Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 TN-C Bài 1-50 Thầy còn một phép

Thứ tư - 14/08/2019 10:46
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 TN-C Bài 1-50 Thầy còn một phép rửa phải chịu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 TN-C Bài 1-50 Thầy còn một phép rửa phải chịu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 TN-C Bài 1-50 Thầy còn một phép rửa phải chịu
TN20-C1: SỰ QUẤY RỐI CẦN THIẾT – Lm Carôlô. 2
TN20-C2: LỬA.. 10
TN20-C3: LỬA, NƯỚC VÀ GƯƠM... 13
TN20-C4: NGỌN LỬA TÌNH YÊU - NTĐY/115. 16
TN20-C5: HÒA HAY CHIẾN - NMS/144. 17
TN20-C6: ĐEM LỬA - ASTY/175. 19
TN20-C7: CHIA RẼ - CS/126. 21
TN20-C8: LỬA TÌNH YÊU - SNLC/186. 22
TN20-C9: CHIA CÁCH - TMCN/177. 24
TN20-C10: SỰ CHIA RẼ - P/137. 25
TN20-C11: VINH QUANG - MNMTV/252. 26
TN20-C12: GIA ĐÌNH - MNMTV/290. 27
TN20-C13: MÁU CỦA CÁC VỊ TỬ ĐẠO - Lm. Augustine, SJ. 28
TN20-C14: NẾU BẠN TRIỆT ĐỂ SỐNG TINH THẦN TIN MỪNG - Jkn. 32
TN20-C15: THỜI ĐIỂM ĐƯỢC BA GIỜ SUNG SƯỚNG.. 35
TN20-C16: CÔ MAI HƯƠNG THÔN NỮ NGƯỜI PHÁP 21 TUỔI 39
TN20-C17: LỬA AN BÌNH - Lm Bùi Quang Tuấn CSsr 43
TN20-C18: THAO THỨC SÂU KÍN VÀ MÃNH LIỆT NHẤT.. 46
TN20-C19: THẦY KHÔNG ĐẾN ĐỂ ĐEM BÌNH AN.. 49
TN20-C20: THẮP LÊN NGỌN LỬA SOI SÁNG THẾ GIAN.. 51
TN20-C21: CHÚA GIÊSU TRƯỚC CUỘC TỬ NẠN. 55
TN20-C22: TÔI CÓ NÊN QUÌ GỐi XUỐNG KHÔNG? - Mark Link S.J. 58
TN20-C23: GIÁ PHẢI TRẢ CHO BÌNH AN - Gm. Arthur Tonne. 60
TN20-C24: Ngài đến không phải đem đến hòa bình. 62
TN20-C25: Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian. 64
TN20-C26: Tìm gặp Chúa trong cầu nguyện. 65
TN20-C27: Chúa Giêsu đến trần gian để thanh luyện trần gian. 68
TN20-C28: Thầy đến không phải để ban hoà bình. 71
TN20-C29: LỬA TÌNH YÊU – Lm. Jos. Phạm thanh Liêm.. 73
TN20-C30: Lửa Trên Mặt Đất 75
TN20-C31: Phải Chi Lửa Ấy Đã Bùng Lên. 78
TN20-C32: PHÂN RẼ.. 80
TN20-C33: SCĐ/159- ƠN PHÚC.. 83
TN20-C34: SCĐ/393- CHÁY LÊN.. 84
TN20-C35: CSTM/192- TÌNH YÊU.. 87
TN20-C36: NTGT/223- DẤU CHỈ 89
TN20-C37: PV/557- NÉM LỬA.. 92
TN20-C38: PV/562- CHẠY ĐUA.. 94
TN20-C39: SCĐ/659- CHIA RẼ.. 96
TN20-C40: Bình an – Niềm vui- ơn Cứu độ. 97
TN20-C41: BÌNH AN ĐÍCH THỰC.. 99
TN20-C42: Ai ở gần Ta, là ở gần lửa. 102
TN20-C43: LỬA TRÊN THẾ GIAN.. 103
TN20-C44: CHỌN  ĐỨNG VỀ PHÍA NÀO?. 110
TN20-C45: Lửa của tình yêu. 114
TN20-C46: Lửa. 116
TN20-C47: Ánh sáng và bóng tối – ĐTGM Ngô Quang Kiệt 117
TN20-C48: Tình yêu. 119
TN20-C49: Thánh danh Giêsu là cớ mâu thuẫn. 122
TN20-C50: HÃY TẶNG TÌNH LÚC MÌNH CÒN SỐNG.. 123
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 TN-C Bài 1-50 Thầy còn một p[hép rửa phải chịu

 

TN20-C1: SỰ QUẤY RỐI CẦN THIẾT – Lm Carôlô

"Thầy đến để đem sự chia rẽ" (Lc 12,51)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I : Ngôn sứ Giêrêmia bị coi là đã quấy rối tinh thần dân Israel.
- Tin Mừng : Chúa Giêsu nói : "Thầy đến để đem sự chia rẽ".
Minh họa
- Mille images 122 C
- "Thầy đến để đem sự chia rẽ" (Lc 12,51)
I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến
 

Ai ai cũng thích được sống yên ổn trong những thói quen của mình. Tuy nhiên cứ mãi ở yên: TN20-C1

Ai ai cũng thích được sống yên ổn trong những thói quen của mình. Tuy nhiên cứ mãi ở yên trong những thói quen xấu thì rất là tai hại. Bởi vậy cần phải có ai đó đánh thức lương tâm, kết án sự xấu và lôi kéo con người trở về đường tốt. Đó là những sự quấy rối cần thiết.
Chúng ta xin Chúa giúp chúng ta can đảm đón nhận những sự quấy rối đó, và cũng can đảm dám quấy rối trước những tình trạng xấu của kẻ khác.

II. Gợi ý sám hối
- Chúng ta chỉ thích nghe những lời êm tai vừa ý và không đón nhận những lời thật sửa lỗi chúng ta.
- Nhiều khi chúng ta còn thù ghét những người thành tâm sửa lỗi chúng ta.
- Chúng ta không can đảm đấu tranh cho công bình và sự thật.

III. Lời Chúa
1. Bài đọc I (Gr 38,4-6.8-10)
Thời ngôn sứ Giêrêmia, dân do thái phạm tội nhiều nên Thiên Chúa để cho quân thù là đế quốc Babylone bao vây họ. Thay vì ăn năn sám hối và quay về nương tựa nơi Chúa, họ vẫn tiếp tục làm tội và cậy vào thế lực ngoại bang. Ngôn sứ Giêrêmia vạch rõ những sai lầm ấy và đe dọa rằng nếu họ cứ tiếp tục như thế thì có ngày Thiên Chúa sẽ cho quân thù sẽ xâm chiếm xứ sở, tàn phá đền thờ và bắt dân đi lưu đày.
Vì những lời nói thật đó, Giêrêmia bị coi là kẻ quấy rối tinh thần dân chúng và là tên phản quốc. Dân chúng đã bắt ông quăng xuống một cái giếng sâu. Nhưng Chúa đã cho người cứu ông lên.
2. Đáp ca (Tv 39)
Tâm tình Tv này rất hợp với Giêrêmia : Tôi đã trông cậy Chúa và Người đã nghiêng mình về bên tôi. Người đã kéo tôi lên khỏi lỗ mồ, khỏi chỗ bùn nhơ…
3. Tin Mừng (Lc 12,49-53)
Đoạn này có hai ý :
a/ Bằng hai hình ảnh "lửa" và "phép rửa", Chúa Giêsu nói về tương lai sắp tới (cc 49-50) :
- "Lửa" ám chỉ sự thanh luyện. Chúa Giêsu đến trần gian để thanh luyện trần gian, cho nên Ngài ước mong việc thanh luyện ấy sớm hoàn thành.
- "Phép rửa" ám chỉ cuộc khổ nạn sắp tới : việc thanh luyện ấy chỉ hoàn thành sau khi Ngài chịu nạn chịu chết và sống lại.
b/ Bằng hai hình ảnh "hòa bình" và "chia rẻ", Chúa Giêsu kêu gọi người ta chọn lựa thái độ trước Tin Mừng của Ngài (cc 51-53) : Nhiều người nghĩ rằng Đấng Messia là Đấng mang hòa bình đến (x. Is 9,5). Chúa Giêsu xác nhận rằng đúng thực, sứ mạng của Ngài là một sứ mạng Hòa bình (Is 9,5tt ; Dcr 9,10 ; Lc 2,14 ; Ep 2,14-15). Nhưng Ngài thấy cần giải thích thêm : chữ "Hoà bình" có nhiều nghĩa : hoà bình kiểu thế gian và hoà bình của Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói rằng Ngài đến thế gian không phải để đem hòa bình kiểu thế gian, mà là thứ hòa bình của Thiên Chúa. Thứ hoà bình của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mang đến, người ta chỉ sẽ nhận được sau khi người ta đã cố gắng chiến đấu để sống theo Tin mừng của Ngài. Thực tế cho thấy là sứ vụ của Chúa Giêsu đã gặp chống đối, và Lời rao giảng của Ngài đã gây ra chia rẽ giữa những người tin và những người không tin, chia rẽ xảy ra ngay trong lòng một gia đình (Lc 2,35 : có chia rẽ, thì tâm tư người ta mới lộ ra).
4. Bài đọc II (Dt 12,1-4) (Chủ đề phụ)
Hoàn cảnh : Các kitô hữu gốc do thái đang gặp phải rất nhiều khó khăn. Một mặt họ bị các đồng đạo do thái cũ thù ghét vì coi họ là những người phản đạo. mặt khác họ cũng bị bách hại bởi đế quốc Rôma.
Tác giả thư do thái đã nêu gương Chúa Giêsu để an ủi và khuyến khích họ : Chúng ta hãy nhìn thẳng vào Đức Giêsu. Ngài cũng gặp muôn vàn khó khăn nhưng đã kiên trì chiến đấu và cuối cùng đã chiến thắng tất cả. Hãy noi gương Ngài và dựa vào sự trợ giúp của Ngài mà chiến đấu.

IV. Gợi ý giảng
1. "Thầy đến để đem sự chia rẽ"
Những lời Chúa Giêsu nói trong bài Tin Mừng này thật kỳ lạ khác thường. Còn nhớ có lần hai môn đệ xin Ngài sai lửa từ trời xuống thiêu đốt một làng Samaria không tiếp rước Ngài, thì khi đó Ngài đã mắng hai ông và dùng đường khác mà đi. Thế mà hôm nay Chúa Giêsu lại nói "Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian". Còn nhớ có lần Phêrô tuốt gươm ra để bênh vực Ngài khi quân dữ đến bắt Ngài. Khi ấy Ngài đã bảo Phêrô xỏ gươm vào bao vì ai dùng gươm thì sẽ chết vì gươm. Vậy mà hôm nay Ngài nói "Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư ? Thầy đến để đem sự chia rẽ !".
Thực ra Chúa Giêsu đến trần gian không phải để gây chia rẽ và xáo trộn. Tuy nhiên nhiều khi chính vì Ngài mà xáo trộn và chia rẽ xảy ra ! Điều này đặc biệt đúng trong thời kỳ Giáo Hội sơ khai. Khi đó, ai bỏ đạo cũ (đạo Rôma, đạo Do thái) để theo đạo Chúa Kitô thì bị gia đình, bạn bè và hàng xóm ghét bỏ, bách hại. Nhưng những kitô hữu ấy biết làm sao hơn được : chọn bên này thì phải bỏ bên kia, và bên bị bỏ sẽ thù ghét mình.
Dù Chúa Giêsu rất hiền lành nhưng, vì sứ mạng, Ngài phải nói thẳng nói thật và do đó gây nên chống đối và chia rẽ : Ngài giảng dạy về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi. Lời giảng này làm cho những người tội lỗi tin theo Ngài, nhưng lại khiến những người biệt phái chống lại Ngài. Ngài kêu gọi con người đừng bám vào kho tàng của cải đời này, mà hãy tìm kho tàng không hư nát trong Nước Trời. Lời giảng này khích lệ những người nghèo nhưng lại làm cho những người giàu nổi giận v.v.
Trong Tin Mừng có đầy dẫy những lời chói tai như thế của Chúa Giêsu. Nếu chúng ta chỉ lựa ra những lời thuận tai để đọc thì Tin Mừng chẳng mang lại ích lợi gì cho chúng ta. Ngược lại, chính những lời làm ta khó chịu, những lời có tính cách quấy rối lương tâm chúng ta mới là những lời giúp chúng ta hoán cải và tìm được ơn cứu độ.
2. Sứ mạng ngôn sứ
Ngôn sứ là người nói lời Thiên Chúa. Mà lời Thiên Chúa không phải lúc nào cũng thuận tai loài người. Cho nên ngôn sứ thường bị coi là những người quấy rối, và bị ghét bỏ.
Nhưng kitô hữu chúng ta có sứ mạng ngôn sứ. Chúng ta có sứ mạng nói lên sự thật để vạch trần sự gian dối ; chúng ta có sứ mạng đòi hỏi công bình mỗi khi gặp bất công.
Kinh nghiệm cho thấy không có gì khiến người ta khó chịu cho bằng đòi hỏi sự thật và công bình.
Vì thế sứ mạng của kitô hữu càng khó khăn hơn.
Trước chúng ta, đã có nhiều kitô hữu can đảm thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình : Martin Luther King rao giảng cho hòa bình và cho quyền tự do của người da đen. Ông đã bị ám sát chết. Đức Giám mục Helder Camara tranh đấu cho người nghèo và cũng bị bắn gục.
Xã hội ngày nay có nhiều điều xấu, và những điều xấu ấy vẫn tồn tại lâu dài. Phải chăng vì Kitô hữu đã bỏ quên hay đã hèn nhát không thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình ?

3. Ngọn lửa tình yêu
Tại một khu phố cổ ấn Độ, trên đường cũng như trong nhà thường không có đèn. Giữa những khu phố như thế, thỉnh thoảng người ta thấy mọc lên một ngôi đền Ấn Giáo. Dĩ nhiên, trong những ngôi đền như thế, ánh sáng cũng không được đốt lên thường xuyên.
Từ trên nóc đền thờ cũng như dọc theo bốn bức tường, họ treo những chiếc lồng đèn. Khoảng trống trong những chiếc lồng đèn ấy vừa vặn để cho vào một chiếc đèn dầu.
Bình thường ngôi đền thờ vắng lạnh vì tăm tối. Nhưng cứ mỗi sáng sớm, khi các tín hữu dùng đèn dầu soi đường để đi qua các khu phố đến đền thờ cầu nguyện, họ cũng mang chính những ngọn đèn ấy và đặt vào trong những chiếc lồng đèn trong đền thờ. Thành ra, khi mỗi tín hữu đặt ngọn đèn của mình vào trong các lồng đèn, thì ngôi đền thờ bỗng sáng rực lên một cách lạ kỳ.
*
"Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên" (Lc 12,49). Đó là tâm nguyện của Đức Giêsu và cũng là trách nhiệm của mỗi người tín hữu chúng ta : Thế giới này là một ngôi đền thờ rộng lớn mà mỗi tín hữu phải đặt vào đó ngọn lửa tình yêu, để thế giới này bừng sáng lên tình anh em một nhà.
Ngọn lửa mà Đức Giêsu đã ném vào thế giới này, chính là ngọn lửa tình yêu vắn bừng cháy trong trái tim Người ; là ngọn lửa phục sinh đã bừng lên trong tâm hồn người tín hữu giữa đêm tăm tối, cũng là ngọn lửa Thánh Thần đã bừng sáng trí khôn các tông đồ ngày lễ Ngũ Tuần.
Nếu con người cần cơm bánh để sống còn, thì họ cũng cần tình thương để tồn tại.
Nếu con người cần áo quần để che thân, thì họ cũng cần tình thương để sưởi ấm.
Nếu lòng hai môn đệ Em mau đã bừng cháy lên khi nghe Lời Chúa, thì nhân loại sao chẳng rực sáng lên khi nghe lời yêu thương của Người ?
Lời yêu thương đã được viết lên trên cây thập giá, trong cuộc khổ nạn đau thương, đó chính là phép rửa mà Đức Giêsu phải chịu, để ném lửa yêu thương vào trần gian.
Như Thiên Chúa Giavê đã hiện ra với Môsê nơi bụi gai cháy sáng và kêu gọi ông đi chu toàn sứ mạng, nay Người cũng sai chúng ta đi loan báo sứ điệp yêu thương cho trần thế.
Như Đức Giêsu đã đẩy lui bóng tối tử thần bằng ánh sáng Phục sinh và sai các môn đệ đi loan báo tin vui, nay Người cũng mời gọi chúng ta hãy xua tan bóng tối của bất công, hận thù, nghèo đói với ánh sáng của tình thương cứu độ.
Như Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ dưới hình lưới lửa để biến họ thành chứng nhân Nước Trời, nay Người cũng muốn chúng ta mang ngọn lửa tình yêu, thanh luyện và sưởi ấm các tâm hồn.
Mahatma Gandhi, vị thánh của Ấn Độ đã nhận định rất sâu sắc về ngọn lửa tình yêu này như sau : "Một vật cứng rắn đến đâu, cũng sẽ tan chảy trong lửa tình yêu. Nếu vật ấy không tan chảy, chính vì ngọn lửa không đủ mạnh". (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu", Năm C)

4. Chấp nhận bị ghét
Lòng ganh ghét không đơn giản chút nào, nhiều khi nó rất phức tạp khó lường. Không phải người ta chỉ ghét những điều xấu, người ta có thể ghét cả những điều tốt nào không hợp với người ta. Thí dụ kẻ nói dối ghét người nói thật, kẻ buôn gian bán lận ghét người buôn bán thật thà v.v.
Chính vì thế mà Chúa Giêsu khuyến cáo các kitô hữu phải chấp nhận bị ghét, có thể bị ghét bởi chính những người thân của mình và ngay trong gia đình mình : "Từ nay 5 người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau 3 chống lại 2 và 2 chống lại 3. Cha chống đối con trai và con trai chống đối cha. Mẹ chống đối con gái và con gái chống đối mẹ…"
Đó là những sự ghét đáng chấp nhận, vì nếu không chấp nhận thì có nghĩa là phản bội lý tưởng Tin Mừng của mình.
5. Hoà bình thật và hòa bình dỏm
Một đầm lầy xem ra rất phẳng và đẹp ở bề mặt của nó
Nhưng sâu bên dưới toàn là bùn sình rác rưởi hôi thúi.
Một thứ hoà bình dựa trên những giả dối và bất công được thoả thuận với nhau chỉ là thứ hòa bình dỏm. Chúa Giêsu đến trần gian không phải để mang lại thứ hoà bình dỏm này.
Thứ hoà bình thật Chúa Giêsu mang đến là thứ hòa bình mà trong đó sự thật được tôn trọng, mọi quyền lợi của con người được tôn trọng.
Những người cố gắng xây dựng nền hòa bình của Thiên Chúa có thể bị người đời cho là những kẻ quấy rối, nhưng họ được Thiên Chúa gọi là "Con" của Ngài.

V. Trong Thánh Lễ
­- Trước kinh Lạy Cha : Nước Thiên Chúa là nơi chân lý và công lý ngự trị. Chúng ta hãy cầu xin cho Nước Chúa mau trị đến.
VI. Giải tán
Lời Chúa hôm nay kêu gọi chúng ta làm một việc rất khó, đó là làm chứng cho sự thật và công bình. Với sự trợ giúp của Chúa, chúng ta hãy can đảm thi hành sứ mạng cao cả này.

 

TN20-C2: LỬA

“Ta đem lửa xuống trần gian và chỉ mong sao cho lửa ấy bừng cháy lên”.
 

Có một người lính, sau thời gian đóng quân tại U minh, đã kể lại cho tôi nghe như thế này : TN20-C2

Có một người lính, sau thời gian đóng quân tại U minh, đã kể lại cho tôi nghe như thế này :
- Vùng ấy là những cánh rừng tràm hoang dã. Vào khoảng tháng ba và tháng tư, khi mặt trời đổ nắng chói chang, chỉ cần một tàn lửa nhỏ cũng đủ tạo nên một đám cháy lớn. Người ta phải kiên trì cố gắng, ngày này qua ngày khác mới mong dập tắt.
Nếu có lần nào lên Đalat, hẳn chúng ta sẽ thấy những tấm bảng nho nhỏ màu xanh, rải rắc ở những đồi thông ven đường với những hàng chữ :
- Phòng cháy hơn chữa cháy.
- Lửa cháy rừng điêu tàn.
Chỉ một mẩu thuốc lá của một du khách bất cẩn cũng có thể thiêu rụi cả cánh rừng.
Có một câu chuyện cổ tích kể lại rằng :
Ngày kia, tàn lửa nhỏ rớt xuống trên đống rơm trong bếp, nó liền thiêu rụi cả đống rơm ấy. Bà tiên hiền dịu liền hỏi nó :
- Ngươi đã thỏa lòng hay chưa ?
Nó trả lời :
- Tôi muốn thiêu rụi cả căn nhà.
- Rồi sao nữa ?
- Tôi muốn thiêu rụi cả dãy phố.
- Rồi sao nữa ?
- Tôi muốn thiêu rụi cả đất nước này.
- Rồi sao nữa ?
- Tôi muốn thiêu rui cả vũ trụ.
Từ đó, chúng ta thấy :
- Tàn lửa thì nhỏ, nhưng ước vọng của nó thì lớn. Nó muốn đốt cháy luôn, đốt cháy mãi và không bao giờ ngừng.
Chúa Giêsu cũng đã đem xuống trần gian một ngọn lửa. Ngọn lửa ấy không phải là ngọn lửa thiêu rụi những cánh rừng tràm ở U minh, những đồi thông trên Đalạt, cũng không phải là ngọn lửa từ trời đổ xuống hủy diệt Sodoma và Gomora. Nhưng là ngọn lửa tin yêu để soi đường dẫn lối cho chúng ta bước đi trong cuộc sống, để phá tan băng giá trong cõi lòng chúng ta cũng như  để sưởi ấm cho chúng ta trước những cơn gió lạnh cuộc đời. Và ngọn lửa ấy chính là Chúa Giêsu.
Ngài là niềm tin yêu của chúng ta. Ngài đã thắp lên trong trái tim chúng ta ngọn lửa tin yêu ấy vào ngày chúng ta lãnh nhận bí tích Rửa tội.
Thực vậy, trong ngày trọng đại ấy, chúng ta đã cầm trong tay ngọn nến bừng cháy, tượng trưng cho Đức Kitô. Anh sáng ấy phải sưởi ấm và soi chiếu cho  suốt cả cuộc đời chúng ta.
Ước vọng của lửa cũng chính là ước vọng của Đức Kitô như lời Ngài đã xác quyết :
- Ta đem lửa xuống trần gian và chỉ mong sao cho lửa ấy bừng cháy lên.
Hẳn rằng khi nhìn thấy ngọn nến sáng tiến lên giữa màn đêm u tối của đêm thánh vọng phục sinh, chúng ta đã nghĩ tới ước vọng của Chúa Giêsu. Và bây giờ đến lượt mình, mỗi người chúng ta cũng phải trở nên một ngọn lửa của Chúa để tiếp nối sứ mạng chiếu sáng và sưởi ấm của Ngài.
Thực vậy, có lần Ngài đã nói :
- Các con là ánh sáng thế gian. Một thành xây trên núi không thể dấu được. Cũng vậy, người ta không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng gà.
Một khi đã lãnh nhận ngọn lửa của Chúa trong tâm hồn, ngọn lửa ấy không phải chỉ soi chiếu và sưởi ấm cho bản thân chúng ta, mà hơn thế nữa bản thân chúng ta cũng phải trở nên một ngọn lửa soi chiếu và sưởi ấm cho những người chung quanh.
Để đạt tới mục đích ấy, chúng ta phải là người có ánh sáng, có sức nóng, nghĩa là có ngọn lửa của trong tâm hồn, bằng một đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương. Chúng ta phải trở nên người Kitô hữu thực sự, nghĩa là người có Đức Kitô trong tâm hồn và đem Đức Kitô đến cho người khác. Bởi vì chúng ta chỉ có thể cho cái chúng ta đã có. Cũng vậy, chúng ta chỉ có thể đem Chúa đến cho người khác, một khi chúng ta đã thực sự có Chúa trong cõi lòng. Chúng ta chỉ có thể chia sẻ ánh sáng và sức nóng ngọn lửa Đức Kitô cho người khác, một khi ánh sáng và sức nóng ấy đang ngập tràn tâm hồn. Hãy sống trọn vẹn niềm tin yêu và rồi chúng ta sẽ thắp sáng cuộc đời người khác bằng chính ngọn lửa tin yêu ấy.
Một Phanxicô Xaviê đã đem về cho Chúa biết bao nhiêu người, đã kéo khỏi vùng tăm tối và dẫn vào vùng ánh sáng biết bao nhiêu linh hồn Á đông.
Một Gioan Maria Vianney đã tỏa hương thơm thánh thiện, không phải chỉ cho giáo xứ Ars nhỏ bé, mà cho cho mọi người ở mọi nơi và trong mọi lúc.
Trong đêm trung thu, mỗi em bé chỉ cầm một ngọn nến nhỏ cũng đủ tạo nêm một đám rước đẹp mắt. Trong đêm lễ hội, mỗi người chỉ cầm một bó đuốc cũng đủ tạo nên một cảnh tượng hùng vĩ.
Nếu mỗi người chúng ta là một ngọn nến, một bó đuốc, hẳn chúng ta sẽ soi chiếu và sưởi ấm cho cả xã hội chúng ta đang sống.

 

TN20-C3: LỬA, NƯỚC VÀ GƯƠM

Qua đoạn Tin mừng hôm nay, tôi xin đưa ra ba hình ảnh tượng trưng để tóm kết, đó là lửa: TN20-C3

Qua đoạn Tin mừng hôm nay, tôi xin đưa ra ba hình ảnh tượng trưng để tóm kết, đó là lửa, nước và gươm.
Trước hết là HÌNH ẢNH CỦA LỬA.
Ngọn lửa thì nhỏ bé, nhưng ước vọng của nó lại không cùng. Nó muốn đốt cháy luôn, đốt cháy mãi. 
Tin mừng cứu độ Chúa Giêsu đem đến cũng phải là một ngọn lửa. Ngọn lửa ấy soi sáng cho toàn thể nhân loại, phải sưởi ấm cho tâm hồn mọi người. Ước vọng này đã được Chúa Giêsu nhiều lần xác định :
- Ta đem lửa xuống trần gian và chỉ mong sao cho lửa đó bừng cháy lênà. Để rồi cuối cùng chỉ còn lại một đoàn chiên và một chủ chiên.
Muốn được như vậy, mỗi người chúng ta phải là một tàn lửa tiếp nối nhiệm vụ sưởi ấm và chiếu sáng bằng chính đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương của mình, như lời Chúa phán :
- Các con là ánh sáng trần gian.
Trong trận thế giới đại chiến lần thứ hai, những  binh sĩ người Anh bị quân đội Nhật bắt làm tù binh. Họ phải làm việc khổ sở và bị đối xử tàn nhẫn. Lúc đầu, những người Anh còn giữ được lòng cao thượng và tinh thần tự trọng. Nhưng dần dần vì đói khổ và vì miếng ăn họ đã trở nên hung dữ và đối xử với nhau bằng luật rừng.
Trong số đó, có hai người công giáo với một đức tin mạnh mẽ và một đức ái sâu xa. Họ luôn cầu nguyện và giúp đới anh em bạn tù. Họ đã sống phần nào câu nói của một thi sĩ :
- Tôi đi tìm một tâm hồn mà không thấy, tôi lắng nghe Thiên Chúa mà chẳng có tiếng trả lời. Tối đến với một người anh em, và với người anh em này, tôi tìm thấy được tất cả.
Hai người lính này đã thắp lên ngọn lửa của Tin mừng, nhờ đó đã soi sáng và sưởi ấm cho tất cả đám tù binh, khiến họ bắt đầu yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau.
Thiết tưởng chúng ta hãy ghi nhớ những tư tưởng sau đây :
- Thà rằng thắp lên một ngọn lửa chứ đừng ngồi đó mà rủa sả bóng đêm.
- Cách thức hữu hiệu nhất để đẩy lui tăm tối là mỗi người chúng ta hãy trở nên một ngọn lửa .

Hình ảnh thứ hai đó là HÌNH ẢNH CỦA NƯỚC.
Nước gợi cho chúng ta nghĩ đến Bí Tích Rửa Tội. Thực vậy Chúa Giêsu đã bảo :
- Thầy phải chịu một phép rửa và lòng thầy khắc khoải cho đến khi hoàn tất.
Phép Rửa của Chúa Giêsu là một Phép Rửa đặc biệt bởi vì Ngài bị nhận chìm trong khổ đau của cuộc thương khó. Và như thế, hình ảnh Phép Rửa và hình ảnh chén đắng cả hai đều gợi lên cho chúng ta cuộc tử nạn của Chúa.
Do đó, việc Chúa chịu phép rửa ở sông Giocđan báo trước và chuẩn bị cho phép rửa trong cái chết. Như vậy cuộc đời của Chúa được lồng vào giữa hai phép rửa : khi bắt đầu cuộc sống công khai và khi chết trên thập giá.
Chính phép rửa bằng đau khổ là căn nguyên đem lại hậu quả của phép rửa bằng nước. Đến đây chúng ta thấy Chúa thao thức mong mỏi rao giảng tin mừng, chu toàn sứ mạng Chúa Cha trao phó :
- Lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi mọi sự hoàn tất.
Hay như Pascal đã nói :
- Chúa Giêsu vẫn còn tiếp tục hấp hối cho đến tận thế vì tội lỗi người ta.

Hình ảnh thứ ba là HÌNH ẢNH CỦA GƯƠM.
Chúa phán :
- Thày không đến để đem sự bình an mà đem sự chia rẽ
Đó là một lời tuyên bố nảy lửa đáng cho chúng ta suy nghĩ. Chúa không đem bình yên  mà lại đem chia rẽ, không đem an hòa mà đem gươm giáo. Tại sao thế ?
Tôi xin thưa :
- Vì tinh thần của Chúa khác hẳn với tinh thần thế gian.
Bởi vậy, nếu thế gian ghét bỏ và chống đối Chúa cũng là điều tự nhiên và hợp lý. Từ đó nảy sinh ra sự chia rẽ nơi chính bản thân, trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Đức Kitô sẽ được một số người yêu mến nhưng cũng bị một số người ghét bỏ, đúng như lời ông già Simêôn đã loan báo :
- Trẻ nhỏ này sẽ trở nên như bia cho người ta chống đối.
Người La mã ngày xưa vốn thường bảo :
- Si vis pacem, para bellum. Có nghĩa là muốn có hòa bình, phải sửa soạn chiến tranh.
Sự thái bình chính là một ơn huệ của Đấng cứu thế. Muốn được thừa hưởng, chúng ta phải ra sức chinh phục mỗi ngày.

 

TN20-C4: NGỌN LỬA TÌNH YÊU - NTĐY/115

Tại một khu phố cổ Ấn Độ, trên đường cũng như trong nhà thường không có đèn. Giữa những: TN20-C4

Tại một khu phố cổ Ấn Độ, trên đường cũng như trong nhà thường không có đèn. Giữa những khu phố như thế, thỉnh thoảng người ta thấy mọc lên một ngôi đền Ấn Giáo. Dĩ nhiên, trong những ngôi đền như thế, ánh sáng cũng không được đốt lên thường xuyên.
Từ trên nóc đền thờ cũng như dọc theo bốn bức tường, họ treo những chiến lòng đèn. Khoảng trống trong những chiến lồng đèn ấy vừa vặn để cho vào một chiếu đèn dầu.
Bình thường ngôi đền thờ vắng lạnh vì tăm tối. Nhưng cứ mỗi sáng sớm, khi các tín hữu dùng đèn dầu soi đường để đi qua các khu phố đến đền thờ cầu nguyện, họ cũng mang chính những ngọn đèn ấy và đặt vào trong những chiến lồng đèn trong đền thờ. Thành ra, khi mỗi tín hữu đặt ngọn đèn của mình vào trong các lồng đèn, thì ngôi đền thờ bỗng sáng rực lên một cách lạ kỳ.
“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những mong ước phải chi lửa ấy đã bùng lên”. Đó là tâm nguyện cảu Đức Giêsu và cũng là trách nhiệm của mỗi người tín hữu chúng ta : Thế giới này là một ngôi đền thờ rộng lớn mà mỗi tín hữu phải đặt vào đó ngọn lửa tình yêu, để thế giới này bừng sáng lên tình anh em một nhà.
Ngọn lửa mà Đức Giêsu đã ném vào thế giới này, chính là ngọn lửa tình yêu vẫn bừng cháy trong trái tim Người : là ngọn lửa phục sinh đã bừng lên trong tâm hồn người tín hữu giữa đêm tăm tối, cũng là ngọn lửa Thánh Thần đã bừng sáng trí khôn các tông đồ ngày lễ Ngũ Tuần.
Nếu con người cần cơm bánh để sống còn, thì họ cũng cần tình thương để tồn tại.
Nếu con người cần áo quần để che thân, thì họ cũng cần tình thương để sưởi ấm.
Nếu lòng hai môn đệ Emmau đã bừng cháy lên khi nghe Lời Chúa, thì nhân loại sao chẳng rực sáng lên khi nghe lời yêu thương của Người ?
Lời yêu thương đã được viết lên trên cây thập giá, trong cuộc khổ nạn đau thương, đó chính là phép rửa mà Đức Giêsu phải chịu, để ném lửa yêu thương vào trần gian.
Như Thiên Chúa Giavê đã hiện ra với Môsênơi bụi gai cháy sáng và kêu gọi ông đi chu toàn sứ mạng, nay Người cũng sai chúng ta đi loan báo sứ điệp yêu thương cho trần thế.
Như Đức Giêsu đã đẩy lui bóng tốt tử thần bằng ánh sáng Phục sinh và sai các môn đệ đi loan báo tin vui, nay Người cũng mời gọi chúng ta hãy xua tan bóng tối của bất công, hận thù, nghèo đói với ánh sáng của tình thương cứu độ.
Như Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ dưới hình lưỡi lửa để biến họ thành chứng nhân Nước Trời, nay Người cũng muốn chúng ta mang ngọn lửa tình yêu, thanh luyện và sưởi ấm các tâm hồn.
Mahatma Gandhi, vị thánh của Ấn Đô đã nhận định sâu sắc về ngọn lửa tình yêu này như sau : “Một vật cứng rắn đến đâu, cũng sẽ tan chảy trong lửa tình yêu. Nếu vật ấy không tan chảy, chính vì ngọn lửa không đủ mạnh”.

 

TN20-C5: HÒA HAY CHIẾN - NMS/144

Alfred Nobel , một nhà bác học danh tiếng của Thụy sĩ, đã sáng chế ra được thuốc nổ làm: TN20-C5

Alfred Nobel , một nhà bác học danh tiếng của Thụy sĩ, đã sáng chế ra được thuốc nổ làm cốt mìn và thứ thuốc súng không khói. Người ta đã dùng thứ vũ khí lợi hại này trong chiến tranh nên số thương vong càng lên cao. Do đó, sau khi đã chế tạo được thuốc làm cốt mìn, Nobel  bị một số người gọi là “hung thần” và bà Bertha suttner, vợ ông gọi ông là “một tên sát nhân”. Chính vì những lời kết án đó đã đưa ông tới quyết định lập giải thưởng Nobel. Năm 1895, trước khi qua đời ông Nobel đã làm chúc thư để lại gia tài khoản 40 triệu quan để làm giải thưởng cho những ai có công với nhân loại. Một trong 5 giải thưởng cao quí này là giải thưởng Nobel về hòa bình, ban cho những ai đã hoạt động để gây thêm tình hữu nghị thân ái giữa các dân tộc hoặc cho những ai cổ động cho hòa bình nhân loại.
Có lẽ không ai, không một dân tộc nào trên thế giới mà lại không khao khát hòa bình, không ao ước một cuộc sống an lành hạnh phúc. Nhưng trớ trêu thay từ tạo thiên lập địa cho đến nay, nhân loại nhìn chung chưa bao giờ được hưởng lấy một yên ổn. Không nơi này thì nơi khác, hằng ngày hằng giờ, không chiến tranh lớn thì chiến tranh nhỏ xảy ra liên miên. Trước những kinh nghiệm đau thương đó, con người mới nhận ra rằng hòa bình không thể giải quyết bằng bom nguyên tử, bằng vũ khí tối tân hay bằng bạo lực chém giết nhau. Và nếu những thứ đó có đem lại hòa bình thì hòa bình đó chỉ là giả tạo, tạm thời, mau tan vỡ.
Vậy phải làm gì và làm thế nào để có thể kiến tạo được một nền hòa bình vững bền và chân chính ? Để giải đáp được vấn nạn này, trước tiên chúng ta hãy tìm kiếm đâu là nguyên nhân gốc rễ gây ra bất ổn, bất hòa giữa người với người. Và nếu diệt trừ được nguyên nhân chính yếu đó, tất nhiên con người sẽ hưởng được sự bình an đích thực.
Trước hết, có thể khẳng định rằng mọi bất ổn từ nhỏ đến lớn, giữa cá nhân này với cá nhân khác, giữa dân tộc này với dân tộc khác đều bắt nguồn từ tâm địa con người. Bởi vì tâm bất an thì mọi sự theo đó mà thác loạn, gây hận thù chia rẽ, sinh ra lắm tang thương độc ác. Hơn nữa, khi lòng trí con người để cho kiêu căng ích kỷ, tham tiền háo danh ngự trị thì không thể mà không gây xích mích, bất công, lạm dụng giữa người với người. Như thế, khi tâm trí con người chưa được giải thoát khỏi tham sân si thì không thể có sự bình an thật sự. Và bao lâu tâm hồn chưa có sự bình an này thì bấy lâu bất ổn, chiến tranh vẫn còn tồn tại. Diệt được tội lỗi, xấu xa là diệt được hỗn loạn, chiến tranh. Xây dựng được lòng con người trong sạch, chân chính là kiến tạo được hòa bình đích thực.
Tuy nhiên, hòa bình không có nghĩa là được an nhàn, sung túc về vật chất, thịnh vượng cho cuộc sống này vì vật chất, được sống mong manh, tạm bợ đâu phải là những thứ có khả năng mang lại cho con người sự vững bền và hoàn hảo đâu. Trái lại, chính chúng ta ai cũng tưởng sẽ đem lại sự bình an mong muốn, nhưng chỉ toàn đau khổ, chết chóc, chia rẽ, hận thù, ghen ghét.
Từ đó chúng ta mới hiểu được câu nói của Chúa : “Thầy đến thế gian không phải đem lại sự bình an, nhưng đem sự chia rẽ”. Thật chính đáng và phải lẽ vì sứ mạng cứu chuộc của Chúa không nhằm mục đích dạy cho con người tìm kiếm thứ hòa bình cầu an cầu lợi để thụ hưởng những sự sung sướng vật chất, mau qua. Trái lại, Chúa đem đến sự chia rẽ cần thiết và đáng giá vì những gì Chúa dạy để được an bình thực sự trong tâm hồn con người thì trái ngược lại với lòng ham muốn thấp kém, trí bạc nhược hư hèn nên sinh ra đấu tranh, giành giật giữa sự thiện và sự ác, giữa những ai chủ trương sống đời bê tha trụy lạc sẽ chống đối, gây gổ với Chúa, với những chỉ dạy của Ngài.
Vậy để trở thành một Kitô hữu đúng nghĩa, chúng ta phải trở thành ngọn đuốc hòa bình sáng rực tình thương, phải mang một con tim cao thượng không còn chứa chấp hận thù chia rẽ, không chạy theo những nuông chiều xác thịt, không đồng lõa với những ham muốn trần thế. Và muốn có bình an đích thực phải sống đúng lương tâm chân chính mà không sợ chống đối vì lẽ phải, không ngại bị sỉ nhục vì chân lý, không hùa theo người khác để mưu cầu lợi ích vật chất.
Tóm lại, một Kitô hữu chân chính bao giờ cũng yêu chuộng hòa bình và ra sức xây dựng sự hiệp nhất thân ái giữa mọi người, nhưng không nao núng, sợ sệt khi phải chiến đấu với tội lỗi, không thỏa hiệp với lười biếng thụ động. Và phải luôn xác tín rằng đời đời mới là thứ hòa bình cần phải tìm kiếm và xây dựng.

 

TN20-C6: ĐEM LỬA - ASTY/175

“Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa ấy cháy lên”.
 

Đó là những thời thiết bộc lộ tâm tình của Chúa Giêsu về chính sự mệnh của Ngài, khi vâng lời: TN20-C6

Đó là những thời thiết bộc lộ tâm tình của Chúa Giêsu về chính sự mệnh của Ngài, khi vâng lời Thiên Chúa Cha đến trong trần gian này : Sứ mệnh mang lửa xuống trần gian và làm cho lửa ấy mau cháy lên. Sứ mạng mang ơn cứu độ xuống trần gian và mong sao cho ơn cứu rỗi đó được đến với nhiều người, đến với tất cả mọi người.
Có bao giờ chúng ta đã thắt về chính thân phận của mình hay chưa ? Có bao giờ chúng ta đặt ra câu hỏi : Tôi đây, tôi sống trên trần gian này để làm gì ?
Có một Cha sở nọ, đang chuẩn bị mừng lễ 25 linh mục. Giáo dân trong họ đạo âm thầm mở chiến dịch quyên góp  để có một số tiền thưởng cho Cha, một số tiền vé máy bay và chi phí trong khách sạn một tháng để cha sở đi nghỉ hè. Nhưng biết được ý định trên của giáo dân, Cha sở thông báo trong nhà thờ ý muốn tha thiết của mình như sau :
Tôi biết anh chị em lúc nào cũng quảng đại tốt đối với tôi. Hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng, anh chị em đã dâng cúng tiền của cho nhà thờ và quảng đại nâng đỡ đời sống vật chất cho tôi. Và hiện tại tôi biết anh chị em đang quyên góp để thưởng công một tháng nghỉ hè cho tôi dịp lễ 25 linh mục. Tôi xin cám ơn anh chị em rất nhiều, nhưng trong dịp này tôi có một nguyện ước tha thiết nhất ôm ấp trong lòng từ lâu và đây cũng là nguyện ước đời linh mục của tội. Đó là dịp lễ 25 linh mục này, tôi muốn cộng đoàn anh chị em hãy dâng một món quà đặc biệt hơn, không phải là món quà tiền bạc, vật chất những là món quà 25 người tội lỗi nguội lạnh ăn năn trở lại cùng Chúa.
Cộng đoàn giáo xứ hiểu ý Cha sở của mình và trong Thánh lễ mừng 25 linh mục, thì 25 người trong Giáo xứ, trong y phục trắng tiến lên cung thánh trước mặt Cha sở nói lên ý chí quyết từ bỏ các tật xấu của mình, canh tân đời sống đức tin.
“Tôi không mong chờ anh chị em cho tôi tiền bạc, nhưng hãy cho tôi 25 người trở về ăn năn cùng Chúa”.
Câu nói này của Cha sở có thể được chúng ta kể như là một phản ánh cho ước nguyện sâu xa của Chúa Giêsu khi Ngài nói : “Thầy đã đến để mang xuống trần gian và không ước ao gì khác hơn là cho lửa ấy cháy lên”. Cha sở không mong muốn tiền bạc của giáo dân những Ngài mong muốn giáo dân ăn năn trở lại lãnh nhận ơn cứu rỗi của Chúa.
Ngày xưa, khi Chúa Giêsu xuống trần gian, Chúa Giêsu đã nói : “Ta mang lửa xuống trần gian”. Lửa trong Kinh thánh có hai ý nghĩa :
Ý nghĩa thứ nhất là chỉ chính sự sống, sự hiện diện của Thiên Chúa. Chúng ta nhớ lại biến cố Giavê Thiên Chúa hiện ra cho Môisen trong đám lửa cháy giữa bụi gai. Đó chính là sức sống, của sự hiện diện của Thiên Chúa nhưng tác động của sức sống, của sự hiện diện của Thiên Chúa này là thanh tẩy, là thanh luyện con người tội lỗi trở nên trong sạch hơn, đẹp lòng Thiên Chúa hơn nếu muốn để cho lửa đó thiếu đốt.
Ý nghĩa thứ hai của lửa trong Kinh thánh còn có nghĩa là sức mạnh thanh luyện, sức mạnh thanh tẩy con người. Sức mạnh đó không phải là sức mạnh của con người nhưng là sức mạnh của thần thiêng, sức mạnh của Thiên Chúa, của chính ân sủng Thiên Chúa thanh luyện, thanh tẩy con người trở thành trong sạch hơn, đẹp lòng Thiên Chúa hơn. Do đó khi Chúa Giêsu nói : “Ta đến mang lửa xuống trần gian và không ước ao gì khác cho bằng lửa ấy mau cháy lên”, thì Chúa Giêsu muốn nhắc đến sứ mạng cứu rỗi của Ngài. Ngài xuống trần gian để mang ơn cứu rỗi xuống cho con người và Ngài không ao ước gì khác hơn là cho ơn cứu rỗi được mau cháy lên, ơn cứu rỗi đó được thực hiện, được đến với mỗi người, với mọi người, với tất cả mọi người qua mọi thời đại.
 Chúng ta cũng vậy, là những người đã được mang danh hiệu Kitô, là những người đã tin nhận Chúa, chúng ta đã một lần để cho lửa tình thương của Chúa đến trong tâm hồn chúng ta, để cho ân sủng của Chúa đến với chúng ta, thanh tẩy chúng ta khỏi mọi tội lỗi, biết đổi con người chúng ta trở nên tốt lành hơn, trong sạch hơn, và giờ đây chúng ta có còn để cho lửa của Chúa, cho ơn cứu độ của Chúa tác động trong cuộc sống của mình, trong cuộc đời của mình, thanh tẩy đời sống của mình trở nên tốt đẹp hơn hay không ? Chúng ta hãy đáp lại lời mong ước của Chúa để cho lửa tình thương, lửa của ân sủng Chúa thay tẩy cuộc đời chúng ta, làm cho chúng ta được trở nên tốt đẹp hơn.
Xin Chúa gìn giữ mỗi người chúng ta trong đức tin mà chúng ta cũng nhau tuyên xưng qua kinh Tin kính.

 

TN20-C7: CHIA RẼ - CS/126

Trong đêm Chúa Giêsu sinh ra, các thiên thần đã hát mừng : “Bình an dưới thế cho người lòng: TN20-C7

Trong đêm Chúa Giêsu sinh ra, các thiên thần đã hát mừng : “Bình an dưới thế cho người lòng ngay”. Khi sai các môn đệ đi rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu cũng dặn các ông khi vào nhà nào hãy chào chúc : “Bình an cho nhà này”. Rồi sau khi từ cõi chết sống lại, mỗi lần hiện ra với các tông đồ Chúa Giêsu đều nói : “Bình an cho các con”. Như vậy, chúng ta thấy rằng : Chúa Giêsu đến trong trần gian là để đem bình an cho con người. Vậy mà trong bài Tin mừng hôm nay Người lại bảo : “Thầy không đến để đem bình an mà đem gươm giáo”. Phải chăng Chúa Giêsu tự mâu thuẫn với chính mình ?
Chúa Giêsu không tự mâu thuẫn với chính mình. Nhưng qua điều có vẻ mâu thuẫn nói trên, chúng ta cần tìm ra ý nghĩa và sứ điệp mà Người muốn nói với chúng ta.
Điều ao ước của Chúa Giêsu khi đến trong thế gian là đem lửa tình yêu, đem bình an, đem ơn cứu độ, đem sự giải thoát đến cho mọi người. Và để thực hiện được điều ao ước ấy, Người đã phải chấp nhận đi vào con đường khổ nạn, đã bị nhận chìm trong những nỗi đắng cay và phiền muộn. Đau khổ và cái chết ô nhục trên thập giá chính là phép rửa mà Chúa Giêsu đã tình nguyện nhận lãnh để mang lại tình yêu thương và sự bình an cho thế giới loài người, một thế giới đầy ganh ghét hận thù, một thế giới bị bè bẹp bởi lòng tham và ích kỷ đến độ người ta quên đi lòng nhân ái, sự bao dung, quên đi sự tha thứ, quên đi lòng quảng đại để chia sẻ cho nhau những nhu cầu tinh thần và vật chất của đời sống.
Khi bước vào con đường thập giá với hy vọng mang lại tình yêu thương và sự bình an cho con người, Chúa Giêsu cũng mời gọi mọi người bước theo sau Người. Nhưng vì con đường người đi là con đường của từ bỏ, của hy sinh, của quên mình, của đau khổ, nên tuy có nhiều người đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu, cũng có không ít người từ chối đi vào con đường ấy. Chính vì vậy mà có xung đột, có chia rẽ. Sự xung đột, sự chia rẽ có thể ra ngay trong gia đình giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái tùy theo mức độ đón nhận hay từ chối lời mời gọi của Người. Gươm giáo là ở đó.
Không dễ dàng để đi theo Chúa Giêsu và chịu khổ với Người. Nhưng con đường Người đã đi là con đường duy nhất dẫn đến hạnh phúc, đến sự sống, đến sự bình an đích thực và vĩnh cửu. Gươm giáo sẽ không còn nếu mọi người đều tin như thế.

 

TN20-C8: LỬA TÌNH YÊU - SNLC/186

Ngày khai mạc Olympic năm 1988 ở Đại Hàn đã trình diễn rất nhiều màn ngoạn mục đầy ấn: TN20-C8

Ngày khai mạc Olympic năm 1988 ở Đại Hàn đã trình diễn rất nhiều màn ngoạn mục đầy ấn tượng. Một trong những màn đó là rước lửa thiêng Olympic từ Hy Lạp tới và một lực sĩ đã dùng cung tên bắn ngọn lửa từ dưới đất bay lên vút trời nhào xuống ngọn đuốc cao bùng cháy sáng sực, soi sáng cho các cuộc tranh tài thể thao suốt ba tuần lễ.
“Đức Giêsu đã đến ném lửa vào trái đất” cho trái đất bùng cháy lên soi sáng cho chúng ta biết thi đua nhau trình diễn những màn ngoạn mục tuyệt đẹp về cuộc đời của mình. Người mong muốn lửa tình yêu của Người được bùng lên trong đời sống chúng ta.
Đọc lại Kinh Thánh chúng ta thấy tình yêu Thiên Chúa đã bốc lửa cháy lên trong bụi gai giữa đồng hoang, cho Maisen thấy lòng Thiên Chúa thương yêu dân Israel đang bị nô lệ Ai Cập, và truyền cho Maisen đến gặp vua Pharaon phải cho dân về quê hương Đất Hứa.
Tình yêu Thiên Chúa đã cháy lên thành ngọn đuốc soi đường dẫn lối cho dân đi trong đêm tối giữa rừng núi hoang vu.
Tình yêu Thiên Chúa tỏa sáng khắp núi Sinai để ban mười giới luật cho dân sống trong ánh sáng thánh thiện của Thiên Chúa.
Tình yêu Thiên Chúa rực rỡ như than hồng đốt tất cả mọi bợn nhơ bám vào miệng lưỡi ngôn sứ Isaia, để ông rao giảng Tin mừng về Đấng Cứu Thế. Chính lửa trời này đã xuống thiêu đốt của lễ của Êlia, làm cho dân nhận biết chỉ có Thiên Chúa của Êlia là Thiên Chúa thật để họ bỏ tà thần Baal, trở về thờ phượng Thiên Chúa. Lửa đó đã hóa ra chiếc xe hỏa chở Êlia lên trời.
Lửa bởi trời đó nay được chính Đức Giêsu đích thân ném xuống thế gian cho đến ngày tận thế, cho đến ngày hoàn tất công cuộc cứu độ muôn dân. Chính lửa đó làm cho muôn dân được sáng lên trong ánh sáng Phục sinh.
Chính lửa ấy Đức Giêsu và Thần linh của Người đã đốt lên trong lòng các thánh tông đồ trở nên những lực sĩ vô địch chạy đua bao quanh khắp thế giới để cho lửa tình yêu của Thiên Chúa bùng lên khắp mặt đất.
Bây giờ đến lượt chúng ta, chúng ta đã được chịu phép rửa trong máu Trái tim Chúa, đã được đốt lên trong lửa Chúa Thánh Thần thêm sức, chúng ta phải cháy lên, nóng lên, phải cố gắng hằng ngày đi nung nấu mình trong ánh sáng của Phúc âm, rèn luyện mình trong lò lửa cầu nguyện, để trở thành đuốc thiêng soi sáng vận động trường thế giới sáng lên, nếu không ta sẽ bị vất bỏ ra ngoài như đồ bị mửa ra vì “nóng không nóng hẳn, dở dở hâm hâm sẽ bị mửa ra”.
Tất cả các môn đệ chân chính của Đức Kitô, đều phải trở nên chứng nhân như cột lửa sáng dẫn lỗi chỉ đàng cho muôn dân thoát cảnh tăm tối. Tất cả mọi Kitô hữu đích danh phải kiên cường như những lực sĩ, phải chạy đua tận lực, phải xiết ga để đoạt cúp, phải kiên trì tập luyện trừ khử mọi trở lực tính mê tội lỗi. Phải “mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, đặt trên giá đèn, sưởi ấm cho gia đình, đốt nóng xóm làng, soi sáng khắp phố phường cho mọi người nhận biết Chúa, nhận được lửa tình yêu cứu độ.

 

TN20-C9: CHIA CÁCH - TMCN/177

Thực tế điều đó đã xảy ra. Đó là lý do khiến người La Mã ghét Kitô giáo, bởi vì nó khiến gia: TN20-C9

Thực tế điều đó đã xảy ra. Đó là lý do khiến người La Mã ghét Kitô giáo, bởi vì nó khiến gia đình phân rẽ. Perpetua thuộc gia đình quý tộc, bị bắt vì đạo. Cha của nàng vẫn là dân ngoại, thuyết phục nàng bỏ đạo. Chỉ vào chiến bình nàng lễ phép nói với cha : “Thưa cha, người ta có thể gọi vật này bằng một cái tên nào khác hơn là cái bình không ? Đối với con cũng thế, con không thể cho mình một cái tên nào khác ngoài danh hiệu là Kitô hữu”. Tức quá, ông đánh đập nàng tàn nhẫn, rồi bỏ đi nhiều ngày không tới. Perpetua có một đứa con còn đang bú, rất khổ vì phải xa con. Đứa bé kiệt sức nên người ta đưa lại cho mẹ nó, và nàng quên hết đau khổ vì có con bên cạnh.
Vì biết con gái mình sắp bị án tử, người cha lại đến với những lời thảm thiết : con ơi, hãy thương đến mái tóc bạc của cha, hãy nhớ đến đôi tay cha đã dưỡng nuôi con. Hãy nhớ tới mẹ con, anh em con và đến con nhỏ của con nữa, nó sống làm sao nếu không có con. Con hãy bỏ đạo, bỏ đi điều đã làm cho chúng ta mất tất cả.
Tuy rất cảm động và đau khổ, Perpetua chỉ ngẹn ngào trả lời: Thưa cha, tại tòa án sẽ xảy ra điều Chúa muốn, bởi vì chúng ta thuộc về mình. Người cha còn cho đem đứa trẻ đến năn nỉ : con hãy thương đến đứa con nhỏ của con.
Tuy nhiên trước tòa án, cùng với các bạc khác, Perpetua đã công khai tuyên bố trung thành với Chúa và bằng lòng hy sinh tất cả.
Ngay cả trong gia đình tin Chúa cũng xảy ra chia rẽ. Cha của Phanxicô muốn chàng theo nghề buôn bán để được giàu sang, còn chàng lại quyết tâm theo tiếng Chúa gọi sống nghèo khó tận cùng, thế là bố con chia rẽ nhau.
Mỗi người tin Chúa phải quyết định hoặc yêu mến gia đình hơn hoặc yêu Chúa Giêsu hơn. Bản chất của Kitô giáo là phải đặt sự trung thành với Chúa Giêsu lên trên tất cả các sự trung thành khác của thế gian. Người ta sẵn sàng coi mọi sự như thua lỗ vì vớ cao trọng tuyệt đối của Chúa Giêsu.

 

TN20-C10: SỰ CHIA RẼ - P/137

Để diễn tả lòng mong ước hoàn thành sứ mạng cứu độ của mình, Chúa Giêsu dùng hai hình: TN20-C10

 Để diễn tả lòng mong ước hoàn thành sứ mạng cứu độ của mình, Chúa Giêsu dùng hai hình ảnh : lửa cháy và phép rửa.
Trong truyền thống thánh kinh, lửa hồng ám chỉ ngày Thiên Chúa phán xét vũ trụ. Trước khi trời mới, đất mới được thiết lập, ngày phán xét của Thiên Chúa cũng như lửa hồng thiêu đốt và thanh luyện mọi loài, mọi vật.
Trong thời gian trước ngày phán xét, ngọn lửa hồng thiêu đốt, thanh luyện người tín hữu chính là Chúa Thánh Thần.
Khi lãnh nhận phép rửa, người tín hữu dầm mình trong nước, như dấu chỉ tắm gội, tẩy rửa thân xác và lòng trí khỏi tất cả mọi tì vết ô uế của tội lỗi và sự dữ, hầu trở thành thụ tạo mới. Để tẩy rửa nhân loại khỏi mọi vết nhơ của tội lỗi, Chúa Giêsu cũng phải lãnh nhận phép rửa của cuộc tử nạn, và sự chết, để từ đó khai mào một dòng giống mới, một dân mới của Thiên Chúa.
Qua hình ảnh trên đây, Chúa Giêsu diễn tả ý nghĩa thâm sâu cuộc tử nạn và cái chết của Ngài. Chính vì cuộc tử nạn và cái chết của Chúa Giêsu mới có sức mạnh trao ban ơn cứu rỗi, và thay đổi tận gốc rễ cuộc sống con người, làm cho con người trở thành một thụ tạo mới. Vì thế, nên lời Chúa Giêsu mời gọi mọi người can đảm dấn thân sống theo Tin mừng của Ngài, thật cấp bách và khẩn thiết.
Sứ điệp Tin mừng của Chúa Giêsu là sứ điệp yêu thương và hòa bình. Nhưng việc dấn sống sứ điệp đó có thể là dịp gây đổ vỡ, rạn nứt và chia rẽ trong cuộc sống con người. Khi cương quyết sống giáo huấn yêu thương và hòa bình của Chúa Giêsu, người Kitô chặt đứt những mối ràng buộc của ích kỷ, thù hằn, bạo lực, và chặt đứt xiềng xích con người trong ngục tù tăm tối của sự dữ.
Đó là sự rạn nứt đầu tiên trong đời sống cá nhân.
Những vết chặt đó âm hưởng trên những liên lạc của gia đình, xã hội. Vì theo Chúa Giêsu và sống giáo lý của Ngài, nên người Kitô phải đi ngược dòng đời, và rơi vào xung khắc với cả những người thân yêu và môi trường xã hội; đặc biệt, khi những người thân yêu, cũng như với môi trường xã hội không muốn chấp nhận sống theo giáo lý yêu thương hòa bình của Chúa.
Nhưng, những vết rạn đó là cái đau đớn của hạt lúa nẩy mầm, chết đi để lớn lên và đâm bông kết trái.

 

 TN20-C11: VINH QUANG - MNMTV/252

“Khi Chúa Kitô gọi một người nào đó, thì Ngài gọi người đó đến để chết”.
 

Câu nói này được trích trong tác phẩm nổi tiếng của mục sư Tin Lành Dietrich Bonhoeffer, xuất: TN20-C11

Câu nói này được trích trong tác phẩm nổi tiếng của mục sư Tin Lành Dietrich Bonhoeffer, xuất bản năm 1937, với tựa đề Theo Chúa Kitô.
Năm 1933, khi Hítler lên nắm chính quyền, Bonhoeffer đã thấy Đức quốc xã sẽ đe dọa nước Đức và cuộc sống của người tín hữu, ông gia nhập Đảng đối lập. Có người hỏi : “Nếu chiến tranh xảy ra, ông sẽ làm gì ?”.
Mục sư bonhoeffer trả lời : “Tôi sẽ cầu xin Chúa Kitô ban cho tôi sức mạnh để không cầm súng”.
Ông đã bị giam tại trại tập trung và bị treo cổ vào ngày 9/4/1945. Cái chết của ông là một diễn đạt hùng hồn cho câu nói của ông : “Khi Chúa Kitô gọi người nào đó, thì Ngài gọi người đó đến để chết”.
Không phải tất cả chúng ta đều được phúc tử đạo hoặc trải qua cuộc hành quyết vì đức tin, nhưng chúng ta đều biết rằng theo Chúa Kitô là đi theo con đường chiến đấu của thập giá. Qua hình ảnh của sự chia rẽ trong gia đình, Chúa Giêsu muốn nói đến sự chọn lựa dứt khoát mà người Kitô hữu phải làm. Vì Ngài, con người phải chiến đấu, phải hy sinh ngay cả tình máu mủ ruột thịt.
Cuộc sống của người Kitô hữu là một cuộc chiến đấu không ngừng. Trận chiến mà chúng ta tham dự là trận chiến chống lại sức mạnh của ác thần. Vương quốc Chúa Giêsu thiết lập là một vương quốc luôn trong tình trạng chiến tranh, Giáo hội của Ngài luôn trong tình trạng thánh chiến. Thánh chiến ở đây không có nghĩa là chiếm lại Thánh địa, các nơi thánh hay bất cứ lãnh thổ trần gian nào, nhưng là chống lại sức mạnh của tăm tối, hận thù, tội lỗi và chết chóc.
Bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng gây nên chết chóc đau thương. Hòa bình mà nhân loại đạt được lắm khi là giá của rất nhiều mạng người. Người Kitô hữu cũng đeo đuổi một cuộc thánh chiến, nhưng là để đạt được bình an trong tâm hồn. Sự bình an ấy, chúng ta chỉ có thể đạt được bằng giá của một cuộc chiến đấu liênlỉ chống lại tội lỗi và khuynh hướng xấu trong chính bản thân. “Nếu muốn có hòa bình, hãy chuẩn bị chiến tranh”. Nếu muốn có bình an trong tâm hồn, hãy chuẩn bị đương đầu với những cạm bẫy và sức mạnh của ác thần luôn bủa vây lôi kéo chúng ta đến tội lỗi.
Nguyện xin Chúa ban cho chúng ta sức mạnh và tình yêu, để chiến đấu vì Chúa và đạt được phần thưởng chiến thắng.

 

TN20-C12: GIA ĐÌNH - MNMTV/290

Tin mừng hôm nay gợi lại cho chúng ta thái độ dứt khoát tận căn của thánh Phanxicô Assisiô.: TN20-C12

Tin mừng hôm nay gợi lại cho chúng ta thái độ dứt khoát tận căn của thánh Phanxicô Assisiô. Người cha đưa con ra tòa với hy vọng thuyết phục người con từ bỏ con đường điên rồ mà anh đang dấn thân vào. Nhưng trước mặt quan tòa và mọi người, người con đã cởi bỏ quần áo trả lại cho cha, và dõng dạc tuyên bố : “Của cha, con xin trả lại cho cha, từ nay, con chỉ có một cha, là Cha trên trời”.
Trong ba năm sống công khai, Chúa Giêsu xem chừng hoàn toàn thoát ly khỏi gia đình. Ngài sống cảnh không nhà không cửa, ngay cả không có nơi gối đầu. Bà con thân nhân đi tìm bắt Ngài vì họ cho là Ngài mất trí. Về thăm quê hương, mọi người thán phục và chờ đợi nơi Ngài những phép lạ, nhưng Chúa Giêsu đã không làm phép lạ nào nơi quê quán của Ngài. giới thiệu Mẹ và bà con với đám đông, Ngài khẳng định Mẹ và anh chị em của Ngài là những ai nghe và giữ lời Ngài. xem ra cách sống và lời rao giảng của Chúa Giêsu chối bỏ một mối dây máu mủ ràng buộc con người.
Thực ra, Chúa Giêsu chỉ sống có ba năm. Ba mươi nămtrước đó, tức là phần lớn cuộc sống tại thế, Chúa Giêsu đã sống giữa gia đình, điều này hẳn mang một ý nghĩa đặc biệt. Nhìn lại khoảng thời gian ấy dưới ánh sáng lời Ngài, chúng ta sẽ thấy rõ gia đình vốn là trọng tâm của cuộc đời Chúa Giêsu. Chính trong và qua đời sống dưới mái gia đình, Chúa Giêsu đã sống mầu nhiệm nhập thể và thực thi ý Chúa Cha. Nhưng cũng qua cuộc sống âm thầm trong gia đình, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta rằng Ngài đến để thánh hóa tất cả những gì thánh thiêng nhất của con người.
Chỉ trong và qua trung gian của Chúa Giêsu, các quan hệ máu mủ ruột thịt mới có ý nghĩa. Không mối dây thân thương ruột thịt nào mà không qua trung gian của Ngài. Đo đó, tình cảm, tình bạn, tình yêu, và những quan hệ tình cảm tốt đẹp nhất của con người chỉ có thể trở nên phong phú, khi trở thành dấu chứng cho tình yêu Thiên Chúa. Tình cảm của con người được thăng hoa khi trở thành dấu chứng tình yêu của Thiên Chúa.Trái lại, khi tình cảm ấy ngăn cản con người đến với Chúa, nó sẽ đánh mất tính nhân bản và ý nghĩa đích thực của nó.
Tìm kiếm và xây dựng những giá trị của Nước Trời trong những thực tại trần thế, đó là ơn gọi của người Kitô hữu. Thực ra, nó cũng là biểu thức khác của giới răn mến Chúa, yêu người. Chính qua cuộc sống gia đình, con người xây dựng những giá trị của Nước Trời. Chúa Giêsu không kêu gọi con người tù bỏ gia đình cho bằng đặt Thiên Chúa vào trọng tâm đời sống gia đình.
Nguyện xin Chúa cho chúng ta ý thức rằng để trung thành với những bổn phận trong đời sống gia đình, cần phải có những nhân đức anh hùng, và sống tận căn nhân đức ấy, cũng đồng nghĩa với vác thập giá và tử đạo mỗi ngày.

 

TN20-C13: MÁU CỦA CÁC VỊ TỬ ĐẠO - Lm. Augustine, SJ

Một bé gái tiến vào dinh quan, bị lính ngăn chặn lại. Nhưng cô bé ấy cứ xông tới. Người ta: TN20-C13

Một bé gái tiến vào dinh quan, bị lính ngăn chặn lại. Nhưng cô bé ấy cứ xông tới. Người ta không thể nào hiểu được ý định của cô bé mới 13 tuổi mà đã muốn chịu chết vì đạo Đức Chúa Trời! Quan ra lệnh cho lính gác đuổi "con bé ấy" ra ngoài. Nhưng cô bé tên Lựu (tên rửa tội là Luxia) không chút sợ sệt cưỡng lại lệnh quan. Cô bé Lựu dám nói lớn tiếng cho mọi người biết rằng mình tôn thờ Đấng tạo thành trời đất cùng muôn loài muôn vật. Thế là ông quan ghét đạo không chịu nổi, liền ra lệnh cho "con bé ấy" chung số phận với những người theo đạo mà không chịu quá khóa. Bình thường việc thi hành án tử hình thời ấy ở Đàng Trong phải được Chúa Nguyễn châu phê từng trường hợp. Riêng với cô ương ngạnh "cuồng tín" này, quan Trấn Thủ Quảng Nam Dinh đã có cách hành quyết trước, tường trình sau.
HẠT GIỐNG PHÁT SINH RA CÁC KITÔ HỮU
Tác giả cuốn Sống Trong Xã Hội Con Rồng Cháu Tiên 1615-1773 cho ta biết cô bé Lựu này con ông Phêrô Kỳ từng làm quan ở Quảng Ngãi. Ông chịu phép rửa khoảng năm 1660 và tỏ ra rất có lòng thương người nghèo, đến nỗi chính ông đứng ra nuôi một số người bệnh tật nghèo khó ở kinh đô Huế, dầu họ có đạo hay không. Ông được cha Phạm Sinh Tứ (Fuciti) Dòng Tên đặt làm đầu giáo đoàn Huế và được phúc chịu chết vì đạo ngày 27 tháng 1 năm 1665.
Nay đến con ông lãnh phúc đó hoàn toàn tự nguyện. Cô đi từ kinh đô Huế vào Quảng Nam để xin chịu chết vì đạo. Khi xưng tội với cha Phạm Sinh Tứ, cô đã thú thật với cha về ý định nộp mình cho Trấn Thủ Quảng Nam Dinh. Cô ước ao lãnh phúc tử đạo đền bù cho nhiều người chỉ vì sợ chết nên đã chối Chúa. Cha Phạm Sinh Tứ khuyên cô không nên liều lĩnh như vậy, vì chỉ khi nào bị bắt, cô mới phải công khai xưng đức tin. Nhưng cô Lựu cứ nằng nặc đòi cha phải đồng ý với cô và cuối cùng cô đã thắng. Cô xin để lại cho cha Phạm Sinh Tứ chút quà kỷ niệm chính là chiếc áo lụa tốt người ta may cho các vị tử đạo mặc trên đường từ nhà tù tới nơi hành quyết.
Vậy là cô bé dũng cảm thuộc giáo đoàn Huế được toại nguyện. Người ta giong cô ra pháp trường ngoại ô thành Chiêm, thủ phủ Quảng Nam Dinh, để cho voi dày thân xác cô Lựu, theo tập tục tử hình đối với nữ giới. Thật lạ lùng, cô bước đi hiên ngang vui vẻ như đi lễ hội. Khi đối diện với con voi to lớn, cô bé Lựu vẫn bình tĩnh, cởi áo dài, gửi lại cha Phạm Sinh Tứ làm kỷ niệm. Cô vừa vỗ tay reo mừng, vừa tiến lại gần con thú dữ thay vì chờ nó tiến lại cô. Thế là con voi dùng vòi xốc cô bé tung lên cao rồi lại đưa vòi đỡ lấy cô bé. Chỉ ba lần tung lên, rớt xuống như thế, với thân xác tan nát, cô Lựu đã hoàn toàn trở nên người chứng cho đức tin ở tuổi 13. Tác giả Đỗ Quang Chính trong cuốn sách nói trên, ghi rõ tên bà Phanxica Danh Mụ Nhoe (có lẽ là Dinh Mỹ Nhuệ) đã chứng kiến cái chết tử đạo anh dũng của cô Lựu vào khoảng 10g-12g trưa ngày 6 tháng 2 năm 1667.
Cuộc tử đạo anh dũng của người tín hữu trẻ ở tuổi 13 được kể ở đây để giúp hiểu bài Tin Mừng hôm nay nhất là với lời Đức Giêsu tuyên bố "Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất" (cc.49-50).
NÀO ĐỨC KITÔ CHẲNG PHẢI CHỊU ĐAU KHỔ
Hình ảnh lửa mà Đức Giêsu đến ném trên mặt đất, không dễ cắt nghĩa. Nói chung trong Kinh Thánh hình ảnh ấy thường chỉ về cuộc phán xét hoặc cuộc thanh lọc. Nhưng ở đây hình ảnh lửa cũng gợi ý về ngọn lửa Chúa Thánh Thần mang lại cho cộng đoàn các tín hữu.
Chính Đức Giêsu có sứ mạng làm phép rửa cho người ta trong Thánh Thần và lửa (Lc 3,16). Trong thực tế các Tông Đồ đã chịu phép rửa trong Thánh Thần (CV 1,2,4;2,3-4). Riêng Đức Giêsu sẽ trầm mình trong cuộc thương khó (Ga 7,39; Cv 2,23-24), trước khi lãnh nhận và ban Thánh Thần cách chan chứa (Cv 2,33).
Câu nói Thầy còn một phép rửa phải chịu và lòng Thầy khắc khoải biết bao đến khi việc này hoàn tất gợi nhớ tới sự kiện vâng phục của Đức Giêsu nhiều lần được nhắc nhở (Lc 2,49;13,33). Tức là trong kế hoạch của Thiên Chúa, Đức Giêsu còn cần được trầm mình trong dòng khổ đau (Tv 124,4-5) ví được như phép rửa của cuộc Thương Khó (Mc 10,38-39; Lc 22,42 nơi nói đến chén khổ đau). Đức Giêsu sẽ vâng phục kế hoạch đó của Chúa Cha (Ph 2,8), Người còn thao thức sao cho cuộc Thương Khó sớm hoàn thành.
Nói tóm lại, cộng đoàn Kitô hữu phát sinh do ơn Chúa Thánh Thần. Ơn đó chỉ được ban khi Đức Kitô được tôn vinh nhờ Người đã trải qua cuộc thương khó và nỗi chết: nào Đức Giêsu chẳng phải chịu đau khổ rồi mới được vinh quang ư? (x. Lc 24,26). Cho nên người thao thức cho cuộc thương khó và nỗi chết ấy được hoàn thành để Hội Thánh xuất hiện như thành tựu của công trình Người đến thực hiện.
Nói theo vị Giáo Phụ Tertullianus (c. 115-222) máu của các vị Tử Đạo là hạt giống làm phát sinh ra các Kitô hữu (sanguis martyrum, Semen Christianorum). Tức là các Kitô hữu, tham gia cuộc thương khó và nỗi chết của Đức Kitô nên mới có lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống tràn lan mang lại dân số Kitô hữu đông đảo.
Hãy coi tình trạng Đức Kitô chịu thương khó tại miền nam nước Việt dưới quyền Chúa Nguyễn vào cuối năm 1664. Khi ấy đạo Kitô được kể là Đạo Hoa Lang, là "đạo pháp" của vua Bồ Đào Nha, và là tà giáo. Tác giả cuốn Sống Trong Xã Hội Con Rồng Cháu Tiên nêu những lý do như tam giáo bị mất tín đồ, nhiều người giàu sang không lấy được các cô gái theo Đạo Hoa Lang làm thiếp...
Tại Hội An, Thanh Chiêm, người ta đặt tượng Chịu Nạn nơi các ngã ba, ngã tư, cứ khoảng 10 giờ sáng khi có hiệu lệnh, mọi người phải quá khóa: Đàn ông phải giày đạp, bước qua tượng; đàn bà phải ngồi lên tượng. Như thế mới chứng tỏ là bỏ Đạo Hoa Lang. Thời ấy nhiều người lương, đặc biệt là chính quyền, hiểu lầm Chúa Giêsu chịu đóng đinh chính là hình tượng vua Bồ Đào Nha.
Cuộc Thương Khó trở nên bi thảm nhất là với số người bỏ đạo hàng loạt. Theo linh mục Chế Vinh Lan (Louis Chevreuil, M.E.P.) có mặt tại Hội An, Thanh Chiêm, thì riêng Quảng Ngãi (là một thủ phủ thuộc Quảng Nam) có tới 4,000 bổn đạo, nhưng hầu hết chối đạo.
RỒI MỚI ĐƯỢC VINH QUANG Ư?
Chính từ bối cảnh Thương Khó ấy Chúa Thánh Linh đã khơi dậy những Kitô hữu dũng cảm được liệt kê trong cuốn Sống trong Xã Hội Con Rồng Cháu Tiên:
- Một bà mới 25 tuổi (không biết tên) rẽ qua đám đông, dõng dạc nói lớn tiếng trước mặt quan, mình là người theo đạo Đức Chúa Trời. Quan liền ra lệnh cho lính đóng gông bà, rồi cho voi giày.
- Bà Anna đã 50 tuổi, một người nhiệt tình dạy giáo lý cho nữ giới, cũng bắt chước bà trên đây bị lên án voi giày: Người ta nung sắt đỏ, áp lên các phần thân thể của bà như mặt, dái tai, ngực, hai bên hông; hơ lửa lên mắt, dí lửa vào hai lỗ tai, lỗ mũi.
- Ba thiếu nữ: Inê 13 tuổi, Fé (Tin) 16 tuổi, Anna 20 tuổi, cũng tự xưng đức tin tại Thanh Chiêm; nhưng các quan chỉ truyền đánh đòn, rồi đuổi về.
Riêng cô bé Lựu (Luxia) ước ao để đền bù tội chối đạo của nhiều người nên cô đã được ban phúc tử đạo như nói trên.
"Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác" (Ga 12,24). Lời đó trước tiên áp dụng bản thân Đức Giêsu. Các Kitô hữu là người bước theo Người sẽ không có con đường khác tuy mỗi người mỗi khác theo ơn Chúa Thánh Linh thúc đẩy. Với cô Lựu ơn Chúa được ban là phúc tử đạo vì lòng yêu mến Chúa thiết tha và yêu mến đồng loại bị cám dỗ bỏ đạo. Với mọi Kitô hữu, thực ra, ơn gọi được ban là phải dành lại tự do để bước theo Chúa Giêsu ngay trong cuộc sống mình đang sống. "Chỉ có Thần Khí mới ban sự sống" (Ga 6,63). Chính Thánh Thần can thiệp vào nỗ lực cá nhân, khơi dậy và sinh động hóa nỗ lực ấy, làm cho ta có thể hoạt động như những chi thể Chúa Kitô, như con cái Chúa Cha, để xây dựng Nước Thiên Chúa.

 

TN20-C14: NẾU BẠN TRIỆT ĐỂ SỐNG TINH THẦN TIN MỪNG - Jkn

Câu hỏi gợi ý:
 

Nếu bạn triệt để sống tinh thần Tin Mừng vượt mức bình thường của mọi người, hoặc hăng say: TN20-C14

1. Nếu bạn triệt để sống tinh thần Tin Mừng vượt mức bình thường của mọi người, hoặc hăng say dấn thân làm việc cho Thiên Chúa, nhân loại và Giáo Hội đến nỗi phải hy sinh rất nhiều, thì thái độ của những người chung quanh bạn thế nào? khen ngợi hay chê bai? ủng hộ hay chống đối?
2. Đức Giê-su nói: Ngài đến không phải để đem lại hòa bình mà là sự chia rẽ, điều đó có đúng trong thực tế không? Xin đan cử vài trường hợp cụ thể.
Suy tư gợi ý:
1. Tâm lý chung của con người
Những ai đã từng sống cuộc đời sa đọa, bê bối, hoặc dưới trung bình về mặt đạo đức, chắc chắn sẽ được những người thân (cha mẹ, thầy cô, vợ con, anh chị em, bạn bè…) chung quanh mình nâng đỡ, vực dậy, kéo ra khỏi vũng bùn. Nhưng những người đã từng sống một cuộc đời vượt hẳn mức trung bình, chẳng hạn muốn triệt để sống theo tinh thần Tin Mừng, muốn hy sinh, quên mình thật sự để phục vụ tha nhân, hoặc triệt để sống phó thác vào Chúa, thì sẽ bị những người chung quanh khuyên can, lôi mình xuống. Nếu khuyên can không được, họ sẽ nói mình dại dột, khùng, «mát»… thay vì nể phục. Nhiều vị thánh, khi quyết tâm triệt để sống theo lời khuyên của Tin Mừng, thì bị chính những người thân mình nhất cản trở, như trường hợp thánh Phan-xi-cô Khó Khăn. Khi ngài quyết tâm từ bỏ đời sống giàu sang, bán mọi thứ mình có để bố thí, chấp nhận sống nghèo khó hầu hòa mình và phục vụ những người khốn khổ, thì cha mẹ ngài cản trở. Cản không được, hai ông bà bèn cho gia nhân chửi mắng Ngài là đồ khùng, ngu xuẩn, và cho phép họ ném cà chua, đồ dơ vào ngài mỗi khi ngài đi ngang qua nhà.
2. Tâm lý ấy bất lợi cho các ngôn sứ
Tâm lý của con người là như vậy. Mình xuống thấp thì họ nâng mình lên, điều đó thật là tốt! Nhưng mình lên quá cao thì họ lôi mình xuống. Các ngôn sứ của Thiên Chúa đều cảm nghiệm được tâm lý này nơi những người thân mình. Khi ý thức được tiếng Chúa gọi mình làm chứng cho Ngài, cho chân lý, công lý và tình thương, đồng thời muốn đáp trả ơn gọi ấy một cách quảng đại, can đảm, người ngôn sứ sẽ phải đối phó hoặc chiến đấu với chính những người thân yêu nhất của mình, những đồng đạo của mình. Chính điều này làm cho người ngôn sứ trở nên hết sức đơn độc, và nỗi khổ tâm chủ yếu của người ngôn sứ không phải ở chỗ phải hy sinh những điều mà Chúa trực tiếp đòi hỏi cho bằng phải chịu sự bách hại của chính những người thân yêu mình: cha mẹ, vợ con, anh chị em, bạn bè. Nhiều khi càng là người thân thì lại càng cản trở mình mạnh hơn. Tuy nhiên, người ngôn sứ không thể vì sự chống đối của người thân mà bực bội hay ghét bỏ họ, vì họ không thể làm gì khác hơn điều họ nghĩ.
Như thế, người ngôn sứ phải hy sinh nhiều mặt:
– Những hy sinh đến từ sự đòi hỏi của Thiên Chúa, của ơn gọi, của lương tâm: Thiên Chúa luôn luôn đòi hỏi người ngôn sứ phải hy sinh và chịu đau khổ cao độ hơn người khác;
– Những hy sinh đến từ những bách hại của những người có hành vi sai trái mà người ngôn sứ cảm thấy phải lên tiếng cảnh báo;
– Những hy sinh đến từ những người thân yêu nhất của mình: những người này rất yêu thương mình, sẵn sàng hy sinh cho mình, nhưng lại không chấp nhận cho mình dấn thân ở mức độ mà họ cho là quá mức cần thiết. Vì sự dấn thân bị coi là quá mức ấy có thể gây thiệt hại cho họ (khiến họ bị liên lụy, bị mất quyền lợi, phải lo lắng và buồn phiền nhiều chuyện, phải khổ tâm khi thấy mình khổ, hoặc phải lo sợ cho sự an nguy của mình). Chẳng hạn, một người chồng muốn dấn thân cho Chúa nhiều hơn làm sao tránh được tình trạng buộc người thân mình cũng phải phần nào chấp nhận hy sinh, thiệt thòi và cực khổ nhiều hơn vì mình? Một linh mục hay một tu sĩ muốn làm ngôn sứ làm sao tránh được chuyện làm phiền hà các bề trên mình, tập thể của mình (linh mục đoàn, nhà dòng), và những người mình có nhiệm vụ chăm sóc?
3. Chúa và ơn gọi có thể là nguyên nhân gây chia rẽ
Người ta thường nghĩ Đức Giê-su hay các ngôn sứ là những người đem lại bình an cho tâm hồn con người, và là nguyên lý nối kết mọi người lại với nhau. Điều đó rất đúng, nhưng chỉ đúng một mặt, vì xét trên một bình diện khác, thì chính Đức Giê-su và các ngôn sứ lại là những người đem lại sự bất ổn cho tâm hồn, và là nguyên lý gây nên chia rẽ giữa mọi người.
– Đem lại bất ổn, vì các ngài luôn luôn đặt mọi người trước một vấn đề lương tâm buộc họ phải có một thái độ: hoặc theo tiếng lương tâm, hoặc không theo. Theo tiếng lương tâm thì phải hy sinh nhiều thứ, phải chấp nhận thiệt thòi, đau khổ, phải sống cao thượng, anh hùng… nhưng tâm hồn được bình an. Còn không theo tiếng lương tâm thì không bị thiệt thòi hay đau khổ gì, nhưng lại bị chính lương tâm mình cắn rứt, dày vò, và cũng có thể bị dư luận chê trách.
– Gây chia rẽ, vì trước sự đòi hỏi của Đức Giê-su, của tiếng lương tâm, con người sẽ có nhiều thái độ khác nhau. Những người không nghe theo lương tâm vì sợ phải hy sinh và đau khổ sẽ có đủ những lý lẽ biện minh cho thái độ của họ, để tự đánh lừa lương tâm mình hầu được bình an. Và để chứng tỏ mình hành động đúng, họ có thể kết án những người kia là thiếu khôn ngoan, dại dột, quá khích, là gây hại, gây chia rẽ… Chính ngôn sứ Giê-rê-mi-a trong bài đọc I cũng bị nhiều người đồng thời đánh giá: «Những luận điệu của ông ta đã làm nản lòng các binh sĩ còn lại trong thành này, cũng như toàn dân. Thật vậy, con người ấy chẳng mưu hoà bình cho dân này, mà chỉ gây tai họa». Thế là vì lời mời gọi của Chúa, của tiếng lương tâm mà trong nội bộ gia đình, đoàn thể, Giáo Hội… có sự chia rẽ, xung đột, tranh đấu, chống đối nhau. Đương nhiên phần thua thiệt đau khổ sẽ nghiêng về những người làm đúng theo sự đòi hỏi của ơn gọi, của lương tâm.
4. Sự chia rẽ đến từ những nhận thức khác nhau
Do cách nhìn cao thấp, rộng hẹp, nông sâu khác nhau, và do mức độ dấn thân khác nhau, mà có sự mâu thuẫn và xung đột giữa những người cùng dấn thân theo Chúa, phục vụ xã hội hay Giáo Hội. Sự khác biệt là tất yếu: người biết hoặc quảng đại ở mức 100 không thể thấy và hành động cùng một cách với người ở mức 50, và người ở mức 50 không thể giống với người ở mức 10. Người biết 100 điều này không thể có cùng một cách nhìn và hành động với người biết 100 điều kia.
Có những người nhìn thấy những giá trị lớn mà xa, có những người chỉ thấy được những giá trị nhỏ trước mắt. Vì thế, người trước chủ trương hy sinh giá trị nhỏ trước mắt để đạt được giá trị lớn về sau, và được thúc đẩy làm như vậy. Còn người sau nhận thấy không nên «thả mồi bắt bóng», nên quyết tâm bảo thủ những giá trị đang nắm trong tay, không quan tâm tới những gì chưa thấy. Vậy là cùng theo đuổi và quyết tâm thực hiện điều tốt, nhưng người ta bất đồng và chia rẽ nhau. Vấn đề không còn là chọn giữa cái tốt và cái xấu, mà giữa hai cái đều tốt: cái tốt nhỏ và cái tốt lớn, cái cần thiết và cái ích lợi…
Chẳng hạn, Chúa đòi buộc ta phải hiếu thảo với cha mẹ, yêu thương con cái, nhưng cũng lại đòi buộc ta phải sẵn sàng hy sinh mọi sự cho Nước Trời. Cả hai điều đều tốt và đều buộc ta phải thực hiện. Nhưng cũng có những trường hợp hai điều tốt ấy xung đột nhau: chẳng hạn, nếu quá lo lắng cho cha mẹ, con cái thì không thể lo cho đại cuộc Nước Trời, và ngược lại. Vì thế, Chúa bảo: «Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy» (Mt 10,37).
Vậy, nhận thức khác nhau về những điều tốt, và mức độ quảng đại khác nhau trước tiếng gọi của Chúa hay trước sự đòi buộc của lương tâm có thể khiến người trong cùng gia đình, cùng tập thể, xứ đạo, giáo phận chia rẽ nhau, chống đối nhau. Tình trạng có thể trầm trọng đến mức «Kẻ thù của mình chính là người trong nhà» (Mt 10,36). Những người dấn thân triệt để cho Thiên Chúa nên nhận thức và sẵn sàng chấp nhận điều này.
Cầu nguyện
Lạy Cha, ngay từ khi con lãnh nhận bí tích rửa tội, con đã lãnh nhận thiên chức ngôn sứ của Cha. Là ngôn sứ từ thuở ấy, nhưng đã mấy khi con sống đúng tư cách ngôn sứ của mình! đã mấy khi con sống cho ra ngôn sứ của Cha! Xin cho con dám can đảm chấp nhận tất cả những khó khăn đau khổ xảy đến, khi hoàn cảnh buộc lương tâm con phải lên tiếng làm chứng cho Cha, cho chân lý, công lý và tình thương. Xin đừng bao giờ để con lấy cớ khôn ngoan để hành xử một cách hèn nhát trước bạo lực. Xin hãy cho con dám nói hoặc làm khi lương tâm người Ki-tô hữu buộc con phải nói hay làm một điều gì đó xứng hợp với chức năng ngôn sứ của mình. Xin ban ơn can đảm để con sống đúng thiên chức ngôn sứ của người Ki-tô hữu trong con. Amen.

 

TN20-C15: THỜI ĐIỂM ĐƯỢC BA GIỜ SUNG SƯỚNG

 - Lm Trần Cao Tường
 

Trước khi chết, Byron đã nói với một người bạn thân rằng suốt đời mình chỉ được có ba giờ sung: TN20-C15

Trước khi chết, Byron đã nói với một người bạn thân rằng suốt đời mình chỉ được có ba giờ sung sướng.
Vậy mà nhà văn Mỹ là Henry David Thoreau thì lại thấy được sung sướng qua ngay cả tiếng dế kêu trong khu đất rừng có ao nước Walden của ông ở vùng Concord, Massachusetts: "Trong khu núi đá này, đâu cũng nghe thấy riếng dế kêu. Tôi thích nghe một con vật kêu thôi. Nó gợi cho tôi một sự sáng suốt già giặn, vượt tất cả những tư tưởng thế tục; mà giữa mùa hè nóng nực, nó có cái mát mẻ của mùa thu. Nó nói với chim: "Các em như con nít, tùy cơn mà ríu rít ... Còn ta đây, ta ru bốn mùa".
Các con dế ca như vậy triền miên ở dưới chân cỏ. Sáng suốt mà bình tĩnh. Tiếng ca của nó bình thản thảnh thơi. Nó không uống rượu mà uống sương. Nó tán tụng Thượng Đế, vĩnh viễn hưởng vui sướng nơi Thượng Đế. Nó đứng ra ngoài sự chuyển biến của bốn mùa. Tiếng ca của nó bất biến như chân lý".
Còn thi sĩ Walt Whitman thì qua "Những Lá Cỏ" (Leaves of Grass) đã cảm nhận niềm hạnh phúc thật giản đơn, không thể mua bán bằng tiền bạc được: "Trời trong sáng, không khí trong veo đầy dưỡng khí. Có bao nhiêu cái kỳ diệu lặng lẽ, lành mạnh, đẹp đẽ, bao bọc lấy tôi và làm cho tôi sung sướng: cây, nước, cỏ, mặt trời, và sương sớm... Nhưng cái làm cho tôi để ý nhất hôm nay là vòm trời. Trời có mầu xanh lam, trong trẻo, thanh nhã đặc biệt của mùa thu, và có những cụm mây lớn nhỏ trôi, cụm nào cũng trắng, lặng lẽ mà sảng khoái. Suốt buổi sáng (từ bảy giờ đến mười một giờ) trời vẫn giữ màu xanh trong và đậm đó. Nhưng gần trưa thì lợt bớt đi, hai ba giờ sau biến ra màu xám, rồi lợt hơn nữa cho tới lúc mặt trời lặn tôi mới thấy tia sáng chiếu qua kẽ lá một chùm cây cao, những tia đỏ như lửa trong một vùng rực rỡ vàng tươi; đỏ, đỏ đậm ở phía trên một làn rộng, rồi trắng như bạc chênh chếch trên mặt nước. Tất cả những cái đó từ bóng râm trong trẻo đến tia sáng màu sắc rực rỡ, hết thảy đều đẹp hơn tất cả những bức họa từ trước tới nay.
Tôi không hiểu vì sao và cách nào, nhưng tôi tưởng có lẽ là tại vòm trời hôm nay (hình như trước kia tôi chưa thực sự ngắm trời bao giờ cả, mặc dù ngày nào cũng nhìn trời) mà mùa thu này tôi hưởng được những giờ mãn nguyện lạ thường, có thể nói là hoàn toàn sung sướng nữa...Trong khi tôi ngồi trong rừng nhìn qua kẽ cây cảnh hoàng hôn rực rỡ này, tôi nghĩ tới Byron. Cả trong những lúc vui đẹp nhất, tôi cũng không bao giờ ghi chép cảm tưởng để viết ký sự, sợ làm tan mất cái thú đi. Tôi cứ sung sướng đắm say trong trạng thái xuất thần êm ái... Ôi! cái khoảng trong trẻo kia, giữa chỗ xanh xanh thăm thẳm của mi có thứ linh dược trị bệnh cho ta chăng? Trong ba năm nay, thân thể ta bị hủy hoại, tinh thần ta bị thác loạn. Và từ không trung, một cách thần bí, vi diệu, mi cho ta linh dược, nhỏ từng giọt, từng giọt xuống thân thể ta chăng?"

DẤU CHỈ LẬT NGƯỢC
Trong nền văn học Mỹ, Thoreau và Whitman đều là những viên ngọc quí, là những tiếng gióng lên từ những "thân thể ta bị hủy hoại, tinh thần ta bị thác loạn" của nền văn minh kỹ nghệ cố lết đi tìm hạnh phúc một cách tuyệt vọng, vì tách rời khỏi thiên nhiên, xa lìa khỏi miền hạnh phúc đơn thành mà Thượng Đế đã bày biện sẵn sàng qua trời đất vạn vật. Vậy mà sách của họ lúc đầu chẳng ai thèm mua, tư tưởng của họ ít người biết đến!
Bây giờ thì người Âu Mỹ thấm đòn rồi. Viện Nghiên Cứu Về Chiều Hướng ở Rhinebeck, New York, cho thấy những trào lưu thay đổi lớn trong xã hội Mỹ, mà tìm về lối sống giản đơn là một nét nổi.
Cứ xem một người phải tuân theo thứ lệnh vô hình bắt phải rướn theo đà đua đòi, phải làm thêm giờ tối tăm mặt mày mà trả góp mua thêm một cái xe mắc tiền cỡ Lexus, rồi lại phải tậu cái nhà có hồ tắm cho bằng thiên hạ. Lo bạc cả đầu, lo trắng cả mắt, nhất là vào thời hãng sở đe dọa cắt bớt nhân viên. Riết rồi cũng phải khám phá ra rằng sao mình lại mâu thuẫn đến thế, vì chẳng còn giờ mà hưởng thú nhàn tản cho mình và với gia đình.
Thống kê năm 1995 cho biết 30% ngườI Mỹ đang cố gắng cắt bớt giờ làm việc ở sở, bằng lòng có ít lương đi để có thêm giờ cho gia đình. Cứ tưởng chỉ có một số tay mơ nghệ sĩ mới có thái độ đó, nhưng nay thì nhiều người cũng cảm thấy vậy.
Bà Elaine St. James đang là một trong những tác giả có sách bán chạy nhất như "Làm Giản Đơn Đời Sống" (Simplify Your Life), Sống Đời Đơn Giản (Living the Simple Life) do chính kinh nghiệm đời bà. Trước đây, bà là một nhân viên địa ốc 12 năm, làm việc mỗi ngày 10 giờ, luôn phải đây đó để quảng bá nghề nghiệp. Bà cảm thấy cái lề lối sống ở xứ này thật lạ: từ ngày ra trường là lao đầu vào công việc, luôn luôn bận rộn, với hai vận tốc: làm sao để nhanh hơn và nhanh nhất. Cứ phải rướn theo vận tốc này từ 6 giờ sáng đến 8 giờ tối. Luôn có sẵn một chuỗi số điện thoại phải gọi, danh sách hàng loạt người phải tiếp xúc, những nơi phải đi tới, những việc phải làm...
Hè năm 1990 bà đã quyết định thay đổi hẳn lối sống: "Bỗng tôi thấy đời sống trở nên quá phiền phức, và tôi bắt đầu giản đơn đi. Chúng ta bị bủa vây quá mà không còn giờ, đôi khi không còn sức mà hưởng nữa. Và tệ hơn, chúng ta không còn giờ cho nhau, không còn giờ cho chính mình".
Thế là Bà Elaine St. James đã thay đổi việc làm, tạo thêm khoảng trống cho mình và cho gia đình, cắt bớt những chi tiêu đua đòi, bán nhà rộng lớn đi để mua một ngôi nhà nhỏ hơn. Và bà đã làm chứng rằng sống như vậy thì thoải mái hạnh phúc hơn.

TIN VUI GỬI NGƯỜI DÁM BẮT ĐẦU LẠI
Theo đà nhịp sức ép của xã hội bắt phải luôn "giống ai" mà đua đòi đến căng thẳng, Byron đã thú nhận mình chỉ được sống có ba giờ sung sướng. Thì ra trên sáu trăm ngàn giờ khác trong đời, Byron chỉ là một tên nô bộc thật tội nghiệp đi lo phục vụ cho cái lệnh vô hình của xã hội bắt phải thế này bắt phải thế kia cho hợp thời hợp mốt mà đánh mất chính mình.
Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã nói một câu xem ra rất mâu thuẫn như một thách thức để phản tỉnh. Ngài nhấn mạnh tới vai trò chứng nhân cho dấu chỉ lật ngược những gì mà đà trớn cũng như tiêu chuẩn mọi người đang theo. Dấu chỉ lật ngược này đúng là "gây chia rẽ" theo một nghĩa nào đó, là có sức thay đổi lối nhìn, lối nghĩ, lối sống của môi trường đang đà xuống dốc, có khi ngay cả trong nhà mình.
"Thầy đã đến để đem lửa xuống trần gian, và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên. Thầy phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất. Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống cho thế gian ư? Thầy bảo thật các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ. Vì từ nay năm người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba người chống lại hai, và hai người chống lại ba; cha chống đối con trai và con trai chống đối cha; mẹ chống đối con gái và con gái chống đối mẹ; mẹ chồng chống đối nàng dâu và nàng dâu chống đối mẹ chồng" (Luca 12:49-53)

PHÚT CẢM NHẬN
Giữa lúc con người càng ngày càng phờ phạc hối hả chạy đi kiếm tìm hạnh phúc ở ngoài đường theo đà sức ép, Chúa Giêsu chỉ dạy: "Hãy nhìn xem chim trời... hãy chiêm ngưỡng một bông huệ ngoài đồng" mà khám phá ra cuộc đời đã quá giầu có rồi; Chúa trời đất đã vui lòng trao ban cho tất cả mà sao không biết giơ tay ra mà lãnh nhận và hưởng được niềm sung sướng đã luôn sẵn đó?! Lời của Chúa vẫn luôn là một thách thức để phản tỉnh, vì Ngài là "đá vấp ngã, nhưng cũng là đá cho người ta bước tới" (Luca 2:34).
Thoreau, Whitman đã là những dấu chỉ lật ngược, không dễ được nhìn thấy và chấp nhận ngay, nhưng rất cần thiết để tìm lại nét cốt tủy cho con người sinh ra trên mặt đất này. Hạnh phúc giản đơn lắm. Chỉ cần để giờ lắng nghe và hưởng cái thú nghe tiếng dế kêu. Chỉ cần nhìn lên bầu trời với vẻ hút hồn. Từng cọng cỏ, từng lá cây, từng giọt sương mai... Tất cả đều là những kho tàng trân quí đang cần được khám phá. Đây đúng là thời điểm tạo lại được một lối sống giản đơn cho chính mình, với việc xếp đặt lại thời giờ, cách chi tiêu và nhu cầu tinh thần. Chả lẽ cứ để đà cuốn kéo mình đi xềnh xệch như kiểu "Ngựa Hồng" trong Rong Khúc Hát Cho Năm 2000 của Phạm Duy?
Ngựa dù hôm nay đeo yên gấm vóc
Hay đưa xe loan cũng là kiếp nô.
Kiệu vàng trên lưng, nhưng đôi mắt đã che ngang
Bơ vơ trên đường nhấp nhô.

 

TN20-C16: CÔ MAI HƯƠNG THÔN NỮ NGƯỜI PHÁP 21 TUỔI

  - Lm Augustine S.J
 

CÔ MAI HƯƠNG thôn nữ người Pháp 21 tuổi đã khám phá ra Chúa Giêsu sức mạnh siêu việt: TN20-C16

CÔ MAI HƯƠNG thôn nữ người Pháp 21 tuổi đã khám phá ra Chúa Giêsu sức mạnh siêu việt của tình yêu như sau. Cô nói:
Ngoài Người chỉ thấy bấn loạn, cuồng điên
"Không thể nào giải thích được lý do tại sao tôi rơi vào vực thẳm của tội lỗi. Càng không thể giải thích được làm thế nào tôi đã có thể thoát ra khỏi đó. Điều duy nhất có thể nói là: Chính Đức Giêsu với sức mạnh thần linh khôn ví đã thay đổi tận gốc rễ đời tôi. Giờ đây tôi thâm tín rằng không có Chúa, tôi không thể làm bất cứ điều gì. Ngoài Chúa ra, tôi chỉ thấy bấn loạn và cuồng điên."
"Tôi may mắn sinh ra trong một gia đình công giáo thật đạo đức. Ngay từ khi tôi còn bé xíu mẹ tôi đã dạy tôi biết cầu nguyện cùng Chúa Giêsu Đấng mà mẹ tôi hết lòng kính mến. Mẹ tôi thường dẫn tôi đi nhà thờ với người. Ở nhà thờ tôi rất thích cầu nguyện cùng Đức Trinh Nữ Mari quan thầy tôi. Ngoài ra tôi còn yêu quí cách riêng thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Trong tuổi thơ vàng ngọc, tôi đã từng mơ ước hào quang thánh thiện của thánh nữ Têrêsa."
Năm lên 8 tuổi mẹ tôi cho tôi gia nhập hội Hướng Đạo Công Giáo. Nhưng tất cả tan biến thành mây khói sau khi tôi xưng tội và rước lễ lần đầu. Vào tuổi 12, tôi bắt đầu bỏ rơi những ý niệm tốt đẹp về tôn giáo. Đôi lúc tôi tự hỏi: "Chúa Giêsu mà bao người yêu thích, cha mẹ tôi cũng như cha sở và các chị Dòng, Chúa Giêsu đó có hiện hữu thật không, hay chỉ là những gì do trí óc của người lớn tưởng tượng ra?" Tôi thật sự rơi vào hoàn cảnh hoang mang và nghi ngờ. Cứ thế, tôi lớn lên trong tuổi dậy thì.
"Đời sống gia đình tôi cũng đổi thay. Những ngày sống êm đềm hạnh phúc không còn nữa. Ba tôi bị mất việc làm. Mẹ tôi ngày đêm lo âu sầu khổ. Chúng tôi sống trong thiếu thốn và bất ổn triền miên. Trong hoàn cảnh đó, tôi tìm an ủi ngoài gia đình. Tôi đi vào các hộp đêm và cặp tay với bất cứ chàng trai nào tôi gặp, không lựa chọn, không đắn đo suy nghĩ. Cuộc sống thác đọa gieo vào lòng tôi nỗi chán ngán ê chề khiến tôi suy nghĩ tới cái chết. Tôi chỉ muốn kết thúc cuộc đời cho xong. Rồi tôi bước vào tuổi 18."
"Sau khi đậu bằng tú tài, tôi may mắn gặp được một linh mục trẻ nhưng đứng đắn và thánh thiện. Linh mục này giới thiệu tôi vào một nhóm cầu nguyện gồm toàn những người trẻ. Vào một ngày cuối tuần, tôi tham dự cuộc gặp gỡ về đề tài "ơn tha thứ". Tôi cảm thấy mình thật tội lỗi, bất xứng, bé nhỏ và nghèo nàn."
"Vị linh mục hướng dẫn buổi gặp gỡ nói với chúng tôi về Chúa Giêsu, về tình yêu Người dành cho loài người. Tình yêu ấy dạt dào đến độ Người tha thứ tất cả, với điều kiện là người ta phải hoàn toàn phó thác trong vòng tay của Người. Vị linh mục ấy cũng nói với chúng tôi về gương trở lại của thánh Maria Mađalêna, người phụ nữ đã được Chúa Giêsu giải thoát khỏi 7 quỉ ám ảnh. Chúa Giêsu đã tha thứ mọi tội lỗi cho bà."
Bài giảng gây tác động mạnh
"Bài giảng của vị linh mục đã gây tác động mạnh trong tâm hồn tôi. Tôi xúc động và khóc ròng. Sau bài giảng là thời gian dành cho việc xưng thú tội riêng. Tôi dọn mình lãnh bí tích hòa giải. Tôi có cảm tưởng Chúa Giêsu đến và cầm tay dẫn đưa tôi đến với vị linh mục đại diện Người. Xưng tội xong, tôi cảm thấy tâm hồn thật bình an và lòng tràn đầy hạnh phúc. Tôi lại cảm động khóc ròng nhưng đó là những giọt nước mắt cảm tạ và tri ân."
"Giờ đây, như một người con thơ bé nhỏ, tôi đặt mình vào vòng tay Chúa, xin Chúa dẫn dắt. Tôi luôn muốn nói với những người không tin hoặc còn hoang mang nghi ngờ và nói với hết mọi người rằng: Chúa đặc biệt yêu thương những kẻ bé nhỏ, yếu đuối. Người yêu bạn với tất cả những nổi khổ và bất toàn của bạn. Điều quan trọng là bạn phải chạy đến với Người và thưa với Người rằng bạn yêu mến Người. Vì Chúa Giêsu là tình yêu và chúng ta có bổn phận yêu mến Người."
Tất cả những điều cô Mai Hương vừa chia sẻ cùng với toàn bộ những tương quan sống động đã duy trì con người ấy trong hiện hữu cũng như đã giải thoát con người ấy khỏi vực thẳm tội lỗi, quả là một kỳ công tuyệt diệu.
Ngọn lửa ném vào hành tinh của chúng ta
Trong bài Tin Mừng hôm nay, khi Đức Giêsu nói đến ngọn lửa mà Người ném vào hành tinh chúng ta và muốn cho nó cháy bùng lên, thì một phần nào Người đã đạt được mong ước của Người nơi một con người. Phần còn lại của bài Tin Mừng cho thấy phương tiện mà Đức Giêsu sử dụng cũng như quá trình mà Người trải qua để đạt tới đích chính Người nhắm.
Tại sao Thiên Chúa lại dựng nên con người trong cộng đồng, rồi cứu họ cũng trong cộng đồng và đưa họ đạt tới đích cũng trong cộng đồng? Suy nghĩ kỹ sẽ thấy lý do cơ bản vẫn là Lời Thiên Chúa phán "Chúng ta sẽ làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta" (St 2,26). Tạo dựng cũng như phục hồi lại tạo dựng là cứu chuộc, đều theo cùng một hướng là "làm ra con người theo hình ảnh của cộng đồng Ba Ngôi Thiên Chúa." Đưa tạo dựng và cứu chuộc ấy tới thành tựu không thể theo một con đường nào khác ngoài con đường đưa người ta qui tụ lại nơi cộng đồng Ba Ngôi Thiên Chúa.
Tất cả những điều vừa nói chưa được nói hết trong bài Tin Mừng hôm nay. Ơn mạc khải chỉ được ban từ từ theo mức độ các môn đệ của Đức Giêsu có thể hiểu được (Ga 16,12). Chính Đức Giêsu hứa với các môn đệ rằng "Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn" (Ga 16,13). Đó chủ yếu là lý do tại sao những lời Đức Giêsu nói trong bài Tin Mừng hôm nay chưa rõ nghĩa ngay.
C. 49: Khi Đức Giêsu nói "Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên." Ta dễ dàng theo một số giáo phụ nghĩ tới ngọn lửa của Chúa Thánh Thần đã bùng lên trong ngày lễ Hiện Xuống. Chính ngọn lửa ấy đã làm phát sinh ra Giáo Hội là dụng cụ mà Chúa Thánh Linh dùng để thanh lọc và thánh hóa nhân loại. Nhưng bình giải như vậy là dựa vào những biến cố sau này mới xảy ra, thay vì dựa vào văn cảnh trực tiếp của bài Tin Mừng. Tốt hơn nên hiểu lửa nói đây là ngọn lửa như biểu tượng chỉ về ngọn lửa nơi lòng người, là ngọn lửa mà Đức Giêsu muốn khơi dậy để nó cháy bùng lên. Ngọn lửa ấy chính Đức Giêsu phục sinh đã làm cháy lên trong cõi lòng hai môn đệ đi Emmau (Lc 24,32) nay Người cũng khơi dậy cho nó bùng cháy lên nơi thôn nữ Mai Hương trong câu chuyện nói trên.
C. 50: Nói tới phép rửa mà "lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất." Phép rửa nói đây xem ra tương đương với phép rửa được nêu lên với hai tông đồ Giacôbê và Gioan khi hai ông này xin được ngồi bên hữu và bên tả Thầy Giêsu khi Thầy được vinh quang: Đó là lúc Đức Giêsu bảo: "Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?" (Mc 10,38). Vậy phép rửa nói đây cũng như chén Thầy sắp uống là kiểu nói bóng để chỉ biến cố Đức Giêsu chìm ngập hoàn toàn trong đau khổ mà chính Người khắc khoải muốn hoàn tất ở cuối cuộc hành trình lên Giêrusalem.
C. 51: "Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao?" Tin Mừng của Luca từng nói tới hòa bình như hồng ân tối cao do vị thiên sai mang lại (2,14.29; 7,50; 8,48; 10,5-6; 11,21; 19,38-42). Ở đây Đức Giêsu có ý từ chối mang lại thứ hòa bình dễ dàng của trần gian như các ngôn sứ giả từng ước ao: "Chúng bô bô nói: "Bình an vô sự" để xoa dịu thương tích của dân ta trong khi chẳng có bình an chi cả" (Gr 6,14; x. Gr 8,11; Ed 13,10.16).
C. 53: "Cha chống lại con trai… nàng dâu chống lại mẹ chồng." Mối chia rẽ nói đây là quá trình đưa tới hiệp nhất. Đó là nét đặc sắc nơi các ngôn sứ khi nói về nỗi túng quẫn của ngày sau hết: "Quả thật, con trai khinh thường cha, con gái đứng lên chống lại mẹ, nàng dâu chống mẹ chồng, người trong nhà hóa ra thù địch." (Mk 7,6; x. Ag 2,22; Mal 3,24).
Thành tựu cuối cùng
Lời chia sẻ của cô Mai Hương cũng cho chúng ta thoáng thấy một mảnh đời đã từng trải qua nhiều giông tố trước khi đạt được bình an trong tình yêu của Chúa Giêsu. Đó là dấu chỉ của sự thành tựu khi loài người được qui tụ lại nơi cộng đồng Ba Ngôi Thiên Chúa.
Một số câu hỏi gợi ý
1. Bạn nghĩ gì về lời chia sẻ của cô Mai Hương: "Ngay từ khi còn bé xiú mẹ tôi đã dạy tôi biết cầu nguyện cùng Chúa Giêsu Đấng mà mẹ tôi hết lòng yêu mến." Các bà mẹ Công Giáo mà bạn biết có dạy con cái cầu nguyện theo cách thức như vậy chăng?
2. Đã bao giờ bạn nghiệm thấy ngọn lửa mà Chúa Giêsu muốn khơi dậy cho nó bừng cháy nơi lòng bạn? Hay bạn nghĩ thứ lửa mà Chúa Giêsu phục sinh khơi dậy nơi cõi lòng hai môn đệ Emmau (Lc 24,32) là thứ lửa quá huyền bí đối với bạn?

 

TN20-C17: LỬA AN BÌNH - Lm Bùi Quang Tuấn CSsr

Nếu khẳng định Đức Giêsu là "Hoàng tử Bình an", người ta sẽ nói sao trước lời tuyên bố thẳng: TN20-C17

Nếu khẳng định Đức Giêsu là "Hoàng tử Bình an", người ta sẽ nói sao trước lời tuyên bố thẳng thừng của Ngài về chính mình: "Các ngươi nghĩ: Ta đến để ban bình an trên mặt đất ư? Không đâu! Ta bảo thật các ngươi, không gì khác ngoài sự chia rẽ! Vì từ nay, trong một nhà có năm người, sẽ có chia rẽ: ba với hai, hai với ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha với con, con với cha…"?
Làm sao có thể hiểu được khi một người vốn tự xưng là "hiền lành và khiêm nhường" lại gây nên bao nỗi phân ly trong gia đình, một cấu trúc cần được hiệp nhất hơn bất cứ một cấu trúc hay tổ chức nào trên thế giới?
Người ta sẽ phải hiểu thế nào câu nói của Đức Giêsu: "Ta đến ném lửa xuống đất và Ta mong sao lửa đó được cháy lên"? Đây có phải là thứ lửa mà anh em nhà Zêbêđê từng đề nghị Chúa đổ xuống đốt trụi dân thành Samari hỗn láo, hay thứ lửa đã thiêu huỷ thành Sôđôma và Gômôra tội lỗi xưa kia chăng?
Khi nhìn vấn đề qua lăng kính "Lưỡi là lửa" trong thư của Thánh Giacôbê, thì lửa của Đức Kitô đã tương phản với thứ lửa hoen ố "do chính hoả ngục nhóm lên" (Gc 3:6). Ngài chính là "Chiếc Lưỡi"—Ngôi Lời của Thiên Chúa, làm phát sinh bao "lời hằng sống", nung đốt tâm hồn thế nhân và thúc đẩy một hành trình rao giảng. Lời Chúa phải được toả lan đến khắp mọi nơi và sưởi ấm cho hết mọi người.
Lời của Thiên Chúa đã từng thúc bách ngôn sứ Giêrêmia, một con người có tâm hồn diệu hiền và nhạy cảm, sinh ra để yêu mến, thích yên lành hơn gây phiền phức, thành một con người mang sứ mạng ra đi "để nhổ và lật đổ, để huỷ và để phá, để xây cất và để cấy trồng" (Gr 1:10).
Dù luôn cảm thấy mình như một đứa trẻ, nhưng Lời Chúa đã bắt ông đứng dậy, mở miệng ra nói những lời đanh thép và quyết liệt hầu thức tỉnh con cái Israel đang trong cảnh u mê lầm lạc. Thiên Chúa muốn cứu độ Israel qua việc vạch trần các thói hư nết xấu của dân chúng, sự lật lọng giả hình của hàng tư tế, thói bội phản thất ước của hạng quan quyền để từ đó Ngài đòi buộc họ phải có một sự chọn lựa phân minh: phúc hay hoạ, sống hay chết, bình an hay bất hạnh, cậy dựa Thiên Chúa hay con người.
Vì trung thành với sứ mạng truyền đạt Lời Chúa mà ngôn sứ Giêrêmia đã bị dân chúng đối xử tệ bạc. Có lần người ta tìm cách ném ông xuống một giếng bùn cho lún sâu đến chết, hầu không còn tuyên sấm những lời của Giavê nữa. Nhưng một vị hoạn quan người ngoại là Abđêmêlech biết chuyện, đã tìm cách cứu ông ra khỏi giếng bùn. Về sau vì không nghe lời ông, người Do thái đã phản lại vua Babylon và cấu kết với Ai cập. Thế nên chẳng bao lâu, đất nước Giuđa đã rơi vào sự tàn phá kinh hoàng của dân Babylon. Vị ngôn sứ đã bị một nhóm người bắt đưa sang Ai cập. Có lẽ ông đã chết tại đây, giữa những kẻ hằng chống đối giận ghét, vì cớ ông không ngừng nói Lời Chúa để cảnh báo và thúc dục họ.
Theo nhận xét của một nhà chú giải Kinh Thánh là cố linh mục Nguyễn Thế Thuấn, : "Sứ vụ của Giêrêmia quả đã thất bại lúc ông sinh tiền, nhưng dung mạo của ông không ngừng lớn lên sau khi ông chết. Bởi giáo lý của ông về một Giao ước mới, đặt nền tảng trên lòng đạo, tôn giáo nội tâm, ông đã là cha của Do-thái-giáo trong cái nhìn tinh ròng nhất… Đặt giá trị tinh thần lên hàng đầu, nêu cao những liên lạc thân mật mà tâm hồn phải có đối với Thiên Chúa, Giêrêmia đã chuẩn bị cho Giao ước mới, và cuộc quên mình chịu đau khổ để phục vụ Thiên Chúa đã biến ông thành một dung mạo của Đức Kitô".
Như vậy, Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa, đã phô bày trọn vẹn dung mạo của người ngôn sứ khi phân rõ ánh sáng và tối tăm, điều tốt và điều xấu, chân thật và giả trá, cùng kêu gọi một thái độ rõ ràng: đón nhận hoặc khước từ, bước theo hay chống đối.
Lời ông Simêon nơi Đền thờ đã được xác nhận: "Ngài có mệnh làm cớ cho nhiều người té nhào và chỗi dậy trong Israel, và làm dấu gợi lên chống đối" (Lc 2:34). Như thế tất có sự đối kháng, mâu thuẫn. Trong một gia đình, cộng đoàn, hay dân tộc, sẽ có người tin nhận và có người chống cự, có người tìm được bình an đích thực, nhưng cũng có người tự ru mình bằng thứ bình an giả tạo.
Bình an là nỗi khát khao trầm lặng của nhiều tâm hồn. Nhưng để có bình an đích thật lắm khi tôi phải trả giá bằng chiến đấu và hy sinh. Đây là một trong những điểm "nghịch lý" của Tin Mừng, nơi mà người ta thường bắt gặp những giá trị "trái ngược" như: cho chính là nhận, thu tích là mất đi, ai tìm sự sống sẽ phải chết, ai đành chết thì lại có sự sống…
Thực tế, có biết bao chân lý của Tin mừng đã không được nói ra vì sợ gia đình bất thuận, có bao sự thoả hiệp nghịch luân đã không được nhắc tới vì sợ cộng đoàn bớt người, và có biết bao nhập nhằng tội lỗi xấu xa vì sợ phải mang một vết thương rướm máu trong tâm hồn. Tất cả đều là những nguỵ trang giả dối và bình an trá hình.
Bình an thật sự chỉ có được khi con người biết "đặt giá trị tinh thần lên hàng đầu" và "nêu cao những liên lạc mật thiết mà tâm hồn phải có đối với Thiên Chúa". Bằng việc nhận chân và nêu cao giá trị tinh thần, cùng sự liên lạc thẳm sâu với Thiên Chúa, mà người môn đệ chân chính của Đức Kitô dám hy sinh những mối quan hệ cao quí trong cuộc đời. Dù đó có là quan hệ ruột thịt thân thương như cha mẹ với con cái.
Chắc hẳn lịch sử Giáo hội không bao giờ quên được hình ảnh của một Phanxicô Assisi, người dám lột bỏ hết mọi giàu sang nhung lụa, trả lại cho người cha trần thế, để chỉ chú tâm kiếm tìm các giá trị thiêng liêng nơi người Cha trên trời. Lịch sử cũng không thể quên được hình ảnh của một Giêrađô Majella quyết liệt trốn nhà ra đi sau khi ghi vội cho mẹ dòng chữ: "Mẹ ở lại. Con đi làm thánh."
Lại còn nữa hình ảnh của một Charles Cornay đã can đảm bước qua mình song thân, lên đường đi truyền giáo tại Việt Nam, chấp nhận biết bao khốn khó nguy nan, để rồi cuối cùng, dù bị kết án lăng trì, vẫn không dập tắt được ngọn lửa khát khao: làm cho Tin mừng Phúc âm được cháy lên trên mảnh đất xa xôi và nghèo nàn này. Và còn nhiều… còn nhiều lắm các mẫu gương hào hùng của những con người đang tiếp nối việc thực hiện nỗi mong của Chúa Giêsu.
Là người Kitô hữu, tôi cũng được mời gọi dấn bước không ngừng trên hành trình loan báo các giá trị Tin mừng, để lửa yêu thương và bình an được bừng sáng khắp nơi trên thế trần.

 

TN20-C18: THAO THỨC SÂU KÍN VÀ MÃNH LIỆT NHẤT

 CỦA ĐỨC GIÊSU LÀ GÌ? - Giêrônimô Nguyễn Văn Nội
* Câu hỏi gợi ý:
 

Thao thức sâu kín và mãnh liệt nhất của Đức Giêsu là gì? 2. Tại sao Chúa Giêsu lại là đầu mối: TN20-C18

1. Thao thức sâu kín và mãnh liệt nhất của Đức Giêsu là gì?
2. Tại sao Chúa Giêsu lại là đầu mối gây chia rẽ?
3. Chúng ta đã thật sự chọn Đức Giêsu và đạo của Người chưa?
4. Chúng ta có chia sẻ thao thức với Người không?
* Suy tư gợi ý:
1. Thao thức sâu kín và mãnh liệt nhất của Đức Giêsu:
Người giáo dân Việt Nam mỗi khi nói về Đức Giêsu thì thường chỉ chú trọng đến Thiên tính mà lãng quên nhân tính của Người. Vì thế mà không thấy tính gẫn gũi, dễ thương, dễ mến cách tuyệt vời của Người. Nguyên về mặt nhân bản, Đức Giêsu quả là một con người vô cùng đặc biệt. Chúng ta đã từng thấy Đức Giêsu nhậy cảm như thế nào khi Người chạnh lòng thương trước đám đông, khi Người xúc động khóc trước mồ Lagiarô. Bài Tin Mừng Giáo hội đọc trong Phụng vụ hôm nay, giúp chúng ta khám phá thêm về Đức Giêsu: cùng với một tâm hồn tinh tế và nhậy cảm ít ai có, Người còn có một hệ thần kinh thép và trong lòng luôn ấp ủ những hoài bão lớn lao:
“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!”
Hoài bão của Đức Giêsu là gì nếu không phải là biến đổi thế giới này thành Trời Mới Đất Mới? Thao thức của Đức Giêsu là gì nếu không phải là thực hiện Kế hoạch của Thiên Chúa là xây dựng Nước Thiên Chúa, Vương quốc và Triều Đại của Thiên Chúa trong mỗi tâm hồn, mỗi cộng đồng, mỗi xã hội con người? Trời Mới Đất Mới là không gian trong đó con người vui hưởng hạnh phúc thật là nhận biết, tôn thờ Thiên Chúa và yêu thương nhau. Nước Thiên Chúa, Vương Quốc và Triều Đại của Thiên Chúa là thế giới của Sự Sống, của Yêu Thương, của Bình An và Hoan Lạc!
Để thực hiện hoài bão lớn lao và cao đẹp ấy Đức Giêsu sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh mất mát, thậm chí cả sự hủy diệt bản thân mình. Hơn nữa Người còn nóng lòng mong đợi cuộc Khổ Nạn mau tới như mong đợi những ngày tốt đẹp, tuyệt với nhất của đời mình!
2. Đức Giêsu là đầu mối gây chia rẽ:
Câu chuyện ngôn sứ Giêrêmia trong bài đọc 1 là hình bóng thân phận Đức Giêsu. Trước những lời tiên tri chân thật của Giêrêmia, nhiều người thù ghét ngài và tìm cách giết hại ngài. Nhưng cuối cùng thì ngôn sứ đã được cứu. Đức Giêsu cũng thế: ngay từ những trang đầu của Phúc Am chúng ta đã thấy Đức Giêsu bị các nhà lãnh đạo đạo đời thời bấy giờ đối xứ như thế nào. Người đến với những Lời chân thật, hằng sống; nhưng người nhà không tiếp rước Người, vì cho rằng Người là mối nguy cơ đe dọa địa vị, quyền lợi tôn giáo, xã hội và chính trị (dĩ nhiên bao gồm cả kinh tế) của họ. Thật ra Người chỉ là “tiêu chuẩn” để con người chọn lựa: theo và đón nhận hoặc không theo và từ chối Thiên Chúa. Người ta không có quyền không chọn lựa! Nhưng người ta có quyền chọn không đón nhận Đức Giêsu là quà tặng của Thiên Chúa Tình thương. Và chính do chọn lựa này mà mỗi người mỗi ngả.
3. Chúng ta đã thật sự chọn Đức Giêsu và đạo của Người chưa?
Đã là người công giáo, thì dĩ nhiên là chúng ta đã chọn Đức Giêsu và đạo của Người rồi. Nhưng không phải chọn một lần là đủ, là xong đâu! Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi giai đoạn cuộc đời chúng ta phải chọn lại. Chọn lại là kiểm điểm xem chúng ta đã thật sự chọn Chúa chưa, vì nhiều khi, trong nhiều tình huống chúng ta sống theo thế gian, xác thịt và ma quỉ mà chúng ta không ý thức. Để kiểm chứng sự chọn lựa của chúng ta thì chẳng khó khăn gì: chúng ta cứ tự hỏi: “Đối với tôi, Đức Giêsu là ai?” Trong suốt Tin Mừng Máccô câu hỏi vang vọng là: ”Còn đối với anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Trả lời bằng miệng: “Đức Giêsu là thế này là thế nọ….” thì rất dễ, nhưng thể hiện chứng minh những lời ấy bằng hành động cụ thể thì không dễ chút nào, nhưng đó mới là việc chính yếu.
4. Chúng ta có chia sẻ thao thức với Người không?
Tuần trước tôi có dịp đến thăm một linh mục bạn là chánh xứ của một họ đạo lớn và nổi tiếng của Miền Nam. Linh mục chia sẻ với tôi: “Anh biết đấy, đây là một họ đạo kỳ cựu, truyền thống, lâu đời, quê hương của các thánh Tử đạo…. Nhưng nhìn vào cách sống đạo của giáo dân hiện nay tôi hết sức chán nản: bỏ đạo thì giáo dân ở đây nhất định không bỏ đạo, vì đạo đã ăn sâu vào tâm hồn họ. Nhưng hoa trái công bình bác ái thì không có. Chỉ cần vì một chút quyền lợi vật chất, giáo dân có thể xung đột với nhau. Chỉ vì một chuyện rất nhỏ, giáo dân có thể chia rẽ, hận thù nhau.” Lời phát biểu trên khiến chúng ta thấy nhức nhối phải không? Một họ đạo truyền thống từ hơn một trăm năm trên quê hương của các thánh tử đạo, siêng năng đọc kinh, xem lễ … mà lại không có hoa trái công bình và bác ái. Tại sao vậy?
Tôi nhớ lại bài viết mới đây của Đức Giám mục Bùi Tuần về những thao thức của Đức Giêsu. Tôi rất tâm đắc với bài viết ấy. Đọc bài ấy và đối chiếu với thực trạng của họ đạo mà tôi vừa thăm, tôi càng xác tín điều này: Giáo hội Việt Nam đang thiếu -một cách trầm trọng- những linh mục, tu sĩ và giáo dân có lửa trong cách sống đạo và truyền đạo. Người công giáo Việt Nam, nhất là giáo dân, ít hoặc không quan tâm đến việc tìm hiểu và chia sẻ những thao thức, hoài bảo, ước mơ của Đức Giêsu. Vì thế mà đời sống đạo không sâu sắc, không xác tín, không quyết liệt, không nhiệt thành, không sinh hoa trái công bình và bác ái cho môi trường và những người chung quanh. Vì thế mà công việc truyền giáo không tiến triển bao nhiêu. Ai cũng biết tại Việt Nam tỷ lệ người công giáo so với dân số chẳng những không tăng mà còn suy giảm nữa. Cánh đồng truyền giáo của chúng ta thì bao la và có rất nhiều thuận lợi. Nhưng chúng ta thiếu những thợ gặt chuyên nghiệp vừa “hồng” lại vừa “chuyên”. Hồng là lòng nhiệt thành, là cháy lửa đối với các linh hồn. Chuyên là khả năng, là hiểu biết, là được đào tạo về giáo lý, thánh kinh, công đồng, thần học.
Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, chúng con ngưỡng mộ và bái phục Chúa! Chúa mang trong tâm hồn những thao thức nóng bỏng, Chúa có những hoài bão lớn lao, Chúa can đảm cách phi thường. Xin Chúa san sẻ cho chúng con một chút lửa bừng cháy đang thiêu đốt tâm can Chúa! Để chúng con trở thành những con người nhiệt thành với Nước Chúa, để chúng con cháy lửa yêu thương tha nhân, để chúng con có sức mạnh biến đổi xã hội Việt Nam thân yêu của chúng con, một xã hội đang bị tha hoá trầm trọng, đang mất dần những giá trị truyền thống tốt đẹp, đang bị phá hoại bởi nền văn hóa đem lại sự chết. Xin Chúa giúp chúng con!

 

TN20-C19: THẦY KHÔNG ĐẾN ĐỂ ĐEM BÌNH AN

 NHƯNG ĐEM SỰ CHIA RẼ - Lm. Giuse Vũ Mộng Thơ
 

Thoạt nghe những điều Chúa Giêsu nói trong bài Phúc Âm hôm nay, ai trong chúng ta cũng: TN20-C19

Thoạt nghe những điều Chúa Giêsu nói trong bài Phúc Âm hôm nay, ai trong chúng ta cũng cảm thấy ngạc nhiên và tự hỏi: Tại sao Chúa Kitô lại mang đến sự chia rẽ… Ngài đã chẳng giảng dậy cho các môn đệ: "các con hãy học với Ta sự hiền lành và khiêm nhượng thật trong lòng thì tâm hồn các con sẽ có được sự bình an" sao? Chúa Giêsu còn nói: "Ta là Đường là Sự Thật và là Sự Sống!". Vậy nếu Chúa là Sự Thật, tức là Chân Lý thì Lời của Ngài không thể sai lầm được, không thể đi ngược hay mâu thuẫn với Sự Thật được. Tại sao và tại sao?
Là có lẽ tại vì chúng ta chưa suy niệm cho đủ và cho sâu Lời Chúa… cũng như trong cuộc đời chúng ta thường có thói quen kết luận "nhanh chóng và gọn nhẹ" những người chung quanh mình nhất là những người không cùng một lập trường với chúng ta, những người mà chúng ta không thích. Tục ngữ Việt Nam đã nói: "Sự Thật thì bao giờ cũng mất lòng". Ít ra hôm nay chúng ta có thể suy niệm hai điều trong bài Tin Mừng:
- Chúa Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.
- Là người Công giáo (con của Chúa) chúng ta cũng có bổn phận phải bảo vệ cho Sự Thật.
- Chúa Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống
Nếu sự thật bao giờ cũng mất lòng thì Chúa Kitô không ngại làm mất lòng trước hết những Đạo sĩ và Biệt phái kiêu căng tự phụ thời của Ngài để rao giảng chân lý cho dân chúng, để lột mặt nạ giả hình của họ: ra luật nhưng không giữ luật, để họ không còn ăn chặn đầu chặn cổ toàn dân, bóc lột xương máu nhân dân… mà vẫn lên mặt dạy đời là "người công chính trước mặt Giavê, là người lo lắng cho quốc gia và vận mạng của dân tộc… Chúa Kitô cũng không như những người tâng bốc chế độ, ve vãn những người có quyền hành trong một quốc gia, một đoàn thể để hưởng lợi và được che chở. Họ chủ trương "gió chiều nào theo chiều ấy" để họ lừa dối lương tâm, quên hết hay mặc kệ lẽ phải, luật của Chúa của Giáo hội để làm những điều sai quấy, những điều thất đức mà ngay chính lương tâm họ cũng không dám tự hào và đêm về cũng không ngủ cho yên. Chúa Kitô còn chấp nhận chính cái chết, một cái chết nhục nhã nhất để làm chứng cho Sự Thật. Vì chính Ngài cũng là Sự Sống và là Đường cho chúng ta nối gót theo Ngài. Sự Thật thì muôn đời vẫn chiến thắng và tồn tại, còn sự gian trá hay những tay sai của sự gian trá chống lại sự thật… thì dù có quyền phép có khôn ngoan như Luccifer, như Lênin, như Hitler… cũng rất chóng bị tan rã. Cũng thế đối với những giáo phái (secte), những chế độ cầm quyền gian trá bóc lột nhân dân trái với lòng Trời thì cũng rất chóng bị tan rã, hạ bệ.
- Là người Công giáo (con của Chúa) chúng ta cũng có bổn phận phải bảo vệ cho Sự Thật.
Trước hết chúng ta hãy tự hỏi chính mình là đã có bao nhiêu lần tôi đã tự lừa dối chính lương tâm mình… thì đủ biết chúng ta còn rất nhiều thiếu sót trong lãnh vực này. Ai cũng muốn dễ dãi với chính mình nhưng lại rất nghiêm khắc với những người khác. Ai cũng muốn nghe người khác nói tốt về mình, khen tặng mình và không thích những ai chỉ trích phê bình mình. Ta phải tôn trọng sự thật và dám nói lên sự thật đó với con cái, với những ngưòi chúng ta có bổn phận dẫn dắt, dạy dỗ dù sự thật bao giờ cũng mất lòng. Cũng cần phải có "đắc nhân tâm", sự tế nhị và suy tư cũng như cầu nguyện để thực hiện điều này. Không phải dễ. Chúng ta cần học với Tiên tri Giêrêmia hôm nay dù cho "Ngài đã sinh ra tôi làm người bất thuận sống trên vũ trụ", dù biết là toàn dân không thích mình một tí nào ca, vì theo Lời Giavê, Tiên tri loan báo toàn những ăn chay hãm mình… nếu không sẽ án phạt. Nhưng Giêrêmia đã phải chiến đấu với chính mình để trung thành với sứ mạng của Giavê của Sự Thật dù với cái chết. Xưa kia các bạo quyền đã giết sạch các Tiên tri, lên án tử hình ngay chính Con Thiên Chúa… thì ngày nay họ vẫn tiếp tục ám sát Gandhi, Luther King, Don Romco, bỏ tù các nhà truyền giáo, bắt giam cha Nguyễn Văn Lý… nhưng chính những vị ấy đã và sẽ chiến thắng… còn bạo lực sẽ rất mau chóng tan rã. Bạn có đồng ý như thế không?

 

TN20-C20: THẮP LÊN NGỌN LỬA SOI SÁNG THẾ GIAN

 - Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
 

Bài Phúc Âm Chúa Nhật XX Mùa Thường Niên Năm C Hậu Phục Sinh hôm nay hình như: TN20-C20

Bài Phúc Âm Chúa Nhật XX Mùa Thường Niên Năm C Hậu Phục Sinh hôm nay hình như không có liên hệ gì đến chủ đề chung của Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh là thời điểm Giáo Hội cử hành Mầu Nhiệm Chúa Kitô tiếp tục tỏ mình trên thế gian cho đến tận thế ra qua chứng từ Giáo Hội của Người. Chắc có lẽ vì thế, vì không hợp với chủ đề chung của mùa phụng vụ như thế, nên bài Phúc Âm này cũng chẳng ăn khớp gì với các bài Phúc Âm trước hay sau tuần này, vì bài Phúc Âm tuần trước nói về việc các môn đệ cần phải “thắt lưng” và “thắp đèn lên sẵn sàng”, và bài Phúc Âm tuần tới liên quan đến vấn nạn “Phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ?”. Còn đối với hai bài đọc trong phần Phụng Vụ Lời Chúa Năm C hôm nay, bài đọc một có hơi dính dáng với bài Phúc Âm một chút, về vụ tiên tri Giêrêmia bị thù địch âm mưu sát hại, và bài đọc hai cũng thế, có liên quan mờ mờ với bài Phúc Âm, ở chỗ, bài đọc hai này huấn dụ Kitô hữu hãy vững mạnh trong Chúa Kitô. Thật vậy, bài Phúc Âm theo Thánh Luca hôm nay chỉ có 4 câu vắn vỏi song lại bao gồm những 3 ý tưởng rất mâu thuẫn nhau: thứ nhất là ước nguyện của Chúa Kitô muốn lửa Người mang xuống thế gian “được bùng cháy lên”; thứ hai là mục đích của Người tuy nhiên khi đến thế gian Người lại không phải “để đem bình an” mà là “chia rẽ”; thứ ba là hậu quả tất yếu không thể tránh của việc Người gây chia rẽ là cảnh xã hội bị hỗn loạn “một nhà sẽ chia rẽ nhau”. Bởi thế, để có thể đả thông vấn đề vừa có vẻ mâu thuẫn với sứ vụ của Chúa Kitô lại vừa có vẻ lạc đề phụng vụ của bài Phúc Âm hôm nay, theo tôi, chúng ta cần phân tích kỹ các vấn đề sau đây: Thứ nhất, “lửa” Chúa Kitô mang xuống thế gian như Người nói thực sự là gì? Thứ hai, Chúa Kitô đã làm cách nào để thắp lên ngọn lửa này như lòng Người mong ước? Thứ ba, Chúa Kitô có thắp lên được ngọn lửa này không, nếu có thì lửa này có tác dụng ra sao?
1. “Lửa” Chúa Kitô mang xuống thế gian như Người nói thực sự là gì?
Để có thể hiểu được ý nghĩa đích thực về “lửa” Chúa Giêsu muốn nói đến ở đây, trước hết, chúng ta hãy nhớ hai điều liên quan đến “lửa” này: Thứ nhất, “lửa” này là “lửa” được Người mang xuống từ trời, chứ thế gian không thể nào tự mình có sẵn thứ “lửa” trời này, và thứ hai, “lửa” này chỉ có một mình Người là Đấng mang nó xuống thế gian mới có thể đốt nó lên được thôi, vì “không ai đã lên trời, trừ một mình Đấng từ trời xuống là Con Người” (Jn 3:13). Thật ra, con người đã được thấy trước hình ảnh của thứ “lửa” trời này trong Mạc Khải Cựu Ước, và trong Mạc Khải Tân Ước con người còn được chính “lửa” trời này thiêu đốt nữa. Trước hết, con người được thấy trước thứ “lửa” bởi trời này trong Mạc Khải Cựu Ước ở bụi gai cháy mà không bị thiêu rụi, qua thị kiến của Moisen, như được thuật lại trong Sách Xuất Hành ở đoạn 3 câu 2. Theo tôi, bụi gai bốc lửa mà không bị thiêu rụi này, và từ bụi gai bốc lửa ấy lại có tiếng Thiên Chúa phán, như câu 4 cùng đoạn sách này ghi nhận, là Mạc Khải về Thiên Chúa Ba Ngôi cũng là Mạc Khải về Bản Tính Hằng Hữu của Thiên Chúa, đúng như Danh Thánh Ngài đã tỏ cho Moisen biết ngay sau đó ỏ cùng đoạn 3, câu 14: “Ta là Đấng hiện hữu”.
Hình ảnh bụi gai bốc lửa mà không bị thiêu rụi lại có tiếng Thiên Chúa phán ra từ đó thực sự là một cuộc Thần Hiển cho thấy Mạc Khải về Thiên Chúa Ba Ngôi, ở chỗ: “Bụi gai” biểu hiệu cho “Lời đã hóa thành nhục thể” (Jn 1:14) và Vượt Qua nơi con người của Đức Giêsu Kitô; “lửa” bốc lên nơi bụi gai là biểu hiệu cho Thánh Linh, Đấng là Quyền Năng Đấng Tối Cao đã thực hiện việc Lời Nhập Thể, như Phúc Âm Thánh Luca ghi nhận ở đoạn 1 câu 35; và tiếng phán ra từ “bụi gai” biểu hiệu cho Chúa Cha, như Ngài thường tỏ mình ra bằng tiếng phán từ trời trong trường hợp Chúa Giêsu lãnh nhận phép rửa ở sông Dược Đăng, hay bằng tiếng phán ra từ đám mây trong trường hợp Chúa Giêsu biến hình trên núi (xem Mt 3:17; 17:5). Hình ảnh bụi gai bốc lửa mà không bị thiêu rụi lại có tiếng Thiên Chúa phán ra từ thực sự là một cuộc Thần Hiển, chẳng những cho thấy Mạc Khải về Thiên Chúa Ba Ngôi, mà còn là Mạc Khải về cả Thiên Chúa Hằng Sống nữa, ở chỗ, “bụi gai bốc lửa mà không bị thiêu rụi” biểu hiệu Chúa Kitô tử giá được Thánh Linh làm cho sống lại từ trong cõi chết, như Thư Thánh Phaolô gửi Giáo Đoàn Rôma đoạn 8 câu 11 xác tín, Đấng Phục Sinh “được toàn quyền trên trời dưới đất” (Mt. 28:18), Đấng tông đồ Tôma chân nhận và tuyên xưng là “Chúa (và là) Thiên Chúa” (Jn 20:28), Thiên Chúa hằng sống.
Như thế, “lửa” được Chúa Kitô mang xuống từ trời đây là chính Thánh Linh hay là “quyền lực từ trên cao” (Lk 24:49) các tông đồ lãnh nhận trong Ngày Lễ Ngũ Tuần tại Giêrusalem. Đúng vậy, như trên đã nhận định, “trong Mạc Khải Tân Ước con người còn được chính ‘lửa’ trời này thiêu đốt nữa”, vào chính lúc Thánh Thần hiện xuống dưới hình lưỡi lửa đậu trên đầu từng vị tông đồ sau tiếng động như gió thổi mạnh lùa vào đầy nhà nơi các tông đồ đang tụ họp, như Sách Tông Vụ thuật lại ở đoạn 1 câu 2 và 3. Chính vì “lưỡi” biểu hiệu cho việc truyền thông hay truyền đạt là sứ vụ của Vị Thần Chân Lý được Chúa Kitô từ Cha sai đến với Giáo Hội để làm chứng cho Người (xem Jn 15:26), và “lửa” biểu hiệu cho “quyền lực từ trên cao” xuống bao phủ các tông đồ, như đã bao phủ Mẹ Maria trong ngày truyền tin để Mẹ có thể thụ và hạ sinh Con Đấng Tối Cao (xem Lk 1:35), mà các tông đồ cũng đã truyền đạt, tức hạ sinh Chúa Kitô nơi tâm hồn của “khoảng ba ngàn ngư ời” (Acts 2:41), nhờ bài giảng tiên khởi (cách truyền thông) của Vị Trưởng Tông Đồ Phêrô sau khi “được đầy Thánh Linh” (Acts 2:4).
2. Chúa Kitô đã làm cách nào để thắp lên ngọn lửa này như lòng Người mong ước?
Nếu “’lửa’ được Chúa Kitô mang xuống từ trời đây là chính Thánh Linh hay là ‘quyền lực từ trên cao’ (Lk 24:49) các tông đồ lãnh nhận trong Ngày Lễ Ngũ Tuần tại Giêrusalem”, như vừa nhận định, thì Chúa Kitô đã làm cách nào để thắp lên ngọn lửa này như lòng Người mong ước? Thật vậy, Người được Cha sai “đến thế gian là để làm chứng cho chân lý”, như Người tuyên bố với tổng trấn Philatô trong Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 18 câu 37 bằng chính cuộc Vượt Qua của Người. Thế nhưng, nếu không có Thánh Linh được Người thông ban cho các tông đồ sau khi sống lại từ trong cõi chết (xem Jn 20::22), các vị sẽ không thể nào nhận biết Người, cũng như nếu không có “quyền lực từ trên cao” xuống chiếm đoạt các vị , các vị cũng sẽ vĩnh viễn không thể nào thông truyền Người ra cho nhân loại. Bởi thế, việc Chúa Kitô Vượt Qua hay việc Người ra đi chính là việc Người thắp lên “Lửa” Thánh Linh, đúng như lời Người minh phán với các tông đồ trong Bữa Tiệc Ly ở Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 16 câu 7: “Thày nói thật với các con là: Thày đi thì tốt hơn cho các con. Nếu Thày không đi, Đấng Phù Trợ sẽ không bao giờ đến với các con; bằng nếu Thày đi, Thày sẽ sai Ngài đến với các con”. Đó là lý do, ngay trong bài Phúc Âm hôm nay, sau khi nói đến việc mang lửa xuống thế gian và mong ước cho lửa ấy được thắp lên, Chúa Giêsu đã nói ngay đến cuộc tử giá của Người: “Thày phải chịu một phép rửa, và lòng Thày bồn chồn biết bao cho đến khi hoàn tất”. Mà “phép rửa” Người phải chịu đây là gì, nếu không phải là việc chính Người sẽ được rửa trong Thánh Linh, như hình ảnh Thần Hiển trong Sách Xuất Hành đã cho thấy về bụi gai bốc lửa, trước khi “Người”, như Vị Tiền Hô Gioan tiên báo ở Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 1 câu 34, “chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Linh”.
3. Chúa Kitô có thắp lên được ngọn lửa này không, nếu có thì lửa này tác dụng như thế nào?
Như thế, Chúa Kitô quả thực đã thắp lên được Lửa Thánh Linh do Người mang xuống từ trời bằng cuộc ra đi hay Vượt Qua của Người. Và Lửa Thánh Linh này, trước hết, được Chúa Kitô thắp lên nơi các tông đồ sau khi Người sống lại từ trong cõi chết và “làm phép rửa trong Thánh Linh” cho các vị qua hơi thở của Người, và sau đó, Lửa Thánh Linh này lại được chính các tông đồ là những chứng nhân tiên khởi của Người thắp lên trên “khắp thế gian” (Mk 16:15) “cho đến tận cùng trái đất” (Acts 1:8), sau khi các vị được “mặc lấy quyền lực từ trên cao” ở Giêrusalem trong Ngày Lễ Ngũ Tuần. Cũng chính vì Lửa Thánh Linh đã thực sự được thắp lên trên thế gian mà thế gian mới xẩy ra tình trạng như Chúa Giêsu nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay: “Từ nay, năm người trong một nhà chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba: cha nghịch với con trai, con trai nghịch với cha; mẹ nghịch với con gái, con gái nghịch với mẹ; mẹ chồng nghịch với nàng dâu và nàng dâu nghịch với mẹ chồng”. Thật vậy, hạnh các thánh đã cho chúng ta thấy điều này, điển hình là trường hợp Thánh Phanxicô khó khăn (1182-1226) đối với vị thân phụ của mình, ông thương phú gia Pietro di Bernardone, khi thánh nhân trao trả cho ông mảnh vải cuối cùng trên thân thể của thánh nhân trước mặt Đức Giám Mục, để có thể hoàn toàn tự do theo Chúa Kitô; hay như trường hợp của Thánh Nữ Jeanne de Chantal (1572-1641) đã nhất quyết bước qua thân thể của Celse-Benigne, đứa con trai 15 tuổi của mình, đứa con nhất định ngăn cản ý định của mình trong việc theo Chúa v.v. Tại sao lại xẩy ra tình trạng gia đình chia rẽ nhau vì Chúa như vậy? Chính Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy rõ lý do sâu xa của tình trạng không phải “bình an” mà là “chia rẽ” Người gây ra chỉ vì Lửa Thánh Linh do Người từ trời mang xuống thắp lên trên thế gian này. Lý do đó là, như Người xác định trong Phúc Âm Thánh Gioan ở đoạn 16 từ câu 8 đến 11 về Đấng Phù Trợ sẽ đến khi Người ra đi: “Khi Ngài đến, Ngài sẽ chứng tỏ cho thế gian thấy rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về công chính và về luận phạt. Về tội lỗi ở chỗ họ đã không chịu tin vào Thày; về công chính, vì Thày về cùng Cha nên các con không còn thấy Thày nữa; về luận phạt, vì vương chủ thế gian này đã bị lên án”. Lịch sử Giáo Hội đã cho thấy hết sức hiển nhiên sự thật này, qua việc thế gian sai lầm về tội lỗi, ở chỗ, vì không tin Người nên đã ra tay bách hại các chứng nhân của Chúa Kitô Phục Sinh, thành phần công chính ở chỗ, đã dám liều mạng sống mình để làm chứng cho đức tin vào Đấng Vô Hình, để rồi, máu chứng từ của các ngài đã hùng hồn lên án quyền lực sự dữ, tức càng ngày càng đẩy lui bóng tối tăm sự chết, bằng “ánh sáng thế gian” (Jn 8:12) là Chúa Kitô, cho đến khi Người lại đến trong vinh quang.
Như thế, nếu bài Phúc Âm Chúa Nhật XX Mùa Thường Niên Năm C hôm nay nói về Lửa Thánh Linh thì ý nghĩa của bài Phúc Âm hôm nay vẫn hoàn toàn ăn khớp với chủ đề chung của Phụng Vụ Mùa Thư ờng Niên Hậu Phục Sinh vậy.
Vấn đề thực hành sống đạo: Con Thiên Chúa Làm Người đã thực sự “Thắp Lên Ngọn Lửa Soi Sáng Thế Gian” được Người mang xuống từ trời bằng cuộc Vượt Qua của Người. Và “Lửa” Người thắp lên đây là Thánh Thần Người thông ban cho các tông đồ khi Người sống lại từ trong cõi chết, cũng là Vị Thánh Thần Người đã từ Cha sai xuống trên Giáo Hội vào Ngày Lễ Ngũ Tuần ở Giêrusalem sau khi Người Thăng Thiên về trời. “Lửa” Thánh Linh này từ đó đã được các Vị Tông Đồ Chứng Nhân Tiên Khởi cũng như các Vị Chứng Nhân Đức Tin Tông Truyền châm vào lòng người trên khắp thế giới bằng việc truyền giáo của các vị. Được thắp lên “Lửa” Thánh Linh khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, Kitô hữu chúng ta có “cảm thấy lòng mình nóng lên” (Lk 24:32) chưa? Nếu chưa, chúng ta phải làm sao để thực hiện đư ợc bản chất Kitô hữu của mình “là ánh sáng thế gian” (Mt 5:14)?

 

TN20-C21: CHÚA GIÊSU TRƯỚC CUỘC TỬ NẠN.

CHÚA GIÊSU ĐẦU MỐI BẤT HÒA
Lc 12,49-53
 

Đoạn này chẳng liên hệ mật thiết với dụ ngôn người quản lý nói trước đây. Nhưng vẫn mang: TN20-C21

1. Đoạn này chẳng liên hệ mật thiết với dụ ngôn người quản lý nói trước đây. Nhưng vẫn mang một giọng văn trịnh trọng của cả chương 12. Khi đã cho các môn đệ biết ý kiến về các ngày bắt bớ, CGS lại gợi lên những hình ảnh hãi hùng của sứ mệnh Ngài trên mặt đất này, cái chết đau đớn của Ngài, những chống đối làm cho con người chia rẽ vì Ngài.
2. Câu 49 (CGS nói về lửa mà Ngài sẽ mang đến trên trái đất) đã được chú giải khác nhau. Có người cho đó là thứ lửa đã được đốt lên và dịch là: “Tôi đã mang lửa đến trên mặt đất và tôi còn ước muốn gì nữa, nếu lửa ấy đã được thắp lên ? (Crampon, Jounn..). Như thế CGS không còn ước muốn gì nữa và không còn gì để chu toàn sứ mệnh ngoài việc phải chịu thương khó (c.50). Nhưng phần lớn các tác giả đều nghĩ rằng CGS diễn tả một ước muốn và dịch là: “Tôi đã đem lửa đến trên trái đất, và tôi ước ao biết bao lửa ấy được đốt lên !”. Bản Vulgata, có thể đã đọc ei.mê (nisi) thay vì ei.edê (si jam) nên nói lên ý nghĩa sau đây: “tôi muốn gì, nếu không phải là nó trong đốt lên ?” Cách dịch thứ hai này (Segon, Khabanbauer, Zorell, klostermann, Legrange, Bille du Kentaine, Buzy, BJ, TOB...) hình như phù hợp với văn mạch hơn, vì ánh sáng rực rỡ mà CGS nói đến hình như còn đang lệ thuộc vào một điều kiện chưa thực hiện được, đó là rửa bằng máu của cái chết Ngài. Hơn nữa, vì luật song đối của người sêmit thích lập lại cùng một ý tưởng hay một ý tưởng tương tự, nên có thể cho rằng nhắc đến tương lai trong câu 50 thì phù hợp với câu 49b hơn. Người ta thắc mắc vì sao lối chú giải thứ hai gán cho chữ ti ý nghĩa tương tự của tiếng Hy bá bao nhiêu (combien étroit) trong Mt 7,14; hay tiếng Hy lạp Ti cala (cômbien beau).
3. Các nhà chú giải không những bằng lòng về cách dịch câu 49, mà còn thay đổi ý nghĩa của tiếng lửa mà CGS đã đem đến trên mặt đất. Nhiều Giáo phụ có uy tín cho đó là Thánh Thần (Th. Grégoire le Grand, Th. Ambrosiô, th. Syrille d'Alexandie, th. Jérome). Cách chú giải này thấy trong phụng vụ cũ của lễ hiện xuống (lời nguyện thánh lễ ngày thứ 7 lễ hiện xuống), nhưng không phải mọi người đều chấp nhận, có vài tác giả (Maldonat) so sánh câu 49 và 51, dựa vào sự chia rẽ mà Đức Kitô gây nên trong thế gian và thấy lửa mà CGS nói đến là hình ảnh của những cuộc thử thách đang chờ các môn đệ, những thử thách người mong ước vì có sức thánh hóa. Nhưng nếu thế, tại sao CGS lại ao ước thực hiện các thử thách đó như vậy ? Có những tác giả khác (Knabenbauer, BJ) thích hiểu lửa của sự nghiệp Đức Kitô trong trần gian, là sự nghiệp thanh luyện và đổi mới nhắc nhở lại hành động lửa tôi luyện vàng và bạc khỏi han rỉ. Nếu người bảo rằng hành động của Thánh Linh, thì lối chú giải ấy rất gần với lời chú giải của các giáo phụ. Các giáo phụ cắt nghĩa rằng lời sấm ngôn của CGS về ánh sáng đã ném xuống thực hiện rồi, chứ không phần nào bị che dấu, như mạch văn cho thấy.
Vì thế người ta cho rằng khi nói đến ánh sáng ấy, CGS nói đến một thứ lửa tượng trưng ở trong tâm hồn (Lc 24,32, các lữ hành thành Emmaus và nó rất tuyệt hảo, vì CGS muốn nó phải được đốt lên. Các giáo phụ đã không lầm khi nhận ra đó là công việc của Thánh Linh hay là Đức Ái, nhưng tốt hơn là nên để cho lời nói có vẻ úp mở như kiểu nói của các tiên tri (Lagrange).
4. Việc thực thi ý muốn của CGS phải tuân phục theo một điều kiện: Con Người phải lên Giêrusalem và chịu thương khó ở đó. CGS so sánh sự thương khó với phép rửa mà Ngài phải chịu, phải bị dìm xuống, vì Ngài sẽ như bị nhận chìm trong những đợt sóng đắng cay và phiền não (Mc 10,38). Tâm hồn Ngài phải chịu dằn vặt vì nhãn quan ấy. Người ta chú giải cơn dằn vặt ấy như là một vết thương đầu tiên của cơn khắc khoải sẽ đè xuống trên Ngài ở Giêtsimani, hay như một ước vọng mãnh liệt trong sứ mạng Cứu thế của Ngài đạt đến tột đỉnh (TOB).
5. Cũng như con người CGS, sự nghiệp của Ngài cũng đem lại sự trái nghịch: “Các anh có nghĩ rằng tôi đem đến hòa bình cho mặt đất không ?”. người ta có thể đã tưởng thế vì lời phúc âm của Ngài là sứ điệp hòa bình (Is 9,5tt; Za 9,10; Lc 2,14; Ep 2,14-15) và hòa giải. Nhưng khi thế giờ bị lửa thánh linh đốt lên qua lời giảng dạy của các tông đồ, thì phúc âm sẽ không luôn luôn được con người thiện tâm bình thản đón tiếp. Phúc âm sẽ bị con cái bóng tối đánh bật, xô đẩy, và như thế bình an của Đức Kitô không phải là thứ bình an của thế gian, con người sẽ phân rẽ vì CGS, “để tư tưởng của nhiều tâm hồn phải bày tỏ ra” (Lc 2,35). Ngay trong gia đình, tự bản chất là nguyên lý của sự hiệp nhất cũng sẽ xuất phát mối bất hòa bất thuận.
KẾT LUẬN
Sự cứu độ của thời cuối cùng sẽ không đến mà không cần có cố gắng và đau khổ. Mối mong chờ ơn cứu độ bao hàm lòng can đảm chịu đựng gánh nặng và lo lắng khổ sở. Muốn lêm trời phải qua thánh giá (pâque: passage). Nhưng thánh giá, mà các môn đệ sống là dấu hiện tiên báo các biến cố thế mạt đã bắt đầu, các biến cố đó đòi hỏi con người từ đây phải có một lập trường dứt khoát đối với Đức Kitô và sứ điệp của Ngài.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Đức Kitô đem lửa tình yêu đến nung nấu thế giới không một chút tình người, không mảy may hy vọng vào sự hiệp thông phổ quát đích thực, không có tinh thần vô vị lợi. Chỉ có lửa đó mới nung nấu lòng người, dẹp tan mọi nghi kỵ hận thù và chiến tranh là những mối nguy cho tình bằng hữu giữa người với người, dân này khác với dân kia.
2. Nhưng CGS cũng biết lửa đó chỉ phát xuất từ hy lễ của chính Ngài, Ngài hướng dẫn hy lễ đó không chút âu lo. Trái lại đã ao ước chóng chu tất nó để hoàn tất sứ mệnh cứu độ của Ngài. Vì cái chết của Ngài sẽ mở ra một khúc ngoặc quan trọng trong lịch sử nhân loại, khai mào cho chúng ta đường cứu độ nhờ thập giá. Và trong mức độ ao ước nung nấu lửa tình yêu đó trên trái đất, thực hiện cuộc cách mạng đổi đời, đổi tâm thức và cơ cấu, chúng ta sẽ chịu một phép rửa như CGS: chúng ta phải bắt chước Ngài khi chịu lo âu, thất bại, từ bỏ, để thực hiện lý tưởng đời mình.
3. CGS ban hòa bình cho chúng ta, như TƯ đã nói: Ngài hòa giải chúng ta với Chúa Cha, với chính chúng ta và với mọi người (x. Ep 2,14-17) bằng cách mời gọi chúng ta trở về với đời sống đích thực là yêu thương. Nhưng Ngài không ban bình an theo kiểu thế gian, nhưng theo kiểu chiến đấu như Ngài đã từng chiến đấu, đến nỗi gây chia rẽ chúng ta với than nhân chúng ta.
4. Ở đây CGS không muốn lên án sự hòa hợp trong gia đình và cổ xúy một tinh thần chia rẽ. Nhưng Ngài luôn nhắc tới giới luật của TC: “Hãy phục vụ cha mẹ ngươi” (Mc 7,10). Nhưng qua các lời nói trên đây, Ngài quả quyết nếu muốn làm môn đệ Ngài, chúng ta phải sẵn sàng hy sinh tất cả cách tuyệt đối những gì ngăn cản không cho chúng ta theo Ngài, kể cả tình yêu nhân loại cao quí nhất. Ngài muốn chúng ta thuộc về Ngài cách độc quyền, dứt khoát, trọn vẹn. Và sự độc quyền có thể làm người ta chướng tai gai mắt. CGS biết điều đó nên đã nói: “Hạnh phúc cho ai không vấp phạm vì Ta” (Mt 11,6). Tuy nhiên Ngài không ép buộc nhưng mời gọi chúng ta với tư cách là sứ giả của Nước TC sẽ đến đảo lộn mọi trật tự xã hội loài người. Và Ngài đòi chúng ta phải thống hối ăn năn trong mọi lãnh vực của cuộc đời chúng ta, cũng như lãnh vực liên đới gia đình. Một lần nữa CGS không cấm chúng ta yêu thương đồng loại, trái lại còn đòi buộc chúng ta phải yêu thương nhau hơn nữa. Ngài còn phản đối lối yêu thương vụ lợi của chúng ta: “Nếu các ngươi chỉ yêu thương người yêu thương mình, thì còn ân nghĩa gì ?”.

 

TN20-C22: TÔI CÓ NÊN QUÌ GỐi XUỐNG KHÔNG? - Mark Link S.J.

Chủ đề: Đôi khi vì theo Chúa Giêsu chúng ta phải chịu đối nghịch với cả những kẻ chúng ta yêu mến.
 

Cách đây ít lâu, có một nhà báo chia sẻ với độc giả của mình về một khoảng thời gian quan trọng: TN20-C22

Cách đây ít lâu, có một nhà báo chia sẻ với độc giả của mình về một khoảng thời gian quan trọng trong cuộc đời trước kia của ông (Xem Arthur Jones, National Catholie Reporter. March 28 1986). Thời đó, ông được gọi nhập ngũ phục vụ trong không lực hoàng gia và sống trong một trại lính cùng với 30 binh sĩ khác. Ngay đêm đầu tiên, ông đã phải cân nhắc trước một quyết định quan trọng: trước đây ông vẫn luôn luôn quì gối đọc kinh, liệu bây giờ vào quân ngũ rồi, có nên tiếp tục quì gối không? Lúc đầu ông cảm thấy ngường ngượng nhưng rồi ông tự nhủ: tại sao chỉ vì sợ những kẻ khác dòm ngó mà mình lại thay đổi cách sống? bộ mình vừa khởi đầu cuộc sống xa nhà là đã cho thiên hạ  quyền xử sai phải, nên làm và không nên làm điều này điều nọ sao? Nghĩ thế, ông liền quyết định cứ tiếp tục quì gối xuống đọc kinh. Khi vừa đọc kinh xong, lập tức ông nhận ra mọi người đang để ý ông, và khi ông làm dấu thánh giá, ông chợt nhận ra họ mới biết ông là một người công giáo. Và xảy ra là trong toàn trại lính chỉ có một mình ông là người Công giáo. Tuy nhiên, đêm hằng đêm, ông vẫn quì gối cầu nguyện. Ông nói rằng 10 phút cầu nguyện ấy của ông thường dẫn đến những cuộc tranh cãi kéo dài hàng giờ.
Vào ngày cuối cùng của khoá huấn luyện, có người đến nói với ông: “Anh là người Kitô hữu tốt nhất mà tôi từng gặp”. Ông liền đáp lại: “Có thể tôi là người Kitô hữu dám công khai biểu lộ đức tin của mình nhất mà bạn từng gặp, nhưng tôi không cho rằng tôi là người Kitô hữu tốt nhất đâu. Dầu vậy tôi cũng xin cám ơn vì điều bạn vừa nói”.
Câu chuyện trên làm sáng tỏ một trong những chủ điểm của bài Phúc Âm hôm nay. Dấn thân theo Chúa Giêsu tức là chấp nhận kiên định về một số sự việc, và đôi khi sự kiên định này giúp chúng ta có cơ hội làm chứng cho lời dạy trong bài giảng trên núi của Chúa Giêsu khi Ngài nói:
“Các con là ánh sáng thế gian, một thành xây trên núi không thể giấu được. Không ai đốt đèn rồi lại đặt dưới đáy thùng, nhưng đặt trên giá đèn để soi sáng cho cả nhà. Sự sáng của các con cũng phải chiếu toả trước mặt mọi người như thế, ngõ hầu họ có thể nhìn thấy việc thiện các con làm mà ngợi khen Cha các con trên trời” (Mt 5 : 14-16)
Thực thế, đôi khi vì dấn thân theo Chúa Giêsu mà chúng ta phải chịu bắt bớ giống trường hợp Giêrêmia trong bài đọc thứ nhất hôm nay. Đôi khi vì dấn thân theo Chúa Giêsu mà chúng ta phải chiến đấu gian khổ giống như thánh Phaolô ghi nhận trong bài đọc thứ hai hôm nay. Và đôi khi vì theo Chúa Giêsu mà chúng ta phải chống đối lại ngay chính gia đình mình như lời Chúa Giêsu cảnh giác trong Phúc Âm hôm nay. Đây là một trong những lý do khiến dân Roma thuở xưa căm ghét Kitô giáo đến thế; bởi vì Kitô giáo gây cho gia đình  họ tan tác chia lìa. Một khi đứa con trai trở thành người Kitô hữu thì nó sẽ thôi không chịu cùng kẻ khác tham dự các nghi thức lễ bái ngoại giáo nữa, nó cũng không còn cùng bè bạn reo hò vui khoái khi nhìn cảnh hai tên nô lệ đâm chém nhau chí tử nữa, nó cũng không còn hùa theo kẻ khác để khuyến khích chị em mình giết chết đứa con tật nguyền thay vì cứ để đứa trẻ ấy lớn lên dù có bị tàn tật, và nó cũng thôi không còn theo bạn bè nhậu nhẹt chơi bời như đa số dân Roma vào thời suy thoái nữa. Và như thế vô số Kitô hữu Roma phải quyết  định giữa tình yêu đối với những người thân thuộc và tình yêu đối với Chúa Kitô. Và thường thì sự lựa chọn này đặt họ vào hoàn cảnh đối nghịch lại với gia đình  mình.
Một ví dụ về sự đối nghịch như thế xảy ra trong vở kịch: Fiddler on the Roof (Chơi vĩ cầm trên mái nhà). Câu chuyện này xảy ra tại Nga vào năm 1905. Trung tâm vở kịch xoay quanh một người đàn ông tên là Tevye, ông bố của một gia đình Do Thái nghèo khổ. Tevye chỉ có 5 cô con gái và không có cậu con trai nào cả. Cô gái đầu của ông tính lấy một gã thợ may mà không được người mai mối theo truyền thống chọn lựa cho. Sau khi tranh đấu với lương tâm mình, Tevye đành chấp nhận gả con. Cô con gái kế thì tính lấy một chàng sinh viên đại học từng phá vỡ nhiều truyền thống Do Thái. Nhưng sau cuộc đấu tranh nữa với lương tâm mình, Tevye cũng đã chấp nhận cuộc hôn nhân này. Cuối cùng, cô con gái thứ ba tên là Chiva dự tính lấy một chàng lính trẻ người Nga chứ không phải là người Do Thái. Khi Golde vợ Tevye cho hay tin, Tevye liền nói: “Đối với chúng ta, Chava kể như chết rồi! Chúng ta phải quên nó đi !”
Golde bước ra khỏi sân khấu và Tevye bắt đầu ca lên bản nhạc tuyệt vời tựa đề là : “Chavaleh”. Trong đó, ông bày tỏ nỗi lòng của mình với Chúa. Ông không thể hiểu được tại sao con gái ông lại nài xin Tevye chấp nhận cho cuộc hôn nhân của nàng. Tevye ngước mắt nhìn lên trời nói: “Làm sao ta có thể chấp nhận chúng nó được? Lẽ nào ta có thể phủ nhận mọi điều tin tưởng của ta? Nhưng đàng khác, làm sao ta có thể từ chối đứa con gái mình? (Trừ trường hợp ta phủ nhận mọi điều ta đã tin….) nếu ta cứ xìu lòng mãi thế này thì ta sẽ phá vỡ hết….không được đâu, Chava ơi!”
Khi mời gọi người ta bước theo mình, Chúa Giêsu đã biết được Ngài đang đòi hỏi họ điều gì. Đối với Chava phải làm, là lìa bỏ cha mẹ và gia đình mình. Nói cách khác, dấn thân theo Chúa Giêsu tức là đặt Ngài lên trên mọi sự kể cả gia đình của mình. Và đây là sứ điệp của các bài đọc hôm nay. Sứ điệp này quan trọng đối với chúng ta ngày hôm nay chẳng kém gì với dân chúng thời Chúa Giêsu. Người Kitô hữu phải đặt sự dấn thân theo Chúa Giêsu và Chúa Cha lên trên tất cả mọi sự khác. Sự dấn thân phục vụ cho ánh sáng và chân lý không chấp nhận bất cứ thoả hiệp nào, như lời Chúa Giêsu: “Các con là ánh sáng thế gian, một thành xây trên núi không thể che giấu được. Người ta không đốt đèn rồi đặt dưới thùng nhưng đặt trên giá đèn để soi sáng cho mọi người trong nhà. Ánh sáng của các con cũng phải toả ra trước mắt mọi người như thế ngõ hầu họ xem thấy việc thiện chúng con làm mà ngợi khen Cha các con ở trên trời” (Mt 5:14-16).
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con lòng can đảm bước theo Chúa, dù điều đó khiến chúng con phải chiến đấu gian khổ như thánh Phaolô ghi nhận trong bài đọc thứ hai hôm nay. Lạy Chúa xin ban cho chúng con lòng can đảm bước theo Chúa, dù vì đó mà phải chịu bắt bớ giống trường hợp tiên tri Giêrêmia trong bài đọc thứ nhất hôm nay. Và lạy Chúa, xin ban cho chúng con lòng can đảm bước theo Chúa, dù đôi khi vì đó mà chúng con phải đối nghịch với chính gia đình mình như Chúa Giêsu từng cảnh giác chúng con trong bài Phúc Âm hôm nay.

 

TN20-C23: GIÁ PHẢI TRẢ CHO BÌNH AN - Gm. Arthur Tonne

Một chiếc xe ngựa xuyên qua miền Tây Montana. Trời lạnh cắt da. Người xà ích cố gắng hết: TN20-C23

Một chiếc xe ngựa xuyên qua miền Tây Montana. Trời lạnh cắt da. Người xà ích cố gắng hết sức để giữ hai hành khách được ấm - Một thiếu phụ và đứa con mới sinh của nàng. Nhưng người mẹ buồn ngủ vì lạnh. Nếu nàng ngủ, nàng sẽ chết. Ngừơi xà ích thắng ngựa dừng lại, anh cuốn chặt đứa bé trong khăn và để dưới gầm ghế. Rồi anh kéo người Mẹ ra khỏi xe, đóng sập cửa lại và cho ngựa chạy. Như điên cuồng người mẹ chạy theo la ó đòi đứa con lại. Khi người Xà ích cảm thấy chắc chắn thiếu phụ đã tỉnh lại và ấm lên, anh mới dừng xe lại đợi người thiếu phụ chạy tới. Đó là một cách thô bạo để giữ người thiếu phụ khỏi chết. Nhưng người mẹ đó luôn nhớ ơn người xà ích.
Người xà ích đã làm điều Chúa thường làm. Để thức tỉnh chúng ta ra khỏi mê ngủ, lười biếng trên phương diện thiêng liêng. Cha trên trời thường để những thử thách những khó khăn giúp chúng ta tỉnh thức, đôi khi đau đớn, nhưng nó làm chúng ta ý thức quyền năng, sự hiện diện và tình thương của Chúa.
Đó là một lý do Thiên Chúa để nhiều khó khăn, chia rẽ, khác biệt, bất đồng ý kiến xảy ra trong Giáo Hội ngày nay. Chúa Giêsu nói với chúng ta trong bài Tin mừng hôm nay rằng Người không đến để đem bình an trong đĩa bạc, nhưng Người nói những khó khăn gian khổ là giá của Bình An. Bình an được dành lấy, một người muốn tìm bình an, họ phải chiến đấu với những xu hướng của riêng mình. Một gia đình muốn bình an, phải từ bỏ những sở thích phải chịu đựng lẫn nhau. Gia đình của Chúa là Giáo Hội, trong việc tìm kiếm bình an, phải vượt qua những khác biệt, những bất đồng. Tất cả những cái đó là một phần của chương trình Thiên Chúa để thức tỉnh chúng ta khỏi những trạng huống ru ngủ có thể đưa chúng ta tới cái chết thiêng liêng.
Sự gì đang xảy đến trong Giáo Hội? Những người Công Giáo và không Công Giáo đều đặt câu hỏi đó. Câu trả lời là: Giáo Hội đang trải qua một thời kỳ thử thách, một giai đoạn thanh tẩy, trong đó những môn đệ đích thực của Chúa Giêsu, những nguời mưu tìm sự bình an chân thật bằng những chiến đấu cam go sẽ nổi bật hơn những người ưa chuộng một bình an giả tạo không đòi hỏi phải cố gắng.
Chúng ta có thể làm gì? Mỗi người Công Giáo phải tìm kiếm linh hồn mình, Chúng ta ý thức rằng  Thiên Chúa vẫn quan tâm đến gia đình của Người đây, trên mặt đất này, Thiên Chúa vẫn hướng dẫn các vị lãnh đạo của chúng ta. Thiên Chúa vẫn yêu thương gia đình của Người và yêu thương từng phần tử trong gia đình ấy. Trong bài đọc thứ nhất Thiên Chúa để cho ngôn sứ Jêrêmia bị ném xuống hầm nước và chìm xuống bùn lầy. Trong bài đọc thứ hai Thiên Chúa bảo chúng ta: “Hãy kiên trì trong cuộc chạy đua” và “đừng thôi chiến đấu”
Hãy cầu nguyện xin sự bình an trong Giáo Hội. Hãy dùng  những lời kinh trong bài đáp ca: Chúa đã nghe tiếng tôi kêu cầu… Người đặt tôi trên dốc đá.. Người củng cố  bước chân tôi.
Nơi đây và lúc này chúng ta làm sống lại sự đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu, là cái giá của sự sống lại, cái giá của Bình an. Người đã công bố vào ngày Phục sinh thứ nhất, ước chi gia đình Chúa cầu nguyện và hành động qua mọi khó khăn của thời đại để đạt tới sự Phục sinh và Bình an.
Xin Chúa chúc lành bạn. Amen.

 

TN20-C24: Ngài đến không phải đem đến hòa bình

CHỦ NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN

Tin mừng : Lc 12, 49-53

Anh chị em thân mến,

 

Có nhiều người giáo dân thắc mắc về câu nói trong bài Tin Mừng hôm nay của Chúa Giêsu : Ngài đến: TN20-C24

Có nhiều người giáo dân thắc mắc về câu nói trong bài Tin Mừng hôm nay của Chúa Giêsu : Ngài đến không phải đem đến hòa bình nhưng đem sự chia rẻ. Như thế là Chúa Giêsu tự mâu thuẩn với lời dạy của mình, bởi vì chỉ có ma quỷ mới đem chia rẻ đến cho người ta.

Hoà bình không phải tự nhiên mà có nhưng phải nổ lực đấu tranh và có khi mất cả mạng sống của mình.

Chúa Giêsu đến chính Ngài là sự chia rẻ giữa các dân tộc như tiên tri Simêon đã loan báo : “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người chống báng…"(Lc 2, 34)Chia rẻ không có nghĩa là Ngài muốn thế gian chia rẻ nhau, nhưng con người ta sẽ vì tin vào Ngài mà chia rẻ nhau, và như thế “những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra"(Lc 2, 35a)khi chính họ tin và nhận biết Chúa Giêsu chính là Cứu Chúa của họ.

Do đó, những kẻ tin vào Chúa Giêsu sẽ bị người ta bách hại, người bách hại đó có khi là người thân của mình, vì họ chưa nhận ra được chân lý từ Chúa Giêsu nên họ chống đối khốc liệt khi người thân của họ tin vào Chúa Giêsu. Mầm chia rẻ đã chớm rõ khi trong gia đình có người tin vào Chúa Giêsu và có người còn giữ đạo ông bà hay tin một tôn giáo khác, ngay cả những người tin vào Chúa Giêsu đã cảm thấy sự chia rẻ ngay trong gia đình khi mình tin vào Thiên Chúa duy nhất, hạnh phúc và đau khổ lẫn lộn nơi con người họ, hạnh phúc vì đã tìm được đường đi đến sự sống đời đời, hạnh phúc vì đã tìm được Thiên Chúa của mình; đau khổ là vì những người thân trong gia đình chưa biết Thiên Chúa, đau khổ vì gia đình bất hoà chia rẻ…

Vì thế, người tín hữu cần phải phấn đấu cho niềm tin của mình, phải chiến đầu với những cám dỗ do ma quỷ và thế gian khiêu chiến để đem lại hoà bình cho gia đình và cho mọi người, phải chiến đầu không ngơi nghỉ với hồng ân của Thiên Chúa ban cho.

Hoà bình không phải chỉ nói bằng miệng nhưng là được nói bằng con tim chân thành và thể hiện nơi hành động.

Chúa Giêsu đến trong thế gian, Ngài không chỉ loan báo tin vui Nước Trời mà thôi, nhưng Ngài còn hành động với quả tim yêu thương chân thành. Ngài đã kiến tạo hoà bình trong tâm hồn cho những ai đến với Ngài bằng những lời lẽ mộc mạcc đơn sơ dễ hiểu với hiến chương Nước Trời là Tám Mối Phúc Thật (Mt 5, 3-12).

Quả thật như thế, không một ai đến với Chúa Giêsu mà tâm hồn không được bình an, bởi vì khi đến với Ngài người ta chỉ thấy Ngài là con người của hoà bình và của yêu thương, người ta lũ lượt tuôn đến với Ngài như đàn chiên đi sau người mục tử nhân hậu,.

Hoà bình trong tâm hồn là hồng phúc lớn lao mà Thiên Chúa ban cho nhân loại qua Con Một của mình là Chúa Giêsu, và những ai chân thành kiến tạo hoà bình thì cũng sẽ được gọi là con của Thiên Chúa đó là lời hứa của Chúa Giêsu : “Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa"(MtMy 5, 9). Một lời hứa được đặt vào trong hiến chương của Nước Trời là một bảo đảm cho nhân loại.

Anh chị em thân mến,

Lửa mà Chúa Giêsu đến trong thế gian không phải là lửa thiêu đốt phá hoại và gây chết chóc đau khổ cho nhân loại, nhưng đó là lửa yêu mến, lửa của tình yêu xuất phát từ quả tim yêu thương nhân loại vô bờ bến của Ngài.

Lửa yêu thương này, Chúa Giêsu muốn đốt -trước hết- là trong lòng mỗi một người chúng ta, để khi ngọn lửa ấy phát sinh hiệu quả trong mình, thì chúng ta châm qua cho người khác bằng chính những việc làm bác ái yêu thương và phục vụ của chúng ta.

Đừng để tâm hồn chúng ta ra nguội lạnh, nhưng mỗi giây phút trong cuộc sống, chúng ta cầu xin Chúa Giêsu gia tăng lửa yêu mến, để chúng ta kiến tạo hoà bình những nơi mà chúng ta đến phục vụ…

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.


 

TN20-C25: Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian

Chúa Nhật tuần 20 thường niên

Lc 12,49-53: “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian, và Thầy mong muốn biết bao cho lửa ấy cháy lên”

 

Đặc tính của lửa là: cháy, sáng và nóng. Trong Kinh Thánh, một trong những biểu tượng của: TN20-C25

Đặc tính của lửa là: cháy, sáng và nóng. Trong Kinh Thánh, một trong những biểu tượng của “Lửa” là để chỉ Tình Yêu Thiên Chúa.
Đặc tính của lửa là: cháy, sáng và nóng.

Trong Kinh Thánh, một trong những biểu tượng của “Lửa” là để chỉ Tình Yêu Thiên Chúa.

Tình yêu “như lửa” không bao giờ nói đủ rồi mà chỉ muốn lan tỏa, đốt nóng lên và tỏa sáng rực rỡ (Cn 30,16). Khi tiếp xúc với Thiên Chúa, tình yêu được đốt lên như lửa bừng cháy cả tâm can (Tv 39,4-5). Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần ngự xuống như ngọn lửa thiêng thanh tẩy và đốt cháy mọi ngu muội, tăm tối trong tâm hồn các Tông Đồ; thúc dục các Ngài can đảm ra đi rao báo Tin Mừng của Chúa cho muôn dân, việc mà trước đó chỉ vài ngày các ông không bao giờ dám nghĩ tới.

“Thầy đến để đem lửa xuống thế gian”. Lửa đây chính là sứ mạng cứu độ của Chúa, là ngọn lửa tình yêu mà Ngài muốn dùng để thanh tẩy, đốt nóng và làm cho bừng cháy lên ơn cứu độ của Ngài. Và Ngài khắc khoải biết bao để “lửa ấy vẫn cháy mãi lên” thiêu hủy những cằn cỗi, thanh lọc những ô nhơ, làm ấm lại cõi lòng băng giá và soi sáng con người trên bước đường tìm kiếm sự thật.

Chúa muốn ngọn lửa tình yêu mà Ngài đã từng đem đến trần gian mãi mãi được thắp sáng lên trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Ngài yêu thương ta như đối tượng của tình yêu Ngài, mặc dù chúng ta có vô ơn, bội phản hay quay lưng lại với tình yêu đó. Ngài kêu gọi từng người chúng ta hãy tiếp nối sứ mạng đem lửa thắp lên cho khắp thế giới bằng chính cuộc sống chứng nhân của mỗi người trong mọi hoàn cảnh.

Lời cầu nguyện

Lạy Chúa, ngọn lửa tình yêu bất tử. Chúa yêu thương con người chúng con từ ngàn xưa khi tạo dựng vũ trụ. Tình yêu đó vẫn không ngừng ban ơn tha thứ và cứu vớt chúng con trong mầu nhiệm cứu chuộc.Và mãi mãi Chúa vẫn hiện diện và yêu thương chúng con qua những ân huệ thiêng liêng của Chúa Thánh Thần. Chúa muốn mọi người chúng con tiếp tục thắp lên ngọn lửa yêu thương đó đến với anh em, nhất là những con người nghèo đói, thiếu thốn tình thương bằng đời sống sẻ chia và tha thứ. Xin cho mỗi người chúng con trở nên những chứng nhân thực thụ của ngọn lửa tình yêu Chúa, để chúng con thắp sáng lên mọi cảnh đời đen tối hình ảnh yêu thương của Chúa.

Lm JB Phan Kế Sự

 

TN20-C26: Tìm gặp Chúa trong cầu nguyện

VietCatholic News (18/07/2004 )

CHÚA NHẬT 17 THƯỜNG NIÊN. C

TÌM GẶP CHÚA TRONG CẦU NGUYỆÑöùc Chuùa Thaùnh Thaàn

 

Chúa nhật hôm nay, thánh Luca cho biết, Chúa Giêsu dạy các môn đệ cầu nguyện sau khi chính: TN20-C26

Chúa nhật hôm nay, thánh Luca cho biết, Chúa Giêsu dạy các môn đệ cầu nguyện sau khi chính bản thân Người đã cầu nguyện. Lời cầu nguyện mà Chúa dạy các môn đệ ngắn gọn, gồm tóm tất cả những gì cần thiết cho đời sống tâm linh, lẫn thể xác của con người. Đó là kinh Lạy Cha. Vì thế kinh Lạy Cha trở nên kinh nguyện mẫu cho mọi lời kinh, mọi lời cầu nguyện của từng người và của cả Giáo Hội. Là lời kinh do chính Con Thiên Chúa hướng dẫn, kinh Lạy Cha là kinh quan trọng lớn lao, khi đọc cách cẩn thận, mỗi Kitô hữu được tham dự vào chính kinh nguyện của Chúa Giêsu. Vì chính nhờ Người trong Người, với Người, mọi Kitô hữu thốt lên tiếng “Abba - Lạy Cha” cách triều mến, thân thương, gần gũi, đáng yêu quá đỗi.

Không chỉ dạy cầu nguyện, qua các dụ ngôn, Chúa Giêsu còn dạy hãy đến với Thiên Chúa như người bạn kêu nài bạn hữu giúp đỡ mình. Hoặc hãy cầu nguyện như đứa con thưa chuyện với cha của nó. Thật sâu lắng vô cùng khi Thiên Chúa lớn lao là thế, lại chấp nhận thụ tạo như bạn hữu, như con cái và chấp nhận tiếng “Cha” của loài thụ tạo ấy. Như vậy cầu nguyện là cách hay nhất để Thiên Chúa kéo ta về phía Người và làm cho khoảng cách giữa Tạo Hóa với thụ tạo, tưởng chừng xa vô bờ, lại trở nên ngắn ngũi và như không còn khoảng cách. Đúng hơn, chỉ còn là tình phụ tử.

Vì tầm mức quan trọng của việc cầu nguyện trong đời người Kitô hữu như thế, hôm nay tôi muốn nói đến việc chuẩn bị cho một người bắt đầu vào đạo là giúp họ bắt đầu gặp Thiên Chúa. Chỉ có gặp Chúa, đời sống người Kitô hữu mới có hạnh phúc, tràn đầy niềm vui, và đức tin vững mạnh.

Bởi đó ai bước vào đời sống Kitô hữu, họ cần học giáo lý. Cũng như khi dấn thân cho một hành trình, người ta cần hiểu tối thiểu hành trình mà mình phải bước đi. Sống đời Kitô hữu là một hành trình. Hơn nữa đó là hành trình của đức tin. Vì thế, có hiểu biết về đức tin, ta mới có thể yêu mến và dấn thân cho đức tin một cách khả dĩ.

Nhưng người Kitô hữu phải sống đức tin cả một đời. Do đó, chỉ trang bị một mớ kiến thức giáo lý như người ta học một môn học, thật là khiếm khuyết không gì bằng.

Có khi còn tệ hơn học một môn học, vì người ta chỉ dành cho giáo lý mỗi tuần vài giờ đồng hồ, học trong một thời gian ngắn hết sức, thường là thời gian không gây vướng bận bất cứ một việc nào khác. Đàng khác, một môn học sau khi học xong, sẽ cho ta ít lợi vật chất, nhưng kiến thức giáo lý thì không. Từ những lý do trên, khiến giáo lý bị xem nhẹ, trở thành một gánh nặng do “ông cha”, “bà phước” ép buộc, các giáo lý viên “hành hạ”. Với một não trạng như thế về giáo lý đã làm cho đức tin trở nên lu mờ, việc giữ đạo như một thói quen, hoặc chỉ tới nhà thờ để người khác không cười chê. Thực chất dù được gọi là Kitô hữu như mọi người, lại chỉ là một thứ danh ảo. Một đức tin thiếu nến tảng như thế dễ dàng bị đánh mất trong một môi trường nào đó mà điều kiện giữ đạo khắc nghiệt, hoặc xung quanh thiếu vắng người Kitô hữu...

Đó chỉ mới là việc học giáo lý mà đã có nhiều vấn đề. Việc giữ đạo và đào tạo đức tin còn phải đi xa hơn. Vì đời sống của một Kitô hữu đâu chỉ là gia nhập một đoàn thể, chấp nhận một mớ lý thuyết, một mớ lề luật. Trở nên Kitô hữu, trước hết là đi gặp một Thiên Chúa tình yêu và trao ban tình yêu vô tận trong chính cuộc đời của mỗi người. Trở nên Kitô hữu là đi gặp một Thiên Chúa yêu thương đến nỗi hóa nên nhục thể như chúng ta là người, chia sẻ kiếp người đến độ lặn sâu trong kiếp người ấy một các hoàn hảo. Bởi vậy, bước vào đời sống của một Kitô hữu là đi gặp Chúa Kitô, hình tượng hữu hình của Thiên Chúa, kiểu mẫu đời sống đức tin của chúng ta.

Nhưng ta chỉ có thể gặp Thiên Chúa cách hoàn hảo nhất trong đời sống cầu nguyện. Càng chìm đắm trong cầu nguyện, càng say mê cầu nguyện. Say mê cầu nguyện, lại càng dẫn ta đến với cầu nguyện chìm đắm. Càng chìm đắm và say mê cầu nguyện bao nhiêu, khuôn mặt Thiên Chúa tình yêu càng hiện rõ bấy nhiêu. Chỉ có cầu nguyện mới mang lại đức tin. Vì đức tin chỉ có thể vững vàng, khi đức tin ấy xuất phát từ kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa, gặp Gỡ Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế của mình.

Như vậy giáo lý là bước đầu tiên giới thiệu Thiên Chúa, giới thiệu ta đến với chân trời của đức tin, là khởi điểm cho một nền tảng không biên giới của lòng tin, của tình yêu Thiên Chúa dành cho ta. Cầu nguyện là phương cách giúp ta sống đức tin. Bởi thế, ta không được loại trừ việc học giáo lý, càng không thể loại trừ việc cầu nguyện.

Hiểu như thế, ta nhận ra rằng, giáo lý chưa phải là cách tốt nhất mang lại đức tin, vì đó chỉ mới là kiến thức mà thôi. Đời sống cầu nguyện mới là điều kiện tối ưu, cung cấp một bằng chứng đức tin vững chải. Bởi vậy, thật là sai lầm, khi một người dự tòng cho rằng, mình chỉ trải qua một thời gian học giáo lý, thế là đủ, không cần cố gắng thêm. Chính người giáo lý viên, trong khi dạy giáo lý, phải đào tạo cho học viên của mình một đời sống cầu nguyện, một thói quen gặp gỡ Chúa Kitô, nhờ Người mà đến với Thiên Chúa. Do đó, việc làm quen với phụng vụ, việc cầu nguyện tắt, giúp họ đọc những kinh thông thường (Như: Ăn Năn tội, Lạy Cha, Kính mừng, Sáng danh, Tin kính, Tin, Cậy, Mến, Chúc Thánh Thần...), là điều hết sức cần thiết.

Là Kitô hữu, bạn và tôi có Lời Chúa Kitô hướng dẫn, có chính Người là gương mẫu về đời sống hiệp thông với Thiên Chúa. Chúng ta hãy chuyên cần cầu nguyện, hãy làm cho cuộc sống của mình xinh tươi hơn, đáng yêu hơn, bình an hơn nhờ gặp gỡ Thiên Chúa. Vì chỉ nơi Chúa, ta mới khám phá ý nghĩa đời mình. Chỉ nơi Chúa, ta mới có thể chạm đến hạnh phúc cuối cùng, cũng là hạnh phúc bền vững của đời ta.

Lạy Chúa, khi bị bao vây bởi muôn tiếng ồn ào, xin cho con tìm về bên Chúa để được trong những phút giây thinh lặng và bình an. Khi bị xâu xé bởi cả cuộc đời long đong hay mệt nhoài vì trăm công ngàn việc, xin cho con quý chuộng những giây phút được nghỉ ngơi bên Chúa.

Lạy Chúa, ước gì tinh thần cầu nguyện thấm nhuần cả đời con. Nhờ cầu nguyện, xin cho con gặp được con người thật của con và tấm lòng đầy yêu thương của Chúa.

Lm. Vũ Xuân Hạnh


 

TN20-C27: Chúa Giêsu đến trần gian để thanh luyện trần gian

Lc 12,49-53
A. Hạt giống...
 

Đoạn này có hai ý : 1. Bằng hai hình ảnh “lửa” và “phép rửa”, Chúa Giêsu nói về tương lai sắp: TN20-C27

- “Lửa” ám chỉ sự thanh luyện. Chúa Giêsu đến trần gian để thanh luyện trần gian, cho nên Ngài ước mong việc thanh luyện
Đoạn này có hai ý :
1. Bằng hai hình ảnh “lửa” và “phép rửa”, Chúa Giêsu nói về tương lai sắp tới (cc 49-50) :
- “Lửa” ám chỉ sự thanh luyện. Chúa Giêsu đến trần gian để thanh luyện trần gian, cho nên Ngài ước mong việc thanh luyện ấy sớm hoàn thành.
- “Phép rửa” ám chỉ cuộc khổ nạn sắp tới : việc thanh luyện ấy chỉ hoàn thành sau khi Ngài chịu nạn chịu chết và sống lại.
2. Bằng hai hình ảnh “hòa bình” và “chia rẻ”, Chúa Giêsu kêu gọi người ta chọn lựa thái độ trước Tin Mừng của Ngài (cc 51-53) : Nhiều người nghĩ rằng Đấng Messia là Đấng mang hòa bình đến (x. Is 9,5). Chúa Giêsu xác nhận rằng đúng thực, sứ mạng của Ngài là một sứ mạng Hòa bình (Is 9,5tt ; Dcr 9,10 ; Lc 2,14 ; Ep 2,14-15). Nhưng Ngài thấy cần giải thích thêm : chữ “Hoà bình” có nhiều nghĩa : hoà bình kiểu thế gian và hoà bình của Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói rằng Ngài đến thế gian không phải để đem hòa bình kiểu thế gian, mà là thứ hòa bình của Thiên Chúa. Thứ hoà bình của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mang đến, người ta chỉ sẽ nhận được sau khi người ta đã cố gắng chiến đấu để sống theo Tin mừng của Ngài. Thực tế cho thấy là sứ vụ của Chúa Giêsu đã gặp chống đối, và Lời rao giảng của Ngài đã gây ra chia rẽ giữa những người tin và những người không tin, chia rẽ xảy ra ngay trong lòng một gia đình (Lc 2,35 : có chia rẽ, thì tâm tư người ta mới lộ ra).

B.... nẩy mầm.
1. Lời Chúa Giêsu nói về sứ mạng của Ngài cũng là một lời khuyến cáo các môn đệ Ngài : Sự kiện Nước Thiên Chúa đến không phải để các môn đệ hưởng thụ một cuộc sống bình an một cách thụ động. Họ sẽ hưởng bình an đấy, nhưng là thứ bình an mà họ phải cố gắng chiến đấu mới đạt được, chiến đấu trong gian truân thử thách, chiến đấu với cả những người thân nhưng không cùng niềm tin với mình. Phaolô và Barnabê đã hiểu như thế, nên đã khuyên các tín hữu rằng : “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa(Cv 14,22).
2. Hòa bình Chúa ban là kết quả của những cố gắng để giải quyết tình trạng “chia rẻ” : a/ Nơi bản thân mỗi người, chỉ có hòa bình thật khi không còn xung đột giữa cái tôi hướng thiện với cái tôi hướng ác ; b/ Nơi gia đình, nơi xã hội và bất cứ nơi nào cũng thế, chỉ có hòa bình thật khi mọi người đều một lòng một ý với nhau.
3. “Nếu trong tương lai, chúng ta không ký kết được những hiệp ước vững chắc và thành thật bảo đảm cho một nền hòa bình đại đồng, thì nhân loại, hiện đang gặp nguy cơ trầm trọng dù có một nền khoa học kỳ diệu đi nữa, có lẽ cũng sẽ tiến đến cách thảm khốc tới một giây phút mà nhân loại sẽ không biết hòa bình nào khác hơn là thứ hòa bình khủng khiếp của chết chóc” (Gaudium et Spes, số 82).
4. “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên !” (Lc 12,49)
Báo tuổi trẻ trong bài “Một cái chết bắt đầu cho sự sống” đã viết về anh Nguyễn Đức Minh như sau :
“... Vật vã với cơn đau ngày càng tăng, từ đầu năm anh tìm đến khoa giải phẫu của trường ĐHYD rồi về nhà lập tờ di chúc, trong đó chỉ có ba điều ước mong : hiến xác, đề nghị gia đình không làm đám tang lớn để lấy tiền giúp người khốn khó và dành những vật dụng riêng gồm máy đánh chữ, cassette, ampli, dụng cụ học tập của câu lạc bộ Bừng Sáng và một người bạn cùng cảnh mù. Chị hai của Đức Minh cho biết : “Em tôi lo gia đình không thực hiện lời hứa nên đã bắt cha mẹ ký xác nhận cho xác em mới chịu lên bàn mổ. Trước khi mổ, em còn dặn bác sĩ viện trưởng có gì thì đưa xác em đi ngay để gia đình khỏi đổi ý...”
Mong ước của anh Minh giúp tôi nhận ra được những khao khát của Chúa Giêsu trước khi bước vào cuộc Thương Khó : “Thầy ước mong phải chi lửa ấy - ngọn lửa yêu thương mà Ngài đã ném vào mặt đất – cháy bùng lên !”
Giêsu ơi, con cũng muốn sống những thao thức của Giêsu, bằng cuộc sống yêu thương, và dấn thân cho tình yêu. Xin giúp con Chúa nhé ! (Hosanna)
5. Mầm khác :

 

TN20-C28: Thầy đến không phải để ban hoà bình

Lu-ca 12, 49-53
"Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên ! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất !
"Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao ? Thầy bảo cho anh em biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau : cha chống lại con trai, con trai chống lại cha ; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng."
***
 

Chúa Giê-su đã cảnh cáo dân chúng về hiểm họa của đời sống hưởng thụ-qua dụ ngôn phú nông: TN20-C28

Chúa Giê-su đã cảnh cáo dân chúng về hiểm họa của đời sống hưởng thụ-qua dụ ngôn phú nông ngu dại. Rồi Ngài lại khuyên những kẻ theo Ngài-qua dụ ngôn ông chủ về và kẻ trộm đến. Nhưng Ngài không muốn cho họ lầm lạc mà cho rằng nước ấy sẽ thiết lập ngay mà không cần phải tranh đấu và chờ đợi. Thời hiện đại là thời của tranh giành chia xé, mà nguyên nhân chia rẽ ấy lại là chính Chúa. Một ngày kia Ngài sẽ trở lại đem lại sự công bình, an lạc đến chỗ toàn thắng và lúc ấy Ngài sẽ là Vua của Hòa Bình. Còn bây giờ Ngài đến thế gian quẳng lên nó một đốm lửa chia rẽ, xung đột. Đó là điều không thể tránh được, nên Chúa Giê-su không ân hận gì khi thấy lửa bén cháy, nhưng cho đến khi Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập giá lửa ấy mới bùng lên thành hỏa hoạn. Ngài cảm thấy bồn chồn mong cho xong cái kỳ hạn khủng khiếp ấy, Ngài sẽ là cây đuốc châm vào thế gian, ngọn lửa hừng của xung đột và chia rẽ. Sự chia rẽ sẽ xảy ra dầu ngay trong hàng ngũ những người thân yêu nhất.
Trong tư tưởng của người Do-thái, lửa là biểu tượng của phán xét.
Vì thế Chúa Giê-su nói Nước Ngài đến như một thời kỳ phán xét. Người Do-thái tin chắc rằng Thiên Chúa sẽ phán xét các dân tộc thế gian theo một tiêu chuẩn và phán xét, họ theo một tiêu chuẩn khác. Và sự kiện họ là người Do-thái cũng đủ cho họ thoát khỏi sự phán xét của Ngài. Đối với những người đang nhìn biết Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a, Đấng Xức Dầu của Thiên Chúa, thì những lời này khiến họ phải ngỡ ngàng, sững sờ. Họ đã coi Đấng Mê-si-a là Đấng Chiến Thắng, là Vua, và thời đại của Đấng Mê-si-a là hoàng kim thời đại … Mặc dầu tư tưởng chúng ta cũng muốn loại bỏ yếu tố phán xét ra khỏi sứ điệp của Chúa Giê-su nhưng nó vẫn tồn tại một cách bất di bất dịch.
"Có một phép rửa mà Ta phải chịu"
Động từ Hi-lạp baptizein có nghĩa là dìm xuống nước. Trong thể thụ động nó có nghĩa là chịu dìm xuống nước. Thường thường từ ngữ đó được dùng theo nghĩa bóng. Chẳng hạn dùng để chỉ về một chiếc tàu bị sóng biển vùi dập và chìm xuống. Cũng có thể dùng chỉ một người "uống rượu như hũ chìm" và say đến chết. Cũng có thể dùng để chỉ một thí sinh bị tấn công bởi các câu hỏi dần dập của các giáo sư khảo hạch. Nhưng đặc biệt nó được dùng để chỉ về một người nhận chìm trong một kinh nghiệm rùng rợn, khủng khiếp, đến nỗi có thể nói "các đợt sóng ba đào bao phủ lên tôi." Đó là nghĩa của từ mà Chúa Giê-su dùng ở đây. Ngài muốn nói "Ta có một kinh nghiệm khủng khiếp mà Ta phải trải qua và đời sống đầy căng thẳng cho đến khi Ta qua khỏi nó và xuất hiện cách toàn thắng." Thập giá hằng ở trước mặt Ngài luôn. Ý tưởng đó thật khác xa với ý tưởng của người Do-thái về vị Vua của Thiên Chúa. Chúa Giê-su đến, không phải với những đạo binh báo thù và những ngọn cờ phấp phới, nhưng Ngài đến để phó mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người.
Sự đến của Ngài chắc chắn mang lại sự chia cách.
Thực tế điều đó đã xảy ra. Đó là lý do khiến người La-mã ghét Ki-tô giáo, bởi vì nó khiến gia đình phân rẽ. Perpetua thuộc gia đình quý tộc, bị bắt vì đạo. Cha của nàng vẫn là dân ngoại, thuyết phục nàng bỏ đạo. Chỉ vào chiếc bình nàng lễ phép nói với cha : "Thưa cha, người ta có thể gọi vật này bằng một cái tên nào khác hơn là cái bình không ? Đối với con cũng thế, con không thể cho mình một cái tên nào khác ngoài danh hiệu là ki-tô hữu." Tức quá, ông đánh đập nàng tàn nhẫn, rồi bỏ đi nhiều ngày không tới. Perpetua có một đứa con còn đang bú, rất khổ vì phải xa con. Đứa bé kiệt sức nên người ta đưa lại cho mẹ nó, và nàng quên hết đau khổ vì có con bên cạnh.
Vì biết con gái mình sắp bị án tử, người cha lại đến với những lời thảm thiết : con ơi, hãy thương đến mái tóc bạc của cha, hãy nhớ đến đôi tay cha đã dưỡng nuôi con. Hạy nhớ tới mẹ con, anh em con và đến con nhỏ của con nữa, nó sống làm sao nếu không có con. Con hãy bỏ đạo, bỏ đi điều đã làm cho chúng ta mất tất cả.
Tuy rất cảm động và đau khổ, Perpetua chỉ ngẹn ngào trả lời : Thưa cha, tại tòa án sẽ xảy ra điều Chúa muốn, bởi vì chúng ta không thuộc về mình. Người cha còn cho đem đứa trẻ đến năn nỉ : con hãy thương đến đứa con nhỏ của con.
Tuy nhiên trước tòa án, cùng với các bạn khác, Perpetua đã công khai tuyên bố trung thành với Chúa và bằng lòng hi sinh tất cả.
Ngay cả trong gia đình tin Chúa cũng xảy ra chia rẽ. Cha của Phan-xi-cô muốn chàng theo nghề buôn bán để được giàu sang, còn chàng lại quyết tâm theo tiếng Chúa gọi sống nghèo khó tận cùng, thế là bố con chia rẽ nhau.
Mỗi người tin Chúa phải quyết định hoặc yêu mến gia đình hơn hoặc yêu Chúa Giê-su hơn. Bản chất của Ki-tô giáo là phải đặt sự trung thành với Chúa Giê-su lên trên tất cả các sự trung thành khác của thế gian. Người ta phải sẵn sàng coi mọi sự như thua lỗ vì cớ cao trọng tuyệt đối của Chúa Giê-su.

 

TN20-C29: LỬA TÌNH YÊU – Lm. Jos. Phạm thanh Liêm

Đức Yêsu nói với các môn đệ: “Thầy mang lửa xuống ….. Nhóm lên, và làm ngọn lửa tình yêu - TN20-C29

Đức Yêsu nói với các môn đệ: “Thầy mang lửa xuống trần gian, thầy mong ước gì, nếu không phải là muốn lửa ấy cháy lên”. Nhóm lên, và làm ngọn lửa tình yêu bừng cháy, là sứ mạng của Đức Yêsu và của mỗi người môn đệ Ngài.
Phải chọn lựa giữa Đức Yêsu và thế gian
Đừng tưởng thầy tới mang hòa bình, nhưng ngược lại, thầy tới mang chia rẽ. Chia rẽ ở đây hiểu theo nghĩa, người ta phải chọn lựa giữa Chúa Yêsu và giá trị trần gian. Những ai theo trần gian, có thể có ngày họ phản bội và làm hại thậm chí cả anh em hay cha mẹ mình; còn những ai theo Đức Yêsu, phải sống theo luật tình yêu. Qua Đức Yêsu, con người phải chọn lựa, phải có thái độ dứt khoát. Theo nghĩa này, Đức Yêsu mang chia rẽ.
Ở một chỗ khác Đức Yêsu nói: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban bình an cho anh em. Bình an Thầy ban cho anh em, không như thế gian ban tặng”. Bình an của Đức Yêsu, không có nghĩa là không có chuyện gì xảy ra; đúng hơn, bình an là thái độ sống mà không gì có thể làm mất được. Bình an do xác tín rằng Thiên Chúa yêu thương mình, và Ngài làm những điều tốt nhất cho mình, Ngài biến cả những điều xấu người khác làm cho mình trở thành ích lợi cho mình.
Bình an Đức Yêsu ban tặng, người ta tìm thấy nơi các tông đồ. Dù bị bách hại nhưng các ngài vẫn kiên vững loan truyền Tin Mừng cứu độ “Thiên Chúa yêu thương con người”. Bình an này các thánh tử đạo là những người cảm nghiệm và làm chứng bằng chính cuộc sống của các ngài.
Lửa tình yêu đã thiêu đốt Yêrêmia
Jêrêmia đã nhân danh Chúa nói với dân chúng những điều mà những người lãnh đạo cùng chính dân chúng không ưa thích. Và điều này đã làm cho tiên tri bị ghét, và người ta tìm cách hãm hại tiên tri.
Đã có lúc tiên tri bỏ cuộc, không muốn nói nhân danh Chúa nữa, những lúc đó lòng tiên tri bừng bừng như lửa thiêu đốt, và cuối cùng tiên tri đã trở lại với Chúa, để tiếp tục sứ mạng Ngài trao phó. “Vì nhiệt thành với luật Chúa, mà con phải thiệt thân”. Thiên Chúa ban lửa tình yêu cách đặc biệt nơi một số người, để họ thành chứng nhân của Chúa, để họ trở thành dụng cụ làm bùng cháy ngọn lửa tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với con người nơi nhiều tâm hồn.
Lửa tình yêu với Thiên Chúa trong lòng Yêrêmia, lửa tình yêu đối với con người nơi người đến xin vua Zedekiah giải cứu Yêrêmia, và ngọn lửa tình yêu nơi tâm hồn vua, đã làm tất cả những người này hành động theo tình yêu, theo lương tâm, theo Lời Chúa. Yêrêmia sống theo lửa tình yêu thúc đẩy, và chính Yêrêmia cũng được cứu bởi lửa tình yêu.
Lửa Thánh Thần tình yêu
Thánh Thần là lửa tình yêu. Thánh Thần tiếp nối sứ mạng của Đức Yêsu, làm nhiều người can đảm đáp trả tiếng Chúa mời gọi, sẵn sàng sống chết cho tình yêu Thiên Chúa và tình yêu con người. Trên đường trần không thiếu những gai góc và gian nan vất vả, nhưng với tình yêu của Thánh Thần, biết bao người đang tiếp nối sứ mạng của Đức Yêsu, đang nỗ lực làm bừng cháy lên ngọn lửa tình yêu. Nhìn lên Đức Yêsu như người mẫu và lý tưởng, ki-tô hữu hiên ngang sống giữa đời, đem tình yêu đến với mọi người bằng sống yêu thương, ngay cả với những người thù ghét mình.
Tình yêu chiến thắng hận thù. Yêu thương làm cuộc đời đẹp hơn, tươi hơn, thoải mái và hạnh phúc hơn. Lửa tình yêu Đức Yêsu mang xuống trần đã bùng cháy trong tim mỗi người, và mỗi người được gọi để làm ngọn lửa tình yêu lan rộng mãi.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Theo bạn, có khi nào không còn tình yêu trên trần gian nữa không? Tại sao?
2. Dựa vào đâu để bạn nói Đức Yêsu yêu thương con người?
3. Đức Yêsu làm lửa tình yêu bùng cháy bằng cách nào?

 

TN20-C30: Lửa Trên Mặt Đất

Tin Mừng hôm nay là lời tâm sự của Đức Giêsu, Ngài khẳng định mục đích của đời mình là: TN20-C30

Tin Mừng hôm nay là lời tâm sự của Đức Giêsu, Ngài khẳng định mục đích của đời mình là ném lửa trên mặt đất và Ngài mong muốn phải chi lửa ấy đã bùng lên.
Lửa Đức Giêsu mang lại là lửa nào?
Phải chăng là thứ lửa trời đã thiêu hủy Sôđôma, hay thứ lửa mà Giacôbê và Gioan định sai xuống để thiêu hủy một ngôi làng Samari? (Lc 9,55)
Phải chăng là thứ lửa mà cây không trái (Mt 3,10), hay những cành nho khô héo bị quăng vào (Ga 15,6)?
Lửa này có phải là lửa kinh khủng của ngày phán xét?
Trong cái nhìn của thánh Luca, lửa mà Đức Giêsu muốn làm bùng lên trên toàn cầu, chắc là thứ lửa của Phép Rửa trong Thánh Thần (Cv 1,5). Lửa này đã ngự xuống từng người vào lễ Ngũ Tuần (Cv 2,3).
Lễ Ngũ Tuần quả là Phép Rửa trong lửa, nhưng đó mới chỉ là một khai mở ban đầu. Còn cần vô số những lễ Ngũ Tuần khác trên thế giới.
Trái đất này càng lúc càng nóng lên. Nhưng lòng con người lại nguội lạnh như hai môn đệ Emmau. Chúng ta cần cảm thấy chút lửa ấm (Lc 24,32) của người đồng hành xa lạ, nói cho ta về Lời Chúa.
Chúng ta cần cảm thấy ngọn lửa trong tim như Giêrêmia, thúc bách ông phải nói Lời Chúa dạy (x. Gr 20,9).
Đức Giêsu đã bắt đầu nhóm lửa trên địa cầu. Đừng làm tắt đi ngọn lửa ấy, nhưng hãy để nó lan ra.
Lửa thiêu hủy những cằn cỗi. Lửa thanh lọc những ô nhơ. Lửa làm ấm lại cõi lòng băng giá. Lửa sáng soi trên bước đường kiếm tìm sự thật.
Chúng ta cần làm cho mong muốn của Đức Giêsu thành tựu.
Nhưng trước hết chúng ta phải là người mang trong tim ngọn lửa của Thánh Thần tình yêu.
Đức Giêsu chia sẻ cho ta điều đang đè nặng trên Ngài. Ngài linh cảm về thử thách lớn lao Ngài sắp chịu. Đúng là Ngài đang lên đường đi gặp nó. Ngài gọi đó là Phép Rửa mà Ngài phải chịu.
Đức Giêsu can đảm đón nhận Phép Rửa đáng sợ này. Ngài thấy mình sẽ bị nhận chìm thật sâu trong đó.
Đức Giêsu tiếp tục nói điều phải nói, làm điều phải làm. Ngài dám trả giá cho sự trung tín của mình. Nỗi khổ đau và cả cái chết là điều không thể tránh khỏi, nhưng điều đó chẳng làm Ngài chùn bước.
"Các anh có thể chịu Phép Rửa mà Thầy sẽ phải chịu không?"
Ngài đã hỏi các con ông Dêbêđê như thế (Mc 10,38), và Ngài cũng hỏi từng người chúng ta như thế.
Chẳng có Phép Rửa nào khác ngoài Phép Rửa Ngài đã chịu. Chẳng có con đường nào khác ngoài con đường Ngài đã đi.
Tin Mừng Đức Kitô dành cho người hiền hòa, chứ không nhu nhược.
Chúng ta phải có cùng một mong muốn và khắc khoải như Giêsu.

Gợi Ý Chia Sẻ
Thế giới hôm nay đầy đau khổ do con người gây ra cho nhau chỉ vì trái tim đóng băng lạnh giá. Theo ý bạn, làm sao để làm nóng lại trái tim con người?
Sống là chấp nhận trăn trở, khắc khoải. Bạn thấy mình hay trăn trở về điều gì? Bạn có trăn trở về Hội Thánh?

Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
Xin cho chúng con ngọn lửa trong Trái Tim Chúa, ngọn lửa của tình yêu Cha và nhân loại.
Xin làm tim con ấm lại mỗi ngày, nhờ được nghe Chúa nói như hai môn đệ về Emmau, và được Chúa nuôi bằng bánh ban sự sống.
Xin soi sáng chúng con bằng ngọn lửa rực rỡ mỗi khi chúng con cầu nguyện hay quyết định.
Xin thanh luyện chúng con bằng ngọn lửa hồng của những thất bại đắng cay trên đường đời.
Ước gì chúng con luôn có lửa nhiệt thành để hết lòng phụng sự Nước Chúa, lửa tình yêu để vượt qua những hận thù đố kỵ.
Lạy Chúa Giêsu, thế giới hôm nay vẫn bị tối tăm, lạnh lẽo đe dọa.
Xin ban cho chúng con những lưỡi lửa để chúng con đi khắp địa cầu loan báo về Tình Yêu và gieo rắc Tình Yêu khắp nơi. Amen.

 

TN20-C31: Phải Chi Lửa Ấy Đã Bùng Lên

Nhiệt độ của trái đất có chiều hướng nóng dần lên. Đó là một điều đáng sợ. Nhưng điều đáng sợ: TN20-C31

Nhiệt độ của trái đất có chiều hướng nóng dần lên. Đó là một điều đáng sợ. Nhưng điều đáng sợ hơn lại là sự lạnh lùng giữa người với người.
Con người cần cơm bánh và giải trí, nhưng con người còn cần sự nâng đỡ cảm thông.
Nhân loại sống được là nhờ tình thương ấm áp. Vậy mà băng giá của lạnh đạm dửng dưng vẫn tồn tại khắp nơi trên mặt đất. Băng giá nằm ngay nơi lòng con người.
Đức Giêsu đã khẳng định sứ mạng của Ngài: Ngài đến để ném lửa trên mặt đất, và Ngài ước mong, phải chi lửa ấy đã bùng lên.
Ngọn lửa Đức Giêsu muốn nhóm lên không phải là ngọn lửa của án phạt và hủy diệt, không phải là thứ lửa từ trời mà Gioan và Giacôbê định xin đổ xuống trên một làng của xứ Samari. Đây là ngọn lửa vẫn bừng cháy trong tim Ngài, lửa của Thánh Thần, lửa của yêu thương, lửa hâm nóng hai môn đệ Emmau đang tuyệt vọng.
Chúng ta cần được ngọn lửa của Đức Giêsu chạm đến, cần được Ngài làm bừng sáng lên những sức mạnh tiềm ẩn nơi ta, để chúng ta trở thành ánh lửa cho thế giới.
"Phải chi lửa ấy đã bùng lên!"
Chúng ta được mời gọi để thực hiện niềm ước mong mà Đức Giêsu đã suốt đời ôm ấp, đó là làm cho thế giới nên ấm áp hơn vì con người biết sống cho Thiên Chúa và cho nhau.
Gieo rắc ngọn lửa và ánh sáng là chấp nhận bị từ khước và đe dọa. Đức Giêsu linh cảm những gì sẽ xảy ra cho đời mình. Ngài sẽ phải chịu một phép rửa kinh khủng, sẽ phải dìm mình thật sâu trong nỗi khổ đau.
Hôm nay, Ngài mời chúng ta ném lửa trên mặt đất và chấp nhận đối đầu với sức mạnh của bóng tối.
Khi Đức Giêsu bị treo trên thập tự, khi Ngài bị giam trong mồ tối, bóng tối tưởng như đã nuốt chửng được Ngài. Nhưng ngọn lửa phục sinh đã bừng lên giữa đêm đen.
Đó là niềm hy vọng của chúng ta, những người vẫn còn phải hăng say chiến đấu để đẩy lui bóng tối ra khỏi mọi nơi, mọi chỗ, bóng tối của bất công, sa đọa và tuyệt vọng, bóng tối của hận thù, của nạn mù chữ, bóng tối của nghèo nàn lạc hậu... Bóng tối do khép lại cánh cửa của lòng mình. Bóng tối ở ngay trong lòng tôi.
Có lúc chúng ta sợ hãi bóng tối dầy đặc, mà ngọn lửa của mình lại yếu ớt.
Nếu một tỷ Kitô hữu đều là những ngọn lửa thì bóng tối sẽ bị đẩy lùi khỏi mặt đất.

Gợi Ý Chia Sẻ
Thế giới hôm nay vẫn còn nhiều bóng tối. Theo ý bạn, đâu là những bóng tối đáng được chúng ta quan tâm hơn (những bóng tối nơi gia đình, ngoài xã hội và trong Giáo Hội)?
Bạn có kinh nghiệm gì khi phải đương đầu với bóng tối của sự dữ, ở ngoài bạn và ở trong bạn? Có khi nào bạn thắng được bóng tối không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu thương mến,
Xin ban cho chúng con tỏa lan hương thơm của Chúa đến mọi nơi chúng con đi.
Xin Chúa hãy tràn ngập tâm hồn chúng con bằng Thần Khí và sức sống của Chúa.
Xin Chúa hãy xâm chiếm toàn thân chúng con để chúng con chiếu tỏa sức sống Chúa,
Xin Chúa hãy chiếu sáng qua chúng con, để những người chúng con tiếp xúc cảm nhận được
Chúa đang hiện diện nơi chúng con.
Xin cho chúng con biết rao giảng về Chúa, không phải bằng lời nói suông, nhưng bằng cuộc sống chứng tá, và bằng trái tim tràn đầy tình yêu của Chúa.
(Mẹ Têrêxa Calcutta)

 

TN20-C32: PHÂN RẼ

Đoạn Tin mừng hôm nay có lẽ đã làm cho chúng ta thắc mắc và tự hỏi : - Giới luật của Chúa là: TN20-C32

Đoạn Tin mừng hôm nay có lẽ đã làm cho chúng ta thắc mắc và tự hỏi :
- Giới luật của Chúa là giới luật yêu thương. Suốt cả cuộc đời, Ngài không ngừng cổ võ cho tình yêu, vậy tại sau Ngài lại bảo : Ta đến để đem sự phân rẽ.Vậy sự phân rẽ ở đây phải được hiểu như thế nào ?
Theo thiển ý của tôi, Chúa Giêsu đã thực sự phân rẽ. Phải, phân rẽ giữa sự thiện và sự ác, giữa ánh sáng và bóng tồi, để rồi từ đó đòi buộc chúng ta phải có một chọn lựa căn bản, một thái độ dứt khoát, một lập trường minh bạch. Thực vậy, chúng ta hãy nhớ lại lời tiên tri của ông già Simêon :
- Trẻ nhỏ này sẽ nên như bia cho người ta chống đối.
Lời tiên tri này đã, đang và sẽ còn được thực hiện. Ngài đã phân rẽ thế giới này thành hai phe rõ rệt. Đang khi các mục đồng và ba nhà đạo sĩ đã thờ lạy Chúa nơi máng cỏ Bêlem, thì Hêrôđê đã ra lệnh truy lùng và tàn sát Chúa.
Trong cuộc sống công khai cũng thế, đang khi dân chúng say mê bước theo Chúa, thì bọn luật sĩ  đã tìm mọi cách để ám hại Ngài và chắc chắn họ đã được thỏa mãn khi đóng đinh Ngài vào thập giá.
Giáo hội hôm nay chính là hiện thân của Đức Kitô, chính là Đức Kitô được kéo dài qua dòng thời gian, nên cũng phải đi theo con đường của Ngài và chịu chung cùng một số phận với Ngài.
Đúng thế, sau bài giảng của thánh Phêrô trong ngày lễ Hiện xuống, hàng ngàn người đã tin theo Chúa và đã lập nên cộng đoàn Giêrusalen, thế nhưng các đầu mục Do Thái đã tức tối, bắt giam và xét xử các tông đồ. Những giọt máu đào của Stephanô đã khơi nguồn cho dòng máu anh hùng của các vị tử đạo trên toàn thế giới.
Giữa lúc Giáo hội đang phát triển mạnh mẽ, thì ba trăm năm cấm cách dưới thờ các bạo vương La Mã tưởng chừng như muốn nhận chìm con thuyền Hội Thánh… Tất cả những sự việc ấy, một lần nữa đã chứng thực cho lời tiên tri của ông già Simêon :
- Trẻ nhỏ này sẽ nên bia cho người ta chống đối.
Và chân lý ngàn đời của Đức Kitô đã trở thành sự thật :
- Thầy đến để đem sự phân rẽ.
Ngài đã phân rẽ nhân loại này thành hai giới tuyến rõ rệt. Thế nhưng, điều quan trọng đó là mỗi người chúng ta sẽ đứng vào giới tuyến nào ? Theo Thiên Chúa hay theo Satan, theo Đức Kitô hay theo thế gian ?
Sống là bơi ngược dòng nước và nếu không cố gắng bơi, thì sẽ bị dòng nước cuốn trôi. Sống là chiến đấu và cuộc chiến đấu cam go nhất chính là cuộc chiến đấu giữa sự thiện và sự ác, như lời thánh Phaolô đã diễn tả :
- Sư thiện tôi muốn thì tôi lại không làm, còn điều ác tôi ghét thì tôi lại làm.
Sống là chọn lựa và một khi đã chọn lựa Đức Kitô, thì chúng ta phải can đảm chiến đấu dưới bóng cờ của Ngài.
Chiến đấu dưới bóng cờ của Đức Kitô không có nghĩa là trở lại thời ký lạc hậu và tăm tối, chưa có ánh sáng văn minh và những phương tiện hiện đại như ngày hôm nay.
Chiến đấu dưới bóng cờ của Đức Kitô có nghĩa là là trở lại thời kỳ người ta biết vâng phục thánh ý Chúa, biết sống chan hòa yêu thương và biết ra sức khử trừ tội lỗi…
Chiến đấu dưới bóng cờ của Đức Kitô có nghĩa là phải biết nói không với những cám dỗ của ma quỉ, phải biết nói không với những quyến rũ của trần gian. Thà chết, chứ chẳng thà phản bội Chúa.
Hay như hoàng hậu Blanche de Castille đã nói với con mình là vua thánh Louis như sau :
- Thà rằng mẹ thấy con chết trước mặt mẹ còn hơn là thấy con phạm một tội trọng mất lòng Chúa.
Cuộc chiến đấu chống lại tội lỗi là một cuộc chiến đấu dứt khoát và không khoan nhượng, một cuộc chiến đấu liên tục từng giây và từng phút, chẳng lúc nào được ngơi nghỉ, chẳng lúc nào được nới lỏng vì ma quỉ sẽ không bao giờ ngủ trưa và tội lỗi sẽ không bao giờ giải lao hay xả hơi, đúng như thánh Phêrô đã diễn tả :
- Ma quỉ như sư tử lượn quanh tìm mồi cắn xé.
Hơn thế nữa, càng bị thử thách, chúng ta lại càng phải tin tưởng vào Chúa. Càng bị vùi dập, chúng ta lại càng phải vùng dậy mạnh mẽ hơn. Trong cuộc chiến đấu này, chúng ta phải luôn luôn tiến tới, bởi vì không tiến tức là lùi.
Vậy cuộc chiến đấu cam go này sẽ đem lại cho chúng ta hậu quả nào ?
Tôi xin thưa, đó là phần rỗi của lình hồn và niềm hạnh phúc vĩnh cửu của Nước Trời, , như lời Ngài  đã phán hứa :
- Ai bền đỗ đến cùng, thì sẽ được cứu rổi.
Hay như một câu danh ngôn cũng đã xác quyết :
- Nếu muốn được hạnh phúc trong một ngày, thì hãy mặc một chiếc áo mới. Nếu muốn được hạnh phúc trong một tuần, thì hãy giết một con heo. Nếu muốn được hạnh phúc trong một tháng, thì hãy thắng một vụ kiện. Nếu muốn được hạnh phúc trong một năm, thì hãy lấy vợ, lấy chồng. Nếu muốn được hạnh phúc suốt cả một đời, thì hãy trở nên người tử tế. Còn nếu muốn được hạnh phúc đời đời, thì hãy sống và chiến đấu cho Đức Kitô.
Để kết luận, chúng ta cùng nhau ghi nhận tư tưởng sau đây :
- Hãy là một ngọn lửa cho tình yêu Chúa được bừng cháy.
  Hãy là một chiếc ly thủy tinh cho ơn Chúa được tràn đầy.
  Hãy là một tấm gương cho hình ảnh Chúa được phản chiếu.
  Dù khi tôi cười, thì nụ cười ấy cũng sẽ nói về Chúa.
  Dù khi tôi khóc, thì những giọt nước mắt ấy cũng sẽ rơi vào lòng bàn tay của Chúa.
  Hãy là người chiến sĩ  của Đức Kitô ở mọi nơi và trong mọi lúc, cũng như qua mọi cảnh huống thăng trầm của đời mình.

 

TN20-C33: SCĐ/159- ƠN PHÚC

Ngày 28.3.1986 tuần báo Công giáo Hoa Kỳ có tên gọi là : “Người Phóng Viên Công Giáo Toàn: TN20-C33

Ngày 28.3.1986 tuần báo Công giáo Hoa Kỳ có tên gọi là : “Người Phóng Viên Công Giáo Toàn Quốc” đã đăng tải một bài tự thuật của một bình luận gia nổi tiếng lúc đó, anh Actu John, bài tự thuật kể lại một biến cố không thể quên được thời tuổi trẻ của anh Actu John, đó là lúc anh phải thi hành nghĩa vụ quân sự và trải qua thời gian huấn luyện tại trung tâm. Tối đến, trong phòng ngủ rộng cho ba mươi tân binh thụ huấn, anh John phải đương đầu với một vấn đề hết sức thực tế. Anh tự hỏi mình : “Tôi phải quì gối bên giường đọc kinh tối, cảm tạ Thiên Chúa trước khi đi ngủ hay không ?”
Trong thời gian còn sống trong gia đình với cha mẹ, John đã học được từ cha mẹ thói quen tốt lành, mỗi tối trước khi lên giường ngủ, anh quì gối đọc kinh cảm tạ Thiên Chúa rồi mới ngủ. Giờ đây trong trại lính, anh bỗng do dự ngại ngùng và câu hỏi : “Mình có phải quì gối đọc kinh giữa những người xa lạ này hay không ?”. Anh đang lúng túng không biết phải có thái độ như thế nào thì bỗng dưng một tư tưởng sau đây lóe lên trong đầu óc anh : “Tại sao tôi phải thay đổi thái độ sống chỉ vì có nhiều người xa lạ bên cạnh thấy mình đang làm gì ?”. Tôi bắt đầu cuộc sống ngoài gia đình bằng cách để cho những kẻ xa lạ bên ngoài ảnh hưởng bắt buộc tôi phải hành động như họ hay sao ? Không, tôi phải kiên vững làm điều tốt tôi phải làm. Nghĩ như vậy, anh John quì xuống bên cạnh giường đọc kinh rồi mới ngủ. Mọi người xung quanh nhìn anh, và anh là người Công giáo duy nhất trong nhóm tân binh cùng khóa. Mỗi đêm anh đều trung thành với thói quen quì gối đọc kinh này. Ngày cuối cùng của khóa huấn luyện, trước khi từ giã nhau đến nhiệm vụ mới, một người trong nhóm đến bắt tay chào anh và nói : “Xin cám ơn và chào anh. Anh là người Kitô tốt mà tôi gặp từ trước đến giờ, anh đã can đảm thực hành đức tin của anh, mặc cho những lời gièm pha, chọc tức, khinh dể của chúng tôi”. Kinh nghiệm của anh John giúp ta hiểu thêm một khía cạnh của bài Phúc âm Chúa nhật XX Mùa thường năm C. Việc dấn bước theo Chúa trọn vẹn đòi hỏi đôi khi và rất thường khi nhiều sự can đảm, sống khác với nếp sống của môi trường, như thể ta bị tách rời ra xa lạ với môi trường, nhất là khi môi trường đó thù nghịch với đức tin Kitô.
Anh John đã thành công vượt qua được nỗi ngại ngùng hèn nhát, có lẽ vì ngọn lửa đức tin và tình yêu Chúa đã được thực sự cháy lên trong tâm hồn anh. Lửa đức tin và tình yêu đó đến từ Chúa Giêsu, là hồng ân của Ngài, Ngài đã gieo lửa đó vào trong tâm hồn chúng ta, lửa đó là Chúa Thánh Thần đã được ban xuống cho các Tông đồ ngày lễ Hiện Xuống dưới hình lưỡi lửa, và hằng luôn được tiếp tục ban xuống cho mọi kẻ tin Chúa sau khi Chúa Giêsu hoàn tất công cuộc cứu chuộc qua cái chết của Ngài trên thập giá. Đó là phép rửa Ngài phải chịu, đó là phương thế duy nhất để Chúa Giêsu có thể ban lửa Thánh Thần xuống cho những kẻ tin Ngài. Những ai đã lãnh nhận lửa ấy phải cộng tác để cho lửa ấy được cháy luôn đừng bị dập tắt đi.

 

TN20-C34: SCĐ/393- CHÁY LÊN

Bài Phúc âm Chúa nhật hôm nay, Chúa Giêsu đã sử dụng những từ ngữ mà xem ra có một ý nghĩa: TN20-C34

Bài Phúc âm Chúa nhật hôm nay, Chúa Giêsu đã sử dụng những từ ngữ mà xem ra có một ý nghĩa khác với ý nghĩa chúng ta thường hiểu. Lửa, Phép Rửa, sự chia rẽ và Chúa xác nhận đây là sứ mạng không thể bỏ qua được của Ngài khi xuống trần gian : “Thầy đến để mang lửa xuống thế gian và Thầy thật ao ước biết chừng nào cho lửa ấy cháy lên. Thầy còn một Phép Rửa phải chịu, anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình, không phải thế đâu nhưng là đến đem sự chia rẽ”.
Thật là những quả quyết khó hiểu nếu không phải do chính chúa nói ra, và nếu chúng ta có quyền thay đổi Lời Chúa thì có lẽ chúng ta đành bỏ đi những  lời khó hiểu này rồi. Chúa Giêsu nói đến lửa nào đây ? Ngài nhắc đến phép rửa sắp phải chịu, Phép rửa nào đây ? Con người khao khát hòa bình, nhưng Chúa lại nói sứ mạng của Ngài mang đến sự chia rẽ, vậy sự chia rẽ nào đây ?
Trong vài phút chia sẻ này chúng ta không thể thực hiện một công việc bác họ trú giải, nhưng chỉ cố gắng nhìn tổng quát những Lời Chúa muốn nói với chúng ta. Lửa trong ngôn ngữ Kinh Thánh Cựu ước chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa. Môisen được Thiên Chúa Toàn Năng hiện ra nơi bụi gai dưới hình thức lửa bốc cháy. Lửa này có sức mạnh biến đổi, thanh luyện con người để hình ảnh của Thiên Chúa được chiếu sáng rõ ràng hơn nơi chính mình.
Sức mạnh cứu rỗi của Chúa Giêsu trên trần gian này không khác gì hơn là làm cho Thiên Chúa được hiện diện trong cuộc sống con người, là biến đổi và thanh tẩy con người khỏi vết nhơ tội lỗi, để con người được tỏa chiếu sáng hơn hình ảnh của Thiên Chúa : “Thầy đến để mang lửa” hay đúng hơn “để gieo lửa”. Hành động gieo lửa nổi lên một sự tích cực nhiều hơn là từ ngữ “mang”. Chúa Giêsu không chỉ mang xuống mà Ngài còn ra sức tận dụng hết sức mình, tận dụng hết khả năng của Ngài để gieo rắc lửa đó xuống trần gian giữa những gian nan thử thách, chống đối không tin của con người. Sứ mạng này Chúa phải chu toàn, không thể nào tránh né được.
Chúng ta còn nhớ vào khởi đầu sứ mạng rao giảng Tin Mừng, ma quỉ đã đến cám dỗ Chúa hãy quì xuống tôn thờ ma quỉ để rồi mọi vinh quang, mọi vương quốc trên trần gian này được trao cho Chúa. Nhưng Chúa Giêsu đã mạnh mẽ không để cho ma quỉ làm Ngài lạc hướng, vì mục đích đời Ngài chỉ làm cho con người tôn thờ một mình Thiên Chúa mà thôi. Sứ mạng của Chúa lúc nào cũng phải là làm cho Thiên Chúa được nhìn nhận, được tôn thờ và được tôn vinh nơi con người, dù phải trả giá thật đắt là phải hy sinh chính mạng sống mình trên thập giá.
Cái chết của Chúa, cuộc thương khó của Ngài, đó là Phép Rửa mà Chúa Giêsu muốn nói đến trong đoạn Tin Mừng hôm nay : “Thầy còn một Phép Rửa phải chịu”. Chúng ta nhớ trên đường lên Giêrusalem để thực hiện cuộc vượt qua trong đau thương, hai môn đệ Giacôbê và Gioan nhờ mẹ mình đến xin Chúa Giêsu cho được ngồi bên tả, bên hữu Chúa và Chúa Giêsu đã có phản ứng như sau : “Các ngươi không biết điều các ngươi xin. Các ngươi có uống nổi chén Thầy sắp uống hay chịu được Phép Rửa Thầy sắp chịu hay không ? Chén Thầy uống các con cũng sẽ uống và Phép Rửa Thầy chịu các con cũng sẽ chịu”.
Rõ ràng, Chúa Giêsu nói đến cuộc thương khó của Người qua từ ngữ “Phép Rửa”. Chúa Giêsu phải đi vào cuộc thương khó, phải thực hiện cuộc hy sinh trên thập giá để có thể gieo lửa tình yêu Thiên Chúa xuống trần gian, nhất là gieo tình yêu đó vào trong tâm hồn con người. Đây không phải là sứ mạng dễ dàng, một sứ mạng đòi hỏi nhiều hy sinh, một sứ mạng đòi Chúa phải hy sinh chính mạng sống mình và đổ máu mình ra trên thập giá và Ngài mời gọi các môn đệ hãy đi qua, đi ngang con đường này.
Trong một ngôn ngữ dễ hiểu hơn, Ngài đã mời gọi : “Ai muốn theo Ta hãy từ bỏ mình vác lấy thập giá mình hằng ngày mà theo Ta. Ai không vác lấy thập giá mà theo Ta thì không xứng đáng làm môn đệ Ta”. Thật là những lời vừa mời gọi, vừa cảnh tỉnh mà chúng ta không thể nào lơ là bỏ qua được.
Cuộc đời theo Chúa, đón nhận lửa Chúa gieo xuống và lãnh nhận Phép Rửa Chúa chịu. Cuộc đời theo Chúa này là một cuộc đời đầy hy sinh từ bỏ, chấp nhận tách rời ra khỏi những gì cản trở ta trở nên giống Chúa và đây là sự chia rẽ mà Chúa Giêsu muốn nói đến trong đoạn Tin Mừng hôm nay. Theo Chúa, sống trung thành với Lời Chúa, lãnh nhận lửa tình yêu của Chúa trong tâm hồn và chấp nhận hy sinh như Chúa đã hy sinh trên thập giá, chấp nhận chịu Phép Rửa của Chúa. Theo Chúa như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ được bình an thật Chúa ban cho, nhưng đồng thời chúng ta cũng bị chia rẽ, bị tách rời ra khỏi kẻ khác, nhất là khi những kẻ khác đó a dua hoạt động cho ma quỉ chống lại chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa.
Người đồ đệ của Chúa không thể nào đi con đường khác con đường mà Chúa đã đi qua, và sứ mạng mà Chúa muốn cho mọi người đồ đệ thực hiện cũng là sứ mạng gieo lửa xuống trần gian qua cuộc đời chịu đóng đinh với Chúa, chịu Phép Rửa của Chúa. Thử hỏi chúng ta có sẵn sàng chưa ? Chúng ta có đủ can đảm chưa ? Và chúng ta muốn theo Chúa, chúng ta xin được theo Chúa trọn đời nhưng chúng ta có biết rõ điều chúng ta xin hay không ?
Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta được trưởng thành trong đức tin, đức cậy và đức mến, cho mỗi người chúng ta được sẵn sàng hơn để đón nhận lửa Thiên Chúa đến trong tâm hồn và để cho lửa đó đốt cháy những tật xấu nơi con người chúng ta. Xin Chúa cho mỗi ngày chúng ta được trở nên giống Chúa hơn, cho chúng ta được sẵn sàng chịu phép rửa của Chúa, chấp nhận hy sinh, chấp nhận từ bỏ, chấp nhận chia rẽ, tách rời khỏi những gì cản trở ta theo Chúa. Xin Chúa gìn giữ chúng ta trong đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh tin kính.

 

TN20-C35: CSTM/192- TÌNH YÊU

“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong lửa ấy cháy bùng lên”.
 

Đó là lời Chúa Giêsu nói trong bài Tin Mừng. Ngọn lửa Chúa Giêsu ném vào thế giới là gì ?: TN20-C35

Đó là lời Chúa Giêsu nói trong bài Tin Mừng. Ngọn lửa Chúa Giêsu ném vào thế giới là gì ? Chúa muốn ám chỉ điều gì ?
Trước hết chúng ta biết : lửa là một hình ảnh rất quen thuộc và có nhiều ý nghĩa khác nhau đối với nhiều dân tộc. Người Việt Nam quan niệm rằng : trái đất chúng ta đang sống được cấu tạo bởi năm chất : kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, tức là sắt, gỗ, nước, lửa và đất. Theo văn chương Ba Tư, người ta tìm ra lửa trong một cuộc chiến với con rồng. Chuyện kể rằng : một dũng sĩ Ba Tư đã dùng một hòn đá lớn để ném con rồng, nhưng vì ném không trúng đích, hòn đá rớt trên một phiến đá khác và tẹt ra lửa. Hầu hết các chuyện thần thoại đều kết luận : lửa là một món quà quí giá Tạo Hóa đã ban tặng cho con người. Một số người xưa lại tưởng rằng : lửa là một vị thần, nên đã tôn thờ gọi là  “ Bái Hỏa”.
Nói đến lửa, ai cũng biết tầm quan trọng và công dụng của nó là sáng, nóng, sưởi ấm, đốt cháy, thiêu hủy. Ai trong chúng ta cũng cần lửa. Lửa rất có ích lợi, nhưng cũng rất nguy hiểm. Nó dùng để nấu nướng thức ăn và chế biến nhiều thứ khác, nhưng nó cũng có thể đốt cháy nhà cửa và thiêu rụi tài sản của chúng ta. Vì thế, đâu đâu cũng có sở cứu hỏa, sở chữa cháy, và nhắc nhở chúng ta đề cao cảnh giác : phòng cháy, chữa cháy, đừng đùa giỡn với lửa.
Ngoài lửa vật chất ra, trong lòng mỗi người còn có một thứ lửa khác, là lửa dục, lửa tham. Lòng dục và lòng tham đó còn bén nhạy và mãnh liệt mạnh mẽ hơn lửa vật chất. Chẳng hạn : có phải mỗi khi trong lòng chúng ta muốn gì thì như có một sức mạnh như lửa không ngăn cản nổi không ? Hoặc là khi chúng ta bực tức điều gì, thì có phải lòng chúng ta sôi sục lên không ? Vì thế người ta nói : “Người gì mà nóng như lửa”, hay “nóng như lửa đốt”… Nhất là khi chúng ta để cho lòng dục lòng tham bùng lên, có phải nó sẽ gây nhiều tai hại không ?
Trong Kinh Thánh, chúng ta thấy nhiều lần nói đến lửa với nhiều ý nghĩa khác nhau. Trong Cựu ước, lửa được dùng để chỉ Thiên Chúa hiện diện, chỉ sự tinh luyện xấu xa tội lỗi, và cũng ám chỉ hình phạt của Thiên Chúa. Trong Tân ước, cũng nhiều lần nói đến lửa, đặc biệt thánh Giacôbê đã mô tả cái lưỡi của con người là một ngọn lửa, vì tác dụng của nó có thể hại hơn cả lửa. Cái lưỡi ở đây ám chỉ những lời nói độc địa, ghê gớm, chẳng hạn : một lời nói vu oan có thể giết hại cả một con người. Một lời hành tỏi, nói hành nói xấu làm cho người khác phải buồn phiền, đau khổ, mất ăn mất ngủ…
Đặc biệt hơn nữa, ngọn lửa còn được dùng để diễn tả tình yêu. Đây chính là ý nghĩa của ngọn lửa mà Chúa Giêsu muốn nói trong bài Tin Mừng. Chúa Giêsu đến trần gian như ngọn lửa cứu độ. Ngọn lửa cứu độ đó là tình yêu của Ngài. Tình yêu của Ngài đối với loài người là ngọn lửa không bao giờ tắt, như trong kinh cầu Trái Tim Chúa Giêsu có câu : “Trái Tim Đức Chúa Giêsu là lò lửa yêu mến hằng cháy”. Thực vậy, khi Chúa Giêsu nhập thể, Ngài đem ngọn lửa tình yêu từ trời xuống trần gian. Lửa đó đã thắp lên tại Bêlem, lửa đó không ngớt thiêu đốt Chúa ba mươi năm ẩn dật ở Nagiaret, lửa đó đã bừng cháy trong hồi thương khó để lan tỏa cho hết mọi người. Nói rõ hơn, vì yêu thương nhân loại, Chúa Giêsu đem lửa tình yêu xuống thế gian. Ngài muốn mọi người tiếp nhận được ngọn lửa yêu thương của Ngài. Vì thế, Chúa nói : Ngài mong muốn biết bao ngọn lửa tình yêu của Ngài được bùng cháy lên.
Chúa Giêsu đem ngọn lửa tình yêu đến, vậy tại sao cũng trong bài Tin Mừng này Chúa lại nói : “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao ? Thầy bảo cho anh em biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ”. Lời này có ý nghĩa thế nào ? Có mâu thuẫn không ? Chúng ta cần hiểu cho đúng.
Thật sự trong ba năm giảng dạy, chúng ta thấy Chúa chỉ luôn kêu gọi mọi người sống hiền lành khiêm nhường, đừng đố kỵ, ganh ghét, hận thù nhau, nhưng hãy thông cảm tha thứ và yêu thương nhau. Chẳng thấy Chúa đem gươm giáo đến, cũng chẳng thấy Chúa thúc đẩy người ta gây chiến, bất hòa, chống đối, chém giết nhau. Vậy lời Chúa tuyên bố trên đây chúng ta phải hiểu rằng : Chúa chỉ là nguyên nhân, là cái cớ để người ta chống đối những người tin theo Chúa, tức là vì Chúa mà người ta chống đối chém giết nhau.
Nói rõ hơn, Tin Mừng của Chúa được rao giảng, có người hoan hỉ đón nhận và có người ra sức chống đối, nghĩa là Tin Mừng của Chúa đem lại an bình và yêu thương, nhưng nó vẫn phải va chạm với thái độ của một số người chống đối. Những người chống đối lại va chạm với những người theo Chúa, thế là có sự chia rẽ nhau. Đó là trong xã hội. Ngay cả trong gia đình cũng có thể xảy ra sự chia rẽ, vì có người theo và có người không theo Chúa. Đây là sự chia rẽ vì niềm tin, vì lối sống đạo. Tình trạng này đã xảy ra thời Giáo Hội sơ khai, và vẫn xảy ra luôn mãi. Lịch sử các vị tử đạo đã chứng minh : những người theo đạo thường bị chính quyền và đồng bào mình ghét bỏ. Hoặc là trong một gia đình ngoại giáo, có một người trở lại đạo, là để kết hôn với người có đạo chẳng hạn, cha mẹ không bằng lòng. Thế là có sự xung khắc giữa cha mẹ và chính người con của mình. Như vậy, hai lời Chúa tuyên bố trong bài Tin Mừng hôm nay, không mâu thuẫn mà bổ túc cho nhau. Chúng ta phải rao giảng, phải đem tình yêu của Chúa đến cho mọi người, dù gặp hoàn cảnh nào cũng không được lùi bước, dù phải rướm máu hay đổ máu.
Chúa Giêsu đem lửa yêu thương đến trần gian và Ngài mong muốn ngọn lửa ấy bùng cháy lên. Đó là tâm nguyện của Chúa và cũng là trách nhiệm của mỗi người chúng ta. Nếu con người cần cơm bánh để sống, thì họ cũng cần tình yêu để tồn tại. Nếu con người cần áo quần để che thân, thì họ cũng cần tình thương để sưởi ấm. Nếu con người muốn được bình an để vui sống, thì chỉ có tình thương mới đáp ứng được ước muốn đó. Đó là bổn phận của chúng ta.
Nhưng chúng ta hãy nhớ : “Không ai có thể cho người khác cái mình không có”, nghĩa là chỉ khi nào ngọn lửa yêu thương thực sự sáng lên nơi mỗi người chúng ta, trong gia đình chúng ta, trong cộng đoàn chúng ta, trong Hội thánh chúng ta thì chúng ta mới có thể loan báo và đem tình yêu thương đến cho những người khác.

 

TN20-C36: NTGT/223- DẤU CHỈ

Tin Mừng chúng ta vừa nghe, có vẻ khác lạ nếu chưa muốn nói là chói tai. Thường chúng ta: TN20-C36

Tin Mừng chúng ta vừa nghe, có vẻ khác lạ nếu chưa muốn nói là chói tai. Thường chúng ta vẫn có những quan niệm rất bình an và dịu dàng về con người Giêsu và nhất là về giáo lý bác ái của Người. Các thiên thần đã không hát khúc ca hòa bình trong ngày Ngài giáng sinh đó sao ? Và trọng tâm giáo lý của Ngài không phải là tình thương đó sao ? Ngài chẳng đến để hòa giải giữa Thiên Chúa và loài người, và giữa dân ngoại và Do thái đó sao ? Thế mà hôm nay, trong đoạn vắn tắt của thánh Luca, chúng ta thấy Ngài nói đến Lửa và Nước, chia rẽ và chống đối, và ngay tại gia đình thường được gọi là tổ ấm. Giải thích điều đó thế nào đây ?
Chúng ta đang trên đường lên Giêrusalem, nơi Đức Giêsu sẽ được đưa lên cao. Sau khi mời gọi phải tỉnh thức, được minh họa bằng dụ ngôn người quản lý khôn ngoan trong Tin Mừng Chúa nhật tuần trước, giờ đây Đức Giêsu nói với những ai theo Người ba lời về thử thách, có ý nói đến những nguy hiểm của cuộc phiêu lưu theo Người : Số phận của người môn đệ sẽ không khác gì Thầy mình.
Lời thứ nhất loan báo Đức Giêsu đến “để ném lửa vào mặt đất”. Lửa đây là gì ? Dĩ nhiên lửa đây không phải là thứ lửa vật chất mà chúng ta dùng để nhóm bếp hay dùng để đốt thuốc lá. Lửa ở đây phải được hiểu theo nghĩa tượng trưng. Trong Cựu ước lửa tượng trưng cho quyền năng tối thượng, sự hiện diện đáng sợ của Thiên Chúa. Đó cũng có thể là lửa phán xét của Thiên Chúa để thiêu hủy những kẻ xấu và thanh luyện một số ít những người trung tín còn lại. Nhưng đối với thánh Luca, trước hết lửa là biểu tượng của thần khí đã ngự trên Đức Giêsu, đã xức dầu cho Ngài, đã sai Ngài đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, công bố ơn giải thoát cho kẻ tù đày, cho người đui được thấy, cho kẻ áp bức được giải oan, loan báo năm hồng ân của Thiên Chúa. Nhưng cũng chính vì đó mà Đức Giêsu trở thành dấu chỉ của sự chống đối trong suốt cuộc đời của Ngài. Cuối cùng khi sự bất hòa lên đến tột đỉnh Ngài đã bị các đối thủ giết chết. Đồng thời lửa đó cũng là thần khí đến thiêu đốt các tông đồ trong ngày lễ Hiện xuống. Chính ngọn lửa đó đã làm cháy tan sự lo lắng, sợ hãi trong các tông đồ và dẫn các ông ra đi làm chứng cho Đức Giêsu. Dẫu cho trong sứ vụ làm chứng đó, các ông gặp chống đối và phải thiệt thân.
Là Kitô hữu chúng ta đã lãnh nhận thần khí qua bí tích Rửa tội và Thêm sức. Thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ trở nên dấu chỉ sự chống đối như Đức Giêsu.
Lời thứ hai của Đức Giêsu giới thiệu “cái chết” của Người như một phép rửa, mà Người sẽ bị nhận chìm trong đó để cứu rỗi dân Người : “Thầy còn một phép rửa phải chịu và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất”.
Từ “Phép rửa”, theo nguyên nghĩa là “sự nhận chìm trong nước”. Vào thời của thánh Luca, phép rửa không phải là mấy giọt nước xối trên trán như phép rửa của chúng ta ngày nay. Người nhận phép rửa phải nhận chìm toàn thân vào trong một hồ nước. Vì thế phải dịch câu nói của Đức Giêsu thế này : “Thầy phải được nhận chìm trong một hồ nước”. Khi nói như thế, cho thấy Đức Giêsu đang nghĩ đến cuộc khổ nạn, đến cuộc tắm máu,… hay chính xác hơn, Ngài đang nghĩ đến những dòng nước cuồn cuộn khổ đau và chết chóc, không bao lâu nữa sẽ dìm chết Ngài. Đức Giêsu xao xuyến nghĩ đến việc đó. Nhưng việc đó đối với Ngài là điều cần thiết như lời Ngài nói “Thầy còn một phép rửa phải chịu…”. Đây là một công thức thông thường để nói về cuộc khổ nạn khắc khoải ấy qua đó một ý định nhiệm màu được thực hiện.
Khi nêu lên chủ đề “ơn ban bởi thần khí” và “phép rửa trong cái chết”, thánh Luca đã cho thấy Đức Giêsu đã phải trả giá đắt biết bao cho sự cứu chuộc thế gian.
Phép rửa này là một cuộc vượt qua bắt buộc đối với Đức Giêsu và các môn đệ Ngài. Vì vậy Ngài hỏi ông Giacôbê và Gioan, khi các ông muốn làm lớn trong Nước của Ngài : “Các con có thể uống chén mà Thầy sắp uống, chịu phép rửa mà Thầy sắp chịu không ?”
Bởi đó muốn được sống lại với Đức Giêsu, thì chúng ta cũng phải chịu dìm mình vào cái chết của Người, nghĩa là chết đi cho thói hư, tật xấu và tội lỗi của mình.
Lời thứ ba của Đức Giêsu quả quyết rõ ràng, những ai theo Người cũng sẽ phải gặp thử thách trên bước đường đi của họ, và ngay cả trong gia đình của chính mình.
Hòa bình là một điều tốt lành nhất mà người ta chờ đợi từ Đấng Messia. Trái lại, lời giảng dậy và hành động của Đức Giêsu gây ra những phản ứng chống đối mạnh mẽ. Đức Giêsu là một con người bị truy đuổi. Ngài cảm thấy điều đó ở xung quanh mình. Nhưng thay vì từ bỏ hành động và sợ hãi, Ngài tiến thẳng về cái chết với một lòng can đảm đáng khâm phục. Và Ngài loan báo cho các bạn hữu của Ngài, chính họ cũng bị chống đối như vậy.
Như những người đồng thời với Đức Giêsu, chúng ta mơ ước hòa bình và chúng ta muốn hưởng trọn vẹn sự hài hòa yên tĩnh ấy, vốn là sự nghỉ ngơi của tâm hồn, của vợ chồng với nhau, của cha mẹ với con cái, của con cái với cha mẹ, của môi trường xã hội này với môi trường khác… Shalom, hòa bình là ước mong mà người Do thái nói với nhau mỗi ngày. Thực tế, đó là lý tưởng tóm tắt tất cả những gì người ta mong ước.
Thế thì tại sao Chúa lại có vẻ đề cao sự chia rẽ ? Chúa không phải là hòa bình của thế giới sao ?
Vâng, Đức Giêsu chính là người mang lại hòa bình. Nhưng không phải là thứ hòa bình dễ dãi. “Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng”. Có những nền hòa bình lừa dối, những sự an ninh ru ngủ và nguy hiểm. Chúng chỉ dựa trên những thỏa hiệp, nhượng bộ, không dám bùng nổ vì sợ thiệt hại cho thân thể, của cải, danh tiếng của mình. Hòa bình kiểu đó chỉ che đậy những chống đối trầm trọng, ẩn chứa đầy sóng ngầm, che dấu chiến tranh lạnh, hay duy trì những phần tử đặt cạnh nhau mà không cảm thông lẫn nhau. Tất cả những điều đó là sự trái ngược của hòa bình. Hòa bình đích thực chỉ có thể đạt được khi chúng ta lựa chọn theo Đức Giêsu. Tuy nhiên lựa chọn theo Đức Giêsu là bao hàm cả thập giá, chính là sự chia rẽ trong một cộng đoàn sống chung, hoặc huyết tộc, một gia đình, mà đáng lẽ sự đoàn kết được coi như điều hiển nhiên như năm ngón tay trong một bàn tay. Đứng trước việc Đức Giêsu đến, không còn gì không bị đảo lộn.
Trong cuộc đời của chúng ta, sự hiện diện của Đức Giêsu và Lời của Ngài không phải là một sự hiện diện trung lập vô hại, vô thưởng vô phạt. Không. Tin Mừng của Đức Giêsu là một loại thuốc nổ, một thứ diêm sinh, là thứ lửa cực nóng thiêu đốt, thanh luyện, biến đổi cuộc sống con người và thay đổi bộ mặt thế giới. Lửa thần linh mà Thiên Chúa ban cho chúng ta trong ngày lãnh bí tích Rửa tội cũng phải bừng lên và hoạt động như vậy. Anh lửa thiêng ấy phải thay đổi, biến chúng ta trở thành các chứng nhân của Tin Mừng. Nhưng con đường của lòng tin, con đường theo Chúa và cách sống Tin Mừng triệt để, đòi chúng ta phải có lòng can đảm và kiên trì. Bởi vì, thường khi nó khiến chúng ta rơi vào tình trạng sống khác với những người thân yêu và môi trường sống của chúng ta. Không phải vì giáo huấn của Chúa xấu hay dở, nhưng bởi vì nó đi ngược dòng đời, nó chống lại mọi cách suy tư và hành xử theo tính toán ích kỷ tự nhiên của con người. Do đó, tin Chúa và bước theo Chúa là một cuộc kháng chiến trường kỳ và đầy gian khổ.
Nếu đức tin nơi Chúa là một chọn lựa đầy yêu sách, thì xin Chúa làm cho đức tin ấy có thể, bởi ơn của thần khí Chúa : “Lạy Chúa, giữa lòng thế giới, xin hãy đốt lên ngọn lửa của thần khí Chúa”.

 

TN20-C37: PV/557- NÉM LỬA

“Thầy đến để ném lửa trên mặt đất… Thầy đến không phải để đem hòa bình, nhưng là đem sự chia rẽ”.
 

Những lời lạ lùng mà chúng ta vừa nghe đến từ Đức Giêsu ! Chúng ta không muốn chờ đợi: TN20-C37

Những lời lạ lùng mà chúng ta vừa nghe đến từ Đức Giêsu ! Chúng ta không muốn chờ đợi Người dùng lửa và gươm (sự chia rẽ). Người cũng không muốn. Khi Giacôbê và Gioan muốn Người khiến lửa và diêm sinh từ trời xuống trên một ngôi làng người Samari, Người nói với hai ông ấy rằng họ không biết điều họ nói. Và khi Phêrô rút thanh gươm ra trong vườn cây dầu, Đức Giêsu nói với ông hãy cất gươm đi.
Đức Giêsu không đến để gây ra xáo trộn hoặc làm cho các gia đình tan vỡ. Nhưng thỉnh thoảng điều ấy đã xảy ra. Trong thời kỳ sơ khai của Giáo Hội, hoán cải theo Kitô giáo hầu như dẫn đến việc bị gia đình từ bỏ, do đó người trở lại đạo phải chọn lựa giữa Đức Kitô và gia đình mình.
Rõ ràng khi Đức Giêsu nói về việc ném lửa và gây chia rẽ từ ngữ của Người không được dùng theo nghĩa đen. Tuy nhiên những lời ấy có ý nghĩa thực tế đối với Người. Đức Giêsu hiền lành nhưng không có nghĩa Người yếu đuối. Khi hoàn cảnh đòi hỏi, Người cũng rất quả quyết như khi Người đuổi những con buôn ra khỏi đền thờ.
Những lời ấy cũng thể hiện những điều rất mạnh mẽ trong giáo huấn của Người. Giáo huấn của Người gây ra chia rẽ. Người dạy rằng Vương quốc của Thiên Chúa mở ra cho mọi người, thánh nhân và người tội lỗi, người Do thái và dân ngoại. Điều này đưa đến sự xung đột của Người với cơ chế tôn giáo của thời đó. Người gọi các kinh sư và người Pharisêu là những kẻ giả hình và những người mù dẫn đường. Họ gọi Người là một kẻ làm loạn và một người bị quỉ ám.
Nếu Đức Giêsu đã nịnh hót đám đông, và chỉ nói với họ những điều “dễ nghe”, hẳn Người đã trở thành một người được quần chúng ưa thích. Nhưng Người đã chọn cách làm cho quần chúng bối rối. Bởi lẽ họ cần có người làm cho họ phải bối rối. Lời Người làm tổn thương một vài người và làm những người khác tức giận. Những lời Người nói với người nghèo khác với những lời Người nói với người giàu. Những lời Người nói với người tội lỗi khác với những lời Người nói với Pharisêu. Chúng ta sẽ phản bội lại Tin Mừng nếu chúng ta giản lược nó thành một sứ điệp dịu dàng, từ tốn cho tất cả mọi người không cần biết đến những khác nhau giữa người giàu và người nghèo, giữa người có đặc quyền và người cùng khổ. Một Tin Mừng nhạt nhẽo như thế không thể trở thành men làm dậy bột thế gian.
Có một xu hướng “thuần hóa” Tin Mừng, giản lược nó vào những lời nói hay đẹp và những kinh nghiệm an toàn dễ chịu. Khi điều ấy xảy ra thì lửa tàn lụi, men mất hết sức mạnh, muối mất hết mùi vị, ánh sáng trở nên mù mờ.
Các Kitô hữu không nên ngạc nhiên nếu Tin Mừng chia rẽ người ta. Ý thức về công lý đã đưa Người đến chỗ xung đột với những người bất lương. Lòng khoan dung của Người khiến Người phải xung đột với người có đầu óc hẹp hòi và tin tưởng mù quáng. Anh sáng càng sáng tỏ thì bóng tối mà nó đẩy lùi càng thêm tăm tối.
“Khi tôi cho người nghèo lương thực, họ gọi tôi là một ông thánh. Nhưng khi tôi hỏi tại sao người nghèo không có lương thực, họ gọi tôi là một người cộng sản”. Cố Tổng giám mục Helder Camara, người chiến sĩ đấu tranh cho người nghèo ở Braxin đã nói như thế.
Đức Giêsu nói rằng Người đến để thắp lửa trên mặt đất. Đây chỉ là một hình ảnh, một ẩn dụ nhưng là một ẩn dụ mạnh mẽ. Đó là một biểu tượng của sự phán xét và thanh luyện. Lửa đốt cháy những gì vô ích, và thanh lọc những gì còn ô uế.
Sứ điệp Tin Mừng là một ngọn lửa thanh luyện, nó là men cho xã hội và thế gian. Ngọn lửa ấy không chỉ được đốt lên mà còn được giữ gìn. Chúng ta, những môn đệ của Đức Giêsu là những người chăm sóc giữ gìn ngọn lửa ấy.

 

TN20-C38: PV/562- CHẠY ĐUA

Vào thời đại hôm nay, chúng ta chứng kiến một hiện tượng lạ lùng nhưng kích động. Đó là hiện: TN20-C38

Vào thời đại hôm nay, chúng ta chứng kiến một hiện tượng lạ lùng nhưng kích động. Đó là hiện tượng chạy đua. Chúng ta thường thấy mười hoặc có khi hai chục ngàn người tham gia vào các cuộc chạy maratông trong thành phố và trên khắp thế giới. Một vấn đề đặt ra : chạy Maratông một mình hay chạy với người khác, trường hợp nào cho là dễ hơn. Câu thành ngữ : “Người chạy đường dài cô độc” nói lên tất cả.
Một vận động viên chạy một mình trước một khán đài không khán giả xem ra không chạy hết sức mình. Nhưng trước một khán đài chật ních các cổ động viên reo hò cổ vũ, người ấy lấy hết nghị lực và mọi sức lực để chạy vượt quá khả năng thông thường của người ấy.
Chúng ta lấy hết sức lực để chạy khi thấy xung quanh mình cũng có những người khác đang chạy. Điều này đặc biệt đúng nhưng chúng ta không quan tâm đến việc được xếp vào số những người về đích trước tiên mà chỉ quan tâm đến việc hoàn thành cuộc chạy. Lúc đó, chúng ta coi những người cùng chạy như bạn hơn là những đối thủ. Chúng ta coi họ như những người nâng đỡ. Điều này làm chúng ta có thể rút ra sức mạnh từ gương sáng của họ. Họ tạo thành một dòng người đưa chúng ta đi như trong một dòng chảy mạnh mẽ .
Điều gì trở ngại cho một vận động viên khi chạy ? Bất cứ điều gì làm hỏng hoặc sự yếu đuối nào. Nhưng cũng do thiếu động lực. Khi người ta có động lực cao, họ muốn thực hiện những hy sinh to lớn bằng cách cống hiến thời gian, ăn kiêng, nỗ lực v.v…
Chạy maratông không phải là để chiến thắng. Cuộc chạy mới đáng kể. Chạy maratông tự nó là một biến cố. Mọi người đều chiến thắng. Điều quan trọng là sự tham dự và dấn thân. Và qua việc tham dự, chúng ta giúp đỡ những người khác bằng gương sáng của chúng ta : chúng ta có đóng góp một phần nhỏ.
Không phải chỉ khi chạy đua người ta mới rút ra được sức mạnh của tình đồng đội. Tác giả sách Do thái khích lệ các độc giả của ông phải kiên trì trong đức tin bất chấp cái giá phải trả. Ông nói họ phải rút ra sức mạnh của “đám mây vô số nhân chứng” đã đi trước họ. Ông đã dẫn chứng các thánh nhân trong Cựu ước là những người đã chạy đua trước họ.
Các Kitô hữu ý thức mình là một phần của một chuỗi các nhân chứng thánh thiện kéo dài từ các thánh tông đồ. Trong cuộc chiến đấu để giữ lòng trung tín, họ luôn luôn tìm lại những gương sáng đầy cảm hứng của các ngôn sứ, nhân chứng và thánh nhân. Chúng ta rút ra niềm hy vọng và lòng can đảm từ những “anh hùng của đức tin”, các ngài duy trì lòng trung tín bất chấp việc các ngài chưa được nhìn thấy lời hứa hoàn thành trong đời sống các ngài. Và khi chúng ta cảm nghiệm sự mệt mỏi cùng cảm giác thất bại và không hiệu quả, các ngài nói với chúng ta : “Chúng tôi ở với các bạn. Đừng bỏ cuộc”.
Như một phi công tiền phong đã nói : “Một đôi khi bão tố và sương mù chụp xuống bạn. Nhưng bạn hãy nghĩ đến tất cả những người đã băng qua sương mù, bão tố trước các bạn, và bạn chỉ cần tự nhủ : “Họ đã làm được điều đó, nên điều đó có thể được thực hiện lại”.
Nhưng đặc biệt chúng ta phải hướng mắt nhìn về Đức Giêsu. Lòng trung tín của Người đã dẫn đưa Người đến thập giá và sau thập giá đến vinh quang. Người là một gương sáng cao cả hơn toàn thể đám mây các gương sáng trong Cựu ước.
Sứ điệp ấy thật rõ ràng ! Giống như Thầy chúng ta, các Kitô hữu chúng ta phải sẵn sàng chiến đấu vượt qua mọi vật trở ngại trên con đường dẫn đến Thiên Chúa. Đây không phải là cuộc chiến đấu đơn độc, nhưng là một cuộc chiến đấu mà chúng ta cùng nhau thực hiện. Chúng ta cùng nhau chạy trong một cuộc đua cao cả nhất dành cho tất cả mọi người.

 

TN20-C39: SCĐ/659- CHIA RẼ

Những lời Chúa Giêsu nói trong bài Tin Mừng này thật kỳ lạ khác thường. Còn nhớ có lần hai: TN20-C39

Những lời Chúa Giêsu nói trong bài Tin Mừng này thật kỳ lạ khác thường. Còn nhớ có lần hai môn đệ xin Ngài sai lửa từ trời xuống thiêu đốt một làng Samaria không tiếp rước Ngài, thì khi đó Ngài đã mắng hai ông và dùng đường khác mà đi. Thế mà hôm nay Chúa Giêsu lại nói “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian”. Còn nhớ có lần Phêrô tuốt gươm ra để bênh vực Ngài khi quân dữ đến bắt Ngài. Khi ấy Ngài đã bảo Phêrô xỏ gươm vào bao vì ai dùng gươm thì sẽ chết vì gươm. Vậy mà hôm nay Ngài nói “Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư ? Thầy đến để đem sự chia rẽ !”.
Thực ra Chúa Giêsu đến trần gian không phải để gây chia rẽ và xáo trộn. Tuy nhiên nhiều khi chính vì Ngài mà xáo trộn và chia rẽ xảy ra ! Điều này đặc biệt đúng trong thời kỳ Giáo Hội sơ khai. Khi đó, ai bỏ đạo cũ (đạo Rôma, đạo Do thái) để theo đạo Chúa Kitô thì bị gia đình, bạn bè và hàng xóm ghét bỏ, bách hại. Nhưng những Kitô hữu ấy biết làm gì khác hơn được : chọn bên này thì phải bỏ bên kia, và bên bị bỏ sẽ thù ghét mình.
Dù Chúa Giêsu rất hiền lành nhưng, vì sứ mạng, Ngài phải nói thẳng nói thật và do đó gây nên chống đối và chia rẽ : Ngài giảng dạy về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi. Lời giảng này làm cho những người tội lỗi tin theo Ngài, nhưng lại khiến những người biệt phái chống lại Ngài. Ngài kêu gọi con người đừng bám vào kho tàng của cải đời này, mà hãy tìm kho tàng không hư nát trong Nước Trời. Lời giảng này khích lệ những người nghèo nhưng lại làm cho những người giàu nổi giận v.v…
Trong Tin Mừng có đầy dẫy những lời chói tai như thế của Chúa Giêsu. Nếu chúng ta chỉ lựa ra những lời thuận tai để đọc thì Tin Mừng chẳng mang lại ích lợi gì cho chúng ta. Ngược lại, chính những lời làm ta khó chịu, những lời có tính cách quấy rối lương tâm chúng ta mới là những lời giúp chúng ta hoán cải và tìm được ơn cứu độ.

 

TN20-C40: Bình an – Niềm vui- ơn Cứu độ

Gr 38,4-6.8-10 / Dt 12 1-4/ Lc 12,49-53
 

Tin mừng chúa nhật 20 thường niên C thuật lại những lời của Đức Giêsu nói với các môn đệ trong: TN20-C40

Tin mừng chúa nhật 20 thường niên C thuật lại những lời của Đức Giêsu nói với các môn đệ trong hoàn cảnh bị bách hại. Những lời này gợi lên một viễn cảnh bi thảm cho sứ vụ của Người trên trần gian: đó là cuộc Thương khó trong tương lai, những đấu tranh làm phân rẽ con người với nhau.
Khi vào trần gian, Đức Giêsu đã đưa lửa vào, và Người ước mong lửa đó bùng lên. Theo Kinh thánh Lửa là biểu tượng hình phạt của Thiên Chúa, nhất là vào lúc tận cùng thời gian. Lửa còn là biểu tượng cho sự thanh tẩy và làm đổi mới. Chúa Giêsu sẽ thực hiện cuộc thanh tẩy tâm linh nhờ Chúa Thánh Thần.
Đức Giêsu cũng nói đến phép Rửa mà Ngưởi sẽ phải chịu. Đây là biểu tượng của việc dìm vào đau khổ - cuộc Thương khó. Người sẽ phải chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình" (Dt 12.4).
"Anh em tưởng rằng Thấy đến để ban bình an cho trái đất sao?... Không phải thế đâu, nhưng đúng hơn là để gây chia rẽ". Sự chia rẽ là đối cực của sự bình an. Nhưng đây là sự chia rẽ vì Chúa, một sự chia rẽ đi vào qui luật của thập giá: Khi mất đi là khi tìm thấy, khi chết đi là khi được sống muôn đời nữa, Đức Giêsu đã hứa: Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Bởi thế Chúa Giêsu không đến trần gian để gieo sự bất hòa, nhưng là đem đến sự hiện diện của Thiên Chúa, đồng nghĩa với sự bình an. Sự bình an Đức Giêsu mang đến là sự bình an phải chiến đấu trong chân lý, phải được xây dựng trong khó nhọc, trước hết ở trong chính bản thân ta rồi lan tỏa chung quanh ta: đó là dám chấp nhận những mệt nhọc, đói khát, thua lỗ. nhường nhịn vì những điều lành, biết tách mình ra khỏi những đố kị và muôn vàn những cãi vã vừa vụn vặt vừa tầm thường của cuộc sống. Lương thực của sự bình an luôn là một thách thức (Văn Hòe)
Trong lịch sử nhân loại, Đức Giêsu Ki tô quả thực là một nghịch lý: Người đã nên dấu chỉ cho người ta chống đối. Người đã đóng ấn chứng từ của mình bằng việc tự nguyện hy sinh bản thân trên thập giá. Cuộc sống và cái chết của Người đã trở thành dấu chỉ của tình yêu, hy vọng và sự sống.
Trong một thế giới thiếu vắng hơi ấm tình người, thiếu vắng một niềm hy vọng đích thực và tinh yêu, Đức Giêsu đã mang đến lửa tình yêu của Người. Ngọn lửa đó sưởi ấm cõi lòng con người, thắp sáng niềm hy vọng. Đó là ngọn lửa Tinh Yêu Cứu Độ, nơi đó tất cả chúng ta được thanh tẩy.
Người ki tô hữu là người được “vầng đông từ chốn cao vời tỏa xuống hào quang sáng chói, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an” (Lc 1,78-79). Thiên Chúa chiếu soi chúng ta, để chúng ta được bình an. Khi cuộc sống có những lo âu, buồn chán, tuyệt vọng, chúng ta hãy tìm đến với ơn Chúa; ơn Chúa sẽ lôi cuốn bạn, cho tới khi bạn tìm lại được nguồn vui (thánh Bênađô). Người ki tô hữu đích thực là người sống trong niềm vui, bình an và ơn cứu độ của Chúa. Người ki tô hữu đích thực thắp lên ngọn lửa tình yêu của Thánh Thần trong lòng mình và nơi người khác.
Phải chăng chúng ta đang sống trong bình an, niềm vui và ơn cứu độ của Thiên Chúa?
Phải chăng chúng ta đang thắp lên ngọn lửa tình yêu, hy vọng và cứu độ để sưởi ấm trần gian ?
Lạy Chúa,
Xin đừng để chúng con thất vọng
khi đứng trước khổ đau thử thách.
Xin giúp chúng con nhận ra
giữa những tăm tối vẫn còn ánh sáng,
giữa những đau buồn chóng qua, luôn có niềm vui đích thực,
và nhất là giữa những thăng trầm biến đổi
luôn có những hồng ân và sự hiện diện dầy yêu thương.

 

TN20-C41: BÌNH AN ĐÍCH THỰC

LÀ KẾT QUẢ CUỘC CHIẾN ĐẤU VỚI CHÚA.
 

Để có bình an trên bình diện xã hội, Tổng thống Kenedy nói: “Muốn có bình an phải chuẩn bị: TN20-C41

Để có bình an trên bình diện xã hội, Tổng thống Kenedy nói: “Muốn có bình an phải chuẩn bị chiến tranh”.
Để có bình an trên bình diện tâm linh, Đức Giêsu dạy: “Phải chiến đấu với người nhà của mình”(Lc 12,51-53).
Lời Chúa trong phục vụ Chúa nhật 20 quanh năm C này giúp chúng ta:
Nhận diện hai bộ mặt kẻ thù nơi người nhà của mình đồng thời giúp ta cách chiến thắng kẻ thù ấy!
I. HAI KẺ THÙ NGƯỜI NHÀ MÌNH:
Đó là kẻ thù đức tin và kẻ thù lòng đạo:
1/ Kẻ thù giữa những người cùng một đức tin:
Bài đọc 1 cho biết: Chúa sai ngôn sứ Giêrêmia đến cảnh cáo đồng bào của ông: phải canh tân đời sống đạo, nếu không Chúa sẽ nộp Giêrusalem vào tay quân vô đạo là vua Babel (x-Ger 3,1). Lời thật thì mất lòng, do đó các tướng lãnh đế tâu vua: Phải xử tử con người ấy đi, vì nó những lời làm bủn rủn chân tay các chiến sĩ cũng như toàn dân trong thành. Thế là Giêrêmia bị quăng xuống hồ cạn đầy bùn sình: Rồi người ta lại phải vội vàng lôi ông lên, kẻo toàn dân bị chết đói vì thiếu bánh ăn (xem Ger 38, 1-10).
Số mệnh của Giêrêmia mới chỉ là hình bóng làm nổi bật sứ mệnh các ngôn sứ thời Tân ước, dẫn đầu là Đức Kitô Giêsu: chính Ngài mới thực là Đấng đến để canh tân làm hoàn hảo đức tin của dân Do Thái, người nhà của Ngài, nhưng họ cứng lòng không chịu nghe, thì Ngài còn tiên báo hình phạt sẽ giáng xuống trên Giêrusalem: “ không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào:” (xem Lc 19,41-44), vì chính Ngài tuyên bố: “ Phá đền thờ này đi, nội trong 3 ngày Tôi sẽ xây dựng lại” (Ga 2,19). Đấy chính là nguyên cớ người ta đưa Ngài ra pháp đình đòi lấy mạng Ngài khi Ngài bị “ người nhà” hại, Ngài lại trở nên nguyên nhân cứu độ duy nhất cho cả loài người (Cv 4,12), hầu để mọi miệng lưỡi phải tung hô Ngài là “Đức Chúa” (xem P1.2,6-11). Đặt biệt hơn sau khi Ngài được tôn vinh bên hữu cha Ngài trên trời, Ngài gởi Thần khí đến làm cho các kẻ tin vào Ngài làm được việc thành công hơn khi Ngài còn ở dưới thế (xem Ga 14,12). Điển hình như Stêphanô, mà “sói Saulô” trở nên mục tử nhân lành cho muôn dân; Saulô còn là kẻ gây bất bình an, mà trở thành người tích cực nhất hơn cả các tông đồ thượng đẳng (x 2 Cr 11,5) đem bình an của Chúa đến cho muôn người (xem Cv 7-9).
Đọc lại lịch sử Hội Thánh, từ 20 thế kỷ nay: ai muốn canh tân bộ mặt Hội Thánh đem lại bình an như thánh nữ Catarina, Phanxicô khó khăn, Don Boscô … đều phải trả giá chiến đấu với các vị chủ chăn người nhà của mình. Dầu thế, nhiều người tin Chúa hôm nay vẫn còn sống đạo hình thức, nhất là lối sống trái với lời Chúa dạy. Ai yêu Chúa, muốn canh tân Hội Thánh đều phải chấp nhận sống chân lý: “càng thiết tha sống đẹp lòng Chúa, càng gặp nhiều kẻ thù, cuối cùng cảm thấy cô đơn, nhưng may mắn được giống Chúa Giêsu trong ngày thứ sáu Tuần Thánh:”
2/ Kẻ thù người nhà của lòng đạo:
Chiến đấu đem bình an cho đồng loại chưa đủ, còn phải chiến đấu đem bình an cho bản thân mình mới cam go! Kinh nghiệm sống đạo của Phaolo được gọi là gương mẫu đến nỗi ông vênh vang trong Chúa: “Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi đối với Chúa Kitô” (I Cr 11,1), thế mà ông vẫn can đảm và khiêm tốn thú nhận sự yếu đuối của bản thân khi ông phải chiến đấu với “Kẻ thù người nhà” ông không nghỉ ngơi: “Điều tôi muốn, tôi không thi hành, chính tôi lại làm điều tôi ghét! Tôi biết rằng trong xác thịt tôi chẳng có sự lành cư ngụ: muốn thì vừa tầm cho tôi, mà làm ra sự thiện thì không!”(Rm.7,15.18-19).

II. CHÚA GIÊSU KHAO KHÁT GIÚP TA CHIẾN ĐẤU ĐẾN THÀNH CÔNG:
Lời Đức Giêsu được Luca ghi nhận trong Tin Mừng hôm nay cho ta thấy Ngài có hai ước muốn:
Lời Chúa và Thánh Thể Ngài được mọi người đón nhận.
1/ Đức Giêsu ước muốn Lời Ngài cháy lên trong lòng kẻ tin (Lc 12, 49):
Vì lửa Ngài ban xuống chính là lời Ngài (Ger 23, 29). Một người như Giêrêmia nuốt lời Chúa vào lòng (Ger 15, 16) làm tâm hồn ông nóng bừng bừng như lửa mến cháy trong lòng ông, khiến ông không thể câm miệng mà không nói lời Chúa, dù bị chống đối… ông giống Chúa Giêsu khác nào thanh sắt được nung lửa đỏ rực, có khả năng thiêu đốt những sự dơ bẩn!
2/ Đức Giêsu ước muốn Bí Tích Thánh Thể Ngài lập được mọi người chịu lấy như lời Ngài nói: “Có thứ thanh tẩy ta phải chịu, ta những bồn chồn chờ đến lúc hoàn tất” (Lc 12, 50).
“Thanh tẩy” mà Ngài bồn chồn chờ đến lúc hoàn tất chính là giờ tử nạn của Ngài, mà giờ tử nạn của Ngài chính là Thánh lễ Chúa Giêsu dâng để thực sự sinh ơn thanh tẩy mọi tâm hồn.
Vậy Đức Giêsu chờ đón các “chiến hữu” của Ngài để cho lời thấm vào dòng máu của họ, để thánh thể thay thế con nguời đầy yếu đuối trở thành Giêsu sống (xem Gal 2,20). Với kinh nghiệm sống chiến đấu với Chúa Kitô, Phaolô khuyên dạy chúng ta: “Hãy liệng đi mọi thứ tội lỗi nặng nề đang đè trên ta, nắm kiên nhẫn xông vào trận chiến đang chờ ta, đắm chìm lên Đấng khơi nguồn và cũng viên thành đức tin. Đức Giêsu, Đấng, thay vì vui sướng chờ Ngài, thì đã kiên chịu khổ hình Thập Giá, không quản thẹn thùng xấu hổ, và đã lên ngự bên hữu ngai Thiên Chúa. Hãy ngắm Đấng đã từng chịu để những người tội lỗi chống báng Ngài, để anh em khỏi ra bại hoại tâm hồn, mà bỏ buông xuôi” (Bài II).
Chính vì còn nhiều người trên đời chưa tin: Nhờ Ngài, với Ngài, trong Ngài để đi đến chiến thắng vinh quang, nên dù Ngài đã phục sinh toàn thắng mọi sự dữ, mà khi Ngài hiện ra cho tội lỗi – Maria Madala- Ngài hiện thân người làm vườn Ga 20, 15), hoặc hiện ra với các môn đệ đang phải chiến đấu làm chứng cho Ngài còn in hằn các vết tử thương trên thân thể Ngài (Ga 20,20).
Đó chính là lý do Ngài nói: “Tôi còn bồn chồn chờ đến lúc hoàn tất” (Lc 12,50).

 

TN20-C42: Ai ở gần Ta, là ở gần lửa

Lửa trong Cựu Ước tượng trưng cho quyền năng tối thượng, tác động thanh luyện và sự hiện: TN20-C42

Lửa trong Cựu Ước tượng trưng cho quyền năng tối thượng, tác động thanh luyện và sự hiện diện đáng sợ của Thiên Chúa. Tiến xa hơn, Tân Ước nhìn thấy trong lửa biểu tượng của tình yêu vô biên và làm biến đổi của Thiên Chúa đối với loài người. Nói về lửa Người mang đến thế gian, Chúa nghĩ nhiều nhất đến sứ mạng của Người giữa nhân loại. Chúa đem đến một sự hiện diện mới mẻ của Đấng Tối Cao. Thiên Chúa không chỉ là Đấng tạo nên khởi nguyên đầu tiên, Người là Toàn thể Tình yêu đến biến đổi con người bằng một sáng tạo mới. Origênê, một tác giả thời đầu Giáo hội, gán cho Đức Giêsu dụ ngôn này: Ai ở gần Ta là ở gần lửa. Làm sao có thể khác được? Trong các ngôn ngữ khắp địa cầu, tình yêu bao giờ cũng chọn lửa làm phương cách diễn tả huống hồ là Tình yêu nóng cháy vô cùng của Thiên Chúa so sánh với một lò lửa đỏ rực. Đức Kitô là sự mạc khải về Tình yêu ấy. Không thể đến gần Đức Kitô mà không thấm được ánh sáng và sức nóng. Khi Chúa phán thêm rằng Người phải nhận lãnh một sự thanh tẩy (Chúa ám chỉ sự thanh tẩy do Thương khó và Phục sinh), Đức Giê-su vạch rõ sự thể Người đến tạo ra một khởi nguyên mới. Thực tại trước kia nay biến đổi nhờ được ghép thêm một thực tại cao quý hơn, con người được nâng lên hầu tham gia sự Tuyệt Đối. Theo hướng suy niệm ấy, chúng ta chú ý đến hai việc:
1) Ngọn lửa bên trong Đức Giêsu Ki-tô không chỉ là sự thanh khiết tuyệt đỉnh trong tâm hồn và sự tự do thiêng liêng thượng đẳng. Loài người hằng cố gắng đạt tới cao độ thanh khiết và tự do ấy, chúng ta thấy trong lịch sử hoặc xung quanh chúng ta có những cố gắng biểu lộ một tấm lòng thật sự cao quý. Nhưng điều mà Chúa mang đến không phải là thành quả nỗ lực nhân loại. Đây là một điều gì từ cõi cửu trùng ban xuống, thấm đượm con người. Bài tường thuật về sáng tạo cũ bắt đầu bằng câu: Lúc khởi nguyên. Lịch sử cuộc đời Đức Kitô mở đầu bằng một câu tương tự: Lúc khởi nguyên đã có Đức Giêsu Kitô. Điều này đúng cho toàn bộ lịch sử nhân loại do Đức Kitô đảm nhiệm, và pahỉ đúng cho mỗi Kitô hữu. Cuộc đời mỗi Kitô hữu đều có một khởi điểm là Đức Giêsu Ki-tô. Chúng ta nói thêm, nếu Chúa có ở lúc bắt đầu, tất phải có ở lúc giữa và lúc kết thúc.
2) Ngọn lửa bên trong Đức Giêsu Ki-tô phải thấm đượm điều gì tốt nhất trong chúng ta, khiến nó thành vững chắc, lâu bền, trong sạch. Chúng ta biết, trong Chúa chúng ta tiến lên đời sống siêu nhiên, - do đó chúng ta rút ra những hệ luận thực tiễn. Yêu thương anh em, ra sức hoạt động cải thiện thế giới, vẫn chưa đủ – xả thân cho hạnh phúc nhân loại, vẫn còn thiếu, vì chung cục có gì là chắc? Chỉ còn lại cái Bước đầu như trên là cần, nhưng phải tiến xa hơn nữa. Phải yêu mến Đức Kitô, sống Đức Kitô. Theo mức độ ân huệ nhận được, Kitô hữu có trách nhiệm làm cho tình yêu của Đức Kitô hiện diện trong thế giới. Kitô hữu phải tin chắc điều này: Thế giới cần được ơn trên soi sáng để hiểu rõ tại sao có mình, hơn là cứ mỗi thế kỷ lại nêu ra không biết bao tham vọng mỗi lần dưới một bộ mặt đổi khác, muốn tự tổ chức thành thiên đường hạ giới, mơ tưởng xây dựng một thiên đường tình yêu. Kitô hữu phải đóng góp vào những nỗ lực cải thiện thế giới, có trách nhiệm lái những nỗ lực ấy theo phương hướng Chúa muốn.

 

TN20-C43: LỬA TRÊN THẾ GIAN

Dẫn vào Thánh lễ và sám hối
 

Tin Mừng là nguồn an ủi lớn đối với chúng ta, đặc biệt trong những lúc đau buồn và nghi nan: TN20-C43

Tin Mừng là nguồn an ủi lớn đối với chúng ta, đặc biệt trong những lúc đau buồn và nghi nan. Nhưng Tin Mừng cũng là một thách đố lớn cho chúng ta. Tin Mừng đòi hỏi chúng ta tránh xa bóng tối và chọn lựa ánh sáng, thuộc về Chúa Kitô hơn là chống lại Người. Giờ đây chúng ta hãy hồi tâm về điều này : chúng ta đang thuộc về Đức Kitô hay đang sống trong tình trạng thù nghịch với Người. Chúng ta hãy nài xin Chúa giúp đỡ, để chúng ta sống đúng với Tin Mừng của Người.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa hằng nghe tiếng than khóc của chúng con kêu lên tới Chúa. Xin Chúa thương xót chúng con.
Chúa cho chúng con nên mạnh mẽ khi chúng con yếu đuối và lưỡng lự. Xin Chúa thương xót chúng con.
Chúa đưa chúng con đến ánh sáng của Chúa khi chúng con sống trong bóng tối. Xin Chúa thương xót chúng con.
Dẫn vào các bài đọc
Bài đọc 1 : Gr 38,4-6.8-10
Điều mô tả về sự ngược đãi mà tiên tri Giêrêmia phải hứng chịu, là điều mà các Kitô hữu thấy như hình ảnh tiên trưng của Chúa Giêsu Kitô.
Bài đọc 2  : Dt 12,1-4
Tác giả động viên các độc giả hãy kiên nhẫn trong đức tin, hãy nhận lấy sức mạnh từ gương mẫu của chính Đức Kitô và những ai đã từng đi trước chúng ta.
Tin Mừng : Lc 12,49-53
Chúa Kitô đến đánh dấu thời điểm phân rẽ, trong đó những người được kêu gọi sẽ phải bày tỏ lòng trung thành của họ.

Bài giảng 1
NÉM LỬA VÀO MẶT ĐẤT
"Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, … Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao ? Thầy bảo cho anh em biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ."
Những câu nói lạ lùng của Chúa Giêsu, chúng ta không mong đợi Người đem lửa và gươm giáo (sự chia rẽ) đến. Người không làm như thế. Khi Giacôbê và Gioan muốn Người khiến lửa và diêm sinh đổ xuống trên làng người Samari, Người đã bảo với họ rằng họ đã không biết họ đang nói gì. Và khi Phêrô rút kiếm ra trong vườn Ghếtsêmani, Chúa Giêsu đã nói với ông hãy xỏ kiếm vào.
Chúa Giêsu không đến để tạo ra những rắc rối hay làm tan vỡ các gia đình, nhưng đôi lúc điều này lại xảy ra. Vào những ngày đầu của Giáo Hội, việc cải đạo sang Kitô giáo, điều đó dường như đưa đến việc loại bỏ gia đình. Do đó, những cuộc cải đạo đã phải thực hiện một sự lựa chọn hoặc là Thiên Chúa hoặc là gia đình.
Khi Chúa Giêsu nói đến việc đem lửa và chia rẽ đến mặt đất, rõ ràng là lời nói của Người không nhằm vào nghĩa đen của từ ngữ. Tuy nhiên, những lời nói đó thay cho những suy nghĩ thực nơi Ngài. Chúa Giêsu hiền lành, nhưng không có nghĩa là Người yếu đuối. Trong tình huống bắt buộc, Người cũng sẽ rất cương quyết, giống như khi Người đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ.
Những lời nói đó cũng ám chỉ sự cứng rắn của Người trong việc giảng dạy. Lời dạy của Người là nguyên nhân gây ra chia rẽ. Người dạy chúng ta rằng nước Chúa rộng mở với tất cả mọi người, người thánh thiện cũng như tội nhân, người Do thái cũng như dân ngoại. Điều này đưa Người đến những xung đột với những kẻ quyền thế lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ. Người gọi các kinh sư, ký lục và biệt phái là những người đạo đức giả và là kẻ dẫn đường mù quáng. Còn họ lại gọi Người là kẻ gây rắc rối và bị quỷ ám.
Nếu Chúa Giêsu nịnh bợ họ và chỉ nói cốt sao cho "đẹp lòng" họ, thì Người đã có thể làm cho mình trở nên nổi tiếng. Nhưng Người chọn việc làm khuấy động họ, vì họ cần phải được khuấy động. Lời của Người gây căm phẫn nơi một số người và làm tức điên lên nơi những người khác. Những lời Người nói với người nghèo thì lại khác với những lời Người nói với người giàu. Những lời Người nói với người tội lỗi thì lại khác với những lời Người nói với người biệt phái. Chúng ta phản bội lại Tin Mừng nếu chúng ta tự ý sửa đổi lại lời Chúa đã nói để những lời này được luôn ôn hoà dịu dàng, làm mất đi sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo, giữa người được nhận và người bị tước mất. Những bài Tin Mừng nhạt nhẽo như vậy không thể nào làm men cho thế giới này.
Đã có khuynh hướng thích ứng Tin Mừng, sửa đổi làm cho từ ngữ trở nên dễ nghe và tạo cảm giác nhẹ nhàng. Nếu điều đó xảy ra, tức là lửa đã tàn, men đã mất tác dụng, muối đã mất vị mặn và ánh sáng đã trở nên mờ nhạt.
Kitô hữu không ngạc nhiên khi Tin Mừng chia rẽ con người. Phán đoán ngay chính của Chúa Giêsu đưa Người tới những xung đột với những kẻ chuyên ức hiếp người yếu đuối và nghèo khó. Sự chính trực của Chúa Giêsu đưa Người tới những xung đột với những kẻ bất lương. Lòng khoan dung của Chúa Giêsu đưa Người tới những xung đột với những kẻ hẹp hòi và cố chấp. Ánh sáng càng rực rỡ thì càng đẩy xa bóng tối âm u.
"Khi tôi trao bánh mì cho người nghèo, họ cho tôi là một vị thánh. Nhưng khi tôi hỏi tại sao người nghèo lại không có bánh mì thì họ cho tôi là một người cộng sản." Tổng Giám Mục Helder Camara, thần tượng của dân nghèo Brazil đã nói.
Chúa Giêsu nói rằng Người đến để nhóm lên ngọn lửa cho trần gian. Đó không chỉ đơn thuần là hình ảnh, một sự ẩn dụ, nhưng đó là một biểu hiện đầy quyền lực. Là biểu tượng của óc suy xét và sự tinh lọc. Lửa sẽ thiêu đốt những gì vô dụng và tôi luyện những gì không trong sạch.
Sứ điệp Tin Mừng là lửa để tôi luyện, là men cho xã hội và thế giới. Ngọn lửa không chỉ cần được nhóm lên mà còn cần được giữ cho cháy mãi. Chúng ta, những người theo chân Chúa Giêsu, là những người sẽ giữ cho ngọn lửa đó sáng mãi.

Bài giảng 2
TIÊN TRI LÀ "NGƯỜI TẠO RA RẮC RỐI"
Hiển nhiên Chúa Giêsu là một người tốt. Vì thế chúng ta có thể cho rằng cuối cùng Người cũng sẽ được mọi người yêu mến. Nhưng Người đã khích động lòng căm giận để cuối cùng Người chịu khổ nạn trên thập giá. Điều đó đã xảy ra như thế sao ? Điều đó xảy ra vì Chúa Giêsu là một nhà tiên tri, tiên tri về tôn giáo và một nhà tiên tri thì luôn là người không được chấp nhận đúng theo năng lực mà mình có. Đa số các tiên tri đều bị bách hại và một số thì bị giết.
Giêrêmia là một ví dụ cụ thể, ông được gọi làm tiên tri khi còn rất trẻ. Ông đã sống với ơn gọi đó trong một thời gian có những biến động lớn, khi ông chứng kiến sự thất bại của Israel và sự tàn phá của Giêrusalem và đền thờ. Ông là lương tâm của dân tộc mình. Ông rất yêu dân tộc mình và không bao giờ đánh mất niềm tin vào sức mạnh của Chúa, Đấng sẽ cứu họ. Nhưng rồi ông đã bị buộc tội là kẻ gây náo loạn, và sống với nỗi sợ hãi triền miên suốt cuộc đời ông.
Các tiên tri là "những người tạo ra rắc rối", nghĩa đúng nhất của tên gọi này. Không có người nào gây rắc rối, phá vỡ sự bình yên bằng những người đi rao giảng về sự thật và sự công bằng. Như mục sư Martin Luther King ở Mỹ, ông là con người của hoà bình. Bằng cách kêu gọi mọi người chấm dứt nạn phân biệt chủng tộc đối với người da đen, ông đã tạo ra nhiều rối loạn ở Mỹ hơn bất kỳ người nào thuộc thế hệ của ông. Cũng như nhà khoa học Nga, Andrei Sakharov, ông cũng bị chính phủ gán cho cái nhãn "người làm loạn", bởi ông kêu gọi chấm dứt khủng bố giữa những người không cùng quan điểm và sự leo thang của vũ khí hạt nhân.
Đôi khi, những gì chúng ta gọi là hoà bình lại không có một chút hoà bình nào cả. Bất kỳ nền hoà bình nào không được xây dựng trên nền tảng của công bằng thì đó chỉ là một nền hoà bình giả tạo. Tổng Giám Mục Helder Camara của Brazil đã mô tả điều đó giống như mặt trăng bị che khuất. Chúa Giêsu đã đem bình an đến cho chúng ta, nhưng không phải loại bình an đó. Cũng như có nền hoà bình giả tạo, thì cũng có sự hợp nhất giả tạo, trong đó người ta phải chịu đựng sự phân biệt đối xử và bất công. 
Khi nhà văn Nam Mỹ Laurens van der Post được phóng thích khỏi nhà tù chiến tranh ở Nhật Bản và được tự do, ông đã bị khủng hoảng cực độ, vì nhận ra rằng sự tàn bạo của hoà bình cũng tương tự với sự tàn bạo mà ông đã từng trải qua trong chiến tranh. Và như Solzhenitsyn nói, khi người lính trở về với cuộc sống đời thường, họ bị khủng hoảng trước sự nhẫn tâm, hoàn toàn vô đạo đức trong cách người ta đối xử với nhau. Bằng việc dự phòng cho họ có cơ hội phục vụ một chính nghĩa lớn lao hơn bất kỳ mưu cầu ích kỷ nào của chính họ, chiến tranh đã lấy đi những gì tốt đẹp nhất nơi họ.
Những điều khác thường nhiều biết bao trong số những điều được chấp nhận như một điều bình thường. Ví dụ, sự bất công trong xã hội, khoảng cách giữa người nghèo không nơi nương tựa và kẻ giàu có xấc láo. Chúng ta biết điều này quá rõ đến nỗi chúng không còn gây phản ứng nào  cho ta nữa. Chúng ta chấp nhận nó như một điều bình thường. Vì thế, chúng ta cần một người thức tỉnh chúng ta ra khỏi trạng thái hôn mê và lãnh đạm.
Chúa Giêsu nói Người đến để nhóm lên ngọn lửa cho trần gian. Đó không chỉ đơn thuần là hình ảnh, một sự ẩn dụ. Nhưng đó là một biểu hiện đầy quyền lực. Lửa không phải là thứ duy trì thái độ dửng dưng. Lửa không phải là yếu đuối, nhợt nhạt, không có sự sống. Lửa sưởi ấm và an ủi. Nhưng lửa cũng sẽ thiêu đốt những gì vô dụng và tôi luyện những gì không trong sạch.
Sứ điệp Tin Mừng là lửa để tôi luyện, là men cho xã hội và thế giới. Ngọn lửa không chỉ cần được nhóm lên mà còn cần được giữ cho cháy mãi. Chúng ta, những người theo chân Chúa Giêsu, là những người sẽ giữ cho ngọn lửa đó sáng mãi.
Bài giảng 3
CHẠY ĐUA
Vào thời đại của chúng ta, chúng ta đã chứng kiến hiện tượng lạ nhưng thú vị, hiện tượng chạy đua. Điều đó hoàn toàn bình thường khi thấy khoảng 10 hoặc 20 ngàn người tham dự những cuộc chạy đua (marathons) vòng quanh thế giới. Đặt câu hỏi : bạn thấy sẽ dễ dàng hơn nếu bạn chạy một mình hay chạy với người khác. Câu trả lời rõ ràng là : "Đường chạy sẽ dài hơn nếu bạn chạy một mình."
Một vận động viên chạy một mình trong sân vận động không người xem, anh sẽ không thể nào chạy hết sức mình được. Nhưng nếu trên khán đài đầy người cổ vũ thì anh sẽ gắng sức với tất cả nghị lực và vận dụng hết tài tháo vát của mình, thậm chí vượt xa cả khả năng lúc bình thường.
Chúng ta nhận được sức mạnh từ những người đang chạy quanh chúng ta. Điều này đặc biệt đúng khi chúng ta không quan tâm đến việc được ở trong nhóm những người về trước, nhưng cốt mong sao hoàn thành đường đua. Khi đó chúng ta sẽ thấy các vận động viện khác đang cùng ta đồng hành chạy về đích chứ không phải như các đối thủ. Chúng ta sẽ thấy những người cùng chạy như những người cổ vũ. Điều này làm cho ta như được tiếp thêm sức mạnh. Họ tạo nên một dòng chảy và chúng ta như được đưa đi với sức mạnh của nó.
Điều gì gây trở ngại cho vận động viên trong cuộc đua ? Đó là bất kỳ sự tổn thương hoặc yếu đuối nào. Cũng vậy, có thể là do thiếu động cơ thúc đẩy. Khi người ta được cổ vũ mạnh mẽ, họ sẽ sẵn sàng làm những việc đòi hỏi hy sinh cao độ như cống hiến thời gian, kiêng khem, nỗ lực và nhiều điều khác nữa.
Chạy đua đường trường (marathons) không phải là cuộc đua đoạt giải. Giá trị ở ngay chính cuộc đua. Chính cuộc đua đã là một trận đấu. Mọi người đều chiến thắng. Vấn đề là sự tham dự, sự cam kết. Bằng cách tham dự, chúng ta đã giúp đỡ người khác qua chính sự hiện diện của ta, do đó ta đã có góp sức mình dù nhỏ nhoi.
Không chỉ có trong cuộc đua ta mới đón nhận được sức mạnh từ tinh thần đồng đội. Một tác giả Do thái đã cổ vũ độc giả của mình hãy kiên nhẫn trong niềm tin, bất kể phải trả giá thế nào. Ông nói họ nên kín múc sức mạnh từ "hàng ngũ những chứng nhân" (cloud of witnesses), những người đã đi trước. Ông ám chỉ các thánh trong Cựu Ước, những người đã tham gia cuộc chạy, đã ở phía trước họ.
Các Kitô hữu ý thức mình là một phần của sự nối kết thiêng liêng từ những nhân chứng thời các tông đồ. Trong cuộc đấu tranh để trở thành người tín hữu, họ phải luôn hướng đến nguồn cảm hứng nơi mẫu gương của các tiên tri, các chứng nhân và các thánh. Chúng ta kín múc cho mình niềm hy vọng và lòng can đảm từ "các vị anh hùng của đức tin", những người hằng luôn tin tưởng mặc dù trong thực tế những gì được hứa ban cho họ đã không trở thành hiện thực nơi đời sống của họ. Và khi chúng ta trải qua sự mệt mỏi, cảm giác thất bại và phù phiếm, họ như nói với ta : "Chúng tôi đang ở cùng bạn. Đừng bỏ cuộc."
Như một phi công tiền tiêu đã nói : "Đôi khi những cơn giông tố và sương mù sẽ làm bạn nản chí. Nhưng hãy nghĩ đến những người đã vượt qua được những điều đó ở phía trước bạn và bạn sẽ tự nói với mình : Họ đã làm được và tôi cũng sẽ làm được như họ."
Nhưng đặc biệt nơi Chúa Giêsu, chúng ta phải chiêm ngắm Người. Lòng trung thành đã đưa Người đến thập giá và sau đó là vinh quang. Người là một mẫu gương vĩ đại nhất trên hết trong hàng ngũ chứng nhân Cựu Ước.
Sứ điệp thật rõ ràng : như Thầy Chí Thánh, chúng ta, những Kitô hữu phải luôn sẵn sàng để vượt qua những trở ngại trên đường đến với Chúa. Đây không phải là một cuộc chiến đấu đơn độc mà là một sự hợp lực. Chúng ta cùng chạy với nhau trong một cuộc đua vĩ đại nhất.
LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế : Chúng ta cùng cầu xin để lửa mà Chúa Giêsu đến đã nhóm lên được cháy rực sáng trong cuộc đời của chúng ta và trên thế giới.
Xướng : Cầu nguyện cho các Kitô hữu trở nên những chứng nhân của Chúa Kitô.
Xướng : Cầu nguyện cho những ai đang hoạt động cho hoà bình và công lý được cảm nghiệm rằng chính Thiên Chúa hằng nâng đỡ họ trong những lúc đau khổ.
Xướng : Xin cho chúng ta kín múc được sức mạnh từ gương mẫu của các thánh, những người đã đi trước chúng ta và đang cầu thay nguyện giúp cho ta.
Xướng : Cầu nguyện cho những ai đã qua đời trong hy vọng được hưởng niềm hạnh phúc viên mãn trong Nước Chúa.
Chủ tế : Lạy Chúa, xin giúp chúng con trở nên những sứ giả của hy vọng, công cụ của hoà bình và tác nhân của tình yêu cho thế giới bất công và chia rẽ. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

 

TN20-C44: CHỌN  ĐỨNG VỀ PHÍA NÀO?

 [CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN NĂM C (19.08.2007)]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Cuộc sống con người là một chuỗi những chọn lựa, tức bỏ cái (hay những cái) này để chọn cái TN20-C44

Cuộc sống con người là một chuỗi những chọn lựa, tức bỏ cái (hay những cái) này để chọn cái (hay những cái) khác. Theo đạo là một chọn lựa cơ bản và quyết liệt nhất, vì ảnh hưởng đến cả đời này lẫn đời sau của mỗi con người. Cũng vì chọn lựa ấy mà thế giới con người bị phân ra thành hai hạng: những người nhìn nhận, tôn thờ và sống theo Chúa Giê-su và những người không nhìn nhận, tôn thờ và sống theo Người! Chúa Giê-su Ki-tô được đặt ở giữa làn ranh của hai hạng người ấy. Người  trở thành “tiêu chuẩn” để phân biệt hai hạng người ấy. Vì thế mà trong Phúc Âm, Chúa Giê-su mới nói : "Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau…." Chúng ta hãy dành ít phút để suy niệm và tìm hiểu xem Lời Chúa mời gọi chúng ta chọn đứng về phía nào? phía ngôn sứ Giê-rê-mi-a hay phía các thủ lãnh Do Thái (bđ 1) ? phía Chúa Giê-su hay phía tội lỗi (bđ 2) ? phía chọn Chúa Giê-su hay phía từ chối Người (bpâ) ?

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1: Lời Chúa trong Sách Giê-rê-mi-a (Gr 38,4-6.8-10):
                4 Các thủ lãnh thưa với vua: "Xin ngài cho giết con người ấy đi, vì những luận điệu của ông ta đã làm nản lòng các binh sĩ còn lại trong thành này, cũng như toàn dân. Thật vậy, con người ấy chẳng mưu hoà bình cho dân này, mà chỉ gây tai hoạ." 5 Vua Xít-ki-gia-hu nói: "Đây ông ta đang ở trong tay các ngươi; nhà vua cũng chẳng có thể làm gì trái ý các ngươi được." 6 Họ liền điệu ông Giê-rê-mi-a đi, và bỏ xuống một cái hầm nước của hoàng tử Man-ki-gia-hu, trong sân vệ binh. Họ lấy dây thừng thả ông Giê-rê-mi-a xuống. Vì trong hầm không có nước, mà chỉ có bùn, nên ông bị lún sâu."
               8 Ông E-vét Me-léc đi ra khỏi đền vua và thưa với vua rằng: 9 "Thưa đức vua, chúa thượng tôi, những người này làm toàn những chuyện tai ác cho ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Họ đã thả ông xuống hầm, và ông đang chết đói ở dưới ấy, vì trong thành không còn bánh nữa. 10 Vua liền truyền cho ông E-vét Me-léc, người Cút rằng: "Ngươi hãy đem theo ba mươi người ở đây, đi kéo ngôn sứ Giê-rê-mi-a lên khỏi hầm, kẻo ông chết mất."
(2) Bài đọc 2: Lời Chúa trong thư của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi tín hữu Do Thái (Dt 12,1-4):
           1 Như thế, phần chúng ta, được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh, chúng ta hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, 2 mắt hướng về Đức Giê-su là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa. 3 Anh em hãy tưởng nhớ Đấng đã cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình như thế, để anh em khỏi sờn lòng nản chí. 4 Quả thật, trong cuộc chiến đấu với tội lỗi, anh em chưa chống trả đến mức đổ máu đâu.
(3) Bài Tin Mừng: Lời Chúa trong Sách Tin Mừng theo Thánh Lu-ca (Lc 12,49-53):
            49 "Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! 50 Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!
            51 "Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. 52 Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. 53 Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng."
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 (Gr 38,4-6.8-10) là một trích đoạn của Sách Giê-rê-mi-a liên quan đến việc vị ngôn sứ bị các thủ lãnh bỏ xuống hầm nước nhằm giết hại ông – vì ngôn sứ đã có những lời làm phật lòng họ - và việc vị ngôn sứ được ông E-vét Me-léc xin với nhà vua cứu thoát.
        Qua đoạn Sách Gr 38,4-6.8-10 trên chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng Quan Phòng tuyệt diệu. Người có chương trình và kế hoạch riêng vượt trên mưu tính hiểm độc của những người độc ác. Người còn dùng những người tốt bụng và chính trực để cứu những người tốt bị hại. Rõ ràng Lời Chúa ở đây mời gọi chúng ta chọn đứng về phía Giê-rê-mi-a!  
(2) Bài đọc 2 (Dt 12,1-4) là những lời khuyên nhủ của Thánh Phao-lô dành cho các tín hữu Do Thái : “Hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giê-su là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin.”
            Trong đoạn thư gửi tín hữu Dt 12,1-4 trên chúng ta thấy Chúa Giê-su đã chọn con đường thập giá và đã thực hiện cách hoàn hảo chọn lựa của Người. Theo Thánh Phao-lô thì Chúa Giê-su đã nêu gương cho mọi tín hữu để họ dũng cảm và kiên trung trong cuộc chiến đấu với tội lỗi. Rõ ràng Lời Chúa ở đây mời gọi chúng ta chọn đứng về phía Chúa Giê-su mà chiến đấu chống lại tội lỗi!  
(3) Bài Tin Mừng (Lc 12,49-53) gồm hai ý tưởng lớn. Ý tưởng thứ nhất là : “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!”   Ý tưởng thứ hai là : “Thầy đến không để ban hoà bình mà đem sự chia rẽ cho trái đất.” Chia rẽ ở đây có nghĩa là “phân loại” giữa người này với người khác vì sẽ có người chọn theo Chúa và có người chọn không theo Chúa.
          Qua Bài Phúc Âm Lc 12,49-53  chúng ta khám phá ra Chúa Giê-su là Đấng  có một tâm hồn bừng cháy muốn biến đổi cả thế giới này bằng Tình Yêu. Chúng ta cũng khám phá ra Chúa Giê-su có một tấm lòng khát khao chịu khổ nạn để cứu rỗi nhân loại. Chúng ta còn khám phá ra Chúa Giê-su là Đấng buộc con người phải chọn lựa : hoặc theo hoặc không theo Chúa! Rõ ràng Lời Chúa ở đây mời gọi chúng ta chọn đứng về phía Chúa Giê-su mà đi theo Người, làm môn đệ của Người, sống như Người đã sống !   
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?    
          Lời Chúa hôm nay mang hai sứ điệp :
          Một là: "Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên !”
          Hai là: "Thầy bảo cho anh em biết: Thầy không đem hòa bình mà đem chia rẽ cho trái đất này ! ”

 III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
          Chúng ta có thể chọn sống một trong hai sứ điệp của Lời Chúa hôm nay.
          - Nếu chọn sống sứ điệp thứ nhất, chúng ta tự kiểm điểm xem mình có để cho lửa tình yêu của Chúa Giê-su xâm nhập và thiêu đốt không ? mình có khát khao được tham dự vào cuộc tử nạn thập giá của Người khộng ?
          - Nếu chọn sống sứ điệp thứ hai, chúng ta tự kiểm điểm xem mình có chọn đứng về phía ngôn sứ Giê-rê-mi-a và phía Chúa Giê-su không ? (tức chọn các lời sấm ngôn chân thật và đời sống đẹp lòng Thiên Chúa).

IV. CẦU NGUYỆN  (Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân)
          4.1 Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là Cha của chúng con, chúng con dâng lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa, vì Chúa đã thương ban tự do cho chúng con để chúng con chọn lựa. Xin Chúa giúp chúng con biết chọn Chúa và khước từ tội lỗi và gian ác.
       Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.2 Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là Cha của chúng con, chúng con dâng lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa, vì Chúa đã thương ban Chúa Giê-su cho chúng con để chúng con noi gương bắt chước Người. Xin Chúa giúp chúng con biết học cùng Chúa Giê-su, để cho tâm hồn và cuộc sống của chúng con được Lửa Tình Yêu đốt cháy.
        Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.3 Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là Cha của chúng con, chúng con dâng lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa, vì Chúa đã thương ban Chúa Giê-su cho chúng con để chúng con noi gương bắt chước Người. Xin Chúa giúp chúng con biết chọn con đường hy sinh từ bỏ mà Chúa Giê-su đã chọn để chúng con nên giống Người, xứng đáng là môn đệ của Người.
        Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
            Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 
         Kansas City (MO/USA) 07.07.2007.

 

TN20-C45: Lửa của tình yêu

“Thầy không muốn đến để đem bình an…”
 

Sách Xuất Hành kể rằng Moisê dẫn đàn cừu đi vào sa mạc, đến núi của Thiên Chúa là Khoreb: TN20-C45

Sách Xuất Hành kể rằng Moisê dẫn đàn cừu đi vào sa mạc, đến núi của Thiên Chúa là Khoreb. Thần sứ của Giavê hiện ra cho ông trong ngọn lửa giữa bụi gai, bụi gai bốc cháy nhưng không bị thiêu huỷ. Chúa phán cùng Moisê: “Chớ lại gần. Cởi dép khỏi chân đi vì đây là thánh địa”.
Lửa biểu tượng sức mạnh của Thiên Chúa. Trong bài Phúc Âm, Chúa Giêsu tuyên bố: “Thầy đến để đem lửa xuống trần gian và mong muốn cho lửa cháy lên”. Lửa ấy là gì? Là sức mạnh, vừa soi sáng vừa đốt cháy của tình yêu Thiên Chúa. Là Chúa Thánh Linh đã đến trong ngày Hiện xuống để làm bừng sáng trí khôn, để nung nấu tâm hồn các tông đồ, đã làm cho các ông lãnh nhận phép rửa mà Gioan tiền hô đã loan báo: “Ngài sẽ đến, làm phép rửa anh em trong Thánh Thần và lửa” (Mt 3,11).
Vậy muốn trở nên đồ đệ chân thật của Chúa, chúng ta hãy đón nhận lửa tình yêu mà Chúa mang đến. Tâm hồn ta phải đầy lửa. Có lửa mới có thể đem chia sẻ cho người khác. Đó là điều kiện tiên quyết của những ai làm tông đồ của Chúa, nhưng ai có phận sự “làm cho lửa cháy lên” trong các linh hồn.
Lễ Hiện xuống năm 1544, trong khi Thánh Philipphê Nêri đang cầu xin Chúa Thánh Thần thì như có một bầu lửa xâm nhập vào tâm hồn, khiến người cảm thấy đầy lửa yêu mến. Phải chăng đây là triệu chứng một cơn bệnh mà Người mang theo suốt đời? Bệnh thể xác hay bệnh tâm linh, không ai dám quả quyết. Chỉ biết chắc một điều là sau khi Thánh nhân qua đời, các bác sĩ đã mổ khám tử thi, nhận thấy phía trên trái tim của Người, có hai chiếc xương sườn bị gẫy và cong uốn lên như để dành đủ chỗ cho trái tim. Philiphê Nêri là một vị tông đồ đầy lửa của thành phố Lamã.
Điều kiện thứ hai của vị tông đồ là sẵn sàng xả kỷ và hy sinh. Chúa phán: “Thầy đến để đem sự chia rẽ”. Thật là trái ngược! Ngài “hiền lành và khiêm tốn trong lòng”, nhưng “lại đến để đem sự chia rẽ”, cha mẹ chống đối con cái, người trong nhà chia rẽ nhau!
Vì tình yêu chân chính đòi hỏi sự chọn lựa và hy sinh. “Ai yêu cha mẹ hơn Ta thì không đáng làm môn đệ Ta”. Lịch sử Giáo Hội nhan nhản những gương hy sinh của các vị Tông Đồ của Chúa. Thân mẫu của Thánh Nữ Catarina Sienna kêu lên ngày con ra đi sống đời tận hiến: “Ôi sức mạnh nào đã chiếm đoạt con tôi?” Đó là sức mạnh của Đấng đã chết trên cây thập giá cách đây XIX thế kỷ, nhưng vẫn còn lôi cuốn “tuổi trẻ, sắc đẹp và tình yêu” (Montalembert).
Chúa Giêsu thật là Đấng đã đem đến cho thế giới máu và lửa. Lửa của Tình Yêu. Máu của Hy Sinh để cứu chuộc nhân loại như trong một phép rửa. “Thầy phải chịu một phép rửa và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất”.
Yêu mến, tận hiến và hy sinh cùng là ba đức tính của người tông đồ của Chúa.
Tôi khốn khổ cơ bần, nhưng có Chúa ân cần chăm nom. Người là Đấng phù trợ giải thoát.
Ôi, Lạy Chúa, xin Ngài đừng chậm trễ( Tv 39).

 

TN20-C46: Lửa

Có một cô gái, mặc dù được sinh ra trong một gia đình đạo đức, thế nhưng vì hoàn cảnh, đã sống: TN20-C46

Có một cô gái, mặc dù được sinh ra trong một gia đình đạo đức, thế nhưng vì hoàn cảnh, đã sống một cuộc đời bê tha tội lỗi. Số là vào năm mười tám tuổi, ba của cô thì bị mất việc làm, còn má của cô thì đau yếu triền miên. Và thế là hằng đêm, cô phải la cà vào các hàng quán để mồi chài khách khứa.
Sau một thời gian, cuộc sống thác loạn này đã gieo vào lòng cô một nỗi chán chường, khiến cho cô chỉ muốn nghĩ đến cái chết. Thế rồi, trong một bài giảng, cô được nghe nói về tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta. Tình yêu ấy dạt dào đến độ Ngài tha thứ tất cả với điều kiện là chúng ta phải hoàn toàn phó thác trong vòng tay của Ngài.
Bài giảng được minh họa bằng những sự kiện cụ thể, qua đó, Chúa đã tha thứ cho người đàn bà Samaria, cho Mađalêna, cho người thiếu phụ ngoại tình, cho Phêrô và cho tên trộm lành vào những giây phút cuối cùng trên thập giá.
Bài giảng này đã tác động mạnh mẽ trong tâm hồn cô gái, khiến cô rưng rưng như muốn khóc. Sau đó cô gái đã dọn mình lãnh nhận bí tích giải tội và quyết tâm làm lại cuộc đời. Giờ đây cô như một em nhỏ, đặt mình vào bàn tay Chúa và để Ngài dẫn dắt. Bởi vì Chúa luôn yêu thương những kẻ bé mọn và yếu đuối. Ngài yêu thương chúng ta với tất cả những khổ đau và vấp ngã của chúng ta. Điều quan trọng là chúng ta phải biết chạy đến với Ngài vì Ngài là tình yêu.
Từ câu chuyện trên, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng sáng hôm nay với lời xác quyết của Chúa :
- Ta mang lửa đến trần gian và chỉ mong sao cho lửa ấy bừng cháy lên.
Theo các thánh giáo phụ thì ngọn lửa Chúa Giêsu đem vào thế gian là ngọn lửa của Chúa Thánh Thần, đã bừng lên trong ngày lễ Hiện xuống… Chính ngọn lửa này đã làm phát sinh ra Giáo hội, là dụng cụ mà Ngài dùng để thanh lọc và thánh hóa nhân loại.
Thế nhưng chúng ta cũng có thể hiểu ngọn lửa nói đây là ngọn lửa tình yêu mà Ngài đã thắp lên trong cõi lòng mỗi người.
Chính ngọn lửa này đã bùng cháy trong tâm hồn hai môn đệ đi Emmaus trong ngày Phục sinh, để các ông nhận biết Chúa. Và cũng ngọn lửa ấy đã bùng cháy lên trong tâm hồn cô gái tội lỗi, khi cô được nghe biết về tình thương của Chúa, để rồi dứt khoát với dĩ vãng tăm tối của mình.
Với chúng ta cũng vậy, Chúa cũng đã đặt để trong cõi lòng chúng ta ngọn lửa tình yêu của Ngài giống như ngọn nến chúng ta lãnh nhận ngày chịu phép rửa tội. Thế nhưng ngày hôm nay, ngọn lửa đó đã tắt ngấm hay chỉ còn leo lét như một ngọn đèn thiếu dầu?
Chính vì thế chúng ta hãy cầu xin Chúa gia tăng sức mạnh, để ngọn lửa tình yêu của Ngài được bùng cháy trong tâm hồn, nhờ đó mà bản thân chúng ta được sưởi ấm và cuộc đời chúng ta tìm thấy đường nẻo phải đi.

 

TN20-C47: Ánh sáng và bóng tối – ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Một đạo sĩ Ấn Độ hỏi các đệ tử: “Này các con, các con có biết khi nào đêm tàn và ngày xuất: TN20-C47 FB

Một đạo sĩ Ấn Độ hỏi các đệ tử: “Này các con, các con có biết khi nào đêm tàn và ngày xuất hiện không?”. Các môn đệ thi nhau trả lời. Có người hỏi: “Thưa Thày, có phải đêm tàn và ngày xuất hiện là khi mà nhìn một đoàn vật từ xa người ta có thể phân biệt được con nào là con bò, con nào là con trâu không?”. Thày lắc đầu: “Không phải”. Một đệ tử khác lại hỏi: “Thưa Thày, có phải đêm tàn và ngày xuất hiện, ánh sáng tới và bóng tối lui, là khi từ xa nhìn vào vườn cây người ta có thể phân biệt cây nào là cây xoài, cây nào là cây mít không?”. Thày vẫn lắc đầu. Không đệ tử nào trả lời được câu hỏi. Lúc đó, đạo sĩ mới từ từ nói: “Đêm tàn và ngày xuất hiện, ánh sáng tới và bóng tối lui là khi nhìn vào mặt nhau, người ta nhận ra nhau là anh em”.
Thật kỳ lạ. Chúng ta đã biết nhiều loại ánh sáng như ánh sáng mặt trời, mặt trăng, ánh sáng đèn điện, đèn pin, ánh sáng đèn dầu, đèn cầy. Cả những ánh sáng tinh vi như tia hồng ngoại, tia X. Tất cả chỉ soi sáng cho thấy sự vật như nó là. Không có ánh sáng nào soi vào mặt một người xa lạ có thể biến người đó thành anh em mình cả. Thứ ánh sáng ấy ở đâu?
Mẹ Têrêxa có thể trả lời câu hỏi này. Một hôm, Mẹ ghé thăm một người đàn ông tội nghiệp. Ông sống trong một túp lều tồi tàn, lụp xụp. Bên trong lều là cả một bãi rác mênh mông. Mùng mền, chăn chiếu, quần áo hỗn độn, rách nát và hôi hám. Nhà cửa, đồ đạc phủ một lớp bụi dầy. Thế mà ông lão tự giam mình trong đống rác ấy. Ông ghét bỏ mọi người nên không lui tới với ai. Ông sống cô độc. Mẹ Têrêxa và các chị vào chào ông. Ông làm thinh không đáp. Thấy căn lều hỗn độn, bụi bặm, các chị xin phép ông dọn dẹp, ông không trả lời. Mặc kệ! Các chị cứ bắt tay vào dọn dẹp, xếp đặt, lau chùi. Thấy trong góc lều có một cây đèn, mẹ Têrêxa lấy ra lau chùi. Chùi sạch lớp bụi, mẹ kêu lên: “Ồ, cây đèn đẹp quá!”. Ông lão bỗng lên tiếng: “Đó là cây đèn tôi tặng vợ tôi nhân dịp đám cưới”. – Ông không thắp đèn lên sao?”. – Không, từ khi vợ tôi qua đời, tôi không bao giờ thắp đèn”. – Thế ông có muốn chúng tôi tới thăm ông mỗi ngày và thắp đèn cho ông không?”. Thấy các nữ tu tử tế, ông đồng ý. Từ đó, mỗi chiều các chị đều ghé thăm, truyện trò và thắp đèn cho ông. Dần dà, ông trở nên vui vẻ yêu đời. Ông nói chuyện cởi mở với các nữ tu. Ông đi lại thăm viếng hàng xóm. Mọi người đến với ông. Căn lều hiu quạnh trở lại ấm áp. Trước kia, căn lều tăm tối không phải vì ông không thắp đèn, nhưng vì ngọn lửa trong trái tim ông lịm tắt. Nay căn lều sáng lên niềm vui không phải vì ánh sáng ngọn đèn dầu, nhưng vì ánh sáng trong trái tim ông bừng lên. Trước kia ông thù oán, xa lánh mọi người vì ánh lửa trong trái tim tàn lụi. Nay nhờ các nữ tu nhen nhúm, ngọn lửa trong trái tim ông bừng lên và ông cảm thấy tha thiết yêu mến mọi người và mọi người cũng tha thiết yêu mến ông.
Thứ ánh sáng kỳ diệu ấy phát xuất từ trái tim. Ánh sáng ấy ta thấy thấp thoáng khắp các trang sách Tin Mừng. Khi người xứ Samaria nhân hậu cúi xuống băng bó vết thương cho người bị nạn, ánh sáng bừng lên. Hai người xa lạ nhìn vào mặt nhau và nhận ra nhau là anh em.
Chúa Giêsu mang ánh sáng này xuống trần gian. Và Người ước mong cho ngọn lửa yêu thương cháy bừng lên soi sáng cho thế giới: “Thày đã đến ném lửa vào trái đất, và Thày những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”. Lời ước mong thật tha thiết nhưng có pha lẫn ngậm ngùi. Phải chi lửa ấy đã bùng lên có nghĩa là lửa ấy chưa bùng lên cao, chưa lan ra xa.
Thật vậy, nhìn vào tình hình thế giới, chiến tranh không lúc nào ngơi. Thế kỷ 20 đã biết đến hai cuộc thế chiến với biết bao thiệt hại về người về của và nhất là về tình đoàn kết. Trong thập niên 80, chiến tranh lạnh giữa hai khối Đông-Tây chấm dứt, người ta tưởng rằng giấc mơ hòa bình thế là đã thành sự thật. Nhưng không, chiến tranh vẫn tiếp diễn ở Rwanda, Kosovo, ở Trung Đông… ánh sáng vẫn chưa soi tới những vùng chiến tranh. Bóng tối hận thù vẫn còn vây phủ. Những người anh em vẫn còn chém giết nhau.
Nhìn vào bản thân mình, ta thấy trong ta cũng còn nhiều vùng mà ánh sáng Tin Mừng chưa soi dọi tới. Trong lòng ta vẫn còn những ngõ ngách chứa đầy bóng tối ghen ghét, hận thù. Nên ta nhìn ra chung quanh mà ít gặp được anh em mình.
Lời Chúa hôm nay tha thiết kêu gọi ta. Hãy khơi cho ngọn lửa yêu thương bừng sáng lên. Hãy đẩy lùi bóng tối chiến tranh, chia rẽ, hận thù. Hãy mở rộng tâm hồn đón nhận và ban phát yêu thương, xóa đi những nhỏ nhen, ích kỷ. Để mọi người nhìn nhau là anh em thực sự. Bấy giờ đêm mới tàn và ngày mới bắt đầu. Bóng tối nhường chỗ cho ánh sáng, ánh sáng rực rỡ phát xuất từ những trái tim chan hòa yêu thương.
Lạy Chúa, xin hãy nhóm lên trong trái tim con ngọn lửa yêu thương của Chúa. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1) Bạn đang sống trong ánh sáng hay bóng tối?
2) Bạn có muốn góp phần đem ánh sáng của Chúa đi gieo rắc khắp nơi không?
3) Bạn bắt đầu chiếu sáng bằng cách nào?

 

TN20-C48: Tình yêu

Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy …. Đó là lời Chúa Giêsu nói trong bài Tin Mừng. Ngọn: TN20-C48

“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong lửa ấy cháy bùng lên”. Đó là lời Chúa Giêsu nói trong bài Tin Mừng. Ngọn lửa Chúa Giêsu ném vào thế giới là gì ? Chúa muốn ám chỉ điều gì ?
Trước hết chúng ta biết : lửa là một hình ảnh rất quen thuộc và có nhiều ý nghĩa khác nhau đối với nhiều dân tộc. Người Việt Nam quan niệm rằng : trái đất chúng ta đang sống được cấu tạo bởi năm chất : kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, tức là sắt, gỗ, nước, lửa và đất. Theo văn chương Ba Tư, người ta tìm ra lửa trong một cuộc chiến với con rồng. Chuyện kể rằng : một dũng sĩ Ba Tư đã dùng một hòn đá lớn để ném con rồng, nhưng vì ném không trúng đích, hòn đá rớt trên một phiến đá khác và tẹt ra lửa. Hầu hết các chuyện thần thoại đều kết luận : lửa là một món quà quí giá Tạo Hóa đã ban tặng cho con người. Một số người xưa lại tưởng rằng : lửa là một vị thần, nên đã tôn thờ gọi là “ Bái Hỏa”.
Nói đến lửa, ai cũng biết tầm quan trọng và công dụng của nó là sáng, nóng, sưởi ấm, đốt cháy, thiêu hủy. Ai trong chúng ta cũng cần lửa. Lửa rất có ích lợi, nhưng cũng rất nguy hiểm. Nó dùng để nấu nướng thức ăn và chế biến nhiều thứ khác, nhưng nó cũng có thể đốt cháy nhà cửa và thiêu rụi tài sản của chúng ta. Vì thế, đâu đâu cũng có sở cứu hỏa, sở chữa cháy, và nhắc nhở chúng ta đề cao cảnh giác : phòng cháy, chữa cháy, đừng đùa giỡn với lửa.
Ngoài lửa vật chất ra, trong lòng mỗi người còn có một thứ lửa khác, là lửa dục, lửa tham. Lòng dục và lòng tham đó còn bén nhạy và mãnh liệt mạnh mẽ hơn lửa vật chất. Chẳng hạn : có phải mỗi khi trong lòng chúng ta muốn gì thì như có một sức mạnh như lửa không ngăn cản nổi không ? Hoặc là khi chúng ta bực tức điều gì, thì có phải lòng chúng ta sôi sục lên không ? Vì thế người ta nói : “Người gì mà nóng như lửa”, hay “nóng như lửa đốt”… Nhất là khi chúng ta để cho lòng dục lòng tham bùng lên, có phải nó sẽ gây nhiều tai hại không ?
Trong Kinh Thánh, chúng ta thấy nhiều lần nói đến lửa với nhiều ý nghĩa khác nhau. Trong Cựu ước, lửa được dùng để chỉ Thiên Chúa hiện diện, chỉ sự tinh luyện xấu xa tội lỗi, và cũng ám chỉ hình phạt của Thiên Chúa. Trong Tân ước, cũng nhiều lần nói đến lửa, đặc biệt thánh Giacôbê đã mô tả cái lưỡi của con người là một ngọn lửa, vì tác dụng của nó có thể hại hơn cả lửa. Cái lưỡi ở đây ám chỉ những lời nói độc địa, ghê gớm, chẳng hạn : một lời nói vu oan có thể giết hại cả một con người. Một lời hành tỏi, nói hành nói xấu làm cho người khác phải buồn phiền, đau khổ, mất ăn mất ngủ…
Đặc biệt hơn nữa, ngọn lửa còn được dùng để diễn tả tình yêu. Đây chính là ý nghĩa của ngọn lửa mà Chúa Giêsu muốn nói trong bài Tin Mừng. Chúa Giêsu đến trần gian như ngọn lửa cứu độ. Ngọn lửa cứu độ đó là tình yêu của Ngài. Tình yêu của Ngài đối với loài người là ngọn lửa không bao giờ tắt, như trong kinh cầu Trái Tim Chúa Giêsu có câu : “Trái Tim Đức Chúa Giêsu là lò lửa yêu mến hằng cháy”. Thực vậy, khi Chúa Giêsu nhập thể, Ngài đem ngọn lửa tình yêu từ trời xuống trần gian. Lửa đó đã thắp lên tại Bêlem, lửa đó không ngớt thiêu đốt Chúa ba mươi năm ẩn dật ở Nagiaret, lửa đó đã bừng cháy trong hồi thương khó để lan tỏa cho hết mọi người. Nói rõ hơn, vì yêu thương nhân loại, Chúa Giêsu đem lửa tình yêu xuống thế gian. Ngài muốn mọi người tiếp nhận được ngọn lửa yêu thương của Ngài. Vì thế, Chúa nói : Ngài mong muốn biết bao ngọn lửa tình yêu của Ngài được bùng cháy lên.
Chúa Giêsu đem ngọn lửa tình yêu đến, vậy tại sao cũng trong bài Tin Mừng này Chúa lại nói : “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao ? Thầy bảo cho anh em biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ”. Lời này có ý nghĩa thế nào ? Có mâu thuẫn không ? Chúng ta cần hiểu cho đúng.
Thật sự trong ba năm giảng dạy, chúng ta thấy Chúa chỉ luôn kêu gọi mọi người sống hiền lành khiêm nhường, đừng đố kỵ, ganh ghét, hận thù nhau, nhưng hãy thông cảm tha thứ và yêu thương nhau. Chẳng thấy Chúa đem gươm giáo đến, cũng chẳng thấy Chúa thúc đẩy người ta gây chiến, bất hòa, chống đối, chém giết nhau. Vậy lời Chúa tuyên bố trên đây chúng ta phải hiểu rằng : Chúa chỉ là nguyên nhân, là cái cớ để người ta chống đối những người tin theo Chúa, tức là vì Chúa mà người ta chống đối chém giết nhau.
Nói rõ hơn, Tin Mừng của Chúa được rao giảng, có người hoan hỉ đón nhận và có người ra sức chống đối, nghĩa là Tin Mừng của Chúa đem lại an bình và yêu thương, nhưng nó vẫn phải va chạm với thái độ của một số người chống đối. Những người chống đối lại va chạm với những người theo Chúa, thế là có sự chia rẽ nhau. Đó là trong xã hội. Ngay cả trong gia đình cũng có thể xảy ra sự chia rẽ, vì có người theo và có người không theo Chúa. Đây là sự chia rẽ vì niềm tin, vì lối sống đạo. Tình trạng này đã xảy ra thời Giáo Hội sơ khai, và vẫn xảy ra luôn mãi. Lịch sử các vị tử đạo đã chứng minh : những người theo đạo thường bị chính quyền và đồng bào mình ghét bỏ. Hoặc là trong một gia đình ngoại giáo, có một người trở lại đạo, là để kết hôn với người có đạo chẳng hạn, cha mẹ không bằng lòng. Thế là có sự xung khắc giữa cha mẹ và chính người con của mình. Như vậy, hai lời Chúa tuyên bố trong bài Tin Mừng hôm nay, không mâu thuẫn mà bổ túc cho nhau. Chúng ta phải rao giảng, phải đem tình yêu của Chúa đến cho mọi người, dù gặp hoàn cảnh nào cũng không được lùi bước, dù phải rướm máu hay đổ máu.
Chúa Giêsu đem lửa yêu thương đến trần gian và Ngài mong muốn ngọn lửa ấy bùng cháy lên. Đó là tâm nguyện của Chúa và cũng là trách nhiệm của mỗi người chúng ta. Nếu con người cần cơm bánh để sống, thì họ cũng cần tình yêu để tồn tại. Nếu con người cần áo quần để che thân, thì họ cũng cần tình thương để sưởi ấm. Nếu con người muốn được bình an để vui sống, thì chỉ có tình thương mới đáp ứng được ước muốn đó. Đó là bổn phận của chúng ta.
Nhưng chúng ta hãy nhớ : “Không ai có thể cho người khác cái mình không có”, nghĩa là chỉ khi nào ngọn lửa yêu thương thực sự sáng lên nơi mỗi người chúng ta, trong gia đình chúng ta, trong cộng đoàn chúng ta, trong Hội thánh chúng ta thì chúng ta mới có thể loan báo và đem tình yêu thương đến cho những người khác.

 

TN20-C49: Thánh danh Giêsu là cớ mâu thuẫn

Lời Chúa trong Phúc âm hôm nay có lẽ là một trong những đoạn Thánh kinh phức tạp và mâu: TN20-C49

Lời Chúa trong Phúc âm hôm nay có lẽ là một trong những đoạn Thánh kinh phức tạp và mâu thuẫn nhất trong toàn bộ Thánh kinh. Khi Chúa cứu thế sinh ra tại Bêlem, các sứ thần ca hát vang dội: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm. Khi Chúa sai các môn đệ đi từng hai người một, Chúa bảo các ông chào dân chúng với lời chúc bình an. Khi Chúa sống lại từ cõi chết, lời đầu tiên Chúa nói với các môn đệ là lời chào bình an. Và khi về trời, Chúa hứa ban bình an cho các tông đồ.
Tuy nhiên trong Phúc âm hôm nay, Chúa xác quyết là Người đến không phải đem bình an, nhưng là chia rẽ : Anh em tưởng rằng Thày đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ (Lc 12:51). Điều đó có vẻ mâu thuẫn với sứ mệnh và đường lối của Chúa cứu thế. Vậy làm sao ta giải quyết được mâu thuẫn này? Nếu hiểu bình an theo quan niệm người đời, người ta sẽ thấy lời Chúa mâu thuẫn.. Bình an theo nghĩa thánh kinh không hiểu theo nghĩa vắng bóng chiến tranh. Bình an theo nghĩa thánh kinh là không thoả hiệp với sự dữ và tội lỗi. Tiên tri Giêrêmia trong bài thánh kinh cưụ ước hôm nay được Chúa sai đến báo cho dân là thành Giêrusalem sẽ bị phá huỷ vì tội lỗi dân thành. Giêrêmia bị tố cáo là phản bội vì làm nhụt khí của dân thành với thái độ chủ bại. Kết quả là tiên tri Giêrêmia bị bắt và tống ngục. Sau đó Tiên tri được cứu thoát. Chính cuộc đời Chúa cứu thế là những mâu thuẫn với những chế độ hiện hành. Vua Hêrôđê khi nghe tin Chúa cứu thế giáng sinh, vì sợ mất ngai vàng nên đã ra lệnh giết các trẻ em từ hai tuổi trở xuống. Khi Đức Mẹ dâng Chúa vào đền thờ, tiên tri Simêon tiên báo là con trẻ này sẽ nên cớ cho nhiều người chống đối. Cuộc đời Chúa cứu thế trong ba năm giảng dạy là những chuỗi ngày bị người ta chống đối, bách hại và cuối cùng bị lên án tử hình. Như vậy phải chăng Chúa đến gây ra ngọn lửa bất hoà và chia rẽ trong thế gian ?
Ngay cả trong một gia đình, cũng có sự chia rẽ vì danh Chúa. Đọc lịch sử các thánh giúp ta hiểu tại sao những phần tử trong một gia đình lại phân rẽ, chống đối nhau. Nhiều vị thánh khi tận hiến đời mình cho Chúa đã bị gia đình phản đối và tẩy chay. Trong cùng một gia đình khi có những người tin theo Chúa, nghe lời Chúa giảng dạy, còn những người khác không tin, cũng có thể gây bất hoà, chia rẽ. Đọc lịch sử Giáo hội, ta thấy đạo Chúa thường bị chống đối. Những cuộc bách hại đạo là bằng chứng của những chống đối. Những người Kitô hữu muốn cải cách Giáo hội, muốn đem lửa Kitô giáo làm bừng cháy trong lòng thế giới (Lc 12:49) cũng bị tẩy chay và chống đối. Thánh Têrêsa thàng Avila, Thánh Jean d’Arc, thánh I-nhã đã bị lên án và chống đối chỉ vì muốn cải cách Giáo hội. Như vậy ta thấy càng theo sát gót chân Chúa bao nhiêu, người ta càng bị chĩa mũi giùi bấy nhiêu. Tại sao người ta bị chống đối khi mang lửa đức tin vào thế gian? Bởi vì người ta không muốn chấp nhận hi sinh cố gắng, không muốn thay đổi cách sống, không muốn trả cái giá để làm môn đệ Chúa, nếu muốn sống theo đường lối phúc âm. Khi người ta muốn sống theo đường lối phúc âm, khi cái lối sống của ta khác người đời, ta sẽ bị nghi ngờ, tẩy chay và kì thị. Giáo lý của Chúa giảng dạy, đường lối của Chúa đi đã đem lại tẩy chay và chống đối, nghĩa là đem lại chia rẽ ngay cả giữa các phần tử trong gia đình. Sứ mệnh của Chúa là đem bình an đến cho nhân loại. Tuy nhiên để có được bình an, người ta phải chấp nhận giáo lý của Chúa và đường lối Chúa trước đã.

 

TN20-C50: HÃY TẶNG TÌNH LÚC MÌNH CÒN SỐNG

Trời reo nắng thì chim reo tiếng sang !
Xuân có hồng thì tôi có tình tôi.
Tiếc nhau chi, mai mốt đã xa rồi;
Xa là chết; hãy tặng tình lúc sống.
Chớ chia rẽ - dễ gì ta gặp mộng !
Những dòng đời muôn kiếp đã chia trôi
( thơ Xuân Diệu )
 

Nói như nhà thơ: xa là chết. Chết về tinh thần. Chết cả về thể xác. Nhưng, có chết như thế nào đi: TN20-C50

Nói như nhà thơ: xa là chết. Chết về tinh thần. Chết cả về thể xác. Nhưng, có chết như thế nào đi nữa, thì tình mình đâu đã hết. Tình chỉ chết và hết, khi người mình cứ rẽ chia. Rẽ đám – phân chia, là những nghịch lý/nghịch thường Chúa vẫn dạy, như hôm nay.
Lời Chúa dạy hôm nay, thoạt nghe có vẻ như mâu thuẫn, rất khó hiểu. Khó hiểu thật đấy, nhưng vẫn nhớ Tin Mừng Lời Chúa luôn được thần hứng. Tin Mừng được ghi chép như kinh nghiệm thần hứng về đời sống của cộng đoàn các kẻ tin. Cụ thể hơn, Lời Chúa hôm nay nói về việc chia rẽ trong cộng đoàn dân Chúa vào thời trước. Chí ít, là cộng đoàn thân thương gia đình, nay vui sống. Trình thuật Lời Chúa hôm nay cũng nói đến ngọn Lửa Chúa đem đến với địa cầu. Lửa ở đây, có nên hiểu như lửa cháy nóng chia rẽ chăng ?
Lửa ở đây, trước tiên, không là lửa của dịch bệnh đốt phá rừng nhiệt đới vào mỗi mùa khô. Lửa ở đây, có sức nóng bừng bừng, là ánh sáng gột rửa, đầy thanh thoát, Chúa gột tẩy. Lửa gột tẩy Chúa gửi đến, là lửa bừng cháy nơi bụi rậm ngày xưa Môsê nghiệm thấy. Và Lửa gột tẩy nói đến hôm nay là lửa cháy thành cột tháp tùng dân Do Thái nơi sa mạc lưu đày. Lửa nói ở đây, mang hình lưỡi có khí thế bừng bừng ngày lễ Ngũ Tuần, rất tâm tư.
Và, “Lửa” còn diễn tả Tình Yêu nóng cháy Chúa mang đến với môn đệ, với Hội Thánh, với  cả mọi người. Lửa Ngài mang đến không đốt phá hoặc mang tính hủy hoại xóa bỏ, mà là ngọn lửa lung linh đưa dẫn con người về với đổi thay, giải thoát.   
Tin Mừng hôm nay, nhắc lại sự chia rẽ xảy ra vào ngày Chúa đến. Đây là khẳng định khơi dậy nhiều tranh luận. Những tranh luận làm sống lại mọi xung khắc xảy đến với nhiều người cùng tin vào Chúa như: Do Thái giáo, Hồi giáo ở Trung Đông; Công Giáo, Chính Thống Giáo lẫn Đạo Hồi, ở Nam Tư; hoặc tệ hơn, như: Ấn giáo, Hồi giáo và Thiên Chúa Giáo ở Ấn Độ...
Thoạt nhìn, ta cứ tưởng như Tin Mừng muốn nhắc nhở đôi điều đi ngược lại những gì Chúa đề cập nơi Bài giảng Trên Núi. Hoặc, vào buổi Tiệc Tạ Từ trước ngày Chúa chịu nạn. Và, cũng khác hẳn bức thư tâm tình thánh Phao-lô gửi đến giáo đoàn Ê-phê-sô. Xét cho cùng, đây không là sấm trạng hoặc như một mặc khải nào đó cốt tỏ bày ý định của Đức Chúa ở Trên Cao, nhưng chỉ là văn phong miêu tả những kinh nghiệm rất thực của Giáo Hội lúc xưa vẫn sống.
Trình thuật hôm nay thánh Luca muốn viết lại Lời Ngài nói lúc ban đầu cho đến mãi hôm nay. Hôm nay, ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều cá nhân riêng lẻ cũng như cộng đoàn rộng lớn theo chân Đức Chúa vẫn bị coi như mối đe dọa chính đối với các nhà cầm quyền ở trần gian. Nhiều nhóm quyền lực nơi gian trần và ở hầu hết các tôn giáo khác đều hành xử cùng một cách như thế. Cụ thể là, vào thể kỷ XX, có những chế độ độc trị vẫn chủ trương gây chia cách bách hại khối đoàn kết tôn giáo, chỉ vì những người anh em này vẫn chung lưng kết tụ thành khối, thành đoàn để giúp nhau sống niềm tin mình đang giữ.
Đối với giới cầm quyền này, dân con Đạo Chúa cứ bị coi như nhóm hội/đoàn thể đáng ngờ vực, gây nhiều sợ hãi. Chính vì lý do này mà có lần nhà độc đoán Stalin đã ra mặt nhạo báng Đức Giáo Hoàng thời ấy bằng câu hỏi: “Phía các ông có được bao nhiêu sư đoàn ?... ” Kể ra, họ sợ hãi người Công Giáo cũng phải; bởi con dân nhà Đạo dù chẳng bao giờ dùng đến súng đạn mà chỉ cậy nhờ niềm tin tưởng vào Chúa vào Mẹ của mình thôi cũng đủ sức làm sụp đổ cả khối quyền lực trần thế ở Trung và Đông Âu.
Ngược giòng lịch sử, người người hẳn thấy rõ rất nhiều tín hữu Đức Ki-tô và gia đình chấp nhận khổ hình chỉ vì quyết tâm tuân thủ đường lối hy sinh bác ái mà Chúa vẫn dạy. Bằng chứng là, biết bao vị thánh đã xả thân hy sinh tánh mạng để bảo vệ cho đức tin. Vì thế, sống Đạo theo đúng phong cách của Tin Mừng khó hơn nhiều. Và cũng vì thế, số người tử vì đạo ngày hôm nay có thể nhiều hơn các thế kỷ về trước.
Dù có chết vì đạo hay không, sứ điệp mà tín hữu Đức Ki-tô đưa ra luôn là chủ trương bất bạo động. Là tín hữu Đức Ki-tô, ta chỉ quyết một lòng mang tình yêu, lòng thương xót và sự an vui hài hoà đến với hết mọi người, bất kể họ có là Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ. Bản chất người Ki-tô hữu nhất cử nhất động, luôn an hoà không dùng bạo lực. Sứ điệp làm chứng cho Tình yêu Chúa vẫn luôn là những thách thức đánh thẳng vào mọi bất công, tham ô, kỳ thị, vào những lạm dụng, bất lương, vào cả những ai dám xúc phạm đến phẩm giá con người nữa.
Vì thế, vai trò của người rao truyền Lời Chúa vẫn là “làm hòa với những người khốn khó, gây khó với những người chỉ ăn chơi hưởng lạc”. Một khi Hội Thánh Chúa quyết tâm rao giảng và sống như Tin Mừng Ngài đã dạy, thì mọi tranh chấp hay chia rẽ vẫn là chuyện khó tránh. Hội Thánh Chúa chẳng bao giờ muốn tạo ra tranh chấp, chia cách. Và dân con nhà Đạo chẳng bao giờ có ý định phân ly, rẽ đám bất cứ ai.
Nói cho cùng, tôn giáo không chủ trương chia rẽ. Chỉ các phe nhóm giả dạng đạo giáo này nọ hoặc tà giáo mới tính chuyện chia rẽ để trị. Các giáo phái này luôn đề cập đến trạng thái gọi là “nó và ta”, tức lúc nào cũng nghĩ đến: “phe ta và phe nó”. Đạo, thật ra, không khi nào gây chia rẽ, cũng chẳng tạo khổ đau cho bất cứ ai. Chỉ những người tự cho mình là giáo dân ngoan đạo hoặc đạo giáo “chính chuyên” có lẽ mới là người chuyên gây rẽ phân. Vì, họ luôn tự hào là mình chính quy đạo đức. Và chỉ mình họ mới giữ đúng và giữ đủ luật lệ. Và chỉ mình mình mới là người làm đúng. Còn lại, những người khác đều đã trật đường rầy. Những người khác đều lạc đạo. Hoặc, cấp tiến, quá khích. Cuối cùng ra, những kẻ chủ trương chia rẽ mới chính là ngư ông ngồi hưởng lợi.     
Tóm lại, Đạo của Chúa không gây chia rẽ. Nhưng bảo vệ sự thật. Luôn rao truyền sự công chính. Lúc nào cũng nhất định bảo vệ phẩm giá và tự do của con người. Chủ trương này, đường lối ấy đương nhiên sẽ lôi kéo theo sau nhiều đối kháng, những tị nạnh. Chính vì thế, mới có quả quyết của Chúa nơi hiến chương được ban bố khi Ngài khởi đầu cuộc đời công khai rao giảng:”Phúc cho ai bị bách hại vì Tin Mừng”. Hiến chương tuy lạ, nhưng là hiến pháp có thật.
Chung vui Tiệc thánh hôm nay, ta cảm tạ và biết ơn các thánh đã xả thân bảo vệ sự sống. Bảo vệ cuộc sống có niềm tin và yêu thương. Cảm tạ và biết ơn các đấng đã chiến đấu cho sự thật. Chiến đấu cho công bằng và lẽ phải. Chiến đấu để duy trì phẩm giá con người. Chiến đấu để bảo tồn tự do con cái Chúa. Đó là quyền lợi của họ. Đó cũng là bổn phận. Bổn phận làm nhân chứng cho Tình Chúa yêu ta.
Thành thử, với gương lành Đức Ki-tô, Đấng từng là đối tượng cho nhiều khích bác, bạo lực, ta được khích lệ duy trì bảo vệ sự đoàn kết và an bình nội tâm. An bình mà chỉ Đức Ki-tô mới giúp ta vững tâm tiến bước.
Trong hân hoan tiến bước theo Chúa, ta cùng bầu bạn hát lên bài ca bừng sáng thuở nào:
Đàn lên cung xuân thêm nhựa sống
Hát vang cho lan trong gió đưa ngàn muôn lối
Hằng mong hoa xuân luôn bừng sáng
Thắm tô non song ánh huy hoàng thêm đẹp tươi ( Hoàng Trọng – Hoa Xuân )
Hát vang cho thêm nhựa sống. Và, hoa xuân trong lòng người luôn bừng sáng. Bừng sáng lên để không ai còn hãi sợ lửa rẽ chia. Nhưng sẽ vui mừng tiếp đón “Lửa tin yêu”, “Lửa kết đoàn” mà Chúa sáng soi cho hết mọi người. Với Lửa ấm ngọt ngào ấy, ta biết “tặng tình, khi mình còn sống”, dù “dòng đời muôn kiếp đã chia trôi”.
Lm. PHAN ĐỖ THỤC LINH, MAI TÁ diễn dịch.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây