Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29TN-C Bài 1-50 Kiên trì cầu nguyện

Thứ năm - 17/10/2019 07:06
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29TN-C Bài 1-50 Kiên trì cầu nguyện
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29TN-C Bài 1-50 Kiên trì cầu nguyện
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29TN-C Bài 1-50 Kiên trì cầu nguyện
TN29-C1. Kiên nhẫn trong lời cầu. 3
TN29-C2. HRK/192- CẦU NGUYỆN.. 5
TN29-C3. HRK/432- Cầu nguyện. 7
TN29-C4. CSTM/239- Cầu nguyện. 9
TN29-C5. NTGT/273- Truyền giáo. 11
TN29-C6. CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO.. 14
TN29-C7. CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN.. 16
TN29-C8. SCĐ/774- Cầu nguyện. 18
TN29-C9. CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN.. 19
TN29-C10. Thiên Chúa sẽ ban cho tôi điều tốt nhất 23
TN29-C11. Có Phải Con Trai Thì Tốt Hơn Con Gái?. 26
TN29-C12. Bà góa - Nhóm Đồng Hành. 28
TN29-C13. Suy Niệm của JKN.. 29
TN29-C14. “Xin minh oan cho tôi”- Lm. Đam. Cao tấn Tĩnh. 33
TN29-C15. Lời nguyện cầu- Lm. Bùi quang Tuấn. 36
TN29-C16. Kiên Trì! Kiên Trì! 40
TN29-C17. Sức mạnh vạn năng- Lm. Vũ minh Nghiễm.. 42
TN29-C18. KIÊN TRÌ TRONG CẦU NGUYỆN.. 46
TN29-C19. Suy Niệm của JKN –  2. 48
TN29-C20. VAI TRÒ CỦA CẦU NGUYỆN.. 52
TN29-C21. TIN TƯỞNG-SNLC/222. 54
TN29-C22. CẦU NGUYỆN KHÔNG NGỪNG.. 55
TN29-C23. BIẾT CHÚA BIẾT MÌNH-Suy Niệm của Br Minh Trân, CMC.. 57
TN29-C24. KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN.. 59
TN29-C25. THIÊN CHÚA LẮNG NGHE.. 62
TN29-C26. CẦU MÀ KHÔNG ĐƯỢC.. 64
TN29-C27. CẦU NGUYỆN-NGMTV/401. 67
TN29-C28. CHUYỂN CẦU-NTDY/146. 68
TN29-C29. KIÊN NHẪN-TVN2000. 69
TN29-C30. CẦU NGUYỆN -NMS/175. 71
TN29-C31. KIÊN TRÌ -CS/145. 73
TN29-C32. THÁNH LUCA CHO BIẾT RÕ Ý NGHĨA CỦA DỤ NGÔN NÀY.. 74
TN29-C33. LỬA  TRUYỀN GIÁO.. 77
TN29-C34. KIÊN TRÌ TRONG CẦU NGUYỆN.. 79
TN29-C35. BÀI TIN MỪNG CHÚA NHẬT HÔM NAY RÚT RA TỪ ĐOẠN TIN MỪNG.. 81
TN29-C36. NƯỚC CHẢY ĐÁ MÒN-Lm. Phêrô Trần Minh Đức. 84
TN29-C37. TIN TƯỞNG VÀ KIÊN TRÌ- Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội 85
TN29-C38. Phải cầu nguyện luôn. 88
TN29-C39. CẦU NGUYỆN KIÊN TRÌ - SCĐ.. 95
TN29-C40. THẨM PHÁN BẠO NGƯỢC VÀ BÀ GÓA QUẤY RẦY.. 103
TN29-C41. Phải cầu nguyện luôn. 109
TN29-C42. THIÊN CHÚA LÀ CỜ TRẬN CỦA TÔI 112
TN29-C43. LỜI CẦU NGUYỆN KHÔNG NGỪNG.. 116
TN29-C44. Cầu Nguyện. 117
TN29-C45. Cầu nguyện- ngôn ngữ của đức tin và lòng mến. 120
TN29-C46. Xin Hãy Minh Oan Cho Tôi 122
TN29-C47. CHÚA NHẬT 29 QUANH NĂM... 125
TN29-C48. KIÊN TÂM CẦU NGUYỆN.. 129
TN29-C49. THIÊN CHÚA MINH XÉT.. 131
TN29-C50. Cầu nguyện – ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt. 136
--------------------
 

TN29-C1. Kiên nhẫn trong lời cầu

Qua đoạn tin mừng hôm nay, chúng ta cùng nhau chia sẻ hai điểm, đó là hãy cầu nguyện và: TN29-C1

Qua đoạn tin mừng hôm nay, chúng ta cùng nhau chia sẻ hai điểm, đó là hãy cầu nguyện và cầu nguyện trong kiên nhẫn.
Trước hết là hãy cầu nguyện.
Người xưa có câu :
- Hữu cầu tất hữu ứng.
Câu này thực đúng với lời Chúa Giêsu đã nói :
- Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy và hãy gõ cửa thì sẽ mở cho.
Chỉ cần đọc lại Phúc âm, chúng ta sẽ thấy được sự thật ấy.
Ngày kia, có một viên đội trưởng đến xin Chúa chữa lành cho đứa con đau yếu tại nhà. Chúa bảo :
- Ta sẽ đi chữa nó.
Nhưng viên đội trưởng liền thưa lại :
- Lạy Thầy, con chẳng đáng Thầy ngự vào nhà con, nhưng xin Thầy phán một lời, tức thì đứa nhỏ nhà con sẽ lành mạnh.
Chúa Giêsu đã khen ngợi đức tin của ông và đã chữa lành cho đứa con của ông.
Cũng trong lúc ấy, có một người phong cùi đến quỳ dưới chân Chúa mà van xin :
- Lạy Thầy, nếu Thầy muốn, Thầy có thể làm cho con được sạch.
Và Chúa Giêsu đã nói với anh :
- Ta muốn, con hãy nên lành sạch.
Thái độ dễ dàng của Chúa Giêsu không có chi là khó hiểu vì Ngài là Đấng quyền năng và giàu lòng thương xót.
Thực vậy, là một người giàu có, sẵn tiền trong tay, đồng thời lại là người quảng đại và bác ái, nếu gặp một kẻ nghèo khổ đến xin giúp đỡ, hẳn chúng ta sẽ không ngần ngại bố thí.
Là con người xấu xa, chúng ta còn biết đối xử với nhau như vậy, huống nữa là Thiên Chúa. Ngài vừa giàu về quyền năng, lại vữa giàu về lòng thương xót. Chính Chúa Giêsu cũng đã nói cho chúng ta biết điều ấy :
- Ai trong các ngươi lại cho đá thay vì bánh, cho rắn thay vì cá khi con cái các ngươi van xin. Là những kẻ xấu xa, các ngươi còn biết đem của tốt mà cho con cái, phương chi là Cha các ngươi ở trên trời, là Đấng tốt lành vô cùng.
Và rồi Ngài đã kết luận :
- Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy và hãy gõ cửa thì sẽ mở cho.
Điều cần thiết đó là chúng ta có xin, có tìm và có gõ cửa hay không ?
Tuy nhiên, Chúa còn đòi hỏi chúng ta phải kiên nhẫn trong lời cầu của mình.
Thực vậy, người đời thường bảo :
- Ngồi lâu câu bền, năng nhặt chặt bị.
Chính Chúa Giêsu cũng nói :
- Ai bền đỗ đến cùng thì sẽ được cứu rỗi.
Hẵn chúng ta còn nhớ câu chuyện về người đàn bà xứ Canaan. Bà tới xin Chúa Giêsu làm phép lạ cho đứa con gái bị quỉ ám. Lần thứ nhất, Chúa yên lặng. Lần thứ hai, Chúa cũng vẫn yên lặng đến nỗi các môn đệ phải can thiệp :
- Xin Thầy làm phứt đi cho bà kẻ bà cứ lải nhải đi theo chúng ta,
Thế nhưng, Chúa đã đáp lại bằng một câu không ai ngờ tới :
- Đừng lấy bánh của con cái mà ném cho chó.
Dầu vậy, bà vẫn không thất vọng nản chí, bà thưa lên cùng Chúa :
- Ít nữa là chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn rơi xuống.
Và Chúa Giêsu đã khen ngợi sự kiên nhẫn của bà và đã cứu chữa đứa con gái của bà.Thánh nữ Monica cũng đã từng kiên nhẫn cầu nguyện trong nức mắt và khổ đau suốt nhiều năm, cuối cùng Augustinô đã làm lại cuộc đời và trở nên một vị thánh. Hãy cầu xin và cầu xin trong kiên nhẫn, chắc chắn Chúa sẽ nhận lời chúng ta.

 

TN29-C2. HRK/192- CẦU NGUYỆN

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn về một vị thẩm phán không liêm: TN29-C2

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn về một vị thẩm phán không liêm khiết khi có một bà góa đến xin ông xử việc cho mình. Kết luận của dụ ngôn là nếu vị thẩm phán bất lương đã không quan tâm gì đến bổn phận, không kính sợ Thiên Chúa và cũng chẳng sợ ai, nhưng sau cùng phải xét xử cho bà góa để khỏi bị quấy rầy nhiều lần. Chỉ có Chúa là Đấng thánh và công bình, chắc chắn Ngài sẽ nghe lời cầu xin thiết tha của con cái mình.
Một câu hỏi người thời nay thường đặt ra đối với việc cầu nguyện là : “Cầu nguyện có ích gì không ?” Nếu hiểu cầu nguyện là xin ơn mà thôi thì có thể nói cầu nguyện không cần thiết. Thiên Chúa không thay thế chúng ta trong những gì chúng ta phải làm vì bổn phận và trong những gì chúng ta có thể làm được. Việc xin các ơn huệ như sức khỏe, hạnh phúc, thành công, giàu có không phải là mục đích và lý do hay nhân tố duy nhất của việc cầu nguyện. Nếu chỉ nhấn mạnh đến các khía cạnh như vậy mà thôi thì không hiểu chút gì về cầu nguyện, tức là đánh giá việc cầu nguyện theo tư lợi và ích kỷ.
Khi Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện trong kinh Lạy Cha, Ngài dành phần thứ nhất gồm lời cầu xin cho Thiên Chúa : “Nguyện cho danh Cha được hiển vinh, nước Chúa được lan rộng và thánh ý Ngài được tuân theo”. Sang phần thứ hai dành cho chúng ta, lời cầu xin có tính cách vật chất và tinh thần như xin cơm bánh hằng ngày để nuôi thể xác và xin bánh Lời Chúa và Bánh Thánh Thể để nuôi linh hồn. Còn tất cả những lời cầu xin khác đều thuộc phạm vi thiêng liêng như xin tha thứ các tội nhân, xin ơn trung thành trong các cơn thử thách và cám dỗ, nhất là trong giờ sau hết. Sau cùng là xin ơn chiến thắng sự dữ và tà thần.
Cầu nguyện theo lời Chúa dạy không những có ích mà còn cần thiết nữa, bởi vì lời cầu nguyện như vậy là của nuôi linh hồn, bồi bổ đức tin và thánh hóa trần thế. Lời cầu nguyện đích thực là lời cầu nguyện Chúa Giêsu đã thực hành và dạy lại cho mỗi người chúng ta. Lời cầu nguyện này phát xuất bởi đức tin sống động được bày tỏ ra bên ngoài bằng các việc lành, đồng thời nuôi sống đức tin bên trong. Tất cả đời sống đức tin của người Kitô hữu phải là một việc cầu nguyện không ngừng. Vì thế, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta rằng : “Hãy cầu nguyện luôn, đừng bao giờ nhàm chán”.
Qua việc cầu nguyện liên lỉ này, chúng ta tiếp tục hiệp thông với nguồn mạch sự sống. Chính Thiên Chúa là Cha chúng ta, Ngài sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta trong các khó khăn, chán nản, cô đơn, thất vọng, miễn sao chúng ta cứ tin tưởng vững chắc vào Ngài.
Lạy Chúa, Chúa là Cha chúng con, Chúa luôn trung thành với lời Chúa hứa và Ngài luôn luôn nhận lời những ai cầu xin với lòng tin vững chắc. Xin hãy lắng nghe tiếng van xin của chúng con, nhất là trong cơn thử thách của cuộc đời trần thế này.
Lạy Chúa Giêsu nhân lành, chúng con xin thú thực rằng, chúng con không biết cầu nguyện. Xin Chúa dạy chúng con cầu nguyện như Chúa đã dạy các môn đệ của Ngài xưa. Xin ban Thánh Linh cho chúng con, để Ngài giúp chúng con và chỉ dạy cho chúng con biết cách phải cầu nguyện như thế nào cho hợp thánh ý Ngài.

 

TN29-C3. HRK/432- Cầu nguyện

Để giúp hiểu rõ hơn đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe qua của Chúa nhật 29 quanh năm hôm: TN29-C3

Để giúp hiểu rõ hơn đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe qua của Chúa nhật 29 quanh năm hôm nay và cũng là Chúa nhật Truyền Giáo, chúng ta hãy nhớ lại đoạn Tin Mừng này được đặt nằm trong viễn tượng cánh chung là viễn tượng Chúa trở lại trong vinh quang vào giây phút cuối cùng của lịch sử khi mọi sự được nên trọn trong Chúa Kitô.
Cuộc đời của người tín hữu Chúa trên trần gian này là một cuộc hành trình khó khăn giữa nhiều thử thách, và để an toàn đạt đến cùng đích của cuộc lữ hành thì mỗi môn đệ Chúa phải kiên trì, phải trung thành trong đức tin cho đến khi Chúa lại đến. Và để kiên trì trong đức tin cho đến cùng thì mỗi đồ đệ của Chúa cần thực hành điều căn bản và quan trọng, đó là cầu nguyện. Chính vì thế mà vào khởi đầu của đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta nghe thấy Chúa Giêsu nói về việc cầu nguyện : “Hãy cầu nguyện luôn”. Nhưng rồi vào cuối đoạn Phúc âm thì chúng ta lại nghe Chúa chất vấn : “Liệu khi Con Người là chính Chúa ngự đến thì thử hỏi còn đức tin, còn ai tin vào Chúa trên trần gian này nữa hay không ?”
Cuộc sống đức tin không phải là không có những nguy hiểm, những gian nan thử thách, không ngừng chất vấn và thách thức con người, khi con người chiều theo những lợi lộc mà bỏ quên Thiên Chúa. Dù ai, dù trong địa vị nào trong xã hội cũng như trong Giáo Hội, dung mạo tinh thần của mỗi người chúng ta có thể được so sánh như dung mạo của người đàn bà góa nghèo. Hình ảnh người đàn bà góa nghèo trong văn chương Do thái cũng như trong nếp sống cụ thể của người Do thái là hình ảnh của một con người cô thế, yếu đuối, không phẩm giá, không địa vị, bị bỏ rơi, bị loại ra bên ngoài xã hội, không có gì để vinh danh hay khoe khoang, nhưng chỉ sống nhờ vào lòng nhân từ của kẻ khác.
Với những tật xấu, những bất toàn của chính bản thân mình, phải chăng mỗi người chúng ta trước nhan Thiên Chúa cũng là những kẻ yếu đuối thấp hèn, không công trạng gì, sống nhờ vào lòng nhân từ của Thiên Chúa. Chỉ khi ý thức về thân phận yếu đuối của mình như người đàn bà góa kia, chúng ta mới khiêm tốn đủ để chạy đến với Chúa mà cầu nguyện để xin Chúa nâng đỡ trả lại sự công chính nguyên thủy đã bị mất đi vì tội lỗi.
Con người kiêu ngạo thì không thể sống cầu nguyện đích thực được. Như người đàn bà góa, mỗi người chúng ta có thể đã và còn đang sống trong tình trạng bị thiệt thòi trên bình diện cứu rỗi, thiếu ơn Chúa. Tình trạng không bình thường vì bị làm nô lệ cho những tật xấu của mình, và như người đàn bà góa chúng ta cần ý thức về những khuyết điểm và qua lời cầu nguyện mà chạy đến với Chúa để xin Ngài trợ giúp, phục hồi chúng ta lại trong trật tự ân sủng và trong tình yêu của Ngài.
Hình ảnh quan tòa xấu, quan tòa bất lương không phải là một dung mạo biểu tượng cho Thiên Chúa, nhưng là một dung mạo được Chúa dùng để so sánh, để làm nổi bật điều ngược lại là dung mạo khác của một vị Thiên Chúa trọn hảo hơn. Thiên Chúa là Đấng phán xét công bằng, không phải như quan tòa bất lương và chỉ mình Thiên Chúa mới là quan tòa chí công vô tư. Ngài xét xử công bằng, nhưng xét xử với tình thương nhân từ. Thiên Chúa không phải như quan tòa xấu trong câu chuyện dụ ngôn trong bài Phúc âm hôm nay, Ngài là quan tòa công bằng và nhân từ. Quan tòa xấu trong dụ ngôn hành động để khỏi bị quấy rầy, còn Thiên Chúa, Ngài hành động vì yêu thương thôi thúc.
Con người có thể lên tiếng chống đối chối bỏ Thiên Chúa, nhưng phần Thiên Chúa thì Người không bao giờ ngưng yêu thương con người. Ngài muốn thi ân trọn vẹn cho đến cùng, Ngài muốn cho mọi người được ơn cứu rỗi.
Trong cuộc sống trên trần gian này, giữa những thử thách chúng ta còn đủ khiêm tốn và sáng suốt chạy đến nhờ vào lòng nhân từ của Thiên Chúa hay không ? Chúa khuyến khích chúng ta hãy cầu nguyện luôn, hãy giữ liên lạc với Ngài, tiếp xúc với Ngài qua việc cầu nguyện để đức tin được cũng cố, được kiên trì, được trung thành cho đến cùng, cho đến khi Chúa trở lại Chúa còn gặp chúng ta tỉnh thức trong đức tin, còn gặp chúng ta trung thành với đức tin vào Ngài.
Trong khung cảnh của ngày Chúa nhật truyền giáo hôm nay, đoạn Tin Mừng chúng ta vừa chia sẽ có giúp chúng ta sống sứ mạng Chúa trao phó cho mỗi người trong Giáo Hội hay không ? Dĩ nhiên là có. Cầu nguyện để kiên trì trong đức tin, vì càng cầu nguyện, đức tin chúng ta càng được cũng cố, được trưởng thành hơn và do đó chúng ta mới trở nên chứng nhân của Tin Mừng.
Chính vì lý do này mà việc cầu nguyện luôn luôn được Đức Thánh Cha nhắc đến trong các sứ điệp truyền giáo của Ngài. Năm nay cũng vậy, sứ điệp truyền giáo của Đức Thánh Cha nhắc nhở mỗi người chúng ta rằng, người tín hữu nào đã chiêm ngắm Chúa Giêsu, đã cầu nguyện thì không thể, không cảm thấy bị lôi cuốn bởi ánh sáng của Chúa mà dấn thân minh chứng niềm tin của mình vào Chúa Kitô, Đấng cứu chuộc duy nhất của loài người.
Đức Thánh Cha đã giải thích thêm như sau : Sự truyền giáo là việc loan báo vui tươi về một ân huệ cống hiến cho tất cả và phải được đề nghị cho tất cả, nhưng tôn trọng hết sức sự tự do của mỗi người. An huệ mạc khải của Thiên Chúa tình yêu, Đấng đã đến trong thế gian, Đấng đã yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một của Người. Như vậy, Giáo Hội không thể lẩn tránh sinh hoạt truyền giáo đối với các dân tộc và điều không kém quan trọng là nhiệm vụ đầu tiên của sứ vụ truyền giáo là loan báo rằng, chính trong Chúa Kitô, Đấng là sự thật và là sự sống mà cầu nguyện được ơn cứu độ.
Sứ vụ đó đòi hỏi phải cầu nguyện và dấn thân cụ thể, đó là những lời của Đức Thánh Cha được trích từ sứ điệp của ngài cho Ngày Quốc Tế Truyền Giáo hôm nay. Bài Phúc âm một lần nữa mời gọi chúng ta hãy cầu nguyện luôn để được trung thành trong đức tin, được kiên trì cho đến cùng trong tình yêu Chúa. Chúng ta hãy dốc lòng sống đời sống cầu nguyện bắt đầu từ Chúa nhật hôm nay, ngày truyền giáo, ngày chúng ta không phải nghĩ đến truyền giáo cho anh chị em mà truyền giáo cho chính bản thân của mỗi người chúng ta. Ước chi nhờ lời cầu nguyện mà chúng ta nhờ ơn Chúa để cải tạo mỗi người chúng ta trở thành con người mới, trở thành đồ đệ trung thành của Chúa, trung thành với đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh tin kính.

 

TN29-C4. CSTM/239- Cầu nguyện

Ngay câu mở đầu bài Tin Mừng đã cho biết chủ đích của Chúa Giêsu muốn dạy các môn đệ: TN29-C4

Ngay câu mở đầu bài Tin Mừng đã cho biết chủ đích của Chúa Giêsu muốn dạy các môn đệ của Ngài, đó là phải cầu nguyện
Ngay câu mở đầu bài Tin Mừng đã cho biết chủ đích của Chúa Giêsu muốn dạy các môn đệ của Ngài, đó là phải cầu nguyện luôn, không được nản chí. Rồi Chúa minh họa bằng dụ ngôn ông quan tòa bất lương gặp bà góa kêu nài.
Một viên quan tòa bất lương, không sợ trời đất nào, cũng chẳng sợ ai. Một bà góa đến kêu nài. Bà góa trong xã hội Do thái là người cô thế cô thân, bị mọi thứ thiệt thòi, không ai bênh vực. Bà chỉ còn biết kêu đến quan tòa để bênh vực bà chống lại kẻ đang ức hiếp bóc lột bà. Nhưng ông quan tòa này đã chẳng sợ trời lại không nể người thì ông đâu coi chuyện oan ức của bà góa này ra gì. Bởi vậy ông cứ giả điếc làm ngơ. Nhưng bà góa kia không đầu hàng. Bà cứ kiên trì kêu nài mãi. Cuối cùng, để khỏi bị quấy rầy, ông quan tòa đành quyết định xét xử bênh vực quyền lợi cho bà.
Kể dụ ngôn xong, Chúa Giêsu kết luận : “Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao ?”. Viên quan tòa bất chính còn biết hành sử như vậy, chẳng lẽ Thiên Chúa, là Đấng nhân lành và công bằng lại không lắng nghe lời cầu nguyện liên lỉ của những con cái Ngài hay sao ? Như vậy, câu đầu tiên và câu cuối cùng của bài Tin Mừng cho chúng ta thấy ý tưởng chính là cần phải cầu nguyện luôn, đừng nản chí.
Có hai lý do thúc đẩy chúng ta phải cầu nguyện luôn : Thứ nhất, vì chúng ta luôn thiếu thốn và cần mọi sự. Tự bản chất con người ta bất toàn, thiếu thốn. Hầu hết các động vật khác, vừa sinh ra đã có đủ điều kiện sinh sống, còn con người sinh ra trong tình trạng thiếu thốn mọi sự. Về tâm hồn cũng thế. Những gì bất toàn đòi phải được kiện toàn, những gì thiếu thốn đều đòi phải được đầy đủ. Thế nên, muốn kiện toàn những bất toàn, muốn lấp đầy những thiếu thốn, muốn thỏa mãn những ước vọng chính đáng thì phải cầu nguyện luôn.
Thứ hai, chúng ta phải cầu nguyện luôn bởi vì tự sức riêng chúng ta không thể làm gì được. Nói cách khác, chúng ta hoàn toàn bất lực trong việc kiện toàn những khiếm khuyết, trong việc lấp đầy những thiếu thốn, nhất là đối với những bất toàn và thiếu thốn siêu nhiên. Những thứ đó vượt hẳn khả năng của con người, chúng ta không thể tự làm cho mình có được, như Chúa Kitô đã nói : “Không có Thầy, các con không thể làm gì được”. Tuy nhiên, lòng tự ái đã ngăn cản người ta không chấp nhận mình thiếu thốn, khuyết điểm và bất lực. Cần phải có một tâm hồn đơn sơ khiêm tốn mới tự công nhận mình như thế. Có công nhận mới tín nhiệm chạy đến cầu nguyện với Chúa.
Ngoài ra. Cũng có hai lý do chính giúp chúng ta không nản chí : THứ nhất, Chúa rất tốt lành và đầy lòng yêu thương, đồng thời Ngài lại là Thiên Chúa toàn năng. Nếu một quan tòa bất lương và vô tín ngưỡng còn biết nghe theo lời người thưa kiện, huống nữa là Thiên Chúa tốt lành vô cùng. Nhưng Thiên Chúa tốt lành ấy đâu phải là người dưng nước lã mà là chính Đấng tác thành nên ta, là Cha yêu thương ta hết tình, đến nỗi như lời thánh Phaolô dạy : “Đã ban chính con Chúa cho ta, thì lẽ nào lại không ban mọi cái khác cho ta cùng với người con ấy”. Hơn nữa, Thiên Chúa lại là Đấng toàn năng, Ngài làm được mọi điều Ngài muốn. Nếu Ngài là đấng tốt lành yêu thương ta và muốn cho ta được mọi sự tốt lành, thì dĩ nhiên Ngài sẽ làm những điều đó cho ta.
Thứ đến, chúng ta không thể ngã lòng nản chí vì Chúa đã long trọng hứa rằng sẽ nhận lời ta cầu xin. Tuyệt đối mà xét thì Thiên Chúa chẳng mắc nợ ai, cho nên dầu Ngài tốt lành và yêu thương ta, nhưng chẳng ai bắt buộc Ngài phải làm điều nọ điều kia được. Tuy nhiên, khi hứa sẽ nhận lời mọi người kêu xin, thì Chúa đã tự đặt mình vào thế bắt buộc phải nghe lời ta.
Điều cần thiết và quan trọng Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải cầu nguyện luôn là để được trung thành với đức tin. Cuộc sống mỗi người Kitô là một cuộc sống trong đức tin và nhờ đức tin. Vì thế mỗi người đừng để mất đức tin hay giảm sút lòng tin. Nói một cách khác tích cực hơn là để trung thành với đức tin và phát triển đời sống đức tin. Chính việc cầu nguyện sẽ giúp chúng ta sống được như thế.
Quả thực, cuộc đời người tín hữu Chúa trên trần gian là một cuộc hành trình khó khăn giữa nhiều thử thách, và để an toàn đạt đến cùng đích của cuộc lữ hành thì mỗi môn đệ Chúa phải kiên trì, phải trung thành trong đức tin cho đến khi Chúa lại đến. Và để kiên trì trong đức tin cho đến cùng thì mỗi môn đệ của Chúa cần thực hành điều căn bản và quan trọng, đó là cầu nguyện. Cũng thế, cuộc sống đức tin không phải là không có những nguy hiểm, những gian nan thử thách, không ngừng chất vấn và thách thức con người, khi con người chiều theo những lợi lộc mà bỏ quên Thiên Chúa. Dù ai, dù ở địa vị nào trong xã hội cũng như trong Giáo Hội, dung mạo tinh thần của mỗi người chúng ta có thể được so sánh như dung mạo của người đàn bà góa nghèo. Hình ảnh của người đàn bà góa nghèo trong văn chương Do thái cũng như trong nếp sống cụ thể của người Do thái là hình ảnh của một con người cô thế, yếu đuối, không phẩm giá, không địa vị, bị bỏ rơi, bị loại ra bên ngoài xã hội, nhưng chỉ sống nhờ vào lòng nhân từ của kẻ khác. Với những tật xấu, những bất toàn của chính bản thân mình, phải chăng mỗi người chúng ta trước nhan Thiên Chúa cũng là những kẻ yếu đuối thấp hèn, không công trạng gì, sống nhờ vào lòng nhân từ của Thiên Chúa ? Chỉ khi ý thức về thân phận yếu đuối của mình như người đàn bà góa kia, chúng ta mới khiêm tốn đủ để chạy đến với Chúa mà cầu nguyện xin Chúa nâng đỡ. Chúa khuyến khích chúng ta hãy cầu nguyện luôn, hãy giữ liên lạc với Ngài, tiếp xúc với Ngài qua việc cầu nguyện để đức tin được cũng cố, được kiên trì, được trung thành cho đến cùng, cho đến khi Chúa trở lại Chúa còn gặp chúng ta tỉnh thức trong đức tin, còn gặp chúng ta trung thành với đức tin vào Ngài.

 

TN29-C5. NTGT/273- Truyền giáo

“Không biết khi Con Người đến, liệu còn gặp thấy niềm tin trên mặt đất nữa không ?”
 

Lời kết của bài Tin Mừng hôm nay gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ. Câu hỏi đó hướng đến một: TN29-C5

Lời kết của bài Tin Mừng hôm nay gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ. Câu hỏi đó hướng đến một lời mời gọi tích cực, nhưng cũng có thể nói lên một thực trạng tiêu cực của niềm tin không chỉ cho các đồ đệ khi xưa nhưng còn cho chính con người ngày nay.
“Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”. Sứ mạng truyền giáo loan báo Tin Mừng tình yêu cứu độ mà Chúa Giêsu đã khai mở và thực hiện, Ngài đã truyền lại cho Giáo Hội tiếp tục sứ mạng ấy. Đã 2000 năm qua đi và trong bối cảnh của Chúa nhật cầu nguyện cho việc truyền giáo, cộng đoàn chúng ta qui tụ nơi thánh đường này để cùng nhìn lại sứ mạng Kitô hữu của mình.
Trong sứ điệp của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II về Ngày Quốc Tế Truyền Giáo, Ngài nhấn mạnh đến hai ý nghĩa của việc cử hành ngày quốc tế truyền giáo, đó là : mời gọi canh tân về ý thức truyền giáo, nhắc lại tính cấp bách của hoạt động truyền giáo. Đây là sứ vụ liên quan đến mọi Kitô hữu. Quả vậy, ngay từ ngày được lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, mỗi Kitô hữu đã đón nhận sứ mạng tư tế, vương đế và tiên tri. Nói theo lối trình bày của Hiến Chế Anh Sáng Muôn Dân (Lumen Gentium) thì truyền giáo là bản chất của Giáo Hội. Giáo Hội tồn tại là vì sứ vụ, nghĩa là lý do hiện diện của Giáo Hội là truyền giáo. Và như vậy lệnh truyền của Đức Giêsu về truyền giáo là lệnh truyền cho mỗi Kitô hữu, là bổn phận trách nhiệm của mỗi Kitô hữu.
Thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Rôma viết : “Tất cả những ai kêu cầu danh Chúa sẽ được cứu thoát. Thế nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin ? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe ? Làm sao mà nghe nếu không có ai rao giảng?”
Nhìn vào thực tế hôm nay số người Kitô hữu chỉ chiếm một phần năm dân số thế giới. Lục địa Á Châu gần bốn tỷ người mà trong đó người tín hữu chỉ là một con số quá bé nhỏ với 2,7/o. Còn trong đất nước chúng ta với dân số hơn 70 triệu trong đó người Công giáo chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 6/o (chưa được một phần mười). Đây phải là nỗi thao thức của mỗi Kitô hữu chúng ta. Cụ thể hơn nhìn vào giáo xứ, vào khu vực địa phương chúng ta đây còn bao nhiêu người chưa được nghe nói về Chúa, về Tin Mừng của Ngài, chưa tin theo Chúa ? Lý do nào vậy ? Trong đó có trách nhiệm của tôi không ? Sẽ không thừa khi nói lên hiện trạng không ít người vẫn còn cho rằng việc truyền giáo là của các Đức Giám mục, Linh mục, Tu sĩ ; mà quên rằng chính mình cũng có bổn phận đó. Bên cạnh đó, không thiếu những người Công giáo lý luận : “Oi thôi, đạo nào cũng là đạo, đạo nào cũng dạy người ta ăn ngay ở lành. Và nếu một người ăn ngay ở lành theo tiếng lương tâm ngay thẳng của họ thì dù họ không được rửa tội, họ vẫn có thể được cứu rỗi. Vậy thì tại sao tôi phải mời gọi họ tin vào Tin Mừng cứu độ, mời gọi họ lãnh nhận Bí tích Rửa tội, gia nhập Giáo Hội.
Để trả lời cho lập luận trên, Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, Tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin xác nhận lại một cách rõ ràng rằng bổn phận truyền giáo của Kitô hữu là cần thiết. Mọi người đều mắc tội nguyên tổ, lương tâm con người có thể sai lầm. Họ vẫn cần nghe Tin Mừng, cần ơn thánh Chúa để có sức mạnh lướt thắng…
Mọi tôn giáo đều có những tia sáng mà chúng ta không được phép coi thường hay dập tắt. Mọi tôn giáo đều là tia sáng khởi đầu của đức tin mà chúng ta mong đợi những tia sáng đó khai triển thành bình minh huy hoàng và dẫn đưa vào ánh sáng rực rỡ của đức khôn ngoan Kitô.
Nói đến truyền giáo, trong suy nghĩ của chúng ta thường là dấn thân làm việc truyền giáo và ai càng làm được nhiều thì người ấy càng được xem là nhà truyền giáo lớn. Lịch sử Giáo Hội qua từng thời kỳ xuất hiện những gương mặt vĩ đại trong hoạt động truyền giáo mà tiêu biểu là thánh Phanxicô Xavier, một đời bươn chải, lặn lội đem Tin Mừng đến vùng xa xôi. Tuy nhiên, bao giờ cũng vậy, ẩn bên trong những hoạt động, động lực cho những hoạt động, kim chỉ nam cho mọi hoạt động ấy là cả một tinh thần cầu nguyện của các nhà truyền giáo cũng như mọi tín hữu. Có thể nói cầu nguyện là linh hồn của hoạt động truyền giáo. Nếu thiếu cầu nguyện thì hoạt động chỉ là những thanh la inh ỏi, hời hợt bên ngoài. Thiếu cầu nguyện cũng là thiếu nền tảng giáo lý cho việc rao giảng.
Trong bài đọc 1, sách Xuất hành thuật lại việc Môsê giơ tay cầu nguyện và Giosuê đánh bại quân Amalech. Khi Môsê hạ tay xuống, sức mạnh của Giosuê không còn nữa, nhưng khi ông giơ tay lên thì phần thắng nghiêng về phía Giosuê. Chiến thắng ấy là của Môsê cùng với Môsê : một sự dung hòa giữa cầu nguyện và hoạt động.
Một hình ảnh minh họa cho sự dung hòa giữa cầu nguyện và hoạt động trong hoạt động truyền giáo đó là thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu. Chưa từng bước ra ngoài hoạt động truyền giáo, nhưng chỉ bằng hy sinh và cầu nguyện cho các nhà thừa sai trong việc rao giảng Tin Mừng vậy mà thánh nữ đã được tôn phong làm thánh Tiến sĩ Hội thánh, bổn mạng các xứ truyền giáo.
Gần chúng ta hơn có mẹ Têrêsa Calcutta, một người mà cả thế giới đều biết đến với những hoạt động cho tình yêu thương. Mẹ không chỉ làm cho người ta biết và yêu mến Chúa Giêsu bằng lời nói nhưng mẹ nói về Chúa Giêsu, bày tỏ gương mặt của Ngài bằng chính cuộc sống yêu thương của mẹ. Mẹ đã định nghĩa về một nhà truyền giáo, đó là : “Một tín hữu Chúa Giêsu đến độ không có một ước muốn nào khác hơn là làm cho mọi người nhận biết và yêu mến Ngài”.
Truyền giáo chúng ta tuyên xưng niềm tin vào một Thiên Chúa, một Đức Giêsu Kitô, Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại, Đấng đã hiến thân để cứu chuộc mọi người. Và truyền giáo là sứ vụ của Giáo Hội và là một nghĩa vụ mà đức bác ái đòi buộc mỗi Kitô hữu phải thực hiện cho anh em đồng loại mình.
Con người ngày nay cần nhân chứng hơn thầy dạy. Và như thế, truyền giáo không chỉ là rao giảng một giáo lý mà cần thiết là chia sẻ một cuộc sống yêu thương. Đây chính là cốt lõi mà Chúa Giêsu đã cô đọng trong giới luật mến Chúa yêu người. Chúng ta thường nói “giữ đạo”. Giữ để khỏi mất. Nhưng giữ cũng còn nghĩa là không muốn cho đi. Bước chân truyền giáo không bao giờ được phép “giữ” mà luôn luôn là “cho” đi.
Khi sống yêu thương tôi luôn mở lòng ra để cho đi, để ban tặng. Tình yêu như một nghịch lý : khi tình yêu càng cho đi thì càng được đầy tràn, càng cho nhiều càng được nhiều, trao ban trọn vẹn sẽ nhận lãnh trọn vẹn. Như thế, truyền giáo chính là truyền tình yêu mà chúng ta đã kín múc từ nơi Thiên Chúa và đem trao lại cho anh em mình.
Trong một xã hội mà người tín hữu chỉ là thiểu số thì việc truyền giáo hiện nay chính là quyết tâm sống để người khác nhận ra Chúa Giêsu là Đấng đã đến chỉ để rao giảng về một thứ đạo của tình yêu thương. Mỗi người chúng ta trong khả năng, hoàn cảnh của mình đều có thể truyền giáo vì không ai nghèo đến nỗi không có gì để ban tặng. Như thế sống yêu thương là một hành động truyền giáo thiết thực nhất  có thể kín múc được tình yêu Thiên Chúa.

 

TN29-C6. CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO

CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 18, 1-8
CẦU NGUYỆN LIÊN LỈ, CẦU NGUYỆN KHÔNG NGỪNG
 

Con người ở khắp muôn thời vẫn có một cái gì đó khó nói, khó hiểu bởi vì khi văn minh lên cao độ: TN29-C6

Con người ở khắp muôn thời vẫn có một cái gì đó khó nói, khó hiểu bởi vì khi văn minh lên cao độ, nhiều người hầu như tránh xa Thiên Chúa. Họ coi cái bụng là cần thiết, cứ ăn, cứ chơi, cứ đùa, hiện tại là cần thiết. Cầu nguyện là việc phụ. Do đó, khuynh hướng tự nhiên của con người là hưởng thụ, là làm giầu, là vênh vang tự đắc với những điều mình có được.
Nhiều người chẳng còn tin tưởng gì về đàng thiêng liêng chứ đừng nói gì đến việc cầu nguyện, tin yêu, phó thác. Hiểu rõ tâm trạng của con người, Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đã kêu gọi con người, mọi người hãy tin tưởng và phó thác cho Thiên Chúa.
TẠI SAO TIẾNG KÊU TRỜI VẪN HẦU NHƯ BỊ LÀM NGƠ, CÂM LẶNG: Có nhiều người chia sẻ với chúng tôi, thưa Cha tại sao chúng con kêu cầu mà không nghe đáp trả ? Đó là nói tới sự sống thiêng liêng, nói tới một Đấng thiêng liêng mà nhiều người cho là xa vời, một Thiên Chúa ở trên cao, ở thấu trời xanh. Nhìn vào thực tế, nhiều người cũng cho biết nhiều việc ở đời thường mà báo chí, truyền hình, đài phát thanh đề cập tới, nhưng vẫn thấy nó im lặng sao ấy! Nhiều vụ việc xem ra chưa được giải quyết rốt ráo ổn thỏa. Và tiếng kêu cầu của nhiều người trên thế giới
Về công bình, bác ái, yêu thương vẫn chưa được đáp trả. Trời xanh vẫn im lặng và nói cách khác Thiên Chúa họ vẫn cảm thấy xa lạ, không trả lời trước lời kêu cầu của nhiều người. Hãy nghe Chúa nói trong Tin Mừng hôm nay. Chúa lý luận một cách rất đơn giản:” Nếu một quan tòa bất lương đến độ không kính sợ Thiên Chúa cũng chẳng chẳng kính nể người ta, mà còn khuất phục, chịu thua trước lời van xin lải nhải của một bà góa, thì huống hồ cho Thiên Chúa là Đấng toàn hảo và yêu thương con người. Thật ra, người ta có cảm giác, có cảm tưởng Thiên Chúa câm nín và vô cảm trước lời kêu cầu, van vỉ của những con người khổ đau, nghèo nàn, thiếu thốn, vì thật ra công lý của Thiên Chúa thì khác với công lý của con người, sự khôn ngoan của Thiên Chúa, khác với sự khôn ngoan của con người. Tư tưởng của Thiên Chúa, suy tính của Ngài vượt lên trên mọi suy tính, cân lường, suy tưởng và chờ đợi của con người. Thánh Phaolô đã diễn tả điều này, suy nghĩ này thật rõ ràng trong thư của Ngài gửi tín hữu Roma 11, 33-36. Chúa nói với nhân lọai, với con người, với mỗi người:” Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí “ ( Lc 18, 1 ). Chúa muốn con người đặt hết lòng tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa…
HÃY XIN, HÃY TÌM, HÃY GÕ : Chúa nói:” Ai xin, thì cho. Ai tìm, thì gặp. Ai gõ cửa, thì sẽ mở cho “. Chúa nói thật rõ ràng. Mọi tính toán, cân lường, đong đếm. Mọi hoạch định, mọi tìm kiếm hiệu quả tức thời của con người đều không đi đúng đường lối Chúa. Ở đây, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đi vào mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương nhân lọai, yêu thương con người, yêu thương mỗi người bằng một tình yêu mà con người không thể nào hiểu thấu, do đó, con người chỉ có một thái độ, một tâm tình là cúi đầu phó thác và tin tưởng vào Thiên Chúa. Phó thác và tin tưởng như Chúa Giêsu là biết đón nhận ý muốn của Thiên Chúa ngay cả khi gặp nghịch cảnh, gặp đau khổ và khi phải hy sinh ngay cả mạng sống của mình. Chúa dạy dụ ngôn này để nâng cao tinh thần các môn đệ và chúng ta trước những thử thách, gian nan, nguy khốn của đời sống con người. Chúa nói :”Môn đệ sẽ bị sàng như sàng gạo, bị vu oan, bị lăng nhục, bị bỏ vạ cáo gian và hành hạ. Nhưng Chúa cam kết:” Chúng con đừng sợ. Thầy sẽ ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế”.
Chúng ta xin gì, muốn được liền nhưng Chúa biết nhu cầu và biết những điều chúng ta xin hơn chúng ta biết mà. Thánh Phaolô dạy:” Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, chính Thánh Thần sẽ cầu thay nguyện giúp chúng ta…theo đúng ý Thiên Chúa “( Rm 8, 21-27 ). Chúa Giêsu kết thúc đọan Tin Mừng này bằng một lời thật bí ẩn, lạ lùng:” Khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?” (Lc 18, 8 ). Chúa nói :”…Kẻ nào kiên nhẫn đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu “ ( Mt 24, 12). Cầu nguyện liên lỉ và không ngừng sẽ giữ vững được đức tin.
Lạy Chúa Giêsu, xin đừng để chúng con bao giờ phải rơi vào thất vọng mà không phó thác, tin tưởng, cậy trông vào Chúa.
Lạy Chúa, Chúa đã phán:” Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt “, xin Chúa sai thêm nhiều thợ gặt lành nghề vào đồng lúa chín vàng của Người.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

TN29-C7. CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN

Lc. 18, 1 - 8
Anh chị em thân mến.
 

Nếu có giờ rảnh rỗi để quan sát một đàn kiến. Những con kiến nhỏ bé, chúng luôn kết thành: TN29-C7

Nếu có giờ rảnh rỗi để quan sát một đàn kiến. Những con kiến nhỏ bé, chúng luôn kết thành đàn, chúng thông tin với nhau rất nhanh, trong công việc chúng đoàn kết với nhau rất tốt.
Thử nhìn xem, chúng đang lôi kéo một vật nặng, nếu đem so sánh với trọng lượng cơ thể của chúng, có khi nặng hơn cả ngàn lần, thế mà chúng cũng mang về nơi an toàn. Không phải một cách dể dàng gì đâu, rất vất vả, chúng lôi kéo, kêu gọi nhau hợp sức. Có khi công của chúng dường như dã tràn, vì bất ngờ, vật mà chúng lôi kéo lại trở về ngay vị trí cũ. Nhưng những chú kiến nhỏ bé vẫn kiên tâm bền chí, vẫn cố hết sức, tận dụng hết khả năng mình có. Cuối cùng những gì đã bắt đầu thì cũng có được kết quả tốt đẹp như nó mong muốn. Đó là nhờ sự kiên trì, bền chí không nản lòng, cho dù có những khó khăn vất vả, nhưng vẫn thành công.
Chúa Giêsu dạy các Tông Đồ và những người thời bấy giờ bài học kiên trì trong cầu nguyện, qua thí dụ cụ thể.
Một vị quan tòa không kiên nể ai, không bị khống chế bởi áp lực nào. Thế mà cuối cùng ông bị khuất phục bởi một áp lực xem ra chẵng đáng là gì. Một áp lực rất lớn đối với ông, còn hơn cả sự khiếp sợ, ông không thể chịu được: Đó là áp lực của sự kiên trì. Một con người không đáng là gì, chỉ là con số không trong xã hội Do Thái thời bấy giờ, thế mà đã tạo được một áp lực lớn và đạt được điều mình mong muốn. Nhờ sự kiên trì, không nản lòng.
Thiên Chúa là Người Cha nhân hậu, hằng yêu thương con cái Mình, chờ đợi để đáp ứng như cầu của họ. Nhưng những người con của Ngài có biết chạy đến với Ngài, có biết cầu xin và có đủ kiên nhẩn để nhận những ơn lành Ngài ban cho không?
Mỗi người trong chúng ta đã từng cầu xin và cầu xin rất nhiều. Chúng ta cũng đã được rất nhiều ơn lành Thiên Chúa ban cho. Cả những gì không cầu xin, chúng ta cũng đã được. Nhưng cũng còn rất nhiều điều, chúng ta vẫn cầu xin, cầu xin hoài mà cũng không thấy gì, nên có nhiều lúc phải tức giận, khó chịu, có khi còn có những lời nói hay cử chỉ không được hay cho lắm. Đó là những lúc chúng ta cầu xin mà dường như ra lệnh cho Chúa chúng ta. Những lần làm tuần tam nhật, cửu nhật. Đó có phải là chúng đang ra một kỳ hạn, một tối hậu thư cho Thiên Chúa của mình đó sao? Nếu những gì mình cầu xin mà dường như đòi hỏi đó, không được như ý, chúng ta buồn phiền tức giận, chán nản, thất vọng. Có khi còn tệ hại hơn, những lời chua cay khó chịu cứ tuôn tràn ra mà không biết dừng lại.
Mỗi người chúng ta, để ra một ít phút suy tư, nhìn lại đời sống đã qua, cách mà chúng ta đã hành động với Thiên Chúa của mình. Lời cầu xin với tâm tình con thảo, với tất cả lòng yêu thương chân thành, trong tâm tình phó thác trọn vẹn vào Cha nhân từ; chúng có tâm tình như thế được bao nhiêu lần? Hiện tại giờ đây, tâm tình đó còn kéo dài, còn đọng lại nơi con người của chúng ta được bao nhiêu? Hay giờ đây, chúng ta chỉ còn biết cầu xin qua những lời đèo bòng, đòi hỏi cho lợi ích riêng tư. Chúng ta chỉ còn nhìn thấy những lợi ích trước mắt cho riêng mình. Còn Thánh Ý Chúa, còn bao nhiêu người chung quanh, chúng ta không cần biết đến. Chính vì thế, chúng ta không có được sự kiên trì chính đáng, không có được sự bền chí vững chắc cho đủ. Vì chúng ta chưa biết cầu xin, chưa ý thức được điều mình van xin như thế nào, nên chưa có sự kiên trì như Chúa mong muốn. Chính vì thế những gì chúng ta dường như cầu xin mà vẫn chưa thấy được. Vì không đủ kiên nhẫn để vượt qua những khó khăn trở ngại như đàn kiến nhỏ bé kia.
Xin Chúa dạy cho mỗi người biết cầu xin, chúng ta cũng cầu xin Chúa ban ơn cho mỗi được luôn bền chí trong những gì mình đã chọn, đã van xin.

 

TN29-C8. SCĐ/774- Cầu nguyện

Đoạn Tin Mừng hôm nay bắt đầu như sau : “Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải cầu nguyện: TN29-C8

Đoạn Tin Mừng hôm nay bắt đầu như sau : “Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”. Nhiều người chưa thấy giá trị của sự cầu nguyện liên tục. Họ nghĩ chỉ cần cầu nguyện khi có việc cần Chúa giúp, thế là đủ. Chuyện sau đây là câu trả lời cho những người ấy.
Có một thành phố nhỏ kia có đầy đủ mọi cơ quan và dịch vụ cần thiết như bệnh viện, trường học, nhà thờ, tòa án, chợ, tiệm may, tiệm ăn… Chỉ thiếu một điều là không có thợ sửa đồng hồ. Bởi vậy các đồng hồ lớn đồng hồ nhỏ của những cư dân thành phố này dần dần cái thì hư, cái thì chạy sai. Một số người quẳng đồng hồ vào tủ. Một số khác cố gắng tự mình lau chùi, sửa chữa rồi tiếp tục dùng tạm mặc dù những chiếc đồng hồ ấy chạy không được chính xác lắm.
Một ngày kia có một người thợ sửa đồng hồ đến thành phố. Mọi người rất mừng, ai nấy đều mang đồng hồ đến nhờ anh sửa. Tuy nhiên anh nói thật : “Tôi chỉ có thể sửa những chiếc đồng hồ nào còn chạy. Còn những chiếc nào đã ngưng chạy từ lâu thì tôi không sửa nổi vì chúng rỉ sét hết rồi”.
Cầu nguyện luôn cũng giống như giữ cho chiếc đồng hồ đời ta luôn luôn chạy.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu bảo chúng ta phải cầu nguyện luôn, vì :
- Sự cầu nguyện luôn soi sáng niềm hy vọng và những dự định của chúng ta.
- Sự cầu nguyện luôn giúp ta khám phá ra những ước vọng chân thật, những ray rứt lương tâm bị bóp nghẹt, những nỗi khát khao bị quên lãng.
- Sự cầu nguyện luôn chỉ cho ta thấy những lý tưởng cao đẹp cần vươn tới.
- Và nhất là sự cầu nguyện luôn giữ ta thường xuyên gần gũi với Chúa.

 

TN29-C9. CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN

(21-10-2001)
NGHE:
* Bài đọc 1: Xh 17, 8-13
Oâng Moi-sê và ông A-a-ron vâng lời Chúa, làm mọi cách kể cả phép lạ, để vua Pha-ra-ô chấp thuận cho dân It-ra-en ra khỏi đất Ai cập, chấm dứt sự lưu đày. Nhưng vua Pha-ra-ô vẫn cứng lòng.
* Bài đọc 2: 2 Tm 3,14 - 4,2
Thánh Phao-lô khuyên ông Ti-mô-thê hãy kiên định trong những điều mà ông đã được học từ trong Sách Thánh. Những điều đó sẽ giúp ông được cứu rỗi. Và ông cũng có bổn phận phải rao truyền những Lời hằng sống ấy cho mọi người.
* Bài Tin Mừng: Lc 18, 1-8: Dụ ngôn quan toà bất chính và bà goá quấy rầy.
Đức Giê-su kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí. Người nói:" Trong thành kia, có một ông quan toà. Oâng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. Trong thành đó, cũng có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông:" Xin Ngài bênh vực tôi chống lại kẻ kiện tôi". Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng:" Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta bênh vực mụ cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc".
Rồi Chúa nói:" Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn ? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng bênh vực họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?"
NGẪM:
* Câu hỏi gợi ý:
 

Kinh nghiệm đời thường: "Có công mãi sắt, có ngày nên kim" . 2.   Ý chính của ba bản văn: TN29-C9

1.   Kinh nghiệm đời thường: "Có công mãi sắt, có ngày nên kim"
2.   Ý chính của ba bản văn Thánh Kinh hôm nay: Tin và kiên trì sẽ được toại nguyện.
3.   Rèn luyện lòng tin và hun đúc lòng kiên nhẫn.
* Suy tư gợi ý:
1.Kinh nghiệm đời thường: "Có công mài sắt có ngày nên kim"
Kinh nghiệm đời thường cho chúng ta thấy: muốn làm bất cứ một việc gì, chúng ta cũng phải dày công vất vả: Người nông dân muốn có mùa gặt, phải làm đất, gieo hạt, nhổ cỏ, vun xới đất, tưới tắm chăm sóc cây miá hay cây lúa. Có như thế mới có thu hoạch. Học sinh muốn trở thành bác sĩ, kỹ sư phải vất vả học hành bao nhiêu năm trời đèn sách. Có như thế mới có thể trở thành người có chuyên môn có khả năng giúp ích cho gia đình và xã hội. Kiên trì lao động là điều kiện cần thiết cho sự thành đạt của mọi công việc. Nói cách khác kiên trì lao động chắc chắn sẽ đem lại thành công. Kinh nghiệm ấy được cha ông ta đúc kết thành câu phương châm: "Có công mài sắt, có ngày nên kim". Câu châm ngôn này không chỉ đúng ở lãnh vực tự nhiên mà còn đúng ở cả lãnh vực tâm linh, như ý nghĩa của ba bản văn Thánh Kinh hôm nay.
2. Ý chính của ba bản văn Thánh Kinh: Tin tưởng và kiên trì sẽ được toại nguyện.
Bài đọc 1: Thiên Chúa đã giao cho Oâng Moi-sê và A-a-ron sứ mệnh đưa dân riêng It-ra-en ra khỏi Ai Cập, vì ở trong đó họ bị áp bức, bóc lột trăm bề, ngày đêm khốn khổ. Trước sự ngoan cố của vua Pha-ra-on, hai ông vừa phải kiên trì đấu tranh, đấu trí vừa phải củng cố lòng tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa Gia-vê là Đấng đã giao sứ mạng cho hai ông. Cuối cũng họ đã thành công.
Bài đọc 2: Khi khuyên nhủ Ti-mô-thê, Thánh Phao-lô nhắc nhở môn đệ thân tín của mình một yếu tố vô cùng quan trọng trong hoạt động truyền giáo: đó là lòng kiên định trong những giáo huấn và lời hứa của Thiên Chúa đã được trình bày trong Thánh Kinh.
Bài Tin Mừng: Để chỉ cho các môn đệ phải biết tin tưởng, kiên trì, nhẫn nại như thế nào trong đời sống cầu nguyện Đức Giêsu đã kể một câu chuyện khá độc đáo mà cốt chuyện là ông quan nọ chỉ vì để tránh bị quấy rày mà làm theo yêu cầu của bà goá. Nói cách khác là sự kiên trì kêu cứu của bà góa đã đem lại kết quả mong muốn, dù rằng quan chức nọ chẳng kính sợ Thiên Chúa và cũng chẳng coi ai ra gì. Kết luận câu chuyện, Đức Giê-su lý luận với môn đệ: "Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn ? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng bênh vực họ"
Từ ba bản văn Thánh Kinh trên chúng ta có thể rút ra được kết luận này: Tin tưởng và kiên trì trong cầu nguyện, chắc chắn chúng ta sẽ được toại nguyện. Vì chúng ta có Thiên Chúa là Cha, một người Cha vừa yêu thương con cái hết lòng, vừa giầu có và quyền năng vô biên. Kinh nghiệm của những người sống phó thác tin tưởng trọn vẹn nơi Thiên Chúa là những bằng chứng hùng hồn và sống động về chân lý này. Những người sống tính toán với Thiên Chúa thì khó mà chứng kiến được những phép mầu do bàn tay Thiên Chúa thực hiện. Những người cậy vào sức riêng mình hơn vào quyền năng của Thiên Chúa thì khó mà được tận hưởng những điều kỳ diệu do lòng quảng đại Thiên Chúa ban cho.
Vì thế điều quan trọng hàng đầu trong đời sống tâm linh là làm sao chúng ta có được lòng tin và sự kiên nhẫn trong khẩn cầu. Nhưng làm sao để có được những điều ấy?
3. Rèn luyện lòng tin và hun đúc lòng kiên nhẫn
Kinh nghiệm đời sống đức tin dạy chúng ta bài học này: rất nhiều khi chúng ta chẳng thấy Thiên Chúa đâu cả, mà chỉ thấy trơ trọi một mình mình. Bao nhiêu khó khăn, trở ngại của đời sống tâm linh cũng như của đời sống vật chất thường ngày vẫn cứ chồng chất trên hai vai và nặng chĩu trên tâm tư chúng ta. Chúng ta có thể thắc mắc: Nếu Thiên Chúa là Cha vừa yêu thương vừa quyền năng thì tại sao chúng ta không được Người đáp ứng những nhu cầu bức bách đang làm khổ chúng ta?
Chúng ta đều biết và tin rằng Thiên Chúa luôn hiện diện và hành động trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Thế nhưng thật ra thì niềm tin ấy rất yếu ớt, không có ảnh hưởng gì đáng kể đến cách suy nghĩ và hành động của chúng ta. Muốn có lòng tin mạnh mẽ và lòng kiên nhẫn không hề lay chuyển chúng ta phải làm những việc sau đây:
a) Trước hết chúng ta phải cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn tin tưởng, phó thác và kiên định trong cầu xin.
b) Kế đến chúng ta phải học cùng Chúa Giêsu Kitô, cùng Đức Maria và cùng các vị Thánh mà chúng ta yêu mến (trong đó có Chân Phước A-đôn Khôi Bình) để học bài học tin tưởng phó thác và kiên định trong chờ đợi, trong xin vâng của các ngài. Đức Giê-su đã cho chúng ta một tấm gương tuyệt vời về cách đối xứ của ngài với Chúa Cha. Đức Maria đã nói lời xin vâng đối với kế hoạch "bất ngờ" của Thiên Chúa. Thánh Têrêxa Hài đồng Giê-su đã muốn trở nên một quả banh nhỏ để Chúa Giê-su Nhỏ muốn đá vào góc nhà nào thì đá. Chân Phước Khôi Bình đã phó thác cả cuộc đời mình cho Thiên Chúa và tin tưởng Ngài sẽ thực hiện điều tốt đẹp nhất cho mình.
c) Sau cùng để có được lòng tin tưởng phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa chúng ta cần thực hiện những bài thực tập. Mỗi ngày chúng ta tập phó thác, tin tưởng vào Chúa hơn một chút. Mỗi ngày chúng ta tập sống quảng đại, quên mình, phục vụ hơn một chút. Mỗi ngày chúng ta tập bỏ bớt nỗi lo âu và thói quen sống tính toán của mình đi một chút. Cứ thế, sự tin tưởng, phó thác vào Chúa sẽ dần dần phát triển trong tâm tư và cách sống của chúng ta. Và chúng ta sẽ thấy ứng nghiệm lời Chúa Giêsu nói trong Phúc âm hôm nay.
NGUYỆN:
Lạy Thiên Chúa là Cha của con. Cha yêu thương con đến độ đã ban Con Một Cha cho con. Cha yêu thương con đến độ đã sai Thần Khí Cha đến trong con, để giúp con kêu lên với Cha tiếng "Abba - Lạy Cha". Cha yêu thương con đến độ sa#n sàng ban cho con mọi ơn lành phần hồn phần xác mà con cần đến để con được sống và sống dồi dào (Ga 10,10). Hơn nữa, Cha chẳng những là Cha nhân lành mà còn là Cha quyền năng. Không có gì mà Cha không làm được. Mọi sự đều trong tầm tay của Cha. Thế mà con vẫn sống trong lo âu, buồn khổ, tính hơn tính thiệt với bản thân mình. Con chưa dám lăn xả vào lòng Cha. Con chưa dám phó thác tất cả trong tay Cha. Con chưa dám tin tưởng là Cha làm mọi sự cho con. Xin Cha ban cho con ơn tin tưởng phó thác và lòng kiên nhẫn đợi chờ mà con đang rất thiếu. Xin Cha giúp con tập sống yêu thương, quảng đại, quên mình, phục vụ, cậy trông. để con cảm nghiệm được sự chân thực của Lời Con Cha là Đức Giêsu. Amen
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

 

TN29-C10. Thiên Chúa sẽ ban cho tôi điều tốt nhất

Lời cầu “xin” là thái độ của người nghèo, của tạo vật cần Thiên Chúa. Đây là thái độ đúng đắn: TN29-C10

Lời cầu “xin” là thái độ của người nghèo, của tạo vật cần Thiên Chúa. Đây là thái độ đúng đắn diễn tả thân phận con người, nên đẹp lòng Thiên Chúa. Lời cầu nguyện không chỉ là xin ơn, nhưng còn là lời cảm tạ và ca khen Thiên Chúa. Tuy vậy, thái độ “cần” Thiên Chúa, được diễn tả qua lời cầu “xin”, là nền tảng của lời cầu nguyện.
Lời “Xin” trong Kinh Chúa dạy
“Lạy Cha chúng con ở trên trời, nguyện danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện…Xin Cha cho chúng con…”. Lời trong kinh Lạy Cha nói lên khao khát ước vọng của con người, về nhu cầu thiêng liêng và về nhu cầu vật chất.
Xin Cha làm cho Danh Cha cả sáng, xin Cha làm cho con người tin nhận quyền Cha, để Danh Cha cả sáng. Xin Cha làm cho Nước Cha trị đến, bằng cách làm cho con người biết yêu thương, biết sống theo luật của Đức Yêsu. Xin Cha cho chúng con lương thực cần dùng. Chúng con cần Chúa, để chúng con có lương thực hằng ngày, để chúng con được ơn tha thứ, để chúng con khỏi sa ngã phạm tội. Chúng con cần Chúa để nên thánh, để sống bình an và hạnh phúc.
Chúng ta bất lực. Chúng ta cần Chúa để làm tất cả, thế nên chúng ta xin Chúa để làm tất cả mọi điều chúng ta phải làm, ngay cả những điều như thể chỉ tuỳ thuộc nơi chúng ta. Xin Chúa cho chúng con luôn luôn tuỳ thuộc vào Chúa trong mọi chuyện.
Môsê giơ tay cầu nguyện
Sách Xuất Hành cho thấy hiệu lực lời cầu nguyện của Môsê: khi ông giơ tay lên cầu nguyện, Yosua và binh lính Israel thắng trận, khi ông hạ tay xuống, bên đối nghịch Amalek thắng trận. “Bè để qua sông, qua sông hãy quên bè”. Đừng vác bè mà đi! Hãy đón nhận sứ điệp, đừng bận tâm quá những điều không cần thiết, hoặc làm mình quên mất điều chính. Sứ điệp của đoạn Lời Chúa: lời cầu xin thật hữu hiệu.
Đức Yêsu kể dụ ngôn về ông thẩm phán, không sợ Thiên Chúa, không sợ con người, nhưng chỉ sợ người ta làm phiền, nên phải làm theo lời thỉnh cầu của bà goá. Nếu con người, vì sợ bị phiền mà phải làm theo điều người ta xin, thì huống chi là Thiên Chúa, Đấng luôn luôn yêu thương con người, và sẵn sàng làm tất cả cho con người khi họ cầu xin Ngài.
Thái độ cầu xin, là thái độ của người khiêm tốn. Vì người ta chỉ xin điều mình rất muốn, mà mình không thể có được, vì nó không tuỳ thuộc mình, nó là một ơn “nhưng không” của Thiên Chúa ban cho mình. Xin cho chúng ta tin tưởng Chúa yêu thương mình, tin Ngài luôn sẵn sàng làm tất cả những gì tốt lành cho chúng ta, để chúng ta chạy đến cầu xin với Ngài.
Hãy dùng Kinh Thánh để cầu nguyện
Kinh Thánh là Lời Chúa cho con người, là sách gợi hứng và ý tưởng giúp người ta cầu nguyện. Kinh Thánh giúp người ta hiểu biết về Đức Yêsu hơn. Một thánh giáo phụ nói: không biết Kinh Thánh là không biết Đức Yêsu. Sở dĩ vậy, vì Kinh Thánh nói về Đức Yêsu, Kinh Thánh cho thấy những hành động Thiên Chúa làm trong lịch sử, vì yêu thương con người. Qua những hành vi hoạt động của ai, chúng ta biết hơn về người đó. Cũng tương tự như vậy, qua Kinh Thánh ghi lại những gì Thiên Chúa làm cho dân tộc Israel và loài người, chúng ta biết về Thiên Chúa hơn.
Kinh Thánh được viết trong một thời gian nhất định, bởi những người có một nền văn hoá riêng, nên cần biết những phong tục tập quán của họ để hiểu được những điều họ muốn diễn tả, những điều Thiên Chúa muốn diễn tả hoặc nói với con người qua họ.
Kinh nghiệm về Thiên Chúa của những người được linh ứng, là kinh nghiệm đặc biệt và được diễn tả trung thực, để những người thời sau học hỏi. Kinh nghiệm Thiên Chúa ban cho những người xưa, có thể con người ngày nay cũng được khi họ đọc và suy niệm Lời Chúa (Kinh Thánh). Khi đọc Tin Mừng của Đức Yêsu, chúng ta hãy nhìn nghe và xem Ngài sống, để mình trở nên giống Ngài hơn.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Lời cầu nguyện của bạn có thường được nhậm lời không? Xin bạn chia sẻ kinh nghiệm về những lần cầu nguyện, mà được nhận lời.
2. Những điều bạn xin, bạn có thấy đó thực sự là điều cần thiết đối với bạn không? Tại sao bạn xin điều không thực sự cần thiết đối với bạn?
3. Theo bạn, điều nào là cần thiết nhất đối với bạn, mà bạn phải cầu xin? Tại sao đây lại là điều cần thiết nhất đối với bạn?

 

TN29-C11. Có Phải Con Trai Thì Tốt Hơn Con Gái?

Một bé gái tên Jenifer quyết định biên một lá thư cho Thiên Chúa. "Kính gửi Thiên Chúa," bé: TN29-C11

Một bé gái tên Jenifer quyết định biên một lá thư cho Thiên Chúa. "Kính gửi Thiên Chúa," bé khởi đầu, "có phải con trai thì tốt hơn con gái không? Con biết Chúa là con trai nhưng con xin Chúa hãy công bằng!" Ngay cả khi từ còn tuổi ấu thơ, cô bé đã biết biểu lộ lòng âu lo vì sinh ra là con gái. Chưa gì mà cô bé đã có ấn tượng lép vế bởi vì chính Thiên Chúa cũng là con trai.
Jenifer còn quá nhỏ để biết rằng qua việc nêu ra vấn nạn này cô đã trở nên một phần tử của một cuộc cách mạng vĩ đại mà ảnh hưởng trên toàn thể nhân loại. Trải qua bao thế hệ, chúng ta đã đi đến kỷ nguyên của sự bình đẳng giới tính. Để có thể thấu hiểu hơn những gì đang xẩy ra trong thời đại này, chúng ta cần phải quay trở lại Lịch Sử Kinh Thánh, bởi vì ít là vấn nạn kỳ thị giới tính đã được ăn sâu từ sự hiểu lầm của chúng ta về Kinh Thánh.
Hàng nghìn năm qua, chúng ta sống dưới cái mà thường gọi là "Cấp Bậc Tạo Dựng Cổ Truyền." Qua đó nó có nghĩa là chính Thiên Chúa tạo dựng chúng ta có nam có nữ với chủ đích ngay từ đầu rằng người nam phải là bề trên và người nữ là bề dưới; rằng người nam thì cai trị, người nữ thì tuân phục. Các bạn dễ dàng tìm thấy dư đầy trong Cựu Ước để ủng hộ cho vấn đề này: Thiên Chúa đã tạo dựng người nam trước tiên, người nữ thứ hai; Thiên Chúa đã tạo dựng người nữ để làm "người nội trợ" cho người nam. Người nữ chính là người đầu tiên chịu thua cho sự cám dỗ của Satan và vì đó bà đã bị dạy rằng chồng bà sẽ là chủ của bà (Gen. 3:16). Quả thật, qua nhiều thế kỷ, trong lời nguyện thường nhật mà người đàn ông Do Thái thường đọc, ông cảm tạ Thiên Chúa đã không dựng ông lên là người ngoại đạo hay nô lệ hoặc là đàn bà. Đây chính là khung cảnh đã phổ biến qua nhiều thế kỷ. Và rồi Chúa Giêsu Kitô đến mang một ánh sáng mới về "Cấp Bậc Tạo Dựng." Các bạn nhớ rằng, trong Phúc Âm, khi mà Chúa Giêsu đến hội đường của Ngài tại Nagiarét, Ngài cầm lấy quyển sách của Isaiah và bắt đầu đọc: "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi; Ngài sức dầu cho tôi... Công bố tự do cho người bị bắt bớ" (Lk. 4: 18).
Và từ đó đến nay, sau hai ngàn năm, chúng ta mới hiểu được rằng đấy bao gồm cả giải thoát cho khỏi kỳ thị giới tính nữa.
Trong một xã hội trọng nam trên hết, Chúa Giêsu đã đối xử người nữ như là một con người. Ngài đối xử người nữ bình đẳng. Ngài đối xử người nữ như là một con người mà có cùng một quyền hưởng trọn vẹn cuộc sống y như Phêrô, Gioan, Giacôbê, Andrê và tất cả mọi Tông Đồ khác. Các môn đệ của Ngài kinh ngạc khi thấy Ngài tiếp chuyện với một người nữ tại miệng giếng trong xứ Samaria. Ngài đang tiếp chuyện với một người nữ mà Ngài không quen biết giữa thanh thiên bạch nhật. Đấy không chỉ làm kinh ngạc các môn đệ mà Ngài còn phí thì giờ để tiếp chuyện với một nhân vật bề dưới. Thế nhưng Chúa Giêsu đã coi bà như là một con người đến độ Ngài có thể nhận rõ những tình trạng cuộc sống của bà. Và Ngài tạo cho bà một cuộc sống mới trọn vẹn. Ngài quan tâm đến bà như là một con người và không một người đàn ông nào trong nhóm của Ngài đã cho bà một tí giờ nào trong ngày của họ.
Còn Maria Mađalena. Truyền tụng cho biết bà là một kỷ nữ -- đối tượng của sự lạm dụng của đàn ông. Chúa Giêsu đã ban cho bà một đời sống mới trọn vẹn. Trong "Jesus Christ Superstar," Mađalena nói, "Tôi không biết yêu Ngài như thế nào." Thật vậy bài hát này đã điểm đúng chỗ bởi vì Chúa Giêsu chính là người đàn ông không đối xử bà như là một vật thể lý. Chúa Giêsu đối xử với bà như là một con người. Ngài yêu mến Maria như là một con người, và Maria đã yêu mến Ngài vì lý do này.
Người Đàn Bà Bị Bắt Phạm Tội Ngoại Tình: một câu chuyện mang "hai tiêu chuẩn" cổ. Một người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Thế nhưng nếu bà "bị bắt quả tang" thì ai là người đàn ông? Ông ở đâu? Chỉ có người đàn bà mà các ông đạo đức giả tố cáo. Thế nhưng Chúa Giêsu đã từ chối không để cho các ông ném đá bà và Ngài đã đưa bà về với một cuộc sống mới trọn vẹn đang mở ra cho bà.
Còn nữa: Mátta, người đàn bà say mê việc nội trợ, Maria thành Béthani, người đàn bà rửa chân cho Chúa Giêsu và lấy tóc mình mà lau. Chúa Giêsu đã giải toả người nữ khỏi sự đàn áp, tạo ban cho họ một sự trọn vẹn của cuộc sống như là một con người với cùng những quyền lợi, chỉ dưới Thiên Chúa, giống như những con người khác vậy.
Bé Jenifer đã đưa ra một vấn nạn! Và cũng như Chúa Giêsu trong bài giáo huấn Phúc Âm hôm nay. Chúa Giêsu đưa ra như là một gương mẫu cho người nữ trong mọi thế hệ, một người quả phụ nghèo đã đứng lên vì quyền lợi của bà. "Trả quyền lợi lại cho tôi," bà đòi ông thẩm phán nghe bà kiện. "Nhiều lần ông đã từ chối," Chúa Giêsu dạy. Thế nhưng bà quả phụ không chịu thua. "Trả quyền lợi lại cho tôi," bà đòi đi đòi lại không ngừng. Sau cùng, Chúa Giêsu dạy chúng ta, ông thẩm phán phải nói với chính mình, "Ta không sợ Thiên Chúa và người khác, thế nhưng bà quả phụ này cứ đến làm phiền ta. Ta phải xử cho bà để bà khỏi đến phiền ta nữa." Để kết thúc dụ ngôn, Chúa Giêsu hỏi, "Vậy Thiên Chúa không xét xử công bình cho những kẻ Ngài chọn hằng kêu van Ngài đêm ngày sao?"
Các bạn có nghe về người đàn ông bị bệnh tự ti mặc cảm đến với nhà tâm lý với những vấn nạn của ông không? Sau nhiều lần giải quyết, nhà tâm lý nói với ông, "Tôi có một tin mừng cho ông. Ông không có bệnh thấp cảm; ông thật sự thấp kém." Đáng tiếc, mặc dầu với tất cả những thắng lợi và hoạt động của "Quyền Lợi Người Nữ", còn có rất nhiều người nữ mà, tận đáy thâm tâm của họ, vẫn có mặc cảm rằng họ vẫn là bề dưới. Lập trình "Cấp Bậc Tạo Dựng Cổ Truyền" không phải là dễ dàng bị sụp đổ và tình trạng cổ truyền không tự nó thay đổi được. Thế nhưng, trong ánh sáng giáo lý của Chúa Giêsu, chúng ta quả quyết với lòng xác tín hoàn toàn rằng tất cả mọi người nam cũng như nữ đều được dựng nên bình đẳng. Lời của Thánh Phaolô, "Không còn hiện diện trong chúng ta là Do thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà. Tất cả chỉ là một trong Chúa Giêsu Kitô" (Gal 3:28).

 

TN29-C12. Bà góa - Nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay
 

Chữ "bà góa" trong ngôn ngữ Do Thái được dịch là "người thinh lặng" hay là "người không: TN29-C12

Chữ "bà góa" trong ngôn ngữ Do Thái được dịch là "người thinh lặng" hay là "người không được nói". Điều đó không có nghĩa là họ câm, nhưng đàn bà ở trong văn hóa trọng người đàn ông của miền Điạ Trung Hải không được có tiếng nói. Trong dụ ngôn này, bà goá là hình ảnh của một người không quyền lực.
(c.5) dịch sát nghĩa là"cuối cùng thì bà ấy sẽ đánh bầm mắt tôi". Trong ngôn ngữ Hy Lạp, "đánh bầm mắt" một người nào đó có nghiã là làm nhục người đó một cách công khai. Sự việc một ông quan tòa không biết nhục, mà lại nhượng bộ dưới áp lực (làm nhục) của một người đàn bà đã nói lên sự kiên trì của bà này.
Trong thời đó, người đàn bà bị goá khi còn trẻ bị xem như không tốt. Vì vậy xã hội khuyến khích họ tái giá trước khi có những chuyện không hay xảy đến. Đây là một ưu tư khá thiết thực của Giáo Hội sơ khai. Xin đọc thư 1 Tim 5:3-15 để hiểu thêm về vấn đề này.
Kinh Thánh còn có những bài đọc khác về đàn bà góa bụa, chẳng hạn Isaia (Is. 1:23, 10:2) than phiền về cách về cách đối xử tệ hại với họ, và cũng có những bài đọc nói về sự quan phòng của Chúa với những người phụ nữ không may mắn này, như trong (Jer 49:11; Ps 68:5; Jas 1:27)
Một Điểm Chính
Chúa Giêsu dạy chúng ta nên bền vững khi cầu nguyện, đừng chán nản bỏ cuộc vì Ngài là Thiên Chúa thương yêu chúng ta sẽ nhậm lời cầu khẩn của những ai xin Người.
Suy Niệm
Sự cầu nguyện hằng ngày của tôi có đã trở thành một thói quen làm cho xong việc và mất đi sự chân thành chăng?
Kết qủa của lời tôi cầu nguyện có luôn luôn là điều gì tôi xin chăng? Có khi nào tôi xin theo ý tôi, nhưng trong thinh lặng Chúa cho tôi nhận ra ý của Ngài chăng?

 

TN29-C13. Suy Niệm của JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Thiên Chúa có muốn ta phải xin cho thật lâu thật nhiều, và phải lập đi lập lại nhiều lần điều: TN29-C13

1. Thiên Chúa có muốn ta phải xin cho thật lâu thật nhiều, và phải lập đi lập lại nhiều lần điều ta muốn xin, thì Ngài mới ban cho không?
2. Nếu ta xin những điều ta thấy thật là cần thiết cho ta, mà chẳng thấy Ngài ban cho, thì ta nên nghĩ thế nào?
3. Cầu nguyện có nhất thiết phải dùng lời không? Có những cách cầu nguyện nào không dùng tới lời nói không? Cách nào hay hơn?
Suy tư gợi ý:
1. Thiên Chúa không thể làm ngơ trước lời cầu xin của con người
Đời sống con người quả thật có những lúc đau khổ, thiếu thốn, mà con người không thể làm gì được, cũng không thể cầu cứu ai được ngoài Thiên Chúa. Những lúc đó, con người nên kêu cầu Thiên Chúa, và tin tưởng rằng Ngài là người Cha nhân hậu, luôn luôn thỏa mãn những gì mà con người cần cho đời sống của họ.
Đức Giê-su đưa ra một lập luận để chứng tỏ điều đó. Ngay cả một ông quan vô đạo đức mà cũng phải nhậm lời cầu xin của một bà góa nếu bà ta cứ xin mãi. Ông ta nhậm lời bà không phải vì ông ta tốt lành gì, mà vì để mình khỏi bị quấy rầy nữa. Một người vô lương tâm, thiếu đạo đức mà còn phải nhậm lời những người cầu xin mình mãi, huống gì những người có đạo đức, có lòng thương người! Mà Thiên Chúa là Đấng nhân lành hơn ai hết, chẳng lẽ lại có thể làm ngơ được trước những người thành tâm, có nhu cầu thật sự, kêu cầu Ngài. Vì thế, khi cầu nguyện, ta hãy tin tưởng vào tình thương và lòng nhân từ của Thiên Chúa.
2. Giá trị lời cầu xin nằm ở chất lượng chứ không phải số lượng
Khi nói dụ ngôn này, Đức Giê-su không có ý nói phải cầu xin cho thật dai dẳng thì mới được Thiên Chúa nhậm lời, làm như thể Ngài cũng giống như ông quan kia, cứ phải để cho người ta xin cho thật nhiều thật lâu thì mới ban cho. Qua dụ ngôn này, Ngài muốn ta tin tưởng vào hiệu lực của lời cầu xin, chứ không phải khuyên ta cầu xin cho dài hay phải lập lại cho thật nhiều lần lời cầu xin của mình. Chính Ngài cũng đã khuyên: «Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin» (Mt 6,7-8).
Phẩm chất của lời cầu nguyện nằm ở chất lượng chứ không phải số lượng hay thời gian cầu nguyện. Một lời cầu nguyện có giá trị trước mặt Thiên Chúa là một lời cầu nguyện thấm nhuần tinh thần tin yêu, xuất phát từ niềm tin tưởng và phó thác vào tình yêu, vào sự quan phòng của Thiên Chúa, đồng thời từ tâm tình yêu thương đích thực của mình đối với Thiên Chúa được biểu hiện cụ thể thành hành động. Một lời cầu xin rất ngắn, thậm chí không được phát thành lời, mà chỉ là tâm tình yêu thương tin tưởng như trên, thì giá trị gấp triệu lần những lời cầu xin dài dòng mà thiếu những tâm tình cần thiết ấy. Không khéo, chúng ta sẽ biến đạo của mình thành một «đạo xin», và tự biến mình thành những «kẻ ăn mày».
3. Hãy cầu xin như một người con, đừng xin như một ăn mày
Cách xin của kẻ ăn mày khác hẳn với cách xin của một người con. Người con thì biết cha mẹ là người yêu thương mình nhất trên đời, và tin tưởng chắc chắn rằng các ngài luôn luôn thỏa mãn những gì mình cần. Vì thế, người con chỉ cần nói với cha mẹ mình một tiếng và chờ đợi cha mẹ mình thoả mãn nhu cầu của mình. Còn người ăn mày thì không dám tin tưởng rằng người mình xin thương yêu mình thật sự để sẵn sàng «bố thí» cho mình, nên xin với tâm tình «được chăng hay chớ», được thì mừng mà chẳng được thì đành chịu vậy. Vì thế, người ăn mày phải lải nhải van xin để đánh động lòng thương của người khác.
Thiên Chúa là Cha đầy tình thương, và chúng ta là con cái Ngài. Ngài không cần ta phải đánh động lòng thương của Ngài, làm như tình thương của Ngài đã đi vắng hay ngủ quên. Coi chừng kẻo chúng ta đánh giá tình thương Ngài quá thấp, và đó là một cách vô tình xúc phạm đến Ngài. Đồng thời có thể chúng ta cũng đã tự hạ thấp phẩm giá của mình trước mặt Thiên Chúa: thay vì làm một đứa con được yêu thương chăm sóc, thì lại làm như một kẻ ăn mày xa lạ từ đâu tới trước cửa nhà.
Chính vì thế, đã 30 năm nay, tôi chẳng cầu xin bằng lời cho bằng dùng tâm tình thật sự của một người con, tin tưởng và phó thác hoàn toàn vào tình thương, vào sự quan phòng đầy khôn ngoan sáng suốt của Thiên Chúa. Vì thế, dường như không một nhu cầu chính đáng nào của tôi mà không được Ngài thỏa mãn, cho dù tôi chẳng hề lên tiếng cầu xin. Tôi nghĩ, cần gì phải lên tiếng khi mà chưa mở miệng thì Ngài đã biết mình nghĩ gì, muốn gì, xin gì rồi. Và khi nhận thấy Thiên Chúa đã thỏa mãn nhu cầu hay điều tôi mong muốn, thì tôi nhận ngay ra tình thương phụ tử của Ngài đối với mình, nên cố gắng đáp lại tình thương ấy một cách quảng đại, đầy yêu thương, bằng hành động thật sự.
4. Trường hợp Thiên Chúa không thỏa mãn điều mình mong ước
Nếu có một nhu cầu hay một điều mong muốn nào của mình không được thỏa mãn, dù mình nghĩ nó rất chính đáng và thật sự cần thiết, thì sao? Lúc đó ta nên nghĩ rằng Ngài khôn ngoan sáng suốt hơn mình gấp triệu lần, cách hành động của Ngài chắc chắn có lợi cho mình hơn cách mình nghĩ. Ta hãy phó thác mọi sự cho Ngài, và để mặc Ngài hành động. Nếu Ngài ban cho, thì việc ban cho ấy chắc chắn là điều có lợi cho ta. Nếu Ngài không ban cho thì việc không ban cho ấy chắc chắn cũng vì ích lợi cho ta.
Kinh nghiệm làm cha mẹ đã dạy tôi điều ấy. Trước hết, tôi không hề để cho con tôi phải xin nhiều lời rồi mới cho. Việc gì tôi thấy cần thiết và ích lợi cho nó, thì dù nó có xin hay không xin, tôi cũng cho. Thậm chí nhiều thứ nó không xin vì thấy không cần, nhưng tôi thấy chúng cần thiết cho nó, thì tôi cho và buộc nó phải nhận lấy mà dùng. Còn việc gì tôi thấy cho có hại hơn không cho, hoặc không cho có lợi hơn là cho, thì dù nó có năn nỉ xin tới đâu tôi cũng không cho. Nhiều khi quan điểm của tôi và nó trái ngược nhau: nhiều điều nó nghĩ là cần thiết hoặc ích lợi thì tôi lại cho là không cần thiết hoặc không có lợi. Lúc đó tôi phải theo sự khôn ngoan của tôi – là người nhiều kinh nghiệm và khôn ngoan hơn nó – chứ không phải theo sự suy nghĩ còn non nớt của nó. Nếu tôi đã quyết không cho mà nó cứ nằng nặc đòi thì tôi nổi quạu lên ngay. Tôi nghĩ rằng Thiên Chúa có lẽ cũng hành xử tương tự như vậy đối với con cái Ngài.
5. Cầu nguyện không nhất thiết phải dùng lời
Thiên Chúa thấu hiểu hết tâm can tôi, Ngài biết hết mọi tư tưởng của tôi trước khi nó thành hình trong đầu tôi. Vì thế, tôi cảm thấy lời nói của tôi đối với Ngài trở thành thừa thãi, không cần thiết, nếu không muốn nói là có nhiều khi không hợp lý. Không nói với Ngài không có nghĩa là tôi không cầu nguyện. Tôi nghĩ rằng có nhiều cách để cầu nguyện tốt hơn là cầu nguyện bằng lời nói. Đó là cầu nguyện bằng tâm tình và bằng hành động.
Nếu lời cầu nguyện không xuất phát từ những tâm tình có thực trong tâm hồn được biểu hiện cụ thể thành hành động, thì đó chỉ là những lời trống rỗng hoặc giả dối, chẳng có giá trị trước Thiên Chúa. Mà nếu đã có tâm tình yêu thương, biết ơn, cảm tạ… đối với Ngài thì chắc chắn Ngài đã biết: nói ra hay không nói ra không phải là điều quan trọng, điều quan trọng chính là có những tâm tình đó thật sự hay không.
Vì thế, những lúc cầu nguyện, tôi chỉ để cho những tâm tình yêu thương, biết ơn, cảm tạ… tự động trào lên từ đáy lòng. Những tâm tình ấy tự động phát sinh khi tôi nhìn vào bản tính đầy tình phụ tử và yêu thương của Ngài, và vào những ân huệ lớn lao Ngài đã dành cho tôi. Những tâm tình ấy có thể khiến tôi bật thành lời, mà cũng có thể không. Và tôi cũng dành nhiều phút im lặng để lắng nghe Ngài nói trong tâm hồn, xem Ngài muốn nói gì với mình. Tôi cho rằng khi cầu nguyện, nói với Ngài là chuyện không cần thiết, vì Ngài đã hiểu hết mọi sự tôi muốn nói. Nhưng lắng nghe Ngài mới là chuyện hết sức cần thiết, vì tôi đâu biết được ý Ngài thế nào, phải lắng nghe Ngài thì mới biết Ngài muốn gì. Muốn thực hiện thánh ý Ngài mà lại không thèm nghe Ngài nói lên điều Ngài muốn thì thật là phi lý. Im lặng lắng nghe Ngài, ta sẽ học được nhiều điều khôn ngoan, và múc được rất nhiều sức mạnh từ nơi Ngài.
Cầu nguyện
Lạy Cha, xin làm cho con yêu mến Cha và những người chung quanh con một cách nồng nhiệt. Chính tình yêu ấy là cốt tủy cho đời sống cầu nguyện của con. Và cầu nguyện chính là hơi thở không thể không có của tình yêu ấy. Xin cho con hiểu được bản chất và cốt tủy của cầu nguyện chính là tình yêu. Không yêu thì không thể cầu nguyện đúng nghĩa được. Không yêu thì mọi lời cầu đều chỉ là những lời nói trống rỗng, không hồn. Vì thế, xin cho con biết quan tâm vun trồng tình yêu. Amen

 

TN29-C14. “Xin minh oan cho tôi”- Lm. Đam. Cao tấn Tĩnh

Nếu để ý kỹ tiến trình Phụng Vụ Lời Chúa trong mấy tuần vừa qua, chúng ta thấy các bài Phúc: TN29-C14

Nếu để ý kỹ tiến trình Phụng Vụ Lời Chúa trong mấy tuần vừa qua, chúng ta thấy các bài Phúc Âm đều xoay quanh một chủ điểm duy nhất, đó là vấn đề đức tin. Thật vậy, bài Phúc Âm Chúa Nhật XXV cách đây bốn tuần, Chúa Giêsu khẳng định với các tông đồ rằng “không ai có thể làm tôi hai chủ”, nghĩa là các vị hãy tin tưởng theo Người, hãy hết lòng làm tôi phục vụ Thiên Chúa, “hãy tìm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài trước, rồi mọi sự khác các con sẽ được ban cho sau” (Mt 6:33). Bài Phúc Âm Chúa Nhật XXVI cách đây ba tuần, Chúa Giêsu nói cho nhóm người Pharisiêu, thành phần không chịu tin họ vừa tham lam vừa có thể phụng sự Thiên Chúa, dụ ngôn về người phú hộ bị đời đời trầm luân chỉ vì “đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Jas 2:26), nghĩa là dù cho họ có giữ luật Chúa một cách công chính đi nữa, song nếu không giữ nghĩa với anh em, họ cũng vẫn không được rỗi. Bài Phúc Âm Chúa Nhật XXVII Mùa Thường Niên Năm C hai tuần trước, Chúa Giêsu đã chỉ cho các môn đệ bí quyết làm cho đức tin nơi các vị tăng phát, bằng việc các vị “hãy hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ” (Mt 18:3), ở chỗ, thâm tín và thực hiện lời Người khuyên dạy: “Sau khi các con làm xong tất cả những gì các con được lệnh làm thì các con hãy nói rằng ‘Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng. Chúng tôi chẳng làm gì khác ngoài nhiệm vụ của mình mà thôi’”. Và bài Phúc Âm Chúa Nhật XXVIII Mùa Thường Niên Năm C tuần vừa rồi, Chúa Giêsu còn tỏ cho chúng ta thấy đức tin phải được bảo tồn bằng lòng biết ơn nữa, như trường hợp của người cùi Samaritanô ngoại lai sau khi thấy mình được lành sạch đã trở về chúc tụng Thiên Chúa, nên đã được Người phán: “Đức tin của con đã cứu con”. Hôm nay, bài Phúc Âm Chúa Nhật XXIX Mùa Thường Niên Năm C lại tiếp tục cho chúng ta thấy đức tin còn phải được tỏ ra bằng một tấm lòng kiên trì chịu đựng vì Chúa khi bị oan ức nữa.
Đúng thế, bài Phúc Âm theo Thánh Luca hôm nay đã thuật lại dụ ngôn Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Người về trường hợp của một bà góa bị oan ức, nên bà đã tha thiết kêu nài vị quan tòa xét xử cho mình, cho đến khi bà được ông minh oan cho mới thôi. Vấn đề được đặt ra ở đây là có phải việc Thiên Chúa ban ơn cho con người nói chung, đặc biệt là việc Ngài giải oan cho họ, chỉ vì Ngài bị con người công chính này gây phiền toái, như trường hợp của vị quan tòa trong dụ ngôn hay chăng? Vì chính Chúa Giêsu đã tóm dụ ngôn này lại bằng cách đặt vấn đề với các môn đệ rằng: “Các con hãy nghe những gì vị quan tòa hư hỏng này nói. Bởi vậy Thiên Chúa chẳng lẽ lại không minh oan cho kẻ Ngài tuyển chọn ngày đêm kêu lên Ngài hay sao?” Ông quan tòa này đã nói những gì? Chúa Giêsu cũng cho biết về ý nghĩ của lời ông ta nói ngay trước đó trong bài dụ ngôn thế này: “Ta chẳng quan tâm mấy đến Thiên Chúa hay đến người ta, thế nhưng cái bà góa này cứ làm ta bị rầy rà phiền phức hoài. Ta sẽ giải quyết theo ý bà ta cho xong kẻo bà ta cứ thôi thúc ta hoài”. Thế nhưng, vai chính hay chủ yếu của bài Phúc Âm hôm nay, nếu xét đến ý nghĩa chung của cả hai bài đọc một và hai, thì không phải là Thiên Chúa, mà là con người, hay là việc con người cầu nguyện, là thái độ con người cần phải tỏ ra khi cầu nguyện cùng Thiên Chúa, đúng hơn là lòng kiên trì tin tưởng của con người được tỏ ra qua lời cầu nguyện, như Thánh Ký Luca đã đề cập đến ở ngay câu mở đầu bài Phúc Âm hôm nay: “Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ dụ ngôn về sự cần thiết của việc luôn luôn cầu nguyện chứ đừng nản lòng”. Đó là lý do bài đọc một, theo Sách Xuất Hành, thuật lại việc Moisen cố gắng giang tay cầu nguyện trên núi để giành phần thắng cho quân Yến Duyên đang ngang ngửa chiến đấu với quân Amaléch; và bài đọc hai, theo Thư Thánh Phaolô gửi Timôthêu, Vị Tông Đồ Dân Ngoại cũng đã khuyên môn đệ của mình là: “Con phải trung thành với những gì con đã học hỏi và tin tưởng, … Cha giao cho con trách nhiệm rao giảng lời Chúa, con hãy thực hiện việc này, dù gặp lúc thuận lợi hay bất thuận lợi…”.
Tuy nhiên, nếu Thiên Chúa thực sự không phải chỉ vì bị “rầy rà phiền phức”, theo nghĩa tiêu cực như vị quan tòa hư hỏng trong dụ ngôn, mà minh oan cho người công chính, thì chắc chắn vấn đề “rầy rà phiền phức” mà người công chính gây ra cho Thiên Chúa phải có một ý nghĩa đặc biệt, một thứ “rầy rà phiền phức” lên đến mức độ đã khiến Thiên Chúa phải giải oan cho họ? Vậy ý nghĩa của việc con người làm “rầy rà phiền phức” đến Thiên Chúa đây, cũng như ý nghĩa của việc Thiên Chúa giải oan cho người công chính đây là gì, nếu không phải là việc gặp gỡ giữa “đức tin tuân phục” (Rm 1:6) và Mạc Khải Thần Linh, hay là việc Thiên Chúa làm cho chân lý được sáng tỏ nơi con người công chính, tức cho đến khi Thiên Chúa được hoàn toàn tỏ mình ra qua đức tin của con người, chẳng những cho chính bản thân của họ là nạn nhân thấy để tin vào Ngài hơn, mà còn cho cả đối phương hà hiếp phạm đến họ thấy nữa, để cả thành phần “lầm không biết việc mình làm” (Lk 23:34) cũng nhận biết chân lý trở về với Ngài. Để xem ý nghĩa sâu xa của bài dụ ngôn về bà góa được quan tòa giải oan trong bài Phúc Âm hôm nay, như chúng ta vừa suy diễn, có thật sự là như thế chăng, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại mấy trường hợp điển hình trong Thánh Kinh, thứ nhất là trường hợp của Tôbia bố và đứa con dâu tương lai của ông; thứ hai là trường hợp của Mẹ Maria và Thánh Giuse; và thứ ba là của chính Chúa Giêsu Kitô.
Trước hết, về trường hợp ông Tôbia bố và đứa con dâu tương lai của ông đã bị oan ức thế nào và đã được Thiên Chúa giải oan ra sao, Sách Tôbia đã cho chúng ta biết rằng: Cả hai đều hướng lòng về Thiên Chúa, bằng cách cầu nguyện với Ngài với tất cả tâm hồn mình, hoàn toàn đặt hết lòng tin tưởng nơi một mình Ngài, chứ không vào một ai khác, kể cả những người thân tín nhất với mình. Chẳng hạn, cả hai đều có thể giải buồn và giải quyết bằng việc tìm kiếm an ủi trần gian. Như Tôbia cha có thể than thở với Tôbia con mình, về những lời vợ ông đay nghiến ông, bởi trong cảnh mù lòa ông đã theo lòng công minh chính trực của mình lầm trách bà khi ông nghe thấy có tiếng con vật lạ trong nhà; hay như đứa con dâu tương lai của ông cũng có thể than thở với cha mẹ của nàng, và xin các vị đuổi đứa tớ gái đi, vì nó đã dám xỉ nhục cảnh góa chồng bất đắc dĩ của mình, cảnh cả 7 người chồng đều chết trước khi động phòng với nàng. Lòng tin tưởng được tỏ ra qua lời cầu nguyện tận đáy lòng của hai người này quả thực đã làm Thiên Chúa phải động lòng, đến nỗi, Ngài đã ra tay giải oan cho họ, như những người làm khốn họ cũng chứng kiến thấy, đó là Ngài đã sai tổng thần Raphaen đến, chẳng những để kết duyên người con gái góa chồng còn trinh này với Tôbia con là người trong chính giòng tộc của nàng, (ở đây chúng ta thấy có sự trùng hợp về cảnh góa bụa của bà góa trong dụ ngôn của Phúc Âm hôm nay với cảnh góa bụa của nàng dâu trong truyện Tôbia này), mà còn giúp cho cả Tôbia cha, nhờ thứ thuốc Tôbia con mang về theo lời mách bảo và chỉ dẫn của vị tổng thần Raphaen, được sáng mắt để thấy lại cả vợ con rất yêu dấu của mình.
Về trường hợp của Mẹ Maria và Thánh Giuse trong Mầu Nhiệm Thiên Chúa Làm Người, cả hai đã bị oan ức và đã được Thiên Chúa ra tay giải oan cho như thế nào, chúng ta đã quá quen biết, như Phúc Âm theo Thánh Mathêu thuật lại ở đoạn 1, từ câu 18 đến 25. Tuy nhiên, trong trường hợp này, không phải chỉ có một mình Mẹ Maria bị oan ức, mà cả Thánh Giuse cũng bị oan ức nữa. Bởi vì, Thiên Chúa đã để xẩy ra một sự việc ngoài suy đoán hạn hẹp của con người tự nhiên, dù đó là một con người được Phúc Âm gọi là công chính như Thánh Giuse, một người chồng vừa mới đính hôn chẳng được bao lâu đã thấy người vợ đính hôn vốn trinh trong thánh đức của mình mang bầu trước khi về chung sống với mình. Thế nhưng, ở đây, Phúc Âm không thuật lại việc cả hai vị cảm thấy hết sức buồn sầu và cầu nguyện cùng Thiên Chúa, như trong trường hợp của Tôbia cha và đứa con dâu tương lai của ông, Thế mà, Thiên Chúa vẫn ra tay can thiệp, bằng cách, Ngài cũng đã sai một thiên thần đến. Vị thiên thần này không như tổng thần Raphaen đã lấy hình người hiện ra với Tôbia con, mà chỉ xuất hiện trong giấc ngủ của Thánh Giuse, để tiết lộ cho thánh nhân biết cách thức Thiên Chúa Nhập Thể trong lòng vị hôn thê đính hôn của thánh nhân. Việc Thánh Giuse, như Phúc Âm kể lại: “khi tỉnh giấc, Giuse đã làm như lời thiên thần Chúa chỉ dẫn là nhận Maria đem về làm vợ”, đã chứng tỏ thánh nhân lúc nào cũng hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa, dù Ngài chỉ tỏ mình ra cho thánh nhân trong giấc ngủ chứ không phải nhãn tiền. Nếu Thánh Giuse có một đức tin chân tình dễ thương, đến nỗi đã làm Thiên Chúa phải động lòng giải oan cho như thế, thì Mẹ Maria đầy ơn phúc, người đã được bà chị họ Isave khen rằng “em có phúc vì đã tin” (Lk 1:45), lại không tin tưởng hơn thánh nhân gấp bội hay sao, bởi trường hợp của Mẹ là trường hợp bị oan ức vì Chúa và cho Chúa, ở chỗ, trước khi thưa “này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng”, Mẹ đã nhắm mắt tin tưởng và liều mình chấp nhận những gì sẽ xẩy ra cho Mẹ rồi.
Còn về trường hợp oan ức của Chúa Giêsu và việc Thiên Chúa minh oan cho Người, Thư gửi Giáo Đoàn Do Thái ở đoạn 5, từ câu 7 đến câu 10, đã cảm nhận và xác tín như sau: “Trong những ngày còn ở trong xác thể, Người đã lớn tiếng dâng những lời kinh nguyện và cầu xin lên Thiên Chúa là Đấng có thể cứu Người khỏi chết, và vì lòng thành kính Người đã được nhận lời”. Ở chỗ nào? Bức Thư viết tiếp: “Mặc dù là Con, Người cũng đã biết tuân phục nơi những gì Người phải chịu, để khi thành toàn, Người đã trở nên căn nguyên cứu độ đời đời cho những ai tín phục Người”.
Vấn đề thực hành sống đạo: Qua bài Phúc Âm Thánh Luca của Chúa Nhật XXIX Mùa Thường Niên Năm C hôm nay, chúng ta thấy rằng, muốn lấy lòng Thiên Chúa, hay muốn thắng được Thiên Chúa, con người cần phải kiên gan tin tưởng. Hay nói ngược lại, Thiên Chúa chắc chắn sẽ phải chịu thua, phải đầu hàng trước lòng kiên trì của con người, nghĩa là chắc chắn Ngài sẽ bị xiêu lòng trước niềm tin tưởng vững vàng của họ. Thế nhưng, có phải lúc nào thành phần sống công chính, một thành phần luôn bị kẻ gian ác chống đối và bách hại trên thế gian này, như bóng tối bao giờ cũng có khuynh hướng muốn lấn át và bao trùm ánh sáng, sẽ thấy được tỏ tường chẳng những việc Thiên Chúa trực tiếp nhúng tay vào giải oan cho họ, mà còn thấy được cả thành quả họ được minh oan cho hay chăng? Nếu có thì tại sao bao kẻ lành đã bị chết đi hết sức oan ức và thảm thương rồi mà thế gian vẫn tràn đầy bất công và sự dữ, đến nỗi, đối với một số người, cả hữu thần lẫn vô thần, lấy cớ đó mà cho rằng Thiên Chúa đã chết mất rồi, hay cho dù có Ngài đi nữa thì Ngài cũng chỉ là một “ông trời không có mắt” mà thôi?

 

TN29-C15. Lời nguyện cầu- Lm. Bùi quang Tuấn

"Thiên Chúa lại không minh xử cho những kẻ Ngài tuyển chọn cứ mãi kêu cứu với Người đêm ngày sao" (Lc 18:7).
 

Tôi có đọc được một cuốn hồi ký rất hay của một thanh niên 22 tuổi người Nga, tên Sergi: TN29-C15

Tôi có đọc được một cuốn hồi ký rất hay của một thanh niên 22 tuổi người Nga, tên Sergi Koudakov. Cuốn hồi ký có tựa đề là "Lời Nguyện Cầu" được viết ra sau khi anh trốn thoát sang thế giới tự do và được hưởng quyền tị nạn tại Canada năm 1971.
Sinh ra trong một gia đình có bố là sĩ quan cao cấp của hồng quân Nga và mẹ là một giáo dân Công giáo ngoan đạo, Koudakov lớn lên với tương lai tràn trề hứa hẹn. Không may, anh bị mồ côi cả cha lẫn mẹ lúc chưa đầy 5 tuổi. Đường đời bắt đầu với những bước chân lang thang trộm cắp để sống còn.
Một ngày kia Koudakov bị bắt đang khi ăn cắp, và bị nhốt vào một viện mồ côi. Tại đây đứa bé bơ vơ bỗng được nhà nước cộng sản chú ý cách đặc biệt và đã đào luyện cậu thành người cộng sản chính tông, tức là trở thành một con người không tim óc, tàn ác, dã man, hăng say đánh đập và tra tấn, nhất là với những ai có đạo.
Từ khi còn ở viện mồ côi cho đến lúc tốt nghiệp sĩ quan với cấp bậc trung uý hải quân, Koudakov không ngừng được tiến cử hết chức vụ này đến danh dự kia, từ cháu ngoan Lênin cho đến thủ lãnh Liên đoàn Thanh thiếu niên cộng sản Nga sô. Thậm chí còn được đề bạt làm trùm mật vụ KGB nữa.
Là con cưng của chế độ với tương lai sáng sủa như thế, vậy mà trong một chuyến hải hành trên chiếc tàu tình báo Elagin dọc theo hải phận Canada, Koudakov đã quyết định vượt thoát chế độ. Anh nhảy khỏi tàu trong một đêm giông bão, bơi suốt 12 hải lý dưới làn nước giá lạnh, để xin tị nạn tại Canada.
Hồi ký của chàng thanh niên Sergi Koudakov không dừng lại nơi đây. Điểm đáng lưu ý là sau khi bừng tỉnh khỏi giấc mơ hãi hùng và rút chân khỏi guồng máy thống trị tàn ác, Koudakov đã chuyển biến từ một tên đồ tể từng tra tấn đánh đập những con chiên của Chúa thành một tông đồ nhiệt thành trung kiên. Anh đã tham gia một tổ chức có tên "Underground Evangelism" (Truyền Giáo Thầm Lặng) chuyên cung cấp Thánh kinh và tài trợ cho các giáo hội đang bị đàn áp tại các nước cộng sản. Rồi vì quá hăng say với công tác vạch mặt sự giả dối và đề cao chân lý, anh đã bị ám hại lúc mới 22 tuổi.
Đọc hồi ký của Sergi, có lẽ mỗi người sẽ có những cảm xúc hay nỗi niềm khác nhau dọc theo diễn tiến của câu chuyện, nhưng phần tôi lại bị lôi cuốn ngay từ đầu bởi cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề của dịch giả Nhị Lang: Với một con người như Koudakov, mồ côi cha mẹ từ thuở bé thơ, trộm cắp đầu đường xó chợ, không ai dạy cho một câu về luân thường đạo lý, lại còn luôn được khuyến khích làm những điều thất nhân ác đức, trong một môi trường như vậy thì đáng lẽ Koudakov phải biến thành một con thú ghê tởm nhất trần gian chứ. Đàng này anh đã không trở thành con thú, nhưng lại dám một mình đột phá chống lại cả một hệ thống đàn áp tôn giáo tinh vi và một chế độ vô thần mênh mông như tại Nga. Anh đã đi từ thái cực bất lương qua thái cực thánh thiện mà không có một sự hướng dẫn hay tia sáng đạo đức nào chung quanh. Thế thì nhờ đâu mà anh đã có được sự biến đổi lạ lùng như vậy?
Câu trả lời thật bất ngờ và lý thú: vì anh còn thừa hưởng được dòng máu đạo đức của người mẹ quá cố. Anh đã thừa hưởng được cái tinh hoa còn tiềm tàng trong huyết quản tâm linh do bà mẹ đạo đức truyền sang. Và nhờ đó anh đã chiến thắng.
Nhớ lại trong sách Cựu ước có đoạn nói về dân Do thái phải bước vào một trận chiến cam go với người Amalek. Từ sáng sớm, Môisen đã đi lên núi với Aharon và một người phụ tá. Trên đó, Môisen đã giơ tay lên trời cầu nguyện. Và hễ ông giơ tay lên thì dân Do thái rượt quân Amalek chạy tơi bời, còn khi mõi tay hạ xuống một tí thì quân Amalek lại vùng lên đuổi dân Do thái chạy bán sống bán chết. Thành ra hai bên đánh nhau mà cứ như trò chơi ngày hội. Nhưng cuối cùng, dân Do thái đã toàn thắng nhờ đôi tay của Môisen được giơ lên cho đến chiều tối.
Một sức mạnh tâm linh đã được truyền qua Môisen sang người Do thái, và nhờ thế họ đã đánh bại quân Amalek.
Cũng vậy, sức mạnh tâm linh đã được truyền sang Sergei từ người mẹ đạo đức và nhờ đó anh đã giành được phần thắng trong cuộc chiến giữa một con người không tim óc với con người có tâm hồn, giữa thế giới vô thần và thế giới niềm tin, giữa hận thù gian ác và bao dung nhân ái.
Vậy mới hay những tinh hoa của lòng đạo đức nơi cha mẹ sẽ có ảnh hưởng biết bao trên cuộc đời con cái. Nhất là khi cuộc đời đó lại đang là một cuộc chiến giữa đúng và sai, tội lỗi và thánh thiện, bất hiếu và có hiếu, đam mê buông tuồng và khổ chế hy sinh. Trước các trận chiến quyết liệt đó, cha mẹ phải là những người không ngừng giơ tay lên cao để khẩn cầu cùng Thiên Chúa cho con cái như Moisen đã khẩn cầu cho Israen. Và phải giơ tay khẩn cầu liên lỉ, từ "hừng đông" cho đến "chiều tà," từ bắt đầu cuộc chiến cho đến khi toàn thắng. Chứ không vì mỏi mệt hay nhát đảm, quân thù hăng lên hoặc con ta yếu đi, mà buông xuôi, thất vọng, đầu hàng.
Nói đến sức mạnh và sự cần thiết của cầu nguyện, chính Chúa Giêsu đã đưa ra hình ảnh của một bà goá bị người khác chèn ép oan ức. Bà không có tiền để lo lót, cũng chẳng có quyền để tựa nương, thậm chí cũng chẳng có đứa con nào để nhờ cậy. Thế nhưng bà có một thứ vũ khí rất lợi hại: cái lưỡi. Và bà đã biết sử dụng nó. Bà bạo van bạo xin. Kêu đi kêu lại, kêu mãi kêu hoài. Ấy thế mà được việc! Tức là mặc dầu quan toà, và là thứ quan toà bất lương theo lời Kinh thánh, không muốn xử cho bà, thậm chí còn coi bà như rơm rác, ấy thế mà vì điếc tai nhức óc, vì muốn được yên thân, nên ông đã xử cho xong chuyện.
Câu trả lời thật bất ngờ và lý thú: vì anh còn thừa hưởng được dòng máu đạo đức của người mẹ quá cố. Anh đã thừa hưởng được cái tinh hoa còn tiềm tàng trong huyết quản tâm linh do bà mẹ đạo đức truyền sang. Và nhờ đó anh đã chiến thắng.
Nhớ lại trong sách Cựu ước có đoạn nói về dân Do thái phải bước vào một trận chiến cam go với người Amalek. Từ sáng sớm, Môisen đã đi lên núi với Aharon và một người phụ tá. Trên đó, Môisen đã giơ tay lên trời cầu nguyện. Và hễ ông giơ tay lên thì dân Do thái rượt quân Amalek chạy tơi bời, còn khi mõi tay hạ xuống một tí thì quân Amalek lại vùng lên đuổi dân Do thái chạy bán sống bán chết. Thành ra hai bên đánh nhau mà cứ như trò chơi ngày hội. Nhưng cuối cùng, dân Do thái đã toàn thắng nhờ đôi tay của Môisen được giơ lên cho đến chiều tối.
Một sức mạnh tâm linh đã được truyền qua Môisen sang người Do thái, và nhờ thế họ đã đánh bại quân Amalek.
Nếu một thẩm phán bất lương, một quan toà bạo ngược mà còn phải nghe một kẻ tha thiết nài van và vững tâm kêu cầu như thế, thì huống gì là Thiên Chúa, một Thẩm phán đầy lòng xót thương.
Đọc hồi ký của Sergi, có lẽ mỗi người sẽ có những cảm xúc hay nỗi niềm khác nhau dọc theo diễn tiến của câu chuyện, nhưng phần tôi lại bị lôi cuốn ngay từ đầu bởi cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề của dịch giả Nhị Lang: Với một con người như Koudakov, mồ côi cha mẹ từ thuở bé thơ, trộm cắp đầu đường xó chợ, không ai dạy cho một câu về luân thường đạo lý, lại còn luôn được khuyến khích làm những điều thất nhân ác đức, trong một môi trường như vậy thì đáng lẽ Koudakov phải biến thành một con thú ghê tởm nhất trần gian chứ. Đàng này anh đã không trở thành con thú, nhưng lại dám một mình đột phá chống lại cả một hệ thống đàn áp tôn giáo tinh vi và một chế độ vô thần mênh mông như tại Nga. Anh đã đi từ thái cực bất lương qua thái cực thánh thiện mà không có một sự hướng dẫn hay tia sáng đạo đức nào chung quanh. Thế thì nhờ đâu mà anh đã có được sự biến đổi lạ lùng như vậy?
Cũng vậy, sức mạnh tâm linh đã được truyền sang Sergei từ người mẹ đạo đức và nhờ đó anh đã giành được phần thắng trong cuộc chiến giữa một con người không tim óc với con người có tâm hồn, giữa thế giới vô thần và thế giới niềm tin, giữa hận thù gian ác và bao dung nhân ái.
Vậy mới hay những tinh hoa của lòng đạo đức nơi cha mẹ sẽ có ảnh hưởng biết bao trên cuộc đời con cái. Nhất là khi cuộc đời đó lại đang là một cuộc chiến giữa đúng và sai, tội lỗi và thánh thiện, bất hiếu và có hiếu, đam mê buông tuồng và khổ chế hy sinh. Trước các trận chiến quyết liệt đó, cha mẹ phải là những người không ngừng giơ tay lên cao để khẩn cầu cùng Thiên Chúa cho con cái như Moisen đã khẩn cầu cho Israen. Và phải giơ tay khẩn cầu liên lỉ, từ "hừng đông" cho đến "chiều tà," từ bắt đầu cuộc chiến cho đến khi toàn thắng. Chứ không vì mỏi mệt hay nhát đảm, quân thù
Tất nhiên, Ngài sẽ rộng lòng vạn lần hơn thẩm phán bất lương kia chứ. Ngài sẽ lắng nghe mà xoa dịu cùng đáp cứu cho kẻ nài van Ngài chứ.
Nhưng liệu tôi có đủ kiên cường và bền chí nguyện cầu như bà goá ấy hay không?

 

TN29-C16. Kiên Trì! Kiên Trì!

Cuộc đua Tour de France là một cuộc đua xe đạp được tổ chức tại Pháp trong khoảng một tháng: TN29-C16

Cuộc đua Tour de France là một cuộc đua xe đạp được tổ chức tại Pháp trong khoảng một tháng. Đường đua dài hơn 3 ngàn cây số, gồm những khúc quẹo hiểm trở, có lúc lên núi xuống đồi . Cuộc đua này chỉ có những người chạy xe đạp đua lành nghề tham dự.
Vào tháng Bảy năm 1986, Greg LeMond đã đoạt được giải Tour de France. Greg đã đạt tới tuyệt đỉnh của một môn thể giao thế giới.
Vào tháng Tư năm 1987, Greg đã không may bị bắn khi anh đi săn. Ba mươi viên đạn đã đâm qua lưng, chân, tay, phổi, gan, mô bọc tin, và làm gẫy hai xương sườn. Kỳ diệu thay, Greg đã không chết. Sau một thời gian nằm nhà thương, anh đãđược trở về nhà.
Khi trở về nhà, Greg còn phải kiên trì vượt qua những ngày tháng trị liệu và hồi phục sức khoẻ, Sau đó, Greg lại bắt đầu luyện tập chạy xe đạp và ghi tên tham gia các cuộc đua.
Gần một năm sau khi bị thương, Greg thi đấu đua xe đạp ở Ireland. Tuy không thắng, Greg đã không bỏ cuộc. Sau nhiều cuộc thi đấu, Greg càng trở nên can đảm và dũng mạnh hơn.
Đến năm 1989, Greg ghi tên tham gia cuộc thi Tour de France. Nhiều người không tin rằng anh có thể hoàn tất cuộc đua. Sai với nhiều dự đoán, Greg đã dùng hết sức lực mình để thi đấu tới cùng.
Tiếp đến là ngày cuối cùng của trận đua. Các đấu thủ bất đầu tiến dần về thành phố Paris. Hàng ngàn khán giả đứng đầy đường để chờ xem kết quả cuộc đua. Greg khi đó đang đúng ở hàng thứ hai. Một ký giả thể thao ghi lại: “Greg như một mũi tên nhắm thẳng về đích điểm.”
Greg đã đuổi kịp đấu thủ dẫn đầu trong cuộc đua. Tiếp đấy, anh vượt qua cả đấu thủ ấy, và anh đã thắng giải Tour de France lần thứ hai. Anh đã đạt tới đích trong giây phút hồi hộp nhất trong bảy mươi sáu năm lịch sử của cuộc đua.
Câu chuyện trên minh họa điều mà Chúa Giêsu đã phán qua dụ ngôn trong bài Phúc âm hôm nay. Sự kiên nhẫn của Greg là sự kiên nhẫn mà Chúa Giêsu chủ trương cho tất cả những người muốn theo Ngài phải có khi họ làm việc và cầu nguyện để mở mang Nước Chúa trên trái đất này.
Greg là một mẫu gương cho câu ngạn ngữ thời xưa, “Sự kiên nhẫn có sức mạnh vô song”. Nếu Greg đã biết trang bị đầy đủ, đạt được những danh dự và phần thưởng thế gian này, thì chúng ta cũng phải biết trang bị đầy đủ hơn để đạt được phần thưởng trên trời.
Chúng ta phải làm sao để kiên nhẫn theo chân Chúa Kitô? Câu trả lời được chứa đựng trong lời của Chúa Giêsu. Ngài nói: “Ai muốn theo Ta phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày và theo Ta” (Lc 9:23). Lời tuyên bố đó của Chúa Giêsu bao gồm câu trả lời cho việc chúng ta phải làm sao để kiên trì theo chân Chúa Kitô.
Trước hết, chúng ta phải biết từ bỏ chính mình đi. Chúng ta phải biết nhắm tới mục đích của chúng ta hơn là nhắm về mình.
Thứ đến, bên cạnh sự bỏ mình, chúng ta còn phải vác thập giá mình hằng ngày. Nói cách khác, chúng ta phải tập đón nhận thập giá từng ngày một.
Sau hết, bên cạnh việc bỏ mình và vác thánh giá hằng ngày, chúng ta phải theo Chúa Giêsu. Có nghĩa là, chúng ta theo dấu vết chân Ngài. Theo dấu chân Ngài không có nghĩa là chúng ta sẽ không bao giờ té, nhưng có nghĩa là mỗi lần chúng ta té, chúng ta biết đứng dậy và tiếp tục đi.
Như thế, điểm then chốt của việc kiên trì theo chân Chúa Giêsu là làm những gì Ngài đã phán. “Ai muốn theo Ta phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta.”

 

TN29-C17. Sức mạnh vạn năng- Lm. Vũ minh Nghiễm

Năm nào đây, tờ Guidepost có đăng một câu chuyện đáng ghi nhớ như sau: Cô Mary là một: TN29-C17

Năm nào đây, tờ Guidepost có đăng một câu chuyện đáng ghi nhớ như sau:
Cô Mary là một giáo viên Trung học trẻ. Cô hằng mong ước được thành công trong nghề nghiệp của mình. Nhưng trong lớp, có một cậu học sinh rất bướng bỉnh, nghịch ngợm, hay phá phách, làm cho cả lớp nên ồn ào xáo trộn như rạp xiếc. Cô Mary buồn bã vô cùng. Một buổi sáng kia, trước giờ học, cô ngồi vào bàn viết lấy giấy viết một câu gì đó bằng tốc ký (tức là chữ viết bằng những dấu tượng trưng). Bỗng cậu Bill xuất hiện. Cậu lại nơi bàn cô giáo, hỏi:
- Cô đang viết gì vậy?
- Cô đang viết một lời cầu nguyện đây em ạ. Cô giáo trả lời...
Cậu Bill nhạo lại liền:
- Chứ Thiên Chúa có đọc chữ tốc ký được không?
- Ngài có thể hiểu được hết mọi sự. Ngài có thể nhậm lời cầu nguyện của cô nữa.
Nói xong cô gấp tờ giấy kinh đó lại, bỏ vào trong cuốn Kinh Thánh cô để trên bàn, rồi đứng dậy, lên bảng đen viết bài làm cho học trò. Bill liền rón rén đi lên, lén mở cuốn Kinh thánh, lấy tờ giấy cô giáo vừa để trong đó, và bỏ vào cuốn tập của mình.
Thời gian trôi qua...
Hai mươi năm về sau. Một hôm chàng lên gác nhà, gặp thấy cái hộp đựng các đồ đạc của chàng xưa khi còn cắp sách đi học. Cái hộp nầy mẹ chàng cất giữ trên đó đã lâu lắm. Mở ra, chàng thấy trong đó có cuốn tập của chàng hồi trước. Cầm lên, chàng giở trang nầy sang trang nọ, trang nọ sang trang kia. Kìa! Tờ giấy kinh cô giáo Mary viết xưa, mà chàng đã lấy trộm từ cuốn Kinh Thánh cô để trên bàn, đang nằm gọn trong đó, tuy đã úa vàng. Chàng liền lấy ra, nhìn đi ngắm lại những giòng cô Mary viết bằng tốc ký ngoằn ngoèo, chẳng hiểu gì cả. Chàng xếp tờ giấy lại, bỏ vào ví mình. Hôm sau, đến sở làm việc, chàng đem tờ giấy ra, xin cô thư ký cắt nghĩa cho những giòng viết trong đó có nghĩa gì. Xem xong, cô thư ký đỏ mặt, nói: “ Đây là chuyện riêng tư của ông. Tôi sẽ đánh máy, rồi chiều nay,khi tan sở ra về, tôi sẽ đem để trên bàn giấy cho ông.”
Chiều đó, Bill đọc câu kinh của cô giáo Mary xưa, cách đây 20 năm như sau:
“Lạy Chúa, xin đừng để con phải thất bại trong nghề nghiệp của con. Trò Bill quá bướng bỉnh, phá phách, con không điều khiển nổi lớp học của em. Xin Chúa đánh động tâm hồn em. Nó có thể trở nên một nguời thật tốt, mà cũng có thể trở nên một người thật xấu. Một thiên thần hay một tướng quỉ.”
Câu kinh sau cùng bổ vào tâm hồn chàng như một nhát búa tạ! Tôi có thể trở nên một người hoặc thật tốt, hoặc thật xấu, một thiên thần hay một tướng quỉ!
Chính lúc đó, chàng đang tính toán làm một việc mà nếu thực hiện, thì đời chàng sẽ là một đời đại gian đại ác.
Tâm hồn chàng đầy hoang mang giao động. Chàng xếp bản kinh kia, bỏ vào ví lại, rồi đóng cửa ra về. Trong những ngày sau đó, chàng rút bản kinh ra đọc đi xem lại nhiều lần. Cuối cùng chàng đổi ý, cương quyết gạt bỏ công việc tối tăm gian ác dự định. Sau đó, chàng đi tìm gặp cô giáoMary xưa. Với lòng đầy biết ơn, chàng thuật lại cho cô nghe: nhờ câu kinh của cô mà chàng đã xoá bỏ được một việc đại gian ác như thế nào.
Câu chuyện trên đây giúp chúng ta hiểu được những gì Chúa Yê-su muốn dạy các môn đồ qua bài Phúc Âm hôm nay về sự cầu nguyện.
Thứ nhứt: Sức mạnh của lời cầu nguyện.
Thứ hai: Sự kiên trì trong việc cầu nguyện.
Trước hết, sức mạnh của lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện có ảnh hưởng mãnh liệt trên thành quả của công việc chúng ta làm. Lời cầu nguyện có thể thay đổi hẳn cuộc đời của con người ta, như lời cầu nguyện cô giáo Mary đã thay đổi hẳn cuộc đời anh Bill.
Bàn về sức mạnh của sự cầu nguyện, bác sĩ Carrel, một người được giải thưởng Nobel, nói : “Lời kinh cầu nguyện là một nguồn sinh lực mạnh mẽ nhứt mà con người ta có thể sản xuất được. Lời kinh cầu nguyện có ảnh hưởng mạnh mẽ trên tâm hồn và thể xác của chúng ta giống như các hạch tuyến trong cơ thể chúng ta vậy. Lời kinh cầu nguyện là một sức mạnh thiết thực như hấp lực (sức hút) của trái đất.”
Thứ hai, để thực nghiệm được sức mạnh của lời cầu nguyện, chúng ta phải kiên trì. Trong bài đọc thứ nhứt , chúng ta thấy ông Mô-sê đã kiên trì trong sự cầu nguyện như thế nào. Trong khi quân Israel giao chiến với quân cướp đường Amalec, ông lên đỉnh núi cầu nguyện. Bao lâu ông giơ tay lên cầu nguyện, thì quân Israel thắng thế, quân giặc lùi. Khi ông bỏ tay xuống, thì quân giặc lại thắng thế, quân Israel lùi. Mấy người bạn phải vực ông ngồi lên một tảng đá, nâng hai cánh tay ông lên, giúp ông cầu nguyện cho đến khi mặt trời lặn xuống, và tướng Yo-su-ê dẹp tan quân địch.
Chúng ta cũng vậy, phải kiên trì trong việc cầu nguyện, mãi cho đến khi mặt trời của cuộc đời chúng ta lặn xuống, mới có thể kết thúc được trận chiến của chúng ta với ba thù ma quỉ, thế gian và xác thịt. Chúng ta chỉ có thể buông tay súng một khi nằm xuống và được Chúa gọi về.
Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Yê-su nói về một vị thẩm phán lì lợm, dưới không nể người, trên không sợ Trời. Thế mà ông đã chịu thua một bà góa nghèo hèn. Ngày ngày bà cứ kêu gào mãi trước cửa nhà ông, xin ông minh oan cho bà. Sau cùng, vì không chịu nổi được sự quấy rầy đó mà ông phải chiều ý, xử minh oan cho bà.
Nghe qua, chúng ta có cảm tưởng như Chúa dạy chúng ta gây áp lực với Cha trên trời, như bà góa kia đã gây áp lực nơi ông thẩm phán bất lương?
Không! Ông thẩm phán kia bất lương, còn Cha trên trời thì đại lượng và khôn ngoan. Một người con bướng bỉnh có thể hành động như vậy đối với cha mẹ ít khôn ngoan. Chúng ta thì không thể làm áp lực với Cha trên trời, là đấng khôn ngoan vô cùng, biết chọn sự lành để ban cho chúng ta, biết chọn thời buổi để nhậm lời chúng ta.
Khi nói dụ ngôn trên, Đức Yê-su chỉ nhằm dạy chúng ta điều này: Phải dùng lời cầu nguyện để kết hợp cùng Chúa khi buồn cũng như lúc vui, ban đêm cũng như ban ngày, trời mưa âm u, cũng như trời nắng sáng. Chúng ta phải tạo cho sự đọc kinh cầu nguyện thành một tập quán, một nhu cầu như ăn cơm uống nước vậy.
Hiểu được ý nghĩa sự đọc kinh cầu nguyện là như thế, chúng ta mới ưa thích sự cầu nguyện, mới kiên trì trong sự cầu nguyện được. Nhược bằng hiểu sự cầu nguyện chỉ là cầu xin, chúng ta sẽ không thể ưa thích sự cầu nguyện, sẽ chán ghét sự cầu nguyện, việc dâng lễ cầu kinh.
Đã bao lần chúng ta cầu xin mà đâu có được Chúa nhậm lời? Cầu xin Chúa cho được khỏe mạnh, mà cứ nay yếu mai đau! Cầu xin cho một người bạn đang mắc ung thư, được lành mạnh, mà thấy bạn nằm xuống chết như thường! Cầu xin được trúng số, đỡ vất vả, mà mất bao nhiêu tiền rồi, chỉ được cái không thôi!
Phải, nếu hiểu sự cầu nguyện chỉ có nghĩa là cầu xin mà thôi, thì chúng ta sẽ không thể kiên trì trong sự cầu nguyện, không thể ưa thích đi dâng lễ cầu kinh lâu được.
Đức Yê-su thì hiểu sự cầu nguyện một cách khác. Phúc âm đã nói đến việc Chúa cầu nguyện, ít nhứt là 20 lần. Phần lớn sự cầu nguyện của Ngài là những lời chúc tụng, tán tạ ngợi khen Thiên Chúa Cha. Lần cuối đời, trong vườn Cây Dầu, trước viễn ảnh thập giá, Ngài đã cầu xin:
“Lạy Cha, xin cho con được qua chén đắng nầy.”
Nhưng rồi Ngài vội thêm liền:
“Con xin vâng theo ý Cha, không phải theo ý con.”
Và Ngài đã không được Chúa Cha chấp nhận. Ngài vẫn bị quân dữ bắt treo lên thập giá. Ngài đã được một ơn cao trọng khác. Ngài được can đảm và bình tĩnh, rất bình tĩnh, để nộp mình cho quân dữ.
Để tóm lược, chúng ta hãy trở lại với câu chuyện cô giáo Mary và cậu học trò tên Bill nói lúc ban đầu.
Trước hết, lời cầu nguyện quả là một sức mạnh vạn năng. Nhờ lời cầu nguyện của cô, mà cậu học trò bướng bỉnh kia đã thay đổi đời sống hoàn toàn, và trở nên ngưởi lương thiện.
Thứ đến, ơn cô xin, Chúa đã không ban cho ngay. Đợi 20 năm sau, Ngài mới nhậm lời, mở con mắt linh hồn cho chàng Bill được nhìn thấy con đường chính trực. Vậy khi cầu nguyện, chúng ta phải biết kiên trì, phó thác mà cầu nguyện. Cha trên trời đại lượng và khôn ngoan vô cùng. Ngài sẽ nghe lời con cái kêu cầu. Nhưng cách nào và lúc nào?
Điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào thánh ý Ngài, vào sự khôn ngoan của Ngài.
Nếu chúng ta biết cầu nguyện như vậy, tức là cầu nguyện như Đức Yê-su đã cầu nguyện và dạy các môn đệ cầu nguyện, chúng ta sẽ ưa thích sự cầu nguyện, sự đọc kinh dâng lễ. Và dầu gặp hoàn cảnh nào đi nữa, tâm hồn chúng ta cũng sẽ gặp được bình an và thư thái.

 

TN29-C18. KIÊN TRÌ TRONG CẦU NGUYỆN

Lc 18, 1 – 8
Anh chị em thân mến,
 

Lưu Huyền Đức (Lưu Bị) thời Tam Quốc bên Tàu, biết được Gia Cát Khổng Minh, là một thiên tài: TN29-C18

Lưu Huyền Đức (Lưu Bị) thời Tam Quốc bên Tàu, biết được Gia Cát Khổng Minh, là một thiên tài về quân sự và chính trị, ông đã cùng ba anh em là Quan Công và Trương Phi, tìm đến lều tranh nơi Khổng Minh đang ở để cầu xin Khổng Minh ra làm quân sư cho mình. Họ đã đến hai lần, nhưng Khổng Minh đã tránh không cho gặp. Lần thứ ba, họ đến giữa mùa gió tuyết, đi đường rất vất vã, lại còn phải chờ đợi để được gặp mặt nữa. Ba lần đến lều tranh này, đã nổi tiếng trong sữ sách, nên được gọi là: “Tam cố thảo lư”. Cũng chính nhờ Lưu Bị tam cố thảo lư, mà Gia Cát Khổng Minh mến mộ tài đức của ông, đã sẵn sàng ra giúp Hán thất, cả một đời ông cúc cung tận tụy, chết không hối tiếc. Đức tính bền chí, kiên trì của Lưu Bị, đã làm xiêu long Khổng Minh. Câu chuyện Phúc âm hôm nay cũng muốn nói tính kiên trì như thế. Kính mời anh chị em cùng suy niệm.
a/. Bài Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu muốn kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, có ý dạy các ông phải kiên trì cầu nguyện, không được nản chí. Dụ ngôn này chỉ có một mình Luca kể mà thôi. Chúa nói: trong thành nọ, có một ông quan tòa chẳng kính sợ Thiên Chúa, cũng chẳng coi ai ra gì. Trong thành này cũng có một bà góa; bà này đến nhờ ông quan tòa xử cho mình một vụ kiện theo lẻ công bằng. Có lẻ bà góa này nghèo và cũng không có tiền hối lộ cho quan, nên bà tới xin hoài, mà không được giúp đỡ. Người đàn bà này chẳng những không nản chí, lại kiên trì hơn, ngày ngày cứ đến van xin ông quan tòa mãi, cuối cùng người bị thua không phải là bà, mà là chính ông quan tòa, vì ông quyết định xử cho bà không vì lòng tốt, mà là vì bị quấy rầy mà thôi. Rồi chính Chúa Giêsu so sánh: Quan tòa gian ác mà còn làm như thế, huống chi là Thiên Chúa; chẳng lẻ Người không công bằng mà xét xử cho những ai kiên trì ngày đêm kêu cứu đến Thiên Chúa sao? Ta thấy một điều này: Khi so sánh Thiên Chúa với quan tòa bất công, Chúa Giêsu chỉ nhắm đề cao đức tính kiên trì, như là một đỏi hỏi tất yếu của người tôi trung và con thảo để lời cầu nguyện được Thiên chúa chấp nhận.
b/. Ca dao VN thường nói: “Có công mài sắt có ngày nên kim” – hay: “Kiến tha lâu đầy ổ” - hay “Góp gió làm bão”. Mấy câu trên đưa ra những cách xữ thế rất chí lý, những kinh nghiệm vô giá của ngàn đời. Nếu con người đem áp dụng vào cuộc sống, thực sự sẽ đem lại lợi ích biết bao. Chính câu chuyện của bài Tin mừng này, nói lên đức tính kiên trì quí báu của người đàn bà góa, đồng thời cũng nêu bật lòng quả cảm của bà. Tính kiên trì phải được đi kèm với lòng quả cãm. Dù bị khước từ nhiều lần, người đàn bà vẫn không nản lòng, trái lại vẫn kiên trì cho đến cuối cùng. Kết quả như ta thấy, người thua cuộc trong chuyện này không phải người đàn bà góa, mà là chính ông quan tòa bất lương….
Câu chuyện của Lưu Bị và đoàn tùy tùng, đã ba lần đến cầu Khổng Minh Gia Cát Lượng, khẩn xin ông ra giúp mình, chỉ đến lần thứ ba, Khổng Minh mới chịu cho gặp mặt và sẵn sàng giúp cho ông, chính là nhờ đức tính kiên trì của Lưu Bị vậy…..
c/. Gợi ý sống và chia sẻ:
Con kiến là gương mẫu cho con người về tính kiên trì nhẫn nại. Nhưng nếu con người với lòng tin, lòng yêu mến mà kiên trung nhẫn nại, thì con người sẽ đáng khen và công lao của họ sẽ to lớn hơn nhiều, con kiến làm sao có thể so bì nổi?
Là người kitô hữu, ta có bền tâm, kiên trì hơn con kiến không? Hay ít nữa ra ta cũng bền tâm như người đàn bà trong bài Tin Mừng hôm nay? Hay ta là hạng người nào đây?

 

TN29-C19. Suy Niệm của JKN –  2

Câu hỏi gợi ý:
 

Đức Giêsu đã từng khuyên ta khi cầu nguyện đừng nên dài dòng, vì Thiên Chúa biết rõ những: TN29-C19

1. Đức Giêsu đã từng khuyên ta khi cầu nguyện đừng nên dài dòng, vì Thiên Chúa biết rõ những điều ta cần trước khi ta mở miệng cầu xin (x. Mt 6,7-8). Trong bài Tin Mừng hôm nay, Ngài lại khuyên ta phải kiên trì cầu nguyện. Như thế Ngài có tự mâu thuẫn không?
2. Kiên trì cầu nguyện là gì? Là giáo dân, bận đủ mọi thứ chuyện, làm sao có đủ thì giờ để kiên trì cầu nguyện?
3. Có phải hễ cứ kiên trì cầu nguyện thì việc gì ta xin cũng đều được Thiên Chúa nhậm lời? Nếu không được nhậm lời, thì ta phải hiểu thế nào? Nếu đứa con còn nhỏ của ta cứ năn nỉ hoài xin ta con bọ cạp để chơi, ta có cho nó không?
Suy tư gợi ý:
1. Cầu nguyện kiên trì ắt phải được Thiên Chúa nhận lời
Trong dụ ngôn của bài Tin Mừng này, Đức Giêsu cố ý đưa ra hai hình ảnh tương phản rất nổi bật để nói lên sự bảo đảm được nhận lời của việc cầu nguyện kiên trì. Đó là sự tương phản giữa Thiên Chúa nhân từ đầy tình thương và viên quan tòa thiếu lòng nhân; và giữa người Kitô hữu và bà góa trong xã hội Do Thái.
Ông quan tòa mà Đức Giêsu mô tả là một người «chẳng kính sợ Thiên Chúa, và cũng chẳng coi ai ra gì», nghĩa là một người có chức quyền, nhưng không có lương tâm, đạo đức, chẳng biết thương người và luôn khinh thường dân chúng. Một quan tòa vô lương tâm như vậy thế mà đã phải nhậm lời yêu cầu của một người dân quèn! không phải vì tốt bụng mà vì không muốn bị quấy rầy mãi do người dân kia cứ kêu cầu mình hoài. Kẻ vô lương tâm mà còn hành xử như thế, huống gì một Thiên Chúa nhân lành! Làm sao Ngài có thể từ chối lời cầu xin của người Kitô hữu kiên trì cầu xin Ngài với lòng thành khẩn?
Trong xã hội Do Thái cũng như nhiều xã hội khác, phụ nữ vốn đã bị coi thường so với nam giới; các góa phụ còn bị coi thường hơn nữa, vì họ là thành phần tương đối nghèo khổ nhất trong xã hội. Chồng chết, họ trở nên cô thân cô thế, phải vô cùng vất vả tự kiếm sống để nuôi bản thân và nuôi con, nên rất dễ bị bắt nạt và đối xử bất công. Vì thế, người «công dân hạng hai» như bà góa này chẳng là cái gì đáng kể trước con mắt khinh đời khinh dân của ông quan tòa vô lương tâm kia. Thế mà bà ấy đã làm cho ông kia phải nhận lời cầu xin của mình, chỉ vì sự kiên trì van xin.
Trái lại, trước mắt của Thiên Chúa, con người rất có giá trị. Có giá đến nỗi Ngài đã phải cho Con Một của Ngài xuống trần, hy sinh mạng sống mình để cứu họ, cho dù họ đang trong tình trạng tội lỗi, chống đối mình. Thánh Kinh mô tả sự chăm sóc của Ngài đối với con người: Con người được «Chúa luôn ấp ủ, dưỡng dục, giữ gìn chẳng khác nào con ngươi mắt Chúa» (Đnl 32,10; x. Tv 17,8; Hc 17,22; Dc 2,12). Tình yêu của Thiên Chúa đối với con người được thể hiện qua cách hành xử của Đức Giêsu: «Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng» (Ga 13,1). Thế thì lời cầu xin kiên trì của người Kitô hữu đối với Thiên Chúa sao lại không được nhận lời?
Nhưng kinh nghiệm cho thấy: rất nhiều khi chúng ta cầu nguyện mà đâu được Thiên Chúa nhận lời! Tại sao? Có thể vì hai lý do: hoặc ta đã không kiên trì cầu nguyện, hoặc điều ta xin không thật sự ích lợi cho ta. Vậy, trước hết, ta phải kiên trì cầu nguyện. Muốn kiên trì cầu nguyện, trước hết, ta phải biết kiên trì cầu nguyện là gì?
2. Kiên trì cầu nguyện không chỉ là một hành động
Nhiều Kitô hữu tưởng kiên trì cầu nguyện là cứ liên tục lập đi lập lại hoài những điều mình muốn cầu xin. Họ làm như Thiên Chúa không có trí nhớ và chẳng quan tâm lắm tới những nhu cầu của mình, nên cứ phải nhắc đi nhắc lại kẻo Ngài quên. Cách cầu nguyện của họ không khác gì cách của những người thờ thần Baan, bị ngôn sứ Êlia chế nhạo: «Hãy kêu lớn tiếng nữa lên, vì người là một vị thần mà! Người đang mải suy nghĩ, hay là đi vắng hoặc trẩy đường xa; cũng có khi người đang ngủ, người sẽ thức dậy thôi!» (1V 18,27). Chính Đức Giêsu cũng đả phá cách cầu nguyện như thế: «Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin» (Mt 6,7-8).
Nếu kiên trì cầu nguyện là cứ phải liên tục lập đi lập lại lời cầu xin như thế thì đa số giáo dân sẽ không có thì giờ để cầu nguyện, vì suốt ngày bận bịu với công việc nghề nghiệp, gia đình, giao tế xã hội… Nhưng rất may, kiên trì cầu nguyện không phải là như thế. Cầu nguyện không chỉ là một hành động, nó vượt lên trên hành động của môi miệng, của trí óc, của tay chân. Đã là hành động thì không thể kéo dài liên tục ngày này sang ngày khác được. Các thánh coi cầu nguyện là sự sống của mình. Trong đời sống tâm linh của các ngài, nó cần thiết như hơi thở. Hơi thở cần thiết đến mức không thở thì chết. Vì thế, các thánh cầu nguyện liên tục: khi thức, khi ngủ, khi làm việc, khi chơi đùa, khi giao tiếp… Tất cả mọi việc của các ngài đều chìm đắm trong cầu nguyện. Nếu cầu nguyện là một hành động, thì không một vị thánh nào có thể cầu nguyện liên tục như thế được.
3. Cầu nguyện là gì?
Cầu nguyện, đúng hơn, là một tình trạng của tâm linh luôn hướng về Thiên Chúa, là một thái độ sống khôn ngoan nhất đem lại bình an và sức mạnh. Tình trạng tâm linh hay thái độ sống thì có thể kéo dài liên tục, không đứt đoạn, kể cả khi ngủ, khi làm việc, ngay cả khi không ý thức rõ ràng về Thiên Chúa hay về việc cầu nguyện. Cầu nguyện là tình trạng kết hiệp với Thiên Chúa, được cấu thành bởi:
– ý thức Thiên Chúa luôn hiện diện trong chính bản thân mình. Người cầu nguyện đích thực luôn ý thức mình đang sống trước sự hiện diện của Thiên Chúa. Ngài đang nhìn mình bằng ánh mắt yêu thương, đang theo dõi từng hơi thở, từng bước đi, từng hành động của mình như người mẹ luôn quan tâm theo dõi đứa con nhỏ bé của mình. Vì thế, người cầu nguyện đích thực luôn cảm thấy mình đang sống trong một «cảnh vực thần linh» (milieu divin, từ của cha Teillard de Chardin), hay cảnh giới thần thiêng.
– tin tưởng, phó thác tuyệt đối: Người cầu nguyện đích thực luôn tin tưởng mình xuất phát từ Thiên Chúa, nên Ngài là bản thân sâu thẳm nhất của mình, Ngài còn «gần gũi và thân mật với mình hơn cả chính bản thân mình» (Deus intimior intimo meo, câu của thánh Âu-Tinh). Nói cách khác dễ hiểu hơn, Ngài chính là Cha Mẹ đích thực nhất của mình, yêu thương mình vô hạn (hơn cả cha mẹ sinh ra xác thịt mình). Đồng thời Ngài cũng khôn ngoan và quyền năng vô biên. Vì thế, họ luôn sống trong bình an và vui tươi, do biết rằng Thiên Chúa luôn che chở, dẫn dắt mình, ban cho mình tất cả những gì cần thiết cho đời sống của mình, để mình sống hạnh phúc ngay ở đời này, nhất là được hạnh phúc vĩnh cửu đời sau.
– ý thức Thiên Chúa là nguồn tình yêu và sức mạnh của mình: Vì tình yêu và sức mạnh của Ngài vô biên, nên khi kết hiệp với Thiên Chúa, mình cũng trở nên mạnh mẽ và đầy khả năng yêu thương.
– tuyệt đối tuân hành thánh ý Thiên Chúa: Ý thức rằng Thiên Chúa yêu thương mình và khôn ngoan hơn mình vô cùng, người cầu nguyện đích thực cho rằng cứ để Chúa dẫn dắt mình theo đường lối của Ngài thì ích lợi cho mình hơn là mình tự ý đi theo đường lối riêng của mình. Để Chúa dẫn dắt chẳng những là sẵn sàng làm theo ý muốn của Ngài trong bất kỳ tình huống nào trong cuộc đời, mà còn là muốn những gì Ngài muốn. Cho dẫu trong nhiều trường hợp, làm theo thánh ý Ngài thì trước mắt là bất lợi hay thiệt hại cho mình, làm cho mình đau khổ.
4. Cũng có lúc Thiên Chúa không nhận lời ta cầu xin
Khi đã có thái độ tuyệt đối tuân hành thánh ý Thiên Chúa rồi, thì ta không còn thắc mắc gì về những điều ta cầu xin có được nhận lời hay không. Vì ta biết chắc chắn những gì cần cho ta thì bảo đảm là Thiên Chúa luôn luôn ban cho ta đúng lúc. Tuy nhiên, cũng có những điều ta cầu xin, do lòng mong muốn thiếu sáng suốt của ta, nhiều khi có hại hoặc không có lợi cho tâm hồn ta, thì Thiên Chúa vì thương ta nên không ban cho ta. Cũng như khi ta còn nhỏ, cha mẹ ta không chấp thuận cho ta đi chơi như ta mong muốn và cầu xin, mà bắt ta học bài, thì đó là chuyện hợp lý. Chỉ vì các ngài thương ta, muốn ta nên người và tương lai ta được hạnh phúc. Chính Thiên Chúa đã không nhậm lời Đức Giêsu khi Ngài cầu xin cho khỏi uống chén đắng của Ngài (x. Mt 26,39.42). Vì thế, khi không được như ý cầu xin, người cầu nguyện đích thực vẫn luôn bình an, vui tươi, vì biết điều mình cầu xin không ích lợi cho mình, ít ra là vào lúc này.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, xin cho con trưởng thành trong việc cầu nguyện. Xin đừng để đời sống tâm linh của con bị mòn mỏi, kém phát triển vì cách cầu nguyện ấu trĩ của con, tương tự cách cầu nguyện của dân ngoại. Mỗi lần cầu nguyện là họ lại lải nhải lập đi lập lại những lời cầu xin đầy ích kỷ của họ. Xin dạy con biết cầu nguyện, để con có thể cầu nguyện liên tục, cả những khi con ăn, con ngủ, con chơi, con làm việc, giống như Đức Giêsu đã cầu nguyện trong cuộc đời của Ngài.

 

TN29-C20. VAI TRÒ CỦA CẦU NGUYỆN

Không ai có thể sống cuộc đời Kitô hữu mà lại không cầu nguyện. Nhưng chúng ta có hiểu: TN29-C20

Không ai có thể sống cuộc đời Kitô hữu mà lại không cầu nguyện. Nhưng chúng ta có hiểu cầu nguyện là gì và cầu nguyện như thế nào không ?
Có ba người đàn ông bị giam trong hầm tối, không có cửa ra vào và cũng chẳng có cửa sổ. Vậy họ phản ứng thế nào với tình huống khó khăn này ?
Người thứ nhất là một nhà văn, tên là George. Ông không có đức tin. Ông chỉ ngồi đó và nguyền rủa bóng tối. "Chúng ta chẳng thể làm gì được cả. Thôi đành phó mặc cho số mệnh của chúng ta", ông nói với giọng chán chường.
Người thứ hai là Peter, một tín đồ sùng đạo. Ông cầu nguyện hàng giờ. Khi cầu nguyện xong, ông ngồi xuống và chờ đợi một phép lạ xảy đến.
Người thứ ba là một thợ nề, tên là Ivan. Trong chừng mực nào đó, anh cũng là một người sùng đạo theo cách thức của anh. Nhưng anh cũng là một con người thực tế.  Anh có cái đục nhỏ trong túi. Với chút ánh sáng của que diêm, anh tìm thấy một tảng đá nhỏ. Sử dụng nó thay cho cái búa, anh bắt đầu đục vách.
Công việc diễn tiến chậm chạp, đơn điệu và vô cùng mệt nhọc. Bụi bay vào đôi mắt anh, đôi tay anh bị giộp phỏng lên. Cả hai người kia chẳng màng gì đến việc giúp đỡ anh. George ngồi một góc hút thuốc. Góc kia, Peter ngồi cầu nguyện. Thỉnh thoảng Ivan cũng cầu nguyện : "Lạy Chúa, với sự trợ giúp của Chúa, con sẽ thoát khỏi nơi đây. Lạy Chúa, xin giúp con."
Cuối cùng, sau hàng giờ lao động đau khổ, một tảng đá lớn bị đánh bật ra và luồng ánh sáng tràn vào. Anh bắt đầu reo lên vui sướng, đồng thời ca ngợi và tạ ơn Chúa. Hai người bạn đồng hành của anh, giúp anh mở rộng khe nứt, và cuối cùng cả ba lần lượt lê bước bò ra và được tự do.
Nơi đây ta thấy ba thái độ cầu nguyện khác nhau. Với George, cầu nguyện là lãng phí thời gian. Vì anh không có đức tin, thái độ này của anh cũng hợp lý thôi. Nếu bạn không tin Thiên Chúa, thì bạn cầu nguyện với ai ? Với Peter, cầu nguyện thay cho hoạt động. Bởi thế, khi anh cầu nguyện, anh ngồi xuống và chờ đợi Thiên Chúa đến giải thoát cho anh. Nhiều người trong chúng ta cũng cầu nguyện theo cách này, đặc biệt khi ta cầu nguyện cho người khác. Chỉ là những lời nói suông, để rồi miễn chước không làm gì cả.
Ivan đặt niềm tin tưởng trong lời cầu nguyện ; mặc dù lời cầu nguyện không thay thế cho hoạt động, mà còn thúc đẩy phải hoạt động. Khi cầu nguyện, anh trực tiếp đón nhận bất cứ hành động nào có thể. Lời cầu nguyện nhằm phục vụ cho mục đích giúp anh không ngừng hy vọng và can đảm. Nó cũng mang đến cho anh một cảm nhận Thiên Chúa thật gần, và tin chắc rằng Thiên Chúa không bỏ rơi anh. Anh tìm thấy một sức mạnh rất lớn từ điều này.
Thái độ cầu nguyện trong hoạt động của Ivan minh hoạ cho điều được tường thuật trong bài đọc thứ nhất. Trên hành trình vào đất hứa, dân Israel đã phải chiến đấu chống lại với dân Amalekities. Trong cuộc chiến này, họ đã đặt niềm tin tưởng nơi lời cầu nguyện của Môsê, lời cầu nguyện không phải để thay thế cho hành động, nhưng nhằm thúc đẩy phải hành động. Và Chúa Giêsu cũng thúc giục chúng ta trong bài Tin Mừng là phải cầu nguyện luôn, đừng sờn lòng nản chí.
Cầu nguyện có sức biến đổi. Lời cầu nguyện nâng đỡ chúng ta. Ai cầu nguyện sẽ không bao giờ chán nản. Khi chúng ta hướng tâm trí chúng ta về với Chúa, chúng ta cảm nhận được một sức mạnh mới trong tâm hồn, nơi toàn thể sự hiện hữu của ta. "Không có sự trợ giúp của Thiên Chúa, tôi sẽ không thành công ; có Ngài tôi không thể vấp ngã" (Abraham Lincoln).
Đức tin và cầu nguyện liên kết mật thiết với nhau. Thánh Augustinô nói : "Đức tin được bộc lộ qua lời cầu nguyện, và sự bộc lộ của lời cầu nguyện duy trì và củng cố đức tin." Cầu nguyện có thể được ví như dầu thắp cho ngọn đèn đức tin được sáng mãi.
Hoa quả của cầu nguyện là đức tin.
Hoa quả của đức tin là bác ái.
Hoa quả của bác ái là phục vụ.
Và hoa quả của phục vụ là bình an.


 

TN29-C21. TIN TƯỞNG-SNLC/222

Ngày 17.9.1789, người ta thấy một bà cụ già đi cạnh một tù nhân đang bị điệu ra pháp trường: TN29-C21

Ngày 17.9.1789, người ta thấy một bà cụ già đi cạnh một tù nhân đang bị điệu ra pháp trường. Bà cụ hết sức cầu nguyện, an ủi và khích lệ con can đảm chịu chết vì đạo. Khi đầu con bị chém rơi xuống đất, bà mẹ bình tĩnh đến trước mặt quan tòa và nói : Bẩm quan, khi con tôi còn sống thì thuộc quyền quan, nay con tôi đã chết, xin quan cho tôi được lãnh xác mang về chôn cất, hay ít nữa là được chiếc đầu. Quan truyền lính trao cho bà chiếc đầu. Bà nhe nhàng lấy vạt áo bọc đầu con lại. Đó là chiếc đầu củan thánh linh mục tử đạo Emmanuel Triệu.
Nhờ đâu ở thời sơ khai của Đạo Công giáo Việt Nam, một bà cụ quê mùa, mù chữ đã bình tĩnh, can đảm và sáng suốt dậy dỗ con được như vậy ? Phải chăng chính là nhờ sự cầu nguyện với lòng tin sắt đá bà đã biết dạy con mến Chúa và hiến dâng con làm linh mục và được ơn phúc làm thánh tử đạo.
Bà mẹ thánh Triệu không nài xin quan tòa minh oan cho con, nhưng bà đã cầu nguyện với niềm tin sắt đá hơn cả bà góa xin quan tòa xử cho mình. Đó cũng chính là điều Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh qua đoạn Tin mừng hôm nay.
Thực vậy, thái độ của chúng ta đối với Thiên Chúa có lẽ còn kém xa thái độ của bà góa đối với ông quan tòa. Bà góa là hạng người thân phận hẩm hiu, cô thân cô thế, luôn bị kẻ khác chèn ép. Bà quá nghèo túng chẳng có gì đút lót, nhưng bà có thái độ rất kiên trì và cương quyế. Bà tin chắc cứ kêu nài, van xin thế nào ông quan tòa cũng phải xét xử. Ông ta xét xử không phải vì thương, nhưng vì sợ sự quấy rầy. Bà không để cho ông ta được yên lúc nào, buộc ông ta phải đau đầu nhức óc, khiến ông ta phải xử cho xong. Xong ở chỗ cho bà phải thắng kẻ thù bất công vì bà không thể để cho kẻ thù cứ ức hiếp mãi. Đó là lý do chính đáng thúc đãy bà kêu nài tòa xử cho bằng được.
Đối với Thiên Chúa, thân phận của chúng ta được ưu đãi hơn nhiều. Chúng ta không cô thân cô thế như bà góa vì chúng ta có Đấng trung gian là Đức Kitô, luôn trợ giúp chúng ta trước mặt Chúa Cha. Ngài đã yêu thương và đã chịu chết để cứu chuộc chúng ta. Ngài đã trả lại cho chúng ta địa vị làm con Thiên Chúa. Bà góa cần minh oan thế nào, thì chúng ta cũng cần phải tha thiết cầu nguyện để Chúa cứu chữa chúng ta khỏi tay ba thù hơn thế. Ba thù của chúng ta đó là ma quỉ, thế gian và xác thịt, luôn hãm hại chúng ta như lời thánh Phêrô : Ma quỉ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé.
Vì thế, muốn được sống đời đời, chúng ta phải kiên trì cầu nguyện với lòng tin sắt đá, để nhờ đó có được những ơn trợ giúp cần thiết, hầu chiến thắng tội lỗi mà bước vào cõi phúc trường sinh.

 

TN29-C22. CẦU NGUYỆN KHÔNG NGỪNG

Chúa Giêsu dạy các môn đệ của Người đồng thời cũng dạy chúng ta: "Phải cầu nguyện luôn: TN29-C22

Chúa Giêsu dạy các môn đệ của Người đồng thời cũng dạy chúng ta : "Phải cầu nguyện luôn, đừng bao giờ nản chí." Một số người không nhận ra giá trị của việc cầu nguyện thường xuyên. Họ nghĩ rằng chỉ cần cầu nguyện khi và chỉ khi có hứng. Câu chuyện sau đây minh họa về điều này.
Trong một khu phố nhỏ có đủ các cơ sở : nhà tắm công cộng, nghĩa trang, bệnh viện, và toà án, cũng như có tất cả các hạng thợ thủ công, thợ may, thợ đóng giày, thợ mộc, thợ nề ... thế nhưng vẫn thiếu một nghề đó là thợ đồng hồ.
Những năm tháng trôi qua, nhiều chiếc đồng hồ đã không còn chính xác nữa khiến chủ nhân của chúng bỏ mặc để chúng ngừng chạy, cũng như chẳng thèm ngó ngàng gì đến nó nữa. Tuy nhiên cũng có những người cố duy trì, bao lâu chiếc đồng hồ còn có thể chạy được, họ không bỏ chúng. Vì thế họ vặn dây cót mỗi ngày mặc dù họ biết rằng nó chẳng còn chạy chính xác nữa.
Một hôm tin tức loan đi khắp phố, báo cho biết có người thợ đồng hồ đến, và mọi người vội vã mang đến cho ông những chiếc đồng hồ hư hỏng. Thế nhưng thợ đồng hồ chỉ có thể sửa chữa được những chiếc đồng hồ còn đang chạy. Những chiếc đồng hồ đã bị bỏ xó lâu ngày, bị gỉ sét phủ đầy thì không sao có thể sửa chữa được nữa.
Tại sao cầu nguyện lại quan trọng ? Cầu nguyện như thế nào ? Cầu nguyện giúp làm sáng tỏ niềm hy vọng và những dự định của chúng ta. Cầu nguyện giúp ta biện phân đâu là điều quan trọng và không quan trọng. Cầu nguyện giúp ta phát hiện ra nguyện vọng chính đáng, những cảm xúc mà chúng ta đã phớt lờ, niềm khát khao mà chúng ta quên lãng. Cầu nguyện là một loại hoạt động giúp ta tự thanh luyện chính mình.
Cầu nguyện dạy cho chúng ta biết khao khát điều gì. Nó giúp ta khắc sâu trong ta những lý tưởng phải được ấp ủ. Lời nói trong sáng có thể chuyển tải những tư tưởng trong tâm trí, nhưng tư tưởng phải trở thành mối bận tâm, một điều gì đó để khao khát, một mục tiêu để đạt tới, khi chúng ta cầu nguyện :
Xin canh giữ miệng con, lạy Chúa,
và trông chừng lưỡi con.
Xin đừng để lòng con nghiêng về sự dữ,
đừng để con làm điều ác với bọn gian tà (Tv 141,3-4).
Cầu nguyện không thay cho hành động. Hơn thế nữa, nó như chùm tia sáng từ ngọn đèn rọi chiếu, trước khi ta bước vào bóng tối. Nó giúp ta đi thẳng hướng và can đảm để hành động.
Cầu nguyện không phải là một cuộc thoát ly khỏi cuộc sống, nhưng là một hành trình tiến bước vào trung tâm của đời sống. Chúng ta học biết để tự đứng vững trước Thiên Chúa và cuộc đời, và đón nhận cuộc đời của mình với tinh thần trách nhiệm.
Mục tiêu chính yếu của cầu nguyện là nuôi dưỡng mối tương quan của ta với Thiên Chúa. Đây là điều quan trọng nhất trên tất cả. Đây là chiếc neo của đời sống thiêng liêng. Đời sống thiêng liêng không phải là phần phụ thêm. Đó là đời sống đích thật của ta. Trong khi cầu nguyện không đơn thuần là nói.
Cầu nguyện không phải là một mưu mẹo để thỉnh thoảng sử dụng, một nơi ẩn náu để lui tới khi gặp những điều tồi tệ. Cầu nguyện phải là nơi trú ngụ cố định tự trong chính thâm tâm. Cầu nguyện không phải là đòi hỏi Thiên Chúa điều này điều nọ, nhưng là đón nhận tất cả những gì Người muốn ban tặng cho ta.
Chính cầu nguyện đã là một ân thưởng, vì nó làm cho ta thêm phong phú. Cầu nguyện cho ta có thể sống không chỉ siêu thoát hơn, mà còn thâm sâu hơn, tràn đầy hơn, đích thực hơn.
LỜI NGUYỆN GIÁO DÂN
Chủ tế : Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy cầu nguyện không ngừng. Vì thế, chúng ta hãy cầu nguyện với Chúa cho những nhu cầu của mỗi người, của Giáo Hội và của thế giới.
Xướng : Cầu nguyện cho các tín hữu đừng bao giờ nghi ngờ sự hiện diện của Chúa, nhất là những khi gặp gian nan khốn khó.
Xướng : Cầu nguyện cho các vị lãnh đạo các quốc gia, xin Chúa ban cho họ sự khôn ngoan, sức mạnh để các quốc gia được sống trong hoà bình.
Xướng : Cầu nguyện cho những bệnh nhân và người chăm sóc cho họ, cầu nguyện cho những ai đang sống trong hoài nghi.
Xướng : Xin Chúa giúp cho mỗi người chúng ta luôn kiên trì trong lời cầu nguyện mỗi ngày.
Chủ tế : Lạy Chúa, ước gì điều chúng con thân thưa trên môi miệng, được chúng con xác tín trong tâm hồn và thực hành trong cuộc sống. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

 

TN29-C23. BIẾT CHÚA BIẾT MÌNH-Suy Niệm của Br Minh Trân, CMC

Chú, mua dùm con tấm vé số đi chú!”. Một điều tôi thấy lạ trong dịp về thăm quê hương: TN29-C23

“Chú, mua dùm con tấm vé số đi chú!”. Một điều tôi thấy lạ trong dịp về thăm quê hương Việt Nam vừa qua là các em bé bán vé số rất tinh. Họ biết ai là Việt kiều và ai không phải. Một khi thấy Việt kiều là họ bám riết, và nài nẵng cho đến khi mua vé số mới thôi.
Cũng hình ảnh đó, hôm nay Chúa Kitô mạc khải cho chúng ta một chân lý bất hủ để được hạnh phúc. Đó là biết Chúa và biết mình qua dụ ngôn bà góa đến nài van vị thẩm phán cứu xét điều bà thỉnh cầu.
Suy về điểm nầy tôi thấy có hai bài học. Thứ nhất, nếu sự nài nẵng của một bà góa yếu đuối bất lực đã thắng được vị thẩm phán bất lương, thì việc kiên tâm khẩn cầu của những người môn đệ Chúa chắc hẳn sẽ được toại nguyện hơn bội phần. Thứ hai, nếu vị thẩm phán bất lương còn phải “chịu thua” lời thỉnh cầu của bà góa, thì huống chi là một Thiên Chúa nhân từ yêu thương.
Tuy nhiên, tìm hiểu thêm, tôi nhận thấy điểm chính yếu Chúa Kitô muốn nói ở đây không phải là việc kiên tâm cầu nguyện, mà chính là đức tin soi dẫn và đưa đến việc kiên tâm cầu nguyện. Chính đức tin đã soi sáng cho bà góa biết thân phận mình là ai và vị thẩm phán có quyền thế như thế nào. Thật vậy, không biết mình thiếu thốn thì xòe tay xin cái gì đây? Vả nữa, biết mình thiếu búa, thì cần búa mà lại đến ngay cái ông nội không búa mà xin thì thử hỏi được ích gì? Biết mình và biết Chúa cả hai đều quan trọng. Biết mình nghèo, biết Chúa giầu; biết mình bất lực, biết Chúa đầy quyền năng khôn sánh; biết mình là không, biết Chúa là tất cả và hằng rộng lượng từ bi ...và một khi biết như thế, xác tín như thế, chắc hẳn không ai mà lại không kiên tâm cầu nguyện.
Trong đời sống tâm linh, biết mình là một điều khó. Cha Dominic Hoffman, O.P. trong tác phẩm Maturing the Spirit chia sẻ: “Chúng ta có thể dùng rất nhiều thì giờ trong việc suy niệm và xét mình, và dẫu thế cũng chẳng bao giờ chạm đến cái phía dưới bề mặt.” Biết mình, mình nhận thân phận mình, và chấp nhận vâng theo thánh ý Chúa là một việc cần nhiều ơn Chúa.
Cách đây hai năm, khi làm việc phục vụ tại nhà thương Trinity Lutheran ở Kansa City, MO, tôi có dịp gặp bà Evelyn. Bà lâm phải một chứng bệnh hiểm nghèo, ung thư màng óc. Ngay lần đầu tiên gặp bà cùng với gia đình, và cả những lần gặp gỡ về sau, tôi đều chứng kiến một tấm gương sống động về sự vững tin nơi Chúa. Tuy cơn đau mỗi ngày một tăng và bệnh tình chẳng thuyên giảm, bà Evelyn hằng luôn mỉm cười và không hề than van, trách móc ai điều chi. Bà cũng như chồng bà siêng năng lần chuỗi mân côi và hằng xin tôi thêm lời cầu nguyện cho bà sớm khỏi bệnh. Hai tháng sau, Chúa đã “cất hẳn mọi bệnh tật” cho bà. Bà đã vĩnh viễn ra đi bình an. Ông chồng tuy buồn và thương tiếc, nhưng cũng đành chấp nhận thánh ý Chúa.
Biết Chúa, tin tưởng nơi Chúa, và luôn vững tâm chạy đến với Ngài không phải là chuyện dễ, vì đâu phải lúc nào chúng ta cũng cảm nghiệm được Chúa. Thực tế trong cuộc sống hằng ngày, khi sự khó cứ giằng co ngày này sang ngày khác, khi cuộc sống cứ kéo lê không thấy ngày mai thì không mấy ai lại không cảm thấy dễ chán ngán ngã lòng. Do đó, đầu hàng bỏ cuộc không phải là chuyện xa vời gì. Có lẽ nhìn thấy trước được tình trạng dễ mất đức tin đó, Chúa phán: “Khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?” (Lk 18:8).
Em bé bán vé số đã thành công vì biết tôi là Việt kiều. Bà góa đã được toại nguyện vì biết vị thẩm phán có quyền thế. Là những Kitô hữu, thiết tưởng một khi biết Chúa, biết mình chắc chắn chúng ta sẽ biết Chúa biết mình.

 

TN29-C24. KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN

CHÚA NHẬT XXIX - C (Lc.18,1-8)

Ngày Khánh Nhật Tryền Giáo

KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN

 

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXIX năm C tuần này cũng là ngày Khánh Nhật Truyền Giáo, Hội: TN29-C24

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXIX năm C tuần này cũng là ngày Khánh Nhật Truyền Giáo, Hội Thánh muốn tất cả con cái phải kiên tâm, bền chí cầu nguyện.

Thật vậy, ngay bài đọc I sách Xuất Hành đã cho chúng ta thấy: Ông Moisen giơ tay cầu nguyện thì dân Israel thắng quân Amalec, nhưng khi ông hạ tay xuống thì dân thua trận. Thiên Chúa đòi ông phải cầu nguyện liên lỉ không được ngơi, đó là thái độ căn bản của người môn đệ trong thời cánh chung, lúc bị vây hãm bởi nhiều bách hại và khó khăn. Nên sang bài đọc II Thánh Phaolô tông đồ khuyên nhủ đồ đệ Timôthê phải có lòng kiên nhẫn cả lúc thuận tiện lẫn nghịch cảnh trong việc loan báo Tin Mừng. Và bài Phúc Âm, Luca lại nhấn mạnh thêm về việc kiên tâm cầu nguyện khi đưa ra dụ ngôn: viên thẩm phán bạo ngược, dù ông không nể sợ ai nhưng vì bà góa cứ nài nỉ mãi, ông đành phải giải quyết cho xong và Thánh Luca đã đưa ra kết luận : Ai bền đỗ nên cùng sẽ được cứu thóat.

1/ Viên thấm phán bạo ngược

Sau khi Chúa Giêsu về trời, các tín hữu đã phải sống trong một thời gian đầy dẫy khó khăn và thử thách, họ chờ mong sự can thiệp của Đức Kitô Phục Sinh (Lc.17,22) nhưng chẳng thấy, vì thế họ phải chờ đợi cho đến ngày cuối cùng. Trong thời gian đó, sẽ có nhiều người mê ngủ, bỏ bê việc thờ phượng, không chịu nghe giáo huấn, nhưng phần các môn đệ phải sẵn sàng vì Ngài trở lại thật bất ngờ. Vậy họ còn phải kiên tâm chờ đợi và cầu nguyện. Chính trong ý tưởng này mà tác gỉa Luca kể câu chuyện về viên thẩm phán bạo ngược. Chỉ trong vài hàng tác gỉa phác họa cho ta thấy chân dung của ông, một người bạo ngược và ích kỷ. Sở dĩ cuối cùng, ông ta làm một việc thiện, không phải vì tốt bụng đâu, nhưng vì ích lợi cho riêng mình“đỡ phải nhức đầu, nhức óc” với bà góa quấy rầy ấy(c.5).

Một thẩm phán ích kỷ như thế mà còn có thể nhận lời cầu của một bà góa không là gì đối với ông ta, thì chúng ta đừng hồ nghi về Thiên Chúa, Đấng tốt lành sẽ nhận lời cầu xin của chúng ta, miễn là kiên trì cầu nguyện như sự chai lì của bà góa kia. Cũng như bà, chúng ta có thể bị ép uổng đủ điều, bị xử bất công, cũng không ai bảo vệ nâng đỡ trong khi rao giảng, nhưng cứ kiên trì cầu nguyện đừng ngã lòng bỏ cuộc, Thiên Chúa chí ái sẽ mau mắn nhận lời ta.

2/Thiên Chúa sẽ mau kíp xử việc

Phải liên lỉ cầu nguyện vì Thiên Chúa lần lữa, im lặng và hình như không đóai hòai gì đến môn đệ của Ngài. Trong Kinh Thánh khi nói : Thiên Chúa lần lữa có nghĩa là Ngài kiên nhẫn đợi chờ một ý chí kiên nhẫn vì muốn cứu thóat tất cả mọi người. Đó là một ý chí bền vững không lay chuyển nổi, muốn tha thứ tội lỗi con người, ấn định một khỏang thời gian, chuẩn bị tạo điều kiện cho người ta ăn năn thống hối. Bởi vậy, sự bất động của Thiên Chúa không phải là dấu hiệu hờ hững hay bỏ quên chúng ta, mà lại là dấu chỉ lòng nhân ái của Ngài. Vì thế, không có gì phải lo âu thắc mắc, mà trái lại phải tiếp tục cầu nguyện luôn mãi, vì lời cầu ấy nằm trong kế họach chờ đợi của Thiên Chúa. Lời cầu nguyện bền đỗ có hiệu lực, cho dù bình thường xem ra nó chẳng đem lại lợi ích gì. Đây là mầu nhiệm mà Chúa Giêsu không giải thích rõ mà chỉ khẳng định : “ Ta bảo các ngươi : Người sẽ mau kíp xử việc họ”(c.8a).

Chúng ta phải tin vào uy quyền của Ngài, dù bề ngòai có vẻ làm ta thất vọng, nhưng chắc chắn Ngài sẽ ra tay hành động ! Ngài sẽ xử việc một cách bất ngờ, không ai có thể biết trước và đóan trước cách can thiệp của Ngài(Cv. 12,7; 22,18; 25,4) vì Ngài thực hiện nhanh “trong nháy mắt” hay như một tia chớp hiện ra từ phương trời này sang phương trời kia(Lc.17,24), y như thể Ngài đã ra tay trong cơn hồng thủy và thiêu hủy thành Sôđôma (c.26-33). Chính vì lẽ đó, Chúa Giêsu khuyên nhủ các môn đệ hãy cứ cầu nguyện luôn đừng bao giờ ngưng. Cầu nguyện không nhàm chán, mặc cho những gì đang xẩy ra đi ngược lại, như bà góa không bao giờ bỏ cuộc, nên cuối cùng bà đã được tọai nguyện. Vậy trong khỏang thời gian giữa lần Chúa Giêsu ra đi cho đến khi Ngài trở lại, phải cầu nguyện luôn và đừng bao giờ bỏ cuộc rao giảng ….vì đó là ơn cứu độ.

3/ Sứ điệp Tin Mừng

a/ Thiên Chúa nhận lời ta luôn luôn vì Ngài là người cha tốt lành vô cùng. Và chính sự xác tín ấy là nền tảng đời sống Kitô Hữu của ta. Và như thế ta không nhiều lời, Ngài đã biết trước điều ta cần đến.

b/ Thiên Chúa vẫn muốn ta cầu xin Người, vì như thế đẹp lòng Người hơn.

c/ Nhiều khi ta xin, Ngài chưa ban, có thể là vì Ngài muốn ban chính mình Ngài hơn là chỉ ban một vài ơn này ơn khác. Điều ta tưởng không được nhận lời nhưng thật ra ta đã được nhận rồi. Nhờ đó, ta đi sâu vào tương quan tình yêu của Chúa, sát nhập vào một vị Thiên Chúa thật.

d/ Trường hợp ta chán nản bỏ cuộc có thể là lúc ta giũ bỏ một vị Thiên Chúa của ngọai bang( ngẫu tượng) để chuẩn bị cho một cuộc gặp gỡ Thiên Chúa đích thực.Lạy Chúa là Cha và là Đấng sẵn sàng ban cho chúng con những ơn cần thiết, xin biến đổi chúng con thành một lời cầu nguyện liên lỉ, và là chứng nhân giữa lòng đời, để trong mọi lúc chúng con luôn sống tâm tình thờ lạy, tạ ơn và đền tạ.

Câu hỏi gợi ý :

1/ Thái độ chúng ta cầu nguyện ra sao? Ta cầu nguyện theo ý Chúa hay theo ý ta?

2/ Khi cầu nguyện mà không có kết qủa như lời xin thì chúng ta có thái độ nào?

3/ Chúng ta thường cầu nguyện khi nào ?
Sr Mai An Linh, OP


 

TN29-C25. THIÊN CHÚA LẮNG NGHE

Trong một bức thư, thánh Phaolô đã viết như sau : - Phaolô trồng, Apôllô tưới, nhưng Thiên: TN29-C25

Trong một bức thư, thánh Phaolô đã viết như sau :
- Phaolô trồng, Apôllô tưới, nhưng Thiên Chúa mới là Đấng làm cho đâm bông kết trái.
Cũng trong chiều hướng ấy, thánh nữ Jeanne d’Arc đã nói :
- Binh lính xông ra trận nhưng Thiên Chúa mới là Đấng đem lại chiến thắng.
Chính vì thế, thánh nữ đã cầu nguyện rất nhiều trước và trong khi giao tranh. Thánh nữ biết rằng mọi sự đều nằm trong bàn tay của Thiên Chúa.
Cuộc đời của thánh nữ với những thành công rực rỡ đã chứng tỏ rằng thánh nữ chỉ là một dụng cụ của Thiên Chúa quan phòng.
Là một thiếu nữ tầm thường, không hề quen biết việc kiếm cung, thế nhưng Thiên Chúa đã dùng thánh nữ để giải phóng nước Pháp.
Cũng thế, người Do thái đã chiến thắng quân Amalec là nhờ ở đâu?  Tôi xin thưa :
- Nhờ ở đôi tay Maisen giơ lên với thái độ van xin
Và theo tôi nghĩ  :
- Đôi tay giơ lên ấy là một hình ảnh tượng trưng cho sự cầu nguyện mà chúng ta không ngừng dâng lên cho Thiên Chúa.
Qua đoạn Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu một lần nữa, xác quyết về thái độ kiên tâm, bền chí trong việc cầu nguyện. Ngài dạy chúng ta không được thất vọng, không được ngã lòng cậy trông.
Một ông quan tòa bất lương, coi thường luật pháp, không đếm xỉa gì đến dư luận, cuối cùng đã phải xét xử cho một bà góa nghèo túng. Ông làm như thế không phải vì lợi ích cho người đàn bà đáng thương ấy, mà cốt cho mình khỏi bị quấy rầy phiền hà.
Để kết luận, Chúa Giêsu đã rút ra một bài học thực tiễn :
- Các con hãy nghe lời vị thẩm phán bất lương nói ? Vậy Thiên Chúa há lại không minh xử cho những kẻ người tuyển chọn, hằng kêu cứu với Ngài đêm ngày, mà khoan dân với họ mãi sao ?
Thày bảo các con :
- Thiên Chúa sẽ kịp giải oan cho họ.
Như thế, cầu nguyện không phải là dài dòng kể lể, điều quan trọng đó là thái độ tin tưởng, phó thác và cậy trông nơi quyền năng và tình thương của Thiên Chúa.
Con người độc ác mà còn chấp nhận lời van xin của một kẻ bị áp bức để giải oan cho họ thì huống nữa là Thiên Chúa, Đấng hằng lắng nghe lời chúng ta kêu cầu, và luôn yêu thương chăm sóc đến mỗi người chúng ta.
Trong Phúc âm Chúa Giêsu cũng kể lại một câu chuyện tương tự :
Đêm khuya, người bạn đến gõ cửa ông hàng xóm để vay mượn mấy chiếc bánh đãi khách. Ông hàng xóm, mặc dù đã đóng cửa cài then và lên giường ngủ, cũng phải chỗi dậy, để cho vay mượn, hầu khỏi bụ quấy rầy mãi.
Chính Chúa Giêsu cũng đã từng cư xử như thế : người đàn bà xứ Canaan đến xin Chúa cứu chữa đứa con của bà. Lần thứ nhất Ngài yên lặng, lần thứ hai Ngài bảo rằng :
- Mình chỉ được sai đến với những người Do thái.
Lần thứ ba Ngài nói :
- Đừng lấy bánh của con cái mà vứt cho chó.
Nhưng bà vẫn không thất vọng, cũng không nản chí, bà thưa lại :
- Chó con cũng được thừa hưởng những mảnh vụn từ bàn rớt xuống.
Và cuối cùng Chúa Giêsu đã chịu thua trước sự kiên nhẫn của bà ta. Ngài đã làm phép lạ như lòng bà mong ước.
Có lần Chúa Giêsu cũng nói với chúng ta :
- Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy và hãy gõ cửa thì sẽ mở cho.
Thế nhưng, điều quan trọng đó là chúng ta có xin, có tìm và có gõ cửa hay không ?

 

TN29-C26. CẦU MÀ KHÔNG ĐƯỢC

Chúng ta phải nghĩ thế nào khi cầu nguyện mà chẳng được Chúa nhận nhận lời ? Trong Phúc: TN29-C26

Chúng ta phải nghĩ thế nào khi cầu nguyện mà chẳng được Chúa nhận lời ?
Trong Phúc âm, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy :
- Thiên Chúa là một người cha nhân từ hằng lắng nghe và nhận lời chúng ta nài van.
Thực vậy, Ngài đã xác quyết với các môn đệ :
- Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy và hãy gõ cửa thì sẽ mở cho.
Nơi khác Ngài cũng bảo :
- Bất cứ điều gì các con nhân danh Thày mà xin cùng Chúa Cha thì Ngài sẽ ban cho các con.
Và ngày hôm nay, trước lời kêu cầu của người đàn bà góa, cuối cùng vị quan tòa nổi tiếng là bất lương cũng đã xét xử và minh oan cho bà, huống nữa là Thiên Chúa, người cha của chúng ta.
Tuy nhiên, trong thực tế rất nhiều lần chúng ta đã cầu nguyện mà Thiên Chúa dường như lại đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ, khiến cho bản thân chúng ta vẫn cô đơn và đau yếu, còn cuộc đời chúng ta vẫn long đong và lận đận.
Trước sự thật này, một vị Linh mục đã cắt nghĩa như sau :
- Dĩ nhiên Thiên Chúa bao giờ cũng đáp trả lời van xin của chúng ta. Có điều là sự đáp trả ấy không phải lúc nào cũng là được, nhưng lắm khi Ngài trả lời : Chưa được đâu hay là hãy chờ một chút.
Lời cắt nghĩa này xem ra không được ổn cho lắm bởi vì trong những trường hợp chẳng hạn như một người đau ốm đã lâu năm, một người đang hấp hối, đang chết đói hay đang phải gặp hoạn nạn, thì làm sao chúng ta có thể bảo họ rằng :
- Hãy chờ đợi thêm một chút nữa.
Nhu cầu thật khẩn thiết mà Thiên Chúa lại chưa tới giờ làm việc hay sao ?
Người khác thì bảo :
- Như một người cha sẽ không đưa cho đứa con nhỏ con dao theo như lời nó xin, vì ông biết con dao sẽ làm cho nó đứt tay. Thay vào đó, ông sẽ cho nó viên bi hay cục kẹo. Thiên Chúa sẽ ban những gì lợi ích nhất cho linh hồn chúng ta.
Khi chúng ta kêu cầu mà chẳng được Thiên Chúa nhận lời, chúng ta hãy nhớ lại chính Đức Kitô, Con yêu quí của Ngài, ít nữa cũng đã một lần van xin mà không nhận được.
Thực vậy, trong cơn hấp hối tại vườn Cây dầu, Ngài đã cầu nguyện :
- Lạy Cha nếu có thể, xin cất chén đắng này cho con.
Tuy nhiên, liền sau đó Ngài lại thêm :
- Nhưng không theo ý con một theo ý Cha mà thôi.
Mặc dù Ngài đã đoán chắc với chúng ta là Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta những điều chúng ta kêu xin nhân danh Ngài, thế mà chính lời kêu xin cuối cùng của Ngài lại bị Thiên Chúa từ chối. Và đó là câu trả lời mà chúng ta nhận được. Chính bản thân Ngài, nơi Đức Kitô, là lời đáp trả duy nhất dành cho tất cả chúng ta.
Thực vậy, Ngài quá biết rằng chúng ta phải đau xót như thế nào khi lời van xin không được đáp trả, kể cả nỗi tuyệt vọng vì cảm thấy dường như bị Thiên Chúa bỏ rơi.
Chính Ngài đã từng kêu lên :
- Lạy Chúa, nhân sao Chúa bỏ con. Lúc Ngài bị treo trên thập giá.
Qua sự kiện này, chúng ta nhận thấy Thiên Chúa không phải là Đấng ngự ở trên cao và quyết định một cách đầy bí ẩn điều gì Ngài cho và điều gì Ngài không cho.
Nhưng Ngài là Đấng ở bên cạnh chúng ta, là một  Emmanuel, nghĩa là một Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Chính vì thế Ngài có quyền yêu cầu mỗi người chúng ta phải đặt trọn niềm tin tưởng vào Ngài, ngay cả trong những trường hợp chúng ta không hiểu được.
Chính vì thế chúng ta phải thưa lên như Đức Kitô ngày xưa :
- Nhưng không theo ý con, một theo ý Cha mà thôi.
Ngay cả trong những lúc gian nan khổ cực nhất vì chúng ta biết rằng :
- Cuối cùng chúng ta cũng sẽ nhận được những điều chúng ta tha thiết cầu xin và sẽ được lãnh nhận một cách dồi dào.

 

TN29-C27. CẦU NGUYỆN-NGMTV/401

Nói về sự thiếu kiên trì và tin tưởng trong khi cầu nguyện, người ta thường nhắc đến giai thoại: TN29-C27

Nói về sự thiếu kiên trì và tin tưởng trong khi cầu nguyện, người ta thường nhắc đến giai thoại sau đây của Thánh Biển đức. Một hôm ngài cưỡi ngựa đi dạo trong một vùng quê nọ, thấy bóng dáng một người tu hành thong dong ngồi trên lưng ngựa, một nông dân không được hài lòng, Ông đến gần ngài và nói : Sống như ông quả là nhàn hạ, suốt ngày chỉ có cầu nguyện chứ có phải làm lụng vất vả như chúng tôi đâu. Nghe thế, thánh nhân hỏi vặn lại : Ông tưởng rằng cầu nguyện dễ ư? Tôi thách ông nếu đọc một kinh Lạy Cha mà không chia trí trong một giây, tôi sẽ tặng ông con ngựa này. Người nông dân mừng thầm : đọc một kinh lạy cha mà không chia trí thì có gì khó. Thế là ông nhắm mắt và bắt đầu đọc. Nhưng mới được nửa kinh, ông mở mắt ra và hỏi thánh nhân : Thế tôi có được cả cái yên hay không? Nhiều người có thói quen xưng thú một cách máy móc : con có chia trí lo ra trong khi đọc kinh xem lễ. Để việc xưng thú một cách có ý thức hơn, có lẽ chúng ta nên nói : Con thiếu tin tường và kiên trì trong khi cầu nguyện, Thực vậy, chúng ta chưa đủ tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa quan phòng. Những khó khăn và cám dỗ trong cuộc sống dễ làm chúng ta thất vọng. Chúng ta cầu xin nhưng không đủ tin rằng Thiên Chúa sẽ nhận lời chúng ta. Trong tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu mòi gọi chúng ta kiên trì cầu nguyện, cho dù Thiên Chúa tỏ ra chậm trễ hoặc giả điếc làm ngơ. Một quan tòa bất lương để tránh sự quấy rầy liên tục của một bà góa nghèo  đã phải phân xử cho bà, huống chi một Thiên Chúa nhân hậu lại không lắng nghe tiếng kêu cầu của con cái Ngài. Nhưng dĩ nhiên Thiên Chúa không suy nghĩ và hành đông như con người. Ngài nhận lời kêu cầu bằng những cách thế vượt lên trên mọi sự chờ đợi và tính toán của con người. Do đó, niềm tín thác trong khi cầu nguyện phải là thái độ cơ bàn của con người. Thái độ ấy khiến con người đón nhận mọi sự xảy đến như chính sự nhận lời và ân ban của Thiên Chúa. Cầu xin không có nghĩa là chờ đợi Thiên Chúa thực hiện những gì chúng ta không làm được. Xin cho chúng con lương thực hằng ngày, xin cho chúng con bằng an. Xin cho chúng con được lành bệnh. Thiên Chúa không phải là người thay thế chúng ta làm những điều ấy. Chúng ta xin cơm bánh mà không ra sức làm việc, chúng ta xin bình an mà không nỗ lực xây dựng hòa bình, chúng ta xin được lành bệnh mà không cố gắng chạy chữa. Cầu xin như thế là thử thách Thiên Chúa. Thật không gì xúc phạm đến Thiên Chúa cho bằng muốn biến Ngài thành thứ máy cho tiền người ta chỉ cần bấm nút khi nào cần đến. Cầu nguyện như thế là sử dụng Thiên Chúa, là xem Thiên Chúa như một sự vật. Thiên Chúa mà Đức Kitô mạc khải là một người cha yêu thương và Ngài nuốn chúng ta đến với Ngài trong tương quan của tín thác và yêu thương.

 

TN29-C28. CHUYỂN CẦU-NTDY/146

Một lá thư được viết nguệch ngoạc của một đứa trẻ gởi vào bưu điện, và địa chỉ tới là “Chúa”: TN29-C28

Một lá thư được viết nguệch ngoạc của một đứa trẻ gởi vào bưu điện, và địa chỉ tới là “Chúa”. Nhân viên bưa điện lấy làm lạ liềm mở ra đọc. Thư viết rằng : “Chúa thân mến, con là Tomny, con sáu tuổi. Ba con đã chết và mẹ con phải cực khổ để nuôi sáu anh em con. Xin Chúa cho chúng con 300 đồng nhé ?”.
Đọc thư xong, anh nhân viên bưu điện rất xúc động và đưa cho các bạn đồng nghiệp xem. Họ quyết định quyên góp để giúp gia đình cậu bé. Số tiền tổng cộng là 100 đồng, và họ gởi tới địa chỉ cậu bé.
Vài tuần sau, họ nhận được lá thư thứ hai. Họ cũng mở ra đọc, thư viết như sau : “Lần tới, Chúa có thể gởi trực tiếp cho gia đình con, vì gởi qua bưu điện, họ giữ lại 200 đồng !”.
Nghe xong câu chuyện, chúng ta phải bật cười vì sự ngây ngô của cậu bé, nhưng liền sau đó chúng ta lại cảm thấy hổ thẹn vì thấy bóng dáng mình thấp thoáng trong hình ảnh cậu bé : Chúng ta cầu nguyện và muốn được Chúa đáp lời tức thì theo yêu cầu chúng ta đề ra, nếu Người chậm đáp ứng hoặc đáp ứng chưa đủ “chỉ tiêu” chúng ta đưa ra, thì chúng ta lại khó chịu, và cũng chẳng thèm cám ơn Người.
Tin Mừng hôm nay Chúa dạy các môn đệ : “Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”. Người muốn chúng ta hãy liên lỉ cầu nguyện và cầu nguyện cách kiên trì. Như Môsê quì dang tay suốt ngày cầu nguyện cho dân Do thái thắng trận, như bà góa suốt bao ngày tháng cầu xin quan tòa minh xét cho bà, như thánh Monica dòng đã 20 năm trường cầu trời cầu nguyện cho người con là Augutinô trở lại, chúng ta hãy cầu nguyện liên tục và bền chí, không hề nhàm chán, cả khi xem ra Chúa ngoảnh mặt làm ngơ.
Chúng ta không nên tìm kiếm hiệu quả tức thì. Chúa sẽ đáp lời chúng ta lúc nào và cách thức nào có lợi nhất cho chúng ta, theo như thánh ý nhiệm mầu của Người. Thời gian Chúa nhậm lời có thể sẽ lâu hơn chúng ta tưởng, cách thức Người ban ơn có thể sẽ khác với ước nguyện của chúng ta, nhưng bao giờ cũng là lúc thích hợp nhất cho linh hồn chúng ta, bao giờ cũng là cách hữu hiệu nhất cho hạnh phúc vĩnh cửu của mỗi người.
Thường chúng ta lầm tưởng rằng, hơn ai hết chúng ta là người biết rõ những điều mình cầu xin. Nhưng thánh Phaolô dạy : “Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, chính Thành Thần sẽ cầu thay nguyện giúp chúng ta…theo đúng ý Thiên Chúa”. Vì thế, Đức Tổng Giám Mục Fulton Sheen viết : “Pytago đã cấm môn sinh của ông không được cầu nguyện cho chính họ vì họ không biết điều gì là lợi ích cả”. Khôn ngoan hơn, Socrates dạy môn đồ ông chỉ xin những điều tốt lành, vì lẽ Thiên Chúa biết tường tận những gì là lợi ích. Dốt nát và yếu đuối nên chúng ta phải xin Thánh Thần soi sáng để chúng ta làm đẹp lòng Chúa trong lúc an bình cũng như khi xao xuyến.
Như thế, cầu nguyện không phải là việc xin ơn này ơn nọ, theo óc vụ lợi của chúng ta, cầu nguyện không phải là việc tránh né bổn phận đển Thiên Chúa làm tất cả, cầu nguyện cũng không phải là việc liệt kê ước muố để mong chờ Chúa thực hiện. Nhưng cầu nguyện đích thực chính là việc thực hành Đức tin, nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa để đối thoại với Người, van xin Người tiếp tục ban ơn để chúng ta đủ sức thực hiện thánh ý Người. Thấu hiểu sự yếu đuối của con người nên Đức Giêsu than thở : “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?”. Vậy, cầu nguyện không phải là độc thoại mà là đối thoại liên lỉ và kiên trì với Thiên Chúa trong Đức tin để trung thành với Chúa cho tới khi Người lại đến.

 

TN29-C29. KIÊN NHẪN-TVN2000

Bác sĩ Paul Tournier, một nhà phân tâm Thụy sĩ, ghi nhận việc trở lại của ông vào lúc ông có: TN29-C29

Bác sĩ Paul Tournier, một nhà phân tâm Thụy sĩ, ghi nhận việc trở lại của ông vào lúc ông có quyết định cầu nguyện mỗi ngày một giờ. Thoạt đầu, đó là một kinh nghiệm khô kha và đau thương. Nhưng sau một giờ cầu nguyện, có cái gì đã thôi thúc ông cầu nguyện lâu hơn nữa. Thế là ông tiếp tục cầu nguyện và cuối cùng ông cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa một cách có sức làm biến đổi cuộc đời của ông. Ông thực sự cảm thấy sợ hãi khi nghĩ rằng mình suýt đánh mất kinh nghiệm gặp gỡ  Đức Kitô.
Động lực nào giúp tôi kiên trì cầu nguyện, khi tất cả xem ra đều bất lực và tâm hồn tôi chối từ hợp tác ? Thomas Merton viết như sau : bạn học được tình yêu trong sáng và cầu nguyện vào giờ phút bạn không tài nào cầu nguyện được và tâm hồn bạn trở nên chai đá.
Hãy cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng. Chúa Giêsu đã dùng dụ ngôn về ông quan tòa và người đàn bà góa, để dạy các môn đệ bài học này. Và kiên trì cầu nguyện, không phải là một điều dễ dàng. Vì thế, sau khi kết thúc dụ ngôn, Chúa Giêsu nói tiếp như sau : Nhưng khi Con người, tức là Ngài, trờ lại, liệu có còn thấy đức tin trên mặt đất không ?
Chúng ta lưu ý một chi tiết quan trọng nơi bài tường thuật của Phúc âm theo thánh Luca. Mở đầu chương 18, câu 1, Chúa Giêsu được mô tả là đang dạy các môn đệ phải cầu nguyện luôn, không bao giờ được trễ nải. Nhưng lúc kết thúc dụ ngôn nói về thái độ kiên trì của người đàn bà góa xin quan án xử kiện cho bà, tượng trưng cho thái độ cầu nguyện liên lỉ, không nản lòng, Chúa Giêsu lại nhắc đến đức tin như sau : Nhưng khi Con người trở lại, liệu có còn thấy đức tin trên mặt đất không ?
Đức tin là yếu tố quan trọng nâng đở cho việc cầu nguyện. Để kiên trì trong việc cầu nguyện, thì cần có đức tin vững mạnh. Đức tin nâng đỡ cho lời cầu nguyện. Và ngược lại, lời cầu nguyện làm cho đức tin được vững mạnh. Chúng ta không thể nào bỏ đi mối tương quan hỗ trợ lẫn nhau giữa đức tin và cầu nguyện.
Muốn biết người kitô hữu nào có đức tin thật sự hay không, thì hãy xem người đó có sống đời cầu nguyện hay không ? Và muốn xem người tín hữu nào có cầu nguyện kiên trì hay không, thì hãy xem đức tin của họ có trưởng thành hay không ?

 

TN29-C30. CẦU NGUYỆN -NMS/175

Ông Trilussa, thi sĩ Lamã (1871-1950) đã kể lại câu chuyện ông bị lạc đường ban đêm giữa: TN29-C30

Ông Trilussa, thi sĩ Lamã (1871-1950) đã kể lại câu chuyện ông bị lạc đường ban đêm giữa một khu rừng rậm rạp và đã gặp một bà lão mù. Sau khi nghe ông trình bày hoàn cảnh thì bà lão liền nói với ông : “Nếu ông không biết đường, tôi sẽ đưa ông đi vì tôi thuộc đường lối ở đây”. Vừa ngạc nhiên vừa nghi ngờ ông nói : “Tôi lấy làm lạ, bà không thấy gì cả mà lại có thể dẫn đường chỉ lối cho tôi được sao ?”. Bà lão không cần giải thích thêm, liền nắm lấy tay ông và ra lệnh ‘tiến bước”. Kể xong câu chuyện, ông Trilussa kết   luận : đó là đức tin.
Đúng thế, sống ở trần gian đầy dẫy thử thách, cạm bẫy chẳng khác chi lạc vào một khu rừng rậm không tìm ra lối đi. Chính những lúc ấy, đức tin như một người dẫn đường tố bụng, khôn ngoan sẽ chỉ lối đưa đường và điều khiển những hành động của đời chúng ta. Nhưng để có thể có được một đức tin làm hướng dẫn cho mình sống đúng, sống tốt ở đời thì đức tin đó phải được nuôi dưỡng và thể hiện bằng sự cầu nguyện. Hay nói khác đi, sự cầu nguyện là một cách minh chứng rõ ràng và cụ thể nhất để biết một người có đức tin mạnh hay yếu, còn hay mất. Bởi vì, khi cầu nguyện, nhất là cầu nguyện đúng cách, liên lỉ, nồng nà, đó chính là lúc con người bày tỏ niềm tin của mình cách sống động và mạnh mẽ vào Đấng mà mình tôn thờ và mến yêu.
Do đó, để biết nguyên nhân tại sao ngày nay thường hay xảy ra những rạn nứt, đổ vỡ, nổi loạn nơi cá nhân, trong gia đình và ngoài xã hội thì không nằm ngoài sự kiện con người thời nay không còn hoặc suy yếu đức tin một cách trầm trọng. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc người ta không còn hoặc lười cầu nguyện. Tình trạng đạo đức xuống cấp này do ba nguy cơ tác động sau đây :
Thứ nhất là óc vô đạo  do ảnh hưởng nhiều trào lưu tư tưởng phi thần thánh nhào nặn đến nỗi nhiều người dễ dàng chấp nhận những lập luận như : không có Thiên Chúa, không cần Thiên Chúa, không có gì là tội lỗi cả, không có ơn cứu rỗi nào hết, không cần phải theo lương tâm…Nhất là khi người ta gặp phải những vấn đề khó hiểu trong tôn giáo hay khi gặp thử thách gian nan cầu cứu Chúa mà không có kết quả như ý muốn thì óc vô đạo này càng phát triển mạnh mẽ hơn.
Thứ hai là tinh thần tục hóa nghĩa là người ta áp đặt tất cả mọi sự, kể cả những tín điều, các mầu nhiệm dưới` nhãn quan loài người để suy luận, tìm tì. Chỉ chấp nhận những gì hợp với trí hiểu biết cảu con người, của riêng mình và chỉ hành động theo sự khôn ngoan loài người, ngoài ra đều vô giá trị và không đáng quan tâm. Với một tinh thần kiêu căng lệch lạc như thế làm gì người ta còn tin vào Chúa, còn biết cầu nguyện.
Thứ ba là thuyết thế gian nghĩa là chỉ tin vào sức mạnh của thế gian và loại bỏ mọi giá trị tôn giáo, chỉ dựa vào mãnh lực của đồng tiền, quyền thế, chỉ giải quyết các vấn đề bằng vũ lực, thủ đoạn, mưu mô, còn thần thánh, tìm thương, công bằng, bác ái không có chỗ đứng trong đời sống của họ. Khi con người tự phong mình làm chúa như thế thì còn hơi sức đâu, lòng trí đâu để tìm hiểu về Thiên Chúa nữa.
Với một bầu không khí đầy ô nhiễm do ngông cuồng tự đắc, ăn chơi hưởng thụ như thế, cộng thêm bản chất dẽ sa đọa, dễ hướng chiều về sự thấp kém, người công giáo thời nay, nhất là giới trẻ, hơn bao giờ hết đang gặp phải một sự thử thách lớn lao và liên tục về đức tin. Chính trong tình trạng khốn quẫn đó phải làm sao để có thể giữ vững được đức tin của mình ? Chỉ còn một cách mà người đàn bà góa trong bài Phúc Âm hôm nay đã làm là phải cố gắng kiên trì van nài sự cứu giúp của quan tòa để minh oan cho mình. Cũng thế, muốn giữ vững và sống đức tin, cũng như thắng được những khó khăn, trở ngại trên đường đời một cách thành công thì mỗi người chúng ta phải biết cầu nguyện và cầu nguyện liên tục ngày đêm với Chúa là Đấng mới có quyền năng giải cứu chúng ta khỏi nguy khốn.
Hơn nữa, sống trong một thế giới mà càng tiến bộ, văn minh chừng nào thì càng nhiều phương tiện để hủy hoại tinh thần cũng như vật chất cách mau lẹ chừng ấy. Thế thì, tại sao con người vẫn mù quáng tin tưởng vào thế gian để rồi dại dột từ chối, phản lại Thiên Chúa và coi thường những chân lý tôn giáo ?
Dù in hay không tin thì Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa, nghĩa là Ngài vẫn hiện diện bên cạnh chúng ta, luôn lắng tai nghe lời chúng ta cầu khẩn và sẵn lòng ban cho chúng ta những ơn cần thiết để giúp cho chúng ta sống xứng đáng nếu chúng ta biết khiêm tốn. Vậy, hãy kiên tâm và cố gắng cầu nguyện, đừng nản lòng thối chí vì Chúa đang đợi chờ chúng ta.

 

TN29-C31. KIÊN TRÌ -CS/145

Một linh mục làm bản thống kê về tình trạng của xứ đạo, Ngài hỏi một gia trưởng : Gia đình: TN29-C31

Một linh mục làm bản thống kê về tình trạng của xứ đạo, Ngài hỏi một gia trưởng : Gia đình ông có cầu nguyện bao giờ không ? Thưa cha, chúng con không có thời giờ. Giả như ông biết vì gia đình ông không cầu nguyện mà một đứa con sẽ bị bệnh hoặc gặp tai nạn thì ông có cầu nguyện không ? Con nghĩ là gia đình con sẽ cầu nguyện. Giả như mỗi ngày không cầu nguyện gia đình ông sẽ phải nộp phạt 50.000 đồng thì gia đình ông có lơ là việc cầu nguyện không ? Con nghĩ là không. Nhưng cha hỏi như thế có ý gì ? Ông bảo với tôi rằng ông không có thời giờ, nhưng không phải thế. Ông không cầu nguyện vì ông nghĩ rằng việc cầu nguyện không quan trọng. Bằng chứng là nếu việc cầu nguyện đem lại sự bình an và sức khỏe cho con cái ông, hoặc tránh được việc nộp phạt thì ông vẫn có giờ cầu nguyện.
Quả thực, việc cầu nguyện luôn là một thách đố lớn đối với chúng ta. Hẳn đã có những lúc chúng ta tỏ ra rất hào phóng trong việc cầu nguyện. Chúng ta quyết định dành ra mỗi ngày một khoảng thời gian cho việc cầu nguyện và chúng ta cố gắng trung thành với công việc ấy. Nhưng rồi chúng ta cảm thấy như mình chỉ đụng chạm đến sự thinh lặng của Thiên Chúa và chúng ta nản lòng. Đặc biệt trong thời đại khoa học kỹ thuật tiến bộ như hiện nay, chúng ta bị cám dỗ để chạy theo năng xuất, theo hiệu quả tức thời của công việc. Mà hiệu quả của việc cầu nguyện dường như khó thấy hay không thấy được nên chúng ta không cảm thấy việc cầu nguyện là cần thiết và lợi ích. Hơn thế nữa, thời đại hôm nay là thời đại của tốc độ. Cuộc sống chụp giật, tranh giành không cho phép chúng ta lãng phí thời gian vào những công việc khác ngoài những công việc tạo nên của cải vật chất. Và chúng ta cũng bị cuốn theo cơn lốc tốc độ để rồi không còn thời giờ cho việc cầu nguyện nữa. Còn rất nhiều lý do chi phối việc cầu nguyện của chúng ta. Và chúng ta cảm thấy việc cầu nguyện khó biết bao. Chính các tông đồ cũng gặp khó khăn trong việc cầu nguyện. Vì thế, Chúa Giêsu đã phải nhắc nhở và khích lệ các ông. Ngài cũng muốn nhắc nhở và khích lệ chúng ta hôm nay.
Từ câu chuyện dụ ngôn, Chúa Giêsu đã đưa ra cho các tông đồ và chúng ta những bài học. Ngài nói với chúng ta rằng hãy cầu nguyện luôn, cầu nguyện không ngừng, đừng nản lòng dù có những lúc chúng ta cảm thấy như Thiên Chúa vẫn thinh lặng trước lời cầu nguyện của chúng ta. Hãy cầu nguyện luôn, cầu nguyện không ngừng dù có những khó khăn, có những vật cản chi phối việc chúng ta cầu nguyện. Ngài nói với chúng ta rằng Thiên Chúa không giống ông thẩm phán gián ác kia, nhưng Ngài nhân từ vô cùng, sẽ mau mắn trả lại sự công chính cho những người tin tưởng kêu cầu Ngài. Chỉ trong một câu chuyện ngắn nhưng bốn lần Ngài nói tới sự bênh vực của Thiên Chúa dành cho nhưng kẻ tin cậy Ngài. Cầu nguyện là thưa chuyện với Chúa và lắng nghe Chúa nói với mình. Việc cầu nguyện sẽ cho chúng ta kết hiệp với Chúa một cách sâu xa. Khi cầunguyện Chúa và ta như hai miếng sáp tan chảy và quyện lẫn với nhau thành một. Sự kết hợp thâm sâu này sẽ biến đổi cuộc đời chúng ta, sẽ làm cho chúng ta nên bạn hữu của Chúa. Điều đó chẳng phải là một ơn huệ cao trọng mà chúng ta phải trân trọng hay sao ? Đừng cầu nguyện như kiểu đòi nợ Chúa, nhưng hãy cầu nguyện như một cuộc trò chuyện giữa hai người bạn chí thân, chúng ta sẽ không còn thấy việc cầu nguyện là điều khó khăn nữa.

 

TN29-C32. THÁNH LUCA CHO BIẾT RÕ Ý NGHĨA CỦA DỤ NGÔN NÀY

 LÀ DẠY “CÁC MÔN ĐỆ-Lm Trọng Hương
A. Hạt giống...
 

Thánh Luca cho biết rõ ý nghĩa của dụ ngôn này là dạy “các môn đệ phải cầu nguyện luôn: TN29-C32

Thánh Luca cho biết rõ ý nghĩa của dụ ngôn này là dạy “các môn đệ phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”. Dụ ngôn có hai vai :
- bà góa : trong xã hội do thái, các bà góa chịu nhiều thiệt thòi và không ai bênh vực. Bà góa này có lẽ bị người ta ức hiếp nhưng vì không ai bênh vực nên chỉ còn biết chạy đến kêu cứu với thẩm phán.
- thẩm phán : lẽ ra nhiệm vụ của ông là bênh vực những người bị ức hiếp. Nhưng ông thẩm phán này không bênh vực bà góa vì bà chẳng có lợi gì cho ông cả. Dù vậy, nhờ bà cứ kiên trì kêu xin nên cuối cùng ông cũng xử công bình cho bà.
* Bài học : một người bất công như viên thẩm phán mà còn phải chịu thua lòng kiên trì của bà góa. Huống chi Thiên Chúa tốt lành, Ngài sẽ mau chóng bênh vực kẻ kêu xin Ngài cách kiên trì.
Tuy nhiên, có nhiều kẻ không kiên trì nên đã mất lòng tin. Đó là ý nghĩa câu cuối cùng : “Nhưng khi Con Người ngự đến. liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?”.
B. ... nẩy mầm.
1. “Nhiều người có thói quen xưng thú một cách máy móc “Con có chia trí lo ra trong khi đọc kinh xem lễ”. Để việc xưng thú một cách ý thức hơn, có lẽ chúng ta nên nói “Con thiếu tin tưởng và kiên trì trong khi cầu nguyện”... Chúng ta cầu xin, nhưng không tin đủ rằng Thiên Chúa sẽ nhận lời chúng ta” (trích "Mỗi ngày một tin vui").
2. Chúng ta đã từng kinh nghiệm, có nhiều điều ta cầu xin mãi mà chẳng được như  ý. Nhưng đừng vội kết luận rằng :  Hễ lần nào xin mà  không được như  sở thích, là chứng tỏ Chúa không tốt với tôi. Thử suy nghĩ mà xem : - Ai cũng xin trúng số độc đắc ( độc đắc : chỉ một người duy nhất trúng) - Đứa trẻ nằng nặc đòi được ở nhà chơi không chịu đi học (thường không được như ý, còn bị thêm roi vọt). - Nước nào đang bị chiến tranh cũng quen cầu xin theo kiểu ‘Mẹ ơi, đoái thương xem nước Việt Nam, trời u ám chiến tranh điêu tàn…’, nhưng ý Chúa quan phòng chưa muốn thế…
3. Việt Nam ta có câu truyện truyền thuyết về ‘ông già Ba Tri’ kiên trì gan góc. Ông  lặn lội tới tận triều đình Huế, gõ trống trước cung điện vua để kêu nài, và cuối cùng đã được nhận lời. 
4. Beppo Sala là một cậu bé 8 tuổi. Cha mẹ cậu rất nghèo mà phải nuôi tới 6 đứa con. Mẹ cậu lại sắp sinh thêm đứa thứ 7. Tuy còn nhỏ nhưng Beppo cũng biết khi đứa bé sinh ra thì nó phải thiếu thốn như thế nào. Cậu muốn làm một việc gì đó để giúp cha mẹ. Cậu nhịn ăn quà, dùng tiền mua một chiếc bong bóng bay. Cậu viết một bức thư ngắn cột vào bong bóng rồi thả cho bay lên trời. Bức thư viết “Chúa ơi, trong vài tuần nữa mẹ con sẽ sinh em bé. Nhưng gia đình chúng con nghèo quá. Xin Chúa giúp chúng con tìm được một chiếc chăn và vài bộ quần áo cho nó. Đồ cũ thôi cũng được. Con là Beppo Sala, nhà ở Arcorle”. Beppo về nhà hồi hộp chờ đợi. Chờ đã 3 ngày mà chẳng thấy gì cả. Đến ngày thứ tư, một nhân viên bưu điện mang tới nhà Beppo một thùng giấy lớn có ghi rõ “Người nhận : Beppo Sala, Arcorle. Người gởi : Rovingo”. Trong nhà chẳng ai có quen người nào tên Rovingo cả nên bảo nhân viên bưu điện trả về người gởi. Nhưng không có địa chỉ người gởi nên cậu bé đành mở thùng ra coi. Trong thùng toàn là quần áo trẻ con rất sạch và đẹp. Có cả một chiếc chăn nhỏ nữa. Thì ra một người nào đó tên Rovingo đã tình cờ nhặt được chiếc bong bóng và bức thư của cậu bé nên đã thay Chúa gởi quà cho em của cậu.
Nhiều khi Thiên Chúa đáp lời cầu nguyện của chúng ta bằng một cách thức và vào một thời điểm mà chúng ta không ngờ. (Pastor Paterno).
5. Một người đưa tin phóng ngựa tới một ngôi nhà cửa đóng kín. Ông gõ cửa nhưng không ai mở cả. Ông biết trong nhà có người vì trước đó ông đã nhìn qua cửa sổ thấy họ. Bởi đó ông nổi cáu vừa la lớn tiếng vừa dùng hết sức mình đập vào cánh cửa. Sau khi ông đập cửa tới 30 lần thì một cái đầu mới thò ra qua một lỗ nhỏ trên cánh cửa, hỏi :
- Ông có muốn vào không ?
- Muốn vào không ư ? Tôi đã kêu cửa muốn khàn cả cổ rồi đây này.
- Xin ông thông cảm. Mỗi ngày rất nhiều đứa bé hàng xóm cứ đến gõ cửa để phá chơi rồi lại chạy trốn. Ban đầu chúng tôi tưởng ông cũng thế. Nhưng khi nghe thấy ông vẫn kiên trì kêu cửa, chúng tôi biết ông muốn vào thật nên mới mở cho ông. (Bruno Hagspiel).
6. “Chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn ?” (Lc 18,7)
“Khi tạo dựng nên ta Thiên Chúa không cần hỏi ý ta, Người không thể cứu rỗi ta nếu ta không cộng tác với Người”.
Chuyện kể về thánh Vincent Ferrier sau khi gặp các tội nhân cứng lòng, khuyên bảo mấy cũng không chịu trở lại. Ngài đã gia tăng việc ăn chay, hãm mình, cầu nguyện.. Ngài than thở, năn nỉ cùng Chúa ban ơn để cứu các linh hồn ấy khỏi sa hoả ngục.
Nhưng Chúa ơi, được ích gì nếu lời cầu nguyện ấy không có sự cộng tác, đồng ý của đối tượng cần được cứu rỗi ?
Vâng, đã hơn một lần con đặt ra câu hỏi đó, vì nghi ngờ. Con đã đòi hỏi Chúa phải làm cho con điều này, thực hiện cho con điều nọ… Và con thất vọng khi không đạt được điều con muốn.
Lạy Chúa, xin cho con biết nhặt lên những mảnh vụn của mọi biến cố, mọi rủi ro, thất vọng mà trao lại cho Chúa Giêsu trong niềm tin, niềm xác tín, để con được cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa trong suốt cuộc đời con. (Hosanna).

 

TN29-C33. LỬA  TRUYỀN GIÁO

Tuần báo CG&DT số 1328 (12-18/10/2001, GB. Bùi Tuần:
 

Suốt tuần qua, tôi đi nhiều nơi trong giáo phận, để tham dự cuộc tĩnh tâm hàng tháng dành: TN29-C33

Suốt tuần qua, tôi đi nhiều nơi trong giáo phận, để tham dự cuộc tĩnh tâm hàng tháng dành cho các linh mục tu sĩ.
Ở đâu, tôi cũng được nghe tâm sự về truyền giáo. Tới đâu, tôi cũng được thấy những công trình truyền giáo. Những gặp gỡ này cho tôi cảm tưởng là tôi đang ở trong bầu khí truyền giáo, trong luồng gió truyền giáo, trong dòng nước truyền giáo.
Tôi thao thức hỏi mình: Trong tình hình đang có nhiều chuyển biến này, việc truyền giáo nên cứ như cũ, hay nên thêm bớt? Ý Chúa là thế nào? Tôi suy nghĩ và tìm tòi.
Trưa thứ sáu, ngày 05 tháng 10 vừa qua, tôi kết thúc chuyến đi. Vừa tới nhà, tôi lợi dụng chút thời giờ rảnh, để theo dõi tin tức thời sự và tìm thư giãn. Mở một đài truyền hình địa phương, tôi thấy đài đang chiếu một cảnh sa mạc Bắc Phi, một vùng Hồi giáo. Người thuyết minh giải thích đó là nơi Charles de Foucauld đã từng sống. Nghe vậy, tôi ngỡ ngàng, tưởng mình nghe lầm. Một lát sau, tôi thấy chiếu ảnh cha Charles de Foucauld. Y phục cha mặc là y phục kẻ nghèo. Nhà cha ở là căn nhà nghèo. Dân chúng xung quanh cha là những người nghèo. Ảnh đó không xa lạ gì đối với tôi. Bởi vì đã từ lâu, tôi có hàng trăm ảnh đó trong phòng. Đúng là đài truyền hình đã chiếu một mảnh đời cha Charles de Foucauld. Đối với tôi, đây là một cách chia sẻ Chúa dành cho tôi, đang lúc tôi băn khoăn về truyền giáo. Tôi nghĩ: Tình hình càng phức tạp, càng nên đẩy xa hơn việc truyền giáo.
Để đẩy xa hơn việc truyền giáo, tôi nhìn cha Charles và tôi thấy gương sáng của cha gợi ý cho tôi hiểu: Cần phát triển thêm một yếu tố. Yếu tố đó là lửa yêu mến trong lòng mình.
Khi lửa yêu mến Chúa cháy rực trong lòng ta, ta sẽ chỉ mong muốn sống theo thánh ý Chúa, như lời kinh sau đây của cha Charles: “Lạy Cha, với tất cả tình yêu của lòng con, vì con mến Cha và vì mến Cha, nên con thấy cần phải hiến thân con trọn vẹn trong tay Cha... Xin hãy làm nơi con mọi sự đẹp ý Cha... Con sẵn sàng luôn luôn, con nhận lãnh tất cả, miễn là ý Cha được trọn vẹn trong con, trong tất cả mọi loài Cha tạo dựng” (trích kinh cha Charles đọc thường ngày).
Nhưng làm thế nào để thắp lên được ngọn lửa mến Chúa trong lòng ta, để rồi ta dám hiến thân trọn vẹn cho Chúa và thực sự sẵn sàng làm bất cứ sự gì Chúa muốn ta làm?
Thưa: Mỗi người có thể nhận được lửa mến Chúa một cách riêng biệt. Phần tôi, tôi xin phép giãi bày: Tôi nhận được lửa mến Chúa qua nhiều con đường  khác nhau, nhưng nhất là con đường đơn sơ này, đó là năng cầu nguyện với Đức Mẹ bằng kinh “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội”.
Tôi càng cầu nguyện với ý thức mình tội lỗi, thì Đức Mẹ càng cầu bầu cho tôi được thêm ơn trở về gắn bó với Chúa. Từ đó, tôi có cảm nghiệm càng ngày càng sâu hơn về tình Chúa xót thương dành cho những kẻ yếu đuối, lầm lạc, tội lỗi. Chính qua con đường này mà lửa yêu mến được thắp lên, một đàng là kính mến Chúa, một đàng là yêu thương những người khốn khổ.
Như vậy, người thắp lên lửa mến trong tôi là chính Đức Mẹ. Mẹ đốt lửa, khi lòng tôi cầu nguyện. Cầu nguyện với tâm tình nghèo khó, từ bỏ ý riêng. Từ đó, Mẹ đưa tôi  trở về con đường sống theo ý Chúa  Cha.
Ý Chúa Cha, mà tôi thấy rất rõ hiện nay là muốn chúng ta làm chứng cho Ngài bằng cách bắt chước Đức Kitô, nhất là ở điểm này: Hội nhập vào thân phận những kẻ nghèo.
Thực vậy, Đức Kitô đã sống nghèo, giữa dân nghèo. Ngài sống gần gũi họ, để phục vụ yêu thương họ, chia sẻ hy vọng với họ, khám phá ra nơi họ những tiềm năng cứu độ.
Hôm nay, lớp dân nghèo nhiều nơi trên thế giới vẫn còn bị ba nguy cơ đe doạ: Bị khai thác, bị loại trừ, bị huỷ diệt. Đang khi đó, tội ác lại thường không ở phía họ, mà ở phía những quyền lực tăm tối. Một thí dụ: Mỗi ngày có từng trăm thai nhi bị giết. Đó là những cuộc khủng bố xảy ra ở nhiều nước văn minh giàu có.
Trước tình hình này, Chúa Cha sai chúng ta đi. Nhiều người đã nhận ra được tiếng Chúa sai đi. Họ đã ra đi. Họ đã gặp được Đức Kitô đang đau khổ cùng với đám dân nghèo khổ, bất kể là công giáo hay ngoài công giáo. Với những phương tiện nghèo, họ đã cùng với Chúa dần dần đem Tin Mừng vào lòng những người nghèo. Để rồi, những người nghèo sẽ đóng một vai trò đáng kể trong việc làm mới lại bộ mặt địa cầu. Ngay bây giờ, bao người nghèo đang dạy chúng ta nhiều bài học đạo đức quí báu.
Đến lượt những người nghèo này, họ lại ra đi, mang theo lửa thiêng của Chúa. Nhưng lửa đó cần được thêm nhiều hơn nữa, cả nơi họ, cả nơi chúng ta.
Thêm lửa mến Chúa. Thêm lửa xót thương kẻ nghèo. Thêm lửa thiêng này không phải do thêm tư tưởng tự tôn và hoạt động ồn ào. Nhưng thêm một cách âm thầm, bằng cầu nguyện chiêm niệm từ Lời Chúa, phép Thánh Thể, Đức Mẹ dưới chân thập giá, và từ cuộc sống quên mình, trong bình an vui vẻ, phó thác.
Lửa mến nồng nàn này sẽ đổi mới con người đến tận những cõi thẳm sâu của chính mình. Để rồi, truyền giáo sẽ không chỉ là đưa ra các giáo lý, nhưng sẽ còn là giới thiệu những chứng từ sống động nơi những người được Lửa thiêng đổi mới.
Thiết tưởng tất cả những điều trên đây có thể gợi ý cho việc tân Phúc Âm hoá. Đây sẽ là những vẻ đẹp thiêng liêng rất thích hợp, để đáp ứng nhu cầu truyền giáo trong giai đoạn lịch sử đang hình thành với nhiều nét mới mẻ.

 

TN29-C34. KIÊN TRÌ TRONG CẦU NGUYỆN

Thánh Lu-ca viết đoạn Tin Mừng này với phần nhập đề trực tiếp, cho thấy tính cấp bách của: TN29-C34

Thánh Lu-ca viết đoạn Tin Mừng này với phần nhập đề trực tiếp, cho thấy tính cấp bách của bài học: PHẢI KIÊN TRÌ TRONG CẦU NGUYỆN.
Kiên trì là một đức tính tốt, nếu hành động mà nó diễn tả vươn tới mục đích thiện hảo; có thể được gọi là gan lì. Trái lại kiên trì cũng là một tính xấu cần phải khử trừ, khi hành động mà nó diễn tả nhắm tới điều bất lợi; trong trường hợp này, người ta gọi là... lì lợm.
Cần phân biệt hai sự lì : có lần Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su khuyên một tập sinh tự nhận mình có lỗi thường phạm rằng: "Chị hãy sánh mình như em bé tập đi, lại đòi lên cầu thang, cứ bước lên bậc một, thì lại té xuống... Em này cố gắng mãi, cứ làm lại mãi, chắc chắc ba em đứng trên gác, sẽ bước xuống mà ẵm em lên".
Trong trường hợp này, ta không được khuyên rằng: cứ ngồi lì ở dưới đó, đừng bước lên. Nhưng trái lại ta được khuyên: hãy bước lên mãi, cho dù biết chắc phải té xuống, phải chịu khó và phải vất vả nhiều.
Kiên trì bao gồm sự cố gắng chịu khó và vượt khó, phải nhẫn nại chịu đựng những vất vả hòng làm ta ngã lòng, bỏ cuộc. Lúc tuổi mười một tôi bước vào Chủng viện, mỗi lần về quê chào thăm nội tôi, thì nội tôi luôn khuyên một vài lời này: "Hãy luôn cầu xin ơn bền đỗ". Tôi nhớ mãi và lấy làm lạ không hiểu, nhưng cũng vâng lời mà luôn cầu xin ơn bền đỗ. Mãi đến khi trải qua bao thử thách bỏ cuộc, nhất là sau năm 1975, những năm đói kém khoảng 1978..., tôi mới nghiệm ra ơn bền đỗ rất cần cho đời tu. Từ đó ta có thể nghĩ rằng để có được thành công trong cuộc sống, cần phải kiên tâm trì chí... Cũng thế để thành công trên con đường nên thánh, ta càng phải vững bền hơn nữa.
Và trong đời sống cầu nguyện, Chúa Giê-su hôm nay đã dạy ta phải kiên trì, Ngài đưa ra một câu chuyện, trong đó người kiên trì là người có lòng khiêm tốn, nhẫn nhục và chân thành. Chúng ta thử hỏi Chúa Giê-su dạy cầu nguyện phải kiên trì, để đạt được điều gì ? Có phải để được điều ta muốn không, hay chỉ để cầu nguyện... Tôi cho rằng khi Chúa dạy "phải cầu nguyện luôn, không được nản chí" ấy là để chúng ta gặp Chúa cho dù không thấy Chúa, để chúng ta làm theo ý Chúa cho dù phải nhiều hy sinh, và có thể nói để đạt được điều ta xin cho dù không thấy kết quả.
Bởi vì cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Chúa, là gặp gỡ Chúa, là sống hiệp thông sự sống của Chúa, là thưa chuyện với Chúa, là "vâng ý Cha dưới đất bằng trên trời vậy", là nếm trước hạnh phúc thiên đàng. Bởi Chúa muốn mọi người được hưởng sự sống của Chúa, được cứu độ, được thiên đàng, nên Chúa dạy phải cầu nguyện luôn, không được nản.
Trở lại với câu chuyện ông quan bạo tàn và bà góa tội nghiệp.
Chúa Giê-su đưa ra một hình ảnh đ so sánh, đ càng làm rõ sự đối nghịch: một đàng là Thiên Chúa vô biên, nhân từ hay thương xót, một đàng là con người hữu hạn, hẹp hòi và tàn bạo. Theo như thời phong kiến thì nói như vậy quả là phạm thượng, chúng ta dám như vậy sao, dám lấy lòng tiểu nhân mà đo quân tử sao! Chúa Giê-su dám nói như vậy, đ cho chúng ta chắc chắn sẽ đạt được sự sống với Chúa khi cầu nguyện, vì Chúa nhân từ. Chúa nói: "Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn ?". Đây là cách lý luận của nhân loại, có thể lập luận: "chẳng lẽ Thiên Chúa lại không tốt bằng người phàm sao ?". Rõ ràng rồi nhé, khi cầu nguyện thì chắc chắn được nhậm lời, Chúa nói: "Ai xin thì sẽ được…". Nên chúng ta phải cầu nguyện không ngừng, để không ngừng sống với Chúa.

 

TN29-C35. BÀI TIN MỪNG CHÚA NHẬT HÔM NAY RÚT RA TỪ ĐOẠN TIN MỪNG

CỦA THÁNH LUCA - Lm Augustine S.J
Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng
 

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay rút ra từ đoạn Tin Mừng của thánh Luca (17,20-18,1-8): TN29-C35

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay rút ra từ đoạn Tin Mừng của thánh Luca (17,20-18,1-8) cho thấy đề tài Nước Thiên Chúa mà Đức Giêsu rao giảng gây phản ứng khá sôi nổi nơi thính giả. Người Pharisêu thì hỏi: Chừng nào Nước đó đến? (Lc 17,20). Các môn đệ cũng muốn biết: Nước ấy như Đức Giêsu mô tả ở đâu vậy? (Lc 17,37). Rõ ràng có sự nôn nóng về phía thính giả. Dân Do Thái từng bị đặt dưới ách đô hộ của đế quốc Rôma nên muốn có thay đổi về chính trị. Cho nên khi Đức Giêsu nói tới Nước Thiên Chúa, người ta tự nhiên nghĩ tới một quốc gia được cai trị bởi những người do chính Thiên Chúa chỉ định như vua Đavít xưa trong thời vang son của lịch sử Do Thái. Nhưng làm thế nào loại bỏ được chính quyền Rôma để thiết lập một quốc gia loại đó? Có người chủ trương dùng bạo lực để lật đổ chính quyền. Tông đồ Simon chẳng hạn, từng là người thuộc phe Nhiệt thành có chủ trương cực đoan đó. Nhưng cực đoan hơn là thái độ của những người quan niệm Nước Thiên Chúa theo những tác phẩm của nền văn chương khải huyền. Họ tin rằng Nước Thiên Chúa chỉ xuất hiện khi thế giới hiện có này qua đi. Mọi sự sẽ đổ vỡ tan tành. Riêng Nước Thiên Chúa sẽ được thiết lập trên đống tro tàn của thế giới cũ (Đn 4,31-32).

Với Đức Giêsu, quả thật, "thế giới này sẽ qua đi, nhưng lời Thầy nói sẽ không qua đi." Chính nhờ Đức Giêsu mà con người được sống vĩnh viễn vì "Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy" (Ga 6,57). Ngay cả trước khi Đức Giêsu được cưu mang thiên sứ đã loan báo cho mẹ Ngài biết con bà sẽ là Con Đấng Tối Cao; người con ấy sẽ lên ngôi trị vì ngai báu Tổ phụ Đavít và vương quyền của người con ấy sẽ vô cùng vô tận (Lc 1,32).

Nhưng làm thế nào giải thể được chính quyền hiện tại để thiết lập vương quyền vô cùng vô tận đó? Đức Giêsu cho thấy Nước Thiên Chúa là vương quyền siêu việt trên mọi biến cố chính trị. Ngài nói Nước Thiên Chúa "đang ở giữa các ông rồi" (Lc 17,22). Ngay việc Ngài tuyên bố chính Ngài là Con Người đã hàm ý rằng Nước Thiên Chúa mà Ngài thiết lập chính là vương quốc đã được tiên báo trong sách ngôn sứ Đanien 7,13-14. Nếu Đức Giêsu thực sự là Con Đấng Tối Cao, Ngài không thể mâu thuẫn với chính Thiên Chúa, Đấng sáng tạo nên mọi sự, sau đó đã nhìn nhận mọi sự ấy đều tốt lành (St 2,31). Sự dữ xảy ra chỉ vì loài người đã phạm tội và mất nghĩa cùng Chúa nhưng Thiên Chúa vẫn một lòng từ ái: Ngài đã sai Con mình đến để dùng chính tự do mà loại bỏ sự dữ ra khỏi lòng người. Quả thật, Con Thiên Chúa đã biểu lộ tình yêu mãnh liệt của chính Thiên Chúa khi lãnh lấy mọi hậu quả của tội trên thân xác và trong tâm hồn mình, để bất cứ ai nhìn thấy Con Thiên Chúa chết treo trên thập tự đều không thể dửng dưng được. Nhân loại sẽ buộc phải chọn giữa Nước của Thiên Chúa hoặc nước của tăm tối. Vậy điều kiện để Nước Thiên Chúa được thiết lập là "Con Thiên Chúa phải chịu đau khổ nhiều và bị thế hệ này loại bỏ" (Lc 17,25).

Cả người Do Thái lẫn người Hy Lạp đều không sẵn sàng chấp nhận con đường cứu nhân độ thế kiểu đó. Các môn đệ của Đức Giêsu cũng không hơn gì. Phêrô là trưởng Nhóm Mười Hai đã dám can ngăn Thầy mình đừng nên bước vào con đường hy sinh chịu khổ và chịu chết, nên đã bị Đức Giêsu quở trách nặng nề (x.Mt 16,23).

Thực ra việc huấn luyện các môn đệ để họ chấp nhận đường thập giá của thày lẫn trò (Lc 9,22; 9,43-45; 18,31-34 và Lc 14,25-27) cứ còn phải kéo dài như một cuộc thường huấn, kể cả sau Chúa Nhật Phục Sinh. Đấng Phục Sinh nói với hai môn đệ đi Emmau "Nào Đức Kitô chẳng phải chịu đau khổ rồi mới được vinh quang ư?" (Lc 24,26).

Việc thường huấn nói đây chủ yếu được thể hiện qua cầu nguyện luôn, không được nản chí (Lc 18,1-8). Chính nhờ cầu nguyện trong đời thường, người môn đệ mới có sức gắn bó với Thầy mình vác thập giá, đồng thời biết chịu khó vác cây thập giá Chúa dành cho mình vác (Lc 14,25-27).

Nhưng cả việc gắn bó với Thầy vác thập giá cũng như việc vác thập giá mình mà theo Thầy, cả hai việc đều trở thành vô nghĩa nếu không nhận ra Thầy chính là Con Người xuất hiện trong vinh quang đang chờ đợi mình ở cuối cuộc đời. Thực ra, Ngài đang chờ đợi cả thế giới vào ngày tận thế. Nhưng việc nhận ra ấy lại thuộc niềm tin vượt quá khả năng của loài người. Do đó, Đức Giêsu mới nêu câu hỏi: "Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?" (Lc 18,8). Dụ ngôn "Quan toà bất chính và bà goá quấy rầy" nhằm trả lời chính câu hỏi đó.

Câu trả lời được hiểu ngầm trong bài dụ ngôn là:

- Thiên Chúa sẽ tức khắc đáp ứng lời cầu của con người và ban ơn cứu độ (Lc 18,8) vì Ngài không thể thua kém quan toà bất công trong dụ ngôn.

- Thiên Chúa không áp đặt ơn cứu độ trên con người vì Ngài trọng tự do chính Ngài ban cho họ. Nhưng Thiên Chúa không ngừng ban cho họ Người Con chí ái của Ngài trên thập tự để nhìn lên Người Con ấy, loài người không bao giờ phải thất vọng. Họ phải luôn cầu nguyện là phải có tâm trạng đón nhận Người Con Chí Ái của Thiên Chúa là nguồn tình yêu mà Thiên Chúa dành cho mình.

Một số câu hỏi gợi ý

1. Bạn nghĩ quan toà trong dụ ngôn (Lc 18,1-8) từ chối, không đáp ứng lời yêu cầu của bà goá chỉ vì: ông ta biếng nhác? Ông ta sợ kẻ đối phương của bà goá? Ông thiếu sự tôn trọng đối với kẻ goá bụa?

2. Bạn nghĩ trong xã hội ta đang sống, thành phần nào dễ bị coi thường và bị đối xử bất công giống như nhân vật bà goá trong dụ ngôn? Lý do của việc đối xử bất công như vậy có phải là do những con người không kính sợ Thiên Chúa và cũng chẳng coi ai ra gì? Bạn nghĩ đối thoại và cộng tác nhằm phát triển con người toàn diện có thể giảm thiểu được tình trạng bất công như vừa nói chăng?

3. Nhưng những người như nhân vật quan toà trong dụ ngôn (Lc 18,8) có thuộc về Nước Thiên Chúa chăng? (xem GLGHCG số 543-546)

Đức Giêsu loan báo Nước Thiên Chúa

Mọi người đều được mời gọi gia nhập Nước Thiên Chúa. Vương triều của Đấng Mêsia (vị cứu tinh) trước tiên được loan báo cho con cái Ítraen, nhưng cũng để tiếp nhận mọi dân tộc. Để được vào Nước Thiên Chúa con người phải đón nhận Lời Đức Giêsu:

LỜI CHÚA VÍ NHƯ HẠT GIỐNG GIEO TRONG RUỘNG: ai tin nghe Lời Chúa và gia nhập đàn chiên nhỏ của Đức Kitô thì đã đón nhận chính Nước Người; rồi tự sức mình, hạt giống nảy mầm và lớn lên cho tới mùa gặt. (x. Ánh Sáng Muôn Dân số 5)

Nước Thiên Chúa thuộc về những người nghèo hèn, nghĩa là những người đón nhận với lòng khiêm hạ. Đức Kitô được cử đến để "Loan báo Tin Mừng cho người nghèo" (Lc 4,18). Người tuyên bố rằng họ có phúc, bởi vì "Nước Trời là của họ" (Mt 5,3). Chúa Cha đã thương mạc khải cho những kẻ bé mọn điều Người giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết. Đức Giêsu đã chia sẻ kiếp sống của những người nghèo hèn, từ máng cỏ cho tới thập giá. (GLGHCG 543-544)


 

TN29-C36. NƯỚC CHẢY ĐÁ MÒN-Lm. Phêrô Trần Minh Đức

Đẹp trai không bằng chai mặt!“ Đó là mánh khoé dành cho những chàng trai kém phần hào: TN29-C36

“Đẹp trai không bằng chai mặt!“ Đó là mánh khoé dành cho những chàng trai kém phần hào hoa nhưng lại muốn lọt mắt xanh của người đẹp. Cứ kiên nhẫn trồng cây si, cứ mạnh dạn tỏ lòng thành, đến một lúc nào đó thì cô nàng cũng siêu lòng! ...
Chưa chiếm được con tim của nhau thì thế. Khi đã thành vợ thành chồng rồi thì lại khác. Đời sống vợ chồng sẽ dẫn đến đổ bể, mái ấm trở nên tiêu điều khi cả hai chỉ còn quan tâm đến những gì thuần tuý bên ngoài, chỉ nói với nhau về việc tiêu xài, mua sắm, ... hoặc chỉ tỏ vẻ quan tâm đến nhau vì muốn giữ thể diện cho gia đình. Nguy hiểm hơn nữa khi vợ chồng lạnh nhạt với nhau, mạnh ai người nấy sống, chẳng dám đặt tin tưởng vào nhau!

Mái ấm gia đình chỉ tồn tại khi hai người sống trung thành, biết giữ gìn và chăm bón cho tình yêu của mình mỗi ngày một thêm tươi trẻ, luôn biết ban tặng cho nhau niềm tin tưởng. Hạnh phúc gia đình không giống như sung rụng, con người có thể nằm dưới gốc cây chờ. Hạnh phúc được thêu dệt bằng muôn vàn cố gắng hy sinh của những chuỗi ngày trung tín.

Tình yêu không cần sự bố thí. Trong đời sống đức tin cũng vậy. Chúng ta thường quan niệm rằng, cầu nguyện có nghĩa là đọc từ kinh này sang kinh khác. Lời nguyện càng dài thì kết quả càng khả quan! “Nước chảy đá mòn!“ Không, Thiên Chúa không phải là hòn đá. Người không điếc cũng không câm. Người biết những gì chúng ta cần. Nhưng Người không cân đo theo thành tích mà chúng ta đạt được. Điều Thiên Chúa mong muốn chính là thái độ sống của chúng ta.

Ai sống trong tin tưởng và trung thành với một chương trình sống lành mạnh, thì sau một thời gian kẻ đó sẽ cảm nghiệm rằng, cả thể xác lẫn tâm hồn đều được thoải mái. Châm ngôn của dòng Biển Đức “làm việc và cầu nguyện“ có ý nói rằng: Không có một nếp sống lành mạnh thì không thể có một đời sống tâm linh lành mạnh. Nếp sống lành mạnh đặt nền tảng trên việc phân chia thời giờ một cách đúng đắn, cũng như cách thế chúng ta chu toàn những công việc chính yếu trong ngày. Nếp sống này cũng lệ thuộc vào tư thế và thái độ của chúng ta khi làm việc. Chúng ta nghĩ gì và cảm thấy gì trong lúc làm việc? Đầu óc của chúng ta tập trung hay phân tán? ...

Cầu nguyện là cách chúng ta dùng để diễn tả mối tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa. Nhưng không ai có thể cầu nguyện suốt ngày! Hơn nữa, chúng ta không biết phải cầu nguyện sao cho đúng. Giống như đứa trẻ, nó không biết rõ những gì có lợi và có hại cho nó. Thông thường thì cha mẹ nó hiểu rõ điều này hơn. Cho nên trẻ con hoàn toàn đặt tin tưởng nơi cha mẹ của chúng. Trước mặt Thiên Chúa chúng ta luôn chỉ là trẻ nhỏ. Hay nói đúng hơn: chúng ta hãy sống trước mặt Thiên Chúa như trẻ nhỏ, nếu như chúng ta tin, số phận của chúng ta không ngoài bàn tay đầy yêu thương quan phòng của Thiên Chúa. Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng là mẫu gương để chúng ta bắt chước.

Sức mạnh của lời cầu nguyện chính là sức mạnh của một con tim liên lỉ, hoàn toàn đặt tin tưởng vào Đấng đầy yêu thương quan phòng đã dựng nên mình. Ai được Thiên Chúa giao cho một trách nhiệm, thì Người cũng ban ơn giúp người đó chu toàn. Xin Người cũng ban cho chúng ta ơn can đảm thực thi những gì Thiên Chúa muốn.


 

TN29-C37. TIN TƯỞNG VÀ KIÊN TRÌ- Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội

1. Kinh nghiệm đời thường: "Có công mài sắt có ngày nên kim"
 

Kinh nghiệm đời thường cho chúng ta thấy: muốn làm bất cứ một việc gì, chúng ta cũng phải dày: TN29-C37

Kinh nghiệm đời thường cho chúng ta thấy: muốn làm bất cứ một việc gì, chúng ta cũng phải dày công vất vả: Người nông dân muốn có mùa gặt, phải làm đất, gieo hạt, nhổ cỏ, vun xới đất, tưới tắm chăm sóc cây miá hay cây lúa. Có như thế mới có thu hoạch. Học sinh muốn trở thành bác sĩ, kỹ sư phải vất vả học hành bao nhiêu năm trời đèn sách. Có như thế mới có thể trở thành người có chuyên môn có khả năng giúp ích cho gia đình và xã hội. Kiên trì lao động là điều kiện cần thiết cho sự thành đạt của mọi công việc. Nói cách khác kiên trì lao động chắc chắn sẽ đem lại thành công. Kinh nghiệm ấy được cha ông ta đúc kết thành câu phương châm: "Có công mài sắt, có ngày nên kim". Câu châm ngôn này không chỉ đúng lãnh vực tự nhiên mà còn đúng cả lãnh vực tâm linh, như ý nghĩa của ba bản văn Thánh Kinh hôm nay.
2. Ý chính của ba bản văn Thánh Kinh: Tin tưởng và kiên trì sẽ được toại nguyện.
Bài đọc 1: Thiên Chúa đã giao cho Ong Mô-sê và A-a-ron sứ mệnh đưa dân riêng It-ra-en ra khỏi Ai Cập, vì trong đó họ bị áp bức, bóc lột trăm bề, ngày đêm khốn khổ. Trước sự ngoan cố của vua Pha-ra-on, hai ông vừa phải kiên trì đấu tranh, đấu trí vừa phải củng cố lòng tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa Gia-vê là Đấng đã giao sứ mạng cho hai ông. Cuối cũng họ đã thành công.
Bài đọc 2: Khi khuyên nhủ Ti-mô-thê, Thánh Phao-lô nhắc nhở môn đ thân tín của mình một yếu tố vô cùng quan trọng trong hoạt động truyền giáo: đó là lòng kiên định trong những giáo huấn và lời hứa của Thiên Chúa đã được trình bày trong Thánh Kinh.
Bài Tin Mừng: Đ chỉ cho các môn đ phải biết tin tưởng, kiên trì, nhẫn nại như thế nào trong đời sống cầu nguyện Đức Giê-su đã kể một câu chuyện khá độc đáo mà cốt chuyện là ông quan nọ chỉ vì đ tránh bị quấy rày mà làm theo yêu cầu của bà goá. Nói cách khác là sự kiên trì kêu cứu của bà góa đã đem lại kết quả mong muốn, dù rằng quan chức nọ chẳng kính sợ Thiên Chúa và cũng chẳng coi ai ra gì. Kết luận câu chuyện, Đức Giê-su lý luận với môn đ: "Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn ? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng bênh vực họ"
Từ ba bản văn Thánh Kinh trên chúng ta có thể rút ra được kết luận này: Tin tưởng và kiên trì trong cầu nguyện, chắc chắn chúng ta sẽ được toại nguyện. Vì chúng ta có Thiên Chúa là Cha, một người Cha vừa yêu thương con cái hết lòng, vừa giầu có và quyền năng vô biên. Kinh nghiệm của những người sống phó thác tin tưởng trọn vẹn nơi Thiên Chúa là những bằng chứng hùng hồn và sống động về chân lý này. Những người sống tính toán với Thiên Chúa thì khó mà chứng kiến được những phép mầu do bàn tay Thiên Chúa thực hiện. Những người cậy vào sức riêng mình hơn vào quyền năng của Thiên Chúa thì khó mà được tận hưởng những điều kỳ diệu do lòng quảng đại Thiên Chúa ban cho.
Vì thế điều quan trọng hàng đầu trong đời sống tâm linh là làm sao chúng ta có được lòng tin và sự kiên nhẫn trong khẩn cầu. Nhưng làm sao đ có được những điều ấy ?
3. Rèn luyện lòng tin và hun đúc lòng kiên nhẫn
Kinh nghiệm đời sống Đức Tin dạy chúng ta bài học này: rất nhiều khi chúng ta chẳng thấy Thiên Chúa đâu cả, mà chỉ thấy trơ trọi một mình mình. Bao nhiêu khó khăn, trở ngại của đời sống tâm linh cũng như của đời sống vật chất thường ngày vẫn cứ chồng chất trên hai vai và nặng chĩu trên tâm tư chúng ta. Chúng ta có thể thắc mắc: Nếu Thiên Chúa là Cha vừa yêu thương vừa quyền năng thì tại sao chúng ta không được Người đáp ứng những nhu cầu bức bách đang làm khổ chúng ta ?
Chúng ta đều biết và tin rằng Thiên Chúa luôn hiện diện và hành động trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Thế nhưng thật ra thì niềm tin ấy rất yếu ớt, không có ảnh hưởng gì đáng kể đến cách suy nghĩ và hành động của chúng ta. Muốn có lòng tin mạnh mẽ và lòng kiên nhẫn không hề lay chuyển chúng ta phải làm những việc sau đây:
Trước hết chúng ta cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn tin tưởng, phó thác và kiên định trong cầu xin.
Kế đến chúng ta phải học cùng Chúa Giê-su Ki-tô, cùng Đức Ma-ri-a và cùng các vị Thánh mà chúng ta yêu mến đ học bài học tin tưởng phó thác và kiên định trong chờ đợi, trong xin vâng của các ngài. Đức Giê-su đã cho chúng ta một tấm gương tuyệt vời về cách đối xứ của ngài với Chúa Cha. Đức Ma-ri-a đã nói lời xin vâng đối với kế hoạch "bất ngờ" của Thiên Chúa. Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su đã muốn trở nên một quả banh nhỏ đ Chúa Giê-su Nhỏ muốn đá vào góc nhà nào thì đá.
Sau cùng đ có được lòng tin tưởng phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa chúng ta cần thực hiện những bài thực tập. Mỗi ngày chúng ta tập phó thác, tin tưởng vào Chúa hơn một chút. Mỗi ngày chúng ta tập sống quảng đại, quên mình, phục vụ hơn một chút. Mỗi ngày chúng ta tập bỏ bớt nỗi lo âu và thói quen sống tính toán của mình đi một chút. Cứ thế, sự tin tưởng, phó thác vào Chúa sẽ dần dần phát triển trong tâm tư và cách sống của chúng ta. Và chúng ta sẽ thấy ứng nghiệm lời Chúa Giê-su nói trong Phúc Âm hôm nay.
Lạy Thiên Chúa là Cha của con. Cha yêu thương con đến độ đã ban Con Một Cha cho con. Cha yêu thương con đến độ đã sai Thần Khí Cha đến trong con, để giúp con kêu lên với Cha tiếng "Abba – Lạy Cha". Cha yêu thương con đến độ sẵn sàng ban cho con mọi ơn lành phần hồn phần xác mà con cần đến để con được sống và sống dồi dào ( Ga 10, 10 ). Hơn nữa, Cha chẳng những là Cha nhân lành mà còn là Cha quyền năng. Không có gì mà Cha không làm được. Mọi sự đều trong tầm tay của Cha. Thế mà con vẫn sống trong lo âu, buồn khổ, tính hơn tính thiệt với bản thân mình. Con chưa dám lăn xả vào lòng Cha. Con chưa dám phó thác tất cả trong tay Cha. Con chưa dám tin tưởng là Cha làm mọi sự cho con. Xin Cha ban cho con ơn tin tưởng phó thác và lòng kiên nhẫn đợi chờ mà con đang rất thiếu. Xin Cha giúp con tập sống yêu thương, quảng đại, quên mình, phục vụ, cậy trông... để con cảm nghiệm được sự chân thực của Lời Con Cha là Đức Giê-su. Amen.
 
Giê-rô-ni-mô NGUYỄN VĂN NỘI
 

TN29-C38. Phải cầu nguyện luôn

CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN C
 
  • Lc 18,1-8
I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
 

Tin Mừng Luca cho biết ý nghĩa của dụ ngôn này là “Để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không: TN29-C38

1) Ý CHÍNH : Tin Mừng Luca cho biết ý nghĩa của dụ ngôn này là “Để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” (c. 1b). Đức Giêsu nêu ra dụ ngôn về bà góa và ông quan tòa để dạy bài học về sự kiên trì cầu nguyện như sau :

- Bà góa : Trong xã hội Do thái, các bà góa thường phải chịu nhiều bất công thiệt thòi và không có người bênh vực. Trường hợp của bà góa nghèo này cũng thế : Bà bị kẻ thù làm hại nên đã phải chạy đến kêu cứu và xin quan tòa minh oan cho mình.

- Ông quan tòa : Lẽ ra nhiệm vụ của ông là phải bênh vực những người bị kẻ khác ức hiếp. Nhưng ông đã giả điếc làm ngơ trước lời kêu cứu của bà góa, vì theo ông nghĩ, bà không mang lại ích lợi gì cho ông. Dù vậy, vì bà ta cứ kiên trì kêu xin mãi, nên cuối cùng, để tránh bị quấy rầy, ông đành minh oan như ý bà xin.

KẾT LUẬN : Một người bất lương như ông quan toà mà còn chịu thua lòng kiên trì của bà góa nghèo. Phương chi Thiên Chúa là Cha nhân lành lại không mau chóng bênh vực những kẻ hằng kêu xin Ngài đêm ngày hay sao ? Tuy nhiên có nhiều kẻ vì thiếu sự kiên trì nên đã bị mất đức tin. Vì thế Đức Giêsu đã phải thốt lên lời than phiền như sau : “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?” (c.8)

2) CHÚ THÍCH :

 
  • - Đức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí. Người nói : “Trong thành kia, có một ông quan tòa, ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. Trong thành đó, cũng có một bà góa. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông : “Xin ngài bênh vực tôi chống lại kẻ kiện tôi” (Lc 18,1-3) :
+ Đức Giêsu kể cho các môn đệ dụ ngôn… : Câu dẫn nhập này báo trước ý nghĩa của dụ ngôn, bao gồm những ý tưởng quen thuộc của thánh Phaolô như : Phải cầu nguyện luôn (Rm 1,10; Cl 1,3), Không được nản chí (x. 2 Cr 4,1; 2 Tx 3,13). Ở đây Đức Giêsu muốn nhấn mạnh đến thái độ kiên trì và liên lỉ cầu nguyện để chuẩn bị cho ngày Người tái lâm. Ý tưởng này thể hiện rõ nét trong câu : “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?” (x. Lc 21,36).

+ Trong thành kia có một ông quan tòa : Ong bị coi là bất lương vì ông chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. Những quan tòa bất lương như thế có nhiều trong dân Ítraen và nhiều lần đã bị các ngôn sứ đề cập tới (x. Is 1,23; Gr 5,28; Am 5,7).

+ Trong thành đó cũng có một bà góa : Bà góa là một mẫu người nghèo trong Thánh Kinh. Các bà là những người tứ cố vô thân và không được ai quan tâm giúp đỡ.

 
  • - Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng : “Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. Nhưng mụ góa này quấy rầy mãi, thì ta bênh vực mụ cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc” (Lc 18,4-5) :
+ Một thời gian khá lâu, ông không chịu… : Ông quan tòa tuy chỉ hành động vì ích kỷ, nhưng cuối cùng cũng đành chịu thua sự kiên trì của bà góa nghèo mà đứng ra bênh vực bà, để tránh bị bà đến quấy rầy mãi.
 
  • - Rồi Chúa nói : “Anh em nghe quan tòa bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn ? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng bênh vực họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?” (Lc 18,6-8) :
+ Rồi Chúa nói : Luca gọi Đức Giêsu bằng tước hiệu “Chúa” 20 lần trong các bài tường thuật. Qua tước hiệu này, tác giả muốn lưu ý đến vương quyền mầu nhiệm của Đức Giêsu. Ở đây Đức Giêsu bắt đầu đưa ra bài học của dụ ngôn nói trên.

+ “Anh em nghe quan tòa bất chính ấy nói đó: Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn…” : Đức Giêsu không ngần ngại so sánh Thiên Chúa với một quan tòa bất chính. Mục đích của sự so sánh như vậy là để làm nổi bật sự tương quan giữa ông quan tòa bất lương với Thiên Chúa nhân từ. Một con người bạo ngược ích kỷ mà còn biết minh xử cho một người không liên hệ chỉ vì tránh khỏi bị quấy rầy, phương chi Thiên Chúa nhân từ lại có thể nhẫn tâm từ chối lời cầu xin kiên trì của các môn đệ là những người được tuyển chọn hay sao ?

+ Dù Người có trì hoãn : Chắc chắn Chúa sẽ can thiệp, nhưng theo cách thức của Người. Mỗi khi chúng ta có cảm tưởng Chúa trì hoãn không ban theo ý chúng ta xin, chúng ta hãy nhớ lại lời cầu của Đức Giêsu xin Cha cất chén đắng cho Người, Nhưng lời xin ấy đã không được Cha chấp nhận cất chén đắng đau khổ đi. Vì chính nhờ Đức Giêsu đã trải qua đau khổ của thập giá để vào vinh quang Phục Sinh, mà loài người chúng ta mới được ơn cứu độ. Trong thực tế, có nhiều điều ta tưởng là tốt nên nài xin Chúa ban cho mình, nhưng thực ra nó có hại cho ta mà ta không hay biết, nên Chúa đã không ban. Chúng ta sẽ ra sao nếu mọi ước muốn ngông cuồng hay ấu trĩ của chúng ta đều được Chúa nhận lời hết ?

+ Người sẽ mau chóng bênh vực họ: Ở đây cũng như ở nhiều nơi khác (x. Mc 9,1; 13,30), Đức Giêsu báo trước sẽ sớm có một cuộc phán xét đột xuất trong một tương lai vô định để bênh vực những kẻ Người tuyển chọn (x. Lc 17,22-37).

+ Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ? : Những kẻ được tuyển chọn sẽ bị thử thách đến nỗi họ có thể bị mất kiên nhẫn mà trở thành vô tín (x. Mc 13,20-22). Chính vì thế mà Đức Giêsu khuyên các môn đệ đừng sống buông thả, nhưng phải kiên trì cầu nguyện dù trong hoàn cảnh nào đi nữa, giống như bà góa kia luôn bền tâm vững chí trước thái độ thờ ơ của vị quan tòa bất lương. Trong thời gian có vẻ lâu dài giữa việc Đức Kitô ra đi và trở lại, phải cầu nguyện liên lỉ và đừng nhàm chán thì mới có thể đón nhận ơn cứu độ.

II. HỌC SỐNG LỜI CHÚA :

1) LỜI CHÚA : “Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bệnh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù ười có trì hoãn ?” (Lc 18,7).

2) CÂU CHUYỆN

- CHUYỆN THỨ 1 : CẦU NGUYỆN VỚI CHÚA NHỜ BONG BÓNG BAY :

BÉP-PÔ SA-LA là một cậu bé 8 tuổi. Cha mẹ rất nghèo mà phải nuôi tới 6 đứa con. Mẹ cậu lại sắp sinh đứa thứ 7. Tuy còn bé, nhưng Bép-pô cũng hiểu rằng : Khi có thêm một đứa trẻ sinh ra là gia đình sẽ thêm túng bấn, và chính đứa trẻ đó cũng phải thiếu thốn nhiều thứ. Bép-pô nghĩ ra một cách giúp cha mẹ là cầu xin Chúa. Nhưng Chúa ở trên trời cao thì làm sao gặp được Người. Thế là cậu nhịn ăn quà sáng lấy tiền mua một quả bong bóng bay. Cậu viết một bức thư ngắn cột vào bong bóng rồi thả cho nó bay lên trời. Bức thư viết : “Chúa ơi, trong vài tuần nữa là mẹ con sẽ sinh thêm một em bé. Nhưng gia đình con nghèo quá. Xin Chúa giúp chúng con có được một chiếc chăn và vài bộ quần áo cho bé. Đồ cũ cũng được. Con là Bép-pô Sa-la, nhà ở Ac-cóc-lơ”. Sau khi thả bong bóng bay lên cao, Bép-pô về nhà hồi hộp chờ đợi. Chờ đã được 3 ngày rồi mà chẳng thấy Chúa hồi âm gì cả khiến bép-pô đứng ngồi không yên. Đến ngày thứ tư thì một nhân viên bưu điện mang tới nhà một thùng giấy lớn ghi rõ tên “người nhận là Bép-pô Sa-la, nhà ở Ac-cóc-lơ và người gửi là Rô-vinh-gô”. Trong nhà không ai quen biết người nào tên Rô-vinh-gô cả, liền yêu cầu trả về người gửi. Nhưng không có địa chỉ nên họ đành mở thùng ra. Trong thùng toàn là quần áo trẻ con rất sạch và đẹp. Có cả một chiếc chăn nhỏ nữa. Thì ra một người tên là Rô-vinh-gô đã tình cờ nhặt được quả bong bóng và bức thư của cậu bé nên đã thay Chúa gửi quà cho em của cậu.

- CHUYỆN THỨ 2 : GỬI THƯ CHO CHÚA VÀ ĐÃ ĐƯỢC NHẬM LỜI :

Một lá thư được viết nguệch ngoạc của một đứa trẻ gửi vào bưu điện, địa chỉ ngoài phong bì người nhận là “Chúa” và có địa chỉ người gửi. Nhân viên bưu điện lấy làm lạ liền mở ra xem. Trong thư có viết như sau : “Chúa thân mến. Con tên là Tommy. Con được 6 tuổi. Ba con đã chết và mẹ con ngày ngày phải đi làm cực khổ để có tiền nuôi sáu anh em con. Nhưng tháng vừa qua, mẹ con bị đau một tuần lễ không đi làm được nên tiền chi phí trong nhà bị thiếu hụt. Mẹ con không trả được tiền thuê nhà mỗi tháng 200 đồng. Vậy xin Chúa hãy gửi cho chúng con 300 đồng để vừa đóng tiền nhà vừa chi dùng trong nhà Chúa nhé”.

Đọc thư xong, anh nhân viên bưu điện rất xúc động. Anh đưa cho mấy người bạn đồng nghiệp cùng xem, và cả nhóm quyết định quyên góp giúp đỡ theo yêu cầu của cậu bé. Nhưng số tiền thu được tổng cộng là 200 đồng và đã gửi tới địa chỉ nhà cậu bé Tommy.

Một tuần sau, họ nhận được lá thư thứ hai và mở ra xem thì thấy thư viết như sau : “Cám ơn Chúa đã gửi tiền cho con. Tuy nhiên lần sau, nếu Chúa gửi thì xin gửi trực tiếp cho gia đình con, chứ đừng gủi qua bưu điện như lần trước Chúa nhé. Lần trước con cần 300 đồng mà chỉ nhận được có 200. Như vậy là bưu điện đã lấy mất của con 100 đồng đó”.

- CHUYỆN THỨ 3 : LỜI CẦU NGUYỆN ỨNG NGHIỆM SAU NHIỀU NĂM.

Tạp chí Hướng Đạo có đăng một câu chuyện thú vị về một cô giáo trẻ. Câu chuyện được tóm tắt như sau : Cô giáo Ma-ry được điều về dạy ở một trường trung học nọ. Trong lớp cô phụ trách có một học sinh rất ngỗ nghịch tên là Bill. Em này thường gây cho cô giáo trẻ bực bội và biến lớp học thành một nơi bát nháo đùa giỡn. Một buổi sáng kia, trước giờ dạy Ma-ry đến lớp sớm và ngồi ở bàn thầy giáo đang hý hoáy viết tốc ký trên một trang giấy, thì bất ngờ Bill xuất hiện ở cửa lớp. Cậu ta tiến lại gần bàn cô giáo và hỏi : “Cô đang viết cái gì vậy ?” Ma-ry đáp : “Cô viết lời cầu nguyện với Chúa đó”. Bill chế diễu : “Chúa có thể đọc được chữ tốc ký hay sao ?” Ma-ry đáp : “Người có thể làm được mọi sự. Ngay cả việc nhậm lời cầu xin này của cô !”. Nói xong, cô để mảnh giấy kia vào trong cun Kinh Thánh, và quay lên bảng viết bài học cho lớp. Lợi dụng lúc cô giáo loay hoay viết bài, Bill cầm lấy mảnh giấy ghi lời cầu nguyện kia của cô giáo và bỏ vào trong cuốn tập ghi bài học của cậu.

Hai mươi năm sau, bấy giờ Bill đã trở thành viên giám đốc một công ty lớn. Anh ta đang tìm một đồ vật để trên gác xép nhà cha mẹ. Bill tình cờ cầm lên một cuốn sổ ghi bài ngày xưa. Bill thấy một mảnh giấy rơi xuống sàn. Đó là mẩu giấy được ghi tốc ký và giấy đã ngả sang màu vàng ố. Bill không hiểu nội dung của những dòng chữ ấy. Anh gấp tờ giấy kia lại, mang đến văn phòng nhờ cô thơ ký của anh đọc giúp. Cô đã viết lại lời dịch vào một tờ giấy khác và đưa cho Bill. Anh nhận ra đó là lời cầu nguyện của cô giáo Ma-ry năm xưa, nội dung như sau : “Lạy Chúa, xin đừng để con bị thất bại trong nghề giáo của con. Con không thể làm cho lớp con đang dạy vào khuôn khổ kỷ luật được, vì có một cậu học trò tên là Bill hay phá bĩnh. Xin Chúa hãy uốn nắn tâm hồn cậu bé này. Vì theo con : Cậu bé có thể trở nên một người hoặc rất tốt hoặc rất xấu sau này”. Câu cuối như một búa tạ nện vào đầu Bill bắt anh phải suy nghĩ. Thật ra chỉ vài giờ trước đó, Bill đang có dự định lao mình vào một vụ buôn lậu nhiều lợi nhuận. Nếu cứ tiếp tục làm thì chắc nó sẽ lôi kéo Bill vào vòng tù tội. Anh cầm tờ giấy gấp lại và cho vào một chiếc ví trong túi quần và trong suốt tuần kế tiếp, anh đã lấy tờ giấy ấy ra và đọc đi đọc lại nhiều lần.

Cuối cùng lời cầu nguyện của cô giáo đã viết trước đó hai mươi năm đã phát huy tác dụng, là làm thay đổi ý định buôn lâu của Bill. Mấy tuần sau, khi có dịp ngang qua nhà cô giáo cũ, anh đã tìm đến thăm và kể cho cô nghe về lời cầu nguyện của cô đã có sức mạnh làm thay đổi cả cuộc đời của anh như thế nào.

3) SUY NIỆM :

- Cầu nguyện không phải là việc xin ơn này ơn nọ theo óc vụ lợi của ta. Cầu nguyện cũng không phải là sự lười biếng ỷ lại vào Thiên Chúa xin Người làm thay cho mình. Cầu nguyện cũng không phải là bản liệt kê những ước muốn và mong được Chúa thực hiện cho mình. Nhưng cầu nguyện thực sự là sự thực hành đức tin, là nâng tâm hồn lên cùng Chúa để thưa chuyện với Người, xin Người tiếp tục ban ơn để ta đủ sức thi hành theo Thánh ý Chúa. Cầu nguyện là đối thoại liên lỉ và kiên trì với Thiên Chúa trong tinh thần của một người con hiếu thảo noi gương Đức Giêsu, xin Chúa giúp ta chu toàn sứ mệnh loan báo Tin Mừng, và sống đời chứng nhân cho Chúa giữa xã hội ta đang sống.

- Ngoài việc kiên trì cầu nguyện mỗi ngày, chúng ta còn phải cầu nguyện liên tục ngày này sang ngày khác, tuần này sang tuần kia như bà góa trong dụ ngôn của Đức Giêsu hôm nay. Để làm được điều này, cần phải có thời khắc biểu có giờ cầu nguyện rõ ràng trong ngày. Trong hoàn cảnh hiện nay, người ta phải chạy đua với công việc. Nếu không vạch ra một thời khóa biểu đều đặn cho việc cầu nguyện thì có lẽ chúng ta sẽ chẳng bao giờ cầu nguyện được. Nếu chúng ta muốn kết hiệp mật thiết với Chúa thì chúng ta phải sắp xếp thời giờ và nơi chốn để gặp gỡ thưa chuyện với Người.

- Cuối cùng, chúng ta không nên đòi hỏi hiệu quả tức thời của sự cầu nguyện. Ta cứ cầu xin, và để Chúa toàn quyền quyết định ban cho ta vào lúc và theo cách có lợi nhất cho ta theo thánh ý Người. Chúa có thể nhậm lời ta cầu xin sau nhiều năm và Người có thể ban ơn khác với điều ta đang mong đợi, nhưng luôn có ích cho phần rỗi đời đời của ta.

4) THẢO LUẬN :

a) Đọc kinh có phải là cầu nguyện không ? Bạn phải làm thế nào để tránh lo ra khi đọc kinh ?

b) Dự lễ có phải là cầu nguyện không ? Bạn phải dự lễ thế nào để lời cầu nguyện của bạn được Chúa thương chấp nhận ?

II. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU

1) LẠY CHÚA CHA, Chúa là Đấng giàu lòng thương xót và luôn nhận lời con cầu xin. Qua bài dụ ngôn hôm nay, Đức Giêsu đã dạy con rằng : Ong quan tòa kia dù bất chính và ích kỷ mà còn sẵn sàng đáp lại lời cầu xin kiên trì của bà góa nghèo, phương chi là Chúa, Đấng hằng thương yêu săn sóc con như gà mẹ ấp ủ gà con dưới cánh. Con tin tưởng vào Chúa và xin phó thác đời sống con cho Chúa. Xin Chúa thương bênh đỡ và cứu giúp con.

LẠY CHÚA, điều làm Chúa đau lòng là nhiều người đã mất đức tin, trong đó có thể có cả con nữa. Nhiều lúc chính con đã không tin vào hiệu lực của lời cầu xin. Khi gặp khổ đau hoạn nạn, con thường than thân trách phận, mà không cầu xin Chúa cứu giúp. Cũng có những lúc con chỉ cậy vào sức riêng, dựa vào thế lực tiền bạc hay những kẻ quyền thế…mà không cậy dựa vào Chúa. Nhiều lúc con chán nản thất vọng vì cầu xin mãi mà Chúa không nhậm lời ban như ý con xin. Xin giúp con kiên trì cầu nguyện và không bao giờ sờn lòng nản chí. Xin cho con ý thức rằng : Những ai tin vào Chúa, sẽ không phải thất vọng hổ ngươi.

 
  • X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
2) LẠY MẸ MARIA, xin giúp con thêm lòng tin vào Chúa, để trong mọi nơi mọi lúc, con một lòng cậy trông vào Chúa. Xin Mẹ giúp con năng chạy đến thưa chuyện với Chúa khi vui cũng như lúc buồn, khi thành công cũng như lúc thất bại. Con tin rằng mọi sự Chúa để xảy đến cho con đều có ích cho phần rỗi đời đời của con. Xin cho con kiên trì cầu nguyện noi gương bà góa trong dụ ngôn hôm nay, hy vọng Chúa sẽ ban những điều tốt lành cho con.

LẠY MẸ, nếu có lần nào xem ra Chúa giả điếc làm ngơ, xin Mẹ giúp con thêm bền tâm vững chí và đừng thất vọng buông xuôi. Con tin rằng những điều Chúa chưa ban cho con là vì con còn chưa khiêm tốn và chưa có đức tin mạnh. Xin cho con biết phó thác tương lai cuộc đời của con trong tay Chúa quan phòng. Xin cho con thêm lòng yêu mến Chúa và ngày một gắn bó với Chúa nhiều hơn, để con xứng đáng là người con ngoan của Chúa, và đáng được Chúa cho hưởng hạnh phúc Thiên Đàng đời sau.

 
  • X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
Trích Hiệp Sống Lời Chúa
Lm. Đan Vinh

 

TN29-C39. CẦU NGUYỆN KIÊN TRÌ - SCĐ

"Xin ngài minh xét cho tôi" (Lc 18,3)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I : Nhờ Môsê cầu nguyện mà quân do thái đã chiến thắng quân của Amaléc.
- Tin Mừng : Gương kiên trì nài xin của một bà góa.
Minh họa
- Mille images 80 D
- "Xin ngài minh xét cho tôi" (Lc 18,3)
I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến
 

Cầu nguyện và Tin luôn gắn liền với nhau : vì chúng ta Tin nên chúng ta cầu nguyện, và nhờ: TN29-C39

Cầu nguyện và Tin luôn gắn liền với nhau : vì chúng ta Tin nên chúng ta cầu nguyện, và nhờ cầu nguyện nên đức tin của chúng ta được củng cố thêm. Bởi thế Chúa Giêsu dạy các tín hữu Ngài phải cầu nguyện luôn, nghĩa là không chỉ cầu nguyện khi gặp chuyện gì khó khăn, mà phải cầu nguyện trong mọi lúc.
Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy xin Chúa dạy chúng ta biết cầu nguyện và giúp chúng ta cầu nguyện luôn, để đức tin của chúng ta ngày càng thêm vững mạnh.
II. Gợi ý sám hối
- Chúng ta thường mải mê với công việc mà lười biếng cầu nguyện.
- Tuy chúng ta có cầu nguyện nhưng chúng ta không cầu nguyện cách kiên trì.
- Nhiều khi chúng ta cầu nguyện mà trong lòng không mấy tin tưởng vào Chúa.
III. Lời Chúa
1. Bài đọc I (Xh 17,8-13)
Chuyện này kể về thời dân do thái đang tiến vào Đất Hứa. Họ phải giao chiến với những dân đã định cư sẵn trong miền đất đó. Đoạn này thuật cuộc giao chiến với quân Amaléc :
- Môsê giao cho ông Giôsuê dẫn quân đi giao chiến. Phần ông thì ở trên núi giang tay cầu nguyện.
- Khi nào Môsê còn giang tay cầu nguyện thì quân Israel thắng thế ; ngược lại khi Môsê mỏi mệt quá bỏ tay xuống thì quân Israel thua. Người ta mới lấy một tảng đá kê cho Môsê ngồi, lại cử thêm hai người giúp Môsê nâng tay lên. Nhờ đó Môsê có thể giang tay cầu nguyện lâu giờ, và kết quả là Israel đã toàn thắng.
Chuyện này muốn nói rằng chiến thắng không phải do sức mạnh của quân Israel, mà nhờ sự phù hộ của Chúa do lời cầu nguyện của Môsê.
2. Đáp ca (Tv 120)
Thánh vịnh này tiếp nối ý tưởng của bài đọc I : "Ơn phù trợ tôi bởi nơi nao ? Ơn phù trợ tôi đến từ Đức Chúa là Đấng dựng nên cả đất trời"
3. Tin Mừng (Lc 18,1-8)
Thánh Luca cho biết rõ ý nghĩa của dụ ngôn này là dạy "các môn đệ phải cầu nguyện luôn, không được nản chí". Dụ ngôn có hai vai :
- bà góa : trong xã hội do thái, các bà góa chịu nhiều thiệt thòi và không ai bênh vực. Bà góa này có lẽ bị người ta ức hiếp nhưng vì không ai bênh vực nên chỉ còn biết chạy đến kêu cứu với thẩm phán.
- thẩm phán : lẽ ra nhiệm vụ của ông là bênh vực những người bị ức hiếp. Nhưng ông thẩm phán này không bênh vực bà góa vì bà chẳng có lợi gì cho ông cả. Dù vậy, nhờ bà cứ kiên trì kêu xin nên cuối cùng ông cũng xử công bình cho bà.
* Bài học : một người bất công như viên thẩm phán mà còn phải chịu thua lòng kiên trì của bà góa. Huống chi Thiên Chúa tốt lành, Ngài sẽ mau chóng bênh vực kẻ kêu xin Ngài cách kiên trì.
Tuy nhiên, có nhiều kẻ không kiên trì nên đã mất lòng tin. Đó là ý nghĩa câu cuối cùng : "Nhưng khi Con Người ngự đến. liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?".
4. Bài đọc II (2 Tm 3,14--4,2) (Chủ đề phụ)
Phaolô biết rằng mình sắp chấm dứt cuộc đời nên viết thư cho môn đệ mình là Timôtêô để khuyên ông này giữ vững những gì đã học được từ Sách Thánh.
IV. Gợi ý giảng
1. Vai trò của cầu nguyện
Không ai có thể sống đời Kitô hữu tốt mà không cầu nguyện. Nhưng chúng ta phải hiểu cầu nguyện là gì và cầu nguyện thế nào.
Có 3 người bị kẹt trong một căn phòng tối tăm và chẳng có cửa gì cả. Họ làm thế nào để thoát khỏi tình trạng bế tắc này ?
- Người thứ nhất là một nhà văn. Anh không có đức tin. Anh ngồi đấy và luôn miệng nguyền rủa.
- Người thứ hai là một tín hữu sốt sắng. Anh đã quỳ gối cầu nguyện rất lâu, sau đó ngồi xuống chờ phép lạ.
- Người thứ ba cũng là một tín hữu làm nghề thợ xây, vừa đạo đức vừa thực tế. Sau khi cầu nguyện, anh lấy từ túi đồ nghề ra một cây búa và một chiếc đục, rồi bắt đầu đục tường. Công việc rất lâu lắc và cực nhọc. Bụi bắn vào mặt anh, vào cả mắt anh. Mồ hôi anh nhễ nhại. Nhưng anh vẫn kiên trì đục. Thỉnh thoảng dừng lại nói "Lạy Chúa, xin cứu giúp chúng con".
Đang lúc đó người thứ nhất vẫn ngồi ở một góc, vừa hút thuốc vừa nguyền rủa ; người thứ hai ở một góc khác tiếp tục cầu nguyện.
Cuối cùng người thứ ba đã mở được một lỗ lớn trong vách tường và cả 3 người đã thoát ra khỏi căn phòng.
Trên đây là 3 thái độ khác nhau đối với sự cầu nguyện :
- Người thứ nhất coi cầu nguyện là mất giờ. Vì anh không có đức tin nên thái độ của anh cũng hợp lý thôi. Nếu bạn không tin Chúa thì cầu nguyện với Ngài sao được ?
- Người thứ hai coi cầu nguyện là một sự thay thế cho làm việc, vì thế sau khi cầu nguyện xong người ấy ngồi chờ Chúa giúp. Phải thành thật nhìn nhận rằng chúng ta cũng nhiều lần cầu nguyện cách này, đặc biệt là khi chúng ta cầu nguyện cho người khác. Chỉ là những lời nói, và những lời đó trở thành một cái cớ để ta khỏi làm việc.
- Người thứ ba tin tưởng vào hiệu quả của cầu nguyện, hiệu quả ấy không thay thế làm việc, mà là trợ lực cho làm việc. Cầu xin điều gì thì đồng thời cũng cố gắng làm bất cứ việc gì có thể để đạt được điều đó. Sự cầu nguyện này khơi lên niềm hy vọng và khuyến khích lòng can đảm. Nó cũng giúp ta cảm nhận rằng Chúa ở kề bên ta và không bỏ mặc ta trong cảnh khó khăn.
2. Cầu nguyện luôn
Đoạn Tin Mừng hôm nay bắt đầu như sau : "Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải cầu nguyện luôn, không được nản chí". Nhiều người chưa thấy giá trị của sự cầu nguyện liên tục. Họ nghĩ chỉ cần cầu nguyện khi có việc cần Chúa giúp, thế là đủ. Chuyện sau đây là câu trả lời cho những người ấy.
Có một thành phố nhỏ kia có đầy đủ mọi cơ quan và dịch vụ cần thiết như bệnh viện, trường học, nhà thờ, tòa án, chợ, tiệm may, tiệm ăn v.v. Chỉ thiếu một điều là không có thợ sửa đồng hồ. Bởi vậy các đồng hồ lớn đồng hồ nhỏ của những cư dân thành phố này dần dần cái thì hư, cái thì chạy sai. Một số người quẳng đồng hồ vào tủ. Một số khác cố gắng tự mình lau chùi, sửa chữa rồi tiếp tục dùng tạm mặc dù những chiếc đồng hồ ấy chạy không được chính xác lắm.
Một ngày kia có một người thợ sửa đồng hồ đến thành phố. Mọi người rất mừng, ai nấy đều mang đồng hồ đến nhờ anh sửa. Tuy nhiên anh nói thật : "Tôi chỉ có thể sửa những chiếc đồng hồ nào còn chạy. Còn những chiếc nào đã ngưng chạy từ lâu thì tôi không sửa nỗi vì chúng rỉ sét hết rồi".
Cầu nguyện luôn cũng giống như giữ cho chiếc đồng hồ đời ta luôn luôn chạy.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu bảo chúng ta phải cầu nguyện luôn, vì :
- Sự cầu nguyện luôn soi sáng niềm hy vọng và những dự định của chúng ta.
- Sự cầu nguyện luôn giúp ta phân biệt được điều gì là quan trọng, điều gì là tầm thường.
- Sự cầu nguyện luôn giúp ta khám phá ra những ước vọng chân thật, những ray rứt lương tâm bị bóp nghẹt, những nỗi khát khao bị quên lãng.
- Sự cầu nguyện luôn chỉ cho ta thấy những lý tưởng cao đẹp cần vươn tới.
- Và nhất là sự cầu nguyện luôn giữ ta thường xuyên gần gũi với Chúa.
3. Hai tư thế cầu nguyện
Hồi còn bé, chúng ta được dạy chấp tay lại khi cầu nguyện. Khi tham dự Thánh lễ, chúng ta thấy Linh mục cầu nguyện giang tay. Đó là hai tư thế cầu nguyện.
Cầu nguyện chấp tay có nghĩa là chúng ta tạm dừng những hoạt động để chuyên tâm nghĩ đến Chúa. Còn cầu nguyện giang tay là để tỏ ra rằng chúng ta là những người nghèo nàn trước mặt Chúa, chúng ta làm như người ăn xin đưa hai bàn tay không ra để xin ơn Chúa.
Hai tư thế cầu nguyện trên đều tốt. Và ngay cả những khi đôi bàn tay hoặc đôi cánh tay chúng ta đều không chấp lại hay giang ra, chúng ta cũng đừng bao giờ quên ý nghĩa của hai tư thế ấy. (Viết theo Flor McCarthy)
4. Cầu thay nguyện giúp
Một lá thư được viết nguệch ngoạc của một đứa trẻ gởi vào bưu điện, và địa chỉ tới là Chúa. Nhân viên bưu điện lấy làm lạ liền mở ra đọc. Thư viết rằng : "Chúa thân mến, con là Tommy, con sáu tuổi. Ba con đã chết và mẹ con phải cực khổ để nuôi sáu anh em con. Xin Chúa cho chúng con 30O đồng nhé".
Đọc thư xong, anh nhân viên bưu điện rất xúc động và dưa cho các bạn đồng nghiệp xem. Họ quyết định quyên góp để giúp gia đình cậu bé. Số tiền tổng cộng là 100 đồng, và họ gởi tới địa chỉ cậu bé.
Vài tuần sau, họ nhận được lá thư thứ hai. Họ cũng mở ra đọc, thư viết như sau : "Lần tới, Chúa có thể gởi trực tiếp cho gia đình con, vì gởi qua bưu điện, họ giữ lại 200 đồng !"
*
Nghe xong câu chuyện, chúng ta phải bật cười vì sự ngây ngô của cậu bé, nhưng liền sau đó chúng ta lại cảm thấy hổ thẹn vì thấy bóng dáng mình thấp thoáng trong hình ảnh cậu bé : Chúng ta cầu nguyện và muốn được Chúa đáp lời tức thì theo yêu cầu chúng ta đề ra, nếu Người chậm đáp ứng hoặc đáp ứng chưa đủ "chỉ tiêu" chúng ta đưa ra, thì chúng ta lại khó chịu, và cũng chẳng thèm cám ơn Người.
Tin Mừng hôm nay Chúa dạy các môn đệ : "Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí" (Lc 18,1). Người muốn chúng ta hãy liên lỉ cầu nguyện và cầu nguyện cách kiên trì. Như Môsê quì giang tay suốt ngày cầu nguyện cho dân Do thái thắng trận, như bà goá suốt bao ngày tháng cầu xin quan toà minh xét cho bà, như thánh Mônica ròng rã 20 năm trường cầu nguyện cho người con là Augúttinô trở lại, chúng ta hãy cầu nguyện liên tục và bền chí, không hề nhàm chán, cả khi xem ra Chúa ngoảnh mặt làm ngơ.
Chúng ta không nên tìm kiếm hiệu quả tức thì. Chúa sẽ đáp lời chúng ta lúc nào và cách thức nào có lợi nhất cho chúng ta, theo như thánh ý nhiệm mầu của Người. Thời gian Chúa nhậm lời có thể sẽ lâu hơn chúng ta tưởng, cách thức Người ban ơn có thể sẽ khác với ước nguyện của chúng ta, nhưng bao giờ cũng là lúc thích hợp nhất cho linh hồn chúng ta, bao giờ cũng là cách hữu hiệu nhất cho hạnh phúc vĩnh cửu của mỗi người.
Thường chúng ta lầm tưởng rằng, hơn ai hết chúng ta là người biết rõ những điều mình cần xin. Nhưng thánh Phao lô dạy : "Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, chính Thánh Thần sẽ cầu thay nguyện giúp chúng ta theo đúng ý Thiên Chúa" (Rm 8,21-27). Vì thế, Đức Tổng Giám Mục Fulton Sheen viết : "Pytago. đã cấm môn sinh của ông không được cầu nguyện cho chính họ vì họ không biết điều gì là lợi ích cả". Khôn ngoan hơn, Socrates dạy môn đồ ông chỉ xin những điều tốt lành, vì lẽ Thiên Chúa biết tường tận những gì là lợi ích. Dốt nát và yếu đuối nên chúng ta phải xin Thánh Thần soi sáng để chúng ta làm đẹp lòng Chúa trong lúc an bình cũng như khi xao xuyến.
Như thế, cầu nguyện không phải là việc xin ơn này ơn nọ, theo óc vụ lợi của chúng ta, cầu nguyện không phải là việc tránh né bổn phận để Thiên Chúa làm tất cả, cầu nguyện cũng không phải là việc liệt kê ước muốn để mong chờ Chúa thực hiện. Nhưng cầu nguyện đích thực chính là việc thực hành Đức Tin, nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa để đối thoại với Người, van xin Người tiếp tục ban ơn để chúng ta đủ sức thực hiện thánh ý Người. Thấu hiểu sự yếu đuối của con người nên Đức Giêsu than thở : "Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?" (Lc 18,8). Vậy, cầu nguyện không phải là độc thoại mà là đối thoại liên lỉ và kiên trì với Thiên Chúa trong Đức Tin để trung thành với Chúa cho tới khi Người lại đến.
*
Lạy Chúa, chúng con là những người yếu đuối, bất toàn và bất nhẫn, không biết phải cầu nguyện thế nào cho phải đạo.
Xin cho chúng con biết khiêm tốn, vâng theo ơn soi sáng của Thánh Thần, để chúng con biết sống theo Thánh ý Chúa, hầu bền đỗ trong đức Tin và trung thành theo Chúa đến cùng. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu", năm C)
5. Mảnh suy tư
a/ Cầu nguyện là dầu giữ cho ngọn đèn đức tin luôn cháy sáng.
- Hoa trái của cầu nguyện là đức tin
- Hoa trái của đức tin là tình yêu
- Hoa trái của tình yêu là phục vụ
- Và hoa trái của phục vụ là bình an.
b/ Lời cầu nguyện của ta được Chúa đáp lời, không phải khi chúng ta có được điều chúng ta xin, mà khi chúng ta được Chúa ban cho ý thức Chúa đang gần gũi mình.
- Lời cầu nguyện của bệnh nhân được đáp lời, không phải khi anh khỏi bệnh, mà khi anh cảm nhận được Chúa vẫn ở cạnh mình, nhờ đó anh ý thức rằng cơn bệnh không phải là hình phạt của Chúa, cũng không phải là dấu Chúa đã bỏ anh.
- Có thể sự cầu nguyện không thay đổi thế giới, nhưng nó giúp ta có thể trực diện với thế giới.
c/ Hồi còn nhỏ, chúng ta đã được dạy cầu nguyện bằng cách đọc kinh. Bây giờ đã lớn, chúng ta hãy học cầu nguyện bằng cách mở rộng cõi lòng ra cho Chúa.
V. Trong Thánh Lễ
- Trước kinh Lạy Cha : Không lời cầu nguyện nào tuyệt vời bằng lời cầu nguyện chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta. Vậy chúng ta hãy cùng với Ngài cầu nguyện bằng những lời Ngài dạy.
VI. Giải tán
Chúng ta hãy ghi nhớ lời Chúa Giêsu dạy "Hãy cầu nguyện luôn, đừng bao giờ nản chí". Chúc anh chị em được bình an nhờ làm theo lời Chúa dạy.

 

TN29-C40. THẨM PHÁN BẠO NGƯỢC VÀ BÀ GÓA QUẤY RẦY

 (Lc 18,1-8)
 

Câu nhập đề (c.1) xác định ý nghĩa dụ ngôn: việc cầu nguyện kiên trì, trong các hoàn cảnh: TN29-C40

1. Câu nhập đề (c.1) xác định ý nghĩa dụ ngôn: việc cầu nguyện kiên trì, trong các hoàn cảnh thất vọng nhất (pantote: trong mọi hoàn cảnh, dù thế nào đi nữa) không chỉ là một bổn phận hay một nhân đức, mà là một nhu cầu thiết yếu phải là (dei). Phải kiên trì và liên lỉ cầu nguyện, không thoái nhượng, giảm sút, không buông thả (egkakeo). Ngoài Lc với một lần duy nhất dùng chữ đó, người ta chỉ thấy động từ egkakeô nơi Phaolô (Eph 3,13; Gal 6,9; 1Th 3,13; 2Cor 4,1.16). Cách dùng động từ này hầu như luôn có màu sắc cánh chung và CGS đã nhiều lần khuyên bảo kiên trì cầu nguyện như thế ngay sau khi gợi lên cuộc quang lâm của Ngài (Lc 21,36; Mc 13,32-37), nên mệnh lệnh “không buông thả” có một ý nghĩa chuyên môn. Nghĩa là, trong khi chờ ngày Đức Kitô trở lại, đấy là thời thử thách, các môn đệ không được trì trệ hay buông thả việc cầu nguyện. Thay vì chán nản vì lời khẩn cầu xem ra vô vọng, họ phải phấn đấu chống lại mệt mỏi và tiếp tục việc bổn phận lây chừng nào có thể.
Câu nhập đề này phải luôn qui hướng để hiểu dụ ngôn. Đây không chỉ là lời giáo huấn về việc cầu nguyện nói chung, mà là lòng kiên trì bền chí khi cầu nguyện; sự kiên trì này vừa là thái độ chính yếu của môn đệ trong thời cánh chung, vừa cũng là môt thử thách cam go của thời sau hết. Đó là điều dụ ngôn muốn xác quyết trước hết: chiếm hữa sự công chính, nghĩa là sự giải thoát dành cho các người được chọn lúc Chúa tái giáng; đoạn nói đến lý lịch của các thính giả: “Ngài nói với họ”, với chính các môn đệ đã từng nghe các giáo huấn trước kia; sau cùng câu kết luận gợi lên việc Con Người trở lại (c.8) và kết thúc bằng việc tiên báo ngày Ngài đến lần cuối (17,22-24). Không thể hiểu sự đối chọi giữa lời cầu xin bền bỉ của bà góa và tính ù lì của vị thẩm phán, nếu không chú ý đến chủ đề cánh chung này. “Dụ ngôn này liên hệ chặt chẽ với những điều trước, nghĩa là với các khó khăn các tín hữu sẽ gặp, và với việc Con Người đến: (Lagrange). Nhiều tác giả cũng đồng ý như thế: Godet, Zahn, Rengstorf, Schlatter, Oesterley, Creed, Vaganay.
Khi được các người biệt phái hỏi về thời gian Vương quốc TC sẽ đến (17,20), CGS trả lời biến cố này không thể quan sát được, vì Vương quốc có bản tính thiêng liêng. Ngay sau đó, Ngài quay lại nói với các môn đệ về những điều kiện của việc tái hiện, vừa thình lình và nhanh như chớp. Quả thực, sau khi Ngài ra đi, các tín hữu phải sống trong mọt thời kỳ bị kềm kẹp, đầy khổ hình, nên đã khẩn khoản van vái Đức Kitô vinh hiển tỏ mình ra cách khải hoàn chiến thắng, và đến can thiệp bênh đỡ họ: “Các ngươi ao ước thấy được một ngày của Con Người mà thôi nhưng cũng không thấy được ” (17,22). Ước nguyện sôi nổi được giải phóng khỏi người hung dữ được nhận lời. Chúa sẽ tỏ mình ra cách hữu hình. Do đó phải chờ đợi trong đức tin cho đến ngày cuối cùng, là ngày Ngài sẽ xuất hiện sáng láng, “như chớp lòe từ phương trời này đến phương trời kia” (17,24). Lúc đó, có hiều người vẫn ngủ mê, sống cách vô tư, không bận tâm đến đời sống tôn giáo, tự cho mình đã được an toàn, giống như ngày hôm trước xảy ra lụt hồng thủy; và ngày tàn phá Sôđoma (17,26-30). Vì ngày quang lâm đến bất ngờ, nên các môn đệ được khuyên nhủ phải luôn sẵn sàng (17,31-33). Vì cũng như các đại họa trước, Con Người sẽ đến thình lình, không ngờ trước được, do đó quá chậm trễ, khi đến giây phút cuối cùng mới nghĩ đến những dự phòng cần thiết để được cứu thoát. Bài học thật rõ ràng: trái với lần xuất hiện thứ nhất, tiệm tiến và thấy được, lần tái hiện sẽ thình lình và nhanh như chớp; nhưng vì còn lâu mới đến, nên sẽ đến bắt chợt từng người. Do đó phần đông không còn nghĩ đến ngày đó nữa, và đắm chìm trong trạng thái hôn mê thiêng liêng. Ngay những kẻ đã từng kêu xin Chúa đến cứu giúp xem ra quá thất vọng và trong tâm khảm không còn niềm ao ước thuở ban đầu là nhìn thấy ngày của Con Người nữa. Chính để dạy về việc phải luôn nhiệt tâm, phải cầu nguyện không ngừng - Khi Chúa chậm đến và xem ra giả điếc trước các lời kêu xin - mà Ngài đưa ra dụ ngôn người thẩm phán bạo ngược và bà góa kiên trì này.
2. Dụ ngôn đã vắn tắt phác họa chân dung con người ích kỷ. Nếu y làm việc thiện, đó không phải vì y quyết định trở nên tốt, nhưng một tình cớ nào đó đã may mắn tạo nên sự trùng phùng giữa việc thiện người khác và ích lợi riêng tư của y: trong trường hợp đang gặp, khi minh xử cho bà góa cứng đầu này, chỉ vì y muốn được yên thân.
So sánh một người như thế với Cha trên trời là một điều không thể được. Dụ ngôn sẽ làm ta khó chịu, nếu so sánh trực tiếp như thế; nhưng nếu được xem như một chủ đề tương phản (thème à contraste), dụ ngôn thật tuyệt diệu và ý nghĩa. Hình ảnh đáng ghét của người ích kỷ, bây giờ trở nên châm biếm: “Hỡi các thính giả, đâu là lý luận của các người, các người chấp nhận một vị thẩm phán bạo ngược ích kỷ có thể vui lòng minh xử cho một người không liên hệ gì với y, còn các người lại nghi ngờ TC tốt lành vô cùng lại có thể từ chối lời cầu xin của các người được chọn sao ?”. Từ câu 7 trở đi, vị thẩm phán bạo ngược là đề tài tương phản. Chính CGS đưa ra phản đề: hãy nghe vị thẩm phán bất lương phán. Y nói gì ? Ta sẽ minh xử cho bà, hầu bà để ta yên thân. Còn TC thì không giải oan minh xử sao ? Cách đặt câu hỏi như thế này là để làm cho câu phản đề được mạnh hơn. Để đối chiếu với vị thẩm phán chỉ yêu chính mình, không sợ TC cũng như loài người, đối với y, bà góa chỉ là một người quấy rầy, CGS đưa ra hình ảnh người cha trên trời vô cùng nhân từ, luôn lo lắng cho kẻ được chọn, luôn kêu cầu Ngài ngày đêm. Sự kiên nhẫn cầu nguyện được qui chiếu với tính cứng đầu của bà góa. Cũng như bà ta, các môn đệ sẽ bị ngược đãi trong thế giới, phải chịu những bất công, không được ai bênh vực chở che. Họ chỉ có TC lưu tâm đến. Nếu họ bền chí tiếp tục cầu nguyện không sờn lòng. Vị thẩm phán tới cao sẽ không thể làm ít hơn “vị thẩm phán bất công và bạo ngược”.
3. Sự kiên trì đầy công nghiệp này, điều kiện để được nhậm lời, giả thiết là “trong một thời gian dài” TC kiên nhẫn và lặng thinh, xem ra bất màng đến con cái mình. Do đó phải hiểu câu 7b: kai makrotthumei ep autois, là câu đã được giải thích nhiều cách. Một số tác giả đã nối kết hai động từ của câu: “Và TC chẳng minh xử cho các kẻ được chọn hằng kêu cầu Ngài ngày đêm và Ngài lại trì trệ với họ sao ?”.
 Thực ra, cần phải lưu ý trước tiên đến thì của các đông từ, nó không cho phép nối thì hiện tại makrothumei với subonctif aoriste pôiêsêi, nhưng đòi nối kết lòng kiên nhẫn của TC với tiếng van nài liên lỉ và hiện thực của các môn đệ. lúc ấy, câu 7 lập lại 2 chủ đề của dụ ngôn: một đàng, cầu nguyện không bao giờ buông thả. Đàng khác, sự trì hoãn của vị thẩm phán giả điếc làm ngơ không chịu giải quyết vấn đề. Mệnh đề cuối cùng, thay vì là câu nói lên một tư lợi phụ thuộc, đã xác định tương đồng giữa vị thẩm phán và TC: cả hai đều trì hoãn, dù có tiếng kêu cầu.
Makrothumein là động từ mà các bản papyrus không hề dùng, các bản văn cổ điển ít xử dụng, nhưng được thánh kinh dùng nhiều. Trong TƯ nó có nghĩa “kiên nhẫn chịu đựng, bao dung”, và có ý ám chỉ lòng kiên nhẫn - tính bao dung của TC muốn cứu rỗi mọi người. Đó là một ý chí kiên trì hằng muốn tha thứ, thay vì giận dữ tội nhân, tìm thời cơ và chuẩn bị các dịp thuận tiện để giúp tôi nhân ăn năn hoán cải. Lòng kiên nhẫn của TC là một trong những thành tố hữu hiệu nhất để thực hiện ơn cứu độ phổ quát (Rm 2,4; 9,22; 1Tm 1,16). Từ đó, sự bất động hay bất can thiệp của TC, thay vì được coi như là dấu hiện Ngài tỏ ra thờ ơ lãnh đạm, lại là bằng chứng lòng nhân từ của Ngài; không có gì đáng tức giận, như bà góa đã không tức giận trước sự chậm chạp và chống đối của thẩm phán. Chính trong thời gian trì hoãn này mà ta phải tiếp tục bền chí cầu xin, không sờn lòng, vì kinh nguyện nằm trong chương trình kiên nhẫn của TC.
Cần phải trích dẫn trọn vẹn thần học cánh chung của 2P 3,9-15: “không phải Chúa chậm trễ giữ điều đã hứa (lời CGS hứa sẽ trở lại) như có kẻ cho đó là trễ tràng, nhưng Ngài xử khoan dung đối với anh em (makrothumei), bởi không muốn ai phải hư đi, nhưng là hết thảy tìm đường hối cải. Còn ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm; trong ngày đó các tầng trời xèo xèo biến sạch; ngũ hành cháy rụi; đất và các công trình trên đất bị bắt gặp... Vì muôn vật sẽ bị tiêu tan như thế, thì anh em phải nên người thế nào về đức hạnh thánh thiện, và lòng đạo đức trong sự ngóng đợi và cố hối mau cho ngày TC chóng tỏ hiện, ngày sẽ làm các tầng trời bốc cháy tiêu tan và ngũ hành bị thiêu... Trời mới và đất mới đó là điều ta ngóng đợi chiếu theo lời hứa của Ngài... Bởi thế, trong lúc chờ đợi, anh em hãy cố gắng để nên tinh toàn vô tì tích, mà sống trong bình an trước mặt Ngài, vì hãy nghĩ rằng lòng khoan dung kiên nhẫn (makrothumia) của Chúa chúng ta là ơn cứu rỗi của anh em.
Vậy giờ đây, việc TC trì hoãn đã được biện minh trong dụ ngôn vị thẩm phán ù lì. Vâng, TC trì hoãn; đúng là Ngài không can thiệp, dù biết bao,lời kêu van đến Ngài; và chính vì thế mà câu 7b kai makrothumei ep autois nhấn mạnh. Chữ kai có thể có nghĩa concessive, tương tự như ei cai của câu 4: “dù rằng”, hay như kaitoi, kaiper, nhưng đúng hơn nên mặc cho nó nghĩa adversative, đã được TƯ dùng nhiều (Lc 13,17; 10,24; Mc 4,17; Gio 7,19; 16,32; 20,29; Cvsđ 7,5...) và tương đương với chữ Waw trong ngôn ngữ Sêmit. Dù sao, chữ kai nói lên sự trùng phùng giữa hai hoạt động và đồng nghĩa với “thực vậy, thực ra” (Cvsđ 22,28; 1Th 2,19; 1Cor 14,19; Col 3,8; 4,3). Phải chăng TC sẽ không minh xử cho các người được chọn mà Ngài hằng yêu mến họ và họ hằng kêu cầu Người, trong lúc thực ra Ngài trì trệ việc nhận lời, phải chăng Ngài điếc ? Nói các khác, Chúa xác quyết tính cách hiệu nghiệm của lời cầu nguyện bền chí (dù xem ra vô hiệu) như gương cầu nguyện của bà góa.
Đây là một mầu nhiệm. Theo thói quen, CGS không minh giải thêm nhưng tái xác quyết lời trấn an: “Ta bảo thật các ngươi, Ngài sẽ kíp minh xử cho họ” (c.8a). “Ta bảo thật các ngươi” là tiếng mời ta nghĩ ngay đến uy quyền của Chúa. Phải tin, dù bề ngoài có vẻ thất vọng: quả thực, TC trì hoãn, nhưng ta bảo đảm cùng các ngươi, ngày kia Ngài sẽ minh xử, như vị thẩm phán này đã minh xử.
4. Vị thẩm phán này đã bất ngờ tự ý quyết định xử án, không có gì tiên báo ông sẽ can thiệp cả. TC cũng sẽ minh xử một cách tương tự như thế, en tachei. Thành ngữ này nói lên tính cách gấp rút, vội vã nhưng cũng có nghĩa thời gian sắp hành động: sắp đến; hay chỉ cách thức hành động: hành động “bất ngờ”, “thình lình”, như cạm bẫy đột xuất xảy đến, gây nên kinh ngạc, sửng sốt. Chính trong nghĩa cuối cùng này mà ta phải hiểu thành ngữ en tachei mà Lc thường dùng ở 3 chỗ khác nữa (Cvsđ 12,7; 22,18; 25,4).
Vì thế trong dụ ngôn này, en tachei không nhằm nói lên việc TC sắp can thiệp, vì như thế là đi ngược lại với giáo huấn minh nhiên của dụ ngôn cũng như lời xác quyết trì trệ của câu 7a, nhưng nói lên cách Ngài sẽ can thiệp: thật bất ngờ và thình lình để cứu rỗi các kẻ đã được chọn. TC có thể trì hoãn cho đến lúc nào Ngài muốn ra tay hành động; nhưng khi Ngài thể hiện công bằng và quyền năng của Ngài (công bằng và quyền năng mà con cái Ngài hằng kêu xin từ lâu), Ngài không thể hiện cách từ từ, tiệm tiến, nhưng cách nhanh lẹ khôn tả: “Trong một nháy mắt” hay “như chớp từ phương trời này đến phương trời kia” (Lc 17,24), như Ngài đã làm khi xảy ra lụt hồng thủy và khi thiêu đốt Sodôma (Lc 17,26-33).
5. Tuy nhiên có sự khác giữa ngày quang lâm và các đại họa đó. Noê, “người công chính” (2Pet 2,5) là một tâm hồn mạnh tin, điều này đã cứu ông và gia nhân (Dth 11,7); nhưng vào thời sau hết và vì các cuộc bách hại, đức tin sẽ biến mất (2Th 2,3), đức ái của một số đông sẽ nguội dần (Mt 24,12). Sau một thời gian thinh lặng, CGS ưu sầu gợi lên việc chối đạo tổng quát: “Nhưng khi Con Người đến, hỏi còn thấy đức tin trên trái đất này nữa chăng ?” (c.8b). Những kẻ được chọn, nhờ lòng đạo đức sốt sắng của họ, là những kẻ phải cố hối cho ngày Đức Kitô tái giáng mau đến (2P 3,12), sẽ bị thử thách đến nỗi lòng kiên nhẫn của họ sẽ bị ảnh hưởng và TC phải rút nhắn các ngày đó, “bằng không, sẽ không ai được cứu thoát” (Mc 13,20.22). Chính vì thế mà CGS khuyên môn đệ mình đừng buông thả, nhưng phải tiếp tục cầu nguyện liên lỉ dù gặp hoàn cảnh nào, như bà góa kia luôn bền chí trước vị thẩm phán ù lì: trong thời gian (có vẻ khá lâu) giữa việc Đức Kitô ra đi và trở lại (x.Lc 19,12), “phải cầu nguyện liên lỉ, chớ nhàm chán” (c.1). Vì đó là ơn cứu rỗi.
KẾT LUẬN
Sau khi dài dòng nhắc đến việc Chúa Cứu Thế sẽ đến cách khải hoàn để báo thù, và sau khi vấp phải sự kiên nhẫn và im lặng của TC, con người sẽ vô cùng ngạc nhiên về ngày quang lâm. Nhưng sự kiên nhẫn của các người được chọn luôn luôn cầu nguyện và không hề buông thả, phải luôn phù hợp với lòng kiên nhẫn của TC. “Các ngươi cứ bền đỗ, mới cứu vãn được linh hồn các ngươi” (Lc 21,19).
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. CGS vừa loan báo cho các tông đồ những biến loạn mà nhân loại sẽ gặp khi Ngài hiển hiện vào ngày thế mạt. Vì biến cố này trì trệ và sự kiên nhẫn của người tín hữu sẽ bị ảnh hưởng. CGS phán dạy dụ ngôn này nhắm giúp họ có một thái độ thích hợp. Đó là điều chúng ta vừa đọc được.
Tác giả phúc âm xác định mục đích câu chuyện, là khuyến khích chúng ta “liên lỉ cầu nguyện, chớ nản lòng”.
Và CGS kể trong thành nọ có một vị thẩm phán không kính sợ TC và khinh thường mọi người. Một bà góa đến xin xử kiện, ông từ chối, nhưng bà này, vì không thể “chạy chọt” cho ông, nên nhờ đã gan lì mà được điều bà xin.
CGS kết luận là nếu vị thẩm phán đã minh giải cho bà vì bà làm “ông điên đầu”, phương chi Cha trên trời sẽ nghe và minh giải cho những người được chọn, sau khi đã dành nhiều thì giờ để tội nhân có thể ăn năn trở lại.
2. Dụ ngôn nói đến kỳ hạn TC dùng để nhận lời cầu xin của chúng ta. Sâu xa hơn nữa, dụ ngôn đặt câu hỏi: lời cầu nguyện được chấp nhận, có nghĩa gì ? Khi xin TC một điều gì rõ ràng, ví dụ, bánh hàng ngày, chúng ta có biết tất cả ý nghĩa sâu xa tiềm ẩn trong điều chúng ta xin không ? Chúng ta có biết TC chấp nhận đến mức độ nào không, vì Ngài luôn nhậm lời chúng ta cầu xin ? Chúng ta chỉ là những con người sống trong giới hạn thời gian, luôn phân chia thành giờ, ngay hôm nay, ngày mai. Chúng ta không muốn ước vọng kinh nguyện mình ngày mai mới được thực hiện: mà muốn được liền, ngay tức khắc. Nhưng TC thấy chúng ta cách khác, vượt quá thời gian và không gian, Ngài nhận lời chúng ta nhưng luôn để ý đến những nhãn giới của số mệnh chúng ta bây giờ và tương lai. TC vượt quá “cái tức khắc”. Do đó hãy biết điều này:
a/ TC luôn nhậm lời chúng ta, tại sao ? Vì Ngài là Cha vô cùng nhân từ. Xác tín việc TC luôn nhậm lời chúng ta là một trong những cột trụ cững chãi nhất của cuộc sống Kitô hữu. Nghi ngờ điểm này là phạm đến đức cậy. Do đó, khi cầu nguyện chúng ta đừng nhiều lời, vì TC biết trước và rõ hơn chúng ta những điều chúng ta xin. TC, Cha chúng ta luôn luôn sẵn sàng ban cách dư thừa điều chúng ta cần; phúc âm luôn xác quyết như thế. Nhưng tại sao phải cầu xin ? Việc cầu xin có lợi gì không ?
b/ Lợi ích của việc cầu nguyện. Vì tôn trọng tự do của chúng ta TC không áp đặt trên chúng ta những ân huệ của Ngài, Ngài đáp ứng các ước vọng của chúng ta. Lòng quảng đại của Ngài thỏa mãn vượt quá lời chúng ta cầu xin, nhưng Ngài muốn chúng ta cầu xin. Tại sao Ngài thường có vẻ trì hoãn đáp lời chúng ta ? Vì lòng ước muốn càng nung nấu, lời cầu xin càng bền chí, tâm hồn và con tim chúng ta càng rộng mở hơn. Việc cầu nguyện trước hết có ích cho chính chúng ta. Hơn nữa, khi trì hoãn ban ơn, chẳng phải là vì TC muốn tự hiến chính Ngài đó sao ?

 

TN29-C41. Phải cầu nguyện luôn

Lu-ca 18,1-8
“Đức Giê-su kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí. Người nói : "Trong thành kia, có một ông quan toà. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. Trong thành đó, cũng có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông : 'Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho.' Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng : 'Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc.'"
Rồi Chúa nói : "Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó ! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao ? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi ? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?"
***
 

Dụ ngôn quan tòa bất chính được Chúa kể liên hệ trực tiếp đến sự giáo huấn các môn đệ về: TN29-C41

Dụ ngôn quan tòa bất chính được Chúa kể liên hệ trực tiếp đến sự giáo huấn các môn đệ về sự trở lại của Ngài. Tuy nhiên, vẫn có giá trị khích lệ các tín hữu cầu nguyện qua mọi thời đại. Lý luận là thế này : nếu một quan án bất chính, không sợ trời và cũng chẳng nể người, mà rồi cũng phải nhượng bộ trước lời kêu nài của một bà góa, thì huống chi Thiên Chúa công chính lại không sẵn sàng nghe lời cầu khẩn của những kẻ Ngài yêu thương sao ?
Dụ ngôn này nói tới một việc đã thường xảy ra tại Pa-lét-tin.
Có hai nhân vật trong chuyện này :
Vị quan tòa :
Rò ràng ông không phải là một thẩm phán Do-thái. Các việc tranh chấp tầm thường xảy ra giữa người Do-thái được xử trước mặt các trưởng lão chứ không bao giờ đem đến các tòa án công cộng. Và theo luật Do-thái, nếu có vấn đề phải phân xử, thì một người không đủ để lập phiên tòa. Bao giờ cũng có ba vị quan án, một vị do bên nguyên cáo chọn, một vị do bên bị cáo chọn, và một vị khác được chỉ định cách độc lập. Vị quan tòa trong chuyện này là một trong những quan tòa ăn lương được bổ nhiệm hoặc bởi vua Hê-rô-đê hoặc bởi người La-mã. Các vị này nổi tiếng tham ô. Trừ khi bên bị cáo có thế lực và tiền bạc đút lót cho sự việc đi tới kết thúc, còn thì người ta không hy vọng gì được quan tòa xét xử cho. Thiên hạ đồn rằng các vị này sẵn lòng khiến công lý thành "công lý" chỉ vì một đĩa thịt. Dân chúng còn mỉa mai họ bằng cách chơi chữ ; họ chính thức được gọi là quan tòa đoàn phạt, nhưng quần chúng gọi là quan tòa ăn cướp.
Bà góa này tượng trưng cho hết thảy những người nghèo nàn, cô thế, cô thân.
Dĩ nhiên, vì không có tiền bạc, bà ta chẳng hy vọng gì được xét theo lẽ công bình bởi một quan toà như vậy. Nhưng bà ta có khí giới của sự kiên trì. Rất có thể, điều mà quan tòa này sợ là một loại bạo lực nào đó. từ được dịch là quấy rầy có nghĩa : "kẻo nó làm cho mắt ta tối đen." Chúng ta có thể tối mắt bằng hai cách : hoặc bằng giấc ngủ hoặc do một cú đấm ! Dù sao, cuối cùng sự kiên trì của bà ta đã thắng. Dụ ngôn này cũng giống dụ ngôn về người bạn lúc nửa đêm … Dụ ngôn không có ý ví sánh Thiên Chúa với quan tòa bất chính, nhưng sánh ngược lại với con người như thế, Chúa Giê-su có ý nói : "Thẩm phán bất chính còn như thế, lẽ nào Thiên Chúa không xem xét bênh vực những đứa con yêu ngày đêm kêu xin Ngài sao ? Chắc chắn Ngài sẽ vội vàng cứu giúp họ."
Chúng ta hãy nghe lời Đức Gio-an Phao-lô II nhắn nhủ giới trẻ về cầu nguyện dựa vào chính lời Chúa Giê-su bảo "phải cầu nguyện luôn đừng nản chí." Tại sao chúng ta phải cầu nguyện ?
Chúng ta phải cầu nguyện, trước hết, là vì chúng ta là tín hữu :
Thật vậy, cầu nguyện là vì nhận biết những giới hạn và lệ thuộc của chúng ta : chúng ta đến từ Chúa, chúng ta sống nhờ Chúa, và chúng ta sẽ trở về với Chúa. Do đó, chúng ta phải trao phó chúng ta cho Người, là Đấng Tạo dựng và Cứu Chúa của chúng ta, với một lòng tín thác trọn vẹn … Trước hết cầu nguyện là một hành vi hiểu biết, tâm tình khiêm tốn và biết ơn, một thái độ tin yêu phó thác nới Đấng vì yêu thương đã ban cho chúng ta sự sống. Cầu nguyện là một cuộc đối thoại nhiệm màu, nhưng có thực, với Thiên Chúa, một cuộc đối thoại diễn ra trong tin cậy và yêu mến.
Vì là ki-tô hữu, nên chúng ta còn phải cầu nguyện như ki-tô hữu nữa :
Thật vậy, đối với ki-tô hữu, việc cầu nguyện mang một sắc thái đặc thù là thay đổi bản chất và giá trị của cầu nguyện. Ki-tô hữu là môn đệ của Đức Giê-su, là người tin nhận Đức Giê-su là Ngôi Lời nhập thể, là con Thiên Chúa xuống trần giữa loài người chúng ta. Với tư cách là một người, cuộc đời của Đức Giê-su là đời cầu nguyện liên lỷ, một hành vi liên tục kính thờ và yêu mến Cha, và rồi cao điểm của cầu nguyện là hiến tế thập giá, tiên báo qua bữa Tiệc Thánh cuối cùng trong nhà Tiệc Ly và truyền lại qua các thế hệ bằng thánh lễ. Thế nên, người ki-tô hữu biết lời cầu nguyện của mình là Chúa Giê-su, mọi lời cầu nguyện của mình đến từ Chúa Giê-su, chính Ngài cầu nguyện trong chúng ta, với chúng ta, và cho chúng ta. Tất cả những ai tin vào Thiên Chúa đều cầu nguyện, những người ki-tô hữu cầu nguyện trong Chúa Ki-tô :  Chúa Ki-tô là lời cầu nguyện của chúng ta ! …
Cuối cùng, chúng ta phải cầu nguyện vì chúng ta yếu đuối và tội lỗi.
Cần phải khiêm tốn và thành thật nhận thức rằng chúng ta là những tạo vật hèn kém, với những ý nghĩ mơ hồ, hay thay đổi và yếu đuối, luôn cần nhận được nâng đỡ và an ủi. Cầu nguyện ban sức mạnh để theo đuổi các lý tưởng cao cả, gìn giữ đức tin, cậy, mến, trong sạch, quảng đại ; cầu nguyện mang lại can đảm để thoát khỏi tình trạng ù lỳ, và dần dần nếu chẳng may đã nhường bước cho cám dỗ và yếu đuối ; cầu nguyện soi sáng để thấy và thẩm định các biến cố đời sống riêng tư mình và cả lịch sử trong viễn tượng cứu độ của Thiên Chúa và của đời đời. Thế nên, đừng bao giờ các con bỏ cầu nguyện ! Đừng để một ngày nào qua đi mà chúng con không cầu nguyện một ít."
Cầu nguyện là một bổn phận, nhưng cũng là một niềm vui lớn ! vì đó là cuộc đối thoại với Thiên Chúa qua Chúa Giê-su Ki-tô. Kiên trì lễ ngày Chúa nhật, và nếu có thể dự lễ nhiều lần trong tuần, cầu nguyện sáng chiều, và những lúc thuận tiện !"
Dụ ngôn này Chúa dạy liên hệ trực tiếp đến việc trở lại của Ngài. Do đó, không phải chỉ khuyến khích cầu nguyện tổng quát, mà đặc biệt là sự đến và đặc biệt hơn là ân huệ do đó mà ra. Tuy nhiên sức mạnh của dụ ngôn là kể lại cho Hội Thánh sự yếu đuối và cô đơn, và Hội Thánh trong khoảng thời gian từ lúc Chúa chịu đóng đinh cho đến khi Người trở lại. Chúa Giê-su vừa mô tả tình trạng của thế giới lúc Ngài trở lại. Ngài đã chụp hình thái độ vô tình, lơ là và miệt mài những chuyện trần tục, rồi bây giờ Ngài muốn thúc giục kẻ theo Ngài hãy kiên nhẫn và hướng lòng về Ngài trong cầu nguyện.
Sau khi kể xong thí dụ, Chúa hỏi một câu đượm vẻ đau buồn : "Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa không ?" Có còn những kẻ thật lòng tin Đấng Ki-tô, yêu Ngài và trông đợi sự trở lại của Ngài ? Câu hỏi đó chính là lời cảnh cáo long trọng về hiểm họa tinh thần thế tục và vô tín sẽ thịnh hành. Chúng ta không nên tuyệt vọng bi quan, Hội Thánh lúc nào cũng có kẻ thù, Hội Thánh luôn luôn canh giữ ảnh hưởng của thế tục đang vây quanh. Chúa Giê-su đã dạy ta kiên trì cầu nguyện để đứng vững trong niềm tin ;  mà tin và cầu nguyện liên kết mật thiết với nhau. Thánh Âu-tinh phát biểu : "Chúng ta tin để cầu nguyện, và để niềm tin và với niềm tin đó chúng ta cầu nguyện khỏi chao đảo, chúng ta cầu nguyện. Niềm tin làm phát sinh cầu nguyện, và cầu nguyện một khi đã phát sinh sẽ đem lại chắc chắn trong niềm tin."

 

TN29-C42. THIÊN CHÚA LÀ CỜ TRẬN CỦA TÔI

Không có đổ máu không có ơn cứu độ (Dt 9,22), nhưng cho dù anh em có chiến đấu với tội lỗi: TN29-C42

Không có đổ máu không có ơn cứu độ (Dt 9,22), nhưng cho dù anh em có chiến đấu với tội lỗi, anh em vẫn chưa đến nỗi phải đổ máu như Đức Kitô (Dt 12,4).
Các bài đọc trong phục vụ hôm nay cho ta ba mẫu người đấu tranh cho công lý, hầu mọi người nhận ra đâu là phải, đâu là trái và Chân lý phải thắng gian ác:
                   (1)                                 (2)                                 (3)
THẦN PHẨM BẤT LƯƠNG  <     THIÊN CHÚA            <       CHÚA CHA

 
                   
     
       
 


          Một bà góa                                 Mô-sê                     Phục vụ Hội thánh                  

    Kẻ ác phải thừa nhận              Do Thái thắng kẻ thù         Dữ ra lành cho dân Chúa.
               công lý

Mẫu (1) : Bà goá rất cô đơn, khi bà đòi mọi người trên trái đất này phải thừa nhận công lý nơi bà, mà mãi cũng không kiếm được một người ủng hộ bà. Nhưng bà cứ kiên trì đấu tranh với thẩm phán bạo ngược. Vì khỏi phải đương đầu nên ông thẩm phán đứng ra bênh vực sự công chính cho bà goá này !
Mẫu (2) : Cả cộng đoàn Do Thái từ dân đến thủ lãnh đều nhất trí cùng một mục đích : tiêu diệt quân Amalek, hầu bảo vệ nền công lý và hoà bình. Để đạt mục đích ấy, họ chia nhau mỗi người mỗi việc : Môsê lên núi, hai tay cầm gậy giơ lên cầu nguyện, lúc đầu ông đứng, nhưng sau để khỏi mỏi tay, mỏi Chân, nguời ta vội cầm cục đá lớn cho ông ngồi, còn Aharon và Hur thì đỡ tay Môsê, bởi nếu Môsê hạ tay xuống thì quân Amalek thắng và nguợc lại. Vậy nhờ Môsê giơ tay cầu nguyện mà dưới Chân núi Giôsuy chỉ huy Do Thái dùng gươm diệt hết quân Amalek.
Như thế mẫu (2) này đấu tranh cho công lý rất khí thế, chứ không cô đơn như bà goá ở mẫu (1).
Mẫu (3) : Ong Môsê giang tay cầu nguyện trên nuí cho dân Do Thái thắng quân thù; cũng như bà goá kiên trì đòi công lý được mọi người nhìn nhận, chính là báo trước việc Chúa Giêsu giang tay trên Thập Giá cầu nguyện cho kẻ có tội được cứu độ, Giá trị này trổi vượt hơn hiệu quả cuộc đấu tranh của bà goá, cũng như của Môsê và dân Do Thái đòi tôn trọng công lý là phải tiêu diệt kẻ thù.
BÀ GOÁ VÀ DÂN DO THÁI
1. Bà goá cô đơn đấu tranh cho công lý.
2. Do Thái nhờ có Môsê cầu nguyện:
Với cây gậy trên tay Môsê giơ lên.
Tay ông được hai nguời đỡ.
Ông ngồi trên tảng đá.
Môsê chưa mất mạng.
3. Do Thái dùng gươm giết kẻ gian ác
NGƯỜI KITÔ HỮU
1. Kitô hữu nhờ phục vụ họ cùng với Chúa Giêsu hiến tế trong cô đơn, đấu tranh cho sự sống.
2. Hội thánh nhờ có Đức Giêsu cầu nguyện:
Với cây Thập Giá, Ngài giơ tay lên.
Tay Ngài nhờ hai đinh đỡ.
Ngài đứng trên đinh nhọn
Đức Giêsu phải chết nhưng rồi Ngài sống lại.
3. Người Kitô hữu dùng Lời Chúa và chính Chúa như gươm thần khí để biến dữ ra lành, tội ra ân huệ, chết ra sống.
Chính vì Lời Chúa là vũ khí tuyệt hảo nhất giúp các Kitô hữu chiến thắng mọi ác thần, mà Thánh Phaolô đã nhắc cho Timôthêu: “Con đừng quên Giá trị Sách Thánh mà con đã được thụ Giáo ngay khi còn bé. Vì Kinh Thánh nhất nhất đã được thần hứng và có ích để dạy dỗ, biện bác, cải thiện, đào tạo con người trong sự công chính, ngõ hầu người của Thiên Chúa được hoàn bị, sẵn sàng cho mọi việc lành”.
Vì Lời Chúa Giá trị đến thế, nên “con hãy rao giảng lời, hãy ứng phó lúc thuận cũng như lúc nghịch, hãy biện bác, hãy khiển trách, hãy khuyên lơn, hết tình đại lượng và dụng tâm dạy dỗ” (bài II).
Vậy Chúa dạy ta hãy cầu nguyện luôn, đừng nhàm chán (Lc 18,1). Cụ thể là hàng ngày đến hiệp dâng Thánh Lễ để cùng với Đức Kitô, nhờ Đức Kitô và trong Đức Kitô, kiên trì sống công chính giữa đời:
- Trong một xí nghiệp, mọi công nhân đều ăn cắp, còn tôi vì luơng tâm công Giáo không cho phép tôi bắt chước họ dù tôi sẽ bị lẻ loi cô đơn, mất tình cảm với người xung quanh…?!.
- Trong nghề thương mại, ai ai cũng làm cân giả, của xấu nói tốt ! Còn tôi, tôi can đảm làm thật nói đúng, dù biết sống như thế là tôi sẽ bị mất khách, hay bán được ít hàng?!!
- Nhờ học Giáo lý, tôi biết Chúa là đạo thật tôi theo, dù bị họ hàng nội ngoại buồn và khai trừ tôi?!
- Khi còn bé, tôi rất siêng năng học Lời Chúa, nhưng khi lớn khôn rồi, một phần bận rộn làm ăn, mặt khác thấy người lớn còn đi học, lúc ấy tôi vẫn kiên trì và tin tưởng tiếp tục học Lời Chúa với tất cả lòng say mến như thủa ban đầu?…
Nói tắt : Ai càng thiết tha sống Chân lý, càng bị nhiều kẻ thù ghét, cuối cùng cô đơn, chỉ vì tin chiến thắng sẽ đến vào ngày cánh chung. Muốn kiên trì sống được Chân lý này ta phải tìm nghị lực trong Thánh Lễ mỗi ngày ta tham dự. Thế mà nhiều Kitô hữu vẫn thản nhiên bỏ lễ. Đức Giêsu nhìn thấy trước như thế, nên Ngài đã thốt lên lời than trách : “Liệu ngày tôi trở lại, liệu có còn gặp được lòng tin trên mặt đất này được không?” (Lc 18,8)

 

TN29-C43. LỜI CẦU NGUYỆN KHÔNG NGỪNG

Năm 1937 Antonio Tamburro ở thành Nêapoli nước Ý, bị mù hoàn toàn trong một tai nạn xe: TN29-C43

Năm 1937 Antonio Tamburro ở thành Nêapoli nước Ý, bị mù hoàn toàn trong một tai nạn xe lửa, bác sĩ chuyên khoa mắt tuyên bố: “Không thể chữa được”. Antonio 50 tuổi, cha của một gia đình tám người con, ông quyết tâm xin Chúa chữa. Trong ba năm, mỗi ngày ông dự lễ và rước  lễ, một ngày kia sau rước lễ, ông cảm thấy vui trong lòng. Khi ông đứng dậy ra về, mắt ông được khỏi. Nước mắt trào dâng, Antonio chạy lại bàn thờ quì gối tạ ơn. Ai đo được sức mạnh của lời cầu nguyện không ngừng.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng: chúng ta phải cầu nguyện luôn và “đừng nản lòng”. Người nói đến một ông quan tòa không sợ Thiên Chúa mà cũng chẳng kính nể người ta. Một bà góa đến tìm công lý, lần này qua lần khác, vị quan tòa từ chối bà hết lần này tới lần khác bà goá trở lại. Sau cùng, để khỏi bị quấy rầy, vị quan tòa nghe bà minh oan cho Bà. Còn hơn thế nữa Thiên Chúa sẽ lắng nghe chúng ta nếu chúng ta kiên trì kêu xin.
Có sự khác biệt giữa vị quan tòa bất lương trong dụ ngôn với cha trên trời đồng lòng yêu thương: vị quan tòa không muốn bị quấy rầy, cuối cùng ông phải thuận theo lời yêu cầu để người goá phụ không tới nữa. Trái lại cha trên trời của chúng ta khao khát và sẵn lòng lắng nghe người Chúa tuyển chọn mặc dù Người thường để họ tiếp tục kêu cầu trong thời gian lâu dài như ông Antonio trong câu  chuyện.
Kiên trì là điều cốt yếu của lời cầu nguyện, đừng bỏ cuộc, tiếp tục cầu xin, ngay cả khi ít hoặc không hy vọng. Đó là bài học quí giá Chúa Giêsu dạy chúng ta hôm nay.
Nhiều người trong chúng ta giống như một người kia, anh đến với vị linh mục với một nỗi khó khăn, vị linh mục hỏi anh đã cầu nguyện chưa, anh trả lời: “Thưa cha, chắc chắn có” vị linh mục hỏi tiếp: “Mấy lần ?” Anh công nhân “Mới chỉ có một lần” Vị linh mục giảng giải: chúng ta phải tiếp tục cầu nguyện, “cầu nguyện luôn mãi đừng nản lòng” như Chúa Giêsu dạy chúng ta hôm nay.
Đó là một lý do hối thúc người công giáo cầu nguyện hàng ngày, ít nhất là buổi sáng và ban chiều và trong mỗi bữa ăn. Đó là lý do chúng ta đọc kinh Kính Mừng rất thường – chúng ta muốn Đức Mẹ cầu nguyện cho chúng ta lúc này và trong giờ hấp hối. Đó là lý do chúng ta đọc kinh Lạy Cha mỗi ngày – “Hôm nay” “lương thực hàng ngày”. Đó là lý do chúng ta, người công giáo đi dự thánh  lễ thường xuyên – có người mỗi ngày, và tất cả chúng ta ít nhất mỗi ngày Chúa nhật. Khi không nhận lời cầu xin của chúng lần đầu tiên, Thiên Chúa lôi kéo chúng ta đến gần Người hơn như người cha khoan dãn với đứa con của mình.
Và xin đừng quên, cầu xin chỉ là một cách cầu nguyện, chúng ta phải tán tụng, cảm tạ và tạ lỗi cùng Chúa. Nhớ luôn dâng lên Chúa tất cả bốn cách cầu nguyện và Thiên Chúa sẽ đáp lời khi tới thời gian Người đã định như Người đã nhận lời của Antonio trong câu chuyện hôm nay.    
Xin Chúa chúc lành  bạn. Amen.

 

TN29-C44. Cầu Nguyện

CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN - NĂM C

Bài đọc 1: Xh 17, 8-13 Bài đọc 2: 2 Tm 3, 14-4, 2 Tin mừng: Lc 18, 1-8

Bài 1: Cầu nguyện

 

Hai chữ “Cầu nguyện” có lẽ quá quen thuộc, đối với nhiều người trong chúng ta, bởi lẽ, hàng: TN29-C44

Hai chữ “Cầu nguyện” có lẽ quá quen thuộc, đối với nhiều người trong chúng ta, bởi lẽ, hàng ngày, chúng ta vẫn đọc kinh, tham dự các giờ phụng vụ và coi đó là cầu nguyện. Vâng, chúng ta có thể cầu nguyện bằng việc đọc kinh, lần chuỗi, hay tham dự các giờ phụng vụ, nhưng chỉ nguyên việc thực hiện các giờ đạo đức, và phụng vụ ấy có khi chưa phải là việc cầu nguyện. Ngoài ra, trong thực tế, có nhiều người trong chúng ta, sau khi tham dự Thánh lễ trở về nhà liền vội vàng đi xem bói, xem thầy … khi gặp khó khăn, trắc trở trong cuộc sống. Điều đó cũng chứng tỏ việc tham dự Thánh lễ của chúng ta chưa phải là cầu nguyện. Và nếu có chăng nữa, thì lời cầu nguyện đó chưa phải là một lời cầu nguyện của một lòng tin thật sự.Do đó, trong giờ này, chúng ta cùng tìm hiểu cách thức cầu nguyện như thế nào cho đúng với ý của Thiên Chúa.

1. Cầu nguyện với lòng tin:

Có nhiều người vẫn nói: “Tôi muốn cầu nguyện, nhưng không biết phải cầu nguyện như thế nào”. Có nhiều cách để nói về cầu nguyện, nhưng tôi thiết nghĩ, cách đơn giản: “Cầu nguyện chính là một cuộc nói chuyện với Thiên Chúa”. Trong cuộc nói chuyện này, chúng ta nói với Thiên Chúa và lắng nghe Ngài nói với chúng ta. Chúng ta trình bày với Thiên Chúa về tất cả những nỗi ưu tư, lo lắng, những băn khoăn, trăn trở của chúng ta về gia đình, về cuộc sống, về tương lai…. Và lắng nghe Thiên Chúa chỉ cho chúng ta cách thức giải quyết mọi vấn đề.Tuy nhiên, để cuộc chuyện trò này thực sự là một cuộc trò chuyện tâm giao, thì điều quan trọng đầu tiên là cần có một sự tin tưởng lẫn nhau.

Do đó, một lời cầu nguyện chỉ thực sự chân thành, và đem lại hiệu quả tích cực, nếu được cầu nguyện với một lòng tin mạnh mẽ. Và khi đó, cho dù lòng tin có nhỏ bé như hạt cải, thì cũng đủ để chuyển dời cả núi non (x. Lc 17, 8). Đó cũng chính là kinh nghiệm của dân Do Thái mà họ vẫn ghi nhớ muôn đời, như chúng ta vừa nghe trong bài đọc một. Khi ấy, trong cuộc hành trình về Đất Hứa, họ phải lang thang trong sa mạc, phải đối diện với biết bao hiểm nguy tứ phía. Cụ thể, hôm nay, họ đang bị người Amalek tấn công, nguy cơ bị diệt vong đang cận kề. Tuy nhiên, trong niềm tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng đã ra tay oai hùng xẻ đôi lòng biển để giải thoát họ khỏi Ai Cập, Môisen đã nói với Giosuê: “Ngươi hãy tuyển lựa các chiến sĩ ra chiến đấu với người Amalek, ngày mai tôi sẽ cầm gậy Thiên Chúa trong tay đứng trên đỉnh núi”. Và trong cuộc chiến đó “Khi ông Môisen giơ tay lên, thì dân Israel thắng trận, còn khi ông hạ tay xuống một chút, thì người Amalek thắng thế”.Như thế, cuộc chiến thắng của dân Do Thái trước dân Amalek không phải do sức mạnh của họ, nhưng do lời cầu nguyện đầy lòng tin của Môisen. Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể thật lòng tin tưởng vào một người nào khi đã biết rõ về người đó.

Tương tự như thế, lòng tin của chúng ta vào Thiên Chúa cũng chỉ có, nếu chúng ta biết rõ về Ngài. Chính vì thế, thánh Phaolô khuyên bảo chúng ta: “Con thân mến, con hãy bền vững trong các điều con đã học hỏi và xác tín, vì con biết con đã học cùng ai, vì từ bé, con đã học biết Sách Thánh, và chính Sách Thánh dạy con sự khôn ngoan để con được cứu rỗi nhờ tin vào Đức Giêsu Kitô”. Chúng ta chỉ có thể biết về Thiên Chúa, biết về Đức Giêsu Kitô nhờ việc siêng năng đọc, học hỏi và suy niệm Kinh Thánh, như lời thánh Giêrônimô: “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô”. Mặt khác, một trong những dấu chỉ rõ rệt nhất của lòng tin là sự kiên trì. Và cũng chỉ có những ai thực sự kiên trì mới chứng tỏ được lòng tin của mình.

2. Cầu nguyện luôn:Trở lại với bài Tin mừng: “Khi ấy Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ một dụ ngôn, dạy các ông phải cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng”. Dụ ngôn về người Thẩm phán bạo ngược. Câu chuyện đưa ra cho chúng ta hai mẫu người trái ngược nhau. Trước hết là vị Thẩm phán. Ông là một người có quyền và chẳng kiêng dè bất cứ điều gì, nghĩa là ông chỉ làm theo những gì mình thích: “Ông không kính sợ Thiên Chúa cũng không kiêng nể người ta”. Hình ảnh thứ hai là người đàn bà goá đến xin ông ta xử kiện. Chúng ta cần biết, đối với nền văn hoá Do Thái lúc bấy giờ, một người đàn bà goá chẳng có giá trị gì trước mặt mọi người. Lời chứng của bà cũng chẳng có giá trị gì trước toà án. Tắt một lời, người đàn bà goá này chỉ là một số không trước mắt mọi người trong xã hội lúc bấy giờ. Chính vì thế, khi bà đến với viên Thẩm phán để xin minh oan, viên Thẩm phán đã chẳng thèm đoái hoài. Tin mừng ghi lại: “trong một thời gian lâu dài, ông không chịu”.

Ý thức rõ sự nhỏ bé của mình, người đàn bà goá này đã áp dụng một phương pháp tuy cũ nhưng rất hiệu quả, mà chúng ta vẫn thường gọi là: “nhất lý, nhì lì”. Bà ta cứ ngày đêm đến kêu nài với viên Thẩm phán, và tôi có thể hình dung ra được là: bà ta sẵn sàng kéo áo để kêu nài với viên Thẩm phán mỗi khi ông ra khỏi nhà.Thế là cuối cùng viên Thẩm phán “trên chẳng sợ trời, dưới chẳng sợ người” đã bị khuất phục bởi sự bền bĩ của bà goá. Ông ta tự nhủ: “Mặc dầu ta không kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng kính nể người ta, nhưng vì bà goá này cứ quấy rầy ta mãi, nên ta sẽ xử cho bà ấy, kẻo bà ấy đến mãi làm ta nhức óc”. Vị Thẩm phán đã phải xử cho bà goá, đơn giản chỉ vì ông ta không chịu nổi sự kiên trì của người đàn bà goá này. Kết thúc câu chuyện, Đức Giêsu đưa ra một kết luận thật rõ ràng: “Các con hãy nghe vị thẩm phán bất lương nói đó.

Vậy Thiên Chúa lại không minh xử cho những kẻ Người tuyển chọn hằng kêu cứu với Người đêm ngày mà khoan giãn với họ mãi sao?” Thầy bảo các con: “Thiên Chúa sẽ kíp giải oan cho họ”.Vâng, kết luận của Đức Giêsu thật rõ ràng: nếu như một vị thẩm phán bất lương còn phải thua trước sự kiên trì của một bà goá “vô danh”, thì Thiên Chúa là Cha nhân ái lẽ nào lại chẳng mau chóng đáp lời cầu xin của chúng ta, là những người con đã được cứu chuộc bằng chính Máu Thánh của Con Ngài sao? Cùng chung một cảm nghiệm đó, tác giả Thánh vịnh cất tiếng ca khen Thiên Chúa: “Ơn phù trợ chúng tôi ở nơi Danh Chúa, là Đấng tạo thành trời đất. Người chẳng để cho chân ngươi xiêu té, Đấng bảo vệ ngươi, Người chẳng có ngủ say”.Chúa chẳng ngủ say, nhưng hằng hiện diện bên ta, lắng nghe và sẵn sàng ra tay nâng đỡ mỗi người chúng ta, nếu chúng ta muốn. Hay nói một cách khác, chúng ta chỉ có thể đón nhận được ân huệ và sự nâng đỡ của Thiên Chúa nếu mỗi người chúng ta có lòng tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa. Do đó, kết thúc dụ ngôn, Đức Giêsu đã phải thốt lên: “Nhưng khi Con Người đến liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất này nữa chăng?”. Như thế, giữa lòng tin và sự kiên trì có một tác động hỗ tương. Lòng tin giúp chúng ta cầu nguyện chân thành hơn và chính nhờ cầu nguyện, lòng tin của chúng ta ngày càng kiên vững hơn.

Giờ đây, để đáp lại lời mời gọi hãy cầu nguyện luôn của Đức Giêsu trong bài Tin mừng, chúng ta hãy ý thức hơn trong các giờ kinh tối trong gia đình, đặc biệt là việc lần “chuỗi Mân Côi sống” của Giáo xứ trong tháng Mân Côi này. Và mỗi buổi sáng, khi vừa thức dậy, chúng ta hãy dâng tất cả mọi tư tưởng, lời nói, việc làm trong ngày cho Chúa. Như thế, cả ngày sống của chúng ta, từ sáng sớm cho đến đêm về, tất cả sẽ trở thành một lời cầu nguyện không ngừng dâng lên Chúa. Amen.
Lm Trần Thanh Sơn


 

TN29-C45. Cầu nguyện- ngôn ngữ của đức tin và lòng mến

Chúa nhật 29 thường niên C Lc 18, 1-8
 

Chúa Giêsu cùng với các môn đệ tiếp tục tiến về Giêrusalem để chấp nhận cuộc thương khó mà: TN29-C45

Chúa Giêsu cùng với các môn đệ tiếp tục tiến về Giêrusalem để chấp nhận cuộc thương khó mà thế gian dành cho Người. Trọn cuộc sống, Chúa Giêsu không ngừng quy hướng về Chúa Cha để tâm sự, để cầu nguyện, đặc biệt trong những lúc gặp gian nan khốn khó. Chính vì thế, bằng dụ ngôn “quan toà bất chính và bà goá quấy rầy”, Chúa Giêsu mong muốn môn đệ của Người hãy liên lỉ cầu nguyện và đừng bao giờ nản lòng.

Viên quan toà bất chính trong Tin mừng, cách nào đó, cũng có thể là “ông tổ” của những người có chức có quyền nhưng bạo ngược, hống hách, xem trời bằng vung,… đầy dẫy trong xã hội ngày nay. Chỉ một câu duy nhất, Chúa Giêsu đã thâu tóm toàn bộ tính cách hống hách và bạo ngược của viên quan này. Ông ta không chỉ phách lối khinh khi, kênh kiệu với người đời, ông còn lên mặt cả với Thiên Chúa, chẳng mảy may kính sợ Người.

Là quan toà, lẽ ra ông phải ra sức bênh vực kẻ nghèo khổ đặc biệt là những bà goá- được Kinh thánh xem như là mẫu người cần được che chở, thế mà ông chẳng đếm xỉa gì những lời van nài của bà. Thế nhưng trước sự kiên trì “dai như tổ đĩa” của bà, ông đành phải chấp nhận xử quách cho xong chuyện để khỏi bị bà quấy rầy làm ông nhức đầu nhức óc. Viên quan toà cuối cùng cũng gật đầu xử cho bà goá, không phải vì ông làm theo bổn phận hay trách nhiệm, cũng không phải vì lương tâm mách bảo cho ông, nhưng chỉ vì tính ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình mà thôi.

Thông qua dụ ngôn, Chúa Giêsu không có ý đánh đồng viên quan toà bất chính với Thiên Chúa, nhưng điều Người muốn nói ở đây là : nếu như viên quan toà kia chẳng hề kính sợ Thiên Chúa; hống hách, ngang ngược, khinh khi với người đời, vậy mà cuối cùng đành chấp nhận chủ toạ phiên toà để bênh vực quyền lợi chính đáng của bà goá, thì huống nữa là Thiên Chúa. Chẳng lẽ Thiên Chúa vốn là tình yêu nhân hậu ngay với kẻ vô ơn bạc nghĩa, tội lỗi lại thua lòng ích kỷ của viên quan toà bất chính, mà không nhận lời con cái nài xin sao?

Không phải ngẫu nhiên Chúa Giêsu trình bày với các môn đệ giáo huấn về việc cầu nguyện. Chúng ta không quên bối cảnh của lời rao giảng này cũng như sứ mạng của Chúa Giêsu được đặt trong bối cảnh hành trình lên Giêrusalem để chịu thử thách và thương khó. Chính vì thế, Chúa Giêsu muốn mời gọi các môn đệ cũng như tất cả những ai được kêu mời dấn thân trong sự thử thách ấy hãy không ngừng cầu nguyện để đứng vững và vượt qua thử thách vì chắc chắn Thiên Chúa sẽ không từ bỏ họ, Người sẽ ra tay can thiệp cứu giúp họ. Vấn đề ở chỗ, những người được kêu mời bước theo Chúa có bền đỗ trong cầu nguyện, có kiên trì trong thử thách gian nan và có vững mạnh trong đức tin hay không.

Thế nhưng, cầu nguyện như thế nào vẫn luôn là câu hỏi lớn không phải ai cũng có thể thông hiểu cách thấu đáo. Vì như thánh Phaolô nói, tự bản chất, con người chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, cần phải nhờ đến Chúa Thánh thần, chúng ta mới biết cầu nguyện theo đúng ý Thiên Chúa (x. Rm 8, 26-27). Cầu nguyện, đó là ngôn ngữ của đức tin, nên không dễ dàng chút nào. Tuy nhiên, cũng không phải là quá khó để có thể hiểu như thế nào là cầu nguyện.

Một cách bình dân, chúng ta biết rằng vì Thiên Chúa là Đấng chí thánh, chí tôn, nên lời cầu nguyện của chúng ta làm sao đó để có thể trở thành lời ngợi ca, tán tụng danh Người. Đây là lối cầu nguyện thường thấy trong những hình thức cử hành phụng vụ thánh như thánh lễ, kinh nguyện.

Chúng ta còn biết rằng Thiên Chúa không phải là chủ nhân ông uy nghiêm, luôn xa cách với đời sống con người, mà là Đấng luôn xem con người như những “bạn hữu” thân thương. Vì thế chúng ta hãy biến những giờ cầu nguyện trở thành những giây phút trò chuyện cách thân tình như những người bạn với Chúa. Đây cũng chính là cách Chúa Giêsu vẫn hay dùng để trò chuyện với Cha của Người.

Chúng ta còn biết đến Thiên Chúa là Đấng rất mực yêu thương và nhân lành nên lời cầu nguyện của chúng ta đôi khi trở thành lời van nài khẩn xin. Tuy nhiên cầu xin không phải là bắt Chúa làm theo ý mình, hay có tính cách “bánh ít đi bánh quy lại” như nhiều người lầm nghĩ. Lời cầu xin đích thực cần phải hiểu rằng hiệu qủa của lời cầu nguyện có thế nào đi nữa cũng hãy như Chúa Giêsu “xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha” mà thôi.

Ước gì Lời Chúa hôm nay giúp mỗi người chúng ta duyệt xét lại đời sống cầu nguyện của mình để không ngừng canh tân, đồng thời xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn để chúng ta bền đỗ trong lời cầu nguyện hầu cho danh Chúa được tôn vinh đến muôn đời.
Lm Jos.Phạm Ngọc Ngôn, Csjb


 

TN29-C46. Xin Hãy Minh Oan Cho Tôi

Chúa nhựt 29 Thường niên C

Lc 18: 1-8 10-17-04

Xin hãy minh oan cho tôi! Xin hãy minh oan cho tôi!

 

Tiếng kêu của bà góa trong bài Tin mừng hôm nay cũng là tiếng kêu nảo nuột của Abêlê trước lưỡi: TN29-C46

Tiếng kêu của bà góa trong bài Tin mừng hôm nay cũng là tiếng kêu nảo nuột của Abêlê trước lưỡi gươm oan nghiệt của người anh mình là Cain.(Gn 4:2) Đó cũng là tiếng gào thét của hơn 300 em học sinh tại Beslan, Nga sô trong ngày tựu trường đầu niên khóa 2004- 2005. Đó cũng là tiếng kêu thất thanh của những con tin bị chặt đầu tại Iraq. Đó cũng là tiếng kêu chưa thành tiếng của những thai nhi chưa kịp mơ mắt chào đời tại các trung tâm phá thai... vân vân, và vân vân.. .

Tục ngữ ta có câu:

Quít làm cam chịu.

Kẻ gian không bắt bắt nhầm thầy tu.

Hoặc ví von hơn:

Gió đưa cây cải về trời.

Rau răm ơ lại chịu lời đắng caỵ

(Ca dao). Oan! Oan lắm!

Ông thần công lý hình như đi đâu vắng nhà, dân chúng kêu mãi kêu hoài mà chẳng thấy ông đâu. Ông quan toà trong dụ ngôn hôm nay là hình ảnh nền công lý của cái xã hội đầy phức tạp nầy. Tệ hơn nữa, người ta còn nhân danh pháp luật để áp đặt lên đầu trên cổ dân nghèo những nổi thống khổ, bất công với mục đích cũng cố địa vị, phe đảng của mình. Thậm chí họ còn mượn danh pháp luật để thỏa mãn đam mê nhục dục đê hèn như trường hợp hai vị kỳ mục thẩm phán trong sách Daniel, đã nhẩn tâm hãm hại bà Susanna, một người phụ nữ nhan sắc và công chính vì bà không chịu để rơi vào tay của hai ông. (Dan 3: 1-61). Tổng thư ký Liên hiệp quốc, Koffi Annan, trong phiên họp đại hội đồng LHQ ngày 21-09-04 đã cảnh cáo: Luật pháp đang bị lâm nguy trên khắp thế giới.

Thánh sử Luca viết quyển PÂ thứ ba nầy giữa lúc hội thánh Chúa đang trong cơn bách hại tàn khốc và bài Tin mừng hôm nay tiếp nối đoạn 17: 20-37 về ngày ngày tận thế. PÂ thánh Luca là PÂ của cầu nguyện.

Trong đêm đen tối của cuộc đời, trong cơn thử thách cam go, bị bách hại, bị hàm oan, cầu nguyện là linh dược hữu hiệu nhất.

Theo dõi phụng vụ, Chúa nhựt 28 tuần qua, PÂ nói về 10 người phung được chữa lành, có một người trơ lại tạ ơn Chúa.(Lc 17: 11-19). Chúa nhựt hôm nay nói về bà goá xin được minh oan và Chúa nhựt tuần sau nói về người Pharisiêu và người Publicanô đem nhau lên đền thờ cầu nguyện.(Lc 18: 9-14).

Cầu nguyện tạ ơn của người phung xứ Samari được Chúa khen là tốt lành. Cầu nguyện để xin tha tội của người Publicanô khiêm nhường đã được Chúa nhậm lời, nhưng cầu nguyện của bà góa bị hàm oan hôm nay làm chạnh lòng từ bi và thương xót Chúa hơn hết.

Noi gương Đức Giêsu, Người cũng đã bị hàm oan, trong vườn Giếtsêmani, Người đã cầu nguyện với mồ hôi và máu từng giọt nhỏ xuống đất.(Lc 22: 44).

Cầu nguyện trong lúc bị vu oan giáng họa, cầu nguyện khi mà cái chết chỉ còn trong gang tấc, cầu nguyện trong lúc tình thế thật khẩn trương.. . nơ nào mà Chúa lại làm ngơ, không nhậm lời, không minh oan cho? Vị quan án bất lương trên kia còn biết nghe lời bà góa khiếu nại huống hồ là TC, một người cha vô cùng từ ái, hằng xót thương con cái mình.

Nhưng, mơ đầu dụ ngôn, Đức Giêsu đã dạy đừng ngã lòng hay nói cách khác là hãy bền chí và chấp nhận.

Bền chí ! Sống trong thời đại vi tính nầy, cái gì cũng thật nhanh thật lẹ, tốc chiến tốc thắng, nên rất nhiều người đã không đủ kiên nhẩn chờ giờ Chúa đến, chờ giờ Chúa minh oan cho. Nhiều người đã bỏ cuộc, tự tìm lấy cho mình con đường tắt, đi vào ngỏ cụt, để tự giai thoát nổi oan của mình qua dòng nước biếc, qua lọ thuốc an thần, bằng quyên sinh, tự tử.. . mất đức tin !

Xin hãy nhớ gương kiên nhẩn của thánh nữ Monica, bà đã cầu nguyện cho cho đứa con hư hỏng của mình là Augustinô trong suốt 17 năm trời mới thấy kết quả.

Xin Cha cất khỏi chén đắng nầy, nhưng vâng theo ý Cha.( Lc 22: 42). Đó là chấp nhận. Ý Cha luôn luôn là tốt đẹp, ý Cha luôn luôn là thiện hảo hơn ý của con, của chúng ta.Kết thúc dụ ngôn, Đức Giêsu đã nêu lên câu hỏi mà chưa có trả lời: Khi Con Người trơ lại, liệu còn thấy đức tin trên mặt đất nữa không? Trước giờ Con Người trơ lại, theo thánh sử Mat 24: 12, quyền lực satan dường như thắng thế. Chúng ta, trên con đường theo Chúa, làm môn đệ của Chúa, cũng phải trải qua bao cơn thử thách, có khi bị bách hại, bị hàm oan, bị vu khống với muôn vàn điều xấu xa ghê gớm khác. Liệu đức tin của chúng ta có còn đứng vững không? Liệu đức tin của chúng ta có thể truyền lại cho con cháu mình không? Liệu đức tin của chúng ta có thể là ánh sáng soi đường cho người chung quanh, cho thế giới không?

Hôm nay là ngày Khánh nhật truyền giáo chúng ta đã làm gì trong việc mơ mang Nước Chúa?

Tin vào lòng từ bi thương xót vô biên của TC và phó thác mọi sự ơ trong tay Người, chúng ta hãy cầu nguyện cho các nạn nhân của sự khủng bố, của sự kỳ thị, của sự bất công, của hận thù và cầu cho những ai đang bị hàm oan mà chưa được giải oan.

Xin cầu nguyện cho các nhà truyền giáo và tất cả những ai đang ngày đêm âm thầm làm chứng tá đức tin dưới áp lực của khủng, bố kỳ thị và hận thù.Trong tháng Mân côi, hướng lòng về Đức Maria, xin Mẹ bàu chữa cứu giúp chúng con trong cơn nguy khốn và xin Mẹ giúp chúng con hằng cầu nguyện luôn, đừng nản lòng.

A men. /.
Pt Joseph Huynh Van Ngoc


 

TN29-C47. CHÚA NHẬT 29 QUANH NĂM

(Lu-ca 18: 1-8)
 

 Đề tài về cầu nguyện đã được thánh sử Lu-ca nói đến trong chương 11 (bài Tin Mừng Chúa: TN29-C47

          Đề tài về cầu nguyện đã được thánh sử Lu-ca nói đến trong chương 11 (bài Tin Mừng Chúa Nhật 17 quanh năm) giờ đây được lập lại.  Có lẽ mạch văn giúp ta hiểu lý do tại sao đề tài này được lập lại ở đây.  Ở cuối chương 17, Chúa Giê-su nói về Ngày của Con Người sẽ tới bất ngờ, cho nên cần phải tỉnh thức bằng cách kiên trì cầu nguyện, luôn khiêm nhường và sống từ bỏ mọi sự.  Những điều này thường được lập đi lập lại qua những lời giảng dạy trên đường Chúa đi lên Giê-ru-sa-lem.  Mỗi chặng đường làm môn đệ đều có những khó khăn riêng của nó.  Nhưng bất cứ ở đâu và lúc nào, cầu nguyện cũng là khí giới bảo đảm giúp ta thắng vượt những trở ngại.  Trong dụ ngôn Chúa kể hôm nay, quan tòa bất chính hành động vì ích kỷ, còn bà góa thì được việc vì biết kiên trì.  Nhưng tiếp theo đó, Chúa Giê-su đã khéo léo áp dụng cho cả Thiên Chúa lẫn chúng ta:  Người đề cao mối quan tâm của Thiên Chúa dành cho ta là môn đệ Người, và Người nêu lên vấn đề liệu lòng tin của ta có kiên trì đến cùng hay không.
 a)  Thiên Chúa hằng bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn
          Đây là một chân lý nền tảng giúp ta trung thành với việc làm môn đệ Chúa.  Từ hình ảnh một ông quan tòa bất chính hành động chỉ vì ích kỷ và không muốn phiền hà cho mình nên mới “bênh vực” cho bà góa bị kiện oan, Chúa Giê-su dẫn ta đến hình ảnh hoàn toàn trái ngược, đó là Thiên Chúa, Đấng công chính, luôn bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn.  Nói khác đi, lý luận của Chúa Giê-su như sau:  nếu một người bất chính như quan tòa kia mà còn bênh vực cho bà góa đến quấy rầy, thì chẳng lẽ Đấng công chính là Thiên Chúa lại chẳng bênh vực con cái Người hay sao?
          Ta là những kẻ Thiên Chúa đã tuyển chọn, như thánh Tông đồ Phao-lô đã khẳng định:  “Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người.  Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giê-su Ki-tô” (Ep 1:4-5).  Chính Chúa Giê-su cũng tiếp tục việc tuyển chọn này.  Người bảo các môn đệ:  “Chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái và hoa trái của anh em tồn tại” (Ga 15:16).
          Cũng thánh Phao-lô cho ta biết lý do tại sao Thiên Chúa hằng bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngài viết:  “Nếu ta không trung tín, Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào chối bỏ chính mình” (2 Tm 2:13).  Khi được Thiên Chúa tuyển chọn, ta trở thành sở hữu của Người.  Ai mà chẳng muốn bênh vực những gì sở hữu của mình.  Tất cả lịch sử Ít-ra-en, dân được Chúa tuyển chọn, đã nói lên sự bênh vực đó.  Trong hành trình đào tạo môn đệ, Chúa Giê-su cũng đã nhiều lần bênh vực môn đệ Người trước những phê bình và lên án của đám Pha-ri-sêu (Lc 19:39-40; Mt 12:1-8).  Ngay trước giờ bị bắt, Người còn ra lệnh cho kẻ thù:  “Nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi” (Ga 18:8).
 b)  “Mặc dù Người có trì hoãn”:  có phải Chúa không tích cực bênh vực ta hay sao?
          Giống như bà góa bị hàm oan nhiều lần đến quấy rầy ông quan tòa, ta cũng “ngày đêm hằng kêu cứu với Chúa”.  Đến kêu cầu Chúa, ta chỉ mong Người mau mắn nhậm lời và cho ta được như ý.  Nhưng nhiều lần Chúa có vẻ như không đáp lời ta ngay.  Người trì hoãn.  Người cứ tiếp tục để ta phải khốn khổ.  Người làm ngơ để mặc cho kẻ thù làm cho ta phải thất điên bát đảo.  Lúc ấy ta có cảm tưởng như Người bỏ rơi ta.  Chúa Giê-su trên thập giá cũng mang cùng tâm trạng như thế với ta, đến nỗi Người phải thốt lên:  “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27:46).  Nhưng Thiên Chúa không bỏ rơi Đức Giê-su.  Người cũng không bỏ rơi tất cả những ai thuộc về Đức Giê-su, vì Người đã tuyển chọn ta trong Đức Giê-su.  Thiên Chúa có lý do trì hoãn mà ta không hiểu được, ta chỉ biết rằng sự trì hoãn ấy có lợi cho ta.  Hơn nữa, trì hoãn là về phía ta vì không theo thời biểu của ta, còn đối với Chúa, trì hoãn là thời gian Chúa chờ đợi cho tới đúng lúc ra tay can thiệp.  Chúa giống như bà mẹ tập cho con bước đi, đợi cho nó sắp té xuống mới đưa tay ra nắm lấy nó.  Nếu không “trì hoãn” như vậy, đứa bé sẽ chẳng bao giờ biết đi.  Như thế, Thiên Chúa trì hoãn không có nghĩa là Người bỏ rơi, trái lại Người còn chú ý đến ta hơn lúc nào hết.
 c)  “Nhưng khi Con Người đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”
          Dường như Chúa Giê-su muốn nói lên tâm sự của Thiên Chúa:  Người lo lắng cho lòng tin của ta.  Mặc dù Thiên Chúa trung thành “bênh vực” ta, nhưng liệu ta có biết tin vào lòng trung thành của Người không.  Lòng tin là sự đáp lại.  Ta thấy Chúa quyền năng nên ta phải sẵn sàng phó thác.  Ta thấy Chúa hết mực yêu thương ta nên ta đừng sợ hãi gì cả.  Chúa Giê-su tỏ ra cho ta biết quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa.  Người mong đợi ta khi đã nhận biết như vậy thì hãy mau mắn đáp lại, và Người mong đợi trong nỗi lo lắng của một bà mẹ.
          Tuy nhiên đây cũng là một thách đố, một lời “nói khích” để ta cố gắng hơn mà tin tưởng vào Chúa.  Người khích động tâm lý của ta, tựa như bà mẹ giả vờ không nhìn nhận khả năng thực sự của con mình, cốt để nó chứng tỏ khả năng ấy hơn cả mức độ bình thường nữa!
Lòng tin là điều kiện cốt yếu để ta cầu nguyện.  Nếu hiểu lòng tin là sống mối tương quan giữa Chúa với ta, thì khi ta cầu nguyện chính là lúc ta để cho mối tương quan ấy “làm việc”, để ta càng ý thức hơn rằng Chúa hằng bênh vực ta vì ta thuộc về Người trong Đức Ki-tô.
 d)  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Lòng tin của tôi trong cuộc sống Ki-tô hữu đã được hiểu như thế nào?  Có phải chỉ căn cứ vào những gì tôi đã cầu được ước thấy, hay căn cứ vào việc tôi nhìn nhận lòng trung thành và yêu thương chăm sóc của Chúa?  Theo ý nghĩa cứu rỗi, tôi có hiểu lòng tin là sống như môn đệ Chúa Giê-su để cùng với Người trở về cùng Thiên Chúa không?
          Dạy tôi bằng dụ ngôn ông quan tòa bất chính và bà góa quấy rầy, Chúa Giê-su muốn tôi phải cầu nguyện luôn và không được nản chí.  Tôi đã “cầu nguyện luôn” như thế nào?  Có bao giờ tôi “nản chí” không?  Tại sao?
          Tôi đã có kinh nghiệm nào về việc “Thiên Chúa trì hoãn” không đáp lời cầu xin của tôi ngay?  Ích lợi của sự trì hoãn ấy như thế nào?
 Cầu nguyện:
          “Lạy Cha,
          con phó mặc con cho Cha,
          xin dùng con tùy sở thích Cha.
          Cha dùng con làm chi, con cũng xin cảm ơn.
          Con luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả.
          Miễn là ý Cha thực hiện nơi con
          và nơi mọi loài Cha tạo dựng,
          thì, lạy Cha, con không ước muốn chi khác nữa.
          Con trao linh hồn con về tay Cha.
          Con dâng linh hồn con cho Cha,
          lạy Chúa Trời của con,
          với tất cả tình yêu của lòng con.
          Vì con yêu mến Cha,
          vì lòng yêu mến
thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha,
thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha,
không so đo,
với một lòng tin cậy vô biên,
vì Cha là Cha của con.”
                   - Charles de Foucauld
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 45)
 Lm Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN29-C48. KIÊN TÂM CẦU NGUYỆN

CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN, C
 
  • Xh 17:8-13; 2 Tm 3:14 - 4:2; Lc 18:1-8
KIÊN TÂM CẦU NGUYỆN
 

Chắc nhiều người đã nghe câu chuyện ngụ ngôn của Easop về cuộc chạy đua giữa con thỏ và: TN29-C48

Chắc nhiều người đã nghe câu chuyện ngụ ngôn của Easop về cuộc chạy đua giữa con thỏ và con rùa. Hai con vật đồng ý làm một cuộc chạy đua. Vừa bắt đầu thì con thỏ liền phóng nước đại, phi một đường rất là ngoạn mục và lả lướt. Còn chú rùa thì cứ ì ạch, khệnh khạng từng bước giống như mấy bà bận áo đình chiến. Để tỏ ra khinh thị đối thủ hạng nhẹ, con thỏ quyết định dừng lại ngủ một giấc cho đỡ buồn. Khi vừa giật mình tỉnh dạy, thì con thỏ đã thấy con rùa gần tới đích, đuổi hết kịp. Ngụ ngôn của câu chuyện là kiên trì sẽ giúp người ta thành công.

Phụng vụ lời Chúa hôm nay dạy ta kiên nhẫn cầu nguyện. Cầu nguyện là việc cần thiết đối với người tín hữu vì mỗi người đều tuỳ thuộc vào Chúa từng hơi thở. Sự cần thiết của việc cầu nguyện bắt đầu từ thái độ khiêm tốn, chấp nhận cái thân phận yếu hèn và những thiếu thốn của mình. Bài trích sách Xuất hành hôm nay ghi lại lòng kiên nhẫn cầu nguyện của Môsê. Khi ông Môsê giang tay cầu nguyện thì dân Chúa thắng thế. Còn khi ông mệt mỏi xuôi tay xuống thì quân địch Amalếch thắng. Thánh Phaolô trong thư căn dặn Timôthê phải kiên nhẫn và trung tín cầu nguyện và suy gẫm lời Chúa trong thánh kinh. Rồi đến ngụ ngôn bà goá trong Phúc âm. Bà goá nài nẵng xin quan toà xét xử công lý cho bà. Để bà khỏi quấy rầy, ông quan toà, mặc dầu là người thiếu thanh liêm, cuối cùng cũng xét xử vụ kiện cho bà.

Cuộc trở lại của thánh Augustinô là một ví dụ điển hình nói lên lòng kiên nhẫn trong việc cầu nguyệen của bà mẹ là Monica. Sống trong thời hiện tại và hiện đại, người ta được dùng nhiều thứ dịch vụ nhanh chóng như trà, cà phê, đồ hộp chế sẵn, máy ảnh chụp lấy ngay, lò nướng microwave, gửi fax, gửi điện thư trong vòng giây lát. Tuy nhiên trong đời sống thiêng liêng, không gì có thể trở nên hoàn hảo nhanh chóng như vậy. Qua ngụ ngôn trong Phúc âm hôm nay, Chúa hứa đáp ứng lời cầu nguyện của ta, nhưng là theo đường lối của Chúa. Bao giờ Chúa mới ban ơn, ta không biết được, nhưng ta phải đặt tin tưởng phó thác vào Chúa.

Có đôi khi ta xin ơn này mà Chúa lại ban ơn khác khiến cho người ta không ý thức được là Chúa đã ban ơn. Ví dụ có người xin khỏi bệnh phần xác, mà Chúa lại ban ơn khỏi bệnh tinh thần: cho người đó vui lòng chấp nhận bản thân và hoàn cảnh. Có trường hợp Chúa không ban ơn liền, nhưng Chúa chữa trị dần dần. Ví dụ một người xin Chúa chữa bệnh đau lưng. Chúa soi sáng cho người đó biết đau lưng là tại đầu óc bị căng thẳng làm máu tụ vào một nơi, không được vận chuyển điều hoà. Và Chúa chữa họ bằng cách soi sáng cho họ đọc sách để hiểu tại sao bắp thịt ở lưng bị yếu đau, để rồi bày cách cho họ tập thể thao ở bắp thịt lưng, cho máu luân chuyển điều hoà. Như vậy bác sĩ cũng như thuốc men là những dụng cụ Chúa dùng để chữa trị bệnh tật loài người. Có trường hợp người ta tưởng Chúa không nghe lời cầu của họ, nhưng thực sự Chúa đã nghe lời mà người ta không hay biết. Ví dụ người ta xin cho một người chịu đau đớn về phần xác được khỏi bệnh, mà Chúa lại cất họ ra khỏi thế gian. Thực ra thì Chúa đã chấp nhận lời họ xin bằng cách chấm dứt đau khổ về phần xác cho người đau ốm.

Còn những lý do tại sao điều ta xin mà chưa được hay không được có thể là vì người ta không cộng tác với ơn Chúa, không biết tự giúp mình. Ví dụ một người xin Chúa giúp chống trả cám dỗ về đức khiết tịnh mà cứ xem phim ảnh trụy lạc thì làm sao tránh khỏi cám dỗ? Chưa được điều mình xin cũng có thể là vì người ta đặt chướng ngại vật, làm cản trở ơn Chúa. Chẳng hạn tính ích kỉ, lòng hận thù là những chướng ngại vật làm cản trở ơn Chúa. Còn không xin được điều mình xin có thể là tại người ta thiếu đức tin. Kiên tâm trong việc cầu nguyện là dấu chỉ người có đức tin. Đức tin là yếu tố quan trọng vì nếu người ta cầu nguyện mà không có đức tin, lời cầu nguyện khó lòng được chấp nhận. Có người cầu nguyện vài lần mà không được sinh ra chán nản, bỏ cuộc không cầu nguyện nữa. Đó chính là điều Chúa thắc mắc cuối Phúc âm hôm nay: Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng? (Lc 18:8).

NS Dân Chúa Mỹ Châu
Lm Trần Bình Trọng, USA


 

TN29-C49. THIÊN CHÚA MINH XÉT 

 [CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN NĂM C (21.10.2007)]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Trong bất kỳ tôn giáo nào thì cầu nguyện là một chiều kích, một thành phần quan trọng trong mối: TN29-C49

Trong bất kỳ tôn giáo nào thì cầu nguyện là một chiều kích, một thành phần quan trọng trong mối tương quan của người tín đồ với Đấng Chí Tôn, vì chỉ có tôn giáo mới giúp con người ý thức và cảm nghiệm sâu sắc thân phận mong manh, thiếu thốn của mình và chỉ dẫn cho con người biết cậy dựa vào Đấng Toàn Năng. Ki-tô giáo dậy cho tín hữu biết loài nguời có một Thiên Chúa là Cha, chẳng những yêu thương và quyền năng, lại còn “thích” dính vào cuộc sống con người để chăm lo, bênh đỡ, phù trợ. Các bài Sách Thánh Chúa Nhật 29 Thường Niên Năm C là các bài giáo huấn về hiệu quả và sức mạnh của lời cầu nguyện kiên trì, vì Thiên Chúa là Đấng Minh Xét.             

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1: Lời Chúa trong Sách Xuất Hành (17,8-13): 8 A-ma-lếch đến đánh Ít-ra-en tại Rơ-phi-đim. 9 Ông Mô-sê bảo ông Giô-suê: "Anh hãy chọn một số người, và ngày mai ra đánh A-ma-lếch. Còn tôi, tôi sẽ đứng trên đỉnh đồi, tay cầm cây gậy của Thiên Chúa." 10 Ông Giô-suê làm như ông Mô-sê đã bảo: ông đã giao chiến với A-ma-lếch, còn các ông Mô-sê, A-ha-ron và Khua thì lên đỉnh đồi. 11 Khi nào ông Mô-sê giơ tay lên, thì dân Ít-ra-en thắng thế; còn khi ông hạ tay xuống, thì A-ma-lếch thắng thế. 12 Nhưng ông Mô-sê mỏi tay, nên người ta lấy một hòn đá kê cho ông ngồi, còn ông A-ha-ron và ông Khua thì đỡ tay ông, mỗi người một bên.   
          13 Ông Giô-suê đã dùng lưỡi gươm đánh bại A-ma-lếch và dân của ông ta.
(2) Bài đọc 2: Lời Chúa trong thư 2 của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi ông Ti-mô-thê (2 Tm 3,14-4,2): 14 Phần anh, hãy giữ vững những gì anh đã học được và đã tin chắc. Anh biết anh đã học với những ai. 15 Và từ thời thơ ấu, anh đã biết Sách Thánh, sách có thể dạy anh nên người khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ lòng tin vào Đức Ki-tô Giê-su. 16 Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính. 17 Nhờ vậy, người của Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành.
            1 Trước mặt Thiên Chúa và Đức Ki-tô Giê-su, Đấng sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết, Đấng sẽ xuất hiện và nắm vương quyền, tôi tha thiết khuyên anh: 2 hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ.
(3) Bài Tin Mừng: Lời Chúa trong Sách Tin Mừng theo Thánh Lu-ca (Lc 18,1-8: 1 Đức Giê-su kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí. 2 Người nói: "Trong thành kia, có một ông quan toà. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. 3 Trong thành đó, cũng có một bà góa. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: "Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho. 4 Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng: "Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, 5 nhưng mụ góa này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc."
         6 Rồi Chúa nói: "Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó! 7 Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi? 8 Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng? "
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 ((Xh 17,8-13) là một câu truyện của Sách Xuất Hành miêu tả sự can thiệp hiệu quả của Thiên Chúa trong đời sống của dân Ít-ra-en trên đường về Miền Đất Hứa. Để vào được Miền Đất Hứa, Ít-ra-en “phải trầy da tróc vẩy” dẹp tan “thù trong địch ngoài”. Chỉ nhờ sức mạnh của Thiên Chúa mà ông Giô-suê mới đánh bại được vua A-ma-lếch và quân đội hùng mạnh của vua ấy. Nhưng ông Giô-suê và đạo quân Ít-ra-en chỉ nhận được sự trợ giúp của Thiên Chúa, khi Mô-sê giang tay cầu khẩn trên núi.
Qua đoạn của Sách Xuất Hành (17,8-13) này, chúng ta thấy Thiên Chúa can dự vào đời sống của dân Ít-ra-en một cách tỏ tường và hiệu quả. Có thể nói Thiên Chúa luôn ở bên cạnh dân Ít-ra-en, luôn đứng về phía họ và không để cho họ phải thất bại. Miễn là dân chúng và các nhà lãnh đạo trông cậy và cầu xin Người cứu giúp.
(2) Bài đọc 2 (2 Tm 3,14-4,2) là những lời khuyên dậy chí tình của một người cha/ thày/đàn anh đối với một người con/môn sinh/đàn em. Lời khuyên dạy đó là biết đón nhận và vững vàng trong niềm tin vào Thiên Chúa và Lời của Người để lao mình vào một chiến thiêng liêng là rao giảng lời Chúa, là lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; là biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ.
            Trong đoạn thư thứ hai gửi ông Ti-mô-thê (2,8-13) chúng ta được Thánh Phao-lô cho biết: Thiên Chúa là Đấng Linh Ứng Sách Thánh, Sách dậy sự khôn ngoan đích thực và vạch đường chỉ lối cho tín hữu đạt được ơn cứu độ.
(3) Bài Tin Mừng (Lc 18,1-8) là dụ ngôn Chúa Giê-su kể, để “dạy các môn đệ phải cầu nguyện luôn, không được nản chí.” Giáo huấn này không mâu thuẫn với điều Chúa Giê-su dậy ở chỗ khác là khi cầu nguyện, chúng ta không cần nhiều lời, không cần kể lể dài dòng như người ngoại đạo (Mt 6,7) vì Chúa không cần chúng ta nói ra để biết chúng ta cần gì. Điều quan trọng là chúng ta tin tưởng phó thác cho Thiên Chúa là Đấng sẽ minh xét một cách vô cùng chí công cho mọi yêu cầu chính đáng của chúng ta và kiên trì chờ đợi trong cầu nguyện. 
          Qua đoạn Phúc âm Lc 18,1-8 này Chúa Giê-su dậy cho chúng ta biết Thiên Chúa Cha là Đấng quan tâm đến mọi nhu cầu chính đáng của con cái Người. Người cũng quan tâm đến các nỗi oan khiên mà chúng ta phải chịu, nên các lời kêu cầu mà chúng ta dâng lên Người với lòng trông cậy thì sớm muộn gì Người cũng minh xét, cũng can thiệp để bênh vực chúng ta, đế đáp lại lòng tin tuởng, cậy trông của chúng ta. 
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?    
          Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay chính là câu dẫn vào dụ ngôn: “Đức Giê-su kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí.”
III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
          Lời Chúa hôm nay mời gọi tôi phải cầu nguyện luôn, không được nản chí, vì Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi sự, đồng thời Người là Đấng quyền năng và yêu thuơng. “Cầu nguyện luôn, không nản chí” có nghĩa là tuyệt đối tin tưởng cậy trông vào Chúa, chứ không dựa vào sức mình hoặc dựa vào việc lành phúc đức mà mình có được.
          Xét mình, tôi thấy hoặc tôi không cầu nguyện luôn, hoặc tôi dễ dàng nản chí. Nhiều khi tôi ước ao một điều gì đó, và tôi cầu xin Chúa ban ơn ấy cho tôi. Nhưng rất nhanh sau đó, tôi không tiếp tục cầu xin Chúa để được ơn ấy nữa. Nhiều lúc khác, tôi không đủ nhẫn nại và kiên trì để chờ đợi sự can thiệp của Thiên Chúa nên không được chứng nghiệm sự đáp lại của Thiên Chúa.
IV. CẦU NGUYỆN  (Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân trong Thánh Lễ)
4.1 Chúng ta hãy cầu nguyện cho Hội Thánh, nhất là cho các vị lãnh đạo là Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI, các Giám Mục, các Linh Mục, Phó Tế và Tu Sĩ Nam Nữ, để mọi thành phần của Hội Thánh biết cầu nguyện luôn, không nản chí, như Chúa Giê-su đã dậy trong dụ ngôn hôm nay.  
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.2 Chúng ta hãy cầu nguyện cho dân tộc và đất nước chúng ta biết nhìn nhận và tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng quyền năng và yêu thương, trong các chương trình làm cho dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. 
                 X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.3 Chúng ta hãy cầu nguyện cho giáo xứ (cộng đồng/cộng đoàn) chúng ta biết kiên trì trong các nỗ lực canh tân đổi mới mối tương quan với Thiên Chúa, với nhau và với người chung quanh. 
                 X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.4 Chúng ta hãy cầu nguyện cho chính chúng ta biết cầu nguyện không ngừng và kiên trì chờ đợi, trong tin cậy phó thác vào Thiên Chúa là Cha của chúng ta. 
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.5 Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người đau khổ, chán nản, thất vọng, cô đơn, bệnh tật, già yếu để họ kiên vững trong cậy trông, tin tưởng vào Chúa và được Chúa nâng đỡ, an ủi họ phần hồn phần xác!
                 X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
          Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 
         Seattle ngày 08 tháng 11 năm 2007

 

TN29-C50. Cầu nguyện – ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt.

Đây là một dụ ngôn dễ hiểu. Chúa Giê-su đưa ra hai hình ảnh trái ngược. Một bên là bà goá: TN29-C50 FB

Đây là một dụ ngôn dễ hiểu. Chúa Giêsu đưa ra hai tình ảnh trái ngược. Một bên là bà goá nghèo khổ, bé nhỏ, không có tiếng nói trong xã hội. Một bên là ông quan toà bất nhân, chẳng sợ trời mà cũng chẳng nể người. Thật là một hoàn cảnh tuyệt vọng cho người phụ nữ không có tiếng nói. Nhưng nhờ kiên trì, bà đã đạt được ý nguyện. Chúa kể dụ ngôn này với mục đích: dạy các môn đệ hãy noi gương bà goá, cầu nguyện luôn không được nản chí. Bà goá nêu gương cầu nguyện cho ta ở 4 thái độ sau:
1. Thái độ khiêm nhường. Người đàn bà này rất khiêm nhường vì bà tự biết mình bé nhỏ nghèo hèn. Bị người ta ức hiếp mà chẳng thể tự bảo vệ. Không có sức khoẻ để chống lại người ác. Không người bênh vực chống lại bất công. Không có cả tiền bạc để mua lấy sự bình an. Bà mất tất cả. Chẳng còn gì. Chẳng có gì. Nói gương bà, khi cầu nguyện ta phải rất khiêm nhường. Khiêm nhường vì biết mình nghèo nàn yếu đuối, biết mình chỉ là thân phận tro bụi. Khiêm nhường biết mình đã cùng đường, không còn nơi nương tựa. Khiêm nhường biết mình bất tài bất lực không thể thoát khỏi hoàn cảnh bi đát này.
2. Thái độ phó thác. Bà goá này không còn nơi nương tựa. Chỉ còn trông cậy vào ông quan toà như lối thoát duy nhất. Bà đặt niềm tin vào ông quan toà. Đó là niềm hy vọng duy nhất và cuối cùng. Bà bám víu lấy ông quan toà. Bà phó thác vận mạng trong tay ông quan toà. Sự sống của bà ở nơi ông quan toà. Cũng thế, khi ta cầu nguyện, hãy hoàn toàn phó thác vận mệnh cho Chúa. Chúa là lối thoát duy nhất. Chỉ có Chúa mới có thể cứu giúp ta. Hơn nữa Chúa là người Cha toàn năng và giầu lòng thương xót. Ta là đứa con bé nhỏ, yếu ớt. Hãy đặt vận mệnh ta trong tay Chúa. Hãy tin tưởng Chúa sẽ sắp xếp cho ta những gì tốt đẹp nhất.
3. Thái độ kiên trì. Chỉ còn một con đường duy nhất để sống, nên bà kiên trì theo đuổi cho đến cùng. Thất bại không làm bà nản lòng. Bị hất hủi không làm bà bỏ cuộc. Niềm tin của bà thật lớn lao. Sự kiên trì của bà thật bền bỉ. Bà đã đi đến cùng và bà đã thành công. Cũng thế, khi cầu nguyện ta hãy kiên trì. Kiên trì chứng tỏ sự phó thác trong tay Chúa. Kiên trì chứng tỏ ta hoàn toàn yếu hèn chỉ biết trông cậy vào Chúa. Kiên trì chứng tỏ lòng ta yêu mến Chúa tha thiết. Chắc chắn Chúa sẽ dủ lòng thương ta.
4. Thái độ khao khát. Bà khao khát vì đó là con đường sống duy nhất. Bà khao khát được sống. Bà không ngồi đó chờ đợi. Nhưng làm hết cách, hết sức mình để đạt được khao khát đó. Bà không chán nản an nghỉ. Nhưng bà làm việc liên lỉ cho ước nguyện của mình. Cũng thế, khi cầu nguyện ta phải có lòng khao khát cháy bỏng. Lòng khao khát đó được biểu lộ trong hành động. Ta không ngồi chờ, nhưng đứng lên, ra đi và bắt tay hành động. Không lùi bước trước khó khăn, nhưng tìm hết cách để đạt được ước nguyện. Lòng khao khát chứng tỏ ta tha thiết với lời cầu nguyện. Lòng khao khát cùng với nỗ lực phấn đấu sẽ được Chúa thương chấp nhận.
Chiêm ngắm tấm gương của bà goá, ta nhận thấy rất nhiều khi ta chưa cầu nguyện cho đủ. Chưa thực hiện sự khiêm nhường nhận biết sự thực về mình. Chưa hoàn toàn phó thác vận mệnh trong tay Chúa. Chưa biết kiên trì đủ. Và nhất là chưa tha thiết tới mức ta tích cực làm hết sức mình cho nguyện ước đó. Hôm nay với bài học của Chúa, ta sẽ biết cầu nguyện hơn. Khi biết cầu nguyện hơn, chắc chắn lời cầu nguyện của ta sẽ đẹp lòng Chúa và đem lại nhiều lợi ích cho linh hồn ta hơn.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1. Kể ra những thái độ của bà goá mà ta cần noi theo khi cầu nguyện.
2. Đối với bạn Chúa là gì? Có phải là nguồn hy vọng duy nhất? Hay chỉ là một chỗ cậy nhờ như những chỗ khác?
3. Bạn có phấn đấu làm việc cho ước nguyện của mình không? Hay bạn chỉ ngồi chờ Thiên Chúa ban tặng?
4. Trong 4 thái độ cần có, bạn thiếu thái độ nào nhất?
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây