Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29 TN-C Bài 101-129 Kiên trì cầu nguyệ

Thứ năm - 17/10/2019 10:45
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29 TN-C Bài 101-129 Kiên trì cầu nguyện
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29 TN-C Bài 101-129 Kiên trì cầu nguyện
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29 TN-C Bài 101-129 Kiên trì cầu nguyện
TN29-C101: CẦU NGUYỆN VỚI TẤT CẢ TÂM HỒN.. 2
TN29-C102: CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN.. 4
TN29-C103: CẦU NGUYỆN KHÔNG NGỪNG.. 6
TN29-C104: Chúa Nhật 29 Thường Niên Năm C.. 8
TN29-C105: Chúa Nhật 29 Thường niên, C.. 14
TN29-C106: Cầu Nguyện Luôn. 16
TN29-C107: TÒA ÁN LƯƠNG TÂM... 18
TN29-C108: CẦU NGUYỆN CHUYÊN NGHIỆP. 23
TN29-C109: HÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN – NĂM C.. 26
TN29-C110: Chúa Giêsu dạy các môn đệ cầu nguyện. 30
TN29-C111: Kiên nhẫn trong lời cầu. 33
TN29-C112: Cầu nguyện. 35
TN29-C113: Chúa Giêsu dạy các môn đệ cầu nguyện. 37
TN29-C114: CẦU NGUYỆN PHẢI KIÊN TRÌ KHÔNG ĐƯỢC NẢN CHÍ 39
TN29-C115: CHÚA NHẬT TUẦN XXIX THƯỜNG NIÊN C.. 42
TN29-C116: Không nản chí 45
TN29-C117: Kiên trì trong cầu nguyện. 49
TN29-C118: CHÚA MONG MUỐN THẤY NIỀM TIN NÀO.. 51
TN29-C119: Hãy làm cho ngọn lửa yêu thương được bùng cháy. 53
TN29-C120: Hãy kiên trì cầu nguyện. 56
TN29-C121: Kiên tâm.. 60
TN29-C122: Đừng thất vọng! 63
TN29-C123: Cầu nguyện tín thác và kiên trì 64
TN29-C124: Cầu nguyện với sự kiên trì 67
TN29-C125: Để phán quyết công bằng. 70
TN29-C126: Thái độ của chúng ta khi ta cầu nguyện. 72
TN29-C127: Một nền tảng của đức tin: Sự Cầu Nguyện. 73
TN29-C128: Cầu nguyện. 76
TN29-C129: TÍN THÁC VÀO CHÚA THÁNH THẦN, 77

 

TN29-C101: CẦU NGUYỆN VỚI TẤT CẢ TÂM HỒN

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN, năm C .
CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO
Lc 18, 1-8
 

 Suốt cuộc đời của Chúa Giêsu là lời cầu nguyện liên lỉ, cầu nguyện không ngừng.Chúa Giêsu TN29-C101

Suốt cuộc đời của Chúa Giêsu là lời cầu nguyện liên lỉ, cầu nguyện không ngừng.Chúa Giêsu bao giờ cũng cầunguyện khi ở riêng một nơi vắng vẻ, khi
làm một việc gì, khi chọn các tông đồ, khi làm phép lạ. Chúa Giêsu đã nhiều lần dạy dỗ các môn đệ cầu nguyện, đặc biệt Chúa đã dạy các môn đệ kinh Lạy Cha. Do đó, Chúa nhật hôm nay Chúa cũng mời gọi chúng ta cầu nguyện với tất cả tấm lòng chân thành…
 Tin Mừng thánh Luca hôm nay  cho chúng ta thấy bộ mặt của vị thẩm phán sừng xỏ :” Tại thành nọ, có vị thẩm phán kia, Thiên Chúa thì chẳng kính sợ, mà người ta thì cũng chẳng kính nể ..” ( Lc 18, 2 ), một Ông Thẩm Phán ngồi trên tòa cao không phải để xét xử một cách công lý, nhân đạo, nhưng là để kiếm tiền bỏ đầy túi, làm giầu cho bản thân mình và làm giầu cho gia đình của mình. Câu chuyện thuật lại cách dí dỏm, có một bà góa tiền bạc chẳng có, của cải thì không, bà thuộc loại bần cố nông, nhưng bà lại bạo miệng. Bà không có quà cáp, không có tiền đút lót nhưng vì bà bạo phổi, bạo miệng, nên cuối cùng Ông Thấm phán cũng phải xiêu lòng giải quyết, chúng ta nghe Ông Thẩm Phán nói :” Cho dẫu Thiên Chúa, mình không sợ, mà người ta mình cũng chẳng kiêng nể, thì ít ra bởi mụ góa này cứ rầy quấy mình, mình cũng sẽ xử quách cho nó, kẻo nó cứ đến hoài làm bương đầu bương óc mình “ ( Lc 18, 4 ). Chúng ta cũng đọc thấy dụ ngôn người bạn quấy rầy lúc đêm khuya của thánh Luca. Hai dụ ngôn này cũng gợi lên cùng một ý. Chúa Giêsu đưa dụ ngôn như một lời gợi ý, một thể văn gợi ý mà thôi. Dụ ngôn cho thấy vị Thẩm Phán bất lương còn biết hành động để cầu an, để giải quyết cho xong những người cứ lải nhải, quấy rầy, Thiên Chúa là Cha nhân từ luôn biết xót thương, chạnh lòng tha thứ cho những kẻ kêu xin Ngài. Thiên Chúa quả thực luôn lắng tai nghe lời chúng ta cầu khẩn, van xin Ngài đêm ngày. Lời cầu khẩn van nài của những kẻ kêu cứu Chúa với tấm lòng thành, luôn được Chúa lắng nghe. Có những chúng ta cầu nguyện nhưng không thấy Chúa nhận lời, Chúa bắt chúng ta chờ đợi, không phải vì Chúa khước từ, chối từ lời khẩn nguyện, van xin của chúng ta, nhưng Ngài muốn chúng ta kiên nhẫn, thanh lọc tư tưởng của chúng ta. Bởi vì, Chúa nói với chúng ta phải cầu nguyện luôn đừng nản chán, đừng thất vọng vv…Lời cầu nguyện của mỗi người chúng ta phải liên lỉ, cầu nguyện không ngừng, tất cả cuộc đời chúng ta phải là lời cầu nguyện như Chúa Giêsu. Chúng ta phải ý thức rằng việc cầu nguyện của chúng ta nhằm nối dài hành vi sáng tạo của Thiên Chúa, hành vi cứu chuộc của Chúa Giêsu, nhằm thực hiện những chương trình của Thiên Chúa trên thế giới, trên con người vv…Chính vì thế, mọi việc, mọi tư tưởng, ý nghĩ của chúng ta phải biến thành những việc linh thánh . Đây là ý nghĩa việc cầu nguyện sâu xa của thời đại chúng ta hôm nay. Nhờ hiểu như thế,nhờ cách cầu nguyện này, chúng ta hiểu được lời của Chúa :” Phải cầu nguyện luôn, cầu nguyện không ngừng “.
 Chúa luôn muốn con người kết hiệp với Chúa, Ngài luômn muốn chúng ta dâng lời cầu nguyện lỉ lỉ bởi vì lúc thức dậy chúng ta dâng mình cho Chúa, xin Chúa chúc lành cho một ngày mới, rồi suốt một ngày với bao công việc, với bao nhọc nhằn, lao động trí óc, lao động chân tay, chúng ta dâng những công việc ấy cho Chúa như một lời cầu nguyện. Tối về chúng ta dâng cho Chúa giấc ngủ như một lời cầu nguyện kéo dài và xin Chúa cho chúng một giấc ngủ bình an, tha thứ những lỗi lầm để ngày hôm sau chúng ta sống tốt hơn, sống đẹp hơn…Thực hiện được điều đó là chúng ta biến đời chúng ta thành lời cầu nguyện không ngừng. Cầu nguyện phải là lẽ sống của mỗi người chúng ta…
 Chúa đã nói : “ Ai xin sẽ được.Ai tìm sẽ gặp. Ai gõ sẽ mở “. Chúng ta phải khẩn khoản cầu xin, phải cầu nguyện mãi mãi. Chúa Giêsu trong đoạn Tin mừng này đã kết thúc dụ ngôn bằng một lời thật bí ẩn, một lời huyền diệu :” Khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất này nữa chăng ? “. Có một điều thật an ủi, Chúa nói rằng ai bền đỗ, kiên nhẫn, bền bỉ cầu nguyện sẽ giữ được đức tin của mình.
 Hôm nay cũng là ngày cầu nguyện cho công việc truyền giáo. Chúng ta hãy nhớ lời Chúa :” Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt “. Chúng ta hãy xin Chúa sai nhiều thợ gặt đến gặt lúa trong các cánh đồng...Đây là bổn phận loan báo Tin mừng của mọi người.
 Lạy Chúa Giêsu, Chúa luôn yêu thương chúng con, yêu thương mọi người bằng một tình yêu nhưng không :” Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống mình “ ( Ga 15, 13 ). Xin ban thêm lòng tin cho chúng con, xin giúp chúng con luôn biết siêng năng cầu nguyện để cuộc đời của chúng con luôn là lời cầu không ngừng, cảm tạ tri ân Thiên Chúa. Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 Vị Thẩm Phán trong đoạn Tin Mừng hôm nay là người thế nào ?
 
  1. Bà góa là người thế nào ?
  2. Tại sao lại phải cầu nguyện ?
  3. Chúa khuyên chúng ta phải cầu nguyện làm sao ?
 
 

TN29-C102: CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN

Đức tin vững bền và không nản chí
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 18:1-8)
 

Một trong những điều làm chúng ta thất vọng trong việc cầu nguyện, là không thấy có hiệu quả TN29-C102

Một trong những điều làm chúng ta thất vọng trong việc cầu nguyện, là không thấy có hiệu quả nào cả.  Dường như Chúa không nghe chúng ta xin, hoặc Người không muốn cho điều chúng ta cầu xin, hoặc Người còn đang chờ đợi điều gì đó.  Chúa Giê-su rất am hiểu tâm trạng của chúng ta.  Thánh Lu-ca viết rằng:  “Đức Giê-su kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”.  Vậy sứ điệp bài Tin Mừng muốn nói với chúng ta hôm nay nằm ngay trong lời giới thiệu câu chuyện dụ ngôn bà góa và ông quan tòa.
                                  Để dạy chúng ta phải cầu nguyện luôn, không được nản chí, Chúa Giê-su dùng một hình ảnh rất thực là bà góa.  Đến với Chúa để cầu xin Người, chúng ta chẳng khác gì bà góa này.  Bà góa trong Kinh Thánh là hình ảnh một người bị thiệt thòi trong xã hội.  Chồng chết, nên bà mất chỗ nương tựa.  Bà là người hứng chịu nhiều bất công xã hội, gia tài của bà “bị nuốt chửng” do những kẻ cậy quyền thế, thường bị đối phương hãm hại vì chúng biết bà yếu thế.  Nơi cuối cùng bà chạy đến xin giúp đỡ là ông quan tòa, nhưng lại gặp ngay ông quan tòa bất chính, “chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì”!  Vậy mà cuối cùng bà cũng được toại nguyện, được minh xét, chỉ vì bà “đã nhiều lần” đến “quấy rầy” làm ông ta phải “nhức đầu nhức óc”.  Nói khác đi, sức mạnh duy nhất giúp bà đạt được ý nguyện, đó là nhờ bà cương quyết không nản chí. 
                                  Có lẽ trước hết chúng ta hãy làm sáng tỏ điều này: dụ ngôn không có ý ví Thiên Chúa như là ông quan tòa bất chính, mà chỉ so sánh để giúp chúng ta nhận ra sự tốt lành vô biên của Chúa mà thôi.  Ông quan tòa bất chính xét xử cho bà góa chỉ vì ông không muốn bị quấy rầy.  Còn Thiên Chúa minh xét cho chúng ta vì Người là Cha yêu thương chăm sóc chúng ta và vì chúng ta có lòng tin nơi Người.  Chúng ta có thể nhận ra sự trái ngược giữa ông quan tòa bất chính và Thiên Chúa đầy yêu thương.  Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa;  trái lại, Chúa rất tôn trọng chúng ta.  Ông ta chẳng coi ai ra gì;  trái lại, Chúa coi chúng ta như con ngươi trong mắt Người.  Ông ta bắt người khác phải chờ đợi;  còn Chúa sẽ mau chóng minh xét cho chúng ta.
                                  Nếu Chúa đối xử với chúng ta như vậy, thì chúng ta phải có lòng tin vào Chúa là điều đương nhiên.  Chúa Giê-su đã nhiều lần đề cập đến đức tin, thí dụ trong bài Tin Mừng tuần trước khi Người nói đến sức mạnh của đức tin “lớn bằng hạt cải”.                            Hôm nay, khi áp dụng đức tin qua câu chuyện dụ ngôn bà góa, Người muốn chúng ta hãy đặt lòng tin vào sự minh xét của Thiên Chúa.  Sự minh xét không chỉ hiểu là sự công bằng quan tòa đem lại cho nạn nhân bị oan ức, nhưng còn là sự che chở quan phòng của một vị Thiên Chúa là Cha.  Tất cả chúng ta trong thân phận yếu đuối con người rất dễ bị tổn thương do những tấn công của ma quỷ, tội lỗi, bất công xã hội.  Do đó, chúng ta cần phải đến với Quan Tòa công chính để tìm kiếm sự che chở của Người.  Kết thúc dụ ngôn, Chúa Giê-su muốn nói với chúng ta một ưu tư của Người:  “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”  Điều này chắc chắn cũng phải là ưu tư của mỗi người chúng ta.  Lòng tin không phải là một thực tại bất biến, nhưng nó tùy thuộc ở mối tương quan giữa chúng ta với Chúa.  Càng đi theo đường công chính của Chúa, đức tin của chúng ta càng sâu xa.  Càng khiêm nhường tuân giữ và phát huy những giá trị Tin Mừng trong cuộc sống, chúng ta càng sống đức tin vào Chúa Ki-tô một cách phong phú hơn.
Sống sứ điệp Tin Mừng
                                  Đức tin vững bền và không nản chí cần được thể hiện trong đời sống Ki-tô hữu.  Với bài đọc Cựu Ước hôm nay, chúng ta có một gương mẫu.  Đó là gương ông Mô-sê cầu nguyện.  Ông giơ tay lên khi cầu nguyện cho dân Chúa chiến thắng quân A-ma-lếch.  Cầu nguyện lâu nên ông mỏi tay.  Thế là người ta kê hòn đá cho ông ngồi và có hai người đỡ hai tay cho ông đỡ mỏi.
                                  Chúng ta hãy tự hỏi:  Có những khi nào tôi là ông Mô-sê, hoặc tôi là một người đỡ tay cho ông?  Những khi cầu nguyện mỏi mệt, tôi có tìm được ai để nâng đỡ không?  Có khi nào tôi đóng vai người hỗ trợ cho người khác cầu nguyện không?  Tôi phải làm gì để Chúa vẫn còn thấy lòng tin trên mặt đất, lòng tin của tôi và của anh chị em?
        Lm Đa-minh Trần đình Nhi

 

TN29-C103: CẦU NGUYỆN KHÔNG NGỪNG

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN,năm C
Lc 18, 1-8
 

Mỗi một tôn giáo đều có một hình thức cầu nguyện. Tôn giáo nào, đạo nào cũng dạy con người phải TN29-C103

Mỗi một tôn giáo đều có một hình thức cầu nguyện. Tôn giáo nào, đạo nào cũng dạy con người phải cầu nguyện. Mà không cầu nguyện làm sao khi con người muốn tạ ơn, muốn khấn vài cầu xin cùng Đấng Tối Cao những ước nguyện thầm kín của con người. Đạo Công Giáo có cách cầu nguyện rất đặc biệt. Chính Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ và mọi người chúng ta cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha. Hôm nay, Chúa dạy các môn đệ :” Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí “ ( Lc 18,1 ).
 Thánh Vịnh 126, 2 viết :” Bạn có thức khuya hay dậy sớm, khó nhọc làm ăn cũng hoài công, còn kẻ Chúa thương dầu có ngủ, Người vẫn ban cho đủ tiêu dùng “. Chúa luôn thấu suốt lòng của con người. Do đó, lời cầu nguyện luôn phải liên lỉ, dù thức hay ngủ, tất cả hãy biến mọi sự, mọi suy nghĩ, mọi việc làm, giấc ngủ miên man thành lời cầu nguyện bởi vì chính Chúa hướng dẫn lời cầu nguyện của con người.”Đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả “ (TV 138, 3 ). Chúa Giêsu muốn con người đừng bao giờ quên cầu nguyện, Ngài bảo hãy cầu nguyện và cầu nguyện liên lỉ, cầu nguyện không ngừng. Hãy biến cuộc đời của con người, của chúng ta thành bài ca cảm tạ tri ân không ngừng. Hãy xem thái độ, cử chỉ và tâm tình của Môsê khi cầu nguyện. Ngài giơ tay cầu nguyện và quỳ gối cầu nguyện cho dân Do Thái thắng trận. Bao lâu Môsê giang tay giơ lên cầu nguyện thì quân Do Thái thắng, khi Môsê mỏi mệt, bỏ tay xuống, quân Do Thái bị thua. Cử chỉ ấy cho thấy là không được nản chí, phải cầu nguyện luôn và mãi mãi cầu nguyện. Tin Mừng cũng ghi lại hình ảnh bà góa cầu nguyện hết ngày này qua ngày khác để xin quan tòa minh xét cho bà. Thánh nữ Monica đã nhiều năm cầu nguyện, ăn chay để xin Chúa cho con bà là Augustinô trở lại. Một Têrêsa Hài Đồng Giêsu cầu nguyện biến đời mình thành lời cầu tình yêu. Một Têrêsa Calcutta luôn cầu nguyện và xin biến đời tu của mình thành nữ tu bác ái. Như Cha Charles Foulcaud cầu nguyện liên lỉ trong sa mạc. Như Cha Padre Piô cầu nguyện. Và đặc biệt là Mẹ Maria và chính Chúa Giêsu cầu nguyện. Những gương cầu nguyện vừa nêu là những hình ảnh sống động giúp con người và giúp chúng ta noi gương bắt chước cầu nguyện. Chúa bảo con người và dạy chúng ta cầu nguyện liên tục, bền chí, không hề chán nản, nhàm chán cả khi chúng ta cảm thấy như lời cầu của chúng ta chưa được Chúa đáp ừng vv…Thường con người và chúng ta hay nôn nóng muốn cho lời nguyện xin của chúng ta được Chúa nhậm lời ngay và tỏ ra thiếu kiên nhẫn. Tuy nhiên, Chúa nhiệm mầu luôn giúp chúng ta theo lòng nhân hâu, thương xót và theo lượng từ bi của Ngài. Chúa thấy điều gì cần hơn Ngài sẽ ban cho chúng ta. Đó là mầu nhiệm của lời cầu xin. Ai trong chúng ta cũng tưởng mình hiểu rõ điều mình đang cầu xin, nhưng thánh Phaolô đã minh định cho chúng ta:” Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, chính Thánh Thần sẽ cầu thay nguyện giúp chúng ta…theo đúng ý Thiên Chúa”( Rm 8, 21-27 ). Vâng, thường khi cầu nguyện, chúng ta thường nôn nóng muốn Chúa chấp nhận điều chúng ta đang khẩn xin. Nhưng Chúa sẽ thấy điều nào cần hơn, Ngài sẽ ban cho chung ta và sau đó, điều nào chưa cần thiết Ngài sẽ ban sau cho chúng ta. Chúa ban cho chúng ta khác với mong ước, đòi hỏi của chúng ta. Nhưng bao giờ Chúa cũng nhậm lời chúng ta theo ý Chúa và lợi ích cho linh hồn chúng ta. Cầu nguyện không có nghĩa là liệt kê một số ơn, một số việc con người thích xin, thích đòi hỏi theo ý riêng của mình nhưng cầu nguyện là xin cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Cầu nguyện như Đức Giêsu :” Tất cả những gì của Con đều là của Cha, tất cả những gì của Cha đều là của Con “ ( Ga 17, 10 ). Cầu nguyện không phải vụ lợi, chỉ xin ơn này ơn kia nhưng là thực hành đức tin, nâng cao tâm hồn lên để kết hiệp với Chúa, để gặp gỡ Chúa và trò chuyện thân mật với Chúa.
 Chúa đã cầu nguyện lâu giờ và cầu nguyện liên lỉ. Ngài trò chuyện với Thiên Chúa Cha. Ngài đối thoại với Cha của Ngài. Chúa muốn chúng ta đừng bao giờ chán nản, đừng bao giờ thờ ơ lãnh đạm với việc cầu nguyện. Ngài bảo chúng ta cầu nguyện mãi mãi và cầu nguyện không ngừng.  Thánh Phaolô dạy :” Anh em có làm gì, nói gì thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giêsu “ ( Cl 3, 17 ). Như thế, thánh Phaolô dạy chúng ta thống nhất cuộc sống bằng lời cầu nguyện liên tục.Chúa luôn là trung tâm của đời sống người Kitô hữu và Ngài là đích của lời cầu nguyện. Chúa Giêsu không bao giờ muốn chúng ta bỏ cuộc, Ngài muốn chúng ta cầu nguyện liên lỉ và cầu nguyện không ngừng.
 Aaron và Hur đã không bỏ rơi, bỏ mặc khi ông Môsê mệt mỏi. Họ cùng cầu nguyện với Môsê. Thiên Chúa hài lòng với lời cầu nguyện chung của nhiều người. Chúa đã từng phán :” Nơi đâu có hai, ba người tụ họp lại nhân danh Ta có Ta ở đó “. Chúa mong muốn mọi người Công giáo hiệp nhất trong lời cầu nguyện. Aaron và Hur giúp giữ cánh tay của Môsê trong tư thế cầu nguyện, bởi đó dân Israen đã chiến thắng quân Amalếch.
 Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con cầu nguyện để chúng luôn biết sống theo thánh ý Chúa. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCCT

 

TN29-C104: Chúa Nhật 29 Thường Niên Năm C

Phải kiên tâm cầu nguyện tức là luôn tín nghĩa với Thiên Chúa
(Xuất hành 17,8-13; 2 Timôthê 3,14-4,2; Tin Mừng Luca 18,1-8)
 Phúc Âm: Lc 18, 1-8
"Thiên Chúa sẽ minh xử cho những kẻ người tuyển chọn hằng kêu cứu với Người".
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ một dụ ngôn, dạy các ông phải cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng, mà rằng: "Trong thành kia, có một vị thẩm phán không kính sợ Thiên Chúa, cũng không kiêng nể người ta. Trong thành đó lại có một bà goá đến thưa ông ấy rằng: 'Xin ông minh oan cho tôi khỏi tay kẻ thù'. Trong một thời gian lâu dài, ông không chịu, nhưng sau đó ông nghĩ rằng: 'Mặc dầu ta không kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng kính nể người ta, nhưng vì bà goá này cứ quấy rầy ta mãi, nên ta sẽ xử cho bà ấy, kẻo bà ấy đến mãi làm ta nhức óc'".
Rồi Chúa phán: "Các con hãy nghe lời vị thẩm phán bất lương nói đó. Vậy Thiên Chúa lại không minh xử cho những kẻ Người tuyển chọn, hằng kêu cứu với Người đêm ngày, mà khoan giãn với họ mãi sao? Thầy bảo các con, Chúa sẽ kíp giải oan cho họ. Nhưng khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng?"
 
Suy Niệm:
 

Câu chuyện Môsê cầu nguyện trên núi, dụ ngôn bà góa van xin vị thẩm phán, hối thúc chúng ta TN29-C104

Câu chuyện Môsê cầu nguyện trên núi, dụ ngôn bà góa van xin vị thẩm phán, hối thúc chúng ta dựa vào Lời Chúa hôm nay để tìm hiểu về việc cầu nguyện. Tại sao phải cầu nguyện? Phải cầu nguyện thế nào? Cầu nguyện đã đủ chưa hay còn phải hành động nữa? Ý tưởng của ba bài Kinh Thánh đọc hôm nay dường như muốn trả lời những câu hỏi ấy. Chúng ta lần lượt tìm hiểu.
 
1. Tại Sao Phải Cầu Nguyện
Thật ra, đọc xong bài sách Xuất hành chúng ta phấn khởi và nhận ra giá trị của lời cầu nguyện. Và thường khi nhớ đến câu chuyện Môsê cầu nguyện trên núi trong khi Giôsua đánh giặc, người ta vẫn để ý khía cạnh hiệu năng lạ lùng của việc cầu nguyện. Không có Môsê cầu nguyện, con cái Israel đã không chiến thắng. Và khi cánh tay Môsê rũ xuống là lúc thất bại ngả về phía Israel. Tuy nhiên nếu chỉ hiểu câu chuyện của bài sách Xuất hành như vậy, chúng ta không biết đánh giá đúng mức một sự kiện rất ý nghĩa trong lịch sử Dân Chúa, và do đó trong đời sống đạo của chính chúng ta. Sự kiện này đã được ghi lại trong Kinh Thánh, không phải chỉ vì là một biến cố lịch sử, nhưng có thể nói, nhiều hơn là ý nghĩa sâu xa của nó.
Trước hết, chúng ta hãy ghi lại sự kiện. Con cái Israel bấy giờ đang trên đường từ Biển Ðỏ tiến đến ngọn núi Sinai. Họ đã ra khỏi Ai Cập nhờ cánh tay uy dũng của Thiên Chúa. Nhưng hào khí lúc đầu đã dần dần suy giảm vì cảnh hoang vu của sa mạc, khí nóng của cát bỏng, thiếu thốn về của ăn và thức uống. Dân cứng cổ đã bắt đầu càm ràm, than trách Môsê: "Sao ông không để chúng tôi lại bên Ai Cập? Ở đó có thịt nướng hành thơm. Còn ở chỗ hoang vu nóng bỏng này, chúng tôi sẽ chết đói, chết khát mất". Những lời kêu chua chát ấy, giọng ca vô ơn bội nghĩa ấy, không phải chỉ làm rầu lòng Môsê. Ngay chính Thiên Chúa cũng không cầm nổi giận dữ. Tuy nhiên lòng thương xót vẫn trổi vượt. Thiên Chúa tiếp tục ban ơn cho đoàn người kém hiểu biết ấy. Người ban Manna và chim cút. Người cho nước chảy ở Massa và Meriba. Dân ăn no và uống đã. Nhưng đó vẫn là Dân hay thay lòng đổi dạ, dễ quên ân nghĩa và luôn sẵn sàng bội phản. Những lời kêu ca phàn nàn và trách móc trước đây bộc lộ một tâm trạng nghi ngờ, thiếu tín nhiệm. Chẳng vậy mà họ đã nói với nhau rằng: "Có Giavê ở giữa chúng ta hay không".
Tiếp theo đó họ đã gặp Amalek. Chúng ta coi đó là sự tình cờ, như khi người đi trong hoang địa có thể gặp vật nọ người kia. Chúng ta có thể coi đó cũng là sự tự nhiên, vì có gì lạ khi gặp cướp trong rừng sâu? Tuy nhiên đối với tác giả Thánh Kinh, chẳng có gì tình cờ và tự nhiên cả. Con cái Israel vừa thử thách Chúa, vừa nghi ngờ không biết Người có ở giữa họ hay không, thì Chúa để cho họ thấy Người để họ rơi vào hoàn cảnh mà chính họ phải mở mắt ra mà thấy Người có ở giữa họ hay không. Người để họ rơi vào tay Amalek.
Amalek không phải là ai khác dòng dõi Cain (Kng 36,3; 26,34; 28,9), kẻ đã nhẫn tâm sát hại em mình. Nó đã ra khỏi nhan Giavê và đi về phía đông Êđen. Nó đã ăn ở với vợ và sinh ra con cái. Chúng nó theo gương cha mình, luôn nuôi dưỡng một lòng thù địch đối với dòng dõi Abel, tức là dòng dõi được Chúa ưu tuyển. Ở đây chúng ta không thấy sách Xuất hành nói rõ Amalek tấn công con cái Israel thế nào. Nhưng sách Thứ luật (25,17-19) cho biết Amalek đã hèn hạ chặn đường đánh những kẻ lê lết đi sau cùng trong cộng đoàn con cái Israel khi những người này đã kiệt quệ đuối sức.
Thế nên Môsê phải nói với Giôsua: "Hãy lựa lấy người mà ra nghênh chiến với Amalek ngày mai"; nhưng ông nghĩ số ít những người còn khỏe cũng sẽ chẳng làm gì được quân địch. Phải nhờ đến Thiên Chúa, cậy vào sức mạnh của Người, phải tin rằng Thiên Chúa đang ở giữa Dân và gìn giữ Dân, mới có hy vọng thoát được gian nguy. Thế nên khi sai Giôsua ra trận địa, chính Môsê đã lên núi với Aharôn và Hur. Tay ông cầm cây gậy thủ lãnh mà ông vẫn mang theo từ ngày được lệnh Chúa đi giải phóng con cái Israel. Ðó là cây gậy đầy quyền lực của Thiên Chúa. Nó đã đập xuống, giáng xuống bao nhiêu tai ương trên đầu, trên cổ người Ai Cập để họ phải buông thả người Israel. Nó đã đập xuống Biển Ðỏ và mở đường cứu thoát cho Dân vừa ra khỏi đất nô lệ. Nó đã đánh vào tảng đá ở Khoreb để nước uống chảy ra trong sa mạc.
Cây gậy ấy là biểu tượng cho sức mạnh cứu thoát của Giavê và nói lên sự hiện diện của Người. Môsê cầm cây gậy ấy lên núi. Ông cắm nó nơi cao như cờ lệnh, như doanh trại, làm chứng sức mạnh của con cái Israel không ở nơi trận địa, nhưng ở chỗ này, nơi có cây gậy chỉ huy đứng làm cờ trận. Ðược thua không phải ở dưới thung lũng kia, nơi Giôsua giáp chiến với Amalek, nhưng ở tại trên núi này chỗ Môsê đang cầu nguyện. Hễ hai cánh tay ông rũ xuống là Giôsua kém thế; còn khi hai người đứng bên đỡ hai tay ông thì Giôsua tha hồ sát phạt.
Ðiều này không làm chứng Thiên Chúa đang ở giữa Dân, và bênh vực Dân đó sao? Ðó là chứng cớ hùng hồn, hiển nhiên. Do đó về sau Môsê đã cho xây một tế đàn ở chỗ núi và gọi tên nơi ấy là Giavê -Nissi, có nghĩa là Giavê là cờ trận của tôi; tức là chính Giavê đã chiến đấu cho tôi để chống lại Amalek; không có Người, tôi không thể nào thắng được tên cừu địch kia.
Và điều này không chỉ là chân lý của ngày hôm nay, ngày Giôsua xuất trận đánh Amalek ở Rơphiđim. Amalek là dòng dõi Cain, luôn mang hận thù chống lại dòng dõi Abel. Con cái Israel còn gặp lại Amalek nhiều lần. Và phải nói mỗi lần gặp lại các địch thủ muốn sát hại dòng dõi được ưu tuyển, Israel lại như gặp lại Amalek. Câu chuyện đụng độ với Amalek vì thế trở thành biểu tượng cho mọi thử thách mà những người được Thiên Chúa tuyển chọn gặp phải trong cuộc sống.
Ðó là câu chuyện trong cuộc đời của chúng ta khi gặp cám dỗ lăm le tiêu diệt Ơn Chúa nơi tâm hồn và đời sống của chúng ta. Sức chống cự của chúng ta giỏi lắm cũng như của Giôsua thôi. Chúng ta chẳng làm gì nên thân nếu chúng ta không dựng cờ trận của Thiên Chúa lên, tức là ý thức Người đang hiện diện, đứng về phe ta, chiến đấu cho ta, miễn là đôi cánh tay của ta phải không ngừng giơ cao để cầu nguyện.
Và điều này chỉ làm được khi chúng ta tin ở Chúa, tin Người hằng ở với chúng ta và bênh vực chúng ta. Chúng ta phải như Môsê mà Thánh Kinh gọi là người trung thành, chứ đừng cư xử như đại đa số con cái thất tín đến nỗi đã hỏi nhau rằng: Có Thiên Chúa ở với chúng ta hay không? Những kẻ thất tín sẽ rơi vào tay địch. Và ở trong tay họ có tin tưởng cầu nguyện mới được cứu thoát.
Bài học của sách Xuất hành rõ ràng cụ thể và sâu xa. Nó cho thấy đời sống tế nhị và hiểm nguy của những người con Chúa. Nó cho biết trên đường đi về Hứa Ðịa, chốn chảy sữa và mật, nơi thiên đàng hạnh phúc, chúng ta cần phải cầu nguyện và cầu nguyện không ngừng.
Và như vậy, chúng ta đã bắt gặp câu đầu tiên của bài Tin Mừng hôm nay.
 
2. Phải Cầu Nguyện Thế Nào?
Tác giả Luca luôn trung thành với mình, với thầy mình là Phaolô và nhất là với Chúa Giêsu. Ông luôn nói và nhấn mạnh đến việc cầu nguyện. Ông dùng ngay cả các công thức của thầy mình là Phaolô mà nói: Phải cầu nguyện luôn đừng nhàm chán, (Rm 1,10; 12,12; Ep 6,18; Co 13,1...). Ðặc biệt ông trung thành truyền đạt lại cho chúng ta những gương mẫu và giáo huấn của Chúa Giêsu về việc cầu nguyện. Có thể nói muốn thấy Chúa Giêsu cầu nguyện và hiểu ý Người về việc này, chúng ta chỉ cần mở sách Tin Mừng Luca.
Trong đoạn văn hôm nay, thoạt nhìn chúng ta chưa thấy những tư tưởng đặc sắc. Chúa Giêsu muốn dạy các môn đệ phải kiên tâm cầu nguyện. Người kể một câu chuyện tầm thường, có thể gặp ở bất cứ nơi đâu. Nơi đô thị bé nhỏ nào lại không có một viên chức xét xử các việc kiện tụng? Và càng ở nơi hẻo lánh, các vị thẩm phán ấy lại càng lấy ý riêng của mình làm pháp luật áp đặt trên quần chúng: họ muốn làm việc lúc nào, cách nào thì nhân dân thấp cổ bé họng cũng phải chịu. Vậy ở một đô thị kia có viên thẩm phán ngạo ngược chẳng sợ trời cũng chẳng nể ai. Ông làm việc trì trệ. Một quả phụ đã từ lâu xin ông xử giúp cho một việc, nhưng ông vẫn chẳng quan tâm, và cũng chẳng hối hả gì. Có lẽ sự việc mà bà kia thưa chẳng quan trọng bao nhiêu. Nhưng nhất là vì bà ta là người góa bụa, chẳng đáng kể gì ở trong xã hội. Nên từ ngày này qua ngày khác ông thẩm phán đó vẫn bỏ ngoài tai lời kêu xin của bà kia. Tuy nhiên bà này kiên trì, có lẽ chẳng phải vì bà có đức tính ấy nhưng rất có thể; đối với bà, câu chuyện đem thưa đây rất quan trọng, có thể là một sống một chết đối với bà. Vậy bà cứ dai dẳng nài xin. Cuối cùng ông thẩm phán tự nghĩ: Phải xử cho bà ta đi cho rồi kẻo nó cứ quấy rầy mình mãi...
Câu chuyện chỉ có vậy thôi. Trọng tâm của nó không nằm ở một nội dung độc đáo vì tác giả không nói bà kia kiện tụng về việc gì. Luca chỉ muốn người ta chú ý đến thái độ dai dẳng của người cầu xin và sự nhượng bộ rốt cuộc của người phải nghe tiếng van nài. Lấy những thái độ ấy để nói về quan hệ giữa loài người cầu nguyện và Thiên Chúa nghe lời, không tầm thường quá sao?
Tác giả Luca khẳng định nơi việc cầu nguyện của chúng ta không như vậy đâu. Chúng ta không phải như một góa phụ, ít giá trị trước mặt xã hội. Chúng ta là những người được Thiên Chúa ưu tuyển. Và Người không giống vị thẩm phán vô tâm; Người rất nhân hậu đối với con cái loài người. Ở đây Chúa Giêsu dường như muốn nói đến một "trường hợp cực chẳng đã", một hoàn cảnh tệ hơn cả, để chứng tỏ rằng những trường hợp và hoàn cảnh bình thường hơn tất nhiên sẽ tốt đẹp hơn nhiều. Nếu quan hệ giữa người góa phụ và vị thẩm phán cuối cùng còn như vậy, huống nữa là quan hệ giữa người ta và Thiên Chúa chắc chắn sẽ mỹ mãn vạn phần. Miễn là người ta phải kiên tâm cầu nguyện, tức là luôn tín nghĩa với Thiên Chúa. Chính điều kiện tín thành này là khó. Thế nên Chúa Giêsu đã kết thúc bài giáo huấn hôm nay bằng một câu hỏi có vẻ não nuột nhưng rất chân thành: "Con Người đến sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa không?". Tức là các con người ưu tuyển có luôn giữ mãi lòng tín nhiệm với Thiên Chúa không? Thái độ nhàm chán của họ khi cầu nguyện không phải là dấu chỉ lòng trung tín của họ đã suy giảm rồi sao? Thế nên chúng ta phải tập kiên tâm cầu nguyện để duy dưỡng lòng tin, hầu mãi mãi nhận được lòng thương xót của Chúa. Nhưng...

3. Cầu Nguyện Mà Thôi Ðã Ðủ Chưa?
Bài thư Phaolô hôm nay không trực tiếp nói đến vấn đề này. Ðấy chỉ là một đoạn trong thư II gửi cho Timôthê. Chúng ta đã được biết ông này bấy giờ đã rã rời chán nản vì thấy Phaolô thầy mình bị xiềng xích và giải sang Rôma. Thầy mà như vậy, thì trò sẽ thế nào? Công việc của thầy rốt cuộc đã đi đến xiềng xích, thì tiếp tục việc rao giảng Tin Mừng như thầy đã dạy bảo sẽ đi đến đâu? Phaolô gửi thư ngay cho Timôthê. Và trong đoạn thư hôm nay chúng ta nghe Phaolô nói: Con hãy bền vững trong các điều con đã học... và hãy cứ rao giảng Lời Chúa!
Thử thách mà Timôthê gặp phải cũng giống việc con cái Israel gặp Amalek, và cũng như những lúc chúng ta thấy nhàm chán trong việc cầu nguyện. Tất cả đều là cám dỗ và trở ngại khiến chúng ta giảm bớt lòng tin vào Chúa và đời sống đạo đức của chúng ta không còn tín nghĩa nữa. Phaolô hôm nay giúp Timôthê một phương pháp: hãy cầm lấy Thánh Kinh như Môsê cầm cây gậy leo lên núi.
Ðối với Môsê, cây gậy là biểu tượng, cờ trận của Chúa. Cắm nó lên đối diện với Amalek là dựng doanh trại của Thiên Chúa thiên binh. Người sẽ bảo vệ, giao chiến cho Dân Người. Nhưng Môsê mới đã xuất hiện thay thế cho Môsê cũ. Người là Thiên Chúa. Ðức Giêsu Kitô là Ðấng có lời ban sự sống và cứu độ. Timôthê hãy đọc lời Chúa, như Môsê đã đặt cây gậy tin tưởng vào quyền phép mà Thiên Chúa đã ban cho ông. Và chúng ta khi muốn nâng đỡ việc cầu nguyện của mình chống lại sự nhàm chán, cũng hãy cầm lấy sách Thánh "Ðã được Thần Hứng, và có ích để dạy dỗ, để biện bác, để tu chỉnh, để giáo huấn trong sự công chính". Ðọc sách Thánh, chúng ta sẽ biết sửa mình, nuôi dưỡng và phát triển lòng tín nghĩa với Thiên Chúa. Bây giờ chúng ta sẽ biết cầu nguyện đẹp lòng Chúa hơn và lời cầu nguyện của chúng ta sẽ được chấp nhận. Thường thì chúng ta chỉ lắm lời xin ơn, và không muốn nghe Lời Chúa dạy dỗ, khiến cầu nguyện của chúng ta trở thành độc thoại, khó đẹp lòng Chúa và chúng ta dễ thấy nhàm chán trong việc cầu nguyện.
Những bài Kinh Thánh hôm nay chỉ dẫn cho chúng ta những thái độ để làm cho lời cầu xin của chúng ta dễ được kết quả hơn.
Và chính các mầu nhiệm cử hành nơi bàn thờ bây giờ cũng nói với chúng ta như vậy. Chúa Giêsu Kitô trong mầu nhiệm thập giá là con người cầu xin được lắng nghe bởi vì Người có lòng tín nghĩa, thi hành và mạc khải thánh ý của Thiên Chúa Cha. Chúng ta hãy theo gương Người, thi hành và rao giảng Lời Chúa cho trung tín để được Chúa chấp nhận mỗi khi cầu nguyện.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)
  
 

TN29-C105: Chúa Nhật 29 Thường niên, C

 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 18:1-8)
 

 Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”, đó là bài học của dụ ngôn đã được xác nhận ngay trước TN29-C105

“Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”, đó là bài học của dụ ngôn đã được xác nhận ngay trước khi kể chuyện.  Có lẽ thánh Lu-ca phải xác nhận trước như thế để chúng ta khỏi lầm tưởng Thiên Chúa giống như ông quan tòa bất chính trong câu truyện.  Chúa Giê-su chỉ muốn chúng ta chú ý đến thái độ không nản chí của bà góa và áp dụng thái độ ấy vào việc cầu nguyện của chúng ta.
Trước hết thân phận một bà góa dễ bị người ta coi thường, nhất là trong xã hội Do-thái hay làng xã Việt Nam.  Bà góa nghèo cho nên đâu có tiền để hối lộ, vì thế tuy bà đã nhiều lần trong một thời gian khá lâu đến xin quan tòa minh xét mà ông ta không chịu.  Theo tâm lý bình thường, chúng ta không thể kiên trì được như thế và chắc chắn sẽ bỏ cuộc.  Vậy mà bà góa này vẫn kiên nhẫn, vẫn tiếp tục đến với ông quan tòa để “quấy nhiễu” ông.  Kiên trì quấy nhiễu là lợi khí duy nhất bà góa có thể sử dụng để đánh bại sự vô tâm và bất chính của ông quan tòa!  Bà nhất quyết làm cho ông ta phải “nhức đầu nhức óc”.  Cuối cùng, một bà góa lì lợm đã chiến thắng một ông quan tòa có quyền thế.  Ông đành phải xử cho bà chỉ vì không muốn nhức đầu nhức óc và bị quấy rầy.
Dĩ nhiên áp dụng dụ ngôn này vào đời sống, không phải cho Thiên Chúa mà chỉ cho chúng ta thôi.  Tại sao thế?  Bởi vì Chúa hoàn toàn khác với ông quan tòa bất chính kia.  Chúa thích chúng ta đến “quấy nhiễu” Người, giống như những đứa con tín thác vào sự chăm sóc của cha mẹ.  Chúa thích “nhức đầu nhức óc” vì lo lắng cho chúng ta khi chúng ta gặp khó khăn và cần giúp đỡ.  Chúa Giê-su đã quả quyết về những đặc điểm này của Thiên Chúa:  “Chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu Người sao?”  Thiên Chúa không “ngâm tôm” lời cầu xin của con cái đâu, nhưng Người sẽ mau chóng giải quyết.  Tuy nhiên vấn đề vẫn là của chúng ta, đó là vấn đề nản chíkhông cầu nguyện luôn.  Chúng ta thường chỉ “cầu nguyện” cũng có nghĩa là cầu xin, khi nào cần điều gì đó.  Rồi khi đến xin Chúa, chúng ta lại muốn Người phải nhậm lời chúng ta ngay lập tức.  Liệu chúng ta đang cầu nguyện như con cái nài xin cha mẹ hay “ra lệnh” cho cha mẹ đây?  Nhiều lầnthời gian khá lâu là điều thường xảy ra khi chúng ta cầu xin Chúa điều gì đó.  Nhưng quan trọng hơn cả là chúng ta làm gì, nói gì và có những tâm tình nào trong thời gian khá lâu ấy?  Hay chúng ta chỉ thấy nản chí?  Nếu như vậy thì nản chí đúng là dấu hiệu nói lên rằng lòng yêu mến Chúa của chúng ta đang xuống dốc không phanh rồi đó!  Tóm lại, chúng ta cần “quấy nhiễu” Chúa trong tình yêu và lấy tình yêu mến Chúa của chúng ta làm cho Chúa phải “nhức đầu nhức óc”.  Chắc chắn Chúa sẽ “thua” chúng ta liền hà!
 
Sống sứ điệp Tin Mừng
 
                                  Nói về việc cầu nguyện chẳng bao giờ hết chuyện!  Vậy mà chúng ta vẫn gặp những “trục trặc” khi thực hành.  Hôm nay qua câu truyện dụ ngôn, Chúa Giê-su chỉ nhấn mạnh đến một điều, là đừng nản chí khi cầu xin Chúa.  Dĩ nhiên có nhiều lý do khiến chúng ta nản chí, nhưng chắc chắn không có lý do nào từ phía Thiên Chúa cả, mà tất cả là do chúng ta.  Có lẽ chúng ta ôn lại một kinh nghiệm cầu nguyện nào đó trong quá khứ để rút ra bài học “đừng nản chí khi cầu nguyện”.  Những bài học thực tế như vậy sẽ giúp chúng ta nhận ra Chúa rõ ràng hơn, nhất là việc chúng ta nhiều lần đến với Người và Người im lặng thời gian khá lâu chính là những cơ hội để chúng ta sống mối tương quan yêu mến với Người thắm thiết hơn.    
 Lm. Dominic TTL
ngày 14-10-2010

 

TN29-C106: Cầu Nguyện Luôn

Chúa Nhật XXIX Thường Niên C
Lc 18:1-8: 1 Ðoạn Ngài nói với họ một ví dụ dạy họ phải cầu nguyện luôn, đừng nhàm chán, 2 rằng: "Tại một thành nọ, có vị thẩm phán kia, Thiên Chúa thì chẳng kính sợ, mà người ta, thì cũng chẳng kiêng nể. 3 Trong thành đó lại có một bà goá; bà đã từng đến với ông năn nỉ: "Xin ông xử cho tôi việc ngươì ta kiện tôi!" 4 Một thời lâu, ông không chịu. Nhưng về sau, ông tự bảo mình: "Cho dẫu Thiên Chúa, mình không sợ, mà người ta mình cũng chẳng kiêng nể, 5 thì ít ra bởi mụ goá này cứ rầy quấy mình, mình cũng sẽ xử quách cho nó, kẻo nó cứ đến hoài làm bương đầu bương óc mình!"
6 Và Chúa nói: "Các ngươi nghe thẩm phán bất lương nói gì đó? 7 Còn Thiên Chúa lại không xử cho những kẻ Người chọn cứ kêu cứu với Người đêm ngày sao?. Với họ, Người lạ lần lữa mãi sao? Ta bảo các ngươi: Người sẽ mau kíp xử việc họ!"
8 "Tuy vậy Con Người đến sẽ còn gặp được lòng tin trên đất nữa không?"
 

 Dụ ngôn nầy liên hệ chặt chẽ với đoạn trước bởi chủ đề là Con Người đến lúc nào và như thế nào TN29-C106

Dụ ngôn nầy liên hệ chặt chẽ với đoạn trước bởi chủ đề là Con Người đến lúc nào và như thế nào không ai biết cả (17:22-37); bởi đó phải kiên trì cầu nguyện để giữ vững đức tin cho đến lúc Người đến (18:1.8). Dụ ngôn được trình bày trong các câu 18:2-5; trước là dẫn nhập và mục đích của dụ ngôn (c. 1), sau là lời giải thích và kết luận (cc. 6-8).
 Ngay trong câu dẫn nhập, Luca nói ngay mục đích của dụ ngôn sắp được kể ra là “phải cầu nguyện luôn và đừng nản lòng” (c. 1). Chữ “phải”, dei, diễn tả ý muốn của Thiên Chúa (x. 2:49; 4:43; 9:22…). Luca nhấn mạnh nhiều đến việc phải cầu nguyện, nhất là trong những lúc thử thách (x. 22:40.46). Câu kết của dụ ngôn (c. 8) cho thấy mục đích của việc cầu nguyện là giữ vững đức tin cho đến ngày Chúa đến. Trong khi chờ đợi Chúa đến, cầu nguyện là phương thế tuyệt hảo nhất để khỏi mất đức tin.
 Ông thẩm phán trong một thành phố (c. 2). Tư cách đạo đức của ông là “không sợ Thiên Chúa và chẳng kiêng nể ai cả”. Người “không kính sợ Thiên Chúa” là người không giữ lề luật của Thiên Chúa (x. Đnl 8:6). Đối lại với ông là những người xuất hiện đầu tiên trong tin mừng Luca: Zacharia (1;13), Maria (1:30), các mục đồng (2:9.10), các môn đệ đầu tiên (5:10). Họ kính sợ Thiên Chúa và đi trong đường lối của Người (x. 1:74-75). Động từ entrepō có túc từ trực tiếp có nghĩa là “tôn trọng” (20:13), “quan tâm”. Thẩm phán nầy “không kính sợ Thiên Chúa và chẳng tôn trọng ai” sẽ được gọi là “bất chính” (c. 6).
 Bà goá kiên trì (c. 3). Bà goá thuộc những người nghèo, yếu đuối và không được bênh đỡ (x. 2:37; 4:25; 7:12; 20:47; 21:3-4). Điều bà nài xin là xử cho bà khỏi những bất công do kẻ thù gây nên. Động từ ekdikēo (cc. 3.5), danh từ ekdikēsis (cc. 7.8) có nghĩa là “trả thù”, “trừng phạt”, “bảo đảm sự công bình”. Luca không xác định rõ bà muốn xử cho công bình điều gì, mà chỉ nhắc đến “kẻ thù” gây nên bất công cho bà. Thể hiện tại chưa hoàn thành của động từ “đi đến”, erchomai, cho thấy bà kiên trì lui tới nài xin với vị thẩm phán nầy chưa chấm dứt.
 Lúc đầu “trong một thời gian” (c. 4) ông thẩm phán chẳng muốn xử cho bà, vì ông “không muốn”. Ông muốn làm theo ý ông, chứ không theo chức vụ và bổn phận của người thẩm phán. “Sau thời gian ấy”, ông bắt đầu nói với chính mình. Mốc thời gian nầy phân chia hai cảnh của dụ ngôn. Lời mô tả về ông (c. 2) được ông nhắc lại trong lời nói với chính mình (c. 4b) cho thấy quyết định phân xử của ông cho bà goá là do động lực ích kỷ của ông “bà goá nầy cứ quấy rầy mình”, chứ không do một sự kính sợ nào cả. Động từ hypōpiazō có nghĩa là “đấm vào mặt”, “tra tấn”, “đối xử tàn tệ”. Vì lời nài nỉ của bà goá tra tấn ông thẩm phán nên ông phải phân xử cho bà.
 Lời giải thích (c. 6-7). Câu chuyện dụ ngôn đã xong. Mệnh lệnh “Hãy lắng nghe” mời gọi chú ý đến điều ông thẩm phán nói để nhận ra cách hành động của Thiên Chúa. Câu 7 giải thích điều nầy: một thẩm phán bất công như vừa được mô tả trong dụ ngôn trên cuối cùng đã phân xử cho bà goá ngày đêm năn nỉ; phương chi Thiên Chúa, Người không lắng nghe những người được tuyển chọn cầu nguyện như Người dạy sao (c. 1)? Vậy người môn đệ không được nản lòng bỏ cầu nguyện cho đến lúc Người đến (x. 11:2). Bà goá được ví như “người được tuyển chọn” dựa trên điểm chung là “cầu nguyện”. Câu kết luận (c.8). Chắc chắn là Chúa đến và sẽ mau đến. Người sẽ phân xử cho những người cầu xin với Người. Điều Người đặt ra là còn tìm thấy đức tin trên mặt đất nữa không. Có mạo từ, chỉ đức tin của người môn đệ Chúa Giêsu.
 Khi lo lắng cho sự sống còn của đức tin nơi môn đệ trong khi trông đợi Người đến, Chúa Giêsu đã chỉ cho họ một phương thế hữu hiệu. Đó là cầu nguyện. Vậy chỉ còn một điều lo lắng nơi Người là người môn đệ bỏ cầu nguyện.
 Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

TN29-C107: TÒA ÁN LƯƠNG TÂM

Quốc gia nào cũng có tòa án, ngay cả tôn giáo cũng có tòa án. Đó là cơ quan phân xử những gì liên  Ephata

Quốc gia nào cũng có tòa án, ngay cả tôn giáo cũng có tòa án. Đó là cơ quan phân xử những gì liên quan pháp luật.
Nhân chi sơ tính bổn thiện. Con người tốt thì không cần pháp luật. Nhưng theo thời gian, con người bị thoái hóa hoặc “biến chất”, thế nên mới có pháp luật, nghĩa là luật có sau. Do đó, luật vị nhân sinh, nhằm bảo vệ con người, không nên câu nệ mà vụ luật. Bất cứ luật nào của con người cũng bất toàn, thế nên có những sửa đổi cho phù hợp thực tế. Chỉ có Thánh Luật của Thiên Chúa là bất biến.
Có các cấp tòa án, nhưng tòa án quan trọng nhất vẫn là Tòa Án Lương Tâm. Nhà vật lý Albert Einstein ( 1879-1955, người Đức, đoạt giải Nobel Vật Lý năm 1921 ), nói: “Đừng làm gì trái với lương tâm, ngay cả khi chính quyền yêu cầu bạn”. Nhà cải cách tôn giáo Martin Luther ( 1483-1546, người Đức, tu sĩ Dòng Augustinô ) nói: “Người ta không chỉ phải chịu trách nhiệm với những gì mình nói, mà cả những gì mình không nói”. Điều “không nói” đó liên quan lương tâm, chỉ mình biết chứ không ai biết.
Đề cập luật pháp, ông Mahatma Gandhi ( 1869-1948 ), chính trị gia và lãnh đạo tinh thần dân Ấn Độ, xác nhận: “Luật lệ không công bằng tự nó đã là một dạng bạo lực”. Còn ông Benjamin Franklin ( 1706-1790, chính trị gia, khoa học gia, triết gia, tác giả, nhà phát minh, nhà hoạt động xã hội, nhà ngoại giao, và là một trong những người lập quốc của Hoa Kỳ ), phân tích: “Luật pháp nghiêm khắc nhất đôi khi là sự bất công trầm trọng nhất”. Tất cả chỉ là tương đối – tương đối tuyệt đối, và tuyệt đối tương đối.
Trình thuật Xh 17, 8-13 cho biết cuộc giao chiến giữa dân Israel với người Amalếch, và có liên quan việc cầu nguyện. Khi quân Amalếch đến đánh Israel tại Rơphiđim, ông Môsê bảo ông Giôsuê chọn một số người đi đánh. Còn ông Môsê sẽ đứng trên đỉnh đồi, tay cầm cây gậy của Thiên Chúa.
Ông Giôsuê đã giao chiến với Amalếch, còn các ông Môsê, Aharon và Khua lên đỉnh đồi. Kinh Thánh cho biết điều thú vị này: khi nào ông Môsê giơ tay lên thì dân Israel thắng thế; còn khi ông hạ tay xuống thì quân Amalếch thắng thế. Ông Môsê mỏi tay, người ta lấy một hòn đá kê cho ông ngồi, còn ông Aharon và ông Khua thì đỡ tay ông, mỗi người một bên. Và điều kỳ diệu đã xảy ra: ông Giôsuê dùng lưỡi gươm đánh bại Amalếch và dân của ông ta.
Đoạn Kinh Thánh ngắn gọn này cho chúng ta biết lý do Giáo Hội vẫn dang tay khi cầu nguyện ( xem thêm: 2 Mcb 14, 34, 2 Mcb 15, 12, 2 Mcb 15, 21, Tv 68, 32, G 11, 13-15 ). Cầu nguyện không chỉ là việc cần thiết mà còn là hơi thở đối với các Kitô hữu. Thật vậy, Tiến sĩ Thomas Aquinas ( 1225-1274 ) xác định: “Chúng ta cầu xin Chúa, không phải để Ngài biết nhu cầu và ước muốn của chúng ta, mà để chúng ta biết cần phải đến với Chúa để xin ơn phù trợ. Ai không cầu nguyện thì giống như người lính ra trận không có vũ khí”. Đặc biệt là chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta cách cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha ( x. Mt 6, 9-13; Lc 11, 2-4 ).
Thiên Chúa hết mực yêu thương và bảo vệ chúng ta, không có Ngài thì chắc chắn chúng ta không thể sống an toàn. Tác giả Thánh Vịnh tự vấn và trả lời: “Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao ? Ơn phù hộ tôi đến từ Đức Chúa là Đấng dựng nên cả đất trời” ( Tv 121, 1-2 ). Ngài là Đấng duy nhất ( Đnl 6, 4; Nkm 9, 6; Es 4, 17; Xh 20, 3; Đnl 5, 7; Đnl 32, 39; Gđt 8, 20; Kn 12, 13; Is 43, 10; Is 45, 6; Is 46, 9; Đn 3, 28-29; Đn 14, 41; Hs 13, 4 ), không có bất cứ một thần linh nào khác. Ngài biết chúng ta là những kẻ lẻo mép, hứa lèo, nhưng lòng thương xót của Ngài vẫn không hề suy giảm. Tác giả Thánh Vịnh thân thưa: “Xin Đấng gìn giữ bạn đừng để bạn lỡ chân trật bước, xin Người chớ ngủ quên. Đấng gìn giữ Ítraen, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành ! Chính Chúa là Đấng canh giữ bạn, chính Chúa là Đấng vẫn chở che, Người luôn luôn ở gần kề” ( Tv 121, 3-5 ).
Thiên Chúa quan tâm chăm sóc và cụ thể bằng cách trao ban cho mỗi người ( kể cả người vô thần ) có một thiên thần bản mệnh luôn cận kề, mọi nơi và mọi lúc: “Ngày sáu khắc, vầng ô không tác hoạ, đêm năm canh, vành nguyệt chẳng hại chi. Chúa giữ gìn bạn khỏi mọi điều bất hạnh, giữ gìn cho sinh mệnh an toàn. Chúa giữ gìn bạn lúc ra vào lui tới, từ giờ đây cho đến mãi muôn đời” ( Tv 121, 6-8 ). Chúng ta không thể mô tả niềm hạnh phúc này !
Vô tri bất mộ. Biết rồi thì không thể không tin. Thánh Phaolô đã nói với Thánh Timôthê về sự hiểu biết và đức tin: “Phần anh, hãy giữ vững những gì anh đã HỌC được và đã TIN chắc. Anh biết anh đã học với những ai. Và từ thời thơ ấu, anh đã biết Sách Thánh, sách có thể dạy anh nên người khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ lòng tin vào Đức Kitô Giêsu” ( 2Tm 3, 14-15 ). Nhận thức dẫn tới đức tin, đức tin dẫn tới sự sống đời đời. Một hệ lụy tuyệt vời !
Căn nguyên sự hiểu biết về đức tin nhờ đâu ? Từ Kinh Thánh. Dù người ta tìm mọi cách bách hại Kitô giáo, nhưng không thể vẫn không ngừng phát triển. Từ cổ chí kim, Kinh Thánh là cuốn sách luôn được xử dụng nhiều nhất trên thế giới. “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô” ( Thánh Giêrônimô, 347-420 ), vì Kinh Thánh là chính Ngài, tác giả là chính Ngài chứ không là ai khác: “Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính. Nhờ vậy, người của Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành” ( 2Tm 3, 16-17 ).
Không chỉ vậy, Thánh Phaolô còn thiết tha khuyên nhủ Thánh Timôthê: “Trước mặt Thiên Chúa và Đức Kitô Giêsu, Đấng sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết, Đấng sẽ xuất hiện và nắm vương quyền, tôi tha thiết khuyên anh: hãy rao giảng Lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” ( 2Tm 4, 1-2 ). Và đó cũng là lời khuyên dành cho mỗi chúng ta vậy, ngay hôm nay và bây giờ.
Trình thuật Lc 18, 1-8 nói về dụ ngôn “quan toà bất chính và bà goá quấy rầy”. Chúa Giêsu kể dụ ngôn này để dạy các ông chúng ta phải cầu nguyện luôn, cầu nguyện liên lỉ, kiên nhẫn cầu nguyện chứ không được nản chí.
Ngài nói về một ông quan toà không kính sợ Thiên Chúa, cũng chẳng coi ai ra gì. Ông có “quyền” nên không sợ ai, và ông ta có thể “hành” bất cứ ai. Trong thành đó cũng có một bà goá, bà này đã nhiều lần đến xin ông thương hại mà minh xét cho bà. Ông ta không chịu, nhưng cuối cùng cũng phải xử cho bà vì bà goá này cứ quấy rầy mãi. Ông ta xử không vì tội nghiệp bà ta, mà vì sợ nhức đầu nhức óc, tức là chỉ vì ích kỷ. Ông ta miễn cưỡng xét xử để bà góa kia không đến làm phiền nữa.
Rồi Chúa Giêsu đặt vấn đề: “Chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao ? Lẽ nào Ngài bắt họ chờ đợi mãi ?” Cuối cùng, Chúa Giêsu kết luận: “Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?” Câu hỏi này khiến chúng ta phải đau đầu vì thật khó trả lời. Mỗi người phải tự “liệu hồn” đấy ! Nhưng hãy ghi nhớ điều này: Thiên Chúa rất muốn chúng ta “quấy rầy” Ngài bằng lời cầu nguyện.
Tại Indonesia, có một câu chuyện thật liên quan tòa án. Câu chuyện “Phiên tòa Lương tâm và Công lý” như sau:
Tại phòng xử án, thẩm phán trầm ngâm suy nghĩ trước lời cáo buộc của các công tố viên đối với một cụ bà phạm tội ăn cắp khoai mì ( sắn ). Bà bị buộc phải bồi thường 1 triệu Rupiah. Lời bào chữa của bà về lý do ăn cắp: Gia đình bà rất nghèo, đứa con trai bị bệnh, đứa cháu suy dinh dưỡng vì đói khát. Nhưng ông chủ quản lý khu vườn trồng khoai mì nói rằng bà ta phải bị xử nghiêm minh như những người khác.
Thẩm phán thở dài: “Xin lỗi, thưa bà...” Ông ngưng giây lát, nhìn bà cụ đói khổ, rồi nói: “Nhưng pháp luật là pháp luật, tôi là người đại diện của Pháp luật nên phải xử nghiêm minh. Nay tôi tuyên phạt bà bồi thường 1 triệu Rupiah cho chủ vườn. Nếu bà không có tiền bồi thường, bà buộc phải ngồi tù 2 năm rưỡi”.
Bà cụ run run, rướm nước mắt, bà đi tù rồi thì con cháu ở nhà ai chăm lo ? Ông thẩm phán nói tiếp: “Nhưng tôi cũng là người đại diện của công lý. Tôi tuyên bố phạt tất cả những công dân nào có mặt trong phiên toà, kể cả tôi, này 50.000 Rupiah vì sống trong một thành phố văn minh, giàu có này mà lại để cho một cụ bà ăn cắp vì cháu mình bị đói và bệnh tật”. Nói xong, ông lấy tiền bỏ vào mũ của mình rồi đưa cho cô thư ký và nói: “Cô hãy đưa chiếc mũ này truyền đi khắp phòng, và tiền thu được thì cô hãy đưa cho bị cáo”.
Cuối cùng, bà cụ đã nhận được 3, 5 triệu Rupiah tiền quyên góp, trong đó có cả 50.000 Rupiah từ cả vị thẩm phán và các công tố viên buộc tội bà, một số nhà hảo tâm khác còn trả giúp 1 triệu Rupiah tiền bồi thường, bà lão run run vì vô cùng vui sướng. Thẩm phán gõ búa kết thúc phiên toà. Tất cả mọi người đều mãn nguyện và hạnh phúc.
Đây là một phiên tòa xử NGHIÊM MINH nhất và thật CẢM ĐỘNG, vì tất cả chúng ta đều PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM với cuộc sống xung quanh chúng ta. Vị thẩm phán đã không chỉ dùng LUẬT PHÁP mà còn dùng cả TRÁI TIM để phân xử. Tại Việt Nam cũng đã có những trường hợp tương tự, nhưng lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng. Tội nặng mà “thân thiết” thì được giảm án, hưởng án treo, miễn trừ, hoặc cho “chìm xuồng”; tội nhẹ mà không “quen biết” thì phải vô tù. Thẩm phán mà còn nhận hối lộ của người giàu để “chạy án” thì còn gì là công lý ? Thật tồi tệ !
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con can đảm bảo vệ công lý và chân lý dù bị người ta ghét, xin giúp con duy trì tòa án lương tâm luôn đúng đắn, đừng bao giờ lệch lạc mà đối xử kẻ trọng, người khinh. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Ghi chú:
Kinh Thánh là sách được in đầu tiên trên thế giới, ước tính đã có hơn 3 tỷ cuốn Kinh Thánh được in ra, được dịch ra 2.800 ngôn ngữ, mỗi phút có 50 cuốn Kinh Thánh được bán, mỗi năm có khoảng 100 triệu cuốn được bán; Kinh Thánh gồm 73 cuốn ( 46 cuốn Cựu Ước, 27 cuốn Tân Ước ), được viết bởi 40 tác giả, trải qua 1.600 năm. Theo thống kê, trong Kinh Thánh có 6.468 huấn lệnh, 1.260 lời hứa, 3.294 câu hỏi, 3.268 lời tiên tri; trong Kinh Thánh có tên dài nhất là Mahershalalhashabaz ( Mahe Salan Khát Bát – Is 8, 1 và 3 ); sách có nhiều chương nhất là cuốn Thánh Vịnh ( 150 chương ), sách có ít chương nhất của Cựu Ước là sách Ôviđia ( 21 câu ), sách ngắn nhất của Tân Ước là Thư thứ III của Thánh Gioan ( 15 câu ); câu dài nhất là Er 8, 9, câu ngắn nhất là Ga 11, 35.
Cựu Ước gồm tất cả 46 quyển, xếp theo 4 loại:
- 5 cuốn Luật Môsê ( Ngũ Kinh ): Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số, Ðệ Nhị Luật;
- 16 cuốn Lịch Sử: Giôsuê, Thủ Lãnh ( Thẩm Phán ), Rút, 2 sách Samuen, 2 sách các Vua, 2 sách Sử Biên niên, Étra, Nơkhemia, Tôbia, Giuđitha, Étte, 2 sách Macabê;
- 7 cuốn Khôn Ngoan: Gióp, Thánh vịnh, Châm Ngôn, Giảng Viên, Diễm Ca, Khôn Ngoan, Huấn Ca;
- 18 cuốn Ngôn Sứ: Isaia, Giêrêmia, Ai Ca, Barúc, Êdêkien, Ðanien, Hôsê, Gioen, Amốt, Ôvađia, Giona, Mikha, Nakhum, Khabacúc, Xôphônia, Khácgai, Dacaria, Malakhi.
Tân Ước gồm 27 cuốn: 4 cuốn Tin Mừng ( Phúc Âm ): do các thánh Mátthêu, Máccô, Luca và thánh Gioan ghi chép; một sách Công Vụ Tông Ðồ; 13 thư của thánh Phaolô gởi cho các giáo đoàn tại Rôma, Côrintô ( 2 ), Galát, Êphêxô, Philípphê, Côlôxê, Thêxalônica ( 2 ), cho ông Timôthê ( 2 ), ông Titô, ông Philêmôn; thư gởi tín hữu Do Thái; 7 thư của các thánh Giacôbê, Phêrô ( 2 ), Gioan ( 3 ), Giuđa; và một sách Khải Huyền.
Kinh Thánh là cuốn truyện tình hay nhất, nói về tình yêu giữa Thiên Chúa và loài người, vẫn luôn phù hợp với mọi thời đại, có sức thuyết phục mạnh mẽ; Kinh Thánh có giá mắc nhất vì là giá máu của Đức Giêsu Kitô, và Kinh Thánh bảo đảm sự sống đời đời.
Theo Anh ngữ, chữ Bible ( Kinh Thánh ) gồm 5 mẫu tự, tạo thành 5 từ: BASIC ( cơ bản ), INFORMATION ( thông tin ), BEFORE ( trước khi ), LEAVING ( leave, rời khỏi ), EARTH ( trái đất, thế gian ). Ghép lại thành câu: Basic Information Information Before Leaving Earth – Thông Tin Cơ Bản Trước Khi Rời Khỏi Thế Gian. Thật thú vị biết bao !

 

TN29-C108: CẦU NGUYỆN CHUYÊN NGHIỆP

Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận thuật trong chứng từ: “Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là TN29-C108

Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận thuật trong chứng từ: “Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là một người cầu nguyện, cầu nguyện không ngừng và tha thiết. Một ngày ngài vào Nhà Nguyện cầu nguyện đến bảy lần và nhất là cầu nguyện ban đêm. Vì Đức Giáo Hoàng là bạn của tôi. Nên hồi còn làm Linh Mục, Giám Mục, rồi Hồng Y, mỗi khi đến Roma thì ngài đến trọ ở nhà tôi. Nhưng có nhiều lần tôi gặp ngài ban đêm và thấy ngài cứ nằm sấp, hai tay giang ra như hình Thánh Giá như vậy, nằm trên sàn đá ở Nhà Nguyện. Tôi sợ ngài đau, hoặc bị cảm, sưng phổi, nên tôi phải làm cái nền Nhà Nguyện bằng gỗ cho ngài nằm !” Đức Hồng Y Thuận nhận xét: “Đức Giáo Hoàng cầu nguyện luôn như vậy, cầu nguyện nhiều lắm, hoàn toàn tín thác, tin tưởng nơi Đức Mẹ. Vì thế, ngài không tiếc gì và không sợ gì, dám làm những chuyện mà người khác không dám làm.”
Đức Hồng Y Fx. Thuận kể thêm: “Có lần tôi đi qua bên Mêhicô năm 1999. Đức Thánh Cha tới trước. Ngài đến để công bố Tông Huấn “Giáo Hội tại Mỹ Châu” ( Ecclesia in America ) và ngày cuối cùng, 26.1.1999, Đức Thánh Cha có cuộc gặp gỡ giới trẻ ở sân vận động. Gặp xong, khi về nhà, Đức Thánh Cha nói với Đức Sứ Thần Tòa Thánh: “Mệt quá hè ! Thôi đi ngủ !” Chính Đức Sứ Thần Tòa Thánh về sau thuật lại với tôi: “Lúc ấy tôi mệt quá sức, nên khi nghe Đức Thánh Cha nói: “Thôi đi ngủ !” Tôi mừng quá, vì tôi mệt rã người ra rồi... Tôi thì sợ không biết Đức Thánh Cha có thức dậy nổi không, nhưng ngài lại dặn dò tôi: “Sáng mai, nếu Đức Cha muốn đồng tế với tôi thì vào Nhà Nguyện, chúng ta đồng tế với nhau.”
Đức Sứ Thần kể tiếp với tôi: Tôi về phòng, ngủ một giấc, ngủ say, sáng hôm sau, thức rồi mà chưa muốn dậy nữa ! Nhưng tôi phải lo, trước 8 giờ, tôi chạy tới phòng Đức Thánh Cha, thấy anh sĩ quan vệ binh Thụy Sĩ gác ở đó, tôi hỏi: Anh có thấy Đức Thánh Cha chưa ? – Dạ có ! – Anh thấy lúc nào ? – Thưa con thấy Đức Giáo Hoàng lúc 12 giờ đêm... Tôi ngạc nhiên quá hỏi tiếp: Vậy ngài đi đâu ? – Thưa đi Nhà Thờ ? Tôi kinh ngạc hỏi lại: Ngài đi Nhà Thờ lúc 12 giờ đêm ? – Dạ đúng, ngài đi lúc 12 giờ đêm. – Vậy ngài có về phòng không ? – Dạ không ! Ngài có dặn con rằng: Sáng mai, nếu Đức Sứ Thần Tòa Thánh đến tìm cha, thì nói ngài vô Nhà Thờ, cha đợi ngài đồng tế ! Đức Sứ Thần Tòa Thánh nói với Đức Hồng Y Thuận: Mình mệt như vậy, mà Đức Giáo Hoàng thì thức cả đêm ! Lại vào Nhà Thờ ở với Chúa cả đêm. Và Đức Hồng Y Thuận kết luận: Đối với Đức Thánh Cha, cầu nguyện như thế là chuyện bình thường… ( Chứng từ của Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận ).
Tin Mừng theo Thánh Luca hôm nay, “Đức Giêsu phán cùng các môn đệ một dụ ngôn, dạy các ông phải cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng.” Cần kiên nhẫn cầu nguyện, tận tình như bà goá nọ, cứ mãi nài van ông thẩm phán thiếu lòng thương xót, minh oan cho bà. Tuy Thiên Chúa luôn tràn đầy Lòng Thương Xót, nhưng tín hữu cầu nguyện cần đúng đắn nhận thức thân phận thụ tạo, tự hạ, luôn bền chí, chuyên tâm, kiên cường, trong Tin Cậy Mến.
Thành tín cầu nguyện
Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thường sấp mình cầu nguyện là tấm gương hạ mình sáng chói cho tất cả Kitô hữu noi theo. Tự hạ với lòng tin chân thành, nồng nhiệt, lời cầu nguyện mới xứng đáng dâng lên Thiên Chúa, chứ không phải chỉ khuya môi múa mép, hay tuân thủ nghi thức bên ngoài. Nếu không, thì thật đáng buồn, khiến Đức Giêsu lại phải trách: “Ngôn Sứ Isaia thật đã nói rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” ( Mc 7, 6 ).
Thành tín là chìa khoá mở vào phòng cầu nguyện, là điều kiện tiên quyết để dâng lên Chúa tất cả tâm tình biết ơn, cảm tạ, chúc tụng, ngợi khen biết bao hồng ân Chúa, ban tặng cho tất cả mọi loài thụ tạo trong từng giây phút cuộc đời.Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà xin khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được ( Mt 21, 22 ).
Thánh Giacôbê Tông Đồ luôn khuyên nhủ tín hữu xác tín mà cầu nguyện: “Nhưng người ấy phải cầu xin với lòng tin không chút do dự, vì kẻ do dự thì giống như sóng biển bị gió đẩy lên vật xuống” ( Gc 1, 6 ). 
Kính mến cầu nguyện
“Thiên Chúa là Tình Yêu” ( 1Ga 4, 6 và 16 ), nên cầu nguyện còn là cuộc gặp gỡ nóng bỏng lòng mến của người con với Cha nhân từ. Ngài không bao giờ từ chối điều gì có lợi ích cho phần rỗi con cái. "Người cha nào trong các con có đứa con xin bánh mà lại cho nó hòn đá ư ? Hay nó xin cá, lại cho nó con rắn thay vì cá sao ? Hay nó xin quả trứng, lại cho nó con bọ cạp ư ? Vậy, nếu các con là những kẻ gian ác, còn biết cho con cái mình những của tốt, phương chi Cha các con trên trời sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người."( Lc 11, 11-13 ).
Kính mến Chúa qua việc lắng nghe, vâng phục tuân giữ Lời Chúa thực thi Thánh Ý. “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. ( Ga 14, 23 ) Lời Đức Giêsu hằng mời gọi luôn tỉnh thức và cầu nguyên, hầu được cứu rỗi. “Hãy tỉnh thức luôn, cầu nguyện xin cho sức tránh thoát mọi điều sắp xảy đến, và được đứng vững trước mặt Con người". ( Lc 21, 36 ).
Trông cậy cầu nguyện
Cứ bền tâm vững chí, hoàn toàn phó thác, cậy trông vào quyền năng vô biên của Chúa, người Kitô hữu sẽ không phải chịu thất vọng, không bao giờ về tay trắng. Cứ kiên trì vững cậy."Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho. ( Lc 11, 9-10 ).
Đức Giêsu đã công khai hứa ban cho những ai nhân danh Người mà kêu xin, thì Người sẽ ban cho để Danh Chúa được cả sáng: “Bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con. Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó.” ( Ga 14, 13-14 ).
Dẫu chịu khốn khó, thử thách liên tục, vẫn cứ mãi kiên trì cầu nguyện trong mọi hoàn cảnh, như thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Roma hãy trung kiên: “Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện” ( Rm 12, 12 ).
“Chúa dạy đọc kinh để giúp con cầu nguyện, nhưng việc chính là gặp gỡ, nói chuyện giữa Cha và con: "Khi con cầu nguyện, đừng lo phải nói gì ! Hãy vào phòng đóng cửa, cầu nguyện với Cha của con cách kín đáo, và Cha con thấy mọi sự, sẽ nghe lời con." Không cần hình thức, chỉ cần tâm tình phụ tử” ( Đường Hy Vọng, số 127 ).
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con lửa mến nồng nhiệt, niềm tin chân thành, lòng cậy vững bền, để chứng con luôn khao khát tìm đến với Chúa tâm sự, qua cầu nguyện liên lỉ suốt đời.
Khấn xin Mẹ dạy chúng con siêng năng cầu nguyện, để chúng con biết lắng nghe Lời Chúa, quyết tâm thực hành Thánh Ý, cũng như dâng lên Chúa tất cả niềm vui, nỗi buồn, thành công, lẫn thất bại, để được Chúa yêu thương an ủi, che chở và cứu độ. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN29-C109: HÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN – NĂM C

Xh 17,8-13; Tm 3,14-4,2; Lc 18,1-8
Thẩm Phán Bạo Ngược và Bà Goá Quấy Rầy
“Phải cầu nguyện luôn không được nản chí”
(Lc 18,1)
Dẫn vào Phụng Vụ Thánh Lễ
 

Qua các bài đọc sách Thánh của Thánh Lễ Chúa Nhật hôm nay, Mẹ Giáo Hội mời gọi con cái mình hãy TN29-C109 MỹTho

Qua các bài đọc sách Thánh của Thánh Lễ Chúa Nhật hôm nay, Mẹ Giáo Hội mời gọi con cái mình hãy biết tạo ra Sa Mạc trong tâm hồn để đi vào đó gặp gỡ Thiên Chúa. Bởi vì đời sống Kitô hữu cần thiết phải là đời sống đức tin được nâng đỡ bằng cầu nguyện. Vì thế phải kiên tâm cầu nguyện không được nản chí” đó chính là sứ điệp của Lời Chúa trong Thánh Lễ hôm nay.
Câu chuyện Môsê cầu nguyện trên núi, dụ ngôn bà goá van xin thẩm phán mời gọi chúng ta dựa vào Lời Chúa hôm nay để đón nhận giáo huấn của Chúa về việc cầu nguyện: Vì sao phải cầu nguyện, phải cầu nguyện như thế nào để lời cầu xin được hiệu nghiệm trong đời sống đức tin của người Kitô hữu?
I. Sự hiệu lực của lời cầu nguyện kiên trì trước tôn nhan Thiên Chúa
Trước đây với dụ ngôn Người Bạn Quấy rầy, Đức Giêsu dạy các môn đệ hai điều kiện để lời cầu xin được hiệu nghiệm là kiên nhẫn và tin tưởng khi Ngài nhắn nhủ: Hãy xin thì sẽ được.
Trong bài đọc 1 trích sách Xuất Hành (Xh 17,8-13), tường thuật hình ảnh Môsê được chọn làm trung gian giữa Thiên Chúa và dân Israel. Môsê luôn sống trong tình thân với Thiên Chúa và ông hằng chuyển cầu cho dân. Từ khi ra khỏi Ai Cập, việc đối đầu với quân Amalêch là cuộc chiến đầu tiên của dân Israel. Tin vào sức mạnh và sự bênh đỡ của Đức Chúa cho dân Ngài tuyển chọn, Môsê đã kiên trì giơ tay cầm cây gậy của Thiên Chúa cầu nguyện mãi cho đến khi mặt trời lặn”. Và cuộc chiến đã thành công, nhưng không phải bởi chiến lược và binh đao vũ khí cho bằng sức mạnh của lòng tinviệc kiên trì cầu nguyện của Môsê.
Cũng như gương cầu nguyện của Môsê, để khích lệ và an ủi các môn đệ, Đức Giêsu dạy các ông kiên trì cầu nguyện như sự quấy rầy của bà goá kia được trình thuật trong Tin Mừng Luca (Lc 18,1-8) hôm nay. Chúa Giêsu đã phác họa câu chuyện thường xảy ra tại Palestina, với hai nhân vật:Một vị quan tòa và bà goá nghèo hèn.
Ông quan toà này chẳng kính sợ Thiên Chúa,mà cũng chẳng coi ai ra gì”. Đây là vị thẩm phán ngồi trên tòa án, không phải để xét xử theo công lý mà theo túi tiền tạ lễ. Các vị này nổi tiếng là tham ô, trừ khi bị cáo có thể lực và tiền bạc đút lót cho vụ kiện đi đến kết thúc, còn người ta không hy vọng gì được quan tòa xét xử cho.
Đối diện với ông là một bà góa, là biểu tượng của những người nghèo không có tiền của, bị những người giàu quyền thế bóc lột… Một người đàn bà cô thế cô thân không có chỗ dựa về pháp lý nên bà ta chẳng hy vọng gì được xét xử theo lẽ công bình bởi một quan tòa như vậy. Bà chỉ có khí giới của sự kiên trì” để nài xin quan tòa bênh vực cho quyền lợi của bà mà thôi. Mà bởi vì bà ta cứ đến thưa nhiều lần, nên ông đã đành xử cho bà cho xong để được yên thân không bị quấy nhiễu nữa.
II. Thiên Chúa là Thẩm Phán Bao Dung Nhân Ái
Qua dụ ngôn, chúng ta không thể ví sánh lối đối xử của ông thẩm phán bất chính với hành động yêu thương bao dung nhân ái của Thiên Chúa, - vì dụ ngôn chỉ là thể văn gợi ý. Nếu vị thẩm phán bạo ngược như dụ ngôn mô tả đã phải minh xử cho bà goá nọ vì bà cứ đến quấy rầy mãi, với ý đồ là để cầu an, để có thể tống khứ một người cứ đến“quấy nhiễuhoài, thì huống chi là Thiên Chúa tốt lành. Ngài vốn nhạy cảm với những lời cầu nguyện của người nghèo sẽ làm nhiều hơn thế nữa! Ngài sẽ mau chóng thực hiện công bằng, trả lại công lý và ban ơn dồi dào cho những kẻ Người đã tuyển chọn và yêu thương, vì những người ấy hằng kêu xin Ngài đêm ngày một cách kiên trì.
Tuy nhiên có nhiều kẻ không kiên trì nên đã mất lòng tin. Đó là ý nghĩa câu cuối cùng của dụ ngôn: Nhưng khi Con Người ngự đến liệu Người có còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”
Câu hỏi đó chính là lời cảnh báo quan trọng về hiểm hoạ tinh thần thế tục và vô tín sẽ thịnh hành trong thế giới lúc Ngài trở lại. Đó là những thử thách mà các Tông Đồ và các tín hữu sẽ gặp phải và đối diện. Từ đó Ngài dạy các môn đệ hãy kiên nhẫn và hướng lòng về Ngài trong cầu nguyện để được phù hộ và đứng vững trong niềm tin.
Vì thế, trước khi nói đến Thiên Chúa là thẩm phán, chúng ta nhớ Thiên Chúa là Tình Yêu. Thiên Chúa là người Cha có trái tim yêu thương của người mẹ hiền. Chắc chắn Thiên Chúa luôn đoái nhìn đến những thử thách và khó khăn của con cái loài người với ánh mắt nhân từ, và Ngài sẽ lo lắng ban cho con cái Ngài những điều thiện hảo với tất cả quyền năng của Ngài.
III. Sự cần thiết của cầu nguyện trong đời sống Kitô hữu
Chúng ta phải cầu nguyện vì chúng ta là Kitô hữu. Cầu nguyện có thể được coi là hơi thở của người tín hữu, do đó phải cầu nguyện liên lỉ và bền lòng vì mục đích tối hậu của sự cầu nguyện là kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Trong cầu nguyện và nhờ cầu nguyện, con người gặp gỡ Thiên Chúa, được nối kết và gắn bó mật thiết với Ngài, như thể cuộc gặp gỡ mà những người yêu thương hò hẹn nhau để nuôi dưỡng tình yêu. Vì thế, cầu nguyện là phương thế mang lại sức mạnh cho đời sống đức tin. Thánh Âu Tinh đã nói: Chúng ta tin để cầu nguyện, và để niềm tin và với niềm tin đó chúng ta cầu nguyện khỏi chao đảo. Niềm tin làm phát sinh cầu nguyện, và cầu nguyện một khi đã phát sinh sẽ đem lại chắc chắn trong niềm tin. Thế nên, người Kitô hữu cũng phải biết kiên tâm cầu nguyện cho lòng tin của mình. Chính trong cầu nguyện mà lòng tin được nuôi dưỡng, nhất là trong bối cảnh thế giới hôm nay, để mọi người tin vào Thiên Chúa, là Đấng đem lại hoà bình và công lý thật sự cho thế gian nhân ngày Khánh Nhật Truyền Giáo. Do đó, không cầu nguyện thì không còn là Kitô hữu nữa. Chính các bản văn Lời Chúa hôm nay đã nêu bật sức mạnh và vai trò quan trọng của việc cầu nguyện trong đời sống đức tin của người Kitô hữu.
Tuy nhiên, có những lúc chúng ta rơi vào tình trạng khủng hoảng niềm tin: Nghi ngờ tình yêu của Chúa, chán nản không muốn cầu nguyện. Qua dụ ngôn: Quan tòa bất chính và bà goá quấy rầy, Chúa Giêsu muốn chúng ta kiên tâm cầu nguyện, vì Ngài muốn chúng ta ý thức sâu xa về thân phận yếu hèn và bất lực của mình trước những nhu cầu và khát vọng của đời sống. Thánh Tông Đồ Phaolô đã rất ý thức về chân lý này, một chân lý đã thành như một định luật thường hằng trong lịch sử cứu độ (2Cr 4,7). Trước nhan Thiên Chúa chúng ta trắng tay, thân phận chúng ta cũng nghèo hèn cũng như bà goá nọ. Dù có làm được gì, chúng ta vẫn chỉ là những thụ tạo giới hạn chỉ đang dựa cậy vào quyền năng của Chúa để hoạt động.
Khi nhận thức được như thế, chúng ta phải cầu nguyện luôn, và chỉ có Chúa mới giúp chúng ta được, cũng như bà goá đến nài xin quan toà, vì chỉ có ông mới minh xử cho bà ấy được. Chúng ta phải cầu nguyện kiên vững với tâm tình phó thác, nương tựa vào Chúa, tin cậy nơi Ngài. Nếu Thiên Chúa khoan dãn ban ơn cứu giúp là để tôi luyện đức tin của chúng ta thêm vững mạnh, đồng thời cũng là cơ hội để ta tỏ bày lòng tin cậy kính mến Chúa nhiều hơn.
Với thời gian cuối năm phụng vụ khi chúng ta đang đưa mắt nhìn về biến cố cánh chung, trong lòng chúng ta rất có thể đang dâng lên nỗi băn khoăn, xao xuyến, ngờ vực, nay được nghe giáo huấn của Tin Mừng hẳn chúng ta cảm thấy được an ủi và khích lệ để sống tương quan nghĩa thiết sâu xa với Chúa qua Hội Thánh, tham dự Thánh Lễ, siêng năng lãnh nhận bí tích hoà giải, suy niệm và chiêm ngắm tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô con yêu dấu của Chúa Cha.
Nguyện xin Chúa củng cố chúng con trong đời sống và tâm tình cầu nguyện, để cho chúng con biết cầu xin những gì đẹp lòng Chúa, và phó thác tất cả cho tình yêu quan phòng của Chúa. Amen
Lm Giuse Phạm Thanh Minh
Gp. Mỹ Tho

 

TN29-C110: Chúa Giêsu dạy các môn đệ cầu nguyện

Chúa Nhật 29 thường niên năm C
Lời Chúa: Lc 18,1-8
 

 Chúa Giêsu dạy các môn đệ của Ngài cầu nguyện. Đây không phải là lần thứ nhất. Các môn đệ cũng TN29-C110

Chúa Giêsu dạy các môn đệ của Ngài cầu nguyện. Đây không phải là lần thứ nhất. Các môn đệ cũng xin Ngài dạy họ cầu nguyện và Ngài đã bảo: Khi cầu nguyện, anh em hãy nói: “Lạy Cha chúng con trên trời…” Hôm nay, thánh Luca nói: Ngài dạy các ông cầu nguyện luôn, không được nản chí” và dạy họ bằng dụ ngôn bà góa với ông quan tòa bất chính.
Đọc dụ ngôn này, chúng ta nhớ một dụ ngôn khác tương tự, là dụ ngôn người bạn quấy rầy trong đêm. Hai dụ ngôn có cùng một nội dung là phải bền chí cầu nguyện không nản lòng. Bền chí cầu nguyện sẽ được toại nguyện. Thường chúng ta vẫn tin vào Chúa, biết Chúa thương mình và cầu mong Chúa giúp chúng ta, nhưng chúng ta thường quên rằng Chúa là Cha, chúng ta chỉ là con cái. Chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa chứ không là đứa con cưng đòi gì được nấy. Chúng ta thường tưởng rằng hễ xin là phải được. Chính Chúa đã nói như thế: Hãy xin thì sẽ được, hãy gõ thì sẽ mở cho”. Và đúng thế, xin thì sẽ được vì Chúa không bao giờ để chúng ta cầu xin vô ích. Nhưng được gì? Đó là điều chúng ta cần hiểu. Chúng ta cứ tưởng rằng chúng ta chỉ cầu xin những gì có ích lợi nhưng chúng ta làm sao biết được những gì chúng ta cầu xin có ích lợi hay không. Chính Chúa mới biết được những gì chúng ta cầu xin có lợi hay hại cho chúng ta. Chúng ta chỉ thấy những gì trước mắt mà không thể thấy xa hơn. Hãy xin thì sẽ được. Chúng ta hãy chắc chắn như thế. Chúa không ban cho chúng ta điều chúng ta cầu xin, Ngài sẽ ban cho chúng ta những gì thích hợp mà trong hiện tại chúng ta chưa thấy.

Một người mẹ thấy con mình hư hỏng, cầu xin cho nó ăn năn thống hối. Đó là một lời xin thật tốt đẹp, nhưng sao thấy rằng lời cầu xin như không có hiệu quả. Bà mẹ đó có thể nản lòng, nhưng bà đâu biết rằng Chúa đang chuẩn bị cho con bà những ân huệ quí báu mà bà không thể biết được. Hơn nữa ơn Chúa không phải là bùa phép phải có hiệu quả ngay. Chúa chuẩn bị những điều kiện cần thiết để ơn Chúa có thể sinh kết quả tốt và lâu bền. Chúng ta ai cũng biết gương của bà thánh Mônica. Bà đã cầu nguyện van xin  cho con của bà là Âugutinô suốt mười tám năm, không ngơi nghỉ. Chúa chuẩn bị suốt mười tám năm để Augustinô đủ điều kiện đón nhận ơn Chúa. Và kết quả là Augustinô đã thành một thánh cả.
Chân phước Charles de Foucauld cũng có một người chị họ là cô Marie, đã luôn cầu nguyện cho em mình trong một thời gian dài nhiều năm cho đến lúc Charles đủ can đảm để trở về.
Cầu nguyện là một mầu nhiệm. Cầu nguyện là đi vào chiều sâu của tình yêu Chúa chứ không chỉ là một vài lời cầu xin qua loa. Cầu nguyện là luôn tìm Chúa để hiểu ý định của Chúa trên chúng ta. Thiên Chúa có thì giờ và chúng ta gấp rút. Hãy theo chương trình của Chúa chứ không đòi buộc Chúa theo ý chúng ta. Vì thế mà Chúa bảo chúng ta: Hãy cầu nguyện luôn và đừng nản lòng”.
Trong dụ ngôn bà góa và ông quan tòa, Chúa Giêsu cho thấy: bà góa chỉ là một con người không có vũ khí, cô đơn, và ông quan tòa là một người không cần nghĩ đến ai. Thế nhưng bà góa đã thắng. Bà đã thắng với sự kiên trì của mình. Bà không nản chí. Chúa đã dùng một hình ảnh so sánh rất táo bạo. Chúa cho thấy, một ông quan tòa vô lương tâm mà còn phải chịu thua một bà góa vì ông muốn yên thân. Và vì muốn yên thân ông phải chấp nhận thỏa mãn yêu cầu của một bà góa, yếu đuối không có hậu thuẫn. Chúa dùng một cách so sánh ngược chiều nhưng hợp lý. Ông quan tòa vô lương tâm mà còn có thể lo cho người khác thì Chúa Cha làm sao không lo cho con cái mình! Ngài là một người Cha đầy lòng thương xót và quyền năng thì chắc chắn, Ngài không bỏ rơi con cái của mình. Chúa là Tình Yêu thì chúng ta vẫn có thể tin cậy hoàn toàn vào tình thương của Ngài. Chúa Cha đã ban cho chúng ta chính Người Con Một của Ngài là hồng ân tuyệt đối thì Ngài lại không ban cho chúng ta những hồng ân nhỏ bé khác được sao? Chỉ sợ một điều là chúng ta không dám tin. Hơn nữa Chúa Giêsu cũng bảo chúng ta rằng Chúa Cha biết những điều chúng con cần và Ngài sẽ lo cho chúng ta hơn những gì chúng ta mong đợi. Vì thế hãy bền chí cầu xin.
Có tin tưởng mới có thể bền chí dù phải đợi chờ lâu ngày. Chúa muốn chúng ta tin tuyệt đối vào tình yêu của Ngài, và như thế, chúng ta phải đi qua cơn thử thách của lòng tin.
Lắm lúc chúng ta thất bại vì chúng ta tưởng rằng cố gắng của chúng ta quan trọng hơn, hữu hiệu hơn lời cầu nguyện. Chúng ta nản chí vì khô khan, thất vọng vì thấy Chúa không theo ý mình. Tất cả những điều đó là cám dỗ làm chúng ta nhục chí, không muốn cầu nguyện. Nhưng một yếu tố khác có thể giúp chúng ta bền bĩ đó là cầu nguyện cùng với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Thánh Phaolô dạy chúng ta rằng Chúa Thánh Thần mới giúp chúng ta cầu nguyện vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho đúng và Ngài cầu nguyện trong chúng ta bằng những tiếng rên khôn tả. Chính trong Thánh Thần, chúng ta mới biết mình là con, và lời cầu của chúng ta là những lời của một người con, tin tưởng vào tình thương của Cha trên trời. Hơn nữa chúng ta cầu nguyện nhờ Đức Giêsu Kitô. Giáo Hội dạy chúng ta luôn cầu nguyện nhờ Đức Giêsu Kitô, vì Chúa Giêsu là Đầu của Giáo Hội, chúng ta chỉ là chi thể của Ngài thôi. Lời cầu của chúng ta chỉ đẹp lòng Chúa Cha khi nó được nối kết trong Chúa Kitô.
Khi dạy chúng ta cầu nguyện, chính Chúa là gương mẫu cầu nguyện.
Cầu nguyện chính là hơi thở của Ngài. Ngài luôn kết hiệp với Chúa Cha trong tư cách là con. Ngài là mẫu gương cầu nguyện cho chúng ta. Các thánh sử đã nhiều lần nói đến những lúc cầu nguyện của Chúa Giêsu: Ngài cầu nguyện thâu đêm”. Ngài cầu nguyện trong vườn cây dầu, trên thập giá… Chúng ta hãy nhìn vào Ngài và cầu xin Ngài giúp chúng ta cầu nguyện như Ngài, không phải là thâu đêm, nhưng là trong tình yêu.
Chúa Giêsu kết thúc dụ ngôn bằng một lời khó hiểu: Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất này không?” Nghĩa là còn thấy được tình yêu bền vững của chúng ta không, hay là chúng ta đã chìm trong lãng quên rồi.
Hôm nay, trong hiến tế này, chính Ngài sẽ cầu nguyện cho chúng ta và với chúng ta. Chúng ta sẽ cùng với Ngài nói lên tiếng nói ân tình với Cha: Lạy Cha chúng con trên trời…” Và hơn thế nữa, chúng ta sẽ ăn lấy Ngài để Ngài đến trong chúng ta, để chúng ta sống yêu thương Cha với Ngài, để lời cầu nguyện của chúng ta trở thành lời cầu của Ngài. Hạnh phúc cho chúng ta biết mấy khi chúng ta trở nên một với Ngài và cầu nguyện không những bằng lời nói mà bằng cả cuộc sống của chúng ta. Lời cầu nguyện của chúng ta là tình yêu chứ không là những ước muốn tạm thời. Đó lời cầu liên lỉ mà chúng ta dâng lên Cha hằng ngày.
Lm Trầm Phúc
Gp. Mỹ Tho

 

TN29-C111: Kiên nhẫn trong lời cầu

Qua đoạn tin mừng hôm nay, chúng ta cùng nhau chia sẻ hai điểm, đó là hãy cầu nguyện và cầu nguyện TN29-C111

Qua đoạn tin mừng hôm nay, chúng ta cùng nhau chia sẻ hai điểm, đó là hãy cầu nguyện và cầu nguyện trong kiên nhẫn.
Trước hết là hãy cầu nguyện.
Người xưa có câu:
- Hữu cầu tất hữu ứng.
Câu này thực đúng với lời Chúa Giêsu đã nói:
- Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy và hãy gõ cửa thì sẽ mở cho.
Chỉ cần đọc lại Phúc âm, chúng ta sẽ thấy được sự thật ấy.
Ngày kia, có một viên đội trưởng đến xin Chúa chữa lành cho đứa con đau yếu tại nhà. Chúa bảo:
- Ta sẽ đi chữa nó.
Nhưng viên đội trưởng liền thưa lại:
- Lạy Thầy, con chẳng đáng Thầy ngự vào nhà con, nhưng xin Thầy phán một lời, tức thì đứa nhỏ nhà con sẽ lành mạnh.
Chúa Giêsu đã khen ngợi đức tin của ông và đã chữa lành cho đứa con của ông.
Cũng trong lúc ấy, có một người phong cùi đến quỳ dưới chân Chúa mà van xin:
- Lạy Thầy, nếu Thầy muốn, Thầy có thể làm cho con được sạch.
Và Chúa Giêsu đã nói với anh:
- Ta muốn, con hãy nên lành sạch.
Thái độ dễ dàng của Chúa Giêsu không có chi là khó hiểu vì Ngài là Đấng quyền năng và giàu lòng thương xót.
Thực vậy, là một người giàu có, sẵn tiền trong tay, đồng thời lại là người quảng đại và bác ái, nếu gặp một kẻ nghèo khổ đến xin giúp đỡ, hẳn chúng ta sẽ không ngần ngại bố thí.
Là con người xấu xa, chúng ta còn biết đối xử với nhau như vậy, huống nữa là Thiên Chúa. Ngài vừa giàu về quyền năng, lại vữa giàu về lòng thương xót. Chính Chúa Giêsu cũng đã nói cho chúng ta biết điều ấy:
- Ai trong các ngươi lại cho đá thay vì bánh, cho rắn thay vì cá khi con cái các ngươi van xin. Là những kẻ xấu xa, các ngươi còn biết đem của tốt mà cho con cái, phương chi là Cha các ngươi ở trên trời, là Đấng tốt lành vô cùng.
Và rồi Ngài đã kết luận:
- Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy và hãy gõ cửa thì sẽ mở cho.
Điều cần thiết đó là chúng ta có xin, có tìm và có gõ cửa hay không?
Tuy nhiên, Chúa còn đòi hỏi chúng ta phải kiên nhẫn trong lời cầu của mình.
Thực vậy, người đời thường bảo:
- Ngồi lâu câu bền, năng nhặt chặt bị.
Chính Chúa Giêsu cũng nói:
- Ai bền đỗ đến cùng thì sẽ được cứu rỗi.
Hẵn chúng ta còn nhớ câu chuyện về người đàn bà xứ Canaan. Bà tới xin Chúa Giêsu làm phép lạ cho đứa con gái bị quỉ ám. Lần thứ nhất, Chúa yên lặng. Lần thứ hai, Chúa cũng vẫn yên lặng đến nỗi các môn đệ phải can thiệp:
- Xin Thầy làm phứt đi cho bà kẻ bà cứ lải nhải đi theo chúng ta,
Thế nhưng, Chúa đã đáp lại bằng một câu không ai ngờ tới:
- Đừng lấy bánh của con cái mà ném cho chó.
Dầu vậy, bà vẫn không thất vọng nản chí, bà thưa lên cùng Chúa:
- Ít nữa là chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn rơi xuống.
Và Chúa Giêsu đã khen ngợi sự kiên nhẫn của bà và đã cứu chữa đứa con gái của bà.Thánh nữ Monica cũng đã từng kiên nhẫn cầu nguyện trong nức mắt và khổ đau suốt nhiều năm, cuối cùng Augustinô đã làm lại cuộc đời và trở nên một vị thánh. Hãy cầu xin và cầu xin trong kiên nhẫn, chắc chắn Chúa sẽ nhận lời chúng ta.

 

TN29-C112: Cầu nguyện

(Trích trong ‘Sợi Chỉ Đỏ’)
 

Không ai có thể sống đời Kitô hữu tốt mà không cầu nguyện. Nhưng chúng ta phải hiểu cầu nguyện TN29-C112

Không ai có thể sống đời Kitô hữu tốt mà không cầu nguyện. Nhưng chúng ta phải hiểu cầu nguyện là gì và cầu nguyện thế nào.
Có ba người bị kẹt trong một căn phòng tối tăm và chẳng có cửa gì cả. Họ làm thế nào để thoát khỏi tình trạng bế tắc này?
- Người thứ nhất là một nhà văn. Anh không có đức tin. Anh ngồi đấy và luôn miệng nguyền rủa.
- Người thứ hai là một tín hữu sốt sắng. Anh đã quì gối cầu nguyện rất lâu, sau đó ngồi xuống chờ phép lạ.
- Người thứ ba cũng là một tín hữu làm nghề thợ xây, vừa đạo đức vừa thực tế. Sau khi cầu nguyện, anh lấy từ túi đồ nghề ra một cây búa và một chiếc đục, rồi bắt đầu đục tường. Công việc rất lâu lắc và cực nhọc. Bụi bắn vào mặt anh, vào cả mắt anh. Mồ hôi anh nhễ nhại. Nhưng anh vẫn kiên trì đục. Thỉnh thoảng dừng lại nói “Lạy Chúa, xin cứu giúp chúng con”.
Đang lúc đó người thứ nhất vẫn ngồi ở một góc, vừa hút thuốc vừa nguyền rủa; người thứ hai ở một góc khác tiếp tục cầu nguyện.
Cuối cùng người thứ ba đã mở được một lỗ lớn trong vách tường và cả ba người đã thoát ra khỏi căn phòng.
Trên đây là ba thái độ khác nhau đối với sự cầu nguyện:
- Người thứ nhất coi cầu nguyện là mất giờ. Vì anh không có đức tin nên thái độ của anh cũng hợp lý thôi. Nếu bạn không tin Chúa thì cầu nguyện với Ngài sao được?
- Người thứ hai coi cầu nguyện là một sự thay thế cho làm việc, vì thế sau khi cầu nguyện xong người đó ngồi chờ Chúa giúp. Phải thành thật nhìn nhận rằng chúng ta cũng nhiều lần cầu nguyện cách này, đặc biệt là khi chúng ta cầu nguyện cho người khác. Chỉ là những lời nói, và những lời đó trở thành một cái cớ để ta khỏi làm việc.
- Người thứ ba tin tưởng vào hiệu quả của cầu nguyện, hiệu quả ấy không thay thế làm việc, mà là trợ lực cho làm việc. Cầu xin điều gì thì đồng thời cũng cố gắng làm bất cứ việc gì có thể đạt được điều đó. Sự cầu nguyện này khơi lên niềm hy vọng và khuyến khích lòng can đảm. Nó cũng giúp ta cảm nhận rằng Chúa ở kề bên ta và không bỏ mặc ta trong cảnh khó khăn.

 

TN29-C113: Chúa Giêsu dạy các môn đệ cầu nguyện

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN C
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 18: 1-8)
1 Đức Giê-su kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí.2 Người nói: "Trong thành kia, có một ông quan toà. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì.3 Trong thành đó, cũng có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: "Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho.4 Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng: "Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì,5 nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc." 6 Rồi Chúa nói: "Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó!7 Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi? 8Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng? "

SUY NIỆM

 

Chắc hẳn, chúng ta quá quen với những câu ca dao tục ngữ như: “Có công mài sắt có ngày nên kim TN29-C113

Chắc hẳn, chúng ta quá quen với những câu ca dao tục ngữ như: “Có công mài sắt có ngày nên kim” hay “Nước chảy đá mòn” hoặc là kiến tha lâu đầy tổ. Đây là những kinh nghiệm của người xưa đã truyền lại, để dạy cho hậu thế biết kiên trì, biết nhẫn nại trong mọi công việc.

Với những đoạn sách thánh trong phụng vụ Lời Chúa của Chủ Nhật này càng cho chúng ta thấy rõ hơn bài học quý giá này, nhất là trong đời sống đức tin, một đời sống mà rất cần đến sự kiên trì trong cầu nguyện. Đó chính là điều mà Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta.

Bài đọc I được trích trong sách Xuất hành đã nói đến việc chiến thắng của Dân Do Thái trước quân xâm lăng hùng mạnh. Họ chiến thắng không phải nhờ sức mạnh của vũ khí hay chiến thuật của họ, nhưng là nhờ vào quyền năng của Thiên Chúa qua lời cầu nguyện của Môsê.

Còn đoạn Tin Mừng thì thuật lại dụ ngôn về một tên quan tòa không hề biết kiên nể ai, không hề bị khống chế bởi áp lực nào. Thế mà cuối cùng ông bị khuất phục bởi một hành động xem ra không đáng là gì. Đó là sự kiên trì của một bà goá. Đó chính là nhờ vào sự kiên trì, và không nản lòng.

Khi Chúa Giêsu kể dụ ngôn này, Người không có ý coi Thiên Chúa như tên quan tòa như được nói ở trên, nhưng Chúa Giêsu chỉ mượn hình ảnh của tên quan tòa này để giải thích rằng: một tên quan toà bất nhân như thế mà còn phải nhúng nhường thực hiện trước sự năng nỉ của bà góa, thì Thiên Chúa nhân từ không lẽ làm ngơ trước lời kêu xin tha thiết của con người sao?

Kiên nhẫn cầu nguyện không phải là sự đeo bám dai dẳng, hay trêu gan buộc Chúa phải hành động theo ý của mình, nhưng là bình tâm khiêm tốn, và chấp nhận chờ đợi để Chúa quyết định cho mình.

Bởi vì, Chúa hết lòng yêu thương và sẵn sàng chờ đợi để ban cho chúng ta những nhu cầu cần thiết. Thế nhưng, điều quan trọng là chúng ta có biết chạy đến với Ngài hay không? Chúng ta có đủ kiên nhẩn để chờ đợi những ơn lành Ngài ban cho hay không?

Trong đời sống niềm tin, chúng ta đã từng cầu xin và cầu xin rất nhiều. Chúng ta cũng đã đón nhận được nhiều ơn lành mà Chúa ban cho, kể cả những gì không cầu xin cũng được lãnh nhận. Nhưng cũng rất nhiều khi, chúng ta vẫn cầu xin nhiều mà cũng không thấy gì. Những lúc đó thật là thử thách lớn cho lòng kiên nhẫn của chúng ta. Nhưng cám dỗ đáng sợ hơn hết là lời hối thúc: vậy thì thôi đừng cầu nguyện nữa.

Nhưng có khi nào chúng ta nhìn lại lời cầu xin của mình hay không?

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay như một lời mời gọi chúng ta hãy nhìn lại đời sống đã qua của mình, nhìn lại cách mà chúng ta đã hành động với Thiên Chúa.

Thử hỏi xem, được bao nhiêu lần chúng ta cầu nguyện với tất cả lòng yêu thương và chân thành, với tâm tình phó thác trọn vẹn vào Thiên Chúa? Và hiện tại giờ đây, tâm tình đó còn kéo dài, còn đọng lại nơi con người của chúng ta ở mức độ nào? Chúng ta có đủ kiên nhẫn để vượt qua những khó khăn trở ngại mà kiên trì cầu nguyện hay không?

Trong quyển sách Đường Hy Vọng (41), Đức cố Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận đã từng nói: “Đừng nản lòng vì thất bại nếu tìm ý Chúa thực sự, thì chính sự thất bại đó là thành công”. Cái khó sẽ ló cái khôn, chắc chắn không thành công về đường đời, đường vật chất mà mình thấy được thì cũng sẽ thêm kinh nghiệm, thêm hiểu biết và sự sống siêu nhiên cho ta. Quả thật, không có điều gì trở nên vô ích cho những người biết yêu mến.

Xin cho mỗi người chúng ta luôn biết yêu mến Chúa, để chúng ta tin Chúa đủ mà kiên trì trong cầu nguyện. Và hơn thế nữa, đó là cách để chúng con tập lắng nghe và sống Lời Chúa dạy. Amen.
 
GKGĐ Giáo Phận Phú Cường


 

TN29-C114: CẦU NGUYỆN PHẢI KIÊN TRÌ KHÔNG ĐƯỢC NẢN CHÍ

CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN
 

Đức Giêsu đã nhiều lần nói về sự cầu nguyện và đã dạy các tông đồ cầu nguyện với kinh Lạy Cha. Và TN29-C114

Đức Giêsu đã nhiều lần nói về sự cầu nguyện và đã dạy các tông đồ cầu nguyện với kinh Lạy Cha. Và trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu còn khuyên các ông:”Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”(Lc 18,1) nên đã đưa ra dụ ngôn vị thẩm phán bất lương  và người đàn bà quấy rầy để dạy cho các ông một bài học: cầu nguyện phải kiên trì không được nản chí.

Dụ ngôn này nói tới một việc đã thường xảy ra tại Palestine. Có hai nhân vật trong chuyện:

Vị quan tòa: Các vụ tranh chấp thông thường xảy ra giữa người Do Thái được phân xử trước mặt các trưởng lão chứ không bao giờ đem đến các tòa án công cộng. Và theo luật Do Thái, nếu có vấn đề phải phân xử, thì một người không đủ để lập phiên tòa. Bao giờ cũng có ba vị quan án, một vị do bên nguyên cáo chọn, một vị do bên bị cáo chọn, và một vị khác được chỉ định cách độc lập. Vị quan tòa trong chuyện này là một trong những quan tòa ăn lương được bổ nhiệm hoặc bởi vua Hêrôđê hoặc bởi người Rôma. Các vị này nổi tiếng tham ô. Trừ khi bên bị cáo có thế lực về tiền bạc đút lót cho sự việc đi tới kết thúc, còn thì người ta không hy vọng gì được quan tòa xét xử.

Bà góa quấy rầy: Bà góa này tượng trưng cho hết thảy những người nghèo nàn, cô thế, cô thân. Dĩ nhiên, vì không có tiền bạc, bà ta chẳng hy vọng gì được xét theo lẽ công bình bởi một quan tòa như vậy. Nhưng bà ta có khí giới của sự kiên trì. Dụ ngôn không có ý so sánh Thiên Chúa với vị thẩm phán bất lương, nhưng đối ngược lại với con người như thế, Đức Giêsu có ý nói: Vị thẩm phán bất chính còn như thế, lẽ nào Thiên Chúa không xem xét bênh vực những đứa con yêu ngày đêm kêu xin Ngài ? Chắc chắn Ngài sẽ vội vàng cứu giúp họ.[1] Và như vậy, dụ ngôn đưa ra hai nhân vật để nói lên sự tương phản  giữa sự bất lương của vị thẩm phán và lòng nhân từ của Thiên Chúa. 

Ở đây, chúng ta nhận thấy, vị thẩm phán tuy chẳng kính sợ Thiên Chúa, chẳng kiêng nể ai, thế mà lại chịu thua sự kiên trì của bà góa. Đứng trước sự kiên trì của bà góa, dù có bất nhân như ông thẩm phán trong dụ ngôn chăng nữa, cũng phải xiêu lòng, chịu thua. Như vậy, điều ấy nhắc cho chúng ta rằng cầu nguyện phải kiên trì không được nản chí như câu chuyện của tổng thống Eisenhower:

Khi tổng thống Eisenhower của nước Mỹ còn là một cậu bé 15 tuổi đang chạy chơi trong nông trại của cha thì vấp ngã.

Vết thương lúc đầu không nặng lắm, nhưng vì bất cẩn nên hai ngày sau bị nhiễm trùng. Chân cậu bé sưng lên, phải đưa đến bác sĩ. Bác sĩ thất vọng nói:

Vết thương đã trở nên quá trầm trọng rồi. Nếu muốn cứu cậu bé, phải cưa chân thôi.

Eisenhower lên cơn sốt dữ dội. Bác sĩ cho biết chỉ có phép lạ mới cứu nổi. Nghe vậy, cả nhà hỏang sợ. Nhưng tin vào lời cầu nguyện như Chúa đã hứa: “Xin thì sẽ được”. Thế là mấy người chị bắt đầu cầu nguyện, họ cầu nguyện sốt sắng và liên lỉ. Họ tha thiết vững tin vào tình thương của Chúa.

Hai ngày sau mấy cậu con trai theo gương bố mẹ và các chị cũng quì gối cầu nguyện cho em.

Sáng ngày thứ ba bác sĩ tới thăm, ông ngạc nhiên khi thấy vết thương bớt hẳn. Cậu bé đã ăn được ngủ được.

Người ta tiếp tục cầu nguyện. Vài ngày sau đó cậu bé lành bệnh hẳn.

Khi bác sĩ tỏ ra hết sức ngạc nhiên về loại thần dược đã cứu sống bệnh nhân cách lạ lùng như thế thì được gia đình cho biết: Chúng tôi cầu nguyện và tin vào lời Chúa hứa: “hãy xin thì sẽ được”.

Trong đời sống đạo, chúng ta cũng cầu nguyện, nhưng nhiều khi thiếu kiên nhẫn, nên hễ thấy lời cầu của mình chưa được đáp ứng thì đâm ra nản lòng có lúc còn trách móc cả Chúa nữa.

Trước hết và trên hết chúng ta hãy xác tín rằng Thiên Chúa là cha nhân từ luôn yêu thương chúng ta. Ngài có làm cho chúng ta được tọai nguyện hay không, hoặc Ngài nhận lời cầu của ta theo cách nào thì cũng là đều vì lợi ích cho linh hồn chúng ta mà thôi.

Bởi thế, khi cầu nguyện, điều cốt yếu là luôn luôn tin tưởng cậy trông và phó thác cho tình thương quan phòng của Thiên Chúa. Đây cũng là điều Đức Hồng Y Jaime Sin, tổng giám mục Manila, Phi Luật Tân, thường trích dẫn bài thơ của một tác giả vô danh trong các bài giảng của Ngài. Bài thơ ấy như sau:

Tôi đã xin Chúa cất khỏi sự kiêu hãnh của tôi và Chúa trả lời: "Không". Ngài nói rằng không phải Ngài là người cất khỏi mà chính tôi mới là người phấn đấu để vượt thắng nó.

Tôi đã xin Chúa làm cho đứa con tàn tật của tôi được lành lặn và Chúa trả lời: "Không". Ngài nói rằng tinh thần mới lành lặn, còn thể xác chỉ là tạm bợ.

Tôi đã xin Chúa ban cho tôi sự kiên nhẫn và Chúa đã trả lời: "Không". Ngài nói rằng kiên nhẫn là hoa trái của thử thách. Ngài không ban cho tôi trái ấy mà để tôi tự tìm lấy.

Tôi đã xin Chúa ban cho tôi được hạnh phúc và Chúa đã trả lời: "Không". Ngài nói rằng Ngài ban ân phúc cho tôi, còn hạnh phúc hay không là tùy tôi.

Tôi đã xin Chúa gia tăng tinh thần cho tôi và Chúa đã trả lời: "Không". Ngài nói rằng tôi phải tự lớn lên, nhưng Ngài sẽ cắt tỉa để tôi mang nhiều hoa trái.

Tôi đã xin Chúa đừng để tôi đau khổ và Ngài đã trả lời: "Không". Ngài nói rằng đau khổ là cho tôi được xa cách với những vướng bận trần gian và mang tôi đến gần Ngài.

Tôi đã hỏi: "Liệu Ngài có yêu tôi không" và Ngài đã trả lời rằng: "Có". Ngài nói rằng Ngài đã ban cho tôi Người Con Một, Đấng đã chết vì tôi và một ngày nào đó, tôi sẽ được lên Thiên đàng vì tôi đã tin.

Tôi đã xin Chúa giúp tôi yêu mến tha nhân như Ngài yêu thương tôi và Chúa nói: "Cuối cùng con đã xin đúng điều ta chờ đợi".

Nguyện xin Chúa ban thêm lòng tin để chúng ta luôn kiên nhẫn trong lời cầu nguyện và tín thác vào sự quan phòng của Chúa. Amen. 


 

TN29-C115: CHÚA NHẬT TUẦN XXIX THƯỜNG NIÊN C

  Kiên nhẫn trong lời cầu
 Tin Mừng Lc 18: 1-8
1 Đức Giê-su kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí.2 Người nói: "Trong thành kia, có một ông quan toà. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì.3 Trong thành đó, cũng có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: "Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho.4 Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng: "Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì,5 nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc."6 Rồi Chúa nói: "Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó!7 Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi? 8Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng? "

SUY NIỆM
Kiên nhẫn trong lời cầu

 

Cầu nguyện là sức sống của đời sống Kitô hữu, bởi cầu nguyện là một hồng ân lớn lao mà Chúa tặng ban TN29-C115

Cầu nguyện là sức sống của đời sống Kitô hữu, bởi cầu nguyện là một hồng ân lớn lao mà Chúa tặng ban, nhờ đó người tín hữu nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa để gặp gỡ,  hiệp thông với Ngài trong tình yêu, và để cầu xin những ơn cần thiết. Qủa thật, Cầu nguyện, “là cuộc gặp gỡ giữa sự khao khát của Thiên Chúa với sự khao khát của chúng ta. Thiên Chúa khát khao chúng ta và chúng ta khao khát Ngài”.

Vì thế, cầu nguyện như là con đường dẫn chúng ta tới chỗ hiệp thông với Thiên Chúa, và trong sự hiệp thông này chúng ta có cơ hội tỏ bày cho Ngài những nhu cầu khẩn thiết của chúng ta. Và như Đức Kitô đã khẳng định: chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Do đó, chúng ta không có lý do gì để thất vọng về những lời khẩn cầu của chúng ta dâng lên trước Thiên Nhan, trai lại chúng ta phải luôn vững tin, bởi Chúa sẽ mau chóng minh xét cho chúng ta.

Nhưng một thực tế đối với ngừi tín hữu là dễ nản chí trong lời cầu vì hình như không cảm nhận được hiệu quả của lời cầu, hoặc là hay chia trí trong khi cầu nguyện vì tình yêu dành cho Chúa thì quá yếu kếm, còn đối với thực tại trần thế thì lòng quá quyến luyến. Ngoài ra, người tín hữu cũng thường đối diện với cơn cám dỗ kín đáo nhất chính là thiếu đức tin. “Đây không phải là việc tuyên bố rõ ràng không tin Chúa, cho bằng một chọn lựa ưu tiên trong thực tế. Khi chúng ta khởi sự cầu nguyện, hàng ngàn công việc và lo toan, được coi là cấp bách, xuất hiện như những điều đòi được ưu tiên: một lần nữa, đây là lúc chúng ta thấy rõ lòng mình và tình cảm ưu tiên của nó. Có khi chúng ta quay về với Chúa như chỗ cậy dựa cuối cùng, nhưng liệu chúng ta có thật sự tin điều đó không? Có khi chúng ta nhận Chúa làm đồng minh, nhưng lòng vẫn còn tự cao tự đại. Trong mọi trường hợp, sự thiếu đức tin của chúng ta cho thấy rằng chúng ta chưa có một tâm hồn khiêm tốn: Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được (Ga 15,5)” (Sách GLHTCG số 273).

Lời Chúa hôm nay một lần nữa nhắc nhở chúng ta một sự kiên tâm trong sự tín thác khi cầu nguyện. Để có thể được như thế, chúng ta phải chiến đấu loại trừ ra khỏi chúng ta “cái tôi”, môt cái tôi ích kỷ chỉ đòi hỏi chiều theo ý mình, hoặc là một thái độ kiêu căng trong khi cầu nguyện, coi đó như là một việc làm để đổ đầy cho tâm trí đang trống rỗng, hay xem đó chỉ là một nghi thức mang tính nghi lễ để làm đẹp mối tương giao xã hội. Chiến đấu loại trừ những cám dỗ đó để nhận rằng, cầu nguyện là một hồng ân, một hành động phát xuất từ Chúa Thánh Thần, nhờ đó chúng ta luôn kiên trì, tin tưởng và không bao giờ nản chí trong lời khẩn cầu.

Vâng,  Chúa sẽ nhận lời nguyện cầu của chúng ta, nếu chúng ta cầu nguyện với một “con tim không chia xẻ”, có nghĩa là với một con tim trọn vẹn yêu mến Chúa. Quả thật, Chúa không bao giờ làm cho người Chúa yêu thương thất vọng. Thánh Êvagriô Ponticô đã nhắc nhở: “Bạn đừng buồn nếu bạn không được Thiên Chúa ban ngay điều bạn xin; vì Ngài muốn cho bạn được nhiều ích lợi hơn nữa, nhờ bạn kiên trì trong cầu nguyện”, bởi “Ngài muốn tôi luyện những ước muốn của chúng ta trong cầu nguyện, để chúng ta có khả năng đón nhận những gì Ngài sẵn lòng ban” (Augustinô).

Lạy Chúa, xin thêm lòng tin cho chúng con để chúng con kiên vững trong lời cầu, và để chúng con luôn xác tín rằng, Chúa không bao giờ bỏ quên lời nguyện cầu của chúng con, nếu chúng con thực tâm tín thác vào Chúa. Amen

Lm. Antôn Hà Văn Minh


 

TN29-C116: Không nản chí

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
 

Ngày 14-10-2010 là ngày vui đối với người dân Chilê. Ba mươi ba người thợ mỏ bị sụp hầm sâu TN29-C116

Ngày 14-10-2010 là ngày vui đối với người dân Chilê.
Ba mươi ba người thợ mỏ bị sụp hầm sâu gần 700 m, được giải cứu.
Mười bẩy ngày đầu họ sống trong bóng tối, cạn kiệt lương thực.
Họ còn phải sống gần hai tháng nữa mới được cứu lên khỏi mặt đất.
“Tôi ở giữa Thiên Chúa và quỷ sứ. Tôi bị giằng co giữa hai bên.
Tôi nắm chặt lấy bàn tay Chúa, và Chúa đã cứu tôi.”
Đó là câu nói của anh Mario Sepulveda,
người thợ mỏ thứ hai được đưa lên khỏi “địa ngục”.
Khi còn ở dưới hầm, Jimmy Sanchez, anh thợ trẻ nhất nhóm đã viết lên:
“Ở đây chúng tôi có 34 người, vì Chúa chẳng bao giờ bỏ rơi chúng tôi.”
Dù người ta nhắc đến khoa học như chìa khóa cho thành công,
nhưng chính việc cầu nguyện đã cho họ sức mạnh để đứng vững.
“Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí.”
Đó là điều Đức Giêsu nhắn nhủ chúng ta qua dụ ngôn bà góa quấy rầy.
Bà là người không còn chỗ dựa vững chãi của người chồng.
Bà lại còn là nạn nhân đáng thương của một sự bất công chèn ép.
Nhất quyết không để mình bị bóc lột,
bà đã nhiều lần đến gặp quan tòa để xin ông minh xét cho (c. 3).
Tiếc thay ông này lại là một vị quan tòa bất chính (c. 6),
nên vụ kiện bị ngâm trong một thời gian khá lâu.
Nhưng bà không hề nản chí, và cuối cùng bà đã thắng.
Ông quan tòa đã phải đem ra xử vụ kiện, chỉ vì bị bà quấy rầy liên tục.
Đức Giêsu đã táo bạo khi kể dụ ngôn trên.
Ngài dám so sánh Thiên Chúa với ông quan tòa bất chính.
Dĩ nhiên, Thiên Chúa thì tốt lành và chăm lo cho con người,
ngược hẳn với ông quan tòa chẳng coi ai ra gì (c. 2).
Nhưng cả hai lại có một nét chung.
Nhiều khi chúng ta có kinh nghiệm về một Thiên Chúa như hững hờ,
như không muốn đáp lại tiếng kêu của những người chịu bất công áp bức.
Có biết bao tiếng kêu như thế vang vọng từ khắp địa cầu.
Có biết bao người chịu bách hại mà không thể lên tiếng.
“Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho” (c. 3).
Đó vẫn là lời kêu nài muôn thuở của những người thấp cổ bé miệng.
Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy Thiên Chúa không lên tiếng bênh vực,
không hành động gì để giải cứu, giải oan.
Đức Giêsu mong chúng ta đừng thất vọng trước sự bất công trên thế giới,
đừng nản lòng khi lời cầu nguyện của chúng ta có vẻ rơi vào quên lãng.
Hãy tiếp tục cầu nguyện, vì Thiên Chúa tốt hơn ông quan tòa nhiều.
Nếu quan tòa cuối cùng còn xử kiện cho bà góa chỉ vì tránh bị quấy rầy,
thì huống hồ là Thiên Chúa, Đấng sẽ làm rõ trắng đen vì lòng cảm thương.
Lẽ nào Người bắt những kẻ Người tuyển chọn,
những kẻ ngày đêm kêu cứu với Người phải chờ đợi mãi? (c. 7).
Lòng tin của chúng ta vẫn bị thách đố ngày nào còn bất công trên thế giới.
Chỉ mong ta vẫn giữ được lòng tin như người thợ mỏ ở trong hầm tối.
Cầu nguyện:
Lạy Cha,
con phó mặc con cho Cha,
xin dùng con tùy sở thích Cha.
Cha dùng con làm chi, con cũng xin cảm ơn.
Con luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả.
Miễn là ý Cha thực hiện nơi con
và nơi mọi loài Cha tạo dựng,
thì, lạy Cha, con không ước muốn chi khác nữa.
Con trao linh hồn con về tay Cha.
Con dâng linh hồn con cho Cha,
lạy Chúa Trời của con,
với tất cả tình yêu của lòng con,
Vì con yêu mến Cha,
vì lòng yêu mến
thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha,
thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha,
không so đo,
với một lòng tin cậy vô biên,
vì Cha là Cha của con.
(Chân phước Charles de Foucauld)

 

TN29-C117: Kiên trì trong cầu nguyện

Lm. G.B. Trần Văn Hào
 

Tôn giáo nào cũng đề cao việc cầu nguyện. Cầu nguyện là xác lập mối tương giao giữa con người TN29-C117

Tôn giáo nào cũng đề cao việc cầu nguyện. Cầu nguyện là xác lập mối tương giao giữa con người với Thượng đế, giữa thụ tạo với Đấng Tạo thành. Trong Kitô giáo, cầu nguyện không những là bổn phận, nhưng còn là một nhu cầu thiết yếu để tăng triển đức tin. Như nước cần cho cá, hơi thở cần cho các sinh vật, việc cầu nguyện cũng cần thiết để chúng ta được sống và sống dồi dào.
Các tác giả Tin Mừng cũng nhiều lần thuật lại mẫu gương cầu nguyện nơi Chúa Giêsu. Chính Ngài cũng dạy các học trò phương thức cầu nguyện với Kinh Lạy Cha. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa nhấn mạnh đến sự kiên trì trong việc cầu nguyện qua dụ ngôn về một người đàn bà góa đến trước cửa quan để khẩn nài. Vậy, chúng ta phải thực hành việc cầu nguyện như thế nào?
Cầu nguyện với tâm tình con thảo cách đơn thành.
Việc cầu nguyện trong Kitô giáo khác xa với việc cầu nguyện nơi các tôn giáo khác. Sự khác biệt lớn nhất chính là đối tượng. Đấng mà chúng ta cầu khẩn không phải là một vị thần ở tít trên cao, nhưng là một người Cha rất gần gũi và thân tình. Chúa Giêsu đã nói khá nhiều về điều ấy trong cả 4 sách Tin Mừng. Một người con đến thưa chuyện với cha của mình không cần phải nhiều lời, khi người con biết rằng người bố rất yêu thương nó và biêt rõ nó đang cần gì. Thiên Chúa của chúng ta không phải là một vị quan tòa khó tính hay cáu gắt, nhưng là một người Cha nhân hậu lúc nào cũng dang rộng đôi tay ôm đón chúng ta vào lòng. Vì thế khi đến với Chúa, chúng ta phải loại bỏ sự sợ hãi, nhưng cần đơn thành trải lòng mình ra để đón nhận tình yêu mà Thiên Chúa hiến trao. Chúng ta cũng cần thâm tín rằng cầu nguyện không phải chỉ là xin xỏ điều này hay điều nọ. Chúa biết rõ chúng ta đang thiếu thốn những gì. Thái độ nội tâm căn bản cần phải có khi cầu nguyện là hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa là Cha nhân lành, rất quảng đại và giàu lòng thương xót. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan 23 kể lại một kinh nghiệm mà Ngài không bao giờ quên. Lúc còn nhỏ, Ngài đi tham dự một cuộc hành hương cùng với thân phụ. Giữa một biển người mênh mông, đứa bé đứng dưới đất không nhìn thấy gì. Thấy vậy, thân phụ của Đức Thánh Cha đã đặt Ngài trên đôi vai mình. Ngài cảm thấy rất tuyệt vời. Cũng vậy, khi chúng ta đến với Chúa, Chúa ôm chúng ta trong vòng tay trìu mến. Chúa cũng đặt chúng ta trên đôi vai Ngài. Trong vòng tay yêu thương của Chúa, chúng ta không còn lý do để sợ hãi.
Cầu nguyện với tâm tình phó thác và tin tưởng.
Tại một giáo xứ nọ, người ta tổ chức học hỏi và hội thảo về việc cầu nguyện. Câu hỏi gợi ý được nêu ra là, chúng ta phải có thái độ như thế nào khi cầu nguyện? Một vị đứng lên chia sẻ như sau: “Khi cầu nguyện, chúng ta phải quỳ gối xuống, tay chắp lại để tôn thờ Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta đang đối diện. Đây là thái độ khiêm cung mà Đức Maria đã nêu gương, đặc biệt trong biến cố truyền tin”. Một vị khác nói: “Không đúng. Khi cầu nguyện chúng ta phải đứng thẳng lên, 2 tay giang rộng, đôi mắt hướng lên trời như Moise khi quân đội của ông tiến đánh quân A-ma-lếch (bài đọc 1 hôm nay). Có như thế, Môise mới chiến thắng. Khi mỏi chân và mỏi đôi tay, Moise ngồi xuống, 2 tay buông thõng và quân đội của ông bị thua tan tác”. Cuộc tranh luận khá sôi nổi với nhiều ý kiến trái chiều. Cuối cùng một chàng thanh niên đứng lên trình bày: “Kính thưa quý vị, khi cầu nguyện không biết chúng ta nên đứng hay nên quỳ, đôi tay giang ra hay chắp lại, cặp mắt mở to hướng về trời hay nhắm lại và cúi xuống cách khiêm cung. Quý vị đã tranh cãi khá nhiều. Riêng tôi, tôi đã trải qua một kinh nghiệm cụ thể. Tôi là thợ điện, một lần trèo lên cao để sửa chữa, tôi trượt chân và rơi xuống. Rất may, tôi bám được một cành cây. Hai chân chổng lên trời vướng vào một cành cây khác, đầu chúi xuống đất. Một tay tôi bám chặt vào thân cây, còn tay kia giơ ra vung vẩy để kêu cứu. Trong lúc nguy kịch, tôi đã cầu nguyện xin Chúa đến giúp. Không biết ở trong tư thế như vậy để cầu nguyện, tôi có đẹp lòng Chúa hay không, nhưng chắc chắn Chúa đã nhận lời tôi, bằng chứng là tôi còn được sống đến ngày hôm nay”. Lời kết luận của chàng thanh niên rất ý nghĩa để chúng ta suy nghĩ. Đến nhà thờ cầu nguyện với quần áo lịch sự và thái độ trang nghiêm sốt sắng là điều rất tốt cần phải làm. Nhưng quan trọng hơn cả là thái độ nội tâm của cõi lòng chúng ta đối với Chúa. Nếu chúng ta đến với Chúa với quần áo sạch sẽ mà tâm hồn lại quá bẩn thỉu, đầy dối gian lọc lừa, thì chúng ta cầu nguyện làm sao được. Chúng ta không thể cầu nguyện với Chúa mà tâm hồn nhét đầy dao găm hay lựu đạn của oán thù, thì những lời cầu nguyện của chúng ta hoàn toàn giả dối và rống tuếch.
Cầu nguyện với tâm tình biết ơn.
Có một bà cụ quê mùa nhưng rất đạo đức. Nhà bà quá nghèo phải đong gạo từng bữa. Một hôm nhà hết gạo, bà không biết xoay sở cách nào, nhưng vẫn thành tâm cầu nguyện xin Chúa ban lương thực hằng ngày. Anh chàng thanh niên bặm trợn nhà kế bên nghe thấy bà cầu nguyện như thế liền lấy một bịch gạo quẳng sang, lúc bà không để ý tới. Khi vừa thấy bịch gạo, bà dâng lời tạ ơn Chúa ngay lập tức. Thấy vậy, chàng thanh niên nói vọng sang: “Bà ơi, không phải Chúa cho bà đâu, bịch gạo của cháu đấy, chẳng có Chúa nào hết”. Nghe nói vậy, bà cụ lại ngước mắt lên trời và cầu nguyện tiếp: “Lạy Chúa, con cám ơn Chúa đã xui khiến anh chàng Giuđa này đem gạo đến cho con. Chúa có nhiều cách để thi ân. Con xin cảm tạ Chúa.” Tâm tình biết ơn là chìa khóa để chúng ta có thể mở toang cánh cửa của ân sủng. Mọi sự chúng ta có đều là của Chúa. Chúng ta hãy học lấy thái độ khiêm cung của người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện chứ đừng bắt chước thái độ kiêu căng trịch thượng của ông Pharisiêu. Cũng vậy, người Samari phong hủi sau khi được chữa lành đã quay lại cám ơn Chúa, được Chúa trân quý và xem đó như động thái biểu tỏ đức tin nơi anh ta. Chúa nói: “Hãy đứng dậy mà về, lòng tin của anh đã cứu chữa anh”.
Kết luận
Pascal đã nói: “Con người nhỏ bé và yếu ớt như cây sậy. Nhưng chúng ta sẽ trở nên vĩ đại khi chúng ta biết cầu nguyện” Xin Chúa giúp chúng ta biết siêng năng cầu nguyện với sự kiên trì và thành tâm như lời Chúa dạy hôm nay.

 

TN29-C118: CHÚA MONG MUỐN THẤY NIỀM TIN NÀO

KHI NGƯỜI TRỞ LẠI?
Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty
 

Câu chuyện dụ ngôn hôm nay trình bày một phản diện, phản diện gay gắt với niềm tin vào một TN29-C118

Câu chuyện dụ ngôn hôm nay trình bày một phản diện, phản diện gay gắt với niềm tin vào một Thiên Chúa như Đức Giê-su muốn trình bày! Phản diện trong hình ảnh ông quan tòa không có bất cứ niềm tin nào: ‘Chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì’. Ông không có bất kỳ một lý do nào để xót thương bà góa nghèo hèn van xin ông giúp đỡ. Cuối cùng thì chỉ vì không chịu nổi sự quấy rầy đeo bám, ông đã buộc phải ‘ra tay làm phước’ cho bà góa cô thế cô thân; cuối cùng thì vị quan tòa vô tâm đó đã ‘buộc phải’ xót thương, cho dù đó chỉ là bề ngoài và hoàn toàn bất đắc dĩ.
Khi đem một hình ảnh tiêu cực đến như thế để đối chiếu với Thiên Chúa nhân lành: “Anh em nghe ông quan tòa bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ người đã tuyển chọn, hằng đêm ngày kêu cứu với Người sao?” chắc hẳn Đức Giê-su phải có một lý do gì sâu sắc lắm.
Trước hết, ông quan tòa nọ đã bị chính Đức Giê-su gán cho thuộc từ ‘bất chính’;ông bất chínhkhông phải vì đã làm điều gì phạm pháp. Không, tuyệt nhiên không! Tương tự như ông phú hộ trong câu chuyện ‘chàng La-da-rô nghèo khổ’, ông này bị Đức Giê-su gọi là ‘bất chính’ chỉ vì một lý do duy nhất: ông đã không có một chút lòng trắc ẩn, xót thương nào.
Điều này cho chúng ta một gợi ý: thay vì tin vào một Thiên Chúa công chính, như người Do Thái vẫn thường gọi, căn cứ vào giao ước đã ký kết, thì Đức Giê-su, dầu vẫn dùng các từ ngữ cũ, mời gọi các môn đệ hướng tới sự công chính theo một nội dung hoàn toàn mới. Thiên Chúa công chính vì Người từ bi và giầu lòng xót thương (xem nội dung thư thứ nhất của Gio-an, đăc biệt các câu 2:29 và 3:7). Người là trọn vẹn công chính, bởi vì Người là Thiên Chúa trọn vẹn từ nhân! Yếu tính lớn nhất của Người là “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời…, để khỏi bị lên án, nhưng được cứu độ” (Ga 3:16-18). Dấu hiệu của Thiên Chúa từ nhân đó đã được nói tới trong Cựu Ước trong hình ảnh con rắn được Mô-sê giương cao trong sa mạc. Không may các người Do Thái đã hầu như hoàn toàn quên mất hình ảnh này… Tân Ước trái lại đã biểu lộ tình yêu này bằng Thập Giá; Con Người cũng sẽ được giương cao như vậy (Ga 3:14)): Thiên Chúa của Đức Giê-su vẫn là Thiên Chúa ba lần Thánh, nhưng không phải vì sự thánh thiện cao xa tự tại nơi một mình Người. Đối với chúng ta và cho chúng ta, Người là thánh vì Người yêu mến con người tội lỗi với tất cả lòng xót thương. Tôi ngạc nhiên khi nghe Đức Giê-su nói: ‘Thiên Chúa yêu thế gian’. Sau này khi Gio-an cho định nghĩa “Thiên Chúa là tình yêu”,ông không quên giải thích liền sau đó: ‘Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian, để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống’ (1 Ga 4:8-9).
Thế nhưng niềm tin vào một Thiên Chúa yêu thương như thế, một phản diện gay gắt với ông quan tòa bất chính trong dụ ngôn, ngay cả đối với Ki-tô hữu chúng ta, cũng có thể trở thành rất mong manh; Thiên Chúa yêu thương, Thiên Chúa xót thương vẫn có thể bị ngay chính các Ki-tô hữu mau chóng quên lãng.
Chưa khi nào ta bắt gặp một Đức Giê-su bi quan và ngờ vực đến thế: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Ngài còn thấy niềm tin trên mặt đất nữa chăng?” Tôi thiển nghĩ: nếu là niềm tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa, thì cho dầu có bị thử thách tới mấy đi nữa, chắc chắn nó sẽ vẫn mãi mãi tồn tại nơi nhân loại; niềm tin cầu khẩn với một Thiên Chúa quyền phép cũng sẽ không bao giờ kết thúc, kể cả khi con người đã hoàn toàn no đủ. Nhưng tin tuyệt đối vào một Thiên Chúa yêu thương, và biểu lộ lòng tin này cách mãnh liệt trong cầu nguyện với thái độ tin tưởng phó thác như thánh nữ Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su đã làm, thì lại luôn có nguy cơ bị nhạt nhòa, ngay cả trong chính Giáo Hội Công Giáo. Lịch sử minh chứng: đã từng có những thời kỳ mà lòng tin vào Thiên Chúa xót thương đã hoàn toàn bị lu mờ ngay trong chính nội bộ Giáo Hội, thay vào đó người ta đề cao và quảng bá một Thiên Chúa công thẳng luận phạt tới mức đáng sợ. Sự phổ biến của học thuyết Giăng-sê-nít hay Thanh Giáo một thời trong suy nghĩ của nhiều tín hữu và giáo sĩ cho thấy điều đó. Lòng tin tuyệt đối vào một Thiên Chúa yêu thương và cứu độ rất có nguy cơ bị biến mất. May mắn thay, việc quảng bá học thuyết ‘Con Tim’ của thánh Phan-xi-cô Sa-lê (Salesian spirituality), và gần đây hơn, việc phổ biến lòng tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa cho thấy niềm tin này đang có dấu hiệu phục hồi. Rất mong lòng tôn sùng này sẽ sớm trở thành một niềm tin chân chính, chứ không chỉ là việc đạo đức bề ngoài..., để rồi, một khi trở lại trong vinh quang Thập Giá, Người sẽ vui mừng thấy niềm tin này đã lan rộng trong Hội Thánh và trên toàn trái đất.
Công việc của tôi, một linh mục của Đức Ki-tô cứu độ và xót thương, chính là thắp lên và chăm sóc cho ngọn lửa niềm tin này bừng sáng nơi tâm hồn nhiều tín hữu!
Lạy Chúa từ nhân, đã có một lần Chúa ngự đến trong giờ chết của con, và may mắn thay lần đó Chúa còn tìm thấy niềm tin này nơi con còn tồn tại chút ít. Xin Chúa tiếp tục phát huy và duy trì trong con, và trong tất cả tâm hồn các Ki-tô hữu, niềm tin vào Thiên Chúa từ ái xót thương; để bất cứ khi nào Chúa đến, cho dầu có đột ngột tới mấy, Chúa vẫn tìm thấy niềm tin này tiếp tục tồn tại, nhất là nơi con, và nơi tâm hồn các giáo dân con phục vụ, hướng dẫn. Xin Chúa tiếp tục củng cố đức tin này trong con. Amen.

 

TN29-C119: Hãy làm cho ngọn lửa yêu thương được bùng cháy

(Suy niệm của Huệ Minh)
 

Nỗi lòng của Chúa Giêsu yêu thương con người thật tha thiết. Ngài muốn con người nhận ra TN29-C119

Nỗi lòng của Chúa Giêsu yêu thương con người thật tha thiết. Ngài muốn con người nhận ra được sự thật về Tình Yêu của Thiên Chúa dành cho con người và mọi người đều là con cái Chúa nên phải yêu thương nhau. Chúa Giêsu đã ném ngọn lửa Tình Yêu Thiên Chúa vào mặt đất. Ngài muốn Lời Yêu Thương - Tin Mừng - được bùng cháy khắp nơi. "Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!” (Lc.12,49).
Trong Kinh Thánh, từ “lửa” được đề cập 480 lần. Lửa mang nghĩa biểu tượng thánh thiêng chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa. Thiên Chúa tỏ mình ra cho ông Môsê giữa bụi gai cháy rực cháy (x. Xh 3,2). Thiên Chúa lập giao ước dưới chân núi Sinai (x. Đnl 1,33; 4,11-12.36; 5,4.22). Lửa là hình ảnh Thiên Chúa hướng dẫn dân Do thái trong sa mạc (x. Xh 13,21).
Trong Tân Ước, lửa là hình ảnh của Chúa Thánh Thần khi Người ngự xuống trên các Tông đồ dưới dạng hình lưỡi lửa vào ngày Lễ Ngũ Tuần (x. Cv 3,2). Lửa là sức mạnh của Thánh Linh, khi các Tông đồ nhận được Chúa Thánh Thần, các ông đã trở nên con người hoàn toàn mới: Can đảm ra đi rao giảng Tin Mừng (x. Cv 1,8), làm chứng, hy sinh vì Tin Mừng và vì tình yêu của Đức Kitô Phục Sinh. Lửa chính là tình yêu nồng cháy của Đức Giêsu (x. Lc 12,49).
Lửa còn tượng trưng cho sự thanh luyện, thiêu huỷ và phán xét. Đó là ngọn lửa từ trời xuống thiêu huỷ thành Sôđôma và Gômôra (x. St 19,24), mưa lửa từ trời xuống như một phần của sự phán xét trong ngày tận cùng của thế giới (x. Lc 17,29); hay là lửa soi sáng trong Ngày của Thiên Chúa (x. 1 Cr 3,13; Mt 3,11-12).
Theo các nhà chú giải Kinh thánh, lửa ấy chính là: Chân lý, là Tin Mừng, là Thần Khí và là Tình yêu của Thiên Chúa. Chúa Giêsu muốn cho “lửa” đó được bùng lên, nghĩa là muốn cho mọi người trên khắp thế giới được nhận biết Chân lý và Tình yêu của Thiên Chúa.
Khi vào trần gian, Đức Giêsu đã đưa lửa vào, và Người ước mong lửa đó bùng lên. Theo Kinh thánh, Lửa là biểu tượng hình phạt của Thiên Chúa, nhất là vào lúc tận cùng thời gian. Lửa còn là biểu tượng cho sự thanh tẩy và làm đổi mới. Chúa Giêsu sẽ thực hiện cuộc thanh tẩy tâm linh nhờ Chúa Thánh Thần.
"Lửa" mà Người nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay đúng hơn nên hiểu về "Thánh Thần". Người đến để cho những kẻ tin Người được Thần Khí của Thiên Chúa. Người mong muốn, đến nỗi nôn nóng thấy việc đó chóng xảy đến để loài người chóng nhận được Thánh Thần khiến họ có thể kêu lên "Abba! Lạy Cha". Một cách cụ thể, có thể nói, trong suốt cuộc đời trần gian, Ðức Giêsu hằng mong mỏi ngày lửa Thánh Thần sẽ xuống trên các môn đệ, vì đó là mục đích cuộc giáng sinh cứu thế của Người, để tất cả loài người trở thành con cái Thiên Chúa.
"Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban bình an cho trái đất sao?... Không phải thế đâu, nhưng đúng hơn là để gây chia rẽ". "Sự chia rẽ là đối cực của sự bình an. Nhưng đây là sự chia rẽ vì Chúa, một sự chia rẽ đi vào qui luật của thập giá: Khi mất đi là khi tìm thấy, khi chết đi là khi được sống muôn đời. Hơn nữa, Đức Giêsu đã hứa: Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Bởi thế Đức Giêsu không đến trần gian để gieo sự bất hòa, nhưng là đem đến sự hiện diện của Thiên Chúa, đồng nghĩa với sự bình an.
Sự bình an Đức Giêsu mang đến là sự bình an phải chiến đấu trong chân lý, phải được xây dựng trong khó nhọc, trước hết ở trong chính bản thân ta rồi lan tỏa chung quanh ta: đó là dám chấp nhận những mệt nhọc, đói khát, thua lỗ, nhường nhịn vì những điều lành, biết tách mình ra khỏi những đố kị và muôn vàn những cái vừa vụn vặt vừa tầm thường của cuộc sống. Lương thực của sự bình an luôn là một thách thức"
Cuộc đời theo Chúa, đón nhận lửa Chúa gieo xuống và lãnh nhận Phép Rửa Chúa chịu. Cuộc đời theo Chúa này là một cuộc đời đầy hy sinh từ bỏ, chấp nhận tách rời ra khỏi những gì cản trở ta trở nên giống Chúa và đây là sự chia rẽ mà Chúa Giêsu muốn nói đến trong đoạn Tin Mừng hôm nay. Theo Chúa, sống trung thành với Lời Chúa, lãnh nhận lửa tình yêu của Chúa trong tâm hồn và chấp nhận hy sinh như Chúa đã hy sinh trên thập giá, chấp nhận chịu Phép Rửa của Chúa. Theo Chúa như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ được bình an thật Chúa ban cho, nhưng đồng thời chúng ta cũng bị chia rẽ, bị tách rời ra khỏi kẻ khác, nhất là khi những kẻ khác đó a dua hoạt động cho ma quỉ chống lại chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa.
Chúa Giêsu đem lửa xuống trần gian và lửa ấy chính là bản thân Ngài và Phúc Âm của Ngài. Ngài đã rao giảng Tin Mừng để soi chiếu cho những người còn ngồi trong bóng tối sự chết, để sưởi ấm cho những tâm hồn giá băng cũng như để thiêu huỷ mọi tội lỗi của nhân loại.
Thiên Chúa chiếu soi chúng ta, để chúng ta được bình an. Khi cuộc sống có những lo âu, buồn chán, tuyệt vọng, chúng ta hãy tìm đến với ơn Chúa; "ơn Chúa sẽ lôi cuốn bạn, cho tới khi bạn tìm lại được nguồn vui" (thánh Bênađô). Người kitô hữu đích thực là người sống trong niềm vui, bình an và ơn cứu độ của Chúa. Người kitô hữu đích thực thắp lên ngọn lửa tình yêu của Thánh Thần trong lòng mình và nơi người khác.
Ta được mời gọi để thực hiện niềm ước mong mà Đức Giêsu đã suốt đời ôm ấp, đó là làm cho thế giới nên ấm áp hơn vì con người biết sống cho Thiên Chúa và cho nhau.
Gieo rắc ngọn lửa và ánh sáng là chấp nhận bị từ khước và đe dọa. Đức Giêsu linh cảm những gì sẽ xảy ra cho đời mình. Ngài sẽ phải chịu một phép rửa kinh khủng, sẽ phải dìm mình thật sâu trong nỗi khổ đau.
Ngài đã mời gọi mỗi người chúng ta hãy tiếp tay với Ngài để cho sứ mạng của Ngài được chóng hoàn tất. Chính vì thế mỗi người chúng ta cũng phải là một ngọn lửa truyền nóng và chiếu sáng cho những người chung quanh bằng một đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương.
Lời Chúa hôm nay tha thiết kêu gọi ta. Hãy khơi cho ngọn lửa yêu thương bừng sáng lên. Hãy đẩy lùi bóng tối chiến tranh, chia rẽ, hận thù. Hãy mở rộng tâm hồn đón nhận và ban phát yêu thương, xoá đi những nhỏ nhen, ích kỷ. Để mọi người nhìn nhau là anh em thực sự. Bấy giờ đêm mới tàn và ngày mới bắt đầu. Bóng tối nhường chỗ cho ánh sáng, ánh sáng rực rỡ phát xuất từ những trái tim chan hoà yêu thương.

 

TN29-C120: Hãy kiên trì cầu nguyện

 Huệ Minh
 

Ta phấn khởi và nhận ra giá trị của lời cầu nguyện. Và thường khi nhớ đến câu chuyện Môsê cầu TN29-C120

Ta phấn khởi và nhận ra giá trị của lời cầu nguyện. Và thường khi nhớ đến câu chuyện Môsê cầu nguyện trên núi trong khi Giôsua đánh giặc, người ta vẫn để ý khía cạnh hiệu năng lạ lùng của việc cầu nguyện. Không có Môsê cầu nguyện, con cái Israel đã không chiến thắng.
Và khi cánh tay Môsê rũ xuống là lúc thất bại ngả về phía Israel. Tuy nhiên nếu chỉ hiểu câu chuyện của bài sách Xuất hành như vậy, chúng ta không biết đánh giá đúng mức một sự kiện rất ý nghĩa trong lịch sử Dân Chúa, và do đó trong đời sống đạo của chính chúng ta. Sự kiện này đã được ghi lại trong Kinh Thánh, không phải chỉ vì là một biến cố lịch sử, nhưng có thể nói, nhiều hơn là ý nghĩa sâu xa của nó.
Chúa Giêsu khuyên ta cầu nguyện luôn và không nản chí. Nếu ta ngưng cầu nguyện, chúng ta hầu như mất nhiệt tình và bỏ cuộc. Nếu ta cầu nguyện liên tục, chúng ta sẽ không bao giờ mất nhiệt tình. Cầu nguyện có nghĩa là đặt chính mình và số phận của mình trong đôi tay của Thiên Chúa. Ta cầu nguyện có nghĩa là ta trông cậy vào sức mạnh của Thiên Chúa chứ không phải sức mạnh của ta. Khi chúng ta cầu nguyện một thứ quyền lực khác trở thành có hiệu lực đối với chúng ta.
Chúa Giêsu nói với các môn đệ và với chúng ta hôm nay “Hãy cầu nguyện không ngừng và không bao giờ nên nản chí”. Một số người không nhận thấy giá trị của việc cầu nguyện thường xuyên. Họ nghĩ rằng chỉ cần cầu nguyện khi họ cảm thấy hứng thú.
Đây là một dụ ngôn dễ hiểu. Chúa Giêsu đưa ra hai tình ảnh trái ngược. Một bên là bà goá nghèo khổ, bé nhỏ, không có tiếng nói trong xã hội. Một bên là ông quan toà bất nhân, chẳng sợ trời mà cũng chẳng nể người. Thật là một hoàn cảnh tuyệt vọng cho người phụ nữ không có tiếng nói. Nhưng nhờ kiên trì, bà đã đạt được ý nguyện. Chúa kể dụ ngôn này với mục đích: dạy các môn đệ hãy noi gương bà goá, cầu nguyện luôn không được nản chí.
Ta không phải như một góa phụ, ít giá trị trước mặt xã hội. Ta là những người được Thiên Chúa ưu tuyển. Và Người không giống vị thẩm phán vô tâm; Người rất nhân hậu đối với con cái loài người. Ở đây Chúa Giêsu dường như muốn nói đến một "trường hợp cực chẳng đã", một hoàn cảnh tệ hơn cả, để chứng tỏ rằng những trường hợp và hoàn cảnh bình thường hơn tất nhiên sẽ tốt đẹp hơn nhiều. Nếu quan hệ giữa người góa phụ và vị thẩm phán cuối cùng còn như vậy, huống nữa là quan hệ giữa người ta và Thiên Chúa chắc chắn sẽ mỹ mãn vạn phần. Miễn là người ta phải kiên tâm cầu nguyện, tức là luôn tín nghĩa với Thiên Chúa. Chính điều kiện tín thành này là khó.
Thế nên Chúa Giêsu đã kết thúc bài giáo huấn hôm nay bằng một câu hỏi có vẻ não nuột nhưng rất chân thành: "Con Người đến sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa không?". Tức là các con người ưu tuyển có luôn giữ mãi lòng tín nhiệm với Thiên Chúa không? Thái độ nhàm chán của họ khi cầu nguyện không phải là dấu chỉ lòng trung tín của họ đã suy giảm rồi sao? Thế nên chúng ta phải tập kiên tâm cầu nguyện để duy dưỡng lòng tin, hầu mãi mãi nhận được lòng thương xót của Chúa.
Chúa Giêsu muốn ta hãy liên lỉ cầu nguyện và cầu nguyện cách kiên trì. Như Môsê quì giang tay suốt ngày cầu nguyện cho dân Do Thái thắng trận, như bà goá suốt bao ngày tháng cầu xin quan toà minh xét cho bà, như thánh Mônica ròng rã 20 năm trường cầu nguyện cho người con là Augúttinô trở lại, chúng ta hãy cầu nguyện liên tục và bền chí, không hề nhàm chán, cả khi xem ra Chúa ngoảnh mặt làm ngơ.
Một lời cầu nguyện được đáp lại, không phải khi chúng ta có được điều chúng ta cầu xin, nhưng khi chúng ta được ban cho cảm thức về sự cận kề của Thiên Chúa. Lời cầu nguyện của một bệnh nhân được đáp lại không phải bởi bì bệnh của người ấy biến mất, nhưng bởi vì người ấy có được một cảm thức về sự kề cận của Thiên Chúa, sự bảo đảm rằng căn bệnh của người ấy không phải là một hình phạt của Thiên Chúa và Thiên Chúa không bỏ rơi người ấy. Cầu nguyện có thể không làm thay đổi thế giới cho chúng ta, nhưng nó có thể cho chúng ta lòng can đảm đối diện với thế giới.
Cầu nguyện là một sức mạnh cũng có thực như chính sức hút của trái đất, đó là sức mạnh mà Chúa Giêsu nói đến qua hình ảnh của người đàn bà góa kiên trì trong Tin Mừng hôm nay. Ông quan tòa đứng ra xử án không phải vì lòng công bình hay vì lòng tốt mà chỉ vì không chịu đựng nổi sự quấy rầy của bà góa. Thiên Chúa nhậm lời con người không phải vì sợ con người quấy rầy mà chỉ vì lòng tốt đối với con người mà thôi. Nói đến sức mạnh của lời cầu nguyện là tuyên xưng lòng nhân từ của Thiên Chúa vậy. Kiên trì trong lời cầu nguyện cũng là ân huệ của Chúa.
Chúa Giêsu bảo chúng ta phải cầu nguyện luôn, vì:
Sự cầu nguyện luôn soi sáng niềm hy vọng và những dự định của chúng ta.
Sự cầu nguyện luôn giúp ta phân biệt được điều gì là quan trọng, điều gì là tầm thường.
Sự cầu nguyện luôn giúp ta khám phá ra những ước vọng chân thật, những ray rứt lương tâm bị bóp nghẹt, những nỗi khát khao bị quên lãng.
Sự cầu nguyện luôn chỉ cho ta thấy những lý tưởng cao đẹp cần vươn tới.
Và nhất là sự cầu nguyện luôn giữ ta thường xuyên gần gũi với Chúa.
Cầu nguyện không phải là việc xin ơn này ơn nọ, theo óc vụ lợi của chúng ta, cầu nguyện không phải là việc tránh né bổn phận để Thiên Chúa làm tất cả, cầu nguyện cũng không phải là việc liệt kê ước muốn để mong chờ Chúa thực hiện. Nhưng cầu nguyện đích thực chính là việc thực hành Đức Tin, nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa để đối thoại với Người, van xin Người tiếp tục ban ơn để chúng ta đủ sức thực hiện thánh ý Người. Thấu hiểu sự yếu đuối của con người nên Chúa Giêsu than thở: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,8). Vậy, cầu nguyện không phải là độc thoại mà là đối thoại liên lỉ và kiên trì với Thiên Chúa trong Đức Tin để trung thành với Chúa cho tới khi Người lại đến.
Cầu nguyện là dầu giữ cho ngọn đèn Đức Tin luôn cháy sáng.
Hoa trái của cầu nguyện là Đức Tin
Hoa trái của Đức Tin là tình yêu
Hoa trái của tình yêu là phục vụ
Và hoa trái của phục vụ là bình an.
Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta hãy tin tưởng và phó thác cho Thiên Chúa. Lý luận của Ngài trong dụ ngôn về một quan tòa bất công thật đơn giản: nếu quan tòa bất lương đến độ không kính sợ Thiên Chúa cũng chẳng kính nể người ta, mà còn phải chịu thua trước lời van vỉ của một bà góa, thì huống chi Thiên Chúa, Ðấng trọn hảo và yêu thương con người.
Ta tưởng Thiên Chúa câm lặng và vô cảm trước nỗi khổ đau và lời kêu cầu của con người; thật ra, công lý của Thiên Chúa không phải là công lý của loài người, lẽ khôn ngoan của Thiên Chúa không phải là lẽ khôn ngoan mà chúng ta có thể thẩm định được theo tiêu chuẩn của loài người. Tư tưởng của Thiên Chúa không phải là tư tưởng của loài người. Quyền năng và tác động của Ngài vượt trên mọi tính toán, cân lường, suy tưởng và chờ đợi của chúng ta.
Cuộc sống mỗi người Kitô là một cuộc sống trong đức tin và nhờ đức tin. Vì thế mỗi người đừng để mất đức tin hay giảm sút lòng tin. Nói một cách khác tích cực hơn là để trung thành với đức tin và phát triển đời sống đức tin. Chính việc cầu nguyện sẽ giúp chúng ta sống được như vậy.

 

TN29-C121: Kiên tâm

 Lm. Giuse Trần Việt Hùng
 

Truyện kể: Wilma Rudolph bị bạo bệnh ngay từ lúc mới sinh. Cô là một đứa trẻ sinh non thiếu TN29-C121

Truyện kể: Wilma Rudolph bị bạo bệnh ngay từ lúc mới sinh. Cô là một đứa trẻ sinh non thiếu tháng, bị viêm phổi, cảm hồng chẩn và bị bại liệt. Bệnh bại liệt làm cho một chân bị teo cơ và bàn chân mang tật. Tới lúc 11 tuổi, Wilma chân đi khập khễnh bị niềng bởi miếng kim loại. Tại nhà, cô bé xin chị coi chừng, trong khi cô thực tập bước đi không mang vật niềng. Cô bé tập tành mỗi ngày, nhưng sợ rằng cha mẹ của cô khám phá ra việc cô đang làm và có thể ép buộc cô phải ngưng. Cuối cùng, cảm thấy có lỗi. Cô trình bày mọi sự việc đang diễn tiến, bác sĩ qúa ngạc nhiên. Tuy nhiên, ông cho phép cô tiếp tục thực tập nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn. Dù thế nào đi nữa, câu truyện rút ngắn lại. Wilma tập bước đi cho tới khi cô bé đã rời bỏ đôi nạng vĩnh viễn. Cô bé tiến bộ trong việc tập chạy. Khi cô lên 16 tuổi, cô đã thắng giải huy chương đồng trong cuộc chạy đua tiếp sức ở Melbourne Olympics. Bốn năm sau, tại Rome Olympics, cô trở thành người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử thắng ba huy chương vàng môn điền kinh. Cô trở về với băng ghi dấu được đón chào tại Hoa Kỳ và gặp riêng tổng thống Kennedy và nhận Giải Thưởng Sullivan (Sullivan Award) như vận động viên nghiệp dư hàng đầu của quốc gia.
Trong cuộc lữ hành về Đất Hứa, dân Do-thái gặp nhiều bước gian truân cả đối nội lẫn đối ngoại. Đối đầu gian khó cả tinh thần lẫn thể chất. Thiên Chúa thanh luyện lòng dân qua rất nhiều biến cố khó khăn. Họ lo lắng về nơi ăn chốn ở và sự an toàn cuộc sống. Dân sống chết với cuộc sống bấp bênh lang thang trong hoang địa. Đi qua các vùng dân cư ngoại bang, họ phải tranh đấu để sống còn. Có nhiều nhóm dân thù nghịch đã dấy lên gây chiến với họ. Người Amalec đã đưa quân chinh phạt Israel: Trong những ngày ấy, người Amalec đến giao chiến với Israel tại Raphiđim (Xh 17, 8). Ông Môisen đã phải cầu khẩn với Thiên Chúa suốt ngày. Ông giang tay kiên tâm cầu nguyện, luôn đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa để cầu xin cho dân thắng trận: Khi ông Môsê giơ tay lên, thì dân Israel thắng trận, còn khi ông hạ tay xuống một chút, thì người Amalec thắng thế (Xh 17, 11). Ông Môisen và dân chúng một lòng kiên trì cậy trông vào quyền năng của Thiên Chúa. Quyền phép của Chúa thức hiện nhãn tiền qua từng giây phút.
Môisen đã kết hợp lòng trí một cách rất chân thành với Thiên Chúa Giavê. Ông khẩn cầu cùng Thiên Chúa trong mọi bước đường sướng khổ. Chúa đã dùng ông như khí cụ dẫn đưa Dân riêng ra khỏi Ai-cập để vào miền Đất Hứa. Chương trình cứu độ tiếp tục trải dài suốt dọc lịch sử của Dân Do-thái cả mấy ngàn năm. Đôi khi chúng ta tự hỏi, tại sao Thiên Chúa chuẩn bị chờ đợi một thời gian qúa dài để đón nhận Đấng Cứu Thế xuống trần? Chúng ta không thể nào hiểu thấu ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa. Thiên Chúa hằng hữu đi vào thời gian và không gian hữu hạn. Thiên Chúa luôn kiên trì chờ đợi sự tiến triển của con người. Tính theo thời gian năm tháng của đời sống con người trần thế thì qúa lâu dài. Đã có biết bao nhiêu dòng dõi nối nghiệp cưu mang sứ vụ đón nhận ơn cứu độ.
Thiên Chúa bước vào tiến trình lịch sử của một dân tộc và đồng hành từng bước cùng với sự u mê, ương ngạnh và dại khờ của con người. Thiên Chúa dõi bước qua mọi trạng huống thăng trầm của lịch sử. Chúng ta biết tâm hồn, tính tình và cõi lòng của con người đổi thay chẳng tốt lành gì. Kinh Thánh đã nêu danh một số vị tiêu biểu được Chúa chọn làm người lãnh đạo như vua Saulê, Đavít, Solômon và các vua kế vị, nhưng được mấy vị tốt lành và trung tín. Thiên Chúa ưu đãi và ban muôn ân phước lộc cho các vị lãnh đạo, nhưng hầu như vị vua nào cũng nhiều lần bị sa ngã phạm tội và rơi vào tham sân si của trần đời. Dân Riêng cũng đã nhiều lần quay lưng phản bội lại với Thiên Chúa để chạy theo tôn thờ các thần dân ngoại. Thiên Chúa luôn tín trung với lời đã hứa. Chúa kiên tâm chờ đợi. Chúa đánh phạt họ, rồi Chúa lại tha.
Chúa Giêsu dùng dụ ngôn dạy các tông đồ về sự kiên trì trong lời cầu nguyện, đừng khi nào chán nản: Chúa Giêsu dạy các ông phải cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng (Lc 18, 1). Dụ ngôn nói về sự kiên tâm của người đàn bà góa trước quan tòa. Vì bà quấy rầy qúa, nên ông đã xét xử cho bà. Chúa dùng hình ảnh việc hầu tòa để nói về sự cầu nguyện luôn. Chúng ta cần kiên trì trong cầu nguyện. Có nhiều khi điều chúng ta xin hôm nay không được, ngày mai lại đổi sang lời cầu khác. Chúng ta muốn được Chúa đáp lời cho thỏa mãn các nhu cầu ngay lập tức. Đôi khi chính chúng ta cũng không biết mình cần gì hay xin gì cho phải lẽ. Mỗi lần cầu xin chúng ta kể ra một chuỗi dài những ơn cần thiết, nhưng chúng ta lại chẳng thiết tha chờ đợi. Nghĩ rằng cầu xin rồi, Chúa muốn ban hay không cũng chẳng sao. Có thể chúng ta cầu mà chưa được vì cầu xin không đúng cách. Chúng ta dễ chán nản trong lời cầu xin là thế!
Với tâm tình khoan dung nhân hậu, Chúa Giêsu dạy chúng ta cách cầu nguyện. Không lẽ nào Thiên Chúa không nhận lời chúng ta cầu xin, nếu chúng ta thiết tha kêu cứu đêm ngày: Vậy Thiên Chúa lại không minh xử cho những kẻ Người tuyển chọn, hằng kêu cứu với Người đêm ngày, mà khoan giãn với họ mãi sao? (Lc 18, 7). Đây là chìa khóa của việc cầu nguyện. Hãy tập trung tinh thần cầu nguyện kết hợp mật thiết với Chúa. Vì không phải xin nhiều hay nói nhiều là được nhiều. Chúng ta phải biết cầu xin và biết lắng nghe. Lời cầu cần sinh ích lợi cho phần rỗi của linh hồn của chúng ta. Nhìn lại cuộc đời, Chúa đã ban cho chúng ta nhiều hơn điều chúng ta mong ước cầu xin.
Cầu nguyện cần sự kiên trì. Kiên trì chờ đợi như người mẹ mang thai chờ đợi sinh con. Người mẹ không thể cắt bớt thời gian năm tháng phát triển của thai nhi trong cung lòng. Thời gian là nguồn ân phước để cưu mang và sinh thành. Cuộc sống của chúng ta cũng thế, thời gian và môi trường chung quanh vẫn cứ trôi. Mọi loài thụ tạo theo tiến trình tự nhiên cứ phát triển. Con người cần có sự kiên nhẫn đợi chờ trong tất cả mọi diễn tiến tự nhiên. Chúng ta không thể cắt bớt thời gian để tìm đạt kết qủa ngay. Người ta nói: Dục tốc bất đạt. Trong vấn đề cầu nguyện cũng thế, cầu xin là trải lòng ra một cách khiêm tốn để nhận biết thân phận yếu hèn, tội lỗi, thiếu thốn và bất xứng, xin Chúa đoái thương và ban ơn phúc.
Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy biết sống lời Chúa để sinh hoa trái trong cuộc sống đạo. Tất cả chân lý mạc khải về Thiên Chúa và vũ trụ con người đã được ghi chép trong Kinh Thánh: Tất cả Kinh Thánh đã được Chúa linh hứng, đều hữu ích để giảng dạy, biện bác, sửa dạy và giáo dục trong đàng công chính (2Tm 3, 16). Lời linh hứng sống động được truyền đạt qua bao đời. Giáo Hội có một kho tàng khôn ngoan vô giá là Thánh Kinh và Thánh Truyền. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa được in ghi trong lịch sử cứu độ để giúp con người đạt tới cứu cánh của mình. Chúng ta không phải tìm nơi nguồn nào khác. Thánh Kinh giúp chúng ta tìm ra tận nguồn chân thiện mỹ.
Đừng ngại dùng Lời Chúa để rao giảng, thuyết phục và hướng dẫn. Phaolô đã nhấn mạnh: Con hãy rao giảng lời Phúc Âm, hãy xúc tiến việc đó, dầu thời thế thuận lợi hay không thuận lợi; hãy thuyết phục, hãy khiển trách, hãy khuyên lơn với tất cả lòng kiên nhẫn và quan tâm giáo huấn (2Tm 4, 2). Chúng ta không xấu hổ vì rao giảng lời Chúa. Không sợ hãi khi làm chứng nhân cho Chúa. Không hổ thẹn khi trưng dẫn lời Chúa. Chúng ta hãy can đảm đọc, lắng nghe và thực hành lời Chúa trong cuộc sống mỗi ngày.
Lạy Chúa, Chúa rất nhân từ và khoan dung đại lượng. Chúa chẳng bỏ rơi những ai chạy đến với Chúa xin ơn trợ giúp. Xin cho chúng con biết tín trung và bền vững dõi theo bước đường Chúa đã đi.

 

TN29-C122: Đừng thất vọng!

(Suy niệm của P. Trần Đình Phan Tiến - Bước Theo)
 

Vâng! Kính thưa quý vị, có thể nói chủ đề Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay, là một chủ đề khá TN29-C122

Vâng! Kính thưa quý vị, có thể nói chủ đề Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay, là một chủ đề khá quan trọng đối với phạm vi đức tin. Theo đó, câu Lời Chúa quan trọng nhất của đoạn Tin Mừng hôm nay chính là câu cuối( Lc 18, 8b).” ... Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy LÒNG TIN trên mặt đất nữa chăng? ”
Vâng! Thiên Chúa vốn dĩ là một mầu nhiệm, nên chi, không ai biết về Thiên Chúa, nếu Thiên Chúa không mặc khải cho, vì vậy, cầu nguyện không phải chỉ là xin ơn vật chất, mà chính là lúc phàm nhân bày tỏ sự đáp trả ơn mặc khải từ Thiên Chúa một cách khiêm tốn và trung thành, từ đó , khi cầu nguyện, chính là lúc phàm nhân “trả nợ “ cho Thiên Chúa ,vì họ đã “mắc nợ” Thiên Chúa. Chứ không phải Thiên Chúa mắc nợ chúng ta.
Hiểu như vậy, người ta sẽ không nản chí khi cầu nguyện, trái lại, cầu nguyện là bổn phận tâm linh, vì cầu nguyện là nâng tâm hồn lên để kết hiệp cùng Thiên Chúa là Cha nhân từ. Mặc nhiên, khi con người được kết hiệp cùng Thiên Chúa, thì họ không còn cần đến nhu cầu theo ý họ. Mà là chính Thiên Chúa mới thật là nhu cầu thiết yếu của họ.
Trở lại đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã dùng dụ ngôn của phàm nhân, có nghĩa là cách đối xử của phàm nhân mà dẫn chứng về Nước Trời. Chúa Giêsu bảo: “ đừng nản chí khi cầu nguyện” (c 1). Ông quan tòa chiếu cố đến bà góa, không phải vì ông ta tốt, mà là vì bà góa kiên trì. Một sự kiên trì dai dẵng đã làm cho quan tòa phải thực hiện lời yêu cầu của bà góa.
Như vậy , qua dụ ngôn: ” quan tòa bất chính và bà góa quấy rầy” (Lc 18, 1-8), Chúa Giêsu đã mặc khải cho chúng ta biết sự kiên trì cầu nguyện. Vì Thiên Chúa sẽ bênh vực kẻ cậy trông Ngài, dù Thiên Chúa có trì hoãn. (c7).
Và tại câu (8a), Chúa Giêsu đã khẳng định: “Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng bênh vực họ”. Tại sao? Thưa quý vị, thưa vì chính Người là Thiên Chúa, một lý do đơn giản như vậy.
Nhưng vấn đề là: “... Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (c 8b). Vâng, Chúa Giêsu đã nhìn thấy trước vấn đề về “ đức tin” của con người, và Người đã cảnh báo. Có nghĩa là lòng tin của phàm nhân sẽ giảm sút đến độ không còn, nếu họ chạy theo vật chất và nhu cầu trần thế hơn nhu cầu thiêng liêng. Đó là điều đáng buồn, vì chính Chúa Giêsu đã cảnh báo như thế. Đây cũng chính là trọng tâm mà Đức Benedicto XVI đã ban hành “NĂM ĐỨC TIN” vậy. Đức Nguyên Giáo Hoàng đã tâm niệm và ấp ủ câu Lời Chúa nầy để cho ra đời năm ĐỨC TIN. Có nghĩa là “năm cầu nguyện” cho Đức Tin được bền đỗ.
Như vậy, nhân ngày KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO, chúng ta cầu nguyện cho Giáo Hội trung tín tiến bước theo Chúa Kitô một cách trọn vẹn hơn nữa trong mọi sự như ý Chúa muốn. Muốn vậy, từng Kitô hữu một phải kiên tâm cầu nguyện, để kết hiệp cùng Thiên Chúa trong mọi thời gian hầu vững tin vào Lời Chúa Giêsu, Đấng là Đường là Sự Thật và là Sự Sống.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy chúng con cầu nguyện và kiên trì cầu nguyện, xin cho chúng con biết thực thi Lời Chúa dạy, để Thiên Chúa là Đấng Hằng Hữu mưu ích cho phần thiêng liêng của chúng con cho tới ngày Chúa lại đến ./. Amen.

 

TN29-C123: Cầu nguyện tín thác và kiên trì

(Suy niệm của Lm Giacôbê Tạ Chúc)
 

Ai cũng biết mỗi một tôn giáo đều có cách thức cầu nguyện riêng, phù hợp với gíao lý của mình TN29-C123

Ai cũng biết mỗi một tôn giáo đều có cách thức cầu nguyện riêng, phù hợp với gíao lý của mình. Là người Công giáo, ai mà không biết hoặc đã từng được dạy về cầu nguyện. Hằng ngày trong các sinh hoạt Giáo xứ, Hội đoàn, các gia đình luôn có những giờ cầu nguyện. Thánh Vịnh 63 dạy:
“Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ,
ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa.
Linh hồn con đã khát khao Ngài,
tấm thân này mòn mỏi đợi trông,
như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước.
Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện,
để thấy uy lực và vinh quang của Ngài.
Bởi ân tình Ngài quý hơn mạng sống,
miệng lưỡi này xin ca ngợi tán dương”
Thi sỹ công giáo Hàn Mặc Tử với những vần thơ trong nỗi đau về thể xác cũng đã thốt lên:
“Trăng! Trăng! Trăng! Là trăng, trăng, trăng!
Trăng sáng trăng sáng khắp mọi nơi
Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi
Tôi lần cho trăng một tràng chuỗi
Trăng mới là trăng của rạng ngời”
(Trăng vàng trăng ngọc – Hàn Mặc Tử)
Lời cầu nguyện của kẻ thấp hèn
Hình ảnh người đàn bà góa là biểu tượng cho những con người cô thân cô thế, những người mà kinh thánh hay nhắc tới như là: “những người nghèo của Gia-vê”, lời cầu khẩn của bà đã bị viên Quan Tòa bỏ ngoài tai. Bà thấp cổ bé họng, kêu đâu cũng chẳng thấu. Bà làm tất cả và với một lòng kiên trì, không ngã lòng trông cậy. Vị Thẩm phán lẽ ra với nhiệm vụ của mình, ông phải lắng nghe và giúp đỡ cho bà góa này. Viên Thẩm phán quá sức bất công khi ông chẳng kính sợ Thiên, cũng không xem ai ra gì.
Thế nhưng: “nước chảy đá mòn”, bà góa nghèo thay vì bỏ cuộc thì lại đeo bám cho đến cùng. Bà không nản chí, không kiêu căng tự phụ trước thái độ lạnh lùng của vị Thẩm phán bất công. Cuối cùng bà đã được toại nguyện, viên Quan tòa bất chính buộc phải xử kiện cho bà, hay nhận lời kêu xin của bà.
Thiên Chúa trung thành với lời Người đã hứa
Với Kinh Lạy Cha, Chúa Giê-su dạy các môn đệ cầu nguyện, nhưng phải kiên trì và tín thác. Không phải một sớm một chiều, cũng không theo ý muốn của ta. Vị Quan tòa không ngay thẳng rõ ràng không mến yêu Thiên Chúa, cũng không yêu thương gì anh em đồng loại. Động lực thúc đẩy ông ra tay giúp đỡ chính là vì bà này cứ đến quấy rầy mãi. Ông giải quyết cho bà bởi vì bà cứ tới mãi và đã làm ông chấp nhận dù là cực chẳng đã. Nếu hình ảnh vị Quan tòa này để chỉ về Thiên Chúa, thì phải hiểu sao cho khỏi bị méo mó. Con người của vị Thẩm phán không có chi là tốt đẹp, bất chính, không sợ Thiên Chúa cũng không tôn trọng ai, rõ ràng ông ta xấu xa vô cùng. Thế mà, ông đã phải nghe lời van xin của một người đàn bà góa tầm thường trong xã hội Chúa Giê-su. Từ đó, mỗi người mới có thể hiểu hình ảnh của một Thiên cao cả, quyền năng, tình thương biết là dường nào. Ngài tốt lành vô cùng, Đấng thấu suốt mọi nơi bí ẩn sẽ trả công và nhậm lời những ai thành khẩn van xin Ngài. Một lối ẩn dụ quá mạo hiểm để qua đó cho thấy Thiên Chúa sẵn sàng và trả lời cho những ai dẻo dai trong vóc sức, nổ lực trong niềm tin, và tín thác trong sự quan phòng của Ngài, sẽ được Ngài nhậm lời.
Tấm gương về sự kiên trì cầu nguyện
Như Môsê quì giang tay suốt ngày cầu nguyện cho dân Do thái thắng trận, như bà goá suốt bao ngày tháng cầu xin quan toà minh xét cho bà, như thánh Mônica ròng rã 20 năm trường cầu nguyện cho người con là Augúttinô trở lại, chúng ta hãy cầu nguyện liên tục và bền chí, không hề nhàm chán, cả khi xem ra Chúa ngoảnh mặt làm ngơ.
Lạy Chúa xin cho con biết cầu nguyện trong tin tưởng để luôn một dạ sắt son, vâng theo thánh ý Chúa cho tới trọn đời. Amen.

 

TN29-C124: Cầu nguyện với sự kiên trì

(Suy niệm của Lm. Mark Link, SJ)
Chủ đề: "Cầu nguyện là vấn đề đức tin, chứ không phải cảm giác."
 

Có một bà mẹ gọi điện thoại cho cha xứ. Bà ấy mới thuyết phục được cô con gái đi tĩnh tâm và TN29-C124

Có một bà mẹ gọi điện thoại cho cha xứ. Bà ấy mới thuyết phục được cô con gái đi tĩnh tâm và bà rất phấn khởi.
Trong cuộc đàm thoại, bà nói với cha xứ, "Con ao ước đứa con gái của con có một đức tin sâu đậm-giống như đức tin của con ngày xưa khi bằng tuổi cháu."
Cha xứ trả lời quả thật là cô ấy có một đức tin sâu đậm. Có lẽ bây giờ bà không còn cảm thấy đức tin như ngày xưa, nhưng đó là vì bà đã trưởng thành và thăng tiến trong một chiều hướng mới.
Ông Keith Miller có cùng một nhận định quan trọng này trong cuốn The Taste of New Wine (Vị Rượu Mới).
Ông cho biết ông cảm thấy buồn khi không còn cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trong khi cầu nguyện.
Rồi một ngày kia, bỗng dưng ông nhận ra sự sai lầm khi muốn cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa khi cầu nguyện. Nếu đó là lý do để ông cầu nguyện thì ông đã biến sự cầu nguyện thành một loại nuông chiều chính mình. Ông viết:
Tôi nhận ra rằng hầu hết cuộc đời tôi chỉ là một người duy cảm tâm linh, chỉ muốn cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trong khi cầu nguyện, và tôi buồn khi không được...
Bởi đó tôi cố gắng cầu nguyện, dù có cảm thấy hay không, và rồi lần đầu tiên trong đời tôi thấy rằng chúng ta có thể sống dựa vào đức tin đơn thuần.
Hơn thế nữa, tôi thấy rằng chính sự cầu nguyện này lại giúp tôi cảm được sự hiện diện của Chúa nhiều hơn về sau.
Ông Keith không chỉ khám phá sự sai lầm khi luôn luôn muốn cảm thấy sự hiện diện của Chúa trong khi cầu nguyện; ông còn học được điều quan trọng.
Ông biết một chân lý lớn lao về tâm linh rằng "ơn sủng nhờ sự cầu nguyện" thường xảy đến ngoài thời gian cầu nguyện.
Nói cách khác, có thể chúng ta chẳng cảm thấy gì trong khi cầu nguyện. Nhưng trên thực tế, một điều gì đó quan trọng và mỹ miều đang xảy ra.
Chúng ta đang vun trồng các hạt giống mà nó cần thời gian để nẩy mầm, để lớn lên và sinh hoa kết quả-sau này, bên ngoài thời gian cầu nguyện.
Và điều đó đã đưa chúng ta lại với nhau trong ngôi thánh đường này. Chắc chắn là có những lần chúng ta ao ước có được loại đức tin mạnh mẽ như của cô gái trung học trong câu chuyện mở đầu.
Có thể chúng ta từng bỏ cầu nguyện, vì chúng ta cảm thấy điều đó không giúp gì cho chúng ta.
Bởi đó, bài Phúc Âm hôm nay có một ý nghĩa đặc biệt cho chúng ta. Nó nói chúng ta phải kiên trì trong sự cầu nguyện, như bà goá trong dụ ngôn đã làm.
Và lý do chúng ta cần kiên trì là chính lý do mà chúng ta đã đề cập đến. Thiên Chúa làm sâu đậm thêm đức tin của chúng ta, đưa đức tin ấy ra ngoài mức độ cảm giác để đến mức độ đức tin.
Do đó, điều tệ hại mà chúng ta có thể vấp phạm là không kiên trì trong sự cầu nguyện, vì nó sẽ hủy hoại cả một tiến trình mà Thiên Chúa đã khởi đầu và đang tiến hành trong chúng ta.
Điều đó dẫn đến câu chuyện mà tôi muốn dùng để kết thúc. Câu chuyện này tóm lược những điều mà chúng ta vừa nói.
Một nhóm các thương gia ở Chicago từng gặp nhau để cầu nguyện suy niệm trong ba năm, và họ thường gặp nhau hàng tuần để hỗ trợ nhau và chia sẻ kết quả của sự cầu nguyện. Một hôm kia, có người nói:
"Tôi phải chia sẻ với tất cả các bạn một điều quan trọng. Cách đây ba năm khi chúng ta bắt đầu, tôi nghĩ rằng chỉ sau khoảng một hai năm gì đó, mình trở nên một tay lão luyện về suy niệm. Nhưng sự thật lại trái ngược. Bây giờ tôi còn tệ hơn khi mới bắt đầu."
Một sự im lặng nặng nề. Rồi một người khác lên tiếng:
"Anh Bob ơi, tôi rất vui khi thấy anh nói lên điều đó, vì tôi cũng rất giống anh. Bây giờ tôi thấy thật khó để suy niệm hơn khi mới khởi đầu. Có những lúc tôi thấy thật khô khan và trống rỗng. Nếu không vì nhóm này, có lẽ tôi không còn kiên trì được."
Nghe đến đó, một người tên là Joe Cramblit lên tiếng:
"Tôi sinh trưởng ở Wisconsin. Để tôi kể cho các anh nghe mùa bắp ở đó như thế nào. Tôi nghĩ nó có liên hệ đến tình trạng cầu nguyện của chúng ta.
"Sau khi hạt bắt được vùi xuống đất, điều đầu tiên chúng tôi làm là xin cho mưa xuống-thật nhiều mưa. Khi mưa xuống, bắp mới mọc lên. Đó là một cảnh tượng thật đẹp đến độ bạn chỉ muốn chạy ra ngoài cánh đồng và nhẩy múa.
"Sau đó chúng tôi làm một điều kỳ lạ-rất kỳ lạ, thực sự là kỳ cục! Chúng tôi cầu xin cho có quãng thời gian nắng gắt, thật khô cằn, để ép buộc rễ cái phải chui xuống đất tìm nước.
"Nếu quá nhiều nước, rễ bắp mọc ngang trên mặt đất và rễ cái không chui xuống đất tìm nước. Và như vậy, mùa màng sẽ kém vì khi mùa khô đến cây bắp không biết tìm đâu ra nước.
"Đây là điều tôi muốn nói. Thiên Chúa cũng thi hành điều tương tự với chúng ta trong sự cầu nguyện. Lúc đầu Thiên Chúa giúp chúng ta phấn khởi, thích thú trong sự suy niệm. Sau đó Thiên Chúa ban cho chúng ta giai đoạn khô khan với mục đích là buộc chúng ta phải đi sâu vào mức độ đức tin. Nếu điều này không xảy ra, chúng ta sẽ không sinh nhiều kết quả."
Không một ai trong nhóm có thể quên được sự giải thích đó.
Một người đại diện cho nhóm lên tiếng, "Tôi từng là người Công Giáo trong 50 năm và không ai giải thích sự quan trọng của đời sống tâm linh cho tôi cả."
Chúng ta hãy kết thúc bằng việc suy niệm lời Chúa qua lời cầu sau:
Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì những câu chuyện đầy phấn khởi của bà mẹ có đứa con gái tuổi trung học, của ông Keith Miller, và của người thương gia có cái nhìn sáng suốt về đời sống tâm linh mà nó phải phát triển, lớn lên và trưởng thành.
Xin Chúa giúp chúng con mở rộng tâm hồn để đón nhận hơn Chúa Thánh Thần, để chúng con kiên trì trong sự cầu nguyện, trưởng thành về tâm linh, và sinh kết quả.

 

TN29-C125: Để phán quyết công bằng

 Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
 

Thẩm phán bước vào phòng xử án, gõ búa và nói: - Trước khi tôi bắt đầu tuyên án, tôi muốn thông TN29-C125

Thẩm phán bước vào phòng xử án, gõ búa và nói:
- Trước khi tôi bắt đầu tuyên án, tôi muốn thông báo rằng, luật sư của bị cáo đã đưa cho tôi 15.000 đôla để tôi lái vụ án theo cách của ông ấy.
- Ôi, thật thế sao? - hàng chục người trong phòng xét xử xôn xao.
Vị thẩm phán tiếp lời:
- Còn luật sư của bên nguyên đơn lại đưa cho tôi 10.000 đôla để lái theo cách của cô ta.
Phòng xử im lặng lắng nghe.
- Vì vậy, để tránh trường hợp đưa ra những phán quyết không đúng và đảm bảo sự công bằng trong việc xét xử, tôi xin phép được trả lại 5.000 đôla cho bên bị cáo. Ai có ý kiến gì nữa không?
Ông thẩm phán trong câu chuyện trên đã rất thông minh và cũng rất công bằng. Ông trả lại cho bị cáo 5 000 đô la và vụ án vẫn diễn ra công bằng mà không ai có ý kiến gì. Nhưng thực ra ông thẩm phán này vẫn nhận được số tiền 20 000 đô la.
Ở đời sao tìm sự công bằng thật khó. Dầu rằng ai cũng muốn công bằng. Ai cũng đòi công bằng nhưng có vẻ như sự công bằng không phải lúc nào cũng được thực thi trong cuộc sống.
+ Đâu đó trong xã hội vẫn có những người lương thiện thiếu thốn, đói khổ lầm than, còn những kẻ xấu xa lại ung dung hưởng thụ cuộc sống an nhàn.
+ Đâu đó trong xã hội vẫn có những người chí thú làm ăn mà vẫn nợ trước trả sau còn kẻ lừa đảo lại ăn uống dư thừa.
+ Đâu đó trong xã hội vẫn có người liêm chính bị thiệt thòi, tù đầy còn kẻ tham quan tham nhũng lại sống vương giả giầu sang.
Phải chăng công lý vẫn là một giấc mơ của con người? Giấc mơ một xã hội không còn phân biệt giai cấp hay màu da? Giấc mơ một xã hội không còn tiếng khóc của oan khiên trái ngang?
Hôm nay Chúa bảo chúng ta hãy an tâm, vì “chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ” (Lc 18,7).
Chúng ta hãy tin vào Thiên Chúa quyền năng và sự công minh chính trực của Ngài. Ngài sẽ ban lại công bằng cho chúng ta nếu chúng ta biết kêu xin Người. Ngài sẽ đòi lại công lý nếu chúng ta biết van xin Ngài. Ngài sẽ không để ai thất vọng hổ ngươi vì đã tin tưởng và cậy trông vào Ngài.
Kinh Thánh đã nhiều lần cho thấy Thiên Chúa đòi lại công bằng cho dân Ngài. Khi Cain giết Abel, Thiên Chúa đã nói “máu của Abel đã kêu thấu tới trời và từ nay vạn vật sẽ đứng lên chống lại con người. Khi dân israel bị áp bức bên Ai Cập, Thiên Chúa đã sai Mô-sê đến giải thoát dân Người và trừng phạt Pharao bằng biết bao tai ương hoạn nạn.
Sống giữa một xã hội đầy bất công Chúa mời gọi chúng ta hãy tin thác vào Chúa. Hãy kêu cầu Chúa vì Ngài là vị thẩm phán chí công. Ngài sẽ trả lại công lý cho dân Người. Hãy kiên trì trong cầu nguyện thì chắc chắn Chúa sẽ đáp ứng nguyện vọng cho ta vì Thánh Vịnh đã từng nói: “Đấng gìn giữ Ítraen, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành!” (Tv 121:3-4). Chúng ta hãy tin vào sự công minh của Chúa, và Ngài sẽ “giữ gìn bạn khỏi mọi điều bất hạnh, giữ gìn cho sinh mệnh an toàn. Chúa giữ gìn bạn lúc ra vào, lui tới, từ giờ đây cho đến mãi muôn đời” (Tv 121:5-8).
Thiên Chúa thật tuyệt vời biết bao! Ước gì chúng ta hãy tín thác vào Chúa để Ngài sẽ mang lại hòa bình công lý cho chúng ta. Amen.

 

TN29-C126: Thái độ của chúng ta khi ta cầu nguyện

(Suy niệm của Lm. JP Vũ Minh)
 

Thánh sử Luca kể lại hai dụ ngôn về cách chúng ta cầu nguyện: cách thứ nhất qua dụ ngôn về TN29-C126

Thánh sử Luca kể lại hai dụ ngôn về cách chúng ta cầu nguyện: cách thứ nhất qua dụ ngôn về bà goá và người quan tòa bất lương (Lc 18:1-8); thứ hai qua dụ ngôn người biệt phái và người thu thuế (Lc 18:9-14); và hai dụ ngôn này dậy về thái độ của chúng ta khi ta cầu xin. Đây cũng là phần kết luận cho bài học mà Chúa Giêsu dậy chúng ta về đức tin trong chương 17. Hãy duyệt qua ba điểm sau đây: sự tình của bà góa, cách hành xử của quan tòa, và nghĩ về thái độ của chúng ta khi ta cầu nguyện.
Xã hội Trung Đông đề cao vai trò của nam giới! Hầu hết các công việc ngoài xã hội - từ buôn bán ngoài chợ cho tới văn phòng - vẫn còn do nam giới điều động cho đến ngày nay. Người đàn bà thuộc quyền sở hữu của đàn ông; khi còn là con gái thì thuộc về cha; khi lấy chồng thì thuộc về chồng; và nếu chồng chết mà con trai còn vị thành niên hay không có con trai thì người góa phụ đó không có người nam đứng ra thay mặt mình trong đời sống ngoài xã hội. Sự góa bụa cũng đồng nghĩa với hoàn cảnh của những người thấp cổ miệng bé - họ rất dễ bị xã hội áp bức và không có ai đứng ra bênh vực họ. Điều này không khác gì những người ở Việt Nam bị Cộng Sản đàn áp mà đã không hay chưa thể kháng cự lại.
Trong xã hội Do Thái, các Rabbi hay các luật sỹ thường là người đóng vai quan tòa để xử lý những tranh chấp trong xã hội địa phương. Chỉ những vấn đề có tầm vóc quan trọng thì mới cần đến tòa án và những tòa này đóng vai trò Tòa Án Tối Cao (Sanhedrin) như tòa đã xét xử Chúa Giêsu. Luật pháp thì đã được ghi chép trong Torah (năm quyển sách đầu của Cựu Ước) và những gì được truyền lại theo khẩu truyền hay truyền thống. Trong thời của Chúa Giêsu, người La Mã nắm toàn quyền về những tranh tụng ngoài đời và người Do Thái chỉ có quyền phán quyết về những gì liên quan tới Do Thái Giáo mà thôi. Vị thẩm phán trong dụ ngôn theo chương 18 của Thánh Sử Luca là một người chẳng biết sợ Thiên Chúa lại còn không kiêng nể ai khác cũng giống như Đảng Cộng Sản Việt Nam và những tay sai công an cán bộ, họ là những người chỉ biết xử lý theo quyền lợi của đảng hay của mình.
Bà góa trong dụ ngôn theo chương 18 của Thánh Sử Luca là người bị đặt vào hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan, và do đó bà đã quyết định liều chết cho đến cùng để tìm một giải pháp theo công lý cho những oan ức của mình. Người quan án, tuy dù chẳng biết sợ Thiên Chúa lại còn không kiêng nể ai khác, ông cũng phải nhượng bộ vì sự cương quyết của bà này; ông nghĩ rằng nếu ông không giải quyết vấn đề của bà góa này thì ông cũng sẽ bị bà làm mất mặt hay sỉ nhục trước công chúng. Nhiều khi chúng ta nghĩ rằng những vấn đề chúng ta cầu xin Chúa giải quyết chưa được Chúa trả lời; và nếu chúng ta có đủ lý do để tìm công lý trước tòa Chúa thì ta phải kiên trì nài van. Thiên Chúa là một thẩn phán chí công hay là một người cha mẹ sẽ không cho con mình con rắn khi nó xin con cá hay nó xin quả trứng mà lại cho nó con bọ cạp (Lc 11:5-13). Chúa Giêsu muốn rằng tất cả chúng ta hãy tin vào Chúa hoàn toàn và cứ cầu nguyện liên lỷ vì Thiên Chúa của chúng ta sẽ không như vị thẩm phán bất lương kia mà thiên hạ thường nghĩ.

 

TN29-C127: Một nền tảng của đức tin: Sự Cầu Nguyện

(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)
 

Sau khi lên các phương kế để dụ Tư Mã ý vào hang động Thượng Phương, Khổng Minh đã sai TN29-C127

Sau khi lên các phương kế để dụ Tư Mã ý vào hang động Thượng Phương, Khổng Minh đã sai quân sĩ bịt kín cửa hang rồi dùng hoả công để tiêu diệt viên tướng tài của nước Nguỵ. Đang nắm chắc kết quả, một kết quả có thể xoay đổi tình hình thế sự thời tam quốc phân tranh lúc bấy giờ, hầu đưa nhà Thục thống nhất đất nước, thì bỗng một cơn mưa bất chợt đổ xuống dập tắt đòn hoả công của Khổng Minh và cứu sống Tư mã Ý. Khi ấy Khổng Minh đã than rằng: “Mưu sự tại nhân. Thành sự tại thiên”. Hai từ “trời định” mà dân gian thường dùng nói lên quan niệm về ý định của trời xanh đã chi phối cuộc nhân sinh một cách nào đó.
Niềm tin Kitô giáo cũng có cái nhìn về thiên mệnh nhưng hoàn toàn không theo kiểu thụ động, yếm thế. Chúng ta tin nhận thánh ý của Thiên Chúa, nhưng sự tin nhận này không loại bỏ vai trò của sự tự do mà Thiên Chúa tặng ban cho con người. Thiên Chúa không phải là một vị thần chuyên chế quyết định mọi chuyện thành bại hay được thua của con người. Cách riêng những sự tốt xấu theo chiều kích luân lý thì đều có sự tham gia của sự tự do của chính con người. Giáo lý Công giáo dạy rằng chỉ có hành vi nhân linh nghĩa là những hành vi bao hàm sự hiểu biết và tự do thì mới có giá trị luân lý. Tuy nhiên để đạt được những điều tốt đẹp, Kitô hữu tin rằng phải cần đến ân sủng của Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn của mọi sự thiện hảo. Chúa Kitô đề cập đến chân lý này qua hình ảnh cây nho, cành nho và Người đã khẳng định: “Không có Thầy anh em chăng làm gì được”(Ga 15,5).
Sách Xuất hành tường thuật cuộc chiến giữa quân Israel và quân Amalếch. Trong khi tướng Giosuê đem quân đi giao chiến thì Môsê lên núi cầu nguyện. “Khi nào ông Môsê giơ tay lên, thì dân Israel thắng thế; còn khi ông hạ tay xuống, thì Amalếch thắng thế” (Xh 17,11). Dữ kiện này muốn nói rằng sự thắng thua của dân Israel là do bởi Thiên Chúa mà thôi. Chính vì thế nhất thiết cần phải gắn bó với Thiên Chúa, đặc biệt bằng sự cầu nguyện.
“Luật của cầu nguyện là luật của niềm tin” (lex orandi, lex credendi). Câu ngạn ngữ trên đã nói lên mối tương quan mật thiết giữa niềm tin với việc cầu nguyện, cầu nguyện riêng tư hay cầu nguyện công khai chính chính qua các cử hành Phụng Vụ. Dĩ nhiên nếu hiểu văn phong dụ ngôn thì chúng ta sẽ nhận ra ý nghĩa chính của câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể về “ông quan toà chẳng sợ Thiên Chúa mà phải chào thua sự lì lợm của một bà goá”(x.Lc 18,1-8). Ý nghĩa của câu chuyện dụ ngôn đã được thánh sử Luca nói ngay đầu đoạn tin mừng đó là “để dạy các môn đệ phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” và cái lý do được nêu lên ở câu cuối đó là lòng tin.
Một vấn nạn: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”(Lc 18,8). Câu than thở của Chúa Kitô khiến chúng ta phải giật mình và cảnh tỉnh. Khi nhân loại ngày càng văn minh tiến bộ, khi nên công công nghệ ngày càng tinh xảo và tân kỳ, thì dường như sự tự cao tự đại đang ngày càng xuất hiện dưới nhiều hình thức. Dù nhiều người với cái thói kiêu căng cho rằng ‘bàn tay ta làm nên tất cả…” đã từng “trắng mắt ra” khi đối diện với những nghịch cảnh vượt quá sức mình, thế nhưng vẫn còn đó những hình thái ngông nghênh cao ngạo bằng sự độc tôn, độc đoán, độc quyền, chuyên chế… Những hình thức tự tôn vinh, thần thánh hoá bản thân hay tập thể của mình lên hàng muôn năm hay bất diệt vẫn còn nhan nhãn đó đây. Một khi sự tự tin đã biến thành sự tự tôn thì lòng tin vào Đấng Tối cao sẽ suy giảm và rồi sẽ biến mất. Khi con người đã không còn tin vào Đấng Tối cao thì chắc chắn sẽ làm được sự gì tốt đẹp đúng nghĩa. Như thế, lòng tin hay đức tin, nói theo ngôn ngữ Kitô giáo, chính là nền tảng của mọi thành quả tốt đẹp mà con người đạt được.
Kitô giáo luôn khẳng định rằng tin là đón nhận Thánh ý Thiên Chúa và dấn thân hết mình để sống theo thánh Ý đã lãnh nhận. Hai mẫu gương lớn của lòng tin thường được giáo hội nói đến đó là Tổ phụ Abraham và Mẹ Maria. Đang là người sinh sống bằng nghề chăn nuôi súc vật thế mà Abraham đã can đảm vâng nghe lời Thiên Chúa mời gọi lên đường đi đến nơi chưa từng biết. Nếu nơi ấy là nơi thiếu cỏ hay thiếu nước thì việc chăn nuôi sẽ phá sản. Tuổi đã cao, người phối ngẫu đã qua thời sinh nở thế mà Abraham vẫn vâng lệnh Thiên Chúa để hiến tế người con trai duy nhất, kẻ sẽ nối dõi tông đường, người sẽ giúp ông tránh được sự bất hiếu với tổ tiên. Khi đón nhận và “xin vâng” như lời sứ thần truyền thì Mẹ Maria đã chấp nhận sự hiểu lầm của người bạn đời, Giuse và chấp nhận cả cái án hình bị ném đá theo luật bấy giờ.
Làm sao có thể đón nhận và thực thi Thánh ý Chúa nếu chúng ta không gặp gỡ và lắng nghe Người phán dạy? Và làm sao chúng ta có thể gặp gỡ Thiên Chúa nếu không chuyên chăm cầu nguyện? Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên, gặp gỡ Thiên Chúa, kết hiệp với Người, lắng nghe Người phán dạy để rồi can đảm thực thi. Cầu nguyện là cách thế biểu lộ niềm tin và cũng là phương thế củng cố niềm tin. Vì chúng ta tin nên chúng ta cầu nguyện. Nhờ chúng ta cầu nguyện nên niềm tin của chúng ta được củng cố.
Ai có thể tự hào rằng mình đã vững vàng trong đức tin? Ai có thể tự nhận rằng mình sẵn sàng hy sinh mạng sống để thực thi giới luật yêu thương Chúa Kitô truyền dạy? Ngoại trừ các thánh nhân, có thể nói chúng ta, từ người giáo dân hèn mọn đến vị mục tử trọng chức, thảy đều non kém đức tin, chưa dám xả thân, hiến mình để sống yêu thương đến cùng. Chính vì thế việc chuyên chăm cầu nguyện là điều như tất yếu. Tuy nhiên cần khẳng định rằng cầu nguyện không phải là để bắt Chúa thực hiện ý muốn của chúng ta, nhưng là để chúng ta biết cách thực thi thánh ý Chúa, nghĩa là để sống đức tin. Và xin đừng quên đức tin chính là chìa khoá dẫn chúng ta đến sự sống đời đời.

 

TN29-C128: Cầu nguyện

Một bức thư được viết nguệch ngoạc của một đứa trẻ gửi vào bưu điện, và địa chỉ tới nhà Chúa TN29-C128

Một bức thư được viết nguệch ngoạc của một đứa trẻ gửi vào bưu điện, và địa chỉ tới nhà Chúa. Nhân viên bưu điện lấy làm lạ liền mở ra đọc. Thư viết rằng: “Chúa thân mến, con là Tommy, con sáu tuổi. Ba con đã chết và mẹ con phải cực khổ để nuôi sáu anh em chúng con. Xin Chúa cho chúng con 300 đồng nhé”.
Đọc thư xong, anh nhân viên bưu điện rất xúc động và đưa cho các bạn đồng nghiệp xem. Họ quyết định quyên góp để giúp gia đình cậu bé. Số tiền tổng cộng là 100 đồng, và họ gởi tới địa chỉ cậu bé.
Vài tuần sau, họ nhận được lá thư thứ hai. Họ cũng mở ra đọc, thư viết như sau: “Lần tới, Chúa có thể gởi trực tiếp cho gia đình con, vì gởi qua bưu điện, họ giữ lại 200 đồng!”
Nghe xong câu chuyện, chúng ta phải bật cười vì sự ngây ngô của cậu bé, nhưng liền sau đó chúng ta lại cảm thấy hổ thẹn vì thấy bóng dáng mình thấp thoáng trong hình ảnh cậu bé: Chúng ta cầu nguyện và muốn được Chúa đáp lời tức thì theo yêu cầu chúng ta đề ra, nếu Người chậm đáp ứng hoặc đáp ứng chưa đủ “chỉ tiêu” chúng ta đưa ra, thì chúng ta lại khó chịu, và cũng chẳng thèm cám ơn Người.
Tin Mừng hôm nay Chúa dạy các môn đệ: “Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”. Người muốn chúng ta hãy liên lỉ cầu nguyện và cầu nguyện cách kiên trì. Như Môsê quì dang tay suốt ngày cầu nguyện cho dân Do thái thắng trận, như bà góa suốt bao ngày tháng cầu xin quan tòa minh xét cho bà, như thánh Monica ròng rã 20 năm trường cầu nguyện cho người con là Augustinô trở lại, chúng ta hãy cầu nguyện liên tục và bền chí, không hề nhàm chán, cả khi xem ra Chúa ngoảnh mặt làm ngơ.
Chúng ta không nên tìm kiếm hiệu quả tức thì. Chúa sẽ đáp lời chúng ta lúc nào và cách thức nào có lợi nhất cho chúng ta, theo như thánh ý nhiệm mầu của Người. Thời gian Chúa nhậm lời có thể sẽ lâu hơn chúng ta tưởng, cách thức Người ban ơn có thể sẽ khác với ước nguyện của chúng ta, nhưng bao giờ cũng là lúc thích hợp nhất cho linh hồn chúng ta, bao giờ cũng là cách hữu hiệu nhất cho hạnh phúc vĩnh cửu của mỗi người.
Thường chúng ta lầm tưởng rằng, hơn ai hết chúng ta là người biết rõ những điều mình cần xin. Nhưng thánh Phaolô dạy: “Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, chính Thánh thần sẽ cầu thay nguyện giúp chúng ta theo đúng ý Thiên Chúa”. Vì thế, Đức Tổng Giám mục Fulton Sheen viết: “Pytago đã cấm môn sinh của ông không được cầu nguyện cho chính họ vì họ không biết điều gì là lợi ích cả”. Khôn ngoan hơn, Socrates dạy môn đồ ông chỉ xin những điều tốt lành, vì lẽ Thiên Chúa biết tường tận những gì lợi ích. Dốt nát và yếu đuối nên chúng ta phải xin Thánh Thần soi sáng để chúng ta làm đẹp lòng Chúa trong lúc an bình cũng như khi xao xuyến.
Như thế, cầu nguyện không phải là việc xin ơn này ơn nọ, theo óc vụ lợi của chúng ta, cầu nguyện không phải là việc tránh né bổn phận để Thiên Chúa làm tất cả, cầu nguyện cũng không phải là việc liệt kê ước muốn để mong chờ Chúa thực hiện. Nhưng cầu nguyện đích thực chính là việc thực hành đức tin, nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa để đối thoại với Người, van xin Người tiếp tục ban ơn để chúng ta đủ sức thực hiện thánh ý Người. Thấu hiểu sự yếu đuối của con người nên Chúa Giêsu than thở: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng? Vậy, cầu nguyện không phải là độc thoại mà là đối thoại liên lỉ và kiên trì với Thiên Chúa trong đức tin để trung thành với Chúa cho tới khi Người lại đến.

 

TN29-C129: TÍN THÁC VÀO CHÚA THÁNH THẦN,

CHÚNG TA LUÔN TRỞ NEN NGƯỜI RAO GIÃNG LỜI CHÚA
Tín thác vào Chúa - Lm. Jude Siciliano, OP
(Chuyển ngữ: FX. Trọng Yên, OP)
 

Hôm nay, bài trích thỏ thánh Phaolô gỏ̉i ông Timôthê là một bài đáng quý cho các vị giảng thuyết TN29-C129

Hôm nay, bài trích thỏ thánh Phaolô gỏ̉i ông Timôthê là một bài đáng quý cho các vị giảng thuyết. Đó là điều rất hệ trọng cho nhủ̃ng ai liên quan đến việc rao giảng. Chúng ta không xem điều thánh Phaolô giao cho ông Timôthê là chuyện vặt. Chắc thánh Phaolô không nghĩ nhủ vậy khi thánh Phaolô bảo ông Timôthê: "Trủỏ́c mặt Thiên Chúa và Đù́c Giêsu Kitô, Đấng sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết... Hãy rao giảng Lỏ̀i Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng nhủ lúc không thuận tiện....".
Rao giảng chắc là việc không phải luôn luôn "thuận tiện". Đôi khi chúng ta phài nói nhủ̃ng điều mà chúng ta biết thính giả không muốn nghe, nhủng chúng ta có "bổn phận" phải nói lên. Lại còn có điều "không thuận tiện" khác về việc rao giảng liên quan đến thế gian. Người giảng thuyết thủỏ̀ng lệ cần phải làm nhiều việc vào nhủ̃ng lúc không thuận tiện và bận rộn. Có bao nhiêu điều khác nhau khiến người thuyết giảng phải lo lắng, và có thể lơ đểnh trong sự cố gắng của bản thân, không có chủ đề, và không chú trọng trong việc soạn bài giảng. Đối vỏ́i nhủ̃ng người thuyết giảng thông thủỏ̀ng, thì rao giảng chỉ là một việc làm thêm buộc phải làm trong nhủ̃ng ngày bận rộn vỏ́i công việc, nên họ có thể tự cho phép kinh qua việc cầu nguyện và soạn bài giảng đôi chút, vì phải tính toán nhủ̃ng việc mục vụ phải làm hằng ngày, rồi mỏ́i đến bài giảng.
Vậy thì phần đông chúng ta, nhủ̃ng kẻ không là người thuyết giảng, nghĩ gì về bài đọc 2 hôm nay? Chúng ta có tránh khỏi đủọ̉c không? Không đâu. Thánh Phaolô mời gọi tất cả tín hủ̃u. Thánh Phaolô khuyến khích tất cả các Kitô hủ̃u phải hành động. Sau khi nghe thỏ thánh Phaolô hôm nay, chắc có ngủỏ̀i vội chạy ra khỏi nhà thỏ̀ để rao giảng tủ̀ đầu đủỏ̀ng đến xó chợ. Và họ cũng vội vả đổ xô ghi tên học các khoá học về rao giảng. Chắc họ sẽ yêu cầu cho họ một cách học riêng; Và nói là họ vì còn phải bận rộn vỏ́i công chuyện gia đình trủỏ́c đã.
Dù vậy, mỗi ngủỏ̀i trong chúng ta đều đã chịu phép rủ̉a để nên ngôn sủ́, tiên tri và là vương đế trong Chúa Kitô. Mỗi ngủỏ̀i trong chúng ta đều có kinh nghiệm riêng về Chúa Kitô trong đỏ̀i sống của mình. Và trong nhủ̃ng trủỏ̀ng họ̉p riêng của mỗi ngủỏ̀i, chúng ta đủọ̉c thánh Phaolô "giao cho" trách nhiệm và lẽ cố nhiên là bỏ̉i Chúa Thánh Thần để "rao giảng Lỏ̀i Chúa".
Đó là điều các tín hủ̃u tiên khỏ̉i đã làm. Họ đã gặp và đồng hành vỏ́i Thiên Chúa trong đỏ̀i sống họ qua Chúa Giêsu Kitô. Qua Chúa Giêsu Thiên Chúa đã gặp họ và thay đổi đỏ̀i sống họ. Làm sao mà họ lại không bắt đầu nói về kinh nghiệm đó, nhủ thánh Phaolô đã nói đến, và làm sao mà họ lại không "rao giảng Lỏ̀i Chúa?". Chúng ta không cần phải đủ́ng sau bục giảng để rao giảng. Đối vỏ́i phần đông chúng ta, chúng ta không có ỏn gọi làm nhủ thế. Nhủng, điều đó không có nghĩa là chúng ta ngồi lại và để nhủ̃ng vị giảng thuyết đã chịu chủ́c làm tất cả mọi việc. Chúng ta có thể học được rất nhiều về lỏ̀i thánh Phaolô nói vỏ́i ông Timôthê hôm nay.
Thánh Phaolô là thầy dạy của ông Timôthê làm việc mục vụ. Thánh Phaolô nhắc ông Timôthê nhỏ́ là tủ̀ thỏ̀i thỏ ấu ông ta đã đủọ̉c biết "Sách Thánh". Phaolô tin chắc là Sách Thánh là một ỏn huệ, đã dạy cho Timôthê sụ̉ khôn ngoan để trở nên ngôn sủ́, để đủọ̉c ỏn củ́u độ và lòng tin vào Đủ́c Giêsu Kitô. Chúng ta không tin đủọ̉c sụ̉ khôn ngoan đó ỏ̉ nỏi nào khác phải không? Chắc chắn là không bỏ̉i thế gian, hay đáng tiếc hỏn là không bỏ̉i nỏi nào mà dân chúng tìm đến. Trong khi thánh Phaolô ca ngọ̉i cội rễ của khôn ngoan trong Sách Thánh có nhiều ngủỏ̀i không hiểu biết gì về Sách Thánh. Dù vậy, Phaolô nhấn mạnh và nhắc nhỏ̉ chúng ta nhỏ́ là "tất cả các sách trong Kinh Thánh là bỏ̉i từThiên Chúa linh ủ́ng ".
Phaolô không kêu gọi chúng ta hãy nên như nhủ̃ng ngủỏ̀i thông hiểu Sách Thánh theo văn chủỏng. Sách Thánh là Lỏ̀i của Thiên Chúa nói vỏ́i chúng ta là nhủ̃ng phàm nhân; qua lỏ̀i của phàm nhân. Công Đồng Vatican II nói: "Thiên Chúa nói vỏ́i chúng ta theo lỏ̀i của ngủỏ̀i phàm" Nói cách khác, Thiên Chúa không đọc để thủ ký viết tủ̀ng chủ̉ trong Sách Thánh. Nhủng, theo chúng ta đọc qua Sách Thánh, Thiên Chúa mặc khải chính Ngài qua sụ̉ tủỏng quan vỏ́i ông Môsê. ông Abraham và các ngôn sủ́ v.v..., và qua các hoàn cảnh lịch sủ̉ nhủ Xuắt Hành, Giáng Sinh và các lỏ̀i giảng dạy của giáo triều. Thiên Chúa mặc khải hoàn toàn chính Ngài qua chính Chúa Giêsu Kitô, sụ̉ sống, sụ̉ chết và sụ̉ sống lại của Ngài là lỏ̀i muôn thuỏ̉.
Nhủ̃ng ngủỏ̀i đầu tiên có kinh nghiệm việc củ́u chuộc của Thiên Chúa qua Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng về nhủ̃ng hành động đó của Thiên Chúa. Nhủ̃ng ̣điều họ viết ra gom góp lại thành sách và rồi cộng đoàn tín hủ̃u quyết định nhủ̃ng điều họ viết ra đủọ̉c gìn giủ̃ thành Kinh Thánh là nhủ̃ng sách chính của cộng đoàn.
Giáo Hội tin tủỏ̉ng là Chúa Thánh Thần hiện diện trong tất cả các việc đó tủ̀ lúc bắt đầu gặp Chúa Kitô cho đến sách cuối cùng. Phaolô tin tủỏ̉ng là Chúa Thánh Thần hiện diện trong các việc rao giảng, viết sách, và chọn sách làm cho Phaolô nói "Tất cả nhủ̃ng gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hủ́ng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sủ̉a dạy, giáo dục để trỏ̉ nên công chính".
Phaolô viết cho ông Timôthê là ngủỏ̀i có trách nhiệm lãnh đạo trong giáo hội. Đối vỏ́i nhiều ngủỏ̀i trong chúng ta, việc lãnh đạo đó gồm có việc giảng dạy và tổ chủ́c, lo các hình thủ́c phụng vụ, mục vụ cho ngủỏ̀i đau ốm, ngủỏ̀i hấp hối, nghủỏ̀i nghèo, và ngủỏ̀i trong lao tù v.v... Phaolô tha thiết khuyên ông Timôhtê hãy lỏ́n lên trong đủ́c tin, và hãy trung kiên vỏ́i nhủ̃ng điều ông ta đã học và đã tin. Phaolô khuyên bảo rằng cội rễ của sụ̉ lỏ́n lên trong đủ́c tin là Sách Thánh. Nhủ̃ng điều gì ủ́ng dụng cho đủ́c tin của Timôthê đều ủ́ng dụng cho đủ́c tin của chúng ta.
Lỏ̀i Phaolô khuyên nhủ gởi cho Timôthê cũng là cho mỗi ngủỏ̀i trong chúng ta. Qua cách này hay cách khác, mỗi ngủỏ̀i trong chúng ta đều đủọ̉c mỏ̀i gọi nên người rao giảng. Mỗi ngủỏ̀i đều đủọ̉c ỏn gọi loan báo Tin Mủ̀ng. Hôm nay Phaolô nói vỏ́i chúng ta là Sách Thánh là nguồn gốc sụ̉ khôn ngoan cho chúng ta, và qua chúng ta, nhủ̃ng ngủỏ̀i khác đủọ̉c thu hút bởi sụ̉ khôn ngoan đó.
Đối vỏ́i nhủ̃ng ngươi rao giảng hằng ngày trong thế giỏ́i, Sách Thánh phải là căn bản đầu tiên của lỏ̀i kinh nguyện của chúng ta. Một cách nguyện ngắm Sách Thánh đã đủọ̉c áp dụng vào truyền thống các dòng tu gọi là "Lectio Divina" hay là "nguyện gẫm Sách Thánh". Đó là việc đọc và suy ngẫm chậm rải và cầu nguyện theo Sách Thánh. Nếu chúng ta áp dụng phủỏng pháp này vào việc nghe Lỏ̀i Chúa trong đỏ̀i sống hằng ngày của chúng ta, thì chúng ta sẽ đủọ̉c Lỏ̀i Chúa thúc đẩy chúng ta đi ra ngoài để loan báo Lỏ̀i đó qua lỏ̀i nói và việc làm của chúng ta. Nhủ Phaolô nói, chúng ta sẽ lỏ́n lên trong kinh nghiệm đủ́c tin và việc đó sẽ giúp chúng ta giảng dạy, biện bác, và sủ̉a dạy.
Đôi khi, trong lỏ̀i văn chính, nhủ̃ng tủ̀ ngủ̃ của Sách Thánh có ý nghĩa sâu xa và thi thỏ. Nên khi Phaolô nói "Tất cả nhủ̃ng gỉ viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa Linh hủ́ng". Cụm tủ̀ "linh hủ́ng" có nghĩa chính là "Thiên Chúa thổi hỏi vào". "Thổi hỏi" là việc Thiên Chúa tạo dụ̉ng, khi Ngài tạo dụ̀ng con ngủỏ̀i đầu tiên. Phaolô nói việc đó là việc Thiên Chúa làm nên Lỏ̀i, và bỏ̉i đó Lỏ̀i có thể cho chúng ta hỏi thỏ̉ của sự sống mỏ́i. Sự sống mỏ́i thúc đẩy đỏ̀i sống tầm thủỏ̀ng, thói quen kinh nguyện hằng ngày, và làm cho chúng ta thêm ham muốn chia sẻ điều chúng ta đã nghe vỏ́i nhủ̃ng ngủỏ̀i khác. Và đó chính là điều thánh Phaolô bảo chúng ta làm hôm nay:
"Trủỏ́c mặt Thiên Chúa và Đủ́c Kitô Giêsu, Đấng sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết, Đấng sẽ xuất hiện và nắm vủỏng quyền, tôi tha thiết khuyên anh hãy rao giảng Lỏ̀i Chúa".
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây