Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 23 TN-C Bài 1-50 Từ bỏ mình & vác

Thứ năm - 05/09/2019 10:10
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 23 TN-C Bài 1-50 Từ bỏ mình & vác Thánh Giá mình mà theo
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 23 TN-C Bài 1-50 Từ bỏ mình & vác Thánh Giá mình mà theo
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 23 TN-C Bài 1-50 Từ bỏ mình & vác Thánh Giá
TN 23 C1. TỪ BỎ.. 3
TN 23-C2. HRK/168- TỪ BỎ.. 5
TN 23-C3. HRK/407- THEO CHÚA.. 7
TN 23-C4. CSTM/206- TỪ BỎ.. 9
TN 23-C5. NTGT/241- TỪ BỎ.. 11
TN 23-C6. SCĐ/697- TÌNH YÊU.. 13
TN 23-C7. PV/589- XIỀNG XÍCH.. 15
TN 23-C8. PV/591- THEO THẦY.. 16
TN 23-C9. PV/593- TRẢ GIÁ.. 18
TN 23-C10. MÔN ĐỆ ĐỨC GIÊSU- Lm. Jos. Phạm Thanh Liêm.. 20
TN 23-C11. Đường Dễ Đi Là Ngõ Cụt 23
TN 23-C12. Từ bỏ hết 24
TN 23-C13. Ai Không Vác Thập Giá Theo Tôi, 28
TN 23-C14. Vác thập giá mình mà đi theo Đức Giê-su- JKN.. 30
TN 23-C15. Môn đệ Đức Kitô- Lm. Bùi quang Tuấn. 34
TN 23-C16. Điều kiện làm môn đệ Chúa Kitô- Lm. Jos. Vũ thái Hoa. 36
TN 23-C17. Hai điều kiện tiên quyết để theo Chúa. 37
TN 23-C18. Muốn theo Chuá phải từ bỏ và vác thập giá. 39
TN 23-C19. ĐIỀU KIỆN ĐỂ THEO CHÚA KITÔ - Lm. Vũ xuân Hạnh. 41
TN 23-C20. ĐIỀU KIỆN THEO CHÚA GIÊSU- Sr. Mai an Linh. 43
TN 23-C21. Khiêm nhường, hiếu khách và luật lệ. 45
TN 23-C22. TỪ BỎ CHÍNH BẢN THÂN MÌNH.. 48
TN 23-C23. CÓ RẤT ĐÔNG NGƯỜI - Lm Augustine, SJ. 51
TN 23-C24. THỜI ĐIỂM VŨ KHÚC ĐÁNH GIẦY - Lm Trần Cao Tường. 55
TN 23-C25. TƠI THÌ THỨ BA….. Mark Link S.J. 59
TN 23-C26. THIEÂN CHUÙA TREÂN HEÁT.. 62
TN 23-C27. CGVDT/1172 - HẠT LÚA.. 65
TN 23-C28. NMS/154 - HY SINH.. 67
TN 23-C29. ASTY/190 - NGƯỜI MÔN ĐỆ.. 69
TN 23-C30. TMCN/189 - THEO CHÚA.. 70
TN 23-C31. SNLC/198 - VÁC THẬP GIÁ.. 72
TN 23-C32. CS/132 - CHỌN LỰA TỪ BỎ.. 73
TN 23-C33. LS/507 - THẬP GIÁ.. 74
TN 23-C34. SNTMCN/146 - THEO CHÚA.. 75
TN 23-C35. MNMTV/79 - ĐAU KHỔ.. 76
TN 23-C36. DẤN THÂN BƯỚC VÀO CON ĐƯỜNG TỪ BỎ.. 78
TN 23-C37. SỰ KHÔN NGOAN LÀ TỪ CHÌA KHÓA.. 81
TN 23-C38. TỪ BỎ NHỮNG GÌ THÂN THIẾT, ĐẶC BIỆT LÀ CỦA CẢI 84
TN 23-C39. CHÚA KITÔ TRÊN HẾT - Gm. Arthur Tonne. 89
TN 23-C40. ĐI THEO ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ.. 90
TN 23-C41. Tại sao phải yêu mến Chúa trên hết?. 94
TN 23-C42. Muốn làm môn đệ Chúa Giêsu. 96
TN 23-C43. Chọn lựa. 98
TN 23-C44. Cùng với Chúa Giêsu tiến lên Giêrusalem.. 102
TN 23-C45. Làm môn đệ Đức Giêsu - Lm Augustine S.J. 104
TN 23-C46. ĐỨC KHÔN NGOAN. 108
TN 23-C47. TÍNH TOÁN VÀ TRẢ GIÁ.. 112
TN 23-C48. BÀI HỌC ĐẦU TIÊN CỦA KI-TÔ GIÁO.. 119
TN 23-C49. Một đòi hỏi nhân bản sâu đậm nhất 123
TN 23-C50. Tôi là thứ ba. 125

 

TN 23 C1. TỪ BỎ

Lời Chúa qua đoạn Tin mừng vừa nghe xem ra như có vẻ chói tai và khó chấp nhận.: TN 23-C1

Lời Chúa qua đoạn Tin mừng vừa nghe xem ra như có vẻ chói tai và khó chấp nhận.
Thực vậy, theo lẽ thường khi thâu nhận các môn đệ, người taluôn hứa hẹn những điều tốt đẹp, nhưng Chúa Giêsu thì ngược lại, Ngài đòi hỏi những ai muốn làm môn đệ Ngài phải “ghét” cha mẹ, vợ con, anh chị em, thậm chí còn phải “ghét” cả bản thân mình nữa. Rồi lại còn phải từ bỏ của cải trần gian và vác thập giá mình hằng ngày.
Đòi hỏi như thế, phải chăng là quá đáng, không phù hợp với lòng người và cũng không thể thực hiện được ?
Con người thời nay bị ảnh hưởng bởi não trạng thực dụng và hưởng thụ, nên rất dị ứng với sự từ bỏ và thập giá.
Vì thế, có người đã coi lời Chúa là lỗi thời và nên để nó chìm vào quên lãng. Có  người chỉ muốn tìm trong lời Chúa những gì êm ái, ngọt ngào, dễ nghe và dễ chấp nhận. Có người cố gắng cắt nghĩ lời Chúa sao cho phù hợp với ý riêng của mình để bề dễ thực hiện.
Nhưng thực ra, lời Chúa vẫn là lời Chúa. Lời Chúa như một con dao sắc bén,cắt đứt thịt da và đâm thấu tận tâm can. Lời Chúa luôn có tính cách đòi hỏi con người không được thỏa hiệp, không được nửa nạc nửa mỡ, cũng không được lấp lửng bắt cá hai tay và đi nước đôi, nhưng phải dứt khoát chọn lựa, phải quyết liệt thi hành cũng như  phải triệt để dấn thân.
Như thế, lời Chúa có mâu thuẫn với lòng từ bi nhân hậu của Ngài hay không ?
Thực vậy, Thánh Kinh cho biết vì yêu thương, Thiên Chúa đã ban cho con người có cha có mẹ, cũng như có anh, có chị và có em để cùng chung sống dướii một mái ấm gia đình. Cũng vì yêu thương, Thiên Chúa đã dựng nên mọi sự cho con người được hưởng dùng.
Nếu vậy thì đòi hỏi từ bỏ có nằm trong chương trình của Thiên Chúa hay không ? Nó có mâu thẫun với sự tốt lành của Ngài hay không ?
Chắc chắn là không, bởi vì nếu chúng ta tin rằng Ngài là đường, là sự thật và là sự sống, thì chúng ta cũng tin rằng chính Ngài vừa dạy chúng ta phải biết yêu thương và tôn trọng những sự vật trần thế, nhưng đồng thời cũng dạy chúng ta phải biết từ bỏ.
Trong Phúc âm, đề tài từ bỏ cũng được Chúa quan tâm không kém đề tài yêu thương. Và cả hai đều nằm trong chương trình của Ngài.
Thực vậy, vì yêu thương nên mới từ bỏ và từ bỏ để  rồi được yêu thương nhiều hơn. Chính Ngài cũng đã làm gương trước cho chúng ta noi theo và bắt chước.
Đúng thế, thánh Phaolô đã diễ tả : vì yêu thương, Đức Kitô đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang để mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân…Ngài vốn giàu sang, nhưng đã tự ý trở nên nghèo hèn, để lấy cái nghèo hèn của mình mà làm cho chúng ta được trở nên giàu sang.
Rõ ràng sự từ bỏ của Chúa đã được liên kết với tình yêu, một tình yêu luôn muốn sự tốt lành cho người khác. Ngài trở nên nghèo để chúng ta được trở nên giàu. Ngài tự hạ để chúng ta được nâng lên. Ngài đã chết để chúng ta được sống.
Đó là một nghịch lý, một nghịch lý hồng phúc như thánh Phanxicô Assie đã diễn tả :
- Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.
Là Kitô hữu, chúng ta không có một con đường nào khác để bước theo Chúa, ngoài con đường từ bỏ, ngoài con đường thập giá. Và đó cũng chính là bí quyết giúp chúng ta đạt tới ơn cứu độ muôn đời.

 

TN 23-C2. HRK/168- TỪ BỎ

Bài Phúc âm hôm nay nhắc cho chúng ta nhớ lại một tư tưởng chính mà Giáo Hội muốn đề: TN 23-C2

Bài Phúc âm hôm nay nhắc cho chúng ta nhớ lại một tư tưởng chính mà Giáo Hội muốn đề nghị mỗi tín hữu Kitô, đó là sự nhất quyết theo Chúa, sẵn sàng chấp nhận những hy sinh để theo Chúa được trọn vẹn. Phúc âm thánh Luca ghi lại như sau :
Chúng ta có thể suy niệm chung bài đọc II và bài Phúc âm trong viễn tượng con người thời đại hôm nay, đó là viễn tượng kính trọng nhân quyền, kính trọng những quyền lợi tự nhiên của mỗi nhân vị. Trước hết, nơi bài đọc II trích từ thơ thánh Phaolô gởi cho ông Philêmôn, để yêu cầu ông này đón nhận lại người giúp việc cũ là Onesimô, không phải đón nhận lại trong hoàn cảnh như trước, nghĩa là như người giúp việc đã bỏ nhà ông trốn đi, nhưng là một người anh em, vì đã cùng chia sẻ một sự sống với mình, một phẩm vị làm con cái Thiên Chúa như chính ông.
Mối tương quan giữa chủ và người giúp việc, chủ và tớ đã trở thành tương quan mới, tương quan huynh đệ anh em trong đức tin, trong Chúa Giêsu Kitô. Đây là một điều mới mẻ trong xã hội thời các thánh tông đồ, một xã hội còn duy trì tập tục nô lệ. Đây là điều khó có thể thực hiện một cách cụ thể đối với ông Philêmôn, bởi vì ông phải nhận lại một người giúp việc đã bỏ ông ra đi, rồi bây giờ nhận lại không phải như người giúp việc nữa mà như anh em trong Chúa. Không những ông phải tha thứ những lỗi lầm, phiền phức của người giúp việc gây nên khi bỏ ông ra đi, nhưng còn phải vui vẻ tiếp đón như một người ngang hàng, một người anh em cùng một phẩm vị con người như mình. Philêmôn đứng trước một thách thức, một lời mời gọi hãy kính trọng nhân quyền, kính trọng phẩm giá con người. Nếu không có sức mạnh và ơn gọi soi sáng của Chúa thì có thể ông Philêmôn sẽ không thực hiện được.
Chúng ta có thể kết luận ở đây rằng, để kính trọng nhân quyền, kính trọng anh chị em như đồng phẩm vị với mình thì trước hết cần phải kính thờ Thiên Chúa, phải nhờ đến sức mạnh của đức tin Kitô, phải chấp nhận sự hiện diện của Chúa trong đời sống mình. Phong trào kính trọng phẩm vị và quyền lợi của con người sẽ thất bại, nếu không nhờ đến sức mạnh của lòng tin Kitô để đổi mới tâm thức cũng như cư xử của mỗi cá nhân.
Từ bài đọc II chúng ta bước sang bài Phúc âm Chúa nhật hôm nay : “Ai không vác thập giá mình mà theo Ta thì không xứng với Ta”. Nhìn trong viễn tượng kính trọng nhân quyền chúng ta có thể nói xem ra như có sự xung đột giữa quyền lợi của Chúa và quyền lợi của con người khi Chúa Giêsu đã nói : “Ai không từ bỏ cha mẹ, anh em, vợ con mà theo Ta thì không xứng đáng làm môn đệ Ta”.
Quyền con người có cha, có mẹ, có anh em, nói được là quyền lợi tự nhiên của con người, thế mà Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ để theo Ngài, đặt quyền lợi của Ngài trên chúng ta. Phải chăng đây là sự xung đột không thể chấp nhận được ? Nhưng sự xung đột đây không phải là sự xung đột thật, đây chỉ là xếp đặt thứ tự trước sau mà thôi. Quyền lợi của Thiên Chúa là điều trước nhất, cần đặt Thiên Chúa vào chỗ đứng thứ nhất trong đời sống chúng ta, để rồi nhờ đó mà chúng ta mới có thể chu toàn những quyền lợi của mình. Thiên Chúa là bạn của sự sống, là bạn của con người, Ngài không ganh tị với con người khi con người được điều tốt lành.
Quan niệm lệch lạc của con người về Thiên Chúa như là một đấng hay ganh tị của con người, quan niệm lệch lạc này không phải là quan niệm Kinh thánh về Thiên Chúa. Thiên Chúa chân thật được mạc khải trong Kinh Thánh là một vị Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài, để con người được triển nở hoàn toàn tốt đẹp nhân cách của mình, để được sống hạnh phúc. Con người lỗi lầm làm hại phẩm giá mình, xúc phạm đến Thiên Chúa thì Ngài không dùng mọi phương thế để phục hồi phẩm vị làm người cho con người, đến độ Ngài ban Con Một Mình xuống chịu chết thay cho con người để nâng con người lên. Một vị Thiên Chúa như vậy, một khi được con người chấp nhận tôn thờ, đặt vào chỗ đứng thứ nhất thì sẽ giúp con người phát triển hơn là đè bẹp con người.
Kính trọng quyền lợi của Thiên Chúa, yêu mến Ngài trên hết mọi sự, đó là con đường hữu hiệu nhất để kính trọng nhân quyền. Kính trọng con người, yêu thương anh chị em như Chúa đã yêu thương đến độ chấp nhận hy sinh cho người mình thương, đó là điều khó. Mỗi người chúng ta cần suy nghĩ cho nghiêm chỉnh khi dấn bước theo Chúa, chúng ta có thật sự muốn theo Chúa, muốn làm người Kitô đích thực chăng ? Đó là vấn đề mà mỗi người chúng ta cần phải điều chỉnh lại để việc dấn thân theo Chúa của chúng ta mỗi ngày được trọn vẹn hơn.

 

TN 23-C3. HRK/407- THEO CHÚA

Hồi còn trong chủng viện, tôi đã có dịp nghe nói đến bác sĩ Tom Dolay qua bản dịch tập nhật: TN 23-C3

Hồi còn trong chủng viện, tôi đã có dịp nghe nói đến bác sĩ Tom Dolay qua bản dịch tập nhật ký sang tiếng Việt có tựa đề là : “Lào Quốc Đèo Heo Hút Gió” ghi lại công việc phục vụ của bác sĩ tại một nơi mà ngày nay chúng ta có thể gọi là “vùng sâu, vùng xa”. Trong khi dấn thân phục vụ anh chị em cùng khổ, bác sĩ Tom Dolay phải chiến đấu với chính thập giá của bản thân mà ông gọi một cách bóng bảy là “ngọn núi cao nhất” của đời ông mà ông đã phải vượt qua, đó chính là căn bệnh ung thư mà ông đang mắc phải. Bác sĩ đã không vượt qua được ngọn núi cao này, đã chịu thua căn bệnh ung thư và qua đời lúc mới 34 tuổi.
Vì muốn sống trọn vẹn hơn đức tin vào Chúa, bác sĩ Tom Dolay đã từ bỏ gia đình, từ bỏ những tiện nghi của một cuộc sống sung túc an nhàn để ra đi phục vụ những con người cùng khổ nơi vùng xa và vùng sâu. Bác sĩ đã thực hiện nơi chính bản thân điều chúng ta vừa đọc trong đoạn Phúc âm hôm nay : “Ai không bỏ cha mẹ, vợ con anh chị em mà đến với Ta thì không thể làm môn đệ Ta. Ai không vác thập giá mình mà theo Ta thì không thể làm môn đệ Ta”. Và không phải là vác trong giây lát, trong lúc cần thiết để biểu diễn cho người khác nhìn thấy mà phải vác hàng ngày, thường xuyên trong âm thầm, không ai nhìn thấy, chỉ mình Chúa biết mà thôi.
Bác sĩ Tom Dolay đã ghi lại trong tập nhật ký như sau : Tôi phải tiếp tục thi hành công tác đang làm như một bác sĩ bao lâu Chúa còn cho tôi thời gian sống ở trần gian này để thực hiện nó. Tôi tiếp tục sống dịu hiền, bởi vì để sống hiền dịu con người phải có can đảm. Giờ đây, đứng trước ngọn núi cao nhất của đời tôi, (tức là chính căn bệnh ung thư mà bác sĩ đang trải qua) tôi còn phải can đảm hơn nữa, mặc dù can đảm đôi khi chỉ là một bài ca buồn. Hy vọng vẫn còn và bất cứ nơi nào còn có người can đảm chiến đấu, tôi không có ý định nằm im chờ chết trên giường bệnh, còn rất nhiều việc phải làm trong thế giới này.
Lần đầu tiên đối diện với thập giá trong tâm thức trần tục trước biến cố Vượt Qua, các tông đồ không hiểu được mầu nhiệm thập giá và dĩ nhiên họ còn lo sợ tránh né. Việc đó đã xảy ra cho Phêrô, ông can gián Chúa đừng lên Giêrusalem để khỏi phải chịu chết trên thập giá. Phêrô đã bị Chúa trách là không suy nghĩ theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa mà theo tâm thức thường tình trần tục.
Thật đúng vậy, nếu nhìn theo phương diện trần tục, xưa cũng như nay thì làm sao con người, mỗi người chúng ta có thể yêu mến thập giá, một hình khổ sỉ nhục dành cho kẻ bị kết án tử hình, bị tước lột mọi quyền lợi làm người.
Thánh Phêrô từ chối và khuyên Chúa không nên đi vào con đường này, nhưng Chúa Giêsu muốn Phêrô và các môn đệ hãy nâng tâm hồn lên, hãy có cái nhìn của Thiên Chúa trước mầu nhiệm thập giá, trước những khổ đau, những thử thách. Cần phải nhìn thấy mối liên hệ sâu xa được thực hiện nơi chính Chúa Giêsu trong cuộc Vượt Qua của Người. Mối liên hệ sâu xa giữa thập giá và mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa cần phải nhìn thấy mối liên hệ sâu xa này.
Chúng ta ngày hôm nay cũng như các đồ đệ của Chúa ngày xưa, một khi đã bước theo Chúa mới có thể hiểu được giá trị của thập giá trong đời sống của mỗi người chúng ta. Giá trị của thập giá đó hệ tại nơi mối liên hệ với mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa, và chúng ta cần vác thập giá trong sự kết hợp với Chúa Giêsu với mầu nhiệm Vượt Qua của Người. Hay nói theo ngôn ngữ của thánh Phaolô, chúng ta cần đưa thập giá của chúng ta vào mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa : “Tôi bổ túc nơi thân xác tôi những gì còn thiếu nơi mầu nhiệm thập giá của Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và chịu chết vì tôi. Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi”.
Đây là một quyết định của người can đảm. Theo Chúa cần can đảm, theo Chúa không phải là một việc làm vì nhẹ dạ, vì xu thời, nhưng là việc làm can đảm sau khi đã suy nghĩ chín chắn. Hãy để cho Chúa Kitô vác lấy thập giá với ta trong cuộc sống hằng ngày, và chỉ với tình yêu kết hợp với Chúa mới có thể giúp ta từ bỏ mọi sự để theo Chúa. Hay đúng hơn, nói cách khác để yêu mến Chúa trên hết mọi sự và trong tình yêu Chúa trên hết mọi sự chúng ta mới có thể yêu mến thực sự cha mẹ, anh chị em, của cải, tất cả mọi sự của ta trong tình yêu của Ngài.
Chúng ta nói như đã từ bỏ mọi sự, thật sự chúng ta đặt mọi sự vào đúng vị trí của nó trong tình yêu của Chúa. Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta được trưởng thành trong đức tin, đức cậy và đức mến, và xin Chúa giúp cho mỗi người chúng ta được trung thành cho đến cùng là đi trọn con đường như Chúa đã đi, đó là con đường thập giá, và giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng đức tin của mình qua kinh tin kính.

 

TN 23-C4. CSTM/206- TỪ BỎ

Con đường theo Chúa vốn đầy những nghịch lý. Một trong những cái nghịch lý là điều kiện: TN 23-C4

Con đường theo Chúa vốn đầy những nghịch lý. Một trong những cái nghịch lý là điều kiện để theo Chúa. Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu cho chúng ta biết điều kiện đó, là phải từ bỏ tất cả : của cải, cha mẹ, vợ con, anh chị em và chính bản thân mình. Đó là điều kiện gắt gao, cho nên cần phải tính toán, suy xét thật cẩn thận. Điều kiện này không phải Chúa chỉ nói với các môn đệ mà với tất cả đám đông đang nghe Chúa giảng dạy. Và như vậy đây là điều kiện cho tất cả mọi người trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong hoàn cảnh của nền văn minh vật chất hiện nay.
Trước hết, Chúa Giêsu cho biết : muốn đi theo Chúa, muốn làm môn đệ Chúa phải từ bỏ tất cả, nghĩa là phải chọn Chúa trên hết mọi sự, trên cả những tình cảm thân thương nhất, cả chính bản thân cũng như vinh quang và của cải trần gian này. Đây là một đòi hỏi mang tính chất khác thường, ngược đời và khó chấp nhận, nên Chúa đã đưa ra hai dụ ngôn để minh họa và giải thích : Cũng như người muốn xây tháp hay xây nhà : trước khi xây phải tính toán cẩn thận : có xây hay không ? Xây lúc này hay xây lúc khác ? Xây ở đâu ? Để làm gì ? Rồi vấn đề tiền bạc, công thợ, vật liệu thế nào ? Có giải quyết được những vấn đề đó mới nên khởi công, bằng không thì thôi. Thà đừng xây còn hơn là xây rồi mà bỏ dở dang. Cũng vậy, một ông vua hay một ông tướng sắp lâm trận, phải biết lượng sức mình, đánh giá đúng khả năng của mình : so đo lực lượng hai bên, phải biết tinh thần quân sĩ, phải nắm vững tình thế : thiên thời, địa lợi, nhân hòa… Có nắm vững được những yếu tố thuận lợi cho mình mới nên cất quân đi đánh giặc, bằng không phải tính toán cách khác, kẻo cất quân đi đánh mà bị thua thì vừa mất quân vừa thiệt hại.
Những người muốn đi theo Chúa cũng vậy, phải biết tính toán cẩn thận và chọn lựa dứt khoát. Tại sao vậy ? Bởi vì con đường theo Chúa là con đường từ bỏ : từ bỏ hết, từ bỏ tất cả, từ bỏ hoàn toàn. Cái nghịch lý là ở chỗ đó. Muốn xây tháp, xây nhà phải có tiền. Muốn thắng trận, phải có lính. Muốn theo Chúa, không cần có gì hết, nhưng phải từ bỏ mọi người ruột thịt và mọi của cải mình có. Từ bỏ tất cả để theo Chúa, nghĩa là coi Chúa hơn tất cả mọi người, hơn tất cả mọi sự và tin vào một mình Chúa mà thôi.
Điều kiện này có khó quá không ? Dĩ nhiên là khó. Nhưng không phải là không thực hiện được. Bằng chứng là các tông đồ Chúa kêu gọi, các ông mau mắn, dứt khoát đi theo Chúa, dù phải bỏ gia đình, cha mẹ, vợ con, nghề nghiệp. Tiếp theo các tông đồ, từ xưa cho đến nay, biết bao nhiêu người đã sống đời tận hiến, bước đi theo Chúa trong ơn gọi linh mục, tu sĩ, cống hiến cả cuộc đời cho Chúa và tha nhân… Có biết bao người đã sẵn sàng chịu đau khổ, thử thách và hy sinh cả mạng sống vì danh Chúa Kitô như các thánh tử đạo.
Nhưng đối với phần đông chúng ta, Chúa không đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ của cải, cha mẹ, gia đình, vợ con, nghề nghiệp để đi tu. Nhưng Chúa đòi hỏi chúng ta phải biết từ bỏ mình. Từ bỏ mình không có nghĩa là hành hạ mình, nhưng là từ bỏ cái tôi, từ bỏ những ước muốn xấu của ý chí, những lời nói cay chua của cơn tức giận, những tư tưởng kênh kiệu độc đoán của thái độ tự phụ bất chính. Nói khác đi, từ bỏ chính mình có nghĩa là từ bỏ tham, sân, si. Tham là tính tham lam : tham danh, tham lợi, tham sắc, tham tài, tham quyền, tham thế. Chính cái tham ấy xô đẩy chúng ta vào vòng tội lỗi, gây tranh giành đố kỵ và làm khổ lẫn nhau. Sân là tính nóng nảy, thường thúc đẩy chúng ta làm những sự bất công. Sân cũng là giận. Giận mất khôn, khiến chúng ta không làm chủ được mình, dễ trở nên hung bạo, gây tai ương và đau khổ cho người khác. Si là ngu muội, tối tăm, mê mẩn. Vướng phải khuyết điểm này chúng ta thiếu sự phán đoán, sự suy luận đúng đắn, ít phân biệt được điều hay lẽ phải, khư khư sống trong thành kiến sai lầm. Hơn nữa, còn mê man những cái không đáng, những cái phù du giả dối, những cái có vẻ tốt đẹp bên ngoài mà bên trong xấu xa, thối nát. Đối với nhà Phật, phải diệt tham lam, diệt sân nộ, diệt mê si. Diệt là dứt bỏ, dứt bỏ dần dần và rồi hủy bỏ dứt khoát. Đối với chúng ta là từ bỏ chính mình, có nghĩa là không làm theo ý thích ý muốn của mình khi điều đó trái với ý Chúa. Từ bỏ như vậy để chỉ sống cho Chúa và tha nhân.
Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta hãy kiểm điểm : sống là lựa chọn, mà lựa chọn tức là từ bỏ những cái mình không chọn. Thái độ từ bỏ và dứt khoát đó lại càng cần đối với việc chọn Chúa, chọn nước trời, chọn những việc đẹp lòng Chúa và làm chứng cho Chúa. Bấy lâu nay chúng ta có thái độ dứt khoát đó không hay chúng ta muốn ôm đồm tất cả và cũng tiếc rẻ tất cả ? Bấy lâu nay có phải chúng ta đã theo Chúa để tìm lợi cá nhân, tiền bạc, danh vọng hoặc địa vị và một số những cái lỉnh kỉnh khác, chứ thực sự chưa có thái độ lựa chọn dứt khoát vì Chúa, vì tình thương, vì tình người, vì nước trời… có phải vậy không ?
Trong xã hội chạy theo văn minh vật chất và thích hưởng thụ này, có những người giàu, có chức vị, có tiền của, có nhiều phương tiện, nhờ có tinh thần từ bỏ mình, quên mình, đã biết lợi dụng những cái đó để làm ích cho kẻ khác, để xây dựng công ích, để mở Nước Chúa. Trái lại, cũng trong hoàn cảnh như vậy, kẻ không có tinh thần từ bỏ, quên mình, thì đã lợi dụng của cải, tiền bạc, tự do, tiện nghi, để hưởng thụ cho chính bản thân mình, đã không làm lợi cho kẻ khác, cho Hội thánh, cho đồng bào, cho đất nước… Chúng ta vào số người nào ?
Để từ bỏ được chính mình như thế, cần phải có thật nhiều ơn Chúa và một sự can đảm vô bờ. Vì khi từ bỏ là chúng ta sẽ cảm thấy như bị thua thiệt rất nhiều ở đời này. Vì thế, từ bỏ được mình, quên mình, nói thì dễ nhưng thực hành thì không dễ dàng, nếu không có ơn Chúa trợ giúp thì không ai có thể thực hành được. Cho nên, chúng ta phải cầu xin Chúa và cố gắng rất nhiều.

 

TN 23-C5. NTGT/241- TỪ BỎ

Nếu có dịp đọc kỹ các sách Tin Mừng chúng ta thấy : Một trong những đòi hỏi dường như khó:: TN 23-C5

Nếu có dịp đọc kỹ các sách Tin Mừng chúng ta thấy : Một trong những đòi hỏi dường như khó khăn nhất của Chúa Giêsu đối với những môn đệ hay những kẻ theo Ngài có lẽ là việc từ bỏ. Quả thật, từ bỏ một ít, hay từ bỏ những cái phụ thuộc bên ngoài xem ra còn dễ, nhưng trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đòi hỏi những ai theo Ngài không những phải từ bỏ những tình cảm sâu xa nhất, tình nghĩa ruột rà máu mủ, mà còn phải từ bỏ cả chính bản thân của mình : “Kẻ nào đến với Ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh chị em mình và cả mạng sống mình nữa, ắt không thể là môn đệ của Ta”. Chắc hẳn đây là một thách đố rất lớn và thật khó hiểu đối với mỗi người chúng ta, mặc dù chúng ta là những người đã dấn thân theo Đức Kitô. Thế thì chúng ta phải hiểu lời Chúa Giêsu nói hôm nay như thế nào?
Trước tiên, chúng ta thấy những lời Chúa Giêsu nói hôm nay được lồng vào cuộc hành trình lên Giêrusalem, và bằng một động tác có tính biểu tượng, Đức Giêsu “quay lại” phía đám đông cùng đi đường để dạy họ bài học về điều kiện phải có để làm môn đệ Ngài.
Thật vậy, chỉ đến với Đức Giêsu thôi chưa đủ. Đi theo Ngài bao gồm phải chấp nhận để cho những đòi hỏi triệt để của Tin Mừng khuấy động lối sống của chúng ta : cách riêng trong phạm vi những mối liên hệ gia đình, và sử dụng của cải vật chất là đề tài quen thuộc của Luca. Ở đây, chúng ta sẽ nói tới “liên hệ gia đình”.
Về vấn đề này, Đức Giêsu tuyên bố không úp mở : Những ai đến với Ngài mà không ghét bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em, và cả mạng sống mình thì không thể làm môn đệ Ngài. Ở đây, Luca dùng động từ Hy Lạp có nghĩa là “ghét bỏ” để diễn tả một lối nói nguyên thủy bằng tiếng Aram, một thứ ngôn ngữ vốn không có từ so sánh. Một kiểu nói mạnh mà soạn giả Tin Mừng dịch là dứt bỏ, hay “thương ít hơn”. Như thế từ ghét bỏ ở đây không có nghĩa thù ghét, loại trừ như chúng ta quen dùng, nhưng ghét bỏ ở đây có nghĩa là “thương ít hơn”. Thánh Matthêu nói cách rõ ràng hơn : “Kẻ nào yêu cha mẹ, yêu con trai con gái hơn Ta, ắt không xứng với Ta”.
Như vậy tất cả những mối liên hệ của nhân loại dù chính đáng và thâm sâu đến đâu, ngay cả đến mạng sống con người đi nữa, đều phải phụ thuộc vào mối liên hệ của họ với Đức Kitô.
Hiểu như thế, chúng ta thấy việc từ bỏ để đi theo Đức Kitô không phải là gánh nặng, không phải là một sự liều lĩnh đến nỗi phải đi ngược lại với tình cảm tự nhiên vốn có nơi con người. Điều Đức Giêsu đòi hỏi ở đây là phải dành cho Người địa vị ưu tiên hàng đầu, ưu tiên số một, nghĩa là phải yêu mến Người hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn. Đòi hỏi của Đức Giêsu ở đây không cho phép chúng ta xem nhẹ những liên hệ gia đình, liên hệ giữa người với người, nhưng Ngài muốn kêu gọi mỗi người chúng ta phải nuôi dưỡng và đến với tất cả những tình cảm đó xuyên qua tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa.
Như thế, trở lại với cuộc sống đời thường, mỗi người Kitô hữu chúng ta cần có thái độ như thế nào và tâm tình gì trước lời mời gọi của Chúa Giêsu hôm nay ?
Chúng ta biết rằng : Kitô hữu là những người đã chọn con đường bước theo Đức Giêsu, chấp nhận đi theo Ngài là chấp nhận đi vào con đường hẹp, con đường từ bỏ. Ngài đòi hỏi chúng ta đặt mọi sự dưới Ngài, yêu Ngài trên hết mọi sự, trên những người thân yêu, trên cả của cải, tinh thần, vật chất, trên mạng sống mình, trên cả hiện tại và tương lai. Những điều này thật đáng trân trọng, nhưng chúng chỉ có giá trị tương đối khi sánh với Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người. Kitô hữu là người phải sống từ bỏ như Đức Giêsu : “Ngài vốn là Thiên Chúa nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, sống như người trần thế”. “Ngài đã vâng phục ý Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, và chết ô nhục trên thánh giá : “Nếu có thể được thì xin cất chén này khỏi con, nhưng đừng theo ý con, một xin vâng ý Cha”.
Ngoài ra khi nhìn vào lịch sử Giáo Hội, chúng ta thấy có biết bao tấm gương khác đã đi trọn con đường từ bỏ này : một Phanxicô Assisi, một con người có thể nói được là sống trên nhung lụa, nhưng đã từ khước tất cả, cả ý định của người cha, và cuối cùng dám lột bỏ cả y phục của mình trả lại người cha để bước theo tiếng gọi của Đức Giêsu. Hay là như một Têrêxa Hài Đồng Giêsu cũng vượt qua biết bao khó khăn gian khổ, để theo đuổi lý tưởng tận hiến cho Đức Kitô, và cuối cùng đã trở thành một vị đại thánh của Giáo Hội. Gần và cận kề chúng ta hơn có lẽ phải nói tới vị anh hùng tử đạo Việt Nam, thánh Nguyễn Hy Mỹ, trước tòa án Nam Định, các quan dùng tình nghĩa vợ chồng con cái để làm lung lạc tình yêu ngài, nhưng vị tử đạo trả lời : “Vợ con tôi, tôi yêu thật, song tôi còn hy vọng sum họp với gia đình thân yêu trên thiên đàng”.
Tất cả mỗi người chúng ta đang hiện diện nơi đây, chắc chắn mỗi người có hoàn cảnh riêng, khả năng riêng, và một sở thích riêng… không ai giống ai, nhưng mỗi người chúng ta đều được Thiên Chúa mời gọi để dấn bước theo Ngài. Chắc chắn Chúa không đòi hỏi chúng ta làm gì vượt quá sức của chúng ta. Điều mà Thiên Chúa muốn mỗi chúng ta hãy sống tốt giây phút hiện tại của đời mình trong tương quan với thế giới, và với mọi người xung quanh xuyên qua tình yêu của Ngài.
Cầu chúc tất cả anh chị em luôn sống trong tình yêu Chúa, và lấy Chúa làm đích điểm cho đời mình, để trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người chúng ta có thể thốt lên như lời của thánh tông đồ Phaolô : “Tôi sống nhưng không phải tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi”.

 

TN 23-C6. SCĐ/697- TÌNH YÊU

Giới Tử Thôi người nước Tần, đời Xuân Thu Chiến Quốc, là bầy tôi trung thành của công tử: TN 23-C6

Giới Tử Thôi người nước Tần, đời Xuân Thu Chiến Quốc, là bầy tôi trung thành của công tử Trùng Nhĩ.
Khi công tử Trùng Nhĩ phải lưu vong nơi đất khách quê người, lương thực đã cạn kiệt, công tử lại không thể ăn những loại rau hoang cỏ dại trong rừng. Giới Tử Thôi đã lén cắt thịt đùi của mình nấu canh cho Trùng Nhĩ ăn.
Về sau Trùng Nhĩ khôi phục lại nghiệp cả, làm vua nước Tần. Giới Tử Thôi xin về làng ở ẩn, chứ không hề kể công lênh ngày xưa.
Trùng Nhĩ dù sau này có làm vua thì cũng là người trần mắt thịt, mà Giới Tử Thôi còn dám bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chịu khổ cực để theo hầu, hơn nữa còn hy sinh chính thân mình để tỏ lòng trung thành với chủ nhân.
Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta trước khi chúng ta có mặt trên cõi đời này, lẽ nào chúng ta lại không dám bỏ người thân, của cải, và ngay chính mình để bước theo Ngài ?
Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay thật rõ ràng : “Ai đến với tôi mà không từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu động từ “dứt bỏ” không có nghĩa là cắt đứt, là từ bỏ, mà là “ít hơn”. Vì tiếng Hy Bá không có thể văn so sánh hơn kém, nên khi cần diễn tả hơn kém người ta dùng lối văn đối ngẫu “yêu và bỏ”. Thánh Matthêu hiểu như vậy nên đã viết : “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy”.
Vậy ý của Chúa Giêsu là nếu ai muốn làm môn đệ Người thì phải đặt tình yêu Chúa lên trên mọi thứ tình yêu, hay nói cách khác tình yêu Chúa phải thấm nhuần và hướng dẫn mọi tình yêu : Tình yêu gia đình, bạn bè và ngay cả chính mình.
Như thế, người tín hữu khi đã chọn theo Chúa, làm môn đệ của Người, họ vẫn phải yêu mến người thân, gia đình, bạn bè ; họ vẫn phải yêu mến chính bản thân mình ; họ cũng phải quí mến của cải như là những ơn lành Chúa ban. Nhưng khi cần thì tất cả những tình cảm đó phải hy sinh cho tình yêu Thiên Chúa. Đó chính là bậc thang giá trị mà người môn đệ nào khi theo Chúa cũng phải đặt lại cho mình.
Nhưng có một cám dỗ rất nguy hiểm này, là Thiên Chúa thì linh thiêng xa vời, mà con người và của cải thì sờ sờ trước mắt, lại hấp dẫn cuốn hút lạ thường, nên người ta dễ đặt lại giá trị ưu tiên lúc nào mà chính mình cũng chẳng hay biết. Vì thế, Chúa mới cảnh giác qua hai dụ ngôn “xây tháp” và “cuộc giao chiến”. Tháp đã khởi công xây dựng, cuộc chiến đã bắt đầu, thì không thể ngồi xuống mà bàn tính. Phải dồn vốn để xây tháp, phải dồn sức mà tấn công. Nhiều người đã khởi công nhưng chẳng thành công, nhiều kẻ đã chiến đấu nhưng không chiến thắng.
Chúa muốn những kẻ theo Ngài phải trung thành trong tình yêu, và dám sống chết với ơn gọi của mình. Ngài không chấp nhận “cầm cày mà còn quay lại sau lưng”. Thật vậy, những kẻ “đứng núi này trông núi nọ” thường là những người bỏ cuộc, và những kẻ “bắt cá hai tay” là những người thua thiệt nhiều nhất. Đúng như Pierre Charles đã nói về họ : “Có nhiều kẻ không leo đến đỉnh núi mà lại ngồi an hưởng ở lưng chừng với những tiện nghi tầm thường nhỏ nhoi”.

 

TN 23-C7. PV/589- XIỀNG XÍCH

Dostoyevsky chỉ mới 20 tuổi khi ông viết cuốn sách đầu tiên nhan đề Người Nghèo. Cuốn này: TN 23-C7

Dostoyevsky chỉ mới 20 tuổi khi ông viết cuốn sách đầu tiên nhan đề Người Nghèo. Cuốn này đạt được thành công lớn. Ông đã mau chóng trở thành nổi tiếng. Sự tâng bốc này có thể dẽ dàng làm ông trở nên ngông cuồng nhưng cũng do sự kiện ấy, không bao lâu sau, ông đụng chạm với chính quyền. Bị buộc tội một cách sai lầm là một người vô chính phủ, ông bị bắt giữ và cùng mấy người khác bị kết án tử hình. Tuy nhiên, bản án giảm xuống thành án tù và cùng với các bạn, ông bị đày đến Xibêri. Dostoyevsky trải qua bốn năm lạnh lẽo ở đó. Mười năm trôi qua trước khi ông cầm bút trở lại.
Kinh nghiệm ấy, thay vì làm ông cay cú và tàn phá đời ông, đã làm ông phong phú rất nhiều. Giờ đây, ông đã có mười năm đau khổ để rút tỉa sức mạnh và quyền bính cao cả. Bất cứ lúc nào có người đến gặp ông và nói : “Ông lấy quyền gì để nói thay cho dân chúng ?” Thì ông chỉ việc kéo ống quần cao lên và chỉ cho người ta thấy những vết sẹo mà xiềng xích còn để lại. “Đây là quyền của tôi” ông nói. Và những người đã hỏi ông phải im lặng.
Đối với những người tỏ vẻ ái ngại về mọi đau khổ mà ông đã chịu đựng, ông nói “Nhà tù đã cứu tôi. Vì có nhà tù, tôi đã trở thành một con người hoàn toàn mới. Xibêri và sự giam giữ đã trở thành một niềm vui to lớn đối với tôi. Chỉ ở đó, tôi mới có thể sống một đời sống thanh khiết và hạnh phúc. Chỉ ở đó, tôi mới nhìn thấy mình rõ ràng và đó là nơi tôi học biết Đức Kitô. Đó là một trường học tốt. Nó làm đức tin tôi mạnh mẽ và làm tỉnh thức lòng yêu thương những người phải chịu đau khổ với lòng nhẫn nại. Nó cũng làm mạnh mẽ tình yêu của tôi đối với nước Nga, và mở mắt tôi để tôi thấy những phẩm chất cao cả của dân tộc Nga”.
Phaolô cũng khoe mình về lòng tin của một môn đệ Đức Kitô. Ông cũng bị giam cầm và buộc phải mang xiềng xích (Bài đọc 2). Điều này đã cho ông quyền bính khi ông nói về việc đi theo làm môn đệ Đức Kitô.
Khi các thanh niên đến gặp mẹ Têrêxa và bày tỏ ước muốn gia nhập cộng đoàn, mẹ không giấu giếm những việc mà họ sẽ phải tham gia. Mẹ nói : “Công việc của chúng tôi rất nặng nhọc. Chúng tôi phục vụ người nghèo và người không nhà hai mươi bốn giờ mỗi ngày”.
Cùng một cách ấy, Đức Giêsu đã không giấu giếm những khó khăn, gian khổ và hy sinh mà Người đòi hỏi nơi những ai đi theo Người. Bằng những lời lẽ rõ ràng. Người nói với họ rằng công việc đó không dễ dàng gì. Vì thế sau này họ không thể than phiền : “Oi, chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng nó lại như thế này”.
Có cái gì đó giống như lòng can đảm của người mù. Nhưng Đức Giêsu không biện hộ cho điều đó. Thật vậy, Người làm cho người ta nản lòng. Người nói, khi đi theo Người phải suy xét với lương tri, với sự thận trọng, tính toán cái giá phải trả, nhận định xem mình có thể đảm nhận được việc gì.
Việc quan trọng nhất khi bắt đầu là tự biết mình. Chúng ta không thể đảm nhận công việc vượt quá khả năng của mình. Dĩ nhiên, chúng ta không biết trước mình có khả năng gì. Chúng ta có thể đánh giá cao hoặc đánh giá thấp chính mình. Và chúng ta cần có thách đố để điều tốt nhất trong chúng ta xuất hiện.
Chúng ta có thể rút ra từ gương sáng của các tông đồ một sự khích lệ. Tin Mừng cho chúng ta thấy họ phải chiến đấu ở mọi điểm để tin theo Đức Giêsu. Tuy nhiên, Người không loại bỏ họ. Và rõ ràng họ đã học hỏi từ những sự thất bại của họ. Chỉ sau khi Đức Giêsu từ sự chết sống lại, họ mới thật sự là những môn đệ của Người.
Khi nhìn vào các tông đồ, chúng ta khám phá sự bất toàn của chúng ta. Tin Mừng ban niềm hy vọng cho những Kitô hữu thất bại. Sự sám hối và một cơ may thứ hai luôn luôn có thể có. Đức Giêsu bằng ân sủng của Người, Người luôn luôn quảng đại với những người cố gắng đáp lại lời kêu gọi của Người

 

TN 23-C8. PV/591- THEO THẦY

Trong Tin Mừng chúng ta thấy Đức Giêsu không giấu giếm các tông đồ thực tế. Người chỉ rõ: TN 23-C8

Trong Tin Mừng chúng ta thấy Đức Giêsu không giấu giếm các tông đồ thực tế. Người chỉ rõ những khó khăn, gian khổ và những hy sinh mà Người đòi hỏi nơi những ai đi theo Người. Bằng những lời lẽ rõ ràng, Người nói với họ rằng công việc đó không phải dễ dàng gì. Vì thế sau này họ không thể than phiền “Oi chúng tôi đã không bao giờ nghĩ rằng sự việc nó lại như thế này”.
Người ta có thể là một người theo Đức Kitô nhưng không phải là môn đệ của Người. Bởi lẽ người ta có thể đi dân công nhưng không phải là một chiến sĩ của đức vua. Người ta có thể không phải gánh vác nặng nề mà vẫn đóng vai của mình. Người ta chỉ là một người xí phần trong việc lớn. Người ta có thể là người chỉ biết nói giỏi mà không làm.
Một lần nọ, có người đến gần vị giáo sư danh tiếng để hỏi về một thanh niên : “Dù sao xin ông nói cho tôi biết anh ta có phải là một sinh viên của Ông. Đúng không ?” và vị giáo sư trả lời : “Anh ấy dĩ nhiên có nghe tôi giảng, nhưng xin ông tin tôi, anh ấy không bao giờ thật sự là sinh viên của tôi”.
Một trong những cản trở to lớn của Giáo Hội là trong Giáo Hội có nhiều người theo Đức Kitô với một khoảng cách an toàn, nhưng rất ít người thật sự là môn đệ, tức là những người đang thực hiện lời Người.
Chúng ta hãy đối diện với điều đó. Là một môn đệ của Đức Kitô không dễ dàng gì. Vai trò môn đệ có một số yêu cầu thực tiễn mà người ta không thể tránh né nếu không muốn phản bội lại Tin Mừng. Tuy nhiên có nhiều người đi nhà thờ một cách thoải mái nhưng ít người quan tâm đến những người khốn khổ, nghèo túng và tiếng rên rỉ của người nghèo. Ngày nay cũng thế, người Kitô hữu được kêu gọi từ bỏ nhiều điều mà người khác coi là việc đương nhiên họ phải có.
Một vài môn đệ tan biến đi khi họ được yêu sách, như tuyết tan dưới mặt trời. Những người khác bị sự chống đối và phê bình tàn phá, giống như ngọn lửa chập chờn bị cơn gió mạnh đầu tiên thổi tắt.
Khi nhà vua Trung Quốc đến thăm những tu viện của đại thiền sư Lin Chi ; nhà vua ngạc nhiên khi biết được rằng có hơn mười ngàn nhà sư đang sống ở đó. Muốn biết rõ con số chính xác các nhà sư, nhà vua hỏi : “Ngài có bao nhiêu đệ tử ?”
“Bốn hoặc năm” Lin Chi đáp.
Đức Giêsu nói rằng muốn đi theo Người, người ta phải suy xét với lương tri bình thường, với sự thận trọng và tính toán cái giá phải trả. Chúng ta không thể gánh vác quá khả năng của chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta không biết trước mình có khả năng gì. Chúng ta có thể đánh giá cao hoặc đánh giá thấp chính mình. Chúng ta cần có sự thách đố để điều tốt nhất trong chúng ta xuất hiện.
Chúng ta có thể rút ra từ gương sáng của các tông đồ một sự khích lệ. Tin Mừng cho chúng ta thấy họ phải chiến đấu ở mọi điểm để đi theo Đức Giêsu. Tuy nhiên, Người không loại bỏ họ. Chỉ sau khi Đức Giêsu từ sự chết sống lại, họ mới thật sự là những môn đệ của Người.
Khi nhìn vào các tông đồ, chúng ta khám phá sự bất toàn của chúng ta. Tin Mừng ban niềm hy vọng cho những Kitô hữu thất bại. Sự sám hối và một cơ may thứ hai luôn luôn có thể có. Đức Giêsu bằng ân sủng của Người luôn luôn quảng đại với những người cố gắng đáp lại lời kêu gọi của Người.

 

TN 23-C9. PV/593- TRẢ GIÁ

Có những người hoài bão những mục tiêu lớn trong đời, nhưng họ sẽ không bao giờ hoàn thành: TN 23-C9

Có những người hoài bão những mục tiêu lớn trong đời, nhưng họ sẽ không bao giờ hoàn thành những mục tiêu ấy. Tại sao lại không ? Bởi vì họ không muốn trả giá.
Có một câu chuyện về một cô gái tên Antoinette, cô rất xinh đẹp nhưng rất nghèo. Cô chỉ có một mục tiêu trong đời trở nên giàu có. Hy vọng duy nhất của cô là lấy được một người giàu sang. Nhưng cuộc sống đưa đẩy cô lấy một viên chức nhà nước. Chồng cô cố gắng làm cho cô được hạnh phúc nhưng không thể đáp ứng những điều mà cô mơ ước – quần áo đẹp, nữ trang, một căn nhà với đầy đủ đồ đạc cao cấp, và v.v…
Cô từ chối đi làm ở bên ngoài, và sống những ngày khốn khổ và tuyệt vọng. Cô than phiền rằng vợ chồng cô chưa bao giờ đi đâu. Một lần kia, chồng cô được mời đến dự một bữa tiệc của tiểu bang, nhưng rồi cô lại than phiền cô không có trang phục thích hợp để mặc. Vì thế chồng cô phải gom góp hết tiền tiết kiệm khiêm tốn ở ngân hàng. Với số tiền đó, Antoinette mua được một chiếc áo mới. Sau đó cô còn mượn một chuỗi hạt của một người bạn học cũ tên Marie, rất hợp với chiếc áo mới.
Và thế là cô đã đi dự tiệc. Cô là người phụ nữ đẹp nhất ở đó và vui hưởng mọi sự chú ý mà cô có được. Tuy nhiên, khi họ về đến nhà vào lúc trời gần sáng, cô kinh hoàng khám phá chuỗi hạt đã mất.
Họ tìm kiếm chuỗi hạt khắp nơi nhưng không tài nào tìm được. Cô không có can đảm nói với Marie sự thật. Vì thế họ mua một chuỗi hạt khác hoàn toàn giống với chuỗi hạt đã mất. Nó giá 40.000 quan Pháp, một món tiền mà họ phải đi vay với lãi suất rất cao. Khi họ trả chuỗi hạt ấy cho Marie, cô này không bao giờ nhận ra sự khác nhau. Thật vậy, cô ta nhét chuỗi hạt vào ngăn kéo mà không nhìn đến nữa.
 Giờ đây Antoinette biết cái nghèo thật sự là gì, nhưng cô quyết định góp phần để trả món nợ của họ. Họ trả lại căn phòng ở tầng trên và dọn xuống tầng hầm. Họ cho cô đầy tớ nghỉ việc. Antoinette tự mình làm việc nhà và còn đi làm việc ở bên ngoài. Họ xin xỏ và dành dụm từng đồng. Họ phải mất mười năm để trả hết món nợ nần. Giờ đây Antoinette trông giống một bà già. Một ngày kia tình cờ cô gặp lại Marie trong đường phố.
“Oi, sao bạn già đi nhiều thế !” Marie nói.
“Tôi đã trải qua những thời gian rất khó khăn kể từ lần cuối cùng chúng ta gặp nhau, và tất cả là vì bạn”, Antoinette đáp.
“Vì tôi ư ? Tôi không hiểu”.
Rồi Antoinette nói với Marie về việc cô đánh mất chuỗi hạt và việc hai vợ chồng cô đã làm việc bấy nhiêu năm để trả lại món tiền. Nghe đến đây Marie nói : “Bạn định nói rằng bạn đã mua một chuỗi hạt bằng kim cương để thế vào chuỗi hạt của tôi?
“Vâng” Antoinette đáp, “và bạn không bao giờ nhận ra đâu”
“Oi, Antoinette đáng thương của tôi !” Marie kêu lên. “Tại sao lại như vậy, chuỗi hạt của tôi chỉ là một sản phẩm nhái lại. Cùng lắm, nó chỉ đáng giá 400 quan”.
Nếu ngay từ lúc đầu, Antoinette chỉ cần bỏ ra phân nửa nỗ lực cho những gì mà cô mong ước trong đời, thì cô đã có thể đạt được mà không phải phung phí những năm quí giá ấy. Trái lại, cô đã dùng thời gian ấy của cô để nhìn ra cửa sổ và mơ mộng.
Đức Giêsu đã có một mục đích cao cả trong đời, tức là thực hiện sứ vụ mà Cha Người đã giao cho Người, sống vì điều đó và đã muốn trả bất cứ cái giá nào để hoàn thành mục tiêu. Tin Mừng cho chúng ta thấy Người đang tiến về Giêrusalem. Người đã biết điều gì đang chờ Người ở đó. Đau khổ, sự loại trừ và cái chết đợi sẵn ở cuối cuộc hành trình ấy. Tuy nhiên Người mong muốn đối mặt với tất cả những điều đó.
Và Người mong muốn các môn đệ của Người cũng phải như thế. Người nói về cái giá của việc làm môn đệ. Khi Người nói họ phải ghét cha mẹ mình, Người không định nói theo nghĩa đen. Người nói với họ rằng nếu cần họ phải sẵn sàng hy sinh những vật thân yêu nhất trong đời. Trong một số trường hợp (hiếm hoi), họ phải chọn giữa Người và các người thân của họ.
Hai dụ ngôn ngắn làm nổi bật việc theo Chúa là một ơn gọi nghiêm khắc, nó có thể có ý nghĩa của sự bách hại và chết chóc. Trong lãnh vực này, cũng như trong bất cứ lãnh vực nào của đời sống (như kinh doanh và chính trị), người ta không thể bước vào một cách mù quáng. Người ta phải tính toán cái giá phải trả trước khi bắt đầu, và rồi xem mình có sẵn sàng đối mặt với nó hay không.
Mục tiêu mà Đức Giêsu đặt ra trước chúng ta thì đáng giá – mục tiêu của một lối sống trung thực ở đời này và của sự sống vĩnh cửu đời sau. Không có mục tiêu nào cao hơn mục tiêu ấy. Điều đó không dễ dàng gì. Không một ai có thể là một môn đệ mà không vác thập giá. Nhưng Đức Giêsu biết sự mỏng giòn của chúng ta. Người rộng ban ân sủng của Người cho những người cố gắng đi theo Người một cách chân thành.

 

TN 23-C10. MÔN ĐỆ ĐỨC GIÊSU- Lm. Jos. Phạm Thanh Liêm

Ai cũng được mời gọi trở thành môn đệ Đức Yêsu, nhưng không phải ai cũng là môn đệ Ngài: TN 23-C10

Ai cũng được mời gọi trở thành môn đệ Đức Yêsu, nhưng không phải ai cũng là môn đệ Ngài. Để trở thành môn đệ của Chúa, phải chọn Thiên Chúa và từ bỏ những gì trái với Ngài.
Từ bỏ chính mình
Đám đông đi theo Đức Yêsu, nhưng không phải tất cả là môn đệ của Ngài: “nếu ai đi theo tôi mà không từ bỏ chính mình, thì không thể theo tôi được”.
Từ bỏ chính mình, là cách nói khác của thái độ chọn Chúa trên tất cả. Không có sự trái nghịch giữa giữa việc đi theo Chúa và đạo hiếu, vì giới răn thứ tư Chúa dạy: “thảo kính cha mẹ”; nhưng giả như cha mẹ hay bất kỳ ai đó có những đòi hỏi trái với luật Chúa, thì phải chọn Thiên Chúa trên tất cả. Thiên Chúa không muốn con người phải chết, nhưng muốn con người được sống và sống hạnh phúc với Thiên Chúa; nhưng giả như có trường hợp phải chọn giữa Thiên Chúa và mạng sống mình, chẳng hạn như trường hợp bách hại đạo, thì phải chọn Thiên Chúa trên cả mạng sống mình.
Chọn Chúa trên tất cả, sẽ được tất cả. Chọn Chúa, là yêu thương cha mẹ thật sự, là giữ đạo hiếu tuyệt hảo. Thí dụ, cha mẹ của một ai đó ép con mình lấy người nó không yêu không thương; thì theo đạo hiếu “thiển cận”, người con phải vâng lời lấy người cha mẹ muốn; nhưng nếu chỉ một thời gian ngắn sau cha mẹ người đó chết mà người con phải sống khổ cả đời vì đã vâng lời cha mẹ lấy người mình không thương yêu, thì nếu cha mẹ người đó biết con mình không sống hạnh phúc, chắc cha mẹ đã không ép con mình làm như vậy; nên trong trường hợp này không làm theo ý cha mẹ, là có hiếu hơn nghe theo lời cha mẹ. Nói như vậy, không có nghĩa là coi thường ý kiến của cha mẹ về vấn đề hôn nhân cho con cái. Con cái phải trân trọng ý kiến của cha mẹ, vì thường cha mẹ chỉ muốn cho con cái mình hạnh phúc; nhưng giả như có trường hợp khác, thì phải chọn Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn tôi làm điều đúng, và Ngài muốn tôi sống hạnh phúc.
Chấp nhận chính mình
“Ai không vác thập giá mình mà theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi”. Con người, ai cũng có những giới hạn.
Chẳng hạn, một người không được thông mình như chúng bạn mình, một người không đẹp như bạn mình, một người có một tật nào đó về thể lý hoặc tinh thần. Nếu con người không chấp nhận chính mình, luôn càm ràm Thiên Chúa “tại sao Chúa dựng nên con xấu như vậy, tại sao con lại không được thông mình bằng người khác, tại sao răng của con như vậy, tại sao mắt của con như vậy,…”, muốn làm “tài khôn” cho Chúa, thì người đó không thể làm môn đệ của Chúa được. Chấp nhận con người mình, chấp nhận những giới hạn của mình, đó là vác thập giá mình mà theo Đức Yêsu. Chấp nhận con người mình như mình là, đã là vượt qua chính mình và nên thánh từng ngày rồi. Phaolô cũng có một cái dằm đâm vào xác thịt, và ngài đã ba lần xin Chúa cất cái dằm đó khỏi mình, nhưng Thiên Chúa phán “ơn ta đủ cho con” (2 Cor.12, 7-9).
Chấp nhận chính mình, là chấp nhận để Thiên Chúa làm tất cả những gì Ngài muốn trên mình. Đó là thái độ cần thiết để một người có thể sống hạnh phúc trên trần gian này. Nếu ai không hài lòng với chính mình, không nhận ra được gì hay nơi con người mình để tạ ơn Chúa, thì thật bất hạnh cho người đó.
Chấp nhận tha nhân trong yêu thương
Thiên Chúa là nhất đối với Phaolô. Con người là một giá trị tuyệt vời đối với Thiên Chúa và đối với con người. Trở nên con Thiên Chúa qua bí tích rửa tội, là một hồng ân vô cùng lớn mà không gì có thể so sánh và mua được.
Onesimus, người nô lệ của Philemon đã được ơn trở lại qua Phaolô. Phaolô chấp nhận Onesimus như một người với tất cả giá trị của con người, cho dù người đời có phân biệt nô lệ và tự do. Phaolô mời gọi Philemon, người môn đệ của mình, nhận ra và chấp nhận phẩm giá của Onesimus, và đối xử với Onesimus, người nô lệ của mình, như người anh em trong Chúa. Để làm được điều này, Philemon phải chọn Chúa trên hết, coi trọng người tông đồ đã rao giảng Lời Chúa cho mình, đặt nhẹ lợi lộc trần gian, và nhận ra giá trị đích thực của con người không tựa vào nô lệ hay tự do theo kiểu trần thế.
Chọn Thiên Chúa trên tất cả, chấp nhận con người của mình như mình là, từ bỏ tất cả thậm chí cả bản thân mình, là điều kiện của người môn đệ Đức Yêsu. Xin cho chúng ta được ơn trở thành môn đệ Đức Yêsu trong cuộc sống.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Có sự xung đột giữa những bổn phận đối với Thiên Chúa, cha mẹ và vợ chồng không? Xin bạn cho thí dụ và chia sẻ cái nhìn của bạn?
2. Bạn có đồng ý với quan điểm “chọn Thiên Chúa trên tất cả, sẽ được tất cả” không? Đâu là quan điểm của bạn?
3. Liệu con người có thể từ bỏ chính mình được không? Tại sao?

 

TN 23-C11. Đường Dễ Đi Là Ngõ Cụt

Chúng ta thường gặp thấy người khác và cả chính chúng ta vẫn thường tìm cách để làm việc: TN 23-C11

Chúng ta thường gặp thấy người khác và cả chính chúng ta vẫn thường tìm cách để làm việc sao cho dễ dàng. Ở tại thành phố Honolulu, ở tiểu bang Hawaii, nếu các bạn đi xa lộ Pali, và đi cho đến đèo Pali, và rẽ vào con đường Park, đi thêm một chút nữa, các bạn sẽ gặp con đường với cái tên là Easy Street. Thế nhưng, nếu bạn đi thêm một tí nữa sẽ là ngõ cụt.
Trong bài Phúc Âm hôm nay cũng như ở nhiều chỗ khác, Chúa Giêsu cảnh cáo với chúng ta rằng nếu chúng ta đi tìm con đường dễ dàng để theo Ngài thì chúng ta sẽ bắt gặp ngõ cụt. Nếu chúng ta muốn theo Ngài, chúng ta phải vác thánh giá mình hằng ngày. Nếu chúng ta muốn làm môn đệ Ngài, Chúa Giêsu nói rằng chúng ta phải biết trước cái giá phải trả (Lc 14:27-28).
Khi một người thanh niên và thiếu nữ đứng trước bàn thờ để tuyên lời thề hứa hôn nhân, họ đồng ý là sẽ chung sống yêu thương nhau suốt đời. Họ thề hứa là sẽ yêu nhau cho đến chết. Nếu đó là một cuộc hôn nhân tốt thì cả hai sẽ nên một và mối tình của họ sẽ khắng khít với nhau mãi. Tuy nhiên, thường xảy ra là sau những tuần trăng mật, thì là những chuỗi ngày buồn chán. Cả hai bắt đầu nhận ra rằng sống chết với nhau phải trả một cái giá rất đắt.
Một đứa bé đi nhà thờ với mẹ của nó. Hôm đó, vị giảng thuyết hùng hồn nhắc đi nhắc lại một đề tài đó là "Thế nào là một người Kitô hữu?" Mỗi lần nhắc đến câu này là tay ông vung lên và đập xuống giảng đài. Thằng bé thấy vậy run run thì thầm hỏi mẹ nó, "Mẹ ơi, mẹ có biết câu trả lời không?" Mẹ nói trả lời, "Biết chứ, nhưng giữ thinh lặng đi con." Sau đó một vài phút, vị giảng thuyết lại hùng hồn cất tiếng và vung tay lên và đập xuống giảng đài, thằng bé sợ quá, liền la lên, "Nói cho ổng biết đi mẹ ơi, nói cho ổng biết đi!"
Thế nào là một người Kitô hữu? Chúng ta có thể trả lời là một người đã được rửa tội trong đức tin; người tin một Chúa tạo dựng nên trời đất; người tin rằng Thiên Chúa yêu thương con người quá đỗi và đã ban Con Một Mình để cứu chuộc; Kitô hữu là một phần tử của cộng đoàn dân Chúa tụ họp để cầu nguyện nhân danh Chúa Kitô để ngợi khen, cảm tạ, chúc tụng, cầu xin Chúa; Kitô hữu là một người tin rằng qua sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa ban cho dân Ngài quyền năng và sức mạnh và giáo huấn để họ có thể nhận biết Ngài.
Đó là một danh sách không diễn tả hết nổi câu hỏi thế nào là một Kitô hữu, nhưng ít ra nó cũng cho chúng ta nhận ra mối liên hệ giữa ta với Chúa Kitô theo nghĩa của tuần trăng mật. Tiếp theo sau đó, người Kitô hữu phải biết rằng họ phải trả một cái giá rất cao để vâng lời của Chúa Giêsu truyền dạy, "Yêu thương kẻ thù!" (Gn 15:12).
Chúa Nhật này đến Chúa Nhật khác, chúng ta tụ họp lại nơi đây để trả lời cho câu hỏi, "Thế nào là một Kitô hữu?" Chúa Nhật này đến Chúa Nhật khác, nhiều người chúng ta đến đây để liếc nhìn Sự Sống mới của Chúa Kitô, mà không mấy tích cực đi sâu vào. Thật là một điều đáng tiếc cho chúng ta khi nhìn thấy những cái tuyệt hảo như thế mà lại không biết đón nhận và làm cho cuộc sống của mình thêm phong phú.
Chúa Giêsu đã phán rằng nếu chúng ta muốn Sự Sống Mới thì chúng ta phải biết yêu thương nhau. Điều đó chẳng hệ chi nếu chúng ta yêu thương những kẻ đáng yêu. Tuy nhiên, khi chúng ta phải đối diện với những áp lực nặng nề là yêu thương kẻ không đáng yêu, cầu nguyện cho kẻ bắt bớ mình, tha thứ cho kẻ thù mình, thì chính là lúc mà tuần trăng mật đã chấm dứt. Đó chính là lúc mà chúng ta phải trả cái giá vác thánh giá và từ bỏ chính mình để theo Chúa Giêsu.
Có lẽ các bạn mong muốn nhìn lại cuộc đời mình trong quá khứ, hoặc nhìn về tương lai để xem mình đang đi đâu. Tuy nhiên, nếu các bạn còn chưa nhìn vào giây phút hiện tại, nếu các bạn thấy mình còn chưa có vác thánh giá và yêu thương kẻ thù mình, thì các bạn chưa bắt đầu sống sống đời Kitô hữu.
Nếu các bạn thật sự muốn cho mối liên hệ của mình với Chúa Kitô được mật thiết, sâu xa hơn, thì các bạn hãy nghĩ đến một người nào đó mà các bạn không ưa thích và làm một điều gì tốt cho người đó. Tuần tới khi các bạn đến đây, các bạn hãy báo cáo cho Chúa Giêsu biết kết quả. Khi kể lại bản báo cáo đó, bạn hãy chia sẻ với Ngài niềm vui được thoát khỏi con đường ngõ cụt.

 

TN 23-C12. Từ bỏ hết

Suy Niệm
 

Sống là chấp nhận từ bỏ. Có những điều xấu phải từ bỏ như tật nghiện thuốc lá, ma tuý, rượ: TN 23-C12

Sống là chấp nhận từ bỏ.
Có những điều xấu phải từ bỏ như tật nghiện thuốc lá, ma tuý, rượu chè, trụy lạc...
Cũng có điều tốt phải bỏ, để chọn một điều tốt hơn: chọn nghề, chọn trường, chọn chỗ làm, chọn bậc sống...
Từ bỏ thường làm ta sợ và tiếc. Bỏ chiếc giường êm để thức dậy đi lễ sáng. Tắt Tivi vì đến giờ đọc kinh tối gia đình. Dành Chúa Nhật để học giáo lý và làm việc xã hội.
Nếu từ bỏ vì yêu, ta sẽ thấy nhẹ hơn, dễ hơn. Người mẹ thức trắng đêm để đan nốt chiếc áo cho con. Người mẹ là mẹ hơn qua những hy sinh vất vả.
Từ bỏ vì yêu chẳng bao giờ thiệt thòi, mất mát.
Cuộc sống văn minh cho ta nhiều chọn lựa.
Con người dễ chọn cái tầm thường hơn cái cao cả, chọn khoái lạc phù du hơn hạnh phúc vững bền, chọn lợi ích cho cá nhân tôi hơn là cho tập thể. Xem ra con người thích cái dễ dãi hơn.
Kitô hữu là người đã chọn theo Đức Giêsu.
Làm môn đệ Ngài là chọn đi vào đường hẹp, cửa hẹp.
Ngài đòi ta đặt tất cả dưới Ngài, yêu Ngài trên mọi sự, trên những người thân yêu, trên của cải tinh thần, vật chất, trên mạng sống mình, trên cả hiện tại tương lai.
Những thụ tạo trên thật đáng trân trọng, nhưng chúng chỉ có giá trị tương đối khi sánh với Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người.
Kitô hữu là người sống từ bỏ như Đức Giêsu.
Ngài đã bỏ vinh quang thần linh để làm người như ta, đã sống và đã hiến mạng sống vì yêu Cha và nhân loại.
Từ bỏ là đi vào cửa hẹp cùng với Đức Giêsu.
Phép Rửa đã cho chúng ta trở thành môn đệ Đức Kitô.
Nhưng để là môn đệ đích thực của Ngài, chúng ta cần từ bỏ mãi cho đến khi nhắm mắt.
Từ bỏ phải là thái độ nội tâm cần gìn giữ luôn.
Chúng ta dễ nghiêng như tháp Pizza.
Điều hôm nay chưa dính bén, mai đã thấy khó gỡ.
Điều đã bỏ từ lâu, nay lại bất ngờ hấp dẫn.
Từ bỏ điều tôi có, và cứ có thêm mỗi ngày thật là một cuộc chiến lâu dài và gian khổ.
Chúng ta không được nửa vời, lừng khừng, thỏa hiệp.
Tháp đã bắt đầu xây, cuộc chiến đã khai mào.
Không còn là lúc ngồi xuống mà tính toán nữa.
Cần đầu tư để xây tháp, cần dồn sức để tiến quân.
Cầu từ bỏ mọi vướng víu để tiếp tục trung tín.
Vẫn có những Kitô hữu chịu dở dang và bại trận, vì họ không dám sống đến cùng ơn gọi làm môn đệ.
Từ bỏ là cách diễn tả một tình yêu.
Khi yêu người ta vui lòng từ bỏ tất cả.
Ước gì chúng ta vui khi gặp viên ngọc quý là Đức Giêsu, dám bán tất cả để thấy mình giàu có.
Gợi Ý Chia Sẻ
Theo kinh nghiệm của bạn, từ bỏ điều gì là khó hơn cả? Bạn hãy cho biết lý do tại sao.
Có lần bạn đã rất vui khi làm một hy sinh, và bạn cảm thấy mình nhận nhiều hơn cho, được nhiều hơn mất. Bạn hãy kể lại.
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, sống cho Chúa thật là điều khó.
Thuộc về Chúa thật là một thách đố cho con.
Chúa đòi con cho Chúa tất cả để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa.
Chúa thích lấy đi những gì con cậy dựa để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa.
Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà để cây đời con sinh thêm hoa trái.
Chúa cương quyết chinh phục con cho đến khi con thuộc trọn về Chúa.
Xin cho con dám ra khỏi mình, ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan để sống theo những đòi hỏi bất ngờ của Chúa, dù phải chịu mất mát và thua thiệt.
Ước gì con cảm nghiệm được rằng trước khi con tập sống cho Chúa và thuộc về Chúa thì Chúa đã sống cho con và thuộc về con từ lâu. Amen.

 

TN 23-C13. Ai Không Vác Thập Giá Theo Tôi,

Thì Không Đáng Làm Môn Đệ Tôi
 
Suy Niệm

Chẳng ai có thể đi một lúc hai con đường. Cuộc sống luôn đặt con người trước những lựa chọn: TN 23-C13

Chẳng ai có thể đi một lúc hai con đường.
Cuộc sống luôn đặt con người trước những lựa chọn, mà chọn là từ bỏ.
Từ bỏ trở thành quy luật để sống và lớn lên.
Thai nhi không thể ở mãi trong bụng mẹ, dù đó là chỗ an toàn, êm ấm.
Đứa bé chẳng thể nào trưởng thành, nếu nó sống mãi bằng sửa mẹ.
Từ bỏ thường là những cắt đứt đau đớn, như mổ một khối u.
Có nhiều người không có can đảm từ bỏ, nên suốt đời bị giằng co, ray rứt.
Trong đoạn Tin Mừng trên đây, Đức Giêsu đã nói ba lần câu: "thì không thể làm môn đệ tôi được."
Chúng ta đã trở nên môn đệ Đức Giêsu, nhưng để tiếp tục là môn đệ của Ngài, ta cần phải đặt Ngài lên trên mọi giá trị khác.
Người Kitô hữu lớn lên nhờ chọn lựa và từ bỏ.
Trung tâm điểm là Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa. Mọi giá trị trở nên tương đối trước Đấng Tuyệt Đối.
Tiền bạc, của cải là một giá trị. Cha mẹ, vợ con, gia đình là những giá trị tinh thần. Mạng sống là một giá trị trổi vượt. Nhưng ngay cả những giá trị đó cũng phải được hy sinh khi cần, để tôi chọn Đức Giêsu, Giá Trị của mọi giá trị.
Các thánh tử đạo đã chọn lựa như thế.
Dĩ nhiên chúng ta yêu gia đình, yêu bè bạn, yêu trái đất nâng ta, yêu bầu trời che chở ta, yêu cuộc sống làm người với bao niềm vui và nước mắt. Nhưng ta phải yêu tất cả trong Chúa và dưới Chúa, để khi phải chọn lựa một trong hai, chúng ta chọn Chúa.
Như thế, tuy người Kitô hữu gắn bó với tạo vật nhưng vẫn giữ một khoảng cách nào đó, để luôn sống trong tự do, bình tâm.
Vấn đề là dám chọn và tiếp tục chọn, không để cho tháp đã xây bị dở dang, không để cho cuộc tiến quân bị ngừng trệ.
Vấn đề là dám đi tới cùng, để tiếp tục trung tín với một Tình Yêu.
Phải cởi bỏ mình khỏi những điều xấu, nhưng cũng phải tách mình khỏi nỗi đam mê lệch lạc một điều tốt: yêu nó ngoài Chúa và trên Chúa.
Ước gì chúng ta tự cởi trói mình mỗi ngày và nhờ ơn Chúa, chúng ta được tự do.
Gợi Ý Chia Sẻ
Theo ý bạn, giới trẻ hôm nay dễ bị lôi cuốn bởi thú vui nào? Đâu là những nguy hiểm của thú vui đó?
Bạn có kinh nghiệm gì về sự cám dỗ của một điều vốn là tốt, nhưng sau đó lại làm bạn bị nô lệ?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con dám hành động theo những đòi hỏi khắt khe nhất của Chúa.
Xin dạy con biết theo Chúa vô điều kiện, vì xác tín rằng Chúa ngàn lần khôn ngoan hơn con, và Chúa yêu con hơn cả chính con yêu con.
Lạy Chúa Giêsu trên thập giá, xin cho con dám liều theo Chúa mà không tính toán thiệt hơn, anh hùng vượt trên mọi nỗi sợ, can đảm lướt thắng sự yếu đuối của quả tim, và ném mình trọn vẹn cho sự quan phòng của Chúa.
Ước gì khi dâng lên Chúa những hy sinh làm cho tim con rướm máu, con cảm nghiệm được niềm vui bất diệt của người một lòng theo Chúa.

 

TN 23-C14. Vác thập giá mình mà đi theo Đức Giê-su- JKN

Câu hỏi gợi ý :
 

Muốn làm môn đệ Chúa, phải từ bỏ tất cả (kể cả cha mẹ, và những người thân yêu nhất). Từ bỏ: TN 23-C14

1. Muốn làm môn đệ Chúa, phải từ bỏ tất cả (kể cả cha mẹ, và những người thân yêu nhất). Từ bỏ như thế thì làm sao sống được trên đời? Làm sao tránh được tiếng bất hiếu, vô tình vô nghĩa? Cần phải hiểu hai chữ «từ bỏ» theo nghĩa nào?
2. Tại sao Đức Giê-su lại yêu cầu những người theo Ngài phải lượng sức mình: có từ bỏ tất cả mọi sự được thì hãy theo, không thì thôi?
3. Không lượng sức mình mà cứ theo Chúa, thì đã sao? Có tai hại gì đâu? Khối người theo Chúa có phải từ bỏ gì đâu, họ còn được thêm là đằng khác?
Suy tư gợi ý :
1. Muốn làm môn đệ Chúa, phải từ bỏ tất cả
Bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su nói lên một cách quả quyết, rõ ràng và dứt khoát là: muốn theo Ngài, muốn làm môn đệ Ngài, phải sẵn sàng từ bỏ tất cả: người, vật, ý riêng, thậm chí những người thân yêu nhất như cha mẹ, vợ con, và ngay cả bản thân hay mạng sống mình nữa. Sự rõ ràng và dứt khoát ấy trở nên rất rõ nét nhờ hai dụ ngôn về một người muốn xây nhà và một ông vua muốn chiến đấu. Muốn xây nhà thì phải dự tính xem có đủ tiền không, kẻo đang xây dở dang mà hết tiền, thì sẽ không có nhà ở! Hai dụ ngôn này nhấn mạnh rằng nếu có ý định theo Chúa, thì cần phải lượng sức mình trước, xem mình có thể từ bỏ được như Chúa đòi hỏi không. Nếu không được, thì hãy từ bỏ ý định theo Chúa, kẻo sau đó bị dở dang «thầy không ra thầy, thợ không ra thợ», lỡ việc, lỡ cả cuộc đời, và có thể lỡ cả đời sau.
2. Cần phải hiểu «từ bỏ» theo hai nghĩa
Khi Đức Giê-su đòi hỏi những người theo Ngài phải từ bỏ, điều ấy không có nghĩa là những kẻ theo Ngài luôn luôn phải rời xa cha mẹ, vợ con, và sống như người không có gì. Hiểu theo nghĩa đen như thế không hẳn là sai, nhưng chỉ đúng với ơn gọi của một số ít người. Từ bỏ ở đây nên hiểu theo nghĩa tinh thần nhiều hơn. Nghĩa là người theo Chúa cần phải có tinh thần từ bỏ. Có tinh thần từ bỏ là luôn luôn coi Chúa và những việc của Chúa là quan trọng hơn tất cả mọi sự khác, nên sẵn sàng hy sinh những cái không quan trọng cho cái quan trọng khi thực tế đòi buộc như vậy. Từ bỏ không phải là không quí những điều mình từ bỏ, mà là không quí bằng một cái khác quí hơn, nên sẵn sàng hy sinh cái quí nhỏ cho cái quí to. Mạng sống, cha mẹ, vợ con, anh em, nhà cửa, ruộng vườn… đều là những thứ mà người theo Chúa phải quí trọng, thậm chí rất quí, nhưng đối với người theo Chúa, thì phải coi tất cả những thứ đáng quí ấy không quí bằng việc thực hiện Nước Thiên Chúa.
Và khi đã có tinh thần từ bỏ, thì tinh thần ấy sẽ được thể hiện thành hay hành động từ bỏ. Nếu những hành động từ bỏ không phát xuất từ tinh thần từ bỏ thì không có giá trị lắm. Tuy nhiên, nếu tinh thần từ bỏ mà không được thể hiện thành những hành động từ bỏ cụ thể, thì chắc chắn đó không phải là tinh thần từ bỏ đích thực.
3. Phải lượng sức mình khi theo Chúa
Có thể Chúa không đòi hỏi tất cả mọi người phải có tinh thần từ bỏ như thế. Nhưng Ngài đòi hỏi những ai theo Ngài phải có tinh thần ấy. Vì thế, trong hai dụ ngôn của bài Tin Mừng hôm nay, Chúa yêu cầu những ai theo Ngài phải lượng sức mình xem mình có thể có được tinh thần từ bỏ như vậy không. Nếu không có, thì đừng theo Ngài, Ngài không trách phạt những người bình thường nếu họ không có tinh thần ấy. Nhưng Ngài sẽ trách phạt những ai theo Ngài mà lại không có tinh thần từ bỏ ấy. Chính vì thế, mà cần phải lượng sức mình kẻo có hại cho sự phát triển hay vinh quang của Nước Chúa, đồng thời cho chính bản thân mình.
Rất tiếc là tinh thần từ bỏ này chưa được đặt nặng đúng mức nơi những người mang danh là theo Chúa. Trong nhiều Giáo Hội địa phương, những người mang danh theo Chúa lại được nhiều đặc quyền đặc lợi hơn những người bình thường (được hết sức kính trọng vì danh nghĩa là người theo Chúa chứ không vì tài đức bản thân, dễ dàng có quyền hành, địa vị, chức tước, tiền bạc hơn người bình thường…) Vì thế, có biết bao người theo Chúa vì những động lực trần tục ấy. Theo Chúa, thay vì từ bỏ hay mất đi nhiều thứ mình đang có, thì lại có thêm hay chiếm hữu được nhiều thứ mình chưa có. Do đó, với tinh thần chiếm hữu thay vì từ bỏ, những người mang danh theo Chúa ấy không thể thực hiện được những bổn phận hay trách nhiệm mà những người theo Chúa phải gánh vác trong những hoàn cảnh cụ thể mà Nước Chúa đòi buộc (chẳng hạn phải tranh đấu cho người nghèo, cho người bị áp bức, chống lại sự ác, bất công…) Họ không dám từ bỏ, không dám dấn thân, không dám hy sinh trong những việc đòi hỏi họ phải chấp nhận nguy hiểm đến mạng sống, đến sự an toàn bản thân, đến danh dự, đến quyền lợi… Đương nhiên họ vẫn có thể hy sinh trong những việc nhỏ, miễn sự hy sinh ấy đừng lớn hơn cái lợi trần gian họ đạt được. Cũng như một người đi buôn sẵn sàng hy sinh tiền bạc, công sức để thu vào một cái lợi lớn hơn.
Những người theo Chúa kiểu ấy sẽ rất bỡ ngỡ vào ngày sau hết, khi Chúa bảo họ: «Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!» (Lc 13,27). Và lúc ấy họ sẽ lên tiếng thắc mắc: «Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt ngài, và ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi» (Lc 13,26). Hoặc «Nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?» (Mt 7,22). Chính vì thấy trước viễn tượng ấy, mà Đức Giê-su đã yêu cầu những ai muốn theo Chúa phải lượng sức mình. Nếu không thể từ bỏ mọi sự được như thế (nên hiểu theo nghĩa tinh thần), thì nên rút lui sớm kẻo vừa hại cho Nước Chúa vừa hại cho phần rỗi của mình.
4. Một đề nghị
Trong các Giáo Hội Á châu, việc Giáo Hội khuyến khích giáo dân tôn kính và dành nhiều đặc quyền đặc lợi cho những người theo Chúa có rất nhiều điều hay, nên làm, nhưng thiết tưởng cũng nên ý thức và quan tâm tới mặt trái của nó để hành xử cho khôn ngoan. Sự tôn trọng của giáo dân và những đặc quyền đặc lợi mà Giáo Hội dành cho những người theo Chúa có thể khiến cho những Ki-tô hữu không có tinh thần siêu nhiên, sẽ theo Chúa không phải vì Chúa, vì Giáo Hội hay các linh hồn, mà vì một động lực trần tục.
Thật vậy, nếu những ai mang danh theo Chúa mà lại được tôn kính, trọng vọng một cách mặc nhiên bất chấp họ có xứng đáng hay không; nếu những điều kiện sinh sống của họ cũng mặc nhiên trở nên dễ dàng gấp bội so với những giáo dân bình thường chỉ vì họ mang danh hiệu đó mà thôi, thì việc mang danh theo Chúa sẽ trở nên rất hấp dẫn đối với những ai thiếu tài đức nhưng lại ham muốn trèo cao và muốn có điều kiện sống dễ dàng hơn mọi người mà đỡ vất vả. Nếu những điều kiện để được mang danh là theo Chúa lại dễ dàng hơn những điều kiện để mang những danh hiệu khác ngoài đời, thì số người «muốn theo Chúa» với động lực trần tục sẽ đông lên gấp bội. Điều ấy sẽ ảnh hưởng rất xấu đến chất lượng của những người mang danh theo Chúa. Nếu những người theo Chúa vì động lực trần tục chiếm đa số, thì thật là tai hại cho Giáo Hội. Họ sẽ không thể dấn thân thật sự cho Giáo Hội khi Giáo Hội cần đến sự dấn thân ấy. Giáo Hội sẽ đầy gương xấu đến từ giới được coi là ưu tú nhất, và bị đình trệ không phát triển được. Và những người muốn theo Chúa thật sự (chiếm thiểu số) sẽ nản lòng và sẽ chẳng hoạt động hữu hiệu được, thậm chí sẽ không muốn vào, mà lại muốn ra khỏi hàng ngũ ấy để … khỏi bị thiên hạ đánh giá kiểu «cá mè một lứa»!
Vì thế, những người hữu trách trong Giáo Hội nên tìm cách tránh cho Giáo Hội tình trạng đồ giả lan tràn như ngoài đời. Làm đồ giả vừa thực hiện dễ dàng lại vừa kiếm được nhiều lợi nhuận hơn làm đồ thật, nên thị trường tràn lan đồ giả. Đồ giả càng tinh vi thì bên ngoài càng giống đồ thật, thậm chí nhiều loại đồ giả còn «có vẻ thật» hơn cả đồ thật. Đương nhiên chất lượng của đồ giả thì luôn luôn kém cỏi. Nếu không có biện pháp xử lý khôn ngoan, thì trong Giáo Hội cũng có thể lan tràn những người có vẻ theo Chúa, nghĩa là theo Chúa một cách «hữu danh vô thực», không có tinh thần «từ bỏ» làm bảo chứng.
Cầu nguyện
Lạy Cha, xin ban cho Giáo Hội ngày càng tăng số người muốn theo Cha thật sự, nghĩa là những người sẵn sàng chấp nhận tinh thần từ bỏ mà Cha đòi hỏi và mong muốn. Xin cho chúng con dù là giáo dân hay giáo sỹ, cũng có tinh thần từ bỏ đích thực để xây dựng Nước Thiên Chúa tại trần gian, đặc biệt trên quê hương con. Amen.

 

TN 23-C15. Môn đệ Đức Kitô- Lm. Bùi quang Tuấn

Lin Chi là bậc thiền sư nổi tiếng về đức độ. Rất nhiều người nhận ông làm sư phụ. Một hôm: TN 23-C15

Lin Chi là bậc thiền sư nổi tiếng về đức độ. Rất nhiều người nhận ông làm sư phụ. Một hôm có bậc vị vọng trong nước ghé thăm tu viện và kinh ngạc khi nghe biết có khoảng 10 ngàn người đang tu học ở đó. Vì muốn biết đích xác con số nên vị khách đã lên tiếng hỏi Lin Chi: “Ngài có tất cả bao nhiêu môn đệ?” Lin Chi trả lời: “Chừng 4 hay 5.”
Lạ thật! Với hàng chục ngàn người theo học mà chỉ có 4,5 người là môn đệ chính tông. Không biết đó là chuyện đáng vui hay đáng buồn.
Nếu hôm nay có người hỏi Chúa: Ngài có chính xác bao nhiêu môn đệ? Không biết Chúa sẽ trả lời ra sao. Phải chăng Ngài cũng phải xác nhận rằng nhiều người “có tiếng mà không có miếng.”
Nhưng tại sao lại như thế? Phải chăng tiêu chuẩn Ngài đưa ra quá cao? Có lẽ không ít người trách Chúa chẳng chịu ‘nhẹ tay’ đôi chút. Ít nữa là hứa hẹn những gì hấp dẫn, kích thích thị hiếu con người. Đàng này những điều Ngài nói lại chẳng lôi cuốn lắm : “Ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làmôn đệ Ta” (Lc 14:26). Thật là chói tai!
Nhưng đó lại là chân lý. Và khi trình bày chân lý, Đức Giêsu đã không bôi dầu trét mật hoặc mài dũa cho bớt góc cạnh hầu dễ nuốt. Trái lại, Ngài rao giảng đầy đủ, trọn vẹn, và rõ ràng. “Những Điều Kiên Làm Môn Đệ Đức Kitô” được ghi nhận trong Tin Mừng của Thánh Luca là một ví dụ cụ thể.
Bước theo Đức Giêsu là phải từ bỏ nhiều thứ, từ của cải vật chất cho đến ý riêng, từ quan hệ gia đình cho đến mạng sống. Đồng thời phải chấp nhận xung vào cuộc chiến, trực diện với kẻ thù có khi còn mạnh và đông gấp đôi mình. Gian nan cam go vô cùng. Thế nên rất cần một sự cân nhắc kỹ càng, không thể cứ làm tùy hứng, kẻo “khởi sự xây cất mà lại không hoàn thành nổi,” hoặc xung trận mà lại nắm chắc phần... thua trong tay thì không xứng hợp với Nước Thiên Chúa tí nào.
Thế nhưng mới nhìn thoáng qua, có người đã cảm nhận thiệt thòi quá nhiều. Chưa thấy lợi đâu, trước mắt đã phải đương đầu với từ bỏ, mất mát, khó khăn. Phải chăng vì thế mà nhiều người sợ theo Chúa. Hoặc có theo, thì chỉ theo xa xa, theo kiểu “hữu danh vô thực,” vừa gặp gian nan là bỏ Chúa chạy trốn tức thì.
Có lẽ vì nhìn thoáng qua nên người ta chỉ thấy được bề mặt của từ bỏ mà không nhận ra chiều sâu của sự sống. Không cuộc sống nào phong phú và ý nghĩa nếu không có xây dựng và chiếu đấu. Hai dụ ngôn “Người Xây Tháp” và “Vua Ra Trận” đã khẳng định điều đó. Dù là ơn gọi tu sĩ hay gia đình, dù là dấn thân hoạt động hay ẩn mình tại gia, tất cả đều phải mang tinh thần dựng xây và chiến đấu mới mong đem lại giá trị cao quí và bền lâu cho cuộc đời.
Xây tháp thì cần thời gian. Ra trận là phải chấp nhận đổ máu. Cả hai điều đó đã làm nên những thách đố trường kỳ, khiến bao tâm hồn phải lao đao, bao bước chân phải rã rời. Thời gian có thể xao dịu và hàn gắn thương tích, nhưng cũng là yếu tố làm nản lòng bao nhiệt tình, nồng thắm của phút giây ban đầu. Thế nên vẫn cần luôn một tấm lòng quả cảm và một tinh thần kiên trung.
Xây là xây đến xong. Đánh là đánh cho đến cùng. Nhưng để được như thế lại phải ngồi xuống xuy tính. Cả hai dụ ngôn đều nhắc đến thái độ cần thiết đó : “Ai trong các ngươi muốn xây tháp mà trước tiên không ngồi tính toán phí tổn cần thiết, xem có đủ để hoàn tất không? “ và “Vua nào sắp đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên không ngồi suy nghĩ, xem mình có thể đem mười ngàn quân ra đương đầu với đối phương dẫn hai mươi ngàn quân tiến đánh mình chăng?”
“Ngồi suy nghĩ” hay “ngồi tính toán” đều diễn tả chung một hình ảnh: ngồi cầu nguyện. Thế ra, cầu nguyện chính là bí quyết đưa đến đời sống vững chắc và kiện toàn. Qua cầu nguyện tôi có được sức mạnh bên trong, làm nền cho bao hành động “chiến đấu” và “xây dựng” bên ngoài.
Phải chăng những biến cố nhảy rào, những thất bại đau thương, những dang dở chua xót... trong các thứ ơn gọi, tu sĩ hay gia đình, phần lớn là do người ta không biết “ngồi suy tính”, hầu có được một chọn lựa đúng đắn và đón nhận sức mạnh đỡ nâng từ Thiên Chúa.
Bất cứ chọn lựa đúng đắn nào cũng đòi hỏi một lòng kiên trung thi hành. Người ta không thể lấy nhau một thời gian rồi thôi hoặc khấn hứa vài ba năm rồi bỏ. Thế nên, cần phải “ngồi xuống” cầu xin để có được sự bền đỗ trong ơn gọi. Bởi vì, như Đức hồng y Nguyễn Văn Thuận có nói, “Một người thánh mà không cầu nguyện là thánh giả. Con đợi xem, họ sẽ sụp đổ không mấy hồi”. (Đường Hy Vọng 131).
Nếu tôi không muốn làm thánh giả, nếu tôi không muốn hành trình xây tháp bị dở dang, nếu tôi không muốn “giữa đường phải đứt gánh”, nhưng muốn trở thành môn đệ chân chính của Đức Kitô, tôi cần phải “ngồi xuống” thường xuyên để xét lại đời mình trong tin yêu và cầu nguyện. Chắc chắn nhờ đó, ánh sáng Tin mừng sẽ soi chiếu bước chân và tăng sức tâm hồn, giúp tôi vượt qua chông gai thử thách và cập bến bình an.

 

TN 23-C16. Điều kiện làm môn đệ Chúa Kitô- Lm. Jos. Vũ thái Hoa

Trong bài Tin Mừng hôm nay, tuy ngắn, nhưng có một câu được lập lại ba lần : “thì không thể: TN 23-C16

Trong bài Tin Mừng hôm nay, tuy ngắn, nhưng có một câu được lập lại ba lần : “thì không thể làm môn đệ tôi được”. Lời tuyên bố trên của Đức Giêsu hướng dẫn bài suy niệm của chúng ta hôm nay về những điều kiện phải có để trở thành môn đệ của Người.
“Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa... Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.”
Đây là một trong những đoạn Tin Mừng khó hiểu và khó nghe : làm thế nào để dung hòa được tình yêu bao la của Thiên Chúa với sự tàn nhẫn của đoạn văn vừa nghe mà chúng ta phải loan báo như một Tin Mừng? Làm thế nào để dung hòa được lòng nhân hậu của Đức Giêsu với những lời tuyên bố làm cho chúng ta liên tưởng đến một số đầu óc bè phái phải từ bỏ ý muốn riêng để nghe theo một cách mù quáng thủ lãnh của mình?
Để dung hòa những điều trên có vẻ mâu thuẫn, chúng ta cần phải hiểu thế nào là đi theo Đức Giêsu, để trở nên môn đệ Người. Câu tuyên bố của Đức Giêsu, chúng ta không nên hiểu theo nghĩa đen, nhưng theo nghĩa bóng. Chúa không bảo chúng ta ích kỷ, coi thường cha mẹ, vợ, chồng, con cái, anh chị em mình và bao điều tốt đẹp khác! Chúa cũng không muốn chúng ta chểnh mảnh bổn phận đối với gia đình và xã hội. Chính Đức Giêsu đã nhắc lại điều răn thứ bốn Thiên Chúa : “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ” (Mt 15:4).
Từ bỏ mọi sự để theo Chúa không có nghĩa là từ bỏ hạnh phúc của mình. Chúa muốn những ai theo Người phải biết đặt bậc thang giá trị trong tình yêu : yêu Chúa trước nhất, rồi sau đó mới đến các tình yêu khác; tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa phải là nguồn mạch các liên hệ tình cảm khác. Một khi đã gắn bó mật thiết với Chúa Kitô thì hẳn nhiên chúng ta sẽ có một thái độ khác đối với các liên hệ gia đình, bạn bè và xã hội, đối với của cải vật chất và đối với chính mạnh sống của mình.
Hai dụ ngôn “xây cây tháp” và “cuộc giao chiến” cho chúng ta biết thế nào là dấn thân theo Chúa Kitô. Không ai khởi sự xây nhà nếu biết mình không đủ vật liệu để hoàn tất. Một ông vua không nên đi giao chiến nếu biết quân địch đông và mạnh gấp đôi quân của mình. Đời sống Kitô hữu giống như một cuộc xây dựng phải hoàn thành, và đồng thời giống như một cuộc giao chiến trường kỳ. Hai công việc khó khăn nhưng rất quan trọng nầy đòi hỏi sự suy nghĩ chín chắn và kiên trì.
Chúng ta thường làm tổng kết cuối năm, biết tính toán và dự kiến cho những công việc loài người, nhưng chúng ta có biết thỉnh thoảng ngồi lại một mình hoặc với người khác, để suy nghĩ, kiểm điểm đời sống đạo đức, để phân định được những hành động của mình có đúng với giáo huấn của Chúa Kitô hay không? Đó là mục đích của các cuộc tỉnh tâm (Linh thao, Cursillo, v...v...).
Tùy theo ơn gọi riêng của mỗi người, tất cả chúng ta đều được kêu mời bước theo Chúa Kitô để làm môn đệ Người, vì chỉ có Người mới có thể đem lại niềm vuui, bình an và hạnh phúc thật sự.

 

TN 23-C17. Hai điều kiện tiên quyết để theo Chúa

 - Lm. Jos. Phạm ngọc Ngôn
 

Trên hành trình về Giêrusalem không chỉ có Chúa Giêsu và các môn đệ mà còn có khá đông: TN 23-C17

Trên hành trình về Giêrusalem không chỉ có Chúa Giêsu và các môn đệ mà còn có khá đông dân chúng đi theo Người. Đây
Trên hành trình về Giêrusalem không chỉ có Chúa Giêsu và các môn đệ mà còn có khá đông dân chúng đi theo Người. Đây không chỉ là hình ảnh của các môn đệ hiện tại mà còn là hình ảnh các môn đệ trong tương lai của Chúa. Trong bối cảnh đó, Chúa Giêsu dạy họ về những điều kiện cần có để trở nên môn đệ Người.
Rất thẳng thắn, Chúa Giêsu nói với dân chúng về hai điều kiện tiên quyết cho hết những ai muốn đi theo Người. Hai điều kiện được gói gọn trong hai động từ, đó là “dứt bỏ” mọi sự và “vác” thập giá bước theo Chúa Giêsu.
Trước hết, người theo Chúa Giêsu cần phải dứt bỏ tất cả. Luca dùng động từ Hylạp có nghĩa là “ghét” để diễn tả lối nói trong ngôn ngữ Cựu ước vốn không có kiểu nói so sánh. Như thế, chúng ta có thể hiểu lời nói của Chúa Giêsu trong ngôn ngữ thời đó không có nghĩa Người cho phép hay khích lệ những ai theo Người thì phải xem nhẹ các mối quan hệ gia đình.
Ngôn ngữ thời đó cho phép chúng ta hiểu kiểu nói mạnh mẽ của Chúa Giêsu trong thời đại hôm nay là nếu ai theo Người mà yêu Người ít hơn hay không thương Người hơn những người thân thì không đáng làm môn đệ Người. Chúng ta để ý động từ ở đây có nghĩa là “yêu ít hơn” và “không thương hơn” chứ không phải là ghét bỏ. Rõ ràng là, Chúa Giêsu không hề có ý dạy chúng ta phải đoạn tuyệt với mọi mối quan hệ máu mủ thiêng liêng trong gia đình dòng tộc. Người mời gọi chúng ta cần phải trân quý, nuôi dưỡng và giữ gìn tất cả các mối quan hệ ấy thông qua tình yêu tuyệt đối là Thiên Chúa.
Hơn ai hết, Chúa Giêsu đã tự nguyện “dứt bỏ” điều mà hôm nay Người nói với dân chúng. Người vốn là Thiên Chúa, nhưng đã từ bỏ địa vị cao sang, mặc lấy thân xác yếu hèn của con người, và cuối cùng chấp nhận khổ giá và chết trên thập tự (x. Pl 2, 6-8).
Không chỉ dứt bỏ mọi sự, trở nên trống rỗng, người môn đệ theo Chúa còn phải vác thập giá theo Chúa mỗi ngày trong đời sống của mình. Con đường lên Giêrusalem mà Chúa đang đi chính là con đường dẫn đến thập giá, con đường dẫn đến đồi Canvê để rồi bỏ mạng tại nơi đó. Là môn đệ Chúa, chúng ta đừng mong sẽ thoát được những gian lao khốn khó, thoát những thập giá trong đời. Đơn giản bởi vì thập giá trong đời sống của Kytô hữu được ví như cây gậy dùng để leo núi. Nó có ích cho người leo núi bởi nó không chỉ có tác dụng dò đường, giúp đỡ chúng ta khỏi mỏi gối chồn chân, khỏi té ngã và biết đâu còn bỏ cuộc nữa.
Người leo núi cần đến cây gậy để có thể chinh phục đỉnh núi thế nào thì người Kytô cũng nhờ cây thập giá, qua cây thập giá để trở nên người môn đệ đích thực của Chúa, đạt tới nước trời như vậy. Không chỉ thế, vác thập giá mỗi ngày, người Kytô không chỉ trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu- Đấng đã chết trên thập giá để cứu rỗi nhân loại, mà còn tuyên xưng niềm tin và rao truyền niềm tin đó cho muôn người.
Từ bỏ mọi sự, vác thập giá bước theo Chúa Kytô vẫn luôn là lời mời gọi đòi hỏi những ai bước theo phải xác tín rõ ràng, suy xét kỹ lưỡng giống như dụ ngôn người muốn xây tháp và ông vua trước lúc đi giao chiến, để tránh tình trạng liều lĩnh, nhắm mắt đưa chân, không có định hướng.
Một khi chúng ta đã suy xét kỹ càng, không để mình vấn vương bất cứ chuyện gì, ý thức bước theo Chúa bằng một lối đi đầy ngỡ ngàng, một lối đi cần có niềm tin, tình yêu và quyết tâm, chúng ta sẽ vui vẻ dấn thân cũng như chấp nhận mạo hiểm để theo Chúa – Đấng là nền tảng, là trọng tâm, là nguồn mạch và là tuyệt đối của đời sống chúng ta.

 

TN 23-C18. Muốn theo Chuá phải từ bỏ và vác thập giá

- Lm. Trần bình Trọng
 

Đa số người công giáo được rửa tội từ nhỏ và đã theo Chúa nhiều năm. Cái cách thế mà họ: TN 23-C18

Đa số người công giáo được rửa tội từ nhỏ và đã theo Chúa nhiều năm. Cái cách thế mà họ theo Chúa làm môn đệ gắn liền với hoàn cảnh mỗi người: vào thời giờ, công ăn việc làm, hoàn cảnh gia đình, phương tiện và khả năng có thể. Cũng đa số chúng ta theo Chúa trong đời sống người giáo dân: có gia đình, có vợ chồng, con cái. Bài Phúc âm hôm nay nói về cái giá mà người ta phải trả để theo Chúa: Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa thì không thể làm môn đệ tôi ( Lc 14:26). Ở đây ta tự hỏi : dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em có nghĩa là gì? Chúa có bảo ta phải ghét bỏ cha mẹ không? Chắc là không, bởi vì làm như vậy là lỗi Giới răn Thứ tư là thảo kính cha mẹ.
Giới răn Thứ tư dựa trên Sách Xuất hành và Sách Đệ Nhị luật mà Chúa trích trong phúc âm Thánh Mathêô (Mt 15:4) để dạy ta : Ngươi hãy thờ cha kính mẹ để được sống lâu trên đất mà Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi ( Xh 20:12; Đnl 5:16). Chúa còn trích sách Lêvi để cảnh giác người chửi bới cha mẹ: Kẻ nào nguyền rủa cha mẹ thì bị xử tử (Lv 20:9). Như vậy thì ta không thể từ bỏ Cha mẹ theo nghĩa không còn nhận cha mẹ như là cha mẹ mình nữa. Tuy nhiên ta phải đặt đúng chỗ cho cái bậc thang giá trị của người Kitô giáo. Ta phải đặt Chúa lên hàng ưu tiên hơn cha mẹ. Đó chính là điều mà Chúa nói ở nơi khác trong Phúc âm thánh Mathêô: Ai yêu cha hay yêu mẹ hơn Thày thì không xứng với Thày. Ai yêu con trai hay con gái mình hơn Thày, thì không xứng với Thày (Mt 10:37-38).
Đọc lịch sử giáo hội ta thấy có những vị thánh vì muốn theo Chúa làm môn đệ hay sống đời tu trì, đã phải từ khước những lời cha mẹ khuyên lập gia đình. Chúa còn bảo ta phải từ bỏ cả mạng sống. Đó là điều các vị anh hùng tử đạo đã làm là từ bỏ mạng sống mình để được trung thành với đức tin vào Chúa.Chúa không giảm thiểu những đòi hỏi của Phúc âm để mong bắt được mẻ cá lớn của những người theo Chúa. Chúa đòi những người theo Chúa phải vác thập giá mình (Lc 14:27). Người theo đạo Chúa trong thế giới ngày nay ở những nước có tự do tôn giáo có thể không còn bị bách hại và tử đạo như xưa nữa. Tuy nhiên người theo đạo Chúa vẫn còn bị bách hại bằng những cách thế khác nhau. Khi sống trung thành với đường lối phúc âm, người ta có thể bị hiểu lầm, tẩy chay, chê cười và nhạo báng; người ta có thể bị mất việc làm, mất bạn bè.. Và đó là những thánh giá mà ta có thể phải mang vác.
Ngoài ra còn phải kể đến thánh giá của bệnh tật, của cảnh gian nan vất vả, nghèo đói, thánh giá của cảnh chia ly đổ vỡ...Cuối Phúc âm Chúa kết : Ai không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được (Lc 14:33). Ta tự hỏi ta phải từ bỏ những gì? Từ bỏ những gì mình có gồm việc từ bỏ những đam mê tội lỗi, những thú vui bất chính, những tính mê nết xấu, những mê tín dị đoan.. Nói tóm lại là từ bỏ con người cũ để mặc lấy con nguòi mới. Không từ bỏ thì không thể vác thập giá theo Chúa được. Do đó Chúa nêu ra hai ví dụ để ta lượng sức. Trước khi xây nhà, người thợ xây phải tính toán xem có đủ vật liệu xây cất không? Và trước khi đi giao chiến, ông vua cũng phải lượng sức xem mình có thể đủ sức đương đầu với đối phương không? Ta có thể nhớ lại hồi còn nhỏ, ta làm cuộc chạy đua với trẻ hàng xóm.
Trước một cái rãnh hay cái hố, ta phải quyết định hoặc nhảy qua hay dừng bước. Lúc này ta phải lượng sức xem mình có thể nhảy qua được không? Nếu quá tự tin, thì thay vì nhảy qua bờ bên kia, ta lại rớt xuống hố hay xuống rãnh. Rớt một vài lần, ta học kinh nghiệm, rồi tập luyện để cuối cùng có thể nhảy qua. Và đó là cái tiến trình của việc làm môn đệ.Để theo Chúa, người ta phải sẵn sàng đổi mới lại thứ tự cho cái bậc thang giá trị của loài người cho phù hợp với đường lối phúc âm. Như vậy cái giá của việc làm môn đệ đòi hỏi một quyết định của lý trí và việc đổi mới của con tim.

 

TN 23-C19. ĐIỀU KIỆN ĐỂ THEO CHÚA KITÔ - Lm. Vũ xuân Hạnh

Những năm gần đây, nhiều cá nhân hay nhóm người sống nhờ làm tiếp thị. Họ là những ruổi: TN 23-C19

Những năm gần đây, nhiều cá nhân hay nhóm người sống nhờ làm tiếp thị. Họ là những ruổi khắm nơi để chỉ làm mỗi một việc là quảng cáo một sản phẩm nào đó. Nơi tôi đang ở, hầu như mỗi ngày đều có ít nhất một hay hai người đi tiếp thị. Họ quảng cáo đủ mọi hình thức, không trừ một sản phẩm nào, từ đôi đũa, chai dầu gội đầu, cái cốc uống nước đến cái bàn ủi, đầu máy may, máy giặt… Tất cả họ đều có chung một cung cách: Những gì họ tiếp thị đều tốt, rất tốt. Họ ca tụng hết lời, dường như trên đời trời đất không còn bất cứ cái gì bằng những gì họ đang quảng cáo. Họ chỉ biết ca ngợi, không hề chê bai. Ca ngợi từ sản phẩm mà họ tiếp thị đến người được họ tiếp thị. Ví dụ, bạn muốn mua một đôi dép, dù là kiểu nào, màu nào đi nữa, nếu thấy bạn xăm xoi, ngắm nghía, những anh chị em ấy đều cho rằng chúng phù hợp với bạn.Dẫu sao tôi vẫn nghi ngờ lắm. Càng nghi ngờ hơn nữa, khi những anh chị em ấy rày đây mai đó, chẳng biết đâu mà tìm. Nhưng ngôn ngữ của quảng cáo là như thế: chỉ ca tụng, không bao giờ bài bác.
Bạn và tôi là những người theo Chúa. Ta cảm nhận rằng, bước theo Chúa sao mà khó quá, bởi ta sẽ phải từ bỏ, không chỉ là của cải vật chất, mà còn từ bỏ cả những cái là căn cội của cuộc đời mình như cha mẹ, mạng sống. Không chỉ có thế, sự từ bỏ còn đi tới mức độ cao hơn, mạnh hơn: Chúa đòi ta từ bỏ để nhận thập giá: “Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta. Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta”. Đúng là một đòi hỏi quá dứt khoát và triệt để.
Vì thế, nếu Chúa Giêsu làm quảng cáo, chắc chắn Chúa thất bại. Vì không ai như Chúa, quảng cáo ơn gọi để mời gọi người ta theo mình, lại không đưa ra một tương lai sáng lạn nào, không tìm thấy bất cứ một vinh dự nào, hoặc ngay cả một sự hấp dẫn nào dù nhỏ nhoi nhất, cũng không có. Ngược lại chỉ là từ bỏ và nhận thập giá. Nghĩa là chỉ có nghèo đến trần trụi như Chúa đã không còn gì cho mình từ khi bắt đầu làm người, đến lúc bước lên thập giá.Hơn nữa, theo Chúa, làm môn đệ Chúa để được gì mà phải thiệt thòi đến vậy? Theo mà đều kiện nặng nề như thế, thì theo để làm gì? Nhất là đối với thế giới hôm nay, con người chỉ muốn tìm cho mình một cuộc sống tự do dễ dãi, ích kỷ, coi trọng vật chất, tôn thờ quyền lợi cá nhân…, thì với một điều kiện khắc nghiệt như thế, thật là điều không tưởng. Lời Chúa xem ra quá lạc lỏng, xa lạ.
Thế nhưng không đúng! Tất cả những suy nghĩ bên trên đều ngược hẳn thực tế mà lịch sử Giáo Hội đã ghi nhận hàng ngàn năm qua, đến hôm nay và sẽ còn mãi về sau. Bởi đã 2000 năm, nhưng Lời Chúa Giêsu vẫn cứ mới nguyên, vẫn là Lời Sống cho biết bao nhiêu anh chị em chọn làm lẽ sống của mình. Những anh chị em ấy đã quả cảm bước theo Chúa Giêsu, từ bỏ mọi sự, nhận thập giá làm niềm vui của đời mình. Chính họ đã làm cho tinh thần và lời dạy của Chúa Giêsu chẳng những không mai một, không lạc lỏng mà còn sống, sống mạnh và lan rộng cả thế giới, qua mọi thế hệ. Họ là ai? Hơn hai tỷ người theo Chúa Kitô trên khắp thế giới là một bằng chứng hùng hồn.
Đặc biệt, trong số ấy, còn có vô số anh chị em hiến dâng đời mình sống ơn gọi tu trì. Những anh chị em ấy đã đáp lại lời mời gọi bỏ mình, vác thập giá, theo Chúa Giêsu. Hoặc biết bao nhiêu vị thánh, họ là những người có thể đã được Giáo Hội tôn phong, hay chưa tôi phong, cũng có thể sẽ không bao giờ tôn phong trên bàn thờ Giáo Hội. Tất cả những vị thánh ấy có chung một tấm lòng: Đã vì lời mời gọi từ bỏ mà suốt đời sống nghèo khó, chỉ có tình yêu là giàu có mà thôi. Và trong số những người ấy, biết bao nhiêu người đã nhìn lên Thánh giá Chúa Kitô mà không tiếc mạng sống mình, hiến dâng cho Thiên Chúa toàn thân đến giọt máu cuối cùng như của lễ toàn thiêu. Các thánh Tử đạo là những người đã sống và chết như thế. Hóa ra, lời mời gọi từ bỏ và vác thập giá của Chúa Giêsu, với cái nhìn của loài người, tưởng chừng khắc nghiệt, sẽ trở nên vô vọng, lại có một sức mạnh thu hút lạ thường. Lời mời gọi ấy là lẽ sống vô song để những ai tin nhận và sống theo, đặt trọn niềm hy vọng của mình. Đó cũng là lời mời gọi làm nên căng tính của tất cả những ai theo Chúa Kitô. Nhờ đó, người ta nhận ra họ là môn đệ của Người. Vì theo Người chỉ có mỗi một con đường duy nhất là từ bỏ và chấp nhận thập giá đời mình như Người.
Vì hơn ai hết, những anh chị em dám dấn thân làm môn đệ của Chúa hiểu rằng, chính khi từ bỏ là lúc nhận lại chính mình. Chính lúc quên mình, đó là lúc nhận lại bản thân. Chính lúc chết cho thân phận tội lỗi, chết cho sự tha hóa có thể lôi kéo ta hướng chiều về sự dữ, là lúc ta vui sống muôn đời (ý nghĩa của thánh Phanxicô- kinh Hòa Bình). Bởi vậy, chính lúc chấp nhận thập giá, là chính lúc ta tiến vào vinh hiển của Đấng Phục Sinh.Bạn thân mến, muốn dấn thân cho một điều gì, ta phải yêu điều ấy. Cũng vậy, để được tự do và tự nguyện chấp nhận sự từ bỏ và vác thập giá, đòi ta phải có lòng yêu mến. Vì với tình yêu, thập giá sẽ nhẹ hơn, dễ hơn. Một người mẹ thức trắng đêm để may xong chiếc áo cho con sớm mai đến trường, người mẹ ấy là mẹ hơn qua những hy sinh vất vả. Bởi đó bạn và tôi hãy yêu thánh giá Chúa Giêsu và yêu lối sống từ bỏ để nên giống Người.Bản tính tự nhiên của con người, thích chọn lối sống dễ dãi. Nhất là cuộc sống văn minh hôm nay, lại càng đặt ta trước nhiều chọn lựa. Nếu không biết yêu thánh giá và chiều theo thói quen của bản thân, ta dễ chọn cái tầm thường hơn những điều cao cả; chọn khoái lạc phù du hơn hạnh phúc vững bền; chọn lợi ích cá nhân hơn lợi ích tập thể.
Bởi vậy, biết mình dễ chọn cái xấu, đồng thời cảm nhận sâu xa Lời mời gọi của Chúa Giêsu, yêu thánh giá Chúa, yêu lối sống từ bỏ, bạn và tôi hãy làm lại chọn lựa của mình để dễ dàng dấn thân cho sự từ bỏ và thập giá, qua từng việc nhỏ nhặt trong đời thường của mình như: bỏ nghiện thuốc lá, ma túy, rượu chè, trụy lạc… Hoặc ta dành ngày Chúa nhật để tôn thờ Chúa, học hỏi giáo lý, lo các việc bổn phận đạo đức. Cương quyết rời chiếc giường êm để đi dự lễ sáng; tắt tivi để đọc kinh tối gia đình; bỏ bớt những giờ táng gẫu trong quán cà phê để cầu nguyện nhiều hơn… tất cả những điều đó, đòi sự tập luyện lâu dài trong từng ngày sống của mình. Hãy khắc ghi Lời Chúa dạy: “Ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta”.

 

TN 23-C20. ĐIỀU KIỆN THEO CHÚA GIÊSU- Sr. Mai an Linh

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXIII năm C hôm nay, cho chúng ta biết Chúa Giêsu đang: TN 23-C20

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXIII năm C hôm nay, cho chúng ta biết Chúa Giêsu đang trên đường tiến về Giêrusalem và có rất nhiều người đi theo, nên Chúa Giêsu đưa ra những điều kiện để có thể theo Ngài làm môn đệ, đó là : ghét người thân và cả mạng sống mình, vác Thập Giá và từ bỏ của cải mình có. Đây qủa là điều kiện vô cùng khó khăn cho những ai muốn theo Đức Kitô, muốn tôn vinh Ngài là Sư Phụ.
1/ Ghét người thân và mạng sống mình:
Theo Luca thì người thân được xếp theo thứ tự như sau : người trực tiếp truyền thông sự sống là cha mẹ, người hợp tác với mình để trao truyền sự sống là vợ, và người tiếp nhận sự sống của mình là con cái, sau cùng là anh chị em là người cùng chia sẻ với mình cùng một sự sống, cùng một giòng máu. Tất cả những người này liên quan đến sự sống của mình. Nhưng ưu tiên số một vẫn là mạng sống mình, nó phải được bảo vệ và săn sóc hơn cả những người thân, bởi vì nó liên kết với mình mật thiết nhất. Thế nhưng Chúa bảo phải ghét tất cả!
Ở đây đưa chúng ta tới một vấn nạn : Chúa Giêsu rao giảng tình thương, Ngài đề cao giới răn thứ bốn và tôn trọng sự sống, thế thì tại sao Chúa Giêsu lại dậy : “ kẻ nào đến với Ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình thì không thể làm môn đệ Ta” ? (Lc.14,25) _ Thực ra trong ngôn ngữ Do Thái không có từ để so sánh hơn kém nên tác gỉa dùng từ “ ghét”. vì thế, nếu hiểu đúng ý Chúa Giêsu chúng ta phải nói : “ Ai yêu cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình hơn Ta thì không thể làm môn đệ Ta”.
Như thế phải chăng Chúa Giêsu muốn xây dựng nơi những người theo Chúa một tương quan mới dựa trên việc nghe và làm theo Lời Chúa “ Mẹ Ta và anh em Ta, là những ai nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” ( Lc.8,21) ? Tương quan mới này sẽ là căn bản mà các tương quan khác phải qui vào đó, ngay cả tương quan tự nhiên.
2/ Vác khổ giá mình:
Đám đông theo Chúa có thể vì cơm bánh, có thể tưởng Chúa Giêsu sắp lập một vương quốc của Đấng Messia trần thế vì Ngài đang trên đường lên Giêrusalem. Chúa Giêsu không muốn họ ảo tưởng như vậy nên Ngài cảnh tỉnh : “ phàm ai không vác thập giá mình mà theo Ta, ắt không thể làm môn đệ Ta”( c.27). Chỉ những người nào biết vác Thập Giá như chính Ngài sắp vác, thì mới đi sau Ngài được. Ai đã quyết định đi theo Ngài thì phải sẵn sàng chấp nhận tất cả những gì xẩy đến cho họ, cả những điều ngược lại hay xung khắc nhất với bản tính nhân lọai. Chúa cũng nói rõ là vác khổ giá mình chứ không phải vác khổ giá của người khác, nghĩa là đừng chĩa mũi vào việc người khác khi người ta không muốn.
Như thế, vác Thập Giá là kinh nghiệm về bạo lực, về chống đối, về cô đơn. Thập Giá chính là con đường hòan thành sứ mạng Thiên Chúa trao cho mỗi người, con đường này tất yếu là con đường khổ giá. Vác khổ giá và đi theo Chúa, điều này giả định rằng người ta có thể vác khổ giá mà không đi theo Chúa, nếu thế thì đây là một nỗi bất hạnh, họ sẽ kéo lê khổ giá mà đàng nào họ cũng phải vác, nên họ vác mà không là môn đệ vì họ không theo Chúa.
3/ Từ bỏ của cải mình có:
Theo Chúa Kitô tức là hòan tòan gắn bó với Ngài, từ bỏ nhà cửa, nghề nghiệp, tiền bạc, của cải. Người môn đệ đích thực luôn luôn sẵn sàng từ bỏ cái mình có bất cứ lúc nào để bước theo Chúa Kitô khó nghèo. Thực vậy, để đi theo Ngài thì sự hồ hởi ban đầu không thôi thì chưa đủ, còn phải từ bỏ hòan tòan ngay cả những gì rất cần cho cuộc sống nữa, nên phải suy nghĩ kỹ lưỡng trước khi bước theo Ngài vì “ chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ gối đầu”(Lc.9,58).
Tóm lại
-:- Theo Đức Kitô gần như có nghĩa là chọn lựa cách sống chứng nhân, và nếu cần phải thí mạng mình để làm trọn lời chứng của mình. Và để có sức thực hiện sự làm chứng ấy, hay hòan thành những đòi hỏi của Đức Kitô trong tương lai, thì ngay bây giờ phải chấp nhận trước trong hiện sinh cuộc sống của mình.
-:- Yêu mến Chúa Giêsu hơn người thân có thể khước từ đời sống hôn nhân để hòan tòan dấn thân cho Ngài, hoặc chấp nhận sự hiểu lầm của gia đình đối với cuộc sống dấn thân của mình.
-:- Đi theo Chúa Giêsu không phải là một giấc mơ mà ta mong muốn được thực hiện, mà là một hiện thực với nhiều khó khăn và những thử thách đòi ta phải vượt qua.

 

TN 23-C21. Khiêm nhường, hiếu khách và luật lệ.

Chúa Nhật 22 C
 

Bài phúc âm chúng ta nghe trong tin mừng theo thánh Luca Chúa nhật tuần 22 này không đơn: TN 23-C21

Bài phúc âm chúng ta nghe trong tin mừng theo thánh Luca Chúa nhật tuần 22 này không đơn giản như đôi khi chúng ta nghĩ. Nếu đọc trọn đoạn thánh kinh của Luca (Luca 14 1; 7-14), chúng ta thấy trước khi dậy dỗ về sự khiêm hạ, Chúa đã chữa lành một bệnh nhân bị phù thũng ngay tại nhà đó (Luca 14: 2-6).

Một cách đơn sơ, chúng ta đồng ý với sự can đảm của Chúa khi Người, tuy được mời đến dự bữa ăn nơi nhà của người Pharisêu, can đảm lên tiếng chỉ trích thói quen của các vị "vọng tộc" giầu có -trong đó có người Pharisêu- thường thích ngồi chỗ quan trọng nhất nơi bữa ăn hoặc bàn tiệc. Chúng ta nhấn mạnh đến lời dậy dỗ của Chúa về hai nhân đức: khiêm tốn và hiếu khách.

Tuy nhiên, nơi đây, Chúa không chỉ nhằm đến hai nhân đức trên mà còn thách đố cả lề luật và lối sống Do thái thời đó.

Như nhiều tôn giáo khác, Do thái giáo không hẳn chỉ là một chuỗi những luật lệ về Yahweh - Chúa, nhưng còn là một tổng hợp những tập quán, cách thực hành, liên quan và ảnh hưởng đến mọi khía cạnh trong cuộc sống con người.

Luật điều Torah

Năm cuốn sách đầu trong cựu ước gọi là sách luật hoặc sách Torah. Tổng cộng có 613 điều luật. Sách đề cập đến những gì người Do thái phải tuân theo khi thức dậy buổi sáng, những gì được ăn và không được ăn, những gì phải làm để tuân giữ ngày Sa-bat và lễ trọng, những điều phải theo khi liên hệ với Chúa và với tha nhân..Tiếng Do thái gọi những điều luật này là Halakhah. Mục đích của Halakhah là để tăng thêm chiều kích tinh thần của đời sống, tránh đi các việc làm quá vật chất, nhờ đó, họ dễ giao tiếp với Chúa hơn. Thí dụ như sau khi ăn, hãy nhớ tạ ơn. Tạ ơn sau khi ăn (birkat ha-mazon) là một trong những lời kinh quan trọng nhất của người Do thái. Sách Đê nhị Luật đoạn 8:10 dậy rằng "Khi con đã ăn xong, nhớ tạ ơn Chúa, Chúa của con, vì Ngài đã ban cho con quốc gia đẹp tốt này". Tạ ơn Chúa sau bữa ăn gồm 4 loại:

1. Birkat Hazan: tạ ơn Chúa đã ban thức ăn cho thế giới
2. Birkat Ha-Aretz: tạ ơn Chúa đã mang dân Do thái ra khỏi Ai cập, thiết lập giao ước và ban cho dân Do thái đất làm gia nghiệp.
3. Birkat Yerushalayim: tạ ơn Chúa đã tái lập Giêrusalem và hứa ban đấng Me-si-a
4. Birkat Ha-Tov v'Ha-Maytiv: tạ ơn Chúa cho sống đẹp và làm việc thiện.
Trong số 613 luật điều Torah, có những luật điều ghi chép rõ ràng và minh bạch, như chớ giết người. Có luật điều nửa minh bạch nửa không, như giữ ngày Sa-bát, không làm việc xác ngày Sa-bát, mà không nói rõ phải giữ như thế nào.

Luật điều từ các tư tế.

Để giải thích luật, nhất là những luật không minh bạch, các thầy Rabbi đưa ra điều luật gọi là Rabbanan. Luật Rabbanan cũng mang tính cách ràng buộc như luật Torah. Thí dụ luật Rabbi giải thích điều luật chớ làm việc xác ngày Sa-bát bằng cách nói rằng trong ngày Sa-bát, không được nhấc búa, nhấc bút, nhấc tiền, vì những động tác này chứng tỏ rằng người đó đang làm việc. Điều luật Rabbanan giúp người Do thái khỏi vô tình mắc lỗi gọi là gezeirah. (Do đó, khi Chúa thách đố các người Pharisêu có nên chữa bệnh trong ngày Sa-bát hay không, họ đã không thể và không dám trả lời.)

Còn loại điều luật khác nhằm giúp dân sống và nhớ luật thường xuyên, gọi là takkanah. Takkanah buộc người Do thái phải đọc sách luật các ngày thứ hai và thứ năm.

Từ các luật buộc trên phát sinh ra các hệ quả không lường trước. Để đọc sách luật và đọc lời tạ ơn Chúa sau bữa ăn, người ta cần có những người thạo luật và những chỗ dành riêng. Từ đó nhiều người thích được ở chiếu nhất, chỗ quan trọng hầu dễ nghe và dễ đọc sách luật, đồng thời cũng chứng minh cho người khác thấy mình luôn lưu tâm và kính trọng lề luật.

Chúa Giêsu, khi dậy dỗ người nghe khiêm nhường và hiếu khách đã thách đố cả lề luật Rabbanan. Có lẽ nhờ vậy chúng ta hiểu rõ hơn tại sao Chúa nói "ta đến không để phá hủy mà để làm trọn lề luật (Mt 5: 17)."

Nghe luật, đọc luật, đọc kinh tạ ơn trước và sau bữa ăn như luật dậy là điều nên làm và phải làm, nhưng từ đó biến thành những lo lắng quá độ về tôn ti, trật tự trong bữa ăn, chỗ ngồi ở hội đường, cộng đoàn hoặc nhà thờ, thì hành động đó lại trở nên sai trái. Chúa đã dùng cơ hội chỗ ngồi trong bữa ăn dậy dỗ cho mọi người biết đâu là sự khiêm hạ và đâu là sự hiếu khách thực. Khiêm hạ là người biết rõ vị thế của mình -không phải chỉ với người khác- mà nhất là với Chúa. Biết mình chẳng là gì trước mặt Chúa. Đằng khác, cũng đừng nên đi đến thái cực khác. Nhiều người ra vẻ khiêm nhường để chủ nhà phải mời đôi ba lần mới dời lên bàn trên. Tuy nhiên, nếu chủ nhà "quên" mời thì về nhà giận dữ..

Hiếu khách là người "khi con đãi khác ăn trưa hoặc ăn tối, đừng kêu bạn bè, anh em hay bà con hoặc láng giềng giầu có, kẻo họ cũng mời lại con.. Trái lại, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ. Như vậy con mới thật có phúc (Luca 14: 14)." Hiếu khách như trên đúng như lời cổ nhân ta thường nói "làm phúc tay phải, đừng cho tay trái biết."

Để xã hội có trật tự, cần có tôn ti, nhưng đừng quá quan trọng "chiếu trên, chiếu dưới." Hãy thấy Chúa trong những người hèn kém. Hãy nhìn đến tương giao của mình với Chúa. Có như vậy mới là làm trọn lề luật.

LM Đào Quang Chính

 

TN 23-C22. TỪ BỎ CHÍNH BẢN THÂN MÌNH

 - Đa Minh Cao Tấn Tỉnh BVL
 

Chúa Giêsu khuyên dạy trong bài Phúc Âm Chúa Nhật XXII Mùa Thường Niên tuần trước là: TN 23-C22

Chúa Giêsu khuyên dạy trong bài Phúc Âm Chúa Nhật XXII Mùa Thường Niên tuần trước là “khi được mời hãy đến ngồi vào chỗ thấp nhất“, và như chúng ta đã chia sẻ tuần trước, lời khuyên này có nghĩa là “hãy ngồi vào chỗ của mình trong nhà Cha“, hay hãy sống đúng với ơn gọi của mình như được Thiên Chúa tuyển chọn cũng vậy. Trong bài Phúc Âm Chúa Nhật XXIII Mùa Thường Niên Năm C tuần này, Chúa Giêsu khẳng định dứt khoát với chung đám đông dân chúng đang ở với Người bấy giờ, về điều kiện tất yếu bất khả thiếu để có thể làm môn đệ của Người, đó là: “từ bỏ chính bản thân mình“.

Thật vậy, việc “ngồi vào chỗ thấp nhất“khi được mời“, hay khi được Thiên Chúa tuyển chọn, chính là việc bỏ mình đầu tiên để theo Chúa rồi vậy. Bằng không, chúng ta không thể nào theo Chúa, như Chúa Giêsu khẳng định trong bài Phúc Âm hôm nay: “Nếu ai đến với Tôi mà không bỏ cha mẹ mình, vợ con mình, anh chị em mình, thậm chí bỏ cả bản thân mình, họ không thể nào làm môn đệ của Tôi được“, tức là muốn theo Chúa phải từ bỏ tất cả những gì mình có, như Người cũng đã lập lại tổng quát ở cuối bài Phúc Âm hôm nay: “Không ai trong quí vị có thể làm môn đệ của Tôi nếu không từ bỏ tất cả những gì mình có“. Điển hình là trường hợp của người thanh niên giầu có trong Phúc Âm Thánh Mathêu đoạn 19 câu 21 và 22, người thanh niên mà, như Phúc Âm thuật lại, “nghe những lời ấy“, những lời Chúa Giêsu khuyên dạy anh ta rằng: “Nếu anh muốn nên trọn lành thì anh hãy đi bán những gì anh có mà thí cho kẻ khó… Rồi sau đó anh hãy trở lại mà theo Tôi“, thì “anh đã buồn bã bỏ đi vì anh ta có rất nhiều của cải“. Thật ra, người thanh niên giầu có này không thể nào theo Chúa Giêsu, hay không có đủ can đảm bước đi theo Người, dù anh ta đã có một đời sống ngay chính, không phải là vì anh ta luyến tiếc của cải, cho bằng vì anh ta không thể từ bỏ chính bản thân của anh ta. Nghĩa là sở dĩ anh ta luyến tiếc của cải là vì bản thân của anh ta, là vì anh ta sợ nghèo nàn sẽ khổ thân và nhục thân. Bởi thế, nếu bỏ được chính bản thân mình là anh ta có thể bỏ được tất cả mọi sự anh ta có, kể cả thân nhân nghĩa thiết cũng như giầu sang phú quí. Và cũng chỉ bao giờ biết bỏ chính bản thân mình đi, con người mới có thể vác thập giá mình mà theo Chúa, bằng không, nếu chỉ bỏ thân nhân nghĩa thiết và của cải sản vật thôi, chứ không hay chưa thực sự và hoàn toàn bỏ chính bản thân mình đi, con người vẫn có thể bỏ Chúa như thường. Điển hình là trường hợp của một số người theo Chúa, sau khi nghe bài giảng về Bánh Hằng Sống của Chúa Giêsu, đã bỏ hàng ngũ môn đệ của mình mà đi, một biến cố được Phúc Âm Thánh Gioan ghi nhận ở đoạn 6 câu 60 và 66. Đó là lý do Chúa Giêsu còn dứt khoát thêm trong bài Phúc Âm hôm nay: “Ai không vác thập giá của mình mà theo Tôi không thể làm môn đệ của Tôi“.

Thế nhưng, vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu lại so sánh việc từ bỏ tất cả những gì mình có, kể cả việc từ bỏ chính bản thân mình, cũng như việc vác thập giá mình mà theo Người, với vấn đề tính toán kỹ lưỡng để làm sao có thể hoàn thành việc xây tháp theo mình dự định, hay vần đề tính toán để lượng sức mình xem mình có thể nắm chắc phần thằng trước khi xuất trận giao chiến hay chăng? Tại sao Chúa Giêsu không so sánh việc bỏ mình vác thập giá theo Chúa với những hình ảnh khác, chẳng hạn với việc tính toán về thương mại? Phải chăng vì việc tính toán về thương mại có vẻ trần tục, một việc tính toán trực tiếp liên quan đến lợi lộc, đến tư lợi, đến tranh đoạt, có lời thì nhào vô, thua lỗ thì khỏi làm, là những gì hoàn toàn phản nghịch với việc hy sinh bỏ mình, tức hoàn toàn phản nghịch với việc tự nguyện chịu thua thiệt, và vác thập giá, tức hoàn toàn phản nghịch với việc sẵn lòng chịu thua lỗ. Như thế, nếu Chúa Giêsu cố ý so sánh việc bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo Người với việc tính toán xây tháp hay xuất trận, phải chăng Người có ý ám chỉ: nếu thật sự từ bỏ mình và nhất quyết vác thập giá mà theo Người là con người môn đệ của Người sẽ phát triển chứ không phải bị hủy diệt, là nắm chắc chiến thắng chứ không phải sẽ bị thua bại, như chính gương của Người được Thánh Vị Tông Đồ Dân Ngoại chiêm ngưỡng, xác tín và công bố trong Thư gửi Giáo Đoàn Do Thái đoạn 5 câu 8 và 9: “Mặc dầu là Con, song Người cũng biết vâng lời nơi những gì phải chịu, để khi thành toàn, Người đã trở nên căn nguyên cứu độ đời đời cho tất cả những ai tùng phục Người“?

Trong bài đọc thứ hai hôm nay, nếu Philômê thực sự nghe lời khuyên của Thánh Phaolô để bỏ mình đi và vác thập giá mà theo Chúa Kitô, ở chỗ, ông nhận lại Ônêsimô, người nô lệ của ông, lại là một người nô lệ đã ăn trộm tài sản của ông rồi sau đó đã bỏ trốn, như tiếp nhận chính Thánh Phaolô, thì, đúng như Thánh Nhân viết cho ông: “con vĩnh viễn chiếm được hắn, không phải như một kẻ nô lệ nữa, mà là như một người anh em yêu dấu, còn hơn là một tên nô lệ“. Như thế, thái độ của một người môn đệ Chúa Kitô như Philômê, theo lời khuyên của Thánh Phaolô, không phải là việc ông đã xây dựng và phát triển chẳng những chính bản thân ông mà còn cả bản thân người nô lệ của ông nữa hay sao, và việc nhận lại người nô lệ làm hại ông và đáng phạt này không phải là việc ông đã chiến thắng hơn là thua bại hay sao? Ở chỗ, ông đã lấy lành báo ác, đúng như lời Thánh Phaolô khuyên trong Thư gửi Giáo Đoàn Rôma đoạn 12 câu 21: “Anh em đừng bị sự dữ khống chế, nhưng hãy khống chế sự dữ bằng sự lành“. Tuy nhiên, trong một thế giới bị nhiễm nguyên tội, một thế giới vốn có khuynh hướng “mắt đền mắt, răng đền răng“ này (Ex 21:24; Lv 24:19; Mt 5:38), không phải ai cũng có thể hiểu được điều ấy, hay nói cho chính xác hơn, không phải ai cũng có thể chấp nhận được tinh thần ấy, một tinh thần bác ái rất đẹp lòng Chúa và hoàn toàn hợp với ý muốn thiện hảo của Thiên Chúa ấy. Bởi vậy, Sách Khôn Ngoan trong bài đọc thứ nhất hôm nay mới thâm tín và tuyên nhận rằng: “Con người biết được gì về huấn dụ của Thiên Chúa… Ai biết được huấn dụ của Ngài, nếu không được Ngài ban Khôn Ngoan và sai Thánh Thần từ trên cao xuống cho“.

Đến đây, chúng ta còn một vấn đề nữa hết sức quan trọng nữa, vấn đề liên quan đến toàn bộ linh đạo Kitô giáo, đó là vấn đề về “bản thân mình“. “Bản thân mình“ đây là gì? “Bản thân mình“ tốt hay xấu? Nếu “bản thân mình“ tốt thì có cần phải phũ phàng bỏ nó đi chăng, như lời Chúa Giêsu khuyên dạy?

Trước hết, nếu “Chúa Kitô là hình ảnh Thiên Chúa vô hình“, như Thánh Phaolô xác tín trong Thư gửi Giáo Đoàn Côlôsê đoạn 1 câu 15, Đấng cũng được Thánh Phaolô minh định trong Thư gửi Giáo Đoàn Do Thái ở đoạn 1 câu 3: “Người Con này là hiện thân đích thực của hữu thể Cha“, thì “bản thân mình“ đây chính là con người hiện thân của chủ thể, nếu xét theo khía cạnh hữu thể. Sau nữa, nếu Chúa Kitô còn là “sự sống ở nơi Cha và đã trở nên hữu hình cho chúng ta“, như Thánh Gioan xác nhận trong Thư Thứ Nhất ở đoạn 1 câu 2, thì “bản thân mình“ đây cũng là chính sự sống tâm linh nơi chủ thể, nếu xét theo khía cạnh sinh động. Đó là lý do chúng ta thấy Chúa Giêsu chẳng những nói đến “bỏ mình“, như trong bài Phúc Âm hôm nay, mà còn nói đến “bỏ sự sống mình“ nữa, như trong Phúc Âm Thánh Gioan ở đoạn 12 câu 25, hay trong Phúc Âm Thánh Mathêu ở đoạn 16 câu 25, hoặc Phúc Âm Thánh Marcô đoạn 8 câu 35 và Phúc Âm Thánh Luca ở đoạn 9 câu 24. Nếu “bản thân mình“ là chính con người hiện thân của chủ thể và là sự sống tâm linh nơi chủ thể thì “bản thân mình“ đây hoàn toàn là một thực tại tốt lành, chứ không phải là những gì xấu xa cần phải bỏ đi. Vậy sao lại cần phải bỏ “bản thân mình“ là một thực tại tự bản chất vốn tốt lành đi, nếu không phải để chúng ta hoàn toàn được biến hóa và hiệp thông trong Đấng, đã được Chúa Kitô mạc khải cho biết ở Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 3 câu 16, “đã yêu thương thế gian đến ban Con Một mình, để ai tin vào Con thì không phải chết song được sự sống đời đời“, cũng là Đấng, được Thánh Phaolô chân nhận trong Thư gửi Giáo Đoàn Rôma ở đoạn 8 câu 32, “đã không dung tha cho Con mình, những đã phó nạp Người vì tất cả chúng ta“. Như thế, nếu Thiên Chúa chẳng những đã “bỏ mình đi“, khi ban Con Một Ngài cho chúng ta, để có thể đến với chúng ta nơi Mầu Nhiệm Nhập Thể, mà còn phải “vác thập giá“, khi phó nạp Con Ngài vì chúng ta qua Mầu Nhiệm Vượt Qua, để có thể cứu độ chúng ta và ban Thánh Linh hiệp thông cho chúng ta, thì nhân loại chúng ta không còn cách nào khác có thể đến với Ngài và nên một với Ngài, ngoài đường lối làm môn đệ Chúa Kitô, như Chúa Kitô tâm sự trong Bữa Tiệc Ly ở Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 15 câu 8: “Cha Thày được vinh hiển nơi việc các con sinh nhiều hoa trái và nơi việc các con trở nên môn đệ của Thày“, tức là nơi việc chúng ta “đến cùng Cha qua Thày“ (Jn 14:6), ở chỗ, “bỏ chính bản thân mình đi và vác thập giá hằng ngày mà theo Thày“ (Mt. 16:24).

Vấn đề thực hành sống đạo: Nếu “bản thân mình“ là con người hiện thân của chủ thể và là sự sống tâm linh nơi chủ thể, thì “bỏ bản thân mình“ đi theo lời Chúa Kitô khuyên dạy trong Phúc Âm hôm nay phải chăng chính là việc bỏ đi những ý nghĩ về mình và là việc bỏ đi ý muốn tự do của mình, dù những ý nghĩ về mình hay của mình đó có chí lý đến đâu, và dù ý muốn của mình đó có tốt lành và hay ho đến mấy đi nữa, chẳng hạn như trường hợp của Trinh Nữ Maria trong giây phút Truyền Tin Lời Nhập Thể, hay như trường hợp của Thánh Phêrô bị Thày quở là “Đồ Satan, hãy xéo đi, vì ngươi chẳng nghĩ tưởng theo ý hướng của Thiên Chúa mà toàn là theo kiểu của loài người “ (Mt 16:23)?

 

TN 23-C23. CÓ RẤT ĐÔNG NGƯỜI - Lm Augustine, SJ.

Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu. Người quay lại bảo họ: "Ai đến với tôi mà: TN 23-C23

Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu. Người quay lại bảo họ: "Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được".
Quả thế, ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có đủ để hoàn thành không? Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi mà không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười mà bảo: "Anh ta đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc". Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng? Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà. Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được".
Bài Tin Mừng hôm nay đưa ta trở về với những điều kiện phải có để trở nên môn đệ Đức Giêsu. Những điều kiện ấy ngay ở đầu cuộc hành trình lên Giêrusalem Đức Giêsu đã nêu một cách triệt để. Nào là phải gắn bó với con người siêu thoát của Thầy (Lc 9,58) phải dứt khoát dấn thân cho Nước Thiên Chúa (c.60) và phải mau mắn lên đường sứ vụ không chút trì hoãn (c.62).
Điều đặc biệt trong bài Tin Mừng hôm nay là Đức Giêsu ngỏ lời cùng đám rất đông người (Lc 14,25), thế mà những điều kiện Đức Giêsu nêu vẫn không giảm thiểu về tính triệt để. Người đòi kẻ bước theo Người phải dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình nữa (c.26). Một cách tổng quát, họ phải từ bỏ hết những gì họ có (c.33). Thử hỏi những điều kiện loại đó còn có thể được lãnh hội và được thể hiện giữa đám đông ngày nay chăng.
Thực thi Tin Mừng cách triệt để trong đời thường
Mời bạn cùng cô Alma C. tới một cuộc họp rất đông người thuộc đủ mọi lứa tuổi và thành phần xã hội, gọi là thành phố của Đức Maria, để nghe một bạn trẻ chia sẻ kinh nghiệm bản thân. Bạn sẽ lấy làm lạ về sự triệt để theo đó Tin Mừng được đưa ra thực thi trong đời sống thường ngày. Cô Alma C. kể lại:
Tôi được mời ăn trưa kiểu picnic với nhóm cô cậu từ tỉnh Mindoro, Phi Luật Tân... Vậy tôi bước trên thảm cỏ xanh tới nơi có bóng mát chính là nơi họ đang vui vẻ ngồi ăn. Đó là màn ăn trưa bình thường trong những ngày họp thành phố của Đức Maria (...)
Bữa trưa diễn ra trong bầu khí quang tĩnh gia đình với câu nói tiếng cười qua lại giữa những người trẻ. Người ta chú ý nhiều tới cô con gái thân hình cao là người linh hoạt của nhóm. Ở nơi cô, tôi đã sớm để ý tới dung mạo quang tĩnh và nét mặt luôn sẵn sàng nở nụ cười tươi. Nhưng tôi chưa dám hỏi cô điều gì vì đó là lần gặp gỡ đầu tiên.
Sau bữa trưa, mọi người đều họp nhau nơi hội trường kế bên. Tôi ngỡ ngàng thấy người được mời chia sẻ kinh nghiệm bản thân lại chính là cô linh hoạt viên nói trên. Cho nên tôi dồn mọi chú ý để nghe người mà tôi bây giờ tôi mới được biết tên là Bennette. Cô Bennette nói:
"Tôi đã gặp gỡ nếp sống hiệp nhất này vào ngày tôi tới thăm Trung Tâm Tổ Ấm tại thành Đô Tây năm 1991. Tôi đã cảm thấy ngay một sức mạnh lôi kéo tôi từ những người trẻ. Và tôi đã quyết định từ bỏ mọi việc tôi đang làm, để đến thành Đô Tây này học hỏi cách yêu thương cách cụ thể.
Vậy tôi đã sống chung với một nhóm các cô mà đầu tiên tôi thấy bản thân tôi phải khó khăn lắm mới thích ứng nổi. Nhưng tôi đã khám phá ra Thiên Chúa là Tình Yêu, chính Người yêu thương tôi cách riêng tư. Để đáp lại, tôi muốn yêu thương người thân cận tới mức yêu cả những thù địch với tôi. Tôi cũng đã khám phá ra khả năng yêu mến Thiên Chúa vượt ngoài những giới hạn của tôi khi tôi gặp sầu khổ và chịu thử thách.
Với bố tôi
Qủa thật, đó là những năm bố tôi ngồi tù. Từ từ tôi cảm thấy tình yêu mà tôi dành cho bố tôi bị giảm dần, mặc dầu tôi biết tôi là con cưng của bố tôi. Khi ở nhà hai bố con thường ưa trò chuyện gần gụi nhau. Từ từ tôi khám phá ra bố tôi đã thất tín với mẹ tôi. Mặc dầu các anh các chị tôi ngưng không thăm viếng bố tôi nữa. Riêng tôi đã hiểu rằng tôi nhận ra có Đức Giêsu hiện diện nơi bố tôi, nên tôi phải đi bước trước để yêu thương bố tôi, hầu có thể hồi lại tình hiệp nhất trong gia đình. Đó là điều chẳng dễ dàng vì tôi là con thứ mười trong gia đình có mười một con. Các anh và các chị lớn tuổi hơn tôi chẳng chú ý tới những nỗ lực của tôi. Chính nhờ trợ giúp của các bạn là những người cùng chia sẻ nếp sống mới mà tôi đã khám phá ra, tôi tìm được lòng can đảm để viếng thăm bố tôi đều đặn. Đó là điều khiến bố tôi rất lấy làm hạnh phúc.
Ngày kia tôi nhận thấy những vết thương xuất hiện nơi bàn chân bố tôi không chịu lành, nên tôi sắp xếp để có người tháp tùng tôi đến chữa cho bố tôi. Tôi đã chia sẻ về tình trạng sức khỏe của bố khi thấy cuộc chữa trị không đạt được tiến bộ, nhưng các anh tôi không có phản ứng.
Cùng với một người bạn, tôi đã kiếm được một bác sĩ lo cho bố tôi được chăm sóc tại một bệnh viện khi bệnh tiểu đường của bố tôi trở nên trầm trọng. Người ta đã phải cưa chân có vết thương không lành. Một lần nữa, tôi vận động để các anh tôi lo cho bố tôi được tại ngoại khỏi ngồi tù nhưng vẫn không có phản ứng về phía các anh tôi. Chính nhờ tình hiệp nhất và nâng đỡ của các bạn tôi trong nếp sống mới nhằm yêu mến Chúa Giêsu trên thập tự bất chấp mọi khó khăn gặp phải, tôi đã xin cho bố tôi thoát khỏi nhà tù. Nhưng gia đình tôi lâu nay đã quen với nếp sống không có mặt bố tôi, nên bố đã bị thử thách nhiều qua những nỗi chua cay. Chính tôi đã có lúc cũng bị cám dỗ ngưng không yêu bố tôi nữa, nhưng vì thấy mẹ tôi kiên trì săn sóc cho bố tôi đêm ngày nên tôi đã chống trả được cám dỗ đó. Tôi cũng cầu nguyện xin Chúa thay lòng đổi dạ bố tôi nhưng như Chúa muốn chứ không như chúng tôi muốn.
Với mẹ tôi
Thế rồi tôi nhận ra sức khỏe của mẹ tôi xuống cấp. Bác sĩ khám cho chúng tôi biết mẹ chúng tôi bị bệnh tim nặng. Mọi người trong gia đình đều chia sẻ với nhau về cây thánh giá phải vác và nhận ra tình thương Chúa dành cho mỗi người. Mẹ chúng tôi phải nằm nhà thương hai tháng. Trước khi bất tỉnh, mẹ tôi đã tha thứ cho bố tôi về mọi lỗi lầm bố tôi đã gây nên. Cái chết của mẹ tôi là nỗi khổ lớn xảy đến cho tôi nhưng tôi để nỗi khổ ấy sang một bên hầu có thể làm chứng cho các anh các chị tôi thấy tình thương Thiên Chúa dành cho chúng tôi hết sức bao la.
Với các anh các chị
Sau khi mẹ tôi qua đời, chính tôi nằm nhà thương để được chữa trị về căn bệnh của tôi. Trong những tháng đó tôi vẫn thăm bố tôi, đồng thời ra sức giúp cho các anh các chị tôi thấy tình yêu một người mẹ mặc dầu họ đều lớn tuổi hơn tôi. Tôi nhận ra các anh các chị tôi bắt đầu đáp lại tình yêu tôi bày tỏ cho họ. Chúa Nhật nào chúng tôi cũng tụ họp để ăn trưa với nhau. Chúng tôi thực sự được hiệp nhất lại trong một gia đình.
Lễ Chúa Giáng Sinh năm 1991 quả là đặc biệt. Chúng tôi đã quây quần lại chung quanh bố tôi và tặng bố tôi những món quà, đồng thời nấu những món ăn bố tôi thích nhất. Mặc dầu bố tôi biết tôi phải trở về Manila 27 tháng 12, bố tôi vẫn hỏi xem tôi có trở về nhà ngày Tết dương lịch chăng. Vì có những bổn phận phải lo nên tôi chưa thể trả lời bố tôi được. Thế rồi khi đi đường tôi đã quyết định về nhà cách bất ngờ Tết dương lịch 1992.
Xảy ra khi vừa tới Manila tôi đã nhận được cú điện thoại cho biết bố tôi đã tắt thở giữa lúc tôi quyết định bất ngờ để biểu lộ tình yêu dành cho bố tôi."
Lời chia sẻ ở trên do cô Bennette chấm dứt cách đột ngột; Cô không thêm một lời bình luận. Cả hội trường chật ních những người như đang suy niệm. Theo người đã có mặt trong buổi chia sẻ hôm đó là cô Alma C., thì nổi bật trên nét mặt của cô Bennete là nụ cười tươi mà bí quyết chính là thái độ tự do nội tâm để đón nhận đau thương và sầu khổ hầu gắn bó với Thiên Chúa cách mãnh liệt hơn.
Tư do nội tâm là then chốt
Quả thật tự do nội tâm là then chốt giúp hiểu và sống lời Chúa dậy qua bài Tin Mừng hôm nay. Thiên Chúa mới là tình yêu đích thực. Ta cần được tự do thoát khỏi mọi ràng buộc xác thịt và thế gian, hầu có thể đón nhận và tham gia tình yêu đích thực đó của Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu dậy ta là hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính" (Mt 5,44-45).
Hãy coi sức mạnh và sự phong phú của Tình Yêu đích thực đó nơi cô Bennette. Chính nhờ nhận ra sự hiện diện của Chúa Giêsu nơi người bố của cô, nên cô mới có thể yêu bố cô đến cùng và qui hướng tất cả các anh và các chị của cô vào sự hiệp nhất trong Tình Yêu đích thực đó. Nói cách khác, nhờ dứt bỏ được những tình yêu hạn hẹp, cô Bennette thực đã tham dự vào Tình Yêu lớn lao của chính Thiên Chúa.

 

TN 23-C24. THỜI ĐIỂM VŨ KHÚC ĐÁNH GIẦY - Lm Trần Cao Tường

Đây là câu chuyện thật xảy ra tại phi trường Tucson. Cách đây ít lâu tôi có dịp vào một trung: TN 23-C24

Đây là câu chuyện thật xảy ra tại phi trường Tucson. Cách đây ít lâu tôi có dịp vào một trung tâm tịnh niệm trong sa mạc Arizona nửa tháng để tìm về cảm nghiệm cõi trống như đã từng được nghe trong nhiều truyền thống tôn giáo.
Nhưng rồi sau một thời gian "chờn vờn với Đấng Vô Hình" đầy kỳ thú trong sa mạc, tôi lại phải trở về cuộc sống bình thường. Liệu tôi có thể tìm lại những giây phút an tĩnh hay lại bị những công việc nhàm chán chồng chất đầy đặc hằng ngày làm lu mờ con mắt và cuốn hút mình đi một cách tội nghiệp?
Đứng đợi máy bay ở phi trường Tucson, trong lúc đang lẩn vẩn bởi ý nghĩ trên, tôi để ý quan sát một người đánh giầy. Đó là một bà Mỹ trắng trung tuổi, rất vui vẻ tươi tỉnh với từng động tác đánh giầy. Vì thường tôi vẫn thấy những người đánh giầy ở phi trường New Orleans là những chàng da màu mặc cảm với cái nghề "bất đắc dĩ" thấp kém trong bậc thang xã hội. Ngay cái kiểu khách hàng ngồi chễm chệ ở trên ghế cao mà phải đứng ở dưới cúi mình để lau chùi thì cũng đủ cảm thấy bất ổn, rồi sinh cau có, mặt mũi ủ dột như bánh bao chiều chứ làm sao mà tươi nổi!
Thấy thái độ và cử chỉ lạ thường của người đàn bà, tôi bèn "liều mạng" lên ghế ngồi cho bà ta đánh giầy, vì thực ra đôi giầy của tôi đã đầy bụi sau nửa tháng quần thảo trong sa mạc, và tôi cũng có ý lợi dụng cơ hội để tìm hiểu về bà ta.
Mà đúng thật. Cái điệu quẹt xi và đánh bóng thật nhịp nhàng khoan thai như một khúc vũ. Chỉ sau mấy phút là tôi đã gạ chuyện liền. Được vặn "trúng đài", bà ta thao thao kể về đời sống của bà, trước đây là một dân ăn chơi thừa mứa tiền bạc của con nhà giầu, rồi cũng bị hút vào cái vòng xoáy của xã hội "văn minh", rồi tối ngày sáng đêm phải thi hành cho đúng chỉ thị của cái đà xã hội ra lệnh cho hợp tiêu chuẩn, không thể cưỡng lại được. Riết rồi thấy cuộc sống mệt mỏi buồn nôn như một tên nô lệ "không người lái"! "Tình cờ một ngày kia tôi đã được một người bạn chỉ cho tôi con đường vào sa mạc Arizona này. Trong cõi trống bao la, tôi đã khám phá ra cách giải thoát chính mình. Tự nhiên tôi xả buông mọi thứ lỉnh kỉnh xưa nay vốn trói buộc tôi, để hòa vào một sức sống lớn hơn trong cõi trống huyền nhiệm bao la của sa mạc. Tôi thấy rõ tất cả chỉ có một sức sống: đất trời, cỏ cây, súc vật, con người. Mọi công việc lớn nhỏ, mọi động tác đều phát khởi và hướng về một nguồn sức sống mà thôi. Tôi đã khám phá ra tôi có thể biến cả cái nghề đánh giầy vốn hèn này thành một khúc luân vũ cuộc đời. Vũ trụ chỉ có một sức sống đang chuyển động tăng trưởng không ngừng, đang múa ca theo một nhịp vũ. Xả trống cái tôi to vo ứ đọng mà hòa vào được vào cái Ta đại thể trong nhịp múa này thì đã biết chừng nào. Cuộc sống tôi bây giờ là một khúc vũ. Mỗi công việc, mỗi cử chỉ đều làm nên một tác phẩm tuyệt vời. Tôi đang sáng tác mỗi giây phút đó, thấy chưa".
NHỮNG PHÚT GIÂY SẢNG KHOÁI
Chắc hẳn nhiều người đã từng được nếm những khoảnh khắc thấy mình thật thảnh thơi khi ngồi nhìn trời cao mà thả hồn theo một đám mây trôi hay một dòng suối chảy. Tự nhiên những ứ đọng, những căng thẳng cũng tan biến trôi đi lúc nào không biết. Đó là những phút giây mà cái tôi tan biến đi để hòa nhập được vào cái Ta toàn mãn theo nhịp đất trời. Mây, suối, núi, sông, cây hoa, cọng cỏ, con ong, con dế... tất cả đều theo một nhịp. Con trăng cũng có nhịp khi tròn khi khuyết. Thời tiết theo đúng nhịp đúng lúc thì làm lễ nghi bàn giao đổi mùa, có lá vàng rơi lả tả chào mừng.
Tất cả tạo vật đều biết hòa theo được đạo trời, nên tươi cười sảng khoái. Chỉ có con người là tự tạo ra quá nhiều thứ nhịp riêng làm bấn loạn thân tâm, khiến cho mặt mũi lúc nào cũng nhăn nhó ủ dột. Là vì mình đang thích tìm tích trữ cho nhiều thứ của, khiến cho cái tôi mỗi ngày mỗi sinh kềnh càng vướng vít, cố ghì lại cái nhịp hổn hển mệt nhọc một cách đáng thương.
Đọc "Những Lá Thư Viết Từ Sa Mạc" của thầy tiểu đệ Carlo Carretto, ai mà chả mê cái kinh nghiệm tâm linh của thầy. Đó là kinh nghiệm về cõi trống diệu vợi của sa mạc. Thầy kể chuyện chính thầy đã từng làm chủ tịch phong trào giới trẻ Công Giáo toàn nước Ý thời Đức Thánh Cha Piô XII với biết bao sinh hoạt và chương trình tưởng có thể thay đổi bộ mặt thế giới. Nhưng trong thâm tâm thầy vẫn thấy có cái gì hụt hẫng, bất ổn. Sau nhiều ngày vật lộn với chính mình thì đùng một cái, thầy bị Chúa quật ngã. Chúa đã gọi thầy bỏ cõi "đầy đặc" để đi tìm cõi trống nơi sa mạc.
Vào sa mạc là tự nhiên bước vào cõi trống không. Chung quanh không còn gì ngoài bãi cát thật nóng ban ngày mà ban đêm thì lạnh buốt. Trên đầu cũng không còn cây to bóng mát. Chỉ còn lại bầu trời mở rộng thăm thẳm kia. Đúng là ở bầu thì tròn, ở ống thì dài. Bước vào cái bầu khí đất trời bao la vô hạn này là tự nhiên thấy lòng mình sao nhỏ nhen chi lạ, không còn đủ can đảm kéo ghì cái thành quách kiên cố bao phủ con người mình bấy lâu nữa, mà chỉ muốn để cho sập xuống bình địa, xả buông mọi loại nhịp riêng tù túng phiền muộn của cái tôi chất đầy các thứ của bụi bặm phù du mà hòa vào một thực tại lớn hơn, hòa vào một sức sống bao la hơn, hòa vào một nhịp sống của vũ trụ. Trong cõi trống bao la này, con người không cần phải suy niệm về Đấng Huyền Nhiệm nữa, mà chứng nghiệm được Người thật sinh động, chạm đến tay Người đang vươn tới tìm mình. Và như một mâu thuẫn không giải thích nổi, là trong cái tĩnh lặng và trống rỗng hầu như tuyệt đối này, một cảm nghiệm toàn mãn đầy tròn bao phủ. Thật lạ.
TIN VUI BẮT LẠI ĐƯỢC NHỊP
Ai cũng phải công nhận nhịp sống bây giờ căng thẳng và hối hả quá, mất đi thế cân bằng tự nhiên. Suốt ngày tối mặt vùi đầu trong những cơ sở tách rời khỏi mạch sống thiên nhiên, chả còn giờ mà để ý tới nhịp trăng sao vạn vật. Tiền của thì có thể khấm khá hơn thật đấy, nhưng chắc là không tươi bằng cái cảnh đã từng in sâu trong máu dân Việt:
Người ta đi cấy lấy công
Tôi đây đi cấy còn trông nhiều bề.
Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm.
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời trong bể lặng mới yên tấm lòng.
Mấy câu ca dao tuyệt quá, nói lên nét văn hóa trong đạo sống người mình. Đi làm đâu phải chỉ để lo kiếm tiền trả "bill" hay chất thêm của vào ngân hàng! Mà còn phải biết trông nhiều bề: nhịp trời, nhịp đất, nhịp lòng người. Làm sao cho nhịp cuộc sống mình được hài hòa mọi phía, mang lại an vui hạnh phúc thật. Chất kiên tâm chịu đựng và tin tưởng của người mình được diễn thật tài tình: chân mềm như vậy mà luyện cho cứng ra được; đá cứng như vậy mà cũng phải mềm ra được. Điều không thể xẩy ra này người mình vẫn nhất định tin và thể hiện được vì biết trông vào ơn Trời đủ cho mình mà bước theo đạo Trời:
Dù ai nói ngược nói xuôi
Ta đây cứ vững đạo Trời khăng khăng.
Trời đất chỉ có một nhịp. Biết qui hướng mọi nhịp riêng xé mảnh vào được nhịp chung này thì đời sống tìm lại được thăng bằng thảnh thơi. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã nhấn rất mạnh: "Ai theo Thầy mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Thầy được...Ai không từ bỏ tất cả những gì mình có thì không thể làm môn đệ Thầy được."
PHÚT TỊNH TÂM
Của mình đang có cộng lại được bao nhiêu so với kho Trời lồng lộng kia nhỉ? Dịp này mình để ý một nghi thức rất gợi cảm trong thánh lễ: đó là lúc linh mục pha một giọt nước vào chén rượu, tức là hòa tan vào nguồn sinh lực vô biên, với câu niệm: "Nhờ việc hòa giọt nước này vào rượu, xin cho chúng con được thông phần bản tính Chúa, Đấng đã chia sẻ nhân tính của chúng con".
Đúng rồi, cái tôi nhỏ nhoi của mình đang được tan biến hòa nhập vào chính Thần Lực toàn mãn của Chúa. Cảm nghiệm tìm vào sa mạc đây rồi, phút giây sảng khoái tròn đầy đây rồi: mình đang thả hồn theo được nhịp Chúa. Mọi ứ đọng tự nhiên trôi mất. Một sức sống mới đang bừng mở trong tâm. Đánh giầy hay đi cấy, nấu cơm hay đánh máy, rửa chén hay hay hái lá mơ, mỗi công việc, mỗi động tác đều trở thành một tác phẩm, một khúc vũ, khi mình hòa vào được nhịp Hơi Thở Tình Yêu sinh động.
Cho con được hát lên khúc "Hòa Nhịp" phó thác trọn vẹn của Thánh I-Nhã sau những cảm nghiệm hút hồn ghi lại từ trong hang trống Manresa:
Lạy Chúa, xin nhận lấy tất cả tự do, trí khôn và ý chí con. Tất cả những gì con có và làm chủ. Chúa đã cho tất cả, con xin dâng lại cho Chúa. Tất cả là của Chúa. Xin Chúa sử dụng hoàn toàn theo tôn ý. Lạy Chúa, xin ban cho con tình yêu và ân sủng của Chúa. Thế là đủ cho con. Amen.

 

TN 23-C25. TƠI THÌ THỨ BA….. Mark Link S.J.

TÔI THÌ THỨ BA….. Mark Link S.J.
Bài đọc: Kn 9 : 13-18; Plm 9-10 ; 12-17 ; Lc 14 ; 25-33
Chủ đề:
Chúng ta phải đặt Chúa vào vị trí thứ nhất trong đời sống chúng ta và phải sống sự chọn lựa đó mỗi ngày.
 

Gale Sayers là một cầu thủ chơi ở hàng hậu vệ của đội banh Chicago Bears vào thập niên 1960, được: TN 23-C25

Gale Sayers là một cầu thủ chơi ở hàng hậu vệ của đội banh Chicago Bears vào thập niên 1960, được đánh giá là một trong những hậu vệ chạy nhanh nhất trong lịch sử môn bóng đá chuyên nghiệp. Chung quanh cổ anh lúc nào cũng đeo lủng lẳng một mề đai ba chữ: I am Third (Tôi là thứ ba). Ba chữ này đã trở nên đề tựa cho quyển tự thuật bán chạy nhất của anh. Quyển sách cắt nghĩa lý do tại sao những chữ này có tầm ý nghĩa to lớn đối với Gale. Đó cũng chính là khẩu hiệu của huấn luyện viên Bill Easton của anh. Ông này từng là hậu vệ đội bóng của đại học Kansas. Huấn luyện viên Easton thường đặt ba chữ này lên một cái khung nhỏ trên bàn làm vịêc của ông. Ngày nọ, Gale tò mò hỏi ý nghĩa của ba chữ ấy, thì Easton giải thích: “Chúa là thứ nhất, các bạn tôi thứ nhì và tôi là thứ ba”. Thế là kể từ ngày đó Gale lấy ba chữ trên làm triết lý riêng cho cuộc đời mình.
Vào năm thứ hai sinh hoạt với đội Bears, Gale quyết định phải đeo ở cổ một cái gì đó đầy ý nghĩa giống một mề đai tôn giáo. Thế là anh liền đi mua một tấm mề đai bằng vàng và nhờ khắc lên đó ba chữ I am third (tôi là thứ ba)
Trong quyển tự thuật của mình, Gale nói: “Tôi cố gắng sống câu nói ghi trên tấm mề đai của tôi. Không hẳn lúc nào tôi cũng thành công trong vịêc này nhưng dù sao việc mang câu ấy quanh cổ cũng giúp cho tôi khỏi đi trệch đường quá xa”
Câu chuyện của Gale Sayers minh hoạ chủ điểm Chúa Giêsu nêu lên trong phần đầu của bài Phúc Âm hôm nay khi Ngài tuyên bố: “Bất cứ ai đến với Ta mà không ghét cha mẹ mình… và ngay cả mạng sống mình thì không thể làm môn đệ của Ta. Nói cách khác, chúng ta phải dành ưu tiên số một trong đời mình cho Chúa Giêsu và Cha Ngài, Đấng ngự trên trời.
Và điều này lại dẫn chúng ta đến chủ điểm thứ hai được Chúa Giêsu nêu ra trong phần cuối bài Phúc Âm: “Ai trong các ngươi muốn xây một ngọn tháp mà trước  hết không chịu ngồi xuống tính toán phí tổn để xem thử mình có đủ khả năng hoàn tất nó không?” Nói cách khác, dành quyền ưu tiên số một cho Chúa vẫn chưa đủ, chúng ta còn phải sống sự chọn lựa ấy nữa. Và dĩ nhiên đây mới là phần khó khăn. Như Gale Sayers xác quyết rõ ràng: “Đặt Chúa vào vị trí số một trong đời bạn là một chuyện, còn sống cái quyết định ấy thì lại là một chuyện hoàn toàn khác”. Chính vì thế Gale mới luôn luôn đeo tấm mề đai quanh cổ anh hầu nó nhắc nhớ anh sống sự chọn lựa ấy. Nào chúng ta hãy lập lại lời anh nói: “Tôi cố gắng sống câu nói ghi trên tấm mề đai của tôi. Không hẳn lúc nào tôi cũng thành công trong việc này, nhưng dù sao việc mang câu ấy quanh cổ cũng giúp cho tôi khỏi đi lệch đường quá xa”.
Cách đây ít lâu, tờ Los Angeles Times có đăng một câu chuyện cảm động của phóng viên Dare Smith, liên quan đến một Kitô hữu khác, cũng đặt Chúa vào vị trí thứ nhất, tha nhân vị trí thứ hai và bản thân mình vào vị trí thứ ba, giống trường hợp chàng Sayers nói trên. Tên người Kitô hữu này là Charlie Deleo.
Charlie Deleo lớn lên như một “đứa bé phong trần ở khu Lower Eas thuộc Nữu Ước”. Sau khi từ Việt Nam trở về. Charlie kiếm được chân giữ tượng Nữ Thần Tự Do. Anh kể cho nhà phóng viên rằng một phần công việc của anh là lo chăm sóc ngọn đuốc trong tay bức tượng và cái mũ triều thiên trên đầu bức tượng. Anh phải lo làm sao cho các tia hơi nước có chất Natri luôn luôn hoạt động, đồng thời 200 cửa sổ bằng kính nơi ngọn đuốc và mũ triều thiên lúc nào cũng phải sạch sẽ. Chỉ vào bó đuốc Charlie hãnh diện nói: “Đó là nguyện đường của tôi, tôi dâng hiến nó cho Chúa và thường lên đó suy niệm vào lúc rỗi rảnh nghỉ ngơi”.
Tuy nhiên Charlie còn làm cho Chúa những điều khác nữa. Anh đã nhận được bằng khen của hội đồng thập tự sau khi anh hiến nửa lít máu lần thứ 65. Và sau khi nghe biết công việc của Mẹ Têrêsa ở Ấn Độ, anh đã gởi tặng trên 12 ngàn đô cho mẹ và cho những ngừơi hoạt động giống Mẹ. Charlie kể rằng khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói chuyện tại công viên Battery cách bức tượng nữ thần tự do chừng một dặm rưỡi (hơn 2 cây số), thì ông đứng trên lối đi nhỏ viền quanh ngọn đuốc và lắng nghe bài nói chuyện của Đức Thánh Cha. Tại lối đi nhỏ này, ông cũng hăng say cầu nguyện cho chuyến viếng thăm Mỹ Quốc của Ngài được thành công. Charlie nói với phóng viên tờ Los Angeles Times “Tôi chẳng  giàu xã hội tính, cũng chẳng bận quần áo hợp thời trang, nhưng tôi có được tính khôi hài. Tuy nhiên, vấn đề là tôi không có đủ tiền cưới vợ, cũng chả giữ lại được đồng nào làm của riêng, sau khi kiếm được việc làm, tôi đã bảo trợ cho 6 trẻ mồ côi thông qua các tổ chức lo về các trẻ em đó.
Cuối cùng, Charlie kể cho phóng viên rằng anh thường tự cho mình là “kẻ giữ ngọn lửa’ tượng thần tự do. Về sau người hướng dẫn công viên có nói với nhà phóng viên; “Mọi người đều biết Charlie là con người đặc biệt. Lúc đầu nghe anh tự cho mình tước hiệu đó, ai nấy đều chỉ mỉm cười, nhưng giờ đây tất cả chúng tôi đều nhìn nhận điều ấy một cách nghiêm chỉnh vì theo chúng tôi nghĩ, ông ta đích thực xứng đáng với danh hiệu “người giữ ngọn lửa”.
Charlie Deleo bắt đầu cuộc sống như một chú bé phong trần ở Lower East thuộc Nữu Ước. Nhưng rồi cũng giống như trường hợp Gale Sayers, anh đã quan trọng đặt Chúa vào vị trí số một trong cuộc sống, tha nhân thứ nhì và chính ông vào vị trí thứ ba. Quyết  định ấy đã vĩnh viễn thay đổi cuộc đời ông. Charlie là một minh hoạ sống động cho hai chủ điểm Chúa Giêsu đề cập trong Phúc Âm hôm nay. Đó là chúng ta phải đặt Chúa vào vị trí thứ nhất trong cuộc sống của mình đồng thời nhất quyết thực thi sự chọn lựa ấy. Charlie còn là nguồn cảm hứng sống động khích lệ chúng ta thực hiện điều anh đã làm, đó là dành ưu tiên hàng đầu cho Chúa, đồng thời nhờ ơn Chúa giúp chúng ta dám can đảm thực thi sự chọn lựa đó.
Đó là sứ điệp của các bài đọc hôm nay. Đó là lời mời gọi Chúa dành cho mỗi người chúng ta hiện đang tham dự bí tích thánh thể này.
Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện của Charlie Deleo. Lời nguyện này tóm tắt sự thách đố trong các bài đọc Thánh Kinh hôm nay:
“Ôi lạy Chúa, con không bao giờ dám mơ ước có được đức tin của tổ phụ Abraham, con cũng không bao giờ dám mơ ước nắm quyền lãnh đạo như Môisen, mà cũng chẳng hy vọng có được sức mạnh của Samson, lòng can đảm của David hoặc sự khôn ngoan thông thái của Salomon… Nhưng, ôi lạy Chúa, con chỉ hy vọng một ngày nào đó được Chúa kêu gọi và con xin thi hành ý muốn của Ngài, vì mệnh lệnh Ngài sẽ là niềm vui của con… và lạy Chúa, con sẽ không làm Chúa thất vọng bởi vì Chúa là tất cả những gì con đang gắng công phụng sự.

 

TN 23-C26. THIEÂN CHUÙA TREÂN HEÁT

Có một người lính Ả rập bị quân đội Đức quốc xã bắt làm tù binh trong trận thế chiến lần thứ hai: TN 23-C26

Có một người lính Ả rập bị quân đội Đức quốc xã bắt làm tù binh trong trận thế chiến lần thứ hai. Ngày kia, hai tên Đức quốc xã bước vào phòng giam và nói với người lính Ả rập :
- Mầy hãy hô lên : Suy tôn Hítle ! Mầy sẽ được tự do.
- Tôi không biết
- Hai tên lính Đức quốc xã vặn tay lính người Ả rập không muốn suy tôn Hítle. Quần áo anh rách tươm không còn đủ che kín tấm thân gầy còm đẫm máu và đầy vết đòn đánh.
- Hãy hô lên : Suy tôn Hítle !
- Tôi nói là tôi không biết
  Người ta xích tay và chân anh lại
- Hãy hô lên : Suy tôn Hítle
- Hítle chả là cái thá gì cả.
Hai chiếc báng súng nện xuống làm anh ngã gục.
- Hãy hô lên : Suy tôn Hítle
- Hítle là zéro. Đấng Allah, tức là Thiên Chúa, mới đáng kể.
Hai tên Đức quốc xã lôi xềnh xệch anh vào một góc phòng, dộng đầu anh xuống đất. Hai mắt anh sưng vù và chảy máu. Miệng anh méo xệch và thê thảm. Nhưng anh không thể thốt lên lời ca ngợi nào ngoài việc ca ngợi Đấng Allah.
- Mầy muốn chết hả đồ chó ! Mầy có kêu lên : suy tôn Hítle ! Suy tôn Hítle ! Suy tôn Hítle hay không ?
Anh trả lời trong tiếng nấc như một âm vang phản kháng :
- Allah ! Allah ! Allah !
Họ bỏ mặc anh để tính toán xem phải tìm cách nào gây lại cảm tình đối với anh chàng ương ngạnh này.
Buổi chiều họ dựng anh  dậy, vỗ nhẹ vào má :
- Này, không có gì đâu.
Họ quả quyết trong khi tháo tay anh.
- Bạn sẽ được ăn súp ngon.
Họ trao cho anh một gà mè súp nóng hổi. Anh bưng lên ăn, mười ngón tay bầm tím làm anh đau buốt.
- Ngon chứ hả ? Chắc chắn là phải ngon lắm rồi.
Họ có vẻ thân thiện và hài lòng :
- Bạn thấy súp này ngon chứ ?
Rõ ràng anh cảm thấy súp thật ngon. Anh mỉm cười làm mấy hai Đức quốc xã hả dạ :
- Bọn này tử tế đấy chứ, phải không bạn?
Anh không phản đối. Thế là họ nghĩ thời cơ đã đến. Họ nhìn nhau dò xét và nói thêm, như một lời nhận xét :
- Mọi người đều tốt và Hítle cũng tốt lắm chứ.
Người lính Ả rập tiếp tục mỉm cười lễ độ. Nhưng nụ cười hơi rắn lại. Họ chờ đợi một sự hài lòng.
- Nầy, bởi vì súp ngon, bọn này lại tử tế, mọi người đều tử tế, Hítle lại rất tử tế, vậy bạn phải hô lên : suy tôn Hítle.
Bất ngờ, người lính Ả rập hét to :
- Cứt nè.
Đồng thời, người lính Ả rập thông truyền cho họ tâm tư sâu thẳm của mình bằng một cử chỉ nhanh nhứ chớp, anh hất cả gà mèm súp vào mặt bọn Đức quốc xã. Chiếc gà mèn rơi lẻng xẻng trên nền gạch. Sáu phát súng nổ vang. Anh quị ngã tức khắc xuống nền gạch. Anh đã chết. Nhưng Đấng Allah, tức là Thiên Chúa, còn lớn hơn !
Qua thái độ tuyên xưng can dảm này, chúng ta thấy người lính Ả rập đã dành cho thượng đế, đã dành cho Thiên Chúa địa vị số một trong cuộc sống của mình. Địa vị này không một áp bức nào có thể bắt anh phải khước từ, phải chối bỏ.
Đây cũng chính là thái độ Chúa Giêsu đòi hỏi mỗi người chúng ta qua đoạn tin mừng chiều hôm nay. Thực vậy, Ngài nói với chúng ta :
- Ai yêu mến cha mẹ hơn Ta, thì không xứng đáng với Ta.
Có nghĩa là :
- Ai muốn bước theo Ngài thì phải yêu mến Ngài hơn bất kỳ ai khác, kể cả cha mẹ, vợ con và những người thân trong gia đình.
Vậy tất cả chúng ta đã thực sự là môn đệ của Chúa theo nghĩa đó hay chưa ? Cái gì là trên hết trong cuộc sống chúng ta ? Cái già chiếm vị trí số một trong trái tim chúng ta ?
Với kẻ hà tiện, đó là tiền bạc. Với kẻ mê đỏ đen, đó la cờ bạc. Với kẻ bỏ lễ Chúa Nhật, đó là một vài giờ ngủ nướng hay một cuộc đi chơi. Với kẻ tụ phụ thì đó là những lời tán tụng hão huyền.
Trong khi ấy, họ dường như không nghe thấy những đòi hỏi của Chúa Giêsu và nếu có nghe thấy thì cũng xếp vào hàng thứ yếu.
Chúa Giêsu luôn đòi hỏi mỗi người chúng ta phải có thái độ dứt khoát :
- Ai đã cầm cầy mà còn quay trở lại thì không xứng đáng làm môn đệ Ta.
Như trên chúng ta đã thấy : niềm tin của người lính Ả rập là một bài học sống động cho chúng ta. Thế nhưng, chúng ta có dám sống và dám tuyên xưng niềm tin ấy như người lính Ả rập hay không ? Chúng ta có dám hy sinh tất cả để Thiên Chúa trở thành nhân vật số một trong tâm hồn và trong cuộc đời chúng ta hay không ?

 

TN 23-C27. CGVDT/1172 - HẠT LÚA

Trong cuộc khủng hoảng tài chánh đang diễn ra tại các nhước Á châu,  người ta chứng kiến nhiều: TN 23-C27

Trong cuộc khủng hoảng tài chánh đang diễn ra tại các nhước Á châu, người ta chứng kiến nhiều công trình bị bỏ dở vì thiếu tiền : nhiều cao ốc giơ bộ xương khô lên trời , mặc nắng mưa hành hạ, nhiều nhà máy phải ngừng thi công và nhiều nhà đầu tư cuốn gói về nuớc, hoặc phải thu nhỏ lại qui mô làm ăn. Điều ấy gây ra những hậu quả tai hại đối với nền kinh tế quốc gia và trực tiếp tạo ra cảnh thất nghiêp cho hàng ngàn, hàng vạn công nhân, khiến đại bộ  phận nhân dân lao động lâm vào tình trạng đói nghèo.
Tại Việt nam, tuy cuộc khủng hoảng có vẻ như chưa trực tiếp lan tới, nhưng chúng ta cũng phải hứng chịu hậu quả của cơn bão rớt, đồng tiền đã mất đi một phần giá trị, nhiều nhà đầu tư cũng tạm hoãn thi hành những dự án, nhiều nhà máy, công tình yêu giảm bớt hoạt động hay hoạt động cầm chừng. Nhân dân lao động đã bắt đầu lo lắng và cuộc sống hứa hẹn những nỗi khó khăn.
Cứ nhìn vào tình trạng ấy, người ta thấy Lời Chúa quả là ứng nghiệm. Rõ ràng là có nhiều kẻ “đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc.
Tuy nhiên, vấn đề Chúa Giêsu nói ở đây không phải là chuyện kinh tế, tài chánh, tuy rằng chúng ta cũng có thể áp dụng Lời Chúa vào chuyện này, Việc mà Chúa Giêsu muốn nói tới ở đây là việc làm tông đồ, hay  là trở nên môn đệ của Ngài.
Điều đáng chú ý và có vẻ mâu thuẫn, ngược đời trong lời dạy của Chúa hôm nay, đó là không bảo chúng ta sắm sửa, chuẩn bị cho mình bất cứ phương tiện nào, mà lại đòi hỏi chúng ta từ bỏ mọi sự. Kẻ xây nhà thì phải tính toán đủ khinh phí, kẻ chuẩn bị giao chiến thì ngoài khinh phí và quân số, còn phải xét đến khả năng kỹ thuật, chiến lược…của mình so với đối phương. Nhưng kẻ chiến đấu cho nước trời lại được bảo cho biết phải từ bỏ tất cả mọi sự : cha mẹ, vợ con, nhà cửa, ruộng vườn hay chài lưới với ghe thuyền.
Đó chính là tinh thần nghèo khó và lòng khiêm nhường hiền hậu mà Chúa Giêsu đòi hỏi ở người môn đệ. Tuy hiên, Ngài không dừng lại ở đó. Vì là đấng Cứu độ, là hiện thân của Thiên Chúa Tình yêu , nên Ngài còn đòi hỏi các môn đệ của mình phải từ bỏ, phải hy sinh đến cả mạng sống nữa. Bởi vì Ngài không đến chỉ để rao giảng một lẽ khôn ngoan, mà làm chứng cho tình yêu cao cả của Thiên Chúa bằng cả cuộc đời và nhất là bằng cái chết và sự phục sinh của Ngài.
Trong cuộc sống Kitô hữu của chúng ta hôm nay, biết bao nhiêu người đã phải bỏ dở cuộc hành trình của người môn đệ vì khi bắt đàu nhập cuộc, chúng ta đã không suy nghĩ kỹ đến khả năng, không lượng đúng sức mình.
Chúng ta muốn theo Chúa nhưng vẫn muốn giữ, muốn cứu mạng sống mình, vì thế không lạ gì  chúng ta dễ dàng bỏ cuộc khi cảm thấy thiệt thòi mất mát, nhiều khi mới chỉ là mất mát địa vị hay quyền lợi vật chất, mà quên đi rằng chính Chúa Giêsu cũng đã phải trải qua đau khổ và sự chết thì mới có thể vào trong vinh quang của Ngài được, cũng như hạt lúa chỉ sinh được nhiều hạt khác khi được gieo vào lòng đất và chết đi.

 

TN 23-C28. NMS/154 - HY SINH

Trong “Đông Châu Liệt Quốc” có ông Giới Tử Thôi, người nước Tấn, đời Xuân Thu, là một: TN 23-C28

Trong “Đông Châu Liệt Quốc” có ông Giới Tử Thôi, người nước Tấn, đời Xuân Thu, là một bầy tôi trung thành của Công tử Trùng Nhĩ. Khi ấy, vua nước Tấn là Tấn Huệ Công sợ công tử Trùng Nhĩ cướp ngôi nên sai người đi ám sát. Được mật báo, Trùng Nhĩ cùng với một số bầy tôi đi lánh nạn. Trên đường chạy trốn từ nước Địch sang nước Vệ chận lại toan bắt nên chạy càng trối chết. Chẳng may lạc đường lại hết lương thực, công tử Trùng Nhĩ không ăn được rau cỏ dại nên sinh kiệt sức sắp chết. Thấy vậy, Giới Tử Thôi đã lén cắt thịt ở đùi mình nấu canh cho Trùng Nhĩ ăn mới lại sức đi đến được nước Tề an toàn. Đến lúc Trùng Nhĩ khôi phục được nghiệp lớn là làm vua nước Tấn thì Giới Tử Thôi lặng lẽ về quê ở ẩn không màng lãnh công. Cả khi vua Tấn nhớ ơn người bầy tôi trung thành, muốn đền đáp công lao thì Giới Tử Thôi cõng mẹ vào rừng sống ẩn dật, nhất quyết không nhận.
Thì ra đời nào cũng thế, có kẻ tranh dành nhau địa vị, chém giết nhau vì lợi, nhưng cũng có người xem danh lợi như không, của cải không thắng nổi nhân phẩm của mình Người như Giới Tử Thôi càng hiếm vì lúc nguy dám cắt thịt mình để nuôi chủ, lúc nên chẳng thiết đến công ơn mà chỉ cốt trọng đại nghĩa, liêm sỉ mà thôi.
Như vậy, một người để được gọi là trung liệt, trọng đại nghĩa thì người đó không thể không hy sinh, chịu khó để bảo toàn cho được lý tưởng cao cả của mình. Tuy nhiên, không phải bất cứ một sự hy sinh nào cũng đều được ca ngợi cả, vì nếu hy sinh để mưu cầu lợi riêng được gọi là nịnh thì bị chỉ trích lên án, còn hy sinh cho công việc chung được gọi là hy sinh, tại sao kẻ cho là nịnh, người được gọi là trung. Cho nên, trung hay nịnh không chỉ căn cứ trên việc làm mà còn dựa vào lập trường, ý hướng nữa. Ngoài ra, nếu đem thân hy sinh phò một kẻ làm điều nghĩa được gọi là trung được. Do đó, hành động hy sinh để được gọi là trung liệt còn phải phụ thuộc vào người mà mình phục vụ. Vậy để có được một hành động hy sinh đúng nghĩa cần phải có hai tiêu chuẩn này : ý hướng và đối tượng mình phục vụ.
Nếu ở đời sự hy sinh là một việc làm cần thiết để sống đúng phẩm giá, trọng nhân nghĩa, huống chi chúng ta là con cái, môn đệ của Chúa lại càng cần phải biết sống hy sinh mới mong thực hiện được những chỉ thị và đường lối mà Chúa đã truyền lại để đạt được hạnh phúc đời đời. Bởi vì, đối với người công giáo, theo Chúa Kitô có nghĩa là chọn lựa theo con đường dấn thân hy sinh, sẵn sàng chết đi cho những ý riêng những tư tưởng xấu xa. Do đó, trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa đã đưa ra những yêu sách, những tiêu chuẩn cơ bản để bất cứ ai muốn theo Chúa đều phải biết và chọn lựa hy sinh như thế nào cho tốt đẹp.
Thứ nhất hy sinh vì mục đích gì ? Dĩ nhiên, mục đích tối hậu và quan trọng nhất của đời mỗi người chúng ta là được Chúa yêu thương và ban cho chúng ta hạnh phúc đời đời. Muốn đạt được điều mơ ước cao cả đó, đương nhiên chúng ta phải tìm đủ mọi cách và sống  đúng được ý Chúa, lời Chúa, tất nhiên con người phải chịu khó hy sinh, cố gắng từ bỏ ý riêng và những điều không thích hợp như : an nhàn vui thú, tính hư nết xấu, nuông chiều thân xác, háo danh háo sắc. Và phải can đảm lướt thắng và nhẫn nhục chịu đựng mọi gian nan thử thách như : bệnh hoạn, tật nguyền, hẩm hiu, thiếu sót, thất bại, bất công…cách vui tươi thánh thiện. Ngoài ra, chúng ta còn phải loại trừ mọi thứ hàng rào ngăn cản như : tình yêu, gia đình, bạn bè, xã hội…nếu chúng làm cho ta mất phần rỗi.
Thứ hai hy sinh vì  ai ?  Để có được sự hy sinh quyết liệt trên, chúng ta phải luôn ý thức sâu sắc rằng chúng ta hy sinh cho ai ? Tất nhiên, ngoài Chúa ra còn ai đáng cho chúng ta phải chịu khó hy sinh thực hiện những việc cao đẹp để tôn kính, yêu mến, phụng thờ Ngài. Thật là ngược đời và phi lý, nếu chúng ta không tin tưởng Chúa là Đấng toàn năng toàn thiện, không yêu mến Ngài như một người Cha rất nhân ái từ bi, không gắn bó keo sơn với Ngài như một người Bạn luôn trung tín thì làm sao chúng ta lại có thể dám dấn thân hy sinh, chịu thương chịu khó làm gì cho mệt xác, vô ích ! Cho nên, chỉ có Chúa với tình thương bao la của Ngài mới đáng cho chúng ta si mê và sống chết theo Ngài mà thôi.
Thứ ba là phải hiện tại hóa những yêu sách của Chúa. Để có sức và đủ kinh nghiệm cho những lần dấn thân hy sinh lớn lao và khó khăn trong cuộc sống mỗi người, thì hiện tại chúng ta phải tập từ bỏ những cái nhỏ bé, tập hy sinh những việc đơn giản như rời chăn ấm buổi sáng để đi lễ, bớt tiêu pha để cho kẻ khó, nhịn nhục khi nghe lời chê bai, bớt giải trí để làm việc tông đồ…Vì nếu chúng ta không hy sinh được việc nhỏ thì không thể hy sinh những việc lớn hơn, kho khăn hơn.
Tất cả những đòi hỏi trên nhắc nhở cho chúng ta biết rằng việc dấn thân theo Chúa không phải chỉ là một vấn đề thuần túy hình thức như ghi tên rửa tội, mang thánh hiệu… mà là một công việc quan trọng phải được chọn lựa dứt khoát, phải để tâm xây dựng, săn sóc cẩn thận mới mong thành công đạt đích.

 

TN 23-C29. ASTY/190 - NGƯỜI MÔN ĐỆ

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu phán : “Ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con: TN 23-C29

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu phán : “Ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình thì không xứng đáng làm môn đệ Ta”. Rồi Chúa đã kể một dụ ngôn về người xây tháp và dụ ngôn nhà vua đi giao chiến với một vị vua khác. Sau đó Ngài kết luận : “Bất kỳ ai trong các ngươi không từ bỏ của cải mình có thì không thể làm môn đệ Ta được”.
Chúng ta có thể nhìn về những lời dạy của Chúa trong viễn tượng nhân quyền, chúng ta có thể nói : xem ra như có một sự xung khắc giữa quyền lợi của Chúa và quyền lợi của con người. Chúa Giêsu phán : “Ai không từ bỏ cha mẹ, anh chị em, vợ con và những của cải mình có thì không xứng đáng làm môn đệ Ta”. Quyền lợi tự nhiên của con người là có cha, có mẹ, có anh chị em, có của cải. Đó là những quyền lơi tốt lành, thế mà Chúa muốn chúng ta các đồ đệ của Ngài hãy từ bỏ để tuân theo quyền lợi của Ngài, đặt quyền lợi của Ngài lên trên hết. Phải chăng, đó là sự xung đột không thể chấp nhận được trên bình diện tự nhiên. Nhưng sự xung đột đây không phải là xung đột thật, đây chỉ có thể là một sự xung đột đặt thứ tự trước sau mà thôi, và quyền lợi của Thiên Chúa là điều phải được ưu tiên trên hết. Như vậy, cần đặt Thiên Chúa vào chỗ đứng thứ nhất trong đời sống chúng ta nhờ đó mà chúng ta mới có thể chu toàn những quyền lợi của mình.
Phúc âm thánh Matthêu khi nhắc lại những lời dạy này của Chúa Giêsu trong một viễn tượng khác thì đã nói : “Ai không yêu mến Ta hơn cha mẹ, anh chị em”, hay đúng hơn Chúa đã nói : “Ai không yêu mến Ta hơn cha mẹ, anh chị em mình thì không xứng đáng làm môn đệ Ta”. Từ ngữ “ghét” mà chúng ta dịch sang tiếng Việt không có nghĩa là hận thù, ghen ghét nhưng có nghĩa là “ai không yêu mến Ta hơn cha mẹ, anh chị em của mình thì không xứng đáng làm môn đệ Ta”.
Đây là vấn đề thứ tự ưu tiên tình thương của Chúa và chính Chúa phải chiếm chỗ nhất trong đời sống của Chúng ta. Thiên Chúa là bạn của sự sống, Thiên Chúa là bạn của con người, chắc chắn Ngài không ganh tị với con người khi con người được điều tốt lành. Quan niệm lệch lạc của con người về Thiên Chúa như là một Đấng ganh tị với con người, như là kẻ thù của con người thì đó không phải là quan niệm của Kinh thánh về Thiên Chúa. Thiên Chúa chân thật đã được mạc khải trong Thánh Kinh là một Thiên Chúa đã tạo dựng con người, để con người được triển nở hoàn toàn tốt đẹp hơn nhân cách của mình, để được sống hạnh phúc.
Một Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ vật chất này cho con người hưởng dùng và đã tạo ra lệnh cho con người hãy ngự trị trên mọi tạo vật. Con người lỗi lầm làm hại phẩm giá của mình, xúc phạm đến Thiên Chúa thì Ngài cũng không ngừng tận dụng mọi phương thế để phục hồi phẩm vị cho con người. Ngài đã trao ban Con Một của Ngài là Chúa Giêsu Kitô qua việc xuống thế làm người để chịu chết thay cho con người, để nâng con người lên trở thành con cái Thiên Chúa. Chính Ngài đã mạc khải cho con người những sự thật để giúp con người trở về cùng Thiên Chúa là chính sự thật.
Một vị Thiên Chúa như vậy, một khi được con người chấp nhận tôn thờ thì sẽ giúp con người phát triển hơn là đè bẹp con người. Kính trọng quyền lợi của Thiên Chúa, yêu mến Ngài trên hết mọi sự, đó là con đường hữu hiệu nhất để kính trọng quyền lợi của anh chị em, để kính trọng anh chị em, yêu thương anh chị em như chính Chúa đã yêu thương cho đến mức độ chấp nhận hy sinh cho người mình yêu. Đây là một điều khó nếu mỗi người chúng ta không nhìn thấy một bí quyết nằm ở bên trong, đó là tình thương đối với Thiên Chúa, đối với Chúa Giêsu Kitô. Nếu không thực hiện những điều khó mà từ bỏ tất cả những gì mình có, khó mà từ bỏ cha mẹ, anh chị em và những của cải của mình có để trở thành môn đệ của Chúa. Vì thế, chúng ta cần phải xin Chúa ban cho mỗi người được sức mạnh và lòng can đảm để yêu mến Ngài trên hết mọi sự, để rồi từ đó chúng ta mới có thể kính trọng những quyền lợi của những người xung quanh được. Xin Chúa gìn giữ chúng ta trong tình thương đối với Ngài và trong đức tin mà chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh Tin kính.

 

TN 23-C30. TMCN/189 - THEO CHÚA

Trong khi Chúa Giêsu đi hướng về thành Giêrusalem, dân chúng đi theo càng ngày càng đông: TN 23-C30

Trong khi Chúa Giêsu đi hướng về thành Giêrusalem, dân chúng đi theo càng ngày càng đông và sự náo nhiệt phấn khởi càng tăng. Dân chúng tưởng rằng Ngài sắp lập một nước vinh quang và đầy quyền uy, họ mong được dự phần trong vinh hiển ấy. Để đánh tan hiểu lầm, Chúa Giêsu quay lại phán bảo họ những điều kiện chính yếu để làm môn đệ Ngài. Bằng cách rất sinh động, Ngài bảo họ rằng theo Ngài không phải là để được quyền thế và vinh quang của thế gian này, nhưng phải có lòng trung thành đến độ sẵn sàng chịu khổ như sự thống khổ của kẻ bị treo trên cây thập giá. Chúng ta không nên hiểu lời Chúa Giêsu theo một nghĩa đen lạnh lùng, thiếu óc tưởng tượng. Ngôn ngữ Đông phương bao giờ cũng sinh động tới độ cao nhất của trí khôn loài người. Khi Chúa Giêsu bảo chúng ta phải ghét những kẻ gần gũi và thân thiết với mình là Ngài không có ý nói theo nghĩa đen. Ngài chỉ muốn nói rằng không có tình yêu nào trên đời này có thể so sánh với tình yêu mà chúng ta có đối với Ngài được. Có hai chân lý nổi bật trong đoạn này :
 Có thể là người theo Chúa Giêsu mà vẫn không phải là đầy tớ của Ngài, có thể là kẻ theo trại quân mà vẫn không phải lính của vua, có thể là kẻ bám víu vào một đại sư mà vẫn không dấn thân gì cả. Có người nói với một giáo sư về một chàng thanh niên rằng : “Anh ta nói với tôi rằng anh ta là học trò của ông”. Vị giáo sư thẳng thắn trả lời : “Anh ta có thể đã ngồi trong lớp học của tôi, nhưng không phải là một trong số các học trò của tôi”. Có sự khác biệt giữa một người trong lớp và thực sự làm học trò. Thật đáng buồn cho Hội Thánh khi trong Hội Thánh có quá nhiều kẻ theo Chúa cách xa xa và có quá ít người thực sự là môn đệ Chúa.
Những lời Chúa phán thật đáng ngạc nhiên, đến độ nghe chói tai nữa. Thế nhưng nó chỉ có ý diễn tả một điều : tình yêu Chúa phải chiếm chỗ nhất trong trái tim ta, và ta phải gỡ bỏ tất cả những gì cản trở tình yêu ấy. Thánh Grêgoriô Cả giải thích câu “khó nghe” này, ngài viết : “Ở đời này hãy yêu tất cả, kể cả kẻ thù, nhưng ta phải ghét những ai ngăn cản ta trên bước đường dẫn tới Chúa, dầu đó là người thân. Như vậy ta phải yêu người lân cận, phải có lòng bác ái đối với tất cả, với kẻ gần và người xa, nhưng không được vì yêu họ mà ta xa tình yêu Chúa”. Dứt khoát là phải giữ bậc thang giá trị trong tình yêu : Chúa trên hết.
Công Đồng Vaticanô II cũng dạy các tín hữu : “Phải chuyên lo làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn đẹp lòng người ta, luôn sẵn lòng bỏ mọi sự vì Chúa Kitô và chiụ bách hại vì sự công chính”. Và trong hiến chế Mục vụ Công Đồng dạy : “Chịu đau khổ cho chúng ta, không những Ngài nêu gương để chúng ta theo vết chân Người, nhưng Người còn mở ra con đường mới để nếu chúng ta theo thì sự sống và cái chết sẽ được thánh hóa và có một ý nghĩa mới”. Đường của người Kitô hữu đi là theo chân Đức Kitô, là nên giống Ngài. Không có con đường nào khác để theo Ngài ngoài con đường giúp Ngài vác thập giá. Kinh nghiệm cho hay rằng đau khổ luôn có sẵn và bất hạnh cũng kèm theo nếu thiếu một phản ứng tinh thần đạo Kitô. Thập giá đâu phải là tấn bi kịch, thập giá là phương pháp sư phạm Chúa dùng để thánh hóa ta qua đau khổ, để liên kết ta vào Chúa Kitô và để ta được xứng đáng với vinh quang. Thế nên Đấng Đáng Kính Escriva đã reo lên : “Chúc tụng đau khổ ! Đáng yêu thay đau khổ ! Thánh thay đau đớn!”.

 

TN 23-C31. SNLC/198 - VÁC THẬP GIÁ

Giêrussalem, hàng năm cứ đến ngày thứ sáu tuần Thánh, từng đoàn người cùng với chủ chiên: TN 23-C31

Ở Giêrussalem, hàng năm cứ đến ngày thứ sáu tuần Thánh, từng đoàn người cùng với chủ chiên vác thập giá  theo chính con đường Đức Giêsu đã vác lên núi Sọ chịu đóng đinh.
Ở Rôma cũng long trọng diễn ra cảnh Đức Giáo Hoàng cùng với đoàn tín hữu vác thập giá lên đồi Vaticanô vào ngày thứ sáu Tuần Thánh để thờ kính Thánh giá Đức Giêsu và những Thánh giá của thánh Phêrô, thánh Phaolô và hàng ngàn Thánh giá của các thánh tử đạo đã chịu đóng đinh suốt 300 năm thời Giáo Hội sơ khai.
Ở Việt Nam chúng ta chưa thấy diễn ra cảnh vác Thánh giá như thế, chỉ thấy rước Thánh giá và viếng chặng đàng vào cuối thứ sáu Tuần Thánh. Phải chăng chúng ta chưa vác nổi thập giá mình đi theo Đức Giêsu chăng ? Có lẽ chúng ta đi theo Người giống như đám đông đi theo Đức Giêsu xưa : “Họ cùng đi đường với Đức Giêsu đông lắm”. Nhưng không cùng vác thập giá với  Người, mà chỉ đi theo Người vì nhiều lý do lợi lộc, như được chữa khỏi bệnh tật, được ăn bánh hóa nhiều, mong được giải phóng nô lệ Rôma hay được địa vị sang trọng khi Người làm Vua, làm Đấng Cứu thế cai trị muôn dân. Vì thế, Người quay lại bảo họ : “Ai theo Tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Tôi được”. “Ai không vác thập giá mình đi theo Tôi, thì không thể làm môn đệ Tôi được”.
Thập giá Đức Giêsu là gì ? Là hình khổ do người Hy Lạp và Rôma lập ra để phạt đóng đinh treo trên thập giá những kẻ nô lệ phạm tội và những kẻ trọng tội không phải công dân của Rôma. Đức Giêsu đã chịu cực hình đó như kẻ tử tội, khốn cùng, bị chúc dữ, ô nhục và chết đi để làm giá cứu chuộc muôn dân. Như vâỵ, Người đã biến khổ giá loài người thành Thánh giá, biến đau khổ thành hạnh phúc, biến chúc dữ thành chú lành, biến ô nhục thành vinh quang, biết sự chết thành sự sống muôn đời; như Người đã biến thân nô lệ thành thân Đấng Cứu Thế, biến những chum nước lã thành rượu ngon, biến bánh rượu vật chất thành Mình Máu thánh Người.
Thập giá chúng ta cũng là những cực khổ, những sự dữ, những xỉ nhục, những thử thách gian nan, những sự chết dần dần. Chúng ta phải biết hy sinh vác đi theo Chúa để Chúa biến đổi những khốn khổ đó thành giá cứu chuộc chúng ta và mọi người, như những giọt nước hòa tan trong rượu nho làm của lễ dâng lên Chúa.
Ông Simon đã vác thập giá mình theo Chúa. Xin cho mỗi người chúng con được vinh phúc như ông Simon.

 

TN 23-C32. CS/132 - CHỌN LỰA TỪ BỎ

Trong một chuyện phim được chiếu trên đài truyền hình có chi tiết như sau : Cô gái tên Phượng: TN 23-C32

Trong một chuyện phim được chiếu trên đài truyền hình có chi tiết như sau : Cô gái tên Phượng có người yêu là cán bộ giảng dạy, nhưng rất ít khi cô gặp được anh, và anh cán bộ này cũng rất ít khi ghé thăm cô Phượng là người yêu của mình. Lý do là vì anh rất bận rộn với cộng tác, với trách nhiệm của mình. Không chịu nổi tình trạng này, cuối cùng cô Phượng đã nói với người yêu : Hoặc là công việc, hoặc là em, anh phải chọn một. Em không thể để anh đặt em ngang hàng với công việc của anh.
Tiên tri Isaia nhiều lần nhắc nhở tới sự ganh tị của Thiên Chúa. Người không thể chấp nhận con người đặt Người ngang hàng với các mẫu tượng, với các thần minh khác. Với sự khôn ngoan mà Người đã ban cho con người, Người muốn con người phải nhận ra đâu là giá trị đích thực và tuyệt đối, đâu là cùng đích của cuộc đời mà mình phải theo đuổi. Và quả là điều vô lý khi ta đặt cái tuyệt đối, cái vĩnh cửu ngang hàng với cái tương đối, cái phù du. Vì vậy mà Thiên Chúa đòi ta phải có sự chọn lựa hoặc là cái này hoặc là cái kia. Và khi đã chọn lựa một giá trị nào đó, thì ta cần khước từ những gì cản trở việc theo đuổi để đạt đến giá trị ấy. “Ai muốn theo tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống của mình nữa thì không xứng đáng làm môn đệ tôi”.
Điều này nói lên tính cách triệt để cuả Tin mừng. Tình cảm cha mẹ, vợ con, anh chị em là điều cao quí. Mạng sống con người lại là điều cao quí hơn nữa. Nhưng nếu những thứ ấy cản ngăn bước đường theo Chúa thì Người cũng đòi chúng ta phải từ bỏ. Nói một cách cụ thể hơn đối với hoàn cảnh sống của chúng ta, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta nếu muốn là con cái của Người thì hãy bỏ đi sự mê tín dị đoan, bỏ đi lòng ham mê của cải đến độ bất công, xảo trá, bỏ đi lòng ham muốn thú vui xác thịt cách bất chính, bỏ đi lòng ganh ghét hận thù… Kèm theo sự từ bỏ ấy là vác lấy những thập giá trong đời mình. Thập giá ấy là những vất vả trong công việc làm ăn, là những tai ương hoạn nạn, là những hiểu lầm của những người chung quanh, là những đau đớn khi phải chiến đấu chống lại những cám dỗ và tội lỗi v.v…
Có lẽ việc theo Chúa sẽ hấp dẫn và dễ chịu hơn nếu như Người không đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ, phải vác thập giá. Nhưng thiện chí và lòng chân thành của chúng ta sẽ được đo lường bằng những từ bỏ và những hy sinh ấy. Chúng ta hãy kiểm tra lại xem chúng ta đang chọn lựa gì và từ bỏ gì ?

 

TN 23-C33. LS/507 - THẬP GIÁ

Thoạt nghe chúng ta thấy có vẻ như giáo huấn của Chúa Giêsu muốn nói đến hai vấn đề khác: TN 23-C33

Thoạt nghe chúng ta thấy có vẻ như giáo huấn của Chúa Giêsu muốn nói đến hai vấn đề khác nhau, đó là thái độ dứt khoát phải có để trở thành môn đệ và sự khôn ngoan biết lo xa cho những dự định có. Thế nhưng, có công việc nào quan trọng hơn việc xây dựng chính cuộc đời của chúng ta, mà cuộc đời của chúng ta lại đặt nền trên sự kiện nỗ lực để trở thành môn đệ Chúa, nên thánh Luca đã gom góp những giáo huấn của Chúa để giúp ta nhận ra điều kiện và để sống, hầu trung thành với những điều kiện ấy. Tiên vàn chúng ta hãy hiểu động từ “dứt bỏ” Chúa dùng ở đây không có nghĩa là cắt đứt, nhưng có nghĩa là đặt để tất cả trên tình yêu dành cho Chúa, hay nói cách khác tình yêu Chúa phải thấm nhuần và hướng dẫn mọi thứ tình yêu khác, kể cả tình yêu với chính bản thân mình. Một trong những thành công của người Việt Nam trên đất Mỹ đó là chúng ta còn biết sống chung với nhau, góp công góp sức để chia sẻ với nhau. Nhờ đó chúng ta có thể mua sắm nhà cửa, xe cộ và các cộng đồng giáo xứ Việt Nam lúc nào cũng đông đảo, nhiều sáng kiến trong việc biểu lộ Đức tin của mình. Hai yếu tố đó làm nền tảng cho những thán phục. Đức Thánh Cho Gioan Phaolô II vẫn thường nói đến nền văn minh của tình thương, chúng ta chỉ có thể có được một nền văn minh đích thực và ý nghĩa khi chúng ta tôn trọng lẫn nhau, sống bình đẳng và chia sẻ ân tình cho nhau qua trách nhiệm mỗi người có trong từng ngày sống. Càng ngày những phương tiện truyền thông càng nêu lên những khó khăn trong đời sống các gia đình Việt Nam. Phần lớn những khó khăn đó là do không thành viên trong gia đình chịu vác thập giá mình trên vai để xây dựng cuộc sống chung trong tình yêu và hạnh phúc. Phải biết ngồi xuống với nhau để tính toán tương lai của mình và của gia đình mình thì mới tránh được những đổ vỡ. Vì đổ vỡ một công trình hay thua bại một trận chiến, dù sao đi chăng nữa cũng không bằng mất mát một cuộc đời. Những chê cười hay mất mát trên gian cũng qua đi, nhưng đời người và con người thì tồn tại. Hãy nhận lấy Thánh giá Chúa trao và vác lấy nó để xây dựng cộng đồng yêu thương là gia đình, là thôn xóm. Bởi vậy Thánh giá là gì ? Thưa là cách Chúa biểu lộ tình yêu của Ngài, là cách Ngài thiết lập tương quan thân tình với chúng ta. Đâu còn cách nào khác hơn là chúng ta bắt chước Ngài như vậy để trở thành môn đệ của Ngài. Lạy Cha yêu thương, một ngày mới nữa bắt đầu, ngày Cha dành cho chúng con để chúng con trở thành môn đệ của Con Cha qua việc thực hiện giáo huấn của Ngài, tính toán duy nhất ngày hôm nay là làm sao mọi người nhận biết được tình Cha dành cho họ. Hôm nay cũng là ngày kính nhớ thánh Martinô, một gương mặt quen thuộc với nhiều gia đình công giáo Việt Nam, vì được tôn kính như một trung gian ân sủng và tình yêu của Cha, xin cho chúng con cũng biết nhìn lên thánh nhân sống là môn đệ yêu quí của Cha. Amen.

 

TN 23-C34. SNTMCN/146 - THEO CHÚA

Bình thường, muốn lôi kéo kẻ khác về phe mình, nhập môn phái mình, chấp nhận làm việc sống: TN 23-C34

Bình thường, muốn lôi kéo kẻ khác về phe mình, nhập môn phái mình, chấp nhận làm việc sống chết với mình vì một lý tưởng nào đó, người ta hay đưa ra một lý tưởng huy hoàng trước mắt, có sức hấp dẫn kẻ theo mình. Vô tình hay hữu ý, những nhà lãnh đạo ấy trở nên những kẻ mị dân, bịp bợm, và vụ lợi. Vụ lợi vì nhắm cái lợi trước tiên cho mình, cho phe nhóm mình.
Trong tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu hành động một cách khác thường. Người tỏ ra hoàn toàn vô tư, vô vụ lợi và đòi hỏi những kẻ theo Ngài cũng hoàn toàn vô tư lợi như thế. Người lên tiếng cảnh cáo thẳng thừng những ai muốn đi theo làm môn đệ Người thì phải sẵn sàng “vác Thập Giá mình”, nghĩa là phải từ bỏ bản thân, và tất cả những gì thân thiết nhất như : cha mẹ, vợ con, anh chị em mình, từ bỏ tất cả những gì mình có, thậm chí cả mạng sống mình nữa. Điều kiện này đặt ra cho mọi người muốn làm môn đệ Chúa Giêsu, tức là cho  mọi Kitô hữu, chứ không riêng cho một hạng người nào.
Đối với chúng ta, có gì mới lạ trong điều kiện Chúa Giêsu đưa ra ? Cứ sự thường, lý thưởng sống nào cũng có những hy sinh và đòi buộc của nó cả : - Lập gia đình, bạn có những hy sinh ràng buộc của đấng bậc làm cha mẹ. Chọn nếp sống tu hành, bạn cũng phải chấp nhận sống đời khổ hạnh của đấng bậc tu trì. Trong khi phục vụ nhân quần xã hội, bạn cũng phải khép mình vào một qui chế chung, được mọi người chấp nhận : ví dụ như phải giữ đúng giờ, phải tôn trọng kỷ luật ở nơi làm việc, làm việc cẩn trọng, chính xác và có năng xuất …Đó là cái giá phải trả cho mọi chức năng trong xã hội loài người.
Điều kiện Chúa Giêsu đưa ra chỉ có một điều mới lạ độc nhất, đó là tuyệt đối chấp nhận sống như Chúa Giêsu, một khi đã tin yêu Người và muốn làm môn đệ Người. Chúa Giêsu đã hy sinh bản thân “vác Thập Giá mình” thì môn đệ Người cũng phải hy sinh bản thân, vì Người mà “vác Thập Giá mình”theo chân Người.
Thực vậy, trở thành người Kitô là điều dễ dàng. Nhưng  trung thành sống niềm tin nơi Đức Kitô như Đức Kitô và vì Đức Kitô là điều không dễ, vì nó đòi buộc ta phải hoàn toàn vô vị kỷ, vô vị lợi trong đời sống hôn nhân, cũng như trong đời sống tu trì. Từ bỏ bản thân vì danh Chúa là một đòi buộc trái ngược với những ham muốn ích kỷ, những tính toán vụ lợi, những đam mê hưởng thụ dễ dãi của loài người chúng ta.
Chúa thường gửi hy sinh đến những người Chúa yêu, nhưng hạng người được Chúa yêu ít lắm vì không mấy ai chấp nhận hy sinh. Xin Chúa giúp con hy sinh chọn đường hẹp, vì đường hẹp dẫn con lên quê trời hưởng hạnh phúc, còn đường rộng thênh thang dẫn con người đến chốn diệt vong.

 

TN 23-C35. MNMTV/79 - ĐAU KHỔ

Thánh Phanxicô Assisiô sứ giả hòa bình cũng được gọi là Phanxicô năm dấu, nghĩa là người: TN 23-C35

Thánh Phanxicô Assisiô sứ giả hòa bình cũng được gọi là Phanxicô năm dấu, nghĩa là người được Chúa Giêsu in trên thân thể năm dấu đinh cuộc tử nạn của Ngài.
Yêu chuộng hoà bình, thánh Phanxicô cũng yêu chuộng cuộc tử nạn của Chúa Giêsu một cách đặc biệt. Ngọn lửa yêu mến đối với Chúa Giêsu chịu treo trên Thập giá đã bừng cháy mãnh liệt từ lúc Ngài vào nhà nguyện thánh Đamianô. Vị sứ giả của hòa bình đã cầu nguyện và chỉ xin một điều duy nhất là được biết yêu thương.
Nhìn lên Thập giá, lắng nghe tiếng Chúa, Phanxicô bỗng hiểu rằng yêu thương đích thực chính là nên giống Chúa Giêsu trên Thập giá. Chúa Giêsu đã đáp trả khát vọng của Phanxicô đến độ đã tin năm dấu vết tử nạn của Ngài trên thân thể thánh nhân.
Thập giá, đau khổ chỉ giá trị khi nó là biểu hiện của tình yêu đối với Đức Kitô. Tin mừng hôm nay nhắc lại chân lý ấy. Sau khi Phêrô đại diện các Tông đồ tuyên xưng Ngài là Đức Kitô, Chúa Giêsu đã xác định ý nghĩa của Danh xưng ấy. Ngài chỉ là Đức Kitô, bởi vì Ngài sẽ bị treo trên Thập giá. Do đó, tuyên xưng Ngài là Đức Kitô cũng có nghĩa là đi theo con đường Thập giá. Đó là tư cách người môn đệ Đức Kitô ? “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, và vác thập giá theo Ta”.
Thập giá, đau khổ mãi mãi vẫn là, một mầu nhiệm đối với con người. Chúa Giêsu đã không nói gì về nguồn gốc của đau khổ, Ngài chỉ nhận lấy đau khổ và chiếu dọi yêu thương vào đau khổ, đồng thời mời gọi chúng ta chấp nhận đau khổ như con đường giải thoát. Không có yêu thương thì đau khổ vẫn luôn là một sức nặng đè bẹp con người, nhưng có yêu thương thì đau khổ trở nên có ý nghĩa và là biểu tượng của yêu thương.
Như mỗi người chúng ta, Chúa Giêsu cũng sợ hãi đau khổ. Ngài cũng đã từng xin khỏi uống chén đắng, thế nhưng để thế gian biết Ngài yêu mến Chúa Cha, Ngài đã chấp nhận uống cạn chén đắng.
“Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá theo Ta”. Lời của Chúa đến với chúng ta ngay lúc đau khổ đang chồng chất trên mỗi người chúng ta Mỗi người một  đôi vai, mỗi ngày một thập giá, ai trong chúng ta cũng có thập giá để vác, có đau khổ để chịu đựng. Chúng ta hãy nhìn lên Thập giá cứu độ, chỉ tiếng gọi yêu thương từ Thập giá mới có thể chiếu dọi ánh sáng vào từng nỗi đớn đau của chúng ta.
“Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá theo Ta”. Chúa Giêsu không bảo chúng ta ôm lấy thập giá để bất động tại chỗ, nhưng để bước theo Ngài lên đỉnh Núi Sọ. Không có Đức Kitô, không bước theo Ngài, thập giá mãi mãi vẫn chỉ là sức mạnh đè bẹp. Nhưng với Đức Kitô, trong tình yêu của Ngài, thập giá sẻ trở thành con đường dẫn đến vinh quang, đau khổ sẻ thành biểu tượng tình yêu.
Thánh Augutinô đã nói : “Hãy yêu và làm tất cả những gì bạn muốn”. Hãy yêu thương để biến trái đắng thành mật ngọt, đau khổ thành niềm vui. Hãy yêu thương để làm nhẹ đau khổ cho người khác. Hãy yêu thương để không trở thành gánh nặng cho người khác. Và cùng với thánh Phaolô, trong mọi sự, chúng ta hãy tuyên xưng : “Tôi chỉ biết có Đức Kitô và là Đức Kitô chịu đóng đinh Thập giá”.

 

TN 23-C36. DẤN THÂN BƯỚC VÀO CON ĐƯỜNG TỪ BỎ

 - Lm. Đỗ Xuân Quế, OP
 

Hôm nay chúng ta cử hành Chúa Nhật 23 Thường niên năm C. Bài Tin Mừng Chúa Nhật này: TN 23-C36

Hôm nay chúng ta cử hành Chúa Nhật 23 Thường niên năm C. Bài Tin Mừng Chúa Nhật này nói với chúng ta về sự từ bỏ và việc đắn đo suy tín để đi theo Chúa. Nếu muốn thực sự theo Chúa, chúng ta không thể không chấp nhận hai điều kiện này. Đi theo Chúa là để được sống đời đời. Vì vậy muốn sống đời đời chúng ta phải đi theo Chúa.
TỪ BỎ:
Đầu bài Tin Mừng, Chúa nói phải dứt bỏ, cuối bài Chúa lại nói phải từ bỏ để đi theo Người. Không phải ngẫu nhiên mà Người nói như thế, lời nói nhằm một chủ đích rõ rệt: đó là phải từ bỏ.
Khi nói đến từ bỏ thì ai cũng ngại, nhất là từ bỏ những gì gắn liền với mình nhất, như người thân, họ hàng, nhà cửa, tiền bạc, các thứ thú vui, và gay go hơn cả: từ bỏ chính con người của mình. Chúng ta có những tấm gương lớn về sự từ bỏ nơi tổ phụ Áp-ra-ham và các Tông Đồ. Tổ phụ Áp-ra-ham đã từ bỏ tất cả, ngay người con độc nhất tổ phụ cũng bằng lòng từ bỏ luôn. Các Tông Đồ khi được gọi cũng đã bỏ thuyền, bỏ lưới, bỏ gia đình mà đi theo Người.
Động lực nào đã xui khiến các ngài làm như thế, nếu không phải là Chúa. Chúa kêu gọi. Hấp lực của Chúa thật mạnh mẽ và lòng quảng đại của các ngài cũng thật lớn lao. Chính Chúa đã thu hút và ban cho các ngài một tấm lòng quảng đại như thế.
Đi theo Chúa phải chấp nhận hy sinh nhiều lắm. Như nói ở trên, từ bỏ tự nhiên ai cũng ngại. Nhưng nếu dừng lại suy nghĩ một chút, chúng ta sẽ thấy Chúa gọi thì Người cũng ban ơn cho chúng ta chấp nhận hy sinh, từ bỏ đ đáp ứng lời kêu mời của Người. Chúa hỏi các Tông Đ có muốn bỏ Người mà đi, Tông Đ trưởng Phê-rô đã mau mắn trả lời là không vì bỏ Người các ông biết đi với ai, bởi vì chỉ mình Người mới có lời ban Sự Sống.
Chúa đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ tất cả những gì chúng ta quý nhất mà đi theo Người. Thực ra chúng ta không muốn bỏ, nhưng thiết thực phải bỏ.
Vậy chúng ta bỏ thế nào ?
Trước hết là từ bỏ con người của mình cùng với những gì gắn liền với nó là ý riêng sự tự do và những điều mình ưa thích, khi những thứ đó đi ngược lại với lời dạy của Chúa hay làm cho mình cách xa Người.
Lời Chúa dạy trong sách Thánh, đặc biệt trong sách Tin Mừng cao siêu nghĩa lý, nhưng thường không hợp với ý thích chung của người ta nên ít người theo. Nay theo là chúng ta đi vào một con đường khác với người ta, nhưng lại là con đường đưa tới Sự Sống. Vì vậy, muốn theo con đường này, tự mình phải xác tín về giá trị của sách Thánh, của Tin Mừng. Tiếp đến là dấn thân bước vào con đường từ bỏ, khi xa cách những gì làm vấy bẩn lương tâm, gây bất ổn cho tâm hồn hay cầm chân mình ở lại trong sự lười biếng và sống một cách tầm thường hay buông thả.
ĐẮN ĐO SUY TÍNH:
Đi theo Chúa là phải từ bỏ. Đây là một đòi hỏi gắt gao. Vì vậy, chúng ta phải đắn đo suy nghĩ cho kỹ xem mình có đáp ứng được chăng. Chúa dùng hai hình ảnh trong bài Tin Mừng hôm nay đ làm nổi bật sự cần thiết phải suy tính như một người xây nhà, như ông vua bày binh bố trận chống lại quân thù. Một người phải tính xem có đ tiền đ xây xong nhà không, một người nghĩ xem có đ binh mã, lương thực đ giao tranh với quân thù cho đến chiến thắng hay không.
Ngày xưa việc suy tính đắn đo này dành cho thời dự tòng. Thời đó, thường khôn lớn rồi người ta mới vào Đạo. Trước khi vào Đạo phải mất thời gian chừng hai năm đ học Đạo và đo sức mình. Ngày nay, nhiều người vào Đạo từ bé, lớn lên mới học Giáo Lý. Mà học Giáo Lý cũng sơ sài thôi. Một số khác khi lớn rồi mới vào Đạo. Thường đây là trường hợp của những người vào Đạo đ tiến tới hôn nhân. Mục đích người ta nhắm là hôn nhân chứ không phải những đòi hỏi cốt yếu của Đạo, thành ra Giáo Lý cũng biết vậy thôi, không lấy gì làm sâu sắc, và sự đắn đo suy tính có lẽ cũng không được chín chắn. Đây là một điều cần suy nghĩ lại.
Bởi vậy, bổn phận của chúng ta hiện nay là xác quyết lại mạnh mẽ lời chúng ta cam kết, hay vú bõ đ đầu cam kết thay cho chúng ta, là từ bỏ ma quỷ cùng những sự dối trá nó bày đặt. Đây là một lời xác quyết quan trọng làm nổi bật sự đắn đo suy tính của chúng ta. Lời cam kết đó cho thấy chúng ta dứt khoát đứng về phía Chúa rồi, không còn lựa chọn nào khác nữa.
Bởi vậy chúng ta phải cố gắng trung thành mà theo cho đến cùng. Lời cam kết này luôn nhắc nhở chúng ta về tính nghiêm túc của đời một con người đã lãnh Bí Tích Thánh Tẩy. Bí tích này đặt người tín hữu vào vị trí riêng rất đòi hỏi, khiến người ấy không còn được sống như trước khi thụ tẩy nữa. Cũng vì thế thánh Phao-lô không ngần ngại gọi các tín hữu là các thánh của Thiên Chúa nơi này nơi kia, hiểu theo nghĩa là những người được thánh hiến.
KẾT LUẬN:
Chúa đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ mình vác thánh giá mà theo Người. Tuy đòi hỏi nhưng đó là một đòi hỏi tự do không ép buộc. Ai muốn thì đáp lại, ai không muốn thì tùy ý, nhưng một khi đã muốn thì phải đi cho đến cùng. Chính Bí Tích Thanh Tẩy đã nói lên ý muốn tự do của mỗi người. Lãnh bí tích Thánh Tẩy là chúng ta thành tín hữu. Hễ đã là tín hữu thì nhất thiết phải từ bỏ những gì trái ngược với lời cam kết của mình, đ theo Chúa Ki-tô. Theo Chúa Ki-tô là con đường đảm bảo cho chúng ta được sống muôn đời. Đó mới là mục đích tối hậu của mỗi người chúng ta.
MINH HỌA:
Văn hào Dostoievsky lúc 20 tuổi đã cho ra đời cuốn sách đầu tiên của ông với tựa đ là Dân Nghèo”, sách được rất nhiều người đọc và ca tụng. Vì cuốn sách này ông bị buộc tội là phản động chống Nga hoàng. Ông và một số người khác bị bắt và bị kết án tử hình. Nhưng về sau án được đổi thành tù chung thân và những người thụ án bị đày sang Sibérie. Dostoievsky bị giam tù đây bốn năm và phải ngưng viết lách trong 10 năm kể từ ngày bị đi tù.
Tù đày đã không làm cho ông nhụt chí và tàn phá đời mình, mà trái lại càng làm cho ông thêm mạnh sức và có uy tín lớn. Có người hỏi ông, ông lấy quyền nào mà lên tiếng thay cho nhân dân. Ông xăn tay áo lên giơ hay cổ tay còn in dấu vết xiềng xích mà nói: “Đây là quyền của tôi”. Bạn bè tỏ vẻ thương hại và buồn cho ông, nghe ông nói: Nhà tù đã cứu tôi. Nhờ nhà tù tôi đã thành một con người hoàn toàn mới. Sibérie và nhà tù đã trở thành niềm vui lớn lao cho tôi. đó tôi đã có thể sống một cuộc đời trong sạch và hạnh phúc. Tôi đã tới đó như đã tới một trường học tốt. đó tôi đã thấy tôi rõ hơn và đã học đ hiểu Chúa Ki-tô...”
Phải chăng từ bỏ, tù đày thử thách cũng có thể là những cơ hội làm chúng ta thêm kiên vững đ có sức thắng vượt ?
ÁP DỤNG:
Chúng ta có thể áp dụng tinh thần từ bỏ này mỗi ngày, một cách vui tươi phấn khởi, khi nghĩ và tin rằng từ bỏ làm cho chúng tanên vững mạnh. Giúp chúng ta làm chủ được mình. Làm chủ được mình là đạt được tự do; đó là một sự thiện rất cao quý.
Thí dụ chúng ta có thể từ bỏ mình khi giữ những điều răn của Chúa, khi làm đầy đ các bổn phận trong bậc đời của mình, khi tập cho mình biết giữ lời hứa, không sai hẹn, đúng giờ và làm kỹ những việc mình phải làm.
Chúng ta có thể từ bỏ mình, khi cố tập một thói quen tốt, khi bằng lòng chịu rầy rà mất thời giờ đ giúp đ người khác, bằng ý kiến xây dựng, hay bằng những việc phục vụ nho nhỏ.
Khi làm như vậy, chúng ta sẽ cảm nghiệm được một cách thíchlàm tôi Chúa là cai trị”.
Lm. ĐỖ XUÂN QUẾ, OP

 

TN 23-C37. SỰ KHÔN NGOAN LÀ TỪ CHÌA KHÓA

CHO CẢ BA BÀI ĐỌC
 -  Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê
 

Sự khôn ngoan là từ chìa khóa cho cả ba bài đọc. Khả năng suy nghĩ của con người, tuy nông: TN 23-C37

Sự khôn ngoan là từ chìa khóa cho cả ba bài đọc. Khả năng suy nghĩ của con người, tuy nông cạn và không chắc chắn đến thế, cũng được kể đến nhờ vào sự khôn ngoan của những điều Thiên Chúa dạy cho con người để họ đạt được ơn cứu độ. (Bài 1) Sự khôn ngoan của con người giúp họ tính toán trước, xem thử họ có đủ sức để xây một cái tháp không hoặc có đủ quân lính để chống lại quân địch không. Sự khôn ngoan như thế rất ư là cần thiết, nhưng để trở thành môn đệ của Đức Giêus Kitô, sự khôn ngoan từ Thiên Chúa lại cũng thiết yếu. (Tin Mừng) Thư Thánh Phaolô gởi cho Philêmon, diễn tả sự khôn ngoan của loài nguời và của Thiên Chúa, không phải là học được từ trường dạy đức tin đó sao?

Sứ Điệp Niềm Tin

Tri thức của con nguời, và khôn ngoan của đức tin.

Biểu thức đầu đòi con người phải cố gắng để biết sự thật trong mọi chiều kích và sống nhờ nó. Biểu thức hai đòi có sự can thiệp của Thiên Chúa trong tâm trí chúng ta, làm ta thông phần vào mạc khải của Ngài, và dẫn đưa ý chí ta sống theo điều được mạc khải. Có nhiều khác biệt giữa hai tri thức này, nhưng cũng có nhiều tương đồng và thật nhiều sự hổ trợ cho nhau! Đặc điểm của tri thức là có giới hạn. Nhưng ta không ngừng liên tục đẩy lui cái giới hạn đó xa hơn, và tiến trình cứ tiếp tục mãi. Đó là lý do trên nguyên tắc, người thời nay hiểu biết hơn người thời xưa, và trong tương lai họ sẽ vượt qua những hiểu biết hiện tại. Ta đọc thấy trong sách Khôn Ngoan, “những gì thuộc hạ giới chúng con đã khó hình dung nổi, những điều vừa tầm tay, đã phải nhọc công mới khám phá được, thì những gì thuộc thượng giới, có ai dò thấu nỗi chăng?” Sự khôn ngoan không có giới hạn, trừ phi sự khôn ngoan thủ đắc được do trí khôn nghèo nàn của con người. Điều này giải thích tại sao thời xưa có những người khôn ngoan hơn thời nay, hoặc có những người ít khôn ngoan hơn trong tương lai. Vì là quà tặng của Thiên Chúa, nên sự khôn ngoan không lệ thuộc vào thời gian. “Ý định của Chúa nào ai biết được, nếu tự chốn cao vời, chính Ngài chẳng ban Đức khôn ngoan, chẳng gởi thần khí thánh?” (bài 1) Tri thức là một nổ lực của con người còn khôn ngoan lại là quà tặng của Thiên Chúa. Ở mức độ tri thức, điều ta biết được chỉ là nhỏ bé so với những gì ta chưa biết, nhưng nguợc lại trong đức tin, những gì cần thiết đều được cho biết. Tri thức thường làm cho con người thủ đắc tự phụ, vênh váo, trong khi sự khôn ngoan làm cho những ai lãnh nhận trở nên khiêm tốn và biết ơn. Tri thức sẽ chấm dứt với con người, còn khôn ngoan thì vĩnh cửu, giống như Thiên Chúa, nguồn mạch khôn ngoan. Trong bài Tin Mừng ta gặp thấy một phát biểu hay về sự khôn ngoan của thập giá, và trong bài đọc 2, sự khôn ngoan của tình bác ái của một người nô lệ thực thụ, đã trở thành một người anh em.

Khôn ngoan của đức tin trong hành động.

Theo Đức Kitô không phải là một sự chọn lựa của riêng con người, nhưng là một chọn lựa đáp lại một lời mời gọi của Thiên Chúa. Chính vì thế, người ta không thể theo Đức Kitô chỉ dựa trên lý luận suông của con người. Hơn nữa, theo Đức Kitô đòi phải có sự khôn ngoan của lòng tin. Bài tin Mừng đặt ta giữa một số chọn lựa cần phải được soi sáng nhờ sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Có sự chọn lựa theo Đức Kitô, ngay cả khi phải trả bằng giá của những ràng buộc thân thuộc nhất của gia đình, khi mà những ràng buộc này nghịch lại với lời mời gọi. Có sự chọn lựa chấp nhận thập giá, bước theo Đức Kitô trong cuộc hành trình lên Giêrusalem. Có sự từ bỏ mọi của cải, danh vọng, quyền thế, để sống hoàn toàn theo Đức Kitô. Tất cả những chọn lựa ấy lại không cần sự khôn ngoan sâu thẳm của niềm tin sao? Trong bài đọc 2, trong thư gởi Philêmon, Thánh Phaolô đưa ra một ví dụ lạ lùng về sự khôn ngoan thần linh này. Sự khôn ngoan của Phaolô được thể hiện ở chỗ Ngài rất tế nhị khi đưa ra yêu cầu về Onêsimô (một nô lệ của Philêmon, đã bỏ trốn chủ vì tội trộm cắp, Phaolô đã hoán cải anh và rửa tội cho anh và rồi gởi lại cho Philêmon để được đối xử như một người anh em). Phaolô khuyến khích Philêmon, một tín hữu, trong sự khôn ngoan: Ngài mời gọi Philêmon hãy xem Onêsimô như đứa con của ruột của Ngài; không xem Onêsimô như một nô lệ nữa (cho dù thực tế vẫn là nô lệ) nhưng như một người anh em rất thân mến trong Chúa. Theo sự khôn ngoan, làm thế nào Philêmon lại không thể đón nhận Onêsimô trở về? Tình trạng nô lệ của Onêsimô đã bị hủy bỏ hoàn toàn do tình huynh đệ xuất phát từ lòng tin.

Gợi ý Mục Vụ

1. Sự khôn ngoan trong tầm tay của mọi người.

Một điều chắc chắn là: không phải mọi người đều có thể trở thành khoa học gia, một người hiểu biết sâu rộng. Thế nhưng tất cả chúng ta đều có thể là những người khôn ngoan, và lãnh nhận sự khôn ngoan của niềm tin. Một điều chắc chắn nhưng có vẻ ngược đời là: có những khoa học gia thiếu khôn ngoan và có những người chẳng biết tí gì về khoa học lại có được sự khôn ngoan. Khoa học và khôn ngoan không thiết yếu là đối nghịch nhau; đúng hơn phải nói là cả hai cùng hợp tác và phục vụ lẫn nhau. Ước chi tất cả chúng ta cùng bay vượt qua cuộc đời bằng cả đôi cánh ấy! Nhưng sự thực không luôn như thế, và có nhiều lúc chúng ta cố gắng bay với chỉ một cánh, và có nguy cơ rơi xuống đất. Dù sao đi nữa, ta phải chúc tụng cảm tạ Thiên Chúa vì Ngài đã muốn đặt sự khôn ngoan trong tầm tay của tất cả mọi người. Ngài có đặt sự khôn ngoan trong tầm tay của trẻ con không? Và đối với những người ngu dốt, hoặc người có chỉ số thông minh thấp thì sao? Và ra sao đối với những người khuyết tật? Lịch sử thức tế qua nhiều thế kỷ, nhất là thế kỷ 20, cho thấy rõ ràng rằng các anh chị đó thường được ban cho một khôn ngoan đặc biệt. Trong khi chúng ta xác quyết về sự chiếm hữu được khôn ngoan, ta không thể quên ghi nhận rằng không phải mọi người đều đón nhận nó, yêu mến nó và sống nhờ nó. Tại sao không phải là mọi người đón nhận nó? Đường lối suy nghĩ của con người không thể dò thấu được! Những yếu tố góp phần vào việc này có thể là sự giáo dục, môi trường phát triển và sinh sống, những luật lệ điều phối cuộc sống con người… Tại sao không phải là mọi người đều yêu mến nó? lòng người là vực thẳm khôn dò! Có lẽ do tính vị kỷ, do lòng chai dạ đá. Có lẽ do khôn khan đạo đức hoặc do đam mê quyền lực…Tại sao không phải là mọi người sống nhờ nó? Ở đây tự do con người đang bị đe dọa, và cũng như thế những ảnh hưởng của thế giới tác động lên cuộc sống của con người. Những đam mê của ta hết sức mãnh liệt và thường phóng túng. Và thế nên, ta phải học biết khôn ngoan ngay thời niên thiếu, trong gia đình và trong xứ đạo, để dần dần đâm rễ sâu trong cuộc sống.

2. Tri thức chống lại khôn ngoan?

Trong một nền văn hóa đặt nền trên sự phản bác và chống đối, có lẽ nên sửa đổi vấn nạn này một cách dứt điểm. Tri thức của con người thì đối nghịch lại sự khôn ngoan của Thiên Chúa, và sự khôn ngoan của Thiên chúa thì ngược lại với tri thức con người. Kết quả là, chẳng có cách nào để dung hòa tri thức con người và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Đây là lối suy nghĩ của nhiều người thời nay, và được các báo chí và phương tiện truyền thông xác quyết. Tuy nhiên đó không phải là lập trường của kitô hữu. Giáo lý kitô giáo dạy ta nói “tri thức và khôn ngoan”. Ta không được nhìn cả hai trong tư thế chống đối nhưng trong tư thế hợp tác; Cả hai không phải loại trừ nhau nhưng là bổ túc cho nhau. Lý do, đối với ta, là tín hữu, thật giản đơn: đấng ban cho ta khả năng hiểu biết cũng chính là Đấng trao ban quà tặng sự khôn ngoan. Đối với những người không tin, trong hai trường hợp đều có sự kiếm tìm chân lý, dù bằng những cách thức khác nhau. Tất cả chúng ta đều bị lôi vào cuộc tra cứu này: một ít người bay chỉ với một động cơ (cánh) trong khi số khác bay với cả hai cánh. Đó là lý do tại sao trong cuộc tìm kiếm chân lý, kết quả nhiều khi khác biệt nhau. Ta phải tìm chân lý toàn vẹn, chân lý sẽ quy tụ những nhu cầu của tri thức con người và của khôn ngoan Thiên Chúa. Điều tiên quyết cần cho cả đôi bên là không được có bất cứ thành kiến gì, và phải có một tâm trí và một con tim rộng mở.

Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

 

TN 23-C38. TỪ BỎ NHỮNG GÌ THÂN THIẾT, ĐẶC BIỆT LÀ CỦA CẢI

Lc 14,25-33
 

CGS rao giảng tình yêu chứ không phải hận thù. Ngài không hề nghĩ đến việc phế bỏ giới luật: TN 23-C38

1. CGS rao giảng tình yêu chứ không phải hận thù. Ngài không hề nghĩ đến việc phế bỏ giới luật thứ tư (Lc 18,19-20) về tình yêu và lòng tôn kính phải có đối với cha mẹ. Do đó đừng ai bực mình khó chịu vì câu Ngài nói có vẻ cứng rắn: “ghét cha, ghét mẹ, ghét bản thân mình”, ngôn ngữ Hy bá diễn tả ý niệm thích hơn (preférence) bằng lối văn đối ngẫu: yêu - ghét. Thay vì nói: TC thích Giacop hơn Esau, tiếng Hy bá nói: “Ta thương Giacop và ghét Esau” (Mal 1,2-3). Trong ngôn ngữ Seemit, “ghét” đồng nghĩa với: hững hờ, để vào hàng phụ thuộc (x. Stk 29,30.31.33; Đnl 15,21-22; Qa 14,16; ...). sau khi điều chỉnh thể văn sêmit, ta có thể đọc: “Nếu ai đến với Ta mà yêu cha mẹ, yêu bản thân hơn Ta, thì không thể làm môn đệ Ta”.
2. Các đám đông hâm mộ CGS chắc hẳn xem việc CGS lên Giêrusalem như là một cuộc tiến vào đầy khải hoàn vinh thắng, sau đó là xuất hiện vương quốc trần thế và vinh hiển của Đấng Messia. Họ tự xem mình là môn đệ CGS và đáng được Ngài đưa đến vinh quang. CGS không thể để ảo tưởng đó kéo dài. Ngài lưu ý những kẻ theo Ngài: họ chỉ có thể theo Ngài bằng cách vác thập giá, như chính Ngài sẽ vác sau này. Ai quyết định theo CGS phải sẵn sàng chấp nhận mọi hậu quả của việc đó cũng như mọi thứ đi ngược lại bản tính con người.
3. Hai dụ ngôn tiếp theo thật khó giải thích; không phải tự chúng khó hiểu, thực ra chúng rất đơn sơ, cả hai đều nói lên cùng một ý tưởng: người quyết định làm ăn lớn, thì phải điều nghiên cứu kỹ lưỡng khả năng và phương tiện xem mình đủ sức thực hiện chăng. Nhưng còn cho đó nữa. Cả hai dụ ngôn đều đưa ra một sự lựa chọn: xây hay không xây tháp; gây chiến hay hòa hoãn. Khó khăn là ở chỗ đó, chắc hẳn không phải là dụ ngôn khó hiểu nhưng là khó áp dụng hai dụ ngôn đó vào hoàn cảnh của các môn đệ. Vì theo nghĩa nào mà mỗi người có thể tự do lựa chọn trước lời TC mời gọi theo Ngài ? Vì khó khăn đó, nên các nhà chú giải chia rẽ nhau về lối giải thích toàn bộ giáo huấn của CGS. Người thì cho rằng toàn bộ giáo huấn nhắm đến mọi Kitô hữu nói chung, kẻ khác chủ trương giáo huấn đó chỉ nhắm đến các môn đệ mà thôi, nghĩa là những kẻ chỉ tuyệt đối bám víu vào CGS, nên từ bỏ nhà cửa, nghề nghiệp, gia đình để theo Ngài. Chúng ta cùng xét hai lập trường đó cách chi tiết.
a/ Nhóm thứ nhất (Pirot, Jeremias, Hunter, Harrington... ) nhấn mạnh đến sự kiện cả hai dụ ngôn đều nói đến sự cần thiết phải hoàn toàn dấn thân theo Đức Kitô, chứ không được dấn thân nửa vời. Vì như đã viết trong hai dụ ngôn: “bắt đầu ngồi lại: “để tính toán” - “để tự xét mình”. Do đó hai dụ ngôn xem ra muốn làm nổi bật nhu cầu phải dấn thân theo Đức Kitô, với đầy đủ ý thức về các yêu sách từ bỏ mà việc dấn thân đó đòi hỏi. Trước khi dấn thân mạo hiểm, phải xác tín mình có thể mình đến đích an toàn. Nhưng nhóm tác giả này không tiếp tục phân tích sâu xa hơn. Đặc biệt, hình như họ không thận thấy điểm này: người được Đức Kitô kêu gọi sống tinh thần phúc âm, không còn tự do theo hay không theo Ngài, mà phải tuyệt đối đáp lại lời mời gọi đó, nếu không sẽ không được vào vương quốc. Phúc âm đã nhiều lần nhấn mạnh đến sự cần thiết phải dấn thân theo Đức Kitô, chứ không thể đứng trung lập, làm tôi hai chủ. Với viễn ảnh này, người ta thấy khó lòng chấp nhận lối chú giải thứ nhất - cho đủ mạch văn ("dân chúng đông đảo: của c.25) và kiểu nói chung chung ("ai”, trong c.27 và 33) thoạt nhìn có vẻ nghiêng theo lối chú giải đó.
Tuy nhiên, một vài tác giả thuộc nhóm thứ nhất này, ý thức được khó khăn trên (ví dụ Huby), chấp nhận lối chú giải phổ quát của đoản văn hôm nay, nhưng thay đổi “giọng điệu” hay “cao điểm” của hai hai dụ ngôn. Cha Huby viế: “Nếu muốn theo Chúa Giêsu Kitô, phải muốn những gì tình yêu Ngài đòi hỏi: không thể hiến mình nửa vời, phải tận hiến đến cùng. Có hai hình ảnh soi sáng chân lý đó. Chúng không nhằm giúp ta phỏng đoán sức lực mình trước khi bắt đầu công việc cứu rỗi mình, như thế chúng ta không bị bó buộc phải thi hành công việc đó. Nhưng chúng nhằm tẩy trừ mọi ý tưởng chủ bại, thối lui, một khi đã dấn thân theo CGS nhằm khắc ghi trong tâm trí chúng ta rằng phải từ bỏ liên lỉ. Phải hành động như người địa chủ khôn ngoan dự tính xây tháp. Vì đã cẩn thận tính toán mọi phí tổn, nên ông sẽ hoàn tất tốt dự tính của mình... hoặc hơn thế nữa, phải xử sự như vua kia, trước khi đi giao chiến với quân thù, tính toán khả năng hai đạo quân, để giải quyết vấn đề kịp thời. Nếu biết sức mình yếu ông sẽ không giao chiến. Điều ông muốn không phải là hòa bình cho bằng là tránh mạo hiểm, liều mạng. Trong trường hợp không thể có hòa bình bằn chiến thắng, ông cam lòng chấp nhận thứ hòa bình xây dựng trên hiệp thương... Cũng vậy, hãy hành ộng như những người địa chủ xây tháp hay như ông vua ra trận, vì “niềm ao ước đích thực sẽ tìm mọi cách để thực hiện điều mình ao ước” (Evangile selon saint Luc,41è éd., Beauchesne, 1947,p.291-292).
Lối chú giải đó thật hấp dẫn và khéo léo, nhưng không chắc có thể thỏa mãn mọi người. Vì hình như lối giải thích đó hơi bị gượng ép. Thực vậy, chính bản văn về hai dụ ngôn nhấn mạnh đến việc suy tính trước khi dấn thân, trong lúc Huby nhấn mạnh đến sự cương quyết dấn thân cho đến cùng một khi đã quyết định dấn thân. Tôi thiết nghĩ Huby đã nhấn mạnh sai chỗ, làm hỏng bài học của dụ ngôn. Dù sao, lối chú giải của dụ ngôn là lối chú giải duy nhất trong nhóm thứ nhất trong nhóm thứ nhất có thể làm ta nhận rằng: ở đây CGS ngỏ lời cách tổng quát với bất cứ ai muốn trở thành Kitô hữu.
b/ Nhóm thứ hai chú ý đến những ai đã từ bỏ mọi sự để theo CGS. Các phúc âm đã biết rõ phương thế đặc biệt để trở thành môn đệ CGS, đó chính là phương thế các tông đồ đã làm để theo CGS. CGS không đòi buộc mọi tín hữu phải khước từ hôn nhân, nhưng chỉ đòi “những ai có thể hiểu lời đó” (Mt 19,12). Ngài không đòi tất cả phải hoàn toàn từ bỏ tiền bạc và quyền tư hữu. Ông Giakêu thu thuế đã không từ bỏ của cải, sau khi đã hoán cải (Lc 19,1-10). Các bà xứ Galile đã không từ bỏ mọi thứ họ có (Lc 8,3). Và trong các chương đầu sách Cvsđ, khi mô tả cộng đoàn nguyên thủy, Lc cho thấy họ không sống lối khó nghèo tận căn như lới khó nghèo mà các môn đệ đúng nghĩa đã sống (ví dụ Phêrô với tín đồ Anania: “Khi còn của, thì nó vẫn là của ngươi, mà bán đi, thì về giá cả ngươi vẫn tự quyền” (Cvsđ 5,14).
Vậy khi đề cập đến tính cách sâu xa của việc môn đệ dấn thân, theo đoản văn Lc hôm nay, CGS nói đến cách thức đi theo Ngài: cách thức thật chặt chẽ và hoàn toàn. Và để có thể theo Ngài như thế, lòng hăng say ban đầu không đủ. Vì cách thức đi theo Ngài đây kiên hệ mật thiết với sự từ bỏ tận căn - từ bỏ những cái xem ra rất cần thiết cho đời sống. Do đó phải suy nghĩ chín chắn trước khi theo CGS kiểu đó. CGS cũng đã khuyến cáo như thế nhiều nơi khác trong Phúc âm. Đó cũng chính là cách CGS đã trả lời người kia muốn dấn thân theo Ngài “Bất cứ Ngài đi đâu” (nghĩa là trở thành môn đệ đúng nghĩa) : “Con chồn có hang, chim trời có tổ, còn Con Người không có nơi gối đầu (Lc 9,57-58). CGS xin người tận hiến kiểu đó nên suy nghĩ, vì như thế đòi hỏi nhiều cố gắng và hy sinh - tuy nhiên điều này không có ý nói, khi CGS đích thân kêu gọi ai, thì người đó có thể từ chối. Khi Chúa mời gọi, không ai có quyền từ chối.
Lối chú giải thứ hai ít gặp khó khăn hơn lối chú giải thứ nhất. Nó có lợi điểm này là tránh không làm người ta xem việc lựa chọn để thành Kitô hữu là một lựa chọn tùy ý, tùy sở thích (vì lối chú giải thứ 2 này nói đến việc chọn lựa để thành môn đệ), và có ưu điểm là trùng hợp với học thuyết Lc về việc phân biệt người Kitô hữu nói chung với người môn đệ đúng nghĩa. Tuy nhiên, lối chú giải này vẫn chưa hoàn toàn thỏa đáng. Vì nó giả thiết chữ “môn đệ” chỉ cách nhau vài câu mà lại có 2 nghĩa khác biệt: phần đầu đoản văn (cc.25-27) nói về sự cần thiết phải yêu Đức Kitô hơn hết mọi liên hệ nhân bản, được áp dụng cho Kitô hữu nói chung, trong khi hai dụ ngôn và lời khuyên từ bỏ của cải xem ra chỉ áp dụng cho các môn đệ đúng nghĩa. Lối chuyển nghĩa trong chữ “môn đệ” như thế không mất tự nhiên. Tuy nhiên điều đó không lạ gì và có thể giải thích cách tốt đẹp nếu Lc đã muốn góp nhặt trong một đoản văn các lời nói rời rạc của truyền thống phúc âm về việc “đi theo” CGS.
Để kết thúc, tôi xem lối chú giải thứ hai có vẻ đúng hơn, dù lối chú giải đó có một vài khó khăn chưa được giải quyết (ví dụ được bản văn không có chi phân biệt người Kitô hữu và người môn đệ cả). Nhưng các khó khăn đó có thể xảy ra do sự kiện người cuối cùng soạn thảo phúc âm Lc cảm thấy phải thu góp thành một khối tất cả các lời CGS nói trong nhiều trường hợp khác nhau, với nhiều cử tọa khác biệt.
KẾT LUẬN
Đám đông dân chúng cùng đi với CGS tượng trưng đoàn người đông đảo, qua mọi thế hệ, đã và đang ngưỡng mộ CGS. Tuy nhiên qua sự kiện đó, không phải tất cả đều là môn đệ Ngài. Vì để thành môn đệ phải theo Ngài, nghĩa là trước hết phải yêu Ngài. Và tình yêu này có nhiều yêu sách vượt bực.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Dùng lời nói và phép lạ để làm dân chúng hăng say cách nhất thời là việc tương đối dễ. CGS không thích kiểu thành công ngoại diện đó để có những đoàn người hăng say vây quanh Ngài. Ngài biết rằng số môn đệ đích thực, đủ sức kiên tâm bền chí không nhiều đâu (Gio 2,23-25). Vì thế một lần nữa, Ngài muốn thính giả lưu ý đến sự nghiêm chỉnh Ngài mong chờ nơi những người muốn theo Ngài và giáo lý của Ngài (x. Lc 9,23-26.57-62), Nếu nghĩ đến viễn cảnh bắt bớ sẽ đến sau này, ta mới hiểu việc CGS đòi hỏi cần có nghị lực để đương đầu với các mối bất hòa trong gia đình, sự nguy hiểm đến tính mạng và tịch thu tài sản... Đối với chúng ta theo Đức Kitô có nghĩa là: chọn lựa hy sinh, sẵn sàng chết vì đạo, như cha ông ta đã làm. Và để có sức chịu đựng các yêu sách của Đức Kitô lúc bấy giờ, thì ngay bây giờ chúng ta phải sống các yêu sách đó trong cuộc sống cụ thể, hiện tại của chúng ta.
2. Trong ngôn ngữ thánh kinh, “ghét” có nghĩa là “yêu ít hơn” hay “chỉ yêu vào hàng thứ yếu”. Yêu Đức Kitô hơn các người khác (dù là người thân trong gia đình) sẽ được hiểu dễ dàng khi biết rằng Đức Kitô là TC. Tình yêu đó có vẻ quá đáng đối với những ai không biết phẩm vị đích thực của CGS.
3. Yêu CGS hơn yêu gia đình, tình yêu đó có thể có nhiều hình thức: trong thời bách hại, hãy chấp nhận mình có thể bị tố cáo hay bị người thân theo dõi, bắt bớ (Mt 10,21); thời bình, hãy sống thật đạo đức thánh thiện ngay trong gia đình, dù là gia đình hờ hững hay chống đạo (Mt 10,34-37); từ chối lập gia đình vì muốn dâng cho TC một tình yêu lành thánh trinh khiết (1Cor 7,7). Trong các trường hợp đó, người Kitô hữu trong tình yêu TC đem đến, sẽ nhận được gấp trăm điều họ đã từ bỏ về phương diện tình cảm, nhằm để phục vụ môt lý tưởng cao đẹp hơn (Mt 19,29).
4. Hai dụ ngôn trong phúc âm hôm nay nhắc nhở chúng ta rằng việc dấn thân phục vụ Chúa không phải là một vấn đề thuần túy hình thức, đăng ký vào sổ bộ, mang nhãn hiệu ... Đời sống Kitô hữu là một công việc nghiêm túc mà ta phải để tâm lưu ý và săn sóc như đã từng để ý chăm nom các công việc trong đời tư (xây nhà) hay việc chung (đánh giặc). Khi muốn xây nhà hay tự vệ chống đối phương, ta phải dùng mọi phương thế để thành công, để đạt đến đích. Cũng thế phải nghiêm túc sống đời Kitô hữu và thực hành đến cùng các yêu sách luân lý, vì đời Kitô hữu là đời từ bỏ, nỗ lực phấn đấu và kiên trì. Sống nửa vời không ích gì, nếu cuối cùng ma quỉ đến cám dỗ chúng ta chối bỏ Đức Kitô. Phải tự tổ chức đời mình để phụng sự Chúa. Để được như vậy, cần phải khiêm tốn xin Ngài ban ơn vì “nếu Chúa không xây nhà, thợ nề làm việc cũng uổng công, nếu Chúa không giữ thành, bộ đội giữ thành cũng không xong” (Tv 127,1). Nhưng với sự trợ giúp của Chúa, chúng ta sẽ hoàn tất ngôi nhà lộng lẫy là đời Kitô hữu chúng ta, được xây móng từ ngày chúng ta lãnh bí tích rửa tội, và chúng ta sẽ chiến thắng kẻ thù của tâm hồn chúng ta. Và ngày phán xét, Chúa sẽ công nhận chúng ta là môn đệ của Ngài trước mặt Chúa Cha và toàn thể các thánh.

 

TN 23-C39. CHÚA KITÔ TRÊN HẾT - Gm. Arthur Tonne

CHÚA KITÔ TRÊN HẾT - Gm. Arthur Tonne
 

Có thể chúng ta đã nghe nói về vua Thánh Wenceslaus, bổn mạng của nước Tiệp Khắc, Người: TN 23-C39

Có thể chúng ta đã nghe nói về vua Thánh Wenceslaus, bổn mạng của nước Tiệp Khắc, Người sống hơn một ngàn năm trước đây. Cha Người là Quận Chúa Bohemia, một người tin Chúa, bị tử thương trong trận chiến khi Wenceslaus còn nhỏ. Mẹ Ngài chỉ mang danh Kitô hữu. Bà ngoại Ngài, rất đạo đức, là Ludmilla đã nuôi dưỡng và dẫn dắt Ngài thành môn đệ của Chúa Kitô. Ảnh hưởng của Bà Ngoại làm Mẹ ngài ghen tức. Em ngài là Boleslas âm mưu chiếm ngai vàng. Một đêm kia như thông lệ, Wenceslaus đến cầu nguyện trước nhà tạm. Tại nơi đây, ngay trước bàn thờ, Em Ngài đã giết chết anh mình.
Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng nếu chúng ta không “ghét” cha, mẹ và anh em, chúng ta không thể làm môn đệ của Người. Trong ngôn ngữ Chúa Giêsu dùng, nếu một người muốn nói: “Tôi thích cái này, không phải cái kia” thì thực tế người ấy nói: “Tôi thích cái này, tôi ghét cái kia” chữ “ghét” ở đây chỉ có nghĩa là yêu thích kém hơn một đối tượng khác. Thánh sử Matthêô ghi lại ý muốn của Chúa Giêsu rõ ràng hơn: “Ai yêu cha, yêu mẹ hơn ta thì không xứng với Ta”. Nói cách khác, Chúa Giêsu công bố rằng: ai muốn theo Người thì phải yêu mến Người hơn bất luận ai khác, hơn cả cha mẹ và gia đình. Cảm ơn Chúa, hầu hết cha mẹ không giống mẹ và em của vua thánh Wenceslaus, những cha mẹ của chúng ta khuyến khích chúng ta yêu mến Thiên Chúa hơn hết mọi sự.
Chúng ta có là môn đệ Chúa Giêsu theo nghĩa đó không? Cái gì là trên hết trong  cuộc đời chúng ta? với một số người là tiền bạc, với người say sưa là chai rượu, với người trác táng là tình nhân, với người bỏ lễ Chúa nhật là một vài giờ ngủ nướng, một vài giờ câu cá, hay cắm trại, với người tự phụ là hư danh, là lời tán tụng, xây dựng công bình cho mọi dân tộc và cho các tầng lớp xã hội nhiều người cho là thứ yếu. Đây là điều Chúa Giêsu muốn nói: gương sáng của Người, giới luật của Người phải trên hết.
Thánh Wenceslaus đặc biệt yêu mến Chúa Kitô Thánh Thể. Ngài xây dựng và sửa chữa các nhà thờ. Ngài viếng Chúa mỗi ngày nhiều lần. Ngài tự tay trồng lúa miến và nho để làm bánh Lễ và rượu Lễ. Ngài không chỉ đến với Chúa Kitô để cầu nguyện mà Ngài còn đến với những người nghèo khó để giúp đỡ nhân danh Chúa Kitô. Đó là điều Chúa Kitô đòi hỏi chúng ta trong bài Tin mừng hôm nay: yêu mến Chúa Kitô, chọn Chúa Kitô, theo Chúa Kitô, tưởng nhớ Chúa Kitô… trước hết mọi sự giây phút nữa chúng ta sẽ cúi đầu nghiêng mình thờ lạy Chúa chúng ta khi chúng ta dâng Người lên Cha trên trời. Hãy thề hứa đặt Người trên hết mọi sự vật, sự có mặt của bạn trong thánh lễ này đã là một bằng chứng Bạn tôn Chúa Kitô trên hết mọi sự khác. Hãy xin Thánh Wenceslaus và Thánh bổn mạng của bạn giúp bạn tôn Chúa Giêsu trên hết mọi ngày, mọi lúc. Làm thế, bạn đang đi trên con đường làm môn đệ thật của Chúa Giêsu.
Xin Chúa chúc lành bạn. Amen.

 

TN 23-C40. ĐI THEO ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ

Chúa Giê-su nói: ”Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”: TN 23-C40

Chúa Giê-su nói: ”Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” ( Mt 16, 24 ). Của cải, danh vọng, vật chất là những điều hấp dẫn đối với con người. Chúng có sức lôi cuốn, mê hoặc con người. Ít có người nào trên thế giới này lại thích từ bỏ của cải, để sống khó nghèo mà chấp nhận cuộc đời thua thiệt đối với người khác.
Tuy nhiên, Chúa Giê-su lại vạch ra những đường hướng xem ra trái ngược với sức hấp dẫn của con người, của trần gian. Chúa đòi hỏi các Môn Đệ, những người theo Ngài phải có thái độ dứt khoát đối với những gì là thân thương nhất, là thân mật và gần gũi nhất như cha mẹ, vợ con, anh chị em, nếu cần ngay cả mạng sống của mình mới xứng đáng làm Môn Đệ của Ngài được. Chúa kêu mời các kẻ theo Ngài phải sáng suốt chọn lựa, đắn đo, cân nhắc và xác định cho mình những ưu tiên để quyết định, dứt khóat theo Ngài mà không chùn bước, không lùi bước.

NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐI THEO CHÚA GIÊ-SU:
Chúa Giê-su đòi các Môn Đệ: từ bỏ, vác thập giá, và đi theo Ngài. Khi đưa ra những điều kiện ấy, Chúa còn nói thêm: ”...Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” ( Mt 16, 25 ). Đi theo Đức Ki-tô đồng nghĩa với chấp nhận đau khổ và cái chết của Ngài. Do đó, tất cả những ai muốn đi theo Chúa Giê-su đều phải chấp nhận thập giá. Đường thập giá là con đường duy nhất để đưa con người đi vào Nước Thiên Chúa.
Phụng Vụ Chúa Nhật hôm nay và đặc biệt đoạn Tin Mừng của Thánh Lu-ca 14, 25 – 33 chỉ cho nhân loại thấy rõ định mệnh của Chúa Giê-su. Bởi vì, cùng đi về Giê-ru-sa-lem với Chúa Giê-su, có các Môn Đệ và rất đông người. Tuy đi cùng một hướng tiến về Giê-ru-sa-lem, nhưng không phải tất cả cùng hiểu, cùng đồng lòng, cùng chấp nhận, cùng có một tâm trạng với Chúa Giê-su. Chúa Giê-su đi về Giê-ru-sa-lem để hoàn thành sứ mạng cha Ngài trao phó cho Ngài qua cái chết nhuốc hổ trên thập giá. Còn đám đông dân chúng vẫn hồ hởi, phấn khởi vì họ cứ tưởng rằng Chúa Giê-su đi về Giê-ru-sa-lem là để đánh đuổi quân thù, quân xâm lược và khôi phục lại vương quốc Ít-ra-en.
Đây là sự suy nghĩ hoàn toàn trái ngược với ý của Chúa Giê-su. Dân chúng có ý đồ thật đen tối, họ chờ chực, mong tới ngày Chúa Giê-su lập lại nước Ít-ra-en, Chúa lên ngôi vua và họ tha hồ chia chác đặc quyền đặc lợi. Để đánh tan sự hiểu lầm này và xua ra khỏi đầu óc dân chúng mộng xưng hùng xưng bá, Chúa Giê-su mời gọi dân chúng suy nghĩ, đắn đo, xem họ có đủ sức, đủ nghị lực, đủ bản lãnh để theo Ngài chăng ? ”Ai theo tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình thì không thể làm Môn Đệ tôi được” ( Lc 14, 26 ).
Việc theo Chúa đòi hỏi con người phải hy sinh, từ bỏ, phấn đấu và quyết tâm, theo Chúa là một việc khó khăn như khi xây cất, đánh giặc, con người phải tính toán, đắn đo, cân nhắc tỉ mỉ , đành chấp nhận tiêu hao sinh lực để đi theo Ngài. Theo Chúa không thể tính toán kiểu người đời mà là xây dựng nước Thiên Chúa: tiêu diệt tội lỗi, đấu tranh loại trừ sự dữ, ngay khi phải hy sinh mạng sống để đạt được Nước Thiên Chúa. Vác thập giá, từ bỏ của cải vật chất như Chúa đã đề nghị với chàng thanh niên giàu có, phân phát cho những người nghèo, rồi bước theo Đức Giê-su Ki-tô, đồng thời chấp nhận mình hoàn toàn tay trắng, trống rỗng để dành cho Chúa ngự trị và mở rộng lòng để đón nhận ơn Chúa. Đó là những điều kiện cốt thiết để đạt được Đức Ki-tô và ở lại với Ngài.

NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHÚA ĐƯA RA CHO CÁC MÔN ĐỆ LUÔN LUÔN CÓ GIÁ TRỊ:
Thánh Phao-lô, vị Tông Đồ Dân Ngoại, đã nói: “Những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có” ( 1 Cr 2, 27 – 28 ) hoặc “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người” ( Pl 3, 8 – 9 ). Con người hoàn toàn tự do theo Chúa hoặc khước từ Ngài.
Bài đọc 1 cho thấy sự khôn ngoan Chúa trao ban, con người phải được Chúa soi sáng mới hiểu được, biết được những điều gì làm đẹp lòng Chúa, con người phải cần cù, cật lực, phấn đấu, cầu nguyện mới khám phá và cảm nghiệm được cái gì thuộc về Chúa, cái gì thuộc về thế gian.
Bài đọc 2, Thánh Phao-lô gửi cho ông Phi-lê-mon cho thấy thế nào là sự lựa chọn, thế nào là từ bỏ vì đối với Thánh Phao-lô con người hiện tại quan trọng hơn con người quá khứ tội lỗi, vì hiện tại quyết định cho tương lai: ”Tôi chỉ chú ý tới một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước” ( Pl 3, 13 ). Chúa nói với các Môn Đệ: ”Hãy theo Ta“. Theo Chúa Giê-su, Môn Đệ của Ngài không được miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện, hoàn toàn tự do vác thập giá mà theo Chúa. Chúa Giê-su đã nói cách rất cương quyết: ”...Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm Môn Đệ tôi được” ( Lc 14, 33 ). Theo Chúa luôn trái với những người sống nghịch với thập giá Đức Ki-tô... Họ là những người “chỉ nghĩ đến những sự thế gian” ( Pl 4, 18 – 19 ). Môn Đệ của Chúa luôn hướng về quê hương trên Trời, và “nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ Trời đến cứu...” ( Pl 4, 20 ).
Làm Môn Đệ Chúa là chấp nhận yêu thương và coi người khác như anh em ruột thịt trong tình yêu của Chúa Giê-su: ”Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu các con”. Từ bỏ những dính bén, từ bỏ thờ cái bụng ( Pl 4, 19 ), để chỉ nghĩ đến những sự trên Trời, vác thập giá và dứt khoát đi theo Đức Ki-tô Giê-su trong thái độ tự nguyện, tinh thần thanh thản và thoải mái. Đó là những điều kiện luôn luôn có giá trị muôn thời để làm Môn Đệ của Chúa.
Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con luôn biết dứt bỏ tất cả những gì cản bước chúng con đến với Chúa.
Lm. NGUYỄN HƯNG LỢI, DCCT

CÂU TRUYỆN: CHIẾC ÁO RÁCH
Một linh sư An Độ giáo theo trường phái khổ tu nhiệm nhặt, rất hài lòng về sự tiến bộ của đệ tử. Nhận thấy anh ta không còn cần đến sự dìu dắt của mình nữa, ngài lặng lẽ bỏ đi, để lại cho anh một túp lều tranh xiêu vẹo và một chiếc áo rách. Từ đó, sáng nào anh ta cũng xuống sông Hằng ( Gange ) để thanh tẩy theo đúng nghi thức, đồng thời để giặt chiếc áo rách là tài sản duy nhất của anh...
Một hôm, anh thấy chiếc áo rách phơi ở bờ sông đã bị chuột cắn nát bươm, không thể nào còn dùng được nữa. Anh đành vào làng xin một chiếc áo cũ khác. Thế nhưng hôm sau, chiếc áo lại bị chuột cắn tan tành. Anh nẩy ra ý phải nuôi một con mèo để nó tìm diệt con chuột... Không ngờ từ khi có thêm con mèo, anh phải chia bớt khẩu phần ăn vốn đã quá ít của anh, và anh đã phải đi xin người ta thêm cơm và bánh, những thứ ăn tương đối ngon, hợp khẩu vị con mèo... Thế rồi cứ phải cực nhọc đi xin ăn, một hôm anh nẩy ra ý xin ăn một con bê con để nuôi cho lớn thành con bò, lấy đó làm vốn sinh nhai. Nhưng đã nuôi bò thì lại phải lo đi cắt cỏ, kín nước cho bò, đâm ra anh chẳng còn giờ để cầu nguyện nữa. Anh lại nẩy ra ý phải thuê một chú bé đảm trách riêng công việc này. Chẳng bao lâu, số bò và số người cắt cỏ thuê cho anh tăng nhanh, anh trở nên một ông chủ một nông trại giàu có. Anh bỗng cảm thấy đời mình cô đơn, cần có thêm người thân tín để có thể chia sẻ và cai quản cái sản nghiệp đồ sộ này, anh quyết định phải cưới vợ, sinh con đẻ cái...
Hơn 10 năm sau, vị linh sư có dịp trở lại thăm anh, ngài không còn nhận ra túp lều nghèo nàn xa xưa nữa, vì giờ đây, thay vào đó là cả một dinh thự nguy nga. Ngài tìm người đệ tử cũ và hỏi: “Thế này là thế nào hả con ?” Anh thú nhận: “Thưa thầy, tất cả cơ nghiệp này con đã có, chỉ vì con đã không làm cách nào giữ được... chiếc áo rách !”
Theo LỜI HẰNG SỐNG 1.1996

 

TN 23-C41. Tại sao phải yêu mến Chúa trên hết?

VietCatholic News (02/09/2004 )

Suy Niệm Chúa Nhật 23C:

 

Thế Vận Hội mùa hè năm 2004 đã hết thúc tốt đẹp tại Athens,thủ đô Hy lạp. Ai có dịp theo dõi những: TN 23-C41

Thế Vận Hội mùa hè năm 2004 đã hết thúc tốt đẹp tại Athens,thủ đô Hy lạp. Ai có dịp theo dõi những cuộc tranh tài thể thao suốt 2 tuần vừa qua trên truyền hình, chắc phải thán phục đến kinh ngạc tài biểu diễn của các vận động viên tham dự. Hàng trăm triệu khán giả khắp nơi trên thế giới đã say mê theo dõi các cuộc đua bơi lội, chèo thuyền, thể dục thẩm mỹ, chạy bộ, nhào lộn trên dây, cử tạ v,.v của các lực sĩ đến từ mọi châu lục, đại diện cho trên 200 quốc gia lớn nhỏ.Mọi người đều rất tán thưởng tài biểu diễn của các vận động viên. Mức nghệ thuật biểu diễn rất tài tình của họ không những nói lên trình độ kỹ thuật cao của các quốc gia họ đại diện mà còn nói lên nỗ lực tập luyện phi thường của riêng họ nữa.Nếu họ đẵ không bỏ ra bao nhiêu công sức và thời gian để tập luyện,và khép mình vào những kỷ luật khắt khe về kỹ thuật chuyên môn thì chắc chắn họ đã không thể đạt được thành tích làm vinh dự cho quốc gia và cho riêng cá nhân họ. Như thế hiển nhiên cho ta thấy: muốn thành công trong lãnh vực thể thao ở cấp thế vận hội( Olympics record) thể tháo gia phải trả một giá rất cao để đạt thành tích mong muốn.Không thể tập tành sơ sơ, hay không tập luyện gì mà đòi đi tranh tài được.

Muốn đoạt huy chương vàng, huy chương bạc, họ phải trả giá tập luyện tương xứng. Đấy là vinh dự trần thế chóng qua mà còn phải trả giá đắt như vậy. Còn vinh dự đời đời thì sao ? Muốn đoạt huy chương vàng, huy chương bạc trong cuộc chạy đua vào Nước Trời thì vận động viên phải trả giá nào ? Tất cả chúng ta, những người tin Chúa Kitô và muốn hưởng vinh quang, hạnh phúc nước Trời, cũng được ví như những vận động viên đang chạy đua trên thao trường thiêng liêng để hy vọng đoạt giải thắng cuối cùng. Cuộc đua này còn cam go, khó khăn gấp bội so với những cuộc đua thế vận hội.tổ chức 4 năm một lần. Cam go và khó khăn hơn vì nó đòi hỏi nhiều hy sinh và quyết tâm hơn mọi cuộc tranh đua trên trần thế này.

Thật vậy, trong Phúc âm Chúa nhật tuần này, Chúa Giêsu nói: “Ai muốn theo ta mà không từ bỏ (ghét) cha mẹ, vợ con,anh em.chi em và cả mạng sống mình thì không thể làm môn đệ của ta được…”(Lk 14:26).

Câu nói trên, thoạt nghe, có vẻ chối tai vì làm sao Chúa lại đòi ta phải từ bỏ (có bản còn dịch là ‘ghét”) cha mẹ, những người thân nhất trong gia đình và chính mạng sống của mình để được đi theo Chúa, làm môn đệ của Người.,tức là được huy chương Vàng trong cuộc chạy đua vào Nước Thiên Chúa.. Lời đòi hỏi này của Chúa Giêsu có mâu thuẫn gì với giới răn thứ 4 dạy con cái phải yêu mến, thảo kính cha mẹ mình hay không ? Chắc chắn là không, vì ta không nên suy diễn lời Chúa theo cảm nghĩ của loài người. Chúa là tình yêu. Người dạy ta hai giới răn quan trong nhất là “ Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, sức lực và yêu mến tha nhân như yêu chính mình”( Mk 13:29-31; Mt 23:34-40; Lk 10: 25-28).Như thế không có vấn đề Chúa muốn ta phải “ghét”ai để yêu Chúa mà đúng ra Người chỉ mong muốn ta phải yêu mến Người hơn cả yêu mến cha mẹ, vợ, chồng,con cái, anh chị em và ngay cả mạng sống của mình nữa.

Tại sao vậy ? bởi vì càng yêu Chúa nhiều thì càng có lợi cho ta chứ không có lợi gì cho Chúa.hết. Lý do là vì Chúa đã đủ hạnh phúc với chính Ngài rồi,và Chúa không cần chúng ta phải làm gì cho Người được hạnh phúc thêm hay được vinh quang hơn nữa.

Nhưng sở dĩ Chúa mong muốn chúng ta yêu mến Người “ hơn cả yêu mến cha mẹ, vợ, chồng, con cái , anh chị em ruột thịt” vì trước hết qua các đối tượng yêu thương này, chúng ta có kinh nghiệm cụ thể thế nào là yêu thương sâu đậm để từ kinh nghiệm này chúng ta có tiêu chuẩn để so sánh với mức độ yêu cao hơn nữa mà Chúa muốn chúng ta dành cho Người. Nhưng Chúa có ‘ích kỷ” khi đòi chúng ta phải yêu Chúa ở mức trỗi vượt đó không? Chắc hẳn cũng không vì Chúa không bao giờ ích kỷ, so đo, tính toán hơn thiệt khi dựng lên con người và nhất là cứu chuộc con người. Chúa là tột đỉnh của vui mừng, hạnh phúc và vinh quang rồi nên yêu Chúa ở mức cao độ có nghĩa là tháp nhập sâu hơn nữa vào bản chất tốt lành đó của Người.để ta được thêm vinh phúc. Có thể tạm ví thế này : ta càng gần ánh sáng bao nhiêu thì càng nhìn rõ sự vật bấy nhiêu, càng gần lò sưởi bao nhiêu thì càng bớt giá lạnh xâm chiếm cơ thể trong đêm đông lạnh buốt.

Vậy ta phải làm gì để chứng tỏ muốn yêu Chúa hơn mọi tạo vật khác kể cả chính mình?

Chúa Giêsu đã chỉ rõ cho ta cách thức phải làm trong bài Phúc Âm hôm nay. .Đó là : “,hãy từ bỏ chính mình, và vác thập giá theo Chúa mỗi ngày”để xứng đáng làm môn đệ của Người. Làm môn đệ của Chúa có nghĩa là cùng đồng hành với Chúa trên con đường khổ giá để đi vào hạnh phúc và vinh quang đời dời.Thử nghĩ xem: được sống đời đời thì có giátrị và vinh dự gấp trăm, gấp triệu lần hơn vinh dự đoạt được huy chương vàng,huy chương bac ở thế vận hội không?

Chúa Giêsu yêu thương chúng ta đến nỗi đã dám chết cho chúng ta trên thập giá năm xưa. Vậy ta có dám yêu mến Chúa hơn bất cứ ai trên đời này, yêu Người trên hết mọi sự không? Yêu Chúa để đừng chậy theo những lôi cuốn của “văn hóa sự chết” của chủ nghĩa tôn thờ vật chất, của những lối sống vô luân, vô đạo đang bành trướng khắp nơi, đặc biệt trong môi trường xã hội chúng ta đang sống hiện nay không ?

Đó là câu hỏi đặt ra cho mỗi người chúng ta suy nghĩ và tự trả lời hôm nay.
LM F.X Ngô Tôn Huấn


 

TN 23-C42. Muốn làm môn đệ Chúa Giêsu

CHỦ NHẬT 23 THƯỜNG NIÊN

Tin mừng : Lc 14, 25-33.

Anh chị em thân mến,

 

Muốn làm môn đệ của Chúa Giêsu thì phải từ bỏ mọi sự, đó là một lựa chọn dứt khoát mà Chúa: TN 23-C42

Muốn làm môn đệ của Chúa Giêsu thì phải từ bỏ mọi sự, đó là một lựa chọn dứt khoát mà Chúa Giêsu đã không ngần ngại tuyên bố với những người muốn theo Ngài. “Từ bỏ những gì mình có” -theo quan niệm của giáo dân- thì chỉ có những người dâng mình làm tôi tớ Thiên Chúa mới từ bỏ mà thôi, còn giáo dân thì từ bỏ cũng tốt mà không từ bỏ thì cũng chẳng sao.

Người phải từ bỏ những gì mình có trước hết chính là những môn đệ của Chúa Giêsu, tức là những người đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, không phân biệt ai là người đi tu hoặc không đi tu, bởi vì Chúa Giêsu đã nói câu này trong bối cảnh có rất đông người cùng đi đường với Ngài (Lc 14, 25) và “trong anh em bất luận là ai không từ bỏ hết những gì mình có…” (Lc 14, 33)- chắc chắn trong số những người ấy vừa có các tông đồ vừa có những người hâm mộ lời Chúa Giêsu giảng dạy, cho nên không thể tách biệt người phải từ bỏ và người không từ bỏ ra hai bên.

Từ bỏ mọi sự những gì mình có :

Giáo dân hay linh mục, tu sĩ nam nữ đều có bổn phận từ bỏ mọi sự để vác thập giá đi theo Chúa Giêsu, đó không còn là lời khuyên nữa nhưng là mệnh lệnh.

Từ bỏ và vác thập giá phải đi đôi với nhau, bởi vì khi từ bỏ là chúng ta phải hy sinh : từ bỏ ăn sung mặc sướng tức là hy sinh không hưởng thụ, từ bỏ của cải thế gian tức là hy sinh không bon chen kiếm tiền kiểu đầu tắt mặt tối mà quên mất nghĩa vụ và bổn phận của người Kitô hữu, từ bỏ thú vui do danh vọng đưa đến tức là hy sinh sống như không có quyền lực danh vọng.

Tử bỏ những gì ?

Tuy không giàu có như những đại gia nhưng các linh mục đa phần là có tiền bạc, rất ít các linh mục nghèo khó và sống nghèo, cho nên cái mà linh mục là những người dâng mình làm tôi Thiên Chúa phải từ bỏ trước tiên chính là tiền bạc, để các ngài được thong dong rao giảng sự nghèo khó mà không bị chống đối, dĩ nhiên đó là cách giảng Lời Chúa hay nhất cho giáo dân.

Cái mà các tu sĩ nam nữ phải từ bỏ chính là cái tôi kiêu ngạo của mình, bởi vì có một số các tu sĩ nam nữ -đôi lúc- coi giáo dân như là “công dân hạng thứ trong trong Giáo Hội”, nên có những thái độ và lời nói không mấy khiêm tốn với họ và như thế việc truyền giáo sẽ không được thuận buồm xuôi gió…

Từ bỏ tức là vác thập giá, nếu các mục tử của chúng ta biết vui với người vui và khóc với người khóc thì đích thị mỗi vị mục tử là chứng nhân sáng chói nhất của Tin Mừng.

Anh chị em thân mến,

Còn chúng ta -những giáo dân- thì từ bỏ những gì ?

Bởi vì giáo dân cũng là môn đệ của Chúa Giêsu cho nên chúng ta cũng phải từ bỏ những gì mà Chúa Giêsu muốn chúng ta từ bỏ :

Từ bỏ cái tôi kiêu ngạo để khiêm tốn chấp nhận thói quen xấc láo của anh em thì cũng là vác thập giá mình; từ bỏ thói quen phê bình người khác để nói lời thông cảm là hy sinh để được người anh em; từ bỏ thói quen giận dữ với người khác để hiền lành vác thập giá theo Chúa Giêsu…

Đem cái áo mới mua, đem một số tiền bạc cho người khác thì dễ, nhưng đem cái mình quý nhất cho người khác thì rất khó, cái mình quý nhất là mạng sống, là cái tôi muốn hưởng thụ trong một xã hội dư thừa vật chất…

Từ bỏ mình là đồng thời cũng vác thập giá mình mà theo Chúa Giêsu, nếu từ bỏ mà không muốn vác thập giá thì chưa trọn vẹn trở nên môn đệ của Ngà, cũng như chưa thật sự là anh em bạn hữu của mọi người…

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Bài giảng chủ nhật 23 thường niên tại nhà thờ Phục Sinh--Taiwan.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.


 

TN 23-C43. Chọn lựa

VietCatholic News (03/09/2004 )

CHÚA NHẬT 23 THƯỜNG NIÊN - NĂM C: Chọn lựa

(Bài đọc 1: Kng 9, 13-19, Bài đọc 2: Phil 9b-10. 12-17, Tin mừng: Lc 14, 25-33)

 

Sau khi đã nêu ra một số những đòi hỏi của người môn đệ, đó là phải đi vào cửa hẹp (CN 21), và sống: TN 23-C43

Sau khi đã nêu ra một số những đòi hỏi của người môn đệ, đó là phải đi vào cửa hẹp (CN 21), và sống khiêm tốn (CN 22), hôm nay, Đức Giêsu mời gọi chúng ta làm một cuộc chọn lựa dứt khoát để thực sự xứng đáng là môn đệ của Ngài.

1. Sống là chọn lựa:

Thực ra, không phải chỉ khi làm môn đệ, chúng ta mới phải chọn lựa, nhưng trong suốt cuộc sống của mình, chúng ta luôn luôn phải chọn lựa. Có thể có những chọn lựa thật đơn giản như việc lựa chọn khi mua sắm, hay chọn lựa các môn giải trí. Tuy nhiên, cũng có những chọn lựa quan trọng hơn, như việc chọn lựa nơi ăn, chốn ở, chọn lựa công việc làm ăn, chọn lựa cho mình một người bạn đời… Nhưng cho dù đơn giản, hay phức tạp, thì tất cả các chọn lựa này đều đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta một sự từ bỏ nhất định nào đó.

Tương tự như thế, ngay lúc này đây, Đức Giêsu cũng đang mời gọi chúng ta làm một cuộc chọn lựa dứt khoát. Chúng ta không thể “bắt cá hai tay”, “vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” (Lc 16, 13b). Tuy nhiên, việc chọn lựa này không giống như các cuộc chọn lựa khác, bởi lẽ một khi chấp nhận làm môn đệ của Đức Giêsu, chúng ta không còn được phép sống cho riêng mình, hay sống theo ý muốn của mình, hay nói theo cách nói của thánh Phaolô, một khi đã chọn bước đi theo Đức Kitô: từ đây chúng ta sống, nhưng không phải chúng ta sống mà là Đức Kitô sống trong chúng ta (x. Gl 2, 20).

2. Một chọn lựa làm thay đổi cuộc sống:

Cũng giống như bất cứ chọn lựa quan trọng nào khác, chọn lựa làm môn đệ Đức Giêsu sẽ làm thay đổi cả cuộc đời của chúng ta. Chọn lựa này đòi chúng ta dấn bước vào con đường hẹp, con đường của sự khiêm tốn, từ bỏ và hy sinh. Con đường theo Chúa không phải là con đường dễ dãi, nhưng là con đường dành cho những người thật can đảm. Nó đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta một sự cố gắng liên lỷ trong từng phút giây của cuộc sống. Chính vì thế, trong cuộc hành trình về Giêrusalem lần này, khi thấy có một đám đông đi theo mình, Đức Giêsu đã cảnh báo họ: “Nếu ai đến với Ta, mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình thì không thể làm môn đệ Ta. Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta”.

Khi mời gọi chúng ta “bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em”, Đức Giêsu không muốn phủ nhận mối dây liên hệ thiêng liêng trong gia đình, bởi lẽ, khi nhập thể, Đức Giêsu cũng đã chọn sinh ra trong một gia đình, và Ngài không hề quên bổn phận hiếu thảo của người con đối với cha mẹ. Ngay trên thập giá, khi phải đối diện với cái chết đau đớn cận kề, Đức Giêsu vẫn nhớ đến người mẹ đã sinh ra mình và Ngài đã giao phó mẹ mình cho Gioan chăm sóc (x. Ga 19, 25-27). Thực ra khi nói như thế, Đức Giêsu muốn nhấn mạnh đến sự dứt khoát của chúng ta khi muốn làm môn đệ của Ngài.

Như thế, giữa việc “theo” và trở thành “môn đệ” còn có một khoảng cách. Ngày hôm nay cũng đang có rất nhiều người đi theo Đức Giêsu, nhưng số người dám can đảm làm môn đệ của Ngài lại rất ít, bởi lẽ làm môn đệ thì phải giống Thầy, phải dám “vác thập giá mình mà theo Thầy”. Đi theo làm môn đệ Đức Giêsu không những đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ đi lối sống cũ cùng với những tội lỗi, bất công, nhưng còn đòi từng người chúng ta dám bỏ đi những quyền lợi xem ra là chính đáng của mình.

Chúng ta có thể nhận ra điều này qua bài đọc hai được trích từ lá thư của thánh Phaolô gởi cho người môn đệ Philêmon. Trong thư, thánh nhân gởi Ônêsimô lại cho Philêmon. Ônêsimô trước đây là người nô lệ của Philêmon, nhưng đã bỏ trốn và đã được thánh Phaolô rửa tội. Giờ đây, khi trao lại Ônêsimô cho Philêmon, thánh nhân muốn Philêmon từ bỏ quyền làm chủ chính đáng của mình để nhận Ôsênimô như là một người anh em trong Đức Kitô.

Sự từ bỏ này trước mắt người đời có thể là một sự khờ dại, nhất là khi nó đụng chạm đến những dục vọng và cả những quyền lợi xem ra chính đáng của chúng ta, nhưng đó lại là sự khôn ngoan trước mặt Thiên Chúa. Một sự khôn ngoan có thể nói là vượt trên mọi trí hiểu giới hạn của con người. đó cũng chính là kinh nghiệm của vua Salomon. Ông là một vị vua nổi tiếng là khôn ngoan nhất trong Cựu Ước, và danh tiếng của ông cũng không dừng lại nơi đất nước Do Thái, nhưng đã được lan xa, đến nỗi Nữ Hoàng Saba từ phương Nam xa xôi cũng đã đến để học hỏi sự khôn ngoan của ông (x. 1 V 10, 1-10). Thế nhưng, ông cũng đã phải thú nhận “Ai trong loài người có thể biết được ý định của Thiên Chúa? hay ai có thể suy tưởng được sự Thiên Chúa muốn? Vì những ý tưởng của loài hay chết thì mập mờ, và những dự định của chúng tôi đều không chắc chắn… Ai hiểu thấu Thánh Ý của Chúa, nếu Chúa không ban sự khôn ngoan, và không sai Thánh Thần Chúa từ trời cao xuống?”.

Vâng, chọn lựa làm môn đệ của Đức Kitô quả thật là dại khờ trước mặt thế gian. Do đó, để có thể can đảm quyết tâm làm môn đệ của Ngài, chúng ta cần nhờ đến chính sức mạnh và sự khôn ngoan của Chúa soi dẫn. Chính thánh Phaolô sau cả một đời với biết bao là vinh quang lẫn với nước mắt đã tuyên bố: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi, vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như đồ bỏ, để được Đức Kitô” (Pl 3, 8).

3. Chúng ta hôm nay:

Lắng nghe lời Chúa hôm nay là một cơ hội để mỗi người chúng ta tự hỏi lại mình: Đâu là cùng đích trong cuộc sống của mỗi người chúng ta: Phải chăng đó là: Tiền bạc, danh vọng, quyền thế, sự nghiệp… hay điều gì giống như vậy?

Nếu chúng ta chỉ dừng lại ở những thành công ở đời này, thì nói như tác giả sách Khôn ngoan trong bài đọc một, quả thật chúng ta chưa thật sự khôn ngoan. Chúng ta đang để cho “nhà bụi đất làm cho lý trí hay lo lắng nhiều điều ra nặng nề”.

Còn nếu chúng ta nói rằng mình đã chọn lựa làm môn đệ Đức Giêsu, thì đây cũng là cơ hội để chúng ta tự xét lại mình, xem thử chúng ta đã sống xứng đáng với chọn lựa này của mình chưa? Trong đời sống thường ngày, chúng ta đã làm gì để chứng tỏ mình là người môn đệ của Đức Giêsu? Nếu chúng ta còn ngại ngần khi phải tham dự Thánh Lễ, còn tính toán khi tìm hiểu giáo lý và Lời của Chúa, còn ngại ngần khi chia sẻ, chưa dám từ bỏ một ý riêng, thì thử hỏi, chúng ta có thực sự là môn đệ của Đức Kitô không?

Chớ gì nhờ sức mạnh của Thánh Thần Chúa, mỗi người chúng ta can đảm đi theo bước chân của các tông đồ và cha ông chúng ta khi xưa, biết chọn lựa Đức Giêsu làm lẽ sống cuối cùng cho cuộc đời mình. Và nếu chúng ta chọn lựa làm môn đệ của Đức Giêsu, chúng ta hãy sống thế nào, để cho dù miệng chúng ta không tuyên xưng, nhưng nhìn vào đời sống của chúng ta, mọi người vẫn có thể nhận ra chúng ta đích thực là môn đệ của Ngài. Amen.

Chuyện minh hoạ:

Người ta kể rằng: có một con lừa kia đang rất đói và khát. Thấy thế người ta liền để trước mặt nó một bó cỏ và một thùng nước. Vừa thấy thức ăn và nước uống, con lừa mừng lắm. Nó liền đi đến chổ để bó cỏ định ăn cho đầy bụng, nhưng đang khi đi, nó chợt nghĩ, có lẽ cần uống nước trước cho thoả cơn khát trước đã. Thế là nó bỏ bó cỏ và quay lại phía thùng nước. Nhưng thật đáng tiếc, chưa đi đến thùng nước, nó lại nghĩ, chắc là mình cần ăn trước rồi mới uống. Vậy là nó lại quay trở về phía bó cỏ. Và cứ thế, nó cứ đi qua, đi lại giữa bó cỏ và thùng nước và cuối cùng, người ta gặp thấy nó nằm chết giữa bó cỏ non và thùng nước mát.

LM Trần Thanh Sơn

 

TN 23-C44. Cùng với Chúa Giêsu tiến lên Giêrusalem

Lc 14,25-33
A. Hạt giống...
 

Khung cảnh : Khi ấy “Có rất nhiều người đi đường với Chúa Giêsu” : họ đang cùng với Chúa: TN 23-C44

1. Khung cảnh : Khi ấy “Có rất nhiều người đi đường với Chúa Giêsu” : họ đang cùng với Chúa Giêsu “tiến lên Giêrusalem”. Nhưng có lẽ họ cho rằng đây là một sự tiến lên để giành chiến thắng theo kiểu trần gian. Để xóa tan hiểu lầm này, Chúa Giêsu nói những lời tiếp theo.
2. Đại ý Chúa Giêsu nói : Ai muốn làm môn đệ Chúa Giêsu ("đi theo” Ngài) thì phải yêu mến Ngài hơn (diễn tả theo kiểu đặc biệt sêmít là “ghét”) tất cả những gì mình tha thiết nhất, chẳng hạn cha mẹ, vợ con, anh em và cả mạng sống mình nữa.
3. Sau đó Chúa Giêsu đưa ra hai dụ ngôn : Một người xây tháp trước khi xây phải tính toán kỹ để chọn lựa quyết định có nên xây hay không. Một ông vua trước khi đi giao chiến cũng phải tính toán kỹ để chọn lựa có nên giao chiến hay không. Cũng thế, nếu biết theo Chúa Giêsu phải chấp nhận từ bỏ tất cả, thì trước khi theo phải tính toán cho kỹ.
B.... nẩy mầm.
1. Đây là những lời rất thẳng thắn và chân thành Chúa Giêsu nói rõ với “rất đông người” đang đi theo Ngài. Người ta theo đạo Chúa vì rất nhiều lý do và nhiều động cơ. Chúa Giêsu thấy cần nói thẳng với mọi người rằng theo Ngài thì phải từ bỏ (bỏ hết những gì mình tha thiết nhất, kể cả mạng sống), và lại còn phải vác thập giá. Dĩ nhiên, sự từ bỏ và vác thập giá không phải luôn là hiện thực, nhưng có theo Chúa trong tâm thế sẵn sàng chấp nhận như vậy khi hoàn cảnh xảy đến thì mới xứng đáng làm môn đệ Ngài. Trên thực tế, có nhiều người muốn theo Chúa nhưng không muốn từ bỏ và không muốn vác thập giá.
2. Có người thờ thập giá nhưng không vác thập giá. Có người quý chuộng thập giá Chúa Giêsu nhưng không quý chuộng thập giá mình. Những người đó không xứng đáng là môn đệ Chúa Giêsu.
3. “Hãy vác thập giá hằng ngày” : “Những khổ sở mà đời chúng ta phải chịu cũng giống như một bó củi rất to và rất nặng. Chắc chắn chúng ta vác không nổi. Nhưng Thiên Chúa đã thương tháo dây bó củi đó ra, rồi chia nó ra để mỗi ngày chỉ chất lên vai ta một khúc thôi. Hôm sau một khúc nữa, và hôm sau tiếp tục... Cuối cùng ta cũng vác xong hết bó củi. Nhiều người lại không làm như thế : chẳng những họ chất lên vai khúc củi của hôm nay mà còn thêm vào đó khúc củi của hôm qua và khúc củi của ngày mai. Lạ gì họ không vác nổi !” (John Newton).
4. “Ai không vác thập giá mình mà theo Tôi, thì không thể làm môn đệ Tôi được” (Lc 14,27)
Có người đàn ông kia là một kitô hữu. vợ con ông đều chết cả, tài sản bị tiêu tan, địa vị cũng không còn, chỉ còn duy nhất một đức tin mong manh. Một hôm, ông đến gần một người thợ đang xây nhà thờ, thấy người kia đang đẽo gọt một miếng đá nhỏ để tạo ra một tam giác đứng, ông nhìn hồi lâu rồi hỏi :
- Anh đang làm gì vậy ?
- Bác nhìn lên đỉnh Tháp nhà thờ xem. Ở đó có một chỗ trống. Tôi đang đẽo miếng đá nhỏ này để đặt nó vào đó.
Ông gật gù ngẫm nghĩ, và cảm thấy như thể Chúa nói với mình : “Ta đang đẽo gọt con để con thích hợp với chỗ trống trong công trình của Ta...”,và ông rời chỗ ấy ra đi, tràn nước mắt hạnh phúc.
Lạy Chúa, mấy hôm nay con đang chán nản vì những thử thách nặng nề. Xin cho con đôi vai đủ lớn và đôi chân đủ mạnh để con vác thập giá đi theo Chúa. (Hosanna)
5. Mầm khác :
 

TN 23-C45. Làm môn đệ Đức Giêsu - Lm Augustine S.J

Lc. 14, 25-33

(25) Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu. Người quay lại bảo họ: (26) "Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. (27) Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được".

(28) Quả thế, ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có đủ để hoàn thành không? (29) Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi mà không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười mà bảo: (30) "Anh ta đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc". (31) Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng? (32) Nếu không đử sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà. (33) Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được".

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng
 

Bài Tin Mừng hôm nay ngỏ lời với mọi người muốn làm môn đệ Đức Giêsu. Chính với đám đông: TN 23-C45

Bài Tin Mừng hôm nay ngỏ lời với mọi người muốn làm môn đệ Đức Giêsu. Chính với đám đông đang đi theo Người lên Giêrusalem, Đức Giêsu đã nêu những điều kiện họ phải có để bước theo Người. Nhưng tại sao với đám đông mà Người cũng nêu vấn đề dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống nữa (c.26)? Về cuối bài Tin Mừng, Người còn đòi hỏi người ta phải từ bỏ hết những gì mình có để theo Người (c.33). Như vậy phải hiểu bài Tin Mừng hôm nay như thế nào để có thể đưa ra thực hành?

Tại sao phải dứt bỏ mọi sự?

Quả thật bài Tin Mừng hôm nay gợi ý để ta đặt mình trước vấn đề sự thiện và sự ác như Kinh Thánh dạy ta, nhờ đó mới hiểu được tại sao Đức Giêsu yêu cầu kẻ theo Người phải dứt bỏ mọi sự.

Kinh Thánh cho thấy từ nguyên khởi Thiên Chúa đã dựng nên mọi sự đều rất tốt (St 1,31), cho nên không có vấn đề phải loại bỏ điều gì cả. Nhưng khi Đức Giêsu đến dạy ta phải cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ (Lc 22,46) và để được cứu thoát khỏi sự dữ (Mt 6,13), thì rõ ràng là sự dữ đã xuất hiện và nó không xa lạ với con người đến nỗi lòng con người có thể bị lôi kéo bởi nó! Ta gọi đó là cơn cám dỗ.

I. - SỰ THIỆN và SỰ ÁC NƠI THẾ GIỚI

Ai cũng nghiệm thấy ngay nơi lòng mình cái gọi là thiện hảo hoặc xấu hay dữ. Kinh Thánh gọi điều thiện hảo là tôb (mà Hy ngữ dịch là Kalos và Agathos, tức là đẹp và tốt) để chỉ về người hay vật khơi dậy nơi người cảm nhận những cảm giác dễ chịu hoặc sảng khoái. Kinh Thánh nói tới một bữa ăn ngon (1V 21,7; Rt 3,7), một thiếu nữ đẹp (Est 1,11), những con người từ thiện (St 40,14). Nói tóm lại tôb chỉ về tất cả những điều mang lại hạnh phúc hoặc khiến cho cuộc sống được dễ dàng xét theo trật tự vật lý hoặc tâm lý. Ngược lại, tất cả những điều đưa người ta tới bệnh tật, đau khổ dưới mọi hình thức, nhất là đưa tới sự chết, đều được gọi là xấu (ra trong Hip-ri mà Hy ngữ dịch là poncos hoặc kakos).

Khi Kinh Thánh nói rằng Thiên Chúa thấy điều Người dựng nên là điều tốt (St 1,4) Kinh Thánh không có ý nói rằng phẩm chất thiện hảo là do điều thiện hảo khách quan nào đó mà không phải là chính Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa tạo dựng mới thông ban cho thọ tạo phần thiện hảo do chính ưu phẩm thiện hảo của Người.

Cuộc thử thách về tự do

Nhưng nơi con người mà nói tới phẩm chất thiện hảo thì đó là một trường hợp đặc thù. Phẩm chất ấy là một phần lệ thuộc vào con người. Ngay từ khi tạo dựng, Thiên Chúa đã đặt con người trước "cây biết lành biết dữ" bằng cách cung cấp cho con người khả năng vâng phục hầu hưởng dùng hoa trái của cây sự sống; ngược lại con người cũng có khả năng bất tuân để bị lôi kéo vào sự chết (St 2,9.17): Đó là cuộc thử thách về tự do vẫn còn được lặp lại nơi mỗi một con người. Nếu con người từ khước sự dữ và thực thi điều lành (Is 7,15; Am 5,14) bằng cách giữ luật Thiên Chúa và đặt mình đồng hình đồng dạng với ý muốn của Thiên Chúa, đó là con người thiện hảo đẹp lòng Thiên Chúa (St 6,8). Nếu người đó làm điều ngược lại tất sẽ nên xấu và làm phật lòng Thiên Chúa (St 38,7). Bởi lẽ, con người là thọ tạo được Thiên Chúa ban cho có tự do, nên có trách nhiệm. Chính nơi lương tâm, con người hình thành nên chọn lựa mình muốn; đó chính là điều ấn định cho phẩm chất luân lý và định mạng đời mình.

Satan lừa đảo

Bị Satan lừa đảo, ngay từ ban đầu, con người đã chọn lựa sự dữ. Con người đã tự tìm kiếm những điều thiện hảo cho mình ở giữa những thọ tạo quanh mình. Sách Sáng Thế mô tả con người khi thấy thọ tạo "ngon để ăn thì chúng gây nên mê hoặc để nhìn xem" (St 3,6). Và con người đã làm những điều ấy ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa, đó là điều thiết yếu sinh ra tội. Hậu quả mà con người nhận được là những hoa quả chua chát do đau khổ và sự chết (St 3,16-19). Tiếp theo là sự dữ được đưa vào thế giới trong đó nó được nảy nở. Con cái loài người trở nên xấu đến nỗi thánh vịnh gia phải than: "Chúng đã ra hư đốn, làm những điều ghê tởm, chẳng có một ai làm điều thiện" (Tv 14,1). Tông đồ Phaolô cũng khẳng định rằng "mọi người trên thế gian đều đắc tội trước tòa Thiên Chúa" (Rm 3,19).

Sự dữ phát sinh do lòng con người

Chính kinh nghiệm của con người cho thấy nỗi thất vọng trước những điều ước ao của chính mình mà mình không tài nào thỏa mãn (Gv 5,9). Con người không thể nào tận hưởng được những của cải của trái đất (Gv 5,14; 11,2-6), lại cũng không có khả năng "làm điều thiện mà không phạm tội" (Gv 7,20) vì sự dữ phát sinh do chính lòng con người (St 6,5; Tv 28,3; Gr 7,24). Điều đó do chính Chúa Giêsu vạch cho ta thấy rõ. Người nói "Vì tự lòng con người phát sinh những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống. Đó là những cái làm cho con người ra ô uế." (Mt 15,19-20).




II. - DUY MỘT MÌNH "ĐỨC GIÊSU KITÔ CHÚA CHÚNG TA" (Rm 7,25)

có thể hạ được sự dữ từ tận gốc bằng cách toàn thắng nó ngay nơi lòng con người.

Ban tặng một quả tim mới

Cựu Ước đã tiên báo khi nói Thiên Chúa sẽ ban tặng cho loài người "một quả tim mới, sẽ đặt Thần Khí vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. Chính Thần Trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, phán quyết và mệnh lệnh Ta sẽ truyền cho các ngươi." (Ed 36,26-27).

Tân Ước cho biết cũng như vì một duy nhất là Adam đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân; "thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính… vì ân sủng cũng thống trị bằng cách làm cho người ta nên công chính để được sống đời đời, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta." (Rm 5,19-21).

Chúa lãnh đạo mọi người trong cuộc chiến thắng sự dữ

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giêsu lãnh đạo mọi người trong cuộc toàn thắng sự dữ như thế nào. Mọi người cần phải từ bỏ hết những gì mình có để trở nên môn đệ của Đức Giêsu (c.33) là phải đặt tất cả những gì mình sở hữu trong việc sử dụng chúng theo giới răn tình yêu của Đức Giêsu.

Gia đình đặt mình để Chúa lãnh đạo

Hãy coi một gia đình Kitô hữu ngồi tính toán xem mình có thể thực thi tinh thần của bài Tin Mừng hôm nay như thế nào: "Chúng tôi được thu hút bởi chủ thuyết "chia sẻ của cải" bằng cách chỉ giữ lại cho mình những gì cần thiết để sống, phần còn lại đem chia hết cho người túng thiếu. Tuy vậy, khi tính toán lại, chúng tôi buồn phiền nhận ra là mình chẳng có đủ để mà cho. Mặt khác, chúng tôi không cảm thấy bình tâm cho lắm khi không cho đi được. Guồng máy xã hội có công bằng lắm không? Có lẽ chúng ta phải bắt đầu đảo ngược lại những giá trị đã được đặt ra, thí dụ như dành ra một số tiền trước để chia sẻ cho anh em và sau đó mới dùng tiền còn lại để trang trải chi tiêu trong nhà. Chúng tôi đã "nghiên cứu" kỹ số lương của chồng tôi, nguồn lợi tức duy nhất của gia đình và sau đó chúng tôi có sáng kiến là mỗi tháng sẽ hy sinh một cái gì đó để dành tiền cho mục "thực thi tình liên đới."

Các con tôi thấy vậy cũng ước ao được tham gia. Chúng tôi ngồi quây quần lại với nhau và đã nói cho nhau nghe từng nhu cầu của nhau. Con trai lớn của chúng tôi, vốn là đứa thích chưng diện theo thời trang nhất, đã sẵn sàng cắt bớt việc ăn mặc của cháu lại. Hai đứa sau tình nguyện giới hạn vào việc tiêu tiền lúc cần thiết mà thôi, và đứa út thì tình nguyện giảm bớt tiền túi.

Qua cách giải quyết này, chúng tôi cảm thấy thật bình an, hiệp nhất với nhau. Và chúng tôi cam kết sẽ làm bài tập này thường xuyên hơn nữa, để đừng bao giờ rơi vào cạm bẫy của một đời sống trưởng giả, vô tình trước nhu cầu của tha nhân." (Đỗ Minh Trí, SJ., Đi Tìm Anh Em, Montréal 1993, trang 260-261).


Một số câu hỏi gợi ý

1. Bạn nghĩ gia đình mà ngồi bàn bạc với nhau để xem ai nấy có thể đóng góp được bao nhiêu cho mục "thực thi tình liên đới" với những người thiếu thốn như nói trên, có thể mang lại lợi ích như: a) làm cho ai nấy bớt tính ích kỷ? b) làm cho ai nấy trong gia đình quan tâm tới những người thiếu thốn trong xã hội? c) làm cho ai nấy được tự do hơn để theo gương Chúa Giêsu? d) Bạn có ý kiến khác?

2. Tại sao với đám đông mà Chúa Giêsu cũng nêu vấn đề phải dứt bỏ cha mẹ, vợ con, v.v… và hết những gì mình có (cc.26 và 33): a) Chúa muốn người ta theo Chúa tận đáy lòng? b) Chúa muốn giải thoát con người khỏi mọi ham muốn? c) Chúa muốn người ta sống sự thật là phải hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa là nguồn gốc và cùng đích? d) Bạn có ý kiến khác?


 

TN 23-C46. ĐỨC KHÔN NGOAN.

Giáo lý Chúa Nhật vừa qua đề cập Đức khiêm nhường, thì Giáo huấn Chúa Nhật này lại phải: TN 23-C46

Giáo lý Chúa Nhật vừa qua đề cập Đức khiêm nhường, thì Giáo huấn Chúa Nhật này lại phải đề cập đến Đức khôn ngoan, vì hai nhân Đức này phải đi đôi với nhau như trái tim và khối óc của một con người, và nó như đôi cánh nhấc bổng con người lên Chúa.
Thế nào là Đức khôn ngoan? Người ta thường ngộ nhận Đức khôn ngoan là cung cách một người sống làm vừa ý tất cả mọi người ! Nhưng thực ra chỉ có làm vừa ý Chúa mới là khôn ngoan. Đúng thế, như lời Chúa đã dạy chúng ta hôm nay.

1/ KHÔN NGOAN LÀ ĐẶT Ý CHÚA TRÊN Ý CỦA BẤT CỨ AI?
Chúa phán : “Kẻ nào đến với Ta, mà không ghét Cha mẹ, vợ, con, anh chị em, và cả mạng sống mình, ắt không thể làm môn đệ của Ta” (Lc 14,26).
Tâm tình “ghét” ở đây chỉ có nghĩa là “không được yêu bằng” vì đây là kiểu so sánh của ngôn ngữ Hy-bá, còn trong ngôn ngữ se-mít, chữ ghét đồng nghiã với “hững hờ”.
Như thế Lời Chúa phán ta phải hiểu là không được yêu Cha mẹ, vợ, con, và cả mạng sống mình hơn Chúa, có thể mới xứng làm môn đệ Ngài.
Vậy nếu mất tất cả, mà lại được Thiên Chúa, thì vẫn là khôn ngoan; ngược lại, nếu được lời cả thế gian mà lại mất chính Chúa thì vẫn là dại khờ !
Gionathan dù là con vua Saolê, được quyền thừa kế vua Cha, nhưng sao Saolê lại xử ác với Đavít, Gionathan bênh vực Đavít không ủng hộ vua Cha. Truyện này đã trở thành chứng từ minh hoạ sống động cho lời Giáo huấn của Chúa hôm nay (xem I Sam.20)

KHÔN NGOAN LÀ Ý THỨC MÌNH CÓ TỘI ĐI THEO CON ĐƯỜNG KHỔ GIÁ CHÚA ĐÃ ĐI:
Chúa phán: “Ai không vác khổ Giá mình mà đi sau Ta, ắt không thể làm môn đệ của Ta” (Lc 14,27)
Lời này dưới ngòi bút của Luca hai hàm ý:
a. Qua đau khổ đến vinh quang:
 “Đường khổ Giá người đời cho là “điên dại”. Vì lời giảng Thánh Giá với những kẻ đang hư đi là một sự điên rồ, còn đối với chúng ta, những người đang trên đường cứu thoát, lại là quyền năng, là khôn ngoan của Thiên Chúa”. (xem I Cr 1,17b-24). Bởi vì “những gì thế gian cho là cao siêu, thì lại là điều nhờm tởm trước mặt Thiên Chúa” (Lc 16,15), và vì những ai liều mất mạng sống mình vì Tin Mừng và vì Chúa, là cách duy nhất của người khôn ngoan chiếm hữu được tất cả Giá trị đời này lẫn Giá trị đời sau (Lc18,28-30).
b. Tội lỗi mới thực là khổ Giá:
Bốn tác giả Tin Mừng khi viết về trình thuật thương khó của Chúa, thì cả ba tác giả Mathieu, Maccô và Gioan đều cho thấy Chúa Giêsu vác Thập Giá, chỉ trừ cho có Luca không cho ta thấy Chúa Giêsu vác Thập Giá. Tại sao thế? Không phải vì Luca phủ nhận Chúa Giêsu vác Thập Giá, nhưng vì ông muốn nhấn mạnh: chỉ có tội lỗi mình mới thực là “khổ giá cho mình”, phải vác mà đi theo sau Chúa như ông Simôn thành Kyrênê vác Thập Giá đi theo sau Chúa vậy !(Lc 5,32).
Kẻ có tội theo Chúa để được ơn cứu độ mới là người khôn, chứ người công chính được Chúa cứu có chi là khôn, là lạ? Vả lại, Chúa không đến để kêu gọi người công chính đi theo Ngài, nhưng Ngài kêu gọi người tội lỗi (Lc 5,32)
Tên nô lệ Ônêsimô, sau khi đã ăn cắp của chủ Philêmôn, nó trốn đi, bị chủ truy nã, nó Chạy đến với Phaolô đang bị giam cầm, Phaolô đã dạy đạo và ban Thánh tẩy cho nó, để nó được Chúa cứu, và còn được Phaolô can thiệp với Philômôn tha tội cho nó. Thực đây là hình ảnh sống động để minh hoạ cho kẻ có tội vác Thánh Giá của mình mà đi theo Chúa (Bài đọc 2).

3/ KHÔN NGOAN LÀ BIẾT ĐẦU TƯ MỌI KHẢ NĂNG ĐỂ XÂY DỰNG MÔ HÌNH NÊN THÁNH:
Chúa phán: “Ai trong các ngươi muốn xây tháp, mà trước tiên không ngồi trù tính phí tổn…” (Lc 14,28-30).
Xây tháp thời ấy chỉ có vua Chúa mới nghĩ đến, vì họ thường xây “những kim tự tháp”, là kết tinh mọi văn minh của một thời đại. Thế thì kẻ ăn mày, người ngu đần, làm sao có tư tưởng xây tháp được !?
Do đó người Kitô hữu phải là người giàu có về mọi phương diện, nhưng không tích trữ mà biết đầu tư tất cả khả năng mình có để xây dựng đời ta ít nhất là theo mô hình vị bổn mạng đã chọn có ý thức.

4/ KHÔN NGOAN LÀ NẮM CHẮC PHẦN THẮNG VỀ MÌNH KHI PHẢI ĐƯƠNG ĐẦU VỚI KHÓ KHĂN :
Chúa phán : “Vua nào sắp đi giao chiến cùng vua khác, phải lượng sức mình so với đối phương : vạn quân mình có nắm Chắc thắng hai vạn quân của đối phương” (Lc 14,31-32).
Điều này muốn dạy: chúng ta ai cũng gặp 3 thù: 1 là kẻ nội thù (dục vọng bản thân), và 2 kẻ ngoại thù: thế gian và ma quỷ. Vậy hãy thắng mình trước (một vạn quân của ta), mới hy vọng thắng thế gian và ma quỷ ( 2 vạn quân của đối phương).
Sự chiến thắng ở đây không tất yếu là luôn luôn thắng ở đời này, nhưng là đặt nặng chiến thắng trong thế giới Phục Sinh:
Cả sức mạnh của đế quốc Babylon không thắng được ý chí kiên cường của ba chú bé, khi các chú tuyên xưng Đức tin. (xem Đn. 3)
Stêphanô đã mất mạng trước làn mưa đá do các kẻ quá khích mà Saulô đã động viên ! Nhưng trong Nước Trời, ông đã chiến thắng Saulô: nhờ lời cầu  nguyện của ông mà Saulô trở thành Tông đồ Phaolô (xem Cv 7-9).
Đặc biệt người khôn ngoan khi đương đầu với đối phương phải cầu nguyện xin Chúa cho con có trái tim của Chúa trước đã (x Pl.2,5). Bởi vì nói đúng, làm đúng chưa đủ còn phải nói khéo và làm khéo nữa, như gương Phaolô xử vụ Philêmôn - Ônêsimô (bài đọc II). Trong thực tế, đúng mà thiếu khéo, sẽ dễ sinh đổ vỡ tệ hại !
Muốn có sự khôn ngoan lâu bền và phong phú, ta cần có tấm lòng yêu thích tin tưởng nghe lời Chúa như Salômôn, ông chỉ xin Chúa cho ông tấm lòng biết nghe, Chúa đã cho ông khôn ngoan không ai sáng bằng (xem I V.3, 6-9).
Kết luận : muốn khôn ngoan phải làm hai việc:
Cầu nguyện : Lạy Chúa, Ngài là chỗ chúng con dung thân, từ đời nọ trải qua đời kia. Vì ngoài Ngài, tất cả chỉ là cát bụi. Trong Ngài con được vui hưởng lòng nhân hậu và thương xót của Chúa (Tv89: đc)
Có trái tim nghe Lời Chúa: Nguyện Chúa tươi nét mặt nhìn xem thuộc hạ, Thánh chỉ Ngài xin dạy bề tôi.

 

TN 23-C47. TÍNH TOÁN VÀ TRẢ GIÁ

Dẫn vào Thánh lễ và sám hối
 

Chúng ta đo lường sự tận tâm của một người với sự nghiệp bằng chính sự hy sinh mà người ấy: TN 23-C47

Chúng ta đo lường sự tận tâm của một người với sự nghiệp bằng chính sự hy sinh mà người ấy sẵn sàng để thực hiện sự nghiệp ấy. Chúng ta chỉ trở nên người môn đệ đích thực của Chúa Kitô bằng hy sinh. Hy sinh có ý nghĩa gì, ảnh hưởng thế nào, và có giá trị ra sao đối với tôi trong cuộc đời Kitô hữu ? Chúng ta cầu xin Chúa tha thứ về những nỗi sợ hãi và ích kỷ đã khiến ta thiếu sự tận tâm với Ngài.
Tôi thú nhận ...
Dẫn vào các bài đọc
Bài đọc 1 : Kn 9,13-18b
Nếu không có đức khôn ngoan, chúng ta dứt khoát sẽ không thể dò thấu được vũ trụ, ý nghĩa của lịch sử và ý định của Thiên Chúa.
Bài đọc 2  : Plm 9-10.12-17
Thánh Phaolô thuyết phục Philêmon hãy nhận lại người nô lệ trước đây là Ônêximô, và đối xử với anh ta như người anh em.
Tin Mừng : Lc 14,25-33
Là môn đệ của Chúa Kitô, đòi hỏi thái độ hy sinh của bản thân, chúng ta phải sẵn sàng đón nhận đòi hỏi này.
Bài giảng 1
MANG THEO XIỀNG XÍCH
Đại văn hào Dostoyevsky, khi mới 20 tuổi ông đã viết tác phẩm đầu tiên Tội ác và hình phạt. Điều đó chứng minh sự thành công lớn của ông. Ông trở nên nổi tiếng rất nhanh. Lời nịnh hót có thể dễ dàng len lỏi vào đầu óc ông, nhưng cũng chính thực tế ấy mà không lâu sau đó, ông đã công kích vào những điều xấu xa của nhà cầm quyền. Bị buộc tội oan là người theo đường lối vô chính phủ, ông bị bắt giữ cùng với một số người khác và bị kết án tử hình. Tuy nhiên, bản án đó đã được giảm xuống thành án tù. Ông và các bạn tù bị đày đi Siberia. Dostoyevsky đã trải qua bốn năm lạnh lẽo tại đó. Mười năm sau, ông trở lại với nghề viết văn.
Thay cho sự cay đắng và huỷ hoại, những kinh nghiệm đó lại làm cho ông phong phú thêm. Giờ đây ông dùng đến kinh nghiệm của mười năm đau khổ để viết, mười năm ấy đã cho ông sức mạnh và chất liệu. Mỗi khi có ai đến hỏi ông : “Ông có quyền gì mà dám lên tiếng cho con người ?”, thì ông chỉ cho họ thấy những vết sẹo do xiềng xích để lại trên da thịt ông và nói : “Đó là quyền của tôi.” Những người đặt câu hỏi với ông đành phải im lặng.
Với bạn bè, những người bị thất đảm bởi những đau khổ ông đã chịu đựng, ông nói : “Nhà tù đã cứu tôi, nhà tù đã biến đổi tôi hoàn toàn trở thành con người mới. Siberia và án tù đã trở thành thú vui tuyệt vời của tôi. Chỉ có ở đó tôi mới có thể trải qua một cuộc sống thanh bạch và hạnh phúc. Chỉ có ở đó tôi mới nhìn thấy bản thân tôi rõ ràng, nơi đó tôi học được sự hiểu biết về Chúa Kitô. Nơi đó là một trường học tốt. Điều đó đã củng cố niềm tin và đánh thức tình yêu của tôi đối với những người đã cùng phải chịu đựng bao đau khổ với sự nhẫn nại. Điều đó cũng củng cố tình yêu của tôi với nước Nga và mở mắt cho tôi thấy những phẩm chất tuyệt vời của người Nga.”
Thánh Phaolô cũng đã chứng tỏ mình là môn đệ của Chúa. Thánh nhân cũng bị tù tội và bị xiềng xích (bài đọc 2). Điều này giúp thánh nhân khi nói về việc bước theo Chúa thêm thuyết phục khả tín.
Khi các bạn trẻ đến gặp mẹ Têrêsa và bày tỏ ý nguyện muốn gia nhập tu hội của mẹ, mẹ không chút nghi ngại đã đặt họ đối diện nơi môi trường mà họ sẽ dấn thân. Mẹ nói : “Công việc của chúng tôi rất vất vả. Chúng tôi phục vụ người nghèo và người vô gia cư 24 giờ một ngày.”
Cùng một cách thức ấy, Chúa Giêsu đã không che giấu những khó khăn, vất vả và hy sinh mà những người muốn theo Người sẽ phải chịu. Người khẳng định rằng đó chẳng phải là con đường dễ dàng. Vì thế, sau này họ sẽ không thể phàn nàn rằng : “Ồ, chúng tôi không bao giờ nghĩ sự việc lại như thế.”
Chúa Giêsu không ủng hộ thái độ can đảm của kẻ mù quáng. Thực tế, Chúa đã ngăn cản điều đó. Chúa nói rằng việc đi theo Người phải đặt nền tảng trên lẽ phải, sự khôn ngoan, biết đánh giá, có nhận thức sâu sắc để thấy những gì mà họ phải thực hiện.
Điều quan trọng nhất là tự đánh giá để biết mình. Chúng ta không buộc phải trao ban vượt quá sức so với khả năng của mình. Dĩ nhiên, chúng ta không thể nói trước được chính xác khả năng của mình. Chúng ta có thể hoặc tự hạ thấp hoặc tự nâng mình lên. Và chúng ta cần những cuộc thử thách để biết được khả năng tốt nhất của mình.
Chúng ta nhận được sự khích lệ từ mẫu gương của các tông đồ. Tin Mừng cho thấy họ phải gắng sức khi theo Chúa Giêsu. Tuy nhiên, Chúa Giêsu không loại bỏ họ. Thật rõ ràng là chính họ đã học được rất nhiều bài học từ những lỗi lầm của mình. Chỉ sau cái chết và sự sống lại của Chúa thì họ mới trở thành những người theo Chúa thực sự.
Nhìn vào các tông đồ để ta khám phá ra sự bất xứng của bản thân. Tin Mừng đem hy vọng đến cho những Kitô hữu bị vấp ngã. Sự hối hận và cơ hội làm lại luôn là điều có thể. Chúa Giêsu rộng lượng đầy khoan dung với ai cố gắng đáp lại lời mời gọi của Người.
Bài giảng 2
THEO THẦY
Trong Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã không hề che giấu sự thật với các tông đồ. Người cho họ thấy những khó khăn, vất vả và hy sinh mà những người muốn theo Người phải gánh chịu. Người khẳng định rằng đó chẳng phải là con đường dễ dàng. Vì thế sau này họ sẽ không thể phàn nàn rằng : “Ồ, chúng tôi không bao giờ nghĩ sự việc lại như thế.”
Có những người đi theo Chúa mà không phải là môn đệ của Chúa. Có những người trà trộn vào quân ngũ dù chẳng phải là chiến sĩ. Có người chẳng chu toàn trách nhiệm công việc của mình, hoặc chỉ thực hiện một phần việc nào đó mà thôi. Có người trong những công việc lớn, chỉ như kẻ ‘theo đóm ăn tàn’. Có người chỉ thích nói mà chẳng muốn làm.
Một ngày nọ, có một người đến gặp một vị giáo sư nổi tiếng để hỏi về một chàng thanh niên : “Có người nói với tôi rằng anh ta là một trong những học trò của ông. Điều đó có đúng không ?” Và giáo sư trả lời : “Người thanh niên đó quả thật đã tham dự các lớp học của tôi, nhưng tôi cho rằng anh ta chưa bao giờ là sinh viên thực sự của tôi.”
Trở lực lớn nhất của Giáo Hội đó là nhiều người chỉ theo Chúa ở một khoảng cách an toàn, mà có rất ít người là môn đệ đích thực, những người sống theo những điều Chúa dạy.
Hãy nhìn thẳng vào vấn đề. Thật chẳng dễ dàng gì khi muốn trở thành một môn đệ của Chúa Kitô. Để làm môn đệ, có nhiều đòi hỏi thực tế mà người ta không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, ta thấy nhiều người thường xuyên đến nhà thờ cách thoải mái, mà hầu như lại không quan tâm đến cảnh khốn cực của người thiếu thốn, tiếng rên la của người nghèo. Ngày nay người Kitô hữu được mời gọi từ bỏ nhiều thứ mà với người khác đó lại là những điều bình thường.
Một số người theo Chúa lại nhụt chí ngay khi những yêu cầu được đặt ra với họ, giống như tuyết tan nhanh dưới ánh mặt trời. Những người khác thì bị huỷ hoại chỉ vì sự chống đối và chỉ trích, giống như ngọn lửa chập chờn bị cơn gió thổi tắt.
Khi nhà vua đến thăm thiền viện của Lin Chi, vị thiền sư uy tín, nhà vua đã kinh ngạc khi biết có khoảng hơn mười ngàn thầy tu sống ở đó. Muốn biết con số thầy tu chính xác nên nhà vua hỏi : “Thầy có bao nhiêu đồ đệ ?”
Lin Chi trả lời : “Bốn hoặc năm.”
Chúa nói việc đi theo Người phải đặt trên lẽ phải, sự khôn ngoan, biết đánh giá, có nhận thức sâu sắc. Chúng ta không thể trao ban quá với khả năng của mình. Dĩ nhiên, chúng ta không thể nói trước được khả năng của mình là tới đâu. Chúng ta có thể hạ thấp hoặc tự nâng mình lên. Và chúng ta cần những cuộc thử thách để biết được khả năng tốt nhất của bản thân.
Chúng ta nhận được sự khích lệ từ mẫu gương của các tông đồ. Tin Mừng cho thấy họ phải gắng sức khi theo Chúa Giêsu. Tuy nhiên, Chúa Giêsu không loại bỏ họ.
Nhìn vào các tông đồ để ta khám phá ra sự bất xứng của bản thân. Tin Mừng đem hy vọng đến cho những Kitô hữu bị vấp ngã. Sự hối hận và cơ hội làm lại luôn là điều có thể. Chúa Giêsu rộng lượng đầy khoan dung với ai cố gắng đáp lại lời mời gọi của Người.
Bài giảng 3
TRẢ GIÁ
Có những người xây dựng những mục tiêu rất lớn trong đời, nhưng rồi họ chẳng bao giờ đạt được. Tại sao không ? Vì họ không chấp nhận phải trả giá.
Đây là câu chuyện về thiếu nữ mang tên Antoinette, rất đẹp nhưng lại nghèo. Cô chỉ có một mục tiêu trong đời, trở nên giàu có. Ước mơ duy nhất của cô là lấy một người chồng giàu. Nhưng cuối cùng cô lại lập gia đình với một công chức nhà nước. Anh ta cố gắng đem lại cho cô hạnh phúc, nhưng không thể có khả năng mua sắm những thứ mà cô mơ ước như quần áo đẹp, nữ trang, nhà cửa đầy đủ tiện nghi và vân vân.
Cô không chịu đi làm và suốt ngày chỉ ở nhà để buồn khổ và thất vọng. Cô phàn nàn rằng vợ chồng cô chưa một lần đi chơi. Một lần nọ, chồng cô được mời tới dự một buổi tiệc sang trọng, nhưng cô phàn nàn không có bộ trang phục phù hợp. Vì thế chồng cô phải rút hết số tiền tiết kiệm khiêm tốn trong ngân hàng để Antoinette mua bộ đồ mới. Sau đó, cô mượn một sợi dây chuyền của Marie, một người bạn học cũ, và đi dự tiệc.
Thế rồi cô đến buổi tiệc. Cô là người phụ nữ đẹp nhất trong bữa tiệc hôm đó và gây sự chú ý của tất cả mọi người. Tuy nhiên, khi họ về đến nhà sau lúc nửa đêm rạng sáng, cô khám phá ra với tất cả nỗi bàng hoàng, cô đã đánh mất sợi dây chuyền.
Họ tìm kiếm khắp nơi nhưng không thể nào tìm ra. Cô không có can đảm để nói với Marie sự thật, vì thế họ đã mua một sợi dây chuyền mới trông giống hệt sợi đã bị mất. Nó đáng giá 40.000 francs và họ đã phải mượn số tiền này với lãi suất rất cao. Khi họ trả sợi dây chuyền lại cho Marie, cô bạn đã không nhận ra được sự khác biệt. Thực vậy, Marie đã để vào ngăn bàn mà không chút mảy may nhìn lại.
Giờ thì Antoinette biết thế nào là nghèo đói thực sự. Nhưng cô đã nhất quyết dự phần trách nhiệm vào việc trả nợ. Họ trả lại căn hộ và dọn đến một căn phòng ở tầng hầm. Họ cho người giúp việc nghỉ. Cô tự làm việc nhà và còn ra ngoài làm thêm việc nữa. Họ hà tiện từng đồng xu một. Họ phải mất mười năm để trả nợ và giờ đây trông Antoinette như một bà già. Một ngày nọ, cô gặp Marie, người bạn cũ trên đường.
“Ồ, trông chị già làm sao !”, Marie nói.
“Tôi đã phải trải qua một thời gian rất nhiều khổ cực từ khi chúng ta gặp nhau lần cuối, và tất cả chỉ bởi vì bạn mà ra”, Antoinette trả lời.
“Bởi vì tôi ? Tôi không hiểu gì cả.”
Và sau đó cô đã kể cho bạn nghe về chuyện mất sợi dây chuyền và việc họ đã phải làm lụng cực nhọc như thế nào để trong ngần ấy năm có được số tiền để trả món nợ. Nghe đến đó Marie nói : “Nghĩa là chị đã mua một chuỗi hạt kim cương để đền cho tôi ?”
“Vâng”, Antoinette nói “và bạn đã không bao giờ biết được điều  đó.”
“Ồ, Antoinette tội nghiệp của tôi !”, Marie kêu lên “Sao lại như thế, bạn biết không : sợi dây chuyền của tôi chỉ là đồ giả. Giá trị của nó cao lắm chỉ đáng 400 francs mà thôi.”
Giả như ngay từ lúc đầu, Antoinette cố gắng dẫu chỉ phân nửa những nỗ lực của mình để đạt được những điều cô muốn trong cuộc sống, thì mọi thứ đã là của cô và cô đã không phải lãng phí mất đi những năm tháng quý giá của mình. Đằng này, cô đã tốn thời gian ngồi không và mơ mộng.
Chúa Giêsu chỉ có một mục tiêu duy nhất trong cuộc sống, đó là thực hiện sứ mạng mà Cha của Người đã giao cho Người. Người đã sống hết mình vì sứ mạng đó. Và Người vui lòng trả bằng mọi giá để có thể thi hành trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa Cha. Tin Mừng thuật lại cho thấy Người đã dẫn đầu lên Giêrusalem. Người biết điều gì đang đợi Người nơi đó. Đau khổ, bị loại trừ và cái chết được đặt cuối hành trình của Người. Nhưng Người muốn đón nhận tất cả.
Và Người chờ đợi hoàn toàn nơi các tông đồ. Người nói về cái giá phải trả của người môn đệ. Khi Người nói rằng các môn đệ phải ‘ghét cha mẹ’, điều này không được hiểu theo nghĩa của từ ngữ. Người muốn nói với họ rằng phải luôn sẵn sàng, nếu cần thiết phải hy sinh ngay cả những điều quý giá nhất trong cuộc sống. Trong vài trường hợp hiếm khi họ phải lựa chọn giữa Chúa hoặc người thân yêu ruột thịt của họ.
Với ý nghĩa của hai dụ ngôn ngắn, Chúa Giêsu chỉ ra rằng trở nên môn đệ của Chúa là lời mời gọi nghiêm túc. Họ có thể bị khủng bố và ngay cả bị giết chết. Trong vấn đề này cũng giống như các vấn đề khác của cuộc sống, như kinh doanh và chính trị, ta không thể bước đi một cách mù quáng. Ta phải lượng giá trước khi thực hiện, và rồi xét xem ta đã sẵn sàng đương đầu chưa.
Mục tiêu mà Chúa Giêsu đặt ra cho chúng ta vô cùng quan trọng, mục tiêu đích thực của cuộc sống hiện nay và cuộc sống vĩnh cửu sau này. Không có mục tiêu nào cao hơn mục tiêu đó. Và điều đó không dễ dàng chút nào. Không có người nào trở thành môn đệ của Chúa Giêsu mà không phải vác thập giá. Nhưng Chúa Giêsu biết chúng ta yếu đuối. Người luôn đổ tràn ân sủng xuống trên những ai thật lòng muốn tiến bước theo Người.
LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế : Chúng ta cùng dâng lời cầu xin Thiên Chúa, để ta được trở nên những môn đệ đích thực của Chúa Kitô.
Xướng : Cầu nguyện cho các vị lãnh đạo Giáo Hội : để các ngài rao giảng Tin Mừng bằng lời nói và gương sáng cho toàn thế giới.
Xướng : Cầu nguyện cho các vị lãnh đạo trong xã hội, để họ đẩy mạnh nền công lý và hiệp nhất trên thế giới.
Xướng : Cầu nguyện cho tất cả những ai đang phải chịu đau khổ vì niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô.
Xướng : Xin ân sủng Chúa gìn giữ đôi mắt chúng ta luôn hướng nhìn về Người để tiến bước theo Người với một sự cam kết kiên vững.
Chủ tế : Lạy Chúa là nguồn sức sống của chúng con, Chúa biết chúng con yếu đuối. Xin cho chúng con đưa tay bám chặt vào tay Chúa với niềm hoan lạc, và vui lòng bước đi trên nẻo đường của Ngài. Chúng con cầu xin ...

 

TN 23-C48. BÀI HỌC ĐẦU TIÊN CỦA KI-TÔ GIÁO

 [CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN NĂM C (09.09.2007)]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Một mặt, khuynh hướng tự nhiên của con người là muốn có thêm, có nhiều hơn nữa. Vì thế mà: TN 23-C48

Một mặt, khuynh hướng tự nhiên của con người là muốn có thêm, có nhiều hơn nữa. Vì thế mà từ bỏ và hy sinh là việc rất khó khăn. Khó khăn nhưng là có thể, nhất là với sự trợ giúp của ơn thánh Chúa. Mặt khác từ bỏ và hy sinh là bài học đầu tiên, là ABC của đời sống Ki-tô hữu. Thật vậy trong đời tôn giáo và tâm linh, từ bỏ và hy sinh là điều kiện không thể thiếu, vì chỉ bằng từ bỏ và hy sinh, con người mới được lột xác thành một tạo vật mới, mới có thể bước theo Chúa Ki-tô Giê-su. Muốn dễ dàng từ bỏ và hy sinh, Ki-tô hữu cần biết nhìn xa trông rộng và suy tính khôn ngoan. Đó chính là điều mà Chúa Giê-su muốn dạy chúng ta trong bài Phúc âm Chúa nhật 23 Thường niên năm C hôm nay.

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1: Lời Chúa trong Sách Khôn Ngoan (Kn 9,13-18) :  13 Lạy Chúa, nào có ai biết được ý định của Thiên Chúa ? Nào có ai hiểu được Đức Chúa muốn điều chi ? 14 Chúng con vốn là loài phải chết, tư tưởng không sâu, lý luận không vững. 15 Quả vậy, thân xác dễ hư nát này khiến linh hồn ra nặng, cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống vì lo nghĩ trăm bề. 16 Những gì thuộc hạ giới, chúng con đã khó mà hình dung nổi, những điều vừa tầm tay, đã phải nhọc công mới khám phá được, thì những gì thuộc thượng giới, có ai dò thấu nổi hay chăng ? 17 Ý định của Chúa, nào ai biết được, nếu tự chốn cao vời, chính Ngài chẳng ban Đức Khôn Ngoan, chẳng gửi thần khí thánh ? 18 Chính vì thế mà đường lối người phàm được sửa lại cho thẳng, cũng vì thế mà con người được dạy cho biết những điều đẹp lòng Ngài, và nhờ Đức Khôn Ngoan mà được cứu độ."
(2) Bài đọc 2: Lời Chúa trong thư của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi ông Phi-lê-môn (Plm 9-10.12-17): 9 Nhưng tôi thích kêu gọi lòng bác ái của anh hơn, để xin anh làm điều đó. Tôi, Phao-lô, một người đã già và hơn nữa, một người đang bị tù vì Đức Ki-tô Giê-su, 10 tôi van xin anh cho đứa con của tôi, đứa con tôi đã sinh ra trong cảnh xiềng xích, đó là Ô-nê-xi-mô, 12 tôi xin gửi nó về cho anh; xin anh hãy đón nhận nó như người ruột thịt của tôi. 13 Phần tôi, tôi cũng muốn giữ nó ở lại với tôi, để nó thay anh mà phục vụ tôi trong khi tôi bị xiềng xích vì Tin Mừng. 14 Nhưng tôi chẳng muốn làm gì mà không có sự chấp thuận của anh, kẻo việc nghĩa anh làm có vẻ miễn cưỡng, chứ không phải tự nguyện. 15 Nó đã xa anh một thời gian, có lẽ chính là để anh được lại nó vĩnh viễn, 16 không phải được lại một người nô lệ, nhưng thay vì một người nô lệ, thì được một người anh em rất thân mến; đối với tôi đã vậy, phương chi đối với anh lại càng thân mến hơn biết mấy, cả về tình người cũng như về tình anh em trong Chúa. 17 Vậy, nếu anh coi tôi là bạn đồng đạo, thì xin anh hãy đón nhận nó như đón nhận chính tôi.
(3) Bài Tin Mừng: Lời Chúa trong Sách Tin Mừng theo Thánh Lu-ca (Lc 14,25-33) :  25 Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giê-su. Người quay lại bảo họ: 26 "Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. 27 Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được. 28 "Quả thế, ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có đủ để hoàn thành không? 29 Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi mà không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười mà bảo: 30 "Anh ta đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc. 31 Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng? 32 Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà. 33 Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.

2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 (Kn 9,13-18) là một trích đoạn Sách Khôn Ngoan nói về vai trò của đức Khôn Ngoan. Đức Khôn Ngoan tức Thần Khí của Thiên Chúa rất quan trọng vì chính Người giúp con người khám phá ra những điều cao siêu là ý định của Thiên Chúa, những điều mà tự khả năng, con người không thể vươn tới. Vì chưng con người “vốn là loài phải chết, tư tưởng không sâu, lý luận không vững, thân xác dễ hư nát này khiến linh hồn ra nặng, cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống vì lo nghĩ trăm bề.”
Qua đoạn Sách Khôn Ngoan trên (9,13-18) chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng rất yêu thương con người nên đã không để con người bị trói buộc trong giới hạn hẹp hòi của mình mà trái lại đã ban đức Khôn Ngoan để giúp con người vươn xa bay cao, đến được thế giới của Thiên Chúa, hiểu và nắm bắt được ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa.
(2) Bài đọc 2 (Plm 9-10.12-17) là những lời lẽ chân tình mà Thánh Phao-lô gửi cho ông Phi-lê-môn, một người có địa vị và tiếng tăm trong cộng đoàn tín hữu ở Cô-lô-sê để xin ông nhận lại Ô-nê-xi-mô là một nô lệ đã bỏ nhà ông mà đi nhưng nay đã trở thành một Ki-tô hữu như ông.
Trong đoạn thư gửi ông Phi-lê-môn trên (9-10.12-17) chúng ta thấy - không phải cách trực tiếp mà là cách gián tiếp - Thiên Chúa là Đấng làm cho con người có phẩm giá cao quý, bình đẳng và huynh đệ với nhau! Cụ thể trong trường hợp ở đây thì lúc trước Ô-nê-xi-mô là nô lệ, là tài sản của ông chủ Phi-lê-môn; còn sau khi đã trở thành Ki-tô hữu (qua phép Rửa) thì Ô-nê-xi-mô đã trở thành người anh em của người chủ cũ của mình, xứng đáng được đối xử tử tế và được tôn trọng.
(3) Bài Tin Mừng (Lc 14,25-33) tường trình lại một bài huấn giáo quan trọng số một mà Chúa Giê-su đã dành cho các môn đệ, không phải trong lớp học hay trong hội đường mà ở giữa cảnh trời lồng lộng của cuộc hành trình tiến về Giê-ru-sa-lem. Bài huấn giáo quan trọng số một đó là từ bỏ và hy sinh, là chấp nhận vác thập giá mình để theo Chúa Giê-su, để xứng đáng là môn đệ của Người. Đối tượng của từ bỏ là cha mẹ, vợ con, anh em, chị em là những người gần gũi thân thương nhất! Đối tượng của hy sinh là cả mạng sống mình tức chính bản thân mình!
           Qua Bài Phúc Âm theo Thánh Lu-ca trên (14,25-33) chúng ta khám phá ra Chúa Giê-su là Đấng đòi hỏi rất nhiều và rất cao ở những người muốn theo Chúa. Chúa đòi hỏi người muốn làm môn đệ Chúa phải dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình. Chúa còn đòi hỏi người ấy phải vác thập giá mình mà đi theo Người. Tại sao vậy? - Tại vì: (1) Chính Chúa Giê-su đã từ bỏ và hy sình hết mức vì nhân loại, vì mỗi con người thì người môn đệ cũng phải nên giống Thày mình; (2) Từ bỏ và hy sinh là con đường duy nhất dẫn đến đời sống vĩnh hằng là hạnh phúc thật.      
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?    
          Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là: "Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.”

III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
Mỗi người có thể chọn một trong hai hoặc cả hai khía cạnh của sứ điệp của Lời Chúa hôm nay mà đem vào đời sống trong tuần:
                   3.1 Sống từ bỏ và hy sinh: Trong đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng cũng như trong đời sống nhân bản và tâm linh, tôi có tự nguyện khước từ không chỉ những cái xấu làm hại mình mà cả những cái tốt, để cho đời sống được nhẹ nhàng, tự do và thánh thiện hơn không?                  
                   3.2 Vác thập giá mình mà đi theo Chúa: Trong đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng cũng như trong đời sống nhân bản và tâm linh tôi có vui vẻ chấp nhận những hy sinh khổ cực và thiệt thòi do đức tin và tư cách người môn đệ Chúa Giê-su đòi hỏi không?                                      

IV. CẦU NGUYỆN  (Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân)
4.1 Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được.”  Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là Cha của chúng con, chúng con dâng lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa, vì chúng con đã được Chúa dậy phải từ bỏ tất cả để làm môn đệ Chúa Giê-su Ki-tô. Xin Chúa ban ơn trợ giúp các vị có chức thánh trong Giáo hội là Đức Thánh Cha Bê-nê-đi-tô XVI, các Giám mục, linh mục và phó tế  thực hành bài học từ bỏ của Phúc âm.
                 Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.2 Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được.”  Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là Cha của chúng con, chúng con dâng lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa, vì chúng con đã được Chúa dậy phải từ bỏ tất cả để làm môn đệ Chúa Giê-su Ki-tô. Xin Chúa ban ơn trợ giúp các tu sĩ nam nữ và mọi người giáo dân chúng con biết thực hành bài học từ bỏ của Phúc âm.
                 Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
 4.3 “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là Cha của chúng con, chúng con dâng lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa, vì chúng con đã được mời gọi vác thập giá mình mà đi theo Chúa Giê-su Ki-tô. Xin Chúa ban ơn giúp sức để mọi Ki-tô hữu có đủ dũng cảm và nghị lực mà chấp nhận hy sinh, khổ cực và thiệt thòi khi sống theo Chúa Giê-su Ki-tô, Con Chúa, Chúa chúng con.
        Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
         Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 
         Seattle (WA/USA) 28.08.2007

 

TN 23-C49. Một đòi hỏi nhân bản sâu đậm nhất

Trước hết chúng ta minh định danh từ để tránh hiểu lầm. Đức Kitô không bao giờ phán rằng: TN 23-C49

Trước hết chúng ta minh định danh từ để tránh hiểu lầm. Đức Kitô không bao giờ phán rằng muốn theo Chúa phải ghét cha ghét mẹ …… Ở đây là một sự sắp hạng, quan hệ tình cảm thông thường phải đặt sau quan hệ tình cảm siêu nhiên. Tình nghĩa gia đình phải đứng sau tình yêu mến Thiên Chúa. ‘Ghét’ ở đây phải hiểu theo nghĩa ‘giảm bớt tình quyến luyến’. Chúng ta ngạc nhiên thấy những đám rất đông đi theo Đức Giêsu trên đường hành đạo của Người, mà con số những kẻ rời bỏ gia đình trở nên môn đệ Chúa chẳng được là bao. Nhưng chúng ta hiểu ra khi thấy Chúa nói lên những điều Chúa đòi hỏi. Không bao giờ chỉ vì muốn lấy lòng dân chúng mà Chúa che giấu những đòi hỏi của Người. Với bất cứ ai, Chúa có một cung cách quý mến là không đề nghị một thái độ đồng lõa với yếu hèn, trái lại Người kêu gọi lòng hào hiệp của người ta. Tới ngày đông đảo dân chúng bỏ Chúa, nộp Chúa cho quân dữ giết, Người không kết án dân chúng vì Người muốn hy sinh mạng sống cho họ. Tới lúc đó, Chúa sẽ có những môn đệ xứng đáng với sự đòi hỏi của Người, họ sẽ trở lại trong dân chúng làm chất men trong bột. Bài đọc hôm nay của thánh Luca cho thấy Phúc Âm gần gũi đời sống tới mức nào.
1) Bất chợt Đức Giêsu đến với con người trong đời sống cụ thể, trong khung cảnh sinh hoạt gia đình. Chúa đem đến một sự việc cực kỳ mới lạ. Những tình cảm gia đình sâu đậm là thế, chính đáng là thế, nay con người thấy còn có một điều quá lớn vượt lên trên tình nghĩa gia đình. Do đó, hễ quyết tâm theo Đức Giêsu thì cũng quyết tâm mở rộng đời sống cụ thể đón lấy một thực tại sâu rộng hơn, hiện thân hơn những liên hệ gia đình cố hữu. Thánh Phanxicô, đấng thánh tôn trọng Phúc Âm rất nghiêm chỉnh, nhờ kinh nghiệm sống theo Phúc Âm của ngài mà thốt ra hai tiếng ‘cha’ và ‘mẹ’ khi ngài nói về Đức Kitô, trong miệng ngài từ ngữ ‘anh em’ mang nặng tình nghĩa đậm đà vượt xa tình huynh đệ thế gian. Tuy không ý thức rõ rệt, ngài vẫn diễn tả được cao độ phẩm chất nhân bản trong đời sống theo khuôn mẫu Phúc Âm. Phúc Âm vượt lên trên những tình cảm gia đình thông thường nhưng không hủy bỏ chúng. Có thể nói rằng, mặc dầu cái khuôn mẫu tình cảm thế gian vẫn được tôn trọng, có những liên hệ gia đình mới lạ được thiết lập qua một sự thăng hoa, ở một chiều cao hơn. Chúng ta có thể thực tình nói đến ‘gia đình trong Đức Kitô’.
2) Đòi hỏi của Đức Kitô không có gì là phi nhân. Nghe nói đến ‘thập giá’ phải mang vác, người ta có thể cho đó là một đòi hỏi quá sức con người. Muốn có một sự hiểu biết đúng đắn, thì trong đầu chúng ta thập giá phải đi liền với một tình yêu. Phải nhìn thập giá Đức Kitô như một sự tốt lành thượng đẳng, nếu không chẳng thể chấp nhận nổi thập giá. Tôi chọn lấy thập giá của Chúa thay vì tình yêu theo nhân tính tự nhiên nhất, chính đáng nhất, là bởi vì thập giá phát xuất từ một tình yêu thượng đẳng, nó thấm đượm sâu đậm cái điểm nhân tính nhất trong tôi, đó là sự tự do lựa chọn, là tâm hồn dâng hiến. Thập giá Đức Kitô là bằng chứng và cũng là bề nổi tình yêu của Chúa. Thập giá Chúa, tức là hy sinh của Chúa. Có tình yêu nào mà không cần đến ngôn ngữ của hy sinh? Ở đây, chúng ta chẳng đang đứng trước một đòi hỏi nhân bản sâu đậm nhất ư?

 

TN 23-C50. Tôi là thứ ba

Sayers là một cầu thủ nổi tiếng. Anh được báo chí đánh giá là một trong những hậu vệ chạy: TN 23-C50

Sayers là một cầu thủ nổi tiếng. Anh được báo chí đánh giá là một trong những hậu vệ chạy nhanh nhất trong lịch sử môn bóng đá chuyên nghiệp. Thế nhưng lúc nào anh cũng đeo trên cổ mình một tấm mề đay bằng vàng, trên đó đó khắc ghi bốn chữ:
- Tôi là thứ ba.
Và trong cuốn tự thuật của mình, anh đã cho biết nguồn gốc và ý nghĩa của bốn chữ đó như sau:
Ngày kia, tôi đến thăm ông Bill Easte, huấn luyện viên của tôi. Tôi thấy ông đặt trên bàn làm việc của ông khẩu hiệu này. Tôi đọc mà chẳng hiểu, nên nhờ ông cắt nghĩa và ông đã nói cho tôi hay:
- Thiên Chúa là thứ nhất, tha nhân là thứ hai còn tôi là thứ ba.
Kể từ đó, tôi cũng đã chọn bốn chữ này làm khẩu hiệu sống cho cuộc đời mình.
Và cũng trong quyển tự thuật ấy, anh viết tiếp:
- Tôi cố gắng sống khẩu hiệu trên. Không phải lúc nào cũng thành công, nhưng dù sao việc mang khẩu hiệu ấy nơi cổ cũng nhắc nhở tôi và giúp tôi khỏi đi trệch đường quá xa.
Từ câu chuyện trên, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng sáng hôm nay với lời tuyên bố của Chúa Giêsu:
- Ai đến với Ta mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Ta được.
Nói cách khác, Chúa đòi chúng ta phải dành địa vị ưu tiên số một cho Ngài trong cuộc sống.
Tiếp nối vào đó, chúng ta lắng nghe ý tưởng thứ hai được Ngài nêu lên trong phần cuối đoạn Tin Mừng:
- Ai trong các ngươi muốn xây một ngọn tháp mà trước hết không chịu ngồi xuống tính toán mọi phí tổn để xem thử mình có đủ khả năng hoàn tất nó hay không?
Nói cách khác, dành địa vị ưu tiên số một cho Chúa trong cuộc sống mà thôi chưa đủ, chúng ta còn phải thực thi trọn vẹn sự lựa chọn ấy nữa. Và đây mới thực sự là điều khó khăn và cam go.
Chính Sayers, trong câu chuyện vừa nghe đã xác quyết: Đặt Chúa vào vị trí số một trong đời bạn là một chuyện. Còn sống cái quyết định ấy trong suốt cả cuộc đời là một chuyện hoàn toàn khác. Chính vì thế, tôi luôn đeo tấm mề đay ấy nơi cổ như một nhắc nhở tôi phải sống sự lựa chọn ấy.
Còn chúng ta thì sao? Vào ngày chịu phép rửa tội và thêm sức, cũng như mỗi khi tuyên xưng đức tin, chúng ta cũng đã chọn lựa Chúa, cũng đã dành cho Chúa địa vị ưu tiên chỗ đứng số một trong cuộc sống.
Thế nhưng, chúng ta đã thực hiện sự chọn lựa ấy như thế nào? Chúng ta đã sống điều dốc quyết ấy ra làm sao? Rất nhiều khi chúng ta nói một đàng làm một nẻo… Miệng thì chúng ta tuyên xưng Chúa, nhưng việc làm thì phản lại lời tuyên xưng ấy, theo kiểu:
- Miệng nam mô, bụng bồ dao găm.
Bởi vì mỗi khi phạm tội là chúng ta bán Chúa như Giuđa. Mỗi khi phạm tội là chúng ta chối bỏ Chúa như Phêrô. Mỗi khi phạm tội là chúng ta chọn lựa ma quỉ thay vì chọn lựa Chúa làm thần tượng cho đời mình.
Và như thế, biết bao nhiêu lần chúng ta đã phản bội, đã quay lưng chống lại Chúa. Bởi đó, mỗi người chúng ta hãy tự vấn lương tâm xem:
- Lúc này Chúa đang chiếm địa vị nào, đang có chỗ đứng nào trong tâm hồn và trong cuộc đời của tôi?
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây