Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-C Bài 101-150 Người giàu có & L

Thứ bảy - 28/09/2019 10:15
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-C Bài 101-150 Người giàu có & Lagiarô
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-C Bài 101-150 Người giàu có & Lagiarô
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-C Bài 101-150 Người giàu có & Lagiarô
TN26-C101: THẾ GIỚI VÔ CẢM... 3
TN26-C102: BẠN HỮU CỦA THIÊN CHÚA.. 5
TN26-C103: ĐỪNG “DỬNG DƯNG” VÀ “VÔ CẢM” NHƯ THẾ ! 9
TN26-C104: Ở HAI ĐẦU NỖI NHỚ.. 12
TN26-C105: Tiền. 15
TN26-C106: NGƯỜI PHÚ HỘ VÀ LAGIARÔ KHÓ NGHÈO.. 16
TN26-C107: Cho thì có phúc – Lm Giuse Tạ Duy Tuyền. 18
TN26-C108: Suy niệm của Vinh Sơn Dương Văn Đức. 20
TN26-C109: Hãy nghe các ngài 23
TN26-C110: Ông Dives và anh Lazarô – Vincent Travers. 26
TN26-C111: Trái tim tình người – Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng. 29
TN26-C112: Chúa nhật 26 Thường Niên. 33
TN26-C113: Cuộc sống trần thế không phải là tất cả. 35
TN26-C114: CHO THÌ CÓ PHÚC.. 44
TN26-C115: TÌNH THƯƠNG PHẲI BẮT ĐẦU TỪ ĐÂU ?. 47
TN26-C116: CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN C.. 52
TN26-C117: CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN NĂM C.. 57
TN26-C118: HÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN.. 61
TN26-C119: NGƯỜI GIÀU NGƯỜI NGHÈO.. 62
TN26-C120: CHÚA NHẬT TUẦN XXVI THƯỜNG NIÊN C.. 70
TN26-C121: CHÚA NHẬT TUẦN XXVI THƯỜNG NIÊN C.. 72
TN26-C122: HÀ PHÚ HỘ VÀ LAZARÔ NGHÈO KHÓ.. 76
TN26-C123: Tiền. 79
TN26-C124: Quy luật của sự sống – Lm. Ignatiô Trần Ngà. 80
TN26-C125: Hạnh phúc đời này và đời sau. 82
TN26-C126: Phần phước vĩnh cửu không phải ở đời này. 84
TN26-C127: Chia sẻ – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 86
TN26-C128: Người nghèo Thiên Chúa chọn – An Phong. 89
TN26-C129: Cho Kẻ Rách Rưới Ăn Mặc. 92
TN26-C130: Ra khỏi thế giới nhỏ hẹp của lòng mình. 94
TN26-C131: Hai cảnh đời trái nhau - Lm Giacôbê Tạ Chúc. 98
TN26-C132: Niềm hy vọng của nhân loại 102
TN26-C133: Người nghèo… nằm bên cổng nhà. 104
TN26-C134: Đừng vô cảm… - Petrus.tran. 107
TN26-C135: Cuộc sống trần thế không phải là tất cả. 111
TN26-C136: Sự công bằng của Thiên Chúa. 120
TN26-C137: THẾ GIỚI PHẢI SỐNG TÌNH YÊU.. 122
TN26-C138: SỐNG TRONG NHỮNG THẾ GIỚI ĐỐI LẬP. 124
TN26-C139: GIÀU CÓ VÀ BẦN CÙNG.. 126
TN26-C140: NƠI BẮT ĐẦU.. 128
TN26-C141: Rửng rưng có phải là một tội ác?. 130
TN26-C142: Hố ngăn cách giầu nghèo. 133
TN26-C143: Phú hộ và hành khất Lazarô thời nay… - Dã Quỳ. 135
TN26-C144: Xã hội dửng dưng - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 138
TN26-C145: Khi con người bạc tình. 139
TN26-C146: Trách nhiệm với nhau - Lm. Cao Vũ Nghi, CRM... 142
TN26-C147: Tội vô tâm với đồng loại 143
TN26-C148: Giàu có là tội lỗi? - JM. Lam Thy ĐVD. 146
TN26-C149: Người phú hộ và Ladarô nghèo khó. 149
TN26-C150: Suy niệm của Lm Anthony Trung Thành. 152

 

TN26-C101: THẾ GIỚI VÔ CẢM

Vụ việc xảy ra hôm thứ Năm, ngày 13.10.2011, các camera an ninh cho thấy cảnh hàng loạt người: TN26-C101

Vụ việc xảy ra hôm thứ Năm, ngày 13.10.2011, các camera an ninh cho thấy cảnh hàng loạt người thờ ơ đi ngang qua bé gái Vương Duyệt Duyệt, sau khi bé bị một chiếc xe tải nhỏ đâm ngã ra đường. Rồi sau đó, lại bị một chiếc xe tải lớn hơn chạy ngang qua người lần nữa, ngay bên ngoài cửa hàng của gia đình bé tại thành phố Phật Sơn, thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.
Hình ảnh video công bố cho thấy chiếc xe tải thứ nhất đâm ngã và chạy bánh trước đè qua người bé gái, rồi dừng lại. Thay vì xuống xe cứu giúp nạn nhân, tài xế ngập ngừng ít giây, rồi quyết định cho xe chạy đi, khiến nạn nhân bị bánh sau nghiến tiếp ngang người.
Gần hai chục người khác đi ngang qua, gồm cả người đi bộ, đi xe đạp, xe máy và xe ba gác, đều đi vòng qua và phớt lờ nạn nhân, còn chiếc xe tải thứ hai, tương đối kềnh càng trong con phố nhỏ, đã chọn cách chạy thẳng qua đôi chân của bé gái, thay vì dừng lại hoặc né tránh.
Tân Hoa Xã nói, cuối cùng một nhân viên vệ sinh đã tới đưa cháu bé vào vỉa hè, và gọi mọi người tới giúp, nhưng vẫn bị nhiều người qua lại phớt lờ. Cuối cùng, bà tìm được mẹ nạn nhân, và bé gái được mẹ đưa vào viện.
 Phát ngôn viên bệnh viện nơi đang chữa trị cho bé nói với hãng tin AFP: "Bé không thể sống sót sau bất kỳ cuộc phẫu thuật nào. Não bé hầu như đã chết." Cảnh sát đã bắt giữ hai tài xế lái hai chiếc xe gây tai nạn, hãng tin Tân Hoa Xã nói ( BBC thứ hai, 17.10.2011, Người Trung Quốc nhẫn tâm ? ).
Thái độ vô cảm của con người đã được Đức Giêsu nhắc đến trong trích thuật Tin Mừng theo Thánh Luca vào Chúa Nhật 26 Thường niên, hôm nay. Ông phú hộ đã tỏ ra hoàn toàn vô cảm trước một Ladarô bệnh hoạn, đói khát, vật vờ nằm ngoài cổng nhà ông. Chỉ có lũ chó đến liếm láp an ủi Ladarô.
Vô Cảm
Vô cảm không chỉ khi người ta giàu có, quyền cao chức trọng, mà cả khi người ta chỉ là người bình thường, như bao người bình thường khác. Theo BBC, không chỉ hai người tài xế vô cảm, gây tai nạn cho cháu bé Vương Duyệt Duyệt, mà cả gần hai chục người bình thường đi ngang qua cháu, cũng thảy đều dửng dưng vô cảm.
Đại gia bên bàn tiệc cao lương mỹ vị, thản nhiên thưởng ngoạn, ăn uống trước một Ladarô khốn khổ, bệnh hoạn, sắp chết đói, thì cũng vô cảm, đâu khác gì gần hai mươi người bàng quan kể trên.
Vô cảm bắt nguồn từ thái độ bất nhân, bất nghĩa. Vô cảm vì họ coi đồng tiền là cứu cánh, là mục đích cuộc đời, là thần dược cứu thoát khỏi đói khát, khỏi nhục nhã, khỏi địa vị thấp kém, là thần thánh giúp họ ngoi lên địa vị, có thể cỡi trên đầu trên cổ thiên hạ.
Vô cảm vì họ đánh mất nhân tính, tình người, coi người khác chỉ là thú vật, đồ vật, hay đơn giản chỉ là phương tiện, để họ lạm dụng, tận dụng, phục vụ cho cái bụng tham lam vô độ của họ. Đối xử với đồng loại lạnh lùng, tàn tệ như con vật, thì con người không còn nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, đương nhiên không còn là người, hay xứng đáng làm người, mà trở nên loài cầm thú dã man, ỷ mạnh hiếp yếu. Một xã hội người biến thành ngợm.
Mặt khác, người giàu có không nhất thiết phải nhiều tiền lắm của, mà có thể giàu tri thức, trí tuệ, giàu tài năng, giàu bạn bè, thế lực, giàu đời sống nội tâm, đạo hạnh, thiêng liêng. Người giàu cũng dễ bị tổn thương, dễ bị phân biệt, dễ bị khinh khi dưới ánh mắt đố kỵ, ganh ghét, nghi ngờ của kẻ nghèo về các phương diện kể trên, chứ không chỉ đơn phương người nghèo chịu thiệt thòi, coi thường mà thôi. Như thế, bất luận tầng lớp nào cũng đều bị phân biệt, kỳ thị, nên thái độ vô cảm nhân cơ hội đào thêm hố sâu phân cách. Nhưng tại sao vô cảm càng ngày càng lan tràn, như nấm sau cơn mưa?
Nhạy cảm
Mẹ Têrêsa Calcutta đã kịp thời lý giải: “Cái xấu nhất trong thế giới ngày nay là thiếu vắng tình yêu. Sự thờ ơ khủng khiếp với người lân cận ngày càng phổ biến.”
Mackeno, thờ ơ, thiếu quan tâm, thiếu cái nhìn thân thiện, thiếu lòng nhân ái, mới nảy sinh ra vô cảm. Thiếu tình người phú ông dư giả, thừa mứa của ăn của để, mới không chạnh lòng với Ladarô đói khát. Thiếu nhân ái, cả hai chục người Trung Hoa mới giả đui giả điếc khi bé Duyệt nguy kịch.
Có lẽ điều thiếu thứ hai, nhưng quan trọng hơn cả. Đó là thiếu vắng Thiên Chúa trong cuộc đời. Ngài là cội nguồn tình yêu. Vì quá yêu loài người, đã cho Con Một nhập thế cứu độ nhân loại khỏi sự chết muôn đời. Lòng nhân ái, tình người cũng bắt nguồn từ Ngài trao tặng.
Vì từ chối Thiên Chúa, nên con người mới sống với nhau, coi nhau như con vật, như đồ vật vô tri vô giác, như phương tiện mưu sinh, mưu lợi, như phương tiện tiến thân.
Chỉ khi con người có Thiên Chúa ngự trị, nhận biết đúng đắn thân phận tạo vật, nhận biết đời này đời sau, có tình yêu, tình người, nhân ái, bác ái, thì mới nhạy cảm trước nỗi thống khổ của tha nhân, mà tận tình cứu giúp, an ủi, săn sóc và cưu mang.
Chỉ khi tràn đầy hồng ân Thiên Chúa, tràn trề Tin Cậy Mến, con người càng nhạy cảm mở lòng, xả kỷ vị tha, dám chết đi, sống cho người. Như Thánh Maximilien Kolbe, Thánh Damien, Đức Giám Mục Jean Cassaigne,…
“Ngày tận thế, Chúa phán xét về Đức Ái, không phải về các thành công vĩ đại.” ( Đường Hy Vọng, số 804 ).
Lạy Chúa Giêsu, xin lôi kéo con ra khỏi vỏ ốc ích kỷ, kiêu căng, tự mãn, vô cảm với tha nhân, dạy cho con biết nhạy cảm trước nỗi thống khổ người khác, và biết khiêm nhường, thương yêu và phục vụ tha nhân.
Lạy Mẹ Maria, xưa Mẹ đã nhạy cảm trước nỗi thiếu thốn của đôi tân hôn ở Canna, xin dạy cho con luôn biết động lòng trước nhu cầu khẩn thiết của người lân cận, hầu yêu thương chia sẻ và giúp đỡ. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN26-C102: BẠN HỮU CỦA THIÊN CHÚA

Chúa thương người giàu
 

Tôi không bênh vực cho những người giàu có, nhưng thiết nghĩ, trong Tin Mừng theo Thánh Luca: TN26-C102

Tôi không bênh vực cho những người giàu có, nhưng thiết nghĩ, trong Tin Mừng theo Thánh Luca 16, 19 – 31 hôm nay, Chúa Giêsu không lên án người phú hộ, nhưng lên án lòng ích kỷ, không bác ái, không thương người của người phú hộ. Ngài có thương những người giàu có đấy chứ. Vì thương, Ngài mới dùng dụ ngôn để cảnh cáo họ, để dạy họ cách sống bác ái để được sống đời đời trong lòng tổ phụ Ápraham, theo cách người Do Thái thường suy nghĩ.
Ngôn Sứ Amốt cũng đã từng được Thiên Chúa sai đến miền Bắc nước Do Thái, lên tiếng cảnh cáo một xã hội phân hóa trầm trọng giữa giàu và nghèo, mà những người giàu có toa rập với những người có chức có quyền “đang nằm trên giường ngà, thõng thượt trên sạp gụ”, “ăn chiên cừu bê để sẵn, nghêu ngao theo cung điệu Đavít, uống rượu tô, xức dầu thượng hạng thơm nức” ( Am 6, 4 – 6 ).
Họ đang sống cảnh phong lưu sa đọa mà như một thứ tôn giáo trá hình, thứ tôn giáo mượn danh nghĩa ích nước lợi dân để thu quén bao thành quả của dân nghèo vào tay những ông to ông lớn và ông tư sản. Cái cho đi của họ là một thứ đạo bác ái cho dân nước theo kiểu “hòn đất ném đi hòn chì ném lại”, hoặc “thả con tép bắt con tôm”.
Thực ra, Ngôn Sứ Amốt khiển trách họ chẳng màng đến vận mệnh của đất nước, của dân tộc, của đồng bào nhân dân. Họ chỉ biết tiệc tùng say xỉn, “chẳng biết đau lòng trước cảnh nhà Giuse sụp đổ” ( Am 6, 6 ). Lời cảnh cáo của Amốt thật nặng nề dành cho những kẻ giàu có và quyền chức ăn chơi: “Chúng sẽ bị lưu đày, đi đầu những kẻ lưu đày. Thế là tan tác bè lũ quân phè phỡn”.
Lời cảnh cáo của Ngôn Sứ Amốt, như vẫn còn nghe đâu đây trong thế giới hôm nay: “Ngàn năm mây trắng vẫn bay, mấy ngài lãnh đạo có ngày lãnh đao”. Người giàu có hôm nay cũng giống như thời Ngôn Sứ Amốt, tập trung hầu hết vào những người có chức có quyền. Bởi vậy ngàn xưa đã có câu: “Nhất thế, nhì thân, tam cần, tứ đức”. Giàu nhờ cậy quyền cậy thế nhiều hơn giàu nhờ đức.
Nhưng dù thế nào đi nữa, thì thiết tưởng, đây vẫn là những lời tình từ lòng yêu thương của Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa không muốn mất đi bất cứ con người nào. Thiên Chúa muốn con người làm giàu cách chân chính, vì những cách làm giàu bất lương, giàu trên xương máu, mồ hôi của kẻ khốn cùng, là thứ giàu có tội lỗi, là con đường dẫn đến diệt vong. Người làm giàu chân chính thì cảm thông với người cùng khổ. Còn người làm giàu bất lương, thì tự họ đã bất lương trước khi làm giàu.
Nói như Thánh Nicôla: “Người giàu có ích kỷ có thể đốt nhà bạn để luộc cho mình một quả trứng”, cũng vậy, “họ có thể hy sinh một dân tộc, miễn là họ được an thân”. Chúa yêu cầu người giàu thay đổi cách sống: bỏ đi tính ích kỷ nhỏ nhoi, hướng đến tha nhân với tương quan đồng vị, cùng sống với cuộc sống của tha nhân trong bất cứ tình huống nào.
Quả vậy, trong dụ ngôn Tin Mừng, không lẽ “người giàu lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc”, có mắt mà không thấy “Ladarô nghèo khó, mụn nhọt đầy mình nằm trước cổng nhà ông” ấy sao ? Con chó nhà ông còn trông thấy chạy đến liếm ghẻ trốc cho anh ta kia mà ! Quả thực người giàu có có thấy, nhưng không động lòng trắc ẩn, vì ông không có lòng trắc ẩn để động. Người nghèo không “khóc than kêu cứu” hay “làm đơn xin” gì cả, nhưng anh ta chỉ nằm đó thôi, đã đủ là một lời xin thống thiết; anh ta cũng không gõ cửa hay kêu gào, nhưng người giàu nếu giàu lòng quảng đại bác ái, giàu lòng trắc ẩn thì đã thấy cảnh tượng thương tâm, đã nghe tiếng gõ nhức nhối tận thâm sâu cõi lòng.
Vậy tôi có thể kính thưa với những người giàu có hôm nay rằng: Chúa không bỏ các bạn đâu, Chúa muốn các bạn làm giàu chân chính. Chúa không kết án các bạn đâu, nhưng qua lời Ngôn Sứ Amốt và dụ ngôn Tin Mừng hôm nay, Chúa đang cho các bạn một cơ hội để mở mắt nhìn những bạn hữu nghèo khó của Thiên Chúa, để mở tai nghe nỗi đau của họ đang kêu gào mà nghẹn ngào không thành tiếng, để mở lòng đón nhận họ như đón nhận chính Đức Kitô, để mở bàn tay ra mà chia sẻ cho họ một cuộc sống đồng nhân vị ở đời nầy, để chính họ sẽ chia cho bạn một chỗ trong lòng tổ phụ Abraham và trong lòng Thiên Chúa mai sau.
Chúa cứu người nghèo
Nghe đoạn Tin Mừng hôm nay, những người nghèo khổ túng thiếu trong đời, những cái bang, hiệp khách ăn mày, những người ở đất nước nghèo đội sổ như chúng tôi, thường phấn khởi lắm – phấn khởi vì được Chúa ủi an, nhưng cũng không thiếu cái phấn khởi do tâm lý thỏa mãn lòng ganh ghét bấy lâu nay với những người giàu có, quyền lực. Vì thế, tôi nghĩ trong dụ ngôn nầy, không chỉ những người giàu, mà cả những người nghèo cũng cần phải cảnh giác. Vì điểm chính của Lời Chúa dạy, không phải là giàu hay nghèo, mà là biết chia sẻ hay không biết chia sẻ, quảng đại hay ích kỷ, bác ái vị tha hay hà tiện vị kỷ.
Cái thói quen trả thù của người nghèo cơm áo gạo tiền, nghèo chữ nghĩa địa vị, là “thấy ai hoạn nạn thì vui mừng”, nhất là những kẻ giàu có, quyền thế, thiếu đạo đức gặp hoạn nạn thì càng mừng hơn - cho là “ông trời có mắt”, “lưới trời lồng lộng” hoặc “Chúa phạt nhãn tiền” . Cách suy nghĩ ấy là không hợp với tinh thần bác ái Kitô Giáo, là có tội. Hơn nữa, dụ ngôn Người Phú Hộ và Ladarô nghèo khó hôm nay, rất dễ đẩy chúng ta vào một xu hướng lạc đề: “chấp nhận cảnh nghèo khổ túng thiếu ở đời nầy để được hạnh phúc ở đời sau”, mà quên một điều quan trọng là: “chính trong cảnh nghèo khổ túng thiếu ấy, chúng ta cũng có bổn phận phải chia sẻ cho nhau”.
Không đợi người giàu thực thi Đức Bác Ái, mà chính người nghèo phải giúp đỡ người nghèo, người khuyết tật giúp cho người khuyết tật, người tù lo cho người tù, người ổ chuột thương người ổ chuột… như thế mới là đúng tinh thần dụ ngôn Tin Mừng hôm nay. Người giàu có, có cách chia sẻ của người giàu có, người nghèo khổ cũng có cách giúp đỡ chia sẻ cho nhau; miễn là có một tấm lòng nghĩ đến tha nhân.
Một điểm tâm lý khôi hài nữa là: ai cũng nghĩ mình nghèo, không thể giúp đỡ người khác. Họ chỉ có thể giúp đỡ tha nhân khi họ cảm thấy họ dư thừa. Đối với Chúa thì không phải như thế: đồng bạc cuối cùng của bà góa là đồng bạc giá trị. Vì bà đã cho đi chính sự sống còn của bà, và giao phó sự sống còn ấy cho Thiên Chúa.
Vì những suy tư trên đây, tôi nghĩ, chúng ta nên sợ cảnh “nghèo lòng bác ái”, vì nghèo lòng bác ái cũng đồng nghĩa với nghèo ba nhân đức quan trọng “Tin Cậy Mến”.
Từ “Ladarô” tiếng Do Thái có nghĩa là “Thiên Chúa cứu giúp”. Nhân vật Ladarô là nhân vật hư cấu trong dụ ngôn, đại diện cho những người nghèo khổ, túng thiếu. Nhưng, qua hình ảnh Ladarô, không nên lầm tưởng rằng người nghèo được vui mừng hả dạ vì mấy người giàu “khó vào Nước Trời” hoặc bị phạt xuống hỏa ngục đời đời..
Ngược lại, là những người nghèo, hãy tạ ơn Chúa cho chúng ta sống trong cảnh nghèo khổ khốn khó, có cơ hội dễ cảm thông và sẻ chia với những người nghèo khổ khốn khó, có cơ hội nhận ra chính chúng ta và những con người nầy là Bạn Hữu của Thiên Chúa.
Hãy chia sẻ với các bạn của Chúa, như Đức Kitô đã chia sẻ đến tận cùng cuộc sống mình. Và khi không còn gì để chia sẻ, chúng ta sẽ là một Ladarô được “Thiên Chúa cứu giúp”, được ngồi gần các tổ phụ, giữa lòng Ápraham và trong cung lòng của Thiên Chúa.
“Thiên Chúa cứu giúp người nghèo”, không phải vì họ nghèo, nhưng là vì họ đã luôn sẵn sàng cho đi tất cả những gì mình có để cứu giúp người khác.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết “cho đi tất cả” để được là Bạn Hữu của Thiên Chúa, được “Chúa thương cứu giúp”, được Thiên Chúa đền bù xứng đáng trong Nước Vinh Hiển của Người. Amen.
PM. CAO HUY HOÀNG, 27.9.2007

 

TN26-C103: ĐỪNG “DỬNG DƯNG” VÀ “VÔ CẢM” NHƯ THẾ !

Trong bài viết “Giới trẻ trước căn bệnh vô cảm”, đăng trên http://www.giaophanvinhlong.net, Tu Sĩ : TN26-C103

Trong bài viết “Giới trẻ trước căn bệnh vô cảm”, đăng trên http://www.giaophanvinhlong.net, Tu Sĩ Lôrensô Vũ Văn Trình, M.F. đã nhận định như sau: “Nhân loại đã bước vào kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên với rất nhiều thuận lợi, giúp cho con người […] tiếp cận với nhiều phương tiện hiện đại. Tiếc thay, giá trị đạo đức lại bị xói mòn bởi chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến ‘bệnh vô cảm’”. Và, tác giả xót xa cho truyền thống nhân văn của dân tộc đang bị gậm nhấm và sói mòn. Thật vậy, còn đâu câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”; hay “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”; hoặc “Thương người như thể thương thân… ?”
Bài Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta thấy sự “vô cảm”, “dửng dưng”, trước nỗi thống khổ của người anh em. Một Ladarô nghèo khổ, bệnh tật nằm ở ngay gầm cầu thang của nhà phú hộ. Một khoảng cách rất gần về không gian, nhưng tiếc thay, chính sự gần gũi đó lại làm cho họ xa nhau trong cuộc sống vĩnh cửu.
Ý Nghĩa Lời Chúa
Người phú hộ giàu có hôm nay được Thánh Luca trình bày rất gợi cảm: “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình” ( Lc 16, 19 ). Tác giả không nói rõ người đó to cao, mập mạp thế nào ? Nhưng cứ sự thường thì đây phải là một người tốt tướng. Ông ta mang trên mình những thứ sang trọng theo kiểu cung đình. Ông được nhiều người hầu hạ, và ăn uống tối ngày với những món đặc sản thời bấy giờ. Nhưng ngược lại với hình ảnh của nhà phú hộ là một Ladarô nghèo khổ: “Có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu” ( Lc 16, 20 ). Hai hình ảnh của hai con người trái ngược nhau ngay tại một địa chỉ.
Nếu ông phú hộ là một người oai phong lẫm liệt, thì Ladarô lại là một người thấp cổ bé họng, bệnh tật. Nếu ông phú hộ mặc những thứ vải vóc sang trọng, thì Ladarô có lẽ chỉ có mảnh vải rách che thân. Nếu nhà phú hộ ăn uống linh đình, thì Ladarô chỉ mong được những mảnh vụn từ bàn chủ rơi xuống mà cũng không ai cho. Chỉ có những con chó đến liếm ghẻ chốc của Ladarô mà thôi.
Một sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt. Tuy nhiên, hình ảnh đó đã bị đảo lộn khi cả hai cùng chết. Tin Mừng cho thấy: “Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Ápraham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn” ( Lc 16, 22 ). Chính cái chết làm cho tình trạng của hai người hoán đổi cho nhau. Tại sao lại có tình trạng như vậy ? Thưa, chính là sự “vô cảm”; “dửng dưng” của nhà phú hộ khi còn sống.
Tin Mừng làm nổi bật sự mỏng dòn của tiền bạc, một lúc nào đó tiền của không còn là chỗ dựa duy nhất. Hình ảnh của nhà phú hộ luôn coi tiền bạc như lá bùa hộ mệnh của mình; còn Ladarô thì sống dở, chết dở ngay ở cổng nhà ông. Vì vậy, ông chỉ còn một chỗ dựa duy nhất đó là Thiên Chúa.
Sứ Điệp Lời Chúa
Trong cuộc sống, hẳn mỗi chúng ta đều biết câu ngạn ngữ: “Sinh hữu hạn, tử bất kỳ”. Sự giàu sang ở đời không đảm bảo được sự sống. Mọi người đều có thể chết bất cứ lúc nào. Muốn cho cuộc sống của mình có hậu sau khi chết, thì hãy chuẩn bị cho mình những “giấy thông hành” chính là tình huynh đệ, lòng bác ái, yêu thương ngay khi còn sống. Đây là cách làm giàu trước mặt Thiên Chúa. Hạnh phúc hay không là do thái độ của mỗi người khi còn sống. Nhà phú hộ trong dụ ngôn ta không thấy có những chuyện bóc lột, đàn áp, hay có lối sống bất chính. Như vậy, ông không có lỗi để đáng phải trừng phạt trong hỏa ngục. Trong toàn dụ ngôn, Đức Giêsu không nói về bất cứ lỗi nào ông ta phạm, chỉ đưa ra hai hình ảnh trái ngược nhau khi sống và lúc chết. Như vậy, tội của nhà phú hộ kia chính là sự “vô cảm”; “dửng dưng” với người anh em đang đau khổ.
Hai thái độ, dẫn đến hai sự lựa chọn và đi đến những hệ quả khác nhau. Nhà phú hộ thì an tâm vì của cải dư thừa mình có; còn Ladarô thì nghèo khổ, ốm đau; nhà phú hộ giàu về vật chất, nhưng ông lại quá nghèo về tinh thần chia sẻ; Ladarô thì nghèo về vật chất, nhưng ông lại rất giàu về đường thiêng liêng, nên sau khi chết, Ladarô lại là người giàu, còn nhà phú hộ lại là kẻ nghèo nàn trước mặt Thiên Chúa. Ladarô được hạnh phúc, con nhà phú hộ thì đau khổ. Một khoảng cách vĩnh viễn được thiết lập. Cuộc chơi đã hết. Thắng bại phân minh.
Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy: giàu có không hẳn là tội, và nghèo chưa chắc đã phải là nhân đức. Nó trở nên tội hay không là do thái độ lựa chọn và sử dụng nó. Nước Trời không có chỗ cho những người ích kỷ, vì đã không biết yêu thương, do thái độ “vô cảm”; “dửng dưng” trước nỗi khốn cùng của anh chị em.
Sống Lời Chúa hôm nay
“Mọi sự đều bởi Chúa mà ra, từ Chúa mà đến”. Thật vậy “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên”. Khi đã xác định như thế, chúng ta chỉ là người quản lý của Thiên Chúa mà thôi. Nếu quản lý tốt và biết sinh lợi cho Chúa thì Chúa để cho chúng ta tiếp tục, mà nếu không biết cách sinh lời thì Chúa cất đi, mà chuyện làm lợi cho Chúa là gì nếu không phải là tình liên đới, bác ái với những người nghèo chung quanh chúng ta hằng ngày. “Hữu lộc bất khả hưởng tận” thật đúng với tinh thần Kitô giáo, có lộc không nên một mình hưởng, cần phải nghĩ đến người khác.
Chúa không phạt nhà phú hộ vì ông ta giàu. Chúa cũng không cổ súy cho sự nghèo nàn của Ladarô. Nhưng Chúa mời gọi hãy sống có sự liên đới với nhau để người giàu không dư, người nghèo không đói. Vì thế, ngay từ khi còn sống trên trần gian này, chúng ta hãy gấp rút sửa mình kẻo quá trễ như trường hợp nhà phú hộ. Mọi chuyện sẽ có ngày phân định. Cái chết chính là lúc phân minh. Thưởng hay phạt chính là lúc này.
Nhưng, thật xót xa cho xã hội của chúng ta, vẫn còn đó những nhà phú hộ giàu có “dửng dưng”; “vô cảm”. Thật vậy, căn bệnh này đang trong tình trạng báo động. Vì thế, chúng ta hãy “tiêu diệt” căn bệnh này một cách triệt để, bằng cử chỉ yêu thương, tình liên đới. Bao lâu, một xã hội không biết cách vượt ra khỏi căn bệnh trên, là một xã hội chết ! Một cuộc sống vô vị và tẻ nhạt của một cỗ máy vô tri ( x. Bài viết đã dẫn ở trên ).
Ước gì xã hội chúng ta có nhiều người quay lưng lại với sự “vô cảm”; “dửng dưng” và hướng lòng về “tình yêu thương”. Mong thay đâu đó có nhiều con người biết đồng lòng và thương cảm như học sinh Nguyễn Văn Nam. Em đã xả thân cứu bạn em khỏi bị nước cuốn trôi. Em đã coi sự sống của bạn là của mình, nên bất chấp nguy hiểm để hy sinh thay cho bạn của mình được sống. Không cần biết em Nam có phải là người Công Giáo hay không ? Cũng chẳng cần biết em có bà con họ hàng gì với những em gặp nạn hôm đó không ? Chỉ biết rằng em có trái tim rất đẹp và tình yêu thương vô vị lợi, đáng để cho chúng ta noi gương ( x. Theo Khánh Hoan, Thanh Niên Online, ngày 6.5.2013 ).
Lạy Chúa Giêsu, giàu không phải là tội, mà nghèo chưa chắc đã là nhân đức. Xin cho mỗi người chúng con biết sống tình liên đới trong cuộc sống, để dù giàu hay nghèo, chúng con trở thành những người quản lý trung tín và khôn ngoan của Chúa. Xin cũng cho chúng con đừng rơi vào tình trạng “dửng dưng”; “vô cảm” như nhà phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay. Amen.
Tũ Sĩ Jos. Vinc. NGỌC BIỂN

 

TN26-C104: Ở HAI ĐẦU NỖI NHỚ

Có rất nhiều hố sâu trong cuộc đời, nhưng có lẽ không hố sâu nào đáng sợ hơn hố sâu mà bài Tin Mừng: TN26-C104

Có rất nhiều hố sâu trong cuộc đời, nhưng có lẽ không hố sâu nào đáng sợ hơn hố sâu mà bài Tin Mừng hôm nay đề cập tới. Đó chính là hố sâu giữa thiên đàng và hoả ngục, giữa hạnh phúc và bất hạnh, giữa niềm vui và đau khổ, giữa tình yêu và lòng thù hận. Có thể nói, đó là những hố sâu mà bên này không thể san sẻ cho bên kia. Cái chính yếu ở đây chính là cửa lòng khép lại, là sự ngăn cách, là sự thù ghét và loại trừ lẫn nhau.
Giả như có tình yêu thì chắc chắn không bao giờ còn thù hận, giả như có niềm vui thì làm sao còn đau khổ. Những cặp từ diễn tả sự đối lập, trái nghĩa nhau như thế, đã phần nào phản ánh sự bất hòa hợp không thể tháo gỡ.
Thật ra không có gì là không thể được nếu như con người biết cởi lòng, mở rộng trái tim. Chỉ cần có tình yêu là có thể hóa giải được tất cả. Vấn đề mấu chốt chính là niềm tin và tình yêu đã bị bóp méo, cho nên càng ngày càng phát sinh những mâu thuẫn, những bất đồng xảy ra trên thế giới. Như vậy chính con người, chính nhân loại đã tự mình đào hố ngăn cách mình với đồng loại.
Thiên Chúa tạo dựng thế giới trong tình yêu và tốt lành, không có gì khiếm khuyết, chẳng có gì bất toàn. Nhưng chính con người đã lạm dụng tự do Thiên Chúa ban để thỏa mãn dục vọng cá nhân, loại trừ Thiên Chúa xuống hàng thứ yếu, đề cao tiền của vật chất và những giá trị trần gian lên vị thế ưu việt. Hố sâu cũng từ đó nảy sinh. Từ sự mất ân nghĩa với Thiên Chúa, con người quay ra cào xé, chém giết, tranh giành lẫn nhau. Bất hạnh nối tiếp bất hạnh, đau khổ nảy sinh khổ đau… và nhân loại ngày càng đi vào chốn tiêu diệt.
Dụ ngôn hôm nay là một trong những ví dụ điển hình về tình yêu của con người trong cách đối xử với anh chị em đồng loại. Người giàu thì càng giàu, vì càng ích kỉ ki bo tích lũy của cải cho mình, coi khinh kẻ nghèo hèn, bé mọn. Đã giàu lại càng tham, có lẽ vì tham nên mới giàu. Thế rồi chỉ biết sống hưởng thụ bản thân, loại trừ người nghèo khó, không cùng tầng lớp với mình ra bên lề xã hội. Thật ra, giàu không phải là cái tội, nhưng giàu mà không biết chia sẻ của cải Thiên Chúa ban để làm phúc cho anh chị em nghèo khổ sống quanh mình mới là cái tội.
Một khi cái chết ập xuống, người giàu hay kẻ nghèo cả hai cũng chẳng ai có thể mang gì theo được mình, ngoại trừ sự thật về linh hồn, những việc phúc đã làm và những việc dữ đã xúc phạm đến Thiên Chúa và tha nhân. Khi ấy, chỉ còn tình ỵêu và lòng mến mới có giá trị để có được hạnh phúc bất diệt vĩnh cửu. Cái hố sâu khủng khiếp hãi hùng chính là ở đây. Kẻ có tội lúc này mới nhận ra quá khứ kinh hoàng và hối lỗi cũng đã không còn kịp. Thời gian, cơ hội để có thể làm lại từ đầu, để có thể quay về với Thiên Chúa không còn nữa. Dĩ nhiên, người phúc được lên thiên đàng, kẻ ác phải vào hoả ngục, đó là nơi chẳng thể ra, và người trên thiên đàng cũng chẳng thể đến. Tuy nhiên, mặc dù không thể đến, chẳng thể qua, nhưng vẫn có thể nhìn thấy.
 Chính vì có thể nhìn thấy đó, mà kẻ đau khổ mới lại càng đau khổ. Đau khổ vì thấy mình tội lỗi, bất hạnh. Đau khổ vì hối hận, đau khổ trước những hạnh phúc của người khác. Thay vì trước đây, cứ ngỡ chính ta mới là kẻ hạnh phúc vì giàu có sung sướng. Mọi lời cầu xin lúc này dường như vô hiệu, vì khi còn sống, họ đã bỏ qua quá nhiều cơ hội Thiên Chúa gửi đến để xóa bỏ hố sâu tử thần ấy.
“Lạy tổ phụ Apraham, xin thương xót con và sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát, vì ở đây con bị lửa thiêu đốt đau khổ lắm !” ( Lc 16, 24 ). Lời cầu xin thật thảm thiết, thật đáng thương nhưng đã muộn mất rồi, vì chính ông đã bỏ qua lời cầu xin thống thiết của Ladarô khi còn tại thế: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi, còn Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ Ladarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khó. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, và bên đó qua bên chúng ra đây cũng không được” ( Lc 16, 25 – 26 ).
          Có một định lý bất hủ trong cuộc sống đó chính là chân lý không sống cùng với sự ác, bóng tối không ở cùng ánh sáng, cả hai loại trừ lẫn nhau. Cái này tồn tại thì cái kia biến mất và ngược lại. Cái hố sâu ngăn cách ở đây chính là vậy. Thiên Chúa là sự Thiện, là Ánh Sáng, không bao giờ ở cùng bóng tối. Cho nên, làm sao có sự qua lại giữa sự Thiện và sự Ác được. Hơn nữa, thời gian Ngài đặt để cho mỗi con người hoàn toàn khác nhau, với những khả năng và điều kiện nhất định. Chính con người đã lạm dụng sự tự do của mình để loại trừ Thiên Chúa, bước ra khỏi ánh sáng sự Thiện mà lao đầu vào bóng tối như con thiêu thân.
Đã bao nhiêu ngàn năm qua rồi, Lời Chúa vẫn còn đó, vẫn kêu mời, réo gọi thế giới sống hòa bình, yêu thương nhưng nhân loại cứ bưng tai bịt mắt, thỏa sức hưởng thụ ích kỉ. Lúc này người phú hộ bất hạnh kia có nài xin tổ phụ cho người về báo mộng cho người thân khỏi vướng vào khổ đau như mình cũng không thể được. Không thể được không phải nơi Thiên Chúa nhưng chính là vì trái tim con người, trái tim nhân loại đã ra chai cứng, mù quáng: “Môsê và các ngôn sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin” ( Lc 16, 31 ).
Lạy Chúa, sự thật là thế. Hơn bao giờ hết nhân loại trong thời đại này khó tin hơn tất cả. Cho dù có nói gì, gọi gì, kêu mời gì… thế giới vẫn bưng tai bịt mắt. Và ngày mỗi ngày, con người lại cứ mặc sức sống sung sướng, hưởng thụ. Phải làm thế nào đây, khi hố sâu, khi ranh giới phân biệt kẻ giàu người nghèo, kẻ thiện người ác ngày càng rõ rệt. Làm sao để có thể hóa giải được những khúc mắc trong tâm hồn của những kẻ kiêu căng ngạo mạn, coi thường Thiên Chúa, khinh thường tha nhân ?
Xin giúp con, đừng đào hố chôn chính mình bởi lòng thù hận, ganh ghét, ích kỉ. Chỉ cần con hiểu rằng, không có hố sâu nào có thể ngăn cách trái tim con với Thiên Chúa, nếu như con biết sống và thi hành thánh ý Ngài, biết quan tâm, yêu thương và san sẻ với những người nghèo khổ sống quanh con. Xin giữ con, đừng vì tiền của vật chất, địa vị chức tước xã hội mà suốt đời phải xa cách Thiên Chúa, như hai đầu nỗi nhớ biền biệt da diết ấy !
M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG

 

TN26-C105: Tiền

Cách đây mấy năm, một nguyệt san xuất bản tại Luân Đôn có yêu cầu độc giả đưa ra một định: TN26-C105

Cách đây mấy năm, một nguyệt san xuất bản tại Luân Đôn có yêu cầu độc giả đưa ra một định nghĩa về tiền bạc và cho biết độc giả nào đưa ra câu định nghĩa hay nhất sẽ được trọng thưởng. Toà soạn đã nhận được hàng ngàn câu định nghĩa khác nhau và đây là câu định nghĩa đã trúng giải nhất: Tiền bạc là giấy thông hành đại đồng, với nó chúng ta có thể đi bất cứ nơi đâu trên thế giới này ngoại trừ lên thiên đàng là không được. Với nó, chúng ta có thể mua sắm mọi sự, trừ hạnh phúc là không thể được.
Thật là một câu định nghĩa chí lý, nó diễn tả một sự thật mà chúng ta thường quên, hay biết mà giả điếc làm ngơ không muốn nghĩ tới và cũng không muốn nghe nói tới. Nó cũng giúp giải thích lý do tại sao người giàu tiền bạc và của cải vật chất lại khó được ơn cứu độ hay thường đánh mất đi ơn cứu độ của mình.
Từ câu định nghĩa trên, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng hôm nay và chúng ta nhận thấy: Ladarô không phải vì nghèo mà được vào thiên đàng, còn ông phú hộ không phải vì giàu mà bị sa hoả ngục. Đúng thế, Ladarô được hạnh phúc chắc hẳn là vì anh đã không oán trách và mất đi niềm tin của mình vào Thiên Chúa, dù phải sống trong cảnh khốn cùng. Còn ông phú hộ đã đánh mất ơn cứu độ chỉ vì ông ta đã sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến mình và ăn chơi hưởng thụ đến độ không còn nhìn thấy hay giả bộ không nhìn thấy để khỏi phải trợ giúp cho Ladarô.
Và như thế tư tưởng và đường lối của Thiên Chúa hoàn toàn khác xa với tư tưởng và đường lối của người đời, bởi vì người đời coi danh vọng, tiền bạc và thành công là bảo đảm của ơn cứu độ để rồi không cần và không trông đợi gì nơi Thiên Chúa nữa. Trong khi đó, đối với Thiên Chúa thì chỉ có người nghèo, người biết sống theo quan niệm của Ngài, người có được cái nhìn của Ngài mới là những cộng sự viên cần thiết mà thôi. Chỉ có người biết sống theo tình thần nghèo khó, nghĩa là luôn ý thức những hạn hép và bất toàn của mình, không tự cứu rỗi được, nên phải mở rộng cõi lòng đón nhận ơn Chúa, cậy dựa vào lòng thương xót của Ngài là được cứu rỗi.
Và trong ý nghĩa đó, người có nhiều tiền của cũng có thể là người nghèo và được cứu độ vì đã biết sống theo tinh thần của Chúa, liêm chính trong công ăn việc làm, quảng đại chia sẻ tiền bạc vật chất cũng như tinh thần cho anh em. Đồng thời kẻ không có một đồng xu dính túi cũng vẫn có thể là người giàu vì tâm hồn bất chính, ích kỷ và kiêu căng, cậy dựa vào sức riêng của mình không cần đến Chúa và ơn thánh của Ngài. Bởi đó hãy hoán cải ngay từ bây giờ bởi vì giây phút hiện tại mới thực là quan trọng, nó chính là thời điểm duy nhất chúng ta có thể sống như chúng ta muốn và xây dựng cho tương lai vĩnh cửu một cách hữu hiện nhất, vì ngày mai phải được bắt đầu từ ngày hôm nay.

 

TN26-C106: NGƯỜI PHÚ HỘ VÀ LAGIARÔ KHÓ NGHÈO

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 16, 19-31
 

Tin Mừng của Chúa Giêsu luôn là Lời sống động cho cuộc sống con người. Lời của Chúa quả thực TN26-C106

Tin Mừng của Chúa Giêsu luôn là Lời sống động cho cuộc sống con người. Lời của Chúa quả thực như ngọn đèn soi sáng, như hơi thở, như sức sống cho con người. Những bài học, những dụ ngôn, những lời Chúa dạy quả thực luôn là sức mạnh để tăng sức cho con người vui sống trên cuộc hành trình đức tin. Những dụ ngôn của Thánh Luca đưa ra để dạy dỗ nhân loại, dạy dỗ con người là bài học vô cùng quí giá cho phần rỗi của mỗi người. Hôm nay, Thánh Luca nói về người Phú hộ và ông Lagiarô nghèo khó.
 Dụ ngôn Chúa nhật tuần trước người quản lý bất lương và dụ ngôn Chúa nhật tuần này người Phú hộ và Lagiarô nghèo khổ đều qui về một chủ đề: người giàu có mà không biết chia sẻ, chỉ biết bo bo giữ của sẽ trầm luân trong chốn cực hình. Dụ ngôn rất tương phản giữa người giàu chỉ biết bám víu lấy của cải, ham tiền bạc, thờ thần tiền, thần tài, thờ Mammon, cậy dựa vào của cải vật chất mau qua. Còn Lagiarô nghèo nhưng một lòng cậy trông vào chúa, luôn ngửa mặt lên để xin Chúa giúp đỡ.
 Hai hình ảnh, hai con người thật cách xa một trời, một vực. Người phú hộ ngày ngày yến tiệc linh đình, ăn mặc lụa là, nhà cao cửa rộng, ăn chơi từ tối tới sáng. Lagiarô nghèo nàn, lê lết với những vết thương ghẻ lở trên thân xác vì không có lương thực để nuôi sống cho qua ngày, chứ đâu có tiền mà thuốc thang chữa bệnh vv…Thánh Luca viết thật mỉa mai :” …Lại có người ăn mày tên là Lazarô, người ta vất bỏ bên cổng nhà ông ( phú hộ ), mình đầy lở lói, những ước ao có được những miếng thừa liệng dưới bàn ông nhà giàu mà ngốn cho no…Lại còn bầy chó hoang đến liếm các ung nhọt người ấy”(Lc 16, 20-21 ). Đây quả là sự bi đát của con người ở đời này. Ông phú hộ quá giàu nhưng không biết quảng đại, không biết chia sẻ, không biết giúp đỡ, cái tội lớn nhất của ông phú hộ là cố tình làm ngơ trước cảnh nghèo cùng cực của Lagiarô, coi Lagiarô như không có, sống chết mặc bay. Ông phú hộ cứ tưởng đời này là vĩnh viễn, của cải sẽ tồn tại mãi mãi. Ông không hiểu rằng cuộc đời này chỉ là tạm bợ, là mau qua…Rồi Tin mừng viết tiếp: Đùng một cái cả hai đều chết, ông phú hộ phải ở dưới âm phủ, Lagiarô được đưa về Trời, trong lòng Abraham. Thật mỉa mai khi ông nhà giàu phải trầm luân đời đời. Ông van xin, cầu khẩn. Tuy nhiên, mọi sự đều quá muộn màng, mọi sự đều là hư vô: thân xác trần gian, của cải vật chất ở đời…
 Lagiarô đã nhận được phần tốt nhất như Chúa Giêsu đã nói với Martha : “ Con lo lắng xôn xao quá. Phần tốt nhất là lắng nghe Lời Chúa thì Maria đã chọn “…Ông phú hộ cứ tưởng ông sẽ được yến tiệc linh đình mãi mãi, ông cứ vui đùa trong vật chất, trong say sưa, ăn chơi đàng điếm và ông tưởng ông sẽ được hưởng thụ muôn đời.Ông phú hộ cứ tưởng sự giàu có ở trần gian là bất tử, là trường sinh. Ông không dám chia sẻ, không dám có quyết tâm như Chúa Giêsu đề nghị với người thanh niên giàu có…Ông đã chết và người ta bỏ ông trong quan tài và khiêng đi tay trắng…Ông bị bỏ vào âm phủ sống cơ cực với lũ quỷ gian ác…Còn Lagiarô cũng chết và được các Thiên Thần đón về Trời ở cùng các Thánh, nơi chỉ có Tình Yêu…Ông phú hộ đã hưởng thụ ở trần gian, không biết tới người nghèo, người đồng loại, suốt đời ông được toàn sự lành, còn Lagiarô gặp toàn sự khốn khổ.Giờ ông Phú hộ phải trầm luân, còn Lagiarô được ân thương. Đúng là một lời phán xét chí công.  Ông phú hộ chết nhưng còn năm anh em cũng giàu sang và sống trong nhung lụa, ăn chơi đàng điếm vv…Họ không biết đến ai, đặc biệt không biết đến người nghèo. Chúa nói :” Dù người chết có hiện về nói họ cũng chẳng tin vì họ đã có những lời giảng dạy, đã có đạo lý, đã có các tiên tri vv…”. Họ được cứu rỗi nếu họ biết lắng nghe Lời Chúa và thực hành Lời Chúa.
 Cha René Berthier viết :”…Đạo đức tối thiểu của Kitô giáo dạy chúng ta việc phạm tội thiếu sót bao gồm tránh né việc nên làm.Ví dụ : né tránh không dám bảo vệ người bị công kích cách bất công; đó còn là những cảnh đau khổ chúng ta gặp trên đường mà chúng ta phải giúp đỡ, ủi an nếu có khả năng.Liệu chúng ta có nghĩ đến việc :” hỗ trợ một người đang gặp nguy hiểm “. Nhưng điều gì kích thích lương tâm chúng ta về nguy cơ mắc tội thiếu sót ! Nếu chúng ta không cần phải lo lắng, thì chí ít chúng ta hãy là “ những người tỉnh thức “…
 Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một trái tim mới, một trái tim luôn biết nhạy cảm trước những thử thách và đau khổ của người khác, đặc biệt là những người nghèo.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1.Đoạn Tin mừng của Thánh Luca hôm nay muốn nói gì ?
2.Tại sao ông phú hộ phải trầm luân đời đời ?

 

TN26-C107: Cho thì có phúc – Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

(Trích dẫn từ ‘Cùng Nhau Suy Niệm’)
 

Có một cậu bé thuộc dòng dõi quí tộc đang đi dạo với người giám hộ dọc theo một bờ ruộng, bên: TN26-C107

Có một cậu bé thuộc dòng dõi quí tộc đang đi dạo với người giám hộ dọc theo một bờ ruộng, bên cạnh đó, một người tá điền đang cày ruộng cho cha cậu. Người tá điền cởi đôi ủng để trên bờ ruộng, cậu bé tinh nghịch muốn dấu đôi ủng ấy để chọc giận người nông dân, nhưng người giám hộ nói với cậu rằng: "Con chớ làm cho người tá điền nghèo khổ này buồn phiền, hãy làm cho ông ta vui lên thì tốt hơn. Ta khuyên con hãy bỏ tiền vào mỗi chiếc ủng, chúng ta sẽ núp ở đằng sau, và xem thử ông ta sẽ làm gì?"
Cậu bé đã làm như lời dạy của thầy mình. Chờ cho người nông dân không để ý, cậu đã mon men đến gần đôi ủng và bỏ vào mỗi chiếc một đồng bạc.
Một lát sau, người nông dân đã trở lại với đôi ủng của mình. Vừa khám phá ra tiền trong đó ông đã vội qùy xuống và ngước mắt lên trời để cảm tạ Chúa đã cứu giúp ông trong lúc túng cực. Ông cũng xin Chúa chúc lành và trả công cho vị ân nhân vô danh.
Nhìn được tất cả những gì người nông dân đã cầu nguyện, cậu bé cảm động muốn khóc. Đó là ngày đầu tiên cậu cảm thấy hạnh phúc nhất đời mình.
Vâng, có ai đó nói rằng: "Cho thì có phúc hơn nhận lãnh". Phúc đức được tích luỹ nhờ trao ban. Trao ban càng nhiều, phúc đức càng dầy. Thế nên, người có phúc là người biết cho đi. Người có phúc là người giầu lòng quảng đại, biết chia sẻ cho người cùng khốn. Cậu bé con nhà quyền quý một lần biết cho đi, cậu mới hiểu được đâu là hạnh phúc của sự trao ban. Cậu đang ở thế giới của những kẻ quyền qúy, những kẻ sống trong nhung lụa nên cậu đâu hiểu được cái khổ đau của cuộc đời "bán lưng cho trời" nơi giai cấp nông dân nghèo hèn. Cậu càng không cảm nghiệm được niềm vui khi kiếm được một đồng tiền ít ỏi do công khó mình làm ra. Có lẽ, lần đầu tiên cậu chiêm ngưỡng khuôn mặt rạng ngời của người nông dân khi nhận được đồng tiền bố thí. Lần đâu tiên cậu mới hiểu được giá trị của sự trao ban. Có trao ban mới có hạnh phúc. Có trao ban mới tích lũy được phúc đức cho đời này và đời sau. Và như thế, cuộc đời vô phúc là cuộc đời không có sự trao ban. Kẻ vô phúc thường ích kỷ tham lam. Kẻ vô phúc chỉ biết nghĩ cho mình và sống cho mình. Kẻ vô phúc không có cơ hội nhận lãnh niềm vui của sự trao ban. Kẻ vô phúc sống không có hậu, vì không biết tích lũy phúc đức cho cuộc đời bằng hành vi bác ái yêu thương.
Bài Phúc âm hôm nay nói về hai cảnh đời khác nhau. Người phú hộ và anh Lagiaro nghèo khó. Người phú hộ hạnh phúc đời này nhưng bất hạnh đời sau. Lagiaro nghèo khó thì ngược lại, anh phải chịu biết bao cay đắng trong cuộc đời ô trọc thiếu vắng tình người này, nhưng anh lại được hạnh phúc vĩnh cửu đời sau. Cuộc đời của họ tuy cùng chung một thời gian và không gian, nhưng xem ra họ lại qúa cách biệt với nhau. Kẻ ăn không hết, người tìm không ra. Người sống trong nhung lụa, kẻ đói rách bần cùng. Bài phúc âm không đả phá về sự giầu sang, và cũng không khuyến khích sống nghèo đói. Bài Phúc âm chỉ nói đến trách nhiệm liên đới với anh em. Giầu có không phải là tội. Cái tội của người phú hộ là dửng dưng với mảnh đời bất hạnh của đồng loại. Phúc âm không nói đến việc ông xua đuổi người nghèo khó trước cửa nhà ông, nhưng chắc chắn ông phải đi qua cuộc đời của họ với thái độ bàng quang lạnh lùng. Người nghèo đói nằm ở trước cửa nhà ông, nhưng ông đã làm lơ khi đi ra đi vào. Ông đã không áy láy lương tâm và cũng không một chút chạnh lòng thương đối với bất hạnh của tha nhân. Tội của ông là sự dửng dưng, coi như không có sự hiện diện của Lazarô. Một sự mù quáng đến thiếu trách nhiệm liên đới với tha nhân. Ông có nhiều cơ hội để làm việc lành phúc đức, thế mà ông đã bỏ lỡ cơ hội mua lấy phúc đức đời sau.
Song le, Lagiarô không phải vì nghèo mà lên thiên đàng, điều quan yếu là anh không thất vọng về cuộc đời. Anh không oán trời oán đất. Anh vẫn bình thản với cuộc sống vốn dĩ đầy khó khăn đối với anh. Cho dù anh đã bị đẩy xuống đến tột cùng, làm bạn với những con chó, anh cũng vui lòng chấp nhận thân phận mình. Chính vì thái độ chấp nhận đó mà anh đã được đền bù xứng đáng, anh được giải thoát khỏi khổ đau đời này và an hưởng hạnh phúc đời đời trong hạnh phúc thiên đàng.
Người xưa có câu: "Phú nhân bất nhân - Bần bất nghĩa". Giầu có hay khinh người, và nghèo khó thiếu tử tế. Xem ra giầu nghèo đều khó mà vào nước thiên đàng nếu không biết vượt qua những trở ngại trong phận số đời mình. Vì thế mà cha ông ta đã từng khuyên con cháu mình "đói cho sạch rách cho thơm", và "không ai giầu có ba đời", thế nên cần phải biết sống có đức, để đề phòng khi sa cơ thất thế vẫn còn có nhiều người hỗ trợ và giúp đỡ mình.
Là người kytô hữu phải biết thể hiện đức ái trong đời sống hằng ngày của mình. Dù giầu hay nghèo mỗi người đều phải biết sống vì người khác, và cho người khác. Dù sang hay hèn vẫn phải toả lan đức ái trong cuộc sống của mình. Đức ái mà như thánh Phaolô tông đồ đã nói: "Đức ái thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc. Đức ái tha thứ tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả". Đức ái sẽ giúp chúng ta sống tốt với anh em và đảm bảo cho hạnh phúc Nước Trời mai sau. Đức ái sẽ là nhịp cầu để ta đến với tha nhân và tiến vào bến bờ hạnh phúc vĩnh cửu mai sau. Và như thế, ở đời sau, Chúa sẽ thưởng phạt chúng ta tùy theo mức độ thể hiện đức ái trong cuộc đời hôm nay. Amen.

 

TN26-C108: Suy niệm của Vinh Sơn Dương Văn Đức

Có một đứa trẻ bị khuyết tật bẩm sinh, hằng ngày đi học, cậu thường bị chúng bạn chế nhạo, bắt nạt: TN26-C108

Có một đứa trẻ bị khuyết tật bẩm sinh, hằng ngày đi học, cậu thường bị chúng bạn chế nhạo, bắt nạt, đó là điều khiến cậu trở nên lạnh lùng và khép kín. Một hôm cha cậu nhặt được một con chó sắp chết rét từ trong đống tuyết… con chó được đặt nằm xuống gần chân cậu bé, nó run cầm cập. Cậu bé không thích con chó dơ dáy này, cậu dùng chiếc nạng của mình đuổi nó đi, nó không biết đi đâu, nên nằm ngoài cửa kêu ăng ẳng thảm thiết.
Cha cậu nghe tiếng chó kêu thì biết chuyện. Vì thế, ông đến phòng để trò chuyện với cậu bé. Khi nghe cậu bé kể ở trường cậu thường bị bạn bè bắt nạt, ông nói: “Tại sao những đứa trẻ ấy lại bắt nạt con?”. Cậu bé nói: “Bởi vì chân con có tật, con không thể chơi lại chúng nên chúng mới bắt nạt con”. Người cha lúc đó mới ôn tồn nói: “Chúng khỏe mạnh, còn con yếu, cho nên chúng bắt nạt con. Còn bây giờ thì con rất mạnh, con chó lại rất yếu, vậy tại sao con lại không biết thương cảm nó?”. Nghe xong, cậu bé ngân ngấn nước mắt, một lúc sau cậu ẵm con chó vào đặt cạnh lò sưởi và vuốt ve nó… Sau này cậu bé trở thành vị bác sĩ nổi tiếng nhân hậu, được mọi người yêu thương và kính trọng.
Câu chuyện cho thấy người cha ở đây đã thật khéo léo để biết cách dạy con mình trở thành người biết yêu thương và nhờ đó người con đã thành nhân và được mọi người quí mến.
Quả thực tình yêu thương, lòng trắc ẩn là những đức tính làm cho chúng ta trở thành con người đúng nghĩa. Khi tâm hồn thiếu vắng tình yêu thì phải thấy rằng chúng ta đang tụt hậu. Còn ai biết sống yêu thương thì lại là những người đang cùng nhau tiến nhanh trên hành trình của ơn cứu độ. Đây chính là những người mà Chúa Giêsu nói đến trong bài giảng trên núi: “Phúc thay ai có lòng thương xót vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, sở dĩ người phú hộ không được vào Nước Trời, vì ông đã không tỏ lòng thương xót đối với Ladarô, cho dù đó chỉ là một chút nhỏ nhoi dành cho con người khốn khổ ngày ngày lê lết ăn mày trước cổng nhà ông.
Người phú hộ phải “chịu cực hình” không phải vì ông còn nhiều của cải, nhưng vì ông đã không biết “sử dụng của cải mà mua lấy bạn hữu Nước Trời”, mà bạn hữu ở đây không ai khác là chính Lazarô nghèo khó mà ông gặp hang ngày. Thực sự, tiêu chuẩn để vào Nước Trời không phải ở chỗ giàu hay nghèo, nhưng hệ tại nơi việc sống bác ái với anh chị em.
Tội của người phú hộ chính là tội vô tâm, làm ngơ, phớt lờ, không nhìn, không nghe, không thấy người nghèo, Ladarô đang van xin cứu giúp trong cơn đói khổ. Tội của người phú hộ chính là tội thiếu sót, tội đã không làm những gì lẽ ra mình phải làm cho người đang cần mình trợ giúp. Sẽ có một ngày tất cả chúng ta bước vào một thế giới mà giấy thông hành không phải là tiền của nhưng chính là tình yêu. Chỉ có những ai yêu mến Thiên Chúa và thương yêu anh em mới được bước vào.
Thánh Augustinô có lần đã nói rằng tất cả chúng ta đều là những người ăn mày đang cần đến hồng ân Thiên Chúa: “Anh em giàu có với những của cải tạm bợ, nhưng anh em cần những thứ vĩnh cửu. Điều mà anh em làm với những ai khẩn cầu anh em thì Thiên Chúa cũng sẽ thực hiện như thế với anh em... Hãy đong đầy cho những người anh em đang túng thiếu, để sự túng thiếu của anh em cũng được đong đầy”.
Là những người cần đến lòng thương xót và nhân từ của Thiên Chúa, những người cầu nguyện với đôi bàn tay mở ra như những cái bát của người ăn mày, tôi và bạn đến lượt mình, ta phải cố gắng sống nhân từ, quảng đại và thương xót những người khác, bởi vì mức độ ta cho sẽ trở thành mức độ mà ta nhận.
Có một bạn sinh viên đã tâm sự trên Tuổi Trẻ Online như sau: “Dưới cái nắng của buổi trưa tháng 3, tôi đang vội vã đi bộ từ trường Đại học Nhân văn ra Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia. Trên đường, một cô bé chừng 16-17 tuổi kéo tôi lại với bịch tăm tre nhỏ xíu và nói: “Đây là sản phẩm của các em khuyết tật trường Chu Văn An, mời chị mua ủng hộ”. Chẳng cần suy nghĩ, tôi khoát tay từ chối và vội bước đi, tự nhủ: “Mình lạ gì mấy trò này nữa, chủ yếu là xin tiền chứ mua bán gì”. Tôi đã không ít lần bị lừa ở phòng trọ, cũng như được bạn bè cảnh báo về mấy người “giả mạo” này. Nhưng đi rồi, tôi vẫn cố ngoái lại nhìn xem cô bé đó còn ở đó không? Nắng giữa trưa, tôi bịt hai lớp khăn che mặt vẫn còn thấy rát, vậy mà cô bé tiếp tục đứng đầu trần và mời một bạn sinh viên khác và người ấy đã mua. Tôi thấy mình xấu hổ. Tôi nhớ thầy tôi từng nói: “Biết có thể bị lừa vì những người giả bộ bị móc túi, lỡ đường để xin tiền nhưng thầy vẫn cho. Biết đâu gặp người cần giúp đỡ, có vậy lòng mình mới thanh thản…”. Tôi định quay lại mua cho cô bé bịch tăm nhưng lại ngại, đành tiếp tục đi, lòng suy nghĩ bứt rứt. Chắc cô bé là học sinh tình nguyện hay đang là tình nguyện viên cho mái trường ấy. Vậy mà tôi…”
Tâm trạng của người bạn trẻ này chắc cũng phản ánh thái độ vô cảm mà chúng ta đôi khi vướng phải trong cuộc đời, khi chúng ta dửng dưng trước những con người đáng thương. Đó cũng là thực trạng nơi trái tim chai cứng của nhân loại thời nay trước những đau khổ của đồng loại quanh mình. Suy nghĩ của bạn sinh viên một lần nữa lại gợi lên trong chúng ta hình ảnh của Tin mừng Lc 16, 19-31: Người phú hộ giàu có, ngày ngày yến tiệc linh đình, cao lương mỹ vị, nhưng ngay bên lại tồn tại một anh Lazarô nghèo nàn chết trong đói khổ, không được trợ giúp.
Ở đây cho thấy, không phải chỉ có làm điều xấu mới là tội, nhưng tránh không làm điều tốt cũng là tự đưa mình xa rời Thiên Chúa và ngăn cách với anh em. Khi mắt ta không để ý sự đau khổ, tâm hồn ta không chút xót thương đến những người phận nhỏ, lòng trắc ẩn không hề rung động trước bi thương của anh em đồng loại sẽ tạo nên hố ngăn cách sâu thẳm giữa ta với tha nhân và với nguồn tình yêu là chính Thiên Chúa. Và như cành nho không gắn liền với thân nho, nó sẽ bị khô héo mà chết đi, mất đi sự sống thần linh, sự sống viên mãn.
Lạy Chúa, Chúa đã dạy cho chúng con biết số phận con người sẽ được hạnh phúc viên mãn hay bị luận phạt muôn đời tùy theo chúng con có biết yêu thương tha nhân hay không. Xin Chúa dắt chúng con luôn đi trên con đường dẫn tới ơn cứu độ: Biết nghe lời hướng dẫn của Môisê, các ngôn sứ, đặc biệt là Lời Chúa để sám hối, hoán cải và yêu thương mọi người nhất là những anh chị em nghèo khổ. Vì chúng con biết Thiên Đàng không dành riêng cho một mình con. Nhưng con chỉ có thể tiến vào cùng với anh chị em trong tình yêu thương – Amen.

 

TN26-C109: Hãy nghe các ngài

(Suy niệm của Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến)
 

Đoạn nầy có thể chia thành ba phần: - Cuộc sống của người giàu có và Lazarô trên trần gian (16,19-21): TN26-C109

Đoạn nầy có thể chia thành ba phần: - Cuộc sống của người giàu có và Lazarô trên trần gian (16,19-21); - Số phận của hai người sau khi chết (16,22-23); - Tình trạng cực hình của người giàu có (16,24-31). Ngoài việc chia sẻ chủ đề chung về việc sử dụng của cải, đoạn nầy bàn thêm về hậu quả của việc sử dụng ấy khi cuộc đời nầy qua đi. Số phận của người giàu có và Lazarô đảo ngược trong cuộc đời bên kia. Luca nhấn mạnh rất nhiều về việc Thiên Chúa đảo ngược số phận giữa người khiêm hạ và người quyền thế (1,46-55), giữa các Phúc Thật và Chúc Dữ (6,20-26), và ở đây giữa người giàu và người nghèo (16,19-31).
Cuộc sống của người giàu có và Lazarô trên trần gian
Trong hai câu dẫn nhập Luca mô tả hai con người với hai cuộc sống hoàn toàn tương phản nhau: một người giàu có (c. 19.21) và Lazarô nghèo khó (c. 20). Sự giàu có của người nầy được mô tả qua cách ăn mặc: áo đỏ tía, porphyra, chỉ dành cho vua (x. Mc 15:17.20; Kh 18:12) và hàng mịn, byssos. Cả hai thứ nầy được kể là những đồ quí giá chung với vàng bạc, đá quý và ngọc ngà (Kh 18:12). Động từ “mang” ở thì quá khứ chưa hoàn thành cho thấy ông thường ngày mang áo quần nầy, chứ không phải chỉ một dịp lễ lạc trọng thể nào đó. Việc ông “làm yến tiệc”, euphrain#, cũng kiên tục, và việc nầy nhắc đến thái độ tự hài lòng của người giàu có trên của cải ông đã kiếm được, ăn uống, hưởng thụ và chỉ dừng lại ở đó (12:19).
Tương phản với người giàu có là người nghèo Lazarô. Khi Luca dùng cách nói “tên là” (1:5.13.26.27.31…), ông muốn ám chỉ đó là người được ưu ái trước mặt Thiên Chúa. Hơn nữa, tên “Lazarô” có nghĩa là “Thiên Chúa trợ giúp”. Sự nghèo khốn của Lazarô được diễn tả qua tình cảnh bệnh tật của ông: nằm liệt do bệnh, ball#, và nhức nhối (c. 20) do những vết thương lở loét của ông (c. 21). Đến lúc nầy, dụ ngôn không nêu lên một lỗi phạm nào của người giàu có. Chỉ trong câu 21, tình cảnh của Lazarô được mô tả thêm và sai lỗi của người giàu có mới được hình dung ra. Lazarô nằm ở trước cửa nhà người giàu có: đói lả và muốn được ăn no như tình cảnh của người con hoang đàng (15:16). Động từ “ước muốn” nầy ở thể phân từ hiện tại diễn tả tình trạng kéo dài. Như thế, Lazarô ở đó mỗi ngày và chờ đợi những mẩu bánh vụn từ trên bàn rơi xuống. “Cái bàn” gợi lên yến tiệc của người giàu có; qua đó, cho thấy người giàu có không nghĩ gì khác ngoài việc hưởng thụ cuộc sống giàu có của ông. Ông chỉ sống cho mình và không biết đến Lazarô nghèo khó trước cửa nhà ông. Bởi lỗi phạm đó mà ông sẽ chịu hậu quả sau nầy.
Số phận của hai người sau khi chết (16:22-26)
Đoạn nầy và đoạn kế tiếp (16:27-31) được trình bày dưới hình thức đối thoại giữa người giàu có và Abraham. Những gì được nói đến trong hai đoạn nầy không nhằm mô tả cuộc sống sau khi chết, mà sự khác biệt tận căn và sự đảo ngược giữa cuộc sống của người giàu có và Lazarô. Câu 22 là câu chuyển tiếp: người giàu có cũng như người nghèo khó đều chết như nhau (c. 22), nhưng số phận họ lại khác nhau. Lazarô được các thiên thần đem vào lòng Abraham; trong khi người giàu có “được chôn cất”. Abraham, tổ phụ của dân Do thái (1:55.73; 3:8). “Lòng Abraham” là phần trước ngực. Ngồi vào lòng ai có nghĩa là nằm dựa đầu vào ngực người ấy. Đây là vị trí cận kề và thân thiết (x. Gio 1:18; 13:23). Hình ảnh nầy gợi lên bữa tiệc trong Nước Thiên Chúa, trong đó có Abraham và tất cả các tổ phụ khác và các tiên tri (13:28). Như thế, Lazarô nghèo khó và thiếu thốn của ăn nuôi sống trên trần gian, nay được thông hiệp với Abraham. Và Thiên Chúa của Abraham là Thiên Chúa của sự sống (20:37-38). Trong khi đó, người giàu có “được chôn cất”, ám chỉ ông nằm giữa những kẻ chết (x. 9:59-60). Điều nầy được xác định rõ hơn trong cách nói “trong âm phủ” (c. 23). “âm phủ” là giang sơn của người chết và nơi của sự hủy diệt (x. Cv 2:27.31), hình phạt (Kh 20:14). Đối nghịch với “âm phủ” là trời, nơi cư ngụ của Thiên Chúa (x. 10:15).
Tình cảnh khốn khổ của người giàu có (16:24-31)
Nội dung của phân đoạn nầy được trình bày qua hình thức đối thoại với ba lần thỉnh cầu của ông (cc. 24.27-28.30) và ba lần từ chối của Abraham (cc.25-26.29.30). Qua cuộc đối thoại ngắn nầy, tình cảnh khốn khổ của người giàu có được trình bày thêm.

Lời thỉnh cầu thứ nhất (c. 24): “xin thương xót tôi” (c. 24). Lời nầy trong Luca chỉ xuất hiện trong trình thuật người mù thành Giêricô (18:38.39), và mười người phong cùi. Người giàu có đang ở trong tình trạng vô phương cứu chữa như những người nầy. Hai yếu tố khác cho thấy tình cảnh của ông đã bị đảo ngược. Trước đây ông chỉ mặc áo đỏ tía và lụa là, giờ đây ông đang chịu cực hình, odynaomai, giữa lửa cháy bao quanh ông, trong khi Lazarô ở nơi mát mẻ. Trước đây, ông nằm trên giường tiệc, Lazarô bên dưới và chờ mong những mảnh bánh vụn rơi xuống từ bàn tiệc của ông. Giờ đây, ông phải nhìn lên mới thấy Lazarô, và nài xin một giọt nước từ ngón tay của Lazarô nhỏ vào liệng lưỡi ông.
Trong câu trả lời của Abraham (cc. 25-26) Luca nhắc lại quá khứ “hãy nhớ lại”. Ông nói đến “điều tốt” và điều xấu”, như là sự tương phản giữa hai người (c. 25). “Điều tốt” ở đây là của cải đời nầy (6:45; 12:18.19). Sau đó, Luca khẳng định điều đang xảy ra, “bây giờ” hai người. Động từ “an ủi” (c. 25) nhắc lại lời “Khốn cho các người giàu có, vì các người đang được an ủi” (6:24). Người giàu có đã được an ủi đời nầy, thì đời sau chịu khốn khổ; trong khi Lazarô được an ủi đời sau. Đây là một trong những cách hành động của Thiên Chúa (1:52). Tiếp theo Abraham nói đến sự phân cách tuyệt đối và khách quan giữa hai người (c. 26). Một “vực thẳm” “được đặt ra” (ở thể thụ động); không thể có hiệp thông giữa hai bên. Không thể qua lại với nhau được. Như thế người giàu có bị loại hẳn khỏi sự hiệp thông với Abraham.
Lời thỉnh cầu thứ hai (cc.27-28.29): trong lời thỉnh cầu nầy, ông không nghĩ đến bản thân nữa, vì ông đã ý thức tình trạng khốn khổ không thể cứu vớt của mình. Bởi đó, ông kêu xin Abraham hãy nghe lời ông xin. Ông nghĩ đến những người anh em của ông đang còn sống trên trần gian, và muốn tránh cho họ khỏi rơi vào nơi khốn khổ như ông. Lời đáp của Abraham là chỉ cho thấy phương thế cứu khỏi nơi ấy, chính là nghe lời Môsê và các ngôn sứ (c. 29; 24:44). Mệnh lệnh “Hãy nghe” phải dẫn đến việc làm theo điều đã nghe. Mệnh lệnh nầy cho thấy cách gián tiếp là người giàu có đã không nghe lời Môsê và các ngôn sứ nên đã không để ý đến những người nghèo (Lv 19:9-10; Đnl 14:29; 15:7-11). Ông đã không quan tâm nghe lời của Thiên Chúa, nên không biết ý muốn của Người. Ông chỉ quan tâm đến sự giàu có và sự thụ hưởng của ông.
Lời thỉnh cầu thứ ba (cc. 30.31): người giàu có cố gắng nài xin thêm một lần nữa cho anh em nhà của ông. Ông nghĩ anh em của ông sẽ “hoán cải” nếu như được người chết hiện ra. Tuy nhiên sự hoán cải không được thực hiện bởi phép lạ, mà bởi lời rao giảng về Chúa Giêsu (x. 11:32; Cv 2:36-38; 3:18-19). Hoán cải là mở lòng đón nhận, tin vào Thiên Chúa và thay đổi cuộc sống. Do đó, nếu không nghe lời Môsê và các ngôn sứ, không thể hoán cải được. Người chết có hiện ra chỉ vô ích mà thôi.
Luca sẽ không dừng lại ở việc mô tả hậu quả của việc sử dụng của cải không đúng theo ý Thiên Chúa. Ông sẽ nói đến cách hành động tích cực đối với của cải. Đó là phân phát cho người nghèo (4:18; 18:22; 19:8; 21:3). Cuộc sống ở trần gian không là tất cả. Số phận đời sau tùy thuộc cuộc sống hôm nay. Muốn được an ủi đời sau, phải thi hành ý Thiên Chúa hôm nay.

 

TN26-C110: Ông Dives và anh Lazarô – Vincent Travers

Có hai nhân vật trong câu chuyện này. Trước hết là người giàu có, tạm gọi là Dives. “Dives” tiếng : TN26-C110

Có hai nhân vật trong câu chuyện này. Trước hết là người giàu có, tạm gọi là Dives. “Dives” tiếng La-tinh, có nghĩa là “giàu có”. Ông ta sống trong sự giàu sang. Ông ăn uống no say mỗi ngày trong một đất nước mà thường dân may mắn lắm mới có được một bữa no bụng mỗi tuần.
Nhân vật thứ hai là anh Lazarô nằm trước cổng, ngửa tay xin của ăn dư thừa. Anh rất đau yếu bệnh hoạn. Mình mẩy anh đầy ghẻ chốc. Anh yếu đuối cho đến nỗi không đủ sức chống đỡ những con chó ngoài đường đến quấy phá, liếm ghẻ chốc của anh.
Thời đó trên bàn ăn không có dao nĩa và khăn lau, bởi vì người ta ăn bằng tay. Trong những gia đình phong lưu, những miếng bánh mì rẻ tiền được vứt bỏ sau bữa ăn. Họ rửa tay bằng cách lau chùi tay trong bánh mì và bánh mì dơ bẩn được thu nhặt cho vào thùng đựng rác. Chính đó là những mảnh vụn bánh mì mà người nghèo khổ Lazarô đang mong đợi để nuôi sống mình.
Câu chuyện anh Lazarô và ông Dives nhắc tôi nhớ lại mẩu chuyện một người đàn bà đĩ thoã và ông trưởng giả đi chung trong một chuyến tàu. Người đàn bà nói: “Ông ơi,ông sặc mùi hôi.” Ông kia đáp lại: “Thưa bà, tôi xông mùi thối, còn bà đánh hơi.”
Do đó, anh Lazarô là hình ảnh của sự nghèo nàn khốn khổ, còn ông nhà giàu là hình ảnh của sự bê tha ăn uống. Nên để ý điểm này là ở đây người ta nhắc đến tên người đàn ông nghèo khó nhưng người giàu sang thì lại không có tên. Trong nền văn hoá ngày nay, người giàu sang cũng như người nổi tiếng thì đều có danh xưng, còn người nghèo hèn thì vô danh tiểu tốt.
Điều đó cho thấy Chúa Giêsu chú trọng đến những người mà xã hội ruồng bỏ. Ngài đã dành nhiều thời giờ cho những kẻ bị bỏ rơi, những người vô danh tiểu tốt, chứ không phải với những người nổi tiếng.
Vai trò đảo ngược
Rồi cả hai người đều chết. Người giàu có rơi xuống hoả ngục, còn anh Lazarô lên thiên đàng, ở trong lòng tổ phụ Ápraham. Câu chuyện đã diễn tiến theo cuộc đối thoại giữa ông nhà giàu với tổ phụ Ápraham.
Từ dưới vực sâu hoả ngục, người giàu có đã kêu lên: “Lạy tổ phụ Ápraham, xin thương xót con và sai anh Lazarô nhúngđầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!” (Lc 16, 24).
Tổ phụ Ap-ra-ham đã trả lời: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn Lazarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, Lazarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được.” (Lc 16, 25-26)
Ông nhà giàu lại thưa: “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Lazarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!” (Lc 16, 27). Ông Ápraham đáp: “Môsê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.” (Lc 16, 31)
Khỏi phải nói ra, ai cũng rõ là người giàu có đã đối xử có phần nào tàn nhẫn với anh Lazarô. Nhưng xét theo nhiều khía cạnh, ông nhà giàu không phải là một người xấu. Ông đã không bạo hành đối với anh Lazarô bằng lời nói, như nhiếc mắng anh đáng xuống hoả ngục. Ông cũng không xua đuổi anh Lazarô, không cho nằm trước cổng nhà mình. Ông cũng không báo cáo với cảnh sát, hoặc với những người kiểm tra vệ sinh về anh ta như là một nguy cơ đối với sức khoẻ của công chúng.
Ông không chống đối việc anh Lazarô chìa tay ra xin thức ăn thừa và cũng không chỉ thị cho đầy tớ ném bánh mì dơ ở nơi khác. Vấn đề là mỗi lần Dives đi ra hay đi vào nhà thì đều phải đi qua nơi anh Lazarô nằm trước cổng.
Tội lơ là chểnh mảng
Ông Dives không bao giờ nhận ra anh Lazarô. Ông không để ý tới anh Lazarô trong những năm tháng đó, khi anh ngồi ăn xin trước cổng nhà ông và ngay cả khi ở dưới hoả ngục, ông cũng không đếm xỉa đến anh. Ông vẫn không thay đổi. Những người ở trong hoả ngục không thay đổi bao giờ.
Phần người giàu có, ông nghĩ về anh Lazarô không khác gì hơn ngoài một sứ giả, qua câu nói: “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Lazarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!” (Lc 16, 27).
Anh Lazarô chỉ là một con người tùy tiện đối với ông phú hộ, chỉ là một thứ khí cụ được sử dụng mà thôi. Anh không phải là một con người đáng được kính trọng. Lazarô chỉ là một đồ vật được sử dụng và đó là lý do tại sao ông Dives đã xuống hoả ngục.
Tội lỗi của người giàu có đối với anh Lazarô là tội lơ là chểnh mảng – thứ tội quên làm! Những tội lỗi tệ hại nhất của chúng ta thường khi chính là những tội lơ là chểng mảng và đó là những tội mà chúng ta không bao giờ xưng ra. Nhưng đó chính là những tội của ông Dives. Có thể đó là những tội mà chúng ta không chút ý thức vì không gây nên thương tổn hay chết chóc cho ai.
Chúng ta có thể là ông Dives đối với người phối ngẫu, đối với cha mẹ, anh chị em, người làng giềng, đối với những trẻ nít non dại trong lớp học, đối với những bạn đồng nghiệp trở thành trò cười cho bất cứ cuộc đùa cợt nào. Không phải chúng ta cố ý tàn nhẫn. Điều đó hiếm khi xảy ra, vì chúng ta không đần độn hơn những người khác. Nhưng có những người trong cuộc sống chúng ta đangchết dần chết mòn về mặt thể xác, tình cảm, tinh thần và cả tâm linh nữa, bởi vì có những việc chúng ta có thể làm cho họ, nhưng đã không làm.
Tôi có dịp trò chuyện với một người láng giềng đã ra vào nhà thương như cơm bữa trong nhiều năm. Tôi hỏi cảm tưởng của ông như thế nào mỗi khi ra vào nhà thương như vậy. Ông trả lời: “Khi cha liên hệ với nhà thương lâu dài như con đây, cha sẽ nhận thấy điều khác biệt lớn lao giữa những kẻ đối xử với cha như một con người và những kẻ đối xử với cha như một trường hợp y khoa trong bệnh viện.”
Lòng trắc ẩn
Rồi đây khi tôi gặp gỡ một người ăn xin hay người nghiện ngập, tôi sẽ để ý đến họ. Tôi sẽ nhận ra họ như một con người và tỏ ra kính trọng họ. Đồng thời, một việc thật chính đáng, có thể làm được là tôi sẽ hỏi tên họ. Tôi có thể trả lời “không” khi họ xin tiền, nếu tôi nói một cách dịu dàng, bởi vì tôi biết rằng tiếng “không” cũng là một từ ngữ của yêu thương!
Bài học của Thánh Luca nhấn mạnh điểm này: chỗ đứng của chúng ta để được cứu rỗi tùy thuộc nơi chỗ đứng của lòng trắc ẩn chúng ta trước mặt anh chị em chúng ta.

 

TN26-C111: Trái tim tình người – Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng

KHOẢNG CÁCH VẬT CHẤT
 

Trong lịch sử, chưa bao giờ nhân loại đạt được một sự bình đẳng dù ở bất cứ một mức độ tương TN26-C111

“Trong lịch sử, chưa bao giờ nhân loại đạt được một sự bình đẳng dù ở bất cứ một mức độ tương đối nào, nhưng những gì đang tồn tại, thực sự gây nên những mối lo ngại lớn” (Theo nghiên cứu lịch sử kinh tế thế giới 2000 năm qua, The World Economy: History Statistics).
“Mối lo ngại” trước tiên chính là khoảng cách ngày một xa giữa người nghèo và người giàu, giữa nước giàu và nước nghèo. Đó là điều tồi tệ không mong gì cải thiện được.
Lướt qua số liệu tổng kết khoảng cách giữa các nước kém phát triển và các nước phát triển – giữa dân nghèo và dân giàu – càng lúc càng tăng cao, chúng ta mới thấy rõ đúng là “mối lo lớn” thật sự. Nếu năm 1820 khoảng cách là 3:1, sau 30 năm là 35:1, và đến năm 2002 đã là 75:1.
Khoảng cách giàu - nghèo tiếp tục gia tăng
Cuộc đấu tranh vì công bằng của nhân loại hẳn còn cả chặng đường dài: báo cáo mới của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD - Organization for Economic Cooperation and Development) cho thấy khoảng cách giàu - nghèo ở 30 nước giàu nhất vẫn tiếp tục tăng trong 20 năm qua, đặc biệt là ở Mỹ. Các tiến bộ về thương mại và kỹ thuật đã giúp kinh tế các nước thành viên OECD phát triển nhanh chóng, nhưng đời sống tầng lớp thấp không cải thiện là mấy.
Nghiên cứu trong suốt 20 năm của OECD cho thấy có đến 27/30 nước có tình trạng thu nhập người giàu thì tăng trong khi nhóm còn lại giậm chân tại chỗ. Mỹ là nước có tỉ lệ chênh lệch giàu nghèo cao nhất, chỉ sau Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ, và khoảng cách này đã tăng nhanh kể từ năm 2000 tới nay. Pháp trong khi đó giảm được phần nào sự bất bình đẳng này khi công nhân nghèo đã được trả lương tốt hơn. Ở Mỹ, 10% người giàu nhất thu nhập trung bình 93.000 USD/năm (cao nhất trong OECD) trong khi 10% người nghèo nhất chỉ thu nhập 5.800 USD/năm, thấp hơn khoảng 20% so với mức trung bình của OECD. Nhóm 10% giàu nhất chiếm tới 71% tài sản của toàn bộ nước Mỹ. Thu nhập 10% giàu nhất ở Pháp là 54.000 USD/năm so với 9.000 USD/năm của 10% nghèo nhất. Con số tương ứng ở Nhật Bản là 60.000 USD và 6.000 USD.
Đằng sau sự văn minh của thế giới, vẫn là thiên tai, ô nhiễm, dịch bệnh, cái nghèo cùng cực và chết đói. Đằng sau sự hào nhoáng của các quốc gia đều là những mảng tối. Chiếc bánh kinh tế toàn cầu đã nở phồng lên theo tỷ lệ chưa từng thấy, nhưng đáng buồn là người giàu đã ăn hầu hết phần bánh này. Họ dùng cả quyền lực để bảo đảm phần béo bở nhất và chỉ nhường phần vụn thừa rơi rớt cho người người nghèo đói (góp nhặt từ Internet).
Đó là câu chuyện Phú ông và Lagiarô thời đại.
KHOẢNG CÁCH TINH THẦN
Khoảng cách tinh thần: đó là sự “lạnh lùng” đáng sợ của một bộ phận đông đảo những người giàu có. Sự ấm áp đã làm cho họ không thể hiểu nổi thế nào là băng giá. Sự no đủ đã làm cho họ không thể hình dung được thế nào là đói khát. Sự hưởng thụ sung túc đã làm cho họ không thể tưởng tượng được thế nào là cùng khổ.
Ánh mắt của đa số những người giàu có luôn chỉ có một hướng nhìn về “thế giới thiên đàng vật chất” và họ chìm đắm trong mơ ước không ngừng vươn lên cao hơn nữa trong khoái lạc riêng tư với niềm tự hào, tham vọng, và cả lòng ganh tỵ đua chen.
Họ bỏ mặc - hay không còn nhận ra - một thế giới khác đang ở ngay bên cạnh họ. Thế giới của một Lagiarô cùng khổ và cực kỳ bất hạnh. Có khi không phải họ khinh miệt người cùng khổ, thật ra - và là điều đáng sợ - họ quên sự hiện diện của người cùng khổ đang cùng sống với họ trên hành tinh này.
Họ sống trong thế giới hiện thực đầy no thỏa và hóa thân thành thần thánh đầy hạnh phúc trong thế giới thiên đàng ảo - thế giới giàu có vật chất và dư đầy hưởng thụ - cho đến một ngày nào, khi tài khoản thời gian của họ đã hết. Đó là lúc họ mới nhìn thấy thế giới của Lagiarô, một thế giới thần thánh hiện thực mà Lagiarô đã vươn đến được từ thế giới cùng khổ với một đời bất hạnh luôn đói khát no ấm và tình yêu. Nhưng khát vọng ấy Lagiarô đã không tìm thấy được trong thế giới hữu hình mà Lagiarô đã trải qua.
Bây giờ, khi ông nhà giàu chết, ông mới bước vào một thế giới thật - đây mới là thế giới thật! - Ngỡ ngàng nhận ra đây không phải là Thiên Đàng sau những tháng ngày sống trong cõi thiên thai của “thiên đàng ảo” đã tan biến!
Bây giờ, họ - những con người của thế giới phú hộ - mới nhận thấy Lagiarô từ xa. Con người bần cùng, mà trước đây - và cũng là thế giới bần cùng mà trước đây - đã ở ngay bên cạnh họ, ngay trước mắt họ, chỉ cần bước một vài bước là đã thấy, chỉ cần cúi xuống một chút là đã chạm tới - nhưng họ đã không hề biết đến! "Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh Lagiarô trong lòng tổ phụ”(Lc.16,23).
Trên đỉnh cao của sự sang trọng, giờ ở tận cùng của sự đọa đày, những con người như nhân vật phú ông mới ngộ ra được thế nào là đau khổ tận tâm cang. “Bấy giờ ông ta kêu lên: ‘Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh Lagiarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!”(Lc. 16.19-31).
LẠC LỐI
Trong nơi đọa đày, phú ông mới biết mình đã lầm đường lạc lối."Ông nhà giàu nói: ‘Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Lagiarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!’” (Lc. 16.27-28).
Có phải vì thiếu thông tin, thiếu sự hướng dẫn, thiếu giáo huấn, mà phú ông đây “sa vào chốn cực hình” không? – Chắc hẳn là không rồi.
Ngay từ khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã đặt để Giáo Huấn Tình Thương của Ngài trong lòng trí con người. Thiên Chúa không ngừng Giáo Huấn con người tiệm tiến theo thời gian. Cho đến khi Ngài chọn Dân Riêng của Ngài để ban tặng cho con người Đấng Cứu Thế. Nhưng Lịch Sử Cứu Độ cho thấy con người đã nhiều lần “để ngoài tai” lời răn dạy của Chúa. Và lịch sử con người cũng chứng minh con người luôn nuôi tham vọng riêng mình, sống ích kỷ chỉ vì bản thân, không biết chia sẻ và yêu thương đùm bọc lẫn nhau. “Ông Áp-ra-ham đáp: ‘Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó’. Ông nhà giàu nói: "Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối. Ông Áp-ra-ham đáp: "Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.’”(Lc.16,29-31).
Trong Khổng Tử Gia Ngữ có kể một câu chuyện:
Khổng Tử làm quan Tư Khấu nước Lỗ, khi được quyền nhiếp chính chức vụ tể tướng, nét mặt có vẻ vui mừng. Trò của ngài là Trạng Do liền hỏi:
- Do này vẫn được nghe là những người quân tử, thấy tai họa đến cũng không sợ, thấy hạnh phúc tới cũng không vui mừng, thầy mới được có địa vị mà vui mừng như thế là cớ làm sao?
Khổng Tử đáp:
- Phải có câu nói ấy thực, nhưng há chẳng có câu nói rằng: “Người ta vui vì được đem địa vị cao quí của mình mà hạ xuống cùng với mọi người sao?
Giới Luật Yêu Thương đòi hỏi sự chia sẻ trong tình liên đới giữa người với người. Tội lỗi không chỉ là lánh xa những điều độc ác, mà còn phải làm những điều chân thiện. Dân gian cũng có câu: “làm lành lánh dữ”. (Vì xưa ta đói các ngươi đã cho ăn…Mt.25,31-46).
Câu chuyện phú hộ và Lagiarô vẫn còn tiếp diễn trong thế giới hôm nay. “Ông Áp-ra-ham đáp: ‘Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.’”(Lc.16,31).
Còn hơn thế nữa, chính Đấng Cứu Thế đã đến với nhân loại. Giáo Huấn Tình Thương của Ngài đem đến cho con người sự an bình và dịu ngọt biết bao! Thế nhưng, vẫn còn đó “những người giàu có” lạnh lùng trước những “Lagiarô” đầy đau khổ và bất hạnh. Trong rất nhiều hoàn cảnh, Giới Luật Yêu Thương vẫn còn nằm bên lề cuộc sống.
Nhưng, dù thế nào đi nữa, người Kitô-hữu chúng ta vẫn luôn sống trong hy vọng. Ánh sáng Tin Mừng vẫn tiếp tục chiếu soi trong thế giới tối tăm này. “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga.1,5).
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết sống tình liên đới bằng con tim rộng mở, để biết chia sẻ với đồng loại nhân danh Tình Yêu Thiên Chúa. Amen.

 

TN26-C112: Chúa nhật 26 Thường Niên

Nhiều người có ý nghĩ rằng: Thiên Chúa nhân từ vô cùng, thì chắc chắn Ngài không phạt ai mãi: TN26-C112

Nhiều người có ý nghĩ rằng: Thiên Chúa nhân từ vô cùng, thì chắc chắn Ngài không phạt ai mãi mãi trong hỏa ngục, và do đó, không có hoả ngục! Đó là một ý nghĩ sai lầm! Bài Tin Mừng trên đây, Chúa Giêsu đã xác quyết có hỏa ngục, nơi giam cầm mãi mãi những người cố tình phạm trọng tội, nhất là tội thiếu yêu thương, không muốn chia xẻ những gì mình có cho người túng thiếu, khổ cực! và hình phạt vô cùng thảm khốc sẽ đến cho họ sau kiếp sống vắn vỏi này!
Chúa Giêsu kể một dụ ngôn đặc biệt nói đến hai hạng người trong xã hội thời Chúa Giêsu cũng như ngày nay: Một hạng người trọc-phú, và một hạng người bần cùng khốn khổ nhất trong xã hội, hạng người rất đáng chúng ta thương xót! Thế nhưng số phận đời đời của 2 người mà Chúa nói tới, hoàn toàn đảo ngược sau khi họ chết!
Người phú hộ: Ăn mặc toàn gấm vóc lụa là, quần áo lộng lẫy, ngày nào cũng yến tiệc linh đình, ăn toàn cao lương, mỹ vị, không thiếu sơn hào hải vị. Ông là một người giầu, một trọc phú điển hình thời Chúa Giêsu, giầu theo kiểu đại phú gia La-Mã lúc bấy giờ. Ông quá giầu: Vì ngày nào cũng yến tiệc linh đình, không như những người giầu vừa vừa, chỉ mở đại tiệc dăm ba lần trong năm!
Lazarô: Một người cùng khổ nhất trong xã hội, vừa ốm đau, ghẻ lở khắp mình, phải đi ăn xin cơm thừa canh cặn của những người khá giả để sống qua ngày! Lazarô và nhà phú hộ là hai hình ảnh hoàn toàn trái ngược: Một người quá giầu còn Lazarô lại ở mức cùng tận của cái nghèo! Tên Lazarô có nghĩa là Chúa thương giúp. Trong Tin Mừng có 2 người khác nhau cùng có tên là Lazarô: một người mà Tin Mừng Thánh Gioan nói tới trong đoạn XI, là em của Bà Martha và Maria, được Chúa cho sống lại sau khi đã chết 4 ngày. Còn Lazarô là người cùng khổ mà Chúa Giêsu nói tới. Ông là người duy nhất được Chúa đặc biệt nói rõ tên trong các câu chuyện Tin Mừng.
** Giầu không phải là tội, tuy nhiên, giầu mà không biết chia xẻ, không biết xót thương những người nghèo khổ, thì đó mới là tội. Người phú hộ, quá dư thừa, ngày nào cũng yến tiệc linh đình, đồ ăn thừa mứa, trong khi Lazarô chỉ ước ao những mụn bánh rớt xuống từ bàn ăn của ông phú hộ, nhưng cũng không ai thèm cho! Mà Lazarô có ở đâu xa, ông nằm ăn xin ngay bên cổng của người phú hộ, thế nhưng ông phú hộ đã không thèm để mắt tới! Nếu ông ta đã quan tâm thì đâu Lazarô có phải túng thiếu, khổ sở tận cùng như thế! Ông ta chỉ cần sai đầy tớ đem cho Lazarô chút cơm thừa, canh cặn thì Lazarô đã hạnh phúc lắm rồi! Nhưng mơ ước quá nhỏ bé đó đã trở thành ảo vọng, vì ông phú hộ đâu thèm xót thương thân phận hẩm hiu thê thảm ấy, thê thảm còn hơn con vật nữa! Một cảnh thật thê lương: Lazarô nằm teo-tóp, chốc lở đầy mình, không một ai thương cảm, chỉ có những con chó đến liếm những mụn ghẻ chốc của ông mà thôi! Mà sự cảm thông, chia xẻ đây có làm bớt đi gia tài kếch xù của ông ta đâu! Và sự chia sớt này chỉ cần ông ta để tâm một chút thì đã dễ dàng đem lại hạnh phúc cho Lazarô, nhưng ông ta đã không làm!
** Người phú hộ ăn uống dư thừa, tiêu sài hoang phí cho riêng mình nhưng từ chối chia xẻ cả những đồ ăn thừa mứa đối với Lazarô, một người đói nghèo, cùng khổ, để làm giảm bớt một chút nào tình cảnh nghèo khó... Đó là một trọng tội đối với Thiên Chúa. Ông không thèm để mắt tới một người khốn cùng, túng đói, khốn khổ hơn cả một con vật, ngày ngày ăn xin ngay trước cổng nhà mình, thì làm sao đáng Chúa xót thương?
** Trong đoạn Tin Mừng trên, Chúa Giêsu vẽ ra 2 cảnh hoàn toàn trái ngược: Một cảnh ở trần thế: đó là cảnh tưng bừng náo nhiệt, ăn sài cao lương mỹ vị dư thừa nơi nhà ông phú hộ, với cảnh cùng khổ của của Lazarô, thiếu thốn cả những gì cần thiết nhất để sống còn. Một cảnh khác ở kiếp sau: Đó là cảnh hạnh phúc bất tận nơi Thiên Quốc mà Abraham, Lazarô và các con Chúa được hưởng sau kiếp sống vắn vỏi này, đối chiếu với cảnh lửa hồng nung nấu, tuyệt vọng hoàn toàn của người phú hộ bị trầm luân muôn kiếp.
Bị nung nấu trong lửa chẳng hề tắt, ông phú hộ chỉ dám xin tổ phụ Abraham sai Lazarô nhúng một đầu ngón tay vào nước để nhỏ xuống, cho ông ta đỡ khát một chút, nhưng không được, vì có một vực thẳm ngăn cách 2 bên, không thể có ai còn giúp đỡ nhau được nữa! Bởi vì đã hết giờ Cứu Độ! Sự chết đã vĩnh viễn đóng kín mọi cánh cửa hy vọng nơi các linh hồn bị trầm đọa muôn kiếp! Không còn cơ hội để thay đổi số phận được nữa! Sự ngăn cách giữa Thiện-ác trong kiếp sau là sự ngăn cách vĩnh viễn, không bao giờ có thể thay đổi được!... Khi còn đang sống, thì bất cứ lúc nào, chúng ta lắng nghe và thực thi Lời Chúa để sống Yêu Thương, thì số phận tức khắc thay đổi, nhưng sau khi chết, thì hoàn toàn bất di bất dịch: Hoặc thiên thu hạnh phúc hay đời đời khốn khổ!
** Ở đời này, có khi chúng ta cũng gặp nhiều nghịch cảnh, túng thiếu, gian truân... nhưng nếu cứ bước đi tren đường giáo huấn của Chúa để sống trong tình thương, yêu Chúa và tha nhân, thì chắc chắn, tương lai tốt đẹp sẽ đến, Thiên Chúa sẽ trọng thưởng các con của Ngài thiên thu hạnh phúc trên Nước Trời. Muốn thế, chúng ta đừng nhắm mắt, bịt tai trước những thống khổ, túng thiếu của tha nhân, nhất là những người cùng khổ bên cạnh chúng ta.
Sự đau khổ túng thiếu đời này chưa phải là cùng tận, chỉ là một thử thách chóng qua, chúng ta cứ vững tâm sống trong Thánh Luật Yêu Thương của Chúa, thì tương lai rực rỡ sẽ đến và thay đổi hoàn toàn số phận chúng ta trong Cõi thiên thu vĩnh hằng!

 

TN26-C113: Cuộc sống trần thế không phải là tất cả

(Suy niệm của Lm Phanxicô Xavie Vũ Phan Long)
Nếu con tim đã trở nên đui mù và chai cứng vì ích kỷ, không quan tâm đến Thiên Chúa và người thân cận, thì các phép lạ và các sứ giả từ bên kia thế giới trở về cũng chẳng giúp lay tỉnh được.
1.- Ngữ cảnh
 

Tại đoạn Lc 16,14-18, tác giả đã mô tả người Pharisêu là “vốn ham hố tiền bạc”. Lời mô tả này: TN26-C113

Tại đoạn Lc 16,14-18, tác giả đã mô tả người Pharisêu là “vốn ham hố tiền bạc”. Lời mô tả này chủ ý được ghi vào cho khó nghe, bởi vì là một nhận xét bất thường, không có chỗ nào trong TM III hay Cv sử dụng. Đức Giêsu than trách rằng điều răn quan trọng nhất, yêu thương người thân cận như chính mình, đã phải hy sinh cho việc giữ lấy của cải riêng, và lòng yêu thương đối với chính mình, cho dù phải hy sinh người thân cận, đã được ưa chuộng hơn – và điều này lại rõ ràng nơi những người Pharisêu đạo đức! Những câu nói về sự ham hố tiền bạc dễ dàng tuôn ra từ dụ ngôn trước đó nói về việc sử dụng của cải cách bất chính (16,1-8) và từ những bài học về việc lạm dụng của cải (16,9-13). Vậy bài dụ ngôn 16,19-31 là phần nối tiếp những nhận định lâu dài của tác giả Lc về việc sử dụng không đúng đắn các của cải (kể từ bài Người con hoang đàng). Bài dụ ngôn hôm nay giúp làm sáng tỏ hoàn cảnh này. Người Pharisêu chế nhạo Đức Giêsu khi nghe dụ ngôn của Người đề cập đến tiền bạc; bây giờ, bằng ngôn ngữ rõ ràng và mạnh mẽ, Đức Giêsu biện luận về cách sử dụng đúng đắn các của cải.
Những lời Đức Giêsu (16,15-18) tiếp theo lời tác giả giới thiệu người Pharisêu ở c. 14 tập trung vào những gì Đức Giêsu cùng chia sẻ với cử tọa: hết sức tôn trọng các giáo huấn của Cựu Ước; chỉ có một con đường duy nhất đưa vào Nước Trời (16,16), đó là tuân giữ các giáo huấn của Thiên Chúa, và ở đây là giáo huấn liên hệ đến việc sử dụng đúng đắn các của cải. Lề Luật nói về điểm này, sẽ không bao giờ qua đi, nhưng luôn hướng dẫn các chọn lựa của con người (16,17). Điều duy nhất Đức Giêsu thêm vào các giáo huấn đáng kính của Thiên Chúa là làm sáng tỏ cách người Do Thái hiểu Luật Môsê (x. c. 18 như một ví dụ về cách Đức Giêsu làm sáng tỏ Lề Luật). Người Kitô hữu, trong khi vẫn nhìn nhận giá trị của Luật Cựu Ước, lại sống ý muốn của Thiên Chúa theo cách hiểu của Đức Giêsu, là Đấng Cứu thế, là vị Hướng đạo và Đấng soi sáng mình.
Vì không có một từ hay một câu nào để nối dụ ngôn với các câu trước, ta có thể hiểu rằng dụ ngôn thuộc về những câu đi trước nó.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Hoàn cảnh của ông nhà giàu và Ladarô (16,19-22);
2) Cuộc đối thoại (16,23-31):
a) Phần một: Cuộc sống dưới ánh sáng của cái chết (cc. 23-26);
b) Phần hai: Sứ điệp cho “năm người anh em” và cho các môn đệ Đức Giêsu: lắng nghe Lời Chúa (cc. 27-31).
3.- Vài điểm chú giải
- mặc toàn … (19): enedidysketo, thì vị hoàn của động từ endidyskô, “mặc”, cho hiểu là đây là một hành động xảy ra thường xuyên.
- lụa là gấm vóc (19): dịch sát là “gấm tía và vải lanh mịn”. Theo ngôn ngữ của Cựu Ước (Cn 31,22; 1 Mcb 8,14), ta hiểu ông nhà giàu sống như một ông vua.
- Ladaro (20): Do từ Híp-ri ’El‘âzâr, có nghĩa là “Thiên Chúa giúp đỡ”.
- được thiên thần đem (22): Do vế sau nói về ông nhà giàu “cũng chết, và người ta đem chôn”, tức là linh đình và long trọng, ta hiểu anh Ladarô không được loài người an táng, nên đã được các nhân vật thiên quốc đem đi.
- anh Ladarô trong lòng tổ phụ (23): Đây là vị trí danh dự khi người ta được dự tiệc đồng bàn với Abraham tại bữa tiệc thiên sai (Lc 13,28-29; x. Ga 13,22).
- âm phủ (23): Từ ngữ (h)adês lấy từ thế giới Hy Lạp, để mô tả cuộc sống của người ta sau cái chết. “Hadês” là tên của vị thần Hy Lạp cai trị âm phủ, và được dùng để chỉ nơi người ta không thể nhìn thấy, do con chữ alpha có nghĩa là thiếu mất đứng trước ngữ căn của động từ “nhìn thấy”. Đối với người Hy Lạp không tin có sự sống lại từ cõi chết, dù chấp nhận có sự bất tử, linh hồn của người chết được mô tả là đi lang thang trong một xứ sở không có mặt trời, trong một hình dạng bất toàn, như một cái bóng.
- ông ta ngước mắt nhìn lên (23): Ông đang “ở dưới”, tượng trưng cho tình trạng đau khổ, nhục nhã và thiếu thốn mà ông không tự giải quyết được.
- lòng tổ phụ (23): biểu tượng người Do Thái dùng để nói về tình trạng sống rất thân tình và rất được ao ước, khi đó hai con người kết hợp với nhau. Công thức này tương tự với công thức “lòng kề lòng”.
- Ladarô được an ủi (25): Thái bị động thay tên Thiên Chúa: “Thiên Chúa an ủi” Ladarô.
- đã có một vực thẳm lớn (26): Dịch sát là “đã cắt ngang định sẵn một vực thẳm” (NTT). Đây là thái bị động thay tên Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã định sẵn một vực thẳm”.
- Chúng đã có Môsê và các Ngôn sứ (29): “Môsê và các ngôn sứ” là tên gọi bộ Kinh Thánh Do Thái (tức Cựu Ước). Tổ phụ Abraham khẳng định rằng sứ điệp nòng cốt của Kinh Thánh Do Thái vẫn còn là một cẩm nang có giá trị để hướng dẫn anh em ông nhà giàu.
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Hoàn cảnh của ông nhà giàu và Ladarô (19-22)
Ông nhà giàu không có tên, nhưng lại rất giàu; còn Ladarô chỉ có một sự giàu có, đó là cái tên. Hai người không có tương quan gì với nhau cả.
Ông nhà giàu không làm điều gì xấu về luân lý cả; ông chưa hề từ chối Ladarô một điều gì, vì Ladarô cũng chưa xin gì cả. Bản văn chỉ nói rằng ông có một chương trình sống như chương trình một ông nhà giàu khác đã phác ra, nhưng đã không thể thực hiện trọn vẹn vì cái chết đến sớm: “Cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã” (Lc 12,19). Y phục thường xuyên của ông là lụa là gấm vóc: mỗi ngày ông đều mặc “gấm tía và vải lanh mịn”, chứ không chỉ vào một số ngày đặc biệt. “Gấm tía” rất đắt, nên chỉ giới thượng lưu vương giả mới dám dùng. “Vải lanh mịn” cũng là thứ hàng hiếm, ngay tại Rôma. Thế mà ông nhà giàu mặc mỗi ngày! Thường mỗi gia đình có một bữa ăn chính mỗi ngày; còn trong nhà của ông nhà giàu, bữa ăn chính này, mỗi ngày, lại là một yến tiệc. Chắc chắn ông nhà giàu không ăn mặc và ăn uống sang trọng hào nhoáng như thế cho riêng ông, ông phải có các khách mời. Ông đã sống như một ông vua.
Các thính giả có thể khó chịu vì bức tranh này, vì dường như “bôi bác” người nghèo. Nhưng Đức Giêsu sắp chuyển sang vấn đề cách thức sử dụng của cải và lý do vì sao của cải không cứu được mà lại tiêu diệt người chủ của. Chính bài học hệ trọng này cho hiểu vì sao Đức Giêsu giới thiệu quá chi tiết hình ảnh ông nhà giàu, một hình ảnh ở mức độ nào đó đang có trong mỗi một người, ở dạng hiện thực hay ở dạng nguyện ước.
Thế rồi Đức Giêsu đưa ra một hình ảnh đối ngược tối đa với ông nhà giàu: một người nghèo mạt. Bản văn không nói là anh này sống đúng đắn về luân lý. Anh có một tên, “Ladarô” có nghĩa là “Thiên Chúa giúp đỡ”, một cái tên có ý nghĩa đối với “những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù” (x. Lc 14,13.21). Ladarô nghèo khó lại mụn nhọt đầy mình. Phải chăng Thiên Chúa sẽ giúp đỡ Ladarô qua trung gian ông nhà giàu? Anh không thể đi lang thang đây đó mà xin ăn. Ladarô cần có bạn bè để giúp anh tìm được thức ăn. Họ đã bỏ anh nằm trước cổng nhà ông nhà giàu, một vị trí mà một người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù, người không được mời, có thể ở gần chủ nhà nhất. Ông chủ và các khách mời không thể nào không biết có anh này ở ngoài cổng, và quả thật, ông nhà giàu đã gọi tên anh khi anh đang ở trong lòng tổ phụ Abraham.
Ladarô đói, anh thèm được ăn những thứ thừa thãi trên bàn người giàu và các thực khách rơi xuống. Rất có thể mấy con chó dưới gầm bàn được hưởng những thứ này. Mà nếu vậy, hẳn là Ladarô mong được không phải ở giữa những thực khách, mà là ở giữa những con chó. Chỉ có mấy con chó hoang đến liếm ghẻ chốc của anh. Phải chăng chúng săn sóc anh? Nếu thế, ông nhà giàu không giúp đỡ anh bằng mấy con chó. Nhưng cũng có thể hiểu việc mấy con chó đến liếm mụn nhọt cho anh như là một tình trạng bị bỏ rơi, không được ai giúp đỡ, mà còn bị đàn vật tấn công nữa.
Bức tranh Đức Giêsu phác ra kết thúc tại điểm này: đây là một “kết thúc mở”. Tình trạng mâu thuẫn đã rõ. Đức Giêsu không mô tả thêm gì; điều này có nghĩa là bao lâu hai nhân vật trên còn sống, không có gì thay đổi cả: mỗi người cứ tiếp tục như thế cho đến chết. Dù sao, tác giả Lc không hề xác định rằng ông nhà giàu xấu xa, hay là Ladarô là điển hình của người tốt. Đấy là những vấn đề nằm ngoài bản văn. Tác giả chỉ mô tả cuộc sống của hai bên: một bên thì ăn tiệc, còn bên kia thì ăn xin; một bên thì ăn mặc sang trọng, còn bên kia thì gần như trần truồng.đây là hai kiểu mẫu song đối đang đứng trước mặt nhau, nhưng không có đối thoại. Mặc dù có sự gần kề thể lý hằng ngày, dụ ngôn lại cho thấy sự xa cách là có thật. Đàng khác, sự kiện họ không nói với nhau là một yếu tố không phài không đáng kể, nhất là trong một dụ ngôn kết thúc bằng việc kêu gọi lắng nghe (16,29.31).
* Phần một của đối thoại: Cuộc sống dưới ánh sáng của cái chết (23-26)
Nhưng cái tên “Ladarô”, có nghĩa là “Thiên Chúa giúp đỡ”, Đức Giêsu cố tình gán cho anh, là để ta hiểu rằng cái tên của anh phù hợp với hoàn cảnh của anh: Khi còn sống, anh đã không được người nào giúp đỡ; sau khi chết, anh đã được Thiên Chúa an ủi.
Đứng trước cái chết, ông nhà giàu và anh nhà nghèo bình đẳng. Cái chết chiếu cố đến cả hai người. Nhưng tại điểm này, số phận của họ đảo ngược. Bản văn không nói gì về phán xét, nhưng chỉ ghi nhận sự đảo lộn các số phận, đồng thời nói đến một tình trạng bất khả truyền thông giữa hai bên. Những gì được nói ở đây về cuộc sống sau cái chết không phải là một mô tả chính xác về cuộc sống ấy và không hề có ý phác ra một địa lý của thế giới bên kia gồm những vùng hoặc những tầng. Nếu Đức Giêsu chọn nói về đau khổ dành cho những kẻ tội lỗi trong cuộc sống sau cái chết, Người thường vận dụng kinh nghiệm của các cư dân của một thành phố qua hình ảnh một ngọn lửa cháy mãi trên một đống rác, liên tục cháy ngày đêm để thiêu đốt rác rưởi của thành ấy (Mc 9,48; x. Is 66,24).
Các hình ảnh này chỉ muốn diễn tả sự khác biệt tận căn trong thế giới bên kia của đời sống một người đã rất giàu có và đời sống của một người đã hết sức nghèo túng. Ladarô được đưa vào lòng tổ phụ Abraham. Abraham, bạn của Thiên Chúa và tổ phụ của dân Israel, được coi như người chủ tọa bữa tiệc mừng trong thế giới ấy (x. Mt 8,11). Ladarô, đã từng nằm vạ vật bẩn thỉu trước cổng và chỉ có bầy chó làm bạn, nay nhận được một chỗ danh dự bên cạnh tổ phụ Abraham, trong sự hiệp thông thân tình và tin tưởng với ngài (x. Ga13,23). Còn ông nhà giàu, trước đây, ông ăn mặc tinh tế và xa hoa, nay chỉ có lửa bao quanh ông, khiến ông rất đau đớn. Trước kia, ông luôn có sẵn những thức ăn thơm ngon và thức uống ê hề, bây giờ ông phải xin một giọt nước. Trước đây, trong cuộc sống trần gian, Ladarô đói khát mong ước được ăn những thứ thừa từ bàn chủ rơi xuống, nhưng không được; bây giờ ông nhà giàu xin Ladarô đưa ngón tay nhúng nước rồi nhỏ cho ông một giọt nước, mà cũng không được nhận. Trong cuộc sống trần gian, ông đã biết và chỉ quan tâm đến thú vui, thoải mái, sự xa hoa và những thứ tinh tế. Với của cải của ông, ông có thể cho phép mình có mọi sự. Nhưng cách thức ông đã sử dụng của cải và tiêu xài cuộc sống đã đẩy ông vào một tình cảnh trong đó ông phải chịu đau đớn và dày vò, nhung nhớ và nguyện ước không nguôi; chính ông tự tách khỏi sự hiệp thông với tổ phụ Abraham và với Thiên Chúa.
Tác giả không giải thích trong bài dụ ngôn vì sao ông nhà giàu phải chịu đau khổ, còn Ladarô thì thoát khỏi đau khổ. Các hoàn cảnh sau cái chết của họ chỉ được hiểu ngầm trong bài là xứng đáng với họ. Tổ phụ Abraham không nói rằng vì ông nhà giàu có của cải trên trần gian, nên bây giờ phải chịu đau khổ; ngài chỉ muốn khẳng định rằng ông ấy đã có của cải ở trần gian, nhưng sự giàu có không theo ông vào âm phủ được. Chúng ta hiểu rằng đời sống trước đây trên mặt đất phải chịu trách nhiệm và là nguyên nhân của những tình cảnh sau cái chết.
Lời ông nhà giàu kêu “lạy cha Abraham (của con)” xin giúp đỡ và lời tổ phụ Abraham nói “con (của ta)” để từ chối cho hiểu quan hệ thân thương này vẫn không chặn được các ngọn lửa và cơn khát nơi âm phủ. Nhưng lời kêu cứu của ông cũng cho hiểu là có một dây liên kết cốt thiết giữa ông và Ladarô; mặc dù có những khác biệt lớn lao giữa hai người, họ vẫn là anh em gần gũi và phải yêu thương nhau. Thế nhưng bây giờ, “giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được” (c. 26), nghĩa là không thể thay đổi phần thưởng hay hình phạt nữa, khi mà cuộc sống đã chấm dứt. Mối quan tâm của ông nhà giàu cho số phận của năm người anh em sau này gợi ý là sau khi chết, không còn có thể thay đổi được nữa.
Chúng ta ghi nhận là không phải là Ladarô đã lập luận để trả lời cho ông nhà giàu, mà là tổ phụ Abraham, tức Nguồn Mạch của Do Thái giáo. Rất hợp lý là cha của tất cả mọi con dân Israel giải thích cho hiểu vì sao Ladarô không thể giúp gì cho ông nhà giàu. Lý do thứ nhất: ông nhà giàu đã có các thứ tốt lành khi còn sống ở đời; còn Ladarô thì chỉ toàn gặp bất hạnh. Bây giờ ông nhà giàu phải đau khổ còn Ladarô được an ủi. Điểm nhắm trong lời nói của tổ phụ Abraham là cung cấp lý do vì sao đau khổ của ông nhà giàu không thể chấm dứt: do sống trong tình trạng bị dày vò lúc này, ông phải nhớ lại rằng ông đã có các thứ tốt lành trong cuộc sống trần gian và nhớ là bây giờ ông phải chịu đau khổ. Bên kia, Ladarô không bị buộc phải từ bỏ tình trạng hạnh phúc của anh; anh đã phải chịu đau khổ suốt đời, nên nay anh được an ủi. Lời của tổ phụ Abraham chỉ nhắm giải thích một điều: không phải vì sao mỗi người đang ở nơi họ đang ở, nhưng vì sao không thể yêu cầu Ladarô giúp đỡ ông nhà giàu.
Lý do thứ hai: theo quan niệm về âm phủ nói trên, có một sự ngăn cách không thể vượt qua giữa cái tốt và cái xấu: “giữa chúng ta đây và các con”, tổ phụ Abraham kể cả chính ngài vào đó. Vậy, sự ngăn cách này do một Đấng Khác quy định bất di bất dịch, chứ không do bất cứ thụ tạo nào. Tình trạng bất khả thông thương này chấm dứt mọi tranh luận về việc Ladarô giúp đỡ ông nhà giàu.
* Phần hai của đối thoại: Sứ điệp cho “năm người anh em” và cho các môn đệ Đức Giêsu: lắng nghe Lời Chúa (27-31)
Ông nhà giàu nhìn nhận rằng chính lối sống của ông trước đây trên mặt đất đã đưa ông đến tình trạng này. Do đó ông mong muốn là anh em ông được nhắc nhở thay đổi đời sống để khỏi rơi vào số phận đau đớn như ông. Rất có thể những người này đang sống dưới một mái nhà với ông, nên ông biết rõ lối sống của họ. Cách thức thực hiện điều này, như ông đề nghị, là gửi Ladarô về khuyến cáo các anh em ông về mối nguy hiểm đáng sợ đang ở trước mắt. Tổ phụ Abraham trả lời: “Chúng đã có Môsê và các Ngôn sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó”. “Môsê và các Ngôn sứ” là tên gọi bộ Kinh Thánh. Như thế, muốn tránh được lộ trình đưa đến số phận đau đớn thì hãy lắng nghe Lời Chúa. Từ đó, chúng ta hiểu rằng trong khi còn sống, ông nhà giàu đã không lắng nghe, tức không vâng theo “Môsê và các Ngôn sứ”, Lời Chúa, với luật căn bản là mến Chúa yêu người.
Nhờ trung gian của Kinh Thánh, Thiên Chúa truyền đạt cho chúng ta biết ý muốn của Ngài, Ngài ban cho chúng ta những quy luật sống đúng đắn để đưa chúng ta đến đích. Ý muốn của Thiên Chúa không hề khó tuân giữ, như sách Đệ nhị luật đã khẳng định: “Quả thế, mệnh lệnh tôi truyền cho anh em hôm nay đây, không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay anh em. Mệnh lệnh đó không ở trên trời […]. Mệnh lệnh đó cũng không ở bên kia biển […]. Thật vậy, lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành” (Đnl 30,11-14). Trong Kinh Thánh, có chỗ nói rõ ràng về trách nhiệm xã hội đối với những người nghèo. Nay ta có thể giải thích rõ ràng nhất bức tranh Đức Giêsu đã vẽ ra trong bốn câu đầu của dụ ngôn: Ông nhà giàu đã bỏ qua ý muốn của Thiên Chúa, không quan tâm đến Thiên Chúa, đã chỉ tìm kiếm tiện nghi và thú vui cho riêng mình. Do đó, ông đã phải đi đến đau khổ hiện tại.
Ông nhà giàu không phủ nhận tính đúng đắn của lời tổ phụ Abraham nói, nhưng ông nghĩ rằng anh em ông sẽ vâng theo hơn, nếu có người, như Ladarô, từ cõi chết trở về truyền đạt sứ điệp Môsê. Chắc chắn Ladarô không có gì hơn Môsê mà nói; giá trị của anh nằm ở chỗ anh có thể làm chứng về thế giới âm phủ. Nhưng câu trả lời của tổ phụ Abraham là một lời bình luận về trái tim con người. Nếu người ta không muốn vâng nghe Môsê và các ngôn sứ, thì người từ cõi chết trở về cũng chẳng lay chuyển được lòng dạ của họ. Lời tổ phụ Abraham phân tích một con tim sống trong tội rất có thế giá: bài dụ ngôn nhắm điều này, nên đã kết thúc ở đây với nhận xét của tổ phụ Abraham. Thật khó mà đưa trái tim con người đến chỗ hoán cải!
+ Kết luận
Trong bài dụ ngôn, Đức Giêsu cho thấy một cuộc đảo lộn tình thế và nguyên nhân của cuộc đảo lộn này. Những gì Người loan báo ở đây là nhắm ban cho các “anh em” (c. 28) ông nhà giàu một lời giáo huấn và khuyến cáo, để họ khỏi mất linh hồn vì những thú vui do của cải giàu sang, trái lại biết nghiêm túc tìm thánh ý Thiên Chúa. Các lời này của Đức Giêsu cũng là một an ủi cho người nghèo, vì tuy trên trần gian họ phải sống một số kiếp đau thương nhưng họ vẫn có thề hoàn toàn cậy trông vào sự nhân lành của Thiên Chúa.
Đức Giêsu mạnh mẽ loan báo rằng cuộc sống trần gian không phải là tất cả và các hoàn cảnh hiện thời trong cuộc đời không đơn giản được lặp lại sau cái chết. Ai không nhìn sang bên kia cuộc sống trần thế và niềm vui sống, thì sau cái chết sẽ phải gặp một chuyện kinh ngạc đau đớn. Đối với mọi người, giàu hay nghèo, cần phải quy hướng cuộc sống mình về ý muốn của Thiên Chúa. Đây là con đường duy nhất để tránh được diệt vong và đạt được sự hiệp thông vĩnh cửu với Thiên Chúa.
Còn có một hướng suy nghĩ khác: sau khoảng năm mươi năm Đức Giêsu đã ban dụ ngôn này, phải chăng tác giả Lc muốn ám chỉ rằng người ta cũng sẽ không nghe Đức Giêsu, Đấng đã sống lại từ cõi chết? Sách Công vụ đã nêu lên nhiều bằng chứng về sự “không nghe” này. Nếu hiểu như thế, bài dụ ngôn cũng có sức quy chiếu về Đức Giêsu.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Hai người ở cách nhau có ít bước, thế mà dường như không gặp nhau. Ladarô cứ việc nằm vất vưởng đau bệnh trước cửa; ông nhà giàu biết anh, nhưng sống như không hề có Ladarô. Khi người ta tin tưởng vào tiện nghi, vào của cải, vào “phát triển”, người ta trở thành đui mù, không thấy người khác với các nhu cầu của họ. Sau này, ông nhà giàu không hề biện minh: Tôi không gây rắc rối gì cho Ladarô. Tôi tôn trọng quyền tự do của anh. Anh ta đâu có hề xin tôi điều gì! Ông biết ông đã sai khi không sống những điều Lời Chúa dạy.
2. Ông nhà giàu có tất cả mọi sự trên đời và dường như ông đã đạt được mục tiêu của cuộc đời. Nhưng chính cái chết cho hiểu rằng cuộc sống trần gian không phải là tất cả. Phải sống cuộc sống trần gian, phải sử dụng của cải vật chất thế nào, để sau khi chết, người ta đạt được cuộc sống viên mãn. Dĩ nhiên Đức Giêsu không muốn nói đến một vài sai lỗi nhất thời; Người dạy chúng ta về giá trị của chọn lựa căn bản: có những chọn lựa trong cuộc sống hôm nay rất hệ trọng, bởi vì liên hệ đến cuộc sống vĩnh cửu sau cái chết.
3. Ông nhà giàu chết, và phải chịu cực hình. Điều này không có nghĩa là chỉ nguyên vì ông có của cải trong cuộc sống trần gian, mà dứt khoát ông bị hành hạ trong thế giới bên kia. Nếu ông bị đau đớn là vì ông đã không biết sử dụng của cải cho khôn khéo, như đã được nói đến ở cc. 9,14-15. Hôm nay chúng ta cũng được mời gọi xét lại xem chúng ta có chăng khả năng thấy nơi mỗi con người và nơi các nhóm người và các dân tộc, một Ladarô nghèo khó đang ở trước cửa nhà chúng ta. Chúng ta có nhận ra được những nhu cầu của họ chăng? Chúng ta đã và còn sẽ làm gì cho họ?
4. Sau khi chết, không còn có thể thay đổi được số phận nữa. Chính vì thế Đức Giêsu đã ra sức thúc bách người ta “thay đổi ngay bây giờ”. Không có một giáo huấn nào của Tân Ước cho thấy là ta còn có thể hoán cải sau khi chết. Lời Chúa có đó để hướng dẫn chúng ta đạt được cứu cánh của cuộc đời chúng ta. Muốn lắng nghe Lời Chúa, ta phải có con tim sẵn sàng và rộng mở. Nếu con tim đã trở nên đui mù và chai cứng vì ích kỷ, không quan tâm đến Thiên Chúa và người thân cận, thì các phép lạ và các sứ giả từ bên kia thế giới trở về cũng chẳng giúp lay tỉnh được.
5. Điều mà bài dụ ngôn lên án, đó là không biết nhận ra tình trạng của bản thân để thay đổi. Có một cuộc đời để đáp lại các tiếng gọi và có một lúc cuối cùng, vẫn còn có thể làm được điều gì đó. Người gian phi tại đồi Sọ đã có sự khôn ngoan đúng lúc. Trong một thoáng chốc, anh đã biết sử dụng Lời như một cái kềm để nhổ các cây đinh của cuộc sống gian ác của anh và nắm bắt được thiên đàng: “Giêsu ơi, xin nhớ đến tôi” (Lc 23,43).

 

TN26-C114: CHO THÌ CÓ PHÚC

Ông James Harrison, 79 tuổi, dân Úc, đã dành 60 năm cuộc đời để hiến máu hiếm của mình và cứu TN26-C114 Ephata

Ông James Harrison, 79 tuổi, dân Úc, đã dành 60 năm cuộc đời để hiến máu hiếm của mình và cứu sống hơn 2 triệu trẻ nhỏ trên cả nước. Nhờ có một kháng thể trong huyết tương máu của ông, giúp trẻ nhỏ không bị tử vong vì bệnh Rhesus, một dạng bệnh thiếu máu nghiêm trọng.
Chính vì sở hữu loại máu hiếm, nên suốt 60 năm qua, người đàn ông 79 tuổi, được mệnh danh là "người đàn ông có bàn tay vàng" hay "người đàn ông của 2 triệu trẻ nhỏ" đã liên tục đi hiến máu, giúp đỡ những đứa trẻ kém may mắn. Máu của ông Harrison đặc biệt đến nỗi ông còn được bảo hiểm 1 triệu đôla Úc.
Trước đó, vào năm 14 tuổi, ông Harrison đã phải trải qua một cuộc phẫu thuật ngực để cắt bỏ phổi. Khi bước ra khỏi phòng phẫu thuật, cha của ông mới bắt đầu kể cho ông nghe mọi chuyện. "Cha nói tôi phải cần đến 13 lít máu mới đủ để được cứu sống. Và tính mạng của tôi đã được những người không quen biết cứu sống.” Chính cha cũng là người đã hiến máu cho tôi. Lúc đó, tôi đã nói với cha rằng: "Khi lớn lên, con cũng sẽ hiến máu.”
Trong lần hiến máu đầu tiên, các bác sĩ đã phát hiện ra nhóm máu của ông Harrison (Rh-) có chứa một loại kháng thể cực hiếm chống lại Rhesus – một chứng bệnh thiếu máu nghiêm trọng. Từ đó ông Harrison bắt đầu nhiệt tình tham gia hiến máu và tham gia nghiên cứu, giúp các bác sĩ chế tạo vắc-xin Anti-D để chữa bệnh Rhesus. Theo ước tính, với hơn 1.000 lần hiến máu, máu của ông Harrison đã cứu sống hơn 2 triệu trẻ em mắc bệnh Rhesus.
Mặc dù đã hiến máu hơn 1.000 lần, nhưng ông Harrison vẫn mãi hào hứng tiếp tục cho đi: “Thật tuyệt khi bạn tới trái đất này, để làm một điều gì đó tốt đẹp. Hiến máu có thể đau đớn, mà tôi thì không chịu được, thậm chí là rất ghét điều này nhưng vẫn vượt qua. Vì vậy, tôi tin rằng ai cũng có thể làm được. Chỉ một chút thời gian của bạn thôi cũng có thể tạo nên cả cuộc đời của ai đó.” ( Nguồn: Dailymail, CNN).
Tấm gương hiến máu của ông James Harrison có thể giúp người Kitô hữu thấu hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa cho đi, làm một điều gì đó tốt đẹp cho tha nhân. Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu kể dụ ngôn người phú hộ bất nhân và người nghèo Ladarô bệnh tật.
Bất nhân
Người phú hộ kia chỉ ngồi cách Ladarô một cái cổng, mà sao xa xôi như vạn dặm ! Giàu sang, phú quý, dư dật, thường cách biệt với nghèo đói tựa vực sâu, khiến cho phú hộ chẳng nhìn thấy “một người hành khất tên là Ladarô, nằm bên cổng nhà ông đó, mình đầy ghẻ chốc, ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho.” Tường cao cổng kín của biệt phủ hay biệt điện che mắt kẻ lạ, cũng chắn tầm nhìn từ trong ra, phú ông cũng chẳng cần biết đến ai đói khát, khổ ải, lê la bên ngoài.
 Không chỉ bất nhân, phú ông còn bất nghĩa với Đấng Toàn Năng, vì phú quý, danh cao chức trọng, tự đắc, tự mãn, tự phụ thành đạt nhờ tài năng, khôn khéo, chẳng cần biết ơn, cảm tạ, chúc tụng.
Ngôn Sứ Amos đã chúc dữ cho những kẻ ăn trên, ngồi trốc, chỉ biết hưởng lạc, chẳng hề đoái hoài, thương đến tha nhân đang cùng cực đói khát."Khốn cho những kẻ sống yên ổn tại Sion, và sống an nhiên tự tại trên núi Samaria” ( Am 6, 1 ).
Ông phú hộ trong dụ ngôn tiêu biểu cho những người sang giàu của cải, mạnh bạo quyền thế, nhưng lại nghèo nàn tình thương, thiếu thốn thông cảm, kém cỏi chia sẻ với những người cùng khốn, hèn mọn. Trong nhà ông ta chất chứa vàng bạc châu báu, nhưng lòng ông rỗng tuếch tình người, chẳng chút thương xót người nghèo, mới dửng dưng, lòng chai dạ đá, vô cảm với cảnh khốn cùng. “Chúa họ thờ là cái bụng, và cái họ lấy làm vinh quang lại là cái đáng hổ thẹn. Họ là những người chỉ nghĩ đến những sự thế gian” ( Pl 3, 19 ). Thánh Phaolô thấy rõ cuộc sống thực dụng của họ.
Nhân ái
Tình người đã chẳng có, nói chi đến lòng thương xót xa xỉ, lòng nhân ái cao sang, bởi vì phú ông còn bận bịu, mải mê với bạn hữu, rượu chè, tiệc tùng sa hoa, rộn rã tiếng cười hả hê thâu đêm. Trong khi hành khất Ladarô gần kề, đang khốn đốn, vật vã đau đớn, đói khát, nhẫn nhục để những con chó đến liếm ghẻ chốc vỗ về, an ủi, chỉ còn biết ngước lên, trông cậy vào Chúa Quan Phòng.
Danh xưng “Ladarô,”có gốc từ nguyên ngữ “Êlêada,” nghĩa là “Thiên Chúa phù trợ.” Kẻ ăn mày Ladarô tuy hèn mọn, cô đơn, nghèo kiết xác, nhưng lại phong phú, giàu có tình thương, tràn trề Lòng Thương Xót của Chúa. “Nhưng xảy ra là người hành khất đó chết và được các Thiên Thần đem lên nơi lòng Abraham.” Phận phú ông lại hoán đổi cho Ladarô sau khi nhắm mắt xuôi tay, mặc dù đám ma kèn trống, cờ quạt, thật linh đình: “Còn nhà phú hộ kia cũng chết và được đem chôn. Trong hoả ngục, phải chịu cực hình.”
Lời Hằng Sống
Vào hoả ngục, phú ông bấy giờ mới bừng tỉnh, sáng mắt, mới biết đến tên người hành khất xoàng xĩnh bên ngoài cổng: "Lạy Cha Abraham, xin thương xót tôi và sai Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước để làm mát lưỡi tôi, vì tôi phải quằn quại trong ngọn lửa này.” Tiếc thay, quá muộn nhận ra tha nhân thấp hèn lúc này, đang hạnh phúc tràn đầy. Phú ông van xin cho Ladarô về cảnh báo cho 5 anh em còn sống sám hối trở về. Nhưng Abraham dứt khoát nói không, vì“chúng đã có Môsê và các tiên tri, chúng hãy nghe các ngài.”
Nhưng bây giờ, ngoài Lề Luật và các Ngôn Sứ, còn có Lời Hằng Sống của Đức Giêsu Kitô. Đó chính là Tin Mừng. “Thật, tôi bảo thật các ông: ai nghe lời tôi và tin vào Ðấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống.” ( Ga 5, 24 ).
“Con giữ một Nội Quy: Phúc Âm. Đó là hiến pháp trên tất cả mọi hiến pháp. Là hiến pháp Chúa Giêsu đã để lại cho các Tông Đồ; không khó khăn, phức tạp, gò bó như các hiến pháp. Ngược lại, linh động, nhân hậu, làm phấn khởi linh hồn con. Một vị thánh ngoài Phúc Âm là "thánh giả." ( Đường Hy Vọng, số 986 ). 
Lạy Chúa Giêsu, Ngài không nói giàu có là xấu hay nghèo là tốt lành, mà muốn chúng con cần có Lòng Thương Xót, như Cha trên Trời, biết yêu thương, chia sẻ, đùm bọc, giúp đỡ nhau. Xin dạy chúng con luôn biết cho đi mọi sự, mọi lúc, không phân biệt, không vụ lợi, để chúng con xứng đáng hưởng Lòng Thương Xót của Chúa.
Khấn xin Mẹ dạy chúng con luôn khiêm nhường, ân cần đến với tha nhân, yêu thương và phục vụ, noi gương Mẹ vậy. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN26-C115: TÌNH THƯƠNG PHẲI BẮT ĐẦU TỪ ĐÂU ?

Bài đọc 1 Chúa Nhật tuần này tiếp nối lời Ngôn Sứ Amos công kích người giàu có mà sống vô cảm, dửng dưng TN26-C115

Bài đọc 1 Chúa Nhật tuần này tiếp nối lời Ngôn Sứ Amos công kích người giàu có mà sống vô cảm, dửng dưng, không có tình thương. Với lối nói cay độc chua chát, Amos đã tiên báo những sự trừng phạt khủng khiếp dành cho những kẻ giàu có đang hưởng thụ sa hoa mà không biết xót thương người khốn khổ. Của cải vật chất đã trở thành bức tường khép kín, người giàu có sống an toàn mãn nguyện trong không gian riêng mình. Chính họ đã tạo ra khoảng cách vực thẳm. Họ không cần Thiên Chúa cũng chẳng cần biết đến tha nhân, khoảng cách đó lớn dần và kéo dài đến đời sau. ( Ảnh kính màu Ngôn Sứ Amos ).
Vực thẳm ngăn cách con người ở đời sau là do con người đã tạo ra ở đời này. Sau khi chết, không còn có thể thay đổi được số phận. Địa ngục là do con người tự tạo ra từ đời này.
Khoảng trống không thể kết nối
Tác giả Ron Rolheiser viết: Chúa Giêsu dạy rằng có địa ngục và ai cũng có khả năng sa vào đó. Nhưng địa ngục mà Chúa Giêsu nói không phải là một nơi chốn hay tình trạng, lúc người ta nài xin một cơ hội cuối cùng, chỉ xin thêm một phút trong đời để làm một hành động ăn năn hối hận, mà Thiên Chúa lại khước từ. Nhưng Thiên Chúa hiện thể và mặc khải trong Chúa Giêsu, là Thiên Chúa luôn mãi mở ra cho sự ăn năn, luôn mãi chờ đợi chúng ta trở về từ những nẻo đường đi hoang.
Với Thiên Chúa, chúng ta không bao giờ hết cơ hội. Làm sao bạn có thể hình dung Thiên Chúa nhìn một con người ăn năn, mà lại nói rằng: ‘Xin lỗi ! Với con, đã quá muộn rồi ! Con đã có cơ hội ! Đừng xin thêm nữa !’ Chúa Cha không như thế.
Nhưng các Phúc Âm lại có thể khiến chúng ta có ấn tượng như thế. Ví dụ như, dụ ngôn về người giàu làm ngơ người nghèo trước cửa nhà mình, rồi ông chết và vào hỏa ngục, còn người nghèo Ladarô giờ ở trên thiên đàng trong lòng của Abraham. Giày vò trong địa ngục, người giàu xin Abraham sai Ladarô cho ông ít nước, nhưng Abraham trả lời rằng có một khoảng trống không thế kết nối giữa thiên đàng và địa ngục, và không ai từ bên này qua bên kia được. Đoạn này cùng với lời cảnh báo của Chúa Giêsu trong dụ ngôn tiệc cưới, là một sự chấm dứt bất di bất dịch, khiến dẫn đến một hiểu lầm chung rằng, có một điểm một đi không trở về, một khi vào địa ngục là quá trễ để ăn năn.
Nhưng đó không phải là lời dạy trong những đoạn văn này cũng như trong những lời Chúa Giêsu cảnh báo phải ăn năn sám hối. Khoảng trống không thể kết nối mà dụ ngôn người giàu và Ladarô, là môt khoảng trống không bao giờ kết nối trong đời này giữa người giàu và người nghèo. Và nó vẫn còn không thể kết nối, là bởi sự ngoan cố, không biết động lòng, thiếu ăn năn, chứ không phải bởi Thiên Chúa hết kiên nhẫn mà nói rằng: ‘Đủ rồi ! Không còn cơ hội nào nữa !’ Nó vẫn không thể kết nối là bởi, chúng ta theo lề thói mà bám chặt vào những đường lối không thể thay đổi tâm hồn và có sự ăn năn thật.
Dụ ngôn người giàu và Ladarô thực sự rút ra từ một câu chuyện Do Thái cổ hơn nữa, minh họa sự ngoan cố này: Trong dụ ngôn Do Thái, Thiên Chúa nghe lời kêu xin của người giàu từ địa ngục xin một cơ hội thứ hai, rồi ban cho ông toại nguyện. Người giàu, giờ có những giải pháp mới, trở lại cuộc đời, và đi thẳng đến chợ, mua thức ăn chất đầy xe. Trên đường về nhà, ông gặp Ladarô. Ladarô xin người giàu một ổ bánh. Người giàu nhảy khỏi xe và đưa cho Ladarô một ổ, nhưng bởi đó là một ổ bánh lớn, nên cái tôi cũ của ông bắt đầu phản ứng. Ông bắt đầu suy nghĩ. ‘Người này không cần cả ổ bánh lớn ! Tại sao không đưa cho nó một phần thôi ! Và tại sao lại đưa bánh mì mới, ta có thể cho nó bánh mì khô mà !’ Ngay lập tức, người giàu thấy mình rơi xuống hỏa ngục. Ông ta không thể kết nối qua được khoảng trống đó. ( J.B. Thái Hòa chuyển ngữ từ “Our Fear of Hell” ).
Dụ ngôn phú hộ và Ladarô cho thấy có một khoảng trống không thể kết nối ở đời này và đời sau.
Sống ở đời này, phú hộ dư ăn dư mặc, Ladarô nghèo nàn đói lả. Người phú hộ mặc toàn lụa là gấm vóc, Ladarô rách nát tả tơi. Phú hộ nhà cao cửa rộng, Ladarô lê lết bên cổng ăn xin. Phú hộ ngày ngày yến tiệc linh đình, Ladarô không có một chút bánh để ăn. Người sống chốn thiên đàng dương thế, kẻ chịu cảnh hoả ngục trần gian.
Cái chết đến và tất cả đều đảo ngược. Đời sau, Ladarô được đưa lên mây trời, phú hộ bị đày xuống vực thẳm. Ladarô được hưởng phúc thiên đàng, phú hộ phải trầm luân hoả ngục. Có một khoảng cách nghìn trùng giữa hai người mà bên này muốn qua bên kia không được và bên kia muốn qua bên này cũng không thể. Ladarô hạnh phúc trong cung lòng tổ phụ Abraham. Phú hộ chịu cực hình nài xin với Abraham “sai Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước nhỏ trên lưỡi con cho mát vì ở đây bị lửa thiêu đốt”. Khi chết, Ladarô đã tìm được những người bạn hữu: các thiên thần, Abraham tổ phụ, những người có Đức Tin. Ngược lại, phú hộ chẳng có bạn bè, chẳng có trạng sư biện hộ cho hoàn cảnh của ông ta: hỏa ngục, chính là nỗi cô đơn. Nhất là ông vĩnh viễn xa lìa Thiên Chúa, vì đã sống xa cách anh em. Ðây là một cực hình khủng khiếp nhất.
Tình thương phải là căn tính
Xét cho cùng, ông phú hộ bị trầm luân địa ngục vì tội vô tâm, hững hờ, sống dửng dưng trước nỗi cùng khốn của tha nhân. Ông không có Tình Thương.
Vì Tình thương là căn tính của con người, nên thiếu Tình Thương là sự nghèo khó thảm hại và nguy hiểm nhất. Nó tác động đến bản chất, nó làm cho con người ra thoái hóa, bần tiện và vong thân. Nó hủy diệt con người từ tâm hồn đến dung mạo, nó hạ thấp con người.
Thánh Phaolô viết: "Giả như tôi được nói tiên tri, được thông hiểu mọi điều bí nhiệm và mọi lẽ cao siêu nhưng không có lòng mến, thì tôi chẳng là gì" ( 1Cr 13, 2 ). Ðó là tình cảnh của những người độc ác, những kẻ giết người, những tên tội phạm chiến tranh, những người nặng óc kỳ thị, thù oán, vu khống, ích kỷ, vụ lợi, tham ô, làm giàu trên xương máu của người khác. Sự nghèo thiếu căn tính này càng gia tăng khi nó xuất phát từ những bè phái, những băng đảng, những nhóm lợi ích, những tập đoàn chỉ biết nghĩ đến quyền lợi của phe nhóm mình mà chà đạp trên nhân phẩm, nhân quyền, sự sống và hạnh phúc của người khác hay của những dân tộc khác.
Ðối diện với những người hay những tập đoàn giàu có đầy quyền lực và quyền bính nhưng thiếu tình thương này là hàng triệu và có khi cả tỷ người cùng khốn, cô đơn, tàn tật, bệnh hoạn, bị bỏ rơi, bị xã hội khai trừ. Họ đang khao khát tình yêu, lòng thương xót, sự chia sẻ, sự cảm thông như người hành khất Ladarô không được chiếu cố, yêu thương và nâng đỡ.
Bài đọc một và bài Tin Mừng đều mở một cuộc xét xử những người giàu có. Tội của những người giàu là sống trong dư dật mà không biết nghĩ đến những người túng quẫn. Sự giàu sang thừa thãi làm cho người ta không còn nhạy cảm với những đau khổ của những con người sống bên cạnh họ, làm cho người ta thành đui mù điếc lác trước nhu cầu của người khác.
Cả hai hạng người thiếu tình thương nói trên đều đáng thương. Thế giới hôm nay, giàu về vật chất, nhưng lại nghèo nàn về tình thương. Có những nước không ngần ngại bỏ ra những số tiền khổng lồ để mua sắm vũ khí. Có những chính phủ đốt hằng ngàn tỷ đồng để xây “tượng đài”, xây cất cơ quan dinh thự sa hoa, trong khi người dân cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, học sinh đi học phải đu dây qua sông, người nghèo chết phải bó xác chở về nhà bằng xe Honda...
Chỉ mới hai ông Danh và Thanh thôi mà đã gây thất thoát cả 10 ngàn tỷ đồng ( Ngày 9.9.2016, Tòa án nhân dân TP. HCM đã kết án ông Phạm Công Danh 30 năm tù vì làm thất thoát của nhà nước 9.000 tỷ đồng. Tối 16 tháng 9, Bộ Công an phát lệnh khởi tố và truy nã quốc tế với ông Trịnh Xuân Thanh, nguyên Phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang, cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị PVC với tội danh "cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng", để điều tra khoản thua lỗ gần 3.300 tỷ tại Tổng công ty Xây lắp dầu khí Việt Nam ( PVC ) thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Ðó là chưa nói đến sự chênh lệch giữa người giàu với người nghèo, giữa những người được ưu đãi nhờ thời thế, nhờ thân thế 5C ( con cháu các cụ cả ) và những người cô thân cô thế. Nền văn minh xã hội cần được xây dựng không phải trên của cải vật chất, mà trên tình thương: Nền Văn Minh Tình Thương.
Tình thương phải bắt đầu từ đâu ?
Một người nhà giàu nằm mơ thấy một đám rất đông những người nghèo và những người bệnh tật đang kêu xin giúp đỡ. Cảnh tượng ấy khiến ông xúc động và hạ quyết tâm sẽ đi tìm để giúp những người ấy. Sáng hôm sau ông lên xe đi tìm. Vừa ra khỏi cửa nhà, ông gặp ngay một người ăn mày đang ngửa tay xin tiền. Ông định dừng xe lại, nhưng tự nghĩ hãy đi thêm để biết thêm. Chiếc xe chạy qua những con đường, những khu chợ, những quảng trường… Càng đi ông càng thấy những người nghèo khổ đông quá. Trong đầu ông bắt đầu vẽ ra rất nhiều dự án để cứu giúp rất nhiều hạng người. Nhưng ông bối rối chưa biết phải bắt đầu từ đâu.
Đến chiều, ông quay xe về nhà, và gặp lại người ăn mày trước cổng, với cũng một tư thế ấy và những lời van xin ấy. Tối hôm đó ông lại nằm mơ và lại nghe thấy những tiếng kêu xin cứu giúp. Nhưng lần này những tiếng ấy không xuất phát từ đám đông, mà từ chính người ăn mày nằm trước cổng nhà ông. Và ông hiểu ra: phải bắt đầu từ chính người ăn mày ấy.
Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta nói: "Tôi luôn nghĩ rằng tình thương phải bắt đầu từ gia đình mình trước, rồi đến khu xóm, đến thành phố… Yêu thương những người ở xa thì rất dễ, nhưng yêu thương những người đang sống với mình hoặc đang ở sát cửa nhà mình mới là khó. Tôi không đồng ý với những cách làm ồn ào. Tình thương phải bắt đầu từ một cá nhân: muốn yêu thương một người, bạn phải tiếp xúc với người đó, gần gũi với người đó".
Mẹ còn kể: "Lần kia tôi đi dự một hội nghị ở Bombay về việc cứu giúp những người nghèo. Đến cửa phòng hội, tôi thấy một người đang hấp hối. Tôi đưa người ấy về nhà, sau đó người ấy chết, chết vì đói. Đang lúc đó bên trong phòng hội, hàng trăm người đang hăng hái bàn luận về nạn đói và về vấn đề lương thực: làm thế nào để có lương thực, để có cái này, để có cái kia… Đang lúc họ vạch ra kế hoạch cho cả 15 năm, thì người này phải chết vì đói".
Mẹ nói tiếp: "Tôi không bao giờ nhìn những đám đông như là trách nhiệm của tôi. Tôi chỉ nhìn đến những cá nhân, bởi vì mỗi lần tôi chỉ yêu thương được một người, mỗi lần tôi chỉ nuôi được một người. Tôi đã đưa một người về nhà, nhưng nếu tôi không đưa một người ấy về nhà thì tôi đã không đưa 42.000 người về nhà. Toàn thể công việc của tôi chỉ là một giọt nước trong đại dương. Nhưng nếu tôi không góp một giọt nước ấy thì đại dương sẽ thiếu đi một giọt".
Người giàu thật là người biết cho, người nghèo thật là người chỉ biết nhận. Người giàu thật là người có rất ít nhu cầu nên luôn cảm thấy đủ, người nghèo thật là người có quá nhiều nhu cầu nên luôn cảm thấy thiếu. Sự giàu có thật là giàu trong tâm hồn, sự nghèo nàn thật là một tâm hồn trống rỗng. Bởi vậy cái giàu vật chất thường hay đi đôi với cái nghèo tâm hồn.
Xin đừng sống dửng dưng, thờ ơ, khép kín trước người nghèo, mà luôn chạnh lòng xót thương như Chúa Giêsu đã thương những người cùng khốn.
Hãy sống quảng đại cho đi, vui vẻ chia sớt, không chỉ của cải vật chất mà có khi chỉ là một nụ cười thân thiện, một cái bắt tay khích lệ, một lời nói an ủi đỡ nâng, một lần viếng thăm, một cuộc gặp gỡ kiến tạo sự hiệp nhất bình an. Khi chia nụ cười, ta sẽ nhận về vô số niềm vui. Khi chia vòng tay, ta sẽ nhận về mênh mông ấm áp. Khi chia quan tâm, ta sẽ nhận về bao la yêu thương. Khi chia yêu thương, ta sẽ nhận về rất nhiều hạnh phúc.
Siêng năng đến với Chúa Giêsu, nhận lãnh tình thương để chúng ta chân thành trao ban tình thương mỗi ngày cho anh em.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

TN26-C116: CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN C

Lc 16, 19-31
Kính thưa anh chị em
 

Với câu chuyện hôm nay Chúa muốn cho chúng ta thấy hai điều  rất căn bản của cuộc sống này: TN26-C116

Với câu chuyện hôm nay Chúa muốn cho chúng ta thấy hai điều  rất căn bản của cuộc sống này:
+  Đàng sau cái thế giới mà hôm nay chúng ta đang sống còn một thế giới khác nữa
+  Đồng thời với tất cả những diễn tiến sống động trong câu chuyện giữa Abraham và người giầu có, Chúa còn cho chúng ta thấy thêm một sự thật nữa đó là có một mối dây liên hệ mật thiết giữa cuộc sống hôm nay và thế giới mai sau.
I. CHÚNG TA HÃY NHÌN VÀO CUỘC SỐNG CỦA HAI NHÂN VẬT TRONG CÂU CHUYỆN .
Cả hai đều là những con người sống trên đất. Đời sống của hai người được:
- Bắt đầu với việc sinh ra.
Cả hai đều được sinh ra. Không ai trong hai người được lựa chọn hay được hỏi ý kiến trước khi được sinh ra trên đời, nhưng khi đã được sinh ra rồi thì cả hai đều có quyền sống như một con người. Bản hiến chương nổi tiếng của Liên hiệp quốc năm 1948 đã công khai xác định điều đó
- Và kết thúc với cái chết.
Cuộc sống của hai người được diễn ra giữa hai làn mức được coi như là định mệnh đó .
Vì là người cho nên mọi người đều có quyền được chia sẻ những tài sản chung mà Thiên Chúa đã trao cho cả loài người quản lý. Thế nhưng sự việc thực tế từ trước cho đến bây giờ chưa bao giờ được như thế. Có người thì chiếm hữu quá nhiều. Có người thì thiếu thốn mọi sự.
Năm Tân hợi 1910 nhà Cách mạng Tôn Dật Tiên bên Trung hoa đặt ra bốn mục tiêu để theo đuổi với mục đính là làm cho cuộc sống con người nhờ đó mà được tốt đẹp, xứng đáng với con người hơn. Bốn mục tiêu đó là: Ăn - Ở - Đi - Mặc.
Xét theo bốn mục tiêu này thì
+ Người phú hộ trong câu chuyện hôm nay có tất cả mọi sự.
- Ăn thì Tin Mừng mô tả: Ngày ngày yến tiệc linh đình.
- Ở thì tuy Tin Mừng không cho chúng ta biết rõ nhưng Tin Mừng cho một chi tiết rất thú vị là trước nhà của người đó có cổng. Tiếng Hy lạp gọi là "poulon". "Poulon" là loại cổng rất đẹp, chỉ có những ngôi nhà thật sang trọng mới có.
- Đi thì có lẽ ta khỏi cần phải nói. Chắc chắn phương tiện của người phú hộ phải hơn hẳn những người khác.
- Còn mặc thì theo Tiến sĩ Morgon, một nhà chú giải Tin Mừng tôi rất ưa thích, nói rằng chiếc áo vải gai mịn người đó mặc có giá trị bằng vàng nặng gấp 6 lần cái áo đó.
Tóm lại là người đó có tất cả. Có dư dật.
+ Còn Lagiarô người nghèo khó thì chẳng có gì.
- Ăn thì Tin Mừng mô tả: Chỉ ước, ước được những thứ từ bàn ăn của người giầu có rơi xuống... vậy mà cũng không được. Thật là đáng thương. Mơ ước những thứ rơi rớt từ bàn ăn của người giầu có xuống để có chút cho vào bụng cho đỡ đói mà cũng không có. 
- Ở thì chẳng có nhà. Địa chỉ thường trú của Lagiarô là ở gần cổng "poulon" đẹp đẽ của nhà người giầu có. Cứ theo Tin Mừng mô tả thì có lẽ anh đã ở tại đó rất lâu...Lâu đến mức độ những con chó của người giầu có đã quen thuộc - không những không còn sủa, còn xua đuổi người nghèo như những con chó khôn ngoan của những người giầu có thường làm - mà trái lại xem ra chúng đã trở thành bạn hữu của anh ta...chúng đến liếm những chỗ lở loét trên con người của anh ta.
- Đi thì chúng ta khỏi bàn đến. Một con người như thế là sao mà có được cơ hội để đi đến đâu. Và giả như có đi thì nào có được ai sẵn sàng tiếp đón một con người như thế này.
- Và cuối cùng là mặc thì Tin Mừng bảo: thật rách rưới. Chắc là còn có thêm nhiều mùi hôi hám nữa.
Đến đây thì chúng ta thấy:
Khúc đầu của hai người giống nhau. Thật giống nhau... Đều là những con người được sinh ra để làm người sống trên đời.
Nhưng khúc giữa sao mà KHÁC NHAU nhiều quá.
 Và bây giờ đến khúc cuối. Tin Mừng nói cả hai đều chết. Người giàu có chết và Lagiarô người nghèo khó cũng chết.
- Người giầu có chết - Của cải, châu báu vàng bạc, các thứ của ngon vật lạ trên đời, quần áo gấm vóc lụa là ... tất cả những thứ đó đều không đủ sức giữ cho người đó khỏi chết.
- Và Lagiarô người nghèo khó cũng vậy.
Cả hai dều chết. Một sự giống nhau nữa.
Với những người không tin thì như thế là xong. Thế là chấm dứt cuộc sống của một con người đã có một thời được sống trên đất.
Thế những đối với Chúa thì không như thế
Một bức màn được mở ra. Thế giới đàng sau cuộc sống trên đất được tiếp nối bằng một thế giới khác.
- Người giầu có bị vứt vào hỏa ngục
- Còn Lagiarô người nghèo khó thì được đưa lên, lên rất cao, cao đến tận lòng của tổ phụ Abraham.
Một sự đổi đời nhanh đến chóng mặt.
II. CHÚA MUỐN DẠY GÌ QUA CÂU CHUYỆN NÀY?
Chúa muốn nhắn nhủ mọi người còn sống hai điều:
+ Bên kia cái chết, nhân cách và ý thức con người vẫn còn tồn tại
Bên kia lằn mức của sự chết cả người giầu có và Lagiarô người nghèo khó vẫn còn tồn tại và vẫn còn nhận ra nhau.
+ Cuộc sống trên đất và cuộc sống sống ở thế giới bên kia  có một sự liên hệ gắn bó mật thiết chặt chẽ với nhau. Sự chết dù có ác nghiệt cách mấy đi nữa cũng không hủy diệt được mối giây liên hệ đó.
Và kết quả là chúng ta thấy:
- Người giầu có sau cái chết đã bước vào thế giới bên kia như một kẻ ăn xin:
- Còn Lagiarô người nghèo khó thì được các thiên thần đưa lên đến tận lòng của tổ phụ Abraham ... như một kẻ chiến thắng.
Như vậy vấn đề mấu chốt còn lại mà chúng ta phải suy nghĩ hôm nay là phải sống làm sao để cuộc sống mai sau sẽ trở thành một cuộc cuộc chiến thắng chứ không bao giờ trở thành chiến bại. Mỗi người chỉ có một cuộc đời. Thành công thì sẽ có tất cả. Còn thất bại ...chắc là không ai trong chúng ta mong muốn.
Đàng sau làn mức của sự chết thì mọi sự sẽ trở thành vĩnh cửu, không còn có thể thay đổi được bất cứ một sự gì. Đó là một sự thật đáng sợ mà mọi người không được phép coi thường hay không nghĩ tới.
Dửng dưng trước những nỗi khốn cùng của người khác là một tội trước mặt Chúa.
Vào một ngày mùa đông lạnh buốt, ông thị trưởng đầu tiên của Thành phố  New- York nổi tiếng là giầu có phải chủ tọa một phiên tòa.
Người ta điệu đến trước mặt ông một ông lão quần áo tả tơi. Người đàn người này bị tố cáo là đã ăn cắp một mẩu bánh mì. Lời tự biện hộ duy nhất mà người đàn ông khốn khổ đưa ra là: “gia đình tôi đang chết đói”.
Nghe xong lời cáo buộc của cử tọa cũng như lời biện bạch của ông lão, viên thị trưởng đưa ra phán quyết như sau: “Luật pháp không dung thứ cho bất kỳ một hành động xấu nào. Tôi thấy cần phải trừng phạt ông, và hình phạt cho tội ăn cắp là ông phải đóng phạt 10 đôla” Vừa công bố bản án, ông thị trưởng rút trong ví tiền của mình ra 10 dollars và trao cho người đàn ông lo đáng thương kia để ông nộp phạt theo phán quyết của toà. Sau đó ông quay xuống cử tọa và nói tiếp:
- Ông lão này đã bồi thường vì tội ăn cắp của ông. Còn phần quí vị, tôi yêu cầu mỗi người phải đóng 50 xu tiền phạt vì sống dửng dưng đến độ để cho trong thành phố  giàu có của chúng ta còn có một người nghèo phải đi ăn cắp.
Nói xong, ông ra lệnh cho viên cho viện biện lý đi thu tiền và trao tất cả cho ông lão. Khi chiếc mũ đã được chuyền một vòng tòa án và trở về tay mình ông lão đếm được tất cả 47 dollars 50xu.
Dửng dưng trước nỗi khổ của người khác không là thái độ vô thưởng vô phạt, mà là một hành động tội ác. Ông thị trưởng thành phố New York trong câu chuyện trên đây quả thực đã thấy được tội ác của chính ông và thị dân của ông đối với lão ông ăn cắp bánh mì, họ đã sám hối bằng những việc làm rất cụ thể. Xin Chúa cũng cho chúng ta được sống như thế. Amen.

 

TN26-C117: CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN NĂM C

(Am 6,1a.4-7; 1Tm 6,11-16; Lc 16,19-31)
CHỦ ĐỀ:
BIẾT QUAN TÂM VÀ SỐNG BÁC ÁI VỚI NGƯỜI KHÁC
“Có một người nghèo khó tên là Ladarô,
mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu,
thèm được những thứ trên bàn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no”
(Lc 16,20-21).

 

Con người thời nay đang mắc một chứng bệnh nan y, đó là sống dửng dưng, vô cảm vô tâm trước những TN26-C117

Con người thời nay đang mắc một chứng bệnh nan y, đó là sống dửng dưng, vô cảm vô tâm trước những khó khăn, đau khổ và bất hạnh của đồng loại do virus “ích kỷ” gây ra. Sự ích kỷ đã khóa chặt cánh cửa của tâm hồn và làm cho con người không còn khả năng để lắng nghe tiếng thổn thức của người khác và chia sẻ với họ.
I. BÀI ĐỌC LỜI CHÚA
1. BÀI ĐỌC I (Am 6,1a.4-7)
Qua miệng Ngôn Sứ Amốt, Thiên Chúa kết án những kẻ giàu có sống trong sự tiện nghi và thừa thãi: “Khốn cho những kẻ sống yên ổn tại Sion và sống an nhiên tự tại trên núi Samaria”. Vì ích kỷ nên họ đã khép tầm mắt yêu thương và đóng chặt cửa tâm hồn quảng đại. Đây là lỗi phạm lớn nhất của người giàu có khi họ dửng dưng trước những khó khăn, đói rách, đau khổ của người nghèo. Sự giàu có là nguy cơ đối với con người, bởi vì nó đóng cửa lòng con người lại và làm cho lòng tham của họ mỗi ngày một lớn thêm. Những lời của Ngôn Sứ mô tả đúng thực trạng và đời sống phung phí của những kẻ giàu có: “Chúng nằm dài trên giường ngà, ngả ngớn trên trường kỷ, mà ăn những chiên non nhất bầy, những bê béo nhất chuồng. Chúng uống rượu cả bầu, xức dầu thơm hảo hạng, nhưng chẳng biết đau lòng trước cảnh nhà Giuse sụp đổ”. Họ chỉ biết hưởng thụ, phung phí của cải mình mà chẳng biết chia sẻ với những người nghèo khó. Thiên Chúa kết án những kẻ giàu có và ích kỷ này. Họ sẽ lãnh nhận những hậu quả cho chính lối sống ích kỷ và dửng dưng của mình: “Vì thế, giờ đây chúng sẽ bị lưu đày, dẫn đầu những kẻ bị lưu đày. Thế là tan tác bè lũ quân phè phỡn”. Những người này vẫn mang danh là công dân của nước Thiên Chúa, nhưng họ đã quên mất việc thực hành điều cốt lõi nhất của một công dân nước này, đó là “Mến Chúa yêu người”, được thể hiện qua việc thực thi bác ái đối với tha nhân trong cuộc sống hằng ngày. Thực trạng này cũng được phản ánh trong bài Tin Mừng.
2. BÀI ĐỌC II (1Tm 6,11-16)
Thánh Phaolô mời gọi ông Timôthê tìm kiếm những điều thiêng liêng và cao cả trong đời sống, đồng thời tránh xa những điều xấu: “Hãy gắng trở nên người công chính, đạo đức giàu lòng tin và lòng mến, hãy gắng sống nhẫn nại và hiền hòa”. Để đạt tới những điều cao cả này, Timôthê cần phải chiến đấu vì đức tin để đạt tới sự sống đời đời mà Thiên Chúa đã hứa. Cuộc chiến đấu đó được cụ thể hóa bằng cách sống và tuân giữ lề luật của Thiên Chúa để xứng đáng trong ngày Đức Giêsu trở lại: “Hãy tuân giữ điều răn của Chúa mà sống cho tinh tuyền, không chi đáng trách, cho đến ngày Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta xuất hiện”. Nói cách khác, đó là nỗ lực sống giới răn “mến Chúa yêu người” mỗi ngày trong đời sống cho đến khi Chúa lại đến.
3. BÀI TIN MỪNG (Lc 16,19-31)
Đứng trước thái độ giả hình và ham mê tiền bạc của những người Pharisêu (x. Lc 16,14), Đức Giêsu đã kể dụ ngôn “Ông nhà giàu và anh Ladarô nghèo khổ”. Dụ ngôn này thật ấn tượng vì nó để lại cho mọi người nhiều bài học quí giá. Dụ ngôn xoay quanh câu chuyên về hai nhân vật chính: ông nhà giàu và người hành khất nghèo. Hai người có hai tình cảnh tương phản ở đời này, và cũng tương phản nhưng đảo ngược ở đời sau. Ông nhà giàu được mô tả là người có lối sống xa xỉ: “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”. Một cảnh tượng khác trái ngược, đó là hoàn cảnh của người hành khất nghèo khổ, lâm vào tình cảnh khốn cùng: “Lại có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được ăn những thứ trên bàn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta”. Hai hoàn cảnh hoàn toàn trái ngược nhau.
Trên thực tế, quả thực, ông nhà giàu không làm điều gì xấu xa cả. Ông ta tiêu xài tiền bạc của mình. Tuy nhiên, một lối sống như thế vẫn chưa đủ. Ông ta bị kết án bởi sự vô tâm, vô cảm, dửng dưng của ông đối với một người nghèo khổ, đói rách đang nằm trước cổng nhà mình. Người hành khất nghèo này chỉ cần những gì thừa thải rớt xuống từ trên bàn ăn của ông nhà giàu để có miếng ăn qua ngày nuôi sống bản thân, nhưng anh ta cũng không thể kiếm được. Vẫn còn đó sự dửng dưng, vô cảm vô tâm trước những khó khăn, đau khổ và bất hạnh của đồng loại. Thiên Chúa kết án sự dửng dưng vô cảm này. Hậu quả mà ông nhà giàu sống dửng dưng vô tâm vô cảm này phải lãnh nhận ở đời sau đó là những cực hình ông chịu dưới âm phủ, và phần thưởng rất lớn lao của người hành khất nghèo Ladarô nhận lãnh là được ngồi trong cung lòng yêu thương của Ábraham trên thiên quốc. Qua dụ ngôn này, Đức Giêsu đưa ra cho chúng ta một sứ điệp rất mạnh mẽ và rõ ràng: giàu có không phải là điều đáng trách, nhưng giàu có mà không biết quan tâm, bác ái và chia sẻ với những người túng thiếu thì mới đáng tội và nhận hình phạt tương ứng ở đời sau.
II. GỢI Ý MỤC VỤ
1. “Chúng nằm dài trên giường ngà, ngả ngớn trên trường kỷ, mà ăn những chiên non nhất bầy, những bê béo nhất chuồng. Chúng uống rượu cả bầu, xức dầu thơm hảo hạng, nhưng chẳng biết đau lòng trước cảnh nhà Giuse sụp đổ”. Tôi có tìm kiếm sự tiện nghi, phung phí của cải mà Thiên Chúa ban cho tôi không? Tôi có tìm kiếm sự an phận và an toàn trong của cải vật chất, sống ích kỷ mà quên đi vận mạng chung của anh em đồng loại?
2. “Hãy gắng trở nên người công chính, đạo đức giàu lòng tin và lòng mến, hãy gắng sống nhẫn nại và hiền hòa”. Tôi có cố gắng nỗ lực để đạt tới những giá trị cao cả thiêng liêng mà một Kitô hữu cần phải có không? Hay tôi vẫn còn chìm đắm vào những giá trị, đam mê của trần thế?
3. “Có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no”. Tôi có chạnh lòng trước những người khó khăn, đau khổ về vật chất và tinh thần không? Tôi có những hành vi giúp đỡ cách cụ thể những người khác?
4. “Chúng đã có Môsê và các ngôn sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó”. Ngày nay chúng ta vẫn có Hội Thánh luôn đồng hành và nhắc nhở chúng ta. Trong năm thánh Lòng Chúa Thương Xót, ĐGH Phanxicô khẳng định rằng “sứ mạng của Hội Thánh là loan báo lòng thương xót của Thiên Chúa, là trái tim sống động của Tin Mừng, đang muốn nhờ lòng thương xót để chạm được đến con tim và khối óc của con người” (x. DMLTX, số 12). Do đó, ĐGH mong ước rằng: “nơi đâu có Hội Thánh hiện diện, thì nơi đó lòng thương xót của Chúa Cha phải được tỏ hiện” và “ở đâu có Kitô hữu hiện diện, thì ở đấy bất cứ ai cũng sẽ gặp thấy một điểm quy tụ chan hòa lòng thương xót” (x. DMLTX,số 12). Chúng ta có được đánh động về những lời này không?
III. LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Thiên Chúa hằng yêu thương và bảo vệ những người bé mọn thấp hèn; Người cũng muốn tất cả chúng ta biết quan tâm và cư xử bác ái với nhau. Với quyết tâm thực thi lời Chúa dạy, chúng ta cùng tha thiết dâng lời cầu xin:
1. “Chúng đã có Môsê và các ngôn sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó.” Chúng ta cùng cầu xin cho các vị chủ chăn trong Hội Thánh luôn đầy tràn ơn Chúa soi sáng và nâng đỡ, để các ngài chu toàn bổn phận qui tụ, chăm sóc và hướng dẫn đoàn chiên được Chúa ủy thác.
2. Sự ích kỷ góp phần làm gia tăng nạn nghèo đói. Chúng ta cùng cầu xin cho các quốc gia phát triển và những cá nhân giàu có, biết quảng đại chia sẻ của cải vật chất cùng những thành tựu khoa học, nhằm đẩy lui đói nghèo bệnh tật và thăng tiến đời sống con người.
3. Thánh Phaolô nhắn nhủ: “Con hãy chiến đấu trong cuộc chiến chính nghĩa của đức tin.” Chúng ta cùng cầu xin cho mọi Kitô hữu, cách riêng những người đang chịu bách hại vì đức tin, luôn can đảm vượt qua mọi thử thách và trung thành tuân giữ lề luật Chúa.
4. Đức tin được năng động nhờ đức ái. Chúng ta cùng cầu xin cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn khắc ghi lời Chúa dạy, biết sống tinh thần trách nhiệm đối với tha nhân bằng việc quan tâm chia sẻ trước những nhu cầu vật chất lẫn tâm linh của người chung quanh.
Chủ tế: Lạy Chúa, xin nhận lời chúng con cầu nguyện, và ban Thánh Thần giúp chúng con hăng hái sống giới răn “mến Chúa yêu người” trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

 

 TN26-C118: HÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN

(25.9.2016)
Anh chị em thân mến,
 

Người phú hộ không bị kết án vì sự giàu có, nhưng vì ông đã dửng dưng trước nỗi khốn cùng của TN26-C118

Người phú hộ không bị kết án vì sự giàu có, nhưng vì ông đã dửng dưng trước nỗi khốn cùng của tha nhân. Chúng ta hãy mở lòng trước những nhu cầu của tha nhân và chân thành dâng lên Chúa những lời nguyện xin:
1. “Có một người nghèo khó… nằm trước cổng ông nhà giàu”. Xin cho mọi thành phần trong Hội Thánh/ biết nhận ra những đau khổ của anh chị em, để xót thương và ân cần đáp ứng những nhu cầu của anh chị em bé mọn trong cộng đoàn.
2. “Lagiarô ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống”. Xin cho các tổ chức thiện nguyện trên thế giới được nhiều người cộng tác, để góp phần hữu hiệu thăng tiến đời sống con người/ và xây dựng tình liên đới trong gia đình nhân loại.
3. “Các con hãy chiến đấu trong cuộc chiến chính nghĩa của đức tin”. Xin cho các cộng đoàn Kitô hữu nhỏ bé đang bị bách hại đức tin/ luôn xác tín vào sự hiện diện đầy tình yêu và quyền năng của Chúa, để can đảm tuyên xưng đức tin.
4. “Hãy tuân giữ điều răn của Chúa mà sống cho tinh tuyền”. Xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta/ biết tuân giữ giới răn của Chúa trong mọi hoàn cảnh, để luôn sống đẹp lòng Chúa và mang lại niềm vui cho mọi người.
Lạy Chúa Giêsu, chính Chúa đã dạy: “Ai làm điều lành thì sống lại để được sống, ai làm điều dữ thì sống lại để chịu kết án muôn đời”. Xin cho chúng con ngày nay biết hết lòng mến Chúa, yêu người, để mai ngày được hưởng hạnh phúc đời đời Chúa hứa ban. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời. 

 

TN26-C119: NGƯỜI GIÀU NGƯỜI NGHÈO

Tin mừng Lc 16: 19 - 31
 DẪN NHẬP VÀ SÁM HỐI
 

Đức Giê-su kể lại câu chuyện ông nhà giàu không chịu chia sẻ cả những vụn bánh trên bàn rơi xuống cho TN26-C119

 Đức Giê-su kể lại câu chuyện ông nhà giàu không chịu chia sẻ cả những vụn bánh trên bàn rơi xuống cho người ăn mày đói lả nằm trước cổng nhà ông. Một điều xấu lớn trong thê giới ngày nay là sự lãnh đạm khủng khiếp đối với người lân cận ngày càng phổ biến. Tuy nhiên mỗi người chúng ta điều là ăn mày trước mặt Thiên Chúa. (Nghỉ) chúng ta hãy xin Thiên Chúa tha thứ, đặc biệt vì chúng ta khước từ bày tỏ sư quan tâm đối với những người kém may mắn hơn chúng ta.
            Tôi thú nhận cũng Thiên Chúa toàn năng…

ĐỀ TÀI CÁC BÀI ĐỌC

            Bài đọc 1 (Am 6: 1-4-7) A-mốt phản đối sự giàu sang của Giu-đê và Itraen.

            Bài đọc 2 (1 Tm 6: 11-16) Bởi vì Đức Giê-su đã trung tín với ơn gọi của Người khi đối diện với sự thù nghịch dẫn đến cái chết của Người, nên các Ki-tô hữu khi đối diện với sự bách hại cũng phải trung tín với ơn gọi của Thiên Chúa.

            Tin Mừng (Lc 16: 19-31) Chúng ta nghe đọc câu chuyện của một người rất giàu có không thèm biết đến cảnh ngộ của một người ăn mày ngồi trước cổng nhà ông.

CHÚ THÍCH THÁNH KINH

            A-mốt là ngôn sứ của công bằng xã hội, ông đã nói về sự giàu sang của Giu-đê và Itraen. Họ hầu như không quan tâm về những gì đang xảy ra cho đất nước, hầu như đã bị người Át-xi-ri tàn phá. Dĩ nhiên bằng cách sống của họ, họ đã phá hoại chính cơ cấu của đất nước. và họ không có quan tâm nhỏ nhất đối với hoàn cảnh của người nghèo. A-mốt cảnh cáo họ rằng họ sẽ là những người đâu tiên bị đưa đi lưu đày.

            Rõ ràng đây là tội ác của một người giàu có (Ông chủ hộ) Tin Mừng bị chìm ngập trong cách sống hoang phí, ông nhà giàu không chú ý đến sự hiện diện của người nghèo ngồi ở cổng nhà mình. Ông phú hộ là một con người trần tục không nhìn thấy gì ngoài những sự vật tốt đẹp của đời này. Đây là một dụ ngôn về trách nhiệm của người giàu có. Một vài từ gay gắt nhất trong Kinh Thánh là để chỉ về kẻ giàu có vô tâm.

BÀI GIẢNG 1:

Sống trong thế giới trái ngược

            Đó là một ngày tháng Bảy ở Mỹ. Một người đàn ông ngồi bàn giấy trong phòng có máy điều hòa. Nhiệt độ trong phòng ở 18 độ, một nhiệt độ thích hợp. Ông ta cảm thấy đầy nghi lực. từ cứa sổ ông nhìn thấy mặt trời đang chiếu rực rỡ ở bên ngoài và thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ lay động các ngọn cây. Đó là một ngày rất đẹp!

            Ông ta nhìn một cậu thiếu niên đang làm việc trong sân. Căn cứ vào những động tác chậm chạp của cậu, người ta phải nghỉ cậu là một tù nhân làm việc khổ sai. Cậu nghỉ ngời thường xuyên “Cậu ta có vấn đề gì? Làm sao mà một người trẻ tuổi lại làm biếng như thế?”Người đàn ông tự hỏi.

            Nhưng gần đến trưa, người đàn ông ra ngoài để làm một vài công việc, Ngay khi ông bước ra khỏi phòng, ông đụng phải hơi nóng như những làn sóng cản đường. nhiệt độ bên ngoài 34 độ và độ ẩm không khí khá cao. Bấy giờ ông mơi biết cậu bé đã chóng chọi lại với cái gì. Và trong một ngày oi bức như thế này, ông ngạc nhiên vì cậu bé chưa ngất xỉu.

            Mặc dù thế giới của ông được ngăn cách với thế giới của cậu chỉ bằng bề dày của một bức tường, hai thế giới ấy khác nhau nhiều lắm. Tuy nhiên nếu ông không ra khỏi thế giới của ông để bước vào thế giới của cậu bé, hẳn ông sẽ không bao giờ hiểu được sự khác nhau đó.

            Chúng ta có thể cách người khác chỉ một tầm tay, nhưng sống trong một thế giới khác với người ấy. tuy nhiên, chúng ta không bao giờ hiểu được sự khác nhau ấy trừ khi chúng ta từ bỏ thế giới của chúng ta và bước vào thế giới của người đó. Chúng ta không bao giờ hiểu được điều đó từ bên ngoài.

            Ông nhà giàu (phú hộ) và La-da-rô đã sống trong những thế giới trái ngược, dù rằng những thế giới này bên cạnh nhau. Nhưng ông nhà giàu chưa lần nào bước vào thế giới của người nghèo. Ông không nhìn thấy La-da-rô nhưng một con người, càng không phải là người anh em mà ông có thể chia sẻ nhân tính chung. Ông lãnh đạm, thờ ơ với La-da-rô, và lãnh đạm là một thói xấu lớn.           

            Làm sao có thể như thế được? Của cải làm cho một người chỉ nghỉ đến mình. Chúng ta làm cho người ấy mù lòa trước những nhu cầu của người khác làm cho tâm hồn của người ấy bị chai cứng. Đó là một bi kich thật sự. một cá nhân hoặc một quốc gia đánh mất tâm hồn mình khi cứ mãi lo tích lũy những của cải lớn hơn.

            Người giàu không làm điều gì sai- ông không làm tổn thương hoặc bốc lột người nghèo. Tuy nhiên, sau cùng “ông ta phải chịu cực hình trong âm phủ”. Ông ta bị lên án không phải vì ông ta giàu có mà vì ông ta không bày tỏ lòng thương xót người nghèo. Ông sống chỉ vì bản thân mình.

            Tội lỗi không chỉ vì làm điều sai trái, mà còn là không làm điều tốt- tội không hoạt động, không làm gì và tệ hơn nữa là sự thờ ơ. Đây làm một dụ ngôn làm xúc động. không có cái thúc của môt câu chuyện thần tiên- ít nhất đối với ông phú hộ và ông này là nhân vật trung tâm của câu chuyện.

            Xin Chúa, Đấng đã bước vào thế giới chúng ta một cách trọn vẹn, giúp chúng ta bước vào thế giới của những người đau khổ và thiếu thốn. Rồi khi đã có kinh nghiệm về đời sống của họ như thế nào, chúng ta chắc chắn sẽ được động viên để làm điều gì chúng ta có thể làm để giúp đỡ hợ.

            Là những người cần đến lòng thương xót và nhân từ của Thiên Chúa, những người cầu nguện với đôi bàn tay mở ra như những cái bát của người ăn mày, chúng ta đến lượt mình phải cố gắng sống nhân từ, quảng đại và thương xót những người khác, bởi vì mức độ chúng cho sẽ trở thành mức độ chúng ta nhận.

BÀI GIẢNG 2:

Giàu có và nghèo khó

            Không phải phú hộ và La-da-rô sống trong những thế giớ khác nhau. Ông phú hộ mặc áo dài tía; La-da-rô mặc áo quần rách rưới. Ông phú hộ ăn cao lương mỹ vị mỗi ngày, La-da-rô không có gì đê ăn. Ông phú hộ mạnh khỏe; la-da-rô mình đầy mụn nhọt. . Ông phú hộ sống trong lâu đài; La-da-rô sống trên đường phố.

            Thật vậy, nói rằng họ sống trong những thế giới khác nhau là một cách nói giảm nhẹ. Họ sống trong một thế giới trái ngược nhau. Ông phú hộ sống trong một khu vườn; La-da-rô sống trong một sa mạc, ông phú hộ sống trong một thiên đàn giữa trần gian; La-da-rô sống trong một địa ngục loài người. và dù thế giơi riêng của họ khác nhau như ngày và đêm, chúng lại ở cạnh nhau.

            La-da-rô sống ở bên lề thế giới của ông phú hộ. Và vì anh ở ngoài cổng nhà ông phú hộ nên mỗi ngày anh nhì vào thiên đàng mà anh đã bị trục xuất. Dù anh ao ước được đi vào thế giới của ông, anh cũng không dám ấp ủ hy vọng được ngồi vào bàn. Anh sẽ sung sướng biết bao khi được làm đầy bụng bằng những mãnh vụn thức ăn từ bàn của ông phú hộ rơi xuống. nhưng anh không có được, không phài vì không thể làm được việc đó mà chỉ vì không ai muốn làm việc đó cho anh.

            Dĩ nhiên, người ở vị trí tốt nhất để giúp đỡ anh La-da-rô là ông phú hộ. ông có thể dễ dàng bước vào thế giới cô độc và tuyệt vọng của La-da-rô để tiếp xúc với anh. Nhưng ông đã không làm. Ông khép kín, không chỉ lâu đài mà cả tâm trí và tâm hồn ôn lại.

            La-da-rô thuộc vào hàng người nghèo nhất. thế giới nhưng trong một ý nghĩa nào đó, ông phú hộ còn nghèo hơn. Thế nghĩa là thế nào? Câu chuyện nhỏ sau đây sẽ cho chúng ta hiểu điều đó.

            Một nhà doanh nghiệp ở San Antonio, Té-xa, đậu chiếc xe đới mới vào lề đường và đi làm một vài công việc, khi ông trờ lại chiếc xe, ông thấy một cậu bé nghèo khoản mười một tuổi đang quan sát chiếc xe với đôi mắt đầy vẻ thán phục và thèm muốn.

            “Thưa ông, có phải chiếc xe này của ông”cậu bé hỏi.

“Phải”, ông ta đáp.

“Nó đép quá. Ông phải trả bao nhiêu tiền để mua nó?”

“Nói thật với chú bé là tôi không biết.”

“Ông muốn nói ông mua nó và không thể nhớ đã trả bao nhiêu?”

“Này chú bé, tôi không nói tôi mua nó. Đây là một món quà mà bạn tôi cho tôi”

“Ông muốn nói bạn ông cho ông và ông không mất một xu nào để mau?”

“Đúng thê”

“Tôi ước gì tôi…”

Nhà doanh nghiệp tin chắc rằng cậu bé sẽ nói tiếp

“Tôi ước gì tôi có một người bạn như thế”nhưng câu bé lại nói: “Tôi ước gì tôi có thể là một người bạn như thế.”

Và ông ta kết luận: “đây là mình trong bộ áo quần lòe loẹt với chùm chìa khóa và một chiếc xe đời mớ trong tay. Còn kia là một cậu bé áo quần rách rưới. tuy nhiên tâm hồn cậu bé cho nhiều yêu thương hơn mình. Và trong ý nghĩa đó cậu giàu sang hơn mình… tôi thật sự xúc động đến nỗi lấy xe chở cậu và người bạn của cậu bị chúng sốt tê liệt còn nhỏ làm tay co rút lại, cho cả hai đi một vòng với chiếc xe của tôi. Đó là những giờ hạnh phúc nhất của đời tôi”

            Ông phú hộ phải chịu thứ nghèo nàn tệ hại nhất, đó là sự nghèo nàn của tâm hồn. tâm hồn ông ta trống rỗng lòng thương xót và yêu thương.

            Ông không muốn cho La-da-rô dù là những mãnh vụn thức ăn trên bàn của ông. cả những con chó hoang ngoài phố còn tử tế với La-da-rô hơn ông ta.

            Người giàu có bị của cải làm tổn thương cũng như người nghèo bị cái nghèo của họ làm tổn thương. “cái xấu lớn nhất trong thế giới ngày nay là thiếu vắng tình yêu- sự thờ ơ khủng khiếp với người lân cận ngày càng phổ biến”(Mẹ Tê-rê-xa).

            Khoản cách giữa ông phú họ và La-da-rô đang phát triền thành một vực thẳm khổng lồ. những đứa trẻ trong thế giới thứ ba biết viễn cảnh nào đang chờ đợi chúng. Một phóng viên hỏi một thiếu niên: “Cháu muốn làm gì với cuộc đời mình?”“cháu muốn sống để nhìn thấy tuổi hai mươi”cậu trả lời như thế.

BÀI GIẢNG 3

Bác ái bắt đầu từ nhà mình

            Một tối nọ người giàu nằm mộng và thấy một giấc mơ khó chịu. trong giấc mơ, ông thấy một đám đông người nghèo, bị bệnh tật dày vò, những người đói lả kêu cầu ông giúp đỡ. Khi ông thức dạy sáng hôm sau nhớ lại giấc mơ của mình, ông quyết định bắt đầy dấn thân vào một chiến dịch làm điều thiện. Ngay sáng hôm đó, không bỏ phí thời gian, ông ngồi vào chiếc xe Mercedes để đi xem cần phải giúp cho người nghèo cái gì.

            Vừa mới đi qua cổng chính của tòa nhà thì ông thấy một người ăn mày ngồi trên mặt đất, hai tay đưa ra để cầu xin bổ thí, ông nhà giàu rất bối rối khi nhìn thấy cảnh khốn khổ của người ăn mày. Ông lưỡng lự một lúc rồi cho tài xế nhấn ga chạy tiếp. Ông không muốn dừng xe lại để chỉ gặp một người ăn mày dù hoàn cảnh của người này có khốn khó đến đâu.

            Ông đi dọc ngang khắp thành phố và nhận thấy rằng vấn đề to lớn hơn và nhu cầu thì nhiều hơn ông nghĩ. Khi ông quay về nhà lúc chiều tối, đầu óc ông đầy những kế hoạch, lược đồ, dự án. Vấn đề duy nhất là phải bắt đầu ở chổ nào. Phải chăng ông sẽ bắt đầu với một bệnh viện, một trường đại học, một xí nghiệp hoặc một nơi nào đó?

            Khi về đến cổng tòa nhà, ông nhận thấy người ăn mày vẫn còn ở đó. Ngay tại vị trí lúc ban sáng. “Chỉ cần tưởng tượng con người nghèo khổ này ngôi đây suốt ngày trong cái nắng cháy da!”ông tụ nhủ. Một lần nữa ông cảm thấy động lòng trắc ẩn nhưng một lần nữa, ông lại đi qua không dừng lại.

            Tối hôm đó ông có giấc mơ khác. Ông lại nghe thấy những tiếng kêu cứu khác. Nhưng lần này không phải từ một đám đông, nhưng từ một cá nhân. Cá nhân này là người ăn mày mà ông đã thấy ở cổng nhà ông. sáng hôn sau khi thức dậy biết rõ mình phải bắt đầu ở chổ nào.

            Mẹ Tê-rê-xa nói: “Tôi luôn luôn nói rằng yêu thương bắt đầu từ nhà mình; trước hết ở nhà bạn rồi đến thị trấn hoặc thành phố của bạn. Yên thương một người ở xa thì để, nhưng không dễ khi yêu thương những người sống với chúng ta hoặc ở gần chúng ta. Tôi không đồng ý với cách thức to lớn đê thực hiện các công việc- yêu thương bắt đầu với một cá nhân. Để yêu thương một người, bạn phải tiếp xúc và trở nên gần gủi với người ấy. Bạn phải để cho người ta đến tiếp xúc với người nghèo. Khi bạn làm điều đó bạn vượt qua con nước to lớn ấy. Không còn những “triệu”người ấy mà một vài người bạn hiện đang tiếp xúc, gần gũi”

            Mẹ Tê-re-xa kể lại câu chuyện sau đây: “một lần nọ ở Bombay có một hội nghị lớn về tình trạng nghèo khổ. Khi tôi đến nơi. Ngay trước cửa của địa điểm trong đó hàng trăm người đang nói về lương thực và cái đói, tôi thấy một người đang hấp hối. Tôi đưa người ấy về nhà chúng tôi dành cho người hấp hối. Người ấy chết ở đó. Người ấy chết vì đói. Trong lúc những người ở bên trong nói về việc làm thế nào để trong mười lăm năm, chúng ta sẽ có thật nhiêu lương thực và thế này thế kia- còn người đàn ông đó đã chết.

            “Tôi không bao giờ coi các đám đông là trách nhiệm của tôi. Tôi nhìn vào cá nhân. Tôi chỉ có thể yêu thương một người ở mọi lúc. Tôi chỉ có thể nuôi sống một người ở mỗi lúc. Tôi nhặt một người, có lẽ nêu tôi không nhặc một người, tôi sẽ không thể nhặt đến 42.000 người. toàn bộ công việc chỉ là giọt nước trong đại dương. Nhưng nếu tôi không đặt giọt nước ấy vào, hẳn đại dương sẽ ít đi một giọt. Đối với bạn, cũng giống thế. Trong gia định bạn cũng giống thế”

            Người giàu có không mong cứu vớt thế giới. nhưng ông ta có thể giúp đỡ người ăn mày trước cửa nhà mình.

CÂU CHUYỆN KHÁC

            Một tu sĩ đi lang than đến một ngôi làng. Ông đang định nghỉ qua đêm dưới một gốc cây thì một dân làng chạy đến gặp ông và nói: “Xin thầy cho con viên ngọc quý”

“Anh định nói viên ngọc nào”người ta sẽ hỏi.

“Tối qua con có một giấc mơ: nếu con đi ra bên ngoài làng lúc chạng vạng tối, con sẽ gặp được một tu sĩ và vị này sẽ cho con một viên đá quý, làm con trở nên giàu có mãi”.

            Tu sĩ lục lọi trong túi xách, tìm thấy một viên ngọc và lấy ra. “đây có lẽ là viên ngọc mà anh nói đến”ông nói và đưa nó cho người dân làng. “Tôi tìm thấy nó trong rừng cách đây mấy ngày. Anh hãy nhận lấy nó”.

            Người đàn ông cầm lấy viên ngọc và ngắm nghía với vẻ thán phực. Nó là một viên kim cương, viên lớn nhất mà anh ta chưa bao giờ thấy. Anh ta đen nó về nhà. Nhưng suốt đêm anh ta trằn trọc trên giường, không thể ngủ được. sáng hôm sau anh ta trở lại gặp vị tu sĩ và nói: “Suốt đêm qua, con đã suy nghĩ nhiều. thầy hãy lấy lại viên kim cương này. Thay vào đó, hãy cho con sự giàu có nào làm thầy cho đi viên kim cương ấy dễ dàng đến thế”

            Người giàu có sống bằng đời tinh thần bên trong, người bình thường sống bằng đời sống bên ngoài- điều mà người kém cõi lại thấy cần và mong muốn.

LỜI NGUYỆN TÍN HỮU:

            Chủ tế: chúng ta hãy cầu xin Chúa giúp chúng ta hiểu ý nghĩa  của nghèo khó thật và giàu có thật.

            Công đoàn: Lạy Chúa, xin lắng nghe chúng con.

            Người đọc: Cầu cho các Ki-tô hữu: để họ không thờ ơ trước những nhu cầu của những người xung quanh. (Nghỉ) Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

            Cầu cho những người vì thất nghiệp, nghèo khổ hay bệnh tật mà phải đứng bên lề cuộc sống. (Nghỉ) Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

            Câu xin ơn biết làm cho chính chúng ta được giàu lòng thương xót hơn là giàu của cải trong thế gian này. (Nghỉ) Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

            Cầu cho các nhu cầu riêng của chúng ta. (Nghỉ) Chúng ta hãy cầu xin Chúa.

            Chủ tế: Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin đổ đầy tình yêu Chúa trong lòng chúng con. Xin ban cho chúng con ân sủng vượt lên trên lòng vị kỷ của chúng con, giữ cho chúng con luôn trung tín với Chúa và với người khác. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con.


 

TN26-C120: CHÚA NHẬT TUẦN XXVI THƯỜNG NIÊN C

Ngày 25-9-2016 
  Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 16: 19-31)

19 "Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình.20 Lại có một người nghèo khó tên là La-da-rô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu,21 thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.22 Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.23 "Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh La-da-rô trong lòng tổ phụ.24 Bấy giờ ông ta kêu lên: "Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!25 Ông Áp-ra-ham đáp: "Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ.26 Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được.27 "Ông nhà giàu nói: "Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh La-da-rô đến nhà cha con,28 vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!29 Ông Áp-ra-ham đáp: "Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó.30 Ông nhà giàu nói: "Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối.31 Ông Áp-ra-ham đáp: "Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin."

SUY NIỆM

 

Trong quyển sách “Nhóm mười hai”, tác giả Lespli Linda có kể câu chuyện: Một thương gia đang TN26-C120

Trong quyển sách “Nhóm mười hai”, tác giả Lespli Linda có kể câu chuyện:

Một thương gia đang ngồi ăn, bỗng thấy một em bé nghèo đang run rẩy vì đói đang đứng ở cửa ra vào. Ông động lòng thương gọi em vào cùng ngồi ăn với ông. Nhưng ông hết sức ngạc nhiên vì mặc dầu đang đói run và đang có trước mặt đĩa cơm ngon, em hé cứ ngồi nhìn ra cửa sổ. Mặt vẫn buồn. Thương gia hỏi:

- Sao con không ăn? hay con không thích món ăn này?

Em bé trả lời cách sợ hãi:

- Con thích lắm. Con cũng đói lắm. Nhưng làm sao con ăn được khi còn đứa em cũng đói như con đang đứng ngoài cửa kia.

Nó vừa nói vừa chỉ đứa em nó cho thương gia, cũng ăn mặc rách rưới. đang đứng nhìn vào đĩa cơm cách thèm thuồng.

Trong dụ ngôn nhà phú hộ và người hành khất Ladarô mà Chúa Giêsu kể trong Tin mừng hôm nay, chúng ta cũng thấy cảnh đau lòng đó: “Một người nghèo khó tên là Ladarô mụn mụn nhọt đầy mình nằm trước cổng ông nhà giàu thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no bụng. (Lc 16,20-21). Nhưng trong câu chuyện trên đây thì người thương gia biết thương giúp em bé nghèo đói, còn nhà phú hộ trong dụ ngôn thì không quan tâm gì đến Ladarô đói khổ.

Và câu trả lời thành thật đơn sơ của em bé: “Làm sao con ăn được  khi còn đứa em  cũng đói như con  đang đứng ngoài cửa kia“ Câu trả lời đơn thành nầy  làm nổi lên tình liên đới giữa người với người, giữa chúng ta và anh chị em bên cạnh đang thíêu thốn cần nhờ lòng quảng đại trợ giúp của chưng ta. Làm sao chúng ta có thể ăn uống, sống an vui hạnh phúc được khi khi còn biết bao anh chị em bên cạnh đang tâm vào tình trạng đói khổ? Em bé nghèo muốn chia sẻ sự may mắn của mình với đứa em.

 Ước gì mỗi người chúng ta cũng có tình liên đới giống như thế đối với anh chị em xung quanh. Thiên Chúa rất vui lòng khi thấy con cái Ngài sống tình liên đới, biết chia sẻ những hồng ân đã lãnh nhận nơi Ngài như thế để Ngài thưởng công họ. Vì khi chúng ta chia sẻ cho anh chị em nghèo khổ của chúng ta là chúng ta chia sẻ cho Chúa vậy. đừng vô cảm trước tha nhân, chúng ta sẽ bị phán xét về điều này.

(Theo “Phút cầu nguyện cuối ngày tập III)

 GKGĐ Giáo Phận Phú Cường


 

TN26-C121: CHÚA NHẬT TUẦN XXVI THƯỜNG NIÊN C

Tin mừng Lc 16: 19 - 31
HỌC CHO BIẾT CÁCH DÙNG CỦA CẢI

 

Trang Tin Mừng theo Thánh Luca 16:19-31 hôm nay, Chúa Giêsu không lên án người phú hộ, nhưng TN26-C121

Trang Tin Mừng theo Thánh Luca 16:19-31 hôm nay, Chúa Giêsu không lên án người phú hộ, nhưng lên án lòng ích kỷ, không bác ái, không thương người của người phú hộ. Ngài có thương những người giàu có đấy chứ. Vì thương, Ngài mới dùng dụ ngôn để cảnh cáo họ, để dạy họ cách sống bác ái để được sống đời đời trong lòng tổ phụ Abraham, theo cách người Do Thái thường suy nghĩ.

Ích kỷ là loại bệnh nan y, khó có thể chữa trị được bởi vì: người ích kỷ có bao giờ biết mình ích kỷ. Cái gì cũng nghĩ về mình, lo cho mình, vơ vào mình, họ không chỉ vơ vật chất, mà còn vơ cả phần chân lý về mình nữa. Thực chất người ích kỷ còn là người "bảo thủ", toan tính thiển cận, thấy cái lợi trước mắt là lao vào như con thiêu thân để giành giật. Ích kỷ còn là nguồn gốc của mọi giống tội khác như: tham lam, kiêu căng, lật lọng, tráo trở, độc đoán, khinh bỉ, coi thường người khác…

Dụ ngôn trước hết nhắm ám chỉ đến quan niệm sai lầm của các biệt phái, vì họ coi thịnh vượng đời này là dấu chỉ ơn lành của Thiên Chúa và nghèo nàn là dấu chỉ bị ruồng bỏ. Dưới mắt họ, thế giới bên kia chỉ có ích lợi thứ yếu. Những người Saducêo, không tin đời sau, hành vi đạo đức chủ yếu nhắm tới quyền lợi và công bằng trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Nó đòi hỏi mỗi người cố gắng hành động tốt, tức là giữ giới luật Chúa, lãnh nhận ngay khi còn ở trên dương gian phần thưởng mà họ có thể được.

Người lành sẽ được thịnh vượng, kẻ ác gặp bất hạnh. Ở trần gian này nếu mọi sự tốt đẹp, có nghĩa là con người đã làm hài lòng Thiên Chúa; bằng không thì vì tội lỗi ngự trị trong lòng họ. Đó là nguyên nhân người Biệt phái chế diễu Chúa Giêsu vì Ngài đòi hỏi phải từ bỏ lạc thú ở đời này. Yêu sách này mâu thuẫn gay gắt với xác tín tôn giáo của họ, và dụ ngôn khai triển sự tương phản đó một cách không kiêng nể.

Sự giàu có của người phú hộ được mô tả qua cách ăn mặc: áo đỏ tía, chỉ dành cho vua (Mc 15, 17.20; Kh 18, 12) và hàng mịn. Cả hai thứ nà được kể là những đồ quí giá chung với vàng bạc, đá quý và ngọc ngà (Kh 18, 12). Động từ “mang” ở thì quá khứ chưa hoàn thành cho thấy ông thường ngày mang áo quần nầy, chứ không phải chỉ một dịp lễ lạc trọng thể nào đó. Việc ông “làm yến tiệc” liên tục, và việc này nhắc đến thái độ tự hài lòng của người giàu có trên của cải ông đã kiếm được, ăn uống, hưởng thụ và chỉ dừng lại ở đó (12, 19).
 
Người giàu có không “thấy” Ladarô. Ông đã không đuổi Ladarô xa ngôi nhà đẹp đẽ của ông, điều đó không làm ông rầy rà: ông không “thấy” gì cả. Thật là một sự mù lòa kinh khủng. Một bà già chết vì bị bỏ mặc, những người láng giềng nói: “Chúng ta đâu có thấy gì!”. Không phải tất cả những người sung sướng, tất cả những người giàu có đều có con tim chai đá, nhưng họ không thấy. Nhiều người tỏ ra có tình huynh đệ nếu họ thấy rõ hơn sự đau khổ chung quanh họ. Người giàu có muốn chia sẻ, họ sẽ được cứu sống.

Đối với người giàu này, quá trễ rồi. Cuối cùng, ông ta “thấy” Ladarô, ông cũng thấy điều phải trả giá đó là giàu tiền của mà nghèo tình thương yêu. Nhưng sự hiểu đời này không còn có thể giúp gì cho ông được nữa cả. Luca mô tả hết sức tỉ mỉ sự vĩnh cửu kinh sợ của kẻ đã từng “hạnh phúc” trước đây: Ông sẽ không bao giờ có thể vượt qua “vực thẳm lớn lao” được.

Qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn dạy cho ta rằng giàu có không phải là một tội và nghèo khổ cũng chưa hẳn là có phúc, nếu người ta không có tinh thần nghèo khó thực sự. Và rồi Chúa dạy cho ta biết mối quan hệ giữa cách ta sử dụng tiền của đời này và hạnh phúc vĩnh cửu đời sau.

Trước hết, giàu có có phải là một tội trọng không và nghèo khó có phải là có phúc không? Chúng ta thấy dụ ngôn không đề cập tới một tội rõ rệt nào của nhà phú hộ, thế mà ông ta đã sa hỏa ngục, điều đó làm cho chúng ta có cảm tưởng nguyên việc giàu có đã là một tội. Không, giàu có tự nó không xấu cũng không phải là một tội, nếu không ai mà dám làm giàu nữa. Nhưng nếu những người giàu có coi tiền của, thay vì là đầy tớ đã trở nên ông chủ, thay vì là thụ tạo đã trở nên thần tượng, thay vì là phương tiện đã trở nên mục đích. Hoặc những người giàu có chỉ biết ăn chơi phung phí mà không một chút động lòng trắc ẩn trước những người nghèo khổ xung quanh mình. Hoặc những người giàu coi tiền bạc là trên hết, hơn cả tình nghĩa.

Những người giàu như thế thì tiền của có thể chỉ đem lại cho họ đầy đủ, sung sướng ở đời này mà không ích gì cho họ ở đời sau. Hơn nữa, lại là một ngăn trở làm cho họ khó vào nước trời hay không vào được nước trời. Đó là trường hợp của nhà phú hộ trong dụ ngôn. Ông ta bị phạt, không phải vì ông ta là phú hộ, nhưng vì ông ta đã không phú hộ cho nên. Mặc dầu chúng ta có thể nghi ngờ về nguồn gốc tài sản của ông ta. Nhưng tội của ông ta không phải chỉ ở cách làm giàu bất chính, cũng không phải vì ông ta là người giàu, nhưng vì ông ta đã sử dụng tiền của một cách xa xỉ, ích kỷ, không biết chia sẻ, thương giúp người hành khất đói rách, nghèo khổ.

Tội của người phú hộ chính là tội vô tâm, làm ngơ, phớt lờ, không nhìn, không nghe, không thấy người nghèo, Ladarô đang van xin cứu giúp trong cơn đói khổ. Tội của người phú hộ chính là tội thiếu sót, tội đã không làm những gì lẽ ra mình phải làm cho người đang cần mình trợ giúp. Sẽ có một ngày tất cả chúng ta bước vào một thế giới mà giấy thông hành không phải là tiền của nhưng chính là tình yêu. Chỉ có những ai yêu mến Thiên Chúa và thương yêu anh em mới được bước vào.

Trong trang Tin Mừng hôm nay, sở dĩ người phú hộ không được vào Nước Trời, vì ông đã không tỏ lòng thương xót đối với Ladarô, cho dù đó chỉ là một chút nhỏ nhoi dành cho con người khốn khổ ngày ngày lê lết ăn mày trước cổng nhà ông.

Người phú hộ phải “chịu cực hình” không phải vì ông còn nhiều của cải, nhưng vì ông đã không biết “sử dụng của cải mà mua lấy bạn hữu Nước Trời”, mà bạn hữu ở đây không ai khác là chính Lazarô nghèo khó mà ông gặp hang ngày. Thực sự, tiêu chuẩn để vào Nước Trời không phải ở chỗ giàu hay nghèo, nhưng hệ tại nơi việc sống bác ái với anh chị em.

Dụ ngôn còn nhằm nói lên mối quan hệ giữa cách chúng ta sử dụng tiền của với hạnh phúc vĩnh cửu. Tiền của vật chất Chúa ban cho chúng ta hưởng dùng để xây dựng, thăng tiến cuộc sống của mình, đồng thời phát triển tình người, xây dựng yêu thươnggiữa người với người. Ai biết sử dụng như thế không những được ấm no hạnh phúc ở đời này mà còn bảo đảm cho cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu mai sau nữa trên nước trời.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta hãy sống theo đạo trung dung của trời. Chúng ta giàu có ư? Chúa bảo chúng ta: đừng coi tiền của trọng hơn nhân nghĩa. Chúa dạy chúng ta: chỉ có một mục đích cho việc sử dụng tiền của vật chất, đó là sử dụng để đạt tới sự sống vĩnh cửu; và chỉ có một cách sử dụng đúng là sử dụng để đem lại hữu ích cho mình và cho người khác. Vì thế, dụ ngôn hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy xét lại cách mình sử dụng tiền của và cách mình đóng góp tiền của trong việc phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.

Xin Chúa cho ta biết số phận con người sẽ được hạnh phúc viên mãn hay bị luận phạt muôn đời tùy theo ta có biết yêu thương tha nhân hay không. Xin Chúa dắt ta luôn đi trên con đường dẫn tới ơn cứu độ: Biết nghe lời hướng dẫn của Môisê, các ngôn sứ, đặc biệt là Lời Chúa để sám hối, hoán cải và yêu thương mọi người nhất là những anh chị em nghèo khổ. Vì ta biết Thiên Đàng không dành riêng cho một mình ta. Nhưng ta chỉ có thể tiến vào cùng với anh chị em trong tình yêu thương.

Huệ Minh


 

TN26-C122: HÀ PHÚ HỘ VÀ LAZARÔ NGHÈO KHÓ

Tin mừng Lc 16: 19 - 31
 
 

 Chúa nhật tuần trước, Đức Giêsu đã nói với chúng ta về việc sử dụng tiền của, tuần này Ngài nhắc TN26-C122

Chúa nhật tuần trước, Đức Giêsu đã nói với chúng ta về việc sử dụng tiền của, tuần này Ngài nhắc đến một lần nữa và khuyến cáo chúng ta rằng tiền của có thể trở thành một mối nguy, một cản trở chúng ta vào Nước Trời.

Một cách cụ thể, Đức Giêsu đưa ra một dụ ngôn về “người phú hộ và Lazarô  nghèo khó”.

Người phú hộ trong dụ ngôn không làm điều gì gian ác, không lỗi đức công bằng, không ức hiếp ai, không làm gì phạm đến Lazarô cả, vậy tại sao ông ta lại bị sa vào hỏa ngục ? Tội ông ở chỗ nào ?

Thực ra, ông không phạm một tội ác nào mà chỉ là “hờ hững, dửng dưng” trước đau khổ của người khác.  
Tội của ông chính là tội “thiếu sót”, vì ông đã không làm gì để cải thiện đời sống của người anh em nghèo khó ở sát cạnh mình.

Cha Mark Link kể lại trong tập Mission 2000 câu chuyện cảm động như sau:

Ông thị trưởng New York tên Fiorello La Guardia thỉnh thoảng ngồi xử kiện.

Một lần kia, người ta giải đến cho ông một người thất nghiệp mang tội ăn cắp bánh để nuôi gia đình.

Ngài thị trưởng nói :“Thưa ông, luật pháp không trừ ai.Tôi kết án ông 10 đô la tiền phạt.” Rồi ông thị trưởng lấy 10 đôla trao cho ông nộp tiền phạt.

Sau đó ông bắt tất cả những người đang hiện diện trong phòng xử án phải nộp mỗi người 50 xu. Lí do là vì họ đã sống trong một thành phố văn minh mà để một người phải đi ăn cắp về nuôi gia đình.

Người đàn ông bước ra khỏi phòng xử án, cảm động, nước mắt đầm đìa vì có được  47$50 (đô la) từ những người tham dự xử án.

Câu chuyện này nhắc nhở chúng ta có bổn phận phải giúp đỡ những người túng thiếu chung quanh chúng ta.

Và MacCathy còn kể một câu chuyện như sau:

Trong giấc mơ, ông thấy một đám đông người nghèo, bị bệnh tật dày vò, những người đói lả kêu cầu ông giúp đỡ.

Khi ông thức dậy sáng hôm sau, nhớ lại giấc mơ của mình, ông quyết định bắt đầu dấn thân vào một chiến dịch làm điều thiện. Ngay sáng hôm đó, không bỏ phí thời gian, ông ngồi vào chiếc xe Mercedes để đi xem cần phải giúp cho người nghèo cái gì.

Vừa ra khỏi nhà thì ông thấy một người ăn mày ngồi ngay ở cổng, hai tay đưa ra để cầu xin bố thí.

Người nhà giàu rất bối rối khi nhìn thấy hoàn cảnh khốn khổ của người ăn mày. Ông lưỡng lự một lúc rồi ra lệnh cho tài xế nhấn ga chạy tiếp. Ông không muốn dừng xe lại để chỉ gặp một người ăn mày dù hoàn cảnh của người ăn mày này có khốn khổ đến đâu đi nữa.

Rồi chiều đến, khi về tới cổng, ông thấy người ăn mày vẫn còn ở đó, ngay tại vị trí lúc ban sáng. Ông động lòng trắc ẩn nhưng lại một lần nữa, ông bỏ qua không dừng lại.

Tối hôm đó ông lại có một giấc mơ khác. Ông nghe thấy những tiếng kêu cứu. Nhưng lần này không phải từ một đám đông, nhưng từ một cá nhân. Cá nhân này cũng lại là người ăn mày mà ông đã thấy ở cổng nhà ông. Sáng hôm sau khi thức dậy ông biết rõ mình phải làm gì và bắt đầu từ đâu.

Từ câu chuyện này, chúng ta lắng nghe Mẹ Têrêxa nói: “Tôi luôn luôn nói rằng yêu thương bắt đầu từ nhà mình:

trước hết ở nhà bạn rồi đến thị trấn hoặc thành phố của bạn.

Yêu thương một người ở xa thì dễ, nhưng không dễ khi yêu thương những người sống với chúng ta hoặc ở gần chúng ta.

Mẹ Têrêxa kể lại câu chuyện sau đây:

“Một lần nọ ở Bombay có một hội nghị lớn về tình trạng nghèo khổ.

Khi tôi đến nơi, ngay trước cửa của địa điểm trong đó hàng trăm người đang nói về lương thực và cái đói, tôi thấy một người đang hấp hối.

Tôi đưa người ấy về nhà chúng tôi dành cho người hấp hối.

Người ấy đã chết ở đó. Người ấy chết vì đói.

Trong lúc những người ở bên trong phòng họp đang bàn luận sôi nổi về việc phải làm thế nào để trong mười lăm năm, chúng ta sẽ có thật nhiều lương thực – đang khi họ để người đàn ông đó chết, chết vì đói, ngay bên cạnh phòng họp của họ.

Mẹ Têrêsa nói tiếp:  “Tôi không bao giờ coi các đám đông là trách nhiệm của tôi.

Tôi nhìn vào cá từng nhân.

Tôi chỉ có thể yêu thương một người ở mỗi lúc.

Tôi chỉ có thể nuôi sống một người ở mỗi lúc khác nhau.

Tôi nhặt một người. Có lẽ nếu tôi không nhặt một người, tôi sẽ không thể nhặt đến 42.000 người.

Toàn bộ công việc chỉ là một giọt nước trong đại dương. Nhưng nếu tôi không đặt giọt nước ấy vào, hẳn đại dương sẽ ít đi một giọt nước. Amen

Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy


 

TN26-C123: Tiền

Nghe qua dụ ngôn ông phú hộ giàu có và Ladarô nghèo đói chúng ta dễ có cảm tưởng rằng hễ sung TN26-C123 Lượng

Nghe qua dụ ngôn ông phú hộ giàu có và Ladarô nghèo đói chúng ta dễ có cảm tưởng rằng hễ sung sướng ở đời này thì sẽ bất hạnh ở đời sau và ngược lại nếu khổ đau ở đời này thì sẽ hạnh phúc ở đời sau. Nhưng thực ra giáo huấn của Chúa Giêsu không phải là như vậy, bởi lẽ sang giàu không phải là một tội và đói khổ chưa hẳn là một bảo đảm đưa tới ân thưởng. Điều chúng ta cần lưu ý ở đây chính là sự cách biệt và phải khổ sở của người giàu có mà bất nhân trong dụ ngôn Chúa Giêsu đã đưa ra.
Ngài không nói tới việc nhờ đâu mà ông ta được giàu có nghĩa là không cần xét tới tính liêm chính của những điều kiện sung túc ông ta có được. Thái độ đáng trách của ông ta chính là lối sống xa cách đối với người nghèo đói bên cạnh mình. Ông ta quên rằng những của cải và tự do của ông ta luôn hàm chứa trách nhiệm đối với những người chung quanh. Và nó cũng là phương tiện giúp ông ta kiến tạo tình liên đới làm nên hạnh phúc thiên đàng. Ông ta tưởng đâu mình có thể sống hạnh phúc được mãi trong ích kỷ, trong tháp ngà của riêng mình. Và vì vậy chẳng cần gì phải quan tâm xây dựng mối liên hệ với người khác. Nào ngờ đâu, sự chết đến. Nó buộc ông ta phải bỏ lại sau lưng tất cả những điều kiệnđiều kiện sang giàu với những yến tiệc linh đình hằng ngày. Lúc ấy ông ta hoảng sợ vì thấy mình quá xa cách đối với người khác. Và sự xa cách đó đã khiến tông ta chới với, bất hạnh. Vực thẳm ngăn cách quá sâu rộng mà chính ông ta tạo nên do những vô tâm và ích kỷ khi còn sống, giờ đã làm cho ông ta vô phương vượt qua. Ước mong cậy nhờ kẻ mình đã khinh rẻ, bỏ rơi thật trơ trẽn làm sao. Mà cũng chẳng được nữa, dù là một giọt nước. Lời đáp của Abraham thật thấm thía. Nếu khi còn sống ông ta đã biết quan tâm chia sẻ những phúc lộc mình được hưởng cho Ladarô nghèo khó và cho những người chung quanh thì chắc chắn ông ta đã không phải đơn độc trong đau khổ nơi thế giới bên kia.
Theo một số nhà chú giải thì câu chuyện được kể trong dụ ngôn không hẳn là do Chúa Giêsu sáng tác, mà là một câu chuyện đã trở nên quen thuộc đối với quần chúng thời bấy giờ. Tựu chung bài học của dụ ngôn này vẫn còn mang tính thời sự đối với chúng ta hôm nay. Chung quanh chúng ta hiện giờ không thiếu những Ladarô nghèo túng. Có thể chúng ta không phải là những phú hộ với những khả năng, lắm của cải nhiều bạc tiền, nhưng chắc chắn bao giờ chúng ta cũng có một cái gì để chia sẻ. Và không thiếu cách để chúng ta ngày càng trở nên gần gũi và thân thiết đối với những người chung quanh là hiện thân của Chúa. Ước gì mỗi bước đường đời chúng ta đi là một bước tiến đến gần Chúa và gần nhau hơn trong yêu thương và hạnh phúc.

 

TN26-C124: Quy luật của sự sống – Lm. Ignatiô Trần Ngà

Tội của lão phú hộ là tội gì? Xem ra, lão chẳng làm gì nên tội. Lão chẳng trộm cắp, cướp giật của ai; TN26-C124

Tội của lão phú hộ là tội gì? Xem ra, lão chẳng làm gì nên tội. Lão chẳng trộm cắp, cướp giật của ai; lão chẳng đánh đập hay chửi mắng La-da-rô…
Vậy tại sao lão lại sa vào chốn cực hình? Hay là vì lão quá giàu? Giàu đâu phải là tội!
Thật ra, lão phú hộ phải sa hoả ngục không phải vì lão giàu có, không phải vì lão đánh đập hay chửi mắng La-da-rô, mà chỉ vì lão là người vô cảm và ích kỷ, chỉ chăm lo bản thân mình mà không quan tâm đến người khác, chỉ biết thu tích cho riêng mình mà không biết chia sớt cho tha nhân. Tội của lão là tội ích kỷ và chính sự ích kỷ nầy là nguyên nhân khiến lão phải chịu đau thương khốn đốn trong chốn cực hình.
Quy luật của sự sống là có nhận có trao. Ngừng nhận và ngừng trao thì phải chết. Quy luật sống trong xã hội là mình sống cho mọi người và mọi người sống cho mình. Nếu ai đi ra ngoài quy luật đó là tự hại mình và chuốc lấy cái chết.
Trước hết, ta thử xem quy luật nầy được áp dụng trong phạm vi nhỏ là cơ thể. Để duy trì sự sống cho thân thể, tất cả mọi thành phần trong thân mình đều phải vận hành theo quy luật nhận và trao.
Quả tim sau khi đã nhận được máu thì liền bơm máu cho khắp châu thân, nhờ đó toàn thân được sống và lớn mạnh. Nếu có ngày nào quả tim tỏ ra “ích kỷ”, không chuyển máu nuôi toàn thân mà chỉ giữ lại cho riêng mình, thì đó là ngày tận cùng của nó và cũng là ngày hấp hối của toàn thân.
Hai lá phổi của chúng ta cũng thế. Phổi liên tục tiếp nhận dưỡng khí và liên tục trao ban. Ngày nào phổi “tham lam” cứ giữ khư khư số lượng dưỡng khí đã nhận được mà không chịu phát ban, đó là ngày tận số.
Nói chung, các cơ quan trong cơ thể muốn tồn tại và phát triển thì chúng phải tuân theo quy luật của sự sống là biết nhận và biết trao.
Trên bình diện rộng lớn hơn, mỗi cá nhân là một thành phần trong một thân thể lớn lao là nhân loại. Vì thế, nếu mỗi chúng ta không trao ban chia sớt những gì mình nhận được cho cộng đồng xã hội, thì số phận chúng ta như số phận của “quả tim ích kỷ”, của “lá phổi tham lam” đề cập trên đây. Có nhận, có trao là sống. Ngừng nhận, ngừng trao là chết.
Lão phú hộ trong Tin Mừng hôm nay chưa hiểu được lẽ đời, chưa hiểu được quy luật của sự sống là nhận và trao, nên lão chỉ biết nhận, biết tận hưởng một cách ích kỷ mà không biết sớt chia cho chàng La-da-rô khốn khổ bần cùng, do đó sau nầy lão phải lâm vào cảnh đau thương khốn đốn.
Trong cuộc đời nầy, chúng ta đã nhận được rất nhiều thứ do người khác cống hiến cho mình từ cơm ăn, áo mặc, nhà ở, xe đi, và rất nhiều sản phẩm, dịch vụ khác… Ngoài ra lại còn được đón nhận vô vàn ân huệ Thiên Chúa tuôn ban trong suốt cuộc đời… thì đến lượt mình, chúng ta cũng phải cống hiến, phải biết trao ban cho người khác. Có vay phải có trả, có nhận thì phải có trao. Người khác đã phục vụ mình thì mình cũng phải biết phục vụ người khác.
Không phải chờ đến khi trở thành tỷ phú hay trở nên giàu có như lão phú hộ trên đây, ta mới tính đến chuyện chia sớt của cải mình cho người khác; nhưng ngay hôm nay, chúng ta vẫn có bổn phận cống hiến cho người khác những ân huệ Chúa ban cho mình, như dùng thời gian, công sức, tài năng Chúa ban để phục vụ những người chung quanh, để góp công xây dựng xóm làng.
Nếu chúng ta chỉ khư khư giữ lấy những ân huệ ấy cho riêng mình mà không biết cống hiến chia sẻ cho nhau, thì có khác gì quả tim không bơm máu, khác gì buồng phổi không chuyển trao dưỡng khí, hay dạ dày không cung cấp dinh dưỡng… Làm như thế là chúng ta cũng đang đi vào vết xe của lão phú hộ, và chắc chắn mai sau sẽ cùng chịu chung số phận với lão mà thôi.
Lạy Chúa Thánh Thần,
Xin Chúa khai mở lòng trí để chúng con hiểu được sự thật lớn lao là mỗi người là một chi thể trong thân thể lớn lao là nhân loại; vì thế, mọi người đều liên đới mật thiết với nhau như những cơ quan trong cùng một thân mình. Sự thật nầy sẽ giải thoát con người khỏi nếp sống ích kỷ, vô cảm vô tâm, nhưng sẽ thôi thúc mỗi người biết sống cho người khác, biết quan tâm xây dựng phúc lợi cộng đồng. Amen.

 

TN26-C125: Hạnh phúc đời này và đời sau

CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 16:19-31)
 

Câu chuyện dụ ngôn Chúa Giê-su kể có hai phần rõ rệt:  phần thứ nhất xảy ra trước khi cái chết đến TN26-C125

Câu chuyện dụ ngôn Chúa Giê-su kể có hai phần rõ rệt:  phần thứ nhất xảy ra trước khi cái chết đến và phần sau xảy ra sau cái chết.  Ngoài ra, lại có một sự hoán chuyển thật ý nghĩa làm cho chúng ta phải suy nghĩ:  phần phước đời này không bảo đảm cho phần phước đời sau và phần phước đời sau không nhất thiết phải là phần phước đời này.  Cái chết là thời điểm xác định sự khác biệt và hoán chuyển ấy.
          Ông nhà giàu và người nghèo La-da-rô là hai người được hưởng hạnh phúc, nhưng không phải cùng một thứ hạnh phúc.  Hạnh phúc đời này của ông nhà giàu là “mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”.  Còn hạnh phúc đời sau của La-da-rô là được “ngồi trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham”.  Hai hình ảnh này đã đủ để chúng ta có thể kết luận rằng hạnh phúc đích thực phải là hạnh phúc vững bền, không khi nào mất đi, hay nói theo kiểu kinh hạt của chúng ta, đó là “hạnh phúc đời đời chẳng cùng.  A-men”.
          Tuy nhiên có chắc chắn là chúng ta phải chịu cực khổ như La-da-rô ở đời này thì mới được hưởng hạnh phúc bất diệt ở đời sau không?  Không phải vậy.  Đâu phải bất cứ ông nhà giàu nào trên trái đất này cũng bị… sa hỏa ngục.  Cũng vậy, đâu phải bất cứ người nghèo xác nghèo xơ nào cũng được lên thiên đàng.  Đấy không phải là những tiêu chuẩn phán xét của Chúa.  Chỉ có việc thực thi bác ái và sử dụng của cải Chúa ban để làm việc lành phúc đức ở đời này mới là tiêu chuẩn để chúng ta được lên thiên đàng.  Ngược lại, nếu chúng ta cứ sống xa hoa, ích kỷ, không nghĩ đến người khác, nhất là những người nghèo khổ cần sự giúp đỡ của chúng ta, thì chúng ta mới… bị sa hỏa ngục mà thôi!  Trên thế giới này có biết bao nhà triệu phú hoặc tỷ phú luôn quảng đại tham gia vào những công tác bác ái xã hội.  Có những siêu sao điện ảnh phung phí tiền bạc, nghiện ngập.  Nhưng cũng có thật nhiều người trong giới nghệ sĩ đang dấn thân hoạt động giúp đỡ trẻ em nghèo hiếu học, săn sóc người phong cùi, an ủi chăm nom người già neo đơn.  Họ là những người hiểu rõ đâu là hạnh phúc đích thực.  Họ đang chuẩn bị cho hạnh phúc đời sau của họ và của người khác.  Cũng có rất nhiều người tuy nghèo tiền bạc, nhưng giàu tình yêu và lòng thương xót, đã hăng say làm tất cả theo khả năng để thực hiện lý tưởng lá rách đùm lá nát.  Theo lời thánh Phao-lô, hết thảy những người này “đã gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, sống nhẫn nại và hiền hòa…, tuân giữ điều răn của Chúa mà sống cho tinh tuyền cho đến ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, xuất hiện” (1 Ti-mô-thê 6:11,14).
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Lời khẳng định của tổ phụ Áp-ra-ham chắc chắn phải làm cho chúng ta có tật giật mình.  Ngài nói với ông nhà giàu:  “Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin”.  Mô-sê và các Ngôn Sứ là những vị thay mặt cho Lề Luật của Chúa, còn “người chết sống lại” là chính Chúa Ki-tô.  Các ngài là những người hướng dẫn giúp chúng ta sống cuộc sống trần gian và tiến về hạnh phúc đời sau.  Vậy làm sao chúng ta lại không “chịu nghe” hai vị và “chịu tin” Chúa Ki-tô?    Có phải chúng ta chỉ muốn thấy cái trước mắt mà quên những gì chưa thấy được?  Có phải chúng ta ích kỷ nghĩ đến mình chứ không quan tâm đến người khác?  Chúng ta là ông nhà giàu hay anh nghèo La-da-rô ở đời này tuy cũng là điều quan trọng.  Nhưng quan trọng hơn, dù là ông nhà giàu hoặc anh La-da-rô thì cả hai đều phải có trái tim yêu thương, yêu mến Thiên Chúa và yêu thương anh chị em.  Nếu chúng ta là ông nhà giàu có trái tim, thì đó là phần phúc của chúng ta cả đời này lẫn đời sau và chúng ta phải tạ ơn Chúa.  Còn nếu chúng ta là anh La-da-rô có trái tim, thì đó cũng không phải là bất hạnh ở đời này và chắc chắn sẽ là hạnh phúc đời sau.
          Vậy chúng ta hãy để cho Lề Luật Chúa, nhất là hãy để cho Chúa Giê-su là Tình yêu Thiên Chúa nhập thể, nắn đúc trái tim chúng ta nên một trái tim mới, từ một trái tim bằng đá thành một trái tim bằng thịt (Ê-dê-ki-en 36:26)!                           Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

TN26-C126: Phần phước vĩnh cửu không phải ở đời này

CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 16:19-31)
 

Sự khác biệt giữa giàu nghèo là điều hiển nhiên trong bất cứ xã hội nào và nó gây ra bao nhiêu vấn TN26-C139 

Sự khác biệt giữa giàu nghèo là điều hiển nhiên trong bất cứ xã hội nào và nó gây ra bao nhiêu vấn đề phức tạp.  Tuy nhiên trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su không đi vào lãnh vực xã hội ấy, Người chỉ muốn nêu lên tầm quan trọng của tương lai chúng ta sau cuộc sống ở đời tạm này.  Giàu có hay nghèo khổ rồi cũng chết.  Trong câu chuyện dụ ngôn Chúa kể, ông nhà giàu sau khi chết phải chịu cực hình nơi âm phủ.  Ông ta kêu cứu với tổ phụ Áp-ra-ham, nhưng ngài trả lời ông:  “Con ơi, hãy nhớ lại:  suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi”.  Được giàu có sung túc ở đời này quả thực là một phần phước, nhưng là phần phước chóng qua.  Vì thế, Chúa Giê-su muốn chúng ta hãy sống làm sao để đạt được phần phước vĩnh cửu.
          Câu chuyện dụ ngôn dường như chú trọng đến ông nhà giàu nhiều hơn là anh nghèo La-da-rô, nhất là chú trọng đến hệ quả của một cuộc sống “mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”.  Dụ ngôn không nói rằng ông nhà giàu đã làm những chuyện xấu xa, mà chỉ mô tả ông tận hưởng “phần phước” của mình.  Cuộc sống ích kỷ hưởng thụ đã khiến ông ta không mảy may để ý tới người chung quanh.  Thậm chí, anh La-da-rô nghèo khổ “nằm trước cổng” nhà ông, vậy mà ông cũng chẳng lưu tâm.  Chắc chắn ông trông thấy La-da-rô chứ, nhưng ông tự nhủ:  Anh cứ việc nằm trước cổng nhà tôi, miễn là đừng phá phách, ồn ào hoặc quấy rầy tôi, vì tôi còn bận hưởng phần phước của tôi!  Ngược lại, anh La-da-rô là một hình ảnh thương tâm.  Anh vừa bệnh tật vừa đói khát, nào là “mụn nhọt đầy mình”, “thèm được những thứ trên bàn ăn của ông nhà giàu rớt xuống mà ăn cho no”, nào là bị bầy chó “cứ đến liếm ghẻ chốc” khiến anh ta càng đau đớn hơn.  Tuy dụ ngôn không nói ra, nhưng chúng ta có thể hiểu rằng La-da-rô biểu tượng cho người nghèo khổ chỉ còn biết nương tựa vào Thiên Chúa mà thôi.  La-da-rô không may mắn được hưởng phần phước giàu có đời này, vậy mà chúng ta không nghe một lời than trách nào từ miệng anh ta cả.  Như thế, anh đã sống cuộc đời phó thác trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa.  Mặc dù “suốt một đời chịu toàn những bất hạnh”, nhưng La-da-rô vẫn tin rằng nhờ tình yêu Thiên Chúa, anh sẽ được “an ủi” nơi thiên đàng, vì anh tin rằng phần phước vĩnh cửu chính là niềm an ủi ấy.
          Dĩ nhiên, không phải hễ chúng ta được phần phước giàu có ở đời này thì số phận mai sau sẽ giống như ông nhà giàu trong dụ ngôn.  Ông ta phải chịu cực hình dưới âm phủ không phải vì ông giàu có, mà vì ông không sử dụng phần phước giàu có đời này để chuẩn bị cho phần phước vĩnh cửu đời sau.  Nếu ông biết chia sẻ cơm áo cho anh La-da-rô thì chẳng những ông giàu của cải mà còn “giàu lòng thương xót” nữa.  Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót (Ê-phê-xô 2:4), đã đặc biệt thương ông và cho ông được giàu có suốt cả đời, thì tại sao ông không biết tỏ lòng thương xót với anh La-da-rô nghèo khổ đang nằm ngay trước cổng nhà ông?  Hóa ra ông không tin vào phần phước đời sau, nên ông đã đặt mục đích cuộc đời mình vào việc sống hưởng thụ và không cần chuẩn bị cho phần phước vĩnh cửu.  Ông ta đúng là “đồ ngốc”, giống như nhà phú hộ đã “thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa” (Lu-ca 12:16-21).
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Bài học của sứ điệp Tin Mừng hôm nay có thể nằm ở phần cuối câu chuyện, khi ông nhà giàu xin tổ phụ Áp-ra-ham sai anh La-da-rô về nhà cha ông ta để cảnh báo năm người anh em của ông.  Họ cũng đang sống lối sống giống như ông đã sống.  Nhưng Áp-ra-ham trả lời:  “Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó”.  Ông nhà giàu thưa rằng anh em ông không chịu nghe lời các vị ấy đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết trở về cảnh báo họ thì họ mới sám hối.  Áp-ra-ham trả lời:  “Mô-sê và các Ngôn sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin”.  Người chết sống lại là Chúa Giê-su!  Đúng vậy, qua dụ ngôn hôm nay, Chúa muốn cảnh báo chúng ta đừng sống ích kỷ với những gì mình có, mà không chút quan tâm đến những người nghèo khổ chung quanh.  Sử dụng phần phước giàu có Chúa ban cho ở đời này để giúp đỡ người khác là chúng ta đang chuẩn bị cho phần phước đời sau của chúng ta đấy!                                                          Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

TN26-C127: Chia sẻ – Lm. Giuse Trần Việt Hùng.

Truyện kể: Nhà Vua kia không có con nối dòng, đã niêm yết mời những bạn trẻ điền đơn dự xét để TN26-C127

Truyện kể: Nhà Vua kia không có con nối dòng, đã niêm yết mời những bạn trẻ điền đơn dự xét để được nhận làm con nuôi trong hoàng tộc. Hai phẩm chất cần có là mến Chúa và yêu tha nhân. Có một cậu bé nhà nghèo muốn điền đơn, nhưng cậu không có thể, vì cậu ăn mặc rách rưới nghèo nàn. Được tin, cậu đã cố gắng làm việc chăm chỉ kiếm tiền mua bộ đồ mới và vội vã lên đường tìm dịp may để được nhận nuôi trong gia đình của vua. Tuy nhiên, đi dọc đường, khi gặp một người nghèo bên vệ đường đang chết lạnh. Anh bạn trẻ tỏ lòng cảm thương và tráo đổi bộ quần áo cho lão ăn xin. Thật khó khăn cho anh bạn trẻ này để được diện kiến nhà vua, vì bây giờ anh chỉ có bộ quần áo rách tả tơi. Vì đã đi được quãng xa, anh nghĩ phải cố gắng hoàn thành được hành trình. Khi anh tới dinh thự của nhà Vua, mặc dầu bị khinh rẻ và cười chê bởi các cận thần của vua. Cuối cùng anh được diện kiến Vua. Anh thật ngạc nhiên thấy vua chính là người ăn xin bên vệ đường và đang mặc bộ quần áo mà anh đã tặng cho ông. Nhà Vua bước xuống khỏi ngai vàng, ôm lấy anh bạn trẻ và nói: Chào đón, hỡi con của ta.
Sự giầu sang phú túc là ân phúc Chúa ban. Người sang giầu hay nghèo hèn cũng chẳng khác gì nhau về sứ mệnh. Người giầu có nỗi khổ của người giầu, kẻ nghèo có nỗi đau của kẻ nghèo. Cách thế tìm kiếm và sử dụng của cải đời này mới là điều quan trọng. Người đời thường chúc nhau làm ăn được phát tài phát đạt, của cải đầy dư, an cư lạc nghiệp và gia đình hạnh phúc. Của cải sinh lợi là dấu hiệu được chúc phúc. Giầu có không phải là cái tội, cái tội do tâm ý con người. Tiên tri Amos đã lên tiếng cảnh cáo những người giầu sang phú quí tự kiêu đã hoang phí tài sản: Đây Chúa toàn năng phán: "Khốn cho các ngươi là những kẻ phú quý ở Sion và tự kiêu trên núi Samaria”(Am 6, 1a). Những người giầu có hay lạm dụng quyền thế để chèn ép những người bé nhỏ thấp kém. Chúng ta nhận biết Thiên Chúa luôn đứng về phía những người nghèo bị đối xử bất công.
Người giầu được hưởng thụ mọi sự sung sướng trên đời. Một số người giầu còn dung dưỡng xác thịt thỏa mãn mọi nhu cầu đòi hỏi của bản năng. Họ được hưởng nếm mọi của ngon vật lạ. Sự thụ hưởng qúa độ sẽ làm cho thân xác ươn lười, tinh thần yếu đuối và con người hư hỏng. Amos vạch trần những thói đời xa hoa: Các ngươi đã nằm ngủ trên giường ngà, mê đắm trên ghế dài: ăn chiên con trong đoàn và bê béo trong đàn (Am 6, 4). Chúng ta biết rằng không phải ăn nhiều, uống nhiều và hưởng thụ nhiều là hạnh phúc. Bất cứ cái gì cũng có cái giá phải trả. Ăn nhiều sẽ béo phì, uống quá độ sẽ xay sưa và hưởng thụ nhiều sẽ gây bệnh hoạn yếu liệt. Thật vậy, chẳng béo bở gì khi ngày nào cũng có yến tiệc linh đình. Tuy nhiên, đôi khi chúng ta cũng cần có những bữa tiệc vui, những món ngon và rượu nồng để vui thỏa lòng người.
Chúa Giêsu đã dùng dụ ngôn ông Phú hộ giầu có và người hành khất Ladarô nghèo đói để giúp chúng ta suy nghĩ về cách đối xử với đồng loại. Ông phú hộ ngày ngày yến tiệc linh đình, còn Ladarô bệnh hoạn đói khổ ngồi cạnh cổng và chẳng ai đoái hoài. Một người thì sung sướng, tiệc tùng vui vẻ và hưởng phước cuộc đời. Một người cô thân cô thế, không nơi cậy dựa và chịu thiệt thòi khổ đau. Khi mãn cuộc đời dương thế, mỗi người đi theo một hướng. Kẻ được chúc phúc, người bị luận phạt. Vậy cuộc sống của người giầu và người nghèo có liên đới với nhau. Không ai có thể nói rằng tôi chỉ có nhiệm vụ lo cho chính tôi và người hàng xóm thì mặc kệ họ. Không phải thế, chúng ta sống là sống cùng, sống với và sống hỗ tương nhau. Cùng giúp nhau hoàn thành sứ mệnh của đời người.
Nhìn xem gương của người phú hộ, dụ ngôn không nói về cách thế làm giầu của ông. Cũng không nói ông phạm tội ức hiếp, khinh bỉ người nghèo hay làm thiệt hại ai điều gì. Ông xây tường cao vui hưởng cuộc sống trong sang giầu cho riêng mình. Có một điều là ông thiếu trách nhiệm với người hàng xóm. Mắt ông không nhìn thấy được sự khổ đau của người khác. Tâm ông không cảm được nỗi cô đơn sầu khổ của người bên cạnh. Ông đã không đoái hoài đến số phận đen đủi hẩm hiu của tha nhân. Kết qủa của cuộc đời, khi phải đối diện với sư thật: Abraham nói lại: 'Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Ladarô gặp toàn sự khốn khổ. Vậy bây giờ Ladarô được an ủi ở chốn này, còn con thì chịu khốn khổ (Lc 16, 25). Phần thưởng không nằm ở sự giầu sang hay nghèo hèn, mà là thái độ đối với tiền của và trái tim biết cảm thông chia sẻ với tha nhân.
Sự giầu có tiền bạc của cải có thể làm chúng ta bị mù lòa. Khi giầu có, chúng ta dễ quên mất sự nghèo khổ. Khi chúng ta đi ngang qua người ăn xin, tại sao chúng ta thường ngó sang hướng khác? Có lẽ vì chúng ta sợ tiếng nói của lương tâm làm phiền. Chúng ta giả vờ như không nhìn thấy họ. Thường thì người nghèo không van xin, nhưng họ có đôi mắt với cái nhìn rất tha thiết. Có khi người ăn xin giơ tay van nài và chúng ta phải rất tôn trọng khi bố thí. Đừng quăng ném tiền cắc vào cóng long của người ăn xin như là vất bỏ một vật gì. Thái độ cho đi quan trọng hơn qùa được cho. Có lần mẹ Terêxa đã nói: Bệnh ghê tởm nhất của thế giới hôm nay là cảm thấy bị bỏ rơi và sự dữ lớn nhất trong thế giới là thiếu vắng tình yêu và tỏ ra dửng dưng với những nhu cầu cần thiếu của tha nhân.
Chúng ta không cần đợi người chết hiện về để nói với chúng ta cách thế sống đạo. Lời Chúa dạy quá đủ để chúng ta học hỏi và thi hành. Ông phú hộ xin Abraham cho người đã chết về loan tin. Abraham đáp rằng: 'Chúng đã có Môsê và các tiên tri, chúng hãy nghe các ngài'. (Lc 16, 29). Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần rằng dù chỉ một bát nước, chúng ta làm cho người nghèo vì danh Chúa, chúng ta sẽ không mất phần thưởng. Đôi khi chúng ta dửng dưng và nghĩ rằng dụ ngôn Chúa nói là để dành cho những người giầu sang phú quí. Còn chúng ta là những người nghèo, người lao động đầu tắt mặt tối và còn đang hưởng tiền trợ cấp của chính phủ, lấy đâu ra mà giúp đỡ người này người kia chứ. Biết rằng chúng ta không giầu có về tiền tài của cải, chúng ta vẫn có cái để chia sẻ mà. Chúng ta có một trái tim đấy ắp tình thương. Chia sẻ sự cảm thông, sự hiểu biết và tình người còn quan trọng hơn. Một nụ cười, một lời nói nhẹ nhàng, một thái độ khoan dung và sự cảm mến cũng đủ nguôi lòng người đang trong cơn sầu khổ.
Mang danh là Kitô hữu, chúng ta là mộn đệ của Chúa Giêsu. Thánh Phaolô khuyên dạy chúng ta: Hỡi người của Thiên Chúa, hãy theo đuổi đức công chính, lòng đạo hạnh, đức tin, đức ái, đức nhẫn nại, đức hiền lành (1Tm 6, 11). Các nhân đức là những bông hoa thơm hương tô điểm cho đời sống đức tin. Các đức tính tốt làm cho đời sống đạo được trổ sinh hoa trái. Đức ái là cao trọng vì đức ái sẽ mở cửa tâm hồn giúp chúng ta đến với tha nhân. Tha nhân giúp chúng ta tiến tới trên con đường trọn lành. Không phải những người giầu có đưa chúng ta tới cửa thiên đàng, nhưng nhờ chính những người bé nhỏ, thấp kém, nghèo hèn và khổ đau. Họ là những ân nhân quí báu nhất của chúng ta trong cuộc hành trần thế này.
Bước vào cuộc đua, chúng ta không thể bỏ cuộc. Phải chiến đấu anh dũng cho đến cùng đường. Đừng khi nào nản chí về việc bác ái giúp người. Bao lâu Thiên Chúa còn ban ân huệ cho chúng ta, bấy lâu chúng ta còn có cơ hội chia sẻ khả năng, thời giờ và của cải của chúng ta với người chung quanh. Người nghèo là hiện thân của Chúa Giêsu giữa dòng đời. Chúng ta đừng khinh rể họ, vì họ đang được chia sẻ sự nghèo hèn thiếu thốn của Chúa Kitô. Thánh Phaolô mời gọi chúng ta: Con hãy chiến đấu trong cuộc chiến đấu chính nghĩa của đức tin. Hãy cố đoạt lấy sự sống đời đời mà con đã được kêu gọi tới và cũng vì đó, con đã mạnh dạn tuyên xưng đức tin trước mặt nhiều nhân chứng (1Tm 6, 12).
Lạy Chúa, Chúa ban cho chúng con quá nhiều hồng ân. Nhiều khi chúng con cứ khư khư giữ lại làm giầu cho chính mình mà quên những nhu cầu cần thiết của anh chị em chung quanh. Xin cho con biết mở mắt, mở tai và mở rộng tâm hồn để cùng chia sẻ niềm vui với mọi người.

 

 TN26-C128: Người nghèo Thiên Chúa chọn – An Phong

Tin mừng Chúa Nhật 26 Thường Niên C là dụ ngôn về người giàu có và ông Lazarô nghèo khó. TN26-C128

Tin mừng Chúa Nhật 26 Thường Niên C là dụ ngôn về người giàu có và ông Lazarô nghèo khó. Tin mừng gồm hai phần: phần thứ nhất nói về số phận của con người sau khi chết (c. 19-26); phần thứ hai là cuộc đối thoại của Abraham và người giàu có. Trong phần thứ nhất, số phận của người giàu có cả một đời được sung sướng "vận toàn gấm vóc lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình", bên cạnh một Lazarô "mình đầy ghẻ chốc" đã bị đảo lộn sau khi chết. "Trong hỏa ngục, phải chịu cực hình, nhà phú hộ ngước mắt lên thì thấy đàng xa có Abraham và Lazarô trong lòng ngài". Người giàu có ích kỷ là hình ảnh người không lắng nghe lời giáo huấn của Thiên Chúa. Họ "lòng chai dạ đá", không quan tâm đến những bất hạnh của người khác. Trong phần thứ hai, cuộc đối thoại cho thấy con người phải tự nguyện và tự do để hoán cải, chứ không cần đến bất cứ một áp lực nào từ bên ngoài. Hơn nữa, Thiên Chúa đã dự liệu những phương tiện cần thiết để con người có thể hoán cải.
Dụ ngôn này không có ý an ủi những người nghèo khó: "Anh em là những người nghèo ở đời này, hãy can đảm lên, một ngày kia anh em sẽ được lên trời và anh em sẽ được đền bù những khốn khó đời này như Lazarô". Thật vậy, bài Tin mừng hôm nay không chỉ khích lệ người nghèo khổ hãy cam chịu nghèo khổ hiện tại để được hưởng hạnh phúc đời sau. Chỉ vì lý do nghèo khó vật chất thôi vẫn chưa đủ, cần có nghèo khó tâm hồn "phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó" (Mt 5).
Dụ ngôn này cũng không chỉ nói đến cuộc sống bị đảo lộn sau cái chết của hai nhân vật chính: người giàu và người nghèo, nhưng còn nói đến số phận của con người tùy thuộc vào cách sống, cách cư xử với người khác ngay tại trần thế này. Đúng hơn, chỉ có một nhân vật chính là người giàu. Người nghèo Lazarô đã chẳng nói một lời nào từ đầu đến cuối. Cuộc đối thoại giữa Abraham và người giàu cho thấy số phận bi đát của người giàu, nếu họ không chịu hoán cải. Hoán cải ở đây tức là quan tâm và giúp đỡ người nghèo. Đóng cửa lòng mình lại trước những khốn khó của những người chung quanh là một tội lớn. "Khi tôi nghèo, các anh đã không cho ăn, không cho quần áo mặc, không thăm viếng, không giúp đỡ tôi" (Mt 25,41-46).
Hình ảnh Lazarô trong câu chuyện là một hình ảnh đẹp. Ông là một người nghèo hoàn toàn. Ông cần người giàu giúp đỡ. Nhưng, cũng cần phải nói thêm: người giàu cũng cần người nghèo "giúp đỡ". Lazarô có thể "giúp đỡ" người giàu thoát khỏi tính ích kỷ của mình. Mở rộng tấm lòng, có được một tình yêu vô vị lợi. Thật vậy, con người "quên mình là lúc gặp lại bản thân" (thánh Phanxicô Assissi), cho đi là nhận được. Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu, Đấng đã tự hiến thân mình cho nhân loại. Thiên Chúa mời gọi con người hoàn thành đời mình theo hình ảnh Thiên Chúa. Bao lâu con người còn ích kỷ, còn đóng cửa lòng mình lại trước những người nghèo khổ, bấy lâu con người vẫn chỉ là một nhân loại "thui chột", không theo hình ảnh Thiên Chúa.
Cho người nghèo khổ một chỗ đứng trong cuộc đời chúng ta, quan tâm đến họ là một cách thế làm cho đời mình trở nên "giàu có" trước mặt Thiên Chúa. "Mến Chúa yêu người" vẫn mãi là luật vàng Kitô giáo.
Lạy Chúa,
Xin cho chúng con đầy lòng ưu ái,
đầy tình thương cảm đối với tha nhân,
khởi đầu với những người gần chúng con nhất.
Xin dạy chúng con biết chia sẻ nỗi đau khổ
của những người gặp buồn phiền,
biết đỡ gánh nặng của họ,
nhờ vậy mà chúng con được gần gũi với Chúa.
Lạy Chúa,
xin dạy chúng con biết nhìn thấy những người đang đau khổ.
Chúa đang khóc với những giọt nước mắt của họ.
Biết bao tiếng nức nở đã trôi dạt vào đại dương của tình thương.
Xin dạy chúng con biết canh phòng
bên ngưỡng cửa đưa vào lãnh địa mênh mông của khổ đau. Amen.


 

TN26-C129: Cho Kẻ Rách Rưới Ăn Mặc

Suy Niệm Tin Mừng Chúa nhật XXVI Năm – C
(Lc 16, 19-31)
 

Sự phân hóa giàu nghèo trên thế giới nói chung và ở nước ta nó riêng ngày càng nghiêm trọng và ai TN26-C129

Sự phân hóa giàu nghèo trên thế giới nói chung và ở nước ta nó riêng ngày càng nghiêm trọng và ai cũng nhận ra qua thực tế của cuộc sống hàng ngày. Qua các phương tiện thông tin đại chúng, những hình ảnh kẻ giầu người nghèo đối chiếu như giữa đô thị rực rỡ đèn màu về đêm, vẫn chen chúc những căn lều xiêu vẹo trong con hẻm tối tăm, hay trong khi có các đại gia chi tiêu hàng chục triệu đồng cho một buổi tiệc tiếp đãi các bạn bè thì vẫn có những gia đình không đủ ngày hai bữa cơm.
Câu chuyện Chúa Giêsu kể ngày xưa, hôm nay vẫn còn mang tính thời sự. Người đặt chúng ta đối diện với tình trạng bất công xã hội phát sinh từ sự chênh lệch giữa kẻ giàu, người nghèo. Phải chăng cái hố sâu giàu nghèo chưa khiến chúng ta đau lòng hay sao mà phải làm đậm nét thêm phần bi thảm? Câu chuyện về anh chàng Lagiarô nghèo làm chúng ta giày vò và thấy cần phải điều tiết công bằng xã hội, một bên là : “Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy”. Bên kia là người : “Vận toàn gấp vóc lụa là, ngày ngày yếu tiệc linh đình”. Rõ ràng là phân hóa: người giàu có quần áo sang trọng mặc, trong khi người nghèo được bao phủ với những vết loét ghé chốc (x. Lc 16,19-21).
Tình thế cân bằng đã đến khi : cả hai cùng chết. Nhưng, chính lúc đó, sự khác biệt càng gia tăng : vì người thì được đưa vào lòng Abraham, kẻ thì được đem chôn.  Nếu ai chưa bao giờ nghe đọc câu chuyện của Chúa Giêsu, hẳn người ta sẽ phỏng đoán, người giành được phần thưởng hẳn phải là người giàu, và người bị bỏ rơi nơi phần mộ, đương nhiên là người nghèo rồi. Thật lôgích.
Nhưng lời miệng Abraham, người cha trong đức tin, đã tiết lộ cho chúng ta thấy bản án cuối cùng thật rõ nét : “Abraham nói lại: Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Lagiarô gặp toàn sự khốn khổ” (Lc 16,25). Sự công chính của Thiên Chúa đã thay đổi tình thế. Thiên Chúa không thể để người nghèo cứ khổ đau, túng cực và nghèo hèn mãi.
Thật không có câu chuyện nào thê thảm hơn người nhà giàu, ông chỉ mong muốn được giải thoát khỏi sự khổ đau đời đời, sau khi đã sống một cuộc đời giàu sang, gấm vóc lụa là, ngày ngày yến tiệc, nhưng lại chẳng biết xót thương người ngay trước cửa nhà đói khổ, phơi trần những vết thương. Đây là thái độ vô cảm. Vô cảm đến độ có mắt mà không thấy, sống mà không biết rung động tâm can, để rồi dù thật hối hận ở đời sau, nhưng đã muộn. Phải chăng ông ta đã tự chọn cho mình số phận như thế?
Bài học của người giầu có trên là một bài học đắt giá cho mỗi người chúng ta, những người có niềm tin vào Chúa đang sống Năm Thánh Lòng Thương Xót này. Lời Đức Thánh Cha Phanxicô vẫn còn vang lên như tiếng chuông báo động.
Cởi mở tâm hồn đối với những người đang sống trong tình trạng bấp bênh, đau khổ; những anh chị em bị tước đoạt phẩm giá. Hãy phá vỡ hàng rào của sự dửng dưng lãnh đạm là thái độ đang lan tràn, che đậy sự giả hình và ích kỷ.
Vui mừng thực thi những công việc bác ái về thể lý và tinh thần, “để thức tỉnh lương tâm ngái ngủ của chúng ta trước thảm trạng nghèo đói” và đừng quên rằng “vào cuối đời, chúng ta sẽ bị phán xét về đức bác ái” (lời Thánh Gioan Thánh Giá).
Đức Thánh Cha khuyên chúng ta thực hành Mười Bốn Mối Thương Xót, trong đó Tin Mừng hôm nay đề cập đến : Thứ Ba cho kẻ rách rưới ăn mặc.
Chúa Giêsu hiện diện trước cửa nhà giầu nơi Lagiarô nghèo khó, rách rưới, đang cần đến miếng cơm của thương xót, chiếc áo của lòng từ bi, để che phủ những vết ghẻ chốc, để vực dậy và gìn giữ phẩm giá cao quý của con người. Phẩm giá này không bao giờ mất đi, dù con người có ghẻ chốc đi chăng nữa.
Trải qua lịch sử với thời gian, câu chuyện của Chúa Giêsu đã đánh động hàng triệu con tim những người giàu và đã có biết bao người hoán cải; Nhưng đâu là sứ điệp chúng ta cần ngày hôm nay, trong một xã hội phát triển, đô thị hóa nông thôn, toàn cầu hóa khu vực? Chúng ta giải thích thế nào về tình trạng bất công xã hội, chênh lệch giầu nghèo ngày càng gia tăng mà chúng ta đang là tác nhân, ít hay nhiều, hoặc là đồng lõa ?
Tất cả những ai nghe sứ điệp của Chúa Giêsu đều nghĩ rằng mình có thể vẫn ở trong lòng Abraham, nhưng, trong thế giới ngày nay, có biết bao nhiêu người không đành lòng sau khi chết được chôn cất, mà không nhận được sự an ủi của Chúa Cha trời? Sự giàu có đích thực sẽ đến, chính là ngày được nhìn thấy Thiên Chúa, và điều chúng ta thiếu chỉ là điều thánh Augustinô khẳng định: “Theo con người và ta sẽ đến với Chúa”. Ước gì  Lagiarô giúp con người thời nay tìm thấy Chúa.
Lạy Chúa xin mở mắt con, để con luôn nhân từ, và nhìn thấy anh chị em bên cạnh con, trong lúc họ rơi vào tình trạng đói khát, rách rưới, bệnh tật mà ra tay giúp đỡ.
Xin đánh động trái tim con, để con cảm nhận được những khổ đau của anh chị em bên cạnh, và không từ chối giúp đỡ họ. Lạy Chúa, xin cho lòng thương xót của Chúa luôn hiện diện trong con. Amen.
 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

TN26-C130: Ra khỏi thế giới nhỏ hẹp của lòng mình

(Suy niệm của Lm. G. Nguyễn Cao Luật)
Những bức tranh tương phản
 

Tin tức trên báo chí cho biết: khoảng vài phần trăm dân số địa cầu nắm giữ gần hết tài nguyên của TN26-C130

Tin tức trên báo chí cho biết: khoảng vài phần trăm dân số địa cầu nắm giữ gần hết tài nguyên của thế giới, trong khi đa số dân còn lại chỉ được hưởng dùng một số nhỏ. Hố phân cách giữa các miền của thế giới càng lúc càng rộng thêm, số người giàu chỉ tăng lên rất ít, còn số người nghèo càng lúc càng tăng lên rất nhiều. Hình ảnh đó là một sự kiện rõ ràng của thế giới hôm nay, và cũng xuất hiện tại nhiều quốc gia, nhiều vùng đất, nhất là tại các thành thị.
Dụ ngôn của bài Tin Mừng hôm nay nêu lên một bức tranh với nhiều mầu sắc tương phản. Hình ảnh được vẽ lên là những thế giới đóng kín, những vũ trụ tách biệt, với những vực sâu ngăn cách. Từ thế giới này sang thế giới kia, không có mối liên lạc nào: mọi cây cầu đã bị phá đỗ.
- Bức tranh thứ nhất: Cuộc sống thường nhật. Một người giàu, ăn mặc sang trọng, yến tiệc linh đình ; và một người nghèo tên là La-da-rô, không có gì che thân, không có gì để ăn. Người giàu ở trong nhà và người nghèo ở ngoài cổng. Ở giữa, một cánh cửa đóng kín.
Người giàu không có tên. Chỉ biết rằng ông ta có nhiều của cải, nhiều đến dư thừa. Thái độ, cách cư xử của ông: không để ý đến ai khác, ngay cả người nghèo đang ăn xin ở cổng nhà.
Còn người nghèo có tên là La-da-rô, có nghĩa là Thiên Chúa giúp đỡ. Anh sống mà dường như đã chết. Thế nhưng anh bị đói, anh đợi chờ và mong ước được sống. Cuộc sống của anh có những lỗ hổng và vì vậy, Thiên Chúa có thể can thiệp.
Khi cái chết phủ xuống: người giàu được đem chôn, còn người nghèo được đem lên trời.
- Bức tranh thứ hai: Tại thế giới kẻ chết: trời cao và âm phủ. Người nghèo được hạnh phúc trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham: anh đã chết, mặc dù chưa được hưởng điều Thiên Chúa hứa ; nhưng anh đã thấy từ xa và đón chào các điều ấy, vì đã xưng mình là ngoại kiều, là lữ khách trên mặt đất (x. Dt 11,13).
Còn người giàu phải chịu muôn vàn đau khổ. Ông muốn được hiệp thông, muốn được chia sớt một giọt nước, nhưng không thể được: không có lối qua, dù đó là vì lòng bác ái, dù đó là những người đang thèm khát. Giữa hai thế giới có một vực sâu, một vực sâu rất lớn. Trước kia người nghèo không có gì cả: anh chỉ chờ đợi và khát mong được sống ; người giàu thu hẹp đời mình vào trong những của đang nắm giữ. Bây giờ thì ngược lại, nhưng không còn thay đổi gì được nữa.
- Bức tranh thứ ba: Vẫn tại thế giới kẻ chết. Và ở phần cuối là cuộc sống con người trên trần gian, nơi năm anh em của người giàu đang sống. Giữa hai thế giới này, có thể thông thương được. Thế nhưng chỉ là điều vô ích, vì tâm hổn của những con người đang sống ấy đã bị đóng kín.
Và dụ ngôn kết thúc với một câu nói có liên hệ đến con người thời nay: "người chết có sống lại, họ cũng chẳng tin đâu."
Cuộc sống trần gian chưa phải là tất cả
Dụ ngôn trước hết nhắm đến quan niệm sai lầm của những người biệt phái, vì họ coi thịnh vượng đời này là dấu chỉ ơn lành của Thiên Chúa và nghèo nàn là dấu chỉ bị ruổng bỏ. Dưới mắt họ, thế giới bên kia chỉ có ích lợi thứ yếu. Ở trần gian này, nếu mọi sự tốt đẹp, có nghĩa là con người đã làm đẹp lòng Thiên Chúa, còn nếu ngược lại, thì chính vì con người đã phạm tội. Đó là nguyên nhân người biệt phái chế giễu Đức Giê-su vì Người đòi hỏi phải từ bỏ lạc thú ở đời này. Yêu sách này của Đức Giê-su gây ra mâu thuẫn gay gắt với xác tín tôn giáo của họ. Dụ ngôn đã khai triển sự tương phản đó một cách không kiêng nể.
Thịnh vượng trần thế không minh chứng giá trị đạo đức và sự hậu đãi của Thiên Chúa, cũng như nghèo khó không phải là kết quả của sự bại hoại luân lý và việc Thiên Chúa ruổng bỏ. Người biệt phái đã quan niệm sai lầm. Thiên Chúa phán đoán hoàn toàn khác. Đó là ý nghĩa của dụ ngôn.
Vì thế, không nên căn cứ vào một vài chi tiết của dụ ngôn để rút ra những hệ luận thiêng liêng: chẳng hạn các hình khổ dành cho người phú hộ hưởng thụ là biểu hiện những khổ hình của hoả ngục. Đó chỉ là một hình ảnh. Việc người nghèo an nghỉ trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham cũng thế ...
Đàng khác, dụ ngôn còn muốn cho thấy rằng cảnh ngộ trần thế và bên ngoài không liên quan gì tới trạng thái tâm hổn. Người ta vẫn thường cho rằng người giàu có, ăn sung mặc sướng là người biết tổ chức tốt cuộc đời của mình, và người ta thương hại kẻ nghèo phải sống lệ thuộc vào người khác, không có khả năng thoả mãn những ước vọng ở đời. Tuy nhiên, Thiên Chúa không xét đoán như thế. Đây là một trong những quy tắc nền tảng của Ki-tô giáo.
Như vậy, dụ ngôn không hề có ý mô tả cuộc sống tương lai cũng như tình trạng đời này. Dụ ngôn muốn chứng tỏ rằng cuộc sống hiện tại của người giàu chẳng có giá trị gì cả. Chính sự hiện diện của người nghèo nói lên điều đó: anh đã muốn phá vỡ nếp sống an toàn giả tạo của người giàu, kêu mời sự hiệp thông, nhưng không được, và thế là hết ...
Kể cả người chết sống lại
Không có ai, kể cả người chết sống lại, có thể buộc một người đang sống phải yêu mến. Lời Chúa, luật lệ và các ngôn sứ đã trình bày rõ ràng những điều gì cần được thực hiện. Mặc khải đã có sẵn, cuộc đời là nơi duy nhất để cho những điều đó thành hiện thực.
Hoàn cảnh sống ở đời chưa phải là tất cả. Vực sâu lớn nhất của cuộc đời chính là từ khước yêu mến.
Chỉ có thái độ quan tâm để ý đến người khác mới có thể tạo nên những cây cầu, những lối đi để từ đó đưa đến sự hiệp thông, đến tình liên đới.
Khi biết quan tâm đến những dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa đang được bày tỏ trong cuộc đời con người ; khi biết lắng nghe lời giáo huấn của tổ phụ Áp-ra-ham cũng như của các ngôn sứ ; khi biết để ý đến người khác, dù chỉ là những cái nháy mắt, những lời thì thầm, và khi biết nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa torng những biến cố, thì tất cả đều thay đỗi, tất cả đều dễ thương, tất cả đều trở thành cơ hội để hành động.
Biết để ý quan tâm, biết nhạy cảm, đó là biết bước chân ra khỏi lòng mình đang bị đóng kín với nỗi trống rộng của riêng mình.
Vậy mà, trong cuộc đời, vẫn có biết bao rào cản đã được dựng nên ; vẫn có những người đi qua cuộc đời một cách vô tình, không cần chú ý đến ai khác, vẫn có những tiếng kêu than bị bỏ quên, vẫn có những lời cầu cứu không được đáp trả ... Người ta vẫn thường dành nhiều thời giờ để bảo vệ mình hơn là để ý đến người khác. Người ta vẫn không ngừng xây những bức tường kiên cố để che chắn cho mình, đang khi lẽ ra cần phải mở ra những cánh cửa, cửa ra vào lẫn cửa sỗ.
Cuộc đời vẫn có nhiều La-ra-rô đang than thở, bị bỏ quên, trong lúc không ít người giàu có lại lẩn quẩn, lại đóng kín trong những nỗi sợ hãi của riêng mình. Thực là những bức tranh tương phản.
Hôm nay, lúc này là thời gian để ra khỏi mình: hãy mở toang những cánh cửa, những cánh cửa của hiệp thông, của liên đới. Chỉ có những người đang sống mới mở được, những người khác, kể cả người chết sống lại, không thể nào mở được.
* * *
Lạy Chúa Giê-su, Chúa là Người Nghèo,
Chúa chẳng có gì cả,
dù là một viên đá gối đầu.
Chúa chẳng có gì cả,
dù chỉ là một cơn gió nhẹ,
vinh quang của Chúa chính là sự trần trụi
cả một cái áo tả tơi của đứa trẻ mổ côi,
cũng còn đẹp hơn.
.....
Chúa là người ăn xin với bộ mặt ẩn giấu,
là người không có chỗ trên mặt địa cầu.
Nhưng đàng sau sự nghèo khó,
là ánh sáng rực rỡ.
Phỏng theo R.M. Rilke

 

TN26-C131: Hai cảnh đời trái nhau - Lm Giacôbê Tạ Chúc

Nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ: “Hai đứa trẻ” đã viết: “Hai đứa bé cùng chung nhà một tuổi TN26-C131

Nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ: “Hai đứa trẻ” đã viết:
“Hai đứa bé cùng chung nhà một tuổi
Cùng ngây thơ, khờ dại, như chim con
Bụi đời dơ chưa vẩn đục hồn non
Cùng trinh tiết như hai tờ giấy mới”.
Hai đứa trẻ xem ra giống nhau vô cùng, cùng ngây thơ, khờ dại và hồn nhiên, nhưng lại quá khác xa nhau:
“Ồ lạ chửa! Đứa xinh tròn mũm mĩm
Cười trong chăn và nũng nịu nhìn me.
Đứa ngoài sân, trong cát bẩn bò lê
Ghèn nhầy nhụa, ruồi bu trên môi tím!
Đứa chồm chập vồ ôm ly sữa trắng
Rồi cau mày: "Nhạt lắm! Em không ăn!".
Đứa ôm đầu, trước cổng đứng treo chân
Chờ mẹ nó mua về cho củ sắn!
Đứa ngây ngất trong phòng xanh mát rượi
Đây ngựa nga, đây lính thổi kèn Tây.
Đứa kia thèm, giương mắt đứng nhìn ngây
Không dám tới, e đòn roi, tiếng chửi!” (Tố Hữu-Hai đứa trẻ)
Đó cũng là bức tranh hiện sinh của xã hội con người ngày hôm nay, khi sự chênh lệch ngày một quá lớn giữa các nước trên thế giới, và giữa những người quá giàu và quá nghèo. Người ta ước tính tài sản của ba người Mỹ giàu nhất thế giới còn lớn hơn tài sản của 48 nước kém phát triển.
Bill Gates giàu hơn 100 triệu người Mỹ nghèo nhất. Chỉ cần 40 tỉ đô la của ông, Liên Hiệp Quốc đủ chi tiêu cho giáo dục cơ bản, sức khỏe, nước sạch và vệ sinh cho cả thế giới trong một thời gian dài.
Khi nhìn sự chênh lệch giữa ông nhà giàu và Ladarô, chúng ta thấy bức tranh hiện thực của thế giới.
Hố sâu ngăn cách giữa giàu nghèo ở đô thị, giữa đô thị và nông thôn, càng lúc càng lớn.
Có 800 triệu Ladarô đang đói nghèo cùng cực. Hơn một tỉ Ladarô bệnh tật không được chăm sóc. Vẫn có bao người chết đói mỗi ngày, vì không được hưởng gì từ các bàn tiệc rơi xuống. Dụ ngôn của Chúa nhật 26 năm C lại một lần nữa cho chúng ta thấy sự liên đới, cách sử dụng tiền của Chúa ban quan trọng biết bao cho phần rỗi đời đời của mỗi người.
Liên đới trong trách nhiệm chia sẻ
Ông phú hộ giàu có xét cho cùng cũng chẳng có tội tình gì. Nhà của ông làm tiệc, linh đình trong hoan lạc, ngây ngất lẫn men nồng, đắm say trong yến tiệc. Ông mặc gấm vóc lụa là, người hầu kẻ hạ. Ông sung sướng hưởng thụ những gì mình có. Chung quy lại, trước mặt mọi người ông chẳng có gì để lên án. Thế nhưng chuyện không dễ như vậy. Oái ăm thay, lại có kẻ: “mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng nhà ông giàu có, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no”(Lc 16,20). Ông nhà phú hộ đáng ra phải lưu tâm đến một Lazaro nghèo khó đang cần đến sự giúp đỡ của mình. Trong thế giới toàn cầu hóa, trách nhiệm liên đới luôn là một đòi hỏi cấp bách. Người ta không thể dửng dâng và đứng nhìn những La-za-rô đang chết dần chết mòn trong những nỗi thống khổ của họ. Cũng như ông Phú Hộ, con người sẽ bị án phạt khi sống vô cảm và thiếu sự chia sẻ cho những hoàn cảnh éo le trong cuộc đời. Tài sản mà nhân loại đang sở hữu chính là do Thiên Chúa ban một cách nhưng không. Người Phú Hộ đã sai lầm khi cho rằng mình có quyền hưởng những gì mình thích, mà không hề biết quan tâm đến một số phận của một con người. Người đó không đâu xa mà là nằm ngay trước cổng nhà mình. Thiếu trách nhiệm với tha nhân, nhất là trong tình liên đới đại đồng. Ông Phú Hộ đã trầm luân trong bể khổ, mà không thể nào quay lại được.
Liên đới trong trách nhiệm yêu thương
Người Việt Nam có những câu ca dao rất đẹp trong tình yêu thương nhau:
“Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống mà chung một giàn”
Hoặc: “ Những điều phủ lấy giá gươm,
Người trong một nước phải thương nhau cùng”…
Vâng đúng như vậy, giới răn thương yêu là cốt lõi của mọi lề luật, bác ái chính là khởi xuất từ yêu thương, mà yêu thương chính là ở trong tình yêu của Thiên Chúa. Những người giàu có nếu biết dùng những của cải chóng qua ở đời tạm này, mà làm những việc lành phúc đức, thì họ sẽ trở nên rạng ngời trước Danh Thánh Chúa. Ông Phú Hộ mời rất nhiều khách để dự tiệc. Nhưng tiếc rằng người nghèo khó ngay trước cổng nhà mình thì không được quan tâm giúp đỡ. Giống như nhận xét của Mẹ Terexa “Cái xấu lớn nhất trong thế giới ngày nay là thiếu vắng tình yêu – sự thờ ơ khủng khiếp đối với người lân cận ngày càng phổ biến” (Mẹ Têrêxa).
So sánh hai cuộc đời của nhà Phú hộ và ông La-za-rô để cho thấy:
- Hai lối sống khác nhau đã làm nên hai điều trái ngược. Nếu như người nghèo khó La-za-rô suốt đời phải sống trong túng cực, bị mọi người khinh chê thì khi chết, ông lại được trọn vẹn phần thưởng lớn lao ở trên Thiên đàng.
- Ông Phú Hộ thì ngược lại lúc sống đã hưởng thụ hết bao điều tốt đẹp trên trần gian, thì số phận của ông lại là một kết cục bi thảm hoàn toàn. Ông phải trọn kiếp trong đau đớn của ngày phán xét chung thẩm.
Lạy Chúa xin cho chúng con biết giúp đỡ mọi người, thực thi các giới răn Chúa dạy, và luôn quảng đại chia sẻ với những anh chị em đang trong những cảnh đời vô cùng éo le. Amen.


 

TN26-C132: Niềm hy vọng của nhân loại

(Suy niệm của Lm. Bùi Quang Tuấn)
 

Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư; người giàu có lại đuổi về tay trắng" (Lc 1:52-53). Lời kinh TN26-C132

"Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư; người giàu có lại đuổi về tay trắng" (Lc 1:52-53). Lời kinh Magnificat của Đức Maria trong ngày thăm viếng chị họ Elisabet đã được Chúa Giêsu làm rõ nét hơn qua dụ ngôn "Phú ông và Lazarô."
Hai con người rất gần nhau trong không gian, nhưng lại rất xa nhau trong cảnh sống. Phú ông mặc toàn gấm vóc, lụa là; người ăn mày Lazarô nghèo nàn, rách nát. Phú ông ở nơi nhà cao cửa rộng; Lazarô lê lết bên cổng nhà giàu. Phú ông ngày ngày yến tiệc linh đình; Lazarô không một chút bánh cầm hơi. Phú ông sống trong thiên đàng dương thế; Lazarô chịu cảnh hoả ngục trần gian.
Thế giới của hai người chỉ cách nhau bằng một chiếc cổng, ấy thế mà vẫn như xa nhau vô cùng. Người nhà giàu chẳng khi nào bước qua chiếc cổng đó để đi vào thế giới người nghèo. Ông ta chôn mình trên nhung lụa và hưởng thụ mê say. Đang khi kẻ bất hạnh nằm chờ chút bánh rơi mà không được; anh ta thèm thuồng nhìn những miếng bánh "lau tay" đi vào miệng bầy chó. Mấy con chó này còn "có lòng" hơn phú ông khi không "cắn gậy ăn mày," nhưng đến liếm các mụn ghẻ cho anh ta.
Thời xưa, trên các bàn ăn của người Do thái chưa hề có dao, muỗng, nĩa và khăn lau tay như ngày nay. Người ta dùng tay để lấy và cầm thức ăn. Tại nhiều nhà sang trọng hay trong những nơi quyền quí, người ta có thói quen lau tay ngay trên những miếng ruột bánh mì mà sau bữa ăn sẽ được vứt đi. Đây là thứ bánh "lau tay" mà Lazarô khao khát trông chờ. Song hoài công! Phú ông vẫn làm ngơ, vô tình.
Nhưng rồi cái chết ập đến làm đổi thay tất cả. Kẻ từng lê lết dưới chân bàn ăn thì được đưa lên mây trời; còn người ngồi nơi cao ráo lại bị tống xuống vực sâu. Lazarô được hưởng phúc thiên đàng; còn Phú hộ thì trầm luân hoả ngục. Phải chăng Kinh thánh muốn nói: hễ sung túc đời này sẽ bất hạnh đời sau và khốn khổ hôm nay sẽ được hạnh phúc ngày mai? Không hẳn thế, vì giàu sang không phải là tội và nghèo khổ cũng chưa chắc là tấm vé thiên đàng.
Ân phúc là việc người nghèo biết tựa nương, cậy trông Thiên Chúa. Lazarô là danh xưng duy nhất mà Thánh Luca đã đặt cho nhân vật "ăn mày" trong dụ ngôn trên. Lazarô có nghĩa là "Thiên Chúa là Đấng phù trợ tôi." Như thế, kẻ ăn mày này đã biết tin tưởng và phó thác đời mình cho Thiên Chúa dù đang nghèo rớt mồng tơi. Chính niềm tin tưởng và phó thác này đã mang lại cho anh ta ơn phúc làm con tổ phụ Abraham--cha những kẻ tin.
Còn người phú hộ, ông ta đâu có bóc lột hay ngược đãi gì kẻ khác; ông đâu có ra lệnh tống cổ tên ăn mày khỏi cổng nhà mình; ông cũng chẳng đánh đập hay ăn chận gì của Lazarô, vậy cớ sao lại bị đoạ đày trong chốn cực hình như vậy?
Thái độ đáng trách của Phú ông là đã làm ngơ trước nỗi thống khổ của người bên cạnh. Tội của ông là sự dửng dưng, coi như không có sự hiện diện của Lazarô. Chẳng phải vì người phú hộ đã làm điều gì thất nhân ác đức, nhưng vì ông ta đã không làm gì cả cho kẻ khốn cùng.
Không phải chỉ có làm điều xấu mới là tội, nhưng tránh không làm điều tốt cũng là tự đưa mình xa cách Thiên Chúa và tha nhân. Mắt không chút xót thương, lòng không hề vương vấn đã làm cho hố sâu ngăn cách giữa ông và Lazarô rộng lớn đến nỗi không thể qua được.
Người nghèo phải đau khổ vì sự bần cùng đã đành, nhưng người giàu cũng sẽ phải khốn nạn vì sự giàu sang, nếu trong đó không có tình yêu và xót thương.
Một nhà tư tưởng đã chỉ ra hai nguy cơ của sự giàu có thiếu tình thương như sau:
Một là nó khép kín lòng mình với Thiên Chúa: người ta bằng lòng với những lạc thú trần gian mà quên đi đời sống vĩnh cửu là điều tối quan trọng.
Hai là nó khép kín lòng mình với tha nhân: người ta không còn nhìn thấy người nghèo nằm ngay bên cổng nhà mình.
Hoả ngục chính là sự kéo dài của tình trạng khép kín này: người ta vẫn mãi xa cách Thiên Chúa và tha nhân. Hố ngăn cách càng được đào sâu và rộng bao nhiêu, đời sau người ta sẽ hết phương trở về bấy nhiêu. Thế nên thật chí lý khi nói rằng: "Con người đã tự phán xử chính mình ngay ở đời này"(Noel Quesson).
Nếu tôi yêu mến và liên kết với Thiên Chúa qua tha nhân, ngày kia tôi sẽ hiệp hoan Nước Trời. Trái lại, nếu tôi ích kỷ trong hưởng thụ riêng tư, chẳng hề quan tâm đến việc chia sẻ phúc lộc mình có, thì nỗi đơn độc và khổ đau sẽ là sản nghiệp đời đời cho tôi.
Dụ ngôn "Phú ông và Lazarô" là lời cảnh báo những kẻ chỉ biết tôn thờ vật chất, say hưởng trần gian, quên đi tình Chúa tình người. Nó còn là lời kêu gọi ý thức trách nhiệm xây dựng liên đới với tha nhân, nhất là người nghèo.
Mẹ Têrêsa Calcutta có nói: "Ngay trong giờ phút lâm chung, bạn và tôi, bất kể chúng ta là ai, đã từng sinh sống nơi nào, Kitô hữu hay là lương dân, tất cả chúng ta, những người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa bằng bàn tay yêu thương của Ngài, chúng ta sẽ phải đứng trước nhan Giavê và được xét xử tuỳ theo những gì đã sống và làm cho người nghèo. Chính lúc này các cân lượng mẫu mực cho việc phán xét sẽ được đưa ra."
"Chúng ta phải càng ngày càng ý thức hơn rằng người nghèo chính là niềm hy vọng của nhân loại, bởi vì chúng ta sẽ được xét xử theo cách thức mà chúng ta đã cư xử với họ. Chúng ta sẽ đối đầu với thực tế khi được triệu về trước ngai Thiên Chúa. Và Ngài sẽ nói: "Xưa ta đói, ta trần truồng, ta không nhà cửa. Và những gì ngươi đã làm cho một trong những kẻ bé mọn chính là đã làm cho Ta."
"Kẻ bé mọn" không chỉ là những người đang nghèo nàn về vật chất, nhưng còn là những ai đang thiếu thốn về tinh thần. Có người nghèo cơm ăn áo mặc, nhưng cũng không ít người nghèo giáo lý, kiến thức, cảm thông, an ủi, thứ tha. vì chẳng ai trao ban.
Thế nên, hôm nay, sau khi nghe tiếng Chúa, bạn và tôi, chúng ta đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy rộng mở cho yêu thương và sẻ chia.

 

TN26-C133: Người nghèo… nằm bên cổng nhà

  (Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
 

Dụ ngôn Đức Giêsu kể cho chúng ta hôm nay được xếp vào loại chú giải “các dụ ngôn khủng hoảng TN26-C133

Dụ ngôn Đức Giêsu kể cho chúng ta hôm nay được xếp vào loại chú giải “các dụ ngôn khủng hoảng đạo đức”, giúp chúng ta nhận thức được vấn đề đích thực trong đời sống, và đặc biệt cảnh báo chúng ta rằng sau thời gian của lòng thương xót, chắc chắn đến sự phán xét bất ngờ .
Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để dạy chúng ta, Ngài đã xây dựng cốt truyện hợp tình hợp lý khi dựng cảnh và giới thiệu các nhân vật, rồi kết luận bất ngờ, buộc chúng ta phải im lặng và suy nghĩ.
Chi tiết “người phú hộ vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đinh” báo trước, đây là người không có nhân đức chừng mực; nhưng không nói ông đã làm giầu cách bất lương: ông dùng của cải ông có. Tương phản liền với câu văn sau (anh Lazarô nghèo), gợi lên những chỉ trích phê bình. Người phú hộ, nếu có điều kiện ông sẽ chè chén, đó là việc làm của ông; nhưng ông không nhận ra anh Lazarô nghèo nằm ngày ở cổng nhà mình là một điều không thể chấp nhận được.
Đời sống ích kỷ khiến ông chỉ chú ý đến mình và qui mọi sự về mình, nên ông bị mắc kẹt trong sự thờ ơ, trở thành tù nhân của nhà tù mạ vàng của chính ông. Ông đã trở nên mù quáng trước nhu cầu của người anh em đồng loại, và điếc trước tiếng gọi của Thiên Chúa từ bi ái tuất.
Sự kiện bất ngờ ập đến với nhà phú hộ và anh Lazarô nghèo là cả hai cùng chết, cùng chịu xét xử cách. Đức Giêsu cho thấy rõ bản án thật nghiêm khắc: người nghèo vui mừng và đầy tràn hoan lạc, được đem lên trời nơi lòng Abraham, vui mừng giữa các triều thần thánh. Còn nhà phú hộ được đem đi chôn cất trong lòng đất. Mỗi người bằng bắt đầu cuộc sống của mình sau cái chết: người nghèo được tách khỏi thế gian này, anh có thể được cất nhắc lên trời; người giầu khám phá ra sự hư không của một cuộc đời với những thú vui trần thế.
Thật đáng ngạc nhiên khi tình thế hoàn toàn bị đảo ngược sau khi chết, cuộc đối thoại giữa Abraham và người giầu có khẳng định điều đó: nhà phú hộ đau khổ tột cùng, ông nài xin Lazarô cho ông một chút nước để làm mát lưỡi. Thật không thể nào hiều nổi một “vực thẳm” ngăn cách, khiến người ta không thể làm được một cử chỉ nào với lòng thương xót . “Vực thẳm không thể qua được này” đề cập đến sự cần thiết phải hoán cải ngay lập tức. Ngay hôm nay cần phải thức tình “Hãy dùng tiền của gian dối mà mua lấy bạn hữu, để khi mất hết tiền bạc, thì họ sẽ đón tiếp các con vào chốn an nghỉ đời đời” (Lc 16, 9), ngày mai sẽ quá muộn.
Dụ ngôn kết thúc ở đây: như một lời nhắc nhở hữu ích về ảo tưởng của sự giầu sang mà tiên tri Amos đã loan báo mạnh mẽ trong bài đọc I. Tuy nhiên, trong trình thuật Đức Giêsu lại làm nổi bật hơn, khi đưa ra một vấn đề thời sự khá bất ngờ, buộc người nghe phải đặt mình trong tương quan với bản thân.
Nhà phú hộ xin với Cha Abraham, nếu không bớt được đau khổ cho ông thì ít ra cũng cảnh báo anh em ông khỏi rơi vào cảnh buồn tủi thế này. Câu trả lời của tổ phụ Abraham nại đến “Môisen và các tiên tri” sẽ thức tỉnh lương tâm họ: nhưng theo nhà phú hộ thì các chứng nhân Cựu Ước không đủ để thức tỉnh anh em ông về sự quyến rũ của thế gian này. Nên ông nài nỉ: “Nhưng nếu có ai đó trong kẻ chết hiện về với họ, thì ắt họ sẽ hối cải”. Lời khước từ của Abraham khép lại dụ ngôn ngày lập tức: “Nếu chúng không chịu nghe Môisen và các tiên tri, thì cho dù kẻ chết sống lại đi nữa, chúng cũng chẳng chịu nghe đâu”.
Rõ ràng: nếu chúng ta từ chối nghe lời Thiên Chúa không ngừng kêu gọi sám hối ăn năn, cứ đóng kín lòng mình trong sự ích kỷ của cái tôi, chúng ta sẽ không thể gia nhập cộng đoàn huynh đệ đã được Đức Kitô Phục sinh khai mở.
Cánh cửa Năm Đức Tin đang từ từ khép lại, thiết tưởng chúng ta cùng nhau nghe lời dạy của Thánh Công Đồng Vaticanô II:
Của cải trần gian là để cho mọi người hưởng dụng. Thiên Chúa đã đặt định trái đất và mọi vật trên trái đất thuộc quyền xử dụng của mọi người và mọi dân tộc. Chính vì thế, của cải được tạo dựng phải được phân phối cho tất cả mọi người một cách hợp lý theo luật công bằng là luật đi liền với bác ái. Dù chấp nhận bất cứ hình thức tư hữu nào đã được nhìn nhận bằng các định chế hợp pháp của các dân tộc, tuy nhiên tùy theo hoàn cảnh khác biệt và thay đổi, phải luôn luôn lưu ý đến mục đích chung hưởng của cải. Vì thế, khi xử dụng của cải, con người phải coi của cải vất chất mà mình làm chủ một cách chính đáng không chỉ như của riêng mình, nhưng còn là của chung nữa: nghĩa là, của cải đó có thể sinh ích không những cho riêng mình mà còn cho cả người khác. Vả lại, mọi người đều có quyền có một phần của cải đầy đủ cho mình và cho gia đình mình. Các Giáo Phụ và các Tiến Sĩ Giáo Hội đã nghĩ như thế. Các ngài dạy rằng mọi người có bổn phận phải nâng đỡ người nghèo và không phải chỉ giúp đỡ bằng của dư thừa. Còn những người sống trong cảnh cùng quẫn cực độ, họ có quyền lấy ở của cải người khác những gì cần thiết cho mình. Trước con số quá lớn những người đói khổ trong thế giới, Thánh Công Đồng thiết tha kêu gọi mọi người hoặc mọi chính quyền hãy nhớ laị lời sau đây của các Giáo Phụ: "hãy cho kẻ sắp chết đói của ăn, vì nếu không cho họ ăn tức là đã giết họ". Tùy theo khả năng, họ nên thực sự san sẻ và dùng của cải của mình đặc biệt để giúp phương tiện cho mỗi người hoặc cả một dân tộc để chính họ có thể tự túc và phát triển. “Gaudium et Spes”, • 69.
Vậy, hãy hướng nhìn về Chúa Giêsu, là nguồn gốc và cùng đích của đời sống đức tin, hãy sống “trong tình yêu, kiên trì và hiền hậu; tuân giữ huấn lệnh Chúa truyền”, nghĩa là: sống trong tình bác ái huynh đệ chịu đựng lẫn nhau, cho tới ngày chúng ta ra trước tòa Thiên Chúa, “là Chúa tể duy nhất, là Vua các vua, Chúa các chúa, chỉ mình Ngài tồn tại đến muôn đời” đón chúng ta vào nhà của Chúa và ban cho chúng ta sự sống của Chúa, thể theo sự quan phòng nhân từ của Ngài đối với chúng ta, qua Đức Giêsu Kitô (Ep 1). “Nơi Người, mọi vinh quang và quyền lực dến muôn đời. Amen!”

 

TN26-C134: Đừng vô cảm… - Petrus.tran

Kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam rất phong phú. Có thể nói rằng, nó là một kho tàng tốt cho việc TN26-C134

Kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam rất phong phú. Có thể nói rằng, nó là một kho tàng tốt cho việc giáo dục con người xưa cũng như nay.
Thật vậy, có ai trong chúng ta lại không hơn một lần được dạy dỗ rằng, "thương người như thế thương thân", hoặc "một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ", hay "một miếng khi đói bằng gói khi no" v.v... Tiếc thay! có vẻ như, những lời dạy dỗ tốt đẹp đó ngày càng xa rời cuộc sống của không ít người hôm nay.
Nhớ, ngày 13/10/2011, tại thành phố Phật Sơn, Nam Hải, Trung Quốc. Một bé gái ba tuổi tên Yue Yue đang chơi trong khu chợ, có một chiếc xe tải đi qua, chiếc xe đó cán lên người cô bé. Nhiều người qua lại nơi đây, thấy, nhưng họ vẫn dửng dưng bỏ đi. Theo dõi trên clip, có khoảng 20 người qua lại nơi tai nạn xảy ra, nhưng không ai dừng lại cứu cô bé.
Rồi cũng trong năm 2011, vào ngày 07/10, một vị bác sĩ, trong lúc lái xe bất cẩn, đã gây ra một tai nạn hàng loạt khiến cho hai người chết và mười bảy người khác bị thương. Điều đáng tiếc là, khi tai nạn xảy ra, những người hiếu kỳ thay vì đưa nạn nhân cấp cứu, họ lại nhảy vào “hôi của” cướp đồ nạn nhân…
Tại sao lại có những chuyện như thế xảy ra? Thưa, đó chính là do “sự vô cảm”, sự vô cảm đã chế ngự con người, nó làm cho con người trở nên ích kỷ, dửng dưng, không rung động, không cảm xúc trước nổi đau, hoạn nạn của người khác...
Nói đến sự “vô cảm”, có thể nói, hàng ngày, nó đã gây ra biết bao nhiêu “… điều trông thấy mà đau đớn lòng”, từ chuyện một chú bé “cuộc sống đói rách bơ vơ…Hỏi ai ai cho nương nhờ! Chuỗi ngày tăm tối bơ vơ…” cho tới chuyện, có những đại gia, tỷ phú… đã dám chi hàng tỷ đồng chỉ để “ăn một bữa trưa” theo sở thích của mình.
Niềm tin Kitô giáo không dạy con người sống vô cảm. Niềm tin Kitô giáo dạy rằng, một Kitô hữu không chỉ mến Chúa nhưng còn phải yêu thương người. Thương người có mười bốn mối, thương xác bảy mối: “Thứ nhất cho kẻ đói ăn. Thứ hai cho kẻ khát uống. Thứ ba cho kẻ rách rưới ăn mặc. v.v…”
Vâng, “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc” cũng chính là điều Chúa Giêsu luôn đem ra khuyên dạy và đề cao.
Thật vậy, với sự giàu có, Ngài đã khuyên dạy rằng: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi” (Mt 6, 19-21)
Với những người, có “rất nhiều của cải”, như trường hợp ông thủ lãnh nhà giàu, Đức Giêsu khuyên “hãy bán tất cả những gì ông có mà phân phát cho người nghèo và ông sẽ được một kho tàng trên trời”.
Và để cho mọi người cảm nhận rõ lời khuyên đó, Đức Giêsu đã dạy cho họ một bài học qua dụ ngôn “ông nhà giàu và anh Lazaro nghèo khó” (x.Lc 16, 19-31).
Dụ ngôn được kể rằng: “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”.(x.Lc 16, 19) Câu chuyện sẽ không có gì để nói, nếu “trước cổng ông nhà giàu” không có “một người nghèo khó… nằm (ở đó)”.
Người nghèo khó đó tên là Lazaro, anh ta trông thật thảm thương. Trên cơ thể anh ta “mụn nhọt đầy mình”.
*Thưa bạn, bạn có bị “ghẻ” bao giờ chưa! Tôi đã bị. Năm học lớp đệ thất (lớp sáu bây giờ), chân tay của tôi “mụn nhọt đầy mình”, phải nói rằng, nhức nhối khủng khiếp. Thế nhưng, cái nhức nhối của thể xác không sánh bằng cái nhức nhối tinh thần. Cái nhức nhối tinh thần, đó là sự cô đơn, một lớp học gần bốn mươi học sinh, nhưng không có một người nào muốn đến gần tôi. Thật ra, cũng có người đến, nhưng họ đến chỉ để nói với tôi rằng “đồ ghẻ tàu!”.
Với “ngưòi nghèo khó tên là Lazaro” ư! Có phần chắc, anh ta cũng nhức nhối, anh ta không chỉ nhức nhối thể xác bởi mụn nhọt, bởi cái dạ dày “thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no”, anh ta còn nhức nhối tinh thần. Từ tâm can, anh ta nhận ra "sự vô cảm" của ông nhà giàu, phải chi ông ta đến và chỉ nói “đồ ghẻ La Mã” có lẽ anh ta cũng vui vui chút ít!
Sự vô cảm của ông nhà giàu, có thể ví như “cục lơ Pháp”, đã được ông ta “thoa” lên “cây cơ” là đám mụn nhọt và sự đói khát trong nỗi cô đơn của anh Lazaro. Vâng, chỉ là một cách diễn tả, kết thúc hồi một, buồn thay! chỉ có “mấy con chó… đến liếm ghẻ chốc anh ta”.
Với hồi hai, như người ta thường nói “mồm chó vó ngựa”. Anh Lazaro, phần vì đói, phần vì mồm những con chó liếm vào những vết ghẻ của anh ta… Ôi! vết thương của anh ta, không nhiễm trùng mới là chuyện lạ! Lazaro chết, có phần chắc, vì đói và vì nhiễm trùng. Sau đó, “ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn” (Lc 16, 22).
Và như lời một bài kinh đã viết “sự chết chỉ là sự biến đổi chứ không hề tiêu tan”. Cuộc đời Lazaro được biến đổi, anh ta không còn cô đơn bên “mấy con chó” nhưng tràn đầy hạnh phúc “trong lòng tổ phụ”.
Còn ông nhà giàu ư! Chuyện được kể tiếp rằng: “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta…” - ông nhà giàu - lại là kẻ mong Lazaro “đừng-vô-cảm” trước sự đau khổ của ông ta.
Trước kia, nơi trần gian, Lazaro “thèm những thứ trên bàn ăn của ông rớt xuống mà ăn cho no”… Nay, dưới âm phủ, ông nhà giàu “thèm” được Lazaro “nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi (ông) cho mát, vì ở đây (ông) bị lửa thiêu đốt khổ lắm” (Lc 16, 24).
Kết thúc dụ ngôn, như đã nói ở trên, anh nhà nghèo tên là Lazaro được ở “trong lòng tổ phụ”. Còn ông nhà giàu thì “Phải chịu khốn khổ” (Lc 16, …23).
**
Qua dụ ngôn này, có thể nói rằng, “sự vô cảm” chính là con đường dẫn chúng ta đến “âm phủ”. Chính vì thế, là một Kitô hữu, chúng ta đừng quên rằng, những gì chúng ta làm hôm nay, ở đời này, sẽ là “tấm chiếu khán” đưa chúng ta đến đời sau, nơi “hỏa ngục” hay “thiên đàng”.
Giàu có ư! Tốt, vì đó là ơn phúc Chúa ban.
Giàu có không phải là một cái tội. Câu chuyện dụ ngôn trên không thấy một câu hay một chữ nào lên án về việc “giàu có” của ông nhà giàu. Hãy nhìn xem sự giàu có của ông Gióp khi xưa. Kinh Thánh có chép rằng, Ông ta có “một đàn súc vật bảy ngàn chiên dê, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái”. Chính Xatan cũng phải công nhận Đức Chúa đã “ban phúc lành cho công việc do tay (Gióp) làm, và các đàn gia súc của (Gióp) lan tràn khắp xứ” (G 1, 10).
Chỉ có điều, nếu giàu có thì, hãy nghe tông đồ Phaolô nói: “Đừng tự cao tự đại, cũng đừng đặt hy vọng vào của phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng”(1Tm 6,17).
Thánh nhân thêm một lời khuyên rằng : “Phải làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành, phải ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ. Như vậy (sẽ) tích trữ cho mình một vốn liếng vững chắc cho tương lai”.
Cho nên, khi ta giàu có “Hãy rộng lượng với kẻ nghèo hèn, đừng chần chừ khi phải bố thí. Hãy đón tiếp kẻ khó nghèo, vì họ túng quẫn, đừng để họ ra về tay trắng” (Hc 28, 8-9).
Hãy nhớ, sự giàu có không ngăn cách ta đến bên “lòng tổ phụ” Apraham, sự vô cảm mới chính là “hố sâu” , là “vực-thẳm-lớn” ngăn cách ta với ngài, sau này, cũng như với những người anh em, những người đồng loại, ngay hôm nay.
Nếu hôm nay, trong cuộc sống thường nhật, chúng ta “không vô cảm” với những người anh em, những người đồng loại, những người mà họ đói chúng ta cho ăn, họ khát chúng ta cho uống, họ rách rưới chúng ta cho mặc, họ bịnh hoạn chúng ta thăm viếng v.v… thì, sau này, trong ngày phán xét, Chúa cũng sẽ không nhìn chúng ta bằng ánh mắt “vô cảm”.
Trái lại, Ngài sẽ nói với chúng ta rằng, “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các người đã cho Ta ăn; Ta khát, các người đã cho Ta uống… Ta là khách đau yếu, các ngươi đã thăm viếng…”(Mt 26, 34-36)
“Ta” là ai? Thưa, Ta là “họ”. “Họ” là ai? Thưa, họ là những người chúng ta “không vô cảm”.
Nói tắt một lời, để đời sau, chúng ta không phải lớn tiếng kêu, “Lạy tổ phụ Apraham, xin thương xót con”, thì đời nay, nguyên tắc sống của chúng ta chỉ cần gói gọn trong ba chữ “đừng vô cảm”.

 

TN26-C135: Cuộc sống trần thế không phải là tất cả

(Suy niệm của Lm Phanxicô Xavie Vũ Phan Long)
 

Nếu con tim đã trở nên đui mù và chai cứng vì ích kỷ, không quan tâm đến Thiên Chúa và người thân  TN26-C135

Nếu con tim đã trở nên đui mù và chai cứng vì ích kỷ, không quan tâm đến Thiên Chúa và người thân cận, thì các phép lạ và các sứ giả từ bên kia thế giới trở về cũng chẳng giúp lay tỉnh được.
1.- Ngữ cảnh
Tại đoạn Lc 16,14-18, tác giả đã mô tả người Pharisêu là “vốn ham hố tiền bạc”. Lời mô tả này chủ ý được ghi vào cho khó nghe, bởi vì là một nhận xét bất thường, không có chỗ nào trong TM III hay Cv sử dụng. Đức Giêsu than trách rằng điều răn quan trọng nhất, yêu thương người thân cận như chính mình, đã phải hy sinh cho việc giữ lấy của cải riêng, và lòng yêu thương đối với chính mình, cho dù phải hy sinh người thân cận, đã được ưa chuộng hơn – và điều này lại rõ ràng nơi những người Pharisêu đạo đức! Những câu nói về sự ham hố tiền bạc dễ dàng tuôn ra từ dụ ngôn trước đó nói về việc sử dụng của cải cách bất chính (16,1-8) và từ những bài học về việc lạm dụng của cải (16,9-13). Vậy bài dụ ngôn 16,19-31 là phần nối tiếp những nhận định lâu dài của tác giả Lc về việc sử dụng không đúng đắn các của cải (kể từ bài Người con hoang đàng). Bài dụ ngôn hôm nay giúp làm sáng tỏ hoàn cảnh này. Người Pharisêu chế nhạo Đức Giêsu khi nghe dụ ngôn của Người đề cập đến tiền bạc; bây giờ, bằng ngôn ngữ rõ ràng và mạnh mẽ, Đức Giêsu biện luận về cách sử dụng đúng đắn các của cải.
Những lời Đức Giêsu (16,15-18) tiếp theo lời tác giả giới thiệu người Pharisêu ở c. 14 tập trung vào những gì Đức Giêsu cùng chia sẻ với cử tọa: hết sức tôn trọng các giáo huấn của Cựu Ước; chỉ có một con đường duy nhất đưa vào Nước Trời (16,16), đó là tuân giữ các giáo huấn của Thiên Chúa, và ở đây là giáo huấn liên hệ đến việc sử dụng đúng đắn các của cải. Lề Luật nói về điểm này, sẽ không bao giờ qua đi, nhưng luôn hướng dẫn các chọn lựa của con người (16,17). Điều duy nhất Đức Giêsu thêm vào các giáo huấn đáng kính của Thiên Chúa là làm sáng tỏ cách người Do Thái hiểu Luật Môsê (x. c. 18 như một ví dụ về cách Đức Giêsu làm sáng tỏ Lề Luật). Người Kitô hữu, trong khi vẫn nhìn nhận giá trị của Luật Cựu Ước, lại sống ý muốn của Thiên Chúa theo cách hiểu của Đức Giêsu, là Đấng Cứu thế, là vị Hướng đạo và Đấng soi sáng mình.
Vì không có một từ hay một câu nào để nối dụ ngôn với các câu trước, ta có thể hiểu rằng dụ ngôn thuộc về những câu đi trước nó.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Hoàn cảnh của ông nhà giàu và Ladarô (16,19-22);
2) Cuộc đối thoại (16,23-31):
a) Phần một: Cuộc sống dưới ánh sáng của cái chết (cc. 23-26);
b) Phần hai: Sứ điệp cho “năm người anh em” và cho các môn đệ Đức Giêsu: lắng nghe Lời Chúa (cc. 27-31).
3.- Vài điểm chú giải
- mặc toàn (19): enedidysketo, thì vị hoàn của động từ endidyskô, “mặc”, cho hiểu là đây là một hành động xảy ra thường xuyên.
- lụa là gấm vóc (19): dịch sát là “gấm tía và vải lanh mịn”. Theo ngôn ngữ của Cựu Ước (Cn 31,22; 1 Mcb 8,14), ta hiểu ông nhà giàu sống như một ông vua.
- Ladaro (20): Do từ Híp-ri ’El‘âzâr, có nghĩa là “Thiên Chúa giúp đỡ”.
- được thiên thần đem (22): Do vế sau nói về ông nhà giàu “cũng chết, và người ta đem chôn”, tức là linh đình và long trọng, ta hiểu anh Ladarô không được loài người an táng, nên đã được các nhân vật thiên quốc đem đi.
- anh Ladarô trong lòng tổ phụ (23): Đây là vị trí danh dự khi người ta được dự tiệc đồng bàn với Abraham tại bữa tiệc thiên sai (Lc 13,28-29; x. Ga 13,22).
- âm phủ (23): Từ ngữ (h)adês lấy từ thế giới Hy Lạp, để mô tả cuộc sống của người ta sau cái chết. “Hadês” là tên của vị thần Hy Lạp cai trị âm phủ, và được dùng để chỉ nơi người ta không thể nhìn thấy, do con chữ alpha có nghĩa là thiếu mất đứng trước ngữ căn của động từ “nhìn thấy”. Đối với người Hy Lạp không tin có sự sống lại từ cõi chết, dù chấp nhận có sự bất tử, linh hồn của người chết được mô tả là đi lang thang trong một xứ sở không có mặt trời, trong một hình dạng bất toàn, như một cái bóng.
- ông ta ngước mắt nhìn lên (23): Ông đang “ở dưới”, tượng trưng cho tình trạng đau khổ, nhục nhã và thiếu thốn mà ông không tự giải quyết được.
- lòng tổ phụ (23): biểu tượng người Do Thái dùng để nói về tình trạng sống rất thân tình và rất được ao ước, khi đó hai con người kết hợp với nhau. Công thức này tương tự với công thức “lòng kề lòng”.
- Ladarô được an ủi (25): Thái bị động thay tên Thiên Chúa: “Thiên Chúa an ủi” Ladarô.
- đã có một vực thẳm lớn (26): Dịch sát là “đã cắt ngang định sẵn một vực thẳm” (NTT). Đây là thái bị động thay tên Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã định sẵn một vực thẳm”.
- Chúng đã có Môsê và các Ngôn sứ (29): “Môsê và các ngôn sứ” là tên gọi bộ Kinh Thánh Do Thái (tức Cựu Ước). Tổ phụ Abraham khẳng định rằng sứ điệp nòng cốt của Kinh Thánh Do Thái vẫn còn là một cẩm nang có giá trị để hướng dẫn anh em ông nhà giàu.
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Hoàn cảnh của ông nhà giàu và Ladarô (19-22)
Ông nhà giàu không có tên, nhưng lại rất giàu; còn Ladarô chỉ có một sự giàu có, đó là cái tên. Hai người không có tương quan gì với nhau cả.
Ông nhà giàu không làm điều gì xấu về luân lý cả; ông chưa hề từ chối Ladarô một điều gì, vì Ladarô cũng chưa xin gì cả. Bản văn chỉ nói rằng ông có một chương trình sống như chương trình một ông nhà giàu khác đã phác ra, nhưng đã không thể thực hiện trọn vẹn vì cái chết đến sớm: “Cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã” (Lc 12,19). Y phục thường xuyên của ông là lụa là gấm vóc: mỗi ngày ông đều mặc “gấm tía và vải lanh mịn”, chứ không chỉ vào một số ngày đặc biệt. “Gấm tía” rất đắt, nên chỉ giới thượng lưu vương giả mới dám dùng. “Vải lanh mịn” cũng là thứ hàng hiếm, ngay tại Rôma. Thế mà ông nhà giàu mặc mỗi ngày! Thường mỗi gia đình có một bữa ăn chính mỗi ngày; còn trong nhà của ông nhà giàu, bữa ăn chính này, mỗi ngày, lại là một yến tiệc. Chắc chắn ông nhà giàu không ăn mặc và ăn uống sang trọng hào nhoáng như thế cho riêng ông, ông phải có các khách mời. Ông đã sống như một ông vua.
Các thính giả có thể khó chịu vì bức tranh này, vì dường như “bôi bác” người nghèo. Nhưng Đức Giêsu sắp chuyển sang vấn đề cách thức sử dụng của cải và lý do vì sao của cải không cứu được mà lại tiêu diệt người chủ của. Chính bài học hệ trọng này cho hiểu vì sao Đức Giêsu giới thiệu quá chi tiết hình ảnh ông nhà giàu, một hình ảnh ở mức độ nào đó đang có trong mỗi một người, ở dạng hiện thực hay ở dạng nguyện ước.
Thế rồi Đức Giêsu đưa ra một hình ảnh đối ngược tối đa với ông nhà giàu: một người nghèo mạt. Bản văn không nói là anh này sống đúng đắn về luân lý. Anh có một tên, “Ladarô” có nghĩa là “Thiên Chúa giúp đỡ”, một cái tên có ý nghĩa đối với “những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù” (x. Lc 14,13.21). Ladarô nghèo khó lại mụn nhọt đầy mình. Phải chăng Thiên Chúa sẽ giúp đỡ Ladarô qua trung gian ông nhà giàu? Anh không thể đi lang thang đây đó mà xin ăn. Ladarô cần có bạn bè để giúp anh tìm được thức ăn. Họ đã bỏ anh nằm trước cổng nhà ông nhà giàu, một vị trí mà một người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù, người không được mời, có thể ở gần chủ nhà nhất. Ông chủ và các khách mời không thể nào không biết có anh này ở ngoài cổng, và quả thật, ông nhà giàu đã gọi tên anh khi anh đang ở trong lòng tổ phụ Abraham.
Ladarô đói, anh thèm được ăn những thứ thừa thãi trên bàn người giàu và các thực khách rơi xuống. Rất có thể mấy con chó dưới gầm bàn được hưởng những thứ này. Mà nếu vậy, hẳn là Ladarô mong được không phải ở giữa những thực khách, mà là ở giữa những con chó. Chỉ có mấy con chó hoang đến liếm ghẻ chốc của anh. Phải chăng chúng săn sóc anh? Nếu thế, ông nhà giàu không giúp đỡ anh bằng mấy con chó. Nhưng cũng có thể hiểu việc mấy con chó đến liếm mụn nhọt cho anh như là một tình trạng bị bỏ rơi, không được ai giúp đỡ, mà còn bị đàn vật tấn công nữa.
Bức tranh Đức Giêsu phác ra kết thúc tại điểm này: đây là một “kết thúc mở”. Tình trạng mâu thuẫn đã rõ. Đức Giêsu không mô tả thêm gì; điều này có nghĩa là bao lâu hai nhân vật trên còn sống, không có gì thay đổi cả: mỗi người cứ tiếp tục như thế cho đến chết. Dù sao, tác giả Lc không hề xác định rằng ông nhà giàu xấu xa, hay là Ladarô là điển hình của người tốt. Đấy là những vấn đề nằm ngoài bản văn. Tác giả chỉ mô tả cuộc sống của hai bên: một bên thì ăn tiệc, còn bên kia thì ăn xin; một bên thì ăn mặc sang trọng, còn bên kia thì gần như trần truồng.đây là hai kiểu mẫu song đối đang đứng trước mặt nhau, nhưng không có đối thoại. Mặc dù có sự gần kề thể lý hằng ngày, dụ ngôn lại cho thấy sự xa cách là có thật. Đàng khác, sự kiện họ không nói với nhau là một yếu tố không phài không đáng kể, nhất là trong một dụ ngôn kết thúc bằng việc kêu gọi lắng nghe (16,29.31).
* Phần một của đối thoại: Cuộc sống dưới ánh sáng của cái chết (23-26)
Nhưng cái tên “Ladarô”, có nghĩa là “Thiên Chúa giúp đỡ”, Đức Giêsu cố tình gán cho anh, là để ta hiểu rằng cái tên của anh phù hợp với hoàn cảnh của anh: Khi còn sống, anh đã không được người nào giúp đỡ; sau khi chết, anh đã được Thiên Chúa an ủi.
Đứng trước cái chết, ông nhà giàu và anh nhà nghèo bình đẳng. Cái chết chiếu cố đến cả hai người. Nhưng tại điểm này, số phận của họ đảo ngược. Bản văn không nói gì về phán xét, nhưng chỉ ghi nhận sự đảo lộn các số phận, đồng thời nói đến một tình trạng bất khả truyền thông giữa hai bên. Những gì được nói ở đây về cuộc sống sau cái chết không phải là một mô tả chính xác về cuộc sống ấy và không hề có ý phác ra một địa lý của thế giới bên kia gồm những vùng hoặc những tầng. Nếu Đức Giêsu chọn nói về đau khổ dành cho những kẻ tội lỗi trong cuộc sống sau cái chết, Người thường vận dụng kinh nghiệm của các cư dân của một thành phố qua hình ảnh một ngọn lửa cháy mãi trên một đống rác, liên tục cháy ngày đêm để thiêu đốt rác rưởi của thành ấy (Mc 9,48; x. Is 66,24).
Các hình ảnh này chỉ muốn diễn tả sự khác biệt tận căn trong thế giới bên kia của đời sống một người đã rất giàu có và đời sống của một người đã hết sức nghèo túng. Ladarô được đưa vào lòng tổ phụ Abraham. Abraham, bạn của Thiên Chúa và tổ phụ của dân Israel, được coi như người chủ tọa bữa tiệc mừng trong thế giới ấy (x. Mt 8,11). Ladarô, đã từng nằm vạ vật bẩn thỉu trước cổng và chỉ có bầy chó làm bạn, nay nhận được một chỗ danh dự bên cạnh tổ phụ Abraham, trong sự hiệp thông thân tình và tin tưởng với ngài (x. Ga13,23). Còn ông nhà giàu, trước đây, ông ăn mặc tinh tế và xa hoa, nay chỉ có lửa bao quanh ông, khiến ông rất đau đớn. Trước kia, ông luôn có sẵn những thức ăn thơm ngon và thức uống ê hề, bây giờ ông phải xin một giọt nước. Trước đây, trong cuộc sống trần gian, Ladarô đói khát mong ước được ăn những thứ thừa từ bàn chủ rơi xuống, nhưng không được; bây giờ ông nhà giàu xin Ladarô đưa ngón tay nhúng nước rồi nhỏ cho ông một giọt nước, mà cũng không được nhận. Trong cuộc sống trần gian, ông đã biết và chỉ quan tâm đến thú vui, thoải mái, sự xa hoa và những thứ tinh tế. Với của cải của ông, ông có thể cho phép mình có mọi sự. Nhưng cách thức ông đã sử dụng của cải và tiêu xài cuộc sống đã đẩy ông vào một tình cảnh trong đó ông phải chịu đau đớn và dày vò, nhung nhớ và nguyện ước không nguôi; chính ông tự tách khỏi sự hiệp thông với tổ phụ Abraham và với Thiên Chúa.
Tác giả không giải thích trong bài dụ ngôn vì sao ông nhà giàu phải chịu đau khổ, còn Ladarô thì thoát khỏi đau khổ. Các hoàn cảnh sau cái chết của họ chỉ được hiểu ngầm trong bài là xứng đáng với họ. Tổ phụ Abraham không nói rằng vì ông nhà giàu có của cải trên trần gian, nên bây giờ phải chịu đau khổ; ngài chỉ muốn khẳng định rằng ông ấy đã có của cải ở trần gian, nhưng sự giàu có không theo ông vào âm phủ được. Chúng ta hiểu rằng đời sống trước đây trên mặt đất phải chịu trách nhiệm và là nguyên nhân của những tình cảnh sau cái chết.
Lời ông nhà giàu kêu “lạy cha Abraham (của con)” xin giúp đỡ và lời tổ phụ Abraham nói “con (của ta)” để từ chối cho hiểu quan hệ thân thương này vẫn không chặn được các ngọn lửa và cơn khát nơi âm phủ. Nhưng lời kêu cứu của ông cũng cho hiểu là có một dây liên kết cốt thiết giữa ông và Ladarô; mặc dù có những khác biệt lớn lao giữa hai người, họ vẫn là anh em gần gũi và phải yêu thương nhau. Thế nhưng bây giờ, “giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được” (c. 26), nghĩa là không thể thay đổi phần thưởng hay hình phạt nữa, khi mà cuộc sống đã chấm dứt. Mối quan tâm của ông nhà giàu cho số phận của năm người anh em sau này gợi ý là sau khi chết, không còn có thể thay đổi được nữa.
Chúng ta ghi nhận là không phải là Ladarô đã lập luận để trả lời cho ông nhà giàu, mà là tổ phụ Abraham, tức Nguồn Mạch của Do Thái giáo. Rất hợp lý là cha của tất cả mọi con dân Israel giải thích cho hiểu vì sao Ladarô không thể giúp gì cho ông nhà giàu. Lý do thứ nhất: ông nhà giàu đã có các thứ tốt lành khi còn sống ở đời; còn Ladarô thì chỉ toàn gặp bất hạnh. Bây giờ ông nhà giàu phải đau khổ còn Ladarô được an ủi. Điểm nhắm trong lời nói của tổ phụ Abraham là cung cấp lý do vì sao đau khổ của ông nhà giàu không thể chấm dứt: do sống trong tình trạng bị dày vò lúc này, ông phải nhớ lại rằng ông đã có các thứ tốt lành trong cuộc sống trần gian và nhớ là bây giờ ông phải chịu đau khổ. Bên kia, Ladarô không bị buộc phải từ bỏ tình trạng hạnh phúc của anh; anh đã phải chịu đau khổ suốt đời, nên nay anh được an ủi. Lời của tổ phụ Abraham chỉ nhắm giải thích một điều: không phải vì sao mỗi người đang ở nơi họ đang ở, nhưng vì sao không thể yêu cầu Ladarô giúp đỡ ông nhà giàu.
Lý do thứ hai: theo quan niệm về âm phủ nói trên, có một sự ngăn cách không thể vượt qua giữa cái tốt và cái xấu: “giữa chúng ta đây và các con”, tổ phụ Abraham kể cả chính ngài vào đó. Vậy, sự ngăn cách này do một Đấng Khác quy định bất di bất dịch, chứ không do bất cứ thụ tạo nào. Tình trạng bất khả thông thương này chấm dứt mọi tranh luận về việc Ladarô giúp đỡ ông nhà giàu.
* Phần hai của đối thoại: Sứ điệp chonăm người anh emvà cho các môn đ Đức Giêsu: lắng nghe Lời Chúa (27-31)
Ông nhà giàu nhìn nhận rằng chính lối sống của ông trước đây trên mặt đất đã đưa ông đến tình trạng này. Do đó ông mong muốn là anh em ông được nhắc nhở thay đổi đời sống để khỏi rơi vào số phận đau đớn như ông. Rất có thể những người này đang sống dưới một mái nhà với ông, nên ông biết rõ lối sống của họ. Cách thức thực hiện điều này, như ông đề nghị, là gửi Ladarô về khuyến cáo các anh em ông về mối nguy hiểm đáng sợ đang ở trước mắt. Tổ phụ Abraham trả lời: “Chúng đã có Môsê và các Ngôn sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó”. “Môsê và các Ngôn sứ” là tên gọi bộ Kinh Thánh. Như thế, muốn tránh được lộ trình đưa đến số phận đau đớn thì hãy lắng nghe Lời Chúa. Từ đó, chúng ta hiểu rằng trong khi còn sống, ông nhà giàu đã không lắng nghe, tức không vâng theo “Môsê và các Ngôn sứ”, Lời Chúa, với luật căn bản là mến Chúa yêu người.
Nhờ trung gian của Kinh Thánh, Thiên Chúa truyền đạt cho chúng ta biết ý muốn của Ngài, Ngài ban cho chúng ta những quy luật sống đúng đắn để đưa chúng ta đến đích. Ý muốn của Thiên Chúa không hề khó tuân giữ, như sách Đệ nhị luật đã khẳng định: “Quả thế, mệnh lệnh tôi truyền cho anh em hôm nay đây, không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay anh em. Mệnh lệnh đó không ở trên trời […]. Mệnh lệnh đó cũng không ở bên kia biển […]. Thật vậy, lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành” (Đnl 30,11-14). Trong Kinh Thánh, có chỗ nói rõ ràng về trách nhiệm xã hội đối với những người nghèo. Nay ta có thể giải thích rõ ràng nhất bức tranh Đức Giêsu đã vẽ ra trong bốn câu đầu của dụ ngôn: Ông nhà giàu đã bỏ qua ý muốn của Thiên Chúa, không quan tâm đến Thiên Chúa, đã chỉ tìm kiếm tiện nghi và thú vui cho riêng mình. Do đó, ông đã phải đi đến đau khổ hiện tại.
Ông nhà giàu không phủ nhận tính đúng đắn của lời tổ phụ Abraham nói, nhưng ông nghĩ rằng anh em ông sẽ vâng theo hơn, nếu có người, như Ladarô, từ cõi chết trở về truyền đạt sứ điệp Môsê. Chắc chắn Ladarô không có gì hơn Môsê mà nói; giá trị của anh nằm ở chỗ anh có thể làm chứng về thế giới âm phủ. Nhưng câu trả lời của tổ phụ Abraham là một lời bình luận về trái tim con người. Nếu người ta không muốn vâng nghe Môsê và các ngôn sứ, thì người từ cõi chết trở về cũng chẳng lay chuyển được lòng dạ của họ. Lời tổ phụ Abraham phân tích một con tim sống trong tội rất có thế giá: bài dụ ngôn nhắm điều này, nên đã kết thúc ở đây với nhận xét của tổ phụ Abraham. Thật khó mà đưa trái tim con người đến chỗ hoán cải!
+ Kết luận
Trong bài dụ ngôn, Đức Giêsu cho thấy một cuộc đảo lộn tình thế và nguyên nhân của cuộc đảo lộn này. Những gì Người loan báo ở đây là nhắm ban cho các “anh em” (c. 28) ông nhà giàu một lời giáo huấn và khuyến cáo, để họ khỏi mất linh hồn vì những thú vui do của cải giàu sang, trái lại biết nghiêm túc tìm thánh ý Thiên Chúa. Các lời này của Đức Giêsu cũng là một an ủi cho người nghèo, vì tuy trên trần gian họ phải sống một số kiếp đau thương nhưng họ vẫn có thề hoàn toàn cậy trông vào sự nhân lành của Thiên Chúa.
Đức Giêsu mạnh mẽ loan báo rằng cuộc sống trần gian không phải là tất cả và các hoàn cảnh hiện thời trong cuộc đời không đơn giản được lặp lại sau cái chết. Ai không nhìn sang bên kia cuộc sống trần thế và niềm vui sống, thì sau cái chết sẽ phải gặp một chuyện kinh ngạc đau đớn. Đối với mọi người, giàu hay nghèo, cần phải quy hướng cuộc sống mình về ý muốn của Thiên Chúa. Đây là con đường duy nhất để tránh được diệt vong và đạt được sự hiệp thông vĩnh cửu với Thiên Chúa.
Còn có một hướng suy nghĩ khác: sau khoảng năm mươi năm Đức Giêsu đã ban dụ ngôn này, phải chăng tác giả Lc muốn ám chỉ rằng người ta cũng sẽ không nghe Đức Giêsu, Đấng đã sống lại từ cõi chết? Sách Công vụ đã nêu lên nhiều bằng chứng về sự “không nghe” này. Nếu hiểu như thế, bài dụ ngôn cũng có sức quy chiếu về Đức Giêsu.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Hai người cách nhau có ít bước, thế mà dường như không gặp nhau. Ladarô cứ việc nằm vất vưởng đau bệnh trước cửa; ông nhà giàu biết anh, nhưng sống như không hề có Ladarô. Khi người ta tin tưởng vào tiện nghi, vào của cải, vào “phát triển”, người ta trở thành đui mù, không thấy người khác với các nhu cầu của họ. Sau này, ông nhà giàu không hề biện minh: Tôi không gây rắc rối gì cho Ladarô. Tôi tôn trọng quyền tự do của anh. Anh ta đâu có hề xin tôi điều gì! Ông biết ông đã sai khi không sống những điều Lời Chúa dạy.
2. Ông nhà giàu có tất cả mọi sự trên đời và dường như ông đã đạt được mục tiêu của cuộc đời. Nhưng chính cái chết cho hiểu rằng cuộc sống trần gian không phải là tất cả. Phải sống cuộc sống trần gian, phải sử dụng của cải vật chất thế nào, để sau khi chết, người ta đạt được cuộc sống viên mãn. Dĩ nhiên Đức Giêsu không muốn nói đến một vài sai lỗi nhất thời; Người dạy chúng ta về giá trị của chọn lựa căn bản: có những chọn lựa trong cuộc sống hôm nay rất hệ trọng, bởi vì liên hệ đến cuộc sống vĩnh cửu sau cái chết.
3. Ông nhà giàu chết, và phải chịu cực hình. Điều này không có nghĩa là chỉ nguyên vì ông có của cải trong cuộc sống trần gian, mà dứt khoát ông bị hành hạ trong thế giới bên kia. Nếu ông bị đau đớn là vì ông đã không biết sử dụng của cải cho khôn khéo, như đã được nói đến ở cc. 9,14-15. Hôm nay chúng ta cũng được mời gọi xét lại xem chúng ta có chăng khả năng thấy nơi mỗi con người và nơi các nhóm người và các dân tộc, một Ladarô nghèo khó đang ở trước cửa nhà chúng ta. Chúng ta có nhận ra được những nhu cầu của họ chăng? Chúng ta đã và còn sẽ làm gì cho họ?
4. Sau khi chết, không còn có thể thay đổi được số phận nữa. Chính vì thế Đức Giêsu đã ra sức thúc bách người ta “thay đổi ngay bây giờ”. Không có một giáo huấn nào của Tân Ước cho thấy là ta còn có thể hoán cải sau khi chết. Lời Chúa có đó để hướng dẫn chúng ta đạt được cứu cánh của cuộc đời chúng ta. Muốn lắng nghe Lời Chúa, ta phải có con tim sẵn sàng và rộng mở. Nếu con tim đã trở nên đui mù và chai cứng vì ích kỷ, không quan tâm đến Thiên Chúa và người thân cận, thì các phép lạ và các sứ giả từ bên kia thế giới trở về cũng chẳng giúp lay tỉnh được.
5. Điều mà bài dụ ngôn lên án, đó là không biết nhận ra tình trạng của bản thân đ thay đổi. Có một cuộc đời để đáp lại các tiếng gọi và có một lúc cuối cùng, vẫn còn có thể làm được điều gì đó. Người gian phi tại đồi Sọ đã có sự khôn ngoan đúng lúc. Trong một thoáng chốc, anh đã biết sử dụng Lời như một cái kềm để nhổ các cây đinh của cuộc sống gian ác của anh và nắm bắt được thiên đàng: “Giêsu ơi, xin nhớ đến tôi” (Lc 23,43).

 

TN26-C136: Sự công bằng của Thiên Chúa

(Trích dẫn từ ‘Bước Theo’ – Pet. Trần Đình Phan Tiến)
 

Vâng! Kính thưa quý vị, khởi đi từ Bài đọc I (Am 6, 1a. 4-7), tiên tri Amốt đã cho biết rõ về sự công TN26-C136

Vâng! Kính thưa quý vị, khởi đi từ Bài đọc I (Am 6, 1a. 4-7), tiên tri Amốt đã cho biết rõ về sự công bằng của Thiên Chúa bằng những lời lẽ hết sức rõ ràng. Thiên Chúa đã chúc dữ cho những ai sống cuộc sống phong vận tại Sion và trên núi Samaria. Theo đó, sống một cuộc sống xa hoa, phung phí, không biết tôn kính Thiên Chúa và tha nhân, mặc sức sống một cuộc sống vàng son, trụy lạc, nên chi họ đã bị lên án.
Bài đọc II, thánh Phaolô cho biết Đức Kitô- Giêsu cho chúng ta sống một mẫu gương Bác ái, đạo đức. Chính cuộc sống ấy, một cách kiên nhẫn, chúng ta sẽ nhận được một sự sống từ Thiên Chúa qua Đấng cứu chuộc Giêsu- Kitô, Đấng ấy sẽ xét xử mọi loài. Đấng ấy là Vua các vua, Chúa các chúa.
Qua đó, Lời Chúa hôm nay (Lc 16, 19-31), có hai ý chính cho chúng ta thấy sự công bằng của Thiên Chúa và tiên báo mầu nhiệm sự chết và phục sinh của Đức Giêsu.
Đó là dụ ngôn người giàu có và người nghèo Lazarô.
Theo đó, chúng ta thấy, Chúa Giêsu đến để dạy cho chúng ta một chân lý về của cải, sự giàu có về tài sản thế trần. Bên cạnh thứ tài sản hiện hữu ở trần thế, chúng ta còn có một thứ tài sản vô cùng quý giá ở Nước Trời. Đó là Thiên Chúa, vâng! Thiên Chúa chính là “khối tài sản” quý giá nhất của con người. Vì vậy, chúng ta phải lắng nghe Lời Chúa và sống Lời Chúa một cách có ý thức, như vậy Lời Chúa mới giúp chúng ta nhận ra chân lý để chân nhận Thiên Chúa mới chính là tài sản mà chúng ta hướng đến.
Qua sự trình thuật của thánh Luca hôm nay, giữa người giàu và người nghèo, chúng ta thấy rõ sự ngăn các, sự khác biệt đối với cuộc sống giữa hai người khi còn sống, một bên là xa hoa, sang trọng quá mức, một bên thiếu thốn, nghèo hèn quá mức. Một bên là ăn vận lụa là, gấm vóc, một bên là ghẻ lở đầy mình, đến nỗi chó đến liếm ghẻ.
Như vậy, sự khác biệt giữa hai cuộc sống là quá lớn, người phú hộ giàu có kia đã sống một cuộc sống đầy đủ, trọn vẹn nơi trần gian. Còn người ăn mày Lazaro thì thiếu thốn mọi thứ trong cuộc sống trần thế. Nhưng đến lúc hai người cũng phải chết, rồi thì cuộc sống sau khi cuộc sống trần gian kết thúc, người ăn mày Lazaro được các Thiên Sứ đem vào lòng Tổ Phụ Apraham. Còn người phú hộ thì vào nơi dành riêng cho ông ta. Lúc nầy, cuộc đời đổi lại 360 độ, Người nghèo Lazaro được hưởng những gì mà người phú hộ kia không thể hưởng được. Như vậy, chúng ta thấy, mầu nhiệm của sự sống không phải là ở nơi của cải, mà là ở nơi tình yêu Thiên Chúa ngự trị và chính Thiên Chúa mới là tài sản đích thực của chúng ta. Vì điều gì hiện hữu nơi chúng ta nhìn thấy, thì không còn là mầu nhiệm nữa, mà là một sự hiện nhiên, một sự bộc bạch từ Thiên Chúa.
Qua dụ ngôn trên, chúng ta nhìn thấy hai cuộc đời, hai số phận khác nhau, sự chênh lệch quá lớn nơi sự hiện hữu ở trần gian. Sự bất hạnh và sự hạnh phúc nơi trần gian, mà nhân trần nhìn thấy được thì hoàn toàn khác biệt với những gì mà phàm nhân chưa nhin thấy được, đó là mầu nhiệm của sự sống nơi có Thiên Chúa hiện hữu.
Dụ ngôn trên, cho chúng ta biết sự công bằng của Thiên Chúa và sự giáo huấn của Chúa Giêsu, mà chúng ta phải nhận ra chân lý ấy. Để chúng ta không phải hối tiếc như người phú hộ kia.
Chúng ta may mắn hơn người phú hộ, vì Chúa Giêsu đã đến trực tiếp giáo huấn chúng ta, và Người đã tử nạn và Phục Sinh để cho chúng ta tin vào Người.
Mầu nhiệm của sự sống sau cái chết trần thế, không ai biết rõ, trừ phi “Người Ấy” từ cõi chết sống lại. Qua sự đối đáp giữa Tổ Phụ Apraham và người phú hộ, chúng ta thấy, ông ta sau khi nhận ra sự thật thì đã muộn màng. Và muốn xin một đặc ân sau cùng cũng không được, vì sự sống và sự chết thật có một hố sâu ngăn cách, không thể liên thông được. Ông ta ao ước có một người từ cõi chết sống lại để nói cho người thân của ông ta biết đừng sống một cuộc sống như ông ta. Đó là lý do, mà Lời Chúa hôm nay nhắc nhở cho chúng ta biết, Thiên Chúa là Đấng công bằng vô cùng, đời nầy nếu chúng ta biết sống công bằng hợp lý, thì chúng at sẽ không phải ân hận như người phú hộ kia.
Sứ điệp Tin Mừng hôm nay cho chúng ta:
* Một sự hy vọng chắc chắn vào đời sau
* Một niềm cậy trông vững vàng vào Chúa Giêsu và những Lời dạy của Người.
* Vì Thiên Chúa là Đấng công bằng và công minh đối với mọi người.
* Thiên Chúa chính là tài sản quý giá nhất, vì những gì ở nơi Thiên Chúa và thuộc về Ngài là vĩnh cửu.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến và dạy cho loài người những bài học về Nước Trời. Trong dụ ngôn trên, không phải Chúa muốn trừng phạt kẻ giàu có, mà là cho họ một bài học để thức tỉnh vì tình thương. Chúa đã yêu thương người giàu cũng như kẻ nghèo, và muốn cứu độ tất cả họ. Xin thương ban cho mọi người giàu cũng như nghèo, biết nhận ra chân lý của tình yêu là Thiên Chúa duy nhất. Đó là tài sản quý giá nhất của họ mà thôi. Amen.

 

TN26-C137: THẾ GIỚI PHẢI SỐNG TÌNH YÊU

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 16, 19-31
 

 Thế giới của chúng ta đang sống ngày nay đã có nhiều lương thực, có nguồn tài sản sản dồi dào và TN26-C137 Dalat

Thế giới của chúng ta đang sống ngày nay đã có nhiều lương thực, có nguồn tài sản sản dồi dào và quyền lực kinh tế mạnh mẽ.Tuy nhiên, theo như Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Vui mừng và Hy vọng số 4 cảnh giác chúng ta “ …một phần rất lớn nhân loại trên thế giới đang quằn quại vì đói ăn và thiếu thốn “.
Tại sao lại như thế ? Thực ra nếu chúng ta có cái nhìn tương đối rộng mở, chúng ta cũng nhận ra rằng Thiên Chúa đã ban cho nhân loại vũ trụ, đất đai, biển cả, sông ngòi, tài sản vv…nhưng con người chưa giúp nhau đủ, do đó, có nhiều người giầu và cũng còn rất nhiều người nghèo khổ ! Chúa Giêsu đã dùng nhiều dụ ngôn, nghĩa là dùng nhiều câu chuyện có thực xẩy ra trong xã hội Do Thái lúc đó nhằm dạy dỗ con người, giáo huấn thế giới…Hôm nay, Chúa lại đưa ra một câu chuyện sau khi đã cho chúng ta thấy việc người quản lý bất lương tuần trước đã khôn khéo xử lý thế nào để khi anh ta mất chức quản lý sẽ được những con nợ giúp lại thế nào, câu chuyện Lagiarô và người Phú hộ giầu có nhằm nói lên giáo huấn của Chúa Giêsu. Ý tưởng hai  dụ ngôn, hai câu chuyện này nhằm cho thấy người giàu có sẽ hư đi nếu không biết dùng tiền của, không biết dùng của cải chia sẻ với những người nghèo.Chúa Giêsu đã dùng hai nhân vật thật tương phản : Lagiarô nghèo túng chỉ biết tin tưởng, phó thác vào Thiên Chúa, còn người Phú hộ chỉ biết làm giàu cho mình, bám lấy của cải để hưởng thụ.Hoàn cảnh của hai người này thật một trời một vực. Người phú hộ giàu sang, phú quí, tiệc tùng linh đình hằng ngày, nhà cao, cửa rộng.Còn Lagiarô không nhà, không cửa, mình mẩy lở lói,ước mong miếng bánh vụn trên bàn rơi xuống để ăn nhưng cũng không có. Thật mỉa mai khi Tin Mừng viết chỉ có con chó tới liếm những chỗ ghẻ lác vv…Thật bi đát vì người Phú hộ giàu có không tấm lòng, ông không thể nhìn xa hơn mà chỉ luẩn quẩn trong của cải, tiền bạc. Điều đáng tởm hơn là ông phú hộ coi như Lagiarô không có vv…
Sự bi đát và đáng kinh ngạc, đáng sợ hơn là một hôm cái chết đánh gục cả hai người : Lagiarô được đưa vào dự tiệc trên trời, được Abraham ôm vào lòng, được ngồi bên Abraham hưởng vinh phúc đời đời, còn người Phú hộ phải sa hỏa ngục. Giữa biển lửa, cổ họng ông bị khô rát, cơn khát dày vò, cấu xé ông…Ông mong cho có một giọt nước được nhỏ vào miệng ông nhưng thực sự không có. Ông đâu có nghĩ rằng lúc còn sống Lagiarô đã lê lết vào nhà ông, mong cho miếng bánh vụn rơi xuống mà cũng không được…
Vâng, Chúa Giêsu muốn cho chúng ta hiểu thời thế, hoàn cảnh đã đổi thay. Thời gian Chúa cho lập công, cải tà qui chánh, thống hối ăn năn ở trần gian giờ đây không còn. Thời gian ở trần gian, Chúa đã cho biết bao cơ hội để con người có dịp thay đổi nhưng thực tế, ông Phú hộ đã không biết dùng thời cơ, cũng như chúng ta nhiều lần Chúa tạo cơ hội tốt để chung ta quay về nhưng chúng ta đã cố tình làm ngơ. Giờ đây, ông Phú hộ bị đuổi ra khỏi bàn tiệc Nước Trời bởi vì ông chỉ biết có của cải, ông không dám nhìn ra khỏi khe cửa nhà ông, nên, ông không biết chia sẻ, không biết dùng của Chúa ban theo ý của Chúa mà dùng theo ý của mình. Lagiarô đã chết nhưng được các thiên thần rước lên Trời, ở trong lòng Abraham. Thế giới của trần gian, của tiền bạc đã chấm dứt, nhưng giờ đây Nước Trời là Nước Tình Yêu. Nước của Chúa chỉ dành cho những người có tình yêu, yêu Chúa và yêu tha nhân mới được vào.
Bản án, Abraham đã tuyên như sau :” Suốt đời con đã được mọi sự, đã sống trong giàu sang, trong nhung lụa, trong yến tiệc linh đình, còn Lagiarô suốt đời khốn khổ. Giờ Lagiarô được an ủi ở chốn này, còn con thì chịu đau khổ” thật là một bản án công minh, vô phương thay đổi.
Chúa Giêsu luôn dạy chúng ta phải yêu thương những người nghèo.Chính Ngài khi còn ở trần gian đã luôn đến với người nghèo. Chúng ta là con cái Chúa, chúng ta không được làm ngơ trước lời mời gọi của Chúa và của Giáo Hội vì Giáo Hội là Giáo Hội của người nghèo.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con một tấm lòng rộng mở để chúng con luôn quan tâm đến những người nghèo, đừng để chúng con chỉ biết mình mà không biết đến người khác như người Phú hộ chỉ lo cho mình mà làm ngơ trước Lagiarô khó nghèo, khốn khổ. Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 
1.Sự khác biệt giữa người Phú hộ giàu có và Lagiarô khó nghèo ?
2.Tại sao Chúa lại dùng dụ ngôn mà dạy con người ?
3.Giáo Hội là Giáo Hội của ai ?
4.Nước Trời thuộc về những ai ?

 

TN26-C138: SỐNG TRONG NHỮNG THẾ GIỚI ĐỐI LẬP

Vào một ngày trong tháng 7 tại Mỹ, một người đang ngồi nơi bàn giấy trong một căn phòng tiện TN26-C138

Vào một ngày trong tháng 7 tại Mỹ, một người đang ngồi nơi bàn giấy trong một căn phòng tiện nghi. Nhiệt độ trong phòng tuyệt vời, ông cảm thấy tràn đầy sinh lực. Từ cửa sổ, ông nhìn thấy bên ngoài, mặt trời dần dần sáng lên, những làn gió nhẹ đong đưa những ngọn cây. Một ngày tuyệt đẹp !
Ông nhìn cậu bé đang làm việc ngoài vườn. Phán đoán từ những động tác hết sức chậm rãi của cậu ta, hẳn người ta sẽ nghĩ rằng nó là tù nhân đang phải lao động cưỡng bức. Cậu ta thường xuyên ngừng lại. Người đàn ông tự hỏi : “Điều gì xảy ra cho cậu bé kia ? Tại sao cậu bé lại quá uể oải như thế ?”
Nhưng ngay hôm sau, người đàn ông phải đi ra ngoài vì một số công việc. Ngay khi bước ra khỏi phòng, một luồng khí nóng thổi vào ông khiến ông phải dừng lại. Nhiệt độ ngoài trời lên tới 58oC. Giờ thì ông biết được điều mà cậu bé đã phải đương đầu. Ông thực sự kinh ngạc khi cậu bé đã không bị ngất đi khi làm việc trong khí hậu như thế.
Mặc dù thế giới của ông ta được ngăn cách với thế giới của cậu bé chỉ bằng bề ngang của một bức tường, nhưng sự khác biệt giữa hai thế giới này quá nhiều và thật khó mà biết. Giả như ông không rời khỏi căn phòng của mình để bước vào thế giới của cậu bé, thì không bao giờ ông biết được sự khác biệt của hai thế giới này.
Chúng ta có thể đang ở ngay trong tầm tay của người nào đó, thế mà lại như sống trong một thế giới khác biệt hoàn toàn với người ấy. Chúng ta sẽ không bao giờ biết được sự khác biệt này nếu như chúng ta không ra khỏi thế giới của mình để bước vào bên trong thế giới của người khác. Chúng ta không bao giờ hiểu được nếu chỉ đứng ở bên ngoài.
Nhà phú hộ và Ladarô sống trong những thế giới khác biệt, nhưng những thế giới này lại ở sát bên nhau. Ấy thế nhà phú hộ không bao giờ bước vào thế giới của người nghèo. Ông ta không giúp đỡ Ladarô với tình người, lại càng không nhận ra Ladarô là người anh em mà ông ta có bổn phận phải chia sẻ. Ông ta dửng dưng trước Ladarô, và dửng dưng là tội ác khủng khiếp nhất.
Điều này diễn ra như thế nào ? Sự giàu có khiến cho con người chỉ bận tâm về chính bản thân mình. Họ khó nhìn thấy những khó khăn nơi người khác và tâm hồn họ bị chai cứng. Đó là một thảm kịch thực tế. Một cá nhân hay một quốc gia đánh mất tâm hồn của chính mình khi chỉ mãi lo tích trữ của cải để giàu có hơn.
Nhà phú hộ đã không làm điều gì sai quấy, ông ta chẳng gây thiệt hại hoặc bóc lột người nghèo khó. Thế nhưng ông đã kết thúc cuộc đời mình trong nơi âm phủ. Ông bị xử phạt, không phải bởi vì ông là một người giàu có, nhưng bởi vì ông đã không bày tỏ lòng thương xót với người nghèo khó. Ông chỉ sống cho chính mình.
Tội không chỉ là làm điều sai trái. Tội còn là vì thiếu sót không làm những điều tốt, tội của sự ù lì, hay chẳng làm điều gì cả, và thậm chí tệ hơn nữa đó là thái độ dửng dưng. Đây là một dụ ngôn gây sửng sốt. Kết thúc câu chuyện không đẹp, ít là đối với nhà phú hộ, nhân vật trung tâm của câu chuyện.
Xin Thiên Chúa, Đấng tạo thành thế giới hoàn hảo, giúp chúng ta bước vào trong thế giới của những con người đau khổ và thiếu thốn. Để rồi từ những kinh nghiệm có được từ cuộc sống này, chúng ta chắc chắn sẽ được biến đổi để biết cách làm những gì có thể giúp đỡ được những anh chị em đó.
Trước mặt Chúa, chúng ta hằng kêu xin Người thương giúp đỡ cho những nhu cầu thiết yếu mỗi ngày của chúng ta. Chúng ta như những người ăn mày trước sự giàu có của Thiên Chúa. Thế thì, chúng ta cũng hãy rộng rãi, tử tế, nhân hậu với anh chị em của chúng ta, bởi vì chúng ta cho đi bao nhiêu thì chúng ta sẽ nhận lại được bấy nhiêu.

 

TN26-C139: GIÀU CÓ VÀ BẦN CÙNG

Nhà phú hộ và Ladarô sống trong những thế giới khác nhau. Nhà phú hộ mặc toàn lụa là gấm TN26-C139 

Nhà phú hộ và Ladarô sống trong những thế giới khác nhau. Nhà phú hộ mặc toàn lụa là gấm vóc ; còn Ladarô khoác những tấm giẻ rách. Nhà phú hộ ngày ngày yến tiệc linh đình ; còn Ladarô chẳng có gì để đưa vào bụng. Nhà phú hộ thì khoẻ mạnh, còn Ladarô thì mình đầy những ghẻ chóc. Nhà phú hộ sống trong cung điện, còn Ladarô sống trên hè phố.
Thật ra, nói rằng họ sống trong những thế giới khác biệt là cách nói làm nhẹ đi. Nói cho đích đáng, họ sống trong những thế giới đối lập nhau. Nhà phú hộ sống trong khu vườn màu mỡ xanh tốt, còn Ladarô sống nơi hoang địa. Nhà phú hộ ở trong thiên đường trần thế ; Ladarô ở nơi địa ngục trần thế. Và rồi, mặc dù những thế giới của họ rất khác biệt như ngày và đêm, thế nhưng chúng lại được đặt ngay kề bên nhau.
Ladarô đang sống bên lề thế giới của nhà phú hộ. Và bởi vì anh ngồi nơi cổng, anh chỉ có được cái nhìn thoáng qua khung cảnh thiên đàng mà anh không được phép vào. Mặc dù anh ao ước được bước vào thế giới của nhà phú hộ, nhưng anh không dám ấp ủ niềm hy vọng sẽ được ngồi vào bàn. Anh chỉ có một niềm sung sướng hạnh phúc là giá như anh được ăn những mẩu bánh vụn từ trên bàn rơi xuống cho đầy cái bụng trống rỗng của anh. Nhưng anh cũng chẳng thể có được. Anh không thể thực hiện được điều đó. Mặc dù đó là điều chẳng ai thèm làm.
Người mà có vị thế tốt nhất để có thể giúp anh thực hiện niềm hạnh phúc quá tầm thường nhỏ bé của anh, dĩ nhiên là chính nhà phú hộ. Ông có thể dễ dàng bước vào thế giới bơ vơ, tuyệt vọng của Ladarô, và gặp anh ta. Nhưng ông đã không thực hiện. Ông đã loại anh ta ra khỏi, không chỉ ra khỏi lâu đài của ông, mà ra khỏi tâm trí của ông.
Ladarô là một người nghèo như những người nghèo khác. Nhưng, trong một ý nghĩa nào đó, nhà phú hộ cũng chỉ là một kẻ nghèo nàn. Sao lại như thế ? Câu chuyện nhỏ dưới đây sẽ minh chứng điều đó.
Một nhà buôn ở San Antonio, Texas, đậu chiếc xe mới toanh của ông trên đường và đi vào văn phòng để giải quyết một số công việc. Khi trở ra, ông thấy một chú bé nghèo khoảng độ 11 tuổi đang nhìn ngắm chiếc xe với đôi mắt đầy kinh ngạc và thèm muốn.
“Thưa ông, chiếc xe này có phải là của ông không ?”, cậu bé hỏi.
Ông trả lời : “Đúng vậy.”
“Nó thật là tuyệt. Ông đã mua nó với số tiền là bao nhiêu ?”
“À nhóc tì thân mến, ta không biết.”
“Ông nói rằng ông đã mua nó, thế mà ông lại không nhớ được rằng ông đã trả số tiền là bao nhiêu sao ?”
“Nhóc con ơi, ta đã không mua nó. Đó là món quà mà anh trai của ta đã tặng cho ta đấy.”
“Anh trai của ông đã tặng nó cho ông, và ông chẳng tốn một xu nào cả để có được nó ?”
“Đúng thế.”
“Cháu mong ước rằng cháu ...”
Người đàn ông đoán chắc rằng cậu bé sẽ nói : “Ước gì cháu cũng sẽ có được một người anh như thế.” Nhưng cậu bé đã nói : “Cháu mong ước rằng cháu sẽ là một người anh như thế.”
Và người đàn ông kết luận : “Đây, tôi mang trên mình bộ trang phục đẹp, trong tay với chiếc chìa khoá của một chiếc xe lộng lẫy. Còn đây là một cậu bé trong bộ cánh tả tơi. Nhưng tình yêu của cậu bé trong tim nhiều gấp bội hơn tôi. Theo một nghĩa nào đó, cậu bé đã giàu hơn tôi rất nhiều. Quá cảm kích về điều đó, tôi đã đưa cậu bé và đứa em của cậu, bị đi khập khiễng do hậu quả của bệnh bại liệt, đi chơi bằng chiếc xe lộng lẫy của tôi. Những giờ sau đó là những giờ hạnh phúc nhất của đời tôi.”
Nhà phú hộ sống trong đau khổ do bởi điều tệ hại nhất trên mọi điều đó là sự nghèo nàn của tâm hồn. Tâm hồn ông không một chút xót thương và tình yêu.
Ông không thể cho Ladarô bất cứ một cái gì cho dẫu đó chỉ là những mẩu bánh vụn rơi xuống từ bàn ăn của ông. Ngay cả những con chó hoang trên phố cũng được đối xử tử tế hơn cả Ladarô.
Kẻ giàu có bị tổn thương bởi chính sự giàu có của họ, cũng như người nghèo bị tổn thương bởi chính sự nghèo nàn của họ. “Ngày hôm nay, sự dữ khủng khiếp nhất trên thế gian đó là thiếu tình yêu thương, thái độ dửng dưng với người chung quanh lại quá phổ biến” (Mẹ Têrêsa).
Khoảng cách giữa nhà phú hộ và Ladarô phát triển thành một vực sâu thăm thẳm. Trẻ em nghèo trong các nước thế giới thứ ba hy vọng vào điều gì. Một phóng viên hỏi một đứa trẻ : “Cháu muốn làm gì trong cuộc sống của cháu ?” “ Cháu muốn được sống đến tuổi hai mươi.”

 

TN26-C140: NƠI BẮT ĐẦU

Đêm nọ, một người đàn ông giàu có mơ một giấc mơ đầy lo âu. Trong giấc mơ, ông nhìn thấy một TN26-C140

Đêm nọ, một người đàn ông giàu có mơ một giấc mơ đầy lo âu. Trong giấc mơ, ông nhìn thấy một đám những người nghèo, bệnh tật, chết đói đang kêu la nài xin ông giúp đỡ. Sáng hôm sau khi thức dậy, nhớ lại giấc mơ, ông quyết định bắt tay vào làm những công việc thiện. An toạ trong chiếc xe Mercedes của mình, ông xem xét, sắp xếp phải làm điều gì trước.
Ngay khi vừa ra khỏi cánh cổng chính của toà nhà, ông nhìn thấy một người ăn mày đang ngồi trên đất, vươn cánh tay khẩn thiết van nài. Người đàn ông giàu có vô cùng lúng túng khi nhìn thấy hoàn cảnh khốn khổ của gã. Lưỡng lự trong giây lát, ông cho chiếc xe tăng tốc để vượt nhanh qua. Ông không thể dừng lại để bày tỏ lòng quan tâm đến gã ăn mày, hoàn cảnh khốn khổ của gã chẳng là vấn đề đối với ông.
Ông đi dài dài dọc ngang khắp thành phố. Ông phát hiện ra rằng những vấn đề quá lớn, những nhu cầu thì quá nhiều, hơn tất cả những gì ông đã tưởng nghĩ trước đây. Ông trở về nhà khi chiều tối, tâm trí ông đầy những kế hoạch, dự định và đề án. Vấn đề là phải bắt đầu từ đâu. Ông sẽ bắt đầu ở bệnh viện, trường học, nhà máy hay ở một nơi nào đó ?
Khi đến cổng toà nhà của mình, ông lại thấy gã ăn mày vẫn ngồi đó, vẫn y như khung cảnh sáng nay. “Chỉ là tưởng tượng mà thôi. Làm sao gã lại ngồi đó suốt ngày được, dưới cái nóng cháy đầu”, ông ta nhủ thầm. Một lần nữa, đợt sóng của lòng trắc ẩn ập đến, và rồi ông đã vội lướt qua.
Đêm đó, ông lại mơ một giấc mơ khác. Một lần nữa ông lại nghe tiếng kêu la nài xin lòng thương xót giúp đỡ. Tiếng kêu xin này không đến từ một đám đông, nhưng đến từ chính gã ăn mày mà ông gặp nơi cổng nhà. Sáng hôm sau, khi thức dậy, ông biết rằng mình sẽ phải bắt đầu từ đâu.
 Mẹ Têrêsa nói : “Tôi luôn luôn nói rằng, tình yêu thương phải được bắt đầu từ chính nơi chúng ta sinh sống : gia đình trước tiên, thứ đến là thị trấn, thành phố. Thật dễ dàng để yêu thương những người ở xa, nhưng chẳng dễ để yêu thương những người đang sống với chúng ta, những người ngay bên cạnh ta. Tôi không bằng lòng với những cách thức lớn lao khi tiến hành công việc, tình yêu thương cần phải bắt đầu với từng cá nhân. Để yêu thương một con người, bạn phải gặp gỡ tiếp xúc với người ấy. Khi bạn thực hiện điều này, bạn vượt qua được những chia cắt lớn lao. Giờ đây không còn là ‘hàng triệu’ những con người nữa, nhưng là một ai đó mà bạn đã trực tiếp gặp gỡ.”
Mẹ Têrêsa kể lại câu chuyện sau : “Một lần nọ tại Bombay có một hội nghị lớn bàn về tình trạng nghèo đói. Khi tôi đến đó, ngay phía trước cánh cửa, nơi mà hàng trăm người đang thảo luận về lương thực và nghèo đói, tôi thấy một người đàn ông đang hấp hối. Tôi đem ông ta về căn nhà dành cho những người hấp hối. Và ông đã qua đời tại đó. Ông chết vì đói. Còn những người trong đó lại đang bàn đến làm cách nào để trong 15 năm nữa, chúng ta sẽ có thêm nhiều thực phẩm, có thêm nhiều điều này, điều nọ ... còn người đàn ông ấy thì đã chết.
Với tôi, trách nhiệm của tôi không nhìn vào con số đông, mà tôi phải nhìn đến từng cá nhân. Tôi chỉ có thể yêu mến một con người vào lúc này. Tôi chỉ có thể dọn bữa cho một người vào thời điểm đó. Tôi chỉ có thể chăm sóc cho từng người. Nếu bạn không thể chăm sóc được cho một người, thì ắt bạn sẽ không thể chăm sóc cho 42.000 người. Toàn bộ công việc chỉ là giọt nước trong lòng đại dương. Nhưng nếu bạn không nhỏ giọt nước ấy vào, thì đại dương sẽ bị thiếu đi một giọt nước. Điều cũng tương tự như thế đối với bạn, với gia đình của bạn.”
Người đàn ông giàu có đừng trông mong cứu được toàn thể thế giới. Nhưng ông có thể giúp đỡ được người ăn mày ngay cổng nhà của ông.

 

TN26-C141: Rửng rưng có phải là một tội ác?

(Suy niệm của Lm. GB. Trần Văn Hào)
 

Trong đời sống xã hội hiện nay, con người ngày càng có xu hướng sống khép kín, chỉ biết lo TN26-C141

Trong đời sống xã hội hiện nay, con người ngày càng có xu hướng sống khép kín, chỉ biết lo cho bản thân và ít quan tâm đến những người chung quanh. Não trạng ‘sống chết mặc bay’ ngày càng trở nên phổ biến. Cha Thomas Merton, một tu sỹ dòng Trapist, đã viết một cuốn sách tựa đề ‘Không ai là một hòn đảo’ (No man is an island), trong đó Ngài đả kích thái độ sống ích kỷ và hẹp hòi này. Bài Tin mừng hôm nay với dụ ngôn về ‘Người phú hộ và anh Lazarô’ cũng nhắc nhở chúng ta phải biết mở rộng cỏi lòng đến với tha nhân, nhất là những người cùng khổ và bất hạnh đang sống quanh ta. Một triết gia đã nói: “Rửng rưng là một tội ác”. Vậy thái độ khép kín và hẹp hòi mà chúng ta thường mắc phải, có phải là một tội ác hay không? Các bài đọc lời Chúa hôm nay sẽ cho chúng ta câu trả lời.
Giàu và nghèo dưới ánh sáng Tin mừng.
Xã hội nào cũng có những người giàu sang phú quý, sống bên cạnh những người cơ cực và nghèo nàn. Sự cách biệt giàu nghèo càng lớn, những tội phạm càng dễ xảy ra. Vào thời Chúa Giêsu, tình trạng xã hội cũng tương tự như thế. Chúa Giêsu đã từng mạnh mẽ tuyên chiến với tiền bạc khi Ngài nói: “Không ai có thể làm tôi hai chủ, hoặc Thiên Chúa hoặc tiền bạc”. Ngài còn xác quyết mạnh mẽ hơn: “Người giàu vào nước trời còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim”. Ngược lại, Chúa đề cao tinh thần nghèo khó như mối phúc đầu tiên. Tin mừng Giáng sinh được loan báo trước tiên cho các mục đồng, là những đứa bé chăn trâu khố rách áo ôm, chắc chắn chẳng có một xu dính túi. Chúa còn khen ngợi người đàn bà góa nghèo chỉ có hai xu để bỏ vào hòm dâng cúng trong đền thờ. Kinh Thánh luôn đề cao những người nghèo của Giavê (anawim), bởi vì họ luôn được Thiên Chúa yêu thương và bênh vực.
Dụ ngôn được đọc lên trong phụng vụ hôm nay cũng nên bật hai hình thái tương phản trong xã hội: Giàu và Nghèo. Người phú hộ thì rất giầu, suốt ngày yến tiệc linh đình, còn Lazarô lại quá nghèo, nghèo đến mức độ thèm những mẩu bánh vụn từ bàn rớt xuống để ăn cho no. Sau khi chết, số phận của họ hoàn toàn đảo ngược lại. Tên nhà giàu thì bị đầy xuống âm phủ, còn Lazarô được đem vào lòng tổ phụ Abraham. Như vậy có phải sự giàu có tự nó đã là một tội, còn sự cùng cực đương nhiên bảo đảm cho phần thưởng nước trời mai sau? Chắc chắn không phải như thế. Có nhiều người sống bần cùng và rất túng thiếu, nhưng có thể do lười biếng hoặc do khờ khạo không biết cách làm ăn. Đó là cái nghèo về kinh tế chỉ thuần mang chiều kích xã hội, lắm khi là một tai họa chứ không phải là mối phúc như Chúa Giêsu đề cao. Ngược lại có những người rất giàu nhưng đã sống với một trái tim quảng đại. Ông bà Martin Guérin, song thân của Thánh nữ Têrêsa là một ví dụ. Giáo hội đã phong thánh để các Ngài trở nên tấm gương sáng cho chúng ta bắt chước. Thế thì tại sao tên phú hộ sau khi chết lại bị đầy xuống âm phủ, còn Lazarô khốn khổ lại được vui hưởng hạnh phúc trong lòng Abraham?
Rửng rưng đáng bị kết án.
Gã phú hộ trong câu chuyện Tin mừng hôm nay là một tay giàu sụ, tiền dư của để ê hề. Anh ta có nhiều của cải, có thể đang sở hữu một gia tài kếch xù do cha ông để lại. Hoặc có thể vì anh ta biết cách làm ăn với những đồng tiền chính đáng, không phải do gian manh hay luồn lẹo. Anh ta cũng chẳng ăn trộm ăn cắp của ai, không lừa đảo, mánh mung hoặc tham nhũng. Xét một cách khách quan, anh ta khá liêm chính. Nhưng anh ta bị phạt trong hỏa ngục vì đã sống trong tình trạng tội lỗi rất nặng nề. Tội sờ sờ trước mắt là anh ta nhắm mắt làm ngơ trước sự khốn cùng của cận nhân đang sống ngay cạnh mình. Anh ta chỉ biết sống hưởng thụ cách ích kỷ, ngày ngày chè chén say sưa, ăn uống linh đình và chẳng thèm nghĩ đến ai. Trái tim của anh ta đã hoàn toàn xơ cứng. Anh ta sống khép kín và quá vô cảm. Một triết gia đã nói: “Chỉ có loài vật mới dã tâm ngoảnh mặt lại trước nỗi đau của đồng loại mà chăm chút cho bộ lông mượt mà của nó, còn con người thì không”. Hiểu như thế, tên phú hộ này đã mất hẳn tính người. Anh ta hành xử như một con thú và đương nhiên anh ta rơi vào tình trạng tội lỗi khủng khiếp.
Chúa không bao giờ kết án người giàu, chỉ vì họ có nhiều của cải. Ngài chỉ gay gắt chỉ trích những ai đang sống với một tấm lòng keo kiệt, bám chặt vào của cải vật chất một cách ích kỷ và sống cho riêng mình. Tội của tên phú hộ chính là ở điểm này.
Cũng vậy trong bài đọc 1, ngôn sứ Amos mạnh mẽ cảnh cáo những người giàu có nhưng chỉ biết hưởng thụ. “Chúng nằm dài trên giường ngà, ngả ngớn trên trường kỷ, ăn những chiên non nhất bầy, những bê béo nhất chuồng… Chúng uống rượu cả bầu, xức dầu thơm hảo hạng… nhưng chẳng thấy đau lòng trước cảnh nhà Giuse sụp đổ. Vì thế chúng sẽ bị lưu đầy (Am 6,4-7).
Chủ nghĩa hưởng thụ dẫn đến tội ác.
Nhiều người vẫn còn nhớ một vụ án xảy ra cách đây khá lâu tại Sài Gòn, làm xôn xao dư luận.Vào một buổi sáng, người ta phát hiện một phụ nữ bị giết chết và xác cô ta bị chặt ra làm nhiều mảnh để phi tang. Chính quyền không khó tìm ra thủ phạm vì chỉ ngay chiều hôm ấy, kẻ sát nhân tên là Nguyễn Trung Nhiên, một kỹ sư trẻ tài năng mới ra trường, đã đến đồn công an tự thú. Bắt đầu đi làm và có nhiều tiền, anh ta dần dần bị tha hóa và biến chất. Anh chàng quen một cô gái và 2 người thuê nhà trọ để sống với nhau như tình nhân. Chỉ một thời gian ngắn, anh ta đâm chán cô nàng. Sau một trận gây gỗ, anh túm lấy cô ta và bóp cổ cho đến chết. Sợ người khác phát hiện, anh ta thản nhiên mổ bụng cô gái, vất hết ruột gan ném vào nhà vệ sinh và chặt xác chết ra làm nhiều khúc. Dư luận xã hội rất kinh hoàng trước sự việc xảy ra. Trong một lần tĩnh tâm linh mục của giáo phận, có một Cha xứ nọ đang phụ trách một giáo xứ khá lớn đã thú nhận với các Cha rằng kẻ giết người chính là giáo dân của Ngài. Trước kia anh ta từng là một giáo lý viên rất tốt lành và hăng say. Anh ta cũng tham gia trong ca đoàn và khá tích cực trong công việc chung. Nhưng từ khi đi làm có tiền, anh ta rơi dần vào tình trạng sa đọa, đi nhà thờ thưa thớt dần và rồi hầu như mất hẳn đức tin. Hệ quả tất yếu, cuối cùng tội ác đã xảy ra. Nguyên do chính cũng vì lối sống hưởng thụ cách ích kỷ.
Kết luận:
Lời Chúa hôm nay giúp lay động lương tâm mỗi người. Câu chuyện về người phú hộ giàu có và Lazarô nghèo khổ vẫn còn mang tính thời sự để chúng ta suy nghĩ và nhìn vào cuộc sống của mình. Ông phú hộ đã nói với Abraham: “Xin tổ phụ sai anh Lazarô đến nhà cha con, vì con hiện còn 5 anh em nữa. Xin đến cảnh cáo họ, kẻo họ cũng sa vào cực hình như con.” Năm anh em đó có thể là bạn, là tôi, là những người còn đang sống hôm nay. Abraham đáp: “Moise và các ngôn sứ mà họ không chịu nghe, thì người chết sống lại họ cũng chẳng tin”. Moisê và các ngôn sứ là hình tượng gợi lên sự nhắc nhở mà Chúa Giêsu gửi đến chúng ta qua nhiều dạng thức, đặc biệt qua sứ điệp lời Chúa hôm nay.

 

TN26-C142: Hố ngăn cách giầu nghèo

(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty)
 

Chương 16 câu 26 của Tin Mừng Lu-ca khảng định: có một cái hố ngăn cách “Giữa chúng ta đây TN26-C142

Chương 16 câu 26 của Tin Mừng Lu-ca khảng định: có một cái hố ngăn cách “Giữa chúng ta đây và các anh có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các anh cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta cũng không được”. Một trong các mục tiêu của dụ nôn ‘ông phú hộ sang giầu và tên La-da-rô nghèo khổ’ là: cho thấy cái hố này sâu tới mức nào. Cái hố ngăn cách giầu nghèo được đề cập tới trong câu truyện dụ ngôn này không thể được hiểu theo định hướng kinh tế xã hội, cách mạng chính trị, ý thức hệ, thậm chí theo nội dung luân lý đạo đức. Ở đây liên tục với nội dung trước đó của chương 16, Lu-ca muốn diễn đạt ý nghĩa Tin Mừng là điều duy nhất Đức Giêsu muốn rao giảng.
Khác hẳn với luật lệ của Cựu Ước nặng tính luân lý và đạo đức, trong đó quan trọng nhất là việc trung thành giữ luật, thì theo Tin Mừng Tân Ước, mạc khải tình yêu nhân hậu tha thứ của Thiên Chúa mới là điều quan trọng nhất cần phải là được đón nhận. Theo Cựu Ước, thiên đàng - hỏa ngục là phần thưởng - hình phạt dành cho người tốt / kẻ xấu, người trung thành giữ luật / kẻ bất trung phá luật, người đạo đức / kẻ khô khan, người thánh thiện / phường tội lỗi. Còn theo Tân Ước, được vào Nước Trời là được hưởng trọn tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa từ nhân (‘La-da-rô trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham’ là một điển hình), sẽ dành cho những ai đã từng biết đón nhận khi còn sống; còn bị loại ra khỏi Vương Quốc tình yêu đó (bị cực hình, bị lửa thiêu đốt) là số phận của những ai khi sống đã từ chối đón nhận tình yêu tha thứ này. Khi Đức Giêsu tuyên bố: “phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó vì Nước Thiên Chúa là của anh em… khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói” (Lc 6:20.25) chắc hẳn Người đang công bố nội dung Tin Mừng này.
Như vậy, cái vực thẳm lớn vĩnh viễn ngăn cách việc tiếp nhận hay khước từ Tin Mừng cứu độ chỉ có thể xuất hiện sau khi chết; ‘người nghèo này chết…Ông nhà giầu cũng chết’; thế nhưng, ngay từ cuộc sống trần thế, nó đã khởi sự được hình thành; ‘người nghèo khó… nằm trước cổng ông nhà giầu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no’. Cái hố ngăn cách của tiếp nhận hay chối từ Tin Mừng cứu độ được hình thành và phát triển dựa vào định hướng trái chiều giữa giầu và nghèo trong nội dung Tin Mừng. Đó là lý do khiến Đức Giêsu nhiều lần lên tiếng cảnh giác sự giầu sang đồng thời tôn vinh nghèo khó, Người hoàn toàn trung thành với viễn cảnh đón nhận Vương Quốc tình yêu cứu độ.
Trong dụ ngôn, nếu ông nhà giầu chỉ ‘mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình’, thì đâu ông có làm gì nên tội để đáng bị cực hình thiêu đốt; cũng vậy, nếu La-da-rô chỉ ‘nghèo khó… mụn nhọt đầy mình…’ thì đâu có làm nên công trạng gì để đáng được ‘thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham’. Chi tiết mô tả ông nhà giầu gợi ta nhớ đến cái cảnh ‘được no nê’thỏa mãn đâu cần được ai thương xót; còn người nghèo khó ‘thèm được những thứ trên bàn ăn rớt xuống… chó đến liếm ghẻ chốc’ chính là thái độ mong đợi, cầu xin được xót thương. Đối với Tin Mừng, giá trị đích thực của giầu nghèo là ở chỗ đó: sống giầu dễ đưa tới tự mãn để không cần tới lòng xót thương (khốn cho), còn sống nghèo tạo điều kiện tự nhiên để mở ra đón nhận lòng thương xót (phúc thay). Nếu cứ tiếp tục ‘sống giầu’ như thế (trường hợp ông nhà giầu), và nếu cứ tiếp tục ‘sống nghèo’ như thế (trường hợp La-da-rô) thì việc bị loại khỏi hay được đón nhận vĩnh viễn vào Nước Trời sau khi chết sẽ chỉ là chuyện đương nhiên. Lúc đó thì cái hố ngăn cách giầu nghèo sẽ không còn gì có thể lấp đầy được (vẫn theo nghĩa Tin Mừng); “vực thẳm lớn đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được”.
Giầu - nghèo, trong học thuyết Tin Mừng của Đức Giêsu, chỉ là hoàn cảnh / điều kiện nghịch hay thuận để đón lấy Nước Trời cứu độ; do đó “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ”. Đức Giêsu sống thân phận nghèo khó như ‘con cáo có hang, chim trời có tổ, Con Người không có lấy hòn đá gối đầu’ là để Người rộng mở hoàn toàn cho Vương quốc của Cha. Và Người kêu gọi bất cứ ai muốn theo Người cũng hãy “bán đi hết những gì mình có và bố thí cho kẻ khó…” để có điều kiện thuận lợi mở tâm hồn đón nhận lòng thương xót cứu độ của Thiên Chúa. Ki-tô hữu, vì là người của Tin Mừng, phải luôn cảnh giác với cuộc sống giầu sang vì mối nguy cơ nó tiềm ẩn, nhưng phải vui mừng ôm ấp sự nghèo hèn đói khát chính vì thuận lợi Tin Mừng nó cống hiến. Nếu họ có giầu, thì chí ít họ cũng biết nhận ra ‘con đã nhận được phần phước của con’, tức là hồng ân của lòng từ bi Chúa, để biết khiêm tốn tạ ơn; còn nếu nghèo khổ thì ‘suốt một đời chịu toàn những bất hạnh… thì được an ủi nơi đây’, để vui mừng và hy vọng.
Đó chính là Tin Mừng đích thực đang được rao giảng cho những người nghèo khó!
Lạy Thiên Chúa là Cha! Đức Giêsu đã dạy chúng con cầu nguyện cùng Cha. Những điều con cầu xin Cha có thể là vô vàn và rất khác nhau vì con có quá nhiều nhu cầu cả về phần xác lẫn phần hồn, tuy nhiên con biết rất rõ: điều chính yếu trong cầu nguyện chính là tư thế khó nghèo của con. Xin Cha nhận lời cầu nguyện của con, không phải để thỏa mãn những điều con xin, nhưng là chấp nhận thân phận đớn hèn con mong hướng về Cha. Và xin Cha gìn giữ con luôn mãi trong sự nghèo hèn của mình để không ngừng hướng lòng con về tình nhân ái Cha. Amen.

 

TN26-C143: Phú hộ và hành khất Lazarô thời nay… - Dã Quỳ

Tưởng chừng thế giới ngày càng văn minh, nền kinh tế phát triển, khoa học kỹ thuật nâng cao TN26-C143

Tưởng chừng thế giới ngày càng văn minh, nền kinh tế phát triển, khoa học kỹ thuật nâng cao nhiều mặt... thì con người bớt đi cảnh nghèo đói. Nhưng không, dường như cái nghèo cứ đeo bám con người trong mọi thời đại. Xã hội như càng phân cấp rõ rệt giữa người giàu và người nghèo. Ai giàu ngày càng giàu có. Kẻ nghèo ngày càng rơi vào cảnh khốn cùng hơn! Chắc hẳn không phải vì họ lười không làm việc, nhưng là họ không tìm được việc làm và cũng không có vốn liếng để đầu tư hay kinh doanh. Vì thế, con số người thất nghiệp, đói nghèo và hơn nữa là phải đi xin không hề ít.
Ngay tại quê hương, nhiều lần tôi đã chứng kiến hàng chục người kéo đến nhà dòng để xin cơm. Đó là những anh em dân tộc thiểu số hoặc anh em ở Miền Trung, Bắc... họ bị mất mùa, không lương thực, không việc làm, nhất là phụ nữ và trẻ em. Thế nhưng cũng có nhiều khi gặp những chị, những anh đến xin không phải là xin ăn mà là xin tiền, xin thuốc men... Trong số họ, có những người thực sự là nghèo khó cần giúp. Nhưng cũng vài lần đã bị lừa khi họ cầm toa thuốc hay giấy nhập viện đến xin, và nhất định chỉ xin tiền chứ không chịu lấy thuốc hay đi đóng viện phí dùm. Làm sao để phân biệt ai nghèo thật ai giả? Không cho thì nếu trong số họ có những người khó nghèo thật thì sao? Thôi thà cho lầm còn hơn bỏ sót.
Thế rồi, những tháng đầu sống trên đất Bắc Mỹ, tôi thật ngạc nhiên khi thấy một người đàn ông ăn xin. Ngày nào cũng sau giờ kinh tối của cộng đoàn là ông ta có mặt. Chẳng cần xin, như đã là thông lệ, một hai Soeur lo đi lấy bánh mì, bơ... và pha cà phê cho ông. Rồi cũng tới phiên tôi lo việc này. Nếu chỉ là lấy và trao cho ông thì dễ dàng. Thế nhưng, cái khó chịu là cứ mỗi ngày lại phải có một cái lọ thủy tinh để đựng cà phê. Sau một vài tuần, tìm lục lọi hết trong nhà cũng không còn lọ và nắp đậy. Nói với một Soeur đề nghị ông ta giữ cái lọ lại để ngày mai mang đến mình sẽ đựng cho ông. Nhưng Soeur ấy trả lời "Ông ta không có nhà, mà mùa đông quá lạnh nên khi uống xong, không thể bắt ông ấy giữ cái lọ suốt cả ngày đêm được!" Thế đấy! Hết có ý kiến. Lại tiếp tục tìm mọi cách để có thể trao cho ông "Ăn Mày" kia lọ cà phê còn nóng hổi thơm tho đậy nắp hẳn hoi.
Sau này, tôi còn gặp nhiều người ăn xin bên đường. Họ không nài nỉ ỉ ôi, nhưng chỉ chìa tay xin. Tôi vẫn cảm thấy thật lạ khi ở cái xứ văn minh giàu có này mà cũng có kẻ ăn mày ăn xin! Người ta nói cũng có những người xin vì thiếu thốn nghèo khổ, nhưng cũng nhiều kẻ vì uống và hút xách nên mặt dày chìa tay đi xin như thế! Vâng, cho hay không là quyền của tôi. Tin họ nghèo hay không là ở chính mình. Biết đâu trong số họ sẽ chẳng có đầy những "Anh Lazarô" đói lả lở loét, ăn mày không chừng! Chẳng hiểu được sao họ không đi làm để sinh sống, nhưng sự thật họ vẫn là những Lazarô, không nhà cửa, đi xin ăn. Còn tôi, nhà cửa ấm êm, cơm ăn ba bữa... Tôi không là phú hộ giàu sang, ăn uống xa hoa, mang mặc gấm vóc... Nhưng tôi được đầy đủ, ấm no.
Có những người đàn ông đến nhà dòng nhấn chuông xin bữa ăn trưa hay chiều một cách ngon ơ! Đôi khi tôi ngập ngừng, chần chờ giữa những phản ứng và lòng quảng đại. Tôi nghĩ ai cũng có đôi tay sao không chịu đi làm mà lại đi xin ăn. Thế nhưng, Chúa Giêsu nói sau này những anh Lazarô ăn xin này sẽ ngồi trong lòng Tổ Phụ Abraham đấy! Còn phú hộ như tôi coi chừng ở trong địa ngục lửa thiêu đốt. Làm sao hiểu nổi. Con đâu có làm gì nên tội nhỉ? Như vậy có công bằng không đây Chúa ơi? Dừng lại nghe lời Chúa nói, con chợt nhận ra... một sự thật rất công bằng "Con ơi, con hãy nhớ lại, suốt đời con, con đã nhận được phần phước của con rồi; còn Lazarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ Lazarô được an ủi ở nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ."
Vâng, Chúa cho chúng ta biết số phận đời đời của chúng ta liên hệ mật thiết với cuộc sống của ta ở trần gian này. Nếu ta biết chia sẻ, làm phúc cho anh em mình thì ta sẽ được thưởng. Còn nếu ta khép lòng trước những cơn đói và những nỗi đau của đồng loại thì ta sẽ phải lãnh lấy phần phạt ở đời sau. Được thưởng hạnh phúc vĩnh cửu hay phải chịu khốn khổ đó là do chính chúng ta có biết để tâm yêu thương chăm sóc anh em đói nghèo quanh ta hay không, chứ không do ta là phú hộ giàu có. Giàu có mà keo kiệt, chỉ ăn uống sống xa hoa cho bản thân, không để mắt đến anh Lazarô nghèo đói ngay cửa nhà mình. Vô tâm, vô cảm và thờ ơ với tha nhân. Số phận đời sau của ta sẽ bị đổi ngược lại. Đó là công bằng.
Phúc cho chúng ta vẫn còn được nghe Lời Chúa nhắc nhở. Như Tin Mừng Chúa Nhật tuần trước Chúa bảo "Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón anh em vào nơi ở vĩnh cửu."(Lc 16,9). Thế nên, đừng từ chối làm điều thiện, như lời sách Châm ngôn nhắn nhủ "Khi có thể cho ngay, thì con đừng có nói đi đi, mai trở lại rồi tôi sẽ cho anh"(Cn 3,28) Đừng bỏ qua hay tránh sang bên với những người anh em khó nghèo ta gặp trên đường, nhưng hãy làm cho con đường ta đi nở đầy hoa bác ái yêu thương. Hãy cho đi với niềm vui và thực hiện việc bác ái với trái tim nhân hậu như lời thánh Phaolô dặn "Ai thực hành lòng thương xót thì hãy làm với niềm vui."(Rm 12,8) và như thế, chắc chắn Thiên Chúa sẽ chúc phúc cho chúng ta.
Hạnh phúc cho ai biết xót thương người, biết "Chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo". Mỗi Kitô hữu chúng ta luôn được mời gọi trở nên người công chính, là " người biết cảm thương, rộng tay làm phúc cho kẻ khó nghèo."(x. Tv 111,5.9) Chúng ta đang sống trong Năm Thánh Lòng Thương xót, hơn bao giờ hết, ta hãy thực thi lòng xót thương như Cha chúng ta là Đấng thương xót. Hãy sống mối thương người cách cụ thể với anh em Miền Trung đang gặp hoạn nạn, đói nghèo..."Hãy biết chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ"(Is 58,7) vì đó là điều Thiên Chúa vui thích. "Người muốn lòng nhân từ chứ đâu cần lễ tế" (x. Mt 9,18)
Chính Chúa đã đồng hóa với những người nghèo khó. Khi ta cho anh em cơm ăn, áo mặc hay đón tiếp họ vào nhà là ta đã làm cho chính Chúa Kitô (x. Mt 25,31-40) Ngày chung cuộc của mỗi người, khi đến trước Chúa, Người sẽ chỉ xét xử ta về đức bác ái yêu thương ta đã làm, hay không làm cho anh em ta. Vậy khoảng cách của ta với Tổ Phụ Abraham trong Nước Trời hạnh phúc sẽ tùy thuộc vào cách cư xử, lòng quan tâm chia sẻ của ta ngay nơi trần thế này. Xin cho mỗi chúng ta luôn biết quảng đại chia sẻ cơm áo, tình yêu thương với những người nghèo khổ và biết sống liên đới, thân tình với nhau vì tất cả chúng ta đều là anh chị em con cùng một Cha.
Lạy Chúa Giêsu, xin mở rộng tay con, luôn giữ lại nắm khư khư tất cả, trước cửa nhà có người nghèo đói lả, xin dạy con biết chia sẻ vui lòng. Và xin Chúa mở rộng trái tim con người để con người quảng đại như Chúa, yêu thương như Chúa, cho người nghèo được nâng đỡ yêu thương và nuôi sống nhiều hơn. Amen.

 

TN26-C144: Xã hội dửng dưng - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Xã hội hôm nay đang phát triển. Phát triển rất nhanh về nhiều mặt. Sự phát triển cũng đem lại TN26-C144

Xã hội hôm nay đang phát triển. Phát triển rất nhanh về nhiều mặt. Sự phát triển cũng đem lại cho con người no ấm hơn, hạnh phúc hơn. Nhưng điều đáng tiếc lại đẩy tình người xa rời nhau đôi khi dửng dưng với nhau.
Trên quốc lộ 1A người ta thấy một bé gái tên là Hồ Thị Thu Hương bị tai nạn nằm quằn quại trên vũng máu. Trên đường có rất nhiều xe container và một số xe máy qua lại. Nhưng tất cả đều vội vã chỉ ngó qua rồi đi. Xa xa có vài người đứng lại để bàn tán mà không ai đến gần giúp nạn nhân. Rất may có hai sinh viên đã ra tay nghĩa hiệp đưa em đi cấp cứu trong sự bàng quan của cả xã hội.
Khi video này được đăng người ta thấy có hàng nghìn lượt bình luận trên facebook, hàng trăm lượt chia sẻ và bình luận đã xuất hiện. Điều tôi muốn hỏi bạn và tôi đã bao nhiêu lần mình từng thờ ơ với những giây phút hoạn nạn, khó khăn của người khác? Bao nhiêu lần bạn có thể giúp đỡ mà vẫn khoanh tay đứng nhìn? Phải chăng chính chúng ta cũng quá vô cảm với cuộc sống quanh mình?
Rồi hằng ngày trên báo đài chúng ta cũng bắt gặp rất nhiều trường hợp có người bị đánh, bị đâm ngay chốn đông người nhưng ai cũng bận rộn chẳng quan tâm đến người anh em đang bị nạn. Gần đây trên Facebook lan truyền một video do một diễn viên Ấn Độ đóng. Anh giả trang thành một người bị nạn trên đường. Đôi tay yếu ớt giơ lên cầu cứu người qua lại trên đường. Gần một tiếng đồng hồ mới có người đến xem thử, hỏi han để giúp đỡ...
Điều đáng sợ là con người hôm nay không chỉ sống dửng dưng với nhau mà đôi khi còn tàn bạo với nhau. Vì một miếng đất có giá trị, anh em sẵn sàng bỏ qua tình máu mủ ruột thịt, tranh chấp nhau từng mét vuông, có trường hợp còn đánh chửi, xô xát và phải lôi nhau ra tòa. Có người đặt đồng tiền lên trên mọi mối quan hệ để rồi  bỏ rơi ngay cả những người từng “mang nặng đẻ đau” ra mình. Có người thấy cái sai, cái xấu, cái ác không dám lên án, đấu tranh, thậm chí còn bao che, tiếp tay, dung dưỡng cho nó ngang nhiên tồn tại và lộng hành. Có người thấy cảnh hoạn nạn, éo le của người khác, không một lời hỏi han, động viên, chia sẻ, mà còn có thái độ miệt thị, khinh rẻ. Có người sống quá xa hoa, lãng phí, nhà cao cửa rộng, tiệc tùng linh đình trong khi xung quanh mình còn bao người phải gom góp, chắt chiu từng đồng bạc lẻ để có bát cơm, tấm áo đời thường và nuôi con ăn học. Đáng buồn hơn, có người đã tìm mọi cách để ăn chặn, ăn bớt..., ngay cả đối với những người nghèo, trẻ mồ côi cũng bị lợi dụng để trục lợi cho bản thân...
Nhìn vào cuộc đời của Chúa Giêsu dường như Ngài đã sống cho người nghèo. Ngài đã từng khẳng định sứ vụ Thiên Sai của Ngài là đến với người nghèo, để nâng đỡ, an ủi, cứu giúp; xây dựng bình an, giải thoát con người khỏi ách thống trị của sự dữ...
Khi nói như thế, Đức Giêsu công khai đứng về phía người nghèo, người bị bỏ rơi và bị áp bức. Đây là lựa chọn và sứ vụ của Ngài khi đến trần gian và Ngài cũng đòi buộc các môn đệ của Ngài cũng phải sống cho người nghèo, vì “người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy”.
Hôm nay qua dụ ngôn Lagiaro, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy sống tình liên đới với nhau. Tình liên đới không cho phép chúng ta dửng dưng với những mảnh đời bất hạnh bên cạnh chúng ta. Tình liên đới luôn đòi buộc chúng ta nâng đỡ, bảo vệ và cứu giúp anh em. Tình liên đới luôn mời gọi chúng ta chia sẻ với những anh em nghèo khó để mai sau chính họ sẽ dẫn chúng ta vào hưởng hạnh phúc Nước trời.
Thiên Chúa tạo dựng con người có một trái tim để yêu thương, để cảm nhận nỗi thống khổ của tha nhân mà chạnh lòng thương xót. Đừng vô cảm trước phận đời bất hạnh. Đừng bàng quan trước nỗi đau của anh em. Ngày phán xét Chúa sẽ không hỏi chúng ta giầu có hay nghèo đói. Chúa cũng không hỏi chúng ta chức tước hay địa vị, mà Chúa sẽ hỏi về tình yêu liên đới của chúng ta với tha nhân. Chúng ta có bác ái với tha nhân hay không? Chúng ta có quá vô cảm đến vô tâm với anh em không?
Nguyện xin Chúa Giêsu luôn chạnh lòng thương xót mọi phận người, xin giúp chúng con luôn biết sống chia sẻ với những anh em nghèo khó. Xin đừng bao giờ vô cảm mà bàng quan trước những phận người khổ đau. Amen.

 

TN26-C145: Khi con người bạc tình

(Suy niệm của Lm Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Thời gian vừa qua, một vụ kiện khiến dư luận vô cùng phẫn nộ là việc cụ Nguyễn Thi Th. (SN 1922 TN26-C145

Thời gian vừa qua, một vụ kiện khiến dư luận vô cùng phẫn nộ là việc cụ Nguyễn Thi Th. (SN 1922, ở Tam Đảo, Vĩnh Phúc) bị chính người con trai cả đòi công nuôi dưỡng trong những ngày cụ ở nhà anh ta.
Cụ Th. từ khi chồng mất vào năm 1997 đã về sống cùng với người con trai cả là Đỗ Xuân Thuận. "Nói là ở cùng vậy nhưng tôi vẫn ăn riêng với gia đình con. Mọi việc trong sinh hoạt cá nhân, tôi đều tự làm lấy cả", cụ Th. nói.
Đến một ngày năm 2005, trong nhà xảy ra mâu thuẫn, bức xúc, ông Thuận quay sang cạn tình, cạn nghĩa làm đơn kiện cụ Th. ra tòa và đòi công nuôi dưỡng trong những ngày cụ Th. sống cùng với vợ chồng ông.
Tổng số tiền này là hơn 146 triệu đồng. Ông còn đòi tiền công trông nom nhà cửa, vườn tược của cha mẹ và bộ đỉnh đồng trị giá 4 triệu đồng mà cụ Th. đang dùng thờ cúng chồng và con trai út đã hy sinh.
Tuy nhiên, hành động bất hiếu đó của ông Thuận đã bị cả hai cấp xét xử huyện Tam Đảo bác đơn và bị dư luận lên án.
Có phải vì nghèo đói mà con người thành ra bỉ ổi đánh mất tình người? Có phải vì tiền mà con người trở thành kẻ ti tiện tiểu nhân? Có lẽ cái nghèo hay giầu sang không phải là nguyên nhân gây nên khổ đau mà tất cả đều bắt đầu từ khi tình người đã mất. Vì khi tình người đã cạn thì họ dễ dàng vô cảm và vô tâm với nhau. Đây là thảm kịch không chỉ xảy ra cho gia đình bà cụ Th ở Tam Đảo mà dường như cho rất nhiều gia đình quanh chúng ta.
Có biết bao gia đình cạn tình nên cũng cạn nghĩa với nhau, vợ chồng bỏ nhau, con cái ly tán. Có biết bao người đã vô cảm trước nỗi thống khổ của các thành viên trong gia đình nên vẫn vô tâm chơi bời, nghiện ngập, lười biếng thiếu trách nhiệm với gia đình. Có biết bao phận người vẫn cô đơn thất vọng ngay trong mái nhà của mình. Họ bị bỏ rơi, bị khinh khi ngay giữa những người thân của mình.
Có một bà mẹ đã tâm sự với tôi: cha biết không, chỉ vì nghèo đói mà con cái chẳng đứa nào về thăm bao giờ! Có một người chồng bại liệt đã than: con nằm đây như là một cái gai trong mắt vợ con, chẳng ai muốn chăm sóc con.
Ky-tô giáo là đạo của yêu thương. Người ky-tô hữu không thể vô cảm và càng không bao giờ được phép vô tâm trước nỗi thống khổ của tha nhân. Giầu sang – nghèo khó không quan trọng, điều quan yếu là biết sống tình liên đới sum họp với nhau. Đừng vì giầu có mà bỏ rơi đồng loại, và cũng đừng vì nghèo khó mà sống hèn hạ với tha nhân.
Thời Chúa Giêsu, có lẽ cũng không thiếu những loại người vô cảm trước nỗi thống khổ của tha nhân. Họ vô cảm đến nhẫn tâm bước qua một phận người lây lấy trên đường từ Giê-ru-sa-lem tới Giê-ri-cô. Họ có “rất nhiều của cải” nhưng lại không dám “bán những gì (họ) có mà cho người nghèo”. Sự vô cảm đó còn len lỏi đến cả những môn đệ của Chúa khi họ xin Chúa giải tán đám đông để tự đi mua thức ăn.
Có lẽ để đánh thức sự vô cảm nơi con người thời đại của mình, Chúa Giêsu đã dạy cho họ một bài học qua dụ ngôn: “ông nhà giàu và anh Lazaro nghèo khó”.Ông nhà giàu và anh Lazaro nghèo khó tuy “rất gần mà lại xa”! Họ rất gần nhau, gần đến nỗi chỉ cách “một cái cổng nhà”, thế nhưng lại rất xa, xa bởi chính “sự-vô-cảm” nơi ông nhà giầu.
Sự vô cảm đến độ hằng ngày ông vẫn ăn mặc lụa là gấm vóc, yến tiệc linh đình và để mặc cho anh Lazaro nghèo khó: “mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng nhà của ông” sống lây lất từng ngày.
Thế nhưng, cuối câu chuyện là một sự đảo ngược lạ thường. Ông nhà giàu lại là kẻ mong Lazaro “đừng-vô-cảm” trước sự đau khổ của ông ta! Trước kia Lazaro “thèm những thứ trên bàn ăn của ông rớt xuống mà ăn cho no”… Thì hôm nay ông “thèm” được Lazaro: “nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi ông cho mát, vì ở đây ông bị lửa thiêu đốt khổ lắm!”
Như vậy, sự giầu có không là tội mà sự vô cảm mới chính là nguyên do dẫn ông nhà giầu chịu cảnh đau khổ ở đời sau. Ông đã bỏ rơi đồng loại trong khi ông có khả năng giúp đỡ họ. Ông đã phớt lờ những mảnh đời bất hạnh bên cạnh sự giầu có xa xỉ của ông. Hậu quả là ông cũng bị mọi người lương thiện nhân ái bỏ rơi ông trước cửa Nước Trời.
Thiên Chúa tạo dựng con người có một trái tim để yêu thương, để cảm nhận nỗi thống khổ của tha nhân mà chạnh lòng thương xót. Đừng vô cảm trước phận đời bất hạnh. Đừng bàng quan trước nỗi đau của anh em. Ngày phán xét Chúa sẽ không hỏi chúng ta giầu có hay nghèo đói. Chúa cũng không hỏi chúng ta chức tước địa vị gì, mà Chúa sẽ hỏi về tình yêu liên đới của chúng ta với tha nhân. Chúng ta có bác ái với tha nhân hay không? Chúng ta có quá vô cảm đến vô tâm với anh em không?
Nguyện xin Chúa Giêsu luôn chạnh lòng thương xót mọi phận người, xin giúp chúng con luôn biết sống chia sẻ với những anh em nghèo khó. Xin đừng để chúng con vô cảm mà bàng quan trước những phận người khổ đau. Amen.

 

TN26-C146: Trách nhiệm với nhau - Lm. Cao Vũ Nghi, CRM

Người giầu. Người nghèo. Người cùng khốn. Xã hội nào, thời đại nào cũng có những lớp người TN26-C146

Người giầu. Người nghèo. Người cùng khốn. Xã hội nào, thời đại nào cũng có những lớp người đó. Nhưng khi kể dụ ngôn Lagiarô và người giầu có, Chúa không chú trọng đến giầu hay nghèo cho bằng cách người ta dùng tiền của của mình. Tiền của Chúa ban cho con người không phải là để phục vụ cho riêng mình, nhưng như người quản lý, con người phải dùng nó theo ý của chủ, nghĩa là phải dùng nó để phục vụ người khác. Vì thế, giúp đỡ người nghèo khó được coi là một trách nhiệm.
Từ thời Cựu ước, lề luật và các tiên tri đã dạy dân riêng của Chúa phải biết cho người đói ăn, chăm sóc cô nhi quả phụ, đối xử công bằng với ngoại kiều... Nói khác đi, là có sự quan tâm đối với anh chị em đồng loại. Mối quan tâm này không phải chỉ là quan tâm suông, nhưng là cần có những việc cụ thể. Và đó là điều người giầu có đã không làm. Ông ăn sung mặc sướng suốt cuộc đời. Thân thì mang vải gấm; của ăn thì toàn là cao lương mỹ vị. Trong khi Lagiarô thân mang ghẻ lở; ước mong được ăn những mẩu bánh rớt xuống từ trên bàn ăn mà cũng không được. Ấy vậy, mà người giầu không một chút quan tâm. Ông đã vô cảm trước những khốn khổ của một người anh em đồng loại.
Xã hội chúng ta đang sống cũng đầy dẫy những người nghèo khó. Hình ảnh những em bé chỉ còn da bọc xương ở Phi Châu; những người vô gia cư co ro dưới gầm cầu trong đêm giá lạnh ở nhiều nơi trên nước Mỹ; những người tàn tật què quặt không ai chấp chứa ở Việt Nam. Đó là những hình ảnh chúng ta đã thấy qua TV, báo chí, và có khi, chúng ta đã thấy tận mắt. Có lẽ cũng vì vậy mà lòng chúng ta phần nào đã bị chai cứng khi đứng trước những khổ đau của tha nhân.
Gia đình ông Jones Gunn một hôm đang trên đường về thì bị dừng lại vì đèn đỏ. Vừa dừng lại, thì một bà bế một em bé trên tay đến xin tiền để mua sữa cho con. Ông Jones rút một tờ 20 đồng cho bà. Bà vợ cảm thấy hơi khó chịu vì gia đình đâu giầu có gì, nhưng chưa kịp có phản ứng gì thì cô con gái 7 tuổi lên tiếng: "Ba có nghĩ là bà ấy đi mua sữa không?" "Ba không biết!" Cậu con trai 11 tuổi hỏi tiếp: "Vậy tại sao ba lại cho bà ấy tiền?" "Vì Chúa muốn chúng ta là những người cho đi một cách vui vẻ. Ba không phải chịu trách nhiệm về cách bà ấy dùng số tiền đó. Bà ấy sẽ phải trả lẽ với Chúa. Ba chỉ chịu trách nhiệm về phần của ba." Thực tế là không phải là dễ để có thể phân biệt khi phải đối diện với những hoàn cảnh tương tự như ông Jones Gunn, nhưng nếu chúng ta luôn đặt vấn đề để rồi từ chối không giúp đỡ, thì có lẽ chúng ta cần xét lại thái độ của mình.
Dù sao, điều quan trọng khi nghe lời Chúa hôm nay, là chúng ta cần nhìn lại lòng mình, để xem mình có còn cảm thông, còn đau xót, khi chứng kiến những khổ đau của người khác hay không. Một khi có lòng cảm thông đó, với ơn Chúa, chúng ta sẽ biết nên phải có thái độ và hành vi nào.

 

TN26-C147: Tội vô tâm với đồng loại

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Thành Long)
 

Tờ tin điện tử vnexpress số ra ngày Thứ Ba, 21/9/2010, đăng tải câu chuyện rất ấn tượng về một TN26-C147

Tờ tin điện tử vnexpress số ra ngày Thứ Ba, 21/9/2010, đăng tải câu chuyện rất ấn tượng về một nữ triệu phú gốc Việt có tên là Suzanne Hook. Đã từng là một trong số hàng trăm đứa trẻ bị bỏ rơi trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Suzanne Hook may mắn được một cảnh sát tìm thấy và đưa đến trại trẻ mồ côi ở Sài Gòn năm 1969 và được đặt tên là Thị Hiền. Khi đó, Thị Hiền yếu đến mức không thể cử động được. Các y tá người Anh chăm sóc cô và đưa cô rời khỏi Việt Nam năm 1972. Suzanne trở thành con nuôi của một gia đình ở phía tây London. Năm 18 tuổi, cô xa gia đình và đi học ngành ăn uống rồi thành bếp trưởng trên tàu và nhà hàng. Từ năm 2002, cô tạo dựng dịch vụ làm móng mang tên Couture Nail và trở thành người phụ nữ rất thành công trong ngành làm đẹp.
Nhưng rồi cô đã quyết định bán tất cả những gì mà cô đang có để về Việt Nam lo cho trẻ mồ côi. Tài sản bao gồm ngôi nhà trị giá gần 780.000 USD, chiếc xe Mercedes thể thao, đồ đạc, quần áo và bộ sưu tập giày gồm khoảng 300 đôi. Cô đã từ giã cuộc sống ở Anh để toàn tâm cho nhà trẻ mồ côi Allambie ở Saigon.
Cô nói: "Toàn bộ cuộc sống của tôi đang được rao bán. Tôi chuẩn bị chia tay bạn bè để chăm sóc các trẻ em mồ côi trong phần cuối đời mình. Tôi muốn cho chúng tương lai và giúp chúng học đến đại học, hoặc tìm được việc làm để có thể tự đứng vững trên đôi chân mình, nhưng tôi cũng muốn chúng cảm nhận được tình yêu thương, điều mà tôi không có được khi còn bé".
Từ rất xa, xa gần một nửa vòng trái đất, nhưng cô Suzanne đã nhìn thấy và quan tâm đến những đứa trẻ mồ côi bất hạnh ở Việt Nam. Trong khi đó người phú hộ trong câu chuyện dụ ngôn của Tin Mừng hôm nay lại hoàn toàn khác hẳn. Dường như ông không quan tâm và không để ý gì đến người cùng khốn, ngay cả người hành khất khốn cùng đang ở ngay trước cổng nhà mình.Nếu nói theo ngôn ngữ ngày hôm nay thì ông phú hộ này là một triệu phú. Nếu sống vào thời đại này thì ông có nhà lầu, xe hơi đời mới, có con đi du học nước ngoài, có tài khoản lớn nơi các ngân hàng nổi tiếng, có của chìm của nổi, và vì có nhiều của cải như thế nên ông mặc toàn đồ hàng hiệu đắt tiền, rồi tiệc tùng đình đám liên miên với nhiều kẻ hầu người hạ, v.v… Nhưng kết cục đời ông, Tin Mừng cho thấy là quá phũ phàng, quá bi đát: phải trầm luân nơi hoả ngục. Vậy tại sao ông phải chịu cảnh trầm luân nơi hoả ngục như thế?
Không chỗ nào trong dụ ngôn nói đến ông phú hộ này là một tay đại gian đại ác, dùng mọi thủ đoạn thu tích của cải cho mình một cách bất chính, cũng không chỗ nào nói ông ngược đãi hay bóc lột sức lao động của người khác, hoặc là lợi dụng chức quyền, dân đen,… Hơn nữa, là người giàu có, ông có quyền ăn mặc sang trọng và cũng có quyền tổ chức yến tiệc linh đình. Xét cho cùng, ông chẳng có tội tình gì ghê gớm để phải chịu hình phạt đoạ đày. Ông hưởng thụ thật đấy, nhưng cũng chỉ hưởng thụ từ những của cải do ông làm ra, chứ có phải do tham nhũng, hối lộ gì. Vậy thì do đâu? Thưa là do ông đã vô tâm, khép cửa lòng, sống dửng dưng, “mackeno” (mặc kệ nó) trước nỗi cùng khốn của tha nhân. Dẫu ông không la mắng, chửi bới, hay xua đuổi Lazarô ra khỏi nhà, nhưng điều đáng trách là ông ta không thèm ngó nhìn người ăn xin van lơn. Hoàn cảnh của Ladarô quá khốn khổ thế mà người phú hộ vẫn phớt lờ đến nỗi Ladarô có thể chết vì đói, đang khi ông ta lại quá dư thừa. Thành ra tội hững hờ của người phú hộ trở thành tội nặng làm cho ông ta đáng bị gia hình trong hỏa ngục.
Trong bài đọc 1, Tiên tri Amos với lối nói cay độc chua chát cũng đã tiên báo những sự trừng phạt khủng khiếp dành cho những kẻ giàu có đang hưởng thụ xa hoa mà không biết xót thương người khốn khổ…… Của cải vật chất đã trở thành bức tường khép kín, và làm cho người sở hữu nó sống an toàn mãn nguyện trong không gian riêng mình. Chính họ đã tạo ra khoảng cách vực thẳm. Họ không cần Thiên Chúa, cũng chẳng cần biết đến tha nhân. Khoảng cách đó lớn dần và kéo dài đến đời sau.
Dụ ngôn phú hộ và Lazarô là lời cảnh báo cho những kẻ chỉ biết tôn thờ vật chất, hưởng thụ trần gian mà quên đi tình Chúa tình người. Dụ ngôn còn là lời kêu gọi ý thức trách nhiệm xây dựng tình liên đới với tha nhân, nhất là người nghèo.
Kitô giáo không chủ trương tìm kiếm hay yêu mến sự nghèo khó mà là cỗ võ tình yêu thương liên đới đối với những người nghèo khó. Chúa Giêsu là Đấng giàu có hơn ai hết, nhưng Ngài đã trở nên nghèo khó để cảm thông và liên đới với người nghèo. Ngài đã dùng tình thương để xoá bỏ khoảng cách giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và con người khi Ngài làm người, một người nghèo giữa những người nghèo. Người môn đệ đi theo Chúa Giêsu cũng được mời gọi trở nên giống như Ngài.
Ngày hôm nay vẫn còn quá nhiều Lazarô ngay trên đất nước Việt Nam này. Vẫn còn quá nhiều người cần đến “ngôi nhà mơ ước” hay “câu chuyện ước mơ” đầy dẫy trên truyền hình. Không nhà ở, không tiền mua thuốc men chữa bệnh, không có điều kiện cho con đến trường kiếm cái chữ... Họ là những người nghèo thật sự, nghèo vật chất, nghèo tình thương, nghèo văn hoá… Vấn đề ở chỗ chúng ta có nhìn thấy những con người cùng khốn ấy, để ra tay cứu giúp không, hay chúng ta vẫn vô tâm, hững hờ như nhà phú hộ trong câu chuyện Tin Mừng.
Nhạc sĩ trẻ Minh Khang, trong ca khúc Đứa Bé đã viết: “Hãy lau khô cuộc đời em bằng tình thương, lòng nhân ái của con người. Hãy lau khô giọt nước mắt trong lòng em bằng tất cả trái tim con người Việt Nam.” Thiết nghĩ đó là sứ điệp tình yêu mà Thiên Chúa muốn nói với anh qua tiếng lương tâm và muốn anh gởi gắm sứ điệp đó tới tất cả người nghe, để họ biết mở rộng vòng tay yêu thương nhân ái, để họ biết liên đới, biết giúp đỡ, biết chia cơm sẻ bánh cho những người nghèo khổ, túng thiếu và bất hạnh.
Xin Chúa mở mắt, mở tai, mở tay và mở trái tim ta để thấy, để nghe, và để biết sẵn sàng sẻ chia niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và khổ đau với mọi người. Amen.

 

TN26-C148: Giàu có là tội lỗi? - JM. Lam Thy ĐVD.

Bài Tin Mừng hôm nay (Lc 16, 19-31) trình thuật dụ ngôn "Ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo khó TN26-C148

Bài Tin Mừng hôm nay (Lc 16, 19-31) trình thuật dụ ngôn "Ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo khó". Nhìn cảnh ông nhà giàu "mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình", ăn chơi phè phỡn, chẳng bao giờ thèm ngó đến anh La-da-rô "mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no"; thấy quả thật ngay từ thời xưa đã có cảnh "Giàu sơn lâm lắm kẻ tìm, khó giữa chợ ít người hỏi", "trọng phú khinh bần" (trọng giàu khinh nghèo). Cho tới khi "lên xe hoa" về âm phủ, ông nhà giàu mới "bừng con mắt dậy..." thấy anh nghèo kiết xác La-da-rô đang nằm trong lòng tổ phụ Ap-ra-ham.
 Và chỉ đến lúc ấy, ông ta mới khẩn thiết kêu xin tổ phụ cứu vớt. Tổ phụ cũng chịu thua vì ông nhà giàu đã tự đưa mình vào án phạt đời đời ấy. Cuối cùng, ông ta mới chợt nhớ đến những người thân cận còn ở trần thế và thưa với tổ phụ xin nhờ anh La-da-rô về cảnh báo họ đừng theo gương mù của ông ta. Thật thú vị khi được nghe lời tổ phụ Ap-ra-ham nói với ông nhà giàu: "Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin". Không còn câu nói nào đánh trúng tim đen những đại gia giàu sụ hơn được nữa. Quả thực "con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa" (Mt 19, 24). Như vậy, phải chăng giàu là một cái tội? Và nếu giàu là có tội thì nghèo hẳn là có phúc? Tại sao lại thế?
Trước hết, nói về những người giàu có. Con người sống trên đời, kể từ khi Nguyên Tổ phạm tội, bị tội lỗi thống trị, thì có đủ “tham sân si”, mà “tham” là đầu sỏ (“Máu tham hễ thấy hơi đồng là mê” – Kiều; “tham vàng phụ nghĩa” – tục ngữ VN). Lòng tham vốn dĩ không đáy, có 1 thì lại muốn có 2, có 3 có 4 thì lại đòi có 5 có 10, không biết thế nào là cùng. Từ đó, nếu chỉ làm giàu bằng cách thật thà, chân chính mà không toại nguyện, sẽ đi đến chỗ làm giàu bằng mọi cách, bất chấp thủ đoạn, miễn sao “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham” (Kiều) là đủ. Đã làm giàu bằng cách bất chính như thế, tất nhiên sẽ sử dụng tiền của không trung thực, chỉ lo sung sướng phè phỡn bản thân mà bất cần nghĩ đến ai khác. Với tấm lòng chỉ nghĩ đến bản thân, hà tiện đức ái như vậy, tất sẽ mắc tội thứ hai và thứ năm trong “bảy mối tội đầu”. Giàu như vậy, có tội là cái chắc.
Còn nếu biết dùng những phương cách chân chính mà kiếm được nhiều tiền của, và khi sử dụng những tiền của ấy thì biết cách sử dụng, coi nó chỉ là phương tiện giúp ích cho đời sống, chớ không coi nó như một ông chủ, thì chắc chắn là không có tội. Không những thế, khi sử dụng những tiền của do tự mình làm ra mà không xa hoa phung phí, không phè phỡn phô trương, chỉ cốt “ăn để mà sống chớ không sống để mà ăn”, của cải dư thừa thì nhớ đến những anh em bất hạnh hơn mình, nghèo khổ hơn mình… mà chia sẻ từng miếng cơm manh áo, thì hẳn nhiên sẽ là người có phúc (cụ thể là phúc thứ nhất và phúc thứ năm trong “8 mối phúc”). Ngay như tổ phụ Ap-ra-ham, hoặc ông Gia-cóp đều là những người giàu có. Tổ phụ Áp-ra-ham thì: “Ông Áp-ra-ham rất giàu, ông có nhiều súc vật và vàng bạc” (St 13, 2). Con của ngài là I-xa-ac thì: “trở nên giàu có, mỗi ngày một giàu thêm, giàu vô kể” (St 26, 13). Còn ông Gia-cóp cũng làm giàu và “Thế là ông trở nên giàu, thật giàu; ông có chiên dê đầy đàn, có tôi trai tớ gái, lạc đà và lừa”. (St 30, 43). Vậy mà các ngài đều được hưởng phúc vinh trên Thiên quốc, thì hẳn nhiên giàu có chưa phải là cái tội.
Còn nghèo cỡ anh La-da-rô trong bài Tin Mừng, nghèo mà có được cái tâm hướng thiện, biết sống đức khó nghèo, đương nhiên là được hưởng phúc. Nhưng như thế vẫn không có nghĩa là tất cả những người nghèo đều có phúc cả đâu. Bởi trò đời thường hay “bần cùng sinh đạo tặc” (nghèo quá hoá trộm cướp), rồi từ chỗ gian lận, lường thưng tráo đấu, đi đến chỗ cướp của giết người cũng chẳng còn bao xa. Ấy là chưa kể còn chán vạn người nghèo vật chất mà còn nghèo đến độ keo kiệt bủn xỉn luôn cả về tinh thần như anh chàng đầy tớ trong dụ ngôn “Tên mắc nợ không biết thương xót” (Mt 18, 23-36). Nợ nhà vua tới mười ngàn yến vàng, mà biết quỳ lạy xin khất, vẫn được nhà vua tha luôn món nợ kếch sù. Trong khi đó, đối với người bạn chỉ mắc nợ mình có 100 quan tiền, bạn đã sấp mình xuống xin khất, mà vẫn không tha, còn tống vào ngục tối cho đến khi trả hết nợ mới thôi. Thế đấy!
Hoá cho nên giàu cũng chưa hẳn là có tội, mà nghèo cũng chưa hẳn là có phúc. Ăn thua là ở chính cái tâm địa con người, giàu mà có thiện tâm thì vẫn được hưởng phúc, nghèo mà có ác tâm thì vẫn mắc tội như thường. Ôi chao! Nói là nói vậy thôi, chớ còn kiếm được cái thiện tâm trong thế giới người giàu còn khó hơn cả mò kim đáy biển. Và cũng vì thế nên "con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa" (Mt 19, 24). Cũng đã có những vấn nạn: Ngày nào cũng thấy đọc “xin Cha cho chúng con rầy hàng ngày dùng đủ (xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày)”; rồi khi đọc bài ca “Ngợi khen” lại thấy “Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng” (kinh Magnificat – Lc 1, 53); vậy mà không hiểu sao người nghèo vẫn đầy rẫy, nghèo vẫn cứ nghèo, nghèo đến độ không có củ khoai, củ chuối để mà ăn. Trong khi đó, người giàu vẫn cứ giàu thêm lên, giàu nứt đố nổ vách. Sao lạ vậy?
Vấn nạn mới nghe qua cứ tưởng là hữu lý, nhưng xét cho cùng, thì sẽ thấy: Lương thực Chúa ban cũng giống như mưa trời rải đều khắp nơi. Muốn có nước mưa dùng, thì ít nhất cũng phải biết sắm cái chum cái vại, đào cái ao cái hồ, xây cái bể cái máng, mới có nước mưa được. Hoặc giả, lười đến độ cứ “há miệng chờ sung rụng”, thì ít ra cũng phải bò, phải lết đến gốc cây sung rồi há miệng ra, chớ chẳng lẽ cứ nằm im một chỗ chờ sung bò đến tận miệng sao? “Có làm thì mới có ăn, Không dưng ai dễ đem phần đến cho” (ca dao VN), đúng không nào? Còn câu trích trong kinh Magnificat, thì phải hiểu “của đầy dư” chính là của cải Nước Trời, và “đuổi về tay trắng” không có nghĩa là lột hết của cải trần thế của những người giàu, mà là giàu có ở trần thế sẽ gánh hậu quả “tay trắng” trên Thiên quốc. “Vua Ngô ba mươi sáu cái tàn vàng, Chết xuống âm phủ cũng chẳng mang được gì” cơ mà !
Chung quy, người giàu mà biết thu tích của cải Nước Trời bằng cách “bán hết của cải mà chia cho người nghèo” (Mt 19, 21), người nghèo mà biết làm giàu bằng cách tu nhân tích đức, thì tất nhiên phần thưởng dành cho họ sẽ không phân biệt giàu nghèo nơi trần thế, mà là sự giàu có hạnh phúc nơi Thiên quốc. Nói cách khác, dù giàu hay nghèo về vật chất mà vẫn biết cách làm giàu về đường tinh thần (giàu thiện tâm, giàu lòng bác ái) thì chẳng lo chi không được hưởng sự sang giàu nơi Quê Trời vĩnh cửu. Cái hình ảnh đáng ghi nhớ nhất trong dụ ngôn “ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo khó” chính là hình ảnh anh nghèo kiết xác La-da-rô trong lòng Tổ phụ giàu có Ap-ra-ham nơi cõi phúc.
Ôi! Lạy Chúa! Nếu con được Chúa ban cho của cải nơi trần thế, thì xin Chúa cũng ban dũng khí và can đảm cho con sống theo gương Tổ phụ Ap-ra-ham, sống tinh thần nghèo khó là biết đem những của cải dư thừa phù du ấy gửi vào ngân hàng Nước Trời, đầu tư vào những công trình thiện ích mà Chúa đã làm và đã dạy con thực hiện. Còn nếu Chúa thử thách con trong hoàn cảnh nghèo khó, thì xin Chúa cũng ban Thần Khí cho con để con có đủ nghị lực và kiên tâm sống như anh La-da-rô trong bài Tin Mừng hôm nay.
Ôi! “Lạy Chúa, khi Chúa thương xót và tha thứ, chính là lúc Chúa biểu lộ quyền năng cách tỏ tường hơn cả; xin không ngừng ban ơn giúp chúng con đạt tới Nước Trời là hạnh phúc Chúa đã hứa ban mà chúng con đang hết lòng theo đuổi, chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ CN XXVI/TN-C).

 

TN26-C149: Người phú hộ và Ladarô nghèo khó

Dụ ngôn người quản gia, dạy chúng ta biết cách sử dụng của cải trần gian sao cho đúng. Dụ ngôn TN26-C149

Dụ ngôn người quản gia, dạy chúng ta biết cách sử dụng của cải trần gian sao cho đúng. Dụ ngôn người phú hộ và Ladarô nghèo khó, cho thấy người phú hộ đã sử dụng của cải cách sai lầm. Dụ ngôn được chia làm ba phần.
Phần I: Cái cổng, một vực thẳm
Mở đầu, Đức Giêsu đưa ra hai nhân vật: Người giàu không được nêu tên, người nghèo tên là Ladarô, tiếng Dothái, El'azar có nghĩa là Thiên Chúa phù hộ.
Không chỗ nào nói, Ladarô là một con người nhân đức, anh chỉ được giới thiệu là "một người nghèo". Cũng vậy, không chỗ nào nói, ông nhà giầu là kẻ ác ôn, đã vơ vét của cải một cách mờ ám, đã chiếm đoạt, đã bóc lột một cách bất chính, đã lợi dụng hay ngược đãi Ladarô. Đức Giêsu không nói, ông nhà giầu không bố thí cho Ladarô. Chúa cũng không bảo Ladarô là người đức hạnh và ông nhà giầu là người xấu xa. Chỉ đơn giản, ông nhà giầu là người giầu, Ladarô là người nghèo. Ông nhà giầu đã không nhìn thấy Ladarô nghèo đói khốn cùng, đang nằm ở ngoài cổng. Cánh cổng là một vực thẳm khủng khiếp ngăn cách giữa ông và Ladarô nghèo khó. Hai vũ trụ, hai thế giới song song. Một bên là thế giới cực kỳ xa hoa dư thừa, với ông nhà giầu "mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình". Bên kia là thế giới thiếu thốn đến thảm hại của người nghèo khó: "Nằm trước cổng, mụn nhọt đầy mình, thèm được những thứ trên bàn ăn của viên phú hộ rơi xuống ăn cho no cũng không được. Chỉ có mấy con chó đến liếm ghẻ chốc anh ta". Thật là một cảnh trái ngược giầu và nghèo. Cảnh đó vẫn diễn ra trên thế giới, trên các thành phố, làng xóm xưa cũng như nay.
Ngày 3 tháng 7 năm 1980, tại Sao Paulô ở Braxin, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã áp dụng dụ ngôn này vào thế giới hiện đại, ngài nói: "Những làn sóng di dân chen chúc nhau trong những khu nhà ổ chuột. Trẻ em, thanh niên, người lớn không tìm thấy không gian sống để phát triển... Bên cạnh đó những khu phố với những cao ốc, ở đó, người ta sống với mọi tiện nghi hiện đại... Sự phát triển nhiều khi trở thành một sự thuật lại không lề dụ ngôn ông nhà giầu và Ladarô nghèo khó".
Phần II: Một vực thẳm không thể vượt qua
Cảnh hai cho thấy cả hai nhân vật của chúng ta ở thế giới bên kia. Cái chết, thay vì làm cho họ xích gần nhau, lại làm cho khoảng cách giữa họ trở thành vĩnh viễn. Sự thật cho thấy, từ nay tình thế của họ đã hoàn toàn đảo ngược. Ladarô kẻ ăn xin xưa kia trên trần gian, nay được thiên thần đem vào lòng Abraham, hưởng phúc vô tận. Còn viên phú hộ, trái lại, trước đây hưởng thụ giầu sang chẳng đoái hoài gì đến người nghèo nằm trước cửa nhà mình, nay phải ở dưới âm phủ, đang chịu cực hình.
Đức Giêsu dùng những hình ảnh, những tư tưởng người đương thời, để nói về thế giới bên kia cho người ta hiểu, Ngài không thể nói khác được. Thế giới bên kia được hình dung như một âm phủ bao la (Sheol) với những thân thể, những cái lưỡi, ngón tay, lửa, nước. Nơi những kẻ bị kết án nhìn từ xa, những người được ưu tuyển, cách mình bằng một vực thẳm. Trong cực hình, người giầu năn nỉ tổ phụ Abraham sai Ladarô. Ông nêu rõ tên, cái tên ông chẳng biết đến khi còn sống ở trên đời, nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi ông cho mát.
Nhưng muộn quá, cuộc chơi đã mãn. Cả Abraham lẫn Ladarô, chẳng ai làm được gì cho ông nữa. Cái cổng nhà ông đã phân chia hai thế giới trở thành vực thẳm. Cái chết đã làm cho nó trở thành vực thẳm vĩnh viễn không thể vượt qua.
Theo Hugues Cousin nhận định: "Vực thẳm chia cách, giữa những người đang được hưởng hạnh phúc quanh Abraham và những kẻ phải chịu cực hình dưới âm phủ, thực ra chỉ là sự nối dài của vực thẳm đã được đào sâu giữa cổng nhà nơi Ladarô đã nằm và bàn tiệc cao lương mỹ vị mà suốt đời viên phú hộ kia đã chẳng làm gì để lấp cho đầy". Hình phạt khủng khiếp ở hỏa ngục đơn giản là khoảng cách mà kẻ giầu có đặt ở giữa họ với Thiên Chúa, và ở giữa họ với những người khác. Xa cách Thiên Chúa như ở trần thế người ta vẫn xa cách, xa cách những người khác, như ở trần gian người ta vẫn làm. Chúng ta ghi nhận: hỏa ngục dường như chỉ là sự kéo dài của tình trạng này, chính con người tự phân xử mình ngay từ trần gian. Mỗi người chúng ta đang kiến tạo Thiên đàng hay hỏa ngục cho mình. Mỗi lần ta mở lòng cho Thiên Chúa hoặc cho những người khác, là chúng ta bước một bước lên thiên đàng. Mỗi lần ta khép kín mình trong chính mình là bước một bước xuống hoả ngục. Trần gian này là nơi rèn luyện bước đầu của Thiên đàng và hỏa ngục.
Phần III: Hãy nghe Lời Chúa, đừng chần chừ nữa
Xin cho mình không được, người giầu có chợt nhớ đến năm người anh em còn sống trên trần thế, họ cũng đang rơi vào thói ăn chơi hưởng thụ, không quan tâm gì tới người nghèo đang nằm trước cửa nhà mình. Cả bọn năm người cũng đang lơ lửng trước tai họa, nếu không có ai đó cảnh báo cho biết. Nghĩ vậy người giầu cất tiếng: "Xin tổ phụ sai anh Ladarô đến cảnh cáo họ, kẻo họ cũng sa vào chốn cực hình này. Bởi, nếu có sự can thiệp của ai đó từ cõi chết hiện về, họ sẽ ăn năn sám hối".
Chỉ là ảo tưởng, nếu ở hỏa ngục, ai đó có một chút tình yêu dù là nhỏ xíu, cũng được Chúa tha thứ, không bị kết án. Bởi lẽ Chúa là tình yêu và tình yêu vô tận.
Ở đây chỉ là một cảnh dựng để đưa vào câu trả lời theo sau là lời đáp của Abraham: "Chúng đã có Maisen và các ngôn sứ, chúng cứ nghe lời các vị đó". Vâng, người ta luôn luôn đòi một dấu chỉ khác thường: "Ông hãy làm cho chúng tôi một phép lạ để chúng tôi tin"... "Ông hãy xuống khỏi thập giá, nếu ông là Con Thiên Chúa... Ông hãy gieo mình từ nóc đền thờ xuống đi". Một số Kitô hữu luôn luôn tiếp tục dựa vào những phép lạ và những lần hiện ra. Người giầu xin cho Ladarô hiện về. Thế nh¬ưng, sự sống lại của Ladarô em trai của Mácta và Maria ở Bêtania không những không thuyết phục đ¬ược những ngư¬ời Pharisêu và các giáo trư¬ởng, mà con thúc đẩy họ có quyết định loại trừ Đức Giêsu (Ga 11,45-53). Con đ¬ường chân chính duy nhất đến với đức tin không phải là một phép lạ nhãn tiền, mà là sự khiêm nh¬ờng lắng nghe Lời Chúa (Maisen và các ngôn sứ).
Hugues Cousin viết: "Đại diện cho lối suy nghĩ khá phổ biến trong thế giới hôm nay, ông nhà giầu t¬ưởng rằng một phép lạ sẽ làm đ¬ược cái mà Kinh Thánh không làm đ¬ược. Lầm to! Một phép lạ cho dù phép lạ người chết sống lại, cũng không thể làm thay lòng đổi dạ những kẻ cứng lòng không đón nhận sứ điệp của lề luật và các ngôn sứ. Ngay trong Hội thánh, từng tuyên xưng Đức Giêsu chết và sống lại, cũng tồn tại một điều như thế. Biết bao phen chính chúng ta chẳng mơ tưởng giả như được chứng kiến phép lạ Chúa Phục sinh hiện ra, chắc chắn mình sẽ ăn năn sửa đổi đời sống... Trong lúc Tin Mừng đang có đó, ngày cũng như đêm, trong tầm tay chúng ta. Chỉ khi biết nghe lời Chúa, con người mới có thể hoán cải... Đó chính là sứ điệp lưu truyền lâu đời, có sẵn tại trung tâm lề luật và các ngôn sứ".

 

TN26-C150: Suy niệm của Lm Anthony Trung Thành

Trong phần sám hối đầu mỗi thánh lễ, chúng ta thường đọc kinh thú nhận: “Tôi thú nhận cùng Thiên TN26-C150

Trong phần sám hối đầu mỗi thánh lễ, chúng ta thường đọc kinh thú nhận: “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em, tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót.” Thật vậy, chúng ta không những phạm các tội trong tư tưởng, lời nói, việc làm mà còn cả những điều thiếu sót. Điều thiếu sót hay là tội thiếu sót là những tội liên quan đến bổn phận buộc chúng ta phải làm, phải nói mà chúng ta không làm, không nói. Để hiểu hơn về tội thiếu sót, chúng ta cùng nhau tìm hiểu bài Tin mừng hôm nay.
Thánh Luca kể rằng: “Có một nhà phú hộ kia, vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình” (Lc 16,19). Nhà phú hộ tức là người giàu có. Nhờ đâu mà ông ta giàu có? Chúng ta không biết, vì Tin mừng không nói tới. Đức Giêsu cũng không kết án ông vì tham ô tham nhũng, làm ăn bất chính hay chiếm đoạt tài sản của người khác. Cho nên, sự giàu có của ông không phải là tội. Nhưng tại sao nhà phú hộ này sau khi chết lại phải sa hỏa ngục? Thưa, nhà phú hộ đã mắc tội thiếu sót. Ông giàu có. Ông có khả năng giúp đỡ người nghèo. Người nghèo đó ở bên cạnh ông. Đó chính là ông Lazarô. Nhưng ông đã không quan tâm, không giúp đỡ, không có tình liên đới. Ông sống dửng dưng. Thánh Luca kể tiếp: “Lại có một người hành khất tên là Ladarô, nằm bên cổng nhà ông đó, mình đầy ghẻ chốc, ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy" (Lc 16,20-21).
Vì lý do đó, nên ông bị kết án sa Hỏa ngục. Để hiểu hơn điều này, chúng ta nghe lại lời Đức Giêsu nói trong đoạn Tin mừng theo Thánh Mathêu, chương 25 nói về ngày phán xét chung. Chính Đức Giêsu nói với những kẻ bên trái lý do mà họ phải sa Hỏa ngục rằng: “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng" (Mt 25,42-43). Đức Giêsu giải thích thêm: “Mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy”(Mt 25, 45).
Thật vậy, của cải được giao cho con người quản lý. Người được trao năm nén, người được trao hai nén, người được trao một nén (x. Mt 25, 14-30). Ai cũng phải biết làm lời số vốn được giao cho mình. Cách làm lời tốt nhất là phải biết phân phát, chia sẻ. Vì vậy, ai được Chúa trao cho nhiều tiền của phải có trách nhiệm phân phát, chia sẻ cho những người khác. Người khác ở đây chính là những người “nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù” (x. Lc 14,13). Khi chia sẻ cho người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù, không những chúng ta đang thi hành việc bác ái, mà hơn thế nữa, chúng ta đang thi hành trách nhiệm của tình liên đới giữa con người với nhau. Ông Gandhi đã nói rất chí lý rằng: “Những của cải chúng ta dư thừa là chúng ta ăn cắp của người nghèo.”
Có nhiều cách để chia sẻ: chúng ta hãy rộng tay chia sẻ cho người nghèo khi họ đến với chúng ta; có khi chúng ta đi tìm người nghèo để chia sẻ cho họ; có thể chúng ta đóng góp phần mình vào các hội từ thiện bác ái trong Giáo Hội hay ngoài xã hội... Nghĩa là chúng ta luôn chớp lấy cơ hội đến với mình, đồng thời có khi phải tạo cơ hội cho mình để phân phát, chia sẻ những gì chúng ta có cho những người nghèo, tàn tật, đui mù. Có như thế, chúng ta mới tránh được tội thiếu sót mà nhà phú hộ trong câu chuyện Tin mừng hôm nay mắc phải.
Còn ông Lazarô, có phải ông nghèo khó nên được lên Thiên đàng không? Chắc chắn không phải như vậy? Nguyên việc nghèo đói không bảo đảm cho con người được lên Thiên đàng. Trái lại, nếu vì lười biếng làm chúng ta trở nên nghèo đói, từ đó sinh ra trộm cắp, gian lận, phàn nàn kêu trách Chúa…thì lại càng không được lên Thiên đàng. Cho nên, ông Lazarô được lên Thiên đàng không phải vì ông nghèo khó, nhưng ông sống tốt bổn phận của ông trong hoàn cảnh nghèo khó. Mặc dầu nghèo khó, nhưng ông không trộm cắp, không gian lận. Ông vẫn sống tinh thần nghèo khó. Ông phó thác hoàn toàn vào tình thương và sự quan phòng của Thiên Chúa. Ông không phàn nàn kêu trách Chúa. Nên ông đã được lên Thiên đàng.
Thời đại nào cũng có những người giàu. Đất nước nào cũng có những người sở hữu cả khối tài sản khổng lồ. Có thể họ giàu là do chính sức lao động của họ làm nên. Cũng có thể họ giàu là do thừa kế của ông bà cha mẹ. Nhưng, vẫn có những người giàu có là do nạn tham ô tham nhũng. Đặc biệt tại đất nước Việt Nam chúng ta, có những vụ tham nhũng lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Theo báo cáo tóm tắt của Tổng thanh tra chính phủ cho biết trong 10 năm qua thiệt hại do các vụ án, vụ việc tham nhũng được phát hiện gần 60.000 tỉ đồng và trên 400 ha đất. Đến nay số tiền đã thu hồi cho nhà nước là gần 5.000 tỉ đồng và hơn 200 ha đất (Theo tuoitre.vn). Mới đây, hồ sơ đại án Phạm Công Danh, cựu chủ tịch ngân hàng xây dựng cho biết, ông đã gây thiệt hại cho ngân hàng hơn 9.000 tỷ đồng (Theo Trí Thức Trẻ).
Trong khi đó, rất nhiều người không có gì ăn, trẻ em suy dinh dưỡng, nhiều người phải chết đói. Nhiều trẻ em không có điều kiện để đến trường. Câu chuyện cậu bé Ksor Sôn (lớp 6, Trường THCS Trần Phú), 11 tuổi tự tử vì không có quần áo mới để đến trường là một ví dụ điển hình. Em sinh ra trong một gia đình quá khó khăn, Sôn không có nổi 1 bộ đồ mới chỉ hơn 100 ngàn đồng để nhập học, tủi thân rồi tìm đến cái chết. Rồi chuyện hai người nghèo ở Sơn La chết ở bệnh viện, người nhà không có tiền thuê xe, phải cuốn chiếu chở bằng xe máy đưa về nhà…Xem ra xã hội chúng ta đang sống vẫn còn nhiều nhà phú hộ và ông Lazarô.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta:
Thứ nhất, hãy biết sống tình liên đới, chia sẻ: Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Tình liên đới sẽ vượt thắng được mọi khủng hoảng.” Nếu chúng ta may mắn là người giàu có, hoặc có của cải dư thừa…Đó là cơ hội để chúng ta sống tình liên đới, chia sẻ với những người nghèo khó, những người kém may mắn hơn chúng ta.
Thứ hai, hãy quyết tâm sống thanh liêm. Nếu phải sống trong cảnh nghèo khó không được trộm cắp, gian lận, không phàn nàn kêu trách Chúa. Cổ nhân dạy chúng ta: “Đói cho sạch, rách cho thơm.”
Thứ ba, hãy làm những gì khi còn có thể: có nhiều người sống như không bao giờ chết. Chính vì thế, họ chỉ lo tích trử chứ không biết chia sẻ. Khi chết rồi họ mới hối hận về cuộc sống của mình giống như nhà phú hộ. Vậy, hãy làm những gì khi còn có thể.
Lạy Chúa Giêsu, xin đẩy xa xã hội chúng con đang sống nạn tham ô, tham nhũng. Xin cho những người giàu biết rộng lòng chia sẻ của cải cho người nghèo. Xin giúp chúng con luôn thấy được, nghe được, cảm nghiệm được sự nghèo khó của những người kém may mắn trong xã hội, để chúng con luôn biết sống tinh thần liên đới, rộng tay ban phát và chia sẻ những gì có thể cho họ. Amen.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây