Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 TN-C Bài 51-100

Thứ năm - 24/01/2019 09:44
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 TN-C Bài 51-100: Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 TN-C Bài 51-100: Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh
TN 3-C Phần II Bài 51-100: Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh
TN3-C51. Công bố năm hồng ân. 2
TN3-C52. Chú giải của William Barclay. 6
TN3-C53. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin. 10
TN3-C54. Chú giải của R. Gutzwiller 13
TN3-C55. Chú giải của Fiches Dominicales. 21
TN3-C56. ĐỨC GIE6SU TẠI NAZARET.. 26
TN3-C57. ĐỨC GIÊSU - TIN MỪNG CHO MỌI NGƯỜI 33
TN3-C58. CHÚA NHẬT III TN - C.. 35
TN3-C59. TIẾP NỐI SỨ MẠNG CỦA CHÚA GIÊSU.. 42
TN3-C60. SỨ VỤ ĐẦU TIÊN CỦA CHÚA GIÊSU.. 44
TN3-C61. HỒNG ÂN CỨU ĐỘ.. 45
TN3-C62. VINH QUY BÁI TỔ.. 48
TN3-C63.  SỰ GẦN GŨI HẰNG NGÀY CỦA THIÊN CHÚA.. 50
TN3-C64. LỜI TIÊN TRI ĐÃ ỨNG NGHIỆM... 53
TN3-C65. THIÊN CHÚA, ĐẤNG GIẢI THOÁT.. 61
TN3-C66. TRÁI TIM KHÔNG NGỦ YÊN.. 63
TN3-C67. HÔM NAY ĐÃ ỨNG NGHIỆM ... 68
TN3-C68. TÔN GIÁO CỦA CHÚA GIÊSU.. 72
TN3-C69. SỐNG CHO NGƯỜI NGHÈO.. 74
TN3-C70. LỜI QUYỀN NĂNG LÀ THẦN TRÍ VÀ SỰ SỐNG.. 76
TN3-C71. LỜI NGÀY ẤY, LỜI HÔM NAY.. 79
TN3-C72. ĐỨC GIÊSU RAO GIẢNG TIN MỪNG.. 82
TN3-C73. CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN.. 87
TN3-C74. SÖÙ MEÄNH ÑÖÔÏC SAI ÑI 89
TN3-C75. GIẢI THOÁT.. 91
TN3-C76. HÔM NAY.. 92
TN3-C77. ĐÓN NHẬN.. 94
TN3-C78. CHÚA NHẬT III TN C.. 96
TN3-C79. KINH THÁNH, MỘT BẢN TÌNH CA.. 97
TN3-C80. TRỌN VẸN.. 99
TN3-C81. NGƯỜI NGHÈO CỦA CHÚA.. 101
TN3-C82. CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN, 2001. 103
TN3-C83. GIỜ CỨU RỖI ĐÃ ĐẾN RỒI 104
TN3-C84. Chúa Nhật 3C Thường Niên. 105
TN3-C85. Chúa Nhật 3 Quanh Năm.. 108
TN3-C86. Hôm Nay Đã Hoàn Tất 113
TN3-C87.  Chúa Nhật 3 Thường niên, C.. 115
TN3-C88. CHÚA NHẬT 3 QUANH NĂM... 117
TN3-C89. HÃY LÀM SỐNG LẠI NIỀM TIN.. 120
TN3-C90.  CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN C.. 125
TN3-C91: GÓP PHẦN THI HÀNH SỨ VỤ THIÊN SAI 126
TN3-C92: MỞ ĐẦU SỨ VỤ CỦA CHÚA GIÊSU.. 129
TN3-C93:  ĐỨC TIN HOÀN HẢO. 130
TN3-C94: HÔM NAY THIÊN CHÚA ĐÃ VIẾNG THĂM DÂN NGÀI 133
TN3-C95:  TÔI ĐI LOAN BÁO TIN MỪNG.. 137
TN3-C96: THÁNH THẦN CHÚA NGỰ TRÊN TÔI 139
TN3-C97: Thánh Thần và sứ vụ của Chúa Giê-su. 141
TN3-C98: GÓP PHẦN THI HÀNH SỨ VỤ THIÊN SAI 142
TN3-C99: ĐƯỜNG NẺO CHÚA 3. 147
TN3-C100: ĐI NGHE CHÚA GIẢNG.. 149

 

TN3-C51. Công bố năm hồng ân

Sau khi Chúa Giêsu đã lãnh nhận lễ rửa của Gioan và vào sa mạc để chịu ma quỷ cám dỗ. Ngài: TN3-C51

Sau khi Chúa Giêsu đã lãnh nhận lễ rửa của Gioan và vào sa mạc để chịu ma quỷ cám dỗ. Ngài ở lại Giuđê một thời gian rồi quay về Galilê. Nơi đây Ngài bắt đầu một chức vụ mà Luca để dành sáu đoạn trong Phúc Âm ông viết để nói đến. Ông kể ra ba đặc điểm của chức vụ này: được thi hành do quyền năng của Chúa Thánh Thần, danh tiếng Ngài được dồn rộng khắp xứ, cách giảng dạy có uy quyền giữa công chúng.
Nơi đâu tiên Ngài thăm viếng và giảng bài giảng đầu tiên là tại hội đường Nadaret không phải là một làng, nó được gọi là ‘Polis’ nghĩa một thành hay một thị trấn, và có thể có tới hai mươi ngàn dân. Nadaret tọa lạc trong một vùng đất của sườn đồi của Galilê gần cánh đồng Gitrien. Chỉ cần leo lên đỉnh đồi vượt cao trên mặt thành là có thể thấy toàn cảnh bao la hàng dặm chung quanh đó. Geoge Ađam Smith diễn ra phong cảnh từ đỉnh đó như sau: “Lịch sử của Israel mở ra trước mặt chúng ta: kia là cánh đồng Edroelon, nơi Đêbora và Barac đã chiến đấu, nơi Giêđêon đã thắng trận vẻ vang, nơi vua Saolê đã thảm bại, và chính nơi này Giosia đã bị giết trong chiến trận. Kia là vườn nho của Na-bốt, chỗ Giêhu giết Giêsaben, kìa nữa là đất Sunem, nơi tiên tri Êlia đã sống, kìa là núi Các-men, nơi tiên tri Êlia đã đánh trận oanh liệt với các tiên tri Ba-an, và xanh canh ở đàng xa là Địa Trung Hải và các đảo. Nhưng không phải chỉ có lịch sử Israel ở đó, mà lịch sử thế giới cũng mở ea từ trên đỉnh đồi Nagiarét. Có ba con đường lớn vây quanh Nagiarét. Có con đường từ phía nam đưa các khách hành hương lên Giêrusalem. Có con đường lớn dọc bờ biển để đưa những đoàn thường gia chở nặng hàng háo từ Ai-cập lên tới Đa-mát. Có con đường lớn đi về Phương Đông cho những đoàn doanh thương từ xứ Arabi tới, và cũng có những đoàn quân viễn chinh La-mã tiến về các biên giới miền Đông của đế quốc. Thật sai lầm nếu nghĩ rằng Chúa Giêsu lớn lên tại một nơi hẻo lánh. Ngài lớn lên trong một thành có tầm cỡ lịch sử và có các trục lộ giao thương của thế giới chạy qua ngay trước ngọ. Chính nơi đây Chúa Giêsu đã giảng bài quan trọng chứa đựng cả chương trình chức vụ của Ngài hay cũng có thể gọi được là bản tuyên ngôn về công tác cứu rỗi mà Ngài đến thực hiện.
Hôm ấy là ngày sabat. Các bà con bạn hữu và những người đồng hương của Chúa Giêsu đều hội họp đông đảo tại nơi thờ phượng chung là hội đường. Tất cả đều nóng lòng muốn được nghe một người mà họ quen biết nhiều, một người mới thình lình nổi tiếng. Có thể là Ngài yêu cầu hoặc là người phụ trách hội đường đưa cho Ngài cuộn da ghi lời Kinh Thánh của tiên tri Isaia để hướng dẫn giờ đọc Lời Chúa. Ngài mở nhằm chỗ nói về niềm vui của năm hồng ân, tác giả mô tả sự vui mừng của những kẻ trở về sau cuộc lưu đày từ Babylon. Chúa Giêsu đọc xong thì ngồi xuống như cách các giáo sư nhà hội thường làm. Tất cả đều chăm chú nhìn Ngài chờ đợi, Ngài lợi dụng dịp này để công bố lời tiên tri này được ứng nghiệm nơi chính Ngài, Ngài tuyên bố Ngài chính là Đấng Mêsia (Cứu Thế) đã được hứa. Lời tiên tri bắt đâu với câu “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi”, đem áp dụng cho Ngài, có nghĩa rằng ngài đã được xức dầu tấn phong, không phải bằng dầu thương như các tiên tri, thượng tế hay vua, nhưng bằng Thánh Thần để làm Đấng Được Xức Dầu hay Đấng Kitô của Thiên Chúa. Với tư cách ấy, Ngài sẽ giảng Tin Mừng cho người nghèo về thuộc thể cũng như thuộc linh. Ngài sẽ công bố sự giải póng hco những kẻ bị tù đày vì tội lỗi, và thiết lập những nguyên tắc rồi đây sẽ đem lại sự tự do cho nhân loại. Ngài sẽ giúp cho kẻ bị áp bức được tự do, nghĩa là cởi bỏ những hậu quả và sự độc ác của lòng ích kỷ và tội lỗi. Ngài sẽ rao truyền một thời đại ân điển cho tất cả. Như vậy với những lời mô tả về sự giải póng nô lệ và niềm vui của năm hồng ân, Chúa Giêsu đã diễn đạt tính chất ân điển và phước hạnh của chức vụ Ngài.
Chúng ta cần xem xét kỹ lưỡng hơn để thấy được dưới tác động của Chúa Thánh Thần, Đức Giêsu đã vận dụng Kinh Thánh Cựu ước như thế nào cho sứ mệnh cứu thế của Ngài.
Khi Chúa Giêsu giảng dậy trong các nhà hội, thường vẫn có đọc Sách Thánh, như đây là cơ hội duy nhất chúng ta được biết Ngài chọn bản văn. Và những lời đầu tiên được Ngài công bố trong bản văn Thánh “Thần Khí Chúa ngự trên tôi.” Người có thể nhận thấy niềm hoan lạc tỏa ra từ giọng nói và nét mặt khi Ngài thốt ra Thần Khí Chúa, lời mà tiên tri Isaia đã ghi lại mà không nắm bắt hết nội dung, còn Ngài thấu hiểu trọn vẹn ý nghĩa. Khi công bố “Thần Khí Chúa”, Ngài muốn tôn vinh tác giả Thần Linh, Đấng đã linh hứng lời tiên tri và bây giờ đây hướng dẫn việc thực hiện. Âm thầm và mau mắn, Chúa muốn cho thấy chính Thần Khí Chúa là nguồn gốc sứ mệnh của Ngài và hướng dẫn mọi đường đi nước bước. Ngài dùng chính từ ngữ mà chính Thần Khí đã bảo nhà tiên tri.
Trước những người đồng hương Nagiarét, việc nêu rõ tên như thế này mang lại một tầm quan trọng hơn. Chúa Giêsu đang ở trong làng nơi đã nhiều năm sinh sống, ai cũng biết rõ gia đình Ngài: “Đây không phải là con ông Giuse sao?” Câu nói biểu lộ sự ngạc nhiên thấy con của một người thợ tầm thường lại có được khôn ngoan và quyền năng như thế. Nhưng cũng hé mở cho thấy niềm xác tín rằng một giá trị cao cả như thế không thể do nguồn gốc gia đình mang lại. Chúa Kitô lập tức phải đối đầu với nhóm thính giả gợi ra gia đình thần linh mà Ngài đang thuộc về. Chẳng phải gia đình nhân loại đem lại cho Ngài những danh hiệu cho công trình Ngài đang đảm nhiệm, nhưng là Thần Khí của Đức Chúa. Ít ra các thính giả hiểu rằng Ngài đang nại đến uy quyền thần linh, Ngài tuyên bố giáo ký và hành động của Ngài là do Thiên Chúa đặt định. Ngay lúc này họ chưa có thể nhẫn ra Chúa Giêsu muốn ám chỉ đến một ngôi vị thần linh khác, vì cho đến lúc này họ chưa hề có được ý tưởng Thần Khí là một Ngôi vị Thiên Chúa. Nhưng ý tưởng này đã bao hàm trong lời nói của Chúa Cứu Thế.
May mắn hơn dân làng Nagiarét, chúng ta biết được nghĩa Chúa Giêsu áp dụng cho lời tiên tri. Chúa Giêsu áp dụng cho Ngôi vị thần linh khác là nguồn gốc và điều khiển sứ mệnh cứu thế của Ngài. Để sứ mệnh của Ngài được điều hành do Thiên Chúa, chỉ cần Ngôi Hai Thiên Chúa làm người hoàn thành cũng đủ, thế nhưng Chúa Giêsu dựa vào sự hiện diện của Đức Chúa trên Ngài. Ngài xác nhận vai trò chủ quản của Thần Khí, và hơn thế, ở phía sau vai trò nguyên thủy tối quan trọng của Chúa Cha, là nguồn gốc của tất cả; vì nếu từ “Thần Khí” hướng về Chúa Thánh Thần, thì từ “Đức Chúa” trong ý của Chúa Giêsu phải quy hướng đặc biệt về Ngôi Cha, và như thế tất cả gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa được gợi lên. Như thế là theo chương trình của Thiên Chúa, Đức Kitô hoạt động nhờ Chúa Thánh Thần là Thần của Chúa Cha, đang ngự trong Ngài.
Cần hiểu đúng ý nghĩa việc Thần Khí ngự trên Đức Giêsu. Lời sấm trong sách tiên tri Isaia cho thấy một sự hiện diện qua việc xức đầu và trao ban một sứ mệnh. Nếu Thần Khí của Đức Chúa ngự trên Ngài là vì Đức Chúa đã xức dầu cho Ngài. Xức dầu là dấu chỉ thánh hiến một người, biệt riêng ra để phục vụ Thiên Chúa và mặc lấy quyền năng do Chúa ban như xưa trong Cựu ước, quyền làm vua, làm tiên tri, làm tư tế.
Chúa Kitô quả quyết Ngài được xức dầu do Đức Chúa, từ Thiên Chúa Cha. Không phải dầu vật chất, nhưng là chính Thánh Thần. Chính trong Thánh Thần mà Chúa Giêsu được thánh hiến để phục vụ Chúa Cha, chính do Thánh Thần mà Ngài nhận được quyền năng. Danh hiệu Kitô của Chúa Giêsu là do Thánh Thần, vì danh hiệu này theo nguyên ngữ là “Đấng được xức dầu”. Vì thế mỗi khi nhắc tới danh hiệu Kitô là nêu ra việc Ngài được Chúa Thánh Thầnt hánh hiến.
Việc xức dầu là đề hoàn thành một sứ mạng. Khi đọc lời tiên tri, Đức Giêsu loan báo sứ mạng mà Thần Khí Chúa trao cho Ngài thi hành. Điều đáng lưu ý là Ngài cắt ngang ngay giữa câu. Lời sấm ghi: “Thần Khí của Đức Chúa là Chúa Thượng… Ngài sai tôi công bố một năm hồng ân của Đức Chúa, một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta.” (61,2), Chúa Giêsu ngừng lại sau “Năm hồng ân” và bỏ qua loan báo “ngày báo phục”. Ngài không đến để loan báo ngày báo phục của Thiên Chúa, nhưng để công bố năm hồng ân. Như thế chữ cuối cùng “Năm hồng ân” diễn tả phúc lộc của Thiên Chúa phù hợp với chữ đầu tiên “Thần Khí Chúa”. Thần Khí Chúa làm cho sứ điệp và công việc của Chúa Giêsu thành dấu chứng của tình yêu Thiên Chúa. Khi bỏ đi phần báo phục, Chúa Kitô muốn chứng tỏ rằng Chúa Thánh Thần chỉ thông chuyển tình yêu qua Ngài. Có thể coi Chúa Thánh Thần như là hồn của sứ mệnh Đức Giêsu. Chính Chúa Cha giao nhiệm vụ cho Chúa Con, khi thi hành sứ mệnh này, Chúa Thánh Thần đã tác động cho Chúa Con, chính Ngài qua Chúa con “loan báo Tin Mừng cho người nghèo khổ.” Khi Chúa Giêsu hăng say rao giảng cho quần chúng, chính Thánh Thần linh động lời Ngài và thấu vào tâm trí người nghe. Chính Chúa Giêsu cũng không đưa ra dấu hiệu nào khác minh chứng cho sứ mệnh của Ngài bằng nại đến ban phát tình thương. Khi Gioan Tẩy giả nóng lòng chờ đợi thiết lập vương quốc thiên sai, từ trong ngục tù sai người hỏi Chúa Giêsu: “Ngài có phải là Đấng phải đến hay chúng tôi còn phải chờ đợi đấng nào khác?” Chúa Giêsu trả lời bằng cách nhắc cho vị Tiền Hô lưu ý tới thể hiện tinh thần yêu thương, Thần Khí đã giáng xuống dưới hình chim bồ câu để làm cho dung nhan Đấng Cứu Thế có diện mạo Con Chiên lành. Đừng chờ đợi nơi Đấng Cứu Thế một quyền năng nào khác ngoài tình yêu được ban phát giờ đây. Để nhắc lại Thần Khí Chúa ngự trên Ngài, Chúa Giêsu trích dẫn chính lời tiên tri Isaia, và kể lại cho Gioan điều mắt thấy tai nghe: “Mù được thấy, què được đi, phong cùi được khỏi, điếc được nghe, kẻ chết sống lại và Tin Mừng được loan báo cho người nghèo.” (Mt 11,4,6)
Chúng ta đã được tháp nhập vào Đức Kitô với Bí tích Rửa tội. Không gì thích hợp hơn để chúng ta áp dụng trong thực tế lời kinh Năm Thánh 2000: “Lạy Cha, xin cho chúng con trong Năm Toàn Xá, biết vâng nghe tiếng Chúa Thánh Thần, biết trung thành theo Đức Kitô, biết chuyên cần lắng nghe lời Chúa, và năng đến với nguồn mạch ân sủng.
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh,
Chỉ có Chúa là Thiên Chúa và là Đấng Tối Cao,
Chúng con xin dâng lời ca tụng tôn vinh muôn đời.
Lạy Cha, xin dùng sức mạnh của Chúa Thánh Thần, làm cho Hội Thánh thêm nhiệt tâm loan báo Tin Mừng, cách thích hợp trong thời đại mới. Xin dẫn bước chúng con trên khắp nẻo đường trần gian, để rao giảng Đức Kitô bằng tất cả đời sống, và hướng cuộc lữ hành dương thế của chúng con, tiến về thành đô ánh sáng trên trời. Xin cho các môn đệ Đức Kitô được tỏa sáng nhờ biết yêu thương những kẻ nghèo hèn và những người bị áp bức. Xin cho họ biết liên đới với những kẻ khốn cùng và quảng đại sống bác ái yêu thương. Xin cho họ biết khoan dung với mọi người hầu chính họ cũng được hưởng lòng Cha tha thứ khoan dung…”

 

TN3-C52. Chú giải của William Barclay

LỜI GIỚI THIỆU CỦA MỘT SỬ GIA
 

Lời mở đầu của Luca rất độc đáo vì trong cả ba sách Phúc Âm đầu tiên, đây là chỗ duy nhất: TN3-C52

Lời mở đầu của Luca rất độc đáo vì trong cả ba sách Phúc Âm đầu tiên, đây là chỗ duy nhất có chính tác giả bước lên sân khấu và dùng đại từ “Tôi”. Trong đoạn Kinh Thánh này có ba điều cần chú ý:
1. Đây là một trong những mẫu văn chương Hy Lạp đẹp nhất trong Tân Ước. Luca đã dùng cách giới thiệu sách các đại sử gia Hy Lạp quen dùng. Herodotus, một tác giả nổi tiếng về lịch sử Hy Lạp đã mở đầu cuốn sách của ông như sau: “Đây là những sưu tầm của Herodotus thành Halicarnassus”. Về sau, có một sử gia khác là Dionysius ở thành Halicarnassus viết thư sau ở đầu cuốn sách của ông: “Trước khi bắt đầu viết, tôi đã thu thập tài liệu, một phần do lời tường thuật của những người thông thái tôi từng quen biết”. Khi bắt đầu viết sách Phúc Âm, Luca đã tuân theo những khuôn mẫu cao nhất và bằng một giọng văn Hy Lạp sáng sủa nhất.
Dường như ông đã tự nhủ: “Mình đang tường thuật một truyện vĩ đại nhất thế giới, nên chỉ những gì tuyệt hảo mới xứng hợp với chuyện này”. Có một số bản cổ đã thực là những sản phẩm tuyệt vời, viết bằng mực bạc trên nền vải điều, và người ký lục, khi viết đến danh Thiên Chúa hay Chúa Giêsu thì viết bằng chữ vàng. Tiến sĩ Boreham kể về một người thợ già, mỗi đêm thứ sáu, chọn sẵn những đồng tiền mới nhất, sáng nhất để dâng ở nhà thờ vào ngày Chúa nhật. Sứ giả, viên ký lục và người thợ nói trên đều chung một ý tưởng là chỉ có những gì tốt nhất mới xứng đáng cho Chúa Giêsu. Bao giờ họ cũng muốn dâng điều tốt nhất của mình cho Đấng Tối Cao.
2. Điều rất có ý nghĩa là Luca không thoả mãn với các sách đã chép về Chúa Giêsu. Ông phải viết một cuốn sách về Ngài. Tôn giáo thật không phải là một thứ gì nghe qua người khác. Đó phải là một khám phá cá nhân. Tiến sĩ Gossip của đại học Trinity ở Glasgow thường nói rằng bốn sách Phúc Âm đều quan trọng, nhưng mỗi người cần phải vượt qua đó để tới Phúc Âm của kinh nghiệm cá nhân.
3. Hiếm có đoạn Kinh Thánh nào chiếu toả như tia sáng về tính cách linh cảm của Kinh Thánh đến thế. Không ai phủ nhận Phúc Âm Luca là sách được Chúa linh hứng, tuy vậy ông đã bắt đầu bằng lời quả quyết: đó là một công trình nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Ơn linh hứng không ban cho một tâm trí lười biếng, chỉ biết ngồi khoanh tay chờ đợi, nhưng cho tâm trí nào biết suy nghĩ, tìm tòi, nghiên cứu. Ơn linh hứng thật chỉ đến khi trí não tra cứu của con người gặp Thánh Linh mặc khải của Thiên Chúa. Lời Chúa được ban ra, nhưng chỉ cho nhưng người biết tìm kiếm Lời ấy mà thôi. “Hãy tìm sẽ gặp” (Mt 7,7).
MÙA XUÂN XỨ GALILÊ
Chúa Giêsu vừa rời khỏi hoang địa, Ngài liền phải đối diện với một quyết định khác. Ngài biết giờ hành động của Ngài đã đến, Ngài đã xác định phương cách rồi, bây giờ Ngài phải bắt đầu tại đâu?
1. Ngài bắt đầu tại Galilê.
Galilê là một vùng đất phía Bắc xứ Palestine, rộng chừng 80km từ Bắc xuống Nam và 40km từ Đông sang Tây. Galilê có nghĩa là vòng tròn, phát xuất từ chữ Galil trong tiếng Do Thái. Người ta gọi thế bởi vì vùng đất ấy được vây bọc bởi các nước ngoại bang. Chính vì thế mà Galilê luôn bị các thứ ảnh hưởng thâm nhập và đã trở thành phần đất tân tiến, ít bảo thủ. Đó là một vùng đông dân cư nhất của xứ Do Thái. Sử gia Josephus, người đã có lần làm thống đốc tại vùng này cho biết rằng miền đó có 204 làng hoặc thành, làng nào cũng có số dân không dưới 15.000. Hầu như khó tin rằng Galilê có thể lên tới ba triệu dân. Đó là vùng đất phì nhiêu lạ thường. Một tục ngữ đã phản ánh điều này: “nuôi một vạn cây ôliu ở Galilê còn dễ hơn nuôi một đứa con ở xứ Giuđê”. Khí hậu rất tốt và nước uống dư dật khiến Galilê trở thành một vườn cây của xứ Palestine. Danh mục các loại cây mọc ở đó chứng tỏ đất rất tốt: cây nho, ôliu, vả, giẻ, hồ đào, thông, cọ, bá hương, trắc, dầu thơm, thông các loại, sung, dương, sim, anh đào, thạch lựu, chanh, trúc đào… Chính người Galilê là những người vùng cao của xứ Palestine. Josephus nói về những người Galilê rằng: “họ chuộng sự mới mẻ, bản tính họ thích đổi thay, và chỉ thích nổi loạn. Nếu có lãnh tụ nào đứng ra khởi xướng một cuộc nổi dậy là họ sẵn sàng theo ngay. Họ dễ nóng giận và ưa tranh cãi”. Người ta thường nói: “Người Galilê không bao giờ thiếu can đảm”, “người Galilê mê tìm danh tiếng hơn là tìm lợi lộc”. Chúa Giêsu đã bắt đầu sự vụ tại một nơi như vậy. Đó là đất của Ngài, nơi đó đem đến cho Ngài –ít ra lúc ban đầu- một số thính giả biết đón nhận và say sưa với sứ điệp của Ngài.
2. Ngài đã bắt đầu trong hội đường.
Hội đường là trung tâm đời sống tôn giáo ở xứ Palestine. Trong nước chỉ có một Đền Thờ, nhưng luật quy định rằng hễ ở đâu có mười gia đình Do Thái thì ở đấy phải có một hội đường, và như thế ở trong mỗi thành, mỗi làng, dân chúng nhóm họp thờ phượng trong hội đường. Không có tế lễ trong hội đường. Đền Thờ mới là nơi để dâng của lễ, hội đường chỉ để giảng dạy. Làm thế nào Chúa Giêsu có thể vào hội đường và làm sao khi Ngài chỉ là thường dân, một thợ mộc ở Nagiarét, có thể giảng dạy tại đó? Nghi thức thờ phượng ở hội đường có ba phần:
a. Phần thờ phượng bằng cầu nguyện.
b. Phần đọc Kinh Thánh. Có bảy người trong cộng đoàn đứng lên đọc. Vì họ đọc bằng tiếng Do Thái cổ là ngôn ngữ đại đa số dân chúng không còn hiểu nữa, nên phải có các thầy Targum giúp dịch sang tiếng Aram hay Hy Lạp. Khi đọc luật thì mỗi lần một câu, còn đọc sách ngôn sứ thì mỗi lần đọc ba câu.
c. Phần giảng dạy. Tại hội đường không có chức vụ giảng chuyên nghiệp, cũng không có một người biệt riêng để giảng dạy. Vị chủ tịch hội đường sẽ mời một nhân vật đặc biệt nào đó có mặt trong giờ họp nói mấy lời, sau đó tới giờ thảo luận. Như vậy Chúa Giêsu mới có cơ hội tham gia tại đó và toà giảng ở đó đã mở cửa cho Ngài vào giai đoạn này.
3. Đoạn Kinh Thánh cho biết mọi người đều khen ngợi Ngài.
Giai đoạn Chúa Giêsu đang thi hành sứ vụ đây được gọi là Mùa Xuân xứ Galilê. Ngài đã đến đó như một luồng gió từ Thiên Chúa. Phe đối lập chưa xuất đầu lộ diện, lòng người còn đang khao khát lời hằng sống và dân chúng chưa nhận thức được Ngài sẽ đụng chạm mạnh mẽ như thế nào tới niềm tin chính thống đương thời. Rao giảng một sứ điệp đã được thai nghén kỹ càng bao giờ cũng thu hút được thính giả.
Một trong những nơi thăm viếng đầu tiên của Chúa Giêsu là Nagiarét, quê nhà của Ngài. Nagiarét không phải là một làng, nó được gọi là một polis, nghĩa là một thành hay một thị trấn, và có thể có tới 20.000 dân. Nagiarét toạ lạc trong một vùng đất của sườn đồi núi Galilê gần cánh đồng Gitrien. Chỉ cần leo lên đỉnh đồi vượt cao trên mặt thành là có thể thấy toàn cảnh bao la hàng dặm chung quanh đó. George Adm Simth diễn tả phong cảnh từ trên đỉnh đồi như sau: Lịch sử của dân Israel mở ra trước mắt chúng ta. Kia là cánh đồng Esdraelon, nơi Đêhôra và Barac đã chiến đấu, nơi Ghêđêon đã thắng trận vẻ vang, nơi Saulê đã thảm bại và chính nơi này Giôsia đã bị giết trong chiến trận. Kìa là vườn nho của Nabôt, chỗ Giêhu giết Giêsabên, kìa nữa là đất Sunem, nơi ngôn sứ Elia đã sống, kìa là núi Cácmen, nơi Êlia đã đánh trận oanh liệt với các tiên tri Baan, và xanh xanh ở đằng xa là Đia Trung Hải và các hải đảo! Nhưng không phải chỉ có lịch sử Israel ở đó mà lịch sử thế giới cũng mở ra trên đỉnh đồi Nagiarét. Có ba đường lớn vây quanh Nagiarét. Có con đường từ phía Nam đưa các khách hành hương lên Giêrusalem. Có con đường lớn dọc bờ biển để đưa những đoàn thương gia chở nặng hàng hoá từ Ai Cập lên tới Đamas. Có con đường lớn đi về Phương Đông, cho những đoàn doanh thương từ Ai Cập đến, và cũng có những đoàn quân viễn chinh Rôma tiến về các biên giới miền Đông của đế quốc. Thật sai lầm nếu nghĩ rằng Chúa Giêsu lớn lên tại một nơi hẻo lánh; Ngài lớn lên trong một thành có tầm cỡ lịch sử và có các trục lộ giao thông của thế giới chạy qua ngay trước ngõ.
Chúng tôi đã phác hoạ giờ thờ phượng tại hội đường và đoạn sách này cho ta thấy cả một bức tranh sống động về hoạt động phụng vụ ở đó. Không phải Chúa Giêsu cầm một quyển sách, vì thời đó mọi sự được viết trên những cuộn da. Ngài đã đọc Is 61. Trong câu 20, bản dịch King James đã nói sai về “kẻ giúp việc”. Thực ra vị này là một viên Chazzan đảm nhiệm nhiều thứ công tác. Ông có bổn phận lấy ra và cất vào những cuộn Kinh Thánh, có bổn phận giữ cho hội đường sạch sẽ, có bổn phận thổi ba hồi kèn bạc từ trên nóc hội đường loan báo ngày Sabat, ông cũng là giáo viên trong trường học của vùng ấy nữa. Câu 20 nói rằng Chúa Giêsu ngồi xuống, khiến ta có cảm tưởng Ngài đã làm xong công việc. Thực ra, Ngài sắp sửa bắt đầu, vì diễn giả ngồi mà giảng và các rabi cũng ngồi khi giảng dạy (do tục lệ này mà chúng ta thường nói ghế của giáo sư).
Chúng ta cần để ý tới hai điều:
1. Chúa Giêsu có thói quen vào hội đường vào ngày Sabat. Tại đó hẳn có nhiều điều Ngài hoàn toàn không đồng ý và làm Ngài cảm thấy khó chịu, nhưng Ngài đã đến đó. Việc thờ phượng tại nhà hội có thể có nhiều thiếu sót, nhưng Chúa Giêsu không bao giờ bỏ qua hiệp thông với dân Chúa bằng thờ phượng trong Ngày của Chúa.
2. Đọc lại đoạn Kinh Thánh trong Isaia mà Chúa Giêsu đã đọc hẳn chúng ta nhận thấy sự khác biệt giữa Chúa Giêsu với Gioan Tẩy Giả. Gioan giảng về tai hoạ, và khi nghe sứ điệp của ông, người ta phải rùng mình kinh sợ. Còn Chúa Giêsu đem Phúc Âm-Tin Mừng đến. Chúa Giêsu biết cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, nhưng bao giờ cũng là thịnh nộ do tình thương.

 

TN3-C53. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

TIỀN NGÔN (1,1-4)
 

Trong phần Tiền ngôn này Luca sử dụng một thể loại văn xuôi tuyệt hảo trong Hy ngữ – toàn: TN3-C53

Trong phần Tiền ngôn này Luca sử dụng một thể loại văn xuôi tuyệt hảo trong Hy ngữ – toàn bộ, chẳng hạn chỉ là một câu chuyện nguyên bản – và một từ vựng rất giống với các bản khảo luận Hy Lạp thời đó về nhiều vấn đề khác nhau. Từ đó, Luca muốn nói rõ rằng sách của ông là một tác phẩm có tính cách thời sự dành cho những người cùng thời ông không phải là người Do Thái và dùng những cấu trúc riêng. Do đó, truyền thống Tin Mừng được nâng lên như một tác phẩm văn chương.
Trước hết, Luca tự định vị mình trong tương quan với những người đi trước đã viết trình thuật; những phẩm chất mà ông hy vọng làm sáng tỏ (một thông tin cẩn thận về những gì đã xảy ra từ lúc khởi đầu để viết một trình thuật liên tục) mà theo ông nghĩ là họ còn thiếu – điều đó giải thích công việc của ông. Ít nhất việc này nhằm đến hai nguồn mà Luca sẽ dùng; Tin Mừng của Maccô, chẳng hạn, không ghi lại cuộc sinh hạ của Chúa Giêsu cũng như những lần hiện ra sau Phục Sinh, và một tập hợp những lời của Thầy (nguồn “Q”), dường như trong đó không có một trình thuật nào.
Những người đi trước ông đã kín múc từ truyền thống một thuật ngữ có gốc gác Kinh sư, để chỉ việc lưu truyền bằng miệng các Tin Mừng do các chứng nhân chính thức. Những người này đã thay đổi nếp sống: lúc đầu – Lc 3,23 sẽ chỉ cho thấy từ ngữ chỉ lúc khởi đầu sứ vụ công khai của Chúa Giêsu chứ không phải là lúc Ngài sinh ra – họ đã là những chứng nhân mắt thấy tai nghe những hành động và giáo huấn của Chúa Giêsu (đó là nội dung qnt), rồi họ đã trở thành những tôi tớ phục vụ Lời (quyển thứ hai: Công vụ Tông đồ). Luca cho thấy hai mức độ sống này khi kể lại chuyện Matthêu giữa nhóm Mười Hai: nhân chứng mới này được chọn từ những kẻ đã theo Chúa Kitô từ khi Ngài chịu Gioan làm phép rửa cho đến ngày Ngài được nâng lên (Cv 1,21-22). Nhưng ở đây Luca không nhắc đến tên Giêsu, ông thích đặt mình trong một bối cảnh lớn hơn, đó là những biến cố đã được Thiên Chúa thực hiện, qua sứ vụ của Chúa Giêsu nơi chứng tá của các tông đồ.
Như thế Luca tường thuật nhờ bốn đặc tính đã được nên ở trên (một thông tin cẩn thận về tất cả những gì từ lúc khởi đầu để viết một trình thuật liên tục), đó là phong cách riêng của ông. Ông đã có ý cẩn thận lắng nghe truyền thống Giáo Hội và viết một trình thuật liên tục. Liên tục ở đây trước hết không có nghĩa là theo trật tự thời gian đúng hơn phải cho thấy rằng tác phẩm của ông soi sáng cách thức mà Thiên Chúa thể hiện từ biến cố này đến biến cố khác, ý định cứu độ của Người trong lịch sử. Không thể chối cãi rằng Luca có quan tâm đến lịch sử, nhưng khi đã biết các tác phẩm của những sử gia Hy Lạp và Latinh đồng thời với ông, chúng ta đừng đánh giá dự phóng của Luca theo quan niệm ngày nay về việc nghiên cứu lịch sử.
Tất cả các tác phẩm được đề tặng ông Thêôphilê rất đáng kính, một người mới trở lại, gốc ngoại giáo, có lẽ giữ một địa vị quan trọng trong hành chánh La Mã. Mục đích Luca theo đuổi là thuyết phục Thêôphilê về sự vững chắc của giáo lý mà ông đã nhận – bày tỏ một phong cách làm việc rõ ràng có tính cách Giáo Hội.
Tiền ngôn được viết bằng một ngôn ngữ Hy Lạp rất hay. Điều đó cho thấy sự tương phản lớn lao với “Tin Mừng thời thơ ấu”. Để nói lên rằng những biến cố đương thời mà ông kể vẫn tiếp tục lịch sử thánh, Luca đã sử dụng một ngòi bút khác và bắt chước thể văn của bản dịch Thánh Kinh sang tiếng Hy Lạp, tức bản Bảy Mươi. Chúng ta thử tưởng tượng Jean Laconture mô phỏng Bossuet để tả lại thời thơ ấu của De Gaulle... Có những lối mô phỏng thể văn đầy ý nghĩa. Để hiểu Luca, ta cũng phải biết rằng, trong thế giới Hy Lạp thời ông, chỉ có những gì “cổ điển” mới có thế giá, còn những gì “mới mẻ” thì đáng ngờ vực. Hơn nữa, bản Bảy Mươi cung cấp cho Luca từ vựng và những kiểu mẫu tư tưởng để nói về biến cố Giêsu Kitô.
RAO GIẢNG TẠI NAGIARÉT
Gần như được sáng tác hoàn toàn bởi Luca, cảnh rao giảng của Chúa Giêsu trong một thành nơi Người đã được nuôi dưỡng có một tính cách chương trình hóa rất rõ nét; thực vậy, nó loan báo những chủ đề sẽ chiếm một chỗ trung tâm trong toàn bộ Luca-Công vụ.
Phần tóm tắt dẫn nhập (14,15) nói lại một lần nữa việc Chúa Giêsu được trang bị bằng Thần Khí tiên tri, Đấng, sau thời gian ở sa mạc, sẽ dẫn dắt Người trên các nẻo đường của sứ vụ. Nội dung giáo huấn của Chúa Giêsu không được nhắc đến – trong khi ở Mc 1,15 Người rao giảng một cách rõ ràng về Vương Quốc của Thiên Chúa, như vậy lời giảng đại khái đầu tiên của Chúa Kitô sẽ là giải thích lời tiên tri Isaia. Luca sẽ rất thường ghi chú rằng Chúa Giêsu giảng dạy mà không nói nội dung; đó là vì nói lên lời là một hành động, không lệ thuộc vào nội dung. Trái ngược với vị Tẩy Giả, Chúa Giêsu thường giảng dạy trong những nơi chốn và những thời gian đặc biệt gắn liền với công việc này: Chúa Giêsu có thói quen vào một hội đường trong ngày Sabat. Hãy chú ý sự phân biệt khi Luca nói về những hội đường của họ (c. 15); bởi vì vào quãng năm 85-90 khi Luca viết Tin Mừng, thì việc đoạn tuyệt với đối tượng đã tới cao điểm, thẩm quyền Do Thái giáo cấm các Kitô hữu từ nay không được rao giảng khi cử hành nghi thức tại hội đường. Cuối cùng, lần thứ nhất ta gặp chủ đề về danh tiếng của Chúa Giêsu và phát sinh từ lời giảng có quyền uy của Ngài.
Phần thứ nhất của trình thuật (cc. 16-22) diễn tả một phần phụng tự hội đường. Phần này bỏ lời kinh khai mạc và bài đọc thứ nhất trích từ Luật Môsê, để chỉ giữ lại trích dẫn dài của phần hai: sấm ngôn Is 61,1-2, Luca chỉ bỏ một lời đe dọa: “Công bố ngày báo oán của Thiên Chúa chúng ta”… Theo sấm ngôn trên đây, vai trò của sứ giả là loan báo một cách có hiệu quả việc chấm dứt những gì làm cho người nghèo phải đau khổ và những kẻ tàn phế trong cuộc sống, công bố khai mạc một thời kỳ trong đó con người sẽ được Thiên Chúa tiếp nhận. Cấu trúc của các câu 16-20 rất kỹ lưỡng:
(Người) đứng lên
họ trao cho Người cuốn sách
Người mở ra
Gặp đoạn chép rằng (Is 61,1-2)
(Người) cuộn sách lại
trả cho người giúp việc
rồi ngồi xuống.
Như vậy độc giả của Luca, vừa được soi sáng bởi cuộc hiển linh dịp Chúa Giêsu chịu phép rửa, hiểu rất rõ rằng người hùng của Thiên Chúa, được xức dầu bằng Thần Khí, chính là Đức Giêsu và sứ vụ được diễn tả đó là sứ vụ Người sẽ thi hành như được kể trong phần tiếp theo của Tin Mừng Luca.
Tuy nhiên, ngay khi ngồi xuống –ở Palestin khi giảng thì ngồi, nhưng trong các hội đường ở hải ngoại thì lại đứng (Cv 13,16)- Chúa Giêsu giải thích cho người Nagiarét: “Hôm nay, đoạn đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”. Người không nói rõ ra: “bởi vì Kinh Thánh nói về tôi và các ông có thể thấy điều đó” –cũng như Người không bao giờ nói mình là Đức Kitô hay vị tiên tri. Người cung cấp cho các thính giả các dấu chỉ, nhưng để họ tự do dùng trí thông minh mà đón nhận hay từ chối dấu chỉ được trao ban: Người mời họ nhận cái mới mẻ đã xảy đến giữa họ. Nhưng, tuy tỏ ra tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Chúa Giêsu, những người Nagiarét chỉ nhìn thấy một phương diện của Chúa Giêsu (con ông Giuse); họ không thể nhận ra nơi Người vị Ngôn Sứ cuối cùng mà Is 61 đã ám chỉ.

 

TN3-C54. Chú giải của R. Gutzwiller

LỜI TỰA CỦA THÁNH KÝ.
 

Lời mở đầu Tin mừng của Thánh Luca đưa ra ánh sáng hai ý niệm quan trọng:  Tin mừng muốn: TN3-C54

Lời mở đầu Tin mừng của Thánh Luca đưa ra ánh sáng hai ý niệm quan trọng:
1. Tin mừng muốn chuyển đạt một sự xác thực. Điều này được nói rõ như là mục đích riêng của Tin mừng. Sự xác thực này dựa trên những yếu tố khác biệt nhưng trước hết dựa trên chính nội dung của Tin mừng. Tin mừng trước hết không phải là một giáo thuyết, nghĩa là không phải là một kiến trúc trí thức, cũng chẳng phải là một bộ luật với những giới luật và cấm đoán, hay là một vòng hoa gồm những chuyện thần tiên mà một thế hệ sau đã thêu dệt lên chung quanh con người Giêsu; hơn thế Tin mừng càng không phải là một huyền thoại, nói khác đi, là một tư tưởng viết lên thành kịch. Trái lại, trong Tin mừng, các sự kiện thực sự đã được kể lại. Lòng đạo đức đích thực phải khách quan, xây trên những thực tại.
Thiên Chúa là nguyên nhân đầu tiên, và việc Ngài đến trong thế gian này là một việc lớn lao nhất, chính yếu nhất trong các chân lý. Ở đây phát sinh một sự kiện hiển nhiên, có thể sờ thấy đuợc, nhờ đó mà tất cả mọi hoạt động của nhân loại và tất cả các sự vật khác có được một giá trị và một ý nghĩa mới mẻ. Đó là những sự kiện cụ thể mà Tin mừng kể lại.
Tiếp đến là chủ ý nói tới những biến cố xảy ra giữa chúng ta, ‘trong môi trường của chúng ta’. Thánh Luca không phải như là một sử gia cố gắng tái lập những biến cố cổ xưa từ nhiều thế kỷ nhờ vào các nguồn mạch. Ngài viết trong chính miền mà những sự việc đã xẩy ra và thuộc về thế hệ chứng nhân của những việc đó.
Những nguồn mạch Ngài múc ra bảo đảm được sự đích thực. Ngài không trực tiếp là Tông đồ hay môn đệ của Đức Giêsu. Ngài cũng chẳng hề được diện kiến Thày hay nghe chính lời Thày. Nhưng những cái Ngài biết, dựa vào những chứng nhân tận mặt, họ làm chứng về những cái họ đã chứng kiến, mà không phải chỉ là đứng ngoài nhìn, nhưng còn được tham gia việc phục vụ Lời Chúa nữa. Nhiệm vụ chính của họ là truyền đạt Tin mừng và tất cả hoạt động của họ đều nhằm vào viễn tượng này. Họ không nói lại lời nào khác mà trao lại ‘lời’, trao lại ‘những lời của Ngôi Lời’, những ngôn từ thần linh nhân loại của Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể.
Thánh Luca đã dùng đến nhiều nguồn khác nhau. Ngoài những bản văn chính lục của Matthêu và Máccô, Ngài còn sử dụng những nguồn khác và hơn thế, Ngài đã dùng một số lớn những bằng chứng khẩu truyền. Một khi biết được sự chính xác của trí nhớ người Phương đông cổ xưa, người ta sẽ hiểu được những chuyện kể truyền khẩu được quy định nhanh chóng trong một hình thức cố định được truyền lại hết sức là chính xác.
Cuối cùng, chính Thánh Luca là con người được coi là chắc chắn. Ngài chú trọng đến tất cả những gì được cung cấp từ nguồn ngọn, Ngài không phải là con người dễ tin và nhẹ dạ: là người Hy lạp và là thày thuốc, Ngài là một quan sát viên biết cân nhắc, có tài đánh giá thực tại, không ưa những chuyện mơ mộng và huyền hoặc. Ngài không hài lòng với việc chỉ nhắc lại cái chính yếu thôi, nhưng nhấn mạnh tới các nguồn mạch. Tin mừng của Thánh Luca không bắt đầu như Thánh Máccô bằng cuộc đời công khai của của Chúa Giêsu. Nhưng hơn ai hết, Ngài thuật lại với nhiều chi tiết, những khởi đầu của một sứ điệp lạ lùng: truyền tin, giáng sinh và hơn thế nữa sự mong đợi và sinh nhật của Vị Tiền hô.
Cuối cùng, Ngài quyết định ‘cứ tuần tự’ kể lại các biến cố, không phải kéo dài từ đầu chí cuối mà sắp xếp theo một lược đồ rõ rệt, một tổng hợp gồm nhiều yếu tố được thích ứng một cách rành mạch, hợp lý.
Như vậy, dưới cái nhìn thế trần, Tin mừng theo Thánh Luca đã làm thành một văn phẩm chính xác. Còn với các tín hữu, chúng ta chỉ biết dưới những lời này Thần Khí Thiên Chúa, Đấng linh ứng cho tác giả Tin mừng, tuy dấu mình, chính Thần khí này là tác giả thực sự của Tin mừng, Đấng ban cho chúng ta niềm chính xác hoàn toàn do sự thật bất-khả-ngộ.
2. Cùng với mục đích của nó, lời tựa này còn cho chúng ta thấy ít nhiều đặc tính cá biệt của Tin mừng. Tác giả là người Hy lạp và là một y sĩ. Hai sự việc này có tầm mức quan trọng đặc biệt: là thày thuốc, Thánh Luca đã chú trọng rất nhiều tới tác động cứu độ và chữa trị của Đức Giêsu. Vì thế, Ngài đã học lại cho chúng ta cách dồi dào những cử chỉ giúp đỡ và chưã lành bệnh nhân thể xác, khuyên nhủ và thứ tha bệnh nhân tinh thần, những tội nhân.
Vậy hình ảnh Đức Kitô đây mới là dung mạo của Đấng Cứu đời đích thực. Đức Giêsu chữa cả xác lẫn hồn. Qua các cuộc tranh luận, chiến đấu hay qua đau khổ, tử nạn và sống lại hoặc qua sự thảm bại hay chiến thắng, tất cả đều được biến đổi dưới sự từ tâm sáng ngời đầy nhân đạo và lòng bác aí của Ngài.
Thánh Luca không phải là một dân thường như Thánh Máccô hay một nhà tranh luận học thức như Thánh Matthêu, hoặc một thần học gia và một nhà thần bí như Thánh Gioan, nhưng là một y sĩ, hiểu được nỗi thống khổ của con người và sự trợ giúp của Thiên Chúa, hiểu được bệnh tật và việc chữa trị được tội lỗi và ơn tha thứ.
Thánh Luca là người Hy lạp, là dân ngoại chứ không phải là Do thái. Vì thế sứ điệp của Ngài đã làm nổ tung những khuôn khổ chật hẹp của người Do thái. Cái nhìn của Ngài bao gồm cả nhân loại, chân trời của Ngài rộng như vũ trụ. Ngài nhấn mạnh tới yếu tố mới mà Chúa Giêsu đem đến, đó là Tân ước và việc tạo dựng một dân mới của Thiên Chúa; Lời mời gọi được trao đến tất cả mọi người như đã âm vang tới cả hoàn vũ, đến nỗi Giáo Hội phổ quát trở thành công việc của Đấng cứu độ toàn cầu.
Lời tựa ngắn gọn và trọng yếu này thực sự sửa soạn cho yếu tố cấu thành nên mục đích và nguồn gốc của Tin mừng theo Thánh Luca. Vì thế nó cho thấy nơi tác giả thái độ trí thức xứng hợp và việc chuẩn bị nội tâm.
Chúa Giêsu tới, đòi hỏi một sự thay đổi toàn bộ cả bên ngoài lẫn bên trong.. Con người sẵn sàng đáp ứng đòi hỏi đó nếu nó dựa trên sự chính xác và mở rộng ra được những viễn tượng lớn lao và rộng rãi. Mục đích, đặc tính của Tin mừng Luca đã bảo đảm được cả hai điểm đó.
TRỞ VỀ GALILÊ
Trước khi thuật lại một giai đoạn quan trọng trong việc giảng Tin mừng ở Galilêa, Thánh Luca đã viết một dấu nhập nhắn làm nổi bật tất cả hành năng của Chúa Giêsu trong giai đoạn này.
‘Chúa Giêsu trở về Galilêa’. Điều này tự nó không hiển nhiên. Hoạt động có tính cách chờ mong Đấng Messia đã được Gioan Tẩy giả mở đầu ở xứ Giuđêa; như vậy, khởi đầu công cuộc giảng Tin mừng ở đó hợp lý biết bao.
Hơn nữa, Chúa Giêsu còn được chuẩn bị để đi vào xứ này bằng bao biến cố xảy ra bên bờ sông Giođan, vì xứ Giuđêa với thủ phủ là Giêrusalem, quê hương riêng của dân Thiên Chúa. Chính ở đây có đền thờ, ở đây các lễ hy sinh được dâng tiến và muôn dân tuôn về đó, ở đây người ta thấy có giai cấp tư tế, các trường phaí bác học và rồi truyền thống các tiên tri cũng được lưu giữ ở đây.
Thế nhưng, trái với sự mong chờ, Chúa Giêsu lại trở về Galilêa. Sau này, Ngài mới lên Giuđêa, ở đó Ngài sẽ đương đầu với các thù địch, sẽ hiến mạng sống mình làm lễ hy sinh và kết thúc công trình cứu độ của Ngài. Nhưng giờ ấy chưa đến.
Trước hết, Ngài muốn thư thả để tiếp tục loan báo Nước Thiên Chúa, đặt nền móng cho Giáo Hội, thu họp những người tin. Ngài thấy xứ Galilêa có số dân chúng sẵn sàng hơn. Nước Thiên Chúa là một hồng ân: vì thế, những người quyền cao chức trọng, những người giàu có, những đầu óc kiêu căng không thể chấp nhận được. Họ ngỡ rằng mình có thể giúp mình được rồi; kẻ tự tin ở sức riêng mình đâu có hy vọng nơi Đấng Cứu Chuộc. Kẻ câỵ dựa vào sức lực riêng mình, thì không biết chuẩn bị để đón nhận ơn sủng.
Từ đây, những nét chính trong bố cục Tin mừng của Thánh Luca đã lộ ra. Xứ Galilêa là điểm khởi hành. Những phân chia chính yếu trong cuốn sách Thánh này được sắp xếp theo những nơi chốn địa dư: phần thứ nhất diễn biến trong xứ Galilêa, phần thứ hai trên đường từ Galilêa đến Giuđêa, phần thứ ba ở ngay trong xứ Giuđêa.
Bên trong hai miền trên, Thánh Luca xen lẫn và phối trí theo một mức độ nào đó, một loạt các biến cố theo thứ tự niên biểu, nhưng chỉ phác hoạ những nét chính, vì đó bao giờ cũng là sự liên tục có tính cách luân lý hơn là vấn đề niên biểu.
‘Trong quyền năng của Thánh Thần. Cũng một Thần trí đã đưa dẫn Chúa vào chốn cô tịch, bây giờ lại đưa dẫn Ngài đến giữa loài người. Điều này có ý nói Chúa Giêsu hoàn toàn để cho Thần trí hướng dẫn.
Ai muốn hướng dẫn đời mình chỉ bằng những ý tưởng của riêng mình, và tin tưởng ở cảm hứng của mình thì sẽ không tìm được vị thế đúng đắn của mình trong trật tự cao sang và thánh thiện của Thiên Chúa. Còn người nào biết cầu nguyện, mở cửa lòng mình đón nhận những sự trên cao, hẳn được Thánh Thần Thiên Chúa hướng dẫn, dầu trong cảnh tĩnh mịch hay giữa lòng đại chúng. Chúng ta đã đánh mất tâm tình sẵn sàng để được dẫn dắt như thế, đó là căn cớ của mọi hỗn độn, vô trật tự.
Thánh Thần Thiên Chúa đồng thời cũng tượng trưng cho mầu nhiệm riêng tư thâm tình nhất của Chúa Giêsu. Ngài hoàn toàn thấu suốt bí nhiệm đó, hành động và quyết định của Ngài.
Tin mừng nói về sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Những lời giảng mạnh mẽ của Chúa Giêsu, sức mạnh của các phép lạ Ngài làm hết thảy đều phát xuất từ nguồn phong phú mãnh liệt là Thánh Thần Thiên Chúa. Từ ngữ Hy lạp ‘dunamis’ gồm có ý tưởng chuyển động. Ở đâu Thần trí Chúa hoạt động, ở đó hẳn sẽ có chuyện lạ. Đây không phải là sự yên nghỉ suông, mà là một hoạt động đang trên đường đi đến hiện thực.
Những khả năng thực hiện việc lớn, khả năng sáng tạo của Thánh nhân không thể đem đồng hoá với hoạt động bên ngoài; đó là một năng động, một năng động tính thực sự, kín múc từ trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Nhiều vị thánh nhân xác yếu đuối, dễ bị bệnh tật, thế nhưng sức làm việc của các Ngài chưa chắc người khoẻ mạnh cường tráng có thể theo đuợc. Sức mạnh của các Ngài là sức mạnh của Thánh Thần Thiên Chúa, Đấng muốn làm những việc vĩ đại bằng những công cụ mỏng dòn.
‘Tiếng tăm Ngài lan ra khắp miền xung quanh’. Vẻ tĩnh mịch của làng Nagiarét, sự cô tịch của vùng hoang địa từ nay thuộc về quá khứ. Chúa Giêsu đã xuất hiện giữa con người. Sứ điệp của Ngài không còn chi bí mật cả: tiên vàn lời kêu gọi được chuyển từ làng này qua làng kia, sau được truyền từ xứ này qua xứ nọ và rồi từ dân này tới dân khác.
Viên đá được ném xuống mặt hồ: những gợn sóng, những vòng đồng tâm cứ lan rộng cho đến khi đụng vào ngưỡng cửa của vĩnh cửu. Một âm điệu mới đã vang lên và sẽ chẳng bao giờ ngưng đọng nữa dù là trong thời gian, dù là trong thế giới bên kia.
Sự lan tràn của Tin mừng này ngay từ khởi đầu, công cuộc giảng phúc âm ở Galilêa đã mang lại cho lần xuất hiện đầu tiên của Chúa Giêsu trước quần chúng một tính chất mạnh mẽ vô địch, một vẻ tươi mát của mùa xuân, của giọt sương mai và niềm vui khi hừng đông xuất đầu lộ diện. Một đàng người ta cảm thấy có sự trao ban, một đàng là sự đón tiếp đầy nhiệt tình hoan hỷ. Những dân cư khiêm tốn, quê mùa, những ngư phủ mộc mạc tỏ ra rất sung sướng vì có một vị tiên tri xuất hiện giữa họ, xuất thân từ giai cấp họ; một người hiểu được họ, biết được nếp sinh hoạt của họ, chia sẻ số phận của họ, đồng thời lại cao cả hơn họ, nói năng rõ ràng, hướng dẫn sáng suốt và hành động vì lòng thương yêu.
‘Ngài giảng dạy trong các hội đường của họ’. Chúa Giêsu còn dạy dỗ ở nhiều nơi khác nữa: ở bờ hồ, trên triền núi, trong tư gia; nhưng tiên vàn Ngài năng dạy dỗ trong các hôị đường, bởi chính ở nơi đây, dân chúng tụ tập lại để nghe đọc lề luật và các tiên tri.
Đối vời giáo lý của Thày, lề luật và các tiên tri tượng trưng cho điểm gặp gỡ bề ngoài lẫn bề trong. Nhưng trước hết nhấn mạnh đến giáo huấn. Đấy không phải là điểm quan trọng nhất trong cuộc đời Chúa Giêsu. Cái chết và Phục sinh của Ngài còn vĩ đại hơn nhiều. Nhưng dầu sao, nếu giáo huấn có được đặt lên hàng đầu thì cũng là để chứng tỏ giá trị của Lời giảng.
Ngài tỏ mình ra như một tiến sĩ luật, bởi vì Ngài công bố quan niệm đúng đắn về luật cũ và về luật mới của Tin mừng.
 Chúng ta luôn phải lắng nghe Lời Thiên Chúa để khỏi bị những lời của nhân loại dẫn vào mê lộ. Chính Lời của Thiên Chúa, giáo lý của Chúa Giêsu, chứ không phải khoa học, sẽ giúp giải quyết những bí ẩn tối hậu, và giải đáp những vấn đề thâm sâu nhất.
‘Ai nấy đều ca tụng Người”. Con người của Ngài, cách Ngài nói, cách Ngài tỏ mình, thái độ, hành năng của Ngài có một cái gì hấp dẫn khó cưỡng lại được. Ai lắng nghe Ngài mà lòng không thành kiến và nội tâm không chai đá thì hẳn phải thán phục và mến yêu Ngài. Vì Ngài có sức bắt buộc phải chọn lựa. Quần chúng xôn xao, nọi người và mỗi người phải chọn lựa cho mình một thái độ theo hay không theo, không ai được kính nhi viễn chi, dửng dưng, trung lập… Một sự hồ hởi nổ tung. Đây là phản ứng đầu tiên. Từ từ sự chống đối manh nha và rồi lớn mạnh thành cả một mặt trận phản kháng. Nhưng ở khởi đầu, thì chỉ có một đám đông dân cư vui mừng hoan hỉ. Mọi người đều vang tiếng hát bài ca mới; Người ta nói đến cuộc khởi hành mới… Thần khí của Chúa Giêsu Kitô làm phát sinh nhiệt tình phấn khởi.
Bằng vài lời đó, công cuộc rao giảng Tin mừng ở Galilêa được phác hoạ như là một giáo lý và hành năng có sức mạnh lớn lao, một khơi động niềm vui và là công trình của Chúa Thánh Thần.
NAGIARÉT
Theo Thánh Luca, Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ chính thức ở Nagiarét. Thánh ký không muốn nói rằng Chúa Giêsu giảng ở đó lần đầu, vì Ngài có nói đến bản văn viết về Chúa đã giảng dạy ở Caphanaum. Nhất là vì Thánh Luca muốn chứng tỏ bằng một thí dụ, và ngay từ đầu cuộc sống công khai của Chúa Giêsu cho thấy lý do hành năng của Ngài đã gây ra sự phân cách, người chấp nhận, kẻ từ bỏ.
Vì thế, quang cảnh tả ở đây cấu thành một thứ lời tựa và mở đầu cho hoạt động của Chúa ở Galilêa, nhờ việc khai triển trình thuật đó cùng với bầu khí của nó.
NHIỆT TÌNH ĐÓN NHẬN.
Trong hội đưỡng, khi hai bài đọc về lề luật và tiên tri chấm dứt, thì một cử toạ có thể đứng lên chú giải bản văn, hoặc là giải thích, hoặc là đưa ra bài giáo huấn xây dựng. Chúa Giêsu cũng làm như thế. Ngài bảo người ta đưa cho Ngài cuốn sách tiên tri Isaia, Ngài đọc bản văn Ngài đã chọn rồi ngồi xuống để giáo huấn. Mọi người chờ đợi với sự kinh ngạc khôn tả. Chúa Giêsu chưa làm gì ở Nagiarét khiến người ta chú tâm đến Ngài. Ngài cũng chẳng là một Ra-bi đã từng tra cứu sách này sách nọ… Bỗng dưng người ta nghe đồn Ngài đã khởi sự giảng dạy trong những thành khác ở xứ Galilêa.
Đây là lần đầu tiên Ngài trở về ngôi làng nơi Ngài sinh trưởng, nơi mà ai nấy đều biết Ngài tỏ tường. Ngài sắp nói gì đây?. Trong bản văn Ngài vừa đọc, tiên tri Isaia mô tả thời cuối cùng kết thúc cuộc lưu đày và mở đầu cho một thời kỳ huy hoàng tương lai, thời kỳ Đấng Cứu Thế xuất hiện. Với một vẻ đơn sơ nhưng trang trọng, Chúa Giêsu đã áp dụng những lời tiên tri vào chính bản thân Ngài cách rất tự nhiên: ‘Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh thánh mà tai các ngươi vừa nghe’.
‘Thánh Thần Chúa ngự trên tôi’. Nếu ai có thể nói được điều đó thì hẳn phải là Chúa Giêsu. Không phải Ngài chỉ xem thấy Thần khí ngự xuống trên mình dưới hình thức mắt trần xem thấy được khi chịu phép rửa ở sông Giođan, đến độ nói theo loài người thì hiển nhiên Ngài đã được tràn đầy Thần Linh Chúa. Nhưng nhờ sự kết hợp bản tính Thiên Chúa với bản tính nhân loại nơi một chủ vị, Ngài còn tràn đầy Thần Linh Thiên Chúa đến độ Thần Linh đồng hoá với Thần Trí của Ngài tự nhiên và ngự lại ở trên Ngài không phải trong chốc lát nhưng là cách chủ yếu và thường tồn. Hơn ai hết, Ngài tỏ ra là một người của Thiên Chúa và một người thiêng liêng.
‘Người đã xức dầu cho tôi’. Chúa Kitô là dầu tuyệt hảo bởi vì Ngài trổi vượt hơn hết thảy mọi tiên tri, và tỏ mình ra cả về phần Thiên Chúa lẫn phần riêng của Ngài, như chưa từng có vị nào trong số các tiên tri đã làm. Ngài là Lơì của Thiên Chúa đã nhập thể; vì là Dầu, nên Ngài là Vua trên hết các vua, là Đấng Thống trị tối cao, bởi vì Nước của Ngài là Nước Thiên Chúa, Đấng không hề biết giới hạn là gì cả về không gian lẫn thời gian. Ngài là vị Tư Tế đã được hiến thánh bởi vì xét như là Người-Chúa, là Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và nhân loại, một hiến lễ của Ngài đã có giá trị mang lại hiệu quả và ý nghĩa cho mọi hiến lễ khác. Ngài là Đấng Messia dân Israel mong đợi, nay đã đến rồi.
‘Người đã sai tôi’. Một ơn gọi trong Tôn giáo bao giờ cũng kèm theoi một sứ mạng Xức dầu không phải để cho riêng ngươì-được-xức-dầu, nhưng là cho những người mà vị này được phái tới. Tự căn bản, Chúa Giêsu là Đấng được sai đi. Sứ vụ của Ngài là một sự kéo dài việc Ngài sinh ra từ Thiên Chúa: Đấng xuất phát từ Cha qua việc nghĩa tử nay đi vào trần gian để đưa dẫn thế gian về với Cha. Cốt tuỷ của sứ vụ Ngài là như thế đó.
‘Đem Tin mừng cho người nghèo khó’. Đây là những người nghèo khó về vật chất, nhưng trước hết là những người nghèo về phần thiêng liêng. Chỉ có ai ý thức được sự khốn khổ của mình mới biết chuẩn bị đón nhận ‘Tin mừng’ ban phát ân sủng. Chúa Giêsu biết không được sai đến với những kẻ ngỡ rằng mình đã đầy đủ rồi, nhưng là đến với những người đau khổ vì hoàn cảnh của bản thân mình và hoàn cảnh của trần gian. Đối với những người này sứ điệp của Ngài thực là một Tin mừng.
‘Loan truyền sự giải thoát cho kẻ tù đày’. Tù đày bề ngoài ở Babilon, rồi được trở về tự do chỉ là một dấu chỉ phớt qua của ý định lớn lao này: ‘giải phóng con người khỏi ách tù đày bề trong do tội lỗi và quỷ ma trói buộc. Nói theo nghĩa chặt, đây mới chính là tù đày và giải phóng. Chúa Giêsu là một chiến sĩ giải phóng vĩ đại nhất của loài người. Vì thế tự do là một trong những chân lý chủ yếu, là một trong những yếu tố căn cơ của sứ điệp Kitô giáo. Ở đâu người ta không còn cảm thấy hơi hướng của tự do này, ở đó câu nệ hình thức, lo âu, sợ hãi một lần nữa lại làm cho mọi sự tê liệt, Tin mừng bị bóp méo ngay từ trong bản chất của nó.
‘Cho người mù được thấy’. Ở đây cũng lại có ý chí sự mù loà nội tâm, sự tối tăm nghi hoặc đối với những vấn đề trọng đại, đêm đen của tâm hồn vì xa cách ánh sáng Thần Linh. Chúa Kitô soi chiếu trần gian. Nhờ Ngài ánh sáng bừng lên trong tâm trí người đi tìm kiếm; soi sáng tâm hồn bị áp bức, soi sáng đêm đen tội lỗi. ‘Người mù loà được xem thấy’. Đức Kitô chỉ cần đụng tay là ánh sáng trở lại với người mù: đây là dấu chỉ mãi mãi mới mẻ về sự soi sáng thật mà Chúa Kitô đã mang đến cho những ai bị mù loà phần linh hồn.
Nhờ ánh sáng mạc khải, ánh sáng của lý trí sẽ trở nên ánh sáng có bản chất đặc biệt cho đến khi nó rạng soi trong ánh sáng vinh quang, không còn pha lẫn chút tăm tối nào nữa. ‘ánh sáng của lý trí’, ‘ánh sáng của mạc khải’ và ‘ánh sáng của vinh quang’ rốt cuộc đều là hoa trái của ‘Ánh Sáng Chúa Kitô’.
‘Trả tự do cho kẻ bị áp bức’. Đức Kitô đứng về phía những người yếu, phía kẻ cô thế, bị bóc lột, áp bức. Sứ điệp của Ngài có tính cách xã hội. Nhưng, ở đây còn có một cái gì thâm thuý hơn. Quyền lực ma quỷ, Satan, áp bức và đe doạ tâm hồn. Một sự áp bức đè nặng con người và làm cho cuộc sống bị bất ổn. Satan là thủ lĩnh thế gian: đó là lý do tại sao Kitô giáo là một cuộc cách mạng tôn giáo, vì nó lật nhào kẻ muốn chiếm đoạt địa vị không thuộc về mình; thay vào đó là quyền năng tối cao của Thiên Chúa, không áp bức nhưng giải phóng.
‘Loan báo năm hồng ân của Thiên Chúa’. Hừng đông của thời kỳ vĩ đại của ơn cứu độ mở đầu với việc Đức Messia đến. Tất cả mọi năm hoan hỷ của Israel chỉ là điềm báo cho thời tương lai này, thời mà sự vui mừng vô tận phát sinh từ âm hưởng của Tin mừng.
Như thế, khi áp dụng những lời tiên tri vào bản thân mình, Chúa Kitô mô tả con người và sứ vụ của Ngài bằng những từ ngữ đơn sơ nhưng uy nghiêm đến độ dân chúng nín thở, hồi hộp lắng nghe và cảm kích. Họ ngạc nhiên về sự kiện Ngài dạy dỗ, con người chưa bao giờ học hành ở đâu cả; họ kinh ngạc về cách Ngài dạy dỗ, hoàn toàn khác với lề thói của các thày dạy lề luật họ đã quen; và họ bị những điều Ngài giảng dạy hấp dẫn, vì đây là sứ điệp ban ơn cứu độ, ánh sáng, sự trợ giúp và tự do.
Theo sau Lời Chúa Giêsu giải thích là một hồi thinh lặng. Cử toạ nói với nhau, trao đổi cảm tưởng. Trước hết đây là một sự lôi cuốn pha lẫn vui mừng, rồi lần lần có nhiều tiếng nói khác nổi lên, trước tiên là tiếng của các luật sĩ có mặt trong buổi họp ấy. Bầu khí từ từ đổi thay, rồi biến đổi hẳn. Phần thứ hai trong hoạt cảnh này diễn biến theo một chiều hướng hoàn toàn ngược hẳn.

 

TN3-C55. Chú giải của Fiches Dominicales

“Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Trang minh họa dự tính của Luca
 

Vì là người ngoại đến với đức tin Kitô giáo, Luca đã không được biết Đức Giêsu nhiều. Bởi vậy: TN3-C55

Vì là người ngoại đến với đức tin Kitô giáo, Luca đã không được biết Đức Giêsu nhiều. Bởi vậy, trước khi viết về Đức Giêsu, Luca đã muốn "cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự" và cố gắng căn cứ vào những nguồn tài liệu có giá trị, để cho tác phẩm của mình hữu ích và có nét độc đáo đối với phần đông độc giả là những người cũng từ ngoại giáo trở lại như ngài, mà điển hình là "ngài Thêôphilê đáng kính ".
Nếu Luca có ý "tuần tự viết ra câu chuyện" thì không phải là viết theo cách thức những nhà nghiên cứu lịch sử ngày nay vốn quan niệm, mà chỉ là để phục vụ và hỗ trợ cho một suy tư thần học mà thôi, như ngài sẽ nói lên điều đó trong các phẩm thứ hai của mình. Dự tính của Luca là chỉ muốn kể lại việc Thiên Chúa mở cửa cho các dân ngoại đón nhận đức tin như thế nào" (Cv. 14,27). Vì thế tác phầm của Luca gồm hai cuốn sách trình bày chương trình cứu độ về mặt lịch sử và cũng cả về mặt địa lý nữa.
- Chương trình cứu độ xét về mặt lịch sử:
+ Sau thời kỳ LỜI HỨA
+ thì đến thời kỳ THỰC HIỆN
Với thời Chúa Giêsu, Thần Khí xưa đã tác động các ngôn sứ, thì nay càng tỏ hiện tràn đầy trông ngôn ngữ và hành động của Đức Giêsu.
Với thời của Giáo hội, thời của Thần Khí được thông ban tràn đầy qua Đức Kitô phục sinh.
- Chương trình cứu độ về mặt địa lý được diễn ra chung quanh Giêrusalem.
+ Giêrusalem, nơi mọi sự bắt đầu với lời Sứ thần báo tin cho ông Dacaria ở trong Đền thờ, sẽ là thành đô cho Đức Giêsu lên đó để sống trang sử "xuất Hành " của Người và cũng là nơi, như cuối Phúc âm Luca có ghi, để các Tông đồ ngày ngày sẽ lên Đền thờ mà chúc tụng Đức Giêsu như là Đức Chúa phục sinh (Phúc âm theo thánh Luca). Sách Tin Mừng của Luca mở đầu từ trong Đền thờ thì cũng kết thúc ở đây.
+ Giêrusalem, nơi mọi sự bắt đầu với biến cố Thăng thiên, cũng sẽ là thành đô để từ đó các người phục vụ Lời Chúa sẽ bung ra trên mọi nẻo đường nhân loại để mang Tin Mừng "cho đến tận cùng trái đất " (Sách Công vụ Tông đồ).
2. Buổi hội họp ở hội đường
“Được đầy Thánh Thần" khi chịu phép rửa ở sông Giođan, và được Thánh Thần dẫn vào hoang địa để đối đầu quyết liệt với ma quỷ và Người đã chiến thắng, giờ đây Đức Giêsu đã trở về Galilê và đến Nadarét là "nơi Người mới sinh trưởng". Như một người Do thái đạo đức, Người vào hội đường "như Người vẫn quen làm trong ngày sabát".
Khác với Matthêu và Maccô đặt biến cố này – thiết tưởng có vẻ đúng hơn vào cuối thời kỳ thi hành sứ vụ ở Galilê, còn Luca thì đã đặt vào đầu thời kỳ, để phục vụ tốt hơn cho dự tính của mình và đã kết cấu bài tường thuật của mình như một "biến cố điển hình" khai mở và tóm tắt trước những gì sắp xảy ra, tức là việc Đức Giêsu bị dân Người chối bỏ và công cuộc loan báo Tin Mừng cho các dân ngoại.
- Hôm đó là "ngày Sabát” là ngày để nghe đọc Sách Thánh, ngày kỷ niệm cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập, ngày mà người có lòng tin trong khi chúc tụng Thiên Chúa giải thoát dân Người thì cũng phải nghĩ đến việc giải thoát chính mình và người khác khỏi ách nô lệ.
- Chúng ta đang "trong hội đường" và Luca đưa ra cho chúng ta một bức tranh quý giá về phụng vụ diễn ra vào mỗi ngày thứ bảy. Nếu như Luca bỏ qua phần nghi thức mở đầu (lời khái quát, kinh cầu nguyện lời chúc lành), cũng như không gợi lại bài đọc thứ nhất, thì ngài lại mô tả cách rất tỉ mỉ và gần như khoan thai, mọi cử chỉ và nghi thức mà Chúa Giêsu đã làm.
3.... lúc ấy Chúa Giêsu loan báo "Tin Mừng"
Theo tập tục để lại từ bao đời (cf. Công vụ Tông đồ 13,15 và tiếp theo: Phaolô và Banaba viếng thăm hội đường ở An-ti-ô-khi-a miền Pixidia), Đức Giêsu được cộng đồng tôn giáo Do thái tiếp đón, mời đứng lên đọc một đoạn sách thánh; sau đó Người ngồi xuống để giải thích đoạn sách Tiên tri vừa đọc.
Đoạn sách của buổi phụng vụ hôm đó đúng là Isaia 61, 1-2: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi". Đây là một trong những lời sấm lớn, vốn nuôi dưỡng niềm hy vọng của dân tộc Do thái. Truyền thống của họ coi đây là lời loan báo về Đấng thiên sai đến; Người đầy tràn Thần Khí, Người đem đến "Tin Mừng", là loan báo về thời đại mới bắt đầu khai mở, dân tộc Israel được giải phóng và khởi đầu triều đại của Thiên Chúa.
4. về "hôm nay” ứng nghiệm lời Kinh Thánh.
Bây giờ là lúc Chúa Giêsu đã cuộn sách lại và trả cho người giúp việc hội đường Người ngồi xuống và bắt đầu giải thích những lời vừa đọc. Một bài giải thích mà Luca đã tóm tắt lại bằng một câu tuyệt vời: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe". R. Meynet chú giải: "Kinh thánh tuy là những lời nằm chết trong sách, lại có được sức sống nhờ được đọc lên lúc này. Được nói lại từ một cửa miệng, Kinh Thánh lại trở thành lời mang ân sủng cho những ai nghe. Phép lạ của việc đọc sách thánh là làm cho những lời xưa của vị tiên tri đã chết rồi, trở thành lời sống động của Đấng được sai đến hôm nay. ("Phúc âm theo thánh Luca. Phân tích tu từ", Cerf, tr. 62).
Cùng với Đức Giêsu và trong Đức Giêsu, tất cả những lời tiên tri loan báo đều ứng nghiệm: Người là Đấng Mêsia được sai đến (Is. 61) tràn đầy Thần Khí của Đức Chúa; bản thân và sứ điệp của Người là "Tin Mừng được loan báo cho kẻ nghèo hèn". Cùng với Người và trong người, thời đại mới của ân sủng, thời đại "công bố một năm hồng ân của Chúa" được khai trương. Cùng với Người và trong Người, Thiên Chúa ra tay hành động để giải thoát mọi người, “người bị giam cầm, người mù, người bị áp bức", tất cả đều được Người ban ơn cứu độ và tha thứ. Cùng với Người và trong Người, "Hôm nay" hồng ân của Chúa ùa tràn vào dòng lịch sử của loài người.
Trong hội đồng Nagiarét, Đức Giêsu khởi đầu sứ mệnh của Người “với quyền năng Thánh Thần” của phép rửa Người chịu. Sứ mệnh đó, Người sẽ theo đuổi xuyên suốt dòng lịch sử trong Giáo hội của Người, "với quyền năng Thánh Thần" của ngày Hiện Xuống.
Chúa nhật tuần tới, chúng ta sẽ chăm chú đọc nốt phần cuối của đoạn Phúc âm này.
BÀI ĐỌC THÊM
1. Một bản tóm lược về sứ mệnh của Đức Giêsu.
(H. Villliez, trong "Dieu si proche. Năm C", DDB, trg 86)
“Hành động mở màn cho sứ vụ của Đức Giêsu đã diễn ra ở Nadarét... Trong hội đường, vào ngày sabát. Vì là một người ngoại giáo trở lại, nên Thánh sử Luca chủ tâm nêu bật hai điều này: sứ điệp trước tiên đã được gởi đến cho người Do thái, sau đó nhờ một khúc quanh lịch sử nhiệm mầu, sứ điệp ấy sẽ được loan báo cho dân ngoại. Câu chuyện này giống như một việc làm trước thời hạn, diễn tả những gì sẽ sảy ra. Đúng là một bản tóm lược về sứ mệnh của. Đức Giêsu. Câu chuyện vay mượn quá khứ tôn giáo của dân tộc Do thái và sách tiên tri Isaia thứ ba được viết từ năm thế kỷ trước, như để nhấn mạnh rằng cội nguồn không bị đứt đoạn và truyền thống cũng không bị mai một, có nghĩa là cội nguồn và truyền thống vẫn được tiếp nối và duy trì.
Ba từ ngữ mang âm thanh vang dội và làm đảo lộn trật tự sẵn có là: kẻ nghèo, giải phóng, năm hồng ân. Ngươi ta ngờ vực, cũng là điều dễ hiểu thôi. Các đồng bào và đồng hương Nadarét của Đức Giêsu sẽ chống đối quyết liệt. Làm sao mà chấp nhận được một Đấng Mêsia cổ vũ việc giải phóng người nghèo và tuyên bố: "Năm hồng ân là chính hôm nay". Nếu "theo sách Isaia thứ ba", Tin Mừng là lời loan báo cho những người lưu đầy được hồi cư, thì với Đức Giêsu, Tin Mừng lại chính là lời loan báo cho những người nghèo biết rằng họ là “những người được Thiên Chúa yêu thương đặc biệt”, rằng họ được giải phóng. Với Đức Giêsu, hôm nay chấm dứt mọi kiếp nô lệ lầm than. Tóm lại, nhờ Thần Khí và Tình yêu, hôm nay là cuộc giải phóng toàn diện, giải phóng mọi hình thức bất công và tội lỗi.
Sau cùng, loan báo Tin Mừng còn là loan báo "năm hồng ân". Năm nay phải là năm đại xá, năm nợ nần sẽ được tha hết, nô lệ sẽ được giải phóng, là năm mà con người nhờ tuân theo luật Chúa sẽ lập lại được một trật tự trần gian ngày càng nên giống Nước Trời hơn.
2. “Mầu nhiệm của Lời Chúa".
(J Thunus. "Dans vol ascemblées” tập 2. DDB. trg 395)
"Hôm nay, bạn có nghe tiếng Người chăng?" Câu nói trong Thánh vịnh 94 này đã là khởi điểm để bức thư gởi tín hữu Do thái triển khai rộng rãi về tính hôm nay của Lời Chúa (Dt. 3,7- 4,11). Bài giảng của Đức Giêsu ở hội đường Nagiarét càng làm cho tính cách "hôm nay" này mang ý nghĩa đặc biệt.
"Đức Giêsu cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Mọi người trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Rồi người bắt đầu nói với họ: Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh thánh quý vị vừa nghe" (Lc. 4,20-21).
Mầu nhiệm sâu xa rõ ràng là nằm trong lời nói đó. Lời Chúa đã được ghi chép lại ở một thời điểm của lịch sử là Lời nói cho mọi thời và là lời hằng sống và thực tế cho người biết lắng nghe trong tâm tình thờ phượng. Sự sống của lời Chúa là sự sống của Thần Khí, Đấng sẽ "dẫn tới sự thật toàn vẹn" (Ga. 16,13)
3. "Loan báo Tin Mừng: một trách vụ của mọi tín hữu”.
(M. Dcgraeve, trong "Unité des chrétiens". Tháng 10-l994) số 96, trg 23 và 24)
“Hiệp thông huynh đệ, sống trong cùng một mái nhà là một thực tại phải xây dựng không ngừng. Sự hiệp thông phải được thể hiện dần dần. Thực sự, sự hiệp thông đã có đó rồi. Rất nhiều khi chúng ta chỉ thấy được những mối chia rẽ giữa các tín hữu, giữa các Giáo hội cùng tin Đức Kitô, nhưng cũng thấy ngay trong nội bộ của mọi Giáo hội, cả trong nội bộ của các cộng đoàn của chúng ta nữa. Nhìn kỹ vào những mối bất hoà kia, ta có thể nghiệm thấy rằng nếu biết dùng những phương tiện của sự hiệp thông, chúng ta sẽ xây dựng được cuộc sống huynh đệ. Để được như vậy, chúng ta phải biết nhìn nhận nhau là những con người khác nhau, nhưng đã được quy tụ lại bởi cùng một Lời và cùng tự nhủ là phải ráo riết thể hiện nước Chúa bằng việc rao giảng Tin Mừng.
Ý muốn chối bỏ những khác biệt thường dẫn tới sự từ chối người khác. Dẫu sao, giữa các cộng đoàn và các Giáo hội của ta cũng như giữa các Giáo hội cùng tin Đức Kitô, tính khác biệt là một quy luật chung, không ai chối cãi được.. Phải tôn trọng tập thể khác đã đành, mà bản thân mỗi người cũng cần biết tôn trọng nhau nữa. Như thế, chúng ta mới có thể chia sẻ những đau khổ của nhau, giống như những phần mình của một thân thể cùng chung phần đau đớn với phần khác trong thân thể vậy: đó chính là giáo huấn bản của thánh Phaolô. Nhận biết điều này và tôn trọng nhau như vậy không gì phù hợp với lẽ phải hơn, bởi lẽ chỉ một Thánh Thần sống trong ta và một Đức Kitô là đầu mới có thể cho phép ta thực hiện được điều này mà thôi. Chính Đức Kitô, Lời nhập thể là sự thiện chung mà mọi người cùng hưởng. Lời Chúa quy tụ chúng ta lại, cách riêng vào mỗi ngày Chúa nhật, ngày mà chúng ta cùng nhau chúc tụng tôn vinh Đức Kitô phục sinh, nên các Giáo hội Kitô của chúng ta, dù khác biệt nhau thế nào, thì Lời này vẫn phải được chia sẻ, hiểu biết, để Lời mang lại hoa trái và hoa trái tồn tại.
Nếu chúng ta thực sự ý thức một cách đầy đủ tầm quan trọng của Lời này, thì ta sẽ càng có khả năng hơn để thực hiện được việc rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo khổ, việc giải thoát cho những kẻ bị giam cầm, bị áp bức và đem ánh sáng đến cho kẻ mù lòa. Đây là trách vụ chung mọi người cùng phải gánh vác, dù các Giáo hội và cộng đoàn của ta có là gì chăng nữa. Nếu chúng ta muốn sống tình bác ái huynh đệ giữa các Kitô hữu với nhau, ta phải bắt lay xây dựng một thế giới chan hòa tình huynh đệ.

 

TN3-C56. ĐỨC GIÊSU TẠI NAZARET

Luca 1,1-4; 4,14-21
Lm. PX Vũ Phan Long, ofm 
I. NGỮ CẢNH
 

Tác giả Lc đưa Đức Giêsu đi vào lịch sử dưới dấu chỉ là hoàn cảnh chính trị và tôn giáo của đế quốc: TN3-C56

Tác giả Lc đưa Đức Giêsu đi vào lịch sử dưới dấu chỉ là hoàn cảnh chính trị và tôn giáo của đế quốc Rô-ma và của Israel. Qua cái cổng này, ngài lấy lại các chặng của TM Mc.
Lc đặt phần 1 của Tin Mừng dưới dấu chỉ là việc mạc khải của Đức Giêsu tại Nadarét; các hoạt động đầu tiên của Người tại Caphácnaum và Galilê đến tiếp vào (Lc 4,14-5,16). Bên trong đoạn này, tác giả bố trí các hoạt cảnh theo nhiều cách: ngài cố tình nêu bật Galilê. Hơn các tác giả Nhất Lãm khác, ngài nhấn mạnh việc Đức Giêsu trở về miền Galilê “trong quyền năng Thánh Thần” (4,14). Ở 4,44, ngài thay thế Galilê bằng Giuđê, nhưng để nói về toàn lãnh thổ của người Do-thái; đứng đầu các thành phố và làng mạc được loan báo Tin Mừng, ngài đặt Nadarét (4,16); tại Galilê, nơi có vai trò quan trọng là Caphácnaum (4,31 ; 7,1).
Vậy, chỉ có miền Galilê nằm trong nhãn quan của  Lc ở đoạn này. Chuyển động không nằm trong việc thay đổi nơi chốn, nhưng trong việc rao giảng về Nước Trời: Bằng việc hoán chuyển vị trí của câu truyện Nadarét, Lc cho thấy rằng con người và sứ mạng của Đức Giêsu mới là ưu tiên (Lc 4,13-30 = Mc 6,1-10; Mt 13,53-58).  
II. BỐ CỤC
Sách Bài đọc gộp vào đây hai bản văn  xa nhau ba chương trong TM Lc. Khó mà thấy được ý hướng của sự ghép nối này; có lẽ các chuyên viên Phụng vụ chỉ muốn nối với nhau hai bản văn “mở đầu”: mở đầu Tin Mừng theo Lc (1,1-4) và khởi đầu việc rao giảng của Đức Giêsu tại Nadarét (4,14tt).
Bản văn Phụng vụ có thể chia thành ba phần:
      1) Mở đầu Tin Mừng (1,1-4);
      2) Tóm: Bắt đầu sứ vụ (4,14-15);
      3) Thăm viếng Nadarét (4,16-21):
            a) Thăm viếng hội đường Nadarét (c. 16),
            b) Đọc Kinh Thánh (cc. 17-20),
            c) Giảng dạy (c. 21). 
III. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
- Nadarét  (16): chính xác là Nadara. Đây là lần duy nhất tác giả Lc gọi quê hương Đức Giêsu bằng cái tên A-ram Nadara (tương tự Mt 4,13), nhưng lại không gọi là “quê hương/quê quán” của Đức Giêsu (khác với Mc 6,1 và Mt 13,54): có lẽ bởi vì Đức Giêsu không sinh ra tại đó (2,4-7), nhất là bởi vì đối với Lc, “quê hương” của Đức Giêsu là toàn thể đất Israel (x. cc. 24-27). 
- đứng lên đọc Sách Thánh (16): Tác giả Lc cho thấy Đức Giêsu giảng dạy dựa trên Kinh Thánh. Ta có thể hiểu ngầm rằng ở đây Đức Giêsu đã được ông trưởng hội đường (archisynagôgos) mời đọc và trình bày một bản văn Kinh Thánh (như Phaolô và Banaba ở Antiôkhia miền Pisiđia; x. Cv 13,15). Tại Paléttina vào thế kỷ đầu tiên, việc cử hành ngày sabát tại hội đường dường như gồm có việc hát một thánh vịnh, đọc kinh Shema (Đnl 6,4-9; 11,13-21; Ds 15,37-41) và tơphillâh [lời cầu khẩn] (hoặc shơmôneh esrêh = “Mười Tám [lời chúc lành]” và đọc một seder (quyển nghi thức) hay một pârâshâh trích từ tôrah (Lề Luật = Ngũ Thư) và một đoạn các Ngôn sứ (haptârâh; x. Cv 13,15). Sau đó là bài diễn giải các bản văn Kinh Thánh đã đọc. Cuộc cử hành chấm dứt bằng lời chúc lành của ông trưởng hội đường và lời chúc lành tư tế (x. Ds 6,24-26).
Lc không nhắc đến bài đọc Tôrah, nhưng phải hiểu là có. Ngài chỉ quan tâm hơn đến việc ứng nghiệm các lời sấm Đệ II Isaia và cách sử dụng Cựu Ước theo quan điểm Kitô học.  
- cuốn sách ngôn sứ Isaia (17): Người ta yêu cầu Đức Giêsu đọc một đoạn Ngôn sứ bằng tiếng Híp-ri. Tác giả không nói đến Targum, tức dịch bản Híp-ri ra tiếng A-ram, nhưng có thể giả thiết là có, vì vào lúc ấy, người Do-thái dùng tiếng A-ram chứ không còn hiểu tiếng Híp-ri nữa. Sự kiện người ta “trao cho” Đức Giêsu cuốn sách Isaia cho hiểu rằng người ta quy định phải đọc một đoạn văn Isaia, tức là có một chu kỳ các bài đọc Ngôn sứ cũng như các bài đọc Lề Luật. Nhưng dường như người đọc có thể chọn (x. câu 17b).  
- Thần Khí  Chúa ngự trên tôi  (18): Bản văn trích Đệ II Isaia trong Lc là một đoạn tổng hợp Is 61,1a.b.d; 58,6d; 61,2a. Hai câu bị bỏ là Is 61,1c ở cuối Lc 4,18 (“băng bó những tấm lòng tan nát”) và Is 61,2b ở cuối Lc 4,19 (“một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta”). Bỏ Is 61,1c thì không có hậu quả gì đáng kể, nhưng bỏ Is 61,2b là cố tình bỏ đi một phương diện tiêu cực của sứ điệp II Is.  
- vì  Chúa đã xức dầu tấn phong tôi (18): Bản văn cho thấy là chính Thiên Chúa đã cử Thánh Thần xuống trên Đấng Mêsia như một chất dầu xức cho Đấng Mêsia, hầu Người lên đường thi hành sứ mạng cứu thế. 
- để tôi loan báo Tin Mừng (18): Bản văn Is Hy-lạp không rõ là “để loan báo Tin Mừng” là mục tiêu của “Chúa đã xức dầu” hay là mục tiêu của “Người đã sai tôi”. Giáo sư Fitzmyer dịch theo bản gốc Híp-ri, “he has sent me to preach good news to the poor” (dịch sát là “to announce good news to the poor he sent me”). 
- người giúp việc hội đường (20): Ngoài ông trưởng hội đường (archisynagôgos), còn có các nhân viên là “các kỳ mục” (prebyteroi, Lc 7,3) và “các người giúp việc” (“người cán sự”, NTT) (hypêretês, Cv 13,5) giống như “ông từ nhà thờ, người phụ trách phòng thánh”. 
- ngồi xuống (20): Khi đọc Kinh Thánh, người ta đứng; còn khi trình bày ý nghĩa bản văn (logos paraklêseôs, Cv 13,15), người ta ngồi. 
- chăm chú  nhìn Người (20): Động từ atenizein là động từ Lc ưa chuộng (x. Lc 22,56; Cv 1,10; 3,4.12; 6,15; 7,55; 10,4; 11,6; 13,9; 14,9; 23,1). Thường động từ này diễn tả sự trân trọng và tin tưởng (là điểm của bản văn này).  
- Hôm nay (21; Hl. sêmeron, x. 2,11 [Giáng sinh]; 3,22 [phép Rửa]; 4,21; 5,26 [người bại liệt]; 13,32-33; 19,5.9 [Dakêu]; 23,43 [người trộm lành]): Đây là từ ngữ quan trọng của Lc, có nghĩa là: Sau một thời gian dài chờ đợi và hy vọng, lịch sử cứu độ đã tới đỉnh cao hoàn tất. Tất cả những gì các ngôn sứ nói đã thành sự trong các hành động và các lời nói của Đức Giêsu (x. 4,18.19; 5,26; 19,9).  
- đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh (21): Kiểu nói này tương ứng với kiểu nói “thời kỳ đã mãn của Mc 1,15. Hôm nay, niềm an ủi cho Sion lại được gửi đến cho dân Thiên Chúa (x. Lc 2,25; 7,22). 
IV. Ý NGHĨA CỦA BẢN VĂN
* Mở  đầu Tin Mừng (1,1-4)
Lời mở này phù hợp với quy tắc viết thời tác giả Lc. Qua đoạn văn ngắn ngủi này, chúng ta biết về phương pháp làm việc của tác giả. Hôm nay chúng ta thừa kế vốn hiểu biết về Đức Giêsu từ bao thế hệ. Các thông tin được những con người có lương tâm đánh giá, cân nhắc rồi viết ra. Như thế, đức tin chúng ta không dựa trên những chuyện hoang đường hoặc những chuyện ngụ ngôn do tưởng tượng, nhưng chủ yếu dựa trên các sự kiện lịch sử được đảm bảo bởi các chứng nhân thà đổ máu ra chứ không chịu phủ nhận các sự kiện ấy.   
* Tóm: Bắt  đầu sứ vụ (4,14-15)
Trong khi các TMNL liên kết khởi đầu sứ vụ công khai của Đức Giêsu với việc Gioan Tẩy Giả bị tù (Mc 1,14; Mt 4,12), Lc lại bắt đầu Tin Mừng của ngài bằng một tóm tắt; còn chuyện Gioan bị tù đã được ngài đưa lên phía trước (3,19-20). Đoạn tóm tắt này cho một cái nhìn tổng quát trên sứ vụ của Đức Giêsu tại Galilê (những tóm tắt: 4,31-32.40-41; 6,17-19; 8,1-3; 19,47-48; 21,37-38). Tuy đoạn tóm này không nhắc tới nội dung lời rao giảng của Đức Giêsu về Nước Thiên Chúa hay lời lêu gọi hoán cải, bản văn vẫn chứa ba nét đặc trưng của Lc: (a) Một leitmotiv là “quyền năng Thần Khí” (c. 14). (b) Hoạt động của Đức Giêsu được mô tả trước tiên như một việc “giảng dạy” (c. 15); ta hiểu Đức Giêsu “giảng dạy” dưới quyền năng Thần Khí. (c) Tính phổ quát vẫn được Lc nhấn mạnh nơi câu “được mọi người tôn vinh”.   
* Thăm viếng Nadarét (4,16-21)
Sau đó, Đức Giêsu “đến Nadara, là nơi Người sinh trưởng”. Theo thói quen, Người đi vào hội đường ngày sa-bát. Qua vài câu đó, Lc nhắc lại những gì ngài đã kể thuộc thời thơ ấu của Đức Giêsu (x. 2,39-40.51-52). Thành này được ngài gọi một lần duy nhất ở đây là Nadara, nhưng không được gọi là “quê hương” của Đức Giêsu, có thể vì Đức Giêsu không  chào đời tại đây, hoặc đúng hơn, bởi vì ngài coi cả đất Israel là “quê hương” Đức Giêsu (x. cc. 24-27). Trong cuộc cử hành, Người đứng lên để đọc Sách Thánh (c. 16). Theo tập tục, Người đứng lên sau bài đọc Lề Luật (Ngũ Thư) để đọc một đoạn sách các Ngôn sứ. Dường như vào thời Đức Giêsu, người ta không quy định rõ một chương trình đọc các bản văn Ngôn sứ. Do đó, Đức Giêsu đã chọn đọc Is 61. Bản văn được Lc ghi lại là Is 61,1-2 theo Bản LXX, với một vài sửa đổi. 
Đối với các thính giả của Đức Giêsu, bản văn này là lời của một ngôn sứ, mà họ có thể nói là Người Tôi tớ Đức Chúa với bốn Bài ca trứ danh (Is 42,1-7 có những gặp gỡ rất gần với Is 61,1). Ngài loan báo một năm hồng ân có thể so sánh với năm đại xá theo luật Môsê (Lv 25,8-17), nhưng ở đây không phải là con người nhưng chính Thiên Chúa sẽ can thiệp với ân sủng của Ngài. Còn tự do mà Ngài loan báo không phải là việc tha hoàn toàn các món nợ giữa người Do-thái với nhau, mà là một ơn cứu độ tuyệt vời thuộc về thời cánh chung, cũng có thể gọi là Nước Thiên Chúa, một thời đại được nồng nhiệt chờ mong.
Nghe đọc đoạn sách ấy, niềm hy vọng bùng lên trong các con tim, và tất cả các thính giả của Đức Giêsu chờ đợi bài giảng minh giải bản văn đầy hứa hẹn ấy.
 “Người bắt đầu nói với họ: «Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe»” (4,21). Qua câu này, Đức Giêsu cho thấy chiều hướng của bài giảng của Người. Người sẽ hiện tại hóa nơi bản thân Người nội dung của lời sấm Người vừa đọc. Khi làm như thế, Người đã xử sự như ngôn sứ.
Từ ngữ đầu tiên rất hệ trọng: sự hiện diện của Đức Giêsu chính là một giai đoạn độc đáo trong thời gian cứu độ, được diễn tả bằng “hôm nay”. Đức Giêsu áp dụng sấm ngôn Is cho chính mình. Khi chịu phép rửa, Người đã nhận lấy Thánh Thần như một việc xức dầu đã đưa lại cho Người phận vụ thánh thiêng là làm Đấng Mêsia. Nhưng Người không phải là một Mêsia như một vị vua trần thế; để tránh hiểu lầm, Đức Giêsu không xác định công khai Người là Đấng Mêsia (x. 4,41) và chỉ mạc khải như thế cho riêng các môn đệ (9,18-21). Tại Nadarét, vào lúc bắt đầu sức mạng, Người chỉ nhận mình là như vị ngôn sứ mang Tin Mừng cứu độ. Bản văn Is có lẽ đã cung cấp cho Người dung mạo Người Tôi Tớ của Đức Chúa (Yhwh), và chắc chắn các đề tài cốt yếu của Tin Mừng của Người: ưu tiên cho người nghèo, giải phóng những kẻ bị giam cầm và những người bị áp bức, cho người mù được thấy. Những từ ngữ này cho thấy Đức Giêsu chiếu cố đến những người thấp hèn. Nhưng các từ ngữ này còn cho thấy rõ hơn nữa các đòi hỏi và các ân huệ của Người: kêu gọi làm tâm hồn nghèo hèn, hứa ban sự giải phóng cho những người tội lỗi đang bị sự dữ khống chế, ban khả năng nhìn cho những ai sẽ đi đến với với đức tin (trong cách giải thích cái nhìn theo nghĩa “thiêng liêng” này, Đức Giêsu trung thành với tư tưởng của Is 29,18-19 và 35,5-6). 
Trong Is 61,2, vị ngôn sứ vừa công bố một năm hồng ân, vừa loan báo ngày báo phục; đây là đề tài truyền thống của các ngôn sứ liên quan đến Ngày của Đức Chúa, một ngày vừa là ngày phán xét vừa là ngày cứu độ. Đức Giêsu không nói đến phán xét. Thật ra sau này Người có ám chỉ nhiều đến phán xét (x. Lc 6,20-26; 9,26; 10,12-15; 11,30-32; 12,8-9; 12,35-48.49-59; 13,23-30; 16,1-8; 17,1-2; 17,22-37; 18,8; 19,11-27), còn ở đây Người chỉ nhìn đến đến sứ mạng trần thế của Người, là “thời gian” ơn cứu độ được ban cho Israel; chính thời gian này được Người gọi là “năm hồng ân của Đức Chúa”, thời gian Thiên Chúa chiếu cố đến dân. Nói tóm, tư tưởng của Đức Giêsu ở đây trong Tin Mừng Lc giống với lời Đức Giêsu loan báo trong Mc 1,15 và Mt 4,17, “Nước Trời đã đến gần”, người ta có thể đi vào Nước Thiên Chúa nhờ sứ mạng của Đức Giêsu. Tuy nhiên, công thức của Lc chính xác hơn: nó phân biệt  thời gian hoạt động của Đức Giêsu và thời gian hoàn tất cánh chung; nó xác định chính xác hơn vai trò của Đức Giêsu, các ân huệ và các đòi hỏi của Người.
Tác giả Lc biết rõ là trước sự cố Nadarét này, Đức Giêsu đã hoạt động ở Caphácnaum và ngài cũng cho biết như thế (4,14-15; 4,23; x. Cv 1,8). Nhưng ngài vẫn muốn đặt truyện này vào ngày khai mạc công việc rao giảng của Đức Giêsu và cho thấy chính Đức Giêsu xác định sứ mạng của Người ngay đầu Tin Mừng. Câu truyện đã xảy ra trong một hội đường: đó là phương pháp của Đức Giêsu (4,15.33.44; 6,6; 13,10); đó cũng là cách thực hành của các nhà truyền giáo trong các xứ sở ngoại giáo (Cv 9,20; 13,3.14.44; 14,1; 17,1.10.17; 18,4.7.19; 19,8). Tác giả muốn cho thấy rằng sứ điệp cứu độ được bao giờ cũng được ngỏ với người Do-thái trước khởi đi từ Kinh Thánh và trong hành vi phụng tự: Tân Ước hoàn tất Cựu Ước.
 + Kết luận
Qua bản văn Lc, ta thấy Đức Giêsu giới thiệu chương trình hoạt động của Người: Người là Đấng Mêsia được giới thiệu ở phép rửa nay xuất hiện trước công chúng như là vị ngôn sứ có quyền năng Thánh Thần; Người sẽ ưu tiên ngỏ lời với những người nghèo, những người chịu đau khổ, những người bị áp bức; Người mang đến cho họ sự giải phóng thiêng liêng, cho họ thấy chương trình của Thiên Chúa. Đối với Israel, sứ mạng trần thế của Người là thời gian ân sủng, mà họ phải tận dụng “hôm nay”. Nay không còn phải là những con người được tha các món nợ và tìm lại được tự do dân sự. Nay chính là Đức Chúa (Yhwh), thân hành đến nơi bản thân Đấng được xức dầu của Ngài, để tha nợ cho nhân loại và giải thoát nhân loại khỏi ách nô lệ sự dữ. 
V. GỢI Ý SUY NIỆM
1. Sự kiện Kitô  giáo chủ yếu dựa trên can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử cho thấy Kitô giáo khác mọi tôn giáo khác. Thiên Chúa chúng ta là một Thiên Chúa của các sự kiện, những sự kiện thực hữu; Ngài không phải là một thần tượng hoặc một tư tưởng thuần túy. Vị Thiên Chúa này lại rất quan tâm đến con người đến độ đi vào trong lịch sử cụ thể của con người. Chính vị Thiên Chúa này hôm nay vẫn đang kêu gọi chúng ta qua Đức Giêsu, con người cụ thể làng Nadarét.
2. Ngay từ  đầu, Đức Giêsu liên kết hoạt động của Người với Kinh Thánh, với Lời Chúa. Người khẳng định mạnh mẽ rằng nhờ Người, Thiên Chúa hoàn tất các lời Ngài đã hứa. Như thế, ngay từ đầu đã có câu trả lời về uy quyền của Đức Giêsu, nghĩa là về quyền bính đang đứng đàng sau Người: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi”. Đức Giêsu có sức mạnh  và quyền năng Thiên Chúa. Người cũng khẳng định rằng Thiên Chúa đã sai phái Người. Lời khẳng định này có giá trị cho Người hơn là cho bất cứ ngôn sứ nào, bởi vì Người phát xuất trực tiếp từ Thiên Chúa trong tư cách là Con Thiên Chúa. Bởi vì Thiên Chúa nói và hành động qua Người, toàn thể công trình của Người là công trình cứu độ và phải được đón tiếp với lòng biết ơn và lòng tin.
3. Tại sao lại có hoàn cảnh của những người nghèo, những người  đói khát, những người bị hành hạ, những người đau ốm, tuyệt vọng và mọi kẻ thất thế và phải gánh chịu một số phận gian khổ? Họ không may, trong khi những người khác được may mắn? Có thể có chăng cho họ việc thay đổi số phận, hay là họ cứ phải cam chịu như thế? Phải chăng Thiên Chúa muốn như thế? Đức Giêsu đã loan báo sứ điệp của Người cho những con người như thế. Thiên Chúa không hất hủi họ. Thiên Chúa ở về phía họ và chiếu cố đến họ. Thật ra sứ điệp của Đức Giêsu không phải là một chương trình cải cách xã hội. Người không cổ võ việc phân chia đồng đều các của cải. Sứ điệp của Người hướng niềm hy vọng của người nghèo không vào của cải vật chất, nhưng vào Thiên Chúa.
4. Tuy nhiên, chúng ta phải ra sức loại trừ các hoàn cảnh túng quẫn và bất công. Niềm hy vọng Đức Giêsu mang lại không phải là một ngày nào đó, loài người sẽ đạt tới chỗ loại từ mọi túng quẫn và có thể thiết lập công lý bình đẳng. Sứ điệp của Ngài nói rằng Thiên Chúa sẽ ban cho người nghèo ơn cứu độ trọn vẹn. Đàng khác, chỉ nguyên việc là người nghèo, người sa cơ thất thế, không phải là đã đủ. Một người nghèo mà đặt hết niềm cậy trông nơi của cải trần thế thì vẫn đang lạc đường. Hôm nay, Đức Giêsu tiếp tục công cuộc cứu thế trong Họâi Thánh và nhờ Họâi Thánh. Người cứu thế qua các bí tích. Người đến với con người qua các thừa tác viên và qua tất cả các Kitô hữu đã hưởng nhờ hoạt động từ bi thương xót của Người. Chúng ta phải nối dài hoạt động của Đức Kitô ra, bằng cách gieo rắc niềm vui và ánh sáng, thoa dịu các nỗi khốn cùng về thể lý và tinh thần, giải thoát người ta khỏi những nỗi lo sợ khiến tê liệt, đưa người rta ra khỏi sự dốt nát, nâng đỡ người sống trong cô đơn, chế giảm các nỗi hiềm khích…
Lm. PX Vũ Phan Long, ofm

 

TN3-C57. ĐỨC GIÊSU - TIN MỪNG CHO MỌI NGƯỜI

  1.    Phạm Thanh Liêm, SJ

Tin Mừng Luca cho thấy Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, Ngài trở về Galilê, và tiếng tăm Ngài được: TN3-C57

Tin Mừng Luca cho thấy Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, Ngài trở về Galilê, và tiếng tăm Ngài được đồn ra khắp vùng. Ngài bắt đầu giảng dạy trong các hội đường của người Do Thái, cụ thể ở hội đường làng Nadarét.
Thánh Thần Chúa ngự trên tôi
Đức Giêsu luôn sống dưới tác động của Thánh Thần. Ngài làm tất cả dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần, cụ thể Ngài đi chịu phép rửa tại sông Giordan, Ngài vào hoang địa ăn chay cầu nguyện, và hôm này Ngài ra đi rao giảng. Dưới tác động của Thánh Thần, Đức Giêsu là người mang tin mừng cho người có tinh thần nghèo, loan báo tự do cho kẻ bị tù đầy, cho người mù được sáng, cho người áp bức được giải thoát, và năm hồng ân của Thiên Chúa cho mọi người.
Thánh Thần ở trong Hội Thánh như hồn ở trong thân xác. Trong Hội Thánh có nhiều chức vụ, nhưng tất cả đều do Thánh Thần ban tặng và tác động: người làm đầu người làm mắt người làm chân tay. Tất cả đều thuộc về Hội Thánh, và không thể thiếu một chức vụ nào, cũng như một thân xác không thể thiếu một bộ phận nào. Không một bộ phận nào trong thân thể bị thiếu mà lại không ảnh hưởng đến bộ phận khác và toàn thân thể, cũng tương tự vậy những chức vụ trong Hội Thánh.
Ước gì mỗi người đều ý thức Thánh Thần luôn gần gũi, luôn ở với, và luôn hướng dẫn mình cùng Hội Thánh trong mọi hành động.
Đức Giêsu- Tin Mừng
Thiên Chúa chúc lành cho con người, làm tất cả cho con người qua Đức Giêsu.
Có ai hiểu được những người bị tù đầy mong được ngày ra khỏi tù như thế nào? “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”: một ngày trong tù, lâu như thể ngàn năm ở ngoài. Ở đây người ta nói tới thời gian tâm lý, và qua đó diễn tả mong ước ngày được tự do đến độ nào! Đức Giêsu là người công bố ơn đại xá, được miễn án và ra khỏi tù. Nếu ai hiểu được người mù cực khổ như thế nào, và người mù mong được sáng đến độ nào, sẽ dễ dàng hiểu câu “Đức Giêsu là người làm cho người mù được sáng” có nghĩa gì với người mù. Những người bị áp bức hà hiếp, cực khổ như thế nào, mong được minh oan và được giải thoát đến độ nào! Đức Giêsu là người giải phóng họ.
Người ta có thể bị tù đày nô lệ trong không gian như bị giam cầm trong một nơi chốn nào đó, nhưng người ta cũng có thể bị giam hãm trong một cái nhìn nào đó, có thể bị nô lệ với một thành kiến mà người ta không biết. Đức Giêsu tới, cho người ta nhận ra giá trị chân thực, giúp con người biết tiêu chuẩn chân thực để phán đoán. “Chân lý” giải phóng con người khỏi nô lệ, làm người bị u mê nhận ra sự thật và nhờ đó được tự do.
Tin Mừng cho người nghèo
Tin Mừng Đức Giêsu, không phải mọi người đều nhận ra. Những người Do Thái không nhận ra, nên muốn giết Đức Giêsu. Để nhận ra Đức Giêsu là Tin Mừng, cần phải có con mắt của người nghèo, người thấy mình “còn thiếu”, người thấy mình cần được soi sáng, người sẵn sàng và luôn ngóng chờ Thiên Chúa nói với mình.
Những người tự mãn, tự cho mình đã đủ không còn thiếu gì nữa, rất khó đón nhận Tin Mừng Đức Giêsu. Những người này có thể là những người cho rằng mình đã đạo đức đủ, không nhận ra mình yếu đuối tội lỗi cần Thiên Chúa thương xót và trợ giúp. Họ cũng có thể là những người cho mình có học, không sẵn sàng đón nhận mặc khải của Thiên Chúa qua Đức Giêsu với cuộc sống “bình thường”. Cũng có thể họ là những người giầu, và Đức Giêsu không thêm gì cho họ: Ngài không làm cho họ giầu hơn hoặc danh tiếng hơn hoặc có địa vị cao hơn.
“Phúc cho người có tinh thần nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của họ” (Mt.5, 3). Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người, người giầu cũng như người nghèo. Người giầu có nhiều thứ và nhiều bận tâm, nên không còn chỗ và không sẵn sàng đón nhận Thiên Chúa, chứ không phải Thiên Chúa không yêu thương họ. “Nghèo” như thái độ, là mối phúc thật sự.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
Đức Giêsu có là Tin Mừng cho bạn không? Xin bạn cho một vài thí dụ cụ thể trong đời bạn.
Thánh Thần là ai? Bạn hiểu gì về Thánh Thần?
Bạn có thấy ai ganh tị vì không được làm “đầu” hoặc “mắt” trong thân thể (Hội Thánh) không? Tại sao họ như vậy?
 
  1.    Phạm Thanh Liêm, SJ
 

TN3-C58. CHÚA NHẬT III TN - C

Lm. Ignatiô Hồ Thông
 

Chúa Nhật III thường niên năm C này là Chúa Nhật Lời Chúa tuyệt vời. Bài đọc I tường thuật cho chúng: TN3-C58

Chúa Nhật III thường niên năm C này là Chúa Nhật Lời Chúa tuyệt vời. Bài đọc I tường thuật cho chúng ta  lần đầu tiên Lời Chúa được long trọng công bố cho toàn dân; Tin Mừng tường thuật cho chúng ta rằng trong một buổi phụng vụ Lời Chúa vào ngày sa-bát ở hội đường Na-da-rét, Đức Giê-su thời sự hóa Lời Chúa vào con người và sứ mạng của Ngài.
Nkm 8: 2-4a, 5-6, 8-10
Bản văn Cựu Ước, được trích từ sách Nơ-khe-mi-a, kể lại lần đầu tiên Sách Luật (Ngũ Thư) được long trọng công bố trước công chúng, khuôn mẫu phụng vụ Lời Chúa vào ngày sa-bát trong các hội đường sau này.
Lc 1: 1-4, 14-21
Tin Mừng Lu-ca tường thuật Đức Giê-su tham dự một buổi phụng vụ Lời Chúa trong hội đường. Chính Ngài đã đọc bản văn I-sai-a và công bố rằng: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà quý vị đã nghe”.
1Cr 12: 12-30
Đoạn trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô này chứa đựng Thần Học về Giáo Hội, Nhiệm Thể của Đức Ki tô: “Như thế, không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung”.
BÀI ĐỌC I (Nkm 8: 2-4a, 5-6, 8-10)
Sách Nơ-khe-mi-a có cùng một tác giả với sách Ét-ra và với hai sách Sử Biên, được soạn thảo vào giữa năm 360 và 300 trước Công Nguyên. Tự nguồn gốc, sách Nơ-khe-mi-sa và sách Ét-ra được hình thành nên một quyển sách; quả thật, bản Kinh Thánh Híp-ri cũng như bản Kinh Thánh Hy lạp (bản Bảy Mươi) chỉ nhận biết một quyển sách duy nhất. Việc phân chia thành hai cuốn sách được ghi nhận vào những thế kỷ đầu tiên Ki tô giáo.
Ở chương 8 này, sách Nơ-khe-mi-a dành một chỗ đặc biệt cho tư tế Ét-ra. Bản văn tường thuật một biến cố có tầm quan trọng lịch sử lớn lao: đây là lần đầu tiên Sách Luật, cũng được gọi Ngũ Thư, được long trọng công bố trước toàn dân.
1. Bối cảnh lịch sử:
Thật khó xác định niên biểu chính xác của biến cố này. Dựa trên chính tác phẩm, biến cố có lẽ đã xảy ra vào năm thứ bảy dưới triều đại Ác-tắc-sát-ta, vua Ba Tư, tức vào năm 458 trước Công Nguyên. Nhưng trong toàn bộ sách, niên biểu của những biến cố thì khá phức tạp; dù thế nào, bối cảnh lịch sử thì khá rõ. Thành Giê-ru-sa-lem vẫn còn in hằn nhiều vết tích của cuộc xâm lăng đế quốc Ba-by-lon vào thế kỷ trước đó; đất nước đã mất nền độc lập gần một trăm năm mươi năm rồi. Thật ra, cuộc cai trị của đế quốc Ba Tư thì tự do và thậm chí khoan dung, khác xa với sự thống trị của đế quốc Ba-by-lon. Những người lưu đày đã được hồi hương trở về, Đền Thờ đã được tái thiết, mặc dầu nhỏ hơn và đạm bạc hơn đền thờ Sa-lô-mon trước đó. Nhưng những bức tường thành với nhiều vết loang lỗ phơi bày một cảnh tượng tang thương, dân cư Giê-ru-sa-lem trở nên thưa thớt và nhiều đoàn người ngoại quốc đến định cư; những cuộc hôn nhân hỗn hợp càng lúc càng nhiều, những thanh niên thiếu nữ Ít-ra-en được những người mẹ ngoại giáo nuôi nấng dạy dỗ. Đức tin của dân Thiên Chúa gặp nguy hiểm. Giê-ru-sa-lem đã mất đi căn tính của mình.
2. Hai nhà canh tân:
Hai nhân vật Do thái, ông Ét-ra, tư tế và kinh sư, và ông Nơ-khe-mi-a, giáo dân, đều là quan chức ở triều đình Ba Tư, dưới triều đại vua Ác-tắc-sát-sa đệ nhất; cả hai ông đều ngậm ngùi trước hoàn cảnh tang thương này, vì thế xin được phái đến Palestine để chăm lo dân chúng của họ.
Tư tế Ét-ra có ý định phục hồi niềm tin cho Thành Thánh hoang tàn đổ nát và hoàn lại căn tính của Thành, bằng cách đặt dân thành vào việc lắng nghe Lời Chúa. Ông tổ chức một nghi lễ long trọng ở bên ngoài trung tâm Thành Thánh, nghĩa là ở nơi không thánh thiêng để mọi người đều có thể tề tựu. Ông khởi sự nghi lễ vào ngày mồng một tháng bảy, suốt bảy ngày liên tiếp từ sáng đến trưa.
Trước cuộc lưu đày, ngày mồng một tháng bảy đa là ngày lễ Tân Niên. Sách Dân Số cũng đã nêu lên ngày mồng một tháng bảy này: “Ngày mồng một tháng bảy, anh em sẽ phải tập hợp để thờ phượng Đức Chúa; anh em không được làm một việc nặng nhọc nào: đối với anh em, đó sẽ là ngày Hò Reo” (Ds 29: 1). Vì thế, ông Ét-ra có chủ ý chọn ngày này để quy tụ toàn dân.
3. Phụng vụ Lời Chúa:
Tư tế Ét-ra đứng trên bục gỗ cao và đọc Sách Thánh, còn các thầy Lê-vi giảng giải. Tất cả mang đậm nét của một lễ nghi phụng vụ: dân chúng đứng trong thái độ lắng nghe và cầu nguyện; vị tư tế chúc tụng Thiên Chúa, cộng đồng đáp lại, hai tay giơ lên cao hay phủ phục để bày tỏ tâm tình thờ phượng: ở đây có đủ mọi yếu tố sẽ hình thành nên nền tảng phụng vụ hội đường sau này. Nghi lễ được tường thuật ở đây đánh dấu ngày khai sinh Do Thái Giáo.
Ông Ét-ra đã khởi xướng phụng vụ Lời Chúa này do lòng mộ đạo sâu xa, cũng như niềm tôn kính lớn lao của ông đối với các bản văn kinh thánh. Ông Ét-ra là “tư tế kinh sư, chuyên về các lời diễn tả mệnh lệnh và các thánh chỉ của Đức Chúa liên quan đến Ít-ra-en” (E r 7: 11), vì thế, chúng ta có thể nghĩ rằng ông đã đóng một vai trò quan trọng vào công trình biên soạn chung cuộc của bộ Ngũ Thư. Ngoài ra, các vua Ba Tư chủ trương rằng mỗi một miền đế quốc rộng lớn của họ đều có luật riêng của mình. Vì thế, ở Ít-ra-en, luật chỉ có thể là Luật Mô-sê.
Nếu phụng vụ Lời Chúa được mô tả trong bản văn này là nguồn gốc của phụng vụ hội đường, thì đó cũng là nguồn gốc của phần thứ nhất trong việc cử hành Thánh Thể của chúng ta, được gọi “Bàn Tiệc Lời Chúa”, bởi vì việc cử hành Thánh Thể được gợi hứng từ phụng vụ hội đường. Chắc chắn vào thời lưu đày, những người Do thái, sống xa quê hương, xa Đền Thờ, đã cùng nhau tụ họp lại để cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa, một loại phụng vụ hội đường trước khi có văn bản. Chúng ta ghi nhận rằng tư tế Ét-ra nhấn mạnh tính thánh thiêng của “ngày của Chúa”, nhu cầu biến ngày của Chúa thành ngày của niềm vui và ngày của đức ái, vả lại phù hợp với truyền thống theo đó vào những ngày lễ, người ta không được quên những người nghèo khổ túng thiếu.
BÀI ĐỌC II  1Cr 12, 12-30
Đoạn văn này, được trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, tiếp theo đoạn văn của Chúa Nhật trước.
1. Sự hiệp nhất trong Giáo Hội:
Thánh Phao-lô đã chứng mình cho các tín hữu chia rẽ rằng cộng đoàn của họ hình thành nên một sự hiệp nhất sâu xa vì cộng đoàn sống dưới tác động của một Chúa Thánh Thần duy nhất. Thánh nhân tiếp tục chứng minh sự hiệp nhất này bằng hình ảnh về sự duy nhất của một thân thể với các bộ phận của nó. Quả thật, chính trong thư gởi các tín hữu Cô-rin-tô này vị sứ đồ phác họa những dữ kiện căn bản về thần học Giáo Hội, Nhiệm Thể của Đức Ki tô, mà sau này thánh nhân sẽ khai triển, nhất là trong thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô.
2. Giáo Hội, Nhiệm Thể của Đức Ki tô:
Trong một đoạn văn trước, thánh nhân đã gợi lên rằng các tín hữu được tháp nhập vào Đức Ki tô nhờ bí tích Thánh Thể: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào máu Đức Ki tô ư? Và khi ta bẻ Bánh Thánh , đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (10: 16-17).
Trong đoạn văn được trích dẫn hôm nay, thánh nhân lại quy chiếu về bí tích Rửa Tội: “Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể”. Và thánh nhân nhắc nhớ mối liên hệ giữa Phép Rửa và Chúa Thánh Thần: “Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất”. Mối liên hệ giữa Phép Rửa và Chúa Thánh Thần thuộc truyền thống Kinh Thánh, ví dụ ở Ga 7: 38-39: “Hôm ấy là ngày bế mạc tuần lễ Lều, và là ngày long trọng nhất. Đức Giê-su đứng trong Đền Thờ và lớn tiếng nói rằng: ‘Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống’. Đức Giê-su muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận”.
3. Tính đa dạng các sứ vụ trong Giáo Hội:
Sau khi đã khai triển chi li về mối liên kết mật thiết của mỗi bộ phận trong cùng một thân thể, thánh Phao-lô áp dụng vào tính đa dạng các sứ vụ trong Giáo Hội. Ba sứ vụ được nêu tên đầu tiên theo trật tự phẩm trật: các Tông Đồ, các ngôn sứ, thầy dạy, tương ứng với những sứ vụ cao trọng hơn những sứ vụ khác mà sau này tùy dịp thánh nhân kể ra. Danh xưng “Tông Đồ” phải được hiểu theo nghĩa rộng: không chỉ Nhóm Mười Hai hay thánh Phao-lô, những người đã lãnh nhận sứ vụ của mình từ chính Đức Ki tô, nhưng còn những ai mà họ đã ủy quyền. Danh xưng “các ngôn sứ” bao gồm những nhà rao giảng, những nhà truyền giáo, những người mà chúng ta có thể nói rằng họ đã lãnh nhận sứ vụ từ Chúa Thánh Thần. Thánh Phao-lô khai triển vai trò của họ cho đến chương tiếp theo sau. “Người nói tiên tri thì phải nói với người ta để xây dựng, để khích lệ và an ủi” (14: 3). Danh xưng “thầy dạy” là những người Ki tô hữu có học thức đảm nhận trách nhiệm đào tạo các tín hữu.
Những sứ vụ hay những đặc sủng phải được thi hành mà không tìm cách xé lẽ hay gây nên sự đố kỵ. Nếu mỗi người chu toàn ơn đặc sủng mà mình lãnh nhận thì sự hiệp nhất của cộng đồng sẽ ngự trị; vì các bộ phận không đơn giản là cái thêm vào Thân Thể của Đức Ki tô: “Như thế, không có sự chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phần nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung”. Sau này thánh Phao-lô sẽ nói rằng Đức Giê-su là đầu, thủ lãnh của Giáo Hội: Ngài là nguyên lý hợp nhất của toàn thân thể mầu nhiệm của Ngài.
Thần học của thánh Phao-lô về mối liên hệ mầu nhiệm hiệp nhất người Ki tô hữu với Đức Ki tô có nền tảng của nó ở nơi giá trị của bí tích Rửa Tội và bí tích Thánh Thể, nhưng chắc chắn trực giác đầu tiên đến từ biến cố trên đường Đa-mát, từ một tiếng nói gây choáng váng: “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” (Cv 9: 4).
TIN MỪNG  Lc 1: 1-4; 4: 14-21
 Bản văn này được kết hợp bởi hai phân đoạn rất riêng biệt, cách xa nhau trong Tin Mừng Lu-ca. Trước hết là Lời Tựa sách Tin Mừng này (1: 1-4), tiếp đó là khởi đầu sứ vụ của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê (4: 14-21), trong khi bỏ qua những chương về thời thơ ấu của Đức Giê-su và thánh Gioan Tẩy Giả, vân vân, mà chúng ta đã đọc những đoạn trích vào Mùa Vọng và Lễ Giáng Sinh.
1. Lời Tựa:
Lời Tựa này chuẩn bị một cách tuyệt vời lời công bố của Đức Giê-su ở hội đường Na-da-rét: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa mới nghe”. Nói một cách chính xác, lời công bố này là khởi đầu Tin Mừng.
Như các văn nhân thời Hy lạp, thánh Lu-ca dẫn nhập tác phẩm của mình với một lời tựa, ở đó thánh ký giải thích lý do công việc của mình: thông tri một cách chính xác cho ông Thê-ô-phi-lô nào đó, chắc chắn một nhân vật quan trọng, chính cũng cho nhân vật này tác giả sẽ đề tặng sách Công Vụ Tông Đồ; tuy nhiên, chúng ta không biết một chút gì về nhân vật này.
Thánh Lu-ca thổ lộ nổi bận lòng của một sử gia: “Tôi cũng vậy, sau khi cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự”. Quả thật, thánh ký không là một Tông Đồ, cũng không là một môn đệ trực tiếp của Đức Giê-su, cũng không là một người đã thấy tận mắt Đức Giê-su, đã nghe tận tai những lời Ngài nói; nói cho cùng, thánh ký đã không sống những biến cố mà ông tường thuật; ông làm việc trên những chứng liệu. Ông chỉ ra rằng ông đã có những vị tiền nhiệm, trong số đó phải kể đến thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu (Tin Mừng Lu-ca thường theo rất sát Tin Mừng Mác-cô). Ngoài ra, dựa trên những truyền thống “được truyền đạt bởi những chứng nhân mắt thấy tai nghe”, thánh ký đã tự mình tra cứu; chắc chắn ông đã tiếp xúc với thánh Gioan, vì có những điểm tương đồng giữa Tin Mừng thứ ba và Tin Mừng thứ tư.
2. Đức Giê-su viếng thăm Na-da-rét:
Từ Lời Tựa này chúng ta đi thẳng sang khởi đầu sứ vụ của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê và cuộc viếng thăm Na-da-rét của Ngài.
Tình tiết của cuộc viếng thăm Na-da-rét cũng được thánh Mác-cô (Mc 6: 1-6) và thánh Mát-thêu (Mt 13: 53-58) tường thuật. Thánh Lu-ca tường thuật dài hơn; vì thế, câu chuyện này được phân chia thành hai phần và được công bố vào hai Chúa Nhật liên tiếp. Việc phân chia thành hai phần này càng được biện minh hơn nữa vì xem ra có hai đoạn văn về việc Đức Giê-su viếng thăm Na-da-rét. Vào cuộc viếng thăm thứ nhất, Đức Giê-su được mọi người hân hoan chào đón và ngưỡng mộ; những người đồng hương của Ngài hảnh diện về danh tiếng của một người trong họ và thán phục về cách giải thích Kinh Thánh của Ngài. Trái lại cuộc viếng thăm thứ hai là một cuộc thất bại và gây nên làn sóng giận dữ của dân làng Na-da-rét (chính cuộc viếng thăm lần thứ hai này mà hai Tin Mừng nhất lãm khác tường thuật).
Nhưng thánh Lu-ca đã ráp nối những lời chứng liên quan đến hai cuộc viếng thăm thành một câu chuyện duy nhất, như vậy tăng cường hơn nữa bài tường thuật của mình: thánh ký làm cho câu chuyện của mình thành biểu tượng hai thái độ của dân Ít-ra-en: trước hết, hoan hĩ tiếp đón Đức Giê-su, đoạn loại bỏ và tìm cách giết Ngài. Ngoài ra, Đức Giê-su loan báo rằng sứ điệp của Ngài cũng được dành cho lương dân (phần thứ hai của câu chuyện này được trích dẫn vào Chúa Nhật tới). Như vậy câu chuyện về sự khởi đầu sứ vụ của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê mang tính ngôn sứ: những biến cố tương lai được ghi khắc ở nơi những tình tiết khởi đầu này.
3. Phụng vụ hội đường vào ngày sa-bát:
“Người giảng dạy trong các hội đường và được mọi người tôn vinh”. Chính ở nơi lời này mà Thánh Lu-ca tóm tắt giai đoạn vinh quang của sứ vụ Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê, vì danh tiếng của Ngài đồn ra khắp vùng. Vào một ngày sa-bát, Ngài đến hội đường Na-da-rét, nơi Ngài đã từng theo thánh Giu-se và bà Ma-ri-a đến tham dự phụng vụ ngày sa-bát.
Đối với người Do thái, ngày sa-bát là ngày thánh để kính Đức Chúa, ngày nghỉ ngơi và kinh nguyện, như Chúa đã truyền (Xh 20: 8-11; Đnl 5: 12-15). Vào ngày đó dân chúng cùng nhau tụ họp lại để lắng nghe Lời Chúa. Vào lúc bắt đầu phụng vụ sa-bát này, họ xướng kinh “Shêma”, và kinh “mười tám lời chúc phúc”; kinh “Shêma” được xem như kinh tin kính của người Do thái, kinh này lập lại Đnl 6: 4-5 với lời mở đầu: “Nghe đây (Shêma) hỡi Ít-ra-en”, và được phụ thêm với Đnl 11: 13-21. Sau đó, người ta lắng nghe Lời Chúa được trích từ Sách Luật (Ngũ Thư) hay từ các sách Ngôn Sứ. Mọi tín hữu đều có quyền đọc Kinh Thánh, hoặc tự nguyện hay được viên trưởng hội đường chỉ định. Vị này thường mời một người trong số những người hiện diện, thông thạo Kinh Thánh lên công bố và giảng giải Lời Chúa cho cộng đoàn. Vào dịp này, chắc chắn Đức Giê-su được mời. Đức Giê-su thường lợi dụng dịp này để rao giảng đạo lý của Ngài (x. Lc 4: 16tt.), và sau này các Tông Đồ của Ngài cũng sẽ noi gương Ngài như vậy (x. Cv 13: 5, 14, 42, 44; 14: 1; vân vân). Phụng vụ ngày sa-bát kết thúc với công thức chúc lành tư tế, được vị chủ trì hay một tư tế nếu có mặt ở đó, xướng, và dân chúng đáp “A-men” (x. Ds 6: 22tt.).
4. “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”:
Đức Giê-su gặp thấy đoạn văn Is 61: 1-2, ở đó ngôn sứ I-sai-a biện minh sứ mạng của mình: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa”. Lu-ca là vị thánh ký duy nhất trích dẫn đoạn văn I-sai-a này. Đây cốt là một trong những đoạn văn của ngôn sứ I-sai-a đệ tam được gởi đến cho những người hồi hương trở về từ cảnh lưu đày ở Ba-by-lon; họ bị bầm dập, nghèo khổ, thất vọng trước những khó khăn; họ thuộc vào số những người nghèo của Đức Chúa.
Sau khi đã đọc xong, Đức Giê-su không giải thích bản văn nhưng công bố: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”. Đức Giê-su không ngần ngại hiện tại hóa sấm ngôn của Is 61: 1-2 vào con người và sứ mạng của mình: chính Ngài là Đấng mà bản văn I-sai-a loan báo. “Theo thánh Lu-ca, các câu trên là tuyên ngôn cứu thế đầu tiên của Đức Ki tô, nó sẽ được nối tiếp bằng những việc làm và lời nói mà Tin Mừng cho chúng ta biết. Bằng những việc làm và lời nói này, Đức Ki tô làm cho Chúa Cha hiện diện giữa loài người” (Gioan Phao-lô II, Thiên Chúa giàu lòng xót thương, Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, 2008, tr. 13-14).
5. Năm Hồng Ân của Chúa:
“Một năm hồng ân của Chúa” ám chỉ đến Năm Toàn Xá được cử hành cứ năm mươi năm một lần (x. Lv 25: 8-17). Năm Toàn Xá là hình thức mở rộng của Năm Sa-bát được cử hành cứ bảy năm một lần (Đnl 15: 1-11). Năm này tiêu biểu lý tưởng công bình xã hội mà người ta nhắm đến một cách thiết thực và cụ thể. Đây là Tin Vui, Tin Mừng, Tin Giải Thoát cho những người nghèo, những kẻ cô thân cố thế bị chèn ép áp bức, dưới bất kỳ hình thức nào, đến nỗi phải mất nhà cửa đất đai, trở nên nghèo khổ và đem thân làm tôi đòi cho những kẻ giàu có và có quyền có thế. Đó cũng là năm mời gọi hết mọi người hãy ăn năn sám hối, vì hoặc đã góp phần vào sự bất công hay đã nhắm mắt làm ngơ trước những đau khổ của anh em đồng loại của mình. “Cũng thế, Giáo Hội trìu mến và ấp ủ tất cả những ai đau khổ vì sự yếu hèn của con người, nhất là nhận biết nơi những người nghèo khó và đau khổ hình ảnh Đấng Sáng Lập khó nghèo và đau khổ, ra sức giảm bớt nỗi cơ cực của họ và nhằm phụng sự Chúa Ki tô trong họ” (Vatican II, Lumen gentium, 8).
Lm. Ignatiô Hồ Thông

 

TN3-C59. TIẾP NỐI SỨ MẠNG CỦA CHÚA GIÊSU

Lm. Ignatiô Trần Ngà
 

Sau khi nghe bài giảng về Thiên Chúa là Cha nhân lành, là Đấng đầy lòng thương xót, một tín hữu: TN3-C59

Sau khi nghe bài giảng về Thiên Chúa là Cha nhân lành, là Đấng đầy lòng thương xót, một tín hữu không đồng tình với vị giảng thuyết. Đầu óc ông quay cuồng bởi những câu hỏi như:
 
  • Làm sao người ta có thể tin Thiên Chúa là Đấng nhân lành khi Chúa nhắm mắt làm ngơ trước biết bao nhiêu người đau khổ, tuyệt vọng của con người mà không ban cho họ chút ủi an hay một niềm hy vọng?
  • Làm sao người ta tin được Thiên Chúa là Cha nhân ái khi có biết bao người phải chịu cảnh giam cầm trong ngục tù, trong sự trói buộc của các đam mê mà Người không ra tay giải thoát?
Thật khó tin có Thiên Chúa là Đấng tốt lành khi Người để cho những người mù, nhất là mù tối trong tâm hồn, không được nhìn thấy ánh sáng chân lý. Và bao nhiêu người bị áp bức, bị gông cùm sao Chúa không giải thoát họ?
Đêm hôm ấy, trằn trọc không ngủ được vì những câu hỏi như thế lởn vởn trong đầu, ông ta chợt nhận ra câu đáp của Thiên Chúa từ trong vắng lặng của màn đêm:
 
  • Ta đã ra tay rồi đó, sao con còn trách Ta?
  • Chúa ra tay lúc nào đâu? Chúa đã làm gì để cứu vớt những người tuyệt vọng, những người bị giam cầm, những người mù tối, những người bị áp bức?
  • Ta đã dựng nên con và đặt con hiện diện giữa lòng đời để con thay Ta mà hành động. Thế sao còn trách Ta?
Có một điều quan trọng nhưng thường bị lãng quên, đó là chúng ta là những cánh tay, là những bàn tay của Thiên Chúa và Thiên Chúa hành động, thực hiện mọi việc qua chúng ta. Thiên Chúa có làm gia tăng số người trên mặt đất thì Người cũng thực hiện việc đó qua trung gian một người cha và một người mẹ trong gia đình. Thiên Chúa muốn nuôi dạy cho thế hệ trẻ nên tốt thì Người cũng thực hiện điều đó qua cha mẹ thầy cô.
Xưa kia Thiên Chúa Cha đã sai Chúa Giê-su đem Tin Mừng cho người nghèo, giải thoát cho kẻ bị giam cầm, đem ánh sáng cho người mù tối, trả tự do cho người bị áp bức… thế nào, thì hôm nay, Chúa Giê-su cũng sai chúng ta nối gót Người thực hiện những công việc đó. Chúa Giê-su vẫn đêm ngày nhắc nhở chúng ta: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Gioan 20, 21)
Thế là chúng ta phải lựa chọn: Hoặc là chấp nhận ở lại trong nhiệm thể Chúa Giê-su, trở thành cánh tay nối dài của Chúa Giê-su để tiếp tục sứ mạng của Người, hoặc là chúng ta tự cắt lìa mình ra khỏi Chúa Giê-su để khỏi bị Người sử dụng và sai khiến.
Tờ Times, một tờ báo tên tuổi của Anh, cuối mỗi năm có bình chọn một nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất thế giới trong năm đó. Năm 2004, tờ báo bình chọn tổng thống George W. Bush làm nhân vật quan trọng nhất trong năm. Năm 2005, tờ báo chọn vợ chồng Bill Gates vì những hoạt động từ thiện của hai vợ chồng nầy. Năm 2006 vừa qua, báo Times chọn một nhân vật chẳng ai ngờ, nhân vật đó là, là... chính BẠN.
Đúng vậy, đây không phải là chuyện đùa. Mỗi người trong chúng ta làm nên lịch sử. Thế giới nầy có được đổi mới, có được tiến bộ hay không cũng là nhờ sự cộng tác của từng người, của mỗi một người trong cộng đồng nhân loại.
Đừng nghĩ rằng mình chỉ là một hạt cát bé nhỏ vô ích, vì những bãi cát mênh mông được tạo nên bằng những hạt cát bé nhỏ như thế đó.
Đừng nghĩ rằng mình chỉ là một giọt nước li ti không nghĩa lý gì, vì cả đại dương bao la cũng được tạo nên bằng những giọt nước li ti như vậy đó.
Hãy nhận ra rằng mình là chi thể của Chúa, là khí cụ cứu rỗi của Người. Hãy để Chúa sử dụng chúng ta như khí cụ xây dựng hoà bình của Chúa.
Lời ngôn sứ Isaia nhắm đến Chúa Giê-su hôm xưa cũng nhắm đến mỗi người chúng ta: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức." (Lc 4, 18-19)
Là thân mình của Chúa Giê-su, chúng ta hãy hiệp thông với Chúa Giê-su để thực hiện từng câu từng chữ của lời sấm nầy như Người đã làm, để mai đây, chúng ta có thể nói với mọi người như Chúa Giê-su: "hôm nay, đã ứng nghiệm nơi tôi đoạn sách mà quý vị vừa nghe".
Lm. Ignatiô Trần Ngà

 

TN3-C60. SỨ VỤ ĐẦU TIÊN CỦA CHÚA GIÊSU

Lc 1,1-4; 4,14-21
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR
 

Sống nơi gia đình ẩn dật 30 tại làng quê Nagiarét, Chúa bắt đầu thực hiện sứ mạng công khai của: TN3-C60

Sống nơi gia đình ẩn dật 30 tại làng quê Nagiarét, Chúa bắt đầu thực hiện sứ mạng công khai của Ngài. Khởi đầu sứ vụ, Ngài đã kêu gọi một số môn đệ đi theo Ngài. Ngài mở đầu sứ vụ đầu tiên của Chúa, tại Hội Đường Nagiarét quê hương của Ngài, Chúa Giêsu đã đọc đoạn Kinh Thánh trích lời ngôn sứ Isaia: ‘’Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi sai đi báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, tuyên cáo lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, loan tin cho người mù biết sẽ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố năm hồng ân của Chúa “.
Chúa nhật thứ III thường niên, năm C nhằm giới thiệu cho nhân loại, cho mọi người biết rõ con người của Chúa Giêsu, Người thực là Đấng Thiên Sai muôn dân hằng trông đợi, mong chờ. Tuy nhiên, cái trớ trêu và nghịch lý ở đây là tại quê nhà Nagiarét, dân chúng đã hững hờ, không nhận ra và không tiếp nhận Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai bởi vì họ chỉ nhìn Chúa Giêsu là người bình thường, dân dã, con bác thợ mộc Giuse và con bà Maria. Họ quay lưng lại với Chúa Giêsu. Sứ điệp của Chúa Giêsu là rao giảng Nước Thiên Chúa đã sắp tới, nên người ta phải sám hối và tin vào Tin Mừng. Công việc của thánh Luca trong đoạn Tin Mừng này và cốt lõi của Chúa nhật này là thông báo Lời Chúa, nói lên sứ điệp chính yếu của Chúa Giêsu. Luca muốn giảng dạy giáo lý. Thánh Luca, một người ngoại giáo trở lại muốn nhấn mạnh rằng thông điệp của Chúa Giêsu trước tiên là gửi cho người Do Thái và qua đó dần dần thông điệp ấy sẽ được thông báo cho dân ngoại, cho mọi người. Thánh Luca không có ý thuật lại cuộc đời của Chúa Giêsu vì Ngài không phải là nhà sử học nhưng Ngài chỉ là người thông đạt Lời Chúa, diễn tả lại giáo lý của Chúa Giêsu. Việc công bố Kinh Thánh, Lời Chúa qua ngôn sứ Isaia tại Hội Đường Nagiarét như tiên báo tất cả những sự việc sẽ xẩy ra sau đó. Chúa Giêsu đã dựa vào lời của ngôn sứ Isaia để đưa ra bản tóm lược về Nước Thiên Chúa và cho mọi người biết rằng việc trích dẫn Isaia nói lên nguồn cội và truyền thống không bao giờ bị cắt đứt. Sứ vụ đầu tiên của Chúa Giêsu, nói cách khác ba điểm then chốt của thông điệp Nagiarét là: “Những người nghèo, sự giải phóng và năm hồng ân”. Ba điểm này làm đảo lộn những gì người Do Thái đã nghe, đã sẵn có. Mới đầu nhiều người thán phục Chúa. Rồi họ đâm ra nghi ngờ. Sau đó, những người Nagiarét chối từ Ngài cách thẳng thừng. Họ tự nghĩ làm sao Đấng Cứu Thế lại đi rao giảng sự cứu thoát cho những người nghèo khó, những người thấp cổ bé họng, những người sầu khổ ? Làm sao giờ phút này và bây giờ lại là thời điểm của năm hồng ân ?
Người Nagiarét đã vấp phạm vì Chúa. Họ đã quay phắt 180 độ và quyết tâm khước từ Chúa. Ngôn sứ Isaia đã loan báo rằng những người Israen bị lưu đầy ở Babylon sẽ được trở về nơi cố hương bản quốc. Tin Mừng của Chúa Giêsu hôm nay là Tin Mừng cho những người nghèo.Thiên Chúa yêu thương họ và mãi mãi yêu thương họ. Thiên Chúa cứu vớt họ khỏi mọi tội và quảng đại hy sinh mạng sống để cứu họ nhờ Tình yêu và Thần khí..
Chúa loan báo Nước Thiên Chúa là loan báo năm hồng ân: năm ân huệ chứa chan, tội lỗi được tha, người áp bức được giải cứu, kẻ nô lệ được giải phóng. Loan báo năm hồng ân là xây dựng trời mới đất mới trong đó công bình, tình thương và an bình được tái lập.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con biết nhận ra Chúa nơi mọi người và biết nhận ra những dấu chỉ tình thương của Chúa. Amen.
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR

 

TN3-C61. HỒNG ÂN CỨU ĐỘ

Lm. GB Nguyễn Minh Phương, CSsR
 

Trước khi nhậm chức, các nguyên thủ quốc gia thường công bố diễn văn thể hiện đường hướng: TN3-C61

Trước khi nhậm chức, các nguyên thủ quốc gia thường công bố diễn văn thể hiện đường hướng hoạt động sẽ mang lại lợi ích cho đất nước.
Trong thực tế, “nhân vô thập toàn”. Mọi cố gắng của con người luôn giới hạn nên tôn giáo mới chính là lời đáp cho con người tìm về lẽ sống.
Hôm nay, khai mạc sứ vụ loan báo Tin Mừng cứu độ, Đức Giê-su đã công bố lời ngôn sứ I-sai-i-a. Lời ấy không lý thuyết phô trương, nhưng ứng nghiệm nơi cuộc đời của Người.
I. LỜI NHẬP THỂ
Ngày Sa-bát, Người Do Thái vào hội đường để nghe công bố và giải thích lời Chúa. Họ đón nhận giáo huấn của Đức Chúa nhờ nghe và suy gẫm lời của Người.
Ngày nọ, trong hội đường Do Thái, một nhân vật đặc biệt xuất hiện giữa đám đông dân chúng. Sau khi công lời ngôn sứ I-sai-i-a, người ấy khẳng định những lời ông ta vừa công bố hôm nay đã ứng nghiệm (x. Lc 4, 20). Người ấy chính là Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể làm người mang tên Giê-su.
Bằng ngôn ngữ và văn hóa của nhân loại, Đức Giê-su đã công bố lời Thiên Chúa và quả quyết lời Thiên đã ứng nghiệm nơi sứ vụ cứu thế của Người. Một sứ vụ do Chúa Cha sai thực hiện trong sự thông hiệp của Chúa Thánh Thần: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn…” (Lc 4, 18).
Như vậy, đón nhận Chúa Giê-su và lời của Người là đón nhận giáo huấn của Thiên Chúa trong ân sủng của Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, muốn đón nhận giáo huấn của Thiên Chúa người ta phải đón nhận ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần trong sự thần phục suy tôn Chúa Giê-su là Cứu Chúa. “Nơi Người ơn cứu độ chan chứa” (Tv 129, 7).
II. LỜI GIẢI THOÁT
Ơn cứu độ nơi Chúa Giê-su không mơ hồ trừu tượng. Sự hiện diện của Người ở đâu đều mang lại ơn đổi mới đến đó:
 
  • Được Đức Giê-su chữa lành, mẹ vợ ông Phê-rô đã trỗi dậy phục vụ (x. Mc 1, 31).
  • Đón tiếp Đức Giê-su đến nhà, ông Gia-kêu đã được ơn hoán cải nên đã quyết tâm đền bù thiệt hại gấp bốn, và chia nửa gia tài cho người nghèo (x. Lc 19, 8).
  • Nghe lời Đức Giê-su chỉ dạy, gười phụ nữ Sa-ma-ri bên bờ giếng Gia-cóp đã nhận ra sự thật nên nhanh chóng trở về làng kêu gọi mọi người ra gặp Đức Giê-su (x. Ga 4, 28).
  • Ánh mắt của Đức Giê-su đã giúp ông Phê-rô hoán cải (x. Lc 22, 61).
  • Lời hứa của Đức Giê-su trên thập giá, đã bảo đảm cho người trộm lành được phúc thiên đàng (x.Lc 23, 43).
  • Cuộc sống và sự chết của Đức Giê-su đã giúp cho viên sĩ quan chỉ huy nhận ra Người là Con Thiên Chúa (Mt 27, 54).
  • Nghe lời Chúa Giê-su Phục Sinh cắt nghĩa Sách Thánh và tham dự Thánh Lễ do chính Đấng Phục sinh dâng hai môn đệ trên đường Em-mau, đã phục hồi tinh thần, ngay trong đêm trỗi dậy trở lại Giê-ru-sa-lem (x. Lc 23, 33).
  • Tiếng Chúa Giê-su Phục Sinh gọi đã giúp bà Ma-ri-a Mác-đa-la nhận ra Chúa và hăng hái lên đường loan báo tin vui Chúa đã phục sinh (x. Ga 20, 16).
  • Nghe lời Chúa Giê-su Phục sinh, các Tông Đồ đã vượt qua cơn mệt mỏi chán chường hầu vững vàng thả lưới bắt cá (x. Ga 21, 6) và hân hoan ra đi khắp nơi loan báo tin vui cứu độ có Chúa cùng hiện diện và dấu lạ kèm theo (x. Mc 16, 20).
Như vậy, Chúa Giê-su chính là Lời Chúa đã thành xác phàm. Lời ấy đã: phục sinh người chết, xua trừ quỉ mà, mang lại niềm hy vọng, chữa lành bệnh tật thân xác và tâm linh: người điếc nghe được, người mù xem thất, người câm nói được, người què đi được… công bố năm hồng ân cứu độ và vẫn đang được tiếp nối nơi những hoạt động của Hội Thánh Chúa.
III. LỜI CỨU ĐỘ
Hoạt động cứu thế của Chúa Giê-su đã khởi đi từ việc công bố lời Thiên Chúa, thứ đến là những hoạt động cứu sống nhân mạng, chữa lành bệnh tật thân xác và tâm linh. Đỉnh cao của hoạt động cứu thế là: Công bố năm hồng ân với ơn giải thoát: “kẻ giam cầm biết họ được tha… trả tự do cho người bị áp bức” (Lc 4, 18).
Năm hồng ân chính là thời gian Thiên Chúa ban ơn đặc biệt cho con người. Trong Chúa Giê-su, Thiên Chúa đã thi ân cho nhân lọai. Chính việc Chúa Giê-su đến trong thế gian đã thực sự đem lại thời hồng phúc, thời cứu rỗi.
Trong Chúa Giê-su, phẩm giá con người được nâng cao. Họ không còn bị nô lệ cho bất cứ một thể chế nào hay hệ tư tưởng nào. Thiên Chúa đã giải thoát họ để họ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và thờ phượng Người trong chân lý và sự thật.
Nối tiếp họat động cứu thế của Chúa Giê-su, Hội Thánh không ngừng loan báo tin vui cứu độ bằng lời, bằng tình yêu với những họat động trợ giúp cụ thể, nhất là bằng chính mạng sống của mình.
Ngày nay, theo định kỳ 25 năm và những dịp đặc biệt, Hội Thánh mở Năm Thánh hầu giúp dân Chúa ý thức sâu sắc thời gian thánh là thời gian hồng ân Thiên Chúa ban cho con người để họ thánh hóa cuộc sống, củng cố đức tin, sống tình hiệp nhất yêu thương và hiệp thông huynh đệ trong lòng Hội Thánh và thế giới, và nhất là tuyên xưng đức tin một cách chân thành và sống sống động nơi Chúa Giê-su Cứu Thế.
Hội Thánh đang đồng hành với nhân nhân loại đây đó vẫn còn nhiều vấn nạn về phận con người: Con người hiện diện trên đời để làm gì? Sau khi chết con người đi về đâu? Đâu là con đường giải thoát?...Tự sức con người, những câu hỏi này mãi mãi chỉ là vấn nạn. Do đó, Hội Thánh mang nơi mình sứ vụ làm chứng cho niềm tin, trở nên trung gian để muôn người tìm đến với Chúa Giê-su, đón nhận lời của Người hầu khám phá lẽ sống cho đời mình.
Tuyên ngôn của tân nguyên thủ quốc gia là những thiện chí giúp ích cho đất nước an bình thịnh vượng.
Tuy nhiên,giữa lý thuyết và thực tế luôn có khoảng cách.
Trong khi đồng hành với cuộc đời, người tín hữu chọn bước theo Chúa Giê-su, tin Người là con đường là sự thật và là sự sống, “Nơi Người ơn cứu độ chan chứa” (Tv 129, 7).

Lm. GB Nguyễn Minh Phương, CSsR

 

TN3-C62. VINH QUY BÁI TỔ

Nehemia 8: 2-4, 5-6, 8-10; 1Corintô 12: 12-30; Luca 1: 1-4, 4: 14-21
Lm. Anphong Trần Đức Phương
 

Tại Việt Nam chúng ta thời xưa, các vị đã học hành đỗ đạt và thành danh, thường trở về quê hương: TN3-C62

Tại Việt Nam chúng ta thời xưa, các vị đã học hành đỗ đạt và thành danh, thường trở về quê hương để thăm viếng gia đình và kính bái tổ tiên; đó cũng là dịp khao vọng cho dân làng được hãnh diện. Tại Hoa Kỳ cũng có tục lệ trở về quê hương, trở về trường cũ (Home Coming).
Bài Phúc Âm hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu trở về quê hương Nagiaret nơi Ngài đã lớn lên trong gia đình cùng với Thánh Giuse và Mẹ Maria suốt 30 năm. Trong thời gian này, Chúa Giêsu cũng làm nghề thợ mộc như Thánh Giuse để sinh sống, và cũng chia sẻ cuộc sống với dân làng như một người bình thường.
Theo tường thuật của Thánh Luca, thì Chúa Giêsu đã mở đầu cuộc sống Công Khai ra đi rao giảng bằng việc đến chịu phép rửa của Thánh Gioan Tẩy Giả tại sông Giordan. Rồi, Ngài vào hoang địa ăn chay, cầu nguyện và bị ma qủy cám dỗ. Sau đó, Ngài đã “được đầy ơn Chúa Thánh Thần” và bắt đầu ra đi rao giảng Tin Mừng từ vùng Galilêa (phía Bắc nước Do Thái, nơi có làng Nagiaret là quê hương của Chúa), và tiện dịp, Ngài đã ghé qua thăm Nagiaret. Nhưng Ngài không về quê hương để khao vọng để được vinh danh; nhưng là để rao giảng cho chính bà con quê quán của mình.
Theo lề luật, vào ngày Sa-bat, người Do Thái thường đến các Hội Đường để thờ phượng, tôn vinh Chúa, nghe đọc Sách Luật, và học hỏi Lời Chúa (xin xem Bài Đọc I). Vì thế, nhân ngày Sa-bat, Chúa Giêsu cũng vào sinh hoạt trong Hội Đường, và nhân đó rao giảng và tỏ cho dân làng biết: “Chính hôm nay ứng nghiệm lời Thánh Kinh anh em vừa nghe” để nói cho họ biết chính Ngài là Đấng đã được các ngôn sứ loan báo trước: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, xức dầu cho tôi và sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, loan báo tự do cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được sáng mắt, người bị áp bức được giải thoát, công bố năm hồng ân của Thiên Chúa!”
Trong Bài Đọc II hôm nay, Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta về vai trò và sứ mệnh của mỗi tín hữu chúng ta; sau khi chúng ta đã được “thanh tẩy qua Bí tích Rửa Tội, và Bí Tích Thêm Sức, chúng ta được Chúa Thánh Thần thánh hiến, và chúng ta “cũng được sai đi” để loan truyền Lời Chúa cho mọi người chúng ta gặp gỡ trong cuộc sống hàng ngày, “nhất là những người nghèo khổ, bị áp bức, bị bỏ rơi…” để cùng nhau xây dựng “Nhiệm Thể Chúa Kitô là chính Giáo Hội Chúa.” Mỗi người có nhiệm vụ riêng của mình, tùy theo vai trò và địa vị là giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân. Nhưng để loan báo Tin Mừng, chúng ta cũng có bổn phận học hỏi để thông hiểu Lời Chúa trong Thánh Kinh qua những giờ Thánh Lễ cuối tuần, qua các buổi tĩnh tâm, các lớp học về Thánh Kinh v.v…
Theo Bài Đọc I thì “Ngày Sa-bat (ngày Thứ Bảy trong tuần) là ngày thánh dâng cho Chúa, mọi người phải nghỉ ngơi việc xác để họp mặt thờ phượng Chúa, chúc tụng Chúa và học hỏi Lề Luật của Chúa. Trong ngày của Chúa, mỗi người hãy quên đi nỗi ưu phiền để vui lên trong niềm vui của Chúa là Đấng nâng đỡ mọi người”. Đó là theo luật Cựu Ước căn cứ vào lời Chúa trong sách Khởi Nguyên (2: 1-3): “Ngày thứ Bảy, Thiên Chúa đã hoàn tất công việc Ngài làm. Ngày Thứ Bảy, Ngài nghỉ ngơi. Thiên Chúa đã chúc phúc cho ngày Thứ Bảy…”
Thực ra, công việc hình thành vũ trụ và thế giới, cũng như muôn loài, muôn vật và loài người là công cuộc phải trải qua nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, ông Moisê đã kể câu chuyện “Chúa tạo dựng vũ trụ và muôn loài trong sáu ngày, và nghỉ ngơi vào ngày Thứ Bảy” để dạy dân chúng hãy làm việc sáu ngày, còn ngày Thứ Bảy phải giữ lề luật ngày Sa-bat để nghỉ ngơi công việc thể xác và chuyên lo việc thờ phượng Chúa, học hỏi Lề Luật Chúa; đó là thánh hiến ngày Thứ Bảy, dâng trọn ngày Thứ Bảy cho Chúa.
Thời Cựu Ước đã chấm dứt, luật giữ ngày Sa-bat cũng chấm dứt. Chúa Giêsu là Đấng Kitô các tiên tri đã loan báo trước. Ngài đã đến để mở đầu thời đại Tân Ứớc. Ngài đã chịu nạn, chịu chết, nhưng đã sống lại ngày Thứ Nhất trong tuần (Ngày Chúa Nhật), vì thế, ngày nay chúng ta “giữ ngày Chúa Nhật” để kính nhớ cuộc sống lại của Chúa để mở đường cứu rỗi cho chúng ta. Từ đó, ngày Chúa Nhật, ngày thứ nhất trong tuần lễ là Ngày Thánh, chúng ta phải nghỉ ngơi, cùng nhau đến các Thánh Đường để thờ phượng Chúa và gặp gỡ nhau, chia sẻ tình thương của con cái Chúa, và học tập Lời Chúa, Lề Luật Chúa, tĩnh dưỡng đời sống tâm linh.
Mong rằng từ nay chúng ta biết ý thức hơn về bổn phận rao giảng Lời Chúa, và bổn phận thờ phượng Chúa bằng cả đời sống chúng ta. Đặc biệt vào ngày Chúa Nhật, chúng ta hãy cùng với gia đình, cùng với giáo xứ để cùng thờ phượng Chúa, chung vui ngày thánh của Chúa để nuôi dưỡng lòng đạo đức của chính chúng ta, gia đình chúng ta, giáo xứ chúng ta. Cuộc hành trình Đức Tin đầy gian khổ, nhưng chúng ta không phải đi một mình, mà chúng ta đồng hành với mọi anh chị em chúng ta trong gia đình Giáo Hội, cụ thể nơi mỗi giáo xứ chúng ta cư ngụ.
“Đi về Nhà Chúa, tim con reo hoan lạc Chúa ơi!
“Đi về Nhà Chúa, ôi bao nhiêu mến thương ngập trời…”
Lan Thanh: Thánh Ca “Đi Về Nhà Chúa”
Lm. Anphong Trần Đức Phương

 

TN3-C63.  SỰ GẦN GŨI HẰNG NGÀY CỦA THIÊN CHÚA

Lc 1,1-4; 4,14-28
Lm. Nguyễn Hữu Thy
 

Những người có mặt trong Hội Ðường Na-da-rét hôm đó thật vô cùng kinh ngạc khi nghe Ðức Giêsu: TN3-C63

Những người có mặt trong Hội Ðường Na-da-rét hôm đó thật vô cùng kinh ngạc khi nghe Ðức Giêsu tuyên bố : Những lời hứa về Ðấng Messia mà các vị đã nghe, nay đã được hiện thực nơi tôi ! Và chúng ta có thể dễ dàng hiểu được sự bất bình của những người Na-da-rét, vì trên thực tế tình hình nơi chính chúng ta cũng không khác lắm so với hoàn cảnh của họ. Vâng, chúng ta đã nghe biết sứ điệp của Giao Hội và sự đòi hỏi của nó là loan truyền ơn cứu rỗi của Thiên Chúa, nhưng ngay trong Giáo Hội, chúng ta lại cảm nghiệm được rất ít ơn cứu rỗi đó. Cách đây mấy năm, có một bạn thanh niên nói : « Giáo Hội muốn tìm cách giải thoát thế gian ra khỏi sự dữ, nhưng chính Giáo Hội lại là sự dữ ! » Có lẽ đây là một lời nói quá nặng của một người đang trong tâm trạng thiếu bình tĩnh ! Nhưng trong thực tế, lời nói đó đã bộc lộ điều mà nhiều người từng thầm che đậy trong lòng, khi họ cảm thấy đau khổ và thất vọng về Giáo Hội, về những tính cách nhân loại bất toàn trong Giáo Hội, như : Trước những yếu đuối, những lầm lỗi và những luật lệ khe khắt của Giáo Hội, v.v…Vì thế nhiều người đã tỏ ra dè dặt trước sứ điệp cứu rỗi mang tính cách thiên sai do Giáo Hội loan báo, cũng như đã đánh mất dần lòng tin tưởng vào sứ vụ và sự thánh thiện của Giáo Hội.
Vấn đề khó khăn đó của con người ngày nay, cũng chính là vấn đề của những người Do-thái ở Na-da-rét xưa kia. Họ biết Ðức Giêsu là ai, và họ cũng cho là mình biết rõ Ðấng Messia phải như thế nào. Theo họ, Ðức Giêsu, người đồng hương của họ và hình ảnh mà họ vẫn có được về một Ðấng Messia, hoàn toàn không trùng hợp với nhau. Nói cách khác, người anh em đồng bào Giêsu này của họ không thể là Ðấng Thiên Sai từng được toàn dân mong chờ từ hàng thế kỷ nay.
Thế mà ngày nay, tuy chúng ta nhận thức được rằng Thiên Chúa đã xuất hiện trong thế gian qua con người Ðức Giêsu Na-da-rét, một cách hoàn toàn bất ngờ và trái ngược với quan điểm và sự chờ đợi của những người Do-thái xưa kia, nhưng tương tự như hai môn đệ Em-mau xưa (x Lc 24,25), chúng ta vẫn không tránh được những khó khăn, một khi chúng được mời gọi : Phải rút tỉa ra từ sự nhận thức về sự kiện Thiên Chúa nhập thể trong con người Ðức Giêsu, những hiệu quả cụ thể cho cuộc sống của mình và đồng thời không còn đem những quan niệm nhân loại hẹp hòi của mình ra để đo lường và phê phán về Thiên Chúa và chương trình cứu rỗi của Người nữa. Thí dụ : Khi chúng ta khắt khe đòi hỏi Giáo Hội phải hoàn toàn tinh tuyền và hoàn hảo thế này thế kia, thì chúng ta đã quên đi là chính mình đang ngồi trên cùng « một hàng ghế » với những người Do-thái xưa kia ở trong Hội Ðường Na-da-rét, những người đã chờ đợi một Ðấng Messia xuất hiện uy hùng trong vinh quang Thiên Chúa, đến nỗi không một ai còn dám nghi ngờ được sứ vụ thiên sai của Người nữa ! Trong khi đó, Ðấng Messia, Ðấng Thiên Sai lại đã xuất hiện trong thế gian hoàn toàn khác hẳn : Người đã đến như một người bình thường, yếu đuối, chứ không có hào quang rực rỡ nào cả; nhưng lòng tin tưởng phó thác của Người vào sự cứu rỗi và sức mạnh của Thiên Chúa thì hoàn toàn tuyệt đối. Ðức Giêsu không cần đến quyền bính hay sự vinh quang rực rỡ bên ngoài. Người chỉ biết tuân phục và thực hiện thánh ý Thiên Chúa Cha, và Người hoàn toàn phó mặc cho Thiên Chúa hướng dẫn sứ mệnh của Người đến chỗ thành công, cũng vì thế Người đã khước từ tất cả mọi phẩm chất thần thiêng, để sống hòa mình vào cuộc sống hằng ngày của con người như một người trong họ. Thánh Phaolô viết trong Thư gửi Phi-líp-pê : « Ðức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như mọi người trần thế » (Pl 2,6-7).
Do đó, kể từ Ðức Giêsu cuộc sống hằng ngày của con người mang dấu ấn thần thiêng. Ðể tìm gặp Thiên Chúa, con người không cần phải rời bỏ thế gian, và con người cũng không cần phải chờ đợi một dấu hiệu đặc biệt về sự gần gủi của Thiên Chúa. Thay vào đó, con người cần phải tin vào sự gần gủi của Thiên Chúa trong chính cuộc sống hằng ngày của mình, và qua chính những kinh nghiệm về nghèo khổ, tật nguyền, mù lòa và đau ốm (x. Lc 4,18). Tuy nhiên, để đạt được điều ấy, trước tiên chính con người phải có những kinh nghiệm đó đã. Vâng, khi một người càng ý thức được sự nghèo nàn của mình, thì càng hiểu rõ được « Năm hồng ân của Thiên Chúa » có ý nghĩa gì; đó chính là : Dù cho vương vấn mọi lầm lẫn và tội lổi, con người vẫn không bị xua đuổi loại trừ và không phải lo âu bối rối. Niềm hy vọng và tương lai luôn mở rộng trước mắt con người. Giáo Hội luôn ý thức được điều đó, nên luôn tìm cách gần gủi với con người để giúp cho con người đạt tới được một cuộc sống sung mãn. Dĩ nhiên, Giáo Hội đã và sẽ không luôn luôn thành công trong công tác nâng đỡ con người như thế. Giáo Hội còn có thể làm nhiều hơn nữa, nhân bản hơn nữa, hành động đầy yêu thương hơn và bộc lộc được sức sống của mình một cách mãnh liệt hơn nữa, v.v… !
Thiên Chúa đã xuất hiện trong thế giới này qua con người Ðức Giêsu và chỉ cho chúng ta biết phải sống và phải cư xử thế nào : Ðó là phải bắt chước gương Ðức Giêsu mà biết thông cảm nỗi cơ cực của kẻ khác và tìm cách mang tới cho họ sức sống mà chính Thiên Chúa đã ban cho chúng ta và còn tiếp tục ban cho chúng ta.
Những con người biết ý thức và thực thi được điều đó, thì không còn khổ sở và khó chịu về những yếu đuối và lầm lỗi của kẻ khác nữa, trái lại tìm cách giúp đỡ họ điều họ đang cần, như : Một lời nói đầy thông cảm, một cử chỉ thân thiện, một cái mĩm cười thanh thản vui tươi, dành cho họ một chút thời giờ, v.v… Tất cả những điều đó hoàn toàn phản chiếu tinh thần Phúc Âm - và đều nằm trong tầm tay của chúng ta, bất cứ ai cũng đều làm được - vì thế chúng là dấu chỉ sự gần gủi của Thiên Chúa - cả hôm nay nữa -, là dấu chỉ tiên báo ơn cứu rỗi mà Ðức Giêsu đã công bố trong Hội Ðường Na-da-rét năm xưa, tức : « Giải phóng người bị cầm tù, mang lại ánh sáng cho người mù lòa, trả tự do người bị áp bức và loan báo Tin Mừng cho người nghèo khổ » (Lc 4,18). Amen
Lm. Nguyễn Hữu Thy

 

TN3-C64. LỜI TIÊN TRI ĐÃ ỨNG NGHIỆM

Lm. Giuse Đinh lập Liễm
 

Trong cuộc lưu đầy ở Babylon, dân Do thái bị quân thù hành hạ áp bức, nhiều người đã tuyệt vọng: TN3-C64 (Truyện)

Trong cuộc lưu đầy ở Babylon, dân Do thái bị quân thù hành hạ áp bức, nhiều người đã tuyệt vọng vì tương lai rất mịt mờ, nhưng tiên tri Isaia đã báo cho họ biết là họ sẽ được giải phóng.  Khi trở về quê hương, họ đã qui tụ lại làm việc thờ phượng Chúa, ghi lại các hồng ân Thiên Chúa đã ban cho họ suốt dòng lịch sử và nhớ lại Giao ước bị bỏ quên (Bài đọc 1).
 Từ nhiều thế kỷ trước, tiên tri Isaia đã báo cho họ biết sẽ có Đấng Messia đến giải thoát họ và họ nóng lòng chờ đợi.  Nhân dịp về thăm quê hương Nazareth, ngày sabat, Đức Giêsu vào giảng ở hội đường, đọc nhằêm đoạn sách tiên tri Isaia mô tả về Đấng Messia và Ngài xác nhận chính Ngài là Đấng Messia ấy, khi Ngài nói:”Hôm nay ứng nghiệm lời Sách thánh mà quí vị vừa nghe”(Lc 4,21). Nhân dịp này Ngài đọc bản tuyên ngôn mô tả sứ mạng và chương trình hành động của Ngài, chính yếu là Ngài được sai đi loan báo Tin mừng cho mọi người, nhất là những người nghèo hèn, khốn khổ…Và công bố năm hồng ân của Thiên Chúa.
 Ngày nay, Hội thánh và mọi Kitô hữu, theo căn tính, phải tiếp tục sứ mạng mà Đức Giêsu đã làm:”Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con ra đi”(Ga 17,18). Sứ mạng của Kitô hữu được sai đi là làm tông đồ cho Chúa, loan báo Tin mừng Đức Kitô cho mọi người bằng đời sống chứng tá, yêu thương và hiệp nhất.
I. SỨ MẠNG CỦA ĐỨC GIÊSU.
1. Đức Giêsu là ai ?
Xét về nguồn gốc, ai cũng biết Đức Giêsu xuất thân từ Nazareth xứ Galilê, con bác thợ mộc Giuse và bà nội trợ Maria. Còn người đồng hương thì quá biết Ngài vì đã sinh sống với họ gần 30 năm, và xét theo bề ngoài, Đức Giêsu không có gì đặc biệt, chưa hề làm một phép lạ nào, chỉ là một thanh niên lam lũ, kiếm sống bằng nghề thợ mộc.
 Rời khỏi Nazareth một thời gian, tự nhiên danh tiếng Ngài đã vang dội khắp nơi qua việc rao giảng Tin mừng và làm nhiều phép lạ chữa mọi bệnh tật, trừ quỉ và làm cho kẻ chết sống lại. Tuy thế, đối với dân làng thì họ vẫn còn  nhửng nhưng, hoặc  bán tín bán nghi. Nói chung, đối với dân làng Nazareth, Ngài vẫn chỉ là một thanh niên xuất thân từ Nazareth không hơn không kém. Nay trở về quê hương, dân làng cũng chỉ coi Ngài bình thường như các thanh niên khác, chưa tỏ ra thái độ kính trọng hay kiêng nể gì.
 2. Quang cảnh làng Nazareth.
Nazareth có lẽ không phải là một thôn làng, nó được gọi là “Polis” nghĩa là một thành hay một thị trấn, và có thể có tới 20.000 dân. Nazareth tọa lạc trong vùng đất của sườn đồi của Galliê, có ba con đường lớn vòng quanh, tiện lợi cho việc thông thương và kinh doanh.
Có lẽ người ta sai lầm nếu nghĩ rằng Đức Giêsu lớn lên tại một làng quê hẻo lánh. Ngài lớn lên trong một thành có trục lộ giao thông của thế giới chạy qua ngay trước ngõ. Chính nơi đây Đức Giêsu đã giảng một bài quan trọng trình bầy nội dung chương trình hành động của Ngài, hay cũng có thể được gọi là bản tuyên ngôn về công tác cứu rỗi mà Ngài đến thực hiện.
 3. Đức Giêsu giảng ở hội đường.
Sau một thời gian đi rao giảng Tin mừng và làm phép lạ, danh tiếng Đức Giêsu đã lan rộng khắp nơi, Ngài trở về thăm quê hương Nazareth. Vào một ngày sabat, Ngài vào hội đường cùng với bà con cô bác để ca tụng Chúa và nghe đọc Sách Thánh, tất cả mọi người nóng lòng muốn nghe một người mà họ quen biết nhiều, thình lình nổi tiếng. Có thể là Ngài yêu cầu, hoặc là người phụ trách hội đường đưa cho Ngài cuộn da ghi lời Kinh thánh của tiên tri Isaia để hướng dẫn giờ đọc Lời Chúa.
Ngài mở nhằm chỗ nói về niềm vui của năm hồng ân, tác giả mô tả sự vui mừng của những kẻ trở về sau cuộc lưu đầy từ Babylon. Hay nói đúng hơn đoạn sách nói về Đấng Cứu thế :”Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin mừng cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối, loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được trông thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân và ngày khen thưởng”(Lc 4,18-19).   Đọc xong, gấp sách lại, ngồi xuống như các diễn giả thường làm. Tất cả đều chăm chú nhìn Ngài chờ đợi, xem Ngài cắt nghĩa đoạn sách này như thế nào. Ngài lợi dụng dịp này để công bố lời tiên tri này được ứng nghiệm nơi chính Ngài. Ngài tuyên bố chính Ngài là Messia (Cứu thế) đã được hứa, khi trịnh trọng nói:”Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai các vị vừa nghe”(Lc 4,18-19).
Chúng ta nhận thấy trong các buổi nhậm chức của tân Tổng thống, bao giờ cũng đọc một bài diễn văn quan trọng đầu tiên, trong đó ông vạch ra đường hướng, chính sách và chương trình hành động  trong nhiệm kỳ mới.  Bài Tin mừng hôm nay miêu tả bài diễn văn đầu tiên của một vị tân Lãnh đạo tôn giáo. Đó là bài nói chuyện đầu tiên của Đức Giêsu Kitô tại Nazareth, quê quán của Ngài. Ngài đưa ra một phác thảo về đường hướng và sứ mạng của Ngài, Đấng Thiên Sai, qua lời tiên tri Isaia :”Thánh Thần Chúa ngự trên tôi…”(Lc 4,14-21)
 So sánh lời công bố của Đức Giêsu Kitô và các diễn văn của các tân tổng thống trong ngày nhậm chức, chúng ta thấy có sự khác biệt rõ ràng. Quí vị tổng thống nói rất nhiều, hứa đủ thứ, nhưng sau cùng chẳng thực hiện được bao nhiêu trong thời gian tại chức. Trái lại, Đức Giêsu đã nói rất ít nhưng đã thực hiện tất cả những điều Ngài đã tuyên bố.
 4. Chương trình hành động của Ngài.
Nếu ngày xưa tác giả sách tiên tri Isaia loan báo một thời kỳ cứu độ chỉ để cho dân Chúa được bình an mà sống những ngày tháng sau lưu đầy, thì đây, với lời tuyên bố:”Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh thánh mà tai các vị vừa nghe”(Lc 4,21), Đức Kitô đã chính thức công bố thời kỳ cứu độ ấy đã đến. Ngài không chỉ ban bình an trong cuộc đời mà còn là bình an vĩnh cửu.
Ta thấy sứ mạng của Đức Giêsu là đến để giải phóng con người một cách toàn diện, cả tâm linh lẫn thể xác, cả cá nhân đến xã hội, bao hàm cả ba lãnh vực chính yếu của Kitô giáo : chân lý, công lý và tình thương (x. Mt 23,23). Về tâm linh, Ngài giải phóng con người khỏi ách thống trị của tội lỗi, của lề luật, của thói hư tật xấu, khỏi tính yếu đuối của bản tính con người. Thánh Phaolô viết:”Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta”(Gl 5,1; x. Rm 6,18; Cl 1,13). Ngài cũng đến để giải phóng con người về mặt thể chất:”Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này ? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”(Rm 7,24-25). Về mặt xã hội, Ngài đến để thực hiện một xã hội lý tưởng là Nước Trời, không chỉ tại thiên mà còn tại thế , trong đó mọi người đối xử với nhau bằêng chân lý, công lý và tình thương.
 Truyện : Xóa nợ.
Ngày xưa có một lãnh chúa, và các tá đền của ông thì nợ ông tiền thuê đất. Chẳng bao lâu họ thấy mình nợ nần chồng chất. Họ thấy mình không tài nào thoát ra tình cảnh khó khăn ấy, tuy ông lãnh chúa là người nhân ái và nhẫn nại. Nhưng các tá điền tự hỏi, ông cho họ thêm bao nhiêu thời gian để trả hết nợ. Điều đáng sợ là cả khi ông cho họ đến ngày họ chết, họ cũng không thể trả hết nợ.
 Kế đó một quản lý mới của lãnh chúa xuất hiện và bắt đầu làm một cuộc kinh lý. Trong suốt cuộc kinh lý ấy, quản lý đã hỏi mỗi tá điền mắc nợ bao nhiêu. Nhưng thật đáng kinh ngạc, quản lý không dừng ở đó. Ôâng đi thăm từng nhà, ông hỏi người ta ăn uống ra sao. Ôâng hỏi thăm người già, người bệnh, người khó ở. Chính ông thấùu hiểu những vấn đề và những lo lắng của họ.
 Rồi một ngày kia, ông tập họp họ lại, nói rằng ông có một sứ điệp quan trọng mà lãnh chúa tức chủ đất gởi cho họ. Các tá điền họp lại trong sợ hãi và run rẩy, tưởng rằng cái ngày thanh toán khủng khiếp sau cùng đã đến. Các tá điền đã biết hoặc nghĩ rằng mình đã biết những lời mà ông quản lý sắp nói. Hẳn ông sẽ nói rằng:”Trong suốt cuộc kinh lý, tôi đã khám phá rằng không một người nào trong các anh lo lắng việc trả nợ. Các anh chỉ nên tự trách mình. Các anh chỉ là một đám lười biếng, chẳng làm được việc gì. Chủ đất đã chán ngấy các anh. Ôâng ấy đã cho các anh vô số cơ hội, nhưng các anh vẫn không làm ra của cải. Các anh khiến ông ấy  không còn chọn lựa nào khác là lấy lại đất đai khỏi tay các anh và đưa nó cho những người khác và họ sẽ trả được nợ của họ”.
 Đó là những gì họ chờ đợi ông quản lý nói, dù rằng trong lòng họ, họ mong mỏi một điều gì khác. Rồi người quản lý bắt đầu nói:”Chủ đất biết rằng tất cả các anh đều mắc nợ số tiền lớn. Oâng ấy nhờ tôi nói với các anh những điều sau đây”. Quản lý ngừng nói. Họ chờ đợi cơn bão ập tới và gắng hết sức mình để chống lại nó. “Thế thì”, quản lý nói tiếp “Tôi có một tin mừng cho các anh”. Một lần nữa ông ngừng lại. Tin mừng ! Họ không thể tin điều họ nghe.”Chủ đất nhờ tôi nói với các anh rằng các anh có thể quên hết nợ nần. Oâng ấy xóa hết nợ nần cho các anh. Từ hôm nay, các anh có thể bắt đầu lại từ đầu”.
 Họ reo hò mừng rỡ. Các tá điền ôm hôn nhau. Một số người bắt đầu nhảy múa, đã lâu rồi họ không  nhảy múa. Khi họ trở về nhà mình với tâm hồn thanh thản, lần đầu tiên trong nhiều năm, họ nhận thấy mặt trời chiếu sáng, chim hát ca và những bông hoa rực rỡ nở rộ trong các cánh đồng.
 Tin mừng Đức Giêsu loan báo trong hội đường Nazareth cũng như thế. Ngài là người quản lý mới mà Thiên Chúa sai đến với dân mắc nợ Người. Theo người Pharisêu, ngày của Chúa phải là ngày phán xét. Và ở đây, Đức Giêsu tuyên bố rằng đó là ngày của ân huệ Thiên Chúa, không chỉ dành cho những người đáng khen mà dành cho tất cả mọi người.
 (Flor McCarthy, Phụng vụ Chúa nhật, năm C, tr 365-366).
 II. SỨ MẠNG CỦA CHÚNG TA.
1. Sứ mạng của Giáo hội.
Sứ mạng của Đức Giêsu, ngày hôm nay, vẫn được tiếp tục thực hiện qua  Giáo hội và trong Giáo hội. Thực vậy, Khi Đức Giêsu hoàn thành thời gian sứ mạng của Ngài, Ngài gửi Thánh Thần đến cho các môn đệ để họ tiếp tục công bố Năm Toàn Xá của Thiên Chúa, loan Tin mừng cho mọi người, rao giảng và thực hiện  sự giải phóng toàn diện con người và xã hội. Nói rõ hơn, Giáo hội được đầy Thánh Thần từ ngày lễ Ngũ tuần phải tiếp tục sứ mạng của Đức Giêsu trong lịch sử. Như vậy, lời sách tiên tri Isaia thâu tóm sứ mạng của Đức Giêsu cũng là lời thâu tóm sứ mạng của Giáo hội mọi thời đại. Hôm nay sứ mạng ấy càng trở nên khẩn trương hơn.
 2. Sứ mạng của mỗi Kitô hữu.
a) Mỗi người được sai đi.
Qua bài Tin mừng này, thánh Luca trình bầy Đức Giêsu như một kẻ được Thiên Chúa xức dầu Thánh Thần và sai đi. Tất cả chúng ta là những kẻ được Chúa sai đi. Mỗi người chúng ta cũng được Chúa sai đi. Ngày trước, Thiên Chúa đã sai Đức Giêsu đi, rồi đến phiên Đức Giêsu lại sai chúng ta đi. Đức Giêsu đã phán:”Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai chúng con ra đi”(Ga 17,18). Bởi vậy lời Thánh Kinh mà Đức Giêsu đã áp dụng cho bản thân Ngài “Chúa đã sai tôi đi”, cũng phải được chính chúng ta áp dụng cho chúng ta “Chúa cũng sai tôi đi”.
 Sai đi để làm gì ? Thưa sai đi để làm tông đồ cho Chúa. Mỗi Kitô hữu là một tông đồ. Công đồng Vatican II còn nói mạnh hơn:”Làm tông đồ là bản tính chủa người Kitô hữu”. Nói khác đi, nếu không làm tông đồ thì không còn phải là Kitô hữu nữa.
 b) Phải mộ mến Lời Chúa.
Muốn đi loan báo Tin mừng thì phải biết Tin mừng, muốn biết Tin mừng mà không mộ mến Lời Chúa thì làm thế nào mà biết rao giảng Lời Chúa, nhất là biết sống theo lời Chúa dạy. Dĩ nhiên, nếu chỉ tin rằng những gì được nói trong Thánh kinh, nhất là Tin mừng, đều là sự thật mà thôi thì chưa đủ, vì đó là thái độ luôn phải có đối với bất cứ cuốn sách phàm tục nào mà chúng ta cho là đúng đắn.  Trái lại, khi đọc Tin mừng là phải đọc với tất cả niềm tin cao độ và lòng mến thiết tha nghĩa là tin tưởng tất cả những gì trong đó đang được thực hiện. Thánh Giêrônimô nói:”Không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô”. Khi đọc Kinh thánh, chúng ta hẵy lắng nghe những điều Chúa nói với chúng ta qua ân sủng, với tất cả con tim nồng cháy của mình.
 Truyện: Chẳng nghe được gì hết. Trong vở kịch “The Royal Hunt of the sun” (Hoàng gia đi săn mặt trời) có kể lại cuộc chinh phục dân da đỏ ở Pêru của  người Tây ban nha vào thế kỷ 16, trong đó có một màn kể lại câu chuyện một người nọ biếu cho tù trưởng bộ lạc da đỏ một cuốn Thánh Kinh và bảo ông ta :”Đây là Lời Chúa, Ngài nói với chúng ta qua cuốn sách này”. Viên tù trưởng nghiêm trang cầm cuốn Thánh Kinh lên, xem xét kỹ lưỡng và dịu dàng đặt nó vào lỗ tai. Ôâng cố gắng nghe đi nghe lại nhưng chẳng nghe được gì hết. Thế là ông ta nghĩ rằng mình bị phỉnh gạt, nên giận dữ dằn mạnh cuốn sách xuống đất.
Màn bi kịch trên khiến chúng ta tự nhủ:”Vậy chúng ta phải lắng nghe Lời Chúa như thế nào” ?  Chúng ta phải lắng nghe Lời Chúa bằng ba cách thức : bằng lỗ tai của tâm trí, bằng lỗ tai của trái tim và bằng lỗ tai của linh hồn…(M. Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm C, tr 166-167).
 Chúng ta phải làm sao để Lời Chúa được diễn lại sống động nơi tâm trí chúng ta, phải ghi khắc lời ấy vào trái tim chúng ta và phải bàn bạc với Chúa cũng như lắng nghe điều Ngài nhắn nhủ chúng ta qua lời ấy.
 III. CÁCH THI HÀNH SỨ MẠNG.
1. Sống đời chứng tá.
Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói :”Người thời nay thích những chứng tá hơn là thầy dạy”. Đúng thế, lời dạy dỗ không hấp dẫn và thuyết phục bằng chứng tá vì người ta thường nói:”Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”. Nếu thầy dạy mà thực hành điều mình dạy thì lời ấy càng có tính thuyết phục; nếu ngược lại, những lời giảng dạy ấy hoàn toàn trở nên vô ích, có khi còn phản tác dụng : không làm cho người ta đến với Chúa mà còn làm cho người ta lìa xa Chúa nữa. Muốn cho lời rao giảng của mình có tác dụng, người truyền giáo nên thực hành lời Đức Giám mục chủ phong trong thánh lễ truyền chức Linh mục khuyên tân Linh mục :                
Hãy tin vào điều con đọc,
Hãy giảng điều con tin,
Và hãy thực hành điều con giảng dạy”.
 Về vấn đề làm chứng này, chúng ta hãy trở lại thời Giáo hội sơ khai, các tín hũu đầu tiên đãõ sống với nhau như thế nào  theo một tác giả thế kỷ thứ ba :
 “Người Kitô hữu không khác với những kẻ khác về cư trú, về ngôn ngữ hay lối sống. Bởi vì họ  không cư ngụ một thành nào riêng biệt, cũng không dùng ngôn ngữ nào khác thường và nếp sống của họ chẳng có chi khác biệt. Không phải do suy tư hay bận tâm tra cứu mà họ khám phá được các giáo thuyết. Họ không chủ trương một giáo điều nào của loài người như một số người nọ…
 Họ ở trong xác thịt nhưng chẳng theo xác thịt. Họ cư ngụ trên mặt đất nhưng có thành trì ở trên thiên đàng. Họ tuân theo mọi lề luật đã được đặt ra, nhưng lối sống của họ còn hơn cả lề luật. Họ yêu mến mọi người mà mọi người bách hại họ. Họ bị giết nhưng nhờ vậy mà được tái sinh. Họ thật nghèo nhưng lại làm cho bao người trở nên giầu có. Thiếu thốn mọi sự nhưng họ được tràn đầy mọi sự. Người ta khinh khi họ, nhưng trong sự khinh dể đó họ tìm được vinh quang. Danh giá họ bị nhục mạ nhưng nhờ đó họ được minh chứng là công chính. Bị chửi bới, họ chúc lành cho người ta, người khác hành hạ họ nhưng họ một niềm kính trọng. Khi làm lành họ bị trừng phạt như những kẻ bất lương, và chính lúc bị trừng phạt như vậy họ lại vui mừng, dường như được sống. Người Do thái khai chiến với họ như với những kẻ ngoại, đang khi đó dân ngoại bắt bớ họ, nhưng chẳng ai có thể nói tại sao lại thù ghét người Kitô hữu như vậy” (Trích Các bài đọc 2, mùa Phục sinh, tr 84-85).
 2. Sống đời yêu thương.
Đức Giêsu đã phán:”Người ta cứ dấu này mà biết các con là môn đệ của Thầy, là các con hãy yêu thương nhau”(Ga 13,35). Cốt lõi của đạo Công giáo là Bác ái bởi vì chỉ có một lề luật là mến Chúa yêu người. Nếu người ta chỉ yêu Chúa mà không thương yêu tha nhân là một điều khó hiểu vì như thánh Gioan nói, những người chung quanh sờ sờ ra trước mắt mà người ta không yêu thương được, thì làm sao người ta có thể yêu thương Thiên Chúa là Đấng vô hình ?  Vậy nếu muốn giới thiệu cho người khác Đấng mà thánh Gioan gọi “Thiên Chúa là tình yêu” thì phải có một hình ảnh nào, để qua đó người ta biết Thiên Chúa yêu thương nhân loại. Hình ảnh đó chính là tha nhân và nếu yêu tha nhân là hình ảnh của Chúa thì người ta sẽ dễ nhận ra Chúa hơn.

 Truyện: Bà có họ hàng với Chúa.
Dan Clack kể lại một câu chuyện rất ngắn nhưng cũng rất ấn tượng : Vào một buổi tối trời tuyết lạnh, một em bé khoảng sáu, bảy tuổi đang đứng tần ngần trước một siêu thị sang trọng. Đứa bé đi chân đất, khoác trên người bộ quần áo cũ kỹ, tơi tả, trông như miếng giẻ rách.  Có một thiếu phụ đi ngang qua trông thấy cậu bé và đọc được nỗi thèm muốn trong đôi mắt mầu xanh đó. Bà cầm tay đứa trẻû, dẫn vào tiệm  và mua cho em đôi giầy mới và bộ quần áo ấm.
Sau đó, họ bước ra phố, và thiếu phụ nói với cậu bé :
          - Chúc cháu vui vẻ và một đêm ngủ ngon.
Đứa bé trố mắt nhìn thiếu phụ, rụt rè hỏi :
          - Thưa bà, bà có phải là Chúa không ?
Bà cúi xuống mỉm cười với cậu bé, vỗ nhẹ vào vai cậu trả lời
          - Con ơi, không phải đâu, bà chỉ là một trong những đứa con của Ngài thôi !
Cậu bé như khám phá được điều gì mới lạ :
          - Cháu đã biết ngay là bà có họ hàng với Chúa mà.
(Thiên Phúc, Lời gọi yêu thương, tr 3-4).
 Sống đời bác ái yêu thương là dấu chỉ con cái Chúa và là dấu chỉ anh em với nhau. Đức Giêsu đã xác nhận:”Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành”(Lc 6,21). Quả thật,  thiếu phụ trong câu chuyện trên đã nghe và thi hành lời gọi yêu thương của Chúa:”Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy”(Lc 6,38). Được làm anh em, họ hàng của Chúa không là một vinh dự  vô cùng lớn lao cho con người sao ?
 3. Đời sống hiệp nhất.
Trong thân thể con người có rất nhiều chi thể. Thân thể tạo nên một thể thống nhất dù bao gồm nhiềâu chi thể. Những chi thể này rất khác nhau và có những chức năng rất khác nhau : dĩ nhiên có một số chi thể quan trọng hơn những chi thể khác. Nhưng một thân thể đầy đủ cần có mọi chi thể và các chi thể cần lẫn nhau.
Giáo hội cũng như thế. Chúng ta dù nhiều nhưng cùng tạo thành một thân thể trong Đức Kitô. Nhận thấy trong giáo đoàn Corintô có sự chia rẽ, thánh Phaolô đã viết thư khuyên nhủ các tín hữu tránh sự chia rẽ mà phải hợp nhất trong Chúa Kitô:”Tất cả chúng ta, dầu là Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể… Vậy anh em, anh em là thân thể Đức Kitô, và mỗi người là một bộ phận”(Bài đọc 2).
 Gia đình là Hội thánh tại gia. Hội thánh tại gia cũng phải có những đặc tính như Hội thánh toàn cầu : duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Một trong các đặc tính là sự hiệp nhất. Thánh Phaolô cũng trưng Sách Thánh ra để nói lên sự hiệp nhất vợ chồng là cần thiết:”Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt”(Ep 5,32). Nếu trong gia đình Kitô hữu, mọi người hiệp nhất với nhau, nhất là vợ chồng không ly dị, thì đây là chứng tá hùng hồn để giới thiệu cho người ta một Chúa Ba Ngôi duy nhất, nguyên lý của mọi tạo vật, và mọi loài thọ sinh phải tùng phục thờ lạy Ngài.
Lm. Giuse Đinh lập Liễm

 

TN3-C65. THIÊN CHÚA, ĐẤNG GIẢI THOÁT

Lc 1,1-4; 4,14-21
Lm. An Phong, OP
 

Tin mừng hôm nay gồm hai phần : Lời mở đầu Tin mừng thánh Luca, với lời "Kính gửi ông Thêôphilê": TN3-C65

Tin mừng hôm nay gồm hai phần : Lời mở đầu Tin mừng thánh Luca, với lời "Kính gửi ông Thêôphilê"; và trình thuật Đức Giêsu trở về quê hương là Nagiarét, miền Galilê "trong quyền lực của Thánh Thần". Trong lời mở đầu Tin mừng của mình, thánh Luca đã tuyên bố những sự kiện mà ngài viết ở đây là "cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự... và giáo huấn... thật là vững chắc." Trong trình thuật Đức Giêsu trở về quê hương, thánh Luca thuật lại việc Đức Giêsu vào Hội đường và đọc đoạn sách ngôn sứ Isaia : "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi... xức dầu cho tôi... sai tôi đi rao giảng Tin mừng cho người nghèo khó... ân xá cho kẻ tù đày... cho kẻ đui mù được thấy... trả lại tự do cho người bị áp bức... công bố năm hồng ân của Chúa".
Đây thật là những dấu chỉ của thời đại cứu thế, thời đại Thiên Chúa thực hiện ơn cứu độ.
Khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin mừng, Đức Giêsu trở về quê hương xứ sở của mình. Điều này cho thấy sứ vụ công khai đầu tiên của Người được thực hiện nơi quê quán. Người đã trở nên nỗi tiếng "danh tiếng Người lan tràn khắp miền chung quanh". Người muốn mang tin mừng cứu độ, "năm hồng ân của Chúa" khởi đi từ những người thân thuộc, họ hàng, đồng hương đến toàn thể thế giới. Như thế, Đức Giêsu, tuy là con Thiên Chúa, sinh ra bởi quyền năng Thánh Thần, vẫn gắn bó mật thiết với quê hương của mình. Việc trở về quê cha đất tổ nói lên mối thâm tình nhân loại. Việc loan báo năm hồng ân của Chúa nơi quê nhà nói lên ân sủng tràn đầy nhờ sự hiện diện của Người.
Đời sống công giáo là gì, nếu không phải là "gắn bó với nơi mình sinh ra", nhưng làm cho nơi đó trở thành nơi hồng ân. "Ân sủng không phá hủy tự nhiên, nhưng kiện toàn" (thánh Tôma Aquinô). Một đời sống công giáo thực sự không tách rời chúng ta khỏi người đồng hương của mình, người hàng xóm láng giềng, người thân quen, nhưng làm cho chúng ta gần gũi với họ, có khả năng yêu mến họ, để biến cuộc sống trở nên hồng ân.
Đức Giêsu đã bắt đầu sứ vụ nơi những người nghèo, những người bị áp bức, những người khuyết tật, những người bị đẩy ra bên lề xã hội. Lời ngôn sứ Isaia sẽ được Đức Giêsu thực hiện trong sứ vụ công khai. Người là tình yêu, niềm vui, bình an, hạnh phúc và hồng ân của Chúa. Người quan tâm đến những nỗi khổ về thân xác cũng như tâm hồn của con người. Người giải thoát con người khỏi tội lỗi, sự dữ, đồng thời mở con mắt đức tin cho họ. Tình yêu, bình an, hạnh phúc và hồng ân của Chúa vẫn được tiếp tục trong và qua Hội thánh của Người. Nhờ các bí tích, Đức Giêsu tiếp tục giải thoát chúng ta khỏi nô lệ tội lỗi, nuôi dưỡng chúng ta bằng Thánh Thể Người, củng cố chúng ta bằng ân sủng của Người. Qua lời rao giảng và giáo huấn của Hội thánh, Đức Giêsu vẫn đang chiếu dọi ánh sáng Người vào nơi tối tăm. Năm hồng ân của Thiên Chúa vẫn đang được thực hiện nơi những tâm hồn đón nhận Tin mừng và ánh sáng của Đức Giêsu. Đức Giêsu giải thoát chúng ta khỏi lo âu, sợ hãi, đơn độc, ích kỷ...miễn là chúng ta biết lắng nghe Lời Người. Đức Giêsu đổ tràn ân sủng người trên những ai thành tâm tìm kiếm "hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ cửa thì sẽ mở cho".
Như thế, Đức Giêsu chính là tình yêu, niềm vui, bình an, hạnh phúc và là hồng ân. Người đang hiện diện để cứu độ con người.
Lạy Thiên Chúa toàn năng, trường cửu,
Chúa tạo dựng và Chúa hoàn tất.
Một năm dưới mắt Chúa chỉ là một phút chóng qua.
Nhưng đối với chúng con là tạo vật,
đôi mắt đâu có thấy được chiều dài cũng như chiều sâu
của chuỗi ngày chất chứa những điềm tốt và điềm xấu.
Chúng con biết chắc một điều :
Mỗi năm là một bước tiến đến gần Chúa.
Người đời tiến đến tuổi già, người kitô hữu tiến về ngày mới.
Năm cũ đang trôi qua, tựa như một con đường cái,
lúc thì thẳng tuột, lúc thì quanh co,
lúc lên đèo, lúc xuống dốc, lúc đầy ổ gà.
Đã có lúc chúng con đến chậm, bị kẹt xe, chúng con lỡ hẹn.
Lạy Chúa, xin ban cho con sức mạnh trong năm mới sắp đến.
Xin cho con khao khát Lời Chúa. Amen.
(Lời nguyện cầu Phi châu)
Lm. An Phong, OP

 

TN3-C66. TRÁI TIM KHÔNG NGỦ YÊN

Lc 1:1-4; 4:14-21
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP
 

Ông Lý Quang Diệu, Bộ trưởng cố vấn Singapore,viếng thăm Việt nam từ ngày 16 đến 20 tháng 01: TN3-C66

Ông Lý Quang Diệu, Bộ trưởng cố vấn Singapore,viếng thăm Việt nam từ ngày 16 đến 20 tháng 01 năm 2007.Ông nói : "Việt Nam đang tiến với tốc độ tốt và đang đuổi kịp thời gian bị mất." Việt nam mất gì trong “thời gian bị mất” ? Thời gian đã mất có lấy lại được không ? Lấy lại bằng cách nào ? Phải chăng chỉ kinh tế và chính trị mới có thể giúp lấy lại thời gian đã mất ?
Vấn đề không đơn giản như thế !
Khi mời ông Lý Quang Diệu thăm Việt Nam, người ta chỉ mong nghe những diệu kế hay phép mầu kinh tế cho Việt nam. Có ai ngờ trong khi xây dựng một Singapore phú cường, người dân của ông vẫn không mất tự do và quyền làm người ? “Trái tim Singapore,” tức con người, chứ không phải kỹ thuật, đóng vai trò quyết định Singapore có một vị thế không nhỏ trên thế giới.[1]
Nếu xã hội chỉ là một nhà máy khổng lồ, vấn đề có thể đơn giản. Nhưng vì xã hội là tổ hợp những con người, nên không thể coi thường sức mạnh tinh thần. Nhưng nếu chỉ nghĩ đến phần thiêng liêng mà thôi, giải pháp cũng không toàn diện. Chúa Giêsu đến trần gian không nhằm cứu các linh hồn, nhưng cứu toàn thể con người. Ðó là sứ mệnh rất cao cả, nhưng cũng rất thực tế. Sứ mệnh đó vẫn được tiếp nối trong Giáo hội hôm nay.
Vậy Giáo hội có thể giúp Việt nam “đuổi kịp thời gian bị mất” không ? Chúa Giêsu đã vạch ra một phương hướng giúp chúng ta có thể “đuổi kịp thời gian bị mất.” Những năm tháng qua đã để lại một xã hội và giáo hội “rách nát” ! Những năm tháng đó đã tạo nên những “người Việt nam xấu xí.” Thời gian đó không đáng gọi là năm tháng hồng ân. Bởi thế, cần có một sứ giả đến “công bố năm hồng ân của Chúa.” (Lc 4:19) Sứ giả đó chính là Ðức Giêsu, đến từ Thiên Chúa.
Ðể có thể can đảm “công bố năm hồng ân của Chúa,” Người đã được Thần Khí hướng dẫn. Người là vị Thiên Sai thực sự, vì đã được “Chúa xức dầu tấn phong.”(Lc 4:18) Ðó là tất cả sức mạnh và tước vị Người có khi xuất hiện giữa muôn dân. Không có sức mạnh Thần Khí, Người không thể “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.”(Lc 4:18)
Những “kẻ nghèo hèn,” đối tượng số một của Tin Mừng, tràn ngập xã hội Việt nam. Việt Nam vẫn bị xếp vào hàng những nước nghèo nhất thế giới, cả về kinh tế lẫn nhân quyền, dù năm ngoái đã đạt mức tăng trưởng kinh tế 8%, chỉ đứng sau Trung Quốc trong khu vực Đông Á. Nghèo hèn cả về vật chất lẫn tinh thần, con người sẽ không còn điều kiện làm người nữa.
Ðó là lý do tại sao Ðức Giêsu rao giảng Tin Mừng để phục hồi phẩm giá con người. Hạt giống Tin Mừng đã gieo. Mùa màng trổ sinh tươi tốt khắp nơi trên thế giới. Còn Việt nam thì sao ? Những ai đang gieo hạt giống Tin Mừng tại Việt nam ?
Nhìn lại số lượng và phẩm chất nhân sự của Giáo Hội Việt nam hôm nay, chúng ta có thể hiểu phần nào lý do tại sao hạt giống Tin Mừng chưa trổ sinh mùa màng tươi tốt trên mảnh đất chữ S thân yêu. Nhân sự là một vấn đề vô cùng quan trọng. Chính vì thế, khi quan sát xã hội Việt nam, ông Lý Quang Diệu nhận xét : “… ngoài vốn đầu tư, cơ sở hạ tầng … cần có một cơ sở quan trọng hàng đầu : đào tạo nguồn nhân lực.”[2] Chẳng lẽ Việt nam không có những trung tâm huấn nghệ, học đường, đại học để làm công việc quan trọng đó ? Kinh nghiệm từ Singapore, ông cho thấy cần phải nhấn mạnh đến phẩm chất của nguồn nhân lực đó. Không phải chỉ cung cấp một mớ kiến thức chuyên môn đáp ứng cho những cơ chế vô hồn, nhưng cần có “những con người tự trọng, mẫn cảm và có ý thức.”[3]
Giáo Hội Việt nam cũng đang thiếu những con người như thế ! Mặc dù có nhiều chủng viện và học viện, GHVN vẫn thiếu một cách trầm trọng những người lãnh đạo thực sự. GHVN không thiếu nhân tài, nhưng thiếu tầm nhìn và kiến thức quản trị. Thiếu những nhà lãnh đạo biết đón nhận, lắng nghe những tiếng nói khác với mình. Nếu loại trừ hay không tạo điều kiện cho những tiếng nói khác góp phần vào xây dựng công cuộc chung, e rằng giới lãnh đạo cách nào đó không tin Giáo hội là thân thể Ðức Kitô với nhiều bộ phận và chức năng khác nhau do Thiên Chúa an bài trong Thần Khí (x. 1 Cr 12:12-30). Có những người anh em không được đón nhận và chia sẻ sứ vụ. Như thế, phải chăng họ chỉ bị khinh thường và bất tín nhiệm ? Không đâu ! Cả sứ mệnh và Ðấng trao sứ mệnh cho họ cũng bị khinh thường nữa. Ðúng như Chúa nói : “Ai đón tiếp người Thày sai đến là đón tiếp Thày, và ai đón tiếp Thày là đón tiếp Ðấng đã sai Thày.”(Ga 13,20) Khi nói thế, không phải Chúa chỉ nhằm đến đối tượng dân ngoại, nhưng cả những người đang nắm quyền trong Giáo hội nữa.
Một cuộc cải tổ sâu rộng nền giáo dục chủng viện vô cùng khẩn thiết ở Việt nam. Qua bao đời, nền giáo dục đó hầu như chỉ chú trọng cung cấp kiến thức thần học hay triết học cho người thụ huấn. Khi còn ngồi trong chủng viện, con người chỉ lo phát triển tài năng và tập những nhân đức cá nhân để vinh thăng trên đường “hoạn lộ,” (“quan triều”!) chứ ít khi chú ý tới tinh thần trách nhiệm, hợp tác, cộng đồng. Kết quả khi ra đời, họ không có khả năng làm việc tập thể và sống cộng đoàn. Nhiều người chỉ tìm danh vọng cá nhân hay quyền lợi phe nhóm. Tham quyền cố vị tới chết cũng chưa chịu về hưu hay đổi xứ ! Cá nhân to hơn Nước Chúa. Làm sao kiếm được tinh thần từ bỏ và khiêm tốn nơi những con người như thế ?
Thế mới hay GHVN thiếu những thợ gặt lành nghề. Vẫn không đủ những người có khả năng rao giảng Tin Mừng cho người nghèo hèn và bị áp bức. Thời nào cũng thế, GHVN đầy dẫy những con người đồng lõa với bọn giàu sang và thế lực trong các cơ chế đàn áp. Những người bị áp bức hầu như nằm ngoài sự quan tâm của Giáo hội. Chỉ có những người nghèo mới là đối tượng của Tin Mừng hay sao? Người nghèo chỉ là một trong những thành phần bị cơ chế bất công đàn áp. Những hoạt động bác ái và y tế xã hội chỉ xoa dịu phần nào nỗi đau khổ của những người nghèo hèn. Còn những người bị giam cầm trong các trại tù cải tạo, những người bị áp bức đến mất tự do ngoài xã hội và những người dân đang bị hạn chế tự do liên lạc, hội họp, di chuyển … đến nỗi trở thành mù điếc những thông tin cần thiết và đói khát nhân quyền thì sao? Họ chiếm chỗ nào trong mối quan tâm của GHVN? Những đối tượng Tin Mừng, như ngôn sứ Isaia loan báo, đều là những nạn nhân của đủ thứ đàn áp bất công. Nếu không quan tâm và tranh đấu cho quyền làm người, GHVN sẽ đem Tin Mừng qua nẻo đường nào cho dân tộc?
Dù có cả bề dầy lịch sử gần 500 năm, GHVN vẫn thiếu những ngôn sứ quả cảm như Ðức Giêsu. Có một lỗ trống khổng lồ trong đức tin của GHVN hôm nay. Chưa ai có thể lấp nổi ! Mặc dù có khối lượng nhân sự khổng lồ, GHVN có lẽ còn thiếu xác tín vào sức mạnh Tin Mừng. Có lẽ đức tin chúng ta chưa bằng hạt cải, nên chưa thể bứng cây đa cổ thụ hay trái núi bất công ra khỏi lòng dân tộc. Trái núi càng cao càng cản bước tiến Tin Mừng.
Nếu có đức tin bằng hạt cải, GHVN đã dũng cảm như anh em Công Giáo Nam Hàn. Trước cảnh đàn áp bất công ngoài xã hội, Giáo hội Nam Hàn đã tranh đấu đòi quyền lợi cho công nhân. Nhờ đó, Tin Mừng đã tìm được con đường đi đến với dân tộc. Các giám mục và linh mục đã không ngồi yên hay thỏa mãn với những công trình xây nhà thờ, phòng phát thuốc, hay công việc mục vụ trong khuôn viên nhà thờ và giáo xứ. Cùng giáo dân, họ đã xắn tay áo xuống đường tranh đấu và vô tù vì tương lai xã hội và Giáo hội. Ðó là con đường Thần Khí dẫn Giáo hội Nam Hàn theo Ðức Kitô.
Dân tộc chúng ta không thua kém bất cứ ai trong vùng Á châu. Chính ông Lý Quang Diệu phải công nhận: “Tài năng của người Việt Nam trong việc sử dụng và cải tiến các khí tài của Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh và tài năng của người Việt hiện sống ở Mỹ và Pháp nhắc nhở chúng ta về những phẩm chất tuyệt vời của dân tộc này.”[4] Phẩm chất tuyệt vời cũng chẳng là gì, nếu chỉ để phục vụ quyền lợi riêng tư hay phe nhóm. Tất cả đều vô ích nếu không có tinh thần chia sẻ và cộng tác với nhau. Có lẽ ông muốn nói về trí thông minh và khả năng kỹ thuật của người Việt nam, chứ chưa nói đến những phẩm chất đích thực và cần thiết cho việc phát triển của dân tộc, như tinh thần trách nhiệm, khiêm tốn, tự trọng, đoàn kết, cởi mở v.v. Nếu thiếu khiêm tốn và cởi mở, chúng ta không thể vượt qua những thử thách thời đại và loan báo Tin Mừng hữu hiệu. Nếu chỉ lo cho cá nhân và phe nhóm, không bao giờ có thể can đảm dấn thân theo Ðức Kitô. Ai cũng nói đến hy sinh, từ bỏ. Nhưng thực tế mấy ai dám vượt qua cái tôi?
Nếu có đức tin bằng hạt cải, chúng ta sẽ can đảm lãnh nhận sứ mệnh giải thoát như Ðức Kitô. Sứ mệnh đó quyết định tương lai toàn thể Giáo hội. Trước khi bước vào cuộc đời công khai, Ðức Kitô đã được “quyền năng Thần Khí thúc đẩy.” (Lc 4:14) Còn chúng ta đang được Thần Khí nào hướng dẫn ? Nếu được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, chắc chắn chúng ta đã biết quên mình thực sự để dấn thân hoàn toàn cho sứ mệnh “trả lại tự do cho người bị áp bức” (Lc 4:18) như Ðức Kitô. “trả lại tự do” là sứ mệnh “thâu tóm rõ nhất sự nghiệp của Chúa Giêsu.”[5] Nếu Chúa không chết cho sứ mệnh cao cả đó, chắc chắn chúng ta không dám bàn đến vấn đề gai góc này. Chẳng lẽ Giáo hội có sứ mệnh nào khác với Chúa ? Nuôi sống hay chữa bệnh cho người nghèo không phải dễ. Nhưng so với sứ mệnh “trả lại tự do cho người bị áp bức,” việc bác ái đó tương đối nhẹ nhàng hơn. Phải chăng GHVN chọn phần dễ nhất trong sứ mệnh để ru ngủ chính mình ? Sứ mệnh “trả lại tự do” gay cấn nhất, vì đòi hy sinh chính mạng sống mình, chứ không phải của cải hay thời giờ mà thôi. “Trả lại tự do” có nghĩa là trả lại quyền làm người cho con người.
Con người chỉ thực sự làm người khi có tự do. Mất tự do là mất bản chất con người. “Thời gian bị mất” có nghĩa là thời gian con người mất quyền làm người. Quyền làm người bị mất ở đâu, nếu không phải trong các nhà tù và những nơi con người biến thành những bộ máy sản xuất ? Chỉ vì quyền con người, Chúa Giêsu đã được sai đến thi hành sứ mệnh duy nhất là “trả tự do cho những người bị áp bức” (Lc 4:18) Muốn theo Chúa Kitô, Giáo Hội phải tiếp tục sứ mệnh đó. GHVN đang nắm trong tay một cơ hội bằng vàng để thực thi sứ mệnh cao cả cho hạt giống Tin Mừng trổ sinh.
Khi nói đến sứ mệnh “trả lại tự do” và quyền làm người cho dân tộc, tôi không có ý hô hào tranh đấu bạo động. Những khẩu hiệu “chống cộng” hay “đánh Mỹ cứu nước” là những phương tiện lỗi thời. Những khẩu hiệu đó chỉ có giá trị trong “thời gian bị mất." Ngày nay, không còn người trẻ nào hiểu ý nghĩa các khẩu hiệu đó nữa. Một trang sử đã lật qua. Không thể dùng những phương tiện lỗi thời. Nhưng mục đích không bao giờ thay đổi. Nhân quyền và tự do vẫn là những giá trị ngàn đời. Tuổi trẻ hôm nay cảm phục những ai đang làm mọi cách cho dân tộc tìm lại những giá trị cao cả đó hầu đuổi kịp trào lưu thế giới. Vận hội đã tới !
Vậy làm cách nào để “trả lại tự do” cho dân tộc ? Dĩ nhiên, chính trị, kinh tế, quân sự không phải là phương tiện tranh đấu của Giáo hội. Phương tiện duy nhất của Giáo hội chính là Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô. Tin Mừng là “sự thật giải thoát.” (Ga 8:32) Sự thật vẫn còn bị che dấu và bưng bít ở Việt nam. Ðó là lý do tại sao dân tộc chưa có tự do. Làm sao người dân có thể làm người tự do khi nền “văn hóa nói dối” đang hoành hành từ Bắc chí Nam, từ trong đạo ra ngoài đời?
Con đẻ của “văn hóa nói dối” là cơ chế bất công đang nghiền nát con người. Vắng bóng công lý, con người chỉ còn cúi đầu vâng theo chế độ “xin cho.” Con người trở thành chúa tể thống trị con người. Cuộc đời chỉ còn là kiếp trâu ngựa lầm than. Con người mất quyền làm người. Quyền làm người biến thành một thứ ân huệ. Chính vì để cho con người được làm người, Chúa đã chết không bằng một con người. Người đã chết một cách bất công để công lý ngự trị trên trái đất.
Noi gương Ðức Kitô, giáo dân xứ Phường Tây, Huế hiện nay đang đứng lên tranh đấu đòi lại ngôi trường của giáo xứ. Ðoàn kết với dân Chúa, ngày 9-1-2007 vừa qua, Đức TGM Têphanô Nguyễn Như Thể mạnh mẽ tuyên bố: "Toàn thể Giáo phận Huế sẽ đứng đàng sau linh mục quản xứ và giáo dân Phường Tây!" [6] Tinh thần Nguyễn Kim Ðiền vẫn sống mạnh trong lòng giáo dân Huế ! Rất may dân tộc Việt nam còn có những con người dũng cảm tranh đấu cho công lý như vậy ! Nhìn từ Nam ra Bắc, có lẽ chúng ta phải khâm phục truyền thống kiên cường và anh hùng của Giáo Phận Huế !
Lạy Chúa, cám ơn Chúa đã cho chúng con tiếp nối sứ mệnh cao cả của Con Chúa nơi trần gian. Con biết trái tim Chúa không ngủ yên cho tới khi nào dân tộc chúng con được “trả lại tự do.” Xin Chúa cho GHVN can đảm rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo hèn và đứng lên đòi “trả lại tự do cho những người bị áp bức” trong xã hội và giáo hội hôm nay. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP
 

[1] x. vnexpress.net, 16/01/2007, trích lại từ báo Tuổi Trẻ.
[2] Ibid.
[3] Ibid.
[4] ibid.
[5] Lời Chúa Cho Mọi Người 2005:290.
[6] Tiếng Nói Giáo Dân.net ngày 10.01. 2007

 

TN3-C67. HÔM NAY ĐÃ ỨNG NGHIỆM ...

Lc 1,1-4; 4,14-21
Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP
Truyền thống cũng là sáng tạo
''Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Luca.''
 

Để hiểu ý nghĩa của câu này, cần phải biết rằng Tin Mừng hoàn toàn không phải là một bộ sưu tập: TN3-C67

Để hiểu ý nghĩa của câu này, cần phải biết rằng Tin Mừng hoàn toàn không phải là một bộ sưu tập những mẩu chuyện liên quan đến Đức Giêsu và các giáo huấn của Người. Mỗi tác giả Tin Mừng đều là một chứng nhân về Con Thiên Chúa, và khi viết Tin Mừng, tác giả có ý trả lời vấn đề vẫn thường được nêu lên : Đức Giêsu là ai ? để nhờ đó mỗi người có thể gặp được Đức Giêsu khi nghe nói về Người, hay khám phá ra Người qua cuộc sống của các môn đệ. Mỗi nhân chứng này kể lại lòng tin của mình vào Đức Giêsu dựa theo một lịch sử : những sự kiện và những lời Đức Giêsu nói. Tuy nhiên mỗi tác giả còn dựa vào kinh nghiệm riêng của mình và của môi trường sống. Điều này giải thích vì sao mỗi tác giả có nét đặc trưng và âm giọng khác nhau.
Dù vậy, vẫn luôn chỉ có một Tin Mừng, bởi vì chỉ có một Đức Giêsu Kitô. Mọi bản văn trong Kinh Thánh đều quy hướng về Người.
Bản văn được phụng vụ sử dụng hôm nay là một thứ sắp xếp lại. Đây là một cách thức đọc Tin Mừng. Cách thức này làm nổi lên ba đề tài : Luca quyết định viết một quyển sách ; Đức Giêsu mở quyển sách ; Người gấp sách lại và bắt đầu hoạt động.
Thánh Luca biên soạn theo một trật tự có sẵn. Người ta nhận ra ngay đây là một ông thầy đang nghiên cứu và soạn thảo nhằm hiểu các biến cố cách khách quan. Mục đích của tác giả thật rõ ràng : giúp người đọc nhận thức được rằng giáo huấn mình đã học hỏi thật là vững chắc. Chính vì vậy, những chữ được viết ra phải đem lại điều chắc chắn. Tác giả mong muốn mỗi người cảm nhận được sự vững chắc này và mỗi người phải tự kiểm chứng lại giá trị của điều đã được viết ra. Nói cách khác, mỗi người phải chọn lựa và dấn thân. Một truyền thống được gọi là đích thực khi truyền thống ấy luôn khơi dậy sức sáng tạo.
Khi vào hội đường Na-da-rét và đọc bản văn ngôn sứ Isaia, Đức Giêsu cũng không làm gì khác hơn. Người không lặp lại bản văn, không bình luận về bản văn lâu đời này; Người cũng không đưa ra những nhận định uyên bác về thời kỳ bản văn được soạn thảo. Trái lại, Người làm nảy sinh một ý nghĩa mới, Người đem lại sức sống cho những chữ chết. Chữ viết không chỉ là chứng từ của quá khứ, nhưng trở thành nguồn mạch cho hoạt động. Đức Giêsu không phải là nhà khảo cổ hay người chú giải. Người hoàn tất điều bản văn đã nói. Người mở ra một thế giới mới. Vì vậy, Người quả quyết : ''Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe.''
Đức Giêsu là Đấng mà mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là ''có'' nơi Người (2 Cr 1,20), Người không thể đọc lời Chúa mà không thi hành, không hoàn tất ngay tức khắc. Chính vì thế, theo bước chân Người đi, các phép lạ được thực hiện cho những người nghèo khó, những kẻ bị tù đày, người mù, người bị áp bức ...
Như vậy, quả là điều vô ích khi một số Kitô hữu muốn đóng khung truyền thống, đóng khung lời nói và hoạt động của Đức Giêsu. Người ta muốn hiểu chính các điều đã xảy ra trong quá khứ, thế nhưng người ta lại quên rằng, những điều ấy được truyền lại cho thế hệ sau với mục đích mỗi thế hệ phải đọc lại theo một cung cách mới, phù hợp với bối cảnh sống hiện tại của mình. Dấn thân phục vụ lời Chúa, đó là bước vào một hoạt động sáng tạo, đó là biến mình trở thành người phục vụ cho những khởi đầu mới.
Lời Chúa không thể mất đi
Tin Mừng cứ chạy, chạy mãi : từ Luca đến Ti-mô-thêu, từ những nhân chứng tai nghe mắt thấy đến tất cả chúng tôi - tức là những cộng đoàn tiên khởi, từ ngôn sứ Isaia đến Đức Giêsu, từ Đức Giêsu đến những người Do-thái đang tụ họp trong hội đường, và đến cả những người ngày nay - tại sao lại không?
Lời Thiên Chúa do Đức Giêsu công bố, dù mọi người đã biết, nhưng vẫn có tính cách đặc biệt. Người ta chẳng hiểu vì sao Người có uy quyền như thế.
Trước đấy, danh tiếng Đức Giêsu đã lan rộng ra khắp miền Galilê. Nhưng khi trở về quê hương, Người biết rõ là người ta không để ý lắng nghe lời Người nói. Tại những miền khác, Người thường đến với những kẻ bị bỏ rơi, những kẻ bị tù đày, những người mắc bệnh phong hủi, hay với kẻ mù loà, với người đàn bà goá ... Còn hôm nay, Người xuất hiện trong một cuộc hội họp : Người tỏ mình ra trong Hội Đường của người Do-thái.
Đức Giêsu đứng lên, đọc sách, và ngồi xuống như những người khác. Thế nhưng điều Người nói quả là lạ lùng, khó có thể tin được :
Thần Khí Chúa ngự trên tôi,
vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,
để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
Người đã sai tôi đi công bố
cho kẻ giam cầm biết họ được tha,
cho người mù biết họ được sáng mắt,
trả lại tự do cho người bị áp bức,
công bố một năm hồng ân của Chúa.
………
Hôm nay dã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe
Các lời Đức Giêsu nói và những việc Người làm vừa có tương quan hỗ tương với nhau, vừa có liên hệ tới toàn bộ sứ điệp Cựu ước. Vì vậy, các thính giả nhận ra một sự thật rõ ràng : Thần Khí Thiên Chúa luôn có mặt !
Người ta vẫn gặp thấy những người hăng hái dấn thân phục vụ người nghèo, mặc dù hoàn cảnh của họ không thuận lợi lắm -nếu không muốn nói là bi đát, và công việc phục vụ của họ rất khiêm tốn. Chính lúc ấy, dường như lời họ nói có sức thuyết phục hơn, chặt chẽ hơn, làm cho người nghe phải bối rối. Trước những mẫu gương này, thường có hai phản ứng : một là bịt tai lại, không muốn lắng nghe, hai là để ý và theo dõi bước chân người đi trước.
Theo cái nhìn trong đức tin, các vị thánh, các ngôn sứ hay những người được Chúa xức dầu là những người dùng lời nói hay hành động của mình để thúc đẩy người khác nói và hành động, làm cho vương quốc tự do của Chúa được xuất hiện.
Như thế, Thần Khí Thiên Chúa luôn hoạt động trong mọi người và trong mọi thời để người nghèo, kẻ tù đày, người bị áp bức trong mỗi thời đại được giải thoát, về cả đời sống vật chất lẫn những khát vọng sâu xa của con người. Và như vậy, Tin Mừng không bao giờ bị mất đi.
"Ngày hôm nay''
Tất cả được bắt đầu vào ngày Đức Giêsu mở sách ra và đọc lại lời ngôn sứ Isaia, và tuyên bố với mọi người : ''Hôm nay'' đã ứng nghiệm ...
Không ai, có thể lầm lẫn về lời tuyên bố này, vì đoạn sách Đức Giêsu vừa đọc lại nói về Đấng Mê-si-a. Và Đức Giêsu quả quyết : Hôm nay và chính tôi.
Lời tuyên bố này không phải là một lời sấm, nhưng là một biến cố, một biến cố duy nhất và không thể đảo ngược lại. Lời tuyên bố này đòi mỗi người phải tự xác định lại mình trong tương quan với Đức Giêsu. Bởi vì vẫn chỉ là một lời duy nhất, một lời luôn có tính hiện đại : lời Đức Giêsu nói tại hội đường Na-da-rét, lời thánh Luca viết cho ông Thê-ô-phi-lô, và lời chúng ta đang nghe hôm nay.
Chính ngày hôm nay mà mỗi người nhận ra Thiên Chúa đang can thiệp vào lịch sử cửa toàn thể nhân loại và của mỗi người. Chính ngày hôm nay mà mỗi người nhận ra Thiên Chúa là Đấng yêu thương mình. Chính ngày hôm nay mà mỗi người phải hành động vì cuộc sống vĩnh cửu của mình.
 
  • Chính ngày hôm nay mà mỗi người bước vào mối hiệp thông với Thiên Chúa, Đấng duy nhất.
  • Chính ngày hôm nay là một cuộc truyền tin cho mỗi người, bởi vì họ phải lắng nghe và chọn lựa.
  • Chính ngày hôm nay, Thiên Chúa đang đến với mỗi người. Chính Người đang hiện diện, qua Hội Thánh, qua các bí tích. Chính ngày hôm nay mà mỗi người phải đón tiếp Thiên Chúa.
Phần chúng ta, chúng ta sống ngày hôm nay như thế nào, chúng ta làm gì ?
Thánh Luca đã khởi đầu Tin Mừng từ ngày hôm nay. Đó cũng là khởi đầu cho mọi cuộc loan báo Tin Mừng. Ngày hôm nay là một biến cố, người ta không chỉ bình luận về biến cố, nhưng người ta sống loan báo.
Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP

 

TN3-C68. TÔN GIÁO CỦA CHÚA GIÊSU

Lc 1,1-4; 4,14-15
Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP
 

Bài Tin Mừng hôm nay thánh Lu-ca kể lại một lần Chúa Giêsu về thăm Na-da-rét, nơi Ngài sinh trưởn: TN3-C68

Bài Tin Mừng hôm nay thánh Lu-ca kể lại một lần Chúa Giêsu về thăm Na-da-rét, nơi Ngài sinh trưởng, Ngài vào hội đường với mọi người trong ngày Sa-bát, như từ nhỏ đến lớn Ngài vẫn tới hội đường này. Cũng như tại các nơi khác, Ngài đã làm như thế từ lúc bắt đầu sứ mạng rao giảng. Có lẽ vì đã nghe tiếng đồn về công cuộc rao giảng của Ngài nên người ta trao Sách Thánh cho Ngài đọc, Ngài mở ra và đọc trúng đoạn ngôn sứ I-sai-a nói về sứ mạng người tôi tớ của Thiên Chúa.
Đọc xong, Ngài gấp sách lại và dõng dạc tuyên bố : “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”. Tất cả bài giảng hôm ấy thế nào chúng ta không được biết, thánh Lu-ca chỉ ghi lại một câu mở đầu ấy, nhưng thật đầy đủ ý nghĩa. I-sai-a công bố về một người tôi tớ của Thiên Chúa sẽ đem ơn lành của Thiên Chúa đến cho mọi người. Chúa Giêsu muốn nói cho những người đang nghe Ngài biết rằng: hôm nay họ đang được nghe chính người tôi tớ mà I-sai-a đã loan báo, người tôi tớ ấy chính là tôi.
Suốt thời gian Chúa Giêsu sống và rao giảng, Ngài đã thực hiện lời Sách Thánh ấy. Ơn cứu độ Chúa Giêsu công bố và thực hiện không phải chỉ là “cứu các linh hồn” nhưng là sự giải phóng toàn diện con người và xã hội khỏi nghèo đói, bệnh tật, tù đày, áp bức, bất công… Chúa cho người ta hưởng một phần hiệu quả của sự giải phóng ấy qua lời giảng dạy và những phép lạ Ngài làm. Ngài cho người ta nếm những ân huệ của “Năm Toàn Xá của Thiên Chúa”. Như vậy, chính Chúa Giêsu đã tự giới thiệu sứ mạng của Ngài tại hội đường Na-da-rét, và qua ba năm cuộc đời công khai, quả thực Ngài đã thực hiện trọn vẹn sứ mạng ấy.
Ngày hôm nay, sứ mạng của Chúa Giêsu vẫn được tiếp tục thực hiện qua Giáo hội và trong Giáo hội. Thực vậy, khi Chúa Giêsu hoàn thành thời gian sứ mạng của Ngài, Ngài gửi Thánh Thần đến cho các môn đệ để họ tiếp tục công bố Năm Toàn Xá của Thiên Chúa, loan Tin Mừng cho mọi người, rao giảng và thực hiện sự giải phóng toàn diện con người và xã hội. Nói rõ hơn, Giáo hội được đầy Thánh Thần từ ngày lễ Ngũ Tuần phải tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu. Như vậy, lời sách I-sai-a thâu tóm sứ mạng của Chúa Giêsu cũng là lời thâu tóm sứ mạng của Giáo hội mọi thời đại, hôm nay sứ mạng ấy càng trở nên khẩn trương hơn.
Đối với chúng ta hôm nay, nhờ bí tích rửa tội, chúng ta đều thuộc về Giáo hội, chúng ta đã và đang thụ hưởng những hồng ân cao cả của Chúa, chúng ta phải làm sao cho những người mình gặp gỡ, tiếp xúc, được hưởng những ân huệ ấy như mình. Vậy chúng ta phải làm gì và làm thế nào ? Chúng ta hãy sống cho thật tốt đẹp ơn gọi làm người của mình. Tại một bộ lạc trong rừng già Phi châu, có ba thanh niên, sau khi trải qua một số thử thách, đã đến trình diện với viên tù trưởng của họ. Ông nhìn từng người rồi nói : “Trong sáu ngày qua, các ngươi đã được đưa vào rừng sâu để trải qua một cuộc thử thách, sau không biết bao nhiêu gian khổ và nguy hiểm, các ngươi đã trở về bình an vô sự, nhưng vẫn chưa đủ, các ngươi hãy kể lại cho ta nghe tất cả những gì các ngươi đã làm trong sáu ngày qua để xứng đáng được gọi là chiến sĩ”.
Lần lượt mỗi người kể lại thành tích của mình. Người thứ nhất cho biết là anh đã giết được con báo. Người thứ hai kể lại anh đã hạ được một con trăn khổng lồ. Đến phiên mình, người thứ ba chỉ biết đứng im lặng, tên anh là Ma-ma-đu. Ông tù trưởng hỏi anh : “Nào Ma-ma-đu, ngươi đã làm được gì ?”. Một cách nhỏ nhẹ, anh nói rằng anh đã lấy được một tảng mật ong. Nghe thế mọi người cười ồ lên, bởi vì họ cho rằng lấy được mật ong thì có gì đáng gọi là một thành tích. Ông tù trưởng hỏi anh : “Tại sao ngươi lấy mật ong mà không chịu đi săn thú dữ ?”. Ma-ma-đu trả lời : “Cha mẹ tôi đã già yếu bệnh tật, tôi luôn nghĩ đến các ngài, cho nên tôi đã lấy mật ong mang về biếu các ngài”. Nghe thế, viên tù trưởng liền đứng dậy, ông lấy cây đao trao cho người thanh niên và tuyên bố : “Ngươi hãy cầm lấy cây đao, bởi vì ngươi là người xứng đáng để lãnh nhận danh hiệu chiến sĩ hơn cả. Trước khi trở thành một người thợ săn giỏi, cần phải nên người đã, và chỉ có một cách duy nhất để biết một kẻ nào đó đã thực sự nên người là kẻ đó biết đặt tình thương trên tất cả mọi sự và hiếu thảo với cha mẹ mình”.
Trước khi trở thành một chiến sĩ, phải sống xứng đáng như một con người đã. Người dân nước Mỹ có thể sẽ nói: “Trước khi trở thành tổng thống, hãy sống xứng đáng như một con người đã”. Đó là lý do tại sao người Mỹ đòi hỏi vị tổng thống của họ phải là một người có đời sống trong sạch, gương mẫu. Tất cả những ứng cử viên bị phát giác có những lem nhem, lăng nhăng đều bị cử tri tẩy chay.
Chúng ta cũng có thể nói : Trước khi là một tín hữu Chúa Kitô, hãy sống xứng đáng như một con người đã. Thực ra ơn gọi làm Kitô hữu không loại bỏ hoặc chồng lên ơn gọi làm người. Thiên chức Kitô hữu phải là một thể hiện cao độ của chính ơn gọi làm người. Và ngược lại, sống cho ra người, sống xứng với những đòi hỏi của phẩm giá con người, đó cũng có thể là một cách thế làm Kitô hữu.
Chúa Giêsu đã sống trọn vẹn ơn gọi làm người của Ngài. Ba mươi năm thinh lặng của Ngài ở Na-da-rét là một thể hiện trọn vẹn ơn gọi làm người ấy. Sống cho tha nhân, chết cho tha nhân, đó cũng chỉ là đòi hỏi tất yếu của ơn gọi làm người mà thôi. Con người không thể làm người một cách thành toàn nếu không đặt tình yêu thương trên tất cả mọi sự. Chúa Giêsu đã đi cho đến tận cùng ơn gọi làm người ấy khi Ngài dốc cạn giọt máu cuối cùng, Ngài đã trở thành con người kiểu mẫu, bởi vì Ngài đã sống trọn vẹn cho tha nhân. Vì thế, đạo của Chúa Giêsu, tôn giáo của Chúa Giêsu cũng chính là đạo, là tôn giáo của con người. Chúng ta chỉ có thể là tín đồ đích thực của tôn giáo ấy nếu chúng ta biết yêu thương mọi người như anh em của mình.Xin Chúa cho chúng ta luôn ý thức mình là Kitô hữu, và xin cho chúng ta hiểu rằng làm Kitô hữu có nghĩa là sống trọn vẹn ơn gọi làm người bằng một cuộc sống quảng đại, yêu thương và đầy tình người.
Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

 

TN3-C69. SỐNG CHO NGƯỜI NGHÈO

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
 

Mẹ  Têrêsa Calcuta đã trở nên mẹ của người nghèo, mẹ của những con người cùng khổ, bất hạnh: TN3-C69

Mẹ  Têrêsa Calcuta đã trở nên mẹ của người nghèo, mẹ của những con người cùng khổ, bất hạnh và bị bỏ rơi. Với cuộc đời luôn sống với người nghèo, cho người nghèo, mẹ càng trở nên cao trọng giữa muôn người trong thế kỷ thứ 20. Mẹ đã được cả thế giới gọi mẹ bằng một tên gọi đầy kính trọng Mẹ Têrêsa Calcutta. Và có lẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến tên gọi của mẹ do hai cụ thân sinh đã đặt từ ấu thơ Agnes Gonxha Bojaxhiu.
Trong thánh lễ phong chân phước cho Mẹ, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã đề cao mẹ như là một chứng nhân phục vụ theo gương Thầy Chí Thánh Giêsu. Ngài nói: “Mẹ Têrêsa không những đã chọn chỗ thấp nhất mà còn muốn đi phục vụ những người hèn mọn nhất của xã hội. Tựa như một người mẹ của những người nghèo. Người nghiêng mình xuống trên những người cùng khổ vì đủ mọi thứ nghèo khổ”. Mẹ đã dấn thân đến với người nghèo hầu mong nâng cao phẩm giá họ lên giữa một xã hội còn đầy những kỳ thị chủng tộc, kỳ thị sang hèn, giai cấp .. . Chính  Mẹ đã từng nói: “Cái nghèo khổ nhất trên đời này là bị xua đuổi, không còn được ai đoái hoài đến nữa”. Mẹ còn muốn cho công việc của Mẹ được nhân rộng thêm lên, Mẹ đã thành lập hội dòng Thừa sai bác ái với ước nguyện: “Thiên Chúa vẫn mãi yêu thương thế gian và Người sai chị em chúng ta ra đi biểu lộ tình yêu và lòng thương cảm của Người đối với người nghèo”.
Lời Chúa hôm nay có thể nói là tin vui cho những người nghèo khổ, những người bất hạnh và bị  bỏ rơi. Chúa Giêsu đã chọn người nghèo để dấn thân, để phục vụ. Không phải là Chúa Giêsu khinh bỉ người giầu, người quyền thế mà có thể nói Ngài đến để giúp cho những con người thấp hèn kia được nâng cao, được tôn trọng như những con người giầu có, quyền quý. Chính Ngài đã chọn sinh ra trong thân phận một người nghèo. Chính Ngài đã sống một cuộc đời nghèo khó. Nghèo khó đến nối “không có nơi gối đầu”. Mỗi bước chân của Ngài đều hướng đến những người khổ đau. Mỗi ánh mắt của Ngài đều hướng về những con người bất hạnh. Mỗi cái nhìn của Ngài đều chạnh lòng thương những ai đang đau khổ bơ vơ vì bị bỏ rơi, vì thiếu thốn tư bề. Ngài đã thực hiện trọn vẹn sứ vụ của Đấng Messia mà các tiên tri đã loan báo. “Khi Người đến mắt người mù sẽ được nhìn thấy. Tai người điếc sẽ được nghe. Người câm nói được và người què nhảy nhót như nai”. Tất cả những điều đó hôm nay đã ứng nghiệm trong con người Đức Giêsu miền Nagiaret. Thiên Chúa đã nhập thể làm người để nâng con người nên làm con Thiên Chúa. Thiên Chúa đã trở nên Emmanuel ở lại luôn mãi với nhân trần. Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người để yêu thương và ban phát ơn lành. Đấng Thiên Sai đã chọn người nghèo, người cùng khổ để dấn thân phục vụ. Đấng Thiên Sai đã sống một kiếp người trong nghèo khó, thiếu thôn tư bề để cảm thông với những lắng lo của kiếp người truân chuyên.
Đó cũng là sứ điệp mà Lời Chúa muốn nhắn nhủ con người hôm nay. Giữa một xã hội quá chênh lệch giầu nghèo, địa vị. Giữa một xã hội quá phân biệt giai cấp và địa vị. Mức sống của từng giai cấp, địa vị đều khác nhau. Có những người ăn tiêu một bữa ăn bằng tiền lương cả một tháng lao động vất vả của một công nhân quèn. Ở Việt Nam hôm nay có những trường học phổ thông dành cho con nhà giầu, mỗi tháng thu lệ phí mỗi em cả hàng chục triệu đồng, trong khi đó nhiều gia đình phải chật vật để kiếm vài trăm ngàn cho con có cơ hội đến trường, đến lớp. Có những người ốm đau bệnh tật kéo dài cả cuộc đời vì không có tiền trang trải cho viện phí nên đành chấp nhận đau đớn mỗi khi trái gió trở trời, đang khi đó có biết bao người giầu có dư tiền dư của đến nỗi bỏ ra hàng triệu đồng để lột da cho tươi trẻ, và còn khoét thêm má lún đồng tiền để thêm phần duyên dáng thanh cao. Có những người cơm không đủ no, áo không đủ mặc đang khi đó có biết bao người áo chỉ mặc một lần và đồ ăn thức uống vất ngổn ngang quanh nhà.
Giữa một xã hội quá nhiều những thị phi như thế, Chúa đang cần chúng ta hãy tiếp tục công việc của Chúa. Hãy là những chứng nhân cho công việc phục vụ anh em. Hãy đem tình yêu Chúa trải rộng khắp mọi nẻo đường chúng ta đi. Hãy biết chạnh lòng thương với những ai đang khốn khổ lầm than. Hãy biết chia sẻ cơm bánh cho những anh em nghèo đói. Hãy cúi mình phục vụ những ai không có gì để đền đáp lại chúng ta.
Năm nay, Giáo hội Việt Nam hân hoan đón mừng năm thánh, là dịp để chúng ta nhìn vào cung cách sống phục vụ quên mình của các nhà truyền giáo đã không quản ngại vất vả, gian truân, đói khát, thiếu thốn để vun trồng tin mừng cho quê hương Việt Nam. Chính đời sống yêu thương phục vụ của các nhà truyền giáo và của các bậc cha ông chúng ta ngày xưa đã đánh động những người dân Thăng Long đến nỗi họ đã từng nói với nhau: “Kìa nhìn xem người ky-tô hữu họ yêu thương nhau biết bao”. Đó cũng phải là cung cách sống của chúng ta, những con người thời đại hôm nay hãy biết sống quên mình, biết sống phục vụ vì lợi ích anh em để làm chứng cho Chúa.  Ước gì với tinh thần sống đời kytô giáo yêu thương và phục vụ sẽ là dấu chỉ thật đẹp của người môn đệ Chúa Kytô giữa thế giới hôm nay. Amen
Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 

TN3-C70. LỜI QUYỀN NĂNG LÀ THẦN TRÍ VÀ SỰ SỐNG

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
 

Mở cuốn Thánh Kinh, chúng ta thấy ngay sức mạnh của Lời, đó là tạo dựng nên vũ trụ vạn vật. “Thiên: TN3-C70

Mở cuốn Thánh Kinh, chúng ta thấy ngay sức mạnh của Lời, đó là tạo dựng nên vũ trụ vạn vật. “Thiên Chúa phán: “Phải có ánh sáng.” Liền có ánh sáng…” ( x.St 1). Thánh Gioan khởi đầu Tin Mừng bằng những dòng tuyên tín về tính siêu việt, sự tiền hữu cũng như quyền năng của Ngôi Lời: “ Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1,1-3 ).
Thành thật cám ơn anh em Tin Lành đã góp phần một cách nào đó để rồi trong Công Đồng Vatican II Giáo hội Công giáo mạnh mẽ khẳng định rằng Giáo hội luôn tôn kính Lời Chúa ngang hàng với Thánh Thể Chúa Kitô ( x. MK số 21 ). Với các bài Thánh Kinh trích đọc trong Chúa Nhật III TN C này, cách riêng bài đọc thứ nhất, Thánh vịnh đáp ca và bài Tin mừng, khiến chúng ta dễ nhận ra chủ đề là Lời Chúa và hiệu năng của Lời.
Khi khẳng định mình luôn tôn kính Lời Chúa như Thánh Thể Chúa Kitô, thì Giáo hội tuyên tín rằng Lời Chúa không chỉ là những gì được Chúa phán dạy mà còn chính là một Hữu thể, một Ngôi vị siêu việt, có từ đời đời và đầy quyền năng. Và Lời quyền năng ấy cũng là Lời Tình Yêu. Chính vì thế hiệu quả của Lời được tuyên ban luôn là những sự tốt đẹp cả về sự hiện hữu lẫn cách thế hiện hữu ( x. St 1 ). “ Lạy Chúa, Lời Chúa là thần trí và là sự sống” ( Đáp ca ). Qua bài trích Tin Mừng thánh Luca của Chúa Nhật III TN C, chúng ta cùng xem xét một vài hiệu quả của Lời được tuyên ban vốn đã được Chúa Giêsu minh nhiên khẳng định “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” ( Lc 1,21 ).
Lấy lại lời Ngôn sứ Isaia, Chúa Giêsu minh định rằng Thánh Thần ngự trên Người, xức dầu tấn phong cho Người để Người loan báo Tin mừng cho kẻ nghèo hèn. Và những hiệu quả của Lời Người loan báo đó là: “công bố cho kẻ bị giam cầm được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa” ( Lc 4,18-19 ).
Công bố năm hồng ân của Thiên Chúa: Đây là năm toàn xá đã được Thiên Chúa thiết lập trong Cựu Ước. Cuối một chu kỳ bảy năm là năm Sabat, thì phải để cho đất đai được nghỉ ngơi, không canh tác. Các nô lệ cũng được trả tự do …( x. Xh 21,2; Lv 25,1-7 ). Cuối chu kỳ bảy lần bảy năm và bắt đầu ngày mồng mười tháng bảy năm thứ bốn mười chín thì khởi đầu một năm toàn xá ( x. Lv 25,8-54 ). Trong năm này đặc biệt cần phải thực thi ân tình cách khoáng đạt với người nô lệ, người nghèo, khách ngụ cư…như tha nợ, trả tự do, trả lại đồ cầm cố… Những quy định của năm toàn xá không nguyên chỉ để tái lập sự công bằng theo nghĩa công bằng phân phối, vì “ai giàu ba họ, ai lại khó ba đời !”, mà còn nói lên lòng nhân hậu vô biên của Thiên Chúa, đặc biệt dành cho những người nghèo hèn, bé mọn, cô thân, yếu thế. Tự sức mình, những người này như bất lực để giải thoát mình khỏi cảnh bần hàn, túng khổ. Và chỉ có Thiên Chúa mới có thể giải thoát họ.
Khi công bố năm hồng ân của Thiên Chúa, Chúa Giêsu muốn nói đến tình yêu vô điều kiện của Cha trên trời, Đấng đã yêu thế gian đến nỗi ban chính Con Một để cho thế gian được sống và sống dồi dào ( x. Ga 3,16 ). Sự kiện Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta là một hồng ân vô giá, vượt quá mọi công trạng của loài người. Đấng Siêu Việt mà xưa dân Chúa rất đổi kính sợ và cả kinh sợ, vì bất cứ ai thấy long nhan thảy đều phải chết, thì nay hiện diện giữa loài người và người ta có thể diện kiến, tiếp xúc, đụng chạm cách trực tiếp để được lãnh nhận ân phúc ( x.1Ga 1,1 ).
Cho người mù được sáng mắt: Quả thật Chúa Giêsu đã dùng lời quyền năng của Người cho một vài người mù trong dân Israel thời bấy giờ được nhìn thấy ánh sáng. Tuy nhiên chắc chắn vẫn còn đó nhiều người về thể lý lúc bấy giờ chưa được lãnh nhận ân phúc. Như thế việc công bố lời ở đây không nhắm đến sự mù hay sáng của đôi mắt thể lý. Chúa đến để công bố lời giúp nhân loại nhìn thấy chân lý. Chân lý ấy chính là Người, Giêsu Kitô, cuộc sống, các hoạt động và những lời giảng dạy của Người. “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chúng cho sự thật” ( Ga 18,37 ).
Chân lý nền tảng mà Chúa Giêsu đã từng long trọng khẳng định lại lời Kinh Thánh đó là chỉ có một Thiên Chúa duy nhất là Đấng dựng nên mọi sự và là Cha chung của mọi người. Chúng ta phải tôn thờ, yêu mến Người hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực. Yêu mến Chúa thì phải thực thi lời người phán dạy. Vì thế chúng ta phải yêu mến tha nhân như chính bản thân mình, dù họ thương ta hay ghét ta, dù họ làm ơn cho chúng ta hay bách hại chúng ta ( x.Mc 12,28-34; Mt 5,43-48 ). Chính khi bước đi trong ánh sáng chân lý thì chúng ta sẽ được tự do. Sự thật sẽ giải thoát chúng ta khỏi cảnh tình nô lệ.
Giải thoát, trả tự do cho người bị áp bức, kẻ bị giam cầm: Chúng ta chớ quên rằng khi Chúa Giêsu công bố những lời này và khẳng định chúng đang ứng nghiệm thì người anh em họ của Chúa là Gioan Tẩy giả đang ở trong ngục tù. Khi sai các môn đồ đến hỏi Chúa Giêsu rằng Người có phải là Đấng phải đến chăng, thì có lẽ Gioan Tẩy giả đang băn khoăn và ít nhiều cũng đang ở trong đêm tối của đức tin (x.Lc 7,18-23 ).
“Thật, tôi bảo thật các ông: hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội. Mà kẻ nô lệ thì không được ở trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi. Vậy, nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do”( Ga 8,34-36 ). Những lời khẳng định trên của Chúa Giêsu giúp chúng ta hiểu rõ sứ mạng của Người. Người đến thế gian là để giải phóng chúng ta khỏi cảnh nô lệ thần dữ, khỏi cảnh ngục tù của tội lỗi. Các bức tường gỗ đá của chốn lao tù vẫn không thể cướp đi sự tự do của tâm hồn. Chính tội lỗi mới làm cho chúng ta thành người nô lệ, mặc dù chân vẫn thong dong ngoài đời. Sau lời tuyên phán “ Ta truyền cho anh: Hãy chỗi dậy, vác chõng mà về nhà” đôi chân của người bất toại được giải phóng. Nhưng rồi phải đến ngày đôi chân ấy lại bất động vì bệnh tật hay vì tuổi tác. Chính lời truyền phán: “ Tội lỗi anh được tha” mới là lời giải thoát người bất toại khỏi cảnh nô lệ, giam cầm. (x. Mc 2,1-12)
Vì yêu thương nhân loại, Thiên Chúa đã ban Ngôi Lời. Ngôi Lời là Ánh Sáng thế gian. Ánh sáng chân lý dẫn đưa con người thoát cảnh nô lệ tội lỗi đến cảnh đời tự do của phận người con được sống và sống mãi trong tình Cha trên trời. Hãy lắng nghe lời của Esdra: Đừng sầu thảm khóc lóc, nhưng hãy hân hoan vui mừng đón nhận Lời giải thoát, Lời yêu thương. Vậy hãy xét xem, bạn, tôi, chúng ta đã tham dự phần Phụng Vụ lời Chúa trong các Thánh Lễ, đặc biệt Thánh Lễ Chúa Nhật ra sao ? Cũng hy vọng rằng các thừa tác viên của Lời trên giảng đài chớ quên rằng những chia sẻ của mình là một phần của Phụng Vụ Lời Chúa. Mong sao những lời ấy cũng có “quyền năng” vì là thần trí và là sự sống.
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

 

TN3-C71. LỜI NGÀY ẤY, LỜI HÔM NAY

Lm. Anmai, CSsR
 

Mỗi Thánh Lễ, chuẩn bị nghe Tin Mừng, cộng đoàn dân Chúa thường tung hô với nhau: Halleluia: TN3-C71

Mỗi Thánh Lễ, chuẩn bị nghe Tin Mừng, cộng đoàn dân Chúa thường tung hô với nhau: Halleluia, Lời Chúa dẫn soi con đường đi, Halleluia, Lời Chúa khác chi như dòng suối, phúc cho người vui nghe, yêu mến gẫm suy Lời luôn. Tung hô Tin mừng là thế, còn Thánh Vịnh thì nhắc nhở: Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường cho con. Và hôm nay, một lần nữa, qua trang tin mừng khá vắn vỏi và câu nói vắn vỏi của Chúa quá sức hiệu nghiệm: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe."
Lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe đó là gì ? Xin thưa, Lời ấy nói rằng: “Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giê-su trở về miền Galilê, và tiếng tăm Người đồn ra khắp vùng lân cận. Người giảng dạy trong các hội đường, và được mọi người tôn vinh. Rồi Đức Giê-su đến Nadarét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày Sabát, và đứng lên đọc Sách Thánh. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ Isaia. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng: Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa”. Chúa Giêsu đọc lại lời của ngôn sứ Isaia. Lời Isaia cũng là Lời tự Thiên Chúa nói qua miệng ngôn sứ. Hôm nay khẳng định lại một lần nữa việc xuất hiện của Chúa Giêsu trên cõi đời này. Chúa Giêsu đến để loan Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ bị giam cầm được tha, mù được sáng mắt, trả tự do cho người áp bức và công bố một năm hồng ân của Chúa. Lời mà ta nghe ngày nảo ngày nao ấy nhưng sao nó lại am hợp cho bối cảnh của Giáo Hội Việt Nam như vậy. Lời ngày xưa vẫn còn giá và Lời năm nay vẫn còn trị.
Năm nay là năm thánh 2010, kỷ niệm 50 năm thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, đánh dấu 477 năm Tin mừng đến với quê hương đất Việt. Năm nay là năm hồng ân đến với Việt Nam ấy nhưng mà Tin mừng vẫn còn bị bóp nghẹt, còn bị bưng bít. Năm hồng ân có đó, Chúa Giêsu có đó nhưng hình như vẫn còn rào cản nào đó của con người. Con người đó có thể là ngoài Giáo Hội và cũng là con người trong Giáo Hội. Ngoài Giáo Hội họ bóp nghẹt Lời, họ chàp đạp Lời thì đã đành còn đàng này là người trong Giáo Hội thì đau lòng quá.
Lời bị bóp nghẹt, Tin mừng bị bưng bít, điều này cũng không lạ lắm vì trong Giáo Hội vẫn còn đó một dúm người chia năm xẻ bảy. Muốn Tin Mừng được loan báo thì những người loan báo Tin mừng, loan báo Lời ấy phải yêu thương, phải hiệp nhất.

Chúng ta đang sống trong tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất của Giáo Hội, của mọi người. Bởi vì sự chia rẽ quá nhiều nên lời khẩn nguyện cho sự hiệp nhất càng khẩn thiết hơn.
Sự chia rẽ, sự bất hoà không phải bây giờ mới có mà có tự lâu lắm rồi, từ cộng đoàn tiên khởi của các tông đồ. Đứng trước sự chia rẽ, sự bất hoà của cộng đoàn, Thánh Phaolô đã cho một bài thật là hay mà chúng ta vừa nghe: Thật vậy, ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy. Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất. Thật vậy, thân thể gồm nhiều bộ phận, chứ không phải chỉ có một mà thôi. Giả như chân có nói: "Tôi không phải là tay, nên tôi không thuộc về thân thể", thì cũng chẳng vì thế mà nó không thuộc về thân thể. Giả như tai có nói: "Tôi không phải là mắt, vậy tôi không thuộc về thân thể", thì cũng chẳng vì thế mà nó không thuộc về thân thể. Giả như toàn thân chỉ là mắt, thì lấy gì mà nghe? Giả như toàn thân chỉ là tai, thì lấy gì mà ngửi?
Thánh Phaolô dùng hình ảnh hết sức thực tế đó chính là cơ phận của con người. Tất cả các chi thể, các cơ phận tạo thành con người nên mỗi chi thể, mỗi cơ phận phải biết hiệp nhất, biết yêu thương thì cơ thể đó mới hạnh phúc.
Thật ra chẳng ai muốn làm mắt cả. Làm mắt phải nhìn đủ thứ hết, giá như nhìn cái tốt thì còn đỡ, nhìn cái xấu thì kẹt lắm ! Tay cũng thế ! Nếu như tay làm điều bác ái thì hay lắm nhưng nếu tay làm điều gian ác thì cũng sợ ! Và, tay cần chân, chân cần tay. Mắt cần tay và tay cũng cần mắt. Mỗi chi thể trong cơ thể đều bổ khuyết cho nhau. Có những cái nhỏ nhất nhưng lại quan trọng nhất. Có cái bé thôi nhưng lại đóng một vai trò hết sức lớn.
Liên hệ đến thân thể Đức Kitô, thánh Phaolô nói tiếp: Vậy anh em, anh em là thân thể Đức Ki-tô, và mỗi người là một bộ phận. Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ. Chẳng lẽ ai cũng là tông đồ? Chẳng lẽ ai cũng là ngôn sứ, ai cũng là thầy dạy sao? Chẳng lẽ ai cũng được ơn làm phép lạ, ai cũng được ơn chữa bệnh sao? Chẳng lẽ ai cũng nói được các tiếng lạ, ai cũng giải thích được các tiếng lạ sao?
Mỗi người một chức năng, mỗi người một phận vụ và nếu chức năng, phận vụ ấy hiệp nhất với nhau thì Lời sẽ phát triển và khi ấy Tin mừng sẽ hiển trị khắp mặt địa cầu.
Hơn lúc nào hết, trong những ngày này, ngày áp cuối của tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất khi nghe đoạn Tin mừng này, đoạn Tin mừng này lại thúc ép mỗi thành phần, mỗi chi thể trong Giáo Hội. Muốn hiệp nhất, muốn hiệp thông, muốn sứ vụ rao giảng Tin mừng, rao giảng Lời được như lòng Chúa mong muốn thì chúng ta cần dừng lạim dừng lại để nhìn Lời Chúa ngày xưa và nhìn Lời Chúa hôm nay.
Hôm nay, năm nay, Giáo Hội Việt Nam đang sống trong năm hồng ân, mùa hồng ân. Muốn hồng ân ấy được tỏ hiện thì mỗi thành viên trong Giáo hội phải yêu thương và hiệp nhất.
Những biến cố trong hiện tại về đất đai, về công lý, về sự thật đang diễn ra trên quê hương đất nước Việt Nam là một thách đố cho Lời.
Cách đây ít hôm, vào trang mạng công giáo nọ, người viết thấy hình ảnh của một ai đó “pốt” lên. Ở trên là hình ảnh của các thánh tử đạo ngày xưa, bất chấp gươm giáo, các thánh tử đạo Việt Nam đã anh dũng tuyên xưng đức tin của mình vào Chúa. Còn ảnh dưới, người ta “pốt” lên hình ảnh của một người hết sức hững hờ bằng cách khoanh tay trước thánh giá Chúa bị đập bể.
Cháy nhà mới lòi mặt chuột hay là khi hoạn nạn thì mới có thể biết ai đứng về phía Chúa Giêsu, ai đứng về phía Lời. Có những người có tiếng nói, có những người có trách nhiệm nhưng lại không dám nói vì họ sợ mất chức mất quyền, mất chỗ đứng trong xã hội. Trong khi đó những người nghèo, những người thấp cổ bé họng thì lại gào lên tiếng nói của mình để cầu mong cho sự thật, công lý hiển trị trên quê hương đất nước. Lời vẫn là một thách thức, một giằng co cho sự chọn lựa. Có những người dám mất mạng mình để công bố Lời. Có những lời bưng tai bịt mắt để Lời bị chà đạp.
Nguyện xin Ngôi Ba Thiên Chúa thổi một làn gió mới trên quê hương đất nước Việt Nam và nhất là ban thêm ân sủng của Ngài để cho những ai không dám công bố Lời nay dám nói về Lời.
Nguyện xin Ngôi Ba Thiên Chúa thêm sức mạnh cho những người bé cổ thấp họng can đảm hết sức mình để loan báo, để minh chứng Lời trên quê hương Việt Nam yêu dấu này.
Nguyện xin Ngôi Ba Thiên Chúa đổ muôn vàn hồng ân trên quê hương đất nước Việt Nam này để năm hồng ân 2010 này thật sự là một năm hồng ân của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Lm. Anmai, CSsR

 

TN3-C72. ĐỨC GIÊSU RAO GIẢNG TIN MỪNG

TRONG NGUYỆN ĐƯỜNG Ở NAZARET
Nkm 8,1-4a.5-6.8-10; 1Cr 12,12-30; Lc 1,1-4; 4,14
Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm
PHÚC ÂM: Lc 1, 1-4; 4, 14-21
"Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh này".
Vì có nhiều người khởi công chép lại những biến cố đã xảy ra giữa chúng ta, theo như các kẻ từ đầu đã chứng kiến và phục vụ lời Chúa, đã truyền lại cho chúng ta, phần tôi, thưa ngài Thêophilê, sau khi tìm hỏi cẩn thận mọi sự từ đầu, tôi quyết định viết cho ngài bài tường thuật sau đây, để ngài hiểu chân lý các giáo huấn ngài đã lãnh nhận.
Bấy giờ Chúa Giêsu trở về Galilêa trong quyền lực Thánh Thần, và danh tiếng Người lan tràn khắp cả miền chung quanh. Người giảng dạy trong các hội đường và được mọi người ca tụng. Người đến Nadarét, nơi Người sinh trưởng, và theo thói quen của Người, thì ngày nghỉ lễ, Người vào hội đường. Người đứng dậy để đọc sách. Người ta trao cho Người sách tiên tri Isaia. Mở sách ra, Người gặp ngay đoạn chép rằng:
"Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối, loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được trông thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân và ngày khen thưởng".
Người gấp sách lại, trao cho thừa tác viên, và ngồi xuống. Mọi người trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói với họ: "Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai các ngươi vừa nghe".
SUY NIỆM
 

Trọng tâm của bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe cũng là đề tài chính của toàn thể Lời Chúa hôm nay: TN3-C72

Trọng tâm của bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe cũng là đề tài chính của toàn thể Lời Chúa hôm nay: chúng ta thấy Ðức Giêsu đứng công bố Tin Mừng trong nguyện đường ở Nadarét. Như vậy, câu chuyện Ezra đứng đọc luật pháp Môsê ở trước mặt con cái Israen như bài đọc I hôm nay kể lại, chỉ là hình ảnh báo trước việc Chúa Kitô sẽ rao giảng Tin Mừng cứu độ cho muôn dân. Và như thế sinh hoạt của Hội Thánh hiện nay như thư Côrintô kể, cũng chỉ là hiệu quả của việc công bố Tin Mừng này. Chúng ta hãy suy nghĩ về cả ba bài đọc để hiểu rõ Lời Chúa muốn nhắn nhủ chúng ta những gì chung quanh việc công bố Tin Mừng.
 1. Công Bố Tin Mừng Ðể Triệu Tập Dân Chúa
Bài sách Nêhêmya đưa chúng ta trở về thời sau lưu đày trong lịch sử Israen, vào khoảng thế kỷ thứ 6 trước Ðức Giêsu giáng sinh... Nhà cầm quyền Ba Tư bấy giờ cho phép các dân bị trị được phục hồi các truyền thống của dân tộc mình. Con cái Israen được khuyến khích bỏ đất Babylon để trở về quên quán. Họ dựng lại đền thờ và tái thiết Giêrusalem. Công việc gặp nhiều khó khăn.
Trước hết phần lớn những người Do Thái làm ăn được ở đất khách, không muốn trở về. Những người yêu nước và tha thiết với quê cha đất tổ, muốn trở về nhưng lại ít phương tiện. Rồi về đến nơi, họ lại gặp thái độ thù địch của dân đã đến sinh sống tại Giêrusalem trong thời gian lưu đày. Do đó việc trùng tu thánh điện tiến hành rất chậm. May có Ezra và Nêhêmya.
Hai người có uy tín với triều đình Ba Tư. Ezra là tư tế. Nhưng ở đất lưu đày không có nơi phụng thờ Giavê, ông đã chuyên khảo và suy niệm luật pháp Môsê. Ðang khi ấy Nêhêmya được giữ chức tiến rượu trong đền Vua, nhưng lòng vẫn hướng về Giêrusalem. Khi được tin công việc phục hưng xứ sở gặp nhiều khó khăn, ông đã xin phép hồi hương và được nhà vua phong làm Tổng đốc Giêrusalem. Nhờ sắc phong này ông đã giúp đồng bào xây dựng lại được tường thành để có thể sống yên ổn đối với dân đã đến lập cư tại Giêrusalem trong thời gian lưu đày. Nhưng thành quách chỉ là giới hạn bên ngoài. Muốn củng cố tinh thần của đồng bào ông và xây dựng lại cộng đồng con cái Israen, cần phải có luật pháp. Và đây là phần đóng góp của Ezra.
Bài đọc I hôm nay giới thiệu ông trong vai trò luật sĩ hơn là tư tế. Và rõ ràng con cái Israen đã cử hành phụng vụ Lời Chúa chứ không phải là phụng vụ tế lễ.
Ðó là đặc điểm của Do Thái giáo sau lưu đày. Toàn dân tập họp lại đủ mọi thành phần già trẻ, trai gái. Và trăm người như một. Tất cả đều chăm chú nhìn vào thầy Ezra đang "kiệu" sách Luật lên đứng trên một bục gỗ cao, kê quay xuống quần chúng... chung quanh thầy có các phụ tế, tăng thêm vẻ trang trọng cho việc công bố Lời Chúa sắp cử hành. Thầy Ezra bắt đầu bằng mấy lời chúc tụng danh Chúa. Cộng đoàn sốt sắng đáp lại bằng những chữ "Amen, Amen", kèm theo lễ nghi phủ phục thờ lạy. Rồi Thầy Ezra bắt đầu đọc Lời Chúa trong sách Luật. Thầy đọc dễ dàng, trang trọng. Nhưng sách viết bằng chữ Hipri. Rất nhiều người trong dân chúng không hiểu thứ tiếng ấy một cách dễ dàng nữa. Ít ra họ cũng thấy có nhiều điều khó hiểu khiến Nêhêmya và các phụ tế phải giúp thầy Ezra giải nghĩa cho dân. Càng nghe con cái Israen càng bùi ngùi xót xa. Họ thấy Chúa thương dân đến như vậy mà cha ông họ đã không nghe tiếng Người. họ thấm thía những hình phạt mà Người đã buộc lòng phải gửi đến. Nước mắt họ trào ra... Cả Nêhêmya và Ezra phải vội vàng tuyên bố: Hôm nay là ngày thánh, không được khóc như vậy... Ðúng hơn phải biến những giọt lệ xót xa vì tội lỗi nên niềm tin và ơn Chúa cứu độ. Nên hãy ăn uống và chia phần cho mọi kẻ đang túng thiếu.
Rõ ràng buổi phụng vụ Lời Chúa theo sách Nêhêmya chúng ta vừa đọc có những nét rất gần với nghi thức công bố Lời Chúa trong các buổi phụng vụ của chúng ta ngày nay. Ðó là khởi nguyên để chúng ta hoàn thành. Chúng ta nhất định phải làm tốt hơn con cái Israen ngày xưa. Họ đã tập họp đầy đủ, các thành phần già trẻ, trai gái. Gia đình chúng ta có thể làm được như vậy chứ! Họ đã nghiêm chỉnh, chăm chú nhìn vào người đọc và lắng nghe Lời Chúa. Họ lại chẳng chịu để lời nào nghe mà không hiểu, nhưng đã đòi được giải thích. Chúng ta có làm như vậy không? Nhất là họ để cho Lời Chúa, lương tâm khiến họ có thái độ thống hối ăn năn và quyết tâm sửa mình. Chúng ta cũng cần biến việc đọc và nghe Lời Chúa nên như cơ hội để thực hiện mầu nhiệm tử nạn phục sinh hầu tìm thấy ơn cứu độ của Chúa trong việc đọc và nghe Lời sách thánh. Ước gì Lời Chúa từ nay trở thành sức mạnh tập họp và thánh hóa gia đình chúng ta và giáo xứ chúng ta. Có như vậy chúng ta mới hơn được con cái Israen ngày xưa.
Tuy nhiên chúng ta phải dành cho việc công bố Lời Chúa trong nhà thờ một địa vị quan trọng hơn. Và cho được như thế chúng ta hãy xem bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Ðức Giêsu rao giảng Tin Mừng trong nguyện đường ở Nadarét.
 2. Dân Chúa Hiểu Tin Mừng Theo Ðức Giêsu
Chúng ta hãy tạm không nói đến những lời đầu tiên trong bài Tin Mừng hôm nay. Ðó cũng là những lời mở đầu của sách Tin Mừng theo thánh Luca. Rồi đây, chúng ta sẽ thấy rất ý nghĩa. Nhưng chúng ta hãy nhìn thẳng vào trọng tâm của bài Tin Mừng này.
Luca tóm tắt cho chúng ta thấy, Ðức Giêsu bấy giờ đầy Thánh Thần. Người ra khỏi sa mạc hẻo lánh sau 40 ngày đêm chay tịnh. Người trở về Galilê. Chắc chắn đi đến đâu Người cũng rao giảng Tin Mừng và chữa nhiều bệnh tật. Thế nên tiếng tăm Người đã đồn ra khắp nơi. Người ta đã nhiều lần hoan hô Người khi Người lên tiếng giảng dạy trong các hội đường. Vậy, Người đến Nadarét nơi Người sinh trưởng. Và theo tục lệ, người ta trao sách Thánh cho Người đọc... Người mở ra gặp trúng đoạn Isaia nói về người tôi tớ. Ðọc xong, Người gấp sách lại. Và trước mắt của trăm người như một đang hướng về Người. Người đã khởi sự giải thích Lời Chúa bằng những lời dễ dàng sau đây: "Lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe đọc, nay đang diễn ra".
Là vì người Tôi Tớ mà Thiên Chúa đã xức dầu Thánh Thần trong sách Isaia, không ai khác chính Người đang nói trước cử tọa trong nguyện đường ở Nadarét. Có lẽ khi viết những lời này, tác giả Isaia chỉ muốn chép quan niệm của các tiên tri về ơn gọi và sứ mạng của những người được Thiên Chúa cử làm ngôn sứ cho Người. Hết mọi người được trao phó sứ mạng rao truyền Lời Chúa đều được Người đổ Thần Linh của Người trong nghi lễ xức dầu mà sách các Vua I còn kể lại (19,16). Và sứ điệp mà họ phải tuyên bố chính là tin mừng cứu độ dành cho người khó nghèo, tù đày, để mọi nơi như được hân hoan cử hành những năm hồng ân đại xá mà nhân dân hằng mong ước. Những lời Isaia ấy hợp cho mọi ơn gọi ngôn sứ. Nhưng chắc chắn phải được dành riêng để nói về Người Tôi Tớ Ðức Giavê, một nhân vật mầu nhiệm trong sách Isaia mà chắc chắn chính là hình ảnh về Ðức Giêsu Kitô cứu thế.
Quả thật, ai đã được xức dầu Thánh Thần rõ ràng và dồi dào phong phú như chính Người sau khi chịu phép rửa ở sông Hòa Giang? Và vị tiên tri nào đã giảng dạy mà gây được niềm vui cứu độ như Người đã làm khi bỏ sa mạc trở về Galiêa? Nhiều bệnh nhân đã khỏi. Có những kẻ mù được trông thấy. Con người khó nghèo, tù đàuytrong cảnh lầm than không đang được giải thoát đó sao? Và khắp nơi đang nổi lên bầu khí hân hoan của những năm hồng ân đại xá. Ðức Giêsu thật có lý để tuyên bố: những lời tiên tri đang được thực hiện... và được thực hiện nhờ Người, do Người. Và người ta phải công nhận như vậy.
Có điều người ta chưa nhận ra đủ là Ðức Giêsu còn muốn đồng hóa mình với Người Tôi Tớ của Thiên Chúa mà Isaia muốn nói đến trong đoạn tiên tri này. Người không phải chỉ là tiên tri nhưng còn hơn tiên tri. Người đến không phải để chỉ công bố năm hồng ân, nhưng còn để thực hiện ơn cứu độ. Bà con thân thuộc của Người ở Nadarét chưa nhận ra điều ấy và sẽ không chấp nhận như chúng ta sẽ thấy trong ngày Chúa nhật sau. Họ không bằng lòng khi vừa nghe Người khẳng định Người là Ðấng Thiên Chúa sai đến vì trong thâm tâm, họ chỉ chờ được hưởng thụ những phép lạ mà Isaia đã loan báo và nghe rằng Người đã làm ở những nơi khác.
Luca viết đoạn Tin Mừng này không nhằm vào chúng ta đó sao? Lòng tin của chúng ta vào Chúa Giêsu Kitô dường như chưa thật vững chắc vì âm thầm có lẽ chúng ta cũng đang tiếc xót việc người không làm nhiều phép lạ ở giữa chúng ta. Người đã làm ở đất thánh ngày xưa, cho những người thời bấy giờ. Còn ngày nay đối với chúng ta, dường như Người không làm gì cả nhưng chỉ đòi chúng ta tuyên xưng Người là Ðấng Thiên Chúa xức dầu và sai đến...
Chính vì vậy Luca đã viết đoạn Tin Mừng này. Người viết cả quyển Tin Mừng thứ ba để, như trong lời mở đầu, chúng ta được am tường rằng giáo huấn chúng ta thụ lĩnh thực là đích xác. Và cho được như vậy Luca đã phải truy tầm gốc ngọn về mọi sự một cách tường tận rồi theo thứ tự đầu đuôi mà viết lại theo như các kẻ từ đầu đã được chứng kiến và phục vụ Lời Chúa đã truyền lại. Luca đã muốn cho tác phẩm của Người có giá trị đích xác để giúp chúng ta tin.
Nhưng thiết tưởng Người cũng đã làm gương để những ai muốn tin Chúa Giêsu Kitô cũng phải đào sâu giáo lý đã thụ lãnh. Không có sự truy tầm và suy niệm này, đức tin sẽ không chắc chắn và đích xác. Chúa Giêsu Kitô sẽ không rõ rệt ở trước mắt chúng ta. Người sẽ trở thành một nhân vật thuộc quá khứ hơn là hiện tại. Chúng ta sẽ thấy Người sống với dân Do Thái hơn là sống với chúng ta. Là vì chúng ta không thấy lời tiên tri đang thực hiện ở giữa chúng ta. Chúng ta đọc Kinh Thánh như những sự việc đã xảy ra mà đồng thời không thấy chúng diễn tả mầu nhiệm Ðức Kitô đang muốn ban ơn cứu độ cho mọi người. Nghĩa là không những chúng ta phải biết cử hành phụng vụ Lời Chúa như bài đọc I hôm nay đã cho chúng ta thấy. Nhưng chúng ta còn phải biết cử hành mầu nhiệm Ðức Kitô để Lời Chúa trở nên bánh nuôi tinh thần nữa. Và chúng ta chỉ làm được công việc này nhờ Hội Thánh và trong Hội Thánh vì chỉ ở đây mới có phụng vụ Lời Chúa. Nhưng phải làm thế nào để có thể ở trong Hội Thánh?
3. Chúa Giêsu Kết Hợp Chúng Ta Trong Hội Thánh
Bài thư Phaolô hôm nay viết về Hội Thánh một cách đơn sơ nhưng không kém phần sâu xa, và nhất là có giá trị rất thực tiễn. Tất cả chúng ta ở trong Chúa Giêsu như các chi thể khác nhau ở trong cùng một thân thể. Thế thì cũng như các chi thể của một thân thể không phủ nhận và từ chối nhau, thì chúng ta cũng phải chấp nhận và mật thiết kết hợp với nhau ở trong Chúa Giêsu. Các phận vụ ở trong Hội Thánh rất khác nhau, vì Người được ơn gọi làm tông đồ, kẻ được Chúa gọi làm tiên tri... nhưng đó là để ai theo phận nấy mà làm bộ phận cho thân thể. Không do một thân thể con người? Chẳng bao giờ mắt muốn mọi bộ phận khác trong con người phải như mình... vì như vậy chỉ có ngàn mắt mà không có thân thể.
Cũng thế muốn có thân thể mầu nhiệm của Ðức Kitô, mỗi người phải chấp nhận cho người khác đóng vai trò của họ và hơn nữa phải biết đau với bộ phận đau, vinh dự với bộ phận cinh dự. Nói cách khác, theo kiểu so sánh này, muốn thấy Chúa Giêsu Kitô còn tiếp tục hoạt động trong Hội Thánh để chúng ta được kết hợp với Người, ai ai cũng phải tôn trọng người khác và liên kết cộng tá với họ như các bộ phận trong một thân thể.
Hơn nữa, như lời Phaolô ám chỉ trong bài thư hôm nay mọi người phải chiếu cố hơn đến những bộ phận được coi như yếu hơn và không trang nhã mấy. Ðó chẳng phải là thái độ và sứ mệnh của chính Ðức Kitô sao? Người được sai đến như người tôi tớ được xức dầu Thánh Thần để đem Tin Mừng đến cho người nghèo khó, kẻ tù đày... Bài Tin Mừng Luca đã cho chúng ta thấy rõ Người đến thực hiện mọi lời Tiên Tri. Người thật là vị được tuyển chọn để công bố lời cứu độ mà Ezra xưa chỉ là hình bóng xa xôi. Người còn tiếp tục sứ mạng ấy trong Hội Thánh là thân thể có đầy đủ mọi bộ phận khác nhau nhưng bổ túc cho nhau. Chính khi kết hiệp với nhau mà các phần tử trong Hội Thánh thấy mình đang được thần trí của Chúa Giêsu Kitô làm cho sống động và mới thấy Người dang sống động trong Hội Thánh.
Thế nên chúng ta họp nhau lại để nghe Lời Chúa như con cái Israen xưa, thì chưa đủ. Chúng ta cùng nhau tham dự vào Mình Máu Chúa Giêsu để kết hợp với Người, như Người đã ở giữa cử tọa hội đường Nadarét xưa cũng chưa đủ. Nhận lãnh thần trí của Người rồi, chúng ta còn phải tôn trọng và muốn hợp tác với anh em, trong các công việc chung nữa, thì mới hiện đại hóa mầu nhiệm Chúa Giêsu đang cứu độ và cứu thế.
Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

 

TN3-C73. CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN

Lc 1,1 - 4; 4,14-21
Gp. Vĩnh Long
Anh chị em thân mến.
 

Nhìn vào xã hội ngày hôm nay, đâu đâu anh chị em cũng thấy trường học, từ những trường cho các: TN3-C73

Nhìn vào xã hội ngày hôm nay, đâu đâu anh chị em cũng thấy trường học, từ những trường cho các cháu bé đến những trường cao cấp, đủ mọi ngành nghề. Mọi người trong chúng ta, nếu có đủ điều kiện thì cũng lo đến trường học, để lo tương lai bản thân, gia đình. Khi có con cái cũng thế. Ai cũng cố gắng cho con mình đến trường, để học những điều hay, điều tốt, học để bảo đảm cho tương lai. Thật thế những người có học, thì tương lai không đến nỗi tệ, cho dù về mặt vật chất của cải không sung túc, nhưng ít ra họ cũng biết cách sống làm người. Cũng có những người có vốn học thức, nhưng không biết đem những gì mình đã học để áp dụng vào đời sống, thì cũng trở nên vô ích. Còn có những người không chịu đến trường, không nghe lời cha mẹ, cũng không chịu học một người nào để biết những điều tốt đẹp của cuộc sống, thử nghĩ xem, đời sống của những người đó sẽ như thế nào, khi họ chỉ biết cậy dựa vào bản thân, chỉ học hỏi nơi bản thân.
Chúa Giêsu là Thiên Chúa, mặc lấy thân phận con người, Ngài sống thật sự gương mẫu cho con người: " Theo thói quen, Người vào hội đường”. Như vậy từ lâu,Ngài đã có thói quen như những người thời bấy giờ, đến hội đường để học hỏi những điều cần thiết cho cuộc sống. Trong đoạn Phúc Âm chúng ta vừa nghe, Ngài đến hội đường, mọi người cũng đến hội đường và chăm chú nghe. Mọi người thời bấy giờ nhận thấy: hội đường là một trường học, là một ngôi nhà mà Thiên Chúa là Cha còn tất cả mọi người là anh em. Gia đình hội đường là nơi họ sống và lớn lên, cho nên hội đường không thể thiếu được trong đời sống của họ. Nhờ hội đường mà đời sống về phần đạo cũng như đời thường, được nuôi dưỡng, bồi bổ mỗi ngày được lớn mạnh thêm.
Thiên Chúa ban cho mỗi người một hoàn cảnh sống, Ngài còn cho mỗi người có trí thông minh và sự tự do, để biết chọn lựa tốt xấu cho cuộc sống. Chúng ta những người đang ngồi trong nhà thờ này, ai cũng có điều kiện để học biết. Trước tiên là cha mẹ, trường học đầu tiên mà mỗi người đều được trải qua. Kẻ đến là những người thân thuộc chung quanh. Đó là những ngôi trường tự nhiên không thể thiếu được trong cuộc sống làm người. Đa số trong chúng ta đều được đến trường học, để trao dồi thêm kiến thức. Nhưng những gì mà mình đã học biết, những gì đã tích lũy bao nhiêu năm qua, có sinh lợi ích thật sự cho chúng ta không? Đặt biệt, chúng ta còn là người Công Giáo, từ nhỏ đến giờ, chúng ta đã đến nhà thờ, đã nghe, đã biết, đã học, đã nhận lãnh rất nhiều. Nhưng những điều đó có sinh ích lợi gì cho chúng ta không? Hay chúng ta giống như những người học mà không biết đem áp dụng những gì mình đã học, để sinh lợi cho cuộc sống, như thế thì phí đi những gì mình đã vất vả đầu tư. Nếu như thế, thì buồn thay cho Đấng đã từng hy vọng nơi chúng ta, khi cố công chỉ dạy. Đó là Thiên Chúa, Ngài từng thương yêu mỗi người, chăm sóc cách đặt biệt, tạo nên những phương tiện cần thiết để chúng ta được học biết. Thế mà chẳng đem lại kết quả gì sao? Như vậy, nhà thờ của ngày hôm, có phải là ngôi nhà hội họp, là hội đường, là nơi không thể thiếu được trong đời sống của chúng ta không? Chúng ta có thấy cần thiết để đến nhà thờ nhận lấy sự hiểu biết để mà sống, nhận lấy sự bồi bổ cho đức tin, nhận lấy những lẽ phải để sống xứng đáng là con Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Hay là chúng ta sợ nhà thờ, chúng ta không quen đến nhà thờ, chúng ta thấy không cần thiết để lắng nghe, để học biết. Nếu như thế thì chúng ta sẽ ra sao, khi không học, không biết gì hết? ? ?
Mỗi người nhìn vào chính mình, nhìn vào những ngày tháng đã qua. Có những lúc chúng ta chìm đắm trong cô đơn thất vọng, cuộc đời không lối thoát, đó là những lúc chúng ta không biết đến với Chúa, không biết lắng nghe, không biết đem ra áp dụng những gì Thiên Chúa đã chỉ dạy chúng ta phải sống. Cũng có những lúc chúng ta can đảm đứng vững vàng trước những sống gió của cuộc đời, chúng ta vượt qua được những khó khăn của cuộc sống mà hiên ngang bước đi. Đó là những lúc chúng ta luôn có Chúa bên cạnh, luôn biết chạy đến với Ngài, luôn biết học nơi Chúa. Đó cũng là những lúc chúng ta cảm nhận được rằng: Thiên Chúa không thể thiếu vắng trong đời sống của chúng ta được.
Xin chúa cho chúng ta biết siêng năng đến với Ngài.

 

TN3-C74. SÖÙ MEÄNH ÑÖÔÏC SAI ÑI

Lc 1,1 - 4; 4,14-21
Gp. Vĩnh Long
 

Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đến với trần gian. Ngài đã sống một cuộc đời của người được sai đi.: TN3-C74

Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đến với trần gian. Ngài đã sống một cuộc đời của người được sai đi. Khoảng thời gian sống ẩn dật và những năm rao giảng Tin Mừng, Ngài luôn thực hiện trọn vẹn công việc của một ngôn sứ : “Rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó”, sống chứng nhân tình yêu giữa đời.
Chúa Giêsu xuất hiện công khai giữa đời với những chuỗi ngày rao giảng không mệt mỏi. Khắp những nẻo đường xứ Galilê đều ghi dấu bước chân của Ngài. Danh tiếng Ngài được nhiều người biết đến với nhiều lời khen tặng. Chính nơi vùng đất Galilê này Ngài bắt đầu sứ mệnh với nhiều thành công. Nhiều người đã đón nhận và say sưa với sự hiện diện của Ngài. Giai đoạn này được gọi là Mùa Xuân của Galilê. Ngài đến như mang lại một luồng gió ấm áp từ nơi Thiên Chúa. Chưa có phe đối lập nào xuất hiện, lòng người đang còn khát khao lời hằng sống đem lại sự tươi mới cho cuộc đời. Bởi lẽ bản tính con người Galilê ưa chuộng những gì mới mẻ và thích đổi thay.
Hôm nay Chúa Giêsu vào hội đường như thói quen Người vẫn làm trong ngày Sabbat. Tại đây, trong bối cảnh trang nghiêm, Ngài chính thức công bố chương trình hoạt động của mình: Ngài được sai đi để loan báo Tin Mừng cho những người nghèo nàn, khốn khổ. Như thế, Ngài đến để thực hiện điều mà Thiên Chúa đã hứa từ xưa qua lời ngôn sứ Isaia.
Tin mừng Chúa Giêsu được rao giảng cho hết mọi người nhưng đối với những người không khổ sở thiếu thốn thì Lời Chúa như đang nói với ai đó, chẳng liên can gì đến họ. Cho nên đối với họ đó chẳng phải là Tin Mừng gì cả. Nhưng đối với những người nghèo là những kẻ đang ở trong tình cảnh khổ sở, bị giam cầm, bị áp bức, bệnh tật.. họ đang mong thoát khỏi cảnh ấy. Với những người như thế, họ thật sự cần đến Chúa Giêsu. Do đó, những lời công bố của Chúa Giêsu mới thật sự là Tin Mừng cho họ.
Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, mỗi người nhận lấy sứ mệnh là ngôn sứ của Chúa, là người được Thiên Chúa sai đi. Ngài sai ta làm tông đồ cho Ngài. Công việc tông đồ là gì? Chúa Giêsu đã cụ thể đó là loan Tin Mừng cho người nghèo khổ. Ngày nay có những hạng nghèo mà người tông đồ phải đến loan tin: nghèo vật chất, nghèo tình thương, nghèo ân sủng, nghèo đức tin.
Những người nghèo về vật chất : cuộc sống của họ thường vất vả, cơ cực. Ta có đủ tôn trọng và cư xử lễ độ với họ không? Ta có giúp đỡ họ hay tìm cách vận động để ngượi khác giúp đỡ không? Ta có những lời an ủi động viên để họ đừng vì cảnh nghèo mà phải xa Chúa không? Hãy đến cảm thông, chia sẻ và an ủi họ. Hãy cho họ biết rằng họ là những người Thiên Chúa đặc biệt yêu thương.
Những người nghèo tình thương: đó là những người cô đơn, không nhà cửa, những người đau bệnh ít người đến viếng thăm. Họ là những người bị bỏ rơi phải lang thang lề đường, phố chợ. Có thể họ là những người gần cạnh bên ta. Ta có đến thăm nom họ không? Ta có gieo chút bình an, chút tình thương nào không? Người được sai đi loan Tin Mừng phải cho người khác một hy vọng và tin tưởng rằng Thiên chúa vẫn đoái nhìn đến họ.
Những người nghèo ân sủng: đó là những người tội lỗi, bê trễ trong đời sống đạo. Ta có mạnh dạn nhắc nhở để họ trở về với tình thương của Chúa không?
Sau cùng, những người nghèo đức tin: hạng này rất đông. Những người này hiện nay gặp rất nhiều nơi sở làm, trong đám tiệc, xóm giềng...Đừng quên Chúa sai ta đến với họ để cũng rao giảng Tin Mừng cho họ. Nếu ta ngại ngùng không dám nói thẳng thì ít ra đời sống của ta phải tỏ ra mình là người tông đồ thật sự và luôn sống tốt với mọi người.
Sứ mệnh đến với người nghèo của Đức Giêsu luôn được tiếp tục trong Giáo hội và qua Giáo hội. Chúa Giêsu mong muốn là môn đệ Ngài tiếp tục sứ mạng ấy. Vì được nhận lãnh Tin mừng và hồng ân từ Thiên Chúa, ta cũng phải làm cho ơn ấy tiếp tục đến với nhiều người: gặp nhau trong niềm vui, nâng đỡ ai đau khổ, xoa dịu các oán hờn. Tình yêu Chúa sẽ đổ tràn cho những người biết rộng tay đón nhận và mạnh dạn dấn thân.

 

TN3-C75. GIẢI THOÁT

Lc 1,1 - 4; 4,14-21
Gp. Vĩnh Long
 

Ta đang sống trong một thế giới mà dường như người ta đang rất đề cao sự tự do. Tự do đi lại, tự: TN3-C75

Ta đang sống trong một thế giới mà dường như người ta đang rất đề cao sự tự do. Tự do đi lại, tự do ăn uống, tự do mua sắm......Dường như càng ngày con người càng không muốn lệ thuộc vào bất cứ thứ gì hay bất cứ ai. Họ chỉ muốn tự mình giải quyết tất cả những vấn đề của cuộc sống. Thế nhưng, trớ trêu thay khi càng tự mình đi tìm tự do theo ý mình bao nhiêu thì người ta lại càng tự trói buộc mình bấy nhiêu. Như vậy, tự mình chúng ta không thể giải thoát được mình. Chúng ta phải cần nhờ đến Thiên Chúa.
Các thầy tư tế và Lêvi sau khi đọc sách luật đã giải thích cho dân chúng nghe. Họ bảo dân chúng hãy vui lên và đừng buồn nữa vì Thiên Chúa là thành trì bảo vệ. Đây là điều ta thấy được trong bài đọc 1.
Con Chúa Giêsu trong bài Tin mừng sau khi đọc đoạn sách ngôn sứ: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” Người đã tuyên bố : “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”. Nghĩa là chính Chúa Giêsu đang đến và ngay hôm nay Người đang thực hiện những việc đó cho con người chúng ta.
Chắc chắn từ trước đến giờ và mãi mãi về sau không có ai dám tuyên bố như Chúa Giêsu hôm nay. Chỉ có Con Thiên Chúa mới dám khẳng định như vậy. Bởi lẽ, sứ mạng chính của Người khi đến trần gian là đem ơn cứu độ và ơn giải thoát cho muôn người.
Nhìn lại lịch sử cứu độ ta cũng sẽ thấy sau khi Tổ tông phạm tội, Thiên Chúa đã không vì thế mà bỏ rơi con người. Thiên Chúa tìm mọi cách để giải thoát họ. Thiên Chúa cứu gia đình ông Nôe khỏi lụt Đại hồng thuỷ. Thiên Chúa chọn Ông Abraham để thành lập dân riêng....Nổi bật nhất là qua Môsê, Thiên Chúa đã giải thoát dân Người khỏi ách nô lệ Ai Cập.
Còn với Chúa Giêsu thì chỉ trong 3 năm mà Người đã giải thoát cho không biết bao nhiêu người bị đủ các thứ bệnh hoạn tật nguyền. Người đã giải thoát cho nhiều người từ bị đui mù, què quặt đến bị quỷ ám. Bên cạnh đó, Người còn giải thoát cho nhiều người bị xã hội và lề luật chèn ép như người phụ nữ tội lỗi, ông Dakêu người thu thuế, người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình...
Ngày nay, Thiên Chúa vẫn còn tiếp tục giải thoát ta. Những Lời Chúa dạy trong Kinh Thánh, những chỉ dẫn của Giáo hội, các Bí tích... là những phương thế Thiên Chúa dùng để giải thoát ta. Quan trọng nhất là qua đó Thiên Chúa sẽ giải thoát ta khỏi tội lỗi và sự chết.
Như thế, chỉ có đặt niềm tin và phó thác nơi Thiên Chúa thì ta mới mong được thoát khỏi tội lỗi và sự chết.

 

TN3-C76. HÔM NAY

Lc 1,1 - 4; 4,14-21
Gp. Vĩnh Long
 

Câu kết của bài hát “Bài ca cây lúa” được hát như thế này “Ngày mai đang bắt đầu từ ngày hôm nay: TN3-C76

Câu kết của bài hát “Bài ca cây lúa” được hát như thế này “Ngày mai đang bắt đầu từ ngày hôm nay”. Trong ca dao, tục ngữ Việt Nam chúng ta cũng bắt gặp nhiều tư tưởng đề cao giá trị của thời phút hiện tại, cái “hôm nay” của cuộc sống. Đặc biệt trong các sách Tin Mừng Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần dùng “thì hiện tại” trong các cuộc đối thoại của Ngài “hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà quý vị vừa nghe”, “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ”, “Hôm nay và ngày mai tôi trừ quỷ và chữa lành bệnh tật, ngày thứ ba tôi hoàn tất... "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng."... Thế giá trị của cái hôm nay quan trọng như thế nào cho ơn cứu độ của chúng ta?
Hôm qua là lịch sử, ngày mai thì bí ẩn chỉ có hôm nay là quà tặng, quà tặng của cuộc sống. Cuộc sống người Kitô hữu của chúng ta cũng thế, Chúa vẫn hằng đến với chúng ta hằng ngày và đặc biệt trong ngày hôm nay của cuộc sống. Trong bài Phúc Âm Luca chúng ta được nghe hôm nay, sau khi Chúa Giêsu đọc đoạn sách Tiên Tri Isaia thì Ngài nói “Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà quý vị vừa nghe”. Ứng nghiệm là ứng nghiệm cái gì? Thưa là ứng nghiệm lời tiên tri Isaia loan báo ngay chính lúc này, chính ngày hôm nay. Chúa Giêsu nhận mình là người mà Tiên Tri Isaia loan báo, là người được xức dầu, để loan báo Tin Mừng cho người nghèo hèn, công bố cho người bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức và công bố năm hồng ân của Thiên Chúa.
Đối với Thiên Chúa không có quá khứ cũng chẳng có tương lai mọi sự đối với Chúa chỉ toàn là hiện tại. Qua mỗi trang Tin Mừng ta dễ dàng thấy nếu ai biết nhận ra Chúa đến với họ và họ biết nhanh chóng đón Chúa thì họ như được tất cả do Thiên Chúa ban cho, còn ai ngập ngừng lần lựa thì Chúa kể như “đồ ngốc” và như họ bị vuột mất mọi thứ.
Đơn cử như trường hợp Dakêu, ông nghe biết Chúa Giêsu tiến vào thành Ghêrikhô thì ông đã phải vượt qua những rào cản hữu hình cũng như vô hình, từ những khiếm khuyết thể lý cho đến những khiếm khuyết luân lý. Ông vượt qua tất cả. Chúa Giêsu thấy sự nỗ lực của ông và Chúa đã đáp lại hơn cả sự mong đợi của ông. Chúa còn ban ơn cứu độ cho gia đình ông “Hôm nay nhà này. được ơn cứu độ ...”.Về phía Dakêu sau khi đón nhận Chúa vào nhà mình, ông đã biến đổi : từ một con người coi tiền tài danh vọng là tất cả mọi sự thì nay ông nhận ra Chúa và ơn cứu rỗi của Người là cùng đích đời ông nên ông nói “Này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo, và nếu tôi cưỡng đoạt của ai cái gì, thì tôi xin đền gấp bốn”. Rõ ràng khi Dakêu thấy Chúa Giêsu thì ông không chần chừ, lần lựa mà ông đón Chúa và nhà mình và ông nhận được ơn cứu rỗi.
Người giàu có trong dụ ngôn của Chúa Giêsu thì ngược lại. Sau khi thấy mình có đầy dư gạo thóc, ông định phá bỏ những kho lẫm cũ để xây dựng những kho lẫm mới lớn hơn và ông cho rằng lúc đó mình sẽ an tâm cho số phận của mình. Chúa bảo “Đồ ngốc vì đêm nay người ta sẽ đòi mạng ngươi”. Người nhà giàu này chần chừ lần lựa, tự lo cho chính mình, đợi kế hoạch của mình hoàn thành đã thì mới tính tiếp. Chúa không coi đó là cách thức khôn ngoan vì đối với Chúa mọi sự phải là hiện tại.
Trở lại bài đọc I, Tiên Tri Nơkhemia và tư tế Et-ra sau khi giảng giải lề luật cho dân chúng thì các ông nói “Hôm nay là ngày thánh hiến cho Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em, anh em đừng sầu thương khóc lóc...” và chính ngày hôm nay là ngày hồng phúc Thiên Chúa dành cho chúng ta, ngày Thiên Chúa mang Tin Mừng đến cho những người nghèo hèn .... ngày Thiên Chúa thi ân giáng phúc.
Mỗi người Kitô hữu chúng ta hãy sống “ngày hôm nay” như là hồng ân của Chúa, Chúa đến với ta từng giây, từng phút trong cuộc đời, ta phải nhận ra Chúa qua từng biến cố, từng cảnh sống. Chính Chúa Giêsu cũng đã chấp nhận cuộc sống trần thế và Ngài đón nhận nó như là ân ban và Ngài đã thánh hoá đem lại ơn cứu độ cho những ai biết thánh hoá từng ngày sống của mình.

 

TN3-C77. ĐÓN NHẬN

Lc 1,1 - 4; 4,14-21
Gp. Vĩnh Long
 

Trong quyển sách mang tựa đề “Chuyện ở đời” , có một câu chuyện như thế này : Ông chủ điền nọ: TN3-C77

Trong quyển sách mang tựa đề “Chuyện ở đời” , có một câu chuyện như thế này : Ông chủ điền nọ rất giàu có. Ông cho các tá điền mướn đất làm ăn canh tác. Nhưng rồi sau một thời gian làm ăn thất bại, các tá điền lâm vào cảnh túng th iếu nợ nần, nên không thể đóng thuế cho chủ theo đúng kỳ hạn được. Và dù biết rằng ông chủ mình rất tốt bụng, nhưng họ vẫn áy náy lo sợ vì không biết chủ sẽ hoãn nợ cho mình được bao lâu. Một ngày nọ, tất cả các tá điền được mời tới để ông chủ gặp mặt. Ai nấy đều hồi hộp sợ ông chủ thu hồi lại đất vì họ không còn khã năng để đóng thuế nữa. Khi mọi người có mặt đông đủ thì người quản lý của ông chủ bước ra và nói: “ông chủ biết chắc là ai trong các ngươi cũng không đủ khả năng để đóng thuế, cho nên ông chủ nhờ tôi nói cho các người hay ” Nói tới đây, viên quản lý ngừng lại, và dường như tim của các tá điền cũng ngừng đập theo, và rối viên quản lý nói tiếp: “..hôm nay tôi mang đến cho các ngươi một tin mừng, đó là ông chủ quyết định tha hết nợ nần cho các ngươi. Từ nay các ngươi cứ an tâm làm ăn sinh sống ”. Thế là mọi người sung sướng reo hò. Họ ôm nhau múa nhảy hát ca. Sau nhiều năm vất vã cực nhọc, hôm nay họ mới nhận thấy ánh sáng mặt trời là tươi đẹp, tiếng chim hót trên cành rất thanh thót, cây cỏ chung q uanh mình thật rực rỡ và đáng yêu.
Thưa quý ông bà và anh chị em !
Câu chuyện trên đây phần nào giúp chúng ta hiểu được điều mà Giáo hội muốn trình bày trong phần Phụng vụ Lời Chúa của Thánh lễ hôm nay: “Chúa Giêsu là niềm vui cứu độ”. Niềm vui đó không phải là những lời loan báo suông với những hứa hẹn, mà là chính con người của Chúa Giêsu, cùng với những lời loan báo thật chính xác của tiên tri Isaia về Người: “Thánh Thần chúa ngự trên tôi, sai tôi đi loan báo tin mừng cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối, Công bố năm hồng ân và ngày khen thưởng”. Đây là một tin mừng mà Người Quản Lý của Thiên Chúa mang tên là Đức Giêsu Kitô đã đem đến cho tất cả mọi người. Quả thật, nếu đọc lại tất cả những gì đã được ghi chép trong phúc âm, chúng ta sẽ th ầy được rằng : Đức Giêsu đã thực hiện từng câu từng chữ một trong lời giới thiệu của tiên tri Isaia qua những lời dạy dỗ, các phép lạ, và qua cung cách ứng xử của Người. Chính vì thế mà hôm nay Người hoàn toàn có đầy đủ tư cách để tuyên bố trước mặt mọi người rằng: “Hôm nay đã ứng nghiệm đoạn Thánh Kinh mà tai các ngươi vừa nghe” . Nói khác đi là hôm nay, Đức Giêsu muốn nói cho mọi người biết rằng: Người chính là Đấng Cứu Thế, là người Tôi Tớ Giavê mà Isaia đã loan báo thủơ nào. Lời của tiên tri Isaia vi ết về sứ mạng của chúa Giêsu, cũng là lời viết cho sứ mạng của Giáo hội ở mọi nơi và mọi thời, nhất là trong thời đại này, sứ mạng ấy càng trở nên cấp bách và khẩn thiết hơn.
Đứng trong ngôi nhà Giáo hội, chúng ta cũng mang lấy chính vai trò của người mẹ mình, đó là tiếp tục sứ mạng của Chúa, là nối dài những công việc mà Người đã làm, là đem tinh thần của Người đến với tất cả các môi trường mà chúng ta đang sinh sống và làm việc. Sứ mạng này chúng ta đã nhận lấy trong ngày lãnh Bí tích Rữa tội khi Giáo hội tuyên bố: “Con đã trở nên ánh sáng Chúa Kitô. Con hãy dùng chính đời sống tốt lành của con để giúp những người chung quanh nhận biết được ánh sáng của Chúa” . Thế nhưng bây giờ thử hỏi rằng : Chúng ta đã đón nhận lời đó ra sao ? Chúng ta đã sống, chúng ta đã thực hiện lời đó trong mức độ nào ? Có bao giờ chúng ta đón nhận lời của Chúa giống như là dân Do Thái trong câu chuyện của bài đọc thứ nhất không ? Tác giả của bài đọc một thuật lại là : ngày hôm ấy, Thầy Tư Tế Esdras không phải là chỉ đọc vài ba phút như chúng ta ở đây, mà Thầy đã đọc từ sáng cho tới trưa. Vậy mà không ai càn nhằn trách móc, không ai bỏ ra về cả. Khi Thầy Tư Tế mở sách ra thì toàn dân đều đứng dậy, họ cúi mình, họ phủ phục sát đất để nghe lời của Chúa. Và tác giả cho biết thêm là mọi người đều khóc trong ngày hôm đó.
Họ khóc không phải mỏi chân hay dài dòng, cũng chẳng phải vì đó là những luật lệ mà họ phải gánh vác, mà họ khóc vì họ đã cảm nghiệm được tình thương của Chúa dành cho họ. Vì tình thương, vì muốm bảo vệ, vì muốn họ nên tốt hơn, mà Chúa đã ân cần ban lời của Chúa cho họ.
Thưa anh chị em !
Chúa chúng ta đã hứa rằng :
”Điều Ta dạy, con ơi giữ cho thật đúng Tuân giứ lệnh Ta, con sẽ sống một đời ”.
Vâng ! quá rõ ràng, quá dứt khoát. Lắng nghe và sống Lời Chúa là con đường duy nhất dẫn chúng ta về “Trời mới đất mới”, nơi mà ánh sáng mặt trời luôn tươi đẹp, tiếng chim trên cành luôn thánh thót, cây cỏ luôn rực rỡ muôn màu. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho nhau, để khi bước qua năm mới dương lịch này, chúng ta cãm nhận được tình thương của Chúa trong cuộc sống của mình, thì chúng ta cũng sẵn lòng đón nhận lời dạy của Người như là một hướng dẫn tốt nhất cho con thuyền cuộc đời của mình. Đón nhận không phải là để cho riêng mình, nhưng là để chia sẻ lại những lời đó cho người khác bằng một đời sống chân thành đầy bác ái, để qua đó, mọi người khi nhìn thấy đời sống tốt lành của mình thì cũng thốt lên rằng: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Thánh Kinh mà chúng tôi vừa nghe”.
Gp. Vĩnh Long

 

TN3-C78. CHÚA NHẬT III TN C

Lc 1-4, 4,14-21
“Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày Sabat, và đứng lên đọc Sách Thánh (Lc 4,16)
 

Những ngày đầu ra đi rao giảng tin Mừng, danh tiếng của Chúa Giêsu đã lan rộng, được mọi: TN3-C78

Những ngày đầu ra đi rao giảng tin Mừng, danh tiếng của Chúa Giêsu đã lan rộng, được mọi người tôn vinh khắp nơi trong đất nước của mình và một trong những nơi quan trọng Ngài muốn gởi sứ điệp đó là ở các hội trường.
Hội đường đã gắn liền với đời sống tôn giáo của dân tộc Do Thái, một nơi biểu lộ nhu cầu tâm linh không thể thiếu của họ. Ở đây, họ được nghe và đọc Kinh Thánh, học hỏi Lề Luật, Giáo Lý và mục đích trên hết là học đến để tôn thờ Thiên Chúa. Chúa Giêsu luôn sống đúng với tinh thần quí báo của cha ông, của dân tộc mình. Có rất nhiều đoạn Phúc âm mô tả Chúa Giêsu là mẫu mực tuân giữ tinh thần này. Cũng như hôm nay: “Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày Sabat, và đứng lên đọc Sách Thánh (Lc 4,16).

Giờ đây ngoài tư cách là một công dân thông thường của đất nước mình, theo thói quen đến hội đường vào ngày Sabát để nghe Kinh Thánh, Ngài còn là người đại diện để công bố Lời Chúa và đặc biệt hơn cả chính Ngài lại là nhân vật mà Lời Chúa đề cập. Đoạn Kinh Thánh thật đẹp mô tả về một Đấng Cứu Thế với những đặc tính lý tưởng làm cho lòng người bình an và hạnh phúc khi vị này xuất hiện và bây giờ Chúa Giêsu đang ở ngay trước mặt mọi người.

Ngày hôm nay hằng tuần vào mỗi ngày Chúa nhật chúng ta tụ họp nhau để nghe Lời Chúa, học hỏi Lời Chúa và để thờ phượng Thiên Chúa. Đời sống đạo của chúng ta thật sự hạnh phúc và ý nghĩa khi cùng nhau một lòng một ý hướng lòng lên Chúa, yêu mến và thờ phượng Ngài. Chúng ta thử nghĩ xem nếu đời sống đạo thiếu vắng ngày Chúa nhật và những buổi tụ họp nhau để cử hành Phụng Vụ, cử hành Lời Chúa, cùng nhau chia sẻ bàn tiệc Thánh Thể sẽ như thế nào? Ngày Chúa nhật quí báu biết bao, bằng những lời kinh tiếng hát chúng ta cùng nhau thờ phượng để khi ra về lòng đầy hớn hở vui tươi. Đời sống đạo thật sự hạnh phúc, đầy đủ cũng từ những của ăn thiêng liêng nuôi dưỡng tâm hồn nó là động lực vững vàng để chúng ta bước vào cuộc sống thường ngày với những trăn trở, lo toan, mạnh dạn đối diện với cuộc sống bấp bênh, nhiều cám dỗ. Cuộc đời có Chúa, luôn có Lời Chúa dẫn dắt và hướng dẫn chúng ta.

Nhìn vào gương Chúa Giêsu, chúng ta học nơi Ngài lòng trung thành với Lề Luật, không chỉ với lòng trung thành mà đó còn một bổn phận nhưng trên hết vẫn là lòng yêu mến Thiên Chúa, Đấng là Cha dựng nên và yêu thương chúng ta.

Với những tâm tình đó chúng ta cảm ơn Chúa vì những ơn lành Ngài ban cho chúng ta. Có Chúa cuộc sống chúng ta luôn có điểm tựa vững chắc và biểu hiện cụ thể của người con thảo, chúng ta trung thành giữ và yêu mến ngày Chúa nhật.


 

TN3-C79. KINH THÁNH, MỘT BẢN TÌNH CA

(Lc 1,1-4;4,14-21)
 

Từ thuở khai thiên lập địa, TC đã tạo dựng nên loài người và Ngài đã yêu thương con người: TN3-C79

Từ thuở khai thiên lập địa, TC đã tạo dựng nên loài người và Ngài đã yêu thương con người cách rất đặc biệt. Ngài coi con người như con cái của Ngài, cho hưởng hạnh phúc trong khu vườn địa đàng. Từ khi con người phạm tội, xa cách Thiên Chúa, Thiên Chúa như người Cha già luôn mong nhớ đứa con đi hoang. Bởi không hiểu tình Cha mà con dại khờ nghe theo lời dụ dỗ của kẻ ác.

Ðể cứu giúp con mình trong cảnh lầm than, Cha đã sai biết bao sứ giả đến bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Dù loài người thế nào, dù con người phản bội, tội lỗi, Chúa vẫn một lòng yêu thương sẵn sàng đón nhận trở về. Tình yêu Thiên Chúa vơi con  người là tình yêu của một người Cha, và có thể ví như tình yêu khắng khít của tân lang với tân nương.

Khi dân Do Thái phản nghịch với Chúa, bỏ Chúa theo các thần khác, họ phải chịu cảnh lưu đày nơi đất nước mà các thần này được tôn thờ. Nhưng rồi khi họ có lòng hối cải, Chúa lại qui tụ họ lại như trong bài đọc II chúng ta thấy: Yavê Thiên Chúa thức tỉnh vua Kyrô để ông ban sắc chỉ cho dân Israel trở về nước tái thiết lại đền thờ Giêrusalem. Và khi dân chúng đã trở về định cư, chính tư tế Esdras đã quy tụ họ lại, giáo huấn họ bằng cách mang sách luật ra đọc cho toàn dân Israel nghe. Dân chúng hiểu được tình thương của Chúa đối với họ và nhận ra những sự xúc phạm của mình đối với tình thương của Ngài. Họ ăn năn khóc lóc khi nghe những lời trong sách luật và quyết tâm sống trung thành với Chúa, tuân giữ những lời Chúa dạy trong sách luật.

Sách luật mà tư tế Esdras đọc đây không phải là bộ luật hình sự của một quốc gia thế gian toàn là những quy định cấm đoán và mức hình phạt. Sách luật này là bộ Ngũ kinh, là lời Chúa dạy. Đó là luật tình thương, bồi bổ tâm linh như bài đáp ca thánh vịnh 18. Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can, mệnh lệnh Chúa trong ngời sáng soi con mắt. Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh, phán quyết của Chúa chân thật, công minh hết thảy. Vì vậy, luật Chúa đem lại sự sống, đem lại sự giải phóng, đem lại hạnh phúc thật cho con người.

Trong bài Phúc âm, chúng ta thấy chính Chúa Giêsu là Lời Thiên Chúa, Ngài đến làm ứng nghiệm tất cả những gì sách thánh Cựu Ước đã tiên báo. Ngài là Ðấng của lời hứa, Ngài là Ðấng Kitô của Thiên Chúa. Khi đọc đoạn sách tiên tri Isaia này, Ngài cảm nghiệm rất rõ sứ mạng của Ngài: Thiên Chúa xức dầu cho Ngài, sai đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối, loan truyền sự giải thoát cho những kẻ bị giam cầm, cho người mù được thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân và ngày khen thưởng.

Chúa Giêsu là Ðấng cứu tinh của chúng ta. Chúng ta có nhận thức rõ tình thương của Ngài đối với chúng ta chưa? Ngài là Thiên Chúa đến không phải để lấy uy quyền trách phạt chúng ta nhưng để phục vụ bằng lời rao giảng, bằng sống hy sinh và nhất là bằng cái chết trên thập giá vì chúng ta. Chúng ta hãy đáp tình thương yêu ấy. Một tình yêu chung thủy vì loài người được đáp trả bằng sự thờ ơ của nhân loại. Một mối tình không nói được hết bằng lời nhưng bằng sự hy sinh đổ hết máu mình ra để chuộc lấy linh hồn chúng ta.

Chúng ta hãy yêu mến Chúa, hãy cảm nghiệm tình thương Chúa trong cầu nguyện, trong hy tế thánh lễ và đáp trả bằng những việc hy sinh cụ thể để có thể xứng đáng với tình thương hy sinh của Người.


 

TN3-C80. TRỌN VẸN

“Người đến Nagiaret, nơi sinh trưởng…”
(Lc 1,1-4;4,14-21)

 

Một trong những điều bắt buộc với nhà truyền giáo là học tiếng nói của người bản xứ. Điều: TN3-C80

Một trong những điều bắt buộc với nhà truyền giáo là học tiếng nói của người bản xứ. Điều này không đơn giản là chỉ học để giao tiếp thông thường mà phải trao dồi càng chuẩn xác bao nhiêu càng tốt. Đến khi nào mà ngay chính người sở tại cũng không nhận ra được đây là một giọng nói của người nước ngoài nói tiếng nước mình mà như người bản xứ thật sự thì mới được coi là đạt yêu cầu. Thực tế điều này rất khó, đòi hỏi nhiểu tời gian và lòng kiên nhẫn. Tuy vậy, điều thú vị là khi am tường được ngôn ngữ của một dân tộc thì gần như thấu hiểu được trọn vẹn nền văn hóa của họ.

Ngược lại khi đến một xứ truyền giáo thì ít nhiều nhà truyền giáo cũng mang theo những nét văn hoá của xứ sở họ. Do đó, nếu biết khôn ngoan chắc lọc thì những xứ truyền giáo sẽ có nhiều cơ hội làm giàu thêm cho nền văn hoá vốn có của dân tộc mình. Được như vậy thật là điều đáng coi trọng.

Theo chân Đức Giêsu, hôm nay chúng ta trở về Nagiaret, nơi chôn nhau cắt rốn của Người, nơi đã in đầy những dấu chân của Người, cũng là nơi chứng kiến Ngài lớn lên trong suốt 30 năm ẩn dật. Từ ngày từ giã đất mẹ ra đi làm loan báo Tin Mừng cứu độ theo ý Cha đến nay, Đức Giêsu mới có dịp trở về thăm quê. Lần trở về quê này quả thật có nhiều điều để nói. Ngài trở về “trong quyền lực Thánh Thần” và trong cái “danh tiếng đang lan tràn khắp chung quanh”. Có lẽ dân chúng đã chờ đợi ngày này lâu lắm rồi. Chờ đợi để được chiêm ngưỡng người con đã làm rạng danh xứ sở. Nhưng quan trọng hơn là chờ đợi để được nghe những “cung vàng thước ngọc” từ miệng Người thốt ra. Và họ đã được toại nguyện. Ngài vào hội đường. Vị cai quản hội đường  không ngần ngại trao cho Ngài Thánh Kinh, và ưu ái dành cho Ngài công việc giảng giải Lời Chúa.

Quả thật, Đức Giêsu hôm nay không như một Giêsu, con một người thợ mộc ngày xưa. Giêsu hôm nay là Con Một Thiên Chúa đã được chứng nhận rõ ràng. Hàng thật đã được đóng ấn và xức dầu.

Ấy vậy mà trong mắt dân chúng Ngài vẫn rất thân quen, gần gũi, dễ thương như ngày nào. Ngài cao vời hơn chính tầng mây nhưng cũng thật đơn sơ và thân thuộctrong vị trí của những ngưòi bà con họ hàng, trong cái tình làng nghĩa xóm chân chất nhưng dạt dào nghĩa nhân. Là bởi đức Giêsu không phủ nhận cái nhân tính của mình. Ngài vẫn không từ chối quê hương máu thịt trần gian. Hơn thế, Ngài đã dùng chính cái thiên tính, và sức mạnh Thánh Thần để thánh hóa, truyền cho cái trần gian ấy một sức sống thiêng liêng, làm cho nó nên trọn vẹn theo ý Ngài.

Không biết vô tình hay hữu ý mà nhiều người vẫn còn ngộ nhận rằng theo đạo Công giáo là theo tà đạo, là chối bỏ truyền thống dân tộc, là bất hiếu. Tôi không phủ nhận có sự hiểu lầm hoặc là trong chính nội dung giáo lý, hoặc là trong cách ứng xử của những người có đạo. Đây thật sự là điều đáng tiếc. Nhưng phải nói ngay rằng, không bao giờ có sự mâu thuẫn đó. Bằng chứng là khi các nhà truyền giáo Tây phương sang Việt Nam thì chưa bao giờ các ngài cố gắng để xóa bỏ những truyền thống của dân Việt. Nếu có sự sai lầm là bởi các ngài đã hiểu không đúng và do đó đã áp dụng không phù hợp.

Ơn siêu nhiên không làm mất ơn tự nhiên. Nhưng thánh hoá con người, bổ túc cho những bất toàn của con người và tăng thêm sức mạnh để giúp chúng ta sống trọn vẹn và tốt đẹp hơn trong cuộc sống tự nhiên. Sự mất thăng bằng hay nói cách khác tại sao chúng ta không mở rộng được tâm hồn, không hoà nhập được với vũ trụ vạn vật và con người. Tại sao ta không giúp được gì cho người khác mà ngược lại còn cản trở họ tiến triển cũng do ta thiếu ơn Chúa mà ra. Tại sao ta khắc khoải, đau khổ, chán chường, thất vọng… bởi vì ta không nhận ra được những may lành mà Chúa đã ban. Với lòng tin, phó thác, và sự trợ giúp của Chúa ta dễ dàng vượt qua những trở ngại và hân hoan tiến bước.

Ước gì, ơn Chúa không trở nên hư mất mà còn làm cho chúng ta thêm triển nở trọn vẹn hồn xác.


 

TN3-C81. NGƯỜI NGHÈO CỦA CHÚA

Lc 1, 1-4; 4,14-21
“Thánh Thần Chúa ngự xuống trên tôi, sai tôi đi loan báo Tin mừng cho người nghèo khó” (Lc1, 18-19).
 

Nhưng ai là người nghèo trước mặt Thiên Chúa?  Trang Website “Một Góc Trời” có mục: TN3-C81

Nhưng ai là người nghèo trước mặt Thiên Chúa?

Trang Website “Một Góc Trời” có mục “100 bức ảnh làm thay đổi thế giới”. Có 2 bức ảnh làm tôi xúc động đến ngậm ngùi. Bức ảnh thứ nhất đăng hình một bàn tay bé nhỏ, gân gốc, đen đủi, xấu xí của một người Uganda (mà tôi đoán là bàn tay của một bà lão) đưa ra và đặt lên một bàn tay trắng trẻo, mập tròn của một nhân viên cứu trợ đến làm việc ở đất nước này. Một hình ảnh thật xúc động làm sao! Bức ảnh đó làm tôi suy nghĩ đến thân phận của con người trước Thiên Chúa. Thiên Chúa đã giơ tay ra nâng đỡ bàn tay đen đủi và khẳng khiu của con người.

Bức ảnh thứ hai chụp hình một đức bé khoảng 5 tuổi ở, trần truồng, ốm yếu ở Xuđăng (chỉ còn da bọc xương), đang đói lả nhưng vẫn cố bò về phía trại phân phát lương thực của Liên Hợp Quốc, cách đó khoảng 1km. Phía sau em là một con chim Kên Kên đang chờ đứa trẻ bị chết để nó có thể ăn thịt. Bức ảnh đã làm cho cả thế giới bàng hoàng. Không ai biết điều gì xảy ra với em bé, kể cả nhà nhiếp ảnh Kevin Carter, người đã rời ngay khỏi hiện trường sau khi chụp. Người ta cũng nói rằng ba tháng sau, Kevin đã tự sát.

Hai hình ảnh vừa kể cho chúng ta thấy rõ thực tế rất đáng buồn trên thế giới ngày nay là tình trạng nghèo khổ của hơn 1 tỷ người không có thức ăn hàng ngày, đặc biệt là ở các nước Châu Phi, chiến tranh và thiên tai nặng nề. Cái nghèo đói về mặt thân xác đã làm cho con người ta khổ đau đến thế. Người nghèo được Chúa Giêsu giải thích còn là những kẻ bị giam cầm, người mù, người bị áp bức. . . họ đang mong được thoát khỏi tình trạng ấy. Cho nên, Tin mừng của Chúa Giêsu mang đến cho họ quả là tin vui và tin mừng trọng đại.

Nhưng nếu người nghèo chỉ là những người nghèo về cơm bánh, những người bị giam cầm, bị mù loà, bị áp bức mà thôi, thì có lẽ đa số chúng ta đang ngồi đây không thuộc về hạng người đó. Vậy thì việc Chúa nói “loan Tin Mừng cho người nghèo khó” xem ra không liên hệ gì đến chúng ta rồi! Nhưng tinh thần của Tin Mừng hôm nay còn vượt xa phạm vi ấy rất nhiều. Theo nghĩa đen, thì chúng ta có thể là những người không bị giam cần, không bị mù loà, không bị áp bức về thể xác. Nhưng xét cho cùng, ai trong chúng ta mà không khổ sở thiếu thốn về một thứ gì đó: hoặc là vật chất hoặc là tinh thần. Ai trong chúng ta mà không bị “giam cầm” bởi một thứ “tù ngục” nào đó. Trong thực tế, chúng ta thấy có những kiểu nhà tù không chấn song, nhưng đã giam hảm con người trong đó. Có người bị “giam cầm” bởi những đam mê về tình, tiền hay tửu (rượu). Trong thực tế, ai trong chúng ta lại không bị “mù” một cách nào đó trước những vấn đề của cuộc sống: “mù” về nhận thức (không nhìn thấy chân lý), “mù” trong những chọn lựa (nhất là tình yêu mù quáng), “mù” trong cách hành xử đối với nhau…Cách đây 3 ngày, có một chuyện gây náo động cả thành phố Huế. Đó là câu chuyện liên quan đến anh chàng tên Minh, đang là một quân nhân phục vụ trong sư đoàn 968 đóng quân tại Cam Lộ, Quảng trị. Vì nghĩ rằng bị gia đình người yêu (đã đính hôn) ở thành phố Huế khinh thường vì mình nghèo, nên đã lén lấy súng của đơn vị đi tìm người yêu để nói chuyện. Vì được báo trước nên người yêu kịp lánh mặt, nhưng không may cho một cô nữ sinh đang học lớp 10 tình cờ bị hắn bắt làm con tin và đem vào một Khách Sạn ở Huế. Sau gần một đêm không ngủ của người dân cả khu vực gần đó và một lực lượng cảnh sát chuyên nghiệp, cuối cùng anh chàng Minh ấy đã bị trúng hơi cay của cảnh sát nghiệp vụ (cả cô gái nữ sinh cũng bị) và đã bị bắt. Đó là một thứ “mù quáng” trong những chọn lựa và hành động của con người! Cũng vậy, ai trong chúng ta lại không bị “áp bức” bởi một thế lực gian tà nào đó trong thế gian này. Đến như thánh Phaolô mà còn phải nhìn nhận rằng: “điều tôi muốn làm thì tôi không làm, điều tôi không muốn làm thì tôi lại cứ làm”. Đó lại không phải là mình đang bị “áp bức” bởi dục vọng thấp hèn đó sao?!. . . Vì thế, Tin Mừng mà Chúa Giêsu đem đến cho trần gian và rao giảng là Tin Mừng dành cho tất cả mọi người, trong đó có chúng ta. Tin mừng có sức mạnh giải thoát, cứu sống và ban niềm vui cũng như hạnh phúc đích thực cho con người. Tuy nhiên, Tin Mừng mà Chúa Giêsu loan báo chỉ có hiệu quả đối đích thực đối với những ai ý thức về thân phận của mình là người nghèo, những người cần được Thiên Chúa cứu giúp.

Vậy chúng ta hãy xét lại xem mình là người thế nào trước mặt Thiên Chúa. Nếu thấy mình là “người nghèo” của Thiên Chúa, thì chúng ta hãy nhanh chóng chạy đến với Chúa và mở lòng mình ra đón nhận Tin mừng cứu độ của Ngài, vui vẻ sống theo những gì mà Chúa chỉ dạy để chúng ta là những người hạnh phúc ngay ở trần gian này: “Phúc cho những ai biết lắng nghe và thực thi Lời Chúa”. Amen.


 

TN3-C82. CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN, 2001

Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh qúy vị vừa nghe", lời kết luận trên đây của Ðức Giêsu: TN3-C82

"Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh qúy vị vừa nghe", lời kết luận trên đây của Ðức Giêsu tại Hội Ðường Nazareth phải là Kim Chỉ Nam cho mọi nỗ lực loan báo Tin Mừng. Có lẽ chúng ta vì miệt mài trong công tác rao giảng, nên ít có thời gian nghiêm túc xem xét lại hướng đi của mình.
Lời Kinh Thánh Ðức Giêsu vừa công bố tuy vắn gọn, nhưng lại có cái nhìn bao quát về hoạt động loan báo Tin Mừng :
1. Tin Mừng trước hết không phải là sản phẩm của trí tuệ con người, càng không phải là thành qủa lao động của con người, nhưng Tin Mừng là hành động của Thánh Thần Thiên Chúa trong lịch sử. "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi sai tôi đi loan báo Tin Mừng." Vì là công việc của Thánh Thần, người loan báo cũng như người lãnh nhận chỉ có thể được coi là cộng sự viên, nếu họ đặt mình dưới tác động của Thánh Thần. Ðây là điểm then chốt, nhưng thường lại dễ bị lãng quên. Người loan báo cũng như người lắng nghe thường dễ để mình bị lôi cuốn vào dòng suy nghĩ của trần thế.

2. Tin Mừng được loan báo "cho kẻ nghèo hèn", "những tấm lòng tan nát", "những kẻ bị giam cầm", "những người bị áp bức". Tin Mừng vì thế luôn là "công bố năm hồng ân của Thiên Chúa": sự tha thứ và giải thoát. Cảm nghiệm ấy đã trở thành nền tảng lòng tin của Dân Chúa ngay từ lúc được khai sinh trên đất Ai Cập khi Thiên Chúa quy tụ dân Người, dắt họ ra khỏi cảnh nô lệ, đưa họ về đất hứa. Và như đoạn sách Nêhêmi vừa trình bầy cảm nghiệm ấy một lần nữa trở nên sự sống của dân Chúa sau thời lưu đầy. Tin Mừng luôn là một việc tái tạo lại lịch sử : can dự vào chính cuộc sống, cầy xới, lật tung những tầng lớp khố đế thâm căn của con người, để đưa họ vào một thay đổi từ bản thân, đến gia đình và xã hội, trong chiều hướng thiết định một sự bình an mới, sự bình an dựa trên sự tha thứ và giải thoát.
3. Thánh Phaolô chỉ cho thấy đây là công việc vô cùng phong phú muôn hình muôn vẻ của quyền năng Thiên Chúa, và con người thật mỏng manh, chỉ có thể tiếp nhận một góc độ hạn hẹp: vì vậy Thiên Chúa ban cho mỗi người một ân điển, để họ cùng nhau diễn tả sự phong phú vô lường của Tin Mừng. Ðáng tiếc là con người thường có khuynh hướng giam hãm Tin Mừng trong cái vỏ mong manh của họ, không khai mở đón nhận sự cộng tác của anh em mình.
Tin Mừng vì thế có một năng động tính đến nỗi chúng ta có thể qủa quyết rằng không ai có thể nghĩ mình có thể đáp ứng sức linh hoạt của Tin Mừng, nếu không được Thần Khí Thiên Chúa tác động.
Lm. Giuese Nguyễn Hữu Duyên

 

TN3-C83. GIỜ CỨU RỖI ĐÃ ĐẾN RỒI

Lc 1, 1-4.4, 14-21
 

Trong cuộc sống gian trần, con người thường thích muốn biết tương lai, số phận, danh vọng, địa: TN3-C83

Trong cuộc sống gian trần, con người thường thích muốn biết tương lai, số phận, danh vọng, địa vị. Người ta cầu nguyện cũng có mà đi xem bói bài, bói toán, mê tín dị đoan cũng có. Ở Pháp người ta đề cập đến Nostradamus, ở Việt Nam có thời con người hay nói tới cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Dù nói gì thì nói, tất cả những lời tiên đoán, những dự tính, những vị tiên tri cũng chỉ có thể làm được việc này việc nọ, nói được câu này câu kia là do Thánh Thần Chúa tác động và do quyền năng của Chúa cho phép mà thôi.Hôm nay lời Kinh Thánh cũng nghiệm ngay vào con người của Chúa Giêsu.
HÔM NAY ỨNG NGHIỆM LỜI KINH THÁNH
 Theo sách Nohémi thuật lại thì Esdras tụ tập dân chúng công bố lời Chúa và giải thích lề luật, cắt nghĩa lời Chúa. Dân chúng nghe lời Chúa, tung hô và phủ phục trướcmặt Chúa cầu nguyện. Đây là nghi thức phụng vụ lời Chúa thường được tổ chức trong các hội đường Do Thái ngày Sabbát. Nghi thức phụng vụ này là phần thứ nhất trong thánh lễ ngày nay. Thánh Luca trong Tin Mừng của Ngài hôm nay cho chúng ta thấy việc Chúa Giêsu trở về quê Nagiarét sau nhiều năm Ngài đã sống với Mẹ Maria, thánh cả Giuse và các bà con dân làng thành Nagiarét. Ngài bỏ cha mẹ, họ hàng, dân chúng để đi rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa. Thực tế, Chúa Giêsu đã sống ở làng Nagiarét 30 năm. Dân làng Nagiarét đã quá rõ về lý lịch của Ngài. Ngài là con bà Maria nội trợ, con thánh Giuse thợ mộc. Chính vì đã quá quen biết Chúa Giêsu, dân chúng mới tò mò tìm đến với Ngài để xem Ngài giờ đây ra sao. Ngài chỉ là con bác thợ mộc Giuse bây giờ lại trở thành một Rabbi. Tại Hội Đường Do Thái, người ta trao cho Ngài cuốn Thánh Kinh, Ngài giở ra và gặp thấy đoạn viết:” Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, chữa những tâm hồn sám hối, loan truyền sự giải thoát cho những kẻ bị giam cầm, cho người mù được thấy, trả tự do cho người bị áp bức, công bố năm hồng ân và ngày khen thưởng”. Đoạn sách này thuộc đoạn 61 của ngôn sứ Isaia. Đoạn này dân chúng đã được nghe nhiều lần và nhiều người đã thuộc nằm lòng. Điều ngạc nhiên đó là Chúa Giêsu gấp sách lại và dõng dạc tuyên bố:” Hôm nay, lời Thánh Kinh mà các ông vừa nghe, đã thực hiện”. Đây là một sự tuyên bố gây ngạc nhiên đến kinh ngạc đối với nhiều người vì chưa có một ngôn sứ nào dám xưng như thế. Tuy nhiên chỉ có một người hiểu được sự việc ấy là Mẹ Maria. Chúa tuyên bố Ngài là Đấng cứu độ. Ngài “hôm nay” để giải thoát nhân loại, để khai mở năm hồng ân cứu độ.
GIỜ CỨU ĐỘ ĐÃ ĐẾN
 Chúa Giêsu đến khai mở năm hồng ân, năm toàn xá. Ngài được Thánh Thần tấn phong, xức dầu. Do đó, chúng ta cũng đã được xức dầu để trở nên ngôn sứ loan truyền ơn cứu độ cho Chúa. Chính Thánh Thần đã chi phối cả đời sống của Chúa Giêsu, chúng ta cũng để cho Thánh Thần Chúa hướng dẫn cuộc đời, lời nói, hành vi của chúng ta bằng việc chúng ta cộng tác vào ơn cứu rỗi của Chúa. Giờ cứu độ đã đến. Ơn cứu rỗi mỗi người chúng ta đều được lãnh nhận. Đoạn Kinh Thánh của ngôn sứ Isaia đã ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu. Lời đó cũng sẽ ứng nghiệm nơi mỗi người chúng ta. Được lãnh nhận bí tích rửa tội, tháp nhập vào thân thể Đức Kitô, mỗi người chúng ta là chi thể của Người, chúng ta phải sống sao để làm vinh danh và cả sáng cho con người của Chúa Giêsu. Do đó, chúng ta không được làm ngơ trước nỗi nhọc nhằn, đau khổ của những người khác vì ơn cứu độ không dành riêng cho ai nhưng cho tất cả mọi người.  Giờ cứu độ là giờ Chúa Giêsu được tôn vinh. Giờ Chúa Giêsu được vinh hiển qua cái chết và phục sinh.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn là những sứ giả Tin Mừng, loan báo hồng ân cứu độ của Chúa và là chứng nhân cho Đức Kitô chết và sống lại. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCCT

 

TN3-C84. Chúa Nhật 3C Thường Niên

Nkm 8:2-4a.5-6.8-10
Lc 1:1-4; 4:14-21
1 Cr 12:12-30

 

Cơ chế xã hội bất công đã tạo nên bao thảm cảnh trong cuộc đời. Người nghèo chính là nạn: TN3-C84

Cơ chế xã hội bất công đã tạo nên bao thảm cảnh trong cuộc đời. Người nghèo chính là nạn nhân của những cơ chế bất công đó. Vấn đề muôn thuở đó vẫn luôn mang tính thời sự. Đức Giêsu tự nhận có sứ mạng giải thoát những người nghèo khổ và bị áp bức. Nhưng sứ mạng đó chỉ có thể thực hiện được khi được Thánh Linh yểm trợ và Chúa Cha ủy thác. Hôm nay mọi người sẽ thấy sứ mạng đó được thực hiện như thế nào nơi Đức Giêsu Kitô.
SỨ MẠNG CAO CẢ
Đức Giêsu bắt đầu cuộc đời công khai với một sứ mạng rõ rệt. Nhưng sứ mạng đó không thể hoàn thành nếu không có sự cộng tác của Thánh Linh. “Được quyền năng Thần khí thúc đẩy, Đức Giêsu trở về miền Galilê” (Lc 4:14), để rao giảng Nước Thiên Chúa.  Thánh Linh không chỉ tác động nội tâm, nhưng còn hướng Đức Giêsu đến sứ mạng liên quan đến người nghèo. Họ là những người bị đàn áp bất công.  Bởi đó Thánh Linh hướng dẫn Đức Giêsu vào sứ mạng giải thoát con người hoàn toàn khỏi mọi cảnh bất công xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa hay tôn giáo. Trong Nước Thiên Chúa không còn cảnh người bóc lột người. Trái lại, mọi người đều bình đẳng trước nhan Thiên Chúa. Hình ảnh lý tưởng ấy đang hiện diện một cách huyền nhiệm trong Giáo hội (xc. LG 3).
Nước Thiên Chúa không phải là chuyện tầm thường như miếng cơm manh áo, nhưng là “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần”. Nghĩa là những vấn đề lớn lao liên quan tới sứ mạng Đức Giêsu trong  việc giải phóng nhân loại. Nhưng Nước Thiên Chúa cũng không nằm trên mây gió, trái lại rất thiết thân với cuộc sống con người. “Những ai thực tình hướng về Nước Thiên Chúa sẽ lấy việc khắc phục mọi loại đàn áp trong thế giới hôm nay làm công việc của mình” (Farrelly 1993:503).
Dù tại miền dân ngoại Galilê hay tại nơi chôn nhau cắt rốn Nadarét, Người cũng vào hội đường để gặp gỡ đồng hương chia sẻ sứ mạng cao cả ấy. Ngôn sứ Isaia đã là đầu mối cho cuộc gặp gỡ. Tại hội đường Nadarét, Người đã dõng dạc tuyên bố lời ngôn sứ Isaia : “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo hèn” (lc 4:18). Thế là sứ mạng đã có đối tượng phục vụ thật rõ ràng. Sứ mạng mang tính toàn cầu đó thật nặng nề và khó khăn. Sứ mạng Chúa Cha đã trao cho Chúa Con thật vô cùng cao cả. Nhưng sứ mạng đó lại được thực hiện trong một hoàn cảnh thật tầm thường, với những con người nghèo hèn.
Nghèo chính là thân phận Đức Giêsu. Từ thời thơ ấu, tại Bêlem và Nadarét, Người đã nếm tất cả mùi vị của cảnh nghèo hèn. Trên cây thập giá, Người đã bị lột bỏ đến chiếc áo cuối cùng (Mt 27:35).   Chính Người cũng đã dạy các môn đệ sống khó nghèo và chia sẻ khổ giá với Người. Họ không được mang theo “vàng hay bạc” (Mt 10:9) và phải rao giảng một cách vô vị lợi (1 Cr 9:18).   Gương khó nghèo lớn nhất luôn nhắc người môn đệ nhớ “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa . . . đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ” (Pl 2:6-7). Do đó chính cái nghèo đã giúp Người có sức mang hồng ân cứu độ đến cho muôn dân.
Người nghèo không còn phải là phương tiện để người giàu lập công phúc. Nếu không, người nghèo chỉ còn là đối tượng của những người hoạt động xã hội.  Nhưng vấn đề không được giải quyết thuần túy về mặt xã hội. Trái lại, vì chính Đức Giêsu cũng là người nghèo, nên những người nghèo cũng trở thành những người mang ơn cứu độ đến cho người khác nữa.
Sứ mạng Người còn đi đến tận nơi cùng khổ nhất nhân loại. “Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4:19). Người bị áp bức cũng là những người nghèo khổ.  Người đến cho con người được làm người, đem lại ý nghĩa cho những tháng ngày đen tối nhất của con người. Tự do là một món quà quí giá nhất chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban cho nhân loại.  Aùnh sáng là một báu vật  cho những người đang chìm trong tăm tối. Tất cả là hồng ân !  Hồng ân đó phải do Con Chúa công bố vào thời thuận tiện nhất, tức là thời gian cứu độ. Chính Đức Giêsu cũng đã là một tử tội. Người đã là nạn nhân của những cơ chế tôn giáo và chính trị bất công. Người đã thấu hiểu hơn ai hết những giây phút kinh hoàng và nhục nhã của kiếp tù nhân. Có ai mong tự do mà Người không khao khát một cuộc sống bình thường ?  Hơn nữa, Người còn muốn đánh đổi cả cuộc đời để mua lấy tự do cho toàn thể nhân loại.  Quả thế, “nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô, còn dồi dào biết mấy cho muôn người” (Rm 5:19).
HỒNG ÂN HÔM NAY
Tin Mừng Đức Giêsu luôn mang tính thời sự. Đúng như Đức Giêsu đã nói : “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quí vị vừa nghe” (Lc 4:21). Sứ mạng cứu thoát con người khỏi những kiếp lầm than đã ứng nghiệm hoàn toàn nơi Đức Giêsu. Chính nhờ những kinh nghiệm và cảm nghiệm trong kiếp nghèo, Đức Giêsu đã làm cho sứ mạng của Người không rời xa thực tế. Nhưng để Tin Mừng luôn mang tính thời đại, Người phải nhờ đến sức mạnh Thánh Linh. Chính Thánh Linh đã làm cho Ngôi Hai mặc lấy xác phàm trong cung lòng trinh nữ Maria. Giờ đây, cũng chính Thánh Linh khiến cho sứ mệnh của Người luôn mang chiều kích nhân loại và nhập thể vào từng thời đại. Nói khác, nếu Thánh Linh không can thiệp, không bao giờ Tin Mừng có thể mang tính “hôm nay”.
Lịch sử Giáo Hội cho thấy những gương mẫu sáng chói về sức mạnh cứu độ trong những tinh thần nghèo khó rất thời đại.  Thế kỷ 12 và 13, thánh Phanxicô đã noi gương Đức Giêsu gia nhập hàng ngũ những người nghèo khó, sống giữa những người phong cùi. Dưới con mắt thánh nhân, “người nghèo không còn là đối tượng của những việc bố thí hay bác ái, nhưng là nhưng anh chị em được Đức Kitô mang tất cả các môn đệ của Người tới. Số phận và cuộc sống người nghèo phải được môn đệ Chúa Kitô chia sẻ”  (Hellmann 1993:744). Mẹ Têrêsa thành Calcutta đã thể hiện trọn vẹn nét độc đáo đó của môn đệ Đức Kitô khi xuống tận những căn nhà ổ chuột hay cúi sát xuống những vết  thương lở lói của người cùi.
Sứ mạng Đức Giêsu vẫn được tiếp nối nơi các môn đệ của Người qua mọi thời đại. “Thánh Vinh Sơn Phaolô còn nhận ra người nghèo là chi thể của Đức Giêsu. Quan điểm này đã khiến rất nhiều người chú ý và thi nhau làm việc bác ái phục vụ người nghèo” (Hellmann 1993:744). Con cái thánh Vinh Sơn vẫn xông xáo khắp nơi tìm kiếm người nghèo và tận tâm săn sóc những người cùng khổ theo đường lối thánh nhân đã vạch ra. Nhưng tổ chức Vinh Sơn cũng chỉ đảm nhận một trong những công cuộc bác ái lớn lao của Giáo Hội. Các tổ chức bác ái Công giáo không thua bất cứ tổ chức từ thiện nào trên thế giới. Muốn thực hiện được sứ mạng phục vụ lớn lao đó, Giáo Hội đã bắt các người Công giáo đóng góp bao nhiêu phần trăm lợi tức hằng năm ?  Có phải mười phần trăm như nhiều Giáo Hội anh em Kitô khác không ?  Thực tế, Giáo hội hoàn toàn dựa vào lòng hảo tâm của Kitô hữu. Nếu không có Thánh Linh thúc đẩy, làm sao có họ có thể đóng góp lớn lao đến như thế ?   Tất cả đều nhằm thực hiện sứ mạng Đức Giêsu, vì “tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Cr 12:13) để đem ơn cứu độ đến tận cùng trái đất.
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

TN3-C85. Chúa Nhật 3 Quanh Năm

(Lu-ca 4: 14-21)
 

Khi Thiên Chúa tỏ mình ra trong việc làm của Chúa Giê-su tại tiệc cưới Ca-na, Người chính: TN3-C85

          Khi Thiên Chúa tỏ mình ra trong việc làm của Chúa Giê-su tại tiệc cưới Ca-na, Người chính thức khởi sự công cuộc cứu độ qua sứ mệnh của Đấng Mê-si-a.  Biến cố tỏ mình ra tại Ca-na đã phác họa nét chính kế hoạch tình thương vô điều kiện của Thiên Chúa.  Bước sang bài Tin Mừng hôm nay của thánh sử Lu-ca, ta có dịp nhận biết chương trình hoạt động nói chung mà Chúa Giê-su sẽ thực hiện khi thi hành sứ mệnh cứu độ trần gian.  Chương trình ấy đã được sách ngôn sứ I-sai-a nói đến khoảng 500 năm trước Chúa Giê-su giờ đây được Người tuyên đọc tại hội đường Na-da-rét.  Vậy Chúa Giê-su đã làm, đang làm và sẽ làm gì cho ta với chương trình hoạt động của Thiên Chúa?  Động lực nào thúc đẩy và hướng dẫn Người thực hiện chương trình?
 
  1.   Chúa Thánh Thần, động lực thúc đẩy và hướng dẫn
          Chúa Thánh Thần giữ vai trò chính yếu trong suốt cuộc đời của Chúa Giê-su.  Ngay từ khi Mẹ Ma-ri-a được Thiên Thần truyền tin, ta được biết về quyền năng và ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần rồi.  Sứ thần giải thích cho Đức Mẹ rõ việc thụ thai Chúa Giê-su:  “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, người con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1:35).  Thánh Thần làm công việc tác tạo khi Thiên Chúa dựng nên trời đất muôn loài (St 1:2; Tv 104:30).  Giờ đây nơi Mẹ Ma-ri-a, Thánh Thần Chúa bắt đầu một cuộc tạo dựng mới khi Chúa Giê-su được thụ thai trong lòng Đức Trinh Nữ.
          Trong cuộc đời thơ ấu và ẩn dật của Chúa Giê-su, sách Tin Mừng nói rất ít về Người.  Dù vậy, chắc chắn đó phải là những ngày Thần Khí Thiên Chúa giúp cho Chúa Giê-su “ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa” (Lc 2:40), hoặc “ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến” (Lc 2:52).
          Tuy nhiên khi Chúa Giê-su bắt đầu thi hành sứ vụ, vai trò của Chúa Thánh Thần thường được nhắc tới dưới hình thức Chúa Giê-su “được đầy Thánh Thần, được Thánh Thần dẫn đi, được quyền năng Thánh Thần thúc đẩy”...  Thánh Thần là tinh thần Thiên Chúa đã đầy ắp tâm hồn Chúa Giê-su, nên Chúa Giê-su sẽ hành động theo tinh thần của Thiên Chúa chứ không phải theo tinh thần của thế gian.  Có lẽ ta nên đọc lại những gì thánh sử Lu-ca viết về những gì xảy ra khi Chúa Giê-su chịu phép rửa:  “Đang khi Người cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng như chim bồ câu” (Lc 3:21-22).  Hình ảnh này cũng chẳng khác gì điều sách ngôn sứ I-sai-a đã nói:  “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi”(Lc 4:18).  Xức dầu tấn phong là nghi thức trao ban sứ mệnh, không chỉ là sứ mệnh của ngôn sứ, nhưng sứ mệnh cứu độ của Đấng đến để chu toàn tất cả những gì Lề Luật và các ngôn sứ đã nói về Người.
 
  1.   Thông điệp và hoạt động cứu độ của Chúa Giê-su
          Với những điều kiện được thánh sử mô tả như “vững mạnh, khôn ngoan, được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến”, hẳn Chúa Giê-su sẽ là nhà lãnh đạo thành công trên trường đời.  Nhưng Người lại chọn con đường Thiên Chúa muốn Người đi, đó là:
          “Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,
          để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
          Người đã sai tôi đi công bố
          cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha,
          cho người mù biết họ được sáng mắt,
          cho người bị áp bức biết họ được trả lại tự do,
          công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4:18-19).
          Từ nay, cuộc đời Chúa Giê-su gắn liền với thông điệp nói trên.  Thông điệp ấy gồm hai điểm:  loan báo Tin Mừng và đi công bố những gì Thiên Chúa muốn thực hiện cho nhân loại.  Đúng vậy, trước mắt Thiên Chúa, con người chỉ là kẻ nghèo hèn, anawim, tức là phải hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa.  Vậy Tin Mừng được loan báo cho họ như thế này:  “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3:16).  Thiên Chúa đã bỏ qua đi sự bất xứng của nhân loại để sẵn sàng nhận họ làm “nghĩa tử” và “đồng thừa kế với Đức Ki-tô” (Rm 15:15-17).
          Ngoài việc loan báo Tin Mừng, Chúa Giê-su sẽ đi khắp nẻo đường từ Ga-li-lê xuống Giu-đê để công bố những gì Thiên Chúa muốn làm cho nhân loại khốn cùng.  Mà không chỉ công bố bằng lời nói, nhưng bằng việc làm.  Biết bao người tội lỗi đã “bị giam cầm” nay sẽ được tha thứ.  “Tội con đã được tha” là lời nói được lập đi lập lại trên những người thành tâm hối cải đến với Chúa Giê-su.  Không chỉ là những người mù thể xác được Chúa Giê-su mở mắt, nhưng thật nhiều người mù thiêng liêng còn được mở mắt linh hồn để nhìn thấy “sự thật” Thiên Chúa muốn tỏ ra nơi Chúa Giê-su.  Sau nữa là những người “bị áp bức”, họ bị vùi dập đè nén đủ cách, thể xác cũng như tinh thần.  Những thống khổ của kiếp người , lo lắng, bệnh tật, bất công xã hội... làm cho họ thành nô lệ hoặc mất đi phẩm giá.  Giờ đây Chúa Giê-su đến để phục hồi phẩm giá cho họ khi Người chữa lành bệnh tật, bênh vực kẻ yếu và duy trì công bình xã hội.
          Nội dung của thông điệp nói lên đầy đủ sứ mệnh Chúa Giê-su sẽ thi hành.  Giờ đây đứng trước cộng đoàn Na-da-rét là đại diện cho toàn thể nhân loại, Chúa Giê-su dõng dạc tuyên bố:  “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”.  Lời khẳng định của Chúa Giê-su không những nói lên một sự kiện có thực, mà còn là lời cam kết thi hành sứ mệnh trước mặt Thiên Chúa và nhân loại nữa.
 
  1.   “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”
          Ơn cứu độ của Thiên Chúa luôn mang tính cách hiện đại.  Ngay từ lúc Chúa Giê-su giáng sinh, sứ thần Chúa đã nói với các người chăn chiên tại Bê-lem:  “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em” (Lc 2:11).  Hoặc khi đến với gia đình ông Da-kêu, Chúa Giê-su tuyên bố với những kẻ chỉ trích Người:  “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (Lc 19:9).  Lời khẳng định của Chúa Giê-su trước hết nói về việc Người khai mở thời đại cứu độ.  Tuy nhiên lời ấy cũng thách thức ta có muốn nhìn nhận Người là Đấng Cứu Độ không.  Nếu lời Kinh Thánh chỉ “ứng nghiệm” cho Chúa Giê-su mà không ứng nghiệm cho ta, thì cũng chẳng đi tới đâu.  Hoặc cũng giống như thánh Gio-an đã viết mà thôi, là “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1:11)!
          Như thế, tính cách hiện tại của ơn cứu độ đòi ta phải cộng tác và đáp lại trong tư thế hiện tại, nghĩa là ta được cứu độ với tất cả cuộc sống hằng ngày của ta bằng cách để cho “ứng nghiệm lời Kinh Thánh”.  Ứng nghiệm khi ta tin vào Chúa Giê-su là Đấng Cứu Độ.  Ứng nghiệm khi ta tiếp tay với Người trong sứ mệnh loan báo Tin Mừng và thực thi những điều Chúa Giê-su đã làm theo thông điệp truyền giáo.  Thí dụ, ta giúp đỡ những anh chị em bần cùng, an ủi những người đau khổ, bênh vực những nạn nhân của bất công xã hội...  Đó là những khi ta làm cho lời Kinh Thánh ứng nghiệm vậy.
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
          Tôi đang sống theo Thần Khí của Thiên Chúa hay theo tinh thần của người đời?
          Thánh sử Lu-ca đã mô tả Chúa Giê-su như một người tuyên đọc Lời Chúa gương mẫu, khiến cho mọi người đều “chăm chú nhìn Người”.  Mỗi khi tham dự Thánh Lễ, hoặc đọc và suy niệm Lời Chúa, thái độ của tôi như thế nào?  Tôi có chăm chú lắng nghe Lời Chúa không?  Tôi có nhận ra tầm quan trọng của việc lắng nghe Lời Chúa không?
          Chúa Giê-su đã nói ở Na-da-rét:  “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”.  Tôi có thể nói với những người chung quanh như Chúa đã nói không?  Tại sao không?
Cầu nguyện
          “Lạy Chúa Giê-su,
          dân làng Na-da-rét đã không tin Chúa
          vì Chúa chỉ là một ông thợ thủ công.
          Các môn đệ đã không tin Chúa
          khi thấy Chúa chịu treo trên thập tự.
          Nhiều kẻ đã không tin Chúa là Thiên Chúa
          chỉ vì Chúa sống như một con người.
          Cũng có lúc chúng con không tin chúa
          hiện diện dưới hình bánh mong manh,
          nơi một linh mục yếu đuối,
          trong một Hội Thánh còn nhiều bất toàn.
          Dường như Chúa thích ẩn mình
          nơi những gì thế gian chê bỏ,
          để chúng con tập nhận ra Ngài
          bằng con mắt đức tin.
          Xin thêm đức tin cho chúng con
          để khiêm tốn thấy Ngài
          tỏ mình thật bình thường giữa lòng cuộc sống.”
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 52)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

19-1-2007
 

TN3-C86. Hôm Nay Đã Hoàn Tất

Lc 1,1-4;: 1 Thưa ngài Thêôphilô đáng kính, có nhiều người đã ra công soạn bản tường thuật những sự việc đã được thực hiện giữa chúng ta. 2 Họ viết theo những điều mà các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ lời Chúa truyền lại cho chúng ta. 3 Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài,4 mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc.
4,14-21: Đức Giêsu trong quyền năng Thánh Thần trở về miền Galilê, và tiếng tăm Người đồn ra khắp vùng lân cận. 15 Người giảng dạy trong các hội đường của họ, và được mọi người tôn vinh. 16 Rồi Đức Giêsu đến Nazaréth, nơi Người đã lớn lên. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sabbát, và đứng lên đọc. 17 Người được trao cho cuốn sách ngôn sứ Isaia., và mở ra, Người gặp chỗ chép rằng: 18 Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm sự giải thoát, cho người mù sự phục hồi thị giác, trả lại tự do cho người bị áp bức, 19 công bố một năm ân huệ của Chúa. 20 Đức Giêsu cuộn sách lại, trả cho người trợ giúp, rồi ngồi xuống. Con mắt của mọi người trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. 21 Người bắt đầu nói với họ: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời sách thánh nầy trong tai qúy vị.” 22 Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay thốt ra từ miệng Người và nói: “Ông ấy không phải là con ông Giuse hay sao”.
 

Đoạn 4:14-21 nằm trong văn mạch 4:14-9:50 nói đến những hoạt động của Chúa Giêsu tại Galilêa: TN3-C86

Đoạn 4:14-21 nằm trong văn mạch 4:14-9:50 nói đến những hoạt động của Chúa Giêsu tại Galilêa, trong đó 4:16-30 bàn đến chương trình khởi đầu của sứ mạng của Chúa Giêsu (4:16-30). Có thể phân chia bố cục đoạn 4:14-21 như sau:
1/ Những điểm chính trong hoạt động đầu tiên của Chúa Giêsu tại Galilêa (4:14-15);
2/ Những điểm chính ấy được phác hoạ qua lời của ngôn sứ Isaia ( 4:16-21).
  Khung cảnh của những hoạt động đầu tiên của Chúa Giêsu là tại Galilêa (4:14-15). Galilêa là nơi lịch sử đầu tiên khi Người đến thế gian (1:26), nơi khởi đầu và cũng là nơi chấm dứt sứ vụ rao giảng của Người (4:14 và 24:6). Người trở lại đó sau khi được Thánh thần đưa từ Nazaréth thuộc miền Galilêa vào hoang địa Giorđan (4:1) và rồi từ đó ma quỉ đưa Người lên Giêrusalem (4:9). Người về lại Galilêa và bắt đầu sứ vụ tại đó sau khi Gioan Tẩy giả đã bị bắt (x. Mt 4:12; Mc 1:14a). Trong khởi điểm nầy, Luca cho thấy là Chúa Giêsu được mọi người biết đến và danh tiếng của Người được loan truyền rộng rãi giữa dân chúng, trước tiên tại Galilêa và vùng lân cận (4:14.37; 5:15), sau cùng là tại Giuđêa và vùng lân cận (7:17); nghĩa là mọi người khắp đất nước đều nghe nói về Người. Nguồn gốc thiên tính của Người và hoạt động của Người được xác định bởi sự hiện diện của Thánh Thần trong Người. Khởi đầu của việc Người đến trần gian đã được xác định bởi Thánh Thần (x. 1:35); Thánh Thần đã “ngự xuống” trên Người trong ngày chịu phép rửa (x. 3:22); “xuống đầy tràn trên Người” và “dẫn Người vào hoang địa” (4:1). Rồi khi bắt đầu sứ vụ công khai, Người trở lại Galilêa “trong quyền năng Thánh Thần” (4:14a), và “Thánh Thần Chúa ngự trên Người” và “sai Người đi” (4:18) nhấn mạnh mọi công việc Người làm đều bởi Thánh Thần hướng dẫn và qua đó Người hiệp thông liên lỉ và sống động với Thiên Chúa. Hoạt động chính của Người là giảng dạy. Ở Galilêa, Người thường đến hội đường vào ngày sabbát và giảng dạy ở đó (4:15.31; 5:3.17; 6:6; 13:10). Trên đường đi lên Giêrusalem, Người cũng giảng dạy (13:22), và trong thời gian ở Giêrusalem, Người giảng dạy trong đền thờ (19:47; 20:1.37). Người không chỉ dạy cho dân chúng, mà cả các môn đệ của Người nữa (11:1). Nội dung của lời giảng dạy chưa được nói ra, Luca mới cho thấy hiệu quả mạnh mẽ của việc ấy.
          Đoạn 4:16-21 phân chia thành ba phần: - phần mở đầu (4:16-17) đưa vào một bối cảnh cụ thể là  “tại Nazaréth”, “vào ngày sabbát” và “trong hội đường” có xác định. Hành động là mở sách và tìm thấy đoạn trong sách Isaia (4:17); - phần kết thúc (4:20-21) đóng lại việc đọc sách (4:20) và đưa ra lời giải thích của Chúa Giêsu (4:21). - Đoạn sách Isaia nói về những điểm chính trong sứ vụ của Người (4:18-19).
Bốn hoạt động chính Chúa Giêsu sẽ có trách nhiệm thi hành là: - mang tin mừng cho người nghèo khó, loan báo sự giải thoát cho người tù đày và sự sáng mắt cho người mù loà; trả tự do cho người bị áp bức; và loan báo năm hồng ân của Thiên Chúa (4:18). “Loan báo tin mừng” (euangelizomai) là hoạt động chính của Người (4:18.43; 7:22; 8:1; 16:16; 20:1). Người nghèo hầu như là đối tượng (4:18; 7:22), và nội dung của việc rao giảng là “Nước Thiên Chúa” (4:43; 8:1; 16:16); Sau nầy, các tông đồ sẽ rao giảng về “Chúa Giêsu là Đấng Kitô” (x. Cvtđ 8:35; 11:20; 17:18). “Giải thoát người tù đày”, “mở mắt người mù” và “trả tự do cho người bị áp bức” là tái hội nhập con người toàn vẹn vào xã hội và cơ cấu. Khía cạnh nầy được nhấn mạnh thêm và mở rộng trong câu 4:19: “Loan báo năm hồng ân của Chúa”. Trong sách Lêvi 25:10, nói đến “năm giải thoát”, cụ thể là: “Các ngươi hãy thánh hoá năm thứ năm mươi là năm thánh. Hãy công bố sự giải thoát cho mọi người trong đất nước”. Trong năm nầy mọi người được quyền thu hồi lại những của cải hay đất đai đã mất, đồng thời cả sự tự do toàn vẹn của mình (x. Lv 25:8-17).
Chúa Giêsu không loan báo một năm như thế, mà là một “thời gian ân huệ của Chúa”. Hạn từ “dektos” có nghĩa là “chấp nhận được”, “thuận tiện”, “được đón nhận” (x. 4:24). Thời gian ân huệ là thời gian trong đó Thiên Chúa quảng đại đón nhận tất cả mọi người và mọi dân tộc (x. Cvtđ 10:35), thời gian con người được Thiên Chúa lắng nghe và cứu độ cách toàn vẹn (2 Co 6:2). Thời gian nầy qui chiếu về tin mừng và những việc Chúa Giêsu sẽ thực hiện; nói tắt, về chính bản thân Người. Chúa Giêsu áp dụng đoạn sách thánh trên cho Người (4:21). Hạn từ “hôm nay” thường gắn liền với một biến cố cứu độ được thực hiện trong hiện tại (2:11; 5:26; 13:32; 19:5;.9; 23:43) và động từ “ứng nghiệm” ở thể thụ động ám chỉ chính Thiên Chúa đã làm hoàn tất. Như thế, câu giải thích của Chúa Giêsu muốn nói với những người đồng hương trong hội đường hôm đó là họ đã tham dự một biến cố cứu độ quan trọng đã không xảy ra trước hay sau đó: trong khi Người đọc đoạn sách thánh 4:18-19 và tai họ đang nghe điều ấy, thì Thiên Chúa đã hoàn tất nơi Người tất cả những điều đã được loan báo trong ngôn sứ Isaia (x. Is 61:1 và 58:6).
Nếu cả sứ vụ của Chúa Giêsu tập trung vào việc rao giảng tin mừng Nước Thiên Chúa, thì cả cuộc đời các thính giả của Người là lắng nghe và thực hành lời Người để được cứu độ.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

TN3-C87.  Chúa Nhật 3 Thường niên, C

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 1:1-4; 4:14-21)
 

Bắt đầu từ Chúa Nhật hôm nay, chúng ta có cơ hội làm quen và lắng nghe sách Tin Mừng: TN3-C87

          Bắt đầu từ Chúa Nhật hôm nay, chúng ta có cơ hội làm quen và lắng nghe sách Tin Mừng Lu-ca vì là năm C của chu kỳ phụng vụ.  Bài Tin Mừng hôm nay mang đặc tính giới thiệu, giới thiệu sách Tin Mừng Lu-ca, nhưng quan trọng hơn cả là lời sách ngôn sứ I-sai-a giới thiệu sứ vụ của Chúa Giê-su và được chính miệng Chúa Giê-su xác nhận.
          Đây là lần duy nhất sách Tin Mừng kể lại Chúa Giê-su là người tuyên đọc Lời Chúa trước một cộng đoàn dân Chúa.  Chắc chắn trong những buổi gia đình cầu nguyện hằng ngày và những ngày sa-bát tại hội đường, Chúa Giê-su đã làm công việc đọc Lời Chúa.  Nhưng lần này tại hội đường Na-da-rét, việc tuyên đọc Lời Chúa mang tầm quan trọng vô cùng lớn lao.  Quan trọng vì là đoạn sách ngôn sứ I-sai-a nói về sứ vụ chính Chúa Giê-su đang thi hành:  Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.  Tiếp theo là lời giải thích sứ vụ ấy:  Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa.
          Rõ ràng chúng ta thấy lời giới thiệu của ngôn sứ I-sai-a không đả động chút nào tới công việc của một nhà giải phóng chính trị hay quân sự muốn phất cờ khởi nghĩa và đánh đuổi quân Rô-ma ra khỏi bờ cõi Ít-ra-en.  Nhưng lời giới thiệu chỉ nói đến việc rao giảng Tin Mừng, những việc “thi ân giáng phúc và chữa lành” (Công Vụ 10:38) mà Chúa Giê-su đã bắt đầu thực hiện.  Rồi mọi người trong hội đường hồi hộp chờ đợi xem Chúa Giê-su sẽ giải thích thế nào những lời Sách Thánh Người vừa tuyên đọc.  Chúa Giê-su không vỗ ngực bảo những lời Sách Thánh ấy nói về chính Người, nhưng Người chỉ khiêm tốn và trang trọng tuyên bố:  “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”.  Nói như thế thật là khéo léo.  Chúa Giê-su không bắt ép ai phải nhìn nhận con người và sứ vụ của Người theo như I-sai-a mô tả.  Chúa Giê-su là đối tượng của đức tin, nhưng Người để chúng ta được tự do quyết định tin vào Người.  Người luôn hiện diện trước chúng ta như Đấng rao giảng Tin Mừng và Đấng chữa lành.  Còn chúng ta có lắng nghe Người, đi theo làm môn đệ Người và để Người chữa lành những vết thương của chúng ta hay không là tùy thuộc chọn lựa của chúng ta.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Bài Tin Mừng hôm nay bỏ phần câu truyện tiếp theo tại Na-da-rét.  Có hai phản ứng.  Lúc đầu, mọi người tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Chúa.  Nhưng sau đó dân chúng yêu cầu Chúa đáp ứng những nhu cầu vật chất phúc lợi của họ và không được Chúa thỏa mãn, nên họ đổi ra phẫn nộ và muốn giết chết Người.
          Kết thúc câu truyện buồn ấy mời gọi chúng ta đón nhận và sống sứ điệp của Lời Chúa: 
-  Xác tín Chúa Giê-su là Đấng nào:  Chúng ta hãy tin Người được Chúa Cha sai đến trần gian để rao giảng Tin Mừng và chữa lành chúng ta.  Đừng để những tư lợi hoặc tham vọng của chúng ta làm méo mó hình ảnh của Chúa Giê-su trong tâm hồn chúng ta.
-  Vững tin vào giáo lý Chúa dạy chúng ta qua lời giảng của Người:  Trong lời tựa gửi ông Thê-ô-phi-lê, thánh Lu-ca nói mục đích ngài viết sách Tin Mừng là để chúng ta nhận thức được rằng giáo huấn của Chúa thật là vững chắc.  Đây cũng là lời nhắc nhở chúng ta hãy suy niệm, cầu nguyện và thực hành sau khi chúng ta lắng nghe Lời Chúa.
Lm. Dominic TTL   

 

TN3-C88. CHÚA NHẬT 3 QUANH NĂM

(Lu-ca 1: 1-4; 4: 14-21)
 

 Mặc dù cấu trúc của bài Tin Mừng hôm nay hơi lạ (gồm có phần lời tựa trong chương 1 và câu truyện Chúa Giê-su: TN3-C88

          Mặc dù cấu trúc của bài Tin Mừng hôm nay hơi lạ (gồm có phần lời tựa trong chương 1 và câu truyện Chúa Giê-su tuyên đọc Sách Thánh tại hội đường Na-da-rét), nhưng như thế mới đầy đủ để giới thiệu sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su sẽ được trình bày qua các Chúa Nhật thường niên tiếp theo.  Lời tựa vạch rõ mục tiêu của sách Tin Mừng khi trình bày cuộc đời Chúa Giê-su và giáo lý của Ngài.  Còn câu truyện Chúa Giê-su đến hội đường Na-da-rét tuyên đọc lời ngôn sứ I-sai-a và công bố Tin Mừng ấy hôm nay được thể hiện nơi bản thân Người, thì chính thức mời gọi ta lên đường khám phá ra con người và sứ mệnh của Chúa Giê-su, để sẵn sàng bước theo làm môn đệ Người.
 
  1.   Sách Tin Mừng được viết để giúp ta “nhận thức giáo huấn của Chúa Giê-su thật là vững chắc”
          Trong mấy câu của Lời tựa, thánh sử Lu-ca đã phát biểu thật rõ ràng nội dung sách Tin Mừng của ngài gồm những gì và ý định của ngài khi viết sách Tin Mừng ấy.  Nội dung của tác phẩm đó là “những điều đã được thực hiện giữa chúng ta” tức là những biến cố liên quan đến đời sống và sứ mệnh cứu thế của Chúa Giê-su.
          Những gì được viết lại không phải là do óc tưởng tượng của một người hoặc những huyền thoại, nhưng là những điều được truyền lại từ “các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ lời Chúa”, tức là các thánh Tông đồ.  Các ngài đã trung thành với sứ vụ làm chứng cho Chúa Giê-su, dù phải đổi mạng sống mình để nói lại cho người ta những điều chính các ngài nghe và chứng kiến về Chúa Giê-su là những điều có thật và chứng tỏ Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.
          Phụng vụ Lời Chúa các Chúa Nhật thường niên năm C cũng muốn theo cách thức của thánh Lu-ca, nghĩa là sẽ “tuần tự” trình bày cuộc đời và giáo lý của Chúa, chỉ mong ta sau khi tham dự các thánh lễ Chúa Nhật năm Phụng vụ này, sẽ có được một cái nhìn tổng quát về diễn tiến cuộc đời Chúa Giê-su và giáo lý của Người.  Nhưng hơn thế nữa, Giáo Hội không chỉ muốn ta biết về Chúa Giê-su và giáo lý của Người với cái biết trí óc, nhưng phải là cái biết của con tim, xây dựng mối quan hệ với Chúa và để cho sức mạnh giáo lý của Người biến đổi cuộc sống ta.  Chỉ khi nào thực sự có được đức tin vào Chúa Giê-su, ta mới có thể “nhận thức giáo huấn của Người thật là vững chắc,” bởi vì tin vào Chúa là nhìn nhận thế giá và tính cách đáng tin cậy của Người.
 
  1.   “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”
          Ta đã có dịp nghe những bài giảng dài của Chúa Giê-su, thí dụ bài giảng về Bí tích Thánh Thể, bài giảng trên núi về Tám mối phúc...  Nhưng có lẽ đây là bài giảng ngắn nhất của Chúa Giê-su, được gồm tóm trong một khẳng định ngắn gọn:  Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe.  Các nhà lãnh đạo trần gian, các tổng thống, thủ tướng thường dài dòng trình bày với những lời lẽ đao to búa lớn cả một chương trình hay kế hoạch họ sắp thực hiện.  Rồi sau đó người ta cũng chỉ thấy kết quả là đầu voi đuôi chuột, hoặc chẳng thấy thực hiện được lấy một điều! 
Còn vị lãnh đạo của ta, Chúa Giê-su, hoàn toàn khác.  “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Gio-an 18:36), Người đã nói rõ như vậy.  Vương quốc Ngài là vương quốc của sự thật đến trong các tâm hồn.  Vương quốc ấy không có quân đội như nhà độc tài Hitler đã thách thức:  “Giáo Hoàng có được bao nhiêu sư đoàn?”  Cũng không có súng ống đạn dược.  Tất cả sức mạnh mà vị nguyên thủ cậy dựa vào là sức mạnh của Thánh Thần.  “Thần Khí Chúa ngự trên tôi” (Lc 4:18).  Không có lễ nhậm chức và diễn văn khai mạc nẩy lửa như các ông tổng thống Mỹ vẫn làm bốn năm một lần.  Chỉ có “Chúa đã xức dầu tấn phong tôi và sai tôi đi.”  Thật là đơn sơ, bắt tay vào việc thi hành sứ mệnh ngay lập tức, không cần thời gian “trăng mật” tạo quan hệ thuận lợi với quần chúng.  Mà đúng thế, ngay sau khi công bố và khởi đầu sứ mệnh, Chúa Giê-su đã nếm mùi thất bại phũ phàng:  “Mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ.  Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành – thành này được xây trên núi.  Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực” (Lc 4:28-29).
 
  1.   Chương trình hoạt động của Chúa Giê-su
          Chương trình ấy không phải của riêng Chúa Giê-su, được vạch ra do tài kinh bang tế thế của Người, nhưng là kế hoạch đã được phác họa do “Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật;  còn tôi, tôi nói lại cho thế gian những điều tôi đã nghe Người nói” (Ga 8:26).  Thánh Phao-lô gọi kế hoạch ấy là “thiên ý nhiệm mầu:  thiên ý này là kế hoạch yêu thương Thiên Chúa đã định từ trước trong Đức Ki-tô” (Ep 1:9).   Chương trình ấy không đóng khung trong thời hạn rõ rệt giống như kế hoạch ngũ niên hoặc mười năm, nhưng sẽ kéo dài và chỉ hoàn tất khi “tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền thủ lãnh là Đức Ki-tô” (Ep 1:10).  Chương trình chỉ nêu ra những điểm tích cực, tức là “những việc phải làm”:  loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn;  công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, cho người bị áp bức biết họ được trả lại tự do” (Lc 4:18).  Tóm lại là công bố một thời đại mới, một cuộc tạo dựng mới, tức là “một năm hồng ân của Chúa.”
          Chúa Giê-su thi hành nhiệm vụ loan báo Tin Mừng và công bố Triều Đại Thiên Chúa , không chỉ bằng lời nói, nhưng chủ yếu là bằng việc làm.  Hành động có sức mạnh hơn lời nói.  Do đó, Chúa Giê-su đã hành động khi Người tiếp xúc với người khác, tha thứ kẻ tội lỗi, an ủi kẻ buồn phiền, chữa lành người đau yếu, đến với thành phần bị xã hội khinh bỉ loại trừ...  để làm gương mẫu và mời gọi mọi người dấn thân xây dựng một vương quốc mới, vương quốc của tình yêu.
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
          Xét lại việc đọc và học hỏi Kinh Thánh, tôi có hướng về mục tiêu là nhận thức giáo lý của Chúa Giê-su như thánh Lu-ca nhắc nhở không?  Nếu không thì tại sao?
          Tôi có vai trò nào trong vương quốc của Chúa Giê-su?  Tôi có cố gắng sống vai trò đó không?  Bằng cách nào?
          Khi nghe bài giảng khẳng định của Chúa Giê-su:  “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe,” phản ứng của tôi thế nào?  Nếu khác với phản ứng của dân thành Na-da-rét, thì phản ứng của tôi phải tiếp tục đi tới đâu?
          Tôi thuộc về lớp người nào cần được nghe lời công bố của Chúa Giê-su?  Tôi sẽ để cho Người tiếp tục hoạt động những gì nơi tôi?
          “Lạy Chúa Giê-su,
          con đường dài nhất là con đường từ tai đến tay.
          Chúng con thường xây nhà trên cát,
          vì chỉ biết thích thú nghe Lời Chúa dạy,
          nhưng lại không dám đem ra thực hành.
          Chính vì thế
          Lời Chúa chẳng kết trái nơi chúng con.
          Xin cho chúng con
          đừng hời hợt khi nghe Lời Chúa,
          đừng để nỗi đam mê làm Lời Chúa trở nên xa lạ.
          Xin giúp chúng con dọn dẹp mảnh đất đời mình,
          để hạt giống Lời Chúa được tự do tăng trưởng.
          Ước gì ngôi nhà đời chúng con
          được xây trên nền tảng vững chắc,
          đó là Lời Chúa,
          Lời chi phối toàn bộ cuộc sống chúng con.”
                                       (Trích RABBOUNI, lời nguyện 15)
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN3-C89. HÃY LÀM SỐNG LẠI NIỀM TIN

Chúa nhật III  Thường niên C
 (Nehemiah 8:2-4a, 5-6, 8-10. Corinthians 12:12-30, 12:12-14,27.
 Luke 1:1-4, 4:14-21)
Nguyễn Tiến Cảnh, MD
 

Bài đọc 1 hôm nay trích sách Nehemiah là sách nói về hiến pháp của cộng đồng Do Thái sau thời kỳ bị: TN3-C89

      Bài đọc 1 hôm nay trích sách Nehemiah là sách nói về hiến pháp của cộng đồng Do Thái sau thời kỳ bị phân tán đi lưu đầy và đền Jerusalem bị phá hủy.
      Đây là câu chuyện nói về những bước khởi đầu của cộng đồng, một cộng đồng đầy hy vọng, mặc dù có rất nhiều khó khăn thấp thoáng trước mặt. Thầy cả Ezra và giáo dân Nehemiah[1][1] đã sống vào thời kỳ này, thời kỳ dân Israel trở lại đất tổ sau những năm tháng tù đày ở Babylon. Đây hiển nhiên là thời kỳ tái tạo vì dân chúng đã mất hết niềm tin vì thất lạc và mất nối kết.
      Ezra và Nehemiah đã đưọc Thiên Chúa ủy thác để giảng dạy cho dân những điều họ đã đánh mất để tạo dựng lại cấu trúc cộng đồng, linh hứng cho họ một lần nữa những lý tưởng cao cả về niềm tin của dân Do Thái, hầu có thể bắt đầu một cuộc sống mới tôn giáo, xã hội lành mạnh.
      Quang cảnh sống động được diễn tả trong bài đọc I hôm nay là một tiền-tuyên-bố cho biết những luật lệ căn bản mà cộng đồng phải tuân thủ. Dân chúng tụ họp lắng nghe tuyên cáo này trong bầu khí linh thiêng và cảm động. Một số người đã bật khóc vì sung sướng được tự do nghe lời Chúa sau những thảm cảnh đau thương Jerusalem bị phá hủy và nay lại có ơn cứu độ. Tuy nhiên Nehemiah đã cảnh cáo cho họ biết đó chỉ là ngày lễ hội và, để Chúa ban sức mạnh thì cần phải vui mừng hoan hỉ cám ơn Chúa vì những tặng phẩm Chúa ban. Cuối cùng, Lời Chúa chính là sức mạnh và niềm vui.
      Vậy phản ứng của chúng ta trước quang cảnh vĩ đại này là gì? Bài đọc này chính là một mời gọi mỗi người chúng ta, đặc biệt những vị thừa tác viên mục vụ, cám ơn Chúa vì lòng thương của Người không quên chúng ta, lại ban cho chúng ta đủ thứ, đồng thời cám ơn tất cả những ai đã từng cộng tác với mình để tái tạo nền móng đức tin và Giáo Hội của chúng ta mỗi ngày.

KẾ HOẠCH MỤC VỤ CỦA THÁNH LUCA
      Tin Mừng thánh Luca là phúc âm duy nhất trong bốn phúc âm thư có lời mở đầu (Lc 1:1-4). Thánh Luca đã nhận thức ra là mình mắc nợ những người đã chứng kiến ngay từ đầu cũng như những người phục vụ Lời Chúa, nhưng ông quả quyết là những đóng góp của mình đã được bá cáo đầy đủ và chính xác - theo thứ tự- và chắc chắn là có ý cung cấp cho Theophilus (bạn của Chúa) và những độc giả khác những giáo huấn mà họ đã nhận được lúc bấy giờ. Thánh Luca đã không nói với mọi người là những điều họ học được trước kia là sai lầm. Nhưng đúng ra là ông xác nhận theo niềm tin của họ và quả quyết với họ theo ước nguyện của họ là muốn được biết thêm về chúa Giêsu, và cũng để tóm gọn mọi sự lại cho họ theo thứ tự thời gian để niềm tin họ được mạnh mẽ hơn. Một kế hoạch mục vụ như vậy cũng vẫn có nhiều hiệu quả trong việc truyền đạt niềm tin ở thời đại ngày nay.

SỰ TRỞ VỀ CỦA CẬU BÉ TỈNH NHÀ
      Thánh Luca không phải là thánh sử duy nhất đã ghi lại cuộc viếng thăm Nazareth của chúa Giêsu, nơi Người đã được nuôi dưỡng và lớn lên (Lc 4:16). Thánh Marco và Mathiêu cũng viết về giai đoạn này nhưng không nói rõ tên  thị xã mà nói là “tỉnh nhà” (Mc 6:1; Mt 13:54). Tuy nhiên có nhiều khác biệt giữa câu chuyện thánh Luca kể và câu chuyện do Macco và Mathiêu viết. Trong Mac cô, việc trở về tỉnh nhà của Chúa được nói tới không phải lúc khởi đầu công việc sứ vụ của Người, nhưng sau một thời gian dài rao giảng Tin Mừng và chữa lành bệnh cũng như bàn cãi về những dụ ngôn (Lc 4:1-34) và phép lạ làm cho con gái ông Jairus sống lại (Lc 8:40-55). Trong Mathiêu, chúa Giêsu cũng đã loan báo địa danh làm sứ vụ của Người cho “12 tông đồ” (Lc 10:2-42; Mt 10:1-16).
      Thánh Luca đã sắp đặt những câu chuyện này ở thời kỳ đầu sứ vụ của chúa Giêsu. Thoạt nhìn chúng ta có thể nghĩ là thánh Luca có ý sửa lại thời biểu của thánh Macco và Mathiêu. Nhưng coi lại chi tiết câu chuyện của ngài, chúng ta thấy ý nghĩ đó không đúng. Khi chúa Giêsu rao giảng, Người nói là dân thành Nazareth sẽ nói với Người là: “Chúng tôi đã nghe biết tất cả những điều này ở Capernaum rồi, bây giờ hãy làm như vậy ở tỉnh nhà của ông xem sao” (Lc 4:23). Những lời này cho thấy trước khi về Nazareth, chúa Giêsu đã bắt đầu sứ vụ của Người ở Capernaum và đã gây rất nhiều ngạc nhiên nơi dân chúng đến độ danh tiếng Người đã bay về tận Nazareth.

GIÂY PHÚT BẤT NGỜ
      Khi chúa Giêsu đứng trong hội trường ở Nazareth thì quả là giây phút bất ngờ. Chúa mở sách ngôn sứ Isaiah và đọc chương 61. Bản văn này đã lấy ra từ tập thơ nói về những ngày sau cùng, báo trước dân thành Jerusalem sẽ được cứu rỗi, biểu tượng về dân Israel sẽ được canh tân. Khi những lời này được nói ra từ miệng chúa Giêsu thì nó đã minh thị Người là đấng thiên sai và ngôn sứ của thời cánh chung. Những lời này cũng báo cho mọi người biết sứ mệnh của Người là loan báo Tin Mừng, giải phóng mọi người cả nam lẫn nữ và nói cho họ biết về ân sủng của Thiên Chúa. Do đó toàn thể sứ vụ của Chúa Giêsu phải được hiểu trong bối cảnh này.
     Mở cuộn sách ra, Chúa thấy ngay chỗ có lời viết: “ Thần khí Chúa đã ở trong tôi!” (Lc 4:16-18; Is 61:2). Rất đặc biệt, giòng cuối cùng đã được chúa Giêsu đọc là: “công bố hồng ân một năm của Chúa”(Lc 4:19;Is 61:2), và ngay lập tức sau đó, sứ điệp của chúa Giêsu là một tuyên cáo rất rõ ràng “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quí vị vừa nghe”. Cách biểu thị của Isaiah (61:2) “năm hồng ân của Chúa” rõ ràng ám chỉ một toa thuốc ghi trong Sách Leviticus về năm Toàn xá / năm Thánh (Lv 25:10-13).
      Câu chuyện chúa Giêsu ở trong hội trường đã không được thánh Luca   trích lại toàn thể câu văn của Isaiah. Câu văn Isaiah có hai túc từ cho động từ “công bố” ( xem Is 61:2). Tin Mừng thánh Luca chỉ trích có túc từ thứ nhất là  “hồng ân một năm của Chúa” mà quên túc từ thứ hai là “Ngày báo thù cho Chúa chúng ta”. Lời tiên tri của Isaiah báo trước là Thiên Chúa sẽ can thiệp ở hai phương diện, một là giải phóng dân Do Thái, hai là trừng phạt kẻ thù của họ. Tin Mừng không nói tới phần chống đối của kẻ thù. Sự bỏ sót này rõ ràng cho biết hai hậu quả: -bản thông điệp không có tính tiêu cực, -ẩn tàng tính phổ quát. Cũng không thấy có gì ám chỉ phân biệt rõ ràng giữa dân Do Thái và không phải Do Thái. Sự mở rộng phổ quát là đặc tính chính của sứ vụ và rao giảng của chúa Giêsu, nhất là trong Tin Mừng thánh Luca và Tông Đồ Công Vụ.
      Quang cảnh Tin Mừng hôm nay kết thúc là chúa Giêsu nói với khán thính giả rằng Người là đấng kiện toàn lời tiên tri Isaiah, hay nói cách khác lời tiên tri “hôm nay” đã ứng nghiệm. Do đó Chúa Giêsu đã nói cho chúng ta biết  buổi khánh thành sứ vụ công khai của Người đánh dấu ngày đầu của thời cánh chung, đồng thời cũng là bước đầu công cuộc cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử loài người. Sự tương đồng giữa lời Chúa Giêsu và lời tiên tri Isaiah quả rất thích hợp với sứ vụ của Chúa Giêsu, Người đã nhắc nhở chúng ta là lịch sử không che dấu những vinh quang khải hoàn và tai họa, sự trung thành và bất trung của Israel qua mọi thời đại. Đúng ra là lịch sử làm cho họ nổi bật.
      Giờ của Chúa Giêsu đã đến để Người nắm lấy lịch sử trong chính tay Người, để đối diện với  nó bằng chính thân xác Người, để Người làm một cái gì khác thường, và để nhắc nhở mọi người rằng Thiên Chúa đã không bỏ những kẻ than khóc, những kẻ hy vọng, những kẻ đau khổ và những kẻ ước vọng. Thiên Chúa sẽ hoàn thành những điều đó trong chính con một Người là đấng đã đứng ngay giữa hội trường Nazareth. Qua quyền lực của chúa Thánh Thần, chúa Giêsu đã hoàn chỉnh lời tiên tri Isaiah, mang lại tin vui và tuyên bố trả tự do cho những kẻ bị cầm tù. Không phải tất cả mọi người sẽ chấp nhận những Tin Mừng này như phần còn lại của bài Phúc Âm cho chúng ta thấy.

NHÀ GIẢNG THUYẾT THẤT BẠI
      Nếu đọc tiếp tục câu chuyện Phúc Âm hôm nay, chúng ta sẽ nhận ra được bầu khí náo loạn, kinh hãi và nghi hoặc biến thái rất nhanh khi mà Chúa Giêsu Nazareth không nói những lời mà dân địa phương muốn Người nói. Sau khi chúa Giêsu đưa ra 4 điểm chính của chương trình sứ vụ của Người trong hội trường ở Nazareth (Lc 4: 16-21), đám đông trở nên ồn ào, tỏ vẻ ganh tị và muốn đưổi Chúa ra khỏi đó (Lc 4:22-30). Chúa Giêsu đã không thành công trong việc làm cho họ nghe và hiểu Người để rồi phải vội vã ra đi…..để thoát thân (Lc 4:30).
      Những hình ảnh đầu tiên trong sứ vụ của Chúa Giêsu là hình ảnh một người thất bại, chẳng ai thèm để ý tới và hưởng ứng. Dân thành Nazareth thì từ chối không chịu nghe sứ điệp về giải phóng, tự do và hoà giải. Họ đã nghe những điều tương tự như vậy nhưng hoàn toàn với màu sắc riêng theo thái độ  của họ.

LỜI KẾT:  ĐÁP ỨNG LỜI CHÚA
      Giống như dân Israel trong bài đọc I tụ tập quanh thầy cả Ezra và lắng nghe lời Chúa với nỗi niềm xúc động khôn tả (Ne 8:5), chúng tôi, cũng đứng nghe sứ điệp sống của Chúa và cảm thấy sự hiện diện của Người trong đó và trong mỗi một nghi thức phụng vụ. Ezra chúc tụng Thiên Chúa, Thiên Chúa vĩ đại cao cả  và tất cả dân đều giơ cao hai tay và thưa “Amen, Amen”(Ne 8:6). Với tiếng Amen ở cuối mỗi kinh đọc lúc viếng Mình Thánh Chúa, chúng tôi nhận thức được sự hiện diện thực của Chúa ở trên bàn thờ, Lời hằng sống và vĩnh cửu của Đức Chúa Cha.
      Với dân chúng tụ tập trong hội trường Nazareth, chúng tôi cũng nhìn thấy Chúa và nghe Lời Chúa được ứng nghiệm trong chính con người của Chúa là đức Giêsu Kitô, Lời bằng xương bằng thịt thực sự. Để đáp ứng lời tuyên xưng này, chúng tôi đọc lớn  “Amen” , “Tôi Tin!”
      Chớ gì Thần Linh Chúa xức dầu chúa Giêsu cũng xây đắp chúng tôi thành một thân xác và gửi chúng tôi đi khắp nơi để tuyên xưng tự do và hồng ân Chúa cho muôn dân.
Fleming Island, Florida
Jan. 23, 2013
NTC  

 

TN3-C90.  CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN C

Lc 1, 1 - 4; 4, 14 - 21 
 

Con người ngày nay tự hào về sự hiểu biết của mình, nhờ trí khôn ngoan, con người phát minh khoa: TN3-C90

Con người ngày nay tự hào về sự hiểu biết của mình, nhờ trí khôn ngoan, con người phát minh khoa học,...Thế nhưng đứng trước mầu nhiệm về Thiên Chúa, trí khôn con người không sao hiểu nổi và ngôn ngữ của con người làm sao có thể diễn tả hết được? Bởi vì con người mang bản tính giới hạn, bất toàn. Chỉ Thiên Chúa mới có thể giúp con người hiểu Lời Ngài cách xứng hợp.
Hôm nay chúng ta được nghe chính Đức Giêsu đọc lại lời tiên tri Isaia và giải thích: "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, tuyên cáo lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, loan tin cho người mù biết họ sẽ được sáng mắt, trả lại tự do người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa" (Lc 4, 18 - 19). Đọc xong, Ngài ngồi xuống. Mọi người nhìn thẳng vào Ngài mà chờ đợi. Trong khung cảnh im lặng linh thiêng ấy, Chúa Giêsu bắt đầu nói với họ: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà quý vị vừa nghe" (Lc 4, 20 - 21).
Phải, Đức Giêsu đã làm ứng nghiệm mọi lời tiên tri nói về Ngài từ hàng trăm năm trước. Đó là bằng chứng Đức Kitô là Đấng Thiên Chúa sai đến, Ngài thật là Con Thiên Chúa. Một bằng chứng khác nữa là những phép lạ Ngài làm đã có rất nhiều lời tiên tri trong Cựu Ước tiên báo. Hơn nữa, suốt thời gian Ngài sống và rao giảng, Ngài đã thực hiện lời tiên tri tiên báo: "Ngài công bố Tin Mừng cho người nghèo". Ngay lúc mới sinh ra, những mục đồng nghèo khó là những người đầu tiên được loan báo Tin Mừng. Sau này, khi các môn đệ của Gioan Tẩy Giả đến hỏi Ngài có phải là Đấng Cứu Thế không, Ngài đã bảo họ về kể lại cho ông Gioan biết những gì Ngài đã làm; người mù được thấy, người què được đi, người điếc được nghe, người câm được nói ...đúng như lời tiên tri Isaia đã tiên báo.
Hôm nay, trong hội đường ở Nagiarét, giữa người đồng hương của Ngài, Đức Giêsu đã tuyên bố: "Ngài đến thể thực hiện những lời tiên tri Isaia mà họ vừa nghe Ngài đọc". Ngài có sứ mạng đem ơn cứu độ đến cho những người nghèo đói, bệnh tật, kẻ bị tù đày, bị áp bức, qua lời giảng dạy và những phép lạ Ngài làm. Nói như thế có nghĩa là Đức Giêsu là Đấng Thiên Chúa sai đến công bố năm hồng ân cho những người nghèo khổ. Ngài quan tâm đến những khổ đau của những con người đau khổ; Ngài giải thoát của họ và ban ơn cứu độ, trước mắt Ngài, là trái lập trật tự trong xã hội con người và trong thế giới, nơi đó, công lý, yêu thương và hòa bình phải ngự trị.
Đức Giêsu đã trao sứ mạng của Ngài cho Giáo Hội. Do đó, Giáo Hội luôn ý thức sứ mạng của mình trong thế giới. Suốt chiều dài lịch sử, Giáo Hội luôn nổ lực thực hiện sứ mạng của Đức Giêsu là đem Tin Mừng cho người nghèo khó...Những công việc từ thiện, bác ái, xã hội, văn hóa, Giáo Hội đã làm ngày nay vẫn còn giá trị. Và ngày nay sứ mạng của Giáo Hội có lẽ còn khẩn thiết hơn nữa, vì sứ mạng rao giảng Tin Mừng cứu độ ngày nay phải bao gồm cả những vấn đề hết sức quan trọng và cấp thiết nhất, liên quan đến công lý, phát triển và hòa bình.
Mỗi người trong phạm vi của mình, không được nản chí, đừng chê việc nhỏ, vì hành động của tình yêu không có gì là nhỏ, là không đáng kể. Còn biết bao người nghèo đói, khốn cùng chung quanh chúng ta. Đến bao giờ chúng ta mới có thể nói được như Chúa Giêsu: "Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh anh chị em vừa nghe". Mỗi người hãy tiếp nối công việc của Đức Giêsu chung quanh mình, bằng cách chia sẻ niềm vui và ánh sáng, nâng đỡ người đau khổ thể xác và tinh thần, tẩy trừ sợ hãi, giải thoát người dốt nát, xoa dịu các oán nhờn, an ủi kẻ cô đơn, biểu lộ sự hiện diện tích cực của Chúa bằng hoạt động của mình.
Nếu chúng ta trung thành thực thi nhiệm vụ của người môn đệ Chúa Kitô như đoạn Phúc âm hôm nay, thì lời tiên tri Isaia hôm nay cũng được ứng nghiệm, năm hồng ân của Chúa hôm nay đã được công bố và Nước Thiên Chúa đã hiện diện giữa chúng ta ngay từ bây giờ.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con là những môn đệ của Chúa biết bắt chước theo gương Chúa, tiếp nối công việc của Chúa đem tình thương, công lý đến cho người khác. Amen.
 

TN3-C91: GÓP PHẦN THI HÀNH SỨ VỤ THIÊN SAI 

Lc 1, 1 - 4; 4, 14 - 21
1. LỜI CHÚA: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan Tin mừng cho kẻ nghèo hèn" (Lc 4,18).
2. CÂU CHUYỆN: CHÚA NÓI VỚI CHÚNG TA BẰNG CÁCH NÀO?
 

Cách đây khá lâu, một vở kịch mang tựa đề là "Hoàng Gia đi săn mặt trời" kể lại cuộc chinh phục: TN3-C91:

Cách đây khá lâu, một vở kịch mang tựa đề là "Hoàng Gia đi săn mặt trời" kể lại cuộc chinh phục của người Tây ban nha đối với dân da đỏ ở Pê-ru. Trong đó có một màn kể lại câu chuyện về một người Tây ban nha tặng cho viên tù trưởng của bộ lạc da đỏ một cuốn Thánh Kinh và nói với viên tù trưởng rằng : "Đây là Lời Chúa. Ngài nói với chúng ta trong cuốn sách này". Viên tù trưởng cầm lấy cuốn Thánh Kinh, xem xét thật kỹ và sau đó áp cuốn sách vào một bên tai để nghe ngóng. Nhưng dù đã cố gắng hết sức mà cũng chẳng nghe thấy có tiếng nói nào từ cuốn sách phát ra. Cử chỉ ngây thơ của viên tù trưởng khiến những người Tây ban  nha có mặt cười ồ lên. Viên tù trưởng nghĩ mình bị mấy người ngoại quốc kia chơi khăm, liền nổi giận và ném mạnh cuốn Kinh Thánh xuống mặt bàn trước mặt !
3. SUY NIỆM:
1) Đức Giê-su công bố sứ vụ Thiên Sai: Sau một thời gian đi rao giảng Tin mừng và làm phép lạ khắp miền Ga-li-lê, danh tiếng Đức Giêsu đã lan truyền khắp nơi, Người trở về thăm quê hương Na-da-rét. Vào ngày sa-bat, Người đến hội đường cầu nguyện theo thông lệ, viên trưởng hội đường đưa cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở trúng ngay đọan nói về sứ vụ của Đấng Thiên Sai như sau: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan tin mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa" (Lc 4,18-19). Sau đó gấp sách lại, Người ngồi xuống và tuyên bố: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe" (Lc 4,18-19).
2) Hội Thánh tiếp tục sứ vụ Thiên Sai: Ngày nay sứ vụ của Đức Giê-su được Hội Thánh tiếp tục thực hiện. Đức Giê-su đã đổ Thần Khí cho các Tông đồ để các ông đi công bố Năm hồng ân của Thiên Chúa, loan Tin mừng cho mọi người, giải phóng con người khỏi các hậu quả của tội lỗi là bệnh tật, đau khổ và sự chết: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân dnh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28,19-20).
3) Các tín hữu thi hành sứ vụ bằng việc tông đồ: "Ơn gọi Kitô hữu tự bản chất cũng là ơn gọi làm tông đồ". Mọi hoạt động của Nhiệm Thể nhằm "làm cho Nước Đức Ki-tô rộng mở trên khắp hoàn cầu" đều được gọi là "việc tông đồ"» (GLCG, 863); Là ki-tô hữu, là cánh tay nối dài của Đức Giê-su, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi cộng tác với Chúa để làm bùng lên ngọn lửa yêu thương mà Đức Giê-su đã đem xuống trần gian, bằng việc thực thi giới luật yêu thương ngay trong gia đình rồi đến khu xóm, giáo xứ và ra ngòai xã hội. Đó cũng là con đường nên thánh, là chìa khoá để mở cửa thiên đàng cho chúng ta trước tòa phán xét sau này.
4) Làm tông đồ là sống đời chứng nhân cho Chúa: Đức Gio-an Phao-lô II đã nói: "Người thời nay thích nghe những chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có nghe những thầy dạy thì đó là vì những thầy dạy này là những chứng nhân". Thực vậy, lời giảng thường khó thuyết phục cho bằng gương sáng như người ta thường nói: "Trăm nghe không bằng một thấy". Lời giảng mà thiếu gương sáng sẽ vô ích và có khi còn phản tác dụng: làm cho người ta thù ghét đạo Chúa hơn. Các tín hữu cần thực hành theo lời khuyên trong lễ phong chức như sau: "Con hãy tin điều con đọc, dạy điều con tin và thi hành điều con dạy". Cần áp dụng lời Chúa khi suy nghĩ, ứng xử giữa đời thương. Cần sống hiệp nhật yêu thương noi gương các tín hữu thời Hội Thánh sơ khai đã được sách Công Vụ ghi lại như sau: "Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn sống hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng...Tất cả đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được tòan dân thương mến. Và Chúa cho cộng đòan mỗi ngày có thêm những người được cứu độ" (Cv 2,42-47).
4. THẢO LUẬN: Một ông chủ nhà kia muốn cho vợ con học sống Lời Chúa nên đã làm như sau: Ông găắn một tấm bảng trên bức tường trong phòng ăn. Mỗi tuần ông viết lên bảng một câu Lời Chúa chủ đề và một vài quyết tâm thực hành. Trước mỗi bữa ăn và trong giờ kinh tối gia đình, các thành viên sẽ cầu nguyện tự phát dựa theo câu Lời Chúa và những việc làm đề nghị. Vậy theo bạn, cách làm của ông gia trưởng trên có tác dụng thực sự hay không? Bạn quyết định sẽ làm gì để gia đình bạn trở thành một gia đình sống chứng nhân của Chúa?
5. NGUYỆN CẦU:
- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin cho chúng con nhận ra Thánh Thần Chúa vẫn đang ngự giữa thế giới và trong lòng mọi người. Thế giới hôm nay tuy còn nhiều tội lỗi, nhưng vẫn chan hòa ánh sáng tin yêu nơi các gia đình tín hữu, trong các xóm đạo, nơi các cộng đoàn quyết tâm học sống Lời Chúa. Ngày nay người ta đã biết ngồi lại với nhau để giải quyết các tranh chấp và tìm kiếm hòa bình; Các tổ chức quốc tế đều hợp tác chống lại sự kỳ thị chủng tộc, mầu da, tôn giáo, phái tính, bệnh tật; Các cơ quan đoàn thể hợp tác để chống tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác... Xin cho các tín hữu chúng con cũng biết hợp tác để góp phần làm cho ngôi nhà chung của nhân lọai là trái đất ngày một tốt đẹp hơn.
- LẠY CHÚA. Xin cho chúng con cũng được đầy Thánh Thần để sẵn sàng đi bước trước đến với tha nhân : nở nụ cười thân thiện với một người chưa quen, dấn thân phục vụ dân nghèo ở những vùng sâu vùng xa... Xin cho mọi người khắp nơi không còn đau khổ, nước mắt và thù hận, nhưng chỉ còn tình thương và biết quan tâm phục vụ cho nhau.
X. Hiệp cùng Mẹ Maria         
Đ. Xin Chúa nhậm lời chúng con.

LM ĐAN VINH    www.hiephoithanhmau.com

 

TN3-C92: MỞ ĐẦU SỨ VỤ CỦA CHÚA GIÊSU

Lc 1, 1 - 4; 4, 14 – 21
 

Thánh Luca tường thuật Tin Mừng của Ngài là để loan báo sứ điệp của Chúa, thông báo Lời Chúa: TN3-C92

Thánh Luca tường thuật Tin Mừng của Ngài là để loan báo sứ điệp của Chúa, thông báo Lời Chúa. Bởi vì, thánh Luca không phải là sử gia để ghi chép cuộc đời của Chúa Giêsu, nhưng Ngài đã nghe những người mục kích những việc Chúa làm, những Lời Chúa nói để tường thuật lại sứ điệp cốt yếu của Chúa Giêsu. Do đó, trong đoạn Tin Mừng hôm nay, thánh Luca đã trình bầy hai phần và phần nào cũng là phần mở đầu cả. Phần thứ nhất trích lời mở đầu của Tin Mừng thánh Luca và phần thứ hai là lời mở đầu sứ vụ của Ngài trong Hội Đường làng quê Nagiarét.

Bài đọc nhất tư tế Ê-dơ-ra đem sách Luật ra trước mặt cộng đồng, gồm đàn ông đàn bà, và tất cả các trẻ em đã tới tuổi khôn...Ông đọc từ sáng sớm tới trưa, và toàn dân lắng tai nghe sách Luật. Đoạn sách này cho chúng ta hiểu rõ đáp ca: " Lạy Chúa, những lời Ngài phán dạy. Là thần khí và là sự sống của chúng con ". Do đó, thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi tín hữu Corintô 12, 12-30, có viết: " Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người thứ nhất là làm tông đồ, thứ hai là làm ngôn sứ, thứ ba là làm thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được tài quản trị, được nói những thứ tiếng lạ...". Rõ ràng, tất cả phải được chọn và được sai đi để nói Lời Chúa và công bố sứ điệp tình thương của Ngài như lời tung hô Tin Mừng viết: " Ha-lê-lui-a.Ha-lê-lui-a. Chúa đã sai tôi đi.Đem Tin mừng cho người nghèo khó.Công bố lệnh ân xá cho những kẻ bị giam cầm.Ha-lê-lui-a ". Thánh Luca không làm công việc của một nhà viết sử. Ngài chỉ muốn trình bầy và công bố Lời Chúa, và kể lại những việc Chúa đã làm. Ngài muốn dạy Giáo lý hơn là viết cuộc đời của Chúa theo kiểu sử gia. Nên, Ngài đã để sự kiện Chúa Giêsu giảng Lời Chúa, cắt nghĩa Lời Chúa tại Hội Đường Nagiarét ngay đầu Tin mừng của Ngài.

Ở đây, thánh Luca đã nhấn mạnh sự kiện Chúa Giêsu giảng Lời Chúa ngay tại Hội Đường quê hương của Ngài ngày sabát, là để cho thấy trước tiên Chúa giảng dạy cho dân Do Thái vì thánh Luca là dân ngoại mới trở lại đạo và rồi qua bước ngoặt lịch sử thông điệp của Chúa Giêsu dựa trên lời ngôn sứ Isaia: " Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo Tin Mừng cho kẻ nghẻo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, tuyên cáo lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, loan tin cho người mù biết sẽ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa ", sẽ được công bố cho cả dân ngoại.

Thực tế,lời công bố của Chúa qua lời tiên tri Isaia đã thực hiện nơi chính Ngài.Lời ngôn sứ ấy dù đã được loan báo cách đó rất lâu nhưng nó đang được ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu ngay tại nơi Chúa sinh trưởng. Lời này cho thấy truyền thống không hề bị ngắt đoạn nơi Chúa.

Chúa Giêsu đã tóm tắt sứ điệp tình thương của Ngài: người nghèo được nghe giảng Tin Mừng, Chúa giải phóng người bị áp bức và công bố năm hồng ân. Những người Do Thái trong Hội Đường lúc ấy, năm ấy, giờ ấy đã rất ngạc nhiên vì Chúa làm đảo lộn hoàn toàn trật tự có sẵn. Họ thẳng thừng chối từ Ngài. Họ không thể tin được những lời nói ấy lại ám chỉ về Ngài. Họ không chấp nhận nguồn gốc, lai lịch của Ngài. Ngài là con bác thợ mộc Giuse và con bà nội trợ Maria. Họ không thể chấp nhận Đấng Cứu Tinh, Đấng Thiên Sai lại đi loan báo sự giải phóng cho những kẻ bị đàn áp, những kẻ thấp cổ bé họng, những người cùng khổ. Họ không thể tin giờ này lại là giờ của hồng ân và rồi họ đâm ra căm ghét Ngài, tìm cách khử trừ Ngài.

Vâng, ngôn sứ Isaia trong quyển thứ ba có loan báo rằng, Tin Mừng là những người xa quê hương, xứ sở sẽ được trở về nơi cũ. Tin Mừng Chúa Giêsu công bố hôm nay là Tin Mừng cho người nghèo, Tin Mừng của tình yêu, của cứu độ bởi vì họ sẽ được Thiên Chúa yêu thương.Họ sẽ được Thiên Chúa giải phóng khỏi tội lỗi, khỏi những điều ràng buộc của sự dự nhờ tình yêu và thần khí của Chúa.

Chúa loan báo Tin Mừng, công bố năm hồng ân để người người được chan hòa ân sủng, người áp bức, kẻ tù đầy được cứu thoát và rồi mọi người sẽ nhận được ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa yêu thương chúng con bằng một tình yêu cao vời khôn ví. Xin cho chúng luôn sống hiệp nhất yêu thương nhau để tất cả chúng con được nên một như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

TN3-C93:  ĐỨC TIN HOÀN HẢO.

Lc 1, 1 - 4; 4, 14 – 21
 

Trong những lời cuối cùng để kết thúc Tin Mừng thứ tư, tác giả Gioan Tông Đồ nói đến mục đích : TN3-C93

1/ Trong những lời cuối cùng để kết thúc Tin Mừng thứ tư, tác giả Gioan Tông Đồ nói đến mục đích của cuốn sách mà mình biên soạn, nghĩa là nhằm giúp độc giả được đón nhận đức tin vào Đức Giêsu Kitô, nhờ đó mà họ sẽ được sống. Vì thế Thánh Gioan đã kết luận :" Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ Danh Người"(Ga 20,31). Như vậy theo nét nhìn của Thánh Gioan thì: Đức Giêsu Kitô là đối tượng của đức tin chúng ta; Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, là nguồn ơn cứu độ của chúng ta. Nhưng thực tế thì như thế nào?.

2/ Đó là một sự thật phũ phàng.

Gọi là phũ phàng vì qua trang Tin Mừng chúng ta vừa nghe, phần nào đã tỏ được thái độ của người làng quê Nazarét, đồng hương với Chúa Giêsu khi Chúa về thăm họ: Đó là thái độ phẫn nộ hơn là vui vẻ; thái độ xua đuổi hơn là đón tiếp. Thái độ căm phẫn còn thể hiện khi những người trong Hội đường muốn lôi Chúa Giêsu lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực thẳm nhằm làm nguy hại đến tính mạng Ngài (xLc4,30).
Hơn nữa, gọi là phũ phàng, vì đọc xuyên suốt Tin Mừng chúng ta luôn bắt gặp một Đức Kitô luôn bị từ khước, cho dẫu Ngài là Con Thiên Chúa; rồi một hình ảnh của Đấng đến nói lời Chúa Cha, nhưng thường bị mọi người hững hờ, vì có lúc họ đã nói:" lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi"( Ga6,60). Rồi chúng ta còn gặp hình ảnh của Đấng bị thất bại trong các phép lạ Ngài làm. Mặc dù phép lạ Chúa làm là do quyền năng Thánh Thần, nhưng lại bị người ta coi đó là sức mạnh của ma quỷ. Vì họ nói những phép lạ Chúa làm"là dựa thế quỷ vương Bêendêbun mà trừ quỳ"( Lc 11,15). Rồi cuối cùng chúng ta lại thấy sự thật phũ phàng đã bao trùm lên Đức Giêsu Kitô là Vua dân Do thái, khi vị Vua này đã bị chính người đồng hương của mình tước đọat hết phẩm giá của một con người, khi họ nhục mạ, chế giễu, khạc nhổ, đánh đập, đóng đinh, và cuối cùng chính họ đã giết Ngài trên thập giá với một thân hình trơ trọi.

3/ Nguyên nhân nào đã làm ra những sự thật phũ phàng đáng tiếc như thế ?

Đó cũng là vì thái độ thiếu khiêm nhường. Vì thiếu khiêm nhường nên đa số người Do thái luôn khẳng định những giáo lý, những truyền thống mà họ đã lãnh nhận từ cha ông của họ đó là tuyệt đối. Vì tuyệt đối nên họ không cúi mình xuống để nhận lấy lời dạy mới mẻ của Chúa Giêsu như "ách êm ái và gánh nhẹ nhàng"(Mt 11,30). Vì là tuyệt đối nên họ không cúi mình xuống để đón nhận lời giải thích của Chúa Giêsu về niềm tin của họ. Mục đích là Chúa giúp họ có một đức tin hoàn hảo. Đức tin hoàn hảo là đức tin phải được xây dựng trên lời nói và cách sống của Chúa. Rất tiếc cho những người đồng hương của Chúa Giêsu. Vì Chúa đến với mục đích để giúp cho người nhà của mình có một đức tin tuyệt đối, nhưng họ không muốn. Ngược lại vì sự hiện diện của Chúa Giêsu giữa dân tộc Do thái, đã bị mọi người coi như một cái gai trong mắt mình, nên họ đã đi đến một hành động tuyệt đối mù quáng, đó là khử trừ Chúa ra khỏi đức tin của họ, ra khỏi cộng đoàn mà họ đang sống.

4/ Sự thật chối bỏ Chúa cách đây hơn hai ngàn năm vẫn chưa chấm dứt. Sự thật này vẫn lan tràn nơi đây nơi đó, ngay cả trong cộng đoàn chúng ta, và trong cách sống chúng ta. Vì thực tế để đạt đến đức tin hoàn hảo nơi Chúa đó không phải là chuyện đơn giản. Vì tin Chúa thì Chúa luôn mong muốn chúng ta phải sống như Chúa: chịu hiểu lầm, chịu nhục mạ vì Tin Mừng, chịu đau khổ, chịu hy sinh, chịu mất đi những của cải mình có để đổi lấy yêu thương theo Tin Mừng. Nói chung để có đức tin hoàn hảo là chúng ta phải đi trên con đường hẹp, con đường thập giá. Đây chính là hành động của đức tin.

Khi đối diện với con đường thập giá, chúng ta cảm thấy mình bị thiệt thòi, thấy cuộc sống bị gò bó, trước mắt đó là những gian truân thử thách. Vì thế chúng thường rút lui, không muốn đi theo con đường hẹp của Chúa nữa, không muốn hành động vì đức tin nữa. Từ nguyên nhân đó chúng ta rất dễ rơi vào thái độ lệch lạc đức tin và dễ bị đánh mất đức tin trong cuộc sống, cũng vì muốn sống ích kỷ, không muốn sống theo đòi hỏi của Tin Mừng.

5/ Theo thống kê ngày 31-1-2006 của Bộ Truyền Giảng Tin Mừng cho các dân tộc: Trong năm 2006 đã có 24 linh mục, tu sĩ và anh chị em giáo dân đã bỏ mình trên đường truyền giáo, khi phục vụ tại các miền truyền giáo hay giữa các thành phần kém may mắn trong xã hội. Sự hy sinh của những anh hùng truyền giáo này, đã làm cho dấu ấn đức tin không thể phai nhoà trong lịch sử Giáo Hội.

Vì muốn có một đức tin "hoàn tất", nên các ngài phải chấp nhận chịu ngược đãi. Vì muốn có một đức tin "hoàn chỉnh", nên các ngài phải chấp nhận bách hại. Vì muốn có một đức tin "hoàn hảo" nên các ngài rất vui lòng chấp nhận hy sinh. Đó là một đức tin tuyệt đối vô cùng.

6/ Hôm nay khi hướng ánh mắt nhìn lên ơn cứu độ, mỗi người chúng ta hãy can đảm chọn cho mình một con đường thật chắc chắn, thật bảo đảm để tiến bước về ơn cứu độ. Con đường chúng ta đi để được ơn cứu độ không gì khác hơn là con đường đức tin, con đường sống đức tin. Sống đức tin để chúng ta có một đức tin hoàn hảo. Nhưng để có một đức tin hoàn hảo đòi hỏi chúng ta phải gánh chịu những hy sinh thử thách, chính những hy sinh này sẽ dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời. Vì thánh Giacôbê đã quả quyết: "Phúc thay người biết kiên trì chịu đựng cơn thử thách, vì một khi đã được tôi luyện, họ sẽ lãnh phần thưởng là sự sống Chúa đã hứa ban cho những ai yêu mến Người"(Gc 1,12)

LM Nguyễn Chánh

 

TN3-C94: HÔM NAY THIÊN CHÚA ĐÃ VIẾNG THĂM DÂN NGÀI

Lc 1, 1 - 4; 4, 14 – 21
 

Mỗi buổi sáng chúng ta thường chào hỏi nhau. Chẳng phải vì xã giao mà thôi. Trong lòng chúng: TN3-C94

Mỗi buổi sáng chúng ta thường chào hỏi nhau. Chẳng phải vì xã giao mà thôi. Trong lòng chúng ta ước ao cho nhau một ngày tốt đẹp, tốt đẹp từ "khởi sự cho đến hoàn thành". Đây là một truyền thống đáng trân trọng, như thể khi thức dậy người ta bước vào một ngày mới, cuộc đời mới, mọi sự sẽ diễn biến như ý. Các nguyên thủ quốc gia khi đăng quang nhận chức đều đọc diễn văn hoạch định chương trình hành động cho nhiệm kỳ của ông, vì lợi ích quốc gia. Đối với mọi người, mỗi ngày đều là khởi sự mớii, vơí những quyết tâm, những chương trình cho ngày ấy. Nhung người tín hữu khởi sự mới là bí tích rửa tội. Bí tích này cống hiến chúng ta một quan điểm hoàn toàn khác về thế giới, chính mình, tha nhân và về Thiên Chúa, mà mỗi ngày chúng ta phải nhìn lại lối sống của mình như những kẻ liên kết với Chúa Giêsu. Chúng ta lãnh thánh tẩy để làm môn đệ Ngài. Nhưng bước đường theo Chúa còn dài. Mỗi ngày chúng ta phải học hỏi việc đón nhận Đức Kitô như Cứu Chúa của mình, gia đình và xã hội. V?y chúng ta phải phục vụ Ngài ra sao? Khi đồng hành với người khác trên con đường luôn thay đổi, nhiều khúc quặt của cuộc đời? Mỗi ngày đều mang tới những thách đố mà người môn đệ Chúa không thể khoe mình thực hiện cách hoàn hảo, như bài đọc 2 hôm nay chỉ rõ: "Giả như toàn thân chỉ là mắt thì lấy gì mà nghe? Giả như toàn thân chỉ là tai thì lấy gì mà ngửi?" Vậy theo quan điểm tôn giáo chúng ta chúc nhau "good morning" để hy vọng lần nữa nói "có" cho chức vụ làm môn đệ Chúa. Bí tích thanh tẩy không phải là kết thúc nhưng là khởi đầu của tiến trình theo Chúa.

Bài đọc 3, thánh Luca nói rằng ông viết Phúc Âm cho những tín hữu đang học đạo, nghĩa là chưa hoàn thành việc làm tôi Chúa. Bài đọc gồm 2 phần, trích từ chương 1 và 4. Phần thứ nhất dẫn nhập vào Phúc Âm và Công vụ các tông đồ. Ông nêu rõ lý do và nhân vật ông đề tặng: " Thưa ngài Thêôphilô đáng kính, có nhiều người đã ra công soạn bản tường thuật những sự kiện đã được thực hiện giữa chúng ta... Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài..." Ông Thêôphilô có lẽ là một vị vọng nhà nước mới trở lại công giáo. Nhưng ý nghĩa của tên ông là "Kẻ Thiên Chúa yêu mến". Như vậy mỗi chúng ta được phép nhận mình như người tiếp đón Phúc Âm Luca. Chúng ta đều là tín hữu mới trở lại đạo, cần học hành và tìm hiểu những hậu quả của đức tin. Mỗi ngày đối diện với khởi sự mới thì điều chi có ý nghĩa cho chúng ta để trở nên kẻ "Thiên Chúa yêu mến"? Được Ngài kêu gọi để phục vụ Đức Kitô? Chúng ta môi miệng nhiều quá rồi, xin hãy đi vào nội dung thực tế!

Thánh Luca giúp chúng ta thi hành điều ấy khi viết: " Mong ngài nhận ra rằng giáo huấn ngài học hỏi thật là vững chắc." Mục tiêu viết sách của thánh nhân là để chúng ta nhận ra giáo huấn mình học hỏi là vững chắc. Từ "nhận ra" trong tiếng Anh (realize) có nhiều nội dung. Thứ nhất, hiểu cách đầy đủ và chính xác. Đây là nội dung đầu tiên thánh Luca muốn giúp. Chúng ta quán triệt các sự thật Phúc Âm mà chúng ta lãnh nhận về Chúa Giêsu và qua Chúa Giêsu về Thượng Đế. Thứ 2, nhận ra còn có nghĩa làm trở nên thực tại hay thực tại hoá. Nội dung này đưa chúng ta đi xa hơn nhận biết, đến mức hành động. Những gì chúng ta hiểu biết thì thực hiện. Thứ 3, nhận ra còn có nghĩa thực tế (realistic) không mơ mộng hay lý thuyết suông. Liệu đức tin của chúng ta chỉ là một lý tưởng, một ý nghĩa tốt đẹp chứ không phải là "thực tế" mà chúng ta cần bày tỏ cho tha nhân, cho thế giới? Liệu lối sống của chúng ta thực tế, có thật chứ không phải viển vông? Lối sống "good to see, but not to live in" (coi đẹp đẽ lắm, nhưng không sống được), tức giả hình! Mong chúng ta hiểu được như vậy. Hy vọng rằng: mỗi ngày chúng ta cố gắng biến nếp sống mình thành thực tại Tin Mừng. Chúa Giêsu sẽ trợ giúp mỗi linh hồn quán triệt các hệ quả của Tin Mừng như Ngài tuyên bố trong hội đường Nazareth hôm nay. Tại đây Ngài hoạch định chương trình và sứ mệnh của mình, của những ai theo Ngài: loan báo Tin Mừng cho người nghèo khổ, chữa lành những tâm hồn tan vỡ...

Nhưng trước khi bước sang phần thứ hai của bài Phúc Âm, chúng ta nên nhìn lại bài đọc một để thấy rõ ý Lời Chúa Giêsu trong hội đường Nazareth hơn. Đoạn trích sách Nêhêmia kể lại việc canh tân giao ước giữa Đức Chúa và tuyển dân. Thời điểm là sau cuộc lưu đày Babylon, tuyển dân trở về quê hương xứ sở. Nhưng mọi sự đã bị tàn phá. Đền thờ không còn nữa, nhà cửa, ruộng vườn bỏ hoang. Bổn phận của tổng trấn Nehêmia là gây dựng lại xứ sở, đặc biệt thành Giêrusalem và đền thờ. Việc đó chẳng thể thực hiện được nếu không kèm theo việc canh tân tôn giáo. Tư tế Esdra lo nhiệm vụ này: " Hôm ấy, ông Esdra cũng là tư tế, đem sách luật ra trước mặt cộng đồng gồm đàn ông, đàn bà và tất cả các trẻ em đã tới tuổi khôn. Ông đứng ở quảng trường phía trước cửa Nước, đọc sách luật trước mặt đàn ông, đàn bà, và tất cả các trẻ em đã tới tuổi khôn. Ông đọc từ sáng sớm tới trưa và toàn dân lắng tai nghe sách luật". Cuộc canh tân tinh thần diễn ra như vậy, Esdra mở sách luật, chúc tụng Đức Chúa, toàn dân lắng tai nghe. Họ tỏ dấu sầu thương khóc lóc vì quá khứ phản bội nhưng cấp lãnh đạo can họ đừng làm vậy, vì hôm nay là lễ hội tiến dâng cho Đức Chúa, hãy về mở tiệc mừng, ăn thịt béo, uống rượu ngon... toàn dân đáp lại : Amen, Amen (đồng ý, đồng ý). Mối tương giao giữa Thiên Chúa và tuyển dân được nối lại. Giao ước được canh tân và tăng cường. Đức Chúa sẽ là Thiên Chúa của Israel và Israel là dân Ngài.

Đến đây chúng ta hiểu ra ngụ ý của Phúc Âm tuần trước về tiệc cưới Cana. Nó dẫn vào Tin Mừng Luca như dẫn vào bàn tiệc Lời Chúa: thịt béo, rượu ngon cho linh hồn mỗi người. Chúng ta cần múc lấy hiệu quả thiêng liêng của bàn tiệc này. Nếu không Tin Mừng Luca trở nên vô ích. Tư tế Esdra hôm nay khuyên tuyển dân làm như vậy để canh tân tinh thần, hầu xây dựng lại xứ sở và đền thánh. Suốt năm nay mỗi khi nghe đọc Luca, chúng ta ăn năn sám hối về quá khứ bất trung rồi nghe Esdra khuyên: " Anh em hãy ăn thịt béo, uống rượu ngon và gửi phần cho những người không sẵn của ăn. Vì hôm nay là ngày thánh hiến cho Đức Chúa chúng ta." Ước chi suốt năm tới, mỗi Chúa nhật nghe đọc Tin Mừng Luca là chúng ta dự tiệc ngon ngọt lời Chúa.

Thánh Luca kể lại việc Chúa trở về Galilêa "trong quyền năng Thánh Thần" : "Khi ấy, được quyền năng Thần Khí thúc đẩy Đức Giêsu trở về Galilêa, và tiếng tăm người đồn ra khắp vùng lân cận." Bài đọc nhấn mạnh đến vai trò của Thánh Linh trong sứ vụ Đức Kitô. Ngài thăm viếng những người cần được cứu chữa, canh tân, giống như tuyển dân thời Nehêmia và Esdra. Vị ngôn sứ Esdra nói với tuyển dân vừa trở về từ kiếp nô lệ: " Chúng ta đừng buồn bã vì niềm vui của Đức Chúa là thành luỹ bảo vệ anh em." Tương tự, Chúa Giêsu bắt đầu công khai giảng dạy cho những ai cần tăng cường giao ước với Thiên Chúa. Tuy nhiên, một khi việc canh tân khởi sự rồi, điều chi khiến tuyển dân và chúng ta lại bẻ gẫy giao ước? Và điều chi giúp chúng ta tránh được tình trạng đáng buồn ấy? Câu trả lời là Thánh Linh. Trước khi trở về Nazareth, Chúa Giêsu đã được tràn đầy Thần Khí ở bờ sông Giođan lúc chịu phép rửa Gioan. Cũng Thần Khí ấy dẫn Ngài vào sa mạc để chịu thử luyện và đã giúp Ngài thắng các cơn cám dỗ. Cũng Thánh Thần thúc đẩy Ngài hoàn thành sứ vụ. Và Luca còn tiếp tục kể ra ảnh hưởng mạnh mẽ của Thần Khí trong Công vụ tông đồ. Vậy Thánh Thần sẽ là sức mạnh của chúng ta trong việc trung thành với giao ước: "Chúa là sức mạnh tôi, tôi còn sợ chi ai? Chúa là thành trì che chở tôi, tôi khiếp gì ai nữa?" Có điều là chúng ta phải ngoan ngoãn để Thánh Thần dẫn dắt. Mê theo dục vọng, chịu sự lôi kéo của thế gian, chúng ta sẽ nhanh chóng rơi vào phản bội và đổ vỡ.

Trong hội đường, người ta đưa sách thánh cho Chúa Giêsu. Mở ra Ngài gặp ngay lời tiên tri Isaia: "Thánh Thần Chúa ngụ trên tôi, Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó..." Lời đó nói lên căn cước và sứ mệnh của Chúa. Phải chăng cũng là lời nói lên căn tính và sứ vụ của mỗi tín hữu, nhất là linh mục, tu sĩ? Tôi viết những dòng này trước khi tổng thống Hoa Kỳ, ông G.W.Bush đọc diễn văn trước khối đại đoàn kết quốc gia. Chúa Giêsu dùng hình ảnh của tiên tri Isaia để tiết lộ danh tánh và kế hoạch cho vương quốc của mình. Ngài cũng ám chỉ chúng ta đối với thế giới, nhất là trong tình hình hiện nay, đang cần đến bàn tay xây dựng của các tín hữu. Như Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI chỉ ra trong bài diễn văn đầu năm vừa qua. Xin lắng nghe và góp phần công sức của mình. Chẳng vậy, tiếng nói của Đức Thánh Cha vô ích mà thôi. Tôi hy vọng bài diễn văn của tổng thống hoa kỳ hoạch định chính sách đứng đắn cho quốc gia và thế giới. Tức đẩy xa chiến tranh, tẩy trừ nghèo khó, áp bức, bóc lột, bạo lực! Ông sẽ lèo lái chúng ta ra khỏi cá nhân chủ nghĩa đầy ích kỷ và đoàn kết toàn dân xây dựng hoà bình công lý. Đó là hy vọng sâu thẳm nhất của các công dân thiện tâm, dù là Cộng hoà, Dân chủ hay không đảng phái nào.

Thần khí đã ban quyền năng cho Đức Kitô để Ngài mặc xương thịt cho lời tiên báo của Isaia. Điều mà vị ngôn sứ đoan hứa cho dân tộc Dothái thì nay được ứng nghiệm nơi ông thợ mộc làng Nazareth, mà toàn thể nhân loại được hưởng nhờ. Thần khí ấy cũng ban khả năng và hướng dẫn chúng ta, khiến chúng ta thực tại hoá những điều Chúa Giêsu loan báo hôm nay: kẻ trần truồng được ăn mặc, kẻ đói khát được no nê, tù đày được thả, mù loà xem thấy, què đi được, điếc nghe được, bệnh tật được lành và nghèo khó được nghe Tin Mừng. Chúng ta không chỉ đơn giản chào hỏi nhau "good morning" mà còn làm cho cuộc sống có ý nghĩa.

Chúa Giêsu không nói về những chuyện xa xôi. Những chuyện xảy ra trong tương lai hay ở đời sau, nhưng ngay lúc này ở Nazareth. Thánh Luca nhiều lần nhắc đến từ "lúc này" khi nói về ứng nghiệm của tiên tri Isaia. Hôm nay Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài, ban cho họ được tự do... Sau cùng Chúa Giêsu trả sách cho người giúp việc rồi ngồi xuống giảng dạy một bài: " Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe." Nếu không có chi khác thì bài giảng của Chúa ngắn nhất mà những người rao giảng Phúc Âm từ xưa đến nay từng nói. Nhưng hiệu quả của nó sâu đậm vô bờ. Xin quý vị mở Phúc Âm đọc tiếp.

Tóm lại, bài Phúc Âm chúa nhật này cống hiến cho chúng ta sự hiện diện sung mãn của Thiên Chúa trong ngôn ngữ Đức Kitô. Ngài nói Chúa ban tự do cho chúng ta và điều ấy là sự thật, tự do thân xác, linh hồn và tinh thần. Chẳng thế lực nào áp bức chúng ta được nữa. Nhân loại được hưởng ân huệ đặc biệt của Thiên Chúa qua Đức Giêsu. Ánh sáng của Lời Chúa xua tan bóng đêm tội lỗi. Chúng ta tiếp tục được tự do. Nhưng còn nhiều linh hồn khác đang ngồi trong bóng tối sự dữ. Vậy điều chúng ta kinh nghiệm lúc này hãy chia sẻ với kẻ khác: Công bố năm hồng ân của Thiên Chúa. Amen.

Lm. Jude Siciliano, OP.

 

TN3-C95:  TÔI ĐI LOAN BÁO TIN MỪNG

Lc 1, 1 - 4; 4, 14 – 21
 

Bình thường chúng ta rất ngại ngùng khi phải loan báo tin buồn, vì không biết phải nói thế nào để : TN3-C95

Bình thường chúng ta rất ngại ngùng khi phải loan báo tin buồn, vì không biết phải nói thế nào để người nghe không buồn, không khổ, không đau! Còn tin vui thì ai ai cũng thích đi loan báo. Tin vui làm cho lòng người phấn khởi, cả người loan báo lẫn người được loan báo. Nhất là tin vui ấy phát sinh sức mạnh, tin tưởng và giúp con người thoát vòng nô lệ của ác thần. Lời của Đức Kitô là lời cứu độ, lời rất phấn khởi " Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một..." Lời biểu lộ tình yêu hay nói đúng hơn lời mà Thiên Chúa " tỏ tình" với con người. Thế tại sao nhân loại lại không muốn nghe? Và cũng ngại đi loan báo?

Thật ra Lời Cứu Độ luôn luôn đi kèm hành động, bắt con người phải thực hiện, bắt con người phải cố gắng, phải hi sinh... nên người ta sợ, người ta ngại khó và nhất là ngại bỏ mình. Nhưng là người Kitô hữu, là người đã được xức dầu trong ngày Thánh Tẩy, chúng ta đã được trao ban sứ vụ: " đi loan báo Tin Mừng", mà đối tượng được loan báo Tin Mừng là những người nghèo:

Nghèo tinh thần : Đó là những người đang khổ sở vì thiếu tình thương, thiếu được tin tưởng và họ đang bị tội lỗi giam cầm, đang bị dục tình, tiền bạc, danh vọng đè bẹp, áp bức...họ cần được thoát ra khỏi tù ngục ấy. Nghèo thể xác : Đó là những người khổ sở vì thiếu ăn, thiếu mặc, đói rách cùng cực. lại bệnh tật hiểm nghèo...họ mong được thoát khỏi cảnh khốn khổ ấy.

Con người ngày nay khắc khoải trong âu lo sầu muộn, người loan báo Tin Mừng được sai đến với những con người ấy, nhất là những con người đang ngụp lặn trong bóng tối của tội lỗi, thì ánh sáng Lời Chúa phải được chiếu soi tới vùng u tối đó. Đồng thời loan báo sự tự do của con cái Chúa cho những người đang bị nô lệ bởi tham sân si.. . Nếu chúng ta, những người được sai đi loan báo tin vui mà lại làm ngơ trước những người nghèo hèn, những người bị áp bức, những người cô thế cô thân, những người dốt nát...thì chúng ta chưa làm tròn sứ mệnh khi được xức dầu Thánh Tẩy.

Thiên Chúa đã sai Đức Giêsu đi, giờ đây Chúa Giêsu lại sai chúng ta đi " như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Chúa đã sai chúng ta đi loan báo Tin Mừng, nếu chúng ta không thi hành thì chúng ta không là Kitô hữu. Chúng ta phải đem Tin mừng đến cho người nghèo, ưu tiên cho người nghèo thực sự, nghèo vật chất. Từ nghèo vật chất đến nghèo văn hóa, nghèo nếp sống dẫn đến tệ nạn xã hội. Đối diện với họ chúng ta phải tiếp rước, giúp đỡ hoặc vận động để có người cộng tác giúp đỡ. Dạy cho họ nhận ra rằng: Cái nghèo vật chất được nên giống Chúa Giêsu xưa, nên đừng vì cái nghèo mà xa Chúa. Đến với người nghèo tinh thần, bị bạo hành, đau khổ thể xác vì bệnh tật, chúng ta phải đến an ủi, nâng đỡ, đem niềm vui đến cho họ, khích lệ họ vượt qua đau khổ. Đến với những người tội lỗi và có thể vì tội lỗi mà người đời rẻ khinh, xa tránh. Chúng ta đến với họ, vực họ dậy. Giúp họ tìm ra lối thoát, đưa họ trở lại với Chúa. Chúng ta cũng còn phải đem Tin Mừng đến cho những người chưa tin Chúa, có thể không bằng lời nói nhưng bằng gương sáng, bắng chính lối sống để lôi kéo họ.

Loan báo Tin Mừng là nhiệm vụ của chúng ta. Đó vừa là một đặc ân vừa là một trách nhiệm. Nhưng đừng sợ vì Chúa Thánh Thần sẽ giúp đỡ hoạt động cách nào tốt nhất, chỉ cần chúng ta dám lên đường. Chúa Thánh Thần khi xưa đã đồng hành với Đức Kitô thì cũng sẽ đồng hành với chúng ta. Chúng ta không thể tìm ơn cứu độ một mình vì chúng ta đang sống trong lòng Giáo hội, mà Giáo Hội là Hội Thánh phổ quát được Chúa Giêsu thiết lập và ban tràn đầy Thánh Thần để chúng ta loan báo Tin Mừng. Vì thế, chúng ta hãy hăng hái ra đi loan báo Tin Mừng cho mọi người chúng ta gặp gỡ.

Lạy Chúa, xưa Chúa đã đi rao giảng không biết mệt mỏi trên đất nước Palestine. Xin giúp chúng con cũng biết loan báo Tin Mừng cho mọi người bằng thái độ tích cực cộng tác với Chúa Thánh Linh, cải thiện bản thân, xây dựng con người yêu thương, dám chấp nhận bị thua thiệt vì là anh em con Một Cha. Xin cho chúng con nhận được niềm vui khi ban phát tình thương.

Sr Mai An Linh OP
 

TN3-C96: THÁNH THẦN CHÚA NGỰ TRÊN TÔI

Lc 1, 1 - 4; 4, 14 - 21
"Thánh Thần Chúa ngự trên tôi... sai tôi đi rao giảng Tin Mừng"

 

Thông thường chúng ta nghĩ rằng Chúa Giêsu chỉ đi giảng dạy trên khắp bờ cõi xứ Giuđêa, mà: TN3-C96

Thông thường chúng ta nghĩ rằng Chúa Giêsu chỉ đi giảng dạy trên khắp bờ cõi xứ Giuđêa, mà quên rằng Ngài vẫn hành đạo như mọi người Do Thái thời đó, và theo thói quen, thì ngày nghỉ lễ, Ngài vào Hội Đường. Hôm đó Ngài được mời đọc sách, vừa mở ra Ngài gặp đoạn chép rằng:" Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó..." Sứ mệnh của Chúa Giêsu trong cuộc đời trần thế là: rao giảng Tin Mừng để làm chứng cho Tình Yêu Thiên Chúa đối với nhân loại. Là những người tin theo Ngài, sứ mệnh của chúng ta, qua lời nói và hành động, cần phải phản ảnh Tình thương Thiên Chúa đến biến đổi tất cả, như Chúa Giêsu đã đến để thuyên chữa những tâm hồn sám hối, loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được trông thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức...

Khi đề cập đến Tình Yêu, hẳn nhiên chúng ta không thể nào không biết đến nhiều phong trào hiện đại với chủ đề "yêu cuồng sống vội" hoặc những trào lưu tư tưởng chủ trương tự do luyến ái... do đó những từ ngữ "yêu-thương" được quá thông dụng đến độ không còn mang ý nghĩa đặc thù, và đôi khi giá trị của những chữ đó cũng bị giảm sút.

Và lúc còn nhỏ, khi được dạy bảo phải thương yêu nhau, qua những câu ca dao: anh em như thể tay chân... thương người như thể thương thân... bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy không cùng giống nhưng chung một giàn v.v... chúng ta nghĩ rằng thương yêu là ngoan ngoãn, vâng lời, không làm buồn lòng người trong gia đình hay bạn bè. Nhưng khi lớn khôn, ta lại hiểu thêm tình yêu không chỉ giới hạn một cách tiêu cực ở mức không làm hại kẻ khác, và nếu chúng ta là chứng tá của Đức Kitô thì mức độ Yêu Thương cần phải vượt xa hơn nữa. Yêu Thương là cổ động bênh vực lẽ phải chống lại những gì làm nguy hại đến đời sống con người, là đứng về phía bảo vệ quyền lợi những người bị bất công áp bức hoặc bị ruồng bỏ, là dấn thân đấu tranh cho công ích để mọi người đều có phần trong miếng cơm manh áo, được hưởng hạnh phúc trong công lý và bình đẳng. Đó chính là điều mà Chúa Giêsu nắm rõ từ lúc bắt đầu đi rao giảng Tin Mừng.

Cựu Ước, đối với Đức Kitô, là Lời của Thiên Chúa tác động trên "Đấng được xức dầu" sẽ phải đến (còn được gọi là: "Đấng thiên sai"), và gợi ra hai đường hướng có vẻ khác nhau: trong nhiều trường hợp, đấng thiên sai được coi như một tướng lãnh hùng mạnh dẫn đưa dân Ít-diên làm bá chủ thế giới và áp đặt lề luật Thiên Chúa ở khắp nơi. Nhiều nhà chú giải còn thêm rằng vị thiên sai đó sẽ xét đoán, lên án và tiêu diệt những ai không chấp nhận lề luật này. Ngược lại trong những đoạn khác, vị thiên sai được xem như là người của Thiên Chúa đến để liên kết Dân của Ngài trong một giao ước tình yêu và tha thứ, vì Thiên Chúa là Đấng ban tặng tình thương và ân sủng, ban phát một cách nhưng không, Ngài không áp đặt và hoàn toàn tôn trọng sự tự do của những ai ngỏ lời cùng Ngài. Vậy thì tràn đầy Thánh Thần, "đấng được xức dầu" (Đấng Thiên Sai) sẽ không đè bẹp ngọn lau bị dập nát, Ngài không dập tắt ngọn đèn lu mờ, nhưng sẽ nâng đỡ những người nghèo khổ, goá bụa và mồ côi, Ngài sẽ mang ánh sáng, sự giải thoát và hoà bình đến cho những ai tiếp nhận Ngài.

"Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai các ngươi vừa nghe". Qua đoạn cuối Phúc Âm của Chúa Nhật này, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã quyết định, Ngài tuyên bố: Ngài là Đấng được xức dầu và được sai đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, chứ không phải là một tướng lãnh hùng mạnh. Và cách thức loan báo Tình Yêu Thiên Chúa không chỉ là vấn đề ngoan ngoãn lịch thiệp, nhưng là những hành động dũng cảm ưu đãi những kẻ bất hạnh, tội lỗi, bị đàn áp dưới đủ mọi hình thức. Như thế mới thật là Tin Mừng.

Riêng chúng ta, thế nào là thực hiện Tin Mừng cho những người khác? Cách thức nào chúng ta nối tiếp công việc rao giảng của Đức Kitô? Nếu viện lý không va chạm với ai để an tâm và an phận trong cuộc sống thì rất dễ, như vậy thì đời sống của chúng ta có phải là Tin Mừng cho trần gian này hay không? Sống đạo và hành đạo không chỉ là tham dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật hoặc các Lễ trọng trong năm, mà còn phải thực thi Yêu-Thương bằng hành động. Điển hình nhất (ví dụ): sẵn sàng đóng góp vào quỹ cứu trợ đồng bào bị nạn lụt, tùy theo khả năng... quyết tâm không làm tổn thương đến thanh danh của người khác, nhất là sống trong một Cộng Đoàn... gia nhập các Hội từ thiện hoặc các đoàn thể chống kỳ thị, chống vi phạm nhân quyền v.v... tuỳ mỗi người tự tìm những phương thức thực hiện Tình Yêu tha nhân, để cuộc sống của chúng ta trở nên ánh sáng và niềm vui cho kẻ khác.

Ước gì câu "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó" được áp dụng cho cuộc sống hôm nay và từng ngày của chúng ta.

Lm. Paul-Maurice Lâm-Thái Sơn

 

TN3-C97: Thánh Thần và sứ vụ của Chúa Giê-su

CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 1:1-4; 4:14-21)
 

Ngày Thứ Hai vừa qua, nước Mỹ long trọng tổ chức ngày lễ nhậm chức của tổng thống.  Trước khi: TN3-C97

          Ngày Thứ Hai vừa qua, nước Mỹ long trọng tổ chức ngày lễ nhậm chức của tổng thống.  Trước khi khai mạc, người ta có một lời cầu nguyện với lời lẽ hoa mỹ nhưng hầu như thiếu vắng chiều kích thiêng liêng.  Nói khác đi, đó chưa phải là lời cầu nguyện, nhất là cầu xin ơn soi sáng và dẫn dắt của Thánh Thần Thiên Chúa.  Câu truyện Tin Mừng do thánh Lu-ca thuật lại hôm nay cũng có thể gọi là “bài diễn văn khai mạc sứ vụ của Chúa Giê-su”.  Một điều hết sức thú vị, đây là bài diễn văn khai mạc ngắn gọn nhất thế giới từ xưa tới nay và cho tới ngày tận thế, chỉ có một câu duy nhất:  “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”.
          Không phải như một nguyên thủ quốc gia, nhưng với tính cách là “trưởng tử”, con đầu lòng của nhân loại, Chúa Giê-su bắt đầu thi hành sứ vụ được Thiên Chúa Cha trao ban.  Đây không phải là sáng kiến của một mình Chúa Giê-su, nhưng là “kế hoạch yêu thương” do Chúa Cha phác họa và được Chúa Con thực hiện dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. 
          Bài Tin Mừng hôm nay đề cao vai trò của Chúa Thánh Thần trong sứ vụ của Chúa Giê-su.  Nhất cử nhất động, Chúa Giê-su đều làm mọi việc dưới ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần, làm theo tinh thần của Thiên Chúa chứ không phải theo tinh thần của loài người.  Khi chịu phép rửa của ông Gio-an, Chúa Giê-su đã được “Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng như chim bồ câu” (Lu-ca 3:22).  Tiếp đến, “Chúa Giê-su được đầy Thánh Thần… và được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu ma quỷ cám dỗ” (4:1,2).  Sau đó, “được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Chúa Giê-su trở về Ga-li-lê” (4:14).
          Tuy nhiên tất cả những điều thánh sử Lu-ca nói về Thánh Thần được kể ở trên vẫn chưa trực tiếp đề cập tới sứ vụ của Chúa Giê-su.  Chúng ta phải đợi đến khi Chúa Giê-su trở về Na-da-rét và trong hội đường, Người đích thân công bố chương trình hoạt động của Thánh Thần trong sứ vụ Người thi hành.  Đoạn trích sách ngôn sứ I-sai-a 61:1-2 nói lên tất cả chương trình hoạt động của Thiên Chúa, một chương trình nhắm thẳng vào những nhu cầu khẩn thiết nhất và thực tiễn nhất của nhân loại:  loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, kẻ bị giam cầm được tha, người mù được sáng mắt, người bị áp bức được trả lại tự do.  Không phải là kế hoạch năm hoặc bảy năm, mà là gồm tất cả bề dày của lịch sử nhân loại.  Điều khiến người ta phấn khởi nhất không phải là những lời hứa hẹn, mà là một thực tại đã được bắt đầu ngay bây giờ và tại đây:  “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”.  Có lẽ sau khi đã kết thúc bài “diễn văn” ngắn gọn này, Chúa Giê-su mời gọi dân chúng Na-da-rét hãy chiêm ngưỡng những thành quả kế hoạch của Thiên Chúa.  Những lời của Tin Mừng khiến cho họ phải tán thành vì chúng đã được Người nói lên “với uy quyền”.  Những việc Người làm như phép lạ hoặc biểu lộ tình thương xót của Thiên Chúa đã làm cho dân chúng thán phục.  Tất cả những kết quả ấy chỉ có thể thực hiện được nhờ sức mạnh và sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.  Thánh Thần đã giúp Chúa Giê-su luôn lấy tinh thần của Thiên Chúa làm đầu, đặt lợi ích của Nước Thiên Chúa trên mọi lợi ích cá nhân và mục đích duy nhất là để Chúa Cha được tôn vinh (Gio-an 17:4).
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Khi viết sách Tin Mừng thuật lại câu chuyện Chúa Giê-su và sứ mệnh của Người, thánh sử Lu-ca trước hết đã đặc biệt nhắc đến một độc giả của ngài tên là Thê-ô-phi-lô.  Có thể đây chỉ là nhân vật tượng trưng, có nghĩa là kẻ “yêu mến Thiên Chúa” và mục đích cuốn sách là “để kính tặng ngài, mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài học hỏi thật là vững chắc” (1:3).
          Có khi nào chúng ta hiểu độc giả tượng trưng ấy là chính chúng ta không?  Nói khác đi, có phải thánh Lu-ca viết riêng tặng chúng ta để giúp chúng ta suy niệm giáo huấn của Tin Mừng và mỗi ngày một tăng thêm lòng tin vào Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa và Đấng Cứu Độ của chúng ta không?  Một lần nữa, đây cũng là lời tha thiết Năm Đức tin kêu gọi chúng ta hãy hết sức cố gắng học hỏi và yêu mến Chúa Giê-su, nhất là hiểu biết vai trò và sự can thiệp của Chúa Thánh Thần đối với sứ vụ của Chúa Giê-su.                                      
 Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

TN3-C98: GÓP PHẦN THI HÀNH SỨ VỤ THIÊN SAI 

CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN C
Nkm 8,2-4a.5-6.8-10 ; 1 Cr 12,12-30 ; Lc 1,1-4; 4,14-21
I. HỌC LỜI CHÚA
1.TIN MỪNG: Lc 1,1-4; 4,14-21
(1) Thưa ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính, có nhiều người đã ra công biên soạn tường thuật những điều đã được thực hiện giữa chúng ta. (2) Họ viết theo những điều mà các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ Lời Chúa truyền lại cho chúng ta. (3) Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài. (4) Mong ngài sẽ nhận thức được rằng: giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc. (4,14) Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giê-su trở về miền Galilê, và tiếng tăm Người đồn ra khắp vùng lân cận. (15) Người giảng dạy trong các hội đường của họ, và được mọi người tôn vinh. (16) Rồi Đức Giê-su đến Nadarét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày Sabát, và đứng lên đọc Sách thánh. (17) Họ trao cho Người cuốn sách Ngôn sứ I-sai-a. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng: (18) “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan Tin mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, (19) công bố một năm hồng ân của Chúa. (20) Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. (21) Người bắt đầu nói với họ: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”.
2.Ý CHÍNH: ĐỨC GIÊ-SU CÔNG BỐ VỀ NĂM HỒNG ÂN CỦA CHÚA
 

Tin Mừng hôm nay gồm có bài tựa mở đầu sách Tin Mừng thứ ba, nêu ra lý do khiến Lu-ca viết Tin: TN3-C98:

Tin Mừng hôm nay gồm có bài tựa mở đầu sách Tin Mừng thứ ba, nêu ra lý do khiến Lu-ca viết Tin Mừng dựa vào truyền thống và có tính khoa học, và việc Đức Giê-su khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng với một chương trình hành động cụ thể, đã được ngôn sứ I-sai-a tuyên sấm trước đó khá lâu.
3.CHÚ THÍCH:
-C 1-2: +Ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính: Thê-ô-phi-lô là một người giàu có và đáng kính thời bấy giờ. Ong này đã được tác giả Lu-ca gửi tặng cuốn Tin Mừng để nhờ ông làm người bảo trợ cho việc sao chép ra nhiều cuốn sách trên các tấm da thuộc, hầu có thể phổ biến đi nhiều nơi.
-C 3-4: +Cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự: Vì Lu-ca không thuộc Nhóm 12 Tông đồ theo Đức Giê-su ngay từ đầu, nên ông phải tra cứu đầu mối căn nguyên về cuộc đời và Tin Mừng của Người rồi viết lại. +Tuần tự viết ra: Ông viết Tin mừng theo thứ tự văn chương và các đề tài giảng huấn, chứ không theo đúng thứ tự thời gian trước sau.
-C 14-15: +Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy: Đức Giê-su được Thần Khí dẫn vào hoang địa để ăn chay và chịu ma quỷ thử thách. Giờ đây Thần Khí lại thúc đẩy Người trở về Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng. +Người giảng dạy trong các hội đường của họ: Hội đường là nơi người Do thái đến hội họp, cầu nguyện và nghe giảng Kinh thánh vào các ngày Sa-bát. Ở mỗi làng khắp xứ Pa-lét-tin cũng như tại những nơi có người Do thái cư ngụ đều có hội đường.
-C 17b-19: +Người mở ra, gặp đoạn chép rằng: Chữ gặp ở đây cho thấy Đức Giê-su đã không chọn hay sửa soạn trước, nhưng mở ra đã gặp ngay một đoạn sách phù hợp cho thấy có sự can thiệp của Thiên Chúa,. +Thần Khí Chúa ngự trên tôi...: Đoạn văn được trích dẫn trong sách I-sai-a (x. Is 61,1-2) nói về việc xức dầu tấn phong của một ngôn sứ (x. 1 V 19,16). Nhưng Đức Giê-su đã ứng dụng vào sứ mệnh của Người : Người mới được lãnh nhận Thần Khí khi chịu phép rửa của Gio-an, và coi đó là nguồn gốc phát sinh các hoạt động cứu độ của Người. +Công bố một năm hồng ân của Chúa: Năm Hồng Ân hay năm Toàn Xá của Thiên Chúa. Theo Luật Mô-sê, cứ năm mươi năm lại cử hành một lần (x Lv 25,10-13). Năm Toàn Xá là hình thức mở rộng của Năm Sa-bát được cử hành cứ bảy năm một lần (Đnl 15: 1-11). Năm này tiêu biểu lý tưởng công bình xã hội một cách thiết thực cụ thể. Đây là tin mừng giải thoát cho những người nghèo, những kẻ cô thân cố thế bị chèn ép áp bức, dưới bất kỳ hình thức nào, đến nỗi phải mất nhà cửa đất đai, trở nên nghèo khổ và đem thân làm nô lệ cho những kẻ giàu có quyền thế. Đó cũng là năm mời gọi hết mọi người hãy ăn năn sám hối, vì đã góp phần vào sự bất công hay đã nhắm mắt làm ngơ trước những đau khổ của đồng loại.
-C 20-21: +Hôm nay: Chữ này xuất hiện nhiều lần trong Tin Mừng Lu-ca, để nhấn mạnh tính cách hiện tại của ơn cứu độ. Chẳng hạn: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em” (Lc 2,11) ; “Con là Con của Cha. Ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con” (Lc 3,22) ; “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4,21) ; “Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông” (Lc 19,5b) ; “Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (Lc 19,9) ; “Hôm nay gà chưa kịp gáy, thì ba lần anh đã chối không biết Thầy” (Lc 22,34.61) ; “Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng” (Lc 23,43).
4.CÂU HỎI: 1) Lu-ca đã viết lời tựa sách Tin Mừng gửi cho ông Thê-ô-phi-lô nhằm mục đích gì? 2) Lu-ca không thuộc Nhóm 12 Tông đồ. Vậy ông đã làm gì để có thể viết về cuộc đời và lời rao giảng của Đức Giê-su cách chính xác được? 3) Hội đường Do thái là gì và dùng để làm gì? 4) Câu trích trong sách ngôn sứ I-sai-a được Đức Giê-su đọc tại hội đường Na-da-rét đã ứng nghiệm vào sứ mệnh cứu thế của Người như thế nào? 5) Bạn hãy kể ra 5 câu Kinh thánh có chữ “hôm nay” trong Tin mừng Lu-ca.
II SỐNG LỜI CHÚA
1.LỜI CHÚA: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan Tin mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,18).
2.CÂU CHUYỆN: CHÚA NÓI VỚI CHÚNG TA BẰNG CÁCH NÀO?
Cách đây khá lâu, một vở kịch mang tựa đề là “Hoàng Gia đi săn mặt trời” kể lại cuộc chinh phục của người Tây ban nha đối với dân da đỏ ở Pê-ru. Trong đó có một màn kể lại câu chuyện về một người Tây ban nha tặng cho viên tù trưởng của bộ lạc da đỏ một cuốn Thánh Kinh và nói với viên tù trưởng rằng : “Đây là Lời Chúa. Ngài nói với chúng ta trong cuốn sách này”. Viên tù trưởng cầm lấy cuốn Thánh Kinh, xem xét thật kỹ và sau đó áp cuốn sách vào một bên tai để nghe ngóng. Nhưng dù đã cố gắng hết sức mà cũng chẳng nghe thấy có tiếng nói nào từ cuốn sách phát ra. Cử chỉ ngây thơ của viên tù trưởng khiến những người Tây ban  nha có mặt cười ồ lên. Viên tù trưởng nghĩ mình bị mấy người ngoại quốc kia chơi khăm, liền nổi giận và ném mạnh cuốn Kinh Thánh xuống mặt bàn trước mặt !
3.SUY NIỆM:
1) Đức Giê-su công bố sứ vụ Thiên Sai: Sau một thời gian đi rao giảng Tin mừng và làm phép lạ khắp miền Ga-li-lê, danh tiếng Đức Giêsu đã lan truyền khắp nơi, Người trở về thăm quê hương Na-da-rét. Vào ngày sa-bat, Người đến hội đường cầu nguyện theo thông lệ, viên trưởng hội đường đưa cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở trúng ngay đọan nói về sứ vụ của Đấng Thiên Sai như sau: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan tin mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Sau đó gấp sách lại, Người ngồi xuống và tuyên bố: ”Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4,18-19).
2) Hội Thánh tiếp tục sứ vụ Thiên Sai: Ngày nay sứ vụ của Đức Giê-su được Hội Thánh tiếp tục thực hiện. Đức Giê-su đã đổ Thần Khí cho các Tông đồ để các ông đi công bố Năm hồng ân của Thiên Chúa, loan Tin mừng cho mọi người, giải phóng con người khỏi các hậu quả của tội lỗi là bệnh tật, đau khổ và sự chết: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân dnh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20).
3) Các tín hữu thi hành sứ vụ bằng việc tông đồ: “Ơn gọi Kitô hữu tự bản chất cũng là ơn gọi làm tông đồ”. Mọi hoạt động của Nhiệm Thể nhằm “làm cho Nước Đức Ki-tô rộng mở trên khắp hoàn cầu” đều được gọi là “việc tông đồ”» (GLCG, 863); Là ki-tô hữu, là cánh tay nối dài của Đức Giê-su, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi cộng tác với Chúa để làm bùng lên ngọn lửa yêu thương mà Đức Giê-su đã đem xuống trần gian, bằng việc thực thi giới luật yêu thương ngay trong gia đình rồi đến khu xóm, giáo xứ và ra ngòai xã hội. Đó cũng là con đường nên thánh, là chìa khoá để mở cửa thiên đàng cho chúng ta trước tòa phán xét sau này.
4) Làm tông đồ là sống đời chứng nhân cho Chúa: Đức Gio-an Phao-lô II đã nói: “Người thời nay thích nghe những chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có nghe những thầy dạy thì đó lànhững thầy dạy này là những chứng nhân”. Thực vậy, lời giảng thường khó thuyết phục cho bằng gương sáng như người ta thường nói: ”Trăm nghe không bằng một thấy”. Lời giảng mà thiếu gương sáng sẽ vô ích và có khi còn phản tác dụng: làm cho người ta thù ghét đạo Chúa hơn. Các tín hữu cần thực hành theo lời khuyên trong lễ phong chức như sau: “Con hãy tin điều con đọc, dạy điều con tin và thi hành điều con dạy”. Cần áp dụng lời Chúa khi suy nghĩ, ứng xử giữa đời thương. Cần sống hiệp nhật yêu thương noi gương các tín hữu thời Hội Thánh sơ khai đã được sách Công Vụ ghi lại như sau: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn sống hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng…Tất cả đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được tòan dân thương mến. Và Chúa cho cộng đòan mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2,42-47).
4.THẢO LUẬN: Một ông chủ nhà kia muốn cho vợ con học sống Lời Chúa nên đã làm như sau: Ông găắn một tấm bảng trên bức tường trong phòng ăn. Mỗi tuần ông viết lên bảng một câu Lời Chúa chủ đề và một vài quyết tâm thực hành. Trước mỗi bữa ăn và trong giờ kinh tối gia đình, các thành viên sẽ cầu nguyện tự phát dựa theo câu Lời Chúa và những việc làm đề nghị. Vậy theo bạn, cách làm của ông gia trưởng trên có tác dụng thực sự hay không? Bạn quyết định sẽ làm gì để gia đình bạn trở thành một gia đình sống chứng nhân của Chúa?
5.NGUYỆN CẦU:
-LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin cho chúng con nhận ra Thánh Thần Chúa vẫn đang ngự giữa thế giới và trong lòng mọi người. Thế giới hôm nay tuy còn nhiều tội lỗi, nhưng vẫn chan hòa ánh sáng tin yêu nơi các gia đình tín hữu, trong các xóm đạo, nơi các cộng đoàn quyết tâm học sống Lời Chúa. Ngày nay người ta đã biết ngồi lại với nhau để giải quyết các tranh chấp và tìm kiếm hòa bình; Các tổ chức quốc tế đều hợp tác chống lại sự kỳ thị chủng tộc, mầu da, tôn giáo, phái tính, bệnh tật; Các cơ quan đoàn thể hợp tác để chống tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác... Xin cho các tín hữu chúng con cũng biết hợp tác để góp phần làm cho ngôi nhà chung của nhân lọai là trái đất ngày một tốt đẹp hơn.
-LẠY CHÚA. Xin cho chúng con cũng được đầy Thánh Thần để sẵn sàng đi bước trước đến với tha nhân : nở nụ cười thân thiện với một người chưa quen, dấn thân phục vụ dân nghèo ở những vùng sâu vùng xa... Xin cho mọi người khắp nơi không còn đau khổ, nước mắt và thù hận, nhưng chỉ còn tình thương và biết quan tâm phục vụ cho nhau.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. -Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH
www.hiephoithanhmau.com

 

TN3-C99: ĐƯỜNG NẺO CHÚA 3

Sau phép lạ ở tiệc cưới Cana, tiếng tăm Ngài đồn ra khắp xóm. Ngài vào hội đường giảng dạy. Ngài: TN3-C99

Sau phép lạ ở tiệc cưới Cana, tiếng tăm Ngài đồn ra khắp xóm. Ngài vào hội đường giảng dạy. Ngài đọc Thánh Kinh, gặp thấy đoạn sách : “Thần Chúa ngự trên tôi, sai tôi đi rao giảng cho người nghèo khó, ban bố thứ tha cho mọi kẻ giam cầm, người mù được chữa lành, người áp bức được tự do và công bố năm hồng ân của Thiên Chúa”.(Lc.04:14-21).
Thánh Luca nhắc lại lời của ngôn sứ Isaia như nhắc đến đường lối hoạt động của Chúa, khác xa với đường lối hoạt động của chúng ta. Chúng ta chỉ đánh giá qua biểu tượng bên ngoài, chỉ dựa trên thế quyền  (lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng), dựa trên danh giá (có thế mới bế nổi người), dựa trên giấu sang (Miệng nhà giầu có gang cò thép, nén bạc đâm toạc tờ giấy), và dựa trên kiến thức (có văn hóa cao). Còn đường lối của Chúa là đem Tin Mừng cho người nghèo khó, khổ sở, đói khát…
Một Đavid bé con Chúa làm cho thắng nổi Goliat đồ sộ to lớn. Maria hè mọn Chúa chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Các môn đệ quê mùa dốt nát Chúa cho làm môn đệ giảng giải sự chân thật. Đường lối của người đời thì kiêu căng, kiêu ngạo, lên mặt, còn đường lối của Chúa thì khiêm hèn, đơn sơ, chất phác, đem hạnh phúc cho người khiêm tốn. Thánh Grêgoriô nói :
- Kiêu căng là dấu rõ ràng nhất của kẻ đã bị loại trừ, còn kẻ hèn yếu thì đặt niềm tin, cậy và phó thác vào Chúa, dễ đón nhận tin mừng và được Chúa chúc phúc. Cũng thế, kẻ kiêu căng chất đầy tâm hồn những tự phụ, tự mãn, tự cao thì đâu có chỗ cho Chúa nữa.
Từ đó chúng ta suy ra : Người nào coi mình chỉ là số không, thì có đủ chỗ cho Đấng vô cùng, còn kẻ nào coi mình là vô cùng thì trước mặt Chúa họ chỉ là hư vô mà thôi.
Xưa có ông Trần Công, là người tốt, gặp ai cũng giúp, gặp việc gì cũng làm. Một hôm ông đến làng Hòa Đa, nơi đây đang bị hạn hán, đồng ruộng nứt nẻ, sông ngòi khô quêo không một giọt nước. Đi cả ngày, thấy khô cổ, ông vào làng kiếm nước, nhà nào cũng bỏ đi nơi khác. Ông trèo lên một ngọn núi cao, thấy xa xa một toán người cầm bình nước, ông gọi xin. Người kia nói :
- Làng chúng tôi bị hạn hán 6 tháng trời, dân làng bỏ đo nơi khác hết trọi Giá có người nào lên thỉnh thần mưa, nhắc khéo hộ chút thì tốt quá. Trần Công nói ngy :
- Tôi đây, chứ ai nữa. Rồi ông xấn xả đi liền, đi cả ngày chưa tới. Ông trèo lên đồi trọc, thấy bà già khòm lưng bị nhốt trong nhà kêu cứu :   
- Cứu tôi với. Ông chạy đến thả tự do cho bà. Bà hỏi :
- Ông đi đâu đấy ? Ông trả lời :
- Tôi đi tìm thần mưa giúp làng Hòa Đa, họ bị hạn hán lâu ngày rồi, xin thần mưa thương họ chút.
- Nhà Thần mưa còn xa lắm. Để tôi biếu ông cái này, nó có phép thần thông thu ngắn đoạn đường. Chỉ cần nói mình muốn đi đâu là đủ. Trần Công vui vẻ nhận tặng vật, cảm ơn, rồi bảo gậy :
- Hỡi gậy thần, hãy đưa ta tới xứ thần mưa. Tự nhiên ông thấy hoa mắt, cây nối, núi non chạy như bay về phía sau. Phút chốc ông thấy mình đến xứ Thần mư. Ông đến gọi cổng thì một người trương phi xuất hiện tự xưng là Thần mưa. Trần Công nói :
- Xin Thần mưa giáng phúc cho làng Hòa Đa, lâu quá rồi không có một giọt nước. Thần Mưa chỉ cho ông một con tuấn nã và một bình nước, rồi sai ông cỡi tuấn mã đi rảni nước xuống các làng ông muốn. Bỗng chốc, nước vẩy nước mưa lai láng cả mặt đất. Đến làng Hòa Đa Trần Công dội cả bình nước xuống, khiến thành bão lụt, trôi chảy cả nhà cữa, đất đai. Hôm sau ông từ giã ra về, cái gậy thần lại cuốn ông như lần trước. Đến làng Hòa Đa, nhà cửa, đất đai trôi sạch, khiến ông tiếc xót chép miệng than “Làm ơn nên oán”.
Đường lối của con người nghĩ là tốt, là hay nhưng đường lối Chúa thì khác. Chúa đã muốn phạt ai thì dù có tìm mọi cách để đem lại bình an cho họ, cũng sẽ bị Chúa trừng trị cách khác. Chi bằng lặng yên theo đàng nẻo Chúa thì hơn.
 Thu Băng, CMC

 

TN3-C100: ĐI NGHE CHÚA GIẢNG

Thỉnh thoảng bạn và tôi nghe nói linh mục này, linh mục kia giảng hay và hấp dẫn. Nhiều linh mục: TN3-C100

Thỉnh thoảng bạn và tôi nghe nói linh mục này, linh mục kia giảng hay và hấp dẫn. Nhiều linh mục ngoài tài hùng biện, còn có cả lòng đạo đức nữa nên đã thu hút và đánh động lương tâm nhiều người nghe. Ít nhiều trường hợp khác, chúng ta cũng được nghe một số vị giám mục giảng. Nhưng nghe Chúa Giêsu giảng thì  tôi tin chắc cả bạn và tôi chưa bao giờ được nghe, bởi lẽ rất giản dị là ngài đã về trời và không còn giảng nữa.  Và vì thế tôi đã tìm đọc trong Thánh Kinh, nhất là Tân Ước là những sách viết về cuộc đời Chúa Giêsu hy vọng có thể tìm xem trong thời gian rao giảng Tin Mừng, ngài giảng giải như thế nào?
Theo Tin Mừng kể lại thì Chúa Giêsu giảng giải “như đấng có quyền”. Phần lớn những buổi thuyết giảng của ngài đều nhắm vào thành phần thính giả nghèo, bình dân, đơn sơ, và khiêm hạ. Do đó, ngài thường dùng những thí dụ rất điển hình như người đi gieo giống, như nhóm thợ gặt, như cây nho, cây vả, như con c hiên, con bò, và cả con lợn để đưa vào những thí dụ của ngài. Tuy vậy, có nhiều lần những bài giảng của ngài mang ý nghĩa thâm sâu, khó hiểu, đến nỗi đối với nhiều người còn là một cái gì khó nghe và chói tai nữa. Thí dụ, khi nói về phép Thánh Thể, ngài đã dùng hình ảnh bánh và gọi bánh ấy là thân xác ngài. Người nghe phần lớn không hiểu gì: “Lời gì chói tai thế, ai nghe cho được” (Gio 6: 60). Tóm lại, Chúa Giêsu giảng đôi lúc cũng bị phê bình, chỉ trích và ngờ vực như Tin Mừng đã ghi: “Đây không phải là Giêsu con ông Giuse sao? Chúng ta lại không biết cha mẹ ông đó sao? Làm sao ông ấy có thể nói là mình từ trời xuống?” (Gio 6:42). Và nhiều người trong đó có cả những môn đệ ngài đã bỏ ngài.
Trở lại bài giảng đầu tiên mà ngài giảng tại hội trường của làng ngài, mặc dù lúc ấy theo thánh ký ghi nhận ngài đã được nổi danh tại nhiều nơi, nhưng khi về đến quê hương, bài giảng đầu tiên của ngài đã gặp phải sự chống đối, và ngờ vực. Ngài đã gặp thất bại! Người nghe đã tỏ ra ơ hờ, và mặc dù có những người khen, nhưng không thiếu kẻ hoài nghi: “Đây không phải là con ông Giuse sao?” (Luc 4: 22), họ đã hỏi nhau một cách mỉa mai như thế.
Vậy ngài đã giảng những gì? Thánh sử Luca ghi lại rằng ngài vào hội trường Nagiaréth, và công bố lời của Thiên Chúa: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi. Ngài đã xức dầu và sai tôi đi mang tin vui cho những kẻ nghèo khó, công bố sự giải thoát, chữa lành người mù và giải cứu kẻ tù tội, công bố năm hồng ân của Thiên Chúa” (Luc 18-19). Nhưng có lẽ điều làm dân làng ngài khó chịu và không chấp nhận bài giảng, đó là câu ngài tuyên bố sau khi đã gấp sách lại: “Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai các người vừa nghe” (Luc 4:21).
Chúa giảng như vậy thì bị phản đối là cái chắc. Chúa không tâm lý tí nào cả. Phải chi ngài chỉ ông này, ông kia trong hội trường mà nói là những lời ấy trở nên ứng nghiệm nơi họ, nơi dân làng của ngài. Họ là những người quan trọng, và dân làng ngài cũng toàn là những người quan trọng. Giảng như vậy, ngài sẽ được dân chúng vỗ tay và hoan hô. Hoặc trước khi giảng, ngài kể một câu truyện vui, hay làm một phép lạ, như vậy sẽ thu húc và chinh phục người nghe biết mấy. Nhưng vì ngài lại nhận lấy tất cả những vinh dự ấy về cho mình, nên họ ghen và khó chịu: “Đây không phải là con ông Giuse sao?” (Luc 4:22). Và có lẽ sự bực tức, lãnh đạm và tẩy chay hôm đó lên cao lắm nên chính ngài đã phải tự mỉa mai mình: “Tiên tri không được rạng danh nơi quê hương mình” (Luc 4:24).
“Đây không phải là con ông Giuse sao?”  Nghe có vẻ ghen tỵ, có vẻ kiêu căng và tự phụ. Con ông Giuse thì sao? Không lẽ hễ là con ông Giuse thì không làm gì khác hơn nghề thợ mộc sao? Và đó là thái độ chúng ta cần phải có mỗi khi nghe Chúa nói với chúng ta trong Thánh Kinh, trong sách vở, và ngay cả trong khi nghe các linh mục giảng. Chúng ta đừng tìm kiếm lợi khẩu, thông thái, và sức thu hút hấp dẫn nơi các nhà giảng thuyết, vì thực tế không có mấy nhà giảng thuyết có hội đủ những tiêu chuẩn ấy. Và chúng ta cũng đừng hy vọng nhiều về những nhà giảng thuyết vừa có tài lại vừa có đức. Con số này có nhưng rất hiếm.
Nhưng chúng ta cần đến với Chúa Giêsu bằng cặp mắt của các mục đồng, của Ba Vua, của Simêon, Anna, và của Gioan Tiền Hô: “Đây là chiên thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Gio 1:29). Chúng ta cũng phải dùng cặp mắt đức tin để nhìn ra ngài và những ân huệ của ngài như vậy. Nhìn nhận và khám phá ra điều mà ngài muốn chúng ta thực hành trong đời sống, vì đó là ý nghĩa đích thực của việc chúng ta đọc, nghe, suy niệm và sống lời Chúa. Sự giải phóng, giải thoát con người khỏi vòng nô lệ tội khiên chẳng đến từ Thiên Chúa sao? Ngài đã chẳng chữa lành tâm hồn tan nát vì tội lỗi của chúng ta đó sao? Lời ngài giảng là lời sự sống như Phêrô đã có lần tuyên xưng. Lời cần bình tâm suy nghĩ, và cầu nguyện. Nó không phải là những lời nghe cho vui tai hoặc vỗ về tự ái, kiêu căng của con người. Đó là lối Chúa giảng.
Nhưng còn các linh mục của Chúa thì sao? Một hôm trong câu truyện trao đổi với nhau liên quan đến giáo lý, và đời sống đạo, người con rể của bạn tôi bất chợt kể câu truyện về việc đi xưng tội.
- Con mới đi xưng tôi tuần trước?
- Thế sao?
- Thì xưng tội chuẩn bị mừng Giáng Sinh đó.

Rồi anh nói tiếp:
- Con vào tòa định xưng tội khác, nào ngờ gặp ngay ông cha mà con không ưa, nên xưng tội không ưa và ác cảm với ông cha đó luôn. Con xưng là con phạm tội ghét cha ấy. Nghe vậy cha ấy hỏi lại là làm sao mà ghét cha. Và con liền xưng luôn tội của cha ấy cho cha ấy nghe. Con nói: “Con có cảm tưởng rằng cha không bao giờ dọn bài giảng, nên mỗi lần con tham dự thánh lễ mà xui gặp cha thì con chia trí và khó chịu hầu như suốt bài giảng và trong cả thánh lễ nữa. Tại sao cha không dọn bài giảng mà chỉ lên tòa giảng nói lông bông, chọc cười thiên hạ vậy? Con một tuần mới có một ngày tới thánh đường nghe lời Chúa, tìm hiểu lời ngài mà con nghe như vậy thì thử hỏi con có nên khó chịu và ghét cái người nên cớ cho con khó chịu không?  Con không biết là có bao nhiêu người cũng cùng một tâm trạng như con.”
- Thế rồi sao?
- Cha cũng cho việc đền tội 3 kinh Kính Mừng.

Hỡi các linh mục của Chúa, nếu chưa một lần đọc cuốn Phẩm Chức Linh Mục của Thánh Anphonsô, Giám Mục Tiến Sỹ Hội Thánh và Sáng Lập Dòng Chúa Cứu Thế, xin hãy tìm đọc một lần để hiểu sự cao trọng và linh thiêng của mình khi đứng trước bàn thờ dâng lễ. Hiểu được sự quan trọng của mình khi đại diện chính Thiên Chúa cử hành thánh lễ. Nhưng thánh lễ nhiệm mầu được gói gọn trong 2 phần: Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể. Vậy làm sao chúng ta có thể dâng thánh lễ cách đầy đủ mà thiếu phần công bố lời Chúa và chia sẻ lời Chúa. Và làm sao chúng ta có thể chia sẻ lời Chúa khi không suy nghĩ, nghiền ngẫm và chuẩn bị kỹ lưỡng?
Lậy Chúa con chưa xưng cái tội mà người bạn trẻ trên đã xưng bao giờ. Nhưng nếu đó là tội, thì hôm nay con xin xưng với Chúa rằng con đã phạm tội này rất nhiều lần và trong nhiều trường hợp khác nhau. Bởi vì con đã thực sự chia lòng, chia trí và khó chịu vì nhiều bài giảng không đầu, không đuôi. Những bài giảng làm trò cười cho thiên hạ, và những bài giảng mà không bao giờ có Amen.  Và con cũng tự ra việc đền tội cho con là sau khi kết thúc bài suy niệm này, con sẽ đọc 1 Kinh Lậy Cha, 3 Kinh Kính Mừng để đền tội con và đền thay những linh mục không có giờ dọn bài giảng. Amen.
T.s. Trần Quang Huy Khanh
 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây