Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 TN-C Bài 151-155

Thứ bảy - 19/01/2019 10:06
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 TN-C Bài 151-155: Tiệc cưới Cana
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 TN-C Bài 151-155: Tiệc cưới Cana
TN 2-C Phần IV Bài 151-155: Tiệc cưới Cana
TN2-C151: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 2 TN C.. 1
TN2-C152: HỌ HẾT RƯỢU RỒI 3
TN2-C153: Chúa đến cứu vãn hạnh phúc cho gia đình. 6
TN2-C154: CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN.. 8
TN2-C155: ĐẠO CHÚA LÀ ĐẠO CỦA NIỀM VUI 17
 

TN2-C151: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 2 TN C

A. Chúng con yêu quí,

Chúng con vừa nghe một đoạn Tin Mừng của Thánh Gioan. Tin Mừng hôm nay thuật lại một TN2-C151

Chúng con vừa nghe một đoạn Tin Mừng của Thánh Gioan. Tin Mừng hôm nay thuật lại một câu chuyện xảy ra vào những ngày đầu tiên trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu. Câu chuyện một đám cưới tại Cana, một thành phố nhỏ gần quê hương Nagiareth của Chúa.
Cha đố chúng con đám cưới hôm nay có gì đặc biệt hơn nhiều đám cưới chúng ta thường gặp trong cuộc sống hằng ngày của mọi người?
- Thưa đám cưới hôm nay có sự tham dự của Chúa Giêsu và Đức Maria, mẹ của Chúa!
- Rất đúng!
Đọc kỹ bài Tin Mừng chúng con còn thấy gì nữa không?
Xem ra gia đình này thuộc loại khá giả vì có tới 6 cái chum lớn. Mỗi cái có thể chứa được khoảng 80 - 120 lít nước dùng để rửa tay theo thói tục của người Do Thái. Có lẽ gia chủ đã không nắm vững được số người dự tiệc nên không dự trù đủ số rượu cho đám tiệc, chính vì thế mà bữa tiệc bị thiếu rượu bất thình lình.
Đối với người Do thái thì việc thiếu rượu trong một bữa tiệc nhất là tiệc cưới thì là một điều xỉ nhục và bẽ mặt với khách được mời dự tiệc và xóm làng. (Vì chúng con biết nước Do thái là nước trồng nho nên họ uống rượu rất nhiều. Bởi thế việc để cho một bữa tiệc thiếu rượu là một việc không thể tha thứ).
Cha hỏi tiếp chúng con: Đứng trước một việc hệ trọng như thế, ai là người đã phát hiện ra điều đó?
- Đức Mẹ.
Rồi với bản chất tế nhị và bén nhạy của một phụ nữ, Đức Maria đã nhận ra ngay sự bối rối, lo âu của gia chủ. Và Tin Mừng ghi lập tức Đức Mẹ đến với Chúa Giêsu và nói với Ngài: "Họ hết rượu rồi" (Ga.2,3).
Chúa Giêsu trả lời Đức Mẹ làm sao chúng con có nhớ không?
- Chúa trả lời: "Thưa bà, chuyện đó có can gì đến tôi và bà, giờ tôi chưa đến" (Ga.2,4).
Câu trả lời này có làm cho chúng con ngạc nhiên không?
Ngạc nhiên quá đi chứ! Xem ra có vẻ chói tai quá! Nhưng chúng con nên biết: Theo phong tục Do Thái, người con quen gọi mẹ là bà nơi công cộng, để tỏ ý kính trọng chứ không phải bất kính.
Đức Mẹ biết Chúa Giêsu chỉ nói thế thôi, chứ không phải là Chúa từ chối, nên Ngài bảo các gia nhân: "Chúa bảo gì, các anh cứ làm theo" (Ga.2,5). Quả thật, Chúa Giêsu đã gọi gia nhân bảo đổ nước cho đầy 6 chum đó, rồi múc nước vừa đổ vào đưa cho người quản tiệc.
Người quản tiệc vừa thử xong thì vô cùng ngạc nhiên vì không phải là nước mà nước đã biến thành rượu. Và Tin Mừng kể: "Chúa Giêsu làm dấu lạ đầu tiên này để bày tỏ vinh quang của Người và các môn đệ đã tin Người" (Ga.2,11).
B. Bây giờ cha hỏi chúng con: Phép lạ này nhắc nhở chúng ta điều gì ?
* Chẳng cần nói dài dòng, cha có thể trả lời ngay: Về vai trò của Đức Mẹ trong cuộc sống của chúng ta.
Cha kể cho chúng con câu chuyện này:
Cha Silvanus và mục sư Henry đến lâu đài Patien để xin hoàng tử trợ giúp tài chính cho mình. Linh mục Silvanus thì xin tiền xây nhà thờ, còn mục sư Henry thì xin tiền xây trường học. Đến nơi, họ được hoàng tử tiếp riêng từng người rất tử tế. Mục sư Henry được mời vào trước. Lát sau, khi bước ra, vẻ mặt của mục sư buồn xo vì không được trợ giúp gì cả. Đến lượt linh mục Silvanus vào. Một lúc sau, ông trở ra, vẻ mặt hớn hở tươi vui khác thường. Tay xách một túi tiền. Mục sư Henry thắc mắc hỏi vì sao mà linh mục lại được hoàng tử giúp vậy? Linh mục Silvanus cho biết:
- Lúc đầu, hoàng tử cũng từ chối tôi, nhưng khi tôi nhìn thấy hoàng hậu, tôi nhờ bà bầu cử cho. Được bà hoàng hậu nói giúp, lúc đó hoàng tử mới nhận lời bà yêu cầu mà giúp tôi.
Đấy chúng con thấy tiếng nói và sự bầu cử của người mẹ thật có giá trị như thế nào.
* Tiếp đến là sự có mặt của Chúa trong gia đình Chính nhờ chủ nhà mời Chúa Giêsu và các môn đệ đến dự tiệc cưới, mà Ngài đã ban cho ông một phép lạ đặc biệt. Qua việc tham dự tiệc cưới này, Chúa Giêsu đã thánh hóa và chúc phúc cho đời sống hôn nhân và gia đình, nhất là những gia đình biết mời Chúa đến.
Mẹ Têrêsa thành Calcutta, vị sáng lập dòng Nữ Tử Bác Ái, thường lập đi lập lại với những người nghe Mẹ rằng: "Tình yêu bắt đầu ngay từ trong gia đình". Một lần kia, Mẹ kể lại câu chuyện sau:
- Trong số các cộng tác viên của tôi, có một cặp vợ chồng kia trước đây sống rất hạnh phúc nhưng rồi chỉ một thời gian sau họ sống lạnh nhạt với nhau. Một hôm, cả hai đến gặp tôi. Tôi bảo:
- Tôi không hiểu tại sao anh chị có thể đem Chúa Giêsu đến với những người khác trong khi chính bản thân anh chị không thể đem Ngài đến cho nhau? Làm sao anh chị có thể nhận ra Ngài đang ẩn mình nơi những người nghèo khổ, trong khi anh chị không biết khám phá ra Ngài trong tâm hồn của nhau?. Thế rồi, cả hai bắt đầu cuộc tranh cãi gay gắt ngay trước mặt tôi. Họ dốc sạch bầu tâm sự và mọi tranh cãi giận hờn đã ôm ấp trong lòng từ bao lâu nay... Một lát, tôi bảo họ: "Thôi đủ rồi! Anh chị đã nói tất cả những gì cần nói với nhau rồi. Bây giờ anh chị  hãy vào Nhà thờ cầu nguyện và mỗi người hãy nói với Chúa Giêsu hiện diện trong nhà tạm những gì đã nói với nhau lúc nãy! Rồi tôi cùng đôi vợ chồng cùng bước vào nhà thờ, họ quỳ gối xuống gần bên nhau trước nhà tạm và thinh lặng... Một lúc sau, người chồng quay sang nhìn người vợ với tất cả sự trìu mến. Ông ôm lấy vợ và nói:
- Em là người yêu duy nhất trên đời của anh và là tất cả kho tàng quý giá của anh đang có...
Và từ hôm đó hai vợ chồng làm hòa cùng nhau, đồng thời trở thành những cộng tác viên đắc lực của tôi và là mẫu gương cho nhiều gia đình khác...
Lm. Giuse Đinh Tất Quý
 

TN2-C152: HỌ HẾT RƯỢU RỒI

1 Cr 12,4-11; Ga 2,1-12

Phép lạ đầu tiên tại tiệc cưới Cana, “bày tỏ vinh quang của Chúa Giêsu; và các môn đệ đã tin vào TN2-C152

Phép lạ đầu tiên tại tiệc cưới Cana, “bày tỏ vinh quang của Chúa Giêsu; và các môn đệ đã tin vào Người”. Phép lạ này là một trong những cách “hiển linh” của Chúa Giêsu mời gọi chúng ta bước theo Người, lắng nghe lời Người nói, nhìn ngắm những điều Người làm, để cũng như các môn đệ, chúng ta tin vào Người. 
Chúa Giêsu “bày tỏ vinh quang của Người” trong phép lạ đầu tiên tại tiệc cưới Cana. Vì theo một số người, trong các thứ tình yêu, tình yêu nồng nàn thắm thiết nhất, trước là tình cha mẹ dành cho con cái, sau là tình vợ chồng đối với nhau. Nếu so sánh hai thứ tình đó với nhau, bề ngoài thì tình yêu hôn nhân mạnh hơn, như sách Sáng Thế đã viết “Người nam sẽ lìa bỏ cha mẹ và khắn khít với vợ mình” (St 2, 24; x. Mt 19,5).
Bởi vậy, phép lạ đầu tiên tại tiệc cưới Cana không chỉ là một sự kiện Chúa Giêsu tham dự để chung vui và ban phúc lành cho cô dâu chú rể, mà còn minh chứng cho loài người biết Thiên Chúa yêu thương chiều chuộng nhân loại dường bao, nhất là khi có Thân Mẫu của Người hiện diện và can thiệp vào tình yêu này, dù “Giờ” của Người chưa đến. Ngày nay, Thân Mẫu của Người vẫn còn nói với chúng ta “Người bảo gì, con cứ việc làm theo”.
 Thống Hối  
 - Lạy Chúa, chúng con được mời gọi “Hãy ca mừng Thiên Chúa bài ca mới, hãy ca mừng Thiên Chúa đi, toàn thể địa cầu. Hãy ca mừng Thiên chúa, hãy chúc tụng danh Người”. Nhưng chúng con đã không hát ca mừng Thiên Chúa để “tường thuật phép lạ Chúa giữa chư dân”.
- Lạy Chúa, chúng con được mời gọi “Ngày ngày loan truyền ơn Người cứu độ. Tường thuật vinh quang Chúa giữa chư dân, và phép lạ Người nơi vạn quốc”. Nhưng chúng con đã không hát ca mừng Thiên Chúa để “tường thuật phép lạ Chúa giữa chư dân”.
- Lạy Chúa, chúng con được mời gọi “Hãy kính tặng Thiên Chúa, hỡi người chư dân bá tánh, hãy kính tặng Thiên Chúa quyền thế với vinh quang, hãy kính tặng Thiên Chúa vinh quang xứng với danh Người.” Nhưng chúng con đã không hát ca mừng Thiên Chúa để “tường thuật phép lạ Chúa giữa chư dân”.
 SUY NIỆM
I. Giai thoại : Cậu Karol Wojtyla lên 7 tuổi. Khi Mẹ cậu đang hấp hối, đứng bên giường, cậu khóc nức nở. Người mẹ nắm tay con ôn tồn nói : “Con đừng khóc, mẹ đây chỉ là vú nuôi con, khi Chúa rước người vú nuôi này về với Chúa, thì người Mẹ thật của con là Đức Maria xuất hiện, Ngài sẽ đích thân chăm sóc con”. Từ ngày ấy, cậu tỏ lòng sùng kính Đức Mẹ cách đặc biệt. Cậu Karol Wojtyla sau này chính là Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II.
Khi làm Giám Mục và sau làm Giáo Hoàng, Người chọn một gợi hứng từ suy tư của thánh Louis Grignion de Montfort “Totus Tuus ego sum” làm khẩu hiệu mục tử của mình. Khẩu hiệu đó là “Totus Tuus” – Tất cả con thuộc về Mẹ.
II. Thân mẫu của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã biết hướng dẫn con đến một ‘địa chỉ’ quan trọng trong cuộc sống. Địa chỉ ấy chính là  Mẹ Maria. Như trong Phúc Âm hôm nay, Mẹ Maria minh chứng lời giáo huấn của thân mẫu Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II ‘không sai’.
Phúc Âm hôm nay cho biết : Mẹ Maria, tuy là khách dự tiệc, nhưng Mẹ là người đầu tiên nhận ra tiệc cưới của đôi tân hôn hết rượu. Việc hết rượu trong tiệc cưới sẽ ảnh hưởng đến danh dự và hạnh phúc của đôi tân hôn, nên Mẹ đến cầu cứu với Chúa Giêsu cho đôi trẻ, và nói với Con mình: “Họ hết rượu rồi”. Vì Mẹ biết Chúa Giêsu là người duy nhất có thể cứu vãn tình thế cho đôi trẻ. Nhưng lời đáp trả của Chúa Giêsu lại làm cho chúng ta sửng sốt: “Tôi với bà có can chi? Giờ tôi chưa đến” (Ga 2,4).
Qua câu này Chúa Giêsu chỉ muốn xác định sứ vụ thiên tính của Người : Hoàn toàn muốn làm theo tôn ý Chúa Cha (x. Tv 39, 8-9; Dt 10, 9a). Trong Tin Mừng Gioan, “Giờ” của Chúa Giêsu là “Giờ” mà Người được tôn vinh khi bị treo trên Thánh Giá. Cuộc đời của Chúa Giêsu trên dương thế đều hướng về “Giờ” này. Chúng ta không biết Mẹ hiểu “Giờ” của Chúa Giêsu thế nào, nhưng Mẹ vẫn một mực hoàn toàn tin tưởng vào Con của Mẹ, Mẹ mong Con làm một điều gì đó: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5). Quả thật, Chúa Giêsu có bảo và các người giúp việc đã làm theo ý của Người.
Chúa Giêsu đã thực hiện một phép lạ đầu tiên trong cuộc đời công khai, tuy “Giờ” tôn vinh Người chưa đến. Nhờ sự can thiệp của Mẹ mà phép lạ Cana đã được thực hiện : sáu chum nước lã đã biến thành 700 lít rượu ngon, để đôi tân hôn và khách dự tiệc được trọn vẹn niềm vui.
Tường thuật này không phải đơn giản nói về một bữa tiệc cưới, nhưng còn nói về “dấu chỉ đầu tiên”, qua đó Chúa Giêsu “bày tỏ vinh quang của Người” để cho “các môn đệ tin vào Người” (Ga 2, 11). Tin Mừng Nhất Lãm dùng những từ “phép lạ, điềm kỳ” để nói về những việc lạ Chúa Giêsu đã làm, như chữa lành bệnh, cho kẻ chết sống lại...  Tin Mừng Thứ Tư lại dùng từ “dấu lạ” để nói về những phép lạ của Chúa Giêsu. “Phép lạ” và “điềm kỳ” nhấn mạnh đến bản chất của những sự kiện lạ lùng đã được thực hiện. Còn “dấu lạ” nhấn mạnh đến căn tính của Đấng thực hiện những việc lạ lùng. “Dấu lạ” là một việc lạ được dùng làm dấu chỉ nói cho chúng ta biết một điều gì đó thuộc căn tính của Chúa Giêsu hoặc Chúa Giêsu là Đấng nào.  Thí dụ Chúa làm phép lạ bánh và cá hóa nhiều để nuôi đám đông dân chúng (x. Ga 6), đó là dấu chỉ cho chúng ta thấy Người là Bánh ban sự sống; hoặc khi Chúa chữa lành một người mù bẩm sinh (x. Ga 9), thì phép lạ ấy là dấu chỉ nhờ đó chúng ta biết Người là Ánh sáng thế gian. 
Khi trình bày “dấu chỉ đầu tiên” này, thánh Gioan khẳng định Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai.  Qua Đấng Thiên Sai, Thiên Chúa khởi đầu một Kế Hoạch Mới, Kế Hoạch cứu độ trần gian.  Dấu lạ đầu tiên này đã tỏ ra quyền năng Thiên Chúa hoạt động nơi Chúa Giêsu để thực hiện Kế Hoạch Mới. Nước đựng trong sáu chum bằng đá được dùng cho nghi thức thanh tẩy của người Do thái, nay trở thành rượu ngon, là một biểu tượng nói lên việc Đấng Thiên Sai đến trần gian (x. Is 25,6; Am 9,14; Ge 3,18; Ga 2,10). Đấng Thiên Sai đến để Dân Người được “như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ” (Is 62,5 – x. BĐ I). Đây là kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa muốn Chúa Giêsu trở nên Đấng Thiên Sai hiến thân chịu chết để tẩy xóa tội lỗi và ban ơn cứu độ cho  nhân loại.  
III. Qua phép lạ tiệc cưới Cana, Mẹ Maria được mời gọi tham dự vào “Giờ” của Chúa Giêsu, để Mẹ “nối dài ánh mắt yêu thương” của Chúa Giêsu đến nhân loại, sớm phát hiện ra những cảnh bi thương bất hạnh của con người, mà nói với Chúa Giêsu  “Họ hết rượu rồi!”
Xưa kia là Mẹ Maria, nay là mỗi Kitô hữu, cũng được mời gọi tham dự vào “Giờ” của Chúa Giêsu như thánh Phaolô nói, là “có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí… Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung” (x. 1 Cr 12, 4-7 – BĐ II). Mẹ Maria và mỗi Kitô hữu đều có sứ vụ là “nối dài ánh mắt yêu thương” của Chúa Giêsu đến nhân loại, sớm phát hiện ra những cảnh bi thương bất hạnh của con người, mà nói với Chúa Giêsu  “Họ hết rượu rồi !”
Sứ vụ (đặc sủng) của chúng ta là loan báo Tin Mừng giữa dòng đời trong bổn phận thường ngày. Bao cảnh bi thương bất hạnh của con người, đó chính là tình trạng “hết rượu” giữa các cuộc vui. Bên Thánh Thể Chúa Giêsu, theo gương Mẹ Maria, chúng ta thưa với Người “Họ hết rượu rồi !” Và qua Lectio divina, chúng ta biết được ý muốn của Chúa Giêsu như lời Mẹ dạy “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”
M. FranÇois De Sales, An Phước,O.Cist.
 

TN2-C153: Chúa đến cứu vãn hạnh phúc cho gia đình

 - Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Gia đình đôi tân hôn tại Ca-na bị thiếu rượu khi tiệc cưới đang vui khiến cho Mẹ Maria lo lắng. TN2-C153

Gia đình đôi tân hôn tại Ca-na bị thiếu rượu khi tiệc cưới đang vui khiến cho Mẹ Maria lo lắng. Mẹ liền vận động Chúa Giê-su cứu giúp đôi tân hôn thoát khỏi cảnh éo le khó xử này.
So với cảnh thiếu rượu tại tiệc cưới Ca-na và những hậu quả của nó, thì hiện nay, nhiều gia đình lâm phải những thứ thiếu thốn còn nghiêm trọng hơn, gây ra những hậu quả tai hại hơn rất nhiều nên cần được Chúa Giê-su và Mẹ Maria đến trợ giúp.
Sau đây là những thiếu thốn chính:
- Thiếu thuận hoà: Vợ chồng, con cái kình cãi nhau liên tục, gia đình lâm vào cảnh chiến tranh, xô xát, bầu khí gia đình căng thẳng ngột ngạt, mỗi người trong nhà đều cảm thấy mất an vui, mất hạnh phúc đến nỗi ai cũng muốn thoát ly khỏi cảnh đau buồn đó.
- Thiếu nhịn nhục và tha thứ: Khi có chuyện xung đột hay lỗi lầm, người trong cuộc không ai biết nhận lỗi về mình, mặc dù ai cũng có lỗi. Rồi người này đổ lỗi cho người kia, người kia oán trách người nọ… Thế là giận hờn nhau, xích mích nhau… Hậu quả là cơm không lành, canh không ngọt, bầu khí gia đình trở nên ngột ngạt khó thở và không ai muốn ở lại trong gia đình đó.
- Thiếu quan tâm chăm sóc nhau: Khi cha già mẹ yếu nằm bệnh cả mấy ngày, bỏ cơm bỏ cháo… con cháu không quan tâm chăm sóc. Chồng lao động nặng nhọc, vợ chẳng an ủi một lời; vợ làm việc quần quật suốt ngày lo cho cha mẹ đau yếu, lo cho chồng cho con… mà chồng chẳng đoái hoài, cứ mải lo đàn đúm rượu chè với bè bạn… Hậu quả là gia đình trở thành như một quán trọ, người nhà như khách trọ, không còn tình nghĩa với nhau, không ai tìm được hạnh phúc gia đình. 
- Thiếu lòng tôn trọng nhau: Vợ chồng xem nhau như tôi tớ trong nhà… chứ không phải là bạn trăm năm. Thay vì nhẹ nhàng trong lời ăn tiếng nói, tế nhị trong cách cư xử, hai vợ chồng đối xử thô bạo với nhau, quát tháo, hạch xách nhau… 
Ngoài ra có rất nhiếu thứ thiếu thốn khác tương tự làm cho gia đình dễ dàng tan vỡ, hạnh phúc của những ngày đầu thành hôn đã vỗ cánh bay xa.
Tất cả những thiếu thốn nêu trên đều do thiếu thốn cơ bản là thiếu tình yêu. Câu thề hứa long trọng trong ngày thành hôn: “Thề hứa yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày (từng giờ từng phút) trong suốt cuộc đời” hoàn toàn bị vất bỏ.
Khi tình yêu vợ chồng, tình yêu gia đình không còn nữa, thì gia đình biến thành nơi hoang lạnh, trở thành bãi chiến trường, trở thành một thứ địa ngục trần gian… Nếu không được cứu vãn kịp thời, thì mọi người trong nhà phải chịu cảnh bất hạnh triền miên, hồn không an, xác không mạnh... Thế là bệnh tật đến sớm, tuổi thọ bị cắt ngắn rất nhiều.
Hôm xưa tại tiệc cưới Cana, Mẹ Maria âu lo khắc khoải khi biết gia đình đôi tân hôn thiếu rượu và Mẹ đã tìm cách cứu chữa. Hôm nay, khi thấy gia đình con cái của Mẹ thiếu nhiều thứ có nguy cơ gây ra mất hạnh phúc gia đình, gây tan vỡ hôn nhân, thì Mẹ lại càng lo âu hơn. 

Làm sao cứu vãn gia đình khỏi những nguy cơ tan vỡ?
Muốn cứu vãn gia đình thì phải mời Chúa đến và hễ người bảo gì phải làm theo. 
- Điều thứ nhất là hãy mời Chúa đến: Mời Chúa đến không chỉ là đặt tượng ảnh Chúa trên bàn thờ, mà chủ yếu là mời Chúa đến ngự trị trong tâm hồn, làm vua trong gia đình và mọi người trong nhà đều phải quy phục Chúa.
- Điều thứ hai là thực hành Lời Chúa như lời Mẹ Maria dạy: “Hễ Ngài bảo gì thì phải làm theo.”
Chúa Giê-su bảo các gia đình làm gì để cứu vãn hạnh phúc gia đình?
Chúa bảo: “Những gì các con đã làm cho những người trong gia đình là làm cho chính Ta.” 

Lạy Chúa Giê-su, 
Xin cho chúng con luôn nhớ rằng: Thiên Chúa tự đồng hóa với con người. Chúa là một với người cha, người mẹ, người con… trong gia đình và những gì chúng con làm cho ông bà cha mẹ, cho bạn trăm năm, cho con cái trong nhà là làm cho chính Chúa.

Nếu các thành viên trong nhà làm theo lời dạy này của Chúa, chắc chắn gia đình sẽ thoát khỏi đau thương đổ vỡ và sẽ được chan hoà hạnh phúc.
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
 

TN2-C154: CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN

Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật II Thường Niên năm C này nêu bật dấu lạ đầu tiên Đức Giê-su thực TN2-C154

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật II Thường Niên năm C này nêu bật dấu lạ đầu tiên Đức Giê-su thực hiện ở tiệc cưới Ca-na.
Theo truyền thống của các Giáo Hội Đông Phương, ba biến cố: các nhà chiêm tinh thờ lạy Hài Nhi Giê-su, phép rửa của Đức Giê-su và dấu lạ đầu tiên ở tiệc cưới Ca-na, hình thành nên ba biến cố Chúa Hiển Linh và được cử hành cùng nhau. Theo truyền thống Tây Phương, năm C là năm duy nhất trong ba năm phụng vụ, tưởng niệm việc Chúa Giê-su bày tỏ vinh quang của Ngài ở tiệc cưới Ca-na, sau phép rửa của Đức Ki-tô và việc các nhà chiêm tinh thờ lạy Hài Nhi Giê-su, như vậy duy trì mối liên hệ giữa ba cuộc hiển linh đầu tiên mở ra mầu nhiệm của Đức Giê-su là Vua, Con Thiên Chúa và Đấng Ki-tô.
Is 62: 1-5
Chủ đề của Bài Đọc I là cuộc phục hưng Giê-ru-sa-lem trong tương lai được diển tả bằng ngôn ngữ hôn ước giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Với từ hôn ước này, Thiên Chúa sắp hoàn lại tước vị “Hiền Thê” cho dân Ngài.
1Cr 12: 4-11
Thánh Phao-lô nhắc nhở các tín hữu Cô-rin-tô rằng muôn vàn ân sủng mà họ hưởng được đều phát xuất từ một Thần Khí duy nhất, Đấng tỏ mình ra nơi mỗi người mỗi cách vì lợi ích của cộng đoàn.
Ga 2: 1-12
Nhân tiệc cưới ở Ca-na, Chúa Giê-su thực hiện dấu lạ đầu tiên: dấu lạ hóa nước thành rượu tiên trưng dấu lạ hóa rượu thành máu của Ngài, đó sẽ là dấu chỉ Giao Ước Mới giữa Thiên Chúa và nhân loại.
BÀI ĐỌC I (Is 62: 1-5)
Bài thánh thi này ca ngợi cuộc phục hưng sắp đến của Giê-ru-sa-lem vào giờ phút khiến lòng người phải nghi ngờ. Sau khi trở về từ Ba-by-lon, những người lưu đày gặp lại thành thánh nghèo nàn, dân cư thưa thớt, đền thờ hoang tàn đổ nát, suốt năm mươi năm qua dưới ách thống trị của ngoại bang. Trước tiên họ bắt tay tái thiết đền thờ, nhưng công việc đã phải bị bỏ dỡ vì thiếu tài chánh và vì những chống đối khác nhau. Họ thất vọng vì công việc quá lớn lao và những khó khăn gặp phải. Trong bầu khí chán chường thất vọng, một ngôn sứ vô danh, được gọi dưới biệt danh là I-sai-a đệ tam, môn đệ của I-sai-a đệ nhị, công bố rằng Giê-ru-sa-lem sắp được phục hưng và tìm lại vinh quang của mình.
1.Cuộc phục hưng huy hoàng sắp đến:
Phải chăng đây chính là lời loan báo của vị ngôn sứ hay lời hứa của Thiên Chúa được đặt trên môi miệng của vị ngôn sứ? Thật khó phân định điều này; một sự luân phiên giữa giọng nói của vị ngôn sứ và giọng nói của Thiên Chúa là một trong những nét đặc trưng của bài thánh thi này. Chung chung, vị ngôn sứ không bao giờ nói ở ngôi thứ nhất, trừ một lần, khi ông biện minh sứ vụ của mình. Qua những gì xảy ra trước đó, chúng ta biết rằng những người hồi hương luôn luôn phàn nàn về việc Thiên Chúa trì hoãn phục hưng Thành Thánh và Đền Thờ của Ngài.
Thật kỳ lạ biết bao khi vị ngôn sứ vặn lại, sự chậm trể không đến từ Thiên Chúa nhưng từ tội lỗi của các ngươi, vì tấm lòng ưu ái của Thiên Chúa đối với dân Ngài vẫn thường hằng. Đó là ý nghĩa của câu thứ nhất mà người ta toan tính gán cho chính Đức Chúa:
“Vì lòng mến Xi-on, tôi sẽ không nín lặng,
vì lòng mến Giê-ru-sa-lem, tôi nghỉ yên sao đành,
tới ngày đức công chính xuất hiện tựa hừng đông,
ơn cứu độ của thành rực lên như ngọn đuốc” (Is 62: 1).
Giê-ru-sa lem phải được tái thiết trong đức công chính của nó, trong ơn cứu độ của nó. Ở đây “đức công chính” và “ơn cứu độ” thì tương đồng rất rõ nét. Vị ngôn sứ ngỏ lời với Thành Thánh, ông loan báo rằng Thành Thánh sẽ được phục hưng trong huy hoàng rạng rỡ; những quốc gia và những vua chúa đã áp bức Thành Thánh rồi sẽ thấy vinh quang của nó, ơn cứu độ của Giê-ru-sa-lem sẽ “rực lên như ngọn đuốc”.
Người ta thường nhận ra trong tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ tam, một ý tưởng đắc thắng. Dân Thiên Chúa sẽ hả dạ vì những nhục nhã họ đã phải chịu:
“Rồi muôn dân sẽ được chiêm ngưỡng đức công chính của ngươi,
mọi đế vương sẽ được ngắm nhìn vinh quang ngươi tỏ rạng” (Is 62: 2).
2.Hôn ước giữa Đức Chúa và dân Ngài:
Phần cuối của sấm ngôn này lấy lại hình ảnh về hôn ước giữa Đức Chúa và dân Ngài, hình ảnh này đã trở thành kinh điển kể từ ngôn sứ Hô-sê, rồi đến ngôn sứ Giê-rê-mi-a, ngôn sứ Ê-dê-ki-en, ngôn sứ I-sai-a đệ nhị. Giao Ước được diễn tả bằng ngôn ngữ tình yêu: dân Chúa là Hôn Thê tưởng rằng mình bị thất sủng nay gặp lại tấm lòng sủng ái của Đức Chúa là Hôn Phu của mình.
Nhưng để Giao Ước có thể được tái lập, quá khứ tội lỗi phải được thanh tẩy. Dấu hiệu đầu tiên là gán tên mới cho Giê-ru-sa-lem. Một tên mới tạo nên một căn tính mới. Chúng ta biết tầm quan trọng của tên theo truyền thống Kinh Thánh. Tên diễn tả bản chất sâu xa của một người hay vận mệnh của người mang tên ấy. Giê-ru-sa-lem sẽ không còn được gọi “Đồ bị ruồng bỏ” nhưng “Ái khanh lòng Ta hỡi”. Xứ sở của nó sẽ không còn là “Phận bạc duyên đơn”, nhưng “Duyên thắm chỉ hồng”.
Còn hơn thế nữa, Giê-ru-sa-lem sẽ được Đấng tác thành mình lập hôn ước “như trai tài sánh duyên cùng thục nữ”, nghĩa là, mọi tội lỗi, bất trung, thờ ngẫu tượng của dân thành mà các ngôn sứ đã nhiều lần gọi “con điếm” vì đã chạy theo các thần minh khác, nay được phục hồi sự trinh khiết của mình: tình yêu của Thiên Chúa đã thanh tẩy Thành Thánh. Sau này sách Khải Huyền sẽ gợi lên hôn lễ của Con Chiên với thành thánh Giê-ru-sa-lem thiên quốc:
“Vì nay đã tới ngày cử hành hôn lễ của Con Chiên,
và Hiền Thê của Người đã trang điểm sẵn sàng,
nàng đã được mặc áo vải gai sáng chói và tinh tuyền” (Kh 19: 8).
Ngôn sứ I-sai-a đệ tam chắc chắn nhớ lại bản văn của vị tiền nhiệm mình, I-sai-a đệ nhị, vị ngôn sứ đã mô tả cho những người lưu đày thấy những rực rỡ của Thành Thánh Giê-ru-sa-lem tương lai và báo trước cho Thành Thánh:
“Đừng sợ chi: ngươi sẽ không phải xấu hổ,
chớ e thẹn: ngươi sẽ không phải nhục nhằn.
Thật vậy, ngươi sẽ quên hết nỗi hổ thẹn tuổi thanh xuân
và không còn nhớ bao nhục nhằn thời góa bụa.
Quả thế, Đấng cùng ngươi sánh duyên cầm sắt
chính là Đấng đã tác thành ngươi,
tôn danh Người là Chúa các đạo binh;
Đấng chuộc ngươi về, chính là Đức Thánh của Ít-ra-en,
tước hiệu Người là Thiên Chúa toàn cõi đất” (Is 54: 4-5).
3.Niềm vui hôn ước và niềm vui thời Mê-si-a.
 “Như cô dâu là niềm vui cho chú rể,
ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ” (Is 62: 6).
 Niềm vui của Giáo Ước được làm mới lại giữa Thiên Chúa và dân Ngài, tiên báo niềm vui thời Mê-si-a, niềm vui mà rược dồi dào của tiệc cưới Ca-na loan báo theo cách khác.
BÀI ĐỌC II (1Cr 12: 4-11)
Trong năm Chúa Nhật liên tiếp, Phụng Vụ đề nghị cho chúng ta đọc những đoạn trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô, từ chương 12 đến chương 15.
1.Bối cảnh:
Thánh Phao-lô đã thành lập Giáo Đoàn Cô-rin-tô vào những năm 50-52. Thánh nhân đã lưu lại thành phố này khoảng mười tám tháng và đã để lại một cộng đoàn Ki-tô hữu rất sinh động nhưng cũng gây nên nhiều nỗi bận lòng cho thánh nhân.
Thánh Phao-lô đã viết ít nhất bốn bức thư cho các tín hữu Cô-rin-tô, thư thứ nhất và thư thứ ba đã thất lạc; bức thư mà chúng ta gọi thư thứ nhất thực ra là thư thứ hai. Thánh Phao-lô đã viết thư này từ Ê-phê-xô (có lẽ vào mùa xuân năm 55). Sau khi đã nhắc nhở trật tự trong cộng đoàn, tiếp đó, bàn đến nhiều vấn đề nhất định, thánh nhân bắt đầu tranh luận: toàn thể cộng đoàn Ki-tô hữu đều phải ở dưới tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ gìn giữ cộng đoàn trong sự hiệp nhất và sẽ giúp cho cộng đoàn biết biện phân những hoạt động vì lợi ích chung của Cộng Đoàn.
2.Lương dân và người Ki-tô hữu:
Các tín hữu Cô-rin-tô sống trong bối cảnh ngoại giáo khá đặc biệt. Thành phố Cô-rin-tô là một đô thị lớn thuộc miền duyên hải và gồm nhiều dân tứ xứ, mở rộng cửa đón nhận thế giới bên ngoài. Chịu ảnh hưởng từ miền Cận Đông, các tôn giáo cổ truyền nhường chỗ cho những khát vọng huyền bí, trong khi những tôn giáo mầu nhiệm tràn lan với những nghi lễ khai tâm và thực tiển hướng đến niềm hưng phấn và xuất thần. Những thái độ này có thể rất gần với những đặc sủng mà các Ki-tô hữu được hưởng. Cần phải nêu lên tất cả cái lập lờ này. Trong cộng đoàn Ki-tô hữu, những ân huệ nhận được có nguồn gốc siêu nhiên; nguồn mạch duy nhất của mọi ân huệ này là Thiên Chúa Ba Ngôi.
3.Dấu chỉ Ba Ngôi:
Lưu ý rằng thánh Phao-lô đặt những đặc sủng và những hoạt động Ki-tô giáo dưới dấu hiệu của Thiên Chúa Ba Ngôi, khởi đi từ Chúa Thánh Thần:
- Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí.
- Có nhiều công việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa (Đức Ki-tô).
- Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng chỉ có một Thiên Chúa, Đấng làm mọi sự trong mọi người (Chúa Cha).
Đoạn, thánh nhân liệt kê một loạt những ân huệ khác nhau, đều là hoa trái của Chúa Thánh Thần. Giáo Hội tiên khởi chắc chắn đã hưởng được nhiều cách thế bày tỏ đặc biệt của Chúa Thánh Thần. Thánh Lu-ca đã nêu lên nhiều ví dụ trong sách Công Vụ Tông Đồ, đến mức sách này được gọi “Tin Mừng của Chúa Thánh Thần”.
Những ân huệ dồi dào và tự phát như thế bổ túc cho việc thiếu cơ cấu tổ chức. Nhưng thánh Phao-lô muốn tránh tình trạng hỗn loạn; vì thế thánh nhân nhấn mạnh sự duy nhất cơ bản của mọi ân huệ này: “Chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người”.
TIN MỪNG (Ga 2: 1-12)
Theo Tin Mừng Gioan, Đức Giê-su khai mạc sứ vụ của Ngài qua dấu lạ tiệc cưới Ca-na: “Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Ca-na miền Ga-li-lê”. Vậy từ “dấu lạ” muốn nói lên điều gì? Như thường hằng trong Tin Mừng Gioan, vấn đề “dấu lạ” có rất nhiều nghĩa, nhưng được tập trung vào một nghĩa cơ bản: thời đại Mê-si-a đến ở nơi sự hiện diện của Đức Giê-su.
1.Ý nghĩa phong phú của dấu lạ Ca-na:
Bài tường thuật về dấu lạ đầu tiên này trình bày một loạt những đối chiếu với giai đoạn cuối cùng sứ vụ trần thế của Đức Giê-su.
- Đây là “ngày thứ ba” Đức Giê-su “bày tỏ vinh quang của Người và các môn đệ đã tin vào Người”. Biến cố Phục Sinh ẩn hiện ở nơi dấu lạ đầu tiên này.
- Dấu lạ đầu tiên Đức Giê-su thực hiện cốt là hóa nước thành rượu; dấu lạ sau cùng của Ngài cốt là hóa rượu thành máu của Ngài.
- Dấu lạ đầu tiên này được thực hiện để cử hành tiệc cưới nhân loại; dấu lạ sau cùng để cử hành Giao Ước Mới, tiệc cưới của Thiên Chúa với nhân loại.
- Ở tiệc cưới Ca-na, Thân Mẫu Đức Giê-su được thánh ký kể ra lần đầu tiên; Mẹ Ngài sẽ chỉ được thánh ký kể ra lần thứ hai và lần sau cùng dưới chân thập giá, ở đó Đức Giê-su sẽ thân thưa với Mẹ Ngài cũng bằng cách xưng hô như ở tại tiệc cưới Ca-na: “Thưa bà”. Có những bí ẩn hòa điệu giữ hai biến cố này.
- Ở tiệc cưới Ca-na, Chúa Giê-su lần đầu tiên nói về “giờ của Ngài”. Giờ này sẽ là giờ Tử Nạn và Vinh Quang của Ngài. Khi viết: “Đức Giê-su biết giờ của Ngài đã đến” (Ga 13: 1), thánh ký sẽ nói về lễ Vượt Qua gần đến và về bữa ăn sau cùng của Đức Giê-su với các môn đệ Ngài. Bữa ăn đầu tiên, tiệc cưới Ca-na, cũng được định vị vài ngày trước lễ Vượt Qua.
Những đối chiếu đa dạng như trên giúp chúng ta hiểu sâu xa những ý nghĩa phong phú của dấu lạ tiệc cưới Ca-na.
2. “Ngày thứ ba”:
Thánh Gioan xây dựng bài tường thuật của mình về những khởi đầu cuộc đời công khai của Đức Giê-su theo cùng một cách với bài tường thuật về giai đoạn sau cùng của Ngài, với thời gian đặc thù và biểu tượng: các biến cố được cô động thành một tuần lễ, ngầm tham chiếu đến bảy ngày của công trình sáng tạo. Chính “vào ngày thứ bảy” của tuần lễ khai mạc mà tiệc cưới Ca-na, dấu chỉ của ơn cứu độ thời Mê-si-a, được định vị: một cuộc sáng tạo mới. Nhưng đây cũng là “ngày thứ ba” khởi đi từ việc Đức Giê-su ra khỏi miền Giu-đê. Việc Đức Giê-su tham dự tiệc cưới Ca-na được đặt vào ngày thứ ba sau lời hứa của Ngài cho ông Na-tha-na-en, một trong những môn đệ đầu tiên của Ngài: “Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa” (Ga 1: 50).
Ca-na là một thị trấn nhỏ thuộc miền Ga-li-lê không xa làng Na-da-rét. Đức Ma-ri-a đến Ca-na, chắc chắn từ Na-da-rét; Mẹ đến một mình; chắc hẳn thánh Giu-se đã qua đời. Còn Đức Giê-su đến từ miền Giu-đê với các môn đệ Ngài; Ngài gặp lại Mẹ Ngài ở tiệc cưới này. Người ta đã nghĩ rằng chú rể và cô dâu thuộc gia tộc của Đức Ma-ri-a, vì Mẹ xử sự gần như gia chủ khi căn dặn gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. Dù thế nào, gia đình nầy thuộc tầng lớp hạ lưu, vì tại những gia đình giàu có rượu không thể thiếu. Những người được hưởng dấu lạ đầu tiên của Chúa Giê-su thuộc gia đình nghèo. Điều này chẳng có gì phải ngạc nhiên cả.
3.Dấu chỉ của rượu:
“Ở đó có đặt sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do thái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước”. Những chum đựng nước này được dùng cho các khách rửa tay trước khi dự tiệc, đây là nghi thức thanh tẩy theo luật định. Một trong số chum đá này chắc chắn được dùng để thanh tẩy các vật dụng được dùng trong bữa ăn như thánh Mác-cô ghi nhận: “Thật vậy, người Pha-ri-sêu cũng như mọi người Do thái đều nắm giữ truyền thống của các tiền nhân: họ không ăn gì, khi chưa rửa tay cẩn thận; thức gì mua ngoài chợ về, cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn; họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng” (Mc 7: 3-4). Sau khi dùng, những chum này cạn nước. Đức Giê-su bảo đổ đầy nước vào các chum cho tới miệng. Như vậy, rượu mà Ngài sẽ ban thật dồi dào và thậm chí dư dật, như đối với phép lạ hóa bánh ra nhiều. Ấy vậy, rượu dư dật đến như thế là hình tượng mà các ngôn sứ thường sử dụng để loan báo buổi bình mình của kỷ nguyên Mê-si-a (Am 9: 13; I s 49: 10; 55: 1-3; Ge 4: 18; Tv 78: 24-27; 132: 15). Phép lạ Ca-na là một dấu chỉ thời Mê-si-a.
Mặt khác, rượu là dấu chỉ của niềm vui; nói một cách chính xác, rượu biểu tượng niềm vui thời Mê-si-a, tiên trưng niềm vui vĩnh cữu, thường được biểu thị bởi bàn tiệc trong Nước Thiên Chúa, “bàn tiệc cánh chung”. Đức Giê-su ám chỉ đến điều này vào bữa Tiệc Ly: “Từ nay, Thầy sẽ không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Mt 26: 29; Mc 14: 25 và Lc 22: 18).
Nước mà Đức Giê-su hóa thành rượu không phải bất kỳ nước nào: chính là nước được dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục của người Do thái. Đối với tác giả Tin Mừng Gioan, việc nước thanh tẩy của Cựu Ước hóa thành rượu Mê-si-a báo hiệu “Cái cũ đã qua đi, và cái mới đã có ở đây rồi” (2Cr 5: 17). Thời đại Mê-si-a đã đến. Từ nay, nước thanh tẩy không còn có ích nữa, bị hủy bỏ và được thay thế bởi rượu, dấu chỉ của ơn cứu độ. Trong bối cảnh phụng vụ của Giáo Hội tiên khởi, rượu tiệc cưới Ca-na rất dễ gợi lên trong tâm trí của các tín hữu Rượu Thánh Thể, đặc biệt khi thánh ký nói với chúng ta Đức Giê-su hóa nước thành rượu xảy ra trước lễ Vượt Qua (2: 13), cùng một thời điểm mà ba năm sau này Đức Giê-su sẽ hóa rượu thành máu của Ngài cho muôn người được tha tội (Mt 26: 28).
4.Dấu hiệu Giao Ước:
Sự hiện diện của Đức Giê-su ở tiệc cưới Ca-na là một cử chỉ của tình bạn. Vì tình bạn, Đức Giê-su thực hiện dấu lạ này để tránh cho gia đình này khỏi bẽ mặt; nhưng đồng thời Ngài đem đến một sự bảo lãnh – một sự bảo lãnh thần linh – cho tính chất linh thánh của hôn nhân. Ngoài ra, cử chỉ của Ngài mặc lấy một chiều kích thần học: chính bằng ngôn từ tình yêu hôn nhân mà các ngôn sứ đã dùng để diễn tả Giao Ước của Thiên Chúa với dân Ngài như Hôn Ước.
Trong bài tường thuật, người quản tiệc nói với tân lang: “Ai ai cũng thiết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ”. Ấy vậy, người đãi rượu ngon không phải là tân lang mà là Đức Giê-su. Thật vậy, trong Tin Mừng Gioan, tân lang thường tượng trưng cho Đức Giê-su (Ga 3: 29). Sau này, khi ban cho các môn đệ Rượu Thánh Thể, Ngài sẽ công bố rượu này là dấu chỉ Giao Ước Mới. Thánh Phao-lô cũng sẽ sử dụng ngôn từ tình yêu vợ chồng để nói về sự hiệp nhất của Đức Giê-su với Giáo Hội của Ngài; và sách Khải Huyền sẽ cử hành tiệc cưới muôn đời của Con Chiên với dân Thiên Chúa được biểu thị bởi Thành Thánh Giê-ru-sa-lem Thiên Quốc.
Ở tiệc cưới Ca-na, Đức Giê-su khai mạc mầu nhiệm tình yêu và hiệp nhất của Thiên Chúa với nhân loại.
5. “Thưa Bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi?”
Tác giả Tin Mừng Gioan không bao giờ gọi đích danh “Ma-ri-a”, nhưng luôn luôn “Thân Mẫu Đức Giê-su”, bốn lần trong bài tường thuật này (2: 1, 3, 5, 12), cũng là bốn lần trong bài trình thuật về cuộc Thương Khó (19: 25-26), để tỏ lòng tôn kính đối với Đức Mẹ, Mẹ đã sống những năm cuối đời của Mẹ tại nhà thánh nhân và đã qua đời trong tình con thảo của thánh nhân. Chắc chắn đây cũng là tước hiệu tôn kính mà người Ki-tô hữu tiên khởi dành cho Thân Mẫu của Chúa mình.
Lời thỉnh cầu kín đáo của Đức Ma-ri-a: “Họ hết rượu rồi”, nhắn gởi cho Đức Giê-su, Con Mẹ, diễn tả độ nhạy bén của Mẹ trước nhu cầu của tha nhân. Nhưng câu trả lời của người con cho mẹ mình: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi?” thật đáng ngạc nhiên, như thử muốn nói rằng: “Đây không phải là công việc của mẹ. Xin đừng can dự vào”.
Trước tiên, cách xưng hô “Thưa bà” không nói lên một sự bất kính, nhưng diễn tả cái khoảng cách. Chúa Giê-su xưng hô như thế với người phụ nữ Sa-ma-ri (Ga 4: 21), với người đàn bà Ca-na-an (Mt 15: 28), với người phụ nữ còng lưng (Lc 13: 12), với bà Ma-ri-a Mác-đa-la (Ga 20: 15). Cái khoảng cách này được tăng cường bởi những lời tiếp theo sau: “Chuyện đó can gì đến bà và tôi?”. Đây là cách nói mang đậm nét Do thái khá thông dụng trong Cựu Ước (x. Tl 11: 12; 2Sm 16: 10; 1V 17: 18). Tại các sách Tin Mừng Nhất Lãm kiểu nói này được đặt trên môi miệng của hai người bị quỷ ám: “Chuyện chúng tôi can gì đến ông?” (Mt 8: 29).
Cách xưng hô của Đức Giê-su với Mẹ Ngài ở tiệc cưới Ca-na tái xuất hiện ở hoạt cảnh Thập Giá, ở đó Ngài thân thưa với Mẹ Ngài: “Thưa Bà, đây là con của Bà” (Ga 19: 26). Trong hoạt cảnh sau cùng này, tình mẫu tử của Đức Ma-ri-a không bị bác bỏ, vì Đức Giê-su ban cho Mẹ Ngài người môn đệ yêu mến, khuôn mẫu của người Ki-tô hữu hoàn thiện, làm con của Mẹ. Như vậy, với cách xưng hô lạ lùng ở tiệc cưới Ca-na, Đức Giê-su đòi hỏi Mẹ của Ngài mở rộng tình mẫu tử của Mẹ, biến đổi tình mẫu tử riêng tư giữa Mẹ và Con thành tình mẫu tử của một Người Mẹ ân cần săn sóc những môn đệ của Ngài, tức Giáo Hội của Ngài, Thân Thể mầu nhiệm của Ngài.
6. “Giờ tôi chưa đến”:
Trong Tin Mừng Gioan, “giờ của Chúa Giê-su” là giờ Ngài được giương cao trên thập giá, giờ Ngài được tôn vinh (Ga 3: 14-15; 8: 28), giờ mà tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ tận mức ở nơi cái chết của người Con Một Thiên Chúa. Rõ ràng, ở tiệc cưới Ca-na, giờ đó chưa đến.
Nếu chúng ta đọc lại tình tiết về người phụ nữ Ca-na-an, người ta sẽ gặp lại cũng một thái độ như thế của Đức Giê-su. Trước hết, Ngài không đáp một lời, đoạn từ chối, để thử thách niềm tin của người phụ nữ này. Người phụ nữ không chùn bước. Lúc đó, Chúa Giê-su thán phục niềm tin kiên vững của bà và cho bà được toại nguyện: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được như vậy” (Mt 15: 28).
Đức Ma-ri-a trải qua một thử thách tương tự. Trước thái độ ngập ngừng của Con Mẹ, Mẹ trả lời bởi một hành vi đức tin kiên vững vào Ngài: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. Đức Mẹ đã tin vào Con Mẹ trước khi phép lạ xảy ra, trong khi các môn đệ Ngài tin vào Ngài sau khi phép lạ xảy ra. Lúc đó, Chúa Giê-su nghiêng mình trước đức tin đáng thán phục của Mẹ Ngài.
Trong bối cảnh Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Ca-na miền Ga-li-lê để bày tỏ vinh quang của Ngài và để các môn đệ tin vào Ngài, thì lời căn dặn của Mẹ: “Người bảo gì các anh cứ làm theo” thật có ý nghĩa biết bao trong việc huấn luyện người môn đệ lý tưởng. Dù thế nào, chúng ta ghi nhận rằng thành quả của dấu lạ đầu tiên được thực hiện nhờ sự can thiệp của Đức Ma-ri-a và dẫn đến niềm tin của các môn đệ. Vì thế, truyền thống Ki-tô giáo đã nhấn mạnh quyền năng cầu bầu của Đức Ma-ri-a, sự hiện diện ân cần của Mẹ, nỗi bận lòng của tình mẫu tử đối với tha nhân: “Xưa nay chưa từng ai đến cùng Mẹ mà Mẹ từ bỏ chẳng nhậm lời”. Trang Tin Mừng này không chỉ mang chiều kích Ki-tô học, nhưng còn mang chiều kích Thánh Mẫu học. 
Lm. Inhaxiô Hồ Thông
 

TN2-C155: ĐẠO CHÚA LÀ ĐẠO CỦA NIỀM VUI

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – GP. Xuân Lộc

Giáo phận Bùi Chu là một trong những giáo phận có đông người Công Giáo, có rất nhiều các vùng TN2-C155

Giáo phận Bùi Chu là một trong những giáo phận có đông người Công Giáo, có rất nhiều các vùng hoặc các giáo xứ mang tên “Quần” hoặc tên “Lạc” như Quần Cống, Quần Liêu, Quần Phương, Quần Lạc hoặc là Lạc Bắc, Lạc Thành và cả xứ Lạc Đạo …vv. Chữ “Quần” muốn nói đến sự quây quần xum họp và chữ “Lạc” muốn nói lên niềm vui tươi hoan lạc. Các tên này đã được các nhà truyền giáo đặt cho các giáo xứ từ những ngày đầu khi đạo Chúa vào đến đất Bùi Chu. Các Ngài muốn giới thiệu cho mọi người biết, theo đạo Chúa là một đạo ngập tràn niềm vui, theo đạo là sống quây quần bên nhau, yêu thương nhau, cùng nhau chia sẻ niềm vui của đạo. Mặc dù cách giải thích có vẻ đơn giản, nhưng đó là sự đúc kết điểm chính yếu và là nét đặc trưng của đạo Chúa.
Chúa nhật tuần trước mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, Ngài khai mở một thời đại mới, thời đại tình thương cứu độ của Thiên Chúa được công bố cho mọi người. Hôm nay Lời Chúa giới thiệu cho chúng ta hoa quả của ơn cứu độ đó là niềm vui. Niềm vui này chắc chắn không phài là những cuộc vui ăn uống, rượu chè, theo kiểu thế gian mà là niềm vui vì ơn phúc lành và sự canh tân đổi mới mà Chúa Giêsu đem đến cho mọi người. Tiên tri Isaia trong bài đọc một đã không giấu được niềm vui của những người tin theo Chúa, ông đã bộc lộ niềm vui đó qua những lời lẽ đầy màu sắc hân hoan: “Vì lòng mến Sion, tôi sẽ không nín lặng, vì lòng mến Giêrusalem tôi nghỉ yên sao đành, tới ngày Đấng Công Chính xuất hiện tựa hừng đông; Vị Cứu Tinh của thành rực lên như ngọn đuốc”. Ông nói đến ngày mà Thiên Chúa bày tỏ vinh quang của Ngài trước mặt muôn dân. Vinh quang ấy không làm cho con người khiếp sợ không dám đến gần, trái lại, vinh quang của Chúa sẽ được mọi người ngắm nhìn, thán phục. Vị tiên tri dùng những hình ảnh niềm vui của cô dâu chú rể để trình bày cho thấy sự xuất hiện của Thiên Chúa trở thành vinh dự và niềm vui hân hoan cho cả dân tộc. Thiên Chúa không còn ở xa, nhưng đến gần bên con người, cùng kết ước, cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với con người và ban cho con người được vinh dự trở thành người nhà, người thân của Thiên Chúa: “Chúa sẽ cầm lấy tay ngươi. Chẳng ai còn réo tên ngươi: “Đồ bị ruồng bỏ”, nhưng được gọi là “Ái khanh lòng Ta hỡi”. Chúa sẽ đem lòng sủng ái ngươi. Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Ngươi sẽ là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ”.
Tin Mừng Gioan thuật lại câu chuyện Chúa hiện diện tại tiệc cưới Cana và giải gỡ bế tắc cho gia đình đám cưới, đem lại cho họ vinh dự và niềm vui. Câu chuyện muốn gợi lên cho ta nhiều bài học. Thánh Gioan cho biết hôm đó Chúa Giêsu, Đức Maria và các môn đệ của Chúa được mời dự tiệc. Chi tiết này cho thấy Thiên Chúa không dửng dưng với đời sống của con người, Ngài trở nên thân thiết với mọi người. Vì thân thiết, nên gia chủ đã mời cả Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các môn đệ cùng dự tiệc cưới. Chắc chắn sự hiện diện của Chúa, một vị thầy đang được biết đến, sẽ là niềm vui và vinh dự cho gia đình. Quan trọng hơn, sự hiện diện của Chúa Giêsu là sự hiện diện mang đến phúc lành cho đôi tân hôn và gia đình. Nhưng để có sự hiện diện này, điều cần thiết là họ phải mời Chúa vào thăm gia đình, cùng dự tiệc, cùng chung vui và cùng chia sẻ với gia đình.
Sự hiện diện của Chúa và thân mẫu còn là sự hiện diện trợ giúp. Với sự tinh tế của một phụ nữ, Đức Maria đã phát hiện ra sự lúng túng của gia chủ khi hết rượu lúc đang ăn tiệc. Đức Maria đã khéo léo can thiệp, Mẹ đã đề nghị cùng Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi”. Hơn ai hết, Mẹ Maria tin rằng Chúa Giêsu sẽ quan tâm đến tình trạng này. Mẹ không yêu cầu Chúa làm gì, nhưng Mẹ chỉ trình bày cho Chúa về hoàn cảnh ngặt nghèo của gia đình. Chúa Giêsu dù chưa đến giờ bày tỏ vinh quang của Ngài, nhưng Chúa cũng không thể trì hoãn lời đề nghị của Mẹ: “Thưa Mẹ, việc đó là của gia đình họ, giờ con chưa đến”. Câu trả lời của Chúa không làm Đức Maria thất vọng, nhưng Mẹ tin tưởng chờ đợi và dặn các người giúp việc: “Hễ Người bảo gì thì cứ làm theo”. Chúa đã ra tay, Ngài truyền cho những người giúp việc đổ nước đầy sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy, mỗi chum chứa được từ tám mươi đến một trăm hai mươi lít nước. Chúa ra lệnh: “Bây giờ hãy múc đem cho người quản tiệc”. Các gia nhân đã làm như thế. Phép lạ đã xảy ra do lời đề nghị và tin tưởng của Đức Maria, nhưng có thể nói, phép lạ xảy ra còn nhờ vào sự vâng lời của các đầy tớ khi họ đổ nước vào chum và khi họ múc nước đó cho người quản tiệc để đem lên tiếp khách. Người quản tiệc ngạc nhiên khi nếm nước đã thấy hóa thành rượu ngon, ngon hơn các rượu trước đó. Ông chỉ biết thắc mắc : Sao không thiết đãi rượu ngon ngay từ đầu, mà lại giữ lại đến cuối bữa mới đãi.
Hình ảnh của tiệc cưới là hình ảnh của xum họp, niềm vui, tiếng cười và sự no thỏa. Tiệc cưới tại Cana đang nửa bữa hết rượu là điều hết sức xấu hổ cho đôi tân hôn. Tin Mừng muốn nhấn mạnh rằng sự hiện diện của Chúa Giêsu và Đức Mẹ cứu nguy cho gia đình đôi tân hôn. Cũng vậy, cuộc sống của nhiều gia đình và của thế giới này đang cạn dần niềm vui. Nhiều gia đình đang có nguy cơ rơi vào tình trạng khô cằn, thiếu niềm vui, thiếu sức sống, buồn chán, bế tắc vì họ đã quên mời các vị khách đặc biệt đó là Chúa Giêsu và Đức Mẹ.
Qua câu chuyện, Thánh Gioan còn muốn nói đến niềm vui lớn lao hơn đó là niềm vui mà Chúa Giêsu sẽ khai mở cho nhân loại. Ngài sẽ quy tụ nhân loại trở thành một dân mới, được dẫn dắt bởi Tin Mừng, được yêu thương chăm sóc bởi mục tử nhân lành. Isaia đã dùng hình ảnh bữa tiệc rượu, để nói lên niềm vui do Thiên Chúa quy tụ: “Ngày ấy Thiên Chúa sẽ thiết đãi các dân trên núi này một bữa tiệc, tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon”. Niềm vui Chúa Giêsu khai mở sẽ là niềm vui vượt quá sự mong đợi của lề luật cũ, của cách thực hành đạo cũ. Câu chuyện tại Cana cho thấy sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy của người Do Thái đã trở nên lỗi thời vô dụng, không có khả năng tẩy rửa tội lỗi. Chúa Giêsu là Đấng sẽ đổ vào đó một thứ nước trong lành có sức thanh tẩy tội lỗi và biến nó trở thành rượu ngon vượt trội và với số lượng dư thừa. Như thế, Tin Mừng muốn nói rằng: Kể từ đây nếp sống cũ và những thực hành cũ không còn phù hợp, nó trở nên nhàm chán và là gánh nặng gây mệt mỏi cho con người. Chúa Giêsu là rượu mới, là niềm vui mới được ban tặng cho nhân loại mới. Niềm vui của Ngài đem lại là niềm vui giải thoát khỏi những ràng buộc của luật cũ, của tội lỗi và các hình thức nô lệ của ma quỷ. Những ai được quy tụ, được tham dự tiệc cưới của Ngài sẽ không bao giờ thiếu vắng niềm vui và hạnh phúc.
Thưa quý OBACE, Lời Chúa hôm nay nhắc cho chúng ta hai điều: Thiên Chúa mở ra cho chúng ta một lối sống trong vui tươi và hy vọng và Ngài muốn hiện diện, đem niềm vui sự bình an đến cho các gia đình. Chúng ta đón nhận giáo huấn, đi theo con đường của Chúa và sống với Chúa, cuộc đời sẽ đầy tràn niềm vui, cho dù cuộc sống chung quanh còn nhiều sóng gió. Kitô giáo là đạo của niềm vui, hân hoan và hy vọng. Khác với các tôn giáo khác, Giáo lý Tin Mừng của Chúa Giêsu là con đường rõ ràng dẫn chúng ta đến hạnh phúc chân thật là nước trời. Tin Mừng của Ngài giải thoát chúng ta khỏi mọi sự sợ hãi, khỏi tình trạng nô lệ để ta được sống tự do trong tư cách là con của Chúa. Các niềm tin dân gian và các tôn giáo khác gây cho con người nhiều sợ hãi và lo lắng khiến cho con người phải tin kiêng, cúng bái, sợ bóng, sợ ma quỷ. Niềm tin vào Thiên Chúa cho chúng ta sức mạnh để chúng ta đương đầu với mọi hoàn cảnh trong tin tưởng có Thiên Chúa quyền năng đang ở cùng chúng ta, yêu thương, bảo vệ ta như người cha lo cho con cái. Vì thế, chúng ta sống trong sự tin tưởng phó thác như con thơ ở trong vòng tay cha mẹ.
Lời Chúa cũng mời gọi chúng ta đem niềm vui về cho gia đình. Niềm vui đích thực không phải là những cuộc tụ tập ăn nhậu hoặc bài bạc, nhưng là mời được Chúa và Đức Mẹ về với gia đình qua việc rước lễ, đọc kinh, lần hạt mân côi sớm tối. Chúa, Đức Mẹ vừa là khách vừa là bạn, với gia đình. Ngài sẽ chia sẻ mọi khó khăn, lo toan với gia đình, an ủi nâng đỡ và ban lại cho gia đình niềm vui hân hoan. Ngài sẽ loại bỏ những cái không phù hợp trong cách sống, cách làm ăn của gia đình và thay vào đó là rượu mới, niềm vui mới của Chúa.
Nhờ sự hiện diện, bầu cử của Mẹ Maria, nguyện xin Chúa thương giải gỡ các khó khăn cho các gia đình. Amen.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây