Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-C Bài 51-100 Quản lý bất lương

Thứ năm - 19/09/2019 06:57
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-C Bài 51-100 Người quản lý bất lương
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-C Bài 51-100 Người quản lý bất lương
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 TN-C Bài 51-100 Người quản lý bất lương
TN25-C51. NGHÈO TÌNH THƯƠNG - Lm. Nguyễn Hữu An. 3
TN25-C52. KHỔ CỰC CỦA LOÀI NGƯỜI LÀ DO THÁI ĐỘ TỪ CHỐI 6
TN25-C53: PHẤN ĐẤU CHO CUỘC SỐNG VĨNH CỬU.. 7
TN25-C54. Tìm kiếm kho tàng không hư nát 10
TN25-C55. Cơn cám dỗ cuối cùng. 12
TN25-C56. Sự trung tín. 14
TN25-C57. Kitô hữu và tiền của. 16
TN25-C58. THIÊN CHÚA CỦA TÔI 20
TN25-C59. Tên quản lý khôn khéo. 23
TN25-C60. Không thể thờ hai chủ. 24
TN25-C61. Tiền bạc của chúng ta làm Chúa quan tâm.. 25
TN25-C62. Tích trữ của cải thiêng liêng. 27
TN25-C63. LẤY XÔI BỤT ĐÃI ĂN MÀY.. 29
TN25-C64. Hỡi những ai đàn áp người cùng khổ. 31
TN25-C65. KHUYNH HƯỚNG.. 41
TN25-C66. Có chủ, chủ nào ? - Lm Vũ Xuân Hạnh. 44
TN25-C67. SỐNG VẬT CHẤT LÀM ĐỜI Ô UẾ.. 48
TN25-C68. ƯU TƯ HÀNG ĐẦU, MỘT VẤN ĐỀ MUÔN THUỞ.. 52
TN25-C69. Sử dụng tiền bạc. 64
TN25-C70. Suy niệm của ĐTGM. Ngô Quang Kiệt 66
TN25-C71. Hãy bắt đầu hơn là thế gian. 68
TN25-C72. Những đồng bạc lẻ. 70
TN25-C73. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin. 73
TN25-C74. Chú giải của R. Gutzwiller 75
TN25-C75. Chú giải của Noel Quesson. 77
TN25-C76. Chú giải của Fiches Dominicales. 81
TN25-C77. TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXV TN (Nam C) 85
TN25-C78. NGƯỜI QUẢN LÝ KHÔN NGOAN VÀ TRUNG TÍN.. 88
TN25-C79. CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN.. 90
TN25-C80. QUẢN LÝ KHÔN NGOAN.. 92
TN25-C81. Sử dụng của cải và Tài năng như thế nào?. 93
TN25-C82. HÃY LÀ NGƯỜI QUẢN GIA TỐT.. 95
TN25-C83. SUY NHẬT CHÚA NHẬT XXV - 2001. 97
TN25-C84. Chúa Nhật thứ 25 Thường Niên. 99
TN25-C85. CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN, năm C.. 104
TN25-C86. CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN.. 106
TN25-C87. NẾU ĐỒNG TIỀN BIẾT NÓI 107
TN25-C88. Tin Vui Qua Những Dấu Chỉ Thời Đại 111
TN25-C89. KHỦNG HOẢNG.. 114
TN25-C90. Chúa Nhật 25 Quanh Năm.. 117
TN25-C91. CHÚA NHẬT 25 QUANH NĂM... 120
TN25-C92. THÁNH HỒ ĐÌNH HY - Lm Augustine, SJ. 124
TN25-C93. KHÔNG THỂ MẾN THIÊN CHÚA.. 127
TN25-C94. Khôn ngoan thế gian -  Jkn. 131
TN25-C95. PHẢN BỘI - Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR.. 135
TN25-C96. Vật ngoài thân - Lm Trọng Thưởng, CMC.. 138
TN25-C97. Bất trung hay trung tín - Lm Vũ Khắc Nghiêm.. 139
TN25-C98. KHÔNG AI CÓ THỂ LÀM TÔI HAI CHỦ.. 141
TN25-C99. TIỀN BẠC.. 144
TN25-C100. Đồng tiền liền khúc ruột! 147

 

TN25-C51. NGHÈO TÌNH THƯƠNG - Lm. Nguyễn Hữu An

Dụ ngôn Người Phú hộ và La-da-rô mô tả một bức tranh tương phản, 2 con người với 2 cuộc sống “mot: TN25-C51

Dụ ngôn Người Phú hộ và La-da-rô mô tả một bức tranh tương phản, 2 con người với 2 cuộc sống “mot trời, một vực”. Người phú hộ dư ăn dư mặc, La-da-rô nghèo khổ, bệnh tật đói lả.Người phú hộ mặc toàn lụa là gấm vóc, La-da-rô rách nát tả tơi. Người phú hộ nhà cao cửa rộng, ngày ngày yến tiệc linh đình La-da-rô mụn nhọt đầy mình, lây lất đói khổ trước cổng nhà Phú hộ, thèm ăn những thứ rớt xuống từ bàn ăn nhưng chẳng có, chỉ có mấy con chó đến liếm ghẻ chóc.
Họ thật gần nhau trong không gian, chỉ cách có một cánh cổng vẫn thường khép kín như lòng người giàu có, nhưng lại thật xa nhau trong nhân cách, trong tình người. Người phú hộ giàu có nhưng lại nghèo nàn tình thương, La-da-rô đã nghèo khổ lại không được ai xót thương. Cả hai con người này đều thiếu nghèo tình thương. Dụ ngôn thật sống động diễn tả bức tranh hiện thực của thế giới mà trong đó hố ngăn cách giữa giàu nghèo ngày càng lớn, tình thương giữa người với người ngày càng hiếm hoi nhạt nhoà.
Đức Cha Ni-cô-la Huỳnh Văn Nghi, Giáo Phận Phan Thiết, trong Thư Mục Vụ số 63 năm 2001, đã viết:
Tiếp tục suy niệm về sự nghèo khó của con người, hôm nay tôi muốn bàn với anh chị em về sự nghèo thiếu tình thương. Đây là cảnh nghèo đáng thương hại nhất, vì nó chạm đến căn tính của con người, được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, mà “Thiên Chúa là Tình Thương” ( x. 1 Ga 4, 8 ).
Vậy thì, bản chất của con người là Tình Thương. Đức Gio-an Phao-lô đã viết trong Thông Điệp Đấng Cứu Chuộc Con Người lời nhận định như sau:
“Con người không thể sống nếu không có tình yêu. Không tình yêu con người không thể tìm hiểu được chính mình. Đời sống con người sẽ trở nên vô nghĩa, nếu không đón nhận mạc khải của tình yêu, nếu không gặp gỡ tình yêu, nếu không cảm nghiệm và lấy tình yêu làm của mình và không dự phần mạnh mẽ vào đó” ( số 10 )
NGHÈO CĂN TÍNH
Vì Tình yêu là căn tính của con người, nên thiếu tình yêu là sự nghèo khó thảm hại và nguy hiểm nhất. Nó tác động đến bản chất, nó làm cho con người ra thoái hóa, bần tiện và vong thân. Nó hủy diệt con người từ tâm hồn đến dung mạo, nó hạ thấp con người. Thánh Phao-lô viết: “Giả như tôi được nói tiên tri, được thông hiểu mọi điều bí nhiệm và mọi lẽ cao siêu… nhưng không có lòng mến, thì tôi chẳng là gì” ( 1 Cr 13, 2 ).
Đó là tình cảnh của những người độc ác, những kẻ giết người, những tên tội phạm chiến tranh, những người nặng óc kỳ thị, thù oán, vu khống, ích kỷ, vụ lợi, tham ô, làm giàu trên xương máu của người khác. Sự nghèo thiếu căn tính này càng gia tăng, khi nó xuất phát từ những bè phái, những băng đảng, những tập đoàn chỉ biết nghĩ đến quyền lợi của phe nhóm mình mà chà đạp trên nhân phẩm, nhân quyền, sự sống và hạnh phúc của người khác hay của những dân tộc khác.
Đối diện với những người hay những tập đoàn giàu có, đầy quyền lực và quyền bính nhưng thiếu tình yêu này, là hàng triệu, và có khi cả tỷ người cùng khốn, cô đơn, tàn tật, bệnh hoạn, bị bỏ rơi, bị xã hội khai trừ vì lý do này hay lý do khác, đang khao khát tình yêu, lòng thương xót, sự chia sẻ, sự cảm thông… như người hành khất La-da-rô trong Phúc Âm, không được một ai chiếu cố, yêu thương và nâng đỡ.
Lời Chúa Giê-su trong Phúc Âm vẫn còn có tính thời sự: “Ta đói các ngươi đã không cho ăn; Ta khát các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù các ngươi đã chẳng thăm Ta” ( Mt 25, 42 – 43 ).
Cả hai hạng người thiếu tình yêu nói trên đều đáng thương. Những người nghèo thứ nhất…, vì lòng họ đã chai cứng, không còn hấp thụ được tình yêu. Những người nghèo thứ hai…, vì quá ít người còn biết yêu thương họ. Thế giới hôm nay, trong đó có quê hương chúng ta, là một thế giới giàu về vật chất, nhưng lại rất nghèo về tình thương. Có những nước không ngần ngại bỏ ra những số tiền khổng lồ để mua sắm khí giới.
Có những chính phủ đốt hằng tỷ đô-la để xây đài, xây mả, đắp tượng, xây cất dinh thự, trong khi người dân cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, việc học hành của con cái không lo nổi. Đó là chưa nói đến sự chênh lệch giữa người giàu với người nghèo, giữa những người được ưu đãi nhờ thời thế và những người cô thân độc mã! Nền văn minh của Thế giới cần được xây dựng lại, không trên của cải vật cất, mà trên tình thương: Nền Văn Minh Tình Thương.
NỀN VĂN MINH TÌNH THƯƠNG
“Văn minh là hình thức cuộc sống của một xã hội trong các lĩnh vực chính trị, nghệ thuật, đạo đức và tôn giáo” ( Từ điển Tiếng Việt ). Hình thức cuộc sống này, đương nhiên, nếu muốn được coi là văn minh, phải phù hợp với căn tính và phẩm giá của con người. Do đó, một quốc gia không tôn trọng nhân phẩm và những quyền tự do căn bản của con người: như quyền tự do tham gia việc nước, việc phát triển kinh tế, quyền tự do văn hóa, nghệ thuật và ngôn luận, cũng như quyền sống đạo đức và tự do tôn giáo, quốc gia đó chưa đáng được gọi là văn minh. Lý do là vì căn tính con người là Tình Thương.
Vậy thì, trong mọi lãnh vực: chính trị, kinh tế, khoa học, nghệ thuật, văn hóa, đạo đức và tôn giáo, những gì dựa trên tình thương, xuất phát từ tình thương, nhằm mục đích đưa đến tình thương… những cái đó mới thực sự là văn minh. Một nhà khoa học, một kỹ nghệ gia, một nhà chính trị, thương gia, tướng lãnh, không biết thương thì vẫn còn là những người không văn minh. Thế giới của chúng ta vẫn còn rất nhiều người nghèo thiếu đó. Thành kiến, hận thù, ganh tỵ, tâm địa nhỏ nhen hẹp hòi đầy ắp trong đầu họ. Đất nước dưới bất cứ chân trời nào, sẽ không bao giờ được thực sự văn minh, bao lâu còn có những hạng người tai hại đó.
Một vị thủ lãnh nọ đã nói: “Khi đến thăm một quốc gia, điều mà tôi muốn biết để đánh giá trình độ văn minh của nước đó, chính là bầu khí và cách đối xử lịch sự, bằng hữu và yêu thương giữa nhân dân họ với nhau.”
Vậy, chúng ta hãy động viên nhau từ bỏ óc bè phái, chia rẽ, thành kiến, nghi kỵ,  hẹp hòi, kỳ thị, chèn ép, vụ lợi, khai trừ, quan liêu, lợi dụng và lạm dụng nhau. Hãy cùng nhau xây dựng một nền văn minh phù hợp với bản tính con người: yêu thương, đại độ, khoan dung, bình đẳng, liên đới, đầy tình người và tình đồng bào: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”.
CHÚA KI-TÔ, TÌNH YÊU THIÊN CHÚA
Nói về gương hy sinh của Chúa Ki-tô, Thánh Phao-lô đã viết: “Anh em biết Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” ( 2 Cr 8, 9 ).
Con đường tốt nhất để xóa đói giảm nghèo tình thương là đấu tranh để khai trừ tội ác, nhất là nơi những con người, do lòng tham lam tiền bạc, quyền bính, thế lực mà táng tận lương tâm, diệt trừ mọi nguyên nhân và cơ hội gây tội ác: vì chung quy mọi thứ tội đều xuất phát từ sự nghèo tình thương. Đồng thời, hãy nỗ lực cổ vũ lòng đạo đức, tình yêu thương được cụ thể hóa bằng những công tác từ thiện, bác ái, phục vụ, tha thứ và cảm thông… hãy thương người như thể thương thân: “Thương anh em như Chúa yêu thương mình” ( x. Ga 14, 34 ).
Thế giới văn minh lại càng đào sâu hố ngăn cách giữa nước giàu và nước nghèo, giữa thiểu số người giàu và đa số người nghèo. Chính tôi cũng giàu về một mặt nào đó: giàu trí tuệ, giàu bạn bè, giàu thế lực, giàu chổ đứng trong xã hội, giàu đời sống thiêng liêng. Hố sâu chỉ được lấp đầy bằng cách mở tung cánh cửa yêu thương và chia sẽ, nhìn nhận tài nguyên thế giới là của mọi người, sống như một nhân vị, sống như con cái Thiên Chúa, sống như anh chị em tôi. Mỗi người chúng ta đều có một La-da-rô chờ ngoài cửa, nếu chúng ta mở cửa và mời người đó đồng bàn, thì chúng ta sẽ trở nên người giàu có thực sự, và trưởng thành viên mãn trong nhân cách. (  Trích Manna Năm C ).
Lạy Chúa, xin cho chúng con đừng sống dửng dưng, thờ ơ, khép kín trước người nghèo, nhưng biết động lòng xót thương như Chúa đã thương những người cùng khốn. Xin cho chúng con luôn sống quãng đại cho đi, vui vẻ chia sớt, không chỉ của cải vật chất mà có khi là một nụ cười thân thiện, một cái bắt tay khích lệ, một lời nói an ủi đở nâng, một lần viếng thăm, một cuộc gặp gỡ kiến tạo sự hiệp nhất bình an. Xin cho chúng con biết đến với Chúa nhận lãnh tình thương để quãng đại trao ban mỗi ngày.
Lm. NGUYỄN HỮU AN ( Phan Thiết )

 

TN25-C52. KHỔ CỰC CỦA LOÀI NGƯỜI LÀ DO THÁI ĐỘ TỪ CHỐI

“Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống;
Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc;
Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm nom" ( Mt 25, 42 tt )

 

Tất cả những nỗi khổ cực đớn đau của loài người đều bắt nguồn từ tội biển lận mà ra. Khổ vật: TN25-C52

Tất cả những nỗi khổ cực đớn đau của loài người đều bắt nguồn từ tội biển lận mà ra. Khổ vật chất, là vì đã có những kẻ hà tiện không bao giờ mở tay làm phúc. Khổ tinh thần, là vì đã có những kẻ tiếc lời không bao giờ chịu mở miệng hỏi han. Tất cả những nỗi khổ cực đau nhói hay âm , tất cả những nỗi đắng cay, tủi nhục, sầu não, hận thù, và tuyệt vọng trên cõi đời này, chung quy là một cơn đói khát không nguôi, vì thiếu tình thương.
Từ đứa bé khóc nức nở vì bị mẹ đánh oan, cho tới cụ già bị bỏ quên vì bây giờ con cháu đã là ông nọ bà kia. Từ cô gái xấu số kém duyên kém sắc lủi thủi một mình, từ người vợ bị chồng ruồng bỏ vô cớ, cho tới người đàn bà bị phụ tình mượn giòng nước đ rửa sạch nợ đời. Từ kẻ bị bạn thân cố tình thất hứa lừa gạt, cho tới bệnh nhân nghèo đang hấp hối một mình trong khi y tá trực còn bận uống cà-phê phòng bên. Từ đứa bé mồ côi cả cha lẫn mẹ, cho tới kẻ tử tội dắp ra pháp trường...
Tất cả đã đau khổ vì thiếu tình thương, vì chỉ nhận được  một thứ tình thương nhỏ giọt. Tất cả đã không có được một chút cảm thông xót thương mà người đời từ chối không cho.
Một kẻ nào đó đã cất dấu, đ dành cho riêng mình điều mà những người xấu số trên đây cần có đ sống. Nhưng rút cuộc, điều cần thiết cho người đang thiếu sẽ chỉ là vô ích đối với kẻ đã có thừa, kẻ ấy có giữ rịt lại cũng đến bỏ phí mà thôi.
ISABELLE RIVIÈRE. Lê Văn Lộc ( † 1988 ) dịch. Trích VUI ĐỜI PHỤC VỤ tập 31

 

TN25-C53: PHẤN ĐẤU CHO CUỘC SỐNG VĨNH CỬU

NGAY BÂY GIỜ
-Phạm Ngọc Lê
 

Đối với những ai tin vào sự vĩnh cửu, thời gian thật quý giá bởi vì hôm nay quyết định cho tình: TN25-C53

Đối với những ai tin vào sự vĩnh cửu, thời gian thật quý giá bởi vì hôm nay quyết định cho tình trạng của ta trong thế giới mai sau. Dụ ngôn người giàu và Ladarô nghèo khó, không có ý nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa giàu và nghèo. Thật ra, nó nêu rõ cách thức Thiên Chúa sẽ đoán xét thái độ của ta trước sự giàu sang và nghèo khó. Người giàu ở đời này đã sử dụng thời gian của mình cho yến tiệc và no đủ, không một chút quan tâm đến người nghèo, sẽ phải nhận lấy một thay đổi đáng buồn cho cuộc sống tương lai. Đây là điều đã xảy ra cho người giàu trong Tin Mừng. Người nghèo trong đời này chấp nhận số phận của mình với lòng thanh thản, không than van oán hờn, sẽ nhận được phần thưởng trong cuộc sống vĩnh cửu là chính Thiên Chúa, kho tàng đích thực. Đây là điều đã xảy ra cho người nghèo Ladarô. Người trước, thật bất hạnh cho anh, đã sống như vĩnh cửu không có, ngược lại kẻ sau là một người nghèo của Giavê, hoàn toàn tin tưởng nơi Thiên Chúa. Người giàu không bị kết án bởi vì anh ta giàu, nhưng bởi vì anh ta không biết thương xót, không thương hại đến người đang nằm chờ trước cửa nhà ông. Ladarô không được thuởng vì cái nghèo của anh, nhưng bởi sự chịu đựng và tha thứ, giống ông Gióp xưa. Người giàu dùng của cải phục vụ cho sự hưởng thụ và vô độ, trong khi Ladarô đặt cái nghèo của mình để phục vụ cho niềm hy vọng. Trong dụ ngôn, Đức Giêsu dạy chúng ta rằng trong cuộc sống vĩnh cửu- và có thể ngay khi còn sống ở trần gian này- Thiên Chúa sẽ thuởng công minh cho mỗi người tuỳ theo hành vi của họ. Lời giáo huấn này phải soi chiếu cuộc sống hiện tại của ta, để chúng ta cũng có thể nói rằng chúng ta đang sống cuộc sống hiện tại trong ánh sáng vĩnh cửu. Nói cách khác, suy tư về cuộc sống tương lai kích thích ta sống công bằng và liên đới trong cuộc sống hiện tại. Điều ngược lại sẽ xảy ra cho người giàu của Samaria, không quan tâm đến tương lai và không nhớ gì đến số phận của đất nước họ, sống trên chiếc giường ngà và ngả ngớn trên trường kỷ, ăn chiên non nhất bầy, bê béo nhất chuồng; họ uống rượu cả bầu và xức dầu thơm hảo hạng” (Bài 1) Niềm tin- Đời này- Vĩnh cửu.
Phaolô khuyên Timôthêô, người của Chúa, một tín hữu và là kitô hữu đích thực, hãy “tránh xa những điều đó”. Tránh những điều gì? Hà tiện, tham lam, ham muốn tiền bạc. Cần xa tránh chúng bởi vì “chúng ta chẳng đem gì vào trần gian, thì cũng chẳng mang gì ra được.” (1 Tm 6,7). Ngài còn khuyên Timôthêô “chiến đấu trong trận chiến đức tin” trong cuộc đời này, để chiếm được cuộc sống vĩnh cửu nơi Đức Giêsu Kitô ngự trị, là Vua trên hết các vua, Chúa trên hết các Chúa. Lòng tin giống như ngôi nhà trong đó kitô hữu đã sống sự vĩnh cửu ngay cuộc sống đời này. Bởi vì họ sống cái vĩnh cửu ngay đời này, họ “phải gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, hãy gắng sống nhẫn nại và hiền hòa” (bài 2) Bởi vì họ sống cái vĩnh cửu ngay đời này, nên họ phải thực sự lo tìm vinh danh Thiên Chúa. Ngôn sứ Amos, dạy ta rằng đã có lòng tin giả dối, niềm tin giả tạo trong sự phụng thờ và trong tôn giáo, mà Núi Garizim và Núi Sion là tiêu biểu, họ tưởng chỉ nhờ sự phụng thờ đó đủ để đạt được ơn cứu độ. Lòng tin đạo đức thôi không tự động dẫn ta đến ơn cứu độ vì thường xuyên nó được bọc bằng đủ thứ hình thái của sự bất công và bất an trong đời sống. Tự bản chất, vĩnh cửu chỉ được đảm bảo cho những ai sống cuộc sống lòng tin được thể hiện qua những hành động bác ái.
GỢI Ý MỤC VỤ.
Của cải dùng để phục vụ.
Trong Giáo Lý, ta đọc thấy, “Những thiện hảo của công trình Thiên Chúa tạo dựng đều nhằm cho toàn thể nhân loại”. Đây là một phát biểu mang tính tuyệt đối, và nó không bị lệ thuộc vào những đổi thay trên bình diện lịch sử hoặc tâm linh, vào sự phát triển của kỹ thuật, hoặc do việc toàn cầu hóa kinh tế. Trái lại, xuyên suốt lịch sử, luôn có nhiều khác biệt trong việc phân phối những của cải và tài nguyên cho những quốc gia khác nhau; đã luôn có và sẽ còn có người giàu và kẻ nghèo. Sau cùng, những khác biệt này thường do những hình thức bất công lớn đã gây hại cho mọi nơi trên hành tinh chúng ta. Đối diện với ba yếu tố này, là kitô hữu chúng ta có sứ mệnh trọng đại phải thực hiện giữa các anh chị em ta. Nhiệm vụ đầu tiên, đương nhiên là quan tâm thích hợp đến sự giàu có. Đây chẳng phải là một thần minh mà ta phải tôn thờ dù phải trả bằng sinh mệnh của người nghèo và túng cực. Đây là một điều tốt, nhưng đó không phải là điều duy nhất và điều thiện hảo nhất. Đây là một thiện hảo nằm trong tầm tay của chúng ta, mà Thiên Chúa trao ban cho mỗi người chúng ta, nhưng không hoàn toàn thuộc về chúng ta. Nói cách khác, ta không thể làm gì tùy ý ta, bởi vì nó được nhằm cho mọi người. Điều này đưa ta đến phận vụ thứ hai: “sự giàu sang được ban cho ta để ta phục vụ chứ không phải để ta thống trị kẻ khác,” nghĩa là những ai thiếu thốn của cải không phải bị lệ thuộc hơn những người chiếm hữu. Khuynh hướng của con người muốn thống trị kẻ khác có từ xa xưa và hết sức mạnh mẽ. Vì thế mà sự giàu có, giữa bao nhiêu điều khác, là một nguy cơ, bởi vì nó giống như một nữ thần có sức quyến rũ đầy thống trị và quyền lực. Là kitô hữu, trước hết ta phải sống tinh thần nghèo được Tin Mừng loan báo. Ta sẽ trở nên mẫu mực cho mọi người và tuyên bố chân lý này là tiền bạc hoặc nó phục vụ con người hoặc nó chẳng phục vụ gì cả, ít ra trong mắt của những người tin và trong mắt của Chúa.
Tham lam, tội chống lại sự vĩnh cửu.
Người tham lam chỉ biết cái hiện tại, mà nó nghĩ rằng chẳng bao giờ chấm dứt. Nên đặt vĩnh cửu vào ngay trong đời này, nhưng nó hiểu rằng điều đó không thể thực hiện được. Và vì thế, nó hành động bằng cách xem như không biết đến vĩnh cửu, và càng giữ chắc lấy viên đá trống rỗng của hiện tại. Có thể nói rằng tham lam là một ham muốn đâm rễ sâu trong lòng mọi người. Tích trữ của cải, muốn gia tăng thêm, khát vọng của cải và quyền lực, và sống hưởng thụ là những ước muốn của con người hay chết của chúng ta, dù kitô hữu hay không kitô hữu, tin hay vô thần, linh mục, tu sĩ hay giáo dân. Tự bản chất điều này chẳng phải là một tội, nhưng ngay khi khuynh hướng này trở thành một đam mê đầy hấp lực và cả cuộc đời chỉ lo tận lực tích trữ, chiếm hữu và sống hưởng thụ, con người trở thành nô lệ cho tội tham lam. Thực thế, khi có thái độ tham lam, con người phạm tội chống lại sự khó nghèo bởi vì thay vì đặt mình cậy dựa Thiên Chúa, là sự Thiện Tuyệt Hảo, con người làm nô lệ cho thần tài chóng qua và không thể thỏa mãn được. Là tội chống lại sự khó nghèo vì nó không xử dụng của cải để phục vụ người khác mà chỉ để thỏa mãn đam mê riêng mình. Là tội chống lại chương trình của Thiên Chúa, Đấng đã dành mọi sự thiện hảo cho tất cả mọi người. Thiên Chúa lại tiếp tục dành cho mỗi thế hệ để họ hoàn thành ý muốn của Ngài. Kitô hữu chúng ta nên hoán cải trở về tinh thần nghèo khó của phúc âm. Ta sẽ được tự do khỏi mọi ràng buộc và xiềng xích của bạn tiền là cái làm cho ta mất tự do để sống thực sự Tin Mừng. Tôi có thể tự thuyết phục mình rằng tâm hồn nghèo khó là tâm điểm của sự khó nghèo, và đó là mùa xuân tươi đẹp của hòa bình và của tình huynh đệ. Nghèo trong lòng và trong cuộc sống, như Mẹ Têrêxa Calcutta, là một chúc lành của Thiên Chúa cho mọi người!
Lm Phêrô Phạm Ngọc Lê

CẦU NGUYỆN:
Lạy Chúa, xin đến với mọi kẻ đang cô đơn, sắp sa cơn tuyệt vọng, Xin đoái nhận họ làm nghĩa tử. Cực khổ thay, kẻ không có cha mẹ vợ con, không nơi nương tựa ! Tủi nhục thay khi thấy nỗi khổ của mình có nói ra cũng chỉ làm cho người nghe thêm bực mình khó chịu !
Xin Chúa cho hồi sinh những ai bị lòng dạ ích kỷ keo kiệt của người đời xô đẩy vào một thứ sa mạc. Đối với kẻ ngã lòng, chập chờn muốn tự tử, coi cái chết là một lối thoát, Xin ban cho họ một niềm ủi an mát như giòng suối, dịu như dàng như đôi bàn tay của mẹ hiền.
FRANCIS JAMES

 

TN25-C54. Tìm kiếm kho tàng không hư nát

VietCatholic News (15/09/2004 )

CHA NHẬT 25 MA THƯỜNG NIN C

 

Tiền là nhu cầu tối thiết cho cuộc sống trên đời này nhưng cũng là nguy cơ to lớn nhất làm tan: TN25-C54

Tiền là nhu cầu tối thiết cho cuộc sống trên đời này nhưng cũng là nguy cơ to lớn nhất làm tan vỡ gia đình, làm mất tình người và gây ra biết bao tai họa cho con người ở khắp mọi nơi, và ở mọi thời đại..

Tuy nhiên, không ai ngây thơ nghĩ rằng tiền không quan trọng và không cần thiết cho cuộc sống trên đời này. Ngược lại, phải công bình mà nhìn nhận tầm quan trọng và giá trị đúng mức của tiền bạc trong cuộc sống ở mọi lãnh vực. Tiền không những cần thiết trong đời sống cá nhân, gia đình, xã hội mà còn cả trong Giáo Hội nữa. Cụ thể, Giáo Hội hoàn vũ (Rome) hàng năm phải cần đến một ngân khoản không dưới 100 triệu đôla để chi phí cho Sứ vụ Rao giảng Tin Mừng ( tài trợ cho các xứ Truyền giáo trong đó có Việtnam) chi phí phụng tự, điều hành và quản trị. Đây là những nhu cầu chính đáng cần đến tiền để Giáo Hội tiếp tục Sứ vụ (Ministry) của Chúa Giêsu trong trần gian cho đến ngày giờ sau hết.. Ở bình diện nhỏ hơn, các Giáo phận, Giáo xứ khắp nơi trong Giáo Hội đều cần đến tiền đóng góp và dâng cúng của giáo dân để hoạt động và tồn tại. Không có tiền, thì mọi công tác tông đồ và mục vụ cần thiết như điều hành các trường Công giáo, nhà thương, phục vụ cho người già, trẻ em mồ côi, khuyết tật, v,v sẽ không thể thực hiện được. Mặc dầu vậy, Giáo Hội chỉ cần tiền như một phương tiện để hoạt động chứ không phải là mục đích tối hậu phải kiếm tìm.Trong tinh thần đó, Giáo hội đã không ngừng dạy dỗ cho con cái mình phải ý thức rõ điều này để tránh nguy cơ làm nô lệ cho tiền bạc, tôn thờ của cải vật chất, nguy hại cho mục đích tôn thờ một mình Thiên Chúa và tìm kiếm hạnh phúc thiêng liêng. Đây chính là điều Chúa Giêsu đã cảnh giác các môn đệ cách nay trên 2000 năm : “ anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được” (Mt 6, 24; Lc 16,13). Làm tôi tiền của thì sẽ không còn công lý, bác ái, nhân nghĩa và vị tha nữa. Làm tôi tiền của sẽ đi đến chỗ tán tận lương tâm với tha nhân và ngay cả với người thân trong gia đình. Làm tôi tiền của là nguyên nhân sâu xa của mọi xung đột gia đình, xã hội và quốc tế.Chiến tranh liên tục xảy ra cũng phần lớn vì quyền lợi vật chất, kinh tế giữa các quốc gia lớn nhỏ tranh giành nhau, núp dưới chiêu bài “giải phóng nghèo đói, loại trừ độc tài”.

Trong Tin Mừng Chúa Nhật tuần này, Chúa Giêsu, qua dụ ngôn “Người quản gia bất trung” đã chỉ rõ cho chúng ta thấy không những nguy cơ của lòng tham mê tiền của mà hơn thế nữa, là sự kiện người ta chỉ lanh lợi trong việc mưu tìm hạnh phúc đời này hơn là biết khôn ngoan tìm kiếm những của cải không hề hư mất là hạnh phúc Nước trời.

Thật vậy, người quản gia trong dụ ngôn trên tượng trưng cho những kẻ tham lam bất chính, đã không biết đến hay biết mà coi thường hai giới răn thứ bảy và thứ mười cấm lấy của người và chớ tham của cải của người khác.Tên quản gia bất chính này không những đã tiêu sài phung phí tài sản của chủ trong bao năm làm quản lý mà còn tham lam lấy thêm của chủ để mưu ích cho mình trước khi bị mất việc. Nhưng chủ lại khen y “hành động khôn khéo” vì y biết dùng tiền của để mua chuộc cảm tình của người khác hầu có lợi cho mình sau này. Nhưng đây không phải là bài học Chúa muốn dạy chúng ta. Chắc chắn Chúa không dạy chúng ta bắt chước người quản gia kia trong việc quản lý tài sản của người khác.Ta phải tôn trọng công bình để không tham lam xâm phạm tài tản của ai. Không thể trốn thuế và lấy của công làm của riêng. Không được “bắt bí” người di dân bất hợp pháp để mướn họ làm với giá rẻ mạt, không đúng với luật lao động. Cũng không thể lấy tiền của người khác để làm việc bác ái hầu cho mình được, danh thơm, tiếng tốt.

Điều cốt lõi Chúa muốn dạy chúng ta qua dụ ngôn này là chúng ta hãy học “cái khôn” của người quản lý kia để tìm kiếm “ những kho tàng trên trời nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi…” (Mt 6, 20). Nghĩa là ta không nên chỉ khôn ngoan lanh lẹ trong việc tìm kiếm danh lợi trần thế nhưng lại quá khù khờ, ngu dại trong việc tìm kiếm những giá trị tinh thần, những thực thể siêu nhiên do niềm tin thúc đẩy. Người quản lý kia chắc không có niềm tin thiêng liêng này nên chỉ khôn ngoan trong việc tìm kiếm hạnh phúc trần thế. Đó cũng là thực trạng của bộ mặt thế giới và Giáo Hội ngày nay: Người ta rất tiến bộ trong khoa siêu tôn vật chất, tìm kiếm danh lợi chóng qua nhưng rất chậm tiến hay lạc hậu trong lãnh vực thiêng liêng có giá trị đời đời. Người ta tân dụng tài năng trí tuệ, sức khỏe, thì giờ và tiền bạc để mưu tìm thắng lợi, thành công trong chính trường, thương trường và thế giới nghệ thuật nhưng rất thơ ơ hay dửng dưng với nhu cầu đào luyện thiêng liêng “spiritual formation” nhằm giúp hiểu biết thêm về Chúa và giáo lý của Người để biết yêu mến Chúa hơn. Người ta cũng không ngại mất thì giờ để đi đến những nơi xa xôi tốn phí nhiều tiền để được thưởng thức những “món ăn và thú vui đặc biệt” nhưng lại rất ngại ngùng đi đến nhà thờ để cầu nguyện lấy một giờ trong tuần ! Người ta có thể ngồi cả 5, 6 giờ đồng hồ để xem và đánh cá những trận đá banh, những chương trình ca vũ, nhạc cuồng loạn, xem những vở kịch vô luân,hay nghe những chuyện chọc cười nhảm nhí, nhưng luôn đi trễ hoặc bỏ Lễ ngày Chúa Nhật và hay than phiền nếu phải nghe bài giảng dài hơn 10 phút, dù hay dù dở !

Đây là sự khôn ngoan, lanh lợi của “con cái sự sáng” hay “con cái thế gian” ?
Lm FX Ngô Tôn Huấn


 

TN25-C55. Cơn cám dỗ cuối cùng

Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi (Mt 4,9): Đó không phải là: TN25-C55

 “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi” (Mt 4,9): Đó không phải là “Cơn cám dỗ cuối cùng” dành riêng cho Đức Kitô nơi hoang mạc, mà là cơn cám dỗ triền miên của nhân loại muôn nơi muôn thuở. Cơn cám dỗ nầy ngày nay lại núp đưới nhiều hình thức được nguỵ trang bằng nhiều lớp vỏ : nhiều cơ sở, phương tiện tốt để phục vụ tốt. Bằng cấp, học vị cao để có đủ uy tín làm việc. Phải hoà nhập, ngang tầm với xã hội kẻo bị đào thãi. Người ta có gì mình phải có nấy mới khỏi lạc hậu... Nếu không tỉnh táo và nhận định một cách sáng suốt theo sát chỉ dẫn của Tin Mừng chúng ta dễ có nguy cơ đánh mất căn tính của đời sống Kitô hữu, đời sống vốn được định hướng và đặt nền tảng trên những giá trị của Phúc Âm như : “Khó Nghèo, Hiền lành, trong sạch, yêu thương…”. Nói cách khác, đời sống đức tin là một nỗ lực không ngừng “chọn đứng về phía của Thiên Chúa” thay vì “đặt mình làm nô lệ cho những thần tượng vật chất”; đó cũng chính là nỗ lực biết quản lý và sử dụng của cải vật chất, những giá trị trần gian phù hợp với chương trình và thánh ý Chúa.

Chúng ta có thể tìm thấy nội dung ý nghĩa trên qua sứ điệp phụng vụ Chúa Nhật 25 TN C được phản ảnh rõ nét qua các bài đọc Lời Chúa sau đây :

1. Bài đọc 1 : Trích sách ngôn sứ Amos (Am 6, 1a,4-7) : Đây là một lời tố cáo những kẻ làm giàu bằng cách bóc lột và đối xử bất công đối với người nghèo. Sự ham mê tiền của đã làm cho những kẻ ấy chai cứng cõi lòng, khép kín trái tim trước nổi thống khổ của anh em và lôi kéo họ xa lìa Thiên Chúa. Công lý của Thiên Chúa sẽ kết án họ.

2. Bài đọc 2 : Trích thư thánh Phaolô gởi cho Timôthê (1 Tm 2,1-8) : Khuyến dụ hãy cầu nguyện cho mọi người, đặc biệt, cho những ai có trách nhiệm trên cuôc sống an cư hạnh phúc của kẻ khác. Điều nầy gợi ý cho chúng ta nhận thức rõ về trách nhiệm trần thế của người kitô hữu. Đức tin đòi hỏi chúng ta luôn phải tích cực dấn thân xây dựng trần thế, góp phần làm cho cuộc sống mỗi người được an vui hạnh phúc và nhận ra phẩm giá cao quí của mình. Quay lưng trốn chạy cuộc sống hiện tại quanh ta, là đi ngược với Tin Mừng của Đức Ki-tô và chống lại ý định của Thiên Chúa.

3. Bài Tin mừng : Trích sách Tin mừng Luca (Lc 16,1-13) : Qua dụ ngôn “Người quản lý bất lương”, Đức Ki-tô muốn chúng ta có một lựa chọn đúng đắn đối với tiền của và những giá trị trần gian. Ngài dạy rằng, không được coi tiền của như ông chủ, như đối tượng duy nhất để phải trở thành một thứ nô lệ; nhưng hãy sử dụng tiền của như phương tiện để chuẩn bị cho mình một kho tàng vĩnh cửu là hạnh phúc Nước Trời. Sứ điệp của Đức Ki-tô nối dài lời dạy của các Ngôn sứ, kêu gọi chúng ta hướng về Thiên Chúa là Vị Chủ Tối Cao mà tất cả mọi sự đều phải qui hướng về Ngài. Chính trong thái độ đức tin căn bản nầy, người kitô hữu luôn thanh thản dấn thân xây dựng trái đất ngày càng tươi đẹp, phục vụ mọi người ấm no hạnh phúc và can đảm vượt qua những đam mê ham muốn tầm thường để tiến bước về quê hương vĩnh cửu.

Tóm lại, ở giữa một thế giới đang tìm kiếm và đầu tư hết mình cho sự “giàu có và hưởng thụ”, một thế giới muốn quay mặt lại chối từ Thiên Chúa, đóng kín chính mình, lấy mình làm thước đo, làm điểm tựa cho tất cả, người Kitô hữu phải ra sức “bơi ngược dòng” để trung thành với lời mời gọi của Đức Kitô, một Đức Kitô sinh ra khó nghèo trong hang lừa máng cỏ, sống khó nghèo đến độ “không có viên đá gối đầu” và chết trần trụi trên thập giá. Tuy nhiên chúng ta hãy xác tín rằng : khi chọn “đứng về phía của Thiên Chúa”, chọn lựa con đường phúc thật của Tin Mừng, là chúng ta đang chiếm hữu chìa khóa đích thực để mở cánh cửa hạnh phúc, để cọng tác với Thiên Chúa xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, như thánh vịnh đáp ca chúng ta cùng hát lên hôm nay :

“Chúa giải phóng những ai tù tội

Chúa mở mắt cho kẻ mù lòa.

Chúa cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên,

Chúa yêu chuộng những người công chính” (Tv 145, 7.8-9.9-10)
LM. Jos. Trương Đình Hiền


 

TN25-C56. Sự trung tín

CHỦ NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN

Tin mừng : Lc 16, 10-13

Anh chị em thân mến,

 

Sống ở đời cần phải có sự trung tín, trung tín trong việc nhỏ cũng như trung tín trong việc lớn, bởi vì Chúa: TN25-C56

Sống ở đời cần phải có sự trung tín, trung tín trong việc nhỏ cũng như trung tín trong việc lớn, bởi vì Chúa Giêsu đã dạy như thế, và chỉ có như thế chúng ta mới cò thể trở thành chứng nhân cho Nước Trời tại trần gian này.

Trung tín trong việc nhỏ là những việc mà chúng ta cho là tầm thường, quá tầm thường là khác, việc tầm thường ấy chính là mỗi tuần đến quét nhà thờ một lần, việc tầm thường ấy chính là mỗi tuần đi thăm một bệnh nhân mà đoàn thể đã ủy thác, việc tầm thường ấy là nhặt một miểng chai nằm giữa đường đi có thể gây thương tích cho người khác, việc tầm thường ấy là không cần soạn bài giảng cho thánh lễ trẻ em.v.v…và còn nhiều việc rất tầm thường khác trong cuộc sống của chúng ta.

Trung tín trong những việc tầm thường việc nhỏ là bày tỏ một ý chí quyết tâm cao của người Kitô hữu, có quyết tâm thì mới có thể trung tín, việc nhỏ quyết tâm làm thì việc lớn cũng sẽ quyết tâm nhiều hơn nữa.

Trung tín trong việc lớn là trung tín trong những việc nhỏ, đó là lời khuyên đầy tính giáo dục và đạo đức của Chúa Giêsu. Bởi vì người chỉ biết trung tín với những việc lớn mà thôi thì sự trung tín ấy sẽ không được dài lâu, vì trung tín của họ là trung tín của lợi nhuận, của ích kỷ và của tham lam.

Anh chị em thân mến,

Từ việc trung tín trong công việc hàng ngày, Chúa Giêsu hướng dẫn chúng ta đến sự trung tín phải có trong việc thờ phượng Thiên Chúa, đó là trung tín với đức tin của mình trong cuộc sống hàng ngày.

Có những người Kitô hữu chỉ trung tín với Chúa Giêsu khi gia đình khá giả, khi cuộc sống phong lưu, nhưng đến khi gặp những chuyện đau buồn ngoài ý muốn thì không còn trung tín với Thiên Chúa nữa, họ oán trách Thiên Chúa, họ lơ là đi nhà thờ, và cuối cùng thì nghe theo lời bạn bè đi chùa miếu cúng vái những hình tượng mà họ cho là dị đoan nhảm nhí ma quỷ.v.v… Cho nên, lòng trung tín của chúng ta với Thiên Chúa cần phải giống như ông Gióp trong Cựu ước khi bị bà vợ cám dỗ ông bất trung với Thiên Chúa : Cả bà cũng nói như một mụ điên. Chúng ta đón nhận điều lành từ Thiên Chúa, còn điều dữ, lại không biết đón nhận sao ?". (G 2, 10a)

Sự bất trung của chúng ta đối với Thiên Chúa ở ngay trong con người chúng ta, ở trong nhà chúng ta và bên cạnh chúng ta, đó chính là vợ con, cha mẹ và bạn bè mà bà vợ và bạn bè của ông Gióp là đại diện, bởi vì lòng trung tín không được đặt trên nền tảng của đức tin và lòng yêu mến thì sẽ trở thành bất trung.

Không ai làm tôi hai chủ, bởi vì như thế có nghĩa là chúng ta có hai quả tim, mà người có hai qủa tim là quá bất bình thường, cũng vậy, người Kitô hữu không thể vừa là con cái của Thiên Chúa vừa là con cái của ma quỷ, vì như thế chúng ta không thể trở nên chứng nhân cho Tin Mừng của Chúa Giêsu.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Bài giảng chủ nhật 25 thường niên tại nhà thờ Phục Sinh-Taiwan

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

 

TN25-C57. Kitô hữu và tiền của

VietCatholic News (17/09/2004 )

SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN NĂM C

(Am 8,4-7; 1Tm 2,1-8; Lc 16,1-13)

KITÔ HỮU VÀ TIỀN CỦchuùng ta

 

Mọi nơi, mọi thời, con người luôn khát khao và tìm kiếm hạnh phúc. Nhiều người vẫn nghĩ hạnh phúc: TN25-C57

Mọi nơi, mọi thời, con người luôn khát khao và tìm kiếm hạnh phúc. Nhiều người vẫn nghĩ hạnh phúc chỉ có nơi tiền bạc, của cải, danh vọng, quyền thế. Đã có một thời Mussolini, Nhật Hoàng, Hitler tưởng rằng thế giới sẽ nằm gọn trong trục tay ba của họ, nhưng họ đã gục ngã thảm bại và lịch sử vẫn xoay theo chiều của nó. Đã có lúc Napoléon Đại đế tưởng rằng sẽ thâu tóm toàn thể Âu châu trong bàn tay bách chiến bách thắng của ông, nhưng rồi ông đã chết cô đơn trên đảo Corse, và Âu châu vẫn xoay theo chiều của nó. Như viên đá ném xuống dòng sông, làm lay động mặt nước trong chốc lát, và rồi dòng sông vẫn im lìm xuôi chảy...Mọi sự đều qua đi... Sách Giảng viên đã viết : “Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân” (Gv 1,2). Quả là

“Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy

Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười” (Cao Bá Quát).

Chúa Giêsu đã từng phê phán những người giàu chỉ biết cậy dựa vào tiền của và tìm hưởng thụ là kẻ ngu xuẩn vì chỉ nhìn cái hiện tại chóng qua mà không quan tâm đến định mệnh cuối cùng và không biết tìm hạnh phúc vững bền (Lc 12,13-21). Thu tích của cải đời này mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa thì quả là ngu xuẩn vì “không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm” (Lc 12,15); vả lại sự vướng bận vào của cải cản trở việc tìm kiếm Nước Chúa là cõi phúc thật (x.Lc 18,18-30). Vậy đâu là thái độ đúng đắn đối với tiền của ? Tiền của ở đây được hiểu là tiền bạc giàu sang, vinh hoa phú quý, tài năng, quyền lực...

1. Ngôn sứ Amos lên án sự bất công và cuộc sống ham mê tiền của

Các ngôn sứ thời Cựu ước vẫn thường chỉ trích những thói tham lam, lọc lừa và nặng lời kết án những người giàu bất công, áp bức, khinh dễ kẻ nghèo. Vào thế kỷ VIII tcn, Israel sống thời kỳ thịnh vượng dưới triều Giêrôbôam II. Do sự phồn thịnh ấy mà người ta sinh hư đốn: bon chen, tham lam, tranh giành tiền bạc của cải bằng đủ mọi hình thức bất công: giàu hiếp đáp nghèo, dùng tiền mua lương tâm, địa vị; người giàu chỉ biết ích kỷ hưởng thụ mặc cho dân nghèo đói rách cơ cực... Ngôn sứ Amos kịch liệt lên án. Ông quả xứng danh là nhà ngôn sứ của sự công bằng. Bản cáo trạng của nhà ngôn sứ đối với những người quyền thế, giàu sang bất công vẫn luôn vang vọng và có hiệu lực cho mọi thế hệ.

2. Chúa Giêsu đối với tiền của

Chúa Giêsu luôn đứng về phía người nghèo và bênh vực kẻ cô thế. Ngài sinh ra và lớn lên trong cảnh nghèo. Ngài chọn các môn đệ giữa số những người nghèo. Ngài hằng quan tâm, yêu thương vỗ về những người nghèo và tuyên bố mối phúc đầu trong bát phúc: “Phúc cho những người nghèo khó vì Nước Trời là của họ” (Lc 6,20; Mt 5,3). Yêu người nghèo, nhưng Chúa Giêsu không hề kết án người giàu và tẩy chay sự giàu có. Ngài ân cần tiếp đón và đối thoại với người giàu, sẵn sàng đến dùng bữa với họ khi được mời; Ngài để cho những phụ nữ giàu đi theo giúp đỡ trong hành trình sứ vụ. Tuy nhiên, Ngài nặng lời chỉ trích những người giàu chỉ biết bám víu vào tiền của, sống ich kỷ hưởng thụ bỏ mặc người nghèo đói cơ cực (x. Lc 16,19-31 : dụ ngôn người giàu và Lazarô), làm giàu cách bất lương, ỷ vào tiền của mà khinh dễ kẻ khác. Không phi bác tiền của, không phê phán sự giàu sang, cũng không bác bỏ người giàu, Chúa Giêsu chỉ nhắc nhở thái độ phải có đối với tiền của và cảnh cáo, phê phán những người giàu trong việc sử dụng tiền của.

Tiền của tự nó không xấu; xấu hay tốt là tuỳ ở nhận thức, thái độ và cách sử dụng của con người. Chúa Giêsu lên án sự ham mê tiền của, coi đó như tất cả cuộc sống, đến nỗi dành hết sức lực, thời gian, trí tuệ để cố chiếm hữu thật nhiều; thậm chí bán rẻ cả lương tri, phẩm giá con người. Tiền của trở thành thần tượng (Mamôn) và chiếm chỗ độc tôn trong lòng người. Ngài kết án những người vì đồng tiền mà sống bất công, lừa thầy phản bạn, coi thường mạng sống và danh phẩm người khác. Ngài còn phê phán chỉ trích những người giàu sang chỉ biết cậy dựa vào tiền bạc và sống ích kỷ hưởng thụ.

Tiền của là phương tiện tốt nếu được dùng để làm điều thiện, giúp đỡ người thiếu thốn, phục vụ khoa học vì những mục đích tốt.. . Chỉ có cách đó mới làm cho người ta không làm tôi của cải. Lòng tham lam, việc tích trữ của cải là mối nguy hiểm lớn cản trở con đường tìm kiếm Nước Trời và đưa ta xa rời Thiên Chúa. Người thanh niên giàu có được mời gọi bán tất cả của cải tài sản để đi theo Chúa đã buồn rầu bỏ đi vì anh ta có nhiều của cải. Chúa Giêsu đã cảnh tỉnh : Người giàu có vào Nước Trời còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim. Vì thế không lạ gì thái độ cương quyết của Chúa Giêsu : Ngài đòi hỏi một chọn lựa dứt khoát là không đi nước đôi : Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của. Thiên Chúa là ông chủ tuyệt đối, phải thuộc trọn về Người.

3. Đích điểm cuộc đời là Nước Trời

Đích điểm cuộc đời là Nước Trời. Thánh Augustin đã thốt lên : “Lạy Chúa, Chúa đã tạo thành con cho Chúa; linh hồn con khắc khoải cho đến khi được an nghỉ trong Chúa”. Tiền của có thể trở thành phương tiện giúp đạt tới đích là Nước Trời, nhưng cũng có nguy cơ đẩy ta xa Chúa để tìm kiếm những sự thuộc thế gian. Do đó, điều quan trọng là phải biết sử dụng tiền của như phương thế đạt Nước Trời. Dụ ngôn người quản lý bất lương chỉ ra bài học cụ thể ấy.

- Nỗ lực tìm kiếm Nước Trời

Đọc câu chuyện dụ ngôn, ta ngạc nhiên khi thấy Chúa Giêsu khen tặng người quản lý bất lương vì cách ứng xử khôn khéo của y. Thực ra, Chúa Giêsu muốn phân biệt một bên là những người thuộc về thế gian mà thủ lãnh là Satan (Ga 12,31) và bên kia là con cái sự sáng, con cái của Thiên Chúa (1Tx 5,4-5). Nếu con cái thế gian biết khôn ngoan lanh lợi để tậu cho mình những phần thưởng trần thế chóng qua, thì các Kitô hữu cũng phải nỗ lực, đầu tư thời giờ, tiền bạc, công sức để đạt phần thưởng vĩnh cửu trên trời. Không phải Chúa Giêsu khen tặng sự khôn khéo của người quản lý bất lương cho bằng Ngài mời gọi con cái sự sáng phải biết nỗ lực hành động để đạt đến Nước Trời. Nỗ lực cơ bản là sẵn sàng từ bỏ tất cả để tìm kiếm Chúa và phụng sự một mình Người. Có Chúa là có tất cả; khi không còn gì nhưng còn có Chúa là còn tất cả vì Người là lẽ sống. Khi đã chọn Chúa, ắt sẽ biết sử dụng tiền của và tất cả những gì Chúa ban để phụng sự Ngài và Giáo hội qua việc phục vụ anh em đồng loại.

- Dùng tiền của mua tình bạn

Người quản lý được khen tặng vì đã biết dùng tiền của để mua bạn hữu. Qua đó, ta rút ra bài học chủ yếu : cách sử dụng tiền của tốt nhất là tạo tình bằng hữu, thiết lập các mối tương quan huynh đệ. Tiền bạc lúc ấy sẽ trở nên phương tiện chia sẽ và thân giao. Nó tạo niềm vui và hy vọng xanh tươi cho kẻ khác và trước hết là cho chính người biết trao ban : cho thì có phúc hơn là nhận. Tin mừng Lc thường nhấn mạnh hơn các Tin mừng khác về một Đấng Thiên sai của người nghèo. Nước Thiên Chúa dành cho những ai biết yêu thương, chia sẻ và phục vụ những người nghèo khó.

- Trung thành trong việc nhỏ dẫn đến trung thành trong việc lớn

Nếu tiền của có thể là phương tiện mua tình bạn, để chia sẻ với tha nhân, thì nó cũng là một sức mạnh xấu, là cạm bẫy cần cảnh giác, như thư gởi Timôthê đã viết : “Những người giàu, anh hãy truyền cho họ đừng tự cao tự đại, đừng đặt hy vọng vào của cải phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng. Họ phải làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành, phải ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ” (1Tm6,17-18). Tiền của chỉ là việc nhỏ sánh với việc lớn là Nước Trời. Tiền của giàu sang nơi trần gian chỉ là tạm bợ, không thể tạo hạnh phúc đích thực cho con người; ngược lại nó làm con người vong thân khi bị nó chiếm hữu, và lúc ấy nó sẽ là chủ nhân ông và con người sẽ biến thành tôi tớ. Vậy nếu ở đời này, con người biết sử dụng tiền của tạm bợ cách tốt đẹp, họ sẽ được trao phó của cải vĩnh cửu trên trời.

Kết luận:Tiền của cần thiết cho cuộc sống. Thế nhưng nó cũng là nguyên nhân cho bao băng hoại, tráo trở trong xã hội, đổ vỡ trong gia đình, hư đốn trong bản thân. Sỡ dĩ thế là vì con người đã quá đề cao và bám víu vào tiền của, coi nó là vạn năng, là tất cả cuộc sống để trở thành nô lệ cho nó. Thiên Chúa ban cho con người tiền của chóng qua để sống, thăng tiến, phát triển, phục vụ.. . Giá trị của tiền của hệ tại con người biết sử dụng cách đúng đắn như phương tiện phục vụ anh em, đặc biệt người nghèo khổ, để đạt tới Nước Trời là hạnh phúc đích thực.
LM. JB. Hoàng Văn Khanh


 

TN25-C58. THIÊN CHÚA CỦA TÔI

Thiên Chúa của tôi là Đấng dựng nên tôi, yêu thương tôi, là Người Cha nhân từ, là Người anh: TN25-C58

Thiên Chúa của tôi là Đấng dựng nên tôi, yêu thương tôi, là Người Cha nhân từ, là Người anh rộng lượng và là Người bạn thân thiết. Trong cuộc sống của tôi luôn có Người đồng hành với tôi. Mỗi lời nói việc làm của tôi đều có Người nhắc bảo. Khi tôi vui có Người mỉm cười, khi tôi buồn có Người an ủi, khi tôi thành công có Người vỗ tay khích lệ và khi tôi thất bại có Người nâng đỡ và tăng sức cho tôi. Đặc biệt, không bao giờ người kết án tôi dù tôi có sai lỗi với Người cũng vậy.

Đã bao lần tôi tự hỏi làm sao tôi có thể hiện diện trong cuộc đời này ? Tôi chẳng có một chút yêu cầu nào về sự hiện diện này cả. Cũng chẳng phải là do cha mẹ tôi quyết định. Khi thương nhau, cha mẹ tôi chẳng hề biết tôi là trai hay gái, chẳng hề biết tôi có hay không và cũng chẳng hình dung được sự thể thế nào. Rồi một hôm tôi chào đời, cha tôi thật là cha, mẹ tôi thật là mẹ và tôi thật là con thế thôi. Chúa đã dựng nên tôi lạ lùng quá, từ không Chúa làm cho ra có chẳng khác nào như thuở ban sơ Chúa dựng nên vũ trụ vậy. Dựng nên tôi, tiếp tục Người chăm sóc tôi, chào đời chưa biết ăn Chúa cho bầu sữa mẹ, lớn lên chim trời cá biển Chúa cho hưởng dùng như nuôi sẵn trong nhà…. Đặc biệt, Chúa đã mở mắt cho tôi nhận biết Người là Chúa của tôi.

Từ ngày khôn lớn, tôi biết say mê những gì Chúa ban tặng : con người, thiên nhiên, sự sống, cuộc đời… Và cũng chính điều này ít nhiều tôi đã quên Chúa là Đấng ban cho tôi mọi sự. Chẳng khác nào như một em bé khi có đồ chơi, em chẳng hề nghĩ đến mẹ mình là ai nữa. Chơi mãi cho đến khi thấy chán hay khát sữa, không chịu nỗi nữa mới vứt đống đồ chơi và khóc tìm mẹ nó. Có biết bao lần tôi làm mất lòng Chúa kiểu như thế. Cậy sức mình trong suy nghĩ và hành động, hì hục xây dựng tương lai cho cuộc đời và rồi một mình tê tái nhìn ngắm đời bạc. Có nhiều lúc tôi thấy mình chới với vì ôm nhầm một phao bọt giữa biển khơi hay nắm phải một cành khô trên cây cao cổ thụ. Thế mà tại sao tôi không chìm và cũng chẳng hê rơi xuống đất. Thì ra có Chúa hằng dõi bước đã cứu tôi. Trong vòng tay Chúa, tôi thấy sự sung sướng của Chúa thật ngọt ngào, còn sự sung sướng của tôi quá sượng sùng vì Chúa hằng đợi chờ tôi chứ tôi có đợi chờ Chúa đâu. Bất xứng lắm, tôi muốn Chúa thả tay cho mình chết đi cho rồi. Chúa mỉm cười không thả và mặc cho tôi có giãy giụa. Chúa tôi là một người Cha như thế, chỉ biết thương con chứ không bao giờ bỏ con hay trách cứ điều gì. Đối diện với tình thương bao la Chúa dành cho tôi, đôi lúc tôi muốn xin lỗi Chúa về những hành vi bất xứng của tôi, nhưng chưa kịp thì Chúa đã tha thứ rồi, và dường như Chúa tha thứ cho tôi từ trước nữa là khác. Chúa của thế gian người ta sợ nói sự thật, nhất là sự sai lỗi. Khi phạm lỗi, người ta luôn tìm cách chạy tội bằng cách đổ lỗi cho người nay người khác hay tại lý do này lý do nọ… Xét cần họ sẵn sàng bỏ tiền thuê luật sư biện hộ cho hành vi sai trái của họ. Còn Chúa tôi, Ngài không kết án ai. Nên ai cũng muốn thú lỗi với Ngài. Mùa chay ta thấy rõ điều đó, người ta chen nhau đi xưng tội. Từ già đến trẻ, người ta khiêm nhường tự mình xếp vào hàng tội nhân cuối mặt đi thú tội với Chúa. Không chỉ họ thú tội với Chúa mà còn thú tội với nhau nữa “tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em”. Lòng nhân từ Chúa đã làm cho người tội lỗi trở nên anh dũng vì dám nhìn nhận sự thật và dứt khoát với tội lỗi của mình.

Chúa của tôi còn là Người Anh rộng lượng. Trước hết, Ngài gánh tội cho tôi. Lẽ ra việc tôi làm tôi chịu ấy mới phải nhưng Ngài lại mang án thay tôi để cho tôi được sống. Trên mọi nẻo đường tôi đi đều có Ngài đồng hành, mọi suy nghĩ và hành động luôn có Ngài nhắc nhở. Thật sự Ngài chịu trách nhiệm về tôi. Có hạnh phúc nào bằng khi thấy mình hoàn toàn được bảo lãnh. Giống như những đứa con nhà giàu tiêu xài thoải mái vì hằng tháng đã có người trả tiền trước. Dĩ nhiên những điều Ngài ban cho tôi đều có mục đích tốt cho tôi chứ không phải sử dụng tuỳ tiện. Ngài là anh tôi nhưng không bao giờ cưỡng bức tôi phải thế này thế nọ, có nhắc bảo, có khuyên răn nhưng luôn để tôi tự do. Nhìn lại tất cả những lỗi lầm của mình gây ra hầu hết đều có sự can thiệp của lý trí và tự do, sự chọn lựa của tôi. Ra đi trong tội lỗi là tự ý tôi nhưng trở về thì được kêu mời và đón tiếp. Ngài không hề khuyến khích tôi làm điều sai để Ngài chữa nhưng Ngài muốn tôi làm điều đúng với tự do của mình. Cũng có lúc tôi đổ lỗi cho Ngài, biết mà không chặn để tôi nghĩ và làm sai. Ngài có chặn tôi không ? và đã chặn bằng cách nào ? Ngài có chặn tôi nhưng để tôi rất tự do. Ngài chặn tôi qua giáo lý, qua lời Ngài, các biến cố trong cuộc sống, cả những người hiểu biết và chính lương tâm đặt trong tôi. Ngài lạ lùng lắm, khi tôi sai Ngài không ngăm đe như người đời và cũng chẳng phạt tôi bao giờ. Nơi Ngài chỉ có yêu thương và tha thứ. Nhìn kỹ tôi mới thấy yêu thương và tha thứ ấy vừa là cứu rỗi vừa là ngăm đe. Thật vậy chỉ có yêu thương mới có thể cứu rỗi và cũng chỉ có yêu thương mới biến đổi tâm hồn người ta. La không sợ, doạ không sợ mà yêu thương sợ. Các bạn còn nhớ câu chuyện thầy Tử lộ hay Lão Lai gì đó lúc mẹ còn trẻ đánh đau không khóc, mà khi mẹ già đánh không còn đau nữa lại khóc. Nhân dịp mùng 8 tháng 3 vừa rồi, nhạc sĩ Trần Tiến cũng thú thật với chúng ta trên ti vi rằng “say rượu về nhà vợ không la mới phiền”. Tình yêu luôn chiến thắng sự dữ. Người Anh của tôi là như thế.

Người anh có cái hay của người anh, người bạn có cái hay của người bạn. Thiên Chúa còn là người bạn tri kỷ của tôi nữa. Có nhiều chuyện anh em không dám nói hay không tiện nói nhưng với người bạn thì thoải mái. Ngài rất chân thật, không hề gian dối với tôi điều gì. Đúng thì phát huy sai thì sửa, thành công thì khích lệ thất bại thì nâng đỡ ủi an. Có một người bạn như thế tôi rất an tâm. Làm việc gì có khó khăn đến mấy tôi cũng chẳng sợ vì chỉ có chiến thắng mà không hề có thất bại. Có một người bạn như thế thất bại cũng là thành công, ít là được chính người bạn đó đủ rồi. Ngủ dậy trể Người gọi tôi, ham chơi Người nhắc tôi, lười biếng Người khuyên tôi và có chuyện buồn vui Người cùng tôi chia sẻ. Từ nhỏ đến giờ có biết bao lớp bạn đi qua trong đời nhưng chỉ có Ngài là thuỷ chung từ đầu đến cuối. Bất cứ lúc nào tôi cần nói chuyện là Ngài vui vẻ đáp ứng chưa bao giờ thấy Ngài cau nệ. Cũng bởi thế có nhiều chuyện cần dấu kín nhưng với Ngài thì không. Được bộc bạch với Ngài, nỗi buồn được vơi đi còn niềm vui thì tăng lên gấp nhiều lần. Bạn tôi là thế.

Chúa của tôi không chỉ là Chúa của tôi mà còn là Chúa của mọi người, trong đó có bạn. Chúng ta mau nhận Ngài là Chúa của chúng ta. Điều đó phải đạo lắm và có lợi cho chúng ta đời này lẫn đời sau. Chúa của tôi tốt lành vô cùng, được thêm bạn là anh em con một Cha thì tình thương của Ngài dành cho tôi cũng chẳng hề suy giảm mà trái lại được tăng lên vì điều gì cho đi còn cạn nhưng tình thương mà cho đi là làm cho nó phong phú hơn.

JB. Nguyễn Đình Bút


 

TN25-C59. Tên quản lý khôn khéo

Nghe xong dụ ngôn này chúng ta không khỏi thắc mắc tại sao Chúa Giêsu lại khen ngợi: TN25-C59

Nghe xong dụ ngôn này chúng ta không khỏi thắc mắc tại sao Chúa Giêsu lại khen ngợi một kẻ xấu xa và bảo chúng ta nên bắt chước cách xử sự của hắn. Và nếu để ý chúng ta sẽ nhận thấy không phải chỉ lần này mà còn trong nhiều lần khác, Chúa Giêsu đã đề cập tới cách thức cư xử của người xấu kẻ ác:
Chẳng hạn như khi so sánh việc phân xử của Thiên Chúa với một ông quan tòa bất chính, hoặc bảo chúng ta phải khôn ngoan như con rắn. Dĩ nhiên Chúa không bảo chúng ta noi theo lối sống bất công, hung dữ, xảo trá và lừa đảo, nhưng Chúa chỉ nói tới sự khéo léo của tên quản lý này mà thôi.
Điều chính yếu là bài học mà Ngài nhằm tới: Hãy khéo léo phục vụ nước trời như con cái thế gian phục vụ các công việc của họ. Từ đó Chúa đưa chúng ta sang việc xử dụng tiền của cho phải phép. Tên quản lý được nói tới ở đây là một người quan trọng, giữ chức vụ lớn trong một nông trại, hắn được chủ trao phó cho việc xử dụng gia tài, nhưng hắn phải làm theo ý chủ. Việc phung phá tiền bạc là điều trái với ý chủ và phải được điều chỉnh lại.
Ở đây, chủ không còn tín nhiệm hắn nữa vì hắn bị tố là kẻ bất lương, gian trá, lừa đảo và không đán tin cậy nữa. Trước sự kiện xảy ra, hắn đã suy nghĩ về tương lai và đã đưa ra những tính toán khéo léo. Hắn tỏ ra mình là một kẻ khéo làm, khéo xoay sở cả về phương diện tốt lẫn phương diện xấu. Chính sự khéo léo này lại làm cho hắn thêm bất lương hơn. Hắn giảm số nợ của những người vay mắc ông chủ: một trăm thùng dầu thì chỉ còn phải trả năm mươi thôi. Một trăm giạ lúa thì chỉ còn phải trả tám mươi thôi. Từ lề lối hành động của tên quản lý bất trung, Chúa nhận xét về thái thế nhân tình:
- Con cái đời này khi đối xử với đồng loại thì khôn ngoan hơn con cái sự sáng.
Con cái đời này là những kẻ chỉ biết đến cuộc sống hiện tại và hoạt động nhằm đến những của cải vật chất mà thôi. Trái lại, con cái sự sáng là những người đón nhận tinh thần của Chúa, con cái đời này đã xử dụng mọi cách thức để đạt tới mục tiêu, vậy con cái sự sáng cũng phải biết xử dụng sự vật đời này một cách khôn khéo để chiếm lấy niềm hạnh phúc nước trời.
Một sự vật đời này gần gũi và căn bản nhất, đó là tiền của. Tiền của, nếu không biết xử dụng, nó sẽ trở nên một ông chủ hà khắc, bóp chết những tình cảm kính mến đối với Thiên Chúa và yêu thương đối với tha nhân.
Trái lại, nếu biết xử dụng đúng mực, nó sẽ đem lại nhiều lợi ích, chẳng hạn dùng tiền của để làm phúc bố thí cho kẻ nghèo, để tạo lấy những người bạn chân thành, một mai sẽ bênh vực cho chúng ta trước ngai tòa của Chúa.
Đằng khác, tiền của còn là một vật trắc nghiệm lòng trung tín của các môn đệ đối với Chúa. Căn cứ theo cách thức xử dụng để biết các ông là những người trung tín hay phản bội, chân thành hay gian dối, vì ai trung tín trong việc nhỏ thì cũng trung tín trong việc lớn, ai gian dối trong việc nhỏ thì cũng gian dối trong việc lớn. Vậy nếu các con không trung thành trong việc tiền của gian dối, thì ai sẽ trao phó của chân thật cho các con…
Nên nhớ rằng, chúng ta chỉ là những người quản lý, còn Chúa mới là chủ. Vậy chúng ta phải biết xử dụng tiền bạc và những phương tiện vật chất cho phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa.
Để kết luận, tôi xin nhắc lại nơi đây một câu danh ngôn Tây phương, như một lời khuyên trong vấn đề xử dụng tiền bạc:
- Tiền bạc là một tên đầy tớ tốt, nhưng cũng là một ông chủ hà khắc.

 

TN25-C60. Không thể thờ hai chủ

Dụ ngôn viên quản lý bất lương đòi hỏi người đọc đừng nghĩ lan man khi tìm cách giải thích: TN25-C60

Dụ ngôn viên quản lý bất lương đòi hỏi người đọc đừng nghĩ lan man khi tìm cách giải thích các chi tiết. Chủ ý dụ ngôn cho thấy, trước hết người ta phải quan tâm đến tương lai vĩnh cửu của mình, phải sử dụng hết tâm cơ tài trí ít nhất cũng như trong việc lo toan của cải vật chất. Một lần nữa Đức Giêsu lưu ý các môn đệ về vấn đề thiết yếu vượt trên mọi vấn đề, ai ai cũng phải dốc tất cả nghị lực, sức lực vào vấn đề cơ bản đó. Những vấn đề còn lại là phụ, sẽ giải quyết sau. Vấn đề cơ bản ấy là bổn phận phục vụ Thiên Chúa, nó trùng hợp với hạnh phúc con người. Từ ngữ ‘của bất lương’ phải hiểu theo nghĩa nào?
1) Căn bản sự sở hữu những của cải thế gian luôn luôn chứa đựng một nguy cơ bất công. Tùy theo mức giàu có vật chất, một câu hỏi ít hay nhiều nghiêm trọng được đặt ra: Khởi từ lúc nào việc sở hữu kéo theo một sự tước đoạt quyền lợi kẻ khác? Ai cũng biết, bình đẳng tuyệt đối về của cải là một ảo tưởng, và bất bình đẳng mau chóng biến thành bất công. Dưới mắt Đức Giêsu, giàu về vật chất là một hiểm họa. Rất nhiều lần Chúa trở lại vấn đề này, lúc thì bài xích, lúc thì thương hại cảnh giác. Qua từ ngữ ‘của bất lương’ chúng ta phải phát giác nguy cơ bất công đàng sau sự sở hữu vật chất.
2) Của bất lương là thứ của cải thế gian nào khiến cho tâm hồn quay ra phía khác chứ không hướng về Thiên Chúa. Tội bất công nặng nhất là tội không thờ kính Thiên Chúa hết lòng như bổn phận phải làm đối với Đấng Thượng Đế. Dồn hết tâm trí vào việc làm giàu mà quên Thiên Chúa là phạm tội biển thủ bởi lẽ để cho của cải thế gian chiếm đoạt tâm hồn đã được tạo dựng cho Thiên Chúa.
3) Người ta băn khoăn: vậy có lối xử trí nào để con người có thể tha thiết với của cải đời này mà không xa lìa Thiên Chúa? Đức Giêsu đáp: không thể cùng một lúc phục vụ hai chủ. Thật vậy, khi lao mình vào phục vụ tiền bạc thì chung quy con người phục vụ ông chủ nào? Trong trường hợp ấy, ông chủ chính là bản thân con người để lộ ra cái chất gì xấu nhất, nó là tư lợi, là lòng ích kỷ. Dung hòa hai sự thờ phụng –tôn thờ bản thân và tôn thờ Thiên Chúa- là việc không thể làm được.
4) Nếu vậy, phải khinh chê tiền bạc ư? Đồng tiền kiếm bằng mồ hôi nước mắt, cần để sinh sống, có thể san sẻ giúp đỡ tha nhân vì lòng thương, đồng tiền ấy không bị Đức Kitô bài xích. Đồng tiền nào nuôi dưỡng lòng ích kỷ, gây thiệt hại cho đức công bằng, khiến cho con người quên mất Thiên Chúa, đồng tiền ấy bị kết án trầm luân.

 

TN25-C61. Tiền bạc của chúng ta làm Chúa quan tâm

Đây có lẽ là một sự kiện nhỏ nhặt thú vị và Chúa Giêsu nắm lấy theo cách luôn luôn làm ngạc: TN25-C61

Đây có lẽ là một sự kiện nhỏ nhặt thú vị và Chúa Giêsu nắm lấy theo cách luôn luôn làm ngạc nhiên của Ngài. Chúng ta chờ đợi một bài học hay về sự bất lương, bởi vì Chúa Giêsu xem người quản lý là bất lương. Câu chuyện hoặc dụ ngôn kết thúc với hành vi lừa bịp cuối cùng: “Cầm lấy văn tự viết 80 thôi”. Nhưng hãy nhớ rõ rằng ở câu 8 bắt đầu lời phê bình của chính Chúa Giêsu, được chỉ rõ là “Chủ”, và đây là sự hốt hoảng: “Chủ khen ngài quản lý gian xảo”.
Tố cáo sự bất lương thì rất dễ và tầm thường. Chúa Giêsu sắp dẫn chúng ta đến một lãnh vực độc đáo hơn: việc sử dụng tiền bạc một cách khéo léo.
Bài học mở rộng đầu tiên: hãy là những người khéo xoay sở và lanh lợi. Hãy nhìn con người này trong tình thế tuyệt vọng, tai họa sắp rơi xuống đầu anh ta, anh ta chỉ còn vài tiếng đồng hồ để hành động, và anh ta sẽ hành động trong vòng một khắc đồng hồ. Hỡi các bạn là con cái sự sáng, hãy rút kinh nghiệm, đứng trước một vận rủi các bạn đừng ngồi đó mà than thở và do dự, hãy xông xáo như người quản lý khôn ranh này.
Gian xảo ư? Phải, nhưng người ta yêu cầu chúng ta khá tế nhị, như ở đây chỉ để rút ra điều tốt trong thí dụ này và loại bỏ điều xấu mà thôi.
Bài học thứ hai chính xác và quan trọng hơn, được đưa vào do công thức long trọng này: “Quả thật, ta bảo các ngươi”. Chúa dạy chúng ta cách đầu tư tiền bạc. Với thứ tiền quỷ quái này, chỉ có hai giải pháp: ném nó đi như Phanxicô Assisi, hoặc sử dụng nó một cách thông minh đến nỗi điều đó làm cho Chúa quan tâm.
Kiểu nói rất trong sáng: “Hãy dùng tiền phi nghĩa mua lấy bạn bè, ngõ hầu khi hết của, họ sẽ chứa chấp các ngươi trong chốn đời đời”. Đây là lời khuyên những người giàu sụ chăng? Chắc chắn rồi, nhưng cũng là lời khuyên những người có tiền không sạch lắm ký gởi trong ngân hàng.
Dầu sao đi nữa, thậm chí là tiền sạch, vào lúc lâm chung, tiền đó cũng bay biến đâu mất, người ta lên trời với hai bàn tay trắng. Trên trái đất, tiền bạc mở ra những cánh cửa và tạo thuận lợi cho các quan hệ. Lên trời rồi, không còn gì nữa cả! Nếu có loại tiền bạc nào làm Chúa quan tâm, thì đó là tiền bạc mà người ta chia sẻ trong tình yêu thương, và thậm chí được cho một cách khá điên rồ. Những người mà chúng ta đã giúp đỡ sẽ có mặt ở đó để nói lại với Đấng Tối Cao. Chúng ta không trắng tay nhưng được mặc lấy sự độ lượng một cách tuyệt diệu; không phải chúng ta không có những mối quan hệ, có những người tiếp đón chúng ta một cách vui vẻ; chúng ta không phải là những kẻ xa lạ với Chúa tình yêu, chúng ta chính là tình yêu.
Biến tiền bạc thành tình yêu: thật là một sự đầu tư tuyệt vời! Nhưng thậm chí được câu truyện này tô điểm, bài học này vẫn còn tỏ ra rất khó khăn. Đây là lời kêu gọi chia sẻ, và chúng ta nhanh chóng tìm ra những lý do để chối từ lời kêu gọi đó.
Có lẽ, sau việc Chúa Giêsu nhấn mạnh đến vấn đề tiền bạc ‘đánh lừa’, chúng ta sẽ cảm thấy rõ hơn cái nhìn của Thiên Chúa trên tiền bạc của chúng ta. Thiên Chúa không khinh chê điều gì trong cuộc sống chúng ta cả, mà là Ngài có sự tò mò đáng yêu: đứa con chín chắn của Ta sẽ đầu tư tiền bạc như thế nào? Chính việc chúng ta chọn lựa ngân hàng nào làm Ngài quan tâm. Ngân hàng ích kỷ hay ngân hàng tình yêu?

 

TN25-C62. Tích trữ của cải thiêng liêng

“Không đầy tớ nào có thể làm tôi hai chủ”
 

Nhà tiên tri Amos, trong Bài đọc I, sống vào thế kỷ VIII trước kỷ nguyên chúng ta. Người sống: TN25-C62

Nhà tiên tri Amos, trong Bài đọc I, sống vào thế kỷ VIII trước kỷ nguyên chúng ta. Người sống trong một xã hội đương thời bon chen, tranh giành tiền bạc, đàn áp người nghèo khó, lấy đồng tiền mua người nô lệ. Chỉ có tiền là trên hết, có tiền mua gì cũng được, mua cả lương tâm.
Nhưng Thiên Chúa là Đấng nâng đỡ bênh vực người nghèo. Và nhà tiên tri phát ngôn của Chúa, lên tiếng cảnh tỉnh. Bản cáo trạng thời xa xưa như còn vang vọng kết án những tệ đoan xã hội ngày nay.
“Đức Chúa đã lấy thánh danh là niềm hãnh diện của Gia-cóp mà thề: Ta sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi nào của chúng” (Am 8,7).
Thiên Chúa là Tình thương. Ngài thương xót người nghèo nhưng cũng không ghét bỏ người giàu có thiện chí.
Bài Phúc Âm hôm nay nói về người quản lý, nhưng cũng có thể gọi là dụ ngôn nói về phần rỗi đối với người giàu. Người giàu có phải làm gì để được Nước Trời?
Trước hết, người giàu có hư mất vì chỉ biết bo bo giữ của, không biết chia sẻ với người khác nhất là với người túng thiếu (Lc 16, 19-31). Vì thế, trước tiên phải biết chia sẻ.
Người quản lý trong dụ ngôn, là một người khôn ranh, trước khi bị bãi chức, đã gọi các con nợ của chủ đến và bớt cho một số; dùng tài sản của chủ để thêm cho bạn mình. Chủ khen anh hành động khôn khéo. Tất nhiên, Chúa không bảo chúng ra noi gương “người con cái đời này” đó; nhưng Chúa dạy chúng ta là “con cái sự sáng” biết lợi dụng của cải để gây thêm bạn hữu. Nghĩa là biết chia sẻ, giúp đỡ người nghèo, để bằng lời cầu nguyện họ giúp đỡ lại ta khi ta “sinh trần trụi, trở về tay không” trước mặt Chúa.
Ý tưởng thứ hai, qua câu chuyện dụ ngôn, là người giàu của hãy nhớ rằng giàu của cải hãy nhớ rằng giàu của vật chất mà không biết làm giàu của thiêng liêng vĩnh cửu thiêng liêng vĩnh cửu thì có ích gì.
Của cải là phương tiện chứ không phải là mục đích. Nhưng có nhiều người coi đó là mục đích, là chúa tể. Càng có nhiều tiền của càng mong muốn có nhiều hơn. Họ theo đạo thờ thần Mamon thời xưa hay thần Đô-la thời nay.
Vì thế, Chúa căn dặn: “Không đầy tớ nào có thể làm tôi hai chủ, và hoặc nó ghét chủ nầy và mến chủ kia, hoặc phục chủ này và khinh chủ nọ. Các con không thể làm tôi Thiên Chúa mà lại làm tôi tiền của được.”
Người giàu có chân thật là người biết chia sẻ với người nghèo, là kẻ biết tích trữ của cải thiêng liêng, nơi “mối mọt không thể rúc rỉa, trộm cướp không chiếm đoạt được”.
Trên phần mộ Thánh Giáo hoàng Piô X có khắc ghi:
Piô X giáo hoàng
Khó nghèo và giàu có
Hiền lành và khiêm nhường
Mạnh mẽ và bênh vực đạo
Chăm chú cải tổ mọi sự trong Chúa
Đã yên nghỉ sốt sắng 20-8-1914
Lạy Chúa, hôm nay con quyết tâm yêu Chúa bằng cách chia sẻ với những người nghèo khó xung quanh, những gì Chúa đã ban cho con. Vì những gì Chúa ban cho con là để con đem chia sẻ với anh chị em con, nhất là với người nghèo khó.

 

TN25-C63. LẤY XÔI BỤT ĐÃI ĂN MÀY

Lc 16, 1 – 13
 

Mạnh Thường Quân tiếng tăm lừng lẫy, tân khách đến ngày càng đông. Số hoa lợi nơi Ấp Tiết… (Cao Bài): TN25-C63

Mạnh Thường Quân tiếng tăm lừng lẫy, tân khách đến ngày càng đông. Số hoa lợi nơi Ấp Tiết không đủ chi dùng, nên ông cho dân Ấp Tiết vay tiền để có thêm lợi tức, đến kỳ hạn thì cho người đến thu tiền lãi. Có một tân khách tên Phùng Hoan xin đi thu các số tiền này. Họ Mạnh xét thấy người này chân thực nên bằng lòng cho đi. Dân Ấp Tiết nghe Mạnh Thường Quân sai Phùng Hoan đến thu nợ thì đem nộp trả khá nhiều. Phùng Hoan liền dùng số tiền này mua rượu thịt rồi yết thị dân chúng. Trăm họ nghe nói cho ăn uống và không làm khó dễ, cho nên người thiếu nợ tựu đến đầy đủ. Phùng Hoan theo đó mà xét: người giàu phải trả đủ; người khá giả mà nhất thời chưa trả được thì cho làm tờ hẹn trả; còn người nghèo quá không thể trả nợ được thì Phùng Hoan thu hết giấy nợ đốt bỏ, xóa nợ luôn, và nói rằng Mạnh Thường Quân sở dĩ cho vay là sợ họ không có vốn làm ăn, chớ không phải vì lợi. Nhưng Mạnh có mấy ngàn tân khách, bổng lộc không đủ chi dùng nên phải đòi số lãi để phụ vào. Trăm họ đều tạ ơn và hoan hô Mạnh Thường Quân. Khi Mạnh Thường Quân bị đuổi trở về Ấp Tiết, Phùng Hoan cầm cương xe, dân Ấp Tiết hay tin kéo ra đón rất đông, tranh nhau dâng cơm rượu và hỏi thăm Mạnh Thường Quân. Lúc đó, Mạnh nói với Phùng Hoan: Thế này tôi mới biết Tiên sinh vì tôi mà thu đức vậy.
Dụ ngôn trong Tin Mừng hôm nay cũng tương tự như câu chuyện về Mạnh Thường Quân: cũng một ông chủ nợ, cũng một người thu nợ, cũng những con nợ được miễn giảm, cũng chủ đích gợi lòng biết ơn, từ đó dẫn đến sự đãi ngộ khi sa cơ lỡ vận và cuối cùng, cũng lời khen của ông chủ đối với các hành xử ứng phó của người giúp việc. Điều khác biệt, chính là tấm lòng và lương tâm của người thực hiện công việc được giao: một người - vị tha - vốn chân thực, biết ơn gia chủ vì sự đãi ngộ, nên nhân cơ hội này mà tìm cách “thu đức” cho Mạnh Thường Quân; trong khi tay quản lý bất lương trong dụ ngôn, - vị kỷ -  sau một thời gian dài bòn rút tham ô, đến phút cuối vẫn nghĩ ra cách “thu lợi” cho bản thân bằng chính tài sản của ông chủ.
“CHÙA”, ngày nay đã biến thành tính từ trong kho tiếng “lóng”, để chỉ những gì là của chung, mà chẳng có ai chịu trách nhiệm trông coi quản lý ( kiểu: cha chung chẳng ai khóc ), miễn phí ( xài một cách vô trách nhiệm ). Song vì ở đời, không hề có cái gì là “chùa”, cho nên “đồ chùa” hay “xài chùa” chỉ là do quan niệm, suy nghĩ và hành động sai lầm hoặc lạm dụng của một số người. Trong những ngày qua, dù đã nghe nhiều, thấy nhiều, nói nhiều về tham ô, lãng phí tiền bạc tài sản công, nhưng người dân vẫn choáng váng khi đọc báo cáo sơ bộ của kiểm toán – và cũng chỉ mới một phần nhỏ cơ quan, công ty nhà nước – cho biết hàng ngàn tỷ đồng đã bằng cách này hay cách khác chui vào túi các quan tham. Cũng chỉ vì trong đầu óc những người này, đó là cái bánh mạnh ai nấy giành giật, chia chác và tư túi, để vinh thân phì gia, để chi cho những cuộc đỏ đen được tính bằng đô-la tới năm sáu con số mỗi lần đặt hoặc các thú vui dâm dật trác táng với những “cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm” và ném ra hàng bó tiền không hề có một chớp mắt tiếc nuối: “chùa” mà ! Thế nhưng khác với người quản lý – cũng bất lương không kém: thay vì được bao bọc, bảo đảm tương lai “ngồi mát ăn bát vàng” sau khi mất việc, thì mỗi khi bị pháp luật “sờ gáy”, các quan tham lớn bé đều thông thạo cách chỉ tay… khai báo để trút tội lỗi cho người khác, hòng giảm nhẹ tội cũng như án phạt của mình.
Cái làm nên nét độc đáo của tay quản lý bất lương, khiến ông chủ sau một giây lát nổi giận, cũng phải thầm khen ngợi sự láu cá khôn khéo của y, ấy là y biết “lấy xôi Bụt đãi ăn mày”: Xôi được khách thập phương mang đến cúng kiến, tức là thuộc về Bụt trước khi thuộc về chùa và các sư sãi, trong khi người ăn mày thì chẳng ai nhớ đến. Nhất cử lưỡng tiện: Bụt chẳng mất gì; sư sãi còn nhiều dịp nhận xôi oản; người ăn xin vì thế mà được hưởng nhờ “công đức”. Và tất nhiên người có sáng kiến hành động ấy trở thành “ân nhân”. Có lẽ Chúa Giê-su đã gặp cảnh này một lần đâu đó ở Galilêa và cũng như ông chủ bị “trác”, Người hẳn đã cười thầm trong bụng và dù không coi đó là một ví dụ đáng bắt chước, Chúa Giê-su cũng buộc phải thừa nhận: ”con cái đời nầy khôn khéo hơn con cái sự sang khi xử sự với người đồng loại” ( Lc 16, 8b ). Có nghĩa là Người ước ao làm sao các môn đệ biết kết hợp hài hoà thuật “đắc nhân tâm” với sự chân thành, thánh thiện khi ứng xử trong đời sống Ki-tô hữu cũng như thực hiện sứ mệnh đem Tin Mừng Chúa đến cho mọi người. Khôn ngoan như rắn, mà vẫn phải giữ bản chất đơn sơ của bồ câu !
Quả thật, người quản lý “cà cuống chết đít hãy còn cay” này nhắc nhở chúng ta một sự thật “phủ phàng”: tất cả mọi tín hữu Công Giáo, dù ở cấp bậc vị trí nào trong phẩm trật Hội Thánh, cũng ít nhiều là những người quản lý…bất lương. Trước hết, tội lỗi – cái mà không ai thoát khỏi, trừ Mẹ Maria - tự nó đã nói lên sự “bất lương” của chúng ta và ở đầu mỗi Thánh Lễ, mọi người đều đấm ngực xưng thú mình… bất lương. Kế đến, việc sử dụng các ân huệ Chúa ban còn rất tùy tiện, ngẫu hứng, lạm dụng và nhiều người coi đó là của riêng, do tài trí hoặc nỗ lực riêng mà có được. Họ không nhận ra những khoản khổng lồ mà họ nợ Chúa. Vì thế họ “lấn sân”của Ông Chủ đích thực là Thiên Chúa và tự phong cho mình cái quyền hành xử - sử dụng và phân phát - theo ý riêng.  Tha nhân, vì thế, chỉ là …tha nhân, nghĩa là người dưng nước lã hoặc là những người chúng ta chẳng có trách nhiệm gì về sự sống đời nầy và sự cứu rỗi đời sau. Chúa Kitô dường như đã lầm lẫn khi trao sứ mệnh làm chứng nhân và rao giảng Tin Mừng cho nhiều Ki-tô hữu – cái mà ở Việt Nam gọi là “ngồi nhầm lớp”!
Lạy Chúa Giê-su, mỗi chúng con cũng được Chúa giao cho quản lý những kho tàng ân huệ to lớn về phần xác và vô giá về phần hồn. Cái dở của chúng con là đã đem ân huệ Chúa ban mà sử dụng một cách phung phí và đáng luận phạt, với những ươn ái bê trễ trong bổn phận đạo đức, với vô số những tội phạm đến Chúa và đến anh em, với không đếm xuể những lần đem ơn lành Chúa ban biếu không cho ma quỷ, để “công ty” với ma quỷ làm hại bản thân và anh em. Tất cả cuộc đời chúng con đều được ban nhưng không, - nghĩa là …“chùa”. Người quản lý hai lần bất lương ấy vẫn hơn chúng con, vì chúng con không hề biết đem những gì Chúa ban để làm lợi cho anh em, để bảo đảm cho mình một con đường sống ở đời sau. Chúng con sẽ không mang tiếng “lấy xôi Bụt đãi ăn mày”, bởi vì những gì chúng con có, - do Chúa ban và như Chúa muốn - đều có thể và nên đem ra làm lợi cho tha nhân. “Mất của ta, mới ra của người”: Nếu không mất gì của ta, mà vẫn ra của người, thì có lý do gì để chúng con còn do dự , ngoài việc chúng con gắn bó đến mức tôn thờ thần Mammôn - Tiền Của ! - vốn là những thứ không ai mang vào đời lúc sinh ra, là những thứ phải giành giật ma mánh để gom lại, chất cao và khư khư ôm giữ, ngưỡng mộ thờ lạy, là những thứ mà ai cũng biết khi nhắm mắt xuôi tay chẳng thể nào mang theo. 
“Lấy xôi Bụt đãi ăn mày” mà vẫn “của đau con xót”, thì đúng là hết thuốc !
CVK NGUYỄN THẾ BÀI, Tình Ca Cho Người Được Yêu số 68

 

TN25-C64. Hỡi những ai đàn áp người cùng khổ

- Cielito Almazan Ofm - Phan Du Sinh chuyển ý
BÀI ĐỌC 1: AMỐT 8,4-7

4 Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp người cùng khổ
và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ.
5 Các ngươi thầm nghĩ:
"Bao giờ ngày mồng một qua đi, cho ta còn bán lúa;
bao giờ mới hết ngày sa-bát, để ta bày thóc ra?
Ta sẽ làm cho cái đấu nhỏ lại, cho quả cân nặng thêm;
Ta sẽ làm lệch cán cân để đánh lừa thiên hạ.
6 Ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần,
đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ;
cả lúa nát gạo mục, ta cũng đem ra bán."
7 ĐỨC CHÚA đã lấy thánh danh
là niềm hãnh diện của Gia-cóp mà thề:
Ta sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi nào của chúng.
Bố cục:

những bất công của con người: c. 4-6
sự công chính của Thiên Chúa: c. 7

Chú giải
 

Amốt là một sứ ngôn về công bằng xã hội. Ngài là người đầu tiên trong số các sứ ngôn văn sĩ. Ngài sống: TN25-C64

Amốt là một sứ ngôn về công bằng xã hội. Ngài là người đầu tiên trong số các sứ ngôn văn sĩ. Ngài sống trước xa thời kỳ lưu đày.
Trong bản văn (sấm ngôn), Amốt cảnh cáo những người áp bức kẻ nghèo khổ và thiếu thốn:
* đàn áp người cùng khổ // tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ. c.4
c.5 cho thấy những người áp bức mất kiên nhẫn vì không làm được công việc của họ trong “những ngày mùng một” và “sabát.”
c.5b cho thấy những người áp bức là những người lái thương. Họ gian lận bằng cách:
- làm cho cái đấu nhỏ lại

- cho quả cân nặng thêm

- làm lệch cán cân.

c.6 cho thấy các người áp bức mua rẻ các đầy tớ - họ kiếm tiền từ những cái nhỏ nhặt nhất.
C.7 là lời cảnh cáo nghiêm khắc các người áp bức. Thiên Chúa sẽ hỏi tội và tiêu diệt họ, đó chỉ là vấn đề thời gian.
Suy tư dựa trên bài đọc 1
Amốt làm sứ ngôn thời vua Giêrôboam II, Vua Ítraen (thời kỳ phát đạt về kinh tế).
Thiên Chúa gởi Amốt đến chống lại những người lợi dụng và làm giàu trên người nghèo.
Sứ ngôn Amốt là phát ngôn viên của Thiên Chúa. Ngài là tiếng nói của Thiên Chúa. Ngài nói nhân danh Thiên Chúa.
Trong tư cách là sứ ngôn, ngài thông truyền sứ điệp của Thiên Chúa (bất bình, cảnh cáo) cho những ai nắm giữ quyền lực và kiểm soát kinh tế, những ai áp bức và thao túng những người nghèo.
Những người nghèo là những người bị các thương gia giàu có lừa bịp, mua bán.
Thiên Chúa về phe những người nghèo khổ không ai bảo vệ.
Họ không phải là những đồ vật và hàng hoá.
Chúng ta không thể lợi dụng họ để nên giàu có.
Chúng ta không thể tước đoạt cái tối thiểu mà họ có, phẩm giá, quyền lợi và tự do.
Nếu không, Thiên Chúa sẽ đến và hỏi tội chúng ta.
Quả thế, Vương quốc phía bắc (Ítraen) đã bị trừng phạt bởi vì họ không ngừng làm điều đó. Nó đã bị người Assyri tàn phá năm 721 trước công nguyên.
Điều đó cũng có thể xảy ra cho chúng ta, nếu chúng ta không ngừng áp bức người nghèo.
Chúng ta cần thể hiện sự công bằng và tôn trọng quyền lợi và tự do của người khác, đặc biệt kẻ nghèo.

BÀI ĐỌC 2: 1 TIMÔTHÊ 2,1-8

1 Trước hết, tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, 2 cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh. 3 Đó là điều tốt và đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, 4 Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. 5 Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Ki-tô Giê-su, 6 Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người. Điều này đã được chứng thực vào đúng thời đúng buổi.

7 Và để làm chứng về điều này, tôi được đặt làm người rao giảng và làm Tông Đồ -tôi nói thật chứ không nói dối- nghĩa là làm thầy dạy các dân ngoại về đức tin và chân lý. 8 Vậy tôi muốn rằng người đàn ông hãy cầu nguyện ở bất cứ nơi nào, tay giơ lên trời, tâm hồn thánh thiện, không giận hờn, không xung khắc.

Bố cục

Cầu nguyện cho mọi người, cho những người cầm quyền: c. 1-2a
Mục đích của việc cầu nguyện: c. 2b-4
Lý do: c.5-6
Sứ vụ của thánh Phaolô: c. 7-8
Chú giải
Trong c.1, thánh Phaolô nài xin Timôthê (giám mục Êphêsô) cầu nguyện cho mọi người, cả cho vua chúa và những người cầm quyền. Tại sao?
C.2 đưa ra lý do: để an cư lạc nghiệp.
C.3 đưa ra một bình luận nếu chúng ta có được một cuộc sống yên ổn.
Đây là dấu chỉ của ơn cứu độ. Chúng ta nhận biết được chân lý. c.4
Lý do chính của việc cầu nguyện: Chỉ có một Thiên Chúa, một Đấng Trung gian là Đức Giêsu Kitô (chẳng phải ai khác, dù là vua chúa hay người cầm quyền). c.5
C.7 nêu lên lý do tại sao thánh Phaolô lại là người rao giảng, tông đồ và thầy dạy.
C.8 là ước muốn của thánh Phaolô: cầu nguyện không giận hờn, không xung khắc.
Suy tư trên bài đọc 2
Thánh Phaolô viết cho Timôthê, một mục tử, một vị lãnh đạo của Giáo hội.
Thánh Phaolô nói lại về tầm quan trọng của việc cầu nguyện cho mọi người và cho những người cầm quyền.
Thánh Phaolô ý thức rằng nếu những người cầm quyền mắc phải sai lầm và bất công thì không có hoà bình và an cư trong xứ sở.
Lời mời gọi cầu nguyện của thánh Phaolô hàm ý rằng mọi người phải phục tùng một Thiên Chúa; và Đấng Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại, Đức Giêsu Kitô.
Đức Kitô còn được xem như Đấng cứu chuộc (quy chiếu về việc đóng đanh).


BÀI TIN MỪNG: LUCA 16,1-13

1 Đức Giê-su còn nói với các môn đệ rằng: "Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông. 2 Ông mới gọi anh ta đến mà bảo: "Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa! 3 Người quản gia liền nghĩ bụng: "Mình sẽ làm gì đây? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. 4 Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ!

5 "Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất: "Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy? 6 Người ấy đáp: "Một trăm thùng dầu ô-liu. Anh ta bảo: "Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi. 7 Rồi anh ta hỏi người khác: "Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy? Người ấy đáp: "Một ngàn giạ lúa. Anh ta bảo: "Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi. 8 "Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.

9 "Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. 10 Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn. 11 Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng tiền của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em? 12 Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em? 13 "Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được."

Bố cục

Người quản lý bị mất việc: c.1-2

* Người quản lý đây phải được hiểu trong bối cảnh của xứ Paléttina: người quản lý làm nhân danh chủ - công việc là cho vay lấy lời.

* Người quản lý bất lương là vì phung phí tài sản của chủ. Có ai đó đã báo cáo việc làm sai trái của ông. Trước khi ra đi, ông phải tính sổ.

Người quản lý tìm kế sinh nhai: c. 3-4

* người quản lý tìm cách để tồn tại. Ông biết giới hạn và cảm xúc của mình.

* Vì là người quản trị, ông biết cách xoay sở. Ông có một giải pháp. Ông sẽ tìm nơi trú ẩn trong “nhà của họ.”

* Nhà ai?

* Nhà của những con nợ của chủ.

Người quản lý ra tay hành động. Rất có phương pháp. Ông biết toan tính: c 5-7

* Người mắc nợ thứ nhất: bớt 50 thùng

* Người mắc nợ thứ hai: bớt 200 giạ

Lời khen của chủ: c.8

* Thiên Chúa dường như bỏ qua sự gian dối và bất lương. Tại sao Người khen tên quản lý bất lương này?

* Chính xác là chủ đã loại ông vì đã không quản lý tốt tài sản.

* Câu hỏi này cần chút lưu ý.

* Một vài học giả đề nghị rằng chủ khen người quản lý bất lương không phải vì đã gian dối tiếp (100 thành 50 thùng, 1000 thành 800 giạ), nhưng là vì đã trả lại cái mà ông đã lấy của họ (những người mắc nợ).

* Những người mắc nợ rất có thể chỉ nợ 50 thùng và 800 giạ thôi, nhưng người quản lý đã đòi hơn cho phần mình. Anh ta chỉ trả lại điều anh đã lấy bất công. Theo cách này, ông muốn làm bạn với họ. Như thế, họ cho ông ở lại trong nhà của họ.

Lời dạy của Đức Giêsu: c.9-13

* Về của cải: Dùng của cải vật chất để mua bạn hữu. Đừng ích kỷ. Bạn không có của cải mãi đâu.

* về sự trung tín: Đừng coi nhẹ những điều nhỏ mọn. Hãy tỏ ra đáng tin trong những việc nhỏ. Bạn sẽ được giao phó những việc lớn. Hãy làm cho tốt những gì đã được giao phó cho bạn, dù là việc nhỏ. Hãy làm cách tốt nhất theo dự tính của chủ. Bạn chỉ là người quản lý. Bạn không thể làm bất cứ điều gì bạn muốn. Hãy tôn trọng chủ là người đã giao phó công việc cho bạn.

* về lòng dạ không thay đổi:

Nếu bạn chọn theo Thiên Chúa, hãy từ bỏ ma quỷ.

Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa và ma quỷ.

Khi chúng ta phụng sự Thiên Chúa, chúng ta phải một lòng. Chúng ta tập trung hướng về Thiên Chúa, không điều gì khác. Điều gì khác là lo ra.

Ma quỷ làm cho việc phụng thờ Thiên Chúa của chúng ta nên nửa vời.

Ma quỷ cướp lấy khỏi chúng ta việc phụng thờ Thiên Chúa đích thực và trọn vẹn.

NỐI KẾT 3 BÀI ĐỌC

Bài đọc 1 phản kháng lại những người có quyền hành sống bất công. Họ lạm dụng quyền bính để tìm lợi lộc trên người nghèo khổ.

Bài đọc 2 kêu mời cầu nguyện cho những người đang nắm giữ quyền bính để họ đừng gây xáo trộn trong đất nước.

Bài Tin mừng nói đến việc trở nên người quản lý đích thực và trung thành. Quyền bính phải được thi hành cách khôn khéo.

CÁCH KHAI TRIỂN BÀI GIẢNG

Bạn đã từng bị mất việc chưa? Đâu là những lý do?
Một vài lý do cho nghỉ việc: không hiệu quả, vô kỷ luật, cứng cổ, không tuân theo chỉ thị v.v…
Chúng ta phải hiểu rằng, dù chúng ta chỉ là nhân viên, chúng ta cũng được giao phó một số quyền hành.
Trong bài đọc 1, Amốt phản đối những người có quyền hành mà lợi dụng người nghèo khổ. Họ lạm dụng quyền bính để làm giàu. Họ lừa bịp. Họ thay đổi cân đo. Họ mua rẻ những người nô lệ như mua một món hàng.
Amốt, một sứ ngôn về công bằng xã hội, có lòng yêu mến đặc biệt đối với người nghèo và người bị áp bức. Ngài muốn họ được giải thoát khỏi những cơ cấu áp bức.
Trong bài đọc 2, thánh Phaolô thúc dục Timôthê (và độc giả) cầu nguyện cho những người nắm giữ quyền bính, để có được sự bình an. Thánh Phaolô ý thức rằng việc cai trị tồi tệ có thể gây hại cho Giáo hội và cộng đoàn.
Bài Tin mừng nói về người quản lý bị cho thôi việc vì đã lạm dụng quyền bính. Ông đã không cai quản tốt tài sản của chủ. Ông thiếu tinh thần trách nhiệm.
Bài Tin mừng ủng hộ việc quản trị tốt và quản lý trung thành. Không người quản lý nào được phép thay đổi mục tiêu của chủ liên quan đến tài sản. Anh phải biết vai trò và giới hạn của mình…
Bài Tin mừng cũng dạy về sự khôn ngoan như một nhân đức cần thiết để tồn tại.
Sự khôn ngoan được diễn tả đây như là biết mua lấy bạn hữu, biết sử dụng của cải, tài sản để thiết lập những mối tương quan tốt đẹp. Người ta không muốn đồng bàn, ở với bạn, nếu bạn không là người khách tốt, nếu bạn không biết cho và nhận.
Chúng ta những người lãnh đạo / thừa tác viên của Giáo hội đã thực thi quyền bính như thế nào?
Chúng ta có áp bức những kẻ bé mọn không? (bài đọc 1)
Chúng ta có cầu nguyện cho những người nắm giữ quyền bính cao hơn chúng ta không? (bài đọc 2)
Chúng ta có phung phí quyền bính của chúng ta không (nghĩa là không thực thi quyền bính, luôn vắng mặt, không làm tốt công việc, không báo cáo, không thanh toán sổ sách, v.v…?) (bài Tin mừng)
Người kitô hữu phải biết thực thi quyền bính của mình, cách khôn khéo, giống như con cái đời này.
Đức Giêsu là mẫu gương về một quyền bính có trách nhiệm, đầy yêu thương và khôn khéo.
Đức Giêsu ưu tiên đáp ứng nhu cầu của những người nghèo. Đức Giêsu thách đố những người nắm giữ quyền bính để họ sống và hành động theo thánh ý Thiên Chúa, Đấng đã ban cho họ quyền bính.
Đức Giêsu đã thực thi quyền bính nhằm mưu ích cho nhân loại cho đến khi đổ giọt máu cuối cùng trên đồi Can-vê.
Ngài sử dụng cách tốt nhất 3 năm rao giảng. Ngài để lại một dấu ấn trong tâm trí những người nỗ lực đào sâu mối tương quan với Thiên Chúa.
Đức Giêsu một lòng một trí phụng sự Thiên Chúa, loan báo Nước Thiên Chúa, bằng cách rao giảng, dạy dỗ, chữa lành và tha tội cho những người đến với Ngài.
Đức Giêsu không tìm cách làm cho mình nổi danh, làm giàu cho chính mình. Ngài chú tâm đến các ưu tiên, đến sứ vụ.
Với quyền năng và sức mạnh, Đức Giêsu hô lên: “Lạy Cha, xin tha cho chúng…”
Quả thế, Đức Giêsu sống theo điều mà Chúa Cha chờ đợi nơi Ngài.
Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta có thể thấy Đức Giêsu vẫn đang hiến thân cho chúng ta.
Ngài vẫn tiếp tục thực thi quyền bính Ngài bằng cách phân phát ân sủng của Ngài cho chúng ta dưới hình bánh và rượu được truyền phép.
Ngài làm bạn với chúng ta khi trao ban chính mình để nuôi sống chúng ta.
Bí tích Thánh Thể tiếp tục đóng vai trò người quản gia và người phục vụ trung thành trong vườn nho của Chúa.
Trong bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu tiếp tục dạy chúng ta cách chia sẻ, nhường bước, trở nên khiêm hạ, trở nên người tôi tớ khôn ngoan và một lòng một dạ.
Lm. Phan Du Sinh chuyển ý

 

TN25-C65. KHUYNH HƯỚNG

Con người có huynh hướng thích làm chủ người khác nhưng lại sợ làm chủ chính mình. Làm: TN25-C65

Con người có huynh hướng thích làm chủ người khác nhưng lại sợ làm chủ chính mình. Làm chủ càng nhiều người càng hãnh diện và coi đó là thành công lớn trong đời. Chính cá nhân và người thân chung niềm hãnh diện về tài lãnh đạo của cha ông. Làm chủ ngoài xã hội dường như dễ hơn làm chủ chính mình. Không phải hễ thành công ngoài ngõ là thành công trong nhà cả đâu. Nhiều người thất bại và đầu hàng việc lãnh đạo chính mình. Đối với thiên hạ là ông chủ đại tài, lãnh đạo tài ba, thương gia thành công; đối với chính mình người đó là một tên nô lệ trung thành phục vụ các tính hư, tật xấu, không dám đối diện với sự thật.

Khuynh hướng khác, nô lệ tiền bạc. Nhiều người có tài lãnh đạo các công ti lớn; giúp thương nghiệp thu nhiều món lợi khổng lồ. Làm ra tiền, trên giấy tờ, hồ sơ họ làm chủ nhiều tài khoản lớn, các công ti tranh nhau mướn, hoặc ít ra là cố vấn cách làm tiền. Nơi thương nghiệp công sở người đó làm chủ đồng tiền; bắt đồng tiền sanh lợi theo ý muốn. Oái oăm thay khi về đến nhà người đó chấp nhận, quỵ lụy làm đầy tớ đồng tiền, để cho tiền sai khiến. Giầu cũng như nghèo bất cứ ai quý tiền

hơn mạng sống là tự nguyện làm nô lệ cho tiền.

THẦY TỚ

Có ba loại thầy tớ. Một là làm tôi chính mình. Hai là tôn thờ đôi bàn tay. Ba là nô lệ cho khối óc, thờ ngẫu tượng hoặc thần tượng.

Làm tôi chính mình tức là làm nô lệ cho một vài thói hư tật xấu như lười biếng, gian manh, đanh đá, gàn dở, ham mê ăn uống và tửu sắc, cùng các thói hư nết xấu. Nói tóm lại chọn làm tôi chính mình là chọn tôn thờ cái ’tôi’. Tất cả đều chú trọng vào cái tôi. Mối liên hệ nào không phục vụ cái tôi đều bị loại dần, loại dần cho đến một lúc nào đó cái tôi tự cô lập, cắt đứt liên hệ tình cảm với đời, với người. Chọn sống ích kỉ chỉ biết cái tôi và cho tôi, mọi người đều phải phục vụ tôi. Sống như thế chính là chọn cái chết trong cuộc sống, chết trong cô đơn, hận đời.

Đệ tử trung thành của các giá trị xã hội. Tôn thờ ngẫu tượng chính tay mình làm ra như của cải, vật chất và địa vị. Liều chết vì của cải, vật chất. Giết nhau vì của cải. Bỏ tù nhau vì của. Giận nhau suốt đời vì của. Tranh cãi, kiện tụng nhau vì của và đôi khi mượn Danh Chúa làm chứng cho lời thề vì của. Quả là phi lí Thiên Chúa yêu thương không bao giờ làm chứng vì làm chứng cho phe nào là thuộc về phe đó. Thiên Chúa không có phe, tất cả đều là con cái do Ngài dựng nên.

Tiền sanh ra tiền, sanh nhiều lần thế nào cũng có đồng tiền tàn tật. Chính đồng tiền tàn tật làm chủ nó tàn đời. Tôn thờ thần bất toàn tránh sao khỏi điêu tàn vì chính thần họ tôn thờ cũng chết thì thần đó cứu sao được người tôn thờ chúng.

Con người làm ra của, vật chất để chúng phục vụ con người, chịu sự điều khiển của con người và vâng lời con người. Xử dụng chúng trái với mục đích trên là sai, cần chỉnh lại. Ta tạo nên vật chất, chúng phải vâng phục ta, tại sao lại đi tôn thờ chúng, làm nô lệ cho chúng.

Thứ ba là nô lệ cho khối óc, sắc đẹp và tài năng. Có những người sẵn sàng hy sinh cho một chủ thuyết, bỏ cả gia đình cha mẹ, thân nhân để hy sinh cho một chủ thuyết. Chủ thuyết đẹp mấy, tốt mấy cũng là sản phẩm của khối óc, sớm muộn cũng lỗi thời. Tài nghệ kiêm toàn cũng có ngày mai một, chôn vùi trong mộ sâu. Sắc đẹp tuyệt trần sớm muộn cũng có ngày tuyệt mạng. Sao không tôn thờ, cảm tạ Đấng Tạo Hoá dựng nên chúng mà lại đi tôn thờ tạo vật được dựng nên.

Tôn thờ Đấng Tạo Hoá thì chỉ có một.Tôn thờ tạo vật thì có nhiều. Vì có nhiều loại chúa khác nhau nên sẽ có chọn lựa và tranh cãi hơn thua. Chúa đó không tranh cãi được thì kẻ tôn thờ chúa đó đứng ra cãi giúp. Lạ nhỉ?

CHỌN CHỦ TỚ

Con người hoàn toàn tự do trong chọn lựa. Chọn Thiên Chúa hay chọn loài thụ tạo. Chọn Thiên Chúa là một chọn lựa khôn ngoan và đúng nhất vì chọn Đấng cầm quyền sinh tử đời này và đời sau. Chọn Đấng ban sự sống để được sống hạnh phúc và yêu thương. Chọn Đấng ban tài trí và tình thương. Chọn Đấng bảo bọc, nâng đỡ, cùng đồng hành và an ủi khi gặp âu lo, khốn khó. Chọn Đấng ban ơn tái sinh, nâng đỡ khai sáng tâm trí. Chọn Đấng luôn cầu bầu cho và ban ơn cứu độ. Chọn Đấng khiêm hạ làm bạn đồng hành, cùng vui với, cùng buồn với và cùng khóc với. Chọn đây không phải là chọn để làm tôi tớ nhưng mà để được phúc làm bạn với. Chọn vì lòng mến muốn đáp trả, muốn cám ơn tình thương Đấng đó ban phát và nâng lên hàng bạn hữu với Ngài, dù ta không xứng đáng. Chọn Đấng ban phát tình yêu, tạo dựng vì yêu con người nên con người đáp trả bằng tình yêu nhận được.

ĐỔI NGÔI

Người quản lí bất lương nghĩ đến tương lai, biến vật chất của chủ thành tâm tình biết ơn, lòng cảm mến nơi những con nợ. Biến vật hữu hình thành mối liên kết vô hình. Làm thế ông ta đổi ngôi thứ trong nấc thang liên hệ, đang là người tớ quản lí trở thành chủ của con nợ.

Kitô hữu khôn ngoan cũng phải học biết hướng về tương lai, đổi ngôi cho xứng với danh vị là con Chúa. Biến vật chất hữu hình, hư nát thành tình yêu, lòng mến. Kitô hữu học làm chủ sai khiến của cải, bắt chúng làm những việc tốt lành, đạo đức, bác ái, phục vụ lợi ích tha nhân. Cho đi là việc làm của chủ nhân. Học cho đi chính là học làm chủ. Cho một chén nước lã cũng là cho. Chỉ khi nào làm chủ mới có để cho. Muốn có để cho mãi thì phải nhận từ nguồn vô tận. Nguồn đó là Đấng Tạo Hoá vì Đấng này tạo ra nên là nguồn bất tận. Vì thế mỗi khi cho đi chúng ta nhân Danh Ngài để cho.

Lm Vũđình Tường

 

TN25-C66. Có chủ, chủ nào ? - Lm Vũ Xuân Hạnh

Mấy năm nay, ruông vườn thua lỗ, đất đai lên giá. Như nhiều nơi trên đất Việt này, những: TN25-C66

Mấy năm nay, ruộng vườn thua lỗ, đất đai lên giá. Như nhiều nơi trên đất Việt này, những người ở quê tôi đua nhau bán đất. Có tiền rồi, người ta cũng “lên hương”: nào nhà cửa mới, các vật dụng trong nhà mới, xe mới…
Tuần vừa qua, tôi dâng thánh lễ an táng cho một thiếu niên mười bảy tuổi. Thiếu niên này chết do… có tiền bán đất. Cách đây chưa lâu, bà nội của em bán một miếng vườn cho một nhà kinh doanh gì gì đó tận Đà Nẵng. Em là đứa cháu nội duy nhất của bà. “Bà cưng thằng cháu nội của bà nhất nhà,” bà nội em đã từng tuyên bố như thế. Bán đất xong, việc đầu tiên, bà nội mua ngay cho thằng cháu cưng một chiếc xe phân khối lớn, dù em chưa đến tuổi được phép lái xe loại cao. Có xe, “thằng cháu cưng của nội” đi học bằng xe, đi chơi bằng xe, đi… trêu ghẹo bạn gái bằng xe cho… “oách” (điều này khỏi nói ai cũng biết) và đi… nhậu cũng bằng xe…
Vào một đêm mưa lất phất bay, cháu đi đến khuya chưa về. Bà nội chờ cháu. Cả nhà chờ cháu. Mãi đến 2 giờ sáng, người ta đưa cháu về gởi lại gia đình… bằng một xác chết không còn đỉnh đầu, bởi đỉnh đầu nát bấy. Chiếc xe của bà nội tặng đứa cháu cưng, để đánh dấu ngày bà nội giàu có nhờ bán đất, ngày nào đẹp là thế, bây giờ cong lại như muốn gãy đôi. Những người hữu trách cho biết trong bao tử “cháu cưng của bà nội” toàn rượu đế. Cháu phóng xe nhanh trên đường vế nhà sau chầu nhậu. Nhưng cháu không phóng về đến nhà, lại lao thẳng vào phía trước của xe tải chạy ngược chiều với cháu. Nhìn thầy xác cháu, bà nội xỉu vì ép tim, làm mệt và cao máu, phải đi bệnh viện. Cả nhà rối tung lên vì cháu chết bất ngờ quá. Có ai ngờ, món quà quý bà nội tặng cháu vì thương cháu, lại trở thành phương tiện chở cháu đi… gặp “Ông Trời.” Đau đớn quá. Đau hơn cắt ruột, cắt gan.
Biết trách ai bây giờ? Trách cháu nông nổi cạn nghĩ? Trách bà nội cưng cháu? Trách gia đình bỗng dưng giàu có? Hay trách đồng tiền, trách chiếc xe, trách của cải bội bạc? Bài Tin Mừng Chúa nhật 25 thường niên hôm nay cho thấy, Chúa không trách tiền, không trách của cải. Chúa dạy người ta phải biết cách sử dụng đồng tiền, sử dụng của cải. Vì nếu có tiền, có của mà không biếc cách sử dụng, người ta không chỉ giết chết một hay nhiều mạng sống, mà nguy hiểm hơn, đau đớn hơn, đáng trách hơn: Người ta sẽ giết chết sự sống vĩnh cửu của mình, thậm chí của người khác nữa.
I. Ý NGHĨA DỤ NGÔN NGƯỜI QUẢN LÝ BẤT TRUNG, GIAN LẬN
Đã gọi là bất trung, gian lận, lẽ ra, Chúa phải kết án người quản lý như thế, đàng này Chúa lại khen anh là người quản lý khôn khéo. Thật ra, Chúa không khen ngợi hành động gian trá của anh. Chúa không bao giờ đồng tình với sự xấu: “Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.” (Lc 16, 8). Khi gọi người quản lý là “con cái đời này,” Chúa Giêsu đã không để anh đứng chung hàng ngũ với “con cái sự sáng”. Anh chỉ thuộc về đời này, thuộc về thế gian mà thôi. Nếu hiểu khôn ngoan là thái độ tốt lành của người tìm kiếm Nước Thiên Chúa, thì người quản lý trong dụ ngôn không phải là người khôn ngoan, chỉ là người khéo léo. Anh chỉ được khen là khôn khéo vì “biết dùng tiền của bất chính mà mua lấy bạn bè” cho cuộc sống trần gian, chứ không hề được khen là khôn ngoan vì đã tìm kiếm Nước Thiên Chúa.
Dụ ngôn của Chúa được dựa trên quan niệm về quản lý của thời đó. Thường những gia đình giàu hay mướn một quản lý. Một khi người quản lý đã được tin tưởng, anh ta kể như người có toàn quyền hành động, miễn là làm sao cho cho tài sản của chủ không chỉ được bảo đảm mà còn có thể gia tăng. Và khi làm lợi cho chủ, người quản lý có quyền hưởng một tỷ lệ hoa hồng tương xứng. Người quản lý trong dụ ngôn Chúa Giêsu kể, vì lý do nào đó, chủ không còn tin tưởng anh, không muốn sử dụng anh tiếp tục công việc quản lý cho ông. Vì sắp bị chủ sa thải, người quản lý cảm thấy nguy hiểm cho tương lai đời mình. Anh không thể ăn mày, cũng không thể cuốc đất. Anh nghĩ ra một cách khả dĩ cứu vãn tình thế sau khi anh mất việc: Anh gọi những người thiếu nợ chủ lại, lấy biên lai nợ của họ trừ đi phần hoa hồng mà họ phải trả cho anh, chỉ còn lại nguyên phần nợ của chủ. Như thế, anh không ăn gian của chủ. Còn những người mắc nợ, chỉ trả nợ ít hơn, nên họ sẽ mang ơn anh. Nếu anh thất nghiệp có thể họ sẽ giúp đỡ anh. Cách làm này được Chúa khen là biết dùng tiền của mà mua lấy tình người.
Qua câu chuyện, Chúa muốn dạy ta rằng, cũng như người quản lý trong dụ ngôn, ta hãy sử dụng tiền của sao cho tiền của đó mang lại lợc ích đời đời cho ta. Đúng hơn, sống trong cuộc đời này, ta phải thật sự tôn thờ Chúa trên hết mọi sự, đừng coi trọng tiền của, đến nỗi quên mất đức tin, quên mất mình là con của Chúa. Ta không được lao vào việc kiếm tiền mà quên tất cả cuộc đời mai sau, đừng chỉ vì tiền của mà trở thành bất lương, trở nên kẻ thù nghịch với đời sống làm con Chúa.
II. TỪ BỎ ĐỂ LÀM CON CHÚA
Mang danh Kitô hữu, nghĩa là chúng ta được vinh dự nhận danh Chúa Kitô làm tên gọi của mình. Danh của Chúa trở thành tên chúng ta. Lẽ nào ta lại sống khác Chúa. Chúa đã sống cả một đời từ bỏ, ta cũng hãy bắt chước Chúa sống siêu thoát khỏi những ràng buộc của tiền của, của những tính toán phù hoa trần thế.
Giàu hay nghèo, không phải là tội. Tội nằm ở chỗ ta không giữ được mình, mà chỉ sống tham lam, sống chỉ lo cho đời này, không cần biết đến đời sau.
Giàu hay nghèo không phải là điều đáng trách móc. Điều đáng trách móc là thái độ nào của ta trước cái giàu, cái nghèo của mình, của cuộc sống xung quanh.
Giàu hay nghèo tự nó cũng không là phúc. Bởi giàu chưa chắc đã hạnh phúc. Bỗng dưng bán đất rồi trở nên giàu có, để rồi từ đó lãnh lấy nỗi đau mất mát, chắc chắn cái giàu ấy, sẽ không bao giờ có ai muốn. Nghèo chưa hẳn là bất hạnh. Nếu trở lại nghèo như ngày xưa, mà giữ được mạng sống của cháu, mà trong gia đình có bà, có cháu chia sẻ vui buồn cùng nhau, chắc đánh đổi tất cả của cải, bà nội sẽ không chỉ không phiền hà gì, nhưng còn vui lòng đón nhận.
Câu chuyện bà nội mua cho cháu chiếc xe đẹp, xe mới để cháu lao thân vào chỗ chết mà người viết ghi lại ở đầu bài viết này, không thể đổ cho bà nội giàu có, không thể đổ cho tiền của bạc nghĩa. Nhưng chắc chắn phải quy trách nhiệm cho thái độ sống thiếu tinh thần trách nhiệm của những người trong cuộc: Gia đình đã cưng chiều cháu, khiến cháu hư hỏng. Thậm chí mua xe phân khối lón cho cháu khi cháu chưa đến tuổi được phép lái xe như vậy. Gia đình cũng không kiểm soát việc cháu sử dụng của cải như thế nào. Bản thân cháu là đứa trẻ tệ bạc đối với tình thương yêu của những người thân của mình. Không biết trước khi có tiền và sau khi có tiền, tất cả những người trong gia đình này có bao giờ nghĩ đến việc phải sống siêu thoát, sống từ bỏ, phải vượt lên trên của cải để chỉ giữ lấy cho mình đời sống đức tin, để mỗi ngày sống lại thêm một ngày giống mẫu gương của Chúa Kitô, Thiên Chúa làm người từ bỏ tất cả để trở nên một con người hèn hạ giữa trần gian? Nếu đã từng ý thức danh hiệu Kitô hữu của mình để nên giống Chúa Kitô, và chuyên lo giáo dục con cháu sống đức tin, có lẽ gia đình này đã không xảy ra đau thương và ân hận như đã nói? Cái chết đớn đau ấy là cái giá phải trả cho việc biến mình thành kẻ làm tôi tiền của. Bởi nếu đã ra sức làm tôi Chúa, chứ không làm tôi tiền của, chắc đã không bị tiền của cướp mất mạng sống oan uổng như thế. Bởi khi làm tôi Chúa, người ta sẽ sống có tư cách, sống đàng hoàng, sống biết yêu mình và yêu mọi giá trị tốt lành trong cuộc đời. Sống “yêu” như thế là sao có thể gây ra tan vỡ và tai hại đến thế. Lời Chúa mãi mãi vẫn là lời đanh thép đánh vào tất cả những ai tự biến mình thành kẻ nô lệ tiền của: “Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ... Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được.” (Lc 16, 13).
Giàu có thể phạm tội theo cách của người giàu. Họ sống ích kỷ, chỉ biết lo cho bản thân, sống trong thụ hưởng mà quên đồng loại của mình. Giàu dễ làm cho người ta sống xa hoa, sống thiếu tình người, sống hời hợt. Sống sang giàu có thể dẫn người ta lao vào trụy lạc, sa đọa, khoe khoang, thậm chí mất đức tin…
Nghèo có thể phạm tội theo cách của người nghèo. Họ dễ bị cuốn hút vào việc kiếm tiền. Đồng tiền trở thành nhu cầu số một chứ không phải đời sống tinh thần, không phải đức tin vào Chúa. Có thể cái nghèo đưa họ tới việc nghi ngờ Thiên Chúa, nghi ngờ lòng thương yêu, nghi ngờ cả sự hiện hữu của Chúa…
Con đường theo Chúa phải là con đường của sự từ bỏ. Từ bỏ là con đường ngắn để đến gần Chúa. Cái hay của người Kitô hữu chân chính biết sống từ bỏ đó là, họ say mê cả cuộc đời như bất kỳ ai, nhưng họ vẫn say mê Thiên Chúa trên hết mọi sự. Giữa những điều mau qua trong cuộc đời mà họ say mê, họ bắt gặp vĩnh cửu, bắt gặp Thiên Chúa, Đấng họ tôn thờ trên tất cả mọi lợi lộc trần thế. Họ cũng làm việc, cũng vui chơi, nghỉ ngơi. Nhưng họ cũng không quên cầu nguyện, tham dự thánh lễ, bác ái, thực thi mọi nghĩa vụ của một Kitô hữu giữa đời. Họ sống như mọi người, nhưng họ khác mọi người, vì họ nhìn thấy Thiên Chúa và để Chúa của họ đi vào chiếm ngự toàn bộ việc làm, toàn bộ suy nghĩ, toàn bộ hành vi, toàn bộ đời sống, cả tâm hồn, cả thân xác của họ. Họ yêu đời và họ yêu Chúa. Họ sống có lý tưởng. Chính Chúa là lý tưởng duy nhất của đời họ. Người Kitô hữu là việc và hiến dâng lên Chúa tất cả để thánh hóa tất cả những gì thuộc về họ. Họ biết làm việc, làm hết sức lực, nhưng họ cũng biết từ bỏ mọi sự để mãi mãi họ thuộc về Chúa, và chỉ thuộc về Chúa mà thôi.
Vậy với những gì Lời Chúa dạy hôm nay, và với những gì vừa suy nghĩ, chúng ta hãy tự tra vấn lương tâm mình. Cái gì là điểm tựa của đời tôi, tiền của hay Thiên Chúa? Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của. Vậy chủ nào đang ngự trị trong tôi?
Điều cần phải tâm niệm và tâm niệm luôn luôn rằng: Chỉ có Chúa là hạnh phúc thật của đời tôi!

 

TN25-C67. SỐNG VẬT CHẤT LÀM ĐỜI Ô UẾ

Đời no ấm nghĩ càng xấu hổ,
Vắt đâu ra giọt nước mắt thầm.
…Sống vật chất làm đời ô uế,
Biết bao giờ gội sạch tâm linh.Ta chỉ biết làm thơ thương tiếc,
Đọc lên nghe hằn học với mình.

( thơ Bắc Phong )
 

Ấm no – vật chất , đâu có làm cho thi sĩ thêm hạnh phúc. Thi sĩ cứ “làm thơ thương tiếc”,  nên “nghe: TN25-C67

  Ấm no – vật chất , đâu có làm cho thi sĩ thêm hạnh phúc. Thi sĩ cứ “làm thơ thương tiếc”,  nên “nghe hằn học với mình”. “Hằn học sống vật chất”, “sống đời ngạo nghễ”, như trình thuật nói đến hôm nay. Trình thuật hôm nay, kể về đời ngạo nghễ của nhà kinh bang tế thế biết tính toan, bương chải. Khôn ngoan bương chải Chúa khen, là nghề của con cái, rất sự sáng.
  Vào thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên, tiên tri Amos đến vương quốc Israel, thấy xứ sở này giàu có. Nhưng, sau hậu trường chính trị và cuộc sống linh đạo, tiên tri nhận thấy thế giới ở đây rất bất công, chuyên bóc lột người nghèo. Tố giác của tiên tri, nếu áp dụng với thế giới hôm nay, cũng không ngoa. Vẫn cân đo, đong đếm bằng cân bàn/vi tính, đầy gian lận. Cũng hàng hóa chất chồng nhưng mọi giá trị đều giảm sút. Cũng mua chuộc người nghèo bằng tiền của, với công lao.
  Sau hơn hai ngàn năm văn vật, mọi sự đâu đổi thay. Hệ thống an sinh cũng đầy phúc lợi đấy, nhưng người nghèo vẫn hoàn nghèo. Phúc lợi trần thế chỉ là kết cục bằng những chia chác mất cân bằng, trong xã hội. Ngày nay, người người hầu như bất động làm ngơ trước cảnh cướp bóc, bắn giết ngoài đường, cả nơi trường học. Người nghèo hèn - vô tội có chết, lớp giàu vẫn dửng dưng, ăn chặn sự sống của họ trên đầu trên cổ. Lối sống xa hoa - tiền tài vẫn quyến rũ nhiều người mải làm ăn.
Đọc sách tiên tri, chắc có người sẽ bảo: làm giàu cách chân chính đâu có gì phạm tệ, sao phản đối. Dĩ nhiên, người Công giáo có quyền sống giàu sống mạnh, sống thoải mái. Đâu ai chạm đến mình. Nhưng, nếu định nghĩa đúng, không ai trở nên giàu nếu không có người nghèo bị dồn ép/bỏ rơi trong tăm tối. Theo định nghĩa rất đúng, chỉ gọi là giàu, những ai nhiều tiền nhiều hơn giới thường thường bậc trung. Nếu người nghèo không cung phụng, sao họ giàu được.
  Cũng có người chắc sẽ biện luận: Hội Thánh nhà Đạo nên có thái độ thế nào với xã hội và kinh tế cầm quyền, chứ ? Có người lại hỏi: Giáo hội có nên kinh doanh kiếm tiền để nuôi hệ cấp giáo quyền chăng ? Cứ đặt câu hỏi ấy với tiên tri Amos. Hoặc, với Đức Ki-tô, người hỏi sẽ nhận được câu trả lời đại loại thế này: “Người giàu vào Nuớc Trời còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim.”
Khó, đâu chỉ vì anh giàu. Bởi, muốn trở nên giàu và có, anh phải thu vén của cải nơi kho lẫm, tích trữ. Của cải anh có được, là do ăn ở bất công với người khác. Chí ít, nghèo hơn anh.
Bất công với người khác, là từ chối tình yêu thương đùm bọc những người túng thiếu, thua thiệt. Đã bất công rồi, chẳng thể nói được là mình vẫn yêu Chúa, rất nhiều. Yêu Chúa nhiều, mà sao anh cứ quên thương xót những người anh em, nghèo hơn anh. Người như anh, đã bị từ chối ngay trước ngõ Nhà của Chúa. Và ở đây, thánh Gia-cô-bê còn nhắc anh trong thư trước: ta không thể đơn giản nói “Tôi thực lòng thấy tội nghiệp cho anh/chị về những khó khăn đang gặp, nhưng tôi không biết làm gì hơn là cầu nguyện cho chị/cho anh vào buổi tiệc thánh, ngày của Chúa”.
Ngày nay, kinh tế - tài chánh, doanh thương – tranh chấp, đã va chạm làm xáo trộn đời sống luân lý, người nhà Đạo. Xáo trộn, đảo lộn giá trị - trật tự, chao đảo phẩm giá, mỗi cá nhân. Chao đảo quyền căn bản, nhân gian muốn làm người. Vốn luôn đụng chạm – chao đảo, đối tác bất công đã chối bỏ lòng yêu thương giùm giúp hết mọi người. Sống với xã hội trọng tiền của, người người dường như chấp nhận có ăn có thua. Thậm chí, người còn chụp cho nó mũ nón “vận may thế kỷ”.
Điều đáng buồn là: hôm nay người người vẫn coi chuyện bất công, bóc lột người thấp hèn như việc “bình thường”, cứ xảy ra. Thậm chí, nhiều tín hữu Đức Ki-tô có mặt trong số những người ngoảnh mặt làm trước cảnh đời anh em trong ngoài giáo hội, sống túng thiếu. “Bình thường” là sao, khi người anh người chị của ta cứ sống trong các “ổ chuột”, thiếu tiện nghi tối thiểu. Bình thường thế nào, khi các em các cháu ngoài Đạo cứ hộc mật làm suốt không ngơi, với đồng lương mướp rách ?    
Có bình thường chăng, khi nhiều cứ chễm chệ ăn trên đầu trên cổ những anh em còn nghèo túng. Nhất thứ là khi, tiền bạc người giàu kiếm được là do khai thác bóc lột sức lao động của những người em yếu kém, thiếu điều kiện để vươn lên. Tín hữu Đạo công bằng tình thương của Chúa không thể ở yên ngồi đó, làm ngơ trước cảnh sống thiếu cân bằng, trong xã hội được. Có vị thậm chí, không chỉ ngoảnh mặt mà thôi, nhưng lại còn trực tiếp hay gián tiếp, góp phần làm cho tình trạng mất quân bình trong xã hội thêm trầm trọng. 
Vấn đề đặt ra là: không phải cứ thế tranh đấu cổ võ cho công bằng xã hội. Quả là, trong nhiều lĩnh vực, dân chúng thường ở tình trạng không đồng đều. Tuy thế, trên bình diện phẩm giá và quyền hạn, không ai có thể tự cho mình cái quyền thuộc về cấp bậc/giai tầng cao hơn người khác. Bất cứ hành động/lập trường nào nhằm làm suy giảm phẩm giá con người đều không thể được người tín hữu của Đức Kitô có ý thức và có lòng thương người chấp nhận.
Dĩ nhiên, như Phúc Âm có nói, có ngưới được phú ban nhiều tài năng hơn người khác. Tuynhiên, các quà tặng Trên ban đó phải được sử dụng không phải để kiếm chác nhiều thêm, mà là cống hiến nhiều hơn ngõ hầu ta dựng xây Cộng đòan tình thương của Nước Trời. Quà tặng càng lớn lao, trách nhiệm san sẻ quà ấy càng lớn. San sẻ, là chia bớt cho người nào có ít hơn ta.
  Ý tưởng hãy nhớ mà san sẻ, còn được thánh Phao-lô khẳng định ở bài đọc thứ hai. Thánh Phao-lô khuyến khích đồng nghiệp Timôthê hãy nguyện cầu cho tát cả mọi người. Mọi người, trong đó có “vua chúa và người cầm quyền, để chúng ta được sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh.” ( 1 Tm 2, 2 ).
Phúc Âm hôm nay, đề cập đến quyền của người quản gia. Anh là người có trọng trách cai quản tiền bạc - tài sản của chủ. Quản gia, trong trình thuật hôm nay là người bị tố cáo đã phung phí của cải nhà chủ. Kể lại dụ ngôn này, không phải là Đức Kitô chủ tâm khuyến khích tính bất lương của người làm công nhưng muốn kéo chú ý về tính lo xa của các vị “con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng.”
Với con cái ánh sáng, lời cuối của Đức Chúa trong trình thuật hôm nay, là: “Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng Tiền Cúa bất chính mà tạo lấy bạn bè..” ( Lc 16, 9 ). Qua lời khuyên này, Đức Giê-su nhắc nhở ta, rằng: ta chỉ là quản gia chứ không phải là chủ nhân ông của mọi tiền bạc/tài sản ta đang có. Xem như thế, ta không thể bảo như con cái đời này “Tôi dùng tiền bạc/tài sản của tôi làm bất cứ chuyện, thì kệ tôi chứ. Của tôi mà”. Con cái ánh sáng không thể có những lời tuyên bố như thế. Bởi như thế, là trái công bằng. Trái nghịch lời khuyên dạy của Đạo Chúa.
Cuối cùng ra, vấn đề tạo dựng cuộc sống hạnh phúc thành công không ở nơi vấn nạn: ‘Tôi giàu đến cỡ nào rồi?’ mà là: ‘Tôi có sử dụng của cải mình có để tất cả mọi người đều có lợi không?, mà thôi. Đó là cách thức ta tạo lấy bạn bè, như Đức Chúa dạy trong trình thuật.
Xác tín với lời khuyên của Người Bạn Chí Thân của mọi người là Thầy Chí Thánh, ta quyết tâm hân hoan đi mà làm như thế. Đi, với tinh thần vui tươi mà hát cùng nghệ sĩ “già”, mà rằng:   
Để lại cho em thành phố lên đèn
Bọn người tranh nhau một đám bụi đen
Lệ buồn rơi trong tửu điếm
Gửi người gian nan tiền tuyến
Để lại cho em giả dối đê hèn.
Nhưng em thương anh thương anh, Em đón nhận gia tài
Nhưng em thương anh thương anh, Ta cùng gom sức mới
Nhưng em thương anh thương, Xin nhận lời tranh đấu
Nhưng em thương anh thương anh,Đi tìm lối thoát cho nhau. ( Phạm Duy - Để lại cho em )
Tiền tuyến hôm nay không là cõi chinh chiến miệt mài. Mà là, “nhận lời tranh đấu” chống bất công. Chống đói nghèo. Chống cả những yếu kém của người anh chị. Khắp nơi nơi.           
Lm. PHAN ĐỖ THỤC LINH ( Úc ), bản dịch của MAI TÁ

 

TN25-C68. ƯU TƯ HÀNG ĐẦU, MỘT VẤN ĐỀ MUÔN THUỞ

Bài đọc I: Am 8,4-7; Bài đọc II: 1 Tm 2,1-8; Tin Mừng Lc 16, 1 – 13
I. DẪN NHẬP
 

Thưa quý vị đọc giả kính mến ! để giúp chúng ta hiểu hơn về giáo lý của trình thuật Tin Mừng tuần: TN25-C68

Thưa quý vị đọc giả kính mến ! để giúp chúng ta hiểu hơn về giáo lý của trình thuật Tin Mừng tuần này. Người viết xin mời quý vị nhìn lại một cách vừa tổng quát, vừa xuyên suốt, bố cục và ý tưởng của Thánh sử Luca muốn nhắm trình bày giáo huấn của Chúa Giê-su trong mấy tuần qua.
Bài Tin Mừng hôm nay là một đoạn của phần hai ( từ chương 9 câu 51 đến chương 19 câu 27 ) sách Tin Mừng Luca. Phần này Thánh sử Luca dẫn đưa chúng ta đi vào hành trình của Đức Giê-su trên đường tiến đến Giê-ru-sa-lem để hoàn tất sứ mệnh cứu độ và để đón nhận “cái chết” làm của lễ toàn thiêu cứu độ muôn người.
Đứng trước những nhu cầu khẩn thiết của Nước Thiên Chúa, Chúa Giê-su muốn làm nổi bật vị trí ưu tiên của những hoạt động vì Nước Trời. Do đó, Thánh Luca đã khéo léo vận dụng đến 17 giáo huấn của Chúa Giê-su, bằng phương pháp kể chuyện dụ ngôn, gọn trong khoảng 10 chương liên tiếp. Đây là một hình thức độc đáo riêng của Tin Mừng Luca và đây cũng là những cách thức mới mẻ nhằm đưa ra những yêu sách triệt để cho những ai muốn theo Chúa Giê-su.
Nội dung chính của 10 chương ( từ chương 9 câu 51 đến chương 19 câu 27 ) này là nhằm hướng dẫn, dạy dỗ các môn đệ, về cách sống và hành động vì mục đích là Nước Trời; đồng thời đưa ra những giải đáp trong các cuộc tranh luận với đối phương ( là những người thường chất vấn Chúa Giê-su, để ngăn cản tiến trình cứu độ của Ngài ).
Những điểm giáo lý then chốt này là:
- Đưa ra những yêu sách triệt để, cho những ai muốn theo Chúa và muốn làm môn đệ Chúa. ( x. Lc 9, 51 - 62; 10, 38 - 42; 12, 49 - 53; 14, 25 – 33 )
- Lập nên những tiêu chuẩn luân lý cho những ai muốn trở nên hoàn thiện để được vào Nước Trời. ( x. Lc 12,13 – 21; 35 – 48; 13, 22 – 30; 19, 1 – 10 )
- Giáo dục con người nhận thức được sự khôn ngoan đích thực là sự khôn ngoan của con cái sự sáng. ( x. Lc 16, 1 – 13 )
- Nước Trời không phân biệt ai, miễn là phải có lòng từ bỏ mình vác thập giá và phải biết hy sinh thống hối để trở nên hoàn thiện. ( x. Lc 15, 1 – 32 )
- Nước trời đặc biệt ưu đãi với những người khiêm nhường, nghèo khổ và hèn mọn. ( x. Lc 14, 1 – 14; 18, 9 – 14 )
- Dù có làm gì thì cũng phải cậy trông vào lòng nhân từ của Thiên Chúa và một dấu chỉ thực tế và hữu hiệu của lòng cậy trông ấy chính là việc cầu nguyện. ( x. Lc 10, 1 – 12; 11, 1 – 13; 17, 5 – 13 )
Trong tinh thần đó, lời mời gọi của Chúa Giê-su trong Tin Mừng hôm nay cũng thôi thúc một sự lựa chọn quyết liệt. Theo Chúa đòi hỏi phải chọn đứng về phía Thiên Chúa thay vì đặt mình làm nô lệ cho những thần tượng vật chất. Khước từ hay công nhận, chọn yêu sách này hay yêu sách khác là cả một sự giằng co, là cả một sự nỗ lực không ngừng, nhất là sự lựa chọn đó lại là sự thiệt thân, vì chẳng ai muốn tay trắng hay muốn thiệt thân bao giờ.
Giáo huấn của hai bài đọc và bài Tin Mừng hôm nay cũng là tổng hợp những tiêu chuẩn nhằm: bênh vực người nghèo  (x. Am 8, 4 – 7 ); yêu thương và cầu nguyện cho mọi người được ơn cứu độ ( x. 1 Tm 2, 1 – 8 ); dùng tiền của để mua lấy bạn hữu và sự công chính để được hưởng Nước Trời ( x. Lc 15, 1 – 13 ).
Đó là lý do tại sao người Kitô hữu muốn vào Nước Trời thì phải biết chọn chủ, nghĩa là phải biết thu tích của đời mai sau, chứ không phải của cải đời này. Vì “không ai có thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” ( Lc 15, 13 ).
II. BÊNH VỰC NGƯỜI NGHÈO KHỔ ( Bài đọc I: Am 8, 4 – 7 )
1. Người nghèo là ai ? Xin phân biệt hai quan niệm và ý nghĩa của từ nghèo như sau:
Người nghèo theo quan niệm kinh tế xã hội:
Đó là những ai thiếu các phương tiện cần thiết để sống như: cơm ăn, áo mặc, nhà ở, thuốc uống, dụng cụ học hành, công cụ việc làm… Có thể xác định thêm một thứ nghèo vô tội vạ không lệ thuộc vào ý muốn cụ thể của các nạn nhân, nhưng do: đất bạc màu, hạn hán định kỳ, thiên tai…
Những người nghèo kiểu này, hiện nay phần đông họ đang lệ thuộc dưới hệ thống làm ăn của những nhà giầu ( kiểu tư bản ) với những đồng lương rẻ mạt, phẩm giá cũng bị hạ nhục trong những công việc hèn mọn, lặt vặt… khó có cơ hội phát triển xứng với phẩm giá tối thiểu của một con người.
Ta cũng gặp thấy một thứ nghèo kinh tế xã hội bất công: đó là cái nghèo phát sinh do một quá trình khai thác lao động mà Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã thẳng thắn tố cáo trong thông điệp về lao động của Ngài ( x. Laborem Exercens, số 8 ). Công nhân không được trả lương theo phép công bằng, giá nguyên vật liệu mỗi ngày một tăng vọt, lãi xuất tiền vay thì cao quá sức quy định… Ở đây, nghèo có nghĩa là bất công xã hội và thậm chí là bất công trên toàn cầu.
Như đã nói trên, còn nhiều hình thức nghèo khác nữa, tất nhiên là do tình hình kinh tế xã hội gây nên, trong số những người này có cả những nạn nhân của sự kỳ thị, bị ghét kiểu ấn tượng như (lý do chủng tộc, màu da, văn hóa, tôn giáo, người bản địa, phái nữ…). Thường là giữa họ, ta gặp thấy những kẻ nghèo nhất trong các người nghèo, vì có rất nhiều người chịu cả một chuỗi những áp bức, bất công và kỳ thị.
Người nghèo theo quan niệm của Tin Mừng:
Đó là bất cứ ai đem bản thân và khả năng của mình phục vụ Thiên Chúa và anh em đồng loại. Đó là những người không chú tâm vào bản thân mình, không cậy vào sức mình, không dùng danh trọng quyền cao để phục vụ cho sự hưởng thụ ở đời này, nhưng mở rộng tâm hồn tri ân Thiên Chúa, phục vụ anh em, thậm chí phục vụ cả kẻ thù một cách vô tư lợi và tìm mọi phương thế giúp cho mọi người được sống xứng đáng hơn.
Đối lập với xã hội tiêu thụ và tìm tư lợi, người nghèo của Tin Mừng dùng của cải đời này một cách điều độ và biết đem chia sẻ cho người khác. Họ không phải là nhà khổ tu khắc nghiệt, khinh rẻ của cải, nhưng ý thức việc sử dụng của cải như quà tặng Chúa thương ban.
Người nghèo của Tin Mừng là người sẵn sàng hiến dâng cho Thiên Chúa tất cả những gì họ có để thực hiện chương trình của Thiên Chúa ở trần gian, họ không phung phí, hay tiêu xài phóng túng cho thỏa lòng ích kỷ cá nhân. Vì thế, họ trở nên khí cụ và dấu chỉ Nước Chúa ở đời này.
Người nghèo của Tin Mừng thể hiện mình bằng sự liên đới với mọi người nghèo và còn nên đồng nhất với người nghèo như Chúa Giêsu đã làm gương như thế.
Ai nào đó không nghèo về mặt kinh tế xã hội nhưng tự coi mình là thành viên giữa người nghèo vì lòng mến yêu và tình liên đới, đấu tranh bênh vực cho họ, chống lại cái nghèo bất công của họ và cùng với họ tìm sự giải thoát đói nghèo, xây dựng công bình, đó là người nghèo của Tin Mừng. Người ấy là một con người siêu phàm vì họ không tôn vinh cái nghèo vật chất bởi đó là hậu quả của tội khai thác bóc lột, cũng không tôn vinh của cải là chứng tích của sự tích lũy gây áp bức và loại trừ, nhưng đề cao và đòi hỏi sự công bình cho hết mọi người.
Ai nào đó không liên đới với cuộc đời, với lợi ích và với những đấu tranh của người bị áp bức nghèo khổ một cách cụ thể và thực tâm, thì người đó không thể là một người nghèo của Tin Mừng được. Lòng yêu mến người nghèo đôi khi mạnh tới mức khiến cho rất nhiều người tự đồng hóa với người nghèo và những người bị kỳ thị để chia sẻ những khổ đau của họ, dự phần vào những niềm an ủi, giúp nhau cùng vượt khó và thậm chí dám cùng hy sinh cuộc sống vì người nghèo khổ. Đã có những mẫu gương đáng khâm phục của những người dám hy sinh cuộc sống, nghề nghiệp, gia đình, tuổi xuân để đến và phục vụ trong các trại phong, trại cai nghiện… tận những vùng xa xôi hẻo lánh, giống như đi biệt giam vậy. Đó là những con người của Tin Mừng, biết noi gương Chúa Giêsu khó nghèo tại Nadarét. Đó là những con người có thái độ giải phóng hoàn toàn, vừa tự giải phóng chính mình khỏi sự giầu sang giả tạo trần thế, vừa giải phóng cho người khác và cho Thiên Chúa ẩn mình nơi người nghèo khó.
2. Ưu tư hàng đầu, một vấn đề muôn thuở:
Đề tài người nghèo, từ bao đời nay vốn là một vấn đề muôn thuở và là một ưu tư lớn lao đối với con người mọi nơi mọi thời. Hơn nữa, giữa một xã hội đang phát triển về mọi mặt như ngày nay, thì vấn đề người nghèo luôn được các nhà lãnh đạo tâm huyết với dân nước đặt lên ưu tư hàng đầu. Một câu hỏi lớn vẫn còn nan giải đó là làm thế nào để tương quan giữa người nghèo và người giầu không còn là một hố sâu khoảng cách đáng sợ trong thân phận và cuộc sống của mỗi người chúng ta ???
Hôm nay, khi đọc bài đọc trích sách ngôn sứ Amốt 8, 4 – 7: chúng ta nghe vang vọng đâu đây lời ngôn sứ như đang nói với con người của thời đại này và như đang nói với tất cả mỗi người chúng ta. Đây là lời tố cáo những kẻ làm giàu bằng cách dùng đủ cách gian lận bóc lột và đối xử bất công đối với người nghèo, họ "làm cho cái đấu nhỏ lại, cho quả cân nặng thêm"... Sự ham mê tiền của đã làm cho họ chai cứng cõi lòng, khép kín trái tim yêu thương trước nổi thống khổ của anh em.
Vượt xa hơn sự bức xúc của lời khiển trách, ngôn sứ Amốt muốn khuyên mọi người ý thức đến trách nhiệm đối với người nghèo. Bởi vì sự nghèo nàn là một tai họa hay là một sự xúi quẩy cần được loại bỏ, vì “nghèo đâu phải là cái tội” ( Herbert ).
Xã hội chúng ta đang sống ngày nay cũng không hiếm những con người lợi dụng sự khó khăn kinh tế cũng như những khó khăn khác trong cuộc sống để trục lợi cho bản thân, gây hại cho người nghèo. Sứ mạng tiên tri của mỗi chúng ta, đặc biệt là mỗi người Kitô hữu, cũng phải can đảm đứng lên như ngôn sứ Amốt chống lại những sai trái ấy. Như bất cứ ai trong xã hội, xã hội không được ruồng bỏ người nghèo khó. Người nghèo cũng được quyền trở nên hạnh phúc về vật chất, sức khỏe, môi trường, tư tưởng và tinh thần như mọi người.
Ước mong: Xã hội lập tức để ý tới những người nghèo, cụ thể như: tạo việc làm để giúp họ kiếm tiền sinh sống lương thiện.
Ước mong: Nhà Nước và những nhà lãnh đạo ban hành luật cho vay vốn để giúp người nghèo gầy dựng sự nghiệp. Vì “mọi sự giầu sang đều do sản xuất lao động mà ra” ( Locke )
Ước mong: Xã hội tổ chức được những chương trình đào tạo việc làm, và thành lập nên các trường học hướng nghiệp: Vì “đa số những người có trình độ văn hóa cao hay trình độ tay nghề giỏi là những người khá giả hơn”.
Ước mong: Xã hội cũng cần giúp người nghèo vay vốn cách khéo léo, tế nhị. Không được làm tổn thất tính tự trọng của họ, không để mất đi phẩm chất con người của họ. “Vì đã từng có người vĩ đại nhất trong lịch sử là người nghèo nhất” ( Emerson ).
Ước mong: Người giầu cần đối xử tử tế với người nghèo, giúp đỡ họ bằng cách chia sẻ cơm ăn, áo mặc, của cải… và nghề nghiệp nữa. Trong xã hội vẫn từng có nhiều người giầu đã làm như thế. Thật đáng tôn trọng những tấm lòng quảng đại và yêu thương như thế.
Chúng ta có thể nói: Một xã hội còn tồn tại người nghèo thì xã hội đó còn nghèo, và xung quanh ta còn nhiều người nghèo thì dù ta có giầu cũng chẳng an lòng. Vì thế, người nghèo cần được giúp đỡ một cách đồng bộ và hợp lý bằng những tấm lòng yêu thương, từ thiện phù hợp với căn nguyên đạo lý của con người nhân vị.
Xuất phát từ những khát vọng và những cuộc đấu tranh của người nghèo. Giáo Hội tìm cách thúc đẩy lòng xót thương và long trọng lựa chọn bênh vực người nghèo, cũng cần nhắc lại một tuyên bố tại Medellin năm 1968 đã được chuẩn y tại Puebla năm 1979, trong đó các Giám mục đã nhìn nhận rằng: “Toàn Giáo Hội cần nhìn lại với thái độ lựa chọn bênh vực người nghèo, phải đặt cho mình một mục tiêu là giải phóng người nghèo một cách toàn diện”.
Từ nay, Giáo Hội tìm cách tăng cường việc loan báo Tin Mừng, để mọi người đều cảm thấy mình dấn thân sống niềm tin như một nhân tố tích cực, làm biến đổi xã hội trở nên công bằng hơn và có tình huynh đệ hơn. Ai nấy đều phải lựa chọn bênh vực người nghèo: những người giầu thì quan tâm và dứt khoát chọn bênh vực người nghèo một cách chân tình và những người nghèo thì chọn bênh vực những người nghèo khác hay những người nghèo khổ hơn mình.

III. CẦu nguyỆn cho mỌi ngưỜi ( Bài đọc II: 1 Tm 2, 1 – 8 )
Bài đọc II: 1 Tm 2, 1 – 8 của Thánh Phao-lô hôm nay cũng rất phù hợp và giúp ích để bênh vực người nghèo, nhưng không phải là bằng tiền bạc hay của cải vật chất, mà là bằng những lời cầu nguyện. Thánh Phao-lô trong các thư của ngài, nhiều lần lập đi nhắc lại để khuyên răn người Ki-tô hữu đừng sống ích kỷ. Nhưng hãy cầu nguyện cho mọi người, vì đó là điều làm đẹp lòng Chúa; và việc cầu nguyện cho mọi người, chắc hẳn luôn là khả năng của bất cứ ai.
Cầu nguyện là thể hiện tình bác ái, thể hiện lòng quảng đại và là phương thức tốt nhất để giúp cho mọi người, vì nó vừa có khả năng xây dựng cuộc sống trần thế bình an vững mạnh, lại vừa có khả năng xây dựng một đời sống đức tin vào Chúa, Đấng “là Đường, là sự Thật và là Sự Sống”.
Thiên Chúa là Đấng yêu thương cứu độ mọi người không trừ một ai. Tất nhiên, Ngài muốn cứu độ tất cả mọi người. Nhưng con người cũng phải biết cộng tác với Chúa và cộng tác với nhau trong công trình cứu độ này.
Cầu nguyện cho mọi người bao gồm:
- Cầu nguyện cho vua chúa và những nhà cầm quyền ( x. 1 Tm 2, 2 ).
- Cầu nguyện cho bệnh nhân ( x. Gc 5, 13 – 15 ).
- Cầu nguyện cho kẻ thù và những người ngược đãi mình nữa ( Mt 5, 44; Cv 7, 59 – 60 ).
- Cầu nguyện cho nhau ( x. 2 Tx 1, 11; Ep 3, 14 – 19 ).
- Cầu nguyện cho việc truyền giáo ( x. Mt 9, 37 – 38, Lc 10, 1 – 12; Rm 15, 30; 2 Cr 1, 11; 13, 9; Ep 6, 18 – 20; Cl 4, 2 – 4; 2 Tx 1, 11 – 12; Gc 5, 19 – 20 )
- Đặc biệt là cầu nguyện cho mọi người được ơn cứu độ ( x. Rm 10, 1; 1 Tm 2, 1 – 8; Gc 5, 19 – 20 )
Như vậy, việc cầu nguyện cho mọi người, đặc biệt là cho những ai có trách nhiệm trên cuộc sống an cư hạnh phúc của người khác, chính là trách nhiệm trần thế của người Ki tô hữu. Đức tin đòi hỏi chúng ta luôn phải tích cực dấn thân xây dựng trần thế, góp phần làm cho cuộc sống mỗi người được an vui hạnh phúc và nhận ra phẩm giá cao quí “là hình ảnh Thiên Chúa” của mình. Ai đó làm ngơ hay ngược đãi với tha nhân, nhất là đối với người nghèo khổ là chống lại chương trình yêu thương của Thiên Chúa. Do đó, điều chúng ta có thể làm hôm nay, không gì hơn là cầu nguyện cho mọi người.

IV. BiẾt sỬ dỤng tiỀn cỦa ( Tin Mừng: Lc 16, 1 – 13 )
1. Tiền của:
Kinh Thánh dạy rằng: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền của được” ( Lc 16, 13 ). Điều này có nghĩa là phải khôn khéo trong việc sử dụng tiền của, vì nó được coi là một loại ngẫu thần ( Ma mông = Thần Tiền ) (x. Cl 3, 5 ). Hơn nữa, tiền của là một thứ nay còn mai mất không có giá trị vĩnh cửu; lại rất dễ trở thành mối nguy cho bất cứ ai thiếu thận trọng, vì ta rất dễ sa vào cạm bẫy của nó. ( x. Gv 1, 2; 2, 21 – 23; 6, 2 )
Nói như thế không có nghĩa là: Kinh Thánh dạy chúng ta coi khinh tiền bạc của cải, không cần chúng và cũng chẳng cần làm ra chúng. Nhưng cho chúng ta một cái nhìn khôn ngoan khi làm ra chúng và sử dụng chúng cho nhu cầu và mục đích của con người.
Tiền của, tự bản chất của nó không phải là nguyên nhân của tội lỗi hay sự vấp phạm gì, mọi sự trên đời này đều được Thiên Chúa dựng nên cách tốt đẹp, để phục vụ con người và để con người làm chủ chúng ( x. St chương 1 ). “Nhưng cội rễ sinh ra mọi điều ác lại chính là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé” ( 1 Tm 6, 10 ).
Vì thế, để có thể sử dụng nó cho tốt, chúng ta hãy coi tiền của là một công cụ hữu ích, là một phương tiện để trao đổi và phân phối, hay để chia sẻ và giúp đỡ nhau trong xã hội mà thôi.
2. Không thể làm tôi tiền của:
Sách châm ngôn dạy rằng: “Ai cậy trông vào của cải, người ấy sẽ quỵ ngã, còn chính nhân sẽ vươn lên như cành lá xanh tươi” ( Cn 11, 28 ); “vậy thà ít của cải mà sống công chính còn hơn nhiều huê lợi mà thiếu công minh” ( Cn 16, 8 ); “vì của cải không bền lâu muôn thuở và danh vọng chẳng lưu truyền muôn kiếp” ( Cn 27, 24 ). 
Và Tin Mừng Chúa Nhật 18 mấy tuần trước, đã cho chúng ta bài học về sự phù vân của tiền bạc: “Vì không phải dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu" ( Lc 12, 15 ).
Trong bài Tin Mừng hôm nay chúng ta lại nhận ra một bản chất nữa của tiền bạc là, nó bị coi như của bất chính, bởi vì nó đối nghịch với Thiên Chúa!: "anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được".
Người đời cũng thường nói rằng: “tiền là tệ hay tệ như tiền”, còn nữa người ta cũng nói “tiền là bạc hay bạc như tiền”. Tất vả những ví von hay thành ngữ ấy đều ám chỉ rằng: vì tiền mà người ta trở nên “tệ” và “bạc” với nhau đến mất hết nghĩa tình.
Tiền bạc thật nguy hiểm, nó có thể trở nên chủ nhân ông của con người. Nếu không biết khéo léo sử dụng, tiền bạc có thể biến con người thành nô lệ. Bởi từ ngữ “làm tôi” trong Kinh Thánh còn có một ý nghĩa rất mạnh là “tôn thờ”. Vì thế, tiền bạc cũng có thể trở thành một thứ ngẫu tượng nếu lệ thuộc nó. Người Ki-tô hữu chỉ biết làm tôi, chỉ biết tôn thờ duy nhất một mình Thiên Chúa mà thôi.
Trong thực tế cuộc sống, đây là một thách đố lớn lao cho người Kitô hữu hôm nay. Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt, lối sống ích kỷ hưởng thụ, người giầu - người nghèo bị phân cách nặng nề, thì con người thời đại xem ra rất coi trọng đồng tiền. Nó đang dần thống lĩnh mọi lãnh vực cuộc sống ngay cả lãnh vực thiêng liêng cao quí là đời sống tình cảm, tâm linh của con người. Nó đang trở nên một thứ thần tượng làm say mê lòng người, lôi kéo con người đi theo nó bất chấp tình người, bất chấp sự công bằng bác ái. Phải có đức tin mạnh mẽ, phải chuyên tâm thực thi Lời Chúa thì người Ki-tô hữu mới hy vọng vượt thắng được sự hấp dẫn lôi cuốn của tiền bạc vật chất.
Vậy, người Ki-tô hữu phải thẳng thắn từ chối làm tôi tiền của vì nó là một thứ ngẫu tượng ( Cl 3, 5 ), để chỉ tôn thờ một mình Thiên Chúa là Đấng tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình ( Kinh Tin Kính ).
3. Sự khôn khéo của người quản lý:
Lời Chúa Giê-su dạy rằng: "Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu” ( Lc 16, 9 ).
Một viên quản lý vốn mệnh danh là bất lương, con cái của thế gian khi thấy trước tương lai bấp bênh của mình, đã biết tận dụng cơ hội để bảo đảm tương lai cho mình. Vậy mà được khen là khôn khéo, chẳng qua là vì anh đã biết sử dụng đồng tiền bất chính mà mua lấy bạn hữu và tình bạn ấy đã cho anh một hứa hẹn tươi sáng những ngày sau no ấm bình bình yên ( x. Lc 16, 8 – 9 ).
Còn con cái Thiên Chúa là con cái ánh sáng, nghĩa là con cái được soi sáng, được giáo dục, mà không biết khôn ngoan nắm lấy những cơ hội ở đời này để chuẩn bị cho tương lai mai hậu, là gia nghiệp trên trời, thì quả thật còn đáng trách hơn người bất lương là con cái thế gian.
Chắc chắn Chúa Giê-su không dạy phải làm theo cách thế xảo quyệt của viên quản lý, nhưng Người dạy phải biết khôn khéo lo cho tương lai của mình như viên quản lý. Đó là phải biết chuẩn bị cho tương lai phần rỗi của mình bằng chính việc thực thi bác ái. Còn nhớ, trong Sách Tô-bi-a có dạy rằng: “Bạn hãy dùng của cải bố thí cho tất cả những ai thực thi công chính, và khi bố thí, mắt bạn đừng có so đo. Đối với ai nghèo khổ, bạn đừng ngoảnh mặt làm ngơ, để rồi đối với bạn, Thiên Chúa cũng sẽ không ngoảnh mặt làm ngơ” ( Tb 4, 7 ). Quả thực, mọi người đều được mời gọi đi đến cùng đích cuối cùng là trở nên công chính thánh thiện, để được hưởng sự sống đời đời nơi Thiên Chúa. Con người sẽ ra sao vào ngày cánh chung, còn tùy thuộc vào cách sống hiện tại của mỗi người. Và tất cả những gì con người sống và sở hữu tại thế này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống đời sau. Bài học trong Tin Mừng hôm nay chính là bài học về sự khôn ngoan. Khôn ngoan chuẩn bị cho mình một tương lai tốt đẹp ngày sau nơi Thiên Quốc. Đó là một sự khôn ngoan đáng khen ngợi.
Lời Chúa còn dạy rằng: “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy" ( Lc 6, 38 ). Quả thật, với việc lành ta làm cho người khác mà được Thiên Chúa trả đáp hậu đãi như vậy; thì với việc dữ ta gây ra cho người khác, thử hỏi xem: khi Thiên Chúa đong lại cái đấu của sự thịnh nộ thì ai đỡ nổi đấu ấy.
Chính Thánh Phao-lô đã từng trải nghiệm được chân lý đó và truyền lại cho cộng sự của ngài giảng dạy rằng: “Những người giàu ở trần gian này, anh hãy truyền cho họ đừng tự cao tự đại, cũng đừng đặt hy vọng vào của cải phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng” ( 1 Tm 6, 17 ).
Vậy, người quản gia này là "con cái thế gian", thế mà còn biết sử dụng của cải một cách khôn khéo bằng cách cho đi của cải hiện tại để đổi lấy sự bảo đảm cho tương lai. Thì "Con cái của sự sáng" phải noi gương đó, phải biết dùng của cải thế gian mà mua sắm của cải trên trời.
4. Mọi sự đều là của Chúa ban cho:
Thân trần truồng sinh ra từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Những gì Chúa ban cho rồi Chúa lại cất đi, xin chúc tụng danh Người” ( G 1, 21; Gv 5, 14 ).
Mấy ai vững tin như ông Gióp, hay mấy ai thực thi được như lời khuyên của sách Giảng Viên. Nhưng mỗi người Ki-tô hữu đòi hỏi phải luôn sống tinh thần đó và phải luôn biết tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh.
Vấn đề con người ngày nay là cần phải biết sống niềm tin vào Thiên Chúa thế nào "cho phải đạo" trong môi trường sống hàng ngày: đó là yêu mến Thiên Chúa qua anh chị em mình; vì chính Thiên Chúa đã làm người để thực hiện điều đó cũng như đã dạy chúng ta phải làm như vậy.
Nếu chúng ta nhận ra rằng mọi sự ta có là do Thiên Chúa ban cho và là sự chúc lành của Chúa trên mỗi cá nhân và trên cả nhân loại, thì chúng ta cũng phải nhận ra rằng: chúng ta chỉ là những người quản lý để phân phát cho anh em “đúng thời đúng lúc”.
Và bao lâu bên cạnh chúng ta còn có những người anh chị em bất hạnh, khốn khổ hoặc thiếu thốn, thì chúng ta không thể không có trách nhiệm về sự kiện đó. Vì "nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được ?" ( 1 Ga 3, 17 ).
Biết dùng tiền của để mua lấy phần thưởng Nước Trời có lẽ thuộc phạm vi thi hành đức bác ái Ki-tô giáo của những ai theo Chúa Ki-tô. Nếu ai trung tín trong việc nhỏ này, thì Chúa sẽ trao cho gia tài Nước Trời để quản lý. Hiểu như vậy, chúng ta sẽ cảm thấy thoải mái hơn trong việc dùng tiền của giúp đỡ những người nghèo khó, giúp xây dựng các công trình Nhà Chúa cả thiêng liêng lẫn vật chất, hoặc xin lễ cầu cho các linh hồn hay thân bằng quyến thuộc.
Quả thực có được sự khôn khéo của người quản lý biết dùng tiền của gian dối mua tình bạn hữu không phải là dễ ! Điều này đòi hỏi chúng ta chấp nhận thân phận nghèo khó từ bản chất làm người của mình, để có thể trở về với Chúa trong tình trạng tay trắng, mới xứng đáng tỏ bày lòng tin yêu và phó thác của chúng ta nơi Ngài; đồng thời nhờ sự chia sẻ những gì ta có với anh chị em đồng loại, mới xứng đáng tình thân với họ trên quê hương vĩnh cửu Chúa hứa ban.
V. NhẬn đỊnh, thay lỜi kẾt
Trong thời đại kinh tế thị trường và văn minh hưởng thụ ngày nay, tiền bạc là một cám dỗ rất lớn,  tiền bạc có thể làm cho người ta quên mất tình nghĩa với anh em và xa rời tình yêu Thiên Chúa. Con người ngày hôm nay, đa phần chỉ quan tâm đến việc kiếm tiền sao cho thật nhiều. Vì, theo quan điểm khách quan về mặt vật chất, thì tiền cần thiết cho cuộc sống. Làm sao chúng ta có thể mua thức ăn, đồ dùng, hàng hóa và nhiều thứ khác cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày mà không có đồng tiền nào ?
Để có tiền chúng ta phải chịu khó lao động, sản xuất thật nhiều để thu nhập được nhiều tiền của. Một khi đã có càng nhiều tiền, thì cuộc sống càng nhiều tiện nghi. Đối với người trí thức, tiền là thứ ưu tiên cho họ cải thiện kiến thức, tiền giúp họ mua sách báo, thiết bị học tập, nguyên liệu nghiên cứu, v.v... Đây là phương thức lao động chân chính.
Tuy nhiên cũng không ít người kiếm tiền bằng những hành vi bất chính… điều này chắc chắn sẽ dẫn đến một đời sống bất ổn và tâm hồn cũng sẽ bất an. Và khi nằm xuống, mối hy vọng của họ sẽ tiêu tan, và niềm cậy trông vào của cải cũng tan thành mây khói ( x. Cn 11, 7 ).
Tiền thì cần thiết cho cuộc sống vật chất cũng như kiến thức của chúng ta. Thực vậy, nó không phải là thứ duy nhất mà chúng ta quan tâm đến trong thời đại hôm nay. Cuộc sống sẽ tồi tệ nếu chúng ta lãng phí tất cả thời giờ cho chúng !
Kiếm được nhiều tiền hơn, chúng ta cần phải biết làm sao để sử dụng nó cho đúng mức. Chúng ta cần phải xem nó như người đầy tớ và không bao giờ để cho nó làm chủ chúng ta. Với tiền mà chúng ta kiếm được, chúng ta phải tằn tiện để chia sẻ cho những công việc phúc lợi và tổ chức từ thiện. Danh ngôn Tây Phương có câu: “Người có hạnh phúc thực sự chính là người biết quan tâm đến hạnh phúc của người khác”. Chính vì thế mà đã có những tổ chức trên thế giới, hàng ngày, hàng năm, luôn ưu tư vận động và tình nguyện tài trợ hay giúp đỡ các nước nghèo và người nghèo ở khắp nơi mà không cần trả đáp.
Hiểu được mục đích chính của cuộc sống con người không phải là để thu gom của cải, vì tất cả những vật chất chỉ có giá trị hữu hạn, một ngày nào đó nó sẽ qua đi, nhất là khi chúng ta nằm xuống xuôi tay. Thì chẳng khác nào: “kẻ dại dột, nội đêm nay, người ta sẽ đòi mạng sống ngươi, thì những gì người sẽ sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?” ( Lc 12, 20 ). Nên nhiều người đã sẵn sàng bỏ công bỏ của, sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu để giúp đỡ người nghèo khó và túng thiếu.
Như vậy, dụ ngôn người quản lý khôn khéo, là một giáo huấn khẩn thiết có thể ứng dụng cho bất kỳ ai đang sở hữu của cải trần gian. Dù là của cải Chúa ban hay của cải làm ra từ hành vi bất chính thì cái gương mà mỗi người cần phải học ở người quản lý này là:
- Vì anh đã nỗ lực tối đa làm chủ tiền của; bắt tiền của phục vụ mình và phục vụ bạn hữu.
- Vì anh đã nghĩ đến người nghèo, bênh vực người nghèo và giảm nợ cho người nghèo.
- Vì anh đã bỏ được thói quen sống ngày nào hưởng thụ ngày đó, để lo xa cho tương lai đời sau, là gia nghiệp đời đời viên mãn.
- Vì anh đã hành động khẩn thiết tức thì, để đạt cho bằng được Nước Trời, bằng được Thiên Chúa, kẻo ngày mai không còn cơ hội.
Mong sao, cả những người giầu và những người nghèo về kinh tế vật chất hay về phẩm giá tinh thần, đều được trở nên những người nghèo của Tin Mừng. Và như thế tất cả chúng ta đều là những người nghèo của Thiên Chúa, của Nước Trời. Như lời hứa và chúc phúc của Chúa Giê-su: "Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của mình vậy" ( Tám mối phúc ).
JB. BÙI NGỌC ĐIỆP

 

TN25-C69. Sử dụng tiền bạc

Đoạn Tin Mừng sáng này có vẻ khó hiểu, vì thế tôi xin bắt đầu bằng một câu chuyện:  Có một anh lính: TN25-C69

Đoạn Tin Mừng sáng này có vẻ khó hiểu, vì thế tôi xin bắt đầu bằng một câu chuyện:
Có một anh lính ba gai, không bao giờ làm hài lòng về cấp chỉ huy của mình là một ông đại tá. Mỗi lần trình diện thì hoặc là giày còn bẩn, súng chưa lau, hay tới chậm mất mấy phút. Hôm đó anh được xả trại và được tự do đi chơi cho tới 8 giờ tối. Vào lúc 7g45 anh vẫn còn lang thang ngoài phố. Bất ngờ anh trông thấy chiếc xe của ông đại tá. Định rẽ vào một con hẻm nhưng không kịp. Ông đại tá dừng xe trước mặt anh và nói:
- Đúng 8g anh phải trình diện tôi tại bộ chỉ huy, bằng không sẽ bị 3 ngày cấm cố.
Anh lính suy nghĩ thật mau. Chỉ còn 15 phút nữa. Đi bộ thì không kịp, đón xe thì không có. Lập tức anh chạy theo chiếc xe của ông đại tá. May thay chiếc cốp phía sau vẫn còn mở. Thế là anh vội nhảy lên và chui tọt vào trong. Ông đại tá cho xe chạy vòng vòng qua mấy ngã đường rồi trở về doanh trại. Nhưng khi xe vừa dừng lại thì anh lính cũng nhảy xuống và trình diện ông đại tá. Ông đại tá bèn khen:
- Anh đã hành động khôn ngoan, tôi tha phạt cho anh, từ nay trong mọi hoàn cảnh, anh cũng hãy hành động khôn ngoan như thế.
Qua đoạn Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu cũng đã kể lại một câu chuyện tương tự như thế. Tên quản lý thực là là một kẻ trộm cắp. Chúa Giêsu không ca tụng sự gian tham của hắn, nhưng khen ngợi hắn đã hành động một cách khôn ngoan, và rồi Chúa đi đến kết luận: Không phải chỉ con cái thế gian, mà cả con cái sự sáng cũng phải tỏ ra thận trọng và khôn ngoan như vậy. Rồi Chúa cũng chỉ cho chúng ta cách thức để hành động khôn ngoan, đó là hãy dùng tiền bạc vật chất, hãy dùng tất cả những gì chúng ta có để tạo lấy những bạn hữu sẽ giúp chúng ta vào Nước Trời.
Để hiểu được điều đó, tôi xin kể tiếp một mẩu chuyện nữa: Ông chủ vườn chôm chôm giàu có, sáng nọ thấy hai em nhỏ đứng ngoài cổng nhìn vào một cách thèm thuồng. Ông là người yêu trẻ nên cho gọi hai em đến và bảo:
- Hai em cứ việc vô vườn ăn, nhưng không được đem trái nào ra.
Trước khi các em đi về, ông đã khám túi và hài lòng vì không thấy một trái chôm chôm nào cả. Nhưng ông lấy làm lạ vì thấy hai em đi theo bờ dậu, cúi xuống như lượm một cái gì đó. Đoán được mưu của hai em, ông cho gọi lại và hỏi. Hai em bèn phải thú thực rằng mình có ném mấy quả ra ngoài hàng rào, để rồi sẽ lượm về cho em. Ông khen hai em đã hành động khôn ngoan và cho phép hai em đem những quả chôm chôm ấy về. Hai em nhỏ là chúng ta. Ông chủ vườn là Thiên Chúa. Thửa vườn là thế gian. Những trái chôm chôm là những sự tốt lành chúng ta có được như tiền bạc, cơm gạo, áo quần... Những sự ấy chúng ta không thể đem theo khi từ giã cuộc sống. Tuy nhiên chúng ta có một cách để hành động, chúng ta có thể ném ra ngoài hàng rào những cái chúng ta đang có, nghĩa là chúng ta chia sẻ phần tiền bạc vật chất cho những kẻ nghèo khó. Điều đó Chúa không cấm mà còn khuyến khích chúng ta nữa. Nếu chúng ta hành động khôn ngoan, chúng ta sẽ trở thành bạn hữu của Chúa và chúng ta sẽ tìm thấy ở trên trời tất cả những gì mà trong cuộc sống trần gian chúng ta đã ném qua hàng rào, bằng cách cho đi để phục vụ và giúp đỡ những người chung quanh.
Để kết luận, chúng ta có thể nhớ lại lời Kinh Hoà bình của thánh Phanxico Assie: Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân, vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

 

TN25-C70. Suy niệm của ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

NGƯỜI QUẢN LÝ KHÔN NGOAN VÀ TRUNG THÀNH
 

Mạnh Thường Quân nhà giàu, cho vay mượn nhiều. Một hôm sai .... Nghe chuyện này, có lẽ mọi  (TGM Kiệt): TN25-C70 FB

Mạnh Thường Quân nhà giàu, cho vay mượn nhiều. Một hôm sai Phùng Nguyên sang đất Tiết đòi nợ. Trước khi đi, Phùng Nguyên hỏi: “Ngài có muốn mua gì không?”. Mạnh Thường Quân trả lời: “Ngươi xem thứ gì nhà chưa có thì mua”. Khi đến đất Tiết, Phùng Nguyên cho gọi dân tới bảo rằng: “Các ngươi nợ bao nhiêu, Mạnh Thường Quân đều cho cả”. Rồi chẳng tính vốn lời, đem văn tự ra đốt sạch. Khi trở về, Phùng Nguyên nói với Mạnh Thường Quân: “Nhà ngài không thiếu gì, có lẽ chỉ thiếu ơn nghĩa. Tôi đã trộm mua ở đất Tiết cho ngài rồi. Tôi chắc là đẹp ý ngài”. Về sau Mạnh Thường Quân bị bãi quan, về ở đất Tiết. Dân ở đấy nhớ ơn xưa ra đón rước đầy đường. Mạnh Thường Quân ngoảnh lại bảo Phùng Nguyên: “Đó hẳn là cái ơn nghĩa mà ông đã mua cho tôi ngày trước”.
--------------------
Nghe chuyện này, có lẽ mọi người đều đồng ý với Mạnh Thường Quân rằng Phùng Nguyên thực là người quản lý trung thành và khôn ngoan. Trung thành vì ông đã biết cách làm lợi cho chủ. Khôn ngoan vì ông biết nhìn xa trông rộng, đầu tư vào những chương trình có ích lợi lâu dài. Nhờ sự khôn ngoan của Phùng Nguyên, Mạnh Thường Quân đã vượt qua được những khó khăn gian khổ.
Người quản lý trong bài Phúc Âm hôm nay khôn ngoan nhưng không trung thành. Khôn ngoan nhanh nhẹn, trong một thời gian ngắn đã tìm ra phương thế chuẩn bị cho tương lai. Nhưng ông ta đã không trung thành vì ông đã phung phí, làm hại tài sản của chủ.
Khi khen người quản lý này khôn khéo, Chúa Giêsu không khen ngợi tính gian giảo, thiếu trung thực của ông. Người chỉ khen ngợi sự thông minh nhạy bén của ông. Người ước mong con cái sự sáng cũng biết thông minh nhạy bén trong việc tìm kiếm Nước Trời.
Quả thực chúng ta là những người quản lý của Chúa. Tất cả những gì ta có đều là của Chúa. Sự sống, sức khỏe, tài năng, tiền bạc… đều không phải của ta. Ta chỉ quản lý chúng.
Hai đức tính quý ở người quản lý là trung thành và khôn ngoan.
Người quản lý trung thành gìn giữ nguyên vẹn tài sản của chủ. Không phung phí, không làm mất mát hao hụt. Người quản lý khôn ngoan sẽ tìm cách sinh lợi cho chủ, làm cho tài sản ngày càng gia tăng. Tiền bạc có thể sinh lợi ở ba góc độ khác nhau.
Mức độ bình thường nhất là: tiền đẻ ra tiền. Dùng tiền gởi ngân hàng để lấy tiền lời. Dùng tiền đầu tư vào công việc thương mại, kinh doanh để kiếm được nhiều tiền hơn nữa.
Mức độ thứ hai cao hơn là: dùng tiền đầu tư vào chất xám, vào giáo dục, vào nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Nhật Bản và Hàn Quốc là hai nước đầu tư rất nhiều vào giáo dục. Vì thế họ đã đào tạo được một đội ngũ trí thức đông đảo có kiến thức, có khoa học kỹ thuật. Nhờ thế, không những họ làm cho đất nước giàu mạnh mau chóng, mà còn nâng cuộc sống nhân dân lên cao hơn, giàu có sung túc về của cải vật chất và nhất là cao đẹp vì có văn hóa, đạo đức.
Mức độ thứ ba, cũng là mức độ cao nhất là: dùng tiền mua hạnh phúc vĩnh cửu. Biến tiền của hay hư nát ở đời này thành gia sản vĩnh viễn ở trên trời. Để làm được việc này, ta phải vượt qua sự khôn ngoan, nhạy bén đầy tính toán của người đời để đạt tới sự khôn ngoan nhạy bén đầy quảng đại theo tinh thần Phúc Âm.
Tạo lập gia sản trên trời khác với tạo lập gia sản nơi trần gian.
Gia sản nơi trần gian được tạo lập bằng tích lũy. Gia sản trên trời được tạo lập bằng cho đi. Để tích lũy tài sản nơi trần gian, ta phải tiện tặt, chắt bóp, nghĩ đến lợi nhuận của bản thân hơn đến người khác. Để tích lũy gia sản trên trời, ta phải rộng rãi, hào phóng nghĩ đến người khác hơn bản thân mình. Càng cho đi ở đời này, ta càng giàu có ở trên trời. Người nghèo là Chúa Giêsu hóa trang. Khi ta giúp đỡ người nghèo là ta chuyển tiền về thiên quốc. Qua trung gian người nghèo, đồng tiền trần gian hay hư nát sẽ biến thành tài sản vĩnh cửu trên trời.
Chúng ta là con cái sự sáng. Hãy biết sống theo con đường sự sáng của Phúc Âm. Hãy xin Chúa ban cho ta sự khôn ngoan của Phúc Âm. Hãy rèn luyện cho ta có sự nhạy bén đối với những thực tại vĩnh cửu trên trời. Amen.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1) Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại. Bạn nghĩ gì về câu này?
2) Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được. Bạn đã coi thường chủ nào và đã yêu mến chủ nào hơn?
3) Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. Bạn hiểu câu này thế nào? Bạn đã thực hành chưa?
4) Làm sao để trở thành người quản lý trung thành và khôn ngoan của Chúa?

 

TN25-C71. Hãy bắt đầu hơn là thế gian

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ - Charles E. Miller)
 

Vào thời điểm này, những đội bóng rổ chuyên nghiệp đang dự định vào vòng cuối của giải: TN25-C71

Vào thời điểm này, những đội bóng rổ chuyên nghiệp đang dự định vào vòng cuối của giải thế giới. Đặc biệt là những đội đang bị chia rẽ thì họ đang mong chờ một cuộc trao đổi, chuyển nhượng các cầu thủ, các đội nghĩ rằng vào mùa chuyển đổi cầu thủ này, họ có những gì họ cần và họ có thể đạt được điều đó. Họ sẵn lòng trải qua những cuộc trả giá tiền lương và chuyển nhượng để có được cầu thủ đó. Họ đã có một cùng loại khởi đầu mà Chúa Giêsu đã nhắc nhở trong ngày hôm nay về người quản lý bất lương.
Phúc Âm có vẻ như muốn nói Chúa Giêsu đã minh chứng và trình bày về vẻ bất lương của người quản lý. Một số nhà chú thích cắt nghĩa rằng, người quản lý đã thật sự giao lại công việc của mình và không lừa đảo chủ của mình ngay cả khi anh ta đã làm một việc có vẻ như thiệt hại cho công việc của chủ. Người chủ đã không tỏ một dấu hiệu nào cho thấy là ông ta bị lường gạt. Thật ra, ông đã dự định công việc của mình một cách táo bạo và làm một sự khởi đầu.
Quan điểm của Chúa Giêsu về việc này là: người đàn ông ở đây đã muốn bảo đảm cho tương lai của ông sau khi ông mất việc. Ông ta không ngồi đó than khóc về số phận của mình, ông ta đã làm một điều gì đó để tranh thủ cảm tình với những con nợ của chủ. Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm này thì không có ý nói về sự khởi đầu một việc kinh doanh hay là Ngài có ý nói đến sự chuẩn bị cho chiến thắng của những đội bóng rổ chuyên nghiệp, nhưng Ngài hy vọng rằng chúng ta sẽ để ý tới sự cứu rỗi đời đời của chúng ta. Hơn nữa, Ngài trông đợi chúng ta hãy làm việc khó nhọc cho những giá trị thiêng liêng như một số người đã làm và coi việc đó như là mục đích cuối cùng.
Thánh Kinh ngày hôm nay đề nghị hai điều, mà trong đó chúng ta sẽ tăng trưởng đời sống thiêng liêng. Họ sẽ cầu nguyện cho những người có nhu cầu và đòi sự công bằng cho người nghèo. Điều thứ hai là một sự nối kết thân mật, bài đọc thứ hai ngày hôm nay là một trong những nguồn mạch lời nguyện của chúng ta phải phản ảnh một bản tính rộng lớn của lời cầu nguyện được nhắc nhở trong thư của thánh tông đồ gởi cho Timôthê. Chúng ta cần bao gồm tất cả mọi người trong lời cầu nguyện của chúng ta, và chúng ta cần nhấn mạnh đặc biệt đến những người nghèo, những người bị xã hội ruồng bỏ và khinh khi.
Lời cầu nguyện phải dẫn đến hành động. Đặc biệt là loại hành động cầu bầu như tiên tri Amos, vị tiên tri của công bằng xã hội. Ngài đã kết án những kẻ đã dẫm đạp lên những nhu cầu và hủy diệt người nghèo nơi quê hương. Ngài đã khuyên nhủ những người này hãy nghĩ đến mục đích tối hậu của đời mình. Tiên tri Amos không thích quan điểm của Canvil Coolidge, ông đã nói: Công việc của người Mỹ là công việc”“. Chúng ta thì không như vậy được. Công việc của chúng ta sẽ là chia sẻ với những người khác, những người đang có nhu cầu, những người đang cần lời cầu bầu hơn những phê bình, những người đang sống trong hoạn nạn và nhận biết rằng Thiên Chúa kêu gọi chúng ta chia sẻ những khả năng và ân phúc của chúng ta cho những người khác.
Người Công Giáo phải luôn được nhận biết như là những người sát cánh với người nghèo và những người quảng đại trong việc giúp đỡ họ. Chúng ta được kêu gọi để trở nên một người: “Làm bạn với những người nghèo qua việc chúng ta dùng những hàng hóa, đặc sản của thế giới này”. Chúng ta có quyền trông đợi trở nên những người mà Thiên Chúa có thể tin tưởng để trao phó tài sản, vì chúng ta biết chia sẻ nó cho những người khác.
Trên hết, những người Công Giáo sẽ trình bày sự khởi đầu và táo bạo không chỉ trong lời cầu nguyện cho người có nhu cầu, nhưng cũng vươn đến giúp đỡ họ cách tốt nhất như chúng ta có thể. Đó là điều sẽ bảo đảm rằng chúng ta chỉ có một vị Thầy lớn lao tốt lành, một người cha quảng đại, là Cha của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

 

TN25-C72. Những đồng bạc lẻ

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
 

Một người Đức giàu có nọ đến nghỉ mát tại một ngôi làng nhỏ bên cạnh bờ biển, dân chúng: TN25-C72

Một người Đức giàu có nọ đến nghỉ mát tại một ngôi làng nhỏ bên cạnh bờ biển, dân chúng đa số là các ngư dân nghèo nàn chất phác. Chiều đến người khách lạ đi vào các hàng quán để đổi tiền hầu mua thức ăn và chi trả các thứ cần thiết. Ông vào một quán nhỏ và nhờ người chủ quán đổi cho một tờ giấy bạc 1.000 Đức mã. Đây là lần đầu tiên người chủ quán nhìn thấy một tờ giấy bạc to như thế. Ông lắc đầu và nói với người khách lạ: “Với tờ giấy bạc nầy ông sẽ không mua được bất cứ cái gì ở đây. Ở đây chúng tôi chỉ trao đổi với nhau bằng những đồng bạc nhỏ mà thôi”.
Nhiều người dân làng bu lại để nhìn tờ giấy bạc 1.000 Đức mã. Họ cười nói với nhau: “Làm gì có giấy bạc 1.000 Đức mã”. Những người đánh cá cũng đứng lại biểu đồng tình. Họ nói rằng đồng bạc lớn nhất mà họ chỉ thấy năm ba lần trong đời là tờ 100 Đức mã. Thế là dân làng bắt đầu nghi ngờ về thành tích bất hảo của người khách lạ. Đêm hôm đó, từ cửa sổ của nhà trọ ông nghe có tiếng bàn tán như sau:
“Hắn ta phải là một tên bịp bợm. Trước hết là phải tìm cách tống hắn đi khỏi làng của chúng ta”.
Sáng hôm sau, trước khi mặt trời lên, người đàn ông giàu có đã vội vã ra khỏi phòng trọ. Ông đi đến một đô thị nhỏ cách đó gần một ngày đàng và đổi giấy bạc 1.000 Đức mã ra những đồng bạc nhỏ. Với hai bao tiền đầy cộm, ông thuê xe trở lại ngôi làng. Lần nầy dân chúng tin rằng ông thực sự có tiền và họ đã tiếp đón ông rất tử tế.
Người khách lạ giàu có đã xoay xở khôn khéo và kịp thời để thoát khỏi sự nghi ngờ niềm nở tiếp đón khi ông đổi tờ giấy bạc 1.000 Đức mã thành những đồng bạc nhỏ. Tờ giấy bạc 1.000 Đức mã của ông nhà giàu chẳng có giá trị gì đối với dân nghèo mà còn trở nên nguy cơ cho chính bản thân ông nhà giàu. Cũng thế, thái độ của chúng ta đối với tiền của chỉ đáng tin cậy khi được thể hiện bằng những việc làm cụ thể của bác ái, chia sẻ cho những người nghèo khổ và như thế chúng ta sẽ mua được nhiều bạn hữu.
Hôm nay, khi kể câu chuyện người quản lý biết dùng tiền của để mua chuộc bạn bè, Chúa Giêsu cũng muốn kêu gọi chúng ta hãy dùng tiền bạc mà mua lấy bạn bè, để bảo đảm cho tương lai hạnh phúc. Đây là chuyện khéo léo xoay xở của một người quản lý bất lương. Anh đã lợi dụng cơ hội biển thủ tiền của hoa lợi của ông chủ. Ông chủ cho đòi người quản lý tới tính sổ và sau đó sẽ cho anh ta thôi việc. Thât là một tin bất ngờ như sét đánh. Mất việc làm, anh sẽ đi đâu? Sinh sống như thế nào? Cuốc mướn thì không nổi, ăn xin thì xấu hổ. Vậy chỉ còn một cách là tìm được người để nhờ vả. Anh vội vàng gọi các con nợ của chủ đến. Anh làm ơn cho họ để sau nầy họ sẽ giúp đỡ anh. Anh biến họ nên những kẻ đồng lõa. Và thấy lợi trước mắt, họ đã làm theo anh.
Cứ xử như vậy, đối với chủ bất lương. Nhưng đó là khôn ngoan theo kiểu thế gian. Chúa Giêsu khen sự khôn ngoan đó vì Ngài thấy con cái đời nầy khôn khéo hơn con cái sự sáng. Chúa không khen các việc làm của người quản lý kia, vì anh ta lả kẻ bất lương. Nhưng Ngài phải nhận rằng anh ta không khéo và mau lẹ tháo vát, xoay xở. Và Ngài tỏ ra đau lòng khi nghĩ đến phương diện Nước Trời, ở đây người ta không mau lẹ và khôn khéo như vậy: Chúa Giêsu đã đem ơn cứu độ đến qua lời giảng dạy và gương sáng của Ngài, nhưng sao người ta hững hờ và chậm chạp đến như vậy! Người ta không lanh lẹ mau trí xoay xở đối với Nước Trời như người quản lý bất lương kia mau trí lanh lẹ xoay xở đối với việc ở đời nầy. Đó là điều đau lòng và đáng trách!
Nhưng nếu muốn lanh trí, khôn khéo xoay xở đối với Nước Trời thì phải làm gì? Và đây là điểm chủ yếu của Tin Mừng hôm nay.
Phải bắt chước anh quản lý trong việc khôn khéo tìm cách bảo đảm cho tương lai của mình. Anh quản lý tìm bảo đảm tương lai ở đời nầy, còn con cái sự sáng phải tìm bảo đảm tương lai ở đời sau. Vậy phải làm gì? Tiền của đời nầy có giúp ích được gì không? – Có chứ! Hãy dùng tiền của mà mua sắm kho tàng cho mình ở trên trời mai ngày, nơi không có mối mọt đục khoét và không trộm cướp nào lấy mất được (x. Mt 6,19-21). Ngược lại, nếu chỉ dùng tiền mà tích trữ cho riêng mình ở đời nầy, thì như có lần Chúa đã nói: “Khốn cho kẻ ngu ngốc như vậy, vì khi chết y có thể mang theo được ghì không?” (Lc 12.16-21).
Nhưng thế nào là dùng tiền của để mua sắm kho tàng cho mình ở trên trời?
Theo giáo huấn của Chúa và như các kitô hữu tiên khởi đã thi hành, thì của cải vật chất được ký gởi cho chúng ta không phải để chúng ta giữ làm của riêng và coi nó như thần tượng để tôn thờ, nhưng là để chúng ta san sẻ với anh em, làm cho không ai còn thiếu thốn. Tất cả vất đề nằm trong quan điểm nầy. Người ta phải lựa chọn: hoặc là coi tiền của hoặc là coi nó như của ký gởi để san sẻ giúp đỡ nhau. Nói cách khác, hoặc coi tiền của như thần tượng để tôn thờ, hoặc coi tiền cả như phương tiện để xây dựng hạnh phúc chung cho mọi người.
Cũng như ngôn sứ Amos (Bđ.1), Chúa không chấp nhận được thái độ tham lam tiền của, chỉ biết làm giàu cho mình và không sợ bóc lột người khác. Và tham lam như vậy là chứng tỏ đã coi tiền của là thần tượng, là một thứ tôn giáo. Đúng như lời Chúa dạy: “Không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền của được”.
Tiền của, vàng bạc là những thứ đem lại giàu sang, sung sướng, nhưng cũng là nguyên do của những phản bội, tráo trở, thất nhân thất nghĩa, bôi đen lòng người. Vì thế, người Kitô hữu xác tín có một đời sau, có một kho tàng thực đang chờ đón chúng ta, chúng ta không thể chấp nhận và sống theo tôn giáo thờ Thần Mammon-ngày nay là Thần Đô-la - tôn đồng tiền làm thần tượng, coi đồng tiền là tất cả, là vạn năng.
Chúng ta hãy đặt tiền bạc trở về đúng vị trí của nó là một tên nô lệ chứ không phải là một chủ nhân ông thì mới hy vọng có một thái độ, một cách cứ xử đúng mức đối với tiền của trong tương quan với tha nhân. Với lời khuyên nhủ của Chúa Giêsu qua dụ ngôn hôm nay, chúng ta hãy kiểm điểm lại thái độ của mình, đồng thời thành khẩn xin Chúa ban cho chúng ta một nghị lực dứt khoát và can đảm để luôn chế ngự được hấp lực của đồng tiền, biết cách sử dụng tiền bạc, của cải trần gian cho tình thương yêu, bác ái và chia sẻ. Như thế là chúng ta gởi vào kho tàng bất diệt trên trời.
Hãy đầu tư tất cả cho cuộc sống mai sau. Hãy hướng tất cả mọi sự vào cùng đích của cuộc sống. Hãy coi trọng con người hơn tiền bạc của cải và trong tình bạn hơn sự giàu sang phú quý. Bởi vì cái gì sẽ tồn tại mãi mãi? Không phải là tiền bạc hay giàu sang mà là tình bạn của con người. Hãy cư xử thế nào để ngày sau luôn có đông đảo bạn hữu chân thành đón rước chúng ta và Cửa Trời hạnh phúc.

 

TN25-C73. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

DỤ NGÔN VỀ NGƯỜI QUẢN LÝ KHÔN KHÉO
SUY TƯ VỀ TIỀN BẠC
 

Ở đây cử toạ khác với cử toạ thù nghịch ở chương trên: Chúa Giêsu nói với các môn đệ, điều ma: TN25-C73

Ở đây cử toạ khác với cử toạ thù nghịch ở chương trên: Chúa Giêsu nói với các môn đệ, điều mà Ngài đã không làm từ 12,22-53. Lập tức Ngài kể một câu chuyện (16,1-8) và Ngài bổ túc phần giải thích bằng đôi lời ()cc.9-13. Dụ ngôn này có lẽ được gợi lên bởi một vài sự kiện khác nhau, thuộc vào số những dụ ngôn mà người ta hiểu rất sai; lấy làm gai hướng, người ta tự hỏi làm sao Chúa Giêsu có thể tán đồng những hành xử gian dối khi khen tên lừa đảo giả mạo giấy tờ. Chúng ta sẽ thấy đó không phải là cao điểm của câu chuyện, trong đó Chúa Giêsu xác định rõ ràng là tên quản lý bất lương (c.8). Nhưng để tránh mọi sự hiểu lầm như thế mà câu chuyện được tiếp tục bằng một giáo huấn về tiền bạc.
Một nhà phú hộ có một đồn điền rộng lớn nghe được báo cáo bất lợi về người quản gia; ông gọi người này lại, bảo ngưng việc và trình sổ sách. Người quản gia lâm vào tình trạng bế tắc vì ông phải thất nghiệp, mà cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. Nhưng ông biết xoay sở để bảo đảm tương lai; ông ta sẽ hành động cách khôn khéo để sẽ có người đón rước mình về nhà họ. Phần đầu này (cc. 1-4) làm ta phải nín thở chờ đợi xem người quản lý sẽ biết làm gì.
Và đây, ông ta gọi các con nợ của chủ đến và đề nghị họ bớt những khoản nợ quan trọng. Khi người ta nợ 3.700 lít dầu mà được giảm 50% thì quá ngon rồi… Vài nhà Kinh Thánh nghĩ rằng: người quản gia chỉ bớt tiền lời, những món tiền hoa hồng, vốn thuộc về anh ta một cách khá hợp pháp; một cách giải thích như thế sẽ đi đến chỗ bào chữa cho cách hành xử của anh ta và luân lý hoá dụ ngôn rồi. Nhưng Luca không nghĩ như vậy: nếu người quản lý bất lương, gian dối (c.8) là vì anh ta tỏ ra hào phóng mà gây thiệt hại cho người thuê mướn anh ta! Và ông chủ khen anh ta, đó có lẽ là Chúa Giêsu chứ không phải người điền chủ đâu: Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Chúa Giêsu chấp nhận việc giả mạo chứng từ; phần cuối của câu 8 nói rõ rằng việc khen ngợi hướng về tính cách khôn khéo trong việc xử trí chứ không khen tính chất bất lương của hành động. Còn về tính cách khôn khéo trong những quan hệ hỗ tương, thì những con cái ánh sáng –các Kitô hữu thích gọi nhau như thế, sau khi đã trở nên rạng sáng nhờ nghe Lời Chúa (?Tx 5,5; x. Lc 11,34tt)- có thể rút kinh nghiệm từ con cái đời này, những kẻ không hề lo nghĩ đến chiều kích siêu việt của cuộc sống con người. Ngay cả khi những kẻ này hành động một cách bất lương, người tín hữu đích thực cũng biết rút ra một vài giá trị có thể hữu ích cho cuộc sống của mình.
Bài học của dụ ngôn ở câu 8 lại được Chúa Giêsu giải thích qua lời kết luận thứ hai ở câu 9. Đó là một lời khuyên cho các môn đệ biết cách sử dùng tiền của một cách khôn khéo trong viễn tuợng Nước Trời. Nếu người quản lý bất công đã biết sử dụng của cải đời này để có bạn hữu và chuẩn bị cho tương lai của mình ở đời này, thì các Kitô hữu càng phải chuẩn bị tương lai vĩnh cửu của họ bằng cách chia sẻ với người nghèo bằng việc bố thí; như thế, các kẻ này sẽ tiếp nhận họ (x.14,14) vào thành đô của Chúa –tại đây những kẻ nghèo như đang ở trong nhà họ, phù hợp với các mối phúc 6,20tt. Như vậy, tỏ ra khôn khéo là xem Tiền bạc như một phương tiện chứ không như mục đích. Tiền bạc là bất công, lường gạt –người quản lý cũng được đánh gía như thế ở câu 8, bởi vì nó có thể trở nên thần tượng và bởi vì, so sánh với của cải Vương Quốc là của đích thực và bất diệt (x.12,33), nó có một giá trị bấp bênh và tạm thời: tất yếu nó sẽ vắng mặt vào ngày mà mỗi người chúng ta phải chết. Vương Quốc của Tiền bạc sẽ chấm dứt.
Là kết luận thứ hai của câu chuyện người quản lý bất lương, câu 9 đưa ra hai áp dụng mới mà liên hệ với dụ ngôn có phần lỏng lẻo hơn. Áp dụng thứ nhất dùng để loại trừ mọi hiểu lầm và một cách dứt khoát ngăn cản người ta coi câu chuyện như một lời mời gọi thực hành thói xảo quyệt (cc.10-12). Trái với sự bất chính của người quản lý và Tiền bạc, áp dụng này đòi hỏi phải có sự trung tín được thực hiện từng ngày để quản lý của cải thiêng liêng cũng như vật chất. Nhờ ba điều tương phản, lời khuyên này có lẽ ưu tiên nói với những người có trách nhiệm trong các cộng đoàn Kitô hữu: sự trung thành phải có nơi những kẻ quản lý của cải vất chất lại càng cần thiết hơn đối với những kẻ có trách nhiệm về tài sản thiêng liêng của anh em mình. Được viết từ một dụ ngôn nhỏ và phần áp dụng (c.13) một giáo huấn cuối cùng còn nói đến những liên hệ với tiền bạc. Ai thờ nó và làm nô lệ nó không thể là con cái ánh sáng được. Từ khi Thiên Chúa đột nhập vào trần gian, con người được đặt trước một chọn lựa triệt để; qua việc sử dụng của cải người Kitô hữu phải tỏ ra mình chỉ thuộc về Thiên Chúa mà thôi.

 

TN25-C74. Chú giải của R. Gutzwiller

DỤ NGÔN NGƯỜI QUẢN LÝ
Trong các diễn từ tiếp theo, Chúa Giêsu nói đến việc sở hữu của cải.
1. Người quản lý tinh khôn
 

Dụ ngôn này thường gây nhiều vấp phạm và người ta đang cố đề phòng gương mù trong khi lại: TN25-C74

Dụ ngôn này thường gây nhiều vấp phạm và người ta đang cố đề phòng gương mù trong khi lại trình bày thái độ của người quản lý tinh khôn như là được phép. Theo luật lệ thời đó, một chủ trại có thể làm gì tuỳ ý. Con cái sự sáng, trong vấn đề này, phải xử sự khéo léo như con cái trần gian: đây là điểm chính đích thực của dụ ngôn.
Người quản lý không làm theo ý của chủ hay phục vụ quyền lợi của chủ, mà làm hại cho chủ. Xét về ích kỷ, thì đường lối người quản lý thật là tinh khôn. Y xử sự một cách quỷ quyệt, dầu hết sức giận dữ vì bị thiệt, người chủ vẫn phải khen hắn.
Người quản lý sắp mất chức, không muốn làm việc tay chân vất vả, cũng không muốn đi hành khất. Cho nên y đành phải dùng mưu: lừa bịp ông chủ và gây thiện cảm với các con nợ. Những người này phải giúp lại hắn, ít là tạm thời, cho đến khi hắn kiếm được một địa vị tương tự. Sự khéo léo có tính toán đó có tính cách quan trọng.
Con người được Thiên Chúa trao của cải vật chất để quản lý chúng. Họ phải sử dụng làm sao để khi gặp khó khăn, sa sút, sẽ có bạn bè trợ giúp. Hoàn cảnh đó chính là lúc chết. Khi đó, con người phải bỏ lại tất cả những gì lúc đó là sống còn đối với họ. Họ sẽ có những bạn hữu, nếu trước đó họ đã dùng của cải vật chất để giúp đỡ, biện hộ cho họ trước mặt Thiên Chúa, để họ được ‘đón tiếp vào chốn an nghỉ đời đời’.
Đường lối sử dụng của cải khéo léo (dám nói được là xảo quyệt) không phải ở chỗ tăng thêm của cải bất cứ cách nào, hay ham lợi lộc, nhưng là thích cho đi hơn là nhận vào, giúp đỡ hơn là cậy nhờ người khác giúp đỡ. Càng sử dụng tốt của cải, người ta càng dùng nó để mưu cầu đời sau.
‘Bố thí’, một từ ngữ mà ngày nay chúng ta không thích và một cách nào đó lại diễn tả đúng sự kiện. Người thợ đòi hỏi công bằng chứ không xin bác ái. Tâm thức xã hội bừng tỉnh thì ý thức xã hội càng tinh tế… Người ta đòi phải có thù lao tương xứng với công việc chứ không xin bố thí với mục đích trợ giúp hay do lòng thương xót.
Tuy nhiên, người sở hữu phải dùng của cải để làm việc thiện ngay cả khi họ không bị bắt buộc làm và chẳng mang lại lợi ích cho mình. Theo nghĩa này, thì bố thí cũng có giá trị của nó.
Đức Kitô còn đưa ra một áp dụng khác. Ngài cho biết ai từng trung tín trong việc nhỏ, cũng sẽ trung tín trong việc lớn.
2. Quản lý thanh liêm.
Người ta có thể sai lầm khi kết luận con người có quyền quản lý tài sản không theo ý chủ muốn. Một cách rõ ràng, Đức Kitô khẳng định ngược lại. Sự gì đã nhận lãnh từ nơi Thiên Chúa thì phải sử dụng theo ý Chúa. Cả trong trường hợp nhận ít, lòng tín trung của chúng ta cũng được tưởng thưởng và Ngài sẽ ban thêm cho ta.
Tài sản nhỏ nhoi dành cho con người quản lý là những sự vật ngoại tại và phàm trần: phương tiện sử dụng, sức mạnh thân thể và sức khoẻ, năng lực trí tuệ và các ơn thiêng liêng. Không nên đặt vấn đề: cái gì tôi ưa thích? Ước vọng của tôi thế nào? Tính khí và sở thích sẽ lôi cuốn tôi về đâu? Thiên hạ mong muốn gì, họ làm gì? Mối quan tâm duy nhất của tôi là: ‘điều nào hợp vơí ý Chúa, Đấng đã ban cho tôi những ơn đó để quản lý?’
Nếu biết hành động như vậy, người ta sẽ nhận được những điều cao trọng, siêu nhiên, đạo đức, những kho tàng ân sủng và ơn huệ Thánh Thần.
Tuy nhiên, có ít người biết hướng đời sống và dùng các ơn siêu nhiên cũng như các năng lực để tìm Thánh ý Thiên Chúa! Rất ít người ý thức mình là người quản lý. Họ tưởng mình là chủ nhân, cho nên xử sự theo ý mình. Họ làm theo sở thích. Hành động của họ độc đoán.
Trái lại, thái độ đạo đức phải có là lời chúng ta vốn cầu xin trong kinh Lậy Cha: ‘Ý Cha thể hiện’, đó là quy tắc xử thế của con người. Chỉ có như vậy, cuộc sống mới đổi thay được để nhằm mục tiêu phục vụ Thiên Chúa.
Tiền bạc là một trong những cám dỗ lớn lao đối với con người, nó càng nguy hiểm hơn khi có sự trợ lực của ý muốn tự quyền và tình dục. Đó là lý do Đức Giêsu đòi hỏi một yêu sách bất khả nhượng và không thể châm chước.

 

TN25-C75. Chú giải của Noel Quesson

Đức Giêsu còn nói với các môn đệ rằng
 

Dụ ngôn về “người quản gia bất lương” là một trong các câu chuyện gây tai tiếng mà người ta: TN25-C75

Dụ ngôn về “người quản gia bất lương” là một trong các câu chuyện gây tai tiếng mà người ta tìm thấy trong Tin Mừng, và các tín hữu chờ đợi với một nụ cười khẩy để biết nhà thuyết giáo làm thế nào để xoay xở với bài học về sự lừa bịp đó.
Nhưng đó là một dụ ngôn, một “mâchâl”, một “câu đố “. Chứ không phải là một câu chuyện xây dựng trong mọi chi tiết của nó. Chúng ta, nhưng người chịu ảnh hưởng của tinh thần duy lý Tây Phương, chúng thích những chứng minh họp luận lý và đơn giản. Đức Giêsu lại hoàn toàn thoải mái sử dụng văn phong điển hình của những người kể chuyện phương Đông. Họ nháy mắt ra hiệu cho cử tọa, để yêu cầu người nghe đừng bỏ mất óc phê bình: “Nào, các bạn sáng suốt nhé! Hãy hiểu sự tinh tế ẩn giấu dưới nghĩa đen! Tôi làm bạn khó chịu, hẳn là thế, nhưng đó là cố ý: Các bạn đã bị nhiễm độc và mê man về đề tài quan trọng mà tôi đề cập đến thế sao...!
Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông
Một quản gia phung phí! Tất cả dụ ngôn sẽ diễn tiến trên ý tưởng “quản lý” này. Trong Luật Rôm, cũng như trong tâm thức thông thường, quyền “sở hữu” là “quyền sử dụng và lợi dụng cái gì thuộc về mình”: “Bởi vì cái đó thuộc về tôi, nên tôi làm gì tùy thích”. Trong quan niệm Kitô giáo, quyền tư hữu tư nhân thì khác hẳn: Chúng ta không thật sự là chủ sở hữu, nhưng chỉ là những “người quản lý” của cải vốn vẫn thuộc về tất cả mọi người? Học thuyết truyền thống này trực tiếp đến từ Đức Giêsu (chứ không phải từ chủ nghĩa cộng sản) và vừa qua đã được Công đồng Vatican II nhắc lại: “Thiên Chúa đã trao trái đất và mọi vật chứa trong đó cho con người sử dụng (Gaudium ét Spes, số 69).
Ông mới gọi anh ta đến mà bảo: ‘Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa!'
Tất cả những gì tôi phải “quản lý”: tài sản, đức tính, sự phong phú tâm linh, trì thục, đạo đức, những khả năng tình cảm của tôi. Người sẽ yêu cầu tôi phúc trình về chúng. Tôi không có quyền “phung phí” những ơn mà Thiên Chúa đã giao cho tôi và chúng vẫn luôn là các công việc “của Người”. Thiên Chúa không thích “sự phung phí”, đó là một sự xúc phạm những người đang thiếu thốn.
Người quản gia liền nghĩ bụng: ‘Mình sẽ làm gì đây? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ!'
Cuộc độc thoại nội tâm này bộc lộ rõ ràng sự bối rối của người quản gia. Anh ta phải có quyết định mau lẹ: Ngày mai sẽ quá muộn? Có lẽ trong một hoặc hai giờ nữa, anh ta sẽ bị “sa thải”. Phải hành động thật mau lẹ. Chúng ta đoán được đàng sau sự vội vàng ấy là sự khẩn cấp của thời mạt thế mà Đức Giêsu không ngừng nhắc nhở, quấy rầy những người đồng thời với Người. Chúng ta hãy hiểu cơ may của mình khi còn thời gian, nếu không chúng ta sẽ không có thới gian để “lật lại” như người ta vẫn nói, để thú thật bằng công thức lạ lùng là Người ta tiến tới trước nhưng đi ngược lại mục đích thật sự của chúng ta! Chúng ta phải khẩn cấp hoán cải, và quay về.
Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất: ‘Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy?' Người ấy đáp: ‘Một trăm thùng dầu ô-liu.' Anh ta bảo: ‘Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi.' Rồi anh ta hỏi người khác: ‘Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy?' Người ấy đáp: ‘Một ngàn giạ lúa.' Anh ta bảo: ‘Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi.'
Sự gian lận này khéo léo đến ba lần: Không mất gì cả không để lại dấu vết, nó là bảo đảm chống lại mọi khám phá đột xuất bởi có thể có những lời đe dọa tố giác. Con người đã chẳng thay đổi kể từ Đức Giêsu.
Về phần hai món nợ: bằng dầu và bằng lúa mì cũng rất điển hình ở Palestine. “Một trăm thùng dầu”, là thu hoạch trung bình của 150 cây ô-liu, tương đương với 365 lít dầu? “Một trăm bao lúa” là thu hoạch của 42 hecta ruộng sa, tương đương với 364 hecto lít lúa mì! Theo các chuyên gia, sự giảm nợ trong cả hai trướng hợp tương đương 500 ngày công trung bình. Ngày nay mỗi người có thể tính ra bằng tiền tổng số tiền gian lận.
Về điểm này của câu chuyện, người nghe hẳn phải chờ đợi một sự kết án một cách mạnh mẽ và thích đáng từ phía Đức Giêsu. Chúng ta hãy nghe tiếp...
Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại
Chúng ta ngạc nhiên. Đức Giêsu ngợi khen người quản gia xảo trá ấy. Chốc nữa, chúng ta sẽ thấy lý do tại sao trong lời giải thích mà Người sẽ đưa ra.
Tuy nhiên, chúng ta ghi nhận rang Đức Giêsu không tán thưởng sự lừa bịp của “người quản gia lừa gạt” hoặc người quản gia bất công” như bản văn Hy Lạp đã nói.
Thật vậy, theo Đức Giêsu, anh ta thuộc về thế giới “bóng tối” mà thủ lãnh là Xatan (Ga 12,31) phải phân biệt với các con cái của “ánh sáng” (1 Thêxalônica 5,4-5).
Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu
Tạo lấy bạn bè! phát triển tình bạn! Đấy là lý lo của lời khen ngợi.
Trong công thức này ở trọng tâm của bài dụ ngôn, Đức Giêsu đem lại cho chúng ta một bài học chủ yếu: Cách sử dụng tốt sự giàu có là dùng nó để tạo lấy bạn bè, đặt tình yêu thương vào các mối quan hệ. Đó còn là một quan niệm thật sự cách mạng về tiền bạc.Dùng tiền bạc như một phương tiện để chia sẻ và sống tình bằng hữu. Tiền bạc tự nó không xấu. Nó có thể tạo ra mềm vui cho những người khác, và do đó là niềm vui cho người nào đã góp phần vào niềm vui ấy khi “ban tặng”! Luca trong Tin Mừng của Ngài đã nhấn mạnh đến Đấng Mêsia của những người nghèo, nhiều hơn các thánh sử khác. Nước Thiên Chúa hầu như thuộc về họ đến nỗi những người giàu có chỉ vào được đó nhờ sự bảo trợ và giới thiệu của những người nghèo mà những người giàu có sẽ làm bạn.
Bạn làm gì với tiền bạc của bạn? Câu hỏi đáng ngại. Tại sao không! Nhưng tốt hơn là “Tin Mừng” cho những người giàu có giờ đây biết mình có thể được cứu và bước vào “nơi ở vĩnh cửu” như thế nào, khi mà ở nơi đó tiền bạc của họ không còn nữa”.
Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn, ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn
Để kết luận cho câu chuyện cụ thể này, đây là những châm ngôn về tiền bạc mang tính mạc khải cao cả của tư tưởng Đức Giêsu. Và trước tiên, đối với Đức Giêsu tiền bạc là một “việc nhỏ” khi so sánh với “việc lớn” là Nước Thiên Chúa vĩnh cửu. Chúng ta có chấp nhận quan điểm đó không?
Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em?
Trong khẳng định thứ hai này Đức Giêsu nói với chúng ta rằng tiền bạc thì “bất lương”. Đó là một cái bẫy chỉ đem lại sự an toàn giả tạo. Không nên tin vào tiền bạc (I Timôthê 6,17). Tính từ “bất lương” trở đi trở lại năm lần trong trang này. Đức Giêsu đã chới chữ. Người nói về “người quản gia bất lương” rồi giờ đây, Người nói về “tiền bạc' bất lương”. Từ này cũng thường được dịch là “người quản gia bất chính, bất hảo, bất công”... và “tiền bạc bất chính, bất hảo, bất công.. Trong linh hồn và trong ý thức, mỗi người được mời gọi để trả lời về tiền bạc của mình: Có bất hảo, bất công, bất chính không? Tiền bạc rất ích lợi, có thể được sử dụng một cách có lợi để tạo thành bạn bè cho mình, nhưng nó cũng có thể là một quyền lực của sự ác.
Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em?
Khẳng định thứ ba này có một cung cách hiện đại rất đáng kinh ngạc. Trước cả Các Mác, Đức Giêsu đã lên án “tha hóa” của con Người: Tiền bạc không phải là điều tốt lành thật sự cho chúng ta. Sự giàu sang không làm cho một người nên tốt lành, thông minh, hạnh phúc. Giá trị thật sự ở chỗ khác. Tiền bạc làm “tha hóa” chúng ta, nếu chúng ta để nó “chiếm đoạt” chúng ta.
Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được
Chữ ‘Tiền Của’ viết với một chữ hoa ở đây để dịch từ ‘Mam-mon’, một từ đáng khinh bỉ để chỉ một thần tượng vì nó mà người ta trở thành nô lệ. Bạn có là tù nhân bị tiền bạc xiềng xích, chiếm đoạt, đánh đòn với những lo âu về công việc. Đối với Đức Giêsu, không thể có bất kỳ thỏa hiệp nào: Hoặc là Thiên Chúa, hoặc là tiền bạc. Chúng ta hãy thú nhận chúng ta thường bị cám dỗ phục vụ luân phiên cả hai ông chủ: Thiên Chúa ngày Chúa nhật, cho phần rỗi của chúng ta và Thiên Chúa của các thương vụ, của hầu bao, lợi lộc sáu ngày còn lại trong tuần.
Trong câu tiếp theo sau, Luca đã viết “Người Pharisêu vốn ham hố tiền bạc, nên nghe các điều ấy, thì cười nhạo Đức Giêsu Còn tôi? Có phải tôi cũng mặt sang mày sỉa?

 

TN25-C76. Chú giải của Fiches Dominicales

KHÔN KHÉO THẬT CỦA “CON CÁI ÁNH SÁNG”
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Sự khôn khéo của người quản gia bất lương
 

Chúng ta đang ở trong bối cảnh chung của cuộc hành trình đi lên Giêrusalem của Đức Giêsu. Ơ: TN25-C76

Chúng ta đang ở trong bối cảnh chung của cuộc hành trình đi lên Giêrusalem của Đức Giêsu. Ở đó, Người sẽ hiến mạng sống vì tình yêu đối với Chúa Cha và anh em mình.
Đáp lại lời chỉ trích của nhóm Pharisêu và các kinh sư về thái độ của Người đối với những kẻ tội lỗi, Đức Giêsu vừa kể cho họ nghe 3 dụ ngôn về lòng thương xót. Ba dụ ngôn này là một trong những viên ngọc quý của Tin Mừng Luca.
Trở lại với cử toạ là các môn đệ. của Người, giờ đây Đức Giêsu trao đổi với các ông về một số chủ đề gom lại với nhau bằng những “từ móc nối”: “tiền của bất chính”, “khôn khéo”, “tín nhiệm”.
Bắt đầu là dụ ngôn người quản gia khôn khéo. Dụ ngôn này có thể được gợi lên từ một sự kiện nào đó trong đời thường. Thoạt đầu, dụ ngôn khiến chúng ta bỡ ngỡ vì nó mô tả một người quản gia, do cách quản lý lãng phí - “đã phung phá của cải nhà chủ “ - nên bị ông chủ cho nghỉ việc. Lao động chân tay thì không nổi, ngửa tay ăn xin thì xấu hổ, anh ta đã khéo xoay xở, để tới đâu chăng nữa, vẫn bảo đảm được tương lai: “Mình biết phải làm gì rồi “, anh tự nhủ. Thế là không một chút chần chừ, nhân vật của chúng ta cho gọi “từng con nợ” của chủ lại, và trước mặt mình, anh ta cho phép họ sửa lại số nợ. Đúng là dịp may ngàn năm một thuở, bởi vì thủ đoạn này cho phép giảm món nợ từ 100 phuy dầu xuống chỉ còn 50 (bớt khoảng 2000 lít), và từ 100 giạ lúa xuống chỉ còn 80 (bớt khoảng 6000 ký). Từ nay, mọi người đều đồng lõa với nhau giữ kín bí mật: đám con nợ dĩ nhiên sẵn lòng giữ thinh lặng để được hưởng mục vụ làm ăn quá lời; còn người quản gia thì an tâm “sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ”.
2. Một bài học cho “con cái ánh sáng”
Chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo chắc chắn không phải vì cái trò gian lận kia. Nhưng vì tính khôn léo và nhanh nhạy đáng noi gương bắt chước của anh ta trước một tính thế khó khăn để bảo đảm tương lai cho mình.
Mong sao “con cái ánh sáng”, tức là những môn đệ của Đức Giêsu, hãy học đòi nơi “con cái đời này”, để có được sự khôn khéo và nhanh nhạy tương tự trong việc ưu tiên chọn lựa Nước Trời, và phục vụ Thiên Chúa và anh em hơn tất cả mọi sự!
J. Dupont giải thích: “Lên tiếng với đám đông hiếu kỳ và hoang mang, bất đinh, Đức Giêsu tìm cách làm cho họ hiểu rằng sứ mạng Người lệnh nhận từ nơi Thiên Chúa đang đem lại cho con người một thời cơ trọng đại, phải khẩn trương có thái độ chọn lưạ phù hợp với lời kêu gọi của Người. Người ta phải quyết định ngay đừng để quá muộn: hạnh phúc đời dời của mỗi người tuỳ thuộc ở đây” (“Assemblées du Seigneur”, số 56, trg 70-71).
- Như vậy, bài học dụ ngôn muốn dạy đã rõ ràng sáng sủa. Đức Giêsu nói tiếp: “Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết, hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu”. Nói cách khác, hãy xử sự khôn khéo làm sao để tiền của vật chất mà chúng ta chỉ là kẻ quản lý - không trở thành một sức mạnh thống trị và làm nô lệ con người, nhưng trở thành phương tiện phục vụ tình nghĩa anh em, củng cố tình liên đới và sự chia sẻ, xây dựng mối hiệp thông giữa con người với nhau.
Tóm lại, theo nhận xét của H. Cousin, đây là một lời nhắn nhủ: các môn đệ phải biết cách sử dụng đồng tiền cho khôn khéo, theo viễn tượng của Nước Trời. Nếu người quản gia bất lương kia đã biết lợi dụng của cải trần thế để mua lấy bạn bè và phòng xa cho tương lai của mình trong cuộc đời này, thì người Kitô hữu càng phải biết chuẩn bị như thế nào cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau bằng cách chia sẻ mới người nghèo qua việc rộng tay làm phước, để sau này chính những người nghèo đó sẽ đón tiếp họ vào cõi phúc của Thiên Chúa... Xử sự khôn khéo chính là biết xem tiền bạc như phương tiện chứ không phải là cứu cánh. Tiền là bạc, là gian dối... bơi vì nó dễ trở thành ngẫu tượng là so mới của cải chân thật là bất diệt trên Nước Trời, nó chỉ mang giá trị mong manh tạm bợ, đến ngày mỗi người chúng ta phải từ giã cuộc đời, xuôi tay bỏ lại tất cả khi ấy mới thấy rõ tiền của chẳng là gì cả Triều đại của đồng tiền rồi cũng phải chấm dứt” (L'Evangile de Luc”, Centurion, trg 217).
Rồi, Đức Giêsu kết luận bằng một câu châm ngôn theo kiểu triết lý khôn ngoan: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được!”. Giữa Thiên Chúa và tiền của không thể có chuyện bắt cá hai tay được! H. Cousin tiếp tục nhận xét: “Từ khi Thiên Chúa xuất hiện trên thế giới này người bị đặt trước một sự chọn lựa triệt để, qua cung cách sử dụng tiền của, người Kitô hữu phải chứng tỏ mình chỉ lệ thuộc vào một mình Thiên Chúa” (sđd, trg 218).
BÀI ĐỌC THÊM:
1. Một trong những đoạn Tin Mừng bị hiểu sai nhiều nhất
(“Missel Emmaus des dimanches”, trg 1113):
Dụ ngôn người quản gia bất lương là một trong những đoạn Tin Mừng từng bị hiểu sai nhiều nhất: bao nhiêu người đã xem đây như bằng chứng Đức Giêsu cho phép làm điều bất lương! Trong khi lời tuyên bố sau cùng của Người rất rõ: “Người ta không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được”. Người xót xa cho nhân loại bị đảo điên vì “tiền bạc gian dối “. Giá như con người biết khao khát tìm kiếm những phước lộc thiêng liêng giống như khi họ mê mải làm giàu? Hoặc ít ra họ biết sử dụng tiền của để xây dựng một chút tình liên đới! Chẳng lẽ tất cả khí khôn loài người chỉ để phục vụ cho lòng tham của cải vật chất thôi sao?”.
2. Sống chia sẻ, một chứng tá của đức tin hơn là một lối sống.
(Mgr. L. Daloz, trong “Dieu a visité son Peuple”, Desclée de Brouwer, trg 123).
“Đức Giêsu dạy cho chúng ta một lối sống mới. Người chỉ cho chúng ta một cách sử dụng đồng tiền độc đáo: “Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè” và Người cắt nghĩa tại sao: “phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu”. Vấn đề không chỉ đơn giản là một lời khuyên sống đạo đức. Vấn đề ở đây là phải biết cách sử dụng của cải trong tương quan vời cuộc sống vĩnh cửu. Gương người quản lý bất lương lén sửa lại các món nợ để tranh thủ thêm bạn hữu không nhằm khuyến khích một thái độ vụ lợi: chia sớt chút đỉnh tiền của để được vào thiên đàng. Qua chính điều Người nói, Đức Giêsu muốn chúng ta hiểu rằng “con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại”. Sự khôn khéo mà Người muốn dạy chúng ta không phải là một thứ tính toán bần tiện, nhưng là lời mời gọi phải sáng suốt phải thực sự là con cái ánh sáng. Đức Giêsu đề cập đến một thứ của cải đích thực “dành cho chúng ta”, đó là phụng sự Thiên Chúa: “không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ”. Sự giàu có thật vượt xa khỏi con người, nó ở nơi Thiên Chúa. Nếu chúng ta hiểu điều đó, chúng ta mới là con cái ánh sáng. Chúng ta phải tỏ ra thật khôn khéo, tỉnh táo để nhận ra những giá trị đích thực và sử dụng tiền của sao cho phù hợp với những giá trị đó. Sống chia sẻ không chỉ là một cách ăn ở tốt, nó còn là chứng tá của đức tin.
Đức Giêsu muốn đổi mới cách chúng ta quan niệm và sử dụng mọi sự đời này.
3. Phải cảnh giác trước tiền của
Người ta nói răng cho đến hôm nay, vị thánh được xem là gần gũi với gương mẫu Đức Giêsu nhất chính là Phanxicô Assisi, người đã kết duyên với Bà Chúa Nghèo. Và có thể nói tất cả sứ điệp của Đức Giêsu đều liên quan đến nhân đức Tin Mừng này. Nó nói nhiều về con người, tuy nhiên, có lẽ, nó cũng mạc khải cho biết về tấm lòng của Thiên Chúa. Hãy nhớ lại ý tương của cha Varinon: Khó nghèo, Khiêm hạ của Thiên Chúa.
Tôi chỉ xin lưu ý đến sự tương phản, hay đúng hơn là giằng co, khó dung hoà được trên cuộc đời này, giữa hai khía cạnh của ‘khó nghèo’.
- Dĩ nhiên, Luca là người có lý hơn cả khi viết trong Tám Mối Phúc: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó” không thêm gì sau đó, và cái vế sau đáng sợ “khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có”. Đúng là có một cái gì đó để làm cho con người ra hư hỏng nơi lòng ham muốn có của, thích vơ vét, gom góp. Nước Trời không thể mở ra cho những ai không cưỡng nổi lòng ham muốn.
Nhưng Mátthêu đã bổ túc thêm bằng công thức rất quen thuộc: phúc thay ai, không phải có tinh thần, nhưng có tâm hồn nghèo khó. Nói cách khác: sửa đổi của Mátthêu có ý xác định hai điều. Trước hết, không bao giờ được phép biện minh cho sự nghèo nàn khốn cùng. Đó là điều xỉ nhục cho con người cũng như cho Thiên Chúa. Tiếp đến, phải coi chừng cách người ta tự nguyện khước từ của cải: động cơ thúc đẩy có thể là một thứ kiêu ngạo thầm kín. Madeleine Delbrêl đã thấy rõ điều đó khi tố giác một quan niệm lý tưởng hoá cái nghèo. Bà viết: “Nghèo không hẳn là điều hay”.
Không muốn đi sâu vào những vấn đề kinh tế, với vô số chuyện phức tạp, tôi chỉ xin nói đơn giản thế này: phải luôn luôn cảnh giác trước tiền của, ngay cả khi tiền của đó không nhiều, để tránh tình trạng bị nó sai khiến.
Tuy nhiên con người vẫn phải có vừa đủ để còn giữ được khả năng không bị tiền của sai khiến. Vẫn phải có một chút nào đó để có thể đi từ chỗ mình có đến chỗ mình là.
“Còn Đức Giêsu, vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã không dành địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho chúng ta trở nên giàu có”.

 

TN25-C77. TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXV TN (Nam C)

Lc 16, 1 - 13
ĐỒNG TIỀN ĐI TRƯỚC – ĐI TRƯỚC ĐỒNG TIỀN
 

Tiền bạc, địa vị là một miếng mồi mà người thả câu bị vướng vào đầu tiên, rồi mới đến những: TN25-C77

Tiền bạc, địa vị là một miếng mồi mà người thả câu bị vướng vào đầu tiên, rồi mới đến những người bị nhử. Không có tôn giáo nào có thể giải quyết vấn đ của cải vật chất, kể cả Kitô giáo, kể cả Thiên Chúa Toàn Năng. Đơn giản là vì nó liên quan đến quyền tự do con người, cái tự do đã khiến cho loài người mất hết, khi chọn lựa nghe theo ma qủy,nhưng cũng chính nó làm nên công đức cho hành vi con người,trong đó có việc sử dụng đúng đắn và hữu ích nhất những của cải của mình và không phải của mình. Cách mà Mạnh Thường Quân thu nạp và đãi đằng đến 3.000 môn khách, trong đó nhiều người có thực tài,nhưng không ít những kẻ bất tài, chỉ ăn bám, đáng đ chúng ta, con cái Chúa, con cái sự sáng, phải suy nghĩ. Câu ca dao Việt Nam nói lên một phần câu chuyện hôm nay : “của chung ai khéo vẫy vùng thành riêngvà “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn”.
Hằng năm, Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế đều có báo cáo về tình trạng tham những,hối lộ trong các quốc gia trên thế giới. Báo Pháp Luật TP.HCM ngày 09.03.2010 đăng lại tin từ BBC,rằng Việt Nam tham nhũng thứ ba Châu Á, sau Indonesia và Campuchia. Nhiều nguyên thủ quốc gia, nhiều chính trị gia, nhiều doanh nhân đã dùng tiền bạc công đ đút lót, mua chuộc,dàn xếp nhằm đạt được những hợp đồng béo bở, đ được dồn phiếu hoặc đ củng cố địa vị chức quyền. Tiền làm nên những nhà độc tài. Tiền được các nhà độc tài sử dụng đ thống trị bằng việc ban phát cho tay chân hoặc những người cần cho kế hoạch tham quyền cố vị của họ. Tổng thống nước Venezuela, Hugo Chavez, là một người biết sử dụng tài nguyên thiên nhiên là dầu mỏ với trử lượng khổng lồ thuộc các nước đứng đầu OPEC và thế giới, đ củng cố địa vị. Ông đã từng vận động đ làm tổng thống trọn đời. Từ một quốc gia có tiềm năng phát triển to lớn,Venezuela đã trở thành nghèo đói,lạc hậu. Nhưng có rất đông chính khách xôi thịt ủng hộ ông,vì “ơn mưa móchọ nhận được từ tiền vàng của lượng dầu hoả bán ra hằng năm. Nó cho phép ông ngạo mạn thoá mạ hàng giáo phẩm Venezuela và thách thức hỗn xược cả với Đức Thánh Cha. Tin Mừng hôm nay cũng cho ta hình ảnh một người quản lý khéo léolấy xôi bụt đãi ăn mày”. Từ đó, Chúa Giêsu trách chê chúng ta,những người vẫn tự xưng là con cái sự sáng,nhưng xử sự với đồng loại thua kém con cái đời nầy, không phải đ chúng ta noi gương bắt chước tâm địa và những việc làm sai trái, nhưng đ điều chỉnh cách nghĩ,cách làm, đ khi sử dụng những điều ngay chính, con cái Chúa không vô tình làm đau nhau. Người ta chẳng nóicách cho hơn của cho” đó sao?
Khi đồng tiền kiếm được dễ dàng, người ta trở nên hào phóng, vui vẻ, quảng đại và muốn chia sẻ cho người khác và với người khác,nhưng khi ăn bửa trưa phải lo bửa tối, khi túng bấn ngặt nghèo, lại gặp lúc người nhà ốm o bệnh hoạn, thì chỉ có những kẻ ăn bám,vô tâm vô tình lắm,mới có thể bình thản. Kinh tế vẫn là một trong những nguyên nhân chính gây đ vỡ hôn nhân và xào xáo gia đình. Câumột mái nhà tranh,hai trái tim vàngchỉ là lời nói đùa của những kẻ mộng mơ không tưởng. Cái khó “bó”, chứ không dễ gì “ló” cái khôn! Nhưng nếu gia đình thật sự đạo hạnh, có đời sống cầu nguyện và bí tích, thì dù hoàn cảnh nào, cũng có thể sống xứng đáng mà vẫn thấy hạnh phúc và bình an. Phẩm cách đại trượng phu theo lời dạy của thầy Mạnh-Tử cũng là tinh thần mà con cái Chúa phải có : “phú qúy bất năng dâm;bần tiện bất năng di; uy vũ bất năng khuất” (Giầu có mà không bị nhục dục lôi cuốn, nghèo nàn mà không thay lòng đổi dạ, không đ cho uy quyền khuất phục).
Thomas là một chủ nông trại giàu có. Ông và vợ mình đối xử rất thân thiện với mọi người nên ai cũng yêu mến họ .Một hôm ông thấy vợ mình sai người giúp việc đến cuối làng, nhà bà John - một tá điền của ông - đ mượn một cái bào rau củ. Sau khi người này đi khỏi, ông hỏi vợ vì sao phải đi mượn,trong khi ông bà cũng có một cái rất tốt. Bà Thomas từ tốn trả lời : “Anh xem, cái bào của nhà ta vẫn còn rất tốt. Em biết mọi người vùng này đều yêu quí chúng ta, vì chúng ta đem lại nhiều vật chất cho họ hơn các ông chủ khác; nhưng em không muốn như vậy. Em muốn được yêu mến bằng một thứ tình cảm cao hơn, tình làng xóm. Mà điều đó chỉ có thể khi nào chúng ta và họ không có khoảng cách giữa chủ và tớ, giữa giàu và nghèo. Cái bào rau củ chỉ là cái cớ đ ta đến gần với mọi người hơn mà thôi”.Thái đ ứng xử trước vật chất,tiền bạc có lẽ là vấn đ gây nhức nhối nhất cho Giáo Hội và trong Giáo Hội. Bao lâu Giáo Hội chưa giải quyết được vấn đ tiền bạc vật chất, thì bấy lâu Giáo Hội chưa thể thật sựAd gentes” (đến với muôn dân), vì vẫn còn một khoảng cách dù vô hình,nhưng dễ cảm nhận và đẩy các thừa tác viên Lời Chúa xa quần chúng.
Đây là một nghịch lý, vì đa số tuyệt đối các linh mục xuất thân từ những gia đình trung bình hoặc nghèo khó, nhưng khi làm linh mục, trở thành mục tử, thì lại “đứng trên nhìn xuốnghoặccúi xuốngtrên người nghèo, không phải đ xoi người nghèo như khuôn mẫu hoặc như lời nhở cuộc đời và lý tưởng phục vụ của linh mục, mà như những kẻ xa lạ, phiền nhiễu và ít đóng góp nhất vào lợi ích vật chất cũng như tinh thần cho cộng đoàn giáo xứ và Giáo Hội. Người nghèo rất nhạy bén: họ mau chóngngửi” được mùi xa cách. Giáo Hội và người nghèo vẫn như hai đường thẳng song song, đi bên nhau (hoa mỹ hơn thì gọi là “đồng hành”, ví dụ: Giáo Hội luôn đồng hành với người nghèo, với dân tộc), nhưng không bao giờ gặp nhau. Người ta thật tình không hiểu vì sao linh mục phải lo lắng về “ăn gì,mặc gì”. Nạn đói năm 1945 khiến hơn hai triệu đồng bào chết,nhưng không có bất cứ linh mục,tu sĩ nào bị thiếu ăn (mà nếu có đói bụngnhư một số người nói đùalà do không chịu ăn đúng bửa và ăn cho no). Giải pháp không thiếu,thậm chí là nhiều và rất hợp lý, không khó thực hành, nhưng chỉ sợ hàng giáo sĩ quá gắn bó vớicủ hành củ tỏi Ê-chi-tô”,không có dũng khí đ vứt bỏ, đạp đ những quan niệm về tiền tài vật chất đã in hằn mấy trăm năm qua, đ thoát được cái vũng lầy nầy,mà nay đã bị ô nhiễm nặng nề sau mấy thế kỷ Giáo Hội tăng trưởng. Có như vậy, - và cũng chỉ cần như thế - Thánh Giá sẽ trở lại nguyên vẹn hình hài và bản chất của nó, sần sùi và nghèo nàn, nhưng là cái mà Chúa Giêsu một đời ôm ấp, và muốn con cái sự sáng cũng vác lấy, đi theo Người.Câu ngạn ngữ “đồng tiền đi trướcxem ra chưa bao giờ cũ trong đắc nhân tâm và cho thấy uy lực của nó trong không ít những giao tiếp hằng ngày, cả khi nó được vận dụng một cách lộ liễu,trơ tráo,lẫn khi làm khôn kéo, kín đáo. Nhưng câu ‘đi trước đồng tiền’ – theo ý nghĩa không đ bị đồng tiền chi phối và có dũng khí đ làm chủ nó, chưa không đ nó làm chủ - cũng quan trọng, nhất là đối với Giáo Hội.
Nghèo khó không chỉ là một lời mời gọi, mà là một mệnh lệnh, một đòi hỏi cấp bách,một điều kiện sine qua non của việc sống và rao giảng Tin Mừng. Giáo Hộicách chung và nhất là những người sống đời tận hiếnmà không tự nguyện sống khó nghèo,không giải quyết rốt ráo những gì liên quan đến vật chất, tiền bạc, lại còn tìm mọi lý lẽ đ biện minh, thì đã vô hiệu hoá Lời Chúa và công cuộc rao giảng Tin Mừng. Đã đến lúc Giáo Hộinói chung và đặc biệt những người sống đời tận hiến - phải chấp nhận thực tế cay đắng, khi bị bỏ ra ngoài lề, như một thực thể xa lạ, và oái oăm thay,‘xa lạvì quá giống thế gian, quá bị thế tục hoá. Khi đã là “cá mè một lứanhư nhau, thì ai còn thèm đoái hoài! “Anh em là muối cho đời : Nếu muối lạt đi, thì lấy gì ướp nó mặn lại đượcNó chỉ còn đáng ném ra ngoài cho người ta chà đạp dưới chân” (Mt 5, 13). Một lời cảnh cáo từ chính Chúa Giêsu! “Rượu mời không uống, uống rượu phạt”: Câu thường gặp khi đọc sách hoặc xem phim kiếm hiệp cũng chính là dành cho Giáo Hội nói chung và cách riêng cho những người sống đời tận hiến.
Đồng tiền đi trước là khôn lỏi thế gian. Đi trước đồng tiền là khôn ngoan con cái sự sáng!
ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI 67

 

TN25-C78. NGƯỜI QUẢN LÝ KHÔN NGOAN VÀ TRUNG TÍN

Mạnh Thường Quân là người giàu có, ông cho nhiều người vay mượn tiền. Một hôm ông sai: TN25-C78

Mạnh Thường Qun l người giu cĩ, ơng cho nhiều người vay mượn tiền. Một hơm ơng sai người quản lý l Phng Nguyn sang đất Tiết địi nợ. Trước khi đi, Phng Nguyn hỏi: “Ngi cĩ muốn mua gì khơng?”.  Mạnh Thường Qun trả lời: “Anh xem thứ gì nh mình chưa cĩ thì mua về”. Khi đến đất Tiết, Phng Nguyn cho gọi tất cả con nợ tới v bảo rằng: “Cc ngươi nợ bao nhiu, Mạnh Thường Qun đều tha cho cả”.  Rồi chẳng tính vốn tính lời, đem văn tự ra đốt sạch.  Khi trở về, Phng Nguyn nĩi với Mạnh Thường Qun: “Nh ta khơng thiếu thứ gì, cĩ lẽ chỉ thiếu ‘ơn nghĩa’ thơi. Tơi đ mua ‘ơn nghĩa’ ở đất Tiết cho ngi rồi. Tơi chắc l đẹp ý ngi”. Về sau Mạnh Thường Qun bị bi quan, về ở trong đất Tiết. Người dn ở đấy nhớ ơn nghĩa ngy xưa nn ra đĩn rước ơng. Mạnh Thường Qun ngoảnh lại bảo Phng Nguyn: “Chắc hẳn đy l ci ‘ơn nghĩa’ m ơng đ mua cho tơi ngy trước”.
Cĩ lẽ mọi người đều đồng ý rằng Phng Nguyn thực sự l người quản lý khơn ngoan v trung tín, vì ơng đ biết cch lm lợi cho chủ,vì ơng biết nhìn xa trơng rộng, biết đầu tư vo những chương trình cĩ ích lợi lu di. Nhờ sự khơn ngoan v trung tín của Phng Nguyn, Mạnh Thường Qun đ vượt qua được những khĩ khăn gian khổ.
***
Bạn thn mến! Bi Tin Mừng Cha Nhật hơm nay cũng nhắc đến người quản lý khơn ngoan, nhanh nhẹn.  Trong một thời gian ngắn ơng đ tìm ra phương thế chuẩn bị cho tương lai. Nhưng ơng ta đ khơng trung thnh vì phung phí tiền của, lm hại ti sản của chủ.
Khi khen người quản lý khơn ngoan nhanh nhẹn, Cha Gisu khơng khen ngợi tính gian giảo, thiếu trung thực của ơng. Người chỉ khen ngợi sự thơng minh nhạy bn của ơng. Người khơng dạy ta bất lương như người quản lý, nhưng Người dạy ta biết khơn kho như ơng để xy dựng cho đời mình một tương lai vĩnh cửu. Người ước mong con ci sự sng cũng cũng biết thơng minh nhạy bn như ơng trong việc tìm kiếm Nước Trời..
Quả thực chng ta chỉ l những người quản lý của Cha. Tất cả những gì ta cĩ đều l của Cha.  Sự sống, sức khỏe, ti năng, tiền bạc..v..v.. tất cả đều khơng phải của ta, nhưng l của Cha. Người trao cho ta để ta quản lý chng m thơi.
Cĩ vẻ như cuộc sống vĩnh cửu trong đời sau thì xa xơi, khơng cĩ sức thu ht, khơng lm ta say m v dm đnh đổi tất cả. Ta thừa sơi nổi để xy dựng tương lai trong cuộc sống của đời ny, nhưng lại thiếu to bạo để xy đắp tương lai cho đời sau. Ta biết xoay sở để việc lm ăn buơn bn khơng bị thua lỗ, nhưng ta lại thiếu cương nghị v dứt khốt để đầu tư cho Nước Trời.
Lạ lng hơn nữa, cch gy dựng kho tng trn trời khc hẳn với cch gy dựng kho tng trần gian. Để gy dựng kho tng trần gian, ta phải h tiện, ích kỷ, thu tích cho mình, nghĩ đến lợi nhuận của bản thn hơn đến người khc. Tri lại, để gy dựng kho tng trn trời, ta phải rộng ri, ho phĩng nghĩ đến người khc hơn bản thn mình, ta phải biết cho đi. Cng cho đi lại cng giu cĩ. Cng phn pht lại cng dư thừa. Cng ban tặng lại cng phong ph.
***
Lạy Cha! Thật l một điều khĩ khăn trong cuộc sống vì  tiền bạc vẫn cần, vẫn phải cĩ, nhưng con lại phải vượt qua, phải khước từ như l khơng cĩ, khơng phải của mình. Xin cho con biết dng của cải vật chất ở đời ny như l phương tiện để xy dựng cuộc sống vĩnh cửu trong Nước Cha. Amen
Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ: Amos 8:4-7 – BĐ2: 1Timothy 2:1-8 – P: Luca 16:1-13)

 

TN25-C79. CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN

Lc. 16, 1 - 13
Anh chị em thân mến.
 

Ngày 11/ 9/ 2001 vừa qua, một sự kiện làm chấn động cả thế giới. Trung tâm thương mại thế: TN25-C79

Ngày 11/ 9/ 2001 vừa qua, một sự kiện làm chấn động cả thế giới. Trung tâm thương mại thế giới, hai tòa nhà song song cao 110 tầng, đã bị hai chiếc máy bay đăm vào làm cho nổ tung. Cả một phần của nhà năm góc cũng bị tình trạng như thế. Nỗi kinh hoàng cho những người dân Mỹ. Một sự bất ngờ cho cả thế giới. Sự thiệt hại về người và của thật là kinh khủng, sự thiệt hại không chỉ ở hiện tại, nhưng sẽ kéo dài trong tương lai không biết đến bao giờ.
Mọi người cho đây là một việc bất ngờ. Nhưng xét cho cùng, đây là cả một sự tính toán chi li từ nhiều ngày tháng trước rất lâu. Cũng như việc tính toán kế hoạch trả thù. Mọi việc làm đều có sự tính toán rất cẩn thận. Nhưng sự tính toán có đem lợi ích cho mình và cho nhiều người hay không thì đó còn là một chuyện khác.
Người quản lý bị chủ sa thải, anh ta mới ngồi lại tính toán cho tương lai, cho những ngày tháng không việc làm mà anh ta có thể sống được. Cách tính toán của anh ta được chủ khen ngợi, vì anh ta nhìn thấy được viễn ảnh tương lai của cuộc sống, ngay trong giây phút hiện tại. Khen ngợi vì anh ta biết dùng những của sẽ bị lấy đi mà mua cho mình đời sống lâu dài. Khen ngợi vì anh ta biết tìm cách để mọi người đón rước anh ta và cho anh sự sống.
"Con cái đời này đối xử với đồng loại khôn khéo hơn con cái sự sáng. Hãy dùng tiền của gian dối mà mua lấy bạn hữu".
Mỗi người trong chúng ta là người quản lý tài sản của Thiên Chúa. Nhưng là quản lý trung tín hay bất trung, tùy ở cách mỗi người xử dụng những gì đang có trong cuộc sống hiện tại như thế nào. Cũng tùy thuộc rất nhiều vào cái nhìn của mỗi người có nhìn thấy được tương lai cuộc đời mình sẽ đi về đâu, để rồi có dám bỏ đi những gì mình có mà mua cho mình một tương lai tốt đẹp hơn không? Chúng ta đang cố bám vào hiện tại để rồi mù quáng không nhìn thấy gì nữa, hay đang dùng hiện tại để lo cho một tương lai tốt đẹp hơn.
Mỗi người để ra một vài phút suy tư, nhìn vào những ngày tháng đã qua của cuộc sống:
Con người này với một thân xác, với trí thông minh, với những tài năng, với hoàn cảnh sống hiện tại, với những gì đang có trong tay. Chúng ta ngỡ rằng tất cả những gì mình có, là do tài năng sức lực mình tạo nên, để rồi cố gắng gìn giữ cho riêng mình, cố gắng vun bồi nó cho mỗi ngày được vươn cao hơn, cho đến nỗi sợ phải mất nó đi. Cứ nhìn lại xem. Chúng ta sợ cực nhọc, sợ phải hao tốn sức lực, nên đã nhiều lần chúng né tránh những việc cần thiết cho ích lợi chung. Chúng sợ phải giúp đở người khác, vì sợ phải hao tốn đi một chút sức lực, một chút tài sản riêng tư. Ngoài ra chúng ta còn sợ gì nữa? Chúng ta sợ người khác được lợi hơn mình, được may mắn hơn mình, được địa vị hơn mình.
Nên rất nhiều lần đành giả điếc làm ngơ. Khi đó, chúng ta đâu có ngờ rằng, đó là cơ hội tốt để mình mua lấy cuộc sống mai sau thật sự. Chúng ta cũng không bao giờ nghĩ đến, nếu một ngày nào đó, có một việc bất ngờ như sự kiện ngày 11/ 9 vừa qua tại nước Mỹ, lại xảy đến cho chính mình, thì những gì mình đang có, kể cả con người này sẽ ra sao, và tương lai chúng ta sẽ như thế nào không?
"Hãy dùng tiền của gian dối mà mua lấy bạn hữu".
Lời Chúa chúng ta vừa nghe có làm giật mình, có làm cho chúng ta phải nhìn lại đời sống của mình không? Xem, giờ này chúng ta đã mua được gì cho tương lai, nếu giờ này Chủ của mình không còn cho giữ chức quản lý của cải trần gian này nữa? Thì, chúng ta vẫn hai bàn tay trắng tiến về tương lai và không biết đi về đâu. Nếu như thế thì những ngày tháng ở trần gian, những ngày tháng làm người quản lý thật vô dụng.
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho mỗi người biết tận dụng những ngày tháng ở trần gian, tận dụng những gì Thiên Chúa ban để chuẩn bị cho mình một tương lai tốt đẹp vĩnh cửu.

 

TN25-C80. QUẢN LÝ KHÔN NGOAN

Lc. 16, 1 - 13
 

Để định nghĩa về con người, một triết gia đã nói: “Con người là một con vật biết suy nghĩ ” . Qua: TN25-C80

Đ định nghĩa về con người, một triết gia đã nói: Con người là một con vật biết suy nghĩ ” . Quả vậy, Thiên Chúa đã dựng nên muôn loài muôn vật và chỉ có con người mới được Thiên Chúa ban cho có trí khôn. Nhờ đó, con người biết tính toán, biết phân biệt đúng sai, hơn thiệt... Điều quan trọng là làm sao với trí khôn ấy, người tín hữu chúng ta biết tính toán đ đem lại lợi ích cho cho phần rỗi của mình cũng như của người khác. Đó mới là thái đ của một người quản lý khôn ngoan.
Đoạn Tin mừng Giáo hội cho chúng ta đọc và suy niệm trong Chúa nhật hôm nay cho thấy Chúa Giêsu đã khen người quản lý đã hết sức khôn ngoan. Khi nghe ông chủ bảo: Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa! ” , anh ta đã tìm cách xoay sở: Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất: Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy? Người ấy đáp: Một trăm thùng dầu ô-liu. Anh ta bảo: Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi. Rồi anh ta hỏi người khác: Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy? Người ấy đáp: Một ngàn giạ lúa. Anh ta bảo: Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi ” . Chính đây là điều mà Chúa Giêsu đã khen anh.
Chúng ta biết, người quản lý thời xưa nơi xứ Do thái không được hưởng lương như những người làm công khác. Ông chủ cho anh được toàn quyền trên phần tài sản anh được giao phó. Anh chỉ có bổn phận gìn giữ những gì được giao chứ khỏi phải làm sinh lợi cho chủ. Cho nên, nếu anh biết dùng những tài sản đó đ sinh lợi thì anh được hưởng những phần lợi ấy. Từ đó, chúng ta thấy khi cho người khác vay anh ta đã ghi cao hơn số anh cho mượn. Chẳng hạn cho mượn năm mươi thùng dầu thì anh ta ghi lại một trăm... thì phần ghi thêm đó anh được hưởng chính đáng. Hôm nay, đến lúc túng ngặt này, anh ta đành chấp nhận hy sinh phần lợi đó. Anh ta đã kêu người mượn một trăm thùng dầu ôliu ghi lại năm mươi và người mượn một ngàn giạ lúa ghi lại tám trăm. Bởi lẽ, anh ta nghĩ mình làm như vậy sẽ được tiếng tốt và khi bị nghỉ việc những người đó chắc chắn sẽ không bỏ anh.
Mỗi người chúng ta trước mặt Chúa đều là một người quản lý. Chúa đã trao cho chúng ta sức khoẻ, của cải và thời gian... Chúa không cần chúng ta làm sinh lợi cho Người. Nhưng Người muốn chúng ta biết khôn khéo và thấy xa như người quản lý này. Đó là chúng ta biết sử dụng những gì Chúa trao phó đ sinh ích cho phần rỗi của mình cũng như chia sẻ cho nhiều người khác.
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà dường như con người chỉ thấy những gì trước mắt. Cái gì hay người nào đem lại cho họ phần lợi tức khác thì họ sẵn sàng lợi dụng. Họ bất chấp luân thường đạo lý miễn sao đem lại phần lợi trần gian này. Cách sống này lại có không ít nơi những người kitô hữu chúng ta. Chúng ta hãy luôn nhớ cuộc sống đời này chỉ là chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu mai ngày. Những tài sản Chúa trao phó, chúng ta hãy biết tính toán khôn ngoan như người quản lý trong đoạn Tin mừng hôm nay. Có như thế thì cuộc sống đời sau mới được bảo đảm.

 

TN25-C81. Sử dụng của cải và Tài năng như thế nào?

Lc. 16, 1 - 13
Con cái đời này khôn khéo hơn con cái sự sáng.” (Lc 3, 24)
Anh chị em thân mến,
 

Mạnh Thường Quân nhà giàu cho vay mượn nhiều, một hôm ông …… a. Bài dụ ngôn hôm nay kể về  (tác giả khác): TN25-C81

Mạnh Thường Quân nhà giàu cho vay mượn nhiều, một hôm ông sai Phùng Quyên sang đất Tiết đòi nợ. Phùng Quyên hỏi: “Đòi được nợ, có cần dùng tiền đó, mua sắm gì không? Mạnh Thường Quân trả lời: “xem trong nhà còn thiếu món gì, thì mua sắm”. Phùng Quyên đến đất Tiết, gọi hết các con nợ của Mạnh Thường Quân lại, thu hết các giấy nợ rồi đốt đi trước mặt họ. Dân đất Tiết cảm kích và biết ơn. Phùng Quyên trở về, Mạnh Thường Quân hỏi: “Ông có đòi được nợ không và đã mua gì?” Phùng Quyên nói: “Tôi thấy trong nhà ngài không thiếu thứ chi, chỉ thiếu chữ “nghĩa”; tôi đã mua “nghĩa “ cho ngài. Mạnh Thường Quân nghe nói, không vui…Sau đó không lâu ông bị vua Tề cất chức, phải bỏ nước Tề để lánh nạn. Dân đất Tiết nhớ ơn đón tiếp Mạnh Thường Quân đến nương náu. Khi ấy, Mạnh Thường Quân mới hiểu được câu: dùng tiền mua nghĩa…
a. Bài dụ ngôn hôm nay kể về tên quản lý bất lương, nhưng lại rất khôn khéo, đã biết lo xa cho tương lai của mình… Một anh quản lý đang làm việc cho ông chủ ngon lành, bổng được tin, chủ đã hay biết hết mọi tội lỗi của mình. Chắc mẫm là sẽ bị chủ sa thải, nên anh nghỉ: làm sao đây, tính nhanh lên kẻo không kịp? Sau này đi cuốc đất hả? Làm sao nổi! Ở không đã quen rồi? Còn ăn mày hả? Trời, mặt mũi nào đi làm chuyện đó? Xấu hổ quá! À còn một cách, ta sẽ lấy của chủ mà mua tình cảm của anh em. Nói là làm liền, anh ta kêu các con nợ đến, xóa nợ được bao nhiêu hay bấy nhiêu, chỉ để họ trả lại phần nào cho chủ thôi… Chắc chắn các con nợ sẽ cảm thấy sướng rên lên, liền trả ngay số nợ. Trái lại họ còn cảm thấy mang ơn hắn đến già đời, không quên nữa. Cho nên ngay sau khi hắn bị chủ đuổi đi, họ sẽ rước hắn ngay về nhà họ… Đó là chuyện chắc chắn! Câu chuyện này cũng giống như câu chuyện mua nghĩa của Phùng Quyên cho Mạnh Thường Quân; chỉ khác một điều việc mua nghĩa của Phùng Quyên là ngay chính….mà thôi.
b. Một điều khác, chúng ta cần suy nghỉ: có phải “tiền là Tiên là Phật, là sức bật của lò xo, là thước đo của lòng người, là… chăng?”. Qua tin tức báo đài, hàng ngày, qua cuộc sống quanh ta, nhiều lúc mình cũng phải nhìn nhận sức mạnh của tiền của thật đáng sợ; nó có thể làm mờ mắt của lương tri, biến chất lòng người, làm sụp đổ ý chí, lụn bại thanh danh, tiêu tan cơ đồ bao năm gầy dựng…Vì vậy có tiền và biết sữ dụng đồng tiền cho có lợi ích không phải là chuyện dễ. Lạ một điều, tiền của vừa là xấu, vừa nguy hiễm như vậy, vậy mà ai cũng thích, chỉ vì sức mạnh của nó. Tục ngữ Liên xô có câu: “với túi tiền đeo ở cổ, không ai có thể bị chết treo”. Nhà thơ Tú xương còn mĩa mai: “ví thử trong tay tiền bạc có, nói nhăn nói cụi chán người nghe”.
Làm sao sữ dụng tiền của cho hợp lý : Dụ ngôn trên không phải để ca tụng tính bất lương của người quản lý; đó là điều hẳn nhiên. Ở đây. Chúa muốn khen tài khéo léo của tên quản lý biết dùng của cải cho có lợi cho chính mình, trước tương lai bấp bênh của anh ta. Ở đây chúng ta cũng thấy đôi khi Chúa Giêsu dùng tính cách phản diện để so sánh: viên thẩm phán bất công (18,1-6) khuyên môn đệ khôn ngoan như con rắn (Mt 10, 16).
c. Gợi ý sống và chia sẻ:
Ông chủ khen người quản lý bất lương đã xữ sự khôn khéo: Ông chủ khen tên quản lý bất lương, không phải khen tài bất lương của anh ta, mà khen chính sự khôn ngoan khi anh ta biết sữ dụng của cai để mua bạn bè cho mình, dù của cải đó là của ông chủ. Bao lâu nay, ta có biết khôn ngoan dùng tiền của vật chất để mua lấy Nước Trời không?

 

TN25-C82. HÃY LÀ NGƯỜI QUẢN GIA TỐT

Lc. 16, 1 - 13
 

Cách chung, ai trong chúng ta cũng có một dự tính cho cuộc sống, cho công việc làm ăn của ta. Nhưng: TN25-C82

1. Cách chung, ai trong chúng ta cũng có một dự tính cho cuộc sống, cho công việc làm ăn của ta. Nhưng đôi khi, ta lại quá đặt nặng, lo lắng cho đời sống vật chất mau qua nầy, mà quên đời sống mai hậu, cho dù nó không thể tách rời với những thực tại trần gian nầy. Trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe qua dụ ngôn người quản gia được xem là bất lương, nhưng rất khôn khéo trong việc sử dụng tiền của đ mua lấy tình nghĩa, Đức Giêsu muốn chúng ta, những quản gia của Thiên Chúa, cũng phải biết dùng thời giờ, tiền của chóng qua đ mưu cầu hạnh phúc đời đời.
2. Người quản gia nầy đã sửa lại các giấy nợ, đây là một hành động gian dối; nhưng tại sao Đức Giêsu lại khen anh ta là người khôn ngoan? Chúng ta có thể hiểu được điều nầy, khi biết rằng thời đó những gia đình giàu có thường có một người quản gia, anh ta có quyền rất lớn miễn làm sao cho tài sản của chủ được tăng thêm thôi. Anh có thể được trả lương hoặc không, vì trong những liên hệ làm ăn, anh có quyền hưởng một tỷ lệ hoa hồng nào đó. Người quản gia này không biết đã thất tín như thế nào đó, nên bị chủ báo sẽ cho nghỉ việc. Trong khoảng thời gian chuẩn bị bàn giao, anh đã nghĩ tới tương lai của mình:cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi”. Ai sẽ giúp anh sau này ? Anh đã nghĩ đến các con nợ có thể giúp anh sau khi anh mất chức quản lý, cho nên anh đã kêu họ lại đ sửa văn tự mượn nợ. Sửa bằng cách nào? Chỉ giữ lại nguyên phần nợ gốc của chủ thôi, anh bớt cho họ hoa hồng mà họ phải trả cho anh. Như thế, chủ không mất gì, anh cũng không thiệt gì, mà con nợ thì được ít trả hơn, và như vậy họ sẽ nhớ ơn anh. Anh biết dùng tiền của đ mua lấy tình người.
Chắn chắn Đức Giêsu không muốn chúng ta theo thói xấu của người quản lý nầy : ăn gian tiền của của chủ, cho vay ăn lời cắt cổ, hay sửa đổi văn tựNhưng điều Chúa muốn chúng ta theo gương của anh đó là biết tận dụng thời gian còn lại của mình đ lo cho tương lai; biết dùng tiền của chóng qua đ đạt được giá trị cao hơn đó là bạn bè và nơi vĩnh cửu (x. Lc 16,9).
3. Thiên Chúa là chủ tể tất cả, còn chúng ta chỉ là người quản lý của Ngài mà thôi. Chúng ta bước vào cuộc sống nầy với hai bàn tay trắng và sẽ trở về lòng đất cũng với hai bàn tay trắng (x. Gióp 1,21). Những gì xem ra của ta, như ta thường nghĩ, về tinh thần và vật chất, như : sức khoẻ, sắc đẹp, tài năng, xe cộ, ruộng đất, nhà cửa… đều chỉ là tạm bợ mà thôi, nay còn mai mất. Thật vậy, một cơn bệnh xem ra không nặng gì, nhưng có thể làm ta liệt giường liệt chiếu suốt đời. Một cuộc đổi đời, như biến cố ngày 30 tháng 04 năm 1975 tại Việt Nam, đã làm cho nhiều người mất hết tiền bạc, địa vị, quyền lực... Rồi khi cái chết đến, điều mà không ai tránh khỏi, thì tất cả trở thành hư vô. Chỉ những gì mà ta dành cho Thiên Chúa và tha nhân mới còn tồn tại. Quả thật đúng như lời Thánh Vịnh 39 vẫn luôn nhắc nhở:
Thật con người chỉ như hơi thở, thấp thoáng trên đường tựa bóng câu.
Công vất vả ngược xuôi làn gió thoảng, ky cóp mà chẳng hay ai sẽ tiêu dùng”.
4.Người quản gia tốt là người biết sử dụng những gì mà chủ giao đ sinh lợi theo ý chủ. Cũng vậy, chúng ta chỉ thực sự là người quản lý tốt của Thiên Chúa, khi biết dùng nhữngnén vàng”, “nén bạcmà Ngài trao ban, đ vinh danh Thiên Chúa, đ đem lại hạnh phúc và thăng tiến không những cho mình mà cho tha nhân nữa.
Thế nhưng, nhiều khi chúng ta quá tự hào về khả năng của mình mà khinh thường người khác, chẳng nhớ rằng những gì ta có được là do Thiên Chúa thương ban. Cho nên quá chú trọng cái ăn, cái mặc, tiện nghi, giải trí cho mình ; hao tốn bao nhiêu cũng không ngại nhưng lại tiếc xót khi phải đóng góp cho Nhà Chúa, cho công việc truyền giáo, cho công tác từ thiện, bác áiNếu như thế chúng ta là người quản lý kém cỏi, bởi không biết dùng khả năng, thời gian, tiền của Thiên Chúa ban đời nầy đ làm giàu cho gia tài thiêng liêng trên trời!
5. Vì Thiên Chúa là chủ nhân đích thực cho nên ta chỉ phục vụ một mình Ngài mà thôi :”Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủAnh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được” (Lc 16,13). Người quản gia trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe xét về phương diện sử dụng tiền của thì anh khôn ngoan, nhưng anh đã thiếu trung tín sao đó, nên bị chủ sa thải. Vì vậy, Kitô hữu tốt là người sống giữa dòng đời nhưng không bị lây nhiễm thói đời mà phải luôn sống theo tinh thần, lề luật của Thiên Chúa. Kitô hữu hãy ý thức rằng tiền của hay những gì Thiên Chúa ban chỉ là phương tiện giúp cho cuộc lữ hành nơi trần thế nầy. Nếu những thứ đó mà làm ta xa cách Thiên Chúa, xa cách tha nhân, mất đi nhân phẩm của mình thì thật là đáng trách. Nếu cuộc đời chúng ta chỉ tìm kiếm tiền của, danh vọng, thú vui trần tục mà quên đi những bổn phận phải có đối với Thiên Chúa, đối với tha nhân, với phần rỗi của chính mình thì những thứ đó trở thànhchúacủa cuộc đời ta. Và như vậy, ta đã rơi vào cạm bẫy của ma quỷ !
Lạy Chúa, xin cho mọi người chúng con biết dùng thời giờ và tất cả những gì Chúa ban đ không những mưu cầu hạnh phúc đời nầy, mà nhất là hạnh phúc đời sau bên Chúa. Amen.

 

TN25-C83. SUY NHẬT CHÚA NHẬT XXV - 2001

Oâsê bằng một giọng dứt khoát và mạnh mẽ đã tố cáo lối sống "đàn áp người nghèo và tiêu diệt: TN25-C83

Oâsê bằng một giọng dứt khoát và mạnh mẽ đã tố cáo lối sống "đàn áp người nghèo và tiêu diệt người bần cùng". Lời tố cáo ấy vẫn được tiếp nối trong truyền thống tiên tri, và một cách đặc biệt trong lời rao giảng của Đức Kitô. Lịch sử nhân loại, lịch sử mỗi dân tộc trên một góc độ nào đó cũng là chính lịch sử giải phóng cho những con người, những dân tộc bị thống trị. Thậm chí khi nói về "Thứ Ba đen tối", cũng có số người coi đó là biểu tượng của sự đấu tranh dành quyền sống cho những dân tộc cùng khổ. Như vậy, có thể là đã có nhiều hàm hồ trong từ ngữ ?
Thực ra, trên bình diện thế trần, người nghèo, kẻ bần cùng đều là đại đa số trong mọi xã hội, mọi thời và mọi nơi. Hằng chục ngàn con người đã nằm xuống ngày 11.9.2001 ấy không ai trong họ là những con người đàn áp, hay tiêu diệt kẻ nghèo. Bởi vì họ đích thật là nghèo so với những kẻ đã chủ trương tiêu diệt họ. Và chẳng ai trong họ có sức mạnh, có quyền lực, có địa vị so với những kẻ đã giết họ. Mọi cách thức, mọi chính sách, mọi chế độ, mọi cuộc đấu tranh nhân danh người nghèo, nhân danh dân tộc bị thống trị, tất cả đều đẩy người nghèo vào chỗ chết, và cuối cùng chỉ là để phục vụ cho lớp người quyền thế và giàu sang. Nếu ngày 11.9 đã cướp đi mạng sống của chục ngàn con người, và làm suy thoái tiềm năng của một dân tộc, thì cái ngày "N" sắp tới sẽ khởi đầu cho hằng triệu người nghèo phải chết tức tưởi, và bao nhiêu dân tộc sẽ đi đến chỗ diệt vong? Cái phi lý của mọi chiến tranh là chẳng một kẻ giàu, chẳng một người quyền thế nào đã từng là nhưng kẻ "đàn áp và tiêu diệt người nghèo" ở bên này hay bên kia chiến tuyến, không một ai trong số họ phải chết. Và nếu như cơ may trong một cuộc chiến dành cho người nghèo, để họ chiến thắng, thì chẳng mấy chốc họ lại trở nên những chủ nhân ông mới, một lớp người có tiền của và địa vị, và đại đa số người nghèo vẫn không có cơ hội thay đổi vận mệnh của chính mình.
Đức Giêsu bằng một lời khuyên thật giản đơn "Hãy dùng tiền của bất chính mà mua lấy bạn hữu." mới có thể hình dung cơ chế và hoạt động mang tích cách mạng tuyệt đối vì người nghèo.
Tính cách mạng căn bản của lời khuyên ấy nằm ở cách nhìn và đón nhận một bậc thang giá trị mới mẻ :
Tiền của, hay "cái mình có" không thể sánh với "bạn hữu".
"Bạn hữu" trong mạch văn ở đây, cũng như trong toàn bộ Tin Mừng là những con người nghèo khổ, những kẻ bé mọn, những người đau ốm tật nguyền, những kẻ bị hành hạ, bị chà đạp, bị giam cầm tù đầy, những ngừơi gồng gánh nặng nề, đám dân đen không biết gì về lề luật. những kẻ bị loại trừ khỏi xã hội, kể cả người tội lỗi. Trong "lời từ biệt", Đức Giêsu đã nói với các môn đệ, mà Người đã chọn trong lớp người lao động nghèo khổ "Thầy không gọi các con là tôi tớ, Thầy gọi các con là bạn hữu". Và điều thiết yếu trong sứ mạng của Ngài chính Ngài đã nói lên : "Con đã hiến thánh mình con cho chúng.". Thánh Phaolô cũng khẳng định như vậy ". Đức Kitô Giêsu, với tư cách một con người, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người.". Thực ra, đau khổ của người nghèo ở mọi thời và mọi nơi không phải là sự túng thiếu và đói khát, trừ khi có chiến tranh hay nạn đói, nhưng là nỗi xấu hổ tủi nhục, điều mà người quản lý bất lương trong Tin Mừng đã nói "ăn mày thì hổ ngươi". Người nghèo thấy mình hoàn toàn bị lệ thuộc vào người khác, đó là nỗi sỉ nhục khủng khiếp. Với Đức Giêsu, với đường lối của Người, người nghèo trở thành đối tượng của sự kính trọng yêu mến và phục vụ. Lịch sử "Rao Giảng Tin Mừng" nơi mọi dân tộc, từ xưa đến nay có thể minh chứng về chân lý ấy : Tin Mừng trước hết và trên hết thuộc về lớp người nghèo trong xã hội. Thánh Laurensô Phó Tế Tử Đạo đã có một câu trả lời thật chính xác khi Ngài bị tra hỏi về tài sản của Giáo Triều, Ngài chỉ vào đám người nghèo lang thang trong Thành Đô Roma và nói :"Đây là tài sản của Giáo Hội".
Tiền của "không phải là ông chủ" của người đi theo Đức Giêsu. Người ta không được phép xử dụng tiền của để áp chế người khác. Tiền của phải phục vụ cho "tình bằng hữu". Và nền tảng tình bằng hữu ở đây như thánh Phaolô nhận định là vì Thiên Chúa "Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết Thiên Chúa". Đức Giêsu còn khẳng định cách dứt khoát "Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được".
Trong cách nhìn đó, những khích động để gia tăng lòng thù hận, những tập hợp sức người sức của cho mục tiêu chiến tranh dù ở bên này hay bên kia, không thể là phản ánh trung thực của Tin Mừng được. Có những hoàn cảnh, sống theo Tin Mừng là một điều vượt qúa thân phận con người. Chính ở điều ấy mà lời thư của Thánh Phaolô có giá trị củng cố lòng tin "Đức Kitô Giêsu, với tư cách một con người,." Phải, với tư cách một con người, hoàn toàn giống như chúng ta "ngoại trừ tội lỗi", Người đã thiết lập một trật tự mới cho cuộc sống con người, trật tự dựa trên sự tự hiến mình để yêu thương và phục vụ người nghèo, chứ không phải trật tự dựa trên sự kết án và tiêu diệt. Chính vào thời điểm này, trước nguy cơ của một chiến tranh rộng lớn, người Kitô hữu phải mạnh mẽ nói lên Niềm Tin của họ, để cống hiến cho nhân loại con đường sự sống.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

TN25-C84. Chúa Nhật thứ 25 Thường Niên

(19-9-2004)
Chúng ta chỉ là người quản lý những gì chúng ta đang có
ĐỌC LỜI CHÚA
·        Am 8, 4-7: (Đức Chúa phán:) (4) Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp người cùng khổ và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ. (7) Ta sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi nào của chúng.
·        1Tm 2, 1-8: (3) (…) Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, (4) Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.
 ·       TIN MỪNG: Lc 16, 1-13
Dụ ngôn người quản gia bất lương
(1) Đức Giêsu còn nói với các môn đệ rằng: «Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông. (2) Ông mới gọi anh ta đến mà bảo: “Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa!” (3) Người quản gia liền nghĩ bụng: “Mình sẽ làm gì đây? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. (4) Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ!”
 (5) «Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất: “Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy?” (6) Người ấy đáp: “Một trăm thùng dầu ôliu”. Anh ta bảo: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi”. (7) Rồi anh ta hỏi người khác: “Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy?” Người ấy đáp: “Một ngàn giạ lúa”. Anh ta bảo: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi”.
 (8) «Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng.
Trung tín trong việc sử dụng tiền của
 (9) «Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. (10) Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn. (11) Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng tiền của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em? (12) Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em?
 (13) «Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được».
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
 

Chúng ta có hoàn toàn làm chủ những gì chúng ta có (sức khỏe, thì giờ, tài năng, tiền bạc…) để : TN25-C84

1.      Chúng ta có hoàn toàn làm chủ những gì chúng ta có (sức khỏe, thì giờ, tài năng, tiền bạc…) để có thể hoàn toàn sử dụng theo ý riêng của chúng ta không? Tại sao?
2.      Chúng ta có thể dùng những thứ của cải chóng qua ở đời này để tạo hạnh phúc vĩnh cửu cho mình trên trời không? bằng cách nào?
3.      Người không đáng tin trong chuyện tiền bạc, ta có thể tin vào lương tâm người ấy không? Tại sao?
Suy tư gợi ý:
1.      Chúng ta chỉ là người quản lý những gì chúng ta đang có, và chịu trách nhiệm về việc sử dụng chúng
Trong dụ ngôn người quản gia bất lương, Đức Giêsu đưa ra hình ảnh một người quản gia phung phí của cải của chủ. Điều đó có nghĩa là ông đã sử dụng của cải của chủ sai mục đích mà chủ muốn. Chủ yếu là ông đã không dùng của cải hay tiền bạc của chủ để tạo lợi ích cho chủ, mà tạo lợi ích riêng cho mình. Hậu quả của việc làm đó là ông bị chủ cho thôi việc.
Qua dụ ngôn này, Đức Giêsu muốn cảnh báo và nhắc nhở chúng ta một chân lý quan trọng. Những của cải – tinh thần cũng như vật chất – Thiên Chúa ban cho chúng ta (như sức khỏe, thì giờ, các tài năng, sự khôn ngoan, thông minh, khéo léo, học vấn, bằng cấp, nghề nghiệp, của cải, tiền bạc, v.v…) đều là của Thiên Chúa. Chúng ta chỉ là người quản lý những của cải đó cho Ngài, chứ không phải là chủ của chúng. Là người quản lý, chúng ta không có quyền phung phí những của cải đó. Nghĩa là chúng ta không nên sử dụng chúng theo ý riêng của ta, chỉ nhằm thỏa mãn những nhu cầu riêng hay tạo lợi ích riêng cho chúng ta, mà không quan tâm đến nhu cầu và lợi ích của Thiên Chúa và tha nhân. Thiên Chúa muốn chúng ta sử dụng những của cải đó để làm lợi cho Nước của Ngài, cho Giáo Hội, xã hội, nhất là cho hạnh phúc của tha nhân đang sống gần gũi chung quanh ta.
Những của cải ấy Thiên Chúa ban cho ta càng nhiều, thì trách nhiệm của ta – là phải làm lợi cho Chúa và tha nhân – càng lớn. Dụ ngôn những nén bạc (x. Mt 25,14-30) nói lên điều đó: người nhận được 5 nén phải làm lợi thành 5 nén khác, còn người nhận được 1 nén thì chỉ phải làm lợi thành 1 nén khác thôi. Nếu chỉ nhận được 1 nén, thì ta không thể nại lý do là nhận được quá ít mà không làm lợi thêm. Kẻ chỉ nhận 1 nén mà không sinh lợi thì vẫn bị trừng phạt. Kẻ nhận được 5 nén mà không sinh lợi thì còn bị trừng phạt nặng hơn nữa, nhưng nếu làm lợi thành 5 nén khác thì lại được thưởng nhiều hơn.
Vì thế, chúng ta cần ý thức trách nhiệm của chúng ta trong việc sử dụng tài năng, thì giờ, sức khỏe, và của cải vật chất mà Thiên Chúa ban: đừng chỉ biết lo cho bản thân hay gia đình mình, mà còn phải biết dùng những gì ta có để đem lại hạnh phúc cho tha nhân, làm cho Nước Tình Thương của Thiên Chúa phát triển trên mặt đất.
2.      Dùng của cải chóng qua để mua Nước Trời vĩnh cửu
Khi dùng tiền bạc để mua đồ này vật nọ là ta đổi một thứ của cải chóng qua lấy một thứ của cải chóng qua khác cũng thuộc trần gian này. Nhưng trong dụ ngôn trên, Đức Giêsu cho biết: chúng ta có thể dùng thứ của cải chóng qua này để mua lấy thứ của cải vĩnh cửu trên trời. Điều đó không khác gì dùng tiền giả, chẳng hạn thứ tiền chỉ dùng làm đồ chơi cho trẻ con, mà mua được đồ thật. Với khả năng đó, ai có tiền giả mà không biết dùng để mua đồ thật thì quả là khờ dại.
Trong dụ ngôn trên, sau khi biết chủ quyết định cho mình thôi việc, viên quản lý bất trung vội vã lợi dụng thời gian ngắn ngủi còn làm quản lý của mình để lo cho tương lai. Ông lợi dụng tiền mà các khách hàng của chủ còn nợ để mua nhân nghĩa, để nhờ những nhân nghĩa đó mà sau khi mất việc, ông sẽ được các khách hàng ấy yêu mến và ưu đãi. Như vậy, ông đã dùng tiền bạc mà ông chỉ quản lý chứ không làm chủ để mua lấy nhân nghĩa, là thứ vẫn còn tồn tại và ích lợi cho ông sau khi ông bị thôi việc.
Dựa vào sự khôn ngoan của viên quản lý bất trung ấy, Đức Giêsu dạy khôn chúng ta: «Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu». «Tiền của bất chính» trong câu này (đối lại với «của cải chân thật» trong câu Kinh Thánh liền sau) chỉ có nghĩa là thứ tiền của không thuộc quyền sở hữu của chúng ta mà của người khác, nhưng chúng ta có thể sử dụng chúng hầu mưu ích cho chính mình. Nghĩa là chúng ta có thể dùng những gì chóng qua, nay còn mai mất, mà Chúa ban cho chúng ta ở đời này (tài năng, sức khỏe, thì giờ, tiền bạc…) để đổi lấy thứ của cải không bao giờ hư mất là hạnh phúc vĩnh cửu trên trời. Bằng cách nào? Bằng cách dùng chúng để lo cho Nước Thiên Chúa, lo cho hạnh phúc của tha nhân (chẳng hạn: cống hiến cho những công việc của Giáo Hội và xã hội, cho những công trình từ thiện, hoặc giúp đỡ người nghèo…). Nhờ đó chúng ta có được «những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi được» (Mt 6,20). Nếu ta chỉ dùng những thứ Chúa ban để đổi lấy những của cải chóng qua, thì khi ta chết, ta sẽ phải để lại trần gian tất cả, không mang gì đi được, chỉ ra đi với hai bàn tay trắng. Còn nếu ta biết chuẩn bị cho mình «những kho tàng trên trời», thì khi ta chết đi, ta đã có sẵn những kho tàng ấy ở trên trời, rất ích lợi cho chúng ta ở đời sau.
Đừng để cho câu «Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng» trở nên đúng đối với chúng ta. Một trong những những ý nghĩa của câu này là: con người tỏ ra rất khôn ngoan trong mọi sự liên quan đến những thực tại trần gian; nhưng lại rất kém khôn ngoan trong những sự liên quan đến Nước Trời. Họ không biết dùng sự khôn ngoan mà họ dùng ở trần gian để áp dụng cho những gì thuộc đời sống vĩnh cửu.
3.      Ai trung tín trong việc nhỏ, cũng sẽ trung tín trong việc lớn
Một trong những điểm nhấn của bài Tin Mừng là sự công chính trong việc sử dụng tiền bạc. Không phải ai trung tín trong việc sử dụng tiền bạc thì cũng luôn luôn trung tín trong mọi việc khác. Tuy nhiên, trong cuộc đời, kinh nghiệm cho ta thấy ai luôn giữ chữ tín trong việc sử dụng tiền bạc, thì cũng thường trung tín trong những chuyện khác. Còn ai không đáng tín nhiệm trong chuyện tiền bạc, thì cũng thường không trung tín trong những chuyện khác. Người ta thường nói: «Lấy lửa thử vàng; lấy vàng thử đàn bà; và lấy đàn bà thử đàn ông». Câu nói ấy thật chí lý, nó là kết tinh những kinh nghiệm trường đời của nhân gian. Tuy nhiên, vàng hay tiền bạc vẫn là thứ cơ bản và thông dụng để thử lương tâm và lòng trung tín của mọi người.
Một lương tâm trong sáng thì luôn thể hiện sự trong sáng ấy trong việc sử dụng tiền bạc, nhất là khi sử dụng tiền bạc của người khác. Không thể tin được một người biển thủ tiền bạc của người khác, của công quỹ, đối xử với người khác một cách không công bằng về mặt tiền bạc, lại là người có lương tâm ngay thẳng và đáng tín nhiệm. Không thể tin được một người được nhờ giao tiền cho người khác mà giữ lấy làm của mình, lại là người đạo đức đích thực. Hiện nay, có rất nhiều người mang danh là đạo cao đức cả, nhưng lại rất bê bối trong chuyện sử dụng tiền bạc của người khác. Quả thật, họ chỉ «có tiếng mà không có miếng» về mặt đạo đức. Chính Đức Giêsu đã đưa ra tiêu chuẩn: «Nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em?» Thiết tưởng đức công bằng – cụ thể về mặt tiền bạc – là nền tảng của đức bác ái; và đức bác ái là nền tảng của đạo đức Kitô giáo. Do đó, người đạo đức thật sự phải là người luôn luôn không có gì đáng trách về đức công bằng, nhất là về tiền bạc.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, xin cho con biết sử dụng những gì Cha ban cho con để phục vụ Cha và mọi người, nhất là để mưu cầu hạnh phúc cho những người chung quanh con. Xin giúp con luôn giữ trọn đức công bằng đối với mọi người, để con chứng tỏ được lương tâm trong sáng của con.
Joan Nguyễn Chính Kết

 

TN25-C85. CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN, năm C

Lc 16, 1-13
KHÔN KHÉO ĐỊNH LIỆU
 

Thánh Phêrô được coi là con người dân dã,bộc trực, can đảm nhưng lại nhát đảm khi cần phải: TN25-C85

Thánh Phêrô được coi là con người dân dã,bộc trực, can đảm nhưng lại nhát đảm khi cần phải đương đầu. Thánh Phaolô xem ra hung hăng nhưng lại mau nhận ra tiếng Chúa. Hai vị thánh đều được Chúa yêu thương và Giáo Hội cung kính bởi vì các Ngài là những người đã biết khôn khéo định liệu những gì là cần thiết, những gì là quí trọng cho cuộc đời. Các Ngài đã coi thường của cải vật chất, địa vị, danh vọng để bước theo Đức Kitô và làm chứng cho Người. Các Ngài đã biết lo cho tương lai, coi thường mạng sống để loan báo Đức Kitô.Tin Mừng Chúa nhật XXV thường niên, năm C đề cập đến sự khôn ngoan để luôn luôn tích cực xây dựng Nước Thiên Chúa.
CÁI KHÔN NGOAN CỦA CON CÁI THẾ GIAN :
Dụ ngôn mà Đức Giêsu đưa ra hôm nay dựa trên một cuộc biển lận xẩy ra trong bất cứ thời nào, xã hội nào vv…Chúa Giêsu quả thực không có ý tán thành việc biển lận của người quản lý. Chúa chỉ khen cung cách giải quyết vấn đề của người quản lý là khôn ngoan. Ông đã biết mở mắt nhìn xa, thấy rộng để tìm phương thế cho hoạn nạn và những bất trắc sắp ập xuống trên ông.Ở đây, chúng ta có thể nghiệm ra rằng tại sao con cái thế gian lại biết khôn ngoan dùng tiền của phi nghĩa, bất lương để giải quyết vấn đề sao cho ổn thỏa, sao cho có lợi cho họ, tại sao con cái sự sáng lại không biết dùng tiền của nhỏ nhoi của mình để chia sẻ, để trao ban cho người nghèo, người túng quẩn hầu có thể xây dựng cho mình Nước Trời mai sau ? Chúng ta có thể rút ra từ dụ ngôn này bài học:” Con người phải biết tận dụng thời gian, biến tất cả thành cơ may để gặp gỡ Chúa Kitô và xây dựng Nước Thiên Chúa. Tin Mừng nói :’”Ai trung tín trong việc nhỏ, sẽ được trao việc lớn”. Biết dùng của cải đời này theo ý Chúa, chắc chắn con người sẽ đạt được Nước Thiên Chúa. Thái độ của con người thường là nổi loạn, buông xuôi, than trách khi gặp khó khăn, thử thách, khi gặp đói nghèo, bệnh họan, thiếu hụt. Chúa Giêsu luôn luôn khuyên con người phải có thái độ bình tĩnh, điềm tĩnh để nhận định, để biến những khó khăn, bất toàn, biến những thử thách, đau khổ thành cơ may đưa đến một điều cao quí hơn, đẹp hơn, tốt hơn. Thánh Phêrô khi biết mình chối Chúa ba lần, Ngài đã không thất vọng, buông xuôi như Giuđa Iscariốt mà Ngài đã ăn năn, khóc lóc biến bất hạnh trở thành cơ may hạnh phúc cho mình. Thánh Phaolô cũng thế, khi bị Chúa đánh cho té ngựa ông đã không chùn bước, bỏ cuộc mà đã biết quay về với lời mời gọi của Thiên Chúa.Điềm tĩnh va khôn ngoan là biết nhìn cách lạc quan những thất bại, mất mát trong cuộc đời, cuộc sống. Thánh Phaolô đã có cái nhìn lạc quan khi nói:” Đối với những ai yêu mến Chúa, thì mọi sự đều dẫn về điều thiện “.
CON MẮT CỦA CHÚA KHÁC VỚI CON MẮT CỦA CON NGƯỜI :
Sống ở trần gian này, con người thường nhìn nhau theo thứ tự, địa vị, danh vọng, bằng cấp và những tiện nghi hàng ngày, tuy nhiên, Thiên Chúa lại nghĩ khác, trong tình yêu của Ngài tất cả đều là ân huệ, tất cả đều là hồng ân. Người quản lý bất lương được Chúa khen vì đã biết sử dụng tiền của ông chủ để kiếm thêm bạn bè bảo đảm cho tương lai của anh ta. Chúa không dây con người học thói tham lam biển lận của người quản lý bất lương, nhưng là học sứ khôn ngoan, cố gắng, phòng xa như người quản lý trong Tin Mừng. Con người, loài người hãy tín thác cho Chúa, đón nhận mọi biến cố, mọi thử thách, đau khổ, khó khăn như lời mời gọi yêu thương của Chúa. Tin tưởng vào Chúa, cậy trông vào Người. Khác với những gì con người ước đoán, tưởng tượng, Thiên Chúa vẫn yêu thương con người.
Do đó, chỉ khi nào con người biết chia sẻ, trao ban, đừng khư khư như người thanh niên giầu có trong Tin Mừng:” Anh ta không dám bán gia sản, của cải để phân phát cho những người nghèo vì anh ta có quá nhiều của cải”, con người mới thực sự là những quản gia làm theo ý  chủ, những quản gia trung tín, đoán trước và khôn ngoan theo đúng Tin Mừng của Chúa Giêsu. Và chỉ khi nào con người biết biến tất cả thành cơ may cho tình yêu của Thiên Chúa, con người mới thực sự làm tôi Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết nhận ra những gì là mau qua, là tạm bợ để chúng con biết dự trữ những gì là quí giá, là vĩnh cửu cho đời sống mai sau. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi    DCCT
 

TN25-C86. CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN

Lc 16, 1-13
 NGƯỜI QUẢN LÝ BẤT TRUNG: HÀNH XỬ KHÔN KHÉO
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

Suốt lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã sai biết bao ngôn sứ loan truyền cho dân Do Thái cũng là cho nhân: TN25-C86

Suốt lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã sai biết bao ngôn sứ loan truyền cho dân Do Thái cũng là cho nhân loại biết con người phải có lòng  nhân, phải biết chia sẻ, đừng sống xa hoa, trụy lạc, đừng làm ngơ trước sự nghèo túng, khốn cực của những người khác. Ngôn sứ Amốt Chúa Nhật 25 thường niên, năm C mà Giáo Hội trích đọc hôm nay cho ta thấy:” Bên cạnh những người xa hoa, đàn áp những kẻ nghèo, bên cạnh những người cùng cực, những kẻ giầu sang không biết chia sẻ, chỉ nghĩ tới mình, ngôn sứ Amốt đã bất bình, phẫn nộ, vị ngôn sứ này đã nhân danh Thiên Chúa để lên án những con người giầu có chỉ ích kỷ, bo bo giữ cho mình và đàn áp kẻ cùng khổ, lường gạt và sống bất công và loan báo trước sự trừng phạt của Thiên Chúa sẽ giáng xuống trên những kẻ bất lương:” Chẳng bao giờ Ta sẽ quên một hành vi nào của chúng”(Am 8, 7
 CHÚA DẬY PHẢI KHÔN NGOAN:
Trong Cựu Ước, Salomon đã xin sự khôn ngoan để lãnh đạo dân Do Thái, Thiên Chúa đã chấp nhận lời cầu xin của vua. Biết bao vị vua, biết bao thẩm phán, biết bao ngôn sứ cũng chỉ xin Chúa một điều là ban họ được sáng suốt, thông minh và khôn ngoan để cư xử, để nói Lời Chúa, để phục vụ tốt rập theo ý Chúa. Khôn ngoan là ân huệ tuyệt vời Chúa trao ban cho con người, cho mọi người. Khôn ngoan để luôn tỉnh táo xây dựng Nước Thiên Chúa. Tin Mừng thánh Luca 16, 1-13 là lời Chúa nhắn nhủ nhân loại, mỗi người hãy tích cực xây dựng Nước Trời theo sự khôn ngoan Chúa trao phó. Dụ ngôn người quản lý biển lận, thất trung trong Tin Mừng có thể xẩy ra bất cứ thời đại nào, bất cứ lúc nào. Chúa Giêsu trong trích đoạn Tin Mừng của thánh Luca hôm nay không khen ngợi việc ông ta biển lận, vì biển lận là hành vi xấu, tội lỗi, Chúa Giêsu khen cung cách giải quyết vấn đề khôn khéo của ông. Người quản lý bất lương biết nhìn xa thấy rộng để giải quyết vấn đề cách khôn ngoan khi tai họa sắp giáng xuống trên ông. Ông đã làm sai nhưng khi thấy sự việc xẩy tới ông đã bình tĩnh, khôn khéo xử sự và giải quyết vấn đề để có thể tránh khỏi sự trừng phạt của chủ. Người quản lý đã biết tận dụng thời gian để biến hoạn nạn thành cơ may hầu có thể thoát thân, biến cái họa thành cái phúc để gặp gỡ Chúa và xây dựng Nước Thiên Chúa.
 THÁI ĐỘ CỦA CON NGƯỜI:
Đành rằng tiền của cần thiết để con người có phương tiện để sống, để sinh hoạt. Tiền của chỉ có thể là phương tiện chứ không phải là cứu cánh. Do đó, con người thường có thái độ buông xuôi, thả lỏng khi con người bị thất bại giữa cuộc đời, khi con người tìm hoài mà không có tiền có của. Con người có thể nổi loạn, bất mãn, bỏ cuộc. Chúa Giêsu khuyên con người khôn ngoan, tỉnh táo và điềm tĩnh để giải quyết vấn đề, biến rủi ro thành cơ may để mang đến cho mình lợi ích tốt đẹp hơn. Khôn ngoan là biết tỉnh táo, khéo léo, điềm tĩnh, lạc quan trước những mất mát của cuộc sống. Vì tất cả đều là ân huệ, là hồng ân như thánh Phaolô nói. Tuy nhiên, con người không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền của, hãy chọn lựa Thiên Chúa hoặc tiền của. Như thế, con người phải khôn ngoan để sống, nhưng tựu trung  họ luôn tích cực xây dựng Nước Trời
và có cái nhìn của Chúa. Con người cũng phải có cái nhìn lạc quan như thánh Phaolôâ:” Đối với những ai yêu mến Chúa, thì mọi sự đều đưa họ về Chân Thiện Mỹ.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con sự khôn ngoan để chúng con luôn   làm theo ý Chúa.
 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:
Bạn có thích sự khôn ngoan ? Tại sao ?
Dụ ngôn người quản lý bất lương gợi ý gì cho bạn ?
Tại sao thánh Phaolô nói:” Tất cả là hồng ân” ?
 

TN25-C87. NẾU ĐỒNG TIỀN BIẾT NÓI

(suy niệm Tin Mừng CN 25 TN C) 
 

Có người chia sẻ với tôi: Nếu đồng tiền biết nói, nó sẽ vui mừng tố cáo tôi, tố cáo bạn vì : TN25-C87

Có người chia sẻ với tôi: Nếu đồng tiền biết nói, nó sẽ vui mừng tố cáo tôi, tố cáo bạn vì chúng ta đã sử dụng nó để  phạm những tội gian ác. Cả những phương tiện ta có, nếu nó biết nói, nó cũng sẽ là vật chứng tố cáo chúng ta, vì chúng ta đã sử dụng nó như phương tiện phạm tội, phương tiện gây án: án phạt ngàn đời.
Nghĩ lại cũng thật thấm thía. Tội nghiệp cho con người có trí khôn mà chịu làm nô lệ cho những đồng tiền vô tri vô giác, nô lệ cho những phương tiện hoàn toàn vật chất, lại còn bị nó làm chứng tố cáo những tội tày trời! Đã vậy, còn suy tôn tiền bạc, vật chất lên ngôi thành một chủ nghĩa, chẳng khác nào con người đang la lên rằng: “mừng quá, tôi được làm nô lệ”.
Nếu đồng tiền  biết nói… Vâng, thiết tưởng cũng đúng với thực trạng xã hội hôm nay. Một lần, anh em thân hữu chúng tôi họp mặt tại Nha Trang và chia sẻ chuyện đời thường của nhau, có câu hỏi được đặt ra: “vợ, chồng, con cái của bạn bắt đầu “hư” từ khi nào?”.
Những câu trả lời thật xót ruột:
-“từ khi ảnh mua chiếc xe con, đi sớm về muộn, có khi vài ba ngày không về, đến lúc về, trong xe, mùi nước hoa còn nồng sặc….”,
-“từ khi cô ta quyết định mua thêm một căn nhà ở Vũng Tàu, một cảnh hai quê, tuần cô ở Vũng Tàu, tuần cô ở Sài Gòn, sau đó, cô bảo tôi ký giấy ly hôn…”,
-“từ lúc sắm điện thoại di động, sắm xe tay ga cho con, rồi những cuộc liên lạc, hẹn hò, đi không thưa, về chẳng trình…đến khi trình, thì trình rằng con đã có bầu ba tháng ”
-“Từ lúc nhà em bán được lô đất “sốt” ở Bình Dương, giàu lên, phung phí, phần ảnh ảnh xài, phần em em xài, ảnh kiếm thêm được bà nữa, thì em dại gì chứ”.
-“Từ khi mua cho con cái vi tính, rồi nối mạng nữa chứ…nó ngồi trên máy cả đêm, tưởng học hành, hóa ra xem phim tầm phào”.
-“Từ lúc em buôn bán khá hơn tí, có đồng ra đồng vào đồng cất để, ảnh thong thả bia rượu nhiều hơn, có luôn cả chuyện bia ôm rượu ẵm, đến lúc xơ gan mới chịu nằm một chỗ”.
…….
Và còn biết bao nhiêu nguyên nhân khác, tựu chung, cũng vì sử dụng tiền bạc của cải phương tiện vào những mục đích không có lợi ích gì cho đời này và cả đời sau nữa: vừa mất nhân phẩm vừa mất linh hồn. 
Lời Chúa Giêsu hôm nay cảnh cáo sự dại dột của con người khi sử dụng tiền bạc của cải vật chất làm băng hoại đời sống con người hôm nay và mai sau. Và Chúa muốn mượn hình ảnh người quản lý để gửi đến cho tôi, cho bạn một thông điệp quan trọng: mỗi người là một người quản lý của Thiên Chúa, người quản lý phải khôn ngoan biết làm lợi cho Thiên Chúa, người quản lý phải biết tích lũy cho mai sau. 
Những người không muốn biết Thiên Chúa thì họ cho rằng thân xác, trí khôn, của cải, phương tiện họ có, là của họ làm ra. Họ làm chủ tất cả. Họ muốn sử dụng sao là quyền của họ. Họ thật lầm tưởng: tưởng họ làm ra và tưởng họ có quyền, hóa ra, họ không giữ được gì cho mình cả, kể cả thân xác, và hóa ra, họ đang làm nô lệ cho thân xác, cho tiền bạc, cho những phương tiện.
Đối với con cái của Thiên Chúa, thì Chúa chúng ta biết rằng tất cả những gì chúng ta sở hữu trong cuộc đời đều là của Chúa ban cho. Và mỗi người chỉ là người quản lý. Có người quản lý một thân xác vạm vỡ khỏe mạnh, hay duyên dáng yêu kiều, nhưng cũng có người quản lý một thân xác yếu đuối, hay xấu xí thua người… Có người quản lý một gia tài kếch xù, nhưng cũng có người lại quản lý mấy đồng tiền lẻ.
Và dù quản lý ít hay nhiều cũng phải làm lợi cho Thiên Chúa. Làm lợi cho Thiên Chúa là biết dùng của cải thế gian mà làm cho Thiên Chúa được vinh danh, mà làm cho Nước Chúa trị đến, và làm cho ý Chúa được thể hiện khắp nơi. Cụ  thể hơn, nếu như người quản lý bất trung kia còn biết khôn ngoan mà tích lũy cho mình để phòng cho những ngày điêu linh sắp tới, thì con cái Chúa càng phải biết khôn ngoan mà tích lũy cho mình một gia sản cho đời sau. Bằng không, thì thật là uổng phí, là dại dột.
Mỗi người được ơn cứu rỗi, mỗi người được sống lại ở đời sau, là chương trình của Thiên Chúa. Và vì thế, biết dùng của cải đời nầy mà lo cho phần rỗi đời đời của mình và của mọi người, chính là làm sáng danh Thiên Chúa, làm Nước Chúa Trị đến, làm cho ý Chúa thể hiện vậy.
Nếu đồng tiền biết nói, hẳn nó sẽ chê cười chúng ta, loài người có trí khôn giống hình ảnh Thiên Chúa mà phải làm nô lệ cho một đồng tiền, một tờ bạc vô tri vô giác.
Nếu đồng tiền biết hát, hẳn nó sẽ hát bài ca chiến thắng rằng chủ nghĩa duy vật đã lên ngôi và đồng tiền trở nên sức mạnh vô song đưa con người của Thiên Chúa xuống vực thẳm         
Không thể như thế được, kế hoạch của ma quỷ đang luồn lách vào trí khôn của con người để phá hoại chương  trình cứu rỗi của Thiên Chúa  từ việc tham lam mỗi đồng tiền lẻ đến những xấp bạc tỉ, rồi dương dương tự đắc ngủ ngon trên đống vàng tưởng như là hạnh phúc. Một sự lầm tưởng đáng sợ, nếu không nói là gây tai họa khủng khiếp cho con người ở đời này và đời sau.
Phải làm thế nào để nếu đồng tiền biết nói, hẳn nó sẽ phải chắp tay bái quỳ chào thua chúng ta vì nó đã không sai khiến được chúng ta, và ngược lại, nó phải hoan hô tán thưởng vì chúng ta sử dụng nó vào mục đích hoàn thiện nhân phẩm, xây dựng công ích, sẻ chia yêu thương, và nhất là bảo đảm được phần rỗi đời đời: không sử dụng đồng tiền làm phương tiện phạm tội, gây án. 
Lạy Chúa Giêsu, ơn cứu rỗi là cùng đích cuộc đời chúng con. Xin cho chúng con là người quản lý của Chúa, biết sử dụng tiền bạc của cải Chúa ban để hoàn thiện nhân phẩm con cái Chúa bằng đời sống bác ái yêu thương, để làm sáng danh Thiên Chúa, để Nước Chúa trị đến và Ý Chúa thể hiện khắp nơi, và cuối cùng là để chúng con được hân hoan vào Nước Trời với Chúa. A men.  
PM. CAO HUY HOÀNG - Đăktik, 16-9-2010

 

TN25-C88. Tin Vui Qua Những Dấu Chỉ Thời Đại

Lm. Trần Cao Tường phụ trch
VĂN HÓA & NIỀM TIN: THỜI ĐIỂM ĐỢT SĨNG THỨ BA.
 

Cách đây không lâu, tờ Newsweek đã nêu lên vấn đề: Tư bản toàn cầu đã đến hồi cáo chung?: TN25-C88

Cách đây không lâu, tờ Newsweek đã nêu lên vấn đề: Tư bản toàn cầu đã đến hồi cáo chung? (Global Capitalism, R.I.P.?)
Vì rằng người ta cứ nghĩ thị trường tự do có nghĩa đương nhiên là làm cho thịnh vượng hơn. Các nước giầu đã đổ vốn và kỹ thuật vào các nước nghèo, tạo ra một cái chợ vĩ đại liên quốc gia, và nặn ra những người tiêu thụ trung lưu thời mới biết lái xe hơi, biết xem Tivi đài CNN và ăn Big Mac... Nhưng điều mà nhiều người chẳng chịu biết là đồ sản xuất thì cứ đà mà tăng lên, nhưng người tiêu thụ thì có hạn. Nghĩa là số cung vượt quá số cầu thì đương nhiên sẽ ứ đọng. Đàng khác tiền đem đầu tư lấy từ đâu nếu không phải là của mỗi người chúng ta đang mua chứng khoán hay quĩ tín dụng trong ngân hàng. Nghĩa là các tay buôn đã mượn đầu heo nấu cháo, lấy chỗ này đập vào chỗ nọ. Nhưng rồi đã đến lúc không lấy đâu mà đập vào đâu được nữa, vì cả một hệ thống bị ứ! Vì thế mà có chu kỳ khủng hoảng kinh tế: cứ bao nhiêu năm lại bắt buộc phải xảy ra một lần. Điều này thì mấy tay nắm hầu bao thế giới biết quá kỹ, nên cách giải quyết gọn nhất là xóa bàn cờ đánh lại từ đầu tạo ra một chu kỳ mới! 
Các nhà kinh tế Mỹ thì vẫn lạc quan rằng nước Mỹ sẽ không bị suy thoái kinh tế quá lớn, dù có thể đây chỉ là điều lạc quan vụn. Họ nói thị trường tiêu thụ vẫn cao, mức lạm phát thấp và nhiều việc làm. Nhưng tờ Newsweek cũng nhận xét ngay: hàng hóa của Mỹ xuất cảng hiện nay thì 27% sang vòng đai Thái Bình Dương, 20% sang Nam Mỹ, gần 23% sang Tây Âu và hơn 22% sang Canada; như vậy tới ba phần tư số xuất cảng sang các nước mà đồng tiền đang bị vỡ thì liệu kinh tế Mỹ có vững nổi không? Và cho dù điều xấu nhất không xảy ra thì chắc chắn cái nhìn lạc quan về tư bản toàn cầu sẽ không còn "bất khả ngộ" nữa. Thị trường tự do xem ra làm cho mọi nước đều giầu lên cả vì nhờ tôn thờ "đạo" hiệu năng và duy lợi. Nhưng rất tiếc là cái bộ máy không chạy mãi được như vậy mà phải đến lúc rã.  
Nhà bình luận thời điểm Alvin Toffler trong cuốn "Đợt Sóng Thứ Ba" (The Third Wave) xuất bản mười mấy năm về trước đã tiên đoán một cuộc xô sát lớn (future shock) vào lúc chuyển mình không phải vào thiên kỷ mới, mà vào một nền văn minh mới. 
Alvin Toffler nhìn lại lịch sử con người từ cái ngày ăn lông ở lỗ trong hang cho đến khi biết tụ họp lại thành làng mạc mà trồng cấy và biết đốt lửa nấu ăn. Đó là đợt văn minh nông nghiệp trải dài mấy ngàn năm như ở Tàu, Việt Nam và các nước vòng đai Địa Trung Hải. Đợt này tương đối ổn định và yên tĩnh. Mãi cho đến mấy trăm năm cách đây con người mới chế ra máy móc nên sản xuất thặng dư mà phải bày trò buôn bán lớn. Thế là đợt văn minh kỹ thuật này đã đẻ ra nhiều quái thai: từ chính sách thuộc địa đến tư bản và cộng sản. Vì có máy móc nên cần chiếm thêm đất để thu tài nguyên và thêm dân để có chỗ bán hàng; rồi buôn bán nhiều thì phải có tư bản, mà vì có tư bản xí nghiệp nên có kẻ giầu người nghèo chênh lệch khiến phải đấu tranh giai cấp để mọi người được làm chủ và một nhóm người quản lý dùm hơi kỹ và hơi lâu. Rồi quản lý chán thấy chả đi đến đâu bèn xét lại như kiểu Gorbachov. Như vậy tư bản hay cộng sản cũng chỉ là hai đứa con mang hai bộ mặt tương phản của cùng một mẹ là đợt văn minh thứ hai của nhân loại. Đây phải chăng là bước tiến tất yếu của lịch sử? 
TIN VUI VỀ ĐỢT SÓNG THỨ BA 
Đợt sóng thứ hai này không ngờ lại được tờ Newsweek gọi là đợt văn minh của hiệu năng và duy lợi, dịch nôm là do lòng tham và dạ dày điều khiển trong bản năng động vật tính của con người. Những hệ thống chính trị vá víu như đang thấy ngày nay, dù dân chủ hay cộng hòa, hay bất cứ hình thái thị trường tự do, quốc doanh, hay liên doanh... tất cả xem ra chỉ là những cơn giẫy chết ở cuối một đợt văn minh thoi thóp những ngày cuối cùng để chuyển sang Đợt Sóng Thứ Ba đang hé mở. 
Đợt Sóng Thứ Hai phát khởi từ niềm tin con người là con vật kinh tế, dịch nôm là con vật đi tìm mồi, dựa trên căn bản duy lợi và duy vật. Đến một lúc nào đó con người buồn nôn thấy mình chỉ là một bị thịt bầy nhầy những thèm khát và những giằng giật miếng ăn. Chả lẽ sau mấy ngàn năm tiến hóa con người lại tệ hơn cả thời còn ở trong rừng sâu? Lâu lâu xem đài Discovery thấy những bộ lạc còn thời hoang sơ nhởn nhơ ca hát nhảy múa quanh đống lửa mà thấy thẹn cho đợt văn minh kỹ thuật thời mình sản xuất ra những bộ mặt luôn nghiêm trọng hay nhăn nhó tối ngày. Cách đây vài chục năm thì ngày Chúa nhật các tiệm đều đóng cửa cho được nghỉ ngơi. Bây giờ thì  ngày Chúa nhật càng mở cửa kỹ hơn để mong thu lợi nhiều hơn, hóa ra đầu tắt mặt tối hơn. Hoan hô văn minh đỉnh cao trí tuệ loài kiến! Đã đến lúc con người đặt lại câu hỏi căn bản về sự hiện hữu của mình sinh ra trên mặt đất này. Chả lẽ đến lúc chỉ còn thấy: 
Con mắt nhìn lên khói đen mù mịt
Con mắt nhìn xuống khỉ vượn lên ngôi
Con mắt nhìn gần bầy nhầy túi thịt
Con mắt nhìn xa chợt lạnh cả người.
 Con mắt nhìn xa đây là con mắt của người quản lý mà Chúa Giêsu nói tới trong Tin Vui tuần này: hãy biết dùng tiền của mà đầu tư cho đời sau. Để khi cái thân xác này chết đi, "hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu." (Luca 16: 9). 
Đợt Sóng Thứ Ba mà nhân loại đang bước vào là xác tín và thể hiện một nền văn minh tâm linh, để sống với nhau có tình người chứ không phải là một đoàn vật giằng giật miếng mồi trong mấy chục năm bỗng thấy mình có mặt trên trái đất này. Con người ở đợt sóng mới phải mang được chiều kích tâm linh: có hồn có xác, có cuộc sống tại thế và có cuộc sống vĩnh hằng.  
PHÚT TỊNH TÂM 
Tôi đang là ai và đang tìm gì trong cuộc sống của tôi nhỉ? Trong một cuộc tĩnh tâm, một thanh niên đã kể lại câu chuyện thật về chính mình. Sau những đổ vỡ về tình yêu và đời sống, anh chỉ còn một con đường cùng là tìm cái chết. Chiều hôm đó anh lang thang trong một nghĩa địa để tìm dịp tự tử nhưng không sao dám làm. Tình cờ anh đọc được một tấm bia mộ với mấy hàng chữ đã bừng mở con mắt cho anh để trở về làm lại cuộc sống. Bia mộ ấy ghi như thế này:  
Những gì tôi tích trữ nay không còn nữa.
Những gì tôi mua sắm nay người khác sài.
Những gì tôi cho đi nay mới là của tôi.
Mời vào Tin Vui Thời Điểm trên Mạng Lưới

 

TN25-C89. KHỦNG HOẢNG

Chúa Nhật 25 C Thường Niên
 

Công bình vô cùng cần thiết cho cuộc sống. Chính sự bất công đã kéo sập cơ quan Thương Mại: TN25-C89

Công bình vô cùng cần thiết cho cuộc sống. Chính sự bất công đã kéo sập cơ quan Thương Mại Quốc Tế tại Nữu Ước ngày 11/9/2001 vừa qua. Khủng bố chỉ là hệ lụy bất công. Tin Mừng hôm nay muốn trình bày bộ mặt thật của bất công và những giải pháp chấm dứt cảnh bất công đó.
MA LỰC KIM TIỀN
Tất cả chủ đề Tin Mừng hôm nay đều xoay quanh tiền bạc vật chất. Đây là một vấn đề lớn không thể không đề cập đến trong cuộc sống. Bởi vậy, Đức Giêsu phải dùng một dụ ngôn để rút ra những kết luận cụ thể cho những môn đệ trên bước đường theo Chúa. Chính lúc túng quẫn nhất, sự thật mới được phơi bày. Cháy nhà ra mặt chuột. Cũng như người con thứ trong Tin Mừng tuần trước, người quản gia tự bàn tính : "Mình phải làm gì đây ?"(Lc 16:3), sau khi nghe tiếng sét đánh mang tai :
"Từ nay anh không được làm quản gia nữa !" (Lc 16:2) Sau nhiều ngày theo dõi và nghe ngóng, ông chủ mới đi đến quyết định đó.  Quyết định đó đã thay đổi đời anh. Nhìn vào cuộc sống, anh thấy nghề nào cũng không thích hợp. Chỉ còn mỗi cách cứu vãn là lấy lòng những "con nợ của chủ" (Lc 16:5). Những tính toán nhanh chóng của anh vừa chứng tỏ anh đã "hành động khôn khéo" (Lc 16:8), vừa phơi bày bộ mặt "quản gia bất lương" (Lc 16:8) của anh. Anh nắm vai trò trung gian giữa chủ và con nợ. Thực tế, nếu mua thẳng từ chủ, khách hàng đã không phải chịu một khoản nợ lớn lao như thế. Rõ ràng anh đã lợi dụng vai trò trung gian đó để chém con nợ khi thì năm mươi phần trăm, khi thì hai mươi phần trăm (xc. Lc 16:5-7). Cuối cùng anh không phải là người phục vụ chủ hay khách hàng. Trái lại anh lợi dụng cả hai bên để# chỉ phục vụ chính cái tôi của mình ! Anh đã chém con nợ tối đa và đã gian manh trong việc sổ sách để bớt xén cho vinh thân phì da. Bởi vậy, chủ mới nói :"Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi."; (Lc 16:2) Anh đã đánh mất chữ tín đối với chủ và tạo một bất công quá lớn đối với khách hàng. Đồng tiền đã làm anh tối tăm mắt mũi.
Tự bản chất, đồng tiền không xấu. Bằng chứng chính Chúa cho biết có thể "dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu."(Lc 16:9) Nghĩa là tiền bạc cũng có thể là một phương tiện phục vụ hữu hiệu cho tình liên đới nhân loại và ý nghĩa cuộc đời. Tiền bạc chính là một cái thước đo lòng người. Trung thành cũng từ đó ! Phản bội cũng từ đó ! Số lượng không quan trọng. Quan trọng là lòng người trong những cảnh huống lớn nhỏ (x. Lc 16:10) Không phải đợi chuyện đại sự mới thấy rõ lòng người. Nhưng cuộc sống hằng ngày càng phơi bầy tất cả ngóc ngách trong lòng dạ con người dễ dàng hơn.
Chính "từ lòng người, phát xuất những ý định xấu"(Mc 7:21) như bất công, khủng bố, phá thai v.v. Bao nhiêu tiền của đã đổ vào đó. Tiền của đã trở nên xấu xa vì lòng dạ tăm tối. Tiền của có thể trở thành phương tiện cho "những ai đàn áp người cùng khổ và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ." (Am 8:4) Họ tôn thờ tiền bạc. Họ lợi dụng tất cả : "ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần, đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ; cả lúa nát gạo mục, ta cũng đem ra bán."(Am 8:6) Hành động đã phơi bày tất cả lòng dạ xấu xa. Họ tiêu tan cùng với những của cải bất chính, vì Thiên Chúa "sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi nào của chúng.: (Am 8:7) Ngược lại, Người để ý đến những người biết kính sợ Chúa và tôn trọng tha nhân, những người biết vận dụng tiền của để tạo nên ý nghĩa đích thực cho cuộc đời.
Ýù nghĩa đích thực đó chỉ đến vơi những con người thiện chí. Quả thực, nếu có ý tốt, người ta có thể dùng "tiền của bất chính" (Lc 16: 9.11) "tạo lấy bạn bè" (Lc 16:9) và "của cải chân thật" (Lc 16:11) Chỉ có của cải chân thật, tức là hồng ân Thiên Chúa, mới đem lại hạnh phúc đích thực mà thôi. Tiền của bất chính sẽ có ngày tiêu hao lụn bại. Nhưng của cải chân thật không thể bị mối mọt và trộm cướp đe dọa. Sống trên đời, con người chỉ là quản gia trên những của cải trong một thời gian ngắn. Nghĩa là con người không phải là sở hữu chủ tuyệt đối. Trái lại, họ chỉ có quyền "sử dụng của cải của người khác." (Lc 16:12) Người khác đây chính là Thiên Chúa, Đấng sẽ ban "của cải dành riêng cho anh em." (Lc 16:12) Quá lo cho mình, con người sẽ mất tất cả. Trái lại, nếu biết vận dụng tất cả tài năng, tiền của phục vụ Thiên Chúa, họ tìm lại được trọn vẹn bản thân. Trần gian chỉ là nơi để học hỏi cách phục vụ Thiên Chúa nơi tha nhân. Nên nhớ : "Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được." (Lc 16:13) Đó là nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất phải nắm vững khi sống giữa những "tiền của bất chính"
Thực tế, biết bao người đang rời xa nguyên tắc quan trọng đó. Họ là những quản gia nhưng đã lấn lướt cả ông chủ và khách hàng. Nắm quyền sinh sát trong tay, họ lạm dụng tiền của và quyền bính để tác oai tác quái. Bởi thế, thánh Phaolô "khuyên ai nấy dâng lời cầu xin khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh." (1 Tm 2:1-2) Quyền bính cũng như tiền của chỉ để phục vụ chứ không phải đàn áp con người. Bởi vậy mới cần cầu nguyện để những người cầm quyền xử dụng những tiền của và quyền bính cách khôn ngoan để "mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1 Tm 2:4) là Đức Giêsu như cao điểm cuộc sống.
Đạt tới cao điểm đó rất khó khăn! Nhưng "cái gì cũng có thể, đối với người có lòng tin"(Mc 9:23) vào "Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người : đó là một con người, Đức Kitô Giêsu, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người." (1 Tm 2:5-6) Nhờ thế, tình yêu Thiên Chúa và giá trị con người được mạc khải.
Nhưng trong khi Thiên Chúa vận dụng mọi cách để nâng cao con người, thì chính con người lại tìm cách chà đạp con người. Tiền của là phương tiện hữu hiệu để thực hiện mưu đồ đó. Bất công tràn ngập. Tiền bạc có thể tạo nên kẻ thù. Bởi vậy, ngày tận cùng chẳng có ai đón mời vào nơi vĩnh cửu. Bất công sẽ tạo nên thế bất quân bình cho cả hiện tại và tương lai. Ngược lại, nếu biết dùng tiền của tạo liên đới giữa người với người, ảnh hưởng còn lâu dài tới thiên thu. Muốn thế, phải lấy con người làm trung tâm và cứu cánh mọi sinh hoạt xã hội và kinh tế. Nói khác, "con người phải kiểm soát được vận mạng đời mình và có quyền kiếm công ăn việc làm cho mình." (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 14/9/2001) Bất cứ những gì không phục vụ con người đều phải bị loại bỏ, dù điều đó có đem lại những lợi nhuận lớn lao và những khám phá mới lạ. Có những người muốn đổi mới tận nền tảng. Nhưng ĐGH nhận xét : "trong khi những hình thức lịch sử lao động thay đổi, những vấn đề nền tảng vẫn bất di bất dịch." Người kêu gọi mọi người cố gắng hình thành những hình thức "kinh tế mới" để cổ động "liên đới mới" bảo vệ môi sinh, và tạo những cơ hội mới cho mọi người. (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 14/9/2001) 
Muốn thực hiện được những điều tốt đẹp ấy, dĩ nhiên cần phải đổ rất nhiều tiền của vào những dự án lớn lao. Nhất là đừng ngại vận dụng tất cả mọi phương tiện để làm cho mọi người lớn lên trong việc tôn trọng và liên đới với những người bị tổn thương vì hành động bất công của người khác (xc ĐHY Murphy- O" Connor và TGM Kelly, CWNews 20/9/2001) Bất công chính là kẻ thù của hòa bình. Bởi thế, Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới 1971 mới nói việc cổ động công lý là một "yếu tố tạo nên việc phúc âm hóa" và đem lại hòa bình cho nhân loại. Để thực hiện lý tưởng đó, hơn ai hết, "người Kitô hữu phải trung thành với giới răn tình yêu lớn lao: yêu Thiên Chúa, tha nhân và "kẻ thù mình." (Murphy- O" Connor và Kelly, CWNews 20/9/2001)

 

TN25-C90. Chúa Nhật 25 Quanh Năm

Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh:1 Ti-mô-thê 2: 1-8
 

Bài đọc hôm nay nằm trong phần nói về bổn phận chăm sóc cộng đoàn dân Chúa (2:1-3:16): TN25-C90

Bài đọc hôm nay nằm trong phần nói về bổn phận chăm sóc cộng đoàn dân Chúa (2:1-3:16). Trong phần này, trước hết thánh Phao-lô nói với Ti-mô-thê, giám mục Ê-phê-xô, hãy dạy tín hữu biết sự cần thiết và bổn phận cầu nguyện. Ngay từ ngày đầu lịch sử Giáo Hội, cầu nguyện đã là phần căn bản của đời sống Ki-tô hữu, vì đây chính là giáo huấn của Chúa Ki-tô. Thánh Phao-lô lập lại giáo huấn này cho Ti-mô-thê và qua ông được chuyển đến các tín hữu. Cầu nguyện là hành vi "cầu xin, khẩn nguyện, nài van và tạ ơn", không phải chỉ riêng cho cá nhân mình, nhưng là cho "tất cả mọi người." Đặc biệt ở đây, thánh Phao-lô còn nhắc nhở hãy cầu nguyện "cho vua chúa và những người cầm quyền." Tại sao lại đặc biệt cầu cho vua chúa quan quyền? Qua nhắc nhở đặc biệt này, chúng ta hiểu được ưu tư của ngài. Ngài đang sống trong thời hoàng đế Nê-rô, một người bách hại Giáo Hội với tất cả sự tàn ác. Cầu nguyện cho Nê-rô không những chứng tỏ lòng đại lượng của thánh Phao-lô đối với kẻ thù nghịch của Giáo Hội, nhưng cũng ngầm nói lên mối lo ngại của ngài về tương lai của Giáo Hội nữa. Viễn tượng Giáo Hội được "an cư lạc nghiệp" và "sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh" luôn luôn là đề tài cầu nguyện của vị tông đồ dân ngoại. Cầu nguyện như vậy là "điều tốt và đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta."
          Đến đây, thánh Phao-lô tạm ngưng nói về việc cầu nguyện để bước sang một chủ đề khác, đó là: Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.
          Trước hết chúng ta thấy có sự liên hệ giữa bổn phận chúng ta phải cầu nguyện cho mọi người và ý của Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu rỗi. Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người và Người cũng muốn chúng ta góp phần vào việc cứu độ ấy bằng lời cầu nguyện của chúng ta. Nếu chúng ta biết cầu nguyện cho mọi người được cứu rỗi thì "đó là điều tốt và đẹp lòng Thiên Chúa."
          Trong khi con người chỉ thích đề ra những ngăn cấm, giới hạn về những ai có thể được cứu rỗi, thì Thiên Chúa không làm như vậy. Người muốn mọi người được cứu rỗi, không trừ một ai. Ơn cứu rỗi là ơn phổ quát. Đến đây thánh Phao-lô giải thích về việc Thiên Chúa cứu độ là qua một "Đấng Trung gian," "Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người." Bất cứ khi nào nói tới kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, thánh Phao-lô cũng đề cao vai trò của Chúa Ki-tô. Ở đây ngài nhấn mạnh: "Chỉ có một Đấng Trung gian." Đức Ki-tô là con đường cứu độ duy nhất, đúng với giáo lý "quy về đầu mối duy nhất", hoặc Chúa Giê-su là trưởng tử của nhân loại mới mà thánh Phao-lô thường nói đến trong các thư của ngài. Ngoài ra, ngài còn nêu lên một đặc nét khác về vai trò cứu thế của Chúa Giê-su: là một con người. Chúa Giê-su là Thiên Chúa làm người, chấp nhận chết trên thập giá để cứu chuộc chúng ta. Rồi cùng theo dòng tư tưởng, thánh Phao-lô nghĩ đến chính bản thân, được Chúa thương chọn làm người rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng cứu độ.
          Sau một đoạn ngắn suy niệm về ý định cứu rỗi mọi người của Thiên Chúa, thánh Phao-lô trở lại với chủ đề cầu nguyện. Câu cuối cùng (c. 8) của bài đọc tuy nói về đàn ông khi cầu nguyện phải có tư thế như thế nào. Nhưng thiết nghĩ khi trích dẫn câu này, Phụng vụ Lời Chúa không có ý phân biệt người đàn ông hoặc người phụ nữ phải ở tư thế nào khi cầu nguyện, nhưng chỉ muốn chúng ta chú ý tới một tư thế chung, áp dụng cho mọi người. Gạt qua một bên việc phân biệt nam nữ, việc cầu nguyện của chúng ta phải được thực hiện trong những điều kiện sau đây:
- "Ở bất cứ nơi nào": không phải chỉ có nhà thờ mới là nơi cầu nguyện, nhưng cầu nguyện phải đi theo chúng ta đến mọi nơi, trong gia đình, tại sở làm, ngoài thiên nhiên, trong phòng kín...
- "Tay giơ lên trời": tư thế thân xác cũng là một điều kiện cần thiết cho việc cầu nguyện. Cần có một tư thế thích hợp, giúp chúng ta biểu lộ tâm tình bên trong, như quỳ gối, mắt nhìn vào ảnh tượng, ngồi theo kiểu thiền...
- "Tâm hồn thánh thiện, không giận hờn, không xung khắc": chuẩn bị tâm hồn trước khi cầu nguyện nhiều khi còn quan trọng hơn chính việc cầu nguyện. Việc chuẩn bị quan trọng nhất phải là đặt sự hiện diện của chúng ta trước mặt Chúa.
          Qua bài đọc hôm nay, chúng ta có thể quảng diễn hai chủ đề: cầu nguyện, và vai trò cứu độ của Chúa Ki-tô. Nhưng có lẽ chúng ta nên chọn chủ đề cầu nguyện và cần liên kết việc cầu nguyện của chúng ta với việc cứu rỗi nhân loại, để việc cầu nguyện không chỉ đóng khung trong giới hạn nhỏ hẹp của cá nhân, gia đình, nhóm hoặc cộng đoàn nữa, nhưng là cầu nguyện "cho tất cả mọi người."
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Bài đọc hôm nay có giúp tôi xét lại một vấn đề lớn trong đời sống đức tin, tức là việc cầu nguyện không? Giúp tôi có một cái nhìn mới về cầu nguyện như thế nào?
          Tôi "loại" những ai ra khỏi danh sách cầu nguyện của tôi? Tại sao?
          Việc cầu nguyện của tôi có tất cả những đặc tính "cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn" không? Hay chỉ luôn luôn là cầu xin, nài van điều này điều nọ?
          Tôi đã chuẩn bị như thế nào mỗi khi cầu nguyện? Chuẩn bị thể xác? Chuẩn bị tâm hồn?
          Tôi cần thay đổi gì trong việc cầu nguyện của mình? Thay vì "đọc kinh" thì suy gẫm Kinh Thánh? Thay vì ngồi khơi ngơi thì quỳ gối xuống?...
Cầu nguyện kết thúc
          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát một bài thích hợp, hoặc cùng cầu nguyện với kinh sau đây:
Lạy Chúa Giê-su, xin cho con biết con, xin cho con biết Chúa.
Xin cho con chỉ khao khát một mình Chúa, quên đi chính bản thân,
yêu mến Chúa và làm mọi sự vì Chúa.
Xin cho con biết tự hạ, biết tán dương Chúa và chỉ nghĩ đến Chúa.

Ước gì con biết hãm mình và sống trong Chúa. Ước gì con biết nhận từ Chúa tất cả những gì xảy đến cho con và biết chọn theo chân Chúa luôn.
Xin đừng để điều gì quyến rũ con, ngoài Chúa. Xin Chúa hãy nhìn con, để con yêu mến Chúa. Xin Chúa hãy gọi con, để con được thấy Chúa, và để con hưởng nhan Chúa đời đời. A-men.                 
(Trích RABBOUNI, lời nguyện 5)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN25-C91. CHÚA NHẬT 25 QUANH NĂM

(Lu-ca 16: 1-13)
 

Đề tài “làm môn đệ Chúa” chuyển hướng, nhắm đến một khía cạnh hết sức thực tế nhưng cũng: TN25-C91

          Đề tài “làm môn đệ Chúa” chuyển hướng, nhắm đến một khía cạnh hết sức thực tế nhưng cũng vô cùng nguy hiểm cho việc trung thành theo Chúa, đó là vấn đề sử dụng của cải tiền bạc.  Của cải tiền bạc như con dao hai lưỡi, tự nó không phải là xấu.  Nó là phương tiện Chúa ban để ta sử dụng mà sống cho đúng với cương vị con cái Thiên Chúa hoặc làm môn đệ Chúa Ki-tô.  Dụ ngôn người quản gia bất lương nhắm mục đích đề cao hành động khôn khéo của “con cái đời này”, nhưng qua bài học khôn khéo ấy lại dạy “con cái ánh sáng” hãy trung tín trong việc sử dụng tiền của.  Nếu chỉ nghe nguyên dụ ngôn thôi, ta có thể lầm tưởng Chúa Giê-su dạy ta hãy khôn khéo giống như người quản gia bất lương.  Chính vì thế mà Phụng vụ Lời Chúa không dừng lại ở câu 8 kết thúc dụ ngôn, nhưng trích dẫn thêm từ câu 9 đến 13 là những ngôn từ giúp ta hiểu đúng ý nghĩa của dụ ngôn:  “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được.”
 a)  Mỗi người là một quản gia của Thiên Chúa
          Ta được Thiên Chúa dựng nên, với những tài năng riêng biệt.  Thêm vào đó, Người còn ban cho ta quyền sử dụng vật chất để sống cho đúng nhân phẩm của mình.  “Thiên Chúa phán:  ‘Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất” (St 1:26).  Quả thực, con người đã sống khả năng bá chủ của mình qua những sáng kiến và phát minh không ngừng trong mọi thời để chế ngự thiên nhiên, bệnh tật và khám phá vũ trụ bao la.  Nhiều khi con người đi quá đà, tưởng mình đã thắng vượt cả quyền năng Thiên Chúa!  Nhà bác học Louis Pasteur thì khiêm nhượng tuyên bố:  Tôi gặp gỡ Thiên Chúa ngay tại đầu ống kính hiển vi.  Trái lại, một phi hành gia Nga-sô lại nghênh ngang khoác lác:  Tôi đã bay ngoài không gian mà chẳng thấy Thiên Chúa đâu cả.  Sử dụng tài năng Chúa ban, ta chỉ là người quản lý những tài năng ấy.  Vậy mà ta lại muốn làm ông chủ, giống như A-đam trong vườn muốn ăn luôn cả trái cấm, hoặc giống như ông phi hành gia kiêu ngạo chối bỏ sự hiện diện của chính Đấng ban tài năng cho mình.  Ngôn sứ Hô-sê đã cảnh cáo thái độ “ăn cháo đá bát” này:  “Vừa khi ra đồng cỏ, chúng liền được ăn uống thỏa thuê.  Nhưng khi thỏa thuê rồi, chúng đâm ra tự cao tự đại.  Chính vì thế mà chúng đã quên Ta” (Hs 13:6).
 b)  Tiền của là phương tiện Chúa ban để ta làm điều tốt  
          Dụ ngôn cho ta thấy tên quản lý bất lương biết khôn khéo dùng tiền bạc để làm điều tốt cho mình, nghĩa là mua lấy bạn bè.  Dầu sao thì anh ta vẫn là “bất lương” vì đã sử dụng tiền của của người khác chứ không phải của anh.  Từ bài học khôn khéo dùng tiền bạc, trước hết Chúa Giê-su cho ta thấy mục đích của việc sử dụng tiền của, đó là để ta được vào nơi ở vĩnh cửu (16:9).  Nơi ở vĩnh cửu hoặc lều vĩnh cửu là hình ảnh nói lên ơn cứu rỗi.  Tiền của phải đưa ta đến gần Thiên Chúa mỗi ngày một hơn và giúp ta nhận ra Người là Đấng ban cho con cái Người không thiếu sự gì (Đnl 8:7-10).  Như vậy, tiền của chỉ là phương tiện, chứ không phải mục đích.  Nhưng nếu ta đảo lộn giá trị của nó, coi nó là mục đích thay vì là phương tiện, thì ta đã biến nó thành ngẫu tượng rồi.  Việc biến tiền của thành ngẫu tượng để tôn thờ cũng thật dễ dàng thôi, vì như sách Châm ngôn nói:  “Ai cậy trông vào của cải, người ấy sẽ quỵ ngã” (Cn 11:28).  Quỵ ngã trước tiền của để tôn thờ nó thay vì hành sử quyền bá chủ Chúa đã ban cho ta.
          Cũng từ bài học khôn khéo sử dụng tiền của, Chúa Giê-su dạy ta về sự trung tín.  Anh quản lý bất lương không trung tín với chủ của anh, vì anh đã sử dụng tiền của ông một cách lem nhem trước đó và cuối cùng còn vớt vát mưu ích cho cá nhân mình.  Việc sử dụng những gì Chúa ban cho ta cũng nói lên lòng trung tín của ta đối với Chúa như vậy.  Chúa muốn ta sử dụng tiền của để được ở nơi vĩnh cửu chứ không phải để vui chơi chóng qua đời này.  Chúa chờ đợi ta sử dụng tài năng của mình để mưu ích cho anh chị em, cho Giáo Hội và thế giới, chứ không phải để trục lợi.  Trung tín luôn có nghĩa là làm theo ý muốn của người quan hệ.  Cho nên Chúa Giê-su đã lý luận, đưa ta đi từ việc nhỏ tới việc lớn.  Sử dụng tiền của đúng cách là trung tín trong việc nhỏ.  Được ở nơi vĩnh cửu là trung tín trong việc lớn.  Mục đích Chúa ban cho ta cuộc sống ở đời này là để ta trung tín trong việc lớn, tức là được ở trong lều vĩnh cửu với Người.
 c)  Làm tôi Thiên Chúa
          Ta thường hiểu làm tôi tức là làm nô lệ.  Nhưng ở đây, ý nghĩa làm tôi còn mạnh hơn cả làm nô lệ nữa, vì nó mang tính cách thờ phụng như ta thường gặp trong Kinh Thánh.  Làm tôi Chúa có nghĩa là ta thờ phượng Thiên Chúa.  Do đó, khi nói làm tôi tiền của nghĩa là ta tôn thờ nó và như vậy tiền của đã trở thành một thứ tà thần đối nghịch với Thiên Chúa.
          Trong Mười điều răn, Chúa đã khẳng định:  “Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta” (Đnl 5:7).  Cho nên:  “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en!  Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất.  Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6:4).
          Trở lại với chủ đề làm môn đệ Chúa Giê-su, ta thấy những lời dạy của Chúa hôm nay sau khi kể dụ ngôn người quản gia bất lương vẫn liên quan đến việc từ bỏ mọi sự để theo Người.  Tiền của là một trở ngại lớn.  Nhưng lòng trung tín với Chúa Giê-su giúp ta bước qua tiền của, biết đặt nó đúng chỗ và nhất là biết khéo léo sử dụng nó chỉ như phương tiện để mưu ích cho ta và cho anh chị em.
 d)  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Con cái đời này và con cái ánh sáng là những hình ảnh lẫn lộn trong tôi.  Vậy tôi có mang những nét của con cái ánh sáng nhiều hơn những nét của con cái đời này không?  Làm sao để biến đổi hình ảnh tôi trở nên con cái ánh sáng?
          Tôi đã đòi hỏi cộng đoàn, giáo xứ...  làm gì cho tôi, thay vì hỏi tôi đã làm được gì cho cộng đoàn, giáo xứ...?
          Thánh Phao-lô nói về những người ăn uống say sưa:  Chúa của họ là cái bụng.  Còn Chúa của tôi là gì?  Điều gì đã chi phối hoàn toàn cuộc sống của tôi?
          Tiền của ngăn chặn đường trọn lành của những tâm hồn sẵn sàng nhất (Mt 19:21).  Vậy nếu tôi đã sẵn sàng theo Chúa, tôi có bị tiền của ngăn chặn không?  Có những cách thực tế nào để tôi thắng vượt sức mạnh của tiền bạc không?
 Cầu nguyện:
 “Lạy Chúa Giê-su,
          giàu sang, danh vọng, khoái lạc
          là những điều hấp dẫn chúng con.
          Chúng trói buộc chúng con
          và không cho chúng con tự do ngước lên cao
          để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn.
          Xin giải phóng chúng con
          khỏi sự mê hoặc của kho tàng dưới đất,
          nhờ cảm nghiệm được phần nào
          sự phong phú của kho tàng trên trời.
          Ước gì chúng con mau mắn và vui tươi
          bán tất cả những gì chúng con có,
          để mua được viên ngọc quý là Nước Trời.
          Và ước gì chúng con không bao giờ quay lưng
          trước những lời mời gọi của Chúa,
          không bao giờ ngoảnh mặt
          để tránh cái nhìn yêu thương
          Chúa dành cho từng người trong chúng con.  A-men.”
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 13)
                         Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN25-C92. THÁNH HỒ ĐÌNH HY - Lm Augustine, SJ.

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng
Thánh Hồ Đình Hy
 

Dưới thời vua Tự Đức, một người Công Giáo được nhà vua trọng dụng đến nỗi cho lên chức Thái: TN25-C92

Dưới thời vua Tự Đức, một người Công Giáo được nhà vua trọng dụng đến nỗi cho lên chức Thái bộc, hàm tam phẩm, đặc trách ngành dệt tơ lụa vải vóc trong cả nước.  Đó là quan Micae Hồ Đình Hy sinh năm 1808 tại Nhu Lâm, tỉnh Thừa Thiên, vốn là con một gia đình quan chức.
Một con người lương tâm
Đã một thời địa vị của quan Thái bộc họ Hồ vững vàng đến nỗi khi một số quan lại ghen tương xin truất chức ông, vua Tự Đức liền trả lời: "Không thể truất nhiệm ông ta được, vì ông ta chu toàn trách nhiệm theo lương tâm.  Trước đây chưa ai giữ chức ấy được hai năm cả.  Cho đến nay, ta chưa có gì phải khiển trách ông ta.  Có lẽ ta sẽ tăng lương cho xứng với việc của ông ấy nữa là khác."
Không che dấu niềm tin
Mặc dầu làm quan dưới triều một ông vua bắt bớ đạo Công Giáo, ông Micae Hồ Đình Hy không che dấu niềm tin Kitô giáo của mình.  Khách ra vào nhà ông đều biết có bàn thờ Chúa đặt ở nơi xứng đáng nhất, có thắp đèn chưng hoa mỗi ngày.  Niềm tin ấy được biểu lộ cả đối với lỗi lầm sa ngã trong đời sống riêng của ông.  Số là một thời ông có quan hệ ngoại hôn với một thiếu nữ trẻ và sinh được ba người con.  Để chuộc lại lỗi lầm, ông đã rửa tội và đưa chúng về nhà nuôi nấng như con chính thức của ông.  Có lần ông tâm sự với bạn bè rằng: "Tôi nghĩ dù lấy nước của các con sông trên địa cầu, cũng không thể rửa sạch tội của tôi được.  Có lẽ chỉ có thể rửa sạch chúng bằng chính máu của tôi."
Ông là người biết quan tâm tới ơn cứu độ của tha nhân.  Nơi địa phương ông ở có một người quá nghèo đến nỗi phải bán hai bé gái cho người ngoài đạo Công Giáo.  Ông Hồ Đình Hy đã bỏ tiền ra chuộc lại hai cháu này và đem về nuôi.  Tới khi chúng trưởng thành, ông đã quảng đại để cho hai người con nuôi này được ra đi theo sở thích: một người xin đi tu và một người lập gia đình.
Đức ái thực thi đến nơi đến chốn
Ông Micae Hy cũng là một giáo dân biết thực thi đức ái đến nơi đến chốn.  Số là có một người nghiện thuốc phiện mắc bệnh trầm trọng.  Người này được giới thiệu đến xin ông giúp đỡ.  Ông đón tiếp bệnh nhân này một cách rất thân tình đến nỗi cho ở một căn lều phía sau nhà.  Mỗi ngày trước khi đi làm cũng như khi ở sở về, ông đều ghé thăm và săn sóc người đó.  Khi có người trách, ông liền trả lời: "Phải làm nhiều việc thiện để đền bù tội lỗi chúng ta.  Mà đã làm thì đừng làm một cách máy móc qua lần, chiếu lệ, phải làm với thiện ý.  Có thế mới lập được nhiều công phúc."  Ông tiếp tục săn sóc bệnh nhân này suốt 15 ngày cho tới khi người đó qua đời và ông đã tổ chức một lễ an táng chu đáo cho người đó.
Đức cha Phan Lê Đình (Pellerin), Giám mục giáo phận Đàng Trong yêu cầu ông hỗ trợ các thầy giảng thuộc tỉnh Thừa Thiên.  Sau này Ngài còn ủy thác cho ông việc coi sóc tài sản và cơ sở truyền giáo của giáo phận.  Ngoài việc quản trị khôn ngoan, ông còn đóng góp nhiều tiền của và công sức cho tài sản chung của giáo phận.  Lần kia khi thuyền của Đức cha bị một chiếc thuyền ngược chiều tông vào.  Chủ thuyền lạ này đòi tiền bồi thường.  Ông Hy lanh trí khôn, liền cởi áo quí ông đang mặc, trao cho chủ thuyền đó, để bảo đảm an toàn cho vị giám mục đang ở trong thuyền.
Cuối năm 1856, quân Pháp bắn phá cảng Đà Nẵng.  Quan Thái bộc Hồ Đình Hy bị bắt về tội đã gởi con đi học với người ngoại quốc ở chủng viện Pi-năng, nghĩa là có giao thiệp với người nước ngoài.
Một lần chính vua Tự Đức xét xử và khuyên ông nên nghĩ lại, ít nữa là giả bộ bước qua Thập Giá thì sẽ được tha.  Ông thưa với nhà vua: "Tâu bệ hạ, đã 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước và là tôi trung.  Hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Đức Kitô, đền bù tội lỗi và được chết thánh thiện."
Trở về ngục ông Micae Hy nói với các bạn rằng "Tôi thấy đời tôi sắp tận số rồi, chỉ mong sao giữ vững được đức tin đến giờ phút cuối đời."
Thanh liêm và tốt bụng
Sáng ngày 22 tháng 5, 1875, ông bị đưa ra pháp trường.  Dân chúng đi theo rất đông, lương hay giáo đều bùi ngùi thương tiếc một vị quan thanh liêm tốt bụng.  Khi qua cầu An Hoà, ông nói với lính rằng: "Đi xa làm chi, ở đây tôi có nhiều bạn hữu bà con."  Thế là thay vì đi đến cống Đốc Sơ, ông được trảm quyết ngay tại đó.  Và vì ông là một quan nổi tiếng, lính dành cho ông một sự tự do hoàn toàn.  Ông thong thả rửa chân tay, rồi ngồi bằng trên chiếu, bình tĩnh hút hết một điếu thuốc.  Sau đó, đứng lên thật bình thản sửa soạn đầu tóc, y phục cho chỉnh tề, rồi sốt sắng quỳ xuống cầu nguyện.  Hai linh mục Việt Nam ẩn trong đám đông ra dấu tha tội cho ông.  Cuối cùng ông đưa đầu ra cho lính trảm quyết.  Đúng là một cái chết thánh thiện mà ông đã ước ao trước vua Tự Đức.
Đời sống và cái chết của thánh tử đạo Micae Hồ Đình Hy quả thật làm sáng tỏ điều gợi ý do câu kết của dụ ngôn về người quản gia bất lương là:  con cái của ánh sáng, tức người môn đệ Đức Kitô, có bổn phận phải khôn khéo hơn con cái đời này (x. c.8).
Người quản gia bất lương được bài dụ ngôn đề cao như một điển hình tiên tiến đối với người môn đệ Đức Kitô vì anh quản gia này đã khôn ngoan vận dụng khả năng anh hiện có để bảo đảm cho tương lai đời anh.  Anh được chủ cho biết là sẽ mất chức quản gia vì tội phung phí tài sản của chủ (c.1).  Tương lai anh hết sức mù mịt vì anh không có sức lao động chân tay.  Anh thấy mình chỉ còn có cách đi ăn xin!  Nhưng đó lại là việc quá xấu hổ đối với anh.  Vậy anh đã khôn khéo lợi dụng thời gian ngắn ngủi anh chưa mất chức quản gia, để gây ảnh hưởng đối với những con nợ của chủ.  Anh hy vọng họ sẽ đón tiếp anh khi anh mất chức.  Anh gây ảnh hưởng bằng cách giảm bớt nợ nần cho họ (cc.6-7).  Quản gia vùng Trung Đông thời Đức Giêsu thường được trả công bằng lợi tức do những món nợ loại đó.  Cho nên việc người quản gia sắp mất chức giảm bớt nợ nần cho các con nợ của chủ (cc.6-7) không phải là việc gian lận, vì anh chỉ giảm bớt điều lẽ ra thuộc về anh mà thôi.  Sách Xh 22,24, còn cấm chủ nợ không được bắt người nghèo trả lãi.  Cho nên người quản gia trong bài dụ ngôn càng tỏ ra khôn khéo trong việc giảm bớt nợ cho các con nợ để họ đón rước anh về nhà họ (c.4).
Được chính Chúa Kitô đón tiếp
Riêng người Kitô hữu là con cái của sự sáng (1Th 5,5; Eph 5,8) càng phải khôn khéo hơn biết bao để đảm bảo cho tương lai vĩnh cửu của đời mình.  Thánh Micae Hy quả thực đã tỏ ra hết sức khôn khéo nhằm mục đích đó.  Ông đã khôn ngoan thực thi đức ái đến nơi đến chốn cả trong thời gian ông còn là một viên quan có uy tín vững vàng trước nhà vua.  Về điều này Thánh Hy đã tỏ ra khôn ngoan hơn cả người quản gia trong bài dụ ngôn thuộc loại người "nước đến chân mới chạy"!  A` là chưa nói tới tài năng trổi vượt của Thánh Hy được chính Đức cha Phan Lê Đình (Pellerin) tín nhiệm.  Và cũng chưa nói đến tiền của khá nhiều mà Thánh Hy đã dành cho người nghèo và cho Giáo Hội để đền bù tội lỗi riêng hầu đảm bảo sự sống đời đời.  Vị thánh này đã hy sinh tất cả, kể cả 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, để qua cái chết tử đạo, ông được Đức Kitô đón rước vào sự sống vĩnh cửu.  Thử hỏi còn có bước đường nào khôn ngoan hơn bước đường Thánh Hy đã đi?
Một số câu hỏi gợi ý
1.  Về thánh Hồ Đình Hy, bạn thán phục điều gì hơn cả:  a) Ngài chu toàn trách nhiệm theo lương tâm đến nỗi vua Tự Đức cũng phải thán phục?   b) Dầu làm quan lớn dưới triều một ông vua cấm đạo Công Giáo, ngài không che dấu niềm tin tôn giáo của mình?   c) Ngài biết thực thi đức ái đến nơi đến chốn?  d) Ngài hy sinh mạng sống để nên giống Đức Kitô?  e) Bạn có ý kiến khác?
2.  So sánh với người quản gia bất lương trong bài Tin Mừng hôm nay, bạn nhận thấy thánh Hy khôn ngoan hơn người ấy về những phương diện nào và nhằm mục đích nào rõ ràng?
3.  Bạn hiểu thế nào để có thể đưa ra thực hành Lời Chúa dạy hôm nay là "Anh em không thể vừa làm  tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được" (c.13).

 

TN25-C93. KHÔNG THỂ MẾN THIÊN CHÚA

NẾU KHÔNG YÊU ĐỒNG LOẠI
- Lm Augustine S.J
Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng
 

Bài Tin Mừng hôm nay nói về cuộc phán xét cuối cùng như trong Mt 25,31-45. Mục đích là vạch: TN25-C93

Bài Tin Mừng hôm nay nói về cuộc phán xét cuối cùng như trong Mt 25,31-45. Mục đích là vạch cho thấy con đường cứu độ. Ta được cứu nhờ kết hợp với Thiên Chúa. Nội dung của Tin Mừng hôm nay dạy ta về điều kết hợp ta với Thiên Chúa ngược lại với điều tách rời ta ra khỏi vòng tay của Người. Điều kết hợp ta với Thiên Chúa chính là tình yêu: Bài học cơ bản cần được lãnh hội là: Không thể kết hợp với Thiên Chúa nếu tách rời khỏi anh chị em đồng loại. Không thể yêu mến Thiên Chúa nếu không yêu thương đồng loại. Hai điều quan trọng mà Lời Chúa muốn ta ghi lòng tạc dạ là: 1) Mối tương quan liên hệ giữa ơn cứu độ và tình yêu đối với đồng loại. 2) Vai trò của Lời Chúa trong việc hoán cải ta.
Phẩm chất của tương quan với người lân cận
1. - Bài đọc thứ nhất nói rằng "Chúa không muốn một ai phải hư mất bởi vì Chúa yêu thương mọi điều Chúa dựng nên." Thế mà bài Tin Mừng hôm nay lại cho thấy người giàu có sa hoả ngục! Điều đó có nghĩa là mặc dầu ý muốn của Thiên Chúa là mọi người đều được cứu nhưng vẫn có những người hư đi. Tại sao vậy? Lý do vì nhiều người không để ý tới sự kiện là ơn cứu độ của ta hệ ở phẩm chất của mối tương quan giữa ta và người lân cận. Về điều này Tin Mừng nói rõ. Bài dụ ngôn hôm nay trình bày cho ta thấy hai hoàn cảnh xem ra trái ngược nhau nhưng trong thực tế không như vậy. Những hoàn cảnh đó chỉ trái ngược nhau theo địa vị xã hội của hai nhân vật chủ yếu: ở đời này người giàu có không thiếu sự gì, còn chàng La-da-rô thiếu thốn mọi sự; ngược lại, trong thế giới bên kia La-da-rô lại là người không thiếu sự gì, còn người giàu có thiếu thốn mọi sự! Nhưng xét về điều thiết yếu hoàn cảnh thực sự của hai nhân vật hoàn toàn trước sau như một: ở đời này người giàu có không thiếu sự gì nhưng lại thiếu điều thiết yếu là tình yêu; nơi thế giới bên kia, người đó cũng sẽ xa cách Thiên Chúa là Thiên Chúa cứu. Còn La-da-rô đã từng thiếu thốn mọi sự nhưng anh vẫn có Thiên Chúa nên trong thế giới bên kia anh tiếp tục ở với Thiên Chúa. Tại sao khi ở đời này La-da-rô thiếu thốn cả những điều cần thiết? Lý do vì người giàu có thiếu tình thương! Do đó anh nghèo La-da-rô bị đối xử như một con chó. Chính vì thiếu công bằng và tình yêu nên người giàu có gây nên đau khổ và sỉ nhục cho La-da-rô. Phẩm chất của mối tương quan giữa người giàu và anh La-da-rô hết sức tiêu cực, hầu như không có tương quan gì cả: Người giàu không xử đối với La-da-rô như người anh em theo luật đạo mà chỉ xử đối với La-da-rô như một con vật.
Người giàu hư mất vì thiếu tình yêu
Chính tình yêu thiếu vắng nơi người giàu có đã là nguyên nhân khiến người đó hư mất. Điều làm phát sinh ra những khổ đau cho anh em cũng làm phát sinh ra sự hư mất đời đời! (x. Mt 5.22). Ai đã từng sở hữu mọi sự ở đời này thì sẽ chẳng sở hữu được gì ở đời sau bởi lẽ người đó ở đời này đã chẳng có tình yêu nên cũng chẳng có Thiên Chúa! Giữa người đó và Thiên Chúa là cả một vực thẳm (c.26) vì vực thẳm xã hội ấy chính người giàu có đã đào thành hố sâu giữa bản thân mình và người nghèo La-da-rô. Sự kiện tình yêu thiếu vắng đã chôn vùi người giàu có trong sự hư mất, điều đó ta thấy rõ khi so sánh bài Tin Mừng hôm nay với Mt 25,31-46:
+ "Ta đói mà các ngươi không cho ta ăn" (Mt 25,42). La-da-rô "thèm được những mảnh vụn trên bàn ăn của ông ấy rơi xuống mà ăn cho no" (Lc 16,21). La-da-rô đói khổ trong khi người giào có "ngày ngày yến tiệc linh đình" (c.17).
+ "Ta là khách lạ mà các ngươi không tiếp rước" (Mt 25,43). "Lại có một người nghèo… nằm trước cổng ông nhà giàu" (Lc 16,20). La-da-rô không được tiếp đón nơi nhà người giàu có nên phải nằm ngoài cổng, chỉ có bầy chó đến liếm láp.
+ "Ta trần truồng mà các ngươi không cho mặc" (Mt 25,43). Người giàu có, ngược lại "mặc toàn lụa là gấm vóc" (Lc 16,19). La-da-rô bị loại ra ngoài cổng ăn mặc rách rưới.
+ "Ta đau yếu… mà các ngươi đã không thăm viếng" (Mt 25,43). La-da-rô với "mụn nhọt đầy mình", thế mà người giàu có chẳng quan tâm. Chỉ có lũ "chó đến liếm ghẻ chốc anh ta." Vì vậy các người đó "sẽ phải vào cực hình đời đời" (Mt 25,46): Thiên Chúa không thể chấp nhận để loài người chúng ta đối xử với nhau một cách phi nhân. Để hiểu điều đó ta cần hiểu kế hoạch mà Chúa Cha đã ấn định từ ban đầu. Ngài có ý cho loài người nên như một gia đình được mời gọi kết hợp với Ba Ngôi Thiên Chúa. Do đó Ngài đã sai Con Một Ngài là Đức Giêsu đến qui tụ mọi người lại thành một thân thể duy nhất với Đức Giêsu là đầu, và với mọi người là chi thể của Đức Giêsu. Chúng ta chỉ là một trong Đức Giêsu Kitô. Ta được nhận chìm trong Ba Ngôi với tư cách là thân thể của Đức Giêsu. Đó là hình ảnh nói lên được chút nào đó về sự thật được mạc khải là: chúng ta đều là anh chị em với nhau trong Đức Giêsu Kitô tới mức có thể nói như thánh tông đồ Phaolô rằng anh chị em "tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Kitô, ai nấy liên đới với nhau như những bộ phận của một thân thể" (Rm 12,5). Đó là lý do sâu thẳm thúc đẩy ta xử đối với nhau như anh chị em và yêu thương nhau tới mức có thể hy sinh tính mạng vì nhau (Ga 15,13).
Phẩm chất của tương quan dựa trên tình yêu
2. - Đừng tưởng tới sự sống đời đời như là một cuộc sống chỉ bắt đầu sau khi ta chết vì sự sống ấy phải bắt đầu trong xã hội trần thế này. Chính cái thế giới ta đang sống này cần được cứu. Ta được mời gọi để bắt đầu sống sự sống trên trời ngay ở dưới đất này. Bằng cách nào? Thưa bằng cách liên lỉ đổi mới phẩm chất của những mối tương quan ta có đối với tha nhân. Phẩm chất ấy phải dựa trên tình yêu.
Điều vừa nói xem ra dễ nhưng lại rất khó thực hiện! Làm thế nào thực hiện được? Chính Đức Giêsu trả lời câu hỏi đó khi người giàu có xin cho anh La-da-rô đã chết hiện về để cải hoá những người anh em còn sống. Đức Giêsu trả lời qua tổ phụ Áp-ra-ham rằng "Chúng đã có ông Môsê và các ngôn sứ thì chúng cứ nghe lời các vị ấy" (Lc 16,29). Đức Giêsu cũng nói điều đó với chúng ta hôm nay là: Đừng chờ xảy ra những phép lạ để bắt đầu mến Chúa và yêu người! Hãy mở sách Phúc Âm ra sẽ thấy ở đó bài học về yêu thương. Đức Giêsu thường khuyến cáo người ta đưa lời Người dạy ra thực thi: "Hãy làm như vậy thì sẽ được sống" (Lc 10,28-37).
Biến đổi ghen tị thành yêu thương
"Tịnh và tôi lấy nhau được một năm. Theo tục lệ thôn quê, tôi phải ở chung với cha mẹ chồng sau ngày cưới. Vì ở chung nên chúng tôi không phải mua sắm gì cả."
"Đến lượt em chồng lập gia đình thì nhà đã chật và vợ chồng chú phải dọn sang làng bên cạnh. Họ phải sắm sửa đủ thứ. Tôi cảm thấy ghen tức khi thấy họ được mua sắm tất cả vật dụng họ muốn."
"Tôi chợt nhớ tới Lời Chúa Giêsu dạy là "Ngươi phải yêu mến người lân cận như chính mình ngươi." (Mc 12,31). Tôi hiểu ngay rằng nhu cầu của gia đình chú em là nhu cầu của tôi và tôi nên tỏ ra vui mừng khi thấy họ có đủ tiện nghi vật chất. Lẽ ra tôi phải đặt mình vào hoàn cảnh của họ và vui mừng như chính họ. Tôi bắt đầu yêu mến họ và cố gắng làm bất cứ điều gì để giúp đỡ họ. Vì có chút kinh nghiệm về những thứ cần dùng trong nhà, nên tôi đề nghị họ nên mua những đồ cần thiết và thích hợp cho họ nhất."
"Tôi thực sự cảm nghiệm được rằng chính Lời Chúa đã biến đổi lòng ghen tị của tôi thành tình thương."
Lời Chúa đóng vai thiết yếu
Mẫu chuyện vừa kể do chị Tịnh cho thấy Lời Chúa đóng vai trò thiết yếu trong việc hoán cải lòng người: Lời Chúa mang lại sức mạnh và ánh sáng giúp ta ra khỏi tính ích kỷ để có thể yêu thương. Có những Kitô hữu chọn một câu Phúc Âm mỗi tuần để đưa ra thực thi. Thực ra mọi Kitô hữu đều nên làm như vậy hầu mang lại phẩm chất cho đời sống hàng ngày của mình.
Một số câu hỏi gợi ý
1. a) Có những người chăm lo đọc kinh, xem lễ nhưng chẳng quan tâm gì đến tình yêu đối với tha nhân: Họ không buồn nói chuyện với người này và hay chỉ trích người kia, lại còn cãi cọ với người khác nữa.
b) Ngược lại, có những người chăm lo việc thiện nhưng chẳng để ý đến mối tương quan với Thiên Chúa trong cầu nguyện. Bạn thử xét mình xem bạn thuộc loại người nào? Loại a? Loại b? Hay là loại nào khác?
2. Lời Chúa có vai trò nào đối với đời sống đức tin của bạn? Bạn có kinh nghiệm nào về Lời Chúa ảnh hưởng sâu đối với bạn hay đối với một người như chị Tịnh nói trên chăng?

 

TN25-C94. Khôn ngoan thế gian -  Jkn

Đọc Lời Chúa
· Am 8,4-7: (4) Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp người cùng khổ và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ. (7b) Ta sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi nào của chúng.
· 1 Tm 2,1-8: (4) Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. (5) Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Ki-tô Giê-su, (6) Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người.

· TIN MỪNG: Lc 16,1-13
Dụ ngôn người quản gia bất lương
(1) Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: «Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông. (2) Ông mới gọi anh ta đến mà bảo: “Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa!” (3) Người quản gia liền nghĩ bụng: “Mình sẽ làm gì đây? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. (4) Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ!”
(5) «Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất: “Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy?” (6) Người ấy đáp: “Một trăm thùng dầu ô-liu”. Anh ta bảo: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi”. (7) Rồi anh ta hỏi người khác: “Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy?” Người ấy đáp: “Một ngàn giạ lúa”. Anh ta bảo: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi”.
(8) «Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.
Trung tín trong việc sử dụng tiền của
(9) «Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. (10) Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn. (11) Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng tiền của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em? (12) Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em?
(13) «Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được».

Suy niệm

Câu hỏi gợi ý:

 

Bạn nghĩ gì về một người nghèo được người ta đồng ý cho «đổi giấy lấy tiền» (cứ một tờ giấy: TN25-C94

1. Bạn nghĩ gì về một người nghèo được người ta đồng ý cho «đổi giấy lấy tiền» (cứ một tờ giấy thường nhỏ lấy một tờ giấy bạc 10.000đ, hay 50.000đ VN, hoặc lấy tờ 10 hay 50 USD), mà lại không chịu đổi, cứ nhất định khư khư giữ lại những tờ giấy tầm thường cho mình? Bạn có bao giờ nghĩ mình cũng đang làm tương tự như thế trên bình diện tâm linh không?
2. Một người thường tỏ ra bất tín trong chuyện tiền bạc, hay lỗi hẹn, hay thất hứa, v.v… thì bạn có dám giao cho họ một công việc gì lớn không? Tại sao? Bạn có những kinh nghiệm nào cụ thể về việc này?

Suy tư gợi ý:

1. Theo khôn ngoan thế gian, phải biết lo liệu trước tương lai
Ta thử đặt mình vào địa vị tên quản gia bất lương kia để xem mình nên làm gì hầu «sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ». Nếu không lo liệu trước, thì coi chừng chết đói, vì ngoài chức quản gia ra, anh ta chẳng biết làm gì khác để sinh sống, «cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi». Tốt nhất là nên lợi dụng ngay quyền hạn của chức quản gia mà mình còn giữ được trong thời gian ngắn ngủi một tuần hay một tháng này để lo liệu chuyện đó. Bây giờ cần phải đầu tư tình cảm nơi mọi người. Cách tốt nhất và hữu hiệu nhất để gây tình cảm là lợi dụng chức quản gia để làm ơn cho họ. Anh ta nghĩ: ông chủ có rất nhiều con nợ, mình giảm nợ cho họ tất nhiên họ phải mang ơn mình, có tình cảm với mình, nhờ đó, khi mình thất nghiệp, họ sẽ tôn trọng và giúp đỡ mình. Thế là «anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất: “Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy?” (6) Người ấy đáp: “Một trăm thùng dầu ô-liu”. Anh ta bảo: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi”. (7) Rồi anh ta hỏi người khác: “Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy?” Người ấy đáp: “Một ngàn giạ lúa”. Anh ta bảo: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi”».
Như thế, anh ta đã dùng những tiền của không phải của mình để làm lợi cho mình: dùng tiền của của người khác do mình tạm thời quản lý để mua lấy tương lai cho mình về sau. Nhân câu chuyện này, Đức Giê-su khuyên chúng ta: «Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu». Điều ấy có ý nghĩa gì? Cần phải hiểu câu nói của Đức Giê-su thế nào?

2. Áp dụng sự khôn ngoan ấy vào việc lo hạnh phúc vĩnh cửu
Chúng ta ai nấy đều có một thời gian rất ngắn ngủi ở trần gian này trước khi bước vào đời sống vĩnh cửu đời sau. So với đời sống mai hậu, đời sống này rất là ngắn ngủi trong đó mọi sự đều chóng qua, giả tạm, không bền. Thật vậy, tất cả mọi sự ta đang có trong tay – trí tuệ, khôn ngoan, sức khỏe, cha mẹ, vợ con, anh em, nhà cửa, ruộng vườn, của cải, v.v… – có thể mất đi bất cứ lúc nào. Chỉ một cơn bệnh nặng hay một tai nạn ở đầu có thể làm ta mất hết trí tuệ, sức khỏe, làm ta điên loạn, không còn biết gì. Một cuộc đổi đời có thể làm ta mất hết địa vị, quyền lực và tiền bạc. Như thế tất cả những gì ta đang có trong tay, dù là tinh thần hay vật chất, đều không phải là của ta, mà chỉ để ta quản lý một thời gian thôi. Ta chỉ quản lý nó nhiều lắm là 100 năm ở đời này. 100 năm đó so với sự hiện hữu vĩnh cửu của ta thì cũng tương tự như một phút so với cả cuộc đời trần thế của ta. Tới khi chết, tất cả những của cải ta đang quản lý, dù nhiều tới đâu, cũng đều phải để lại cho người khác quản lý, và ra đi với hai bàn tay trắng. Chỉ những gì ta có được ở đời sau, mới là của ta đích thật, nó sẽ ở với ta mãi mãi.
Tuy nhiên, một điều rất lạ lùng và hết sức đáng mừng là ta có thể dùng những thứ giả tạm chóng qua mà ta đang quản lý ở đời này để tạo nên của cải đích thực và vĩnh cửu cho ta ở đời sau. Vì thế, xét về mặt này, hoàn cảnh của ta giống y hệt hoàn cảnh của viên quản lý trong dụ ngôn của Đức Giê-su. Vậy thì dại gì ta cứ giữ khư khư lấy những của giả tạm đó cho mình, mà không lợi dụng thời gian quản lý quí báu những của cải ấy để mua sắm lấy Nước Trời, tức hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu của mình. Vì thế, những kẻ chỉ lo làm giàu ở đời này mà không màng đến việc lo liệu cho hạnh phúc đời sau, thì đúng là bỏ mất những cơ hội hết sức quí báu để «đổi giấy lấy tiền». Cơ hội này mất đi sẽ không bao giờ trở lại.
Người quản lý trong dụ ngôn đã dùng tiền mà mình đang quản lý để làm ơn làm phúc cho người này người nọ, nhờ đó khi không còn quản lý nữa, ông vẫn được người khác quí trọng, tiếp đón, hậu đãi. Đức Giê-su khuyên chúng ta cũng nên «dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu». Nghĩa là hãy dùng những của cải tạm bợ – tinh thần cũng như vật chất – mà Chúa trao cho ta quản lý, để sắm lấy những của cải vĩnh viễn trên trời. Bằng cách nào? bằng cách sử dụng những của cải ấy để thực hiện những hành động yêu thương: gây hạnh phúc hay làm lợi cho tha nhân, làng xóm, xứ đạo, quê hương đất nước, xã hội, Giáo Hội… Ta có thể dùng tiền của, tài năng, trí tuệ của mình – vốn giả tạm, chóng qua, nay còn mai mất – để đầu tư cho sự hạnh phúc của tha nhân, sự phát triển của xã hội, sự thánh thiện của Giáo Hội, v.v… Nhờ vậy, tự nhiên ta có một kho tàng vĩnh cửu không thể hư mất ở trên trời. Như thế chẳng phải là ta đã «đổi giấy lấy tiền», «đổi đồ giả lấy đồ thật» sao? Vậy dại gì mà không đổi?

3. Hãy trung tín trong mọi việc hằng ngày
Đã là người, ai cũng muốn mình trở thành người có giá trị, được mọi người tín nhiệm. Sự tín nhiệm và giá trị của ta một phần nào được đo bằng việc người khác có dám giao cho ta đảm trách những việc lớn lao hay không. Nhưng làm sao người khác có thể dám giao cho ta việc lớn, khi họ thấy ngay cả việc nhỏ ta cũng không chu toàn được? Đức Giê-su đã đưa ra một nguyên tắc: «Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn». Sự khôn ngoan đòi buộc người ta, khi giao việc cho ai mà muốn thành công, thì phải thử xem người ấy có đủ khả năng và đức độ để chu toàn việc ấy không. Đức độ và khả năng là hai yếu tố quan trọng để căn cứ vào đó mà tín nhiệm một người. Nói về việc thử người, trong dân gian có câu: «Lấy lửa thử vàng, lấy vàng thử đàn bà, và lấy đàn bà thử đàn ông». Tôi nghĩ câu ấy cũng rất chí lý.
Riêng tôi, theo kinh nghiệm cá nhân rất hạn hẹp của tôi thì chỉ nên tín nhiệm những ai tỏ ra trung tín trong việc sử dụng tiền bạc hoặc của cải của người khác. Và đó cũng là điều Đức Giê-su nói trong bài Tin Mừng hôm nay: «Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng tiền của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em? Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em?» Kinh nghiệm hạn hẹp của tôi cho thấy người nào không trung tín trong chuyện tiền bạc, của cải vật chất, thì cũng thường – tôi chỉ dám nói «thường» mặc dù tôi chưa thấy có luật trừ – không trung tín hay không đáng tín nhiệm trong những chuyện khác. Còn ai trung tín trong chuyện tiền bạc, của cải vật chất, thì cũng thường trung tín hay đáng tín nhiệm trong những việc khác. Theo quan niệm của tôi, một người không giữ được sự công bằng – dù về tinh thần hay vật chất – thì cũng khó có thể là một người bác ái đích thật hay một người thánh thiện được.
Vậy, ta không nên sợ rằng mình không được tín nhiệm, mà hãy sợ rằng ta chưa có thái độ đúng đắn trong những việc nhỏ, trong sự công bằng, trong cách sử dụng tiền bạc hay của cải không phải là của mình.

Cầu nguyện
Lạy Cha, xin cho con ý thức rằng mọi sự con có trong tay, dù là tinh thần hay vật chất, không phải là của con mà là của Cha. Cha giao cho con quản lý chứ không phải làm chủ. Con phải sử dụng chúng theo ý Cha chứ không phải theo ý con. Xin cho con biết sử dụng những thứ Cha giao cho con quản lý để tạo nên kho tàng vĩnh viễn cho con ở trên trời. Xin cho con biết trung tín trong mọi việc nhỏ nhặt của đời sống thường ngày, để con đáng được Cha và mọi người tín nhiệm trong những việc lớn lao hơn.


 

TN25-C95. PHẢN BỘI - Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR

Am 8:4-7; 1 Tm 2:1-8; Lc 16:1-13
 

Vào một đêm Chúa nhật không trăng sao của mùa đông năm 2001, Bob Hanssen rời khỏi căn: TN25-C95

Vào một đêm Chúa nhật không trăng sao của mùa đông năm 2001, Bob Hanssen rời khỏi căn nhà ấm áp của mình, tiến ra công viên Foxstone thuộc tiểu bang Virginia, đi đến hộp thư chết mang tên Ellis nằm dưới chân một cây cầu gỗ không người qua lại. Tại đây, Bob nhét vội chiếc túi nhựa với nhiều giấy tờ xuống một chiếc hố nhỏ vừa mới đào. Sau đó y lấp đất và lá lên. Đoạn ra về.
Vừa rời khỏi hàng cây ngoài cùng của công viên, thình lình tám, chín bóng đen xuất hiện, với súng lục lăm lăm trên tay. Họ ập đến chụp lấy Bob, đè xuống và còng tay lại. Đang khi đó mấy bóng đen khác tiến vào màn đêm, trở lại chỗ cây cầu gỗ, đào lên sấp giấy trong bịch nylông mà Bob vừa chôn xuống trước đó mấy phút.
Cũng trong thời gian ấy, tại một địa điểm khác không xa, một vài bóng đen cũng đang lén lút theo dõi một hộp thư bí mật mang tên Lewis. Họ quan sát xem có ai đến lấy số tiền mà Bob chưa kịp tiếp nhận không. Nhưng đợi hoài chẳng thấy, nên họ đã lặng lẽ thu hồi gói tiền trong đó chứa 50 ngàn đô la tiền mặt. Đây là số tiền mà người Nga trả cho Bob, một nhân viên lâu năm của Cơ quan Điều tra Liên bang FBI, để anh này bán cho họ những tài liệu tối mật của Hoa kỳ.
Các nhân viên phản gián FBI đã theo dõi và bắt quả tang hành động phản bội của Bob Hanssen. Họ điều tra và khám phá thêm rằng Bob đã làm gián điệp nhị trùng suốt 15 năm qua, gây nên những thiệt hại không thể đo lường cho uy tín của cơ quan FBI, trong đó có việc chỉ điểm ba điệp viên của Nga làm việc cho Hoa kỳ, khiến cho hai trong ba người này đã bị xử tử. Hiện nay Bob đang chờ ra toà về tội phản quốc và có nguy cơ lãnh án tử hình.
Không ít đồng nghiệp thân quen với Bob đã sửng sốt khi được tin anh ta bị bắt. Nhiều câu hỏi được đặt ra: Tại sao Bob lại phản bội đất nước, gia đình, con cái và bạn bè như vậy? Phải chăng anh ta bất mãn với cơ quan tình báo và muốn trả đũa việc các nhân viên CIA bị buộc phải dùng đến food stamps vào năm 1985? Hay bởi vì có một khúc mắc tâm lý nào đó trong đầu của Bob Hanssen?
Hàng chục câu hỏi được nêu lên, nhưng câu trả lời dễ hiểu nhất chính là: Bob Hanssen cần tiền. Tính ra từ khi khởi sự mua bán tin mật cho đến ngày bị bắt, Bob đã nhận được 600 ngàn đô, 3 viên kim cương, và 800 ngàn đô khác trong một nhà băng tại Nga.
"Đồng tiền có sức mạnh vạn năng," nhiều người đã nói như thế. Lắm lúc chính đồng tiền đã làm đảo điên cán cân công lý, dập tắt tiếng nói của lương tâm, và hủy diệt bao quan hệ thân thương giữa con người với nhau. Chỉ vì một lợi nhuận riêng tư mà không ít kẻ đã bất chấp danh dự và nhân phẩm của chính mình, miễn sao có tiền.
Từ thuở xa xưa, lòng tham đã chi phối đời sống con người. Khi ẩn trong đồng tiền là những giá trị vật chất có khả năng trao đổi mua bán, và khi giá trị mọi sự, ngay cả giá trị con người, được qui định dựa trên tiền tài vật chất, thì đồng tiền bắt đầu chiếm địa vị độc tôn trong lòng người ta. Nó trở thành chủ nhân ông, khống chế hết mọi ý hướng đạo đức, công bình, và nhân phẩm.
Đứng trước tình cảnh bao kẻ đàn áp, bon chen, vì đồng tiền, thậm chí còn coi thường phẩm giá và bóc lột đồng loại đến tận xương tuỷ, Tiên Tri Amos, vị ngôn sứ sống vào thế kỷ thứ VIII trước Công nguyên, đã lên tiếng cảnh tỉnh: "Hãy nghe đây, hỡi những kẻ đàn áp người nghèo và muốn tiêu diệt những ai bần cùng. Các ngươi tự nhủ: ‘Bao giờ mới hết tuần trăng để chúng tôi buôn bán? Khi nào mới qua ngày nghỉ lễ để chúng tôi bán lúa mạch. Chúng tôi sẽ giảm lường đong, tăng giá và làm cân giả. Chúng tôi sẽ lấy tiền mua người nghèo, lấy đôi dép đổi người túng thiếu…’ Và Chúa đã thề rằng: ‘Ta sẽ lãng quên tất cả việc chúng làm cho đến cùng" (Am 8:4-7).
Bị Thiên Chúa lãng quên là một hình phạt khủng khiếp. Bản cáo trạng được đọc lên từ thời xa xưa, nhưng nó vẫn còn vang vọng cho đến hôm nay. Bởi vì vẫn có đó những kẻ lợi dụng sự khó khăn túng thiếu của người khác để chèn ép, tước đoạt, và làm giàu. Vẫn có đó những kẻ chẳng màng chi lễ lạy, cứ "thành tâm" làm nô lệ cho công việc và đồng tiền. Vẫn có đó những kẻ chuyên gian dối, lọc lừa, đổi giá, tráo hàng để thu lợi. Và vẫn có đó những kẻ "lấy đôi dép" để đổi một thai nhi, phá đi một mạng người. Tuy không phải là những tên gián điệp phản bội quốc gia, nhưng họ là những kẻ bội phản con người và rao bán chính mình.
"Các ngươi không thể vừa làm tôi Thiên Chúa lại vừa làm tôi tiền tài."
Chân thành lắng nghe tiếng nói của lương tâm, người ta sẽ không thể thu lợi bằng con đường bất chính. Giữa Thiên Chúa và tiền của, con người phải chọn một. Nếu đặt Thượng Đế làm cùng đích, tiền bạc phải là phương tiện. Và chỉ có chọn lựa như thế mới mang lại giá trị và hạnh phúc đích thật cho con người.
Bài Phúc âm "Người Quản Lý Bất Lương" đã nên như một lời cảnh tỉnh dành cho con người trong thế giới tôn thờ vật chất. Phải chăng Đức Giêsu muốn nói: sẽ đến một ngày, người ta phải rời khỏi căn nhà trần gian, chẳng ai còn được làm chức quản lý nữa. Họ sẽ phải tính sổ về việc tìm kiếm và sử dụng tiền bạc khi còn tại thế. Người biết dùng của cải để mua bạn hữu, công phúc, sẽ được tiếp đón hân hoan. Kẻ tôn thờ tiền bạc, phản bội lương tâm, tàn phá nhân phẩm sẽ lãnh lấy bản án thịnh nộ gay gắt.
Lời Thánh Kinh vẫn luôn nhắc nhở:
Ấy, con người khác chi hơi thở
Vùn vụt tuổi đời tựa bóng câu
Công vất vả ngược xuôi làn gió thoảng
Ký cóp mà chẳng hay ai sẽ tiêu dùng.
(Tv 38)


 

TN25-C96. Vật ngoài thân - Lm Trọng Thưởng, CMC

Lk 16:1-13
 

Thời xưa tại Hoa Kỳ có một phong trào chống báng việc uống rượu và bán rượu do các giáo phái: TN25-C96

Thời xưa tại Hoa Kỳ có một phong trào chống báng việc uống rượu và bán rượu do các giáo phái Tin Lành khởi xướng. Các bà đạo đức rất hăng hái trong việc biểu tình phá phách các tiệm rược cho hả giận, vì từ lâu đã ôm mối hận do mấy ông chồng rượu chè be bét. Trong một buổi thờ phượng tại nhà thờ Tin Lành, một ông mục sư hăng hái lên tiếng kể tội các tiệm rượu:
- Ai là người tiêu xài phung phí nhất trong phố này? Tên chủ tiệm rượu! Vợ con của ai ăn mặc xa xỉ nhất làng? Tên chủ tiệm rượu! Ai là người thu vét hết tiền của của dân chúng trong xứ này ? Tên chủ tiệm rượu! Do đó, thưa quí ông bà anh chị em, rượu chè là thứ xấu xa gây ra đủ mọi thứ tội.
Một thời gian sau, một con chiên trong xứ đến nói với vị mục sư:
-Thưa mục sư, nhờ bài giảng của ngài mà tôi đã tỉnh ngộ và cuộc sống của tôi đã khá hơn.
-Tạ ơn Chúa, tốt lắm! Vậy là anh đã chừa bỏ được tật nghiện rượu?
-Dạ thưa không, tôi bây giờ là chủ tiệm rượu.

Thông thường con người ai cũng thích giầu có, nhiều tiền lắm của để cuộc sống được thoải mái. Nhiều người sẵn sàng làm giầu bất chấp thủ đoạn. Đó là những người làm tôi tôn thờ tiền của. Đúng như lời Chúa nói trong Phúc Âm : “Các ngươi không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được.” Vì thế họ gạt bỏ Thiên Chúa vào góc quên lãng. Làm tôi tức là phục vụ người chủ, coi mình thuộc về chủ. Thông thường con người nghĩ rằng mình làm chủ tiền bạc, của cải. Thế nhưng, một khi để cho lòng tham điều khiển cuộc sống, vai vế lật ngược, tiền của trở thành chủ và con người trở thành nô lệ. Có câu nói rất chí lý rằng : “Tiền của là tên đầy tớ tốt, nhưng là một ông chủ khắc nghiệt.” Nếu dùng tiền của để làm phương tiện thăng tiến cuộc sống, bắt nó phục vụ con người, đó là điều rất hữu dụng. Nhưng một khi để cho tiền của điều khiển, coi trọng nó quá đáng, người ta chỉ vì đồng tiền mà nai lưng làm việc tối tăm mặt mày, “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm ngày nghỉ”, bỏ lễ Chúa Nhật... Hoặc vì đồng tiền mà đánh mất nhân phẩm, lọc lừa, mặt nặng mặt nhẹ với tha nhân làm mất đi tình nghĩa họ hàng, bạn bè. Lòng tham không cho phép người ta được nghỉ ngơi, được sống thân tình như một con người chân chính. Có ông chủ nào khắc nghiệt hơn tiền của?

Qua dụ ngôn người quản lý xảo quyệt, Chúa nhắc nhở rằng đối với của cải, dù do công lao mồ hôi nước mắt mình tạo nên hoặc do cách nào khác, chúng ta chỉ là quản lý không phải chủ của. Người ta vẫn nói tiền của chỉ là vật ngoài thân, tức là có lúc ta không có nó, khi có nó rồi, tiêu xài dần nó cũng mất đi, hoặc vì tai nạn rủi ro nó cũng có thể mất đi. Rồi khi chết ta cũng không thể mang tiền của theo. Ai cũng muốn giữ của nhưng nào có giữ được, vậy thì đâu có thật sự làm chủ được của cải!

Do đó, của cải, tiền bạc chỉ là tặng ân Chúa giao cho chúng ta làm quản lý, không phải làm chủ. Chúng ta cần có thái độ đúng đắn đối với của cải. Là quản lý chúng ta phải trả lời, chịu trách nhiệm trước mắt Chúa về cách xử dụng tiền của. Ở đây đòi một thái độ dung hòa: tiêu xài hoang phí, mua sắm thẳng tay không cần đắn đo là điều trái với ý muốn của Thiên Chúa; ngược lại keo kẹt, sẻn so quá đáng cũng là điều làm mất lòng Chúa. Phải dùng tiền của để chu toàn trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, Giáo Hội, và quốc gia, ngoài ra chúng ta còn có trách nhiệm đối với đức bác ái, sự thiếu thốn của những người chung quanh. Thiên Chúa ban cho mỗi người nhiều ít khác nhau trong vốn liếng tiền của để giúp con người tập sống trọn ý nghĩa, mục đích cuộc sống, đó là tình yêu, tình bác ái.


 

TN25-C97. Bất trung hay trung tín - Lm Vũ Khắc Nghiêm

Am 8: 4-7; Tm 2: 1-8; Lc 16:1-13
 

Năm 1990, sau khi hành quyết chủ tịch Ceaucesco (Côsétcu) và bà vợ, nhà độc tài khét tiếng: TN25-C97

Năm 1990, sau khi hành quyết chủ tịch Ceaucesco (Côsétcu) và bà vợ, nhà độc tài khét tiếng của nước Rumani, người ta thấy ngôi biệt thự của chủ tịch, bên ngoài coi rất tầm thường, bên trong có 40 phòng sang trọng, trang hoàng bằng những bức tranh đắt tiền, phòng tắm thảm vàng, mỗi phòng đều có tivi, video, máy lạnh tối tân. Tài sản của ông không kém gì cựu tổng thống Noriêga nước Panama dính líu buôn lậu ma túy bị bắt giải sang tù ở Hoa Kỳ. Năm 1992, ở Việt Nam, ai cũng biết ông giám đốn ngân hàng Thanh Hương Nguyễn Văn Mười Hai rất khôn khéo, mánh khóe câu khách hàng gửi tiền như nước vào ngân hàng của ông, con ông thì dùng tiên gian dối để ăn chơi: ngồi xe Mercedes hạng nhất, với những vệ sĩ là đầu đảng dao búa. Từ một anh bán hàng rong, chỉ mấy năm ông đột nhiên làm giám đốc một ngân hàng lớn nhất nước. Rồi hàng loạt các ngân hàng khác sập tiệm vì lối làm ăn bất lương như vậy.

Đó là những quản lý bất trung, rất khôn khéo làm những việc bất lương. Nhưng rồi cũng có lúc “cháy nhà ra mặt chuột” như tên quản lý bất trung trong Tin Mừng hôm nay. Đức Giêsu chỉ khen cái khôn khéo, chứ không khen cách làm ăn bất trung của anh.

Cái khôn khéo thứ nhất của anh là khéo ăn cắp tài sản của chủ, mà chủ không thấy. Chắc anh tham nhũng ăn chơi dữ lắm, người ta thấy đau lòng, cực lắm họ mới tố cáo cho chủ biết.

Cái khôn khéo thứ hai là anh biết lo đề phòng cho tương lai, mua được nhiều bạn hữu cho anh tá túc khi bị cất chức. Anh nói : Tôi phải liệu thế nào để khi mất chức thì có người đón tiếp tôi về nhà.

Cái khôn khéo thứ ba là anh biết cách giải quyết bớt xén của chủ cách hợp pháp, có giấy tờ hợp lệ rõ ràng. Anh gọi các con nợ làm văn tự lại: 100 thùng dầu, viết 50 thôi; 100 giạ lúa, viết 80 thôi...; thế là cả hai cùng có lợi!

Thấy những kẻ bất trung khôn khéo làm những việc bất lương như thế, Đức Giêsu thở dài than tiếc cho con cái ánh sáng : “ Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng, khi xử sự với người đồng loại”. Con cái ánh sáng đáng lẽ phải khôn khéo làm những việc chân chính, nhất là trong việc sử dụng tiền của như “dùng tiền của đời này mà mua lấy bạn bè, phòng khi hết tiền bạc, họ sẽ đón rước anh em vào gia cư vĩnh cửu. Làm như thế mới thật là quản lý trung tín.

Mỗi người đều được Thiên Chúa đặt làm quản lý một gia tài trong vườn diệu quang như Ađam Evà xưa. Gia tài nhỏ là những của cải vật chất, là thân xác mình, là địa lợi chung quanh. Gia tài lớn là những tài năng tâm trí, đức hạnh và linh hồn. Gia tài vô cùng quý giá là nguồn sống vô biên tràn từ các phép bí tích, từ lời hằng sống từ trái tim và thần khí của Đức Giêsu. Ai là người quản lý trung tín và khôn ngoan, thì biết khôn khéo dùng gia tài ấy để kinh doanh, phát triển, đầu tư vào những công trình chân chính mà mua lấy bạn bè, sắm lấy những kho tàng, những viên ngọc quý trong nước Thiên Chúa. Đó là cách xử sự khôn khéo của con cái ánh sáng.

Cách xử sự khôn khéo trước nhất là hướng về Thiên Chúa, là chủ của mình, mến Chúa là ưu tiên hàng đầu. Làm tôi Chúa mới mong từ bỏ làm tôi tiền của. Làm tôi Chúa bắt đầu bằng lắng nghe lời Chúa : “Lạy Chúa, xin Chúa phán vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe” (1 Sm 3:9), để sẵn sàng xin vâng: “Vâng, tôi là nô tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Sứ thần nói hãy nhận Chúa Thánh Thần, đón rước Đức Giêsu vào lòng (Lc 1:30-38), đón rước Đức Giêsu ngự xuống trên bàn thờ mọi ngày, lắng nghe Người nói trong thánh lễ và lãnh nhận Thánh Thần trong các phép bí tích và trong chiêm niệm, trong cầu nguyện liên lỉ, để hô hấp lấy hơi thở thần khí Đức Giêsu, cho ta được kêu lên với Thiên Chúa: “Ba ơi, Ba” với hết tình con thảo.


Cách xử sự khôn khéo thứ hai là hướng về con người. Con người tuyệt diệu nhất là hiền mẫu Maria chan chứa tình yêu thương, yêu thương những đứa con đau thương trong tội lỗi đến thí mạng sống con mình trên thập giá. Tiếp đến những bậc thầy hiển thánh tông đồ, tử đạo, đồng trinh, hiểu tu, mục tử, chân phước là những tôi tớ chân tín và khôn ngoan nhất của Chúa. Các Đấng đang kêu mời chúng ta nhập vào đoàn người đi theo chân Chúa, đến soi sáng cho muôn dân thấy Thiên Chúa là Cha nhân hậu và Đức Giêsu, Đấng cứu độ muôn đời. Xin cho chúng ta biết làm đệ tử của các Ngài. Sau cùng là kết bạn với những người bé nhỏ, những em út tội nghiệp, sầu khổ đáng thương nhất của Chúa. Những người đó là hình ảnh của Đức Giêsu nghèo khổ không có hòn đá gối đầu, đói khát mà chỉ được uống dấm chua, ta đói chỉ có bông lúa ăn trẩy, ta là khách lạ chỉ có máng cỏ bò lùa cho trọ, ta bị bắt bớ tù đầy, đánh đập, vác thập giá, bị đóng đinh, chết treo không giường chiếu. Xin cho con biết làm bạn chia sẻ tiền của, sự sống, tình thương và bao nhiêu nỗi nhọc nhằn, đắng cay chua sót với các bạn chí thiết đó.

Cách xử sự khôn khéo thứ ba là sống hợp pháp, hợp pháp với giới răn của Chúa, hợp pháp với tình người, hợp pháp với nhân phẩm cao quý thiên chức làm người, người có tình thương, người có lý trí, người có nghị lực, “người chính tâm, thành ý, tri trí và cách vật” để “tu thân, tề gian, trị quốc, bình thiên hạ”, làm cho “tứ hải giai huynh đệ.

Lạy Chúa, xin soi sáng, trợ giúp và đỗi mới chúng con nên tôi tớ trung tín và khôn ngoan như vậy.


 

TN25-C98. KHÔNG AI CÓ THỂ LÀM TÔI HAI CHỦ

 - Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh
 

Bài Phúc Âm theo Thánh Luca cho Chúa Nhật XXV Mùa Thường Niên Năm C hôm nay, giống: TN25-C98

Bài Phúc Âm theo Thánh Luca cho Chúa Nhật XXV Mùa Thường Niên Năm C hôm nay, giống như bài Phúc Âm tuần trước, cũng có hai phần, phần buộc đọc và phần không buộc đọc. Nếu phần không buộc đọc của bài Phúc Âm tuần trước dài hơn và ở đoạn cuối, thì phần không buộc đọc của bài Phúc Âm tuần này cũng dài hơn và ở đoạn đầu, đó là đoạn diễn tả về người quản gia bị thanh tra về những thiệt hại gây ra cho gia chủ nên hắn đã mánh khóe lén lút tìm cách để có thể sống còn sau khi bị cách chức đuổi đi. Còn phần buộc đọc trong bài Phúc Âm hôm nay, có thể tóm gọn trong lời Chúa Giêsu khẳng định với các môn đệ của Người là “không ai có thể làm tôi hai chủ”. Bởi vì, theo Người cho biết ngay sau đó là, “hắn sẽ ghét chủ này mà thương chủ kia, hay để ý đến chủ này mà khinh chủ nọ”. Ngoài ra, kết thúc bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu còn cho biết rõ hai chủ này là gì, qua lời Người khuyên các môn đệ như sau: “Các con không thể làm tôi Thiên Chúa và làm tôi tiền bạc”. Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao Chúa Giêsu không nói đến vai trò làm chủ hay chủ chốt của “bản thân mình” là yếu tố chính yếu và trước hết con người phải từ bỏ họ mới có thể theo Người, làm môn đệ của Người, như tinh thần của lời Chúa phán trong bài Phúc Âm theo Thánh Luca của Chúa Nhật Thường Niên XXIII Năm C cách đây hai tuần. Bởi vì, có bỏ bản thân mình hay làm chủ bản thân mình, chúng ta mới có thể làm chủ được tất cả mọi sự phụ thuộc khác, chẳng hạn như danh vọng chức quyền hay của cải tiền bạc. Ngoài ra, tại sao Chúa Giêsu cũng không đề cập đến Satan vốn đóng vai vương chủ thế gian “từ ban đầu” (Jn 8:44), tức từ sau khi đã làm cho hai nguyên tổ sa ngã phạm tội, như chính hắn đã tự nhận chủ quyền của mình trên thế gian khi cám dỗ Chúa Giêsu trong hoang địa về lòng tham của cải, ở Phúc Âm Thánh Luca đoạn 4, câu 6 và 7. Vậy, tại sao ở đây Chúa Giêsu lại tôn phong tiền bạc lên vai trò làm chủ, vốn là những gì ngoại thân của con người chủ thể, và là những gì Satan dùng làm mồi nhử lòng tham vô đáy của con người?

Đúng thế,tự bản chất, mọi sự ngoại thân của con người chỉ là phụ thuộc chứ không phải chủ chốt nơi con người hay vượt trên con người, loài tạo vật duy nhất trên thế gian này đã được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh Ngài và tương tự như Ngài để ban cho quyền làm chủ trái đất, như Sách Khởi Nguyên ghi nhận ở đoạn 1 câu 27 và 28. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, chính những cái phụ thuộc nhiều lúc lại trở thành chính yếu, trở thành chủ chốt trong cuộc đời con người và đối với con người, đến nỗi, thay vì con người ăn để sống thì lại sống để ăn, như hiện trạng xã hội văn minh tân tiến gần như tột bậc ngày nay hiển nhiên cho thấy, liên quan đến cá nhân chủ nghĩa và duy lợi chủ nghĩa. Không phải hay sao, vàng bạc chỉ là vật tùy thân, tuy nhiên, chúng đã trở thành một con bò vàng đúc, thành cứu chúa một thời của dân Do Thái trong sa mạc dưới chân Núi Sinai, như Sách Xuất Hành thuật lại trong bài đọc một tuần trước! Cũng không phải hay sao, đang nắm trong tay “tất cả mọi sự của cha là của con”, tức đang làm chủ gia tài với cha của mình, người con thứ, như trong phần không buộc đọc của bài Phúc Âm tuần trước thuật lại, “sau khi phung phá tiền bạc vào cuộc sống buông tuồng… hắn đã phải đi làm công cho một người trong vùng, người đã sai hắn đi chăn heo. Hắn mong sao được no bụng bằng các thứ cám heo ăn mà cũng chẳng ai cho”. “Người trong vùng” đây là ai, nếu không phải đam mê nhục dục nơi con người, “chăn heo” đây là gì, nếu không phải sống theo xác thịt, và “cám heo ăn” đây là chi, nếu không phải là của cải tiện nghi vật chất, là những gì làm thỏa mãn xác thịt, cũng là những gì xác thịt vốn thích hưởng thụ. Đúng thế, một khi con người phung phá hết gia tài ân sủng được ban cho mình, như chính họ xin Thiên Chúa là Cha chia cho qua Bí Tích Rửa Tội, nghĩa là sau khi con người đã từ bỏ Thiên Chúa là chủ tể tối cao duy nhất của mình, họ sẽ đi đến chỗ làm tôi cho tiền bạc, cho vật chất tầm thường như “các thứ cám heo”, đến nỗi, chúng trở thành những gì quí nhất, không thể thiếu trong đời họ, dù họ không bao giờ no thỏa chúng chăng nữa.

Lời Chúa Giêsu khẳng định và cảnh giác các tông đồ trong bài Phúc Âm hôm nay: “Không tôi tớ nào có thể làm tôi hai chủ. Hắn sẽ ghét chủ này mà thương chủ kia, hay để ý đến chủ này mà khinh chủ nọ”, về phương diện sống đạo quả thực là như thế đó. Tuy nhiên, nguyên tắc sống đức tin còn cho thấy rằng, con người chỉ có thể làm tôi Thiên Chúa, một khi họ thực sự nhận biết ý định của Ngài, cũng như nhận biết chính bản thân của Ngài mà thôi, tức một khi họ nhận biết những mạc khải được Thánh Phaolô xác tín và loan truyền trong Thư Thứ Nhất gửi Timôthêu ở bài đọc thứ hai hôm nay, đó là: “Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. Và chân lý ở chỗ: ‘Chỉ có một Thiên Chúa. Chỉ có một Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, đó là con người Đức Giêsu Kitô, Đấng đã hiến mạng sống làm giá chuộc tất cả mọi người”. Bằng không, nếu không nhận biết Thiên Chúa, không tôn phụng một mình Ngài là chủ tể duy nhất và trên hết của mình cũng như của tất cả mọi người, con người sẽ đi đến tình trạng coi của hơn người, đến tình trạng chỉ “sống nguyên bởi bánh”, tình trạng sống để mà ăn hơn là ăn để mà sống, một tình trạng của “những kẻ đàn áp người nghèo khó và muốn tiêu diệt hết những kẻ bần cùng trong đất nước”, như được tiên tri Amos diễn tả trong bài đọc thứ nhất hôm nay như sau: “Bao giờ qua tuần trăng mới để chúng tôi bán hàng? Khi nào hết ngày Sabbat để chúng tôi bán lúa mạch. Chúng tôi sẽ giảm lường đong, tăng giá và làm cân giả. Chúng tôi sẽ lấy tiền mua người nghèo, lấy đôi dép đổi lấy người túng thiếu. Chúng tôi bán lúa mục nát”. Về việc làm tôi tiền của đưa đến tình trạng lấn át lẫn nhau này càng được sáng tỏ hơn trong dụ ngôn về người phú hộ và Lazarô ở bài Phúc Âm tuần tới.

Đối tượng chính của những lời Chúa Giêsu khuyên dạy trong bài Phúc Âm hôm nay là thành phần các môn đệ của Người, chứ không phải là nhóm Pharisiêu, hay chung dân chúng, hoặc các trưởng tế và kỳ lão, như nơi một số đoạn Phúc Âm khác. Vậy lời Chúa huấn dụ các vị ở câu kết bài Phúc Âm hôm nay: “Các con không thể làm tôi Thiên Chúa và làm tôi tiền bạc” cho chúng ta thấy lý do chính yếu của việc Kitô hữu nói chung, và các vị có quyền chức trong Giáo Hội nói riêng, chểng mảng hay bỏ bê trách vụ quản gia đức tin của mình, thậm chí còn tác hại đến việc mở mang Nước Chúa, là vì họ chưa thật lòng hay hết lòng “tìm nước Chúa trước và sự công chính của Ngài” (Mt 6:33), trái lại, “còn lo lắng bối rối nhiều sự” phụ thuộc như Matta trong Phúc Âm Chúa Nhật XVI Mùa Thường Niên Năm C trước đây, chưa kể đến có những lúc họ còn ham mê danh vọng chức quyền, giầu sang phú quí, cạnh tranh hoạt động v.v. Trong những trường hợp đang sống bê bối với trách nhiệm thiêng liêng của mình như thế, trường hợp người quản gia đức tin đang tác hại nhà Chúa như vậy, họ phải trả lẽ ra sao với vị Thiên Chúa gia chủ của họ, với Đấng đã kêu gọi và ký thác việc trông coi nhà Chúa cho họ, nếu không phải họ cần phải khôn lanh như tên quản gia được Chúa Giêsu khen trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay, đoạn Phúc Âm ở trong ngoặc đơn không buộc đọc. Đúng thế, nếu tên quản gia trong dụ ngôn này lén lút bớt xén nợ nần cho các con nợ của gia chủ để nhờ đó khi sa cơ lỡ bước anh ta sẽ được hậu đãi và có nơi nương tựa thế nào, thì thành phần quản gia thiêng liêng coi sóc nhà Chúa cũng vậy, nếu biết thông cảm với lỗi lầm của kẻ khác, tức thông cảm với những yếu đuối vấp phạm các kẻ ấy mắc nợ với Chúa, họ cũng sẽ được cảm thông lỗi lầm của họ như thế, sẽ không bị ruồng bỏ: “Ai có lòng xót thương ấy là phúc thật, vì chưng mình sẽ được thương xót vậy” (Mt 5:7) là thế.

Vấn đề thực hành sống đạo: Lời Chúa Giêsu khuyên dạy các tông đồ trong bài Phúc Âm Chúa Nhật XXV Mùa Thường Niên Năm C hôm nay là “Các con không thể làm tôi Thiên Chúa và làm tôi tiền bạc”, vì “không đầy tớ nào có thể làm tôi hai chủ”, một sự thật không thể chối cãi được ngôn ngữ bình dân Việt Nam khuyên là “đừng bắt cá hai tay”. Thế mà, nếu có một tông đồ Giuđa vừa theo Chúa vừa giữ túi tiền đến nỗi bán chủ lấy tiền thế nào, thì lích sử Giáo Hội cũng không thiếu những vị nên thánh trong cảnh giầu sang phú quí như vậy. Phải chăng các vị thánh này đã biết “trả cho Cêsa những gì của Cêsa và trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa” (Mt 22:21).

(Tin Mừng Sự Sống, buổi phát thanh thứ năm mươi bốn, Chúa Nhật 23/9/2001)


 

TN25-C99. TIỀN BẠC

Chủ nhật 25 Thường Niên C     
Lc 16,1-13
 

Tiền bạc là một vấn đề lớn trong đời sống con người và xã hội. Phụng vụ Lời Chúa, đặc biệt là bài : TN25-C99

Tiền bạc là một vấn đ lớn trong đời sống con người và xã hội. Phụng vụ Lời Chúa, đặc biệt là bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu nói chuyện về tiền bạc cho chúng ta nghe.
1.               Tiền bạc là người đầy tớ tốt
Đức Giêsu kể chuyện một ông quản lý bất trung, dùng tiền bạc của chủ đ mua bạn bè. Biết mình sắp bị đuổi việc, anh sửa lại sổ sách làm lợi cho con nợ. Người nợ 100 thùng dầu, anh sửa lại là 50. Kẻ nợ 1.000 giạ lúa, anh sửa lại là 800. Kết quả là sau khi mất chức quản lý, anh vẫn còn được các con nợ đón tiếp: nay nhà con nợ này, mai nhà con nợ kia.
Là người ai cũng phải chết, có giàu sang phú quí đi nữa cũng chỉ vỏn vẹn ba tấc đất là mồ. Vậy chúng ta phải tính toán trước sau, phải khôn khéo trong việc dùng tiền của như ông quản lý bất lương đã làm là “dùng tiền của đời này mà làm việc thiện, mua lấy bạn bè, mua lấy sự sống đời đời”.
Việc thiện hôm nay ta làm là vốn liếng dành cho mai sau. Tiền làm việc thiện là người bạn trung thành theo ta về đời sau. Việc thiện không chỉ là đem cơm áo đến cho người nghèo, nhưng là tham gia mọi sinh hoạt có mục đích phát triển con người toàn diện: nâng cao dân trí, làm đẹp dân sinh, phát huy dân đức.
2.               Tiền bạc là thước đo lòng người
Làm sao nhận biết được người công chính và kẻ bất lương ? Cứ xem cách người ta xử dụng tiền bạc: Nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng tiền của bất chính, thì ai dám tín nhiệm mà trao phó của cải chân thật cho anh em.”
Mathêu là nhân viên thu thuế, một nghề hái ra tiền, nhưng đã bỏ nghề đ đi theo Đức Giêsu làm tông đ, sống lang thang nay đây mai đó. Từ đó ta nhận thấy tấm lòng của Mathêu. Một người đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Chúa. Ông yêu Chúa thật lòng, mến Chúa trên hết mọi sự.
Trái lại, Giuđa Iscariôt, một kẻ vô danh, được Đức Giêsu chọn gọi làm tông đ và tin tưởng giao cho chức quản lý, nắm giữ túi tiền của tông đ đoàn. Nhưng anh ta đã lợi dụng chức vụ đ ăn cắp tiền của tập thể và tính toán trong việc từ thiện. Anh ta tìm đ mọi cách đ kinh  doanh Tin mừng và rao bán Thày của mình nhằm kiếm chác lợi nhuận. Tin mừng kể rằng: “Bấy giờ một trong nhóm Mười Hai là Giuđa Iscariôt đi gặp các Thượng tế mà nói: Tôi nộp ông ấy cho quí vị, quí vị cho tôi bao nhiêu ? Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc.” (Mt 26,15). Từ đó ta nhận thấy lòng dạ của Giuđa. Anh ta là một con người giả dối, ham tiền và bỉ ổi. Tiền bạc đối với anh ta là trên hết. Anh ta đã được Đức Giêsu đánh giá “thà đừng sinh ra còn hơn”.
3.               Tiền bạc là một vị thần xấu
Khi người ta tôn thờ tiền của vật chất, coi tiền bạc là tiên là phật, là cùng đích của cuộc đời, thì lại là lúc người ta bị Tiền Của làm cho thoái hoá biến chất. Tông đ Giuđa là một chứng cứ hiển nhiên. Chính vì thế mà hôm nay, Đức Giêsu đã cảnh giác chúng ta: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được”.
Không chỉ có Đức Giêsu mới cảnh báo chúng ta về sự nguy hiểm của tiền bạc mà từ xa xưa Tiên tri Amos cũng đã nhân danh Thiên Chúa vạch trần tội ác của những kẻ tham tiền: “Bao giờ ngày mồng một qua đi cho ta còn bán lúa, bao giờ mới hết ngày sabat, đ ta bày thóc ra. Ta sẽ làm cho cái đấu nhỏ lại, cho quả cân nặng thêm. Ta sẽ làm lệnh cán cân đ đánh lừa thiên hạ. Ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần, đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ, cả lúa nát gạo mục ta cũng đem ra bán.” Quả thật, tất cả mọi tội ác trên đời này đều do tiền mà ra:
Con bất hiếu với cha mẹ, trò phản thày, dân phản quốc…, nếu truy cho đến cùng, thì bị cáo đầu tiên chính là tiền.
Một chế độ thối nát rồi sụp đổ, một tôn giáo suy thoái hay một tổ chức từ thiện bị tai tiếng, thì nguyên căn bản nhân chính là tiền.
Những cảnh buôn bán sức lao động, buôn bán phụ nữ và trẻ em vẫn xảy ra thường này như cơm bữa. Nguyên nhân chính cũng là tiền.
 Những tổ chức mafia: buôn bán hêrôin và vũ khí…, đều là những tội ác tày trời, gây nguy hiểm chết người. Luật pháp quốc tế và quốc gia sẽ bỏ tù và trừng trị đích đáng những kẻ này. Thế mà lắm kẻ vẫn lao đầu vào như con những con thiêu thân. Tại sao? Tại vì hám lợi, tham tiền.
Lạy Chúa, hôm nay Chúa nói cho chúng con nghe về tiền bạc. Xin cho chúng con biết dùng tiền của cho nên, để mưu cầu hạnh phúc cho chúng con và tha nhân ở đời này và đời sau. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hữu

 

TN25-C100. Đồng tiền liền khúc ruột!

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Cha ông ta có câu: “Đồng tiền liền khúc ruột” như một đúc kết kinh nghiệm về đồng tiền.: TN25-C100

Cha ông ta có câu: “Đồng tiền liền khúc ruột như một đúc kết kinh nghiệm về đồng tiền. Chúa Giê-su có một câu tương tự: Kho tàng của anh đâu thì lòng anh đó” (Mt 6,19). Đồng tiền quả thật rất quan trọng trong đời sống con người. Đồng tiền càng quan trọng và được đề cao hơn trong nền kinh tế thị trường và trong bối cảnh toàn cầu hóa của thế kỷ 21 này. Chả thế mà ở Việt Nam ngày nay ai cũng biết câu: Tiền là Tiên, là Phật, là Sức Bật của Tuổi Trẻ, là Sức Khỏe của Tuổi Già, là Đà Thăng Tiến Xã Hội, là Cơ Hội có thêm Chức, thêm Quyền và thêm Tiền nhiều hơn nữa.” Vậy thì những người có đạo như chúng ta có gì khác so với những người chung quanh trong nhận thức về đồng tiền và trong việc sử dụng đồng tiền? Chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa và mở rộng tâm hồn để đón nhận giáo huấn của Chúa Giê-su về đồng tiền?
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1: Lời Chúa trong Sách A-mốt (Am 8,4-7):
4 Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp người cùng khổ và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ. 5 Các ngươi thầm nghĩ: "Bao giờ ngày mồng một qua đi, cho ta còn bán lúa; bao giờ mới hết ngày sa-bát, để ta bày thóc ra? Ta sẽ làm cho cái đấu nhỏ lại, cho quả cân nặng thêm;
Ta sẽ làm lệch cán cân để đánh lừa thiên hạ. 6 Ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần, đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ; cả lúa nát gạo mục, ta cũng đem ra bán." 7 ĐỨC CHÚA đã lấy thánh danh là niềm hãnh diện của Gia-cóp mà thề: Ta sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi nào của chúng.
(2) Bài đọc 2: Lời Chúa trong thư thứ nhất của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi ông Ti-mô-thê (1 Tm 2,1-8):
1 Trước hết, tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, 2 cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh. 3 Đó là điều tốt và đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, 4 Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. 5 Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Ki-tô Giê-su, 6 Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người. Điều này đã được chứng thực vào đúng thời đúng buổi.
7 Và để làm chứng về điều này, tôi được đặt làm người rao giảng và làm Tông Đồ -tôi nói thật chứ không nói dối- nghĩa là làm thầy dạy các dân ngoại về đức tin và chân lý. 8 Vậy tôi muốn rằng người đàn ông hãy cầu nguyện ở bất cứ nơi nào, tay giơ lên trời, tâm hồn thánh thiện, không giận hờn, không xung khắc.
(3) Bài Tin Mừng: Lời Chúa trong Sách Tin Mừng theo Thánh Lu-ca (Lc 16,1-13):
1 Đức Giê-su còn nói với các môn đệ rằng: "Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này đã phung phí của cải nhà ông. 2 Ông mới gọi anh ta đến mà bảo: "Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa! 3 Người quản gia liền nghĩ bụng: "Mình sẽ làm gì đây? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi. 4 Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ!
5 "Anh ta liền cho gọi từng con nợ của chủ đến, và hỏi người thứ nhất: "Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy? 6 Người ấy đáp: "Một trăm thùng dầu ô-liu. Anh ta bảo: "Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi. 7 Rồi anh ta hỏi người khác: "Còn bác, bác nợ bao nhiêu vậy? Người ấy đáp: "Một ngàn giạ lúa. Anh ta bảo: "Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi.
8 "Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo. Quả thế, con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại.
9 "Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. 10 Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn. 11 Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em? 12 Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em?
13 "Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được."
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào? 
(1) Bài đọc 1 (Am 8,4-7) là một trích đoạn của Sách Ngôn sứ A-mốt cảnh cáo những người giầu có và quyền thế vì họ ỷ thế ỷ quyền mà âm mưu đàn áp, hãm hại người nghèo trong xã hội. Ngôn sứ A-mốt kêu gọi họ thay đổi cách sống để khỏi bị Thiên Chúa trừng phạt.
Qua đoạn Sách A-mốt trên (8,4-7) chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng luôn đứng về phía những người nghèo khổ, túng thiếu, bị thiệt thòi, bị đàn áp và bị gạt ra ngoài lề xã hội; Thiên Chúa luôn bênh vực, bảo vệ những người ấy khỏi cách đối xử tàn ác, bất công của những người cậy có quyền và có tiền mà hà hiếp bóc lột họ.
(2) Bài đọc 2 (1 Tm 2, 1-8) là trích đoạn bức thư tuyệt vời mà Thánh Phao-lô viết cho ông Ti-mô-thê, một cộng sự thân cận của ngài. Trong trích đoạn này, Thánh Phao-lô kêu gọi mọi người hãy “dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh.”
Trong đoạn thư gửi ông Ti-mô-thê trên (1 Tm 2,1-8) chúng ta được Thánh Phao-lô dậy cho biết: “Thiên Chúa là Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý; Thiên Chúa là Đấng duy nhất, và Chúa Giê-su Ki-tô là Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người!” Vì thế mà người giầu, người nghèo đều có phẩm giá và ơn gọi như nhau trước mặt Thiên Chúa và trong chương trình của Thiên Chúa.
(3) Bài Tin Mừng (Lc 16,1-13) là một đoạn Phúc âm của Thánh Lu-ca có vài điểm khó hiểu về mặt chú giải như tại sao ông chủ lại khen người quản gia ‘bất lương’ và Chúa Giê-su lại nói đồng tiền là ‘bất chính’ là Người có ý nói gì? Thật ra ông chủ (tượng trưng cho Chúa Giê-su, cho Thiên Chúa) chỉ khen hành động của người quản gia là khôn khéo, tháo vát, ứng phó kịp thời với hoàn cảnh bất lợi, chứ không hề khen cách sống ‘bất lương’ của anh ta. Còn đồng tiền bị Chúa Giê-su xem là ‘bất chính’ thì phải hiểu là đồng tiền chỉ có giá trị chóng qua trong cuộc sống trần gian này mà thôi (có bản dịch tiếng Anh dùng chữ worldly wealth), nên không thể so sánh được với giá trị đích thực (true wealth) của những gì liên quan tới Ơn Cứu Độ, tới Nước Thiên Chúa.
Giáo huấn hay sứ điệp mà Chúa Giê-su muốn trao cho chúng ta trong đoạn Phúc âm Lc 16,1-13 này là: Người Ki-tô hữu phải biết khôn ngoan và biến báo để ứng phó với mọi hoàn cảnh; đồng thời phải khôn khéo biết dùng của cải trần gian là thứ chóng qua mà mưu tìm phần rỗi đời đời cho mình và phải biết chọn làm tôi Thiên Chúa chứ không để mình làm nô lệ cho đồng tiền.
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta? 
Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được.”
III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
Suy nghĩ một chút, tôi nghe thấy Lời Chúa mời tôi kiểm điểm về nhận thức và hành động của mình liên quan tới đồng tiền:
 
  • Về nhận thức: Dù đồng tiền tôi có/kiếm được mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm là do công lao khó nhọc, mồ hôi nước mắt thì tôi vẫn chỉ là người quản lý chứ không phải là ‘chủ nhân ông’ của đồng tiền ấy. Chính Thiên Chúa mới là CHỦ NHÂN ÔNG của đồng tiền, của tài sản của tôi. Vậy thì tôi có bổn phận phải quản lý cho tốt và sử dụng đồng tiền theo ý Thiên Chúa!
  • Về thực hành: Trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội, tôi thường sử dụng đồng tiền như thế nào: tôi sử dụng cách khôn ngoan hay bất kể? cách tiết kiệm, chừng mực hay hoang phí, thả giàn? cách hợp lý hay tùy hứng? cách bác ái, vị tha hay vị kỷ? cách thực sự có ích hay chỉ có hại cho tôi và cho những người tôi có trách nhiệm nuôi dưỡng, giúp đỡ?
IV. CẦU NGUYỆN
(Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân)
1. Lạy Thiên Chúa là Chúa Tể Vạn Vật, Chúa đã giao phó cho loài người trách nhiệm bảo vệ và quản lý Công Trình Tạo Dựng của Chúa. Con người đã không chu toàn trách nhiệm bảo vệ thiên nhiên và sự sống: Khắp nơi có thiên tai do con người phá hoại môi trường sinh thái. Hàng ngày có biết bao người vô tội bị giết hại, trong đó phần đông là phụ nữ, trẻ em và thai nhi. Xin Chúa thứ tha mọi tội lỗi và xúc phạm của loài người chúng con. Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
2 Lạy Thiên Chúa là ông Phú Hộ trong bài Phúc Âm, Chúa đã dùng chúng con làm quản gia nhà cửa, gia tài của Chúa. Nhưng chúng con là những tên quản gia bất lương vì chúng con đã lạm dụng chức vụ mà làm tiêu hao tài sản của Chúa là ơn thánh, thời gian, sức khoẻ, tài năng, của cải… mà Chúa giao vào tay chúng con. Xin Chúa thứ tha tội lỗi và yếu đuối của chúng con. Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
3 Lạy Thiên Chúa là Đấng đã giao vào tay chúng con những khoản tiền đánng kể, để chúng con sử dụng nó theo ý Chúa là phục vụ lợi ích đời đời của chúng con và giúp đỡ người túng thiếu. Nhưng chúng con đã không biết sử dụng đồng tiền theo ý Chúa, mà đã dùng nó theo ý riêng của chúng con. Xin Chúa thứ tha tội lỗi và yếu đuối của chúng con. Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
4. Lạy Thiên Chúa là Đấng đã rộng tay ban phát của cải cho nhiều người. Nhưng một số đã dùng sự giầu có của mình mà phạm tội mất lòng Chúa và gây đau khổ cho người khác, nhất là những người nghèo khó, yếu ớt. Xin Chúa ban ơn hoán cải và biến đổi cho những con người ấy để họ biết dùng của cải làm vinh danh Chúa và sinh ích cho những thành phần túng thiếu trong xã hội. Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
5. Lạy Thiên Chúa là Cha của hết mọi người, chung quanh chúng con còn có không biết bao người khốn khổ vì nghèo nên không có đủ cơm ăn, áo mặc, nhà ở, thuốc thang, trường học… trong khi chúng con lại sống ích kỷ và thủ thế, không muốn mở lòng, mở tay mà chia sẻ với những người nghèo ấy. Xin Chúa biến đổi chúng con thành những người Sa-ma-ri nhân lành đối với những người túng thiếu và hoạn nạn.
Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội
Seattle, WA (USA) ngày 10.09.2007

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây