Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN-C Bài 101-121 Nếu có đức tin

Thứ sáu - 04/10/2019 10:03
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN-C Bài 101-121 Nếu có đức tin bằng hạt cải
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN-C Bài 101-121 Nếu có đức tin bằng hạt cải
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 TN-C Bài 101-121 Nếu có đức tin bằng hạt cải
TN27-C101: KIÊN TRÌ TRONG ĐỨC TIN.. 1
TN27-C102: TRẢI NGHIỆM CỤ THỂ ĐỨC TIN.. 4
TN27-C103: VUN TRỒNG ĐỨC TIN.. 6
TN27-C104: ĐỨC TIN SỐNG ĐỘNG.. 8
TN27-C105: XIN BAN THÊM ĐỨC TIN.. 12
TN27-C106: SỨC MẠNH “DỜI NON LẤP BỂ” CỦA LÒNG TIN.. 23
TN27-C107: XIN THÊM ĐỨC TIN.. 27
TN27-C108: TẠI SAO PHẢI XIN THÊM LÒNG TIN?. 28
TN27-C109: CỘNG TÁC VIÊN.. 31
TN27-C110: SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 27 TN_C.. 35
TN27-C111: SỨC MẠNH VÀ TÍNH PHI LÝ CỦA NIỀM TIN.. 42
TN27-C112: ĐỨC TIN ĐI ĐÔI VỚI SỰ KHIÊM HẠ.. 45
TN27-C113: CHỈ LÀ ĐẦY TỚ VÔ DỤNG.. 47
TN27-C114: XIN BAN THÊM LÒNG TIN CHO CHÚNG CON.. 51
TN27-C115: ĐỨC TIN VÀ TINH THẦN PHỤC VỤ VÔ VỊ LỢI 52
TN27-C116: CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN_C.. 54
TN27-C117: XIN THÊM LÒNG TIN.. 57
TN27-C118: TIN YÊU VÀ KHIÊM NHƯỜNG PHỤC VỤ.. 61
TN27-C119: Xin thêm lòng tin cho chúng con. 67
TN27-C120: Xin Chúa thêm niềm tin cho chúng con. 70
TN27-C121: Sức Mạnh Của Lòng Tin. 73
 

TN27-C101: KIÊN TRÌ TRONG ĐỨC TIN

           Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Kb 1:2-3; 2:2-4;  2 Tm 1:6-8, 13-14;  Lc 17:5-10)

Sống trong một thế giới đầy bất công, tội ác và đạo đức bị khinh thường, như Lời Chúa đã trình TN27-C101

Sống trong một thế giới đầy bất công, tội ác và đạo đức bị khinh thường, như Lời Chúa đã trình bày trong mấy Chúa Nhật trước, Ki-tô hữu chúng ta phải làm gì?  Hãy kiên trì trong đức tin.  Đó là câu trả lời chúng ta có thể gặp thấy trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay.  Đáp lại câu hỏi của ngôn sứ Kha-ba-cúc:  “Sao Ngài bắt con phải chứng kiến tội ác hoài, còn Ngài cứ đứng nhìn cảnh khổ đau?”, Thiên Chúa phán:  Cứ an tâm, giờ của Ta chưa đến thôi, vì kẻ ác sẽ ngã gục và người công chính sẽ được sống!  Còn thánh Phao-lô thì khuyên môn đệ thân tín Ti-mô-thê cứ “đồng lao cộng khổ” với ngài để loan báo Tin Mừng.  Sau hết, Chúa Giê-su cũng dạy môn đệ Người hãy tiếp tục chu toàn việc bổn phận mà “ông chủ” là Thiên Chúa đã trao phó cho chúng ta.
          Chắc chắn đã nhiều lần chúng ta thắc mắc:  tại sao những kẻ ác vẫn sống nhởn nhơ mà không bị Thiên Chúa trừng phạt?  Rồi từ đó nhiều khi chúng ta nghi ngờ Chúa không công bằng.  Đây không chỉ là thắc mắc của chúng ta thời nay.  “Trong Kinh Thánh, ngôn sứ Kha-ba-cúc là người đầu tiên dám cật vấn Thiên Chúa.  Suốt nhiều thế kỷ, đức tin vẫn tuyên xưng công lý của Thiên Chúa.  Tuy nhiên, công lý ấy không phải bao giờ cũng rõ ràng, và nhiều người phải im lặng giấu đi mối ngờ vực của mình.  Ngôn sứ Kha-ba-cúc là người đầu tiên đặt câu hỏi:  Tại sao Đức Chúa cho phép sự bất công chiến thắng?  Khi Người trừng phạt một kẻ áp bức, tại sao Người lại thay thế kẻ ấy bằng một người khác tệ hại hơn?” (Dẫn nhập sách Kha-ba-cúc, Bản dịch Kinh Thánh cho mọi người, do nhóm Các Giờ kinh Phụng vụ).  Để giúp chúng ta bỏ đi mối nghi ngờ, câu trả lời của Thiên Chúa qua ngôn sứ Kha-ba-cúc nhấn mạnh đến hai điểm:  thứ nhất, công lý của Thiên Chúa nhất định sẽ được thực hiện “vào thời ấn định”, vậy nếu nó chậm tới, thì cứ đợi chờ;  thứ hai, trong khi chờ đợi, kẻ nào không có tâm hồn ngay thẳng sẽ ngã gục, còn người công chính sẽ được sống nhờ lòng thành tín của mình.  Hôm nay hoặc bất cứ thời nào, nếu chúng ta phải chứng kiến những kẻ ác, nhất là những kẻ có quyền thế, hà hiếp bóc lột người khác, thì đừng vội nản lòng.  Chúng ta cứ tiếp tục sống công chính trong đức tin Ki-tô giáo và tích cực hơn nữa, cứ tiếp tục cầu nguyện cho họ biết sám hối và cho tình thế được mau thay đổi.
          Nói về đức tin, một đề tài Chúa Giê-su rất yêu thích khi rao giảng Tin Mừng, hôm nay Người đã trả lời các môn đệ xin Người “thêm lòng tin” cho họ:  “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải…”  Chúa lấy hình ảnh hạt cải để mô tả sức mạnh của đức tin.  Một đức tin cỡ hạt cải, nghĩa là chỉ lớn bằng cái đầu mũi kim, mà lại có sức mạnh sai khiến được một cây dâu to lớn.  Làm sao chúng ta có được một đức tin dù chỉ bằng tầm cỡ ấy?  Ai sẽ ban cho đức tin chúng ta một sức mạnh kinh hồn như vậy?  Để trả lời, chúng ta cứ đọc lại lời các tông đồ thưa với Chúa Giê-su: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con”.  Quá rõ ràng rồi nhé!  Lòng tin phát xuất từ Chúa chứ không phải từ chúng ta.  Chắc chắn Chúa có tất cả những gì khiến chúng ta dám đặt mọi sự tin tưởng của chúng ta vào đó.  Nếu các tông đồ không nhận biết Chúa là ai thì các ông đâu có đến xin Chúa thêm lòng tin cho họ!  Sau này, chúng ta còn thấy ông Phê-rô tuyên xưng lòng tin vào Chúa khi ông thưa:  Lạy Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết theo ai bây giờ, vì chỉ Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời.  Nói theo ngôn từ thần học, chúng ta gọi “đức tin là nhân đức đối thần”, nghĩa là trong đức tin, Thiên Chúa là đối tượng.  Chúng ta tin Chúa không phải là hành vi chủ động phát xuất từ chúng ta đối với Chúa, nhưng là hành vi đáp trả của chúng ta khi Chúa tỏ ra cho chúng ta biết những đức tính cao cả của Người.  Trở lại với trường hợp ông Phê-rô, chúng ta thấy vì Chúa “có những lời ban sự sống đời đời”, nên ông nhận ra mình thật diễm phúc được đón nhận những lời ban sự sống từ nơi Chúa mà ông không bao giờ nhận được từ một người nào khác, do đó Chúa đã làm cho ông tin vào Người.  Càng nhận biết Chúa tốt lành, nhân hậu, quyền năng…, thì đức tin chúng ta càng mạnh.  Nhưng còn một vấn đề không kém quan trọng, đó là sống đức tin ấy thế nào?  Dễ thôi.  Chúa Giê-su cho chúng ta một hình ảnh cụ thể:  cứ làm giống như người đầy tớ làm cho ông chủ mình.  Sau khi anh ta đi cày hoặc đi chăn chiên về, thì anh lại tiếp tục phục vụ ông chủ theo lệnh của ông.  Chẳng những anh phục vụ chu đáo, mà còn phục vụ với thái độ thật khiêm tốn khi anh thú nhận:  “Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi”.  Mục đích anh phục vụ không phải để được thưởng, nhưng để chu toàn bổn phận.

Sống sứ điệp Lời Chúa
          Chúng ta gặp được gương mẫu sống đức tin rất sống động qua đoạn thư thánh Phao-lô gửi anh Ti-mô-thê.  Trước hết là gương thánh Phao-lô.  Vì rao giảng Tin Mừng, Phao-lô đã bị cầm tù như một tội phạm của xã hội.  Ngài hãnh diện là bị giam cầm vì Chúa Ki-tô.  Hơn nữa, ngài còn khuyên Ti-mô-thê “cũng đừng hổ thẹn vì tôi, người tù của Chúa” và khuyên anh hãy đồng lao cộng khổ với ngài để loan báo Tin Mừng.  Làm sao các ngài giữ vững đức tin?  Phao-lô trả lời Ti-mô-thê:  “Với đức tin và đức mến của một người được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su, anh hãy lấy làm mẫu mực những lời lành mạnh anh đã nghe tôi dạy”.  Phải, chính sự kết hợp với Chúa Giê-su là nguồn sức mạnh giúp ta thể hiện đức tin trong cuộc sống!
 

TN27-C102: TRẢI NGHIỆM CỤ THỂ ĐỨC TIN

Lm. Phêrô Lê văn Chính

Chủ đề của Lời Chúa tuần này là về đức tin và khởi đầu với lời cầu xin của các tông đồ xin thầy TN27-C102

Chủ đề của Lời Chúa tuần này là về đức tin và khởi đầu với lời cầu xin của các tông đồ xin thầy gia tăng đức tin cho các ông: “Xin thầy ban thêm lòng tin cho chúng con”. Đáp lại lời cầu xin của các tông đồ, Chúa Giêsu đã nhắc nhở hãy thực hành sống đức tin sẽ thấy hiệu quả lớn lao: “Nếu các con có đức tin bằng hạt cải thì các con có thể khiến cho cây dâu bứng rễ đi và mọc dưới biển, nó sẽ nghe lời các con”. Người môn đệ là người đặt lòng tin vào Thiên Chúa, nhất là vào Chúa Giêsu, vào lời của người và bắt đầu khai triển khả năng tiềm tàng của đức tin qua đời sống trung tín phục vụ của mình. Tin luôn là một tương quan, một thái độ và hành động kiên nhẫn đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa là Đấng luôn muốn những điều tốt đẹp cho những người Thiên Chúa tuyển chọn dù hiện tại nhiều khi làm cho người ta có cảm tưởng như Thiên Chúa thinh lặng. Trong bài Tin mừng, Chúa Giêsu nhắc nhở người tin cũng là người tôi tớ, phải luôn biết trung tín phục vụ theo ý của chủ. Chính khi trung tín phục vụ cần mẫn theo ý của chủ mà đức tin của họ càng được vững vàng và gia tăng và đạt được những hiệu quả lớn lao.
          Ngược dòng lịch sử trở về với dân Chúa trong Cựu ước. Sách tiên tri Habacúc trình bày vấn nạn gay gắt vào thời của ông. Tại sao Chúa lại để cho quân thù xâm lăng và dày xéo lên đất nước của dân Chúa. Tại sao con kêu lên Chúa mà Chúa không lắng nghe, để cho biết bao nhiêu cướp bóc, bất lương diễn ra trước mắt và để cho quân thù thắng thế. Vấn nạn nhiều lúc rất căng thẳng khi nêu lên những vấn đề mà vị tiên tri cảm thấy khó hiểu như tại sao Thiên Chúa là Đấng thánh thiện lại để cho những người ngoại xứ Canđê là những đứa gian ác hành hạ con dân của Chúa, trừng phạt ác nhân bằng những đứa ác hơn. Câu trả lời của Thiên Chúa là dù cho có nhiều điều bất công xảy ra, những kẻ gian ác có chiến thắng, nhưng rồi thì suy cho cùng mọi kẻ bất lương, ác nhân rồi sẽ bị trừng phạt tất cả, chỉ có những người công chính có đức tin sẽ sống nhờ trung tín. Qua nhiều đường lối xem ra nghịch lý, Thiên Chúa là Đấng toàn năng chuẩn bị cho chiến thắng quyết định sau cùng của người ngay thẳng và người công chính sẽ sống nhờ bởi sự trung tín và lòng tin.
          Như thế, suy tư về đòi hỏi của lòng tin và sự trung tín không chỉ liên hệ với chính mình mà còn với Thiên Chúa là Đấng toàn năng làm chủ lịch sử và vận mệnh con người. Chúa Giêsu khẳng định lại với các tông đồ hiệu quả của lòng tin dù là bé nhỏ, vẫn có thể thực hiện những điều lớn lao kỳ diệu. Bất cứ ai có lòng tin thì đều có thể làm được điều bất khả như khiến cho cây dâu được bứng đi và được trồng dưới biển. Xem chừng như các môn đệ cảm thấy thúc bách phải xin Chúa Giêsu ban thêm cho họ đức tin vì dường như họ nghĩ rằng Chúa phải ban thêm lòng tin để họ trải nghiệm hiệu quả một cách cụ thể hơn. Chúa Giêsu như muốn nhắc nhở các ông hãy trải nghiệm đức tin vốn đã được ban cho các ông, dù bé nhỏ nhưng hiệu quả sẽ rất lớn lao. Vấn đề quan trọng là ở chỗ người ta chưa thực sự sống và khai triển đức tin mình vốn có. Đức tin là sống tương quan với Thiên Chúa, đặt tin tưởng vào Thiên Chúa cách cụ thể chứ không phải vào một điều gì đó và chờ đợi hiệu quả mà mình chưa thực sự bắt đầu cách cụ thể, hay nhiều khi hình dung hay chờ đợi Thiên Chúa thực hiện những điều lớn lao mà chính mình không bắt đầu bằng những việc phục vụ bé nhỏ. Để giải thích, Chúa Giêsu nhấn mạnh nhiều về thái độ của người tin nơi hình ảnh của người tôi tớ phục vụ chuyên cần. Người tin, giống như một người tôi tớ chuyên cần luôn sẵn sàng phục vụ tức là bắt đầu trải nghiệm cụ thể qua những công việc phục vụ của mình. Đối diện với nhiều vấn đề đặt ra, người tôi tớ này không được phép để cho mình bị chao đảo, nghi ngờ hay bi quan thất vọng mà vẫn luôn vững vàng trung tín phục vụ. Người tôi tớ là người có bổn phận phục vụ, dù là mới đi làm vất vả ngoài đồng trở về, anh vẫn phải phục vụ bàn ăn cho chủ cho đến khi chủ ăn uống xong. Tình tiết Chúa Giêsu nêu ra có vẻ thiếu gần gủi thân thiện giữa chủ và tớ, nhưng gần với những dụ ngôn khác mà Chúa Giêsu đã đưa ra như những người tôi tớ trung tín cần mẫn chu toàn công việc phục vụ khi chủ vắng nhà, hay tỉnh thức đợi chủ trở về muộn. Những người tôi tớ ở trong nhà chủ luôn phải sẵn sàng phục vụ tận tụy theo bổn phận của mình. Chúa Giêsu còn khẳng định hơn nữa khi xác định rõ chủ không hề mang ơn người đầy tớ khi người đầy tớ phải nghe theo lệnh chủ và tâm niệm của người đầy tớ phải luôn là phục vụ và nghĩ rằng đó chính là những công việc mà mình phải chu toàn như là những người tôi tớ bất xứng.
          Sống đức tin là sống tương quan với Thiên Chúa, và cụ thể là sống tương quan tin tưởng phục vụ của người tôi tớ trung tín và cần mẫn phục vụ đối với Thiên Chúa là chủ cuộc đời của con người. Anh là người ở trong nhà của chủ, được tin tưởng và có trách nhiệm chứ không phải chỉ là một người làm công hết giờ. Chính lòng trung tín phục vụ làm cho anh vững vàng và sẽ thực sự trải nghiệm và gia tăng tương quan với chủ hơn. Như thế, đức tin được trải nghiệm cụ thể qua việc làm, không nhất thiết phải là những việc làm to lớn vĩ đại mà là những việc bé nhỏ hằng ngày khi chuyên cần phục vụ, khi có những chọn lựa can đảm và hy sinh theo sự thúc đẩy của Thánh Thần. Thánh Phaolô nhắc lại cho Timôthêô ân sủng mà ông đã lãnh nhận do bởi việc đặt tay. Chính Thiên Chúa, khi trao ban sứ vụ cho mỗi người, đã rộng rãi ban ơn Thánh Thần để làm cho họ có được ơn sức mạnh nâng đỡ để chu toàn công việc được trao phó. Ân sủng này là ơn sức mạnh, tình yêu và lòng tự chủ chứ không phải là sự hèn nhát, nhờ đó Timôthêô trở nên người làm chứng cho Chúa Giêsu như Phaolô vốn cũng là người chứng của Chúa Giêsu và Tin mừng.
 

TN27-C103: VUN TRỒNG ĐỨC TIN

Lm, Gioan M. Nguyễn Thiên Khải
Thưa anh chị em,

Đức tin rất cần thiết cho ơn cứu độ của chúng ta. Vì như lời Đức Giêsu khẳng định: “Thiên Chúa yêu TN27-C103

Đức tin rất cần thiết cho ơn cứu độ của chúng ta. Vì như lời Đức Giêsu khẳng định: “Thiên Chúa yêu thương thế giam đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).
 Các tông đồ là những người được Đức Giêsu tuyển chọn. Các ông ở với Chúa, đã từng nghe lời Chúa giảng, từng thấy phép lạ Chúa làm, ấy thế mà họ vẫn thấy đức tin còn yếu kém, nên ngỏ lời xin Chúa “Xin Thầy thêm đức tin cho chúng con” (Lc 17,5).
Trong ba năm đi rao giảng Tin mừng, Đức Giêsu đã làm rất nhiều phép lạ, điều đó chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa quyền năng làm được mọi sự. Thế nhưng, để phép lạ xảy ra, thì Chúa lại đòi lòng tin nơi con người, vì sau khi mỗi phép lạ xảy ra, thì  Đức Giêsu thường nói : “Đức tin của con đã cứu chữa con”.
Anh chị em thân mến,
Trong buổi họp với các nhân viên Bộ Giáo Lý Đức Tin, đức thánh cha Bênêđictô 16 nói rằng: “Hiện nay nhiều nơi đức tin có nguy cơ bị dập tắt như một ngọn lửa đang tàn. Những khủng hoảng đức tin sâu xa nhất chính là mất ý thức tôn giáo trong đời sống”.  Thế thì căn cứ vào đâu mà ngài nói lên điều đó?.
Thưa, với kinh nghiệm hơn 20 năm làm Bộ trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin và 5 năm trên ngôi Giáo Hoàng, Ngài thấy nhiều nơi và mọi tầng lớp trong Giáo hội cũng như ngoài Giáo hội đức tin đã bị lung lay.
Ngoài Giáo hội đây, là những tôn giáo bạn, những tôn giáo tin vào Chúa, nhưng chưa hiệp thông với Giáo hội Rôma. Những tôn giáo này ngày nay cũng đang gặp những thử thách về đức tin.
Rồi trong Giáo hội, số tín hữu hiện tại trong Giáo Hội Công giáo hơn 1 tỉ người, nhưng thử hỏi trong số những tín hữu này sống đức tin như thế nào?
Chúng ta biết rằng trước đây các nước Châu Âu có thể nói là chiếc nôi đức tin, vì máu các thánh tông đồ và các vị tử đạo đã đổ ra tưới thấm không biết bao nhiêu trên mảnh đất này, từ đó phát sinh ra các Kitô hữu. Và cũng từ đó các nhà truyền giáo mang hạt giống đức tin gieo vãi trên các xứ truyền giáo khác. Vậy mà ngày nay Châu Âu một số tín hữu đã không sống đức tin. Chính vì thế Đức Thánh Cha đã hô hào để tái “Phúc Âm hóa” và ngài nhắm vào Châu Âu một cách đặc biệt hơn, bởi vì họ là trưởng nữ của Giáo Hội.
Mặc dầu họ vẫn tin có Thiên Chúa, nhưng dường như họ sống không cần Thiên Chúa nữa. Hay nói cách khác, họ loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống dưới nhiều hình thức khác nhau. Họ sống tự do, muốn tin gì thì tin, muốn giữ thì giữ… chứ không theo một luật nào và cũng không theo một Đấng nào có quyền trên họ cả.
Vì đối tượng của đức tin, là tin những chân lý Chúa mặc khải được qui tóm trong Kinh Tin Kính, nhưng còn phải thực hành đức tin trong cuộc sống hằng ngày. Vì như lời thánh Giacôbê nói: “Đức tin không hành động là đức tin chết”(Gb. 2,17). Vậy để vun trồng đức tin, chúng ta cần làm những việc sau đây:
Trước hết, chúng ta thường ca tụng Chúa danh hiệu này hay ưu phẩm kia, nhưng trong thực tế, Ngài có quan trọng với chúng ta không? Nếu Chúa quan trọng nhất, không gì quan trọng hơn Chúa, thì phải coi thánh ý Chúa quan trọng, giới răn Chúa quan trọng.
Vì Chúa quan trọng, nên chúng ta dành thời giờ, tài năng, sức khỏe… mọi sự tốt đẹp nhất ưu tiên cho Chúa mà không tính toán, bởi vì Chúa quan trọng nhất đối với chúng ta.
Tiếp đến, tham dự Thánh lễ, là chúng ta cử hành mầu nhiệm đức tin. Chúng ta cố gắng cử hành với tất cả ý thức – trang nghiêm- linh động và đầy đủ theo ý Giáo Hội dạy. Đặc biệt, lúc rước lễ về, chúng ta nhớ cám ơn Chúa về hồng ân đức tin này. Đồng thời, noi gương các tông đồ, xin Chúa ban thêm đức tin cho chúng ta.
Cuối cùng, thưa anh chị em, làm Dấu Thánh giá là dấu chỉ người đó thuộc về Chúa Kitô – Dấu Thánh giá là biểu lộ đức tin. Vì thế, chúng ta nên ý thức hơn khi làm Dấu Thánh giá.
Xin Đức Mẹ Mân côi, là Mẹ của những kẻ trên đường lữ hành đức tin. Xin Mẹ giúp chúng ta biết cộng tác với ơn Chúa, để vun trồng đức tin mỗi ngày cho được lớn mạnh hơn vào Chúa. Amen.
 

TN27-C104: ĐỨC TIN SỐNG ĐỘNG

Lm. Minh Vận

Trên một chuyến xe lửa từ Lion đến Paris, có một chàng sinh viên trẻ tuổi ngồi bên cạnh một cụ TN27-C104

Trên một chuyến xe lửa từ Lion đến Paris, có một chàng sinh viên trẻ tuổi ngồi bên cạnh một cụ già có vẻ quê mùa chất phác, mặc một bộ đồ bình dân, mang một đôi giầy cũ kỹ, mái tóc cắt vắn và gương mặt nhân từ đạo hạnh. Điều làm cho chàng sinh viên này khó chịu là thấy trên tay cụ già một cỗ tràng hạt, lộ vẻ đạo đức sùng mộ, miệng lâm râm cầu nguyện. Chàng ta không nén nổi lòng bực rọc khó chịu, lên tiếng hỏi móc cụ già:
– Tôi thấy cụ còn tin tưởng những điều có từ thời trung cổ về chuỗi tràng hạt? Chắc cụ cũng tin Bà Maria Đồng Trinh và một mớ tín điều tôn giáo, do mấy ông cố đạo dạy chứ gì?
– Đúng thế, còn cậu thì sao? Cụ già điềm tĩnh trả lời.
– Tôi mà lại tin những điều vô lý và dị đoan như thế à! Chàng sinh viên cười rộ lên cách ngạo nghễ đáp lời, tôi đã tìm được sự thật nơi trường đại học. Nếu cụ muốn sống hợp thời hơn, cụ hãy ném xâu chuỗi này đi và ghi tên học một vài khoa học tân tiến của thời hiện đại.
– Khoa học tân tiến à? Cụ già hỏi lại và nói tiếp: Tôi sợ tôi không hiểu nổi khoa học, chắc cậu có thể giúp tôi được chứ?
– Được, nếu cụ biết đọc, chàng sinh viên cao hứng nhận lời, tôi rất sung sướng được gởi tặng cụ một số sách.
– Tôi cũng biết đọc sách mà, cụ già khiêm tốn đáp lời.
– Tốt, vậy tôi phải gởi theo địa chỉ nào? Chàng sinh viên hỏi lại.
Cụ già lấy trong túi áo ra một tấm danh thiệp trao cho cậu. Trên tấm danh thiệp ghi rõ địa chỉ, số phone, với danh tánh và chức vị như sau:
LOUIS PASTEUR
Viện Nghiên Cứu Khoa Học Paris
Phải chăng khi đọc mấy hàng chữ trên tấm danh thiệp, chàng sinh viên trẻ tuổi kiêu hãnh này đã phải đứng tim và hối hận, vì cái thông thái rởm và thái độ tự kiêu lố bịch của mình, trước sự hiện diện của Louis Pasteur, một nhà bác học nổi danh của thế giới trong thời hiện đại.

ĐỨC TIN CẦN THIẾT CHO CUỘC SỐNG
Nhìn vào thực trạng của thế giới ngày nay, nhất là nơi những người theo thuyết vô thần duy vật và hiện sinh; hẳn chúng ta thấy không thiếu những hạng người thông thái rởm, họ tự hào mình thông biết mọi sự, họ chỉ cậy dựa vào trí khôn hữu hạn và nông nổi của mình, mọi sự đều phải được khoa học giải quyết, điều gì khoa học không chứng minh được, họ cho là mê tín dị đoan. Do đó, họ từ chối tất cả những chân lý siêu nhiên như linh hồn bất tử, hạnh phúc đời sau, Thiên Chúa hiện hữu và các phép lạ Ngài đã thực hiện, những ơn phúc Ngài đã ban cho nhân loại… Chính vì thiếu niềm tin vào Thiên Chúa, con người đã ra tối tăm mê muội, trở nên nô lệ cho thú tính, cho đam mê, cho dục vọng. Chính vì thiếu niềm tin vào Thiên Chúa, con người đã chúi đầu xuống với kiếp sống thú vật, họ chỉ biết tận hưởng cho thỏa mãn những thú vui đê hèn, những cảm giác mau qua, những của cải tạm bợ phù ảo đời này. Chính vì thiếu niềm tin mà xã hội đã phát sinh biết bao tội ác, gây nên biết bao đồi phong bại tục, phá đổ nền luân lý lành mạnh của các dân tộc… Lòng con người đã ra đồi bại, họ dùng mọi mánh lới quỉ quyệt, man trá, lừa đảo, tranh dành, giết người cướp của… Đó là cái ác quả bi đát của sự thiếu niềm tin nơi Thiên Chúa và các giáo huấn của Ngài.
Vì vậy, niềm tin rất cần thiết cho cuộc sống con người trên trần gian. Chính niềm tin nâng cao phẩm giá con người, giúp chúng ta hiểu biết giá trị đích thực của cuộc sống, nó mở rộng trí khôn, tăng triển lòng muốn, củng cố ý chí; nó đưa chúng ta lên cao, vượt lên trên vạn vật, xứng danh một thụ sinh siêu đẳng, được Tạo Hóa ban quyền thống trị vạn vật do Người tạo dựng. Nhờ niềm tin, chúng ta có thể hướng tâm hồn lên cao, khát khao những sự cao siêu trên trời, những chân lý vĩnh cửu của cuộc sống và đạt được hạnh phúc trường tồn của đời sống mai hậu, mà Thiên Chúa đã hứa ban cho các con cái trung thành của Người.
Đức Giám Mục Gay đã rất hữu lý khi quả quyết rằng: “Nhờ Đức Tin, sự thông sáng của Chúa nên sự thông sáng của chúng ta, sự khôn ngoan của Chúa nên sự khôn ngoan của chúng ta, tinh thần của Chúa nên tinh thần của chúng ta, sự sống của Chúa nên sự sống của chúng ta”.

2. MÃNH LỰC VÔ SONG CỦA ĐỨC TIN
Thánh Công Đồng Tridentinô đã dạy: “Đức Tin là phương thế khẩn thiết, vì mọi người cần có Đức Tin thường xuyên, đến nỗi thiếu nó, con người không thể được cứu độ” (Dz # 1793). Do đó, Thánh Phaolô Tông Đồ đã quả quyết: “Không có Đức Tin, chúng ta không thể đẹp lòng Thiên Chúa” (Heb 11:6). Còn Thánh Gioan lại nhấn mạnh với chúng ta rằng: “Đức Tin của anh chị em là một chiến công thắng được cả trần gian” (I Jn 5:4). Quả thật, nếu chúng ta đặt trót niềm tin tưởng vào Chúa, chúng ta sẽ được Chúa ban cho chúng ta một sức mạnh vô song, chiến thắng được cả trần gian, chiến thắng mọi mưu thâm chước độc của Satan hỏa ngục; và hơn nữa, chúng ta còn có thể thắng được cả Thiên Chúa, vì Chúa không bao giờ từ chối ban những ơn cần thiết cho con cái hết lòng tin tưởng nơi Người, lại ban chính mình Người là nguồn mọi ơn phúc cho chúng ta nữa.
Biết bao phép lạ Chúa đã thực hiện do niềm tin tưởng con người đặt nơi Chúa. Biết bao ơn phúc Chúa ban xuống cho nhân loại do lời cầu bầu của Đức Mẹ và các Thánh, cũng như của những tâm hồn đẹp lòng Chúa. Mở sách Tin Mừng, đọc hạnh tích các Thánh, tìm hiểu các sự lạ xảy ra tại các trung tâm hành hương trên thế giới, chúng ta sẽ thấy biết bao sự lạ lùng, cả trong lãnh vực tự nhiên cũng như siêu nhiên, Chúa đã thực hiện do lòng tin tưởng con người đặt nơi Thiên Chúa. Trong bài Tin Mừng hôm nay, chính Chúa đã quả quyết: “Nếu các con có Đức Tin bằng hạt cải, các con có thể truyền cho cây dâu bứng rễ lên, đem trồng dưới đáy biển, nó cũng sẽ vâng nghe” (Lc 17:6). Nơi khác, Chúa còn quả quyết: “Nếu các con có Đức Tin bằng hạt cải, các con còn có thể chuyển rời cả núi đồi nữa”. Tóm lại, nếu chúng ta hoàn toàn đặt niềm tin vào Chúa, tín thác và hy vọng mọi sự nơi Chúa, sống đẹp lòng Người; chắc chắn chúng ta sẽ được hưởng trọn vẹn lời Chúa hứa: “Chẳng có việc gì mà các con không làm được” (xem Mt 17:19).
Thánh Benedictô dự định xây cất một Tu Viện trong khu đất của Hội Dòng, nhưng lại bị một quả đồi cản trở; hồi đó đâu có xe ủi như ngày nay. Ngài sực nhớ lại lời Chúa phán: “Nếu các con có Đức Tin bằng hạt cải, các con có thể chuyển rời được núi đồi”. Rồi ngài đi cầu nguyện với hết lòng tin tưởng vào Chúa, ngài truyền: “Quả đồi này hãy rời đi chỗ khác, để chúng ta có chỗ xây cất Tu Viện”. Ngài rất tin tưởng lời truyền đó sẽ được thực hiện, rồi ngài an tâm đi nghỉ đêm. Sáng hôm sau khi thức dậy, ngài thấy quả đồi đã chuyển đi chỗ nào không rõ.

3. ĐỨC TIN TRONG CUỘC SỐNG CHÚNG TA
Thánh Giacobê dạy: “Nếu ai trong anh chị em xưng mình có Đức Tin, mà không hành động theo Đức Tin thì nào có ích gì? Đức Tin như thế có cứu họ được không?” (Jac 2:14). Thánh nhân còn quả quyết: “Cũng như xác không hồn là xác chết, thì Đức Tin không việc làm cũng là Đức Tin đã chết tận gốc rễ” (Jac 2:17).
Vậy làm thế nào để Đức Tin được sống động, được duy trì và tăng triển trong bản thân và trong cuộc sống của chúng ta? Chúng ta cần sống theo các nguyên tắc Đức Tin, để Đức Tin trở nên hồn sống, chỉ huy, hướng dẫn và điều khiển mọi tư tưởng, ngôn ngữ và hành động của chúng ta trong trót cuộc sống, xứng với danh nghĩa chúng ta là con cái Chúa; hơn nữa, còn là những linh hồn đã được Chúa tuyển chọn sống Đời Thánh Hiến, được Chúa ủy thác sứ mạng làm tông đồ, trở nên chứng nhân và nên ánh sáng chiếu soi các linh hồn, để chinh phục họ trở về với Chúa, bằng chính đời sống thánh thiện gương mẫu của chúng ta.
Đức Tin sống động đó phải được hiện thực qua các tư tưởng, lời nói và việc làm hằng ngày của chúng ta:
* Đức Tin giúp chúng ta nhận ra thánh ý Chúa nơi luật pháp, nơi tinh thần Dòng, nơi giáo huấn của Giáo Hội, nơi mệnh lệnh của các vị Đại Diện Chúa, nơi tiếng lương tâm chân chính, để chúng ta biết mau mắn thi hành sao cho Chúa được hài lòng.
* Đức Tin giúp chúng ta nhận ra sự quan phòng khôn ngoan của Chúa, nơi các biến cố may rủi xảy đến cho bản thân, cho gia đình, cho Hội Dòng, cho dân tộc, để chúng ta biết vui lòng chấp nhận và thuần phục thánh ý Chúa, đồng thời nhận ra tình thương của Người.
* Đức Tin giúp chúng ta nhận ra Chúa nơi tha nhân, nhất là nơi những người nghèo khó tàn tật, để yêu mến và phục vụ họ như phục vụ chính Chúa đang ẩn thân nơi họ.
* Đức Tin sống động đó sẽ giúp chúng ta không tin kiêng dối trá, không mê tín dị đoan, không tin bói toán, đồng bóng, hên xui như dân ngoại… Ví dụ: Tin thần tài, tin thầy bói nói mò, tin hên xui tốt xấu, tin ngày lành tháng tốt, tin phương hướng mồ mả, hoặc nhiều điều nhảm nhí khác tương tự.
Kết Luận
Cũng như các Tông Đồ xưa, chúng ta hãy cầu xin Chúa: “Lạy Chúa xin ban thêm Đức Tin cho chúng con, để chúng con được hân hoan hạnh phúc sống theo thánh ý Chúa; can đảm đón nhận những khó khăn nghịch cảnh, Chúa quan phòng khôn ngoan gởi đến, như những món quà Chúa yêu thương ban tặng, hầu chứng tỏ được lòng chúng con yêu mến Chúa”.
Lạy Mẹ là Mẹ của niềm tin, xin Mẹ củng cố niềm tin cho chúng con, để chúng con được noi theo gương Mẹ, sống vững mạnh trong niềm tin, ngay cả những lúc theo lý trí tự nhiên của con người không còn lý do để tin, hầu chúng con được Chúa chúc phúc: “Phúc cho những ai đã không thấy mà vốn vững niềm tin“.
 

TN27-C105: XIN BAN THÊM ĐỨC TIN

Lm Giuse Đinh lập Liễm
A. DẪN NHẬP

Các Tông đồ đã đi theo Đức Giêsu, nghe Ngài giảng dạy, xem những phép lạ Ngài làm và được TN27-C105

Các Tông đồ đã đi theo Đức Giêsu, nghe Ngài giảng dạy, xem những phép lạ Ngài làm và được trao trách nhiệm đi rao giảng Tin mừng. Trước sứ mạng mở rộng Nước Thiên Chúa và trước những đòi hỏi của Luật mới (x. Lc 17.1-4) cũng như trách nhiệm lãnh đạo cộng đoàn, các ông cảm thấy mình còn yếu kém và bất lực nên các ông đã xin Đức Giêsu ban thêm lòng tin cho các ông, lòng tin mà trước đó  các ông bị Chúa trách là yếu kém :”Xin Thầy ban thêm lòng tin cho chúng con”(Lc 17,5).
          Đức Giêsu hài lòng với lời cầu xin đó và Ngài cho biết : với đức tin nhỏ bé thôi, các ông có thể làm được những việc lớn lao. Với đức tin, các ông có thể biến cái không thể trở thành có thể, cái tầm thường trở nên phi thường. Bởi vì với lòng tin, các ông đặt niềm tín thác vào Chúa, cậy dựa vào quyền năng của Ngài  và Chúa dùng quyền năng ấy mà làm được mọi sự, chứ không phải do quyền năng của các ông :”Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”(Lc 1,37).
          Nhân dịp này, Đức Giêsu muốn ngầm nối kết đức tin của các ông với sự phục vụ (Ga 12,26), điều mà các ông không nghĩ như vậy. Trong tâm thức của các ông, đức tin đồng nghĩa với quyền lực (Cv 1,6). Các ông chứng kiến Đức Giêsu làm các phép lạ lớn lao bằng đức tin. Các ông cũng muốn làm như vậy. Các ông muốn sự vinh quang của quyền lực (Lc 9,49). Do đó, khi cắt nghĩa về đức tin, Đức Giêsu dùng hình ảnh của người đầy tớ hết lòng phục vụ chủ của nó. Hình ảnh này nhắc cho các ông biết rằng các ông không được kể công với Chúa như người biệt phái cầu nguyện nơi Đền thờ mà phải phục vụ Thiên Chúa và anh em mình như những người đầy tớ với tình con thảo đối với Chúa.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
          +  Bài đọc 1 : Hb 1,2 ; 2.2-4.
          Trong một thời buổi đặc biệt nhiễu nhương, tiên tri Habacúc than thở  và cũng như chất vấn Chúa  về những cảnh bất công cứ tồn tại và người ác cứ nhởn nhơ, không bị phạt. Và Chúa đã trả lời, đã chỉ ra con đường duy nhất đưa đến giải thoát : ấy là tin tưởng vào Chúa và trung tín với Giao ước trong suốt cuộc đời của mình, vì khi đến thời của Ngài, Ngài sẽ ra tay tái lập sự công chính.
          +  Bài đọc 2 : 2Tm 1,6-8.13-14.
          Thánh Phaolô khuyên Timôthêô hãy kiên vững trong đức tin. Thánh Thần Thiên Chúa mà Timôthêô nhận trong ngày thụ phong sẽ giúp ông trở nên chứng nhân của Chúa ngay trong những gian nan thử thách. Không được sống trong tinh thần nhát sợ nhưng phải sống trong tinh thần mạnh mẽ hiên ngang, và hãy cậy dựa vào Thiên Chúa để tiếp tục nhiệm vụ mình.
          +  Bài Tin mừng : Lc 17,5-10.
          Bài Tin mừng hôm nay có hai lời giáo huấn :
a) Đức tin: Đức Giêsu muốn các tông đồ  trông cậy tuyệt đối vào quyền năng cũng như lòng nhân hậu Chúa. Câu nói về cái cây bật rễ không nên hiểu theo nghĩa đen. Đây là cách nói diễn tả mạnh mẽ của người Đông phương và có ý nghĩa là đức tin có sức mạnh lớn lao, với đức tin việc gì xem ra không thể lại trở thành có thể.
b) Phục vụ: Đàng khác, một đức tin trần trụi không tính toán  thì đặt tất cả tin yêu vào lòng nhân hậu của Thiên Chúa, chứ không cậy vào sức mình, rồi đòi trả công. Như thế mọi chức vụ trong Giáo hội chỉ là một việc làm nhỏ bé để kéo ơn Chúa xuống cho mọi người. Đừng lấy đó làm vênh vang, vì ta chỉ là đầy tớ vô dụng.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
I. CÁC TÔNG ĐỒ XIN THÊM ĐỨC TIN.
Hoàn cảnh.
          Trên đường tiến về Giêrusalem, Đức Giêsu vừa mới giảng cho các môn đệ nhiều bài học như nguy hiểm của tiền bạc, cớ vấp phạm cho người khác, bác ái huynh đệ và tha thứ. Các tông đồ, ở đây chỉ là 12 ông, chứ không phải nói chung các môn đệ – là những người đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Chúa. Đứng trước những đòi hỏi của luật mới (x. Lc 17,1-4) và sứ mạng mở rộng Nước Thiên Chúa, các ông cảm thấy bất lực. Các ông đã xin Đức Giêsu ban thêm lòng tin. Lòng tin mà trước đó  các ông đã bị Ngài khiển trách yếu kém. Là những người gánh trách nhiệm của cộng đoàn, các ông trăn trở về cách thế để thực hiện đời sống huynh đệ này, nên các ông cầu xin Chúa:”Xin Thầy thêm lòng tin cho chúng con”.
Đức tin và hạt cải.
          Đức Giêsu không trực tiếp trả lời mà chỉ dùng một hình ảnh rất sống động để nói lên ý kiến của Ngài:”Nếu các con có lòng tin bằng hạt cải thì dù các con có bảo cây dâu này :”Hãy bật rễ lên, xuống biển mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời các con”(Lc 17.5-6).
          Hạt cải là hạt giống nhỏ nhất (x. Mt 13,32). Đức Giêsu so sánh đức tin với hạt cải, là có ý nhấn mạnh về mặt phẩm chất hơn là về số lượng của đức tin. Hạt cải đây không phải là cải bẹ, cải bắp hay cải hoa, mà là một thứ cải đặc biệt ở Palestine, hạt nhỏ hơn cả hạt quả của cây trứng cá, mà cây thì tương đương với cây trứng cá cao khỏang 4-5 mét. Hình ảnh đó nói lên một sự phó thác dù nhỏ đến đâu, nếu được thực hiện trong đức tin, thì vẫn có thể làm được những điều lớn lao kỳ diệu. Vì bấy giờ người ta làm  không phải do sức riêng mình, nhưng nhờ quyền ăng của Thiên Chúa.
Sức mạnh của Đức tin.
          Hôm nay Đức Giêsu khuyên các tông đồ nên dùng cái đức tin nhỏ bé sẵn có để đối phó với những thử thách của cuộc sống và làm những việc vĩ đại :”Nếu các con có đức tin bằng hạt cải, thì dù các con bảo cây dâu này :”Hãy bật rễ lên, xuống biển kia mà mọc, nó sẽ vâng lời các con”(Lc 17,6).
          Cây dâu là một cây đại thụ, rễ rất lớn, có thể sống tới 600 năm. Nhưng chỉ một lời phát xuất  từ niềm tín thác vào Thiên Chúa, thì cũng có thể bứng cây đó khỏi đất để xuống mọc trong lòng biển. Ở đây, Đức Giêsu không khuyên người ta  cầu xin những phép lạ giật gân. Chắc chắn Ngài không khi nào thực hiện việc dời cây dâu trồng xuống biển. Nhiều lần Ngài đã từ chối làm các phép lạ  để chứng minh Ngài là Con Thiên Chúa như các đầu mục yêu cầu. Tóm lại, đây là một kiểu nói chỉ nhằm để đề cao sức mạnh của lòng tin mà thôi.
          Những người có đức tin mạnh cũng đã làm được những việc tương tự cả thể. Chẳng hạn thánh Grêgôriô đã có lần di chuyển núi non để xây nhà thờ. Thánh Raymunđô có lần lấy áo làm thuyền vượt qua biển cả. Còn thánh Phêrô đã theo lệnh Chúa đi trên mặt biển. Ông ta chỉ chìm xuống  khi bắt đầu hồ nghi mà thôi.
          Nhìn vào các tông đồ, chúng ta thấy các ông đã thực hiện : một đức tin nhỏ nhất còn mạnh hơn mọi công việc của con người bởi vì sự tham gia vào chính sức mạnh của Thiên Chúa là một việc lớn lao. Thật vậy, sau khi Chúa sống lại, hiệu quả đức tin của các tông đồ không cân xứng với khả năng nghèo nàn của con người họ. Vốn là những người không có ảnh hưởng, quyền lực, phương tiện tài chính, tổ chức, báo chí, truyền hình, tóm lại là không gì cả… thế mà họ đã thay đổi dòng lịch sử.
          Trong Kinh thánh, có nhiều tấm gương của những con người bé nhỏ, hay một nhóm nhỏ, với đức tin đã làm nên những việc vĩ đại. Đavít, cậu bé chăn chiên đã hạ tên khổng lồ Golíat bằng dây phóng và hòn đá (1Sm 17,50)  Trong sách Công vụ Tông đồ, những nhóm nhỏ người Kitô hữu đầu tiên họp nhau lại, cầu nguyện, chia sẻ của cải, đã làm cho con số Kitô hữu gia tăng (Cv 2,43-45). Timôthêô được thánh Phaolô nhắc nhở rằng mặc dù còn trẻ, anh có thể làm một người lãnh đạo cộng đòan vì đức tin và lòng đạo hạnh của anh (1Tm 4,12). Thánh Phaolô coi mình là “kẻ hèn mọn nhất”, và các Tông đồ xưng mình là “rác rưởi của thế gian”(1Cr 4,13).
          Thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu tự coi mình như “bông hoa nhỏ bé của Chúa Giêsu” với đường lối nên thánh rất đơn sơ, nhỏ bé, đã trở nên thánh Tiến sĩ của Hội thánh. Thánh Phanxicô Assisi đã đặt tên cho các môn sinh của mình là “Dòng Anh em Hèn mọn”.
          Ngày nay, bởi sự kiện lịch sử này và bởi lời của Đức Giêsu, chúng ta được mời gọi từ bỏ các phương tiện của quyền lực, không trông cậy vào các phương pháp và phương tiện tông đồ tinh xảo nhất và được chương trình hóa tốt nhất… để chỉ dựa vào đức tin và mở lòng ra với đức tin bằng lời cầu nguyện .

Đức tin trong cuộc sống.
          Đức Giêsu nói về đức tin  khi các môn đệ xin Ngài “gia tăng đức tin” của họ. Ngài không đòi đức tin của họ phải to lớn, chất đầy chiếc xe tải. Ngài chỉ cần bằng hạt cải thôi nhưng phải được sử dụng. Làm thế nào để sử dụng nó ? Qua việc trở nên những người đầy tớ vâng lời và trung kiên của Thiên Chúa (Dt 5,8-9). Bởi “Tin là gắn bó bản thân của con người với Thiên Chúa”(Giáo lý Công giáo, số 150).
          Với đức tin, chúng ta có thể biến cái không có thể thành cái có thể. Thiên Chúa dùng quyền năng của mình để biến tất cả mọi sự thành có thể cho những ai có đức tin. Ngay trong lãnh vực khoa học, những người trong những thế kỷ trước không thể tin được  những phát minh kỳ diệu trong những thế kỷ sau.  Chúng ta thử nói chuyện với những người cách đây 3 thế kỷ
          Bây giờ, giả sử họ hỏi bạn truyền hình là gì ? Chắc hẳn bạn sẽ nói rằng đó là một phương cách nhìn xem  một chuyện gì đó ở tận Trung hoa đúng lúc nó đang thực sự xẩy ra tại đó. Giả sử họ hỏi bạn hỏa tiễn hạch nhân tầm xa là gì ? Chắc hẳn bạn sẽ trả lời  đó là dạng một trái đạn khổng lồ bắn tại Mỹ, nhưng lại tiêu diệt được bất cứ thành phố nào ở Nga mà bạn muốn. Giả sử họ lại hỏi bạn đổ bộ lên mặt trăng là sao thì hẳn bạn sẽ diễn tả cho họ là có người trên mặt đất leo vào phi thuyền không gian bay tới mặt trăng rồi đổ bộ ở trên đó.
Chà ! Bạn thử nghĩ xem dân chúng ở cách đây 300 năm đó sẽ nói gì với bạn ? Chỉ cần hiểu biết chút ít thì họ cũng đã cho bạn là điên cuồng, mất trí rồi, vì bất cứ người nào còn tỉnh táo đều cho rằng bạn không thể nào ngồi tại một phòng khách ở New York mà lại thấy được một chuyện  nào đó  đang xẩy ra tại Trung hoa. Bất cứ ai khờ mấy thì cũng cho rằng  một trái đạn bắn từ Mỹ thì dù to bự đến đâu cũng không thể nào tiêu hủy toàn thành phố Matscơva được. Và họ cũng cho rằng bạn không thể nào bay được như một con chim lên tới tận mặt trăng trong một phi thuyền giống như cỗ xe ngựa kéo, rồi bước ra đi bộ vòng vòng, và sau đó lại trở về trái đất được.
          Chủ điểm của trò chơi trên cho thấy điều mà dân thế kỷ này cho là vô nghĩa và bất khả, thì đối với dân thế kỷ khác lại là chuyện đương nhiên và bình thương, điều mà dân thế kỷ này không bao giờ dám mơ ước thì đối với dân ở thế kỷ khác lại là chuyện rất bình thường(M. Link).
          Bài Tin mừng hôm nay Chúa muốn dạy chúng ta : “Nếu các con có đức tin bằng hạt cải, các con cứ nói với cây dâu này :”Hãy nhổ gốc lên và xuống mọc dưới biển”, nó sẽ nghe lời các con”. Tin mừng hôm nay cho thấy nhờ đức tin mà chúng ta có được quyền năng Chúa nằm nơi tầm tay của mình. Từ đó, không có điều gì là không thể được – kể cả một thế giới không có chiến tranh, không còn nghèo đói, không còn hận thù.
          Đức tin mở cho chúng ta cánh cửa đi vào thế giới mới, thế giới khác, thế giới của Thiên Chúa mà mắt phàm không thể thấy được. Cái nhìn của đức tin là cái nhìn luôn hướng về Chúa, vượt ra khỏi sự hiểu biết hạn hẹp của con người, mới có sức mạnh chuyển núi dời non, mới phát sinh hiệu quả kỳ diệu. Nhưng khốn thay, đức tin của chúng ta  thường mang tính quá chủ quan, nặng cái tôi kiêu căng : nghĩa là để tin và chấp nhận được chúng ta hay đòi hỏi đức tin  phải hợp tình hợp lý, phải rõ ràng minh bạch, phải đúng như lòng trí ta suy tưởng. Thế thì ta coi cái tôi, ý riêng mình quan trọng hơn ý Chúa, làm sao có thể gọi đó là đức tin chân chính được.
          Tóm lại, bao lâu chúng tin và yêu Chúa mà không nhìn vào Chúa như cùng đích của đời mỗi người, mà lại nhìn vào tấm gương phản chiếu cái tôi của mình thì bấy lâu chúng ta mãi mãi  là những kẻ khốn khổ và bất hạnh nhất trên đời.

II. ĐỨC TIN VÀ PHỤC VỤ.
Ý nghĩa “người đầy tớ”.
          “Ai trong các con có người đầy tớ đi cầy hay đi chăn chiên, mà khi ở ngoài đồng về, lại bảo nó :”Mau vào ăn cơm đi”, chứ không bảo :”Hãy dọn cơm cho ta ăn, thắt lưng hầu bàn cho ta ăn xong đã rồi anh hãy ăn uống sau”(Lc 17,7-8).  Thường các bản văn dịch chữ “Servus” của tiếng La tinh là “đầy tớ”, nhưng ngày xưa chữ servus của tiếng La tinh còn có nghĩa là ‘nô lệ”.  Hoàn cảnh của nô lệ ở Palestine vào thời Đức Giêsu ít khắc nghiệt hơn ở thế giới La Hy vào thời của thánh Luca nơi mà một hoàn cảnh lệ thuộc của những nô lệ thật bi đát, đến nỗi  chúng ta khó mà tưởng tượng tình hình đó lại phổ biến như thế. Người nô lệ là vật sở hữu của ông chủ không phải trả lương, cũng không biết ơn.
          Như  vậy, theo tập tục thời đó, người đầy tớ không được tự do làm việc theo ý mình, nhưng phải luôn làm theo ý chủ. Ở đây, người đầy tớ vừa cầy ruộng về, hay dẫn đàn chiên từ đồng cỏ về, ông chủ đòi anh ta phải tiếp tục phục vụ ông ăn bữa tối trước đã. Bổn phận của người đầy tớ là làm theo ý chủ dạy, làm hết việc này sang việc khác mà không có quyền đòi hỏi chủ phải biết ơn.
Người đầy tớ vô dụng.
          “Chẳng lẽ ông chủ phải biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao”? Đối với các con cũng vậy : khi đã làm hết tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói : Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng. Chúng tôi đã làm việc bổn phận đấy thôi”(Lc 17,9-10).  Khi dùng hình ảnh “đầy tớ vô dụng” thì chỉ là kiểu nói khiêm tốn. Nhưng xét cho cùng, con người chỉ là vô dụng đối với Thiên Chúa. Vì Ngài là Đấng trọn hảo và quyền năng vô biên. Ngài chẳng cần chúng ta ca tụng, và cũng chẳng cần chúng ta cộng tác. Tuy nhiên, vì thương yêu chúng ta mà Ngài đã liên kết và còn trở thành người phục vụ chúng ta.
          Qua hình ảnh đầy tớ, Đức Giêsu muốn dạy các tông đồ đừng bao giờ vênh vang  như thể mình có quyền đòi hỏi Chúa phải biết ơn  sau khi mình đã làm xong bổn phận. Khi nói “Đầy tớ vô dụng” không có nghĩa là không làm được việc gì. Các tông đồ cũng làm cho nhiều người tin theo Chúa. Tuy nhiên ở đây, “đầy tớ vô dụng” chỉ là kiểu nói có tinh cách cường điệu và có nghĩa là “thân phận hèn kém”.  Người tông đồ cần tránh thái độ “công thần”. Vì thành quả tuy do các ông làm, nhưng đều nhờ Chúa ban ơn trợ giúp, như là Ngài phán:”Không có Thầy, các con không thể làm được gì”(Ga 15,5).
Người đầy tớ và phục vụ.
          Đức tin đi đôi với sự trung thành phục vụ (Ga 12,26). Có lẽ các môn đệ đã không nghĩ như vậy. Trong tâm thức của họ, đức tin đồng nghĩa với quyền lực (Cv 1,6). Họ chứng kiến Đức Giêsu  làm các phép lạ lớn lao bằng đức tin. Họ cũng muốn làm như vậy. Họ muốn sự vinh quang của quyền lực (Lc 9,49). Do đó khi cắt nghĩa về đức tin, Đức Giêsu dùng hình ảnh của người đầy tớ hết lòng phục vụ chủ của nó, nếu hiểu rõ, có lẽ các ông không vui vẻ cho lắm:”Phần các con cũng vậy, khi các con làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng :”Chúng tôi chỉ là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều phải làm”.
          Là con cái Thiên Chúa, chúng ta bị đòi buộc  phải phục vụ Thiên Chúa và phục vụ anh chị em mình như những đầy tớ. Đức Giêsu đã đến phục vụ, chứ không phải để được phục vụ. Ngay cả Ngài là chủ, là Chúa mà Ngài còn rửa chân cho các môn đệ. Ngài cũng mời gọi chúng ta buớc theo con đường phục vụ khiêm tốn. Nếu chúng ta có đức tin bằng hạt cải, chúng ta có thể di chuyển cả núi đá kiêu hãnh cản trở chúng ta sống như những “đầy tớ của các đầy tớ Thiên Chúa” (Nguyễn văn Thái).

Truyện : Nghệ nhân và cục đất sét.
          Pete là một giáo sư đại học, ông vừa hoàn thành một cuốn sách biên khảo công phu sau ba năm nghiên cứu, được mọi người khen hay, và ông lấy làm hãnh diện, vì hai ông bà đều thực hiện thiền định và cố gắng tâm linh hóa hằng ngày. Ông gặp trăn trở vì biết hãnh diện chỉ là gia tăng bản ngã và tự bảo mình không nên đi vào con đường kiêu hãnh viển vông này, nhưng bà vợ lại cho rằng kiêu hãnh chân chính vẫn không thuộc về bản ngã. Hai người đưa vấn đề đến đạo sư Darshani. Đạo sư đã phân tách và chỉ cho thấy lòng kiêu hãnh bắt ngưồn từ việc coi hành động của mình như là do tác nhân độc lập, một thực tế riêng rẽ, và điều đó là hư ảo; đàng sau các thể hiện đúng đắn, chính Đấng Tối Cao đã tác động.  Khi ông xin một phương pháp để giúp ông kiểm soát được lòng kiêu hãnh này mỗi khi nổi lên, đạo sư gợi ý ông đọc cuốn “Gương Chúa Giêsu” (Sách gương phúc) của Thomas A. Kempis, trong đó bàn về việc chúng ta  không được kiêu hãnh vì đã làm việc tốt, đã viết câu này :”Liệu đất sét có được tôn vinh hơn người đã làm ra nó hay sao” ?
          Và khi ông muốn bàn thêm, vị đạo sư đã nhắc lại một câu chuyện của một học giả người Âu với một đạo sĩ Đông phương. Học giả này mới hoàn tất được một quyển bách khoa tự điển lớn, các bạn của ông xúm lại khen tặng rằng đó là một công trình lớn lao phi thường. Trong chuyến viếng thăm An độ, học giả hỏi đạo sư xem liệu ông ta  có xứng đáng được hưởng  những danh dự đó không, thì được đạo sư hỏi :”Ông dùng phương tiện nào để viết : bút, máy chữ hay điện toán” ? Ông cho biết ông luôn sử dụng bút. Đạo sư nói ngay :”Khi viết xong cuốn sách, ông có thường cảm ơn cây bút mà ông đã dùng không” ?
          Đó là câu trả lời cho mỗi người chúng ta khi thấy mình làm được một việc lành nào.
          Còn thánh Phaolô trong thư gửi cho Timôthêô (bài đọc 2) căn dặn ta phải canh giữ đức tin và bền vững trong việc tuân giữ lời hứa khi chịu phép Rửa tội. Tin vào lời Chúa là sẵn sàng làm theo ý Chúa, để Chúa làm chủ đời sống và tìm vinh danh Chúa. Tuy nhiên trong thực tế ta thường giữ đạo theo lối tính tóan : có đi có lại. Đó là những khi chúng ta mặc cả hoặc đòi điều kiện với Chúa như khi nói : Nếu con phụng sự Chúa, nếu con làm việc này việc nọ cho Chúa, thì con sẽ được phần thưởng gì ?  Người ngọai giáo trong đế quốc La mã thời xưa tôn thờ, khấn vái chư thần của họ trong lối mặc cả có đi có lại “DO UT DES”.  Còn bổn phận người con hiếu thảo với Chúa không thể nằm trong cái lối mặc cả ti tiện đó. Nếu cha mẹ không thích lối mặc cả của những đứa con khi làm việc nọ việc kia như quét nhà, đổ rác để nhận phần thưởng, thì Thiên Chúa cũng không ưa gì lối mặc cả đó của ta. Cha mẹ nào mà thí dỗ con làm việc để lãnh phần thưởng, có thể sẽ tạo ra những đứa con sau này cũng mặc cả với Chúa khi làm việc phụng sự Chúa và phục vụ đồng lọai (TBT).
          Nếu ta sống trọn niềm tin thì khi làm việc phụng sự Chúa hay phục vụ đồng lọai, ta không được nghĩ rằng ta làm ơn cho Chúa, mà chỉ tâm niệm rằng mình đang làm bổn phận người con thảo.  Bổn phận người con thảo là không cần mặc cả, cũng không đặt điều kiện. Nếu người cha ruột thịt thương và lo liệu săn sóc cho đứa con hiếu đễ, thì Thiên Chúa cũng thường lo liệu, săn sóc cho những người con hiếu thảo và quảng đại.

Truyện: Thánh Phanxicô Assisi.
          Có người hỏi thánh Phanxicô Assisi nhờ đâu và bằng cách nào mà Ngài đã làm được những việc làm to lớn như thế ? Thánh nhân trả lời :”Thiên Chúa ở trên Thiên đàng nhìn xuống cõi trần và tự hỏi :”Ta tìm đâu ra một người yếu đuối, nhỏ bé và hèn hạ nhất để Ta sai làm việc đây”? Thế rồi Thiên Chúa đã tìm thấy tôi. Người lại tự nhủ :”Ta đã tìm được đứa đó rồi. Qua nó, Ta sẽ làm những việc Ta muốn. Nó sẽ không tự phụ với những việc nó đã làm, vì nó biết rằng : Sở dĩ ta dùng nó chỉ vì nó là đứa yếu đuối nhỏ bé và hèn hạ mà thôi”.
Phục vụ trong khiêm nhường và thành thật.
          Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta về tinh thần phục vụ. Trong thư gửi cho tín hữu Philipphê, thánh Phaolô đã nói:”Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”(Pl 2,6-8). Đức Giêsu đã thực sự trở nên người phàm như chúng ta mà còn hạ mình xuống làm nô lệ để phục vụ phần rỗi cho chúng ta.  Đúng là Chúa đã xuống thế làm người để chúng ta làm Thiên Chúa, Ngài đã hoán đổi địa vị cho chúng ta, thử hỏi còn thái độ nào khiêm nhường hơn được nữa không ?

Truyện : Khiêm nhường giả tạo.
          Một thầy Rabbi già đau bệnh nằm liệt giường. Các môn đệ thì thầm nói chuyện bên cạnh ông. Họ hết lòng ca tụng các nhân đức vô song của thầy.
          Một người trong bọn họ nói :”Từ thời Salômôn đến nay, chưa có ai khôn ngoan như thầy”. Người khác nói :”Đức tin của thầy ngang ngửa với đức tin của Abraham”. Người thứ ba nói :”Chắc chắn sự kiên nhẫn của thầy không thua kém sự kiên nhẫn của ông Gióp”. Người thứ tư châm vào :”Về sự cầu nguyện thân mật với Chúa, chỉ có Maisen và thầy thôi”.
          Vị Rabbi tỏ ra bồn chồn không vui. Khi các môn đệ đã ra về hết, vợ ông mới hỏi :
          – Ông có nghe họ ca tụng ông không ?
          – Có.
          – Thế tại sao ông lại tỏ ra bực dọc như thế ?
          Vị Rabbi than phiền :
          – Vì không có ai nhắc đến sự khiêm nhường của tôi.
          Câu trả lời của vị Rabbi muốn các đồ đệ ca tụng sự khiêm tốn của ông cho thấy ông chẳng khiêm nhường chút nào. Vì nếu người ta làm việc tốt với thái độ khoe khoang thành tích như người biệt phái đã làm trong đền thờ, thì họ thực sự không phải là người khiêm tốn ! Kẻ kiêu ngạo không bao giờ cảm thấy cần Chúa. Họ luôn tự mãn với thành quả đã đạt được, luôn cho rằng  thành công là do công khó của họ.  Trái lại, người khiêm tốn luôn hãnh diện về những thiếu sót và lầm lỗi của mình. Vì ý thức mình còn thiếu sót nên họ lại càng cậy nhờ vào ơn Chúa trợ giúp. Do đó, khi được thành công thì họ coi đó là món quà Chúa ban, chứ không nghĩ là công lao tài sức của mình.
          Vấn đề đức tin còn phải đặt ra mãi cho mọi thời đại và cho mỗi người chúng ta, nhất là cho thời đại chúng ta đang sống. Tìm đâu ra lối thoát cho cơn khủng hoảng đức tin hôm nay ? Không còn cách nào khác nếu không phải dựa vào Lời Chúa và ơn thánh của Ngài. Chúng ta sẽ bị thử thách vì đức tin như các tông đồ xưa. Bởi đó, lúc bị thử thách gian truân, chúng ta đừng khép kín, đừng thất vọng. Lời cầu nguyện cũng như đức tin của cộng đoàn, của Hội thánh  là những chiếc phao trong cơn bão tố, khi chiếc tầu hòng chìm xuống. Các tông đồ đã thưa với Chúa:”Xin Thầy ban thêm lòng tin cho chúng con”.
Trong bất cứ thử thách và đau khổ nào, chúng ta đừng bao giờ bỏ cầu nguyện. Vì đức tin là ơn nhưng không Thiên Chúa ban cho chúng ta khi lãnh nhận bí tích rửa tội. Nếu đức tin bị thử thách, thì chính ơn Chúa sẽ là sức mạnh củng cố chúng ta.  Cũng như nguồn nước tuôn chảy xuống thung lũng để làm cho đất thêm phì nhiêu và cây cối xanh tươi, ơn thánh Chúa sẽ tràn đổ xuống tâm hồn khiêm nhường:”Phần các con, khi các con làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng : chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi làm những điều chúng tôi phải làm”.
 

TN27-C106: SỨC MẠNH “DỜI NON LẤP BỂ” CỦA LÒNG TIN

JM. Lam Thy

Đức Giê-su đã có lần dạy về lòng tin có thể “dời non lấp bể” (“Nếu anh em có lòng tin lớn bằng TN27-C106

Đức Giê-su đã có lần dạy về lòng tin có thể “dời non lấp bể” (“Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh  em có bảo núi này: “rời khỏi đây, qua bên kia” nó cũng sẽ qua.” – Mt 17, 20). Các tông đồ đã được mạc khải nhiều lần về Đức Giê-su qua những lời giảng dạy cùng với những dấu lạ, điềm thiêng. Nhằm củng cố niềm tin cho họ, Người lại còn ban quyền năng để dẹp trừ những thần ô uế và chữa lành bệnh tật (Mt 10, 1-2). Tuy nhiên, vì mang trong mình thân phận con người, các tông đồ thấy có những lúc còn quá yếu đuối, nên các ông mới cất tiếng xin với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con” (Lc 17, 5). Lời cầu xin này toát lên nỗi trăn trở trước sứ mạng và sự lo sợ trước những thách đố lớn lao của sứ vụ mà các tông đồ sẽ đón nhận.
Suy niệm Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay (CN XXVII/TN-C – Lc 17, 5-10) trình thuật lời cầu xin của các tông đồ (-nt-), tự nhiên nảy sinh thắc mắc: Lòng tin xuất phát từ chủ thể khi nhìn nhận một vấn đề, một sự kiện hay một nhân vật. Theo từ nguyên thì lòng tin có nghĩa là: 1- Có ý nghĩ cho là đúng sự thật, là có thật; 2- Cho là thành thật; 3- Đặt hoàn toàn hi vọng vào người nào hay sự việc gì đó; 4- Nghĩ là rất có thể sẽ như vậy (Wikipedia). Như thế, tin hay không là tự chủ ý của bản thân, vậy thì làm sao lại có chuyện xin người khác ban thêm lòng tin cho mình được? Thắc mắc này chỉ có lý khi lòng tin đó xảy ra giữa con người với nhau, nhưng ở đây là lòng tin mà các Tông đồ xin Đức Giê-su Thiên Chúa, thì vấn đề lại khác.
Trước hết, phải hiểu lòng tin là một ân huệ Chúa ban. Một cách cụ thể thì phải hiểu ở đây là lòng tin của con người đặt vào thần linh, nghĩa là chính Thiên Chúa là đối tượng của lòng tin. Không có đức tin, không cậy dựa vào Thiên Chúa, con người không thể làm được gì, đúng như Đức Giê-su đã dạy: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15, 5). Nhưng nếu tin vào Thiên Chúa, người tín hữu sẽ có năng lực để làm được tất cả mọi sự, như thánh Phao-lô đã từng cảm nghiệm: “Tôi có thể làm được tất cả nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4, 13). Ầy cũng bởi vì lúc đó, năng lực mà thánh Phao-lô sử dụng không phải đến từ bản thân bất toàn của mình; nhưng đến từ Thiên Chúa, cội nguồn của mọi sức mạnh trong vũ trụ, là Đấng Toàn Năng không có gì là không thể làm được (“đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” – Lc 1, 37).
Rõ ràng là nếu con người không có đủ năng lực, chính là vì họ chưa có đức tin đích thực. Vấn đề căn bản vẫn là ở chủ thể người tin, chớ không phải ở nơi đối tượng của lòng tin. Thật vậy, nếu con người thật sự tin nhau và hy vọng đối tượng sẽ đem đến cho mình những điều tốt đẹp, họ sẽ sẵn sàng đến với đối tượng để cầu mong được giúp đỡ. Nói cách khác, khi đã hoàn toàn tin tưởng vào nhau, người tín hữu sẽ sẵn sàng hợp tác với đối tượng để biến những điều tốt đẹp mà họ cầu mong sẽ trở thành hiện thực. Đối với Thiên Chúa thì cũng vậy, bởi “Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Người.” (Thánh Au-gus-ti-nô). Có lẽ cũng vì thế nên Đức Giê-su đã không trả lời thẳng vào lời cầu xin của các môn đệ, mà Người chỉ nêu bật sức mạnh của lòng tin, để các môn đệ tự trang bị và củng cố đức tin của  mình.
Đức Giê-su đã lấy đức tin so sánh với hình ảnh một hạt cải nhỏ bé, để có thể ra lệnh cho một cây dâu to lớn di chuyển. Mới nghe qua thì thấy có vẻ vô lý, vì cái lòng tin nhỏ bé như vậy thì làm sao có thể đứng vững được, chớ đừng nói là có thể ra lệnh cho cây dâu di chuyển. Tuy nhiên, suy cho kỹ Lời dạy bởi một Người Thầy chuyên dùng dụ ngôn, sẽ thấy là Người muốn củng cố lòng tin cho các môn đệ, cho nên Người mới dùng một hình ảnh cụ thể là hạt cải nhỏ bé mà có thể ra lệnh cho một cây dâu to lớn, cốt ý để nói lên sức mạnh của lòng tin, của đức tin. Câu này có thể diễn nôm: “Nếu anh em thực sự tin vào Thầy, tin vào quyền năng tối thượng của Thiên Chúa, thì bất cứ việc gì dù to lớn tới đâu chăng nữa (“di sơn đảo hải” – dời non lấp biển, chẳng hạn), anh em vẫn có thể làm được.”
Mấu chốt vấn đề vẫn chỉ là điểm nhấn: Đức tin. Mà nói về đức tin là phải nghĩ đến mạc khải vì “Nếu mạc khải là con đường Thiên Chúa đến với con người, thì đức tin là con đường con người đến với Thiên Chúa, là sự đáp trả của con người trước tiếng nói của Thiên Chúa.” (Thánh Au-gus-ti-nô). Thật vậy, “Kẻ chú tâm vào Lời Chúa dạy sẽ gặp chuyện tốt lành, người đặt niềm tin vào ĐỨC CHÚA thật hạnh phúc dường bao.” (Cn 16, 20); “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào ĐỨC CHÚA và có ĐỨC CHÚA làm chỗ nương thân.” (Gr 17, 7). Khi về Na-da-rét, Đức Giê-su không làm được phép lạ nào, chỉ vì dân đồng hương không tin (Mt 13, 58). Khi chữa lành bệnh cho ai, Đức Giê-su không nói rằng Người đã chữa lành bệnh cho họ, mà là “Đức tin của con đã chữa lành con” (Mt 9, 22; Mc 5,34; Lc 8,48; Lc 17,19). Đức Maria được bà Ê-li-da-bet khen: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45), và chính Mẹ cũng được tôn xưng là “Mẹ đức tin”.
Thánh Phê-rô là mẫu gương nổi bật về vấn đề đức tin. Cùng với các môn đệ khác, khi Phê-rô đi theo Đức Ki-tô, vì đã tin Người có thể giúp thánh nhân “lưới người như lưới cá”. Được sống liền bên với Người Thầy mà mình tin tưởng, được nghe dạy và nhất là được chứng kiến biết bao nhiêu phép lạ Người đã làm, vậy mà khi thì tuyên xưng “Thầy là Đấng Mê-si-a, Con Thiên Chúa hằng sống”, khi lại tưởng Thầy là ma khi thấy Thầy đi trên mặt biển, nhất là khi Thầy đã Phục Sinh hiện ra với các Tông đồ (Lc 24, 37). Vừa mới khẳng định chắc nịch: “Dù có phải chết, con cũng không chối Thầy”, ấy vậy mà chỉ một đứa tớ gái nhà Cai-pha gạn hỏi, đã chối Thầy không chỉ một lần mà tới 3 lần trong một đêm: “Tôi thề là không biết Người ấy” (Mt 26, 72). Nếu đức tin của Phê-rô đã kiên định thì có thể xảy ra trường hợp tréo cẳng ngỗng như vậy không?
Câu chuỵên đi trên mặt biển đã minh hoạ về đức tin của con người bộc trực Phê-rô: Khi thấy Đức Giê-su đi trên mặt biển, ông tin rằng ông cũng có thể đi trên mặt biển đến với Người, và với niềm tin ấy, ông đã đi trên mặt nước không khác gì đi trên mặt đất. Nhưng khi thấy gió thổi mạnh thì ông đâm ra nghi ngờ, đức tin của ông bị chao đảo, vì thế ông bị chìm xuống và la lên cầu cứu: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” (Mt 14, 22-33). Rõ ràng việc Phê-rô đi được trên mặt nước hay bị chìm xuống là do đức tin của ông có mạnh mẽ hay không. Trường hợp này có thể nói: ông đi trên đức tin của ông, hay đức tin của ông chính là nền tảng nâng đỡ bước chân ông đi, cũng như nâng đỡ toàn bộ cuộc đời ông. Quả thật, khi có một đức tin vững vàng, thì đời sống nội tâm luôn luôn an bình hạnh phúc, bất chấp nghịch cảnh; nhưng khi đức tin bị chao đảo, thì đời sống cũng bị chao đảo theo.
Phân tích những sự kiện Kinh Thánh nêu trên, thấy nổi bật một chân lý: Để thành tựu được một phép lạ, phải có hai yếu tố quan trọng: Quyền năng của Thiên Chúa và lòng tin của con người. Thiếu một trong hai thì phép lạ không thể thành tựu được (một minh hoạ sống động là câu chuyện “Đức Giê-su về thăm Na-da-ret”, nhưng những người đồng hương và cả thân nhân của Người vì không tin nên “Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó” (Mc 6, 5). Tuy nhiên, quyền năng của Thiên Chúa thì bao giờ cũng có, lúc nào cũng sẵn sàng tác động, không bao giờ thay đổi hay mất đi, nên yếu tố hiển nhiên ấy không cần bàn cãi. Vấn đề còn lại chỉ là lòng tin của con người. Phép lạ hay điều con người cầu xin Thiên Chúa có xảy ra hay không, hoàn toàn do con người có thật sự tin vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa hay không.
Người Ki-tô hữu nhiều khi hoang mang lo sợ trước viễn cảnh tương lai vĩnh cửu và không ý thức mình đang trên con đường được Thiên Chúa cứu độ. Từ chỗ mất niềm tin ấy, người tín hữu có thể dần dần đi tới tình trạng buông xuôi, phó mặc cho số phận đẩy đưa, không còn sống theo những điều Chúa và Giáo hội dẫn dắt nữa. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay thắp lại ánh sáng đức tin và niềm hy vọng vào ơn cứu độ Đức Ki-tô đem đến. Mà cũng “Vì chúng ta tin, nên Đức Giê-su đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa.” (Rm 5, 2). Quả thật “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11, 1). Hãy nhìn vào đích điểm của hành trình đức tin là niềm vui được cứu độ và sống “kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su” như thánh Phao-lô dạy. Đó chính là điều giúp ta nhận chân được ý nghĩa đích thực của cuộc sống trần gian và vững lòng tiến bước trong tinh thần hoan hỷ vì ngày Chúa quang lâm đã gần kề.
Tiếp theo lời dạy về niềm tin, Đức Giê-su lại đưa ra hình ảnh một người đầy tớ trung tín. Người đầy tớ làm xong việc ông chủ trao phó đã không hợm hĩnh như kiểu anh chàng Pha-ri-sêu cầu nguỵên trong Đền Thờ (“Dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế” – Lc 18, 11-12), mà biết thưa với chủ “chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi”. Quả thật, đừng khoe khoang, chớ hợm hĩnh, mà hãy khiêm tốn phục vụ, bởi “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên .” (Mt 23, 11-12). Tốt hơn cả là hãy làm, đừng nói suông kiểu những ông kinh sư thích ngồi trên toà ông Mô-sê (Mt 23, 1-6) và nhất là đừng bao giờ “làm láo báo cáo hay”. Cũng bởi vì “Với đức tin và đức mến của một người được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su, anh hãy lấy làm mẫu mực những lời lành mạnh anh đã nghe tôi dạy. Giáo lý tốt đẹp đã giao phó cho anh, anh hãy bảo toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong chúng ta.” (2Tm 1, 13-14).
Tóm lại, bài học rút ra được khi suy niệm bài Tin Mừng hôm nay phải là: Đừng hãnh diện cho rằng mình đã có một đức tin vững mạnh, mà hãy nhìn lại mình để thấy được sự bất toàn của bản thân mà cầu xin: “Lạy Chúa! Xin thêm lòng tin cho chúng con.” Ôi! Lạy Chúa! Chúng con chỉ biết hãnh diện khoe thành tích này, việc tốt nọ, mà không biết rằng những thành tích ấy, những việc làm ấy, nếu không được Thần Khí Chúa soi sáng và thúc đẩy, thì rốt lại cũng chỉ là con số không. Chúng con biết rằng chúng con luôn hão huyền tự đắc cho rằng mình được làm con cái Thiên Chúa, được làm bạn hữu của Con Thiên Chúa, thì chắc chắn lòng tin sẽ vững mạnh. Đó quả thực là điều không tưởng! Vâng, lạy Chúa, xin ban Thần Khí cho chúng con, “xin thêm lòng tin cho chúng con”, để chúng con biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa dạy. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.
 

TN27-C107: XIN THÊM ĐỨC TIN

Lm Vũ đình Tường

Môn đệ Đức Kitô xin Ngài ban thêm đức tin cho các ông. Không rõ lí do vì sao các ông xin điều TN27-C107

Môn đệ Đức Kitô xin Ngài ban thêm đức tin cho các ông. Không rõ lí do vì sao các ông xin điều trên. Điều chắc chắn là sau khi nghe Đức Kitô nói với các ông phải tha thứ cho anh em khi họ xin tha. Không phải tha một lần mà hàng trăm lần Luca 17,4. Ngay sau đó các ông xin Đức Kitô ban thêm đức tin cho các ông. Có lẽ các môn đệ tin là với một đức tin mạnh mẽ các ông sẽ tránh được nhiều cơn cám dỗ và sẵn sàng hơn trong việc tin theo Đức Kitô và phục vụ dân Ngài.
Tha thứ là điều nói dễ khó làm. Lí thuyết dễ, thực hành khó. Càng khó hơn khi người kia làm cho mình thừa chết, thiếu sống, đứt ruột, tím gan. Nhổ tận gốc rễ cảm xúc đau đớn trong tâm chính là tự giải thoát mình khỏi đau khổ, thoát được ràng buộc của hận thù. Càng suy nghĩ về hận thù càng bị nó dần vật, trở nên nô lệ cho hận thù. Xã hội chúng ta đang sống kêu gọi con người nên xả bỏ hận thù bằng cách giải toả chúng với tâm lí gia chuyên về xúc cảm, hầu tìm giải pháp mang chúng xuống tuyền đài.
Mọi người thợ đều biết, dụng cụ đóng một phần nhỏ, không phải dụng cụ tốt giúp họ làm những kiệt tác để đời, mà chính là tài năng của người thợ. Không phải do đức tin mạnh mà ta có khả năng đạt được những kì công vĩ đại, mà chính là qua ta, Thiên Chúa là Đấng làm những kì công vĩ đại qua đức tin nhỏ bé, yếu đuối của ta. Đức kitô không ban thêm đức tin cho các môn đệ như điều các ông xin. Ngài giải thích cho các ông biết đức tin, dù nhỏ bé bằng hạt cải, yếu đuối, nhưng với lòng tin, tâm tình phó thác cộng với đức khiêm nhường của các môn đệ, các ông thực hiện được nhiều điều vĩ đại cho muôn dân. Kitô hữu chân chính là người trở thành dụng cụ trong tay Thiên Chúa. Không thể đong đo đức tin, lớn nhỏ, nhiều ít bởi đức tin xuất phát từ lòng mến, tình yêu và phó thác trong Chúa. Khiêm nhường và sẵn sàng trở thành dụng cụ trong tay Chúa là điều cần thiết để phục vụ nước trời. Cuối bài Phúc Âm Đức Kitô giải thích thêm về liên hệ giữa chủ và người làm công. Chủ nhân là người ra lệnh và công nhân là người thi công, làm công việc chủ giao. Hoàn thành công việc tốt đẹp là làm tròn nhiệm vụ của người làm công chân chính. Người làm công không có gì để khoe khoang, nếu có thì người đó hãnh diện về tài năng chủ mình. Bởi chính chủ là người ra kế hoạch cho người công nhân thi hành. Mọi tính toán, khôn ngoan đều đến từ chủ; thợ chỉ thi hành điều chủ hướng dẫn, chỉ bảo. Tin vào Đức Kitô chính là khiêm nhường phục vụ theo hướng dẫn của Ngài. Làm theo điều Ngài hướng dẫn sẽ gặt hái kết quả ngoài sức tưởng. Thánh Luca cho biết thực hành í Chúa sẽ chuyển được cây; thánh Marco 11,22-23 cho biết đức tin chuyển núi, dời non.
Chúng ta thường hay xin Đức Kitô ban thêm đức tin cho chúng ta bởi chúng ta tin là đức tin có sức mạnh biến đổi cuộc sống của chính mình, và cảm hoá người thân. Chúng ta tin đức tin làm những việc trọng đại trong đời và giúp cuộc sống tốt đẹp hơn. Trong Phúc âm Đức Kitô nói ‘đức tin con đã cứu,chữa, con’. Tự đức tin không thể làm phép lạ. Điều này có nghĩa là Thiên Chúa là Đấng thực hiện điều kì lạ. Người nhận ơn lạ cần có đức tin để Thiên Chúa thực hiện điều kì diệu. Rõ hơn phải hiểu là bởi lòng tin của ta mà Đức Kitô thực hiện điều kì lạ. Đức tin là điều kiện căn bản để nhận ơn lạ.
 

TN27-C108: TẠI SAO PHẢI XIN THÊM LÒNG TIN?

Giuse Vinhsơn Ngọc Biển

Các Tông đồ đã được Đức Giêsu mạc khải nhiều lần về Ngài qua những lời giảng dạy và nơi TN27-C108

Các Tông đồ đã được Đức Giêsu mạc khải nhiều lần về Ngài qua những lời giảng dạy và nơi các dấu lạ điềm thiêng. Ngài lại còn ban cho các ông quyền năng để dẹp trừ những thần ô uế và chữa lành bệnh tật (x. Mt 10, 1-2), nhằm củng cố niềm tin cho họ. Tuy nhiên, vì mang trong mình thân phận con người, các Tông đồ thấy có những lúc còn quá yếu đuối, nên các ông mới cất tiếng xin với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con” (Lc 17, 5).
Lời cầu xin này toát lên nỗi trăn trở trước sứ mạng và sự lo sợ trước những thách đố lớn lao của sứ vụ mà các Tông đồ sẽ đón nhận sau này. Đây cũng là tâm tình của mỗi chúng ta ngày hôm nay.

Tại sao phải xin thêm lòng tin?
“Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con” (Lc 17, 5). Lời cầu xin đó của các Tông đồ cho thấy đức tin không phải do cố gắng của con người mà đạt được, nhưng nó được xuất phát từ Thiên Chúa và do tình thương của Ngài. Vì vậy, Ngài trao ban cho ai tùy ý. Hệ quả chân thực của đức tin chính là lòng kiên trì, trung thành, can đảm và phó thác nơi Thiên Chúa (x. Mt 6, 25 -34).
Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay làm toát lên đặc tính đó của đức tin: “Xin Thầy ban thêm lòng tin cho chúng con” (Lc 17,5). Lời cầu xin này được cất lên phát xuất từ con tim của các Tông đồ. Các ông được chứng kiến nhiều phép lạ Thầy mình đã làm, nhưng cũng cảm nghiệm được sự khó khăn, phức tạp trong quá trình loan báo Nước Trời của Đức Giêsu. Đồng thời, các ông cũng thấy được trách nhiệm quá lớn lao nơi sứ vụ mà rồi đây các ông sẽ tiếp nhận. Bên cạnh đó là những đòi hỏi quá khắt khe của luật mới nơi người môn đệ Đức Giêsu. Vì thế, các ông không khỏi những lo lắng trước trách nhiệm to lớn đó. Các ông xin Chúa ban thêm lòng tin là để giúp các ông đứng vững trước mọi cuồng phong bão tố trên hành trình loan báo Tin Mừng và để xứng đáng trong tư cách là người môn đệ chân chính.
“Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con” (Lc 17, 5) còn là một cách minh chứng cho thấy đức tin của các ông chưa đủ lớn. Và như thế, không thể đối diện với những nghịch cảnh trên hành trình theo Chúa cũng như loan truyền sứ vụ. Một cách gián tiếp, chúng ta nhận thấy các Tông đồ đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Khó khăn lớn nhất đối với các ông lúc này là thử thách về niềm tin vào chính con người Đức Giêsu. Có lẽ các ông ít nhiều vẫn mang trong mình những tâm trạng hoài nghi và tự hỏi về vị Thầy mà các ông đã bỏ mọi sự để đi theo: Đức Giêsu này có phải là Đấng mà muôn dân mong đợi hay không? Tại sao Ngài là Thiên Chúa mà vẫn chấp nhận bị người ta xua đuổi, khinh thường…? Tại sao Ngài không thiết lập và tổ chức triều đình để đem lại sự giàu sang, phồn thịnh cho nhân loại…?
Đức Giêsu thấy được tâm trạng hoang mang cũng như cái tôi ích kỷ của họ nổi lên, điều này được biểu hiện qua việc tranh nhau xem ai là người lớn nhất trong Nước Trời, rồi bà mẹ của Giacôbê và Gioan đến xin cho một ngồi bên tả, một bên hữu…! Nhân cơ hội này, Đức Giêsu đã dạy cho họ bài học yêu thương, khiêm tốn và phục vụ. Thật thế, đức tin phải đi đôi với việc làm, nghĩa là phải “hoạt động qua đức ái” (Gal 5,6) vì: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2:17). Đức tin đi đôi với sự trung thành phục vụ (x. Ga 12,26). Đức tin không phải để khoe khoang. Vì thế, Đức Giêsu đã lấy hình ảnh người tôi tớ trong vai trò phục vụ để giáo huấn cho các ông bài học về sự khiêm tốn trong phục vụ:  “Ðối với anh em cũng vậy: khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17,10).
Như vậy, các ông thấy rõ những đòi hỏi của Đức Giêsu và nhận thấy con người mình yếu đuối, nên các ông cần thêm lòng tin để tin vào Chúa hơn, yêu người hơn, khiêm tốn hơn, và phục vụ cách vô vị lợi hơn.

Sống Đức Tin trong đời thường
Còn chúng ta ngày hôm nay thì sao? Trong cuộc sống, ngoài xã hội, nơi thương trường, nhiều lúc chúng ta cảm thấy mình bất lực hoặc hèn nhát không dám can đảm để làm chứng cho Chúa. Lý do là vì thiếu niềm xác tín nơi Chúa. Vì thế, lời cầu xin của cácTông đồ khi xưa cũng là lời cầu nguyện của mỗi chúng ta ngày hôm nay.
Quả thật, xã hội ngày hôm nay nhiều người sống rất vô cảm, ít tương trợ lẫn nhau, và nhiều khi còn cắn xé lẫn nhau, hệ quả xảy ra là: tham nhũng, bóc lột, đàn áp những người thấp cổ bé họng… đứng trước những bạo nạn đó, nhiều khi chúng ta thấy mình quá nhỏ bé nên không dám lên tiếng, không dám nói lên chính kiến của mình, không dám thể hiện một nghĩa cử liên đới với những anh chị em đang lâm nạn. Những lúc chúng ta cảm thấy bất lực vì sợ hãi như vậy, ấy là lúc chúng ta cần phải: “Xin Chúa ban thêm lòng tin cho chúng ta” (x. Lc 17,5).
Câu nói của Karl Marx đáng để cho mỗi chúng ta suy nghĩ: “Chỉ có súc vật mới quay lưng lại với nỗi đau đồng loại mà chăm chút bộ lông của mình”. Chớ trêu thay, sự thật này đang là chuyện rất bình thường trong một xã hội hiện đại. Chúng ta biết nó là không tốt, nhưng đôi khi chúng ta cũng sống không kém gì họ, hay không bao giờ dám đứng lên đi ngược dòng để tìm về sự thật và xây dựng tình liên đới chỉ vì sợ sự liên lụy. Đây chính là yếu đuối của chúng ta. Vì thế chúng ta hãy: “Xin Chúa ban thêm lòng tin cho chúng ta” (x. Lc 17,5).
Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta xin Chúa mãi mà vẫn không được những ơn chúng ta xin. Những lúc đó, chúng ta hay phàn nàn trách móc Chúa vì Ngài không nhận lời. Ta thấy tâm trạng của mình lúc này có phần giống tiên tri Kha-ba-cúc trong bài đọc I, ông phải chịu đựng những điều nghiệt ngã tương tự: “Con la lên: Bạo tàn! Mà Ngài không cứu vớt”; “Cho đến bao giờ, lạy Đức Chúa, con kêu van mà Ngài chẳng đoái nghe?” (Kb 1,2-3). Tuy nhiên, chúng ta đâu biết được rằng: “Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá?  Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn? Vậy nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Ðấng ngự trên trời, Người sẽ ban những của tốt lành cho những kẻ xin Người” (Mt 7, 9-11). Chúng ta chưa nhận được là vì chưa có niềm tin đủ mạnh. Vì thế, chúng ta cũng cần: “Xin Chúa thêm lòng tin cho chúng ta” (x. Lc 17,5).
Trên thương trường, nhiều khi chúng ta bị cám dỗ làm ăn bất chính. Vẫn biết là tội, nhưng nhiều người làm như thế, nếu chúng ta không thế thì không thể sống được, và chúng ta đã sẵng sàng thỏa hiệp với gian dối, để làm ăn bất chính. Những lúc như thế, chúng ta phải xin với Chúa như các Tông đồ: “Xin Thầy thêm lòng tin cho chúng con” (Lc 17, 5).
Lạy Chúa Giêsu, lời cầu xin của các Tông đồ khi xưa cũng là lời cầu xin của chúng con ngày hôm nay: “Xin Chúa ban thêm lòng tin cho chúng con”, để chúng con vững bước trên con đường theo Chúa và sẵn sàng thi hành sứ vụ Chúa trao phó. Amen.
 

TN27-C109: CỘNG TÁC VIÊN

Trầm Thiên Thu

Cộng tác là cùng nhau chung tay góp sức làm một công việc nào đó, có thể không cùng chung một TN27-C109

Cộng tác là cùng nhau chung tay góp sức làm một công việc nào đó, có thể không cùng chung một trách nhiệm nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm riêng phần mình. Công việc liên quan trách nhiệm, trách nhiệm liên quan con người hữu dụng hay vô dụng.
Người không chịu làm việc hoặc làm không xong phần việc được giao là người vô trách nhiệm, gọi chung là vô dụng – không có ích lợi gì cho cộng đồng, kể cả bản thân. Kẻ vô dụng là người vô tích sự, chẳng làm nên trò trống gì, chỉ thích sống bám người khác như loại ký sinh trùng nguy hại. Kẻ vô dụng là kẻ không ai ưa, chẳng ai thích, và bị người ta nguyền rủa: “Đồ vô dụng!” Kinh Thánh nói: “Hy vọng của đứa vô ơn bạc nghĩa tan chảy như sương giá mùa đông, trôi đi như dòng nước vô dụng.” (Kn 16:29)
Nhưng người dám tự nhận mình là “đồ vô dụng” (thật lòng, không giả vờ để được khen) thì hẳn là người khiêm nhường, thậm chí họ có thể là người đa năng và đa dụng. Đó là “phong cách” mà Chúa Giêsu dạy người ta không chỉ nên làm mà còn phải làm. Trong cuộc sống, người ta có thể cảm thấy mình vô dụng về một lĩnh vực nào đó. Cảm giác đó có thể là khiêm nhường, có thể là mặc cảm hoặc tự ti, cũng có thể do nhút nhát. Thật tốt khi biết khiêm nhường nhận mình là vô dụng, nhưng nên tránh cảm giác thấy mình vô dụng vì tự ti mặc cảm. Khi cảm thấy mình “yếu kém”, bất kỳ ai cũng cần được hỗ trợ hoặc cần được khuyến khích, động viên. Nhưng nếu cứng đầu cứng cổ, tôn sùng ngẫu tượng, thì đúng là vô dụng thật: “Dân xấu xa này không chịu nghe lời Ta, cứ ngoan cố cứng lòng, chạy theo các thần khác mà làm tôi và sụp lạy chúng; nó sẽ nên như chiếc đai lưng hoàn toàn vô dụng kia.” (Gr 13:10)
Chắc hẳn ngôn sứ Kha-ba-cúc là người thẳng thắn, ông không chịu nổi những điều chướng tai, gai mắt, nên ông thắc mắc với Thiên Chúa: “Cho đến bao giờ, lạy Đức Chúa, con kêu cứu mà Ngài chẳng đoái nghe, con la lên: ‘Bạo tàn!’ mà Ngài không cứu vớt?” (Kb 1:2) Tình thẳng thắn nên ông cảm thấy “khó chịu” trước những điều ác cứ xảy ra hằng ngày: “Sao Ngài bắt con phải chứng kiến tội ác hoài, còn Ngài cứ đứng nhìn cảnh khổ đau? Trước mắt con, toàn là cảnh phá phách, bạo tàn, chỗ nào cũng thấy TRANH CHẤP và CÃI CỌ. Vì thế, Luật không được tuân giữ, CÔNG LÝ CHẲNG CÒN thấy xuất hiện, vì kẻ gian ác bủa vây người công chính nên chỉ còn thứ công lý vạy vọ.” (Kb 1:3-4) Một dạng khổ rất đặc biệt của những người thẳng thắn. Tuy nhiên, thẳng thắn cũng cần phải khéo léo nữa, kết hợp giữa cương và nhu.
Ở cái cõi trần gian này thì thời nào cũng có bất công – khác chăng là về mức độ, đặc biệt là ở thời chúng ta đang sống ngày nay. Người có tính bộc trực, thích thẳng thắn thì không thể đứng lặng hoặc ngồi yên, thế nên họ bức xúc mà phải nói, đôi khi chịu thiệt thòi. “Thuận ngôn” luôn gây “nghịch nhĩ” và lời thật cũng thường làm mất lòng. Họ nói ra thì bị ghét, bị kèn cựa, bị trù dập. Thế gian quá nhiêu khê: “Dốt nát thì bị khinh, thông minh thì bị ghét.” Kiểu nào cũng khổ. Không làm sao có thể làm vừa lòng mọi người. Nhưng thà bị ghét chứ không chịu bị khinh. Cuộc đời có dạng “thực tế buồn” mà người ta thường nói: “Thẳng thắn thường thua thiệt, lươn lẹo lại lên lương.” Chính Chúa Giêsu đã nói rồi: “Con cái đời này khôn ngoan hơn con cái sự sáng.” (Lc 16:8) Khôn ngoan đó là khôn lỏi, khôn xảo. Tại sao vậy? Bởi vì sự công chính là kẻ thù của ma quỷ, bóp méo sự thật, bẻ cong điều thẳng thắn. (x. Cv 13:10)
Đừng lo lắng hoặc sợ hãi, cứ vững tin và vui mừng vì chúng ta có luôn có Thiên Chúa, nhờ đó chúng ta sẽ nên hữu dụng chứ không vô dụng. Thánh Vịnh gia mời gọi: “Hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa, tung hô Người là Núi Đá độ trì ta, vào trước Thánh Nhan dâng lời cảm tạ, cùng tung hô theo điệu hát cung đàn.” (Tv 95:1-2) Niềm vui của tín nhân là thế, bởi vì “Thánh ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn.” (Tv 19:8b)
Thiết tưởng, đừng bao giờ thần tượng bất kỳ ai. Thần tượng người hoặc vật gì là tự biến mình thành nô lệ. Chỉ có Thiên Chúa mới chính là Thần Tượng của chúng ta mà thôi: “Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục, quỳ trước tôn nhan Chúa là Đấng dựng nên ta. Bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ, còn ta là dân Người lãnh đạo, là đoàn chiên tay Người dẫn dắt. Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa!” (Tv 95:6-7) Thánh Vịnh gia nói “ước gì”, nhưng thật ra là chính bổn phận và nhiệm vụ của chúng ta. Thiên Chúa vừa khuyên nhủ vừa khuyến cáo: “Các ngươi chớ cứng lòng như tại Mơ-ri-va, như ngày ở Ma-xa trong sa mạc, nơi tổ phụ các ngươi đã từng thách thức và dám thử thách Ta, dù đã thấy những việc Ta làm.” (Tv 95:8-9) Có nhiều kiểu cứng lòng, mỗi người mỗi kiểu và với mức độ khác nhau. Chúng ta vẫn phạm tội phản nghịch Ngài vì còn cứng lòng chứ chưa mềm lòng.
Thánh Phaolô hồi tưởng lại lòng tin không giả hình của Timôthê, nhờ lòng tin đã có nơi cụ Lô-ít và nơi bà cố Êu-ni-kê (ngoại và mẹ của Timôthê), và nói: “Tôi nhắc anh phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh. Vì Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ. Vậy anh đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng hổ thẹn vì tôi, người tù của Chúa; nhưng dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy ĐỒNG LAO CỘNG KHỔ với tôi để loan báo Tin Mừng.” (2 Tm 1:6-8) Đó là công vụ, là nhiệm vụ chung của mọi người. Ai cũng có trách nhiệm cộng tác bằng cách nào đó theo hoàn cảnh và khả năng của mình – mà khả năng đó là do Chúa ban chứ tự mình chẳng làm được gì. (x. Ga 15:5)
Quả thật, Thánh Phaolô giải thích chi tiết và rõ ràng: “Người đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Người. Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Đức Kitô Giêsu, nhưng giờ đây mới được biểu lộ, vì Đấng cứu độ chúng ta là Đức Kitô Giêsu đã xuất hiện. Chính Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử.” (2 Tm 1:9-10) Đồng thời thánh nhân xác định trách nhiệm của mình: “Thiên Chúa đã đặt tôi làm người rao giảng Tin Mừng đó, làm tông đồ và thầy dạy.” (2 Tm 1:11) Nhận biết ý Chúa và ý thức trách nhiệm là điều tuyệt vời nhưng không dễ chút nào.
Có nhiều thứ đối lập, cụ thể là ánh sáng – bóng tối. Người nào hướng về ánh sáng thì đối nghịch với bóng tối – và ngược lại, lẽ tất nhiên là vậy, vì hai thứ không thể nhìn chung hướng với nhau. Thánh Phaolô giải thích: “Chính vì lý do ấy mà tôi phải chịu những đau khổ này; nhưng tôi không hổ thẹn, vì tôi biết tôi tin vào ai, và xác tín rằng: Người có đủ quyền năng bảo toàn giáo lý đã được giao phó cho tôi, mãi cho tới Ngày đó. Với đức tin và đức mến của một người được kết hợp với Đức Kitô Giêsu, anh hãy lấy làm mẫu mực những lời lành mạnh anh đã nghe tôi dạy. Giáo lý tốt đẹp đã giao phó cho anh, anh hãy bảo toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong chúng ta.” (2 Tm 1:12-14)
Và rồi một hôm, các môn đệ thưa với Thầy Giêsu: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con.” (Lc 17:5) Ngài nói với họ: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thì dù anh em có bảo cây dâu này: ‘Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc’, nó cũng sẽ vâng lời anh em.” (Lc 17:6) Lời cầu xin đức tin rất cần thiết, nhưng đôi khi chúng ta thường quên, hoặc cho rằng đó là chuyện tất nhiên.
Quả thật, đức tin vô cùng quan trọng – mọi nơi và mọi lúc. Khi thấy cây vả không sinh trái, Chúa Giêsu nguyền rủa nó và nó chết khô, Ngài xác định với các môn đệ về tầm quan trọng của đức tin: “Thầy bảo thật anh em, nếu anh em TIN và KHÔNG CHÚT NGHI NAN thì chẳng những anh em làm được điều Thầy vừa làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có bảo núi này: ‘Dời chỗ đi, nhào xuống biển!’, thì sự việc sẽ xảy ra như thế. Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà xin khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được.” (Mt 21:21-22) Đức tin thật là kỳ diệu!
Không chỉ vậy, Ngài còn phân tích chi tiết và rất cụ thể: “Ai trong anh em có người đầy tớ đi cày hay đi chăn chiên, mà khi nó ở ngoài đồng về, lại bảo nó: ‘Mau vào ăn cơm đi’, chứ không bảo: ‘Hãy dọn cơm cho ta ăn, thắt lưng hầu bàn cho ta ăn uống xong đã, rồi anh hãy ăn uống sau’? Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao?” (Lc 17:7-9) Đặc biệt hơn, Ngài căn dặn rằng khi chúng ta đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm thì hãy nói: “Chúng tôi là những ĐẦY TỚ VÔ DỤNG, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi.” (Lc 17:10) Một dạng khiêm nhường cần thiết. Mà đúng như vậy, bởi vì tất cả những gì chúng ta có được cũng đều là hồng ân của Thiên Chúa.
Nhận mình vô dụng là một động thái “nhỏ” nhưng lại rất khó thực hiện, nếu thật lòng mà nói thì đã là khó rồi, huống chi là hành động thật, bởi vì Cái Tôi không “cho phép” làm vậy. Mở ngoặc nhỏ: Có lẽ “cái tôi” của người Anh Mỹ “lớn” hơn, bởi vì chính mình luôn viết hoa là “I”, không bao giờ viết thường, dù đứng bất cứ vị trí nào trong câu. Ghê thật!
Khi nói gì hoặc làm gì, ai cũng muốn nhiều người biết, thậm chí người ta còn “nổ” dù làm chi chẳng ra hồn. Tay trái làm mà không cho tay phải biết thì chắc là… “khó chịu” lắm. Thực tế đã và đang có nhiều “cấp độ” về bảng vàng, bằng ân nhân, giấy chứng nhận,… Chuyện nhỏ mà hóa chuyện lớn chứ chẳng đùa đâu. Chắc chắn phải thực sự khiêm nhường thì mới khả dĩ nhận mình là “vô dụng” theo phong cách của Thầy Giêsu chí thánh.
Thật tuyệt khi Thánh Vịnh gia thân thưa: “Xin đừng làm rạng rỡ chúng con, vâng lạy Chúa, xin đừng, nhưng xin cho danh Ngài rạng rỡ, bởi vì Ngài thành tín yêu thương.” (Tv 115:1) Lời cầu nguyện thật khiêm nhường và tốt đẹp biết bao!
Lạy Thiên Chúa, con thực sự vô dụng nhưng không muốn nhận như vậy, mà chỉ muốn tự tôn rởm. Xin Ngài thương ban ơn biến đổi để con biết sống khiêm nhường, dám nhỏ lại để Ngài được nổi bật, xin làm cho trái tim chai cứng của con trở thành mềm mại và chứa đầy máu hồng trắc ẩn, nhờ đó mà con có thể trở thành cộng tác viên của Ngài, trở nên con người theo đúng Thánh Ý Ngài, để hữu dụng cho mọi người và cho chính con nữa. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.
 

TN27-C110: SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 27 TN_C

Lm. Inhaxio Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXVII Thường Niên Năm C nêu bật chủ đề về sức mạnh của đức TN27-C110

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXVII Thường Niên Năm C nêu bật chủ đề về sức mạnh của đức tin được chứng thực ở nơi lòng thành  tín.
Kb 1: 2-3; 2: 2-4
Ngôn sứ Kha-ba-cúc mời gọi hãy gìn giữ đức tin và lòng thành tín đối với Thiên Chúa, thậm chí ngay khi trí khôn phàm nhân của chúng ta không thể nào hiểu thấu những ý định khôn dò của Thiên Chúa đi nữa.
2Tm 1: 6-8, 13-14
Thánh Phao-lô khuyên ông Ti-mô-thê hãy gìn giữ đức tin cho thật tinh tuyền và vô tỳ vết trong việc trung thành tuân giữ lời cam kết và công bố toàn vẹn Tin Mừng.
Lc 17: 5-10
Bài học của Tin Mừng hôm nay là phải ra sức tăng trưởng đức tin của mình và trung thành phục vụ Thiên Chúa một cách vô vị lợi.
BÀI ĐỌC I (Kb 1: 2-3; 2: 2-4)
Sách Kha-ba-cúc là một trong những sách Cựu Ước ngắn nhất, chỉ vọn vẹn có ba chương: hai chương đầu theo hình thức đối thoại giữa vị ngôn sứ và Thiên Chúa, còn chương thứ ba là một thánh vịnh. Nhưng sách này nêu lên một vấn đề căn bản: sự chiến thắng của sự dữ và sự im lặng của Thiên Chúa.
Bối cảnh
Chúng ta không biết chút gì về thân thế của vị ngôn sứ này, tuy nhiên bản văn cho phép chúng ta định vị niên biểu sứ điệp của ông vang lên vào năm 600 trước Công Nguyên. Đây là thời kỳ Tân Ba-by-lon chiến thắng đế quốc Át-sua: phá hủy kinh thành Ni-ni-vê vào năm 610 trước Công Nguyên và tiếp tục bành trướng thế lực của mình cho đến tận miền Pa-lét-tin. Ngôn sứ Kha-ba-cúc tiên báo cuộc xâm lăng này, vì thế ông ghi lại sứ điệp của ông giữa những cuộc xâm lăng và vây hãm kinh thành Giê-ru-sa-lem vào những năm 598-597 trước Công Nguyên.
Bản văn được trích dẫn hôm nay chỉ thuật lại câu hỏi đầu tiên của vị ngôn sứ (1: 2-3) và câu trả lời thứ hai của Thiên Chúa (2: 2-4) trong cuộc đối thoại giữa vị ngôn sứ và Thiên Chúa. Để hiểu rõ hơn, chúng ta sẽ theo đuổi diễn tiến toàn bộ tác phẩm này.
Thiên Chúa im lặng (1: 2-3)
Kha-ba-cúc chứng kiến chung quanh ông chỉ toàn là cảnh bạo lực, cướp bóc, tàn phá và khổ đau. Ông cầu xin Thiên Chúa ra tay cứu độ, nhưng Thiên Chúa không trả lời, như thể Ngài chẳng đoái hoài đến dân tình thế sự.
Những lời than van của con người trước việc sự ác hoành hành và sự im lặng của Thiên Chúa thường được phát biểu trong Kinh Thánh: những tiếng than van nhiều lần của các thánh vịnh gia, của ông Gióp trên giường khổ đau, của ngôn sứ I-sai-a: “Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống…” (Is 63: 19).
Câu trả lời của Thiên Chúa cho Kha-ba-cúc giúp cho hiểu rằng Thiên Chúa để cho con người cứ mặc sức tự tung tự tác chừng nào có thể, nhưng rồi Thiên Chúa sẽ ra tay khi cho một dân tộc khác dấy lên chống lại dân tộc này:
“Này Ta khiến cho dân Can-đê nổi lên,
một dân hung hăng tàn bạo;
nó rảo khắp mặt đất mênh mông
để chiếm đoạt nhà cửa không phải của mình” (1: 6).
Lúc đó, vị ngôn sứ hỏi Thiên Chúa về số phận mà Ngài dành cho kẻ gian ác, những kẻ vênh vang tự đắc về sự chiến thắng của mình, trong khi người công chính thường bị đè bẹp nghiền nát. Ông tìm kiếm lý do tại sao Thiên Chúa không can thiệp và nêu lên câu hỏi thứ hai:
“Mắt của Ngài thật quá tinh tuyền
không thể chịu được điều gian ác,
Ngài không thể nhìn xem cảnh khốn cùng,
tại sao Thiên Chúa cứ đứng nhìn quân phản bội, sao Ngài lặng thinh
khi kẻ gian ác nuốt trửng người chính trực hơn mình?” (1: 13).
Kiên nhẫn và trung tín (2: 2-4)
Câu trả lời của Thiên Chúa cho câu hỏi thứ hai của vị ngôn sứ là chính yếu; nó là trọng tâm sứ điệp của sách Kha-ba-cúc. Chính Thiên Chúa mặc lấy cho câu trả lời này một tính cách long trọng:
 “Đức Chúa trả lời và nói với tôi: ‘Viết lại thị kiến
và khắc vào tấm bia cho ai nấy đọc được cho xuôi chảy” (2: 2).
Thị kiến này sẽ ứng nghiệm vào thời được ấn định không một chút sai chạy. Nếu nó chậm tới, người công chính phải đợi chờ một cách thành tín:
“Này đây, ai không có tâm hồn ngay thẳng sẽ ngã gục,
còn người công chính sẽ được sống,
nhờ lòng thành tín của mình” (2: 4).
Thánh Phao-lô trích dẫn đến hai lần bản văn Kha-ba-cúc này để hỗ trợ cho luận đề của thánh nhân về ơn công chính hóa nhờ đức tin: “Vì trong Tin Mừng, sự công chính của Thiên Chúa được mặc khải, nhờ đức tin để đưa đến đức tin, như có lời chép: Người công chính nhờ đức tin sẽ được cứu sống” (Rm 1: 17) và “Vả lại, không ai được nên công chính trước mặt Thiên Chúa nhờ Lề Luật, đó là điều hiển nhiên, vì người công chính nhờ đức tin sẽ được sống” (Gl 3: 11). Tác giả thư gửi tín hữu Do thái cũng trích dẫn bản văn này: “Người công chính của Ta nhờ lòng tin sẽ được sống; nhưng nếu người ấy bỏ cuộc, thì Ta không hài lòng về người ấy” (Dt 10: 38).
Thật ra, từ Hy-lạp: “pistis” này, cũng như từ La-tin “fides”, đều có hai nét nghĩa: “đức tin” và “lòng thành tín”. Kha-ba-cúc nhấn mạnh lòng thành tín, nghĩa là người công chính phải kiên trung bền vững trong đức tin bất chấp những tăm tối mà đức tin này phải đối mặt. Trong khi đó, những lời trích dẫn của bản văn Kha-ba-cúc trong Tân Ước lại nhấn mạnh đức tin hơn lòng thành tín.

BÀI ĐỌC II (2Tm 1: 6-8, 13-14)
Đây là bức thư cuối cùng của thánh Phao-lô vào lúc thánh nhân bị giam cầm một cách nghiêm ngặt ở Rô-ma. Thánh nhân nhận thức rất rõ số phận đang chờ đợi mình: “Còn tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi” (4: 6). Như vậy, bức thư này một cách nào đó là di chúc tinh thần của thánh nhân. Thánh Phao-lô ngỏ lời với người cộng tác viên thân yêu của ngài bằng cung giọng thân tình trìu mến, nhưng cũng đầy tính kiên quyết của ngài. Thánh nhân để hết tâm huyết của mình vào những lời khuyên bảo này. Ông Ti-mô-thê xem ra đã là một người nhút nhát, thêm nữa bị tác động bởi những chướng ngại nổi lên trong Giáo Đoàn Ê-phê-xô, mà thánh Phao-lô đã giao phó cho ông trách nhiệm coi sóc.
Thần Khí đầy sức mạnh
“Anh phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh”. Động từ Hy-lạp được dịch ở đây là “khơi dậy”, thực ra có nghĩa “khơi lên ngọn lửa trong lòng”, tức là ngọn lửa của Chúa Thánh Thần mà ông Ti-mô-thê đã lãnh nhận vào lúc ông được thụ phong. Thần Khí này “không là một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh”. Lời khuyên khởi đầu này cho hiểu rằng những căng thẳng đã trở nên nghiêm trọng và ông Ti-mô-thê phải trở nên kiên quyết hơn đối với những lạc thuyết.
Thần Khí đầy lòng mến
Những lạc thuyết này vì gây nên những bất đồng nên không thể phát xuất từ đức mến được, như thánh Phao-lô đã viết trong thư thứ nhất của ngài: “Khi đi Ma-kê-đô-ni-a, tôi đã khuyên anh ở lại Ê-phê-xô để anh truyền cho một số người đừng dạy một giáo lý khác…; những cái đó chỉ gây ra tranh luận, chứ không đóng góp vào kế hoạch của Thiên Chúa mà đức tin cho chúng ta biết. Lời truyền dạy đó phải nhằm đưa tới đức mến phát xuất từ tâm hồn trong sạch, lương tâm ngay thẳng và đức tin không giả hình” (1Tm 1: 3-5). Ông Ti-mô-thê phải ra sức làm cho đức ái Ki-tô giáo ngự trị trong cộng đoàn.
Thần Khí biết tự chủ
Từ ngữ được dùng ở đây “biết tự chủ” thuộc từ vựng khôn ngoan Hy-lạp; nó gợi lên phẩm chất của một tinh thần vừa biết tự kiềm chế chính mình trước sự sợ hãi hay đam mê vừa biết uốn nắn chính mình. Đối với ông Ti-mô-thê đây là tất cả chương trình hành động. Khi thực hành nhân đức này, ông sẽ làm tan biến những lạc thuyết mà xuống dưới vài dòng thánh Phao-lô sẽ xác định là “những chuyện nhảm nhí, trống rỗng” (2: 16).
Biết làm chứng và chịu đau khổ
Thánh nhân nhấn mạnh rồi trong thư thứ nhất của ngài gửi cho Ti-mô-thê về tầm quan trọng của lời chứng, lời tuyên xưng đức tin trước các chứng nhân; thánh nhân thêm vào đây giá trị của sự đau khổ: “Chính vì lý do ấy mà tôi phải chịu những đau khổ này; nhưng tôi không hổ thẹn, vì tôi biết tôi tin vào ai, và xác quyết rằng: Người có đủ quyền năng bảo toàn giáo lý đã được giao phó cho tôi, mãi cho tới Ngày đó” (2Tm 1: 12). Ông Ti-mô-thê chắc chắn phải chịu đau khổ nhiều lắm vì những bất đồng nội bộ trong cộng đoàn Ê-phê-xô. Thánh Phao-lô xin ông hãy kết hiệp những đau khổ của ông với sự đau khổ của thánh nhân – sự đau khổ của một tù nhân bị giam cầm – và nghĩ đến sự hữu hiệu tinh thần của ông và ngài: những đau khổ của họ làm cho lời loan báo Tin Mừng được trổ sinh nhiều hoa trái.

TIN MỪNG (Lc 17: 5-10)
Theo văn mạch của Tin Mừng Lu-ca, Chúa Giê-su tiếp tục giáo huấn các môn đệ của Ngài trên đường lên Giê-ru-sa-lem; nhiều lần Ngài đưa ra những yêu sách đối với những ai muốn bước đi theo Ngài. Đoạn trích chương 17 này là đoạn văn cuối cùng về đề tài này, không kém phần nghiêm khắc. Thánh Lu-ca đặt vào trong bối cảnh các môn đệ xin Chúa Giê-su thêm lòng tin cho họ.
Đức tin
Các Tông Đồ thưa với Chúa Giê-su rằng: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con”. Danh xưng “Tông Đồ” thì hiếm trong các sách Tin Mừng. Thánh Mát-thêu, thánh Mác-cô và thánh Gioan dùng danh xưng này chỉ một lần; họ tránh dùng danh xưng này vì nó có nghĩa “người được sai đi” mà chỉ một mình Chúa Giê-su mới xứng đáng tước hiệu này: Ngài là Đấng được Chúa Cha sai phái. Thánh Lu-ca dùng danh xưng “Tông Đồ” này sáu lần, nhưng có chủ ý, trong vài trường hợp. Vì thế, chúng ta được báo trước rằng câu chuyện này thì quan trọng.
Cả ba thánh Mát-thêu, thánh Mác-cô và thánh Lu-ca đều thuật lại việc Chúa Giê-su chữa lành một em bé bị quỷ ám mà các môn đệ đã bất lực. Tại Mát-thêu, các môn đệ ngạc nhiên nên hỏi Chúa Giê-su: “Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy?”. Chúa Giê-su trả lời: “Tại anh em kém tin” (Mt 17: 20). Tại Mác-cô, chính cha của đứa trẻ xin Chúa Giê-su cứu giúp khi thốt lên: “Tôi tin! Nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi!” (Mc 9: 24).
Có lẽ chính vào dịp thất bại này hay thất bại tương tự khác mà các Tông Đồ đã bày tỏ lời thỉnh nguyện của mình: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con”. Tuy nhiên, những ngôn từ được chọn lựa, cung giọng được ban cho lời thỉnh nguyện này, hướng tư tưởng về thời hậu phục sinh. Trước biến cố Phục Sinh, các sách Tin Mừng trình bày đức tin như một ân ban của Chúa Cha. Như vậy, sau lời tuyên xưng đức tin của thánh Phê-rô, Chúa Giê-su công bố: “Này anh Si-mon con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16: 17). Gần trước cuộc Thương Khó, Chúa Giê-su còn công bố cho thánh Phê-rô: “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin” (Lc 22: 32).
Vì thế, xem ra khả dĩ hơn rằng lời thỉnh nguyện được thánh Lu-ca trích dẫn ở đây đã được ngỏ lời với Đấng Phục Sinh (vì thế, mới có những lời “Lạy Chúa”, “các Tông Đồ”). Thánh Lu-ca tham dự trước viễn cảnh hậu Phục Sinh, viễn cảnh Giáo Hội thường hằng lộ ra trong Tin Mừng của thánh nhân. Chính là Giáo Hội được mời gọi cầu nguyện với Đức Giê-su là “Chúa”, xin Ngài thêm lòng tin cho mọi chi thể của Ngài.
Sức mạnh của đức tin
Chúa Giê-su không trả lời trực tiếp lời thỉnh nguyện của các môn đệ Ngài. Nhưng nếu chúng ta cho lời thỉnh nguyện này một âm vang hậu phục sinh khi biện minh rằng thánh Lu-ca đặt ở đây những lời của Chúa Giê-su mà thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô trích dẫn trong một bối cảnh khác (x. Mt 13: 32; Mc 4: 31). Với những người sắp đảm nhận một công việc bao la là nâng dậy thế giới, Chúa Giê-su công bố rằng nếu anh em có lòng tin thì không gì là không thể, ngay cả truyền cho một cây cổ thụ có gốc rễ bám sâu trong lòng đất, mà xuống mọc dưới đáy biển đi nữa. Đức tin có quyền năng biến đổi mọi sự.
Phục vụ Thiên Chúa một cách vô vị lợi
Dụ ngôn tiếp theo sau không có mối liên hệ trực tiếp với giáo huấn đi trước; chắc hẳn dụ ngôn này nguyên thủy đã là độc lập. Tuy nhiên, sau lời dạy gợi ý về những điều kỳ diệu mà những người có lòng tin có thể thực hiện, Chúa Giê-su hạ xuống sự kiêu hãnh tiềm tàng của các môn đệ.
Bức tranh mang đậm nét miền Pa-lét-tin. Một nông dân, tiểu điền chủ, chỉ có một người nô lệ. Người nô lệ phải làm hết mọi việc trong nhà ngoài đồng của chủ. Dù phải mệt nhọc sau một ngày làm việc vất vả ngoài đồng, người nô lệ không được yêu sách bất cứ điều gì, dù nghỉ ngơi hay ăn uống, trước khi phục vụ chủ mình. Đó là bổn phận của một người nô lệ phải có đối với chủ mình. Dụ ngôn thì rắn rỏi, nhưng ý nghĩa thì rõ ràng: những ai cam kết phục vụ Thiên Chúa, thì phải phục vụ cách khiêm tốn: “Khi đã làm tất cả những gì theo mệnh lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi”, nghĩa là đừng tự cho mình là cần thiết.
Bữa ăn
Tại sao Chúa Giê-su lại đưa ra một ví dụ về một bữa ăn như sự phục vụ tối hậu của người nô lệ đối với chủ mình sau khi kết thúc một ngày làm việc vất vả nhỉ? Đây không phải nhằm quy chiếu đến một bữa ăn khác sao? Thánh Lu-ca thích bức tranh bộ đôi, thậm chí nếu hai bức tranh không được kể ra trong bản văn của mình. Ở chương 12, trong bài diễn từ về việc phải sẵn sàng luôn, Chúa Giê-su gợi lên những người đầy tớ trung thành tỉnh thức đợi chủ trở về trong đêm khuya: “Khi chủ về mà thấy những đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ. Thầy bảo thật anh em: chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ” (Lc 12: 37). Ở bàn tiệc cánh chung, chính Thiên Chúa đích thân phục vụ những tôi trung của Ngài… Nhưng trước đó, người tôi trung phải chứng tỏ là mình phục vụ Ngài một cách khiêm tốn và vô vị lợi.
 

TN27-C111: SỨC MẠNH VÀ TÍNH PHI LÝ CỦA NIỀM TIN

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Rõ ràng là Đức Giê-su đang đề cập tới sức mạnh của niềm tin. “Nếu anh em có lòng tin lớn TN27-C111

Rõ ràng là Đức Giê-su đang đề cập tới sức mạnh của niềm tin. “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: ‘Hãy bật rễ lên, xuống biển kia mà mọc’, nó cũng sẽ vâng lời anh em”. Tôi không biết tường tận ẩn dụ cây dâu là như thế nào trong văn chương Do Thái, nhưng rõ ràng Đức Giê-su đang muốn diễn tả niềm tin như một sức mạnh gì ghê gớm lắm, đồng thời cũng cực kì phi lý, phi lý tựa ‘cây dâu xuống biển mà mọc’.
            Niềm tin đưa một người đi vào tương quan với Thiên Chúa, và như mọi mối tương quan bất kì, nó có khả năng làm thay đổi vị thế và quyền lực nơi người đó. Trong Cựu Ước những ai đi vào tương quan với một Đức Chúa hùng mạnh và thánh thiện vô song chắc chắn cũng được tham dự phần nào vào vinh quang thánh thiện đó. Mô-sê từ trên núi Si-nai đi xuống với khuôn mặt sáng chói tới độ, dân không dám ngước nhìn. Sau khi Ê-li-a được Đức Chúa đưa về trời trên cỗ xe bằng lửa, chỉ một chiếc áo choàng ông ném lại đã đủ để Ê-li-sêu có quyền năng rẽ nước sông Gióc-đan… (2 V 2:13 tt.) Trong ngôn ngữ Cựu Ước đang rất phổ thông thời bấy giờ, hình như Đức Giê-su cũng muốn xác quyết cho các Tông Đồ rằng, nếu các ông có được một chút niềm tin như thế, các ông cũng sẽ nhận được một quyền năng nào đó (chưa xác định) mà Đức Chúa sẽ ban cho.
Thế nhưng các Tông Đồ lại đang là môn đệ của một Giê-su Na-da-rét, và lòng tin mà Thầy Giê-su này đang đề cập tới chắc chắn không phải là niềm tin vào một Đức Chúa hùng mạnh; niềm tin vào Thiên Chúa của Đức Ki-tô chắc phải có một điều gì khác xa hơn; và điều này hình như Đức Giê-su đã không hề dấu diếm.
Trước hết Người khảng định: môn đệ mình không được chờ đợi nơi lòng tin bất cứ một đền đáp nào, thăng quan tiến chức hay được phục dịch hưởng thụ, hay được khen ngợi ghi ơn. Hình ảnh người đầy tớ, sau khi làm lụng vất vả ngoài đồng trở về nhà, vẫn còn phải tiếp tục phục dịch ông chủ mà không được quyền đòi hỏi công lênh nào hết, quả là một minh họa rất dễ hiểu đối với mọi người; “Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao?” Việc một số tổ phụ và ngôn sứ được chia sẻ quyền năng Đức Chúa thì cũng chỉ là vì kế hoạch của Thiên Chúa chứ không hề muốn nói lên công nghiệp hay ân thưởng. Vậy thì, người môn đệ của Tân Ước, một khi đi vào tương quan với Đấng “Đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10:45) sẽ phải nghĩ sao đây; hơn thế nữa, nếu chính Ông Chủ lại là người đang ‘thắt lưng hầu bàn’, thì người môn đệ đó sẽ có thái độ nào? Người môn đệ Ki-tô, hay bất cứ ai đặt niềm tin vào một Thiên Chúa như thế, liệu có dám đòi hỏi được phục dịch hay được trả công vì các công nghiệp mình đã cất công thu tích hay không?
 Nhìn vấn đề như thế, ta mới thấy lòng tin đặt nơi Đức Giê-su là không đơn giản chút nào. Rời bỏ cái quan niệm cố hữu và rất phổ biến là giữ đạo để được phần thưởng thiên đàng, làm việc thiện hay tập tành các nhân đức để thu tích công nghiệp trước mặt Chúa, quả là một thách thức vô cùng to lớn; điều này thoạt nghe có vẻ phi lý còn hơn cả việc khiến cho ‘cây dâu… bật rễ lên… xuống biển mà mọc’. Nếu hình ảnh ‘cây dâu…’ tự nó là rất bất hợp lý, đồng thời cũng là một điều rất khó thực hiện, thì lòng tin vào Thiên Chúa từ nhân của Tân Ước, như Đức Giê-su trình bày, cũng tương tự như thế. Nó đòi phải có, hay phải tạo nên cả một đảo lộn, một hoán cải tận căn. Sau khi phải chịu đựng bao nỗi vất vả nhọc mệt, bao nhiêu từ bỏ khổ chế, bao nhiêu cố gắng hy sinh, thế mà Ki-tô hữu (nhất là tu sĩ, linh mục) vẫn phải mở miệng công bố: ‘ơn cứu độ tôi nhận được hoàn toàn là hồng ân Chúa ban nhưng không’, thì quả là khó lắm đấy; “Chúng tôi chỉ là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” là câu nói thoạt nghe có vẻ hợp lý, nhưng rồi lại rất khó nuốt trôi. Chẳng trách gì đã từng có những lời càm ràm: “Chúng tôi là những người phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt… còn mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ… thế mà ông lại coi họ ngang bằng với chúng tôi” (Mt 20:1-16), những thái độ bất mãn: “Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh… Còn thằng con của cha đó… nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng” (Lc 15:25-31). Tự nhiên thì lòng tin vào một Thiên Chúa ban thưởng sẽ dễ dàng khích lệ để tín hữu trung thành giữ cặn kẽ các lề luật và giới răn. Tin rằng: các khó nhọc vất vả hiện tại chỉ là nhất thời trong khi hạnh phúc vĩnh cửu mới đáng mơ ước, quả là một nâng đỡ tâm lý – tinh thần rất hữu hiệu. Nó lô-gích như: đem cây dâu trồng nơi đất tốt để có được hoa trái xum xuê, điều chẳng có gì là khác thường cũng như chẳng cần một phép lạ cả thể; ngược lại mới là điều ký lạ đáng nói. Tin vào một Thiên Chúa nhân ái thứ tha, hiến mình cho tội nhân cách nhưng không, và không mong đền đáp, để rồi tới lượt tôi, tôi cũng phải hiến mình phục vụ tha nhân không tính toán được thua, cả trước mặt Thiên Chúa lẫn trước mặt người đời, đó mới thật là điều khó tới độ gần như phi lý. Tuy nhiên một lòng tin như thế mới được Đức Giê-su mô tả như có khả năng “bảo cây dâu này: hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc!” Lòng tin của Ki-tô hữu là thế đó: nó có một đặc điểm để biện phân không thể nhầm lẫn. Nếu thiếu nét độc đáo đó, niềm tin này cũng sẽ trở thành tầm thường tới độ… “cả những người tội lỗi cũng làm như thế” (Lc 6:27-38).
Lạy Chúa, lúc này con muốn cầu nguyện cùng Chúa: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con!” Con xin được thứ lòng tin bằng hạt cải mà Chúa đòi các môn đệ phải có, không phải để làm phép lạ này nọ, nhưng là để thực hiện được một chút thôi điều phi lý của Tin Mừng: nhận biết Chúa yêu con vô điều kiện, để rồi sau khi đặt lòng tin vào Thiên Chúa yêu thương như thế, con cũng có một chút khả năng mở rộng cõi lòng yêu mến tha nhân mà không tính toán công lênh. Đối với con, đó đã là thực hiện được phép lạ ‘bắt cây dâu xuống mọc dưới biển” rồi đấy. A-men.
 

TN27-C112: ĐỨC TIN ĐI ĐÔI VỚI SỰ KHIÊM HẠ

Lm. GB. Trần Văn Hào

Chúng ta vẫn được mệnh danh là tín hữu, tức là những người có đức tin. Với đức tin, nhiều người TN27-C112

Chúng ta vẫn được mệnh danh là tín hữu, tức là những người có đức tin. Với đức tin, nhiều người đã quảng đại từ bỏ tất cả, bỏ gia đình, bỏ quê hương xứ sở, bỏ bạn bè thân quen.. để lên đường dấn thân truyền giáo. Vì đức tin, biết bao anh hùng tử đạo đã can đảm chấp nhận cái chết để bày tỏ sự gắn kết với Đấng mà họ tín thác. Cộng đoàn quy tụ trong ngôi giáo đường để tham dự Thánh lễ mỗi ngày Chúa nhật cũng để diễn bày đức tin qua việc cùng nhau hướng về Chúa và cầu nguyện. Đức tin là ngọn đèn soi dẫn hầu giúp khám phá những chân lý được mặc khải mà đầu óc con người không thể lý giải. Các bài đọc lời Chúa hôm nay, đặc biệt bài Tin mừng nhấn mạnh về đức tin. Chúa nói: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: hãy bật rễ lên, xuống dưới biển mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em.” Đức tin là chìa khóa then chốt để chúng ta có thể mở toang mọi cánh cửa, đi sâu vào thế giới của mầu nhiệm. Vậy đức tin là gì, và chúng ta cần hiển thị đức tin như thế nào?

Đức tin là gì?
Để trả lời câu hỏi này, Giáo hội dạy : “Tin là gắn kết trọn vẹn con người chúng ta với Thiên Chúa, đấng đã mặc khải chính mình. Đức tin được diễn bày qua 2 chiều kích: Tin vào Thiên Chúa và tin vào Chân lý đã được Thiên Chúa mặc khải (Sách Giáo lý Công giáo số 176,177). Đức tin là một trong ba nhân đức đối thần và là nền tảng của đời sống Kitô hữu. Đó là một ơn nhưng không, do Thiên Chúa trao ban và con người cần mở lòng ra để đón nhận.
Trong bài Tin mừng hôm nay, các tông đồ xin Chúa tăng thêm lòng tin cho họ. Chúa Giêsu dần dần đưa dẫn các học trò đến chân trời đức tin. Chân trời này không phải chỉ tóm gọn trong một định thức giản đơn hay một bài học đơn sơ, nhưng  cần phải trải nghiệm dần để tiến sâu vào trong suốt cả cuộc đời. Chúa nói với Nicôđêmô : “Thiên Chúa yêu trần gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài sẽ không phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).Vì vậy, đức tin là điều kiện duy nhất để được cứu độ.
Nhiều người vô thần hiện nay cho rằng tôn giáo chỉ là những gì mê tín. Karl Marx đã từng tuyên bố: “Tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ nhân dân.” Quan niệm này ngày nay đã trở nên quá lạc điệu. Con người ngày càng nhận thức nhu cầu tâm linh một cách sâu xa.
Ông Eyrien, một nhà xã hội học đã thống kê và cho thấy rằng trong số 432 nhà bác học có tên tuổi khắp nơi trên thế giới vào thế kỷ 19 và vào đầu thế kỷ 20, chỉ có 16 người tự nhận là vô thần, 34 người không có lập trường rõ ràng, còn lại 367 vị vẫn tin có Thiên Chúa. Như vậy, có đến 92% các nhà khoa học nhìn nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, tiêu biểu như Ampère, Copernic, Volte, Newton, Lavoisier, Pasteur, Pascal, J.J. Rousseau…Giáo hội vẫn khẳng định rằng đức tin không đối kháng với khoa học, nhưng ngược lại càng tìm hiểu khoa học, con người lại càng khám phá sâu hơn về Thiên Chúa.
Ông D’Alembert là một bác học vô thần đã mất niềm tin hoàn toàn. Nhưng trên giường hấp hối, ông xin gặp một linh mục để trở về với Chúa và tìm lại đức tin cho mình. Triết gia Shaupenhauer thế kỷ 19, một triết gia vô thần người Đức, suốt cuộc đời đã nguyền rủa tôn giáo và chọc giận Thiên Chúa. Lúc gần chết, ông đau đớn thốt lên: “Chúa ơi, sao tôi khổ thế này”. Vị bác sĩ săn sóc ông ta ngạc nhiên và hỏi: “Ông cũng còn tin Thiên Chúa nữa hay sao?” Ông trả lời : “Vào lúc này khi đối diện trước cái chết, cái triết lý vô thần của tôi đã hoàn toàn trở nên vô tích sự, chẳng giúp gì cho tôi được cả.” Ông Voltaire cũng vậy, ông đã chối bỏ Thiên Chúa và ra sức tấn công Giáo hội. Trên giường bệnh, ông gào thét lên: “Kìa, tôi nhìn thấy bàn tay của Thiên Chúa đang giơ ra để trừng phạt tôi, và cửa hỏa ngục đang mở toang để đón tôi vào, vì tôi đã chống lại Thiên Chúa, chống lại Giáo hội của Ngài”. Một người bạn đứng đó chứng kiến và đã kể lại : “Nếu ma quỷ có chết được, nó cũng không phải trải qua cái chết ghê sợ như cái chết của Voltaire.”
Ngược lại, chúng ta thấy rất nhiều khoa học gia tài ba vẫn thể hiện niềm tin vào Thiên Chúa một cách sâu xa. Ông Louis Amstrong cùng 2 người bạn Mỹ là những người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng vào năm 1969. Khi vừa đến nơi, việc đầu tiên họ thực hiện là quỳ gối xuống, khiêm tốn cầu nguyện với Chúa và tạ ơn Ngài.
Như vậy, đức tin không đối nghịch với khoa học. Có những điều khoa học không giải thích được, nhưng chỉ với đức tin, con người mới có thể cảm thấu. Chúng ta vẫn gọi đó là những phép lạ, là những sự việc siêu thường xảy ra do sự can thiệp nhiệm mầu của Thiên Chúa. Tương tự, Chúa nói hôm nay: “Nếu anh em có lòng tin bằng hạt cải, anh em bảo cây dâu này dời xuống biển, nó sẽ vâng lời anh em”. Nói cách khác, với đức tin, phép lạ sẽ xảy ra.

Sống và vun trồng đức tin.
Thánh Giacôbê đã dạy : “Đức tin không có việc làm là đức tin chết.” Đức Hồng Y Etchegarey khi đến thăm Việt Nam vào năm 1989 đã so sánh Giáo hội Việt Nam với Giáo hội Pháp. Ngài nói, ở Pháp 90% dân chúng có đạo nhưng chỉ 10% trong số ấy thực hành đức tin, cụ thể là đến nhà thờ ít nhất mỗi tuần một lần. Còn tại Việt Nam, số người Công giáo chưa tới 10%, nhưng trong số này có đến 90% vẫn thực hành đức tin đều đặn. Song Ngài tiên báo, Giáo hội Việt Nam trong vòng 30 năm nữa cũng sẽ giống Giáo hội Pháp bây giờ. Khi con người bắt đầu lao vào cuộc sống duy vật và chỉ lo hưởng thụ, đức tin của họ sẽ dần dần bị sói mòn. Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa dạy các môn đệ cách thức vun trồng đức tin, đó là phải sống thật khiêm hạ, luôn ý thức mình chỉ là tôi tớ của Thiên Chúa. Chúa nói : “Khi anh em làm xong bổn phận, thì hãy thưa lên : “Chúng tôi chỉ là đầy tớ vô dụng, chúng tôi chỉ làm những việc bổn phận đấy thôi.”
Kết luận

Chúng ta nhìn vào Đức Maria như là khuôn mẫu và cũng là Thầy dạy đức tin. Mẹ đã khiêm tốn, coi mình như một tôi tớ, luôn để Thiên Chúa hướng dẫn đời mình và sẵn sàng thực thi những gì Chúa muốn. “Phúc cho bà là kẻ đã tin.” Xin Mẹ dạy chúng ta biết thể hiện và vun trồng đức tin giống như Mẹ năm xưa.
 

TN27-C113: CHỈ LÀ ĐẦY TỚ VÔ DỤNG

Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Khi kể dụ ngôn về ông chủ và người đầy tớ, hình như Chúa cổ võ chế độ nô lệ? Chúa không thương TN27-C113

Khi kể dụ ngôn về ông chủ và người đầy tớ, hình như Chúa cổ võ chế độ nô lệ? Chúa không thương xót người đầy tớ sau một ngày vất vả lao nhọc để làm lợi cho chủ, chiều về đến nhà lại còn hầu hạ chủ, trong khi chủ chẳng đếm xỉa gì đến sự mệt nhọc của đầy tớ?
Thực ra, qua tương quan giữa hai hình ảnh chủ – tớ, Chúa Giêsu muốn dạy hãy loại trừ thái độ kẻ cả, thái độ vênh vang trước bất cứ một thành công nào, bất cứ một chiến thắng nào, dù lớn hay nhỏ. Hãy nhớ, trước mặt Chúa, mỗi người chỉ là đầy tớ vô dụng, chỉ là kẻ thọ ơn.
Vì thế, thấm thía lời dạy của Chúa: “Phần các ngươi, khi đã làm mọi điều truyền dạy cho các ngươi rồi, hãy nói: “Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, không làm gì hơn là phận sự phải làm”, chúng ta cần có mấy tâm tình sau đây:

Ý thức mọi sự tốt lành điều do Chúa.
Hãy nhớ, Chúa là chủ tể, là nguồn cội, là cùng đích của đời ta, của cả vũ trụ. Con người cần luôn luôn ý thức: không có Chúa, bản thân họ chẳng có gì và cũng chẳng làm được gì.
Sống ở đời, như nhiều anh chị em, chắc chắn, có lúc ta thực hiện được “công trình” này, hay hoàn thành xuất sắc công tác nọ, nhưng cho dù đạt đến cái mà người ta gọi là “công trình”, hay chỉ là việc tầm thường hằng ngày, tất cả đều không ngoài thánh ý Chúa.
Hãy luôn ghi khắc, tâm niệm và cầu nguyện bằng lời Thánh vịnh 127, 1-2: “Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công. Thành kia mà Chúa không phòng giữ, uổng công người trấn thủ canh đêm. Bạn có thức khuya hay dậy sớm, khó nhọc làm ăn cũng hoài công. Còn kẻ được Chúa thương dầu có ngủ, Người vẫn ban cho đủ tiêu dùng”.

Tập sống khiêm tốn.
Ai đó từng nói: “Tài năng thường được tỏa sáng trong im lặng. Kém cỏi thường tự lan tỏa bằng âm thanh”. Không khiêm tốn là cách dẫn đường tới sự mù tối của tâm trí. Bởi không khiêm tốn, người ta sẽ dễ tự mãn, dễ tự đắc thắng về chính mình. Người ta sẽ chẳng lãnh hội được bất cứ bài học hay kinh ngiệm nào. Không ai ưa thích kẻ thiếu khiêm tốn. Thậm chí người không khiêm tốn còn bị ghét, bị soi mói, bị xem thường…
Trước mặt người đời, đã phải khiêm tốn, thì trước mặt Thiên Chúa càng phải hạ mình. Chúa luôn đoái thương đến những ai khiêm tốn, biết hạ mình trước mặt Chúa. Chúa ban phần thưởng đời đời cho người sống khiêm nhu nghèo hèn.
Chúng ta cần khiêm tốn, đặt mình trước mặt Chúa, xin ơn soi sáng của Chúa, để tự đánh giá và có ý thức đúng mức về bản thân, để không bao giờ tự mãn, tự kiêu, không tìm cách đặt mình hơn người, hay tự cho mình hơn người. Nhờ đó, chúng ta có những lời lẽ, cử chỉ, hành động, thái độ, cách ứng xử, cách sống… khiêm tốn.
Bạn và tôi cần ghi nhớ lời sách Huấn ca: “Hỡi con, con hãy thi hành công việc con cách hiền hoà, thì con sẽ được người đẹp lòng Chúa quý chuộng. Càng làm lớn, con càng phải hạ mình trong mọi sự, thì con sẽ được đẹp lòng Chúa; vì chỉ có một mình Thiên Chúa có quyền năng cao cả, và mọi kẻ khiêm nhường phải tôn vinh Chúa…
Tai hoạ dành cho kẻ kiêu căng thì vô phương cứu chữa, vì mầm mống tội lỗi đã ăn sâu vào lòng chúng mà chúng không biết. Người thông minh suy ngắm trong lòng lời dụ ngôn, chăm chỉ nghe là kỳ vọng của người khôn ngoan” (3, 19-21. 30-31).

Luôn tạ ơn Chúa.
Càng khám phá ra mọi sự tốt lành đạt được đều là ơn Chúa, ta càng cảm nhận mạnh mẽ tình thương của Chúa dành cho, thì càng được thúc giục phải tạ ơn Chúa. Ta không chỉ tạ ơn trong một lúc nào, nhưng là mọi nơi, mọi lúc, suốt đời.
Hãy làm như ông Gióp, ngay cả lúc mất mát nhất, đau khổ nhất, tan thương nhất, ta vẫn cất lên lời tạ ơn, vẫn cảm nhận bàn tay uy quyền của Chúa: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa!” (G 1, 21).
Hãy luôn tâm nguyện rằng, Chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử. Chỉ một mình Người có quyền “đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên” (1Sm 2, 6; Kn 16, 13). Chỉ có Người là Đấng “bắt phải nghèo và cho giàu có, hạ xuống thấp và nhắc lên cao” (1Sm 2, 6-7).
Tuy quyền uy của Chúa là thế, nhưng Chúa vẫn chỉ một lòng yêu thương. Chúa là Đấng mà “ai quỵ ngã, Ngài đều nâng dậy, kẻ bị đè nén, Ngài cho đứng thẳng lên” (Tv 145, 13-14).
Tâm tình tạ ơn phải là tâm tình của mỗi con người sống khiêm tốn và luôn học để biết khiêm tốn hơn. Từng người hãy lắng nghe lời Thánh vịnh mà lặp đi lặp lại trong mỗi giây phút, mỗi hơi thở của đời mình: “Lạy Thiên Chúa con thờ, là Vua của con, con nguyện tán dương Chúa và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời. Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa và ca ngợi Thánh Danh” (Tv 145, 1-2).
Kết.
Tôi còn nhớ, trong thánh lễ khánh thành nhà thờ Chánh tòa Phú Cường, Đức Cha Phêrô Trần Đình Tứ, người đã bỏ nhiều công sức để xây dựng ngôi thánh đường, đã thinh lặng hoàn toàn trong suốt thánh lễ. Đến cuối thánh lễ, người ta mời Đức Cha phát biểu, Đức Cha chỉ nói một câu vỏn vẹn: “Tôi chỉ là đầy tớ vô dụng”.
Có thể nói, đây là công trình để đời cho những thế hệ mai sau. Cùng với những ân nhân và nhiều người khác âm thầm cầu nguyện, Đức Cha có quyền nói với mọi người về những năm tháng vất vả, chạy đôn, chạy đáo để lo mọi thứ.
Đức Cha có quyền tổng kết về kết quả mà bao nhiêu ân nhân, bao nhiêu công sức của nhiều con người, cùng với Đức Cha, dù tuổi đã cao, vẫn cố gắng hoàn thành. Nhưng Đức Cha chọn cách im lặng.
Trải nghiệm cuộc đời, đã không ít lần cho ta thấm thía rằng, đời ta mong manh, cuộc sống của ta dòn mỏng. Chỉ có cách duy nhất, là phó thác vào Chúa, đặt vào bàn tay của Chúa mọi công trình, mọi việc làm và cả cuộc đời ta, mới là cách hay nhất để ta tồn tại, và tồn tại trong Chúa đời đời.
Như Đức Cha Phêrô, chúng ta hãy để Chúa đếm từng giây phút, từng bước đi trong đời ta. Chính khi sống phó thác, ta sẽ thấy mình thật an nhiên, thật tự tại. Càng phó thác, ta càng dễ khiêm tốn. Càng khiêm tốn, ta càng là kẻ cao thượng trước mặt người đời, đáng lãnh nhận phần thưởng Nước Trời trước mặt Thiên Chúa.
Vậy hãy luôn ghi nhớ lời dạy của Chúa: “Phần các ngươi, khi đã làm mọi điều truyền dạy cho các ngươi rồi, hãy nói: “Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, không làm gì hơn là phận sự phải làm”.
 

TN27-C114: XIN BAN THÊM LÒNG TIN CHO CHÚNG CON

 Lm Gia-cô-bê Tạ Chúc

Đức tin là một trong ba nhân đức đối thần,  đối tượng của đức tin chính là Thiên Chúa. Con người TN27-C114

Đức tin là một trong ba nhân đức đối thần,  đối tượng của đức tin chính là Thiên Chúa. Con người với tất cả nổ lực của bản thân, cùng với hồng ân đến từ Thiên Chúa, họ có thể đáp trả và tin vào Thiên Chúa. Đức tin vừa mang chiều kích cá nhân, nhưng cũng mang tính cộng đồng. Tôi tin và chúng tôi tin.
Khi ấy, các Tông đồ thưa với Chúa Giêsu rằng: “Xin Thầy ban thêm lòng tin cho chúng con”. Mở đầu bài Tin mừng là một lời kêu xin của các Tông đồ, lời cầu xin này chắc hẳn được hun đúc, và đúc kết trong một hành trình tương đối dài, cam go, thử thách và cũng hết sức phiêu phỏng, trên con đường đi theo Chúa. Ý thức được nỗi chênh vênh của phận người bất tất, các học trò của Chúa không còn biết phải làm gì, ngoài điều kêu lên cùng Chúa. Lạy Chúa, con kêu cầu Chúa cho đến bao giờ mà Chúa không nghe? Ha-ba-cúc, vị tiên tri cùng thời với Giê-rê-mi-a khoảng năm 600 TCN, cũng chua chát, và dường như bất lực, trước những bất công, sự dữ, sự phản bội của dân Thiên Chúa, để thốt lên lời kêu cứu với Thiên Chúa. Dường như là một điều tất yếu, khi con người lao vào cảnh khốn cùng, thì họ chạy đến với Thiên Chúa, để được che chở, và bảo vệ. Nhưng rồi lúc thoát ra khỏi tai ương, khốn khó thì họ ngoảnh mặt, làm ngơ, có khi không còn nhớ đến Chúa nữa. Đức Giê-su chỉ đòi hỏi lòng tin, những phép lạ cứu chữa dường như xuất phát từ lòng tin. Nếu chúng con có đức tin bằng hạt cải, quả là phi thường cho những ai tin vào Danh Thiên Chúa. Lịch sử cứu độ đã chứng minh điều này, tổ phụ Ap-ra-ham người được mệnh danh là Cha của các kẻ tin. Ông đã tin và dấn thân đi theo Chúa, dù phía trước vẫn là những khoảng sáng tối, mong manh kiếp người. Thế nhưng, một khi đã tin Chúa, thì bước đi cho tới cùng. Giáo hội Chúa trường tồn và phát triển, cũng là nhờ đức tin soi đường, dẫn lối. Trải qua biết bao sóng gió, thử thách cam go, nhưng người Ki-tô hữu vẫn một lòng trung kiên, phó thác vào Chúa Quan phòng.
Cuộc sống luôn dành cho những người giàu nghị lực, biết vươn lên, và tin tưởng vào những cố gắng sẽ dẫn đến những điều may mắn trong cuộc đời. Lạy Chúa Giê-su, con tín thác vào Ngài. Amen.
 

TN27-C115: ĐỨC TIN VÀ TINH THẦN PHỤC VỤ VÔ VỊ LỢI

Lm. Anthony Trung Thành
1. Đức Tin

Đức Tin là hồng ân của Thiên Chúa ban, nhưng cũng là một hành động tự do sâu xa của con người TN27-C115

Đức Tin là hồng ân của Thiên Chúa ban, nhưng cũng là một hành động tự do sâu xa của con người. Đức Tin là một trong ba nhân đức đối thần. Đức Tin có thể biến những cái không thể thành những cái có thể. Đức Giêsu nói với các Tông đồ, dù có Đức Tin nhỏ bé cũng có thể làm được những chuyện lớn lao. Ngài khẳng định: “Nếu các con có lòng tin bằng hạt cải thì dù các con có bảo cây dâu này: ‘Hãy bật rễ lên, xuống biển mà mọc’, nó cũng sẽ vâng lời các con”(Lc 17, 5-6). Như vậy, Đức Tin có sức mạnh vô biên: nhờ Đức Tin, các Thánh Tử đạo vượt qua được những cực hình đau đớn; nhờ Đức Tin, các Kitô hữu vui vẻ chấp nhận những thử thách đau khổ trong đời sống đạo; nhờ Đức Tin, nhiều người kitô hữu dấn thân trong các lãnh vực từ thiện, bác ái; nhờ Đức Tin, Thánh Giáo Hoàng Giao Phaolô II đã tha thứ cho kẻ ám sát mình là Ali Agca; nhờ Đức Tin, Mẹ Têrêxa Caculta đã dấn thân không mệt mỏi để phục vụ những người bị bỏ rơi trong xã hội. Hôm nay, mỗi chúng ta có mặt trong thánh đường này để cử hành thánh lễ cũng chính là nhờ Đức Tin. Chút nữa đây, chúng ta dọn mình sốt sắng lên rước lễ, tức là rước Mình Máu Thánh Chúa qua hình bánh rượu, đó cũng là nhờ Đức Tin…
Như vậy, Đức Tin hết sức cần thiết trong đời sống đạo. Đức tin là điều kiện để các thụ nhân lãnh nhận các Bí tích. Mỗi lần làm phép lạ, Đức Giêsu thường đòi hỏi Đức Tin hoặc Ngài công bố phép lạ xảy ra là nhờ Đức Tin: “Đức tin con đã cứu chữa con.” Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bảo chứng cho những điều ta không thấy (x. Dt 11,1). Khi lãnh nhận Bí tích rửa tội, vị linh mục hỏi người dự tòng: “Đức Tin sinh ơn ích gì cho con?” Người dự tòng thưa: “Đức tin đem lại cho con sự sống đời đời.”
Trong cuốn sách “Mỗi Ngày Một Ý Tưởng” của MS Anhre, có đoạn viết: “Nếu bạn mất tiền, bạn sẽ mất đi một ít; nếu bạn mất đi danh dự, bạn sẽ mất đi rất nhiều; nhưng nếu mất đức tin thì bạn sẽ mất tất cả. Đức Tin là chìa khoá để bạn bước vào kho báu của Đức Chúa Trời. Đức Tin là con đường dẫn bạn đến sự chiến thắng. Đức Tin là lối sống đẹp lòng Đức Chúa Trời. Đức Tin là chìa khoá vạn năng giúp bạn mở toang những cánh cửa của Nước Trời. Đức Tin là hành động giúp bạn biến điều bất năng thành khả năng. Vì thế đừng đánh mất Đức Tin mà hãy giữ Đức Tin cho đến cuối cùng thì phần thưởng của Đức Tin đang chờ đón bạn.”
Để không đánh mất Đức Tin, chúng ta phải năng cầu xin Chúa bên thêm Đức Tin cho chúng ta (x. Lc 17,5). Đồng thời, chúng ta phải học hỏi và thực hành Đức Tin trong đời sống, bởi vì“Đức tin không việc làm là đức tin chết tận gốc rễ” (Gb 2,26). Tinh thần phục vụ vô vị lợi là cách thực hành Đức Tin một cách cụ thể nhất.

2. Tinh thần phục vụ vô vị lợi
Trong xã hội nô lệ, ông chủ có toàn quyền trên người đầy tớ. Ông có thể sai người đầy tớ làm hết việc này tới việc khác. Giống như người đầy tớ mà Đức Giêsu đề cập trong đoạn Tin mừng hôm nay: “Ai trong các con có người đầy tớ cày bừa hay chăn súc vật ngoài đồng trở về, liền bảo nó rằng: ‘Mau lên, hãy vào bàn dùng bữa’, mà trái lại không bảo nó rằng: ‘Hãy lo dọn bữa tối cho ta, hãy thắt lưng và hầu hạ ta cho đến khi ta ăn uống đã, sau đó ngươi mới ăn uống’ (Lc 17,7-8). Dầu người đầy tớ phải làm hết công việc này đến công việc khác, nhưng luôn phải vâng theo ý ông chủ, không được đòi hỏi quyền lợi cho mình. Đức Giêsu nói tiếp: “Chớ thì chủ nhà có phải mang ơn người đầy tớ, vì nó đã làm theo lệnh ông dạy không?” (Lc 17,9).
Khi đề cập đến vấn đề này, không phải Đức Giêsu tán đồng chế độ nô lệ, nhưng Ngài muốn dùng hình ảnh này để giúp chúng ta hiểu về vai trò của chúng ta đối với Thiên Chúa. Ngài nói: “Phần các con cũng vậy, khi các con làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng: “Chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm” (Lc 17,10).
Thật vậy, Thiên Chúa là người Cha, Ngài đặt để mỗi người chúng ta trong trần thế này với những khả năng và vai trò khác nhau. Chúng ta phải dùng vai trò và khả năng đó để chu toàn nhiệm vụ của mình. Nếu không chu toàn nhiệm vụ được giao phó, chúng ta có lỗi trước mặt Chúa, nhưng nếu chúng ta chu toàn nhiệm vụ được giao phó cũng chỉ là làm trọn bổn phận của chúng ta mà thôi, chúng ta không có quyền đòi hỏi Chúa trả công.
Những người Biệt phái nghĩ rằng, họ được Thiên Chúa ban cho ơn này ơn khác, họ được lên Thiên đàng là do công phúc của họ. Vì thế, họ thường kể công trước mặt Chúa. Thậm chí, họ còn khinh bỉ anh chị em xung quanh, nhất là những người ngoại giáo, những người họ cho là tội lỗi. Câu chuyện người Biệt phái lên đền thờ cầu nguyện cho chúng ta thấy điều đó. Ông kể lễ các công đức của mình: không tham lam, bất chính, ngoại tình, mỗi tuần ăn chay hai lần, dâng cho Chúa một phần mười thu nhập. Rồi ông còn nói, con không như người thu thuế kia (x. Lc 18,9-14).
Trong thực tế cuộc sống, nhiều người trong chúng ta cũng có thái độ như những người biệt phái: đi lễ, đi nhà thờ, ăn chay, cầu nguyện, làm việc bác ái…Có ý để Chúa trả công chứ không phải vì lòng mến Chúa hay vì làm việc đáng phải làm. Phải nhớ rằng: chúng ta luôn được mời gọi cộng tác với ơn Chúa để làm việc lành, việc thiện. Nhưng chúng ta không có quyền dựa vào việc lành, việc thiện của mình làm để đòi Thiên Chúa trả công. Thiên Chúa thưởng công cho ai là tùy tình thương của Ngài. Nhưng vì Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót và quảng đại, nên Ngài sẽ không bao giờ quên những việc lành, việc thiện chúng ta đã làm.
Lạy Chúa, xin ban thêm Đức tin cho chúng con, để chúng con có thể tin trọn vẹn những gì Chúa dạy và Hội Thánh truyền. Xin cho chúng con luôn có tinh thần phục vụ vô vị lợi theo khả năng và sứ mạng mà Chúa trao phó. Amen.
 

TN27-C116: CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN_C

Lm. Antôn
Ông bà anh chị em thân mến. 

Ngày mùng 4 tháng 9 vừa qua, Mẹ Tê-rê-sa Calcutta đã được tôn vinh lên bậc hiển thánh, và do đó TN27-C116

Ngày mùng 4 tháng 9 vừa qua, Mẹ Tê-rê-sa Calcutta đã được tôn vinh lên bậc hiển thánh, và do đó, trong Giáo hội có tất cả 3 vị thánh mang tên Tê-rê-sa, hai vị thánh kia là: Tê-rê-sa Giê-su, còn có tên là Tê-rê-sa Avila, mừng kính vào ngày 15 tháng 10, và Tê-rê-sa Hài đồng Giê-su mà Giáo hội mừng kính vào ngày mùng 1 tháng 10 hôm nay. Ba vị thánh nữ tuy có chung một thánh hiệu (Tê-rê-sa) và cùng chung một chí hướng, hiến dâng cuộc sống mình để rao giảng Tin mừng và tình yêu của Chúa, nhưng các vị vẫn có những nét riêng trong cuộc đời.
Hôm nay nhân ngày kính thánh Tê-rê-sa Hài đồng Giê-su, tôi xin được chia sẻ vài điểm đặc biệt trong cuộc đời của thánh nữ. Tê-rê-sa sinh ngày 2 tháng giêng năm 1873 tại nước Pháp. Ngài là con thứ chín trong gia đình. Khi mới lên bốn tuổi thì Têrêxa đã mất mẹ, bà chết vì căn bệnh ung thư.  Nhưng Tê-rê-sa đã được người cha rất hiền từ đạo đức chân thật bao bọc suốt quãng thời thơ ấu.  Lúc lên mười, Tê-rê-sa ngã bệnh nặng, nhưng ngài đã thấy Đức Trinh Nữ Maria hiện ra mỉm cười với mình và cơn bệnh biến mất.
Ngày từ lúc còn nhỏ, Tê-rê-sa đã có ước vọng và quyết định nên thánh và muốn được sớm tận hiến cuộc đời cho Chúa.  Khi gia nhập dòng, ngài đã nhận được tên Têrêxa Của Chúa Giêsu Hài Đồng.  Tê-rê-sa đã sống khiêm nhường và đơn sơ, nhưng rất sâu sắc và được nuôi dưỡng không ngừng bằng những suy ngắm. Tê-rê-sa vui mừng làm những việc nhỏ mọn và tầm thường mà các chị em trong dòng thường tránh né như quét nhà, rửa chén, lau bụi, giặt rũ, làm vệ sinh, nhưng những công việc đó lại được biến đổi trở nên gương sáng và thánh thiện bởi một tình yêu quảng đại và bao dung.  Một phương thế để nên trọn lành.  Ngài luôn coi những hy sinh đó như những đóa hoa hồng dâng lên trước tôn nhan Chúa. Trong tu viện, Têrêsa có một đời sống cầu nguyện chăm chỉ và sốt sắng, có lòng khao khát luôn được kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể.  Trong tâm hồn của ngài luôn bừng cháy ngọn lửa mến Chúa, luôn phó thác vào Chúa, có một nhân đức bác ái cao quí đối với mọi người và yêu mến các linh hồn. Trong mọi tình cảnh, Tê-rê-sa có một niềm cậy trông vững vàng, sắt đá vào sự phù trợ đắc lực của Đức Mẹ Maria.
Sau cơn bệnh trầm trọng, Tê-rê-sa đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 30 tháng 9 năm 1897, ở tuổi 24.  Ðức Giáo Hoàng Piô XI đã phong Têrêxa lên bậc hiển thánh và đặt ngài làm bổn mạng các xứ truyền giáo. Nhân dịp Ngày quốc tế giới trẻ lần thứ 12 diễn ra tại Paris, ngày 19 tháng 10, năm 1987, Đức Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô Đệ nhị đã tôn phong Thánh nữ lên bậc Tiến sĩ Hội Thánh.
Ông bà anh chị em thân mến.  Nhìn vào cuộc sống Ki-tô hữu, chúng ta phải thú nhận chúng ta không có một đức tin vững chắc và lòng mến Chúa và tha nhân sâu sắc như thánh nữ Tê-rê-sa. Chúng ta nhận biết cuộc sống đức tin của chúng ta ngày hôm nay như thế nào tùy theo mức độ lòng tin của chúng ta vào Chúa và lời Chúa dạy. Vì thế, như các môn đệ, chúng ta cùng cầu xin Chúa ban thêm lòng tin cho chúng ta.
Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta hai bài học quan trọng cho đời sống Kitô hữu.  Bài học thứ nhất phải có lòng tin mạnh mẽ, và bài học thứ hai phục vụ trong sự vui mừng và khiêm tốn.  Thật vậy, muốn có một lòng tin mạnh mẽ và vững chắc thì phải được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, bằng các Bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể, và những giáo huấn của Giáo hội. Lời Chúa được sánh ví như ngọn đèn, như ánh sáng trong đêm đen soi đường dẫn lối cho chúng ta làm những điều lành, tốt và đạo đức, cũng như tránh được những sự dữ, sự xấu trong đời sống hằng ngày.  Chúng ta biết sự dữ xuất hiện trong xã hội ngày hôm nay qua nhiều hình thức cám dỗ của tiền bạc, vật chất, qua những sự gian dối, tham lam, ích kỷ, kiêu căng và tự phụ, qua những sự nghi ngờ về đức tin, coi thường và thờ ơ việc đạo đức, và nhất là bình thường hóa tội lỗi.  Đó là những sự dữ rất nguy hiểm mà chúng ta thường đối diện trong xã hội ngày nay.
Như các tông đồ chúng ta cần Chúa ban thêm lòng tin. Nhưng chúng ta phải chú ý, vấn đề ở đây không phải là chúng ta cần có thêm nhiều đức tin, nhưng cần có đức tin vững mạnh và kiên trì vào Chúa trong bất cứ hoàn cảnh nào.  Trong bài đọc 2, thánh Phao-lô khuyên chúng ta hãy lấy những lời lành lẽ phải làm mẫu mực trong đức tin và lòng mến nơi Ðức Giêsu Kitô, và hãy gìn giữ kho tàng đó cho tốt đẹp.
Sau khi đã dạy về bài học cần có lòng tin mạnh mẽ, Chúa dạy chúng ta bài học phục vụ trong vui mừng và khiêm nhường. Như trong cuộc đời của thánh nữ Tê-rê-sa, sự thánh thiện luôn đòi hỏi đức khiêm nhường.  Một người làm được nhiều việc tốt lành, đạo đức hay hy sinh nhưng chỉ để khoe khoang, tự mãn, hay kể công với Chúa thì quả thực không còn sự thánh thiện nữa. Chúng ta biết khiêm nhượng là nền tảng của mọi nhân đức, do đó, trong bài Tin mừng, Chúa Giêsu dạy chúng ta “Khi các con đã làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng: chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm.”
Chúng ta thấy trong bài đọc 1 hôm nay, tiên tri Habacuc đã kiên nhẫn và khiêm tốn khẩn cầu Thiên Chúa ban cho đức tin mạnh mẽ, bởi vì Habacuc biết rằng Thiên Chúa là Người duy nhất có thể thay đổi lòng dạ con người. Tiên tri Habacuc cũng ý thức rằng ngài chỉ là đầy tớ vô dụng và là tạo vật của Thiên Chúa, phải vâng lệnh chủ làm những gì chủ sai hay cần đến, mà không được kể công, không được bắt ông chủ nhớ đền công trạng của mình.
Ông bà anh chị em thân mến.  Chúng ta cầu xin Chúa, qua lời cầu bầu của Đức Trinh Nữ Maria trong Tháng Mân côi này, và qua lời cầu bầu của thánh nữ Tê-rê-sa, giúp chúng ta học đức khiêm nhường từ Đức Maria và thánh Tê-rê-sa, vui mừng sử dụng tất cả những ơn lành Chúa ban để sống theo thánh ý Chúa, phục vụ và xây dựng làm sáng danh Chúa.  Xin Mẹ Maria giúp chúng ta đền tạ những gì đã và đang lỗi phạm đến Chúa, bằng cách thi hành sốt sắng 3 mệnh lệnh của Mẹ dạy: Cải thiện đời sống, Đền tạ Mẫu tâm và lần hạt Mân côi, và qua những việc hy sinh, yêu thương và quảng đại để làm sáng danh Chúa. Xin Mẹ Maria cầu bầu cho chúng ta có lòng tin mạnh mẽ vào Chúa Giê-su Con Mẹ trong mọi tình cảnh, tránh những sự dữ, nhất là những sự hiểm nghèo cho linh hồn và phần rỗi chúng ta.
 

TN27-C117: XIN THÊM LÒNG TIN

JM. Lam Thy ĐVD.

Bài Tin Mừng hôm nay (CN.XXVII/TN-C – Lc 17, 5-10) trình thuật: “Các Tông Đồ thưa với TN27-C117

Bài Tin Mừng hôm nay (CN.XXVII/TN-C – Lc 17, 5-10) trình thuật: “Các Tông Đồ thưa với Chúa Giê-su rằng: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con” (Lc 17, 5). Lòng tin là gì và quan trọng tới mức độ nào mà các Tông đồ phải xin Thầy mình như vậy? Lòng tin xuất phát từ chủ thể khi nhìn nhận một vấn đề, một sự kiện hay một nhân vật. Theo từ nguyên thì lòng tin có nghĩa là: Có ý nghĩ cho là rất có thể sẽ như vậy, là đúng sự thật, là có thật, là thành thật, tử tế; từ đó đặt hoàn toàn hi vọng vào người nào hay cái gì đó. Trong nhãn giới xã hội học, lòng tin (hay sự tin cậy) vào người khác là một hiện tượng xã hội + tâm lý + văn hóa tổng hợp, và tâm thế này được coi là một trong những điều kiện căn bản để có thể duy trì đời sống tập thể.
Gia đình và cộng đồng xã hội (khu xóm, thôn ấp, làng xã, phường khóm…) là những tập thể mà người ta thường coi là điển hình cho mối quan hệ tin cậy giữa con người với nhau. Cuộc sống xã hội không thể ổn định và bền vững nếu mỗi cá nhân chỉ hành xử theo những tính toán thuần túy dựa trên lợi ích cá nhân. Trong phạm vi một tổ chức hay phạm vi xã hội nói chung, người ta không thể quản lý một cách có hiệu quả bằng sự hoài nghi và lại càng không thể bằng sự sợ hãi, né tránh, mà trước hết phải bằng lòng tin vào người khác, nhất là trong môi trường xã hội hiện đại. Nguồn gốc của sự tin cậy trong xã hội không phải xuất phát từ thiện ý (lòng tốt) chủ quan của từng cá nhân, mà là xuất phát chủ yếu từ các định chế xã hội. Nói cách khác, sự tin cậy tồn tại trên nền tảng của các qui ước và các chuẩn mực xã hội trong khuôn khổ của những định chế xã hội nhất định.
Trong xã hội cổ đại, người ta tin nhau vì cùng là thành viên của một định chế xã hội nào đó, như làng xã, dòng tộc hay cộng đồng tôn giáo. Mỗi thành viên yên tâm rằng các thành viên khác (trong cùng một cộng đồng) sẽ cư xử với mình phù hợp với những qui tắc và chuẩn mực mà cả cộng đồng cùng chia sẻ. Cách đây trên 2500 năm, một nhà hiền triết bậc thầy là Đức Khổng Tử (Trung Quốc) đã dạy môn đệ: “Nhân vô tín bất lập  ” (người không có niềm tin – lòng tin –  thì không đứng được ở đời). Còn Tấn Văn Công, vua nhà Tấn – chư hầu của nhà Chu bên Trung Quốc, vào thời Xuân Thu (khoảng năm 770-476 trước Công nguyên) – thì nói:  “Tín vì quốc chi bảo    ” (trung tín là báu vật của quốc gia).
Thời hiện đại, ngoài những mối liên hệ trực tiếp trong gia đình hay giữa bạn bè thân thiết với nhau, người ta còn có những mối liên hệ giao tiếp rộng rãi hơn ngoài xã hội (trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội). Ngoài phạm vi gia đình và những nhóm xã hội nhỏ, cơ sở xã hội của sự tin cậy giữa các cá nhân với nhau trong đời sống xã hội lúc này phần lớn không còn dựa trên phong tục và tình cảm như trong xã hội cổ truyền, mà dựa trên luật pháp và lý tính. (nguồn: Từ điển Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia org).
Với Ki-tô giáo thì xã hội loài người có hồn và xác được Thiên Chúa Tình Yêu dựng nên, như vậy thì tất cả mọi sự từ tinh thần (hồn) tới thế chất (xác) đều đo Thiên Chúa ban tặng, nên phải hiểu lòng tin là một ân huệ Chúa ban. Một cách cụ thể thì phải hiểu ở đây là lòng tin của con người đặt vào thần linh, nghĩa là chính Thiên Chúa mới là đối tượng của lòng tin. Không có đức tin, không cậy dựa vào Thiên Chúa, chúng ta không thể làm được gì, đúng như Đức Giê-su đã dạy: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15, 5). Nhưng nếu tin vào Thiên Chúa, ta sẽ có năng lực để làm được tất cả mọi sự, như thánh Phao-lô đã từng cảm nghiệm: “Tôi có thể làm được tất cả nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4, 13). Ầy cũng bởi vì lúc đó, năng lực mà tôi sử dụng không phải đến từ bản thân bất toàn của tôi, mà đến từ Thiên Chúa, nguồn của mọi sứcmạnh trong vũ trụ, là Đấng Toàn Năng “không có gì là không thể làm được” (Lc 1, 37).
Rõ ràng là nếu con người không có đủ năng lực, chính là vì họ chưa có đức tin đích thực. Vấn đề căn bản vẫn là ở chủ thể người tin, chớ không phải ở nơi đối tượng của lòng tin. Thật vậy, nếu tôi thật sự tin anh và hy vọng anh sẽ đem đến cho tôi những điều tốt đẹp, tôi sẽ sẵn sàng đến với anh để cầu mong anh giúp đỡ. Nói cách khác, khi tôi đã hoàn toàn tin tưởng vào anh, tôi sẽ sẵn sàng hợp tác với anh để biến những điều tốt đẹp mà tôi cầu mong đó sẽ trở thành hiện thực. Đối với Thiên Chúa thì cũng vậy thôi, bởi “Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Người” (Thánh Au-gus-ti-nô). Có lẽ cũng vì thế nên Đức Giê-su đã không trả lời thẳng vào lời cầu xin của các môn đệ, mà Người chỉ nêu bật sức mạnh của lòng tin, để các môn đệ tự trang bị và củng cố đức tin của  mình.
Đức Giê-su đã lấy đức tin so sánh với hình ảnh một hạt cải nhỏ bé, để có thể ra lệnh cho một cây dâu to lớn di chuyển. Mới nghe qua thì thấy có vẻ vô lý, vì cái lòng tin nhỏ bé như vậy thì làm sao có thể đứng vững được, chớ đừng nói là có thể ra lệnh cho cây dâu di chuyển. Tuy nhiên, suy cho kỹ Lời dạy bởi một Người Thầy chuyên dùng dụ ngôn, sẽ thấy là Người muốn củng cố lòng tin cho các môn đệ, cho nên Người mới dùng một hình ảnh cụ thể là hạt cải nhỏ bé mà có thể ra lệnh cho một cây dâu to lớn, cốt ý để nói lên sức mạnh của lòng tin, của đức tin. Câu này có thể diễn nôm: “Nếu anh em thực sự tin vào Thầy, tin vào quyền năng tối thượng của Thiên Chúa, thì bất cứ việc gì dù to lớn tới đâu chăng nữa (“di sơn đảo hải” – dời non lấp biển, chẳng hạn), anh em vẫn có thể làm được”.
Mấu chốt vấn đề vẫn chỉ là điểm nhấn: Đức tin. Mà nói về đức tin là phải nghĩ đến mạc khải, vì “Nhờ mạc khải, “do tình yêu vô biên, Thiên Chúa vô hình ngỏ lời với con người như với bạn hữu. Người đối thoại với họ, để mời gọi cho họ hiệp thông với Người” ( x. DV 2). Đức tin là lời đáp trả thích đáng của con người trước lời mời gọi của Thiên Chúa.” (Giáo lý HTCG sớ 142), Một vài sự kiện trong Kinh Thánh đáng suy gẫm: “Kẻ chú tâm vào lời Chúa dạy sẽ gặp chuyện tốt lành, người đặt niềm tin vào ĐỨC CHÚA thật hạnh phúc dường bao.” (Cn 16, 20); “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào ĐỨC CHÚA, và có ĐỨC CHÚA làm chỗ nương thân.” (Gr 17, 7); Khi về Na-da-rét, Đức Giê-su không làm được nhiều phép lạ nào, chỉ vì dân đồng hương với Người “không tin” (Mt 13, 58). Khi chữa lành bệnh cho ai, Đức Giê-su không nói rằng Người đã chữa lành bệnh cho họ, mà là “Đức tin của con đã chữa lành con” (Mt 9,22; Mc 5,34; Lc 8,48; Lc 17,19). Đức Maria được bà Ê-li-da-bet khen: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45), và chính Mẹ cũng được tôn xưng là “Mẹ đức tin”. Nhân vật nổi bật nhất về vấn đề đức tin vẫn chỉ có thể là Thánh Phê-rô.
Cùng với các môn đệ khác, Phê-rô đi theo Đức Ki-tô chỉ vì đã tin Người có thể giúp thánh nhân “lưới người như lưới cá”. Được sống liền bên với Người Thầy mà mình tin tưởng, được nghe dạy và nhất là được chứng kiến biết bao nhiêu phép lạ Người đã làm, vậy mà khi thì tuyên xưng “Thầy là Đấng Mê-si-a, Con Thiên Chúa hằng sống”, khi lại tưởng Thầy là ma (khi thấy Thầy đi trên mặt biển, nhất là khi Thầy đã Phục Sinh hiện ra với các Tông đồ). Vừa mới khẳng định chắc nịch: “Dù có phải chết, con cũng không chối Thầy”, ấy vậy mà chỉ một đứa tớ gái nhà Cai-pha gạn hỏi, đã chối Thầy không chỉ một lần mà tới 3 lần trong một đêm: “Tôi thề là không biết Người ấy”. Nếu đức tin của Phê-rô đã kiên định thì có thể xảy ra trường hợp tréo cẳng ngỗng như vậy không?
Câu chuỵên đi trên mặt biển đã minh hoạ về đức tin của con người bộc trực Phê-rô: Khi thấy Đức Giê-su đi trên mặt biển, ông tin rằng ông cũng có thể đi trên mặt biển đến với Người, và với niềm tin ấy, ông đã đi trên mặt nước không khác gì đi trên mặt đất. Nhưng khi thấy gió thổi mạnh thì ông đâm ra lo sợ, nghi ngờ, đức tin của ông bị chao đảo; vì thế ông bị chìm xuống và la lên cầu cứu: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” (Mt 14, 22-33). Rõ ràng việc Phê-rô đi được trên mặt nước hay bị chìm xuống là do đức tin của ông có mạnh mẽ hay không. Trường hợp này có thể nói: ông đi trên đức tin của ông, hay đức tin của ông chính là mặt đất nâng đỡ bước chân ông đi, cũng như nâng đỡ toàn bộ cuộc đời ông. Quả thật, khi có một đức tin vững vàng, thì đời sống nội tâm luôn luôn an bình hạnh phúc, bất chấp nghịch cảnh; nhưng khi đức tin bị chao đảo, thì đời sống cũng bị chao đảo theo.
Phân tích những sự kiện Kinh Thánh nêu trên, thấy nổi bật một chân lý: Để thành tựu được một phép lạ, phải có hai yếu tố quan trọng: Quyền năng của Thiên Chúa và lòng tin của con người. Thiếu một trong hai thì phép lạ không thể thành tựu được (một minh hoạ sống động là câu chuỵên “Đức Giê-su về thăm Na-da-ret”, nhưng những người đồng hương và cả thân nhân của Người vì không tin nên “Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó” (Mc 6, 5). Tuy nhiên, quyền năng của Thiên Chúa thì bao giờ cũng có, lúc nào cũng sẵn sàng tác động, không bao giờ thay đổi hay mất đi, nên yếu tố hiển nhiên ấy không cần bàn cãi. Vấn đề còn lại chỉ là lòng tin của con người. Phép lạ hay điều con người cầu xin Thiên Chúa có xảy ra hay không, hoàn toàn do con người có thật sự tin vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa hay không.
Là con người, Ki-tô hữu chúng ta nhiều khi hoang mang lo sợ trước viễn cảnh tương lai vĩnh cửu và không ý thức mình đang trên con đường được Thiên Chúa cứu độ. Từ chỗ mất niềm tin ấy, chúng ta có thể dần dần đi tới tình trạng buông xuôi, phó mặc cho số phận đẩy đưa, không còn sống theo những điều Chúa và Giáo hội dẫn dắt nữa. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay thắp lại ánh sáng đức tin và niềm hy vọng vào ơn cứu độ Đức Ki-tô đem đến cho chúng ta. Mà cũng “Vì chúng ta tin, nên Đức Giê-su đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa” (Rm 5, 2). Quả thật “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11, 1). Hãy nhìn vào đích điểm của hành trình đức tin là niềm vui được cứu độ và sống “kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su” như thánh Phao-lô dạy. Đó chính là điều giúp ta nhận chân được ý nghĩa đích thực của cuộc sống trần gian và vững lòng tiến bước trong tinh thần hoan hỷ vì ngày Chúa quang lâm đã gần kề.
Tiếp theo lời dạy về niềm tin, Đức Giê-su lại đưa ra hình ảnh một người đầy tớ trung tín. Làm xong việc ông chủ trao phó đã không hợm hĩnh như kiểu anh chàng Pha-ri-sêu cầu nguỵên trong Đền Thờ (“Dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế” – Lc 18, 11-12), mà biết thưa với chủ “chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi.” Bài học rút ra là đừng khoe khoang, chớ hợm hĩnh, mà hãy khiêm tốn phục vụ, bởi “Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên” (Mt 23, 11-12). Tốt hơn cả là hãy làm, đừng nói suông kiểu những ông kinh sư thích ngồi trên toà ông Mô-sê (Mt 23, 1-6) và nhất là đừng bao giờ “làm láo báo cáo hay”.. Cũng bởi vì “Với đức tin và đức mến của một người được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su, anh hãy lấy làm mẫu mực những lời lành mạnh anh đã nghe tôi dạy. Giáo lý tốt đẹp đã giao phó cho anh, anh hãy bảo toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong chúng ta” (2Tm 1, 13-14).
Tóm lại, bài học rút ra được khi suy niệm bài Tin Mừng hôm nay phải là: Đừng hãnh diện cho rằng mình đã có một đức tin vững mạnh, mà hãy nhìn lại mình để thấy được sự bất toàn của bản thân mà cầu xin: “Lạy Chúa! Xin thêm lòng tin cho chúng con.” Ôi! Lạy Chúa! Chúng con chỉ biết huênh hoang khoe thành tích này, việc tốt nọ, mà không biết rằng những thành tích ấy, những việc làm ấy, nếu không được Thần Khí Chúa soi sáng và thúc đẩy, thì rốt lại cũng chỉ là con số không. Chúng con biết rằng chúng con luôn hão huyền tự đắc cho rằng mình được làm con cái Thiên Chúa, được làm bạn hữu của Con Thiên Chúa, thì chắc chắn lòng tin sẽ vững mạnh. Đó quả thực là điều không tưởng! Vâng, lạy Chúa, xin ban Thần Khí cho chúng con, “xin thêm lòng tin cho chúng con”, để chúng con biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa dạy. Amen.
 

TN27-C118: TIN YÊU VÀ KHIÊM NHƯỜNG PHỤC VỤ

Lm. Đan Vinh
I.  HỌC LỜI CHÚA
TIN MỪNG: Lc 17,5-10
(5) Các Tông đồ thưa với Chúa Giêsu rằng: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con”. (6) Chúa đáp: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em”. (7) Ai trong anh em có người đầy tớ đi cày hay đi chăn chiên, mà khi nó ở ngoài đồng về, lại bảo nó: “Mau vào ăn cơm đi !”, (8) chứ không bảo: “Hãy dọn cơm cho ta ăn, thắt lưng hầu bàn cho ta ăn uống xong đã, rồi anh hãy ăn uống sau !” (9) “Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao ? (10) Đối với anh em cũng vậy: Khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng. Chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi”.
Ý CHÍNH:

Nhân việc các Tông đồ xin Đức Giêsu ban thêm đức tin, Người đã đề cao sức mạnh của một đức TN27-C118

Nhân việc các Tông đồ xin Đức Giêsu ban thêm đức tin, Người đã đề cao sức mạnh của một đức tin đích thực. Qua dụ ngôn về một người đầy tớ luôn vâng lời và khiêm tốn, Người muốn các ông phải tránh thái độ công thần, đòi phải được Chúa trả công ngay ở đời náy, nhưng phải biết khiêm tốn phục vụ, chu toàn sứ vụ rao giảng Tin mừng với tinh thần vô vụ lợi.
CHÚ THÍCH:
– C 5-6: + Tông đồ: Ở đây đức Giêsu nói riêng với nhóm Tông đồ chứ không phải nói chung với các môn đệ. Tông đồ là tước hiệu dành riêng cho Nhóm 12 được Đức Giêsu tuyển chọn từ nhóm 72 môn đệ (x. Lc 10,1; 6,12-13). Các Tông đồ phải từ bỏ mọi sự mà đi theo Đức Giêsu và sau này sẽ được Người trao quyền lãnh đạo đoàn chiên và được sai đi rao giảng Tin mừng Nước Thiên Chúa. + Xin thêm lòng tin cho chúng con: Đứng trước những đòi hỏi của Luật Mới (x. Lc 17,1-4) và sứ vụ phải mở rộng Nước Thiên Chúa, các Tông đồ cảm thấy bất lực. Các ông đã xin Đức Giêsu gia tăng thêm lòng tin vốn đang yếu kém của các ông (x. Lc 8,25). Các ông xin Người mở rộng tâm hồn để đón nhận ánh sáng đức tin. + “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải”: Hạt cải là loại hạt giống nhỏ nhất (x. Mt 13,32). Khi so sánh lòng tin với hạt cải, Đức Giêsu muốn nhấn mạnh về phẩm chất hơn số lượng của đức tin. Một sự phó thác dù nhỏ bé đến đâu, nếu được thực hiện trong đức tin, thì vẫn có thể làm được những điều lớn lao kỳ diệu. Vì bấy giờ người ta làm không phải do sức riêng mình, nhưng là nhờ quyền năng Thiên Chúa. + “Thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em”: Cây dâu là một cây đại thụ, rễ của nó rất lớn và nó có thể sống tới 600 năm. Nhưng chỉ một lời phát xuất từ niềm tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa, thì cũng có thể bứng cây đó khỏi mặt đất để xuống mọc trong lòng biển Galilê (x. Mt 17,20). Ơ đây Đức Giêsu không khuyến khích người ta cầu xin những phép lạ giật gân, và chắc không bao giờ Người lại di dời cây dâu để trồng xuống dưới biển. Vì Người luôn từ chối làm phép lạ để chứng minh Người là Con Thiên Chúa như các đầu mục Do thái nhiều lần yêu cầu. Đây chỉ là một kiểu nói nhằm đề cao sức mạnh của lòng tin mà thôi.
– C 7-8: + Có người đầy tớ đi cày hay đi chăn chiên…: Theo tập tục thời đó, người đầy tớ không được tự do làm việc theo ý mình, nhưng phải luôn làm theo ý chủ. Ở đây, người đầy tớ vừa cày ngoài ruộng về, hoặc vừa dẫn chiên từ đồng cỏ về nhà. Ông chủ đòi anh ta phải tiếp tục phục vụ bữa ăn tối cho ông. Bổn phận của người đầy tớ là phải làm hết việc này sang việc khác theo ý chủ.
– C 9-10: + Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao ?: Qua hình ảnh đầy tớ. Đức Giêsu muốn dạy người làm việc cho Chúa không được vênh vang đòi Chúa phải đền ơn sau khi anh ta làm xong nhiệm vụ của mình. Trái lại, họ cần ý thức thân phận tôi tớ thấp hèn của mình để sẵn sàng làm mọi việc theo lệnh Chúa truyền. + “Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng. Chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi”: “Đầy tớ vô dụng” không có nghĩa là không làm được gì. Ở đây, “đầy tớ vô dụng” là một kiểu nói cường điệu ám chỉ “mang thân phận hèn kém”. Người Tông đồ cần tránh thái độ “công thần”. Vì các thành quả tuy bề ngoài do các ông làm, nhưng thực sự đều nhờ ơn Chúa giúp, như lời Người phán: “Không có Thầy, anh em không làm được gì” (Ga 15,5). Thánh Phaolô cũng khiêm tốn nhận rằng: “Tôi trồng, anh A-pô-lô tưới, nhưng Thiên Chúa mới cho lớn lên” (1 Cr 3,6). Tóm lại, khi rao giảng Tin Mừng ta cần phải biết noi gương khiêm hạ của Đức Giêsu (x. Pl 2,6-8).
CÂU HỎI: 1) Tông đồ là những ai ? 2) Tại sao các ông lại xin Đức Giêsu gia tăng thêm lòng tin ? 3) Khi so sánh đức tin với hạt cải, Đức Giêsu muốn dạy điều gì ? 4) Đức Giêsu nói về sức mạnh của một đức tin chân chính qua câu nói nào ? 5) Tại sao Người lại muốn các Tông đồ phải tránh thái độ “công thần” ? 6) Tại sao Đức Giêsu muốn các Tông đồ phải luôn tự nhủ: mình chỉ là “những đầy tớ vô dụng”?
 
II.  SỐNG LỜI CHÚA
LỜI CHÚA: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con” (Lc 17,5).
CÂU CHUYỆN:
Ngày nay, trên thế giới, ít có người không biết đến tên Mẹ TÊRÊSA CAN-QUÝT-TA. Mẹ là một nữ tu đã được tặng nhiều giải thưởng cao quý nhất: Năm 1963, Ấn Độ đã tặng Mẹ giải thưởng “Bông Huệ Tuyệt Vời”; Phi-líp-pin thì tặng giải thưởng Mas-say-say; Năm 1974 Rôma tặng Mẹ giải “Hòa Bình Gioan 23” và đến năm 1979, Mẹ được tặng giải No-ben Hòa Bình thế giới. Mẹ đã qua đời vào năm 1997 hưởng thọ 87 tuổi. Dù chỉ là một nữ tu không chút địa vị quyền hành, không có bao nhiêu tiền bạc hay thế lực… thế mà khi qua đời, Mẹ đã được nhiều vị đứng đầu quốc gia như Tổng Thống, Cựu Chủ Tịch Nhà Nước của các nước lớn như Liên Xô, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ… hay các nước nhỏ như Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia… hiện diện hay cử đại biểu đến dự lễ an táng, tiễn đưa Mẹ đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Vào năm 1948, Mẹ đã nhìn thấy một người đàn bà đang đói ăn và đứa con nhỏ mới sinh đang nằm bên một đống rác hôi thối, ruồi nhặng bu đầy chung quanh. Cảnh ấy làm Mẹ xúc động như nhìn thấy Đức Giêsu đang bị bỏ rơi trên cây thập giá. Từ đó Mẹ đã quyết hiến trọn cuộc đời để phục vụ những người cùng khổ. Họ là những người đang bị bệnh hoạn, đói rách và nằm trên các hè phố hay bãi rác công cộng để chờ chết mà không được chăm sóc tử tế. Mẹ đã mang họ về nhà dòng và phục vụ họ thật chu đáo, cho đến khi qua đời. Nhờ lời cầu nguyện và sự cộng tác giúp đỡ của nhiều nhà hảo tâm. Mẹ và các nữ tu dòng Thừa Sai Bác Ái đã lập được gần 300 nhà hấp hối như thế. Cuộc đời và công việc của Mẹ Têrêsa, một nữ tu nghèo nhưng đã làm được những việc lớn lao phi thường nhờ đức tin, minh chứng cho Lời Chúa dạy hôm nay: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em” (Lc 17,6). Vậy đức tin là gì? Tại sao chúng ta phải xin Chúa ban thêm đức tin cho chúng ta?

SUY NIỆM:
Nhân việc các Tông đồ xin Đức Giêsu ban thêm đức tin, Người đã cho biết đức tin là hồng ân nên các ông phải biết cầu xin Thiên Chúa ban cho. Tiêp đen Người đề cao sức mạnh của một đức tin đích thực. Qua dụ ngôn về một người đầy tớ luôn vâng lời và khiêm tốn, Đức Giêsu muốn các ông phải tránh thái độ “công thần”, tự hào đòi Chúa phải trả công ngay, nhưng phải biết khiêm tốn phục vụ, chu toàn sứ vụ rao giảng Tin mừng với tinh thần vô vụ lợi.
1) “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con”:
– Đức tin do Chúa ban: Trong cuộc sống chúng ta thường nghe nói: “Vô tri bất mộ” – Không biết sẽ không yêu. Tuy nhiên lời Chúa hôm nay lại cho thấy về phạm vi đức tin không giống như vậy: Các Kinh sư và các biệt phái tuy am hiểu Kinh Thánh, nhưng họ đâu có tin Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai, đang khi những người ngheo đói, bệnh tật, tội lỗi… tuy ít học, nhưng lai vững tin nơi Nguời. Như vậy cho thấy đức tin không luôn đi đôi với sự khôn ngoan thế gian nhưng là một ơn ban của Chúa, như lời Đức Giêsu đã ngợi khen Chúa Cha: “Lay Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Mt 11,25). Do đó, muốn có đức tin vững mạnh chúng ta phải cầu xin như các Tông đồ trong Tin Mừng hôm nay đã xin với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con” (Lc 17,5).
– Sức mạnh của đức tin: Tiếp theo, Đức Giêsu đã đề cao sức mạnh của đức tin khi nói: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em” (Lc 17,6). Nói câu này, Đức Giêsu không khuyến khích các Tông đồ làm phép lạ cho người ta tin, nhưng Người muốn các ông ý thức về sức mạnh của một đưc tin đích thực. Nếu có đức tin vững vàng, chúng ta sẽ làm được những việc lớn lao vượt quá khả năng giới hạn của chúng ta như Đức Giêsu đã hứa:  “Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.” (Ga 14,12-13).
– Thành quả của đưc tin: Quả thật, sau khi Đức Giêsu lên trời, nhờ quyền năng Thánh Thần, các Tông đồ đã thực hiện được nhiều dấu lạ: Sau bài giảng của Simon Phêrô, đã có ba ngàn người xin tòng giáo. Các Tông đồ còn làm nhiều phép lạ trên những người tin (x. Cv 2,41; 5,12-16). Như vậy, đang yếu đuối, các ông đã nên mạnh mẽ nhờ cậy nhờ vào ơn Chúa giúp. Về vấn đề này, thánh Phaolô viết : “Chúa quả quyết với tôi:  Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối. Thế nên, tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi… Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12,9-10c).

2) Đưc tin phải đi đôi với sự khiêm tốn phục vụ:
-Phục vụ cách khiêm tốn: Người tín hữu phải biết phục vụ Chúa và tha nhân cách khiêm tốn vô điều kiện, giống như một người đầy tớ, sau khi đã đi cày hay đi chăn chiên về, sẽ tự thấy có bổn phận phải tiếp tục phục vụ bữa tối cho chủ, rồi sau cùng mới được ăn.
-Phải tránh thái độ “công thần”: Đức Giêsu đã dạy các môn đệ: “Đối với anh em cũng vậy: Khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói : “Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17,10). Phải tránh thái độ vênh vang “công thần”, nghĩa là tự hào về công khó của mình để đòi Chúa phải trả công như người biệt phái trong dụ ngôn hai người lên Đền thờ cầu nguyện (x. Lc 18,11.13).

3) Chúng ta phải làm gì ?
-Xin thêm đức tin: Noi gương các Tông đồ xưa, chúng ta hãy năng cầu xin Chúa: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con” (Lc 17,5). Chính nhờ ơn Chúa, chúng ta sẽ làm được những điều lớn lao. Chẳng hạn: Sẽ giúp cho nhiều tội nhân hồi tâm trở về; Sẽ giúp nhiều người lương nhận biết tin thờ Thiên Chúa; Sẽ kêu gọi được nhiều người rộng rãi đóng góp công sức tiền bạc để làm các việc từ thiện bác ái lớn lao, noi gương Mẹ Têrêsa Canquýtta đã làm. Đàng khác, Tin và yêu luôn phải đi đôi với nhau: Có yêu Chúa nhiều thì mới tin vững vào Chúa được. Do đó, ngoài việc năng cầu xin Chúa ban thêm đức tin, chúng ta còn phải xin Chúa ban thêm lòng yêu mến Chúa nữa.
-Loan Tin Mừng bằng việc bác ái: Ngày nay, loan báo Tin Mừng không những phải dựa vào ơn Chúa giúp, mà còn phải khiêm nhường dấn thân phục vụ tha nhân noi gương Chúa Giêsu (x. Ga 13,6.13-15). Thực tế cho thấy: Việc chia sẻ bác ái cụ thể có sức thuyết phục khiến nhiều người dễ dàng đón nhận đức tin hơn bài giảng hùng hồn, như Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã dạy: “Người thời nay sẵn sàng nghe những chứng nhân hơn là thầy dạy và người ta có nghe theo thầy dạy là vì thầy dạy cũng là chứng nhân” (Thông điệp Evangelii nuntiandi, số 41).
-Yêu phải đi đôi với tin: Có yêu Chúa nhiều thì mới vững tin vào Chúa. Trươc khi trao quyền chăn chiên cho Simon Phêrô, Chúa Phục Sinh đã ba lần sát hạch ông về long mến dành cho Người: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ?” (x. Ga 21,15-17). Do đó, ngoài việc năng cầu xin Chúa ban thêm đức tin, mỗi tín hữu chúng ta cũng cần xin Chúa ban thêm lòng mến Chúa cho chúng ta.
-Phục vụ trong khiêm hạ: khi đã làm tất cả những việc được giao rồi, chúng ta cần tránh thái độ tự mãn khoe khoang thành quả đạt được, nhưng phải luôn tự nhủ: “Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng. Chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi”. Phải chờ đên ngày tận thế, Vua Thẩm Phán Giêsu sẽ ban thưởng cho các tôi trung của Người, cho họ được tham dự bàn tiệc Nước Trời và sẽ quan tâm phục vụ lại họ (x. Lc 12,37).
THẢO LUẬN: 1-Khi bạn làm việc tông đồ mà cảm thấy chán nản và muốn buông xuôi tất cả thường do những nguyên nhân nào ? 2-Bạn cần làm gì để lấy lại tinh thần hăng say phục vụ Tin Mừng Nước Thiên Chúa ?
NGUYỆN CẦU:
LẠY CHÚA GIÊSU. Xin ban cho con một đức tin như hạt cải, để con loại bỏ các thói hư tật xấu ra khỏi lòng con. Xin cho con một đức tin can đảm, để con không sợ bị thiệt thòi khi dấn thân, sẵn sàng từ bỏ những điều con thường cậy dựa xưa nay. Xin cho con một đức tin sáng suốt, để con nhìn thấy Chúa đang hoạt động trong vũ trụ và trên thế giới, thấy Chúa đang hiện thân trong những người nghèo khổ chung quanh con. Xin cho con một đức tin quảng đại, dám hy sinh bản thân vì Chúa và tha nhân. Xin cho con một đức tin liều lĩnh, dám lội ngược dòng và khước từ những cám dỗ của ma quỷ và thế gian. Xin cho con một đức tin vui tươi, vì biết những gì đang chờ đợi con ở cuối đời, sung sướng và hy vọng vì biết mình sẽ được Chúa yêu thương đón nhận. Cuối cùng, xin cho con một đức tin trưởng thành, để con luôn kiên vững khi gặp những khó khăn gian khổ, dù phải trải qua bao thăng trầm của cuộc sống, nhưng vẫn luôn cậy trông và phó thác cho một mình “Thiên Chúa Tình Yêu”.
X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
 

TN27-C119: Xin thêm lòng tin cho chúng con

Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật XXVII Thường Niên , năm C, của LM Antôn
Nguyễn văn Độ
(Lc 17, 5-10)

Đức tin là chủ đề nổi bật trong phụng vụ Chúa Nhật tuần này. Đức tin được đề cập đến trong bài TN27-C119

Đức tin là chủ đề nổi bật trong phụng vụ Chúa Nhật tuần này. Đức tin được đề cập đến trong bài đọc I : “Người công chính sẽ sống nhờ trung tín “ (Kb 1,4). Ý tưởng này được Thánh Phaolo lấy để khuyên môn đệ mình là Thimôthê : “Con hãy lấy những lời lành lẽ phải… làm mẫu mực trong đức tin… ” (2Tm 1,13-17). Bài Tin Mừng bắt đầu với lời cầu xin của các tông đồ cùng Chúa Giêsu : “Xin thêm lòng tin cho chúng con! ” (Lc 17, 5-6).
Thay vì thỏa mãn lòng ao ước của các ông, Chúa Giêsu xem ra muốn làm đức tin lớn mạnh hơn. Người nói : “Nếu các con có lòng tin bằng hạt cải, thì dẫu các con khiến cây dâu này rằng :’hãy bứng rễ lên mà đi trồng dưới biến’, nó liền vâng lời các con ” (Lc 17,6). Chúng ta lấy câu này làm lời cầu xin của mình trong thế giới hôm nay. Chúa Giêsu có ngoa ngữ hay không khi nói đức tin của các môn đệ chỉ bằng hạt cải thôi, cũng có thể làm những điều con người không bao giờ nghĩ tới. Đúng như vậy, người đơn sơ, khiêm tốn nhưng có đức tin mạnh mẽ thì có thể chuyển núi dời non. Chẳng hạn như, một người cha hay một người mẹ, lúc phải đối mặt với những khó khăn nặng nề hay một ai đó đang lâm bệnh rất nặng mà có đức tin, thì những người đến thăm họ sẽ cảm nhận được sự thanh thản và bình an. Quả thật, những người ấy, nhờ đức tin của họ, đã không tự hào về những gì mình làm, nhưng, như Chúa Giêsu bảo họ: “Chúng con chỉ là những người tôi tớ. Chúng con chỉ làm những điều phải làm” (Lc 17,10).
Sống trong thời buổi ngày hôm nay, hỏi bao nhiêu người trong chúng ta có được đức tin mạnh mẽ để làm được những điều cả thể.

Đức Tin là gì ?
Đức tin không phải là một vấn đề phức tạp. Những hoàn cảnh vốn phức tạp, nhưng bản thân đức tin lại rất đơn giản. Tin chính là biết Thiên Chúa là ai, biết Ngài hằng yêu thương và muốn giúp đỡ chúng ta, Ngài sẽ thực hiện cho dù sự hiểu biết ấy trái ngược với những hiểu biết thông thường của chúng ta và biết rằng Ngài nghe lời chúng ta cầu nguyện.
Đức tin thì không giao động hoặc hoài nghi. Thiên Chúa biết chúng ta không hoàn hảo. Khi chúng ta có lòng tin, chúng ta sẽ vững vàng tin tưởng vào Chúa, không bị lay động bởi những tin tức xấu hoặc xu hướng xấu (x. Tv 112,7). Mỗi người tuỳ theo lượng đức tin Thiên Chúa đã phân phát cho (x.Rm 12,3). Vì thế, chúng ta phải xin Chúa ban cho món quà của Thần Khí là ơn đức tin (x. 1 Cr 12,9). Xin Thiên Chúa gia tăng lòng tin nơi chúng ta (x. Lc 17, 5).

Sự cần thiết của Đức Tin
Còn sống là còn cần đến đức tin. Đức tin để tin tưởng và đón nhận Lời được viết; để nghe những Lời từ Thiên Chúa ; để vâng phục và thi hành ý Chúa; tin vào Chúa trong những lúc ngặt nghèo; phó thác mọi sự trong tay Chúa; đương đầu với những thử thách và ngay cả những hoàn cảnh không thể. Tiên tri Khabacuc mô tả người có đức tin, cậy dựa vào Chúa, nhưng bị thử thách quá sức : “Lạy Chúa, con kêu cầu Chúa cho đến bao giờ mà Chúa không nghe? Con phải ức ép kêu lên cùng Chúa, mà Chúa không cứu con sao? Cớ sao Chúa tỏ cho con thấy sự gian ác và lao khổ, cướp bóc và bất lương trước mặt con? Dù có công lý, nhưng kẻ đối nghịch vẫn thắng“ (Kb 1,2-3). Chúa bảo : “Người công chính sẽ sống nhờ trung tín” (Kb 1,5). Đức tin cho ta rất nhiều thứ.
Để hoàn thành kế hoạch của Thiên Chúa trong cuộc đời ta, chắc chắn chúng ta phải cần đến đức tin. Làm sao để đức tin của chúng ta lớn mạnh là việc chúng ta phải làm ngay hôm nay. Chúng ta sẽ không có được đức tin để chuẩn bị cho tương lai nếu chúng ta không bắt đầu luyện tập và củng cố thêm đức tin của chúng ta ngay từ bây giờ.

Tháng truyền giáo, tháng Mân Côi
Bước vào tháng Mười, tháng dành riêng cho việc truyền giáo, với chủ đề : “Được Rửa tội và được sai đi. Giáo Hội của Chúa Kitô với sứ mạng truyền giáo trên thế giới“. Đức Thánh Cha Phanxicô đã mời gọi toàn thể Giáo Hội cử hành “Tháng ngoại thường về truyền giáo” này để cầu nguyện cho hòa bình thế giới và làm mới mẻ lại tinh thần Loan Báo Tin Mừng nơi người Kitô hữu.
Chúng ta nhớ đến các nhà truyền giáo đang hăng say rao giảng và mang Tin Mừng đến cho người khác, họ đã phải vượt qua những khó khăn đủ loại, kể cả trao ban sự sống. Chúng ta cầu xin Chúa ban cho họ ơn can đam, nâng đỡ họ, để họ can đảm, như thánh Phaolo nói với Timôthê : “Con chớ hổ thẹn làm chứng cho Chúa chúng ta, và cho cha nữa, là tù nhân của Người, nhưng con hãy đồng lao cộng tác với cha vì Tin Mừng, nhờ quyền năng của Thiên Chúa” (2Tm 1,8). Mỗi chúng ta cũng có thể làm chứng cho Chúa, với sức mạnh của Thiên Chúa, sức mạnh của niềm tin. Ðức tin của chúng ta nhỏ bé nhưng mạnh mẽ: với sức mạnh đó chúng ta làm chứng cho Chúa Giêsu, là những người Kitô hữu bằng đời sống, bằng chứng ta của chúng ta.
Và làm thế nào để chúng ta có được sức mạnh ấy? Chúng ta phải cầu xin. Lời cầu nguyện là hơi thở của đức tin. Lời cầu nguyện, đức tin, tình yêu liên kết với nhau vốn là điều không thể thiếu, lời cầu nguyện là thưa chuyện với Thiên Chúa.
Tháng 10 cũng là tháng Mân Côi, chúng ta hiệp ý cùng nhau cử hành hành vi đức tin với Ðức Trinh Nữ Maria Rất Thánh Mân Côi, Mẹ chúng ta, đồng thời xin Mẹ là cô giáo của trường cầu nguyện, trường đức tin dạy chúng ta siêng năng lần chuỗi Mân Côi để cầu cho thế giới được muôn muôn sự lành. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 

TN27-C120: Xin Chúa thêm niềm tin cho chúng con

Niềm tin vào Chúa của bạn mạnh đến mức nào và làm thế nào bạn có thể lớn lên trong nó? Đức tin TN27-C120

Niềm tin vào Chúa của bạn mạnh đến mức nào và làm thế nào bạn có thể lớn lên trong nó? Đức tin không phải là điều gì mơ hồ, không chắc chắn, không thể xác định, hay điều gì đó đòi hỏi sự nhảy vọt của trí tưởng tượng hay tệ hơn nữa, là loại trung thành mù quáng. Trên thực tế, nó hoàn toàn ngược lại. Đức tin là lời đáp trả của sự trông cậy và tin tưởng nơi điều đáng tin, đáng cậy, chắc chắn, và hiện thật. Có đức tin là tin cậy vào ai đó hay vào điều gì đó. Chúng ta tin vào năng lượng của điện ngay khi chúng ta không thấy nó rõ ràng bằng mắt thường. Chúng ta biết chúng ta có thể cắm dây điện vào năng lượng đó và sử dụng nó để làm những điều tự sức con người chúng ta không thể làm được. Đức tin vào Thiên Chúa hoạt động cũng giống như vậy.
Khi Thiên Chúa mặc khải chính mình cho chúng ta, Người ban cho chúng ta “bảo chứng” và “sự thuyết phục” rằng quyền năng và sự hiện diện của Người là thật sự, và còn thật hơn cả kinh nghiệm của chúng ta về thế giới tự nhiên hữu hình xung quanh ta (Hr 11,1-3). Những sự vật quanh chúng ta thay đổi, nhưng Thiên Chúa không bao giờ thay đổi. Người bất biến, lời Người lúc nào cũng đúng, và luôn luôn trung tín với mọi lời hứa của Người (Tv 145,13; Hr 10,23). Đó là lý do tại sao chúng ta có thể có sự bảo đảm lớn nhất về tình yêu vô điều kiện của Người dành cho chúng ta và tại sao chúng ta có thể hy vọng với sự thuyết phục hoàn toàn rằng Người sẽ ban cho chúng ta mọi sự Người đã hứa. Đức Giêsu là bằng chứng của Thiên Chúa hữu hình rằng Lời Người là đáng tin cậy và thật sự – tình yêu của Người không thay đổi và vô điều kiện – và quyền năng của Người thì vô cùng vô hạn.

CTT giúp chúng ta lớn lên trong niềm tin kiên vững
Đức Giêsu có ý nói gì khi Người nói với các môn đệ rằng lòng tin của chúng ta có thể chuyển cây dời núi (Mt 17,20; Mc 11,23). Kiểu nói “ngọn núi dời đi” được sử dụng vào thời Đức Giêsu để mô tả ai đó có khả năng giải quyết những vấn nạn khó khăn. Chẳng phải chúng ta thường đối mặt với những thách đố và khó khăn mà xem ra vượt ngoài khả năng của mình đó sao? Điều không thể đối với con người lại có thể đối với những ai có lòng tin vào quyền năng của Thiên Chúa. Đức tin là quà tặng Chúa ban để giúp chúng ta nhận biết Chúa một cách cá biệt, để hiểu biết chân lý của Người, và sống trong sức mạnh tình yêu của Người. Thiên Chúa mong muốn từ nơi chúng ta còn hơn cả chúng ta có thể làm tự sức mình. Đó là lý do tại sao Đức Giêsu ban cho chúng ta hồng ân và quyền năng Chúa Thánh Thần, Đấng giúp đỡ chúng ta lớn mạnh trong đức tin, kiên trì trong đức cậy, và chịu đựng trong đức mến.
Niềm tin vào Thiên Chúa là chìa khóa để di chuyển những chướng ngại và khó khăn ngăn cản chúng ta không thực hiện thánh ý Người. Chúng ta là những tôi tớ của Người, và Người luôn sẵn sàng hành động qua chúng ta và trong chúng ta vì vinh quang của Người. Để cho niềm tin có hiệu quả, nó phải được nối kết với đức cậy và đức vâng phục – sự vâng phục Thiên Chúa và sẵn sàng thực hiện bất cứ chuyện gì Người truyền ban. Bạn có tin cậy vào ơn sủng và quyền năng của Chúa để chống lại cám dỗ và chế ngự những chướng ngại trong việc thực hiện thánh ý Người không?

Dụ ngôn người đầy tớ trung tín, kẻ mắc nợ và biết ơn Thiên Chúa
Bạn có sẵn sàng dâng hiến cho Chúa điều tốt nhất của mình, bất kể những gì nó có thể đòi hỏi bạn không? Dụ ngôn của Đức Giêsu về người đầy tớ biết vâng lời để đề nghị rằng chúng ta luôn phải cố gắng hết sức mình, bỏ qua những gì chúng ta có thể mong được đáp lại. Nhưng chẳng phải chúng ta giống như người đầy tớ trong dụ ngôn của Đức Giêsu, người mong mỏi tiền công cho ngày làm việc của mình đó sao? Thật bất công biết bao khi người chủ bắt buộc họ làm nhiều hơn những gì được mong đợi! Không phải chúng ta đòi quyền lợi cho mình khi nói rằng: “Tôi chỉ làm những gì được yêu cầu chứ không làm hơn!” đó sao? Nhưng ai có thể làm thỏa mãn những khát vọng của tình yêu?
Đức Giêsu dùng dụ ngôn này về người đầy tớ biết có trách nhiệm để giải thích rằng chúng ta không bao giờ có thể đặt Chúa vào món nợ của mình, hay cho rằng Thiên Chúa nợ chúng ta một điều gì đó. Chúng ta phải coi mình là tôi tớ của Chúa, cũng giống như Đức Giêsu đến “không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ” (Mt 20,28). Việc phục vụ Chúa và tha nhân cả hai đều là một hành động tự nguyện hay tự do, và một nhiệm vụ thiêng liêng. Người ta có thể tình nguyện phục vụ hoặc bị buộc phải phục vụ cho đất nước hay gia đình của mình, khi những nhu cầu đặc biệt phát sinh. Tương tự như vậy, Thiên Chúa mong đợi chúng ta thờ phượng và chúc tụng Người theo bổn phận của mình. Và Người vui lòng chấp nhận lễ tế tự nguyện của cuộc sống của chúng ta cho Người và cho công việc phục vụ của Người. Điều làm cho lễ tế của chúng ta đẹp lòng Thiên Chúa là tình yêu chúng ta thể hiện trong sự hy sinh quên mình. Tình yêu thật sự luôn là hy sinh, quảng đại, và vị tha – tất cả đều nhắm tới người mà chúng ta yêu mến và phục vụ.

Lòng mến Chúa buộc chúng ta cho đi điều tốt nhất
Chúng ta có thể yêu người khác một cách vị tha và vô điều kiện như thế nào? Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng chính Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,16) vì Người là Tác giả của sự sống và Nguồn gốc của tất cả các mối quan hệ. Người đã tạo dựng nên chúng ta trong tình yêu và cho tình yêu, và Người lấp đầy trái tim chúng ta với tình yêu vô biên đến nỗi cho đi bất cứ điều gì là tốt lành vì lợi ích của nước khác (Rm 5,5). Nếu chúng ta yêu thương nhau, Thiên Chúa ở trong chúng ta, và tình yêu của Người trọn hảo nơi chúng ta (1 Ga 4,12).
Thiên Chúa kính trọng người đầy tớ trung thành, người yêu thương và phục vụ với tấm lòng quảng đại. Người luôn sẵn sàng hoạt động trong và thông qua mỗi người chúng ta cho vinh quang của Người nhờ Thần Khí. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng Thiên Chúa không bao giờ mắc nợ chúng ta. Chúng ta không được than trách về Người. Tình yêu của Người đòi buộc chúng ta dâng hiến cho Người những gì tốt nhất! Và khi chúng ta đã làm hết sức mình, chúng ta chỉ đơn giản hoàn thành nhiệm vụ của mình. Chúng ta không bao giờ có thể trổi vượt Thiên Chúa trong tình yêu thương xót vô bờ, lòng nhân hậu và tốt lành vô biên, sự quan tâm liên tục không ngừng nghỉ dành cho chúng ta. Kinh thánh nhắc đi nhắc lại với chúng ta rằng tình yêu Thiên Chúa bền vững, trung tín, và tồn tại muôn đời – không bao giờ chấm dứt (Tv 89; 100; 118; 136). Thánh Augustine thành Hippo viết: “Thiên Chúa yêu thương mỗi người chúng ta như thể chỉ có một người để yêu”. Liệu tình yêu của Thiên Chúa có đòi buộc bạn phải cho đi điều tốt nhất của mình cho Người, với tình yêu quảng đại và lòng biết ơn đối với tất cả những gì Người đã làm cho bạn không?
Lạy Chúa Giêsu, xin lấp đầy lòng con với tình yêu nóng bỏng của Chúa và cho con tự do để yêu thương cách quảng đại và phục vụ quên mình. Xin ban cho con lòng biết ơn đối với tất cả những gì Chúa đã làm cho con, và gia tăng đức tin và lòng trung thành của con dành cho Chúa, là Tất Cả, là Sức Mạnh, là Sự Sống của con.
Tác giả: Don Schwager
(http://dailyscripture.servantsoftheword.org/readings/)
Bro. Paul Thanh Vu – chuyển ngữ
 

TN27-C121: Sức Mạnh Của Lòng Tin

 – Suy niệm Chúa Nhật 27 TN, năm C 0
LỜI CHÚA: Lc 17, 5 – 10

Tôi có cơ duyên giúp cho một gia đình gồm năm người theo đạo. Sở dĩ họ theo Chúa là vì TN27-C121

Tôi có cơ duyên giúp cho một gia đình gồm năm người theo đạo. Sở dĩ họ theo Chúa là vì có nhóm đọc kinh đến nhà cầu nguyện và người mẹ bệnh tiểu đường biến chứng sang thận được thuyên giảm. Cả nhà ra điều kiện với Chúa: nếu được Đức Mẹ chữa khỏi cả nhà sẽ theo đạo vì ông bố là đạo gốc nhưng đã bỏ đạo từ ngày 17 tuổi. Tôi ra công dạy và hi vọng Chúa sẽ làm phép lạ. Sau mỗi buổi học giáo lý, tôi cùng gia đình cầu nguyện xin Chúa ban thêm đức tin. Việc học diễn tiến cách tốt đẹp và bệnh tình của bà cũng thuyên giảm trong thời gian học giáo lý. Gia đình tối nào cũng sốt sắng đọc kinh trước khi đi ngủ và xin Mẹ Maria chữa bệnh tình cho bà. Ngày rửa tội của gia đình được tổ chức cách sốt sáng và tốt đẹp.
Nhưng ngay sau ngày rửa tội bà mệt vì bụng của bà to hơn và phải đi cấp cứu ngay. Nhà bà rất nghèo vì đang phải trang trải món nợ chữa bệnh cho bà trong quá khứ. Gia đình chỉ mong vào năm con dê mẹ để kiếm ăn hằng ngày và trả nợ, nhưng bây giờ phải bán tới bốn con dê mẹ mới đủ tiền cho mẹ đi nhà thương. Từ ngày bà đi cấp cứu kinh tế gia đình  xuống dốc không phanh. Bữa cơm hằng ngày là chao với rau luộc hòa với nước mắt. Nhìn cảnh gia đình như thế, tôi đau lòng thưa với Chúa như các môn đệ hôm nay: “Xin thêm lòng tin cho chúng con.” Trước thử thách này chính tôi cũng bị lung lay huống hồ những người còn non nớt kia. Tôi chỉ biết cầu nguyện: con không hiểu, con không hiểu. Đến thăm gia đình trong cảnh rách nát với những nỗi buồn choáng ngợp trên các khuôn mặt, tôi rát lòng và cố gắng bật lên ba tiếng: hãy vững tin. Tôi đọc được nỗi đau, sự nghi ngờ trong lòng những kẻ đáng thương này. Tôi cũng đã nhiều lần vật vã với Chúa: Tại sao lại như thế? Chúa không kéo dài được một thời gian để cho những cây đức tin này đâm rễ đã, con sẽ nói làm sao với gia đình của Chúa đây?
Chúa vẫn thinh lặng trước những cật vấn của tôi. Còn tôi vẫn cố gắng hết sức để củng cố niềm tin đang chao đảo trước sóng gió này. Dẫu cố gắng nhưng tôi vẫn đọc được từ sâu thẳm lòng họ sự nghi ngờ.
Chúa có cách của Ngài, sau đó ít lâu, gia đình mượn tiền và mua lại được bầy dê đã bán. Và sau bốn tháng gia đình chìm trong đêm tối, gia đình đã mua được một bầy dê bốn con mẹ và bảy con con với giá rất rẻ. Từ đó họ có một bầy dê gấp ba lần  bầy dê trước. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi thấy mọi người trong gia đình hưng phấn hơn. Kinh tế của gia đình mỗi ngày một tiến hơn vì bà không phải đi cấp cứu thường xuyên và ông cũng có công ăn việc làm đều đặn. Ông bà trả được món nợ đeo đẳng từ lâu. Gia đình đã dần dần cảm nghiệm được sương trời đổ xuống trên gia đình. Lúc này tôi lại dùng võ miệng để cao rao tình thương của Chúa với gia đình để mọi người thêm lòng tin. Ngọn đèn đức tin lu mờ trong cơn thử thách thì bây giờ lại được bùng cháy qua cơn sóng gió. Trong phong ba lời nói của tôi bị gió cuốn nhưng trong khi trời yên bể lặng thì nó lại vang sâu hơn bình thường. Lúc này tôi mới hiểu sự dẫn dắt của Chúa: Nếu Chúa để phép lạ tiến triển bình thường thì con người quen dần mà không nhận ra sự quan phòng và tình thương của Thiên Chúa cách rõ nét. Nhưng trong cơn bão tố tuy con thuyền đức tin có tròng trành thì khi trời lặng, biển yên con người sẽ nhận ra quyền năng vô biên của ngài.
Đúng vậy, cho đến bây giờ gia đình đã cảm nghiệm được điều này và họ vẫn giữ đạo tốt. Đức tin của họ được nuôi dưỡng bằng những giờ kinh tối đều đặn và họ sốt sắng giữ luật Chúa.
Bài tin mừng hôm nay giúp tôi liên tưởng đến gia đình tân tòng này. Hằng ngày họ xin Chúa: xin thêm đức tin cho chúng con mỗi khi một cơn thử thách đến đe dọa lòng tin non nớt của họ. Họ đã được Thiên Chúa ban đức tin một cách nhưng không, còn họ phải tín thác tuyệt đối vào tình thương của Thiên Chúa, cậy dựa vào một mình Ngài. Chúa đang từ từ uốn nắn họ để đức tin của họ mỗi ngày một trưởng thành hơn.
Còn tôi, tôi được sinh ra trong đức tin, được lớn lên trong dòng sữa đức tin và được ủ ấp, được rèn luyện trong môi trường đức tin. Đức tin đó có thể trả lời cho những vấn đề sâu xa nhất của cuộc đời. Không có đức tin mọi sự đều vô nghĩa. Đức tin cho tôi nguồn hi vọng, nguồn vui và ánh sáng để sống. Đời sống mà không có ánh sáng giống như đêm tối không trăng sao.
Đức tin là quyền năng lớn nhất trong thế giới này nên hôm nay các môn đệ tha thiết xin Chúa: Xin gia tăng đức tin cho chúng con. Đức tin phải được lớn lên mãi để có thể làm được những gì không thể như lời Chúa nói: “Nếu anh em có đức tin bằng hạt cải, anh em có thể nói với cây này: “ Hãy bứng rễ và trồng xuống biển và nó sẽ vâng lời anh em.”
 Đức tin có khả năng làm phép lạ không theo nghĩa phù phép, bùa chú nhưng là một động lực thúc đẩy chúng ta dám nghĩ, dám làm những việc to lớn phi thường, vì người có đức tin thì hành động bằng quyền năng của Thiên Chúa chứ không phải bằng khả năng giới hạn của mình. Do đó người có lòng tin có thể làm được những việc mà chỉ có quyền năng vô biên của Thiên Chúa mới làm được. Thực ra không phải người ấy hành động nhưng là chính Thiên Chúa hành động trong người ấy và qua người ấy.
Hình ảnh hạt cải bé nhỏ nói lên sự phó thác dù nhỏ đến đâu nếu được thực hiện trong đức tin, vẫn có thể làm được những điều lớn lao vì không phải ở sức mình nhưng là ở sức mạnh của Thiên Chúa.
Đức Giêsu dùng hình ảnh hạt cải có bộ rễ rất to và khỏe nhưng hạt nó thì nhỏ xíu như đầu kim để nói lên sức mạnh của niềm tin. Để làm bật rễ một cây dâu thật to chỉ cần một chút đức tin bé nhỏ, nhưng phải là một thứ đức tin vững vàng mạnh mẽ.
Có nhiều thứ bám rễ trong đời tôi: Những khuynh hướng xấu, những thói quen do môi trường, lối nhìn, lối suy nghĩ, lối đánh giá tha nhân, lối sống đạo theo thói quen, hình thức là những thứ rễ chằng chịt. Rễ chằng chịt này khó gỡ để ném nó xa tôi. Chỉ khi có lòng tin vào quyền năng của Thiên Chúa tôi mới có thể gỡ mình khỏi những ràng buộc, mới làm được những điều tưởng như không sao làm nổi.
Những kết quả chúng ta thực hiện được là nhờ lòng tin nghĩa là chính Thiên Chúa hành động nơi chúng ta và qua chúng ta. Như thế chúng ta đâu dám tự phụ cho nó là công lênh của mình: “Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi.”
Khi nói về huân công của Đức Maria hay của các thánh, chúng ta nói Chúa đội triều thiên cho những ơn của Chúa, vì nhờ Chúa ban ơn thánh chúng ta mới sản sinh những ước muốn thánh thiện và thúc đẩy chúng ta làm điều thiện.
Như thế, chúng tôi không có lý do để vênh vang tự đắc và kiêu hãnh với anh em là mình đã làm được những việc tốt lành, thánh thiện. Thánh Phaolô đã cảm nghiệm được điều này sâu hơn chúng tôi: “Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh”, nghĩa là khi Ngài nhận mình yếu đuối và khiêm tốn cậy dựa vào Chúa thì Chúa sẽ biểu dương sức mạnh của Chúa nơi ngài: “Tôi được mạnh mẽ trong Đấng ban sức mạnh cho tôi”.
Lời các tông đồ hôm nay tha thiết xin Chúa: “Xin thêm đức tin cho chúng con” mời gọi tôi hãy luôn tín thác vào Chúa trong lúc vui cũng như lúc buồn, khi hoạn nạn cũng như lúc thành công để ngọn đèn đức tin của tôi không vụt tắt giữa cơn bão tố. Ngọn đèn đức tin này phải được gìn giữ và phát triển trong cầu  nguyện và trong cuộc sống phó thác. Chính Chúa sẽ làm phép lạ để cây đức tin này sinh hoa quả, còn tôi phải luôn khiêm tốn chân nhận mình: “Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi.”
Nữ tu Faustina Lý Thị Báu
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây