Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-C Bài 1-50 Quản lý bất lương

Thứ năm - 19/09/2019 06:54
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-C Bài 1-50 Người quản lý bất lương
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-C Bài 1-50 Người quản lý bất lương
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-C Bài 1-50 Người quản lý bất lương
TN25-C1. NGƯỜI NGHÈO.. 3
TN25-C2. HRK/416- HAI CHỦ.. 5
TN25-C3. HRK/177- HAI CHỦ.. 7
TN25-C4. CSTM/217- TIỀN CỦA.. 9
TN25-C5. NTGT/252- CHỮ T.. 11
TN25-C6. PV/612- TÍNH CÁCH.. 13
TN25-C7. PV/615- BẢN NĂNG.. 15
TN25-C8. PV/617- TIỀN BẠC.. 16
TN25-C9. SCĐ/725- TRAO BAN.. 18
TN25-C10. Khôn ngoan thế gian - P. Đamianô Đinh Ngọc Thiệu. 19
TN25-C11. KHÔN NGOAN ĐÍCH THỰC- Lm. Phạm Thanh Liêm.. 22
TN25-C12. Khôn Khéo. 25
TN25-C13. Sự Đánh Động Dữ Tợn. 27
TN25-C14. Khôn ngoan của con cái sự sáng- Lm Vũ Xuân Hạnh. 29
TN25-C15. Người quản lý- Lm Trần Thanh Sơn. 32
TN25-C16. Dùng Tiền Bạc Thế Nào Để Đạt Nước Trời?. 35
TN25-C17. Công bằng xã hội - Lm Trần Bình Trọng. 36
TN25-C18. Chúa Đòi Chúng Ta Phải Lựa Chọn. 38
TN25-C19. TRUNG TÍN TRONG VIỆC NHỎ.. 44
TN25-C20. SỐNG BÁC ÁI 46
TN25-C21. Tôi Sẽ Làm Gì?. 48
TN25-C22. Chúa Nhật 25 Thường niên. 51
TN25-C23: Dự án cho tương lai - Sr Margareta Maria Hiền. 52
TN25-C24: CÁCH QUẢN LÝ TIỀN CỦA- Lm Carolo. 54
TN25-C25: TIÊN VÀN LO TÌM NƯỚC THIÊN CHÚA- Lm. Augustine, SJ. 64
TN25-C26: THAM THÌ THÂM... 67
TN25-C27: LÀM TÔI HAI CHỦ.. 73
TN25-C28: KHO TÀNG VĨNH CỬU - ASTY/198. 77
TN25-C29: DÙNG TIỀN - NMS/161. 79
TN25-C30: BẤT LƯƠNG - CS/136. 80
TN25-C31: QUẢN LÝ - SNTMCN/151. 81
TN25-C32: CON CÁI ĐỜI NÀY - TMCN/203. 82
TN25-C33: ĐỨC GIÊSU DẠY MÔN ĐỆ MÌNH.. 83
TN25-C34: NGHỆ THUẬT  SỬ DỤNG TIỀN CỦA.. 87
TN25-C35: KHÔN NGOAN THẬP GIÁ - Lm Nguyễn Hữu An. 90
TN25-C36: TRUYỆN: CỦA CẢI DỄ LÀM HƯ CON NGƯỜI 93
TN25-C37: NHẬN ĐỊNH VỀ TIỀN BẠC.. 95
TN25-C38: Tên quản gia lưu manh. 97
TN25-C39: NGƯỜI QUẢN LÝ BẤT LƯƠNG.. 100
TN25-C40: KHÔNG LÀM TÔI HAI CHỦ THIÊN CHÚA VÀ TIỀN CỦA. 105
TN25-C41: PHUNG PHÍ LÀ TỘI ÁC.. 111
TN25-C42: LỰA CHỌN GIỮA CHÚA VÀ TIỀN BẠC.. 112
TN25-C43: Khôn ngoan nhìn xa. 119
TN25-C44: Người quản gia bất lương. 125
TN25-C45: Anh em không thể.... 127
TN25-C46: CÂU CHUYỆN KHÁ THÚ VỊ ĐẤY ! - Mark Link S.J. 129
TN25-C47: BIẾT SỬ DỤNG CỦA CẢI CHÚA BAN.. 131
TN25-C48: Người giàu có trong bài Tin Mừng - Jkn. 134
TN25-C49. BÁC ÁI CỤ THỂ - Lm. Louis Thanh Minh. 137
TN25-C50: Hạnh phúc vĩnh cữu - Lm Anrê Nguyễn Hữu Nghĩa. 138

 

TN25-C1. NGƯỜI NGHÈO

Có một điều làm tôi ngạc nhiên, đó là Kinh Thánh đề cập rất nhiều đến tiền bạc. Thời bấy giờ: TN25-C1

Có một điều làm tôi ngạc nhiên, đó là Kinh Thánh đề cập rất nhiều đến tiền bạc.
Thời bấy giờ, nền kinh tế của dân Do Thái còn lạc hậu, người ta trao đổi với nhau bằng hàng hóa, và tiền bạc chưa chiếm được một địa vị quan trọng và cần thiết như ngày hôm nay, bởi vì ngày hôm nay có tiền mua tiên cũng được, trái chẳng có tiền thì mọi sự đều xôi hỏng bỏng không…
Sở dĩ Kinh Thánh luôn đề cập đến tiền bạc là để lột mặt nạ cho chúng ta thấy rõ sự bất công của những kẻ tham lam, cũng như sự bóc lột của những kẻ quyền thế.
Thực vậy,  qua bài đọc thứ nhất, tiên tri Amos đã nghiêm khắc cảnh cáo họ :
- Hãy nghe đây, hỡi những kẻ đàn áp người nghèo khó và muốn hủy diệt hết những người bần cùng trong cả nước. Các ngươi giảm đấu đong, tăng giá bán và làm nên những chiếc cân non. Các ngươi lấy tiền mua người nghèo khó, lấy đôi dép mà đổi lấy người túng thiếu. Các ngươi bán lúa mục nát. Thế nhưng, Thiên Chúa sẽ không quên lãng và những hình phạt khủng khiếp sẽ được giáng xuống trên các ngươi.
Cùng một tiếng chuông cảnh tỉnh ấy đã được vang lên qua đoạn Tin mừng hôm nay. Đúng thế, Chúa Giêsu đã không khen ngợi những tính toán mờ ám của tên quản lý bất lương, nhưng Ngài chỉ khen ngợi sự không ngoan, bình tĩnh và tiên liệu của hắn.
Từ đó, Ngài  muốn nói với chúng ta rằng :
- Các con hãy dùng tiền bạc gian dối mà mua lấy bạn hữu, để khi mất hết tiền bạc, thì họ sẽ tiếp đón các con vào chốn an nghỉ đời đời.
Chúa Giêsu muốn chúng ta có thái độ siêu thoát đối với tiền bạc và nhất là chỉ coi nó như phương tiện đem lại lợi ích cho chúng ta, chứ đừng coi nó như mục đích, để rồi quá dính bén, khiến nó chi phối đời mình.
Ngài cũng quả quyết :
- Các con không thể làm tôi hai chủ, vì nếu mến chủ này thì sẽ ghét chũa kia. Cũng vậy, các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa lại vừa làm tôi tiền của được.
Đúng thế, nếu làm tôi Thiên Chúa, chúng ta sẽ trở nên những người con của Ngài. Còn nếu làm tôi tiền của, chắc chắn chúng ta sẽ bị hư mất.
Đức Tổng giám mục Camara là một người phát ngôn bảo vệ quyền lợi của hằng triệu người nghèo túng ở Nam Mỹ. Họ bị giới chủ nhân bóc lột. Mà giới chủ nhân ở đây là những ai ? Đó là những Kitô hữu, sống phè phỡn trên xương máu của những người bất hạnh.
Những bài diễn thuyết của ngài thường gay gắt chỉ trích họ, khiến nhà cầm quyền Brasil toan bắt giam ngài, nhưng cũng chính lúc đó, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã đặt ngài lên chức vụ Hồng y, như để long trọng xác định lập trường đấu tranh của ngài là chính đáng và đúng đắn, cũng như để nói lên tinh thần liên đới và chia sẻ của mình.
Trong một bức thư, đức Hồng y Villot đã viết như sau :
“Chúng ta phải cố gắng chống lại mọi hình thức bất công, cũng như phải cố gắng phát triển con người toàn diện. Là Kitô hữu, chúng ta phải tự hỏi xem chúng ta có trung thành với những đòi hỏi của đức tin hay không ?”
Người nghèo đã chiếm một chỗ đứng quan trọng trong Kinh Thánh. Sự nghèo túng của họ không phải là kết quả của sự lười biếng, mà là kết quả của những bóc lột và tham vọng bất chính.
Vì thế, một ngày nào đó, Chúa sẽ làm cho đảo lộn, như trong lời kinh “ngợi khen”, Mẹ Maria đã xác    quyết :
- Phận đói nghèo, Chúa ban của đầy dư. Người giàu có, đuổi về bàn tay trắng.

 

TN25-C2. HRK/416- HAI CHỦ

Một nhật báo bằng tiếng Pháp đã có một bài bình luận như sau về đời sống của những người Kitô : TN25-C2

Một nhật báo bằng tiếng Pháp đã có một bài bình luận như sau về đời sống của những người Kitô : Phúc âm của các người là một vũ khí mạnh sức hơn triết lý Các-mác của chúng tôi. Tuy nhiên, nếu cứ theo tình trạng này về lâu về dài, chúng tôi sẽ chiến thắng trên các người. Vì làm sao người ta có thể tin vào Phúc âm được, nếu các người không thực sự sống Phúc âm đó. Trong cuộc sống hằng ngày, nếu các người không chịu hy sinh thời giờ, tiền bạc cho chính nghĩa Phúc âm thì làm sao có người tin vào Phúc âm ; nếu các người không chịu cực, các người không chịu xắn tay lên hành động cho Phúc âm.
Những nhận xét trên không khỏi đánh động chúng ta và làm chúng ta xét lại chính nếp sống của mình. Dụ ngôn Chúa Giêsu kể về người quản lý bất trung được nhắc lại trong bài Phúc âm Chúa nhật hôm nay mà chúng ta vừa đọc lại cũng tích chứa cùng một sứ điệp thức tỉnh chúng ta. Chúa Giêsu không khen người quản lý bất trung, không đề cao nếp sống của người quản lý bất trung cho chúng ta noi theo, nhưng Ngài cảnh tỉnh chúng ta phải tránh thói khôn ngoan tinh xảo của người đời.
Nội dung chính của Lời Chúa dạy qua dụ ngôn trên hệ tại ở điểm so sánh. Người quản lý bất trung đã vận dụng những khả năng của anh như trí óc, khôn khéo, chịu khó nghiên cứu kế hoạch để mưu cầu điều lợi cho bản thân anh. Cuộc đời của anh chỉ hướng duy nhất về điều này mà thôi là “sống vì tiền của”. Chịu làm nô lệ cho tiền của, vận dụng mọi khả năng của mình để tôn thờ tiền của, đó là con cái đời này khôn ranh, siêng năng, chịu khó hơn con cái sự sáng. Chúa Giêsu không khen người quản lý khôn ranh, nhưng qua lối so sánh, Chúa Giêsu muốn chúng ta, những người đồ đệ của Ngài, những con cái sự sáng biết tích cực dấn thân phụng sự Chúa với sức hăng say, với sự hy sinh. Hy sinh thời giờ, tiền của với việc kiên trì làm điều tốt để thực thi Phúc âm Chúa.
Chúng ta có Phúc âm, có sự thật được Chúa mạc khải, nhưng nếu chúng ta có thái độ ù lì, không tích cực xắn tay áo lên chịu cực, chịu hy sinh để thi hành Lời Chúa thì chúng ta đáng Chúa trách là thua xa người quản lý bất trung trong dụ ngôn của bài Tin Mừng hôm nay.
Một cách cụ thể hơn, hôm nay tôi muốn nhắc lại nơi đây một điểm trong nội dung của bức thư mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Bức thư trình bày đường hướng mục vụ trong bối cảnh mới là đối thoại. Yêu thương và phục vụ anh chị em. Một đường hướng rất hay, nhưng đòi hỏi nhiều can đảm dấn thân thi hành thực sự những gì cần được trình bày trong đó. Nói theo ngôn ngữ của tờ báo vừa được trích dẫn trên thì đây là thứ vũ khí mạnh hơn triết lý của Các-mác. Đây là tinh thần Phúc âm cần được mỗi người đồ đệ của Chúa tại Việt Nam trước tiên noi theo. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam lưu ý rằng, để thực hiện chương trình đối thoại, yêu thương và phục vụ anh chị em thì mọi thành phần dân Chúa, mỗi người cần phải kiên trì, can đảm đổi mới. Các Giám Mục Việt Nam đã viết như sau : “Đổi mới bản thân là điều căn bản để có thể yêu thương và phục vụ”.
Ở đây, chúng tôi muốn nói đến đổi mới lòng đạo, nội lực của chúng ta là lòng tin, lòng mến được Thiên Chúa ban cho. Lòng đạo đức thật theo thánh Giacôbê là yêu thương phục vụ người nghèo khổ và giữ mình đừng vướng vào những thói xấu của thời đại.
Thánh Phaolô cũng cho thấy ý Chúa là yêu thương, là phục vụ nhau. Lời Chúa, những bí tích và đời sống cầu nguyện là những phương thế hữu hiệu giúp đổi mới bản thân. Chuyên tâm đọc, suy niệm và thực hành Lời Chúa, chuyên cần lãnh nhận các bí tích một cách sốt sắng, cầu nguyện kết hiệp sâu xa với Thiên Chúa sẽ thanh luyện ta khỏi thói ích kỷ, đem lại cho ta nguồn sức mạnh để quảng đại phục vụ quên mình theo gương Chúa Giêsu Kitô.
Để thực hiện những điều này mà thôi theo lời dạy của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trong bức thư chung này chúng ta cần phải cố gắng, cần phải vận dụng hết sức mình lên.
Hôm nay, trong thánh lễ này chúng ta hãy xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta có được nội lực, có được sự khôn ngoan và tích cực dấn thân thực hành Lời Chúa. Xin Chúa giúp mọi người chúng ta trở thành những người quản lý tốt ân sủng mà Chúa ban cho chúng ta. Xin Chúa đồng hành với chúng ta trong giai đoạn mới của lịch sử tại Việt Nam, để chúng ta mỗi ngày một trưởng thành hơn trong đức tin, đức cậy và đức mến. Đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh tin kính.

 

TN25-C3. HRK/177- HAI CHỦ

Bài đọc I của Chúa nhật hôm nay được trích từ sách tiên tri Amos và bài Tin Mừng trình bày: TN25-C3

Bài đọc I của Chúa nhật hôm nay được trích từ sách tiên tri Amos và bài Tin Mừng trình bày cho chúng ta hai mẫu người, hai nếp sống trái ngược nhau. Mẫu sống của con cái thế gian, tức là con cái của sự tối tăm và mẫu người sống của những con cái Thiên Chúa, con cái sự sáng. Nếp sống của con cái thế gian, những kẻ làm nô lệ cho của cải vật chất, tôn thờ tiền tài được nhắc đến nơi bài đọc I. Họ muốn đề cao tiền tài và coi thường tha nhân, chỉ nghĩ đến việc buôn bán kiếm lợi.
Trong ngày nghỉ, ngày dành cho Giavê Thiên Chúa thì họ không nghỉ ngơi mà âm mưu làm sao để khi ra bán hàng họ sẽ kiếm lợi thêm nữa, nên họ dùng thời gian nghỉ lễ, dùng ngày của Chúa để giảm lường đong, tăng giá, làm cân giả. Họ là những con người chỉ nghĩ đến tiền bạc lợi lộc.
Mẫu sống của con cái thế gian còn được làm nổi bật hơn nữa trong bài Phúc âm kể về dụ ngôn người quản lý bất trung, mánh mung, phung phí tài sản của chủ để làm lợi cho bản thân. Trong cuộc đời, họ chỉ nhận điều gì làm lợi cho họ mà thôi, do đó Thiên Chúa không còn trong tư tưởng, trong tâm hồn, trong nếp sống của họ nữa.
Kể lại dụ ngôn về người quản lý bất trung này, Chúa Giêsu không có ý đề cao nếp sống của người quản lý bất trung cho các môn đệ noi theo, nhưng là để cảnh tỉnh các môn đệ qua một lời trách khéo : “Con cái thế gian khôn lanh hơn con cái sự sáng”. Chúa có ý cảnh tỉnh các môn đệ của Ngài không được ù lì làm biếng và thụ động. Con cái thế gian tìm đủ mọi cách để có danh vọng, làm sao giây phút hiện tại có lợi cho tương lai sắp đến, và để đạt đến mục tiêu này họ không ngại dùng những thủ đoạn mánh mung để làm lợi cho mình.
Phần Chúa Giêsu, Ngài nhắc khéo cho các môn đệ như sau : “Chúng con không được làm tôi hai chủ, tức là vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của”. Môn đệ Chúa cần dứt khoát chọn Chúa, sống theo giáo huấn của Ngài với hết sức dấn thân và nhiệt tâm. Cần phải chọn Thiên Chúa trước hết và mọi sự khác như của cải vật chất hoặc ngay cả mạng sống cũng cần phải sử dụng theo mục tiêu là để giúp chiếm đoạt được Chúa, đạt được cùng đích cuối cùng của đời sống con người : “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích gì, người ta lấy gì mà đổi được linh hồn mình”.
Hãy tìm nước Thiên Chúa trước và tìm với hết sức mình, hết sức nhiệt tâm, hết nghị lực và hết tinh thần, không được ù lì thụ động. Phải ước mong Chúa làm khát vọng duy nhất cho cuộc đời mình. Thiên Chúa muốn chúng ta làm người quản lý tốt của cải, dùng hết khả năng Chúa ban để làm sinh lợi những khả năng, những nén bạc Chúa trao cho, sao cho sáng danh Chúa và mưu ích cho anh chị em.
Trong dụ ngôn được Chúa Giêsu kể và ghi lại nơi Phúc âm thánh Luca hôm nay chúng ta nhận thấy rằng, người quản lý xấu dùng tài trí của mình và tiền của của chủ để tạo ra bạn bè mới. Liên kết với của cải trong mục đích hưởng lấy những lợi lộc trần gian, đó là lối hành xử của con cái thế gian. Con cái sự sáng cần phải có lòng hăng say, sử dụng tốt những gì Chúa ban cho để làm cho đời sống con người được cứu rỗi, được nâng cao, xứng đáng với phẩm vị làm con cái Thiên Chúa.
Nếu sống vì tiền bạc, danh vọng, tìm cách lạm dụng và khử trừ người nghèo, tránh xa người nghèo, làm như thế là họ không phải là con người, không phải là con cái Thiên Chúa nữa. Bởi vì, con cái sự sáng không bao giờ được làm như vậy. Ngược lại, họ cần phải sử dụng tài năng Chúa ban, kể cả của cải vật chất để làm sáng danh Chúa và mưu ích cho anh chị em, phục vụ kẻ nghèo chứ không loại trừ người nghèo.
Người quản lý tốt không lợi dụng cũng không phung phá tài sản của chủ : “Ai trung tín trong việc nhỏ thì cũng trung tín trong việc lớn”. Trong tất cả mọi sự hãy tìm gặp Chúa trước hết. Chính trong viễn tượng này mà chúng ta nhớ lại lời cầu nguyện sau đây được trích lại trong sách giáo lý mới : “Lạy Chúa, xin ban cho con tất cả những gì giúp con đến gần Chúa. Xin hãy cất khỏi con tất cả những gì làm con xa Chúa. Xin hãy giải thoát con khỏi cái tôi ích kỷ, tham lam tiền của để con biết dâng toàn thân cho Chúa”. Chúng ta hãy cầu nguyện như vậy hằng ngày và xin Chúa giúp chúng ta sống được như vậy để luôn trung thành với đức tin vào Chúa.

 

TN25-C4. CSTM/217- TIỀN CỦA

Dụ ngôn của bài Tin Mừng khá dí dỏm và linh động, kể chuyện một người quản lý đang đứng: TN25-C4

Dụ ngôn của bài Tin Mừng khá dí dỏm và linh động, kể chuyện một người quản lý đang đứng trước một tương lai đen tối : sắp bị đuổi việc, nên ông ta đã nghĩ ra một kế hoạch rất khôn khéo, có thể nói là láu cá, mánh mung hay gian xảo để thủ lợi khi thất nghiệp sẽ có người trả ơn mình, giúp đỡ mình. Khi kể dụ ngôn này, Chúa Giêsu không có ý dạy chúng ta gian xảo như người quản lý ấy, nhưng Chúa muốn chúng ta phải nhanh trí khôn, biết ứng phó kịp thời với hoàn cảnh, nhất là tìm được những bảo đảm cho tương lai, mà tương lai quan trọng nhất là cuộc sống đời sau. Vì thế, sau khi kể xong dụ ngôn, Chúa Giêsu đã đưa ra những giáo huấn của Ngài về vấn đề tiền của.
Tất cả những tiền của trần gian chỉ là những thứ vô tri giác, Thiên Chúa ban cho con người hưởng dùng để xây dựng, thăng tiến mức sống, đồng thời phát triển tình người, liên kết yêu thương. Nên tiền của trần gian chỉ là một thứ trung gian, là phương tiện con người phải biết sử dụng cho đúng, hợp tình hợp lý, khôn khéo và hữu ích để được ấm no, hạnh phúc ở đời này và nhất là để đạt tới kho tàng đích thực là Nước Trời.
Tiền của, vàng bạc là những thứ đem lại giàu sang, sung sướng nhưng đồng thời cũng là nguyên do những phản bội, tráo trở, thất nhân, thất đức, bôi đen lòng người, như câu trong sách nho : “Hoàng kim hắc thế tâm”. Nhưng trong thực tế, thường con người lại có những quan điểm trái ngược, đề cao giá trị đồng tiền, coi đồng tiền là tất cả, là vạn năng :
- Có tiền mua tiên cũng được.
- Tiền không chân xa gần đi khắp.
- Có tiền chán vạn người hầu.
- Có bấc có dầu chán vạn người khêu.
- Mạnh vì gạo, bạo vì tiền…
Shakespeare cũng đồng ý rằng : “Tiền đi trước thì mọi con đường đều rộng mở”.
Hoặc như tục ngữ Pháp có câu : “Một người không tiền là một con sói không răng”. Ngày nay người ta nói : “Đồng tiền là tiên là phật. Là sức bật của thanh niên. Là sức khỏe của tuổi già. Là cái đà của danh vọng. Là cái lọng để che thân”.
Tuy nhiên, trên đây chỉ là những nhận định phiến diện về giá trị của đồng tiền. Những quan niệm xuất phát từ những giao tế, những công ăn việc làm do thiếu đồng tiền, cũng có thể do những yếu tố khác, nhưng người ta không nhận ra mà phải đón nhận những tráo trở, thất bại, ê chề. Nhưng còn trường hợp con người sa đọa, tội lỗi, hư hỏng, vì dưa thừa tiền bạc, phủ phê vật chất thì sao ? Hoặc những gia đình giàu có nhưng sống ngột ngạt, bất hòa thường xuyên, chúng ta giải thích thế nào ? Bởi vì tiền là bạc. Bạc không chỉ là một loại quí kim, mà còn có nghĩa là bạc bẽo, bạc tình, bạc nghĩa. Vì tiền mất cha, mất mẹ, mất vợ, mất chồng, mất bạn hữu, mất họ hàng. Nguyễn Du trong thi phẩm Kim Vân Kiều đã phải thú nhận : “Trong tay đã sẵn đồng tiền, dẫu lòng đổi trắng thay đen khó gì”. Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chua xót nói rằng : “Còn tiền, còn bạc, còn đệ tử. Hết cơm hết gạo, hết ông tôi”.
Cho nên, đầy đủ và trung thực nhất, phải là một nhận định hai chiều : “Tiền bạc chỉ là tên đầy tớ tốt, chứ không thể là ông chủ tốt được”. Và xa hơn, hỏi rằng đau khổ, cái chết, đồng tiền có chiến thắng được không ? “Vua Ngô ba mươi sáu tấn vàng. Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì”. Vì thế, là những Kitô hữu xác tín có một đời sau, có một kho tàng đích thực đang chờ đón, chúng ta có thể chấp nhận và sống theo châm ngôn : “Đồng tiền là vạn năng” ? Cũng bị ràng buộc, nô lệ cho đồng tiền không ?
Chúng ta hãy đặt tiền của trở về đúng vị trí, khả năng của nó, chứ đừng phóng đại lên thì mới hy vọng có một thái độ, cách cư xử đúng mức đối với tiền của trong tương quan với tha nhân. Vấn đề vô cùng phức tạp và qui mô. Ở đây, chúng ta thử nêu vài nhận xét, ví dụ nho nhỏ trong phạm vi gia đình. Kinh nghiệm cho thấy trong gia đình, thường xuyên xảy ra những cãi cọ, xích mích chỉ vì mất mát, hư hỏng, những chia sẽ không đều. Vì tiền bạc, vợ chồng xào xáo lẫn nhau. Vì tiền bạc, anh em xa cách nhau do cha mẹ phân biệt đứa này làm nhiều tiền, đứa kia làm ít tiền. Ra đến xã hội, vấn đề còn phức tạp hơn nhiều. Không lạ gì mà người ta cứ quay cuồng lên vì đồng tiền, sẵn sàng làm tất cả vì đồng tiền. Tiền của đã trở thành một cực hút rất mạnh như một khối nam châm khổng lồ, bề thế như một vị chúa tể dõng dạc ngự trị trên trái tim mù quáng của con người. Chính trong bối cảnh như thế mà lời Chúa đã vang lên thức tỉnh lòng người : “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được”. Phải lựa chọn một trong hai.
Qua lời Chúa dạy hôm nay, chúng ta hãy kiểm điểm lại thái độ của mình : chúng ta kiếm tiền của như thế nào ? Chúng ta chi tiêu tiền bạc như thế nào ? Đồng thời thành khẩn cầu xin Chúa ban cho chúng ta một nghị lực dứt khoát và can đảm để luôn chế ngự được hấp lực của đồng tiền, biết cách sử dụng tiền bạc của cải trần gian để đem lại ấm no, hạnh phúc đời này và cả đời sau nữa.

 

TN25-C5. NTGT/252- CHỮ T

Với cơ chế kinh tế thị trường như xã hội ngày nay, người ta đã áp dụng khoa học kỹ thuật vào: TN25-C5

Với cơ chế kinh tế thị trường như xã hội ngày nay, người ta đã áp dụng khoa học kỹ thuật vào việc tổ chức quản lý công ty, doanh nghiệp nhà nước, công ty liên doanh nước ngoài cũng như đủ luật lệ về kinh tế tài chánh, thanh tra kiểm soát, vậy mà người ta vẫn không ngăn chặn được những chuyện làm ăn gian dối, trái pháp luật. Sở dĩ có những vụ tham nhũng, cuộc đời thay đen đổi trắng, bạn bè lừa dối nhau, người thân ly cách chung qui cũng chỉ vì đồng tiền. Chính vì thế mà lời Chúa đã vang lên thức tỉnh lòng người : “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được”. Chúng ta không thể vừa sống vì tiền bạc vừa sống vì Thiên Chúa được. Chỉ chọn một trong hai mà thôi : Hoặc là Thiên Chúa hoặc là tiền bạc. Trước khi quyết định, tôi xin bật mí cùng các bạn một điều quan trọng. Nếu ai không phục vụ Thiên Chúa thì không được vào Vương Quốc của Người đâu nhé ! Vậy, mỗi người chúng ta được quyền ưu tiên chọn lựa. Vậy bạn chọn bên nào giữa Thiên Chúa và tiền tài ?
Câu chuyện anh quản lý trong bài Tin Mừng hôm nay bị ông chủ khiển trách vì đã phung phí của chủ. Đây cũng là hành vi bất lương và gian dối của anh quản lý khiến cho ông chủ sa thải. Bấy giờ anh quản lý mới thức tỉnh về thân phận của mình. Anh tự hỏi : “Tôi phải làm thế nào, vì chủ tôi cất chức quản lý của tôi ? Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi”. Anh đang đứng trước một vực thẳm, tương lai thật tối tăm mù mịt. Sắp mất việc, anh lâm vào cảnh nghèo đói và chờ chết. Chỉ còn cách sống nương tựa vào người thân và bạn bè. Sau khi suy xét tỉ mỉ và tính toán xảo quyệt, anh lợi dụng cơ hội này để bóc lột ông chủ, dùng tiền bạc của chủ để lo cho tương lai của mình bằng cách đối xử tốt với những con nợ, để con nợ mang ơn và đón tiếp nồng hậu sau khi anh bị sa thải. Giả sử như trong các bạn có ai đó nợ một trăm triệu đồng, được chủ nợ xí xóa một nửa. Rồi một ngày kia, người chủ nợ đến nhà bạn đó chơi. Bạn đó sẽ tiếp rước ông ta như thế nào ? Chắc chắn bạn đó sẽ vui mừng đón tiếp ông và cho ông ta tá túc chẳng những đôi ba ngày mà “mươi bữa nửa tháng” cũng còn được… ! Có qua có lại mới toại lòng nhau. Đây cũng là cách đối nhân xử thế của con người trong cuộc sống ngày nay.
Theo thói đời xưa nay, những can tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản công dân và những phiên tòa xét xử các bị can phạm tội gian lận trong quản lý tài chánh hay làm thất thoát vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước mà chúng ta đã từng nghe như : hãng nước hoa Thanh Hương, Ep-cô Minh Phụng, Trần văn Huy… Thường những kẻ bất lương thì người đời chê trách, nhưng anh quản lý bất lương trong bài Tin Mừng hôm nay được Chúa khen ngợi. Vì sao vậy ? Chúa khen vì anh khôn khéo, biết sử dụng thời gian ngắn ngủi để tính sổ và lo cho tương lai lâu dài. Chắc chắn Chúa không khen sự bất lương gian trá của anh ta.
Có lẽ khi kể dụ ngôn này, Chúa Giêsu không có ý dạy các tông đồ sống gian xảo như anh quản lý bất lương mà Người muốn các tông đồ phải nhanh trí khôn như người quản lý biết ứng phó kịp thời, hoàn cảnh, nhất là biết tìm những đảm bảo cho tương lai mình.
Chúng ta sẽ làm gì để chuẩn bị cho đời sống mai sau của mình khi mà xã hội ngày nay coi tiền bạc là thần tài ?
Trong cuộc sống con người, tiền bạc là một thực tại quan trọng. Những người giàu biết rõ điều đó, vì họ có nhiều tiền và thường sợ bị mất tiền. Những người nghèo cũng biết, vì họ thiếu tiền và thường rất khó khăn mới kiếm được vài đồng. Tiền bạc không thể là cùng đích nhưng thực tế nó chi phối tất cả, bao trùm từ kinh tế, chính trị, văn hóa đến cả luân lý đạo đức. Và có lẽ vì thế mà đời hay nói rằng : “Tiền là tiên, là phật, là sức bật lò so, là thước đo lòng người, là nụ cười tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già, là cái đà danh vọng, là cái lọng che thân, là cán cân công lý”. Chúng ta không lạ gì khi thấy người ta cứ quay cuồng lên vì đồng tiền và sẵn sàng làm tất cả vì đồng tiền bất chấp cả luân thường đạo lý. Lừa gạt kẻ khù khờ, bóc lột người yếu kém, trả lương thấp cho người làm công, không gì làm cho họ bối rối lương tâm cả. Họ chỉ nghĩ một điều duy nhất là kiếm tiền thế thôi. Tiền bạc không cần con người nhưng ai cũng cần tiền bạc. Dù tiền rách, tiền bẩn, tiền cũ… người ta vẫn dành cho nó một cảm tình. Có ai chê tiền đâu, từ người già cho tới trẻ em. Tình nghĩa là chín, tiền bạc là mười, vàng là hai mươi bốn. Thánh Kinh thường nói về tiền bạc và bao giờ cũng nói nghiêm túc. Chúa Giêsu cũng nói như vậy. Khi nói về tiền bạc hầu như nói về sự sống sự chết. Với tiền bạc, người ta làm cho mình hư mất, nhưng người ta cũng có thể cứu sống mình nữa. Tiền bạc có thể mở cửa thiên đàng cho ai đó nếu con người dùng nó như một phương tiện, nhưng cũng có thể đóng lại với người ấy nếu con người tôn thờ nó. Phải chăng đời là một chữ “T” ? Thực ra, tiền bạc giúp cho con người ta sống và nó có giá trị nhất thời tạm bợ ở đời này, vì khi cái chết ập đến nó trở thành vô nghĩa vì không thể đem bạc tiền châu báu sang bên kia thế giới. Hơn nữa, trong hoàn cảnh suy thoái, làm ăn thua lỗ, tiền bạc là thứ bấp bênh nhất.
 Chỉ có một giá trị vĩnh cửu là tình yêu. Tình yêu là tồn tại mãi mãi. Có một câu hát của cha Kim Long mà tôi không bao giờ quên đó là : “Oi mọi sự đều hão huyền, giả trá và đảo điên. Một điều bền vững thiên thu : đức kính yêu Chúa Trời. Chúng ta nhận thấy rằng tiền bạc không phải là tất cả. Tiền bạc chỉ mua được tình dục chứ không mua được tình yêu. Tiền mua được sách chứ không mua được kiến thức. Tiền mua được máu chứ không mua được sự sống… Nhưng tiền của có thể trở nên hữu ích khi biến nó thành phương tiện làm giàu cho sự sống đời sau bằng cách dùng tiền của để giải thoát con người khỏi nợ nần, đói kém, lạnh lẽo… Chúng ta chia sẻ cho tha nhân và phục vụ cho lợi ích chung. Việc làm như vậy là mua lấy bạn hữu đời sau vì những việc lành phúc đức, chúng ta có thể an tâm một ngày kia sẽ được đón nhận vào Nước Trời. Mỗi người chúng ta đừng để vật chất chi phối nhất là trong thời đại lệ thuộc vật chất ngày nay. Chúa không cấm chúng ta tìm kiếm của cải vật chất, Ngài cũng không ngăn cấm chúng ta sử dụng và hưởng dùng. Chính Ngài đã dựng nên chúng và làm quà tặng cho chúng ta. Ngài chỉ muốn chúng ta đừng sa lầy, đừng chỉ còn biết có vật chất dưới mọi hình thức : tiền tài, danh vọng, lạc thú… Ngay cả khoa học và bao tiện nghi mà người ta quá tôn sùng hay lạm dụng. Tất cả những cái đó làm cho tâm hồn con người tê liệt, lâm vào cõi hôn mê. Khó khăn biết chừng nào để con người thoát khỏi ràng buộc, chi phối bởi vật chất có phải không nào ? Thế mà hôm nay Đức Giêsu lại muốn chúng ta phải sống siêu thoát đối với những hấp dẫn vật chất, phải biết tìm sự giàu có theo sự đánh giá của Chúa. Ngài muốn chúng ta dùng chúng như những nấc thang vươn lên những sự cao vời. Ngài muốn chúng ta thành những người cao cả chớ không tầm thường. Thánh Phanxicô Assidi từ bỏ cuộc sống giàu sang để sống khó nghèo vì hạnh phúc Nước Trời.
Mỗi người chúng ta ai cũng có tiền. Kẻ nhiều người ít. Chúng ta làm gì với số tiền đó ? Chúng ta có biết sử dụng nó và dùng nó để phục vụ kẻ khác mà không bao giờ làm nô lệ cho nó chăng ? Chúng ta có biết dùng nó để mua lấy bạn bè là những người sẽ đón nhận chúng ta vào Nước Trời không ? Tiền bạc làm cho chúng ta xa Thiên Chúa hay giúp chúng ta gần Ngài hơn ? Đó là những câu hỏi được đặt ra mà mỗi người chúng ta tự trả lời.

 

TN25-C6. PV/612- TÍNH CÁCH

Người quản gia trong câu chuyện của Đức Giêsu không đáng tin cậy và bất lương. Rõ ràng có: TN25-C6

Người quản gia trong câu chuyện của Đức Giêsu không đáng tin cậy và bất lương. Rõ ràng có những lúc anh ta hoàn toàn như thế. Có lẽ bắt đầu là những việc bất lương nhỏ, nhưng dần dần trở thành một cách sống. Anh ta phải biết rằng mình sống trong nguy hiểm. Nhưng anh ta tránh né được sự phán xét của dư luận và của bản thân một thời gian dài. Tuy nhiên, dù có quỷ quyệt, anh ta cũng có lúc bị phát hiện và ông chủ của người quản gia bắt anh ta phải tính sổ.
Đây quả là một thời điểm rất nhọc nhằn và đau đớn cho quản gia. Anh ta không chỉ mất việc làm mà còn mất danh tiếng, anh ta rước lấy xấu hổ và sỉ nhục cho mình và gia đình mình nếu anh có một gia đình. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm của chân lý và sự thật được tiết lộ. Nó cho anh ta một cơ hội để bỏ lại sau lưng mình ảo tưởng và dối trá. Do đó, thời điểm ấy có thể là một khúc quanh trong cuộc đời anh ta.
Nhưng điều gì đã xảy ra ? Anh ta không học hỏi được gì từ điều đó. Cả sau khi bị cho thôi việc, anh ta tiếp tục sống theo con đường bất lương trước đây. Không hề có một thay đổi nào dù rất nhỏ trong tính cách của anh ta. Không hề có vết trầy xước nào trên bộ áo giáp của anh ta. Anh ta từ chối nhận lãnh trách nhiệm về loại người mà anh ta đã trở thành.
Thay đổi thói quen của một cuộc đời rất khó. Dostoevsky nói : “Nửa sau của cuộc đời một người thường được tạo thành bởi những thói quen được thủ đắc trong suốt nửa đầu của cuộc đời ấy”. Đây là một tư tưởng hay nhưng đáng sợ.
Dường như đến một lúc nào đó trong cuộc đời chúng ta khi thể chất quí giá mà chúng ta được tạo thành đã trở nên khô cứng và chai đá đến nỗi từ lúc đó trở đi chúng ta không thể đảm nhận một hình thể mới. Con người bất lương vẫn cứ bất lương mãi cho đến cùng. Con người tham lam sẽ cứ tham lam mãi cho đến cùng. Một minh họa.
Một lần kia, một người thánh thiện vừa đi dạo trong rừng vừa giáo huấn các môn đệ. Ông chỉ vào một cây sồi con và yêu cầu một môn đệ nhổ nó lên. Dù với sự giúp đỡ của tất cả các bạn, anh ta cũng không thể nhổ lên được.
Và ông thầy kết luận : “Những đam mê và các thói quen cũng thế. Lúc ban đầu, trước khi chúng đâm rễ sâu xuống, người ta dễ dàng trừ khử chúng. Nhưng nếu chúng ta để cho chúng đâm rễ sâu rồi, thì hầu như chúng ta không thể thoát khỏi chúng”.
Điều đó hầu như đã xảy đến với người quản gia trong câu chuyện của Đức Giêsu. Anh ta đã quá quen với cách sống bất lương đến nỗi không thể thay đổi được. Tuy nhiên, điều gì chúng ta không thể làm được trở thành có thể với sự giúp đỡ của ân sủng Thiên Chúa.
Trong khi câu chuyện cho chúng ta thấy sự nguy hiểm của thói quen xấu nó cũng chỉ ra tầm quan trọng của việc hình thành những thói quen tốt. Bởi lẽ sự bất lương cũng có thể trở thành một cách sống như sự lương thiện. Sự lương thiện có thể trở thành tập quán, tự phát và bản tính thứ hai.
Làm thế nào để một người đạt đến tình trạng hạnh phúc ấy ? Nó không thể được hoàn thành trong một sớm, một chiều. Nó phải được học tập và thực hành lâu dài. Nó không hoàn thành bởi một ít công trình vĩ đại nhưng bằng nhiều công việc nhỏ. Phần thưởng thật sự cho một việc làm tốt là nó làm cho việc làm tốt kế tiếp sau đó được dễ dàng hơn. Mỗi hành động nhỏ của ngày thường tạo nên hoặc không tạo nên tích cách.

 

TN25-C7. PV/615- BẢN NĂNG

Nhiều loài chim có một bản năng quay về nhà rất mạnh mẽ. Những con chim hải âu ở xứ Manx là: TN25-C7

Nhiều loài chim có một bản năng quay về nhà rất mạnh mẽ. Những con chim hải âu ở xứ Manx là một ví dụ hay. Người ta bắt một con ở xứ Wales và đeo vòng cho nó, rồi đem nó đến Boston, cách đó ba ngàn dặm và thả nó ra. Hai tuần lễ sau, nó bay trở về xứ Wales tại chính nơi mà nó bị bắt. Bản năng quay về nhà (hướng về quê hương) cũng có nơi con người – không chỉ theo ý nghĩa thể chất. Con người đã biết quay về nhà sau những kinh nghiệm đau thương, không chỉ về ngôi nhà cũ của mình, mà về bản thân khi xưa của mình. Họ quay về để thu nhặt những mảnh vụn của cuộc đời họ trước đây. Bản thân bẩm sinh của họ hầu như bị thương tổn. Dĩ nhiên, có những người trở về khi đã trở nên giàu có.
Nhà văn Ý Primo Levi đã sống qua một năm ở Auschwitz. Ông là một trong ba người trên chuyến tàu trở về so với con số 123 người ra đi. Sau này ông nói : “Nếu tôi không vào một nơi như thế, có lẽ tôi sẽ sung sướng hơn và thanh thản hơn, nhưng tôi không phong phú như thế này”. Dĩ nhiên ông không nói về tiền bạc.
Nói chung bản năng quay về nhà mình là một yếu tố tích cực. Tuy nhiên, nó cũng có thể tiêu cực. Sự thôi thúc quay về nhà mình cắt đứt những cơ hội tốt và khả năng tốt và làm cho việc canh tân đời sống trở nên khó khăn và vất vả. Người ta buộc phải quay về khi muốn giũ bỏ đời sống nông cạn và tầm thường hoặc cả đời sống lỗi lầm và tội ác. Chúng ta thấy một ví dụ nơi người quản gia trong câu chuyện của Đức Giêsu. Khi anh ta bị cho nghỉ việc, lẽ ra đó phải là thời điểm nhục nhã và đau đớn cho anh ta. Nhưng đó cũng là một thời điểm cứu chuộc. Bởi vì nó chỉ cho anh ta thấy thực tại bất lương của cuộc đời anh ta và có thể trở thành một khúc quanh trong cuộc đời anh ta. Nhưng điều gì đã xảy ra ? Anh ta vẫn tiếp tục đi theo con đường bất lương trước đây của mình, không hề có một thay đổi nhỏ nào trong tính cách của anh ta.
Hoặc bản năng quay về nhà mình là một sự hỗ trợ hoặc là một trở lực thì nó còn tùy thuộc vào cái nhà chân thực của mình nằm ở đâu. Những người quen sống trong ánh sáng sẽ quay về ánh sáng. Nhưng những người quen sống trong bóng tối thì hầu như quay về với bóng tối.
Một cây có bộ rễ vững chắc và mọc thẳng sẽ trở lại bản chất cũ đứng thẳng của nó sau khi cơn bão đã đi qua, còn một cây có thân vặn vẹo trở lại bản chất vặn vẹo của nó. Khi chúng ta làm tổn thương đến sự chính trực của mình, chúng ta không làm mất nhân tính của mình, nhưng chúng ta đánh mất ý thức về sự nguyên vẹn, ý thức về mình lúc nào cũng là một con người như thế.
Đức Giêsu không lấy người quản gia xấu xa làm một gương mẫu. Người nói rằng con cái của ánh sáng có thể học đôi điều từ con cái của bóng tối. Những người xấu thì khéo léo, theo đuổi một mục đích, sẵn sàng hy sinh để hoàn thành những mục tiêu xấu xa của họ. Những người tốt lành, trái lại thường chỉ ngồi đó không làm gì. Và kẻ xấu sở dĩ thắng thế chỉ vì người tốt không chịu làm gì.

 

TN25-C8. PV/617- TIỀN BẠC

Lòng tham tiền bạc đã đưa nhiều người đến chỗ suy sụp. Hầu như ngày nào trên báo chí chúng: TN25-C8

Lòng tham tiền bạc đã đưa nhiều người đến chỗ suy sụp. Hầu như ngày nào trên báo chí chúng ta đều đọc thấy một vài viên chức cấp cao, hoặc một vài nhà điều hành cấp cao bị buộc tội tham nhũng. Một trong những trường hợp nghiêm trọng gần đây là Nicholas Leeson, người đã làm sụp đổ một đế quốc ngân hàng – Ngân hàng Barings ở Luân Đôn.
Là con trai của một người thợ hồ ở vùng Watford ngoại ô Luân Đôn, Leeson chưa từng học đại học. Ông ta làm việc ở ngân hàng Barings như một nhân viên bình thường nhưng nhanh chóng lên chức và được giao phụ trách việc kinh doanh tại Ngân hàng Singapore. Ông ta làm việc vất vả và có rất nhiều tham vọng. Tiền lương hàng năm của ông ta là 350.000 quan cùng với những món tiền thưởng khổng lồ.
Nhưng ông ta vẫn không thỏa mãn. Ông bắt đầu mua bán các nguồn tài chính. Lúc đầu ông ta đem lại cho ngân hàng những khoản lời lớn. Càng ngày ông ta càng trở nên tham lam. Ông lén lút thực hiện những giao dịch tài chính không cho các ông chủ biết. Sau cùng ông đã thực hiện những vụ đầu cơ lớn không có tiền trả nổi và làm cho toàn bộ ngân hàng bị phá sản.
Trong những hoàn cảnh như thế, người ta trả giá cho việc làm sai lầm trong tiền bạc những cái còn quí giá hơn tiền bạc. Họ trả giá bằng sự đánh mất lòng tự trọng, nhân phẩm và niềm hy vọng. Dĩ nhiên, lúc nào cũng có một cơ may được trả tiền bởi việc bán một câu chuyện của mình cho một bài báo. Nhưng ở đây cũng thế, có cái giá phải trả. Bất cứ nhân phẩm nhỏ nhoi nào mà người ta trước đây, sau này người ta cũng sẽ mất hết.
Leeson làm chúng ta nhớ đến đôi điều về dụ ngôn của người quản gia. Xem ra người quản gia giống với Leeson đã bị tiền bạc làm cho hư hỏng. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà tiền bạc được coi là quan trọng nên nó cũng dễ dàng trở thành thần linh của chúng ta. Chúng ta có thể đặt nó đứng trước tính lương thiện, công bằng và trước cả đời sống gia đình. Người ta đã bị tiêm nhiễm bởi não trạng càng có nhiều tiền càng tốt. Một con người bình thường trở nên mù mờ đến nỗi không còn nhìn thấy điều gì thật sự quan trọng nữa.
Ngôn sứ A-mốt đã lên án những người phục vụ Chúa bằng môi miệng trong ngày Sa-bát nhưng bóc lột người nghèo những ngày khác trong tuần. Đức Giêsu nói chúng ta không thể phục vụ Thiên Chúa lẫn tiền bạc. Bạn cũng không thể phục vụ những người khác lẫn tiền bạc.
Một lần kia có một người giàu có nhưng keo kiệt đến gặp vị giáo trưởng của ông và xin giáo trưởng ban phép lành cho ông. Vị giáo trưởng đón tiếp ông nhà giàu một cách thân thiện và đưa vào phòng khách. Rồi giáo trưởng dẫn ông đến cửa sổ nhìn xuống đường phố và nói : “Ông hãy nhìn ra kia và nói cho tôi biết ông thấy gì”.
“Tôi thấy người ta đi qua, đi lại”, ông nhà giàu đáp.
Rồi giáo trưởng đem ông ta ra khỏi cửa sổ, dẫn ông ta đến trước một tấm gương to và nói : “Ông hãy nhìn vào tấm gương này và ông thấy gì”.
“Tôi thấy chính tôi”, ông nhà giàu đáp.
“Thế đấy, ông bạn, hãy để tôi giải thích ý nghĩa điều ấy cho ông. Cửa sổ làm bằng kính cũng giống như tấm gương này. Tuy nhiên, kính của tấm gương có tráng lên một lớp bạc. Khi ông nhìn qua kính thường, ông thấy người khác. Nhưng khi ông tráng bạc, ông không còn thấy người khác nữa mà chỉ thấy chính ông. Khi ông chỉ quan tâm đến tiền bạc, ông không còn thấy người khác nữa mà chỉ thấy chính ông”.
Chúng ta không tìm thấy sự thỏa mãn và ý nghĩa cuộc sống trong của cải. Nhưng khi chúng ta sốt sắng phục vụ người khác, điều này đem lại cho chúng ta mục đích và ý nghĩa cuộc đời. Cho người khác là điều làm cho chúng ta cảm thấy mình sống mãi.
“Tiền bạc có thể mua vỏ ngoài của các sự vật nhưng không thể mua mua cái cốt lõi của chúng. Nó đem đến cho bạn thức ăn nhưng không đem đến sự ngon miệng ; thuốc men nhưng không phải sức khỏe, sự quen biết nhưng không phải bạn bè, tôi tớ nhưng không phải lòng trung tín, những ngày đầy lạc thú nhưng không phải sự bình an và hạnh phúc”. (Henrik Ibsen)

 

TN25-C9. SCĐ/725- TRAO BAN

(Cha Minh giảng 2 lễ y nhu bài này)
 

Có một nhà kia tính mời vài đạo sĩ tới lập đàn giải trừ tai nạn. Một đạo sĩ nọ tham lam, muốn: TN25-C9

Có một nhà kia tính mời vài đạo sĩ tới lập đàn giải trừ tai nạn. Một đạo sĩ nọ tham lam, muốn một mình hưởng trọn số tiền chủ nhà trả ông, liền nhận bao thầu hết việc lập đàn cúng bái.
Ông ta chẳng kể ngày đêm. Làm việc luôn tay luôn chân, không hề ngơi nghỉ. Cứ như thế đến ngày thứ ba thì kiệt sức, ngã vật ra đất. Chủ nhà sợ ông ta chết, mang họa, liền thuê người khiêng ông về miếu. Đạo sĩ nghe vậy, cố ngước đầu lên thì thào :
Ông hãy đưa tiền thuê người cho tôi, tôi tự mình lần về miếu cũng được.
Những người coi đồng tiền to lớn hơn mạng sống của mình, rốt cuộc cũng chẳng được gì. Thấu hiểu lòng ham mê tiền bạc của con người. Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn người quản gia khôn khéo. Người khen ông quản gia khôn khéo không phải vì hành động bất lương của ông, nhưng vì ông biết lo xa cho tương lai của mình. Ông khôn khéo vì ông biết dùng tiền của tạm bợ để mua lấy bạn hữu.
Nếu “con cái đời này” biết phải làm gì và làm cách nào đối với tiền của để lo liệu cho ngày mai, thì tại sao “con cái sự sáng” lại không biết sử dụng ơn Chúa ban trong hiện tại để lo cho phần rỗi của mình ở tương lai ?
Nếu người quản gia bất lương biết dùng tiền của bất chính để mua lấy bạn hữu, sao người tín hữu lại không biết sử dụng của cải phù du, chia sẻ cho người nghèo khó để mua lấy bạn hữu Nước Trời.
Nếu người ta căn cứ vào cách dùng tiền của để biết được lòng người có trung tín hay không, thì tại sao chúng ta lại không “trung tín trong việc nhỏ” là sử dụng tiền của để bảo đảm cho ta của cải chân thật đời sau ?
Thật vậy, chúng ta không trở nên giàu có với những điều mình đã nhận lãnh, mà là với những điều mình đã trao ban. Tác giả Augier còn viết : “Trong dự tính của Thiên Chúa, người giàu chỉ là viên thủ quỹ của người nghèo”. Vì thế, chỉ khi nào biết quảng đại trao ban cho những kẻ thiếu thốn, chúng ta mới thực là những quản gia biết làm theo ý chủ, những quản gia trung tín và khôn ngoan. Chỉ khi nào biết coi tiền của là phương tiện phục vụ cho cùng đích là Nước Trời chúng ta mới thực sự “làm tôi Thiên Chúa”.

 

TN25-C10. Khôn ngoan thế gian - P. Đamianô Đinh Ngọc Thiệu

Câu hỏi gợi ý :
 

Đâu là những điểm khác biệt giữa khôn ngoan thế gian và khôn ngoan của con cái Chúa? : TN25-C10

Đâu là những điểm khác biệt giữa khôn ngoan thế gian và khôn ngoan của con cái Chúa?
Mỗi người chúng ta có ý thức mình là quản gia của Chúa không ?
Chúa dạy chúng ta phải sống thế nào để trở thành những quản gia tốt?
Suy tư gợi ý :
1. Đâu là những điểm khác biệt ?
Khôn ngoan thế gian :
Thử hình dung câu chuyện người quản gia bất lương trong Tin Mừng Luca:
Anh ta là một người có vẻ tốt bụng. Không biết anh sống thế nào và đối đãi với ông chủ ra sao mà được ông tín nhiệm trao phó cả sản nghiệp cho anh quản lý. Ong chủ dường như hoàn toàn tin tưởng vào công việc anh làm. Anh báo cáo sao ông tin như vậy.
Anh thật khôn khéo : Lợi dụng chức vụ quản gia, lợi dụng lòng tốt và tài sản của chủ để có được lợi lộc cho riêng mình : An sung mặc sướng , sống an nhàn không phải đổ mồ hôi sôi nước mắt trong lao động như những người khác dưới quyền anh. Nhưng "Đường đi hay tối, nói dối hay cùng" : Công việc mờ ám của anh rốt cuộc tới tai chủ, ông chủ nổi giận, kêu anh lên bắt tính sổ lại hầu cách chức anh. Nhưng nhanh tay hơn, anh đã "chuyển bại thành thắng" : Anh lần lượt gọi các con nợ của chủ đến và một cách hào phóng anh đã giảm nợ cho họ. Các con nợ riu ríu ngồi xuống viết lại giấy nợ, và trước mặt họ anh ta hiển nhiên trở thành "vị đại ân nhân". Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Bởi thế con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với đồng loại (Lc 18,8).
Câu chuyện kết thúc ở chỗ người quản gia bất lương còn đang hanh thông trong mưu đồ của mình, nhưng chân tướng gian dối của anh đang lộ dần : ông chủ đã biết chuyện và sắp sửa đuổi anh. Các con nợ cũng biết nhưng người ta chưa tố cáo anh vì còn mong lợi dụng được anh. Điều chắc chắn là anh không bao giờ được bình an vì luôn phải tìm cách đối phó che đậy. Mục tiêu anh nhắm tới là tiền bạc tài sản mau qua và có thể bị lấy mất bất cứ lúc nào.
Khôn ngoan của con cái Chúa :
Chúa dạy chúng ta :"phải khôn ngoan như con rắn và hiền lành như chim bồ câu". Sự khôn ngoan phải phục vụ sự tốt lành và đặt nền tảng trên sự thật. Mục tiêu đạt tới không chỉ hạn hẹp trong cuộc sống trần gian mà phải vươn tới đời sống vĩnh cửu. Như người kia tìm được ngọc quý trong thửa ruộng nọ anh ta sẵn sàng bán hết của cải để mua thửa ruộng đó, những người con Chúa, khi cần, phải sẵn sàng hy sinh danh lợi trần thế vì Nước Trời. Họ luôn an vui và hy vọng trong mọi tình huống vì đã bám chặt vào Chúa , Đấng toàn năng và chân thật.
2. Là những quản gia của Chúa, chúng ta đã quản lý tài sản Chúa trao như thế nào ? Đâu là những sai lầm cần tránh và phải sửa chữa ra sao?
Sách Sáng Thế trong cựu ước diễn tả lại việc Chúa tạo vũ trụ vạn vật trong đó con người được dựng nên giống hình ảnh Ngài và được Ngài trao cho quyền làm chủ vạn vật (St 1,1-3).
Trong dụ ngôn những yến bạc (Mt 25, 14-30) Chúa Giê-su một lần nữa đã xác định vai trò quản lý của mỗi người chúng ta: Tuỳ theo khả năng, người thì được giao mười yến, người năm yến … có người một yến … để sinh lợi. Và chúng ta đã làm gì với số vốn đó ?
Cái lỗi lớn nhất, mà chúng ta thường mắc phải đó là quên rằng mình chỉ là quản gia của Chúa, chứ không phải là chủ. Hậu quả thật tai hại. Người ta đã tự cho phép mình phá thai, sản xuất hàng loạt những vũ khí giết người, tàn phá thiên nhiên gây hậu quả nghiêm trọng. Ngay cả con người cũng trở thành đồ hàng để trao đổi : Thời ngôn sứ A-mốt những tay buôn giàu có "đã dùng tiền mua đứa cơ bần, đem đôi dép để đổi lấy tên cùng khổ" (Amos 8, 6). Ngày nay tệ nạn buôn người vẫn còn tiếp diễn : Nhiều phụ nữ trẻ em trở thành món hàng phục vụ cho những ý đồ bất chính của những kẻ giàu có cường quyền. Tất cả những điều trên đều đi ngược với ý Chúa. Trong phạm vi đời thường có bao nhiêu phần trăm Ki-tô hữu đã dùng số vốn Chúa ban : khả năng, sức khoẻ, tiền bạc … để thực thi ý Chúa ? Chúng ta thật có lỗi và nào có khác gì người quản gia bất lương trong Tin Mừng hôm nay. Phải làm sao đây ?
3. Chúa dạy chúng ta phải sống thế nào ?
Qua bài Tin Mừng Luca Đức Giê-su dạy :"Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn ; ai bất lương trong việc rất nhỏ thì cũng bất lương trong việc lớn".Ngài đưa ra một phương thức huấn luyện đơn giản nhưng thực tế và đầy tính thuyết phục. Ngài không đòi hỏi chúng ta phải làm những việc to tát trọng đại nhưng là những việc nhỏ. Trong tin mừng chúng ta tìm thấy rất nhiều những hình ảnh đó : một li nước lã cho kẻ khó (Mt 10, 42), hai trinh bà goá bỏ vào hòm tiền (Lc 21, 1-24)… Ngài đưa ra những gương sống đơn sơ của trẻ nhỏ : Ai muốn vào Nước Trời phải bắt chước trẻ nhỏ (Mt 19, 13-15), phải sinh lại (Lc 21, 1-5). Và khi thực hành phải kín đáo : bố thí kín đáo (Mt 6, 1-4), cầu nguyện kín đáo (Mt 6, 5-6), ăn chay kín đáo (Mt 6, 16-18).
Chính trong những chuyện nhỏ mọn kín đáo đó mà chúng ta,những quản gia của Chúa, biểu lộ được tấm lòng yêu mến, sự trung tín của mình đối với Thiên Chúa, Đấng là chủ duy nhất của vũ trụ vạn vật
NGUYỆN
Lạy Cha! Chúng con là những kẻ yếu hèn, dễ dàng bị lôi cuốn theo danh vọng lợi lộc trần gian. Chúng con đã nhận được rất nhiều ơn lành từ tay Cha. Nhưng nhiều khi, vì tư lợi, chúng con đã không sử dụng những ơn lành đó để làm sáng danh Cha và mưu ích cho anh chị em chúng con. Xin Cha ban sức mạnh để chúng con luôn làm theo ý Cha.

 

TN25-C11. KHÔN NGOAN ĐÍCH THỰC- Lm. Phạm Thanh Liêm

Có người khôn “lỏi”. Có người khôn mà không “ngoan”, khôn mà không được người khác thương: TN25-C11

Có người khôn “lỏi”. Có người khôn mà không “ngoan”, khôn mà không được người khác thương. Có người ngây thơ như thể là dại, nhưng lại được nhiều người thương. “Ai khôn thời dại, ai dại thời khôn”. Sự khôn ngoan đích thực hệ tại đâu?
Khôn theo kiểu thế gian
Người quản lý trong dụ ngôn Đức Yêsu kể, thật là khôn theo kiểu thế gian. Anh ta toan tính và cư xử rất khéo và có lợi cho anh ta. Anh ta được lợi ngay trước mắt, sẽ được người ta đón tiếp một khoảng thời gian nào đó; nếu tiếp tục để tồn tại, anh ta phải toan tính làm những điều không lương thiện tương tự, để có thể sống mà không cần phải làm việc. Nhưng, anh ta có thật sự hạnh phúc không? Một người lương thiện có thể coi anh ta là người bạn chân thành không? Nếu tất cả mọi người đều lợi dụng lẫn nhau, và khi không còn lợi cho mình nữa, thì chấm dứt mọi tương quan. Nếu cuộc sống chỉ là vậy, có chi là hạnh phúc!
“Còn bạc còn tiền còn đệ tử, hết cơm hết gạo hết ông tôi”. Những người khôn kiểu này, người Việt Nam mình gọi là khôn lỏi, khôn mà không ngoan, khôn mà dại. Có nhiều người trong cuộc sống, vẫn chọn và hành xử theo kiểu khôn ngoan này. Họ vẫn chọn tiền bạc, mua bán đổi chác trong mọi chuyện, kể cả tình yêu. Có nhiều bậc cha mẹ vô tình hay hữu ý vẫn khuyến khích con mình khôn ngoan theo kiểu “dại” như vậy.
Khôn ngoan đích thực
Người khôn ngoan đích thực, phải là người thấy được điều lợi không phải ngay lúc này, nhưng còn cả ở tương lai xa nữa. Thứ ba vừa qua khủng bố đã xảy ra ở New York làm chết trên dưới năm ngàn người. Sống trong một nước văn minh, con người làm chủ những luật lệ thiên nhiên, biết thời tiết nắng mưa, nóng lạnh gần như chính xác, thấy được những biến chuyển của những cấu trúc và thiết bị nhân tạo. Con người gần như cảm thấy an toàn, làm chủ tất cả. Biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001, làm con người run sợ. Cái chết có thể xảy đến bất cứ lúc nào. Con người run sợ trước sự dữ con người làm cho nhau. Sự khôn ngoan đích thực hệ tại đâu? Được gì nếu cái chết xảy đến ngay cả khi mình giầu sang quý phái nổi tiếng? Ở trên ngôi nhà cao, nổi tiếng, vẫn là điều làm người ta vinh dự; lúc tai nạn xảy ra, toà nhà nổi tiếng đó trở thành mối hoạ, sống trên đó lại là cái hại khủng khiếp.
Khôn chết, dại chết, biết cũng chết. Sự khôn ngoan đích thực không phải chỉ toan tính cho ở đời này. Nếu chết là hết, toan tính ở đời này là đủ; nhưng chết không phải là hết, mà là khởi đầu một đời sống mới vĩnh cửu, mà nếu không chuẩn bị cho cuộc sống đó, mà chỉ lo cuộc sống đời này, thì quả là dại. Khôn ngoan đích thực, là sống theo luật yêu thương của Đức Yêsu trong cuộc sống thường ngày. Khôn ngoan đích thực, làm con người sống hạnh phúc trong đời sống mai hậu và ngay trong cuộc sống này.
Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ
Thiên Chúa là Đấng muốn mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. Thiên Chúa muốn mọi người nhận biết Ngài yêu thương con người, để khi nhận biết Ngài yêu thương con người, con người được tự do và hạnh phúc. Thiên Chúa không muốn sự dữ, không muốn con người đau khổ.
Đau khổ và sự dữ do con người gây ra cho nhau. Biến cố cướp máy bay và cố tình gây ra thật nhiều cái chết, làm nhiều người đau khổ. Và sự dữ này kéo theo sự dữ khác, chẳng hạn muốn báo thù, muốn hủy diệt sự dữ bằng sự dữ khác.
Khôn ngoan đích thực, là chính thái độ sống yêu thương mà Đức Yêsu đã dạy con người bằng chính cuộc sống của Ngài. Sự khôn ngoan đích thực không phải là bài học lý thuyết con người có thể học được trong vài phút, nhưng là chính cuộc sống của mỗi người. Trên thập giá, Đức Yêsu cầu nguyện: “xin Cha tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết”. Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá, kiên nhẫn chịu đựng những bất công người ta gây ra cho con mẹ. Cách sống của Đức Yêsu và Đức Mẹ, là cách sống làm con người sống bình an hạnh phúc. Sự dữ kéo theo sự dữ, làm con người luôn sống trong bất bình an. Tha thứ, cầu nguyện cho người ghét mình, làm con người được bình an tận trong lòng, và giúp kẻ làm ác có cơ hội thống hối. Đức Yêsu và những môn đệ của Ngài đã không lấy ác báo ác, nhưng lấy tình thương đáp trả sự dữ. Đây là cách hành xử của những người tuyệt vời. Khôn ngoan đích thực được thể hiện trong cuộc sống với những hành vi cụ thể cho dù nhỏ bé.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Điều gì làm cho bạn khổ nhất? Tại sao vậy?
2. Con người có thể sống hạnh phúc không? Khi nào?
3. Đức Yêsu và Đức Mẹ có hạnh phúc ở đời này không? Xin trình bày quan điểm của bạn cho người khác!

 

TN25-C12. Khôn Khéo

Cuộc đời này tươi hơn nhờ có người say mê nó. Các vận động viên chịu khổ luyện để phá một: TN25-C12

Cuộc đời này tươi hơn nhờ có người say mê nó.
Các vận động viên chịu khổ luyện để phá một kỷ lục. Các nhà khoa học tận tụy để tìm ra một phát minh. Các văn nghệ sĩ nhọc nhằn cưu mang một tác phẩm. Các nhà kinh doanh bù đầu với chuyện nắm bắt thị trường.
Phía sau một tấm huy chương, một bằng khen, một giải thưởng, có bao là mồ hôi nước mắt.
Say mê cuộc đời này chẳng có gì đáng trách.
Người Kitô hữu cũng sống hết lòng với cuộc đời này, nhưng họ không say mê như thể chỉ có nó.
Đúng ra họ say mê đời này vì họ say mê đời sau.
Đời này chỉ là con đường dẫn đến mục đích tối hậu.
Sau khi kể xong dụ ngôn về người quản gia khôn khéo, Đức Giêsu phàn nàn vì chúng ta, những con cái ánh sáng, lại không khôn bằng những người chỉ biết có đời này.
Người quản gia khôn vì ông dám đối diện với thực tế, đó là chuyện ông bị chủ cho thôi việc.
Ông khôn vì ông biết giới hạn của mình: Không đủ sức cuốc đất, không đủ mặt dầy mặt dạn để đi ăn xin.
Ông khôn vì ông biết xoay sở, tìm ra phương án tốt nhất, biết tận dụng quyền hành còn lại của mình để đem đến cho tương lai bấp bênh một bảo đảm.
Đức Giêsu không dạy ta bất lương như người quản gia. Ngài dạy ta biết khôn khéo như ông khi gầy dựng cho đời mình tương lai vĩnh cửu.
Có vẻ đời sau thì xa xôi, không có sức thu hút, không làm chúng ta say mê và dám đánh đổi tất cả.
Chúng ta thừa sôi nổi để xây dựng tương lai đời này, nhưng lại thiếu táo bạo để xây đắp tương lai đời sau.
Chúng ta biết xoay sở để việc làm ăn khỏi thua lỗ, nhưng chúng ta lại thiếu cương nghị và dứt khoát để đầu tư mọi sự mình có cho Nước Trời.
Cái giằng co của đời sống Kitô hữu nằm ở chỗ vừa say mê cuộc đời này, vừa say mê vĩnh cửu.
Họ say mê cuộc đời này không thua bất kỳ ai, bởi vì giữa cái mau qua, họ gặp được vĩnh cửu.
Kitô hữu làm việc, vui chơi như mọi người, nhưng vẫn có cái gì rất khác nơi họ.
Không phải vì họ dành cho Chúa một thời gian ít ỏi để đọc kinh, cầu nguyện, dự lễ... nhưng vì họ đã để Chúa đi vào toàn bộ đời mình.
Chúng ta cần giữ một sự thăng bằng trong cuộc sống. Sự thăng bằng này lại nằm ở chỗ chúng ta nghiêng về phía Chúa và để Ngài làm chủ đời mình. Tiền bạc, của cải không phải là điểm tựa, dù ta rất cần tiền và phải kiếm tiền để sống.
Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của, không thể phụng sự hai chủ như nhau, trong cùng một lúc.
Tôi tự hỏi những chủ nào đang thống lĩnh đời tôi.
Ước gì tôi được tự do nhờ biết làm tôi cho Thiên Chúa.
Gợi Ý Chia Sẻ
Đồng tiền là tiên, là phật, và cũng có thể là vị chúa đầy hấp dẫn quyền uy. Bạn có kinh nghiệm gì về sức mạnh của đồng tiền? Bạn có thấy ai đánh mất mình vì nô lệ cho tiền bạc không?
Người Kitô hữu cũng dễ mất hút giữa những bon chen của đời thường. Theo ý bạn, nếu sống chân thật lương thiện, người Kitô hữu có hy vọng thành công không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, ai trong chúng con cũng thích tự do, nhưng mặt khác chúng con thấy mình dễ bị nô lệ.
Có nhiều xiềng xích do chính chúng con tạo ra. Xin giúp chúng con được tự do thực sự: tự do trước những đòi hỏi của thân xác, tự do trước những đam mê của trái tim, tự do trước những thành kiến của trí tuệ.
Xin giải phóng chúng con khỏi cái tôi ích kỷ, để dễ nhận ra những đòi hỏi tế nhị của Chúa, để nhạy cảm trước nhu cầu bé nhỏ của anh em.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con được tự do như Chúa.
Chúa tự do trước những ràng buộc hẹp hòi, khi Chúa đồng bàn với người tội lỗi và chữa bệnh ngày Sabát.
Chúa tự do trước những thế lực đang ngăm đe, khi Chúa không ngần ngại nói sự thật.
Chúa tự do trước khổ đau, nhục nhã và cái chết, vì Chúa yêu mến Cha và nhân loại đến cùng.
Xin cho chúng con đôi cánh của tình yêu hiến dâng, để chúng con được tự do bay cao.

 

TN25-C13. Sự Đánh Động Dữ Tợn

Bài Phúc Âm hôm nay kể cho chúng ta truyện Chúa Giêsu được mời dự tiệc ở thành Béthani: TN25-C13

Bài Phúc Âm hôm nay kể cho chúng ta truyện Chúa Giêsu được mời dự tiệc ở thành Béthani. Đang khi buổi tiệc diễn ra thì xuất hiện một người phụ nữ tên là Maria. Thánh Gioan tả cho chúng ta biết rằng bà đem theo một cân dầu thơm loại hảo hạng và xức chân Chúa Giêsu. Sau đó, bà còn lấy tóc mình để lau chân Ngài, và cả nhà đều nực mùi hương thơm. Maria đã cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa qua Đức Kitô và nhờ đó bà đã được biến đổi thành một con người mới. Bởi vì cái cảm nghiệm đó làm cho Maria sung sướng và sốt mến nên chị đã bày tỏ ra cách phung phí như thế. Giuđa, người sẽ phản bội Chúa Giêsu, đã phản đối việc làm của chị và cho rằng chị không nên phung phí dầu thơm cách đó. Chị có thể đem bán nó và bố thí cho người nghèo thì ý nghĩa hơn. Chắc chắn rằng ngày nay, những người lao động và nghèo khổ sẽ đồng ý với lời nói của Giuđa. Thế nhưng Chúa Giêsu lại cho rằng đó là việc làm rất ý nghĩa. Nó là một việc phung phí, thế nhưng phung phí thánh thiện và tuyệt diệu. Qua đó, chúng ta thấy rằng Chúa Giêsu cho phép chúng ta được đi ra khỏi cái vòng luật pháp để bộc lộ ra niềm sung sướng của mình một cách phung phí mà không cần phải lo ngại gì.
Đa số chúng ta có lẽ đồng ý rằng trong việc làm này còn có những vấn đề. Trước tiên, vấn đề liên quan đến cảm tưởng của chúng ta. Từ hồi bé, chúng ta đã được dạy rằng, "Nam nhi rơi đầu chứ không rơi lệ... Con gái thì phải đoan trang... Người ta sẽ nghĩ làm sao về mày?... Đừng làm cho gia đình phải xấu hổ." Kết quả là khi chúng ta bước vào tuổi thành niên, chúng ta không thể nào biết cách để bộc lộ cảm tưởng của mình. Chúng ta không thể nhận ra những cảm tưởng thật của mình.
Tiếp đến là vấn đề lối suy nghĩ của chúng ta. Chúng ta là những người con của thời đại linh cảm. Chúng ta được dạy rằng cho đến khi nào chúng ta có đủ chứng cớ và đáp ứng đầy đủ những nhu cầu đòi hỏi, thì chúng ta mới nên cam kết. Kết quả là chúng ta trở nên những người rất cứng cỏi với tôn giáo, không thể nào để cho nó được tự nhiên, cho dù là mối tình giữa chúng ta với Chúa. Trong nhiều phạm vi của cuộc sống, một điều quan trọng là chúng ta nên suy nghĩ chín chắn và tính toán cho kỹ lưỡng, thế nhưng đừng bao giờ làm như thế trong tình yêu của chúng ta đối với Chúa.
Các bạn hãy hình dung ra một người con trai đã xa vắng người mẹ của nó hai tuần. Vào buổi sáng cái ngày mà nó biết là mẹ mình sẽ trở về nhà thì nó vui mừng hồi hộp đứng ở cửa sổ và trông ra ngoài. Đến khi nó thấy mẹ nó xuống xe thì liền mở cửa chạy ra và ôm lấy mẹ. Cũng giống như thế, hôm nay chúng ta hãy chạy đến với Chúa với tâm tình vui mừng như người con trẻ.
Câu truyện đó nhắc cho chúng ta rằng chúng ta vẫn thường làm như thế đối với mối liên hệ giữa chúng ta và Thiên Chúa. Nhiều khi chúng ta giữ thái độ lạnh nhạt xa cách. Văn hào Georges Bernanos đã nói một câu như sau, "Hình phạt đời đời sẽ được khám phá ra một cách chậm chạp và vào lúc quá muộn, có lẽ sau lúc người ta chết, rằng linh hồn mình đã không dùng cho việc chi cả. Nó vẫn còn được gấp kỹ lưỡng và chưa có bao giờ mở ra để đón nhận những chân lý." Có phải hình ảnh tâm hồn đó là hình ảnh tâm hồn của mỗi người chúng ta? Tâm hồn chúng ta vẫn còn bị gói chặt chẽ và kín đáo trong cái hộp và chưa bao giờ chúng ta mở nó ra?
Ít ra trong giờ phút phụng sự này, có thể nào chúng ta sẽ biết bắt chước Maria tại Béthani? Có thể nào chúng ta sẽ không cố gắng để đón nhận tình yêu vô bờ của Thiên Chúa đổ tràn đầy vào tâm hồn chúng ta? Có thể nào chúng ta sẽ không cho phép mình chạy đến với Thiên Chúa? Thiên Chúa luôn luôn sẵn sàng chờ đón chúng ta chạy đến với Ngài để Ngài ban muôn vàn ơn phúc.
Chúa Giêsu đang mời gọi chúng ta cũng hãy đặt mình vào mối liên hệ với nhau bằng cách phục vụ nhau. Các bạn hãy nhớ rằng trong Phúc Âm Thánh Mátthêu, Chúa Giêsu nói rằng khi chúng ta cho kẻ đói ăn, và thăm viếng kẻ tù tội là chúng ta làm cho Ngài. Đó là một vài cách mà chúng ta có thể sử dụng những món quà mà chúng ta đón nhận từ Thiên Chúa. Đây là sứ điệp mà Chúa Giêsu nói với mỗi người chúng ta trong Phúc Âm Thánh Luca hôm nay, "Hãy dùng tiền gian dối mà mua lấy bạn hữu, để khi mất hết tiền bạc, thì họ sẽ đón tiếp các con vào chốn an nghỉ đời đời" (Lc 16:9). Nếu các bạn còn chưa biết cho đi những của cải mình có để phục vụ kẻ khác, thì những của cải đó sẽ đánh lừa các bạn như Chúa Giêsu đã nói. Các bạn sẽ không có một giá trị gì cho đến khi các bạn biết dùng của cải mình để tạo sự sống và giúp đỡ cuộc sống xã hội.
Một câu nói từ trong cuốn chuyện "Zorba the Greek" vang vọng những gì mà chúng ta vừa mới bàn tới hôm nay: "Để có thể sống, các bạn phải trải qua một chấn động mạnh mẽ." Nhiều người chúng ta đã quá kỹ lưỡng gấp xếp tâm hồn và con người của mình một cách quá đáng do những lời người ta nói hoặc lo sợ không biết mở tâm hồn mình ra.

 

TN25-C14. Khôn ngoan của con cái sự sáng- Lm Vũ Xuân Hạnh

Trong những ngày này, dư luận thế giới vẫn còn chưa nguội vì nỗi thương đau cho rất nhiều: TN25-C14

Trong những ngày này, dư luận thế giới vẫn còn chưa nguội vì nỗi thương đau cho rất nhiều nạn nhân trong các vụ bắt cóc tàn nhẫn đang diễn ra. Nhất là nỗi xót xa khi nghe tin hai vụ rơi máy bay và tấn công vào một trường học ở Nga, làm thiệt mạng quá nhiều người, trong đó có trên 330 trẻ em phải chết cách dã man.
Hoặc mới đây là vụ đánh bom sứ quán Austraylia tại Indonêsia, giết hại hơn mười người và rất đông những người khác bị thương. Càng thương cho các nạn nhân bao nhiêu, lòng người càng hận bấy nhiêu đối với những kẻ khủng bố không còn mang dòng máu của những con người.
Những kẻ ấy là ai?
Họ là những kẻ rất khôn ngoan, biết suy nghĩ, khả năng tính toán rất cao. Vì thế họ biết cách chọn lựa những phương án hành động tội ác, nhưng kín đáo, không ai có thể phát hiện. Rất tiếc sự khôn ngoan ấy đã bị lạm dụng, đã đặt sai chỗ, vì thế trở nên quá nguy hiểm cho nền hòa bình của thế giới, nguy hiểm cho sự sống của con người. Trong đời sống thường nhật, chúng ta vẫn nghe nói nhiều đến sự khôn ngoan.
Một người ăn nên làm ra, người ta bảo anh ta là người khôn ngoan. Ai đó ăn nói lợi khẩu, nói những lời duyên dáng, khoan thai, nói những lời hay, ý đẹp không làm phật ý nghười nghe, họ được gọi là khôn ngoan. Hay ai đó có thể đoán biết ý đồ xấu của người khác, và tránh né được sự hãm hại dành cho mình, cũng là người khôn ngoan. Một em học sinh khôn ngoan biết chăm lo cho việc học tập của mình, học ngày một tiến tới. Ngay cả một người giỏi mánh khóe, xu nịnh, làm giàu bằng móc ngoặc, ăn cắp của công, hối lộ, tham nhũng… cũng được gọi là khôn ngoan.
Cũng vậy, hôm nay trong dụ ngôn Người quản lý, một bên Chúa Giêsu gọi anh ta là bất lương, bên kia Chúa cũng dùng một kiểu nói mà thói thường người đời vẫn nói: Đó là gọi người quản lý bất lương kia đã hành động khôn khéo. Vì anh ta đã sử dụng trí thông minh, sự gian dối, xảo quyệt của mình để hưởng lợi, để thỏa mãn những tính toán vụ lợi cho riêng mình.
Ở đây có một vấn đề được đặt ra là: Vậy Chúa khen ngợi người quản lý bị coi là bất lương ấy? Bởi đó cũng sẽ là bài học cho chúng ta? Chắc không ai ngây thơ đến nổi nghĩ như thế. Vì ngay sau đó, Chúa Giêsu đã phân biệt rạch ròi: “con cái thế gian” và “con cái sự sáng”. Đã gọi là con cái thế gian, nó chẳng bao giờ thuộc về thế giới của con cái sự sáng, nhưng nó chỉ thuộc về cuộc đời này, đi xa hơn, nó tắm mình và chìm đắm trong cuộc đời này. Vì thuộc về thế gian, con cái thế gian sẽ giỏi mọi ngóc ngách, mọi luồn lách để có thể có được càng nhiều, càng tốt những bảo đảm cho bản thân khi sống trong cuộc đời này.
Bởi vậy, nếu chỉ nhìn về phía thế gian với một tâm hồn chỉ toàn chiếm hữu, vụ lợi, ích kỷ…, thì đúng là“con cái thế gian khôn ngoan hơn con cái sự sáng”.Phân biệt rạch ròi giữa “sự sáng” và “thế gian” cho thấy sự tối tăm của thế gian là đêm tối giăng mắc đầy hiểm nguy. Do đó làm sao bóng tối ấy lại có thể là bài học cho chúng ta! Chúa Giêsu cũng không khen ngợi việc làm bất lương của người quản lý. Đúng hơn, Chúa chỉ nhắm đến việc sử dụng trí thông minh, sự khôn ngoan sao cho phù hợp, đúng nơi, đúng lúc, nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất cho đời sống của mình. Và trên hết, ta phải hiểu đây là một so sánh, Chúa đưa ra để giúp ta chọn lựa thái độ sống theo đòi hỏi của đức tin. Vì nếu nơi thế gian, con cái thế gian dùng sự khôn ngoan của nó để sống, thì con cái của ánh sáng hãy dùng sự khôn ngoan trong đức tin để đạt đến sự sống đời đời.
Vậy, qua câu chuyện về người quản lý bất lương, Chúa kêu mời chúng ta hãy rút ra từ đó những ý nghĩa, những bài học cần thiết cho đời sống đức tin của mình. Vì có khi đổ vỡ của người khác, ngay cả tội lỗi của chính mình hay của ai đó, cũng có thể là bài học kinh nghiệm cần thiết cho chúng ta sống tốt hơn, đến gần Chúa hơn, biết xa tránh mọi dịp tội hơn. Vì nếu chiếc xe trước đã đổ trên lối mòn, thì xe sau phải tìm lối khác mà đi cách đường hoàng hơn, an toàn hơn.Đó là sự khôn ngoan. Đó cũng chính là “con cái của sự sáng”. Vì sự khôn ngoan của con cái sự sáng là luôn biết nhận ra chính mình, để không bao giờ tự biến mình thành mối nguy cho mình hay cho anh chị em.
Còn hơn thế, sự khôn ngoan của con cái sự sáng sẽ dẫn họ đi trên con đường có tên Giêsu để mỗi ngày tự hoàn bị mình nhờ chính mẫu gương sống của Chúa Giêsu và Lời Người dẫn lối. Tắt một lời, sự khôn ngoan của người tín hữu Kitô là đi trên Chính Lộ mà chính Chúa Giêsu đã vạch ra.Chính Lộ ấy, sự khôn ngoan ấy là một lối sống được tóm gọn trong Tám mối Phúc thật như sống nghèo khó, hiền lành, chấp nhận Thánh giá, khao khát sự công chính, thương yêu anh chị em, giữ tâm hồn thanh sạch để sống thánh thiện, biết gây bầu khí hòa bình, chấp nhận mọi thử thách vì lòng yêu mến Chúa. Đi trên chính lộ do chính Chúa Giêsu khai mở, ta sẽ chẳng bao giờ phải lo lạc lối. Bạn thân mến, là Kitô hữu, bạn và tôi có chính đời sống của Chúa Kitô làm mẫu mực và có chính Lời của Người làm chuẩn mực cho mọi suy nghĩ, hành vi, lối sống của mình.
Bởi vậy, vì là Kitô hữu, sự khôn ngoan của bạn và tôi, không phải là sự không ngoan mà ta vẫn nghe thấy trong đời thường quanh mình, càng không thể chấp nhận thái độ chỉ chọn lựa sống khôn ngoan theo thói đời mà làm cho đời sống đức tin trở thành tăm tối. Sự khôn ngoan của Kitô hữu chỉ có một con đường, đó là ướm mình theo khuôn mẫu của đời sống Chúa Kitô và sống theo Lời Người dạy mà tám mối phúc thật là bảng tóm gọn của những lời dạy ấy.
Từ những hình ảnh cụ thể của tội ác khủng bố, đến hình ảnh của một người khéo vun quén cho đời sống trần gian của mình mà Chúa Giêsu cho thấy trong vụ ngôn Người quản lý bất lương, chúng ta rút ra bài học đáng giá cho mình: sự khôn ngoan của người tín hữu là trở nên giống Chúa Kitô để được Thiên Chúa yêu thương, đón nhận.Bạn ạ, đời sống Kitô hữu có một nỗi giằng co lớn lắm. Đó là vì ta cũng giống như anh chị em mình: rất say mê cuộc đời, say mê không thua bất kỳ ai. Nhưng ta cũng lại rất say mê vĩnh cửu, say mê đến tận cùng.
Bởi vậy chúng ta hãy làm sao để có thể gặp cái vĩnh cửu trong cái mau qua; vui chơi như mọi người nhưng vẫn tìm niềm vui thiên quốc; làm việc và sống trong cuộc đời, nhưng cũng thăng tiến Nước Trời trong chính cuộc đời ấy. Sự khôn ngoan chúng ta, những người Kitô hữu đó là sự khôn ngoan biết để Chúa đi vào toàn bộ cuộc đời mình..

 

TN25-C15. Người quản lý- Lm Trần Thanh Sơn

Theo báo cáo tại Hội nghị công tác thanh tra sáng ngày 8/7/2004, lãnh đạo Thanh tra TPHCM: TN25-C15

Theo báo cáo tại Hội nghị công tác thanh tra sáng ngày 8/7/2004, lãnh đạo Thanh tra TPHCM. cho biết trong 90 cuộc thanh tra đã phát hiện sai phạm trong quản lý kinh tế gây thiệt hại cho Nhà nước hơn 27 tỷ đồng, và đoàn thanh tra đã kiến nghị UBND. TP xử lý 75 cán bộ, nhân viên có biểu hiện sai phạm (Báo Công An, số 1259, ngày 13/7/2004). Riêng tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thì vào ngày 25/8/2004, Cơ quan ANĐT.
Bộ Công An đã quyết định khởi tố và thi hành lệnh bắt tạm giam lãnh đạo của ba công ty thành viên của Tổng công ty dầu khí Việt Nam, gồm có: ông Nguyễn Trọng Nhưng, nguyên Giám đốc Công ty thiết kế xây dựng dầu khí, ông Đặng Hữu Quý, nguyên Giám đốc Công ty tư vấn và thiết kế xây dựng dầu khí, ông Bì Văn Tứ, nguyên Phó Giám Đốc Công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm khí. Cả ba người này đều bị bắt về tội tham ô tài sản, cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế và tinh thần thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong quá trình xây dựng công trình tuyến ống - kho - cảng LPG Thị Vải có giá trị hơn 70 triệu USD tại Bà Rịa - Vũng Tàu (Báo Công An, số 1272, ngày 26/8/2004, trang 1-2).
Những người bị đề nghị khởi tố và bị bắt trên dù ở nhiều chức vụ khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, nhưng đều có một điểm chung là sai phạm trong công tác quản lý, gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Tương tự như vậy, người quản lý trong bài Tin mừng hôm nay, bị chủ cho nghỉ việc cũng chỉ vì anh ta đã không làm đúng chức năng quản lý mà chủ đã giao cho anh.Chính vì thế, trong giờ này tôi muốn được chia sẻ cùng quý OBACE một vài suy nghĩ về những bổn phận của người quản lý, bởi lẽ, xét cho cùng mỗi người chúng ta đều là một người quản lý trước mặt Thiên Chúa.
Mỗi người là một quản lý:
Khi nói đến hai chữ “quản lý”, có thể nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng: nó chẳng liên quan gì đến mình. Hiện tại, tôi đang làm chủ. Tôi đâu có làm công cho ai, hay lệ thuộc ai đâu. Tuy nhiên, nếu nghĩ kỹ, chúng ta sẽ thấy cho dù hiện giờ hoàn cảnh sống của mỗi người đều khác nhau. Có người giàu, người nghèo. Thế nhưng, nhớ lại lúc mới chào đời, mỗi người trong chúng ta đều giống nhau. Cho dù là con vua, cháu chúa, hay là con nhà thường dân, mỗi người chúng ta đều vào đời với hai bàn tay trắng. Chúng ta chẳng đem bất cứ thứ gì vào đời. Nếu có chăng, thì đó chỉ là những tiếng khóc chào đời.Mọi sự chúng ta có đều do nhận lãnh. Trước hết, chúng ta nhận lãnh từ nơi vòng tay yêu thương của cha mẹ một tấm khăn để bao bọc tấm thân. Rồi theo dòng thời gian, chúng ta còn tiếp tục nhận lãnh từ nơi cha mẹ công lao dưỡng dục mỗi ngày “chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm”. Lớn lên, chúng ta lại tiếp tục nhận được từ nơi nhà trường và xã hội một vốn tri thức của nhân loại đã được tích góp từ hàng ngàn năm qua bao thế hệ. Và cùng với vốn tri thức nhân loại, chúng ta còn nhận được một gia sản đức tin từ bao thế hệ cha anh trong Giáo Hội để lại cho chúng ta.Tất cả những điều đó, cho thấy tất cả những gì chúng ta có đều do người khác trao ban. Và ước mơ của những người này không gì khác hơn là chúng ta lại tiếp tục trao ban những điều đó cho những thế hệ kế tiếp. Như thế, nếu mọi sự chúng ta đều do nhận lãnh được, thì thực sự chúng ta chỉ là người quản lý, mọi sự được giao cho chúng ta không phải để chúng ta sỡ hữu một mình, nhưng là để chúng ta chia sẻ lại cho người khác.
2. Lời mời gọi chia sẻ:
Người quản lý tốt là người thay mặt chủ để trông coi mọi tài sản của chủ, và sử dụng chúng theo ý chủ, chứ không phải theo ý của anh ta. Đặc biệt những người quản lý khôn ngoan theo ý của Thiên Chúa là những người biết “phân phát phần thực phẩm (cho anh em) cho phải thời” (Lc 12, 42). Do đó, trong tư cách là người quản lý, chúng ta có nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của chúng ta là chia sẻ cho anh chị em những gì mình đã nhận lãnh. Chính vì thế, khi thấy những người đồng thời với mình sống bất công, bóc lột của người khác để làm giàu cho chính mình.
Ngôn sứ Amos đã mạnh mẽ lên tiếng tố cáo: “Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp kẻ nghèo khó và muốn tiêu diệt hết những kẻ bần cùng trong cả nước”. Và vị ngôn sứ đã chỉ rõ cách sống bất công của hạng người này: “Các ngươi bảo: “Bao giờ qua tuần trăng mới để chúng tôi bán hàng? Khi nào hết ngày Sabbat để chúng tôi bán lúa mạch. Chúng tôi sẽ giảm lường đong, tăng giá và làm cân giả. Chúng tôi sẽ lấy tiền mua người nghèo, lấy đôi dép đổi lấy người túng thiếu. Chúng tôi sẽ bán lúa mục nát”. Đối với những người này, đồng tiền là trên hết. Họ giữ ngày Sabbat vì sợ phạm luật chứ không phải vì lòng yêu mến Thiên Chúa. Bên ngoài họ giữ ngày Sabbat, nhưng bên trong lại không muốn có ngày Sabbat, vì theo luật, ngày Sabbat họ không được phép buôn bán, và dĩ nhiên họ cũng không thu được lợi nhuận. Nghe những lời này, có lẽ nhiều người trong chúng ta có suy nghĩ, đúng là đồ đạo đức giả “miệng Nam mô”, mà bụng thì “một bồ dao găm”. Họ tìm mọi cách để tích góp cho mình, như thể họ là những người chủ, mà quên mất rằng: họ chỉ là người quản lý, chứ không phải là những ông chủ.Thế nhưng “trông người lại nghĩ đến mình”.
Nhiều người trong chúng ta bình thường vẫn đi lễ ngày Chúa Nhật, nhưng chỉ cần một cơn mưa, một lời rủ rê của bạn bè, một bữa nhậu, hay có một vụ làm ăn nào đó… là chúng ta cũng dễ dàng bỏ ngay việc dâng lễ ngày Chúa Nhật. Nếu như vậy, thì chúng ta cũng đâu có gì khá hơn những người Do Thái thời ngôn sứ Amos đâu.Trong cuộc sống đời thường, có lẽ ai trong chúng ta cũng tính toán thật kỹ lưỡng, nên làm gì, và làm như thế nào để có lợi nhiều nhất. Hơn nữa để có thể thu được lợi nhuận nhiều nhất, chúng ta có thể thức khuya, dậy sớm, làm việc vất vả không quản ngày đêm, sẵn sàng bỏ cả quê cha đất tổ để đi “tha phương cầu thực” nơi đất khách quê người.
Đành rằng, “có thực mới vực được đạo”, trong thân phận của một con người mỗi người chúng ta cần phải làm việc để nuôi sống thân xác mình cùng với những người mình chịu trách nhiệm, nhưng chúng ta cũng cần ý thức rằng: sự sống thân xác không phải là tất cả. Chúng ta không thực sự làm chủ bất cứ điều gì, vì ngay cả sự sống thân xác là cột trụ cuối cùng của mình, chúng ta cũng không làm chủ được.Do đó, để khỏi rơi vào tình trạng của người quản lý trong bài Tin mừng hôm nay, bị chủ gọi đến cho thôi việc, mỗi người chúng ta hãy chu toàn bổn phận quản lý của mình.
Chúng ta hãy sử dụng thời giờ, cơ hội, phương tiện và tài năng của mình để phục vụ Chúa và tha nhân. Chúng ta hãy sẵn sàng chia sẻ với anh chị em những gì mà chúng ta đã được nhận lãnh từ nơi Thiên Chúa “để chúng ta được sống bằng yên vô sự, trong tinh thần đạo đức và thanh sạch”. Nhờ đó, vào ngày sau hết, chúng ta sẽ được họ “đón tiếp vào chốn an nghỉ đời đời”. Amen.

 

TN25-C16. Dùng Tiền Bạc Thế Nào Để Đạt Nước Trời?

 - Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn
 

Chúng ta tiếp tục đồng hành với Chúa Giêsu và các môn đệ trên hành trình lên Giêrusalem: TN25-C16

Chúng ta tiếp tục đồng hành với Chúa Giêsu và các môn đệ trên hành trình lên Giêrusalem. Sau khi dùng những dụ ngôn về lòng thương xót để đáp lại những chỉ trích của mấy ông Pharisêu và Kinh sư về việc Người ân cần tiếp rước những kẻ tội lỗi, giờ đây, Chúa Giêsu trở về với các môn đệ để trao đổi với các ông một số chủ đề liên quan đến sự khôn khéo trong việc đối nhân xử thế và vấn đề tiền của.
Chúa Giêsu bắt đầu trao đổi với các môn đệ về dụ ngôn người quản lý bất lương. Đây là dụ ngôn khó hiểu và thường bị hiểu sai nhiều nhất. Đọc qua, nhiều người ngộ nhận rằng đây là bằng chứng Chúa Giêsu cho phép làm điều bất chính, vì Người đã đưa dụ ngôn này như là mẫu gương! Thực hư thế nào?
Trong xã hội thời đó, quản gia là một nhân vật có thế lực. Ông thay thế gia chủ quản lý tất cả tài sản và làm sao cách tốt nhất để tài sản đó sinh lợi. Vì quản gia thời đó không có lương nên để nuôi sống bản thân và vợ con, ông được phép lấy tài sản của gia chủ cho vay để sinh lợi cho chủ mà cũng làm lợi cho mình nữa. Tin mừng hôm nay cho thấy, người quản gia này đã lợi dụng chức vụ của mình để tiêu xài phung phí tài sản của gia chủ và vì thế ông bị chủ cho nghỉ việc. Việc này thật bất lợi cho ông. Vì thế, ông cần phải tính toán, phải đối xử với con nợ thế nào để có lợi cho mình nhất, khi mình không còn đương chức.
Trong quyền hạn của mình, người quản gia tiến hành sửa lại văn tự vay của con nợ. Tất cả các con nợ đều được giảm một số nợ rất lớn, có số nợ được giảm đến 50% và như thế đối với họ, đại ân nhân ở đây không ai khác ngoài người quản gia … sắp bị giảm biên chế! Vấn đề chúng ta thắc mắc là, tại sao người quản gia này lại dám sửa lại văn tự nợ với số lượng lớn như vậy? Phải chăng anh ta “thụt két” gia chủ để mua lấy tình cảm của những con nợ? Chúng ta có thể hiểu thế này. Số nợ lớn được giảm đó rất có thể không dính dáng gì đến số tài sản của gia chủ mà chỉ là số “lương bỗng” người quản gia được hưởng. Với cách làm này, người quản gia đã hy sinh phần lợi của mình để mua lấy tình cảm con nợ. Như vậy là, người quản gia trong Tin mừng không chỉ tiêu xài phung phí tài sản của gia chủ mà còn có những hành vi thao túng, bóc lột người nghèo quá mức.
Thế nhưng cách xử thế được xem là khôn khéo đó của viên quản gia được gia chủ khen ngợi. Ông chủ khen chắc không phải vì trò gian lận kia nhưng là tài khôn khéo, ứng xử nhanh nhẹn trước tình huống khó khăn để lo cho tương lai của anh ta. Trở lại vấn nạn nêu trên, chúng ta thấy Chúa Giêsu không đưa dụ ngôn người quản gia bất lương ra làm mẫu gương hay Người đồng ý cho phép điều bất chính, gian lận xảy ra; điều Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta ở đây là “Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu”. Nghĩa là con cái ánh sáng cần phải xử sự cách khôn khéo để làm sao tiền bạc không trở nên một thế lực thống trị và biến chúng ta thành nô lệ; trái lại, cần phải biến nó trở nên phương tiện phục vụ con người thông qua làm phúc bố thí chứ không phải bo bo giữ lấy cho riêng mình. Người Kytô hãy nhớ rằng, tiền bạc không phải là cùng đích mà chỉ là phương tiện. Chúng ta xử sự thế nào để tiền bạc không cản trở bước đường đi đến đời sống vĩnh cửu khi chúng ta nhắm mắt xuôi tay.
Nếu người quản gia trong Tin mừng biết lợi dụng tiền bạc, biết lợi dụng của cải chóng qua này để mua lấy bè bạn, phòng khi sa cơ thất thế thì tương lai của mình vẫn được bảo đảm, mỗi người chúng ta cũng ra sức lo cho cuộc sống mai sau của mình đang khi còn sống trên thế gian này. Có thể nói đây là thời gian thuận lợi nhất để người Kytô thực thi công bình bác ái nhằm đầu tư cho cuộc sống vĩnh cửu sau này. Của cải tiền bạc không phải là chủ nhân ông có thể đưa con người đến cửa nước trời.
Chúa ban cho chúng ta tiền bạc của cải để sử dụng, để mưu cầu hạnh phúc cho tha nhân, nhưng khi sử dụng nó, chúng ta nhớ rằng chúng ta không thuộc về tiền bạc, không thuộc về những giá trị vật chất chóng qua này. Chúng ta chỉ lệ thuộc vào một mình Thiên Chúa –Đấng sung mãn sự giàu sang, thông minh, thượng trí và là ánh sáng cho cuộc sống chúng ta.

 

TN25-C17. Công bằng xã hội - Lm Trần Bình Trọng

Đọc báo chí hay coi vô tuyến truyền hình, ta thấy những phản ứng khác nhau của những người: TN25-C17

Đọc báo chí hay coi vô tuyến truyền hình, ta thấy những phản ứng khác nhau của những người vừa bị mất việc. Có những người buồn chán, không ăn không ngủ. Có những người bực tức, tìm cách trả thù cai xếp hoặc chủ sở bằng những hành vi bạo động sát nhân, rồi tự sát. Người quản lý trong Phúc âm hôm nay khi biết mình sẽ bị sa thải vì phung phí của chủ, đã nghĩ ra mánh lới để mua chuộc con nợ của chủ mình. Anh ta gọi từng con nợ đến cho giảm số nợ. Đạo Kitô giáo đề cao đức công bình. Công bình là trả cho người khác cái mà họ đáng được. Đức công bình phát xuất từ tinh thần trách nhiệm của loài người với Thiên Chúa, là Đấng ban phát cho loài người những quyền lơi khác nhau.
Đạo Kitô giáo cũng chủ trương bảo vệ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản và quyền đòi được bồi thường khi người khác làm thiệt hại đến tài sản của mình. Những quyền lợi đó đã được ăn rễ sâu trong hai giới răn của Thiên Chúa: điều răn thứ bảy dạy ta chớ lấy của người, và điều răn Thứ mười đi xa hơn nữa dặn ta chớ tham lam của người.Người quản lý trong Phúc âm hôm nay đã lỗi phạm Điều răn Thứ bảy. Anh ta đã phung phí của chủ. Khi biết mình bị sa thải, anh ta còn dùng của chủ để mua chuộc con nợ, i.e., dùng của chủ để làm lợi cho mình. Anh ta đã lỗi đức công bình xã hội là làm điều bất công.
Thoạt nghe ta lấy làm vấp phạm khi Chúa Giêsu lên tiếng khen người quản lý bất lương đã hành động cách tinh quái. Lẽ ra thì Chúa phải kết án việc làm gian lận của viên quản lý đó hay ít ra cũng chỉ trích cái hành động cướp gạt trắng trợn của anh ta như tiên tri Amốt đã tố cáo những tệ đoan trong xã hội thời bấy giờ. Amốt mô tả việc người giàu có nóng lòng chờ đợi cho qua ngày lễ nghỉ để họ có thể lường gạt và bóc lột người nghèo (Am 8:5-6). Tuy nhiên đi sâu vào vấn đề ta thấy Chúa không khích lệ việc người quản lý phung phá tài sản của chủ. Thực ra Chúa chỉ khen cái mánh lới của anh ta mà thôi. Chúa khen người quản lý có khả năng hành động kịp thời và quyết liệt khi bị giồn vào chân tường. Rồi từ đó Chúa kết luận: Con cái đời này khi đối xử với đồng loại thì khôn hơn con cái ánh sáng (Lc 16:8). Và rồi Chúa thách thức ta: Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu (Lc 16:9).
Lời thách đố của Chúa có nghĩa là ta phải biến đổi tiền của vật chất thành phương tiện để mở mang xây dựng nước Chúa. Lời thách đố của Chúa có nghĩa là ta phải biến đổi tiền của vật chất thành phương tiện để mở mang, xây dựng Nước Chúa. Bài học Chúa muốn dạy ta hôm nay là ta phải khôn khéo và mạo hiểm, phải dùng óc sáng kiến và tài sáng nghiệp để tạo cho ta một tương lai trong Nước Chúa, như người quản lý bất lương sửa soạn cho tương lai của mình trong nước trần gian.Tại sao ta sẵn sàng mạo hiểm trong những lãnh vực khác của cuộc sống và cảm phục người khác làm như vậy? Nhưng còn việc liên hệ với Chúa ta lại thường đắn đo và dè dặt. Trong Phúc âm hôm nay Chúa muốn so sánh cái cách thế người ta dùng trong những trường hợp có liên can đến những sự vật trần thế với những cách thế mà người ta dùng để đương đầu với những sự vật thiêng liêng..
Nếu người quản lý bất lương đã dùng cái sáng kiến để đương đầu với trở ngại hầu có thể đi tới một giải quyềt ổn thoả, thì Chúa cũng muốn cho ta dùng sáng kiến để đối phó vời những trở ngại thiêng liêng.Đạo giáo trong đời sống hàng ngày cũng thách đố ta như bất cứ công việc nào khác.. Chúa đã cho ta một thách đố để ta đối phó bằng cách làm quyết định nhanh chóng và quả quyết cho đời sống thiêng liêng cũng như khi làm quyết định cho những sự vật trần thế.
Lời Chúa trong Phúc âm hôm nay vẫn còn thích hợp cho thời đại ta đang sống: Ai trung tín trong việc rất nhỏ thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn (Lc 16: 10).

 

TN25-C18. Chúa Đòi Chúng Ta Phải Lựa Chọn

Chúa Nhật 25 Thường Niên Năm C
 (Amos 8,4-7; 1 Timôthê 2,1-8; Tin Mừng Luca 16,1-13)
 Phúc Âm: Lc 16, 1-13
"Các con không thể làm tôi Thiên Chúa mà lại làm tôi tiền của được".
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Một người phú hộ kia có một người quản lý, và người này bị tố cáo đã phung phí của chủ. Ông chủ gọi người quản lý đến và bảo rằng: 'Tôi nghe nói anh sao đó? Anh hãy tính sổ công việc quản lý của anh, vì từ nay, anh không thể làm quản lý nữa'. Người quản lý nghĩ thầm rằng: 'Tôi phải làm thế nào, vì chủ tôi cất chức quản lý của tôi? Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. Tôi biết phải liệu thế nào, để khi mất chức quản lý, thì sẽ có người đón tiếp tôi về nhà họ'.
"Vậy anh gọi từng con nợ của chủ đến và hỏi người thứ nhất rằng: 'Anh mắc nợ chủ tôi bao nhiêu?' Người ấy đáp: 'Một trăm thùng dầu'. Anh bảo người ấy rằng: 'Anh hãy lấy văn tự, ngồi xuống mau mà viết lại: năm mươi'. Rồi anh hỏi người khác rằng: 'Còn anh, anh mắc nợ bao nhiêu?' Người ấy đáp: 'Một trăm giạ lúa miến'. Anh bảo người ấy rằng: 'Anh hãy lấy văn tự mà viết lại: tám mươi'. Và chủ khen người quản lý bất lương đó đã hành động cách khôn khéo: vì con cái đời này khi đối xử với đồng loại thì khôn khéo hơn con cái sự sáng.
"Phần Thầy, Thầy bảo các con: Hãy dùng tiền của gian dối mà mua lấy bạn hữu, để khi mất hết tiền bạc, thì họ sẽ đón tiếp các con vào chốn an nghỉ đời đời.
"Ai trung tín trong việc nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai gian dối trong việc nhỏ, thì cũng gian dối trong việc lớn. Vậy nếu các con không trung thành trong việc tiền của gian dối, thì ai sẽ giao phó của chân thật cho các con?
"Không đầy tớ nào có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc nó ghét chủ này và mến chủ kia; hoặc phục chủ này và khinh chủ nọ. Các con không thể làm tôi Thiên Chúa mà lại làm tôi tiền của được".
 Suy Niệm:
 

Mặc dù câu chuyện người quản lý bất lương muốn chúng ta xem xét lại cẩn thận, chúng ta vẫn: TN25-C18

Mặc dù câu chuyện người quản lý bất lương muốn chúng ta xem xét lại cẩn thận, chúng ta vẫn không được quên câu chuyện ấy nằm trong cả một văn mạch và hơn nữa còn ở trong cả phần Phụng vụ Lời Chúa hôm nay. Ðặt nó lại vào giữa các bài đọc Kinh Thánh mà chúng ta vừa nghe, có lẽ ý nghĩa của nó sẽ dễ nhận ra hơn. Vì thế chúng ta cứ theo tổ chức của Phụng vụ, bắt đầu tìm hiểu bài sách Amos trước, rồi đến bài Tin Mừng và sau cùng đến bài thư gửi Timôthê. Chúng ta sẽ thấy giáo huấn của Phụng vụ hôm nay dạy chúng ta đừng thờ tiền, nhưng hãy thờ Chúa; đừng tìm của cải nhưng hãy tìm Nước Trời. Và giáo huấn này đã nằm ngay trong bài sách Amos.
 1. Chúa Nhớ Hết Các Hành Ðộng Của Kẻ Tham Lam
Sách Amos không dày như các sách Isaia, Giêrêmia, Ðanien và Êzêkien, nên tác giả được liệt vào sổ các tiên tri nhỏ. Nhưng thực ra, uy tín của ông không bé. Nó đã làm rung động cả miền Bắc nước Do Thái. Và ngày nay đọc sách của ông, người ta vẫn thấy tư tưởng của ông còn rất mạnh mẽ và hợp thời. Là vì ông nói nhiều về nếp sống xã hội.
Amos quê ở miền Nam đất Do Thái, làm nghề chăn chiên. Ðược Chúa chọn làm tiên tri, ông lên tiếng tuyên sấm ở miền Bắc. Ở đây nếp sống xã hội khác hẳn miền Nam. Kinh tế đang phát triển mạnh, nhưng là thứ kinh tế xây trên buôn bán bóc lột, chứ không tựa vào sản xuất nông nghiệp. Quen với cảnh thanh bình nông thôn, Amos chẳng bao giờ chấp nhận được nếp sống chạy đua với tiền bạc. Không phải vì ông không biết thích nghi, nhưng vì ông thấy căn bản của sinh hoạt buôn bán không còn đạo đức gì cả. Chúng ta chỉ cần nghe ông trong đoạn sách hôm nay.
Amos tuyên sấm đối với hạng người tham lam của cải: "Hãy nghe điều này, hỡi quân chà đạp kẻ khó nghèo và muốn tận diệt những người khiêm tỵ trong xứ". Nếu được dùng các danh từ thời đại, chúng ta có thể đơn sơ viết rằng: Amos coi hạng buôn bán là phường bóc lột. Và các nạn nhân chính là những thành phần khó nghèo, khiêm hạ trong xã hội.
Amos đã dẫn chứng như sau: bọn con buôn sốt ruột khi thấy tôn giáo có những ngày sóc, tức là ngày đầu tháng; và các ngày Sabát. Ðó là những ngày hưu lễ, phải đóng cửa tiệm, không được buôn bán. Dân làm ăn ghét những ngày như vậy. Họ bị thiệt vì không buôn bán được gì. Họ sốt ruột chờ những ngày ấy qua đi để mở lại cửa tiệm. Rõ ràng họ không còn tôn giáo gì nữa. Họ chỉ ao ước có một sự: tiền! Và đồng tiền chỉ vào nhiều khi buôn bán gian lận.
Nào là họ bóp nhỏ đấu đong lại, thêm nặng quả cân và làm sai các cán cân giả mạo. Ðó là những cách gian lận trong nghề buôn bán nhỏ. Chưa chắc ngày nay đã hết! Và ngày nay có cách gian lận khôn ngoan hơn, nhưng bóc lột hơn!
Với những xảo kế như vậy, người thời xưa làm cho những người nghèo cứ nghèo hơn đến nỗi có ngày phải bán thân làm nô lệ, như Amos viết: người ta tậu lấy người nghèo bằng giá bạc. Và đau lòng hơn nữa người ta còn mặc cho việc mua bán bóc lột ấy một hình thức pháp luật đàng hoàng. Người Do Thái có tục lệ dứt khoát các vấn đề đổi chác bằng bên này cởi dép trao cho bên kia (xem chuyện bà Rút 4,2). Thế nên Amos viết: "Người ta tậu lấy người khó với một đôi dép".
Nhưng đây là phán quyết của nhà tiên tri ở trước những cảnh bóc lột gian lận và trắng trợn này, cho dù chúng có được ngụy trang hợp thức hóa đi nữa. Nói đúng hơn, đây là phán quyết của Thiên Chúa, Ðấng thấu suốt mọi sự. Người thề nhân danh Người rằng: "Sẽ không bao giờ Ta quên các việc làm của chúng".
Lời tuyên án vang như tiếng sấm trên núi Sinai. Nó còn nằm mãi trong Kinh Thánh và sách của Amos. Người mọi thời sẽ còn nghe thấy mãi. Có kẻ sẽ bỉu môi không muốn để ý. Nhưng nghe một lần rồi, lời ấy sẽ còn vang mãi trong lương tâm và chờ ngày thi hành.
Nhưng chúng ta cũng đừng gán cho lời sấm của Amos những giá trị quá đáng. Ông không phải là nhà kinh tế xã hội học. Ông chỉ nhìn thấy kiểu cách của các con người buôn gian bán lận. Ông thấy họ trước tiên là những kẻ không còn tôn giáo gì nữa. Họ chỉ thờ tiền; và vì thế họ bóc lột kẻ khó nghèo. Là tiên tri của Chúa, Amos ghét thứ tôn giáo tiền bạc ấy. Quan điểm của ông là quan điểm tôn giáo. Ông không chấp nhận cho một tôn giáo nào khác được phổ biến trong dân mà Chúa đã chọn làm kỷ phần riêng của Người. Thế mà phường buôn bán lại khó chịu khi có hưu lễ vì lẽ không được buôn bán. Chúng đã coi tiền bạc hơn Chúa. Chúng đã bỏ Chúa mà thờ tiền. Tiền trở thành ngẫu tượng. Các tiên tri phải đập, đập tất cả các thứ ngẫu tượng...
Ðó là quan điểm của Amos, là bài học của đoạn sách hôm nay. Ðoạn sách này đưa chúng ta sang bài Tin Mừng theo thánh Luca. Chúng ta sẽ thấy ở đây bài học chính không phải câu chuyện người quản lý bất lương, nhưng là lời khuyên về thái độ đối với tiền bạc.
 2. Chúa Ðòi Chúng Ta Phải Lựa Chọn
Thật vậy, tác giả Luca thường hay dùng một câu chuyện để đưa vào một bài học. Câu chuyện là tùy, bài học là chính. Ở đây câu chuyện là sự khéo léo xoay xở của một người quản lý bất lương. Vì là điều tùy, nên Luca không quan tâm kể chuyện đầy đủ mọi chi tiết. Người quản lý này bất lương ở chỗ nào, chúng ta không được rõ. Chỉ biết anh ta bị tiếng phá của nhà chủ. Ông này gọi anh ta đến để báo tin ông ta sẽ cho anh nghỉ việc. Thật là một tin bất ngờ sét đánh. Bỏ nhà này anh sẽ đi đâu? Sinh sống thế nào? Cuốc mướn thì không có sức, đi ăn mày thì xấu hổ. Vậy chỉ còn một cách tìm được người để nhờ vả. Anh vội vàng gọi các con nợ của chủ đến. Anh làm ơn cho họ để sau này họ sẽ giúp đỡ anh. Anh biến họ nên những kẻ đồng lõa. Và thấy lợi trước mắt họ đã làm theo anh.
Cư xử như vậy, đối với chủ là bất lương. Nhưng đó là khôn ngoan thế gian. Ðức Giêsu khen sự khôn ngoan đó vì Người thấy con cái đời này khôn khéo hơn con cái sự sáng. Người đã không khen các việc làm của người quản lý kia, vì anh ta là kẻ bất lương mà! Nhưng Người phải nhận rằng anh ta khôn khéo và mau lẹ. Và Người đau lòng khi nghĩ tới bình diện Nước Trời người ta không mau lẹ và khôn khéo như vậy. Này, Người đã đem ơn cứu độ đến trong lời giảng và gương sáng của Người, nhưng sao người ta hững hờ và chậm chạp đến như vậy! Gioan tẩy giả đã nói rằng: rìu đã được mang đến đặt dưới chân cây, Thiên Chúa sắp phán xét thái độ của loài người, thế mà người ta vẫn lững thững. Họ không lanh lẹ mau trí đối với Nước Trời như người quản lý ở bất lương kia đã mau trí lanh lẹ đối với sự việc ở đời này. Và đó là điều đau lòng và đáng trách!
Nhưng nếu muốn mau trí và lanh lẹ đối với Nước Trời thì phải làm gì? Tác giả Luca tiến sang phần thứ hai của bài Tin Mừng hôm nay. Và đây là phần chủ yếu. Giáo lý chủ yếu nằm trong phần này.
Luca không đưa ra một câu trả lời đầy đủ và toàn diện. Các công việc phải làm để đón nhận Nước Trời đâu có ít! Ðức Giêsu đã giảng biết mấy! Nhưng mỗi lần giảng, Người nêu lên một điều hay một số điều, về một khía cạnh nào đó của mầu nhiệm Nước Trời. Hôm nay đang kể câu chuyện về vấn đề làm ăn, Người muốn giáo huấn chúng ta về vấn đề tiền của. Nói đúng hơn, vì muốn dạy dỗ chúng ta thái độ phải có đối với tiền bạc, Người đã bắt đầu kể câu chuyện trên để làm tiền đề.
Câu chuyện này nói đến một kẻ làm ăn bất lương thì bài học đi theo trước hết muốn khuyên ai nấy hãy bắt chước óc sáng tạo và sự tích cực của kẻ ấy mà lo việc Nước Trời. Cũng phải bắt chước kẻ ấy nữa trong việc tìm cách đảm bảo cho tương lai của mình. Y tìm đảm bảo tương lai đời này, còn con cái sự sáng phải tìm đảm bảo tương lai ở đời sau. Họ phải làm gì? Tiền của đời này có giúp ích được gì cho họ không?
Có chứ! Hãy dùng nó mà tậu của cho mình ở trên trời mai ngày, nơi không có mối mọt đục khoét và không trộm cướp nào có thể ăn cắp được. Ngược lại nếu chỉ dùng tiền của mà làm ăn ở đời này, thì như có lần tác giả Luca đã viết, khốn cho kẻ ngốc như vậy, vì khi chết y có thể mang theo gì không? Nhưng thế nào là dùng của để tậu cho được kho tàng cho mình ở trên trời. Theo giáo huấn của Chúa, và như các tín hữu đầu tiên sau này sẽ thi hành, của cải vật chất được ký thác cho ta không phải để ta giữ làm của riêng và coi nó như thần tượng để tôn thờ nhưng để ta san sẻ với anh em, làm cho không ai còn thiếu thốn. Tất cả vấn đề nằm trong quan điểm đó. Người ta phải lựa chọn; hoặc coi tiền của là đối tượng mình phải tìm kiếm, chất chứa cho thật nhiều thật lớn; hoặc coi nó như của ký thác để san sẻ mà giúp đỡ nhau. Quan điểm trên xây tiền bạc thành thần tượng; còn theo quan điểm dưới nó chỉ là phương tiện xây dựng hạnh phúc chung cho mọi người.
Ðó là giáo huấn Chúa nói với tất cả chúng ta. Thánh Luca không muốn để mất một cơ hội nào để áp dụng giáo huấn của Chúa vào Giáo Hội, vì Hội Thánh là một ưu tư của tác giả khi viết tác phẩm của Người. Luca muốn nói riêng với những người làm việc trong Giáo Hội. Nếu họ không biết dùng của cải đời này như trên, thì không nên giao cho họ kho tàng Nước Trời là các phương tiện cứu rỗi mà Chúa đã ban cho Hội Thánh, kẻo thay vì dùng ơn gọi để phục vụ mọi người, họ sẽ lợi dụng để vinh thân và phì gia.
Do đó trong bài Tin Mừng này luôn luôn thánh Luca muốn đi từ bình diện thế gian sang bình diện Nước Trời; nói đến sự khôn khéo của con cái thế gian mà thúc giục con cái sự sáng hãy lanh lẹ hơn với công việc của Nước Trời; và tựa vào cách người ta sử dụng của cải đời này mà biết được thái độ của người ta đối với những sự thiêng liêng. Tựu trung Luca cũng như Amos không chấp nhận được thái độ tham lam tiền của, biến tiền của nên thần tượng. Ngược lại cả hai đều muốn mọi người dùng của cải để chia sẻ với người khác. Thái độ trước coi tiền của là một thứ tôn giáo; quan điểm sau nhờ tôn giáo thấy phải chia sẻ mọi sự với mọi người.
Nhưng tôn giáo không phải chỉ có vấn đề tiền của. Ðó chỉ là vấn đề nhỏ trong tôn giáo. Còn nhiều vấn đề khác mà tựu trung cũng chỉ là để chia sẻ. Bài thư Timôthê mở cho chúng ta thấy một vài khía cạnh này.
 3. Chúng Ta Phải Dâng Lời Cầu Nguyện
Tác giả bức thư không muốn thấy độc giả của mình "chết đắm về đức tin" (1,19) như nhiều người thời bấy giờ. Họ đã hư đi vì "lộng ngôn", tức là có những lời lẽ ăn nói không còn đúng với giáo lý tông truyền. Họ đã ngã theo những thứ lạc giáo nào đó. Vậy, không muốn hư đi như họ, tác giả khuyên người ta hãy sống cầu nguyện. Không phải cầu nguyện cho mình khỏi rơi vào lạc giáo; nhưng, là thay vì coi tôn giáo là vấn đề tư tưởng để đem ra tranh luận và suy nghĩ, người ta hãy thực hành đạo và sống đạo.
Và sống đạo trước hết là cầu nguyện. Không những phải cầu xin cho mình được nhiều ơn cứu độ mà còn phải cầu nguyện cho hết mọi người, và đặc biệt, phải dâng lời tạ ơn Thiên Chúa. Cầu xin, nguyện giúp và tạ ơn là ba hình thức của việc cầu nguyện.
Ở đây tác giả nhấn mạnh hình thức thứ hai, tức là cầu nguyện cho mọi người. Có lẽ vì chung chung, người ta vẫn nghĩ tôn giáo là vấn đề cá nhân. Người ta chỉ lo cho linh hồn mình. Cũng có thể tác giả muốn phi bác một luận điệu lạc giáo, cho rằng chỉ có cứu độ cho một số người, những người có tri thức giác ngộ. Không, tôn giáo không phải là vấn đề tri thức, nhưng là sự sống. Và ơn cứu độ không dành cho một số ít, nhưng cho tất cả mọi người muốn đón nhận.
Những người đang tuyên truyền lạc giáo, gây xáo trộn trong tâm tư và nếp sống của mọi người. Vì thế tác giả khuyên người ta hãy cầu nguyện cho nhà cầm quyền để trật tự an ninh được bảo đảm, cho ai nấy được thư thái. Thiếu nếp sống bình an, người ta khó nhận ra chỉ có một Thiên Chúa là Cha của mọi người và chỉ có một Ðức Giêsu Kitô là trung gian duy nhất đã thí mạng sống mình để cứu chuộc mọi người. Thế nên tác giả kết luận: tôi muốn người ta cầu nguyện ở mọi nơi, giang lên những bàn tay lành thánh, không nóng giận, không cãi cọ.
Rõ ràng tác giả đã trở đi trở lại ý tưởng đạo đức thì phải hòa hợp và hợp nhất. Phải hợp nhất trong đức tin một Thiên Chúa và một Ðấng trung gian. Nhưng nhất là phải thi hành sự hợp nhất đức tin ấy trong tâm tình hòa hợp, luôn biết cầu nguyện cho mọi người và sống hòa thuận với mọi người.
Nếu đạo như vậy thì không thể nào còn có thể dung túng nếp sống tham lam, chỉ biết làm giàu cho mình và không sợ bóc lột người khác. Và tham lam như thế để làm gì, nếu chẳng phải để chứng tỏ đã coi tiền của là thần tượng? Ðúng như lời Chúa dạy: không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền của được.
Giờ đây chúng ta họp nhau lại nơi đây để thờ phượng Thiên Chúa. Chúng ta sốt sắng trong nhà thờ này, không lẽ rồi sau đó lại sống tham lam? Nếu chúng ta hiểu rõ giáo huấn của Lời Chúa hôm nay, và nếu chúng ta tham dự thánh lễ một cách chân thật, nơi chúng ta hòa hợp với nhau và cầu nguyện sốt sắng cho mọi người, thì nhất định trong đời sống thực tế chúng ta phải có tinh thần chia sẻ, bù đắp cho nhau hơn nữa. Có như vậy mới đẹp đạo và tốt đời.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

TN25-C19. TRUNG TÍN TRONG VIỆC NHỎ

THÌ TRUNG TÍN TRONG VIỆC LỚN
CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 16,1-13
 

Sống ở trần gian này, con người ai cũng vậy phải phấn đấu, phải đấu tranh để sinh tồn. Tiền: TN25-C19

Sống ở trần gian này, con người ai cũng vậy phải phấn đấu, phải đấu tranh để sinh tồn. Tiền tài, danh vọng, địa vị, của cải vật chất là những cái điều thú vị và hết sức lôi cuốn, hấp dẫn con người. Đặc biệt đồng tiền có sức mạnh cuốn hút con người đến nỗi có nhiều người mê tiền hơn mọi thứ. Thấu suốt lòng dạ con người, sự ham mê tiền bạc của con người, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn người quản gia khôn khéo.
Đọc đoạn Tin Mừng này, chúng ta phải hiểu ý của Chúa, Ngài không khen người quản gia khôn khéo không phải vì hành động bất lương của ông ta, nhưng vì ông biết lo xa cho tương lai của mình. Hành động của ông rất khôn ngoan, khéo léo bởi vì ông đã biết dùng tiền của tạm bợ ở trần gian này mà mua bạn hữu nghĩa thiết. Người quản gia đã khéo léo khi ông tuyệt vọng vì chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là ông bị sa thải, thôi việc. Ông đã hành động đúng lúc là dùng chính đồng tiền gian xảo mà mua bạn bè. Nên “ Chủ khen người quản lý gian xảo “. Điều ghi nhận khác “ Quả thật, Ta bảo các ngươi”.Chúa dạy con người cách đầu tư tiền bạc. Tiền bạc quí thật và là phương tiện để sinh sống nhưng phải biết cách xử dụng, đầu tư như Chúa đã dạy anh thanh niên giầu có trong Tin Mừng :” Hãy về bán hết những gì anh có, rồi khi đã có tiền trong tay, Chúa lại nói “ Hãy đem chia sẻ hết cho những kẻ khó nghèo, rồi đến mà đi theo Ta “ hoặc ném nó đi như thánh Phanxicô Assi, hoặc như nhiều vị thánh hoặc biết dùng tiền bạc một cách khôn ngoan, thông minh nghĩa là biết nhận, phải biết cho đi, phải biết chia sẻ đến nỗi làm cho Chúa động lòng,quan tâm. Chúa gợi ý bằng một kiểu nói thật trong sáng :” Hãy dùng tiền của phi nghĩa mà mua lấy bạn bè, ngõ hầu khi hết của, họ sẽ chứa chấp các ngươi trong chốn đời đời “. Rõ ràng Chúa nói với những người giầu tiền, lắm của nhưng không biết chia sẻ, ích kỷ, ham mê tiền mà quên đi tất cả ngay cả sự sống vĩnh cửu sau này và đây cũng là lời nhắc nhở của Chúa đối với nhân loại, đối với mọi người. Chúa muốn con người biến tiền bạc mình có thành tình yêu. Đây là tiền bạc của những ai biết chia sẻ, biết quảng đại.Đừng như người phú hộ giầu có trước một Lazarô khó nghèo. Đừng như chàng thanh niên muốn hoàn thiện nhưng không có lòng rộng mở, quảng đại vv…
Chúa muốn nhân loại, muốn mọi người, đặc biệt những môn đệ của Chúa phải biết xử dụng của cải, tiền bạc tạm bợ, phù du để chia sẻ, để giúp đỡ những người nghèo, những kẻ lâm cảnh khốn cùng để mua lấy bạn hữu Nước Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã khen ngợi bà góa bỏ tiền vào hòm tiền trong nhà thờ. Quả thực, nếu con người chúng ta đánh giá nhau bằng cách nhìn xem mỗi người chúng ta dùng tiền của  như thế nào để biết được lòng trung tín của chúng ta đối với bản thân, với tha nhân và đối với Chúa. Trái lại, chính Chúa cũng đã nhấn mạnh rằng :” Ai trung tín trong việc nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn “. Tiền của là phương tiện để phục vụ con người, nhưng nó không phải là cùng đích để chúng ta nhắm tới. Cái cùng đích của chúng ta là Nước Trời. Nhận được của cải Chúa trao ban thì chúng ta cũng phải biết cho đi. Chỉ khi nào chúng ta biết cho đi với tình yêu thương, chúng ta mới thực sự là con của Nước Trời, là môn đệ của Chúa. Chúng ta phải trung tín trong việc xử dụng tiền bạc Chúa ban thì mới có thể trung tín được việc lớn hơn nhiều là làm con của Chúa.
Lạy Chúa, xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con biết chia sẻ những gì Chúa thương trao ban cho chúng con bởi vì khi cho đi là nhận lãnh, khi chết đi là khi vui sống muôn đời. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCCT

 

TN25-C20. SỐNG BÁC ÁI

(CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN, NĂM C)
(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương)
 

Qua các Bài Đọc Sách Thánh, Chúa Nhật hôm nay nói đến thái độ của chúng ta là các tín hữu: TN25-C20

Qua các Bài Đọc Sách Thánh, Chúa Nhật hôm nay nói đến thái độ của chúng ta là các tín hữu của Chúa, phải biết xử dụng của cải chóng qua ở đời này như thế nào, để sống bác ái vị tha, làm đẹp lòng Chúa và để đáng được thưởng công trên Nước Trời.
Bào Đọc I (Sách Tiên Tri Amos 8: 4-7): Tiên tri Amos cảnh cáo những kẻ tham lam tiền bạc mà xử bất công với người nghèo khó, họ sẽ bị Chúa lên án và phạt tội. Bài Đọc II (1 Timôthê 2:1-8): Chúng ta phải luôn luôn tha thiết  cầu nguyện cho mọi người, cho các nhà cầm quyền, và cho chính chúng ta, để tất cả luôn sống “đời sống đạo đức liêm chính… với tâm hồn thánh thiện, không oán hờn và tranh chấp.”  Bài Phúc Âm (Luca 16:1-13): Chúa Giêsu kể dụ ngôn về ‘Người quản gia gian dối” để cảnh tỉnh chúng ta về tính tham lam tiền bạc đưa đến gian lận, bất chính: “Chúng ta không thể làm tôi hai chủ: vừa làm tôi Chúa, vừa làm tôi tiền của.”
Tiền của là điều cần thiết để chúng ta sống hàng ngày. Chúng ta phải làm việc vất vả để có tiền nuôi sống chính mình và gia đình. Tuy nhiên, nếu vì quá ham mê tiền của mà chúng ta tham lam thu tích bất công, bóc lột người khác, gian lận của công để làm giầu, thì thật là bất chính, đi ngược lại với giới răn của Chúa. Hơn nữa, khi chúng ta có tiền của, chúng ta lại trở nên nô lệ cho tiền của, sống hà tiện, cứ bo bo giữ của mà không biết chia sẻ của cải với Chúa qua việc giúp đỡ người nghèo khó, thì đó cũng là điều  bất công.
Trong mọi thời đại, lúc nào cũng có những kẻ gian tham, thu tích của cải một  cách bất chính. Trong Thánh Kinh Cựu Ước, các tiên tri đã luôn luôn cảnh tỉnh Dân Chúa về tính tham lam tiền bạc, bóc lột người khác; đặc biệt trong Bài Đọc I hôm nay trích trong sách Tiên Tri Amos (8: 4-7), Thiên Chúa nói qua miệng Tiên Tri để cảnh tỉnh những kẻ “đàn áp người nghèo khó, giảm lượng đong, tăng vật giá, làm cân giả để lường gạt. Họ sẽ bị phạt vì tội gian tham của họ. Trong Bài Phúc Âm, Chúa Giêsu kể dụ ngôn “người quản gia gian dối” để dạy chúng ta đề phòng tính gian tham, biển lận, nô lệ cho tiền bạc, sống đời sống bất chính mà quên đi những giới răn Chúa, và sự thưởng phạt đời sau. Chúng ta không thể là những tín hữu thực sự của Chúa, nếu chúng ta không sống theo giới răn Chúa, nếu chúng ta cứ làm nô lệ cho tiền của thế gian.
Nhìn vào thế giới ngày nay, chúng ta cũng thấy đầy dẫy những bất công. Có những nước thật giầu có, ăn uống quá dư thừa, hoang phí; trong khi các nước khác còn phải sống dưới mức nghèo khó, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm. Khoảng cách giầu, nghèo ngày càng mở rộng. Ngay tại quê hương Việt Nam chúng ta ngày nay, có nhiều viên chức chính quyền thật giầu sang, có hàng triệu Mỹ kim, sống trong những căn nhà thật lộng lẫy, mua xe hơi rất sang trọng, cho con đi du học, ăn chơi phúng phí tiền bạc, trong khi đại đa số người dân không đủ tiền ăn hàng ngày, con cái phải bỏ học để đi làm kiếm sống.
Hiểu rõ hoàn cảnh đau thương của những người nghèo khó trên thế giới, nên Giáo Hội ở các nơi đã có nhiều chương trình giúp đỡ họ, gọi chung là Hội Từ Thiện Công Giáo, như tổ chức “Bác Ái Quốc Tế” (Caritas International), Hội Bác Ái Thánh Vinh Sơn, Hiệp Hội Columbus, Hiệp Hội Thánh Peter Claver v.v… Có nhiều người công giáo quảng đại đóng góp hàng năm để các Hội Từ Thiện Công Giáo có tiền gởi đi các nơi giúp đỡ người nghèo, xây dựng trường học, nhà thương, trại phong cùi, cứu trợ những nơi bị thiên tai như Haiti trong năm vừa qua.
Ngoài ra, còn có nhiều Linh Mục, Tu sĩ và Giáo dân tự nguyện ra đi đến các vùng nghèo khó ở Á Châu, Phi Châu, Nam Mỹ để yêu thương và giúp đỡ những người nghèo, giúp đỡ họ có những phương tiện để phát triển kinh tế, đồng thời nâng cao đời sống văn hóa và xã hội tại các nơi ấy. Mỗi người tín hữu chúng ta đều có bổn phận đóng góp tùy theo khả năng để làm công tác từ thiện này. Đó là chúng ta giúp Chúa qua những người nghèo khổ trên thế giới.
Xin Chúa cho chúng ta luôn biết tạ ơn Chúa về những gì Chúa đã ban cho chúng ta. Xin cho chúng ta biết tiết kiệm trong việc chi tiêu ăn uống hàng ngày, trong việc mua sắm quần áo, để chia sẻ tiền của với những người túng thiếu. Được vậy là chúng ta đã biết sống bác ái, vị tha, và biết khôn ngoan dùng tiền của để làm đẹp lòng Chúa, và sau này đáng được thưởng công trên Nước Chúa.

 

TN25-C21. Tôi Sẽ Làm Gì?

Chúa Nhật XXV Thường Niên
Lc 16, 1-13: 1 Ngài nói cùng môn đồ: "Xưa có một người nhà giàu: ông có người quản lý, tên này bị người ta tố cáo với ông là đã phá của nhà ông. 2 Ông gọi nó đến và bảo: "Thế tôi nghe gì về anh đó?Anh đã giữ việc ra sao, anh hãy tính sổ đi! Vì anh không còn có thể làm quản lý nữa". 3 Người quản lý tự nói với mình: "Tôi sẽ làm gì? Vì chủ tôi cất quyền quản lý khỏi tay tôi. Cuốc mướn thì tôi không có sức; ăn mày thì xấu hổ!... 4 Làm gì ư? thôi tôi biết rồi, để làm sao khi đã bị truất chức quản lý, người ta sẽ đón rước tôi về nhà họ". 5 Các khách nợ của chủ, y gọi lại từng người một, với người thứ nhất, y nói: "Ông nợ chủ tôi bao nhiêu?" 6 Người ấy nói: "Một trăm thùng dầu". Y bảo: "Ông cầm lấy văn tự, ngồi nhanh xuống mà viết đi: Năm mươi". 7 Rồi với người khác, y nói: "Ông nợ bao nhiêu?" Người ấy đáp: "Một trăm bồ lúa". Y bảo: "Ông cầm lấy văn tự mà viết đi: Tám mươi".
8 "Và Chúa khen người quản lý bất lương vì đã biết xử trí khôn khéo!"
"Vì với đồng loại của mình, con cái đời này khôn hơn con cái sự sáng!"
9 "Và Ta bảo các ngươi: hãy dùng tiền của bất lương mà gây thân nghĩa, ngõ hầu khi tiền của táng tận, người ta đón rước các ngươi vào nhà tạm đời đời."
10 "Khi chút ít mà trung tín, thì nhiều cũng mới trung tín; khi chút ít mà đã bất lương, thì nhiều, cũng bất lương. 11 Vậy nếu nơi tiền của bất lương, các ngươi không trung tín, thì của chân thật ai nào sẽ ký thác cho các ngươi? 12 Và nếu về của ngoại lai, các ngươi đã thất trung, thì điều riêng thuộc các ngươi, ai nào sẽ ban cho các ngươi?"
13 "Một tôi tớ không thể làm tôi hai chủ: vì hoặc nó sẽ ghét người này và mến người kia, hoặc tha thiết với chủ này mà khinh màng chủ nọ. Các ngươi không thể làm tôi Thiên Chúa và Tiền của được".
 

Chương 16 tập trung vào chủ đề sự phú túc và việc sử dụng của cải riêng. Chương nầy bắt đầu: TN25-C21

Chương 16 tập trung vào chủ đề sự phú túc và việc sử dụng của cải riêng. Chương nầy bắt đầu với câu chuyện người quản lý bất lương (16:1-8) và kết thúc với câu chuyện người phú hộ và Lazarô (16:19-31). Phần giữa Luca đưa vào những câu nói của Chúa Giêsu liên quan đến tiền bạc (16:10-13), và đến nhóm người Pharisêô ham tiền (16:14-15). Những câu nói giải thích nầy liên kết với dụ ngôn qua những từ ngữ “bất lương” (16:8.10), “đời nầy” (16:9.11), và nhất là “mammon” (16:9.11.13). Có thể phân chia bố cục đoạn nầy như sau: - Dẫn nhập câu chuyện (c. 1); Quyết định của chủ và phản ứng của người quản lý (cc. 2 và 3-4); - Cách ứng xử của người quản lý bất lương (cc. 5-6 và 7); - Lời kết của người chủ (c. 8). Dụ ngôn nầy xoay quanh người quản lý (16:1.3.8), công việc quản lý của ông (16:2.3.4).
Câu chuyện dụ ngôn nầy ngỏ với các môn đệ (c. 1a). Người quản lý đã hành động như người con hoang đàng là phung phí tiền của (16:1b; 15:13-14.30). Điểm liên hệ nầy nối kết hai chương lại với nhau. Luca không trình bày chi tiết người nầy đã phung phí như thế nào; tuy nhiên, trong câu chuyện Luca cho thấy ông đã dùng của cải của chủ để bảo đảm bản thân ông sau nầy.
Quyết định của người chủ và cách hành động khôn khéo của người quản lý (c. 2.3-4). Trước lời tố cáo, người quản lý đã không tìm cách bênh vực mình. Quyết định sa thải ông cho thấy sự trầm trọng của sự việc. Người quản lý đã làm mất sự tín nhiệm nơi chủ mình (c. 2). Người quản lý nói với chính mình, nhưng để người ngoài nghe (c. 3). Hình thức độc thoại là tiêu biểu của Luca (x. 12:17.45; 15:17; 18:4-5; 20:13). Ở đây hành động ông sắp làm không được nói đến. Ông nói ra những khó khăn của ông một khi bị sa thải: không có sức để làm đất và không dám hạ mình đi xin ăn. Tự thâm tâm, ông vẫn muốn giữ danh giá và không muốn mất chỗ đứng trong xã hội. Bởi đó, ông tìm một giải pháp khéo léo đến nỗi nó trở thành một mẫu gương mà “con cái khôn ngoan” phải học noi theo (c. 8). Người quản lý đã làm giả giấy nợ cho những con nợ của chủ (5-7). Một trăm thùng dầu tương đương với 450 lít, và tương đương với 500 đến 600 ngày làm công. Như thế một nửa số nợ 50 thùng dầu được giảm là rất lớn. Số nợ lúa được giảm ít hơn và cách cắt nghĩa tương tư như trên.
Kết luận (c. 8). Có những tranh luận về câu kết của dụ ngôn: kết thúc với lời nhận xét của chủ về người quản lý (16:8a)?, hay thêm phần áp dụng (16:8b)?, hay thêm cả câu 16:9? “Kurios” ở đây có nghĩa là “chủ”. Chắc chắn chủ không khen người quản lý trong toàn bộ hành động bất chính của ông, “người quản lý bất lương” (16:8). Dù thế, ông lại được gọi là, phrônimôs, khôn ngoan. “Phrônimos” hay “phrônimôs” là đặc tính của người quản lý. Từ nầy chỉ xuất hiện hai lần trong Luca. Trong 12:42, người quản lý khôn ngoan là người biết lúc nào phải phân phát phần ăn cho gia nhân. Ở 16:8 nầy, đó là người biết ngày giờ mình sắp phải nghỉ việc và biết tính toán đúng lúc việc phải làm. Trong Matthêô, từ nầy chỉ sự tiên liệu và hành động đúng, như người khôn xây nhà trên đá (Mt 7:24); như chiên vào giữa sói rừng; như năm trinh nữ khôn ngoan (25:24.8.9). Vậy, người quản lý nầy nên mẫu mực là do biết tìm ra một giải pháp nhanh chóng và hiệu quả là dùng của cải, dù là làm cách bất chính, mà bảo đảm cho mình sự tiếp đón sau nầy (c. 8a).
Áp dụng so sánh giữa “con cái đời nầy” và  “con cái sự sáng” (c. 8b). “Con cái đời nầy” chỉ những người thuộc trần gian. Họ lo lắng về sự sống trên trần gian và hành động theo sự khôn ngoan trần gian, như người quản lý trên (x. 20:34). “Con cái sự sáng” là con cái của Thiên Chúa (x. 2:32), chỉ các môn đệ của Chúa Giêsu (c.1). Cũng như con cái đời nầy tỏ ra khôn khéo trong cách hành động với sự việc đời nầy, con cái sự sáng phải học hỏi sự tính toán khôn ngoan để có thể vào Nước Trời.
Kết luận của Chúa Giêsu nói cho các môn đệ (c. 9). Cần tìm hiểu ý nghĩa của “bạn hữu”, “tiền của”, “hết của cải” trong mệnh lệnh nầy. Chúa Giêsu không định nghĩa “bạn hữu” là ai. Theo câu 9 bạn hữu sẽ là những người có thể tiếp đón người môn trong lều đời đời. Trong dụ ngôn người giàu có và Lazarô, người giàu có cầu xin với Abraham là cho Lazarô giúp ông trong cảnh khốn cùng (16:24.27) cho thấy “bạn hữu” nầy là những người nghèo và bị bỏ rơi như Lazarô. Họ là những khách của tiệc Nước Trời (14:13.21). “Tiền của”, mammon, là hy lạp hoá một tiếng hipri. Từ nguyên của nó đang được bàn luận. Rất có thể nó gắn liền với ¹man, “tin cậy”. Mammon có thể là của cải, kho tàng, tiền bạc…, nói chung là những sở hữu mà người ta đặt tin tưởng vào đó. Mammon tự nó không xấu, vì thuộc về Thiên Chúa (12:21; Tv 24:1). Theo mạch văn mammon bất chính là của cải mà người quản lý đã lấy của người chủ mà mua bạn hữu. Của cải ấy không phải là của ông. Cũng thế, người môn đệ phải biết của cải đời nầy là không phải là của họ, mà của Thiên Chúa. Tuy nhiên, họ có thể lấy của cải ấy của Thiên Chúa mà lo cho người nghèo để bảo đảm đời sau. “Khi hết của cải”, nghĩa là “chấm dứt”, “biến mất” (23:45). Động từ “đón tiếp vào lều đời đời” gợi lên ý niệm chuyển đổi nơi ở và bước sang một giai đoạn khác. Đây chính là lúc không dùng của cải nữa, mà vào hưởng sự sống đời đời, “lều đời đời”. Người giàu có với tiền của riêng đã không nghĩ đến đời sau, nên đã khốn khổ; trong khi người quản lý đã nghĩ đến ít là sự sống trên đời nầy, ông đã thành công, dù ông đã dùng của cải bất chính.
Chẳng có gì trên trần gian nầy thuộc về con người cả. Mọi sự đều thuộc về Thiên Chúa. Hãy dùng lấy những điều Thiên Chúa ban để lo cho sự sống đời đời.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

TN25-C22. Chúa Nhật 25 Thường niên

Sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 16:1-13)
 

Câu truyện dụ ngôn nói về người quản gia làm việc cho một nhà phú hộ.  Người quản gia này: TN25-C22

          Câu truyện dụ ngôn nói về người quản gia làm việc cho một nhà phú hộ.  Người quản gia này bị tố cáo là “phung phí của cải” nhà phú hộ và ông ra lệnh cho anh ta phải tính toán sổ sách trước khi cho anh ta nghỉ việc.  Nhận định về người quản gia, ông chủ khen “tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo”.  Bất lương và hành động khôn khéo là hai đặc tính nói lên con người của anh ta.  Bất lương vì sử dụng tiền bạc của cải của chủ cho những ăn xài tiêu pha cá nhân anh ta.  Nhưng khôn khéo khi anh ta biết chuẩn bị cho tương lai bằng cách dùng tài sản của chủ để mua chuộc các con nợ của chủ.  Nhân tấm gương này, Chúa Giê-su dạy chúng ta về việc xử sự để lo cho tương lai của mình:  “Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại”
Trước hết chúng ta thử xem con cái đời này xử sự khôn khéo như thế nào.  Người quản gia bất trung đã nhìn trước về tương lai của anh ta:  chắc chắn anh sẽ bị đuổi việc và có thể rơi vào một tình huống bất hạnh, vì “cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi”.  Nhưng bởi anh ta khôn khéo, nên “biết phải làm gì” để “sẽ có người đón rước mình về nhà họ”.  Và đây là cách xử sự khôn khéo của người đời:  anh ta “tính sổ” của chủ nhà làm sao có lợi cho mình bằng cách bớt số nợ của các con nợ đi, như thế anh ta đương nhiên trở thành ân nhân của những con nợ.
Một con người bất lương như thế dĩ nhiên không thể làm gương cho những người con cái Chúa.  Nhưng Chúa Giê-su vẫn có thể rút một bài học hay và thực tế từ lối sống của con cái đời này để áp dụng cho con cái ánh sáng.  Đó là “hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu”.  Trước hết, con cái Chúa phải biết nhìn về tương lai.  Người quản gia bất trung thấy rõ mục đích là tạo dịp cho các con nợ “sẽ đón rước mình về nhà họ”.  Dầu sao nơi ở của anh ta cũng chỉ là nơi tạm bợ.  Còn đối với Ki-tô hữu, đời này chỉ là tạm, nơi ở vĩnh viễn của chúng ta là nhà Cha trên trời.  Những người đón rước người quản gia bất trung là những con nợ, còn những người đón rước chúng ta là cả triều thần thiên quốc.  Người quản gia chuẩn bị tương lai bằng cách bất lương và bất trung, còn chúng ta chuẩn bị cho nơi ở vĩnh cửu bằng tình bạn đích thực và hết lòng trung thành với Chúa.  Người quản gia đã chọn lựa “ghét” ông chủ để sẵn sàng làm tôi Tiền Của.  Ngược lại, Ki-tô hữu chúng ta phải chọn làm tôi Thiên Chúa và làm chủ Tiền Của.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Có lẽ đây là một bài học thực tế nhất và lời nhắc nhở thích hợp nhất Chúa gửi cho chúng ta trong thời buổi này.  Hiện chúng ta đang sống trong hoàn cảnh người khôn của khó, hoặc trong hoàn cảnh dễ dàng lệ thuộc vào tiện nghi và sự sung túc.  Do đó, chúng ta dễ đánh mất dự phóng cho tương lai vĩnh cửu và “không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính”.  Khi ấy, Tiền Của không chỉ là vàng bạc vô tri nữa, nhưng đã được “nhân cách hóa” thành một ông chủ.  Thế là trước mặt chúng ta có hai ông chủ:  Thiên Chúa và Tiền Của!  Thái độ của Ki-tô hữu dĩ nhiên phải là dứt khoát chọn làm tôi Thiên Chúa.  Tuy nhiên, vấn đề là chúng ta phải làm chủ Tiền Của như thế nào.  Tiền Của chỉ là phương tiện chứ không phải mục đích.  Nếu người đời có thể dùng Tiền Của để “mua” bạn bè, thì chúng ta cũng có thể sử dụng Tiền Của để phát triển lòng yêu mến Chúa và tình yêu thương anh chị em.  Tiền Của đời này chỉ là “của cải của người khác” và chóng qua.  Còn “của cải dành riêng cho chúng ta” là tình yêu của Chúa và gia nghiệp Người ban cho chúng ta mai sau ở trên trời.                                                        
Lm. Dominic TTL

 

TN25-C23: Dự án cho tương lai - Sr Margareta Maria Hiền

Am 8:4-7; 1 Tm 2:1-8; Lc 16:1-13
 

Trong đoạn Tin mừng này ông chủ đã khen người quản gia bất lương đó hành động khôn khéo. Nhưng: TN25-C23

Trong đoạn Tin mừng này ông chủ đã khen người quản gia bất lương đó hành động khôn khéo. Nhưng ta phải hiểu thời và nơi Chúa Giêsu nói dụ ngôn. Theo thời đó ở Palestina, người quản gia có quyền cho người khác vay tài sản của chủ mình mà họ không được chút thù lao nào, nên trong lúc giao kèo ông có thể ghi số lượng trội hơn số họ mượn. Nhờ đó khi thu lại ông được thu số dư khi cho vay làm của riêng mình. Cùng đường lối đó, có thể người quản gia trong dụ ngôn này tính lại cho những người vay mượn chỉ ghi lại số lượng ông chủ phải thu hồi thôi. Như thế người chủ không bị thiệt mà người nợ lại biết ơn người quản gia. Vậy phải hiểu người quản gia bất lương không phải vì ông đã sửa đổi số lượng ít đi, nhưng vì ông đã khôn khéo xếp đặt dự tính cho tương lai.

“Quả vậy con cái đời này...” nghĩa là thuộc về thế gian này, chỉ biết đời này và hành động cho đời này mà thôi. Cùng với Lời Chúa dạy hôm nay, chúng ta hãy đọc và học hỏi thêm trong câu truyện sau đây:

Có một nhà truyền giáo lão thành và khôn ngoan đến diễn thuyết cho các học sinh tại một trường Trung học. Sau bài giảng thuyết, ông nấn ná chuyện trò với một số học sinh sắp ra trường. Ông hỏi Robert – một học sinh trẻ, thông minh:

- Này bạn, bạn có dự tính gì cho tương lai không?
- Tôi sẽ theo học trường Luật.
- Và rồi sau đó?
- Tôi sẽ cước vợ, có con cái, lo làm ăn, hành nghề luật sư.
- Và sau đó nữa, Robert?
- Tôi không còn có một chương trình nào nữa?
Nhà truyền giáo đưa mắt nhìn Robert – một cái nhìn đầy yêu thương, và quan tâm của một người cha đối với con mình. Ông nói :
-Này bạn trẻ thân yêu ơi, các chương trình của bạn thật quá ngắn hạn, chỉ kéo dài được vỏn vẹn có 75 hay 100 năm là cùng. Bạn hãy có những chương trình đủ dài hạn để đưa Thiên Chúa vào đó, và đủ rộng lớn để bao gồm thời gian vĩnh cửu nữa. Như thế bạn mới là một người thông minh và khôn ngoan thực.

Thường con người chỉ lo đặt những chương trình cho đời sống vật chất mau qua tạm bợ này, mà quên đi một cuộc sống quan trọng và trường cửu, cuộc sống đó được nuôi dưỡng và vun trồng bằng chính những của mau qua hư nát này. Trong chương trình Triệu phú trên đài truyền hình, người ta hỏi những người thắng được nhiều tiền , với số tiền đó họ sẽ làm gì. Câu trả lời thông thường : tôi sẽ làm motc cuộc du lịch thật lớn, mua nhà mới, xe mới, sửa chữa nhà cửa..., chung quy là họ luôn có đầu óc tính toán để sinh lợi, để hưởng thụ.

Con cái trần gian thực khôn khéo hơn con cái của sự sáng, họ biết dùng những gì họ có để làm lợi bằng đủ mọi cách có thể. Còn con cái của Thiên Chúa thì sao? Hãy nghe lời Chúa dạy mỗi người chúng ta trong dụ ngôn này : “Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng tiền của (tức là quyền lực để thống trị thế gian) bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi vĩnh cửu.”

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết thực sự lắng nghe và hiểu được lời chỉ dạy của Chúa để chúng con biết làm cho mình một dự án tương lai cho cuộc sống vĩnh cửu dưới ánh sáng Tin Mừng.
Thông tấn xã Công Giáo Việt Nam - VietCatholic Network


 

TN25-C24: CÁCH QUẢN LÝ TIỀN CỦA- Lm Carolo

"Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được" (Lc 16,13)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I : Ngôn sứ Amos nặng lời khiển trách những kẻ giàu có bóc lột người nghèo.
- Đáp ca : Thiên Chúa yêu thương những người nghèo khổ.
- Tin Mừng : Qua dụ ngôn "người quản lý bất trung", Chúa Giêsu khuyên hãy dùng tiền của vật chất để mua lấy tình nghĩa.
Minh họa
- Mille images 130 D
- "Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được" (Lc 16,13)
I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến
 

Trong thời đại kinh tế thị trường và văn minh hưởng thụ ngày nay, tiền bạc là một cám dỗ rất: TN25-C24

Trong thời đại kinh tế thị trường và văn minh hưởng thụ ngày nay, tiền bạc là một cám dỗ rất lớn, tiền bạc có thể làm cho người ta quên mất tình nghĩa với anh em và xa rời tình yêu Thiên Chúa.
Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy nghe lời Chúa dạy chúng ta biết sử dụng tiền bạc như thế nào để nó luôn là đầy tớ phục vụ mình, chứ không bao giờ là ông chủ bắt ta nô lệ nó.
II. Gợi ý sám hối
- Chúng con quá mải mê kiếm tiền đến nỗi nhiều khi lơ là bổn phận đối với Chúa.
- Chúng con quá coi trọng tiền bạc đến nỗi nhiều lần lỗi công bình và bác ái.
- Chúng con chưa yêu mến Chúa trên hết mọi sự.
III. Lời Chúa
1. Bài đọc I (Am 8,4-7)
Ngôn sứ Amos mạnh mẽ lên án những tội lỗi của người giàu :
- Họ mê kiếm thêm tiền đến nỗi ngay trong những ngày lễ như mồng một và sabát họ chỉ mong cho ngày lễ ấy chóng qua để họ tiếp tục làm ăn kiếm thêm tiền.
- Khi làm ăn, họ dùng đủ cách gian lận "làm cho cái đấu nhỏ lại, cho quả cân nặng thêm".
- Đặc biệt họ khai thác và bóc lột những người nghèo.
2. Đáp ca (Tv 112)
Ca ngợi Chúa vì đã cứu giúp và nâng đỡ những người nghèo.
3. Tin Mừng (Lc 16,1-13)
Trong đoạn Tin Mừng này, Đức Giêsu dạy môn đệ mình cách xử dụng tiền bạc của cải vật chất. Trước tiên Ngài dùng một dụ ngôn (người quản gia), và sau đó nói về cách xử dụng tiền của.
a. Dụ ngôn người quản gia : đối với dân Do Thái, quản gia không phải chỉ là một trong những người làm mướn ăn lương của chủ, mà là một nhân vật rất có thế lực. Quản gia là người thay mặt chủ để lo những chuyện tài sản trong nhà. Do đó có quyền thu xếp tài sản của chủ cách nào tùy ý miễn sao có lợi cho chủ thôi. BJ nói quản gia không có lương, nên thường tìm thu nhập thêm bằng cách kê thêm số của cho vay. Thí dụ cho vay 100 kê thành 120.
- Chúa Giêsu nói người quản gia trong dụ ngôn này là "bất lương". Các nhà nghiên cứu Thánh Kinh còn bàn cãi nhau về sự "bất lương" này (ăn gian tiền của chủ ? cho vay ăn lời cắt cổ ? hay là sửa đổi giấy nợ ?...).
- Nhưng điều Chúa Giêsu muốn ta noi gương nơi người quản gia này là cách xử dụng tiền của : Người quản gia này là "con cái thế gian", thế mà còn biết sử dụng của cải một cách khôn khéo bằng cách cho đi của cải hiện tại để đổi lấy sự bảo đảm cho tương lai. "Con cái của sự sáng" phải noi gương đó, phải biết dùng của cải thế gian mà mua sắm của cải trên trời.
b. Những điểm đáng chú ý trong lời Chúa Giêsu dạy về tiền của :
- Ngài đánh giá tiền của là "gian dối".
- Ngài khuyên dùng tiền của đời này để mua lấy những giá trị đời sau.
- Phải coi tiền của là đấy tớ phục vụ mình, chứ đừng coi chúng là ông chủ mà mình phải làm nô lệ.
- Chính những người được coi là đạo đức như biệt phái mà cũng mang tính tham lam.
4. Bài đọc II (1 Tm 2,1-8) (Chủ đề phụ)
Thánh Giacôbê khuyên tín hữu mình đừng ganh tị tranh chấp với nhau :
- Nguồn gốc của tranh chấp là lòng tham
- Thay vì tranh chấp, hãy tích cực xây dựng hòa bình.
IV. Gợi ý giảng
1. Dùng tiền của hiện tại để mua bảo đảm cho tương lai
Dụ ngôn này nói tới một người quản gia kia bị tố cáo là phung phí tài sản của chủ nên bị chủ báo tin là sẽ cho thôi việc. Anh ta lo sợ trước viễn tượng một tương lai bấp bênh nên đã tìm cách xoay sở, để sau này khi anh mất việc thì có nhiều người giúp đỡ anh.
Mấu chốt của câu chuyện là cách xoay sở của anh : anh gọi những người thiếu nợ đến và sửa lại giấy nợ, nghĩa là giảm bớt phần nợ mà họ phải trả. Làm như thế họ sẽ biết ơn anh và sau này sẽ giúp anh để đền ơn.
Thế nhưng cách xoay sở bằng cách sửa lại giấy nợ như thế có lương thiện hay không ? Hiện có hai lối giải thích :
- Giải thích thứ nhất cho rằng anh ta không lương thiện : lẽ ra con nợ thứ nhất phải trả cho chủ 100 thùng dầu thì anh bớt đi chỉ còn phải trả 50 thùng thôi ; con nợ thứ hai lẽ ra phải trả 1000 thùng lúa thì anh bớt đi chỉ còn 800. Như thế là làm thiệt hại cho chủ. Anh ta lấy một phần tài sản của chủ để mua lấy tình cảm cho bản thân anh. Nói nôm na hơn, anh ta "mượn đầu heo nấu cháo".
- Giải thích thứ hai cho rằng anh lương thiện : Chúng ta nên biết rằng theo tục lệ do thái, người quản gia không được trả lương, nhưng bù lại, chủ thường uyển chuyển hoặc làm ngơ để cho người quản gia dùng tài sản của chủ mà kiếm ăn riêng, miễn sao không hại đến tài sản của chủ thôi. Người quản gia này đã lấy 50 thùng dầu của chủ để cho người ta vay nhưng trong giấy nợ anh ghi là 100 thùng, tức là có thêm 50 thùng mà anh ta sẽ hưởng ; cũng thế anh lấy 800 thùng lúa của chủ để cho vay nhưng trong giấy nợ lại ghi là 1000 nghĩa là có phần của anh 200 thùng. Đến lúc cần mua lòng người ta, người quản gia này đã hy sinh phần lời mà anh được hưởng, anh dùng phần đó để mua tình cảm của những người thiếu nợ. Nói nôm na, anh này đã "bỏ con tép để bắt con tôm". Như thế, anh xoay sở cách lương thiện.
Hai giải thích trên, giải thích nào cũng có phần đúng. Chúng ta không biết chọn theo giải thích nào. Nhưng điều đáng chúng ta lưu ý, mà cũng là điều chính Chúa Giêsu bảo chúng ta học theo, đó là anh biết dùng của cải vật chất hiện tại để mua sắm những thứ bảo đảm cho tương lai : đối với người quản gia này, để mua lấy bảo đảm cho tương lai, anh không tiếc phải hy sinh tài sản hiện tại. Hiện tại, anh làm ơn cho những người thiếu nợ anh, để sau này những người đó sẽ trả ơn cho anh.
2. Những việc nhỏ dẫn đến việc lớn
Người ta không phạm một tội lỗi tày trời ngay trong một sớm một chiều ; người ta cũng không làm một việc tốt vĩ đại ngay trong một sớm một chiều. Việc lớn là hậu quả hay kết quả của những việc nho nhỏ mà người ta đã bắt đầu làm từ rất lâu trong quá khứ.
Như người quản gia trong dụ ngôn này, có lẽ khi mới được chủ chọn làm người coi sóc tài sản, anh đã làm rất tốt. Dần dần đồng tiền có sẵn trong tay cám dỗ anh ăn bớt ăn xén, khởi sự là một số tiền nhỏ, dần dần lớn hơn… Rất có thể đôi khi lương tâm anh cũng sống lại, khiến anh biết điều mình làm là sai trái. Nhưng vì đã quen ham tiền và quen kiếm tiền cách bất chính nên anh không dừng lại được, trái lại càng ngày càng lún sâu hơn trong tội lỗi. Cho đến một ngày kia, sự việc đổ bể, chủ gọi anh đến và cất chức anh.
Tục ngữ có câu "Túi tham không đáy". Chúng ta đừng tự lừa dối mình rằng "Chỉ một ít này thôi, chỉ một lần này thôi", bởi vì một khi đã dùng cách bất chính để bỏ vào túi tham của mình một ít tiền thì cái túi ấy chẳng những không đầy, trái lại nó càng sâu thêm, lòng tham của mình đói khát thêm và lại đòi ăn thêm nữa.
Hằng ngày đọc báo, nghe đài và xem truyền hình, chúng ta thấy nhiều người phải ra tòa rồi vào tù vì tội ăn cắp tài sản của người khác hoặc của công. Đáng chú ý là thủ phạm của những vụ ăn cắp lớn không phải là những người nghèo mà là những người giàu. Họ đâu có túng thiếu, họ còn dư thừa nữa là đàng khác. Nhưng căn bệnh nguy hiểm của họ là tiền bạc họ có thay vì thỏa mãn họ thì lại làm cho họ thèm khát hơn.
Cách tốt nhất để không bị đồng tiền làm hại là hãy kiếm tiền cách chân chính và đừng bao giờ bắt đầu một hành vi gian tham dù rất nhỏ nhặt.
3. Nhận lãnh để trao ban
Có một nhà kia tính mời vài đạo sĩ tới lập đàn giải trừ tai nạn. Một đạo sĩ nọ tham lam, muốn một mình hưởng trọn số tiền chủ nhà trả ông, liền nhận bao thầu hết việc lập đàn cúng bái.
Ông ta chẳng kể ngày đêm. Làm việc luôn tay luôn chân, không hề ngơi nghỉ. Cứ như thế đến ngày thứ ba thì kiệt sức, đơ tay, ngã vật ra đất. Chủ nhà sợ ông ta chết, mang hoạ, liền thuê người khiêng ông về miếu. Đạo sĩ nghe vậy, cố ngước đầu lên thì thào :
Ông hãy đưa tiền thuê người cho tôi, tôi tự mình lần về miếu cũng được.
*
Những người coi đồng tiền to hơn mạng sống của mình, rốt cuộc cũng chẳng được gì. Thấu hiểu lòng ham mê tiền bạc của con người, Đức Giêsu đã kể dụ ngôn người quản gia khôn khéo. Người khen ông quản gia khôn khéo không phải vì hành động bất lương của ông, nhưng vì ông biết lo xa cho tương lai của mình. Ông khôn khéo vì ông biết dùng tiền của tạm bợ để mua lấy bạn hữu.
Nếu "con cái đời này" biết phải làm gì và làm cách nào đối với tiền của để to liệu cho ngày mai, thì tại sao "con cái sự sáng" lại không biết sử dụng ơn Chúa ban trong hiện tại để lo cho phần rỗi của mình ở tương lai ?
Nếu người quản gia bất lương biết dùng tiền của bất chính để mua lấy bạn hữu, sao người tín hữu lại không biết sử dụng của cải phù dù, chia sẻ cho người nghèo khó để mua lấy bạn hữu Nước Trời.
Nếu người ta căn cứ vào cách dùng tiền của để biết được lòng người có trung tín hay không, thì tại sao chúng ta lại không "trung tín trong việc nhỏ" là sử dụng tiền của để bảo đảm cho ta của cải chân thật đời sau ?
Thật vậy, chúng ta không trở nên giàu có với những điều mình đã nhận lãnh, mà là với những điều mình đã trao ban. Tác giả Augier còn viết : "Trong dự tính của Thiên Chúa, người giàu chỉ là viên thủ quĩ của người nghèo". Vì thế, chỉ khi nào biết quảng đại trao ban cho những kẻ thiếu thốn, chúng ta mới thực là những quản gia biết làm theo ý chủ, những quản gia trung tín và khôn ngoan. Chỉ khi nào biết coi tiền của là phương tiện phục vụ cho cùng đích là Nước Trời chúng ta mới thực sự "làm tôi Thiên Chúa".
*
Lạy Chúa, trong khi chúng con đang bôn ba tìm kiếm những của cải tạm bợ đời này, xin cho chúng con cũng biết khôn ngoan tích trữ cho mình gia tài vĩnh cửu là hạnh phúc Nước Trời. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu", năm C)
4. Chuyện minh họa
a/ Cửa sổ hoặc tấm gương
Một người do thái giàu có nhưng rất keo kiệt đến gặp một vị giáo trưởng để xin một lời hướng dẫn cho cuộc sống của mình. Vị giáo trưởng đưa anh đến bên cửa sổ và nói : "Ông hãy nhìn qua cửa sổ và tôi biết ông thấy gì." Không một chút do dự, người giàu có trả lời : "Tôi thấy nhiều người đi qua đi lại." Sau đó vị giáo trưởng bảo người giàu có quay mặt vào trong nhà và nhìn vào một tấm gương treo trên tường. Rồi ông cũng đặt câu hỏi tương tự : "Nào, bây giờ ông thấy gì trong tấm gương ?" - "Dĩ nhiên tôi chỉ thấy tôi".
Bấy giờ vị giáo trưởng mới rút ra một bài học : "Này nhé, tấm gương được làm bằng kính, phía sau phủ một lớp bạc mỏng. Bao lâu lớp bạc mỏng còn dính chặt đàng sau tấm kính thì nhìn vào đó ông sẽ không còn thấy người nào khác nữa mà chỉ thấy có mình ông thôi. Trái lại khi nhìn qua tấm kính trong suốt ở cửa sổ, ông đã thấy được những người khác. (Trích "Món quà giáng sinh")
b/ Loại tiền cho đi
Một người kia suốt đời chỉ lo thu gom tiền bạc, cho nên rất giàu. Khi chết, ông còn ôm túi vàng theo mình đi sang cuộc sống bên kia. Đi một hồi ông thấy đói. Bỗng ông thấy một quán ăn bên đường, liền ghé vào. Vì hà tiện, ông hỏi người chủ quán :
- Tô cơm nhỏ này giá bao nhiêu ?
- Chỉ một đồng thôi.
- Còn tô lớn kia ?
- Cũng chỉ một đồng thôi.
Thấy rẻ, ông gọi luôn hai tô lớn. Nhưng người chủ quán bảo :
- Ở đây chỉ xài loại tiền-cho-đi thôi. Ông có không ?
Người hà tiện chỉ vào túi vàng của mình. Nhưng chủ quán nói :
- Đó chỉ là thứ tiền-lấy-vào. Ở đây không xài được.
- Thế tiền-cho-đi là tiền gì ?
- Khi còn sống, mỗi lần ông cho ai bao nhiêu đồng thì ông được ban lại bấy nhiêu đồng loại tiền-cho-đi.
Ông nhà giàu lục lọi khắp nơi trong mình nhưng chẳng có đồng nào thuộc loại tiền-cho-đi cả. Thế là ông phải nhịn đói.
Bao nhiêu đồng tiền cho đi là bấy nhiêu đồng tiền để dành cho đời sau vậy.
c/ Đạo một mắt
Bác sĩ A.J. Gordon kể : ngày nọ, có một ông nhà giầu nhưng keo kiệt đến xin chữa mắt. Sau khi khám nghiệm, bác sĩ cho biết phải chữa cả hai mắt, nếu không có nguy cơ bị mù. Ông hỏi :
- Nhưng giá bao nhiêu ?
- Chữa mỗi mắt là 100 đô.
Ông nhà giầu phân vân giữa tiền bạc và mù loà. Rồi ông nói với bác sĩ : "Tôi chỉ chữa một mắt thôi, vì một mắt cũng đủ thấy tiền và đếm tiền. Lại đỡ tốn !"
Nhiều người vẫn cầu nguyện : "Xin mở mắt con để thấy kì công của Chúa..." Nhưng xem ra nhiều Kitô-hữu chỉ muốn Chúa mở cho mình một mắt để thấy công trình của Chúa mà thôi, một mắt còn phải để mà trông coi gia sản !
d/ Đổi tiền
Đến nước khác, việc đầu tiên mà du khách phải làm là đổi tiền của mình thành tiền đang lưu hành tại nước đó. Tiền của ta trên trái đất chẳng có giá trị gì trên trời, nếu nó không đổi thành việc lành. Đó là ý nghĩa Lời Chúa nói với chàng thanh niên giầu có : cho đi gia sản của anh để mua Nước Trời.
5. Mảnh suy tư
a/ Tiền
          Người công nhân đồ mồ hôi để có được nó
          Kẻ hoang phí thì đốt nó
          Chủ ngân hàng đem nó cho vay
          Đàn bà xài nó
          Kẻ lưu manh làm giả nó
          Nhân viên thuế vụ lấy nó
          Người hấp hối lìa bỏ nó
          Kẻ thừa kế tiếp thu nó
          Người tiết kiệm để dành nó
          Người keo kiệt thèm khát nó
          Kẻ ăn trộm chộp lấy nó
          Người giàu gia tăng nó
          Người cờ bạc bị mất nó
          Phần tôi thì dùng nó (Quote)
b/ Khả năng thật của tiền bạc
          Tiền có thể mua được cái vỏ nhưng không mua được cái nhân
          Nó có thể mang đến cho bạn thức ăn, nhưng không mang đến khẩu vị
Nó giúp bạn có nhiều người quen, nhưng không giúp bạn có bạn bè
Nó giúp bạn có những đầy tớ, nhưng không giúp bạn có được lòng trung thành của họ.
Nó ban cho bạn những tháng ngày hưởng thụ, nhưng không cho bạn bình an và hạnh phúc (Henrik Ibsen)
c/ Những thứ mà tiền không mua được
Có tiền và có những cái mua bằng tiền là tốt. Nhưng biết dùng tiền và đừng để mất những thứ tiền không mua được còn tốt hơn.
          Có thể kể những thứ sau đây tiền không mua được :
          Tiền không mua được tình bạn chân thực.
          Tiền không mua được lương tâm trong sạch.
          Tiền không mua được niềm vui lành mạnh.
V. Trong Thánh Lễ
- Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta sắp nói với Chúa Cha rằng "Xin cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày". Lời nguyện này không nhằm xin cho có của ăn cho bằng xin có tinh thần phó thác vào Chúa quan phòng thay vì óc tham lam tích trữ.
- Sau kinh Lạy Cha : "Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, đặc biệt xin cứu chúng con khỏi tính tham lam và sự nô lệ tiền của, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an…"
VI. Giải tán
Trước khi ra về, chúng ta hãy ôn lại một lời Chúa nói hôm nay "Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được". Trong tuần này, chúng ta hãy cố gắng làm chủ tiền của và làm tôi Thiên Chúa.

 

TN25-C25: TIÊN VÀN LO TÌM NƯỚC THIÊN CHÚA- Lm. Augustine, SJ.

Tiền của là vấn đề quan trọng đối với người đời nên không thể là điều xa lạ với người môn: TN25-C25

Tiền của là vấn đề quan trọng đối với người đời nên không thể là điều xa lạ với người môn đệ Đức Giêsu. Trong Tin Mừng Luca chương 12 (c.13-34) lời dậy của Đức Giêsu là trước tiên phải lo tìm Nước Thiên Chúa, của cải là thứ mà Thiên Chúa sẽ ban cho (xem c.31). Vậy đừng để tiền của chiếm cõi lòng ta vì "Kho tàng của anh em ở đâu thì lòng anh em cũng ở đó" (c.34).
Riêng trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu bàn về việc sử dụng tiền của đúng cách. Dụ ngôn người quản gia bất lương từng gây nên tranh luận. Có thật tính gian lận của người quản gia được Đức Giêsu đề cao? Nhưng nên đọc kỹ câu 8 để thấy tài khéo léo của người quản gia này được đối chiếu với tình trạng thờ ơ của người mà Đức Giêsu gọi là con cái của ánh sáng. Đức Giêsu muốn các môn đệ Người phải xử sự cách khéo léo nhằm mục đích đời mình. Người không muốn họ thiếu sáng kiến trong việc sử dụng tiền của.
Với dự án kinh tế chung hiệp
Hãy lấy một ví dụ điển hình trong bối cảnh Á Châu. Noel Castro là một người trẻ năng nổ về kinh doanh. Còn là sinh viên, Noel Castro đã tạo nên mẫu áo chữ T bán cho các tổ chức ở trường anh học, là Đại Học Ateneo của Dòng Tên ở Manila. Cũng ở đó, anh thấy nhiều sinh viên đến trường sớm chưa kịp ăn sáng, anh liền cung cấp Taho (Đậu Hủ ngon miệng của Phi Luật Tân) để họ ăn cho đỡ đói trước khi vào lớp.
Nhưng Noel Castro không kém năng nổ về đạo đức. Trong một cuộc bầu cử về Hội Đồng Thành Phố ở Phi Luật Tân, người anh ruột của Noel Castro bị ám sát ngay trước mặt người thân. Bố mẹ Noel Castro liền cấp tốc gửi Noel Castro đi học ở nước ngoài để có sự an toàn về tính mạng. Noel Castro nhân cơ hội đã dự một khóa đào tạo người cho Phong Trào Hiệp Nhất thế giới tại Loppiano miền Bắc Italia. Chính từ Italia anh trở về Phi Luật Tân không những với bánh phồng da kiểu Italia (người Ý gọi là Pizza) mà kinh tế chung hiệp là thứ kinh tế nhằm xây dựng nền văn minh tình yêu thay vì nền văn minh thương mại.
Năm 1991, bà Chiara Lubich đi thăm Braxin nơi phong trào Tổ Ấm của bà có tới 200,000 thành viên, kể cả chính thức lẫn cảm tình viên, mà phần đông sống trong cảnh nghèo. Chính nhằm lý tưởng "lá lành đùm lá rách", bà đã đề xuất điều mà ngày nay được gọi là nền kinh tế chung hiệp. Kinh tế phải nhắm lợi tức nhưng lợi tức để làm gì? Có ba mục tiêu phải nhắm xét theo lợi tức của nền kinh tế chung hiệp (the economy of communion) đó là: một phần ba lợi tức để giúp người nghèo, một phần ba lợi tức để lo đào tạo người thế hệ mới cho phong trào hiệp nhất thế giới. Còn lại một phần ba lợi tức dành cho việc phát triển công ty là xuất xứ của lợi tức đó.
Noel Castro khởi sự bán bánh phồng da (pizza của Italia) cách đây bảy năm. Khi ấy anh chỉ có hai người giúp việc. Nay công việc làm ăn của anh thịnh đạt tới mức số nhân viên của anh lên tới 180 người. Công ty Giacomino's đúng là một tiệm của Giacôbê, nay trở nên thời danh ở Phi Luật Tân, đến nỗi người ta phải trả tới 500,000 pêsô để được treo nhãn hiệu đó trước cửa tiệm. Hiện có trên 50 cửa tiệm ở Phi Luật Tân mang nhãn hiệu Giacomino.
Noel Castro đã không thành công tức khắc. Ban đầu anh bán đồ ăn cầm tay nhưng không cạnh tranh được với công ty quốc tế McDonald's và Jollibee. Nhưng khi anh bán bánh phồng da (pizza) kiểu Ý này thì bánh đó liền chạy như tôm tươi, không những tại thành phố Manila nhưng cả ở nơi khác nữa như ở Davao, Cebu và Baguio của Phi Luật Tân. Then chốt của thành công của anh là biết chọn địa điểm thương mại, chọn đúng giá để cạnh tranh, đúng đường lối quảng cáo để ăn khách, tuy nhiên cách quảng cáo tốt nhất vẫn là bánh phồng da (pizza) Italia ngon miệng, người ăn đứng lên vẫn còn thấy thòm thèm!
Công ty Giacomino không những lo sản xuất bánh phồng da (pizza) kiểu Ý mà còn lo phân phối sản phẩm và điều khiển một loạt những tiệm ăn Trung Hoa và Phi Luật Tân.
Phóng viên Carlo Maria Gentile của báo Thành Phố Mới trong số tháng 6/1997 có nêu một số câu hỏi và được anh Noel Castro trả lời như sau:
Phóng viên: Động cơ nào thúc đẩy bạn chia sẻ lợi tức công ty Giacomino cho người nghèo.
Noel Castro: Bản thân tôi lớn lên ở khu xóm đầy người nghèo. Tôi thường tự hỏi tại sao lại có những cách khác biệt như vậy trong xã hội. Gia đình tôi có tiền mua đồ và chúng tôi là con cái được đi học, còn những nhà nghèo bên cạnh lại không được như vậy.
Cho nên tôi dấn thân vào kinh doanh mục đích giúp đỡ người nghèo. Tôi nghĩ điều ước ao đó tôi nhận được nơi gương sáng của mẹ tôi, vì tôi thường thấy mẹ tôi luôn tìm mọi cách để giúp đỡ người nghèo. Thế rồi với phong trào Tổ Ấm mà tôi tham gia, tôi được biết dự án "Một Nền Kinh Tế Chung Hiệp" như con đường ơn gọi để tôi cống hiến tài năng và cả cuộc sống tôi cho thế giới được hiệp nhất.
Phóng viên: Theo tôi biết, nền kinh tế Chung Hiệp chủ trương phát triển tài năng tự nhiên cả nơi doanh nhân lẫn các nhân viên khác của công ty. Điều vừa nói được áp dụng như thế với công ty của bạn?
Bí quyết thành công
Noel Castro: Trưóc hết xét theo thực tiễn, rất cần phát triển người của công ty, tức cho họ cơ hội để triển nở không những về kỹ thuật nhưng cả về con người của họ. Tôi kể đó là việc đầu tư rất tốt, bỡi lẽ người công nhân càng nhận được nhiều, họ càng đóng góp nhiều. Cho nên xét ngay về kinh doanh đã thấy có lời.
Điều vừa nói đã từng là bí quyết của thành công đối với nhiều công ty, bí quyết ở việc đảm bảo để các nhân viên có cơ hội triển nở về các tài năng tự nhiên. Đó là nhu cầu đối với mọi người, từ nhân viên quản trị tới người lo việc lau chùi và phục vụ.
Quả thật, một công ty thành công không những về quản trị nhưng cả về cơ hội phục vụ nhân viên của mình.
Phóng viên: Bạn có nghĩ rằng dự án Kinh Tế Chung Hiệp ngày nào đó sẽ có chỗ đứng trong thế giới kinh doanh chăng?
Noel Castro: Nói đến Kinh Tế Chung Hiệp là đã nói tới một điều trái ngược. Bởi lẽ hai chữ kinh tế chỉ về việc quản trị của cải nhằm lợi tức; ngược lại, hai chữ chung hiệp lại chỉ về việc chia sẻ của cải mình có cho người khác đang thiếu. Dự án Kinh Tế Chung Hiệp mới được thực hiện có 6 năm nhưng đã đạt được những thành quả cụ thể đáng kể. Bản thân tôi thâm tín rằng dự án nầy sẽ mang lại một cuộc cách mạng đối với thế giới nhằm xây dựng nền văn minh tình thương, là điều mà ai từ thâm sâu cũng ao ước thiết lập cho gia đình nhân loại.
Lời phát biểu và việc làm của Noel Castro phần nào giúp hiểu ý của Đức Giêsu muốn "con cái của sự sáng" phải biết mạnh dạn góp phần chuẩn bị cho Nước Vĩnh Cữu, đừng thua kém viên quản lý trong bài Tin Mừng về những sáng kiến táo bạo được sử dụng nhằm gây uy tín cho mình giữa các con nợ của chủ.

 

TN25-C26: THAM THÌ THÂM

Chúa Nhật 19.09.2010
Tác giả: Cố Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, op.
 (Lc 16:1-13)
 

Lòng tham thể hiện qua nhiều hình thức cụ thể. Cuối tháng 7 năm 2007 vừa qua, ĐHY Phạm: TN25-C26

Lòng tham thể hiện qua nhiều hình thức cụ thể. Cuối tháng 7 năm 2007 vừa qua, ĐHY Phạm Minh Mẫn đã lên tiếng tố cáo : “Thực tế cho thấy là giai cấp vô sản biến nhân dân thành vô sản, và tự biến mình thành một giai cấp mới mà tôi nghe nhiều người gọi là tư sản đỏ. Ngày nay khi mà một viên chức Nhà Nước phải chia 1.000 tỷ đồng cho người vợ ly dị, thì không còn là tư sản nữa, mà phải gọi là tư bản hay đại gia đỏ. Lâu lâu rồi, tôi thấy báo chí tường thuật lời ông Tổng Bí Thư tuyên bố tham nhũng là quốc nạn. Có lẽ là quốc nạn cho người dân, chớ còn đối với nhiều đày tớ của nhân dân, đó là cơ hội tốt để trở thành đại gia đỏ.”[1]
Lời tố cáo này cũng như tiếng kêu dân oan phải chăng là muối bỏ bể hay tiếng kêu trong sa mạc ? Nếu quốc nạn chỉ là quốc nạn, có lẽ vấn đề sẽ dễ giải quyết. Nhưng khi quốc nạn trở thành cơ hội lớn cho kẻ cầm quyền, ai dám nhìn thẳng vào sự thật để tìm hướng giải thoát ? Dụ ngôn hôm nay sẽ cho chúng ta thấy tất cả sự thật và những hệ lụy về lòng tham vô đáy của con người.
MÃNH LỰC ÐỒNG TIỀN
Hình ảnh ông phú hộ xuất hiện nhiều lần trong Tin Mừng. Mỗi lần một vẻ và một ý nghĩa khác nhau. Hôm nay, ông phú hộ không phải là vai chính, nhưng lại có quyền định đoạt cho sự việc diễn tiến và vạch trần tất cả sự thật của người quản lý, nhân vật chính trong dụ ngôn hôm nay.
Ngày xưa, theo phong tục Do thái, vẫn có những người nhân danh ông chủ cho vay cắt cổ . Người quản lý bất chính vì đã phung phí tài sản ông chủ và bóc lột tận xương tủy những người nghèo khổ. Suốt bao năm tháng, người quản lý đã sống phè phỡn với một mối lợi lớn từ những khách hàng.
Ông chủ đã nghe báo cáo từ lâu. Nhưng ông chưa muốn ra tay. Ðợi ngày tháng chín mùi, ông mới quyết giành quyền làm chủ trên tài sản. Ông truyền người quản lý tính sổ. Cháy nhà mới ra mặt chuột. Anh gọi từng con nợ đến viết lại hóa đơn. Các con nợ mừng quá khi thấy số nợ bỗng nhiên sụt giảm lạ thường. Người nợ một trăm thùng dầu ôliu làm sao không mừng khi món nợ nhẹ hẳn một nửa ? Người nợ một ngàn giạ lúa cũng sửng sốt khi thấy được viết lại biên lai còn tám trăm. Họ bán tín bán nghi trước sự kiện bất ngờ.
Họ là những con nợ suốt đời bị đè nén, khai thác, áp bức dưới tay người quản lý hà khắc và tham lam này. Bây giờ tự nhiên người quản lý dễ thương lạ lùng. Phải có động lực mạnh lắm mới làm cho tên quản lý “ăn năn, hối cải” và quay một góc 180 độ. Thực ra, không phải anh ta hối lỗi, nhưng tự chau chuốt hình ảnh mình để gieo thiện cảm nơi các con nợ, đề phòng lúc anh bị sa thải. Xưa nay những con nợ vẫn là những con bò sữa lý tưởng. Bây giờ, tin dữ đánh ngang tai, anh vội tìm đường chạy theo để tiếp tục vắt sữa. Anh đúng là người khôn khéo và đầy âm mưu trước tình thế biến đổi quá nhanh.
Khi người quản lý tính sổ lại, mới thấy rõ số nợ thực sự của mỗi thân chủ. Có thể nói “tiền cò” anh quản lý “chém” khá đẹp. Ai nợ hàng trăm, anh lấy lời hẳn một nửa. Ai nợ hàng ngàn, anh lấy hai mươi phần trăm. Bản chất con người của anh đã phơi bày công khai. Anh đã bị bả vật chất lôi cuốn vào đường gian ác ngay trong công việc đời thường. Anh đã trở thành gánh nặng cho nhiều người, nhất là người nghèo. Ðáng lẽ công việc phục vụ của anh phải đem lại nhiều lợi ích và làm cho nhiều gia đình hạnh phúc, anh đã biến nó thành một cuộc áp chế và đem lại nỗi thống khổ lẫn bất hạnh cho biết bao gia đình. Thế nên, ở bất cứ địa vị và nghề nghiệp nào, con người cũng có thể xây dựng hay phá hoại. Tất cả đều tùy thuộc tấm lòng. Nếu họ chỉ hướng về của cải mà tôn thờ, đương nhiên của cải biến thành một vị hung thần sai khiến họ. Tình vợ chồng, nghĩa đồng bào cũng biến tan trước ánh hào quang của thần của cải. Anh trở thành con người bất chính, bất trung và bất công.
Bất chính vì anh đã táng tận lương tâm khi đi theo sự hướng dẫn và thôi thúc của thần của cải mà lún sâu vào con đường vô đạo. Anh tin tưởng tuyệt đối vào mãnh lực đồng tiền. Tự bản chất “Tiền Của bất chính,” (Lc 16:9) vì có khuynh hướng dẫn con người vào con đường bất lương. Vì đồng tiền mà anh đã bất chấp mọi nguyên tắc đạo đức và không màng chi tới sự sống vĩnh cửu.
Bất trung vì anh qua mặt chủ mà tự đặt những tiêu chuẩn chi phối công việc, lũng đoạn sự nghiệp và tài sản của ông. Anh đã bán rẻ danh dự ông chủ để mua lấy lợi lộc cho cá nhân và gia đình mình. Nếu không nhờ lời tố cáo, chắc chắn ông còn bị mọi người hiểu lầm là một tay cường hào ác bá. Anh đã đi ngược lại tất cả mọi nguyên tắc phục vụ của một người đầy tớ nhân dân. Sở dĩ anh sống sót qua bao năm tháng, vì anh đã khéo nịnh hót ông chủ. Nhưng đã đến lúc lời nịnh hót không còn che đậy nổi tính gian trá và gian ác của anh nữa. Tất cả mọi toan tính và hành vi gian lận đều bị phơi bày ra ánh sáng. Thế là sự nghiệp tan tành theo mây khói.
Bất công vì anh đã lợi dụng chức vụ để bóc lột tận xương tủy những người thiếu nợ. Chỉ vì túng quẫn và phải lo cho gia đình sống sót, họ đã phải cam lòng chấp nhận một số tiền lời quá sức chịu đựng. Ðồng tiền đã đẩy anh tới một vị thế giả tạo. Của cải hứa hẹn cho anh quyền kiểm soát mọi sự. Nhưng anh lại không kiểm soát được chính mình. Cuối cùng anh cũng chẳng kiểm soát được ai. Ngược lại, chính anh bị của cải chi phối và thống trị. Anh đã khuynh loát và lừa đảo cả chủ lẫn khách hàng. Với cả đống tiền của kiếm ăn bất chính qua bao năm, tại sao anh còn phải lo quá xa về tương lai, mà phải lấy lòng từng người như thế ? Hóa ra, tiền của bất chính không ở yên bao giờ. Có lẽ anh đã thiêu rụi trong các hộp đêm, sòng bài v.v. Có lẽ thâu đêm suốt sáng, anh ngồi dính chặt xuống chiếu. Có lúc thắng nhưng cũng có lúc thua. Nhưng đống tiền của cũng chẳng đem lại cho anh sức khỏe, hạnh phúc hay sự sống vĩnh cửu được. Từ hư vô, tiền của lại trở về hư vô. Không còn gì phi lý và vô nghĩa hơn.
MUÔN SỰ CỦA CHUNG
Ngày nay, từ trong gia đình đến ngoài xã hội, đầy dẫy kinh nghiệm cay đắng về tiền bạc. Nhiều người không thoát khỏi ma lực của đồng tiền. Nhưng giữa những cám dỗ ghê sợ đó, con người vẫn luôn nắm vai quyết định. Cần phải vận dụng tất cả sự khôn ngoan và trí thông minh để biến tiền của thành một phương tiện không phải để mua lấy hạnh phúc hay nước trời, nhưng để mở rộng mối tương quan bạn hữu, nhất là những bạn hữu có khả năng đón tiếp ta vào nước trời, tức những người nghèo. Nếu chúng ta dùng tiền của giúp đỡ những người túng thiếu hay giúp người khác tìm thấy Chúa Kitô, cuộc đầu tư trần gian sẽ đem lại lợi nhuận vĩnh hằng. Khi vâng theo thánh ý Thiên Chúa, chúng ta sẽ không còn xử dụng của cải một cách ích kỷ nữa.
Ðáng sợ nhất là khi đồng tiền lôi kéo con người xa vòng đạo lý. Chỉ vì đồng tiền, con người có thể đánh mất chính mình và trở thành bất nhân, bất lương, bất tín và vô trách nhiệm. Bởi thế, Chúa mới căn dặn chúng ta phải trung kiên khi đang nắm trách nhiệm.[2] Thi hành sứ mệnh giữa bao nhiêu cám dỗ của quyền lực, tiền bạc, và cả những phương tiện cần thiết cho cuộc sống không phải là chuyện đơn giản và dễ dàng. Ngay cả Giáo hội cũng không thoát khỏi những cám dỗ đó. Nhiều nơi còn lợi dụng thanh thế để có phương tiện dồi dào giúp việc truyền giáo. Họ gọi huy chương nhà nước cấp cho giám mục là cái dù cần thiết để che chở những hoạt động truyền giáo ở địa phương. Thử hỏi sứ mệnh đích thực còn tồn tại trong những điều kiện như thế không ? Chúa Kitô không cần đến những cái dù như thế. Người cần lòng trung thành với sứ mệnh, chứ không cần của cải và phương tiện vật chất dư thừa.
Lập trường trên càng được củng cố khi Chúa nói : “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được.” (Lc 16:13) Lệ thuộc vào của cải là sống đối nghịch với giáo huấn của Chúa. Người khuyên chúng ta sống hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa Cha. Ðó là một trong những đặc tính của người môn đệ Chúa Kitô (Lc 12:22-39). Sống giữa hai quyền lực Thiên Chúa và thần tài (mammon)[3], con người phải có một lựa chọn dứt khoát. Mỗi quyết định đều ảnh hưởng tới sứ mệnh cao cả của mình. Không thể có thái độ trung dung. Không thể có hòa giải giữa Thiên Chúa và thần tài. Bắt cá hai tay đem lại những hậu quả khôn lường. Bao nạn nhân đang đau khổ vì lập trường “ba phải” của nhiều người trách nhiệm. Ðó là một thái độ bất công đối với người dưới quyền, nhất là những người nghèo khổ và thấp cổ bé họng.
Cảm thông với những người kém may mắn và đau khổ là một giáo huấn quan trọng. Suốt lịch sử cứu độ, đề tài trung tín với đạo đức giao ước thường xuất hiện. Chúng ta thấy những khía cạnh quan trọng của đạo đức đó trong các bài đọc tuần này. Quyền lực và tiền bạc được xử dụng như những phương tiện đàn áp để cướp đoạt những nhu cầu cơ bản nhất khỏi những người kém may mắn.
Ngôn sứ Amos vẽ ra một bức tranh rất ảm đạm. Người cầm quyền thường lạm dụng tha nhân. Ðó là một tội đại bất công. Ngôn sứ Amos mô tả những nhà buôn nóng ruột muốn những ngày thánh mau kết thúc để có thể trở lại trò buôn bán gian lận và bất chính. Cân thiếu, giá cao, bàn cân sai lệch, và những món hàng kém phẩm chất là những mánh lới mà ngày nay chúng ta vẫn còn quan tâm. Như hàng hóa Trung quốc mang những hóa chất độc hại hay chất chì đã tạo một phản ứng dây chuyền trên khắp thế giới. Bởi thế, chúng ta thấy lòng tham vẫn còn là đặc tính cố hữu. Ngôn sứ Amos tiên báo cảnh sụp đổ của Vương quốc phía Bắc Israel vì thiếu đạo đức giao ước. Trong tương quan giao ước giữa Thiên Chúa và dân Người, lòng cảm thương và quan tâm tới người bất hạnh được coi là những đức tính nổi bật giữa cộng đoàn. Thiên Chúa không dung thứ những ai lạm dụng những người yếu thế.
Tin Mừng hôm nay đã vạch mặt kẻ lạm dụng đó. Người quản lý đã lợi dụng hoàn cảnh nghèo hèn để khai thác triệt để những người yếu thế, cùng đường. Ông không hề ý thức “của cải dành cho mọi người, nên phải nỗ lực làm cho mọi người có đủ điều kiện cần thiết để phát triển toàn diện, để mọi người có thể cộng tác vào việc làm cho thế giới ngày càng nhân bản hơn, để mỗi người đều có thể tặng hiến và nhận lãnh, và để việc tiến bộ của người này không cản trở sự phát triển của người khác và thành cớ khiến họ rơi vào cảnh nô lệ.”[4] Người quản lý bao giờ cũng tìm cách chiếm hữu càng nhiều càng tốt. Anh đã không thắng được cơn cám dỗ tầm thường. Ngược lại, dù bị cám dỗ một cách nặng nề, Chúa đã vượt qua để dạy chúng ta cách nhờ ân sủng mà chiến thắng.
Người quản lý hoàn toàn thiếu ý thức “của cải là một thiện ích phát xuất từ Thiên Chúa và được người chủ xử dụng để lưu chuyển hầu cả người túng nghèo cũng được hưởng dùng nữa.”[5] Ngược lại, anh đã làm cho nguồn lợi chảy ngược về chính mình và đánh đống trong kho nhà anh. Anh không thấy mình phải dùng của cải để “mưu ích cho tha nhân và xã hội.”[6] Thực tế, anh sống nhờ mồ hôi nước mắt người khác, ngược hẳn với nguyên tắc đạo đức. Của cải bất chính tố cáo anh không tha thiết gì với công lý và tình liên đới. Anh sẵn sàng hy sinh người khác để mưu lợi cho mình. Bởi vậy, ông chủ nhận thấy anh không còn phục vụ hữu hiệu trong công việc quản lý tài sản ông nữa. Việc tăng thêm của cải và nhu cầu chia đều tài sản cho mọi người chắc chắn làm cho con người và toàn thể xã hội sống trong tình liên đới hầu chống lại “cơ chế tội lỗi,” nguyên nhân sinh ra nghèo đói triền miên, kém phát triển và xuống cấp. Các cơ chế này được xây dựng và củng cố do nhiều hành động cụ thể đầy ích kỷ của con người.[7] Chung quanh người quản gia trong Tin Mừng hôm nay là cả một đám lâu la và những kẻ “dính máu ăn phần.” Ðã đến lúc phải chấm dứt cảnh người bóc lột người !
TỪ QUỐC NẠN TỚI GIÁO NẠN
Nếu không ai dám đụng tới quản gia, chắc chắn anh sẽ phá tán hết của cải ông phú hộ. Rất may ông phú hộ biết lắng nghe lời tố cáo. Nếu không, biết bao dân oan vẫn tiếp tục sống trong cảnh đè nén suốt đời.
Không phải bất cứ lời tố cáo nào cũng có giá trị. Nhưng chẳng lẽ coi tất cả mọi lời tố cáo như nhau ? Không bao giờ có thể dẹp hết quốc nạn, vì không có tiếng nói đối lập. Người ta định đưa vào nhà trường môn học chống tham nhũng. Dĩ nhiên, không ai phủ nhận vai trò giáo dục. Nhưng tham nhũng là vấn đề ngoài xã hội người lớn, chứ không phải trong thế giới người chưa lớn.
Chỉ vì lòng dạ ích kỷ của con người, tham nhũng và hối lộ đã trở thành quốc nạn ngoài xã hội, còn trong Giáo hội thì sao ? Có ai lắng nghe lời tố cáo của những người thiện chí không ? Phải chăng tố cáo là xúc phạm đến những vị lãnh đạo GHVN ? Có lẽ đã có nhiều lời tố cáo về nhiều vấn đề trong GHVN, nhưng các ông chủ GHVN vẫn “giả điếc làm ngơ.”
Ngoài xã hội, có quốc nạn. Trong GHVN, có giáo nạn. Giáo nạn hay quốc nạn đều trầm trọng như nhau. Nếu không, mấy ngày tháng qua đã không nở rộ những ý kiến đòi chấm dứt “mục vụ xin tiền.” Dĩ nhiên giáo nạn diễn ra không ồn ào như quốc nạn, nhưng cũng đủ làm cho GHVN không tiến xa hơn, nếu không muốn nói đang hoang phí bao nhiêu tài sản và nhân sự, chỉ vì không có tiếng nói “đối lập” trong GHVN. Nếu ai lên tiếng, sẽ bị xếp vào hàng chống cha chống Chúa, phá hoại Giáo hội, xúc phạm đến các giám mục v.v. Xưa nay, ai cũng tin Chúa Thánh Thần luôn hoạt động trong các đấng vít vồ. Nhưng nhìn vào các kết quả và hoạt động, mới thấy tinh thần thế tục không phải không ngự trị trong guồng máy lãnh đạo GHVN. Có thể liệt kê một số những giáo nạn đang hoành hành trong GHVN:
1. “Mục vụ xin tiền,” “mục vụ đô la,” hay “giám mục ăn xin” đều là những tên gọi khác nhau, diễn tả phần nào thực trạng giáo nạn trong GHVN. Nếu đồng tiền đã được dùng đúng mục tiêu như các giám mục, linh mục, tu sĩ đã nói khi cổ động bà con Hải Ngoại, vấn đề đã không bao giờ được đặt ra. Nhưng có biết bao cảnh “mượn đầu heo nấu cháo,” tư túi, hoang phí v.v. Chẳng lẽ không ai có quyền đụng tới các người đã lạm dụng đó à ?
2. Phụng vụ chắp vá : Một cảnh nhiễu nhương trong các nhóm hay ủy ban phụng vụ trong GHVN. Cảnh con ông cháu cha, bạn bè, phe cánh đua nhau chiếm những ghế chóp bu trong một số ủy ban, bất kể khả năng chuyên môn, đã làm cho nền phụng vụ Việt nam nát như tương. Bao nhiêu nguồn nhân sự, tài sản, thời giờ đã bị lãng phí chỉ vì những tự ái, tự kiêu của một số người lãnh đạo. Gần nửa thế kỷ sau Vatican II, GHVN vẫn chưa hoàn thành nổi bản dịch Thánh Lễ Rôma ! Rùa bò cũng không chậm như vậy !
3. Mục vụ xây cất : Nhiều vị giám mục dùng tiền Hải Ngoại một cách vô cùng phung phí. Họ xây những tòa giám mục lộng lẫy hơn cả các Giáo hội bên Âu Mỹ, trong khi dân chúng chung quanh chết đói. Có những giám mục, linh mục đập bỏ các ngôi thánh đường còn mới để xây những công trình “để đời” lớn hơn. Vô tình đồng hương Hải Ngoại đã góp phần làm cho GHVN có bộ mặt khang trang để giúp nhà nước tuyên truyền cho tự do tôn giáo.
4. Nịnh thần : Ðây là những người đang phá hoại GHVN. Họ có thể là người đang làm việc trong nước hay viết lách ở Hải Ngoại. Họ tâu hót ồn ào cốt để ngăn cản các giám mục nghe biết sự thật. Họ tưởng chỉ có mình mới xây dựng GH khi tôn thần tôn thánh các giám mục. Còn những ai nói khác, nói ngược hay tố cáo sự thật đều là những kẻ phá hoại. Ðó là quan điểm của những người sống vào thời trung cổ hay trong những chế độ độc tài. Trong các xã hội tự do dân chủ, không phải chỉ có đảng cầm quyền mới xây dựng đất nước bằng những chính sách, nhưng cả đảng đối lập cũng góp sức bảo vệ và xây dựng quốc gia bằng những tiếng nói phê bình, chỉ trích từ tổng thống trở xuống. Chỉ có chính phủ không chấp nhận đối lập mới phạm quá nhiều lầm lỗi và hoang phí tài nguyên quốc gia mà thôi. GHVN cũng đang lâm vào tình trạng tương tự. Ngày xưa, bọn nịnh thần cũng tự cho mình lập được sự nghiệp lớn cho đất nước vì đã biết tâu hót nhà vua. Nhưng họ quên chính những vị trung thần dám can ngăn vua mới là những người ích quốc lợi dân thực sự.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết lắng nghe và can đảm sống theo sự thật và công lý để gia sản của Chúa không lãng phí trên quê hương chúng con. Xin cho chúng con biết khôn ngoan và nhiệt tình dấn thân cho Nước Chúa cùng với anh chị em chúng con. Amen.
đỗ lực
23.09.2007


[1] http://www.conggiaovietnam.net/LoiChuChan/ThuNgogoiCLB.NVB.htm
[2] The New American Bible 1991:1120.
[3] ibid.
[4] Toát Yếu Học Thuyết Xã hội của Giáo Hội, 2005, số 175.
[5] ibid, số 329.
[6] ibid.
[7] ibid, số 332.

 

TN25-C27: LÀM TÔI HAI CHỦ

Sách có chữ : - Trung thần bất sự nhị quân. Có nghĩa là tôi trung không thờ hai vua. Chúa Giêsu: TN25-C27

Sách có chữ :
- Trung thần bất sự nhị quân. Có nghĩa là tôi trung không thờ hai vua.
Chúa Giêsu cũng có một quan điểm như vậy khi Ngài phán :
- Không ai có thể làm tôi hai chủ vì nếu mến chủ này thì sẽ ghét chủ kia.
Để làm sáng tỏ vấn đề, Ngài  đã xác định :
- Không ai có thể làm tôi Thiên Chúa và tiền bạc.
Tại sao lại như thế ?
Người ta thường bảo :
- Tiền bạc là một tên đầy tớ tốt nhưng lại là một ông chủ hà khắc.
Nếu chúng ta xử dụng tiền bạc như một phương tiện để mưu sống, lúc ấy tiền bạc sẽ đem lại những lợi ích. Còn nếu chúng ta quá quyến luyến, quá đam mê tiền bạc, lúc ấy nó sẽ trở thành một ông chủ hà khắc, bóp nghẹt những tâm tình kính mến đối với Chúa và yêu thương đối với anh em. Trong tiếng Việt Nam, chữ tiền thường đi đôi với chữ bạc, bởi vì tiền thường làm cho bạc tình bạc nghĩa. Từ đó chúng ta rút ra hai điểm để suy nghĩ.
Điểm thứ nhất đó là hãy xử dụng tiền bạc như một tên đầy tớ.
Đầy tớ là một kẻ giúp đỡ chúng ta trong một số việc nào đó.
Một ông giám đốc phải điều hành nhiều công chuyện cùng một lúc, nên phải tìm lấy một thư ký để ghi chép những điều cần thiết.
Một nhà thầu khoán vì suốt ngày lo việc xây cất ngoài công trình, nên phải tìm một người phụ giúp cho khâu nấu ăn, giặt giũ và quét tước nhà cửa.
Dĩ nhiên, chúng ta nhìn họ như những người giúp việc, chứ không phải như ông chủ,bà chủ. Ngày nào bà bếp hay cô thư ký nhảy lên làm chủ nhà để điều khiển ông giám đốc hay nhà thầu khoán thì trật tự sẽ bị xáo trộn, hay ít là cả hai vị nói trên đã đánh mất ý nghĩa của mình khi mượn những người giúp việc ấy.
Tiền bạc cũng vậy. Nó là một phương tiện giúp chúng ta làm ăn sinh sống. Có tiền mới buôn bán. Có tiền mới xây cất. Có tiền mới mua sắm được những vật dụng cần thiết.
Nếu chúng ta không dùng nó vào những việc ấy, mà lại đem cất dấu và tôn thờ nó như một thần tượng thì chúng ta đã đánh mất ý nghĩa của nó.
Ấy là chúng ta chưa nói đến vì gian tham mà tìm kiếm tiền bạc bằng những phương cách bất chánh, hay xử dụng nó cho những hành động tội lỗi của mình.
Giuđa đã bán Chúa với giá ba mươi đồng bạc để rồi cuối cùng thắt cỗ trên cây mà chết.
Ananias và Saphiras vì gian lận muốn giữ lại cho mình một ít tiền bán ruộng mên đã bị chết tươi trước mặt các tông đồ.
Tên phù thủy Simon, muốn dùng tiền để mua đứt Thánh linh và ơn làm phép lạ, cũng đã phải chết.
Ngoài ra, còn vô vàn vô số những tội ác và hình phạt khác nữa dành cho những kẻ ham mê tiền bạc.
Vì thế, Chúa Giêsu đã xác quyết :
- Con lạc đà chui qua lô kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước trời.
Điểm thứ hai đó là hãy tôn thờ Chúa.
Trong Cựu Ước, Thiên chúa đã truyền dạy :
- Ngươi chỉ được thời phương một mình Ta là Thiên Chúa và ngoài Ta ra không có một Thiên Chúa nào khác.
Vì thế, kẻ nào tôn thờ tiền bạc, coi tiền bạc như một thứ thần tượng là đã phản bội cùng Thiên Chúa.
Để có một thái độ dứt khoát, Chúa Giêsu đã căn dặn các tông đồ :
- Khi đi đường các con đừng mang theo bao bị, giày dép và tiền bạc vì người làm công đáng ăn lương của mình.
Điều này chứng tỏ người chu toàn bổn phận Chúa trao phó sẽ không bao giờ bị thiếu thốn :
- Các con hãy nhìn xem chim trời : chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha các con trên trời vẫn nuôi chúng.Anh em lại chẳng quí giá hơn chúng sao ? …Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào, mà rút ra bài học : chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thày bảo cho các con biết : Ngay cả vua Salomon, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng bông hoa ấy…
Bởi đó, sự tôn thờ tiền bạc mặc nhiên đã biến thành một sự vô ích. Dù Thiên Chúa không cấm thì chúng ta cũng chẳng phải cần theo.
Tuy nhiên chúng ta phải xác tín  điều này :
- Chúa không cấm chúng ta tìm tiền kiếm bạc và sử dụng nó. Điều Ngài cấm là cấm chúng ta  làm tôi tiền bạc, quá đam mê quyến luyến với nó, để rồi trong trái tim không còn một chỗ nào dành cho Ngài  cũng như cho người khác. Điều quan trọng chúng ta phải thực thi, đó là tinh thần nghèo khó, sự siêu thoát với của cải trần gian.
Xưa nay có biết bao người sống giữa tiền bạc mà vẫn kính mến làm tôi Thiên Chúa. Nào là thánh Venceslao vua nước Tiệp khắc, nào thánh Louis vua nước Pháp,  nào là thánh Helena hoàng hậu nước Hungari…
Các ngài là những bông sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Sống giữa tiền bạc mà không để cho tiền bạc chi phối và làm cho con tim của mình trở thành mù lòa.
Chúng ta ra sức làm viêc để tìm tiền kiếm bạc hầu bảo đảm một cuộc sống ấm no cho gia đình, chứ không phải làm tôi tiềnbạc.
Chúng ta vất vả làm việc để có tiền nuôi sống vợ con, chứ không  tôn thờ tiền bạc như một thứ thần tượng của lòng mình.
Thế nhưng, nếu chúng ta tìm kiếm tiền bạc bằng những phương tiện bất chính và sử dụng nó cho những hành vi tội lỗi, thì đó là chúng ta đã làm tôi tiền bạc vậy.

 

TN25-C28: KHO TÀNG VĨNH CỬU - ASTY/198

Câu chuyện của người quản lý giả mạo giấy tờ trong bài Tin Mừng hôm nay xem ra không: TN25-C28

Câu chuyện của người quản lý giả mạo giấy tờ trong bài Tin Mừng hôm nay xem ra không phải là chuyện xa lạ đối với người Việt Nam chúng ta hiện nay. Trên báo chí hằng ngày, chúng ta đọc được không biết bao nhiêu chuyện tương tự, nào là biển lận tham nhũng, hối lộ, lường gạt. Những mẩu tin ấy xem ra bình thường đến nỗi người ta chỉ còn tìm thấy trong cốt chuyện bên lề hay là chuyện từ thành đến tỉnh.
Qua hành động biển lận của người quản lý, Chúa Giêsu đã rút ra một bài học. Đó là hãy sử dụng của cải trần thế như người quản lý đã xử sự đối với của cải của chủ. Trọng tâm bài học của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay chính là mối tương quan của con người đối với của cải trần thế.
Người quản lý trong câu chuyện vung vít tiền bạc của chủ để mua chuộc bạn bè, phòng khi xa cơ thấp thế, vì ông ta biết rằng mình không phải là chủ của tiền bạc ấy. Cũng thế, cuộc sống tại thế của con người chẳng khác nào một cuộc quản lý, tất cả những gì con người có trong tay không phải là của cải vĩnh cửu của mình. Khi nhắm mắt lìa đời, sang giàu hay nghèo hèn cũng giống nhau cả, nào ai có mang theo được cho mình một đồng xu nhỏ nào.
 Câu kết luận thực là rõ ràng : “Hãy sắm cho mình một kho tàng vĩnh cửu, một kho tàng mà mối mọt không đục khoét, sâu bọ không rúc rỉa”. Đó là điều Chúa Giêsu không ngừng lặp đi lặp lại trong giáo huấn của Ngài. Có lẽ chúng ta cũng phải ngạc nhiên : tại sao trọng tâm giáo huấn của Chúa Giêsu chính là thái độ mà con người phải có đối với của cải trần thế : “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó”. Đó là điều khoản đầu tiên và chủ yếu trong hiến chương Nước Trời mà Chúa Giêsu đã đề ra cho nhân loại.
Bản hiến chương Nước Trời không là một lời mời gọi có tính cách nhiệm ý mà là một bó buộc đối với ơn gọi làm người. Thật thế, con người sinh ra là để được sống hạnh phúc và để được sống hạnh phúc và để sống hạnh phúc, vì thế con người không có một con đường nào khác hơn là sống cho Thiên Chúa. Adam và Evà đã muốn đi tìm cho mình một thứ hạnh phúc ở ngoài Thiên Chúa. Trái cấm mà hai ông bà chia sẻ cho nhau phải chăng không phải là thứ của cải trần thế mà họ muốn tôn thờ thay Thiên Chúa của họ. Chạy theo của cải vật chất, tôn thờ của cải vật chất, con người cũng một trật chối bỏ Thiên Chúa.
“phúc cho ai có tinh thần nghèo khó” đưa ra điều khoản này như là một cột trụ của bản Hiến chương Nước Trời, qua đó Chúa Giêsu đưa con người vào mối tương quan đúng đắn với Thiên Chúa. Con người chỉ thực sự được hạnh phúc khi nó sống lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa, khi nó chọn Thiên Chúa làm gia nghiệp của đời mình.
Chọn Thiên Chúa làm gia nghiệp như Chúa Giêsu đã sống và đã dạy chính là sống giới răn yêu thương. Yêu như Chúa Giêsu yêu thương, có nghĩa là trao ban và trao ban đến mức độ thí cả mạng sống của mình vì người mình yêu. Đó chính là bí quyết của hạnh phúc, chính Chúa Giêsu đã dạy “trao ban là nhận lãnh”. ”Cho thì có phúc hơn là nhận lãnh”. Không ai nghèo nàn đến độ không có gì để trao ban. Người ta có thể trao ban của cải vật chất, người ta có thể chia sẻ một tâm tình, người ta có thể ban tặng một nụ cười, một lời nói ủi an, một cử chỉ tha thứ và dĩ nhiên, càng có tinh thần nghèo khó thì con người càng quảng đại hơn, bởi vì khi có tinh thần nghèo khó đích thực con người sẽ ý thức được rằng : Tất cả những gì mình có đều đã được nhận lãnh một cách nhưng không bởi Thiên Chúa.
Trong lời hiệu triệu trước khi sai 72 môn đệ lên đường rao giảng Tim Mừng, Chúa Giêsu đã nhắn nhủ các ông như sau : “Các con đã lãnh nhận nhưng không, các con cũng hãy trao ban nhưng không”. Lời nhắn nhủ này ngày nay Chúa Giêsu cũng gởi đến cho từng người tín hữu chúng ta. Tất cả những gì chúng ta đang có : từ sự sống, sức khỏe, trí khôn, đức tin và ngay cả niềm hy vọng, tất cả đều là những ơn nhưng không của Chúa ban cho và chúng ta chỉ là những người quản lý mà thôi. Chúa mời gọi chúng ta hãy trao ban nhưng không, và điều nghịch lý lớn nhất của Kitô giáo chúng ta chính là : càng trao ban chúng ta càng nhận lãnh, càng mất mát chúng ta càng được lợi lộc, càng chết đi chúng ta càng được sống sung mãn.
Nguyện cho Lời Chúa hôm nay soi sáng và hướng dẫn chúng ta để chúng ta luôn sống theo lẽ khôn ngoan đích thực của Ngài, đó là biết tìm thấy niềm vui và hạnh phúc trong sự trao ban.

 

TN25-C29: DÙNG TIỀN - NMS/161

Đang lững thứng đi dạo phố thì có một người ăn mày đến xin bố thí người kia móc túi cho một: TN25-C29

Đang lững thứng đi dạo phố thì có một người ăn mày đến xin bố thí, người kia móc túi cho một đồng bạc. Tám hôm sau, người hảo tâm đo hết sức ngạc nhiên vì ông ta nhận được một bức thư nặc danh trong đo kèm một ngân phiếu 10 triệu quan Pháp. Bức thư đó viết rằng : “ Có lẽ, ông còn nhớ một hôm ngao du ở Nice, ông đã bố thí cho một người mà ông tưởng là hành khất. Thực ra, trong 10 người tôi ngửa tay xin, chỉ có ông là người duy nhất đã bố thí cho tôi một đồng. Xin ông biết cho rằng tôi đây là một nhà triệu phú đã trá hình người hành khất đo với mục đích cá độ và tôi đã được cuộc. Vậy xin phép ông cho tôi được chia sẻ với ông số tiền thắng cuộc đó”. Câu chuyện này đã được tất cả các báo ở Pháp đăng tải và là một câu chuyện có thật vì người ta khám phá ra người giả hành khất đánh cuộc đó chính là ông Ernest Ingram, chủ tiệm vàng ở thành phố Nice.
Có thể quả quyết mà không sợ sai rằng đồng tiền dâng cúng, bố thí luôn luôn đem lại một kết quả tốt lành và đó còn là cách làm giàu mau chóng nhất không chỉ ở đời này mà cả đời sau nữa. Chỉ tiếc một điều là chúng ta không nhận ra thành quả tô lớn đó nên rất ít người sáng suốt và cũng rất ít người quan tâm để thực hành. Do đo, Lời Chúa trong bài Phúc Âm hôm nay không có ý gì hơn là nhắc nhở lại cho mọi g chúng ta nguyên tắc quan trọng đó để biết sửa sai quan niệm và cách sống lâu nay của mình.
Thật vậy, có lẽ một phần do ảnh hưởng của cuộc sống khó khăn, phần khác do quá tham lam mù quáng mà chúng ta đã có một suy nghĩ lệch lạc về của cải là chúng ta cứ tưởng mình luôn làm chủ của cải. Nhưng nếu biết suy xét cẩn thận, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra của cải vật chất mà chúng ta đang có đều thuộc về Thiên Chúa vì chính Ngài mới là Chủ vật chất và Đấng sở hữu đích thực, còn chúng ta, nói cách trung thực, chỉ là những người quản lý, coi sóc tạm thời. Cho nên, nếu chúng ta cứ tưởn lầm mình là chủ, tất nhiên chúng ta sẽ không tránh khỏi sự lạm dụng quyền hành hoặc bo bo giữ lấy của cải như lẽ sống đời mình để rồi dùng nó theo ý ngông cuồng của mình, sẽ dẫn tới sai trái.
Sai lầm thứ hai là chúng ta cứ nghĩ của cải mãi mãi thuộc về mình. Đây là một ngộ nhận tai hại nhất vì không những chúng ta giả điếc làm ngơ trước bao cảnh tay trắng hoàn tay trắng xảy ra hằng ngày do nhiều nguyên nhân như cháy nhà, bị trộm cướp, bị tai họa, bị tù tội, nhất là bị chết, mà còn cứ cố tình đâm đầu vào làm giàu, tham lam vơ vét của như là cùng đích của đời mình. Do đó, kẻ khôn ngoan không phải là kẻ giữ của mà là kẻ biết dùng của cho thật hữu ích vì chúng ta chỉ được phép giữ và sử dụng của cải trong thời hạn nào đo mà thôi.
Và nếu khi đã hiểu rõ mình không phải là chủ và cũng không có quyền nắm giữ của cải mãi mãi thì cách tốt nhất là phải làm gì ? Phải chăng khinh chê hay coi của cải là đồ dơ bẩn ? Đo không phải là cách giải quyết thực tế vì dù muốn dù không chúng ta đều cần đến của cải để mà sinh sống và Chúa cũng không bảo là phải vất bỏ của cải. Vậy cách tốt nhất mà Chúa mong muốn nơi chúng ta là biết sử dụng của cải cho hợp lý, nhất là dùng nó để mua lấy bằng hữu mai sau, mua lấy Nước Trời. Nói khác đi, cách dùng của cải hay nhất là không những sinh hữu ích cho bản thân mình, mà còn làm việc lành phúc đức để sau này chúng ta sẽ trở thành những bàng hữu bầu cử cho ta trước mặt Chúa khi chúng ta nhắm mắt lìa đời.
Ngoài ra, hãy nhớ rằng của cải có khi hay khi dở, khi tốt khi xấu không do tự bản chất của nó mà là do cách làm ra và sử dụng nó. Tuy nhiên, nếu làm ra của cải một cách chân chính và dùng nó để chỉ phục vụ cho bản thân và gia đình mình mà thôi cũng chưa phải là kẻ khôn ngoan nhất vì của cải được tạo ra là để ban phát chứ không phải để chiếm hữu, sử dụng ích kỷ ; không phải chỉ để hưởng thụ mau qua mà là biến nó thành giá trị vĩnh cửu.
Vậy chỉ có một giá trị vĩnh cửu là tình yêu. Chỉ có đức ái là không bao giờ mất đi. Có tiền của trong tay là có phương tiện để ban phát tình yêu, giúp đỡ lẫn nhau. Do đó, biến của cải đời này thành tình yêu, tình bạn, niềm vui cho kẻ khác là nhiệm vụ chính yếu của chúng ta, những người quản lý của Chúa.

 

TN25-C30: BẤT LƯƠNG - CS/136

Theo tuần báo Công giáo và Dân tộc số Quốc Khánh 02/09/1995 thì tại thành phố Hồ Chí Minh: TN25-C30

Theo tuần báo Công giáo và Dân tộc số Quốc Khánh 02/09/1995 thì tại thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 6/1994 đến tháng 6/1995 số tiền thất thoát do nạn tham nhũng là 108 tỷ đồng Việt Nam, 460,758D và 275 lượng vàng. Chỉ trong vòng một năm tại một thành phố, số tiền thất thoát đã lên tới con số kinh khủng như thế thì trong nhiều năm, tại các tỉnh thành trên cả nước số tiền thất thoát sẽ lên tới mức độ nào ? Quả là không thể tưởng tượng được. Và số tiền ấy đi đâu nếu không phải là vào túi những người có chức có quyền mà không có lương tri ? Phải chăng đây không phải là những người quản lý bất lương của thế kỷ 20 giống như tên quản lý bất lương mà Chúa Giêsu đã mô tả trong bài Tin mừng hôm nay sao ?
Nhưng có một điều lạ là Chúa Giêsu lại khen tên quản lý bất lương ấy khôn khéo. Thế thì ý nghĩa của dụ ngôn là gì ? Đâu là sứ điệp mà Chúa Giêsu muốn nhắn gửi mỗi người chúng ta khi kể lại dụ ngôn này ?
Thật ra Chúa Giêsu không có ý đề cao hành động của người quản lý về mặt luân lý, vì rõ ràng đó là hành động vi phạm công bình. Nhưng Chúa Giêsu chỉ muốn đề cao sự nhạy bén, sự mau lẹ trong cách giải quyết vấn đề của anh ta. Đối diện với một tình trạng đe dọa xem ra không lối thoát cho cuộc sống, anh đã có một phản ứng rất nhanh và dứt khoát, vì thế mà anh đã cứu được một bàn thua nặng nề cho cuộc đời mình.
Phần chúng ta, có lẽ chúng ta cũng có những giải quyết kịp thời cho những nhu cầu sự sống của thân xác. Nhưng khi đối diện với những đe dọa của đời sống tâm linh, liệu ta có được những phản ứng mau lẹ, dứt khoát để bảo vệ sự sống ấy hay không ? Nếu như ta chưa có được những phản ứng cần thiết ấy là vì chúng ta chưa xác định và chưa xác tín rằng sự sống tâm linh là có thực và sự sống ấy sẽ quyết định cho số phận đời đời của ta. Có thể đối với chúng ta, sự sống ấy mơ hồ quá, xa vời quá đến độ ta cảm thấy như không cần thiết, có hay không cũng chẳng sao, và sự sống ấy có bị đe doạ cũng không hề hấn gì. Trong khi đó, sự sống của thân xác lại quá cụ thể, vì thế khi mối đe dọa tới hoặc ngay cả khi chẳng có mối đe dọa nào thì ta cũng vẫn tìm cách để bảo vệ nó bằng bất cứ giá nào.
Nhưng nếu chỉ lo bảo vệ sự sống phần xác mà quên phần hồn thì mai này khi thân xác chết đi ta sẽ còn lại gì.

 

TN25-C31: QUẢN LÝ - SNTMCN/151

Một nhân viên sở giáo dục tỉnh nọ, lợi dụng chức vụ, cấp bằng giả cho nhiều người. Bị phát giác: TN25-C31

Một nhân viên sở giáo dục tỉnh nọ, lợi dụng chức vụ, cấp bằng giả cho nhiều người. Bị phát giác và bị điệu ra tòa. Trước tòa ông được hỏi : “Tại sao ông dám cấp bằng giả” ? Ông đáp : “vì tôi sắp phải nghỉ hưu, nên tôi chứng thực đại đi, sau này lỡ thất nghiệp, những người được tôi giúp đỡ, sẽ nhớ trả ơn tôi…”
Câu truyện trên cũng giống như câu truyện Chúa kể trong dụ ngôn mà chúng ta nghe đọc trong Chúa nhật hôm nay. Trong dụ ngôn này, Chúa không có ý khen tên quản lý bất lương và gian xảo kia, nhưng Ngài muốn dạy cho “con cái sự sáng”, là chúng ta phải biết dùng tiền của đời này mà mưu ích cho phần rỗi của chúng ta mai sau. Ở đây, Chúa Giêsu đặt ra cho chúng ta vấn đề quan trọng của “ngày mai”. Chính vì “ngày mai và cho ngày mai” đó mà mỗi người chúng ta phải sáng suốt hành động ngay từ hôm nay. Sau khi đã kể dụ ngôn “người quản lý bất trung” để nói lên ý nghĩa đó, Chúa Giêsu vạch ra cho chúng ta một nguyên tắc phải theo : “Không ai có thể làm tôi hai chủ”. Ngài nói : “Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm nô lệ tiền của”. Giữa một xã hội văn minh vật chất, con người ngày nay chỉ biết chạy theo tiền bạc và những lợi lộc nhất thời. Bài phúc âm Chúa nhật hôm nay quả là một tiếng chuông thức tỉnh những ai đang mải mê trong các bóng dáng hạnh phúc được vẽ ra bởi đồng tiền bất lương. Để hiểu hơn ý nghĩa của bài dụ ngôn “người quản lý bất lương”, chúng ta phải đọc bài dụ ngôn người giàu khờ dại.
Qua dụ ngôn ấy, Chúa Giêsu dạy người ta rằng “đừng tích trữ kho tàng ở dưới đất nơi mối mọt gậm nhấm, rỉ sét làm hư, trộm cắp có thể đào ngạch khoét vách lấy đi, nhưng hãy tích trữ cho mình kho tàng trên trời, nơi mối mọt không nhấm nát, nơi trộm cắp không thể đào khoét được, vì của cải của người ở đâu, lòng ngươi cũng ở đó.
Hãy bán gia tài mình có mà bố thí. Hãy sắm cho mình những túi không hư nát, và kho tàng chẳng hề hao rơi trên trời.
Những lời khuyên răn khôn ngoan trên đây của Chúa Giêsu, có lẽ chúng ta đã nghe nhiều lần rồi. Điều quan trọng kể từ ngay hôm nay, chúng ta cùng nhau cố gắng thực hành. Của cải chúng ta có, hãy bỏ vào ngân hàng “Nước Trời”, nghĩa là hãy rộng tay bố thí cho người nghèo. Bố thí cho người nghèo tức là cho Chúa vay mượn. Cho vay tất nhiên sẽ được lời. Chúa trả lời cho chúng ta ngay ở đời này và Chúa còn thưởng công cho chúng ta mai sau trên nước trời.

 

TN25-C32: CON CÁI ĐỜI NÀY - TMCN/203

Điều đó có nghĩa là nếu các Kitô hữu chúng ta cũng hăng hái khôn khéo trên đường hành đạo: TN25-C32

Điều đó có nghĩa là nếu các Kitô hữu chúng ta cũng hăng hái khôn khéo trên đường hành đạo như người đời khéo tìm của cải tiền bạc thì tốt biết bao. Nếu người ta chú tâm đến linh hồn cũng như việc buôn bán làm ăn thì họ đã tốt hơn nhiều. Nhưng thật ra người ta luôn luôn để nhiều thời giờ, tiền bạc, công sức vào những lạc thú, vui chơi đời này gấp hai mươi lần hơn vào các công việc Hội Thánh của mình.
Một vị linh mục được mời giảng cho một nhà tù, ngài đề cập đến giáo huấn của Chúa Giêsu liên quan đến việc báo thù : “Khi có ai vả má bên phải ngươi, hãy chìa luôn má bên kia cho hắn.” Để minh họa bài học ngài kể câu chuyện về Jackie Robinson, lực sĩ da đen đầu tiên thi đầu tiên thi đấu trong đội tuyển chính. Khi ông bầu Branch Rickey ký hợp dồng với Jackie, ông bảo : “Anh phải xơi mọi thứ họ dọn cho anh và đừng bao giờ phản kháng lại nhé !” Ông bầu thật có lý. Trong sân các cầu thủ giao banh cho anh cách thô lỗ, còn đám cổ động viên và đội bóng đối nghịch thì chế nhạo anh. Ra khỏi sân banh, anh bị khai trừ khỏi các khách sạn và nhà hàng, đang khi các cầu thủ khác được ở lại và ăn uống tại đó, dầu vậy, Jackie vẫn luôn giữ được bình tĩnh, anh vẫn “chìa cả má kia ra”, và cả ông bầu Branch cũng làm như thế khi bị công chúng chỉ trích, vì cho một tên da đen gia nhập đội bóng. Kể xong câu chuyện, vị linh mục đặt câu hỏi : “Các bạn thử nghĩ coi, các lực sĩ da đen ngày nay sẽ ra thế nào nếu Jackie và Branch không chìa má kia cho người ta tát ?” Ngay sau cuộc nói chuyện, một tù nhân tiến lại nói : “Câu chuyện cha kể khá thú vị, nhưng sao cha không đề cập đến toàn thể câu chuyện, không nêu ra lý do tại sao ông bầu và gã càu thủ da đen lại chấp nhận chìa má bên kia ra ? Đâu có phải họ yêu mến Chúa mà vì ham tiền mà thôi. Barnch chìa luôn má kia vì ông ta sẽ ký hợp đồng sẽ ký hợp đồng được với tất cả các lực sĩ da đen giỏi nhất trong nước và ông sẽ giàu to ; Còn Jackie thì chịu chìa má kia vì chẳng qua anh ta cũng kiếm được khối bạc nếu anh thành công !” Vị linh mục ngầm nghĩ : “Nếu gã tù nhân này có lý thì câu chuyện của mình hỏng mất.” Nhưng tức khắc ngài nghĩ lại, câu chuyện vừa nói lên hai điều quan trọng hơn nữa : “Con cái thế gian khôn ngoan hơn con cái sự sáng trong việc làm ăn của chúng.” Thì ra, người thế gian biết chịu khổ chịu cực để đạt được những phần thưởng trần thế, là những thứ chỉ tồn tại trong ít năm, trong khi các Kitô hữu chúng ta không dám gian khổ để đạt được phần thưởng vĩnh viễn trên trời. Đạo của chúng ta chỉ trở thành thực tại và hữu hiệu khi nào chúng ta đầu tư vào đo nhiều thì giờ, sức lực như vào các việc thế tục.

 

TN25-C33: ĐỨC GIÊSU DẠY MÔN ĐỆ MÌNH

CÁCH XỬ DỤNG TIỀN BẠC CỦA CẢI VẬT CHẤT
 Lm. Trọng Hương
A. Hạt giống...
 

Trong đoạn Tin Mừng này, Đức Giêsu dạy môn đệ mình cách xử dụng tiền bạc của cải vật chất: TN25-C33

Trong đoạn Tin Mừng này, Đức Giêsu dạy môn đệ mình cách xử dụng tiền bạc của cải vật chất. Trước tiên Ngài dùng một dụ ngôn (người quản gia), và sau đó nói về cách xử dụng tiền của.
1. Dụ ngôn người quản gia : đối với dân Do Thái, quản gia không phải chỉ là một trong những người làm mướn ăn lương của chủ, mà là một nhân vật rất có thế lực. Quản gia là người thay mặt chủ để lo những chuyện tài sản trong nhà. Do đó có quyền thu xếp tài sản của chủ cách nào tùy ý miễn sao có lợi cho chủ thôi. BJ nói quản gia không có lương, nên thường tìm thu nhập thêm bằng cách kê thêm số của cho vay. Thí dụ cho vay 100 kê thành 120.
- Chúa Giêsu nói người quản gia trong dụ ngôn này là “bất lương”. Các nhà nghiên cứu Thánh Kinh còn bàn cãi nhau về sự “bất lương” này (ăn gian tiền của chủ ? cho vay ăn lời cắt cổ ? hay là sửa đổi giấy nợ ?...).
- Nhưng điều Chúa Giêsu muốn ta noi gương nơi người quản gia này là cách xử dụng tiền của : Người quản gia này là “con cái thế gian”, thế mà còn biết sử dụng của cải một cách khôn khéo bằng cách cho đi của cải hiện tại để đổi lấy sự bảo đảm cho tương lai. “Con cái của sự sáng” phải noi gương đó, phải biết dùng của cải thế gian mà mua sắm của cải trên trời.
2. Những điểm đáng chú ý trong lời Chúa Giêsu dạy về tiền của :
- Ngài đánh giá tiền của là “gian dối”.
- Ngài khuyên dùng tiền của đời này để mua lấy những giá trị đời sau.
- Phải coi tiền của là đấy tớ phục vụ mình, chứ đừng coi chúng là ông chủ mà mình phải làm nô lệ.
- Chính những người được coi là đạo đức như biệt phái mà cũng mang tính tham lam.
B. ... nẩy mầm.
1. Mặc dù người quản gia trong dụ ngôn này không tốt cho lắm, nhưng Chúa Giêsu đã rất khéo khi lấy hình ảnh người quản gia làm dụ ngôn. Chúa muốn nhắc rằng đối với tiền bạc của cải mà chúng ta đang nắm trong tay, chúng ta chỉ là người quản lý thôi, chính Thiên Chúa mới là chủ. Đã là quản lý thì phải xử dụng của cải của chủ theo đúng ý chủ chứ không phải theo ý riêng mình. Rất nhiều người tưởng lầm mình là chủ của những tiền bạc trong túi mình.
2. Một người kia suốt đời chỉ lo thu gom tiền bạc, cho nên rất giàu. Khi chết, ông còn ôm túi vàng theo mình đi sang cuộc sống bên kia. Đi một hồi ông thấy đói. Bỗng ông thấy một quán ăn bên đường, liền ghé vào. Vì hà tiện, ông hỏi người chủ quán :
- Tô cơm nhỏ này giá bao nhiêu ?
- Chỉ một đồng thôi.
- Còn tô lớn kia ?
- Cũng chỉ một đồng thôi.
Thấy rẻ, ông gọi luôn hai tô lớn. Nhưng người chủ quán bảo :
- Ở đây chỉ xài loại tiền-cho-đi thôi. Ông có không ?
Người hà tiện chỉ vào túi vàng của mình. Nhưng chủ quán nói:
- Đó chỉ là thứ tiền-lấy-vào. Ở đây không xài được.
- Thế tiền-cho-đi là tiền gì ?
- Khi còn sống, mỗi lần ông cho ai bao nhiêu đồng thì ông được ban lại bấy nhiêu đồng loại tiền-cho-đi.
Ông nhà giàu lục lọi khắp nơi trong mình nhưng chẳng có đồng nào thuộc loại tiền-cho-đi cả. Thế là ông phải nhịn đói.
Bao nhiêu đồng tiền cho đi là bấy nhiêu đồng tiền để dành cho đời sau vậy.
3. “Con cái đời này khôn ngoan hơn con cái ánh sáng khi xử sự với đồng loại.” (Lc 16, 8b)
Ở đời, “biết mình biết người trăm trận trăm thắng.” Người quản gia bất lương trong dụ ngôn xưa, hơn ai hết, biết rõ thực trạng tội lỗi của mình, và biết chắc nguy cơ bị sa thải là không tránh khỏi. Điều hơn người là y dám nhìn thẳng vào sự thật và dùng hết khả năng còn lại của mình để đổi lấy tình thân hữu, dự phòng cho tương lai. Y đã thành công do biết nhìn xa trông rộng.
Ở đây Thiên Chúa không có ý định ủng hộ những hành động mưu lợi bản thân, mà qua đó Ngài muốn nhắc nhở chúng ta về một chân lý : dự phòng cho tương lai. Đời này đã có thể an tâm, còn dự phòng cho cuộc sống đời sau, hẳn hạnh phúc hơn nhiều.
Lạy Chúa, xin cho con biết dùng cuộc sống đời này để mua lấy cuộc sống đích thực nơi quê trời. (Hosanna)
4. “Các con không thể làm tôi Thiên Chúa mà lại làm tôi tiền của được” : Qua câu này, chính Chúa Giêsu cho biết ; a/ Tiền của có thể biến người sở hữu nó trở thành nô lệ cho nó ; b/ tiền của có thể được người ta tôn lên ngang hàng với Thiên Chúa, thậm chí cao hơn Thiên Chúa nữa !
5. Tôi thử xét lại liên hệ của tôi với tiền của xem tôi đang làm chủ nó hay làm nô lệ nó :
- Tôi vẫn còn làm chủ nó : khi tôi dám đem nó đi cho người khác, dám đưa nó cho người khác mượn, dám bỏ nó, khi tôi mất nó mà không đến nỗi như mất hồn…
- Tôi đã thành nô lệ nó khi ngày đêm tôi nghĩ tới nó, khi tôi trọng nó hơn tất cả mọi người khác, khi tôi sợ mất nó, khi vì nó mà tôi dám làm điều xấu…
6. Mạnh Thường Quân nhà giàu, cho vay mượn nhiều. Một hôm ông sai Phùng Nguyên sang đất Tiết đòi nọ. Khi đi, Phùng Nguyên hỏi :
- Ngài có định mua gì về không ?
- Xem thứ gì nhà ta chưa có thì mua.
Khi đến đất Tiết, Phùng Nguyên cho gọi dân tới bảo rằng : “Các ngươi nợ bao nhiêu, Mạnh Thường Quân đều cho cả”, rồi chẳng tính gì gốc lãi, đem đống văn tự ra đốt sạch.
Khi trở về, Phùng Nguyên nói với Mạnh Thường Quân rằng :
- Nhà Ngài không thiếu thứ gì, có lẽ chỉ thiếu ơn nghĩa. Tôi đã trộm phép mua ở đất Tiết cho Ngài rồi. Tôi chắc là đẹp ý Ngài.
Về sau, Mạnh Thường Quân bị bãi quan, về ở đất Tiết. Dân ở đây nhớ ơn xưa ra đón rước đầy đường. Mạnh thường Quân ngoảnh lại bảo Phùng Nguyên :
- Đó hẳn là cái ơn nghĩa mà ông đã mua cho tôi ngày trước (Góp nhặt)

 

TN25-C34: NGHỆ THUẬT  SỬ DỤNG TIỀN CỦA

 - HÃY XÂY DỰNG NGÔI NHÀ MƠ ƯỚC - Phó tế Nguyễn Kính, Dcct
 

Hãy xây dựng ngôi nhà mơ ước của bạn với Hãng... - Hãy đến với... các bạn sẽ được tận hưởng: TN25-C34

- Hãy xây dựng ngôi nhà mơ ước của bạn với Hãng...
- Hãy đến với... các bạn sẽ được tận hưởng không khí vui vẻ, phấn khởi !
- Hãy sử dụng... : Sang trọng hơn ! Thoải mái hơn !
- Sẽ đến trong bạn những cảm giác tuyệt vời khi bạn đến...

Trên đây là những lời mời mọc, quảng cáo mà ngày nay người ta có thể gặp thấy nhan nhãn trên mọi phương tiện truyền thông: truyền hình, truyền thanh, báo chí, các biển quảng cáo ngoài đường phố... Một trong những nét đặc trưng lớn của thế giới hôm nay là sự tiêu thụ để hưởng thụ. Tại những nước văn minh giàu có, người ta được mời gọi hãy tiêu xài, hưởng dùng những tiện nghi do khoa học kỹ thuật mang lại. Những dịch vụ ăn uống, du lịch, vui chơi giải trí muôn màu muôn vẻ hứa hẹn cho con người sự thích thú, hạnh phúc. Các ngân hàng, các công ty cổ phần mời gọi người ta đầu tư tiền bạc với họ với những lời hứa hẹn bảo đảm lợi nhuận. Người ta giới thiệu với nhau những mặt hàng kinh doanh, những phương thế làm ăn để sao cho tiền lại đẻ thêm ra tiền.
Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật 25 thường niên năm C hôm nay, Chúa Giê-su dạy cho chúng ta một bài học về "nghệ thuật" sử dụng tiền của để mưu tìm hạnh phúc hoàn toàn không giống như những lời mời mọc quảng cáo chúng ta vẫn thường gặp: Dùng tiền của để kiếm lấy tình thân nghĩa với anh chị em đồng loại và nhờ đó mà chiếm được "của cải chân thật" trong "nơi ở vĩnh cửu" !
Với những người tin vào Chúa Giê-su, tin có cuộc sống đời đời nơi Thiên Chúa, họ phải biết rằng ở thế giới đó người ta không có xài... tiền ! cho nên Chúa Giê-su gọi tiền bạc của cải đời này là bất chính, vì nó sẽ qua đi ! Và Chúa khuyên chúng ta: "Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu". Bạn bè mà Chúa Giê-su nói đây hẳn là "những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ..." cho chúng ta ( Lc 14, 13 – 14 ). Chúa Giê-su dạy chúng ta cách thế đầu tư tiền của để sắm lấy "kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời" ( Lc 12, 33 ).
Hiển nhiên, Chúa Giê-su không có ý dạy chúng ta học lấy sự gian xảo của người quản gia bất lương trong dụ ngôn: lợi dụng tiền bạc của cải của người khác mà mưu lợi cho mình, sử dụng chúng theo ý riêng của mình, cho dù là để làm việc tốt. Đó là một sự gian lận ! Thế nhưng từ cảnh huống và thái độ đối phó của người quản gia bất lương này, Chúa Giê-su đã muốn rút ra cho con người một bài học quan trọng: Giống như tình trạng của người quản gia bất lương sẽ phải rời bỏ chức vụ của mình, phải ra khỏi nhà ông chủ vì bị đuổi, một ngày kia mỗi người chúng ta cũng sẽ phải rời bỏ trần thế này ! Việc phải mau mau tính "đường", tính "kế", tính "nước cờ" của người quản gia bất lương cho chuyện chắc chắn sẽ đến nay mai thôi cho ông ta, hẳn là trong chúng ta có đến 99%, không có ai cho rằng ông ta đã quá lo xa, lo hão... Chúa Giê-su dạy chúng ta cũng phải mau mắn và khôn khéo như thế trong việc dùng tiền của đời này mà lo liệu cho tương lai của mình ở đời sau.
Bài học mà Chúa Giê-su dạy thật quan trọng biết bao ! Trong thế giới ngày nay, nhiều người trong nhân loại vẫn sống như thể mình sẽ không phải chết. Nhiều người không nghĩ gì đến đời sau, vì người ta không tin hoặc không muốn tin; hoặc không nghĩ đến vì vô tư, không nghĩ đến vì cho là chuyện xa vời ! Và rồi người ta sử dụng tiền của để hưởng dùng theo ý riêng, theo lòng ích kỷ và dục vọng của mình. Không biết những người đã phải chết, trong vụ khủng bố do bọn không tặc cảm tử đã gây ra ở Mỹ ngày 11.9 vừa qua, họ có nghĩ trước được rằng đã đến lúc họ phải lìa bỏ cõi đời này không ? Với những người càng có tuổi, càng già, hẳn là sẽ thấy rõ hơn những người còn trẻ thế nào là "thời gian như nước chảy qua cầu", "đời người như giấc mơ"...
Chúa Giê-su dạy chúng ta nghệ thuật dùng tiền của mình có được ở đời này để chuẩn bị sẵn cho mình hạnh phúc vĩnh cửu trong Nước Trời ở đời sau. Nước Trời không phải là món hàng để mua đâu ! Nó là một quà tặng cho không Thiên Chúa dành cho con người. Nếu như nó là một miền "Đất hứa" cho hạnh phúc của con người, thì con người sẽ chỉ có thể chinh phục được nó, không phải bằng cách ném tiền ra "mua", nhưng con người sẽ chỉ có thể chinh phục chiếm hữu được nó bằng tình yêu: Tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với đồng loại ! và tiền của sẽ là một phương thế được dùng để tỏ bày tình yêu đó.
Của cải vật chất ở đời này, hay là đồng tiền mà chúng ta đặt ra làm quy ước để đo lường giá trị của cải vật chất, tự nguồn gốc, chúng là thuộc về Thiên Chúa, chúng là của Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa là chủ của chúng, vì chính Thiên Chúa đã tạo dựng nên chúng và trao ban chúng cho con người. Trong đức tin, những tiền của mà chúng ta đã khó nhọc làm ra, tự nguồn gốc, chúng là của Thiên Chúa, còn chúng ta chỉ là những người quản lý. Sự lao nhọc vất vả của con người để có được của cải mà hưởng dùng, tự thuở ban đầu không có trong ý định của Thiên Chúa, sự lao nhọc vất vả đó đã xảy đến là do bởi tội lỗi của con người.
Thiên Chúa đã ban tặng thế giới này cho con người được quyền cai quản và hưởng dùng. Hẳn Chúa Giê-su không có ý bảo chúng ta phải đoạn tuyệt với tất cả những niềm vui và hạnh phúc chính đáng ở đời này mà tiền của vật chất sẽ mang đến cho chúng ta, để chỉ dùng nó vào việc cứu đói, cứu khổ cho đồng loại của mình. Nếu có ý đó, hẳn Chúa Giê-su sẽ từ chối đến nhà những người giàu có để ăn tiệc ! Chúa sẽ khuyên người đàn bà tội lỗi hãy đem bình dầu thơm quý giá bán đi mà lấy tiền cho người nghèo, thay vì đổ dầu xức lên mình Chúa ( Mt 26, 6 – 13 ).
Chúa cũng không chỉ dạy cách sử dụng tiền của cho riêng những người giàu có khá giả. Chúa dạy bài học này là cho tất cả mọi người, vì "ai cho cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã mà thôi,... người đó sẽ không mất phần thưởng đâu" ( Mt 10, 42 ). Hai đồng tiền kẽm của bà góa nghèo đã được Đấng là Thẩm Phán chí công lượng giá là món tiền nhiều hơn hết trong những món tiền đã được bỏ vào Hòm tiền dâng cúng của Đền Thờ ! ( Lc 21, 1 – 4 ).
Tôi đã được nhìn thấy nét mặt ủ dột, thân hình tiều tụy ỉu xìu của một bé gái mới hơn một tuổi bị bệnh tim, tựa mình vào người cha của bé đang bồng bé trên tay. Sau mấy tháng, nhờ sự giúp đỡ của quý ân nhân qua GOSPELNET, bé được giải phẫu để chữa bệnh và đã lành khỏe. Tôi gặp lại bé, giờ đây bé đã thật sống động, chạy lanh quanh với nụ cười tươi dễ thương. Thật tuyệt, thật cảm động ! Bé đã lành bệnh, đã được khỏe mạnh, có lại được sức sống và sự vui tươi của tuổi thơ, nhờ tình thương, sự giúp đỡ của các vị ân nhân.
Như người quản gia bất lương đã trở thành ân nhân cho những con nợ của chủ mình, Chúa Giê-su hôm nay vẫn mời gọi chúng ta hãy trở thành ân nhân cho anh chị em mình, để một mai kia chúng ta bước vào Nước Hằng Sống của Ngài trong sự chào đón, với những nụ cười rạng rỡ của anh chị em chúng ta.
Phó tế NGUYỄN KÍNH, DCCT

 

TN25-C35: KHÔN NGOAN THẬP GIÁ - Lm Nguyễn Hữu An

Chúa Giê-su sau khi đã kể dụ ngôn người quản lý bất lương đã kết luận: “Con cái đời này khi đối xử: TN25-C35

Chúa Giê-su sau khi đã kể dụ ngôn người quản lý bất lương đã kết luận: “Con cái đời này khi đối xử với đồng loại thì khôn khéo hơn con cái sự sáng” rồi Chúa dạy các môn đệ sống trung tín và lời dặn dò: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được”
Cái khôn của người đời là: lọc lừa, gian dối, thủ đoạn… Nó khác xa sự khôn ngoan của con cái sự sáng: Đầu mối khôn ngoan là kính sợ Chúa. Khôn ngoan toả ra từ quyền năng Thiên Chúa ( Kn 7, 25 )
KHÔN KHÉO CON CÁI ĐỜI NÀY
Khôn khéo trong những việc làm của người quản lý bất lương:
- Khôn khi ăn cắp tài sản của chủ mà không bị phát hiện, đến khi có người tố cáo thì chủ mới đuổi việc.
- Khôn vì anh ta biết giới hạn của mình; cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi.
- Khôn vì biết xoay xở, tận dụng chút quyền quản lý cuối cùng để có 1 chút bảo đảm cho tương lai. Gọi các con nợ của chủ đến làm văn tự lại; 100 thùng dầu ô-liu, viết lại 50 thôi; 1.000 thùng lúa viết lại 800 thôi... hai bên cùng có lợi mà.
- Khôn khi biết lo xa: liệu sao để khi mất chức thì có người tiếp đón, khi về hưu non thì đã có của dư của để, có nhà cao cửa rộng, có vườn tược...
Hình ảnh của người quản lý khôn khéo bất lương này đầy dẫy trong xã hội hôm nay khi mà tham nhũng đã trở nên “quốc nạn”. Ông Fujimori đã làm tổng thống nước Péru đến nhiệm kỳ thứ 2, vì tham nhũng ông đã trốn chạy về Nhật. Ông Estrađa tổng thống Philippines, phải từ chức vì tham nhũng. Ông Wahid, tổng thống Indonesia sang Mỹ tỵ nạn vì tham nhũng. Việt Nam cũng đang điêu đứng vì quốc nạn tham nhũng...
Người ta “hy sinh đời bố để củng cố đời con”, có chút địa vị quyền lực thì lo thu ven cho cá nhân, tham ô, móc ngoặc. Sợ bị bại lộ, sợ bị tố cáo, sợ bị cách chức, sợ bị “về hưu non”, nên khôn khéo mua lấy bằng cấp, mua đất xây biệt thự, lập trang trại...
Người ta tìm mọi cách để có tiền của, có địa vị, có quyền lực, bất chấp tiếng nói lương tâm.
Nhìn vào thực trạng xã hội hôm nay chúng ta thấy người đời thường chạy theo tiền bạc, của cải. Trong cuộc chạy đua đó, con người đã để cho tiền của làm chủ đời sống của họ, hướng dẫn và quy định cả cách sống và tâm tình của họ. Khi đó Thiên Chúa, lương tâm, nhân cách bị gạt ra khỏi tâm hồn họ. Tiền của, danh vọng là thần tượng của họ và khi đó làm bất cứ việc gì dù trái với lương tâm, với luân thường đạo lý, với công bình bác ái miễn là càng ngày họ càng giàu có càng thăng chức. Lòng tham không bao giờ thỏa mãn. Tham vọng của con người không bao giờ cùng.
KHÔN NGOAN CON CÁI CHÚA
- Khôn ngoan của con cái sự sáng là luôn hướng về Thiên Chúa và để Ngài làm chủ đời mình. Tiền bạc của cải không là điểm tựa, không là cứu cánh mà chỉ là phương tiện. Con cái sự sáng vừa say mê cuộc đời này vừa say mê vĩnh cửu. Giữa cái mau qua họ tìm gặp vĩnh cửu, họ làm việc vui chơi như mọi người, nhưng họ luôn để Thiên Chúa đi vào toàn bộ cuộc đời họ.
Con cái ánh sáng thì khôn ngoan sống chân thật và tín trung. Chân thật trong lời nói, trong tư tưởng, trong hành động; thực tâm – thật tình trong cư xử; thật hiếu hạnh trong gia đình; thật tín nghĩa ngoài xã hội; thực trung thành trong niềm tin. Trung tín sống đức tin, trung tín trong lời hứa, có tinh thần trách nhiệm cao, trung tín trong việc nhỏ cho đến việc lớn. Trung tín với lời hứa Bí Tích đã lãnh nhận. Người chân thật là người trung tín với Thiên Chúa và anh em mình. Bởi vì Thiên Chúa là sự thật, và “chỉ có sự thật mới giải thoát anh em.”
Khôn ngoan của con cái Chúa là khôn ngoan Thập Giá: “Trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp kiếm sự khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô chịu đóng đinh, điều mà người Do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù Do-thái hay Hy-lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” ( 1 Cr 1, 22 – 25 ).
Chúa Giê-su đã khẳng định: “Không ai có thể làm tôi hai chủ. Hắn sẽ ghét chủ này mà thương chủ kia, hay để ý đến chủ này mà thương chủ nọ”. Không thể phụng sự hai chủ như nhau, trong cùng một lúc. Chúng ta tự hỏi chủ nào đang thống lĩnh đời tôi ? Ước gì tôi luôn tự do, chọn lựa làm tôi cho Chúa mà thôi.
CỬA SỔ HOẶC TẤM GƯƠNG
Một người Do-thái giàu có nhưng rất keo kiệt đến gặp một vị giáo trưởng để xin một lời hướng dẫn cho cuộc sống của mình. Vị giáo trưởng đưa anh ta đến bên cửa sổ và hỏi: “Ông hãy nhìn qua cửa sổ và cho tôi biết ông thấy gì.” Không một chút do dự, người giàu có trả lời: “Tôi thấy nhiều người đi qua đi lại.” Sau đó vị giáo trưởng bảo người giàu có quay mặt vào trong nhà và nhìn vào một tấm gương treo trên tường. Rồi ông cũng đặt câu hỏi tương tự: “Nào, bây giờ thì ông thấy gì trong tấm gương ?” Người giàu có liền trả lời: “Dĩ nhiên tôi chỉ thấy tôi.”
Bấy giờ vị giáo trưởng mới rút ra một bài học. Ông nói: “Này nhé, tấm gương soi mặt được làm bằng kính. Kính được phủ ở phía sau bằng một lớp bạc mỏng. Bao lâu lớp bạc mỏng còn dính chặt đằng sau tấm kính thì nhìn vào đó ông sẽ không còn thấy người nào khác nữa mà chỉ thấy có mình ông thôi. Trái lại khi nhìn qua tấm kính trong suốt ở cửa sổ ông đã thấy được những người khác, thấy được cảnh vật...”
Nếu tấm kính linh hồn bị lòng tham lam, ích kỷ như lớp bạc mỏng phủ đi thì ta sẽ chỉ thấy có bản thân mình. Chỉ mình ta mới đáng kính đáng trọng, chỉ mình ta là trung tâm để mọi người phục vụ.
Tâm hồn con người khi trong suốt không bị che chắn bởi tham, sân, si, sẽ nhìn thấy mọi người là anh em, nhìn thấy những điều hay, những điều tốt, những gì đáng quý, đáng mến nơi tha nhân. Tâm hồn trong sáng đó nhờ biết mỗi ngày soi vào Chúa Ki-tô, sống theo lời dạy của Ngài.
Linh mục NGUYỄN HỮU AN ( Phan Thiết )
CẦU NGUYỆN:
Nguyện xin Thiên Chúa, Đấng làm mọi sự tốt lành trong con người từ ý muốn cho đến việc làm, ban cho chúng ta được ơn khôn ngoan và mau mắn trong việc dùng tiền của đời này mà giúp đỡ những anh chị em nghèo khổ. Để một mai kia, khi đến lúc chúng ta phải rời bỏ trần thế này, chúng ta sẽ được những anh chị em nghèo khổ đó, và chính Chúa Giê-su, Đấng đã muốn hiện diện cách đặc biệt nơi họ ở đời này, đón rước chúng ta vào trong vinh quang và hạnh phúc đời đời trên Nước Hằng Sống của Thiên Chúa. Amen.
Phó tế NGUYỄN KÍNH, DCCT

 

TN25-C36: TRUYỆN: CỦA CẢI DỄ LÀM HƯ CON NGƯỜI

Thánh Antonino, là giám mục của vùng Firenze nước Ý vào khoảng thế kỷ thứ 15, có kể lại : TN25-C36

Thánh Antonino, là giám mục của vùng Firenze nước Ý vào khoảng thế kỷ thứ 15, có kể lại một câu truyện mà ngài đã tận mắt chứng kiến trong đời mục vụ tông đồ.
Một hôm, ngài đang đi trên đường thì Thiên Chúa cho ngài thấy có một vị thiên thần cứ bay lượn bên trên một ngôi nhà nghèo nàn lụp xụp. Ngài ghé vào hỏi thăm cha sở vùng này thì được biết gia đình ấy tuy rất nghèo nhưng lại rất đạo đức và tốt bụng, luôn sẵn sàng giúp đ mọi người. Thánh Antonio động lòng thương, hiểu ra ý Chúa muốn soi sáng cho mình, ngài bèn trích quỹ từ thiện, kín đáo trợ cấp hàng tháng một số tiền vừa đ đ gia đình này có vốn liếng mà chí thú làm ăn cho đ nghèo khổ.
Bẵng đi một thời gian, ngài lại có việc đi qua vùng ấy, ngài chợt giật mình trông thấy một tên quỷ xấu xa đang bay lượn trên mái một ngôi nhà khang trang đẹp đẽ nhất vùng. Ngài lại ghé vào Cha Sở để hỏi thăm, thì hóa ra đó chính là ngôi nhà của gia đình mà ngài đã từng trợ cấp lâu nay. Ngài được biết họ đã cố gắng ăn nên làm ra, nhưng dần dần, vì tham lam, họ đã học đòi những thủ đoạn mánh khóe bất lương để làm giàu nhanh chóng, đời sống họ hoàn toàn vô đạo đức, trở nên ích kỷ và độc ác, khinh bỉ xua đuổi những người nghèo khổ láng giềng ngày xưa. Hiện tại, họ lại còn thêm thói ăn chơi trụy lạc.
Thánh nhân đau lòng quyết định cắt đứt nguồn trợ cấp, để mong họ sớm hiểu ra mà sám hối quay trở về đường ngay nẻo chính. Quả thật, của cải vật chất xa hoa dễ làm cho con người hư đi nếu sống mà xa lìa đường lối của Thiên Chúa...
Trích NỐI LỬA CHO ĐỜI tập 2
LOẠI TIỀN CHO ĐI
Một người kia suốt đời chỉ lo thu gom tiền bạc, cho nên rất giàu. Khi chết, ông còn ôm túi vàng theo mình đi sang cuộc sống bên kia. Đi một hồi ông thấy đói. Bỗng ông thấy một quán ăn bên đường, liền ghé vào. Vì hà tiện, ông hỏi người chủ quán: Tô cơm nhỏ này giá bao nhiêu ?” Người bán trả lời: Chỉ một đồng thôi.” Ông ta lại hỏi: Còn tô lớn kia ?” “Cũng chỉ một đồng thôi.”
Thấy rẻ, ông gọi luôn hai tô lớn. Nhưng người chủ quán bảo: đây chỉ xài loại tiền-choi thôi. Ông có không ?” Người hà tiện chỉ vào túi vàng của mình. Nhưng chủ quán nói: “Đó chỉ là thứ tiền-lấy-vào. đây không xài được.” Ông nhà giàu thắc mắc: Thế tiền-choi là tiền gì ?” Người kia bảo: Khi còn sống, mỗi lần ông cho ai bao nhiêu đồng thì ông được ban lại bấy nhiêu đồng loại tiền-choi.”
Ông nhà giàu lục lọi khắp nơi trong mình nhưng chẳng có đồng nào thuộc loại tiền-choi cả. Thế là ông phải nhịn đói... Bao nhiêu đồng tiền cho đi là bấy nhiêu đồng tiền đ dành cho đời sau vậy.
ĐẠO MỘT MẮT
Bác sĩ A.J. Gordon kể: ngày nọ, có một ông nhà giàu nhưng keo kiệt đến xin chữa mắt. Sau khi khám nghiệm, bác sĩ cho biết phải chữa cả hai mắt, nếu không có nguy cơ bị mù. Ông ta hỏi: Nhưng giá bao nhiêu ?” Bác sĩ trả lời: Chữa mỗi mắt là 100 đô.” Ông nhà giàu phân vân giữa tiền bạc và mù loà. Rồi ông nói với bác sĩ: "Tôi chỉ chữa một mắt thôi, vì một mắt cũng đ thấy tiền và đếm tiền. Lại đ tốn !"
Nhiều người vẫn cầu nguyện: "Xin mở mắt con đ thấy kỳ công của Chúa..." Nhưng xem ra nhiều Ki-tô hữu chỉ muốn Chúa mở cho mình một mắt đ thấy công trình của Chúa mà thôi, một mắt còn lại phải dành riêng mà... trông coi gia sản !
Trích SỢI CHỈ ĐỎ

 

TN25-C37: NHẬN ĐỊNH VỀ TIỀN BẠC

NHẬN ĐỊNH:
 

Tiền là cái mà: Người công nhân đồ mồ hôi để có được nó, Kẻ hoang phí thì đốt nó, Chủ ngân: TN25-C37

Tiền là cái mà:
Người công nhân đồ mồ hôi để có được nó,
Kẻ hoang phí thì đốt nó,
Chủ ngân hàng đem nó cho vay,
Đàn bà xài nó,
Kẻ lưu manh làm giả nó,
Nhân viên thuế vụ lấy nó,
Người hấp hối lìa bỏ nó,
Kẻ thừa kế tiếp thu nó,
Người tiết kiệm để dành nó,
Người keo kiệt thèm khát nó,
Kẻ ăn trộm chộp lấy nó,
Người giàu gia tăng nó,
Người cờ bạc bị mất nó,
Phần tôi thì dùng nó... ( Quote )
Khả năng thật của tiền bạc là:
Tiền có thể mua được cái vỏ nhưng không mua được cái nhân;
Nó có thể mang đến cho bạn thức ăn, nhưng không mang đến khẩu vị;
Nó giúp bạn có nhiều người quen, nhưng không giúp bạn có bạn bè;
Nó giúp bạn có những đầy tớ, nhưng không giúp bạn có được lòng trung thành của họ;
Nó ban cho bạn những tháng ngày hưởng thụ, nhưng không cho bạn bình an và hạnh phúc ( Henrik Ibsen )
Những thứ mà tiền không mua được gồm có:
Có tiền và có những cái mua bằng tiền là tốt. Nhưng biết dùng tiền và đừng để mất những thứ tiền không mua được còn tốt hơn. Có thể kể những thứ sau đây tiền không mua được:
Tiền không mua được tình bạn chân thực.
Tiền không mua được lương tâm trong sạch.
Tiền không mua được niềm vui lành mạnh.
Trích SỢI CHỈ ĐỎ của Lm. Ca-rô-lô ( Cần Thơ

 

TN25-C38: Tên quản gia lưu manh

Lu-ca 16, 1-13
“Đức Giê-su còn nói với các môn đệ rằng : "Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông. Ông mới gọi anh ta đến mà bảo : 'Tôi nghe người ta nói gì về anh đó ? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa !' Người quản gia liền nghĩ bụng : 'Mình sẽ làm gì đây ? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi.   Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ !'
"Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất : 'Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy ?' Người ấy đáp : 'Một trăm thùng dầu ô-liu.' Anh ta bảo : 'Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi.' Rồi anh ta hỏi người khác : 'Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy ?' Người ấy đáp : 'Một ngàn giạ lúa.' Anh ta bảo : 'Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi.'
"Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.
"Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi vĩnh cửu. Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn ; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn.Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em ? Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em ?
"Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được."
 

Đây là một dụ ngôn khó giải nghĩa, nhưng tựu trung cuộc đời là một trường học mà ta có thể học: TN25-C38

Đây là một dụ ngôn khó giải nghĩa, nhưng tựu trung cuộc đời là một trường học mà ta có thể học được gương tốt nơi những người xấu. Câu chuyện bao gồm những tên lưu manh mà người ta có thể gặp bất cứ ở đâu. Tên quản gia này là một tên lưu manh. Hắn vốn là một nô lệ, tuy vậy hắn được giao trách nhiệm điều hành gia sản của chủ. Tại Pa-lét-tin có nhiều địa chủ vắng mặt ở lãnh địa của mình nên tất cả công việc của ông được trao vào tay người quản gia của ông. Tên quản gia trong câu chuyện này đã ăn cắp khéo léo. Các con nợ cũng là những tên lưu manh. Chắc chắn món nợ của họ là tiền thuê đất. Thuê đất ở Pa-lét-tin thường được trả cho chủ đất không phải bằng tiền mặt mà bằng hiện vật, thường là một phần hoa lợi của đám đất cho thuê. Quản gia này biết rằng hắn đã mất chức quản gia, vì thế nảy ra một sáng kiến. Hắn ghi sổ một cách gian lận để các con nợ được trả ít hơn cho chủ. Điều này có hai công hiệu. Thứ nhất, các con nợ phải mang ơn hắn. Thứ hai, còn có hiệu lực hơn, là hắn làm cho cùng liên lụy về hành động gian manh của hắn, và nếu lâm vào tình trạng bế tắc thì hắn ở vào một thế mạnh để thực hiện những vụ tống tiền : kiểu bút sa gà chết. Chính chủ hắn cũng là một thứ lưu manh nữa, bởi vì, thay vì khó chịu về hành động này, ông ta lại khen nó thông minh.
Điều khó giải thích trong dụ ngôn này là Lu-ca đã gồm vào đó bốn bài học khác nhau :
Con cái đời này tỏ ra khôn khéo với đời hơn con cái sự sáng.
Điều đó có nghĩa là nếu các ki-tô hữu chúng ta cũng hăng hái khôn khéo trên đường hành đạo như người đời khéo tìm của cải tiền bạc thì tốt biết bao. Nếu người ta chú tâm đến linh hồn cũng như việc buôn bán làm ăn thì họ đã tốt hơn nhiều. Nhưng thật ra người ta luôn luôn để nhiều thời giờ, tiến bạc, công sức vào những lạc thú, vui chơi đời này gắp hai mươi lần hơn vào các công việc Hội Thánh của mình.
Một vị linh mục được mời giảng cho một nhà tù, ngài đề cập đến giáo huấn của Chúa Giê-su liên quan đến việc báo thù : "Khi có ai vả má bên phải ngươi, hãy chìa luôn má bên kia cho hắn." Để minh họa bài học ngài kể câu chuyện về Jackie Robinson, lực sĩ da đen đầu tiên thi đấu trong đội tuyển chính. Khi ông bầu Branch Rickey ký hợp đồng với Jackie , ông bảo : "Anh phải xơi mọi thứ họ dọn cho anh và đừng bao giờ phản kháng lại nhé !" Ông bầu thật có lý. Trong sân các cầu thủ giao banh cho anh cách thô lỗ, còn đám cổ động viên và đội bóng đối nghịch thì chế nhạo anh. Ra khỏi sân banh, anh bị khai trừ khỏi các khách sạn và nhà hàng, đang khi các cầu thủ khác được ở lại và ăn uống tại đó. dầu vậy, Jackie vẫn luôn giữ được bình tĩnh. anh vẫn "chìa cả má kia ra", và cả ông bầu Branch cũng làm như thế khi bị công chúng chỉ trích, vì cho một tên da đen gia nhập đội bóng. Kể xong câu chuyện, vị linh mục đặt câu hỏi : "Các bạn thử nghĩ coi, các lực sĩ da đen ngày nay sẽ ra thế nào nếu Jackie và Branch không chìa má kia cho người ta tát ?" Ngay sau cuộc nói chuyện, một tù nhân tiến lại nói : "Câu chuyện cha kể khá thú vị, nhưng sao cha không đề cập đến toàn thể câu chuyện, không nêu ra lý do tại sao ông bầu và gã cầu thủ da đen lại chấp nhận chìa má bên kia ra ? Đâu có phải họ yêu mến Chúa mà vì ham tiền mà thôi. Barnch chìa luôn má kia vì ông ta sẽ ký hợp đồng được với tất cả các lực sĩ da đen giỏi nhất trong nước và ông sẽ giàu to ; Còn Jackie thì chịu chìa má kia vì chẳng qua anh ta cũng kiếm được khối bạc nếu anh thành công !" Vị linh mục ngẫm nghĩ : "Nếu gã tù nhân này có lý thì câu chuyện của mình hỏng mất." Nhưng tức khắc ngài nghĩ lại, câu chuyện vừa nói lên hai điều quan trọng hơn nữa : "Con cái thế gian khôn ngoan hơn con cái sự sáng trong việc làm ăn của chúng." Thì ra, người thế gian biết chịu khổ chịu cực để đạt được những phần thưởng trần thế, là những thứ chỉ tồn tại trong ít năm, trong khi các ki-tô hữu chúng ta không dám gian khổ để đạt được phần thưởng vĩnh viễn trên trời. Đạo của chúng ta chỉ trở thành thực tại và hữu hiệu khi nào chúng ta đầu tư vào đó nhiều thì giờ, sức lực như vào các việc thế tục.
Của cải vật chất nên dùng để giữ gìn tình bạn. Điều này có thể làm trong hai cách.
Làm việc đó cho đời sau, các ra-bi Do-thái có câu : "Kẻ giàu giúp kẻ nghèo ở đời này, nhưng kẻ nghèo giúp kẻ giàu trong đời sau." Khi chú giải truyện người giàu ngu dại xây kho vựa lớn hơn để tích trữ của cải, thánh Ambrosiô có nói : "Bụng của người nghèo, nhà của bà góa, miệng của trẻ nhỏ là những kho vựa còn mãi đời đời." Người Do-thái tin rằng của bố thí cho kẻ nghèo được ghi vào trương mục đời sau của kẻ cho. Sự giàu có thật của con người không tùy những gì mình nắm giữ, nhưng ở những gì mình cho đi. "Thương xót kẻ khó nghèo là cho Đức Chúa vay mượn, Người sẽ đáp trả xứng đáng việc đã làm." (Cn 19,17)
Làm việc đó cho đời này. Người ta có thể dùng của cải một cách ích kỷ, hoặc có thể dùng để giúp cho đời sống dễ chịu hơn, không những cho mình, mà còn cho bạn bè và những người chung quanh mình nữa. Biết bao nhà học giả đời đời mang ơn một người bằng tâm bằng sản đã dùng tiền bạc mình để giúp học bổng cho kẻ khác có điều kiện theo đuổi việc học. Biết bao người đã mang ơn một người bạn giàu có đã tài trợ họ trong cơn túng cực một cách thực tế. Tự bản chất, của cải không phải là tội lỗi, nhưng là một trách nhiệm lớn, và người nào dùng của cải để giúp đỡ bạn bè, kẻ ấy đã làm trọn trách nhiệm của mình.
Trung thành trong việc nhỏ dẫn đến trung thành trong việc lớn.
Dựa vào cách thi hành việc nhỏ, qua đó, sẽ chứng tỏ người đó có xứng đáng hay không xứng đáng để được trao phó những việc lớn. Điều này đúng trong các việc đời này, không ai được cất nhắc lên địa vị cao hơn, nếu lúc ở địa vị thấp, người đó đã không chứng tỏ được khả năng và lòng ngay thẳng. Nhưng Chúa Giê-su đã áp dụng nguyên tắc đó vào đời sau. Ý Ngài dạy : "Ở thế gian các ngươi chịu  trách nhiệm về những của cải không thực sự thuộc về mình. các ngươi không thể mang theo mình những của cải đó khi chết. những của cải đó chỉ cho các ngươi vay mượn. Các ngươi là người quản lý các của đó, vì theo bản chất, những của cải đó không phải là của các ngươi vĩnh viễn. Nhưng trái lại ở trên trời các ngươi sẽ được những của cải thuộc về các ngươi một cách thiết thực, có tính vĩnh viễn và bất di dịch. Nhưng của cải mà các ngươi sẽ được ở trên trời lại tùy theo cách các ngươi dùng của cải dưới đất. Của cải mà các ngươi sẽ được làm tài sản riêng trên trời tùy theo cách mà các ngươi sử dụng những của cải mà các ngươi chỉ làm quản lý."
Không đầy tớ nào có thể làm tôi hai chủ.
Chủ chiếm hữu nô lệ cách tuyệt đối. Ngày nay thì đầy tớ hay lao công có thể làm công việc cách dễ dàng và có thể làm việc cho hai chủ. Anh ta có thể đảm nhận một công tác trong giờ bình thường và một công tác khác trong giờ rảnh rỗi. Tỷ dụ có người làm thư ký ban ngày và làm nhạc sĩ vào ban đêm. Nhiều người làm thêm để kiếm tiền hay làm theo sở thích trong những giờ tự do. Thế nhưng một nô lệ không có giờ tự do, mọi giây phút trong ngày, tất cả sức lực của anh ta thuộc về chủ. Anh ta không có thời giờ riêng nào. Cũng vậy, phục vụ Thiên Chúa không thể nào là một công việc làm bán thời gian hay công việc của giờ rảnh rỗi. Ai đã chọn sự phục vụ Chúa thì tất cả thời giờ, sức lực của người ấy đều thuộc về Chúa trọn vẹn. Thiên Chúa là chủ tuyệt đối trên mọi người chủ, chúng ta hoặc thuộc trọn về Chúa hay không thuộc về Ngài chút nào.

 

TN25-C39: NGƯỜI QUẢN LÝ BẤT LƯƠNG

Lc 16,1-13
 

Dụ ngôn này trong quá khứ đã gây nhiều phiền toái lớn cho các nhà chú giải (crux interpretum): TN25-C39

1. Dụ ngôn này trong quá khứ đã gây nhiều phiền toái lớn cho các nhà chú giải (crux interpretum). Ngày nay cũng vậy, người ta không đồng ý với nhau cách chú giải này. Vì thế các dòng sau đây không có cao vọng giải đáp tất cả các vấn đề có liên quan đến đoạn phúc âm này nhưng chỉ muốn nêu lên những điểm chính yếu của cách chú giải được người ta chấp thuận nhiều nhất (đó là cách chú giải của BJ) và trình bày vắn gọn một lối chú giải mới mà tôi cảm thấy thỏa mãn hơn.
2. Để hiểu rõ dụ ngôn và những áp dụng của nó, điều cốt yếu phải làm sáng tỏ là tính chất luân lý trong cách hành động của viên quản lý liên quan đến các giấy nợ; những điều khác chỉ là phụ thuộc. Ý tưởng chủ yếu là viên quản lý, trong quá khứ đã hành động cách gian xảo đối với chủ mình bằng cách ăn bớt một phần hoa lợi của ông chủ. Bây giờ lại tỏ ra bất lương nữa khi ký những văn tự nợ giả tạo gây thiệt hại thêm cho tài sản của chủ (đó là cách chú giải của A.Julicher, A.Bruce, F.Tillman, L.Marchal,...)
Nếu đó là ý nghĩa của dụ ngôn, thì làm sao ông chủ lại có thể tán dương viên quản lý, và CGS có thể rút ra từ hành động này một kết luận chấp nhận được, nếu không phải là một kết luận đối nghịch lại với hành động này, chẳng hạn như ở Lc 22,25-26 CGS nói: “Vua Chúa các dân thì cai trị họ... Phần các ngươi thì không thể...”. Nhưng thay vì đó, viên quản lý lại được khen ngợi về sự khôn khéo của ông. Dĩ nhiên bằng cách phân tích luận lý, ta có thể tách rời sự lo xa và khôn khéo khỏi các khía cạnh khác nơi hành vi của tên quản lý. Nhưng những lối phân tích tế nhị như thế có nguy cơ vượt ra ngoài tầm mức hiểu biết của những người ít được huấn luyện theo kiểu phân tích đó, và đám đông quần chúng Kitô hữu dù sao vẫn cảm thấy khó chịu khi CGS thiết lập một sự song đối giữa viên quản lý và các môn đệ. Lẽ nào CGS là Đấng rất thành thạo trong việc dạy dỗ con người, lại có thể đề xướng một dụ ngôn mơ hồ, đụng đến một vấn đề mà tất cả mọi người đều chê là phản luân lý như vậy ?
Ngoài khó khăn này ra, hành động gán cho viên quản lý tự nó cũng có thể chấp nhận. Giả thiết là ông ta đã bỏ túi một phần hoa lợi thuộc quyền sở hữu của chủ hoặc đã lừa gạt chủ cách này hay cách khác, thì việc ông giảm bớt nợ nần cho các con nợ, nếu thật sự là của chủ mình, thì chỉ làm cho địa vị của ông đã bấp bênh, bây giờ lại thêm trầm trọng hơn. Thật vậy, ông không thể nào giữ kín hành vi này, vì phải tính sổ với chủ, mà theo dụ ngôn thì ông chủ biết ngay sự việc liền. Khó mà hiểu ngay được hành động của tên quản lý đáng khen là khôn khéo ở chỗ nào; không thực tế chút nào và cũng không mấy hợp lý khi nghĩ rằng CGS là tác giả của dụ ngôn này có thể tưởng tượng ra một hành động ít thực tế như thế.
Nhưng đừng quên chính CGS không đưa ra một lời phê phán luân lý về cách hành động của người quản lý. Ngài chỉ nghĩ là khôn khéo thôi. Ngay câu 8 ("và chủ khen người quản lý bất lương") cũng không nhất thiết ngụ ý người quản lý đã thiếu thành thực trong hành động vừa nói; tĩnh từ “bất lương” đúng ra chỉ đánh giá quá khứ của viên quản lý thôi; ông đã bất lương trước khi làm hành vi mà ông mô tả, hành vi sau không nhất thiết là bất lương như trước. Chúng ta thấy một trường tương tự trong dụ ngôn vị thẩm phán bạo ngược bị bà góa quấy rầy (Lc 18,2-8): CGS cũng vẫn gọi ông này là “bạo ngược” (vì quá khứ của ông) ngay trong lúc ông xử đúng cho bà góa.
3. Từ đầu thế kỷ này, một vài tác giả (M. Evers, bà M.Gibson, W, D. Miller, E.Campden-Cook, W.F.Howard, P.Gaachter) đã cố minh chứng dụ ngôn này phản ảnh một phương cách chiếm đoạt rất quen thuộc với người đông phương với thính giả của CGS cũng như các Kitô hữu đầu tiên. Lý luận theo tư kiến hơn là theo dữ kiện lịch sử, họ nghĩ rằng phải giải thích việc giảm nợ như là một sự từ khước của viên quản lý không nhận lợi suất mà đáng lý ra ông có quyền được hưởng. Đây là một hình thức “hối lộ” bán công khai vẫn còn thịnh hành ở Á châu (và chắc chắn khắp nơi): người trung gian có quyền giữ lại cho mình một phần hoa lợi thu được trong một dịch vụ buôn bán với tư cách là người được ăn huê hồng. Trong trường hợp viên quản lý đây, ông chỉ từ khước không hưởng quyền ăn huê hồng, làm như thế để lấy lòng cho con nợ của chủ mà không gây thiệt hại gì cho chủ.
Cách giải thích dụ ngôn tài tình như thế vừa được sửa chữa lại và khai triển thêm, nhưng lần này dựa trên nền tảng khoa học, do giáo sư J.D.M. Derrett, giáo sư luật Đông phương ở đại học Luân Đôn (Law in the New Testament, Londre, 1970, tr.48-77). Từ đó, cha Fitzmyer và các nhà chú giải khác đã dựa vào lối chú giải mới này. Tôi xin trình bày tóm tắt sau đây.
4. Trong xứ Palestine của dụ ngôn, theo luật Do thái liên quan đến vai trò người quản lý, thì địa vị này phải được kính trọng. Người quản lý không phải là một nhân viên được trả công, hay là người dẫn mối, nhưng toàn quyền thay mặt cho chủ và chủ phải tôn trọng những dịch vụ buôn bán của người quản lý. Trong trường hợp người quản lý lừa bịp chủ, luật pháp cũng không có một biện pháp nào bắt ông phải hoàn lại của mất; hình phạt có chăng cũng chỉ vài lời trách mắng mất uy tín và bị sa thải. Sau khi nhân được giấy sa thải, viên quản lý phải tính sổ liệt kê tài sản; việc này cần một thời gian chuẩn bị. Trong thời gian này ông vẫn là người đại diện cho chủ, được luật pháp cho phép hành động nhân danh chủ.
Cũng cần phải ghi nhận tính cách tối quan trọng của người Do thái về việc cho vay lấy lời. Luật cho vay lấy lời cấm thu lời trên những đồ cho người Do thái vay bất cứ thuộc loại nào (Xac 22,25; Lv 25,36; Đnl 23,20-21); nhưng người ta đã tìm mưu kế để qua mặt mặt lề luật. họ cho rằng lề luật có mục đích bảo vệ những kẻ túng quẫn khỏi bóc lột, vì thế nếu có thể minh chứng rằng người vay đã chiếm hữu một ít sản phẩm mà họ muốn vay thêm, và sự vay mượn đó không phải là tối cần thiết, thì việc cho vay ăn lời có thể chấp nhận được. Và nhờ cách giải thích lề luât như thế, người ta tổ chức khéo léo các dịch vụ thương mãi rộng lớn mà không lỗi phạm lề luật. Hình như người Do thái đạo đức (muốn ký giao kèo không mang tiếng cho vay ăn lời theo nghĩa thánh kinh) có thể an tâm cho vay dầu và lúa mì, vì con nợ chắc chắn “có đủ dầu để thắp đèn” và “đủ lúa mì để nướng bánh” (những kiểu nói trích trong Mischna) nên không xem như là người túng quẫn. Đó là lý do tại sao dầu và lúa mì được dùng trong dụ ngôn. Tuy nhiên hoa lợi được đánh trên các sản phẩm đó thay đổi rất nhiều: trên lúa mì thì hoa lợi là 25 phần trăm, trên dầu oliva (có rất nhiều loại và có thể pha chế với các thứ dầu xấu) huê lợi có thể lên tới 100 phần trăm. Vì tính chất của giao kèo (hợp pháp theo mặt chữ của lề luật, nhưng thường ngược lại với tinh thần, vì con nợ thường là người túng quẫn) nên giao kèo thường được ký mà không cần nhân chứng. Viên quản lý trong dụ ngôn trả lại cho các con nợ những giấy nợ (có ghi cả vốn lẫn lời, số tiền lời hợp pháp theo mặt chữ lề luật, nhưng trái với tinh thần lề luật) và bảo họ viết lại giấy nợ mới chỉ ghi phần vốn phải trả mà thôi (vốn này sẽ hoàn lại cho chủ, còn viên quản lý từ chối không nhận tiền lời, mà ông có thể đòi hỏi cách hợp pháp theo mặt chữ lề luật).
Để hiểu nghĩa dụ ngôn, hãy lưu ý việc viên quản lý muốn được quần chúng (c.4) tán dương. Để được vậy, ông thi hành điều mà lề luật TC đòi hỏi: là không lấy lời (điều mà từ trước đến giờ ông thường làm, bằng cách tráo trở luật TC). Làm như thế ông không đợi chủ oán, vì khi cho vay, tiền lời là để cho cá nhân ông, và sự “hoán cải” của ông cũng không làm chủ thiệt hại gì. Thật ra ông linh cảm chủ sẽ tán thành hành động ông làm, và ông cũng sẽ được người ta kính trọng hơn nhờ thái độ đạo đức đó. Sự thực thi thẩm định tình hình (c.8), chủ đã khen người quản lý bất lương vì đã biết xử trí khéo léo.
Bây giờ dụ ngôn sẽ có nghĩa thế này: kể biết rõ bổn phận luân lý phải giữ mà không giữ, vì ham lợi lộc trần thế, phải buộc xét lại địa vị của mình và nại đến thiện ý của những kẻ trước đây y chả thèm quan tâm đến. Câu 8b là bài học luân lý của dụ ngôn: con cái đời này biết khi nào phải làm điều nên làm, tại sao phải làm và làm cách nào; khi sự việc có lợi cho chúng, con cái sự sáng, tuy được sống theo một nền luân lý cao hơn, vẫn không biết chứng tỏ có sáng kiến và óc quyết định khi làm việc của TC.
Câu 9 là phần áp dụng dụ ngôn: chúng ta được trực tiếp mời gọi dùng “tiền bạc bất lương” mà phục vụ TC (tiền kiếm được cách hợp pháp - theo luật loài người - nhưng thối nát trước mặt TC, như tiền thu được bằng lối xảo quyệt trình bày trên đây) số tiền đó cũng có thể mở đường vào nơi cư ngụ vĩnh cửu.
5. Điểm khó khăn chính yếu mà ta có thể đưa ra để chống lại cách giải thích mới này là nó dựa vào lề luật Do thái về việc cho vay ăn lời, trong khi Lc viết cho người Hy lạp. Vấn nạn khá quan trọng. Nhưng ta có thể giữ lại điểm cốt yếu trong cách giải thích này mà bỏ qua một bên việc nại đến các tập tục hầu như phổ quát của việc buôn bán có huê hồng mà người trung gian có quyền giữ lấy trong một dịch vụ thương mãi. Về điểm này, vì không biết đến luật lệ Do thái về việc cho vay ăn lời, các độc giả của Lc cũng có thể hiểu được đầy đủ ý nghĩa của dụ ngôn. Vì thế ta có thể xem cách giải thích này ít ra là có giá trị như các cách giải thích khác và có lẽ còn hơn nữa, vì hình như giúp ta hiểu rõ ý nghĩa dụ ngôn hơn.
KẾT LUẬN
Viên quản lý xảo quyệt là “con cái đời này” đã biết dùng tiền bạc để bảo đảm tương lai cho mình: bằng cách phân phát. Khi không còn tính đến mối lợi trần gian nữa, mà nghĩ đến những mối lợi đời đời thì “con cái sự sáng”, những kẻ đã đón nhận và trong hướng dẫn do ánh sáng của TC cũng phải tỏ ra khéo léo và hăng hái nắm lấy cơ hội để chuẩn bị tương lai như “con cái đời này” trong các mối tương quan với người đương thời để thăng tiến các việc trần thế.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Chính Đức Kitô cho chúng ta chìa khóa dụ ngôn này. Ngài rút ra một bài học về cách xử dụng các của cải vật chất: dùng của cải để kết bạn hữu trên trời.
Nếu Ngài có thể rút ra kết luận này, chính vì Ngài cho chúng ta thấy có sự tương đồng (analogie) giữa hoàn cảnh của chúng ta và hoàn cảnh của viên quản lý. Đức Kitô muốn nói: các ngươi giống như những người đang xử dụng của cải mà sớm muộn cũng bị lấy đi. Những của đó không thuộc về các ngươi nhưng các ngươi có quyền quản lý. Trong hoàn cảnh đó, con cái đời này phải làm gì ? Họ vội vã tìm kiếm bạn hữu với những của cải họ đang xử dụng đó. Người đời tinh khôn hơn các ngươi. Họ thấy được hoàn cảnh bấp bênh của mình. Và họ vội vã kết nghĩa với bạn hữu phòng khi túng quẫn. Cho nên, chúng ta cũng phải làm như vậy. Bằng cách nào ?
a/ Chúng ta giống như những người quản lý tài sản không thuộc về chúng ta. Những của cải vật chất mà chúng ta đang có đều thuộc về TC. Chính TC là chủ các vật đó, là người sở hữu đích thật. Chúng ta chỉ là người quản lý.
b/ Điều quan trọng hơn là những của cải ấy sẽ được cất khỏi chúng ta cách gấp rút. Chúng ta biết mình chỉ được xử dụng trong một thời gian rất vắn. Một ngày kia, Chúa là người chủ đích thật sẽ cất khỏi chúng ta quyền quản lý và lấy lại tài sản của Ngài. Thật chúng ta ở trong hoàn cảnh giống như người quản lý trong dụ ngôn.
c/ Bấy giờ phải làm gì, nếu chúng ta là người tinh khôn: kết nghĩa với bạn hữu bằng những của cải đó.
Ba đặc điểm này chỉ dạy thái độ chúng ta phải có đối với của cải vật chất:
a- Chúng không thuộc về chúng ta.
b- Chúng sẽ bị lấy đi khỏi chúng ta.
c- Chúng chỉ nên được dùng để kết bạn.
Vì thế chúng ta phải:
a* Tránh bo bo giữ lấy các của cải mà phải sống như những người quản lý.
b* Thấy trước ngày bị hoàn toàn trắng tay.
c* Chỉ dùng của cải ấy để kết nạp bạn hữu.
Hậu quả thứ ba quan trọng nhất. Sự từ bỏ của cải sẽ không đi đến đâu, nếu không biết dùng để yêu thương và phục vụ anh em. Làm như vậy là chúng ta kết nạp bạn hữu. Nhưng còn quan trọng hơn nữa là những việc phúc đức để trở nên những người bạn hữu bàu chữa cho chúng ta trước mặt Chúa, theo như các người đương thời của CGS đã thấy được. Và nhờ các bạn hữu là các việc phúc đức đó, chúng ta có thể an tâm một ngày kia sẽ được đón rước vào trong nhà Chúa.
2. Các của cải trần thế là phương tiện để chúng ta yêu thương nhau. Khi nào được dùng để làm vui lòng kẻ khác, những của cải ấy được biến đổi trở nên những giá trị vĩnh cửu.
Chỉ có một giá trị vĩnh cửu là: tình yêu. Chỉ có đức ái là sẽ không qua đi. Biến của cải đời này trở thành tình yêu, tình bạn, niềm vui là nhiệm vụ của chúng ta. Của cải được tạo ra để ban phát chứ không phải để chiếm hữu.

 

TN25-C40: KHÔNG LÀM TÔI HAI CHỦ THIÊN CHÚA VÀ TIỀN CỦA.

TÌM HIỂU:
TẠI SAO TÊN QUẢN LÝ HÀNH ĐỘNG BẤT LƯƠNG MÀ LẠI ĐƯỢC CHÚA KHEN ?
 

Để trả lời câu hỏi trên, ta hãy tìm hiểu luật cho vay mượn của xã hội Do Thái thời bấy giờ: TN25-C40

Để trả lời câu hỏi trên, ta hãy tìm hiểu luật cho vay mượn của xã hội Do Thái thời bấy giờ:
1/ Người Do Thái chỉ cho người Do Thái vay, và không lấy lời đối với người nghèo (Xh. 22,24; Lv. 25,36; Dnl. 23,20t).
Các luật sĩ  lại cắt nghĩa người nghèo là người không đủ dầu để thắp một ngọn đèn, và không đủ bột để làm một chiếc bánh ! Giải thích như vậy thì trong thực tế sẽ không có người cùng khốn đi vay !
2/ Cách tổ chức giao dịch thương mại :
Theo Giáo sư J.Derrett viết trong tập “Law in the New Testtament” trang 48 -77 xuất bản tại Lonđon năm 1970, cho biết: người đi vay không trực tiếp với chủ của, mà qua trung gian người quản lý, nhưng người quản lý được ăn huê hồng trong các dịch vụ về cả hai phía: chủ của và con nợ. Số huê hồng được tính luôn trên văn tự của con nợ. Cho vay dầu được lấy lời 100%, cho vay lúa lời 25%.
Người quản lý nói kẻ vay dầu viết 50 thùng thay vì 100; và kẻ nợ lúa viết 80 thùng, bớt đi 20 thùng.
Khi người quản lý cầm giấy nợ về trình chủ, chủ hiểu đó là cả vốn lẫn lời, nhưng thực tế, quản lý chỉ viết số vốn và giấu đi số lời.
Anh này làm thế đã được Chúa khen vì anh rất khéo: ông chủ không có cớ tố anh trước pháp luật được, vì anh không phá tài sản của chủ như có kẻ xấu miệng báo cáo, cùng lắm là chủ không tính huê hồng cho anh thôi, và nếu chủ truất chức quản lý thì anh đã có con nợ được anh bớt dầu và lúa sẽ chia sẻ đón tiếp anh.
TẠI SAO CHÚA LẠI DẠY: “HÃY DÙNG TIỀN CỦA BẤT LƯƠNG MÀ GÂY THÂN NGHĨA”?
Chắc chắn Chúa không bảo ta ma giáo như anh quản lý này, cũng Chẳng bảo ta sống bất lương để có tiền của mà làm việc bác ái. Theo ngòi bút của Luca cho tiền của là “tên bất lương” vì hai lý do : Luân lý và Đức tin :
1/ Luân lý: Quá khứ sống bất công, nay không biết ai để trả, thì dùng tiền làm việc thiện hay đóng góp vào việc phát triển Tin Mừng, xây dựng Hội Thánh.
2/ Đức tin:
Tiền của là mồi ngon, nhạy bén, quỷ dùng để nhử câu mọi người (Lc 4.5-6).
Tiền của ru giấc người giàu hưởng thụ, tôn nó làm lẽ sống con người (Lc 12,13-21).
Tiền của làm cho người Cha điên đầu với hai đứa con ngoan : vì tiền mà không muốn ở với Cha (Lc 15,11-31).
Tiền của dìm sâu tên phú hộ chỉ biết hưởng thụ xuống đáy hoả ngục ! (Lc 16,19-31).
Vì tiền của mà hai vợ chồng Ananya và Saphira đã nói dối để giấu của nên bị phạt gục chết dưới chân Phêrô !(Cv 5)
Các chứng từ trên đây minh chứng tiền của mang "chất bất lương". Dầu thế người theo Chúa lại cần “chất bất lương” ấy để làm vinh danh Chúa :
Bà Maria Madala giúp Chúa và các môn đệ đi truyền Giáo (Lc 8,1-3).
Ông Giakêu dùng tiền chia sẻ : cả nhà ông được cứu độ !(19,9).
Ông ngoại Giáo xây hội đường cho người Do Thái, Chúa cho đầy tớ ông thoát chết !(Lc7.3)
Bà Linh dương may y phục tặng người nghèo, dù đã chết Phêrô cầu cho bà sống lại ! (Cv 9, 36t)
Ông Lêvi tổ chức tiệc quy tụ kẻ tội lỗi đến với Chúa (Lc 5,27-32).
B. GIÁO HUẤN
“KHÔNG THỂ LÀM TÔI THIÊN CHÚA VÀ TIỀN CỦA MỘT TRẬT”
Ý dụ ngôn của Tin Mừng như đang xô ta đến trước mặt Chúa phán xét, để ta trả lời với Chúa về cách ta xử dụng tiền của mà Chúa đã ban cho ta để gây thân nghĩa với đồng loại trong 4 mục đích này :
-Để vừa nuôi sống bản thân, bảo đảm sức khoẻ đi phục vụ.
-Để làm phương tiện phục vụ tốt.
-Để chia sẻ biểu lộ Đức ái.
-Để góp với Hội Thánh phát triển Tin Mừng.
Lời Chúa khen anh quản lý bất lương cũng là cách Chúa thách thức ta : ta đang làm quản lý của Chúa, ta có nghĩ đến lúc không làm quản lý nữa (giờ chết), để ta không bóc lột kẻ vay nợ ta, hoặc tha bổng nợ cho kẻ nghèo, sẽ không bị là kết án là quản lý bất luơng, trái lại là quản lý trung trực. Cụ thể như bà Linh dương, có bao nhiêu bạn hữu đón tiếp vào Nước Trời (Cv 9,36t).
TIỀN LÀ  “CHÚA” SAO ?
Trong thực tế, ta rất khôn khéo theo cách của thế gian. Ví dụ cách đây 30 năm, có người vay ta 300.000 đồng, nay ta đòi họ phải trả 10 lạng vàng cho ta ! (vì lúc ấy chỉ có 3.000 đồng một lạng vàng ), nếu bớt 5 lạng là nhân nghĩa rồi, với lý do là cần tiền để xây kim tĩnh dành sẵn trước khi chết !?
Như thế ta mới hiểu được câu Chúa than phiền : “Con cái đời này (như quản lý bất lương xử với con nợ) khôn hơn con cái sự sáng (như kẻ có đạo cho vay tiền sau đòi vàng !)
Tại sao “con cái sự sáng” lại ra ngu đần hơn “con cái đời này” ? “con cái sự sáng” đã được Giáo lý Chúa soi sáng nhận ra mặt “bất lương” làm Chúa của mình ! Như người ta đã tặng cho thần tài bài ca tán dương :
Tiền là tiên là thần
Nó cần cho người
Nụ cười tuổi trẻ
Sức khoẻ tuổi già
Cái đà danh vọng
Cái lọng che thân,
Cái cạn công lý,
Cái lý khoẻ mạnh
Sức mạnh vô quan,…
Ôi tiền hết ý !!!
Vì “con cái sự sáng” đã tôn thờ tiền của như Chúa của mình nên Amos đã trách cách sống đạo của dân Israel trong bài đọc I:
- “Bao giờ ngày hưu lễ qua đi, để ta mở cửa bán hàng” (Am. 8,5a).
Đáng lẽ ngày lễ của Chúa phải là ngày vui mừng (xem HCPV.số 106) để đến tôn thờ Chúa, thì lắm kẻ có đạo lại cho đó là ngày ngăn trở công việc làm ăn !?
- “Ta bóp méo đấu đong, làm cân giả mạo” (Am.8,5b).
Tức là ma Giáo trong cách sống đạo, bất cứ cách nào, miễn là chiếm được nhiều tiền là có nhiều thần, nhiều Chúa phù hộ kiếp sống !
- “Ta tậu người nghèo bằng đôi dép” (Am.8,6a)
Đánh giá mạng người là hình ảnh của Thiên Chúa chỉ bằng đôi dép !? Ngày nay một số người buôn bán lậu thuốc tây đã đổi mạng người bằng 1 lít nước lã : nước lã bảo là nước biển truyền cho bệnh nhân ! Thế mà vẫn không cắn rứt lương tâm, vì thần tiền bênh đỡ lương tâm của họ !
- “Lúa quét bỏ ta cũng bán đi”(Am.8,6b)
Kẻ tôn thờ tiền của, không có gì dư thừa để chia sẻ !
Vậy ĐỨC KITÔ MỚI LÀ CHÚA TA THỜ
Vì lối sống đạo gian ác như trên, nên Thánh Phaolô đã nhắc trong bài đọc II : “Hãy cầu nguyện cho hết mọi người, nhất là cho người quyền cao chức trọng” (I Tm.2,1-2).
Bởi vì người có quyền thường lạm dụng thế lực để chiếm hữu tiền của, chứ ít ai dùng quyền để làm gương dẫn dắt người khác biết cách dùng tiền của vào 4 mục đích theo ý Chúa ! Chính ông thủ tướng Trần Văn Hương xác nhận : “Nếu diệt hết tham nhũng, lấy ai làm việc ?”
Vì thế chỉ nhờ lời cầu nguyện mà mọi người, mọi giới biết làm quản lý trung trực cho Chúa, họ biết tôn thờ Chúa Kitô là Chúa và cũng là Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và nhân loại (đầy tớ trung tín của Chúa Cha đã trao của cải cho loài người).
Bởi vì chỉ có Chúa là Đấng siêu việt trên hết mọi dân, vinh quang người vượt xa trời cao thẳm (Đáp ca)
Truyện kể: Ong John Rochfeller 33 tuổi có 1.000 USA. Năm 43 tuổi là chủ cơ sở lớn nhất nước Mỹ. Đến 53 tuổi là người giàu nhất thế giới. Nhưng Chẳng may ông lại bị bịnh rụng tóc, bác sĩ bảo chỉ sống được đến năm 54 tuổi. Báo chí chế diễu ông, ông cười không nói chi cả. Tỉnh ngộ ông đưa của cải xây nhà thờ giúp người nghèo, đỡ đầu cho các công trình nghiên cứu thuộc lãnh vực khoa học, y khoa phục vụ con người. Kết quả, đới sống ông cảm thấy bình an và ông thọ được 98 tuổi.
Vậy khi người ta không tôn thờ Thiên Chúa mà lấy tiền của làm Chúa của mình, thì con người đó trở nên gian ác hơn ma quỷ, và như thế cuộc sống của họ mất bình an!

 

TN25-C41: PHUNG PHÍ LÀ TỘI ÁC

Một giáo sư đại học Âu châu sang du lịch bên Hoa Kỳ. Ông tham quan nhiều dinh thự, những cao: TN25-C41

Một giáo sư đại học Âu châu sang du lịch bên Hoa Kỳ. Ông tham quan nhiều dinh thự, những cao ốc chọc trời, những nhà máy rộng lớn. Đại học và bệnh viện. Khi ông chuẩn bị trở về Au Châu có người hỏi: “Cái gì gây ấn tượng hhiều nhất cho ông về nước Mỹ ?” Không một chút do dự ông trả lời: “Các thùng rác” Người phỏng vấn lại hỏi: “Các thùng rác ? Các ttùng rác gây ấn tượng gì ?”
Vị giáo sư giải thích: “Các thùng rác của các ông thức đầy thức ăn phế bỏ. Người Mỹ các ông phung phí thức ăn trong một tuần lễ nhiều hơn thức ăn nuôi một trẻ em của một nước Au Châu trong cả tháng trời”.
Tại sao người quản lý trong bài Tin Mừng hôm nay mất việc ? Vì anh đã hoang phí tài sản của chủ ?”. Mỗi người chúng ta là người quản lý, mỗi người chúng ta chịu trách nhiệm về tài sản, tài năng và cả con người nữa. Mọi sự vật và con người là của Chúa. Hoang phí chúng là phạm tội bất công, bất lương.
Hầu như Thiên Chúa thức tỉnh chúng ta về tội hoang phí đó khi người để cho khan hiếm lương thực, dầu khí và năng lượng như chúng ta thấy ngày nay. Luôn có một hình phạt nào đó khi chúng ta lỗi cả lề luật của Thiên Chúa và lề luật của thiên nhiên.
Đừng nghĩ rằng: của ăn là của chúng ta, chúng ta có thể liệng bỏ nếu chúng ta muốn thế. Không, nó không phải là chúng ta, nó là của Thiên Chúa, và Thiên Chúa muốn chia sẻ cho những người đói khát. Cũng nói được như thế đối với dầu khí, điện năng và giấy mực.
Như các thùng rác ở mé đường, trên gác xép, trong nhà kho chúng ta chất đống những quần áo không bao giờ mặc, những quần áo đó đủ để phân phát cho những người trần truồng trên thế giới. Có bao nhiêu đồ chơi liệng bỏ, những đồ chơi đó đủ để cho các em nhỏ trên thế giới vui chơi.
Bao hoang phí về tiền bạc dùng vào ma túy, rượu chè ? Bao  hoang phí về tài năng ? Con trai, con gái, đàn ông, đàn bà biếng nhác sử dụng trí não và tài năng Chúa ban. Đó là hoang phí tệ hại hơn nữa là những hoang phí thiêng liêng, không dùng những hồng ân thiêng liêng Chúa ban. Tuần sau chúng ta sẽ đề cập vấn đề này.
Ít phút nữa, chúng ta sẽ dâng lên Thiên Chúa bánh và rượu trong thánh lễ và khi đã biến đổi thành Mình Máu Chúa Kitô, chúng ta dâng Chúa chúng ta lên Cha trên trời mà chúng ta là những người quảnlý của Người. Đây là giờ phút hoàn hảo để dâng lên Thiên Chúa tài sản, của ăn, áo mặc và đồ dùng mà Chúa đã đặt chúng ta trông coi, chăm sóc.
Khi chúng ta dâng của lễ quí giá này, cùng với của lễ vô giá là chính đức Giêsu, con của Thiên Chúa, chúng ta xin Cha trên trời giúp chúng ta làm quản lý tốt lành, không bao giờ hoang  phí tài sản mà người trao phó cho chúng ta. Nhưng biết dùng để làm vinh danh Chúa và hữu ích cho mọi người con cái của Thiên Chúa.
Xin Chúa chúc lành  bạn. Amen.

 

TN25-C42: LỰA CHỌN GIỮA CHÚA VÀ TIỀN BẠC

Dẫn vào Thánh lễ và sám hối
 

Trong tất cả các thần tượng mà người ta tôn sùng, tiền bạc hầu như chắc chắn là phổ biến nhất.: TN25-C42

Trong tất cả các thần tượng mà người ta tôn sùng, tiền bạc hầu như chắc chắn là phổ biến nhất. Chúa Giêsu nói : “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền bạc được.” Chúng ta hiện diện nơi đây bởi vì chúng ta muốn tôn thờ Thiên Chúa, không chỉ tôn thờ trên môi miệng mà còn bằng chính tâm hồn của ta.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa giúp chúng con đặt giá trị Nước Chúa trên mọi giá trị khác.
Chúa giúp chúng con thi hành thánh ý Chúa trong tự do và niềm vui.
Chúa giúp chúng con sống như con cái của ánh sáng.
Dẫn vào các bài đọc
Bài đọc 1 : Am 8,4-7
Ngôn sứ Amốt lên án thái độ bóc lột người nghèo.
Bài đọc 2  : 1 Tm 2,1-8
Vì Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ, chúng ta phải cầu nguyện cho tất cả mọi người, nhưng đặc biệt là những người có trách nhiệm lãnh đạo trong cộng đoàn.
Tin Mừng : Lc 16,1-13
Chúa Giêsu cho thấy sự tham lam tiền bạc có thể huỷ hoại con người, và Người nhấn mạnh rằng chúng ta không thể vừa phục vụ Thiên Chúa lại vừa phục vụ tiền bạc được.
Bài giảng 1
HÌNH THÀNH CÁ TÍNH
Người quản lý trong câu chuyện Chúa Giêsu kể không đáng tin tưởng và không thật thà. Rõ ràng là ông ta đã sống như thế trong một thời gian khá lâu. Điều đó có thể lúc đầu nó không thể hiện rõ ràng, nhưng sau cùng lại trở thành cách sống của ông ta. Ông ta lẽ ra phải biết là mình đang sống trong tình trạng nguy hiểm. Nhưng ông đã mặc kệ nó suốt một thời gian dài, vì thế ông lẩn tránh những cuộc xét mình chung và ngay cả việc tự kiểm điểm bản thân mình. Tuy nhiên, dù có xảo quyệt đến đâu, cuối cùng ông cũng bị phát hiện, và ông chủ đã đối chất với ông về công việc quản lý tồi tệ của ông.
Điều đó hẳn làm ông đau lòng và nhục nhã. Không chỉ có nguy cơ bị mất việc, mà ông còn mất cả danh dự nữa. Ông đã làm cho chính bản thân ông và gia đình phải nhục nhã và xấu hổ, nếu ông ta có gia đình. Tuy nhiên, đó lại là khoảnh khắc của sự thật và đã vén lên bức màn bí mật, bởi vì nó cho ông thấy rõ ràng sự gian dối mà ông ta đang phạm phải trong cuộc sống. Nó cho ông cơ hội để lại sau lưng mọi ảo tưởng và dối trá. Từ đó, nó có thể là cột mốc thay đổi cuộc đời ông.
Nhưng rồi điều gì đã xảy ra ? Ông chẳng học được điều gì từ sự kiện đó. Ngay cả sau khi bị đuổi việc, ông ta vẫn tiếp tục duy trì sự gian dối của mình. Không có một chút thay đổi nào trong tính cách của ông ta. Ông đã từ chối lãnh trách nhiệm về quá trình hình thành bản tính nơi con người của ông.
Thật là khó khăn đ thay đổi những thói quen trong cuộc sống. Dostoyevsky nói : “Phân nửa đời sau của con người được hình thành từ những thói quen ta có từ phân nửa cuộc sống đầu đời của ta.” Đây là một tư tưởng đáng sợ hãi.
Những khoảnh khắc đến trong cuộc sống của chúng ta, ví như đất sét một khi đã nắn thành hình và được nung trong lò thì hình thể của nó không thể biến đổi. Người gian dối sẽ mãi là người gian dối. Người tham lam sẽ mãi là người tham lam.
Một câu chuyện minh hoạ. Lần kia, vị ẩn sĩ đã truyền dạy cho các môn đệ một bài học khi đi ngang qua một khu rừng. Ông chỉ một cây sồi non và bảo môn đệ nhổ nó lên. Người môn đệ đó đã nhổ cây non lên với một tay. Sau đó ông chỉ một cây khác, lớn hơn cây đầu tiên một chút và nói người môn đệ hãy nhổ nó lên. Anh ta nhổ nó nhưng phải dùng cả hai tay. Sau đó ông chỉ một cây thứ ba lớn hơn và nói người môn đệ nhổ lên. Anh ta chỉ làm được điều đó khi nhờ một môn đệ khác giúp sức. Cuối cùng ông chỉ một cây khác lớn hơn và sai người môn đệ nhổ lên. Cho dẫu có sự trợ giúp của tất cả các môn đệ, anh ta cũng không thể làm được điều đó.
Vị ẩn sĩ kết luận : “Thói quen và đam mê cũng thế. Thời gian đầu tiên, trước khi nó kịp bắt rễ, ta có thể nhổ nó lên dễ dàng. Nhưng nếu ta cho phép nó bám rễ sâu, nó nghiễm nhiên trở thành những điều mà ta không thể nào nhổ nó ra khỏi bản thân được.”
Điều đó có lẽ cũng đã xảy ra với người quản lý trong câu chuyện Chúa Giêsu kể. Ông đã trở nên quá quen với thói gian dối, vì thế ông không thay đổi được. Tuy nhiên, những gì không thể đối với chúng ta đều trở nên có thể với sự trợ giúp trong ân sủng của Thiên Chúa.
Câu chuyện cho thấy sự nguy hiểm của những thói quen xấu, đồng thời cũng cho thấy tầm quan trọng của việc hình thành nên những đức tính tốt. Nếu sự gian dối có thể trở thành thói quen trong cuộc sống, thì đức tính thành thật cũng vậy. Tính thành thật có thể trở thành thói quen tự phát, bản chất thứ hai của chúng ta. 
Làm sao một người có thể đạt tới được trạng thái hạnh phúc này ? Ta không thể qua một đêm mà có được nó, điều đó phải được học bằng luyện tập lâu dài. Ta không thể có được nó sau vài hành động tốt lớn lao, mà phải được hình thành từ những hành động nhỏ. Phần thưởng đích thật cho một việc làm tốt là ta có thể làm những việc tốt kế tiếp một cách dễ dàng hơn. Mỗi hành động nhỏ bé của đời thường có thể góp phần hình thành hoặc phá huỷ tính cách của một con người.
Bài giảng 2
BẢN NĂNG TRỞ VỀ NHÀ
Nhiều loại chim có bản năng mạnh trong việc xác định tổ của mình. Chim hải âu là một ví dụ điển hình. Một con hải âu được bắt và đánh dấu bằng cách đeo vòng tại Wales. Sau đó nó được đem tới Boston, cách đó ba ngàn dặm, và thả tại đó. Hai tuần sau, nó đã trở về Wales, chính xác nơi nó bị bắt.
Bản năng này cũng được thấy ở con người, không chỉ về mặt thể xác. Con người biết trở về sau những kinh nghiệm đau thương, không phải chỉ về quê nhà mà là trở về với chính con người của họ. Trở về để cải thiện con người trước đây của mình. Bản chất bên trong của họ hầu như khó mà đụng đến. Thế mà, một số lại được trở nên phong phú thêm.
Nhà văn Ý, Primo Levi, trải qua một năm ở Auschwitz. Ông là một trong ba người đã trở về trong số 123 người trên chuyến tàu đó. Sau đó ông nói : “Giá như tôi đã không ở một nơi như thế, có lẽ tôi đã hạnh phúc hơn và bình an hơn, nhưng tôi sẽ không giàu có”, dĩ nhiên là ông không nói đến sự giàu có về tiền bạc.
Nói chung, bản năng trở về là một nhân tố tích cực. Tuy nhiên, nó cũng có thể mang yếu tố tiêu cực. Sự thôi thúc trở về đã chặn đứng con người trước những cơ hội và khả năng mới, và đòi hỏi thực hiện cuộc hoán cải cuộc sống với những khó khăn và đau đớn. Con người phải biết trở về từ những cuộc chạm trán gần kề với cái chết nơi cuộc sống nông cạn, tầm thường, thậm chí cả ngay khi sống trong tội ác và lỗi lầm.
Chúng ta lấy ví dụ điển hình trong dụ ngôn Chúa Giêsu kể về người quản lý. Khi bị phát hiện, điều đó hẳn là điều đau lòng và nhục nhã đối với ông, nhưng đó cũng có thể là khoảnh khắc của sự cứu độ, bởi vì nó cho ông thấy thực tại đầy gian dối mà ông đang phạm phải trong cuộc sống, nó có thể là thời điểm để ông hoán cải. Nhưng điều gì đã xảy ra ? Ông vẫn tiếp tục lối sống gian dối trước đây của mình. Không một chút thay đổi trong tính cách của ông.
Bản năng quay trở về là lối thoát hoặc gây cản trở tuỳ thuộc vào ‘ngôi nhà’ thực sự của chúng ta đặt nơi đâu. Những người quen sống trong ánh sáng sẽ trở về với ánh sáng và những người sống trong bóng tối hầu như sẽ trở về với bóng tối.
Một cội rễ vững chắc, từ đó vươn lên một thân cây thẳng đứng thì vẫn đứng vững sau bão tố ; trong khi một cội rễ vững chắc, vươn lên một thân cây cong queo thì nó cũng sẽ bị cong xoắn như vậy. Khi chúng ta làm tổn thương tính chính trực, mặc dù chúng ta không mất đi nhân tính của mình, nhưng chúng ta mất đi cảm thức của chúng ta về sự toàn vẹn.
Chúa Giêsu không đề cao người quản lý đồi bại như một mẫu gương. Người nói rằng con cái thế gian khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại. Con cái thế gian thì siêng năng, chuyên tâm để đạt tới điều kết thúc xấu xa của chúng. Con cái ánh sáng, ngược lại, thường không làm gì cả. Và tất cả những gì mà con cái thế gian thực hiện để nhằm đạt được chiến thắng, lại là những điều con cái sự sáng sẽ không làm như thế.
Bài giảng 3
QUYẾN RŨ CỦA TIỀN BẠC
Lòng tham tiền đã đưa đến sự huỷ hoại biết bao nhiêu người. Hầu như mỗi ngày chúng ta đều đọc được trên báo chí về một số vị bộ trưởng cấp cao, hoặc một số vị trong những nhà lãnh đạo kinh doanh lại là những bị cáo trong những vụ án tham nhũng. Một trong những trường hợp khét tiếng nhất trong thời gian gần đây đó là Nicholas Leeson, kẻ đã lũng đoạn ngân hàng Barings tại Luân Đôn.
Là con trai của một thợ hồ ở vùng Watford, ngoại ô Luân Đôn, Leeson chưa từng được đến trường đại học. Anh ta làm việc tại ngân hàng Barings với chức danh thư ký quèn, nhưng đã phất lên nhanh khi được giao cho việc trông coi hoạt động kinh doanh tài chính của ngân hàng tại Signapore. Anh ta làm việc rất chăm chỉ với nhiều tham vọng. Mức lương hằng năm của anh là 350.000 USD, cùng với những khoản lợi tức được chia thêm.
Nhưng anh vẫn không bằng lòng. Anh bắt đầu phát sinh việc buôn bán, và anh đã kiếm được những món lợi kếch sù tại ngân hàng. Lòng tham mỗi ngày càng tăng lên, anh ta che giấu một số vụ giao dịch kinh doanh với những ông chủ của anh. Cuối cùng, anh thực hiện canh bạc lớn ‘được ăn cả, ngã về không’ ; để rồi anh bị thất bại, và phá sản toàn bộ ngân hàng.
Trong những tình huống tương tự, người ta thường phải trả giá cho những hành động sai trái của mình những giá trị còn lớn hơn cả tiền. Họ phải trả với giá là bị đánh mất lòng tự trọng, phẩm giá và niềm hy vọng. Tất cả những phẩm giá có được trước đó, từ nay họ đều bị giảm thiểu.
Leeson nhắc cho chúng ta về người quản lý trong dụ ngôn mà Chúa Giêsu đã kể. Hắn xem chừng giống như Leeson, một quản lý bị hư hỏng vì tiền. Trong thế giới chúng ta sống, coi trọng đồng tiền, nó sẽ dễ dàng trở nên thần thánh của ta. Chúng ta có thể đặt đồng tiền trước cả tính lương thiện, sự công bằng, thậm chí cả đời sống gia đình. Người ta bị tẩy não để rồi tin rằng càng sở hữu nhiều thì càng tốt. Con người bình thường bị sương mù che phủ đến độ không còn nhận ra đâu là tầm quan trọng thực sự hơn.
Ngôn sứ Amốt lên án những kẻ thờ lạy, ca ngợi Thiên Chúa trong ngày hưu lễ, nhưng lại bóc lột kẻ nghèo khó trong những ngày còn lại. Chúa Giêsu nói chúng ta không thể vừa phục vụ Thiên Chúa lại vừa phục vụ tiền của được. Cũng thế, chúng ta không thể vừa phục vụ người anh chị em chúng ta lại vừa phục vụ tiền bạc.
Lần kia, một người đàn ông giàu có nhưng keo kiệt đi đến vị thầy rabbi của ông để xin được chúc lành. Thầy rabbi chào hỏi ông ta một cách thân thiện và mời ông ta vào phòng. Sau đó đưa ông ta tiến đến khung kính cửa sổ, nhìn ra đường và nói : “Nhìn xem và nói cho tôi biết ông thấy gì ?”
Người đàn ông giàu có trả lời : “Tôi nhìn thấy một người đang đi bộ.”
Sau đó, thầy rabbi dẫn anh đến chỗ đặt một tấm gương lớn, và hỏi : “Nhìn vào tấm gương và nói cho tôi biết anh thấy gì ?” Người đàn ông trả lời : “Tôi thấy chính tôi”.
“Này ông bạn thân mến, tôi sẽ giải thích điều này cho ông bạn hiểu. Cửa sổ được làm bằng kính, và tấm gương soi cũng thế. Tuy nhiên, lớp kính của tấm gương soi đã được tráng thêm một lớp bạc. Khi bạn nhìn xuyên qua tấm kính trong suốt, bạn sẽ thấy người ta ; còn khi bạn phủ lên nó một lớp bạc thì bạn sẽ không còn thấy người khác nữa, lúc ấy bạn chỉ thấy có chính mình. Cũng thế, khi bạn chỉ quan tâm đến tiền, bạn sẽ chẳng còn thấy ai nữa và bạn chỉ thấy có chính mình.”
Chúng ta không thể có được sự mãn nguyện hoặc tìm được ý nghĩa nơi vật chất. Nhưng khi chúng ta hiến dâng chính mình để phục vụ người khác, điều đó sẽ đem lại cho chúng ta mục đích và ý nghĩa cuộc sống. Trao ban cho người khác là điều làm cho chúng ta cảm thấy mình được hiện hữu.
“Tiền có thể mua được cái vỏ bọc của mọi thứ nhưng không thể mua được cái cốt yếu bên trong. Nó có thể đem lại cho bạn thực phẩm nhưng không đem lại sự ngon miệng, đem lại cho bạn dược phẩm nhưng không đem lại sức khoẻ, đem lại sự quen biết nhưng không đem lại bạn hữu, đem lại sự phục vụ mà không đem lại trung thành, đem lại những ngày vui thích nhưng không đem lại bình an và hạnh phúc” (Henrik Ibsen).
LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế : Chúng ta khẩn cầu Chúa, Đấng sẵn sàng giúp đỡ những ai hướng trông lên Người với niềm trông cậy và khiêm nhu, thương nhìn đến những nhu cầu khẩn thiết của chúng ta.
Xướng : Cầu nguyện cho các Kitô hữu trong cuộc sống thường ngày được trở nên nhân chứng cho đức tin mà họ tuyên xưng vào mỗi ngày Chúa nhật.
Xướng : Cầu nguyện cho những ai đang nắm giữ những trách nhiệm, để họ biết dùng quyền lực phục vụ cho điều thiện hảo.
Xướng : Cầu nguyện cho những ai đang sống trong bóng đêm của tội lỗi, để họ nhận ra những lỗi lầm của bản thân, sám hối trở về với Chúa.
Xướng : Cầu nguyện cho mỗi người chúng ta, để chúng ta luôn sống như con cái của ánh sáng.
Chủ tế : Lạy Chúa đầy quyền năng và yêu thương, xin củng cố chúng con trong công việc phục vụ Chúa, và giúp chúng con trở nên những nhân chứng cho Chúa trong xã hội mà chúng con đang sống. Chúng con cầu xin ...

 

TN25-C43: Khôn ngoan nhìn xa

CHA NHẬT 25 THƯỜNG NIN C

Lc 16,1-13

I. TÌM HIỂU LỜI CHA

 

Bài Tin Mừng hôm nay dạy các môn đệ phải khôn ngoan, biết nhìn xa để chuẩn bị cho tương lai: TN25-C43

1) Ý CHÍNH : Bài Tin Mừng hôm nay dạy các môn đệ phải khôn ngoan, biết nhìn xa để chuẩn bị cho tương lai đời sau. Đức Giêsu kể câu chuyện về một quản gia bất lương, đã lợi dụng những giờ phút cuối khi đang còn chức quản lý, để làm ơn cho các con nợ của chủ bằng cách hạ thấp số nợ của họ xuống, với hy vọng sau này khi bị mất việc thì họ sẽ đền ơn cho mình. Cuối cùng Chúa dạy phải dùng tiền của gian dối mà mua lấy bạn hữu, để khi giờ chết đến và bị mất hết tiền bạc, thì họ sẽ đón tiếp vào chốn an nghỉ đời đời.

2) CHÚ THÍCH :

- Đức Giêsu còn nói với các môn đệ rằng : “Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông. Ông mới gọi anh ta đến mà bảo : Tôi nghe người ta nói gì về anh đó ? Anh hãy phúc trình về công việc quản lý của anh. Vì từ nay anh không được làm quản gia nữa. Người quản gia liền nghĩ bụng : Mình sẽ làm gì đây ? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà ho !” (Lc 16,1-4) :

 
  • Dụ ngôn về người quản gia bất lương: Dụ ngôn này khó hiểu vì xem ra đã đưa một kẻ bất lương ra làm gương mẫu cho các môn đệ. Tuy nhiên trong vài dụ ngôn khác, Đức Giêsu cũng so sánh Thiên Chúa với một quan tòa bất chính (x. Lc 18, 1-8), hoặc Người kêu gọi các môn đệ hãy khôn ngoan như con rắn (x. Mt 10,16)… Hẳn là Đức Giêsu không cổ vũ cho sự bất công của ông quan tòa, hay coi sự quỉ quyệt của con rắn là một điều tốt cần phải thực hiện. Trong dụ ngôn này, Người đã xác định người quản gia là bất lương (x. Lc 16,8). Nếu ông ta có nêu gương (x. Lc 10,30), thì cũng chỉ về sự khôn khéo mà thôi.
  • Một nhà phú hộ kia có một người quản gia : Theo luật Do Thái thì người quản gia không phải thuộc hạng tôi tớ được trả lương. Anh ta có quyền thay mặt chủ lo liệu mọi sự. Trường hợp viên quản gia làm thất thoát tiền bạc của chủ, luật pháp cũng không có biện pháp nào bắt anh ta phải hoàn lại của cải đã làm thất thoát. Hình phạt cùng lắm chỉ là sa thải, kèm theo bị mất uy tín mà thôi. Sau khi nhận được giấy sa thải, người quản gia sẽ phải tính sổ sách, liệt kê tài sản. Trong thời gian này, người quản gia vẫn là đại diện cho chủ, và được hành động nhân danh chủ. Trong bài dụ ngôn, việc người quản gia đã phung phí tài sản của chủ cho thấy anh ta là kẻ bất lương. Nhưng anh cũng là người khôn khéo biết lợi dụng thời gian còn lại hạ số nợ xuống để làm ơn cho các con nợ, hầu đến khi anh bị chủ cất chức thì họ sẽ đền ơn giúp đỡ lại anh.
  • Người quản gia liền nghĩ bụng : Người quản gia ý thức về tình trạng bất lợi của mình. Anh ta suy tính và khôn khéo chuẩn bị cho tương lai để sau khi bị sa thải không bị quá vất vả mà vẫn sống thoải mái.
- Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất : “Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy ?” Người ấy đáp : “Một trăm thùng dầu ô-liu”. Anh ta bảo : “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi”. Rồi anh ta hỏi người khác : “Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy ?” Người ấy đáp : “Một ngàn thùng lúa” Anh ta bảo : “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi” (Lc 16,5-7)
 
  • Một trăm thùng dầu : Thùng dầu là đơn vị chứa khoảng từ 21 đến 45 lít.
  • Một ngàn thùng lúa : Thùng lúa hay gịa lúa, một đơn vị có số lượng lớn gấp 10 lần thùng dầu ở trên.
- Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại. Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn. Ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn (Lc 16,8-10)
 
  • Ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo : Người quản gia bất lương vì đã phung phí tiền bạc của chủ, và vì thế anh ta bị sa thải. Nhưng anh biết lợi dụng quyền hạn để chuẩn bị cho tương lai, bằng cách xử tốt với các con nợ của chủ, hy vọng họ sẽ biết ơn và đón tiếp sau khi anh ta bị sa thải. Đức Giêsu khen hành động chuẩn bị cho tương lai của anh quản gia là khôn khéo.
  • Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại : Con cái đời này ám chỉ những kẻ thuộc về thế gian. Con cái ánh sáng là những người thuộc về Thiên Chúa. Con cái thế gian thường bén nhạy trong việc đem lại lợi ích vật chất…đang khi con cái Thiên Chúa thường khờ dại, không biết xử dụng ơn Chúa để lo cho mình được hưởng ơn cứu độ.
  • Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè : Người quản gia đã khôn khéo hạ thấp số nợ phải chịu ơn và đón nhận anh ta về nhà họ. Là con cái sự sáng, các môn đệ cũng phải biết dùng tiền bạc mà mua lấy bạn hữu. Tiền của bất chính trong câu này không có nghĩa là có được nhờ trộm cắp hay bất công, nhưng là thứ tiền chỉ có giá trị ở đời này. Hãy xử dụng nó để giúp người nghèo, tức là biến nó thành đồng tiền có giá trị ở đời sau.
  • Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn : Tiền của là một vật để trắc nghiệm lòng trung tín. Do đó cần căn cứ vào cách dùng tiền của để biết được lòng người trung tín hay không. Ở đây Đức Giêsu muốn dạy ta phải trung thành cả trong việc nhỏ là xử dụng tiền bạc vật chất để bảo đảm cho ta có của cải chân thật ở đời sau là trong Nước Trời muôn đời (x. Mt 25,21; Lc 19,17).
- Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng tiền của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em ? Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em ? Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ. Vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia. Hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được (Lc 16,11-13).
 
  • Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ : Đức Giêsu nhân cách hóa tiền bạc vật chất vì nó có thể lôi cuốn người ta như một tà thần. Kiểu nói “làm tôi” ở đây mang ý nghĩa “lụy phục”, “phượng thờ” và tiền của trở nên một thứ tà thần đối nghịch với Thiên Chúa. Vì thế Đức Giêsu đòi các môn đệ phải dứt khoát lựa chọn tôn thờ ai : Thiên Chúa hay tiền của.
II. HỌC SỐNG LỜI CHÚA :

1) LỜI CHÚA : “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” (Lc 16,13b).

2) CÂU CHUYỆN

- Kẻ coi trọng tiền bạc hơn cả tính mạng mình : Có một nhà phú hộ kia mời mấy vị đạo sĩ tới nhà lập đàn để xin giải trừ tai nạn. Một đạo sĩ nọ có lòng tham, muốn hưởng một mình trọn cả số tiền to lớn mà chủ nhà trả cho việc này, liền đứng ra nhận thầu việc lập đàn cúng bái từ đầu đến cuối. Sau đó đạo sĩ làm việc liên tục ngày đêm không ngơi nghỉ. Đến ngày thứ ba thì ông bị kiệt sức, ngã vật xuống đất và cứng đơ người lại. Chủ nhà sợ đạo sĩ chết trong nhà mình thì mang họa, nên đã thuê người đến khiêng đạo sĩ về miếu của ông ta. Tuy bị ngất xỉu, nhưng đạo sĩ vẫn thính tai, nghe được các lời của chủ nhà nói, ông ta cố ngẩng đầu lên thì thào như sau : “Đừng mất công thuê người khiêng tôi làm gì. Hãy đưa số tiền ấy cho tôi, tôi có thể tự đi về miếu cũng được mà !”

- Chỉ mua được bằng loại tiền đã cho đi mà thôi : Một người kia suốt đời chỉ biết thu gom tiền bạc chứ không chịu chi ra bao giờ, nên ông ta ngày một giàu thêm. Rồi một hôm ông ta bị ốm nặng sắp chết. Trước khi chết, ông cho gọi vợ con lại bên giường trăn trối như sau : “Khi tôi chết, bà nó hãy đem tất cả số vàng tôi đã dành dụm bấy lâu nay, để vào trong quan tài cho tôi sẽ dùng trong thế giới bên kia”. Sau khi ông ta chết, ông nhà giàu đi về thiên đàng ngang qua một cái chợ. Ong ta ghé vào xem và thấy người ta mua bán nhiều thứ rất ngon giống như các chợ dưới trần gian. Ông ta chỉ vào một ký thịt bò tươi và hỏi cô bán hàng xem giá bao nhiêu. Cô ta trả lời : “Giá một đồng thôi !” Ông nhà giàu nghĩ bụng : “Rẻ thật !”. Ông lại quay sang hỏi nhiều món hàng khác đang bày bán đầy chung quanh, và vật gì giá cũng chỉ một đồng. Ông nhẩm tính với số tiền mang theo khi chết thì ông có thể sống sung sướng cả ngàn năm nữa. Nhưng đến khi trả tiền để lấy món hàng, ông nhà giàu bỡ ngỡ khi người bán không chịu nhận tiền của ông trả. Cô ta nói rằng : “Ở đây chỉ xài loại “tiền cho đi” mà thôi ! Còn tiền của ông là loại “tiền thu vào”, không có giátrị thanh toán”. Ông nhà giàu tỏ vẻ buồn rầu thất vọng, vì tiền của ky cóp cả đời giờ đây chẳng có chút giá trị nào cả ! Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy rằng : Chỉ những “Đồng tiền cho đi” mới là “đồng tiền để dành” và có giá trị đem lại hạnh phúc sau khi chết.

- Cái ơn nghĩa của Mạnh Thường Quân : Mạnh Thường Quân vốn là một người rất giàu. Tiền bạc của cải do ông bà để lại. Ong có lòng thương người và dễ dàng cho những kẻ nghèo khó vay mượn. Một hôm, ông sai Phùng Nguyên sang đất Tiết để đòi nợ. Trước khi lên đường, Phùng Nguyên hỏi Mạnh Thường Quân rằng : “Ngài có muốn cho tôi mua gì bên đó về cho ngài không ?” Mạnh Thường Quân trả lời : “Ngươi coi xem có thứ gì nhà ta chưa có thì cứ mua về”. Khi đến đất Tiết, Phùng Nguyên cho gọi các con nợ của chủ đến và hỏi xem họ đã mắc nợ bao nhiêu. Sau khi đã nắm được các giấy nợ, thay vì tính gốc lãi, Phùng Nguyên truyền cho các đầy tớ đem đống văn tự ấy ra đốt sạch. Khi trở về, Phùng Nguyên đã trả lời Mạnh Thường Quân rằng : “Theo thiển ý của tôi thì trong nhà của ngài chẳng còn thiếu thứ gì. Có lẽ cái thiếu duy nhất là thiếu ơn nghĩa giúp đỡ người nghèo mà thôi. Hôm ở đất Tiết, tôi đã trộm phép để mua cái mà ngài còn thiếu đó rồi. Tôi nghĩ chắc là ngài sẽ vừa ý lắm”.

Về sau, Mạnh Thường Quân bị hàm oan và bị bãi quan, phải về ở ẩn tại đất Tiết. Dân ở đây nhớ ơn cũ đã rủ nhau ra đón rước ông đầy đường như trong đám lễ hội. Mạnh Thường Quân quay lại nói với Phùng Nguyên rằng : “Kìa ông xem, chắc hẳn đây là cái ơn nghĩa mà ông đã mua cho tôi khi trước phải không ?”

3) SUY NIỆM :

- Những người coi đồng tiền to hơn mạng sống của mình, rốt cuộc cũng chẳng giữ nó lại riêng cho mình. Hiểu được lòng tham lam của con người, Đức Giêsu đã kể dụ ngôn về người quản gia khôn khéo. Người đã khen anh quản gia không phải vì hành động bất lương của anh ta, nhưng vì đã dám đối diện với việc bị chủ đuổi việc; Anh ta cũng hiểu được giới hạn của mình : không đủ sức lực để cuốc đất, không đủ can đảm để ăn xin. Nhưng anh ta đã biết cách xoay sở, tìm ra phương án tốt nhất, tận dụng quyền hành còn lại để chuẩn bị cho tương lai. Chúa khen anh ta khôn khéo vì đã biết dùng tiền của đời này để mua lấy bạn hữu chuẩn bị cho đời sau.

- Nếu con cái đời này biết phải làm gì để lo cho ngày mai, thì tại sao “con cái sự sáng” lại không biết sử dụng của cải Chúa ban trong hiện tại để lo phần rỗi của mình trong tương lai hay sao ?

- Nếu người quản gia bất lương biết dùng tiền của bất chính để mua lấy bạn hữu cho mình, thì tại sao người tín hữu lại không biết sử dụng của cải phù du, mà chia sẻ cho người nghèo khổ để mua lấy bạn hữu sẽ đưa mình vào Nước Trời đời sau hay sao ?

- Nên nhớ rằng : Chúng ta không trở nên giàu có với những gì mình đã nhận lãnh, mà với những gì mình đã trao ban. Chỉ khi biết quảng đại ban phát của cải cho những kẻ thiếu thốn, chúng ta mới thực là những quản gia làm theo ý chủ, những quản gia trung tín và khôn ngoan. Chỉ khi biết coi tiền của là phương tiện phục vụ cho tha nhân, chúng ta mới chứng tỏ mình làm tôi một mình Thiên Chúa.

- Tôi hiện làm chủ hay đang làm tôi cho đồng tiền ?

+ Tôi đang làm chủ đồng tiền nếu dám chia sẻ số tiền đang có cho người khác, dám cho vay mượn, dám từ bỏ ngay khi phát hiện ra đồng tiền bất chính. Nhất là khi bị mất, tôi cũng không quá đau khổ như một kẻ mất hồn chẳng thiết làm gì nữa !

+ Tôi đang làm đầy tớ cho đồng tiền nếu tôi luôn nghĩ đến nó, thích đem nó ra nhìn ngắm và đếm đi đếm lại nhiều lần, hay đề cập đến nó trong câu chuyện và đề cao sức vạn năng của nó, tôn trọng nó hơn mọi sự, không ngần ngại làm điều xấu để chiếm hữu được nó.

4) THẢO LUẬN : Bạn có đồng ý với lời nhận định : “Đồng tiền là một người đầy tớ tốt, nhưng lại là một ông chủ xấu ?” Dựa theo bản xét mình trong phần suy niệm nói trên, bạn hiện đang làm chủ hay làm tôi cho đồng tiền ? bạn cần làm gì để luôn coi tiền bạc là đầy tớ phục vụ đắc lực cho các nhu cầu chính đáng của bạn ?

III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU

1) Lạy Chúa Giêsu, qua Lời Chúa dạy hôm nay, Chúa lưu ý chúng con về việc sử dụng tiền bạc của cải. Nhưng trước tiên Chúa dạy chúng con phải phụng thờ một mình Thiên Chúa. Người quản lý trong bài Tin Mừng sau khi bị đuổi việc đã cư xử khôn khéo để tìm cái lợi cho mình. Chúa cấm chúng con gian lận, nhưng Chúa dạy chúng con phải khôn khéo tìm mọi cách để chiếm được mối lợi là phần rỗi đời đời.

Lạy Chúa Giêsu, từ nay con sẽ qui hướng trọn cuộc sống con về cho Thiên Chúa, từ những việc bé nhỏ nhất đến những việc to lớn hơn. Xin Chúa giúp con dứt khoát nói “không” với những cám dỗ con tìm kiếm những đồng tiền bất chính, để con luôn là môn đệ sống theo Lời Chúa dạy và thuộc trọn về Chúa.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

2) Lạy Mẹ Maria, mọi của cải tiền bạc con làm ra là để giúp con sống hạnh phúc, và cũng để con giúp đỡ mọi người cùng được hạnh phúc xứng với phẩm giá con người. Nếu con biết sử dụng đúng, tiền của sẽ trở thành phương tiện tốt để con có điều kiện phục vụ Chúa và tha nhân. Nhưng trong thực tế, nhiều khi con để cho tiền của làm chủ lòng con, và loại Chúa ra ngoài những quyết định của con.

Lạy Mẹ, xin giúp con luôn đứng vững trong sự công bình mỗi khi con phải kiếm tiền. Xin giúp con biết sử dụng đồng tiền đúng theo thánh ý Chúa. Xin Mẹ hãy ở bên và động viên con những khi con phải quyết định từ chối những đồng tiền bất chính và tội lỗi. Xin Mẹ giúp con luôn chọn làm tôi thờ phượng một mình Chúa. Xin cho con biết quảng đại khi con xử dụng tiền bạc Chúa ban. Xin cho con biết hy sinh mọi của cải con có cho những mục đích cao đẹp phù hợp với Lời Chúa truyền dạy. Xin đừng để con quá gắn bó với của cải vật chất, và khi bị mất nó, con cũng không quá tiếc sót, vì biết rằng mọi sự xảy ra cho con đều không ngoài thánh ý Chúa quan phòng, luôn muốn cho con được hưởng ơn cứu độ.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

Trích Hiệp sống Lời Chúa
Lm. Đan Vinh


 

TN25-C44: Người quản gia bất lương

CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN C : / 25th Sunday in Ordinary Time

Lời Chúa cho hôm nay: NGƯỜI QUẢN GIA BẤT LƯƠNG

* The Wily Manager *

*"Đức Kitô vốn giầu có, Ngài đã trở nên nghèo khó vì anh, để làm cho anh nên giầu có.” (2 Cor 8, 9)

 
  • BÀI ĐỌC 1: Amos 8, 4-7= Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp người cùng khổ và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ…Ta sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi nào của chúng./ Hear this, you who trample upon the needy and destroy the poor of the land!... Never will forget the thing they have done !
  • BÀI ĐỌC 2 : Timôthê 2, 1-8=Đức Kitô, Đấng Trung gian cuả chúng ta…Đấng đã tự hiến làm gía chuộc mọi người./Christ Our Mediator, One is between God and men…who gave Himself as a ransom for all.
  • TIN MỪNG (Gospel): Luca 16, 1-13= Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia./ No servant can serve two masters. Either he will hate the one and love the other.
A- Bạn và tôi cùng lắng nghe xem Chúa nói và muốn dạy ta làm gì: (Reflections, live out And share)
 

Bài Tin mừng hôm nay Chúa muốn nói với tôi về cách xử dụng tiền của qua dụ ngôn một người quản gia: TN25-C44

1/ Bài Tin mừng hôm nay Chúa muốn nói với tôi về cách xử dụng tiền của qua dụ ngôn một người quản gia bất lương, không phải hắn sửa đổi số lượng kỳ này; nhưng hắn đã thao túng tiền bạc trước đó: “Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Anh hãy phúc trình về công việc quản lý của anh…” (Lc 16,2)Tôi hôm nay cũng có gian tham che giấu tiền bạc trong gia đình, của tập thể vì vợ, chồng, con và tập thể đã biết việc lem nhem tiền bạc của tôi và tôi sắp bị hạch tội và mất chức. Kể một việc tốt về xử dụng tiền của. (Hành đạo)

2/ Nói về trung tín trong việc xử dụng tiền của, Đức Giêsu nói tiếp: “Thầy bảo cho anh biết: hãy dùng tiền của bất chính mà taọ lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi vĩnh cửu.”(Lc 16, 9) Chúa muốn dạy bạn và tôi hãy dùng của cải với ý tốt lành, đừng gian dối, để biến thành kết qủa ngày cưú độ, làm giầu cho kho tàng vĩnh cửu trên trời, cụ thể như chia sẻ cho ngươì nghèo và những việc công bình bác ái cho xã hội. Chia sẻ bạn đã dùng chức vụ, tiền cuả giúp đỡ tha nhân. ( Sùng đạo)

3/ Tiếp đến, Chúa Giêsu nhắc nhở bạn và tôi phải luôn trung tín và đừng gian dối trong việc nhỏ cũng như việc lớn. Vì tiền bạc nay còn mai mất mà tôi không rõ ràng thì làm sao Chúa có thể giao của cải vĩnh cửu cho tôi: “Nếu anh không không trung tín trong việc xử dụng cuả cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh của cải dành riêng cho anh? Đây là giá trị Nứơc Trời mà tiền của ban ra để trắc nghiệm lòng trung tín của bạn và tôi trong cuộc sống nhiều cám dỗ hôm nay. Một thất bại khi dùng sai tiền của. (Học đạo)

4/ Trong bài đọc 1, tiên tri A-mốt nói lên Chúa quyết tâm trừng trị kẻ lấy tiền bạc để bót lột người cơ bần: “Ta sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi nào của chúng.” Còn bài đọc 2 gởi Tín hữu Timôthê nói về tình thương của Chúa như sau: “Đấng muốn cho mọi người đựơc cứu độ và nhận biết chân lý.” Thế nhưng bạn và tôi cứ tối mắt laị trứơc tiền của, để Đức Kitô phải nói cương quyết: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được.” Vì tiền của là một tà thần, một hiểm họa là một nguy cơ lớn, nếu tôi đội nó lên đầu. Cho một ví dụ coi tiền của là phương tiện và kết quả của nó. (Sống đạo)

B- Câu Kinh Thánh thúc đẩy bạn và tôi chọn để trung tín xử dụng tiền của: (The Best God’s Word)

ANH KHÔNG THỂ VỪA LÀM TÔI THIÊN CHÚA, VỪA LÀM TÔI TIỀN CỦA ĐƯỢC. (Lc 16, 13)

You can’t serve both God and mammon/ (You cannot give yourself to God and money)

C- Ngay bây giờ tôi phải làm gì (Action) Bạn và tôi có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống ở phần A trên.

D- Bạn và tôi cùng câù nguyện với Lời Chúa: (Pray in Action) Lạy Cha, Đức Kitô đã dạy: anh không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của đươc. Thế mà con đã tối mắt trước của cải mau qua, còn gian lận và hà hiếp bóc lột người cô thân cô thế. Xin dạy con biết trung tín dùng tiền của là phương thế để đến với Chúa.

Lời hay ý đẹp: NHỮNG KẺ DỐI GẠT NHIỀU NHẤT LÀ NHỮNG KẺ SỐNG BÊN LỀ SỰ THẬT
The most deceptive liars are those who live on the edge of truth
Phó tế Nguyễn Định

 

TN25-C45: Anh em không thể....

CHỦ NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN

Lời Chúa: Lc 16, 1-13.

“Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được”.

Bạn thân mến,

 

Đã có lúc nào bạn làm tôi hai chủ chưa, tức là bạn vừa muốn làm sáng danh Thiên Chúa bằng cách: TN25-C45

Đã có lúc nào bạn làm tôi hai chủ chưa, tức là bạn vừa muốn làm sáng danh Thiên Chúa bằng cách đi lễ hằng ngày và chủ nhật, nhưng đồng thời bạn cũng muốn mánh mung đem bán lương tâm cho ma quỷ và tiền tài; vừa muốn yêu mến Thiên Chúa hết lòng hết trí, nhưng đồng thời cũng muốn làm hại tha nhân, ghen ghét anh em mình ?

Bạn và tôi đều chọn Thiên Chúa làm chủ của mình thì thật là chính đáng, bởi vì chính Ngài là Đấng mà chúng ta phải tôn thờ; nhưng đồng thời chúng ta cũng nhận thấy tiền tài cũng không thể thiếu trong đời sống của mình, và có khi nó quyết định điều tốt xấu cho bản thân cũng như cho người thân của mình, bởi vì Chúa thì toàn năng thật, nhưng Ngài xa quá không can thiệp hiệu quả tức khắc như đồng tiền, bởi vì “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn”, và thế là một lúc nào đó, chúng ta chọn tiền bạc là chủ đời mình mà không hay.

Bạn thân mến,

Chọn lựa tức là phải có hy sinh. Bạn chọn Thiên Chúa làm chủ đời mình thì bạn phải hy sinh những đòi hỏi của ma quỷ và những cám dỗ; khi bạn chọn thế gian thì đương nhiên bạn lơ là Chúa của bạn, đó là lẽ tự nhiên của con người.

Tôi có ý kiến này với bạn: bạn nên quyết tâm chọn Chúa làm chủ đời mình đi, vì khi bạn đã có Chúa rồi thì tất cả những thứ khác sẽ có sau, tại sao ư ? Vì Chúa là Đấng tạo dựng vũ trụ muôn loài mà, có Ngài thì có cả vũ trụ, đó chính là bí quyết sống hạnh phúc của các thánh đó.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.


 

TN25-C46: CÂU CHUYỆN KHÁ THÚ VỊ ĐẤY ! - Mark Link S.J.

Bài đọc:Am 8 : 4-7 ; 1 Tm 2 : 1-8 ; Lc 16 : 1-13
Chủ đề:
Phần thưởng ở trần gian chỉ kéo dài ít năm mà người ta lại chịu khó để đạt cho được, hơn là phần thưởng trường tồn vĩnh viễn trên trời.
 

Cách đây nhiều năm có vị linh mục nọ giảng tĩnh tâm cho các tù nhân chung phòng ở một nhà tù: TN25-C46

Cách đây nhiều năm có vị linh mục nọ giảng tĩnh tâm cho các tù nhân chung phòng ở một nhà tù liên bang thuộc miền Nam. Một trong các bài giảng liên quan đến lời giáo huấn của Chúa Giêsu về việc báo thù. Chúa Giêsu nói: “Các ngươi đã nghe nói rằng: mắt đền mắt, răng đền răng. Nhưng Ta bảo các ngươi: đừng chống lại kẻ làm điều ác. Khi có ai vả má bên phải ngươi, ngươi hãy chìa cả má bên kia cho hắn (Mt 5 : 38-39)
Để minh họa cho chủ điểm của Chúa Giêsu, vị Linh mục kể lại câu chuyện về Jackie Tobinson, người lực sĩ da đen đầu tiên thi đấu trong đội tuyển chính.
Khi Branch Rickey ký với Jackie bản hợp đồng Dodger vào năm 1945, ông bảo với anh ta: “Anh sẽ phải xơi mọi thứ họ dọn cho anh và đừng bao giờ phản kháng lại nhé”. Lời nói của Rickey thực là chí lý. Trong sân banh các tay giao banh thì ném banh cho Jackie một cách thô bạo, còn đám cổ động viên và đội bóng đối nghịch thì chế nhạo anh. Ở ngoài sân banh thì Jackie bị khai trừ khỏi các khách sạn và nhà hàng, đang khi những người khác trong đội bóng thì được ở lại và ăn uống tại đó. Dầu vậy, Jackie vẫn luôn cố gắng giữ bình tĩnh. Anh vẫn “chìa cả má kia ra” cho họ. Và ông bầu Branch Rickey cũng làm như vậy khi bị công chúng quở trách vì đã ký hợp đồng cho Jackie gia nhập đội bóng.
Vị linh mục kết thúc câu chuyện bằng cách đặt ra cho đám tù nhân câu hỏi sau: “Các bạn nghĩ xem, các lực sĩ da đen ngày nay sẽ ra thế nào nếu Jackie Robinson và Branch Rickey đã không chịu chìa luôn má bên kia cho người ta tát?” Ngay sau cuộc nói chuyện này, một gã tù nhân tiến đến nói với vị linh mục: “Thưa cha, câu chuyện cha kể thú vị đấy! Thế nhưng tại sao cha không đề cập đến toàn thể câu chuyện luôn? Tại sao cha không nêu lý do khiến Rickey và Robinson đã chấp nhận chìa má kia ra? Đâu phải vì yêu mến Chúa mà chẳng qua chỉ vì ham tiền mà thôi! Rickey chìa luôn má kia là vì ông ta đã ký kết với tất cả các lực sĩ da đen giỏi nhất ở trong nước và ông ta sẽ giàu có nếu Jackie thành công. Còn Jackie thì chịu chìa má kia ra chẳng qua vì nếu anh thành công, anh cũng kiếm được khối bạc.”
Vị linh mục ngẫm nghĩ trong giây lát: “Nếu gã tù nhân này, có lý thì câu chuyện thú vị của mình kể như tiêu rồi !” Nhưng ngay tức khắc ngài nghĩ lại: “À! Khoan đã! Nếu gã tù kia có lý thì câu chuyện ta kể càng nói lên được một điều quan trọng hơn nữa chứ!” Đó chính là chủ điểm mà Chúa Giêsu nêu ra trong bài Phúc Âm hôm nay khi Ngài nói: “Con cái thế gian khôn ngoan hơn con cái sự sáng trong những việc làm ăn của chúng”. Nói một cách đơn giản hơn: đám dân thường lại biết chịu khổ chịu cực để đạt được những phần thưởng ở trần thế, là những thứ chỉ tồn tại trong ít năm, đang khi đó người Kitô hữu không dám gian khổ để đạt được phần thưởng trên trời là những thứ trường tồn vĩnh cửu.
Hoặc chúng ta có thể diễn tả cách khác: Nếu gã tù nọ có lý, thì ông bầu Rickey và tay lực sĩ da đen Jackie Robinson đã sẵn sàng chìa má chịu tát để có được tiền bạc còn hơn chúng ta, bạn và tôi, dám chịu đựng gian khổ vì Chúa.
Cách đây vài năm, một nhà báo Cộng sản Pháp có nêu ra những nhận xét sau đây cho các Kitô hữu Pháp:
“Phúc Âm của các bạn là vũ khí mạnh mẽ hơn triết lý sống của chủ nghĩa Macxít chúng tôi nhiều. Tuy nhiên, dần dà rồi chúng tôi cũng sẽ đánh bại các bạn…. Làm sao người ta có thể tin vào Phúc Âm của các bạn nếu các bạn chẳng chịu mang nó vào cuộc sống của các bạn, nếu các bạn không dám hy sinh thời giờ và tiền bạc cho nó? Làm sao người ta có thể tin vào Phúc Âm của các bạn khi các bạn không dám chấp nhận lao khổ vì nó?” Lời nhận xét trên đây quả thật làm cho mọi người chúng ta đều nhức nhối. Và lý do chính là thực sự có nhiều, nếu không nói là rất nhiều trường hợp mà lời nhận xét trên là rất đúng.
Điều này nêu ra cho chúng ta một câu hỏi: Tại sao đám dân ngoài đời lại sẵn sàng hy sinh để đạt những phần thưởng đời này còn hơn người Kitô hữu chúng ta dám hy sinh để đạt những phần thưởng trên trời? Và tại sao chính chúng ta lại sẵn sàng hy sinh cho những phần thưởng trần gian hơn là phần thưởng trên trời? Tại sao chúng ta lại sẵn sàng cư xử với khách lạ một cách tử tế vì lợi lộc tiền bạc còn hơn chúng ta sống tử tế với gia đình mình vì những lợi lộc trên trời?
Dĩ nhiên, chúng ta không thể trả lời câu hỏi ấy một cách chung chung. Không thể có câu trả lời chung chung cho câu hỏi này mà phải là một câu trả lời trực tiếp, cá biệt. Nghĩa là mỗi người phải tự trả lời cho chính mình.
Và như thế sứ điệp của bài Phúc Âm hôm nay chính là: Chúng ta có giống như những Kitô hữu mà Chúa Giêsu đề cập đến không? Có phải chúng ta ít dám hy sinh vì phần thưởng nước trời hơn là vì phần thưởng trần gian này không? Có phải chúng ta ít dám hy sinh cho việc rao giảng Phúc Âm hơn là cho lợi lộc của mình ở trần gian này không? Nếu đúng như thế, chúng ta cần phải đặc biệt chân thành dâng lên Chúa lời cầu nguyện sau đây:
“Lạy Chúa, xin mở tai chúng con ra để nghe lời Ngài, cả những khi chúng con chẳng muốn nghe vì lời ấy thách thức chúng con nhiều hơn chúng con muốn bị thách thức.
Lạy Chúa, xin mở trí lòng chúng con hiểu biết lời Ngài, ngay cả khi chúng con chẳng muốn nghĩ đến lời ấy vì nó quấy rầy chúng con hơn chúng con muốn bị quấy rầy.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con thực thi lời Ngài, cả những khi chúng con không muốn làm điều đó, vì nó đòi buộc chúng con thay đổi những gì chúng con không muốn đổi thay.
Và trên tất cả, Lạy Chúa,
Xin giúp chúng con hiểu rằng không bao giờ Chúa đòi hỏi chúng làm bất cứ điều gì mà lại không chúc phúc cho chúng con vượt quá mọi mơ ước to lớn nhất của chúng con, vì Chúa không bao giờ chịu nhường cho ai về lòng quảng đại!

 

TN25-C47: BIẾT SỬ DỤNG CỦA CẢI CHÚA BAN

 Lm. Giu-se NGUYỄN HƯNG LỢI
Lc 16,19–31
 

Con người sinh ra trên đời, ai cũng muốn có đời sống sung túc, phú quý, giàu sang. Ít có người muốn: TN25-C47

Con người sinh ra trên đời, ai cũng muốn có đời sống sung túc, phú quý, giàu sang. Ít có người muốn chấp nhận đời sống khó nghèo: hụt trước, thiếu sau. Giàu có do bàn tay lao động làm ra, biết nghĩ tới người nghèo, biết chia sẻ với người cơ bần cùng cực là sự giàu có được Thiên Chúa chúc phúc, khuyến khích. Lời Chúa trong Chúa Nhật hôm nay đưa chúng ta về chủ đề căn bản: "Biết sử dụng của cải Chúa trao ở đời này sẽ nảy sinh hạnh phúc vĩnh cửu ở đời sau”.
I. CÁI THƯỜNG TÌNH CỦA CON NGƯỜI:
Khuynh hướng tự nhiên của con người là thích dễ dãi, phóng khoáng, thích giàu có và hưởng thụ. Hình ảnh người ăn mày La-da-rô, Tin Mừng Lu-ca 16, 19 – 31 thuật lại Chúa Nhật này làm nổi bật sự cách biệt giữa người giàu và người nghèo trong xã hội Do-thái thời đó và trong xã hội muôn thời. Thánh Lu-ca quả rất dí dỏm khi nhấn mạnh tới cái giàu có của nhà phú hộ bằng cách diễn tả dáng vẻ kiêu sa của ông như cách ăn mặc sang trọng: lụa là, gấm vóc và cách ăn uống của người giàu, ngày ngày yến tiệc linh đình. Đối nghịch với nhà phú hộ giàu có là người ăn mày tên La-da-rô cùng cực, cơ bần, khốn đốn. Với ngòi viết linh hoạt và sắc bén của Thánh Lu-ca, hình ảnh của người ăn xin La-da-rô càng rõ nét trước độc giả và mọi người khi lắng nghe và suy nghĩ về đoạn Tin Mừng này: La-da-rô mình mẩy đầy ghẻ chốc, mụn nhọt, lở loét, đang nằm ngoài cổng nhà phú hộ để chờ bố thí.
Cái nghịch lý ở đây vẫn là một bên nhà phú hộ giàu có, dư dật: nhà cửa, vật chất, cơ ngơi lớn lao. Đáng lẽ ông ta phải lưu tâm, chia sẻ, giúp đỡ những người nghèo, đặc biệt La-da-rô, người ăn mày đang chờ được thương tìn, nhưng chính cái mơ ước rất tầm thường của anh, được ăn một chút mụn bánh còn dư rơi xuống từ bàn ăn của nhà phú hộ giàu có, vẫn không là hiện thực. Dưới ngòi bút đầy cảm thương của Thánh Lu-ca, người ta cảm thấy nỗi xót xa, cay đắng đang xâm lấn trong tâm hồn những người nghe câu chuyện này. Cái trớ trêu hầu như vô vọng, chỉ có con chó đến liếm ghẻ chốc, mụn nhọt của La-da-rô.
Ở đây, người phú hộ đang có cơ hội thật tốt để thực thi lòng tốt, đức bác ái của Chúa. Chúa đã trao cho ông của cải, kho tàng để làm lợi cho Chúa, cho ông và cho người khác ( x. Lu-ca 16, 1 – 8 ). Nhà phú hộ có lắm tiền, nhiều của đã không thực thi đúng vai trò người quản lý của Chúa. Ông đã ích kỷ, keo kiệt, có nhiều lại muốn nhiều thêm, chỉ nghĩ tới mình, không nghĩ tới người khác, lòng tham vô đáy, con tim khép kín, lương tâm cứng đờ hầu như đã chết. Ông chỉ ham của, ham tiền, liên kết với tà thần, với ma-môn, quên đi cái cốt lõi của đạo là Tình Thương phải trao ban khi ông đã được lãnh nhận quá nhiều. Vì thế, nhà phú hộ đáng bị nguyền rủa, chúc dữ. Ông đáng tội với Chúa và với mọi người.
II. CON ĐƯỜNG PHẢI ĐI
Chúa Giê-su đã thiết lập đạo Tình Thương cho con người. Thánh Gio-an viết: "Thiên Chúa là Tình Yêu: ai có tình yêu thương, người đó ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong họ" ( 1 Ga 4, 16 ). Nơi khác Chúa Giê-su nói: "Không phải những ai thưa lạy Chúa, lạy Chúa là được cứu rỗi mà là những ai nghe và thực thi lời Chúa".
Đoạn Tin Mừng của thánh Lu-ca nói về người thanh niên giàu có càng làm ta xác tín điều Chúa dạy: "...Nếu Anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của Anh và đem cho người nghèo, Anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo Tôi" ( Lc 19, 21 ). hoặc Chúa Giê-su nói: "...chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi" ( Lc 10, 42 ). Ở đây, ta đồng quan điểm với tiên tri A-mốt và Thánh Lu-ca: "Gieo gió sẽ gặt bão. Gieo giống tốt sẽ sinh trái tốt. Xem quả biết cây. Làm việc lành, việc phúc đức, thực thi bác ái sẽ gặt trái phúc". Tin Mừng Mt 25, 31 – 46 đã minh xác điều đó.
Nhà phú hộ và năm anh em giàu có đã được hưởng phú quý, vinh thân, phì gia ở đời này. Họ đã có Mô-sê và các ngôn sứ dạy bảo nhưng họ không nghe. Họ đã đóng lòng lại, mắt họ đã ra mù lòa, tai họ đã ra điếc lác. Nhà phú hộ chết. Ông đã sa hỏa ngục, đời đời đau khổ vì không bao giờ được thấy Chúa. Giữa kẻ sống và kẻ chết có hố ngăn cách xa vời vợi. Sống nói còn không nghe. Chết về nói sao mà họ nghe được. Mô-sê và các ngôn sứ đã nói, đã dạy dỗ, khuyên lơn. Họ đã tự chọn nơi đau khổ. Còn La-da-rô đã chết và anh được các Thiên Thần đưa vào lòng tổ phụ Áp-ra-ham. Anh đã được thưởng công vì đã chịu quá nhiều cay đắng nghiệt ngã trong đời nhưng luôn tin cậy phó thác nơi Chúa.
Vậy, con đường phải chọn chính là hãy "vác Thập Giá mỗi ngày mà theo Chúa". Con đường đó là con đường từ bỏ, đường hy sinh, bao dung, bác ái, xả kỷ. Con đường đó không phải là kiếp luân hồi, đầu thai, hóa kiếp mà là con đường Lắng Nghe và Thực Thi Lời Chúa trong cuộc đời. "Mác-ta, Mác-ta, con bận rộ lo lắng nhiều chuyện quá" ( Lc 10, 41 ). Thái độ Lắng Nghe, Suy Niệm và Thực Hành Lời Chúa là điều tối quan trọng để bước vào Nước Thiên Chúa.
III. ÁP DỤNG THỰC TẾ
Như nhà phú hộ giàu sang, chúng ta đã có thái độ nào đối với những người đau khổ nghèo nàn ? Xung quanh chúng ta có rất nhiều người nghèo, người neo đơn, người bơ vơ vất vưởng cần ta lưu tâm giúp đỡ, chúng ta có nhìn vào họ để nhận ra thực tế rằng họ nghèo túng thật sự, đang rất cần sự chia sẻ, cần tình thương, bác ái của ta hay mắt ta đã bị khép lại, tim ta hết nhạy cảm để không nhận ra họ. Ta chỉ hô hào trên môi miệng hay ta đã sống chia sẻ bác ái thực sự ? Lời Chúa qua Mô-sê, các ngôn sứ và chính Lời Đức Giê-su nói có thúc bách và đặt ưu tiên hàng đầu cho chúng ta trong đời sống đạo hay không ? Chúng ta đã lắng nghe Lời Chúa và thực thi Lời Chúa như thế nào ?
Gương của Mẹ Tê-rê-sa Calcutta, các nữ tu Thừa Sai Bác Ai của Mẹ, gương của thánh nữ Tê-rê-sa hài Đồng Giê-su, của thánh Phan-xi-cô khó khăn và của nhiều vị Thánh, của nhiều người ki-tô hữu, của nhiều người ngoài Công giáo sống từ bi hỷ xả có đánh động lòng ta hay không ? Chúng ta hãy đọc tư tưởng của thi hào Ấn-dộ R. Tagore: "Người ta không thể băng qua biển khi chỉ đứng nhìn mặt nước ".
Lm. Giu-se NGUYỄN HƯNG LỢI, DCCT Phú Sơn, Lâm Đồng

 

TN25-C48: Người giàu có trong bài Tin Mừng - Jkn

Câu hỏi gợi ý:
 

Người giàu có trong bài Tin Mừng hôm nay có phạm một tội ác nào không? Ông phải chịu hình: TN25-C48

1. Người giàu có trong bài Tin Mừng hôm nay có phạm một tội ác nào không? Ông phải chịu hình phạt nơi âm phủ vì lý do gì? Đó có phải là một tội không?
2. Làm ngơ hay lãnh đạm trước những đau khổ, cùng quẫn, cảnh áp bức mà người thân mình đang phải gánh chịu một cách bất công mà không ra tay can thiệp khi có thể, có phải là tội lỗi không? Đó có phải là thiếu tình yêu? Và như thế, có thể vào được Nước Trời là nơi chỉ dành cho những người biết yêu thương thật sự không?
Suy tư gợi ý:
1. Chúng ta chỉ là những người quản lý những gì chúng ta có
Tất cả những gì chúng ta đang có trong tay, dù là vật chất hay tinh thần (đức độ, tài năng, chức quyền, địa vị, hay của cải, tiền bạc, v.v…) cũng đều do Thiên Chúa ban. Ngài muốn chúng ta tạm thời quản lý để làm những việc ích lợi cho Thiên Chúa và tha nhân, tức làm lợi cho Nước Trời. Chúng không phải là của ta, vì nếu chúng thật sự là của ta, thì chúng cũng phải theo ta về đời sau. Nhưng trong thực tế, khi lìa cuộc đời, ta phải để lại tất cả cho người khác. Do đó, xét cho cùng, chúng ta chỉ là những người quản lý tạm thời những gì chúng ta đang có, và phải sử dụng chúng theo ý muốn của người chủ đích thực của chúng là Thiên Chúa. Và chúng ta sẽ phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa về cách chúng ta quản lý chúng. Người quản lý nào không sử dụng của cải tiền bạc của chủ đúng theo ý chủ, nghĩa là không làm lợi cho chủ mà chỉ làm lợi cho mình, sẽ bị đuổi việc hoặc phải chịu trách nhiệm về cách quản lý sai trái ấy.
Trong dụ ngôn bài Tin Mừng hôm nay, người phú hộ bị hình phạt dưới âm phủ, chịu lửa thiêu đốt và khát cháy cổ, không phải vì phạm một tội ác nào, mà chỉ vì sử dụng của cải Thiên Chúa ban để ích lợi cho một mình mình. Ông ta «mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình», bỏ mặc người nghèo ở ngay trước cổng nhà mình «sống chết mặc bay!», phải chịu «mụn nhọt đầy mình», «mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta», «thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no» mà không hẳn được ai cho. Người phú hộ ấy – cũng như biết bao người giàu có khác – nghĩ rằng những gì mình đang có trong tay là của mình, mình muốn sử dụng hay hưởng thụ thế nào, cho ai hay không cho ai là tùy ý mình. Ông ta nghĩ rằng ông hoàn toàn vô tội khi không làm thiệt hại gì ai. Đối với những người nghèo khổ đến với ông, ông nghĩ ông có quyền không cho, và làm như thế ông không có lỗi gì với họ cả: ông có làm gì khiến họ bị thiệt hại đâu!
Nhưng việc ông phải chịu phạt dưới âm phủ chứng tỏ cách suy nghĩ như thế là hoàn toàn sai lầm. Tuy dù ông không có hành động tích cực hay cụ thể nào gây bất công cho ai, nhưng việc chỉ dùng của cải Thiên Chúa ban để hưởng thụ một mình mình, hay một mình gia đình mình, đồng thời làm ngơ hoặc không đếm xỉa gì đến những đau khổ của những người nghèo túng, bị áp bức chung quanh mình, thì ông đã phạm một tội rất nặng rồi. Vì tiền bạc của cải ông có, thật ra đâu phải là của ông khiến ông có toàn quyền sử dụng theo ý mình. Ông chỉ là người quản lý, và ông phải quản lý làm sao để chứng tỏ ông có tình thương, để làm lợi cho Nước Trời, là thứ xã hội lý tưởng trong đó mọi người luôn yêu thương nhau. Có thế ông mới xứng đáng được hưởng hạnh phúc trong Nước Trời, vốn chỉ dành cho những con người có tình yêu thương thật sự. Theo bài Tin Mừng về ngày phán xét cuối cùng (Mt 25,31-46), rất nhiều người chẳng phạm một tội ác nào tích cực, thế mà chẳng thể vào được Nước Trời chỉ vì, như Chúa nói, «xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng» (Mt 25,42-43).
2. Của cải vật chất trên nguyên tắc là để mọi người hưởng dùng
Thiên Chúa tạo dựng nên của cải vật chất trên thế gian là cho tất cả mọi người hưởng dùng. Nhưng vì các cơ chế xã hội còn bất toàn, nên sự phân phối của cải chưa hợp lý, khiến cho xã hội còn nhiều bất công: «kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra». Do đó, để sửa chữa hay giảm bớt bất công trong xã hội, những ai được cơ chế xã hội ưu đãi khiến mình giàu có hơn người, dù là giàu có một cách rất hợp pháp, phải biết chia sẻ cho những người nghèo khổ hơn mình, nhất là những người gặp cảnh cùng quẫn. Đó là nghĩa vụ mà lương tâm tự nhiên của con người đòi hỏi, không cần phải nại đến luân lý Ki-tô giáo. Cổ nhân ta có những câu như «Lá lành đùm lá rách», «Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn», «Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng». Việc xây dựng một xã hội công bằng, trong đó của cải được phân chia hợp lý, hay việc chống bất công, cũng là nghĩa vụ của mọi người, nhất là những người được Thiên Chúa ban cho nhiều khả năng làm việc ấy một cách hữu hiệu (những người có tài năng, chức quyền, có địa vị trong xã hội và Giáo Hội…)
Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa công bằng và yêu thương, Ngài đã cho Con Một Ngài xuống thế để loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa hay Nước Trời và khởi đầu xây dựng nước ấy, trước hết tại trần gian, và sau đó là trên trời. Nước Trời là một xã hội hay Giáo Hội lý tưởng, trong đó mọi người đều đối xử với nhau không chỉ hợp với lẽ công bằng, mà còn phải đầy tình yêu thương nữa. Những người ích kỷ, chỉ biết hạnh phúc một mình, đầy đủ một mình, những người chủ trương ai chết mặc ai, ai khổ mặc ai, không thể là đối tượng của Nước Trời. Vì thế, những người theo Ngài, tức các Ki-tô hữu, có nhiệm vụ tiếp nối công việc của Ngài là làm chứng và xây dựng cho Nước Trời. Làm chứng là chính mình sống đúng tinh thần công bằng và yêu thương của Nước Trời ngay trong chính môi trường mình đang sống. Xây dựng là làm sao để trong môi trường mình sống ngày càng có nhiều người sống tinh thần ấy. Thiết tưởng mọi Ki-tô hữu cần ý thức và quan tâm tới chiều kích xã hội và giáo hội này.
3. Những người giàu có, hạnh phúc, cần quan tâm giúp đỡ và chia sẻ với người nghèo túng, đau khổ
Qua bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy Thiên Chúa không chấp nhận cho vào Nước Trời những người sống ích kỷ, không biết yêu thương, những người lãnh đạm hoặc làm ngơ trước những đau khổ, thế cùng quẫn, tình trạng bị áp bức, bóc lột mà những người chung quanh ta đang phải gánh chịu một cách bất công. Vì thế, một cách cụ thể, chúng ta cần biết chia sẻ, giúp đỡ họ, và phải làm một cái gì đó khi có thể. Nếu chúng ta có tình yêu đích thực, tình yêu ấy ắt sẽ khiến chúng ta bức xúc và không thể im lặng hay bất động trước những đau khổ người khác đang phải chịu trước mắt mình. Tình yêu đích thực không cho phép chúng ta hành động như anh nhà giàu trong bài Tin Mừng hôm nay, an tâm «mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình» trong ngôi nhà khang trang đầy tiện nghi, không thèm đếm xỉa đến nỗi cùng quẫn của những «La-da-rô, mụn nhọt đầy mình, thèm được những thứ trên bàn ăn rớt xuống mà ăn cho no» đang nằm trước cổng nhà mình. Tình yêu đích thực không cho phép chúng ta khoanh tay ngồi nhìn những kẻ ác tự do gây bất công cho những kẻ thế cô, khi mà chúng ta có thể dùng tài năng hay địa vị của chúng ta để can thiệp.
Chúng ta sẽ phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa về những gì Thiên Chúa ban mà chúng ta lại không sử dụng để làm lợi cho Ngài và tha nhân. Dụ ngôn về nén bạc cho chúng ta biết điều ấy (xem Mt 25,14-30; Lc 19,12-27): Kẻ nào đem chôn nén bạc Chúa trao, dù chỉ là một nén, mà không sinh lợi ích cho Ngài, thì sẽ Ngài bị kết án: «Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 25,30). Do đó, chúng ta không thể tự hào mình vô tội chỉ vì mình không hề làm điều gì bất công. Coi chừng chúng ta là kẻ tội lỗi đáng kết án chỉ vì đã không làm những gì lương tâm và tình yêu thương đòi buộc phải làm, dù bởi lười biếng hay hèn nhát…
Cầu nguyện
Lạy Cha, con cảm thấy mình chưa đủ tình thương đối với Cha cũng như với đồng loại, vì con chưa dám hy sinh một chút danh tiếng, một chút thì giờ, một chút của cải, hay chấp nhận một chút đau khổ, nhục nhã, khó nhọc để làm cho những người thân đang đau khổ chung quanh con bớt đau khổ. Con vẫn chỉ nghĩ tới sự an toàn và hạnh phúc của riêng con, coi sự an toàn và hạnh phúc của con hơn tất cả. Xin ban cho con có nhiều tình yêu hơn, vì có đủ tình yêu, con sẽ làm được tất cả những gì Chúa muốn, những gì lương tâm và tình yêu đòi buộc. Amen.

 

TN25-C49. BÁC ÁI CỤ THỂ - Lm. Louis Thanh Minh

Chắc hẳn ai trong chúng ta lúc học giáo lý đều hiểu rõ đức bác ái là cốt tủy của đạo thánh Chúa:: TN26-C49

Chắc hẳn ai trong chúng ta lúc học giáo lý đều hiểu rõ đức bác ái là cốt tủy của đạo thánh Chúa: "Mười điều răn Đức Chúa Trời tóm về hai nầy mà chớ: "Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy". Trong ba năm rao giảng nước trời Đức Chúa Giêsu đã huấn dụ rất nhiều về Đức bác ái như bài giảng trên núi (xem Mt chương 5), dụ ngôn về người Samaritanô nhân hậu (Lc 10, 29-37), diễn từ chung luận về ngày tận thế (xem Mt. 25, 31-46), dụ ngôn về người phú hộ và Lazarô hôm nay (Lc 16, 19-31). Và nhất là lời trối trăng di chúc của Ngài trong bữa tiệc ly tối thứ năm trước khi bước vào giờ tử nạn: "Thầy truyền cho chúng con hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương các con, nhờ đó thiên hạ sẽ nhận ra các con là môn đệ của thầy" (Ga 13, 34-35)
Quảng diễn giáo thuyết của thầy chí thánh, thánh Phaolô đã ca lên trong bài ca đức ái (xem 1Cor 13) và Ngài đã khẳng quyết: "Yêu thương anh em là chu toàn lề luật". Tiên tri Amos trong bài đọc 1 đã nói với những người phú quý giàu sang rằng vì họ xưa kia đã được sung sướng no đầy nên nay phải bị lưu đày.
Người phú hộ trong bài Phúc Âm, thuở sinh tiền đã sống trong nhung lụa giàu sang phung phí yến tiệc linh đình mà khinh chê rẻ rúng người hành khất đáng thương Lazarô túc trực bên vỉa hè, do đó ngày nay bị trầm luân muôn kiếp trong lửa hỏa ngục, còn Lazarô suốt đời cực khổ, sống chẳng ra người thì nay được hưởng phần thưởng trên nước Thiên đàng với tổ phụ Abraham.
Đây là một câu chuyện nửa dụ ngôn, nửa thực tế, đáng chúng ta run sợ xét lại mức độ thực thi bác ái cụ thể của mình.


 

TN25-C50: Hạnh phúc vĩnh cữu - Lm Anrê Nguyễn Hữu Nghĩa

Lời Chúa, qua ba bài đọc, muốn nhắn nhủ ta điều gì? 2. Quan niệm đúng về kẻ giàu người: TN26-C50

1.Lời Chúa, qua ba bài đọc, muốn nhắn nhủ ta điều gì?
2. Quan niệm đúng về kẻ giàu người nghèo ?
3. Sự chia sẻ.

Suy tư gợi ý:
Chủ đề của Phụng vụ Lời Chúa: Hạnh phúc vĩnh cữu.
Qua ba bài đọc, Giáo Hội muốn ta ý thức lại cùng đích tối hậu của đời ta là CUỘC SỐNG VĨNH HẰNG, là HẠNH PHÚC VIÊN MÃN. Trong bài đọc 1, Ngôn Sứ Amốt đã ghê tỡm những thú vui trần tục. Ong đã cảnh cáo các vua chúa nếu cứ tiếp tục hưởng thụ một lối sống sa đoạ, sẽ có ngày đền tội bằng một cuộc đời lưu đày vất vả. Bài dọc 2, Thánh Phaolô khuyên đồ đệ thân tín của mình hãy can đảm sống công chính cho đến ngày Đức Giêsu quang lâm. Ngày đó, những kẻ tín trung sẽ được chiêm ngắm dung nhan của vị Chúa Tể Càn Khôn, Người đã sai Đức Giêsu, Con Một của Người đến trần gian dể cứu độ chúng sinh. Hạnh phúc được chiêm ngắm Ngài sẽ là viên mãn và vĩnh cữu. Bài đọc 3, sự tương phản giữa hai cuộc sống đưa đến sự tương phản giữa hai hạnh phúc: Hạnh phúc tương đối và hạnh phúc tuyệt đối. Ở cuộc sống chóng qua này, người nhà giàu xem ra rất hạnh phúc, ăn sung mặc sướng. Trong khi đó, Ladarô nghèo đói khổ cực, bệnh tật ghẻ chốc, bị khinh rẻ. Nhưng tất cả đều qua đi nhanh chóng vì ai cũng phải chết. Sau khi chết, cuộc sống vĩnh hằng bắt đầu, hạnh phúc hay đau khổ vĩnh viễn. Ong nhà giàu đã sa vào chốn cực hình. Người nghèo khó đã ung dung hạnh phúc trong lòng Apraham. Như vậy, Lời Chúa khuyên chúng ta hãy can đảm lội ngược dòng đời, hãy từ bỏ những sự phù phiếm thế gian để chiếm lĩnh phần phúc trên trời. Nhưng thế nào là phù phiếm thế gian ? Có phải hễ cứ giàu có thì sở đắc nhiều phù phiếm thế gian chăng?
2. Quan niệm đúng về kẻ giàu người nghèo.
Qua bài Tin Mừng hôm nay, Ta thấy người giàu có đã sa vào âm phủ đời dời kiếp kiếp với những cực hình không thể tả nỗi. Một giọt nước đở khát cũng không được. Rồi ta lại liên hệ đến câu nói của Chúa Giêsu:" Người giàu có vào nước Thiên Đàng còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim". Hoá ra sự giàu có là một trọng tội? Sự nghèo khổ là cơ duyên cho một hạnh phúc vĩnh cữu? Vậy tại sao ai trong chúng ta cũng đều muốn trở nên giàu có? Nếu chúng ta không có quan niệm đúng về kẻ giàu người nghèo, chắc chắn chính chúng ta sẽ tự mâu thuẫu với chúng ta. Chúng ta thường tự hào khi đứng về phía người nghèo để đấu tranh cho họ. Không lẽ chúng ta đấu tranh cho họ để họ nghèo thêm? Mà nếu đấu tranh cho họ khá hơn thì tức là ta đã làm cho họ xấu hơn. Chương trình xoá đói giảm nghèo phỏng có ích gì? Và phải chăng ông Dale Carnegie đã sai lầm khi cho rằng một trong những điều kiện làm ta vui sống chính là ta phải thoát khỏi tình trạng túng quẫn thiếu nợ. Thực ra, nếu trong xã hội có nhiều người giàu thì càng tốt chứ sao. Vì như thế, người nghèo mới hy vọng có nơi để mượn tiền khi túng quẫn. Ai cũng thiếu ăn thì ai có thể giúp ai được.
Như vậy, kẻ giàu, theo Tin Mừng, tức là người xem của cải trần gian này là mục đích tối hậu, nếu không nói sự giàu sang phú quí chính là thần tượng mà họ tôn thờ, là Chúa của lòng họ. Cái phao cuối cùng của họ là vật chất. Họ bám víu vào nó. Họ chiếm hữu nó bằng mọi giá. Hậu quả là họ tự phụ khi họ giàu. Họ mặc cảm khi họ làm ăn thua lỗ. Họ ganh tị khi thấy người khác kinh tế khá hơn mình. Tôi còn nhớ, cách đây không bao lâu, Báo Công an Thành phố HCM có đăng tin. Chỉ vì ganh ghét người bạn đồng nghiệp ngư phủ của mình làm ăn phát đạt mà kẻ sát nhân đã mất hết tính người, trói cả gia đình người bạn quẳng xuống sông, nhận chìm luôn chiếc ghe của họ. Rất tiếc, kẻ sát nhân đó là một người "có đạo".
Còn kẻ nghèo, theo Tin Mừng, là người xem đồng tiền như một đầy tớ hữu dụng, biết dùng nó để mua những giá trị đời đời. Kẻ nghèo không bao giờ coi thường vật chất, cũng không tôn sùng nó như vị chúa tể của lòng mình. Họ biết đặt nó đúng vị trí. Do vậy, trong thực tế, có thể người giàu có trước mặt thế gian lại là người nghèo khó trước mặt Thiên Chúa. Và ngược lại. Đến đây, chúng ta có thể trở về với vấn nạn: Ta phải làm gì để đạt hạnh phúc đời đời?
3. Chia sẻ
Muốn đạt hạnh phúc đời đời ta phải trở nên nghèo khó. Nghĩa là ta không dính bén của cải trần gian này. Ta có lắm của nhiều tiền là một việc tốt. Ta biết dùng nó để tạo cuộc sống ấm no cho bản thân gia đình và xã hội, một điều kiện cần thiết dể thực thi lòng mến Chúa yêu người. Ngoài ra, ta cũng biết chia sẻ với người anh em đang thiếu thốn như là một trách nhiệm phải làm chứ không như là một việc thi ân giáng phúc. Dĩ nhiên sự chia sẻ đó phải phát xuất từ thiện tâm của ta là giúp người anh em tiến gần Chúa hơn (hiểu theo nghĩa rộng là Chân Thiện Mỹ).
NGUYỆN:
Lạy Chúa, là Khôi Bình viên, hơn ai hết con phải biết chia LỜI và sẻ BÁNH cho anh em con. Xin Chúa cho con có đủ quảng đại để biết chia mà không tính toán hơn thiệt. Xin cho con không những chỉ chia những cái dư thừa, nhưng ngay cả cái con đang cần, để con ngày nên giống Chúa Giêsu trần trụi trên thập giá hơn. Amen.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây