... Với những người suy tư cao hơn, đời sống còn là tinh thần, với ham muốn học hỏi, yêu thương, có danh tiếng, địa vị, quyền lực...
Còn đời sống tâm linh, chỉ những ai phản tỉnh cao, sống nội tâm sâu xa, mới cảm nghiệm được sự sống này ở nơi mình, với những nhu cầu cũng rất cấp thiết đòi hỏi phải được thoả mãn của nó: nhu cầu vươn lên đỉnh cao Chân Thiện Mỹ, trở nên một với Tuyệt Đối hay Thiên Chúa là nguồn tình yêu và cũng là sức mạnh vô biên của mình, nhu cầu xả thân, quên mình, làm cho mọi người nên tốt đẹp và hạnh phúc. Họ cảm thấy đời sống phong phú và ý nghĩa hơn, hạnh phúc cũng tăng lên rất nhiều khi thực hiện và thỏa mãn được những nhu cầu ấy. Đời sống tâm linh phát triển mạnh khi con người biết quên mình, sống tinh thần «tự hủy», không còn sống cho bản thân mà sống cho Thiên Chúa và tha nhân. Đời sống thần bí là một dạng của đời sống tâm linh cao, có cảm nghiệm tương đối rõ rệt về Thiên Chúa và những thực tại siêu việt hay thần linh.
Cũng có rất nhiều người chỉ nghe nói về đời sống tâm linh chứ không tự mình cảm nghiệm được, nên tin có đời sống tâm linh, và đã có những sinh hoạt có vẻ tâm linh, như đọc kinh, cầu nguyện, đi lễ, bên ngoài giống như những người đã cảm nghiệm được đời sống tâm linh. Nhưng vì vẫn tiếp tục chạy theo đời sống thể chất, không đầu tư cho đời sống tâm linh, nên đời sống tâm linh của họ không phát triển được.
Hiện nay, do văn minh thế giới phát triển theo hướng vật chất với những thành tựu của khoa học trên vật chất, nên đời sống vật chất lên cao hẳn so với đời sống tâm linh. Vì thế, đối với rất nhiều người, sự sống bị giản lược vào những sinh hoạt thể chất và tinh thần. Họ chỉ biết lo cho đời sống trần thế của mình được trù phú sung túc, mà quên đi hoặc không biết tới những nhu cầu tâm linh, khiến cho đời sống tâm linh của họ nghèo nàn, kém phát triển. Thực ra, đời sống tâm linh có phát triển thì sự sống mới trở nên dồi dào, phong phú. Đức Giê-su đến là để giúp con người đạt được sự sống đó: «Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào» (Ga 10,10).
3. Thiếu đời sống tâm linh, con người không thật sự hạnh phúc
Con người là một sinh vật cao cả, được dựng nên giống Thiên Chúa và theo hình ảnh của Ngài (St 1,26). Vì thế, con người không chỉ có đời sống tự nhiên hay trần thế, mà còn có đời sống tâm linh hay siêu thế, là sự tham dự vào đời sống thần linh của Thiên Chúa. «Sống dồi dào» theo tinh thần của câu Tin Mừng Ga 10,10 là sống đầy đủ mọi chiều kích của sự sống con người. Vì thế, khi con người chỉ sống trong những chiều kích thấp của sự sống, thì con người cảm thấy không hạnh phúc lắm. Hơn nữa, nếu hoàn toàn đắm chìm và bị thu hút trong những «cảnh giới» thấp ấy, không hề có nỗ lực vươn lên «cảnh giới» cao hơn, con người sẽ cảm thấy chán chường, đau khổ, cho dù trong những cảnh giới thấp ấy đời sống có đầy đủ đến đâu chăng nữa. Chúng ta đã từng nghe nói có những siêu sao màn bạc, thành công tột đỉnh cả tiền tài, tình cảm lẫn danh vọng, nhưng vẫn thấy tâm hồn trống rỗng, buồn chán đến nỗi không chịu nổi phải tự vẫn. Chúng ta cũng nghe nói: những nước có phân xuất tự tử cao nhất thế giới lại là những quốc gia có đời sống vật chất cao nhất, bảo đảm nhất ở Bắc Âu. Điều đó chứng tỏ hạnh phúc đích thực và sự đầy đủ tinh thần lẫn vật chất về mặt trần thế không luôn luôn đi đôi với nhau. Để hạnh phúc đích thật, con người cần có một đời sống tâm linh phát triển.
4. So sánh giữa sự sống trần thế và sự sống siêu thế
Sự sống thần linh ở trong ta mới là cái quí nhất, tồn tại mãi. Còn sự sống trần thế dù là thể chất hay tinh thần, hay dù có lên cao đến đâu, cũng đều chóng qua và hết sức giả tạm: chỉ cần một biến cố cũng đủ làm thay đổi, làm mất đi phần nào hay tất cả. Vì thế, giá trị của nó không thể sánh được với giá trị của đời sống tâm linh hay thần linh. Tin Mừng nói: «Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?» (Mt 16,26).
Thử so sánh giữa hai phương diện ấy của sự sống ta thấy: sự phong phú của sự sống trần thế hết sức bấp bênh. Biết bao người giầu có với nhà cao cửa rộng, ruộng vườn ngàn mẫu, và địa vị quyền thế không phải nhỏ. Nhưng chỉ cần một cơn bệnh, một cuộc đổi đời, một tai họa, một vụ trộm hay cướp... cũng có thể trở thành trắng tay, thậm chí vào tù, hoặc lâm vào cảnh rất đau khổ, v.v... Để sự sống trần thế của mình trở nên phong phú, nhiều khi ta phải đánh đổi: phải thất đức, phải làm cho người khác nghèo khổ, mất địa vị, thậm chí chết hoặc đau khổ tột cùng. Người ta vẫn nói: «vi phú bất nhân». Sự thất đức luôn luôn có hậu quả hết sức tai hại cho đời sống tâm linh và đời sống hậu thế (sau khi chết). Sự sống trần thế có phong phú tới đâu thì cũng chỉ kéo dài nhiều lắm là một đời. Tới lúc chết, phải buông bỏ hết và ra đi với hai bàn tay trắng. Tiền bạc, quyền lực, địa vị mình làm nên không đem theo được, mà phải hoàn toàn bỏ lại cho người khác, như sách Giảng Viên trong bài đọc I nói: «Có người đã đem hết khôn ngoan và hiểu biết mà làm việc vất vả mới thành công, rồi lại phải trao sự nghiệp của mình cho một người đã không vất vả gì hết. Điều ấy cũng chỉ là phù vân và lại là đại hoạ» (2,21).
Còn đời sống tâm linh, chỉ những ai đã hưởng nếm được, mới cảm nhận được sự ngọt ngào và hạnh phúc của nó. Vì đời sống tâm linh không tùy thuộc vào những thực tại bấp bênh và chóng qua của trần thế, mà liên quan tới những thực tại siêu việt, siêu không gian và thời gian, nên thành quả và hạnh phúc của nó lâu bền, không ai lấy mất được. Hạnh phúc ấy không tùy thuộc vào những hoàn cảnh đổi thay bên ngoài. Chính vì thế, một người có đời sống tâm linh cao vẫn có thể hạnh phúc trong những nghịch cảnh: nghèo nàn, tù đày... Họ có thể nghèo mà không khổ, bị tù mà tinh thần vẫn tự do, thoải mái, tự tại. Thiết tưởng mọi người Ki-tô hữu, là những người tin vào Chúa, vào những thực tại siêu việt, đều phải có đời sống tâm linh cao, nhờ đó, đời sống họ luôn luôn hạnh phuc, bất chấp những hoàn cảnh thay đổi có lợi hay bất lợi.

Cầu nguyện
Lạy Cha, Cha đã ban cho con sự sống thần linh của Cha như một mầm sống mà con phải nuôi dưỡng và phát triển trong con. Vì thế, xin cho con biết quan tâm đến sự sống ấy trong con, và sẵn sàng làm tất cả để nuôi dưỡng và phát triển sự sống ấy. Amen.

 

TN18-C93: CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN

Lc 12: 13-21
Lm Augustine S.J
Thực tại tuyệt vời tàng ẩn
 

Trước hết nhờ cuộc biến hình, Đức Giêsu cho ta thấy thực tại tuyệt vời tàng ẩn phía sau dung mạo: TN18-C93

Trước hết nhờ cuộc biến hình, Đức Giêsu cho ta thấy thực tại tuyệt vời tàng ẩn phía sau dung mạo nhân loại của Người hàng ngày. Chính Người một hôm đã hỏi Nhóm Mười Hai: "Người ta nghĩ Thầy là ai?" "Riêng với anh em, thì Thầy là ai?" Câu hỏi đó còn đòi một cuộc dấn bước thêm nữa. Bởi lẽ đó là câu hỏi cơ bản Nhóm Mười Hai sẽ phải trả lời: Sứ mạng của Nhóm trong tương lai chính là để nói cho thế giới biết Đức Giêsu là ai. Ông Phêrô đã đại diện Nhóm để trả lời rằng: "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống." Qua cuộc biến hình, chính Thiên Chúa trả lời câu hỏi đó: Đó là lúc Đức Giêsu tỏ lộ thực tại sâu thẳm của Người và Chúa Cha xác nhận Người chính là Con mà Ngài yêu dấu. Điều đó cho thấy Đức Giêsu thuộc về gia đình nơi thế giới của Thiên Chúa: đó là Ba Ngôi.
Nhưng Đức Giêsu cũng thuộc về gia đình nơi thế giới loài người. Bởi lẽ trên núi Đức Giêsu được bao bọc bởi các vị tông đồ Phêrô, Gioan và Giacôbê. Điều đó có ý cho thấy rằng toàn Giáo Hội trần thế có mặt trên núi. Nhưng Giáo Hội là gì? Chính Đức Giêsu cắt nghĩa vấn đề này trong Tin Mừng theo thánh Matthêu 18,20 khi Người nói tới một nhóm những con người nơi đó có Người hiện diện ở giữa.

Giữa Trời và Đất
Nhưng ở trên núi Đức Giêsu cũng hiện diện ở giữa một bên là các tông đồ, một bên là Chúa Cha, ông Môsê và ông Êlia, nghĩa là giữa trời và đất. Điều vừa nói cho thấy sứ mạng của Đức Giêsu: Đó là qui tụ Trời và Đất, mang nhân loại tội lỗi trở về lòng Chúa Cha, tập họp con cái Thiên Chúa bị tản mác do tội, trở về trong sự hiệp nhất của Chúa Cha. Chính nhờ vậy mà các tông đồ hiểu được căn tính của Đức Giêsu cũng như căn tính riêng của họ. Đức Giêsu là Người Con Chí Ái của Chúa Cha và chính các tông đồ được mời gọi tham dự vào tính cách làm con đó, tức là trở nên con cái của Thiên Chúa như sau này thánh Phaolô cắt nghĩa: "Anh em là ... người nhà của Thiên Chúa" (Ep 2,18-19).
Như vậy cùng lúc Đức Giêsu là Người Con của Thiên Chúa Cha và là thủ lãnh của Nhân Loại Mới. Đức Giêsu không bao giờ là một cá vị lẻ loi. Người luôn chung sống, luôn kết hợp với Cha và với chúng ta. Người là Đấng kết hợp thế giới của Thiên Chúa với thế giới của loài người. Người là Đấng đưa ta vào nhà Cha "nơi ta được khỏe khoắn" (c.33). Người là Đấng mang lại cho ta Gia Đình đích thực: Đó là Ba Ngôi Thiên Chúa. Vậy là ta không còn cảm thấy mồ côi nữa. Cách nào đó từng bị mồ côi như bé Diễn. Diễn là một em Mỹ lai chừng 10 tuổi. Má em qua đời tại Việt Nam. Em bị bán cho một gia đình người Hoa và được đưa tới Hoa Kỳ.

Giấc mơ nơi máng cỏ
Đó là vào chiều lễ Sinh Nhật. Diễn chưa bao giờ cảm thấy cô đơn như vậy. Trong gia đình người Hoa, em không tìm được tình yêu vì bị hành hạ, bị coi là người tôi tớ hơn là một người con. Chiều lễ Sinh Nhật hôm đó, em chạy trốn vì quyết tâm đi tìm kiếm cha mình: em không thể sống một mình được do nhu cầu cần được âu yếm. Mẹ em đã trối lại cho em tên của bố em là Giuse Minh Lễ (Joe Miller) cùng với tấm ảnh của bố. Diễn bước đi trên vỉa hè của thành phố lấp lánh ánh sáng. Nó thấy các trẻ em ra vào các cửa tiệm cùng với gia đình thân yêu của mình. Nó nghĩ "Ôi những trẻ em ấy sung sướng biết bao vì có ba má bên cạnh". Mỗi lần Diễn gặp một người đàn ông có dáng vẻ giống bố nó, nó liền hỏi xem người đó có phải là ông Giuse Minh Lễ chăng, nhưng xem ra chẳng có ai có tên đó cả. Cuối cùng giữa lúc đói và mệt mỏi, nó bước vào nhà thờ ngay trong thánh lễ nửa đêm. Diễn được thu hút do máng cỏ: Nó dán mắt nhìn trẻ Giêsu giữa hai bố mẹ Giuse và Maria và mấp máy đôi môi với lời van xin "Chúa thật sung sướng hơn con. Xin giúp con tìm ra người bố của con!" Thế rồi vì mệt lữ nó nằm trong một góc nhà thờ mà ngủ. Nó mơ giấc mơ của máng cỏ: Thánh Giuse người cha vuốt ve và cho nó rất nhiều quà... Khi nó thức dậy đã ban ngày thì thấy một người đàn ông nhìn nó với một nụ cười: đó chính là cha sở, người đã khám phá ra bé Diễn đang ngủ trong nhà thờ.
- Con làm gì ở đây?
Diễn dán mắt nhìn vị linh mục rồi thay vì trả lời, nó cho vị linh mục thấy bức ảnh của bố nó là Giuse Minh Lễ.
- Con nhặt tấm ảnh này ở đâu?
- Chính mẹ con khi chết đã cho con.
- Giuse Minh Lễ chính là cha đây.
Chấm dứt tình trạng mồ côi
Diễn liền nhảy chồm lên cổ vị linh mục, hôn lấy hôn để. Giuse Minh Lễ đã từng đi lính tại Việt Nam, nhưng khi về nước, ông đã thay đổi cuộc sống, đã vào học ở chủng viện và đã chịu chức linh mục. Bé Diễn mừng rỡ vì đã tìm thấy bố và đã chấm dứt tình trạng mồ côi cha.

Tái tạo hiệp nhất
"Hai vị ... nói về cuộc xuất hành của Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem..." (c.31). Hai ông Môsê và Êlia nói về cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu. Lý do vì đó là phương tiện Thiên Chúa dùng để tái tạo sự hiệp nhất giữa Thiên Chúa và loài người: "Vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu" (Cv 4,12). Điều đó có nghĩa là con đường duy nhất để nhập gia đình của Thiên Chúa (tức là được cứu) đó là tình yêu tự hiến cho đến cùng: Tình yêu hoàn toàn biết cho đi tất cả đến mức chết vì những người mình yêu. Đó là tình yêu mà Đức Giêsu đã yêu ta, một tình yêu khiến Người chịu đánh đập, chịu đội mão gai, chịu đóng đinh và chết trên thập giá như một tội nhân.
Tất cả những điều đó quá đòi hỏi đối với đức tin yếu đuối của các tông đồ là những con người đã từng được nuôi dưỡng bằng ý nghĩ về một vị cứu tinh quyền năng và vinh hiển. Vì thế nên Đức Giêsu muốn cho họ thấy một chút về thực tại thần linh của Người cũng như về kế hoạch Người có về tình yêu: Người muốn soi sáng và củng cố đức tin của các ông bằng cách cho các ông thấy rằng đau khổ mà được chấp nhận vì tình yêu, sẽ mang lại vinh quang lớn lao hoàn toàn đáng ước ao.
Chính chúng ta cũng cần để cho đức tin của chúng ta được soi sáng và được củng cố. Bởi lẽ chúng ta không có những con đường khác đưa ta tới hạnh phúc và vinh quang thuộc gia đình Thiên Chúa, ngoài con đường tình yêu biết hy sinh tất cả, biết quên mình, biết quên cả đau khổ riêng bản thân để nâng đỡ những người khác đang chịu đau khổ. Cần hành xử như Đức Giêsu trên đường Can-vê, Người đã quên nỗi khổ đau và nhục nhã bản thân để an ủi những người phụ nữ đang than khóc (Lc 23,28tt).

Quên nỗi đắng cay riêng
Có lẽ gương của chị Lưu Bích (Chiara Lubich) là người sáng lập phong trào Tổ Ấm Fô-cô-la-rê, cũng giúp soi sáng vấn đề ta đang tìm hiểu: Đó là vào năm 1944, gia đình chị để tránh bom đạn, đã bỏ thành phố Trentô lên núi tỵ nạn.
Khi ấy chị Lưu Bích 24 tuổi, chị nghe thấy tiếng Chúa mời gọi chị lo cho công việc tông đồ của Người. Chị chỉ tháp tùng gia đình tới quả đồi gần thành phố, kế đó chị đã quay bước trở về. Chị đã phải khóc thương gia đình nhiều, nhưng vẫn hy sinh tách khỏi gia đình để thể hiện ý Chúa. Trên đường về, chị Lưu Bích gặp một phụ nữ đang kêu gào: "chúng đã giết chết 4 con tôi!" Quả thật các con của bà này đều đã bị giết dưới làn bom đạn.
Ta thấy chị Lưu Bích đã quên nỗi đắng cay riêng của mình để hoàn toàn lo an ủi người phụ nữ bất hạnh nói trên. Đó quả là một gương đáng kể về tình huynh đệ!

 

TN18-C94: CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN

Lc 12: 13-21
Lm Anrê Nguyễn Hữu Nghĩa
1. Xem ra có vẻ mâu thuẫn.
 

Nếu xét về mặt văn chương thì đoạn văn của Vua Co-he-lét, con Vua Đavit, đạt đểm rất thấp vì đã sử: TN18-C94

Nếu xét về mặt văn chương thì đoạn văn của Vua Co-he-lét, con Vua Đavit, đạt đểm rất thấp vì đã sử dụng đến 7 lần chữ PHÙ VÂN. Nhưng về nội dung, ông đã lột trần được một sự thực phủ phàng là "Tất cả chỉ là phù vân". Phù là trôi nổi, huyền ảo. Vân là mây. Phù vân là bèo dạt mây trôi, là hay thay đổi, chóng qua, chóng tàn. Mọi của cải vật chất trên trần gian này, kể cả cuộc sống của mỗi người chúng ta đều là phù vân. Báo chí ngày 26-07-01 đưa tin về vụ hoả hoạn đã thiêu rụi 92 căn nhà tại chợ Năm Căn với biết bao tiếng rên xiết kêu la thảm khốc, có trường hợp muốn đi đến quyên sinh vì tiếc của. Ý thức được điều này, Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Rồi đến lượt Đức Giê-su khuyên chúng ta:" Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải hễ ai được dư gia, thì mạng sống người ấy nhờ của cải mà được bảo đảm đâu" (Lc 12, 15). Câu nói của Chúa Giêsu rất đúng ngay cả nghĩa đen. Thật vậy, chính những người giàu có mới bị trộm cướp thanh toán, hãm hại, khi đi đường hoặc lúc canh khuya. Nhưng có người lại chủ trương "Có thực mới vực được đạo". Nghĩa là trước tiên ta cần phải sống, rồi sau đó mới có khả năng làm gì thì làm. Ý tưởng này cũng đúng vì sống là nhu cầu căn bản của con người. Ai cũng ham sống, sống hạnh phúc và sống thọ. Điều kiện ắt có và đủ cho sự sống là tài sản. Vậy muốn sống phải ra sức làm ra tài sản. Như thế, xem ra có sự mâu thuẫn giữa Lời khuyên của Chúa Giêsu và cuộc sống thực tế cần vật chất của chúng ta ?

2. Không lẫn lộn giữa mục đích và phương tiện.
Suy nghĩ kỹ, ta không thấy có chút mâu thuẩn nào giữa thực tế cuộc sống của ta và lời khuyên của Chúa Giêsu. Ngài còn khuyên chúng ta hãy sống và sống dồi dào. Đức đương kim Giáo Hoàng Phaolô II, trong bài đáp từ với Tổng Thống Hoa kỳ G.W. Bush dịp hội kiến ngày 23-07-01 vừa qua, đã nói lên ưu tư của mình về sự chia sẻ của cải vật chất cho mọi người:"... trong đó, toàn dân chúng thế giới đóng góp cách tích cực cho nền thịnh vượng kinh tế chung và cũng phải được chia sẻ hậu quả của chúng ..." Không lẽ Đức Giáo hoàng, khi cổ vũ cho việc phát triển kinh tế vật chất, là đi ngược lại với Tin Mừng? Thực ra, Diều Ngài phát biểu còn nói lên Tin Mừng là đàng khác:"...phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam..."(Lc 12, 15a). Tham lam là vơ vén tích lũy của cải về chỉ cho riêng mình, cho đất nuớc và dân tộc mình. Hãy tạo cho mọi người được quyền hưởng lợi từ quả đất là mái nhà chung. Như vậy, không có mâu thuẫn giữa nhu cầu vật chất của con người và lời chỉ dạy của Chúa Giêsu. Chỉ còn một điều là ta không nên lẫn lộn giữa mục đích và phương tiện. Ai cũng ước ao cuộc sống mình trường tồn mãi mãi. Vậy cuộc sống viên mãn mai hậu là mục đích. Còn cuộc sống đời này, với nhu cầu tiền bạc tài sản của nó, phải được xem là phương tiện. Nếu chúng ta xem nó là mục đích thì tự ta, ta đã mâu thuẫn với chính ta, vì:" Trăm năm nào có gì đâu. Chẳng qua một đám cỏ khâu xanh rì. (Kiều).

3. Một số phương thế giúp chúng ta hướng thượng.
- Trước hết, chúng ta phải thấy rõ một sự thực là xã hội mà ta đang sống hết sức thực dụng. Thực dụng có nghĩa la ta chỉ nhắm ích lợi hoặc hiệu quả trước mắt,không cần suy nghĩ tới hệ quả lâu dài. Người ta có thể đổi lấy một chút hư ảo của làn khói bạch phiến để suốt đời vật vả vì nó. Người ta có thể biển thủ để có nhiều tiền cho những canh bạc thâu đêm suốt sáng mà bất chấp những ngày sau đó có thể vào tù ra khám hay thậm chí dựa cột như ông Phạm Huy Phước trước đây. Xa hơn nữa, "Con người" có thể đắm chìm theo những đam mê của cái "CON" (thú tính) mà không đếm xỉa gì đến hậu vận của kiếp "NGƯỜI" sau khi chết. Chúng ta cần phải lội ngược dòng trong sự lạc quan. Có những thân hình lúc la lúc lắc theo điệu nhạc cuồng nhiệt dưới ánh đền sân khấu thì cũng có những con người đang thầm lặng quì chầu trước Thánh Thể để múc nguồn sống vô tận.
- Kế đến, nếu chúng ta nghĩ rằng sự chết đến bất cứ lúc nào, có thể là trong phút giây sắp tới, ta sẽ bớt tham lam của cải vật chất hơn, bớt ham muốn giành dân lất đất hơn. Kinh nghiệm cho thấy, sau mỗi lần vào nhà thương ung bướu, tính tình chúng ta trầm lại, suy tư.
- Cuối cùng, ta nên chiêm niệm Chúa Giêsu trần trụi trên khổ giá. Ngài đã được nâng lên khỏi đất sau khi vứt bỏ tất cả những gì khong cần thiết. Ngài chỉ giữ lại một THÂN XÁC PHỤC SINH.

Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã hứa cùng con rằng, khi nào Chúa bị treo lên khỏi đất, Chúa sẽ kéo mọi sự lên cùng Chúa. Giờ đây xin Chúa thực hiện lời hứa ấy với con. Xin cho con luôn can đảm dành sự ưu tiên cho những gì thuộc thượng giới. Sự can đảm này chính là một bảo chứng cho con được vào cõi trường sinh. Amen.

 

TN18-C95: ĐI TÌM HẠNH PHÚC

Lc 12: 13-21
Lm Giuse Nguyễn Minh Chánh
 

Sống ở đời, thường chúng ta hay nghĩ đến cái mục đích trước mắt là có tiền. Vì thường những: TN18-C95

1/ Sống ở đời, thường chúng ta hay nghĩ đến cái mục đích trước mắt là có tiền. Vì thường những hoạt động của con người từ việc lớn đến việc nhỏ cũng phải cần đến tiền : Xây nhà thờ, xây bệnh vịên, xây trường học, sinh nhật, cưới hỏi, từ thiện ... tất cả đều phải có tiền.
Từ chỗ định hướng tiền là tất cả, nên đa số người đã dồn hết mọi sức lực, khả năng, tâm trí, thời giờ để tìm mọi cách kiếm tiền càng nhiều thì càng tốt. Cho dẫu những việc họ làm đem lại thiệt hại thất thoát cho người khác, cho tập thể hay đất nước, hay dù những hành vi của họ trái ngược với lương tâm, vối nhân phẩm của một con người, nhưng nếu là lợi nhuận thì họ sẵng sàng làm tất cả, miễn sao có tiền là tốt rồi!
2/ Khi con người bị chìm đắm vào những cái giới hạn mau qua nơi trần thế là vật chất và tiền bạc. Liệu những lời khuyên của thánh Phaolô trong Bài đọc II mà chúng ta vừa nghe, khi Ngài nói: " Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chớ đừng nghĩ đến những sự dưới đất", còn có tác dụng gì cho cuộc sống nữa hay không? Vì bằng những lời khuyên này, Thánh Phaolô giúp chúng ta khẳng định dứt khoát, ngoài việc đi tìm những nhu cầu cần thiết để phục vụ cho những nhu cầu trần thế là điều tự nhiên và chính đáng. Nhưng con người còn phải ra sức tìm kiếm những điều cao hơn, ý nghĩa hơn, đó là chính Chúa. Vì chỉ có Chúa mới là hạnh phúc vĩnh cửu của con người, là tương lai cuối cùng mà con người phải đạt tới.
3/ Chúa Giêsu đã khẳng định: "Ta đến để cho họ được sống và sống dồi dào". Sự sống mà Chúa Giêsu mang đến cho trần gian không phải là sự sống vật chất chóng qua nay còn mai mất. Nhưng sự sống Chúa mang đến cho con người đó là sự sống bất diệt, sự sống trường sinh không bị giới hạn bởi sự chết. Vì thế trong cuộc sống nếu con người chỉ bon chen tìm kiếm thật nhiều tiền, hay nhờ đồng tiền để tìm mọi cách kéo dài sự sống tạm bợ, mà bỏ qua thái độ dấn thân tích cực để tìm sự sống vĩnh cửu, thì đó là một sai lầm rất lớn. Cái sai lầm này không ít người đã mắc phải, vì họ nuôi bản thân mình bằng những cái giả dối, phù phiếm, tạm bợ. Những người này chính là những người khờ dại.
4/ Theo Kinh thánh, những người khờ dại là những người chỉ biết chọn theo những gì trước mắt nhất thời, không nghĩ đến tương lai lâu dài của kiếp sống, không nghĩ đến kết thúc mai sau của kiếp người. Đây cũng là cách sống của ông phú hộ trong bài Tin mừng hôm nay. Ông ta chỉ còn gang tấc để sống trên trần gian, nhưng vẫn tham vọng mải mê đâp phá những kho lẫm nhỏ, xây những kho lẫm lớn, để chất chứa những của cải mà ông đã thu góp từ lâu. Phải nói ông phú hộ này quá ưu tiên và quá bận tậm cho cuộc sống sắp tàn lụi của mình. Vì ông biết rằng chẳng bao lâu nữa là mình sẽ hết đời, vì vậy ngu gì mà không tận hưởng những ngày còn lại, dại gì mà không tìm mọi cách để hưởng thụ những gì mình đã làm ra. Quả thật, những dự định ấy đã dẫn ông phú hộ đi vào một tương lai mù mịt. Ông ta nghĩ rằng mình sẽ kéo dài thêm được sự sống nơi của cải thật nhiều mà ông đang có. Nhưng thật ra những gì mà ông đang tìm kiếm đó là những thứ không có sự sống, thậm chí còn giết chết sự sống của ông. Vì Chúa đã nói " được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì có ích gì".
5/ Bao lâu ở đời này thì Chúa vẫn muốn chúng ta đạt được mọi thành công trong cuộc sống. Thành công mà chúng ta đạt được chắc chắn không phải là tiền bạc của cải, và đó cũng không phải là cái Chúa mong muốn. Vì của cải vật chất không phải là mục tiêu tối hậu của con người, nhưng nó là phương thế để dẫn con người đạt đến hạnh phúc thật sự. Chúa đã từng khuyên chúng ta trước hết không phải là lo đi tìm những điều tạm bợ nơi vật chất làm mất định hướng cho kiếp sống, nhưng Ngài khuyên chúng ta: " trước hết hãy lo tìm kiếm nước Thiên Chúa, còn các thứ kia Chúa sẽ thêm cho". Trong cuộc sống nếu có tiền của thật nhiều mà con người vẫn đói khát Chúa thì đó cũng chỉ là"hư không", cuộc sống chỉ mang dáng vẻ bên ngoài, không có phẩm chất đích thực của người kitô hữu. Cuộc sống như thế chưa gọi là thành công nhưng là thất bại. Vì không có Chúa thì làm sao được đứng vững, làm sao được tồn tại, làm sao được hạnh phúc, làm sao được sống dồi dào.
Như vậy, trên đường đi tìm hạnh phúc cho cuộc sống sẽ không có gì đem lại hạnh phúc thật cho chúng ta là ngoài Chúa. Và Chúa sẽ đáp lại ước vọng thâm sâu nhất của con người. Vì Chúa đã từng nói: " Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra". Hay trong diễn từ về Bánh Hằng Sống Chúa đã khẳng định: " Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống. Ai ăn Thịt Ta và uống và Máu Ta sẽ được sống muôn đời".
Hôm nay khi chúng ta tin và đã khám phá con đường để có hạnh phúc thật cho kiếp sống hôm nay và tương lai, đó là chính Chúa. Như vậy không lẽ nào chúng ta lại không hy sinh, không can đảm từ bỏ những con đường tìm kiếm hạnh phúc lầm lẫn nơi vật chất trong quá khứ, để đi theo con đường chắc chắn, con đường đưa đến hạnh phúc muôn đời là chính Chúa. Chúng ta sẽ đạt được thành công khi hằng ngày chúng ta khiêm tốn dấn bước tìm kiếm Chúa là hạnh phúc muôn đời nơi Lời Chúa và Thánh Thể trong thánh lễ.

 

TN18-C96: BIẾT THẾ NÀO ĐỦ LÀ ĐỦ VẬY!

Lc 12: 13-21
Lm. Jude Siciliano, OP.
 

Chúng ta đang ở giữa mùa Hè. Ý nghĩ chủ yếu nổi lên trong đầu óc chúng ta là nghỉ ngơi, tắm biển: TN18-C96

Chúng ta đang ở giữa mùa Hè. Ý nghĩ chủ yếu nổi lên trong đầu óc chúng ta là nghỉ ngơi, tắm biển, thư giãn, thịt nướng, cắm trại, du lịch... Chúng giúp chúng ta quên đi những bận tâm, lo lắng hàng ngày hoặc những tin tức đau đầu của thế giới như chiến tranh Irắc, Dafur, những tranh giành quyền lợi chính trị, thương mại, thuốc nổ, bom tự sát giết hại những sinh mạng vô tội. Những vấn đề luân lý nan giải: buôn bán ma túy, phụ nữ, trẻ em, nạn nạo phá thai, mãi dâm, Sida... Chúng ta cần một thời gian nghỉ hè, và sách Giảng viên (Qoheleth) trong bài đọc 1, xem ra không bắt chúng ta phải lưu tâm đến những chuyện nhức óc như vậy: phù vân, mọi sự thảy đều phù vân. Xin cảm ơn ông Qoheleth.
Cho nên, người ta không ngạc nhiên khi thấy sách Giảng viên không được yêu chuộng như các sách khác của Kinh Thánh. Theo một số học giả, nó mang tính yếm thế, tiêu cực, buồn rầu và phù phiếm. Giọng điệu như vậy hiếm thấy trong văn chương tôn giáo, chứ đừng nói chi được thiên hạ yêu thích. Tuy nhiên, những tâm hồn nghiêm nghị thường hay đọc nó, bởi vì nó nhìn cuộc đời thực tế cách lương thiện, chân tình, không bôi son, trát phấn, hoặc thi vị hoá những chất liệu thô sơ của cuộc sống hàng ngày. Bạn chẳng hề trông đợi như vậy. Nhưng chúng ta ước ao làm sao cho đức tin luôn đẹp đẽ, lạc quan, vui tươi ư? Xin suy nghĩ lại. Đức tin đi vào cuộc sống cũng phải theo nhịp điệu bình thường lúc thế này, khi thế khác. Có lẽ vì vậy mà Qoheleth đã xâm nhập vào văn chương Thánh Kinh. Tác giả mô tả điều ông trông thấy, suy tưởng, như biến cố xảy ra, mộc mạc, không tô vẽ thêm nếm, nhất là khi nó chẳng thanh tao thánh thiện, mà ngược lại, tội lỗi và giả dối.
Đọc Qoheleth, chúng ta có cảm tưởng ông là một thầy giáo đáng kính của ngành giáo dục tại Giêrusalem, hay Palestin. Ông viết về những phần thưởng mà cuộc đời ban tặng cho các kẻ thành công. Ông đặt câu hỏi: liệu những thành công đó có xứng đáng cho những nỗ lực của đời người không? Kẻ tiểu nhân thì đồng ý như vậy, nhưng hạng quân tử có lẽ không! Bài đọc hôm nay là đoạn mở đầu của quyển sách và khởi sự bằng câu hỏi lớn: liệu những gì và những nơi mà chúng ta đặt an toàn của mình vào có thật là vững chắc không? Vì phù vân! mọi sự thảy đều phù vân, phù vân nối tiếp phù vân. Những điều chúng ta theo đuổi, những nơi chúng ta đầu tư thời giờ, năng lực, sức khoẻ... liệu có an toàn hay chỉ là phù phiếm? Là giả tạo? Là luống công? Phí uổng? Ngay cả những kiến thức và sự khôn ngoan đời này chẳng phải là phù vân sao? Những kẻ làm lụng vất vả, khổ công thu tích tài sản, rồi chẳng biết sau này nó đi đâu? Như vậy không phù vân lắm sao? Lao động vất vả cả đời để người khác thụ hưởng thành quả, không phải là dại dột và ngu xuẩn ư? Điều quan trọng, Qoheleth nhắn nhủ là, nên đặt hy vọng vào quan điểm của những ai thay đổi thái độ khi nghe xong các điều ông giãi bày, tức kính sợ Thiên Chúa, tuân giữ các lệnh truyền của Người. Đó là tất cả tài sản của một đời người (11,9; 12,8). Bởi lẽ, Thiên Chúa tuyên án cho mỗi công việc dù tốt hay xấu với tất cả tính chất của nó: công khai hay dấu diếm (12,13-14). Đó là điều mọi người cần phải nhớ khi đọc cuốn sách. Nó kết thúc bằng một lời bình luận của viên thư ký ấn hành: "Ông Côhêlét đã sưu tầm để tìm kiếm những lời hay ý đẹp, rồi viết ra những điều chân thật" (Gv 12,10). Nhưng không hiểu có được chúng ta lưu tâm mà sửa chữa cuộc sống hay chỉ như nước đổ lá khoai? Nghe rồi quên ngay, chẳng cải tiến được chi cả tư duy cũng như hành động. Thật là uổng phí Lời Chúa.
Ông Qoheleth nhìn vào thế giới chung quanh ông, và thấy ra thiên hạ có quá nhiều tự mãn, tự phụ, điêu ngoa, giả dối và bất lương. Thí dụ: tôn giáo hình thức, xã hội thối nát, các lãnh đạo thờ ơ, thu vén, bất công không dám sửa chữa, tháo thứ không màng chỉnh đốn. Hơn nữa, ông còn cương quyết tố cáo cả những ai tự nhận mình là khôn ngoan, thông thái, thầy dạy dân đen, những kẻ quá kiêu căng cậy dựa vào khôn ngoan và kiến thức của mình: "Tôi nhận ra tất cả là việc Thiên Chúa làm. Quả thật, con người không thể khám phá những gì được thực hiện dưới ánh mặt trời, cho dù có ra công tìm kiếm cũng không biết nổi, cho dù người khôn ngoan nói là đã làm được, thì người ấy cũng chưa khám phá ra đâu" (8,17).
Bài đọc hôm nay, ông Qoheleth tiến công vào sự khôn ngoan qui ước của thời ông. Ông lưu ý họ: người tốt, việc tốt, đời sống chân thật chưa chắc gì đã được thưởng công. Trong khi kẻ không làm chi cả để xứng đáng với phần thưởng, thì lại được hưởng dùng thành quả: "Quả thế, có người đã đem hết khôn ngoan và hiểu biết làm việc vất vả mới thành công, rồi lại phải trao sự nghiệp của mình cho một người đã không vất vả gì hết. Điều ấy cũng là phù vân và là đại hoạ". Côhêlét mô tả thế giới thời ông, khoảng 300 năm trước Chúa Giêsu, nhưng cũng là cho chúng ta hôm nay, thế kỷ 21.
Cho nên, đọc lại Qoheleth vào giữa mùa Hè này quả là cần thiết, khi chúng ta đang có chút xả hơi, vui hưởng không khí trong lành ở những nơi mát mẻ, ăn thức ăn lạ, bồi bổ tâm hồn, thể xác. Ngõ hầu suy nghĩ lại mình đã đặt an toàn đời mình ở đâu? Liệu có phải trên cát bãi biển hay đá tảng Lời Chúa? Phúa Am hôm nay cho chúng ta câu trả lời.
Chúa Giêsu kể dụ ngôn về người giầu có ngu ngốc. Dụ ngôn của bầu khí giữa mùa Hè, nhưng cũng là của "mọi thời gian" cho những linh hồn giống như ông Qoheleth. Cuộc sống con người chẳng qua cũng chỉ là một "mùa" của thời tiết vũ trụ. Theo tiêu chuẩn thời ấy, thì người phú hộ quả là đầy đủ, ông có thể an hưởng cuộc đời hạnh phúc: "Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa màu?" Ông ta đã giầu có mà còn xem ra được giầu có hơn, vì tài sản đang tăng lên? Ai mà không ước ao được vị trí của ông? Ruộng vườn đang có những vụ bội thu: "Ta sẽ phá cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ lúa thóc, của cải vào đó!" Xin mường tượng trang trại của ông ta: dư thừa biết bao. Và dĩ nhiên, người ăn kẻ ở đông, phục vụ tốt, bàn ăn toàn những thịt thà, bánh trái, cao lương mỹ vị; trong tủ vải vóc, áo quần, tiền nong, vàng bạc... chẳng thiếu món chi. Như vậy, cuộc đời ông thật là an toàn. Nhưng ông chưa thật sự hài lòng, vẫn còn thiếu thốn điều chi? Đó là kho lẫm rộng lớn hơn để chứa nổi lòng tham của ông. Ong giống như một người trúng số độc đắc hàng tỷ đôla những chẳng biết làm chi với số tiền ấy.
Thế rồi xảy ra một chuyện bất ngờ. Sự đời bao giờ cũng vậy, vừa lúc người ta cảm thấy hài lòng nhất, hoàn hảo nhất, an toàn nhất thì xảy ra tai hoạ. Thiên Chúa nói với ông: "Đồ ngu, nội đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những của cải ngươi sẽ về tay ai?" Nghe giống như Qoheleth phải không quí vị? An toàn của chúng ta ở đâu? Nơi tiếng tăm, danh vọng, chức quyền, tài sản vật chất hay ở trong tay Thiên Chúa? Phải chăng đây cũng là bài học cho chúng ta? Điều chi quan trọng đối với Thiên Chúa? Vàng bạc hay lòng kính sợ Người? Câu trả lời nằm ngay trong câu hỏi. Thế nhưng tuyệt đại đa số con người thời nay không nhận ra. Họ cứ cho là vật chất, nhiều tiền lắm bạc. Vì thế chúng ta thường được nghe về quan chức này, thương gia nọ, chỉ một đêm thấy mình ngồi trong tù, vì tham ô, gian lận, để có được "an toàn" nơi vật chất. Đúng là đồ ngốc! Ay là chưa kể hình phạt đời sau.
Chúa Giêsu kể dụ ngôn này để trả lời cho hai anh em kiện tụng nhau về của cải lúc khởi đầu bài Phúa Âm: "Hỡi người kia, ai đã đặt tôi làm trọng tài phân chia tài sản cho các ngươi?" Rồi Người thêm: "Anh em phải coi chừng, phải giữ mình tránh khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu!"
Trên thực tế, lòng khao khát có thêm tiền bạc, tiện nghi, danh vọng không phải là hiếm nơi các môn đệ tân thời của Chúa. Kể cả linh mục, tu sĩ đã khấn từ bỏ, thanh thoát theo tinh thần Phúc Âm. Đức Kitô rất thực tế. Người ta bảo Ngài là một tôn sư khôn ngoan, nhắc nhở mọi linh hồn cuộc sống này ra sao! Ngài dạy dỗ mọi người phải đặt an toàn của mình trên những giá trị nào. Như trên, Ngài nói không phải nó được phó thác vào của cải vật chất, nhưng kho tàng của chúng ta phải ở nơi Thiên Chúa, vào những điều Thiên Chúa cho là hệ trọng. Bài đọc thánh Phao Lô cũng viết cho các tín hữu thành Côlôsê: "Thưa anh em, anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự trị bên hữu Thiên Chúa.... Chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc đời này". Đó là vấn đề chúng ta cần quan tâm và cân nhắc. Nơi khác, Chúa phán: "Được lời lãi toàn thể thế gian mà thiệt mất phần rỗi mình, thì nào được ích chi?" Lời nói quá rõ ràng và chân lý thật vững chắc. Chúng ta phải làm những lựa chọn khôn ngoan, không phải chiếc áo tốt, bột giặt an toàn, xe hơi hảo hạng mà những gì liên quan đến hạnh phúc đích thực. Hay chúng ta chỉ cần sống đạo đức như Chúa chỉ bảo, khắc giải quyết được tranh chấp, không cần đến Ngài.
Câu chuyện sau đây có thể giúp chúng ta một vài tư tưởng. Nó đã có rất nhiều phiên bản, nhưng bản gốc là của nhà văn Nga, L. Tolstoy: Một nông dân nghèo tên là Pakhom. Ong ta chỉ có mỗi nỗi lo âu: không có đất canh tác. Ông nói: ước chi tôi có một mảnh đất nhỏ, tôi sẽ chẳng còn sợ ai. Rồi ông tìm ra một miếng đất đề bán. Ông thu tích mọi đồng xu trong nhà mua miếng đất đó. Palahom trở nên địa chủ của 40 mẫu đất. Ông vui mừng quá đỗi. Cánh đồng của ông xem ra xanh tươi hơn, hoa quả xem ra ngọt ngào hơn. Rồi có một người mách bảo ông có khu đất 80 mẫu muốn bán. Pakhom cảm thấy đất mình đang có nhỏ bé. Ông bán đi, thêm tiền mua đất mới. Mảnh đất thật là tuyệt hảo, màu mỡ và bằng phẳng hơn, sản xuất được nhiều hơn. Ít lâu sau, Pakhom lại thấy không hài lòng vì khu đất chưa tương xứng với sức lực của mình, ông có thể làm việc nhiều hơn nữa để kiếm nhiều tiền.
Vận may đã đến, báo chí đăng tin ở phía Nam còn nhiều vùng đất bỏ trống chưa có ai canh tác. Ông cất công ra đi. Quả nhiên, có một bộ lạc, dân số ít mà đất đai lại rộng. Tù trưởng sẵn lòng cấp đất cho ông miễn là ông đặt một số tiền cọc và chạy trọn một ngày, được bao nhiêu diện tích thì lấy. Nếu ông không về tới điểm xuất phát ngày hôm ấy thì kể là mất số tiền cọc. Pakhom đồng ý. Sáng sớm hôm sau, ông dậy từ trước bình minh và bắt đầu chạy, không kịp ăn uống gì. Những dân làng cưỡi ngựa chay theo để cắm mốc. Tới khuya thì ông về đến điểm xuất phát. Nhưng vừa tới nơi, ông lăn xuất mặt đất tắt thở, quá kiệt sức vì tham lam. Dân làng chôn xác ông tại chỗ đất đó.
Vậy cái gì là quan trọng đối với Pakhom? Với chúng ta? Người Anh có câu: "enough is enough", biết thế nào đủ là đủ vậy. Người Trung Hoa cũng nói: "tri túc, tiện túc hà thời túc. Tri nhàn, tiện nhàn hà thời nhàn", cũng trong một ý nghĩa. Xin Thiên Chúa mở mắt cho mỗi người, ngõ hầu nhìn thấy những sự giầu có chung quanh mình mà tạ ơn Chúa, vì Ngài đã cho nhân loại một cuộc sống phong phú không loài nào có được. Từ đấy, chúng ta bỏ đi những ảo vọng của lòng tham lam, ích kỷ mà đùm bọc, chia sẻ cho nhau, để đời sống trên trái đất ngày thêm tươi đẹp hơn. Amen.

 

TN18-C97: PHÙ VÂN

Lc 12: 13-21
Lm Phêrô Trần Thanh Sơn
 

Trong một dịp hành hương về La Vang, tôi có dịp ghé thăm một số lăng tẩm của các vua triều: TN18-C97

Trong một dịp hành hương về La Vang, tôi có dịp ghé thăm một số lăng tẩm của các vua triều Nguyễn tại cố đô Huế. Theo các nhà chuyên môn về văn hoá nghệ thuật, thì các lăng tẩm tại Huế là "một thành tựu rực rỡ nhất của nền kiến trúc cổ Việt Nam" (Phan Thuận An, Lăng tẩm Huế, một kỳ quan, NXB. Thuận Hoá, 2003, trang 5). Các lăng tẩm này chiếm một vùng đất thật rộng lớn, chẳng hạn như lăng Gia Long rộng đến 20 ha, lăng vua Minh Mạng rộng 15 ha, hay nhỏ nhất là lăng vua Khải Định cũng chiếm tới 0,5 ha (Sđd, Bảng đối chiếu các lăng tẩm triều Nguyễn ở Huế). Đó là chưa nói đến hàng chục héc-ta trong một tổng thể chung quanh với biết bao khe suối, sông ngòi, núi non cùng hướng về các lăng tẩm này.
Vậy mà khi đến nơi tham quan, tôi thấy tất cả đều nhuốm một vẻ hoang tàn, tất cả chỉ còn lại như là một di tích lịch sử. Thậm chí nơi lăng vua Minh Mạng, người ta cũng chẳng biết chính xác mộ của nhà vua ở đâu. Chính vua Tự Đức trong bài thơ "Ngẫm sự đời" cũng đã viết: "Sự đời ngẫm nghĩ nghĩ mà ghê, sống gởi rồi ra lại thác về. Khôn dại cùng chung ba thước đất. Giàu sang chưa chín một nồi kê. Tranh giành trước mắt, mây tan tác. Đày đoạ sau thân, núi nặng nề. Muốn đến hỏi tiên, tiên chẳng bảo, gượng làm chút nữa để mà nghe" (Sđd, trang 13).
"Khôn dại cùng chung ba thước đất". Vâng, với kinh nghiệm của mình, chắc hẳn quý OBACE. cũng thấy rằng: cho dù khi còn sống người đó là ai, làm gì đi chăng nữa, thì đến khi từ giã cõi đời cũng chỉ còn lại "ba thước đất". Cũng chính vì thấy rõ sự giới hạn của thế giới vật chất mà tác giả sách Giảng Viên đã nói: "Hư không trên các sự hư không, hư không trên các sự hư không, và mọi sự đều hư không". Và tác giả đã nêu lên lý do tại sao ông cho rằng tất cả là hư không, đó là "vì kẻ này làm việc vất vả trong sự khôn ngoan, hiểu biết và lo lắng, rồi phải để sự nghiệp lại cho người ở nhưng không".
Ngay giờ phút này, nếu bình tâm nhìn lại, chúng ta cũng sẽ thấy không chỉ là các vua triều Nguyễn, hay những người đương thời với tác giả sách Giảng Viên, nhưng ai trong chúng ta cũng thường bị cám dỗ lo tìm kiếm, thu gom và tích trữ tài sản cho mình. Lời anh thanh niên hỏi xin Chúa : "xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài cho tôi" chính là tiếng nói thầm kín nằm sâu trong lòng mọi người, đó là dư âm của cuộc cám dỗ đầu tiên khi Satan dụ dỗ người ta muốn bằng Thiên Chúa, qua việc chiếm hữu tài sản: bởi lẽ, tài sản làm cho người ta thấy mình có sức mạnh, vì nếu Chúa là Đấng làm được mọi điều Ngài muốn (x. Tv 115,3), thì chúng ta vẫn nghĩ rằng: người có tiền "mua tiên cũng được".
Sức mạnh của tài sản còn làm cho chúng ta tưởng mình được tự do, có thể làm được mọi sự mình muốn. Sức mạnh của tiền bạc làm cho người ta thấy mình không còn lệ thuộc ai, ngay cả Chúa, như lời tác giả Thánh vịnh: "Nó đích thị là người chẳng lấy Chúa làm nơi ẩn náu, nhưng chỉ tin cậy vào đống tiền đống của" (Tv 52,9).
Nhưng chẳng ai ngờ chính người tham lam lại là người phải chịu nô lệ cho một ông chủ thật ác nghiệt. Cả cuộc sống của họ là một cái vòng luẩn quẩn mà tác giả câu truyện ngắn "Cuộc phỏng vấn Chúa" đã khéo léo trình bày qua câu trả lời của Chúa về điều mà Chúa thấy ngạc nhiên nhất nơi con người : "...Họ chịu mất sức khoẻ để kiếm tiền rồi lại chịu mất tiền để phục hồi sức khoẻ; họ lo âu về tương lai đến nỗi quên mất hiện tại để rồi không được sống trong cả hiện tại lẫn tương lai...". Đúng là một vòng luẩn quẩn không có lối ra. Khi chưa có của thì mất ăn mất ngủ để tìm cho có, nhưng khi có rồi thì lại lo giữ của, ăn ngủ không yên đúng như lời tác giả sách Giảng Viên trong bài đọc một: "Suốt ngày của họ đầy sự đau khổ gian truân, và ban đêm lại không được yên lòng". Thật, chẳng còn ông chủ nào tàn ác hơn là tiền của, bởi vì nó bắt người ta phải làm đến kiệt sức để mua lấy của phù vân, để rồi đến khi từ giã cuộc đời, họ chẳng mang theo được điều gì: "Kìa thiên hạ thấy người khôn cũng chết, kẻ ngu đần dại dột cũng tiêu vong, bỏ lại tài sản mình cho người khác (Tv 49,11)
Chính vì thấy rõ sự giới hạn, chóng qua của tiền bạc và của cải, nên khi thấy người thanh niên đến xin mình làm trọng tài để chia tài sản, Đức Giêsu đã bảo với anh ta rằng: "Các ngươi hãy coi chừng giữ mình tránh mọi thứ tham lam: vì chẳng phải sung túc mà đời sống được của cải đảm bảo cho đâu". Xác tín được sự giới hạn của cuộc sống trần thế và sự vĩnh cửu của đời sống mai hậu, thánh Phaolô cũng mời gọi chúng ta: "Nếu anh em đã sống lại với Đức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chớ đừng nghĩ đến những sự dưới đất". Khi bảo chúng ta "đừng nghĩ đến những sự dưới đất", thánh nhân không muốn chúng ta chỉ suốt ngày đọc kinh, mà không lo làm việc để nuôi sống thân xác, nhưng thánh nhân muốn chúng ta đừng để cho tiền bạc làm chủ cuộc sống của chúng ta, vì "tiền bạc là một tên đầy tớ tốt, nhưng lại là một ông chủ tồi". Cách cụ thể hơn, thánh Phaolô nhắc bảo chúng ta: "Còn sống trên địa cầu, anh em hãy kiềm chế các chi thể anh em, là sự gian dâm, ô uế, dục tình, đam mê xấu xa và hà tiện, tức là sự thờ phượng thần tượng. Anh em chớ nói dối với nhau, anh em hãy lột bỏ người cũ cùng các việc làm của nó".
Sống trong hiện tại, làm công việc thường ngày cách chu đáo, nhưng không quá lệ thuộc vào nó, đó chính là điều mà các thánh tử đạo Việt Nam, cha ông chúng ta đã làm, đã sống. Trong chuyến hành hương về La vang đó, tôi cũng có dịp đến kính viếng quê hương của hai thánh tử đạo Việt Nam là thánh Anrê Nguyễn Kim Thông ở Gò Thị - Quy Nhơn, và thánh Anrê Phú Yên tại Mằng Lăng - Phú Yên. Các thánh chính là những người sống đồng thời với các vua triều Nguyễn và cũng là những nạn nhân của các cuộc bách hại trong thời gian này. Thế nhưng giờ đây, cho dù không có những lăng tẩm lớn lao như các vua, các thánh vẫn để lại cho chúng ta là con cháu các ngài những di sản thật lớn lao, đó là một gương mẫu bất khuất về niềm tin. Các ngài đã không để mình bị lôi kéo, mua chuộc bởi tiền tài, danh vọng, bởi lẽ các ngài biết rõ "mọi sự đều là hư không", và chẳng là gì so với cuộc sống vĩnh cửu. Các ngài đã sẵn sàng đánh đổi mọi sự, kể cả mạng sống mình để bày tỏ tình yêu của mình đối với Thiên Chúa, và làm chứng cho mọi người biết về một đời sống vĩnh cửu mai ngày.
Chính vì thế, mãi cho đến hôm nay, vẫn còn đó từng đoàn người hành hương đến kính viếng nơi các ngài đã sống lúc còn sinh tiền, để mong nhờ lời chuyển cầu của các ngài, họ cũng nhận được sức mạnh để đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống hiện tại, thẳng bước về tương lai. Chớ gì nhờ lời bầu cử của các thánh Tử đạo Việt Nam, từng người, từng gia đình trong giáo xứ chúng ta tuy vẫn cố gắng làm việc hàng ngày, nhưng không quá lệ thuộc vào của cải đời này, và sẵn sàng chia sẻ với anh chị em mình. Nhờ đó, chúng ta có thể dẫn đưa ngày càng nhiều người về với Chúa là Nguồn Chân Lý và là Nguồn Sống thật. Amen.

 

TN18-C98: ÔNG PHÚ HỘ NGU DẠI

Lc 12: 13-21
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

Sống ở trần gian này, ai cũng muốn cho mình có một cuộc đời sang trọng,sung túc.Do đó, nhiều: TN18-C98

Sống ở trần gian này, ai cũng muốn cho mình có một cuộc đời sang trọng,sung túc.Do đó, nhiều người đã cắm cúi, đã nhắm mắt làm ăn dù cho có bất chính miễn họ có nhiều tiền lắm của.Nghệ thuật làm giầu chỉ nghĩ tới cuộc sống tạm bợ đời này là một điều vô nghĩa bởi vì giầu sang, phú quí mấy rồi con người cũng phải chết. Không ai có thể dùng tiền của để mua thuốc trường sinh cho cuộc sống của mình. Chúa Giêsu khuyên chúng ta rắng :" Hãy dùng tiền của ở trần gian này mà làm giầu trước mặt Thiên Chúa" ( Lc 12, 21 ).
Vâng, cuộc sống trần thế chỉ là cuộc đời tạm bợ, mau qua. Cuộc sống này nay còn mai mất. Nên, trước mặt Thiên Chúa con người chỉ là tạo vật, chỉ là con người khó nghèo. Dù rằng con người có giầu có, có nhiều nhà lầu xe hơi, có nhiều kho lẫm, có nhiều két sắt, có nhiều đô la, có nhiều tiền của, có nhiều tài khoản ở ngân hàng, nhưng con người vẫn chỉ là số không. Bởi vì, những của cải vật chất này rồi cũng qua, không ai có thể sống mãi ở trần gian để hưởng thụ của cải vật chất. Con người chỉ thực sự là giầu có khi họ bán hết gia sản, của cải để phân chia cho người nghèo, như chàng thanh niên giầu có mà Đức Giêsu đã gợi ý cho anh trong Tin Mừng, nhưng anh ta không mảy may làm được. Hôm nay, trong đoạn Tin Mừng này, Chúa Giêsu lại phán :" Hãy bán của cải mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá " ( Lc 12, 33 ). Thực tế, nhiều người ngày nay vẫn đang muốn hưởng thụ và không muốn chia sẻ như ông phú hộ mà đoạn Tin mừng của thánh Luca 12, 13-21 đề cập tới. Sở dĩ ông phú hộ bị coi là người ngu dại bởi vì ông vấp phải hai lầm lỗi. Lầm lỗi thứ nhất, ông phú hộ không nhìn xa hơn chính mình, không thoát ra khỏi chính mình.Chính vì thế, ông luôn dùng chữ mình, mình sẽ làm thế này, mình sẽ làm thế kia, và rồi mình sẽ bảo linh hồn mình rằng. Ông phú hộ là kẻ ích kỷ, coi mình là cái rốn, là trung tâm của vũ trụ, ông chỉ biết có mình mà không biết đến người khác. Lý do thứ hai ông phú hộ được gọi là ngu dại vì ông chỉ nghĩ tới đời sống tạm bợ, mau qua mà không nghĩ tới số phận, tới đời sống vĩnh cửu mai sau. Ông phú hộ chỉ biết làm giầu nhưng ông không biết của đời và ngay cuộc sống của mình cũng chỉ là tạm bợ, mau qua. Như hoa sớm nở chiều tàn. Như cây phù du, như hoa phù du xem đẹp nhưng thật mau úa, tàn phai. Thực tế, ông phú hộ không hiểu được rằng tất cả những gì ông đang có, ông không có thể đem chúng theo vào cuộc sống vĩnh cửu mai sau được. Ông phú họ tự nhủ :" cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã " (Lc 12, 19 ). Tự nhủ như thế, ông phú hộ cứ tưởng đời sống trần gian sẽ kéo dài, cái chết không bao giờ tới với ông. Ông đã lầm và không không thể lấy đem theo những của cải ông có vào đời sống vĩnh cửu. Ông đã lấy của người nghèo phần của họ như thánh Tôma Aquinô quả quyết :" Những người giầu đã đánh cắp của người nghèo khi họ tiêu xài phung phí những của cải dư thừa " hoặc như thánh Basiliô đã nói :" Tấm bánh mà bạn giữ lại là của người đói khổ, chiếc áo mà bạn cất trong vali là của kẻ trần trụi ".
Tóm lại, người khôn là người biết xây nhà mình trên đá, người biết tỉnh thức và chờ đợi như năm cô trinh nữ khôn ngoan Tin Mừng đã thuật lại; " Họ mang đèn mà lại mang dầu đi theo ". Người khôn là người biết chia sẻ, người khôn ngoan không xây nhà trên cát và trên cầu.
Marc Sevin viết :" ...Thánh sử Luca mời gọi mỗi người chúng ta chiêm ngưỡng Chúa Giêsu để trở nên " giàu có trong Thiên Chúa", để không còn sợ hãi nào cho sự sống đời sau. Bởi vì những gì đang làm đầy những kho lẫm của bản thân chúng ta không bảo đảm được gì, mọi sự chỉ là phù vân. Tốt hơn hết là làm cho chúng trở nên trống rỗng. Thật vậy, khi so sánh với kho tàng trên Nước Thiên Chúa, của cải ở đời này chỉ là khổ đau.Các Tông đồ đã được hưởng gia nghiệp thần linh nhờ Chúa Giêsu Phục Sinh...Không chờ đợi gì nữa, họ tập trung của cải lại thành của chung, nhất là cho đi vì Nước Trời mọi điều họ đang có và mọi việc họ đang làm ".
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm lòng tin cho chúng con, để chúng con luôn biết chia sẻ cho những người nghèo, để chúng con hiểu ra rằng của cải trên thế giới không được phân chia đồng đều. Xin cho những người giầu biết phân chia của cải cho những người nghèo.Xin cho những người giầu trên thế giới biết chia sẻ cho các nước nghèo, những người cùng cực, những người đang nằm chờ chết. Amen.

 

TN18-C99: ĐIỀU GÌ LÀM CHO TÔI NÊN GIẦU CÓ TRƯỚC MẶT CHÚA

Lc 12: 13-21
Lm Jude Siciliano OP
 

Bài trích sách Giảng Viên hôm nay quả là một thứ "bi quan!". Sách này không nói nhiều đến Thiên: TN18-C99:

Bài trích sách Giảng Viên hôm nay quả là một thứ "bi quan!". Sách này không nói nhiều đến Thiên Chúa, cũng không nói đến một viễn cảnh về đời sống sau cái chết. Theo sách Giảng Viên, tất cả những gì chúng ta có là những gì đang ở ngay trước mắt: ai mà biết được đâu là kế hoạch Thiên Chúa dành cho chúng ta? "Tất cả chỉ là phù vân!"
Tác giả gọi mình là Côhelét và theo ông thì chẳng có gì tốt đẹp tồn tại sau cái chết. Vào thời Côhelét viết tác phẩm này thì niềm tin của người Dothái chưa có khái niệm gì về đời sống sau khi chết. Vì thế, theo quan điểm của ông Côhelét, thì tất cả những gì chúng ta có là những gì ta hiện đang sở hữu. Sau khi một chết đi, tất cả tài sản ấy sẽ thuộc về "một người đã không vất vả chi hết". Chính quan điểm bi quan của Côhhelét khiến cho sách của ông khó được chấp nhận trong quy điển Hípri. Điều đã cứu quyển sách này chính là phần kết luận của nó (12,9-14), "Hãy kính sợ Đức Chúa và tuân giữ các mệnh lệnh Người truyền, đó là tất cả đạo làm người, vì Thiên Chúa sẽ đưa ra xét xử tất cả mọi hành vi, kể cả những điều ẩn dấu, tốt cũng như xấu".
Tôi có quen một người đã lập gia đình nhưng suốt 20 năm vì tính chất công việc khiến anh phải sống xa nhà thường xuyên. Sau nhiều năm làm việc, anh được thăng chức với các vị trí ngày càng được trả lương cao hơn; điều này cũng đồng nghĩa với việc anh phải đi nhiều hơn. Anh vắng nhà ngày một nhiều. Mỗi sáng thứ Hai anh lại bay đến một thủ đô của một nước khác, và mãi tối thứ Sáu mới về nhà. Hầu như chỉ mình vợ anh nuôi dạy hai đứa con trai. Cô ấy nói, "suốt hai mươi năm qua tôi như bà mẹ đơn thân". Rồi họ phải đi đến phòng tư vấn hôn nhân để mong cứu vãn đời sống hôn nhân của mình. Côhelét đưa ra một câu hỏi mà ai trong chúng ta cũng phải phản tỉnh: "Sau tất cả những điều ấy là gì?"
Sách Giảng viên không nói nhiều về Thiên Chúa. Chủ yếu sách nói đến những hướng dẫn lối sống - và với một lối bi quan yếm thế. Nhưng đối với "người thực tế" nó có thể lại là một lời thức tỉnh để kiểm điểm lại cuộc sống của mình và xét xem đâu là những ưu tiên. Phải chăng tất cả chỉ là phù vân? Điều gì dẫn chúng ta đến với Tin mừng.
Quý vị đã bao giờ dự một bữa tiệc ngạc nhiên chưa? Quý vị đến nhà một người trong gia đình mình, và nghĩ rằng, để dự một bữa cơm thân mật. Nhưng, khi quý vị đến nơi, gia đình và bạn thân của quý vị thình lình bật đèn lên và la to "Ngạc nhiên chưa!" Đó chính là bữa tiệc ngạc nhiên dành cho quý vị. Có những điều kinh ngạc khác mà chúng ta không mong nó xảy ra. Những tin xấu luôn đến theo kiểu kinh ngạc; bất chợt sự thể trở nên xấu đi. Trong một thế giới tiên nghi, một lối sống hay mong ước bỗng nhiên bỉ thổi bay. Tất cả sụp đổ chỉ sau một cú điện thoại, hay sau khi bác sỹ đọc phim X-quang hay kết quả thử máu.
Đức Giêsu thích dùng dụ ngôn mà giảng dạy; không phải bằng cách áp dụng luật hay quy tắc, nhưng bằng cách lôi kéo trí tưởng tượng của ta. Đó là cách Người nói: "Này, hãy cân nhắc... Xem xét đời sống của anh... đưa ra kết luận". Đây chính là trường hợp của dụ ngôn hôm nay.
Có người muốn Đức Giêsu giải quyết chuyện tiền nong. Có phải đó là suy nghĩ của họ về Đức Giêsu, rằng Người là một trong những thày dạy luật và là người phân xử những vấn đề gia đình? Nhưng, Người nhân cơ hội này để giáo huấn họ qua một dụ ngôn, với hy vọng kéo mọi người đến một vấn đề sâu hơn. Người cho các thính giả một cơ hội để suy nghĩ về chính đời sống, dự định của họ và lối họ nhìn cuộc đời.
Đức Giêsu mở đầu dụ ngôn thế này: "Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi". Ai mà chẳng muống giống như ông ấy? Quá an toàn! Giàu có! Hình ảnh bàn ăn thừa mứa những cao lương mỹ vị của ông khác biệt với bàn của khách. Tin tốt lành là, năm ấy được mùa nhưng ngặt một nỗi kho thóc lại nhỏ quá. Ai mà chẳng muốn gặp "vấn nạn" như vậy. Ôi một vấn nạn dễ chịu! Cứ như thể trúng số độc đắc và một mình ôm trọn số tiền thưởng ấy. Chỉ có một "vấn nạn" là làm thế nào tiêu hết số tiền ấy.
Sai lầm là, ngay khi ông này đang ngất ngây trong những ý nghĩ thoải mái thế và vạch ra những kế hoạch, dự định thì - "Không ngờ!" Thiên Chúa hiện ra và định đoạt số phận ông, "Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?" Lời này như vọng lại dư âm của bài đọc thứ I: Khi ông chết đi, ai sẽ là người hưởng tất cả tài sản mà ông này đã thu góp?
Lưu ý: dụ ngôn không nói Thiên Chúa cất mạng sống ông đi. Vậy liệu kẻ hung dữ sẽ đoạt mạng ông ấy có phải là người trong gia đình ông; những người làm công bị trả lương rẻ mạt; hay những kẻ thèm khát sự giàu sang của ông? Chúng ta không biết, nhưng điều được biết rõ ràng là ngay trong sự hài lòng và tự mãn thì xảy ra một sự sụp đổ hoàn toàn và mọi thứ đều tiêu tán. Tôi nhớ lại câu chuyện "Hát Mừng Giáng Sinh" của Charles Dicken. Sau khi Ebenezer Scoorge chết thì đám quản gia và người ở giành giật lấy đi tất cả giường chiếu và bất cứ thứ gì mà họ lôi đi được "...vậy những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?"
Điều gì khiến ông phú hộ buồn rầu? Một trong những vấn nạn của ông là chẳng có ai trong thế giới của ông. Ông tự nói với chính mình. Ông có vợ không? Bà có thể sẽ nói gì? Con cái ông đâu? Trong mối bận tâm của ông, thiếu vắng một cộng đồng nhân loại. Thiên Chúa gọi ông là đồ ngốc - chỉ mình ông tự cố vấn cho mình, một "tên ngốc"
Chúng ta là một phần của cộng đoàn. Người khác cũng cần liên hệ đến những quyết định của ta, nhất là khi những quyết định ấy ảnh hưởng đến họ. Có một thi sỹ từng nói rằng: "không ai là một hòn đảo". Trong mối quan tâm của ta cũng cần phải có mặt của tha nhân. Những kẻ làm công có chia sẽ sự giàu có của ông không? Ông phú hộ này không biết đâu là giới hạn. Bao nhiêu thì đủ? Bao nhiêu là quá nhiều? Xe thế nào thì sang? Nhà thế nào mới to? Cần mấy chiếc xe hơi? Mấy cái TV?... Khi ta bước vào "phòng tư vấn" để xem xét đời sống và cả những dự định tương lai, thì ta sẽ mang ai vào trong cuộc đối thoại này? Khi chúng ta quyết định muốn "thêm nữa", thì điều gì sẽ xảy ra cho môi trường?
Ông phú hộ bị tài sản của mình làm mờ mắt. Ông nghĩ chúng bảo đảm cho hạnh phúc hiện tại và tương lai của ông. Ông gọi tài sản của mình là "những sự tốt lành". Một số còn xem đó là "ân huệ" - nhưng liệu những thứ chúng ta gọi là "ân huệ" có thực sự là như thế không? Những người khác chỉ có ít của cải, nhưng không phải là những thứ "tốt lành" của ông phú hộ, lại có thể là những người giàu thực sự: như dụ ngôn cho thấy, trong "sự quan trọng đối với Thiên Chúa". Điều mà chúng ta cần suy niệm hôm nay là: điều gì là quan trọng đối với Chúa? Và tôi sẽ làm gì với điều đó? "Giàu có trước mặt Chúa" nghĩa là gì?
Trong ánh sáng của dụ ngôn hôm nay, được "giàu có trước mặt Thiên Chúa" có thể là: nhìn của cải trong cái nhìn về nhu cầu của người khác; không chỉ tự mình quyết định điều thiện hảo; nhận thức sáng suốt điều Chúa muốn trước khi tôi hành động; nghĩ đến cái giá mà người khác phải trả vì quyết định của tôi; không đặt tin tưởng nơi những thứ chóng qua; xem trọng sự giàu có mà mình có nơi những tương quan với tha nhân và việc họ bị ảnh hưởng thế nào vì quyết định của tôi.
Tôi có bao nhiêu tài sản không quan trọng, tôi đến dự Tiệc Thánh Thể này vì đói khát Thiên Chúa và đường lối của Người. Tôi biết ơn vì những ân huệ thực sự: cụ thể như việc đủ ăn và hoa màu ruộng đất. Nhưng cũng còn biết ơn vì đức tin mang lại cho tôi cái nhìn sáng sủa để biết khi nào là đủ và ai mới là gia tài đích thực của tôi. Điều gì làm cho tôi nên giàu có trước mặt Chúa?
Chuyển ngữ : Anh em HV Đaminh Vò Vấp
Nguồn vietcatholic.org

 

TN18-C100: Mức độ của đời sống như là giá trị lớn nhất

(Luca 12,13-21 – CN XVIII TN - C)
1.- Ngữ cảnh
 

Những lời Đức Giêsu ngỏ với các môn đệ trước mặt một đám đông (Lc 12,1-12.22-34) bị cắt ngang: TN18-C100

Những lời Đức Giêsu ngỏ với các môn đệ trước mặt một đám đông (Lc 12,1-12.22-34) bị cắt ngang bởi lời thỉnh cầu của một người trong đám đông để xin Đức Giêsu can thiệp vào một vụ tranh tụng giữa anh ta và người anh liên hệ đến chuyện gia tài (12,13-15). Sự cố này lại là dịp để Đức Giêsu kể Dụ ngôn Ông phú hộ (cc. 16-21). Như thế, đề tài chuyển đi từ những lời nói về việc thụ hưởng cho bản thân đến những thái độ đối với của cải trần thế (12,13-34): “Phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam” (c. 15). Bài dụ ngôn tiếp theo có thể được coi như một bài bình luận cho câu nói của Đức Giêsu về sự tham lam (c. 15).
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành ba phần:
1) Một vụ kiện (12,13-15);
2) Dụ ngôn Ông phú hộ (12,16-20);
          3) Nhận định kết luận của Đức Giêsu (12,21).
3.- Vài điểm chú giải
- Thưa Thầy (13): Bởi vì vấn đề chia gia tài được bàn đến trong Bộ Ngũ Thư (chẳng hạn Đnl 21,15-17; Ds 27,1-11; 36,7-9), một vị tôn sư về đạo giáo hoặc một kinh sư là những con người thích hợp để tham vấn.
- Này anh (14): Dịch sát là “này người” (anthrôpe, hô-cách của anthrôpos, “người”; x. 5,20). Từ này thường được dùng theo dạng này để từ chối, hay diễn tả sự dè dặt. 
- tham lam (15): Từ Hy Lạp pleonexia thường có trong những đoạn văn khuyến thiện của Tân Ước (Rm 1,29; 2 Cr 9,5; Cl 3,5; Ep 4,19; 5,3; 2 Pr 2,3.14). Đây là sự ham muốn có thêm nữa, quá mức cần thiết (x. 1 Tm 6,10).
- Thiên Chúa bảo ông ta (20): nghĩa là trong một giấc mơ ban đêm. Ông này được chính vị Chúa tể của sự sống ngỏ lời với, trong khi ông sắp xếp chương trình sống không có Ngài.
- ngốc (20): Từ hy-ngữ aphrôn có nghĩa là “kẻ mất trí, ngu dốt, ngu ngốc, điên, rồ dại” (x. 11,40).
- người ta sẽ đòi lại mạng ngươi (20): Động từ aitousin ở ngôi thứ ba vô định số phức tương đương với một thái bị động thay tên Thiên Chúa: “Thiên Chúa sẽ đòi lại mạng ngươi”.
- cho mình (21): nghĩa là không phải cho người khác, như người nghèo, quả phụ, trẻ mồ côi, người ngụ cư (x. Đnl 24,17-22; 2 Cr 6,10b).
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Một vụ kiện (13-15)
Đức Giêsu lấy khởi điểm để giáo huấn là một vụ kiện về vấn đề chia gia tài. Rất có thể đây là một người em trong gia đình không đồng ý với cách quản lý và thụ hưởng chung gia tài, nên muốn có phần của mình để dùng theo cách độc lập. Trong những vụ tranh cãi như thế, người ta thường đến gặp các kinh sư, để xin soi sáng vấn đề. Đức Giêsu dứt khoát từ chối can thiệp. Yêu cầu của người ấy và yêu cầu của Đức Giêsu ở trên hai bình diện khác nhau. Người ấy thì muốn có một phần sở hữu độc lập. Đức Giêsu thì dựa vào đó để nói về tương quan của con người với của cải. Chính các tranh chấp về gia tài thường đưa ra ánh sáng một liên hệ chặt chẽ với sở hữu và thường đưa đến những mối thù nghịch kéo dài suốt đời. Điều này có lẽ khiến chúng ta hiểu vì sao ở đây Đức Giêsu khuyến cáo chống lại lòng tham lam mạnh mẽ đến thế. Của cải sở hữu không phải là giá trị cao nhất, khiến ta phải hy sinh mọi sự để có cho bằng được. Đức Giêsu sẽ minh họa điểm này bằng dụ ngôn tiếp theo.
* Dụ ngôn Ông phú hộ (16-21)
Với dụ ngôn này, Đức Giêsu muốn cho thấy rằng giá trị của các của cải trần thế rất  nhỏ bé, nên bám víu vào đó là một tính toán sai lầm.
Theo một quan niẹm nào đó về cuộc sống, hoàn cảnh Đức Giêsu phác ra có thể coi là lý tưởng. Con người này giàu có. Không hề có nguy cơ là của cải của ông sẽ giảm thiểu đi, bởi vì ông đang nhắm tới một vụ thu hoạch dồi dào. Vấn đề duy nhất ông đặt ra là: “'Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu!”. Đây là một vấn đề cũng dễ giải quyết. Như thế, ông này có trong tay các phương tiện để sống một cuộc sống không phải bận tâm lo lắng; ông có thể tự do sống theo ý thích, trong sự sung túc. 
Đức Giêsu cho thấy là Thiên Chúa và cái chết sẽ ập vào cuộc đời ấy như thế nào. Cái chết đột ngột đảo lộn tất cả các toan tính nhắm thụ hưởng an toàn trong nhiều năm trời. Tất cả những gì đã thu tích được và tất cả những gì người ta đã dự phóng cách hợp lý trở thành vô giá trị. Đức Giêsu cho biết rằng một cuộc sống chỉ dành cho chuyện ăn uống và hưởng thụ tiện ích thì không có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Một người sống như thế thì không giàu có trước mặt Thiên Chúa. Đức Giêsu khẳng định rằng để đạt được sự sống đời đời, cần có tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với người thân cận (10,25-37). Chỉ nhờ đi trên nẻo đường này, người ta mới trở thành giàu có trước nhan Thiên Chúa.
   * Nhận định kết luận của Đức Giêsu (21)
Câu kết luận của Đức Giêsu cho hiểu rằng có lẽ đời sống trần thế tùy thuộc các của cải trần thế, nhưng đời sống này không được đảm bảo hay đạt được mức thành toàn nhờ các của cải ấy. Chúng ta phải nhận được sự thành toàn cuộc đời chúng ta từ lòng nhân lành của Thiên Chúa.
+ Kết luận
Đức Giêsu không quan tâm đến những điểm tranh luận phụ thuộc; Người chỉ cứu xét những câu hỏi lớn liên quan đến sự sống: đâu là điều quan trọng nhất? Ta có thể tín nhiệm vào điều gì? Điều gì ta phải tìm cách đạt cho được? Ta phải sử dụng cuộc sống và dấn thân thế nào để đạt được mục tiêu cuộc đời? Đức Giêsu nói rõ ràng các của cải vật chất không thể đảm bảo cho cuộc sống, còn sự sung túc, thoải mái, không thể là nội dung của cuộc sống được. Sự thành toàn chỉ được một mình Thiên Chúa ban cho mà thôi. Vậy trong cuộc sống này, chúng ta có thể và phải tính sổ với Thiên Chúa. Chúng ta phải chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình trước mặt Ngài. 
5.- Gợi ý suy niệm
1. Vấn đề thu hoạch dồi dào đến nỗi người ta không biết để của cải ở đâu đã trở thành phổ biến, vào thời đại hôm nay. Mỗi người cần phải tự hỏi theo ý mình, thế nào là cuộc sống lý tưởng, mình vận dụng sức lực cho chuyẹn gì, nếu lại không phải là “mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!”. Ở bên ngoài các giá trị này, còn những giá trị và mục tiêu nào có thể nên được nhắc đến? 
2. Cái chết “phá rối”, ai cũng biết. Người ta tìm mọi cách để đối phó với nó. Người ta cản bước nó tối đa bằng các cách tri liệu y khoa. Người ta nghĩ tới nó ítchừng nào tốt chừng đó. Người ta tránh để cho lòng mình bị xúc động trước cái chết của người khác. Dĩ nhiên người ta vẫn không tránh được cái chết. Do đó, người ta phải khai thác tối đa thời gian của cuộc sống được ban cho ta. Cũng phức tạp, nhưng cách nào đó, người ta có thể “đạt thắng lợi” trên cái chết. Nhưng làm thế nào đạt thắng lợi trên vị Thiên Chúa “phá rối”? Người ta cũng tìm cách tránh xa Ngài, quên Ngài đi. Người ta có thể không nói đến Ngài nữa và sống y như thể không có Ngài. Tuy thế, người ta không thể tránh né Ngài kiểu tiêu cực. Phải sống làm sao để cuộc sống của mình có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Người nào chỉ sống cho những nhu cầu riêng và những đòi hỏi vật chất, thì đã chết trong cuộc đời này rồi, vì đã bị cô lập trong tính ích kỷ của mình. Tình trạng cô lập này trở nên trọn vẹn và được xác nhận bằng cái chết.
3. Cuộc sống viên mãn chỉ hệ tại tình yêu. Chỉ cuộc sống nào nhắm đến tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân thì mới là cuộc sống trung thực. Chỉ một cuộc sống như thế mới có thể được Thiên Chúa chuẩn nhận và được Ngài đưa đến chỗ thành toàn với ân huệ là sự sống đời đời. Chúng ta đã nhận đời sống từ Đấng Tạo hóa, thì chúng ta cũng phải nhận cả ý nghĩa của đời sống từ Ngài. Và đối với Ngài, ý nghĩa của đời sống không phải là tiện nghi, mà là tình yêu.
Lm FX Vũ Phan Long, ofm

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây