Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 TN-C Bài 101-116 Thầy còn một phép

Thứ bảy - 17/08/2019 10:46
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 TN-C Bài 101-116 Thầy còn một phép rửa phải chịu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 TN-C Bài 101-116 Thầy còn một phép rửa phải chịu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 TN-C Bài 101-116 Thầy còn một phép rửa phải chịu
TN20-C101: ''Phải chi lửa ấy đã bùng lên!'' 1
TN20-C102: Sứ mệnh – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 3
TN20-C103: Phải chi lửa ấy đã bùng lên! 6
TN20-C104: Ngọn lửa tình yêu – Lm Giuse Nguyễn Hữu An. 12
TN20-C105: Đời sống của người môn đệ Chúa Kitô. 16
TN20-C106: TIN MỪNG (Lc 12: 49-53) 18
TN20-C107: SỨC MẠNH CỦA LỬA.. 20
TN20-C108: LỬA TRỜI. 25
TN20-C109: TIÊN TRI LÀ "NGƯỜI TẠO RA RẮC RỐI". 30
TN20-C110: Khi vui muốn khóc – Đỗ Lực, OP. 32
TN20-C111: Thời Gian Quyết Định. 38
TN20-C112: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI 40
TN20-C113: THẬP GIÁ VÀ NIỀM VUI 46
TN20-C114: Chúa Nhật XX thường niên – Năm C.. 47
TN20-C115: Hai cách hiểu câu khó hiểu. 53
TN20-C116: Nghịch lý của Thập giá. 57

 

TN20-C101: ''Phải chi lửa ấy đã bùng lên!''

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Báo Tuổi Trẻ trong bài “Một cái chết bắt đầu cho sự sống” đã viết về anh Nguyễn Đức Minh như TN20-C101

Báo Tuổi Trẻ trong bài “Một cái chết bắt đầu cho sự sống” đã viết về anh Nguyễn Đức Minh như sau:
“... Vật vã với cơn đau ngày càng tăng, từ đầu năm anh tìm đến khoa giải phẫu của Trường Đại Học Y Dược rồi về nhà lập tờ di chúc, trong đó chỉ có 3 điều ước mong: hiến xác, đề nghị gia đình không làm đám tang lớn để lấy tiền giúp người khốn khó và dành những vật dụng riêng gồm máy đánh chữ, cassette, ampli, dụng cụ học tập của Câu lạc bộ Bừng Sáng. Chị hai của Đức Minh cho biết: “Em tôi lo gia đình không thực hiện lời hứa nên đã bắt cha mẹ ký xác nhận cho xác em mới chịu lên bàn mổ. Trước khi mổ, em còn dặn bác sĩ viện trưởng có gì thì đưa xác em đi ngay để gia đình khỏi đổi ý...”
Mong ước của anh Minh giúp chúng ta phần nào nhận ra được những khao khát của Chúa Giêsu trước khi bước vào cuộc Thương Khó: “Thầy ước mong phải chi lửa ấy cháy bùng lên!” Chính Đức Giêsu đã khẳng định sứ mạng của Ngài: Ngài đến để ném lửa trên măt đất, và Ngài ước mong phải chi Lửa ấy đã bùng lên. Ngọn lửa Đức Giêsu muốn nhóm lên không phải là ngọn lửa của án phạt và huỷ diệt, không phải là thứ lửa từ trời mà Gioan và Giacôbê định xin đổ xuống trên một làng của xứ Samari. Đây là ngọn lửa vẫn bừng cháy trong tim Ngài, lửa Thánh Thần, lửa của yêu thương, lửa hâm nóng hai môn đệ trên đường Emmau đang tuyệt vọng.
Ngọn lửa ấy, có lẽ rất cần chạm đến cuộc đời chúng ta. Vì cuộc đời quanh ta vẫn còn đó những bóng tối của đọa đầy, của bất công. Vì cuộc đời quanh ta vẫn còn đó những người đang thất vọng chán chường. Phải chi ngọn lửa của Đức Kitô luôn được thắp sáng nhờ những người môn đệ của Chúa. Những con người luôn làm cho ngọn lửa ấy mãi bừng cháy lên trong thế giới quanh ta.
Vâng, sự trăn trở và ước mong cho ngọn lửa ấy bừng lên dường như vẫn đang là lời mời gọi thiết tha mà Chúa muốn nơi chúng ta: “Phải chi lửa ấy đã bừng lên!” Chúa vẫn mời gọi chúng ta thực hiện niềm ước mong mà Chúa đã suốt đời ôm ấp, đó là làm cho thế giới trở nên ấm áp hơn, cho con người biết sống cho nhau và vì nhau. Cho con người biết lấy lưỡi gươm mà rèn nên lưỡi cầy. Cho công lý ngự trị và hoa bác ái nở rộ tràn lan trên mặt đất.
Nhưng, để có thể gieo rắc ngọn lửa và ánh sáng, là phải chấp nhận bị khước từ và đe doạ. Chính Chúa khi còn tại thế đã linh cảm những gì xảy ra cho đời mình. Chúa sẽ phải chịu một phép rửa kinh khủng, sẽ phải dìm mình thật sâu trong nỗi khổ đau của cô đơn phản bội.
Hôm nay, Chúa lại mời gọi chúng ta ném lửa trên mặt đất và chấp nhận đối đầu với sức mạnh của bóng tối:
Bóng tối của bất công, sa đoạ và tuyệt vọng.
Bóng tối của hận thù, cục bộ và chia rẽ.
Bóng tối của nghèo nàn và lạc hậu.
Bóng tối ở ngay trong lòng mình.
Đôi khi bóng tối quá dày đặc mà ngọn lửa của chúng ta lại qúa yếu ớt, khiến chúng ta cảm thấy sợ hãi. Nhưng sau đêm dài là ánh bình minh. Sau gian khó hy sinh là những ngày gặt hái tươi vui. Như Chúa khi bị treo trên thập tự giá. Khi bị giam trong mồ. Bóng tối tưởng như đã nuốt chửng được Chúa, nhưng ngọn lửa Phục sinh đã bừng lên giữa đêm đen.
Xin Chúa giúp chúng ta luôn can đảm thắp sáng ngọn lửa yêu thương giữa đêm đen của ích kỷ hận thù hôm nay. Xin cho ánh lửa tình yêu của chúng ta mãi lan toả đến tận cùng trái đất. Amen.

 

TN20-C102: Sứ mệnh – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Tiên tri Giêrêmia hoạt động tại Giêrusalem khoảng năm 627 tới sau năm 587 trước Công Nguyên. TN20-C102

Tiên tri Giêrêmia hoạt động tại Giêrusalem khoảng năm 627 tới sau năm 587 trước Công Nguyên. Tiên tri đã cảnh báo thần dân, vì tội lỗi mà họ đã phạm đến Chúa. Dân thành sẽ bị phá hủy bởi vua Nebuchadrezzar, người Babyon. Khi nghe cảnh cáo, nhiều nhà chức trách đạo đời cảm thấy khó chịu và muốn diệt trừ tiên tri Giêrêmia: "Chúng tôi xin bệ hạ cho lệnh giết người này, vì nó cố ý nói những lời làm lũng đoạn tinh thần chiến sĩ còn sống sót trong thành này và toàn dân. Thực sự tên này không tìm hoà bình cho dân, mà chỉtìm tai hoạ"(Gr 38, 4). Tuy nhiên, trong số đó có những người trung thành và biết lắng nghe lời sự thật. Thay vì bỏmặc tiên tri để chết trong giếng cạn, vua đã truyền cứu ngài ra khỏi giếng: Vậy vua truyền dạy Abđêmêlech người Êthiôpi rằng: "Hãy đem ba mươi người ở đây theo ngươi, và kéo tiên tri Giêrêmia ra khỏi giếng trước khi ông chết" (Gr 38, 10). Sống ở đời luôn có kẻ ưa người ghét là thế!
Trong cuộc sống, chúng ta luôn phải đối diện với hai chọn lựa: Tốt xấu, phải trái, lành dữ,đúng sai, yêu ghét và tội phúc… Dù tốt hay xấu, phía nào cũng có người phò theo. Phe lành và phe dữ song hành trong cuộc sống như bóng tối và ánh sáng. Làm sao chúng ta có thể rút ra những nhận định đúng đắn trong xã hội vàng thau lẫn lộn? Vì mỗi bên, mỗi phía đều có chia sẻ ít nhiều sự tốt lành và xấu dữ.Đâu là chân lý? Mỗi xã hội con người có những chủ trương riêng biệt. Văn hóa này có thể thích hợp ở đây, nhưng không thể thực hành nơi khác. Tất cả những nền văn hóa do con người kết cấu thành đều là tương đối. Các luật lệ do con người đặt ra cũng rất tương đối. Sự phán đoán về sự đúng sai của con người xã hội cũng bị ảnh hưởng bởi quan niệm sống mỗi vùng, nên dân luật hay tục lệ có thể thay đổi.
Cảm giác về tội lỗi phai nhạt dần. Chủ nghĩa cá nhân được đề cao. Con người xã hội tìm kiếm và thỏa mãn những gì mình ưa thích. Nhiều người chủ trương sống hưởng thụ và đáp ứng mọi nhu cầu cảm xúc thể xác. Những nét đẹp của Công Dung Ngôn Hạnh từ từ biến mất. Chúng ta không thể ngồi ung dung tự tại mặc cho con tạo xoay vần. Là các bậc phụ huynh, những người giáo dục và thầy dậy, chúng ta cố gắng khơi lên ngọn lửa cháy sáng soi đường. Hai ngàn năm trước, Chúa Giêsu đã đem lửa xuống thế gian và ước mong lửa bừng cháy: Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên (Lc 12, 49). Lửa của tình yêu và lửa của sự thật. Chúa là tình yêu. Chúa là sự thật và là sự sống.
Chúa Giêsu không dấu diếm sứ mệnh, Ngài nói: Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư? Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ (Lc 12, 51). Sự chia rẽ giữa sự thánh thiện và tội ác. Sự chia rẽ giữa người công chính và kẻ gian ác tội lỗi. Nhưng Chúa Giêsu không bỏ rơi một ai. Ngài hiện diện đó không phải để kêu gọi người công chính mà là kẻ tội lỗi. Hỡi những ai gồng gánh nặng nề, hãy đến, Chúa sẽnâng đỡ bổ sức cho. Chúa Giêsu là mục tử nhân lành, Ngài đến để đoàn chiên được sống và sống dồi dào.
Đối diện với cuộc sống đa dạng, đa văn hóa và đa tôn giáo của thời đại hôm nay, chúng ta cần học hỏi và nhận định rõ ràng hơn. Rất nhiều chính thể chủ trương triết thuyết tương đối. Họ cho rằng không có gì tuyệt đối là đúng hay sai và tốt hay xấu hoàn toàn . Theo họ, đúng hay sai, dựa vào sự quyết định của đa số áp đặt. Trước tiên, sự tốt xấu và lành dữ được đánh giá qua vấn đề lợi nhuận kinh tế. Chúng ta đang va chạm với những chủ trương cởi mở và qúa cấp tiến. Những điều đang xảy ra hằng ngày về vấn đề đạo đức luân lý. Thí dụ: Một số Tiểu Bang ở Hoa Kỳ, các nhà Lập Pháp đã bỏ phiếu đa số đồng thuận về hôn nhân đồng tính, về sự ngừa thai, phá thai không giới hạn, về án tử và trợ tử…
Về sự sống con người: Phe phò phá thai (pro-abortion) chủ trương bảo vệ tự do và quyền bình đẳng của phụ nữ, trong khi hủy diệt sự sống của thai nhi. Tuy nhiên, Phong trào phò sinh (pro-life) vẫn tiếp tục đấu tranh cho quyền tự do lương tâm và tựdo tôn giáo. Chúng ta căn cứ vào lương tâm và lời Mạc Khải để tìm đến sự thật. Sự thật có thể áp dụng chung cho mọi người, mọi dân và mọi nước. Chúng ta gọi là luật tự nhiên hay luật lương tâm đã được in ghi tận đáy tâm hồn.
Càng ngày càng có nhiều tệ nạn xảy ra trong xã hội con người. Các học viên được huấn luyện trở thành bác sĩ để cứu chữa con người, nhưng một số lại tìm cách hủy diệt mạng sống con người. Các công ty dược phẩm chế tạo thuốc để chữa lành, nhưng đồng thời cũng chế tạo các loại thuốc giết người. Các tòa án Tối Cao Pháp Viện, phải là nơi công lý được thể hiện, nhưng cũng lại đưa ra những chỉ thị và phán quyết độc hại hủy phá sự sống con người. Biết tin vào ai? Đâu là điều tốt hay điều xấu vàđiều lành hay điều dữ. Mỗi quan tòa đều có những lý luận sắc bén để biện luận và đôi khi ngụy biện để dấu diếm sự thật. Nhiều chính phủ dùng quyền lực của luật pháp để áp chế người dân đi ngược dòng đạo đức luân lý. Dù với quyền lực, họcũng không thể giết đi tiếng nói của lương tâm. Sự thật vẫn luôn là sự thật.
Thánh Phaolô khuyên dạy: Chúng ta hãy nhìn thẳng vào Đức Giêsu, Đấng khơi nguồn đức tin và làm cho nó nên hoàn tất; vì trông mong niềm vui đang chờ đón mình, Người đã chịu khổ giá, bất chấp sự hổ thẹn và rồi lên ngự bên hữu ngai Thiên Chúa (Dt 12, 2). Chúng ta tìm về nguồn chân thiện mỹ. Đức Kitô là Đấng trung gian giữa đất trời. Ngài là Lời của Thiên Chúa. Ngài mạc khải cho chúng ta về con đường cứu độ qua thập giá. Ngài đã chấp nhận cái chết đau thương trên khổ giá để minh chứng cho lời rao giảng và sự thật Nước Trời. Muốn đạt được quê trời, chúng ta cũng phải phấn đấu một cách kiên vững và gian khổ. Bước qua cửa hẹp. Từ bỏ mình và vác thập giá theo Chúa. Muốn bước theo Chúa, chúng ta không thể bắt cá hai tay. Cần có sự chọn lựa dứt khoát.Tránh kiểu sống nửa vời tương đối vô thưởng vô phạt.
Nhắm hướng nhìn lên. Suy gẫm sự khổ đau của Chúa Kitô trên thập giá để tìm hướng đi. Chúng ta có thể hỏi rằng tại sao Chúa phải chịu khổ nhục như thế? Chúa có thể chọn cách khác nhẹ nhàng hơn chứ! Không, Chúa Kitô đã ước ao hoàn tất chén đắng mà Cha đã trao đề kéo lôi chúng ta ra khỏi vực sâu của tội lỗi và sự chết: Anh em hãy tưởng nghĩ đến Đấng đã liều thân chịu cuộc tấn công dữ dội của những người tội lỗi vào chính con người của Ngài, ngõ hầu anh em khỏi mỏi mệt mà thất vọng (Dt 12, 3). Mầu nhiệm Chúa Kitô chịu chết và sống lại là một chân lý. Chân lý của sự giải thoát. Để tìm câu trả lời cho sự lành sự dữ, sự tốt sự xấu, tội hay phúc, chúng ta hãy tìm câu trả lời nơi Chúa Kitô chịu đóng đinh.
Các nhà làm luật phán đoán và quyết định những điều đối nghịch với đạo đức luân lý nhưng họ đâu có chịu trách nhiệm. Sự dữ, sư xấu và sự sai trái đổ trên đầu người dân thấp cổ bé miệng. Các nhà lập pháp đâu có cảm thông và hiểu thấu những sầu khổ oan khiên trong thâm tâm của mỗi người. Các quan tòa vui mừng mở rượu vang chúc mừng nhau, khi thành công bỏ phiếu thành luật về một vấn đề luân lý nghịch đạo. Họ đâu có lường được những hệ lụy khổ đau kéo theo từ dòng dõi này qua dòng dõi khác. Biết bao tâm hồn bị tổn thương và rơi vào cô đơn giá lạnh. Chỉ có một Người cảm thông nỗi đớn đau tuyệt vọng và có uy quyền chữa lành tâm hồn là chính Chúa Kitô trên thập giá.
Lạy Chúa, Chúa đang giang tay chờ đón chúng con. Chúa nới với chúng con rằng ai yêu nhiều sẽ được tha nhiều. Chúng con chạy đến với Chúa, xin Chúa dủ lòng thương xót chúng con.

 

TN20-C103: Phải chi lửa ấy đã bùng lên!

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng)
1. Nguội lạnh
 

Một thân xác nguội lạnh - là một thân xác đã chết. Đó là một thây ma. Một trái tim nguội lạnh TN20-C103 FB

Một thân xác nguội lạnh - là một thân xác đã chết. Đó là một thây ma.
Một trái tim nguội lạnh - là một trái tim vô cảm. Đó là một trái tim chai đá.
Một tâm hồn nguội lạnh - là một tâm hồn đen tối. Đó là một tâm hồn không tìm thấy được Lẽ Sống.
Một linh hồn nguội lạnh - là một linh hồn hấp hối. Đó là một linh hồn đã đánh mất Niềm Tin.
Khi thân xác, tâm hồn kiệt quệ, mòn mỏi, rã rời… Đó là lúc con người “hết lửa” !
Tất cả trở nên buốt giá, tê liệt, không còn sức sống !
Phàm, đã là con người, ai cũng hơn một lần đau khổ. Thế giới đông người nhưng có lúc ta vẫn thấy mình rất cô đơn. Có những giọt lệ âm thầm chỉ một mình ta, không hề có ai chia sẻ.
“Mà đêm nghe tiếng khóc ở đáy lòng.
Ở trong phổi, trong tim, trong hồn nữa..” (HMT).
Hết “lửa” là hết còn độ “nóng”. Hết còn “nhiệt”!
Hết còn “nhiệt thành”, hết còn “nhiệt tâm”, hết còn “nhiệt tình”, hết còn “nhiệt huyết” …
Tất cả trở nên giá lạnh, ủ rũ, thân tàn ma dại, đờ đẫn như kẻ mất hồn…
Bức tranh về cuộc đời trở nên ảm đạm, buông xuôi, còn sống nhưng coi như đã chết, sống còn đau khổ hơn cả cái chết.
"Một khối tình nức nở giữa âm u,
Một hồn đau rã lần theo hương khói,
Một bài thơ cháy tan trong nắng dọi,
Một lời run hoi hóp giữa không trung,
Cả niềm yêu, ý nhớ, cả một vùng,
Hoá thành vũng máu đào trong ác lặn" (HMT)
2. Lửa thế gian…
Thế nên, “lửa” là sức sống.
Khi thân xác hồi sinh thì nồng ấm dần lên.
Khi tình người được cải thiện thì nồng ấm dần lên…
Khi con tim biết yêu thương thì nồng cháy bùng lên…
Nhưng, ngọn lửa thế gian dễ dàng lịm tắt.
Ngọn lửa thế gian không đủ mạnh để bùng cháy trước giông tố cuộc đời.
Ngọn lửa thế gian không đem lại sự sống và hạnh phúc đời đời.
Ngọn lửa thế gian không đủ mạnh để cuộc đời thôi giá lạnh.
Ngọn lửa thế gian bị dập tắt trong cơn phong ba tham vọng, bạc tiền…
Và con tim nhân loại lại giá lạnh và dửng dưng,
Thế giới lại giá băng và tình đời đen bạc…
Một thế giới nguội lạnh là một thế giới chết.
3. Lửa ấy…Lửa Thánh Thần…
“Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!” (Lc.12, 49).
“Lửa ấy” đến từ Thiên Chúa. “Lửa ấy” là Lời Chúa, là Lời Tình Yêu, là Giới Luật Yêu Thương.
“Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga.1,9).
“Lửa ấy” được “ném vào thế gian”, và “Lửa ấy” được Thánh Thần làm cho bùng cháy lên trong mọi con tim biết đón nhận Lời Chúa.
“Nhưng Đấng bảo trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng ấy sẽ dạy cho anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em”. (Ga.14,26).
“Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến” (Ga.15,13).
Thánh Thần ban sức mạnh để Lời Chúa biến thành hành động, Lời Chúa được rao giảng, thực thi với lòng nhiệt thành, can đảm và khôn ngoan. “Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho. (Cv.2,3).
“Lửa ấy” bùng cháy lên tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân. Một tình yêu chan hòa trên thế giới, nơi đó mọi người là anh em và Thiên Chúa là Cha.
“Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến, cho tâm hồn tín hữu được nhuần thấm muôn ơn, và cháy lửa yêu mến Ngài” (Tung hô Tin Mừng lễ Hiện Xuống).
4. Phải chi lửa ấy đã bùng lên…
Nỗi lòng của Chúa Giêsu yêu thương con người thật tha thiết. Ngài muốn con người nhận ra được sự thật về Tình Yêu của Thiên Chúa dành cho con người và mọi người đều là con cái Chúa nên phải yêu thương nhau. Chúa Giêsu đã ném ngọn lửa Tình Yêu Thiên Chúa vào mặt đất. Ngài muốn Lời Yêu Thương - Tin Mừng - được bùng cháy khắp nơi. "Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!” (Lc.12,49).
Ngọn lửa Tình Yêu ấy bùng cháy không chỉ bằng lời, mà bằng hiến tế của chính Chúa Giêsu trên Thập Giá.
Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất ! (Lc.12,50).
Nhưng, lửa ấy chưa bùng cháy lên trong hết mọi con tim như lòng Chúa mong ước! Lửa ấy chưa bùng cháy lên trên cõi trần gian này. Nên trần gian còn tăm tối. Thế gian còn giá lạnh. Thế giới còn hận thù, chiến tranh, chia rẽ…
Bởi chuyến tàu dục vọng của cuộc đời luôn luôn hấp dẫn. Danh vọng, bạc tiền, chức quyền, địa vị… đâu dễ hy sinh. Chấp nhận sự thật nhiều khi cũng không dễ dàng gì, dù biết chắc chắn không thể sai lầm.
Sự thật là Giêsu vô tội, nhưng để bảo vệ một Giêsu vô tội, người có quyền lực lại lo ngại trước cái giá phải trả sau này.
“Các ngươi cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy”. (Ga.19,6).
Chúa Giêsu Ngài hiểu rõ sự yếu đuối của con người. Con người chỉ có thể hiệp nhất một trong chân lý. Thế nhưng, như Phi-la-tô hỏi Chúa Giêsu “Sự thật là gì ?” (Ga.18,38), rồi cũng không muốn tìm hiểu xa hơn, vì xét thấy chẳng có lợi gì mà còn có thể mang họa. Thế nên, trong cuộc đời, có biết bao nhiêu ngã rẽ, và cũng có nghĩa là đối diện với bất hòa, chia rẽ.
“Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba…” (Lc.12,52).
Vì thế, mang tâm tình của Chúa Giêsu, những môn đệ Chúa, những Ki-tô hữu, chúng ta, luôn khát khao và không ngừng cố gắng thực hiện niềm khao khát ấy : “Phải chi…”
Phải chi Thế Giới cùng chung lời ca tụng Chúa …
Phải chi Đất Nước cùng một lòng ca ngợi Thiên Chúa…
Phải chi mọi người trong Gia đình đều thờ phượng chúa…
Phải chi những người tin Chúa yêu thương đoàn kết nhau… Phải chi… Phải chi… và rất nhiều cái “phải chi…”.
Đó là tâm tình, là ước mong của Chúa Giêsu, và ta tiến bước theo Ngài với tâm tình đó: “Phải chi lửa ấy đã bùng lên…” (Lc.12,49).
Lạy Chúa,
Phải chi con là Vua,
Con sẽ bắt mọi người theo đạo.
Phải chi con có nhiều bạc tiền, cơm gạo,
Con sẽ bố thí cho những người nghèo.
Phải chi con có đủ sức vượt núi băng đèo,
Con sẽ đến những miền xa xăm rao truyền Lời Chúa.
Phải chi đời con đừng chóng già nua tàn úa,
Con sẽ phục vụ Chúa dài lâu…
Và… Phải chi…Phải chi…nhiều lắm…
Con không kể hết đâu…
Con tính toán đủ điều vì danh Cha cả sáng…
Nhưng, dù những gì con mơ đạt được hàng trăm hàng vạn…
Lại thiếu con tim bùng cháy lửa tình yêu…
Cơn gió lốc cuộc đời sẽ cuốn hết mọi điều…
Khi Lửa Tình Yêu trong cõi lòng đã tắt…
Rồi tất cả ảo ảnh đời biến mất
Khi Lửa Tình Yêu Chúa không còn bùng cháy trong tim…
Lạy Thánh Thần, nguồn sức mạnh vô biên:
“Cho lửa ấy bùng lên trong cuộc sống”! Amen.

 

TN20-C104: Ngọn lửa tình yêu – Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Giêsu nói với các môn đệ về sứ mạng của Ngài là: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất và TN20-C104

Chúa Giêsu nói với các môn đệ về sứ mạng của Ngài là: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy cháy bùng lên!”.
Lửa ấy là gì?
Trong Kinh Thánh, từ “lửa” được đề cập 480 lần. Lửa mang nghĩa biểu tượng thánh thiêng chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa. Thiên Chúa tỏ mình ra cho ông Môsê giữa bụi gai cháy rực cháy (x. Xh 3,2). Thiên Chúa lập giao ước dưới chân núi Sinai (x. Đnl 1,33; 4,11-12.36; 5,4.22). Lửa là hình ảnh Thiên Chúa hướng dẫn dân Do thái trong sa mạc (x. Xh 13,21).
Trong Tân Ước, lửa là hình ảnh của Chúa Thánh Thần khi Người ngự xuống trên các Tông đồ dưới dạng hình lưỡi lửa vào ngày Lễ Ngũ Tuần (x. Cv 3,2). Lửa là sức mạnh của Thánh Linh, khi các Tông đồ nhận được Chúa Thánh Thần, các ông đã trở nên con người hoàn toàn mới: Can đảm ra đi rao giảng Tin Mừng (x. Cv 1,8), làm chứng, hy sinh vì Tin Mừng và vì tình yêu của Đức Kitô Phục Sinh. Lửa chính là tình yêu nồng cháy của Đức Giêsu (x. Lc 12,49).
Lửa còn tượng trưng cho sự thanh luyện, thiêu huỷ và phán xét. Đó là ngọn lửa từ trời xuống thiêu huỷ thành Sôđôma và Gômôra (x. St 19,24), mưa lửa từ trời xuống như một phần của sự phán xét trong ngày tận cùng của thế giới (x. Lc 17,29); hay là lửa soi sáng trong Ngày của Thiên Chúa (x. 1 Cr 3,13; Mt 3,11-12).
Theo các nhà chú giải Kinh thánh, lửa ấy chính là: Chân lý, là Tin Mừng, là Thần Khí và là Tình yêu của Thiên Chúa. Chúa Giêsu muốn cho “lửa” đó được bùng lên, nghĩa là muốn cho mọi người trên khắp thế giới được nhận biết Chân lý và Tình yêu của Thiên Chúa.
Dùng hình ảnh lửa, Chúa Giêsu có ý nói đến nội dung và đặc điểm sứ mạng của mình. Lửa bừng cháy và tỏa sức nóng, lửa đem lại ánh sáng xua tan bóng tối, thiêu đốt thành tro, nung nấu tan chảy và làm cho biến đổi.
Bằng ẩn dụ lửa, Chúa Giêsu gợi lên nội dung sứ mạng của mình là mang ánh sáng chân lý từ trời cao ném vào mặt đất, để soi sáng con đường cứu nhân loại thoát khỏi bóng tối nô lệ tội lỗi, đồng thời thiêu hủy sự dữ và thanh luyện con người nên tinh tuyền.
Khởi đầu sứ vụ, trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đã tuyên bố rõ ràng về lửa được Ngài ném vào thế gian. Đó là lửa của những mối phúc (x.Mt 5,3-12; Lc 6,20-26), đặc biệt lửa của những phép lạ, lòng khoan dung tha thứ tội lỗi và của trái tim nhân từ cảm hóa kẻ lầm lạc.
Người môn đệ cũng phải tiếp tục mang lửa của Chúa Giêsu vào trần gian bằng cách loan báo và làm chứng từ chính cuộc sống bừng lửa của mình. Lửa của những mối phúc thật. Lửa của sự sống phục sinh. Lửa đã tỏa sáng và thanh luyện những người bước theo Chúa Giêsu.
“Thầy ước mong ngọn lửa ấy bùng lên!”. Đó là tâm nguyện của Chúa Giêsu và cũng là trách nhiệm của mỗi người tín hữu chúng ta.
Tại một khu phố cổ Ấn Độ, trên đường cũng như trong nhà thường không có đèn. Giữa những khu phố như thế, thỉnh thoảng người ta thấy mọc lên một ngôi đền An giáo. Dĩ nhiên, trong những ngôi đền như thế, ánh sáng cũng không được đốt lên thường xuyên. Từ trên nóc đền thờ cũng như dọc theo bốn bức tường, họ treo những chiếc lồng đèn. Khoảng trống trong những chiếc lồng đèn ấy vừa vặn để cho vào một chiếc đèn dầu.
Bình thường ngôi đền thờ vắng lạnh vì tăm tối. Nhưng cứ mỗi sáng sớm, khi các tín hữu dùng đèn dầu soi đường để đi qua các khu phố đến đền thờ cầu nguyện, họ cũng mang chính những ngọn đèn ấy và đặt vào trong những chiếc lồng đèn trong nhà thờ. Thành ra, khi mỗi tín hữu đặt ngọn đèn của mình vào trong các lồng đèn, ngôi đền thờ bỗng sáng rực lên một cách lạ kỳ.
Thế giới này được ví như một ngôi đền thờ rộng lớn, mỗi tín hữu phải đặt vào đó ngọn lửa tình yêu, để thế giới này bừng sáng lên tình anh em một nhà.
Chúa Giêsu đã đem ngọn lửa tình yêu thắp sáng trong tâm hồn chúng ta.Trách nhiệm mỗi người là thắp sáng ngọn lửa ấy bằng đời sống chứng nhân.
Mahatma Gandhi, vị thánh của Ấn Độ đã nhận định rất sâu sắc về ngọn lửa tình yêu này như sau: “Một vật cứng rắn đến đâu, cũng sẽ tan chảy trong lửa tình yêu. Nếu vật ấy không tan chảy, chính vì ngọn lửa không đủ mạnh”.
Thông điệp mới của Đức Giáo Hoàng Phanxicô với tựa đề “Ánh sáng đức tin” muốn nói truyền thống của Hội thánh, cho thấy hồng ân lớn lao do Chúa Giêsu mang đến, được trình bày trong Tin mừng thánh Gioan: "Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi thì không ở lại trong bóng tối" (Ga 12, 46). Cả thánh Phaolô cũng diễn tả tương tự như sau: "Xưa Thiên Chúa đã phán: 'Ánh sáng hãy bừng lên từ nơi tối tăm', Ngài cũng làm cho ánh sáng chiếu soi lòng trí chúng tôi" (2Cr 4, 6).
“Ai tin, sẽ thấy” vì ánh sáng đức tin xuất phát từ Thiên Chúa và vì nó có khả năng chiếu rọi mọi khía cạnh trong cuộc hiện sinh của con người, nên nó diễn tiến không những từ quá khứ, từ ký ức về cuộc đời Chúa Giêsu, mà còn từ tương lai khi nó mở ra nhiều chân trời rộng lớn.
Một vài trích dẫn sau đây từ Thông điệp “Ánh sáng đức tin” cho thấy Chúa Giêsu là nguồn ánh sáng, ai tin vào Người sẽ sống trong ánh sáng của Sự Thật và Tình Yêu.
"Ánh sáng đức tin có một đặc tính khác thường, vì có thể soi sáng toàn thể hiện hữu của nhân sinh. Bởi có một năng lực như thế, nguồn cội của ánh sáng đức tin không thể phát xuất từ chính chúng ta, mà phải đến từ một Nguồn nguyên thủy nhất, xét cho cùng, là đến từ chính Thiên Chúa. Đức tin nảy sinh trong cuộc gặp gỡ Thiên Chúa hằng sống, Đấng kêu gọi chúng ta và mạc khải Tình yêu của Ngài cho chúng ta, một tình yêu đi bước trước chúng ta và làm nền tảng cho ta đứng vững và xây dựng cuộc sống mình".
"Các tác giả Phúc âm đã đặt giờ Chúa chịu treo trên Thánh Giá như là chóp đỉnh của cái nhìn đức tin, vì trong giờ ấy chiếu tỏa rực rỡ chiều cao và chiều rộng của Tình yêu Thiên Chúa. Thánh Gioan đưa ra lời chứng long trọng của ngài khi ngài cùng với Đức Mẹ, Mẹ của Đức Giêsu chiêm ngắm Đấng Bị Đâm Thâu (x. Ga 19, 37): "Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin" (Ga 19, 35). Chính khi chiêm ngắm Đức Giêsu chịu chết mà đức tin của chúng ta được củng cố và có được một ánh sáng chói lọi, chính khi nó mạc khải cho chúng ta như một niềm tin vào Tình yêu không lay chuyển của Người dành cho chúng ta, một tình yêu có thể đi vào cái chết để cứu độ chúng ta. Tình yêu này, vốn không tự miễn chước sự chết để bộc lộ Người yêu thương ta dường nào, là một tình yêu có thể tin được. Tình yêu ấy bộc lộ ra trong toàn thể thắng vượt mọi nghi ngờ và cho phép ta đặt hoàn toàn tin cậy vào Đức Kitô.
"Nếu như tình yêu cần đến sự thật, thì sự thật cũng cần đến tình yêu. Tình yêu và sự thật không thể tách biệt nhau. Không có tình yêu, sự thật trở thành lạnh lùng, phi ngã vị, áp bức trên đời sống cụ thể của con người. Sự thật mà chúng ta tìm kiếm, sự thật đem lại ý nghĩa cho những bước đường ta đi, sự thật ấy sẽ soi chiếu chúng ta khi ta được tình yêu chạm đến. Ai yêu thương sẽ hiểu rằng tình yêu là kinh nghiệm sự thật, rằng chính tình yêu mở mắt chúng ta ra để nhìn thấy toàn thể thực tại một cách mới mẻ, trong khi kết hiệp với người mình yêu".
"Đức Chân phước Gioan Phaolô II, trong thông điệp Fides et Ratio, đã cho thấy đức tin và lý trí củng cố cho nhau như thế nào. Khi ta có ánh sáng viên mãn của tình yêu của Đức Giêsu, chúng ta khám phá ra rằng trong mỗi tình yêu của ta đã có mặt một tia của ánh sáng ấy rồi và chúng ta hiểu đâu là cùng đích của nó".
"Ánh sáng của đức tin vào Chúa Giêsu cũng soi sáng hành trình của tất cả những ai tìm kiếm Thiên Chúa, và góp phần mình cho Kitô giáo trong cuộc đối thoại với các tín đồ của các tôn giáo khác".
“Người tin thì hoàn toàn dấn thân sống đức tin mình tuyên xưng. Đức Maria nhờ kết hợp với Chúa Giêsu, sống sát với những gì mà chúng ta tin". Đức Giáo Hoàng Phanxicô mời gọi chúng ta nhìn lên Đức Maria, “mẫu mực hoàn hảo” của Đức Tin, Đấng, vì là Mẹ Chúa Giêsu, đã tượng thai “đức tin và niềm vui”.
Lạy Chúa Giêsu, xin đốt lên trong chúng con ngọn lửa từ trái tim yêu thương của Chúa, để chúng con soi sáng những ai còn ngồi trong tăm tối, sưởi ấm những ai đang lạnh lùng, thanh luyện những cõi lòng chai đá, để khắp nơi trên trái đất này tràn đầy ánh lửa tình yêu Chúa. Amen.

 

TN20-C105: Đời sống của người môn đệ Chúa Kitô

Các bản văn Lời Chúa hôm nay giới thiệu cho chúng ta một lối sống dường như có thể gọi là TN20-C105

Các bản văn Lời Chúa hôm nay giới thiệu cho chúng ta một lối sống dường như có thể gọi là không biết mềm dẻo, không biết trước biết sau!
Trước hết, ta gặp ngôn sứ Giêrêmia: ngài phản đối đường lối chính trị muốn đi theo Ai-cập; ngài khuyên vua Xítkigiahu (Sêđêcia) theo Nabucôđonôxo để được yên ổn. Bởi vì quần thần không nghe nên Giêrêmia bị tống ngục. Nhưng ngài cứ nhất định loan báo những tai họa sẽ đổ xuống trên Dân Chúa nếu họ không rời xa con đường gian ác họ đang theo. Thế là người ta kết án ngài là người chủ bại, người ta sỉ vả ngài là đã làm nao núng tinh thần của dân chúng… Kết quả là ngài bị bỏ xuống một cái hầm nước chỉ có bùn, để cho ngài chết đói và chết ngộp.
Ta tự hỏi:Vị ngôn sứ có cần phải lao khổ như thế không?
Rồi Chúa Giêsu chính là vị Mêsia mà Israel vẫn mong đợi. Nhưng trong khi người ta trông chờ Người đến trong vinh quang khải hoàn, để giải phóng quê hương, Người lại cứ khư khư tự giới thiệu là một người nghèo, khăng khăng rao giảng một cuộc hoán cải nội tâm, nhất định coi thường những thành công ngoạn mục. Người sẽ là dấu hiệu của sự chia rẽ và mâu thuẫn. Bởi vì đứng trước Chúa Giêsu, mỗi người phải đáp lại tiếng Người mời gọi, mỗi người phải có một thái độ đối với Người; do đó nhiều khi thái độ đối với Chúa Giêsu sẽ gây nên sự chia rẽ giữa những người thân thích. Kết quả: Người chết trên một cây thập giá.
Chẳng lẽ không còn một giải pháp nào khác sao?
Tác giả thư Do thái thì khuyến khích các tín hữu kiên trì trong cuộc chạy đua, mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin, trong khi người Do thái thì bảo rằng Người là kẻ sống trên mây trên gió. Và tác giả còn chuẩn bị cho các tín hữu chấp nhận bị chống đối.
Thế thì được ích gì?
Không biết có những lý do, những nguyên tắc, hay những triết lý nào đúng với những hy sinh đó không. Nhưng khó mà tin được rằng những lý luận, dù là những lý luận chặt chẽ nhất, có thể đưa con người tới chỗ sống quảng đại như thế. Chỉ có niềm tin, chỉ có tình yêu mới giải thích được. Chính niềm tin vững chắc vào Thiên Chúa và tình yêu đối với Ngài đã khiến các ngài cương quyết thi hành sứ mạng, chứ không nao núng để rồi phải uốn lưỡi nói cho người ta vui ta và chuyển sang một lộ trình dấn thân khác.
Giêrêmia, Phaolô hay tác giả thư Do thái, Đức Giêsu Mêsia, chính vì tình yêu mà các ngài đã hiến mạng sống, một tình yêu chân thật đối với một Đấng.
Cả ba đã công bố động lực đã thúc đẩy các ngài hành động:
* “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và ngài đã thắng con”, đó là lời của ngôn sứ Giêrêmia.
* Tác giả thư Do thái viết: “Tôi hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin”.
* Còn Đức Giêsu thì tuyên bố: “Tôi luôn làm điều đẹp lòng Thiên Chúa”.
Còn chúng ta, có lẽ chúng ta quá thường mất thì giờ để phân tích, để giải thích, để xây những lý thuyết, để biện minh, để thiết lập những luật lệ.
Là Kitô hữu, trước hết không phải là theo một triết lý nào, cũng không chỉ là tuân giữ một nền luân lý nào, mà là trao hiến con tim cho một Thiên Chúa là Chúa Tể quyền năng và Tình Yêu sâu thẳm, cho Đức Giêsu đã chết và đã sống lại. Là Kitô hữu là tin tưởng trọn vẹn vào Lời của Người và đi theo Người tới cùng, dù phải trả giá nào. Có nhiều khi phải hy sinh những dây liên hệ tình cảm thắm thiết như tình gia đình. Chúa Giêsu không hề phá hoại sự hòa hợp trong gia đình hay muốn khuấy rối các gia đình. Bởi vì Người có lúc đã nói: “Hãy làm tròn bổn phận đối với cha mẹ” (Mc 7,10). Nhưng Người khẳng định rằng, nếu chúng ta là môn đệ Người, chúng ta phải sẵn sàng hy sinh tất cả những gì cản trở để thong dong bước theo Người. Người dạy như thế không phải để biến chúng ta thành nô lệ của Người, nhưng là để chúng ta cùng chia sẻ sứ mạng của chính Người.
Chúng ta hãy dâng tâm hồn cho Thiên Chúa Ba Ngôi. Nếu lòng chúng ta thiếu sức nóng của tình Chúa, không tha thiết hiệp thông huynh đệ, Chúa Kitô sẽ mang lửa tình yêu đến sưởi ấm trái tim, làm tan rã thái độ nghịch thù. Và Người cũng ban cho chúng ta sự bình an: Người giao hòa chúng ta với Chúa Cha, với chính mình ta, và với anh chị em chúng ta (x. Ep 2,14-17) bằng cách đưa chúng ta về với đời sống thật, là đời sống yêu mến.
Sống như thế thì ít bảo đảm hơn việc giữ đạo, giữ luật cách khôn ngoan. Mong manh quá! Và có lẽ lại đòi hỏi nhiều hơn! Nhưng sống như thế chắc chắn là “hào hùng hấp dẫn” hơn nhiều!

 

 TN20-C106: TIN MỪNG (Lc 12: 49-53)

Giáo huấn của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ đạt tới cao điểm khi Ngài mặc khải rằng việc họ TN20-C106

Giáo huấn của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ đạt tới cao điểm khi Ngài mặc khải rằng việc họ thuộc về các môn đệ Ngài sẽ đặt họ vào những tình huống không yên thân thoải mái đâu. Thực vậy, ý nghĩa sứ vụ của Chúa Giê-su được đề cập ở 12: 49-50 có những phản hồi trực tiếp đến các môn đệ ở 12: 51-53. Tin Mừng hôm nay có hai ý được gợi lên qua hai cặp hình ảnh: “lửa và phép rửa” (12: 49-50), “hòa bình và chia rẽ” (12: 51-53).
 
1. “Lửa và phép rửa” (12: 49-50)
 
Bằng cặp hình ảnh “lửa”“phép rửa”, Chúa Giê-su nói đến sứ mạng sắp đến của Ngài. Trước hết, “Thầy đã ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”: Trong Kinh Thánh, hình ảnh “lửa” thường mô tả tình yêu nồng cháy của Thiên Chúa cho con người (x. Đnl 4: 24; Xh 13: 22; vân vân). Thiên Chúa đã bày tỏ tình yêu của Người tận mức ở nơi biến cố Nhập Thể của Con Ngài (Ga 3: 16). Qua hình ảnh “lửa”, Đức Giê-su tự nguyện hiến dâng mạng sống mình vì chúng ta: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15: 13). Vì thế, Chúa Giê-su những ước cùng mong đến giờ thực hiện tình yêu tận mức của Ngài đối với con người được bừng cháy trên Thập Giá.
 
Tiếp đó, Đức Giê-su mô tả cuộc Tử Nạn và Phục Sinh sắp đến của Ngài qua hình ảnh phép rửa: “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!”, nghĩa là Ngài sẽ dìm mình vào trong cái chết, nhưng từ cái chết Ngài sẽ sống lại trong vinh quang để không bao giờ chết nữa. Qua hình ảnh “phép rửa”, Đức Giê-su tha thiết ước mong được hiến dâng mạng sống mình vì yêu thương chúng ta. Cũng thế, chúng ta chịu phép rửa, nghĩa là chúng ta dìm mình vào trong cuộc Tử Nạn của Đức Ki tô, tức là chết cho tội lỗi mình, và được tái sinh vào một đời sống mới chan chứa muôn vàn ân sủng: “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6: 4).
 
Qua cuộc sống mới này, chúng ta, những người Ki-tô hữu, phải bừng cháy lên ngọn lửa tình yêu theo cùng cách thức như Đức Giê-su đã châm ngọn lửa ở nơi các môn đệ Ngài: “Kinh ngạc rất tự nhiên về những việc Thiên Chúa làm, tâm hồn chiêm niệm tràn đầy lòng nhiệt thành tông đồ. ‘Nghe trong mình nung nấu tự tâm can, càng nghĩ ngợi, lửa càng bừng cháy’ (Tv 39: 4). Ngọn lửa này là gì nếu không là ngọn lửa mà Đức Ki-tô nói đến: ‘Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!’ (Lc 12: 49). Ngọn lửa tông đồ được tăng cường trong lời cầu nguyện: không có cách thức nào tốt hơn điều này là tiếp tục đấu tranh cho hòa bình khắp cùng thế giới, vì cuộc chiến này mỗi người Ki-tô hữu được kêu gọi lấp đầy những gì còn thiếu ở nơi những đau khổ của Đức Ki-tô (x. Col 1: 24)” (Bl. J. Escriva, Christ is passing by, 120).
 
2. “Hòa bình và chia rẽ” (12: 51-53)
 
Con Thiên Chúa đã giáng trần với một sứ điệp hòa bình: “Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2: 14) và hòa giải: “Nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hòa giải chúng ta với Thiên Chúa” (Rm 5: 11). Các ngôn sứ cũng đã loan báo sứ mạng của Đấng Ki-tô là sứ mạng hòa bình (x. I s 9: 5tt; Dcr 9: 10) và thánh Phao-lô cũng xác quyết chính Đức Giê-su “là bình an của chúng ta” (Ep 2: 14-15). Tuy nhiên, vì cưỡng kháng lại công trình cứu độ của Đức Ki-tô do tội, con người trở thành những đối thủ của Ngài: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao?”. Bất công và lầm lạc dẫn đến chia rẽ và chiến tranh. “Bao lâu con người còn là những kẻ tội lỗi, hiểm họa chiến tranh còn đe dọa và vẫn sẽ còn đe dọa cho tới khi Chúa Ki-tô đến. Tuy nhiên, nhờ kết hiệp trong bác ái, con người vượt thắng tội lỗi và cũng vượt thắng bạo động cho tới khi lời sau đây được hoàn tất: ‘Họ sẽ rèn gươm thành lưỡi cày và giáo thánh lưỡi liềm. Các dân tộc sẽ không rút gươm đâm chém nhau và sẽ không tập luyện để chiến đấu’ (Is 2: 4)” (Vatican II, Gaudium et spes, 78).
 
Vì thế, chẳng có gì phải ngạc nhiên, dù rằng “Người đã đến loan Tin Mừng bình an” cho hết mọi người (Ep 2: 17-18), tuy nhiên, suốt cuộc đời tại thế, Đức Giê-su đã là dấu chỉ của sự mâu thuẫn (x. Lc 2: 34). Chúa Giê-su báo trước cho các môn đệ biết rằng sự bất đồng và chia rẽ đồng hành với công việc truyền bá Tin Mừng (x. Lc 6: 20-23; Mt 10: 24). Ngay cả trong gia đình vốn là nơi yêu thương và đùm bọc nhau, đôi khi vì niềm tin vào Ngài và vào Tin Mừng của Ngài lại trở thành cuộc bách hại ngay trong gia đình mình. Vì thế, Chúa Giê-su nói rằng Ngài đến thế gian không phải để đem hòa bình theo kiểu thế gian, nghĩa là không có chiến tranh, bách hại, mà là hòa bình của Thiên Chúa, một thứ hòa bình ngự trị trong cõi thâm sâu của lòng người, đó là hòa bình mà thế gian không thể nào ban cho được.
 
“Lời Chúa Giê-su nói về sứ mạng của Người cũng là một lời khuyến cáo các môn đệ Người: Sự kiện Nước Thiên Chúa đến không phải để các môn đệ hưởng thụ một cuộc sống bình an một cách thụ động. Họ sẽ hưởng bình an đấy, nhưng là một thứ bình an mà phải cố gắng chiến đấu mới đạt được, chiến đấu trong gian truân thử thách, chiến đấu với cả những người thân không cùng niềm tin với mình. Thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba đã hiểu như thế, nên đã khuyên các tín hữu rằng: ‘Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa’ (Cv 14: 22). Hòa bình Chúa ban là kết quả của những cố gắng để giải quyết tình trạng ‘chia rẻ’: a) Nơi bản thân mỗi người, chỉ có hòa bình thật khi không còn xung đột giữa cái tôi hướng thiện với cái tôi hướng ác; b) Nơi gia đình, nơi xã hội và bất cứ nơi nào cũng thế, chỉ có hòa bình thật khi mọi người đều một lòng một ý với nhau” (“Hạt Giống Nẩy Mầm”). 

Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế


 

TN20-C107: SỨC MẠNH CỦA LỬA

Người Hy Lạp cổ đã cho rằng lửa là một trong các nguyên tố chính của vũ trụ – cùng với đất, nước, TN20-C107 Epahta

Người Hy Lạp cổ đã cho rằng lửa là một trong các nguyên tố chính của vũ trụ – cùng với đất, nước, và khí. Bốn yếu tố này kết hợp với nhau tạo ra vạn vật trong thiên nhiên. Chúng ta có thể nhìn thấy và cảm nhận được lửa, cũng có thể nhìn thấy và cảm nhận được đất, nước và khí vậy.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng lửa là “cái gì đó” rất khác. Đất, nước và khí được cấu tạo bởi hàng tỷ nguyên tử, và luôn giữ nguyên dạng như vậy. Lửa thì không như vậy: lửa có thể chuyển sang các dạng khác vì nó là một phần của các phản ứng hoá học.
Lửa là quá trình ôxy hóa nhanh chóng của một vật liệu trong phản ứng hóa học tỏa nhiệt, giải phóng nhiệt, ánh sáng, và các sản phẩm phản ứng khác. Để tạo ra lửa, phải cần và đủ 3 yếu tố, đó là: chất cháy, ôxy và nguồn nhiệt. Thiếu một trong các yếu tố này không thể xảy ra sự cháy. Mỗi chất khác nhau có nhiệt độ bốc cháy khác nhau.
Lửa rất có ích nếu biết cách sử dụng hợp lý, lửa rất nguy hiểm nếu sử dụng sai mục đích. Thật vậy, tối thiểu nhất và đơn giản nhất là lửa làm chín thực phẩm để chúng ta dùng hàng ngày, không chỉ ngon miệng mà còn duy trì sự sống. Lửa thật là kỳ diệu !
Lửa rất mềm mà lại rất mạnh. Một ngọn lửa nhỏ có thể dễ thổi tắt, nhưng một đám cháy thì khó có thể dập tắt. Lửa bùng cháy sẽ thiêu rụi mọi thứ trong chốc lát. Lửa là một loại vũ khí đáng sợ, với sức tàn phá khủng khiếp. Lửa cũng có đặc tính lạ: chỉ có một đốm lửa, nhưng càng chia sẻ thì càng thêm nhiều, bản chất lửa không hề giảm sút chút nào. Lửa đối nghịch với bóng tối, vì có lửa là có ánh sáng, và bóng tối bị đẩy lui.
Chính Chúa Giêsu đã đích thân đến thế gian và ném lửa vào thế gian. Ngài mong cho lửa đó bùng cháy lên khắp nơi. Đó chính là Lửa của Tình Yêu Thương, Lửa của Lòng Trắc Ẩn, Lửa của Lòng Thương Xót. Chính Ngài là “Lửa” soi đường dẫn lối, như Ngài đã xác nhận với người Do Thái: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” ( Ga 8, 12 ).
Trình thuật Gr 38, 4-6, 8-10 cho biết rằng, các thủ lãnh ngày xưa đã thưa với vua về Ngôn Sứ Giêrêmia: “Xin ngài cho giết con người ấy đi, vì những luận điệu của ông ta đã làm nản lòng các binh sĩ còn lại trong thành này, cũng như toàn dân. Thật vậy, con người ấy chẳng mưu hoà bình cho dân này, mà chỉ gây tai họa”. Vua Xítkigiahu nói rằng ông ta đang ở trong tay họ; nhà vua cũng chẳng có thể làm gì trái ý họ được. Thế là họ liền điệu ông Giêrêmia đi, lấy dây thừng cột ông và bỏ ông xuống một cái hầm nước của hoàng tử Mankigiahu trong sân vệ binh. Hầm này không có nước, chỉ có bùn, nên ông Giêrêmia bị lún sâu.
Thái giám Evét Meléc ( người Cút ) đi ra khỏi đền vua và nói: “Thưa đức vua, chúa thượng tôi, những người này làm toàn những chuyện tai ác cho ngôn sứ Giêrêmia. Họ đã thả ông xuống hầm, và ông đang chết đói ở dưới ấy, vì trong thành không còn bánh nữa”. Vua liền truyền cho ông Evét Meléc: “Ngươi hãy đem theo ba mươi người ở đây, đi kéo ngôn sứ Giêrêmia lên khỏi hầm, kẻo ông chết mất”.
Thái giám Evét Meléc thật là nhân đạo, nhưng vua Xítkigiahu cũng tốt, vì nhà vua đã tôn trọng lẽ phải mà nghe lời thái giám. Đó là công lý, là nhân đạo, là yêu thương, là hệ quả tốt lành của lòng thương xót. Thoát chết là một hồng ân. Thoát chết là còn sống. Nhưng sống tiếp để làm gì ? Tác giả Thánh Vịnh xác định: “Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống, để loan báo những công việc Chúa làm( Tv 118, 17 ). Điều đó cũng có nghĩa là “loan báo lòng thương xót của Thiên Chúa”.
Bất cứ ai trông cậy Thiên Chúa sẽ được Ngài đã độ trì, ai kiên trì van nài thì được Ngài cứu nguy, không phải thất vọng giờ ( x. Tv 22, 6 ). Chắc chắn như vậy !
Với niềm xác tín và mãn nguyện, tác giả Thánh Vịnh minh chứng: “Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa, Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu. Người kéo tôi ra khỏi hố diệt vong, khỏi vũng lầy nhơ nhớp, đặt chân tôi đứng trên tảng đá, làm cho tôi bước đi vững vàng. Chúa cho miệng tôi hát bài ca mới, bài ca tụng Thiên Chúa chúng ta. Thấy thế, nhiều người sẽ kính sợ và tin tưởng vào Chúa” ( Tv 40, 2-4 ).
Làm chứng về Chúa không nhất thiết phải làm việc gì to lớn, chỉ cần chứng tỏ bằng cách sống chân thật, hiền từ và nhân hậu. Đơn giản mà hiệu quả: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau( Ga 13, 35 ).
Tác giả Thánh Vịnh xác nhận thêm: “Thân phận con khốn khổ nghèo hèn, nhưng Chúa hằng nghĩ tới. Ngài là Đấng phù trợ, là Đấng giải thoát con, lạy Thiên Chúa con thờ, xin đừng trì hoãn !” ( Tv 40, 18 ). Rất rõ ràng, rất rạch ròi ! Đó là niềm Tin Mến – Đức Tin và Đức Mến không thể tách rời, và đó cũng là loại “lửa” cần cháy bùng lên trong mỗi chúng ta hàng ngày, mọi nơi và mọi lúc.
Thánh Phaolô giải thích cặn kẽ: “Phần chúng ta, được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh, chúng ta hãy CỞI BỎ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy KIÊN TRÌ CHẠY trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Chính Người đã KHƯỚC TỪ niềm vui dành cho mình mà CAM CHỊU khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa” ( Dt 12, 1-2 ).
Đọc mấy câu ngắn gọn này khiến chúng ta phải giật mình và xấu hổ, bởi vì đôi khi chúng ta vẫn ù lì, than thở và đòi hỏi. Chợt nhớ có câu chuyện kể về con lừa thế này...
Bác nông dân nọ có một con lừa. Một hôm, nó bị rơi xuống giếng khi đang chạy nhảy trong khu vườn sau nhà. Thấy nó kêu la rất thảm thiết, bác nông dân tìm cách cứu nó mà không biết làm sao. Bác ta nghĩ rằng dù sao thì con lừa này cũng già rồi, mà cái giếng kia rồi cũng phải lấp đi để khỏi nguy hiểm.
Nghĩ rồi làm ngay. Bác nông dân đi nhờ vài người hàng xóm sang giúp lấp cái giếng. Mọi người cùng nhau xúc đất đổ xuống giếng. Lúc đầu, con lừa nhận ra điều gì đang xảy ra với nó nên càng rống lên dữ dội hơn. Nhưng một lúc sau, tiếng kêu của nó nhỏ dần đi và rồi im bặt. Ai cũng nghĩ là nó đã bị đất lấp.
Nhưng không phải vậy. Đất cứ đổ lên nó thì nó lại rũ đất xuống và dẫm lên đất. Cứ thế và cứ thế… Chẳng bao lâu, nó trồi lên và bước ra khỏi miệng giếng. Và rồi nó thản nhiên chạy đi trước sự ngạc nhiên của mọi người.
Con lừa không than thân trách phận, không thúc thủ dù ở trong thế bí, nhưng nó can đảm và khéo léo trút bỏ mọi thứ ô uế trĩu nặng để có thể vượt lên, tự giải thoát. Cuối cùng, nó đã chiến thắng chính mình và chiến thắng nghịch cảnh. Hãy tự giúp mình rồi Trời sẽ cứu. Thật chí lý ! Chúa Giêsu muốn cũng chúng ta hành động như con lừa. Vả lại, chính Ngài đã nêu gương: “KHƯỚC TỪ niềm vui dành cho mình mà CAM CHỊU khổ hình thập giá”.
Thánh Phaolô dẫn chứng cụ thể: “Anh em hãy tưởng nhớ Đấng đã cam chịu để cho những người tội lỗi chống đối mình như thế, để anh em khỏi sờn lòng nản chí. Quả thật, trong cuộc chiến đấu với tội lỗi, anh em chưa chống trả đến mức đổ máu đâu( Dt 12, 3-4 ). Quả thật, chúng ta thường ngồi nguyền rủa bóng tối mà không chịu quẹt que diêm hoặc bật quẹt để thắp sáng lên một ngọn lửa.
Lửa luôn có sẵn, chỉ tại chúng ta không khơi lên. Chúa Giêsu đã xác định với mỗi chúng ta: “Thầy đã đến ném LỬA vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã BÙNG lên ! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy KHẮC KHOẢI biết bao cho đến khi việc này hoàn tất !” ( Lc 12, 49-50 ).
Chúa Giêsu luôn đưa ra những điều “trái khoáy”, với con người chúng ta thì đó là nghịch lý, nhưng với Thiên Chúa lại lý nghịch-lý-thuận. Một triết lý sống kỳ diệu vô cùng, nếu không lý giải bằng lòng thương xót thì không thể hiểu bằng lý lẽ nhân loại.
Thật vậy, Chúa Giêsu đã từng thẳng thắn nói: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao ? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng” ( Lc 12, 51-53 ).
Thiên Chúa là Tình Yêu ( 1Ga 4, 8 và 16 ), là Đấng giàu lòng thương xót ( Ep 2, 4 ), chắc chắn Chúa Giêsu không khuyên chúng ta chia rẽ hoặc bất hòa với nhau, vì như vậy là đối lập với lòng thương xót. Quả thật, Thánh Phaolô cũng đã khuyến cáo: “Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thoá mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác. Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” ( Ep 4, 31-32 ).
Cháy hoặc thiêu đốt là bản chất của lửa. Khi lửa cháy, có gì đó biến đổi – hoặc hư hại ( cháy rừng, cháy nhà… ), hoặc lợi ích ( làm chín thực phẩm, làm tan chảy đồng, chì, sắt hoặc thủy tinh để đúc khuôn… ). Tương tự, khi ngọn lửa tình yêu thắp sáng, lửa lòng thương xót bùng cháy cũng có tác dụng khác nhau – có thể tích cực với người này hoặc tiêu cực với người khác. Vì thế mà có sự “chia rẽ” giữa người này với người kia, thậm chí là giữa các thành viên trong gia đình.
Lạy Thiên Chúa, xin biến đổi con trở thành “ngọn đuốc” thắp sáng Lòng Thương Xót của Ngài để soi đường sống cho chính con và cho tha nhân. Xin giúp con dám tự đốt mình trong Lửa Tình của Ngài, với nồng độ của Ngài, mọi nơi và mọi lúc, hôm nay và suốt đời. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

TN20-C108: LỬA TRỜI

Cha Manuel Dorantes, Linh Mục thuộc Tổng Giáo Phận Chicago Hoa Kỳ, phụ tá tiếng Tây Ban Nha cho TN20-C108

Cha Manuel Dorantes, Linh Mục thuộc Tổng Giáo Phận Chicago Hoa Kỳ, phụ tá tiếng Tây Ban Nha cho cha Federico Lombardi, giám đốc Phòng Báo Chí Tòa Thánh, đã thuật lại cho thông tấn xã Công Giáo CNA rằng, sau khi Đức Hồng Y Angelo Amato, Tổng Trưởng Bộ Phong Thánh, tuyên đọc sắc lệnh của Đức Thánh Cha Phanxicô, công nhận Đức Tổng Giám Mục Oscar Romero là vị tử đạo vì Đức Tin và tuyên phong Chân Phước cho ngài... Lúc ấy, “một hiện tượng rất kỳ lạ đã xảy ra”. Cha Manuel cho biết tiếp: “Khi thánh tích được rước ra, và chúng tôi đang hát Kinh Vinh Danh, thì bất ngờ, trời như mở ra trên chúng tôi, mặt trời ló dạng. Một vòng tròn hào quang tuyệt hảo hình thành phía trên mặt trời, mà khoa học gọi là hiện tượng “solar halo.” Ngài cho biết, mọi người không ai bảo ai đều nhìn lên. “Có những Linh Mục bắt đầu khóc. Tôi cũng khóc, nhiều Linh Mục khóc. Các Giám Mục đứng trong khán đài có mái che không thấy nên bước hẳn ra ngoài để nhìn cho rõ chuyện gì đã xảy ra.”
Đức Tổng Giám Mục Oscar Romero sinh ngày 15.8.1917 trong một gia đình có 8 người con. Ngài được thụ phong Linh Mục tại Rôma vào ngày 4.4.1942. Sau khi thụ phong Linh Mục, cha Romero tiếp tục ở lại Rôma để theo học chương trình tiến sĩ Thần Học. Nhưng vì cuộc nội chiến tại El Salvador và Giáo Hội tại nước này thiếu Linh Mục, ngài được gọi về nước. Và trong hơn 20 năm sau đó, ngài làm cha xứ và thư ký cho Tòa Giám Mục San Miguel.
Năm 1970, cha Oscar Romero được tấn phong Giám Mục và làm phụ tá cho Đức Cha Chavéz, Tổng Giám Mục San Salvador và ngày 23.2.1977, ngài được bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục của San Salvador. Ngày 12.3.1977, một Linh Mục Dòng Tên, là cha Rutilio Grande, một trong những Linh Mục đầu tiên được ngài truyền chức và là một người can đảm đấu tranh cho những người nghèo, bị sát hại. Ðức Cha Romero đã phản ứng rất mạnh. Ngài đã ra lệnh đóng cửa trường học do Giáo Hội điều hành trong ba ngày và đình hoãn mọi Thánh Lễ trên toàn quốc trong tuần lễ kế tiếp, ngoại trừ một Thánh Lễ đặc biệt tại Nhà Thờ Chính Tòa San Salvador. Trong bài giảng tại Thánh Lễ đặc biệt đó cũng như trong các Thánh Lễ các Chúa Nhật tiếp theo, ngài đã lên tiếng tố cáo những tội ác, bất công do giới cầm quyền gây nên. 
Để phản đối việc chính phủ liên quan đến hay thinh lặng trước các vụ bắt bớ, giết hại, ngài đã không tham dự lễ nhậm chức của tân Tổng Thống của nước này. Ngài tuyên bố: “Giáo Hội không được đo lường bằng sự hỗ trợ của chính phủ, mà bằng chính tính trung thực, tinh thần cầu nguyện theo tinh thần Tin Mừng, lòng tin tưởng, sự chân thành và công lý, nhất là khi Giáo Hội chống lại các lạm dụng”.
Một cử chỉ khác được coi là mạnh dạn là việc ngài quyết định cho mở cửa Chủng Viện tại trung tâm thủ đô San Salvador vào ngày thứ hai Phục Sinh năm 1978 để đón tiếp bất cứ nạn nhân nào của các vụ bạo động. Hàng trăm người vô gia cư, đói rách và bị hành hung đã đến Chủng Viện. Và một quyết định nữa nói lên việc ngài toàn tâm toàn lực đấu tranh cho công lý, cho người nghèo là việc ngài cho ngưng xây cất Nhà Thờ Chính Tòa San Salvador. Ngài nói: “Khi nào chiến tranh chấm dứt, những người đói khổ được ăn uống đầy đủ và trẻ con được giáo dục, lúc đó chúng ta sẽ tiếp tục xây cất Nhà Thờ Chính Tòa”.
Chính vì sự cương quyết và can đảm đó, ngài đã trở thành cái gai trong mắt những người có quyền, có thế lực tại El Salvador. Ngài luôn bị đe dọa, luôn phải đối diện với nguy hiểm. Biết vậy, ngài vẫn không im lặng, hay tìm một nơi khác an toàn. Chiều ngày 24.3.1980, Đức Cha Romero cử hành Thánh Lễ cầu hồn cho thân mẫu của một người bạn, tại Nguyện Đường của một bệnh viện ở thủ đô San Salvador. Ngài bị bắn chết ngay sau bài giảng nảy lửa của mình.
Án phong Chân Phước cho Đức Tổng Giám Mục Romero đã vấp phải những quan ngại cho rằng, ngài đã bị giết vì tham gia chính trị, chứ không phải vì Đức Tin của mình. Năm 2013, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 đã khai thông mọi bế tắc trong tiến trình phong Chân Phước. Ngài nói rằng Đức Tổng Giám Mục Romero “đáng được phong Chân Phước, tôi không bao giờ hồ nghi về điều đó” ( Đặng Tự Do, Những hiện tượng siêu tự nhiên trong Lễ Phong Chân Phước cho Đức Tgm. Oscar Romero, Vietcatholicnews ).
Những bài giảng của Đức Tgm. Oscar Romeo rực lửa tình yêu, bênh vực những người nghèo khổ bị áp bức. Sứ mệnh ngôn sứ đã không cho phép ngài im lặng, đồng loã, thoả hiệp với sự dữ. Ngài thực sự noi gương Đức Giêsu, đem Lửa Trời thanh luyện thế gian, cùng sẵn sàng đón nhận phép Rửa trong Thánh Thần và lửa.
Trong Tin Mừng Chúa Nhật 20 năm C hôm nay, Đức Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên.” Với Lòng Thương Xót vô biên, Người tha thiết mong muốn ngọn lửa Tình Yêu nồng nàn, lửa Chân Lý rạng ngời và lửa Hồng Ân tái sanh, cho con người được hưởng phúc vĩnh cửu.
Lửa Tình Yêu
Lửa chính là biểu tượng cao cả chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa. Từ ngọn lửa bừng cháy trong bụi cây tại núi Khôrép, Thiên Chúa đã thương yêu phán dạy cùng ông Môsê ( Xh 3, 2 ). Kinh Thánh có lẽ dựa vào đó, để khái quát phác hoạ tính siêu việt tột đỉnh: “Thiên Chúa của anh em là một ngọn lửa thiêu” ( Đnl 4, 24 & Dt 12, 29 ). Lửa còn là hình ảnh Thiên Chúa hướng dẫn dân Do Thái trong sa mạc ( Xh 13, 21 ). Tóm lại theo Cựu Ước, lửa là hình ảnh biểu lộ quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa ( Is 1, 25; Dcr 13, 9 ).
Lửa cũng còn là tình yêu nồng cháy của Đức Giêsu nhập thể. Vì tình yêu, Người đã xin vâng Thánh Ý, đến cứu độ nhân loại. Yêu thương tất cả mọi người, Người không phân biệt, kỳ thị, loại bỏ bất kỳ ai. “Ta chẳng phải đến gọi người công bình, nhưng gọi kẻ có tội” ( Mc 2, 17 ). Người đặc biệt quan tâm chăm sóc, cứu vớt những ai nhỏ bé, khiêm nhường, ưu sầu, nghèo khổ, bệnh hoạn, tật nguyền, lầm lạc, tội lỗi, bơ vơ, cùng khốn, tù đầy, bị từ khước và bị bỏ rơi. “Vì Con người đã đến để tìm sự đã hư đi" ( Lc 19, 10 ).
Chính Đức Giêsu đã mạc khải cho ông Nicôđêmô rằng: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” ( Ga 3, 16 ). Bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu” ( 1Ga 4, 8 ), nên ngọn lửa cũng ẩn dụ hình bóng tình yêu nồng nhiệt của Chúa dành cho nhân loại. “Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” ( Ga 15, 13 ). Lửa tình yêu của Chúa cao cả tuyệt đỉnh, vô song, chói lọi, rực sáng, xua tan bóng đêm thù hận, oán ghét, chia rẽ, đố kỵ giữa nhân loại. “Tình yêu là ngọn lửa của Đức Chúa, mà những dòng nước lũ không thể dập tắt được” ( Dc 8, 6 ).
Lửa Chân Lý
Thời Tân Ước, lửa trở thành biểu tượng của Chúa Thánh Thần, như ông Gioan Tẩy Giả đã trân trọng giới thiệu: “Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và lửa” ( Mt 3, 11 ). Vì thế, Đức Giêsu muốn ngọn lửa tình yêu đốt cháy cả thế gian, đang vô cảm, vô tình, bất nhân, bất nghĩa, xơ cứng, đông lạnh vì thói vị kỷ, lãnh đạm, dửng dưng trước nỗi đau đớn của đồng loại.
 “Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên.” Lửa Chúa Thánh Thần chính là chân lý, sự thật, sẽ đốt cháy những gì giả dối, gian manh, trá hình, dẫn đưa mọi người về đường ngay nẻo chính. Nhưng chính ý muốn chân thật, thánh thiện này lại trở nên nguyên cớ gây bất bình, chia rẽ, chống đối, báng bổ, như người công chính Simêon đã công khai tiên báo: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ítraen phải vấp ngã hay được trỗi dậy. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng." ( Lc 2, 34 ).
Lửa Chân Lý phân minh xua tan bóng tối giả hình, lật tẩy những kẻ tà tâm, soi dọi ánh sáng vào những mưu toan đê hèn, bất nhân, lên án thói háo danh, háo lợi. “Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” ( Mt 4, 16 ).
Những ai không chấp nhận chân lý, không dám đối diện sự thật, thường tìm mọi cách che giấu, ém nhẹm, bưng bít những hành xử xấu xa, những thủ đoạn gian manh... Đồng thời bằng mọi cách ám hại những ai can đảm lên tiếng cảnh tỉnh, bịt miệng những tiếng nói lương tâm. Đức Giêsu không hề sợ hãi quyền lực sự dữ. Người thẳng thắn vạch mặt chỉ tên những ai lạm dụng chức tước, địa vị và quyền uy để mưu lợi. “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình ! Các người nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ, cho nên các người sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn” ( Mt 23, 14 ).
Chính vì bảo vệ Chân Lý, Đức Giêsu trải qua bao âm mưu sát hại. Người bị vu oan cáo vạ cũng vì sự thật. Người chẳng hoạt động chính trị, chẳng mộng phục quốc, chẳng mưu đồ bá vương. Nhưng sau cùng vẫn bị kết án chính trị. “Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư ? Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ.” Chính lửa chân lý gây chia rẽ giữa thiện và tâm, chính sự thật làm phân hoá, khuynh đảo toàn thể xã hội, đang điên cuồng mê say thói thực dụng và gian xảo.
Lửa tái sinh
Lời Chúa còn tựa như lửa tái sinh dành cho những ai biết lãnh nhận, lắng nghe, và đem ra thực hành, sẽ cảm biến cuộc đời, rồi sau này qua cái chết, sẽ được hưởng phúc vĩnh cửu: “Thật, tôi bảo thật các ông: ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống" ( Ga 5, 24 ).
Ngay các Tông Đồ đã cảm nghiệm sâu sắc tác động của Lời Chúa: “Dọc đường, khi Ngài nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?” ( Lc 24, 32 ). Lửa Lời Chúa luôn đem lại cho người nghe niềm vui, bình an và hy vọng.
Đức Giêsu còn mong muốn những Tông Đồ, những tín hữu theo Người, đem ngọn lửa Tin Cậy Mến chiếu giãi thế gian, để cho mọi người đều được chung hưởng phúc trường sinh. Hiệp ý cùng, Thánh Phaolô đã khuyến khích Giáo Dân Philipphê: “Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời, là làm sáng tỏ Lời ban sự sống, để tôi được hiên ngang hãnh diện trong ngày Ðức Kitô quang lâm, vì tôi đã không chạy uổng công và đã không lao nhọc vô ích” ( Pl 2, 15-16 ).
“Chiếu sáng đời con bằng Đức Tin và Đức Ái. Đốt cháy thế gian với ngọn lửa Chúa đặt trong tim con” ( Đường Hy Vọng, số 226 ).
"Lạy Chúa Giêsu thương mến,
Xin ban cho chúng con tỏa lan hương thơm của Chúa đến mọi nơi chúng con đi.
Xin Chúa hãy tràn ngập tâm hồn chúng con bằng Thần Khí và sức sống của Chúa.
Xin Chúa hãy xâm chiếm toàn thân chúng con để chúng con chiếu tỏa sức sống Chúa,
Xin Chúa hãy chiếu sáng qua chúng con, để những người chúng con tiếp xúc cảm nhận được Chúa đang hiện diện nơi chúng con.
Xin cho chúng con biết rao giảng về Chúa, không phải bằng lời nói suông, nhưng bằng cuộc sống chứng tá, và bằng trái tim tràn đầy tình yêu của Chúa" ( Mẹ Têrêxa Calcutta ).
Khấn xin Mẹ Maria cầu bầu cho chúng con trở thành ngọn lửa nhiệt thành tràn đầy tình yêu Chúa và tha nhân, để chúng con có thế chiếu sáng cho thế gian. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN20-C109: TIÊN TRI LÀ "NGƯỜI TẠO RA RẮC RỐI"

Hiển nhiên Chúa Giêsu là một người tốt. Vì thế chúng ta có thể cho rằng cuối cùng Người cũng sẽ TN20-C109

Hiển nhiên Chúa Giêsu là một người tốt. Vì thế chúng ta có thể cho rằng cuối cùng Người cũng sẽ được mọi người yêu mến. Nhưng Người đã khích động lòng căm giận để cuối cùng Người chịu khổ nạn trên thập giá. Điều đó đã xảy ra như thế sao ? Điều đó xảy ra vì Chúa Giêsu là một nhà tiên tri, tiên tri về tôn giáo và một nhà tiên tri thì luôn là người không được chấp nhận đúng theo năng lực mà mình có. Đa số các tiên tri đều bị bách hại và một số thì bị giết.
Giêrêmia là một ví dụ cụ thể, ông được gọi làm tiên tri khi còn rất trẻ. Ông đã sống với ơn gọi đó trong một thời gian có những biến động lớn, khi ông chứng kiến sự thất bại của Israel và sự tàn phá của Giêrusalem và đền thờ. Ông là lương tâm của dân tộc mình. Ông rất yêu dân tộc mình và không bao giờ đánh mất niềm tin vào sức mạnh của Chúa, Đấng sẽ cứu họ. Nhưng rồi ông đã bị buộc tội là kẻ gây náo loạn, và sống với nỗi sợ hãi triền miên suốt cuộc đời ông.
Các tiên tri là "những người tạo ra rắc rối", nghĩa đúng nhất của tên gọi này. Không có người nào gây rắc rối, phá vỡ sự bình yên bằng những người đi rao giảng về sự thật và sự công bằng. Như mục sư Martin Luther King ở Mỹ, ông là con người của hoà bình. Bằng cách kêu gọi mọi người chấm dứt nạn phân biệt chủng tộc đối với người da đen, ông đã tạo ra nhiều rối loạn ở Mỹ hơn bất kỳ người nào thuộc thế hệ của ông. Cũng như nhà khoa học Nga, Andrei Sakharov, ông cũng bị chính phủ gán cho cái nhãn "người làm loạn", bởi ông kêu gọi chấm dứt khủng bố giữa những người không cùng quan điểm và sự leo thang của vũ khí hạt nhân.
Đôi khi, những gì chúng ta gọi là hoà bình lại không có một chút hoà bình nào cả. Bất kỳ nền hoà bình nào không được xây dựng trên nền tảng của công bằng thì đó chỉ là một nền hoà bình giả tạo. Tổng Giám Mục Helder Camara của Brazil đã mô tả điều đó giống như mặt trăng bị che khuất. Chúa Giêsu đã đem bình an đến cho chúng ta, nhưng không phải loại bình an đó. Cũng như có nền hoà bình giả tạo, thì cũng có sự hợp nhất giả tạo, trong đó người ta phải chịu đựng sự phân biệt đối xử và bất công. 
Khi nhà văn Nam Mỹ Laurens van der Post được phóng thích khỏi nhà tù chiến tranh ở Nhật Bản và được tự do, ông đã bị khủng hoảng cực độ, vì nhận ra rằng sự tàn bạo của hoà bình cũng tương tự với sự tàn bạo mà ông đã từng trải qua trong chiến tranh. Và như Solzhenitsyn nói, khi người lính trở về với cuộc sống đời thường, họ bị khủng hoảng trước sự nhẫn tâm, hoàn toàn vô đạo đức trong cách người ta đối xử với nhau. Bằng việc dự phòng cho họ có cơ hội phục vụ một chính nghĩa lớn lao hơn bất kỳ mưu cầu ích kỷ nào của chính họ, chiến tranh đã lấy đi những gì tốt đẹp nhất nơi họ.
Những điều khác thường nhiều biết bao trong số những điều được chấp nhận như một điều bình thường. Ví dụ, sự bất công trong xã hội, khoảng cách giữa người nghèo không nơi nương tựa và kẻ giàu có xấc láo. Chúng ta biết điều này quá rõ đến nỗi chúng không còn gây phản ứng nào  cho ta nữa. Chúng ta chấp nhận nó như một điều bình thường. Vì thế, chúng ta cần một người thức tỉnh chúng ta ra khỏi trạng thái hôn mê và lãnh đạm.
Chúa Giêsu nói Người đến để nhóm lên ngọn lửa cho trần gian. Đó không chỉ đơn thuần là hình ảnh, một sự ẩn dụ. Nhưng đó là một biểu hiện đầy quyền lực. Lửa không phải là thứ duy trì thái độ dửng dưng. Lửa không phải là yếu đuối, nhợt nhạt, không có sự sống. Lửa sưởi ấm và an ủi. Nhưng lửa cũng sẽ thiêu đốt những gì vô dụng và tôi luyện những gì không trong sạch.
Sứ điệp Tin Mừng là lửa để tôi luyện, là men cho xã hội và thế giới. Ngọn lửa không chỉ cần được nhóm lên mà còn cần được giữ cho cháy mãi. Chúng ta, những người theo chân Chúa Giêsu, là những người sẽ giữ cho ngọn lửa đó sáng mãi.

 

TN20-C110: Khi vui muốn khóc – Đỗ Lực, OP

(Lc 12:49-53)
 

Trong ngôn ngữ Việt nam, đôi khi có những tiếng ghép gợi lên thực tại không ổn. Ví dụ: tức TN20-C110

Trong ngôn ngữ Việt nam, đôi khi có những tiếng ghép gợi lên thực tại không ổn. Ví dụ: tức cười, buồn cười, nực cười v.v. Trong thực tế, cũng có “khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.” Hằng ngày, sau khi nghe tin tức, nhiều khi chúng ta không thấy tức … mình một tí nào. Dĩ nhiên, chữ tức ở đây không vô nghĩa, nhưng dễ gợi lên một thứ tình cảm không vui. Còn những chữ Tin Mừng, Tin Vui, Tin Lành chắc chắn đem lại phấn khởi cho con người. Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng, nhưng tại sao hôm nay Người mang lại một tin không vui? Có gì bất ổn trong lời Chúa không?

SỰ THẬT MẤT LÒNG
Thoạt nhìn, không ai thấy lời Chúa hôm nay là một tin mừng. Chúa tự cho mình có sứ mệnh đem đến nhân loại những hình ảnh và thực tại ghê sợ như lửa, chia rẽ, chống đối v.v. Những hình ảnh này có thể xóa tan tất cả những nét tươi đẹp, lý tưởng về Chúa. Đúng hơn, nghe những lời đó, nhiều người có thể không tin vào sứ mệnh hòa bình và hòa giải của Chúa nữa.
Nhưng sự thật vẫn là sự thật, dù có làm mất lòng nhiều người. Không gì khó hơn trực diện với sự thật. Đó là một thách đố lớn nhất. Nhiều khi chúng ta tự hỏi: Làm sao biết cái gì là thật? Đi đâu để tìm ra sự thật? Sự thật có tìm được ở nơi con người không hay phải tìm ở một nơi nào cao hơn con người? Rõ ràng phải vất vả phấn đấu mới tìm ra sự thật, chứ không dễ dàng như ta tưởng. Khuynh hướng chung ai cũng thích hào nhoáng. Thực tế có rất nhiều cản trở trên bước đường tìm kiếm sự thật. Có lẽ cản trở lớn nhất là sự sợ hãi. Chúng ta sợ sự thật vì sự thật đặt chúng ta trước giới hạn của mình, trước những thực tại dù chúng ta có ưa thích hay không.
Nhưng nhiều lần Chúa lên tiếng trong Kinh thánh: “Đừng sợ!” Tại sao Thiên Chúa lập lại nhiều lần câu nói ngắn ngủi đó, nếu không có một cái gì làm cho chúng ta run sợ? Thiết tưởng không gì run sợ hơn khi nhìn vào sự thật. Nhưng chúng ta cần dành một chút thời gian để chiêm nghiệm qua đoạn Tin Mừng hôm nay tất cả năng lực nơi Thiên Chúa, tỏ bày nơi con người Đức Giêsu. Có gì mạnh bằng lửa? Vậy mà chính Chúa đã vẽ ra một hình ảnh thật oai hùng: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!” (Lc 12:49) Một con người nói lên một tiếng nói mạnh mẽ đó, chắc chắn phải có một đam mê và ước vọng lớn mạnh khủng khiếp. Đam mê mãnh liệt đến nỗi Người có thể vượt qua mọi đối kháng tự nhiên của con người.
Phải có một đam mê lớn mạnh như Chúa mới không sợ hãi sự thật. Khi nhập thể, Chúa đi vào thế giới đầy dẫy sự dối trá, tăm tối và ô uế. Bởi đấy, Chúa muốn ném lửa vào trần gian để thiêu đốt tất cả. Ở đây, lửa tượng trưng đường lối sự thật đang hoạt động trong cuộc sống con người. Tất cả những gì không phải là sự thật đều bị đốt cháy. Nếu dùng lửa như phương tiện thanh tẩy, Chúa Giêsu ước mong giải thoát con người khỏi mọi ảo tưởng, tất cả những sự thật nửa vời, mọi thực tại không thật. Chúa biết rất khó thực hiện được điều đó. Chính Người đã đi qua tiến trình đó một cách bí nhiệm.
Thiết tưởng hôm nay Lời Chúa cho chúng ta thấy một sự thật: rất khó làm cho người khác tiếp cận sự thật. Nhưng càng suy nghĩ, càng thấy đối diện với sự thật trong ta mới khó gấp bội! Chúa Giêsu và ngôn sứ Giêrêmia từng là nạn nhân thời cuộc khi bắt đồng loại phải đối diện với sự thật. Nhưng không có sự thật, làm sao con người có thể được giải thoát và sống hạnh phúc? Bởi đấy, thánh Phaolô khuyên chúng ta phải cố gắng sẵn sàng đón nhận sự thật và đem sự thật đến với tha nhân. Chúng ta có một gương mẫu tuyệt vời là Đức Giêsu Kitô. Người chịu đựng tất cả, đến nỗi chịu đóng đinh và đâm thấu trái tim, để đem sự thật đến cho quần chúng. Bởi đó, Chúa mới nói: “Thày còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thày khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất.” (Lc 12:50) Chúa Giêsu muốn trần gian trải qua một cuộc thanh tẩy. Thanh tẩy ví như lửa. Tuy nhiên, thanh tẩy là một cuộc tái sinh mới. Tất cả sẽ hoàn toàn lột xác.

LỘT XÁC HOÀN TOÀN
Cuộc lột xác sẽ gây đau đớn và ảnh hưởng sâu xa đến những tương quan sâu xa và thân mật nhất trong gia đình như cha mẹ và các người phối ngẫu. Khi đột nhập vào trong những hệ thống gia đình, chân lý làm cho mọi người bất ổn. Sẽ có cuộc phân rẽ lớn giữa những người tin và không tin. Thật là một cuộc chuyển mình đau đớn. Những người chấp nhận chân lý sẽ bị chính những người thân chống đối. Chính chân lý bị tấn công và phủ nhận. “Lời công bố Nước Trời của Đức Giêsu là một ngọn lửa tinh luyện và thanh tẩy. Khi được chấp nhận hay bị chối từ, sứ điệp của Chúa sẽ là nguồn phát sinh đối kháng và bất đồng, ngay cả trong gia đình.” (1) Lợi dụng những xung đột trong gia đình, Chúa vừa khéo léo đi sâu vào những tương quan sâu kín hơn trong nội tâm con người, vừa vươn rộng tới các sinh hoạt phức tạp ngoài xã hội, trên bình diện quốc gia cũng như quốc tế.
Những ai đón nhận chân lý, sẽ trải qua một cơn biến đổi lớn lao. Đức Kitô đem lại sự hiệp nhất, duy nhất và toàn vẹn. Điểm quy tụ là chính Đức Kitô. Sống trong chân lý là Đức Kitô, mọi người sẽ cảm thấy bình an chan hòa trong tâm hồn và cuộc đời. Thực vậy, Đức Giêsu đem cả quyền lực Thiên Chúa vào trần gian để xua đuổi ma quỷ và giải thoát nhân loại khỏi gông cùm Satan. Cả cuộc sống Người cho thấy ý nghĩa việc giải thoát hoàn toàn khỏi những hệ thống giá trị man trá của vương quốc Satan mà quy phục vương quốc Thiên Chúa – không phải như quy phục một ông vua đầy quyền lực, nhưng như một người cha đầy lòng yêu thương.
Nếu lắng nghe Lời Chúa trong niềm tin, chúng ta sẽ thấy rõ hệ thống những giá trị chúng ta đang sống trong thực tế. Mặc dù là thành phần Giáo hội, tôi có còn sống trong vòng nô lệ những hệ thống giả tạo của một thế giới hư mất không? Làm sao xác định ý nghĩa đời tôi? Làm sao xác định ý nghĩa của thành công?
Đức Giêsu Phục Sinh đang sống giữa chúng ta. Người thúc đẩy chúng ta làm cho Triều Đại Thiên Chúa thành hiện thực trong ta. Dù thực tại đó có làm mất đi những gì quý báu nhất, chúng ta vẫn có thể dấn thân vào những hoàn cảnh áp bức với Đức Giêsu, Đấng đầy cảm thông và quyền lực chữa lành. Nhờ hồng ân Thiên Chúa, đôi khi chúng ta cũng có thể là những phương tiện đem lại sự giải thoát và niềm hy vọng cho những người đang sống trong vòng nô lệ. Tất cả sức mạnh đều bắt nguồn niềm tin vào quyền năng Đấng Thiên Sai. Người là ngọn lửa hồng thiêu đốt và soi sáng khắp trần gian.

SỰ THẬT VÀ QUYỀN LỰC
Có thể có đầy đủ quyền bính trong tay, nhưng vẫn sợ đối diện với sự thật. Bởi đấy, trong chính trường, có mấy chính trị gia dám nói thật và nói hết cho người dân? Đó là chưa kể nhiều chế độ còn xây dựng trên sự dối trá mới có thể bền vững và bảo vệ quyền bính. Ngày nay, nhiều người còn nhìn sự thật như một đe dọa cho nền dân chủ, cho bản chất và ước vọng con người chúng ta.
Người ta có thể không sợ nhà tù, bom đạn, nhưng vẫn sợ sự thật. Sự thật có một quyền lực đáng sợ nhất đối với những chế độ sống dựa trên sự dối trá. Chẳng hạn, mỗi lần bị tố cáo vi phạm nhân quyền, các chính quyền cộng sản làm gì? Trước hết, bộ ngoại giao lên tiếng phủ nhận hoàn toàn và nhấn mạnh “không ai bị tù tội vì nhân quyền, chỉ có những tội phạm hình sự.” Người ta đã dùng một thứ trò chơi chữ nghĩa hay hình sự hóa để trù dập và sát hại con người. Có khi là giọng triết lý rẻ tiền như “mỗi dân tộc có một quan niệm về nhân quyền khác nhau.” hay sặc mùi tuyên truyền như “nước ta có tự do, nhân quyền gấp ngàn lần,” Bàn tay sắt máu, nhưng miệng vẫn hô hào nhân đạo và triết lý “cùn” về ý nghĩa cuộc đời là yêu thương. Ngôn ngữ đang đi vào trò chơi “đĩ thõa” để bao vây và khỏa lấp chân lý. Tiền thuế của dân đã được dùng vào việc ngăn chặn sự thật. Biết bao phương tiện và nhân sự đã bị vận dụng vào công cuộc bao che chế độ. Càng bao che, càng để lộ chân tướng. Đúng như Oscar Wilde nói: “Hãy cho hắn cái mặt nạ, rồi hắn sẽ nói cho bạn biết sự thật.”
Nếu chân lý không phải là một sức mạnh, tại sao cơ quan quyền lực phải run sợ? Sở dĩ chân lý là sức mạnh áp đảo cả quyền lực tối cao trong đất nước, vì “sự thật sẽ giải thoát các ông.” (Ga 8:32) Càng che dấu sự thật, càng chứng tỏ mình là gông cùm xiềng xích dân tộc trong vòng nô lệ. Xuyên tạc và che dấu sự thật là những hoạt động cần thiết cho sự sống còn của một chế độ độc tài. Điều này ai cũng hiểu.
Nhưng không hiểu tại sao có những người không thuộc cơ quan công quyền vẫn không dám nói sự thật và còn tìm cách “xếp lại vụ việc” để bao che cho nhà nước? Trước cảnh nhà nước vi phạm nhân quyền, nhất là tự do tôn giáo, trong khi TGM Hà Nội đòi “xếp lại hồ sơ,” thì ĐHY Phạm Minh Mẫn lại muốn “mở toang hồ sơ” vạch trần hiện trạng xã hội: “Một số hậu quả tiêu cực xuất hiện rõ nét trong gia đình và xã hội, như – làn sóng di dân nhiều triệu người từ nông thôn lên thành thị, – sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rộng lớn, – sự suy thoái đạo đức ngày càng trầm trọng, – cộng thêm sự phát sinh ra nhiều loại tệ nạn xã hội (ăn gian, lừa dối, tham nhũng, bạo lực trong gia đình, phá thai, ly dị, mại dâm, buôn người, ma túy, dịch HIV/AIDS). Dù có những biện pháp tích cực chữa trị, những tiêu cực đó cùng dịch HIV/AIDS tiếp tục lan rộng trên cả nước.” (2) “Tất cả những hiện tượng trên tạo ra những đường nét cong queo, méo mó, hụt hẫng, dị dạng tô điểm cho một bức tranh xã hội mà một nhà văn châm biếm mô tả cách cường điệu như sau:
Ngày nay nhân phẩm xuống giá rồi, Chỉ có thực phẩm lên giá thôi,
Lương tâm giá bèo hơn lương thực, Chân lý chân giò một giá thôi.” (3)
Một mình nhà nước có cứu nổi dân tộc thoát khỏi cơn đầy đọa đó không? Tại sao càng ngày càng bế tắc và bất lực trước những vấn đề quá lớn lao trong xã hội? Nguyên nhân vì “những lý do lịch sử cũng như do quan điểm và định kiến, Nhà Nước trong những thập niên qua, có thái độ khá tiêu cực đối với các tôn giáo. Do đó các tôn giáo đều gặp nhiều khó khăn và hạn chế trong các sinh hoạt của mình. Từ khi VN mở ra với thế giới và chuyển sang kinh tế thị trường, tình hình dần dần được cải thiện. Trước kia, các tổ chức tôn giáo bị coi như một thế lực chống phá Nhà Nước, dần dần được nhìn nhận như một sức mạnh tinh thần góp phần xây dựng và phát triển đất nước, thăng tiến đời sống gia đình, xã hội và cộng đồng dân tộc. Dầu vậy, hiện nay các tổ chức tôn giáo vẫn còn phải chịu một số hạn chế và bất công.” (4)
Trên tầm mức quốc tế, ĐGH Bênêđictô XVI cũng mạnh mẽ tố cáo: “Trong thế kỷ 20 quyền lực của con rồng hiện thân nơi các chế độ toàn trị Quốc xã và Cộng sản đã đe dọa xóa bỏ đức tin Kitô giáo. Bất chấp những chiến dịch tàn bạo các chế độ đó tung ra chống phá tôn giáo, tình yêu chứng tỏ đã mạnh mẽ thắng vượt hận thù.” (5)
Dĩ nhiên tôn giáo không phải là tất cả. Một mình tôn giáo cũng không thể giải quyết mọi vấn đề. Nhưng hiện nay tại Việt nam, tôn giáo là lực lượng duy nhất có thể có tiếng nói mạnh. Nhưng ngay trong tôn giáo và ngoài xã hội, nếu không có tự do ngôn luận, sự thật không bao giờ có thể xuất hiện để giải thoát con người. Chính vì thấy rõ sức mạnh đó của sự thật, mọi cơ quan truyền thông và luật pháp trong nước đã tìm cách bịt miệng, bịt tai, bịt mắt cả dân tộc. Dù cố tình bưng tai bịt mắt, nhà nước cũng không thể bình chân như vại trước tiếng gào thét của lương tâm và dân tộc.
 “Ngày nay đồng bào và đồng loại nhiều nơi trên thế giới đang nóng lòng thấy Nhà Nước sớm khắc phục những bất công đối với các tổ chức tôn giáo cũng như nhiều thành phần khác trong cộng đồng dân tộc” để nhận ra “những giá trị tinh thần và đạo đức, như sự thật và công bằng, tình huynh đệ đại đồng và tình liên đới, lòng yêu thương bác ái xây dựng hoà bình và phục vụ cho sự sống và phẩm giá con người” như những “nền tảng cho việc phát huy nhân quyền, cũng như cho công cuộc xây dựng và phát triển vững bền đất nước và cộng đồng dân tộc.” (6)
Hiện trạng và những lời thức tỉnh cho chính quyền là như thế. Còn giáo quyền thì sao? Cũng có những cảnh bịt miệng không kém gì chính quyền. Nhiều sự thật bị che dấu. Chính vì thế, trong Giáo hội, cũng vẫn chưa tìm thấy sự giải thoát, bình an và hiệp nhất. Điển hình nhất là vụ “Nghi Thức Thánh Lễ” vừa qua …
Cần sớm can đảm nhìn nhận sự thật, mới có thể cứu nguy dân tộc trước họa diệt vong. Bấy giờ lời ca “thuở ấy trong tôi bừng nắng hạ, Mặt trời chân lý chói qua tim” (7) mới thực sự có ý nghĩa và vang vọng khắp lòng dân tộc. Đã đến lúc phải “gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ,” (8) mới có thể đón nhận chân lý giải thoát toàn thể con người và cuộc đời.
Lạy Chúa, xin Chúa hãy thiêu đốt chúng con trong ngọn lửa sự thật là Đức Kitô để chúng con có thể yêu mến Chúa và phục vụ anh em. Amen.
đỗ lực 19.08.2007
————————————————————
The New American Bible 1991:1116.
http://www.conggiaovietnam.net/LoiChuChan/
http://www.conggiaovietnam.net/LoiChuChan/
ibid.
http://www.vietcatholic.net/News/Html/46465.htm
http://www.conggiaovietnam.net/LoiChuChan/
Tố Hữu
Vũ Hoàng Chương Lửa Từ Bi 1963,
http://dactrung.net/tho/

 

TN20-C111: Thời Gian Quyết Định

Chúa Nhật XX Thường Niên Năm C 2019
Lm. Giuse Nguyễn
 

Hôm 15/08 vừa qua, khi máy bay A321 của Ural Airlines đâm phải đàn chim sau khi cất cánh TN20-C111

Hôm 15/08 vừa qua, khi máy bay A321 của Ural Airlines đâm phải đàn chim sau khi cất cánh từ sân bay Zhukovsky, Moskva để tới Crimea. Một số con chim lọt vào động cơ khiến cả hai động cơ máy bay đều hỏng, đẩy 226 hành khách và 7 thành viên phi hành đoàn vào tình huống nguy hiểm. Cơ trưởng mới chỉ có 3.000 giờ bay nhưng đã quyết định cho máy bay hạ cánh an toàn xuống cánh đồng ngô rộng lớn cách sân bay chưa đầy 1km cứu mạng sống của 233 người. Cơ trưởng Yusupov chia sẻ với báo chí sau đó: “Có những lựa chọn khác và thật tốt nhưng chúng tôi đã không sử dụng. Nếu chúng tôi cố quay lại sân bay, tôi không biết điều gì sẽ xảy ra”. Trong thời khắc định mệnh, đòi hỏi người ta phải có quyết định dứt khoát.
Đoạn Tin Mừng Chúa Nhật XX TN hôm nay diễn ra trong bối cảnh Đức Giêsu cùng với các môn đệ của Ngài đang trên đường lên Giêrusalem. Và đây là thời khắc quyết định cho sứ mạng thiên sai của Đức Giêsu, là thời điểm sống còn cho lịch sử Kitô giáo. Vì thế mà các nhà chú giải đặt cho đoạn Tin mừng này chủ đề thời gian quyết định.
Trong thời gian quyết định này, Đức Giêsu có 2 ước muốn cháy bỏng liên quan đến sứ mạng của Ngài: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!” (Lc 12, 49-50). Lửa và phép rửa là 2 ước muốn cháy bỏng của Đức Giêsu.
“Lửa” ám chỉ sự thanh luyện như “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Đức Giêsu đến thế gian này để chuẩn bị cho con người đón nhận ơn cứu độ. Sứ điệp đầu tiên của Ngài dành cho nhân loại là “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” (Mt 4, 23). Ngài ao ước ngọn lửa thanh luyện bùng lên để con người và thế gian được sạch hầu xứng đáng đón nhận ơn cứu độ.
“Phép rửa” là dìm mình trọn vẹn trong đau khổ, ám chỉ cuộc thương khó của Đức Giêsu. Đức Giêsu đến thanh luyện trần gian bằng chính Máu của Ngài. “Lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!” (Lc 12, 50b). Vì thế việc bước vào cuộc khổ nạn không phải là tình huống bất ngờ, nhưng là sự chủ động để vâng theo thánh ý Chúa Cha. Và vì vậy con đường thập giá trở thành con đường vinh quang cho những ai muốn bước vào Thiên Quốc.
Trong thời gian quyết định, thời khắc sống còn chúng ta không chọn lựa may rủi như cơ trưởng Yusupov của Nga hôm 15/08, nhưng là chắc chắn sẽ được sống đời đời nếu chấp nhận thanh luyện và bước vào cuộc khổ nạn cùng với Đức Giêsu.
Liền sau đó, Đức Giêsu nói lên sự thật hiển nhiên trong cuộc sống con người đó là quyết định của mỗi người liên quan đến đến đời sống đức tin, đến ơn cứu độ. Đứng trước lời mời gọi của Chúa, mỗi người có quyền theo hoặc không theo. Mà một khi không theo thì chuyện chống đối là đương nhiên, có khi ngay chính trong gia đình mình: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ” (Lc 12, 51).
Đức Giêsu đã đến trần gian mang lửa yêu thương vào đời, để ở đâu có tình yêu thương, ở đó sẽ được thanh luyện sạch mọi ích kỷ, giận hờn, ghen ghét…; ở đâu có tình yêu thương, ở đó sẽ được thanh luyện khỏi mọi mưu toan nham hiểm của con người; ở đâu có tình yêu thương, ở đó sẽ có sự thông cảm, tha thứ, nâng đỡ và dìu dắt nhau; ở đâu có tình yêu thương, ở đó không còn mắc nợ, mà là tình nghĩa để con người được hỗ trợ thêm.
Vì thế mỗi chúng ta hãy cố gắng thanh luyện bản thân, gia đình, cộng đoàn và môi trường mình đang sống bằng tình yêu thương chân thành. “Hãy làm mọi sự vì đức ái”. Đến đâu, hiện diện nơi nào cũng với châm ngôn “đến để phục vụ” giống Đức Giêsu.
Mẹ Têrêxa Calcutta đã “làm mọi sự vì đức ái” bằng cách “đến để phục vụ” những người nghèo khổ, bé mọn nhất trong xã hội. Mẹ nói rằng: “Tình yêu là loại quả của cả bốn mùa, và nằm trong tầm với của mọi bàn tay”. Chúng ta đừng sợ mình không có khả năng, không có điều kiện… Hãy sợ mình không có tình yêu.
Một khi đã chọn sống yêu thương – phục vụ bằng tất cả tình yêu thương là chúng ta đã chọn con đường thập giá của Đức Giêsu. Chọn lựa như thế cũng đồng nghĩa với việc phải chấp nhận những gian nan khốn khó mà Đức Giêsu gọi là những chia rẽ.
Thánh Phanxicô Assisi là vị thánh của tình yêu. Ngài là một người trung thực, lời nói đi đôi với việc làm, suy nghĩ sao hành động vậy. Ngài yêu mến Đức Giêsu khó nghèo nên quyết định sống nghèo thực sự giống Đức Giêsu. Ngài bán hết tài sản của mình cho người nghèo, ngay cả tấm áo choàng Ngài cũng cởi trả lại cho gia đình. Ngài sống vui tươi, bình an với thiên nhiên, vạn vật mà không lo nghĩ gì đến của cải thế gian. Ngài chỉ mong sao được phục vụ những người nghèo khổ… Chính thái độ sống của Ngài đã trở thành một sự chống đối cho gia đình Ngài. Lời Đức Giêsu nói trong đoạn Tin Mừng hôm nay là đúng.
Bằng Tình Yêu và sự Phục Vụ, môn đệ Đức Giêsu rất nhiều khi gặp phải những mối bận tâm, thao thức. Làm sao để cho người khác sống đạo tốt hơn? Làm sao để lo cho những người nghèo? Làm sao để có tiền cho các em đi học? Làm sao để có những cơ sở cần thiết cho việc phục vụ?…  những mối bận tâm nhiều khi làm kiệt quệ cả tinh thần và sức lực của người môn đệ.
Đáng sợ nhất là bằng Tình Yêu và sự Phục Vụ nhưng người môn đệ của Đức Giêsu vẫn gặp phải những nỗi cô đơn, chán chường, trống vắng, đôi khi là sự chống đối, bất hợp tác.
Đó là thân phận của ngôn sứ như Giêrêmia trong bài đọc thứ nhất. Chẳng còn ai ngoài những người bạn thân tín, yêu thương nên đã tìm cách để cứu ông. Đó là thân phận của Đức Giêsu đã chết vì yêu. Vì vậy chúng ta không sợ, không chán nản khi dám sống yêu thương.
Lạy Chúa, xin cho con dám quyết định sống yêu thương – phục vụ dù biết rằng sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Xin cho con đừng chán nản, nhưng cứ dấn thân vì tin chắc rằng tình yêu sẽ chiến thắng.

 

TN20-C112: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI

- CN 20 TN CIn trang nàyLượt xem: 347
Thiếu nhi chúng con yêu quí,
 

Chúng con vừa được nghe một bài Tin Mừng hơi khó hiểu một chút. Cha đố chúng con Chúa muốn TN20-C112

Chúng con vừa được nghe một bài Tin Mừng hơi khó hiểu một chút. Cha đố chúng con Chúa muốn nói gì với mọi người qua bài Tin Mừng hôm nay đấy?
Nào chúng con nói đi.
- Thưa cha Chúa nói chúng con khó hiểu quá.
- Tại sao Chúa lại bảo Chúa đến để chia rẽ.
- Tại sao Chúa lại bảo sự chia rẽ xảy ra ở ngay trong những nơi mà sự đoàn kết yêu thương cần phải được đề cao nhất đó là gia đình.
+ Đúng là bài Tin Mừng hôm nay khó hiểu thật. Tuy nhiên, nếu nhìn vào cuộc sống của Chúa Giêsu thì cha lại thấy những gì Chúa nói rất đúng. Cha có thể tóm lại hai ý chính mà Chúa muốn nói:
- Ý thứ nhất Chúa muốn nói về sứ mạng của Chúa khi được gửi xuống trần: "Thầy đến đem lửa xuống trần gian và Thầy muốn sao lửa đó được cháy lên”(Lc 12,49).
- Ý thứ hai Chúa muốn nói đến sự chọn lựa mà những ai muốn theo Chúa phải chấp nhận. "Các con tưởng rằng Thấy đến để đem sự bình an. Không! - Thầy đến để đem sự chia rẽ rẽ" (Lc 12,51).

1. Bây giờ cha thử hỏi: Lửa mà Chúa Giêsu đem đến trần gian là thứ lửa nào?
Theo hầu hết các nhà chú giải Thánh Kinh thì Lửa mà thánh Luca muốn nói ở đây chính là “ngọn lửa của Chúa Thánh Thần”. Lửa đã được ban xuống trên các Tông đồ trong ngày lễ Ngũ tuần (Cv 2,3,4) với sức mạnh và tình yêu Thiên Chúa để biến con người của các tông đồ và những người tin Chúa thành những khí cụ rao giảng Tin Mừng Tình Thương của Chúa cho mọi người (Cv 1,8).
Chúa mong lửa đó được bùng cháy lên!
Ngày kia, tại một làng nhỏ ở Miền Nam Trung Quốc, một em bé gái tiều tụy, đói rách và mang bệnh phong hủi bị dân làng dùng gậy gộc và gạch đá xua đuổi ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn của em.
Giữa cảnh hỗn loạn ấy, một nhà truyền giáo xông ra ẵm em bé trên tay để bảo vệ em khỏi những trận đòn và những viên gạch đá ném bừa bãi vào tấm thân bé bỏng của em.
Thấy có người mang em bé đi, dân làng mới chịu rút lui, nhưng miệng vẫn còn gào thét:
- Phong hủi! Phong hủi!
Với những giọt nước mắt lăn tròn trên đôi má, lần này là những giọt nước mắt vui mừng chứ không phải là những giọt lệ sầu đau, em bé hỏi vị cứu tinh của mình:
- Tại sao ông lại lo lắng cho con?
Nhà truyền giáo đáp:
- Vì Ông Trời đã tạo dựng nên cả hai chúng ta. Và cũng vì thế em sẽ là em bé gái của ta và ta sẽ là người anh lớn của em.
Suy nghĩ hồi lâu, em bé cất tiếng hỏi:
- Con có thể làm gì để tỏ lòng biết ơn sự cứu giúp của ông?
Nhà truyền giáo mỉm cười đáp:
- Con hãy trao tặng cho những người khác tình yêu của con, càng nhiều càng tốt.
Kể từ ngày ấy cho đến ba năm sau, khi em bé gái tắt hơi thở cuối cùng, em đã vui vẻ băng bó các vết thương cho những bệnh nhân khác, ân cần đút cơm cho họ, nhất là em luôn tỏ ra dễ thương và yêu mến tất cả mọi người trong trại.
Lúc từ giã cõi đời, em bé chỉ mới tròn mười một tuổi. Các bệnh nhân đã từng chung sống với em kháo láo với nhau:
- Bầu trời nhỏ bé của chúng ta đã về trời!
Đó chúng con thấy chưa? Lửa Tình yêu của Chúa đã được cháy lên rồi. Chúng con hãy sống như thế để cho ngọn lửa tình yêu của Chúa được bùng cháy to hơn nữa.

            2. Đức Giêsu còn nói: "Thầy đến để đem sự chia rẽ"(Lc 12,51).
Chúa nói như vậy nghĩa là làm sao? Tại sao không phải hoà bình mà lại là chia rẽ?
Cha mời chúng con so sánh hai câu chuyện này:
- Một hôm có một người thanh niên đến gặp Chúa và nói: “Lạy Thầy, tôi phải làm gì để được sống đời đời?”
- Tại sao ngươi lại gọi ta là nhân lành. Chỉ có một đấng tốt lành mà thôi. Nếu ngươi muốn được sống thì hãy giữ các giới răn.
- Giới răn nào?
- Chớ giết người, ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, hãy thảo kính cha mẹ, hãy yêu mến đồng loại như chính mình.
- Tất cả các điều ấy tôi đã giữ từ thuở nhỏ – vậy tôi còn thiếu gì?
- Nếu ngươi muốn được trọn lành, thì hãy về, bán những thứ mình có, bố thí cho người khó và ngươi sẽ có một kho tàng trên trời, rồi hãy đến mà theo Ta.
Nghe lời ấy, người thanh niên buồn sầu bỏ đi vì anh ta có nhiều của cải.(Mt 19,16-22)
Đó là câu truyện thứ nhất.
Và đây là câu chuyện thứ hai.
Vào một buổi sáng Chúa nhật, chừng sáu tháng sau khi cha mẹ mất, Antôn mảnh mai và xinh đẹp ngồi trong hàng ghế của gia đình trong ngôi nhà nguyện của làng. Antôn lắng nghe một cách say mê. Hôm đó vị chủ tế đọc Phúc âm theo thánh Mathêu và Tin Mừng hôm nay thuật lại y như câu chuyện trên:
 “Xảy ra một người đến thưa với Chúa rằng:(Mt 19,16-22)
Nghe xong câu chuyện, Antôn đứng lên, ra khỏi  nhà thờ – cảm thấy như Chúa muốn  mời gọi anh về bán đất đai và đoàn súc vật... rồi theo Chúa. Và rồi Antôn đã làm thật.
Chúng con thấy:
- 2 người giống nhau:
- cả hai đều giàu có.
- cùng đứng trước một lời gọi của Chúa.
- người thanh niên nghe trực tiếp.
- Antôn nghe gián tiếp.
- Nhưng 2 thái độ đáp ứng khác nhau: người thanh niên bỏ Chúa, chọn của cải.  Antôn theo Chúa, và chọn sự trọn lành.
Chúa đã chia rẽ Antôn và của cải...đã lôi kéo Antôn ra khỏi cái tầm thường để vươn lên một đời sống cao cả hơn.
Bây giờ chúng con nghe câu chuyện này mới thấy Lời Chúa thật thú vị:
Odette, một cô gái xinh đẹp sinh ra trong một gia đình quí tộc nước Bỉ, năm 17 tuổi cô quyết định đi tu, nhưng chỉ vài ngày sau khi lãnh áo dòng, cha mẹ cô đến bắt cô trở về.  Từ lâu, ông bà đã có ý gả cô cho lãnh chúa Simon thuộc lâu đài gần đó.
Vốn biết cô con gái cưng không muốn lập gia đình nên cha mẹ cô đã âm thầm chuẩn bị hôn lễ, các thiệp mời đều được kín đáo gởi đi và sự chuẩn bị đều giữ bí mật cho đến giờ chót.
Một buổi sáng đẹp trời cô thức giấc vì sự ồn ào lạ thường của lâu đài. Vén màn nhìn qua cửa sổ, cô ngạc nhiên thấy xe hoa lộng lẫy đang tiến vào khuôn viên trước lâu đài.  Hỏi han đầy tớ gái, cô mới biết người ta đang chuẩn bị lễ cưới cho cô.  Kế đó, các người hầu vào phòng trang điểm và mặc áo cưới cho cô, rồi họ đưa cô xuống nhà nguyện tư của lâu đài.  Nơi đây, đã có đông đủ quan khách, hàng giám mục của vùng và linh mục tuyên uý lâu đài đã nghiêm chỉnh chờ sẵn.
Nghi lễ đến phần giao ước.  Vị chủ tế hỏi Odette có ưng nhận Simon làm chồng theo luật Giáo hội không?  Cô dõng dạc tuyên bố:
- Con không nhận lãnh chúa Simon cũng như bất cứ người nào làm chồng bởi vì tình yêu và đức tin của con đã hiến dâng cho Chúa Kitô từ lâu rồi.  Vì thế, không một tình yêu nào cho dù sự hăm dọa có thể tách con khỏi tình yêu Chúa Kitô là bạn trăm năm duy nhất của đời con.
Sáng hôm sau, không thấy con gái xuống vườn đi dạo như thường lệ, cha cô gõ cửa đi vào phòng.  Và kìa, Odette đang gục đầu trên vũng máu.  Ông đau đớn nhìn con và hiểu ngay ý định của Odette. Vì muốn hủy hoại sắc đẹp của mình nên cô đã dùng gươm cắt chiếc mũi xinh đẹp.  Khi hồi tỉnh lại, được hỏi lý do tại sao cô làm như vậy?  Cô thản nhiên đáp: “như thế sẽ không còn ai cấm con đi tu nữa.”
Thật vậy, khi vết thương đã lành, cô được phép nhập tu viện.  Ba năm sau đó được bầu làm tu viện trưởng vào lúc cô mới chỉ được 23 tuổi.
Lm Giuse Đinh Tất Quý

 

TN20-C113: THẬP GIÁ VÀ NIỀM VUI

CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN - NĂM C
Lc 12, 49-53
 

Theo tâm lý thông thường, ai trong chúng ta cũng thích nghe những lời ngọt ngào êm tai và TN20-C113

Theo tâm lý thông thường, ai trong chúng ta cũng thích nghe những lời ngọt ngào êm tai và đem lại niềm vui. Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay lại gồm những ngôn từ xem ra khó chấp nhận: “Anh em tưởng Thày đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thày bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem chia rẽ”. Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta không khỏi lúng túng khi tìm cách hiểu đoạn Tin Mừng này. Tuy vậy, nếu suy tư về hành trình đức tin, mỗi chúng ta đều công nhận một điều, để đến với Chúa Giêsu, phải chấp nhận nhiều hy sinh cố gắng. Có những người theo Chúa Giêsu phải vượt qua nhiều trở ngại. Những trở ngại đến từ nhiều phía: cha mẹ, anh em, họ hàng và bạn bè. Như thế, để có thể theo Chúa Giêsu, phải chấp nhận những buông bỏ, để lựa chọn và gắn bó với Người. Và thế là, vì theo Chúa Giêsu mà xảy ra mâu thuẫn, thậm chí xung đột căng thẳng giữa những thành viên trong cùng một gia đình.
Có thể nói, Giêrêmia là một ngôn sứ trải qua nhiều cực nhọc gian nan nhất. Vì trung thành chuyển tải sứ điệp của Chúa mà người đồng hương đã gọi ông là tên “tứ phía kinh hoàng”. Đoạn sách thánh được đọc hôm nay kể lại việc người Do Thái căm ghét ông và lập mưu bỏ ông xuống giếng sâu, nhằm giết chết ông. Nhờ lòng thương cảm của một người khác là ông Evét Mêléc, ông Giêrêmia đã được đưa lên khỏi hầm. Trong lúc người Do Thái thích nghe những lời ngọt ngào, Giêrêmia lại tuyên bố những lời cảnh cáo, trách móc và đe dọa. Tuy vậy, lời ông nói không phải là của cá nhân ông, mà ông chuyển tải ý định của Thiên Chúa. Những lời ấy vừa nhằm giúp cho quốc dân tránh tai họa, vừa uốn nắn giúp họ tìm được sức mạnh nơi Thiên Chúa. Ngôn sứ là người nói lời của Chúa. Ngôn sứ cũng là người gánh chịu những hậu quả do lòng thù ghét của dân. Tuy vậy, những ai trung thành với sứ mạng loan báo sứ điệp của Chúa sẽ được Ngài thương và cứu chữa. Giêrêmia được cứu sống, đó là bằng chứng ơn phù trợ của Chúa dành cho những ai trung tín với Ngài.
Như thế, con đường theo Chúa vừa ngọt ngào vừa chông gai. Chính Chúa Giêsu cũng đã đi trên con đường thập giá và đã tự nguyện chết trên thập giá để bày tỏ tình thương của Thiên Chúa. Chúa đã đau khổ để nâng đỡ cảm thông những người đau khổ. Thập giá mang muôn màu sắc và muôn hình muôn vẻ. Thập giá cũng hiện diện mọi nơi trong đời sống của chúng ta. Có thể đó là những khác biệt trong suy nghĩ của những thành viên trong một gia đình hay một cộng đoàn; có thể đó là một người bạn đời hay một người hàng xóm có tính nết không mấy dễ chịu; có thể đó là một sự kiện xảy đến làm chúng ta gặp nhiều điều bất tiện… Người Kitô hữu đón nhận thập giá không phải như con trâu mang cày ì ạch bước đi, nhưng như một người chia sẻ gánh nặng của người khác một cách vui vẻ và với mục đích xây dựng cuộc sống bình yên an hòa.
Tác giả thư gửi giáo dân Do Thái đã khẳng định: “Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa”. Tác giả cũng khuyên chúng ta hãy nhìn lên Chúa Giêsu chịu khổ hình để không sờn lòng nản chí khi gặp đau khổ gian nan (Bài đọc II).
“Thày đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thày những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!”. Ngọn lửa mà Chúa Giêsu đem đến cho trần gian, đó là lửa tình yêu và sức mạnh, là lửa nhiệt huyết rao giảng tình thương Thiên Chúa đối với con người. Hôm nay, Người vẫn mong cho ngọn lửa ấy sáng lên nơi cuộc đời này. Dẫu biết rằng giáo huấn của Chúa Giêsu sẽ được đón nhận nhiều cách khác nhau, nhưng chúng ta không vì thế mà nản chí ngã lòng. Hãy thắp lên ngọn lửa có tên Giêsu, để chiếu rọi mọi nơi tăm tối và mọi góc khuất của cuộc sống. Hãy là một đốm lửa, dù nhỏ nhoi và mong manh yếu ớt, giữa những tăm tối bủa vây xung quanh, hầu sưởi ấm và thắp sáng cho những người lân cận.
Thập giá là biểu tượng của đau khổ, nhưng thập giá cũng đem lại hạnh phúc và niềm vui. Chúa Giêsu đã vác thập giá và đã chết trên thập giá, nhưng Người đã sống lại vinh quang. Thập giá chỉ là một chặng đường, dùng có nặng nề đến mấy cũng chỉ là nhất thời chứ không phải là đích điểm. Đích điểm cuộc đời chúng ta chính là hạnh phúc viên mãn nơi Thiên Chúa. Người có đức tin vững vàng sẽ làm cho thập giá nở hoa và tỏa hương thơm ngát. Đó chính là hương thơm của sự thánh thiện, của lòng yêu mến và trung thành.
+TGM Giuse Vũ Văn Thiên

 

TN20-C114: Chúa Nhật XX thường niên – Năm C

Suy niệm chú giải Lời Chúa –
Chuyên mục: Suy Niệm Chúa Nhật
Được đăng: 15 Tháng 8 2019
 

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XX Thường Niên năm C mời gọi các Ki-tô hữu phải kiên vững TN20-C114

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XX Thường Niên năm C mời gọi các Ki-tô hữu phải kiên vững đức tin trong sứ mạng của mình dù gặp phải những chống đối, thù nghịch.
Gr 38: 4-6, 8-10
Vì trung thành với sứ mạng của mình, ngôn sứ Giê-rê-mi-a bị mọi người thù ghét và bách hại. Các Ki-tô hữu coi vị ngôn sứ này là hình bóng của Đức Ki-tô.
Dt 12: 1-4
Tác giả khuyên những Ki-tô hữu gốc Do thái của ông phải kiên trì đức tin trong mọi gian nan thử thách bằng cách noi gương các bậc tiền nhân, nhất là mẫu gương tuyệt hảo của Đức Ki-tô.
Lc 12: 49-53
Giáo huấn của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ đạt đến tuyệt đỉnh khi Ngài báo trước sứ mạng của các môn đệ sẽ đồng nhất với sứ mạng của Ngài trong cùng một tình yêu tận mức dành cho con người.
BÀI ĐỌC I (Gr 38: 4-6, 8-10)

1. Hoàn cảnh bi thương của ngôn sứ Giê-rê-mi-a
Đây là một trong những bài trình thuật kể về những đau khổ mà ngôn sứ Giê-rê-mi-a phải chịu vì trung thành với sứ mạng của mình. Ngôn sứ đã tuyên sấm rằng thành đô Giê-su-sa-lem sẽ bị điêu tàn nếu dân chúng vẫn cứ bất trung với Thiên Chúa của mình. Dĩ nhiên, đối với các thủ lãnh, lời tuyên sấm này phản ảnh tinh thần chủ bại và phản quốc, vì thế họ tìm cách bịt miệng ngôn sứ Giê-rê-mi-a bằng cách thả ông xuống “hầm không có nước mà chỉ có bùn”. Nhưng ngôn sứ được cứu nhờ viên thái giám người Cút là ông E-vét Me-léc.

2. Một cuộc đời trung thành chuyển giao lời Thiên Chúa
Để có thể hiểu những nỗi đau giằng xé trong tâm khảm của vị ngôn sứ, chúng ta đừng bỏ qua những lời tâm sự đến xé lòng của ông theo hình thức cầu nguyện như:
“Con vô phúc quá, mẹ ơi, mẹ sinh con ra làm gì,
để cho người ta chống đối, cho cả nước gây gỗ với con?
Con chẳng cho ai vay, cũng không mượn của người,
thế mà vãn cứ bị nguyền rủa.
Quả vậy, lạy Đức Chúa,
con đã chẳng đem thiện chí phục vụ Ngài hay sao?
Nào con đã chẳng cầu khẩn với Ngài cho thù địch
khi nó gặp hoạn nạn, lúc nó phải gian truân?” (Gr 15: 10-11),
nhất là:
 “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con
và con đã để cho Ngài quyến rũ.
Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng.
Suốt ngày con đã nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con.
Mỗi lần nói năng là con phải la lớn,
phải kêu lên: ‘Bạo tàn! Phá hủy!’
Vì lời Đức Chúa mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt ngày.
Có lần con tự nhủ: ‘Tôi sẽ không nghĩ đến Người,
cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa”.
Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim,
ầm ỉ trong xương cốt.
Con nén chịu đến pahri hao mòn, nhưng làm sao nén được!” (Gr 20: 7-9).
Thật ra, ngôn sứ Giê-rê-mi-a vốn là một con người hiền lành, không muốn làm mất lòng bất kỳ một ai. Trung thành chuyển giao lời Thiên Chúa mà ông trở nên kẻ thù địch của mọi người, vì những thông điệp của ông đi ngược lại những mong ước của mọi người. Vì thế, đoạn trích dẫn hôm nay không nên nhấn mạnh sự giải thoát cho bằng sứ mạng trung thành chuyển giao lời của Đức Chúa mà ông bị loại trừ và chịu đau khổ. Quả thật, sự đau khổ của Giê-rê-mi-a tiên trưng sự đau khổ của Đức Giê-su, được phác họa trong Tin Mừng hôm nay.

BÀI ĐỌC II (Dt 12: 1-4)
1. Noi gương các bậc tiền nhân
Vào Chúa Nhật hôm nay, chúng ta tiếp tục đọc Thư gởi tín hữu Do thái mà chúng ta đã khởi sự đọc vào Chúa Nhật trước. Trong đoạn trích hôm nay, chúng ta đọc lời khuyến dụ kết thúc danh sách các bậc anh hùng Cựu Ước. Các ngài là những “chứng nhân” về niềm tin sắc son kiên vững trong mọi gian nan thử thách. Tác giả Thư gởi tín hữu Do thái mời gọi chúng ta noi gương các bậc tiền nhân kiên trì giữ vững đức tin trong mọi gian nan thử thách. Như một vận động viên, để có thể đạt được vòng nguyệt quế chúng ta phải chấp nhận cởi bỏ khỏi bản thân mình bất kỳ thứ gì làm vướng víu cuộc chạy đua của mình.

2. Đức Giê-su là mẫu gương tuyệt hảo của người Ki-tô hữu
Đối với người Ki-tô hữu, Đức Giê-su còn vĩ đại hơn gấp vạn lần các bậc anh hùng Cựu Ước. Khi sống tại thế, Ngài đã không chỉ “khai mở” con đường đức tin nhưng còn “kiện toàn” lòng tin bằng cách “cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa”. Chính nhờ hướng về Ngài, người Ki-tô hữu sẽ thành toàn cuộc đời mình qua những gian nan thử thách của cuộc đời này.

TIN MỪNG (Lc 12: 49-53)
Giáo huấn của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ đạt tới cao điểm khi Ngài mặc khải rằng việc họ thuộc về các môn đệ Ngài sẽ đặt họ vào những cảnh ngộ không yên thân thoải mái đâu. Thực vậy, ý nghĩa sứ vụ của Chúa Giê-su được đề cập ở 12: 49-50 có những phản hồi trực tiếp đến các môn đệ ở 12: 51-53. Tin Mừng hôm nay có hai ý được gợi lên qua hai cặp hình ảnh: “lửa và phép rửa” (12: 49-50), “hòa bình và chia rẽ” (12: 51-53).

1. “Lửa và phép rửa” (12: 49-50)
Bằng cặp hình ảnh “lửa” và “phép rửa”, Chúa Giê-su nói đến sứ mạng sắp đến của Ngài. Trước hết, “Thầy đã ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”: Trong Kinh Thánh, hình ảnh “lửa” thường mô tả tình yêu nồng cháy của Thiên Chúa cho con người (x. Đnl 4: 24; Xh 13: 22; vân vân). Thiên Chúa đã bày tỏ tình yêu của Người tận mức ở nơi biến cố Nhập Thể của Con Ngài (Ga 3: 16). Qua hình ảnh “lửa”, Đức Giê-su tự nguyện hiến dâng mạng sống mình vì chúng ta: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15: 13). Vì thế, Chúa Giê-su những ước cùng mong đến giờ thực hiện tình yêu tận mức của Ngài đối với con người được bừng cháy trên Thập Giá.
Tiếp đó, Đức Giê-su mô tả cuộc Tử Nạn và Phục Sinh sắp đến của Ngài qua hình ảnh phép rửa: “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!”, nghĩa là Ngài sẽ dìm mình vào trong cái chết, nhưng từ cái chết Ngài sẽ sống lại trong vinh quang để không bao giờ chết nữa. Qua hình ảnh “phép rửa”, Đức Giê-su tha thiết ước mong được hiến dâng mạng sống mình vì yêu thương chúng ta. Cũng thế, chúng ta chịu phép rửa, nghĩa là chúng ta dìm mình vào trong cuộc Tử Nạn của Đức Ki tô, tức là chết cho tội lỗi mình, và được tái sinh vào một đời sống mới chan chứa muôn vàn ân phúc: “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6: 4).
Qua cuộc sống mới này, chúng ta, những người Ki-tô hữu, phải bừng cháy lên ngọn lửa tình yêu theo cùng cách thức như Đức Giê-su đã châm ngọn lửa ở nơi các môn đệ Ngài, như lời của thánh Phao-lô: “Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1: 24).

2. “Hòa bình và chia rẽ” (12: 51-53)
Con Thiên Chúa đã giáng trần với một sứ điệp hòa bình: “Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2: 14) và hòa giải: “Nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hòa giải chúng ta với Thiên Chúa” (Rm 5: 11). Các ngôn sứ cũng đã loan báo sứ mạng của Đấng Ki-tô là sứ mạng hòa bình (x. I s 9: 5tt; Dcr 9: 10) và thánh Phao-lô cũng xác quyết chính Đức Giê-su “là bình an của chúng ta” (Ep 2: 14-15). Tuy nhiên, vì cưỡng kháng lại công trình cứu độ của Đức Ki-tô do tội, con người trở thành những đối thủ của Ngài: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao?”. Bất công và lầm lạc dẫn đến chia rẽ và chiến tranh: “Bao lâu con người còn là những kẻ tội lỗi, hiểm họa chiến tranh còn đe dọa và vẫn sẽ còn đe dọa cho tới khi Chúa Ki-tô đến. Tuy nhiên, nhờ kết hiệp trong bác ái, con người vượt thắng tội lỗi và cũng vượt thắng bạo động cho tới khi lời sau đây được hoàn tất: ‘Họ sẽ rèn gươm thành lưỡi cày và giáo thánh lưỡi liềm. Các dân tộc sẽ không rút gươm đâm chém nhau và sẽ không tập luyện để chiến đấu’ (Is 2: 4)” (Vatican II, Gaudium et spes, 78).
Vì thế, chẳng có gì phải ngạc nhiên, dù rằng “Người đã đến loan Tin Mừng bình an” cho hết mọi người (Ep 2: 17-18), tuy nhiên, suốt cuộc đời tại thế, Đức Giê-su đã là dấu chỉ của sự mâu thuẫn (x. Lc 2: 34). Chúa Giê-su báo trước cho các môn đệ biết rằng sự bất đồng và chia rẽ đồng hành với công việc truyền bá Tin Mừng (x. Lc 6: 20-23; Mt 10: 24). Ngay cả trong gia đình vốn là nơi yêu thương và đùm bọc nhau, đôi khi vì niềm tin vào Ngài và vào Tin Mừng của Ngài lại trở thành cuộc bách hại ngay trong gia đình mình. Vì thế, Chúa Giê-su nói rằng Ngài đến thế gian không phải để đem hòa bình theo kiểu thế gian, nghĩa là không có chiến tranh, bách hại, mà là hòa bình của Thiên Chúa, một thứ hòa bình ngự trị trong cõi thâm sâu của lòng người, đó là hòa bình mà thế gian không thể nào ban cho được.
“Lời Chúa Giê-su nói về sứ mạng của Người cũng là một lời khuyến cáo các môn đệ Người: Sự kiện Nước Thiên Chúa đến không phải để các môn đệ hưởng thụ một cuộc sống bình an một cách thụ động. Họ sẽ hưởng bình an đấy, nhưng là một thứ bình an mà phải cố gắng chiến đấu mới đạt được, chiến đấu trong gian truân thử thách, chiến đấu với cả những người thân không cùng niềm tin với mình. Thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba đã hiểu như thế, nên đã khuyên các tín hữu rằng: ‘Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa’ (Cv 14: 22). Hòa bình Chúa ban là kết quả của những cố gắng để giải quyết tình trạng ‘chia rẻ’: a) Nơi bản thân mỗi người, chỉ có hòa bình thật khi không còn xung đột giữa cái tôi hướng thiện với cái tôi hướng ác; b) Nơi gia đình, nơi xã hội và bất cứ nơi nào cũng thế, chỉ có hòa bình thật khi mọi người đều một lòng một ý với nhau” (“Hạt Giống Nẩy Mầm”).
Lm. Inhaxio Hồ Thông

 

TN20-C115: Hai cách hiểu câu khó hiểu

Suy niệm CN 20 TN C - Lm Anphong Nguyễn Công Minh, ofm
 

Quen tai với những lời dịu dàng của Chúa, nào là “Hãy học cùng tôi vì tôi hiền lành và khiêm nhường TN20-C115

Quen tai với những lời dịu dàng của Chúa, nào là “Hãy học cùng tôi vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng ;” nào là “Phúc cho ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp…” mà hôm nay nghe từ miệng Chúa những câu ghê người : "Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao ? Thầy bảo cho anh em biết : không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau : cha chống lại con trai, con trai chống lại cha ; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng."
Ta phải hiểu thế nào đây ? Có 2 cách hiểu :
1. Chính Giêsu là Đấng Thiên Sai
-Gioan Tẩy Giả khi bị tù đã nghi ngờ không biết ông Giêsu em họ mình có phải là Đức Kitô, là Đấng Chúa sai đên không. Và ông Giêsu đó đã ngầm bảo cho Gioan là chính mình là Đấng Thiên Sai, vì khi Đấng ấy đến thì “kẻ què được đi, điếc được nghe, mù được thấy, người chết sống lại…”
-Kinh Thánh và Do thái giáo chắc chắn biết rõ chủ đề chia rẽ trong gia đình vào thời buổi cuối cùng trước khi Đấng Thiên sai đến.
Sách Talmud, sách giảng giải bậc nhất của Do Thái giáo đã viết : “Thế hệ lúc con vua Đavít (tức Đấng Thiên Sai) đến là thế hệ mà con gái chống đối mẹ mình, nàng dâu chống đối mẹ chồng…”
Còn sách Tiên tri Mikê (7,6) nói về thời buổi cuối cùng khi Đức Kitô đến như sau : “Quả thật, con trai khinh thường cha, con gái đứng lên chống lại mẹ, nàng dâu chống mẹ chồng, người trong nhà lại hoá ra thù địch.”
Vậy, thay vì nói chính tôi là Đấng Thiên Sai, Đấng phải đến, thì Đức Giêsu nói “tôi đến gây chia rẽ mẹ chồng nàng dâu, con trai với cha, con gái với mẹ…” vì đó là những lời sấm, những hình ảnh Thánh Kinh dùng để chỉ ngày Chúa đến.
Ví như cô kia thách cậu nọ :
Bao giờ rau diếp làm cột đình,
gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.
Rồi bất ngờ có ngày anh lấy cô thật, anh Bất lấy chị Ngờ thật, thì thay vì nói hôm nay hai người lấy nhau, thiên hạ nói : hôm nay rau diếp làm cột đình, hôm nay gỗ lim thái ghém.
Thành ra chưa chắc Chúa có chia rẽ hay không, nhưng vì Kinh Thánh và sách Talmud nói, khi Đức Kitô đến, ngài sẽ chia rẽ nàng dâu mẹ chồng… thì Giêsu, thay vì nói chính mình là Đấng Kitô Thiên Sai, sẽ nói bóng gió : ta đến gây chia rẽ.
Mà có khi Ngài chia rẽ thật, vì Ngài đến đâu chia rẽ đó. Và đó là cách hiểu thứ hai.
2. Ngài đến gây chia rẽ
Không phải Ngài đến có mục đích gây chia rẽ, mà là Ngài đến, kẻ yêu Ngài và kẻ ghét Ngài trở nên xa nhau, chia rẽ. Vợ chồng trẻ đang thương nhau, có kẻ thứ ba xuất hiện là một cô gái, chồng mến cô gái này, còn vợ thì ghét cay ghét đắng, thế là vợ chồng chia rẽ nhau vì người thứ ba đến. Ngài đến gây chia rẽ.
-Khi bế trẻ Giêsu trên tay, cụ Simeon nói : đứa trẻ này sẽ nên cớ cho nhiều người vấp phạm, chia rẽ
-Trong dân chúng, có những người nghe các lời Đức Giêsu giảng thì nói : "Ông này thật là vị ngôn sứ." Kẻ khác rằng : "Ông này là Đấng Ki-tô." Nhưng có kẻ lại nói : "Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao ? Nào Kinh Thánh đã chẳng nói : Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít và từ Bê-lem, làng của vua Đa-vít sao ?" Vậy, vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ.
-Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói : "Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát" ; kẻ thì bảo : "Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?" Thế là họ đâm ra chia rẽ. (Giống y hệt vụ việc cha Long lòng Chúa Thương Xót hôm nay !)
-Các tông đồ, môn đệ cũng chia rẽ nhau vì một lời quá chói tai của Đức Kitô Giêsu : Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống.
-Chia rẽ để phân biệt trắng đen, trúng sai, trung kiên hay bất tín. Thực tế chia rẽ đã xảy ra. Đó là lý do khiến người La-mã ghét Ki-tô giáo, bởi vì nó khiến gia đình phân tách.
Perpetua thuộc gia đình quý tộc, bị bắt vì Đạo. Cha của nàng vẫn là dân ngoại, thuyết phục nàng bỏ đạo. Chỉ vào chiếc bình nàng lễ phép nói với cha : "Thưa cha, người ta có thể gọi vật này bằng một cái tên nào khác hơn là cái bình không ? Đối với con cũng thế, con không thể cho mình một cái tên nào khác ngoài danh hiệu là Ki-tô hữu." Tức quá, ông đánh đập nàng tàn nhẫn, rồi bỏ đi nhiều ngày không tới.
Perpetua có một đứa con còn đang bú và nàng rất khổ vì phải xa con. Đứa bé kiệt sức nên người ta đưa lại cho mẹ nó, và nàng quên hết đau khổ vì có con bên cạnh.
Vì biết Perpetua con gái mình sắp bị án tử, người cha lại đến với những lời thảm thiết : “Con ơi, hãy thương đến mái tóc bạc của cha, hãy nhớ đến đôi tay cha đã dưỡng nuôi con. Hãy nhớ tới mẹ con, anh em con và đến con nhỏ của con nữa, nó sống làm sao nếu không có con. Con hãy bỏ Đạo, bỏ đi điều đã làm cho chúng ta mất tất cả.
Tuy rất cảm động và đau khổ, Perpetua chỉ ngẹn ngào trả lời : “Thưa cha, tại tòa án sẽ biết được đâu là điều Chúa muốn, bởi vì chúng ta không thuộc về mình.”
Người cha còn cho đem đứa trẻ đến năn nỉ : “Con hãy thương đến đứa con nhỏ của con.”
Tuy nhiên trước tòa án, cùng với các bạn khác, Perpetua đã công khai tuyên bố trung thành với Chúa và bằng lòng hi sinh tất cả.
Ngay cả trong gia đình tin Chúa cũng xảy ra chia rẽ. Cha của Phan-xi-cô muốn chàng theo nghề buôn bán để được giàu sang, còn chàng lại quyết tâm theo tiếng Chúa gọi sống nghèo khó tận cùng, thế là bố con chia rẽ nhau.
Sẽ không có chia rẽ giữa mẹ chồng nàng dâu, giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, khi… ai nấy sống đúng với danh hiệu Kitô hữu, tức là bằng hữu, là fan, là cùng phe với Chúa Giêsu Kitô. Amen.
Anphong Nguyễn Công Minh, ofm

 

TN20-C116: Nghịch lý của Thập giá

_ Lm G.B Trần Văn Hào, SDB
 

Trong các sách Tin Mừng, Mầu nhiệm Đức Giêsu được trình bày như một nghịch lý và cao TN20-C116

Trong các sách Tin Mừng, Mầu nhiệm Đức Giêsu được trình bày như một nghịch lý và cao điểm của nghịch lý ấy chính là Thập giá. Một Thiên Chúa cao cả lại mang lấy thân phận con người thấp hèn. Một Thiên Chúa hằng sống đã tự nguyện đón nhận cái chết như một tội nhân. Nhưng,mầunhiệm Phục Sinh là chìa khóa để giúp chúng ta khám phá ra ẩn số nơi nghịch lý vĩ đạinày. Nghịch lý về mầu nhiệm Đức Giêsu một lần nữa được chính Ngài mặc khải trong bài Tin Mừng hôm nay.
Đức Giêsu là ‘Hoàng tử bình an’, là nhịp cầu giao hòa giữa trời và đất lại trở nên nguyên cớ gây ra những chia rẽ và chống đối. Chúa nói: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: Không phải thế đâu, nhưng là sự chia rẽ...Cha chống lại con trai, con trai chống lại cha. Mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; Mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng”. Có phải Đức Giêsu tự mâu thuẫn với chính mình hay chăng? Chắc chắn là không. Chúng ta sẽ không thể am tường sứ điệp mà bài Tin Mừng hôm nay truyền tải, nếu không đi sâu vào nghịch lý của Thập giá.

Cuộc chiến nội tâm
Ngạn ngữ tây Phương có viết: “Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh” Cũng vậy, muốn hưởng nhận bình an mà Đức Giêsu ban tặng, chúng ta phải can đảm đi vào cuộc chiến. Đây không phải là cuộc chiến tranh với bom đạn hay sự căm thù, nhưng đó là cuộc chiến đấu nội tâm để chống lại tội lỗi và ma quỷ. Cuộc đấu tranh giữa sự thiện và sự ác, giữa tội lỗi và ân sủng, giữa ánh sáng và bóng tối là cuộc chiến dai dẳng nhất, gian nan nhất mà chúng ta phải can đảm dấn sâu vào cho đến suốt đời. Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô cũng dùng hình tượng một cuộc chạy đua để phác vẽ cuộc chiến đấu thiêng liêng ấy. Ngài viết: “Anh em hãy kiên trì trong cuộc đua dành cho chúng ta, mắt hướng về Đức Kitô, là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin”. Chúa Giêsu cũng nói về cuộc chiến đó như một ngọn lửa bùng cháy :“Thầy đã đến đem lửa vào mặt đất và Thầy mong ước cho ngọn lửa ấy bùng cháy lên”.
Trước khi bắt đầu sứ vụ rao giảng công khai, Chúa Giêsu cũng đi vào sa mạc và bị ma quỷ tấn công. Ngài đã trải qua cuộc chiến gian nan, nhưng cuối cùng Ngài đã chiến thắng. Chúa Giêsu là một con người rất con người giống chúng ta, nhưng cũng là một Thiên Chúa rất Thiên Chúa. Mang phận người, Ngài cũng bị tấn công dữ dằn đến mức độ phải thốt lên: “Cha ơi, sao Cha lại bỏ con?”. Nhưng cuối cùng, vì là Thiên Chúa, Đức Giêsu đã chiến thắng trong vinh quang.
Tác giả Nikos Nazantzakis trong cuốn sách ‘The Last Temptation of Christ’ (Cơn cám dỗ cuối cùng của Chúa) cũng mô tả cuộc chiến đấu kinh hoàng và quyết liệt của Đức Giêsu lúc hấp hối trên Thập giá. Trong cuộc chiến nội tâm mỗi ngày, Thập giá Chúa luôn là khuôn mẫu để chúng ta quy chiếu vào. Tác giả thư Do Thái cũng nhắc lại cho chúng ta trong phụng vụ hôm nay: “ Chính Người đã khước từ niềm vui dành cho mình mà cam chịu khổ hình Thập giá, chẳng nề chi ô nhục và nay đang ngự bên hữu Thiên Chúa”. Khi quy hướng về Thập giá, tác giả còn khích lệ chúng ta :“Trong cuộc chiến đấu với tội lỗi, anh em chưa chống trả đến mức đổ máu đâu”.

Thập giá: Con đường độc đạo dẫn vào mầu nhiệm tự hủy
Cha Thánh Gioan Maria Vianey đã nói: “Thánh giá là quyển sách quý, chứa đựng những chân lý cao sâu nhất. Ai đọc và nghiền ngẫm cuốn sách này sẽ có được sự khôn ngoan và thông thái đích thực”. Con đường Thập giá là con đường độc đạo dẫn đưa chúng ta đến sự trọn lành. Thập giá không phải chỉ khuyên mời chúng ta chấp nhận khổ đau cách thụ động, nhưng trên hết, Thập giá biểu tỏ tình yêu của Thiên Chúa một cách tròn đầy. Chúa Giêsu đã nói: “Không có tình yêu nào cao quý cho bằng mối tình của người hiến thân vì bạn hữu”. Ngài đã đi sâu vào mầu nhiệm tự hủy, biến mình ra không qua cái chết nhuốc khổ. Thập giá là kết tụ sự phẫn nộ và căm thù của đám đông. Giuđa thì phản bội, bán đứng vị tôn sư khả kính. Các đầu mục Do Thái đã quỷ quyệt dàn dựng một phiên tòa giả dối và đầy bất công. Lính tráng và người qua đường thì tha hồ chửi bới và không tiếc lời lăng mạ. Trên Thập giá, Chúa Giêsu đã hạ mình xuống tận đáy bùn đen của xã hội, và trở nên hư vô hoàn toàn, đi vào hành trình tự hủy cách trọn vẹn. Tác giả thư Do Thái đã đưa ra khuôn mẫu này để chúng ta chiêm nghiệm và noi theo. “Anh em hãy tưởng nhớ đến Đấng đã cam chịu những chống đối của kẻ tội lỗi, để anh em không sờn lòng nản chí”. Đó chính là khuôn mẫu nội tâm để chúng ta đi vào cuộc chiến đấu thiêng liêng hằng ngày.

Kết luận
Chúa Giêsu đã nói: “Ai muốn theo tôi, hãy bỏ mình vác thập giá mình mà theo”. Một nhà tu đức đã nói: “Có nhiều người tỏ ra yêu mến Chúa Giêsu, nhưng lại là một Đức Giêsu không có Thập giá ở dưới. Ngược lại, cũng có nhiều người đang oằn vai vác thập giá, nhưng thập giá không có Chúa Giêsu ở trên”. Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị đã trích lời thi hào Cyprian Norwid để khích lệ các bạn trẻ: “Chúa Giêsu mời gọi chúng ta vác thập giá theo Ngài, nhưng không phải vác thập giá đi theo Chúa, mà chúng ta được mời gọi hãy tiến bước theo dấu chân của Chúa Giêsu, Đấng đang vác lấy thập giá của chính chúng ta”. Con đường thập giá là con đường Chúa đã đi qua và vạch dẫn để mời gọi chúng ta bước tới. Trên con đường ấy, chúng ta sẽ thấy ngọn lửa bùng cháy lên như lời Chúa nói trong Tin Mừng hôm nay. Đó là ngọn lửa của tình yêu. Ngọn lửa càng nóng càng sáng rực. Nó sẽ thiêu đốt mọi vẩn đục của tội lỗi và đưa dẫn chúng ta đến sự  trọn lành.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây