Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 24 TN-C Bài 51-100 Người Cha nhân hậu

Thứ tư - 11/09/2019 11:30
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 24 TN-C Bài 51-100 Người Cha nhân hậu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 24 TN-C Bài 51-100 Người Cha nhân hậu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 24 TN-C Bài 51-100 Người Cha nhân hậu
TN24-C51. Thiên Chúa giàu lòng thương xót– ĐTGM Ngô quang Kiệt 3
TN24-C52. Niềm vui san sẻ. 5
TN24-C53. Một người cha có hai con trai 7
TN24-C54. DO NOT DISTURB ! 9
TN24-C55. THIÊN ĐƯỜNG ĐÓ TỪ ĐÂY TA ĐÁNH MẤT.. 12
TN24-C56. Lòng Chúa xót thương. 15
TN24-C57. TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXIV TN (Nam C) 17
TN24-C58. CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN.. 20
TN24-C59. Chú giải của William Barclay. 22
TN24-C60. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin. 27
TN24-C61. Chú giải của Noel Quesson. 31
TN24-C62. Chú giải của R. Gutzwiller 35
TN24-C63.   Chú giải của Fiches Dominicales. 41
TN24-C64. Tình thương vô biên. 45
TN24-C65. CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN.. 47
TN24-C66. THIÊN CHÚA, ĐẤNG NHÂN HẬU.. 49
TN24-C67. NGƯỜI CHA.. 51
TN24-C68. NỖI LÒNG CHA.. 53
TN24-C69. Chúa Nhật   12.09.2010. 55
TN24-C70. TIN MỪNG CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA.. 61
TN24-C71.SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXIV – 2001, C.. 62
TN24-C72. Chúa Nhật thứ 24 Thường Niên, C (12-9-2004) 64
TN24-C73. TÌNH YÊU TUYỆT VỜI 69
TN24-C74: LÒNG XÓT THƯƠNG VÀ THA THỨ CỦA CHÚA.. 71
TN24-C75. Chúa Nhật 24 quanh năm.. 74
TN24-C76. CHÚA NHẬT 24 QUANH NĂM, C.. 77
TN24-C77. CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN.. 81
TN24-C78. CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN, C.. 85
TN24-C79. THIÊN CHÚA TỪ BI. 93
TN24-C80. KHỦNG HOẢNG.. 97
TN24-C81. CHÂN DUNG NGƯỜI CON THẢO CỦA CHA.. 100
TN24-C82. TÌNH YÊU CAO VỜI 103
TN24-C83. YÊU THƯƠNG VÀ THA THỨ.. 104
TN24-C84. Hãy Chia Vui Với Tôi 107
TN24-C85. Chúa Nhật 24 Thường Niên, C.. 110
TN24-C86. XẦM XÌ PHẢN ĐỐI 112
TN24-C87.  MẤT – TÌM – MỪNG.. 114
TN24-C88.  ĐỨC GIÊSU ĐI TÌM CON CHIÊN LÁC.. 117
TN24-C89. ÐÓN NHẬN - TRAO BAN LÒNG THƯƠNG XÓT.. 119
TN24-C90.  ĐẤNG NHÂN TỪ.. 121
TN24-C91: TIẾNG KHÓC.. 123
TN24-C92: CHÚA NHẬT 24 TN C.. 125
TN24-C93: BAO DUNG NHÂN HẬU NOI GƯƠNG ĐỨC GIÊ-SU.. 128
TN24-C94: KHÔNG CÓ DẤU CHẤM HẾT.. 132
TN24-C95: THÀ YÊU LẦM CÒN HƠN BỎ SÓT.. 136
TN24-C96: ÂN SỦNG - ƠN BAN NHƯNG KHÔNG.. 138
TN24-C97: HỐI CẢI 142
TN24-C98: YÊU THƯƠNG, THA THỨ.. 145
TN24-C99:  DỤ NGÔN.. 150
TN24-C100:  BA DỤ NGÔN VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA.. 151

 

TN24-C51. Thiên Chúa giàu lòng thương xót– ĐTGM Ngô quang Kiệt

Bài Phúc Âm vừa nghe là một trong những trang đẹp nhất của Tin Mừng. Có thể gọi đó là Tin: TN24-C51 FB

Bài Phúc Âm vừa nghe là một trong những trang đẹp nhất của Tin Mừng. Có thể gọi đó là Tin Mừng của Tin Mừng. Vì chương 15 Phúc Âm Luca này được coi như bản tóm tắt tất cả Phúc Âm. Tin Mừng đó là Thiên Chúa Cha giàu lòng thương xót. Lòng thương xót của Thiên Chúa thực vô biên, dài, rộng, cao, sâu khôn lường, ta không thể nào hiểu thấu. Những bài sách thánh hôm nay hé mở cho ta mấy nét của lòng thương xót vô biên đó.
1. Nét thứ nhất của lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa là: sự tha thứ
Tình yêu đích thực không được đo bằng đam mê nồng cháy. Bởi những đam mê nồng cháy mau qua như một cơn bão lốc. Bão lốc qua đi chỉ để lại đổ vỡ điêu tàn.
Tình yêu đích thực không được đo bằng hy sinh tận cùng. Người ta có thể hy sinh mạng sống vì của cải, danh vọng. Hy sinh như thế có thể chỉ vì bản thân mình chứ không phải vì người khác.
Tình yêu đích thực được đo bằng sự tha thứ. Chỉ có yêu thực lòng, yêu tha thiết mới có thể tha thứ. Khi yêu người ta dám cho đi tất cả. Nhưng ít có ai cho đi sự tha thứ. Chính tha thứ mở cho ta cánh cửa dẫn vào thâm cung nhiệm mầu của tình yêu.
Tha thứ là đặc tính của tình yêu Thiên Chúa. ta hãy đọc lại lịch sử dân Israel. Biết bao lần dân chúng phản bội, chống lại Thiên Chúa. Nhưng Chúa vẫn nhân từ tha thứ. Khi Môsê cầu nguyện trên núi, dân Do Thái đã phản bội, gom góp vàng bạc đúc tượng bò mà thờ. Chúa nổi giận muốn phạt họ. Nhưng khi Môsê nài xin Chúa, Chúa đã nguôi giận mà tha thứ cho dân.
Phaolô ghét đạo Chúa, đi tìm bắt những người theo Chúa. Nhưng Chúa đã thương hoán cải ông. Hơn nữa, Chúa còn chọn ông làm Tông đồ cho Chúa.
Người con bỏ nhà ra đi, phung phí hết tiền của cha, nhưng người cha già vẫn yêu thương chờ đời, tha thứ hết khi nó trở về.
Sự tha thứ của Thiên Chúa đối với con người, nhất là người tội lỗi thực là vô biên. Sự tha thứ ây minh chứng tình yêu của Thiên Chúa đối với con người lớn lao biết chừng nào.
2. Nét thứ hai của lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Đó là: sự đi tìm.
Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ, nhưng Người không chỉ ngồi đó chờ kẻ có tội trở về xin lỗi rồi mới thứ tha. Không, chính Thiên Chúa chủ động, có sáng kiến đi tìm con người. Đó là nét độc đáo trong tình yêu thương tha thứ của Thiên Chúa.
Chính Chúa đi tìm Phaolô khi ông đang trên đường lầm lạc, có sáng kiến làm ông té ngựa để đưa ông trở lại với Chúa. Chính Chúa là người chăn chiên đi tìm con chiên bị lạc. Là người ra ngõ tìm đứa con bỏ nhà đi hoang. Cuộc đi tìm không phải dễ dàng. Người chăn chiên phải băng đồi vượt sông, luồn lách qua gai góc, dẫm đạp sỏi đá, chịu đựng nắng mưa, bất chấp thú dữ rình rập. Người phụ nữ phải thắp đèn soi vào mọi ngóc ngách trong nhà, lùa chổi vào những khe nứt nhỏ bé, kiên nhẫn moi móc tìm kiếm niềm hy vọng mong manh. Người cha phải vượt qua những thành kiến xã hội, lòng tự ái bị thương tổn, trái tim đau đớn vì yêu thương.
Đi tìm là yêu thương. Còn hơn thế, đi tìm là đã tha thứ. Quả thật Chúa đã yêu thương ta trước. Người yêu thương ta trước khi ta biết Người. Người tha thứ cho ta trước khi ta xin lỗi. Người đi tìm ta trước khi ta trở về.
3. Nét thứ ba của lòn thương xót vô biên của Thiên Chúa. Đó là: Thiên Chúa yêu thương từng người, dù rất bé nhỏ.
Trong đời sống xã hội, những người bé nhỏ nghèo hèn thường bị bỏ quên: sống cô đơn, chết cô độc, chìm vào quên lãng. Nhưng trong trái tim Thiên Chúa, mỗi người đều chiếm một vị trí quan trọng. Mỗi người đều là duy nhất độc đáo, không thể thay thế được đối với Thiên Chúa. Càng bé nhỏ nghèo hèn lại càng chiếm vị trí quan trọng trong tình yêu Thiên Chúa.
Một con chiên lạc có gì so với 99 con chiên còn lại. Giữ 99 con còn lại vừ nhàn nhã lại vừa có lợi. Đi tìm một con đi lạc vừa mệt nhọc lại vừa thiệt thòi. Nhưng trong tình yêu làm gì có tình toán thiệt hơn. Một con chiên nhỏ bé lạc loài đã chiếm hết trái tim của người mục tử nhân từ. Bao lâu chưa tìm được con chiên nhỏ bé gầy gò, lạc bầy ấy, lòng người mục tử ấy vẫn còn khắc khoải lo âu.
Đứa con bỏ nhà ra đi, xài phí hết gia sản cha mẹ làm sao sánh được với đứa con trai ngoan ngoãn ở nhà, biết chăm lo công việc, luôn hiếu thảo phụng dưỡng mẹ cha. Ấy vậy mà người cha ăn không ngon, ngủ không yên, tắt tiếng cười, mắt mờ lệ, bao lâu đứa con hư hỏng chưa trở về.
Thật kỳ diệu tình thương của Thiên Chúa. chính vì những tâm hồn bé nhỏ, tội lỗi, yếu đuối ấy mà Thiên Chúa đã sai Con Một Người xuống trần gian như lời Chúa Giêsu nói: “Những người bệnh mới cần đến thầy thuốc”.
Thực là vô biên lòng thương xót của Thiên Chúa. lòng thương xót ấy lớn hơn cả trái tim cảu ta. Ơn lành của Thiên Chúa lớn hơn cả tội lỗi cảu ta. Sự tha thứ của Thiên Chúa lớn hơn cả trí tưởng tượng của ta. Tất cả chúng ta hãy đến với Người. Hãy mang theo những yếu đuối lầm lỡ của ta. Hãy cho Người xem vết thương từ lâu gặm nhấm trái tim ta. Hãy tâm sự nỗi buồn vô vọng của ta. Thiên Chúa Cha chúng ta Đấng giaù lòng thương xót. Không có tội lỗi nào Người không tha thứ ,không có vết thương nào Người không chữa lành. Không có nỗi buồn nào Người không an ủi.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1. Kể ra vài nét của lòng thương xót của Chúa.
2. Tại sao tha thứ là dấu chỉ rõ nhất của tình yêu?
3. Cảm nhận được tình yêu và đáp lại tình yêu của Thiên Chúa. bạn có coi điều này là hệ trọng nhất trong đời không?

 

TN24-C52. Niềm vui san sẻ

Suy niệm của chúng ta về dụ ngôn đồng bạc đánh mất rồi tìm thấy, bắt đầu từ ý niệm việc: TN24-C52

Suy niệm của chúng ta về dụ ngôn đồng bạc đánh mất rồi tìm thấy, bắt đầu từ ý niệm việc tông đồ của người Kitô hữu phải tỏa rộng niềm vui đã tìm thấy ơn cứu độ.
Người đàn bà nói trong dụ ngôn rất bực vì đánh mất đồng bạc, món tiền nhỏ nhưng rất quý đối với mình. Moi móc các nơi trong nhà, tìm được rồi, bà ấy vui mừng phân phô với hàng xóm. Chúng ta chuyển dụ ngôn sang bình diện đời sống nhân loại. Kitô hữu là một người đau xót vì thiết mất một vật gì, biết rõ nó là của mình trước đây, mình đã vô ý đánh mất; mơ hồ cảm thấy tất cả con người mình khao khát tình thân thiết của Thiên Chúa, nhận thức rằng tai họa do sự tội đã khiến mình đánh mất tình thân thiết quý báu ấy. Nhưng không cam chịu mất mát, người ấy tìm tòi trong mình và quanh mình, tự hỏi lòng mình, hỏi cả người xung quanh. Một ngày kia, gặp thấy ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô, lại tìm thấy ý nghĩa cuộc đời, người ấy vui mừng. Của bị mất nay lại tìm thấy, nó quý vô cùng, đến nỗi không thể vui riêng một mình, người ấy phải san sẻ với người xung quanh. Người ấy có giống người đàn bà mất tiền không? Có gọi bạn bè hàng xóm đến chung vui không? Vấn đề ấy không đặt ra ở đây. Vấn đề khác sâu sắc hơn là niềm vui phải làm rạng ngời vẻ mặt một kẻ được cứu vớt, vui từ thâm tâm tỏa ra trên nét mặt, lúc nào cũng sẵn sàng chia sẻ niềm vui giữa anh em mình. Hai câu hỏi đặt ra cho chúng ta:
1) Chúng ta có cảm biết sâu sắc không, thế nào là đánh mất rồi tìm lại được? Có thể rằng chúng ta tự tại trong niềm tin, trong sự giữ đạo đầy đủ, cho nên không hiểu được thấm thía tai họa to lớn xảy đến cho kẻ không có đời sống siêu nhiên. Người Kitô hữu rất có thể -nói theo ngôn từ Phúc Âm- lâm vào tình huống mất tiền mà không biết; vì không biết nên không tìm kiếm; không tìm kiếm nên không tìm được đồng bạc, không có được niềm vui. Chúng ta thử nghĩ về bi kịch đời sống kẻ đã mất Thiên Chúa; chúng ta hãy vui lên vì đã tìm lại được tình thân thiết của Thiên Chúa (hoặc nói đúng hơn, vì tình thân thiết của Thiên Chúa đã tìm lại được chúng ta- đàng nào kết quả cũng vậy).
2) Chúng ta có san sẻ niềm vui với anh em không? Ở đây đặt ra vấn đề hoạt động tông đồ theo một đường lối nào đó. Một số đường lối truyền giáo (nhất là một số buổi họp đoàn thể) ít lan tỏa niềm vui… Niềm phấn khởi, sức năng động của công việc truyền giáo phải bắt nguồn từ niềm xác tín sâu sắc và kinh nghiệm sống rằng ‘chúng ta đã tìm thấy’. Bình thường thì phát hiện ấy phải khiến chúng ta vui mừng, niềm vui của chúng ta phải tỏa rộng. Chúng ta biết rằng niềm vui thu hút, niềm vui đa dạng. Chúng ta cũng biết, nụ cười tươi của chiến sĩ truyền giáo thu được nhiều thành quả hơn mọi kỹ thuật hành động.

 

TN24-C53. Một người cha có hai con trai

Tin Mừng không phải là một đồng bằng, nhưng có những đỉnh cao. Chúng ta đang đứng trước: TN24-C53

Tin Mừng không phải là một đồng bằng, nhưng có những đỉnh cao. Chúng ta đang đứng trước một trong những đỉnh cao nhất: Luca 15,11-32. Người ta nói rằng đây là dụ ngôn đứa con hoang đàng, nhưng Chúa Giêsu làm nổi bật ba nhân vật: một người cha và hai đứa con trai. Đối với người con thứ, những cuộc phiêu lưu của cậu ta có hề chi, có biết bao cách để phung phí món quà cuộc đời khi đi sống xa cha mình. Điều phải khám phá chính là Chúa Cha, nhờ Chúa Giêsu. Tất cả các nhà chú giải và tất cả các nhà linh hướng đều nói điều đó. Chúa Giêsu đã mặc khải Thiên Chúa chính trong trang Tin Mừng này.
“Khi cậu còn ở xa, cha cậu đã trông thấy cậu”. Người cha đang chờ đợi. Ông không tự hỏi người con thứ của mình nói gì hoặc làm gì, ông chỉ nghĩ: “Nếu con ta xuất hiện nhỉ!”. Ngay khi ông thấy cậu, ông ôm cậu vào lòng, hết sức thương hại và yêu mến. Ông chạy lại (không cần phải làm đến như thế đâu!), ông hôn cậu tới tấp (nói cha tha thứ cho con không tốt hơn sao!), ông không lắng nghe những lời xin lỗi, ông quá vội vàng khi làm bùng lên niềm vui và ngày lễ hội. Nhanh lên, hãy đưa áo quần lại đây! Nhanh lên, hãy làm thịt bê béo! Con ta đã mất nay lại tìm thấy.
Đây chính là mặc khải đáng ngạc nhiên mà Chúa Giêsu muốn cho chúng ta biết: chúng ta được yêu thương biết bao! Nhưng dại dột và thậm chí những tội ác của chúng ta là gì trước nhiệt tình này: “Cậu ấy lại được tìm thấy”. Nếu chúng ta dám tin điều ấy thì quan hệ tình yêu giữa chúng ta với Chúa Cha kỳ lạ biết mấy! Tại sao khó mà thấy được Thiên Chúa yêu thương đến thế? Có phải vì sự khó khăn này mà Chúa Giêsu giới thiệu người con cả với chúng ta nhiều lần đến thế? Ngài có thể đã nghĩ đến dụ ngôn này sau khi nghe những lời đả kích của những người công chính trước thái độ của Ngài: “Người này tiếp đón những kẻ tội lỗi, thậm chí ngồi cùng bàn ăn với họ!”. Đúng y như lời lẩm bẩm của người con cả! Thay vì vui mừng, anh ta phản đối, anh ta bị ảnh hưởng xấu. Thật là đứa em làm bực mình.
Than ôi, biết bao lần chúng ta cũng bị dồn vào thế bí, cũng đóng kín đối với tình yêu. Chúng ta phán xét thay vì mở rộng vòng tay. Nhưng tôi thấy rõ sự khó khăn: nếu chúng ta chấp nhận tất cả, thì đạo đức dùng để làm gì? Và Thiên Chúa là ai nếu Ngài chấp nhận tất cả?
Chúng ta đã được đào tạo ghê sợ tội lỗi, lên án sự vô trật tự, chúng ta không thể trở nên vừa lòng một cách đáng ngờ! Chính Thiên Chúa là Đấng chúng ta bảo vệ bằng cách bảo vệ luật lệ của Ngài và bằng cách tỏ ra cứng rắn!
Như thế thì làm thế nào mà mở rộng vòng tay được? Làm thế nào bắt chước người cha trong dụ ngôn theo cách hoàn toàn điên rồ của ông, đó là tiếp đón đứa con lưu manh trở về vì đói được?
Nhưng cậu ấy trở về! Hành động của người cha trước tiên là tình yêu thương, chứ không phải trước tiên là những câu hỏi về những thái độ công chính. Sau đó, chúng ta sẽ xem xét việc sống trong nề nếp như thế nào. Điều cấp bách nhất chính là yêu thương.
Chúng ta, những người công chính, muốn là những người công chính, chúng ta trước hết nghĩ đến việc xét đoán, lưu ý những điều cần thiết, giới hạn điều xấu xa, xem điều gì có thể chấp nhận được. Khi tất cả đều khá rõ ràng, được sửa chữa tốt, chúng ta mới có thể yêu thương.
Như thế là hỏng hết 90% rồi. Chúa Giêsu đã nhận thấy điều đó trong khi quan sát những cố gắng thực sự của những người công chính vào thời của Ngài, tức những người biệt phái và những luật sĩ: khởi đi từ sự công chính, họ không đi đến được tình yêu. Họ cố gắng yêu thương, nhưng họ vẫn ở trong những giới hạn chật hẹp và tất nhiên đặt Thiên Chúa trong cũng những giới hạn đó: “Dầu sao thì Ngài cũng không thể yêu thương những kẻ tội lỗi!”, họ nghĩ như thế. Chúng ta, bởi vì Chúa Giêsu đã nói điều ấy, nói chung chúng ta chấp nhận rằng Thiên Chúa yêu thương những kẻ tội lỗi, điều này thậm chí lại tốt cho chúng ta hoặc người này người nọ, nhưng không phải cho người kia đâu!, xem nào! Người kia, “những người kia”, Thiên Chúa không thể yêu thương họ được.
Có chứ! Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng không có ai bị loại bỏ, rằng Thiên Chúa đúng là người cha trong dụ ngôn của Ngài. Và chúng ta là những người con của Ngài khi chúng ta trước hết là đặt mình vào trong tình yêu thương.
Chúng ta không nên chấp nhận tất cả, chúng ta phải chiến đấu chống lại tội lỗi và chiến đấu vì sự công chính. Nhưng làm những điều đó trong tình yêu. Tất cả đều nằm ở đó. Chính trong khi yêu thương chúng ta Thiên Chúa đưa chúng ta ra khỏi tội lỗi, chính Thiên Chúa chiến đấu tội lỗi nơi chúng ta, không phải bằng cách đè bẹp hoặc loại bỏ chúng ta.
Xin Chúa giúp chúng ta quay lại để đạt được suy tư Tin Mừng trong sáng duy nhất này: luôn luôn đặt mình trong tình yêu. Khi tôi tự phán xét tôi, hãy nghĩ rằng Chúa Cha yêu thương tôi. Khi tôi phải phán xét những người khác, trước tiên hãy nghĩ đến việc yêu thương họ như Thiên Chúa yêu thương họ. Đó là vị Thiên Chúa thật được Chúa Giêsu mặc khải.
Trong ánh sáng tình yêu này tất cả đều có thể trở về lại sự sống: “Con trai tôi đã chết mà nay vẫn còn sống! Em con đã chết mà nay vẫn còn sống!”.

 

TN24-C54. DO NOT DISTURB !

Lc  15, 1 – 10
 

Các báo đài trên thế giới những ngày qua đều nhất loạt đưa tin về vụ mất tích vào ngày 3.9, của: TN24-C54

Các báo đài trên thế giới những ngày qua đều nhất loạt đưa tin về vụ mất tích vào ngày 3.9, của tỷ phú Fossett, vốn có thú vui khác người là thích lập kỷ lục. Chính quyền địa phương đã điều động 14 máy bay tìm kiếm nhà tỉ phú ưa mạo hiểm nhưng không phát hiện dấu hiệu máy bay rơi do khu vực tìm kiếm quá rộng. Tuy nhiên, giới chức địa phương tỏ ra lạc quan rằng ông Fossett vẫn còn sống sót. Ngoài người nhà và thân hữu, thì những kẻ mong ông sống sót nhất có lẽ là công ty bảo hiểm, để tránh được khoản bồi thường không nhỏ.
Một người đàn ông ở Sài Gòn tìm lại được đứa con trai thất lạc từ năm 1975. Một thanh niên ở Canada suốt cuộc đời sống phận mồ côi, bỗng dưng biết mình vẫn còn có cha và anh em ruột ở Việt Nam. Sợi dây nối kết họ chính là một bài báo đăng trên tờ báo Tuổi Trẻ. Mẫu thử của ông Thạnh đã được xử lý cùng với mẫu thử của Thanh, sử dụng kỹ thuật PCR. Phòng thí nghiệm cho kết quả ông Nguyễn Minh Thạnh là cha ruột của Thanh Campbell, với chỉ số cha 100.447. Tức là nếu chọn ngẫu nhiên 100.447 người đàn ông không có quan hệ gì với nhau, trong đó có ông Thạnh, thì ông ấy là người duy nhất có ADN trùng khớp với ADN của Thanh.
Soudan, Somalie, nơi hàng trăm ngàn người dân chết và hàng triệu người phải lành nạn đói khổ vì những cuộc nội chiến phi nghĩa liên miên kéo dài trong nhữg đất nước nghèo đói ở Phi Châu nầy.  Ngoài những món hàng viện trợ nhân đạo cứu đói, thì chẳng ai buồn ngó ngàng đến những vùng chiến sự đẩm máu nầy, trừ những quốc gia và những tổ chức được lợi bạc tỷ qua việc buôn bán, cung cấp vũ khí.
Sau khi Diogène qua đời, trên mộ của triết gia người Hy Lạp được dựng thêm một con chó bằng cẩm thạch để ám chỉ trường phái khuyển nho cay cú giễu cợt của ông, mà điển hình là câu chuyện vẫn được truyền tụng trong dân gian: ngay giữa ban ngày, người ta thấy ông rảo bước khắp các đường phố ở Athen, tay cấm chiếc đèn lồng thắp sáng, miệng không ngớt hô to: ”tôi đi tìm một con người”. Có lẽ đến cuối đời, trong mắt ông, vẫn chưa tìm được “con người” đúng như ông mong muốn.
Trong cuộc du hành vĩ đại để tìm hiểu những sự sống ngoài hành tinh của mình, khi đến Trái Đất, Hoàng tử Bé ( Le Petit Prince – Antoine de Saint Exupéry) nhìn thấy một khu vườn có rất nhiều hoa hồng và cậu cảm thấy rất đau khổ. Đóa hoa hồng của cậu đã kể rằng nàng là duy nhất trong giống nòi của nàng khắp trong vũ trụ, thế mà ở đây có đến năm nghìn đóa hoa giống như nhau. Chỉ sau khi một con cáo xuất hiện, giải thích rằng đóa hoa của cậu là duy nhất và đặc biệt vì bông hoa đó đã cảm hóa được cậu, có nghĩa là tạo nên những mối liên hệ khiến nó luôn là độc nhất với cậu.
Trong Tin Mừng hôm nay, người ta ngạc nhiên về tính nhân bản đầy ắp trong những dụ ngôn của Chúa Giê-su: sự quan tâm, sự gắn bó là nguồn gốc của yêu thương vượt xa mọi toan tính vụ lợi, với những hy sinh không đáng có và cuối cùng là niềm vui không tương xứng. Một đồng bạc chẳng mấy giá trị; một con chiên không phải là một tài sản to tát. Không ai mất giờ bỏ công kiếm tìm tới cùng, ngoại trừ Thiên Chúa ! Trong mắt Chúa và vì Tình Yêu vô biên của Người, Thiên Chúa giống như Lão hà tiện Harpagon trong các hài kịch của đại văn hào Pháp Molière: cái gì cũng tiếc, cái gì cũng trân trọng, vì thế mà xót xa khi đánh mất hay thất lạc cái gì thuộc về mình, dù là nhỏ nhất, hoặc phải gắng gượng chi ra cho ai. Khác chăng là sự thoả mãn ích kỷ của Harpagon là nguyên nhân khiến Harpagon vui, vì tài sản càng ít bị sứt mẻ và càng vun đầy thì càng tốt; còn nơi Thiên Chúa là niềm vui vở ra vì công lao được đền bù, vì tình nghĩa gắn bó được nối lại. Niềm vui mà hàng xóm láng giềng được mời đến chia sẻ, chẳng thể nào so sánh được với niềm vui tự nhiên và tức thời của cả triều thần thánh thiên cung.
Lạy Chúa, tự nhiên con muốn so sánh – có thể không được chỉnh lắm – hình ảnh hai người trong hai dụ ngôn này với hai vợ chồng trong một gia đình Công Giáo. khi nào thì bà mẹ gác mọi sự để lục tung những gì trong đời sống tình cảm, đạo đức trong gia đình, để tìm lại những đức tính của con cái, mà vì chỉ lo toan cho việc làm ăn, bà đã mặc con cái đánh mất hoặc bị lấy đi ? Khi nào thì người cha ý thức con cái mình đang bị lạc, và gác lại mọi sự - dù vì thế mà bị thiệt hại lớn lao - để vác con cái trên vai, trong con tim, trở về trong yêu thương, an toàn và sum họp ? Khi nào thì các nữ tu thấy Chúa Giê-su muốn các Vị thắp đèn lòng cuộc đời mình - bằng tinh thần khó nghèo và cầu nguyện - và cầm chổi - với tinh thần truyền giáo như Thánh Têrêxa Lisieux - quét hết rác rến ma qủy, giúp cho những kẻ lạc mất được tìm thấy lại tình yêu của Chúa ? Khi nào thì các linh mục không còn khoanh việc mục vụ trong vòng các bí tích, nhưng đôi mắt luôn mở to, đôi chân luôn chực chờ rảo bước và con tim luôn thôi thúc đi tìm con chiên lạc, không phải chỉ một hai, mà là đa số trong những kẻ Chúa và Hội Thánh trao phó cho các Ngài ? Bởi lạy Chúa, nếu không được thấm nhuần bài học quan tâm gắn bó vì đức ái Chúa dạy hôm nay, nếu không học được nơi Chúa để biết qúy trọng mỗi một linh hồn, thì con người dù sống bên nhau, dù cùng chắp tay cầu nguyện và thờ phương một Cha trên trời, thì chẳng những vẫn dửng dưng với nhau, mà chẳng hề thấy liên quan gì nhau khi kẻ mất người còn.
Bên bếp hồng Tình Yêu của Chúa, con người run lên vì sự lạnh giá trong quan hệ người với người, giữa con cái Chúa và con người và cả giữa con cái Chúa với nhau. Không chừng có kẻ còn hắt nước theo mưa, vui thầm vì sự con đường hủy diệt anh em mình đang lao vào và lún sâu. Tội của những người suy nghĩ và hành động như thế nặng không thua gì  những kẻ liều mình hư đi, như trong câu chuyện người Biệt phái và người thu thuế cùng lên Đền Thờ cầu nguyện. Cái làm nên khác biệt trong tương quan giữa người với người, giữa giới hữu trách và những người được phó thác cho họ - dù ở  lãnh vực bất kỳ nào – là sự gắn kết bổn phận với tình thương và liên đới, theo cách làm của Chúa Cha và của Ngài, lạy Chúa. Con người sẽ khô khan, “hành chính” khi không làm sai bổn phận, không vi phạm các cam kết. Làm tròn bổn phận thì không thể có được niềm vui rạng ngời, trong sáng, vở òa, của người đàn bà tìm lại được đồng bạc hoặc của chàng mục tử tìm lại được con chiên bị thất lạc. Khác biệt vẫn ở chữ ‘TÌNH”! Khác chăng là ở thái độ sống sợ phiền toái, mất thời giờ - tiền bạc – công sức, tự cô lập tâm hồn và niêm phong mọi cánh cửa dẫn tới tha nhân, bằng việc dán lên suy nghĩ, hành động của mình hàng chữ: DO NOT DISTURB !
Nếu như Thiên Chúa cũng ghi ở cửa Thiên Đàng hàng chữ: DO NOT DISTURB !
CVK NGUYỄN THẾ BÀI, Tình Ca Cho Người Được Yêu số 67

TN24-C55. THIÊN ĐƯỜNG ĐÓ TỪ ĐÂY TA ĐÁNH MẤT
Thiên đường đó xa rồi anh đơn lạnh
Thích lang thang, thích ngổ ngáo với đời
Thích hoang đàng, thích phiêu bạt rong chơi
Vì mất em – chẳng còn gì hạnh phúc.
( thơ Nguyễn Trung Nghĩa )
 

Chẳng còn gì hạnh phúc, vì em đánh mất thiên đường. Thiên đường tình yêu kia đã mất, nay em tỉnh: TN24-C55

Chẳng còn gì hạnh phúc, vì em đánh mất thiên đường. Thiên đường tình yêu kia đã mất, nay em tỉnh giấc, quay về với vòng tay âu yếm của Cha. Đánh mất Thiên đường Tình yêu của Cha nay đã gặp, là tâm tình được thánh Luca ghi lại nơi dụ ngôn “người em đi hoang”, nơi trình thuật.
Trình thuật hôm nay thánh Luca diễn tả về chuyện đánh mất. Mất chiên, mất tiền, mất người con yêu, nay về lại. Dụ ngôn “người em đi hoang” đã trở về với niềm vui của Cha, là chủ đề chính được mô tả rất kỹ. Mỗi chi tiết, từ ý tứ đến lời văn, nhất nhất qui về niềm vui của Cha khi tìm được những gì đã mất.
Ở bài đọc thứ nhất, Môsê đã tìm được tâm tình yêu thương nhân hiền của Đức Chúa, sau cơn lôi đình Người nổi giận vì dân Do Thái vô ơn, bạc phước. Ở bài đọc thứ hai, tình yêu đại lượng của Đức Kitô trao ban trở lại cho thánh Phao-lô, sau khi thánh nhân tìm được niềm tin yêu đánh mất. Và ở bài Phúc Âm, niềm vui mừng cao điểm khi người mục tử tìm được chiên lạc, người phụ nữ tìm ra tiền lạc mất. Và, Cha mở rộng vòng tay đón người con đi hoang, nay trở về.
Ở trình thuật hôm nay, Cha Nhân Hiền đóng vai trò trọng tâm trong dụ ngôn. Dù người con yêu cầu phân chia gia sản, vung tiền ăn chơi trác táng, mất đi “thiên đường” của giòng họ, Cha vẫn chờ, không giận dữ, chẳng tiếc nuối đã lỡ thương. Chẳng lên án con bất hiếu, hỗn láo. Cha vẫn chờ con về để rộng lòng xót thương, vỗ về.
Đọc dụ ngôn theo nhãn giới thời bây giờ, hẳn mọi người đều thấy đúng thái độ của anh hai. Là con ngoan, bổn phận phục vụ Cha luôn chu toàn, không màng danh lợi cùng trọng thưởng, chỉ chí thú một đời làm lụng, không đi hoang phá họai. Các đặc tính ấy không cò gì đáng chê trách. Nhưng, thái độ bất đồng của anh, ganh tị với em, hẹp hòi không chịu vào nhà chung vui với mọi người. Đây, chính là thái độ tiêu cực, không được Cha cổ võ.
Cân nhắc - phẩm bình, là chuyện rất nên. Nhưng quan trọng hơn cả, là: nghe dụ ngôn, phải đặt mình vào bối cảnh của truyện. Dụ ngôn “người em đi hoang” đựoc mở đầu bằng câu: “Các người thu thuế và tội lỗi đều tìm đến Đức Giê-su để nghe Ngài giảng.” Ở đây, dụ ngôn làm nổi bật hai mức độ/lĩnh vực có liên quan hỗ tương. Trước tiên, là sự đối chọi giữa hành vi của người cho mình đạo đức chính trực với tư thế của người bị coi là ngoại cuộc, do thái độ đạo đức của họ. Thứ đến, là thái độ của con dân Đức Chúa ( mà đại diện là người con cả “chả bao giờ trái luật” ) với người “ngoài Đạo” được đánh giá là người vô luân và phi luân lý (mà người con thứ là đại diện).
Các cụm từ chính được dùng ở đây, là: “tìm đến” và “nghe giảng dạy” tất cả mọi người –chẳng cần biết trước đây và bây giờ có thái độ thế nào-  nếu chủ tâm biết “tìm đến” Đức Giê-su và ước ao được “nghe Ngài giảng”, thì nhất định không thể là người tội lỗi. Bởi vì, nếu định nghĩa cho chính xác, thì chỉ là người tội lỗi, những ai ngưng không “tìm đến” Đức Giê-su và thôi không muốn “nghe Ngài giảng dạy” nữa, mới đúng. Thật ra, Đức Giê-su vẫn thấy nơi những người tụ tập quanh Ngài, là những người thực sự “tìm đến” Ngài , và muốn “nghe Ngài giảng dạy”, để rồi sẽ đổi thay.              
Trong khi đó, nhóm Pharisêu và các kinh sư đều nhìn tất cả mọi người ở ngoài nhóm của mình đều rập khuôn mang nhãn hiệu “kẻ tội lỗi”. Chính vì thế, họ mới xầm xì về Đức Giê=su, rằng: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng” (Lc 15: 2). Đối lại, Đức Giê-su không tranh luận với họ bằng những giải thích giông dài thần học. Ngài dùng dụ ngôn để kể. Và hôm nay, vì họ “đánh mất thiên đường, nơi anh có em”, nên có đến ba bài dụ ngôn được Ngài kể. Cả ba, đều qui về một chuyện: Đức Chúa yêu thương hết mọi người. Ngài mong mọi người quay về với Ngài. Nếu họ làm thế, cả khi phạm tội tày trời, Ngải vẫn giang tay nghênh đón.
Tuy nhiên, ở đây dễ hiểu lầm mà cho rằng, dù ta làm gì tệ phạm đi nữa, cuối cùng rồi Chúa cũng xót thương, tha thứ. Vậy nên, cứ tha hồ làm điều xấu. Trong tương quan với Đức chúa, có hai việc cần minh định. Trước nhất, Chúa yêu thương mọi người chúng ta. Tình yêu của Ngài không mang điều kiện nào hết. Chẳng cần biết ta là ai? Ta có làm gì chống Chúa, chống anh em? Tình yêu Ngài đối với ta, tuyệt nhiên không suy xuyển.
Thứ đến, có điều chắc chắn, là: chẳng phải vì ta hiền lành/thánh thiện mà Ngài sẽ yêu hơn hoặc nếu ta phạm lỗi, Ngài yêu ít đi. Thiên Chúa là Tình yêu. Tình Ngài yêu ta rất trọn vẹn. Dù là, đối với các vị thánh như Mẹ Têrêsa. Hoặc, với các kẻ độc tài, hình sự. Bởi nếu không, thì Ngài cũng thiên vị, như ai. Chính vì thế, Ngài mới bảo: “Có là người bệnh mới cần đến thầy lang.”
Dầu sao, Việc Chúa thứ tha mọi tội, là hành xử vô điều kiện. Điều này thấy rõ nơi dụ ngôn “người em đi hoang” có thái độ của người con đã trót dại: “thích lang thang, ngổ ngáo với đời” và “thích phiêu bạt rong chơi”, như nhà thơ diễn tả. Dù rồ dại, Cha vẫn yêu đứa con “hoang tàng”. Cha không mang thành kiến, hoặc kỳ thị các con: “mãi từ xa trông thấy, Cha đã chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ người con, và hôn lấy hôn để…” Tình yêu của Cha là như thế. Nhưng tình thương yêu tha thứ của Cha chỉ nên trọn vẹn, khi con biết tỉnh giấc, quay về. Nói khác đi, chỉ có thứ tha trọn vẹn khi có hoà giải. Khi vết thương chia cách được chữa lành. Đây chính là ý nghĩa của bí tích hóa giải, thứ tha.
Trong hòa giải với Chúa, bước dấn thân đầu tiên như “người em đi hoang” đã nghĩ là bước quan trọng. Quan trọng, vì biết chắc Cha sẽ giang rộng đôi tay già ra chào đón ta trở về. Chẳng còn chữ “nếu”, chữ “nhưng”. Chẳng điều kiện, cũng không dè chừng. Không hình phạt, cũng chẳng bổ sung, bồi thường. Điều này, được thánh Phao-lô mạnh dạn nói rõ: “Đây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Đức Kitô Giê-su đã đến thế gian, để cứu người tội lỗi, mà kẻ đầu đàn là tôi.” ( 1Tm 1, 15 ).
Cũng thế, đường lối Chúa đón nhận “người em đi hoang” trở về, phải được chứng xác bằng tương quan ta có với người khác nữa. Trong lời cầu Chúa dạy, rõ ràng ta vẫn quyết: “Xin tha cho con mọi lỗi lầm trót phạm, cũng một kiểu như con đã làm cho người anh em.”
Cuối cùng ra, khi đã được tha thứ, cũng nên nhớ thêm Lời Ngài đã phán: “Hãy trở nên trọn lành, vì Cha của chúng ta trên trời là Đấng trọn lành”. Điều này mang ý nghĩa rất sáng tỏ: hãy yêu thương hết mọi người, một cách vô điều kiện, như Chúa hằng yêu ta. Và, hãy sẵn sàng tha thứ cũng như hòa giải với từng người như Ngài đã từng làm như thế, với từng người một.
Việc này không dễ. Nhưng không phải là chẳng thể làm được. Nhưng với sự trợ giúp của Cha, ta luôn hy vọng.
Vào tiệc lòng mến  hôm nay, ta cứ hân hoan và hy vọng. Hy vọng là Chúa vẫn thứ tha. Hy vọng là ta cũng sẽ tha thứ hết mọi người. Từ “người em đi hoang” thích phiêu bạt giang hồ, cho chí người anh “vẫn hầu hạ Cha, chẳng khi nào trái lệnh”, và tất cả mọi người.
Trong hy vọng “thiên đường – nơi có anh có em, từ nay không đánh mất”, ta cứ hân hoan cùng với các người anh, người chị khắp nơi hát lên lời của người nghệ sĩ hôm nào:
            Bạn ơi, xin hãy vứt hết nỗi buồn,
            Xóa tan đi bao đêm trường,
Bước ung dung trong cuộc đời … hạ ơi. ( Lê Hựu hà – Vào hạ )
Hân hoan, hy vọng. Và vứt đi bao nỗi buồn. Dù buồn khi vào hạ; hay niềm vui khi người em đi hoang phá tán, nay trở về. Hãy cứ bước ung dung trong cuộc đời, đã có Cha. Có Cha Nhân Hiền luôn mở vòng tay tha thứ. Rất yêu thương. Rất “thiên đường nay không còn mất nữa”. Thiên đường ấy, đang ở đây. Bây giờ.
Lm. PHAN ĐỖ THỤC LINH ( c ), bản dịch của MAI T

 

TN24-C56. Lòng Chúa xót thương

Qua phần phụng vụ lời Chúa hôm nay, tôi muốn chia sẻ một vài ý nghĩ đơn sơ về tình yêu của: TN24-C56

Qua phần phụng vụ lời Chúa hôm nay, tôi muốn chia sẻ một vài ý nghĩ đơn sơ về tình yêu của Thiên Chúa.
Trước hết đó là một tình yêu đi bước trước.
Thực vậy, hình ảnh mà tiên tri Ezechiel cũng như nhiều vị tiên tri khác đã dùng, đó là hình ảnh một mục tử lặn lội đi tìm kiếm con chiên, không quản ngại đường xa và khó khăn khôn lường.
Chính Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần khẳng định chân lý ấy: Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước khi có chúng ta. Người đã cứu độ chúng ta trước khi chúng ta trở về, nghĩa là khi chúng ta còn ở trong tội lỗi. Thái độ và cách thức cư xử của Chúa Giêsu đối với những kẻ thu thuế và tội lỗi đã là một lời nói hùng hồn chứng minh cho sự thật trên.
Từ đó chúng ta nhận thấy tình yêu đi trước cũng chính là tình yêu vô điều kiện và hoàn toàn vô vị lợi, hoàn toàn nhằm tới hạnh phúc của người được yêu thương. Chỉ mình Thiên Chúa, mới có được thứ tình yêu tinh ròng và cao cả như vậy, còn chúng ta chúng ta được Chúa mời gọi để sống trọn lành như Ngài, nghĩa là cũng phải có một tình yêu đi bước trước, một tình yêu không điều kiện, một tình yêu vô vị lợi đối với những người anh em.
Tiếp đến tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu thiên vị.
Lời xác quyết này có lẽ làm cho chúng ta hơi ngạc nhiên. Đúng thế, Thiên Chúa yêu thương hết mọi người, không trừ một ai, không bỏ bất cứ con người nào, dù người đó xấu xa tội lỗi đến đâu chăng nữa. Tuy nhiên có một điều cũng hết sức hiển nhiên là trong cung cách sống của Chúa Giêsu, chúng ta thấy được một tình yêu ưu tiên, một tình yêu thiên vị, dành cho những kẻ sống bên lề xã hội thời bấy giờ, đó là đàn bà, trẻ em, những người thu thuế, những người ngoại đạo và những kẻ tội lỗi công khai, như đĩ điếm, trộm cướp... Người Do Thái đã gán cho Ngài cái biệt hiệu là bạn đồng bàn với phường tội lỗi, và họ đã nói lên được một sự thật.
Tuy nhiên họ không hiểu được tâm trạng và cõi lòng của Thiên Chúa như chính Ngài đã diễn tả: Tư tưởng và đường lối của Ta thật khác biệt với tư tưởng và đường lối của các ngươi. Quả thật, Chúa Giêsu đã gần gũi, đã làm bạn, đã cứu vớt những kẻ tật nguyền, bệnh hoạn và tội lỗi. Ngài đã khẳng định một cách rõ ràng và minh bạch: Chỉ có bệnh nhân mới cần đến thầy thuốc, và Ngài chính là vị thầy thuốc mà các tâm hồn ốm đau đang chờ đón. Hơn thế nữa, Chúa Giêsu còn xác định mục tiêu Ngài phải theo đuổi, sứ mạng Ngài phải thực hiện khi đến trong trần gian:
- Con Người tới là để tìm kiếm và cứu chuộc những gì đã hư đi.
Chỉ khi nào chúng ta hiểu được cái thế ưu tiên, cái thế thiên vị ấy trong cách chọn lựa của Chúa, chúng ta mới nghiệm ra được tại sao nỗi vui mừng hân hoan của Chúa lại lớn lao đến thế, khi tìm thấy một con chiên lạc, một đồng bạc bị đánh rơi hay một người con hoang đàng trở về nhà cha. Cả thiên đàng sẽ vui mừng vì một kẻ tội lỗi sám hối ăn năn hơn là 99 người công chính không cần ăn năn sám hối.
Và như vậy, ước muốn của Thiên Chúa là con người được cứu rỗi và sống trong tình thương yêu của Ngài, chứ không phải là lặn ngụp trong chốn bùn nhơ tội lỗi, để rồi cuối cùng sẽ bị kết án đoạ đầy muôn kiếp.

 

TN24-C57. TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXIV TN (Nam C)

Lc 15, 1 – 32
 CON NGƯỜI VÀ THẦN MINH
 

Bản tuyên dương của Hội Đồng Giám Khảo Liên Hoan  Điện Ảnh Quốc Tế Cannes năm 2010: TN24-C57

Bản tuyên dương của Hội Đồng Giám Khảo Liên Hoan  Điện Ảnh Quốc Tế Cannes năm 2010 nêu rõ: " Tình yêu nhân loại rất sâu sắc của các Đan sĩ Khổ Tu, sự tôn trọng Hồi Giáo của các Đan Sĩ, đặc biệt là lòng yêu thương và từ bi quảng đại mà các Đan sĩ dành cho những ngưòi dân làng vùng lân cận thực sự như anh em, là lý do để Hội Đồng Giám Khảo chúng tôi quyết định chọn trao Giải Thưởng Lớn của Liên Hoan cho bộ phim nầy”. Trong bài điểm phim ngày 15.05.2010 nhà phê bình điện ảnh nữ Kate Muir đã nhận định về phong cách mà đạo diễn Xavier Beauvois mô tả các Linh Mục Đan sĩ Dòng Khổ Tu ở Tibhirine. Những Đan sĩ này sống đời chiêm niệm và phục vụ những dân quê nghèo khổ trong những làng nằm sâu trong dãy núi Atlas của Algeria. Phim tả lại các vị Linh Mục Đan Sĩ đã xây dựng tình hữu nghị và huynh đệ vững mạnh với cộng đồng dân cư xung quanh Đan Viện. Đan Viện sống tương đối trong yên bình cho tới ngày xung đột nổi lên giữa chính quyền địa phương và các nhóm Hồi Giáo cực đoan . Cho dù các bên có liên quan đến cuộc xung đột này đều đã khuyên nhủ, gợi ý, báo trước cho các Đan sĩ Linh Mục để các ngài rời bỏ Đan Viện hầu bảo toàn tính mạng, nhưng từng Đan Sĩ một cho đến cả cộng đoàn Đan sĩ Khổ Tu đã quyết định ở lại. Cuối cùng tất cả các Linh Mục và Đan Sĩ đã bị bắt làm con tin và bị một nhóm Hồi giáo chính thống hạ sát một cách dã man.
 Bộ phim “Des hommes et des dieux” (con người và thần minh), khi được trình chiếu trong Liên Hoan Phim Cannes lần thứ 63 (2010) đã gây ra cảm xúc mãnh liệt và phần đông khán giả đã khóc nức nở khi phim được trình chiếu lần đầu. Không phải những thần minh của xứ sở Châu Phi nầy, trước đây là đa thần và từ năm 1996, theo điều 2 hiến pháp, lấy Hồi giáo làm quốc giáo, với những chiến binh cực đoan được lớp giáo sĩ quá khích hô hào cổ vũ ‘thánh chiến’, đã đến, yêu thương,gắn bó và hy sinh cả cuộc sống lẫn tính mạng vì người dân nghèo Algérie, mà những “thần minh - người” hiện thân nơi bảy linh mục Dòng Xitô, với châm ngôn sống là “cầu nguyện và lao động”, với mục đích là trợ giúp những người nghèo đói và bệnh tật. Cuộc sống nghèo khó, trong sạch, vị tha và hy sinh can trường của các ngài đẹp hơn bất cứ bản anh hùng ca nào trên thế gian. ‘Thần minh’ không hiện hữu,mà chỉ là những hình tượng trống rỗng, “chẳng cứu được ai” (x. Is 46), do con người tạo ra. Nhưng “bảy vị thần minh Xitô” nầy là những người nên “thần”, nên “thánh”, vì đã biến cuộc đời mình nên giống như Thầy Chí Thánh, từ cuộc sống cho đến cái chết. Muốn nói hai chữ “Yêu Thương” cho trọn vẹn, không còn con đường nào khác. “Không ai yêu bạn hữu hơn kẻ hiến mạng sống vì bạn hữu”(Ga 15,13)
 Cánh nay tròn 50 năm, vào năm 1960, Kennedy đã làm lý thuyết gia cho việc tách rời giữa Giáo Hội và Nhà Nước, để được chấp nhận làm tổng thống Hoa Kỳ (vì ông là Công giáo và chưa có tiền lệ người Công giáo đắc cử tổng thống). Một nửa thế kỷ sau, Đức Tổng giám mục Chaput giáo phận Denver tố cáo ông là đã gây những  tổn hại đổ vỡ nặng nề, mà đến nay Giáo Hội Công giáo vẫn còn đang phải trả giá. Chủ nghĩa thế tục không phải mới xuất hiện trước hay sau bài diễn văn của ông Kennedy, mà có thể nói đã có từ thuở xa xưa, từ thời ông Adong – Bà Evà, khi con người nghe theo ma quỷ, đánh đồng mọi giá trị thế tục và thiêng liêng, đồng thời lại muốn tách lìa khỏi Tình Yêu Đấng Tạo Hoá, xây dựng một thế giới mới,một trật tự mới theo tự do và ý chí con người. Gần đây nhất, nhà bác học Stephen Hawking, trong cuốn “The Grand Design” (Phác Hoạ Vĩ Đại) còn dám nói rằng vũ trụ “tự nó được tạo nên từ số không” dựa trên những luật vật lý như là luật vũ trụ hấp dẫn, biến Thiên Chúa trở nên không cần thiết đối với một mô hình vũ trụ tự tạo và tự phát triển. Và khi con người chối bỏ,muốn gạt bỏ cội nguồn Yêu Thương, thì họ rước vào những vị ‘thần minh’ hận thù, bất hoà ,bạo lực. Những chỗ cư ngụ an bình, bảo đảm nhất cho con người là Gia Đình và Hôn Nhân, nay bị dập vùi dưới bão táp dâm ô, văn hoá sự chết : ly dị,an tử,nạo phá thai, kết hợp đồng tính. Kết quả của chủ nghĩa thế tục là chủ nghĩa hoài nghi (skepticism) và thuyết tương đối (relativism) : không tin ở sự hiện hữu của Thiên Chúa và thấy tất cả mọi giá trị nhân bản và đạo đức, tinh thần và thiêng liêng đều chỉ tương đối. Con người mất phương hướng! Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI đã viết trong tông thư Tình Thương trong Chân Lý :”Không có Thiên Chúa, con người không biết đi đâu,cũng không tài nào hiểu được mình là ai” (Caritas in Veritate, § 78).
 Khi con người không biết mình là ai, thì làm sao biết để yêu thương tha nhân. Khi con người không thể tự cứu nỗi mình, thì còn mong gì đem yêu thương, an bình cho người khác,dù đó là vợ, chồng, con cái,người thân. Bài hát “kẻ thù ta” của nhạc sĩ Phạm Duy như lời nhắc nhủ thấm thía :” kẻ thù ta đâu có phải là người…Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài. Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai”. Nó mang đủ tên và đủ hình thái, những điều mà trong giáo lý Công giáo gọi là “bảy mối tội đầu”,bịt hết lối Lời Chúa vào trong ta và bít lối lòng chúng ta mở ra với anh em. Trong tuần nầy,Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI tông du tới Vương quốc Anh từ ngày 16 đến 19 tháng 9, trong đó Người sẽ tôn phong Chân Phước cho Đấng đáng kính John Henry hồng y Newman (1801 – 1890). Câu khẩu hiệu của Ngài được Đức Thánh Cha lấy làm chủ đề cho cuộc tông du nầy :”Heart speaks unto heart”, mà chúng ta tạm dịch là “từ trái tim đến trái tim”. Đó cũng là những gì các dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta suy gẫm:
 Câu chuyện bộ ba của chương 15 trong Phúc Âm Thánh Luca nầy được Chúa Giêsu đặt trong khung cảnh nông thôn, từ người chăn chiên, đến bà nội trợ và cả Người Cha Nhân Hậu. Nông thôn là nơi người ta còn giữ lại những nét “đất lề quê thói”, chân chất và đầy tình người, nơi người nông dân dãi nắng dầm mưa,bán lưng cho trời bán mặt cho đất, mới có được một chút của cải, cho nên rất qúy giá trị vật chất, đồng tiền, nhưng lại cũng qúy trọng tình người, sẵn sàng chia sẻ với nhau khi tắt lửa tối đèn, khi gặp hoạn nạn (như trong hai dụ ngôn Con Chiên Lạc và Đồng Bạc Đánh Mất). Khi mất đi tài sản vật chất, tuy xót xa,nhưng người ta vẫn tự an ủi hoặc an ủi nhau là “của đi thay người” (như trong dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng) hoặc “còn người,còn của”. Đó là những “của hiếm” ở thành thị, khi tương quan con người thường được cân-đong-đo-đếm bằng tài sản và địa vị. Gia đình và hôn nhân trong cuộc sống xô bồ thành thị bị thử thách nặng nề. Dù dư luận,miệng đời và đời sống cộng đoàn giáo xứ, quan hệ gia tộc, vẫn còn là những vật cản để không xảy ra nhiều vụ ly dị và những chuyện trái đạo đức,luân lý nơi giới trẻ và những người sống đời hôn nhân,như những người ngoài Công giáo. Nhưng liệu những lá chắn mỏng manh ấy sẽ chống chọi được bao lâu? Nông thôn, đặc biệt các giáo xứ ở miền quê, nay cũng bị “văn hoá sự chết” thâm nhập. Giồng như những lũy tre xanh bao quanh và bảo vệ làng mạc biến mất, ảnh hưởng sâu đậm của giáo xứ,của Giáo Hội cũng mờ dần. Giới trẻ ly nông và ly hương, ồ ạt lên thành phố,ra thành thị và mau chóng nhiễm những thói hư nết xấu, chỉ để đánh đổi một đời sống tự do hơn, tiện nghi hơn và có thể may mắn,vui vẻ hơn. Cái giá thật đắt và đắng cay, cho họ, cho Giáo Hội.
 Những ngày nầy, nhiều trí lòng đang hướng về ngày Đại Hội Dân Chúa Việt Nam, sau khi đã có Đại Hội Giáo Dân Á Châu (ở Hàn Quốc,31.08 – 05.09.2010) với nhiều hy vọng, để có thể khép lại một Năm Thánh với nhiều hoa trái thiêng liêng, để tín hữu Công giáo thoát ra khỏi tình trạng trì trệ, thụ động,nửa tỉnh nửa mê và sống thật sự nên chứng nhân cho Chúa Kitô và Tin Mừng cứu độ,bằng bác ái yêu thương, để củng cố thành lũy Hôn Nhân và Gia Đình, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng những lối nghĩ và lối sống sai lạc, dâm ô,hưởng thụ và vị kỷ. Với Kitô hữu hay với người ngoài Kitô giáo, đều như nhau trong cuộc chiến một mất một còn với Satan và các thế lực vô thần xấu xa, bởi vì “chân lý thuộc về mọi người không chịu sống đời nhỏ nhoi”. Làm gì có chuyện “may nhờ rủi chịu; phải đâu trong đục cũng đành”!(Một đời người,một rừng cây. Trần Long Ẩn).
 Điều ngăn cản chúng ta cảm thông,chạnh lòng thương và yêu mến anh em, ấy là chúng ta vẫn còn coi họ là “thằng con của Cha đó” (Lc 15,30), chứ không phải là ruột rà máu mủ trong Chúa của chúng ta.
 ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI 66

 

 TN24-C58. CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN

Lc 15, 1 – 32
 

Còn có Thứ  Tình Yêu nào cao cả hơn?  “trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám:  TN24-C58

Còn có Thứ  Tình Yêu nào cao cả hơn?
“trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì 99 người công chính không cần ăn năn…” (Lc 3, 24)
Anh chị em thân mến,
Chương 15 của Phúc âm thánh Luca mà chúng ta đọc trong ngày CN hôm nay, gồm 3 dụ ngôn, được coi như tuyệt phẫm của Tình yêu: dụ ngôn bầy chiên với 100 con: lở mất một con; ông chủ sẵn lòng để 100 con lại đó, đi tìm cho được con mất, vác trên vai đem về - dụ ngôn 2: người đàn bà lở mất một đồng bạc, liền thắp đèn, quét nhà tìm cho đến khi thấy được đồng bạc đó – nhất là dụ ngôn cuối cùng: người con hoang đàng và người cha nhân hậu với lời kết luận từ miệng người cha: “chúng ta phải ăn mừng, vì em con đây đã chết, mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy…” Cả ba dụ ngôn diễn tả thật đậm nét tình yêu thương vô bờ TC đối với tội nhân hối cải. Kính mời anh chị em cùng suy niệm.
a. nguyên do ba bài dụ ngôn: số là các người thu thuế và người tội lỗi thường đến bên Chúa Giêsu để nghe Chúa giảng dạy; thấy vậy, mấy người biệt phái, kinh sư xầm xì chê trách Chúa Giêsu: ông này hay niềm nở đón tiếp kẻ tội lỗi, ăn uống với chúng nữa. Những người Do thái làm nghề thu thuế cho người La mã bị xếp ngang hàng với người tội lỗi, bị khinh miệt và bị loại trừ khỏi phụng vụ đền thờ nữa. Chính họ không tự nhận mình tốt lành; trong khi nhóm biệt phái, kinh sư là nhóm người có địa vị cao trong đạo do thái. Họ nhiệt thành quá với Lề Luật, đến độ thiếu lòng bác ái, thích sống giả hình, hay coi khinh kẻ khác. Chính Chúa Giêsu nhiều lần đả kích họ. Cũng chính mấy bài dụ ngôn sau đây muốn nói lên điều đó…
b. hình ảnh người chủ chăn có 100 con chiên – hình ảnh người cha nhân hậu: chính là hình ảnh Thiên Chúa Tình yêu, luôn chủ động đi tìm con chiên lạc, cho đến nổi có thể bỏ lơ 99 con chiên tốt lành, chỉ để đi tìm con chiên bị lạc; vì “ trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì 99 người công chính không cần ăn năn..” Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Hai Con Thiên Chúa, đã chấp nhận sinh vào trần gian…đã lặn lội đi rao giảng Nước Trời cho mọi người…. băng bó chữa lành cho kẻ đau yếu… và đã chết đau thương vì nhân loại chúng ta. Như vậy, chính Thiên Chúa là người đi bước trước trong Tình Yêu, người chủ động kêu mời nhân loại sống trong Tình Yêu, nhất là kêu gọi trở về trong Tình Yêu khi đã bị mất. Dụ ngôn Người Cha nhân hậu, cho chúng ta thấy mối bận tâm duy nhất của ông chính là: làm sao cho đứa con lỡ đi hoàng đàng: đi tìm – vui mừng khi tìm được – khi con trở về, ôm cổ hôn lấy hôn để, sai gia nhân làm tiệc…Chính câu trả lời của ông cho người con cả, đã nói hết tấm lòng của Ông: “này con, chúng ta phải ăn mừng vì em con đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy..”
c. Thái độ của hai người con: Người con thứ: tính tình nông cạn, ảo tưởng, đam mê, tội lỗi, xúc phạm đến tha nhân và Thiên Chúa: đó chính là hình ảnh của cả nhân loại chúng ta. Tuy nhiên, sau khi ăn năn, thái độ của anh ta thật đáng khen, vì biết mạnh dạng, dứt khoát, không chần chừ. Đó chính là gương thật lòng ăn năn sám hối…. Người con cả: bên ngoài xem ra là mẫu mực, không có điều gì chê trách, nhưng trước tấm lòng bao dung của cha, người con cả tỏ ra tự phụ, khinh khi em mình trước mặt cha. Thật là thái độ đáng tiếc…Chính thái độ này cũng là thái độ của các kinh sư, biệt phái, tự cho là mình chân chính, là con cháu tốt lành của Abraham, để từ đó coi khinh kẻ khác
d. Gợi ý sống và chia sẻ: Là người kitô hữu ngày hôm nay, đọc qua gương của hai người trong bài Tin Mừng hôm nay, đã cho ta bài học nào? Khi nhìn lại, ta thấy mình là hạng người con nào trong hai người con của Người Cha nhân hậu?

 

TN24-C59. Chú giải của William Barclay.

VUI MỪNG CỦA NGƯỜI CHĂN CHIÊN (15,1-7)
 

Có thể nói không chương nào trong Tân Ước quen thuộc và đáng yêu cho bằng chương 15 của: TN24-C59

Có thể nói không chương nào trong Tân Ước quen thuộc và đáng yêu cho bằng chương 15 của Luca. Nó được gọi là “Phúc Âm trong Phúc Âm”, như thể chứa đựng chính bản chất tinh tuyền của Tin Mừng Chúa Giêsu đã rao giảng.
Những dụ ngôn này của Chúa Giêsu đã phát xuất trong một bối cảnh đặc biệt. Các Kinh sư và Pharisêu đã vấp phạm vì thấy Chúa Giêsu nhập bọn và bầu bạn với những kẻ mà người Do Thái chính thống gọi là tội nhân. Pharisêu đã xếp tất cả những ai không tuân giữ luật vào chung một hạng, họ gọi những người đó là “dân của đất”. Có một hàng rào ngăn cách dứt khoát giữa Pharisêu và người “dân của đất”. Gả con gái cho một người dân của đất thì chẳng khác gì trói cô gái ấy nộp cho sư tử. Luật của Pharisêu định rằng “Khi có một người dân của đất, thì đừng trao tiền cho nó, đừng nói điều bí mật cho nó, đừng đặt nó coi sóc trẻ mồ côi, đừng để nó giữ của bố thí, đừng đi đường với nó”. Có luật cấm Pharisêu không được mời một người dân của đất đến dùng bữa, cũng không được nhận lời của ai trong hạng người đó. Luật cũng cấm Pharisêu không được liên lạc bình thường với họ, không được mua bán với họ. Pharisêu tránh hẳn mọi liên hệ với đám dân của đất, tức là những người không giữ đủ các chi tiết vớ vẩn, nhỏ nhen trong luật. Dĩ nhiên họ rất khó chịu khi thấy Chúa Giêsu làm bạn với những người không những thuộc hạng cùng đinh mà còn là tội nhân nữa, vì giao thiệp với hạng người đó thì bị ô uế. Chúng ta sẽ hiểu các dụ ngôn này đầy đủ hơn nếu chúng ta nhớ rằng người Do Thái ngoan đạo không nói “cả thiên đàng vui mừng vì một tội nhân hoán cải”, nhưng họ nói “cả thiên đàng vui mừng vị một tội nhân bị diệt mất trước mặt chúng”. Họ hướng cặp mắt độc ác để chờ xem huỷ diệt tội nhân, chứ không chờ mong giải cứu tội nhân.
Vì thế Chúa Giêsu nói cho họ dụ ngôn về con chiên lạc và vui mừng của kẻ chăn. Người chăn chiên ở xứ Do Thái có một công việc khó nhọc và nguy hiểm. Đồng cỏ thì hiếm. Cánh đồng cao nguyên ở giữa xứ chỉ rộng chừng vài dặm thôi, còn phần nhiều địa thế là những khe trũng dốc đứng và cảnh sa mạc hoang vu. Không có những bức tường chắn giữ nên chiên dễ đi lạc. G.A. Smith đã viết về người chăn chiên như sau “Trên mọt cánh đồng khô cỏ cháy, ban đêm chỉ có tiếng chó hú, người chăn chiên với gương mặt tỉnh táo, đôi mắt nhìn xa, màu da cháy nắng, mình đeo khí giới, đứng dựa trên cây gậy, mắt chăm chú nhìn bầy chiên đang ăn”. Chúng ta hiểu tại sao người chăn chiên ở xứ Do Thái lại là những người ở vị trí hàng đầu trong lịch sử nước họ, tại sao người chăn chiên là biểu tượng về sự quan phòng của Thiên Chúa, tại sao Chúa Cứu Thế đã lấy hình ảnh người chăn chiên làm gương mẫu cho sự từ bỏ mình. Người chăn sẽ trực tiếp chịu trách nhiệm về đoàn chiên. Nếu một con chiên bị mất thì người chăn phải mang về nhà ít ra là cái lốt chiên để chứng tỏ là nó đã chết. Những người chăn chiên có tài theo dấu vết cách đặc biệt, có thể theo dõi dấu chân của một con chiên đi lạc hàng dặm qua núi đồi. Không có người chăn chiên nào không coi bổn phận mỗi người của mình là bỏ mạng sống mình vì đoàn chiên. Có nhiều đoàn chiên là tài sản chung, không thuộc cá nhân nào, nhưng thuộc một làng và có hai hay ba người chăn. Những người chăn có đoàn chiên còn đầy đủ thì có thể về nhà đúng giờ và báo tin rằng còn có một người chăn đang lặn lội trên sườn núi để tìm con chiên lạc. Cả làng sẽ thức chờ đợi, rồi khi thấy từ đàng xa một người chăn đang vội vã về làng, trên vai vác một con chiên, cả làng sẽ reo mừng và cảm tạ. Đó là hình ảnh của Chúa Giêsu nói về Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói Thiên Chúa cũng thế, Ngài vui mừng vì tìm lại được một tội nhân đã lạc mất, cũng như người chăn vui mừng vì tìm được chiên lạc đem về chuồng. Một thánh nhân đã nói “Thiên Chúa cũng vậy, niềm vui vô cùng lớn lao khi tìm thấy những sự đã mất”.
Có một ý tưởng kỳ diệu ở đây. Đó là chân lý vĩ đại cho ta biết Thiên Chúa nhân từ hơn loài người. Những người Do Thái chính thống hẳn sẽ gạt bỏ các kẻ thâu thuế, các tội nhân như một thứ phải loại trừ, chỉ đáng tiêu diệt. Chúa thì chẳng bao giờ như thế. Loài người có thể mất hết hy vọng về một tội nhân nào đó, nhưng Chúa thì không thế, Ngài yêu mến nhưng con chiên không hề đi lạc, nhưng trong lòng Ngài, có sự vui mừng cực lớn khi một con chiên lạc được tìm thấy và đem về nhà.

NGƯỜI PHỤ NỮ VỚI ĐỒNG TIỀN ĐÁNH MẤT RỒI TÌM LẠI ĐƯỢC (15,8-10)
Đồng tiền nói trong dụ ngôn này là đồng Drachma, trị giá chừng 4 xu Anh. Đồng tiền nhỏ nhất rất dễ rơi mất trong nhà của người dân quê xứ Palestine, và cũng phải mất nhiều thì giờ mới tìm được. Nhà của người Palestine thường tối om, vì chỉ có một cửa sổ tròn mà đường kính khoảng 4 tấc rưỡi. Nền nhà thì bằng đất nện được phủ bằng những tấm liếp sậy và cành cây nhỏ. Tìm kiếm một đồng tiền nhỏ trên một nền nhà như vậy không khác gì tìm một cây kim trong đống cỏ khô. Người đàn bà quét nhà, hy vọng nhìn thấy mặt đồng tiền lấp lánh hoặc nghe tiếng kêu của nó khi lăn trên những cành cây nhỏ. Có hai lý do khiến người đàn bà sốt sắng tìm kiếm đồng tiền.
1. Có thể vì nhu cầu.
Dù 4 xu không phải là nhiều, nhưng nó cũng cao hơn tiền công một ngày làm việc của một công nhân tại xứ Palestine. Họ thường sống trong cảnh thiếu hụt và hầu như luôn bị nạn đói đe doạ. Có thể người đàn bà nóng nảy tìm cho ra nếu không tìm được thì gia đình bà sẽ thiếu ăn.
2. Nhưng có thể còn có một lý do khác thơ mộng hơn lý do trên.
Tại Palestine, dấu hiệu của một phụ nữ có chồng là một chiếc vành trên đầu làm bằng một sợi dây bạc. Trong nhiều năm, một cô gái làm lụng và để dành cho đủ mười đồng tiền nhỏ đó, bởi vì cái chuỗi tiền tên đầu của nàng cũng đáng giá gần bằng chiếc nhẫn cưới. Khi nàng đã sắm được nó, thì nó là của riêng nàng, đặc biệt đến nỗi người khác không thể đoạt được của nàng, và nếu có đánh mất một đồng tiền nhỏ thì phải tìm kiếm nó như bất cứ người nào khác cũng làm thế khi đánh mất cái nhẫn cưới.
Vì thế chúng ta dễ hiểu niềm vui mừng khi bà nhìn thấy tia óng ánh của đồng bạc mất và khi tìm lại được nó. Chúa Giêsu phán: Thiên Chúa cũng làm thế, niềm vui mừng của Ngài và của các Thiên Thần khi có một tội nhân quay về nhà, cũng như niềm vui mừng của một gia đình khi đồng bạc quyết định cái no hay đói của họ được tìm thấy và cũng giống như người đàn bà đánh mất một tài sản có giá trị hơn tiền bạc, rồi tìm lại được.
Không có một Pharisêu nào lại mơ đến một Thiên Chúa như vậy. Một học giả Do Thái danh tiếng đã thừa nhận đây là một điều tuyệt đối mới mà Chúa đã dạy cho loài người về Thiên Chúa –đó là Ngài thực sự tìm kiếm con người. Người Do Thái có thể hình dung một người bò về nhà Chúa với tất cả sự hạ mình và kêu xin thương xót và được thương xót. Nhưng họ không bao giờ có thể hình dung ra một Thiên Chúa lại ra đi tìm kiếm con chiên lạc. Chúng ta thấy tình yêu đó hiện thân trong Chúa Giêsu. Con Thiên Chúa, Đấng đến để tìm và cứu những ai lạc mất.

CÂU CHUYỆN VỀ NGƯỜI CHA NHÂN LÀNH (15, 11-32)
Không phải là không có lý do khi người ta gọi chuyện này là chuyện ngắn vĩ đại nhất thế giới. Theo luật Do Thái, người cha không được tự do phân chia gia tài mình tuỳ ý thích, đứa con cả đương nhiên được 2/3, đứa con thứ 1/3 gia tài (Đnl 21,17). Không phải là một việc lạ khi một người cha phân chia gia tài ngay khi còn sống nếu ông muốn được nghỉ ngơi khỏi hoạt động kinh doanh. Nhưng có một sự vô tâm trơ tráo nơi đứa con thứ khi nó đề xuất việc chia gia tài này. Thực ra nó đã nói “Cha hãy cho con ngay bây giờ phần gia tài mà trước sau gì con cũng được lãnh khi cha chết, và hãy để con ra khỏi nơi này”. Người cha không tranh luận gì, ông hiểu rằng nếu con ông cần được một bài học thì nó phải có một bài học đắt giá, và ông đã cho như ý nó xin. Tức khắc đứa con lấy phần riêng của nó và bỏ nhà ra đi.
Hắn nhanh chóng tiêu xài hết tiền và kết thúc bằng việc chăn heo, một công việc cấm kỵ đối với người Do Thái, vì luật nói: “đáng rủa xả kẻ nào chăn heo”. Và Chúa Giêsu cho nhân loại tội lỗi một lời khuyên chưa từng có “Khi nó trở về với chính mình (nó tỉnh ngộ)”. Chúa Giêsu tin là bao lâu con người còn xa cách và chống nghịch với Thiên Chúa thì con người không thực sự là con người, con người chỉ thực sự là chính mình khi con người đang trên đường trở về nhà. Có một điều kỳ diệu nơi Chúa Giêsu là Ngài không tin rằng con người hư hỏng hoàn toàn. Ngài không bao giờ tin rằng ai đó có thể tôn vinh Thiên Chúa bằng cách phỉ báng con người, Ngài tin rằng con người không bao giờ được thực sự là mình cho đến khi nào con người trở về nhà với Chúa. Cho nên đứa con đã nhất định trở về nhà và xin cha nhận lại mình không phải để làm con, nhưng làm một tên nô lệ mạt hạng trong nhà, một tên đầy tớ ở thuê, một tên lao động công nhật trong nhà cha. Theo một nghĩa thì người nô lệ là một phần tử của gia đình, nhưng đầy tớ ở thuê thì có thể bị đuổi sau khi chủ báo trước một ngày vì nó không thuộc về gia đình chút nào. Vậy khi đứa con đã về nhà –theo bản Hy văn tốt nhất- cha chàng không để chàng kịp mở miệng xin làm đầy tớ. Ông đã lên tiếng trước. Chiếc áo dài tiêu biểu sự tôn trọng, chiếc nhẫn tượng trưng cho quyền bính, vì nếu ai cho kẻ khác chiếc nhẫn ấn tín của mình thì cũng như uỷ quyền cho người đó thay thế mình; đôi giày là dấu hiệu làm con khác với nô lệ vì con cái trong gia đình mới mang giày, còn nô lệ thì không được. (Ước mong của người nô lệ trong bài ca của người da đen là mau đến thời kỳ mà “mọi con cái Chúa được mang giày” vì đi giày là dấu hiệu sự tự do). Và một bữa tiệc được bày ra để mọi người ăn mừng đứa con hoang đàng trở về. Chúng ta dừng lại ở đây, thử nhìn xem chân lý trong dụ ngôn này.
1. Không nên gọi dụ ngôn này là dụ ngôn về người con hoang đàng vì đứa con không phải là nhân vật chính, phải gọi là dụ ngôn về Người Cha Nhân Lành, bởi vì nó cho ta biết về tình yêu của người cha hơn là về tội của người con.
2. Dụ ngôn này nói nhiều về sự tha thứ của Thiên Chúa. Người cha hẳn đã chờ đứa con trở về nhà, vì ông trông thấy từ đằng xa. Đứa con gặp cha thì cha liền tha thứ cho con và không một lời trách móc. Có nhiều cách tha thứ, có tha thứ được ban cho như một ân huệ, và tệ hơn nữa là khi một kẻ nào đó được tha thứ nhưng bao giờ cũng kèm theo một dấu hiệu, một lời nói, một ngăm đe rằng tội vẫn còn để đó. Một lần kia, Lincoln được hỏi ông sẽ đối xử thế nào với quân phiến loạn Miền Nam, khi họ thua trận và trở lại liên hiệp với Hoa Kỳ. Người hỏi câu ấy nghĩ rằng ông sẽ báo thù họ ghê gớm, nhưng Lincoln trả lời “Tôi sẽ đối xử với họ như họ chưa bao giờ ly khai với chúng ta”. Thật lạ lùng tình yêu của Chúa khi Ngài tha thứ chúng ta y như vậy.
Nhưng câu chuyện đến đây chưa chấm dứt. Người anh cả đi về, anh thực sự buồn rầu vì em anh đã trở về. Người anh cả đại diện cho Pharisêu tự kiêu, tự mãn, họ thà xem thấy tội nhân bị tiêu diệt hơn là được cứu. Có mấy điều nổi bật nơi người anh cả.
1. Tất cả thái độ của anh chứng tỏ rằng bao nhiêu năm anh vâng lời cha chẳng qua chỉ là một bổn phận buồn rầu, chứ không phải là công việc của tình yêu.
2. Thái độ của anh là thái độ thiếu hẳn sự cảm thông. Anh nói về người em nhưng không dùng tiếng “em tôi” nhưng dùng chữ “con của cha”. Chàng là thứ người tự tôn, sẵn sàng đạp kẻ nào đã ngã xuống rãnh bùn hôi hám càng ngã sâu hơn nữa.
3. Tâm địa chàng rất dơ bẩn. Câu chuyện không nói tới gái điếm. Chính miệng chàng nói ra. Hẳn chàng đã nghi ngờ, tố cáo em chàng về thứ tội chính chàng muốn.
Một lần nữa chúng ta lại gặp một chân lý diệu kỳ là hoán cải, xưng tội với Chúa dễ hơn xưng tội với loài người. Thiên Chúa xét xử nhân từ hơn những người ngoại đạo. Tình yêu Chúa rộng lớn hơn tình yêu của loài người. Đứng trước một tình yêu như vậy, chúng ta không thể không chìm sâu trong kinh ngạc, ngợi khen và yêu mến Ngài hơn.

BA VẬT LẠC MẤT
Sau cùng chúng ta nên lưu ý rằng ba dụ ngôn này không chỉ là ba cách diễn tả cùng một việc. Có một sự khác biệt. Con chiên bị lạc mất hoàn toàn chỉ vì ngu dại. Nó không biết suy nghĩ. Có nhiều người sẽ tránh được tội lỗi nếu họ suy nghĩ kíp thời. Đồng bạc bị mất không phải vì lỗi của chính nó. Có người đi lạc đường vì bị kẻ khác lừa dối và Thiên Chúa không kể là vô tội kẻ nào xui kẻ khác phạm tội.
Nhưng Thiên Chúa có thể dùng tình yêu của Ngài, chiến thắng sự dại dột của con người, chiến thắng những tiếng cám dỗ, và chiến thắng cả sự tự ý phản loạn của con tim chúng ta nữa.

 

TN24-C60. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin.

NHỮNG DỤ NGÔN VỀ NIỀM VUI TẬP THỂ SAU KHI TÌM LẠI ĐƯỢC CÁI ĐÃ MẤT
 

Trong các chương từ 15 đến 19 sẽ có nhiều giáo huấn của Chúa Giêsu, chủ yếu dưới hình thức các: TN24-C60

Trong các chương từ 15 đến 19 sẽ có nhiều giáo huấn của Chúa Giêsu, chủ yếu dưới hình thức các dụ ngôn, được trình bày trước hết để soi sáng trên thái độ ân cần của Thiên Chúa đối với những kẻ bị xã hội tôn giáo khinh chê và ruồng bỏ. Đó là trường hợp của ba dụ ngôn làm nên chương 15. Tình yêu của Thiên Chúa đối với những kẻ không được yêu thương, cũng không đáng thương lên án một cách gián tiếp sự cứng cỏi và nghiêm khắc mà những người”công chính” hơn đối xử với họ.
Điểm bắt đầu ở chương 15 lại là một bữa ăn (cc. 1-3). Nhưng lần này Chúa Giêsu đón tiếp –có thể tại chính nhà Ngài- những người thu thuế và những người tội lỗi (với nghĩa xã hội lẫn tôn giáo của từ này) và Ngài ăn uống với họ. Những người thuộc phái Pharisêu và các Kinh sư lên án cử chỉ này vì nó bẻ gãy những hàng rào truyền thống phù hợp với sự khôn ngoan Kinh Thánh (x. Cn 1,1-15), và như họ đã từng làm nhân bữa ăn tại nhà ông Lêvi (5,29-30), họ lẩm bẩm. Dưới dạng dụ ngôn, lời đáp của Chúa Giêsu ở đây ngắn gọn và đanh thép (5,31-32); sự tương phản giữa những kẻ công chính và người tội lỗi ăn năn sám hối được nói đến ở 5,32 cũng như ở 15,7. Ba dụ ngôn ở đây thiết lập một liên hệ chặt chẽ giữa cách hành xử của Chúa Giêsu và thái độ của Thiên Chúa –đó là điều mới mẻ và căn bản. Những dụ ngôn này được gắn liền với nhau bằng các đề tài (niềm vui, sự hoán cải) và một diễn ngữ (bởi vì cái mất lại được tìm thấy) như một sợi chỉ đỏ chạy xuyên suốt cả chương. Hai đề tài đầu tiên (cc. 4,10) minh hoạ phần đầu của lời khẳng định:”Ta đến không phải để gọi những người công chính mà gọi các tội nhân” (5,32a), đề tài sau cùng minh hoạ phần cuối”để chúng ăn năn sám hối” (5,32b).
Để biện minh cho thái độ của mình, Chúa Giêsu bắt đầu bằng hai dụ ngôn có cấu trúc song song (cc.4,10). Cùng một câu hỏi giả thiết một lời đáp khẳng định. Một cái gì đó bị mất (từ nayù được dùng tới năm lần) mà người ta đã tìm lại được (sáu lần). Một người chăn chiên khá giả và ngược lại, một bà nội trợ nghèo mời bạn bè hàng xóm lại chia sẻ niềm vui của họ. Nếu con chiên tự đi lạc, thì một trong số mười đồng bạc –với một đồng đủ sống một ngày- bị người đàn bà đánh mất. Như vậy các dụ ngôn này không quan tâm tới cách thức sự mất mát; ngay cả việc tìm thấy cái đã mất cũng thuộc về quá khứ. Việc tìm kiếm ít được nhấn mạnh hơn là lời mời gọi cùng chia sẻ niềm vui.
Các dụ ngôn kép này (cc. 4-6.8-9) và việc áp dụng của chúng chỉ hơi khác nhau ở hình thức (cc.7-10), đồng hoá cái đã mất với tội nhân. Điều quan trọng hàng đầu là đừng đọc lời giải thích mà không có con người đi trước: liên hệ giữa chúng nhấn mạnh rằng việc sám hối của tội nhân không thể xảy ra, nếu trước đó Thiên Chúa đã không đi tìm họ. Ở cuối tiến trình này là niềm vui của Thiên Chúa đối với chỉ một tội nhân sám hối, một niềm vui mà Thiên Chúa chia sẻ cho toàn triều thần Thiên Quốc. Ở câu 7 (chứ không ở câu 10) có vấn đề chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn. Phải chăng đó là một lời mai mỉa nói với các người Pharisêu và Kinh sư, vì họ phải biết rằng không ai là công chính trước mặt Thiên Chúa (x. Rm 3,10tt) và chính họ cũng cần hoán cải? Phải chăng đây là một cách nhấn mạnh cách tột cùng – như trong chính dụ ngôn, câu 4 – cái giá trị của từng cá nhân đối với Thiên Chúa khi họ quay về với Ngài?
Như thế, việc Chúa Giêsu năng lui tới các kẻ bị loại trừ được biện minh bằng hành động của chính Thiên Chúa. Và diễn từ dụ ngôn như muốn nêu lên cho các thính giả một câu hỏi: Các bạn có thể chung vui với Chúa Kitô khi thấy những người tội lỗi đến gần Ngài để nghe Ngài chăng?
Dụ ngôn về người có hai con trai (cc.11-32) được trình bày như một bức tranh bộ đôi đưa vào hoạt cảnh người con út, rồi người con cả; trong cả hai trường hợp, người cha giữ một vai trò quyết định. Khi đọc dụ ngôn này chúng ta sẽ nhận thấy rằng: trong một dụ ngôn có hai kết luận, hai”cao điểm” thì cao điểm thứ hai là điều Luca muốn nhấn mạnh hơn cả.
Phần thứ nhất của dụ ngôn trình bày người con út dưới một hình ảnh không có gì đáng khen (cc. 1-24). Nó không đợi cha qua đời rồi mới sử dụng phần gia tài của nó, và nhất là nó hoang phí gia tài khi sống một cách truỵ lạc. Thế là nó phải đi làm công cho một kẻ ngoại giáo đến đỗi đi chăn heo –loại thú vật nhơ bẩn trong Do Thái giáo- và sẵn sàng nhét cho đầy bụng thức ăn của chúng. Nó chỉ quyết định trở về vì tình thế bắt buộc thôi. Chắc hẳn rằng trước một dung mạo như thế những người Pharisêu và luật sĩ đang nghe một câu chuyện phải cảm thấy đối với nhân vật này một tâm tình tương tự như họ đã có đối với các thực khách đồng bàn với Chúa Giêsu! Giọng văn thay đổi với sự suy tư của đứa con hoang đàng (cc. 17-19). Hành động mà anh ta định làm chắc hẳn có một lý do vụ lợi, nhưng nó ghi dấu bước chân khởi đầu của một cuộc hoán cải, một cuộc trở về với Thiên Chúa cũng như với cha của mình. Khi anh ta quả quyết rằng anh chẳng con đáng gọi là”con”, và xin được đối xử như một người làm công cho cha anh, anh không toan tính một mưu mẹo gì, với óc thực tế, anh ta tính toán về cái giá phải trả cho một cuộc trở về của anh.
Thái độ của người cha, trong phần thứ nhất này, làm người ta phải ngạc nhiên, ông không từ chối yêu cầu của đứa con út. Ông chia của cải cho các con, phân phát gia tài cho hai đứa. Đứa út nhận được một phần ba của cải, trong khi hai phần ba kia dành cho con cả (x. Đnl 21,17), thì người cha vẫn quản lý cho tới khi ông qua đời. Người cha để cho đứa con út được hoàn toàn tự do và, khác với người chăn chiên và bà nội trợ trong dụ ngôn trước, ông không làm bất cứ điều gì để tìm lại con mình. Nhưng chính tuy ân cần mà ông đón tiếp con khi nó trở về, có nguy cơ gây nên cho chúng ta, các độc giả, một lời kêu ca trách móc gần giống như lời trách móc mấy ông Pharisêu ở câu 21. Người ta cứ tưởng, như chính đứa con út đã tưởng, cùng làm người cha sẽ đối xử với nó như một người làm công cho mình (c.18), và sẽ đòi buộc nó phải đền bù lỗi lầm. Thay vì làm thế, người cha chạnh lòng thương, ông hạ mình chạy ra đón con –một sự vội vã không xứng đáng với một người Đông phương- ông bày tỏ với nó cách công khai những dấu hiệu yêu thương, ngay cả trước khi nó xưng thú tội lỗi. Rồi ông ngắt lời nó xưng thú, cho nó đeo nhẫn là dấu chỉ uy quyền, cho nó mang giày là dấu hiệu riêng của người tự do. Ông hồi phục nó hoàn toàn trong cuộc sống gia đình và tổ chức một bữa tiệc để cả nhà cùng chia sẻ niềm vui.
Cùng một lý do như người chăn chiên và bà nội trợ:”Vì con ta… đã mất nay lại tìm thấy”. Hơn nữa, lý do ấy được bày tỏ một cách mới mẻ:”Nó đã chết mà nay sống lại”. Hoán cải là trở về với Thiên Chúa và như thế là trở về với cuộc sống đích thức. Nói một cách trống không –với các đầy tớ, mà cũng với các người Pharisêu và cả với chúng ta nữa- lời mời gọi hãy vui mừng mang một hình thức rõ rệt:”Hãy mở tiệc ăn mừng!”. Niềm vui này dễ hiểu đối với con chiên hay đồng bạc bị mất, thì ở đây lại làm cho chúng ta ngỡ ngàng vì tội lỗi của đứa con hoang đàng –một đề tài không có trong hai dụ ngôn đầu này. Niềm vui đó sẽ làm cho người con cả nổi giận như các người Pharisêu: chẳng lẽ cha lại mời nó ăn tiệc mừng với một tên tội lỗi, với một kẻ nhơ bẩn!
Trong phần thứ hai của dụ ngôn, chân dung của người con cả biểu lộ sự giận dữ, ganh tỵ và gây gổ (cc. 25-32) khi anh ta quả quyết rằng đã bao nhiêu năm trời hầu hạ cha và chẳng khi nào trái lệnh (c.19), anh tự đặt mình trong tương quan với cha như là một bổn phận hơn là do tình yêu. Thái độ”công chính” của anh làm ta nghĩ đến thái độ của các người Pharisêu và các luật sĩ. Như họ, anh tỏ ra giữ khoảng cách với tên hoang đàng khi nhắc đến tội của hắn (nó đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm) và gọi hắn là”thằng con của cha đó” –chứ không phải là”em của anh ta”. Anh ta tố cáo cha đã thiên vị và cuối cùng, trách cha đã giết bê béo ăn mừng với một kẻ chỉ là tội nhân.
Hình ảnh người cha phù hợp với chân dung đã có trong phần thứ nhất. Ở đây nữa, thái độ của ông không phải được tạo nên do những ước lệ của Đông phương mà bởi tình yêu đối với con ông: ông ra và năn nỉ con ông (c.28)! Để biện minh cho cách xử sự của mình, ông nhìn nhận rằng người con cả của ông chưa bao giờ đã chết hay bị mất và ông nhấn mạnh đến cuộc sống thân tình giữa hai người. Câu nói”tất cả những gì của cha đều là của con” nhắc nhở rằng, từ khi chia gia tài, người cha và người con cả cùng chung hưởng phần gia tài nhiều gấp đôi thuộc về người con cả (xc.12). Hai điểm được nhấn mạnh với cậu cả đang giận dữ: phải mở tiệc ăn mừng –thái độ này nằm trong chương trình của Thiên Chúa (x.2,49). Bởi vì được dựa trên hành động của chính Thiên Chúa (x.7,10). Và”đứa con” (c.30) cùng là”người em” của anh cả… Cuối cùng người cha nói lại lý do nền tảng, lần này được phong phú hoá nhờ lời giải thích thần học (cc.24-32): việc đi từ sự chết đến sự sống.
Dụ ngôn vẫn còn mở ngỏ: người ta không biết anh con cả có đón nhận lời khuyến dụ của cha và quyết định chia sẻ niềm vui vì cái đã mất lại tìm thấy như các bạn bè và hàng xóm trong hai dụ ngôn trước chăng. Anh có chịu chấp nhận cùng ăn với đứa em”nhơ bẩn” không hay cứ tự nhốt mình trong cơn giận dữ của anh ta? Vậy, nếu chính tôi, là thính giả hay độc giả của dụ ngôn này, đang ở trong hoàn cảnh của người con cả, thì chính tôi phải chọn lựa chấp nhận hay không lời năn nỉ của người cha. Một lời đáp tích cực là điều khó, đôi khi còn đau đớn nữa, dụ ngôn không nói rằng điều đó sẽ tự động có được. Lập trường của người con cả, trong đó phần chót của dụ ngôn đặt chúng ta vào, ngột ngạt hơn những gì phụng vụ thống hối đề nghị: vì phụng vụ này chỉ giới hạn ở phần thứ nhất của dụ ngôn và dẫn dắt chúng ta như thể đồng hoá chúng ta với người con út – điều này có lẽ dễ dàng hơn! Không thể chối cãi và Luca nhấn mạnh nhiều hơn đến phần thứ hai. Dù sao, quan điểm chính nhắm tới tình yêu và sự thương cảm của người cha đối với từng đứa con, được thể hiện qua suốt cả trình thuật. Chính đó là điều làm cho việc trở về của tội nhân thành khả thi và mời gọi chúng ta vui mừng, dù đôi khi có khó khăn lắm cũng phải vui mừng.

 

TN24-C61. Chú giải của Noel Quesson.

Tin Mừng hôm nay, nếu đọc đầy đủ, gồm “ba dụ ngôn nổi tiếng về lòng nhân hậu, mà Luca: TN24-C61

Tin Mừng hôm nay, nếu đọc đầy đủ, gồm “ba dụ ngôn nổi tiếng về lòng nhân hậu, mà Luca đã tập họp trong chương 15: *1. Con chiên bị mất và tìm lại được *2. Đồng bạc bị đánh mất và tìm lại được *3. Đứa con đi mất và trở về. Ba dụ ngôn này được xây dựng trên cùng một sơ đồ và đạt đỉnh cao trong dụ ngôn thứ ba mà nhan đề truyền thống là “dụ ngôn đứa con hoang đàng”. Tuy nhiên, vì dụ ngôn thứ ba này đã được suy gẫm vào Chúa nhật IV Mùa Chay của cùng năm Phụng vụ này, nên hôm nay chúng ta chỉ cần chú giải hai dụ ngôn đầu.
Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng. Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.
“Ông này đón tiếp phường tội lỗi, đó là một định nghĩa về Chúa Giêsu, đồng thời cũng là một mạc khải của Thiên Chúa!”. “Ai thấy tôi là thấy cha tôi” (Ga 14,9).
Những người Pharisêu và các kinh sư là những người rất được trọng vọng. Họ thật sự bị sỉ nhục vì Đức Giêsu thường tiếp phường tội lỗi. Phần chúng ta, chúng ta có thể hoàn toàn bỏ qua khía cạnh “Tin Mừng” của ngày hôm nay, nếu chúng ta không nhận ra rằng bài Tin Mừng này cũng vì chúng ta. Phải chăng chúng ta là những người nói rằng: “Tôi không làm gì xấu, tôi là một người tử tế, tôi không có tội”.
Tuy nhiên, trong phần thư của Thánh Phaolô mà chúng ta đọc hôm nay, thánh nhân lặp lại với chúng ta: “Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi mà kẻ đầu tiên là tôi” (1 Timôtê I,15). Phụng vụ ngày Chúa nhật đầy rẫy thực tại “cứu độ” “tội lỗi được tha thứ”. Chúng ta có đem lại một nội dung cụ thể cho các từ đó? Chúng ta có thuộc phái Pharisêu chỉ nhìn thấy tội lỗi. Trong những người khác? Trước khi đi xa hơn trong sự suy niệm của tôi, tôi cần phải bình tâm và sáng suốt nhận thực rằng tôi là kẻ tội lỗi” khi nhớ đến những thiếu sót mà tôi phạm phải trong đời tôi.
Đức Giêsu mới kể cho họ dụ ngôn này: Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang để tìm cho kỳ được con chiên bị mất?”
Đức Giêsu hỏi. Người kêu gọi kinh nghiệm của các cử tọa, các ông nghĩ gì? Các ông sẽ làm gì? Thật ra, không một mục đồng nào chịu mất dù chỉ một con chiên, nhưng lo lắng để tìm lại nó.
Các triết gia đã biến Thiên Chúa thành một ý niệm vững chắc: Một hữu thể bất động, không hề thay đổi... Còn ở đây chúng ta đứng trước một Thiên Chúa “chuyển động”, đang mở chiến dịch tìm kiếm cái mà Người đã mất? Và Đức Giệsu đặt trước mắt - chúng ta các cậu mục đồng vùng đồi núi Galilê đang chạy hết tốc độ, chân trần trên sỏi đá để tìm lại một con chiên đi lạc khỏi đàn. Chúng ta đoán được sự ngoan cường của các cậu trai ấy, “tìm kiếm cho tới khi nào tìm thấy!”
Thiên Chúa là như thế...
Không bao giờ có người nào bị Thiên Chúa bỏ rơi.
Không bao giờ có người nào “bị mất” hẳn, bởi vì có Đấng yêu thương người ấy không ngừng đi tìm người ấy. Thiên Chúa không chịu ngồi chờ kẻ tội lỗi trở về. Người ra đi tìm họ.
Chúng ta còn phải chiêm niệm lâu dài Thiên Chúa đó, Đấng mà Đức Giêsu mạc khải cho chúng ta. Khi người ta yêu thương, thì số học không còn như cũ. Lúc đó, có thể đặt dấu bằng (=) ở giữa số 1 và số 99. Đối với Thiên Chúa, mỗi người đàn ông, mỗi phụ nữ có một giá trị độc nhất, vô giá. Tôi nhìn thấy con chiên độc nhất ấy đã bò trốn hoặc đã bị mất. Đó là con chiên chiếm hết ý nghĩ của cậu mục đồng. Và xem ra chỉ có nó mới là đáng kể. Chúng ta có một Thiên Chúa như thế. Một Thiên Chúa tiếp tục nghĩ đến những ai đã bỏ rơi Người, một Thiên Chúa yêu mến những ai không yêu mến Người, một Thiên Chúa đau khổ chỉ vì một trong số các con chiên của Người làm Người lo lắng.
Đôi khi, tôi chẳng phải là con chiên đó sao? Và, xung quanh tôi, như ông nọ, bà kia, cô X..., ông Y... không người nào bị bỏ rơi. Thiên Chúa đang tìm kiếm họ.
“Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai...”
Đây là một hình ảnh kỳ diệu, một trong những tranh thánh đã thể hiện Đức Giêsu như thế ngay từ những thế kỷ đầu: Một người chăn chiên sung sướng, tươi cười, vác trên vai một con chiên. Trong nội tâm mình, chúng ta còn phải chiêm niệm hình ảnh ấy của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã có một sự quan sát rất tinh tế với chi tiết đơn giản đó: “vác con chiên trên đôi vai”, khi một con chiên đi lang thang nhiều giờ hoặc nhiều ngày xa đàn chiên, nó kiệt sức và nằm xuống. Thật ra phải vác nó thời. Và một con chiên nặng đấy? Nhất là khi người chăn chiên cũng đã chạy nhiều giờ trên những ngọn đồi nhiều sỏi đá dưới ánh nắng mặt trời... Chính người chăn chiên cũng rất mệt nhọc? Nhưng, Đức Giêsu nói, hoàn toàn vui mừng, người đó quên đi sự mệt nhọc của mình, bế nó lên tay và vác nó.
Chính Thiên Chúa được giới thiệu với chúng ta như thế! Vả lại hình ảnh ấy không mới mẻ. Toàn thể Kinh thánh đã thể hiện Thiên Chúa dưới những đường nét của “Người chăn chiên” (Isaia 40,11; 49,10 v.v...). Và mỗi Kitô hữu thỉnh thoảng phải đọc lại Thánh Vịnh 26 tuyệt vời: “Chúa là đấng chăn dắt tôi, tôi không thiếu thốn chi”.
“Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó”.
Niềm vui của người chăn chiên rất mạnh mẽ nên người ấy không thể, giữ lại cho một mình mình. “Xin chung vui với Ta” Thiên Chúa nói. Vậy giờ đây Thiên Chúa là hữu thể đang vui mừng và chia sẻ nềm vui. Chúng ta hoàn toàn khác với các người Pharisêu và kinh sư hay càu nhàu, bẳn gắt!
Vậy tôi nói cho các ông hay: “Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn”.
Thiên Chúa vui mừng tha thứ cho những kẻ tội lỗi.
Thiên Chúa vui mừng để cứu độ, vì Người không biết kết án ai. Trên trời có niềm vui! Vậy khi nào? Mỗi lần một kẻ tội lỗi hoán cải. Chỉ một thôi ư! Mỗi lần mà sự ác lùi lại một chút trên mặt đất.
Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà moi móc tìm cho kỳ được?
Luca, vốn rất quan tâm đến các phụ nữ là người duy nhất thuật lại cho chúng ta dụ ngôn đầy “nữ tính” này, để nói lại với chúng ta cùng một sự việc dưới một hình ảnh bổ sung. Sự lặp lại này không đơn thuần là một minh họa mới: Đức Giêsu nhấn mạnh, như để nói với chúng ta rằng điều Người vừa mới mạc khải không phải là một sự nói quá hoặc một sự nhầm lẫn ngẫu nhiên. Tình yêu phi thường của Thiên Chúa được tái xác nhận ở đây.
Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: “Xin chung vui với tôi vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất”.
Vậy giờ đây một niềm vui rất đơn sơ được chia sẻ giữa những Người phận nhỏ. Đây cũng là một sự quan sát cụ thể của Đức Giêsu. Người phụ nữ được đưa lên sân khấu này là một Người nghèo: Bà không sở hữu “một trăm con chiên”, bà chỉ có mười “đồng quan “! Đồng quan này chỉ số tiền lương trung bình một ngày công nông nghiệp (Mt 20;2). Vì thế không phải là gia tài to lớn gì mà bà đã tìm lại được Nhưng bà cũng muốn chia sẻ niềm vui. Thiên Chúa là như thế đó. Chúng ta còn chưa hiểu đủ bầu khí vui mừng xuất phát từ tấm lòng của Thiên Chúa nằm rải rác khắp nơi trong toàn bộ Tin Mừng như một “Tin Mừng”, và niềm vui ấy muốn tràn ngập nhân loại được “cứu thoát”.
“Cũng thế, tôi nói cho các ông hay: Giữa triều thần Thiên Chúa ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối”.
Hình ảnh này rất đẹp. Không nên cụ thể hóa nó. Có một cuộc lễ trên thiên giới. Niềm vui của Thiên Chúa lan truyền và trở thành niềm vui của các thiên thần.
Tất cả lễ hội hân hoan này chỉ vì sự hối cải của một người tội lỗi?
Tư tưởng Kitô giáo, phản ánh tư tưởng của Đức Giêsu đầy sự tinh tế. Phải nhấn mạnh rằng, không hề có một sự làm hại thanh danh với “tội lỗi” trong thái độ đó. Đức Giêsu không bao giờ nói rằng tội lỗi không quan trọng. Trái lại, sự lên án của Người đối với tội lỗi thì mãnh liệt và không chút mơ hồ. Như mọi ngôn sứ, Đức Giêsu đòi hỏi sự hoán cải và sám hối (Máccô 1,15). Và nếu các dụ ngôn mà chúng ta vừa nghe là một lời rao giảng về tình yêu Thiên Chúa thì chúng cũng là một lời rao giảng về sự hoán cải cần thiết của kẻ tội lỗi. Nhưng điều được nói ở đây một cách mạnh mẽ là luôn luôn Thiên Chúa có sáng kiến “đi tìm” điều đã bị mất. 'Tình yêu cốt ở điều này; không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta trước” (1Ga 4,10 -19).
Chúng ta có để Thiên Chúa yêu thương chúng ta không? Chúng ta có mang lại niềm vui cho Thiên Chúa không? Và có bước vào trong niềm vui của Thiên Chúa không? Cần phải đọc lại phần kế tiếp là dụ ngôn về đứa con hoang đàng, trong Chúa nhật IV Mùa Chay.

 

TN24-C62. Chú giải của R. Gutzwiller

CHIÊN LẠC (15, 1-7)
 

Trong số những người môn đệ Chúa, có nhiều người thu thuế và tội lỗi. Các ký lục và biệt : TN24-C62

Trong số những người môn đệ Chúa, có nhiều người thu thuế và tội lỗi. Các ký lục và biệt phái lấy điều đó là gương mù và ta biết là họ đã tỏ ý không chấp thuận điều đó, cho nên họ đưa ra những vấn nạn là chuyện đương nhiên.
1. Vấn nạn
Những người thu thuế là những người làm ăn sinh sống bằng những nghề khá mập mờ. Thế nên, họ chẳng lưu tâm đến luật lệ của Thiên Chúa trong lý thuyết lẫn trong thực hành; họ chẳng cần biết đến những giá trị tinh thần, những cái họ coi là chỉ tổ mất thì giờ và bất lợi. Họ còn có thái độ khinh dể những nơi thờ phượng nữa.
Còn những người tội lỗi, họ chỉ thấy bình thản khi lãng quên Thiên Chúa và cố tránh né mọi bận tâm về tôn giáo.
Thế nhưng sao họ đến với Chúa Giêsu thật đông như thế? Chúa Giêsu không chấp nhận một não trạng duy vật, một cuộc sống xa cách Thiên Chúa, Ngài cũng chẳng có ý làm cho tôn giáo thành dễ theo hơn. Thế mà sao họ vẫn đến với Ngài?
Ngược lại, những người biệt phái, đại biểu cho thành phần tôn giáo ‘đạo gốc’, là những nhà đạo đức chuyên nghiệp, những người sùng đạo nhiệt thành, những người hoàn toàn không thể trách cứ: tóm lại họ là thành phần đạo đức ưu hạng.
Các luật sĩ là những nhà chuyên môn, những người thông thạo lề luật và thực hành về tôn giáo, thông thái về khoa giáo điều, nói những lời đáng tin về Thiên Chúa. Và hẳn là những hạng người này đã không đến với Đức Kitô, có chăng là tính cách địch thủ, hầu hại Ngài và làm cho Ngài ‘mất tín nhiệm’.
Những người thu thuế và tội lỗi vẫn là những kẻ bị lên án, còn luật sĩ và biệt phái là những người ưu tuyển. Dân chúng nghĩ như thế và chắc có lẽ là Thiên Chúa cũng vậy. Thế mà tại sao lại xẩy ra thế khác?
2. Trả lời
Nhưng Thiên Chúa đã và còn đang xét định cách khác. Tư cách của những người thu thuế và tội lỗi có xâú thật, tư cách của luật sĩ và biệt phái có đúng về nhiều điểm thật. Thế nhưng, những ý định bên trong, những động lực của việc họ làm lại chứng tỏ hoàn toàn khác hẳn.
Những người thu thuế và tội lỗi coi mình như hạng hư mất, xa cách Thiên Chúa, không còn sùng mộ chi nữa, đúng ra đầy tội lỗi. Do đó họ xác tín về sự bất lực của họ, không thể tự thoát mà phải chờ mong tất cả từ ân sủng và lòng nhân lành của Thiên Chúa.
Biệt phái và luật sĩ tự hào là những người công chính, được bảo đảm an toàn, nơi họ tất cả đều ổn định và ân sủng đầy tràn. Vì tự lực thánh hoá bản thân, những người như thế đâu cần nhờ nguồn lực thánh hoá độc nhất nữa.
Nhưng Thiên Chúa lại có cái nhìn khác hẳn. Ngài không xét hành vi bên ngoài, nhưng là những ý định trong lòng.
Linh hồn có ý thức sự yếu đuối của mình, sự hèn hạ, giới hạn và tội lỗi của mình, khi ấy nó mới tìm kiếm Thiên Chúa nơi thâm sâu của lòng mình, mới ao ước Ngài, mới có thể đón nhận ân sủng của Ngài và như thế là mở cửa để đón Ngài.
Nương đồng dẫu có sỏi đá cũng không hề chi: nó đã được cày bừa và những luống cày sâu sẵn sàng tiếp nhận hạt giống sẽ gieo vào. Tạo vật mang tật bệnh, vì thế nó cần đến y sĩ; vì thấy mình trống rỗng, nên chỉ có sự viên mãn của Thiên Chúa mới có thể lấp đầy. Sự viên mãn ấy thấu nhập nơi ngõ hẹp cuộc đời của nó: vì thế nó sẵn sàng trở về, sẵn sàng hoán cải, nó khẩn khoản bàn tay cứu nhân độ thế đến cứu thoát mình.
Ngược lại, con người tự hào về sự cao trọng, về sức mạnh của mình, nghĩ rằng mình không thể phạm tội và vinh vang vì giai cấp được tôn trọng, tưởng rằng mình hoàn hảo trong đàng đạo đức, thì họ sẽ chẳng lo kiếm tìm Thiên Chúa, bởi vì họ lấy bản thân làm nơi an nghỉ. Tin tưởng ở mình thì không còn tin tưởng nơi Thiên Chúa; tình yêu mình sẽ thay thế cho lòng yêu mến Thiên Chúa.
Người thu thuế có thể hoán cải khi họ nhận thấy thân phận tội lỗi của mình. Còn biệt phái và luật sĩ không thể hối cải vì họ cứ ngỡ là mình công chính. Trên trời sẽ vui mừng khi có một người cải tà qui chánh, bởi vì đây là một sự quay về, một khuôn mặt nhìn lại Chúa, một con người đã hư mất được cứu thoát. Như thế trên trời sẽ vui mừng mỗi lần có người ‘tội lỗi’ trở về, chứ không phải mỗi khi có người ‘công chính’ tin rằng mình không cần hoán cải nữa. Trên trời vui mừng vì người tội lỗi thực sự được Chúa Kitô, Đấng hằng tìm kiếm những tâm hồn tội lỗi, đến cứu thoát.
 Nhưng trên trời không vui vì số phận của những người –và họ là đa số- không thể được cứu thoát chỉ vì lý do họ nghĩ rằng không cần thiết.
Tư tưởng của Thiên Chúa không phải là ý tưởng của chúng ta và đường lối của Người chẳng phải là đường lối của ta. Vì đó, Chúa Kitô đã cho họ thấy rằng những ý định của Thiên Chúa khác hẳn của con người, xưa cũng như nay, Ngài đi tìm kiếm những kẻ tội lỗi thực sự, và bỏ qua những người ‘công chính’ giả hiệu.

TÌM KIẾM (15, 8-10)
Liều mất mạng sống vì tình yêu Chúa Kitô, mất mạng sống vì không có Ngài… Bây giờ là vấn đề được Đức Kitô kiếm tìm và đi tìm kiếm theo gương Ngài.
1. Được kiếm tìm.
Người đàn bà đánh mất một đồng bạc. Bà tìm kiếm không ngơi cho đến khi thấy lại đồng bạc đã mất: theo một nghĩa loại suy, dựa theo lời Đức Kitô, ta có thể nói về việc Thiên Chúa tìm kiếm.
Ân sủng không được ban theo kiêủ buôn bán, dè xẻn, mà Thiên Chúa cũng chẳng đưa cho con người một bản tổng kết những gì Ngài đã ban cho họ. Ân sủng của Người tuôn chảy không ngừng, tình Người yêu thương chẳng bao giờ cạn.
Thiên Chúa kiếm tìm tạo vật đã lạc mất bằng những lời khuyên nhủ, cảnh cáo, khích lệ; đó là bề trong, còn bề ngoài người dùng Giáo Hội, các linh mục, sách vở, người này người nọ, biến cố này biến cố khác. Nhiều biến cố có vẻ phũ phàng. Nhưng thực ra đó chỉ là những dấu chân hữu hình của Thiên Chúa, dõi theo từng người chúng ta.
Bệnh tật giúp người ta mau mắn hồi tâm lại, mất mát của cải sẽ tách người ta ra khỏi những sự thế trần. Thất vọng sẽ cho thấy không nên quá tin tưởng vào con người. Thất bại sẽ thanh lọc tính kiêu căng và những lời phê bình gay gắt sẽ giải thoát ta khỏi tính ích kỷ.
Cả khi con người lang thang phiêu lãng, Thiên Chúa vẫn đuổi theo. Không có chỗ nào con người ở một mình cả. Chẳng bao giờ con người có thể tự nhủ Thiên Chúa đã bỏ rơi mình rồi. Một người thợ săn kiên nhẫn, rình chờ con mồi, một ngư phủ lưới người cũng kiên nhẫn đợi chờ chú cá bé nhỏ dính vào lưới ân sủng, hoặc là có dẫy dụa đi nữa, thì cũng mắc vào chiếc lưỡi câu. Đấy Thiên Chúa như thế đấy.
Chỉ có ở thế giới bên kia, tạo vật đã bị chiếm hữu sẽ nhận thấy rằng Thiên Chúa vẫn luôn theo đuổi, tìm kiếm mình, và tình Ngài yêu thương không ngừng đưa ra hết cách, và hết thế để dẫn đưa mình trở về. Tất cả mọi người chúng ta –dầu không nhận thấy- đang sống trong bầu khí yêu thương của Người.
Trước nhan Thiên Chúa, chúng ta tỏ ra phong phú –đây là điều khó có thể tưởng tượng được-. Điều này giải thích niềm vui trên trời khi một người xa lạc được tìm về.

2. Tìm kiếm
Cũng có thể áp dụng dụ ngôn này cho việc tìm kiếm những người con đã hư mất. Người mục tử không bao giờ được bằng lòng với những con chiên sốt sắng ngoan đạo, mà phải biết nghĩ đến những tâm hồn còn đang xa cách, đang gặp nguy khốn, đã sa ngã, đã lầm đường lạc lối.
Thực là một hiện tượng đáng buồn khi thấy trong tiểu thuyết hiện đại, thường các vị linh mục được miêu tả như những vị trưởng giả đầy đủ. Rõ ràng những nguyên tắc bất can thiệp và nhẫn nhục ảnh hưởng nhiều đến đời sống linh mục. Ngạc nhiên hơn nữa là ngày nay các toà Giám mục, đa số gồm có những vị trẻ trung, tinh thần cởi mở, đến độ gần như cách mạng trong khoảng thời gian thế chiến thứ nhất. Kết quả vẫn chán nản biết bao!
Một số lớn các linh mục hiện nay đã tham dự vào thế chiến thứ hai, và rồi người ta mới thấy điều đó.
Có lẽ người ta cho rằng nhận một trọng trách trong Giáo Hội đã có quy củ, chắc chắn sẽ làm cho họ mau an phận và làm suy yếu tinh thần tìm kiếm của họ. Thực sự những người mà Giáo Hội có trách nhiệm, đã tiếp tục lìa xa Giáo Hội.
Nếu người mục tử tốt lành để lại chín mươi chín con chiên để tìm kiếm một con thất lạc, và nếu người đàn bà bỏ mọi công chuyện để tìm đồng bạc đánh mất, thì người mục tử cũng phải tìm ra đường lối và phương pháp để dẫn những kẻ lầm lạc trở về. Chúng tôi có ý nói đến sứ vụ tông đồ tại các gia đình, tổ chức thăm viếng tận nhà, tái phối trí những họ đạo lớn, phát huy tinh thần tìm kiếm trong công tác tông đồ giáo dân, sự chuẩn bị môi trường bằng báo chí, những nỗ lực bác ái xã hội, những điều kiện ưu tiên cho vùng ‘sỏi đá’. Nói tóm lại, ta không thể bằng lòng với những gì mình đang có mà phải nghĩ đến những gì đã mất mát đi.
Làm cho những người vốn đã tốt, trở nên tốt hơn không đủ. Thực tế rất thường chưa hẳn những người đó đã là những người tốt.
Nhiều khi những người tân tòng, những người ăn năn hối cải lại khiến cho người ta mừng rỡ hơn bởi vì họ biết mình lầm lạc và đã được tìm kiếm, họ biết rằng chính bản thân họ đã tìm lại điều đã mất; Họ quí chuộng kho tàng của họ hơn là những người bao giờ đức tin cũng bình thường, không yếu đuối cũng chẳng lu mờ.

NGƯỜI CON HOANG ĐÀNG (15, 11-32)
Xét theo tâm lý, phải là bậc thầy mới hoạ nổi dụ ngôn đứa con hoang đàng. Thế nhưng đây lại chẳng nhấn mạnh về đứa con hoang đàng, về những nỗi khốn nạn và sự trở về của chàng ta. Mà lại nhấn mạnh nhiều đến người cha.
Tất cả những đoạn văn Thánh Luca nói về vấn đề hư mất đã kết thúc một cách ý nghĩa khi đưa chúng ta về Thiên Chúa, Đấng cứu thoát những gì đã hư hại và bù đắp dư dật.
1. Người cha để cho đứa con hư hỏng.
Trong dụ ngôn, người cha có thể, hoặc tạm thời từ chối không chia cho người con phần gia tài của anh ta, hoặc là nói cho thấy hơn thiệt. Bản văn lại chẳng đả động đến chi tiết. Người cha đã chia gia tài cho anh, và để anh ra đi. Đối với đứa con, chẳng phải vì xung khắc hay vì sự sa đoạ nào đó thúc đẩy anh ra đi, nhưng là vì anh khát khao được sống ngoài vòng kềm toả, vì háo hức khao khát kinh nghiệm, vì muốn biết cái mới lạ, vì chưa có bản lãnh, vì tính hung hăng và bản năng thích phiêu lưu mạo hiểm.
Thiên Chúa cũng để cho con người hành động. Người có thể gìn giữ con người khỏi tội lỗi bằng những đường lối quan phòng của Người hoặc bằng áp lực của ân sủng mà con người không thể nào cưỡng lại được. Thế nhưng, Người vẫn tôn trọng tự do của con người: điều này làm chúng ta ngạc nhiên và khó hiểu.
Nhưng thể theo Thánh ý của Người, sau khi con người đã được tạo dựng một cách tự do và được ban cho quyền tự do, Thiên Chúa đã thực sự để cho con người làm chủ những quyết định của mình, lại còn ban cho con người sự trợ giúp tự nhiên để thực hiện những quyết định đó nữa. Bởi chưng mọi chuyện con người thực hiện –cả khi con người làm điều ác nữa- con người cần phải có sự trợ lực của Thiên Chúa, nếu không con người hoàn toàn bất lực.
Trong dụ ngôn, đứa con lầm lạc dần dần sa sút, trước tiên là một sự phung phí dại dột, rồi hắn phung phí gia tài cho bọn đĩ điếm cho đến lúc hắn hoàn toàn chìm đắm trong tình cảnh khốn nạn và phải đi chăn heo (ta chớ quên thái độ xa lánh của người Do thái đối với loại thú vật này) rồi suýt chết đói.
Thiên Chúa cũng thế, Ngài để mặc con người tự do theo con đường đã chọn lựa, để họ xuống dốc theo ý muốn và ao ước của họ. Ai tưởng mình có thể định đoạt giá trị sự vật thì Chúa sẽ để họ theo ý riêng mình, cho đến khi họ hiểu rằng ý muốn tự quyết của họ chỉ là sự sụp đổ bất lực.
Thiên Chúa thường thông cảm với việc con người yếu đuối sa ngã giữa lúc làm bạn với bầy heo và cơn đói ám ảnh. Tuy nhiên –sẽ có một hiện tượng kỳ dị- bao lâu mọi sự tốt đẹp thì con người ít nghĩ đến Thiên Chúa. Họ muốn quán xuyến tất cả và tự mình quyết định. Nhưng khi có trục trặc vì lỗi của họ, họ vội vàng quy trách cho Thiên Chúa.
2. Người cha đón nhận đứa con hư hỏng
Trong dụ ngôn, người con đã trở về với chính mình. Bị lâm vào cảnh phiền muộn, nó mới biết đến kinh vực sâu, thú nhận lỗi lầm của mình và dọn sẵn lời thú tội: ‘Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha’. Nó ý thức mình không còn quyền lợi nữa và chỉ còn trông cậy vào lòng nhân hậu để được coi như một kẻ hèn hạ nhất trong đám thợ làm công.
Khi con người có kinh nghiệm sâu sắc và chua cay về thất bại bản thân, họ dễ ý thức giá trị của ân sủng. Lúc ấy, họ biết không thể tự sức mình mà được việc, nên phải phó thác vào ân sủng của Thiên Chúa. Tội lỗi đã làm cho con người mất địa vị làm con Thiên Chúa, cho nên, làm tôi tớ đối với nó là một đặc ân. Con người không còn đến trước Thiên Chúa Cha với tư cách một người con quấy rầy, nhưng như một kẻ van xin đầy lòng hối hận đứng trước chủ nhân. Và Thiên Chúa chấp nhận họ.
Trong dụ ngôn, người cha đã chờ đợi rồi ông đã chạy ra đón đứa con hư, tỏ lòng tha thứ mà không cần đứa con giãi bày lời thú tội. Ông đã dọn một bàn tiệc, tổ chức một buổi lễ… Đối với tội nhân hối cải, Thiên Chúa cũng có một thái độ tương tự. Ngài đến gặp họ. Phán quyết trong nội tâm và lòng hối cải đã là dấu hiệu của ân sủng Thiên Chúa. Kẻ lầm lạc khi tự phán quyết rồi lại quyết định trở về với Thiên Chúa, đó cũng là ân sủng.
Thiên Chúa cầu mong lại đón nhận họ. Đó là do lòng nhân hậu của Ngài. Và, nói một cách sát chữ, Ngài đem lòng yêu thương dạt dào người tội lỗi đã hối cải, quên đi quá khứ, xoá bỏ ác quả và tội vạ, và hơn nữa, cho họ được những đặc ân không ngờ, đây là mầu nhiệm khôn dò của ân sủng Người.
Bữa tiệc sẽ minh chứng là Thiên Chúa yêu thương. Người anh khó tính với cảm nghĩ tầm thường lấy vẻ liêm chính che đậy đầu óc thiển cận, tâm hồn hẹp hòi của mình. Trái lại, qua hành vi quảng đại của người cha, dụ ngôn cho chúng ta thấy bản tính thâm sâu của Thiên Chúa, tầm mức vô biên của tình yêu, nhịp điệu và hài hoà, âm vang trong Thiên Chúa.
Lầm lạc không còn là điều đáng quan tâm. Tăm tối đã biến đi. Ánh sáng chói chan khắp nơi, mọi sự thấy đẹp hơn bao giờ hết. Tội hồng phúc!... Tội lỗi là dịp vô cùng hữu ích để chúng ta nhận ra sự cao cả của Thiên Chúa đến nỗi chính các lỗi lầm của con người lại dẫn đến ơn cứu độ và vinh quang của Thiên Chúa.

 

TN24-C63.   Chú giải của Fiches Dominicales

XIN CHUNG VUI VỚI TÔI
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Bữa ăn chung với kẻ tội lỗi
 

Ở đây chúng ta chỉ nhắc qua bối cảnh là một cuộc tranh luận, và tập trung chú ý vào lời mời: TN24-C63

Ở đây chúng ta chỉ nhắc qua bối cảnh là một cuộc tranh luận, và tập trung chú ý vào lời mời gọi hãy chung vui vì tìm lại được những gì đã mất, được ghi lại trong cả ba dụ ngôn.
Đức Giêsu đang trên đường lên Giêrusalem, nơi Người sẽ phải đổ máu để cứu muôn người. Nhiều “người thu thuế và tội lỗi, đến để nghe Người giảng. Những người Biệt phái và kinh sư thì khó chịu “xầm xì với nhau” chống lại Người bởi vì không chỉ “đón tiếp phường tội lỗi”, Đức Giêsu còn “ăn uống đồng bàn với chúng”, một hành động tỏ ra cùng phe với bọn chúng!
Để trả lời, Đức Giêsu nói với họ ba dụ ngôn rất hay về lòng thương xót, làm thành chương 15 của Tin Mừng Luca. Để biện minh cho cách đối xử của mình, Đức Giêsu nêu lên lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những kẻ tội lỗi. Qua những lời Người nói và các việc Người làm, từng là cớ vấp phạm cho đối phương, Người cho thấy lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa đang được thể hiện và hoạt động. Và “tình yêu ấy của Thiên Chúa dành cho tất cả những ai chúng được yêu và cũng chúng đáng yêu, gián tiếp lên án sự cứng cỏi và khắc nghiệt mà những con người “đàng hoàng” hơn kia đã đối xử với họ” (Cousin, L’Evangile de Luc, Centurion, trg 211).
2. Lời mời gọi chung vui
Cả ba dụ ngôn đều nêu bật sáng kiến của Thiên Chúa, Đấng đi bước trước trong việc tìm kiếm tội nhân (hai dụ ngôn đầu) và đã “chạy ra” đón đứa con hoang trở về dụ ngôn thứ ba. Tuy nhiên đỉnh cao của mỗi dụ ngôn đều nằm ở lời mời gọi hãy chung vui vì đã tìm lại được: Niềm vui của người “chăn chiên” vác “con chiên lạc đã được tìm thấy” trên vai. Mời gọi bạn bè và hàng xóm đến chia sẻ: “xin chung vui với tôi!”.
Niềm vui của “người phụ nữ” tìm lại được “đồng bạc đã đánh mất”, mời gọi bạn bè và chị em xóm giềng đến chia sẻ: “xin chung vui với tôi!”.
Niềm vui của “người cha” khi đứa con trở về, “đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”, mời gọi người con cả cố chấp của mình cùng chia sẻ: “chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ!”.
Roland Meynet nhận định, “Những người Pharisêu và các kinh sư, coi thái độ xử sự của Đức Giêsu như một hành dộng phản lại họ. Bởi vì đón tiếp những kẻ tội lỗi cũng có nghĩa là bỏ rơi những người công chính, là để mặc những con chiên ngoan ngoài hoang địa. Như vậy, chính những người này đã tự tách riêng mình ra, đứng ngoài bữa tiệc vui của Đức Giêsu và những kẻ tội lỗi ăn năn trở lại niềm vui của người khác làm gai mắt họ, trong khi chính họ cũng được mời đến tham dự cuộc vui đoàn tụ của tất cả mọi người. Họ không hiểu rằng niềm vui đoàn tụ không chỉ riêng của con chiên lạc với chủ nó mà thôi, nhưng còn là niềm vui đoàn tụ chung của tất cả các con chiên với nhau, của con chiên lạc với 99 con kia, trong cùng một chuồng chiên, dưới cùng một chiếc gậy chăn của một chủ chiên duy nhất. Niềm vui còn phải được nới rộng ra đến mọi người hàng xóm và bạn bè, nếu không nó sẽ không trọn vẹn. Sẽ không thể có niềm vui đoàn tụ đích thực nếu có ai đó còn đứng ngoài. Tất cả đều được mời, và vòng tròn tham dự còn rộng mở đến tận trời cao, đến các thiên thần của Thiên Chúa. Như vậy làm sao tự cho phép mình đứng ngoài và tự tách rời khỏi cuộc hoà giải của tất cả? Từ chối chung vui với Đức Giêsu, không chia sẻ niềm vui của ơn tha thứ được trao ban và đón nhận, chính là khước từ niềm vui Nước Trời, là xầm xì chống lại Thiên Chúa” (L'Evangile selon Saint Luc. Analyse rhélorique, tập 2, Cerf, trg 161-162).

BÀI ĐỌC THÊM:
1. Niềm vui cho tất cả.
(G. Bessière, trong “Diêu siproche. Année C”, Desclée de
Brouwer, trg 146-147)
“Một xã hội đang bị câu thúc. Nhiều phe cánh kình chống nhau. Cả một mớ những lời lẽ và ánh mắt thô tục. Ở giữa đó, hiện lên một khuôn mặt, đó là Đức Giêsu. Con người ấy đã dám đánh đổ mọi phe phái đạo đức và tôn giáo của đất nước mình. Thử tưởng tượng xem: “ông ta đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”. Tất cả bọn chúng tuôn đến để nghe ông ta. Trong lúc phía bên kia là những phần tử ưu tú trong dân về mặt trí thức, nhân đức và lòng đạo: nhóm Pharisêu và các kinh sư, những đấng bậc khả kính, những con người đủ tư cách sửa dạy người khác...
Sự thinh lặng được phá vỡ. Và đây con người lạ lùng kia, với biệt tài vô song, lên tiếng kể chuyện. Có ai ngờ được rằng suốt hai ngàn năm, và còn mãi về sau, người ta vẫn còn ngồi lại thuật cho nhau nghe những câu chuyện đó, và chúng sẽ mãi mãi là những gì quí báu nhất còn ghi lại trong ký ức của nhân loại.
Con chiên bị mất, không hề có chi tiết nào nói nó kêu be be, để gọi chủ. Nó chẳng có công gì xứng đáng để được chủ vác lên vai. Mọi sự đều phát xuất từ người chăn chiên mà ‘niềm vui trong tim’ cứ muốn tràn sang đến tất cả. Và cả cõi thiên đình chẳng quan tâm bao nhiêu tới trật tự tốt đẹp nơi bầy chiên ngoan, lại tỏ ra vui mừng rộn ràng khi có một con người biết chỗi dậy và bắt đầu cuộc sống mới? Còn việc trở về của thằng con phung phá, ăn chơi và hư đốn? Tới bước đường cùng hắn mới chịu “hồi tâm suy nghĩ”: dù có cố tìm một lời lẽ gì đó để nói khi về đến nhà, thì chẳng qua chỉ vì đói nên hắn mới chịu mò về đó thôi. Cũng thế, tất cả đều khởi động từ cõi lòng người cha, “trông thấy con từ xa, ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ con và hôn lấy hôn để”. Thằng con có ráng ấp úng bài diễn văn tạ tội đã dọn sẵn trong đầu cũng vô ích thôi, bởi lúc này ai nấy đang tưng bừng chuẩn bị dọn tiệc ăn mừng. Có cả tiếng ca tiếng đàn nữa! Chắc chắn rồi. Đối diện trước cả hai cánh tốt xấu trên của nhân loại, Đức Giêsu tuyên bố mọi sáng kiến của Người dành cho những kẻ bị loại trừ, bị khinh miệt và tất cả những người tật nguyền về mặt tinh thần, đều là những sáng kiến của chính Đấng được tung hô ba lần Thánh. Người là Mục Tử của Israel, là Cha của dân tộc, là người đã chạy đi tìm con chiên lạc và ra đón đứa con hoang trở về.
Thiên Chúa, mà người nhân đức thánh thiện tưởng mình độc quyền sở hữu, kẻ tội lỗi thì nghĩ mình đã quá xa rời, chính Người đã lật đổ mọi thứ học thuyết và mọi lề lối sống đạo có sẵn. Chúng ta có thực sự tin rằng nơi vị Thiên Chúa ấy có tình yêu mãnh liệt, khiến Người luôn mơ đến một thế giới trong đó mọi người đều là anh em, và làm dậy lên trong Người một niềm vui mong được chia sẻ với tất cả?”.

2. Khuôn mặt thật của Thiên Chúa.
(“Missel Emmaus des Dimanches”, trg 1105).
“Thiên Chúa! Đấng chúng ta muốn là quan toà kết tội người khác, nhất là những kẻ thù nghịch, trong lúc chúng ta lại xin Người tỏ lòng nhân từ với chính mình: phải chăng đó là chuyện “hoàn toàn tự nhiên?”.
Do suy nghĩ như vậy, nên giữa chúng ta vẫn xảy ra thói xét đoán lẫn nhau, lên án lẫn nhau.
Thiên Chúa chúng ta mơ tưởng đó thực ra chỉ là một ngẫu tượng do chúng ta nhào nặn ra và nhằm phục vụ lợi ích của bản thân. Đó không phải là Thiên Chúa thật. Phải, Thiên Chúa là Đấng giầu lòng xót thương. Chúng ta sẽ thấy rõ điều này khi xua tan đi lớp mây mù do trí khôn loài người bày ra che phủ khuôn mặt thật của Người. Tuy nhiên chỉ những ai nhận ra tình yêu nhưng không của Thiên Chúa, và những ai để cho ân sủng ấy chiếm hết đời mình, đồng thời phản chiếu ra bên ngoài qua cách ăn ở với mọi người xung quanh. Chỉ những người như vậy mới cảm nghiệm được khuôn mặt thật của Thiên Chúa. Ích kỷ chỉ biết đến mình là điều ai nấy đều không thể chấp nhận cho dù đó là những con người “ngoan đạo” nhất!

 

TN24-C64. Tình thương vô biên

“Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải”
 

Xưa nay, trong xã hội, thường có hạng người đa nghi, hay dòm ngó, xét nét người khác. Việc: TN24-C64

Xưa nay, trong xã hội, thường có hạng người đa nghi, hay dòm ngó, xét nét người khác. Việc người thì sáng việc mình thì quáng. Nhóm Biệt phái và luật sĩ Do-thái thuộc về hạng người ấy. Họ tìm cách để bắt bẻ Chúa Giêsu trong lời nói, trong việc làm. Họ không thể vạch ra những sơ hở của Chúa trong lời giảng dạy thì họ theo dõi mọi cử chỉ, mọi giao dịch của Chúa. Chúa Giêsu lại không mấy quan tâm đến. Ngài đi nhiều lần với những người thu thuế, vào trọ trong nhà họ, ngồi ăn với họ; Ngài để cho người đàn bà được coi là tội lỗi đem thuốc thơm xức, xõa tóc lau, lại còn hôn cả lên bàn chân. “Ông này, nếu quả thực là tiên tri, ắt đã biết người đàn bà sợ đụng đến mình kia là ai, và thuộc hạng nào: một đứa tội lỗi!” (Lc 7, 39).
Ngài đi xuống hố thẳm tội lỗi để “cứu những gì hư mất”.
Để minh giải trước bọn đối thủ, nhất là để nói lên tình thương của Ngài đối với người tội lỗi, Chúa Giêsu đã để lại 3 dụ ngôn của Ngài thật cảm động. Hơn nữa, đây không phải chỉ là những dụ ngôn mà là những lời cầu nguyện sống, rất thực tế, đánh động lòng chúng ta là kẻ tội lỗi.
Đó là câu chuyện con chiên lạc, đồng bạc đánh mất, và nhất là câu chuyện người con trai đi hoang hối cải trở về. Trong cả ba câu chuyện, điểm nổi bật hơn cả, đáng chú ý hơn cả, đánh động tâm hồn hơn cả, là sự vui mừng của Thiên Chúa khi gặp lại những người hư mất sau bao công chờ đợi tìm kiếm.
Thiên Chúa, Đấng toàn thiện toàn năng mà lại vui mừng. Thật là một mầu nhiệm: “Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải”. Nhà Tiên tri Mikha cũng đã nói đến: “Có Thiên Chúa nào như Ngài lại vui mừng khi ban ơn tha thứ” (Mk 7,18).
Đây cũng là bài học cho chúng ta. Bao nhiêu lần chúng ta tuyên bố tha cho kẻ xúc phạm, làm cực lòng ta, nhưng ta vẫn giữ một thái độ lãnh lẽo, mặt nặng như chì với họ.
Ngày 5-7-1902, Maria Goretti bị thanh niên Alexandro đâm 18 lát dao, vì muốn bảo toàn đức trong sạch. Trước khi chết, vô vui vẻ tha thứ cho hung thủ và “muốn cho Alexandro được về Thiên Đàng với cô”. Bức gương của vị nữ thánh phản ánh tình thương hay tha thứ của Chúa.
Dụ ngôn thứ ba về người con trai đi hoang trở về lại càng tô điểm mối tình Chúa thương ta bằng những nét thật sâu đậm. Đọc lại cuộc đón tiếp vồn vã của người cha già với những cái hôn nóng hổi, với nhẫn xỏ tay, áo đẹp phủ người, tiệc tùng thịnh soạn, có người cho rằng làm gì cóm một người cha tốt lành quá như vậy đối với người con thất hiếu bất trung? Nhưng nên nhớ rằng đây chỉ là hình bóng phai mờ của người Cha trên trời đầy tình thương xót hay tha thứ. Tình thương của chúa thật vô biên, “thương đến tận cùng”.
Lạy Đấng chăn chiên, hãy để lại đó 99 con kia,
Và mau đi tìm con chiên duy nhất đã thất lạc,
Hãy đi tìm con, vì con đang tìm Chúa.
Hãy đón nhận con, vác con trên vai Chúa…
Dưới đất Chúa ban vơn cứu độ, và trên trời sẽ có niềm vui lớn.
(Thánh Ambrosiô thành Milan)

 

TN24-C65. CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN

Lc 15, 1 - 32
Anh chị em thân mến.
 

Trong bài giảng tĩnh tâm cho giáo triều Roma, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận có: TN24-C65

Trong bài giảng tĩnh tâm cho giáo triều Roma, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận có nói: Chúa Giêsu cũng có những khuyết điểm.
Trước tiên Ngài là người không biết về toán học. Ngài đã bỏ lại 99 con chiên để đi tìm một con. Giữa con số 1 và 99 không biết số nào lớn.
Kế đến Ngài là người không biết làm kinh tế. Đang có 9 đồng lại không màn đến, để đi tìm một đồng, rồi vui mừng, mời bạn bè đến chia vui.
Hơn nữa, Ngài còn là Người hay quên. Những người tội lỗi vây quanh mà dường như Ngài không hay biết. Như đứa con trong dụ ngôn, đã ra đi phung phí tiêu hao tiền của, thế mà Ngài vẫn ngày đêm mong đợi, để rồi khi nhìn thấy đứa con, Ngài vui mừng.
Nhưng thật ra đó không phải là những khuyết điểm, mà chính vì Tình Yêu Thương bao la đã vượt qua tất cả, vượt qua sự tính toán hơn thua của trần thế, vượt qua mọi đố kỵ của người đời. Ngài chỉ còn nhìn thấy Tình Yêu được đáp trả. Như thế đã đủ rồi và Ngài không đòi hỏi điều gì nữa.
Như trong bài phúc âm chúng ta vừa nghe. Ngài vui mừng vì tìm được con chiên lạc. Ngài không chờ đợi con chiên phải la lối, kêu cứu, nhưng Ngài đã đi và tìm được nó.
Cũng như đồng bạc bị mất đi. Vui mừng vì tìm được. Không phải vì giá trị của nó hơn những đồng khác. Nhưng vì Ngài không muốn những gì của mình phải hư đi, mất đi một cách vô cớ, nên đã làm hết mọi cách để tìm cho được.
Cao hơn nữa, đối với con người. Thiên Chúa chờ đợi một dấu hiệu chứng tỏ lòng ăn năn sám hối. Quay trở về, chỉ cần có dấu hiệu quyết tâm như thế, còn mọi việc khác Ngài sẽ bù đắp cho bằng Tình Yêu Thương bao la của Ngài. "Phải ăn tiệc vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy".
Mỗi người trong chúng ta là con chiên trong đàn của Chúa, là đồng bạc trong tay Chúa, hơn thế nữa còn là người con rất yêu quý của Ngài.
Nhưng chúng ta là người con như thế nào? Người con hằng ngày ở kề cận bên cha để tính toán thiệt hơn, để rồi bất bình khi thấy Cha không làm theo ý muốn của mình. Đó là người con cả trong bài Phúc âm chúng ta vừa nghe. Hay là chúng ta thấy mình đáng được một chút gì đó, để rồi đòi hỏi và tự mãn với những gì mình có, không cần biết đến ai, kể cả Người đã ban cho mình những cái hiện có. Chính thái độ tự mãn đó đã tiêu hao đi những gì đã được, đến nỗi không còn gì hết. Đó là người con thứ.
Nhưng chúng ta có biết hồi tâm, có nhìn thấy được sự mất mát, thiếu thốn của chính mình để biết quay trở về, nhận sự tha thứ và sống lại trong tình yêu thương và vui mừng của Thiên Chúa. Hay là chúng ta cứ tưởng mình đang giàu có, đang có công trạng qua sự tính toán riêng tư của mình và Thiên Chúa phải trả công cho chúng ta. Nên chúng ta không cần phải trở về, không cần phải vào nhà, cho dù bao nhiêu lời van xin, bao nhiêu lời giải thích, chúng ta cũng không thể hòa nhập với những gì mình cho là không xứng đáng, không hợp lý, chỉ có mình là đúng nhất, còn người khác thì không bao giờ. Đó có phải là những bước chân hoang? Không phải bằng thân xác, nhưng đó là những bước chân hoang của tâm hồn.
Thiên Chúa đang chờ đợi mỗi người quay trở về, để Ngài ôm vào lòng, để Ngài ban cho tất cả, để Ngài ban cho tình Yêu thương bao la của Ngài.
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta biết từ bỏ kiếp đi hoang, biết nhìn thấy được những lỗi lầm của mình, để quay trở về sống trong sự vui mừng Nước Trời.

 

TN24-C66. THIÊN CHÚA, ĐẤNG NHÂN HẬU

Lc 15, 1 - 32
 

Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng ….. Đó là lời tiên tri Isaia đã phản ánh: TN24-C66

1 .”Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau ? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,15). Đó là lời tiên tri Isaia đã phản ánh rất trung thực về tình cảm của người mẹ trần thế đối với đứa con của mình, và hơn thế nữa, Isaia cho thấy tình yêu của Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta.
Vâng đúng thế, Thiên Chúa luôn yêu thương con người, chủ đề của các bài Thánh Kinh hôm nay đều nói về lòng nhân từ của Thiên Chúa đối với loài người, nhất là những tội nhân. Bài đọc I, trích sách Xuất hành, diễn tả cơn thịnh nộ của Thiên Chúa trước tội “thờ bò vàng” của dân Israel, nhưng nhờ lời cầu nguyện của Môsê, cơn thịnh nộ ấy đã được nguôi dần. Bài đọc II, trích thư của thánh Phaolô gởi cho Timôthê, thánh Phaolô cho thấy Thiên Chúa không chỉ nhân hậu cách chung chung với một dân, một nhóm người, mà Ngài còn nhân hậu với từng người một, như kinh nghiệm chính thánh Phaolô đã thuật lại khi xác tín :”Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi ” (1Tm 1,15). Hình ảnh Thiên Chúa là Đấng nhân hậu càng rõ nét, qua ba dụ ngôn nổi tiếng như trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe : “Con Chiên Lạc”, “Đồng Bạc Mất” và “Người Cha Nhân Hậu”.
2. Chúng ta sẽ hiểu tấm lòng của Đức Giêsu hơn khi biết bối cảnh của đoạn Tin Mừng nầy. Đức Giêsu tiếp đón những người tội lỗi, điều này làm cho những ngừời biệt phái và luật sĩ phiền trách Chúa. Trước thái độ ấy, Người dạy cho họ một bài học, một cái nhìn đích thực về Thiên Chúa, Đấng gần gũi, giàu lòng nhân hậu đối với mọi người, nhất là những kẻ lầm lỗi. Lòng nhân hậu đó có thể dễ nhận thấy qua các phương diện : Tôn trọng tự do của con người; yêu thương và đi bước trước đến với tội nhân; và hoàn toàn tha thứ cho tội nhân.
3. Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do của con người. Trong dụ ngôn “Con Chiên Lạc”, hẳn con chiên này cũng như những các con chiên khác trong đàn, chủ đã để cho nó tự do để đi lại ăn uống, nhưng thay gì đi theo bầy đàn, nó lại đi riêng, thế là nó bị lạc! Điều này càng rõ hơn trong dụ ngôn người cha nhân lành. Thông thường cha chỉ chia gia tài cho các con khi thấy mình đã già yếu, sắp chết, bởi “ai nắm tiền là nắm quyền” (x. Hc 33,20-24) hoặc thấy con mình có khả năng giữ được gia tài thì mới trao phó cho nó và việc nầy là tự ý của người cha. Nhưng xem ra người cha trong dụ ngôn này đã không khôn ngoan tính kỹ như vậy, vì ông quá thương con, quá tôn trọng tự do của nó nên đã chia gia tài và cho nó tuỳ nghi sử dụng. Người cha nầy chính là hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng ban cho con người tự do, và nhiều khi con người đã sử dụng tự do một cách sai lạc !
4. Lòng nhân hậu của Thiên Chúa thể hiện qua việc yêu thương từng người trong chúng ta và luôn muốn ta sống trong tình yêu thương của Ngài. Một con chiên lạc không có giá trị gì so với cả đàn chiên, thế mà người chủ lại đi tìm ngay khi nhận ra nó đi lạc. Một đồng bạc rơi mất không có giá trị gì, vậy mà cũng đáng quý, cho nên người phụ nữ nầy phải tốn công tìm kiếm cho bằng được. Một đứa con hư hỏng không ích lợi gì cho gia đình, vậy mà người cha vẫn luôn trông ngóng ngày đêm, nên mới có thể nhận ra khi nó còn ở đàng xa. Đó chính là hình ảnh Thiên Chúa yêu thương từng người trong chúng ta. Mỗi tâm hồn xa cách Thiên Chúa, Ngài đều mong quay trở về.
5. Lòng nhân hậu của Thiên Chúa còn thể hiện ở việc hoàn toàn tha thứ cho tội nhân. Người chăn chiên khi tìm gặp con chiên lạc thì vui mừng vác nó trên vai mà trở về, cho nó nhập lại đàn, chứ không đánh đập nguyền rủa. Người đàn bà vui mừng khi tìm được đồng bạc bị đánh mất. Cũng vậy, người cha nhân hậu quá sức mừng rỡ khi đứa con hoang đàng trở về, ông bất chấp lỗi lầm của nó.
Đọc Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Giêsu thật là hình ảnh của Thiên Chúa nhân hậu. Phêrô đã từng chối Thầy mà sau khi hối lỗi vẫn được Thầy tin tưởng giao trọng trách. Người trộm lành được hoàn toàn tha thứ và còn được hứa hưởng hạnh phúc với Chúa… Thật là đúng theo một bài hát cầu hồn mà chúng ta thường nghe “Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu, Người đại lượng và chan chứa tình thương. Người không xử với ta như ta đáng tội, và không trả cho ta theo lỗi của ta ”.
6. Hình ảnh Thiên Chúa nhân hậu từng giây từng phút vẫn còn tiếp diễn. Thật vậy, Thiên Chúa ban cho con người tự do và vẫn luôn tôn trọng tự do của con người. Đó là hồng ân Ngài ban cho ta, hơn thế nữa khi ta sử dụng tự do cách sai lạc Ngài vẫn mong chờ ta quay trở về và rộng lòng tha thứ. Ánh mắt Ngài vẫn dõi theo từng người trong chúng ta. Một cách cụ thể hơn, qua bạn bè, những người thân nhắc nhở khi chúng ta có điều bất xứng. Qua những vị mục tử hay những người làm công tác tông đồ lặn lội đi tìm kiếm những người nguội lạnh. Qua hình ảnh cửa toà giải tội luôn rộng mở, mà linh mục thay mặt Chúa, như người cha nhân từ, ngồi trông ngóng những tội nhân...
7. Chúng ta không chỉ cảm nhận lòng nhân hậu của Thiên Chúa để quyết tâm sống tốt hơn, mà còn hãy noi gương Đức Giêsu trong việc cư xử từ tâm đối với nhau. Đừng như những người biệt phái, luật sĩ kết án, loại trừ đối với anh em, bởi tất cả chúng ta đều con một Cha trên trời, đều được mời gọi hạnh phúc với Ngài và ai trong chúng ta dám cho mình là vô tội !?

 

TN24-C67. NGƯỜI CHA

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay là một trong những trang đẹp nhất của Tin Mừng. Có thể gọi đó là: TN24-C67

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay là một trong những trang đẹp nhất của Tin Mừng. Có thể gọi đó là Tin Mừng của Tin Mừng. Tin Mừng vì Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót.  Lòng thương xót của Thiên Chúa thực sự vô biên, thực sự dài, rộng, cao, sâu khôn lường, ta không thể nào hiểu thấu.
 Khi chiêm ngắm Người Cha Nhân Hậu trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, ta khám phá ra khuôn mặt một Thiên Chúa yêu thương:
Thiên Chúa yêu thương là Thiên Chúa khiêm tốn. Như người cha chấp nhận chia gia sản cho con, chấp nhận để con bỏ nhà ra đi. Thiên Chúa cũng tôn trọng tự do của con người. Đấng Toàn Năng đã tự giới hạn quyền năng của mình để ta có thể hiện hữu một cách tự do. Ngài như thể thu mình lại để nhường chỗ cho con người thụ tạo.
Thiên Chúa yêu thương là Thiên Chúa biết chờ đợi. Thiên Chúa vẫn nuôi hy vọng khi con người lìa xa Ngài.  Người Cha vẫn luôn trông ngóng con từ bên cửa sổ.  Lòng Cha luôn hướng về con.  Bởi thế ngay khi con còn ở đàng xa, Cha đã nhìn thấy, Cha đã nhận ra con, dù con xanh xao tiều tụy. Thiên Chúa không thất vọng về con người. Ngài không bắt ép con người hoán cải, Ngài chỉ chờ, Ngài chờ vì Ngài tôn trọng tự do của ta.
Thiên Chúa yêu thương là Thiên Chúa biết tha thứ.  Ngài là Cha yêu con bằng tấm lòng người mẹ. Rõ ràng người con thứ thật đáng trách, vì bất hiếu. Nhưng tình thương của Cha còn lớn hơn tội lỗi của anh. Cha thương anh vì anh đã lỗi phạm. Người cha không cần nghe con mình xin lỗi. Sự trở về của anh đã là lời thống hối ăn năn: “Con ta đã chết, nay đang sống; đã mất, nay lại tìm thấy.” Thiên Chúa không nhớ chuyện đã qua. Điều quan trọng là hiện tại: “con đang sống trong vòng tay Cha”.
Thiên Chúa yêu thương là Thiên Chúa luôn chạy ra, như người cha chạy ra để đón đứa con thứ đi hoang trở về, như người cha đi ra để năn nỉ đứa con cả bớt giận để vào nhà ăn mừng người em trở về. Thiên Chúa dường như không yên tâm trong hạnh phúc của riêng mình, nếu có một người con còn đứng ngoài.  Người cha trong dụ ngôn chẳng sợ mất uy nghi, đạo mạo. Ông chạy đến với con, phá vỡ khoảng cách của quyền uy. Quyền uy của người cha là quyền uy của tình yêu, mà tình yêu thì có can đảm vượt qua mọi khoảng cách.
Thiên Chúa yêu thương là Thiên Chúa biết nhảy mừng. Thiên Chúa đãi tiệc vì một người ăn năn sám hối. Nhưng Thiên Chúa nhảy mừng cũng là Thiên Chúa đã từng chịu đau khổ. Ngài đau vì người con cố tình xa Cha.
Thiên Chúa biết buồn vui với con người và vì con người. Hãy trở lại và ở lại trong nhà Cha, vì Cha muốn trao cho con tất cả những gì Ngài có. Tiệc đã sẵn, vào với Cha cũng là về với anh em.
***
Lạy Cha!  Nếu Ngài không tha thứ cho các tội nhân thì thiên đàng sẽ trống rỗng, và thế giới này chẳng có thánh nhân .
Lạy Cha là Đấng Nhân Lành và Bao Dung, xin kéo con trở về bên Cha. Xin giúp con vất bỏ những đam mê lầm lạc. Xin nâng con đứng lên trong niềm vui ơn tha thứ, vì nhận biết rằng tình Cha lớn hơn tội lỗi của con bội phần.
Ước gì những vấp ngã trên đường đời giúp con lớn lên, thấy mình mong manh, thấy Cha rộng lượng. Và ước gì sau mỗi lần được Cha tha thứ, con biết cố gắng nỗ lực để trở nên giống Cha nhiều hơn, vì con đã biết tha thứ cho anh em của con. Amen.
Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Xuất Hành 32:7-11,13-14 – BĐ2: 1 Tm 1:12-17 – PÂ: Luca 15:1-32)

 

TN24-C68. NỖI LÒNG CHA

Trong Phúc Âm thánh Luca, dụ ngôn Chúa bỏ chín mươi chín con chiên trong hoang địa để: TN24-C68

Trong Phúc Âm thánh Luca, dụ ngôn Chúa bỏ chín mươi chín con chiên trong hoang địa để tìm một con chiên lạc, có lối kết luận nghịch với tiền đề. Chúng ta hãy đọc toàn bản văn:
Ai trong các ông, giả sử có trăm con chiên và lạc mất một con, há người ấy lại không bỏ chín mươi chín con ngay nơi hoang địa, để đuổi theo một con chiên lạc, cho đến khi tìm được nó ư? Tìm được rồi, há người ấy lại không mừng rỡ, quàng nó trên vai mình, và về đến nhà, mà lại không gọi cả bạn bè hàng xóm, mà phân phô với họ thế này sao: Bà con hãy chia vui với tôi, nay tôi đã tìm thấy con chiên lạc của tôi! (Lc.15:4-6)
Tiếp đó dụ ngôn được kết luận như sau:
Tôi bảo các ông: Cũng vậy, trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải, hơn là vì chín mươi chín người công chính, những kẻ không cần phải ăn năn (Lc.15:7)
Bản văn được chia làm 2 phần. Ta có thể vẽ thành họa đồ sau đây
Phần một diễn tả câu chuyện, có bốn chi tiết:
- Nói về con chiên đi lạc,
- Người chăn chiên đi tìm,
- Tìm thấy rồi ôm trên vai,
- Vui mừng khoe với bà con,
Phần hai kết luận:
- Nước Trời vui mừng vì một người sám hối.
Xét qua bản văn ta thấy kết luận rất lạ với tiền đề câu chuyện, vì cả câu chuyện không hề nói tới lòng sám hối. Có một con chiên lạc, rồi Chúa đi tìm. Người chăn chiên đi tìm chứ đâu có phải con chiên tìm lối trở về, như thế làm sao mà gọi là lòng sám hối được?
Xem ra lối kết luận trên đây không hợp luận lý. Tuy nhiên, thinh lặng một chút ta sẽ thấy có điều phải suy nghĩ lại trong lối viết văn của Luca. Luca không trình bày rõ lòng sám hối của con người, nhưng làm nổi bật lòng xót thương của Chúa. Ở Luca tôi thấy dựa vào lòng xót thương của Chúa mà ta có thể về, chứ không phải sự tốt lành của ta. Lối kết luận này vẫn hợp lý, và chỉ hợp lý khi ta giả sử là người chăn chiên tìm thấy, rồi con chiên đồng ý trở về. Sự đồng ý trở về ấy Chúa coi như lòng sám hối.
Một đêm dừng chân trên lưng núi, Chúa thao thức vì một tâm hồn. Giờ này con tôi ở đâu? Tiếng lòng vọng về đáp trả giữa đêm đen vẫn chỉ là một khoảng không cô tịch. Cũng trong tiếng lòng ấy, vọng về nỗi thương, Người phải đi tìm vì đó là con của Ngài. Rong ruổi cho đến khi gặp, nhưng vì còn tự do của nó, Ngài chỉ có thể thương yêu hỏi:
- Cha muốn con về.
Ánh mắt người chăn chiên có nỗi đau thương vì Satan đã lừa gạt con của Ngài. Nhưng khổ tâm, Satan cũng đã không cưỡng bách được sự tự do của con cái Ngài. Ra đi vẫn là một lựa chọn tùy ý. Trở về cũng thế, Ngài chỉ có thể hỏi đứa con ấy:
- Con có muốn trở về?
Trong cái gật đầu mệt mỏi của con chiên lạc, Ngài mừng rỡ vác lên vai mà đem về. Chỉ ở điểm này, gọi đó là lòng sám hối, ta mới có thể chấp nhận kết luận kia hợp lý.
***
Lạy Chúa! Một lần ra đi, một quãng đời nào của con vương trong bụi gai chẳng còn lối thoát.  Chúa thương tìm con về.  Bụi đất làm con xơ xác.  Chúa chẳng ngại, Chúa bế con rồi ôm trên vai. Chúa không sợ dơ áo của Chúa vì những vết thương của con lâu ngày mưng mủ.
Lối trình bầy Tin Mừng của thánh sử Luca cho con thấy rực lên lòng thương xót của Chúa đi tìm con, hơn là con sám hối ăn năn.
LM. Nguyễn Tầm Thường, S.J.
(Trích tập sách “Con Biết Con Cần Chúa”)

 

TN24-C69. Chúa Nhật   12.09.2010

 Tác giả: Cố Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, op.
 ANH CÒN NỢ EM …
(Lc 15:1-32)
Viết ngày 16.09.2007
 

Tuần qua, trước khi từ giã cõi đời, danh ca Luciano Pavarotti đã thoải mái nói : Thượng đế: TN24-C69

 Tuần qua, trước khi từ giã cõi đời, danh ca Luciano Pavarotti đã thoải mái nói : Thượng đế và tôi không còn mắc nợ gì nhau.  Ông đã mắc nợ gì, nếu không phải là món nợ tình yêu, yêu đời yêu Trời.  Nhưng món nợ tình yêu ai có thể trả xong ?
Càng suy nghĩ, càng không thể hiểu nổi bản chất vô cùng sâu xa của tình yêu.  Rất may, qua Tin Mừng Chúa nhật hôm nay, Chúa Giêsu mạc khải phần nào bản chất tình yêu cao cả đó. 

TỪ VỰC THẲM 
Các dụ ngôn trong chương Lc 15 thường được gọi là “Tin Mừng trong Tin Mừng.”  Chương 15 tóm tắt sứ điệp Luca về sự tha thứ và thống hối.  Những chủ đề này thường hay xuất hiện trong Luca hơn các Tin Mừng khác :  ông Dacaria tiên báo Chúa sẽ đem lại ơn tha tội (1:77), và lúc bắt đầu sứ vụ cả ông Gioan lẫn Chúa Giêsu đều loan báo ơn tha thứ và sám hối.  Lần cuối cùng Chúa sai các môn đệ đi rao giảng sự thống hối và ơn tha thứ cho mọi dân tộc (24:47).  Chủ đề sám hối sẽ trở lại trong các bài giảng ở Công vụ Tông đồ và xác định rõ phương hướng hoạt động trong cuộc đời thánh Phaolô (Cv 26:17-19). 
Trong Kinh thánh, sám hối có một ý nghĩa rất phong phú.  Tiếng Do thái teshubah nhắc đến việc sám hối cá nhân vì nghiệm thấy Thiên Chúa là Ðấng từ nhân và  đầy cảm thông.” (Tv 51)    Tiếng Hy lạp, metanoia gợi nhớ “việc tưởng niệm và canh tân.”  Việc “sám hối” ấy dẫn tới việc tha thứ tội lỗi, giải thoát khỏi tù đầy và bãi bỏ hình phạt.  Sám hối không phải là leo lên tới Thiên Chúa qua những nấc thang sầu đau và hối hận, nhưng là khám phá niềm vui qua việc tìm kiếm Thiên Chúa.  Ðức Giêsu tìm cách hiệp thông và kết bạn, rồi mới tới sám hối, kinh nghiệm về một Thiên Chúa tình yêu.
Chỉ có Thiên Chúa mới có thể mở rộng con tim, đem lại niềm vui lớn lao cho con người.  Ðức Giêsu đã diễn tả niềm vui đó qua những chia sẻ rộn ràng của người chăn chiên sau khi tìm thấy con chiên lạc, của người phụ nữ sau khi kiếm lại được đồng bạc.  Bữa tiệc sau đó phản ánh tiệc lớn trên thiên quốc, bữa tiệc đem lại “niềm vui lớn lao trên thiên quốc vì một người tội lỗi ăn năn trở lại thì hơn chín mươi chín người công chính không cần sám hối ăn năn.” (Lc 15:7) 
Theo dõi bước chân người con thứ trở về nhà cha, chúng ta có  thể hiểu phần nào ý nghĩa đích thực của việc sám hối.  Người con thứ ra đi mang theo phần gia sản : “Những gì của cha là của con.”  Khi anh ta trở về, người cha sẽ nói cùng một câu như thế với người anh cả, nhưng không theo cách chiếm hữu, mà theo nghĩa chia sẻ và tặng dữ.  Người con thứ muốn sống tách biệt để có của riêng.  Khi lìa bỏ nhà cha ra đi, anh ta muốn tự mình làm chủ chính mình và của cải mình.  “Của cải mà người con thứ phung phí có nghĩa là ‘bản tính’ trong ngữ vựng triết học Hy lạp.   Chính người con hoang đàng đã tiêu tán hết “bản tính của mình’”[1]   Với thời gian, anh nhận thấy những gì anh tưởng là của riêng, đã bị cuộc đời “vét sạch.” Chẳng mấy chốc, anh nhẵn túi, mất cả tư cách làm người.  Anh đã đánh mất tất cả phẩm giá của mình.  Từ phẩm giá làm con với đầy đủ quyền tự do, anh mơ ước làm thân nô lệ. 
Từ đáy vực khốn cùng, từ chỗ yếu đuối sâu thẳm nhất, anh đã hướng nhìn về người cha.  Ai cho tôi một chút vinh dự, một chút tình yêu ?  Những vết thương lòng rỉ máu.  Tôi đang sa lầy giữa cảnh lạnh lùng.  Tôi sẽ đưa  tay về hướng đâu ?  Chung quanh bầu bạn chỉ là sự trống vắng.  Tôi xao xuyến lo âu.  Phải chăng chưa bao giờ tôi hiểu nổi tình yêu ? 
Sau khi đã phá tán hết tài sản, người con thứ quyết định trở về.  Nhưng anh sợ không biết còn mặt mũi nào gặp lại người cũ cảnh xưa không.  Có thể mình còn là mình như trước khi ra đi chăng ?  Anh rất muốn nhưng vẫn “lưỡng lự,”  dù “nhà cha” anh đã từng cư ngụ xưa kia.  Thế nhưng, từ tận cùng bằng số, trái tim anh nhớ lại niềm hy vọng tràn đầy tình yêu: “Tại nhà cha tôi …” (Lc 15:17)   Chỉ còn lại một mình cha tôi mà thôi !
Anh mơ tưởng “cảnh tượng” lúc trở về, nhẩm đi nhắc lại điều anh có thể nói trong hoàn cảnh mình.  Anh không dám mường tượng lúc trở về lại được sống trong tình yêu anh đã phá vỡ bằng chính tính sở hữu ích kỷ của mình.  Anh chỉ còn hy vọng trở về để kiếm miếng ăn chỗ ở lây lất qua ngày giữa những người làm công … Anh không còn đáng được nhận làm con nữa.  Khi người con đi kiếm thức ăn, thì người cha đưa cho anh một thức ăn khác để anh sống mà vẫn còn là con, ngay cả khi người con chỉ có thể tưởng tượng cha vẫn hoàn toàn là cha.  Khi người con đi kiếm một chỗ ở, người cha ban lại cho anh một chỗ khác, chỗ vẫn là của anh, ngay cả khi anh vắng nhà.  Anh vẫn là trung tâm điểm của tình yêu gia đình.  Tình yêu là phần tài sản thừa kế không biến mất.   Những thứ thừa kế khác anh xài tan hoang rồi.
Cha anh đã không nói gì.  Thay vì trả lời, ông đưa vòng tay ôm cứng lấy anh.  Vòng tay đã ngăn không cho anh thực hiện điều anh yêu cầu.  Người cha đã cắt ngang, ngay khi mới nghe lời con nói.  Ông làm cho anh khám phá thấy điều quý giá nhất anh đã bỏ quên lúc ra đi.  Niềm vui đột nhiên bùng vỡ : “Con ta đã sống lại.”  Tất cả đã biến tan nơi phương xa : sự giàu có, ảo tưởng, phẩm giá … Giấc mơ cuối cùng chỉ còn là “đậu muồng heo ăn.”  Nhưng tình yêu không bao giờ tan biến (1Cr 13.8).   
Tình yêu muôn đời vẫn là một mầu nhiệm khôn dò.  Qua một vài dụ ngôn Chúa nhật hôm nay, Chúa Giêsu giúp chúng ta khám phá phần nào mầu nhiệm đó.  Dụ ngôn dài nhất thường được gọi là “người con phung phá.”  Nhưng dưới cái nhìn tích cực hơn, đó là “dụ ngôn người cha nhân hậu.” 
ÐGH Bênêđictô XVI lại thấy đó là dụ ngôn về hai anh em.  Cái nhìn khá sát thực, vì rõ ràng hai anh em tượng trưng hai nhóm người.  Nhóm thứ nhất gồm những thu thuế và tội lỗi.  Nhóm thứ hai gồm Pharisêu và các ký lục.[2] 
Tình yêu thân phụ đã trả lại tất cả những gì người con thứ đã đánh mất.  Món nợ tình yêu người anh cả muôn đời còn mắc nợ người em thứ, vì đã không đủ bao dung để thông cảm và chia sẻ với em.   Mãi tới bây giờ, nhìn lại quãng đời đã qua, người anh cả đã than thở : “Anh còn nợ em …”   Ðúng như thánh Phaolô quả quyết : “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tình yêu.” (Rm 13:8)
Tình yêu là sức mạnh lôi kéo người con hoang đàng.  Nhưng tình yêu lại trở thành  cung đàn lạc điệu đối với những ai đang mải mê tìm kiếm chính mình.
Tuy không bỏ nhà ra đi như em, người anh cả đã tự tách lìa cha quá xa.  Anh còn ở lại nhà.  Thế thôi.  Anh tự cho mình là một người đầy tớ, chứ không phải là một người thân thuộc trong gia đình.  Ðàng khác, anh đã trách móc người cha về người em thứ : “Còn thằng con của cha đó !”   Nhưng người cha mời anh vào để gặp gỡ và nối lại tình yêu trong gia đình : “Con, con cha … em con … tất cả những gì của cha là của con.”   Ðứa con cha đã mất là em con và là con cha.  Nó phải được con yêu mến, chia sẻ niềm vui, và chấp nhận.  Cả con nữa, hãy mở rộng vòng tay.  Cha là cha của hai đứa chúng con.

TÌNH YÊU VÀ NHÂN PHẨM
Chính tình yêu phục hồi nhân phẩm.  Người cha là một chứng từ điển hình.  Người cha đã phục hồi phẩm giá hoàn toàn cho người con thứ.  Ngược lại, phản chứng chính là người anh cả.  Muôn đời anh không thể trả món nợ tình yêu cho em !   Chẳng bao giờ anh có thể phục hồi phẩm giá người em.  Từ đó tình anh em tan biến.  Con người sống bên nhau như gỗ đá, đồ vật hay máy móc mà thôi.  Tội lỗi từ đó phát sinh.  Con người đánh mất khả năng sáng tạo và tái tạo như Thiên Chúa.
Trái lại, Thiên Chúa trung tín không ngừng tái tạo những gì Người thương mến.  Chúng ta đang tìm kiếm sự tuyệt đối trong cuộc đời.  Nhưng chúng ta đã đi vào ngõ cụt.  Thật khó lùi về đường xưa để tìm lại sự sống đã đánh mất !  Con người từ chối yêu thương chân thành.   Tội lỗi khép kín tâm hồn và dẫn đến bế tắc trong tương quan với tha nhân.  Bởi đó, không thể chấp nhận nổi thái độ của người anh cả.
Phẩm giá người anh cả trở thành một vấn đề, vì tương quan xã hội đã tan biến sau thái độ cứng cỏi của anh.  Quả thực, “tất cả mọi giá trị xã hội vốn gắn liền với nhân phẩm và làm cho nhân phẩm phát triển đích thực.  Chủ yếu những giá trị này là : chân lý, tự do, công lý, tình yêu.  Ðem ra thực hành những giá trị ấy là con đường chắc chắn và cần thiết để làm cho con người hoàn hảo và ngày càng hiện hữu như một con người có tính xã hội hơn.”[3]  Người anh cả đã không thấy được tất cả giá trị lớn lao đó nơi em mình, nên đã không thể hành động như thân phụ.  Anh tưởng khi không trả lại phẩm giá cho em, mình sẽ được hưởng trọn vẹn gia tài và tăng thêm phẩm giá của mình.  Ai dè, chính phẩm giá anh cũng bị sút giảm hẳn trước mặt thân phụ.
Sự thật người anh cả theo đuổi chính là lề luật và truyền thống gia đình.  Nhưng anh quên mất một sự thật vô cùng to lớn đó là tình yêu.  “Sống trong sự thật có một ý nghĩa đặc biệt trong tương quan xã hội. Thực vậy, khi con người sống chung với nhau trong một cộng đồng, xây dựng trên sự thật, thì cộng đồng sẽ có trật tự và hiệu quả, và tương xứng với phẩm giá con người.”[4]   Nếu người anh cả chỉ muốn xử lý với người em, chắc chắn sẽ có một khoảng cách rất lớn trong gia đình.  Anh em không thể nhìn mặt nhau, dù sống trong cùng một hoàn cảnh.  Tự bản chất, gia đình là một cộng đồng tình yêu.  Nếu không có sự tha thứ, làm sao tình yêu có thể hiện hữu như một nền tảng và lẽ sống cho gia đình ?
Nếu người anh cả đã tha thứ cho người em, chắc chắn cảnh gia đình sẽ vui tươi đầm ấm.  Ai cũng tự do đi lại và sinh hoạt trong gia đình mà không một chút mặc cảm.  Công cuộc xây dựng gia đình sẽ đạt hiệu quả tối đa.  Một khi tìm lại phẩm giá, người em sẽ thấy mình được mọi người tôn trọng, vì “tự do là là dấu chỉ phẩm vị tối cao của mỗi người.”[5]  Phản ứng của người anh đã là một trở ngại lớn nhất cho người em trên đường tìm về phẩm vị tối cao đó.  Ngược lại, người cha đã làm tất cả những gì cần thiết cho con thứ trở lại địa vị ban đầu.
Giả sử người cha cũng không tha thứ cho người con hoang đàng, người con cả cũng không vì thế mà hưởng được tự do đích thực.  Tuy lúc đó, một mình một cõi, nhưng anh cũng không thể được thân phụ và mọi người kính trọng.  Thực vậy, “giá trị của tự do được quý trọng khi mỗi phần tử xã hội được phép chu toàn ơn gọi riêng của mình.  Ðàng khác, tự do cũng là khả năng tự tránh xa tất cả những gì có thể làm cản trở sự phát triển  cá  nhân, gia đình hay  xã hội.  Tự do trọn vẹn là khả năng tự chiếm hữu điều lợi ích đích thực, trong khung cảnh công ích của mọi người.”[6]  Như thế, rõ ràng càng cố gắng ngăn cản người em chung hưởng gia sản thân phụ, người anh cả càng tỏ ra ích kỷ và làm cho gia đình, nhất là thân phụ, mất đi niềm vui lớn giữa cảnh gia đình phát triển và mọi người thăng tiến trong ơn gọi cá nhân.
Khi chối bỏ nhân cách của người em, người anh cả đã vượt quá quyền hạn của mình và đối xử bất công với em.  Thực vậy, “công lý là hành vi dựa trên ý muốn công nhận tha nhân như một nhân vị.”[7]   Khi không còn công lý, làm sao gia đình trên thuận dưới hòa ?  Bởi đó, khi không chấp nhận người em, không những người anh cả không có tấm lòng bao dung như thân phụ, nhưng còn thiếu hẳn ý chí để sống theo công lý.  Sống trong tình trạng bất công, tất nhiên con người sẽ không tránh được cuộc tranh đấu để giành dựt quyền lợi.
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn ý thức mình đang đóng vai trò người anh cả hay em thứ trong đại gia đình dân tộc Việt nam.  Xin cho chúng con biết bao dung và tha thứ để tình yêu ngày càng trở thành sức mạnh giải thoát và nền tảng xây dựng dân tộc Việt nam chúng con.  Amen.
đỗ lực  16.09.2007
 

[1] ÐGH Bênêđictô XVI, Ðức Giêsu Nadarét 2007:204.
[2] ibid.
[3] Tóm lược Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội 2005, số 197.
[4] Ibid., số 198.
[5] Ibid., số 199.
[6] Ibid, số 200.
[7] Ibid., số 202

 

TN24-C70. TIN MỪNG CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Lc 15, 1 - 32
 

Chúng ta biết mỗi năm Phụng vụ C, Giáo hội sẽ cho con cái mình đọc và suy niệm Tin mừng của: TN24-C70

Chúng ta biết mỗi năm Phụng vụ C, Giáo hội sẽ cho con cái mình đọc và suy niệm Tin mừng của Chúa Giêsu theo thánh Luca. Tin Mừng theo thánh Luca được gọi là Tin mừng của lòng thương xót. Điều ấy được thể hiện rõ nét nhất nơi những dụ ngôn chúng ta sẽ đọc và suy niệm trong Chúa nhật hôm nay.
Lòng thương xót của Thiên Chúa là tấm lòng của Đấng hạ mình xuống để nâng con người lên. Nhờ lòng thương xót ấy, chúng ta được cứu khỏi tội lỗi và sự chết đời đời. Lòng thương xót của của Đấng đến tìm và cứu chữa những gì hư mất. Và lòng thương xót ấy được thể hiện nơi hình ảnh người chủ chiên, người phụ nữ bị mất tiền và người cha nhân hậu.
Trước hết là thái độ lạ thường của người chủ chiên với những con chiên bị lạc mất. Ông ta sẵn sàng chín mươi chín con kia ngòi đồng hoang, để đi tìm cho k được con chin bị mt" . Lạ hơn, khi tìm được ông "mừng rỡ vc ln vai""v đến nh, người y mời bn b, hng xm li, v ni: Xin chung vui với ti, vì ti đã tìm được con chin ca ti". Dầu vậy, thái độ này sẽ không lạ gì với một người chủ chăn thật sự gắn bó với những con vật nuôi của mình. Họ sẽ để ý và chăm sóc đặc biệt hơn với những con bệnh tật. Một người mẹ thương con thật sự cũng sẽ quan tâm nhiều hơn cho những đúa con chịu nhiều thiệt thòi hơn. Cũng vậy và hơn thế, lòng thương xót của Thiên Chúa không cho Người đành lòng bỏ đi một con người bị mất đi trong tội lỗi.
Kế đến là thái độ lạ thường của người phụ nữ có mười quan tiền. Một hôm chị lỡ đánh mất một trong mười quan ấy, chị ta "thp đèn, ri qút nh, moi mc tìm cho k được" . Theo cái nhìn thông thường, chúng ta sẽ nghĩ chỉ mất một quan thôi thì bỏ đi tội gì kiếm chi cho mệt. Tuy nhiên, ông bà thường nói ồng tin dính lin khc rut" . Do đó, nếu lỡ mất đi dù chỉ số nhỏ chúng ta cũng cảm thấy đau lòng. Sự đau lòng ấy càng dữ dội hơn, khi chính những đồng tiền ấy do chính mồ hôi nước mắt của mình tạo nên. Nhìn như thế chúng ta sẽ dể hiểu hơn tấm lòng của Thiên Chúa chúng ta. Thiên Chúa có thể vui được khi thấy một trong những đứa con của mình bị hư mất chăng? Chắc chắn Thiên Chúa sẽ đau lòng hơn nhiều khi thấy chúng ta đang đắm chìm trong tội lỗi và sự chết. Chính sự đau lòng ấy sẽ thôi thúc Người đi tìm và cứu chữa chúng ta cho bằng được.
Sau cùng, hình ảnh người cha nhân hậu có lẽ sẽ đánh động ta nhiều hơn. Một đứa con hư hỏng cố ý chối bỏ tình thương của cha. Vì nghĩ rằng tiền bạc, lạc thú trọng hơn cha nên nó đã sẵn sàng coi ông như đã chết (đòi chia gia tài) mặc dù ông vẫn còn sống đó. Đến nỗi, lúc quyết định trở về chỉ vì cái bụng của nó (đang chết đói). Nhưng cha nó chẳng để tâm đến những điều đó. Ngày đêm ông trông ngóng nó trở về. Từ đàng xa thấy nó trở về, ông đã "chy ra m c anh ta v hn ly hn để" và bảo các đầy tớ " Mau đem o đẹp nht ra đây mc cho cu, x nhn vo ngn tay, x dp vo chn cu, ri đi bt con b đã v bo lm thịt để chng ta mở tic n mừng" . Ông hoàn toàn không ngó ngàng gì đến quá khứ của con mình. Bấy giờ ông chỉ còn biết con mình thật sự trở về. Những cử chỉ đón tiếp ấy cho thấy ông đã nhanh chóng phục hồi địa vị mà con ông đã làm mất trước kia.
Như thế, những hình ảnh trên của lòng thương xót Chúa chắc chắn ít nhiều gì cũng đánh động và đáng cho ta suy nghĩ nhiều. Thiên Chúa đau khổ biết bao khi thấy chúng ta cố ý lìa xa tình thương của Người. Sự đau khổ ấy sẽ trở thành niềm vui lớn khi Người tìm được chúng ta trở về cũng như khi chúng ta biết quay trở về với tình thương của Người.
Chúng ta hãy tin tưởng vào lòng thương xót vô cùng lớn lao của Thiên Chúa. Tin tưởng để chúng ta cố gắng đừng gia tăng đau khổ cho Thiên Chúa. Tin tưởng để chúng ta biết sớm trở về mỗi khi lỡ dại đi theo con đường tội lỗi.

 

TN24-C71.SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXIV – 2001, C

Ngày 11.09.2001 đã đi vào lịch sử Hoa Kỳ với hằng ngàn người vô tội bị chôn vùi trong lửa đạn: TN24-C71

Ngày 11.09.2001 đã đi vào lịch sử Hoa Kỳ với hằng ngàn người vô tội bị chôn vùi trong lửa đạn hận thù. Và ngay lập tức bùng lên sự căm phẫn không chỉ riêng trong trăm triệu trái tim con dân Mỹ, mà nói được trong mọi trái tim con người. Một kế hoạch trả đũa được khơi dậy. Trong bối cảnh ấy, tiếng nói của Tin Mừng hôm nay thật lạc lõng, và khó nghe.
Lịch sử nhân loại là lịch sử của chiến tranh và thù hận. Những trang hòa bình, hòa giải thật mờ nhạt. Đó là thực tế : và chính nó là nguyên nhân sâu xa nhất của nghèo đói, của dốt nát. Vì chiến tranh đã cướp đi những bàn tay và những bộ óc mạnh mẽ nhất của các dân tộc, và để lại những con người đầy thương tích và tàn phế, và cũng vì chiến tranh đã thiêu hủy mọi tài nguyên và làm ô nhiễm nghiêm trọng môi sinh. Dù nước Mỹ giàu mạnh, nhưng khắc phục được mọi hậu quả của biến cố 11.09 chắc chắn cũng phải có thời gian lâu dài. Và cho dù khắc phục được trên bình diện vật chất, nhưng vết thương vẫn còn nhức nhối trong con tim nhiều thế hệ.
Vào thời của Đức Giêsu, đất nước Israel vừa bước sang một giai đoạn mới : Đế Quốc Roma phế bỏ vua Herođê Arkêlauô, và thiết lập Tổng Trấn trực tiếp cai trị xứ Giuđêa. Philatô đã cai trị bằng sắt và máu. Sự kiện ấy càng làm chỗi dậy trong từng trái tim Israel sự thù hận Roma, và những kẻ phản bội dân tộc. Đối với Israel, chính Thiên Chúa và duy mình Người là vua của họ. Truất bỏ địa vị ấy của Thiên Chúa trong Israel, chính là chống lại Thiên Chúa, là những kẻ tội lỗi. Nhóm thu thuế thuộc về hạng tội lỗi ấy. Do đó giao du, đi lại, ăn uống với bọn thu thuế bị coi là ô uế.
Đức Giêsu hôm nay bị kết án là người "niềm nở đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng". Đây là cơ hội để Đức Giêsu đối diện với chính vấn đề cốt lõi của lịch sử : LÒNG THÙ HẬN.
Theo Đức Giêsu, lòng thù hận không thể là cách thế có khả năng giải phóng con người khỏi cảnh nô lệ, nghèo đói của mình, nhưng chính là TÌNH THƯƠNG THA THỨ mới giúp con người thoát khỏi nô lệ, nghèo khổ. Tình thương tha thứ ở đây không chỉ là những cảm tính, nhưng là chuỗi hành động tìm kiếm để tha thứ. Và lịch sử của TÌNH THƯƠNG THA THỨ theo cách trình bày ám tỷ của Đức Giêsu là lịch sử đầy nước mắt và hy sinh. Và dường như nó không có một ràng buộc cụ thể nào về phía tội nhân, thuần túy nó chỉ là TÌNH THƯƠNG THA THỨ KHÔNG ĐIỀU KIỆN của Thiên Chúa. Thực thế, con chiên lạc dường như không một tiếng kêu gào nào, khiến cho cuộc tìm kiếm thật khó khăn, và người chăn chiên "vẫn quyết tìm cho kỳ được". Đây là tình thương chân thật vì lợi ích của chính tội nhân. Người chủ đàn chiên, hay bà góa hẳn đã không phải vì cái lợi của bản thân, bởi vì khi tìm thấy, họ đã mở tiệc ăn mừng, còn tốn kém hơn nhiều cái họ tìm lại được. Niềm vui trào dâng vì thấy con chiên lạc nay đã tìm lại được sự sống an toàn. Cũng như người Cha đã ăn mừng vì đứa con "đã chết, nay sống lại". Ông đã đặt TÌNH THƯƠNG THA THỨ lên trên cái "công bình hạn hẹp" của con tim nhân loại, để ứng xử theo sự "CÔNG BÌNH CỦA TÌNH THƯƠNG".
Thánh Phaolô cảm nhận được tính mới mẻ của "ĐỨC TIN VÀ TÌNH THƯƠNG" hằng có nơi Đức Giêsu khi bản thân Ngài được tha thứ và được đặt làm thừa tác vụ của ơn tha thứ ấy giữa muôn dân. Sự "công bình của tình thương" đặt nền tảng trên GIAO ƯỚC. Chính khi trao ban Giao Ước, Thiên Chúa đã ràng buộc VINH QUANG của Người trên sự THA THỨ không giới hạn. Đó là điều Môsê đã khám phá ra khi chiêm ngưỡng DUNG NHAN THIÊN CHÚA, sự công bình báo oán đã trở thành sự công bình yêu thương nơi Thiên Chúa.
Thực tại ấy đã được loan báo qua mọi thế hệ. Và chính giờ đây, nơi bàn thờ này, nơi mà sự công bình của Thiên Chúa đã mãi mãi trở thành của ăn và của uống để tha thứ cho hết mọi người. Chúng ta được mời gọi "Hãy làm việc này"... là được mời gọi Ký GIAO ƯỚC với Thiên Chúa, là được mời gọi làm thừa tác viên của ĐỨC CÔNG BÌNH YÊU THƯƠNG VÀ THA THỨ.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

TN24-C72. Chúa Nhật thứ 24 Thường Niên, C (12-9-2004)

Tình yêu đòi hỏi ta cứu người tội lỗi chứ không phải xa lánh họ
ĐỌC LỜI CHÚA
·        Xh 32,7-11.13-14: (11) Ông Môsê thưa với Chúa: «Lạy Chúa, sao Ngài lại nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đã đưa ra khỏi đất Aicập». (14) Đức Chúa đã thương, không giáng phạt dân Người như Người đã đe.
·        1Tm 1,12-17: (15) Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi.
 ·       TIN MỪNG: Lc 15,1-10
Hai dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa
(1) Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng. (2) Những người Pharisêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: «Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng». (3) Đức Giêsu mới kể cho họ dụ ngôn này:
 Dụ ngôn con chiên bị mất
(4) «Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? (5) Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. (6) Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: «Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó». (7) Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn».
Dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất
 (8) «Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được? (9) Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: «Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất». (10) Cũng thế, tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối».

CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
 

Đối với Đức Giêsu, sự thánh thiện chủ yếu hệ tại điều gì? tại tình yêu đối với Thiên Chúa và: TN24-C72

1.      Đối với Đức Giêsu, sự thánh thiện chủ yếu hệ tại điều gì? tại tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân? hay tại sự trong sạch, vô tội? hay tại vô số những nhân đức con người có được?
2.      Đối với người tội lỗi, ta nên làm theo đòi hỏi của tình yêu là phải gần gũi để cảm hóa họ, hay theo đòi hỏi của sự thánh thiện là phải xa lánh họ để khỏi bị ô uế và bị mất uy tín?
3.      Tại sao một người tội lỗi ăn năn sám hối thì làm cho các thiên thần trên thiên đàng vui mừng hơn là thấy 99 người công chính không cần sám hối ăn năn?
Suy tư gợi ý:
1.      Sự thánh thiện cốt ở tình yêu hơn ở sự trong sạch hay nhân đức
Đọc bài Tin Mừng, ta thấy thái độ của Đức Giêsu, một người hết sức thánh thiện, lại có một thái độ sống rất hòa đồng với những người tội lỗi. Còn những người Pharisêu, ta thấy họ luôn luôn quan tâm giữ những luật lệ về sự «thanh sạch» mà Cựu ước đề cập đến rải rác ở nhiều nơi, đặc biệt ở sách Lêvi các đoạn từ 11 đến 16. Họ xa lánh những vật mà Cựu ước cho là ô uế một cách nhiệm nhặt và chi tiết hơn cả chính luật lệ đòi hỏi nữa. Họ nghĩ rằng càng giữ nhiệm nhặt những luật đó, thì họ càng trở nên thánh thiện trước mặt Thiên Chúa. Vì dân chúng cũng nghĩ như thế, nên khi họ càng giữ luật đó nhiệm nhặt, thì họ càng được mọi người ca tụng là thánh thiện. Và càng được tiếng là thánh thiện thì họ càng phải tránh giao tiếp với những người tội lỗi để giữ được tiếng tốt ấy.
Nhưng Đức Giêsu không suy nghĩ và hành động như họ. Đang khi họ lấy việc giữ luật và việc cử hành những nghi thức tôn giáo bề ngoài làm chuẩn mực quan trọng của sự thánh thiện, thì Đức Giêsu lại rất coi thường chuẩn mực ấy. Ngài coi tình yêu đối với mọi người và lòng khoan dung đối với người tội lỗi mới là chuẩn mực và là cốt yếu của sự thánh thiện. Vì cốt tủy của thánh thiện là nên giống như Thiên Chúa, nguồn mạch thánh thiện. Mà để giống Thiên Chúa thì điều cốt yếu nhất là phải giống bản chất của Ngài là tình yêu. Vì «Thiên Chúa là Tình Yêu» (1Ga 4,8.16) chứ không phải là bất kỳ điều gì khác. Ngài thì vô cùng quyền năng, Ngài thì vô cùng thanh sạch, v.v… nhưng Ngài không là quyền năng, không là thanh sạch, v.v… mà chỉ là tình yêu.
Vì thế, nếu giống Ngài ở trong mọi phẩm chất khác, mà không giống Ngài ở tình yêu, thì không phải là thánh thiện. Người nào trong sạch như thiên thần, hay có đủ mọi nhân đức nhưng lại không có tình yêu, người ấy không phải là người thánh thiện, vì cốt tủy của người ấy không giống Thiên Chúa. Còn những người tuy ít nhân đức, tuy còn ít nhiều tội lỗi, nhưng lại có nhiều tình yêu, thì người ấy giống Thiên Chúa hơn. Thật vậy, trước mặt Thiên Chúa, một người thu thuế bị mang tiếng là tội lỗi nhưng có tình yêu và lòng khiêm nhượng vẫn có thể thánh thiện hơn một người Pharisêu hằng được mọi người nể phục vì sống trong sạch và giữ luật hết sức nhiệm nhặt nhưng lại thiếu tình yêu và lòng khiêm nhượng (x. dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện: Lc 18,9-14). Do đó, là người theo Chúa, ta nên biết điều chủ yếu phải bắt chước Thiên Chúa là điều gì. Nếu không, việc theo Chúa của ta chỉ là «công dã tràng».
2.      Tình yêu đòi hỏi cứu người tội lỗi chứ không phải xa lánh họ
Quan niệm của Đức Giêsu như thế, nên Ngài không ngần ngại đến với những người tội lỗi, hòa mình với họ để có thể cảm hóa họ. Đối với Ngài, dù họ tội lỗi đến đâu, họ cũng là «con cháu tổ phụ Ápraham» cả (Lc 19,9; x.13,16), nên họ cần được cứu khỏi tình trạng tội lỗi ấy. Mà muốn cứu họ thì không thể cứ xa lánh họ như chủ trương của những người Pharisêu, mà phải đến gần họ, tiếp xúc với họ, sống chan hòa với họ, để họ cảm nghiệm được mình thương yêu họ. Họ có cảm được mình yêu thương họ thì họ mới chịu nghe và thực hành những điều hay lẽ phải mình giãi bày. Còn tỏ ra khinh bỉ và xa lánh họ thì chỉ khiến họ xa mình và đẩy họ vào con đường tội lỗi hơn. Đối với Ngài, điều quan trọng là cứu họ chứ không phải là giữ luật về sự «thanh sạch» của Môsê. Tình yêu chân thật đòi buộc phải nghĩ như thế! Giao du với những người tội lỗi này, Ngài đành phải chấp nhận Ngài bị mất uy tín – thứ uy tín giả tạo và phi lý – trước mặt những người Pharisêu và giới lãnh đạo tôn giáo, khiến họ trách móc Ngài.
Ngài đã dạy các môn đệ: «Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em» (Lc 6,27-38). Kẻ thù hay kẻ đang làm hại mình mà mình cũng phải yêu thương, huống gì những anh chị em mình đang lầm lỡ, yếu đuối, lạc đường và đang tiến về vực thẳm…! Chính Thiên Chúa và Đức Giêsu đã làm gương này cho chúng ta. Thánh Phaolô viết: «Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ hoằn lắm có người dám chết vì một người lương thiện. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta» (Rm 5,7-8). Nếu Thiên Chúa nại vào sự thánh thiện của Ngài mà xa tránh và khinh bỉ những người tội lỗi, thì số phận của loài người chúng ta hiện nay ra sao? Ta thánh thiện được bao nhiêu mà lại tự hào về sự thánh thiện ấy để xa tránh anh chị em tội lỗi của mình? Tình yêu đã khiến Thiên Chúa bất chấp sự thánh thiện của mình để đến hòa mình với nhân loại tội lỗi. Thiên Chúa đã coi tình yêu quan trọng hơn sự thánh thiện của Ngài, và chính vì thế, mà Ngài mới đúng là thánh thiện. Vì sự thánh thiện hệ tại tình yêu hơn là hệ tại sự trong sạch hay tại có được vô vàn nhân đức! Còn Đức Giêsu, Ngài dường như không hề dị ứng với những người tội lỗi, mà chỉ dị ứng – thậm chí rất dị ứng – với những người mang danh đạo đức mà lại kiêu ngạo, tự mãn, ích kỷ, thiếu tình thương, thích bắt bẻ, khinh bỉ và kết án người khác (x. Mt 12,1-14; Ga 9,40-41; Mt 23; v.v…).
3.      Giá trị của một người tội lỗi ăn năn trở lại
Đức Giêsu hỏi những người Pharisêu: «Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?» Câu hỏi ấy của Đức Giêsu cho thấy việc bỏ lại 99 con chiên không bị lạc để đi kiếm con chiên lạc, là một cách hành xử thường tình của con người. Ngữ cảnh của đoạn văn này khiến ta phải hiểu là người chăn chiên đã phải lo cho 99 con còn lại ở một nơi an toàn có người khác canh giữ trước khi ra đi tìm con chiên lạc. Chứ Đức Giêsu không phải là người không biết tính toán: chỉ tìm có một con chiên lạc mà liều để mặc cho 99 con kia ra sao thì ra! Hiểu theo cách ấy xem ra không đạt lý! Tuy nhiên, điều đáng cho ta suy nghĩ và thắc mắc tìm hiểu là câu kết luận của Đức Giêsu: «Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn». Tại sao lại có vẻ nghịch lý như vậy?
Thường thì người tội lỗi nào thật sự ăn năn trở lại – nghĩa là quyết định dứt khoát không quay về con đường cũ tội lỗi nữa – thì cũng đều có một giá trị rất lớn trước mặt Thiên Chúa mà những người thánh thiện khác ít có được:
– Họ đã có một quá khứ tội lỗi, nên họ không bao giờ dám tự hào về bản thân mình. Nhờ đó họ dễ khiêm nhường sâu xa hơn, mà khiêm nhường lại chính là nền tảng vững chắc của sự thánh thiện.
– Họ đã kinh nghiệm được sự yếu đuối và mỏng dòn của con người, nên họ rất dễ thông cảm sâu xa với những người yếu đuối, tội lỗi khác. Sự thông cảm này khiến họ bao dung và yêu thương người tội lỗi hơn. Nên sự cảm thông này là một giá trị lớn trước mặt Thiên Chúa. Và một khi họ đã trở nên thánh thiện, họ cũng dễ dàng cảm hóa được người tội lỗi hơn nhờ kinh nghiệm trở lại của họ.
– Họ càng phạm tội nhiều thì khi được Thiên Chúa tha tội, họ càng cảm nghiệm được tình thương của Thiên Chúa nhiều hơn, và do đó họ yêu mến Thiên Chúa nhiều hơn: Ai được tha nhiều thì yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít (x. Lc 7,36-50).
– Đối với trần gian, những người tội lỗi quay trở về thường có nhiều kinh nghiệm về cuộc đời, nhất là về mặt trái của nó. Do đó, họ thường có một sự khôn ngoan nào đó mà người chưa từng phạm tội không có được.
Nếu họ thật sự quay trở về và yêu mến Thiên Chúa, Ngài có thể biến chính quá khứ tội lỗi của họ trở thành một giá trị đem lại lợi ích lớn lao cho chính họ và cho người khác (x. Rm 8,28), nhờ tình yêu họ có được đối với Thiên Chúa và sự cảm thông và yêu thương đối với đồng loại.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, Đức Giêsu đã yêu mến và quyết tâm cứu những người tội lỗi biết bao! Xin cho con biết yêu mến và cảm thông với những anh chị em con đang sống tội lỗi vì chính con cũng đã từng phạm tội như họ, đồng thời tìm đủ mọi cách đem họ về đường ngay nẻo chính. Thánh Giacôbê nói: «Kẻ nào làm cho một tội nhân bỏ đường lầm lạc mà trở về, thì cứu được linh hồn ấy khỏi chết và che lấp được muôn vàn tội lỗi của mình» (Gc 5,20). Xin Cha hãy vì tình yêu con dành cho những người tội lỗi mà tha thứ tội lỗi cho con. 
Joan Nguyễn Chính Kết

 

TN24-C73. TÌNH YÊU TUYỆT VỜI

CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 15, 1-32
 

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, nhân lọai sẽ không khỏi xúc động và khám phá ra biết bao điều: TN24-C73

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, nhân lọai sẽ không khỏi xúc động và khám phá ra biết bao điều diệu kỳ của lòng nhân từ thương xót của Chúa Giêsu. Người là người Cha đầy lòng nhân ái, diệu huyền và đầy tình người, đầy tình yêu đối với mọi người, đặc biệt đối với những người tội lỗi, những người thấp cổ bé họng, những người bị xã hội đẩy ra bên lề. Chúa thương xót những người tội lỗi nên các người Pharisiêu, các kinh sư
lấy làm bực tức, khó chịu, lẩm bẩm kêu trách Người. Thấy vậy, Chúa Giêsu đã đưa ra ba dụ ngôn:” Con chiên lạc, đồng bạc đánh mất và người con hoang đàng” đ lý giải cho lòng nhân từ của Chúa đối với những người tội lỗi biết ăn năn sám hối.

CON NGƯỜI LÀ ĐỐI TƯỢNG DUY NHẤT THIÊN CHÚA TÌM KIẾM :
Câu chuyện địa đàng về ông Adong và và Evà cho chúng ta nhiều suy nghĩ. Thiên Chúa thấy con người phản bội, Ngài không bỏ rơi con người nhưng lại hứa ban cho nhân loại người con yêu quí của Ngài là Chúa Giêsu đến gánh tội gian trần và cứu đ con người, cứu vớt loài người:” Thiên Chúa yêu thươngthế gian đến nỗi sai con một mình là Chúa Giêsu đến trần gian…”.Đó là một thực tế vô cùng cao quí. Đức Giêsu đã tới gian trần đ yêu thương sống với, sống vì, sống cho con người. Chúa không muốn bất cứ ai bị hư đi. Ngài đến trần gian đ qui tụ, kiếm tìm những gì đã hư mất. Chúa Giêsu thực tế là yêu thương con người, không bao giờ bỏ rơi con người. Ba dụ ngôn:” con chiên lạc, đồng tiền đánh mất, người con hoang đàngmang đầy ý nghĩa. Vai chính là người chăn chiên, người phụ nữ và người Cha. Người chăn chiên thời Chúa Giêsu là người ít học, bị khinh chê vì họ nghèo nàn, luôn luôn phải sống với bầy chiên ngoài đồng, trên rừng, trên núi, nên họ không thể giữ ngày hưu lễ, cũng như giữ các giờ kinh trong Hội Đường. Còn các người phụ nữ là những công nhân hạng hai, là những người chân yếu, tay mềm nhưng họ lại được Chúa Giêsu dùng đ so sánh với chính Thiên Chúa. Người Cha là hình ảnh của Chúa Giêsu tốt lành.
Một con chiên bị mất không là gì với 99 con chiên khác, với cả bầy chiên, một đồng bạc cũng không nhằm nhò gì so với số bạc còn lại. Một người con không là gì so với cả cộng đồng hay nhiều người khác. Niềm vui tìm được những gì đã mất. Trên trời sẽ vui mừng và các thiên thần Chúa sẽ hân hoan, nhảy mừng. Điều đó, minh chứng Thiên Chúa sẽ rất vui, sung sướng vì một người tội lỗi hối cải. Thiên Chúa là Cha tình thương, Người không bỏ rơi bất cứ ai và Người luôn đi bước trước, đi tìm con chiên lạc và qui tụ mọi người lại với Người.

THIÊN CHÚA LUÔN YÊU THƯƠNG VÀ MỜI GỌI CON NGƯỜI ĐÁP TRẢ LẠI TÌNH THƯƠNG VÔ BIÊN CỦA NGƯỜI :
Thiên Chúa yêu thương con người và yêu thương tới cùng. Người yêu thương con người, yêu thương loài người, yêu thương mỗi người đến nỗi gánh tội cho con người dù rằng Người hoàn toàn vô tội. Tuyệt đỉnh của sự yêu thương là tha thứ. Chúa yêu thương con người, nên đã chấp nhận cái chết trên thập giá đ mang ơn cứu đ cho nhân loại, cho con người. Trên thập giá, trong nỗi đau tột đ, Chúa đã cầu nguyện cho những kẻ làm khổ, những kẻ giết Người :” Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”. Đúng là lời yêu thương vô biên của Thiên Chúa được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa luôn yêu thương tha thứ cho con người nếu con người thực tình ăn năn sám hối. Đọc lại Tin Mừng chúng ta sẽ hết sức ngạc nhiên khi thấy người trộm lành dù cả cuộc đời ông tội lỗi nhưng giờ cuối cùng ông lại thật lòng quay về sám hối, Chúa tha thứ ngay cho ông và tôn phong ông ngay làm thánh. Người trộm lành không phải nên thánh vì ông là người tội lỗi nhưng thực sự ông nhận biết mình là tội nhân. Người con hoang đàng được cha tha thứ vì anh nhận ra lỗi lầm, trở về sám hối ăn năn và tin vào tình thương tha thứ của người cha. Người cha không những tha thứ cho con nhưng còn phục hồi chức vị làm con cho anh. Tình thương và lòng nhân hậu của người cha đối với anh đã làm anh được vinh dự hơn cả trước khi anh ra đi phung phí, hoang đàng.
Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, Ngài đã tha thứ cho chúng ta nên Ngài cũng mời gọi chúng ta đáp trả lại tình thương tha thứ của NgàiCon người chỉ có thể tha thứ cho người khác khi họ nhận ra mình cũng mỏng dòn, yếu đuối, tội lỗi :” Xin tha nợ cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con “. Do đó, tình thương đòi hỏi con người phải vượt qua những trở ngại níu kéo, cản trở con người cảm thông, hiểu biết và tha thứ cho người khác. Vâng, A. Pope đã nói một câu rất chí lý :” Lỗi lầm là của con người và tha thứ là của Thiên Chúa “.
Lạy Chúa xin cho chúng con biết tha thứ cho anh em như Chúa đã tha thứ cho chúng con.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

TN24-C74: LÒNG XÓT THƯƠNG VÀ THA THỨ CỦA CHÚA

CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN
Lc 15, 1-32
 Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu nhân loại không khỏi ngạc nhiên về con người thật lạ lùng của: TN24-C74

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu nhân loại không khỏi ngạc nhiên về con người thật lạ lùng của Người. Nhiều ví dụ, nhiều dụ ngôn, nhiều lời nói, nhiều việc làm của Chúa
 Giêsu gây ấn tượng mạnh mẽ cho con người,  cho loài  người. Mà không bị đánh động, không gây cảm xúc cho con người sao được, khi con người đối diện với Chúa Giêsu, một con người đầy vị tha, đầy nhân từ và hay thương xót. Mặc dầu, xưa trong thời Cựu ước, dân Do Thái được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn làm dân riêng của Ngài, nhưng dân này cứ phản nghịch, cứ bất trung, dẫu rằng họ đã được Ngài làm biết bao sự lạ lùng khi cứu thoát họ ra khỏi đất ai Cập. Nhờ Môsê nhắc lại cho dân Chúa biết:” muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”, Chúa đã nguôi cơn thịnh nộ và đã nguôi cơn giận đúng như bài đọc I đã nói:” Tình yêu của Thiên Chúa là tình yêu cứu độ”. Chúa thương cứu con người và tiếp tục yêu thương con người.
 TÌNH THƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA VƯỢT QUA MỌI SỰ:
Đối với Thiên chúa chỉ có một điều là khiêm nhượng cậy trông, tin tưởng và phó thác. Thiên Chúa yêu thương con người dù con người vong ân, bội nghĩa, phản nghịch lại Ngài. Thiên Chúa vẫn một mực tín trung như một bài hát đã ghi” Chúa vẫn trung thành mãi. Dù thời gian bao phen đổi thảy. Dù nghi nan, bao phen hững hờ. Ngài vẫn mãi trung thành…Vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”. Thánh Phaolô đã  cho thấy cảm nghịệm của mình: Ngài là người bắt bớ Giáo Hội, làm hại các môn đệ Chúa. Xét cho cùng, Ngài là người bất xứng, tội lỗi, đã nói phạm thượng, xúc phạm đến Chúa. Đoạn thư thánh Phaolô gửi tín hữu Timôthêô 1 Tm 1, 12-17 đã nói lên tình thương vô biên của Chúa, đã nói lên lòng thương xót và trái tim nhân từ, tha thứ của Chúa đối với Phaolô, và đã phục hồi Phaolô, lại còn tín nhiệm trao sứ mệnh cho Phaolô. Điều này, nói lên lòng thương xót, tình thương tha thứ của chúa đối với con người, đối với mỗi người. Bởi vì, mỗi người đều có chỗ đứng trong con tim của Chúa, mỗi người đều là đối tượng của sự tha thứ của Chúa. Tình thương của Chúa là tình thương vô điều kiện, vô biên giới. Chính  thái độ tự do và tình yêu không biên giới của Chúa đã khiến các Kinh sư và nhóm Biệt phái, khó chịu, nóng lòng và xầm xì:” Ông này đón tiếp người tội lỗi và ăn uống với họ”( lc 15, 2 ). Hiểu được sâu xa cõi lòng của những hạng người tự cho mình là công chính, đạo đức và thánh thiện, Chúa Giêsu đưa ra ba dụ ngôn trong đoạn Tin Mừng hôm nay để dậy dỗ và nói lên rốt ráo, trọn vẹn lòng nhân từ thương xót của chúa. Đối với Chúa không có gì có thể ngăn cản lòng nhân từ, sự nhạy cảm của con tim và lòng quảng đại, bao dung của Chúa. Ngài không nhỏ nhen, tính toán, không cân đo, hẹp hòi, vượt xa những tính toán, những suy nghĩ và thái độ nông cạn của con người. Chỉ một con chiên bị lạc đàn, người mục tử sẵn sàng bỏ chín mươi chín con chiên khác ngoài đồng, ngoài ruộng mà nong nả, nhất quyết tìm cho ra một con chiên lạc. Chỉ một đồng bạc bị mất thôi, người đàn bà đã thắp đèn sáng, quét nhà và lục lọi khắp nơi để tìm cho ra bằng được đồng tiền bị đánh mất.Hơn hết mọi sự, Thiên Chúa luôn yêu thương, gắn bó và cứu độ con người, bởi vì Ngài không muốn con người bị hư đi. Nên, một người tội lỗi, một người lầm lạc, Thiên Chúa luôn tìm cách đưa họ về. Trong dụ ngôn về người con hoang đàng trở về, nghĩa là người con thứ hồi tâm quay về với cha mình sau khi đã chơi bời trác táng, ăn tiêu  phung phí phần gia tài mà cha anh đã chia cho. Thái độ của người cha quả là kỳ lạ, quả thật quảng đại, bao dung: người cha đã luôn dõi theo đứa con cho tới khi anh ta trở về và nhận sự tha thứ, yêu thương của cha. Tình thương của Ngài quả thực bao la, vô vị lợi, tình thương của người cha là tấm lòng của Thiên Chúa, Ngài luôn kiên nhẫn đợi chờ những người con tội lỗi, lầm lạc biết sám hối ăn năn mau quay trở về về Ngài. Thiên chúa là người cha hiền từ, nhân hậu luôn kiên tâm, chịu đựng từng lời nói bất mãn của người con cả để tỏ lộ cho anh ta đâu là hạnh phúc, đâu là an bình thực sự:” Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì là của cha đều là của con”( Lc 15, 31 ).

 CON NGƯỜI PHẢI CÓ THÁI ĐỘ NÀO TRƯỚC TÌNH THƯƠNG VÔ BỜ CỦA THIÊN CHÚA:
Chúa luôn yêu thương con người, dù rằng con người có phản nghịch, có lỗi đạo và tỏ ra bất trung với Ngài. Tấm lòng, thái độ của Ngài luôn bao dung, hiền lành. Ngài yêu thương tất cả, không loại trừ một ai. Đối với Ngài, không có người ở ngoài hay người ở trong, không có người Do Thái, hay Hy Lạp. Ngài đến để tìm con chiên lạc, tìm con người đi hoang, sa ngã và tội lỗi. Ngài đến để qui tụ chứ không phân rẽ. Tuy nhiên, con người hay loài người ở mọi thời đại đều biểu hiện cho đứa con thứ, luôn chạy theo những thú vui, những ham danh, những thèm muốn chóng qua, vừa biểu hiện cho đứa con cả, không nhận ra tình thương sâu xa của người cha, mà còn nóng giận, hậm hực, so bì với lòng nhân từ và sự tiếp đón nồng hậu mà người cha dành cho người em của mình khi nó quay trở về với cha như đoạn Tin Mừng Luca 15,1-32 diễn tả. Quả thực, con người là cao quí vì là hình ảnh của Thiên Chúa. Con chiên lạc, đồng bạc đánh mất, đứa con hoang là những tạo vật quí giá. Do đó, Chúa không ngừng yêu thương và mất bao kiên nhẫn để tìm kiếm. Đối với Chúa, từng giọt mồ hôi, từng khổ nhọc và đặc biệt là cái chết trên thập giá của Ngài nói lên tình thương vô biên của Chúa. Ngài đã nói:” khi nào Ta bị treo lên khỏi mặt đất. Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta”.
 Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con tấm lòng bao dung tha thứ, cảm thông với mọi người vì Chúa không ngừng tha thứ cho chúng con.
 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:
Bạn thích thái độ nào: người con thứ hay người con cả ?
Bạn hiểu sao về tấm lòng của người cha ?
Câu chuyện người con hoang đàng hôm nay nói gì cho bạn ?

 

TN24-C75. Chúa Nhật 24 quanh năm

Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh:       1 Ti-mô-thê 1: 12-17
 

Thư 1 & 2 gửi Ti-mô-thê và thư gửi Ti-tô được gọi là các Thư Mục vụ, hướng dẫn các vị lãnh: TN24-C75

Thư 1 & 2 gửi Ti-mô-thê và thư gửi Ti-tô được gọi là các Thư Mục vụ, hướng dẫn các vị lãnh đạo của Giáo Hội giữ vững giáo lý cốt yếu họ đã lãnh nhận và trung thành truyền lại giáo lý ấy cho những người lãnh đạo giáo dân. Do đó, các Thư Mục vụ rất quan trọng vì chúng giúp chúng ta hiểu thế nào là gìn giữ kho tàng đức tin (1 Tm 6:20). Kho tàng đức tin ấy chính là giáo lý mà thánh Phao-lô đã ủy thác cho Ti-mô-thê và Ti-tô để họ đem đến cho tín hữu. Để giúp Ti-mô-thê và Ti-tô chu toàn được sứ mệnh này, thánh Phao-lô đã mô tả những đức tính cần thiết mà những ai muốn lãnh nhận những chức vụ liên hệ đến sứ mệnh ấy cần phải có, thí dụ giám mục (1 Tm 3:1-7), phó tế (1 Tm 3:8-13), kỳ mục (1 Tm 5:17-23) và ngay cả các bà góa nữa (1 Tm 5:9-16). Như thế, theo các Thư Mục vụ, Giáo Hội đã bắt đầu được tổ chức thành một cơ cấu vững chắc để bảo vệ kho tàng đức tin và chống lại những thầy dạy lừa dối và giả hiệu (2 Tm 3:1-9).
          Để hiểu rõ được nội dung những bài đọc trích các Thư Mục vụ, trước hết chúng ta hãy nhìn lại hoàn cảnh và mạch văn của thư 1 Ti-mô-thê. Theo như thư cho biết, thánh Phao-lô để môn đệ Ti-mô-thê ở lại Ê-phê-xô để trông coi giáo đoàn, còn ngài thì đi Ma-kê-đô-ni-a (Hy-lạp). Ngài ủy thác cho ông những nhiệm vụ đặc biệt và chỉ dẫn ông phải chăm sóc cộng đoàn như thế nào. Cấu trúc tư tưởng chính của thư có thể được phân chia như sau, và chúng ta sẽ thấy các bài đọc (Chúa Nhật 24 đến 26) được trích ra từ những phần nào, cũng như hiểu được Phụng vụ Lời Chúa muốn nói lên điều gì:
          1 Tm 1:3-20. Phao-lô nhắc nhở Ti-mô-thê bổn phận ngài trao cho ông là "để anh truyền cho một số người đừng dạy một giáo lý khác" (1:3). Phao-lô nêu lên ơn gọi và sứ mệnh của chính ngài như một gương mẫu. Trong phần này là bài đọc Chúa Nhật 24: 1 Tm 1:12-17.
          - 1 Tm 2:1-3:16. Sau khi nhắc nhở Ti-mô-thê về bổn phận cốt yếu ấy, Phao-lô hướng dẫn Ti-mô-thê phải chăm sóc cộng đoàn dân Chúa thế nào. Ở đây, ngài nói đến những đức tính giám mục và phó tế phải có. Trong phần này là bài đọc Chúa Nhật 25: 1 Tm 2:1-8.
          - 1 Tm 4:1-16. Phao-lô lập lại bổn phận ngài ủy thác cho Ti-mô-thê và khuyên ông cảnh giác trước những giáo lý giả dối làm hại đến Giáo Hội. Vậy Ti-mô-thê cần phải chuyên cần đọc và học hỏi Kinh Thánh.
          - 1 Tm 5:1-6:2a. Tiếp tục huấn dụ Ti-mô-thê về bổn phận chăm sóc cộng đoàn. Cư xử đối với các bà góa, hàng kỳ mục và các nô lệ.
          - 1 Tm 6:2b-21. Bổn phận thứ ba và cuối cùng được ủy thác cho Ti-mô-thê: Ông phải "gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, nhẫn nại và hiền hòa..." và "hãy bảo toàn giáo lý đã được giao phó". Trong phần này là bài đọc Chúa Nhật 26: 1 Tm 6:11-16.
          Bây giờ chúng ta xem bài đọc Chúa Nhật tuần này (1 Tm 1:12-17) muốn nói gì. Sau khi khuyên Ti-mô-thê phải ra lệnh cho một số người đừng dạy một giáo lý giả dối (1:3-7) và cho thấy những kẻ nào đã dạy giáo lý giả dối ấy, thánh Phao-lô trở về với kinh nghiệm bản thân mình để rút ra bài học. Trước đây chính ngài đã là kẻ tội lỗi vì xúc phạm Chúa và bách hại Ki-tô hữu. Nhưng ngài đã được lòng nhân từ Chúa xót thương dù ngài đã hành động trong sự mù quáng và không tin. Nhận thức lòng nhân từ của Chúa, ngài đã trở nên gương mẫu cho tất cả những ai muốn tuyên tín Tin Mừng chân chính sau đây: "Đó là Đức Ki-tô Giê-su đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi" (1:15).
          Nhận thức mình là kẻ tội lỗi, Phao-lô hiểu rằng việc ngài trở về với Chúa nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa là muốn biến ngài thành một thứ gương mẫu, để bất cứ ai tội lỗi hễ nhìn vào tấm gương Chúa đã xót thương Phao-lô thì cũng có được niềm hy vọng chắc chắn Chúa xót thương mình. Bởi vì nếu Chúa đã tỏ lòng xót thương một kẻ tội lỗi điển hình như Phao-lô, thì Người sẽ không bỏ rơi bất cứ kẻ tội lỗi nào khác. Vì mục đích của Tin Mừng là để cứu những kẻ tội lỗi, cho nên Phao-lô dạy Ti-mô-thê phải ngăn cấm những kẻ dạy bất cứ giáo lý nào đi ngược với Tin Mừng ấy.
          Mặc dù thư 1 Ti-mô-thê nhắm đến những vị chủ chiên của Giáo Hội, nhưng khi trích dẫn cho bài đọc Chúa Nhật hôm nay, Phụng vụ Lời Chúa muốn chúng ta suy niệm về lòng nhân từ vô bờ của Thiên Chúa qua kinh nghiệm cá nhân thánh Phao-lô. Qua kinh nghiệm được tha thứ và còn được kêu gọi làm tông đồ, Phao-lô hiểu được phần nào thế nào là lòng Chúa xót thương và tại sao Người đã cho Đức Giê-su Ki-tô đến thế gian, chết trên thập giá để cứu chuộc chúng ta là những kẻ tội lỗi.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Ý thức ơn gọi của mình, thánh Phao-lô không còn lời nào hơn là "Tạ ơn Đức Ki-tô Giê-su." Tôi có thái độ ấy không? Và nếu có, tôi đã "tạ ơn" bằng cách nào?
          Ý thức ơn gọi là phải nhìn nhận sự bất xứng của mình và lòng thương của Chúa. Tôi đã nhìn lại "quá khứ" để nhận ra sự bất xứng và nhìn vào "hiện tại" để nhận ra mình đáp trả lời gọi của Chúa như thế nào?
          Tôi suy niệm thế nào về lòng đại lượng từ bi của Thiên Chúa? Được biểu lộ qua Đức Ki-tô? Và được cảm nhận qua kinh nghiệm của riêng tôi?
          Thánh Phao-lô đã lấy chính đời mình để làm chứng nhân cho lòng nhân từ của Chúa. Vậy tôi có thể lấy những kinh nghiệm gì để nói cho anh chị em biết về lòng nhân từ thương xót của Chúa?
Cầu nguyện kết thúc
          Sau phần cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát "Chúa thương chúng ta", Ca nguyện Linh Thao, trang 40, hoặc "Chúa là tình yêu", CNLT 35.
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN24-C76. CHÚA NHẬT 24 QUANH NĂM, C

(Lu-ca 15: 1-32)
 

Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, câu truyện làm môn đệ Chúa Giê-su vẫn tiếp tục.  Thánh Lu-ca đã ghi: TN24-C76

          Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, câu truyện làm môn đệ Chúa Giê-su vẫn tiếp tục.  Thánh Lu-ca đã ghi:  “Có rất đông người cùng đi đường với Chúa Giê-su” (14:25).  Rồi Chúa Giê-su quay lại nói với họ về điều kiện khắt khe phải chấp nhận để theo Người:  họ phải hoàn toàn được tự do nội tâm, không gì có thể ràng buộc, ngăn cản người môn đệ.  Với điều kiện phải trả cái giá đắt như thế, có nhiều người bỏ cuộc cũng không phải là điều lạ.  Tình huống ấy không làm nản lòng Thầy Giê-su.  Nhưng Người đã xử thế với những “con chiên lạc” này với tất cả lòng nhân hậu của Thiên Chúa.  Có lẽ đây cũng là một lý do để Chúa Giê-su kể luôn một lúc ba dụ ngôn, dụ ngôn nào cũng diễn tả niềm vui khôn tả của Thiên Chúa đón những con cái đi hoang trở về, lòng nhân từ của Thầy Giê-su sẵn sàng chấp nhận những yếu đuối của môn đệ Người trong mọi thời mọi nơi.  Làm con cái Thiên Chúa và làm môn đệ Chúa Giê-su mà không nhận thức trái tim khoan nhân của Đấng mình theo, ta sẽ không thể kiên trì và trung thành tới cùng được.  Đó là mục đích lời giảng của Chúa Giê-su trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay.
 a)  Chiên lạc, đồng bạc bị mất và người con hoang đàng
          Trước khi suy niệm niềm vui và lòng nhân hậu của Thiên Chúa, ta nên nhìn khía cạnh tiêu cực về phía ta để hiểu được khía cạnh tích cực của tình yêu Thiên Chúa.  Chính ta là nguyên nhân làm mất đi niềm vui của Thiên Chúa.  Giống như người chăn chiên cảm thấy bồn chồn lo lắng, người phụ nữ tiếc nhớ kỷ niệm êm đềm của đồng bạc bà dùng làm đồ trang sức từ lâu và người cha ngày ngày ưu tư không biết điều gì xảy đến cho đứa con đi hoang và ông chờ đợi ngày nó trở về, Thiên Chúa và Chúa Giê-su cũng có cùng một tâm tình ấy đối với ta khi ta không còn làm con cái Người hoặc không còn “cùng đi đường” với Chúa Giê-su nữa.
          Thiên Chúa mất niềm vui là vì ta không muốn thuộc về Người nữa.  Ta chà đạp trên tình cảm của Người và ta không coi trọng giá trị tình cảm Thiên Chúa đặt nơi ta.  Con chiên đã từng sống trong sự quen thân với mục tử và chiếm một chỗ trong trái tim mục tử.  Đồng bạc luôn luôn nhắc nhở người phụ nữ đeo nó trên cổ về những kỷ niệm với một người thân yêu nào đó đã tặng cho bà từ lâu.  Người con thứ đi hoang trở thành một phần không thể thay thế được trong cuộc đời người cha già hằng yêu thương anh và ông vẫn tìm thấy nơi con người hư đốn ấy một nét đẹp nào đó.  Cả ba đều nói lên một điểm chung, đó là giá trị tình cảm chứ không phải giá trị đo lường bằng vật chất, là giá trị làm cho người mất chúng cảm thấy xót xa và hằng cầu mong sẽ tìm lại được.  Cả ba đều biểu tượng cho cùng một thực tại của ta, đó là ta thuộc về Thiên Chúa như con cái Người và thuộc về Chúa Ki-tô như môn đệ Người.
 b)  Đã bị mất, nay tìm lại được;  đã chết, nay lại sống
          Nếu mất đi đã là lý do khiến cho niềm vui của Thiên Chúa bị tổn thương, thì việc tìm lại được ta và ta trở về sẽ là lý do tại sao Thiên Chúa và triều thần Người vui mừng.  Tuy nhiên, để tìm lại được niềm vui ấy, người chăn chiên, người phụ nữ và người cha già đã phải chấp nhận khổ cực, kiên nhẫn và liều lĩnh để vượt thắng khó khăn, rồi mới tìm thấy lại những gì mình hằng yêu quý.  Thái độ chấp nhận ấy nói cho ta biết họ yêu mến những gì họ sở hữu. 
Cũng thế, Thiên Chúa muốn chiếm lấy ta trọn vẹn.  Người không muốn một ai bị hư đi (Ga 17:12).  Cho nên Người chấp nhận tất cả, sẵn sàng làm tất cả, miễn làm sao nhân loại trở về với Người.  Người chấp nhận ban Con Một cho họ.  Người sẵn sàng để cho Con Một Người phải chết ô nhục trên thập giá để chuộc tội cho nhân loại.  Tựa như người cha trong dụ ngôn, Người kiên nhẫn đợi chờ với lòng thương xót đến nỗi nhân loại tuy làm phiền lòng Người mà vẫn phải cất tiếng ngợi khen:  “Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương...” (Tv 103).  Bản chất của Chúa là vậy cho nên giá trị của ta lại càng tăng thêm trước mặt Người, đến nỗi Người khắc tên ta vào bàn tay Người và Người khẳng định ta thật quý giá trước mắt Người (Is 43:4).  Chính vì ban cho ta giá trị lớn lao ấy nên Thiên Chúa đã cảm thấy như có bổn phận phải tìm lại cho cho bằng được.  Ta có thể nhận ra điều này qua “lý sự cùn” của người cha trong dụ ngôn:  “Chúng ta PHẢI ăn mừng và hoan hỷ, vì em con đây đã chết, nay lại sống, đã mất, nay lại tìm thấy.”  Tại sao lại “phải” làm một chuyện không đáng?  Không đáng đối với ta, nhưng lại rất đáng đối với Chúa!
 c)  “Đã mất nay lại tìm thấy, đã chết nay lại sống” trong hành trình làm môn đệ Chúa
          Chúa gọi ta làm môn đệ Người không phải tất cả đều là những người thánh thiện, nhưng ngay trong hoàn cảnh ta đang sống, tình trạng ta đang là.  Đó là khởi đầu hành trình làm môn đệ của ta, để từ đó ta biến đổi trở nên giống với Thầy mình là Chúa Giê-su mỗi ngày một hơn.  Trong cuộc biến đổi ấy, có những thăng trầm, nhiều khi đi ngược lại cả lý tưởng làm môn đệ.  Nhưng Chúa Giê-su đã kiên nhẫn với các môn đệ tiên khởi của Người thế nào, Người cũng kiên nhẫn với các môn đệ tương lai như thế.  Nhiều lần ta vẫn đóng vai con chiên lạc hay đứa con hoang đàng và Chúa vẫn tiếp tục đóng vai người mục tử tốt lành và người cha nhân hậu đi tìm kiếm và đưa ta trở về.
          Niềm vui của Chúa khi tìm thấy ta và đưa ta trở về không làm cho ta ỷ nại và cứ tiếp tục sa ngã hoặc đi lạc, nhưng phải là điều nhắc nhở ta cố gắng mỗi ngày một tiến hơn trong hành trình làm môn đệ.  Niềm vui của Chúa cũng là dấu chỉ cho ta biết tình yêu Người dành cho ta thật to lớn không thể đo lường.  Càng yêu quý thì khi mất càng tiếc thương và cố gắng tìm lại.
          Về phần ta, điều quan trọng là ta có nhận ra là mình đang mất đi, đang lạc đường và ta có lên tiếng để Chúa đến cứu ta không.  Con chiên lạc đàn thì hoảng hốt kêu be be.  Người con thứ đi hoang thì lên tiếng tự nhủ:  “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói.  Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha!”
 d)  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Có khi nào tôi hiểu những dụ ngôn Chúa nói trong bài Tin Mừng hôm nay theo nhãn quan của cuộc hành trình làm môn đệ Chúa không?  Dụ ngôn thích hợp với tình huống của tôi như thế nào?
          Nếu là bậc cha mẹ hoặc bề trên, tôi đã cảm thấy thế nào trước tình trạng con cái mình không sống đàng hoàng?  Tôi có làm gì để đi tìm lại đứa con đã mất, đưa nó trở về không?  Tôi biểu lộ niềm vui thế nào?
          Là môn đệ Chúa Ki-tô, tôi cảm nhận được quan hệ mật thiết và tình yêu Người dành cho tôi thế nào?  Tôi đáp lại tình yêu của Chúa ra sao?
 Cầu nguyện
          “Lạy Chúa Giê-su,
          xin cho con thấy Chúa thật lớn lao,
          để đối với con, mọi sự khác trở thành bé nhỏ.
          Xin cho con thấy Chúa thật bao la,
          để cả mặt đất cũng chưa vừa cho con sống.
          Xin cho con thấy Chúa thật thẳm sâu,
          để con dễ đón nhận nỗi khổ đau sâu thẳm nhất.
          Lạy Chúa Giê-su,
          xin làm cho con thật mạnh mẽ,
          để không nỗi thất vọng nào
          còn chạm được tới con.
          Xin làm cho con thật đầy ắp,
          để ngay cả một ước muốn nhỏ
          cũng không còn có chỗ trong con.
          Xin làm cho con thật lặng lẽ,
          để con chỉ còn loan báo Chúa mà thôi.
          Xin Chúa ngự trong con thật sống động,
          để không phải là con,
          mà là chính Ngài đang sống.”
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 2)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN24-C77. CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN

NGHE:
* Bài đọc 1: Xh 32,7-11.13-14.
"Ta đã thấy dân này rồi, đó là một dân cứng đầu cứng cổ. Bây giờ cứ để mặc Ta, cứ để cơn thịnh nộ của Ta bừng lên phạt chúng và Ta sẽ tiêu diệt chúng. Nhưng Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn". Oâng Mosê cố làm cho nét mặt Đức Chúa, Thiên Chúa của ông dịu lại.
* Bài đọc 2: 1 Tm 1,12-17:
Trước kia tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng tôi đã được Người thương xót, vì tôi đã hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin. Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta, đã ban cho tôi tràn đầy ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người.Đây là lới đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi. Sở dĩ tôi được thương xót, là vì Đức Giêsu Kitô muốn tỏ bấy tất cả lòng đại lượng của Người nơi tôi là kể đầu tiên..
* Bài Tin Mừng: Lc 15,1-32: Ba dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa
Tất cả những người thu thuế và những người tội lỗi thường đến gần Đức Giêsu mà nghe Người. Còn những người thuộc phái Pharisêu và các kinh sư thì lầm bầm: "Oâng này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng. Đức Giêsu mới kể cho họ dụ ngôn này:
Con chiên bị mất, đồng bạc bị đánh mất, người cha nhân hậu
"Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà người ấy mớ bạn bè, hàng xóm lại và nói: Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó. Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn."
"Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được? Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất. Cũng thế tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn trở sám hối"
Rồi Đức Giêsu nói tiếp: "Một người kia có hai con trai. Người con thứ nói với cha rằng: Thưa cha, xin cho con phần tài con được hưởng. Và người cha đã chia của cải cho hai con. Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó, anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình.
Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xẩy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở cho một người dân trong vùng; ngướ này sai anh ta ra đồng chăn heo. Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. Bấy giờ anh ta mới hồi tâm và tự nhủ: Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói! Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy. Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha.
"Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Oâng chạnh lòng thương, chạy raôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con nói rằng: Thưa cha, con đã đắc tội với Trời và với cha, chẳng đáng gọi là con cha nữa.. Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy. Và họ bắt đầu ăn mừng.
"Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhẩy múa, liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì. Người ấy trả lời: Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì được lại cậu ấy mạnh khỏe. Người anh cả luiền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ. Cậu trả lời cha: Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!
"Nhưng người cha nói với anh ta: Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng và hoan hỷ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy."

 NGẪM:
Câu hỏi gợi ý:
 

Tại sao Đức Giêsu lại dùng đến những ba dụ ngôn để nói về lòng thương xót của Thiên Chúa: TN24-C77

1. Tại sao Đức Giêsu lại dùng đến những ba dụ ngôn để nói về lòng thương xót của Thiên Chúa?
2. Chúng ta học được điều gì từ ba dụ ngôn ấy?
Suy tư gợi ý:
1. Ba dụ ngôn của lòng thương xót:
Luca là một tác gỉa Tin mừng rất tinh tế và có xu hướng thích trình bày về tình thương, về lòng nhân ái. Chính vì thế mà khi muốn làm nổi bật lòng thương xót của Thiên Chúa, Luca đã sắp xếp 3 dụ ngôn lại với nhau: con chiên bị lạc, đồng tiền bị mất, người con đi hoang trở về. Còn ý của Đức Giêsu? Một phần Đức Giêsu muốn thanh minh với các người Pharisêu về cách cư xử "khó hiểu" của ngài đối với thành phần cùng đinh của xã hội là những người bị xã hội coi là tội lỗi, là đáng khinh, đáng loại trừ. Một phần Đức Giêsu muốn mọi người hiểu rằng đấng Thiên Chúa mà ngài gọi là Cha và muốn cho mọi người nhận biết là một Thiên Chúa Yêu Thương. Thậm chí người ta có thể gọi Ngài bằng ngôn ngữ của trẻ thơ để gọi: Abba, Lạy Cha! Cha ơi! Ba ơi! Bố ơi! Người Do Thái đã quá nhấn mạnh đến tính công bằng của Thiên Chúa nên đã vẽ nên một hình ảnh khắc nghiệt.
2. Bài học từ ba dụ ngôn:
* Thiên Chúa luôn tìm kiếm con người, nhất là người tội lỗi, để cứu họ khỏi cảnh lầm lạc mà đưa họ về dưới mái nhà của Cha.
* Thiên Chúa dễ dàng quên những tội tầy đình của những người con đi hoang và luôn trông ngóng họ quay về.
* Thiên Chúa vui mừng, hạnh phúc giang rộng cánh tay đón nhận con chiên lạc, người con đi hoang để ôm ấp yêu thương, bù đắp cho những ngày tháng bất hạnh của chúng.
* Con chiên lạc được tìm thấy, đồng bạc đã mất tìm lại được và người con thứ đi hoang trở về... không thể vì thế mà quay lại với quá khứ đi lạc, đánh mất hoặc đi hoang. Vì như thế là quá coi thường tình thương của Thiên Chúa vừa là Cha vừa là chủ.
* Nếu chúng ta học được lòng thương bao la của Thiên Chúa mà cư xử nhân ái với tha nhân.. Nếu chúng ta dấn thân vào việc tìm kiếm những con chiên lạc đem về thì chắc Thiên Chúa sẽ rất vui và sẽ hãnh diện vì chúng ta!
 NGUYỆN:
Lạy Chúa Giêsu, chúng con cám ơn Chúa đã dậy cho chúng con biết về Thiên Chúa là Tình Yêu, là Lòng Thương Xót Vô Biên. Chúng con yếu đuối, tội lỗi, thấp hèn lắm! nên chúng con cảm thấy được vững tâm, tin tưởng khi chạy đến với Thiên Chúa để xin ơn thứ tha. Xin Chúa giúp chúng con biết sống nhân ái với mọi người, nhất là với những ai mà chúng con thường khắt khe. Xin Chúa ban nhiệt huyết cho chúng con để chúng con hăng say tìm kiếm những con chiên lạc, đem họ về nhà Cha. Amen.
 Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

 

TN24-C78. CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN, C

 - Bài đọc I : Thiên Chúa nhân từ tha thứ cho dân Israel đã thờ tượng con bê vàng.
- Đáp ca : Lời nguyện sám hối của Tv 50
- Tin Mừng : 3 dụ ngôn về lòng nhân từ của Thiên Chúa : con chiên lạc, đồng tiền mất và đứa con đi hoang.
- Bài đọc II : Thánh Phaolô tạ ơn Thiên Chúa vì lòng nhân từ thương xót của Ngài.
 I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến
 

Chúng ta rất hạnh phúc vì có một Thiên Chúa rất nhân từ, Ngài sẵn sàng tha thứ cho những kẻ : TN24-C78

Chúng ta rất hạnh phúc vì có một Thiên Chúa rất nhân từ, Ngài sẵn sàng tha thứ cho những kẻ tội lỗi biết sám hối. "Nếu Chúa chấp tội thì ai nào đứng vững được !"
Thánh lễ là một bằng chứng biểu lộ lòng nhân từ của Chúa : mặc dù chúng ta nhiều tội lỗi, nhưng Chúa vẫn mở rộng cửa đón chúng ta vào nhà Ngài và cho chúng ta cùng ăn đồng bàn với Ngài.
Chúng ta hãy bắt đầu Thánh lễ bằng cách nhìn nhận thân phận tội lỗi của mình và xin Chúa tha thứ.

 II. Gợi ý sám hối
* Dùng công thức sám hối trong sách lễ Rôma trang 567.

 III. Lời Chúa
1. Bài đọc I (Xh 32,7-11.13-14)
Đoạn này bắt đầu câu chuyện con bê vàng.
Ngay sau khi Thiên Chúa kết Giao ước với dân Israel, họ đã vi phạm Giao ước đó bằng cách đúc tượng một con bê vàng và thờ lạy trước tượng đó. Thiên Chúa rất giận. Ngài cho Môsê biết Ngài muốn tiêu diệt họ, thay vào đó Ngài sẽ tạo một dân mới từ dòng dõi Môsê. Nhưng Môsê đã van xin Thiên Chúa và cuối cùng Thiên Chúa nguôi giận không giữ ý định tiêu diệt dân Israel nữa.
Trong chuyện này có 2 điểm đáng chú ý :
- Môsê đã liên kết với dân : mặc dù Thiên Chúa hứa làm một dân mới từ dòng dõi của ông, nhưng ông vẫn xin Thiên Chúa duy trì dòng dõi Israel.
- Thiên Chúa tha thứ cho dân không phải vì Môsê mà vì chính lòng nhân từ Thiên Chúa của Ngài. Câu chuyện kết thúc bằng câu "Thiên Chúa đã thương, không giáng phạt dân Ngài như Ngài đã đe".
2. Đáp ca (Tv 50)
Lời cầu nguyện của tội nhân sám hối. Lý do được nêu lên để nài xin tha thứ không gì khác hơn là lòng nhân từ thương xót của Chúa : "Lạy Chúa xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm".
3. Tin Mừng (Lc 15,1-32)
Khung cảnh : thấy Chúa Giêsu gần gũi với những người tội lỗi đến gần, nhóm pharisêu và kinh sư trách Ngài. Chúa Giêsu đã dùng những dụ ngôn để trả lời cho họ.
Có 3 dụ ngôn : 1 con chiên trong số 100 con bị mất, 1 đồng trong số 10 đồng bị đánh rơi, và 1 đứa trong hai đứa con bỏ nhà đi hoang. Tỉ lệ mất mát ngày càng cao (1/100 à 1/10 à ). Giá trị những thứ bị mất cũng ngày càng cao (1 con vật, đồng bạc - người ta thường nói "đồng tiền liền khúc ruột - và 1 đứa con). Tất cả những dụ ngôn này đều đề cao hình ảnh một Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Ngài xót xa khi một người lầm đường rơi vào tội lỗi. Do đó Ngài tha thiết tìm cứu người tội lỗi. Khi cứu được một người tội lỗi, Ngài rất vui mừng.
4. Bài đọc II (1 Tm 1,12-17)
Thánh Phaolô tạ ơn Thiên Chúa vì lòng nhân từ thương xót của Ngài :
- "Trước kia tôi là kẻ lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng đã được Ngài thương xót"
- "Đức Kitô đã đến thế gian để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi"
- "Sở dĩ tôi được thương xót là vì Đức Giêsu Kitô muốn tỏ bày tất cả lòng đại lượng của Ngài nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho những ai sẽ tin vào Ngài".

 IV. Gợi ý giảng
1. Giá trị của từng con người
Một hội từ thiện kia xây dựng một ngôi trường nhằm giúp cho những thiếu niên hư hỏng hoán cải. Khi bàn đến những chi tiết trong việc điều hành trường như mua sắm phương tiện, thuê mướn giáo viên v.v. một hội viên phát biểu : "Chúng ta đừng ngại tốn kém. Chỉ cần hoán cải được một thiếu niên thôi thì tốn bao nhiêu cũng đáng". Một người khác hỏi tại sao thì ông này đáp : "Bởi vì thiếu niên hư hỏng ấy là con của tôi".
Bài Tin Mừng hôm nay gồm tới 3 dụ ngôn. Dụ ngôn đầu xem ra không hợp lý : ai lại bỏ 99 con chiên để đi tìm một con chiên lạc ? Dụ ngôn thứ hai cũng chẳng có sức thuyết phục bao nhiêu : một đồng xu có đáng là bao so với công sức mà người đàn bà kia bỏ ra để tìm lại nó ? Nhưng rồi tất cả đều trở thành hợp lý khi ta đọc dụ ngôn thứ ba : Ý của Chúa Giêsu không nhằm nói tới con chiên, cũng không nói tới tiền bạc mà nói tới con người. Trước mặt Thiên Chúa, mỗi một con người đều có giá trị vô cùng, bởi vì mỗi một con người, dù là tội lỗi, cũng đều là con của Ngài.
Tuy nhiên có mấy ai chia xẻ tâm ý của Chúa ? Những người pharisêu và các kinh sư thấy Chúa Giêsu bỏ công lui tới với những người tội lỗi thì họ cho là mất công vô ích nên xầm xì phản đối. Đối với họ, việc làm của Chúa Giêsu là không đáng, bởi vì những kẻ tội lỗi là hạng đáng vất đi. Nhưng đối với Chúa Giêsu, đó là những con người, những giá trị. Một đồng xu quý giá thế nào đối với người đàn bà nghèo khổ, một người con quý giá thế nào đối với tấm lòng người cha, thì một người tội lỗi cũng đáng giá thế ấy đối với tấm lòng của Thiên Chúa.
Thế còn việc bỏ 99 con chiên trong đàn để đi tìm con chiên lạc thì sao ? Vì con chiên ấy cần được chăm sóc hơn 99 con kia : nó cô đơn, nó bơ vơ, nó đói khát hơn, nó bị nguy hiểm nhiều hơn. Vì thế nên người mục tử nhân lành không thể ở yên chờ nó tìm được đường về, mà phải đích thân ra đi tìm nó. Chúa Giêsu đã làm như người mục tử ấy : Ngài không chờ kẻ tội lỗi đến với mình, nhưng được bước trước đến với họ. Ngài kết thân với họ trong tình trạng của họ còn đang là tội nhân, còn đang lầm lạc. Chính đó là cách đối xử khác những người pharisêu và kinh sư, và chính đó là lý do khiến họ xầm xì phản đối. Nhưng chính cách đối xử này đã hoán cải được một người pharisêu nổi tiếng là Thánh Phaolô (bài đọc 2).
2. Cái mất là cái quý
Nhiều người không thể hiểu tại sao người mục tử bỏ 99 con chiên để đi tìm một con chiên lạc, và người đàn bà còn 9 đồng trong tay lại chịu khó tìm cho bằng được một đồng bị mất.
Lý do là : cái mất đi trở thành cái quý giá. Rất nhiều thứ khi bị mất rồi chúng ta mới thấy quý.
Sự quý giá của một vật hay một người không chỉ do vật hay người đó đã làm ích cho ta (thí dụ một chiếc đồng hồ chính xác, một người giúp việc tận tụy), mà còn do những công sức mà ta đã đổ dồn vào đó (thí dụ bức tranh mà người họa sĩ đã tốn nhiều thời gian để vẽ, một người thợ mà ông thầy đã dầy công đào tạo), và còn do những hy sinh đau khổ mà ta đã dành cho vật hay người đó (như đứa con mà người mẹ phải sinh nặng đẻ đau)
Có một câu chuyện biến ngôn như sau : Chúa Giêsu gặp một người mục tử đang rất buồn rầu. Ngài hỏi tại sao thì người ấy đáp : "Vì tôi lạc bị mất một con chiên". Chúa Giêsu nói : "Để Ta đi tìm nó cho". Một lúc sau, Chúa Giêsu trở lại, ôm theo con chiên lạc giao lại cho người mục tử, và căn dặn : "Từ nay anh phải yêu thương nó, chăm sóc nó nhiều hơn những con khác nhé, vì Ta đã tốn rất nhiều công sức mới tìm lại được nó đó".
Tất cả chúng ta đều là những đồng bạc đã từng bị mất, những con chiên đã từng đi lạc và những đứa con đã từng đi hoang. Nhờ công lao khó nhọc của nhiều người và nhất là của Chúa mà chúng ta đã được tìm lại. Vậy chúng ta phải có những tâm tình gì ?
- Tâm tình cảm mến, vì mình đã hư mất mà đã được tìm lại.
- Tâm tình vui sướng, vì biết mình là đối tượng được thương yêu nhiều hơn.
- Và tâm tình tự trân trọng, đừng để mình bị lạc mất thêm một lần nào nữa.
3. Những con người bị mất
Không chỉ đồ vật hay thú vật bị mất, mà chính con người cũng có thể bị mất.
Những con người bị mất ấy là ai ?
- Là những đứa trẻ không tìm được hạnh phúc trong gia đình nên đi hoang.
- Là những thiếu niên bị thói xấu xã hội lôi kéo.
- Là những người nghiện ngập đến nỗi hư cả cuộc đời.
- Là những vợ chồng bất thuận đến nỗi không còn là vợ chồng với nhau.
- Là những anh em bất hòa không còn coi nhau là anh em nữa.
- Là những tín hữu yếu đuối lỡ phạm tội nên mặc cảm và xa lánh gia đình xứ đạo.
Những con người lạc mất ấy không ở đâu xa, mà đang ở bên cạnh chúng ta, ở giữa chúng ta. Nhưng buồn thay, nhiều người không hề quan tâm đi tìm họ lại.
4. Tuyệt đỉnh của yêu thương
Một lần kia, các tu sĩ trong miền dẫn tới đức Giám Mục Amôna một thiếu nữ mang bầu xin ngài ra hình phạt. Nhưng Đức cha đã ban phép lành cho thai nhi, rồi ra lệnh ban cho cô sáu tấm vải bằng lanh mịn. Những kẻ tố cáo lại nói :
- Tại sao Đức Cha làm như thế ? Xin ra cho nó một hình phạt.
Ngài ôn tồn bảo :
- Anh em thử nghĩ xem, cô ta đã đau khổ muốn chết được ; tôi phải làm gì hơn nữa.
Nói thế rồi ngài cho cô ta về. Từ đấy không tu sĩ nào còn dám tố cáo ai nữa.
Cũng như các tu sĩ trong câu chuyện trên đây, nhóm Pharisêu và các kinh sư thường lên án những người tội lỗi, nên khi Đức Giêsu tiếp đón những hạng người này thì họ lẩm bẩm kêu trách Người. Thấy vậy, Đức Giêsu đã trả lời bằng ba dụ ngôn : Con Chiên Lạc Mất, đồng Bạc Đánh Rơi, và Đứa Con Hoang Đàng, để bày tỏ lòng nhân hậu và niềm vui của Thiên Chúa dành cho người tội lỗi hối cải ăn năn.
Còn gì vui bằng khi cái đã mất lại tìm thấy được ; còn gì sướng hơn khi cái tìm thấy lại là vật quí. Tìm kiếm chính là mục đích của Con Thiên Chúa khi xuống trần gian : "Con Người đến tìm kiếm những gì đã mất". Con người là đối tượng duy nhất mà Thiên Chúa muốn kiếm tìm. Con người thật vô cùng quí giá trước mặt Người. Thiên Chúa lao đao vất vả đi tìm kiếm con người. Người không muốn để mất một ai trên trái đất này.
Thiên Chúa yêu thương người tội lỗi, như người mục tử tốt lành sa#n sàng để chín mươi chín con chiên lại đi tìm cho bằng được con chiên lạc mất. Khi tìm thấy rồi mừng rỡ khoác chiên trên vai.
Thiên Chúa yêu thương kẻ lầm lỡ, như người đàn bà cần mẫn, đốt đèn kiếm cho được đồng bạc đánh rơi. Khi thấy rồi tíu tít chia vui với mọi người.
Thiên Chúa yêu thương tội nhân, như người cha già nhân hậu, ngày ngày ra ngõ tìm con. Khi thấy con rồi ông vui mừng chạy lại ôm choàng lấy nó.
Thật vậy, "lỗi lầm là của con người và tha thứ là của Thiên Chúa" (A. Pope). Thiên Chúa yêu thương con người và yêu thương đến cùng. Tuyệt đỉnh của yêu thương chính là tha thứ, vì thế dù phải chịu hấp hối lâu dài và đớn đau khôn tả, phải chịu khinh miệt và chối bỏ, nhưng Người vẫn cầu nguyện tha thiết : "Lạy Cha, xin tha cho họ". Đây chính là lời rõ ràng và trang trọng nhất nói lên tâm hồn cao thượng và tấm lòng nhân hậu của Thiên Chúa qua Đức Giêsu.
Thiên Chúa luôn sa#n sàng tha thứ cho chúng ta, những con người lầm lỗi ; nhưng Người chỉ có thể thứ tha khi chúng ta thật lòng sám hối. Người trộm lành suốt một đời lầm lỡ, thế mà chỉ trong giây phút cuối cùng, tỏ lòng sám hối ăn năn đủ trở nên một vị thánh. Ông trở nên thánh không phải vì ông là người tội lỗi, nhưng vì ông nhận biết mình là kẻ tội lỗi. Đứa con hoang đàng được người cha tha thứ cũng vì anh đã biết nhận ra lỗi lầm, trở về sám hối ăn năn. Người cha không chỉ tha thứ mà còn phục hồi chức vị làm con. Một chiếc nhẫn mới, một đôi giầy mới, một bữa tiệc linh đình, vinh dự còn lớn hơn cả trước khi ra đi.
Nếu Thiên Chúa đã tỏ lòng nhân hậu và tha thứ cho chúng ta, thì Người muốn chúng ta cũng hãy tha thứ cho nhau như người cha nhân hậu xin ông anh cả tha thứ cho đứa em lầm lỗi.
Người ta chỉ có thể dễ dàng tha thứ cho kẻ khác khi ý thức thân phận mỏng dòn yếu đuối của mình. Có nhận ra mình hay lầm lỗi, con người mới dễ cảm thông tha thứ cho những lỗi lầm của anh em. Đừng bắt người có tội phải bị trừng phạt mới hả dạ, đừng đòi hỏi cho được sự công bằng mới thôi, vì Martin Luther King có viết : "Nếu cứ áp dụng luật mắt đền mắt thì mọi người đều trở nên mù loà".
*
Lạy Chúa, nếu Chúa không tha thứ cho các tội nhân thì thiên đàng sẽ trống rỗng, và thế giới này không có thánh nhân.
Xin cho chúng con mỗi lần được Chúa thứ tha lại thấy mình nên giống Chúa hơn, vì đã biết tha thứ cho anh em. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu", năm C)
5. Chuyện minh họa
a/ Sự tha thứ của Chúa
Một nhà truyền giáo trên một đảo ngạc nhiên khi nhìn thấy một phụ nữ mang một nắm cát ướt bước vào túp lều của ông.
- Ông biết đây là gì không ?
- Nó giống như cát.
- Ông có biết tại sao tôi mang nó vào đây không ?
- Không, tôi không thể tưởng tương được tại sao.
- Đây là tội tôi. Tội tôi không thể đếm được như cát biển. Làm thế nào tôi có thể được tha thứ tất cả ?
- Bà hãy đưa cát đó ra bãi biển và chất thành một ít cát. Rồi ngồi nhìn xem những cơn sóng ập tới, chắc chắn sẽ cuốn đi tất cả. Đó là cách Chúa thực hiện sự tha thứ của Ngài. Lòng nhân từ của Chúa bao la như đại dương. Hãy thành thật hối lỗi và Chúa sẽ tha thứ.
b/ Không cần đếm
          Ở Phi châu, có một bộ tộc khá kì lạ. Họ không bao giờ đếm, không ai biết tí gì về toán học. Có người hỏi một người dân bản địa có bao nhiêu cừu. Anh đáp : không biết. "Vậy nếu lỡ mất một hai con, làm sao anh biết ? " Câu trả lời thật ý nhị : "Không phải tôi mất một con số, mà mất một bộ mặt."

V. Trong Thánh Lễ
- Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta là những người vô cùng hạnh phúc vì có một người Cha vô cùng nhân từ thương xót là Thiên Chúa. Với tất cả tâm tình kính mến, chúng ta hãy dâng lên Ngài lời Kinh Lạy Cha sau đây.

VI. Giải tán
Chúng ta đã thấy Chúa đã đối xử với chúng ta cách nhân từ thương xót như thế nào. Chúng ta cũng hãy đối xử như thế với những anh chị em chúng ta.
 Lm. Carolo Hồ Bặc Xái

 

TN24-C79. THIÊN CHÚA TỪ BI.

Chúa Nhật 24C Thường Niên.
 

Niềm vui phát xuất từ đâu ?   Tình yêu là một nguồn vui lớn.    Hôm nay, Đức Giêsu muốn mạc: TN24-C79

Niềm vui phát xuất từ đâu ?   Tình yêu là một nguồn vui lớn.    Hôm nay, Đức Giêsu muốn mạc khải bản chất tình yêu Thiên Chúa qua những nét từ bi lạ lùng.   Nói khác, lòng thương xót là chiều kích thực tế của tình yêu Thiên Chúa đối với loài người.
LÒNG XÓT THƯƠNG.
Đức Giêsu đã phải dùng ba dụ ngôn liên tiếp để diễn tả phần nào một khía cạnh của tình yêu Thiên Chúa. Lòng xót thương chính là một đặc tính vô cùng cao quí của Thiên Chúa.  Nếu không đầy lòng thương xót, chắc chắn Thiên Chúa không bao giờ có thể đi sâu vào lòng người đến thế.  Chính vì lòng thương xót trời bể, Thiên Chúa mới cảm thấy “vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.” (Lc 15:7, 10)   Niềm vui không đến với Chúa qua đường lối thông thường “có vay có trả”.  Lòng thương xót đó rất nhiệm mầu nhưng cũng rất thực tế.  Chẳng ai hiểu thấu bản chất lòng xót thương.   Nhưng ai cũng có thể cảm nhận lòng xót thương đó. Chính vì thế Đức Giêsu phải dùng nhiều dụ ngôn để khai sáng những chiều cạnh bí hiểm của mầu nhiệm lớn lao này.
Trước hết, ngược với mọi toan tính thường tình, người Mục tử nhân lành dám để chín mươi chín con chiên ngoài đồng hoang, để tìm con chiên bị mất  (x. Lc 15:4)   Ngoài đồng hoang chín mươi chín con chiên đó dễ trở thành mồi ngon cho bọn chó sói hay những quân đạo chích.  Nhưng vì lòng xót thương đối với con chiên thất lạc, ông đã quên tất cả.   Oâng liều mạng xông vào những chỗ nguy hiểm để tìm lại một giá trị đã mất.   Mỗi người là một giá trị độc đáo đối với Thiên Chúa.   Không ai không được hưởng lòng thương xót của Chúa.   Chính Chúa đã âu yếm gọi con người là “con chiên của tôiù.” (Lc 15:6)  Thiên Chúa tìm lại được tội nhân, giống như tìm lại được hình ảnh mình.   Thánh Phaolô đã bám chặt vào lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu, đến nỗi ông dám thách thức : “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô ?” (Rm 8:35)   Tình yêu Đức Kitô là nguyên nhân tạo nên mọi giá trị đích thực.
Giá trị đó có thể ví như đồng quan người phụ nữ đánh mất.    Mất một đồng bà cũng cặm cụi tìm kiếm.   Tìm được rồi, “bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại” (Lc 15:9) chung vui với bà.   Niềm vui đó thật chẳng có ý nghĩa gì đối với những người giàu có.   Nhưng đối với bà, một đồng thực là ý nghĩa và quan trọng.   Cũng như một con chiên vẫn có một giá trị hơn chín mươi chín con kia.   Thiên Chúa cần phẩm chứ không cần lượng.  Quả thế, Thiên Chúa “sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.” (Lc 15:7)   Chỉ có tấm lòng sám hối mới tạo nên tất cả giá trị con người.   Đó là một sự thật !
Sự thật đó có thể tìm thấy nơi người con hoang đàng.   Trong cảnh cùng cực, anh đã thấy tất cả sự thật và ý nghĩa cuộc đời.   Anh không thể chịu nổi cảnh phi lý : “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói !” (Lc 15:17)   Không thể phung phí cuộc đời trong vô vọng như thế !    Khi trở về, đụng chạm trực tiếp với người cha bao dung, anh đã để những giọt nước mắt tự do tuôn rơi.  Anh chẳng còn gì ngoài lòng sám hối.   Nhưng đó mới là tất cả lý do khiến người cha nhân lành “mở tiệc ăn mừng !” (Lc 15:23)   Oâng như tìm được một giá trị vô cùng lớn lao trong người con trở về đó, “vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.” (Lc 15:24)   Chính lòng sám hối có khả năng phục hồi tất cả những gì đã mất và tạo được niềm vui vô cùng lớn lao.  
Phải có một con mắt nhân hậu như người cha mới thấy được giá trị cao cả của tấm lòng sám hối.   Người con thứ đã trải qua những giây phút tan nát như thế và đã cảm thấy phải lệ thuộc hoàn toàn vào tình thương của cha. Nhờ lòng sám hối, người con thứ mới hưởng được một bữa tiệc thịnh soạn.  Ngồi giữa bàn tiệc với “thịt con bê béo” (Lc 15: 27) và “đàn ca nhảy múa” (Lc 15:25), chắc chắn anh không thể tưởng tượng được lòng cha bao dung tới mức đó !   So với lúc còn xa cha, “anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho dầy bụng, nhưng chẳng ai cho,” (Lc 15:16), thật là một trời một vực !  Anh thấy rõ cảnh trái ngược giữa tình cha nồng thắm và tình đời bạc đen.  
Đại diện cho tình đời đen bạc đó là người anh cả, một con người chỉ biết sống với lý trí.   Anh không thể hiểu được con tim người cha.  Anh chỉ sống theo lẽ công bình.  Suốt đời phục vụ cha, anh chỉ nhằm “một con dê con để ăn mừng với bạn bè.” (Lc 15:29)   Anh lại còn cố cắt nghĩa cho cha hiểu về công trạng cồng kềnh của mình.   Bởi vậy anh không thể chung vui với cha.   Không cảm thấy mất mát khi em lìa xa mái ấm, nên anh cũng chẳng thấy tìm lại được gì sau khi em trở về.  Cha không chỉ bao dung với người em, nhưng cũng quảng đại với người anh nữa : “Tất cả những gì của cha đều là của con.” (Lc 15:31)   Anh hoàn toàn không hiểu biết chút gì về tấm lòng trời bể của cha.   Bởi thế anh không hòa nhập và chia sẻ với cha trong nếp sống gia đình.   Anh không có một cái nhìn khoan dung và bao quát để đi sâu vào tâm hồn thân phụ.   Tâm hồn anh hoàn toàn khép kín với cha và em.

HÒA BÌNH VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT.
Ngày nay, chính sự khép kín đó là sinh ra mọi thứ chiến tranh.   Mặc dầu sống giữa thời đại đầy ắp những phương tiện thông tin hiện đại, người ta vẫn không hiểu biết nhiều về nhau.   Bởi vậy mới có những thái độ bất khoan dung và thù nghịch.  Biến cố 11/9/2001 tại Hoa Kỳ là một bằng chứng.   Hàng ngàn người vô tội tại World Trade Center đã phải thiệt mạng vì sự thù hận.   “Không thể kiếm được từ nào để diễn tả ảnh hưởng của một trong những cuộc tấn công đẫm máu nhất thời đại.” (Federico Lombardi, CWNews 111/9/2001)   Toàn thể thế giới kinh hoàng khi nhìn thấy hai chiếc phản lực dân sự do bọn không tặc lao vào hai ngôi nhà chọc trời, trung tâm dịch vụ thế giới.  Trong phút chốc hai biểu tượng của đất nước giàu có nhất thế giới đã sụp đổ tan tành, đè chết hàng ngàn người dưới đống gạch vụn. 
Không ngờ con người có thể có những hành động quái ác như vậy !  Đó là “một hành động lăng mạ khủng khiếp tới phẩm giá con người.” (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 12/9/2001)    Con người chưa thể thương yêu nhau vì chưa ý thức về lòng xót thương Chúa dành cho mỗi người và cộng đồng nhân loại.   Lòng xót thương của Thiên Chúa chính là động lực giúp cho con người nhìn nhau như anh em và tha thứ cho nhau.   Trong hoàn cảnh nhân loại, không thể tìm thấy điều kiện lý tưởng cho tình yêu.   Nếu cứ chờ đợi có đủ lý do mới yêu nhau, con người sẽ thất vọng, vì trần gian là một cõi tương đối.   Chỉ có lòng thương xót hay lòng khoan dung mới giúp nhân loại tồn tại.  
Trước thảm họa khủng bố hôm nay, chúng ta phải làm gì ?    “Các nhà lãnh đạo thế giới đừng để sự thù hận và tinh thần trả thù thống trị mình, hãy làm tất cả những gì có thể làm để kìm giữ những vũ khí phá hoại gieo rắc sự hận thù và chết chóc mới và cố gắng chiếu ánh sáng vào nơi tăm tối của mối lo âu nhân loại bằng những việc làm hòa bình.” (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 12/9/2001)   Việc làm hòa bình đó chắc chắn phải phát xuất từ niềm tin vào tình yêu Thiên Chúa.  Tình yêu Thiên Chúa đã in dấu từ bi vào bản tính nhân loại.    Nhưng không hiểu tại sao “từ tận tầng thẳm sâu của tâm hồn con người đôi khi nổi lên những mưu kế độc ác ngoài sức tưởng tượng, có thể phá hủy trong chốc lát đời sống thường ngày của một dân tộc.   Nhưng khi chữ nghĩa không diễn tả nổi, thì đức tin đến giúp chúng ta.” (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 12/9/2001)    Đức tin đem lại niềm hi vọng.   Chỉ vì không đặt niềm tin nơi Đức Giêsu, hiện thân lòng Thiên Chúa xót thương, nên “những tên khủng bố là những người tuyệt vọng; họ cảm thấy không có gì để mất.  Họ không nhìn thấy tương lai, bởi thế họ sẵn sàng giết người khác và chính mình.” (TGM Renato Martino, CWNews 13/9/2001)   Đúng là một thảm họa cho nhân loại.    Thảm họa đó chỉ có thể diệt trừ nếu “cả thế giới thành thật cam kết tìm kiếm hòa bình” và đừng chỉ “chú tâm tới quyền lợi riêng” (TGM Renato Martino, CWNews 13/9/2001). 
Chính vì chỉ chú ý tới quyền lợi riêng, nên lòng người anh cả không bao giờ bình an.    Nhưng bình an bao giờ cũng là mối phúc chính yếu Chúa gởi đến nhân loại. Bằng chứng , ngay sau khi Trung Tâm Mậu Dịch Thế Giới sụp đổ, hàng ngàn nhân viên cứu trợ tình nguyện đã túa đến tìm kiếm những người còn sống sót trong đông gạch vụn.  Khắp nơi dân chúng đã rủ nhau đi hiến máu. Dân chúng New York “thi đua tỏ lòng liên đới” (TGM Renato Martino, CWNews 13/9/2001) với những nạn nhân khủng bố. 
Khủng bố chỉ là một dấu chỉ sự xáo trộn cực độ trong tình liên đới nhân loại.   Con người không thèm nhìn nhau là anh em, chỉ vì không thấy được hình ảnh Thiên Chúa nơi anh em.   Để có thể thấy được hình ảnh Thiên Chúa, con người cần sám hối.   Lý do vì nhờ sám hối, con người nhìn lại được hình ảnh Thiên Chúa trong đáy lòng mình.   Nhờ đó, họ mới thấy được tình liên đới với anh em.
Tóm lại, dù nhiều người đang chìm ngập trong thất vọng, nhưng Kitô hữu vẫn vững tin.  Vì tình yêu Thiên Chúa còn đó !   Lòng sám hối còn đó !   Sám hối có thể  phục hồi tất cả.   Người con thứ đã dạy chúng ta bài học lớn lao đó.   Nhưng có sám hối được hay không, đó là nhờ lòng tin tưởng sâu xa vào Thiên Chúa.   Càng tin tưởng sâu xa, càng cảm nghiệm lòng thương xót trời bể của Thiên Chúa.  Thánh Phaolô cảm nghiệm sâu xa về lòng Chúa xót thương : “Tôi đã được Người thương xót.   Sở dĩ tôi được thương xót, là vì Đức Giêsu Kitô muốn tỏ bày tất cả lòng đại lượng của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên.” ((1 Tm 1:13.16)    Xưa kia, trước cơn đe loi của Thiên Chúa, “ông Môsê cố làm cho nét mặt Đức Chúa, Thiên Chúa của ông, dịu lại.  Đức Chúa đã thương, không giáng phạt dân Người như Người đã đe.” (Xh 32:11.14)
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

TN24-C80. KHỦNG HOẢNG

Chúa Nhật 24C Thường Niên. (2007)
 

Công bình vô cùng cần thiết cho cuộc sống.   Chính sự bất công đã kéo sập cơ quan Thương Mại: TN24-C80

Công bình vô cùng cần thiết cho cuộc sống.   Chính sự bất công đã kéo sập cơ quan Thương Mại Quốc Tế tại Nữu Ước ngày 11/9/2001 vừa qua.   Khủng bố chỉ là hệ lụy bất công.   Tin Mừng hôm nay muốn trình bày bộ mặt thật của bất công và những giải pháp chấm dứt cảnh bất công đó.
MA LỰC KIM TIỀN.
Tất cả chủ đề Tin Mừng hôm nay đều xoay quanh tiền bạc vật chất.   Đây là một vấn đề lớn không thể không đề cập đến trong cuộc sống.   Bởi vậy, Đức Giêsu phải dùng một dụ ngôn để rút ra những kết luận cụ thể cho những môn đệ trên bước đường theo Chúa.   Chính lúc túng quẫn nhất, sự thật mới được phơi bày.   Cháy nhà ra mặt chuột. Cũng như người con thứ trong Tin Mừng tuần trước, người quản gia tự bàn tính : “Mình phải làm gì đây ?” (Lc 16:3), sau khi nghe tiếng sét đánh mang tai : “Từ nay anh không được làm quản gia nữa !” (Lc 16:2)   Sau nhiều ngày theo dõi và nghe ngóng, ông chủ mới đi đến quyết định đó.
Quyết định đó đã thay đổi đời anh.   Nhìn vào cuộc sống, anh thấy nghề nào cũng không thích hợp.   Chỉ còn mỗi cách cứu vãn là lấy lòng những “con nợ của chủ” (Lc 16:5).   Những tính toán nhanh chóng của anh vừa chứng tỏ anh đã “hành động khôn khéo” (Lc 16:8), vừa phơi bày bộ mặt “quản gia bất lương” (Lc 16:8) của anh.   Anh nắm vai trò trung gian giữa chủ và con nợ.   Thực tế, nếu mua thẳng từ chủ, khách hàng đã không phải chịu một khoản nợ lớn lao như thế.   Rõ ràng anh đã lợi dụng vai trò trung gian đó để chém con nợ khi thì năm mươi phần trăm, khi thì hai mươi phần trăm (xc. Lc 16:5-7).   Cuối cùng anh không phải là người phục vụ chủ hay khách hàng. Trái lại anh lợi dụng cả hai bên để# chỉ phục vụ chính cái tôi của mình !   Anh đã chém con nợ tối đa và đã gian manh trong việc sổ sách để bớt xén cho vinh thân phì da.   Bởi vậy, chủ mới nói : “Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi.” (Lc 16:2)   Anh đã đánh mất chữ tín đối với chủ và tạo một bất công quá lớn đối với khách hàng.   Đồng tiền đã làm anh tối tăm mắt mũi.
Tự bản chất, đồng tiền không xấu.   Bằng chứng chính Chúa cho biết có thể “dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu.” (Lc 16:9)    Nghĩa là tiền bạc cũng có thể là một phương tiện phục vụ hữu hiệu cho tình liên đới nhân loại và ý nghĩa cuộc đời.   Tiền bạc chính là một cái thước đo lòng người.   Trung thành cũng từ đó !   Phản bội cũng từ đó !    Số lượng không quan trọng.  Quan trọng là lòng người trong những cảnh huống lớn nhỏ  (x. Lc 16:10)  Không phải đợi chuyện đại sự mới thấy rõ lòng người.   Nhưng cuộc sống hằng ngày càng phơi bầy tất cả ngóc ngách trong lòng dạ con người dễ dàng hơn.    
Chính “từ lòng người, phát xuất những ý định xấu”(Mc 7:21) như bất công, khủng bố, phá thai v.v. Bao nhiêu tiền của đã đổ vào đó.  Tiền của đã trở nên xấu xa vì lòng dạ tăm tối.  Tiền của có thể trở thành phương tiện cho “những ai đàn áp người cùng khổ và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ.” (Am 8:4)  Họ tôn thờ tiền bạc.  Họ lợi dụng tất cả : “ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ  bần, đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ; cả lúa nát gạo mục, ta cũng đem ra bán.” (Am 8:6)   Hành động đã phơi bày tất cả lòng dạ xấu xa.  Họ tiêu tan cùng với những của cải bất chính, vì Thiên Chúa “sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi nào của chúng.” (Am 8:7)   Ngược lại, Người để ý đến những người biết kính sợ Chúa và tôn trọng tha nhân, những người biết vận dụng tiền của để tạo nên ý nghĩa đích thực cho cuộc đời.
Yù nghĩa đích thực đó chỉ đến vơi những con người thiện chí.  Quả thực, nếu có ý tốt, người ta có thể dùng “tiền của bất chính” (Lc 16: 9.11) “tạo lấy bạn bè” (Lc 16:9) và “của cải chân thật” (Lc 16:11)   Chỉ có của cải chân thật, tức là hồng ân Thiên Chúa,  mới đem lại hạnh phúc đích thực mà thôi.   Tiền của bất chính sẽ có ngày tiêu hao lụn bại.   Nhưng của cải chân thật không thể bị mối mọt và trộm cướp đe dọa.  Sống trên đời, con người chỉ là quản gia trên những của cải trong một thời gian ngắn.   Nghĩa là con người không phải là sở hữu chủ tuyệt đối.   Trái lại, họ chỉ có quyền “sử dụng của cải của người khác.” (Lc 16:12)   Người khác đây chính là Thiên Chúa, Đấng sẽ ban “của cải dành riêng cho anh em.” (Lc 16:12)   Quá lo cho mình, con người sẽ mất tất cả.   Trái lại, nếu biết vận dụng tất cả tài năng, tiền của phục vụ Thiên Chúa, họ tìm lại được trọn vẹn bản thân.   Trần gian chỉ là nơi để học hỏi cách phục vụ Thiên Chúa nơi tha nhân.   Nên nhớ : “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được.” (Lc 16:13)   Đó là nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất phải nắm vững khi sống giữa những “tiền của bất chính”.

CON ĐƯỜNG HÒA BÌNH.
Thực tế, biết bao người đang rời xa nguyên tắc quan trọng đó.   Họ là những quản  gia nhưng đã lấn lướt cả ông chủ và khách hàng.   Nắm quyền sinh sát trong tay, họ lạm dụng tiền của và quyền bính để tác oai tác quái.  Bởi thế, thánh Phaolô “khuyên ai nấy dâng lời cầu xin khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh.” (1 Tm 2:1-2)    Quyền bính cũng như tiền của chỉ để phục vụ chứ không phải đàn áp con người.   Bởi vậy mới cần cầu nguyện để những người cầm quyền xử dụng những tiền của và quyền bính cách khôn ngoan để “mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2:4) là Đức Giêsu như cao điểm cuộc sống.
Đạt tới cao điểm đó rất khó khăn!   Nhưng “cái gì cũng có thể, đối với người có lòng tin” (Mc 9:23) vào “Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người : đó là một con người, Đức Kitô Giêsu, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người.” (1 Tm 2:5-6)  Nhờ thế, tình yêu Thiên Chúa và giá trị con người được mạc khải.  
Nhưng trong khi Thiên Chúa vận dụng mọi cách để nâng cao con người, thì chính con người lại tìm cách chà đạp con người.   Tiền của là phương tiện hữu hiệu để thực hiện mưu đồ đó.   Bất công tràn ngập.   Tiền bạc có thể tạo nên kẻ thù.   Bởi vậy, ngày tận cùng chẳng có ai đón mời vào nơi vĩnh cửu.   Bất công sẽ tạo nên thế bất quân bình cho cả hiện tại và tương lai.   Ngược lại, nếu biết dùng tiền của tạo liên đới giữa người với người, ảnh hưởng còn lâu dài tới thiên thu.   Muốn thế, phải lấy con người làm trung tâm và cứu cánh mọi sinh hoạt xã hội và kinh tế.   Nói khác, “con người phải kiểm soát được vận mạng đời mình và có quyền kiếm công ăn việc làm cho mình.” (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 14/9/2001)   Bất cứ những gì không phục vụ con người đều phải bị loại bỏ, dù điều đó có đem lại những lợi nhuận lớn lao và những khám phá mới lạ.  Có những người muốn đổi mới tận nền tảng.   Nhưng ĐGH nhận xét : “trong khi những hình thức lịch sử lao động thay đổi, những vấn đề nền tảng vẫn bất di bất dịch.”   Người kêu gọi mọi người cố gắng hình thành những hình thức “kinh tế mới” để cổ động “liên đới mới”, bảo vệ môi sinh, và tạo những cơ hội mới cho mọi người. (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 14/9/2001)  
Muốn thực hiện được những điều tốt đẹp ấy, dĩ nhiên cần phải đổ rất nhiều tiền của vào những dự án lớn lao.   Nhất là đừng ngại vận dụng tất cả mọi phương tiện để làm cho mọi người lớn lên trong việc tôn trọng và liên đới với những người bị tổn thương vì hành động bất công của người khác (xc ĐHY Murphy- O’ Connor và TGM Kelly, CWNews 20/9/2001)    Bất công chính là kẻ thù của hòa bình.   Bởi thế, Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới 1971 mới nói việc cổ động công lý là một “yếu tố tạo nên việc phúc âm hóa” và đem lại hòa bình cho nhân loại.  Để thực hiện lý tưởng đó, hơn ai hết, “người Kitô hữu phải trung thành với giới răn tình yêu lớn lao: yêu Thiên Chúa, tha nhân và ‘kẻ thù’ mình.” (Murphy- O’ Connor và Kelly, CWNews 20/9/2001)   
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

TN24-C81. CHÂN DUNG NGƯỜI CON THẢO CỦA CHA

Đối với Thiên Chúa, điều quan trọng là việc làm chứ không phải lời nói. 2. Ở  vào thời Đức: TN24-C81

* Câu hỏi gợi ý
1. Đối với Thiên Chúa, điều quan trọng là việc làm chứ không phải lời nói.
2. Ở  vào thời Đức Giê-su và thời chúng ta hiện nay, ai là người con thứ nhất, ai là người con thứ hai?
3. Đức Giê-su là người con mẫu mực và tuyệt hảo của Cha.
* Suy tư gợi ý
1. Đối với Thiên Chúa, điều quan trọng là việc làm chứ không phải lời nói.
    Quả những người được Đức Giêsu kể cho nghe dụ ngôn hai người con hiểu ngay dụng ý của Người và bắt buộc họ phải có cùng quan điểm như Đức Giê-su mà nhìn nhận rằng: Người con thứ nhất (lúc đầu đã từ chối làm theo lời người cha nhưng sau đó đã nghĩ lại và làm theo lời cha) là người đã thi hành ý muốn của người cha. Còn người con thứ hai (lúc đầu đã nói là sẽ làm theo lời người cha, nhưng sau lại không làm) là người con đã không thi hành ý muốn của người cha. Thế có nghĩa đối với Thiên Chúa việc làm mới là điều quan trọng chứ không phải lời nói. Thật vậy, nếu chỉ nói xuông thôi, thì điều gì chúng ta cũng có thể nói được. Còn việc làm thì không dễ gì mà thực hiện vì nó khó hơn nhiều. Chúng ta nói yêu Chúa, yêu người thì quả là quá dễ. Nhưng để chứng tỏ chúng ta mến Chúa yêu người, thì không dễ chút nào. Trái lại nhiều khi chúng ta phải “trầy da tróc vẩy” mới thực hiện được một việc bác ái, một hành động hy sinh, từ bỏ.
 2. Ở vào thời Đức Giê-su và thời chúng ta hiện nay, ai là người con thứ nhất? ai là người con thứ hai?
   2.1 Dựa vào chính lời của Đức Giê-su, chúng ta phải hiểu rằng: ở vào thời Đức Giê-su người con thứ nhất là những người thu thuế và các cô gái điếm. Vì rõ ràng trước khi Gio-an Tẩy Gỉa và Đức Giê-su xuất hiện thì những người này không sống theo Giáo lý của Chúa. Những người thu thuế đã không sống theo giới luật của Thiên Chúa khi họ hà hiếp dân chúng hay ăn bớt ăn xén của công trong khi hành nghề. Những cô gái điếm đã không giữ luật của Thiên Chúa khi họ bán mình cho những kẻ hiếu dâm. Nhưng khi Gio-an Tiền Hô xuất hiện, kêu gọi mọi người sám hối thì  cả hai hạng người này đều tin Gio-an là sứ gỉa của Thiên Chúa mà hoán cải và dìm mình trong dòng sông Gióc-đan tỏ lòng hoán cải. Lúc trước họ từ chối Chúa, nhưng sau lại thi hành ý muốn của Chúa.
    Còn người con thứ hai chính là các thượng tế và kỳ mục trong dân Ít-ra-en: lúc trước họ là những tín đồ của Thiên Chúa Gia-vê, là những người rất cẩn trọng trong việc tuân giữ lề luật của Người, nhưng sau họ lại hóa thành những người làm trái ý Thiên Chúa. Họ chẳng những đã không tin vào Gio-an và Đức Giê-su mà còn trực tiếp hay gián tiếp giết  hại Gio-an và Đức Giê-su nữa. Đức Giê-su đã ám chỉ hành động sát nhân của họ trong dụ ngôn tá điền giết các đầy tớ và giết cả chính người con yêu dấu của chủ vườn nho (Mt 12,1-13).
    2.2 Còn vào thời chúng ta hiện nay, ai là người con thứ nhất? ai là người con thứ hai? Chúng ta không có quyền xét đoán ai, mà hãy xét đoán chính mình: chúng ta là giáo dân, là đạo dòng, là tu sĩ, là linh mục….nhưng chúng ta có thật sự đáng được kể là người con thi hành ý của Cha trên trời không? Chúng ta sống đạo, chúng ta thi hành các thừa tác vụ như thế nào? trong tinh thần nào: tinh thần con thảo hay tinh thần nô lệ? Chúng ta đã được Thiên Chúa ban cho bao nhiêu là hồng ân, ơn phần hồn (ơn đức tin, các bí tích…) ơn phần xác (sức khoẻ, của cải vật chất, công ăn việc làm, nhà cửa…), chúng ta có biết thể hiện lòng biết ơn của chúng ta với Thiên Chúa là Cha và là Đấng ban ơn không? Coi chừng chúng ta chẳng những sẽ bị xếp sau mà còn bị “thay thế” bởi những người mà chúng ta cứ tưởng rằng họ không phải là con cái Thiên Chúa! Chúng ta đừng quên rằng trong xã hội hiện nay có rất nhiều người không công giáo sống còn tốt hơn chúng ta bội phần.
2. Đức Giê-su là người con mẫu mực và tuyệt hảo của Cha.
    Dụ ngôn hai người con mà Đức Giê-su kể cho chúng ta không thể không dẫn chúng ta đến nhận định này: Đức Giê-su là người con mẫu mực và tuyệt  hảo của Cha. Chính mẹ Giáo hội cũng hiểu như thế khi cho chúng ta đọc đoạn thư Phi-líp-phê của Thánh Phao-lô, chương 2, từ câu 2 đến câu 11. Đức Giê-su đã nói với Cha tiếng “DẠ”, tiếng “VÂNG” ngay từ thuở ban đầu: “NÀY CON XIN ĐẾN ĐỂ THỰC THI THÁNH Ý CHA”  và đã thực thi đến nơi đến chốn mọi thánh ý của Cha. Vì thế mà trên thập gía Người mới có thể công bố: “Mọi sự đã hoàn tất!” Để thể hiện là người con yêu dấu của Cha, đẹp lòng Cha mọi bề, “Đức Giê-su đã không nghĩ phải nhất thiết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế, lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”
    Nếu Đức Giê-su là người con mẫu mực và tuyệt hảo của Cha, thì chúng ta phải lấy Người làm chuẩn cho cách suy nghĩ và hành động, tức cho cách sống của chúng ta. Xưa rày người giáo dân Việt Nam thường chỉ lấy Mười Điều Răn Đạo Đức Chúa Trời và Sáu Điều Răn Hội Thánh làm chuẩn mực, làm điểm qui chiếu trong đời sống đức tin. Đúng ra chúng ta phải lấy Chúa Giê-su làm chuẫn mực, làm Điểm qui chiếu cho mọi suy nghĩ, lời nói, việc làm của chúng ta: “Tôi có suy nghĩ , nói năng và hành động giống như  Đức Giê-su không?”  Đó là câu hỏi mà chúng ta phải đặt ra cho mình mỗi ngày, để định hướng cuộc sống hoặc điều chỉnh những sai lạc của chúng ta.
NGUYỆN
Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con cảm tạ Cha đã ban Con Một Cha cho chúng con. Người chẳng những là Cứu Chúa của chúng con mà còn là Gương Mẫu cho chúng con noi theo. Xin Cha giúp chúng con biết suy nghĩ, nói năng và hành động như Người!
Lạy Chúa Giê-su là Sư Phụ của chúng con, xin Chúa dạy chúng con biết học tập cùng Chúa trong cách sống làm con thảo của Cha trên trời!
Lạy Chúa Thánh Thần là Đấng hướng dẫn thần linh, xin Chúa soi sáng, hướng dẫn, hỗ trợ chúng con, để chúng con biết gọi Thiên Chúa là “Abba” (Cha ơi, Ba ơi, Bố ơi) và biết sống tư cách là con thảo của Cha và tư cách là anh em của mọi người (xem Frère de tous  của René Voilaunme).
Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội

 

TN24-C82. TÌNH YÊU CAO VỜI

CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 15, 1- 32
 

Đạo công giáo là đạo tình thương. Thiên Chúa là tình yêu như thánh Gioan định nghĩa và: TN24-C82

Đạo công giáo là đạo tình thương. Thiên Chúa là tình yêu như thánh Gioan định nghĩa và bởi vì đạo phát từ Thiên Chúa là tình yêu, nên đạo công giáo được gọi là đạo tình yêu hay đạo yêu thương. Nếu, chúng ta có dịp đọc Tin Mừng của Đức Giêsu, đọc rồi suy gẫm, đọc đi đọc lại, lắng đọng để Chúa Thánh Thần hướng dẫn và soi chiếu, chắc chắn chúng ta nhận ra rằng Thiên Chúa yêu thương con người, yêu đến hy sinh mạng sống và yêu đến chết trên thập giá. Chúa yêu mọi người không loại trừ bất cứ người nào, Ngài yêu thương cả những kẻ tội lỗi biết sám hối ăn năn. Ba bài đọc Chúa nhật XXIV thường niên, năm C sẽ cho chúng ta cái nhìn đích thực về con người nhân từ của Chúa Giêsu.
Trong cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu những người chống đối, bắt bẻ và lên án Người là nhóm Pharisêu và các Kinh sư. Những người này tự cho mình là vô tội, do đó, họ ghét, họ khinh bỉ, lên án những người tội lỗi. Chính vì thế, khi thấy Chúa Giêsu đồng bàn, tiếp đón những người tội lỗi, yếu hèn thì họ lẩm bẩm kêu trách Người. Trước những lời kêu ca, trách móc và lên án của những nhóm quá khích này, Chúa Giêsu không bào chữa, không trả lời trực tiếp nhưng Người đem ra ba dụ ngôn : con chiên bị lạc, đồng bạc bị đánh rơi và người con hoang đàng để nói lên tấm lòng nhân hậu và niềm hạnh phúc, niềm vui của Thiên Chúa dành cho những người tội lỗi biết ăn năn hối cải, sám hối. Đọc Tin Mừng chúng ta hết sức ngỡ ngàng và sung sướng vì Thiên Chúa luôn yêu thương con người, đặc biệt yêu thương những con người bé nhỏ, những con người thấp cổ bé họng, những con người bị gán cho là tội lỗi. Con người luôn là đối tượng của Thiên Chúa. Người gọi tên từng người, Người hiểu biết từng con chiên. Người đến để con người được sống và sống dồi dào. Mục đích của Chúa Giêsu là :”…đến tìm kiếm những gì đã mất “. Con người thật là quí hóa trước mặt Chúa. Người tìm kiếm con người và không muốn bất cứ một ai bị hư mất. Thiên Chúa yêu thương người tội lỗi, Người sẵn sàng để chín mươi chín con chiên và đi tìm một con chiên bị lạc mất. Khi đã tìm được chiên lạc, Người vui mừng vác chiên trên vai, sung sướng và hạnh phúc. Chúa yêu thương kẻ lầm đường lạc lối, kẻ lầm lỡ, và như người đàn bà siêng năng, lanh lợi, Người đốt đèn, quét nhà tìm cho bằng được đồng bạc bị đánh rơi và khi đã tìm được đồng bạc đánh mất, Người hân hoan chia sẻ với những người xung quanh. Chúa yêu thương tội nhân như người cha già hiền lành, nhân hậu, Người ra tận ngõ tìm chờ con và khi đã tìm thấy rồi ông vui sướng hân hoan cho giết bê béo để thết đãi mọi người chung vui với ông vì con ông mất nay đã tìm thấy, con ông chết nay đã hồi sinh. Chúa yêu thương con người và tuyệt đỉnh của yêu thương là sự tha thứ. Như người cha già tha thứ cho người con thứ dù người con này phung phí, chơi bời nhưng hành động quyết tâm quay trở lại gia đình, quay trở về với người cha già, người cha hoàn toàn yêu thương và tha thứ.
Thiên Chúa là Cha của chúng ta, là Cha của mỗi người. Để nhận biết và hiểu được Người, chúng ta phải biết chúng ta là ai. Vâng, chúng ta là con cái của Người, nên lúc nào Người cũng yêu thương chúng ta dù có những lúc chúng ta ngỗ nghịch từ bỏ Người. Thiên Chúa luôn đến với chúng ta bằng chính ân huệ của Người. Mỗi khi đến nhà thờ, Thiên Chúa luôn đón mời chúng ta bằng tình thương vô cùng cao quí của Người. Người mời chúng ta rước lấy chính Mình Máu của Người làm lương thực nuôi sống chúng ta. Chính cái chết trên thập giá mà mỗi lần Linh mục tái diễn lại cuộc hy tế của Chúa Giêsu thì chúng ta phải hiểu rõ rằng tình yêu quả thực mạnh hơn sự chết và sự tha thứ của Chúa khi con người thật lòng sám hối ăn năn là một của lễ lớn lao không gì so sánh nổi.Chúa đã tha thứ cho chúng ta, Người cũng xin chúng ta hãy tha thứ cho anh em.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con có tấm lòng quảng đại biết tha thứ cho nhau như Chúa đã tha thứ cho chúng con. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
 

TN24-C83. YÊU THƯƠNG VÀ THA THỨ

(CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN, NĂM C)
 (Linh Mục Anphong Trần Đức Phương)
 

Chúa Nhật hôm nay nói đến tình yêu thương và tha thứ của Thiên Chúa đối với những tội: TN24-C83

Chúa Nhật hôm nay nói đến tình yêu thương và tha thứ của Thiên Chúa đối với những tội nhân biết thật lòng ăn năn hối cải: “Trên Trời sẽ vui mừng vì một người tôi lỗi ăn năn hối cải hơn là chín mươi chín người công chính không cần ăn năn hối cải.” (Luca 15: 7).
Bài Đọc I (Xuất Hành 32: 7-11, 13-14): Trong cuộc hành trình trở về Đất Hứa, Dân Chúa đã phạm tội phản nghịch cùng Chúa, thờ “Bò Vàng”, thờ các thần ngoại bang, nên Chúa có ý định sửa phát nặng nề, nhưng nhờ lời ông Moisê khẩn thiết van xin, Thiên Chúa đã tha thứ cho họ. Bài Đọc II (1 Timôthê 1: 12-17): Lòng thương xót của Chúa sẵn sàng tha thứ các tội nhân biết ăn năn sám hối, bỏ đàng tội lỗi để trở về ‘đường ngay nẻo chính’. Thánh Phaolô đã khiêm nhường đưa ra một thí dụ cụ thể là chính ngài cũng được Chúa tha thứ và thánh hóa để ngài có thể trở nên một tông đồ nhiệt thành. Bài Phúc Âm (Luca 15: 1-32): Trong đoạn này, Chúa Giêsu đã kể ba dụ ngôn rất cảm động để nói lên Chúa là Người Cha Nhân Hậu, luôn chờ đợi mọi người tội lỗi ăn năn hối cải để được ơn tha thứ và trở lại làm con con cái Chúa, như người con phung phá xin trở về với Cha mình.
Trên con đường dài vất vả  vượt qua sa mạc khô cằn, Dân Chúa đã nhiều lần phạm tội cùng Chúa, nhất là tội bỏ Chúa “thờ bò vàng.” Chúa đã đe dọa phạt họ, nhưng ông Moisê xin Chúa thứ tha, và Dân Chúa đã sám hối, ăn năn, nên Chúa đã tha thứ, và tha thứ nhiều lần. Sau cùng, Dân Chúa cũng tiến được về Đất Hứa. (Xem Bài Đọc I).  Trong cuộc hành trình đức tin trường kỳ và đầy gian khổ, chúng ta cũng gặp biết bao cám dỗ, và vì tính yếu đuối của con người, chúng ta cũng nhiều lần phạm tội mất lòng Chúa và anh em mình. Nhưng, nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Giêsu, Thiên Chúa Cha luôn thương xót tha thứ, khi chúng ta nhận ra tội của mình, và quyết tâm hối cải. Thánh Phaolô nhấn mạnh điều đó trong Bài Đọc II, khi ngài viết: “Chúa Giêsu Kitô đã đến trần gian để cứu độ những người tội lỗi, trong số đó có Cha là người thứ nhất…”
Trong bài Phúc Âm, để trả lời cho những người Biệt Phái và Luật Sỹ kết án Chúa : “Ông này tiếp đón những người tội lỗi, lại còn ngồi ăn uống với họ!” Chúa đã đưa ra ba dụ ngôn để trả lời họ và nói lên lòng Chúa là Người Cha Nhân Từ biết bao, sẵn sàng tha thứ cho tất cả những người tội lỗi đến với Chúa để xin ơn tha thứ, mặc cho áo trắng tinh tuyền, và cho được dự tiệc Nước Trời.
Trước khi dâng Tiệc Thánh Thể, chúng ta cùng thú nhận tội lỗi qua kinh Cáo Mình, và nhờ lời Mẹ Maria và các Thánh bầu cử, xin Chúa thứ tha tội lỗi chúng ta, và tha thiết cầu xin “Xin Chúa Thương Xót Chúng con…” Bí Tích Hòa Giải (Giải Tội) cũng là một kỳ công của lòng Chúa thương xót  để tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta, khi chúng ta nhận ra mình là người có tội, ăn năn sám hối, xưng ra các tội lỗi với Chúa qua vị đại diện của Chúa có chức Linh Mục, rồi quyết tâm chừa tội, và làm việc đền tội bằng cách dâng mọi đau khổ của mình hợp với công nghiệp của Chúa Giêsu đã hy sinh chết trên Thánh Giá để chuộc tội chúng ta. Chúng ta không lợi dụng lòng nhân từ của Chúa để cứ lao mình vào đường tội lỗi, nhưng chúng ta cảm nghiệm sự yếu đuối để xin Chúa thứ tha và nâng đỡ chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, gìn giữ chúng ta trong ơn nghĩa Chúa luôn.
Noi gương lòng nhân từ của Chúa, chúng ta đừng vội kết án ai, trái lại, hãy yêu thương, nâng đỡ những người trót sa ngã cách này hay cách khác, dù họ là ai, dù là người vợ, người chồng, hay con cái chúng ta. Đừng bao giờ hờn giận, từ bỏ, xa tránh, nhưng yêu thương, nâng đỡ, và cầu nguyện xin Chúa thương cứu vớt.
Chỉ có “Chúa là Đấng Thánh” (Kinh Vinh Danh), còn chúng ta đều là những con người yếu đuối dễ sa ngã, lầm lỗi. Chúng ta cần yêu thương thông cảm, tha thứ cho nhau như trong kinh Lạy Cha chúng ta thường đọc “Xin tha thứ tội lỗi chúng con, như chính chúng con cũng tha cho những người xúc phạm đến chúng con.”
Hơn nữa, như Chúa đã tha thứ cho chúng ta không biết bao nhiêu lần, chúng ta cũng phải tha thứ cho nhau không phải bẩy lần nhưng là bẩy mươi lần bẩy.” (Matthêu 18: 21-29). Thánh Phaolô trong thư gởi giáo dân Côlôssê (3: 13) cũng nhắc nhở chúng ta: “Như Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau…” Yêu thương và tha thứ đưa đến sự hòa hợp; kết án và hận thù đưa đến chia rẽ, và tan vỡ những mối tình cao qúy nhất, dù là tình bạn hay tình yêu gia đình giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái. Biết rõ điều đó, nên những kẻ ác tâm luôn dùng kế ly gián “chia rẽ để trị” và những kể chống đối Chúa và Giáo Hội luôn luôn dùng mọi mưu mô xảo quyệt đưa ra không biết bao nhiêu những tin tức sai lạc, để chia rẽ các Tôn Giáo, chia rẽ hàng Giáo Phẩm và Giáo Dân. Nhưng, những tín hữu của Chúa đều nhận rõ điều này: “Những người có thành tâm thiện chí luôn cố gắng xây dựng sự đoàn kết, yêu thương; còn những kẻ cố gắng đưa ra những tin tức gây chia rẽ, hận thù đều thuộc về mưu mô của những kẻ ác tâm.
Chúng ta hãy cầu nguyện chung cho nhau để chúng ta được đủ ơn Chúa để từ bỏ tội lỗi, “tránh xa dịp tội” (Kinh Ăn Năn Tội) và biết dâng mọi đau khổ, vất vả hàng ngày để đền tội. Chúng ta cũng yêu thương và cầu nguyện cho những người tội lỗi, những kẻ chống đối Chúa và Giáo Hội, kể cả những kẻ bách hại đức tin của chúng ta như Chúa nói: “Các con hãy yêu thương kẻ thù địch, làm ơn cho những người ghét chúng con, chúc lành cho những người nguyền rủa các con, cầu nguyện cho cả những người vu cáo chúng con…”(Luca 6: 27-28). Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu cũng xin Đức Chúa Cha tha thứ cho những kẻ đã lên án bất công và giết Chúa bằng khổ hình Thập Tự Giá: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.”(Luca 23: 34).
Mọi sự đều qua đi với thời gian. Bao quyền lực thế gian, bao đế quốc hùng mạnh từ Đông sang Tây, kể cả Đế Quốc Rôma, chế độ Cộng Sản Vô Thần tại Liên Sô, đã gây nên bao cuộc chiến tranh thảm khốc cho nhân loại, giết chết bao nhiêu triệu người vô tội, cũng đã sụp đổ và qua đi; chỉ có TÌNH YÊU THƯƠNG THA THỨ là vĩnh viễn tồn tại và  và góp phần xây dựng Hòa Bình.

 

TN24-C84. Hãy Chia Vui Với Tôi

Chúa Nhật XXIV Thường Niên C
Lc 15:1-10: 1 Các người thu thuế, cùng những kẻ tội lỗi hết thảy thường lui tới bên Ngài để nghe lời Ngài. 2 Và Biệt phái kêu trách. Họ nói: "Ông ấy tiếp đón quân tội lỗi và cùng ăn với chúng". 3 Ngài mới nói cùng họ ví dụ này, rằng:
4 "Ai trong các ông, giả sử có trăm con chiên và lạc mất một con, há người ấy lại không bỏ chín mươi chín con ngay nơi hoang vắng, mà ruổi theo con chiên lạc, cho đến khi tìm ra con chiên lạc đó ư? 5 Tìm được rồi, há người ấy lại không mừng rỡ, quàng nó trên vai mình, 6 và về đến nhà, lại không gọi cả bạn bè hàng xóm, mà phân phô với họ thế này sao: Bà con hãy chia vui với tôi, tôi may đã tìm thấy con chiên lạc của tôi!? 7 Tôi bảo các ông: Cũng vậy, trên trời sẽ có vui mừng vì một người tội lỗi hối cải, hơn là vì chín mươi chín người công chính, những kẻ không cần phải ăn năn!"
8 Hay là: Bà nào có mười đồng bạc, nếu rủi mất một đồng, há bà ấy lại không chong đèn lên, quét nhà mà tìm moi tìm móc cho kỳ được đó ư? 9 Tìm được rồi, há bà ấy lại không gọi cả bạn bè hàng xóm mà phân phô thế này sao: Bà con hãy chia vui với tôi, tôi đã tìm thấy đồng bạc tôi đánh mất!? 10 Cũng vậy, tôi bảo các ông: Vui mừng ắt ran lên giữa các thiên thần của Thiên Chúa vì một người tội lỗi hối cải!"
 

Sau khi trình bày những điều kiện để có thể đi theo và là môn đệ của Chúa Giêsu, Luca kết luận: TN24-C84.

Sau khi trình bày những điều kiện để có thể đi theo và là môn đệ của Chúa Giêsu, Luca kết luận là “Ai có tai để nghe, hãy nghe” (14:35). Sang chương 15, những người tội lỗi và thu thuế đến gần Chúa Giêsu để nghe Người (15:1). Chủ đề chính của chương nầy, được trình bày bằng ba câu chuyện trong một dụ ngôn, là niềm vui của Thiên Chúa khi tìm thấy lại người tội lỗi hoán cải. Niềm vui nầy được diễn tả qua bữa ăn: Thiên Chúa, người tội lỗi và những người được mời đồng bàn với nhau. Trong chương trước, bữa tiệc của Thiên Chúa dành cho những người nghèo, tàn tật, đui mù (14:15.21-23); ở đây, dành cho người tội lỗi (15:2.23). Như thế, những câu chuyện trong chương 15 nầy bênh vực cho sứ vụ của Chúa Giêsu đối với những người nầy; đồng thời mời gọi những người chống đối Người đến chung vui với những người tội lỗi hoán cải (15:7, 10, 28, 31-32). Bố cục của chương nầy gồm một dẫn nhập bối cảnh chung (15:1-2), và ba câu chuyện: con chiên lạc (cc. 3-7); đồng bạc mất (cc. 8-10); và hai người con (cc. 11-32). Xin đọc chú giải đoạn 15:11-32 trong Chúa Nhật IV Mùa Chay C.
Dẫn nhập của diễn từ dụ ngôn (cc.1-2)
Cấu trúc của dẫn nhập nầy là đối đảo: A. người thu thuế và tội lỗi đến gần Người - để nghe; B. Người Pharisêô và kinh sư lẩm bẩm; A’ Người tiếp nhận họ - ăn uống với họ. Với cấu trúc nầy Luca muốn nhấn mạnh sự kiện là người Pharisêô và kinh sư lẩm bẩm vì Chúa Giêsu tiếp cận và ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi. Hai động từ “đến gần” và “lẩm bẩm” ở thì quá khứ chưa hoàn thành (imparfait) chỉ sự kiện là người thu thuế và tội lỗi vẫn lui tới thường xuyên với Người, và nhóm Pharisêô và kinh sư cứ lẩm bẩm mãi. Hành động lẩm bẩm nầy đã gặp trong một bối cảnh tương tự (5:27-32; 7:39) và lại cả sau nầy nữa (19:7). Họ trách Người không phải sự đón tiếp, mà sự đồng bàn với những người ấy; nghĩa là chia sẻ với họ cùng một sự hiệp thông. Có lẽ họ nghĩ chỉ mình họ mới được quyền ăn uống với Người (x. 7:36; 14:1). Chúa Giêsu nhận lời mời ăn uống của nhóm Pharisêô, và Người cũng không từ chối ăn uống với những người tội lỗi nầy (x. 5:27;.29 và ở đây).
Mục tiêu những người thu thuế và tội lỗi lui tới với Người là “để nghe Người”, chỉ lời giảng dạy của Người (5:1.15; 6:49...). Tuy nhiên, trong văn mạch đoạn nầy, chính những người Pharisêô và kinh sư mới thật sự là những người cần lắng tai nghe, vì họ là đối tượng của những câu chuyện dụ ngôn Người sắp nói “Người nói với họ” (c. 3).
Con Chiên Lạc (cc. 3-7)
Cấu trúc chung của ba câu chuyện: - có một điều gì đó - mất - tìm lại được - vui mừng và chia vui - kết luận. Mỗi câu chuyện có một đặc điểm riêng. Câu chuyện trước tiên là một con chiên lạc. Động từ “mất” được dùng cách đặc biệt trong chương nầy (cc. 4[2x].6.8.9.17.24.32). Nó không chỉ nói đến sự lạc mất của con chiên hay đồng bạc, mà cả sự mất mạng do đói khát (c. 17). Ý tưởng mất mạng nầy, nói cách khác là bị hủy diệt, được Luca dùng cách minh bạch hơn ở nơi khác (13:3.5.33; 17:27.29.33; 19:10.47). Bởi đó, con chiên “bị lạc” bao hàm luôn những tình cảnh nguy hiểm của nó: đói, bệnh tật, rơi xuống vực thẳm, bị sói vồ… Hành động của người chăn chiên là “bỏ lại” chín mươi chín con chiên, “đi tìm” ở thì hiện tại diễn tả hành động đeo đuổi kéo dài, cho đến khi nào hoàn tất việc tìm thấy “cho đến khi tìm được” (c. 4; điểm nầy khác với Mt 18:12). Động từ “tìm thấy” chuyển tiếp ý tưởng của hai câu (c. 4 và 5).
Những hành động tiếp theo sau khi tìm thấy là “vác chiên trên vai” đi về nhà trong vui mừng, và “cùng kêu” bạn bè và bà con đến chung vui. “Vui mừng” và “đi”về nhà ở thể động tính hiện tại (participle), nói lên sự vui mừng kéo dài từ khi tìm thấy cho đến khi về nhà và mời mọi người đến chung vui. “Vui mừng”, cả danh từ (1:14) lẫn động từ (1:14.28; 6:23; 10:20; 13:17; 19:37) trong Luca thường diễn tả tâm tình hoan lạc trong tâm hồn vì những điều kỳ diệu Thiên Chúa thực hiện. Trong 1:58, người ta đến chúc mừng với bà Elizabeth vì Thiên Chúa đã tỏ lòng thương xót cho bà và cho bà một người con trong tuổi già. “Vui mừng” nầy là một trong những chủ đề chính của chương nầy: vui mừng (cc. 5.7.10.32), cùng chung vui (cc. 6.9). Ở đây, Thiên Chúa cùng kêu anh em và bạn bè đến để cùng chung vui, vì chính Người tìm được chiên lạc. Chiên lạc được tìm ra, nghĩa là cứu sống; đưa về lại với đàn chiên, nghĩa là về lại với sự hiệp thông. Hai chữ “cùng-” nói lên niềm vui muốn được san sẻ, vì niềm vui quá lớn. Tính từ sở hữu “của tôi” được dùng để chỉ những người tội lỗi là thuộc về Người, và chính Người đã đích thân đi tìm và tìm được. Như thế, vui mừng vì “tìm được chiên lạc” là việc của Thiên Chúa: người tội lỗi được đem về lại trong sự hiệp thông với Người (x. 6:9).
Câu kết luận của Luca (c. 7) khác với Matthêô (Mt 18:4). Luca có tính cách khuyến dụ: kêu gọi sự hoán cải nơi người tội lỗi; trong khi Matthêô nói đến ý muốn cứu độ của Thiên Chúa. Phần đầu của câu 7 nói đến “niềm vui trên trời”, chỉ niềm vui nơi Thiên Chúa. Trước đoạn nầy Chúa Giêsu kêu gọi hoán cải với cung giọng đe doạ (10:13; 11:32). Tiếp theo đó, Người chỉ đường cho là nếu hoán cải, sẽ không bị hủy diệt” (13:3.5). “Hủy diệt”, động từ dùng chung chỉ “lạc mất” của con chiên và đồng bạc. Đến đây, người tội lỗi “hoán cải” liên tục, không chỉ khỏi bị hủy diệt, mà Thiên Chúa còn vui mừng về họ nữa. Hoán cải trong trường hợp nầy là nhận ra mình sai lầm như chiên lạc và để Thiên Chúa đưa mình về lại với Người, vì Người quan tâm và chăm sóc đến chiên của Người. 
Phần thứ hai của câu 7 khó giải thích. Những “người công chính” ở đây Luca ám chỉ đến những người Pharisêô và kinh sư (x. 16:15; 18:9)? Và họ không cần hối cải? Có thể Luca không ám chỉ như thế. Trong các kết luận của ba câu chuyện, Luca đều nói đến sự mời gọi chung vui. Thái độ của người con trưởng (15:28-30), ở đây mới ám chỉ người Pharisêô và kinh sư, cho thấy anh chưa phải là người hoàn hảo, và cần hoán cải. Câu chuyện kết thúc với lời giải thích và mời gọi của người cha (15:32), và không cho biết người con trưởng nầy sẽ vào dự tiệc chung vui hay không; nghĩa là chờ anh hoán cải. Đây cũng là dụng ý của các câu chuyện. Ngoài ra, trong một câu tương tự, ba từ “người công chính”, “tội lỗi” và “hoán cải” được dùng (5:32), ở đó Luca cũng không ám chỉ người Pharisêô là người công chính, mà chỉ muốn nhấn mạnh sứ vụ kêu gọi người tội lỗi hoán cải của Chúa Giêsu. Như thế, câu kết luận có thể hiểu là Thiên Chúa vui vì cả người tội lỗi lẫn người công chính. Nhưng Người vui về người tội lỗi hoán cải hơn 99 người công chính, vì sự hoán cải của họ làm cho đàn chiên của Người đã đủ lại số 100 như ban đầu. Niều vui của Chúa Giêsu nên sung mãn khi Người tìm lại được tất cả những người tội lỗi.
                   Người tội lỗi hoán cải là niềm vui lớn lao của Thiên Chúa. Người chẳng muốn ai phải hư mất. Hãy có tấm lòng của Thiên Chúa: vui vì người tội lỗi trở lại.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

TN24-C85. Chúa Nhật 24 Thường Niên, C

Sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 15:1-32)
 

Bài Tin Mừng hôm nay có ba dụ ngôn được Chúa Giê-su sử dụng để nói lên tâm tình của Thiên: TN24-C85

          Bài Tin Mừng hôm nay có ba dụ ngôn được Chúa Giê-su sử dụng để nói lên tâm tình của Thiên Chúa, tâm tình mừng vui vì tìm lại được những con cái đã lạc đường, mất tích hoặc đã chết.  Dùng ba dụ ngôn để chỉ diễn tả sự mừng vui, đó là cách văn hóa Do-thái muốn nói với chúng ta rằng niềm vui gấp ba lần ấy quả thực là vĩ đại không tưởng tượng nổi.
          Để hiểu phần nào mức độ lớn lao của niềm vui, chúng ta thử nhìn vào một số chi tiết trong ba câu truyện nói về hành động tìm kiếm và hành động biểu lộ niềm vui.  Trước hết những hành động tìm kiếm nói lên giá trị của những gì đã mất đối với chủ nhân.  Thực ra xét theo khách quan, thì con chiên lạc, đồng bạc mất và ngay cả đứa con hoang đàng tự chúng không đáng để chủ nhân phải hành động “điên rồ”: người chăn chiên bỏ lại chín mươi chín con chiên khác; người phụ nữ thắp đèn, quét nhà, moi móc từng góc nhà; người cha suốt ngày đứng tựa cửa, héo hắt chờ đợi thằng con.  Nhưng ở đây chúng ta không thể xét theo giá trị khách quan, mà phải xét theo giá trị tình cảm.  Sở dĩ con chiên, đồng bạc hay người con có giá trị là vì tình cảm yêu thương của chủ dành cho chúng, nói khác đi giá trị được đo lường bằng trái tim chứ không phải bằng tiền bạc.  Vì thế, có mệt nhọc tìm kiếm là bởi chủ nhân không thể chịu đựng được những mất mát to lớn ấy.  Càng mất công tìm kiếm chờ đợi thì niềm vui khi tìm thấy càng lớn lao.
          Điểm thứ hai, hành động ăn mừng cho thấy mức độ lớn lao của niềm vui.  Sau khi tìm lại được những gì đã lạc đã mất, chủ nhân ăn mừng.  Chủ nhân muốn người khác chia sẻ niềm vui của họ.  Nghèo hèn như người chăn chiên hay người phụ nữ thì chỉ “mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: ‘xin chung vui với tôi’”.  Còn giàu có như người cha trong dụ ngôn Người con hoang đàng thì “bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để mở tiệc ăn mừng”.  Mỗi chủ nhân tùy theo hoàn cảnh muốn cho thật nhiều người chung vui với họ, vì niềm vui quá lớn lao nên một mình không chịu nổi mà phải đem chia sẻ với người khác.
          Hành động tìm kiếm và ăn mừng ấy có thể đưa chúng ta tới nhiều kết luận khác nhau, nhưng có lẽ đẹp nhất là về tình yêu của chủ nhân đối với những gì họ đã tìm lại được.  Chúng ta ngưỡng mộ mối tương quan tốt đẹp giữa người chăn chiên với con chiên lạc, giữa người phụ nữ với đồng bạc bị mất.  Chúng ta khâm phục lòng kiên nhẫn, quảng đại và tha thứ của người cha hiền dành cho đứa con hư đoảng trở về.  Những mối tương quan thân thiết và những tấm lòng yêu thương trong ba dụ ngôn cốt là để nói lên tình Chúa yêu thương chúng ta.  Khi chúng ta bị lạc bị mất do tội lỗi và ma quỷ thì Chúa tìm đủ cách để đi tìm và dẫn chúng ta trở về.  Người muốn chúng ta xác tín rằng Người thực sự vui và cả triều thần thiên quốc cùng vui với Người mỗi khi chúng ta “đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy”.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Chúng ta có nghĩ rằng những dụ ngôn này vẫn xảy ra trong cuộc đời Ki-tô hữu chúng ta không?  Mỗi khi thống hối, ăn năn và đến với Bí tích Giải tội, chúng ta cứ tưởng tượng như đang thấy hình ảnh Chúa hớn hở cùng với các thiên thần và các thánh, chắc chắn chúng ta sẽ thực lòng hơn và quyết tâm sửa đổi hơn.  Chúng ta ai chẳng yếu đuối lầm lỗi.  Những tội lỗi và thiếu sót của chúng ta tuy không phải là phương tiện, nhưng luôn là những cơ hội để chúng ta thanh luyện phát triển lòng yêu mến Chúa, đồng thời để chúng ta cảm nghiệm được tình yêu lớn lao và vô điều kiện của Chúa.  Chúng ta cũng hãy nhận biết giá trị của con người chúng ta trước mặt Chúa và cố gắng sống xứng đáng với sự cao quý của chúng ta.                                   
Lm. Dominic TTL
Ngày 8-9-2010

 

TN24-C86. XẦM XÌ PHẢN ĐỐI

Chúa nhật 24 thường niên C-2010
Lc 15,1-32
 

Khi suy niệm bài Tin mừng hôm nay, chúng ta ít nhiều đều cảm nghiệm rằng: Môi trường ngày: TN24-C86

Khi suy niệm bài Tin mừng hôm nay, chúng ta ít nhiều đều cảm nghiệm rằng:
Môi trường ngày nay chúng ta đang sống chẳng khác gì môi trường Đức Giêsu sống ngày xưa mà bài Tin mừng thánh Luca vừa mô tả. Đó là người ta xầm xì phản đối hay lớn tiếng lên án chỉ trích lẫn nhau.
Tại sao như vậy? Tại người ta không hiểu nhau, không nhìn thấy cái hay cái đẹp của nhau và không chấp nhận sự khác biệt của nhau.
Vì chối bỏ sự khác biệt, nên người già đòi người trẻ phải sống như người già, người trẻ buộc người già phải cư xử như người trẻ, người Pharisêu bắt Đức Giêsu phải sống như người Pharisêu.
Vì không hiểu nhau, nên già kết án trẻ là kẻ đua đòi mất nết.., trẻ cho già là bảo thủ lỗi thời.., người Pharisêu chê trách Đức Giêsu là kẻ “ăn uống và giao du với hạng tội lỗi”, Giáo hội Công giáo và Chính thống ra vạ tuyệt thông lẫn nhau..v.v.
Vì không nhìn thấy cái tốt cái đẹp của nhau, nên người con cả đã nặng lời với người cha khi mở tiệc ăn mừng đón người em đi hoang trở về, có một thời các Thừa sai ngoại quốc cho rằng thờ cúng tổ tiên là đi ngược với đạo lý Phúc Âm, còn người lương dân thì hiểu lầm: “Theo đạo Công Giáo là bỏ ông bà cha mẹ tổ tiên.”
Muốn hiểu nhau, phải khiêm nhường đặt mình vào chỗ đứng và môi trường sống của nhau: Trẻ muốn hiểu già phải nhập vai người già, già muốn hiểu trẻ phải đi với người trẻ. Người Pharisêu muốn hiểu Đức Giêsu phải tiếp xúc gặp gỡ Đức Giêsu.
Muốn không lên án nhau, phải tôn trọng sự khác biệt của nhau và phải nhìn thấy cái tốt cái đẹp của nhau đ khích lệ, động viên.
Nếu hiểu nhau và tôn trọng sự khác biệt của nhau, người ta sẽ cảm thông với nhau, chia vui sẻ buồn cùng nhau.
Cảm thông và chia sẻ buồn vui giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái, người già và người trẻ…, đ tránh cảnh nước mất nhà tan.
Cảm thông và chia sẻ buồn vui với người đàn bà khi mất tiền và tìm thấy tiền, đ rồi không cho bà là kẻ tham lam keo kiệt.
Cảm thông và chia sẻ buồn vui với chủ chiên khi mất chiên cũng như khi tìm thấy chiên, đ rồi không chê trách ông là người khờ dại, chẳng biết tính toán khi bỏchín mươi chín con chiên không thất lạc đ đi tìm cho bằng được con chiên lạc mới thôi.”
Cảm thông và chia sẻ buồn vui với người cha khi đứa con bỏ nhà đi hoang cũng như khi nó ăn năn sám hối trở về đoàn tụ với gia đình, đ rồi không lên tiếng phê bình ông là người cha nhu nhược trong việc giáo dục con cái.
Cảm thông và chia sẻ buồn vui giữa giám mục và linh mục, cha chính và cha phó, linh mục triều và linh mục dòng, cha xứ và giáo dân.., đ mọi người nhận ra tình thương và sự hiện diện của Thiên Chúa trong Giáo hội.
Cảm thông và chia sẻ buồn vui với Thiên Chúa và thần thánh trên trời khi một người tội lỗi ăn năn hối cải trở về làm hoà với Thiên Chúa và tha nhân, đ sống trọn vẹn màu nhiệm hiệp thông đời này và đời sau.
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn hiểu mình và biết người, đ chúng con cảm thông với nhau và chia sẻ trách nhiệm cho nhau, hầu góp phần xây dựng Giáo hội và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hữu

 

TN24-C87.  MẤT – TÌM – MỪNG

Trong cuộc đời truyền giáo, Chúa Giêsu có nhiều dịp tiếp xúc nhiều hạn người, nhiều tầng lớp xã: TN24-C87

Trong cuộc đời truyền giáo, Chúa Giêsu có nhiều dịp tiếp xúc nhiều hạn người, nhiều tầng lớp xã hội. Theo Tin Mừng, Chúa đặc biệt ưu ái người nghèo, nghèo vật chất và nhất là nghèo phẩm giá. Chúa lui tới, gặp gỡ, ăn uống với họ. Chúa bày tỏ tình yêu đối với họ là tình yêu thương xót, thông cảm, bao dung, tha thứ và đón nhận. Chúa đi ngược hẳn lối suy nghĩ của những người lãnh đạo trong đạo, ngoài đời của xã hội Dothái đương thời. Họ khinh miệt những người nghèo. Họ xa tránh và gọi những người nghèo ấy là “phường tội lỗi”.
Hôm nay, bằng ba dụ ngôn, Chúa dạy những “nhà lãnh đạo Dothái” bài học của lòng yêu thương thông cảm.
I. MẤTTÌMMỪNG
Bài Tin Mừng hôm nay, với ba dụ ngôn, để diễn tả nỗi lòng yêu thương cao cả của Thiên Chúa, có nhiều động từ được Chúa Giêsu lặp đi lặp lại, đó là những động từ: “mất” (6 lần), “tìm” (8 lần), “mừng” (8 lần).
 
  • Người ta bị mất, người ta đi tìm. Tìm thầy, người ta vui mừng.
  • Cái bị mất càng quý giá, càng phải tìm. Tìm thấy, nỗi vui mừng càng lớn.
Con người lưu lạc khỏi vòng tay Thiên Chúa, Thiên Chúa lạc mất con người. Cả dòng lịch sử cứu độ trải dài hàng thế kỷ là hành động của Thiên Chúa tình yêu đi tìm con người. Bởi thế, dòng lịch sử cứu độ đã ghi một dấu ấn tích cực, đó là dấu ấn của cả Hội Thánh Chúa và biết bao nhiêu anh chị em đã đáp lại sự tìm kiếm của Chúa.
Con người, đối với Thiên Chúa, đó là quà tặng quý giá dành cho chính bản thân Người. Bởi con người đáng quý, cho nên sự bội nghĩa vong ân của họ gây nên nỗi đau lớn nơi lòng Thiên Chúa. Một khi Thiên Chúa đã tìm thấy con người qua sự đáp trả của họ, đó là một niềm mừng vui không xiết. Chúa Giêsu diễn tả niềm vui này bằng nhiều hình ảnh:
- Người chủ chiên, sau khi tìm thấy con chiên tự ý bỏ đàn ra đi, đã “vui mừng vác chiên lên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: ‘Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc”.
- Người phụ nữ cất mọi công sức đi tìm đồng bạc bị lạc mất: “Đốt đèn, quét nhà, tìm kỹ lưỡng cho đến khi tìm thấy”. Khi tìm thấy, “bà mời các chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: ‘Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm thấy đồng bạc tôi bị mất”.
- Nhất là người cha nhân hậu, sau bao năm mỏi mòn trông đợi đứa con phụ nghĩa bạc tình, ông vui mừng hết sức khi tìm thấy con ông trở về. Niềm vui của ông vỡ òa trong ngày chính ông được chạm đến cuộc đời đứa con hư hỏng: “Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu, hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giày vào chân cậu. Hãy bắt con be béo làm thịt để chúng ta ăn mừng, vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”.
Ba động từ MẤT – TÌM – MỪNG xuyên suốt ba dụ ngôn, trở thành một tình ca hay, ca ngợi lòng yêu thương vừa kỳ diệu, trường kỳ, sâu thẳm trong hành động tìm kiếm con người của Thiên Chúa, vừa cho thấy: Tội lỗi đáng ghét, đáng loại trừ, nhưng người có tội, dù tội của họ nặng đến mức độ nào, vẫn đáng thương, đáng được tha thứ một khi họ biết ăn năn.
Một con chiên lạc, một đồng bạc bị mất, một đứa con hư hỏng. Thực ra đó là hình ảnh của loài người tội lỗi, là linh hồn con người cần được tình yêu tha thứ của Chúa đón nhận. Linh hồn còn quý giá hơn bội lần đối với con chiên, quý giá hơn đồng bạc, quý giá hơn đứa con hoang đàng. Bởi vậy, một khi tìm lại được linh hồn con người, thì không phải chỉ cả nhà vui, người chủ vui, hàng xóm vui, nhưng cả thiên đàng đều vui: “Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải”.

II. THÁI ĐỘ NÀO CHO CHÚNG TA?
Thứ nhất: Biết mình có tội.
Cả vô tình lẫn cố ý, nhiều lần ta trở thành “người anh cả” trong dụ ngôn thứ ba, đã không thể thông cảm, không thể đón nhận anh em mình đứng lên sau khi đã vấp ngã, lại còn ganh ghét, lên án, kết tội. Đó là thái độ của những biệt phái và luật sĩ mà bài Tin Mừng nhắc đến nói riêng, các nhà lãnh đạo trong đạo ngoài đời của xã hội Dothái nói chung. Chính thái độ loại trừ một cách độc ác này đã “bị” Chúa dạy liên tiếp bằng ba dụ ngôn đáng giá, để nhắc nhở họ về tình trạng tội lỗi của chính họ. Họ cũng cần được tha thứ, cũng cần được Thiên Chúa yêu thương đón nhận như mọi người. Họ phải khôn ngoan nhìn mình để khám phá con người thực của mình hơn là nhìn người anh em để đổ vạ, để lên án.
Hơn bao giờ hết, chính lúc này đây, lúc mà ta đang lắng nghe và suy niệm Lời Chúa, hãy biết rằng, Chúa dạy ta đừng xét đoán, đừng lên án anh em, bởi không phải anh em có tội, nhưng là chính bản thân ta có tội. Chúa đang dạy ta hãy cúi đầu nhìn nhận mình tội lỗi mà ăn năn tội và cầu xin ơn tha thứ như lời thú nhận của người con thứ trong dụ ngôn thứ ba: “Thưa Cha, con thật đắc tội với Cha”.
Thứ hai: Đừng đánh mất hy vọng.
Dù ta xấu thế nào, tội nặng đến đâu, ta vẫn không có quyền thất vọng. Hãy tin mãnh liệt rằng, trước khi ta trở về, Chúa đã đi tìm ta. Chẳng những Chúa không bỏ rơi người có tội, ngược lại Chúa chủ động đi tìm. Chúa tìm đến lúc tìm được mới thôi. Ngày nào ta còn xa Chúa, ngày ấy Chúa còn mòn mỏi trông ngóng, chờ đợi, đau khổ. Chúa tìm ta, Chúa cần ta, Chúa thương ta, Chúa nâng niu ta. Một khi đã tìm lại được ta, Chúa không chỉ đón nhận như đón nhận người con ân hận trở về. Nhưng lòng Chúa mở hội, lòng Chúa vui mừng khôn tả.
Ta không có quyền thất vọng trước tình yêu hãi hà của Chúa. Tại sao ta lại thất vọng trong khi Chúa đang tha thiết chờ đợi ta trở về cùng Chúa? Tại sao ta không xác tín rằng, với ơn Chúa, ta sẽ có đủ nghị lực đứng lên trở về với Chúa? Người con hoang đàng trong dụ ngôn thứ ba toàn làm điều xấu, chỉ duy nhất có một hành động đẹp mà thôi: Đứng lên trở về cùng cha. Dẫu chỉ một, nhưng hành động ấy quá đủ để anh lại được ngự giữa tình yêu của cha. Dù ta phạm tội đến mức độ nào đi nữa, thì cũng hãy dứt khoát thực hiện một hành động rất đẹp mà người con hoang đàng đã thực hiện: Ra đi, trở về cùng Cha và thưa với Cha rằng: Lạy Cha, con đã lỗi phạm đến Cha. Hãy nhớ một điều rất quan trọng: Thất vọng là động lực nguy hiểm lôi kéo ta càng ngày càng xa Chúa. Do đó, thất vọng càng nhấn chìm ta. Càng đẩy ta lún sâu vào vũng bùn dơ bẩn của tội lỗi. Thất vọng là giết chết cuộc đời mình, giết chết tương lai vĩnh cửu của mình, giết chết cơ hội trở về với tình yêu của Chúa.
Thứ ba: Tin vào khả năng mình sống thánh thiện.
Ai trong chúng ta cũng có khả năng làm việc thiện. Đó là thực tế. Ngay cả một người dù bậm trợn nhất, xấu xa nhất, thì nội tâm anh ta vẫn khao khát hướng về sự thiện.
Tin vào khả làm việc thiện, sẽ đưa ta tới một niềm tin quan trọng khác: Ta có thể đứng lên thay đổi đời sống và hoán cải lòng mình. Hình tượng người con hoang đàng quyết trở về với cha của anh là bằng chứng mà Chúa đã dùng để nhắc ta hãy tin vào khả năng mình nên thánh thiện. Lịch sử Hội Thánh đã ghi nhận nhiều tấm gương sống đúng như Lời Chúa dạy qua hình ảnh người con hoang đàng. Chẳng hạn: thánh Phêrô, thánh Âugustinô, Thánh Phanxicô Asisi, á thánh Charles de Foucauld… Tất cả những con người thánh ấy, đều đã có một thời gian sai phạm, nhưng đã tự tin đứng lên về cùng Chúa. Họ đã thành công. Họ đã nên thánh. Chính tình yêu của Chúa đã trao cho họ động lực hoán đổi đời mình. Cũng vậy, Chúa vẫn bao bọc đời ta bằng tình yêu triều mến của Chúa. Tin tưởng Chúa không bỏ ta, ta sẽ đủ nghị lực, đủ mạnh mẽ mà dứt khoát giả từ tội lỗi, trở về cùng Chúa..
 Lm. VŨ XUÂN HẠNH

 

TN24-C88.  ĐỨC GIÊSU ĐI TÌM CON CHIÊN LÁC

Lc 15, 1 - 32
 

Là dụ ngôn. Con chiên bị lạc - Không có trí khôn - không biết mình đi lạc - không biết trở về nói: TN24-C88

Là dụ ngôn. Con chiên bị lạc - Không có trí khôn - không biết mình đi lạc - không biết trở về nói chi là sám hối-hối cải-không tìm thì mất luôn.
Đồng bạc-vô tri vô giác.
Con người-có trí khôn-có tự do-biết mình đi lạc-biết trở về , quyết tâm thật lờng sám hối và chừa cải-không bắt buộc"vác trên vai" đem về được. Không tự mình muốn và quyết tâm thì THIÊN CHÚA cũng chịu thua và thực tế là đúng vậy.
Luca kết luận bằng một câu giống y nhau ở cuối cả hai dụ ngôn: "Trên trời vui mầng vì một người tội lỗi hối cải" nói lên đó là ý chính mà Luca muốn chúng ta quan tâm.
Dụ ngôn là dụ ngôn. Kể một dụ ngôn để nói lên một "ý". Ý ấy thường không khớp với dụ ngôn. Ý là một chuyển ý có tính thần học hoặc luân lý làm một bài học để dạy giáo lý.
Bài hoc ở đây là "hối cải". Giáo lý nầy đã được Đức Giêsu trình bày rất rõ và cờn được nhấn mạnh ở nhiều nơi trong Phúc Âm. Rõ nhất và nhấn mạnh nhất trong câu chuyện Philatô giết những người galilê và tháp siloê ngã đè chết 18 nguời với kết luận y như nhau "không sám hối thì tất cả sẽ bị huỷ diệt". Với nguời phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình: Đừng phạm tội nữa. Với nguời baị liệt ở hồ Betsaida: Đừng phạm tội nữa kẻo phải khốn hơn truớc.
Chủ đề " sám hối- hối cải là chủ đề chính bao trùm tất cả giaó huấn của Đức Giêsu. "Ta đến để kêu gọi nguời tội lỗi hối cải" Luca tập hợp trong ba dụ ngôn đáng lẽ goị là dụ ngôn về sự "Hối cải". Ý cuả Luca rất rõ mà laị bị dịch ra là dụ ngôn về lờng thuơng xót.
Nguời ta nói ngon miệng "Đức Giêsu đi tìm chiên lạc". Thực tế là thế nào ?
THIÊN CHÚA tạo dựng bằng lời. Lời để dạy, để ra lệnh cho nguời khác làm. Tạo dựng xuống cấp vì lời tạo dựng mênh mông khó nhận ra nên con người không biết để làm theo, lạc lối. THIÊN CHÚA cứu độ bằng lời. Cứu độ là nâng cấp. Lời chỉ đường rõ ràng cho đi đúng hướng theo ý THIÊN CHÚA. THIÊN CHÚA chỉ đường. Đi trong đường của THIÊN CHÚA là bổn phận của con người. Cứu độ là một can thiệp đặc biết của THIÊN CHÚA trên tiến trình tự nhiên để điều chỉnh những sai lệch, đặt con người lại đúng hưóng, đúng vị trí của mình để đi cho mau tới đích là phát triển cho tới mức hoàn thiện công trình tạo dựng trong đó con người được THIÊN CHÚA giao cho đóng vai chính. Con người sẽ đựoc sống đời đời, hửong hạnh phúc vỉnh củư nếu con nguời chí thiện và tạo dựng đựoc nhờ con người mà đựoc hờan thiện. THIÊN CHÚA giao cho con người nhiệm vụ "canh tác" vừon địa đàng.
Lời làm người để dạy con người bằng ngôn ngử loài người. Rõ ràng. Chi tiết.Đầy đủ. Là mạc khải cuối cùng. Lời mở đường. Lời là đường. Đường chân lý. Không có đường nào khác. Đức Giêsu để ba mươi năm cuộc đời làm thành con đường cho con người.Ba năm giảng dạy là giải thích cho rõ về con đường của mình. Ta là đường, là chân lý.Cuộc đời của DG là con đường. Lời dạy của Người là chân lý. Ai muốn theo Ta thì.....đi trong con đường của Ta.THIÊN CHÚA không ban ơn cứu độ mà THIÊN CHÚA ban lời cứu độ.
Đức Giêsu , Con THIÊN CHÚA nhập thế đến thế gian. Thế gian phải đến với Người mới có gặp gỡ.
Đức Giêsu xuất hiện giảng dạy, chữa bệnh, trừ quỉ và làm nhiều phép lạ. Ai đến , nghe, thấy, xin.. thì mới được hưởng. Bình chân như vại. Không nhúc nhíc để đến thì "vủ như cẩn". Sự thật nầy rõ như ban ngày. Cụ thể : Đức Giêsu đến hội đường ngày sabbat để giảng dạy. Người bệnh hoặc bị quỉ ám có mặt, được gặp Người thì được chữa lành và chỉ những người có mặt gặp gở Đức Giêsu. Đức Giêsu giảng dạy nơi vắng vẻ. Ai dến nghe thì gặp gở Nguời được ăn bánh lạ no nê. Đức Giêsu đi ngang qua thành Giêricô. Giakeu tìm mọi cách để thấy thì Người đáp lại đến nhà để gặp gở và ban ơn hối cải cho ông và cả nhà. Những người khác thì không đựoc gì. Đức Giêsu đến tìm người tội lỗi. Nhưng người tội lỗi có đến gặp gở Người, hối cải đời sống, đi theo Ngươi thì mới được sự sông mà Ngươi muốn cứu.
Đức Giêsu đến mời gọi qua một trung gian nhưng đời phải tỏ lờng tin, cụ thể là bằng sự sám hối, chừa cải. Ta đến kêu gọi người tội lỗi hối cải. Hối cải là một đáp ứng đầy đủ lời mời gọi của Đức Giêsu . Đó là ý của Luca qua hai dụ ngôn nầy: Trên trời (THIÊN CHÚA) vui mừng vì một người tội lỗi hối cải chứ không phải vì tìm đựoc con chiên lạc hay đồng bạc bị mất. Hối cải là trở nên công chính làm công dân nước Trời, là cải tạo thế gian, là cúư độ.
Hối cải là cử động đầu tiên con nguời phải làm để có thể có tiếp xúc với THIÊN CHÚA.
Chúng ta hãy hối cải chính mình và tích cực giúp người lân cận hối cải để cùng nhau đến với THIÊN CHÚA để được THIÊN CHÚA cứu độ.
Biệt phái, luật sĩ không hối cải. Do thái không hối cải. Thế gian không hối cải. THIÊN CHÚA không làm cho họ hối cải được. Đây là cái bí ẩn của tự do. THIÊN CHÚA không cưỡng chế. THIÊN CHÚA có nhiều ân sủng. Con người quyết định có nhận hay không và có làm cho sinh lợi hay không. THIÊN CHÚA có thể biến đổi lòng dạ con người nhưng chỉ những người thiện chí, cộng tác tích cực với ơn Chúa thí mới có kết quả như lờng Chúa mong muốn.
Mọi sự phải bắt dầu từ hối cải.

 

TN24-C89. ÐÓN NHẬN - TRAO BAN LÒNG THƯƠNG XÓT

Lc 15, 1 - 32
 

Có thể nói cuộc đời của mỗi người chúng ta từ lúc tượng thai đến lúc từ giã cõi đời là cả một: TN24-C89

Có thể nói cuộc đời của mỗi người chúng ta từ lúc tượng thai đến lúc từ giã cõi đời là cả một chuỗi những sự đón nhận. Chúng ta đón nhận sự sống từ nơi cha mẹ. Chúng ta cũng đón nhận sự chăm sóc, nuôi nấng và dạy dỗ từ nơi cha mẹ. Và rồi chúng ta còn đón nhận bao nhiêu sự chăm lo từ vật chất đến tinh thần từ những người thân quen, cả đến những người chúng ta không hề biết mặt. Cũng vậy, là người có đức tin chắc hẳn không ai trong chúng ta dám phủ nhận việc chúng ta đã, đang và sẽ mãi mãi đón nhận tình thương từ nơi Thiên Chúa Ðấng chúng ta tôn thờ.
Ba dụ ngôn nổi tiếng trong Tin mừng Luca chương 15 hôm nay làm sáng tỏ về lòng thương xót vô bờ bến của Thiên Chúa dành cho từng người trong chúng ta. Hình ảnh người chăn chiên có một trăm con chiên lặn lội đi tìm cho bằng được cho được con chiên bị mất và vác trên vai mang về. Hình ảnh người đàn bà có mười quan tiền thức đêm thức hôm tìm cho được một đồng bị mất. Xúc động hơn là hình ảnh người cha nhân hậu có thái độ khoan nhân đón nhận cả hai người con, cách riêng là với đứa con thứ hư hỏng trắc nết.
Sở dĩ Chúa Giêsu nói lên ba dụ ngôn này là vì những người Pharisêu và các kinh sư đã có thái độ không bằng lòng khi thấy Chúa Giêsu tiếp xúc cũng như đồng bàn với những người thu thuế và những người tội lỗi.
Trong suy nghĩ của họ, Chúa Giêsu chỉ được tiếp xúc với những người công chính. Còn những hạng người như vậy Chúa Giêsu không được phép giao tiếp. Mà họ lại tự cho mình là những người công chính.
Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã có lần khẳng định: "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn." (Lc 5, 31b - 32)
Trước mặt Thiên Chúa tất cả mọi người chúng ta đều là những con người đáng thương. Thiên Chúa sẵn sàng làm tất cả và chẳng tiếc gì miễn sao chúng ta được sống và sống dồi dào hạnh phúc. Ai trong chúng ta biết ăn năn sám hối trở về là niềm vui cho cả triều thần thiên quốc. Bởi vì: "Tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối." (Lc 5, 10)
Chúng ta không thể đón nhận mà không biết trao ban. Ðón nhận càng nhiều bao nhiêu thì trao ban cần rộng lớn bấy nhiêu: trao ban tình thương cho nhau, trao ban sự quan tâm lẫn nhau, trao ban sự hy sinh cho nhau....Chúng ta trao ban cho những người thân yêu. Chúng ta trao ban cho những người chưa quen biết. Thậm chí chúng ta còn được kêu mời trao ban cho những kẻ thù nghịch với mình. Trao ban không phải là thái độ của người lớn cho kẻ nhỏ mà là thái độ của những anh chị em con cùng một Cha - cùng một sự đón nhận từ tình yêu của Thiên Chúa.

 

TN24-C90.  ĐẤNG NHÂN TỪ

Lc 15, 1 - 32
 

Trên đời này, không tìm được ai có lòng nhân từ như Chúa Giêsu. Vì Ngài là Thiên Chúa đầy lòng yêu: TN24-C90

Trên đời này, không tìm được ai có lòng nhân từ như Chúa Giêsu. Vì Ngài là Thiên Chúa đầy lòng yêu thương và nhân hậu. Ngài đến trần gian để cứu chúng ta khỏi quyền lực tội lỗi và sự chết. Ngài kêu mời mọi người, nhất là những kẻ tội lỗi biết ăn năn quay về đường ngay nẻo chính. Lời mời gọi nhân từ của Ngài được diễn tả qua 3 hình ảnh: Con chiên lạc, đồng bạc mất và người con hoang đàng. Qua ba dụ ngôn đó, chúng ta cảm nghiệm được tấm lòng nhân ái vô cùng của Thiên Chúa đối với loài người. Và không chỉ là dụ ngôn mà chính Chúa Giêsu đã thực thi lòng nhân từ đó. Cuộc đời Chúa Giêsu là dấu chứng rõ ràng nhất về lòng nhân từ vô biên của Chúa Cha đối với loài người chúng ta.
Chính Chúa Giêsu từ trời đã lặn lội xuống trần gian để tìm những kẻ sắp hư mất, để dẫn đưa những con chiên lạc đàn về chính lộ, giúp thế giới đón nhận chân lý, đón nhận ơn làm con Chúa. Nhờ việc Chúa Giêsu hiến thân trên thánh giá, mọi người chúng ta đã được chúa dành sẵn ơn cứu chuộc rồi, chỉ cần chúng ta đến lãnh nhận thôi.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn thấy, loài người hay tự ái, ngại ngùng, không muốn tìm hiểu về Chúa cho đến nơi đến chốn và tự cho rằng mình không được chúa đoái hoài tới. Vì vậy, hôm nay, trong bài Phúc âm này, Chúa mạc khải cho chúng ta hiểu lòng quãng đại của Ngài. Ngài luôn ban phát ơn lành cách quãng đại, không tính toán hơn thiệt như thế gian. Ngài ưu tiên cứu giúp con người không phải vì số đông. Không phải nhiều mới cứu. Chúa ưu ái từng người một, không coi nhẹ một linh hồn nào. Một vị thánh nói rằng: nếu thế gian này chỉ một người, Chúa cũng sẵn sàng chịu chết để cứu chuộc. Điều này cho thấy Chúa quí trọng linh hồn ta đến độ nào. Vậy mà có nhiều khi bản thân tôi lơ là trong việc lo cho linh hồn mình, không quí trọng phần rỗi mình cho đúng mức. Chúa rất quí trọng chúng ta. Như người đàn bà kia có 10 đồng bạc, lỡ rơi mất một đồng thì đốt đèn cho sáng, quét nhà tìm thật kỷ lưỡng cho đến khi tìm thấy đồng bạc đã mất. Chúa đối xử với từng người chúng ta cũng tương tự như vậy. Dù tôi không đáng giá chi trước mặt chúa, Chúa cũng thương mến tôi. Nếu tôi lạc mất, Chúa cũng lo hết sức để tìm lại tôi. Tìm thấy rồi thì vui mừng mời mọi người đến chia vui. Chúa rất quý từng người chúng ta. Nếu thiếu tôi, Chúa sẽ rất buồn, Chúa không muốn bữa tiệc Thiên Đàng thiếu tôi. Chúa nhớ rất kỷ từng linh hồn Chúa đã dựng nên và mong muốn mọi người đều hạnh phúc trong bữa tiệc cánh chung.
Thế nhưng, đáng buồn thay, có những con chiên không chịu trở về đàn, có những đồng bạc nhất định bám vào ngõ tối trần gian hoặc vì ham mê những danh vọng giả trá, những lợi lộc nhất thời không muốn trở về với Chúa để nhận ra giá trị của mình trong trái tim của Chúa. Tôi có biết rằng linh hồn tôi là vô giá trong mắt Chúa. Dù tôi chỉ là thụ tạo đơn hèn nhưng Chúa rất quý tôi, rất thương tôi, coi tôi như một phần không thể thiếu trong thân thể Ngài.
Chúng ta đừng ngại quay trở về khi phạm lỗi, dù tôi có tội lỗi đến đâu đi nữa, dù tôi có như người con hoang đàng, đã có lúc quyết định sai lầm, đã có lúc truỵ lạc hay phản bội lại tình thương của cha mẹ, và giết chết phẩm giá con người mình. Chúa vẫn chờ vẫn đợi, mong một ngày tôi biết suy nghĩ, bớt cố chấp, bớt thành kiến kiêu căng để nhận ra sự thật về mình, về sự thưởng phạt đời sau và hạ mình trông cậy vào lòng thương xót của chúa. Chúa như người cha của đứa con đi hoang, chiều nào cũng trông ngóng con mình. Khi thấy con từ đàng xa, người cha vội chạy ra ôm lấy con và kêu đầy tớ mau đem áo, giày, nhẫn ra để phục hồi nhân cách cho đứa con đi hoang nay quay về nhà. Tất cả những áo, nhẫn đó ông đã chuẩn bị rồi và ngày nào ông cũng dặn đầy tớ khi nào cậu trở về thì đem ra mặc cho cậu, phục hồi địa vị làm con cho kẻ đi hoang biết quay về chính lộ.
Lòng nhân từ Chúa thật quá bao la, Chúa luôn đối xử với chúng ta như vậy, chúng ta đã nhận ra tình thương Chúa đang ấp ủ riêng từng người chúng ta hay chưa? Hãy nhắm mắt lại và cảm nghiệm tình yêu Chúa trong con tim mình, chúng ta sẽ thấy tình thương Chúa ngọt ngào đang bao phủ tâm hồn chúng ta, đang thôi thúc chúng ta dâng trọn cuộc sống mình trong sự quan phòng yêu thương của Chúa.
Xin Chúa cho chúng con luôn biết đáp trả tình yêu Chúa cách quãng đại, bằng cách đối xử nhân hậu với mọi người bằng đời sống phục vụ cho người xung quanh trong chức vị, trong vị trí hiện tại của mình, để chúng con xứng đáng là con cái Cha trên Trời.

 

TN24-C91: TIẾNG KHÓC

Lc 15, 1 - 32
 

Ở Trung Hoa người ta thường truyền miệng nhau câu chuyện về Tống Thế Tổ nói với thần tử là : TN24-C91

Ở Trung Hoa người ta thường truyền miệng nhau câu chuyện về Tống Thế Tổ nói với thần tử là Lưu Đức Nguyên rằng: "Nếu ông vì qúy phi của ta đã chết mà khóc ai oán thì ta sẽ thưởng cho rất nhiều của cải".
Lưu Đức Nguyên lập tức đấm ngực, dậm chân khóc khan cả cổ họng, nước mắt nước mũi chảy xuống ào ào, hoàng đế rất hài lòng liền ban cho làm thích sứ Dự Châu.
Tôn Thế Tổ lại kêu đại phu Dương Chí, ông này cũng khóc rất là thảm thiết, không bao lâu sau có người hỏi Dương Chí: "Ngài làm thế nào mà giống như thật vậy?"
Dương Chí nói: "Vì lúc ấy bà vợ bé của tôi cũng mới chết".
Qua câu chuyện kể trên, ta thấy lưu Đức Nguyên và Dương Chí đều khóc lóc thảm thiết, có thể qua mặt được Tống Thế Tổ, nhưng trong lòng hai người với hai kiểu khóc khác nhau, một người khóc vì ,lợi danh còn một người khóc vì thương tiếc người vợ bé của mình. Đó cũng chính là hai kiểu khóc mà chúng ta rất dễ thấy trong cuộc sống. Đặc biệt trong bài dụ ngôn người cha nhân hậu hôm nay, chúng ta dễ dàng nhận ra các kiểu khóc qua 3 nhân vật:

1. Kiểu khóc thống hối .
Việc người con thứ xin chia gia tài trong lúc người cha còn sống là một thái độ bất trung, bất hiếu, vì khi còn sống người cha không buộc chia gia tài cho con. Có thể nói người con thứ này thật đáng trách, cái đáng trách không phải ở vật chất, của cải mà là vì muốn thõa mãn ý riêng bất chấp tất cả dù điều đó làm phiền lòng cha "xin cha cho con phần gia tài thuộc về con". Mọi hành động của người con thứ chỉ có thể diễn ta bằng hai chữ "tội lỗi". Nhưng tất cả những lỗi lầm đó đã được xóa bỏ cũng bằng hai chữ "sám hối". Qua việc anh ta muốn "thưa cha con đã phạm đến Trời và đến cha". Sự hối lỗi ở đây không phải vì miếng ăn, cũng không vì anh ta qúa cực, nhưng nó được ăn năn hối lỗi từ tấm lòng thành, từ tình thương của người cha đã làm cho anh ta hối lỗi thật sự. Tự nơi đáy lòng anh một tiếng khóc thống hối đã được cất lên, từ một con tim, từ một quyết tâm từ nay quay đầu trở lại, quyết sống thành một người con tốt. Thật vây ta mới thấy rõ "không một thánh nhân nào không có quá khứ, không một tội nhân nào lại không có tương lai". Vì thế, chúng ta không có quyền đáng dấu chấm hết cho bất cứ ai, nhưng hãy mở ra cho họ một con đường sống, và điều quan trọng là mở rộng tình thương đón nhận người khác và nhìn lại mình để mà cất tiếng khóc thống hối.

2. Kiểu khóc mướn
Là kiểu khóc dành cho người anh, vì khóc mướn chính là hành động bên ngoài xem ra rất tốt, nhưng bên trong thì không. Có khi là hoàn toàn ngược lại, họ khóc với một điệu bộ thê lương vì tiền, chứ không phải vì tử biệt sinh li, họ bán nước mắt, bán cử điệu bên ngoài, hay nói đúng hơn là họ làm động tác giả để mà sống... họ chỉ còn thiếu một chút xíu đó là tấm lòng.
Hình ảnh người con cả hôm nay ám chỉ người Do Thái cách riêng ám chỉ các luật sĩ và biệt phái... Suốt ngày họ không phạm một điều gì trong lề luật "không hề trái lệnh cha một điều nào". Sống bên ngoài xem ra rất tốt, học "khóc" rất hay, nhưng chính lời nói cuối cùng đã tố cáo con người của họ "còn thằng con của cha kia", câu nói cho thấy một sự loại bỏ, một sự trù dâp, thiếu tình yêu thương nhưng lại thể hiện một sự kiêu ngạo tự mãn về mình. Do đó, một hành động tốt, hay một loạt hành động tốt cũng không thể chứng minh đó là người tốt, mà người tốt phải có hành động tốt, và con tim tốt. hàng ngày chúng ta vẫn khóc qua các cử chỉ và hành động, nhưng Thiên Chúa luôn muốn chúng ta khóc cả bên ngoài lẫn tâm tình bên trong. Ngài không hề vui khi chúng ta không đạo đức, siêng năng đi đọc kinh xem lễ lại sống xa cách, hay dửng dưng với người xung quanh.

3. Kiểu khóc hạnh phúc.
Người cha trong bài Tin Mừng nhằm ám chỉ Thiên Chúa. Trước tiên Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do của con người nên: "người cha liền chia gia tài cho con", tuy rằng theo luật người cha không buộc phải chia gia tài cho con khi còn sống, nhưng người cha lại chia ngay, không do dự, không ngăn cản khi người con xin: điều này chứng tỏ người cha tôn trọng sự tự do vì thương con. Điều này muốn diễn tả Thiên Chúa tôn trọng tự do của con người ngay cả khi con người bất trung với Người, vì Người luôn trung thành và yêu thương con người. Điều quan trọng nhất trong bài Tin Mừng hôm nay là lòng nhân từ của người cha, và sự hối lỗi của đứa con hoang đàng. Hai hình ảnh này đã vẽ lên cho bài dụ ngôn một bức tranh tuyệt vời. Một bên là người con khóc hối lỗi, còn một bên là người cha nhân từ khóc hạnh phúc vì đã tìm được đứa con mà mình mong ước. Chắc chắn người cha không lúc nào lại không chờ mong con mình. Ông không cần đợi thằng con "bất hiếu" lên tiếng, nhưng vì tình yêu và lòng nhân từ ông đã đi bước trước "khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy liền động lòng thương!". Ôi lòng nhân từ của Thiên Chúa đã vượt xa hơn muôn ngàn tội lỗi con người, Thiên Chúa luôn đợi ta mỗi ngày, còn ta thì cứ dửng dưng, lạm dụng tự do, mê của đời trần thế mà bỏ chính người cha luôn yêu thương mình. Chắc chắn Thiên Chúa ghét tội, nhưng Ngài luôn yêu thương kẻ có tội. Vậy trong tâm tình sám hối chúng ta hãy trở về với người cha đang chờ đón chúng ta. Amen

 

TN24-C92: CHÚA NHẬT 24 TN C

Lc 15, 1 - 32
 

Bài Phúc âm hôm nay ghi lại ba dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa: dụ ngôn con chiên: TN24-C92

Bài Phúc âm hôm nay ghi lại ba dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa: dụ ngôn con chiên bị mất, dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất, nhất là dụ ngôn người cha nhân hậu.
Qua bài Phúc âm, Giáo Hội nhắc lại cho chúng ta về tình thương của Thiên Chúa Cha đối với con người tội lỗi. Thái độ của người chăn chiên đi tìm con chiên lạc, của người đàn bà bị mất một đồng tiền và của người cha có đứa con bỏ nhà đi hoang, thái độ yêu thương tha thứ đó vượt quá mức độ bình thường con người có thể tưởng tượng được và phản chiếu thái độ của Thiên Chúa đối với con người.
Theo lệ thường, nếu chúng ta có một trăm con chiên mà lỡ bị mất một con, chúng ta có nhất quyết đi tìm con chiên lạc cho đến khi gặp được mới thôi hay không? Chắc chắn là không, vì số chín mươi chín con còn lại không đáng giá hơn một con bị lạc mất hay sao? Đó la quan niệm của con người chúng ta . Đối với Chúa, mỗi con chiên, mỗi người đều có giá trị duy nhất đối với Ngài, và do đó nếu bị lạc mất thì nhất quyết phải tìm cho được mới thôi. Rồi hành động của người đàn bà cũng thế, theo thường tình thì mất một đồng cũng không sao, vì còn cả chín đồng kia mà. Nhưng để diễn tả mức độ của Thiên Chúa thì một đồng bị mất kia là hết sức quan trọng, phải tìm cho được mới thôi. Người cha của đứa con đi hoang, theo thường tình thì bỏ mặc kệ nó, nhưng để diễn tả thái độ của Thiên Chúa đối với con người thì người cha kia hằng ngày đứng trông con mình trở về, và đã nhìn thấy con mình trở về trước khi nó nhìn thấy ông. Người cha tha thứ cho đứa con ngay cả trước khi nó mở miệng xin tha, rồi làm tiệc ăn mừng.
Thiên Chúa muốn cứu rỗi mọi người và mỗi người, Ngài muốn tận dụng mọi phương thế có thể để ban ơn cứu rỗi cho con người. Vì Ngài yêu thương con người, yêu thương từng người một cách vô cùng, nhưng con người có chấp nhận ân sủng và tình thương của Ngài hay không?
Trong Cựu ước, chúng ta thấy Môisen cầu nguyện cùng Chúa, xin Ngài tha thứ cho dân đã phạm tội đến Ngài, Môisen đã không xin Chúa hủy diệt dân mình, nhưng hãy tha thứ cho dân mình. Cũng thế, chúng ta đừng bắt chước thái độ của người anh cả trong dụ ngôn, đừng ganh tị với anh chị em được ơn Chúa tha thứ cho, nhưng hãy bắt chước thái độ của Môisen cầu nguyện cùng Chúa, xin Ngài tha thứ tội lỗi cho anh chị em và cho cả chính mình nữa.
Trước nhan Thiên Chúa, tất cả mọi người chúng ta đều là những kẻ tội lỗi, đều cần đến lời cầu nguyện của nhau để trở lại cùng Chúa và trung thành với đức tin. Nguyện xin Chúa thương tha thứ các tội lỗi và nâng đỡ thành tâm thiện chí mỗi người chúng ta, giúp mỗi người chúng ta biết trở về cùng Chúa, sống xứng đáng là con cái Cha trên trời.
Đề cập đến Tin Mừng nghiêm chỉnh một chút, chúng ta sẽ nhận thấy rõ điều này : những kẻ cầm quyền đương thời trong đạo Do thái, những người Pharisêu, những người tự cho mình là công chính...đã khinh thường và tẩy chay Chúa Giêsu. Trái lại, những người tội lỗi, những kẻ thu thuế... đã trân trọng và nhận biết Ngài. Thử hỏi: Nếu Chúa Giêsu trở lại giữa chúng ta hôm nay, chúng ta sẽ thuộc hạng người nào? Thuộc hạng người "công chính" không cần đến Ngài hay thuộc hạng người tội lỗi, đối tượng Ngài quan tâm khi đến thế gian? Qua đó, Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta hai điều:
Thứ nhất, sứ mạng tình thương của Ngài.
Thứ hai, bổn phận và thái độ của chúng ta.

Chúng ta đều biết: Sứ mạng của Chúa Giêsu đến trần gian để cứu vớt những kẻ tội lỗi. Ngài đến để kêu gọi những người tội lỗi thống hối ăn năn, và để tìm kiếm, cứu vớt những gì đã lạc mất. Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi cho Timôthêô cũng khẳng định: "Chúa Kitô đến thế gian để cứu vớt những kẻ tội lỗi". Quả thực, Chúa Giêsu đã đến thế gian vì tội nhân. Đó chính là ánh sáng trong đó mạc khải bày tỏ Chúa Giêsu cho chúng ta và chúng ta phải luôn luôn ngắm nhìn Ngài trong ánh sáng này. Nói khác đi, vì yêu thương loài người tội lỗi mà Chúa Giêsu đã bỏ trời xuống thế gian. Chính tên "Giêsu" của Ngài, nghĩa là "Cứu Thế" cũng đã gắn liền với kẻ có tội. Cứu ai ? Người lành đâu cần cứu, mà cứu là phải cứu người có tội. Do đó, đối với chúng ta, tình thương đã hiển hiện như một nét nổi bật của Chúa. Tình thương của Chúa không phải là một tình cảm mờ nhạt, mong manh mà là cả một tâm hồn say mê nóng bỏng. Lòng say mê đó là tình yêu đã đến cảm mến cảnh cùng khổ của chúng ta và để nâng cảnh cùng khổ đó lên. Tình thương của một Thiên Chúa làm người khôn lường và da diết. Tình thương đó không phải là một đức tính phụ thuộc nơi bản thân Người, nhưng là một nét chính yếu, đặc biệt: chính vì đó mà Ngài đã đến. Tội lỗi của chúng ta nếu được đưa vào ngọn lửa nóng bỏng yêu thương này sẽ bị thiêu hủy ngay.
Nếu chúng ta sẽ được liệt vào hạng người Pharisêu, kinh sư hay vào hạng những người tội lỗi, những người thu thuế? Chúng ta tự nhận mình là người công chính hay người tội lỗi? Chắc chắn không ai dám cho mình là trong sạch, vô tội trước mặt Chúa, bởi vì từ ngày có trí khôn cho đến nay, biết bao nhiêu lần chúng ta đã không giữ trọn 10 điều răn của Chúa. Bao nhiêu lần chúng ta đã chịu thua cám dỗ và sa ngã. Bao nhiêu lần lời ăn tiếng nói của chúng ta là những lời hành tỏi, xét đoán, gièm pha, kết án hay là những lời hư từ vô ích. Bao nhiêu lần chúng ta đã ghen ghét, oán thù, tranh chấp... Có lẽ chúng ta không chịu bới đống rác tội lỗi của chúng ta ra thôi, chứ thiếu gì những lý do để chúng ta phải ăn năn thống hối. Chúng ta phải thành thật nhận mình là tội nhân đáng hình phạt như người trộm lành ; chúng ta là đứa con hoang đàng trở về, là Mađalêna thống hối, là Phaolô bị quật ngã, cần đổi mới. Kinh Kính mừng, Thương xót, ăn năn tội,... dạy cho chúng ta biết chúng ta chỉ là tội nhân, là kẻ bại trận, chỉ trông hòng vào lòng Chúa thương xót mà thôi.
Mong sao tự thâm tâm chúng ta luôn vọng lên lời tự thú của người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện : "Lạy Chúa, con là kẻ tội lỗi". Những bước chân trở về và hoán cải thường gọi là niềm ân hận, âm thầm đau đớn về những lầm lỡ đã qua, là lòng ăn năn hối cải.
Lạy Chúa, xin đừng chê bỏ con, xin nhận lấy tấm lòng con: tấm lòng tan nát khiêm cung. Chúng con tin tưởng và cậy trông nơi Chúa. Xin thương xót chúng con. Amen.

 

TN24-C93: BAO DUNG NHÂN HẬU NOI GƯƠNG ĐỨC GIÊ-SU

Lc 15, 1 - 32
1. LỜI CHÚA: "Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn" (Lc 15,7).
2. CÂU CHUYỆN: LOÀI NGƯỜI THÍCH KẾT ÁN HƠN CẢM THÔNG VỚI TỘI NHÂN:
 

Bệnh HIV AIDS (hay SI-DA) ngày nay đã trở thành một vấn đề lớn của nhân loại, một "căn bệnh: TN24-C93

Bệnh HIV AIDS (hay SI-DA) ngày nay đã trở thành một vấn đề lớn của nhân loại, một "căn bệnh của thế kỷ" mà đến nay loài người vẫn chưa tìm ra phương thế chữa trị hữu hiệu. Cách đây ít lâu, trên đài VTV3 có chiếu một bộ phim nhiều tập khá hay, nhan đề là "Gió qua miền tối sáng". Bộ phim đề cập đến số phận của nhiều nhân vật bị lây nhiễm vi-rút liệt kháng (HIV-AIDS). Thái độ của các bệnh nhân đầu tiên thường là bàng hoàng, không tin là mình lại bị mắc chứng bệnh quái ác này. Rồi sau khi đã chấp nhận thực tế, một mặt họ tìm xem ai đã lây bệnh cho mình, mặt khác họ vẫn cố che giấu không để người chung quanh không biết mình đã bị mắc bệnh. Rồi trong số những người mắc bệnh, người thì chấp nhận hoàn cảnh để cố sống tốt đẹp và tránh lây bệnh cho tha nhân. Nhưng cũng có kẻ hận đời để sống buông thả, quan hệ tình dục bừa bãi, nhằm truyền bệnh cho nhiều người cùng chết cho hả dạ. Còn quần chúng nói chung, do chưa hiểu về phương cách lây lan, nên khi vừa nghe người nào mắc phải thứ bệnh quái ác này là họ bắt đầu bàn tán xầm xì to nhỏ và cảnh giác cao độ thể hiện qua thái độ xa lánh bệnh nhân... khiến người mắc bệnh cảm thấy rất cô đơn và tủi hổ. Cuối cùng người bệnh đành phải dời chỗ ở đến nơi không ai biết mình bị mắc chứng bệnh này.
Gần đây ở Phi-líp-pin cũng có chiếu một bộ phim tài liệu về việc phòng chống HIV AIDS. Phóng viên đã hỏi một thanh niên bị mắc bệnh AIDS thời kỳ chót: "Anh dự định thế nào về tương lai của anh ?" Chàng thanh niên đã thành thật cho biết như sau: "Tôi hy vọng sau khi tôi chết, hãng bảo hiểm nhân thọ sẽ trả cho tôi một số tiền để nuôi chú chó cưng của tôi. Vì từ khi tôi công khai cho biết về chứng bệnh này, tôi đã bị mọi người khinh dể xa lánh, kể cả những người thân trong gia đình ruột thịt của tôi. Chỉ có chú chó cưng là không thay lòng đổi dạ. Nó vẫn tiếp tục vẫy đuôi mừng rỡ mỗi khi gặp mặt như trước".

3. SUY NIỆM:
Khi thấy Đức Giê-su tiếp đón và ngồi ăn đồng bàn với những người thu thuế tội lỗi thì các người pha-ri-sêu và các kinh sư liền lẩm bẩm phê phán Người. Để trả lời cho họ, Đức Giê-su đã kể ra ba dụ ngôn về tình thương của Thiên Chúa đối với các tội nhân: Một là con chiên bị lạc, hai là đồng bạc bị mất và ba là người cha bao dung để tư đó mời gọi mọi người phải noi gương Thiên Chúa đối xử bao dung với các tội nhân có lòng sám hối.
1)Tinh thương bao dung của Thiên Chúa đối với các tội nhân thể hiện qua hai thái độ của Đức Giê-su như sau:
a) Không bỏ rơi nhưng ra sức đi tìm:
Đức Giê-su là mục tử tốt lành biết rõ và gọi tên từng con chiên (x Ga 10,14), đến để cho chiên được sống và sống dồi dào (x Ga 10,10). Con người thật là đáng quí trước mặt Người. Người tìm kiếm con người và không muốn một ai bị hư mất. Như người mục tử tốt lành không đành bỏ rơi một con chiên lạc, nhưng quyết tâm đi tìm cho tới khi tìm thấy (x Lc 15,4); Như người đàn bà có mười quan tiền mà bị rớt một đồng, đã không bỏ mặc, nhưng đốt đèn, quét nhà quyết tìm cho bằng được (x Lc 15,8); Như người cha có hai đứa con trai, đã không bỏ mặc đứa con thứ bất hiếu bỏ nhà đi hoang, nhưng hằng ngày mong chờ no sớm hồi tâm trở về (x Lc 15,20).
b) Vui mưng khi tìm thấy và chia sẻ niêm vui với người chung quanh: Đức Giê-su là hiện thân lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa khi không muôn tội nhân bị hư mất nhưng muốn họ ăn năn sám hôi và được sống. Người vui mưng đón tiếp người tội lỗi sám hối trở về:
Người giống như một mục tử tốt lành khi đã tìm thấy con chiên lạc, liên vui mừng vác nó trên vai đưa về đàn. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó" (Lc 15,5-6); Người cũng có thái độ giống như người đàn bà kia sau khi tìm thấy quan tiền bị mất, đã chia sẻ niềm vui với người xung quanh: "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất" (Lc 15,9); Người giống như người cha nhân lành trong dụ ngôn, hằng ngày chờ mong đứa con đi hoang trở về, và khi thấy bóng nó từ đàng xa, đã chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ nó và hôn lấy hôn để. Rồi không để cho nó nói hết câu sám hối đã tha thứ và trả lại hết nhưng quyên lợi nó bị mất khi bỏ nhà đi hoang: "Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng ! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy" (Lc 15,20-24).
2) Chung ta phải làm gì để noi gương nhân hậu của Đưc Giê-su ?
- Thực ra con chiên lạc, đồng bạc mất và cả đứa con hoang đàng đều không đáng để chủ nhân phải hành động "điên rồ": người chăn chiên phải bỏ lại chín mươi chín con chiên khác; người phụ nữ phải vất vả thắp đèn, quét nhà, moi móc từng góc nhà; người cha phải suốt ngày đứng tựa cửa, héo hắt chờ đợi.  Nhưng ở đây phải xét theo giá trị tình thương: Sở dĩ con chiên, đồng bạc hay người con có giá trị lớn lao là nhờ tình thương của chủ nhân dành cho chúng. Nói cách khác: giá trị của chúng được đo bằng thước đo tình thương hơn bằng giá trị vật chất. Mối tương quan thân thiết và tấm lòng yêu thương của chủ nhân trong ba dụ ngôn nói trên đều phản ảnh tình yêu bao dung của Thiên Chúa đối với tội nhân. Dù chúng ta đã cố tình bỏ nhà đi hoang thì Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi chúng ta. Ngài đã dùng nhiều người nhiều cách để tìm kiếm chúng ta và mong chúng ta mau hồi tâm trở về với Ngài.  Ngài và cả triều thần thiên quốc đều vui mừng khi thấy các tội nhân thực tâm sám hối như người cha nói với anh con cả trong dụ ngôn: "Nhưng chúng ta phải ăn mừng và hoan hỷ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy" (Lc 15,32).
- Trong cuộc sống đời thường, chúng ta thường có thái độ giống như biệt phái và Kinh sư Do thái khi hay xét đoán và kết án lỗi lầm của tha nhân. Nhưng Tin Mừng hôm nay cho thấy thái độ của Đức Giê-su thật từ bi nhân hậu: Người cảm thông khi sẵn sàng ngồi đồng bàn với các người thu thuế tội lỗi. Người chọn một người thu thuế tên là Lê-vi vào số mười hai Tông đồ. Người bênh vực người phụ nữ phạm tội ngoại tình khỏi bị ném đá chết. Chỉ có một tội không bao giờ được tha là "xúc phạm đến Chúa Thánh Thần" của các người Pha-ri-sêu và Kinh sư Do thái, khi họ cố chấp không tin nhận Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai và không gia nhập vào Nước Trời do Người thiết lập.
- Nếu Thiên Chúa đã tỏ lòng từ bi nhân hậu tha thứ tội lỗi chúng ta, thì Người muốn mỗi người chúng ta cũng phải sẵn sàng tha thứ các tội xúc phạm của tha nhân đối với chúng ta, như người cha trong dụ ngôn đã yêu cầu người anh cả hãy tiếp nhận đứa em đã phạm tội bỏ nhà đi hoang. Trong thực tế, người ta chỉ dễ tha thứ lỗi lầm của kẻ khác khi ý thức được tình trạng tội lỗi của mình. Có nhận mình cũng là tội nhân, người ta mới dễ cảm thông và tha thứ cho kẻ khác. Chúng ta đừng đòi kẻ có tội phải bị trừng phạt thì mới hài lòng. Mục sư Mác-tin Lu-thơ Kinh (Martin Luther King) đã nói như sau: "Nếu cứ áp dụng luật "mắt đền mắt" thì chắc mọi người đã trở thành những kẻ mù lòa từ lâu rồi !".
- Phải tha thứ thế nào? : Một phóng viên đã hỏi Tổng thống LANH-CÔN (A Lincoln) là ông sẽ đối xử thế nào đối với dân Miền Nam sau khi cuộc nội chiến tại Hoa Kỳ chấm dứt ? Ông liền trả lời rằng: "Tôi sẽ đối xử với họ như họ chưa bao giờ bỏ nhà ra đi". Đây cũng chính là cách đối xử của Thiên Chúa đối với các tội nhân. Người sẵn sàng tha thứ, "phục hồi trọn vẹn" cho Phê-rô, như thể ông chưa bao giờ phạm tội chối Thầy. Đây cũng chính là cung cách chúng ta phải cư xử với những kẻ có lỗi với chúng ta: phải sẵn sàng tha thứ vô điều kiện để đem họ về với Chúa, cư xử với họ với một tình thương bao dung như Thiên Chúa đã đối xử nhân từ bao dung với chúng ta như lời kinh Lạy Cha: "Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con" (Mt 6,12). Vì nếu chúng ta đối xử với tha nhân thế nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đối xử với chúng ta như thế như lời Đức Giê-su : "Anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong cho anh em đấu ấy" (Mt 7,2).

4. THẢO LUẬN:
Giả như bạn là người anh cả trong dụ ngôn hôm nay thì bạn sẽ làm gì: vào nhà cha để cùng tham dự bữa tiệc vui đón đứa em đi hoang trở về, hay đứng bên ngoài kêu trách lòng nhân hậu của Cha, như các người Pha-ri-sêu và kinh sư xưa đã làm ?
5. NGUYỆN CẦU:
- LẠY CHA. Chúng con thường hay cư xử như người con thứ trong bài dụ ngôn khi muốn tự do bay nhảy ngoài vòng tay che chở của Cha. Nhưng chính sự tự do ấy đã biến chúng con trở thành nô lệ cho ma quỷ, thế gian và xác thịt mình, và những hạnh phúc do thế gian ban tặng cuối cùng cũng chỉ là thứ hạnh phúc bọt bèo chóng qua. Cũng như người con thứ trong bài Tin mừng hôm nay, chúng con bỗng cảm thấy mình bị rơi xuống hố sâu tội lỗi và nếm mùi đau khổ cùng cực.
- LẠY CHA đầy lòng bao dung nhân hậu. Xin dẫn dắt chúng con mau quay về với Cha, giúp chúng con năng điều chỉnh những sai lỗi. Xin hãy nâng chúng con mau trỗi dậy vì tin rằng tình thương của cha còn lớn gấp muôn ngàn lần những tội lỗi của chúng con. Ước gì vấp ngã sẽ làm chúng con nên trưởng thành hơn, thấy được sự mỏng dòn yếu đuối của bản thân và cảm nghiệm được lòng bao dung nhân hậu của Cha. Ước gì sau mỗi lần được Cha tha thứ, chúng con cũng biết đối xử bao dung hơn đối với những kẻ đã xúc phạm đến chúng con.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
LM ĐAN VINH – HHTM

 

TN24-C94: KHÔNG CÓ DẤU CHẤM HẾT

Lc 15, 1 - 32
Lm Phêrô Trần Thanh Sơn

 

Trong Chúa Nhật vừa qua, Chúa Giêsu đã có một đòi hỏi thật quyết liệt đối với những ai muốn đi : TN24-C94

Trong Chúa Nhật vừa qua, Chúa Giêsu đã có một đòi hỏi thật quyết liệt đối với những ai muốn đi theo làm môn đệ của Ngài. Tuy nhiên, Ngài cũng biết rõ sự yếu đuối của mỗi người chúng ta, nên Ngài vẫn luôn sẵn sàng chờ đợi chúng ta trở về sau mỗi lần lầm lỡ. Thiên Chúa không đặt dấu chấm hết cho ai bao giờ. Để thấy rõ hơn lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta cùng đọc lại phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay.


SỰ BẤT TRUNG CỦA CON NGƯỜI

Trong bài đọc một thuật lại câu chuyện bất trung của dân Do Thái đối với Giavê Thiên Chúa. Lúc đó, khi đoàn dân đến chân núi Sinai, Môisen đang lên núi để nhận bản Giao Ước, thì dân ở dưới chân núi đã vội đúc một con bò vàng để thờ lạy. Giavê Thiên Chúa nói với Môisen: "Ngươi hãy đi xuống; dân mà ngươi dẫn ra khỏi đất Ai Cập đã phạm tội. Chúng sớm bỏ đường lối Ta đã chỉ dạy cho chúng, chúng đã đúc tượng bò con và sấp mình thờ lạy nó". Nghe lại bản văn này, có lẽ chúng ta cũng có một tâm trạng thật buồn cho dân Do Thái. Họ vừa được Thiên Chúa giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập. Và giờ đây, họ lại được Thiên Chúa hạ mình để ký kết với họ một Giao Ước. Vậy mà họ đã quay lưng lại, chiều theo dục vọng, để sấp mình thờ lạy bò vàng trước mắt. Họ chưa đủ đức tin để đi theo một Thiên Chúa vô hình.

Tôi thấy hình như cũng có phảng phất đâu đây hình bóng của chúng ta. Thiên Chúa đã yêu thương, nâng đỡ và ban cho mỗi người chúng ta "hết ơn này đến ơn khác". Vậy mà chúng ta cứ năm lần bảy lượt bất trung với Thiên Chúa, mãi chạy theo những cái trước mắt chẳng khác gì dân Chúa khi xưa. Thật đúng như lời Chúa nói với Môisen: "Ta thấy rõ dân này là một dân cứng cổ".

Sự bất trung của con người còn được thể hiện qua hình ảnh người con thứ, khi anh ta đòi chia gia tài ngay khi người cha còn sống. Và khi đã nhận được ½ gia tài mà người cha đã "đổ mồ hôi, sôi nước mắt" để làm ra. Anh ta đã ra đi, không phải để tự lực làm ăn, buôn bán đỡ đần gánh nặng cho người cha già, nhưng là "ăn chơi xa xỉ, phung phí hết tiền của" mà người cha đã giao cho anh. Giống như người con thứ, chúng ta cũng đã phung phí biết bao nhiêu hồng ân mà Thiên Chúa đã gởi đến cho chúng ta, kể cả giá Máu của chính Con Thiên Chúa đổ ra trên thập giá vì chúng ta.

Không chỉ là những lỗi phạm cố ý, chúng ta còn có những lỗi phạm do vô tình, như tâm sự của thánh Phaolô với môn đệ Timôthê trong bài đọc hai: "Trước kia cha là kẻ nói phạm thượng, bắt đạo và kiêu căng... vì cha vô tình làm những sự ấy trong lúc cha chưa tin"

Thế nhưng, mặc cho sự cứng cổ của dân Chúa, sự phạm thượng của Thánh Phaolô, hay cả sự phung phí, ương ngạnh của người con thứ, sự bất trung do vô tình hay hữu ý của chúng ta. Cuối cùng, Thiên Chúa vẫn tiếp tục yêu thương con người trong đó có quý OBACE và cả tôi nữa.



TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA

Tình yêu của Thiên Chúa thể hiện qua việc Ngài "đã nguôi cơn giận, không thực hiện điều dữ mà Người đe dọa phạt dân Người" như chúng ta vừa nghe trong bài đọc một.

Còn đối với Phaolô, thì chẳng những Thiên Chúa không báo oán, không trừng phạt dù trước đây ngài là "kẻ nói phạm thượng, bắt đạo và kiêu căng", nhưng Thiên Chúa đã thương xót chọn ngài làm tông đồ của Chúa, như lời tâm sự của thánh nhân với môn đệ Timôthê mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc hai: "Đức Giêsu Kitô đã đến trong thế gian này để cứu độ những người tội lỗi, trong số ấy, cha là người thứ nhất. Vì thế, cha được hưởng nhờ ơn thương xót, là Đức Giêsu Kitô tỏ ra tất cả lòng khoan dung trong cha trước hết". Và thánh nhân xác tín rằng tình yêu của Thiên Chúa đối với con người thật là bao la, khi Chúa Cha ban cho chúng ta Người Con Một yêu dấu của Ngài là Đức Giêsu Kitô "đến trong thế gian này" không phải để cứu độ người công chính, nhưng "để cứu độ những người tội lỗi".

Đặc biệt tình yêu của Thiên Chúa hôm nay còn được thánh sử Luca diễn tả thật rõ nét và tuyệt vời hơn trong đoạn Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe với ba dụ ngôn: Con chiên lạc, đồng bạc mất và nhất là câu chuyện về người Cha nhân hậu.

Người Cha này là biểu tượng hết sức cụ thể của lòng thương xót Chúa. Cho dù đứa con thứ của ông bỏ nhà ra đi, tiêu tán hết tài sản của ông. Và giờ đây, với "thân tàn ma dại" nó trở về, thì ông cũng không một lời kết án. Nếu để ý chúng ta sẽ thấy trước khi trở về, người con thứ đã soạn một bài diễn văn để tạ lỗi trước Trời và trước người cha. Khi gặp cha anh đã nói lên lời sám hối. Thế nhưng, người cha hình như chẳng nghe thấy gì cả.

Con ông đã trở về. Thế là quá đủ cho ông.

Niềm vui đó đối với ông lớn quá. Lớn hơn cả tội lỗi của đứa con, lớn hơn cả những tài sản mà nó đã hoang phí. Vừa thấy nó khi "nó còn ở đàng xa, ... ông đã chạy lại, ôm choàng lấy cổ nó hồi lâu". Rồi cũng chẳng nghe, chẳng chờ nó xin lỗi, người cha này đã vội vã gọi đầy tớ gia nhân đem áo mới, giày mới, nhẫn mới ra để mặc cho con mình. Đồng thời, ông cũng thúc giục gia nhân làm một bữa tiệc thật lớn để ăn mừng ngày con ông trở về. Tôi cũng có thể hình dung khuôn mặt người cha này lúc đó chắc đang ràn rụa nước mắt. Ông vừa nói vừa khóc. Những giọt nước mắt của vui mừng.

Lòng thương xót của Chúa thật bao la. Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta thật tuyệt vời, không thể nào nói hết được. Đứng trước tình yêu của Thiên Chúa, có lẽ chúng ta chỉ có thể làm một việc là cất tiếng ngợi khen Ngài như lời tác giả Thánh vịnh trong bài đáp ca: "Lạy Chúa, xin mở môi tôi, miệng tôi sẽ loan truyền lời ca khen". Không chỉ là một lời ca khen, tình yêu Chúa còn đòi chúng ta đáp trả bằng những hành động cụ thể.



MỜI GỌI ĐÁP TRẢ

- Lời đáp trả trước hết, và đẹp nhất, thiết tưởng, đó là chúng ta luôn cố gắng sống trong tình yêu của Thiên Chúa, và chứng tỏ điều đó bằng việc tuân giữ trọn vẹn giáo huấn của Chúa Giêsu như lời Ngài phán: "Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy".

- Kế đó, Thiên Chúa đã không đặt dấu chấm hết cho bất kỳ một ai. Ngài luôn mở rộng cửa để chờ đón từng đứa con đi hoang trở về. Chúng ta đã nhận được lòng thương xót đó, thì giờ đây đến lượt mình, chúng ta cũng đừng đặt dấu chấm hết cho bất cứ một người anh chị em nào. Cho dù người anh chị em của chúng ta có yếu đuối, có giới hạn, có lỡ lầm ... đến đâu đi chăng nữa, chúng ta cũng hãy tỏ lòng khoan dung đối với họ. Hãy trao cho anh chị em chúng ta một nụ cười, một lời hỏi thăm, nâng đỡ ... Hãy tạo cho người chồng, người vợ, hãy để cho cha mẹ, anh chị em, con cái chúng ta một cơ hội để họ giao hòa với Thiên Chúa và đến với chúng ta.

- Cuối cùng, chúng ta hãy luôn ghi nhớ rằng: Thiên Chúa của chúng ta là một người cha nhân hậu, đầy lòng xót thương. Ngài luôn giang rộng đôi tay chờ đón chúng ta trở về. Vì thế, cho dù tôi và quý OBACE có nhiều yếu đuối, lỡ lầm, chúng ta cũng đừng nản lòng, tuyệt vọng. Chúa đã không đặt dấu chấm hết cho chúng ta. Chúng ta cũng đừng tự đặt dấu chấm hết cho bản thân mình. Chúng ta hãy tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa, noi gương người con thứ trong Tin mừng hôm nay, để mau mắn chỗi dậy trở về làm hòa với Thiên Chúa, với anh chị em. Hãy trở về với Thiên Chúa để được sống trong vòng tay yêu thương chăm sóc của Ngài. Amen.


 

TN24-C95: THÀ YÊU LẦM CÒN HƠN BỎ SÓT

Lc 15, 1 - 32
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

 

Các bài đọc của Chúa Nhật Thứ 24 Mùa Thường Niên, Năm C, cách riêng bài Tin Mừng có vẻ khá: TN24-C95

Các bài đọc của Chúa Nhật Thứ 24 Mùa Thường Niên, Năm C, cách riêng bài Tin Mừng có vẻ khá quen thuộc với Kitô hữu, nhất là với những người chuyên chăm tham dự Thánh Lễ và xem trọng phần Phụng Vụ Lời Chúa. Thánh Kinh trình bày về tình yêu của Thiên Chúa thật phong phú và đa dạng. Tuy nhiên cũng có thể khẳng định rằng những dòng tin mừng theo thánh sử Luca ở chương XV mà Giáo Hội cho trích đọc một phần trong Thánh Lễ Chúa Nhật này quả là một mạc khải gây "chưng hửng" cho không chỉ nhiều người biệt phái năm xưa mà còn cho cả chúng ta hôm nay, dĩ nhiên là nếu chúng ta biết "suy đi nghĩ lại" như Mẹ Maria và biết đặt mình vào chính ngữ cảnh khiến Chúa Giêsu phán dạy những Lời ấy.

Ngữ cảnh: Giêsu thành Nagiarét, một vị tôn sư đầy quyền năng trong lời giảng dạy cũng như trong hành động (x.Mt 7,29; Mc 6,2), một người được dân chúng mến mộ tôn xưng vào hàng ngôn sứ (x.Mt 16,13-15)..., Người không chỉ chuyên chăm chữa lành bệnh tật cho dân chúng và xua trừ ma quỷ ra khỏi những người chúng ám, Người còn giảng dạy các chân lý về Nước Trời và mời gọi người ta hoán cải ăn năn. Thế mà Người lại thường xuyên lui tới và cùng ngồi ăn uống với những hại dân hại nước là "bọn thu thuế" và "phường bán thân nuôi miệng". Bá nhân bá tánh, mười người trăm ý, chuyện miệng tiếng người đời thì làm sao lường cho xuễ. Cũng thế, việc một số người biệt phái và luật sĩ lảm bẩm, xầm xì và bình phẩm chuyện Chúa Giêsu thường xuyên lui tới và cùng ngồi ăn uống với người thu thuế và phường "tội lỗi" thì cũng không là vô cớ. Ngài Giêsu đã không từng giảng dạy rằng chớ có làm cho người ta vấp phạm đấy ư. Ngài còn mạnh miệng cho rằng nếu ai làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn thì thà cột cối đá vào cổ người ấy mà liệng xuống biển còn hơn. Tuy nhiên chúng ta đừng quên cớ vấp phạm ở đây là cái nguyên nhân xấu. Còn những dữ kiện gây thắc mắc, gây tranh luận, gợi thao thức là việc khác hoàn toàn. Chính Chúa Giêsu đã từng ví Người là viên đá vấp cho nhiều người, đúng như lời tiên tri Simêon loan báo dịp cha mẹ Người đem Người lên Giêruslem để làm lễ tiến dâng theo Lề Luật (x.Lc 2,33-35).

Nguyên cớ gây thao thức: Tình yêu đón nhận mọi sự hạn chế, mọi sự bất toàn. Khi nghe đọc bài tin mừng về dụ ngôn người con hoang đàng hay đã được sửa lại là dụ ngôn người cha nhân hậu hoặc đã từng được đề nghị là dụ ngôn người con ganh tị. Đã từng một thời Kitô hữu được gợi ý là tập trung vào hình ảnh người con phung phá hoang đàng để nhận biết thân phận tội lỗi của mình để rồi sám hối, ăn năn. Cũng đã từng có lúc người ta tập trung vào hình ảnh người con cả của câu chuyện để mời gọi Kitô hữu cảnh giác với sự ganh tương đố kỵ như trường hợp một số người biệt phái ngày xưa, hoặc biết phản tỉnh với lối sống "người thì bên trong mà lòng thì bên ngoài". Vì lắm khi chúng ta tuy mang danh con cái Chúa, nhưng chỉ là "hữu danh vô thực". Thời gian gần đây ngưởi ta tập trung vào tình yêu bao la của người cha nhân hậu và có thể nói rằng đây chính là trọng tâm của lời mạc khải qua câu chuyện dụ ngôn mà Chúa Giêsu kể hôm ấy.

Nói đến sự bao la của tình yêu Thiên Chúa, một số đấng bậc có vẻ như ngại ngần vì cho rằng sẽ làm cớ cho đoàn tín hữu sống ỉ lại. Và rồi số vị ấy thích đề cao sự công thằng của Thiên Chúa hơn. Một số vị khác thì phân vân như đứng giữa ngã ba đường khi vừa nói đến lòng thương xót của Thiên Chúa vừa nói đến sự công thẳng của Người. Thiên Chúa là Đấng tốt lành vô cùng và cũng là Đấng công bình vô cùng. Khởi đầu triều đại giáo hoàng của mình Đức Bênêđictô XVI qua Thông Điệp Thiên Chúa là Tình Yêu đã nhấn mạnh hiện thực này: Thiên Chúa bày tỏ tình yêu của Người cho nhân loại chúng ta một cách như chống lại sự công minh của Người (x.số 10).

Người cha trong câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể đã rộng tay chia gia tài cho các con. Ông chia gia tài cho đứa con mở miệng kêu xin và chia cho cả đứa con không xin. Ông ta quả là liều lĩnh và bất chấp các tình huống có thể xảy ra. Ông chẳng thể lường đứa con thứ kêu xin sẽ sử dụng gia tài ra sao. Ông cũng chẳng biết đứa con còn lại không xin vì không dám xin hay vì không muốn xin. Không lưỡng lự, ông đã chia cho cả hai.

Chắc chắn người cha nhân hậu biết rõ tình cảnh bi đát đến độ thua cả loài heo của đứa con đi hoang, vì chính người con cả đã khẳng định sự thật này (x.Lc30). Thế mà ông cứ ngày ngày ngóng trông đứa con "bất hiếu và hỏng hư" quay gót trở về. Lòng của ông vẫn ắp đầy niềm hy vọng sẽ có ngày thấy con mình "đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy". Và kìa, nó đây rồi, nó đã trở về. Nó về vì thương cha già này hay là chỉ xót cái bụng rỗng của nó? Không sao cả, tình yêu không cần đặt điều kiện. Đứa con lớn đang ở trong nhà mà lòng như kẻ ăn người ở, ông cũng đón nhận hết tình. Không sao cả, rồi sẽ đến lúc nó hiểu rằng mọi sự của ông là dành cho nó, đã thuộc về nó, vì mọi sự của cha đều là của con (x.Lc 15,31).

Đã yêu thì không ngồi chờ người mình yêu hoàn thiện rồi mới đón nhận. Đón nhận người mình yêu cả trong sự hạn chế lẫn bất toàn của người mình yêu thì mới là tình yêu đích thực vô cầu, vô vị lợi, nghĩa là chỉ vì người mình yêu. Thánh tông đồ dân ngoại khẳng định chân lý này khi nói rằng Chúa Kitô đã chết vì chúng ta, ban ơn tha thứ cho chúng ta, đưa chúng ta về làm con cái Thiên Chúa ngay khi chúng ta còn là kẻ phản nghịch, nghĩa là ngay khi chúng ta đang còn trong cảnh tình tội lỗi.

Xin đừng sợ bị lợi dụng, chẳng thà yêu lầm còn hơn bỏ sót. Xin đừng ngồi chờ tha nhân hoàn thiện rồi chúng ta sẽ yêu thương. Chính tình yêu của chúng ta, một tình yêu vô điều kiện mới là động lực giúp tha nhân nên hoàn thiện. Đồng thời cũng chính tình yêu ấy sẽ giúp chúng ta hoàn thiện vì chúng ta đang ngày càng nên giống Cha, Đấng hoàn thiện ở trên trời, Đấng cho mưa rơi đều trên người lành lẫn kẻ bất lương, cho mặt trời mọc lên soi người công chính lẫn tội nhân (x.Mt5,48).


 

TN24-C96: ÂN SỦNG - ƠN BAN NHƯNG KHÔNG

Lc 15, 1 - 32
Lm. Jude Siciliano, OP

 

Kinh thánh không chỉ là một quyển sách, nhưng là cả một thư viện. Đó là những quyển sách khôn: TN24-C96

Kinh thánh không chỉ là một quyển sách, nhưng là cả một thư viện. Đó là những quyển sách khôn ngoan, lịch sử, tiểu sử, tin mừng, thư từ, thơ ca,... Thật khó mà tóm tắt "thư viện" này vào một thể loại văn chương. Nhưng chúng ta cứ thử xem sao. Sách Thánh có thể được gọi là "sách về ân sủng," vì ân sủng làm nên từng trang. Thế nhưng, không ai có thể đưa ra một định nghĩa về ân sủng dẫu có đọc hết các sách thánh. Chúng ta không đi tìm một định nghĩa, cứ như là ân sủng có thể được tóm tắt trong một công thức ngắn gọn và bao hàm tất cả. Thay vì định nghĩa về ân sủng, thì các tác giả sách thánh lại vẽ lên cho chúng ta hình ảnh của ân sủng.

Sách Thánh giống như một quyển Album hình chúng ta đã thu thập (trong thời buổi kỹ thuật số ngày nay thì nó tuyệt chủng mất rồi) trong đó chúng ta lưu giữ những tấm hình của những người thân yêu, những người chúng ta ngưỡng mộ, và những cảnh đẹp trong những chuyến du lịch của chúng ta. Những quyển sách này là "những quyển sách ân huệ" của riêng chúng ta. Chúng giống như Kinh Thánh, có hàng tá những bức ảnh về ân sủng. Hôm nay, Chúa Giêsu bổ sung vào quyển album ảnh này bằng cách cho chúng ta ba dụ ngôn. Mỗi câu chuyện ghi lại một khía cạnh ân sủng đối với chúng ta; không phải là những định nghĩa cụ thể nhưng là chân dung nhân loại của hình ảnh ân sủng.

Hàng ngày chúng ta thường sử dụng những dạng thức của ân sủng từ những gì mà Kinh Thánh nói về ơn thánh? Ví dụ, nếu chúng ta học nhạc hoặc chơi một loại nhạc cụ nào đó chúng ta phải biết những dấu hoa mỹ để lưu ý về cường độ, khoản nghỉ... Đây là một lưu ý rất quan trọng, được viết vào một số trường canh của âm nhạc, thường được in nhỏ hơn so với các ghi chú khác, nó có vẻ như không quan trọng. Vì không phải là nốt thiết yếu cho dòng nhạc, nó chỉ là một chút gì đó thêm vào cho các giai điệu làm cho nó ngày càng mang âm hưỡng riêng. Do vậy thuật ngữ âm nhạc về "Dấu Hoa Mỹ" là điều đáng để giúp chúng ta hiểu về nhạc. Đó cũng là điều mà chúng ta phải suy nghỉ lại khi còn ngờ rằng ân sũng là cái gì chưa quan trọng đối với đời sống chúng ta,

Có lẽ, chúng ta có được gợi ý về tầm quan trọng của ân sủng tốt hơn, nếu chúng ta nhìn về cuộc chạy điền kinh. Trong giải Olympic Mùa Đông vừa qua mà tôi theo dõi, những gì tôi nghĩ là, một kiểu ân sủng phi thường và khả năng mạnh mẽ của những vận động viên trượt ván nghệ thuật. Những bình luận viên phải thốt lên sau mỗi pha kết thúc màn trình diễn duyên dáng và mạnh mẽ của các vận động viên trượt ván. Chúng ta phải la lên một chữ "Tuyệt!" như thế. Những vận động viên thực hiện những động tác này có vẻ rất dễ dàng và nhàn nhã - nhưng nếu anh chị em thử bắt chước họ, rồi bị ngã dập mặt thì mới biết nó có dễ hay không. Ân sủng giống như là một bản chất thứ hai, nhưng với ân sủng một người có thể đạt được những kết quả vô cùng to lớn, dựa trên những gì chúng ta sắp đặt cách tự nhiên như những giới hạn của chúng ta.

Chúng ta có thể tìm thấy những ví dụ về ân sủng như thế trong những hành vi thường ngày của chúng ta. Một đứa trẻ bị sốt không ngủ được, và vì thế cha mẹ cùng thức với nó cả đêm, bỏ cả ăn, mất cả ngủ, để chăm sóc nó đến khi lành bệnh. Một đứa trẻ bị ốm không biết được sự hy sinh và chăm sóc nhẹ nhàng từ cha mẹ chúng, nhưng chắc chắn là cần thiết. Đứa trẻ là người đón nhận tình yêu thương của cha mẹ dành cho nó - cũng giống như đón nhận ân sủng, những kẻ ngay lành trong Sách Thánhh cảm nghiệm được bàn tay yêu thương của Thiên Chúa một cách nhưng không.

Đó là những gì đứa con nhận được từ cha nó như trong dụ ngôn hôm nay. Nó đã được ăn ngon mặc đẹp không phải vì lời xin lỗi đã chuẩn bị kỹ càng - lời xin lỗi mà nó chẳng có cơ hội nói ra. Nhưng, đứa con được đón về trong ngôi nhà ấm áp và trong vòng tay cha của nó, vì người làm cha là thế. Đó cũng là những gì chúng ta cảm nghiệm được khi người nói "Tôi bỏ qua cho anh," khi chúng ta biết mình đã làm điều sai lỗi và không xứng đáng với lòng tha thứ ấy.

Qua ví dụ trên đây, chúng ta có thể biết được ân sũng là gì. Ân sũng đến như một quà tặng và không cần đền đáp. Liệu có đứa con nào có thể trả lại cho cha mẹ những đêm dài thức trắng chăm lo sức khỏe cho con mãi đến khi con khỏe lại hay không? Ân sủng luôn đến cách tình cờ, nhất là khi chúng ta thấy mình không ổn hay sai phạm điều gì đó. Ân sủng thường xuất hiện ngay khi chúng ta thấy mình tệ hại nhất, như trường hợp đứa con hoang đàng trong dụ ngôn hôm nay. Dụ ngôn mô tả tình trạng bi đát của đứa con này: anh "phải đi ở đợ,"... "phải chăn heo"... và anh ta thậm chí muốn ăn "thức ăn dành cho heo." Quả là chẳng còn gì thấp kém hơn.

Câu chuyện về đứa con "trẩy đi phương xa" là một câu chuyện về ân sủng, và đó chính là những gì chúng ta nghĩ theo lối suy luận tự nhiên. Khi ân sủng tác động, chúng ta nhận được gấp nhiều lần những gì chúng ta có thể thực hiện hay cống hiến, mà phép cộng trừ tự nhiên không thể làm nổi. Thông thường thì một cộng một bằng hai; nhưng trong thế giới của ân sủng, thế giới của đứa con hoang đàng, một cộng một bằng ba, bằng sáu hay thậ chí bằng cả triệu. Trong viễn cảnh của những dụ ngôn, nhiều thứ xem ra chẳng nghĩa lý gì - ít là theo quan điểm của chúng ta. Dụ ngôn không phải là một câu chuyện luân lý để mọi người làm theo. Chẳng hạn, đó không phải là một giáo huấn về việc đứa con được cất nhắc lên. Đó cũng chẳng phải câu chuyện hợp với quan điểm về công bình của chúng ta. Đức Giêsu kể một câu chuyện vượt ngoài những gì chúng ta vẫn thường nghĩ. Đó là câu chuyện về ân sủng. Liệu chúng ta có tin tưởng người kể chuyện biết rõ về đối tượng hơn chúng ta hay không?

Nhìn lại ân sủng trong dụ ngôn đứa con hoang đàng. Chúng ta có thể sẽ chẳng tìm được một định nghĩa, nhưng ân sủng như một bức tranh, một hình ảnh cho chúng ta thông qua câu chuyện. Nó có thể xuất hiện ở điểm thấp nhất và khơi lên hình ảnh "gia đình" - về một cuộc sống tốt đẹp hơn bao giờ hết mà chúng ta từng cảm nghiệm. "Xin hãy nhìn đến con .... Con sẽ được tốt hơn." Khao khát cứ lớn dần trong chúng ta, ân sủng giúp chúng ta đứng lên để tạo một điểm trở về, và chúng ta nhận ra mình có thể thay đổi chiều hướng cuộc đời mình. Lý do để thay đổi không phải lúc nào cũng đẹp đẽ, chúng có thể là từ tình trạng bi đát. Đứa con trong câu chuyện thì đói khát và đang cần một nơi để tránh mưa tránh nắng và chút cái để ăn, và nó chuẩn bị những câu nói với cha nó, chỉ để nhận được nhữngnhững những gì hắn cần.

Đứa con hoang đàng giống phần đông trong chúng ta. Vài người trong chúng ta đây cũng chẳng ngon lành gì. Hầu hết chúng ta, ngay khi chúng ta không có những hành vi tệ hại và ngu ngốc như đứa con thứ, thì vẫn nhận ra mình muốn thoát ra khỏi chính mình, để đi đến "một nơi xa". Trong dụ ngôn này, Đức Giêsu nói rằng dù chúng ta không thể đi đến "một nơi xa" đến đâu chăng nữa thì ân sủng vẫn tới được. Dù chúng ta có đi đến một nơi xa thế nào chăng nữa, dù là yếu đuối, quên lãng, hèn nhát, hay là cố chấp, có kế hoạch chắc chắn lâu dài thế nào chăng nữa, thì cánh tay ân sủng vẫn có thể vươn tới và mời gọi ta đứng lên, cất bước quay về nhà. Chúng ta có dám đáp trả hay không? Đó chẳng phải là lý do chúng ta quy tụ nơi đây để cử hành phụng vụ, để bước thêm một bướng trở về nhà đó hay sao?

Xuyên suốt dụ ngôn là Ân sủng: khi ngươi cha cho con mình tự do; khi người con xuất hiện trước mắt ông vì nó nhớ lại nhà của mình. Ân sủng đồng hành với nó khi nó trẩy đi xa và cùng với nó trong mỗi bước chân trên hành trình. Ân sủng hướng dẫn nó quay về với người cha đang mỏi mòn chờ đợi, người cha đã cắt ngắn lời xin lỗi của đứa con. Ân sủng cũng ở đó khi người cha nói với đứa con cả: "Mọi sự của cha là của con." Ân sủng không phải là vài đồng xu lẻ từ trời rơi xuống, trả công cho những cố gắng chúng ta làm. Chúng ta không "chiếm lấy ân sủng", nếu có, thì đó không phải là ân sủng nữa. Người con, cuối cùng chẳng phải làm gì để nhận được sự tha thứ. Người cha đã ôm nó vào lòng, và người anh cả với quan niệm của mình về công bình, không thể hiểu được tại sao cha anh lại làm như vậy.

Vì thế, có phải chúng ta đã bở lỡ sự hiện diện rõ ràng của ân sủng trong đời sống thường nhật hay không; dấu hiệu mình và máu của sự hiện diện của Thiên Chúa như quà tặng? Hãy quan sát và để ý lưu tâm đến:

- Anh chị em là những người rộng lượng đang chăm sóc cha mẹ già yếu, và tất cả những gì có thể làm để đền ơn đáp nghĩa với các ngài là "lòng biết ơn".
- Một sự giúp đỡ trong tình bằng hữu mà người khác làm cho anh chị em
- Một câu nói giúp đỡ: Hãy để tôi giúp anh/chị giải quyết vấn đề này
- Người bạn đời hay bạn bè chia sẻ niềm vui nỗi buồn cùng anh chị em.
- Người giáo viên với đồng lương còm cõi nhưng vẫn dành thời gian giúp đỡ con em của chúng ta học tập.
- Những người đến thăm ta trong bệnh viện và lấy toa thuốc giùm chúng ta, nấu ăn và rước Mình Thánh Chúa cho chúng ta
- Những lời được nói ra khi chúng ta xưng tội "Tôi tha tội cho anh/chị nhân danh Cha..."

Ân sủng cũng có cả ở nơi sự cáu kỉnh bực bội, một người đủ thương để nói với chúng ta sự thật và muốn chúng ta xử lý vấn đề; một lời mạnh mẽ của ngôn sứ ngay giữa chúng ta, thức tỉnh chúng ta khi sống quá tiện nghi, trong khi những người khác lại đang túng thiếu; một tin tức hình ảnh trên tivi hay báo chí giúp chúng ta biết quan tâm đến những gì xa hơn vòng luẩn quẩn bé nhỏ của mình. Ân sủng không phải cái gì ngoại lệ nhưng la những điều hết sức bình thường trong cuộc sống của chúng ta, một tiếng nói cách này hay cách khác thức tỉnh chúng ta và giúp chúng ta biết ý thức.

Trong buổi cử hành Thánh Thể này, chúng ta cùng kỷ niệm nhiều dạng thức của ân sủng trong cuộc đời chúng ta. Chúng ta giống như đứa con thứ sau khi được chào đón về nhà và được tha thứ. Chúng ta bước vào yến tiệc này với lòng biết ơn vì những gì chúng ta chưa đạt được, nhưng sẽ được trao ban trong suốt hành trình trong đời sống chúng ta. Chúng ta cầu nguyện để có thể hoàn tất những cam kết chúng ta đã đưa ra - trong lễ thành hôn, việc chăm sóc con cái hay cha mẹ, thành thật trong công việc, phục vụ những ai cần được giúp đỡ, vv.. - và vẽ lên bức tranh ân sủng cho những người khác, để dẫu cho họ không thể định nghĩa được thế nào là ân sủng, thì cũng có thể nhận ra hình ảnh của ân sủng là thế nào nơi cuộc đời của mỗi người chúng ta.

Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Gò Vấp

 

TN24-C97: HỐI CẢI

Lc 15, 1 - 32
Lm. Giuse Trần Việt Hùng

 

Truyện kể: Một thầy giáo nói với các học sinh trong lớp: Các em hãy viết lại Dụ ngôn Con Chiên: TN24-C97

Truyện kể: Một thầy giáo nói với các học sinh trong lớp: Các em hãy viết lại Dụ ngôn Con Chiên Lạc, qua đó, các em sẽ cảm nhận được ý nghĩa sâu sắc hơn. Một học sinh viết: Giả sử bạn hoàn thành đánh máy một luận án dài 100 trang. Bạn đã miệt mài nghiên cứu, tìm tòi và sửa chữa rồi đánh máy. Bạn cảm thấy sung sướng khi đã hoàn tất. Bạn thu thập các trang lại bấm ghim và dán bìa, khi đó bạn phát giác ra bị thiếu mất một trang. Tưởng tượng sự sợ hãi, hoang mang và cảm thấy bực bội, xôi bao tử. Bạn bỏ 99 trang đó và bắt đầu lục lọi tìm kiếm. Bạn mong tìm cho được trang giấy đã bị thất lạc. Vì thiếu một trang, cả luận án sẽ vô nghĩa và bị mất giá trị. Đột nhiên, đàng kia, nó rơi ở ngay góc phòng. Bạn phấn khởi, dời ghế, ném tung 99 trang và quỳ gối xuống, nhặt vội trang đã bị lạc mất.

Tội lỗi đã nhập vào thế gian. Lòng con người thường dễ hướng chiều về đàng dữ. Những kéo lôi thỏa mãn của dục vọng tội lỗi gọi mời con người đi ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn kiên nhẫn đợi chờ lòng hối cải, chứ không tiêu diệt. Niềm vui của Chúa Giêsu và của thần thánh trên trời là người tội lỗi lầm lạc biết ăn năn hối cải trở về. Chúa nói: "Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải (Lc 15, 7). Chúa đến để kêu gọi người tội lỗi. Biết rằng chỉ những bệnh nhân mới cần đến thầy thuốc. Chúa Giêsu có quyền tha tội và chữa lành cả thân xác lẫn linh hồn. Chúa mở rộng cửa đón nhận những người tội lỗi. Chúa không kết án hay bỏ mặc họ chìm đắm trong vũng bùn của tội nhơ. Chúa tạo cho họ có cơ hội sám hối trở về.

Ngày xưa, Thiên Chúa đã chọn ông Môisen làm thủ lãnh dẫn Dân Do-thái ra khỏi nước Ai-cập. Giải thoát họ khỏi làm nô lệ cho người Ai-cập. Bước đầu của Chương trình cứu độ là đưa Dân Riêng vào miền Đất Hứa. Mới ra khỏi vòng nô lệ, lòng dân chưa được thuần thành. Tâm hồn họ còn bị ảnh hưởng bởi cách sống của dân ngoại. Nên khi có cơ hội, họ dễ quay trở lại thờ các thần do chính họ đúc thành. Họ đã nhiều lần phạm tội phản nghịch cùng Thiên Chúa. Khi ông Môisien lên núi cầu nguyện, thì dân chúng ở dưới chân núi đã hùa nhau gây rối và làm phản: Chúa phán cùng Môsê rằng: "Ngươi hãy đi xuống; dân mà ngươi dẫn ra khỏi đất Ai-cập đã phạm tội (Xh 32, 7). Dân chúng muốn tìm thỏa mãn ngay những nhu cầu hạ giới. Họ lo cho sự an toàn cuộc sống, lo cái ăn, cái mặc hiện tại, chứ không nhận biết đường đi nước bước mà Thiên Chúa sẽ dẫn đưa họ.

Phải mất rất nhiều thời gian để cải đổi thuần thành tâm hồn một nhóm dân đông đảo. Thiên Chúa đã yêu thương, bao bọc, chở che, dạy dỗ, sửa phạt và từ từ mạc khải về chương trình cứu độ. Dân Do-thái trên đường lữ hành đã đối diện với nhiều khó khăn thăng trầm. Cũng đã nhiều lần họ bỏ Chúa chạy theo tà thần: Chúng đã sớm bỏ đường lối Ta đã chỉ dạy cho chúng, chúng đã đúc tượng bò con và sấp mình thờ lạy nó; chúng đã dâng lên nó của lễ hiến tế và nói rằng: "Hỡi Israel, này là Thiên Chúa ngươi, Đấng đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập" (Xh 32, 8). Họ chưa nhận biết Thiên Chúa duy nhất, thánh thiện, nhân từ và công bằng vô cùng. Tâm trí của dân xưa chỉ nhìn nhận một Thiên Chúa vĩ đại, quyền uy, cao sang và sửa phạt công thẳng. Họ chưa cảm nghiệm được hình ảnh một Thiên Chúa đầy lòng xót thương và nhân hậu. Thiên Chúa luôn khoan dung kiên nhẫn đợi chờ.

Chúa Giêsu là hình ảnh Chúa Cha. Không ai biết Chúa Cha ngoài Chúa Con và không ai biết Chúa Con ngoài Chúa Cha. Chúa con là Ngôi Lời mạc khải. Ngài thi hành sứ mệnh Chúa Cha giao phó. Trước hết, Chúa mang ơn cứu độ cho các con chiên lạc nhà Israel. Thời đó, các vị chức sắc tôn giáo chưa nhận diện được sứ vụ của Chúa Giêsu. Họ càm ràm: Thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi, cùng ngồi ăn uống với chúng" (Lc 15, 2). Các biệt phái và luật sĩ rất bén nhậy quan sát cách hành xử của Chúa. Tư tưởng, cung cách sống đạo và thi hành lề luật của họ chỉ giới hạn nơi hình thức bên ngoài. Chúa Giêsu đi vào nội tâm khao khát của từng người. Chúa chữa lành và ban lại sự bình an cho mọi tâm hồn.

Chúa dùng nhiều thí dụ để nói lên niềm vui của tâm hồn. Chúa mong muốn những mảnh hồn đang bị xa lạc, tội lỗi, thương tích và tan nát được rửa sạch thay bằng trái tim lành mạnh đầy yêu thương. Chúa vui lắm khi một người tội lỗi biết ăn năn sám hối trở về. Tôi bảo các ông: Các Thiên Thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải" (Lc 15, 10). Trên trời vui mừng, các Thiên Thần vui mừng và mọi người cùng hối nhân vui mừng. Sự mừng vui trong tâm hồn không thể trả giá. Vui của nước mắt ăn năn, vui của sự hối cải trở về và niềm vui của ơn cứu độ. Niềm vui an bình và thanh thoát của tâm hồn được kết hợp cùng Chúa.

Mỗi người có tiến trình trở về khác nhau. Người xa kẻ gần, người tốt kẻ xấu, ai ai cũng cần có những giây phút trở về. Đừng nghĩ rằng mình là người công chính thánh thiện không cần hối cải. Ai nói mình không phạm tội là người nói dối. Có thể chúng ta không hư thân mất nết, ăn chơi phung phí hết tiền của như người con phung phá để rồi cuối cùng mới trở về: Tôi muốn ra đi, trở về với cha tôi và thưa người rằng: 'Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha (Lc 15, 18). Tự vấn, có thể chúng ta không đến nỗi sống tệ bạc như người bạn trẻ này, nhưng có khi chúng ta đã lạc xa Chúa qua những sự dối gian, ích kỷ, giận ghét, thù hận và kiêu căng khác. Những thói xấu này làm xói mòn đời ta hơn nữa. Tội lỗi âm ỉ như những con vi trùng ung thư lan tràn khắp châu thân. Tội như là những con vi khuẩn độc hại tàn phá từng ngày. Chúng ta phải luôn cảnh tỉnh xét mình qua lời nói, hành động và cách suy nghĩ. Sẽ không thừa thãi, chúng ta biết chạy đến bác sĩ để khám bệnh, phòng bệnh và chữa bệnh kịp thời.

Một tâm hồn biết hối cải sẽ là niềm vui chung. Trong dụ ngôn người con phung phá trở về, đã được cha mở tiệc ăn mừng. Cha nói: Nhưng phải ăn tiệc mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy (Lc 15, 32). Thật cảm động về tình cha nhân hậu! Cha không ngoái lại quá khứ để bắt bẻ, hạch hỏi hay la rầy. Cha đón nhận một tâm hồn thống hối với trái tim yêu thương rộng mở. Lòng xót thương của cha thật bao la vĩ đại. Cha ôm con vào lòng và thổ lộ rằng con ta đã bị lạc mất nay lại tìm thấy. Niềm vui vỡ òa. Con được đón nhận trở lại trong vòng tay âu yếm của cha. Của cải của cha giờ đây sẽ là của con. Sự giao hòa, tha thứ và yêu thương sẽ đan kết nên một tương lai an vui và hạnh phúc.

Thánh Phaolô không ngại nói về quá khứ bất hảo của mình. Khi được ơn trở lại, Phaolô đã sống trong ân sủng của Chúa. Thánh Phaolô tâm sự: Dù trước kia cha là kẻ nói phạm thượng, bắt đạo và kiêu căng, nhưng cha đã được Thiên Chúa thương xót, vì cha vô tình làm những sự ấy trong lúc cha chưa tin (1Tm 1, 13). Phaolô đã dũ bỏ qúa khứ lỗi lầm và bước đi trên con đường cứu độ. Ngài không ngừng rao giảng về Chúa Kitô chịu đóng đinh và phục sinh từ cõi chết để chuộc lại lỗi lầm của chúng ta. Chúa đến để cứu thoát những con người tội lỗi. Phaolô chấp nhận thân phận yếu đuối của mình: Lời nói chân thật và đáng tiếp nhận mọi đàng là: Đức Giêsu Kitô đã đến trong thế gian này để cứu độ những người tội lỗi, trong số ấy, cha là người thứ nhất (1Tm 1, 15). Noi gương thánh Phaolô, mỗi người chúng ta cũng tự xét mình, cúi đầu nhận lỗi và xưng thú lỗi lầm, ăn năn sám hối và xin ơn tha thứ.

Lạy Chúa, chúng con đã nhiều lần lạc xa và phạm tội mất lòng Chúa. Đôi khi chúng con tự cho mình là người thánh thiện và công chính. Xin cho chúng con biết cúi đầu đấm ngực ăn năn và hối lỗi trở về với Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu.


 

TN24-C98: YÊU THƯƠNG, THA THỨ

 LÀ BẢN CHẤT CỦA THIÊN CHÚA
Lc 15, 1 - 32
Jos.Vinc. Ngọc Biển

 

Trong cuộc sống, chúng ta vẫn thường nghe đâu đó những lời bàn tán: "tại sao Thiên Chúa không phạt: TN24-C98

Trong cuộc sống, chúng ta vẫn thường nghe đâu đó những lời bàn tán: "tại sao Thiên Chúa không phạt nhãn tiền những kẻ tội lỗi, kiêu căng, tự phụ và làm những chuyện gian ác! Thiên Chúa phải chăng dung túng cho những kẻ bất lương, để họ tha hồ lộng hành và 'tác oai tác quái ...?'" Khi có những suy nghĩ như vậy, chúng ta quên mất một điều căn bản về Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa làm những chuyện ngược lại với bản chất của Ngài, thì Ngài không còn là mình nữa, bởi vì "Thiên Chúa là Tình Yêu".

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay trình bày cách tiệm tiến cho chúng ta thấy rất rõ về lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa qua các bài đọc.

1. Ý Nghĩa Lời Chúa

Khởi đi từ bài đọc I: sách Xuất hành trình thuật cho chúng ta biết, sau khi rời khỏi Aicập, dân Do Thái là một toán người ô hợp, nên Thiên Chúa đã thiết lập Giao Ước với họ để củng cố trật tự cho dân. Chiếu theo những điều khoản trong quy định của luật Giao Ước, Thiên Chúa chọn dân Israel làm dân riêng của mình và dân chúng thì tôn thờ Thiên Chúa, trung thành với điều luật đã được ký kết. Tuy nhiên, không lâu sau khi ký kết Giao Ước, dân đã bội thề với Chúa, đã đúc và thờ bò vàng là một thứ ngẫu tượng thay thế Thiên Chúa. Tệ hơn và xúc phạm đến Thiên Chúa cách nặng nề là họ đã coi bò vàng như là Đấng đã giải thoát họ ra khỏi ách nô lệ bên Aicập. Thiên Chúa nổi nóng và muốn diệt trừ, nhưng qua Môsê, ông đã xin Chúa tha thứ cho dân, Ngài đã đồng ý và sẵn sàng tha, không còn có ý định tiêu diệt dân nữa.

Sang bài đọc II: thánh Phaolô nhắc lại cho ông Timôthê về lòng thương xót mà Thiên Chúa đã ban cho ông. Nếu Chúa không tha thứ, thì ông không thể được phần phúc biết và rao giảng về Đức Kitô Giêsu, bởi chưng trước kia ông là một người phỉ báng danh Chúa như chính ông đã bộc lộ: "Người đã kể cha là người trung tín, khi đặt cha thi hành chức vụ: dù trước kia cha là kẻ nói phạm thượng, bắt đạo và kiêu căng, nhưng cha đã được Thiên Chúa thương xót, vì cha vô tình làm những sự ấy trong lúc cha chưa tin".

Đỉnh cao là bài Tin Mừng: bài Tin Mừng thuật lại việc Đức Giêsu thường xuyên tiếp xúc với những người thu thuế và những người tội lỗi, vì họ rất thích nghe Ngài giảng. Thấy được điều đó, những người Pharisiêu và những người Biệt Phái liền xầm xì với nhau, đồng thời bàn tán về hành động của Đức Giêsu đang làm. Thấy vậy, Ngài mới kể cho họ nghe một loạt dụ ngôn, nhằm giúp cho họ nhận ra bản chất của Thiên Chúa.

Bắt đầu từ dụ ngôn "chiên lạc": qua dụ ngôn này, Thiên Chúa được ví như người mục tử, sẵn sàng bỏ 99 con còn lại để đi tìm 1 con thất lạc. Con chiên lạc này mất vì lý do nào ta không biết, chỉ biết là nó đã tách ra khỏi đàn và biến mất khi chiều về. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể hiểu được rằng: nó đang trong hoàn cảnh cùng cực, lấm lem và đối diện với sự nguy hiểm vì không nhận được sự chăm sóc của chủ nó cũng như không có sự bảo vệ tập thể. Thấy được nỗi sợ hãi, bơ vơ... của chiên bị lạc và với bản chất của người chủ chiên tốt lành, ông đã lên đường đi tìm. Nếu xét về góc độ toán học thì ông chủ này quả là vô lý khi chấp nhận bỏ lại 99 con để chỉ đi tìm 1 con bị lạc. Vô lý vì 1 so với 99 thì 1 không có ảnh hưởng đến kinh tế là mấy. Mất 1 ông cũng không nghèo đi chút nào cả. Tuy nhiên, với ông thì sự giàu nghèo thua thiệt về số lượng không quan trọng, điều quan trọng chính là mỗi một con chiên đều có giá trị trước mặt ông, vì thế ông không thể để mất nó được. Một hành động hết sức gợi cảm, đó là ông chủ tìm được rồi thì vác nó lên vai. Hành động vác trên vai thể hiện sự trân trọng, yêu mến và nâng niu. Chấp nhận tha thứ tất cả và thể hiện tình thương trọn vẹn cho nó. Thiên Chúa là thế đó.

Tiếp theo là dụ ngôn "đồng bạc bị mất": 1 đồng bạc ở đây chỉ có giá trị bằng một ngày công thời bấy giờ. Mất một đồng tức là bị mất một phần rất nhỏ về giá trị vật chất. Nhưng lạ kỳ thay, khi mất một đồng như vậy, người đàn bà đã làm mọi cách để tìm cho bằng được đồng bạc đã mất. Nào là thắp đèn, quét nhà, moi móc, và khi tìm được rồi thì vui mừng mời hàng xóm láng giềng đến chung vui. Hành vi này của người đàn bà trong dụ ngôn lại trở nên khó khăn hơn rất nhiều, bởi vì nhà của người Do Thái thời đó rất thiếu ánh sáng, trật trội. Còn nền nhà thì làm bằng đất và được phủ lên bằng những tấm liếp được đan bằng sậy và cành cây đã khô. Tìm một đồng bạc như vậy chẳng khác gì "mò kim đáy biển...". Tuy nhiên, bà vẫn cố tìm, khi tìm được, bà sẵn sàng mời mọi người đến chung vui. Tìm được một đồng, mà lại mời hàng xóm đến chung vui thì quả là một người không biết tính toán. Nhưng không, bà nghĩ đồng bạc tìm thấy là cái gì đó gắn liền với bà, nên tìm được rồi thì niềm vui nhân lên gấp nhiều lần chi phí phải trả để mời bạn bè. Thiên Chúa là thế đó.

Cuối cùng là dụ ngôn "người con hoang đàng": với người Do Thái thì việc xin cha mẹ chia gia tài cho mình lúc còn sống chính là một điều bất kính, chẳng khác gì mong cho cha mẹ chết sớm. Dụ ngôn cho thấy, ông chủ có hai người con, và lẽ dĩ nhiên hai người con của ông chính là điểm tựa lúc về già. Ấy vậy mà người con thứ đã ngạo ngược xin cha chia gia tài cho mình. Vì tình thương, và tôn trọng sự tự do, người cha không nghĩ gì cho mình, nên đã sẵn sàng chia gia tài theo ý con của mình xin. Có được tiền bạc trong tay, người con thứ ra đi, ăn chơi, đàn điếm và phung phí hết tiền bạc, kết cục bằng việc phải đi làm mướn bằng nghề chăn nuôi heo. Đây là công việc mà người Do Thái cho là ghê tởm và đáng bị nguyền rủa, bởi vì loài heo là loài ô uế và hình ảnh của Ma Quỷ. Sống trong tình trạng cơ cực như vậy, nó mới hồi tâm và quyết định trở về với cha mình. Khi nó trở về, người cha không hề oán trách tại sao mày ra nông nỗi này, hay tiền có còn hay hết, hoặc mày muốn đi thì cho đi luôn, đừng quay trở lại nữa. Không! Người cha đã trông mong nó trở về từ lâu, ngày nó ra đi cũng là ngày người cha sống trong hy vọng được gặp lại nó. Quả thật, khi nó quay về, ông vui mừng khôn siết, không cần suy nghĩ gì cả, và việc đầu tiên ông làm là ôm hôn nó. Sau đó là phục hồi nhân phẩm cho đứa con tội nghiệp của mình. Nào là: xỏ giầy vào chân cậu, đây là dấu chỉ của người được tự do, không còn là nô lệ cho ông chủ nào đó mà con ông đã từng bị bắt phải chăn heo. Trao nhẫn vào tay cho cậu, hành vi này thể hiện sự phục hồi hoàn toàn nhân phẩm cho đứa con một thời dại dột. Và, cuối cùng, ông đã mở tiệc ăn mừng vì việc con ông trở về. Sự trở về của người con thứ được ví như "đã mất mà nay tìm thấy, đã chết mà nay sống lại". Thiên Chúa là thế đó.

2. Sứ Điệp Lời Chúa

Như vậy, qua các bài đọc hôm nay, phụng vụ Lời Chúa làm toát lên bản chất của Thiên Chúa, một vị Thiên Chúa luôn yêu thương con người; Ngài là Đấng luôn luôn tha thứ, cảm thông và sẵn sàng chết cho người mình yêu. Thật vậy, bình thường, không một ai lại bất thường đến độ bỏ 99 con chiên để đánh đổi 1 con; mất một đồng bạc lại tốn công hại sức để đi tìm và tìm được rồi lại mở tiệc khao xóm giềng chỉ vì tìm được một đồng. Nhưng những điều xem ra nghịch lý đó được trở nên hợp lý khi chúng ta bước sang dụ ngôn thứ ba nói về người cha nhân hậu. Thật vậy, Thiên Chúa luôn luôn tha thứ và sẵn sàng chấp nhận tất cả, miễn là con người có sự trở về và tỏ lòng sám hối. Với Chúa, hình ảnh 1 con chiên và đồng bạc là một cái gì đó quý giá trước mặt Ngài, bởi vì mỗi người đều là một hữu thể duy nhất trước mặt Chúa, nên cần được Chúa yêu thương. Tấm lòng của Thiên Chúa là tấm lòng của một người cha nhân từ, tha thứ. Người Cha này không thể ngủ yên khi con của mình đang thiếu thốn tình thương, đang sống trong tình trạng nguy hiểm. Một người chủ chiên không thể nào "bình chân như vại" khi biết trước được vận mệnh của con chiên đi lạc. Một người phụ nữ không thể nào chấp nhận mất đi cái mà mình luôn coi trọng vì nó gắn liền với cuộc sống của bà. Thiên Chúa là như thế đó. Ngài đã yêu là yêu đến cùng. Thật vậy, tận cùng của tình yêu là yêu không giới hạn.

3. Sống Lời Chúa Trong Cuộc Sống Hôm Nay

Chúng ta thật hạnh phúc vì có một vị Thiên Chúa giàu lòng xót thương, một vị Thiên Chúa luôn đồng hành, tha thứ và xóa bỏ hết những tội lỗi cho chúng ta cho dù tội của chúng ta có nặng tới đâu: "dù tội con có đỏ như son, Ta cũng làm cho trở nên trắng như tuyết. Có thẫm tựa vải điều, Ta cũng làm nên trắng như bông". Vì thế, noi gương Chúa, chúng ta cần phải có thái độ tha thứ và nhận định đúng về người anh chị em của chúng ta. Không ai là xấu hết, cũng như không ai là tốt hết. Đã là con người, ai cũng có những sự bất toàn của mình. Thái độ của chúng ta đôi khi cũng giống như những người Biệt Phái và Kinh Sư khi xưa là tìm cách bắt bẻ anh chị em mình để "bới lông tìm vết" và vạch trần những tội lỗi của anh chị em. Đôi khi lại còn thích thú khi thấy người khác sa ngã, vì đây là cơ hội để mình lên mặt dạy đời, hay có những khi tỏ vẻ nhân từ để sửa lỗi cho anh chị em mà lại vô tình đẩy anh chị em chúng ta vào chỗ chết.

Thật vậy, Lời Chúa ngày hôm nay dạy cho chúng ta phải có lòng nhân từ đích thực như Thiên Chúa, phải vui mừng vì thấy người anh chị em chúng ta sám hối trở về, đừng bao giờ vội kết luận người khác là "đồ bỏ". Muốn làm được điều đó, thiết nghĩ mỗi chúng ta cũng cần nhận ra mình là kẻ tội lỗi và đã được Chúa yêu thương. Biết bao lần nếu Chúa không cho chúng ta có cơ hội để làm lại thì ta đã mất ơn nghĩa với Chúa từ lâu rồi. Trong kinh Vực Sâu có viết: "Nếu Chúa chấp tội thì nào ai rỗi được".

Thật vậy, trước mặt Chúa, chúng ta phải thành thật mà thú nhận rằng: đôi khi chúng ta không phải là đứa con đi hoang, ra khỏi nhà để sống một cuộc sống trụy lạc như người con thứ, song nhiều lúc, chúng ta lại đi hoang trong cõi lòng. Môi miệng thì đọc kinh, hằng ngày vẫn đi lễ, nhưng hành động và thái độ yêu thương lại quá xa vời hay hời hợt với tinh thần của Chúa. Có những người nói là con chiên ngoan đạo, nhưng không thể hướng một ánh mắt thân thiện, một nụ cười cởi mở, một cái bắt tay chân tình với những người mà ta không ưa. Như vậy, chúng ta chính là những người đang đi hoang, lạc đàn về tâm linh như người con cả. Ở trong nhà cha mà bấy lâu anh ta cứ tưởng mình như người làm công cho cha mà thôi, và tệ hơn nữa là có những hành xử thiếu tình gia đình với em của mình.

Như vậy, nếu Thiên Chúa đã tỏ lòng nhân hậu với chúng ta, mặc dù chúng ta đáng tội chết, thì đến lượt chúng ta, chúng ta cũng phải yêu thương và sẵn lòng tha thứ cho những người xúc phạm đến ta. Kinh nghiệm cho thấy, chúng ta không thể tha thứ được cho người khác là vì chúng ta luôn nghĩ mình tốt lành hơn họ. Nhưng trong thực tế, đôi khi tội của ta còn nặng hơn gấp bội lỗi của anh chị ta, chỉ có điều tội của ta thì không ai biết nên ta dễ dàng vênh vang và tự phụ, nhưng Chúa biết cả. Bao lâu chúng ta nghĩ mình cũng là người yếu đuối và đã được Thiên Chúa yêu thương thì chúng ta cũng cần tha thứ cho nhau như Chúa đã tha thứ cho chúng ta.

Lạy Chúa là Cha giàu lòng thương xót. Xin tha thứ cho những thiếu xót của chúng con; đồng thời xin ban cho mỗi chúng con cũng có một trái tim, ánh mắt nhân từ như Chúa, để chúng con sẵn sàng tha thứ cho người khác khi họ xúc phạm và có lỗi với chúng con. Amen.


 

TN24-C99:  DỤ NGÔN

Lc 15, 1 - 32
Lm Vũ đình Tường

 

Dụ ngôn trong Kinh Thánh diễn tả tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa với nhân loại và lòng tha thứ vô: TN24-C99

Dụ ngôn trong Kinh Thánh diễn tả tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa với nhân loại và lòng tha thứ vô biên vượt khỏi sự mong đợi của phạm nhân. Mục đích chính của dụ ngôn hướng dẫn ta về mầu nhiệm nước trời.

Dụ ngôn mặc dù có nhiều điểm tương tự như chuyện ngụ ngôn vì cả hai đều nhắm đến mục đích hướng dẫn cách sống, cách xử thế của con người nhưng ngụ ngôn hoàn toàn khác với dụ ngôn. Điểm khác biệt chính trong chuyện ngụ ngôn là dùng hình ảnh động vật, cây cối hoặc phong cảnh thiên nhiên trong chuyện để giải thích, hướng dẫn về đạo đức trong cuộc sống trong khi dụ ngôn trong Kinh Thánh nhân vật chính là tình yêuThiên Chúa và lòng xót thương của Ngài đối với con người.

Dụ ngôn thường có rất ít chi tiết trong chuyện. Nếu nhắc đến chi tiết thì mỗi chi tiết dù nhẹ nhàng, nhỏ đến đâu chúng đều có í nghĩa riêng của nó. Dụ ngôn cũng không nhắc đến nơi chốn cố định, rõ ràng và thời gian. Chi tiết trong dụ ngôn rất thực với thực tế cuộc sống và hiện thực trong xã hội loài người vì thế dụ ngôn bất biến với thời gian và văn hoá. Chính điểm này biến dụ ngôn thành bất biến với thời gian. Có thể áp dụng dụ ngôn thích hợp cho cuộc sống trong mọi thời đại và mọi hoàn cảnh với phong tục tập quán khác nhau.

Cấu tạo của dụ ngôn thường có ba phần. Trước hết là khung cảnh của dụ ngôn. Sau đó là hành động hoặc tâm tình của nhân vật và thứ ba là kết quả ngạc nhiên, bất ngờ xảy đển ngoài sự tiên đoán, mong đợi của người đọc. Tâm tình của nhân vật trong dụ ngôn thường liên quan đến quyết định khó khăn, nhức nhối thuộc về đạo đức, nhân cách và công bằng xã hội. Nói tóm gọn là vấn đề tình yêu. Nhân vật trong dụ ngôn không hài lòng với cuộc sống hiện tại và tìm cách giải phóng mình khỏi ràng buộc hiện tại. Kết quả là sau giải phóng là đau khổ dồn dập. Trở thành nạn nhân, tối tăm mặt mày vì điều mình mơ tưởng. Dụ ngôn một mặt có í nghĩa trong sáng dễ nhận biết điều dụ ngôn muốn nhắc đến. Mặt khác, chiều sâu tâm linh của dụ ngôn rất khó nhận biết. Khó khăn này gây nên bởi nhiều iếu tố khác nhau. Thứ nhất dụ ngôn thường dủng hình ảnh đơn giản thực tế, so sánh, giải thích những vấn đề phức tạp. Thứ hai dụ ngôn dùng hình ảnh cụ thể dẫn dắt người đọc đến hình ảnh trìu tượng mà hình ảnh cụ thể không thể giải thích rõ. Thứ ba dụ ngôn thường có những biến chuyển đột ngột, bất ngờ, xa lạ người đọc cảm thấy bất thường và nếu suy nghĩ thấy không ăn khớp với cách suy nghĩ bình thường của đại chúng. Thứ tư dụ ngôn thường được đọc đi đọc lại hàng năm nên người nghe không chú tâm vào dụ ngôn và bỏ qua chi tiết. Chi tiết đã hiếm lại trở nên hiếm hơn nếu không chủ tâm lắng nghe. Thứ năm phong tục, tập quán dùng trong dụ ngôn xa lạ với người nghe. Điều này khiến người nghe khó hình dung ra quang cảnh trong đầu hay tạo mối liên hệ liên quan đến cốt lõi dụ ngôn. Cuối cùng lí do quan trọng nhất là chính Đức Kitô chủ trương có dụ ngôn giúp ta hiểu rõ ràng, cũng có dụ ngôn ta cần phải suy niệm trong lòng, mở rộng tâm hồn tìm hiểu mới có thể hiểu được. Điều này tìm thấy trong những đối thoại giữa Đức Kitô và các môn đệ.

Các môn để hỏi sao Thầy lại dậy họ bằng dụ ngôn và Đức Kitô trả lời.Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm nước trời, còn họ thì không .... Bởi thế Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe, không hiểu. Mat 13,10-13

Đức Kitô hỏi các môn đệ: Anh em có hiểu tất cả những điều ấy không? Họ đáp: Thưa hiểu Mat 13,51

Một nơi khác Đức Kitô nói với các ông: Anh em không hiểu dụ ngôn này thì làm sao hiểu tất cả các dụ ngôn? Macô 4,13

Người dùng nhiều dụ ngôn tương tự mà rao giảng lời cho họ, tuỳ theo mức họ có thể nghe. Người không bao giờ rao giảng cho họ mà không dùng dụ ngôn. Nhưng khi chỉ có thầy trò với nhau, thì Người giải nghĩa hết. Mk 4,33-35.

Xin ơn cẩn trọng khi dùng Kinh Thánh biện hộ trong giao tế hàng ngày.

Nguồn vietcatholic.org

 

TN24-C100:  BA DỤ NGÔN VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

 (Luca 15,1-32 – CN XXIV - C)

1.- Ngữ cảnh
 

Đoạn Tin Mừng chúng ta đọc hôm nay nằm trong phân đoạn độc đáo nhất của TM Lc (9,51–19,27): TN24-C100

Đoạn Tin Mừng chúng ta đọc hôm nay nằm trong phân đoạn độc đáo nhất của TM Lc (9,51–19,27): cuộc hành trình lên Giêrusalem. Trong cuộc hành trình này, có đám đông dân chúng đi theo Đức Giêsu.
Sau khi đã giáo huấn đám đông về những điều kiện để làm môn đệ Ngươi (14,25-35), bây giờ Đức Giêsu dùng một số dụ ngôn mà ngỏ lời với các người Pharisêu và các kinh sư, vì họ đã lẩm bẩm trách móc Ngươi khi Ngươi tiếp đón những người thu thuế và tội lỗi, và cùng ăn uống với những người ấy.
Ba dụ ngôn của chương 15 (con chiên bị lạc mất [cc. 4-7], đồng bạc bị đánh mất [cc. 8-10], người con hư mất [cc. 11-32]) đã được gọi là “trái tim của Tin Mừng III” (Romaroson), vì được kết cấu rất nghệ thuật để nêu bật được đề tài duy nhất là tình yêu của Thiên Chúa và lòng thương xót đối với những kẻ tội lỗi qua lời Đức Giêsu kêu gọi hoán cải.
          Hai dụ ngôn đầu nói về việc tìm được cái đã mất, dụ ngôn thứ ba cũng triển khai cùng một đề tài, nhưng như một tổng hợp với những hình ảnh được vận dụng rất tài tình. Trước đây dụ ngôn này vẫn được gọi là “Dụ ngôn đứa con hoang đàng”, nhưng gọi là “Dụ ngôn người cha nhân hậu” thì hợp lý hơn, bởi vì dung mạo trung tâm của truyện chính là người cha. Hoặc để tương ứng với hai đầu đề của hai dụ ngôn trước, thì có thể gọi là “Dụ ngôn người con hư mất”, nhưng nhớ rằng nhân vật chính là người cha, cũng như trong hai dụ ngôn trước, nhân vật chính là người mục tử và người phụ nữ.

2.- Bố cục
          Bản văn có thể chia thành hai phần:
          1) Một dẫn nhập (15,1-3);
          2) Ba Dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa (15,4-32):
                   a) Dụ ngôn Con chiên bị lạc mất và được tìm thấy (cc. 4-7);
                   b) Dụ ngôn Đồng bạc bị đánh mất và được tìm thấy (cc. 8-10);
                   c) Dụ ngôn Người con hư mất và được tìm thấy (cc. 11-32).

3.- Vài điểm chú giải
- Tất cả những người thu thuế và những người tội lỗi (1): Đây là những người ở bên lề xã hội Do Thái, những kẻ vô đạo, sống vô luân. Họ đến nghe Đức Giêsu như đã từng đến nghe Gioan Tẩy Giả (3,12-13). Tác giả Luca đã nói quá khi dùng từ ngữ “tất cả”, nhưng mục đích là cho thấy chiều hướng căn bản của sứ điệp và cách xử sự của Đức Giêsu: Người đến để tìm và cứu những gì đã mất, nghĩa là tất cả.
- lẩm bẩm (2): Cũng như ở 5,30 và sau này ở 19,7, thì vị hồn (imperfect) cho hiểu đây là thái độ thường xuyên của người Pharisêu và các kinh sư.
- ông này (2): Đại từ chỉ định houtos có nghĩa xấu: “tên này”.
- Người nào trong các ông có một trăm con chiên (4): Đây là một mục tử vô danh, được dùng như biểu tượng của Thiên Chúa giàu lòng từ bi thương xót (xem Cựu Ước: Tv 23,1-3; Ed 34,11-16).
- hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn (7): Nếu chín mươi chín người này là các kinh sư và người Pharisêu, thì câu kết này có giọng mỉa mai. Nhưng rất có thể đây chỉ là cách tác giả Lc phóng đại niềm vui của Thiên Chúa khi có một người tội lỗi hối cải.  
- mười đồng bạc (10): Đồng drachmê là đồng bạc cổ. Chúng ta khó biết giá trị chính xác của đồng bạc này. Có một thời người ta có thể dùng một đồng drachmê mà mua được một con chiên, hoặc được nhận như lương làm việc một ngày. Vào thời hoàng đế Nêrôn, đồng denarius được dùng đểthay thế đồng drachmê và coi như tương đương.
- Một người kia có hai con trai (11): Có thể giả thiết đây là một ông chủ trang trại giàu có xứ Paléttina.
- phần tài sản con được hưởng (12): Theo tập tục xứ Paléttina, một người cha có thể định đoạt về của cải của ông hoặc bằng một di chúc (HL. diathêkê) được thi hành sau khi ông qua đời (Ds 36,7-9; 27,8-11) hoặc bằng một tặng-dữ ban cho các con trong khi ông còn sống (HL. dôrêma; x. Hc 33,19-23). Trưởng nam được hưởng “hai phần sản nghiệp”, nghĩa là gấp đôi phần được ban cho mỗi người con khác (Đnl 21,17). Ở đây, vì chỉ có hai đứa con, người con cả được nhận hai phần ba và người con thứ nhận một phần ba. Khi đó, người con có quyền sở hữu, nhưng quyền thu hoa lợi vẫn thuộc về người cha cho đến khi ông qua đời. Nếu người con bán phần gia sản của mình, người mua chỉ được nhận lấy sau khi người cha chết. Khi làm như thế, người con sẽ không còn có quyền đòi hỏi gì về của cải, cả về vốn lẫn lãi.
- sống phóng đãng (13): Trạng từ asôtôs có nghĩa là “một cách không lành mạnh”. Chúng ta không biết là “không lành mạnh” cụ thể là thế nào; ở c. 30, người anh cả mô tả là “nuốt hết của cải với bọn điếm”, nhưng phải chăng anh đã phóng đại?
- chăn heo (15): Theo Lv 11,7 (x. Đnl 14,8), con heo, tuy có chân chẻ làm hai móng, nhưng không là loài nhai lại, nên bị coi là “ô uế” đối với người Do Thái. Chi tiết này cho thấy sự sa sút của chàng trai.
- nhưng chẳng ai cho (16): Thế thì anh ta lấy thức ăn ở đâu, tác giả không nói, bởi vì điều này không quan trọng.
- chạy ra (20): Chi tiết này diễn tả sáng kiến của người cha, tình yêu bền bỉ của ông đối với đứa con đã bỏ đi.
- và hôn lấy hôn để (20): Không phải chỉ là để chào đón, nhưng là bày tỏ sự tha thứ (x. 2 Sm 14,33).
- Thưa cha … con (21): Người con lặp lại lời thú lỗi đã soạn trước (cc. 18-19), nhưng trước khi anh ta kịp nói ra lời thỉnh cầu, người cha đã can thiệp rồi.
- áo đẹp nhất (22): dịch sát là “chiếc áo thứ nhất”, tức là áo hạng nhất. Như thế, người cha không xử với người con như anh ta yêu cầu (“như người làm công”), nhưng như một người khách được tôn kính.
- xỏ nhẫn… xỏ dép (22): Nhẫn là dấu chỉ quyền bính (St 41,42; Et 3,10; 8,2); dép là dấu chỉ một con người tự do.
- đã mất mà nay lại tìm thấy (24): Đây là cụm từ móc nối liên kết dụ ngôn này với hai dụ ngôn trước.
- con hầu hạ cha (29): Người con cả dùng động từ douleuein, “phục vụ”, “hầu hạ”, hàm ý là anh ta không chỉ tự liệt mình vào hạng người làm công (misthios), nhưng là hạng nô lệ (doulos): “hầu hạ cha trung thành như một tên nô lệ”.
- chẳng khi nào trái lệnh (29): Anh ta ý thức về sự trung thành của anh, anh nhấn mạnh đến lòng trung thành này, tức nêu bật điều nghịch lý ở đây là nhân đức lại được ban thưởng tồi tệ hơn là tât xấu!
- một con dê con (29): Chi tiết này cho thấy người con cả không tin tưởng vào cha, anh tính toán, kể công.
- thằng con của cha đó (30): Người con cả diễn tả mức khinh bỉ cao độ; anh ta không thể chấp nhận nói về người con thứ như là “em con”. Ở đây thêm một lần nữa, tính từ houtos được dùng với nghĩa xấu.
- lúc nào con cũng ở với cha (31): Người cha không trách móc, than thở, không nói rằng người con cả sai; ông cũng chẳng phê phán thái độ cao ngạo hoặc bình phẩm gì cả. Ông coi mọi chuyện đó là đúng như thế. Nhưng ông chỉ nhấn mạnh trên sự liên kết thâm sâu giữa cha con: “Lúc nào con cũng ở với cha” (= con chưa bao giờ chết; con chưa bao giờ mất).
- tất cả những gì của cha đều là của con (31): nghĩa là tất cả của cải (x. c. 12), những gì còn lại sau khi người con thứ đã lấy đi phần của anh ta; tất cả những thứ này sẽ thuộc về người con cả, sau khi cha chết.
- em con (32): Câu trả lời của người cha làm vọng lại công thức của người anh, và là một cách sửa chữa.

4.- Ý nghĩa của bản văn
* Một dẫn nhập (1-3)
Đức Giêsu đã đến để cứu tất cả mọi người; những người thu thuế và tội lỗi phải đến với Người bởi vì họ không gặp được ở nơi nào khác lời đưa lại niềm hy vọng và sự tiếp đón ân cần nhưng-không. Cách xử sự này khiến người Pharisêu và các kinh sư phải lẩm bẩm trách móc. Họ trách Đức Giêsu hai điểm: đón tiếp người tội lỗi và ăn uống với họ. Các kinh sư thường nói: “”Chớ có một ai đi giao du với những kẻ xấu xa, cho dù là thử thuyết phục họ đi theo luật của Thiên Chúa”. Những người thu thuế và tội lỗi không được thuộc về cộng đoàn, vì Thiên Chúa đã ngoảnh mặt đi tránh họ; do đó, Israel cũng phải làm như thế. Vậy mà Đức Giêsu lại đón tiếp họ! Đã thế, Người lại còn ăn uống với họ, tức là làm một việc đáng trách hơn nữa, vì ăn uống với ai là kết giao, chia sẻ tình bạn, tình liên đới với người ấy.
Dẫn nhập này đưa lại cho [các] dụ ngôn một đặc tính là biện hộ, là bào chữa cho cách xử sự của Đức Giêsu đối với người tội lỗi. Qua cách xử sự này, Đức Giêsu cho thấy là sự hoán cải không là điều kiện tiên quyết người ta phải có để được Thiên Chúa đón tiếp; trái lại Thiên Chúa đã thực hiện “sự hoán cải” trước, để người ta có thể lại đi vào quan hệ an bình với Ngài.

* Ba Dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa (4-32)
Từ dụ ngôn đầu đến dụ ngôn thứ ba của chương 15, tác giả cho thấy có một sự tiệm tiến: một con chiên trong số một trăm, một đồng bạc trong số mười đồng, rồi một đứa con trong số hai người. Bản văn càng đi tới càng cho thấy rằng điều đã mất nay lại tìm thấy càng lúc càng trở nên quí báu hơn.
Người mục tử, người phụ nữ và người cha đều vô danh, bởi vì cả ba được đề ra như một biểu tượng của Thiên Chúa yêu thương.
Một con chiên có giá trị của nó. Không phải vì còn chín mươi chín con kia, mà con chiên bị lạc không đáng kể. Người mục tử sẽ kiên nhẫn đi tìm con chiên lạc cho đến khi tìm thấy nó. Chín đồng bạc còn lại vẫn không miễn cho người phụ nữ khỏi tha thiết đi tìm đồng đã mất. Một người con thì còn đáng giá hơn muôn vàn con chiên hoặc đồng bạc. Các kinh sư dạy rằng Thiên Chúa vui mừng khi người công chính sống lại, và kẻ gian ác phải tiêu vong. Đứcd Giêsu lại nói rằng Thiên Chúa vui mừng khi kẻ gian ác được sống lại, “trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (c. 7). Ở đây không phải là một lời kêu gọi hãy phạm tội, nhưng là một lời mời gọi hãy nhìn nhận rằng tất cả chúng ta là những kẻ tội lỗi trước mắt Thiên Chúa. Không có một ai là “công chính” cả. Vị thần linh ban thưởng tùy theo các công trạng chỉ hiện hữu trong tâm trí người Pharisêu (xưa và nay). Vị Thiên Chúa của Đức Giêsu là một vì Thiên Chúa ban tặng nhưng-không ơn cứu độ cho tất cả chúng ta mặc dù chúng ta không đáng nhận.
Giờ đây chúng ta suy niệm về truyện người con thứ và người con cả. Thật ra, cả hai người con được nói tới chỉ là để cho người cha có cơ hội diễn tả các tâm tình của ông ra.

a) Người con thứ:
Sau khi đã nhận đủ phần gia tài, người con thứ đi đến một xứ xa xôi, hẳn là một miền đất dân ngoại. Tại đó, anh đã xài hết tiền của. Rơi vào tình trạng khốn đốn, anh phải chăn heo: đây là sự sa cơ thất thế cùng cực! Anh ta suy nghĩ. Nhưng không phải là hối hận về lối sống, không phải là tiếc nuối vì đã làm cho cha đau buồn. Anh ta chỉ tự trách là ngu ngốc chịu đói chịu khát ở đây trong khi các tôi tớ ở nhà có ăn dư thừa. Thế là để có thể trở về và được nhạn vào nhà như người làm công, anh chuẩn bị một bài “diễn từ cảm đông” để mong cha nguôi giạn: các lời lẽ hối tiếc không đi đôi với các tâm tình của anh.
Quả thật hình ảnh này không tôn vinh kẻ tội lỗi chút nào. Đây đúng là chân dung mà người Pharisêu chờ đợi.

b) Người con cả:
Lúc người con thứ trở về, người con cả đang làm việc ngoài đồng. Khi trở về, anh nhận ra trong nhà có chuyện lạ. Sau khi hỏi một người đầy tớ, anh ta hiểu chuyện; anh không thể chấp nhận được, anh nổi giận. Ta thông cảm với anh. Vì anh không chịu vào nhà, người cha đã ra gặp. Thế là anh cho tuôn ra hết những gì vẫn chất chứa tận đáy lòng: anh nói với giọng chua cay, nhưng kể ra đúng các sự việc. Theo anh, đúng là người cha đã xử sự bất công! Những người Pharisêu và các kinh sư cũng nghĩ rằng họ có lý khi tỏ ra khó chịu với Đức Giêsu.
Trước tiên người con cả nói về chính mình: “Bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh”. Chắc chắn đấy cũng là lý tưởng của người Pharisêu và các kinh sư: “phục vụ” Thiên Chúa bền bỉ, và rất chú ý để không bao giờ vi phạm một điều răn nào.
Sau đó, người con cả nói về em với giọng hết sức khinh bỉ. Anh không gọi là “em con”, nhưng nói là “thằng con của cha đó”. Điều này cũng giống như người Pharisêu trong dụ ngôn Lc 18,10-14 nói đến “tên thu thuế kia” với giọng miệt thị.
Như thế, Đức Giêsu đã ngỏ lời với những người vẫn nghĩ rằng mình là những tôi tớ tốt lành, luôn quan tâm để không bao giờ thiếu sót một điều răn nhỏ. Khi đó, họ nghĩ họ có nhiều quyền; họ tỏ ra khó chịu, không phải đối với người tội lỗi, nhưng đối với chính Thiên Chúa vì Ngài đã đối xử với kẻ tội lỗi như vậy: Nếu như thế, sống đạo đức còn ích lợi gì? Nếu như thế, sống  trung thành và vâng phục Thiên Chúa còn có ý nghĩa gì nữa?

c) Người cha:
Người cha trông mong người con thứ từng ngày, nên ngay khi anh còn ở đàng xa, ông đã trông thấy. Ông vội vã chạy ra đón con, ông cuống quýt thúc đầy tớ chuẩn bị lễ mừng. Ông chẳng màng đến bài diễn từ bần tiện của anh ta. Ở nhà có con bê béo, ông quyết định cho giết ngay để ăn mừng. Rõ ràng trong lòng ông, niềm vui đang bùng nổ. Ông chưa bao giờ thôi thương yêu con. Nó đi xa, nó đã mất; nay nó lại được tìm thấy. Quá khứ không còn gì đáng kể, Điều quan trọng là nó đã trở về!
Đã không muốn nghe lời hối lỗi của con thứ, nay người cha lại để cho người con cả tha hồ nói lên những tâm tình chua chát. Sau đó, ông đã trả lời với giọng dịu dàng âu yếm. Qua lời ông nói, người con cả chẳng còn lý do gì mà nói rằng cha xử bất công với mình nữa. Nhưng ông tế nhị điều chỉnh: “vì em con đây…”. Nếu cha đã sung sướng đến thế khi gặp lại con, lẽ nào người anh lại không  vui sướng khi gặp lại em?

Chúng ta không bao giờ biết được phản ứng sau đó của người con cả (nghe theo đề nghị của cha? Đi vào nhà và chào em? Đi vào ăn tiệc chung vui?). Chúng ta cũng không biết người con thứ được sống theo chế độ nào, anh ta sẽ đáp lại thế nào. Dù sao, toàn chương 15 giống như một bài ca chan hòa niềm vui được tấu lên để mừng niềm hạnh phúc của người đã tìm lại được điều mà họ đã mất.

+ Kết luận
Nếu đọc cả ba dụ ngôn, chúng ta sẽ thấy hai dụ ngôn đầu kết “có hậu”, còn dụ ngôn thứ ba có kết mở: Người con cả có vào nhà theo lời cha mời chăng? Như thế, hai kết luận tốt đẹp đầu nhằm đưa tới chúng ta một câu hỏi: Chúng ta có hết lòng chia sẻ niềm vui của Thiên Chúa mà đón người tội lỗi hối cải vào Nước Thiên Chúa không? Trong thực tế, chúng ta vẫn được Thiên Chúa vui lòng đón tiếp, chúng ta cũng hãy sẵn lòng đón lấy người anh em trở về.   

5.- Gợi ý suy niệm
1. Mỗi con người đều có giá trị vô song trước mặt Thiên Chúa. Ngài đã tạo nên từng con người với tất cả những phong phú làm nên nhân vị con người ấy. Ngài hỗ trợ cho con người ấy phát triển đến mức tối đa, để cuộc đời người ấy thành một tuyệt tác cho Ngài và cho loài người. Khi chúng ta phục vụ anh chị em, chúng ta phục vụ từng con người có giá trị độc đáo duy nhất, hay là chúng ta chỉ coi như là những con số, những “con chiên” không tên tuổi, theo nhau lầm lũi trước mặt chúng ta?
2. Thiên Chúa thương tất cả mọi người và muốn cho mọi người đều được cứu độ. Nhưng “tất cả” không có nghĩa là một khối người tương đối đông, mà là “từng người”. “Tất cả” là “từng người” trong thế giới, không bỏ sót một ai. Thiên Chúa chiếu cố đến từng con người y như chỉ có một mình người ấy trên đời.
3. Chúng ta có thể thấy mình như người con thứ: không phải là tên ăn cắp, chỉ lấy đúng phần mình; chúng ta cũng còn biết nói “thưa cha!”, nhưng không hề vui thích được ở với cha, mà chỉ muốn ra đi “ăn chơi” cho thỏa thích. Và mỗi khi gặp khó khăn, thì chỉ dâng lên Thiên Chúa một lời cầu nguyện đầy vụ lợi, tính toán. Người con thứ không biết nghĩ rằng xin làm một “người làm công”, thì sỉ nhục cha quá nặng nề, bởi vì cha vẫn chỉ mong đón mình về để làm “con”. Nay được cha đón vào nhà rồi, anh có biết đáp lại tình cha không? Phần này, chính chúng ta sẽ phải viết tiếp bằng đời sống thực tế của mình.
4. Chúng ta cũng có thể thấy mình như người con cả, không bao giờ trái lệnh cha, nhưng cũng chẳng thích ở với cha; trái lại chỉ tính toán, mong có ngay “thoát ly” để đi vui chơi với bạn bè. Đã thế, chúng ta lại tỏ ra khinh bỉ, miệt thị những kẻ bị coi là “tội lỗi”. Nay đã được cha ra gặp để tâm sự rồi, anh có vào nhà để chung vui không? Phần này, chính chúng ta cũng sẽ phải viết tiếp bằng đời sống thực tế của mình.
5. Vì không hiểu tình yêu của cha, cả hai người con, đặc biệt anh cả, không hiểu tiếng gọi kèm theo sự hiểu biết đó: anh chỉ thực sự là con của cha, khi yêu thương anh em mình. Ta không thể phục vụ Thiên Chúa như Ngài muốn nếu không yêu mến Ngài và thông chia tình yêu của Ngài cho anh chị em mình, cho dù họ thế nào. Làm sao có thể tự nhận là môn đệ của Đức Giêsu, khi khinh bỉ quay mặt tránh người anh em đang ở trong tình trạng bần khốn nhất, do tội lỗi gây nên?
Lm FX Vũ Phan Long, ofm
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây