Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-C Bài 151-196 Người giàu có & L

Thứ bảy - 28/09/2019 10:18
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-C Bài 151-196 Người giàu có & Lagiarô
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-C Bài 151-196 Người giàu có & Lagiarô
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN-C Bài 151-196 Người giàu có & Lagiarô
TN26-C151: Giúp đỡ tha nhân - Lm. Minh Vận, CRM... 2
TN26-C152: Lừa gạt – Lm. Vũ Đình Tường. 5
TN26-C153: NGƯỜI NGHÈO CÓ CHỖ ĐỨNG ĐẶC BIỆT.. 7
TN26-C154: Đừng vô cảm trước nỗi khổ của đồng loại 10
TN26-C155: Lưu tâm đến những người nghèo khổ. 14
TN26-C156: Tầm quan trọng của việc năng làm việc bác ái 18
TN26-C157: Giàu và nghèo – Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng. 21
TN26-C158: Hạnh phúc hay trầm luân? – Minh Thiện. 23
TN26-C159: Suy Niệm Thánh Vịnh 145 – CN26TNC.. 25
TN26-C160: Trái tim tình người – Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng. 30
TN26-C161: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI 34
TN26-C162: Vô Cảm, Cái Chết Từ Trong Tâm Hồn. 38
TN26-C163: Khi con người Vô Cảm xã hội sẽ sao?. 42
TN26-C164: Vòng xoáy của đồng tiền & cuộc vật lộn của phận người. 44
TN26-C165: SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA CN XXVI TN C.. 54
TN26-C166: VÔ CẢM... 61
TN26-C167: HƯỚNG TỚI PHẦN THƯỞNG.. 63
TN26-C168: LAZARO VÀ NGƯỜI PHÚ HỘ.. 65
TN26-C169: NGƯỜI BÊN CẠNH.. 67
TN26-C170: VÔ CẢM VỚI NGƯỜI NGHÈO LÀ MỘT TỘI ÁC.. 68
TN26-C171: ÔNG NHÀ GIÀU VÀ LAZARÔ NGHÈO KHÓ.. 70
TN26-C172: BỐ THÍ 72
TN26-C173: MỘT LẦN NỮA, LỜI CHÚA LẠI NÓI VỀ CÔNG BÌNH.. 75
TN26-C174: TỘI THIẾU SÓT.. 77
TN26-C175: THIÊN CHÚA LÀ ĐẤNG THƯỞNG PHẠT CÔNG BẰNG.. 80
TN26-C176: SỐ PHẬN.. 82
TN26-C177: SỐNG VỚI NGƯỜI KHÁC.. 89
TN26-C178: SỬ DỤNG TIỀN CỦA VỚI TRÁCH NHIỆM CỨU GIÚP. 92
TN26-C179: ĐỪNG VÔ CẢM... 95
TN26-C180: GẦN MÀ XA KHI TÌNH BĂNG GIÁ.. 97
TN26-C181: TẠI SAO CHÚA KHÔNG CHO NGƯỜI CHẾT HIỆN VỀ.. 98
TN26-C182: PHÚ HỘ VÀ LAZARÔ.. 101
TN26-C183:TRONG TẦM TAY.. 104
TN26-C184: BỆNH VÔ CẢM... 106
TN26-C185: CỦA CẢI TRẦN GIAN.. 108
TN26-C186: NGƯỜI NGHÈO VÀ NGƯỜI GIÀU.. 112
TN26-C187: SỐNG NGHĨA TÌNH.. 114
TN26-C188: ĐIỀU ƯỚC MUỘN MÀNG.. 115
TN26-C189: LÀM TÔI HAI CHỦ.. 120
TN26-C190: THÁI ĐỘ DỬNG DƯNG VÔ CẢM VỚI NGƯỜI BẤT HẠNH.. 122
TN26-C191: XIN ĐỪNG VÔ TÌNH.. 125
TN26-C192: GIÀU, NGHÈO.. 129
TN26-C193: CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN_C.. 132
TN26-C194: Người Phú Hộ Và Ông Ladarô. 134
TN26-C195: Suy Niệm Chúa Nhật XXVI Thường Niên C.. 136
TN26-C196: Nềm tin là giải pháp. 143

 

TN26-C151: Giúp đỡ tha nhân - Lm. Minh Vận, CRM

Một hôm, được tin có một gia đình đang lâm cảnh cùng quẫn, đến nỗi không còn một chút lương TN26-C151

Một hôm, được tin có một gia đình đang lâm cảnh cùng quẫn, đến nỗi không còn một chút lương thực cho đàn con đang đói lả; Mẹ Têrêxa Calcutta và một số chị em Dòng Bác Ái tới thăm viếng và đem cho gia đình này một bao gạo. Khi vừa nhận được bao gạo các Nữ Tu tặng, bà mẹ của gia đình này đã vội chia ra làm hai và đem đi một phần, chỉ để lại cho gia đình một phần.
Mẹ Têrêxa rất lấy làm bỡ ngỡ hỏi: "Bà đem đi đâu vậy?" Bà mẹ này trả lời: "Con đem đến cho một gia đình nghèo cũng như gia đình con ở gần đây đang bị đói lả. Con nghĩ cần phải chia sẻ với họ trong hoàn cảnh túng cực này".
Mẹ Têrêxa và các Nữ Tu của Mẹ cảm động đến rơi lệ, trước nghĩa cử bác ái và tấm lòng quảng đại của bà mẹ nghèo trong gia đình túng quẫn này.
I. TẠI SAO NGƯỜI GIẦU BỊ CHÚA CHÚC DỮ
Của cải là những ơn huệ Chúa ban để giúp con người sinh sống mà phụng sự Chúa và làm vinh danh Ngài, vậy tại sao Chúa lại thường nặng lời chúc dữ những người giầu? Chúng ta sẽ đọc thấy những lý do ngay trong những lời Chúa chúc dữ: "Khốn cho các ngươi là những kẻ giầu có, vì các ngươi đã được an ủi rồi! Khốn cho các ngươi là những kẻ hiện nay đã được no nê, vì sau này các ngươi sẽ bị đói khổ! Khốn cho các ngươi bây giờ tươi cười sung sướng, vì mai sau các ngươi sẽ phải âu sầu than khóc!" (Lc 6:24-25)
Trong Cựu Ước, chúng ta thấy Chúa thường ban của cải giầu sang chức quyền cho những tôi trung con thảo của Chúa, chẳng hạn như các tổ phụ: Abraham, Maisen, Đavit, Job. Các ngài thường được Chúa chúc phúc và ban cho đông con nhiều cháu như sao trên trời như cát bãi biển, lại được của cải dư tràn: Vàng bạc, trâu châu, đá ngọc, hạt trai, hoa mầu ruộng đất phì nhiêu, những đoàn gia súc chiên bò, dê cừu vô số... Nhưng các ngài đã luôn ý thức và chân nhận rằng: Tất cả những của cải đó đều là những ơn phúc do lòng nhân từ Chúa ban, còn các ngài chỉ là những viên quản lý những kho tàng Chúa ủy thác, nên phải xử dụng theo đúng thánh ý Chúa. Hơn nữa, các ngài còn ý thức được nhiệm vụ phải làm cho số vốn Chúa trao sinh sôi nảy nở, bằng cách dùng chúng để làm vinh danh Chúa và mưu ích cho tha nhân. Rồi khi Chúa cất lấy, các ngài thưa với Chúa như tổ thụ Job: "Chúa đã ban cho, rồi Chúa cất lấy, con xin chúc tụng danh Chúa!" Các ngài không phàn nàn kêu trách, mà còn hân hoan xin cho thánh ý Chúa nên trọn.
Nhưng với những người giầu tiền của mà tự kiêu tự đại, cậy chức quyền, cậy tiền của, tự cho mình là chủ mọi sự, không cần đến ai, khinh dể mọi người, ăn chơi xa xỉ, tiêu xài phung phí, chè chén say sưa, yến tiệc tối ngày, hưởng lạc thâu đêm, như trong bài đọc nhất chúng ta vừa nghe. Họ không hề quan tâm đến nỗi thống khổ của những người túng thiếu; họ không hề biết thông cảm với những người xấu số, bị bỏ rơi và cô độc đang rên xiết trong cảnh túng cực.
Chính vì lạm dụng những ơn huệ Chúa ban, mà những người nhiều tiền lắm của này đã chuốc lấy cái khổ vào thân; họ trở nên nô lệ cho tiền của, bị tiền của làm cho họ tối mắt, không nhận ra Đấng làm chủ mọi sự và những ơn huệ Ngài ban, để cảm tạ Ngài.
Để ngăn ngừa chúng ta khỏi mắc phải những lỗi lầm đó, Chúa đã ân cần nhắn nhủ: "Hỡi các ngươi là những kẻ cậy dựa vào tiền của, thật khó vào Nước Thiên Đàng biết bao! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu vào Nước Thiên Đàng" (Mc 10:24-25) và (Lc 18:24-25).
Dụ ngôn người giầu sang và ông Lazarô nghèo hèn trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa đã nêu lên cái số phận bi đát của người giầu trong cuộc sống mai hậu, vì ông đã được tận hưởng sự giầu sang phúc quí, mà không hề động lòng trắc ẩn trước nỗi thống khổ nghèo nàn túng thiếu, bệnh tật ghẻ lở của con người xấu số là Lazarô đang ngồi gần cổng nhà ông. Đồng thời, Chúa cũng đề cao cái hạnh phúc may mắn mà Lazarô đã được ân thưởng trên nơi vĩnh phúc. Hai hình ảnh thật tương phản và xa cách nhau muôn phần. Qua lời tổ phụ Abraham nói với người giầu, đang rên xiết cầu cứu sự trợ giúp của Lazarô, cho chúng ta hiểu được bài học Chúa dạy trong dụ ngôn này: "Hỡi con, suốt đời con được toàn sự lành; còn Lazarô toàn gặp sự khốn khó. Vậy bây giờ Lazarô được an ủi ở chốn này; còn con thì phải chịu khốn khổ. Điều đó quả là đích đáng".
II. ĐỂ ĐÁNG ĐƯỢC CHÚA ÂN THƯỞNG
Để đáng được Chúa chúc phúc và ân thưởng hạnh phúc vĩnh cửu cho chúng ta trên Quê Trời trong đời sống mai hậu, chúng ta hãy quyết địch thực thi mấy điểm sau đây:
Nếu chúng ta là những người được Chúa ban dư giả những của cải vật chất, chúng ta hãy biết thương cảm những nỗi sầu khổ của tha nhân, bằng cách chia cơm sẻ áo với những người túng thiếu nghèo nàn.
Nếu chúng ta là những người gặp may mắn, có địa vị chức quyền, được mạnh khoẻ, nhiều khả năng, được hưởng an bình, tự do và hạnh phúc, chúng ta hãy dùng những ân huệ Chúa ban để trợ giúp tha nhân, nâng đỡ những người yếu kém cô thân cô thế, an ủi những người sầu khổ, khích lệ những người ngã lòng nản chí, nâng dậy những người sa ngã.
Hơn nữa, là con cái Chúa, chúng ta được hưởng muôn vàn ân huệ siêu nhiên Chúa ban, chúng ta hãy cầu nguyện và trợ giúp những anh chị em chưa được diễm phúc làm con cái Chúa, những người chưa nhận biết chân lý, chưa được ánh sáng Đức Tin chiếu soi, nhất là những người lầm đường lạc lối, những người cố tình chống đối Thiên Chúa, để họ được ơn trở về làm hòa với Chúa, phụng sự và yêu mến Người.
Chúng ta còn có nghĩa vụ khẩn thiết là rao giảng Tin Mừng Cứu Rỗi cho tha nhân, chinh phục họ trở về với Chúa; chúng ta hãy luôn tâm niệm và tự răn mình theo gương Thánh Phaolô: "Vô phúc cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô cho anh chị em tôi". Chớ gì lời đó trở nên lẽ sống thúc đẩy chúng ta luôn biết tha thiết đến phần rỗi anh chị em chúng ta, tức là chu toàn nghĩa vụ đem Chúa đến cho tha nhân, bằng chính cuộc sống thánh thiện như mẫu gương chiếu giãi, trước tiên cho những phần tử trong gia đình, cùng sống chung một nhà, rồi đến họ hàng thân quyến, bạn hữu và tất cả những người chúng ta giao tiếp hằng ngày, tùy theo hoàn cảnh hợp với địa vị và môi trường của mỗi người chúng ta.
Kết Luận
Tấm lòng quảng đại của bà mẹ nghèo trong câu truyện chúng ta vừa nghe, đã biết quan tâm chia sẻ những nhu cầu sinh sống cấp bách, với những người cùng cảnh ngộ đói khổ như mình, là một tấm gương đáng chúng ta suy nghĩ, cảm phục và noi theo bắt chước. Chúng ta lại không có thể hy sinh làm được đôi việc bác ái tương tự như thế cho anh chị em chúng ta vì lòng yêu mến Chúa sao?
Lạy Mẹ, Mẹ là Hiền Mẫu hằng nhân từ thương yêu ban mọi ơn lành cho con cái và tất cả chạy đến cầu khẩn với Mẹ, không bao giờ để họ phải trở về tay không, xin Mẹ dạy chúng con biết noi theo lòng nhân từ bác ái cao cả của Mẹ, để chúng con biết mở rộng tấm lòng trước nỗi thống khổ của tha nhân, như giáo huấn Chúa đã dạy chúng con.

 

TN26-C152: Lừa gạt – Lm. Vũ Đình Tường

Chúng ta thường bị tình cảm con người lừa gạt. Lý do rất đơn giản là bạn nghĩ việc đó đã được TN26-C152

Chúng ta thường bị tình cảm con người lừa gạt. Lý do rất đơn giản là bạn nghĩ việc đó đã được giải quyết ổn thoả. Bạn cảm thấy yên tâm, không quan tâm đến nữa. Nghĩ như thế là bạn đang bị lừa gạt bởi sự việc có thể rất đơn giản đối với bạn nhưng xem ra phức tạp với người bạn đối xử với họ. Bạn cho vấn đề đó đơn giản bởi do công việc và địa vị trong xã hội khiến bạn từng giải quyết nhiều vấn đề phức tạp hơn trăm lần; tuy nhiên người khác có thể không có kinh nghiệm đó, điạ vị xã hội của họ không phải giải quyết vấn đề phức tạp nên vấn đề đối với họ là phức tạp. Quan hệ tình cảm, bác ái và lòng xót thương luôn đòi hỏi vừa tế nhị vừa công bằng. Thiếu những điều căn bản này vấn đề thay vì giải quyết êm thắm lại trở nên phức tạp. Có nhiều vấn đề bạn quyên bẵng đi vì công việc quan trọng khác chiếm chỗ nhưng nó lại sống động trong tâm não người khác nhất là khi họ cảm thấy họ là nạn nhân, bị đối xử bất công. Để í một chút bạn sẽ thấy hầu hết thời giờ trong các tiệc tùng, họp mặt người ta luôn nói về những vấn đề giao tế và cách xử thế con người đối xử với nhau trong xã hội. Có những chuyện tốt khi nghe kể lại ai cũng vui và cám ơn lòng tốt, lòng bác ái, thương người của kẻ vô danh nào đó. Lại cũng có hành động xảy ra truớc đó vài ba chục năm vẫn còn được khơi lại như chuyện mới bởi vết thẹo trong tim họ chưa lành và sẵn sàng bật máu khi cơ hội nhắc đến nó. Bị xử oan ức, hàm oan; bị coi thường, khinh khi, lăng mạ; bị vu cáo. Toàn là những bị. Những bị này chất trên vai họ khiến lưng họ cong xuống. Chúng nằm trong kí ức khiến tâm trí họ bị khuấy động. Chúng đè nặng con tim nên con tim hận thù hơn tha thứ. Chúng chợt thức giấc khi tiếng động thức tỉnh chúng.
Một số lý luận không làm gì cả là giải đáp tốt nhất. Thật ra không làm gì cả lại là một loại lừa gạt khác bởi hành động yêu thương, bác ái cần được thể hiện trong mọi hoàn cảnh khi có thể. Không thực thi bác ái là một tội. Chính Đức Kitô xác định điều này và đây cũng là điều mà người giầu trong Phúc âm hôm nay phạm phải- thiếu bác ái với tha nhân. Người giầu có đã bỏ qua hành động yêu thương và đó là cái vạ đời anh. Cả người giầu và người nghèo sống cùng một xóm nhưng cuộc sống hai người quá khác biệt. Người giầu có dư ăn, dư mặc, sống cuộc sống hưởng lạc; ngoài cửa nhà anh có người nghèo nhiều tối đi ngủ bụng đói cồn cào vì thiếu ăn, cơn gió lạnh căm khiến anh co rúm vì thiếu mặc. Cả đời chỉ được đứng ngoài hàng rào nhìn ngó thiên hạ dự tiệc, còn anh chưa bao giờ có cái vinh dự đó. Cuối cùng cả hai cùng chết và cùng gặp nhau trước toà Chúa. Người nghèo vật chất được tổ phụ đón chào, người nghèo bác ái thì không. Người nghèo vật chất được sống an vui, người nghèo bác ái khóc than. Người nghèo vật chất tràn ân sủng Chúa, người nghèo bác ái trắng tay. Người nghèo vật chất có bạn bè đón chào; người nghèo bác ái không cô đơn bởi cuộc sống trần thế của anh không có họ nên khi chết đi họ cũng không biết anh.
Ai sống cuộc đời thực thi bác ái, yêu thương họ sẽ được sống trong bác ái, yêu thương của Thiên Chúa. Ai sống chỉ lo hưởng lạc, khi chết tất cả lạc thú chết theo bởi lạc thú trần thế không gây tình cảm, khi chết họ cô đơn. Hãy sống chân thành, sống cho anh em người, lừa mình nhưng thực thi bác ái, công bình, yêu thương là đường dẫn đến tình yêu chân thật và vĩnh cửu.

 

TN26-C153: NGƯỜI NGHÈO CÓ CHỖ ĐỨNG ĐẶC BIỆT

 TRONG TRÁI TIM CHÚA
Suy niệm của Fr. Jude Siciliano
Thưa quý vị.
 

Nếu chúng ta chưa thấm nhuần những lời Chúa Giêsu dạy dỗ về đức khó nghèo mà thánh sử Luca TN26-C153

Nếu chúng ta chưa thấm nhuần những lời Chúa Giêsu dạy dỗ về đức khó nghèo mà thánh sử Luca ghi lại trong Tin Mừng của Ngài, thì hôm nay thánh sử lại kể cho chúng ta một dụ ngôn khác chất lượng hơn. Đó là dụ ngôn ông phú hộ giàu có và Lazarô nghèo khổ cùng cực. Dụ ngôn nói rõ hơn quan điểm của thánh Luca về vấn đề này. Chúng ta thường tìm kiếm mọi lý do để tránh né. Nhưng thánh Luca không khoan nhượng. Ngay từ đầu và trong suốt cả Phúc Âm người nghèo và tinh thần nghèo khó luôn luôn có một chỗ đứng đặc biệt trong trái tim Chúa Giêsu. Họ là những người dễ dàng đón nhận Phúc Âm (4, 17-19). Chính Ngài cũng thuộc hạng người nghèo khổ, ngay từ lúc dâng mình vào đền thờ, của lễ cha mẹ Ngài dâng là của lễ của lớp người nghèo khó (2, 24). Khi ra giảng đạo, Ngài chẳng có chỗ gối đầu (9, 58), khi chết chẳng có mảnh vải che thân (23, 34).
Tuy nhiên, thánh Luca không thực sự liệt kê một cách chính xác chúng ta phải sống thế nào để được gọi là nghèo khó. Ngài chỉ nói rằng phải từ bỏ mọi sự để theo Chúa, như trong Phúc Âm tuần trước: “Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ Tôi được” (Lc 15, 33). Vậy mà Lazarô, Mat-ta, Maria vẫn còn có nhà cửa để đón tiếp Ngài và các môn đệ khác. Ông Gia-kêu chỉ phải phân phát có một nửa gia tài mà cũng được khen là theo chân Chúa Giêsu! Cho nên vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ để chúng ta suy gẫm trong ơn soi sáng của ChúaThánh Thần và chúng ta sẽ đáp ứng theo tiếng gọi của Ngài. Có một điểm chắc chắn trong bài Tin mừng hôm nay là đừng tự mãn về sự giàu có và gia sản của mình, nhưng hãy biết chia sẻ với những người cùng cực nghèo khó. Của cải có thể là hòn đá làm ta vấp ngã trên con đường theo Chúa. Có lẽ thánh Luca đang chống lại tính tham lam ích kỷ của các quyền lực tôn giáo lúc ấy (16, 14) coi giàu có là đặc ân Thiên Chúa chúc phúc và khinh rẻ đa số nghèo hèn là tội lỗi. Dụ ngôn sẽ cho chúng ta cái nhìn chính xác hơn.
Ông phú hộ cực kỳ giàu có, ăn vận hết sức sang trọng, toàn lụa là gấm vóc. Ông nổi bật trên nền trời nghèo khó chung quanh ông. Bữa ăn của ông được thánh Luca mô tả là yến tiệc linh đình, nhưng ông lại chẳng có tên! Không hiểu thánh sử có dụng ý ám chỉ đến ai? Các nhà chú giải kinh thánh cho là toàn thể giai cấp Pha-ri-sêu lúc ấy, bởi lẽ nếu nói rõ tên, ngài sẽ bị trù dập và khai trừ. Còn Lazarô thì có tên. Người nghèo thì lấy quyền lực đâu mà trả thù, cho nên phải cắn răng chịu đựng mọi thứ mạt sát. Lời văn của thánh Luca thật là chính xác và cay đắng. Thời nay cũng vậy thôi. Tầng lớp nghèo khó tha hồ chịu đựng những lời thóa mạ chua cay, đắng đót, còn những kẻ sang giàu dù một lời chỉ trích nhẹ nhàng cũng gây nên sóng gió. Cho nên nhiều vị có bổn phận coi sóc linh hồn phải tìm cách tránh né, mặc dầu gương xấu tày đình. Xã hội loài người là như thế đó, không có luật trừ. Sang giàu thì bao giờ cũng kiêu ngạo, chỉ có nghèo hèn mới khiêm nhường được mà thôi. Vậy những linh hồn khiêm nhường phải là những linh hồn có tinh thần nghèo khó và sống thực sự bằng tinh thần ấy. Sống xa hoa không thể nào khiêm tốn được. Có chăng chỉ là giả dối.
Tôi có người bạn thân đi giảng đạo ở Châu Mỹ La Tinh, ông sống với dân da đỏ mười năm, khi trở về nước Mỹ, bất cứ cái chi cũng làm ông ngỡ ngàng. Một hôm tôi đưa ông đi thăm siêu thị, vào gian hàng thực phẩm thấy bầy bán la liệt nước uống tinh khiết, giá một đô la hai mươi lăm xu một chai. Ông ngạc nhiên hỏi: “Vậy thì nước mạch của chúng ta ô nhiễm hết rồi sao? Tôi trả lời: không phải như thế, nhưng bây giờ người ta ưa uống nước này, vệ sinh hơn. Ông tròn xoe đôi mắt nói: Ngần ấy tiền chúng tôi sống được hai ngày. Tôi phải vất vả lắm mới giải thích cho ông hiểu nổi những thức ăn tân thời của nước Mỹ. Tới gian hàng bán đồ ăn cho chó mèo, ông thở dài khi thấy cơ man nào là nhãn hiệu thực phẩm dành riêng cho chó: ước chi những người nghèo khổ của tôi ở Nam Mỹ được những thứ này để ăn”. Phải, chính thế, mọi sự còn tùy vào cách suy nghĩ, cách nhìn sự vật của chúng ta.
Trở lại với dụ ngôn. Có tác giả dịch là Lazarô nằm lê la ở “cổng” nhà người phú hộ, với ngụ ý nhà của ông phú hộ to lớn lắm, đó là một lâu đài. Lazarô ước ao được ăn no nê những miếng bánh vụn rơi xuống từ bàn ăn nhà phú hộ. Liệu Lazarô có phải tranh nhau với mấy chú cho con không nhỉ. Thảm thương đến thế là cùng! Trong thực tế thì còn nhiều hoàn cảnh thảm thương hơn. Cơm không có ăn, áo không có mà mặc, ngày này qua ngày khác nhịn đói chịu rét hoặc có chút cháo rau cầm hơi. Báo chí, Tv nhan nhản những cảnh tượng như thế. Vậy mà ở những chân trời khác, khách sạn ba sao, năm sao mọc lên như nấm; thức ăn, đồ uống thừa thãi, mỗi ngày phải đem chôn hoặc phá huỷ từng nhiều tấn lương thực thực phẩm. Vấn đề không phải là thiếu thốn, mà là ích kỷ, phân phối không đều. Dụ ngôn Lazarô và người phú hộ tân thời nằm ở ý nghĩa đó.
Đối với đa phần trong chúng ta, chẳng ai dám tự nhận là người phú hộ, bởi chúng ta sống theo tiêu chuẩn hiện hành của những người lao động trong xã hội. Thức ăn nhanh, đồ uống pha sẵn, vừa đi làm vừa ăn sáng, nhưng tiêu chuẩn của chúng ta có khi quá đáng, so với những người nghèo đói, nó đã là thịnh soạn (sumptuous) rồi! Các nhà đạo đức thường khuyên nhủ chúng ta mỗi khi ăn uống nên nhớ đến những người nghèo đói, bớt một phần phung phí để giúp đỡ họ (giống như hũ gạo tình thương ở Việt Nam). Bằng không chẳng bao giờ chúng ta có được tinh thần khó nghèo và tình tương thân tương ái. Trong dụ ngôn Chúa Giêsu gọi rõ tên một người nghèo đói, ông Lazarô. Nghĩa là rất cụ thể chứ không phải là chung chung trừu tượng. Không có người nghèo đói trừu tượng, mà chỉ có người đói khổ cụ thể, ở bên cạnh chúng ta, ở gần nhà chúng ta. Ông A, bà B. Phản ứng của chúng ta ra sao? giúp đỡ hay khinh bỉ? số phận của họ là số phận của Chúa Giêsu hay của kẻ bị chúc dữ? điều đó tuỳ thuộc vào viễn tượng mỗi người.
Phần thứ hai của bài dụ ngôn là một nghịch đảo của phần trên. Lazarô được hạnh phúc và người phú hộ bây giờ bất hạnh. Ông van xin tổ phụ Ap-ra-ham sai Lazarô nhúng ngón tay vào nước để làm mát lưỡi ông, nhưng chẳng được, tương tự như xưa kia Lazarô ước ao được ăn những mẩu bánh rơi, nhưng cũng chẳng ai cho! Hố ngăn cách đã có ngay từ khi hai người còn sống!
Đây là quan điểm rất quyết liệt của thánh Luca. Chúng ta nên suy tư cho quán triệt. Cái hố ấy là nghe hoặc không nghe lời Thiên Chúa. Kinh thánh đã quá đủ để chúng ta tự sửa lỗi lầm và nên lành nên thánh, nhưng người ta ưa thích nghe theo dục vọng hơn lời Thiên Chúa, vì vậy cho dù kẻ chết sống lại, người ta cũng không tin. Lời Môisen, lời các tiên tri đã trở nên vô ích. Điều đó vẫn đúng với thực tế hôm nay, bao nhiêu sách vở, thông điệp, lời kêu gọi đều rơi vào quên lãng, người ta vẫn ương ngạnh sống theo sự chỉ đạo của thế gian, ma quỷ và dục vọng. Nếu người ta biết chất vấn lương tâm, hối cải và thành thật sửa lỗi lầm, thì cục diện thế giới đã hoàn toàn đổi khác, chẳng cần đến binh hùng, tướng mạnh.
Bài đọc thứ nhất vẫn còn trích từ sách tiên tri Amos. Ông khiển trách những người giàu có sang trọng trong xứ sở. Báo trước với họ một tai hoạ khủng khiếp (eschaton) sẽ giáng xuống đất nước, nếu họ không ăn năn trở lại, thương kẻ nghèo hèn, giúp đỡ người cùng khổ. Họ tưởng rằng sự giàu có bất chính họ đang được hưởng là ân huệ trời ban và như vậy họ được chúc phúc. Không phải như thế, “ngày của Chúa” đã tới gần và là kết quả của lối sống vô luân, tham lam, ác độc mà họ đã từng gieo rắc bấy lâu nay. Sự hoà bình chính trị hiện nay thực ra trước mặc Chúa là ghê tởm, bởi nó là thứ hoà bình liên minh ma giáo để cho người giàu bóc lột người nghèo.
Đối với viễn tượng của Amos họ sẽ là kẻ đầu tiên phải lưu đày. Như vậy chúng ta thấy tư tưởng và lời cảnh cáo của vị tiên tri am hợp với bài Phúc Âm hôm nay. Và Giáo hội cho chúng ta đọc lại như bài bổ túc cho Tin Mừng. Chẳng hiểu có mấy ai để ý lắng nghe mà chất vấn lương tâm. Hiếm lắm thay! Amen.

 

TN26-C154: Đừng vô cảm trước nỗi khổ của đồng loại

(Suy niệm của Fr. Jude Siciliano)
 

Ý tưởng chung: Cuộc sống đời này không phải là hưởng thụ, nhưng là phục vụ. Người nghèo được TN26-C154

Ý tưởng chung: Cuộc sống đời này không phải là hưởng thụ, nhưng là phục vụ. Người nghèo được Thiên Chúa quan tâm đặc biệt. Vì họ thường bị bóc lột và lãng quên. Thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu hãy biết trông đợi ngày Chúa quang lâm, để số phận mỗi người được phân định rõ ràng.
Thưa quí vị,
Sách tiên tri Amos rất ngắn, chỉ gồm 144 câu, chia ra làm 9 chương. Mỗi chương hơn chục câu. Nhưng lại được phụng vụ trích đọc khá dài. Lý do là vì quan điểm của vị tiên tri về của cải vật chất về người nghèo khổ, gần giống với phúc âm Luca. Có thể nói nó bổ túc cho lời rao giảng của Chúa Giêsu. Bài đọc hôm nay ở đoạn 6: “Khốn cho những người sống yên ổn tại Sion và sống an nhiên, tự tại trên núi Samari, nằm dài trên giường ngà, ngả nghiêng trên trường kỷ, ăn những chiên non nhất bầy, những bê béo nhất chuồng, chúng đàn hát nghêu ngao”. Tiên tri mạt sát nếp sống an toàn giả tạo của những kẻ cầm quyền lúc bấy giờ. Họ thu tích giàu sang của cải trái đất mà an hưởng nhung lụa, sung sướng. Đồng thời nghĩ rằng như vậy là được phúc lành của Thiên Chúa, được Ngài ưu ái, che chở. Tuy vị ngôn sứ công nhận vị trí đặc biệt của tuyển dân Israel. Nhưng tiên báo sự sụp đổ ghê gớm của thành thánh Giêrusalem. Bởi vì đã không làm tròn nhiệm vụ của một dân tộc được Thiên Chúa lựa chọn. Đoạn trước đó (5,20) tiên tri đã nói đến “ngày của Chúa. (eschaton). Ngày mà quyền bính đền thờ, những kẻ giàu có, những người sang trọng mong đợi như giây phút tưng bừng, hoan hỷ, khải hoàn chiến thắng của Giavê thì Amos tiên báo là ngày kinh hoàng. Ngày Thiên Chúa phán xét và báo oán, chính vì nếp sống của những kẻ cầm quyền: “Vì thế, giờ đây chúng sẽ bị lưu đầy, dẫn đầu những kẻ bị lưu đầy. Thế là tan tác bè lũ quân phè phỡn”.
Nên lưu ý những hình ảnh thi vị ngôn sứ dùng để mô tả tình trạng đối nghịch giữa người giàu kẻ nghèo, người sang kẻ hèn: Giường ngà đối với ổ rơm, thịt thà đối với bụng đói, đàn hát phè phỡn đối với lao động cực nhọc. Điều mà kẻ quyền thế coi như vững chãi thì vị ngôn sứ nói là khốn nạn trước mắt Đức Chúa Trời. Ông nhấn mạnh từng chữ với giọng điệu kinh tởm. Những con người sa đoạ này là những kẻ đầu tiên đi đày, kéo theo cả dân tộc lâm cảnh lầm than. Phải chăng lời tiên tri của ngôn sứ Amos cũng áp dụng cho nếp sống xa hoa của xã hội đương thời, nhất là cho những vị lãnh đạo quốc gia hay tôn giáo? Những cuộc truy hoan của họ chẳng kém thời Amos. Cho nên khủng bố, chiến tranh không phải là ngẫu nhiên. Nó là kết quả của áp bức kinh tế, chính trị. Những bóc lột bẩn thỉu và tàn nhẫn, những kế hoạch sai lầm dựa trên chủ thuyết của Satan chứ không phải của Chúa Giêsu! Cứ nhìn vào những quay cuồng vì lợi nhuận to lớn, các mánh khoé kinh tế, tự khắc nhận ra tình trạng sa đoạ của xã hội hôm nay, không khác mấy thời tiên tri Amos, có khi còn vượt xa hơn. Người ta hô hào thăng tiến xã hội, văn hoá, nhưng thực tế là thụt lùi luân lý.
Lấy ví dụ xã hội Hoa Kỳ, con số người nghèo hiện thời suýt xoát 50 triệu, tức 1/5 dân số. Tệ nạn xã hội không ngừng gia tăng: Cờ bạc, ma túy, kết hôn cùng giới, li dị, bất mãn, sa đoạ, phóng túng. Thêm vào đó những phương tiện truyền thông hàng ngày cổ võ các hình thức vui chơi quái đản: Bạo lực, dâm ô, ma quái, kinh dị, thù hận, trả đũa dã man. Ngược lại, không có lấy một phương tiện tuyên truyền đạo đức, yêu thương nếu có thì cũng rất yếu ớt trong các tổ chức tôn giáo. Làm sao mà chống lại lực lượng vũ bão của hoả ngục? Cho nên tiên tri Amos có lý khi tuyên sấm chống lại ảo tưởng “chúc lành” của Giavê, trong khi thực tế tai hoạ “khủng khiếp” đang đến gần.
Người giàu trong dụ ngôn hôm nay không có tên và ông cũng chẳng làm gì sai trái. Ông không vi phạm một giới răn nào của Thiên Chúa, tuy hàng ngày nhìn thấy Lazarô nghèo khổ lê la trước cửa. Vậy mà ông lại rơi vào danh sách những người bị Amos nguyền rủa: “Khốn cho những kẻ sống yên ổn ở Sion. Suốt cuộc đời an hưởng sự giàu có của mình, ăn vận lụa là gấm vóc. Ngày ngày yến tiệc linh đình”. Lazarô đói khát ước ao những vụn bánh rơi tư bàn của nhà phú hộ để ăn cho đỡ đói. Phải chăng thánh Luca muốn ám chỉ đa phần nhân loại? Nên nhớ phúc âm tuần trước Chúa Giêsu tuyên bố chúng ta chẳng thể làm tôi hai chủ: Mammom (thần tài) và Thiên Chúa. Nghĩa là chúng ta phải dứt khoát lựa chọn, không có chuyện lưỡng lự về ưu tiên hoặc bất động trong thái độ. Nếu không sử dụng của cải một cách khôn ngoan theo tinh thần phúc âm, chúng ta sẽ rơi vào lời kết án của Amos.
Sau bài Tin mừng tuần trước, phụng vụ bỏ mấy câu (14,18) để tiếp sang phúc âm hôm nay. Câu 14 nói: “Người Pharisêu vốn ham hố tiền bạc, nên nghe các điều ấy thì chế nhạo Chúa Giêsu” cho nên Ngài kể dụ ngôn này để trả lời họ. Nó nhấn mạnh hơn đề tài chương 16: Nguy cơ của tiền bạc dưới nhiều hình thức. Thánh Luca xem ra rất triệt để trong cách đối sử với người nghèo khó. Chương 6 thuật lại Chúa chúc phúc cho họ và nguyền rủa những ai giàu có ích kỷ. Khi đọc phúc âm Luca chúng ta nên lưu tâm điểm này. Có lẽ thánh nhân là một thầy thuốc nên hiểu rõ những khốn khổ của người nghèo.
Người nghèo khổ sinh ra, lớn lên và xuống mồ không ai biết đến. Những người đẽo bia mộ thường khắc mấy dòng chữ: “Muôn đời hãy nhớ đến người thân yêu”. Nếu có tiền, quý vị có thể mua một tấm cho thân nhân quá cố. Nhưng với vô số người nghèo khổ thì chẳng có chi để ghi nhớ. Họ chết và bị lãng quên. Tuy nhiên với thánh Luca, ông đã nghĩ ra một cách để nhớ đến họ. Trong văn chương kinh thánh, ông đặt tên cho họ là Lazarô. Tưởng chừng như thánh nhân muốn nói: “Đây nhé, muôn đời người ta sẽ chẳng quên anh Lazarô”. Đồng thời thánh nhân khuyên nhủ chúng ta rằng, tiền của, giàu có, tiếng tăm chẳng qua là sự đời này, rồi sẽ có ngày chấm dứt, không tồn tại vĩnh viễn được đâu. Vậy tại sao thu tích chúng để rồi bị quên lãng đời đời? Chúng ta được mời gọi suy nghĩ kỹ lưỡng hơn về đề tài này, ngõ hầu lựa chọn cho thông minh và xây dựng điều vĩnh cửu. Qua dụ ngôn, một lần nữa Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta Ngài về phe với những người nghèo khổ và dễ bị tổn thương. Chính Ngài đã sinh ra trong một gia đình thấp hèn. Dâng mình trong đền thờ bằng của lễ của người bần cùng. Sống nghèo và chết cay đắng. Những ai theo Ngài lên Giêrusalem đều được dạy dỗ phải canh chừng của cải và nếp sống giàu sang.
Của cải tự nó không phải là điều xấu, nhưng lòng tham lam là điều phải tránh. Người phú hộ hôm nay không quan tâm đến nguy hiểm đó. Ông sống tự mãn, chẳng nghĩ đến ai, ngay cả Lazarô trước cửa nhà ông. Chi tiết của dụ ngôn Chúa kể làm chúng ta nhức nhối. Ai có thể không nhớ đến câu chuyện? Những con chó còn đối xử với Lazarô tốt hơn ông chủ nhà. Chúng liếm ghẻ chốc cho Lazarô, làm vơi nhẹ nỗi đau đớn, trong khi đồng loại không đoái hoài đến nhau! Đau xót biết chừng nào! Các thính giả của Chúa Giêsu hẳn lấy làm ngạc nhiên khi họ vẫn có não trạng giàu có là được Chúa thương, và ngược lại, nghèo đói là dấu chỉ bị trừng phạt bởi đời sống tội lỗi. Dụ ngôn hoàn toàn bác bỏ suy luận ấy. Thiên Chúa hằng lưu tâm đến người nghèo khổ, như Đức Mẹ đã nói lên trong kinh Magnificat: “Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư. Người giàu có lại đuổi về tay trắng”. (1,53). Dụ ngôn đúng là truyện mỉa mai: Những người xây lăng dựng mộ cho mình, khi chết lại bị quên lãng. Còn kẻ vô danh tiểu tốt, khi khuất bóng lại được nhớ đến đích danh Lazarô. Họ có một chỗ xứng đáng trong vương quốc Thiên Chúa, nơi lòng ông Abraham.
Sự đần độn của nhà phú hộ còn được tỏ rõ do những yêu cầu của ông ta sau khi chết. Ông ta muốn tổ phụ Abraham sai Lazarô đem đến cho mình vài giọt nước mát. Thế ra Lazarô vẫn là đầy tớ ông ta! Cho nên ông ta lại sai Lazarô về nhà báo tin cho 5 anh em còn sống về tình trạng khốn đốn của mình! Lòng chai đá của ông già mắc dịch thật mãnh liệt, ngay cả trong hoàn cảnh khốn khổ. Ông chẳng thể hiểu được mình và Lazarô. Ông tiếp tục khinh bỉ người nghèo khó, không thèm nói chuyện trực tiếp với họ, vẫn coi họ là tôi tớ chạy việc vặt trong kiếp sống tương lai! Câu chuyện thật là thấm thía. Chưa hết, Chúa Giêsu còn làm cho chúng ta ngỡ ngàng khi chẳng đả động gì đến luân lý: Được thưởng vì đời sống đạo đức và bị phạt về hành vi tội lỗi. Tất cả câu chuyện chỉ là Lazarô nghèo khó và ông phú hộ ích kỷ sống trên nhung lụa, của cải, chẳng lưu tâm đến ai khác. Nhưng cuối cùng Thiên Chúa thấu suốt mọi sự và hoàn lại công bằng cho mỗi cuộc đời. Đây là điểm thần học quan trọng cần suy nghĩ nghiêm chỉnh.
Giống như bài đọc cựu ước, bài Tin mừng rất nhạy cảm về những đau khổ của kẻ nghèo hèn. Cả hai văn bản đều kêu gọi công lý cho những kẻ bị áp bức. Công lý thế nào? Nó được thực hiện ra sao ở đời này? Nếu như người giàu có còn chút quan tâm, thì là ông nhớ đến 5 anh em mình. Ông muốn họ biết được số phận đang chờ đợi họ, nếu cũng sống như ông ta. Abraham bảo ông: “Họ đã được cho biết mọi sự để sống ngay lành, chúng đã có Môsê và các tiên tri thì chúng hãy nghe lời các vị đó”. Nghĩa là lời dạy về thương yêu kẻ khó nghèo không phải là điều mới lạ. Truyền thống tôn giáo Do Thái đã dạy dỗ đầy đủ rồi, khỏi cần thêm thắt điều chi. Ngày nay chúng ta cũng đã được Chúa chỉ bảo những điều phải biết để lựa chọn mục tiêu chính đáng cho cuộc đời, không thể viện cớ ngu dốt để trốn tránh bổn phận.
Không ai có thể làm tôi hai chủ, chỉ có thể chọn một, thế gian hoặc Thiên Chúa. Hành động cho thế gian là tìm tiền bạc, của cải. Hành động cho Thiên Chúa là giúp đỡ những người thiếu ăn thiếu mặc. Thánh Luca nhắc lại nhiều lần quan điểm đó và Amos cảnh cáo dân Do thái về lòng tự mãn vì của cải. Chúng ta không thể sống phè phỡn kẻo sẽ gặp cảnh khủng khiếp sau này, như dụ ngôn miêu tả. Chúa Giêsu không lên án giàu có, nhưng là lòng tự mãn không quan tâm đến người khác. Có thể là tuy chúng ta không giàu có, nhưng vẫn còn khả năng vô cảm trước những quằn quại của đồng loại, Chúa không muốn như vậy, nhưng hãy quan tâm đến những nhu cầu thiết yếu của nhau. Lazarô sống ở ngưỡng cửa nhà phú hộ. Ngày nay, qua tivi, radio, internet, cả thế giới ở ngay trước ngõ chúng ta. Tuy không quán xuyến được hết mọi sự, nhưng điều đó không phải là lý do để chúng ta thoái thác sự giúp đỡ kẻ khó nghèo.
Kinh nghiệm cho hay, những người giàu ít có tinh thần liên đới, họ sống ích kỷ, khép kín. Trái lại, các gia đình nghèo khó thường có nhiều tình làng nghĩa xóm hơn. Tôi không có ý vơ đũa cả nắm. Nhưng người Mỹ chúng ta sống cao ngạo hơn người Phi Châu hoặc Á Châu. Họ có tinh thần cộng đồng nhiều hơn, biết chia sẻ của cải, văn hoá với đồng bào mình. Dầu tài sản chẳng có là bao nhưng họ sẵn sàng chăm sóc đến nhu cầu của tha nhân. Người Mỹ, từ tấm bé, đã được dạy cho biết sống cá nhân chủ nghĩa: xây dựng cuộc đời do chính bàn tay lao động của mình. Vì vậy, có câu thành ngữ rằng: “Những gì tôi kiếm được là do hai bàn tay này, hãy để người khác noi gương” (I have earned what I have, let others do the same).
Cho nên phúc âm hôm nay dạy mọi người phải liên đới với nhau sâu xa hơn. Kinh thánh không ngừng nhắc nhở tính cộng đồng nhân loại, dù rằng Thiên Chúa tuyên sấm cho một vài cá nhân, nhưng chính vì lợi ích của cả một dân tộc. Ngài ký kết giao ước không phải với cá nhân mà là với toàn thể tuyển dân Israel. Ông phú hộ và Lazarô là những thành viên của dân tộc đó. Có lẽ người giàu có quên mất chân lý này. Ông đã bẻ gẫy giao ước với Thiên Chúa. Nên ông phải chịu hậu quả đắng cay của việc ông làm. Chính nhà phú hộ, chứ không phải Thiên Chúa, đào hố ngăn cách giữa ông ta và Lazarô. Hố không từ đây sang đấy được. Thật là khủng khiếp.
Tóm lại, Thượng đế toàn năng, Đấng ban dụ ngôn hôm nay, ví tựa một hiền mẫu trong gia đình. Bà nói với con cái mình: “Này các con, tại sao những đứa sung túc lại có thể sống nhung lụa, bỏ quên anh chị em mình nghèo đói? Các con không biết rằng mình đều do một mẹ sinh ra? Hết thảy các con đều là ruột thịt của ta? Các con nên nhớ rằng những đứa ích kỷ chỉ sống cho mình trên những đống tiền, đống của chẳng thể tìm thấy hạnh phúc cho đến khi biết san sẻ cho những anh chị em nghèo đói khác. Lúc ấy gia đình không còn chia rẽ, sống hoà hợp thương yêu nhau, không chiến tranh, không thù hận. Các con sẽ là anh chị em với nhau như Ta đã tạo dựng nên các con”. Dụ ngôn thật sự đã mở lòng mở trí cho chúng ta nghe theo lời chân lý hằng sống. Tiếng nói của Bà Mẹ đầy quan tâm cho số phận nhân loại. Vì Bà thông tuệ mọi sự. Amen.

 

TN26-C155: Lưu tâm đến những người nghèo khổ

(Suy niệm của Lm. Jude Siciliano - Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Gò Vấp)
 

Có nhiều thắc mắc liên quan đến dụ ngôn hôm nay; những thắc mắc chưa được trả lời. Cũng có TN26-C155

Có nhiều thắc mắc liên quan đến dụ ngôn hôm nay; những thắc mắc chưa được trả lời. Cũng có những chi tiết bất thường khiến chúng ta phải vò đầu bứt tai. Chẳng hạn như: tài sản của người giàu có kia từ đâu mà có? Phải chăng ông ta được thừa kế hay đã vất vả làm lụng cực nhọc mới có được sau bao năm vất vả, làm ngày học đêm để có công việc tốt? Hay ông ta đã khôn ngoan đầu tư để bây giờ hưởng lợi?
Những điều này không thấy dụ ngôn nói tới. Dụ ngôn chỉ nói rằng ông ta “đã nhận phần phước” trong cuộc đời ông ta. Dụ ngôn cũng không nói rằng Thiên Chúa là nguồn gốc sự giàu có của ông ta; rằng Thiên Chúa đã ban cho ông giàu có. Một số người nghĩ rằng giàu có là ân huệ từ Thiên Chúa. (Chẳng lẽ người nghèo thìn không được chúc phúc?) Dụ ngôn cũng không khẳng định ông nhà giàu là xấu. Ông ta chỉ là một thương gia biết khôn khéo đầu tư tiền của của mình để trở nên giàu có trong khi những người khác thì thua lỗ; ông sở hữu nhà xưởng và trả lương rẻ mạt cho công nhân, còn ông ngày càng giàu có. Ông đã làm gì mà dẫn đến tình trạng đau khổ sau này của ông? Chẳng gì hết. Đơn giản chỉ vì ông đã phớt lờ người đàn ông nghèo khổ ở ngay trước cửa nhà mình. Đã bao lần ông ta ra ngoài để làm ăn buôn bán hay vui chơi giải trí và trở về nhà sau những thương vụ hay sau những buổi tiệc tùng linh đình nhưng đã làm ngơ một kẻ đáng thương và những con chó ngay trước cửa nhà ông? Ông nhà giàu chẳng làm gì xấu, ít là chúng ta không thấy Tin mừng nhắc đến điều đó, nhưng chỉ vì ông đã phớt lờ người nghèo khổ và vì thế mà ông đã không thể vượt qua được vực thẳm của đời sau.
Lại một vấn nạn nữa khiến ta khó hiểu. Tại sao Lazarô lại trở nên quá nghèo khổ như vậy? Phải chăng anh ta quá chây lười đến nỗi không thể tự mình vươn lên được? Hay anh ta sinh ra đã là một trong 95% những người nghèo khổ thời Chúa Giêsu? Hay anh ta bị tai nạn khi làm việc ngoài đồng nên giờ chẳng làm được việc gì để kiếm sống? Anh ta bị mù từ lúc sinh ra hay bị khuyết tật gì chăng? Hay anh ta bị bệnh tâm thần, hay còn gọi là “bị quỷ ám” và bị những người thân quen xua đuổi?
Cũng xin lưu ý rằng, câu chuyện cũng không nói Lazarô là một người đặc biệt tốt nên được ngồi vào lòng Abraham. Chúng ta không thể đọc thấy điều đó vì Đức Giêsu không hề kể cho chúng ta những đức tính của Lazarô. Có một người phụ nữ đưa cho tôi 5 đô la ở ngay của nhà thờ và nói: “Xin cha đưa tiền này cho người thực sự nghèo.” Thế là, bà ấy để mặc tôi làm thẩm phán quyết định xem ai xứng đáng nhận số tiền đó. Bà ấy muốn tôi phải phân biệt “những người nghèo bất xứng” và “những kẻ nghèo xứng đáng.” Giả như tôi đang ngoài đường, thực sự đói và lạnh, tôi nghĩ mình phải chôm chỉa cái gì đó để lấy tiền mua bánh mì cho tôi và cho gia đình của tôi. Phải chăng như thế thì bà ấy sẽ xem tôi như “người nghèo bất xứng”?
Dụ ngôn không cho biết Lazarô là người tốt hay xấu hay anh ta tuy “nghèo nhưng tốt” hoặc anh ta có tiền án tiền sự hay không. Lazarô chỉ là một người nghèo ngồi ở vệ cửa và bị lãng quên – một người nghèo vô hình. Anh ta chẳng có tấm áo choàng như của Herry Porter để mà tàng hình. Anh trở thành tàng hình đối với ông nhà giàu kia, người có nhiều việc cấp bách hơn để quan tâm. Lazarô chỉ là một phần trong cảnh thường ngày của ông nhà giàu kia. Có thể chúng ta cũng thấy và chẳng mấy chốc cũng chẳng để ý đến những người nghèo ở ngay bên cạnh chúng ta.
Câu chuyện còn cho chúng ta thấy đời sau của họ. Rất nhiều thay đổi đối với họ - một thay đổi lớn lao. Lazarô giờ đây rất thoải mái và an toàn, trong “lòng tổ phụ Abraham.” Đối với người Dothái, quý vị chẳng thể nào có được vị trí cao hơn thế. Ông nhà giàu giờ đây phải đau khổ. Nhưng có gì đó vẫn chưa thay đổi, nơi ông nhà giàu, ngay cả khi đang ở nơi khốn khổ ông vẫn muốn một đầy tớ hầu hạ mình. “Lạy tổ phụ Abraham, xin thương xót tôi. Xin sai Lazarô nhúng ngón tay vô nước, nhỏ trên lưỡi tôi cho mát, vì ở đây tôi bị lửa thiêu đốt khổ lắm.” Ông ta vẫn là ông nhà giàu cũ, thậm chí không thèm nói trực tiếp với Lazarô. Cũng có một đấng khác không thay đổi: Thiên Chúa chưa từng thay đổi.
Trong tất cả những dụ ngôn mà Đức Giêsu kể cho chúng ta: người đàn bà nhào bột; người nông dân gieo giống; ông chủ thuê thợ gặt, thì đây là dụ ngôn duy nhất mà nhân vật được đặt tên. Thật chẳng giống như thế giới của chúng ta; chúng ta biết tên của những người giàu có và nổi tiếng còn những người nghèo thì vô hình và vô danh. Thế nhưng, trong dụ ngôn này, người giàu có lại vô danh còn kẻ nghèo khó lại có một cái tên. Tên của anh ta là Lazarô – nghĩa là “người được Chúa giúp.” Vâng, Đức Giêsu nhắc nhở chúng ta trong dụ ngôn rằng: Thiên Chúa không hề thay đổi. Thiên Chúa biết đến những người bị lãng quên. Chúa giữ những người không quan trọng như thể là quan trọng. Chúa sẽ an ủi những ai bị người đời bỏ rơi trong nghèo khổ. Như thấy trong dụ ngôn, Thiên Chúa biết tên của người nghèo và yêu thương họ. Cái chết của hai người này được mô tả thật khác nhau. Thiên thần đón Lazarô và đặt anh vào lòng Abraham; còn ông nhà giàu chỉ đơn giản “chết và được người ta đem chôn.” Đó là kết cục của đời ông ta.
Dụ ngôn có thể gây sốc, như đồng hồ báo thức đánh thức người ta dậy. Dụ ngôn hôm nay kể về ông nhà giàu và Lazarô ngụ ý thật quá rõ ràng, nó thức thỉnh chúng ta và cho chúng ta biết tấm lòng của Thiên Chúa ở nơi đâu. Dụ ngôn cho thấy rằng: giàu có và sung túc không phải là bằng chứng được Chúa chúc phúc. Cái mà chúng ta gọi là “đời sống tốt” và “ơn sủng” không hẳn chứng minh rằng chúng ta đã được Thiên Chúa đóng dấu chuẩn nhận. Hay nói cách khác, việc có nhiều của cải không thể chứng minh chúng ta đang sống trong ân huệ của Thiên Chúa.
Qua dụ ngôn, Đức Giêsu nói rằng: “Hãy tỉnh dậy đi! Anh em vẫn còn thời gian. Để ý và hành động qua những gì mình thấy. Người nghèo ở ngay ngưỡng của nhà anh em, và đó là nơi dễ thấy, dễ nhìn và giúp đỡ những ai đang thiếu thốn, những người đang cần đến thời gian và sự quan tâm của anh em.” Đó có thể là người bạn đời đang giận dỗi mình, là cha mẹ đau ốm, là người hàng xóm có bà mẹ bị mắc chứng An-dây-mơ (Alzheimer) hay bị ung thư, là những trẻ em cần được giáo dục đức tin, những người được dòng Vinsơn Phaolô giúp đỡ, …
Trong thánh lễ này, chúng ta nài xin Chúa Giêsu xức dầu Thánh Thần của Người cho chúng ta một lần nữa. Chúng ta cầu xin cho mắt chúng ta mở ra để nhìn thấy những ai cần được giúp đỡ, có thể là chính người mà chúng ra đi qua mỗi ngày.
Những dạng thức thông tin mới, tivi, báo chí, hay Internet… mở rộng tầm nhìn của chúng ta. Nó mang người nghèo trên khắp thế giới đến ngay của nhà ta. Và vì thế mà chúng ta gom tiền để gửi cho Hội Cứu Tế Công Giáo giúp những nạn nhân bị lụt ở Pakistan, viết thư cho những nghị sĩ của chúng ta để yêu cầu giúp đỡ những người đang chịu hậu quả của dịch Aids ở Châu Phi, nhất là những trẻ em lâm cảnh mồ côi vì cơn dịch này, dành một ngày thứ Bảy để cùng với tổ chức Nhà Ở & Nhân Quyền đi xây dựng nhà cửa cho những bà mẹ độc thân và con cái của họ, … Phương tiện truyền thông mang hình ảnh của Lazarô đến ngay của nhà ta, ngay trong phòng khách của chúng ta. Điều này đúng với hầu hết chúng ta. Thế nhưng vấn đề ở đây là: chúng ta có nhìn thấy hay không? Nếu thấy, chúng ta đã làm gì hay chưa?
Khoảng 2 năm trước, Đức Bênêđictô 16 đã thăm nước Mỹ và nói về vấn nạn người nhập cư. Ngài nói, chính cách đối xử với người nhập cư sẽ quyết định tương lai của giáo hội Công giáo ở Châu Mỹ. Đức Giám mục cũng nói: một khi biên giới quốc gia được tôn trọng thì quyền của công nhân bản xứ hay nhập cư cũng phải được tôn trọng như vậy. Ngài cũng nhắc chúng ta phải thừa nhận rằng điều kiện có tuyệt vọng thế nào mới khiến người ta muốn đến đây. Quốc hội đã không thể đưa ra một cải cách mang tính toàn diện cho vấn đề di dân, vì thế mà vẫn chưa có giải thích hợp cho những người tìm kiếm cách vô vọng để vào nước Mỹ làm việc cách hợp pháp. Những chính sách hợp pháp cho vấn đề di dân sẽ giúp giảm luồng di dân bất hợp pháp.
Các Đức Giám mục kêu gọi tôn trọng phẩm giá con người và tính nguyên vẹn của gia đình. Không được tấn công, bắt giữ hay trục xuất họ, không được chia tách họ khỏi vợ/chồng và con cái họ. Gần đây, một phụ nữ bị đuổi khỏi nơi làm việc và bị trục xuất để lại cho hàng xóm một đứa con sáu tuổi và một đứa mới lên ba. Các Giám mục, lên tiếng thay cho giáo huấn của Giáo hội về việc tôn trọng sự sống, khẳng định rằng những chính sách nhập cư hầu như không tôn trọng sự sống và gia đình.
Chính sách này của nước nhà đi ngược lại với những gì Đức Thánh Cha khuyến khích chúng ta – đón nhận những người nhập cư như anh chị em của chúng ta. Có thể chúng ta không biết danh tánh họ, nhưng Thiên Chúa biết tên từng người trong số họ và đứng về phía kẻ khốn cùng. Ngài cũng muốn chúng ta làm như vậy. Dụ ngôn mời gọi chúng ta lưu tâm đến những ai đang ở ngay trước cửa nhà chúng ta, dù họ sống với chúng ta hay chỉ là hàng xóm láng giềng, dù họ là những anh chị em mà chúng ta chỉ gặp trên tivi hay qua màn hình laptop.
Trong thánh lễ này, chúng ta hãy cầu nguyện: “Xin xức dầu đôi tay và cặp mắt để chúng con có thể nhìn ra những người Chúa cần chúng con giúp họ.” Và rồi chúng ta hãy để mắt đến những Lazarô ngoài đời, những người Chúa gửi đến cho chúng ta giúp đỡ. Nơi họ, những kẻ đói, người trần truồng, đau yếu và tù đày, được tin mừng nhắc đến những chỗ khác, chúng ta sẽ gặp Đức Giêsu, và chắc chắn sẽ gặp Người trong Bí tích Thánh Thể.

 

TN26-C156: Tầm quan trọng của việc năng làm việc bác ái

(Suy niệm của Lm. Jude Siciliano, OP - Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên, OP)
 

Chắc bạn sẽ vui khi một người nào muốn giải thích một điều mà không nói loanh quanh phải không? TN26-C156

Chắc bạn sẽ vui khi một người nào muốn giải thích một điều mà không nói loanh quanh phải không? Khi người ta nói không rõ ràng hay nói quá nhiều lời, chúng ta thường muốn hỏi họ "các bạn muốn nói gì vậy?"
Trong các bài sách đọc hôm nay, không có nhủ̃ng lối nói loanh quanh đó. Chúng ta biết ngay điểm chính là gì. Rõ ràng Thiên Chúa thủỏng ngủỏ̀i nghèo, và chống lại nhủ̃ng ngủỏ̀i giàu làm hại kẻ khác, hay không quan tâm đến ngủỏ̀i nghèo. Tình thủỏng của Thiên Chúa nhủ thế đã hiễn hiện trong Cụ̉u và Tân Ủỏ́c. Chúng ta nghe thí dụ rõ ràng trong các bài sách đọc hôm nay.
Ngủỏ̀i Israel thủỏ̀ng nghĩ ngủỏ̀i nào có nhiều của cải là bằng chủ́ng Thiên Chúa đã yêu thủỏng họ. (Ngay cả bây giờ cũng có người nghĩ như thế). Vì dân Israel có liên hệ đặc biệt vỏ́i Thiên Chúa, nên ngủỏ̀i ta nghĩ Thiên Chúa ban nhiều ỏn lành cho họ. Lẽ cố nhiên là chính nhủ̃ng ngủỏ̀i giàu có đã có niềm tin và đủọ̉c vổ an trong nếp nghĩ nhủ vậy. Họ mong đọ̉i Thiên Chúa đến để bảo chủ́ng cho sụ̉ an toàn của họ. Nhủng, ngôn sủ́ Amos đã cay đắng lên tiếng để đánh thủ́c họ bước ra khỏi sụ̉ tự mãn đó. Thiên Chúa đã nhận thấy ngủỏ̀i giàu có đã tụ̉ bàu chủ̉a cho mình, và ông Amos diễn tả nhủ̃ng điều họ làm thật quá đáng. Ông ta không nói đến hoàn cảnh ngủòi nghèo. Nhủng ngủỏ̀i đọc sách Amos không cần phải so sánh để thấy điểm chính.
Ngủỏ̀i giàu có nằm trên "giủỏ̀ng ngà, thỏng thủọ̉t trên nhủ̃ng sập gụ" khác vỏ́i nhủ̃ng giủỏ̀ng đất và rỏm của ngủỏ̀i nghèo. Họ "ân nhủ̃ng chiên con và nhủ̃ng bê nhốt chuồng" trong khi ngủỏ̀i nghèo phải khổ cụ̉c để kiếm từng miếng bánh cho gia đình. Ngủỏ̀i giàu, có bao nhiêu thì giỏ̀ nhàn rỗi để nghe tiếng đàn hát, khác vỏ́i hoàn cảnh của ngủỏ̀i nghèo phải làm lụng cụ̉c khổ để sinh sống. Ngủòi giàu uống rủọ̉u hang tô và xức dầu thủọ̉ng hạng để ăn chơi; đó là những cảnh tương phản được mô tả trong sách Amos.
Trong khi chúng ta không nằm trên giủỏ̀ng ngà, chúng ta nghe lỏ̀i ngôn sủ́ Amos lên án về sụ̉ vô tủ của ngủỏ̀i giàu đối vỏ́i ngủỏ̀i nghèo. Nhủ̃ng ngủỏ̀i may mắn nhắm mắt làm ngỏ đối vỏ́i nhủ̃ng ngủỏ̀i không có gỉ cả. Khi ngôn sủ́ Amos xét xủ̉ gọn ghẻ rõ ràng, đó là điểm chính mà ông ta nhắm vào.
Vủ̀a rồi, nhủ̃ng điều giáo hội dạy dỗ nhắc chúng ta (mặc dù chúng ta không cần đủọ̉c nhắc nhỏ̉) là chúng ta có trách nhiệm lo lắng cho nhủ̃ng ngủỏ̀i bé mọn thấp kém trong chúng ta. Thí dụ nhủ dùng phung phí nhủ̃ng nguyên liệu của trái đất có thể làm hại cho ngủỏ̀i nghèo, nhất là ỏ̉ nhủ̃ng vùng nguyên vật liệu của các nủỏ́c tiền tiến đang khai thác các nguyên vật liệu của các nủỏ́c nghèo. Vậy chúng ta có phải là nhủ nhủ̃ng ngủỏ̀i giàu mằm giủỏ̀ng ngà, và ăn nhủ̃ng của hão hạng của trái đất hay không? Nhủ̃ng nủỏ́c giàu có giống nhủ nhủ̃ng ngủỏ̀i giàu hằng ngày không để ý đến ông Ladarô, và không đếm xĩa gì đến nhủ̃ng nhu cầu của Ladarô hay không? Đủ́c Thánh Cha và các đủ́c Giám Mục kêu gọi chúng ta nên bàn cãi và hành động về nhủ̃ng vấn đề liên hệ đến môi trủỏ̀ng. Nhủ: dùng nguyên liệu phung phí, trách niệm quản lý đất đai, ô nhiễm và khai thác sông và biển quá mủ́c v.v...
Dụ ngôn ông nhà giàu và anh Ladarô cũng "nói đến điểm chính". Giống nhủ ngôn sủ́ Amos, Chúa Giêsu bênh vụ̉c nhủ̃ng ngủỏ̀i yếu hèn, bị thủỏng tích hay bị bỏ quên. Nhủ̃ng ngủỏ̀i đó đủọ̉c nhắc nhỏ̉ đến rõ ràng trong dụ ngôn hôm nay. Mấy con chó còn để ý đến Ladarô hỏn là ông nhà giàu ăn mặc "toàn lụa và gấm vóc, và hằng ngày yến tiệc linh đình". Có phải ông nhà giàu giống nhủ nhủ̃ng kẻ an nhàn ỏ̉ Sion mà ngôn sủ́ Amos đã phán xét rằng: Những kẻ khốn nạn nằm trên giủỏ̀ng ngà và ăn nhủ̃ng chiên, củ̀u cùng bê nhốt chuồng, và uống rủọ̉u cả tô hay không?.
Phần đông trong cộng đoàn chúng ta không đủọ̉c tả là giàu sang và chắc không giống nhủ̃ng ngủỏ̀i theo ngôn sủ́ Amos được xem là khốn nạn, hay nhủ ông nhà giàu trong dụ ngôn hôm nay. Chúng ta nên để ý là trong câu chuyện, anh Ladarô là người có tên, nhủng ông nhà giàu lại không có tên. Đó là điều chủ́ng tỏ Chúa Giêsu để ý đến ai. Dụ ngôn cũng tiếp tục xử dụng những điểm chính trong phúc âm thánh Luca: của cải và bạc tiền có thể làm các môn đệ Chúa Giêsu xao lãng. Phúc âm thánh Luca diễn tả Thiên Chúa thủỏng yêu ngủỏ̀i yếu hèn, bắt đầu vỏ́i lỏ̀i của Đủ́c Nủ̃ Maria đang mang thai ca ngọ̉i Thiên Chúa trong bài Magnificat: vỏ́i kẻ đói Thiên Chúa ban cho của đầy dư, và ngủỏ̀i giàu có lại đuổi về tay trắng (Lc 1: 52-53).
Trong khi thánh Luca coi thường của cải, ông ta không khuyến khích nhủ̃ng ngủỏ̀i theo Chúa Giêsu nên bỏ lại tất cả. Nhủ hai cô Maria và Mát-ta có nhà để đón tiếp Chúa Giêsu trong nhủ̃ng năm Ngài thi hành sứ vụ. Hình nhủ thánh Luca muốn khuyên chúng ta nên thận trọng về của cải. Mỗi ngủỏ̀i trong chúng ta nên suy nghĩ chúng ta xủ̉ dụng của cải nhủ thế nào để phục vụ cho triều đại Thiên Chúa. Chúng ta đủọ̉c nhắc nhỏ̉ là khi chú trọng đến của cải, chúng ta sẽ bỏ bê những gì Kinh Thánh dạy, và có thể đưa đến chán nản và xa cách Thiên Chúa.
Dụ ngôn này ngắn, nhủng chủ́a đụ̉ng nhủ̃ng chi tiết dồi dào. Ông nhà giàu không để ý đến anh Ladarô. Khi tiếp tục vào đỏ̀i sau ông ta xin ông Abraham sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nủỏ́c nhỏ trên lủỏ̃i ông ta cho bỏ́t đau khổ. Hình nhủ ông nhà giàu vẫn còn nghĩ anh Ladarô là nhủ một ngủỏ̀i đầy tỏ́ lo cho nhu cầu ông ta. Câu chuyện không chú ý đến viếc diễn tả đỏ̀i sống ngày sau. Dù vậy câu chuyện tiếp tục tín ngủỏ̃ng Do thái là Thiên Chúa yêu thủỏng ngủỏ̀i nghèo khó, Ngài sẽ nâng họ lên, cho họ đủọ̉c hoàn lại nhủ̃ng điều họ đã mất mát.
Câu chuyện lại tiếp tục trong việc đối thoại giủ̃a ông Abraham và ông nhà giàu. (ông nhà giàu trủò́c kia có thể có địa vị quan trọng trên trần gian nhưng lại không có tên trong câu chuyện Chúa Giêsu nói). Việc đối thoại giủ̃a Ông Abraham và ông nhà giàu nhấn mạnh tầm quang trọng của Kinh Thánh Do thái được diễn tả bỏ̉i các ngôn sủ́ và Ông Môsê; như là cội rễ đủ́c tin. Chúa Giêsu sẽ sống lại tủ̀ kẻ chết, nhủng Kinh Thánh sẽ không bị thay thế nhủ là đối tượng của đủ́c tin. Thay vì các lỏ̀i giảng dạy của giáo hội tiên khỏ̉i sẽ nhấn mạnh việc Thiên Chúa đã thụ̉c hiện các lỏ̀i hủ́a đã đủọ̉c mặc khải trong đỏ̀i sống, sụ̉ chết và sụ̉ sống lại của Chúa Giêsu.

 

TN26-C157: Giàu và nghèo – Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng

Trong cuộc sống, chúng thấy người ta thường trò truyện với nhau, có khi còn tranh luận nữa: ai TN26-C157

Trong cuộc sống, chúng thấy người ta thường trò truyện với nhau, có khi còn tranh luận nữa: ai giàu, ai nghèo? Ai giàu vật chất nhưng có tinh thần nghèo, ai nghèo vật chất nhưng có tinh thần giàu? Đối với chúng ta, vấn đề không phải là phân biệt ai giàu ai nghèo, nhưng vấn đề quan trọng là: ai là người có phúc, ai là người bị lên án? Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy: một người giàu, ăn sung mặc sướng ở đời này, nhưng lại phải khổ ở đời sau. Ngược lại, một người nghèo, đói khát ở đời này, nhưng lại được hạnh phúc ở đời sau. Như vậy, phải chăng giàu có là một tội và nghèo khổ là có phúc?
Trước hết, nói đến giàu nghèo là nói đến tiền của, và nói đến tiền của chúng ta có thể ghi nhận ba điều: Thứ nhất, tiền của cũng như danh vọng, khoái lạc, đối với lòng tham của con người, không bao giờ là đủ, lòng tham này vô đáy. Người ta có thể mơ ước tiền của suốt đêm, bàn tán về tiền của suốt ngày, lo tìm kiếm tiền của suốt tháng, vơ vét tiền của suốt năm… chẳng bao giờ thỏa mãn và chẳng biết bao nhiêu là đủ: ta có một triệu, lại muốn được hai triệu, có hai triệu, ta lại thèm ba triệu, có ba triệu, ta lại ước bốn triệu. Cuộc săn đuổi cứ tiếp tục leo thang, thỏa mãn, cho là đủ rồi, thật là hai tiếng xa vời. Thứ hai, thái độ cần tiền của là chuyện tự nhiên, không ai tránh được, vì ai cũng cần chúng. Và việc cố gắng làm cho có nhiều tiền của không phải là chuyện xấu, cũng như giàu có không phải là một tội, miễn là người ta không kiếm tiền và làm giàu cách bất chính. Thứ ba, tiền bạc, của cải vật chất là điều có thể mất, chúng ta mất chúng vì chúng bỏ chúng ta, như khi tiêu xài, mất mát, nhưng chúng ta cũng mất chúng, vì chúng ta bỏ chúng, lúc chúng ta chết chẳng hạn, chúng ta phải bỏ lại tất cả, chúng có thể hết, vì là vật chất, linh hồn không hết, vì linh hồn thiêng liêng.
Thế nên, tiền của không thể bảo đảm hạnh phúc đời sau cho chúng ta được, mà trái lại, như thực tế chúng ta thấy, chúng thường là nguyên nhân gây ra bao tội lỗi, tật xấu và làm mất hạnh phúc đời sau của chúng ta. Tuy nhiên, tiền bạc của cải, nếu được sử dụng đúng cách, hợp tình hợp lý, cũng có thể là phương tiện mua nước thiên đàng, như giúp đỡ việc công, làm việc bác ái, cứu giúp người nghèo khổ… đó là dùng tiền của để mua nuớc trời, đó là cách thu tích của cải để bảo đảm hạnh phúc đời đời.
Trong dụ ngôn của Tin Mừng, chúng ta thấy không đề cập tới một tội rõ rệt nào của ông nhà giàu, thế mà ông đã sa hỏa ngục, như vậy, nguyên việc giàu đã là một tội chăng? Không, ông bị phạt không phải vì ông giàu, nhưng vì ông đã sử dụng tiền của một cách xa xỉ, ích kỷ, không biết chia sẻ, thương giúp người hành khất đói rách, nghèo khổ. Ngược lại, người hành khất La-da-rô nghèo khổ, nguyên tình trạng nghèo chưa phải là điều kiện để ông được thưởng, mà là ông có tinh thần, có tâm hồn nghèo khó, biết chấp nhận cảnh nghèo khổ, bệnh tật, tuân theo ý Chúa. Dĩ nhiên sự chấp nhận này không ngăn trở người nghèo khổ cố gắng hành động phải lẽ, làm việc chính đáng để thoát khỏi cảnh nghèo và bệnh tật.
Như vậy, một điều nữa chúng ta cần ghi nhận là có sự tương quan giữa cách chúng ta sử dụng tiền của với hạnh phúc vĩnh cửu: nếu ông nhà giàu biết đem tiền của chia sẻ cho ông La-da-rô, thì ông đã sắm cho mình kho tàng trên trời. Chính vì thế có người đã nói rằng người Ki-tô hữu có ba loại người bạn là tiền bạc, bà con bạn hữu và việc lành phúc đức. Tiền bạc là người bạn chúng ta thương nhất, quý nhất, chiếm môt vị trí quan trọng trong đời chúng ta, thậm chí khi phải chọn lựa, có người đã không theo lẽ phải, nhưng đã để hấp lực của đồng tiền cuốn hút. Loại người bạn thứ hai cũng chiếm một vị trí quan trọng trong tim óc chúng ta là bà con ruột thịt và bạn hữu, trong đó phải kể đến người bạn cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm với chúng ta, người bạn mà Chúa đã bảo chúng ta với họ không còn là hai nhưng đã trở thành một.
Thân như thế, thương như thế, mà khi chúng ta chết, cả hai đều dừng bước trước cánh cửa vĩnh cửu. Trước tòa Thiên Chúa, tiền bạc như câm nín, chẳng một lời biện hộ cho chúng ta. Còn thân quyến bạn hữu, tốt lắm là theo chúng ta tới huyệt, đẹp lắm là ném cho chúng ta một nắm đất rồi ra về, quên lãng, việc chúng ta gặp gỡ Chúa khó dễ thế nào họ chẳng biết đến.
Còn người bạn thứ ba là việc lành phúc đức, chúng ta không yêu, không thương bằng hai người bạn kia, nhưng lại tín trung với chúng ta hơn cả. Khi sống ở trần gian, nhờ nó chúng ta được mọi người yêu thương quý mến, nhất là khi chúng ta cất bước đi về đời sau, nó là người bạn sát cánh chúng ta hơn cả, nó không dừng lại trước nấm mồ, nhưng theo chúng ta tới tận tòa Chúa, mạnh dạn biện hộ cho chúng ta và đưa chúng ta vào cõi phúc. Người bạn này thật chân tình đối với chúng ta, thế mà khi sống ở đời này, chúng ta chỉ đáp lại hờ hững.
Tóm lại, tiền bạc của cải rời bỏ chúng ta khi chúng ta nhắm mắt lìa đời, thân thuộc bạn hữu còn nán lại lâu hơn đưa chúng ta tới phần mộ, chỉ có việc lành phúc đức mới đi theo chúng ta vào cõi đời đời. Xin Chúa cho chúng ta từ nay có thái độ gần gũi, gắn bó với người bạn thứ ba nhiều hơn.

 

TN26-C158: Hạnh phúc hay trầm luân? – Minh Thiện

Ít tiền ít của mà là người công chính, hơn nhiều vàng bạc mà là kẻ ác nhân, Vì cánh tay bọn ác TN26-C158

“Ít tiền ít của mà là người công chính
hơn nhiều vàng bạc mà là kẻ ác nhân
Vì cánh tay bọn ác nhân sẽ bị bẻ gãy,
còn người công chính được Chúa độ trì”
Tv 36, 16-17 đã đưa ra hai hình ảnh đối nghịch nhau: người nghèo sống công chính sẽ được Chúa độ trì, còn người giàu bất chính sẽ bị luận phạt.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, hôm nay một lần nữa Chúa lại dùng dụ ngôn để dạy chúng con về số phận của con người sau cái chết: người nghèo khó cơ cực ở đời này nhưng nếu sống công chính sẽ được hưởng hạnh phúc ở đời sau; còn người giàu có nhưng sống thiếu công bằng, bác ái sẽ phải cơ cực, khốn khổ đời đời trong hoả ngục mai sau. Qua đó, Chúa muốn nhắc chúng con rằng: số phận con người lành hay dữ sẽ được cố định trong giờ chết, và sẽ không còn chuyện ăn năn, sám hối sau khi chết nữa. Vì vậy, phải hoán cải ngay ở đời này để khỏi bị luận phạt trong đời sau. Và sự hoán cải này không phải chờ đợi ở phép lạ hay người chết trở về mách bảo mới tin, mới làm. Nhưng phải tin vào lời Chúa, để từ đó sống cuộc đời thánh thiện, công bằng, bác ái với tha nhân. Và những ai nghèo khổ, hãy biết rằng mình được Chúa chúc phúc, hãy vui sống và cậy trông vào Chúa, phó thác cuộc sống cho Người, nhìn nhận hoàn cảnh đen tối của đời mình dưới ánh sáng Tin Mừng, ắt sẽ được cứu độ.
Lạy Chúa, là con người ai chẳng muốn được hạnh phúc, chẳng muốn được an vui và sống trong sung túc, giàu sang. Chính con người cũng được dựng nên để sống hạnh phúc đấy thôi. Nhưng chỉ tiếc một điều là: con người chúng con thường chỉ nghĩ đến hạnh phúc chóng qua ở đời này mà quên đi rằng còn có hạnh phúc ở đời sau, và hạnh phúc ấy mới chính là hạnh phúc thật và trường tồn mãi mãi. Vì quên đi điều ấy nên chúng con thường chỉ mưu cầu hạnh phúc ở đời này, bám víu vào những thực tại trần thế, đi tìm sự giàu sang vật chất và thu vén mọi thứ về mình, sống chỉ biết đến mình mà quên đi, hay thậm chí chẳng bao giờ để ý đến những người anh em khác sống xung quanh mình, những người nghèo khổ, đói khát đang rất cần nhận được sự giúp đỡ, cảm thông. Đó là sự ích kỷ mà Chúa đã ám chỉ qua hình ảnh người phú hộ giàu có và đồng thời cảnh báo hậu quả tất yếu sẽ phải gánh chịu ở đời sau.
Lạy Chúa, trong con mắt của người đời, nghèo khó bao giờ cũng là nỗi bất hạnh. Nhưng có lần Chúa lại chúc phúc cho những người nghèo khó: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của anh em; phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng; phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười.” (Lc 6, 20-22)
Quả thật, hôm nay anh Ladarô đã nhận được lời chúc phúc của Chúa. Bởi vì khi công bố mối phúc cho người nghèo khó, đói khát, khóc lóc, bị sỉ vả thì hơn ai hết, chính Chúa cũng đã từng chấp nhận là một người nghèo khổ đến độ “con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9, 58), và chính Chúa cũng là người bị sỉ vả, coi thường như phường trộm cắp. Vâng Chúa ơi, con biết chắc rằng Chúa chịu nghèo khổ, đói khát, bị sỉ vả và coi thường như thế không phải vì Ngài bất lực, mà vì chính Ngài đã tự nguyện trở nên nghèo khó và chấp nhận bị ngược đãi. Sở dĩ như thế là vì một điều gì khác, đó chính là thánh ý Chúa Cha: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh danh Cha.” (Ga 12, 27-28)

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Chúa muốn cho chúng con hiểu rằng, cái phúc của sự nghèo khổ, lầm than mà Chúa gánh chịu là ở chỗ đó. Giá trị ấy không hệ tại ở chính sự nghèo khổ, đói khát. Vì nếu thế, Chúa đã không phải thưởng công cho những ai biết chia sẻ miếng cơm cho người nghèo, thăm viếng kẻ lao tù hay bệnh tật (Mt 25, 31-46), và Hội Thánh cũng chẳng cần quan tâm đến việc bác ái làm chi. Nhưng phúc của cái nghèo ở đây chính là ở chỗ khi người ta biết nương tựa vào Chúa, lấy Chúa làm giá trị tuyệt đối, là cùng đích của đời mình.
Lạy Chúa, sự giàu có không phải là một cái tội, nhưng một khi nó làm cho con người chỉ nghĩ đến bản thân mình mà quên đi những người xung quanh thì đó lại là tội. Ông phú hộ giàu có sống xa hoa với những bộ quần áo sang trọng, hằng ngày yến tiệc linh đình, nhưng ông lại chưa một lần cho anh Ladarô nghèo đói một mẩu bánh vụn nào. Vì vậy, sau khi chết ông cũng chẳng nhận được một giọt nước nào từ anh Ladarô. Vực thẳm ngăn cách giữa ông và anh Ladarô sau khi chết chỉ là kéo dài cái cửa mà trước đây anh Ladarô đã nằm và cái bàn tiệc của ông. Đó là vực thẳm mà ông phú hộ đã không lấp bằng đi khi hai người con sống, vì ông ta đã không nghe lời mời gọi khẩn thiết của Chúa về việc sử dụng tiền bạc để làm cho người nghèo Ladarô trở thành bạn hữu của mình. Lời mời gọi này cũng không phải là điều gì quá mới mẻ mà ông ta không biết, vì nó đã được chứa đựng trong lời dạy của các ngôn sứ và trong Lề Luật. Vì vậy, không một phép lạ nào, dù cho kẻ chết có sống lại, có thể hoán cải được những kẻ đã từ chối đón nhận sứ điệp của Lề Luật và các ngôn sứ.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Xin ban cho chúng con ánh sáng đức tin để chúng con nhận ra Chúa nơi tất cả những người chúng con gặp gỡ hằng ngày, nhất là nơi những người nghèo khổ, bệnh tật, nơi những người thiếu thốn tình yêu thương, để chúng con biết thông cảm, an ủi và sẻ chia với họ như Chúa đã nói: “Điều ngươi làm cho người bé mọn nhất trong anh em là làm cho chính Ta.” (Mt 25, 40)
Lạy Chúa, xin cũng giải phóng chúng con khỏi sự mê hoặc của mọi kho tàng dưới đất, và xin cho chúng con biết dùng của cải trần gian mà mua lấy hạnh phúc Nước Trời (Lc 12, 33). Amen.

 

TN26-C159: Suy Niệm Thánh Vịnh 145 – CN26TNC

(Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê chuyển dịch)
1 Ha-lê-lui-a!
Ca tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi!
2 Suốt cuộc đời, tôi xin hát mừng CHÚA,
sống bao lâu, nguyện đàn ca kính Chúa Trời.
3 Đừng tin tưởng nơi hàng quyền thế,
nơi người phàm chẳng cứu nổi ai.
4 Họ tắt hơi là trở về cát bụi,
dự định bao điều: ngày ấy tiêu tan.
5 Phúc thay người được Chúa Trời nhà Gia-cóp phù hộ
và cậy trông CHÚA, Thiên Chúa họ thờ.
6 Người là Đấng tạo thành trời đất với biển khơi
cùng muôn loài trong đó.
Người là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời,
7 xử công minh cho người bị áp bức,
ban lương thực cho kẻ đói ăn.
CHÚA giải phóng những ai tù tội,
8 CHÚA mở mắt cho kẻ mù loà.
CHÚA cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên,
CHÚA yêu chuộng những người công chính.
9 CHÚA phù trợ những khách ngoại kiều,
Người nâng đỡ cô nhi quả phụ,
nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân.
10 CHÚA nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở,
Xi-on hỡi, Chúa Trời ngươi hiển trị ngàn đời.
 

Tôi sẽ ca tụng Chúa suốt cuộc đời…Đừng tin tưởng vào quyền thế chóng qua…con người mỏng giòn TN26-C159

Tôi sẽ ca tụng Chúa suốt cuộc đời…Đừng tin tưởng vào quyền thế chóng qua…con người mỏng giòn…Phải nương tựa vào Thiên Chúa, Tạo Hóa, trung tín, cứu độ, từ tâm, bạn hữu của người bé mọn. Ngài hiển trị muôn đời!
Cùng Đọc Với Dân Ítraen
Đây là một Thánh Thi ca ngợi vương quyền Thiên Chúa. Từ Thánh vịnh 145 cho đến Thánh vịnh cuối cùng 150, ta có một loạt Thánh vịnh được gọi là Hallel cuối cùng, bởi vì mỗi một trong sáu Thánh vịnh này đều mở đầu và kết thúc bằng Alleluia. Cũng thế, sách Thánh vịnh kết thúc bằng lời chúc tụng. Hãy lưu ý từ Alleluia, trong tiếng Do Thái có nghĩa là Hãy chúc tụng Thiên Chúa.
Tác giả Thánh vịnh ca ngợi tình yêu Chúa với một giọng điệu hân hoan bằng cách lập lại chín lần cùng một cấu trúc văn phạm được gọi là ‘động tính từ ca tụng’.
-Đấng tạo thành trời đất …
-Đấng giữ lòng trung tín …
-Đấng xử công minh cho người bị áp bức…
-Đấng ban lương thực cho kẻ đói ăn…
-Đấng giải phóng những ai tù tội…
-Đấng mở mắt cho kẻ mù loà…
-Đấng cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên…
-Đấng yêu chuộng những người công chính…
-Đấng phù trợ những khách ngoại kiều… nâng đỡ cô nhi quả phụ.
Ta hình dung như hai ca đoàn đang đối đáp nhau. Có thể xem đây như một hình thức kinh cầu của những người đau khổ mà Thiên Chúa nâng đỡ: người bị áp bức, kẻ đói ăn, người tù tội, người mù lòa, người bị dìm xuống, khách ngoại kiều, cô nhi quả phụ…Mọi đau khổ trên đời này đều kéo lòng thương xót của Thiên Chúa xuống trên con người.
Cùng Đọc Với Đức Giêsu
Chẳng chút khó khăn nào để đặt Thánh vịnh này trên môi miệng của Đức Giêsu. Ta tưởng như đang nghe những lời tin mừng.
Đức Giêsu, thay vì cậy dựa vào những kẻ quyền thế trần gian, Ngài lại cậy trông vào Chúa Cha để đứng về phía những người nghèo hèn, từ hang đá cho đến thập giá. Ngài thực hiện nhiều phép lạ để hoàn tất lời kinh nguyện này: hóa bánh ra nhiều để nuôi những người đói, mở mắt kẻ mù, giải thoát tù nhân thoát khỏi tội lỗi…
Trong phòng tiệc thời thiên sai, cũng chính những kẻ nghèo, tàn tật, thấp hèn, mù lòa là những khách mời ưu tiên. Cũng một cách thức như trong Thánh vịnh này, Đức Giêsu đã tuyên bố những mối phúc: “Phúc cho những ai trông cậy vào Chúa…Phúc cho những ai nghe lời Thiên Chúa…” Và đối nghịch lại với những mối phúc này là lời chúc dữ: Ngài phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân…Vô phúc cho những kẻ giàu vì họ đã được no thỏa. (Lc 6,24). Đức Giêsu thường lập lại với Thánh vịnh này: cuộc sống vật chất dẫn đến hư không. Hãy nhớ hình ảnh người chủ điền giàu có muốn nới rộng kho lẫm. “Đừng tin tưởng nơi hàng quyền thế, nơi người phàm chẳng cứu nổi ai. Họ tắt hơi là trở về cát bụi, dự định bao điều: ngày ấy tiêu tan”.
Phụng Vụ đã chọn Thánh vịnh 145 và đoạn Tin Mừng theo thánh Mátcô (Mc 12,38-44) để đọc trong ngày Chúa nhật này, vì có liên quan đến hình ảnh bà góa nghèo mà Đức Giêsu muốn nêu lên…và cũng vì hình ảnh của các luật sĩ, những kẻ quyền thế của thời đại, nuốt trửng tài sản của các bà góa, trong khi Thiên Chúa nâng đỡ góa phụ và cô nhi.
Cùng Đọc Với Người Thời Nay
Alleluia! Ca tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi! Suốt cuộc đời, tôi xin hát mừng CHÚA, ta có biết thật ca tụng là gì không? Ta có biết tạ ơn Thiên Chúa vì những điều kỳ diệu Ngài đã làm cho ta vì yêu không?
Đừng tin tưởng nơi hàng quyền thế, nơi người phàm chẳng cứu nổi ai…Đúng vậy, làm sao lại cậy dựa vào một con người, xuất phát từ đất bụi, con của Ađam được dựng nên từ bụi đất. Cho dù có được trọng vọng, cao cả, thông minh, một ngày kia nó cũng sẽ trở về bụi đất. Chẳng có quá lời đâu…cũng chẳng bi quan đâu! Đó là sự thật! Duy mình Thiên Chúa mới có thể cứu thoát chúng ta. “Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ.” (Cv 4,12)
Phúc thay người trông cậy Chúa…Lạy Chúa, xin ban cho con hạnh phúc đích thực. Xin cho con tin rằng chỉ có Chúa là hạnh phúc bền vững, không gì có thể làm nó hư mất đi và làm cho nó nhạt mờ được.
Người là Đấng tạo thành trời đất với biển khơi cùng muôn loài trong đó… Thỉnh thoảng ta nên nhắm mắt lại và gợi lên trong trí cái vũ trụ vĩ đại được tạo dựng. Thật rất đẹp và rất hùng vĩ! Một đêm tối đẹp trời đầy sao, hãy nhìn các ngôi sao và nghĩ đến các giải thiên hà. Hãy nghĩ đến cả cuộc sống chen chúc, đến hằng tỉ hằng tỉ chủng loại đang sống trên mặt đất và sâu trong lòng đại dương!
Người là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời… Ngay sau khi gợi lên sức mạnh tạo thành, tác giả Thánh vịnh, không hề báo trước, một cách tự nhiên chuyển ngay sang chủ đề lòng trung tín và yêu thương của Thiên Chúa. Thiên Chúa vĩ đại của vũ trụ, ta nghĩ rằng Ngài rất siêu vượt, xa vời. Đó chính là điều các triết gia đã làm. Nhưng hãy nghe, Ngài còn ưu tiên quan tâm đến những kẻ bé mọn, những kẻ bất hạnh đau khổ. Ngài dành mọi phúc lành cho họ: xử công minh cho người bị áp bức…/ban lương thực cho kẻ đói ăn…/ giải phóng những ai tù tội…/mở mắt cho kẻ mù loà…/cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên…/yêu chuộng những người công chính…/phù trợ những khách ngoại kiều…/nâng đỡ cô nhi quả phụ. Còn những người kiêu căng, tự mãn sẽ nhận lời chúc dữ: Ngài không thèm quan tâm đến họ, và phá vỡ mưu đồ của họ… họ sẽ ra tro bụi bởi vì họ đã chối từ hạnh phúc vĩnh cửu dành cho họ.
Nếu Thiên Chúa đứng về bên những kẻ bất hạnh…vậy bạn, bạn phải làm gì? Bảo vệ, che chở, chữa lành, nâng dậy, nâng đỡ. Những công việc này Thiên Chúa giao cho con người. Vâng, chính con người tro bụi đáng thương ấy lại có được vinh dự bắt chước Thiên Chúa. Hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn lành. Và phía sau những từ ngữ của Thánh vịnh, là lời khuyến khích động viên mọi kitô hữu dấn thân cho sự phát triển, cho sự phục vụ con người, tập thể, xã hội. CHÚA nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở… Xin cho nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất, trong các cộng đoàn nhân loại mà tôi đang là thành viên.
Noel Quesson, 50 Psaumes pour tous les jours, Tome I

 

TN26-C160: Trái tim tình người – Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng

KHOẢNG CÁCH VẬT CHẤT
“Trong lịch sử, chưa bao giờ nhân loại đạt được một sự bình đẳng dù ở bất cứ một mức độ tương đối nào, nhưng những gì đang tồn tại, thực sự gây nên những mối lo ngại lớn” (Theo nghiên cứu lịch sử kinh tế thế giới 2000 năm qua, The World Economy: History Statistics).
 

Mối lo ngại” trước tiên chính là khoảng cách ngày một xa giữa người nghèo và người giàu, giữa TN26-C160

“Mối lo ngại” trước tiên chính là khoảng cách ngày một xa giữa người nghèo và người giàu, giữa nước giàu và nước nghèo. Đó là điều tồi tệ không mong gì cải thiện được.
Lướt qua số liệu tổng kết khoảng cách giữa các nước kém phát triển và các nước phát triển – giữa dân nghèo và dân giàu – càng lúc càng tăng cao, chúng ta mới thấy rõ đúng là “mối lo lớn” thật sự. Nếu năm 1820 khoảng cách là 3:1, sau 30 năm là 35:1, và đến năm 2002 đã là 75:1.
Khoảng cách giàu – nghèo tiếp tục gia tăng
Cuộc đấu tranh vì công bằng của nhân loại hẳn còn cả chặng đường dài: báo cáo mới của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD – Organization for Economic Cooperation and Development) cho thấy khoảng cách giàu – nghèo ở 30 nước giàu nhất vẫn tiếp tục tăng trong 20 năm qua, đặc biệt là ở Mỹ. Các tiến bộ về thương mại và kỹ thuật đã giúp kinh tế các nước thành viên OECD phát triển nhanh chóng, nhưng đời sống tầng lớp thấp không cải thiện là mấy.
Nghiên cứu trong suốt 20 năm của OECD cho thấy có đến 27/30 nước có tình trạng thu nhập người giàu thì tăng trong khi nhóm còn lại giậm chân tại chỗ. Mỹ là nước có tỉ lệ chênh lệch giàu nghèo cao nhất, chỉ sau Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ, và khoảng cách này đã tăng nhanh kể từ năm 2000 tới nay. Pháp trong khi đó giảm được phần nào sự bất bình đẳng này khi công nhân nghèo đã được trả lương tốt hơn. Ở Mỹ, 10% người giàu nhất thu nhập trung bình 93.000 USD/năm (cao nhất trong OECD) trong khi 10% người nghèo nhất chỉ thu nhập 5.800 USD/năm, thấp hơn khoảng 20% so với mức trung bình của OECD. Nhóm 10% giàu nhất chiếm tới 71% tài sản của toàn bộ nước Mỹ. Thu nhập 10% giàu nhất ở Pháp là 54.000 USD/năm so với 9.000 USD/năm của 10% nghèo nhất. Con số tương ứng ở Nhật Bản là 60.000 USD và 6.000 USD.
Đằng sau sự văn minh của thế giới, vẫn là thiên tai, ô nhiễm, dịch bệnh, cái nghèo cùng cực và chết đói. Đằng sau sự hào nhoáng của các quốc gia đều là những mảng tối. Chiếc bánh kinh tế toàn cầu đã nở phồng lên theo tỷ lệ chưa từng thấy, nhưng đáng buồn là người giàu đã ăn hầu hết phần bánh này. Họ dùng cả quyền lực để bảo đảm phần béo bở nhất và chỉ nhường phần vụn thừa rơi rớt cho người người nghèo đói (góp nhặt từ Internet).
Đó là câu chuyện Phú ông và Lagiarô thời đại.

KHOẢNG CÁCH TINH THẦN
Khoảng cách tinh thần: đó là sự “lạnh lùng” đáng sợ của một bộ phận đông đảo những người giàu có. Sự ấm áp đã làm cho họ không thể hiểu nổi thế nào là băng giá. Sự no đủ đã làm cho họ không thể hình dung được thế nào là đói khát. Sự hưởng thụ sung túc đã làm cho họ không thể tưởng tượng được thế nào là cùng khổ.
Ánh mắt của đa số những người giàu có luôn chỉ có một hướng nhìn về “thế giới thiên đàng vật chất” và họ chìm đắm trong mơ ước không ngừng vươn lên cao hơn nữa trong khoái lạc riêng tư với niềm tự hào, tham vọng, và cả lòng ganh tỵ đua chen.
Họ bỏ mặc – hay không còn nhận ra – một thế giới khác đang ở ngay bên cạnh họ. Thế giới của một Lagiarô cùng khổ và cực kỳ bất hạnh. Có khi không phải họ khinh miệt người cùng khổ, thật ra – và là điều đáng sợ – họ quên sự hiện diện của người cùng khổ đang cùng sống với họ trên hành tinh này.
Họ sống trong thế giới hiện thực đầy no thỏa và hóa thân thành thần thánh đầy hạnh phúc trong thế giới thiên đàng ảo – thế giới giàu có vật chất và dư đầy hưởng thụ – cho đến một ngày nào, khi tài khoản thời gian của họ đã hết. Đó là lúc họ mới nhìn thấy thế giới của Lagiarô, một thế giới thần thánh hiện thực mà Lagiarô đã vươn đến được từ thế giới cùng khổ với một đời bất hạnh luôn đói khát no ấm và tình yêu. Nhưng khát vọng ấy Lagiarô đã không tìm thấy được trong thế giới hữu hình mà Lagiarô đã trải qua.
Bây giờ, khi ông nhà giàu chết, ông mới bước vào một thế giới thật – đây mới là thế giới thật! – Ngỡ ngàng nhận ra đây không phải là Thiên Đàng sau những tháng ngày sống trong cõi thiên thai của “thiên đàng ảo” đã tan biến!
Bây giờ, họ – những con người của thế giới phú hộ – mới nhận thấy Lagiarô từ xa. Con người bần cùng, mà trước đây – và cũng là thế giới bần cùng mà trước đây – đã ở ngay bên cạnh họ, ngay trước mắt họ, chỉ cần bước một vài bước là đã thấy, chỉ cần cúi xuống một chút là đã chạm tới – nhưng họ đã không hề biết đến! “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh Lagiarô trong lòng tổ phụ”(Lc.16,23).
Trên đỉnh cao của sự sang trọng, giờ ở tận cùng của sự đọa đày, những con người như nhân vật phú ông mới ngộ ra được thế nào là đau khổ tận tâm cang. “Bấy giờ ông ta kêu lên: ‘Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh Lagiarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!”(Lc. 16.19-31).

LẠC LỐI
Trong nơi đọa đày, phú ông mới biết mình đã lầm đường lạc lối.”Ông nhà giàu nói: ‘Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Lagiarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!’” (Lc. 16.27-28).
Có phải vì thiếu thông tin, thiếu sự hướng dẫn, thiếu giáo huấn, mà phú ông đây “sa vào chốn cực hình” không? – Chắc hẳn là không rồi.
Ngay từ khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã đặt để Giáo Huấn Tình Thương của Ngài trong lòng trí con người. Thiên Chúa không ngừng Giáo Huấn con người tiệm tiến theo thời gian. Cho đến khi Ngài chọn Dân Riêng của Ngài để ban tặng cho con người Đấng Cứu Thế. Nhưng Lịch Sử Cứu Độ cho thấy con người đã nhiều lần “để ngoài tai” lời răn dạy của Chúa. Và lịch sử con người cũng chứng minh con người luôn nuôi tham vọng riêng mình, sống ích kỷ chỉ vì bản thân, không biết chia sẻ và yêu thương đùm bọc lẫn nhau. “Ông Áp-ra-ham đáp: ‘Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó’. Ông nhà giàu nói: “Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối. Ông Áp-ra-ham đáp: “Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.’”(Lc.16,29-31).

Trong Khổng Tử Gia Ngữ có kể một câu chuyện:
Khổng Tử làm quan Tư Khấu nước Lỗ, khi được quyền nhiếp chính chức vụ tể tướng, nét mặt có vẻ vui mừng. Trò của ngài là Trạng Do liền hỏi:
– Do này vẫn được nghe là những người quân tử, thấy tai họa đến cũng không sợ, thấy hạnh phúc tới cũng không vui mừng, thầy mới được có địa vị mà vui mừng như thế là cớ làm sao?
Khổng Tử đáp:
– Phải có câu nói ấy thực, nhưng há chẳng có câu nói rằng: “Người ta vui vì được đem địa vị cao quí của mình mà hạ xuống cùng với mọi người sao?
Giới Luật Yêu Thương đòi hỏi sự chia sẻ trong tình liên đới giữa người với người. Tội lỗi không chỉ là lánh xa những điều độc ác, mà còn phải làm những điều chân thiện. Dân gian cũng có câu: “làm lành lánh dữ”. (Vì xưa ta đói các ngươi đã cho ăn…Mt.25,31-46).
Câu chuyện phú hộ và Lagiarô vẫn còn tiếp diễn trong thế giới hôm nay. “Ông Áp-ra-ham đáp: ‘Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.’”(Lc.16,31).
Còn hơn thế nữa, chính Đấng Cứu Thế đã đến với nhân loại. Giáo Huấn Tình Thương của Ngài đem đến cho con người sự an bình và dịu ngọt biết bao! Thế nhưng, vẫn còn đó “những người giàu có” lạnh lùng trước những “Lagiarô” đầy đau khổ và bất hạnh. Trong rất nhiều hoàn cảnh, Giới Luật Yêu Thương vẫn còn nằm bên lề cuộc sống.
Nhưng, dù thế nào đi nữa, người Kitô-hữu chúng ta vẫn luôn sống trong hy vọng. Ánh sáng Tin Mừng vẫn tiếp tục chiếu soi trong thế giới tối tăm này. “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga.1,5).
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết sống tình liên đới bằng con tim rộng mở, để biết chia sẻ với đồng loại nhân danh Tình Yêu Thiên Chúa. Amen.

 

TN26-C161: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI

 - CN 26 TN C
Thiếu nhi chúng con yêu quí,
 

Chúng con vừa được nghe một câu chuyện hết sức đặc biệt mà Chúa Giêsu đã kể cách đây hai TN26-C161

Chúng con vừa được nghe một câu chuyện hết sức đặc biệt mà Chúa Giêsu đã kể cách đây hai ngàn năm. Cha đố chúng con biết khi kể câu chuyện đặc biệt này Chúa Giêsu muốn nói cho mọi người điều gì?
 - Chúa muốn nói đến sự sống ở đời sau.
- Chúa muốn nòi đến sự sống sau khi chết.
- Chúa muốn nói đến cuộc sống của con người sống hôm nay và mai sau có liên hệ với nhau.
Chúng con giỏi quá.
Theo cha thì Chúa muốn nói với mọi người hai điều này:
Trước hết là đàng sau cuộc sống chúng ta đang sống hôm nay, có một cuộc sống khác. Đó là cuộc sống đời sau.
Thứ đến là giữa cuộc sống hôm nay và cuộc sống đời sau có một mối giây liên hệ mật thiết với nhau.
Bây giờ cha bắt đầu nói về hai vấn đề này.
1. Trước hết là đàng sau cuộc sống chúng ta đang sống hôm nay, có một cuộc sống khác. Đó là cuộc sống đời sau.
Cha hỏi chúng con: Chúng con có tin rằng có cuộc sống mai sau không?
Tin vào cuộc sống mai sau là một trong những điều phải tin trong kho tàng đức tin của chúng ta.
Thế nhưng đây không phải là niềm tin của mọi người. Có rất nhiều người không tin vào cuộc sống đời sau, không tin vào cuộc sống đàng sau cái chết. Họ bảo: chết là hết, chẳng còn gì. Khi đã xuôi tay nằm xuống là phải đem đi chôn. Thế là hết cuộc đời.
Phần chúng ta, chúng ta tin có cuộc sống mai sau, cuộc sống đời đời.
Nếu không có cuộc sống mai sau thì cuộc sống đời này thật vô nghĩa.
Cha mời chúng con nghe câu chuyện này. Đây là câu chuyện giả tưởng nhưng nó cũng đem lại những giá trị hết sức đặc biệt cho mọi người.
Câu chuyện như thế này: Một lần kia một ông bác sĩ phụ trách sản khoa đã nói chuyện với một bào thai còn trong lòng mẹ. Ông bác sĩ nói:
- Bào thai ơi, thời gian trong bụng mẹ chỉ là giai đoạn sửa soạn, cuộc đời thực sự sẽ đến sau này trên trần thế. Đó là một cuộc đời mà ngươi chưa biết và không thể tưởng tượng ra được không?
Nghe vậy, bào thai liền nói:
- Thôi ông đừng có nói chuyện mê tín dị đoan. Cuộc đời trong bụng mẹ tôi là cuộc đời duy nhất mà tôi biết được lúc này, ngoài ra không còn cuộc đời nào khác nữa. Một cuộc sống ở nơi nào khác chỉ là điều bịa đặt của những kẻ cuồng tín.
Nhưng, suy nghĩ một hồi, bào thai liền thắc mắc:
- À nhưng mà tôi sẽ có mắt ở trên mặt. Để làm chi nhỉ? Ở đây đâu có gì để nhìn? Tôi sẽ có chân, nhưng tôi không có đủ chỗ để duỗi chân ra, vậy có chân để làm gì đây? Và tại sao tôi lại phải có tay? Có tay để cứ khoanh mãi như thế này ư? Tay làm phiền tôi và mẹ tôi. Sự tăng trưởng của tôi trong lòng mẹ sẽ thật vô nghĩa, nếu như sau này không có một cuộc đời với ánh sáng, màu sắc và nhiều điều khác nữa để tôi nhìn ngắm. Không gian mà cuộc đời khác của tôi sẽ sống chắc là vĩ đại lắm nhỉ? Chắc là tôi phải đi thật nhiều nên tôi mới cần có đôi chân? Chắc là tôi phải làm việc nhiều và chiến đấu cam go lắm, nên tôi mới cần có đôi tay? Bác sĩ nói đúng đấy! Chắc chắn phải có một cuộc đời khác nữa trên trần thế ở bên ngoài bụng mẹ tôi.
Hội Thánh dạy chúng ta rằng cuộc đời trên trần gian này không khác gì bào thai đang sửa soạn cho một cuộc đời thực sự sẽ đến sau này trên Nước Trời.  Cũng như mắt, chân và tay của bào thai sự khôn ngoan dành cho cuộc đời sắp đến. Sự phát triển của con người trong cuộc đời này chứng minh cho một cuộc đời mai sau.

2. Và đây là vấn đề thứ hai: Giữa cuộc sống hôm nay và cuộc sống đời sau có một mối giây liên hệ mật thiết với nhau.
Cha Walter Ciszet đã trải qua 23 năm trong ngục tù và các trại lao động bên Nga. Tình cờ ngài được phóng thích và trở về quê hương ở Mỹ. Cuốn sách của Cha: Ngài dẫn đưa tôi mô tả niềm tin sâu sắc vào cuộc sống vĩnh cửu rực cháy trong tâm hồn những người Nga bình dị. Bao nhiêu thập kỷ tuyên truyền chủ nghĩa vô thần bằng phương tiện truyền thông đại chúng, rồi bao nhiêu năm chế độ đó nắm chính quyền cũng không thể xóa được niềm tin trong tâm hồn họ.
Điều gì thuyết phục tôi rằng có đời sau? Điều gì cản trở tôi sống phù hợp với niềm tin của tôi?
Nếu hạt giống rơi vào đất đen có thể trở thành bông hồng đẹp đẽ thì tâm hồn con người sẽ trở thành cái gì trong cuộc hành trình đến với sự sáng (Gilbert K. Chesterton) (Trích "Viễn tượng 2000").
Nhà minh giáo lừng danh Hettinger một hôm đi dạo trên cánh đồng, đã gặp một đứa bé đi học, Ngài vừa đi vừa đặt nhiều câu hỏi để xem đứa bé có biềt gì về giáo lý hay không. Khi hỏi những người giàu có được vào nước trời không thì em bé trả lời:
- Được, nếu họ giúp đỡ những người nghèo.
Vị linh mục lại hỏi người nghèo có có được vào thì em bé trả lời:

- Được, nếu họ biết nhẫn nại chịu đựng những đau khổ và thánh giá của họ.
Hettinger thích nhắc lại những câu trả lời này của đứa bé và Ngài thêm rằng: “Những lời đó chứa đựng một triết lý, triết lý của thánh giá”. Không có thánh giá, tức là không có khốn cực và đau khổ, thì không có hạnh phúc thật ở đời này, và không có sự cứu rỗi ở đời sau.
Có một ông vua rất yêu chuộng sự khôn ngoan. Nhà vua cho triệu tập tất cả những nhà thông thái trong cả nước đến và nói:
- Ta biết rằng người khôn ngoan tìm kiếm sự thật và luyện tập nhân đức để được trường thọ và hạnh phúc. Nay Ta yêu cầu các ngươi hãy triệu tập và sưu tầm các sách khôn ngoan trong nước. Tất cả các sách dạy sống tốt lành, hữu ích và được các thần ưu đãi khi đã về cuối đời.
Vâng lệnh vua, các nhà thông thái đi khắp các nơi trong nước và ngoài nước để thu thập tài liệu. Sau thời gian tìm kiếm, họ đã dâng lên vua 100 cuốn sách chứa đựng những điều khôn ngoan, cần thiết và yêu thương. Nhà vua ngạc nhiên nhìn những quyển sách và nói:
- Nhiều quá, các ngươi hãy mau tóm tắt những điều quan trọng trong mỗi cuốn sách. Ta muốn học thật mau lẹ những điều khôn ngoan để đạt tời hạnh phúc thật.
Sau nhiều năm, những nhà thông thái trở lại triều đình đem mười quyển đã tóm tắt lại trong 100 quyển. Nhưng nhà vua vẫn chưa hài lòng và ra lệnh họ phải tóm gọn lại nữa các sách vì vua không có thì giờ đọc sách. Hơn nữa vua cũng già cũng gần đất xa trời. Ngày tháng trôi qua họ vẫn chưa thâu tóm lại trong mười quyển sách. Một hôm họ báo tin cho vua có một nhà thông thái cưỡi lạc đà từ Phương Đông tới xin gặp vua. Nhà thông thái tâu với vua:
- Muôn tâu chúa thượng, nếu chúa thượng muốn biết đâu là bí quyết sống hạnh phúc, làm hài lòng các thần ở đời này và đời sau, thì đây là bí quyết: “Yêu mến Thiên Chúa và yêu mến hết mọi người”. Nhà thông thái vừa dứt lời thì tại cửa đền vua xuất hiện một thánh nhân Chúa cũng gởi đến từ Phương Đông. Thánh nhân cũng trình bày với vua một bí quyết đạt tới khôn ngoan và hạnh phúc, còn ngắn gọn hơn câu của nhà thông thái trước
- Tâu chúa thượng, nếu muốn được cứu thoát và sống hạnh phúc thì hãy yêu thương đồng loại, rồi chúa thượng sẽ được Thiên Chúa yêu mến.
Yêu người là gồm tóm mọi lề luật và mọi bí quyết khôn ngoan để được cứu thoát và sống đời đời. Ở đâu có một người, ở đó có Thiên Chúa. Ở đâu có đứa trẻ khóc trong bóng tối ở đó có Chúa. Ở đâu có người già bị bỏ rơi, có sự khao khát công lý chân chính, ở đó có Chúa.
Lạy Chúa là nguồn tình yêu và hạnh phúc và là sự sống đời con. Con tin Chúa, Chúa đã phục sinh khải hoàn, đã toàn thắng sự chết và mở cửa thiên đàng và hạnh phúc trường sinh cho toàn thể nhân loại. Xin hãy mở mắt tâm hồn con để nhận biết Chúa trong họ, yêu mến và phục vụ Chúa qua họ. Vì đó là cách con yêu mến Chúa.
Lm Giuse Đinh Tất Quý

 

TN26-C162: Vô Cảm, Cái Chết Từ Trong Tâm Hồn

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN NĂM C 2019
Lm. Giuse Nguyễn
 

Những ngày này, chỉ cần vài giây, Google sẽ cho ra hàng triệu kết quả với cụm từ vụ án VN Pharma TN26-C162

Những ngày này, chỉ cần vài giây, Google sẽ cho ra hàng triệu kết quả với cụm từ vụ án VN Pharma, là vụ án gây chấn động và bức xúc trong dư luận về việc mua bán thuốc điều trị ung thử giả xảy ra tại Công ty cổ phần VN Pharma. Những người liên quan đến vụ án này không chỉ phạm pháp, mà hơn thế nữa họ còn mang trong mình căn bệnh vô cảm. Thực tế trong y học không có bệnh vô cảm. Đó là căn bệnh của cách hành xử, căn bệnh của lối sống khi người ta không biết quan tâm đến người khác. Sự vô cảm càng nặng nề hơn khi họ lợi dụng nỗi đau của kẻ khác để trục lợi cho bản thân mình, trong khi lẽ ra họ phải là những người xoa dịu nỗi đau cho người khác. Dư luận lên án và bức xúc là phải, vì vụ án xảy ra liên quan đến nghành y tế, là nghành chăm sóc sức khỏe cho người dân, nhưng nay lại lấy đi sức khỏe và mạng sống của họ. Ấy vậy mà trong quá trình xét xử, lại xuất hiện những hồ sơ mật. Báo Pháp Luật đưa tin: “Trong phiên xét xử ngày 24/09, đáng chú ý, trước khi chuyển sang phần xét hỏi, chủ tọa phiên tòa có lưu ý: Hồ sơ vụ án có một số tài liệu đóng dấu mật, tuyệt mật. Những người nào sử dụng tài liệu này phải chú ý, còn ai cố tình làm lộ bí mật sẽ bị xử lý theo quy định”. Vô cảm đến thế là cùng! Khi người ta phạm pháp mà còn cố tình dùng mọi cách để bao che.
Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật 26 Thường Niên hôm nay sẽ nói với chúng ta về chứng bệnh vô cảm này.
Bài đọc I (Am 6, 1a.4-7): Thời của tiên tri Amos là thời vinh quang tột đỉnh của miền Bắc Israel. Dân chúng sống sa hoa hưởng thụ, bám víu vào của cải vật chất, thể hiện một sự thịnh vượng mà không có nền tảng đạo đức. Nhưng đến thời đất nước lâm nguy bởi kẻ thù là Assua, họ vẫn quen với lối sống đó. Chính vì vậy Amos được sai đến để khiển trách họ. Họ bị lên án là vì lo hưởng thụ, ăn uống, chè chén say sưa mà không quan tâm đến vận mạng của đất nước. Tiên tri nói rõ: “Vì thế, giờ đây chúng sẽ bị lưu đày…. Thế là tan tác bè lũ quân phè phỡn!” (Am 6, 7). Đức Chúa không chấp nhận lối sống vô cảm, tức là sống mà không biết nghĩ đến người khác, không biết nhìn ra xung quanh.
Như thêm bằng chứng tố cáo lối sống vô cảm, Tin Mừng (Lc 16, 19-31) thuật lại việc Đức Giêsu kể một dụ ngôn mang tên ông nhà giàu và người nghèo khó Lazarô. Người giàu có trong dụ ngôn này không có lỗi gì để đáng bị hình phạt hỏa ngục. Đức Giêsu không hề nói sự giàu có của ông là nhờ ăn hối lộ, bán thuốc tây giả, làm ăn bất chính, hay trộm cắp, cướp giật… Ngài cũng không nói ông vi phạm ngày Sabat hay lề luật khác như bất hiếu, giết người, tà dâm… Ngài chỉ nói: “Ông ta mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”. Như vậy hưởng thụ tài sản do mình làm ra cũng có tội sao? Hay ông ta có tội không giúp đỡ Lazarô?
Lazarô không hề mở miệng xin: “Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại!” Lazarô chỉ “nằm trước cổng, thèm ăn những miếng bánh vụn từ trên bàn ông nhà giàu rớt xuống”. Không nói thì ai biết. Không xin thì ai cho. Chết đói là phải! Nhưng ông nhà giàu vẫn phải sa hỏa ngục không phải vì ông có tội, không phải vì ông ích kỷ, nhưng vì ông vô cảm. Thấy người kế bên mình đau khổ mà không một chút xót thương. Tội của ông là vô tâm, vô tình dẫn đến hậu quả tệ hại cho người khác. Hoặc chỉ đơn giản ông không hay có người nghèo trước cổng nhà mình.
Lời Chúa soi dẫn như vậy để chúng ta đừng tưởng mình không làm gì sai trái, mình giữ đạo đàng hoàng là đương nhiên lên thiên đàng. Thưa đó chỉ là giữ đạo. Bước theo Đức Kitô là phải sống đạo. Sự sống động của đạo Công giáo như chính dòng máu chảy trong con người, nó phải được luân chuyển chứ không thể ở yên một chỗ. Nếu ngày nào máu không được lưu thông, con người sẽ chết ; hoặc nếu lưu thông quá chậm chạp, sự sống cũng rất mong manh.
Sống đạo không phải chỉ là việc mến Chúa, mà còn phải là yêu người, vì đó là “mười điều răn ấy tóm về hai điều này mà nhớ: trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy”. Thường thì chúng ta chỉ dừng lại ở việc mến Chúa: đi lễ, tuân giữ giới răn của Chúa, lề luật của Hội thánh thế là xong; có vất vả, có nặng nề, nhưng nếu cố gắng cũng sẽ được. Còn yêu người thì đòi hỏi ta phải hy sinh, chấp nhận dấn thân, chịu mất mát; thường ta chưa làm, hoặc làm mà chưa được, hoặc được mà chưa đủ.
Thiên Chúa là Tình Yêu nên Ngài không thể làm ngơ trước nỗi đau của nhân loại. Ngài phải đánh đổi bằng việc để Ngôi Hai xuống thế làm người, chuộc tội, chịu chết cho nhân loại. Con người không biết kêu đến ai, nhưng Thiên Chúa thấy được nỗi đau của họ nên đã ra tay cứu giúp.
Dân tộc Việt Nam sẽ chẳng biết Chúa là ai, chẳng thể kêu xin: “Lạy Chúa, xin thương xót con!” nếu không có các nhà thừa sai Châu Âu tình nguyện đi truyền giáo, chấp nhận mọi gian lao, khổ cực, kể cả hy sinh mạng sống. Họ không an phận để tìm sự an nhàn cho bản thân.
Ngược lại với những tâm hồn dạt dào tình yêu, “trái tim không ngủ yên” là những con người vô cảm, họ yêu nhưng yêu chính bản thân họ. Vô cảm chính là sự trơ lì cảm xúc, dửng dung, thờ ơ, “máu lạnh” với những hiện tượng đời sống xung quanh, chỉ quan tâm đến quyền lợi của bản thân. Họ đã chết từ bên trong tâm hồn.
Có thể dễ dàng nhận thấy đó là những người chẳng quan tâm gì đến việc chung của cộng đoàn, của Giáo xứ. Họ nghĩ rằng đó là việc của cha sở, của những người có trách nhiệm… Đúng vậy, trước hết nó là việc của những người có trách nhiệm, nhưng sự vô cảm, lối sống cầu an chính là nguyên nhân khiến người phú hộ phải rơi vào hỏa ngục. Sức sống của một Giáo xứ thể hiện qua tinh thần đoàn kết, qua việc mỗi người đều góp phần vào việc chung của Giáo xứ ; nếu không Giáo xứ đó đã chết từ bên trong vì lối sống vô cảm.
Lối sống vô cảm còn được nhìn thấy qua việc chúng ta sống quá giàu sang, sung túc, trong khi còn quá nhiều những người nghèo bên cạnh chúng ta. Đành rằng sự hưởng thụ của tôi chẳng làm hại ai, nhưng thử nghĩ một phần niềm vui của tôi nếu được san sẻ thì chắc chắn có nhiều người khác được nhờ.
Không khó nhận ra căn bệnh vô cảm trong cuộc sống khi càng ngày càng có nhiều người thờ ơ trước những đau khổ, trước những hoàn cảnh đáng thương của người khác, nhưng làm sao để chữa trị căn bệnh ung thư trầm kha này mới là vấn đề, nhất là người Công giáo luôn tự hào là đạo của yêu thương. Nếu không lo chữa trị thì căn bệnh này sẽ giết chết tâm hồn chúng ta khiến đời sống khô khan, cằn cỗi, không có sức sống.
Trước hết mỗi người phải kiên trì làm gương về sự phục vụ dù nhiều người muốn sống hưởng thụ. Cuộc đời vẫn tươi đẹp khi còn rất nhiều người âm thầm lo việc chung, thậm chí việc “bao đồng”. Cụ già 82 tuổi ở Đồng Tháp đã miệt mài 15 năm đi vá đường cho người dân đi. Ông già ngoài 70 tự nguyện đến nhà nào có cây kiểng trong xã để cắt tỉa.
Kế đến cần lập những nhóm bạn để chung tay giúp sức làm những việc có ích. Ví dụ đội tình nguyện cứu hộ SOS của các bạn trẻ ở Cà Mau, sẵn sàng giúp đỡ những ai gặp trục trặc về xe cộ. Những em thiếu nhi ở các Họ đạo bỏ ống heo để giúp đỡ những người nghèo…
Sau cùng, cần tập cho đi nhiều hơn là lãnh nhận.
Lạy Chúa, xin cho con một trái tim nhạy cảm để con biết “vui với người vui, khóc với người khóc”  ; đừng để con “chơi một mình”, nhưng biết đi cùng với người khác, dù việc đi cùng lắm lúc gây phiền toái cho con.

 

TN26-C163: Khi con người Vô Cảm xã hội sẽ sao?

Ngày nay chúng ta hay nói đến 2 chữ vô cảm. Vậy vô cảm là gì? Thưa, vô cảm chính là sự TN26-C163

Ngày nay chúng ta hay nói đến 2 chữ vô cảm. Vậy vô cảm là gì? Thưa, vô cảm chính là sự dửng dưng, thờ ơ, “máu lạnh” với những cuộc sống xung quanh. Ra đường gặp cái đẹp không mảy may rung động; gặp cái tốt không ủng hộ; thấy cái xấu, cái ác không dám lên án, không dám chống lại…
Trong vụ thảm sát tại Đan Phượng- Hà nội đã cho chúng ta thấy rõ một xã hội vô cảm đến lạnh lùng.
Ngày 1/9, đối tượng Nguyễn Văn Đông đã cầm dao sang truy sát cả nhà em trai của mình. Đáng nói, sự việc xảy ra có nhiều người chứng kiến nhưng không ai dám xông vào can ngăn. Khi em trai Đông đã gục xuống, Đông vẫn tiếp tục hạ sát. Đông còn tiếp tục vung dao chém hết thẩy 5 người và 4 người đã chết tại chỗ! Tại sao cả một khu phố không hô hào nhau bảo vệ người làng của mình? Tại sao lại hèn nhát vậy? Nếu nói rằng hung thủ quá hung hãn, vậy thử hỏi nếu người bị hại là người thân của mình có vô cảm vậy hay không? Có lẽ, nếu đó là người thân của ta, thái độ của ta sẽ khác và sẽ không vô cảm như vậy.
Nhưng đáng tiếc, bệnh vô cảm này dường như đã trở thành một lối sống thiếu tình liên đới của người Việt Nam hôm nay.
+Đã nhiều lần chúng ta từng bắt gặp một người ăn xin, rồi liền quay mặt đi một cách lạnh lùng?
+ Đã nhiều lần chúng ta từng lướt qua một vụ tai nạn với ý nghĩ “Mình đang vội mà. Sẽ có người lo thôi!”
+ Đã nhiều lần chúng ta từng chứng kiến những vụ chồng đánh vợ, nữ sinh đánh nhau, vụ móc túi trên xe bus,…mà chỉ đứng nhìn? (thậm chí móc điện thoại ra quay để có bài đăng facebook cho tối nay!)
Có lẽ điều mà giáo dục hôm nay cần quan tâm đó là xây dựng một xã hội đồng cảm và chia sẻ. Một xã hội mà nơi đó mọi người biết yêu thương nhau, giúp đỡ và sẻ chia cùng nhau. Một xã hội mà nơi đó mọi người biết sống tử tế, vị tha và quan tâm tới nhau hơn.
Thời Chúa Giê-su, có lẽ cũng không thiếu những loại người vô cảm trước nỗi thống khổ của tha nhân. Họ vô cảm đến nhẫn tâm bước qua một phận người lây lấy trên đường từ Giê-ru-sa-lem tới Giê-ri-cô. Họ có “rất nhiều của cải”  nhưng lại không dám “bán những gì (họ) có mà cho người nghèo”. Sự vô cảm đó còn len lỏi đến cả những môn đệ của Chúa khi họ xin Chúa giải tán đám đông để tự đi mua thức ăn.
Thầy Giê-su đã nhẹ nhàng nhắc nhở sự vô cảm nơi con người qua dụ ngôn : “ông nhà giàu và anh Lazaro nghèo khó”. Ông nhà giàu và anh Lazaro nghèo khó tuy “rất gần mà lại xa”! Họ rất gần nhau, gần đến nỗi chỉ cách “một cái cổng nhà”, thế nhưng lại rất xa, xa bởi chính “sự-vô-cảm” nơi ông nhà giầu.
Sự vô cảm đến độ hằng ngày ông vẫn ăn mặc lụa là gấm vóc, yến tiệc linh đình và để mặc cho anh Lazaro nghèo khó : “mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng nhà của ông” sống lây lất từng ngày.
Thế nhưng, cuối câu chuyện là một sự đảo ngược lạ thường. Ông nhà giàu lại là kẻ mong Lazaro “đừng-vô-cảm” trước sự đau khổ của ông ta ! Trước kia Lazaro “thèm những thứ trên bàn ăn của ông rớt xuống mà ăn cho no”… Thì hôm nay ông “thèm” được Lazaro : “nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi ông cho mát, vì ở đây ông bị lửa thiêu đốt khổ lắm!”
Như vậy, sự giầu có không là tội mà sự vô cảm mới chính là nguyên do dẫn ông nhà giầu chịu cảnh đau khổ ở đời sau. Ông đã bỏ rơi đồng loại trong khi ông có khả năng giúp đỡ họ. Ông đã phớt lờ những mảnh đời bất hạnh bên cạnh sự giầu có xa xỉ của ông. Hậu quả là ông cũng bị mọi người lương thiện nhân ái bỏ rơi ông trước cửa Nước Trời.
Thiên Chúa tạo dựng con người có một trái tim để yêu thương, để cảm nhận nỗi thống khổ của tha nhân mà chạnh lòng thương xót. Đừng vô cảm trước phận đời bất hạnh. Đừng bàng quan trước nỗi đau của anh em. Ngày phán xét Chúa sẽ không hỏi chúng ta giầu có hay nghèo đói. Chúa cũng không hỏi chúng ta chức tước địa vị gì, mà Chúa sẽ hỏi về tình yêu liên đới của chúng ta với tha nhân. Chúng ta có bác ái với tha nhân hay không? Chúng ta có quá vô cảm đến vô tâm với anh em không?
Nguyện xin Chúa Giê-su luôn chạnh lòng thương xót mọi phận người, xin giúp chúng con luôn biết sống chia sẻ với những anh em nghèo khó. Xin đừng để chúng con vô cảm mà bàng quan trước những phận người khổ đau. Amen
Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

 

TN26-C164: Vòng xoáy của đồng tiền & cuộc vật lộn của phận người.

Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ.
 

Bạn có cảm nhận gì, khi nhìn tấm hình tang thương xuất hiện trên báo chí, trên phương tiện truyền TN26-C164

Bạn có cảm nhận gì, khi nhìn tấm hình tang thương xuất hiện trên báo chí, trên phương tiện truyền thông trong thời gian qua: một số người ngồi bên tấm chiếu lớn. Trên chiếu là những cái xác được khăn phủ lại. Đó là một vài người thân của họ mới bị giết chết. Nước mắt tuôn tràn, khuôn mặt não nề, lòng người nát tan trong câm nín!
Lý do là gì vậy? Vì tiền, vì việc cãi cọ tranh giành phần thừa kế đất đai và tài sản giữa anh chị em ruột với nhau. Vì bất cứ lý do nào đó một bên đã bất mãn và tức giận, đến nỗi ra tay tàn ác, qua nhà người thân ruột thịt, và giết chết người thân cùng dòng máu.
Ôi vòng xoáy của đồng tiền và cuộc vật lộn bất thành của phận người!
Nhìn tấm hình tang thương đó, là người trẻ bạn sẽ nói gì cho chính bạn?
Nhìn tấm hình tang thương đó, nếu bạn là một bậc cha mẹ trẻ có con đang lớn, bạn sẽ dạy con điều gì về tiền bạc, giá trị tiền bạc và cách sử dụng tiền bạc?
Là con người ai cũng biết tiền bạc luôn là con dao hai lưỡi. Một đàng, tiền bạc giúp con người sống dồi dào và phong phú; đàng khác tiền bạc có thể điều khiển con người và gây ra biết bao nhiêu đổ vỡ và khổ đau.
Trong ca dao tục ngữ và trong văn học, người ta nói về tiền bạc như là nền tảng giúp cho con người sống hạnh phúc và sung túc, nhưng cũng nêu lên khía cạnh tiêu cực của tiền bạc: “Có tiền mua tiên cũng được, không tiền mua lược không xong”. “Tiền bạc là tên đầy tớ tốt, nhưng là ông chủ xấu”. Thật vậy, tiền bạc có sự hấp dẫn mạnh mẽ, thế lực tiềm ẩn nhưng rất nguy hiểm, nếu người ta trở nên nô lệ cho đồng tiền.
Trong Tin Mừng, Chúa Giê-su đã khuyến cáo và kêu gọi thật mạnh mẽ: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được” (Lc 16,13). Chúa không cấm chúng ta làm ra tiền, Chúa cũng không cấm chúng ta để dành tiền của trong ngân hàng, mà Chúa nhắc nhớ Ki-tô hữu luôn chú ý không được trở nên nô lệ của tiền bạc, không để mình trở thành kẻ làm tôi của thần Mammon.
Tiền bạc và của cải là phương tiện chứ không là ông chủ. Đó là vị trí đúng đắn nhất của nó. Thật buồn cho Ki-tô hữu nào thay đổi vị trí đúng đắn của tiền bạc, nghĩa là đặt tiền bạc của cải vật chất thành trung tâm điểm của cuộc sống, thành ông chủ của chính họ.
Lời của Chúa nói như là một chân lý bất di bất dịch. Chúa cũng mời gọi Ki-tô hữu với sự tự do của mình có một quyết định đúng đắn và rõ rệt. Chọn lựa và làm tôi của Thiên Chúa, nghĩa là thuộc trọn vẹn về Thiên Chúa. Không phải rửa tội xong, người Ki-tô hữu tự động làm tôi Thiên Chúa cách trọn vẹn. Để được thuộc về Chúa cách trọn vẹn, người Ki-tô hữu cần phải trung tín với Thiên Chúa trên từng chặng đường Đức Tin, trong mỗi suy tư, trong mỗi lời nói, trong mỗi hành động và trong mỗi công việc nhỏ bé nhất. Triết gia người Đan Mạch Kierkegaard đã nói: “Ki-tô hữu luôn ở trên đường để trở nên Ki-tô hữu trọn vẹn và hoàn hảo”.
Như thế, khi đối diện với tiền bạc, người Ki-tô hữu cần chú tâm học biết trong suy nghĩ, nghĩa là không để tiền bạc “xuất hiện thường xuyên và làm chủ suy nghĩ của mình”. Nếu suốt ngày trong đầu chỉ có chữ “tiền” chi phối hoàn toàn cái đầu, thì buồn thay cho phận người đó!
Khi đối diện với tiền bạc, người Ki-tô hữu cũng cẩn trọng trong tâm hồn của mình, để tiền bạc không chiếm chỗ thượng phong, chỗ ưu tiên trong trái tim của mình, vì nếu không khéo, thì lòng tham sẽ nổi dậy và rồi từng bước tiền bạc sẽ trở nên một hấp lực lớn, đến nỗi lòng người có thể đui mù suy phục con ma tiền bạc và vật chất. Hơn nữa, người Ki-tô hữu cần ý thức tỉnh táo trước cám dỗ của tiền bạc, cũng như chỗ dựa bảo đảm và vững chắn đầy ảo tưởng hão huyền của tiền bạc hứa hẹn sẽ đưa lại.
Chúa Giê-su nói trong Tin Mừng: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu” (Lc 12,15). Lòng tham thì vô đáy. Chúa Giê-su biết rõ tâm trạng và lòng người mềm yếu dễ đi theo khuynh hướng “tham lam”, “gom góp” và “tích trữ”. Tham lam là một trong bảy mối tội đầu. Có nhiều kiểu tham và trong đó nổi bật là kiểu tham lam tiền bạc vật chất. Đi đôi với tham lam là keo kiệt, hà tiện và bủn xỉn. Đó là cách sống ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân và không bao giờ muốn chia sẻ với người khác. Người tham lam luôn muốn xây dựng cho mình một kho tàng kếch sù, luôn muốn sống trong nhung lụa giàu sang dư giả và an toàn với “kho lẫm” đã được tích trữ.
“Không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu”. Đây chính là lời cảnh báo rõ rệt của Chúa Giê-su. Sự bảo đảm cho cuộc sống ai cũng muốn. Nhưng đâu là chỗ để chúng ta có thể dựa vào, để chúng ta có thể tìm sự bảo đảm và an toàn? Kinh nghiệm cuộc đời của nhiều người dư giả mà đời thường gọi là “đại gia” đã cho chúng ta thấy rõ. Họ đâu tìm thấy được sự bảo đảm đích thật cho cuộc sống nơi vật chất và tiền bạc, và tiền bạc cũng chẳng thực sự đưa lại hạnh phúc và bình an trọn hảo cho họ.
Hơn nữa, cuộc đời đã đưa tin biết bao gia đình đại gia không thể giáo dục con cái, những đứa con được kêu là “thiếu gia”. Gia tài kếch sù dư giả kế bên, nhưng nhìn con cái là “thiếu gia” xì ke ma tuý, ăn chơi trác táng không chịu học hành, chẳng màng lo lắng sự nghiệp và bản thân. Một bức tranh thật tương phản trong xã hội: đời sống “đại gia” sung túc và dư giả, nhưng “thiếu gia” trong nhà thì hư đốn. Thử hỏi đó có là hạnh phúc thực cho những người phú hộ thời đại hay không? Coi chừng những người con được gọi là thiếu gia của những đại gia trở thành những kẻ thiếu gia đình.
Hơn nữa, giá trị của con người không nằm ở giá trị của những gì người ấy sở hữu, nhưng ở chỗ người ấy là ai và sống như thế nào. Con người không được đánh giá bằng những gì người ấy có trong tài khoản ngân hàng, nhưng bằng giá trị của trái tim, cuộc sống, các hành vi, các quan hệ với các người thân và với những người đồng loại của mình. Với người Ki-tô hữu, giá trị thật của con người, chính là biết mình được tạo dựng, biết mình là con cái của Thiên Chúa và ý thức tập sống đúng theo tinh thần Chúa dạy.
Thật vậy, ý nghĩa và giá trị cuộc sống không nằm trong việc người ta có nhiều tiền bạc của cải đến nỗi dư giả, mà nằm trong tinh thần sống tốt lành của người con cái tự do của Thiên Chúa, những người con sống theo ánh sáng của Tin Mừng.
Đi sâu hơn nữa, Chúa Giê-su còn đưa hình ảnh của một người phú hộ giàu có (đại gia) đã dựa vào tiền bạc, của cải vật chất để sống trong an toàn và nhàn hạ. Luca diễn tả về người này như sau: “Rồi ông ta tự bảo: Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!” (Lc 12,18-19). Theo lẽ thường tình, thì đại gia này làm rất ok và mọi người thấy chắc là sẽ khen ông ta khôn ngoan, biết hưởng thụ ở hiện tại và biết lo xa cho tương lai.
Nhưng truyện đâu có kết thúc ở “cái đầu khôn ngoan” của con người giàu có. Dụ ngôn kể tiếp với lời của chính Chúa nói với “đại gia” tự cho mình là khôn ngoan: “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế” (Lc 12,20-21). Trong dụ ngôn, chúng ta thấy tên của đại gia, của người phú hộ không được nhắc đến. Hay ông ta không có tên? Cha Piere Cardon nói rằng: Người giàu không có tên! Thực chất dụ ngôn nói về một người đã mất linh hồn và tên của mình. Trong Tân Ước những người giàu có xấu xa không có tên. Đó hầu như chỉ là biểu tượng; người giàu có gắn bó với của cải vật chất của mình đến nỗi chính mình trở thành một đồ vật; người ấy đã mất nhân cách của mình. Ôi buồn thay, đại gia không tên!
Nhưng dù đại gia không có tên, nhưng Thiên Chúa vẫn tìm đến được nơi ông ta sống và “đòi lại mạng” của ông ta, ngay trong đêm “đại gia” tưởng rằng an toàn thư thái hưởng thụ cuộc đời. Lời Thiên Chúa đưa ra một sứ điệp rất mạnh mẽ và mang tính cảnh báo. Lời Thiên Chúa phán ra ngay giữa các kế hoạch và chương trình của con người đặt ra cho bản thân. Phải chăng con người không có được sức mạnh cuối cùng của cuộc sống? Con người sẽ điên rồ, khi nghĩ rằng cuộc sống của mình được bảo đảm bởi tiền bạc và bởi những gì mình sở hữu?
Lời của Thiên Chúa là chân lý. Nhìn vào cuộc sống thực tế, có biết bao nhiêu người giàu sụ đã phải lìa đời, ngay trong những lúc họ đang đứng trên đỉnh cao của thành công danh vọng. Có những người cả đời vất vả làm ăn chỉ để kiếm tiền, mà quên đi mọi thứ quan trọng khác, và chỉ một đêm khuya thanh vắng, đã phải ra đi mà không để lại một lời trăn trối nào cả.
Ôi vòng xoáy của đồng tiền và cuộc vật lộn bất thành của phận người!
Trong Cựu Ước, Gióp đã diễn tả tâm tình của ông:
“Phải chăng tôi lấy vàng làm bảo đảm
và nói với vàng ròng: ‘Ngươi là chốn an toàn của ta!’
Phải chăng tôi mừng vui vì có nhiều của cải,
vì tài sản do tay tôi làm ra?
Phải chăng tôi thấy ánh mặt trời rực rỡ
và vầng trăng lộng lẫy huy hoàng
mà lặng lẽ để cho lòng bị lôi cuốn
và đưa tay lên miệng mà hôn?
Nếu thế thì đó cũng là tội ác đáng trừng phạt,
vì tôi đã dám chối bỏ Thiên Chúa, Đấng ngự chốn trời cao” (Sách Gióp 31,24-28).
Thật là ngốc nghếch và sai lầm và đó cũng là một mối hoạ cho đời người, khi chỉ biết cắm đầu kiếm cho thật nhiều tiền, mà không đưa Thiên Chúa vào trong chương trình sống của mình. Người giàu có quên rằng họ không thể mua được những giá trị đích thật như sự sống, tình yêu, tình bạn, gia đình bằng tiền bạc và của cải. Họ cũng không nghĩ rằng, Thiên Chúa có thể can thiệp vào cuộc đời họ; Thiên Chúa có thể gõ cửa cuộc đời họ bất cứ lúc nào, dù họ có ở trong bất cứ “Hotel năm sao thật an toàn” nào đi nữa. Của cải vật chất tích trữ trong kho thật lớn kia, người giàu có đưa theo được không? Nằm trong nghĩa trang với một ngôi mộ trát vàng và mạ bạc có làm cho người chết được sung sướng không, hay đó chỉ là một kiểu “làm oai” của những người đang sống?
Ôi vòng xoáy của đồng tiền và cuộc vật lộn bất thành của phận người!
Thánh Vịnh gia cũng nhắc nhớ những người giàu có ham mê tiền bạc vật chất, với những lời rất thâm thuý về sự hư vô của cuộc đời. Dù giàu hay nghèo, thì đều giống nhau bởi “cái chết”. Nói khác đi, “cái chết” làm cho mọi người đều như nhau, đều giống nhau cả. Dù giàu hay nghèo, dù giỏi hay dốt, dù quyền lực hay hạng tầm thường, tất cả đều phải chết. Thật vậy, dù giàu có và tưởng rằng bám vào tiền bạc sẽ an toàn, thì những người mê thần tiền bạc vẫn phải rời bỏ “chốn” nhà lầu cao sang và chiếc xe hơi bóng loáng đời mới, để “dọn vào” ngôi nhà muôn thuở. Đó là ba tấc đất, vì ba tấc đất mới thật là nhà, nơi họ ở muôn đời muôn kiếp.
Chúng ta đọc lại lời Thánh Vịnh tràn đầy hương vị khôn ngoan sâu sắc, và cả hương vị cảnh báo thật thấm thía dưới đây dành cho những ai “thích tiền” và đui mù thờ “thần tiền bạc”:
*
“Chúng cậy vào của cải,
lại vênh vang bởi lắm bạc tiền.
Nhưng nào có ai tự chuộc nổi mình
và trả được giá thục hồi cho Thiên Chúa?
*
Mạng người dù giá cao mấy nữa,
thì rồi ra cũng chấm dứt đời đời.
Nào phàm nhân sống mãi được sao
mà chẳng phải đến ngày tận số?
*
Kìa thiên hạ thấy người khôn cũng chết,
kẻ ngu đần dại dột cũng tiêu vong,
bỏ lại tài sản mình cho người khác.
*
Tuy họ lấy tên mình mà đặt cho miền này xứ nọ,
nhưng ba tấc đất mới thật là nhà,
nơi họ ở muôn đời muôn kiếp.
*
Dù sống trong danh vọng,
con người cũng không thể trường tồn;
thật nó chẳng khác chi
con vật một ngày kia phải chết” (Tv 49,7-13).
*
Thật vậy, dù giàu cỡ mấy và sở hữu biết bao tài sản vật chất, thì cũng phải trở về với tay không. Thánh Phaolô viết trong Thư thứ nhất gửi cho Timôtê: “Cái gì chúng ta đem vào thế giới này? Chẳng có gì. Cái gì chúng ta đem ra khỏi thế giới này? Cũng chẳng có gì!” (1Tm 6,7). Như thế, khoảnh khắc được vào đời và khoảnh khắc phải lìa đời “thắm thiết ôm nhau” trong vòng tay của chữ KHÔNG. Chẳng có kho tàng nào của tiền bạc và vật chất có thể “đưa tang” và “đồng hành” với người có của, với đại gia của cuộc đời bước vào cõi chết cả. Vì thế, thật quan trọng và khẩn thiết, để cập nhật hoá và update lại giá trị cuộc sống và kho tàng đời người.
Chúa Giê-su nói: “Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó” (Mt 6,21). Thật vậy, nếu kho tàng của đời người là “tiếng kêu không dứt của những đồng tiền cắc kêu to”, nếu kho tàng của đời người là những “tấm thẻ Vip Credit vàng đỏ đen lẫn lộn”, nếu kho tàng đời người là những hàng số càng dài càng tốt trong tài khoản ngân hàng, thì rồi đến một lúc nào đó mọi sự khác sẽ trở thành thứ yếu. Cha Mẹ ư, Vợ con hả? anh chị em ruột thịt sao? Bạn bè à? Tất cả tương quan với những người ruột thịt và cùng dòng máu, cũng như với những bạn bè tri kỷ đều được đưa vào bàn cân với nhãn hiệu rất kêu “MM – MORE MONEY – Thêm Tiền – TT”. Nếu sống theo kiểu “MM – TT” này, nghĩa là trở thành nô lệ của tiền bạc, thì có thể biết bao đau thương sẽ xảy ra, như trường hợp tấm hình với chiếc chiếu cùng cảnh tang thương đã được diễn tả lúc đầu.
Vì thế, có câu trong dòng đời:
 “Còn tiền, còn bạc, còn đệ tử,
Hết cơm, hết gạo, hết ông tôi”.
Ôi buồn thay cho phận người với 24 tiếng đồng hồ mỗi ngày chỉ xoanh quanh chữ tiền, đến nỗi chẳng còn tình nghĩa, chẳng còn nhân phẩm, chẳng còn lòng nhân hậu và xót thương.
Ôi vòng xoáy của đồng tiền và cuộc vật lộn bất thành của phận người!
Vì thế, khi đối diện với tiền bạc, Chúa Giê-su nhắc nhớ người Ki-tô hữu ý thức biết cách dùng tiền bạc vật chất cho đúng đắn, nghĩa là không chỉ không phí phạm tiền bạc, cũng như không keo kiệt bủn xỉn, mà còn cẩn trọng không để bản thân mình rơi vào cái túi không đáy là lòng tham vô biên giới, lòng tham không hồi kết. Hơn hết, người con cái của Chúa cần phải luôn có tâm hồn quảng đại, suy nghĩ thanh thoát tự do với tiền bạc của cải, cũng như sẵn sàng trong vui mừng, để dùng tiền bạc giúp cho người nghèo, người bất hạnh. “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi” (Mt 6,19-20).
Tích trữ kho tàng trên trời là gì vậy? Câu truyện thi vị dưới đây cho chúng ta một bài học sâu sắc và giúp cho chúng ta trả lời cho câu hỏi trên:
“Truyện kể rằng người kia có 3 người bạn. Hai người trước là bạn rất thân, người thứ ba quen thường thường vậy thôi. Ngày kia ông bị tòa bắt xử, liền xin 3 người bạn đi theo để biện hộ.
Người bạn thứ nhất từ chối ngay, viện cớ bận việc quá không đi được.
Người thứ hai bằng lòng đi đến cửa quan, nhưng lại không dám vào.
Chỉ có người thứ ba tuy không quen thân với ông, nhưng vẫn tỏ ra trung thành và tốt bụng, vào tận tòa án biện hộ cho ông ta không những trắng án mà còn được thưởng nữa.
Người bạn thứ nhất là Tiền bạc.
Khi ta chết, tiền bạc bỏ rơi ta, chỉ để lại cho ta một chiếc chiếu và một cái hòm.
Người bạn thứ hai là Gia Đình, Bà Con Bạn Hữu.
Họ khóc lóc đưa ta tới huyệt rồi về.
Người bạn thứ ba là các Việc Lành Phúc Đức.
Chúng theo ta đến tòa phán xét và đưa ta vào cửa thiên đàng”.
Qua câu truyện trên và qua lời nhắc nhớ của Chúa Giê-su, chúng ta thấy việc tích trữ kho tàng trên trời chính là các Việc Lành Phúc Đức, là các việc bác ái và thương xót, mà Chúa Ki-tô luôn mời gọi người Ki-tô hữu biết ý thức thực thi.
“Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó” (Lc 12,21).
Nhưng làm giàu trước mặt Thiên Chúa là gì? Rất cụ thể. Đó là ra khỏi cái vòng tròn quỷ quyệt của tiền bạc và lấy lại thế đứng của mình, đó là người làm chủ tốt lành của tiền bạc, và cuối cùng dùng tiền bạc để giúp người nghèo, để bố thí cho người túng thiếu. Không lỗ đâu, đừng sợ. Lời Chúa Giê-su nói: “Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm không bén mảng, mối mọt không đục phá” (Lc 12,33).
Thánh Phao-lô nhắc lại tâm tình của Chúa Giê-su, trong sự kiện thánh nhân nói với các kỳ mục thuộc giáo đoàn Ê-phê-sô, và được viết trong sách Tông Đồ Công Vụ: “Vàng bạc hay quần áo của bất cứ ai, tôi đã chẳng ham. Chính anh em biết rõ: những gì cần thiết cho tôi và cho những người sống với tôi, đôi tay này đã tự cung cấp. Tôi luôn tỏ cho anh em thấy rằng phải giúp đỡ những người đau yếu, bằng cách làm lụng vất vả như thế, và phải nhớ lại lời Chúa Giê-su đã dạy: cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,33-35).
Thánh Phaolô còn viết cho Timôthê: “Những người giàu, anh hãy truyền cho họ đừng tự cao tự đại, đừng đặt hy vọng vào của cải phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng. Họ phải làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành, phải ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ” (1Tm 6,17-18).
Sách Châm Ngôn cũng dạy: “Thương xót kẻ khó nghèo là cho Đức Chúa vay mượn, Người sẽ đáp trả xứng đáng việc đã làm” (Cn 19,17).
Làm giàu trước mặt Thiên Chúa cũng chính là đời sống kính sợ Thiên Chúa, chọn Chúa là chủ đời mình. Thật vậy, kính sợ Thiên Chúa chính là sự khôn ngoan nhất của đời người.
Cyril thành Alexandria nói rằng: “Trở nên giàu có trước mặt Thiên Chúa là để yêu thương các nhân đức thay vì sự giàu sang, cũng như làm giàu trước mặt Thiên Chúa là tin tưởng rằng Thiên Chúa là Đấng ban phát mọi ơn lành, cả sự sống lẫn ơn cứu độ”.
Còn triết gia Kierkegaard, người Đan Mạch nói rằng: “Không chọn Chúa, bạn sẽ đánh mất tất cả”.
Cuối cùng, qua bức tranh tang thương với chiếc chiếu được diễn tả lúc đầu, và qua lời dạy bảo của Chúa Giê-su, chúng ta xin Chúa cho chúng học biết “vật lộn thành công với vòng xoáy của tiền bạc”, cụ thể qua việc chọn Thiên Chúa, chứ không chọn tiền bạc là kho tàng đời mình. Làm tôi Thiên Chúa, chứ không đui mù làm nô lệ cho tiền bạc.
Khi Thiên Chúa là kho tàng đời mình, khi Thiên Chúa là chủ đời mình, nghĩa là chúng ta thờ lạy Thiên Chúa trên hết, và hằng tuân giữ các huấn lệnh của Người. Đó là biết sống dựa trên tinh thần nền tảng là tình yêu và thương xót.
Để cuối đời, khi trở về với Chúa, các Việc Lành Phúc Đức và các hành động của lòng thương xót sẽ là “người bào chữa” tích cực và tuyệt vời nhất của chúng ta. Thật vậy, như các vị thánh hiền đã nói: “Thiên Chúa xét xử chúng ta dựa trên lòng thương xót của chúng ta dành cho nhau”.
Lạy Chúa, xin cho Lời Chúa là ánh sáng sưởi ấm và chiếu soi đường đời chúng con,
Xin cho mỗi người chúng con không đui mù chọn tiền bạc là kho tàng của đời mình,
Xin giúp chúng con luôn ý thức chọn Chúa, Đấng Tạo Dựng, Đấng yêu thương, là kho tàng lớn nhất và quan trọng nhất, là Người Chủ trên hết trong cuộc sống trên dương thế này của chúng con.
Và xin giúp chúng con khôn ngoan “bán tài sản của mình đi mà bố thí”. Như thế chúng con “sắm được những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời” do chính Chúa thương ban. Amen.

 

TN26-C165: SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA CN XXVI TN C

- LM. INHAXIÔ HỒ THÔNG.
 

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXVI Thường Niên Năm C lưu ý đến sự giàu có và những tác hại TN26-C165

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXVI Thường Niên Năm C lưu ý đến sự giàu có và những tác hại của nó.
Am 6: 1, 4-7
Ngôn sứ A-mốt lên án những người giàu có chỉ lo yến tiệc linh đình và vui hưởng những lạc thú cho riêng mình; họ sẽ sớm biết số phận đau thương đang chờ đợi họ.
1Tm 6: 11-16
Trong đoạn trích thư gởi ông Ti-mô-thê, thánh Phao-lô khuyên ông Ti-mô-thê hãy trung thành kiên vững trong niềm tin.
Lc 16: 19-31
Tin Mừng Lu-ca thuật lại dụ ngôn “người giàu có và anh La-da-rô nghèo khổ”. Số phận của hai người hoàn toàn đảo ngược bên kia nấm mồ.
BÀI ĐỌC I (Am 6: 1, 4-7)
Chúng ta gặp lại ngôn sứ A-mốt, người chăn cừu xứ Giu-đê này. Vào giữa thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên, ông đã nhận được sứ mạng đi đến vương quốc miền Bắc để lay động tiếng lương tâm và nhắc lại những yêu sách luân lý của Giao Ước.
Trong đoạn trích Chúa Nhật vừa qua, vị ngôn sứ lên án thói tham lam vô độ và những trò gian dối của những phú thương; trong đoạn trích của Chúa Nhật này, ông tố cáo thái độ dững dưng vô cảm của những bậc quyền cao chức trọng, những kẻ chỉ biết tận hưởng những lạc thú cho thỏa thích mà không lường trước số phận bi thảm đang chờ đợi họ.
1.Cuộc sống thanh bình thịnh vượng giả tạo:
Thành đô Sa-ma-ri nằm trên một ngọn đồi biệt lập có những cánh đồng canh tác, được bao quanh bởi những thung lũng, được bao bọc bên ngoài bởi những bức tường thành kiên cố với những pháo đài vững chắc. Thành đô Sa-ma-ri như một thành trì kiên cố có thể kháng cự bất kỳ những cuộc tấn công từ bên ngoài vào, và quả thật, thành đô này đã kháng cự suốt ba năm trước những cuộc tấn công của đạo quân Át-sua hùng mạnh (723-721 trước Công Nguyên). Hơn nữa, vào thời điểm ngôn sứ A-mốt công bố sứ điệp, cảnh thanh bình ngự trị, vì quyền lực đế quốc Át-sua đang suy yếu. Các tướng lãnh và các quan chức có thể vui hưởng cảnh thái bình thịnh trị.
Vị ngôn sứ tố cáo sự an toàn phỉnh phờ này. Lý do mà vị ngôn sứ nêu ra thật đơn giản: cách sống gây công phẩn của những bậc quyền quý này sẽ dẫn họ đến sự trừng phạt không chút xót thương.
2.Những thú vui hênh hoang tự đắc:
Với tài mĩa mai châm biếm, ngôn sứ A-mốt mô tả rất hiện thực những yến tiệc linh đình phô bày thói xa hoa vô độ trong những dinh thự lầu đài nguy nga tráng lệ:
“Chúng nằm dài trên giường ngà, ngả ngớn trên trường kỷ
mà ăn những chiên non nhất bầy, những bê béo nhất chuồng.
Chúng đàn hát nghêu ngao;
như Đa-vít, chúng dùng nhạc cụ mà sáng tác” (6: 4-5).
Những ngôn từ vị ngôn sứ sử dụng có một âm vang đặc biệt: đây là những từ ngữ được vay mượn ở phụng vụ của những bàn tiệc hy tế: chiên non, bê béo, rượu cả bầu, dầu thơm hảo hạng mà người ta dùng trong việc cúng tế. Phải chăng ngôn sứ A-mốt muốn mô tả những bàn tiệc thánh thiêng mà các bậc quyền quý đã lạm dụng? Điều này cũng có thể. Như vậy, ở nơi danh sách liệt kê những bất công mà ông tố cáo, vị ngôn sứ thêm vào những hành vi phạm thánh, thói đạo đức giả. Vả lại, trước đây ông đã nói nhân danh Đức Chúa:

“Lễ lạc của các ngươi, Ta chán ghét khinh thường;
hội hè của các ngươi, Ta chẳng hề thích thú.
Các ngươi có dâng lên Ta của lễ toàn thiêu…
những lễ vật của các ngươi, Ta không vui nhận,
chiên bò béo tốt các ngươi đem hiến tế, Ta chẳng đoái hoài.
Hãy dẹp bỏ tiếng đàn hát om sòm của các ngươi,
Ta không muốn nghe tiếng đàn của ngươi nữa.
Ta chỉ muốn cho lẽ phải như nước tuôn trào,
cho công lý như dòng suối không bao giờ cạn” (5: 21-24).
3.Thảm họa không sao tránh khỏi:
Ngôn sứ A-mốt nhắc đi nhắc lại sứ điệp đe dọa của mình:
“Vì thế, giờ đây chúng sẽ bị lưu đày,
dẫn đầu những kẻ bị lưu đày.
Thế là tan tác bè lũ quân phè phỡn!” (6: 7).
Trong cảnh thanh bình thịnh vượng này, sứ điệp của vị ngôn sứ xem ra thật điên rồ. Tuy nhiên, lời đe dọa này sẽ được ứng nghiệm. Quyền lực của đế quốc Át-sua chẳng bao lâu chỗi dậy. Thành đô Sa-ma-ri bị sụp đổ. Vương quốc miền Bắc, vương quốc Ít-ra-en, sẽ biến mất vĩnh viễn. Đoàn người Ga-li-lê và Sa-ma-ri bị dẫn đi lưu đày ở Ni-ni-vê, kinh đô của đế quốc Át-sua. Những tiếng kêu của người nghèo đã vang lên tới Chúa.
BÀI ĐỌC II (1Tm 6: 11-16)
Chúng ta tiếp tục đọc thư của thánh Phao-lô gởi ông Ti-mô-thê. Trong đoạn trích tuần trước, thánh nhân chủ yếu ngỏ lời với cộng đoàn tín hữu Ê-phê-xô; trong đoạn trích mới này, thánh nhân khuyên ông Ti-mô-thê một cách riêng tư nhiều hơn.
1.Ngôn từ:
Đoạn này thuộc phần cuối thư. Thánh Phao-lô khuyên, nhưng cũng truyền lệnh, với uy thế mục vụ và tuổi đời của thánh nhân, vì ông Ti-mô-thê vẫn còn trẻ, như thánh nhân viết trong thư này: “Chớ gì đừng coi ai coi thường anh vì anh còn trẻ. Trái lại, anh hãy nên gương mẫu cho các tín hữu về lời ăn tiếng nói, về cách cư xử, về đức ái, đức tin và lòng trong sạch” (4: 12). Thánh nhân nói một cách hùng hồn với tư cách người Ki-tô hữu, nhưng thỉnh thoảng thánh nhân mượn những ngôn từ thao trường và nhuốm màu sắc lý tưởng Hy-lạp.
Về thể thao, thánh nhân một lần nữa sánh ví cuộc đời Ki-tô hữu với một cuộc chiến đấu vì đức tin cao đẹp, nhằm giành cho bằng được sự sống đời đời, như vận động viên thi đấu trong thao trường ra sức giành cho bằng được vòng nguyệt quế (x. 1Cr 9: 24; Pl 3: 14 và 2Tm 2: 4-5 và 4: 7). Thánh Phao-lô cũng nói với tư cách người Hy-lạp, hiệp nhất trong cùng một viễn cảnh Chân, Thiện và Mỹ: “Anh hãy lao mình vào cuộc thi đấu cao đẹp… Anh đã nói lên lời tuyên xưng cao đẹp…”. Thánh nhân cũng diễn tả Đức Ki-tô theo cùng một cách như thế: “Đấng đã nói lên lời tuyên xưng cao đẹp trước tòa tổng trấn Phong-xi-ô Phi-la-tô”.
Năng lực chiến đấu, ý thức về sự cao đẹp của chân lý Ki-tô giáo, những tâm tình như thế có thể giúp ông Ti-mô-thê trong công việc điều hành Giáo Đoàn của ông, vì ông phải nêu gương sáng.
2.Lời cam kết:
Ông Ti-mô-thê đã được đặt tay tấn phong; ông là “người của Chúa”; ông “đã nói lên lời tuyên xưng cao đẹp trước mặt nhiều nhân chứng” (thánh nhân ám chỉ đến bí tích Truyền Chức của ông Ti-mô-thê), vì thế, cách sống của ông phải đi đôi với lời cam kết của ông: “Hãy cố gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, hãy gắng sống nhẫn nại và hiền hòa”.
Tiếp đó, thánh nhân nói bằng một giọng điệu nghiêm nghị hơn: trước mặt Thiên Chúa và trước mặt Đức Giê-su Ki-tô, phải trung thành, phải bắt chước Đức Giê-su, Ngài đã khẳng định chân tính của mình trước tòa tổng trấn Phong-xi-ô Phi-la-tô. Thánh Phao-lô biết rằng trong cộng đoàn Ê-phê-xô có những căng thẳng và vài biện luận rất gần với lạc giáo. Ông Ti-mô-thê phải là vị hướng đạo tinh thần không gì đáng trách. Người ta cảm thấy thánh nhân nghi ngờ những sai lạc đạo lý; vì thế, lời khuyên của thánh nhân mặc lấy một lệnh truyền: “Tôi truyền cho anh: hãy tuân giữ điều răn của Chúa”. Và để có tính thuyết phục hơn, thánh nhân gợi lên ngày Đức Giê-su trở lại trong vinh quang, đó sẽ là giờ xử án.
3.Bài thánh thi:
Thánh nhân chấm dứt bằng lời chúc tụng vinh quang Thiên Chúa, một “vinh tụng ca”, xem ra xuất xứ từ Do-thái giáo. Những ngôn từ được mượn ở nơi những lời nguyện phổ biến trong các hội đường thuộc thế giới Hy-lạp. Người ta nhận ra những biểu thức của sách Đệ Nhị Luật như: “Vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là Thần các thần, là Chúa các chúa, là Thiên Chúa vĩ đại, dũng mãnh, khả úy, là Đấng không thiên vị ai và không nhận quà hối lộ” (Đnl 10: 17) và các Thánh Vịnh như: “Hãy tạ ơn Chúa các chúa” (Tv 136: 3). Thánh nhân sáp nhập chúng vào trong một thị kiến ở đó Đức Giê-su ngự trị. Đức Giê-su này, Đấng đã làm chứng trước tổng trấn Phong-xi-ô Phi-la-tô bằng một lời tuyên xưng cao đẹp, thì chính Ngài, Chúa các chúa, sẽ bày tỏ vinh quang  “đúng thời đúng buổi”.
TIN MỪNG (Lc 16: 19-31)
Chương 16 Tin Mừng Lu-ca bắt đầu với dụ ngôn “người quản gia bất lương” và kết thúc với dụ ngôn “người giàu có và anh La-da-rô nghèo khổ”. Đức Giê-su tiếp tục giáo huấn các môn đệ về thái độ họ phải có đối với của cải trần thế. Ngài trở nên nghiêm khắc hơn khi kết án không một chút xót thương những người giàu có sử dụng của cải của mình đến mức chỉ biết đến mình mà không quan tâm đến những khốn khổ của anh em đồng loại. Trái lại, người nghèo, chết vì cảnh đời khốn khổ, nhưng được hưởng một số phận hạnh phúc bên kia nấm mồ, đây là lời ngợi khen về đức nghèo khổ.
1.Một bức tranh đảo ngược:
Hai cảnh đời được mô tả rất tương phản giữa người giàu có và anh La-da-rô nghèo khổ. Người giàu có “mặc toàn gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”; còn anh La-da-rô khốn khổ, mình đầy ghẻ chốc, nằm trước cổng nhà người giàu này, cứ chờ đợi những mẩu bánh thừa rơi xuống từ bàn tiệc của người giàu. Bức tranh lại càng thêm bi thảm hơn nữa khi kể: “Lại thêm bầy chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta”. Như chúng ta biết, đối với người Do thái, con chó là một con vật ô uế.
“Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham”: Đây là kiểu nói Kinh Thánh để chỉ người công chính được chết lành và được đưa vào nơi an nghỉ cùng với các tổ tiên trong khi chờ đợi được sống lại. Không có bất kỳ đức hạnh nào của người nghèo được kể ra. “Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn”: Đây là kiểu nói bình dân để chỉ cái chết của những người chẳng có đức độ gì. Ngoài ra, hình ảnh Kinh Thánh được sử dụng ở đây là “lửa”, lửa phán xét mà các ngôn sứ và chính Gioan Tẩy Giả đã nhiều lần loan báo.
2.Tội của người giàu có:
Vậy thì tội của người giàu này là gi? Ông không hất hủi xua đuổi anh La-da-rô, cũng không buông lời mắng nhiếc thóa mạ anh. Tội của người giàu chính là thái độ thờ ơ lãnh đạm nhắm mắt làm ngơ trước những nỗi khốn khổ của người anh em đồng loại của mình. Vì thế, kẻ đã không bố thí cho người cùng khổ vài mẩu bánh thừa từ bàn rơi xuống, thì cũng sẽ không được ban cho một giọt nước nào trên lưỡi để làm dịu cơn khát trong chốn trầm luân. Điều này gợi nhớ câu nói của Đức Giê-su trong dụ ngôn “cuộc phán xét sau cùng”, trong đó Ngài đã đồng hóa mình với những người bất hạnh: “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng” (Mt 25: 42-43).
Ở nơi hoàn cảnh đảo ngược này, chúng ta gặp lại bức tranh bộ đôi tương phản khi thánh Lu-ca đã trình bày các Mối Phúc:
“Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó,
vì Nước Thiên Chúa là của anh em.
Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói,
vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng, vân vân”.
Trái lại:
“Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có,
vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi.
Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê,
vì các ngươi sẽ phải đói, vân vân” (Lc 6: 20-26).
3.Sự tự do của con người:
Qua hai hình tượng: trên thiên đàng và dưới hỏa ngục, cuộc đối thoại giữa tổ phụ Áp-ra-ham và người giàu có, khai mở một trong những giáo huấn chính yếu của Tin Mừng. Trước lời van xin của người giàu có: “Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát…”, vị tổ phụ đáp lại: “Con ơi, hãy nhớ lại; suốt đời con đã nhận phần phước của con rồi; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ”.
Còn về việc ông cầu xin cho anh La-da-rô đến cảnh báo những anh em của ông hiện đang sống trên dương thế, thì không cần thiết. Thiên Chúa đã ban sẵn cho họ những phương tiện tất yếu cần cho ơn cứu độ rồi: “Chúng đã có ông Mô-sê và các ngôn sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó”. Không cần thiết phải sai người chết sống lại về báo: “Ông Mô-sê và các ngôn sứ mà chúng còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin”. Như vậy, chúng ta gặp lại thái độ của Đức Giê-su đối với những người Pha-ri-sêu thù nghịch: Ngài đã từ chối dấu lạ mà họ đòi hỏi. Lời của Ngài thì đủ cho họ rồi… Từ đó, hai bài học được rút ra: một đằng, lòng chai dạ đá của những người giàu có: “Họ chẳng chịu nghe đâu”; mặt khác, Thiên Chúa kính trọng sự tự do lương tâm của mỗi người.

 

TN26-C166: VÔ CẢM

TGM Giuse Vũ Văn Thiên
 

Trong mấy Chúa nhật liên tiếp, Lời Chúa đều đề cập tới tiền bạc, sự giàu có và thói tục ăn chơi TN26-C166

Trong mấy Chúa nhật liên tiếp, Lời Chúa đều đề cập tới tiền bạc, sự giàu có và thói tục ăn chơi phóng đãng. Hôm nay, một lần nữa, Lời Chúa lại tiếp tục nói với chúng ta về thái độ đối với của cải và sự quan tâm cần có đối với người nghèo, qua nghĩa cử chia sẻ, cảm thông và giúp đỡ.
Từ khi hiện hữu, con người đã có nhu cầu canh tác đất đai, để kiếm sống cho bản thân và gia đình. Sở hữu vật chất là một đặc tính thuộc bản năng của con người. Những người giàu sang sống yên ổn tại Sion, tưởng chừng đó là những người may mắn, vì họ không phải long đong lo cơm áo gạo tiền. Tuy vậy, dưới cái nhìn của Ngôn sứ Amos, họ lại là những người bị chúc dữ. Bởi lẽ, họ suốt ngày ăn chơi phóng đãng mà vô cảm với vận mệnh của dân tộc mà vị Ngôn sứ gọi là “Nhà Giuse”. Đó là sản nghiệp của các bậc tổ tiên đã bao đời gây dựng. Vì thói ăn chơi ngông cuồng và thác loạn của những người giàu, gia sản ấy có nguy cơ sụp đổ và trở nên hoang tàn. Nên nhớ là Ngôn sứ Amos thi hành sứ vụ của mình ở thế kỷ thứ tám. Ông là một trong những ngôn sứ của người nghèo, vì giáo huấn của Chúa mà ông có trách nhiệm chuyển tải đều mang nội dung phê phán người giàu, bảo vệ người nghèo và bênh vực quyền lợi của những người cô thế cô thân.
Tại sao người giàu có bị căm ghét và lên án? Họ không bị lên án bởi vì họ giàu. Chúng ta thấy trong Tin Mừng, có một số người thuộc hoàng gia đi theo Chúa và rộng rãi giúp đỡ Người. Những người giàu bị lên án vì họ coi tiền bạc như đích điểm của cuộc đời, nhất là họ cậy vào tiền của mà vô cảm trước nỗi đau của người khác. Trong khi đó, nhiều khi tiền bạc họ có được là do bóc lột và bất công với người nghèo. Câu chuyện người phú hộ và ông Lagiarô là một điển hình. Con đường từ trong nhà ra ngoài ngõ chừng một hai trăm mét mà tưởng chừng như xa lắm, xa đến nỗi người phú hộ không bao giờ đến được. Lagiarô như một miếng giẻ rách bị vất bỏ và quên lãng. Trình thuật của Tin Mừng khéo léo đưa ra hai hình ảnh tương phản giữa hai nhân vật này: một bên gấm vóc lụa là, một bên đầy ghẻ lở mụn nhọt; một bên phè phỡn ăn chơi, bên kia đói khát đau khổ; một bên nhiều bạn đến chơi, bên kia chỉ có con chó làm bạn.
Tin Mừng cảnh tỉnh độc giả: Đừng chỉ nhìn những gì bề ngoài! Hãy coi chừng vì cuộc sống không chỉ có hôm nay mà còn có cả tương lai! Đừng tưởng có tiền bạc giàu có mà đã sung sướng! Nếu câu chuyện dụ ngôn được dựng thành kịch, thì vở kịch này sẽ gồm hai hồi mang nội dung hoàn toàn tương phản nhau. Anh phú hộ xưa giàu có phè phỡn ăn chơi, nay khốn khổ gian nan và bất hạnh. Lagiarô xưa bị quên lãng đói khát và tàn tạ, nay hạnh phúc trong lòng Abraham. Đối với người Do Thái, được ở trong lòng Tổ phụ Abraham là điều mơ ước và là hạnh phúc tuyệt vời nhất. Cuộc đối thoại giữa anh phú hộ với Abraham là bài học rút ra từ câu chuyện: Khi sống đừng kiêu ngạo và đừng lãng quên người khác. Gieo nhân nào sẽ gặt quả nấy. Đừng cậy vào công phúc của người khác, nhưng hãy lo tích trữ của cải thiêng liêng bền vững cho mình.
Sống trong cuộc đời cần có tiền bạc và vật chất! ai cũng cảm nhận được điều này. Liệu bài học rút ra từ Lời Chúa có phải là một ảo tưởng? Khi đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu cũng nhận sự giúp đỡ của mọi người thiện chí quảng đại. Chúa cũng dạy các môn đệ: vào nhà nào, hãy ăn những thứ người ta dọn cho, vì thợ thì đáng được hưởng công. Như thế, Chúa không hoàn toàn khinh chê vật chất bằng bất cứ giá nào. Theo ngữ cảnh, Chúa nói dụ ngôn này trong chuỗi giáo huấn về cách sử dụng tiền bạc. Trước đó, Chúa khiển trách những người Pharisiêu ham tiền bạc: “Các ông là những người làm ra bộ công chính trước mặt người đời, nhưng Thiên Chúa thấu biết lòng các ông, bởi vì điều cao trọng đối với người đời lại là điều ghê tởm trước mặt Thiên Chúa” (Lc 16, 14-15). Như vậy, Chúa đã dùng hình ảnh anh phú hộ để phê phán những con người cụ thể, tức là những người Pharisiêu lúc bấy giờ.
Giáo Hội Công giáo mang danh là Giáo Hội của người nghèo, nhưng Giáo Hội cũng phải có của cải để điều hành Giáo Hội và giúp người nghèo. Người giàu vẫn có thể nên thánh, nếu họ biết sử dụng của cải như một người quản lý khôn ngoan trung tín. Mẫu mực của chúng ta là Đức Giêsu, Đấng là Thiên Chúa giàu sang đã trở nên nghèo vì chúng ta. Nhờ sự nghèo khó của Người mà chúng ta trở nên giàu sang trước mặt Thiên Chúa. Vì vậy, trong khi nỗ lực để có cuộc sống vật chất ổn định, chúng ta phải gắng nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và mến, sống nhẫn nại và hiền hoà. Đó chính là sự giàu sang trước mặt Thiên Chúa và tha nhân, một sự giàu sang bền vững và tồn tại mãi mãi.
Cổ nhân dạy: “Có đức thì mặc sức mà ăn”. Điều đó có nghĩa, khi người ta sống lương thiện và có đạo đức thì công việc của họ sẽ thành đạt và hiệu quả. Những gì họ làm ra sẽ vững bền và giúp họ tìm thấy hạnh phúc đích thực.
“Người giàu có mà không khôn ngoan, thì cũng như bù nhìn mặc áo gấm” (Sưu tầm).
“Nghèo không là xấu, nghèo mà không có chí mới là xấu; hèn không đáng ghét, hèn mà không có tài mới đáng ghét; già không nên than thở, già mà sống thừa mới đáng than thở; chết không nên bi ai, chết mà vô bổ mới đáng bi ai” (Sưu tầm).

 

TN26-C167: HƯỚNG TỚI PHẦN THƯỞNG

Lm. Jos. DĐH.
 

Giầu nghèo, chức danh lớn, phận nhỏ hèn, tri thức, tầm thường, liệu mấy ai xem đó là trọng tâm TN26-C167

Giầu nghèo, chức danh lớn, phận nhỏ hèn, tri thức, tầm thường, liệu mấy ai xem đó là trọng tâm của một kiếp người ; đúng hơn, bình an hạnh phúc vẫn luôn là điều mọi người mơ ước. Từ khái niệm đi đến thực tế có gì day dứt không, khi kẻ giầu sang phú quý được trọng vọng với mỹ danh: đại gia ; người nghèo khổ lại đầy mặc cảm tự ti trước sự cảnh giác của xã hội: đói ăn vụng, túng làm liều ! Khuynh hướng chung chung: kẻ giầu muốn rượu ngon, người đói ăn lại muốn no bụng. Làm sao giầu, nghèo, học thức, dân thường, vẫn sống hoà hợp, tình trạng phân chia giai cấp bị xoá bỏ, hy vọng đó có xa vời không, hay điều ấy chỉ xảy ra trong giấc mơ mà thôi ? Trách nhiệm phải canh tân bản thân và góp sức dựng xây quê hương đất nước xã hội là của ai ? Câu trả lời chắc chắn là nơi mỗi người đang thành tâm thiện chí, cùng hướng tới một phần thưởng ở phía trước.
Dụ ngôn ông phú hộ giầu, ông Ladarô nghèo, được Chúa Giêsu dẫn dắt đến một chân lý: thưởng phạt là có thật, giầu sang, nghèo hèn, điểm dừng ở đời này là sự chết. Lúc sống trên trần gian ông nhà giầu ăn sung mặc sướng, có lẽ ông phú hộ ấy chẳng còn cái cảm giác: sinh lão bệnh tử, một quy luật đang chờ ông. Lúc đói rách trên trần gian, người nghèo Ladarô cũng chỉ nghĩ, nếu được ăn chút bánh vụn từ bàn tiệc của vị đại gia thì hạnh phúc lắm ! Sau khi kết thúc cuộc sống trần thế, ông nhà giầu phải chịu cực hình, người nghèo Ladarô vinh dự ở trong lòng Tổ phụ Abraham. Trời quở báo: lên voi xuống chó ; hiểu theo suy luận nhà nông: gieo gì gặt nấy ; giáo lý tứ chung thì nói đến một hệ quả tất yếu: chết, phán xét, thiên đàng, hoả ngục. Dụ ngôn giầu nghèo, chết sống, thưởng phạt, sẽ còn lan truyền rộng rãi khắp nơi, cũng là dịp Đức Giêsu nhắc nhớ đến từng đối tượng, hãy chia sẻ vật chất, hãy sống tình yêu thương, đang khi bạn còn sống trên trần gian.
Nếu ông phú hộ biết trước giầu tiền lắm của có thể là nguy cơ phải nhận án phạt sau khi lìa đời, hẳn là ông tìm mọi cách để được sống mãi một kiếp người nghèo, hoặc ông sẽ chia sẻ hết số tài sản cho thiên hạ cách nhanh nhất. Cả lúc thưa chuyện với Tổ phụ Abraham mà còn kịp đổi giầu thành nghèo, ông phú hộ đã hoán đổi để được vinh dự sau khi ông qua đời. Nếu Ladarô biết trước diễm phúc của người nghèo là được ở cung lòng Abraham sau khi chết, chắc chắn ông cũng bao giờ thèm khát được ăn được uống, được đồng bàn với ai làm chi. Chính sự giầu sang, yến tiệc linh đình đã che tầm nhìn, ông nhà giầu không thấy người anh em đang ở cổng nhà mình, ông thiếu quan tâm bác ái, không đủ khôn ngoan sáng suốt trong việc sử dụng của cải, ông phú hộ đã tự làm cho mình nghèo hèn trước Thiên Chúa. Thực tế, chưa ai nghèo đói mà lại nói tôi sung sướng hạnh phúc, cũng không ai giầu mà lại bảo tôi đã dư tiền của rồi, than thân trách phận hoặc lòng tham vô đáy là thế.
Cha ông chúng ta nói: giầu tham việc, thất nghiệp tham ăn, Chúa Giêsu hôm nay không bình luận, không nhận xét việc giầu nghèo, Ngài có ý mời gọi hãy sống yêu thương, hãy chia sẻ, giúp nhau sống với những điều kiện ta đang có. Dù bạn là ai: giầu nghèo, vô duyên bất tài, thông thái lưu loát, thì trách nhiệm của ta vẫn phải làm cho cuộc sống không còn ngăn cách, khổ đau tan biến và hạnh phúc tràn đầy nơi cuộc sống. Giầu chưa phải là phần thưởng ở đời này, nghèo không phải là hình phạt ở cuộc sống hiện tại, ai cũng cần khôn ngoan sử dụng lợi thế, hoàn cảnh của mình để sống tốt: nghèo không hèn, giầu không ích kỷ ; tài không kiêu căng, bất tài không bi quan mặc cảm. Xã hội thời nào chẳng kêu gọi bình đẳng, vì nếu chỉ sống lý thuyết thì chưa đủ, hãy hành động để mọi người được học, người trẻ được giáo dục đến nơi đến chốn, hãy thực tế để giữa bàn tay và tấm lòng nhân ái được sẻ chia tới khắp cùng thế giới.
Mỗi người kitô hữu chúng ta hiện đang hướng về phần thưởng nào ? Giầu nghèo, khoẻ mạnh ốm đau, tài hèn, địa vị chức quyền hay hai lúa tầm thường ? Điều cần hơn, thiết tưởng chúng ta phải biết mình đang sử dụng ơn ban, đang sống với những khả năng thế nào ? Cơ hội để mỗi người đoạt giải, để ta tự tin nhận lãnh phần thưởng sau khi nhắm mắt lìa đời là có thật. Vấn đề thưởng phạt không phải do hên xui, nhưng hệ tại mỗi người hiểu, biết và sống ơn ban, sống nén bạc, đúng với tinh thần người môn đệ Đức Kitô. Một cuộc sống ý nghĩa là một cuộc sống được giãi bày tình người, tình Chúa, trong các tương quan ở đời này. Chúa Giêsu đến không thiết lập một vương quốc nghèo hay giầu, nhưng kêu gọi tình người luôn được sẻ chia, người người tìm thấy phần thưởng trong nghĩa cử nhân ái giữa cho và nhận, giữa biết và sống thật đằm thắm yêu thương. Amen.

 

TN26-C168: LAZARO VÀ NGƯỜI PHÚ HỘ

Lm Giuse Hoàng Kim Toan 
 

Câu chuyện về người nghèo chẳng bao giờ kết thúc. Người nghèo ở đây không chỉ là đói ăn, TN26-C168

Câu chuyện về người nghèo chẳng bao giờ kết thúc. Người nghèo ở đây không chỉ là đói ăn, thiếu mặc, không nhà… Nghèo hơn mọi thứ nghèo, không được luật pháp bảo vệ, chịu bóc lột, cưỡng bức.
Lazaro ghẻ chốc.
Hình ảnh một con người nghèo ghẻ chốc, không phải là một người vô danh. Anh ta có tên gọi Lazaro, là một con người bằng xương, bằng thịt, hiện diện trong xã hội.
Cái tên gọi đích danh, không phải để người khác ca tụng, nhưng lại là một cái tên đưa ra để chịu tội cho người khác ẩn danh. Người ta gọi tên anh như con dê tế thần. Anh ta chỉ có cái tên và chẳng có gì để mất hơn nữa. Cái tên của anh quan trọng trước pháp luật, để công lý không đấm vào không khí. Cái tên của anh, ai nghe cũng ngần ngại bởi được gọi lên mỗi ngày ở tù giam.
Người nghèo Lazaro ngồi trước hiên nhà giàu, chỉ rõ một phận số người nghèo không được pháp luật bảo vệ (hình tượng ngôi nhà). Bạo lực kềm chế họ trong sự nghèo khổ (con chó liếm ghẻ chốc). Nhất là phụ nữ, trẻ em, không ai bảo vệ họ khỏi những tay cưỡng hiếp, những tay buôn người, những băng đảng ma tuý…
Sự ghẻ chốc trên con người của Lazaro, nói lên một xã hội thối nát. Lazaro là những con người làm việc tối mày, tối mặt, không đủ ăn, không đủ mặc, sống trong những căn nhà trọ chật chội, hôi hám, thiếu nước, thiếu điện, trên người đầy ghẻ chốc.
Nhiều người thơm tho, lịch lãm, ngồi ăn uống linh đình trên những khốn khổ của Lazaro mà không thấy lương tâm hổ thẹn.
Những phương pháp giản đơn.
Cần có lòng trắc ẩn, không chỉ phân phát lúa gạo, thực phẩm, mà dành thời gian nghe những nỗi niềm của Lazaro. Trong dụ ngôn người phú hộ đã không một lời và cũng chẳng đưa mắt nhìn đến Lazaro đang ngồi trước cửa. Không có đối thoại nên không có cảm thông và cũng không có lòng trắc ẩn.
Lòng trắc ẩn cần được khởi đi từ công lý chung cho mọi người. Luật pháp không chỉ dành cho người giàu như người ta vẫn nói: “Đa kim ngân, phá luật lệ”. Luật pháp cần được thực thi công bằng và đứng về phía người nghèo để họ có thể thăng tiến. Phụ nữ và trẻ em, cần được bảo vệ khỏi những bạo lực, cưỡng hiếp, bóc lột. Theo nghiên cứu của Gary Haugen (TED2015).
Trợ giúp cho những người làm việc lam lũ, cật lực để những cố gắng của họ được gặt hái thành quả phong phú hơn. Như ngân hàng Grameen Bank trong dự án của tiến sỹ Yumus (TED GLOBAN 2010).
Làm được gì cho Lazaro, hãy bắt đầu từ hôm nay. “Phúc cho những bàn tay rộng mở ôm lấy người nghèo và giúp đỡ họ: đó là những bàn tay đem lại hy vọng. Phúc cho những bàn tay vượt qua được rào cản về văn hóa, tôn giáo và quốc tịch, và rót đổ dầu thơm của sự ủi an trên những vết thương của nhân loại. Phúc cho những bàn tay không đòi hỏi sự hoàn trả, những bàn tay không bao giờ nói “nếu” hoặc “nhưng” hoặc “có lẽ”: đó là những bàn tay chuyển phúc lành của Thiên Chúa xuống trên những anh chị em của họ.” (Sứ điệp ngày Người Nghèo lần thứ 1, Đức Thánh Cha Phanxico, 19 – 11 – 2017).

 

TN26-C169: NGƯỜI BÊN CẠNH

Anna Cỏ may
 

Trong cuộc sống, dù đi đâu, ở nơi nào, chúng ta đều nhìn thấy bên cạnh mình những người giàu TN26-C169

Trong cuộc sống, dù đi đâu, ở nơi nào, chúng ta đều nhìn thấy bên cạnh mình những người giàu có và cả những người nghèo khổ. Sự giàu có và nghèo khổ diễn ra ở hiện tại và sẽ đem lại điều gì cho chúng ta ở đời sau?
 Cuộc sống của người giàu diễn ra như thế nào? Trong Tin Mừng theo thánh sử Luca, ngài miêu tả về người giàu có ăn mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình (x.Lc 16.19). Nhìn vào cuộc sống thực tại, những người giàu sống trong tòa nhà cao cấp, có xe đưa đón, ăn mặc sang trọng, tay đeo những đồ trang sức long lanh và tay cầm chiếc điện thoại đa năng. Nhưng trong số những người giàu, có bao nhiều người biết nhìn đến người nghèo khổ? Còn người nghèo khổ, họ không những nghèo về vật chất mà còn nghèo về trí thức và phải mang trên mình căn bệnh hiểm nghèo. Anh Ladaro nghèo nàn, thân mình đầy mụn nhọt nằm trước cổng ông nhà giàu. Anh chỉ thèm được ăn những gì trên bàn của chủ rơi xuống mà ăn cho no. Bên cạnh anh cũng có lũ chó đang chờ đợi như anh vậy. Chốc chốc, chúng đến liếm ghẻ chốc trên thân mình anh. Một cái nghèo không còn gì để nghèo hơn nữa (x. Lc 16, 20-21). Khi chết, anh đã được thiên thần đưa vào lòng ông Apraham. Người giàu có cũng chết, người ta đem đi chôn. Như vậy, sau khi chết, họ đã phải đổi vị trí cho nhau: người giàu phải bị lửa thiêu đốt khổ cực, người nghèo được an ủi trên Nước Trời. Lúc này, không ai có thể giúp hay tỏ lòng thương xót ai được. Chỉ có cuộc sống trần gian, người ta mới có thể giúp nhau sống hạnh phúc ở đời này và kéo dài cho đến đời sau.
 Ông nhà giàu xứng đáng chịu cực khổ như vậy vì ông đã sống trong tính kiêu căng qua việc ăn mặc lụa là, xa hoa và phung phí. Ông lâm vào con đường mê ăn uống là hằng ngày mở tiệc linh đình. Ông còn mang tội bất nhân, ích kỷ đã không thèm để ý giúp đỡ người nghèo trước cửa. Ông rơi vào cuộc sống của các mối họa (x. Lc 6, 24-26).  Còn anh Ladaro, anh đã sống trọn mối phúc Nước Trời (x. Lc 6,20-23)). Anh vui vẻ đón nhận những sỉ nhục, sự nghèo hèn là lê lết ăn xin. Anh không than trách phận mình với trời cũng không chê trách ông nhà giàu keo kiệt, anh chỉ ước được ăn những gì trên bàn ông nhà giàu rơi xuống cho no. Như vậy, dù chúng ta giàu hay nghèo mà sống trong ích kỷ và bất nhân thì sẽ lãnh hình phạt xứng đáng. Nếu biết thực thi bác ái, chúng ta sẽ được hưởng hạnh phúc trên Nước Trời.
Lạy Chúa, xin chớ để con phải ăn mày cũng đừng để con giàu có. Xin chỉ ban cho con hằng ngày dùng đủ. Kẻo khi giàu, con bị mê hoặc mà bỏ anh em hoặc khi túng thiếu con làm những việc sai trái làm ô danh Chúa. Amen.

 

TN26-C170: VÔ CẢM VỚI NGƯỜI NGHÈO LÀ MỘT TỘI ÁC

Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương
 

Mùa hè năm 2016, nhiều trang mạng đăng tải hình ảnh thương tâm của một bệnh nhân ở Sơn TN26-C170

Mùa hè năm 2016, nhiều trang mạng đăng tải hình ảnh thương tâm của một bệnh nhân ở Sơn La chết, vì quá nghèo nên người nhà phải bó chiếu chở xe máy về quê. Hình ảnh đó khiến cộng đồng mạng xôn xao. Có ai đó đã tài khéo ghép tượng đài Hồ Chí Minh 1.400 tỷ ở tỉnh Sơn La với cảnh “người chết bó chiếu.” Bức ảnh này phản ảnh thực trạng bất công của xã hội Việt Nam hiện nay, một xã hội mà người ta có thể xây dựng “những tượng đài nghìn tỷ, nhưng sinh mạng con người thì như chiếc móng tay” (Cô giáo Trần Thị Lam).

1- Số phận nhà phú hộ và Ladarô
Bức ảnh trên cũng có gì đó tương tự với dụ ngôn về nhà phú hộ và anh Ladarô được Chúa Giêsu kể hôm nay. Hai nhân vật có cuộc sống hoàn toàn tương phản: nhà phú hộ thì một đời “lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình,” còn Ladarô thì một đời nghèo khó, mình đầy mụt nhọt, khố rách áo ôm, ăn mày trước cửa đại gia. Tuy nhiên, số phận của hai người bị đảo ngược sau cái chết: nhà phú hộ phải chịu kiếp trầm luân; còn Ladarô được vào lòng Ápbraham hưởng hạnh phúc đời đời.
Dụ ngôn này được xếp vào loại “dụ ngôn nói về khủng hoảng đạo đức” trong xã hội. Trong đó, sự bất công, hố sâu phân cách giữa người giàu và người nghèo là quá lớn mà hậu quả người nghèo bao giờ cũng là những nạn nhân của xã hội. Thánh Luca muốn hướng tới một cuộc hoán cải bên trong để thay đổi cấu trúc xã hội nhằm mang lại sự bình đẳng cho con người. Chúng ta cần hiểu đúng ý nghĩa của dụ ngôn. Ở đây, Chúa Giêsu không có ý muốn nói rằng: tất cả mọi người giàu có đều bị kết án và đáng phạt trong hỏa ngục, còn tất cả những ai nghèo khó thì chắc chắn sẽ được hưởng hạnh phúc thiên đàng. Chúa Giêsu cũng không lên án của cải và sự giàu có. Kitô giáo không cổ xúy cho sự bần cùng hóa con người và kết án những ai giàu có trong xã hội.
Trái lại, như chúng ta biết, của cải tự thân là ân sủng Chúa ban để giúp chúng ta sống đúng nhân phẩm của mình. Triết gia Công Giáo Blaise Pascal nói đến ba bậc của sự cao cả trong cuộc sống: bậc I thuộc giá trị vật chất và thể lý: của cải, sức khỏe, sắc đẹp tự thân nó có một giá trị không ai phủ nhận, ai cũng mong ước. Bậc II thuộc giá trị tài năng mà các nhà tư tưởng, các nghệ nhân, các thiên tài nắm giữ… tài năng họ khiến mọi người nể phục và ước ao. Nhưng đó chưa phải là bậc cao nhất. Bậc III thuộc giá trị tình yêu và ân sủng. Đây là bậc cao nhất, đẹp hay xấu, giàu hay nghèo không thêm không bớt gì nơi một vị thánh. Thánh thiện cao cả hơn tài năng và giàu có, khỏe mạnh.
Chúa Giêsu không lên án của cải vật chất và tài năng, nhưng Người tiếp nối truyền thống các tiên tri, lên án thái độ của những người chỉ biết hưởng thụ ích kỷ nhưng lại dửng dưng, vô cảm đối với người nghèo. Đó là một tội ác.
Trong bài đọc I, tiên tri Amốt lên án những người chỉ biết hưởng thụ, xa hoa mà không biết thương xót những người khốn khổ và tiên báo những sự trừng phạt khủng khiếp dành cho họ.
Trong dụ ngôn, người phú hộ bị trầm luân không phải vì một tội nào như tham nhũng, buôn lậu, hay bóc lột. Nhưng vì ông đã dửng dưng vô cảm đối với Ladarô nghèo khó. Như thế, dụ ngôn muốn gửi tới chúng ta thông điệp: Cuối cùng, Thiên Chúa sẽ xét xử chúng ta dựa trên những gì chúng ta thực thi cho người nghèo khó. Điều này được Tin Mừng thánh Mátthêu làm rõ trong tường thuật về ngày phán xét chung (Mt 25,35-45): “Những gì các ngươi làm cho những người bé mọn nhất, là các người làm cho chính Ta.”
Theo nghĩa này, thánh Gioan Kim Khẩu đã nói: “Không chia sớt của cải cho người nghèo là ăn cắp của họ và lấy đi kế sinh nhai của họ. Của cải chúng ta giữ không phải là của riêng chúng ta, mà là của họ” (trích lại trong Evangelii Gaudium, số 57).

2- Người giàu và người nghèo hôm nay
Câu chuyện người phú hộ và anh Ladarô nghèo cho phép chúng ta liên tưởng đến bức tranh toàn cảnh thế giới hôm nay. Có lẽ hơn bao giờ hết, con người ngày nay có nhiều của cải vật chất, nhưng lại thiếu tình thương liên đới với nhau, của cải chỉ tập trung vào một số nước và một số người. Cơ chế kinh tế thị trường hôm nay càng tạo ra hố sâu ngăn cách ngày càng sâu giữa nước giàu và nước nghèo, giữa người giàu và người nghèo, giữa nông thôn và thành thị. Chúng ta chứng kiến cảnh những ngôi nhà chọc trời bên cạnh những khu nhà ổ chuột và những người khố rách áo ôm, buôn thúng bán mẹt; cảnh những đại gia chi tiêu hàng chục triệu mua một chai rượu cho một bữa tiệc, trong khi đó có biết bao người ngày hai bữa ăn cũng không có; cảnh các quan chức có những cái bắt tay hàng tỷ bạc, trong khi có rất nhiều người đổ mồ hôi sôi nước mắt suốt ngày mà không đủ sống.
Nguyên nhân của sự bất công, bất bình đẳng giữa người giàu và người nghèo là do sự ích kỷ, vô cảm và tệ nạn tham nhũng. Đức Giáo Hoàng Phanxicô lên tiếng về “thái độ vô cảm toàn cầu” này, đó là thái độ vô cảm vô can trước đau khổ và khó khăn của tha nhân. Giáo Hội chọn đứng về phía người nghèo để bênh vực và đồng hành với họ.
Sống trong một xã hội như thế, dụ ngôn hôm nay như lời thức tỉnh lương tâm ngái ngủ chúng ta trước thảm cảnh nghèo đói. Chúng ta được mời gọi cởi mở tâm hồn đối với những ai đau khổ, nghèo đói, bị thương tổn để giúp đỡ họ. Chúng ta hãy để cho dụ ngôn này đào luyện lương tâm mình để chúng ta có những cảm thức và nhạy bén với nỗi thống khổ của người nghèo giống Chúa Giêsu, cũng như biết đứng về phía họ để phục vụ theo đức ái Kitô giáo. Amen.

 

TN26-C171: ÔNG NHÀ GIÀU VÀ LAZARÔ NGHÈO KHÓ

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi
 

Tin Mừng của Đức Giêsu là những bài học sống động dạy bảo con người.Lời của Chúa là ngọn TN26-C171

Tin Mừng của Đức Giêsu là những bài học sống động dạy bảo con người.Lời của Chúa là ngọn đèn soi, hướng dẫn con người, nuôi dưỡng loài người. Những dụ ngôn, những ví dụ Chúa Giêsu đưa ra nhằm sửa đổi, răn dạy con người, luôn có một sức mạnh lớn lao biến đổi con người. Những trang Tin Mừng của thánh Luca là những trang tuyệt đẹp, gây ấn tượng vô cùng khó quên cho con người, cho nhân loại, cho mỗi người chúng ta. Hôm nay, thánh Luca trình bầy dụ ngôn :” Ông Phú hộ giầu và Lazarô nghèo khó” là hình ảnh sống động, rất thực tế để răn dạy mỗi người chúng ta.
Chúa Nhật tuần trước dụ ngôn nói về “ Người quản gia bất lương “giúp chúng ta hiểu rất rõ đoạn Tin Mừng của thánh Luca :” Ông nhà giầu và Lazarô nghèo khó “. Hình ảnh thật tương phản giữa nhà Phú hộ giầu và Lazarô nghèo khó nói lên sự bi đát, tương phản mà chúng ta thường gặp trong xã hội con người.Đây là câu chuyện sống động, rất hiện thực trong thế giới muôn thời.
Ông Phú hộ giầu sang phú quý, ngày ngày yến tiệc linh đình rất tương phản với anh Lazarô quần áo, lem nhem, rách rưới,mình đầy lở chốc Sự tương phản này nói lên sự bất công của con người, giữa người giầu và người nghèo. Người giầu của cải đầy dư, kho lẫm lúc nào cũng đầy lương thực dự trữ, còn người nghèo, anh Lazarô không có lấy mụn bánh để ăn cho đỡ đói chứ đừng nói tới ăn no, ăn đầy bụng. Hình ảnh này làm chúng ta liên tưởng đến dụ ngôn “ Người con hoang đàng “. Tin Mừng viết:” khi phung phí hết tiền của “, người con đi hoang mới tự nhủ :” ở nhà Cha của anh thì giầu có, lương thực đầy dư, con anh ta phải chết đói ở đây, muốn có chút lương thực cho heo ăn mà thốn cho đầy bụng cũng chẳng ai cho “. Hình ảnh sống động, câu chuyện thực là bài học để đời cho mọi người.
Ông Phú hộ và Lazarô nghèo khó là dụ ngôn thực, đầy nét nhân văn giúp chúng ta hiểu được những mảnh đời gian nan, đau khổ, vất vả ở một cáiđời. Ông Phú hộ giầu có cứ tưởng ông sẽ sống mãi mãi, sẽ hưởng thụ suốt đời này qua đời khác.ông tưởng thế gian là vĩnh cửu, trường tôn. Ông tưởng sự giầu có là vĩnh viễn.Ông không hiểu mọi sự là tạm bợ, mau qua giống như hoa phù dung sớm nở chiều tàn. Ông không biết “ Cuộc đời là hư vô, tất cả đều là hư vô”.
Đùng một cái ông Phú hộ giầu và anh Lazarô nghèo khổ cũng lăn ra chết. Ông Phú hộ phải trầm luân nơi hỏa ngục đời đời, ông kêu van, khóc lóc nhưng tất cả đều quá muộn màng.Tội của ông là tội vô tâm, ông đóng cửa lòng trước những người nghèo.Ông làm ngơ trước nỗi đau của người khác, trước nỗi khổ nhục của tha nhân, không biết chia sẻ cho tha nhân, cho người khác.Lazarô được ngồi trong lòng Abraham. Anh đã được Thiên Chúa thưởng công.
Vâng, Lazarô đã phải chịu nỗi cay đắng, đau khổ của cuộc đời.Anh đã chấp nhận đời sống với tất cả đức tin, với tất cả sự cậy trông phó thác của mình. Tin Mừng của thánh Luca viết thực mỉa mai :” …Lazarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no…”( Lc 16, 21). Thật mỉa mai, thật đau khổ. Nhưng Lazarô đã được các thiên thần đem vào lòng tổ phụ Abraham.
Câu chuyện, còn mỉa mai hơn, khi ông Phú hộ giàu nài nỉ để có người chết về báo cho 05 đứa em của ông đang sung sướng như ông ở trần gian, nhưng lời kêu cầu đó thất bại vì họ đã có Lời Chúa và lời giáo huấn của Giáo Hội.
Câu chuyện sống động, nhưng cũng rất mỉa mai đối với những ai cậy mình giàu có mà quên đi những người nghèo khó.Chúa không bao giờ bần cùng hóa con người, làm nghèo xã hội nhưng Chúa dạy con người, chúng ta phải biết xót thương, quảng đại, chia sẻ. Bo bo giữ của, chỉ biết làm giầu cho bản thân mả vô tâm, đóng kín lòng trước người nghèo, không quảng đại, chia sẻ mà tưởng cuộc đời này sẽ trường tồn mãi mãi để họ một mình hưởng thụ.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con lòng quảng đại, cảm thông, chia sẻ để chúng con luôn biết sống khôn ngoan như năm cô trinh nữ khôn ngoan mang đèn mà lại mang theo dầu. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Tội của ông Phú hộ giàu là gì ?
2.Lazarô là người thế nào ?
3.Trên thế giới này tài nguyên có được phân bổ đồng đều không ?
4.Chúng ta phải có thái độ nào đối với những người nghèo ?
5.Làm ngơ với người nghèo có tội không ?

 

TN26-C172: BỐ THÍ

Lm. Giuse Trần Việt Hùng
 

Nhà cao cửa rộng thênh thang, Một ông phú hộ, giầu sang tiệc tùng. Mặc toàn gấm vóc vải nhung, TN26-C172

Nhà cao cửa rộng thênh thang,
Một ông phú hộ, giầu sang tiệc tùng.
Mặc toàn gấm vóc vải nhung,
Ngày ngày yến tiệc, hưởng dùng thỏa thuê.
Trước nhà hành khất bò lê,
Mình đầy ghẻ chốc, ê chề tấm thân.
La-za-rô sống thanh bần,
Hằng ngày đói khổ, thân trần gớm ghê.
Chó con liếm ghẻ cận kề,
Mong tìm bánh vụn, kéo lê cuộc đời.
Lang thang vất vưởng một thời,
Kết cùng cuộc sống, một đời khổ đau.
Thiên thần đón tiếp mai sau,
Ông già phú hộ, trước sau cũng dời.
Ra đi tay trắng không lời,
Vào nơi khổ ải, lửa khơi bừng bừng.
Cực hình quằn quại không ngừng,
Thương thay số kiếp, vui mừng đã qua.
Không màng thương giúp người ta,
Sự lành đã hưởng, phôi pha tháng ngày.
Bài Phúc âm thánh Luca đặt chúng ta trước một cảnh thương tâm. Một người giầu có ăn mặc gấm vóc lụa là, yến tiệc linh đình và một người hành khất nghèo đói lả không nơi nương tựa. Hai người ở trong hai hoàn cảnh khác nhau. Sau khi mãn phần, phận số đời sau cũng khác nhau. Người nghèo nàn bệnh tật thì không do lỗi ở người giầu. Người phú hộ cũng không xử tệ, không xua đuổi và không làm hại chi người hành khất. Vấn đề là người phú hộ có mắt mà không nhìn thấu, ông đã không biết chia xẻ của ăn và tình thương với người khốn khổ. Đó chính là lỗi mà ông phải gánh chịu.
Sự chia xẻ cho người nghèo là hình thức bác ái tốt nhất. Bố thí thì chưa đủ, vì khi bố thí, chúng ta như thương hại họ và cho chút dư thừa. Trong cuộc sống chúng ta thường nói đến công bằng và bác ái. Công bằng là điều buộc chúng ta phải làm. Không giữ đức công bằng là có lỗi. Bác ái là điều không buộc, tùy lòng hảo tâm của chúng ta.
Truyện kể: Có một cô giáo dạy học bên trường sang gặp cha sở, cô kể một cách ngạc nhiên vì chuyện xảy ra trong lớp giáo lý. Khi dạy về công bằng và bác ái, cô cho các em thực tập qua câu hỏi: Người tín hữu có thể làm gì cho người hành khất, không nhà không cửa. Em thứ nhất trả lời: Chúng ta không phải làm gì cho người hành khất vì lỗi tại họ lười biếng. Bố em nói là tại lỗi của họ nên họ bị như thế. Em thứ hai nói: Mẹ em dặn, con phải sống xa những người sống bên lề đường, bởi vì họ hay bắt trẻ con và làm việc xấu. Em thứ ba tiếp lời: Bất cứ khi nào em đi với mẹ của em, mẹ luôn nhắc em nhìn sang phía khác và giả vờ như không nhìn thấy người ăn xin vệ đường. Không có một em nào trả lời một cách tích cực giúp đỡ người nghèo. Đó chính là ảnh hưởng của giáo dục gia đình.
Thường thì sự giầu có làm cho chúng ta xa dần với hoàn cảnh khổ của những người chung quanh. Khi chúng ta có tiền bạc thì chúng ta muốn tìm chỗ yên thân để hưởng thụ. Chúng ta không muốn bị người khác quấy rầy, nên xây tường cao và cổng kín. Đây cũng chính là tâm trạng chung của nhiều người. Chúng ta tìm nhiều lý do để khỏi phải giúp đỡ người khác.
Cho thì quý hơn nhận. Chúng ta cần cho khi chúng ta còn nhận. Một người giầu có cảm thấy buồn về lời dạy của Chúa về việc bố thí. Ông cầu nguyện để có thể chấp nhận sự dậy dỗ này. Càng cầu nguyện, ông càng buồn. Một hôm thiên thần đến an ủi, hỏi sao ông buồn thế? Ông trả lời: Tôi buồn vì lời dạy của Chúa về sự bố thí. Xem ra tôi phải bố thí suốt đời. Thiên thần nói: Không phải thế đâu. Ông chỉ cho khi Chúa còn cho ông. Nếu Chúa ngưng cho ông, ông sẽ không phải tiếp tục cho nữa.
Lạy Chúa, từng giây phút trong đời chúng con nhận lãnh hồng ân của Chúa. Xin cho chúng con biết tiếp tục chia xẻ ân huệ Chúa ban cho với anh chị em kém may mắn của chúng con.

 

TN26-C173: MỘT LẦN NỮA, LỜI CHÚA LẠI NÓI VỀ CÔNG BÌNH

 XÃ HỘI
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Am 6:1a, 4-7;  1 Tm 6:11-16;  Lc 16:19-31)
 

Các bài đọc hôm nay tiếp tục nói về công bình xã hội.  Chắc chắn đây là một đề tài nổi cộm của TN26-C173

Các bài đọc hôm nay tiếp tục nói về công bình xã hội.  Chắc chắn đây là một đề tài nổi cộm của mọi thời đại và đó cũng là lý do Lời Chúa lập đi lập lại điều này.  Ngôn sứ A-mốt luôn là người mạnh dạn rao giảng sứ điệp về công bình xã hội, cho nên Phụng vụ Lời Chúa một lần nữa trích dẫn sứ điệp ấy, đặc biệt nhắm tới “bè lũ quân phè phưỡn” sẽ phải chịu sự phán xét chí công của Thiên Chúa.  Cũng tiếp tục nói về vấn đề công bình xã hội, Chúa Giê-su dùng một dụ ngôn rất thực tế để trình bày hai lối sống tương phản giữa một ông nhà giàu và người nghèo khó La-da-rô.  Kết cục câu chuyện là hậu quả bất hạnh đời đời dành cho kẻ sống ích kỷ hưởng thụ, trái nghịch với hạnh phúc vĩnh cửu dành cho kẻ “suốt đời chịu toàn những bất hạnh”.  Để rút bài học sống đức công bình xã hội, Lời Chúa dùng đoạn thư thánh Phao-lô khuyên nhủ môn đệ Ti-mô-thê “hãy gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến, gắng sống nhẫn nại và hiền hòa”.
          Trước hết chúng ta hãy nghe lời Thiên Chúa lên án những kẻ sống trái công bình xã hội.  Đó là những kẻ nào?  Là những kẻ cầm quyền và sống ích kỷ tại khắp Ít-ra-en, ở Giu-đê cũng như Sa-ma-ri.  Họ sống không chút quan tâm đến người khác và đến vận mệnh đất nước.  Hằng ngày họ nằm trên giường ấm nệm êm, mặc kệ người nghèo đói.  Họ ăn uống ê hề trong khi người khác đói khát.  Cho dù đất nước sắp rơi vào tay quân địch, họ vẫn vui chơi, rượu chè và tiêu xài hoang phí.  Tình trạng xã hội bất công ấy đã bị ngôn sứ A-mốt mạnh dạn lên tiếng tố cáo.  Từ Xi-on thuộc vương quốc Giu-đa, A-mốt được Thiên Chúa sai đi loan báo sứ điệp cho xứ lân cận là vương quốc Ít-ra-en phía Bắc.  Ngài loan báo hình phạt của Thiên Chúa và việc Ít-ra-en sẽ bị lưu đày vì lối sống trái đạo đức và làm mất lòng Thiên Chúa.  Các nhà lãnh đạo sẽ là những người “dẫn đầu những kẻ lưu đày” bị điệu đi làm tôi mọi cho đế quốc Ba-by-lon.  Tuy nhiên cuối cùng A-mốt lại loan báo một tin vui:  những kẻ khó nghèo luôn được Thiên Chúa phù hộ và ai tin tưởng vào Chúa sẽ không bao giờ phải tuyệt vọng.
          Nếu ngôn sứ A-mốt đã trình bày sự tương phản giữa “những kẻ sống phè phưỡn” với những kẻ nghèo khó luôn tin cậy Thiên Chúa, thì trong bài Tin Mừng, Chúa Giê-su cũng nêu lên chính sự tương phản ấy khi Người kể dụ ngôn ông nhà giàu và anh hành khất La-da-rô.  Câu chuyện Chúa kể chia ra làm ba cảnh.  a) Cảnh thứ nhất là cảnh thực trên dương gian, xảy ra ngay nhà ông nhà giàu và là cảnh người giàu không có lòng nhân đối với người cùng khổ.  Quả là một khung cảnh tương phản không thể chấp nhận được:  ông nhà giàu thì “mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”.  Nhưng ở ngay trước mắt khi ông đi ra đi vào là một người nghèo khó mang tên La-da-rô, một cái tên áp dụng cho ai cũng được.  Anh La-da-rô này thiếu thốn đủ điều, thèm được ăn những thứ trên bàn ăn của ông nhà giàu rớt xuống đất mà không được, mong có quần áo cũ để mặc cũng không ai cho.  Bạn của La-da-rô chỉ là “mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc của anh ta”.  Anh đã bị xếp vào loại súc vật rồi!  Rồi cả hai người, ông nhà giàu lẫn La-da-rô đều chết.  b) Cảnh thứ hai:  ông nhà giàu ở âm phủ và anh La-da-rô ở trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham.  Bây giờ, sau khi chết mọi sự đều đổi ngược.  Ông nhà giàu thì rên rỉ xin tổ phụ Áp-ra-ham cứu giúp.  Ngài chỉ từ tốn trả lời ông:  “Con ơi, hãy nhớ lại:  suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi;  còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn bất hạnh”.  Ý của tổ phụ muốn nhắc nhở ông ta là khi còn sống trên đời ông ta đã sống ích kỷ, dù nhận được bao ơn lành của Thiên Chúa mà không muốn chia sẻ với những kẻ thiếu thốn.  Do đó, ông ta đã gieo nhân thì phải nhận quả, vì không ai có thể thay đổi được sự công bằng của Thiên Chúa cũng như không có lòng thương xót dành cho kẻ không biết thương xót người khác.  c) Cảnh thứ ba:  ông nhà giàu bắt đầu nghĩ đến người khác, nhưng cũng chỉ là “năm người anh em” của ông ta thôi!  Ông muốn “nhờ” tổ phụ Áp-ra-ham sai người đến “cảnh cáo” họ, để họ khỏi phải chịu khốn khổ như ông.  Kể ra ông ta cũng còn một chút “lo lắng” cho gia đình mình.  Nhưng tổ phụ trả lời:  Chúng đã có “Mô-sê và các Ngôn sứ” dạy dỗ cho chúng biết phải thực thi công bình xã hội rồi.  Ông nhà giàu nài nỉ lần chót:  Nếu có người chết trở về bảo cho họ biết thì họ sẽ sám hối và thay đổi lối sống.  Tổ phụ cũng khẳng định lần chót:  “Mô-sê và các Ngôn Sứ mà chúng còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin”.  Người chết sống lại được nhắc đến ở đây chính là Chúa Giê-su Ki-tô đấy.  Ôi, không chịu nghe lời Chúa Giê-su thì họ (và chúng ta nữa) thực là hết thuốc chữa rồi!  Cũng đành kéo nhau xuống hỏa ngục thôi!

Sống sứ điệp Lời Chúa
          Để sống sứ điệp Lời Chúa hôm nay, không gì tốt hơn là chúng ta hãy lắng nghe lời thánh Phao-lô nhắn nhủ môn đệ Ti-mô-thê trong bài đọc 2.  Ngài dạy anh hãy gắng trở nên người công chính đạo đức, giàu lòng tin và lòng mến. Đối với người công chính đạo đức, lòng tin mến đối với Chúa và lòng bác ái đối với tha nhân là cột trụ của đời sống thiêng liêng.  Sống mà mến Chúa yêu người như thế chính là cách chúng ta xây dựng nền móng cho công bình xã hội vậy.  Ti-mô-thê là một vị lãnh đạo trong Giáo Hội mà còn được nhắc nhở như vậy, huống chi chúng ta là đoàn chiên Chúa chăn dắt!

 

TN26-C174: TỘI THIẾU SÓT

Lm. Gioan Nguyễn Thiên Khải
Thưa anh chị em,
 

Chúa nhật tuần trư