Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 30 TN-C Bài 51-100 Tôn mình lên sẽ bị

Thứ tư - 23/10/2019 06:17
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 30 TN-C Bài 51-100 Tôn mình lên sẽ bị hạ xuống
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 30 TN-C Bài 51-100 Tôn mình lên sẽ bị hạ xuống
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 30 TN-C Bài 51-100 Tôn mình lên sẽ bị hạ xuống
TN30-C51: BẮT CHỨƠC CẢ HAI 3
TN30-C52: Đồi cao sẽ không giữ được nước, 4
TN30-C53: Xin chúa biến đổi lòng con. 5
TN30-C54: TIẾNG NÓI CỦA NGƯỜI NGHÈO.. 10
TN30-C55: Xin thương xót con- ĐTGM. Ngô quang Kiệt 14
TN30-C56: Hài lòng về mình hay về Thiên Chúa?. 16
TN30-C57: Tôi không giống tên kia! - Trần Mỹ Duyệt 17
TN30-C58: CẦU NGUYỆN VÀ SỐNG ĐẠO.. 20
TN30-C59: TẨU HOẢ NHẬP MA.. 24
TN30-C60: TÔI CÚI MẶT, LỜI NGUYỆN CẦU RẤT KHẼ.. 27
TN30-C61: CÚI MÌNH XUỐNG.. 30
TN30-C62: Cầu nguyện. 33
TN30-C63: Lời cầu nguyện khiêm nhường. 35
TN30-C64: Lời cầu nguyện đích thực. 37
TN30-C65: Tự hào. 40
TN30-C66: Tội lỗi chống lại sự có tội - McCarthy. 42
TN30-C67: Biệt phái và thu thuế. 44
TN30-C68: SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXX - 2001. 45
TN30-C69: CHÚA NHẬT THỨ 30 THƯỜNG NIÊN.. 47
TN30-C70: NGƯỜI KHIÊM NHƯỢNG CẦU NGUYỆN.. 52
TN30-C71: TỰ TRỌNG.. 54
TN30-C72: Chúa Nhật 30 Quanh Năm.. 57
TN30-C73: CHÚA NHẬT 30 QUANH NĂM, C.. 60
TN30-C74: CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN.. 64
TN30-C75: CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN.. 68
TN30-C76: ĐÂU LÀ CẦU NGUYỆN CHÂN THẬT?. 70
TN30-C77: CHÂN THÀNH.. 71
TN30-C78: KHIÊM NHƯỜNG DƯỚI BÀN TAY CHÚA.. 73
TN30-C79: TÍN THÁC VÀO LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA.. 75
TN30-C80: KHIÊM NHƯỜNG KHI CẦU NGUYỆN.. 76
TN30-C81: THÁI ĐỘ KHI CẦU NGUYỆN.. 78
TN30-C82: CẦU NGUYỆN KHIÊM NHƯỜNG.. 81
TN30-C83: Giải Mã. 83
TN30-C84: Khiêm Nhượng, Biết Mình. 87
TN30-C85: MÃNH LỰC LỜI NGUYỆN.. 89
TN30-C86: Tự công chính hóa chính mình một thái độ sai lầm.. 92
TN30-C87: Mũi nhọn xung kích – ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống. 95
TN30-C88: Người thu thuế ra về được khỏi tội 99
TN30-C89: Người Pharisêu và người thu thuế – Vincent Travers. 102
TN30-C90: Nâng mình lên sẽ bị hạ xuống. 105
TN30-C91: Con mắt – Lm. Vũ Đình Tường. 107
TN30-C92: Chỉ công đức không mua được thiên đàng. 110
TN30-C93: Ai là người công chính?. 112
TN30-C94: Khiêm tốn. 116
TN30-C95: Người tín hữu. 118
TN30-C96: Hai con người – Hai thái độ. 119
TN30-C97: Lòng khiêm nhường sám hối 122
TN30-C98: Đối với Đức Giêsu, ai mới thực là công chính?. 124
TN30-C99: Người Pharisêu và người thu thuế. 127
TN30-C100: Khiêm tốn trong cầu nguyện. 129

 

TN30-C51: BẮT CHỨƠC CẢ HAI

Một vị linh mục giảng về người biệt phái tự phụ và người thu thuế khiêm nhu. Mọi người đều cảm: TN30-C51

Một vị linh mục giảng về người biệt phái tự phụ và người thu thuế khiêm nhu. Mọi người đều cảm kích, nhất là Joe và Brown, hai anh quyết định không giống những người biệt phái hay bất kỳ ai khoe khoang: “Lạy Chúa, con cám ơn Chúa vì con không giống như người kia”. Ngay sau thánh lễ, Joe đến bắt tay cha sở và nói với Ngài: “Thưa cha, cha giảng hay quá”. Thế rồi anh thêm: “Cám ơn Chúa, con không giống người biệt phái kia”.
Joe đã không ý thức rằng: anh vừa mắc cái tội phô trương, cái tội tự coi mình hơn một người nào khác.
Đó chẳng phải là thái độ của nhiều người chúng ta khi nghe dụ ngôn này đó sao ? Chúng ta tự khen mình rằng chúng ta không phô trương như người biệc phái: chúng ta đánh ngực thú nhận rằng: chúng ta là kẻ có tội xin ơn tha thứ. Thái độ đó lại chính là cái lỗi đức Kitô cảnh cáo.
Đức Kitô không biết tội người biệt phái về những gì họ đã làm, nhưng về thái độ phô trương của họ về những việc làm ấy. Đức Kitô cũng chẳng nói rằng người biệt phái không làm được việc gì tốt.
Trong ngôn ngữ Chúa Giêsu dùng có nghĩa là: “Người này (người thu thuế) trở về nhà được công chính hóa hơn người kia (người biệt phái).
Chúng ta có thể học hỏi cả hai người, người biệt phái và người thu thuế. Người biệt phái không lừa đảo, không gian lận, không ngoại tình. Bạn có giữ giới răn của Chúa như vậy không ? Họ ăn chay tuần lễ hai lần. Bạn đã làm gì để đền tội ? Họ dâng cúng một phần mười những gì họ có. Bạn dâng cúng được bao nhiêu so với họ ? Bạn học hỏi người biệt phái những việc tốt họ đã làm. Nhiều người công giáo noi theo họ, chúng ta giữ mọi giới răn của Chúa và kỷ luật của Giáo hội. Nhưng chúng ta khinh khi những người không giữ. Đừng bắt chước người biệt phái ở điểm sau.
Hầu hết chúng ta cảm thấy dễ chịu với người thu thuế, anh là tội nhân, chúng ta cũng vậy, anh thống hối ăn năn vì tội lỗi của mình, chúng ta cũng thế, anh xin Chúa đoái thương tha thứ cho anh, chúng ta cũng thế.
Đặc biệt chúng ta hãy làm điều này trong thánh lễ. Ngay từ đầu lễ, chuẩn bị dâng thánh lễ chúng ta đã nhớ đến tội lỗi của mình. Chúng ta thú tội cùng Thiên Chúa, cùng Mẹ Maria và tất cả Thánh. Chúng ta xin ơn tha thứ. Chúng ta kêu cầu: xin Chúa thương xót chúng con. Trong kinh Tin kính, chúng ta tuyên xưng niềm tin vào ơn tha tội. Cùng với linh mục chúng ta dâng Máu Thánh Chúa đã đổ ra để “ban ơn tha tội”, “Xin thương xót tất cả chúng con. Ngay trước khi rước lễ chúng ta thưa với Chúa: “Lay Chúa, con chẳng đáng”. Ước chi lời cầu nguyện của người thu thuế là lời cầu nguyện của mỗi người chúng ta: “Lạy Chúa xin thương xót con là kẻ có tội”.
Hãy bắt chước người biệt phái trong những việc tốt họ làm, nhưng đừng bắt chớc họ khoe khoang. Hãy cố gắng làm điều đẹp lòng Chúa, nhưng đừng phô trương. Hãy bắt chước người thu thuế trong tinh thần thống hối ăn năn. Hãy bắt chước người thu thuế khi bạn tham dự thánh lễ, vì thánh lễ đem lại ơn tha tội.
Xin Chúa chúc lành  bạn. Amen.

 

TN30-C52: Đồi cao sẽ không giữ được nước,

dưới chỗ trũng sâu sẽ có nhiều nước
VietCatholic News (21/10/2004 )
CN XXX TN, 23.10.2004, Lc 18, 9-14

Đồi cao sẽ không giữ được nước, dưới chỗ trũng sâu sẽ có nhiều nước

Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống. Còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18, 14)

 

Chính lời Chúa Giêsu dạy bảo những kẻ luôn hợm mình, tự cao tự đại, cho mình rất là quan trọng và: TN30-C52

Chính lời Chúa Giêsu dạy bảo những kẻ luôn hợm mình, tự cao tự đại, cho mình rất là quan trọng và coi khinh kẻ khác. Trong trường hợp cụ thể này, Chúa Giêsu muốn nói thẳng với những người Pha-ri-sêu luôn nghĩ rằng họ đạo đức hơn bao nhiêu người khác chung quanh. Vì trước Thiên Chúa quyền năng cao cả muôn trùng, con người thật chẳng là gì, nếu không có tình yêu thương của Thiên Chúa tác sinh và bảo tồn, thì làm sao người ta có thể tự mình sinh ra làm người ở trần gian? Ai ai cũng bắt đầu kiếp sống con người một cách rất mong manh yếu đuối của một trẻ sơ sinh đỏ hỏn, không thể tự chăm sóc cho chính mình được, bởi lúc bấy giờ vẫn chưa có khả năng nhận biết mình là ai, nhất nhất mọi chuyện đều hoàn toàn lệ thuộc vào sự nâng niu bảo bọc của cha mẹ. Đấy cũng chính là hình ảnh mong manh yếu ớt của con người trước mặt Thiên Chúa, cho dù người đời có khôn lớn và phát triển được nhiều khả năng tiềm ẩn nơi mình, người ta vẫn không thể sống mà không cần đến tình thương của Ngài. Và mức độ tình thương của Chúa dành cho mỗi người hẳn là bằng nhau, bởi vì nó được tuôn tràn ra từ một trái tim dạt dào yêu thương và chí nhân chí từ của Thiên Chúa duy nhất. Và tình thương của Ngài ban cho con người là hoàn toàn vô điều kiện, nghĩa là Ngài ban ơn là vì Ngài thương, chứ không phải Ngài ban vì người đó tốt hay không ban vì người đó xấu.

Nhưng hiệu quả ơn thánh của Thiên Chúa tác động nơi mỗi con người lại khác nhau, nó tùy vào tấm lòng chân thành của mỗi tâm hồn biết đáp trả lại tình thương của Chúa hay không? Nếu người ta không nhìn nhận những ơn huệ tốt đẹp đó là từ Thiên Chúa, mà lại cho đó là do chính tự sức mình tạo nên được, dẫn đến việc không tin vào Thiên Chúa, rồi bất hợp tác với Ngài; làm sao ơn thánh của Chúa có thể hoạt động được? Trái lại, ai biết nhìn nhận sự hèn kém yếu đuối của mình trước mặt Thiên Chúa, tin rằng mọi điều tốt đẹp ta đang có đều xuất phát từ tình yêu vô hạn của Thiên Chúa, rồi luôn thiết tha gắn bó để hợp tác với công trình lâu dài của Ngài, thì chắc chắn ơn thánh Ngài sẽ hoạt động mạnh mẽ và sinh hoa kết quả gấp bội.

Ơn thánh Chúa tuôn đổ trên loài người không phân biệt chẳng khác chi mưa sa từ trời cao; những tự ai nâng mình lên là những chỗ cao, những đồi non không thể giữ được nước. Ngược lại, những ai biết rõ thân phận hèn yếu của mình, ví như những chỗ trũng sâu, càng sâu càng chứa đựng được nhiều nước. Đó cũng là kết quả tất nhiên do thái độ riêng của mỗi cá nhân dành cho Thiên Chúa, khiến Ngài phải tôn người tự hạ và hạ kẻ tự tôn.

Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ

 

TN30-C53: Xin chúa biến đổi lòng con

(Lc 18, 9-14)
 

Tuần này chúng ta tiếp tục đề tài cầu nguyện, nhưng nhìn từ khía cạnh khác. Tuần trước, kiên trì nài nỉ: TN30-C53

  • Tuần này chúng ta tiếp tục đề tài cầu nguyện, nhưng nhìn từ khía cạnh khác. Tuần trước, kiên trì nài nỉ. Tuần này thái độ, trong dụ ngôn người thu thuế và người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện. Nhìn chung, câu chuyện thật buồn và mang tính cảnh giác cao, không nên tự mãn kể công, nhưng phải chân thật thú nhận tội lỗi tự đáy tâm can.
Thưa quý vị,

Người biệt phái trong Tin Mừng hôm nay dự tính bắt bí Đức Chúa Trời. Trong lời cầu nguyện, ông ta khoe với Ngài là ông ta vượt xa người Do thái khác về lòng đạo đức. Theo luật lệ thì chỉ buộc ăn chay trong ngày đền tội (the Day of Atonement). Nhưng ông ăn chay một tuần hai ngày. Cũng theo luật lệ thì người Do Thái chỉ buộc nộp thuế thập phân trên súc vật và thực phẩm quý báu. Đằng này, ông nộp trên mọi thu nhập của gia đình. Như thế không những ông nộp thuế để duy trì đền thờ, các hoạt động tôn giáo mà còn góp phần vào công việc từ thiện, bác ái. Ai có thể chê bai ông được? Cứ theo tiêu chuẩn ngày nay thì chúng ta phải xếp ông vào bậc ân nhân trong giáo xứ, đáng nêu gương cho tín hữu khác noi theo. Nhưng khi ra khỏi đền thờ lại bị Chúa Giêsu đánh giá không được nên “công chính” như người thu thuế. Vì ông đã đi sai con đường Ngài muốn. Tức con đường chân thật mà mọi người phải có trước mặt Đức Chúa Trời. Ông đã tự lừa dối khi cầu nguyện. Ông đã nâng mình lên làm gương mẫu cho người khác, trong khi trước mặt Giavê mọi người chỉ là tội nhân, phải khiêm nhường ăn năn thống hối.

Câu chuyện thật đáng sợ, làm các tín hữu năng đi nhà thờ phải nổi da gà, sởn tóc gáy, lạnh xương sống. Bởi chúng ta cũng hành động như ông Biệt phái, cũng bỏ tiền rộng rãi vào giỏ lạc quyên, cũng đóng góp to lớn vào quỹ xây dựng thánh đường, các công trình nhà xứ, các hội từ thiện bác ái. Hơn nữa chúng ta cũng từng xung phong trong các công việc chung. Vậy thì còn thiếu điều chi? Thực tế chúng ta đã được hàng xứ công nhận, chiếm được lòng tin cậy của họ và có thể là chỗ dựa cho nhiều người. Tất cả đều là gương mẫu. Vậy mà dụ ngôn hôm nay vẫn ám chỉ về chúng ta, vẫn làm cho chúng ta nao nao. Cho nên cần xem lại cách sống đạo của mình, thái độ của mình đối với người khác, nhất là các động lực thúc đẩy mình thi hành bổn phận đạo đức. Chúng ta gia nhập đoàn hội nhằm mục tiêu nào? Để tiến bộ thiêng liêng hay để khoe khoang, dùng người khác như bàn đạp ngõ hầu đạt tới danh vọng, địa vị, tiền tài. Xin hãy suy nghĩ kỹ hơn về ý nghĩa dụ ngôn, để nó soi sáng mình, nhất là tâm hồn cầu nguyện của mình.

Trước hết, một vài lời bênh vực ông Biệt phái. Trong xã hội Do Thái lúc ấy, các Biệt phái là những cột trụ đức tin trong đạo Môsê. Tình hình chính trị thì rõ ràng dân chúng phải sống khốn đốn dưới sự cai trị của người La- mã, và ảnh hưởng nặng nề của văn hoá ngoại lai, vô đạo. Nhiều ngươi Do Thái đã thoái hoá, lơ là lề luật tôn giáo, chạy theo nếp sống xa hoa vật chất, tương tự như một bộ phận tín hữu trong các đô thị lớn của chúng ta ngày nay. Việc giữ đạo của họ thực chất chỉ còn cái vỏ bên ngoài, bên trong là tiền bạc, dục vọng, tham sân si nặng nề. Trong bối cảnh đó, đảng Biệt phái quả là can đảm, đáng khâm phục, bởi họ sống chống lại trào lưu, tuân giữ lề luật Môisê, truyền thống của cha ông một cách nghiêm ngặt. Như vậy đáng lẽ họ được Chúa Giêsu yêu mến, lượng giá cao. Nhưng thực tế lại bị Chúa chê bai. Người Biệt phái trong dụ ngôn xem ra vượt xa lòng đạo đức của người tín hữu Do thái tốt, nhưng lại làm sai lạc ý nghĩa về Thiên Chúa và không biết trái tim Giavê nằm ở đâu. Chúa Giêsu chỉ cho ông (và cả chúng ta) trái tim Ngài nằm ở con người thu thuế hối cải. Rõ ràng hợp lý cách lạ lùng, không ai có thể tưởng tượng tới được. Xin lưu ý tính khoe khoang trong lời cầu nguyện của người Biệt phái, Phúc âm mô tả: “Ông ta đứng thẳng nguyện thầm rằng: Lạy Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác, tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.” Ông ta đâu có cầu nguyện, ông kể công trước mặt Đức Chúa Trời. Lời cầu của ông không hướng về Thiên Chúa, không mở lòng ra cho Ngài, không xin ơn tha thứ tội lỗi mà ông đã xúc phạm rất nhiều trong quá trình sống. Ông khoe mình và các việc lành ông đã thực hiện, ông kiêu ngạo, chỉ thích nghe kể về mình, bằng lòng với nếp sống “đạo đức” của mình, khinh dễ kẻ khác, cái nhìn của ông ta không thoát khỏi bản thân, tức trệch hướng. Chính ra ông phải nhìn lên Thượng đế để nhận ra lòng thương xót của Ngài trên bản thân ông. Đây cũng là cái lỗi chung của mọi tín hữu. Chúng ta thường xuyên không tạ ơn, ca ngợi Thiên Chúa khi cầu nguyện mà chỉ tập trung về mình, cầu xin cho các nhu cầu của mình hay của thân nhân, trong khi chính yếu chúng ta phải xin cho danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến… như Chúa Giêsu đã dạy trong kinh Lạy Cha.

Một trong các lý do cầu nguyện là để lắng nghe tiếng Chúa nói trong linh hồn, lay động chúng ta khỏi u mê, say đắm thế gian. Tức cầu nguyện để thay đổi mình, làm cho mình ý thức hơn về lòng thương xót của Chúa. Đấng đã kiên nhẫn tha thứ cho mình rất nhiều. Từ đó chúng ta rộng lòng cảm thông và tha thứ cho người khác. Họ cũng đang vật lộn để thay đổi bản thân. Người Pharisêu không nhận ra được giới hạn của mình, hay của nhân loại nói chung. Ông đã không nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa bao la, sẵn sàng tha thứ cho những ai thật lòng sám hối. Cho nên ông đã vội vàng phán đoán sai lệch về người thu thuế. Trong khi đó người thu thuế ý thức được mình tội lỗi, cần đến Thiên Chúa xót thương, giúp đỡ mình thoát khỏi tình trạng khốn khó. Ông không thể tự thân thoát ra khỏi ngục tù. Ông cầu xin Giavê tha thứ. Tâm trí ông hướng về trời cao, chứ không về mình, tin tưởng Thiên Chúa sẽ ra tay cứu giúp. Và bởi vì cầu nguyện thay đổi con người, cho nên hậu quả của hai người khác nhau. Người Pharisêu ở trong tình trạng cũ, không đổi thay. Người thu thuế trở về nhà thì được nên công chính. Ông đã ở trong tương giao hợp lý với Thiên Chúa. Mắt ông đã được mở rộng. Trái lại, người Biệt phái vẫn còn trong u tối của mình. Đây là bài học lớn cho mỗi tín hữu. Khi cầu nguyện chúng ta phải thay đổi, không đổi thay kể như không cầu nguyện. Câu nói của Chúa Giêsu chỉ rõ như vậy: “Người này khi trở xuống mà về nhà, thì được nên công chính rồi, còn người kia thì không”. Tức là ông vẫn y nguyên như cũ, vẫn tự lừa dối mình trong đường “thánh thiện” luật định, không thay đổi chi cả. Các tác giả chú giải thánh kinh đều đồng ý như vậy. Ví dụ J. Pirot viết bằng tiếng Pháp: “C’est-à-dire dans l’illusion de sa propre justice” (nghĩa là trong ảo tưởng về sự công chính riêng của mình) chứ không phải là sự công chính Đức Chúa Trời mặc cho nhờ bửu huyết của Chúa Giêsu. Nói cách khác, chưa được Chúa thương xót tha tội. Cho nên việc cải hoá khi nguyện cầu là tối quan trọng cho người tín hữu, bất kỳ là ai, giáo dân hay các đấng, các bậc tu sĩ, linh mục.

Thường thường, sau khi chữa lành một ai, Chúa Giêsu tuyên bố: “Lòng tin của ngươi đã chữa ngươi.” Như vậy đức tin là căn bản cho người ta nhận được ơn lành. Nó cho phép chúng ta tin cậy vào sự bảo đảm của Chúa Giêsu rằng Thiên Chúa về phe với mình. Ngài muốn cho chúng ta được lành mạnh. Tuy nhiên trong câu chuyện hôm nay, người thu thuế được Chúa thương tha thứ. Cuộc đời ông thay đổi lớn lao trong tâm hồn, nhưng chẳng có dấu chỉ nào bên ngoài. Khi hai người bước ra khỏi đền thờ, dáng điệu họ hoàn toàn giống như lúc họ tới. Thiên hạ vẫn trông thấy họ như ngươi bình thường. Ông Biệt phái vẫn đạo mạo, được dân chúng kính nể, ông về nhà ăn chay hai ngày một tuần, thứ hai và thứ sáu, nộp thuế thập phân rộng rãi trên nguồn lợi gia đình, giữ nghiêm ngặt các luật lệ tôn giáo. Còn người thu thuế, có lẽ cũng vẫn như trước. Nhưng chúng ta có thể dự đoán ông đã thay đổi nếp sống, tin tưởng rằng mình đã được Thiên Chúa thứ tha. Hạnh kiểm của ông khá hơn, đối xử với vợ con, tha nhân hiền hậu hơn theo tiêu chuẩn của lòng Chúa xót thương mà ông đã nhận được. Phúc âm không kể ra điều này, tất cả những chi chúng ta biết được là bề ngoài ông không thay đổi, vẫn bị đồng bào khinh bỉ như kẻ thu thuế tội lỗi. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã tuyên bố ông được công chính hoá, làm bạn hữu với Thiên Chúa, ở trong tương giao tốt lành với Ngài.

Căn cứ vào lời cầu nguyện của hai người, chúng ta nhận ra được sự khác biệt, nêu rõ tâm trạng của từng nhân vật trước tôn nhan Thiên Chúa. Người Biệt phái nói: “Tôi xin tạ ơn Chúa, tôi không như bao kẻ khác, tôi ăn chay mỗi tuần hai lần, tôi dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của tôi”. Tất cả 5 chữ tôi, một sự khoe khoang không thể tưởng tượng, ông làm chủ lời cầu nguyện của mình. Còn người thu thuế khiêm nhường hơn, lời cầu xin của ông rất ngắn, chỉ vỏn vẹn như sau: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Ông không làm chủ mà chỉ là kẻ thụ ơn lòng xót thương của Thiên Chúa. Ông mở rộng lòng ra để đón nhận tình yêu Thiên Chúa vào lòng. Hai tâm trạng trái ngược nhau. Người Biệt phái bộc lộ mình là người tự cao, tự đại, điều khiển cuộc sống theo ý mình, là chủ trong tương giao với Thiên Chúa, không có chỗ cho Ngài hành động trong sinh hoạt của mình. Chúa Giêsu không ưa thái độ này, Ngài năng nêu tên họ như kẻ giả hình. Tôi đếm trong Phúc âm tất cả 15 lần: “Khốn cho các ngươi, hỡi những người Pharisêu và ký lục, các ngươi giả hình,…. (Lc 11,42). Trong cuộc sống riêng tư, có lẽ chúng ta vẫn thường mắc phải não trạng biệt phái, vụ hình thức, ích kỉ và tham lam. Bởi lẽ chất liệu để làm nên biệt phái vẫn còn đầy ắp trong Giáo Hội. Phải khó khăn lắm mới có thể lương thiện với ơn gọi của mình. Chúng ta cần Lời Chúa để gọt giũa tâm hồn. Vì Lời Ngài giải phóng ta khỏi lầm lạc, tự kiêu, ảo tưởng. Thực sự, đây là lúc chúng ta phải tỏ ra thành thật với chính mình và nhận ra ý định của Thiên Chúa muốn tưới gội ơn lành cho chúng ta, nhờ sự dẫn dắt của dụ ngôn hôm nay. Chúng ta luôn thất bại về luân lý trước mặt Thiên Chúa, không sống đúng với chương trình Ngài dự định cho mình! Vậy không thể nhận vị trí của người Biệt phái được: “Tôi không như bao kẻ khác, tham lam, bất chính, ngoại tình hoặc như tên thu thuế kia”. Câu thành ngữ thêm vào: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”. Thánh Luca đã nhắc đến một trường hợp khác, tức dụ ngôn các khách mời dự tiệc cưới (14,15). Thánh Matthêu viết khác đi một chút: “Những kẻ đứng trước tiên sẽ phải xuống hạng chót và kẻ hạng chót sẽ được lên hàng đầu.” Thiên Chúa thấu suốt mọi tâm can, sẽ lượng giá chúng ta theo tiêu chuẩn của Ngài, chứ không phải của thế gian. Ngài thấu rõ mọi hành động của chúng ta là do tư tưởng thực sự nào, chứ không phải dáng vẻ bên ngoài.

Do đó, xin thành thực với chính mình trước Thánh thể trong thánh lễ hôm nay. Chẳng một ai trong chúng ta là hoàn hảo trước mặt Thiên Chúa. Thánh thể không phải là chỗ để chúng ta lừa dối mình, sống trong ảo tưởng, vụ lợi mà là nơi để bày tỏ tấm lòng thành thật, lương thiện. Chúng ta đến trước mặt Chúa là để xin ơn tha thứ tội lỗi, ca tụng lòng thương xót của Ngài. Ngài ban lương thực để trợ giúp chúng ta thay đổi cuộc sống cho am hợp với đường lối Phúc âm hơn. Mặc dù bề ngoài không có chi đổi thay. Nhưng lương tâm được Ngài thanh luyện, dẫn dắt, trên con đường thánh thiện thực sự. Nhờ đó các hành vi bên ngoài có sự tiến bộ. Chúng ta sẽ trở nên lương thiện, ngay chính, bác ái, công bằng hơn. Bớt đi nhưng thói giả hình, lường gạt, quanh co, những tính hư nết xấu; rượu chè say sưa, ươn lười, hưởng thụ, ghen tương,… Nguyên do là bởi lúc này Thiên Chúa là chủ thể các lời cầu nguyện của chúng ta, chứ không phải đứng nghe chúng ta khoe khoang thành tích. Chúng ta sẽ là kẻ thụ hưởng ơn lành biến đổi, giống như người thu thuế trở về nhà được nên công chính. Có lẽ đó là ước nguyện của mọi tín hữu ngày nay vậy. Amen.

Lm. Jude Siciliano, OP.

 

TN30-C54: TIẾNG NÓI CỦA NGƯỜI NGHÈO

 [CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN NĂM C (28.10.2007)]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Trong xã hội loài người thì tiếng nói của người nghèo chẳng đuợc ai lắng nghe. Vì thế người nghèo: TN30-C54

Trong xã hội loài người thì tiếng nói của người nghèo chẳng đuợc ai lắng nghe. Vì thế người nghèo được xem là người “không có tiếng nói”. Nhưng trước mặt Thiên Chúa thì hoàn toàn khác: tiếng nói của người nghèo lại luôn được Thiên Chúa lắng nghe và đáp ứng. Đó là kinh nghiệm của người xưa đuợc chép lại trong sách Huấn Ca. Đó cũng là quan điểm của Chúa Giê-su trong câu truyện dụ ngôn hai người Pha-ri-sêu và thu thuế lên Đền Thờ cầu nguyện: một người được lắng nghe, một người không.             
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1: Lời Chúa trong Sách Huấn Ca (35,12-14.16-18): 12 Vì Đức Chúa là Đấng xét xử, Người chẳng thiên vị ai. 13 Người không vị nể mà làm hại kẻ nghèo hèn, nhưng nghe lời kêu xin của người bị áp bức. 14 Người không coi thường lời khấn nguyện của kẻ mồ côi, hay tiếng than van của người góa bụa.
                 16 Kẻ phục vụ Đức Chúa theo ý Người sẽ được Người chấp nhận, lời họ kêu xin sẽ vọng tới các tầng mây. 17 Lời nguyện của người nghèo vượt ngàn mây thẳm. Lời nguyện chưa tới đích, họ chưa an lòng. 18 Họ sẽ không rời đi bao lâu Đấng Tối Cao chưa đoái nhìn, chưa xét xử cho người chính trực và thi hành công lý.
(2) Bài đọc 2: Lời Chúa trong thư 2 của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi ông Ti-mô-thê (2 Tm 4,6-8.16-8): 6 Còn tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi. 7 Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. 8 Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện.
         16 Khi tôi đứng ra tự biện hộ lần thứ nhất, thì chẳng có ai bênh vực tôi. Mọi người đã bỏ mặc tôi. Xin Chúa đừng chấp họ. 17 Nhưng có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng. 18 Và tôi đã thoát khỏi nanh vuốt sư tử. Chúa sẽ còn cho tôi thoát khỏi mọi hành vi hiểm độc, sẽ cứu và đưa tôi vào vương quốc của Người ở trên trời. Chúc tụng Người vinh hiển đến muôn thuở muôn đời. A-men.
(3) Bài Tin Mừng: Lời Chúa trong Sách Tin Mừng theo Thánh Lu-ca (Lc 18,9-14): 9 Đức Giê-su còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác: 10 "Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người kia làm nghề thu thuế. 11 Người Pha-ri-sêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. 12 Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con. 13 Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi. 14 Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên."
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 (Hc 35,12-14.16-18) là đúc kết một kinh nghiệm tôn giáo và tâm linh của dân riêng của Thiên Chúa đã được ông Giê-su, con ông Xi-ra (Hc 50,7), một người giầu có, học thức và từng trải ghi chép lại. Nếu trong xã hội các dân tộc khác, người nghèo bị thua thiệt trăm bề, thì trong dân riêng của Chúa, người nghèo được Thiên Chúa đối xử một cách ưu ái, yêu thương, vì nỗi khổ của họ được Thiên Chúa cảm thông và chia sớt. Lời cầu của họ được Thiên Chúa lắng nghe và nhận lời.
Qua đoạn của Sách Huấn Ca (35,12-14.16-18) này, một lần nữa chúng ta thấy Thiên Chúa luôn ở bên và như đứng về phía người nghèo, người bị áp bức, mồ côi, góa bụa. Tất cả những hạng ngườì này đểu bị thua thiệt về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị. Phẩm giá của họ thường bị tổn thương, tiếng nói của họ chẳng được mấy ai quan tâm, cứu xét, bênh vực. Họ chỉ biết dựa vào một mình Thiên Chúa mà thôi.
(2) Bài đọc 2 (2 Tm 4,6-8.16-8) là những lời chia sẻ rất riêng tư, thầm kín của Thánh Phao-lô với ông Ti-mô-thê là người con thiêng liêng, là môn đệ tín trung và cộng sự viên đắc lực của ngài. Thánh Phao-lô cho biết ngài đã kiên cường chiến đấu cho đức tin, cho đời sống tâm linh và ngài vững lòng trông cậy vào Chúa Giê-su, vào Thiên Chúa, là Đấng thấu suốt mọi sự, an tâm chờ đợi ngày gặp gỡ vào cuối đời.
            Trong đoạn thư thứ hai của Thánh Phao-lô gửi ông Ti-mô-thê (4,6-8.16-8), chúng ta được thánh nhân cho biết: Thiên Chúa là vị Thẩm Phán Chí Công, là Đấng sẽ tưởng thưởng cho những hy sinh, cố gắng của tất cả những ai đã tin tưởng và nỗ lực sống theo giáo huấn của Người.
(3) Bài Tin Mừng (Lc 18,9-14) là dụ ngôn Chúa Giê-su kể với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác: hai người, một Pha-ri-sêu, một thu thuế, lên Đền Thờ cầu nguyện, nhưng khi ra về thì người thu thuế (bị coi là người tội lội) trở nên công chính còn người Pha-ri-sêu (được xem  là người đạo đức) thì không. Lý do là người thu thuế khiêm nhường tự hạ, nhìn nhận mình tội lỗi xin Chúa thứ tha; còn người Pha-ri-sêu thì tự kiêu về những việc làm đạo đức của mình mà khinh chê người khác, cụ thể là người thu thuế cũng lên Đền Thờ cầu nguyện vào lúc ấy. 
          Qua đoạn Phúc âm Lc 18,9-14 này chúng ta khám ra Thiên Chúa là Đấng có nhiều phẩm chất siêu việt như (a) thấu suốt mọi tâm hồn, (b) phán xử rất công minh (c) yêu chuộng sự thật và (d) quý trọng người khiêm nhu, tự hạ. 
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?    
Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay chính là lời công bố của Chúa Giê-su cũng là câu kết của dụ ngôn: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên."

III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
          Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta sống khiêm nhường, tự hạ chẳng những trước mặt Thiên Chúa mà còn trước mặt người ta nữa. Không phải là sống khiêm nhường, tự hạ một cách giả hình, bề ngoài mà là sống khiêm nhường, tự hạ một cách chân thật, tự đáy lòng.
          Muốn sống đuợc như thế, chúng ta cần được Thiên Chúa mở mắt, mở lòng để chúng ta nhận ra rằng: tất cả những gì chúng ta hiện có - sức khoẻ, thời gian, tài năng, của cải, hoàn cảnh và địa vị xã hội, chức vụ và trách nhiệm trong Giáo hội, đời sống tâm linh và các nhân đức- đều là ân huệ ‘nhưng không’ của Thiên Chúa ban cho chúng ta, để chúng ta lo cho phần rỗi của mình và giúp đỡ những người chung quanh.
IV. CẦU NGUYỆN  (Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân trong Thánh Lễ)
4.1 Chúng ta hãy cầu nguyện cho Hội Thánh, nhất là cho các vị lãnh đạo là Đức Thánh Cha Bê-nê-đi-tô XVI, các Giám Mục, các Linh Mục, Phó Tế và Tu Sĩ Nam Nữ, biết noi gương sống khiêm nhường, tự hạ của Chúa Giê-su Ki-tô, mà phục vụ mọi người lương cũng như giáo bằng tinh thần của người tôi tớ của Thiên Chúa.  
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.2 Chúng ta hãy cầu nguyện cho giáo xứ (cộng đồng/cộng đoàn) chúng ta, để mọi người nhận ra mình là người tội lỗi, thiếu sót và yếu đuối trăm bề mà sống khiêm nhường, yêu thương, hài hòa với mọi người trong giáo xứ (cộng đồng/cộng đoàn). 
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.3 Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người sống trong mặc cảm tội lỗi, do bị hoàn cảnh cá nhân và xã hội khống chế, để họ tìm lại được lòng tự tin và phẩm giá mà Thiên Chúa đã ban cho họ từ khi họ bước vào đời!
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.4 Chúng ta hãy cầu nguyện cho những nạn nhân của cơn bão số 5 và nạn lụt tại Miền Trung Việt Nam, đang phải sống trong cảnh lầm than, thiếu thốn mọi thứ cần thiết, để họ tìm được sự trợ giúp vật chất cũng như tinh thần từ đồng bào các nơi để sống và xây dựng lại cuộc đời!
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.  Seattle ngày 15 tháng 11 năm 2007

 

TN30-C55: Xin thương xót con- ĐTGM. Ngô quang Kiệt

Hai người cùng lên đền thờ cầu nguyện. Nhưng kết quả thật bất ngờ. Người mà ai cũng kính: TN30-C55 FB

Hai người cùng lên đền thờ cầu nguyện. Nhưng kết quả thật bất ngờ. Người mà ai cũng kính trọng thì lại không được nhận lời. Người mà ai cũng khinh miệt thì lại được Chúa nhận lời và được công chính hóa. Qua dụ ngôn này, Chúa cho thấy lời cầu nguyện đẹp lòng Chúa phải là lời cầu nguyện khiêm nhường.
Khiêm nhường không tự mãn.
Người biệt phái tự mãn vì những việc tốt mình làm được. Làm được việc tốt thật đáng khen. Nhưng cần phải nhận biết nguồn gốc việc tốt của mình. Biết nguồn gốc việc tốt phải khởi đi từ nhận biết nguồn gốc bản thân mình. Tôi có mặt ở đời là ơn Chúa ban. Tôi thừa hưởng một sức khỏe, một gia đình, một nền giáo dục, một nề nếp đạo đức, đó là ơn Chúa ban. Vì thế tôi làm được việc tốt cũng là ơn lành Chúa ban. Nếu tôi rơi vào một hoàn cảnh xấu, tôi có làm được việc tốt không? Rất khó. Vì thế đừng tự mãn khi làm được việc tốt.
Khiêm nhường không khinh người.
Người khiêm nhường nhận biết thân phận mình sẽ không dám khinh người. Tôi làm được việc tốt vì tôi có hoàn cảnh tốt. Người kia làm việc xấu vì họ không có hoàn cảnh tốt như tôi. Vì thế không nên khinh người. Hơn nữa, trong tinh thần bác ái huynh đệ, thấy người hèn kém tôi càng phải yêu thương, nâng đỡ. Thấy người tội lỗi yếu đuối tôi càng phải tế nhị kính trọng. Chúa Giêsu vẫn làm gương trân trọng người tội lỗi như đối với người phụ nữ ngoại tình, đối với Giakêu và cả đối với Giuđa nữa.
Khiêm nhường nhận biết thân phận tội lỗi.
Con người đâu có ai hoàn hảo. Huống hồ có những nết xấu đeo đẳng ta mãi không thể dứt ra được. Ta đã ngã đi ngã lại nhiều lần. Biết bao quyết tâm. Biết bao ơn Chúa. Biết bao lời cầu nguyện. Nhưng “một cái dằm” cứ nằm mãi trong thịt khiến ta đau nhức khôn nguôi. Ta không thể nào thoát khỏi tội lỗi. Vì thế tâm tình xứng hợp là khiêm nhường nhận biết thân phận tội lỗi của mình. Khiêm nhường nhận trước mặt Chúa. Khiêm nhường nhận trước mặt anh em. Đó là thái độ trung thực và đúng đắn.
Khiêm nhường xin Chúa ban ơn cứu độ.
Vì không thể tự mình thoát khỏi tội lỗi, không thể đạt tới ơn cứu độ, nên ta cần ơn Chúa. Không thể tự giải thoát, nên ta cần Chúa giải thoát ta khỏi ách nô lệ tội lỗi. Thân phận ta thật khốn cùng. Sức lực ta thật yếu đuối. Nên lời cầu nguyện đúng nhất là: “Lạy Chúa, xin thương xót con”. Tương truyền đó là lời cầu nguyện liên lỉ suốt đời của thánh Phêrô, vị Tông đồ trưởng, vị Giáo Hoàng tiên khởi.
Với lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con”, ta nhận biết mình không thể sống công chính tự sức riêng, nhưng chỉ được “công chính hóa” nhờ ơn Chúa. Với lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con”, ta nhận biết ta được ơn Chúa không phải vì ta xứng đáng nhưng vì được Chúa thương yêu. Với lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con”, ta nhận biết rằng lời cầu nguyện khiêm nhường là lời cầu nguyện đẹp lòng Chúa.
“Lạy Chúa, xin thương xót con”
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1) Tôi có hay tự mãn vì mình sống tốt hơn người khác không? Thái độ này có đúng không?
2) Tôi có hay khinh miệt, lên án người khác không? Thái độ này có đúng không?
3) Tại sao tôi phải khiêm nhường khi cầu nguyện?
4) Tôi có một nết xấu thường phạm. Tôi đã xưng tội nhiều lần và quyết tâm chừa cải. Nhưng chứng nào tật ấy. Bạn có cảm nghiệm được điều này nơi bản thân không?

 

TN30-C56: Hài lòng về mình hay về Thiên Chúa?

Dụ ngôn người biệt phái và người thu thuế, nói theo ngôn từ thời nay, có thể gọi là một tiểu luận: TN30-C56

Dụ ngôn người biệt phái và người thu thuế, nói theo ngôn từ thời nay, có thể gọi là một tiểu luận chớp nhoáng về một sự tương phản. Đức Giêsu dạy chúng ta thái độ phải giữ trước mặt Thiên Chúa. Có hai thái độ: tự mãn của người biệt phái, ăn năn khiêm nhường của người thu thuế. Tự mãn về mặt đạo đức, nghĩa là hài lòng về mình, cho dẫu có ảo tưởng, đó cũng là một cách tạ ơn Thiên Chúa. Trái lại khiêm nhường chính là sáng suốt. Đức Giêsu nêu rõ sự tương phản mạnh mẽ giữa hai nhân vật tiêu biểu hai thái độ trên. Người kết thúc dụ ngôn bằng lời dạy về cách làm đẹp lòng Thiên Chúa. Một sắc thái quan trọng cần ghi nhận: hai người cùng lên đền thờ cầu nguyện. “Cầu nguyện” ở đây là gì? Cầu nguyện là muốn được Thiên Chúa nhìn nhận mình vô tội, mình là kẻ lành, tức là muốn được hưởng lòng nhân lành của Thiên Chúa. Căn cứ vào đâu mà người biệt phái cầu nguyện? Căn cứ vào những việc đạo đức, những việc tuân thủ, mà thật ra trong những việc ấy người biệt phái không phải là không tỏ ra ít nhiều độ lượng. Còn người thu thuế thì sao? Người này biết mình lắm tội nên chỉ trông cậy vào chính Thiên Chúa, vào lượng từ bi, vào tình yêu thương của Thiên Chúa. Một kẻ kể công, một người van xin. Đó là sự khác biệt rất có ý nghĩa giữa thái độ khép kín và tâm tình cởi mở. Chúng ta đặt vấn đề: Thái độ nào được Thiên Chúa từ bi nhân hậu chúc phúc? Chúng ta phải đối xử với anh em đồng loại như thế nào?
1) Thiên Chúa chúc phúc cho kẻ khiêm nhường tin cậy. Như vậy, khiêm nhường, xét về căn bản, là mở rộng tấm lòng đón lấy niềm vui. Hai yếu tố của khiêm nhường là sáng suốt và tin cậy. Sáng suốt cho nên biết rõ thực trạng lương tâm mình. Sáng suốt cho nên khám phá ra nỗi cực khổ lớn lao của mình, do đó có thể đâm ra thoái chí tuyệt vọng. Tuy nhiên vì tin cậy cho nên tâm hồn không bị lay chuyển. Khám phá ra nỗi cực khổ của mình trước con mắt Thiên Chúa, trong khi biết rõ Thiên Chúa là tình thương –đó là phương cách rất hữu hiệu để được Thiên Chúa thứ tha thương xót. Nếu chúng ta thành thật, nghĩa là thực tế quyết tâm muốn ra khỏi hoàn cảnh khốn khổ, thì sau khi than thở với Thiên Chúa, trên đường ra về chúng ta được Người dõi theo với đầy lòng nhân từ thương mến, chúng ta sẽ có được niềm vui sâu rộng nhất.
2) Thái độ tự mãn, hài lòng về mình, ngang nhiên trước mặt Thiên Chúa, ngang nhiên trước mặt tha nhân, là điều làm mất lòng Người. Trong chúng ta ai mà không có lúc muốn cho mình là tốt, là hoàn hảo trước mặt tha nhân? Chúng ta có thật tâm chọn lấy thái độ khiêm nhường làm đẹp lòng Thiên Chúa không? Chúng ta rất dễ sa vào cơn cám dỗ muốn đề cao mình. Chúng ta làm một trắc nghiệm: gặp trường hợp bị người ta coi rẻ, chúng ta phản ứng thế nào? “Chừng nào đến lúc người ta không khen ngợi mình như mình mong đợi, mà lại làm phật ý mình, lúc đó càng tỏ ra nhũn nhặn kiên nhẫn bao nhiêu mình càng thật sự có những đức tính ấy bấy nhiêu, chẳng có gì khác hơn” (thánh Phanxicô). Cũng như khiêm nhường tin cậy thì đẹp lòng Thiên Chúa, nhũn nhặn thành thật thì đẹp lòng người ta. Cả hai thái độ đều mở rộng trí óc và tâm hồn để đón tiếp, trao đổi, vui sướng.

 

TN30-C57: Tôi không giống tên kia! - Trần Mỹ Duyệt

 “Tôi không giống các người khác hay như tên thu thuế kia” (x. Lc 18:9-).  
 

Nhưng những người khác và tên thu thuế kia là ai? Là những kẻ tham lam, bất công, ngoại tình. Hoặc nếu: TN30-C57

Nhưng những người khác và tên thu thuế kia là ai? Là những kẻ tham lam, bất công, ngoại tình. Hoặc nếu nhìn vào xã hội ngày nay, thì đó là những tên đầu trộm đuôi cướp, đĩ điếm, nghiện ngập, xì ke, ma túy, cờ bạc. Hay những tên bần cùng khố rách, áo ôm. Những tên đầu đường xó chợ, thất học, và dốt nát. Vâng, đó không phải là tôi. Đó không phải là những kẻ mà tôi coi là bạn hữu, là những kẻ được hân hạnh giống như tôi, hoặc đứng bên tôi. Chúng đứng sau tôi, xa tôi, và khép nép dưới kia.  
Còn tôi thì sao? “Tôi ăn chay mỗi tuần hai lần và dâng cúng một phần mười tất cả các hoa lợi của tôi” (Lc 18: 12). Cũng có thể diễn dịch nôm na, tôi là một Kitô hữu đạo đức. Tôi là người đóng góp nhiều nhất công sức, thời giờ và tiền bạc cho xã hội này, cho cộng đoàn này, và cho giáo xứ này. Là người mà không có tôi chắc chắn thế giới sẽ cô liêu, sẽ tụt hậu, và sẽ tồi tệ lắm. Là người mà nếu không có tôi thì đoàn thể này, giáo xứ này không thể phát triển và tồn tại được.
Vậy mà sao trong Thánh Kinh, những thứ tham lam, bất công, ngoại tình. Những tên đầu trộm đuôi cướp, đĩ điếm, nghiệp ngập, cờ bạc; những tên bần cùng, khố rách áo ôm kia lại được Chúa đoái thương nhìn đến. Được tha tội, và được công chính.   
Chúa có lầm không? Hoặc ngài đối xử không công bằng? Thật vậy, nếu Chúa nhìn thấy tất cả, nếu Ngài thật sự công bằng, và nếu Ngài còn biết sự khác biệt giữa một người hy sinh ăn chay tuần hai lần và người không ăn chay lần nào. Giữa người dâng cúng 1/10 những gì mình có và người không dâng cúng gì, thì ít ra Ngài cũng phải thưởng cho những cố gắng và hy sinh ấy chứ? Vậy tại sao kẻ dâng cúng, người ăn chay lại không được tha tội, không được công chính, còn kẻ lười biếng không ăn chay, cũng không hề dâng cúng gì lại được xót thương và tha tội. 
Thật ra, cái làm nên sự khác biệt đó chính là tâm tư, thái độ, và lối nhìn của tôi, người tưởng mình đã làm, đã hy sinh, và đã xứng đáng với những việc lành thánh, tốt đẹp ấy. Nhiều lần tôi đã chẳng lớn tiếng hơn cả người Pharisiêu kia khi đòi phải rao tên tôi trong thánh lễ khi bỏ ra 20, 50, hoặc 100 đôla xin lễ. Tên tôi phải có trong danh sách những vị ân nhân. Phải được khắc bảng đồng, và tôi phải là người được lãnh bằng khen, hay bằng ân nhân. Làm vậy vì tôi tưởng tôi xứng đáng, một sự xứng đáng tách lìa tôi khỏi những thành phần mà tôi cho là thua tôi, không bằng tôi, và không xứng đáng như  tôi.    
Những lúc nghe tên mình được rao trong thánh đường. Những lúc thấy tên mình được khắc vào tấm bảng đồng ở cuối hội trường, ở cuối thánh đường, hoặc những lúc tôi tiến lên bằng một vẻ trịnh trọng, đầu hơi cúi xuống cho có vẻ khiêm tốn lãnh cái bằng tưởng lệ, nhưng rồi lại dơ cao lên như cho mọi người biết là qua tấm bằng khen ấy, tôi đã đóng góp công sức, tài năng, thời giờ cho những công việc lớn lao của xã hội, và giáo hội.  
Những lúc như vậy, tôi thật khó lòng kiềm hãm mình mà không nẩy ra một vài hình ảnh so sánh trong trí óc, như ông Pharisiêu nọ. Những lúc như vậy, tôi tự thấy mình cao cả hẳn ra, đạo đức, và khiêm nhượng hẳn ra. Tôi thấy mình có cái gì hơi khác và không giống như  những tên nọ, tên kia. Không giống như ông này, bà nọ. Tôi thấy tôi đạo đức hơn, thánh thiện hơn, sốt sắng hơn, và cũng có thể là giầu có và sang trọng hơn. Rồi từ những cái khác thường ấy, những cái hơn ấy, tôi thấy mình quan trọng và không thể thiếu được, không thể vắng mặt trong mọi sinh hoạt của xã hội, của cộng đồng, của giáo xứ, và của hội đoàn.  Tôi cảm thấy tôi có đủ nghị lực và tài đức. Có đủ sáng suốt, mạnh mẽ và hy sinh để “can đảm vác thánh giá” theo chân Chúa. Những lúc được đề cử, được tín nhiệm, và được bầu chọn vào chức nọ, chức kia, nếu có ai bảo tôi hy sinh “bỏ thánh giá”, lập tức tôi phản ứng ngay và cho rằng những người như thế không có lòng đạo đức, không can đảm và không dám “tử đạo”, không dám chết vì Chúa, vì anh chị em mình.  
Hy sinh vác thánh giá chứ không hy sinh bỏ thánh giá. Đó cũng là tâm trạng của tôi mỗi khi cầu nguyện và mỗi khi cần để chứng tỏ mình hơn người như ông Pharisiêu nọ mặc dù tôi biết làm như vậy là Chúa phật lòng. Coi thường anh chị em mình là không khiêm nhường. So sánh mình với người này, người khác để đề cao mình là kiêu ngạo. Cho mình đạo đức hơn người này, người khác là không đạo đức. Thế nhưng tôi vẫn không muốn xuống khỏi thánh giá. Thánh giá của địa vị, của quyền lực, và của danh vọng. Thánh giá được làm chủ tịch, được làm trưởng ban, được làm thế này, thế khác. Ai cũng bảo làm những việc ấy, giữ những chức vụ ấy là “vác thánh giá”, nhưng mà Chúa vẫn cứ phải vác thánh giá có một mình. Họa may thỉnh thoảng chỉ gặp một vài Simêon ghé vai vào, nhưng khổ cho Chúa, tìm mãi mà không thấy Simêon đâu cả, mà chỉ thấy những kẻ muốn ôm trọn thánh giá để rồi chả có ai rảnh mà vác hộ Chúa lấy một đoạn đường. 
Cầu nguyện, sống đạo với tâm trạng như vậy thử hỏi làm sao Chúa không buồn. Làm sao Chúa có thể tha thứ cho tôi. Làm sao Chúa có thể biến tôi nên công chính được. Vì tôi có thấy mình lỗi lầm gì đâu mà cần Chúa tha tội. Tôi tự trong cuộc sống đã là tốt lắm rồi. Dâng cúng 1/10 của cải mình, thì cần gì để Chúa phải làm thêm cho tôi nên công chính.
Ôi! Sao tôi khờ dại, và u mê quá. Sao tôi tự ái và cao ngạo quá! Cao ngạo như thế, u mê như thế thì làm sao Chúa có thể thánh hóa và làm cho tôi trọn lành thêm lên được một chút. Cao ngạo như thế, tối tăm như thế thì ánh sáng lời Chúa làm sao có thể lọt vào và soi chiếu tâm hồn tôi được. Làm sao tôi có thể bằng an được trước mặt Chúa.  
Tôi không giống như tên kia. Nhưng tên kia lại là tên được Chúa yêu, Chúa thánh hóa, và Chúa tha thứ. Bởi vì hắn có tấm lòng khiêm nhường. Hắn thấy mình có lỗi nên không dám huênh hoang. Hắn thấy mình yếu đuối nên không dám vỗ ngực tự hào. Hắn đã biết khiêm tốn và tin tưởng ném những yếu đuối, tội lỗi của mình vào biển lửa tình yêu vô tận của Chúa, để được Chúa xót thương và thánh hóa.   
Lậy Chúa, xin cho con có tâm hồn và đời sống khiêm tốn. Khiêm tốn trong hành động. Khiêm tốn trong lối sống. Khiêm tốn khi làm các việc đạo đức. Khiêm tốn cả khi biết mình yếu đuối và sa ngã. Và nhất là xin cho con có tâm hồn khiêm tốn để tìm được sự tha thứ và bình an của Chúa.  

 

TN30-C58: CẦU NGUYỆN VÀ SỐNG ĐẠO

 (CN 30TN – 2Tm 4, 6-8. 16-18; Lc 18, 9-14)
          “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18, 8)
 

Một lần nữa, nhịp đập trái tim yêu thương của Chúa Giêsu lại rộn rã trong trái tim tôi. Người mời: TN30-C58

Một lần nữa, nhịp đập trái tim yêu thương của Chúa Giêsu lại rộn rã trong trái tim tôi. Người mời gọi tôi cùng rung lên với tình yêu kỳ diệu của Người. Tôi lắng nghe đựơc lời tình tự của Người trước “khi Con Người ngự đến”, trước khi Người “vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” là:
          “Đây là điều răn của Thầy:
          Anh em hãy yêu thương nhau
          như Thầy đã yêu thương anh em.
Không có tình thương nào cao cả
hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng
 vì bạn hữu của mình.
Anh em là bạn hữu của Thầy,
nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dậy”. (Ga 15, 12-14)
Và để cho thấy thế nào là người có lòng tin vào “Con Người ngự đến”, Đức Giêsu đã đưa ra dụ ngôn với hai hình ảnh rất biểu tượng vào thời của Người để tôi soi rọi mà biết sống theo chân lý của Người.
Người không có lòng tin đích thực là người không sống theo ánh sáng Lời Chúa, không sống theo sự thật, họ là “người tự hào cho mình là người công chính mà khinh chê người khác” (Lc 18, 9).
 Đời sống của Pharisêu được thể hiện rất rõ bởi vì “họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ lại không buồn động ngón tay vào. Họ làm mọi việc cốt là để cho thiên hạ thấy” (Mt 23, 4-5). Chính vì họ sống thiếu tình người, thiếu nhiệt huyết như thế nên họ cầu nguyện huyênh hoang tự hào như Đức Giêsu nêu bật trong dụ ngôn:
“Người Pharisêu đứng riêng một mình, cầu nguyện rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con”. (Lc 18, 11-12)
Ngay trong cuộc sống của “người tự hào cho mình là người công chính mà khinh chê người khác”, được thể hiện rất rõ là “họ nuốt hết tài sản của các bà góa, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ” (Mt 23, 14) và rồi thì “bên ngoài có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong tòan là giả hình và gian ác” (Mt 23, 28). Cũng vì sống kiêu căng tự đắc đến như thế mà ngay trong tư thế cầu nguyện, ông cũng đứng riêng một mình, tách biệt ra khỏi những người khác, đúng như nguyên ngữ Pharisêu (Biệt Phái) mà xã hội đặt thành tên gọi cho họ. Ông ta lại còn tự hào về việc giữ luật của mình và bảo đảm được coi là người công chính và không cần trông chờ điều gì khác nữa từ Thiên Chúa.
Đó là cung cách sống mà Đức Giêsu muốn tôi xét lại mình vì Người khẳng định:
“Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18, 14).
Còn người có lòng tin “khi Con Người ngự đến” mà Đức Giêsu nói đến là người thu thuế. Sau khi đã lắng nghe và nhận ra ánh sáng Lời Chúa chiếu soi tận sâu trong lòng mình, người này đã ăn năn về những lỗi phạm đối với những người anh em đồng hương trong quá khứ, bởi ông ta đã chỉ vì ham lợi nhuận mà tiếp tay với người Rôma để trấn lột, áp bức những người thân cận của mình. Cũng như ông Dakêu, khi được ánh sáng Đức Kitô chiếu rọi, ông đã thành thật sám hối cùng khai báo tận đáy lòng: “Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19, 8)
Và một khi người thu thuế nhận ra mình xúc phạm đến tha nhân, ông ta đã khiêm hạ ăn năn thống hối, đã cảm thấy bất xứng. Nên ông ta “đã chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực, vừa thưa rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18, 13).
Rồi “người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi”. Đó là lời Đức Giêsu xác tín và mừng vui như nói với ông Dakêu rằng: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này... vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19, 10).
Suy tới đây, tôi nhớ lại lời thánh Phaolô khuyên dậy rằng:
“Anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương, và hãy sống trong tình bác ái như Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta và vì chúng ta, đã nộp mình làm hiến tế, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt” (Ep 5, 1-2).
Và để bắt chước như “Con Người ngự đến”, thánh Phaolô đưa ra một phương thức mà chính ngài đã sống:
“Khi tôi đứng ra biện hộ lần thứ nhất thì chẳng có ai bênh vực tôi, mọi người đã bỏ mặc tôi. Xin Chúa đừng chấp tội họ. Nhưng có Chúa đứng bên cạnh, Người ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành và tất cả dân ngoại được nghe biết Tin Mừng” (2Tm 4, 16-17)
Quả thật, thánh Phaolô đã được Ánh Sáng Đức Kitô tràn ngập trong tâm hồn nên ngài đã bắt chước mà cầu nguyện: “xin Chúa đừng chấp tội họ”, khi ngài bị bỏ rơi. Lại nữa, ngài đã suy đi nghĩ lại trong lòng Lời Chúa truyền dậy cũng như sống kết hợp cầu nguyện mật thiết với Đức Kitô, nên ngài đã mạnh dạn nói rằng: “có Chúa đứng bên cạnh, Người ban sức mạnh cho tôi”.
Nhờ chiêm ngắm trái tim sống “yêu thương đến cùng” của Đức Giêsu trước khi “Con Người ngự đến”, cũng như nhìn vào mẩu gương “sống theo sự thật, trong tình bác ái” và cầu nguyện kiên trì của Tông Đồ Dân Ngoại, tôi cảm nghiệm được lời của thánh Ôrigênê thật quí giá, khi ngài nói:
“Ai cầu nguyện liên lỉ cũng biết kết hiệp kinh nguyện với việc làm và việc làm với kinh nguyện. Chỉ như vậy, chúng ta mới thực hiện được nguyên tắc cầu nguyện liên lỉ”.
Mới đây, tôi đọc được vài dòng tâm huyết của cố linh mục Giuse Trần ngọc Châu, giáo phận Qui Nhơn, khi ngài nói đến vai trò của các linh mục trong việc truyền giáo vào tháng 4 năm 1999 như sau:
“Linh mục chúng ta có thể đóng vai trò tạm ổn trong việc giúp cho người tín hữu giữ sinh hoạt tôn giáo truyền thống họ đạo, như dâng Thánh Lễ, ban Bí Tích nói chung, điều hành người giáo dân trong họ đạo sẵn có. Nhưng việc giảng đạo, truyền giáo cho anh em bên lương rất khó, lắm lúc linh mục chúng ta chưa được chuẩn bị thích đáng. Thời các thánh Tông Đồ, Chúa ban cho các Đấng làm được những điềm thiêng dấu lạ, quyền trừ quỷ. Ngày nay có ma quỷ hiện diện, tung hoành mang nhiều cách thức lắm. Linh mục chúng ta chưa thánh đủ, thiếu cầu nguyện cũng như ăn chay hãm mình, chưa chân tu, nên khó trừ quỷ, khó thành công trong việc truyền giáo. Đạo Chúa chậm phát triển, một phần do tự mình, do linh mục chúng ta, dù nghiên cứu, tìm tòi, canh tân đủ thứ, nhưng chưa chân tu đầy đủ. Số linh mục có thể ngày càng đông đảo, nhưng chưa tu hành đúng mức, chưa trở nên Chúa trọn vẹn, nên khó thành công trong việc truyền giáo!”
Trước tâm tình của cố linh mục Giuse thánh thiện và đạo đức, tôi chỉ còn biết tha thiết dâng lên Thiên Chúa là Cha cùng với mọi người lời nguyện xin cho các vị mục tử luôn sống theo sự thật và trong tình bác ái:
Lạy Cha Yêu Thương và Tòan Năng,
Cha đã gửi Con Một của Cha là Đức Giêsu Kitô để trở thành Vị Tư Tế Tối Cao của chúng con. Và Cha đã cho chúng con hồng ân của thiên chức Linh Mục để tiếp tục công trình cứu rỗi của Cha.
Xin Cha hãy chúc phúc cho các vị Linh Mục của chúng con, và cho chúng con nhiều vị Linh Mục nữa.
Xin Cha hãy cho các ngài được trở nên thánh thiện.
Xin Cha hãy thêm sức mạnh nơi các ngài để các ngài rao giảng Phúc Âm của Sự Sống và bảo vệ phẩm giá của tất cả mọi người, đặc biệt là những trẻ sơ sinh chưa được chào đời.
Chúng con nguyện điều này qua Chúa Kitô, Chúa chúng con, Amen.

Chúa Nhật, ngày Linh Mục Thế Giới, ngày 28/10/2007
Phêrô Vũ văn Quí CVK64
Email: peterquivu@gmail.com

 

TN30-C59: TẨU HOẢ NHẬP MA

Trong các phim và truyện võ hiệp, nhiều người vẫn thường nghe nói đến việc bị "tẩu hỏa nhập: TN30-C59

Trong các phim và truyện võ hiệp, nhiều người vẫn thường nghe nói đến việc bị "tẩu hỏa nhập ma" khi luyện tập công phu võ thuật. Tuy vậy, phần đông vẫn cho rằng đó chỉ là những chi tiết mang tính hư cấu, hoàn toàn không thể có trong thực tế. Thực ra, "tẩu hỏa, nhập ma" là hai hiện tượng khác nhau:
Người bị "tẩu hỏa" sẽ lâm vào tình trạng toàn thân tăng nhiệt độ, khí lực di chuyển trong châu thân không kiểm soát được, đầu nặng, mắt hoa, ngực đau... Nếu không kịp chữa trị, người bị "tẩu hỏa" sẽ chuyển sang giai đoạn trầm trọng hơn, tiến dần đến tình trạng mất trí và cuối cùng bị điên. Những bệnh tật hiểm nghèo khác theo đó lần lượt kéo đến và cuối cùng có thể là cái chết.
Người bị "nhập ma" thì hoàn toàn khác hẳn: Giai đoạn đầu của tình trạng "nhập ma" khó có ai thẩm định được, hầu như không hề bộc phát ra bên ngoài. Duy chỉ có những người giàu kinh nghiệm mới nhận biết được mà thôi. Đó là sự say mê hoàn toàn ảo tưởng của người bị "nhập ma" làm cho họ giống như những kẻ tự cao, tự đại. Một khi căn bệnh "nhập ma" đến giai đoạn bộc phát thì người bệnh sẽ sống trong tình trạng mê loạn tâm thần, không có khả năng phân biệt thực hư, thể tạng ngày một xanh xao, vàng vọt. Cuối cùng, nếu không chữa trị kịp thời, người bị "nhập ma" cũng đi đến tình trạng điên loạn, suy nhược cơ thể, bệnh tật liên miên và có thể dẫn đến tử vong.
“Tẩu hoả nhập ma” do đó, không phải là chuyện hoang đường !
“Tẩu hỏa, nhập ma” trong ngành xây dựng, là khi những cao ốc không tuân theo quy hoạch chung, nói ( xin ) một đàng, làm một nẻo, đã xây vượt giấy phép thêm nhiều tầng, muốn đặt mọi người trước sự đã rồi, nhưng khi bị luật pháp cưỡng chế “cắt bỏ” những tầng thừa, mới thấy rằng bàn tay không che nổi mặt trời.
“Tẩu hoả nhập ma” còn là lối làm ăn gian dối, rút ruột, lắm khi hết sức tinh vi khoa học, xong công trình mà không theo đúng những tiêu chuẩn thiết kế tối thiểu, thì sẽ có ngày những biểu hiện “tẩu hoả nhập ma” như nghiêng lún, nứt gãy và có khi sụp đổ tan tành, như vụ cầu dẫn ở Cần Thơ, như vụ cao ốc Pacific mới đây.
Những điều Khổng Tử dạy: ”Sở kỷ bất dục, vật thi ư nhân” ( điều mình không muốn người làm với mình, thì cũng đừng làm với người ) không được đưa vào đạo đức kinh doanh, đã gây bao chèn ép, bất công, đau khổ. Trầm cảm ( stress ) cũng đáng sợ và tai hại không kém gì “tẩu hoả nhập ma”, đã khiến nhiều người thuộc mọi tầng lớp, tuổi tác, tìm đến cái chết. Cảnh “kẻ ăn ốc, người đổ vỏ”, “quýt làm, cam chịu” nhan nhản trong xã hội ngày nay !
“Tẩu hoả nhập ma” nơi con người, là khi coi mình như “rốn vũ trụ”, không chỉ biết tôn vinh mình, mà còn muốn người khác phải kính phục, đề cao họ. Tệ hại nhất là khi người ta dùng lưng đồng loại, đồng bào, đồng chí, đồng đạo làm những nấc thang để dẫm lên không thương xót mà leo lên cao. Đó cũng chính là trường hợp hai khuôn mặt thường xuất hiện nhất trong khi Chúa Giê-su rao giảng công khai và trong các câu chuyện, các dụ ngôn mà Người dùng để dạy dỗ các môn đệ.
Hai khuôn mặt, hai nhân vật ấy – một người Pha-ri-sêu và một người thu thuế – hôm nay không hẹn mà hò, cùng lên Đền Thờ cầu nguyện và trở thành hai khuôn mẫu cầu nguyện trái ngược nhau. Người thu thuế bị “tẩu hoả” vì những nố lem nhem tham ô hối lộ vốn quá quen xảy ra trong ngành nghề luôn đụng chạm tới tiền của anh.
Điều may mắn, là anh đã nhận ra căn bệnh ác tính trầm trọng của mình, vì thế mà thấy cần gấp rút đến thú tội với Thiên Chúa, để xin tha thứ và dốc lòng chừa ( như cán bộ thuế Mát-thêu đã rủ áo từ quan để theo Chúa Giê-su; như tay thu thuế Lê-vi đã ngay lập tức bàn giao hết để mau mắn đi theo Chúa và nhất là như tay trùm thuế vụ Gia-Kêu mà câu chuyện trở lại thật kịch tính và cảm động ).
Tâm niệm của “người thu thuế” là xưng thú và xin tha thứ, để thoát khỏi vũng bùn tội nhơ: động cơ là sụ ý thức tình trạng xấu xa của mình trước mặt Thiên Chúa. Đứng xa cách người thu thuế tội lỗi, là người “cho-mình-là-công-chính” Pha-ri-sêu. Khi mà hộp kinh, tua áo treo dán khắp trên thân thể dường như chỉ đủ để anh khoe khoang công đức, thánh thiện với loài người, thì anh thấy không thể bỏ qua việc cần khoe khoang với Thiên Chúa.
Tại đó, không phải xui xẻo, mà thật may mắn vì anh có “đối trọng” cho những công lênh của anh; phải có bóng tối thì ánh sáng mới phát huy hết tác dụng; phải có những ngưòi mà cả thiên hạ khinh khi phỉ nhổ như bọn thu thuế, thì những việc đạo đức như anh đã làm, mới nổi bật, đáng ca tụng cả trước loài người lẫn Thiên Chúa. Tấm lưng khom còng vì hối hận ăn năn của người thu huế “tội lỗi” ngay lập tức được người Pha-ri-sêu “công chính” dẫm lên, để làm vật so sánh trong bài kệ dài kể lể công trạng. Diễn tiến câu chuyện ra sao và quan trọng nhất là kết luận của Chúa Giê-su như thế nào, thì ai cũng đã rõ. Người thu thuế hết bị “tẩu hoả”; còn người Pha-ri-sêu thì bị “nhập ma” vô phương cứu chữa !
Trong cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 23 tháng 10, Văn Phòng Chủ Tịch Nước thông báo: Chủ Tịch Nước vừa ký quyết định đặc xá 8.066 trường hợp. Ngay từ chiều 23 tháng 10 và muộn nhất là trong hai ngày 24 và 25 tháng 10, các trại giam trên toàn quốc công bố công khai danh sách những người được đặc xá và họ sẽ trở về đoàn tụ với gia đình ngay sau lễ công bố này. Theo thống kê, thì có khoảng 4,2% số phạm nhân được thả, sẽ tái phạm, nghĩa là không ít những người hưởng đặc xá đợt nầy, sẽ... “ngựa quen đường cũ” và bị bắt giam lại.
Chia vui với những người đã một thời lầm lỗi, nay được trở về đoàn tụ với gia đình, hoà nhập với xã hội sau một thời gian chịu giam giữ tù đày để trả giá cho những sai lầm của họ, chúng ta nhớ đến tội lỗi của chính mình phạm đến Tình Yêu Chúa, đáng chịu án phạt muôn đời. Nhưng dù tội ta nặng nề đến mấy, khi ăn năn thống hối và chạy đến toà giải tội xin tha, thì Chúa “đặc xá” ngay cho chúng ta và vui mừng yêu thương đón chúng ta vào lại trong Gia Đình Chúa.
Điều kiện duy nhất Chúa đòi hỏi ở chúng ta, là lòng chân thành và khiêm nhường, biết thân phận tội lỗi của mình và cầu xin lượng từ bi của Chúa thứ tha ( như người thu thuế ), chứ không phải là quên đi khiếm khuyết, tội lỗi của mình để khoác lác và khinh miệt anh em ( như người Pha-ri-sêu trơ trẽn tự cho mình là công chính ).
Chúng ta đang bước vào Tháng Mười, Tháng các Đẳng Linh Hồn, tháng mà chúng ta gia tăng cầu nguyện và việc lành phúc đưc, để cầu xin Chua “đặc xá” cho các linh hồn nơi luyện ngục, trong đó có linh hồn những người thân của chúng ta. Nếu dùng vật nầy món kia mà xóa được án hoặc “chạy” cho sớm được ra tù, thì hẳn vô số người đã không ngần ngại, để người thân được trả tự do sớm tối đa, nhưng phạm nhân thì phải thi hành luật pháp tương ứng tội họ đã phạm.
Đó là công bằng. Còn chúng ta lại khác: tín điều CÁC THÁNH THÔNG CÔNG đã tạo cho chúng ta cơ hội giúp đỡ những anh em chúng ta trong thành phần GIÁO HỘI ĐAU KHỔ mau chóng được “đặc xá”, để về hưởng hạnh phúc muôn đời trong Chúa. Các linh hồn vui hưởng hạnh phúc vì lòng xót thương vô biên của Chúa, cũng sẽ không quên ơn chúng ta, những cháu con, anh em, bạn hữu...
CVK NGUYỄN THẾ BÀI, Tình Ca cho Người Được Yêu 73

 

TN30-C60: TÔI CÚI MẶT, LỜI NGUYỆN CẦU RẤT KHẼ

TÔI CÚI MẶT, LỜI NGUYỆN CẦU RẤT KHẼ ( Lc 18, 9 – 14 )
Tôi cúi mặt, lời nguyện cầu rất khẽ,
Cầu cho người và nguyện ước cho tôi
Linh hồn tôi nay đã khác xưa rồi
Cũng rạo rực bao đam mê trần thế.
( thơ CV )
 

Mới “cầu nguyện rất khẽ” thôi, mà sao nhà thơ đã “rạo rực bao đam mê trần thế”. Nguyện cầu rất: TN30-C60

Mới “cầu nguyện rất khẽ” thôi, mà sao nhà thơ đã “rạo rực bao đam mê trần thế”. Nguyện cầu rất khẽ, lâu nay vẫn chỉ thấy có một người. Cầu nguyện khẽ, ở chỗ riêng tư hay thánh đường im ắng, nhà thơ nay khác xưa, rất nhiều. Đâu nào giống kiểu Pha-ri-sêu thông thái, vào hôm trước. Khác kiểu của người thâu thuế cứ sợ sệt, như trình thuật gợi nhớ, hôm nay.
Trình thuật hôm nay, một dụ ngôn Chúa kể về phương cách nguyện cầu, nơi nhà Đạo. Hai lối cầu nguyện, mang phong thái hoàn toàn khác biệt. Một đằng là của “người-tốt-việc-tốt”, lúc nào cũng cho mình chính đáng – giữ luật, rất tự hào. Một đằng theo kiểu người nghèo, lại cho mình luôn có lỗi. Và cuối cùng, câu hỏi vẫn là: ai cầu nguyện đúng, ai sai ?
Trình thuật hôm nay, cũng cho thấy nghịch lý nơi lời phê của Đức Chúa về các thái độ khi nguyện cầu. Nhiều nguời cứ tưởng Chúa chỉ ưa những ai biết giữ luật Đạo. Không làm điều sai quấy, trái lương tâm. Như đám Pha-ri-sêu, Biệt Phái vẫn thường làm. Không phải thế. Chúa chỉ đề cao thái độ khiêm nhường của người thu thuế biết mình có lỗi, dám phạm luật phản chống Đạo.
So sánh thái độ của hai người khi cầu nguyện, với điều mà thánh Phao-lô viết trong thư gửi đồ đệ mình, cũng thấy cả một khác biệt. Đọc thư, nghe có điều nhẹ nhàng như tâm sự: “Tôi cam chịu mọi sự vì các kẻ được chọn, để họ được cứu rỗi, cùng với vinh quang đời đời, trong Đức Giê-su” ( 2 Tm 2, 9 – 10 ).
Như Thánh Phao-lô khẳng định, điều ta làm hoặc khi nguyện cầu dù rằng tốt hay rất hợp với pháp luật, chỉ vì Chúa và nhằm giải phóng tha nhân, đồng loại. Điều ta làm, là quyết đưa người người về với quyền năng yêu thương của Đức Chúa.
Với dân Do thái, người thu thuế rõ ràng là kẻ phạm lỗi. Anh rút rỉa lấy tiền bạc của dân đen, kẻ bị trị. Và, chỉ trao phần nhỏ cho chính quyền đô hộ Rô-ma, thôi. Và vì thế, anh luôn bị dân chúng oán ghét. Oán thán – ghét bỏ, chỉ vì anh chẳng lý gì đến luật lệ. Nhưng anh lại là người biết mình biết hết mọi người. Biềt rằng mình là kẻ đớn hèn, rất khiêm tốn. Không hợm hĩnh. Cũng chẳng tự cao, như các đấng bậc đại sĩ, rất Pha-ri-sêu.
Với nguời thường, quà tặng Chúa gửi, là: biết mình hèn hạ, rất đáng tội. Nhận mình có tội không phải để xưng thú hằng tháng, như thói rất quen. Xưng cho nhiều, cũng chỉ là xưng thú những tật ít quan trọng, như: nổi nóng, cắp vặt, bất tuân bề trên, hay quên sót lễ lạy, ngày của Chúa, v.v... Tội đích thật mà thu thuế – dân thường vẫn hay quên, là: làm mất đi tương quan đẹp ta có với Chúa. Với nguời cùng sống quanh ta. Tương quan ấy, là điều ta phải giữ. Để mất đi, là mất tất cả. Và, đây mới là điểm chính yếu, của nguyện cầu.
Tội của đám người tự-cho-mình-là-người-tốt, là thái độ luôn duy trì tương quan với mọi người theo phương thế kẻ cả, rất trịch thuợng. Chẳng bận tâm gì đến việc tạo niềm vui sống, tích cực với những người đang chung sống. Nhất thứ, là những người sống ngoài quỹ đạo của giới cao trọng, quyền chức.
Lỗi phạm ít được người đời để tâm xưng thú, đó là: thiếu quyết tâm yêu thương – giùm giúp hết mọi người. Không giúp họ duy trì tương quan cần có với Chúa. Với người thường. Thiếu sót ấy, ta vẫn nghe quen lời khiển trách, trong Kinh Sách, đại để như: “Ta đói khát, đơn độc, cố phấn đấu làm lành, mà nào thấy ai ra tay phụ giúp ! Ta lúng túng lo âu, bị hắt hủi bỏ rơi, ngươi đâu nào đứng lại, hầu đỡ nâng. Thậm chí còn xỉ vả, trách thầm:như thế cho đáng đời, bọn ngu si”.
Chấp nhận là mình có lỗi, không làm ta ly cách, tách rời khỏ vòng tay yêu thương của Đức Chúa. Nhưng, là tín hiệu. Là thành phần của cuộc sống của ta. Khốn khổ cho người nào không nhận là mình đã lỗi phạm, mà còn dương oai cứ cho rằng mình chẳng cần gì đến nhu cầu đạo đức. Người như đám Pha-ri-sêu, đâu nào muốn Đức Chúa can thiệp vào đời mình. Tệ hại hơn, tội và lỗi còn là trạng thái tuyệt vọng, cứ nghĩ rằng: Đức Chúa chẳng còn yêu tôi, vì tôi phạm vào luật cấm.
Điều cần ghi nhớ, là: đừng lo sợ mình đã lầm lỡ. Bởi, phụng vụ Phục Sinh đêm canh thức có nói đến “tội hồng phúc”, khi con người cả gan đóng đinh Chúa trên thập tự. Và, phải nhận rằng chính hành động này đã kéo theo ơn cứu rỗi. Cũng thế, trong cuộc sống đời thường, những lầm lỡ ta mắc phạm, cũng có thể được đánh giá như hành động chất chồng thêm ân huệ, mang đến cho ta. Miễn là, tội ấy giúp ta nhận ra được chính mình. Cái mình còn yếu kém. Cái mình, vẫn còn tùy thuộc vào sự đỡ nâng của Thiên Chúa. Từ những người xa lạ, rất tha nhân.
Biết nhận mình đã lỡ lầm hệt như người thu thuế, còn giúp ta biết xót thương cảm thông cho yếu đuối và vấp ngã của người khác, nữa. Nhận mình có lỗi, để rồi sẽ không bao giờ để luột mất niềm tin tưởng vào lòng từ nhân, của Đức Chúa. Bởi, Thiên Chúa là Đấng luôn sẵn sàng ở cạnh ta. Ở cạnh bên, Ngài vẫn đợi chờ mọi người sai phạm gửi tín hiệu về, cần sự đỡ nâng.
Biết nhận mình có lỗi, còn là ý nghĩa trong câu nói của sách huấn ca, rất nguyện cầu, như: “Lời cầu nguyện của người khiêm tốn đã vọng lên thấu các tầng mây.” ( Hc 35, 15 ). Nguyện cầu xuyên thấu tầng mây, chắc chắn sẽ đạt tới Đức Chúa, vẫn sẵn sàng đợi chờ. Chấp nhận mình chỉ là kẻ đớn hèn, phạm lỗi, tuy thế, vẫn không là chuyện dễ làm. Nhưng khi đã nhận mình lầm lỡ, Chúa đến tiếp sức mọi người, Ngài chẳng bao giờ từ nan.
Trong tinh thần chờ đón Chúa đến giúp, hãy phấn khởi mà cất lên lời tâm sự của người nghệ sĩ luôn hân hoan, hát rằng:
          Vui lên, vui lên ca vang ngàn phương
          Sao cho nơi nơi không mang sầu thương
          Thanh niên chí kiêu hùng, gieo sức sống tưng bừng
          Cùng hợp lực ta xây ngày mai sang tươi. ( Phạm Đình Chương – Bài ca tuổi trẻ )
Vâng. Hãy cứ vui lên. Dù có cảm nhận rằng mình đã lỗi phạm, tội tày trời. Cứ vui lên, mà “cầu cho người, nguyện ước cho tôi”. Cho “nơi nơi không mang sầu thương”. Nỗi sầu hèn, của người phạm lỗi. Nhưng, vẫn “gieo sức sống tưng bừng”. Vì đã có Chúa ở bên, trong nguyện cầu.
Lm. PHAN ĐỖ THỤC LINH, bản diễn dịch của MAI TÁ ( Úc )

 

TN30-C61: CÚI MÌNH XUỐNG

Dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế lên Đền Thờ cầu nguyện cho thấy sự tương phản: TN30-C61

Dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế lên Đền Thờ cầu nguyện cho thấy sự tương phản giữa hai thái độ của con người trước tình yêu thương bao la của Thiên Chúa.
Người Pha-ri-sêu là nhân vật được xã hội đương thời kính trọng, vì thuộc thành phần nhiệt tâm giữ luật, thực thi đức ái hơn nguời khác. Người thu thuế, kẻ bị xã hội mạt sát, khinh chê.
Hai mẫu người đối lập cùng bước vào Đền Thờ và làm cùng một công việc là cầu nguyện. Tại đây, sự tương phản giữa hai con người trở nên rõ nét khi tâm tính và thái độ sâu kín được bộc bạch trước nhan Thiên Chúa.
Người Pha-ri-sêu ung dung tự tại, đứng thẳng cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa, con cảm tạ Chúa vì con không giống các người khác, không tham lam, không bất công, không ngoại tình hay như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, dâng một phần mười thu nhập của con”. Người Pha-ri-sêu đang báo cáo thành tích. Ông nói điều ông đã làm và những gì ông làm thì không chê vào đâu được: không gian tham, không chiếm đoạt, không rối vợ rối chồng, không đam mê tội lỗi, thậm chí về phần đạo đức bác ái, ông còn làm quá điều luật dạy. Thường người ta chỉ ăn chay một ngày trong năm vào dịp lễ Sám Hối, đàng này ông ăn chay hai ngày trong tuần. Luật buộc các nông dân nộp một phần mười sản phẩm cho việc phụng tự, ông lại nộp thuế thập phân tất cả thu nhập của ông.
Đây là lời cầu nguyện mà nhiều người Do Thái thời ấy mơ ước. Không thấy ông xin gì cho bản thân. Lời cầu nguyện chỉ là lời tạ ơn. Điều đáng tiếc là lời cầu nguyện của ông đầy nét tự hào, tự mãn và khinh bỉ tha nhân: “Vì tôi không như bao người khác, tôi không như tên thu thuế kia”. Rõ ràng người Pha-ri-sêu tốt lành quãng đại nhưng lại tự phụ khoe khoang, khinh người. Đây là biểu tượng cho hạng người hay chúc tụng, tôn thờ bản thân mình. Thật đúng, kiêu căng đứng trước trong danh sách bảy mối tội đầu.
Người thu thuế đến thú tội, anh ý thức mình là tội nhân nên run rẩy xấu hổ, đầu cúi xuống chẳng dám ngước lên. Anh đã nghe thấy lời cầu nguyện của người Pha-ri-sêu nên anh thấy khỏi cần cáo tội mình. Anh chỉ còn đặt mình trước nhan Thiên Chúa một cách trung thực và khẩn khoản nài xin: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Điều anh khao khát là được Thiên Chúa tha thứ và được làm hoà với anh em.
Anh chỉ “đứng xa xa” vì thấy mình bất xứng. Lời cầu hết lòng khiêm tốn đó có sức an ủi anh ngọt ngào biết bao. Anh cảm thấy đầy lòng tin tưởng vào lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa, vì anh biết rằng: dù tội lỗi như A-ha-ron đúc bò vàng cho toàn dân thờ, dù thủ đoạn như vua Đa-vít đã cướp vợ giết chồng người khác nhưng họ đã hết lòng ăn năn sám hối và Thiên Chúa đã sẵn lòng tha thứ; dẫu rằng cả toàn dân bỏ Chúa và bị bắt lưu đày Ba-bi-lon, lại bị thủ tướng A-man ra tay diệt trừ nhưng trong cơn cùng khốn như thế, hoàng hậu Et-te cùng toàn dân đã biết ăn năn sám hối tội lỗi, Thiên Chúa đã ra tay giải thoát họ; hay tội lỗi như dân ngoại Ni-ni-vê, Thiên Chúa còn thương, bắt buộc Ngôn sứ Gio-na đến rao giảng cho họ biết cải tà quy chính, Thiên Chúa liền tha thứ cho họ khi họ sám hối chân thành.
Thấy tất cả những sự kiện lịch sử thống hối đó, người thu thuế càng thêm tin tưởng vào lòng thương xót khoan dung cùa Thiên Chúa, anh càng đấm ngực hết lòng ăn năn.
Đức Giê-su kết luận: Người thu thuế trở nên công chính còn người biệt phái thì không được…. Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.
Tội lỗi hay hành động xấu không làm người ta mất sự công chính cho bằng tính tự mãn, thói kiêu căng. Người thu thuế đã thật sự phạm nhiều tội lỗi nên đã làm mất đi sự công chính, nhưng hành động khiêm tốn biết nhìn nhận mình tội lỗi và hết lòng thống hối nên được công chính trước Thiên Chúa.
Khiêm nhường có khả năng biến tội lỗi thành thánh thiện, bất chính thành công chính. Trái lại, kiêu ngạo tự mãn có thể biết điều tốt thành điều xấu.
Khiêm nhường, tự hạ, quên mình luôn được coi là nền tảng của sự thánh thiện, là gốc rễ của các nhân đức. Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô I đã nói: “Trên thiên đàng không thiếu bọn thu thuế và gái điếm, nhưng không có kẻ kiêu ngạo. Dưới hoả ngục có cả Hồng Y, Giám Mục nhưng không có người khiêm nhường”.
Khiêm nhường bao nhiêu cũng không đủ, chỉ một chút kiêu ngạo cũng quá nhiều. Đừng vì mình đạo đức mà khép kín trong tự mãn, cũng đừng vì mình tội lỗi mà khép kín trong tuyệt vọng. Ơn Chúa chỉ đến với người biết mở tâm hồn ra để đón nhận. Tội lỗi hay công đức đều có thể làm ta khép lại hay mở ra. Điều quan trọng là thấy mình luôn luôn cần Chúa.
Sự triển nở trong đời sống thiêng liêng nằm chỗ là ta trở nên nhỏ lại, là nhường bước để cho Chúa xâm chiếm và chi phối trọn vẹn đời ta. Càng lớn lên trong Chúa, ta càng cảm thấy một cách mạnh mẽ rằng mình cần đến Chúa ngày một hơn. Cha Nguyễn Tầm Thường đã viết những bài suy niệm thật hay trong cuốn sách “Con biết con cần Chúa”.
Một Đấng Thánh vĩ đại như Phao-lô mà đã tự nhận mình là kẻ thấp hèn nhất ( 1 Cr15, 9 ); một ngôi sao chói lọi trong công việc bác ái từ thiện như Thánh Vinh Sơn Phao-lô mà cũng đã tự gọi mình là người thấp hèn nhất trần gian thì huống là chúng ta !
Người tự cao tự đại không thể cầu nguyện được. Cửa thiên đàng hẹp và thấp, chỉ quỳ xuống mới vào được mà thôi.
Tại Đền Thờ Thánh Phê-rô có một bức tượng Chúa Chịu Nạn do Thorvaldsen ( 1770 – 1844 ), nhà điêu khắc Đan Mạch nổi tiếng thực hiện. Ngày kia, một du khách đến viếng bức tượng, ông ta nhìn mãi rồi lắc đầu nói: tôi nghe đồn bức tượng này nổi tiếng là đẹp lắm nhưng tôi chẳng thấy có gì đẹp cả. Một người quỳ sau lưng ông nói: “Ông ơi, ông phải quỳ gối xuống mới thấy đẹp !” Ông du khách liền quỳ gối. Bây giờ ông mới khám phá ra vẻ đẹp lôi cuốn của bức tượng Chúa Chịu Nạn. Muốn gặp gỡ Chúa, muốn đón nhận lòng thương xót của Người, con người cần quỳ gối với tâm tình khiêm tốn.
Đức Cha Fulton J. Sheen đã viết:
“Chúa Giê-su không sinh ra ở giữa Trời, nơi người ta có thể đứng thẳng, nhưng Ngài giáng sinh trong hang đá, nơi người ta phải cúi mình để đi vào. Đó là một cử chỉ khiêm nhường. Một số người quá tự mãn không hạ mình sẽ không thấy được niềm vui bên trong hang đá. Các mục đồng và các đạo sĩ đủ đơn sơ để nghiêng mình xuống. Khi làm như thế, họ thấy mình không ở trong một cái hang, nhưng ở trong một thế giới khác.
Tại đó, một người nữ diễm lệ, đầu đội mặt trời, chân đạp mặt trăng, và cánh tay ẵm Hài Nhi – Đấng dùng những ngón tay bé nhỏ của mình nâng đỡ trái đất, nơi chúng ta đang sống. Và khi các mục đồng và các đạo sĩ quỳ gối, tôi tự hỏi: không biết những người thông thái ghen với những người đơn sơ, hay những người đơn sơ ghen với những người thông thái ? Tôi hướng tới xác tín rằng: các đạo sĩ ghen với các mục đồng, bởi vì con đường của các mục đồng ngắn hơn, họ tìm thấy sự khôn ngoan là chính Thiên Chúa mau hơn.” ( Người Galilê vĩnh cửu, trang 36 ).
Lm. Giu-se NGUYỄN HỮU AN, Giáo Phận Phan Thiết

 

TN30-C62: Cầu nguyện

Đâu là sự khác biệt trong lời cầu nguyện của ông biệt phái và của anh thu thuế? Lời cầu: TN30-C62

Đâu là sự khác biệt trong lời cầu nguyện của ông biệt phái và của anh thu thuế?
Lời cầu nguyện của ông biệt phái trước hết là một lời tạ ơn, cùng với những thói hư tật xấu mà ông không hề phạm, và những việc đạo đức ông thường làm. Chẳng những ông đã làm các việc đạo đức do luật buộc, như ăn chay mỗi năm vào dịp lễ xá tội, nộp 1/10 lợi tức cho đền thờ, mà hơn thế nữa, ông còn tự nguyện làm những việc đó ở một mức độ cao. Chúng ta không thấy ông xin gì cho bản thân, mà chỉ luôn tạ ơn. Điều đáng tiếc là lời cầu nguyện của ông đầy vẻ tự hào, tự mãn và khinh bỉ tha nhân. Chính vì thế mà chúng ta có thể nghi ngờ về tâm tình tạ ơn của ông, bởi vì tâm tình tạ ơn thực sự bao giời cũng gắn liền với sự khiêm tốn.
Trong khi đó, anh thu thuế lên đền thờ để thú tội. Anh ý thức mình là kẻ tội lỗi. Anh đặt mình trước tôn nhan Chúa một cách trung thực và khẩn khoản nài xin: Lạy Chúa, xin thương xót con vì con chỉ là kẻ tội lỗi. Điều anh khao khát là được Chúa tha thứ và được hoà giải với anh em. Anh chỉ dám đứng xa xa vì thấy mình bất xứng.
Từ hai hình ảnh trên chúng ta thấy: Ông biệt phái đi gặp Chúa vì ông cảm thấy mình có thế giá nhiều hơn những người khác. Ông đã sống một đời sống đạo đức và nghiệm nhặt. Ông đi gặp Chúa với một kho tàng công nghiệp to lớn của riêng ông. Thế nhưng cái kho tàng đó quá lớn đến độ đã ngăn cách ông với Chúa, nó không cho ông thấy được Ngài nữa, mà chỉ còn thấy có chính mình ông. Có quá nhiều chữ tôi trong lời cầu nguyện của ông: Tôi thế này, tôi thế nọ, tôi không như người này người khác... Rốt cuộc, ông lại là người quay vào mình, khép lại trên chính mình, mặc dù môi miệng ông đã kêu lên: Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa.
Tạ ơn thực sự là nhìn nhận mọi sự mình làm được là do bởi ơn Chúa ban. Tạ ơn thật sự là quay về với Chúa, nhìn nhận Ngài là nguồn mạch, là trung tâm, là sức sống của đời mình, của những việc tốt mình làm được.
Như thế, ông biệt phái đã không thực tâm tạ ơn, vì ông quay vào mình, coi mình là trung tâm, là tác giả mọi điều tốt đẹp, còn Thiên Chúa chỉ là một người thừa, hay cùng lắm chỉ là một người mà ông đến gặp để kể công và đòi nợ. Thiên Chúa phải trả cho ông Nước Trời vì ông đã có công. Ông không xin vì ông không thiếu và Chúa cũng sẽ không cho vì ông đã đầy ắp.
Trong khi đó, anh thu thuế, mặc dù lắm tiền nhiều của, nhưng thật ra lại là một người nghèo trước mặt Chúa. Anh chẳng có công trạng gì để cậy dựa. Anh ý thức về tình trạng nhơ nhớp của mình, nên chỉ còn một lối thoát duy nhất là tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa.
Và như vậy thật là oái oăm, chính sự đạo đức của ông biệt phái lại trở nên chướng ngại vật khiến ông không gặp được Chúa, không lãnh nhận được ơn huệ của Ngài, còn sự tội lỗi của anh thu thuế lại đưa anh đến chỗ mở rộng cõi lòng để đón nhận Chúa và ơn tha thứ của Ngài.

 

TN30-C63: Lời cầu nguyện khiêm nhường

LỜI CẦU NGUYỆN KHIÊM NHƯỜNG XUYÊN QUA NHỮNG ĐÁM MÂY
(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ - Charles E. Miller)
 

Trong Phúc Âm theo Thánh Luca, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta về cầu nguyện. Đầu tiên chúng ta: TN30-C63

Trong Phúc Âm theo Thánh Luca, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta về cầu nguyện. Đầu tiên chúng ta học cầu nguyện với Chúa Giêsu là cầu nguyện với Cha trong lời kinh mà chúng ta gọi là”lời cầu nguyện của Chúa” hoặc đơn giản là”kinh Lạy Cha”. Chúng ta học, chúng ta phải nhớ dâng lời tạ ơn và ngợi khen Thiên Chúa, chúng ta phải kiên trì với những lời nài xin dâng lên Thiên Chúa.
Ngày hôm nay Chúa Giêsu dạy chúng ta về chân lý, đã được tiên báo trong sách Khôn ngoan: “Lời cầu nguyện khiêm nhu xuyên qua những đám mây nó không nghỉ ngơi cho đến khi nó đạt được mục đích”. Thiên Chúa thương đến những lời cầu nguyện khiêm nhường, đó là một bài học bên trong của dụ ngôn có hai người lên Đền Thờ cầu nguyện. Thiên Chúa không hài lòng với tất cả những lời cầu nguyện của người Pharisiêu kiêu căng. Thật sự, đó không phải là một lời cầu nguyện nhưng đó chỉ là một bản danh sách những lời tự ca tụng. Nhưng Thiên Chúa hài lòng với lời cầu nguyện của người thu thuế tội lỗi. lời cầu nguyện chân thành của ông đã được thương xót.
Chúa Giêsu lấy làm sung sướng khi chú ý đến việc chấp nhận người anh hùng của câu chuyện (hãy nhớ đến người Samaria nhân hậu đã giúp đỡ một người ngoại quốc bị nạn và trở thành một vị anh hùng trong dụ ngôn này). Mọi người khinh bỉ người thu thuế, đặc biệt dị ứng đối với người thu thuế và sở thu thuế. Nhưng người đàn ông này biết mình tội lỗi và đã cầu xin nơi thc sự xót thương.
Chúa Giêsu chọn người thu thuế oán ghét này để làm người anh hùng bởi vì Người muốn ám chỉ tới dụ ngôn là: “Những người đã tin vào sự công chính của họ trong lúc nhìn mọi người với cặp mắt khinh bỉ”. Người Pharisiêu trong dụ ngôn đã được giới thiệu như những người này, ông là một hình thức xấu nhất của cái tôi phiền phức. Ông ta có thể chỉ biết chính mình trong con đường thuận lợi.
Mặc dầu ông đã cảm tạ Thiên Chúa không làm cho ông giống như người đàn ông tội lỗi kia, ông là một kẻ giả hình. Điều ông ta nói chẳng có ý nghĩa gì. Thật sự ông chỉ thấy chính mình như là người đã tạo ra con người hoàn hảo mà không cần bất cứ ai, không cần ngay cả Thiên Chúa. Đó là sự sai lầm làm nền tảng, là tội nguyên tổ mà tổ tiên chúng ta đã nghĩ đến khi đặt chính mình thay thế Thiên Chúa. Cái tôi làm cho chúng ta giống như những chiếc xe hơi mà chúng ta gọi vô dụng. Chúng có những hiệu quả nghiêm trọng bởi vì chúng ta được chế tạo với những sai sót và số phận là lập lại những thất bại.
Người thu thuế thì không phải là một kẻ vô dụng, nhưng ông ta giống như một chiếc xe hơi đã chịu đựng những tay lái không cẩn thận và không biết bảo quản xe. Chỉ có một quyết định duy nhất là mang xe hơi trở lại cho người buôn bán để họ tân trang lại. Người thu thuế đã làm một chọn lựa đúng, ông ta đã đi tới với người công chính để sửa chữa lại những gì mình cần. Ông đã làm một lời xin thứ lỗi. Ông không nhận biết những vấn đề của mình nhưng cầu xin Thiên Chúa ban ơn cho những gì ông cần trong lời cầu nguyện đơn giản: “Ôi Lạy Chúa, xin thương xót con vì con là kẻ tội lỗi”.
Lời cầu nguyện của người thu thuế là một lời nài xin, một lời van xin giúp đỡ, một kiểu cầu nguyện mà chúng ta thường dâng lên Thiên Chúa. Sự nài xin đích thực diễn tả trong sự khiêm nhường đã được Chúa Giêsu chuẩn nhận. Chúng ta yêu cầu Thiên Chúa ban ơn, bởi vì chúng ta biết rằng Ngài là Đấng sẽ xoay chuyển được mọi sự, Người là Đấng quyền năng có thể giúp đỡ chúng ta. Một nửa của sự khiêm nhường để nhận biết quyền năng của Thiên Chúa thì lớn lao hơn bất cứ sức mạnh nào trong vũ trụ này. Một nửa kia của sự khiêm nhường này là chấp nhận rằng chúng ta cần Thiên Chúa, chúng ta không thể đi đâu, làm gì một mình được và chúng ta tùy thuộc vào tình yêu của Ngài cũng như quyền năng của Ngài. Lời cầu nguyện khiêm nhường diễn tả sức mạnh của Thiên Chúa và nhu cầu của chúng ta.
Lời cầu nguyện khiêm nhường của chúng ta bay thẳng lên trời vì lời cầu nguyện khiêm tốn sẽ xuyên qua các đám mây và sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi nó đạt đến mục đích của nó.

 

TN30-C64: Lời cầu nguyện đích thực

Một vị linh sư nọ đang cầu nguyện. Các môn đệ đến xin ông dạy họ cách cầu nguyện. Vị linh sư : TN30-C64

Một vị linh sư nọ đang cầu nguyện. Các môn đệ đến xin ông dạy họ cách cầu nguyện. Vị linh sư liền dạy các môn đệ cầu nguyện bằng một câu chuyện như sau:
Cả hai người dẫn nhau đi qua một cách đồng, bỗng một con bò mộng giận dữ không hiểu từ đâu chạy tới. Hai người bèn chạy đến hàng rào gần nhất để ẩn núp; những đã quá trễ, họ không thể lẩn trốn được con bò mộng hung dữ kia đang chạy tới để hút vào người họ. Trong cơn hốt hoảng, không còn biết làm gì được nữa, một trong hai người đề nghị: chỉ còn có sự cầu nguyện may ra giúp chúng ta thoát được. Thế nhưng người kia lắc đầu tuyệt vọng:
- Cả đời tôi, có bao giờ tôi cầu nguyện đâu!
Người bạn quả quyết:
- Anh hãy đọc bất cứ kinh nào anh nhớ.
Một chút hy vọng bỗng lóe lên, anh ta nói:
- Vậy thì tôi sẽ đọc lời kinh duy nhất mà tôi còn nhớ, đó là lời cầu nguyện cha tôi thường đọc trước bữa ăn như sau:
“Lạy Cha, xin cho chúng con luôn biết tạ ơn Chúa, vì tất cả những gì chúng con đã nhận được”.
Anh chị em thân mến,
Cầu nguyện là sinh hoạt căn bản và là nhu cầu cấp thiết của lòng tin. Cầu nguyện còn là biểu hiện của một lòng tin sống động. Người Kitô hữu nào cũng phải cầu nguyện. Nhưng lời cầu nguyện của chúng ta chỉ có ý nghĩa thực khi nó diễn tả mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Và đó là lời cầu nguyện đẹp nhất mà Thiên Chúa mong đợi nơi những kẻ tin Ngài.
Chúng ta thường cầu nguyện như thế nào?
Hôm nay chúng ta hãy nghe lời cầu nguyện của người Pharisêu và của người thu thuế trong dụ ngôn Chúa Giêsu đã kể cho chúng ta. Qua lời cầu nguyện của hai người nầy, chúng ta thấy được phần nào nội tâm của từng người.
Lời nguyện của người Pharisêu trước hết là một lời tạ ơn, tiếp theo là bản liệt kê những thói hư tật xấu mà ông không hề phạm, cuối cùng là những việc đạo đức ông quen làm. Đây là một lời cầu nguyện hết sức thành thực, người Pharisêu chỉ nói lên những điều ông đã sống. Chẳng những ông đã làm các việc đạo đức do luật buộc như ăn chay mỗi năm vào dịp lễ Xá tội, nộp một phần mười lợi tức cho đền thờ, mà ông còn tự nguyện làm những việc đó ở mức độ cao hơn, như ăn chay một tuần hai lần, nộp cho đền thờ một phần mười lợi tức chẳng những về gia súc, ngũ cốc, rượu và dầu mà còn cả về rau, đậu và thảo mộc nữa. Chúng ta không thấy ông xin gì cho bản thân, nhưng chỉ là “tạ ơn”. Điều đáng tiếc là lời tạ ơn của ông đầy nét tự hào, tự mãn và khinh bỉ tha nhân: “Tạ ơn Chúa vì con không như bao người khác…”, “con không như tên thu thuế kia”. Chính vì thế chúng ta có thể nghi ngờ về tâm tình “tạ ơn” của người Pharisêu nầy. Tạ ơn thực sự bao giờ cũng gắn liền với thái độ khiêm tốn thẳm sâu.
Còn người thu thuế đến đền thờ để thú tội. Anh ý thức mình là một tội nhân, bị kể ngang hàng với bọn đĩ điếm (x. Mt 21,31-32). Có lẽ anh đã nghe thấy lời cầu nguyện lớn tiếng của người Pharisêu “con không như tên thu thuế kia”, nên anh thấy khỏi cần thú tội mình. Anh chỉ đặt mình trước Thiên Chúa một cách trung thực và khẩn khoản nài xin: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Điều anh khao khát là được Thiên Chúa tha thứ và được làm hòa với anh em, nhưng anh chỉ dám đứng xa vì thấy mình hoàn toàn bất xứng.
Thưa anh chị em,
Qua lời cầu nguyện của hai người trên đây, chúng ta thấy: Người Pharisêu ra gặp Thiên Chúa và ông cảm thấy mình có thế giá hơn nhiều người khác. Ông đã sống một đời sống đạo đức, nhiệm nhặt. Ông ra gặp Chúa với một kho những công trạng to lớn của riêng ông. Nhưng than ôi, cái kho đó lớn quá đến độ nó ngăn cách ông với Chúa, nó không cho ông thấy được Ngài nữa mà chỉ còn thấy chính mình. Có nhiều chữ “tôi” trong lời cầu nguyện của ông. Tôi tôi thế nầy, tôi thế nọ, tôi không như người nầy, không như người khác… Rốt cuộc ông Pharisêu lại là người quay vào mình, ông ngắm chính mình, dù chúng ta tưởng ông đã mở ra khi nói: “Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa”. Tạ ơn là quay về với Thiên Chúa, nhìn nhận Ngài là nguồn mạch, là trung tâm, là sức sống của cả đời mình, của những việc tốt mình làm được. Ông Pharisêu đã không tạ ơn thực tâm vì ông quay vào mình, coi mình là trung tâm, là tác giả mọi điều tốt đẹp ông đã làm. Như thế Thiên Chúa là một người thừa, hay cùng lắm chỉ là một người mà ông đến gặp để kể công và đòi nợ. Thiên Chúa phải trả cho ông Nước Trời vì ông đã có công. Người Pharisêu không xin Thiên Chúa cũng chẳng thể cho điều gì, vì ông đã đầy ắp. Vì tự mãn, nên ông mất đi một khả năng quan trọng, đó là mở ra để đón nhận Thiên Chúa vào đời mình.
Nếu người Pharisêu là một ông nhà giàu, chẳng có gì phải xin Thiên Chúa, thì ngược lại, anh thu thuế, tuy là là người có lắm tiền nhiều của, nhưng thực ra anh là người nghèo trước mặt Thiên Chúa. Anh chẳng có công trạng gì để cậy dựa. Anh ý thức về sự nhơ nhớp của mình và thấy gần như không thể làm lại cuộc đời. Nếu hoán cải, anh phải bỏ nghề, và nhất là phải bồi thường toàn bộ những gì anh đã thu quá mức, cộng thêm một phần năm số tiền trên. Tình cảnh của anh thật là tuyệt vọng. Anh chỉ còn biết cậy dựa vào lòng thương xót của Thiên Chúa.
Như thế, thật là oái oăm, chính sự đạo đức của người Pharisêu đã trở thành một chướng ngại khiến ông ta không gặp được Thiên Chúa, không lãnh nhận được ơn của Ngài. Còn sự tội lỗi của người thu thuế lại đưa anh đến chỗ mở lòng ra để đón nhận Thiên Chúa, Đấng yêu thương tha thứ. Chúa Giêsu đã long trọng tuyên bố: “Tôi nói cho các ông biết:người nầy, khi trở về nhà, thì đã được nên công chính; còn người kia thì không”.
Như thế, thưa anh chị em, những ai tự cho mình là công chính thì không được Thiên Chúa nhìn nhận, còn kẻ tội lỗi biết cậy trông, lại được Thiên Chúa làm cho nên công chính. Chúng ta không thể tự tạo cho mình sự công chính thánh thiện nhờ làm những việc lành phúc đức. Trở nên công chính là một ơn Chúa ban cách nhưng không, nhờ lòng tin và lòng mến của ta đối với Chúa Giêsu Kitô. Chắc chắn chúng ta phải làm nhiều việc lành phúc đức, nhưng đừng tưởng mình có thể mua được Nước Trời bằng những công phúc của mình. Chúng ta được cứu độ nhờ công trạng của Đức Kitô. Dù sống đạo đức hay trót mang thân phận tội lỗi, chúng ta phải tránh thái độ khép kín trước Thiên Chúa và tha nhân. Đừng vì mình đạo đức mà khép kín trong tự kiêu, cũng đừng vì mình tội lỗi mà khép kín trong tự mãn, cũng đừng bì mình tội mà khép kín trong tuyệt vọng. Ơn Chúa chỉ đến với người biết mở ra để đón nhận.
Anh chị em thân mến,
Hình ảnh của hai nhân vật trong dụ ngôn hôm nay đã giúp chúng ta khám phá lại hai sự thật căn bản: sự thật về Thiên Chúa tình thương và sự thật về con người tội lỗi. Vì thế lời cầu nguyện của người thu thuế về con người tội lỗi. Vì thế lời cầu nguyện của người thu thuế lại chính là mẫu mực cho đời sống đức tin của chúng ta: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Nếu dụ ngôn giúp chúng ta khám phá hai sự thật căn bản đó thì để kết thúc, không có gì tốt hơn là lặp lại thật sâu và thật trọn vẹn lời cầu nguyện của Thánh Âutinh: “Lạy Chúa, xin cho con biết Chúa và xin cho con biết con”.

 

TN30-C65: Tự hào

Suy Niệm
 

Đạo đức là một điều tốt, nhưng tự hào về đạo đức của mình lại là một nguy cơ. Làm việc: TN30-C65

Đạo đức là một điều tốt, nhưng tự hào về đạo đức của mình lại là một nguy cơ. Làm việc lành là một điều tốt, nhưng nếu việc lành khiến tôi khinh miệt tha nhân thì thật là nguy hiểm.
Dụ ngôn trên đây cho thấy hai khuôn mặt trái ngược: người pharisêu công chính và người thu thuế tội lỗi.
Chúng ta cần hình dung cách đứng cầu nguyện của họ, và cần suy nghĩ về lời họ thưa với Chúa.
Lời nguyện nào cũng phản ảnh tâm hồn.
Người pharisêu trước hết dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, vì ông thấy mình hơn kẻ khác nhiều. Ông liệt kê những tội ông không hề phạm, và những việc đạo đức ông quen làm, vượt quá điều Lề luật đòi hỏi. Ông vừa cầu nguyện, vừa liếc mắt nhìn anh thu thuế đứng ở xa phía dưới. Ông thấy mình hơn hẳn anh ta. Đúng ông là một người giàu, vì ông chẳng có gì phải nài xin Thiên Chúa.
Ngược lại, anh thu thuế lại là người nghèo. Anh muốn làm lại cuộc đời, nhưng hầu như không sao làm nổi. Nếu hoán cải, chắc anh phải bỏ nghề, nhất là phải bồi thường mọi gian lận xưa nay. Anh không dám ngước mắt lên trời, chỉ biết đấm ngực nài xin lòng thương xót Chúa.
Thiên Chúa sẽ nghiêng về phía ai?
Ngài không nghiêng về người pharisêu, kẻ tự hào mình công chính và khinh rẻ tha nhân, nhưng Ngài cúi xuống người thu thuế và đáp lại lời nài xin của anh, vì anh không cậy dựa vào công đức của mình nhưng vào lòng thương xót Chúa.
Chúng ta không thể làm cho mình nên thánh thiện chỉ nhờ thi hành những việc đạo đức nào đó.
Chúng ta cũng không thể mua được Nước Trời chỉ nhờ những cố gắng của bản thân.
Trở nên thánh, nên công chính là việc Chúa làm nơi tôi, là quà tặng Ngài ban cho tôi.
Tôi chỉ cần khiêm tốn mở ra, để cho Ngài chiếm lấy mọi khoảng đời của mình, chi phối mọi khoảnh khắc của ngày sống.
Nên thánh là để cho Chúa chinh phục và yêu thương.
Thánh nhân chẳng bao giờ là người tự hào, nhưng là người càng lúc càng cần đến Thiên Chúa.
Gợi Ý Chia Sẻ
Bạn nghĩ gì với những lời cầu nguyện của bạn? Có khi nào nó giống với lời cầu của người pharisêu không?
Chúng ta thường xét đoán người khác theo cái nhìn bên ngoài. Có khi nào bạn thấy mình mắc phải sai lầm khi vội vã xét đoán người khác không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa, khi đến với Chúa con tháo bỏ đôi giày những tham vọng của con, con cởi bỏ đồng hồ thời khóa biểu của con, con đóng lại bút viết các quan điểm của con, con bỏ xuống chìa khóa sự an toàn của con, để con được ở một mình với Ngài.
Lạy Thiên Chúa duy nhất và chân thật, sau khi được ở với Ngài, con sẽ xỏ giày vào để đi theo con đường của Chúa con sẽ đeo đồng hồ để sống trong thời gian của Chúa, con sẽ đeo kính vào để nhìn thế giới của Chúa, con sẽ mở bút ra để viết những tư tưởng của Chúa, con sẽ cầm chìa khóa lên để mở những cánh cửa của Chúa. (Graham Kings).

 

TN30-C66: Tội lỗi chống lại sự có tội - McCarthy

Người Pharisêu hoàn toàn không biết đến sự có tội của mình. Ông ta không nghĩ mình có tội gì: TN30-C66

Người Pharisêu hoàn toàn không biết đến sự có tội của mình. Ông ta không nghĩ mình có tội gì cả. Ông ta không phải là một người tội lỗi như phần còn lại của nhân loại. Không. Ông ta khác hẳn. Tuy nhiên, thay vì xem xét lương tâm của mình và xưng thú tội lỗi của mình, ông xem xét lương tâm của những người khác và xưng thú tội lỗi của họ –tham lam, bất công, ngoại tình vân vân…
Tuy nhiên, ông ta có tội. Thật vậy, tội rất nghiêm trọng. Tội chính của ông là lòng kiêu ngạo. Nhưng ông ta cũng phù phiếm và tự cho mình đúng lại còn khinh khi những người khác. Những tội lỗi của ông ta không phải vì những việc làm xấu mà là những thái độ xấu. Ông ta tỏ một thái độ có vấn đề như người ta thường nói như thế ở Mỹ.
Người thu thuế nếu muốn cũng có thể cáo tội người Pharisêu. Nhưng ông không làm thế. Ông tập trung vào chính mình, và để tội lỗi của những người khác ở giữa họ và Thiên Chúa. Với sự lương thiện triệt để, ông bóc trần tâm hồn trước mặt Thiên Chúa. Ông không cố tình giấu giếm điều gì. Ông đứng trước mặt Thiên Chúa và với tất cả sự khiêm tốn, ông nói: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Kết quả là khi ông trở về nhà, ông đã được nên công chính. “Lời cầu xin của người khiêm tốn sẽ vọng tới các tầng mây” (Bài đọc 1).
Chúng ta có thể học hỏi cả hai người ấy. Trước hết người Pharisêu. Thật vậy, có một người Pharisêu ẩn núp trong mỗi người chúng ta. Giống như họ, chúng ta có thể nhận thức rõ những tội lỗi của các người khác nhưng lại không nhìn thấy tội lỗi của mình. Người ta dễ có thói quen cáo tội người khác. Nhưng điều nguy hiểm bởi vì nó ngăn cản chúng ta nhìn vào chính tội của mình. Ngoài ra, không thể định tội những người khác mà không để cho sự chủ quan của mình, làm cho thiên lệch.
Và chúng ta có thể học hỏi với người thu thuế. Ông này chỉ cho chúng ta biết phải xưng thú tội lỗi của chúng ta như thế nào. Dù chúng ta chưa nhận thức hết mọi tội mình làm, mỗi người trong chúng ta vẫn có thể nói với tất cả sự thật: “Con là kẻ tội lỗi”.
Nhiều người đến với Bí tích hoà giải với một danh sách các tội đã được chuẩn bị trước. Phần lớn những điều ghi trong danh sách ấy thì tầm thường, không đáng kể và không thay đổi bao nhiêu từ lần xưng tội này đến lần xưng tội sau. Người ta không nỗ lực đi sâu vào căn nguyên của mối tương giao của họ với Thiên Chúa và với người khác. Người ta quá nhấn mạnh đến các tội mà không nhấn mạnh đúng mức trên sự kiện là một người tội lỗi.
Người thu thuế hẳn sẽ dễ dàng lập ra danh sách các tội. Nhưng ông đã không làm thế; ông làm một điều tốt hơn, và cũng khó khăn hơn. Ông nói: “Con là kẻ tội lỗi”.
Chúng ta cũng phải chuẩn bị đứng trước Thiên Chúa như những kẻ tội lỗi cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa như đất hạn cần mưa. Chúng ta cần phải đối diện không phải với sự thật chúng ta phạm tôi mà với sự thật chúng ta là những kẻ tội lỗi. Chúng ta là một dân có tội, sa đoạ – đây là một thực tế. Tội lỗi không phải là một hành động hay một hoạt động các hành động, nhưng là một điều kiện trong đó chúng ta sống. Đó là một chân lý cao cả mà người thu thuế đã lĩnh hội.
Một vấn đề lớn của thời đại chúng ta là con người không biết được chính mình, nhận ra điều xấu và giải quyết nó nơi bản thân mình. Những người trong các nhóm hỗ trợ nói rằng khúc quanh lớn làm họ chuyển biến là khi họ có thể nói lên sự yếu đuối của mình.
Người Pharisêu đầy sự tự mãn, là tâm điểm của thế giới ông ta. Ông đã tự tán dương mình. Từ vị trí tự tâng bốc ấy, ông nhìn xuống những người khác, trong đó có những người mà ông khinh bỉ. Người thu thuế, trái lại, hạ mình trước mặt Thiên Chúa. Ông này đặt hy vọng của ông vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta làm tốt khi theo gương ông. Thiên Chúa yêu thích tâm hồn tan vỡ và sầu khổ biết rõ những thất bại của mình hơn tâm hồn tự mãn và kiêu căng không bao giờ nhận rằng mình đã phạm tội.
“Một kẻ tội lỗi biết rằng mình là kẻ tội lỗi tốt hơn một ông thành biết mình là thánh nhân” (Châm ngôn Yiđít).

 

TN30-C67: Biệt phái và thu thuế

Qua đoạn Tin mừng vừa nghe, chúng ta cùng nhau dừng lại ở hình ảnh người Biệt phái và kẻ: TN30-C67

Qua đoạn Tin mừng vừa nghe, chúng ta cùng nhau dừng lại ở hình ảnh người Biệt phái và kẻ thu thuế.
Cứ bề ngoài người Biệt phái đầy vẻ đạo đức và công chính, đồng thời được mọi người kính nể, vì ông là người cầm cân nảy mực mọi nghi lễ và lề luật. Hằng ngày ông cặm cụi vào từng chi tiết của lề luật. Ông tuân giữ ngày Sabbat, rửa tay chân trước khi ăn uống. Ông đeo thẻ kinh, đứng cầu nguyện và ăn chay nghiệm ngặt. Ông đóng mọi thứ thuế… Đời sống của ông được dệt bằng trăm ngàn khoản luật, và ông cho đó là phương tiện để nên thánh.
Thế nhưng trước mắt Chúa, ông chỉ là một con số không mà thôi. Tại sao thế?
Lý do thứ nhất vì ông cho mình là kẻ vô tội và thánh thiện. Còn những kẻ khác chỉ là những kẻ xấu xa tội lỗi đáng sa hỏa ngục. Từ niềm xác tín ấy, ông trở thành người kiêu ngạo, cố chấp và cứng lòng.
Lý do thứ hai vì ông không hề cầu nguyện. Nếu có thì cũng chỉ là khoe khoang và cầu danh mà thôi. Bên ngoài ông tỏ ra cám ơn Chúa, nhưng cái lõi bên trong nhằm mục đích chứng tỏ ông xứng đáng là một người biệt phái có khả năng, có đạo đức.
Nếu ông thực sự cầu nguyện thì tại sao ông không tạ ơn về những điều đã có, đã làm và đã thất bại. Ông không thể cầu xin vì ông tự mãn, cho mình đầy đủ quá rồi. Cách cầu nguyện của ông chỉ là một hình thức đóng kịch, lấy vải thưa mà che mắt thánh. Đáng lý ra cầu nguyện phải là hơi thở của linh hồn, thì linh hồn của ông đã chết từ lâu.
Và như thế chúng ta thấy cầu nguyện chính là thước đo sự sống. Không cầu nguyện, linh hồn trở nên yếu đuối và có thể chết đi, nghĩa là sa vào vòng tội lỗi. Cầu nguyện không phải chỉ là kể lể, van xin nhưng còn là ca ngợi, ăn năn và sống theo ý Chúa. Cầu nguyện không phải là độc thoại giữa ta và Chúa nhưng là đối thoại giữa Chúa và ta. Cầu nguyện như thế thì hậu quả gấp trăm lần hoạt động vì chúng ta kéo Chúa về phe mình, để Chúa giải quyết những khó khăn và hành động qua đời sống chúng ta.
Rất nhiều người đã cầu nguyện nhưng lòng không đi theo hay tệ hơn nữa còn đi ngược chiều. Có khi chúng ta cầu nguyện chỉ để đánh lạc hướng một dư luận, để ru ngủ mình trong chốc lát, để chửi xéo hay tâng bốc người khác, để khoe khoang công đức của mình. Xét cho cùng, lối cầu nguyện không quan trọng cho bằng đối tượng cầu nguyện. Chúng ta nói chuyện với ai trong khi cầu nguyện, đó mới là vấn đề. Có thể chúng ta đã nói với chính mình hay với một tạo vật nào khác trong lúc cầu nguyện và như vậy lời cầu nguyện của chúng ta chẳng ích lợi gì,
Trái lại, cầu nguyện phải là nói chuyện với Thiên Chúa Đấng ngập tràn quyền năng và yêu thương. Và chúng ta có thể tìm thấy mẫu gương của sự cầu nguyện qua hình ảnh người thu thuế.
Trước mặt mọi người ông chỉ là một kẻ tội lỗi, liên hệ với ngoại bang để bóc lột đồng bào. Chính vì nhận biết thân phận tội lỗi của mình mà ông chỉ dám đứng ở đằng xa, gục đầu xuống và đấm ngực ăn năn.
Với tâm tình khiêm nhu ông đã kêu cầu Chúa: Lạy Chúa xin thương xót con vì con là kẻ tội lỗi. Ông ý thức tội lỗi ông nặng nề mà chỉ mình Thiên Chúa mới có thể thứ tha. Ông tin vào uy quyền của Thiên Chúa khả dĩ làm ông đổi mới. Ông là người đáng khen hơn đáng khinh. Chính vì thế mà ông đã được tha thứ và lời van xin của ông được Thiên Chúa chấp nhận.
Biết cầu nguyện là biết sống và lời cầu nguyện đích thực có thể biến đổi được cả tâm hồn.

 

TN30-C68: SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXX - 2001

Chúng ta đang bước những bước cuối cùng trong Năm Phụng Vụ, Lời Chúa cũng muốn nâng đỡ: TN30-C68

Chúng ta đang bước những bước cuối cùng trong Năm Phụng Vụ, Lời Chúa cũng muốn nâng đỡ những bàn chân rã rời của chúng ta. Một cách đặc biệt, trong những ngày tháng sống trong lo sợ hãi hùng vì khủng bố, vì các cổ phiếu tụt giá, vì nạn mất việc làm...
Dẫu sao Lời Chúa cho thấy chúng ta vẫn còn nhiều hy vọng hơn Thánh Phaolô (nhìn trong cái thực tế trần gian này), vì Phaolô đã thấy ngày " sắp phải đổ máu ra...", đã thấy "giờ phải ra đi"., còn chúng ta, dẫu sao vẫn còn hệ thống an sinh xã hội, kèm theo một tinh thần yêu nước dâng cao, tất cả đảm bảo cho chúng ta "thoát khỏi mọi mưu thâm chước độc". Nói thế là để cùng chia sẻ một cảm nghiệm mới đang nhen nhúm lên trong lòng mỗi người : Ngay giữa tột đỉnh của mọi kỹ thuật và phồn vinh con người vẫn chẳng có gì bảo đảm cho chính mình.
          Đã có những con người như anh biệt phái trong Tin Mừng nghĩ tới thiết lập một hệ thống phòng thủ cho hạnh phúc và an bình của mình bằng "những công trạng đạo đức" : không trộm cướp, không bất công, không ngoại tình, ăn chay mỗi tuần 2 lần, dâng nộp 1/10 lợi tức... Và cũng không ít người ngày hôm nay giống như những Nêrô thời Phaolô tích cực lăn xả vào cuộc chiến tiêu diệt những "kẻ ngoại đạo" như là nền móng cho một thế giới đạo thuần khiết, đảm bảo cho cuộc sống an vui : họ sa#n sàng cho cuộc "tuẫn đạo" vì một thế giới hòa bình. Cũng như anh biệt phái, họ muốn nói "Lạy Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như những kẻ khá...", và hơn anh biệt phái họ muốn bảo vệ "đạo" hay "đời" bằng mọi giá, kể cả mạng sống mình và mạng sống của tập thể mình.
          Nhưng Lời Chúa lại xem ra không đồng tình với suy nghĩ của họ "Ta nói cho các ông biết : người này khi trở về, thì đã được nên công chính rồi, còn người kia thì không". Một phán quyết không khoan nhượng. Một phán quyết bao hàm một cái nhìn hoàn toàn mới mẻ về Đạo và về Đời.
          Đời ở đây là những mảnh đời bị thua thiệt, bị áp bức, mồ côi, góa bụa, những mảnh đời bị tù đầy chẳng ai bên vực cho... và Đạo ở đây là "Thiên Chúa đứng bên cạnh" những mảnh đời ấy, "ban sức mạnh" để nhờ những mảnh đời đen tối ấy "mà việc rao giảng được hoàn tất". "Đạo" biết rõ "họ còn ở trong thế gian" nhưng không cầu xin "Cha đưa chúng ra khỏi thế gian", nhưng cho họ như cho Phaolô "thoát khỏi mọi mưu thâm chước độc". Cũng như chính bản thân "Đạo" đã "được sai vào thế gian" mang lấy hình hài "tôi đòi", không mưu cầu sự tôn vinh của thế gian, không tìm cách rũ bỏ cái hình hài tôi đòi ấy, không đấu tranh để giai cấp mình thành giai cấp thống trị, nhưng cho dù không thay đổi gì cái hình hài của người thu thuế trong Tin Mừng, mà bằng ánh sáng của Niềm Tin, đã thay đổi cái căn tính để anh trở nên người công chính trong chính cái hình hài thu thuế còn đó. Cũng như chính bản thân "Đạo" đã vào Vương Quốc của Cha trong hình hài của một kẻ đã thụ hình Thập Giá. Đấy là Tin Mừng mà Phaolô đã được nhận lãnh để rao giảng. Đó cũng là Tin Mừng mà mỗi Kitô hữu chúng ta được trao ban.
          Trong sự hoảng loạn của cuộc sống, biết bao tiếng nói tự mệnh danh là Cứu Độ từ bên này hay bên kia những chính kiến. Trong số đó không thể không nhắc đến những tiếng nói vô cùng nhiệt huyết của những anh chị em không đồng quan điểm với các Chủ Chăn tại VN hôm nay. Nhưng mỗi người hãy nhìn vào chính Đức Giêsu, hãy nhìn vào thánh Phaolô để nghiệm ra con đường "Đạo" đã chiếu soi những mãnh đời khốn cùng như thế nào để hãy cùng thánh Phaolô "giữ vững niềm tin" vào "lễ tế" cuộc đời như là sức mạnh tỏa sáng Tin Mừng trong mỗi tâm hồn. Ơn Cứu Độ không nhằm những cơ chế, những tổ chức, nhưng nhằm gợi lên trong trái tim và trí tuệ con người TÌNH YÊU HIỆN DIỆN CỦA Thiên Chúa, Tình yêu chấp nhận đồng hành, chia sẻ, và đón nhận mọi con người. Quả thực, nếu nhìn theo cách nhìn của những chủ thuyết cứu thế thường gặp, thì Đức Giêsu đã thất bại, Phaolô cũng đã thất bại, các Chủ Chăn của chúng ta cũng đã thất bại, nhưng nếu nhìn vào tính cách đồng hành, chia sẻ và đón nhận mọi con người trong TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA, thì Giáo Hội Việt Nam hôm nay có thể nói như thánh Phaolô "Cha đã chiến đấu xuất sắc, đã chạy hết quãng đường, đã giữ vững niềm tin...". Xin Tạ Ơn Chúa.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

TN30-C69: CHÚA NHẬT THỨ 30 THƯỜNG NIÊN

(24-10-2004)
Sự công chính theo cách đánh giá của Đức Giêsu
ĐỌC LỜI CHÚA
· Hc 35,12-14.16-18: (12) Đức Chúa là Đấng xét xử, Người chẳng thiên vị ai. (13) Người không vị nể mà làm hại kẻ nghèo hèn, nhưng nghe lời kêu xin của người bị áp bức.
· 2 Tm 4,6-8.16-18: (8) Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện.
 · TIN MỪNG: Lc 18,9-14
Dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế
 (9) Đức Giêsu còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác: (10) «Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế. (11) Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác, tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. (12) Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con”. (13) Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. (14) Tôi nói cho các ông biết, người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên».
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý
 

Bạn có ngạc nhiên về cách đánh giá của Đức Giêsu về hai người trong bài Tin Mừng trên không? : TN30-C69

1. Bạn có ngạc nhiên về cách đánh giá của Đức Giêsu về hai người trong bài Tin Mừng trên không? Nếu là bạn, bạn đã đánh giá hai người ấy thế nào?
2. Bạn rút ra bài học gì về quan điểm của Đức Giêsu về sự thánh thiện? Bạn phải thay đổi cách đánh giá của bạn theo Đức Giêsu hay theo người đời?
3. Theo Đức Giêsu, sự công chính hệ tại điều gì? tại sự vô tội? tại những việc đạo đức mình làm được? tại việc giữ luật nhiệm nhặt? hay tại tình yêu? tại lòng khiêm nhượng? tại sự hối cải?
Suy tư gợi ý
1. Cách đánh giá của Đức Giêsu thật đáng ngạc nhiên
Đọc đoạn Tin Mừng trên, chúng ta không khỏi ngạc nhiên và kinh sợ. Ngạc nhiên vì kết luận rất bất ngờ của Đức Giêsu so với cách suy nghĩ đánh giá của chúng ta. Kinh sợ vì thấy chính mình nhiều khi cũng hành xử y hệt người Pharisêu ấy. Người Pharisêu trong đoạn Tin Mừng tự hào về những việc mình làm, điều đó không phải là không có lý do chính đáng. Chắc hẳn ông ta đã thật sự làm được những điều mà ông ta kể ra với Thiên Chúa. Bài Tin Mừng viết, «Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng…». Từ «nguyện thầm» cho ta thấy những việc tốt lành đạo đức ông kể ra là chỉ để cho Chúa nghe, chứ không phải để khoe khoang với mọi người. Cho nên những việc ấy là có thật. Chẳng những ông tuân giữ luật Môsê cũng là luật Chúa một cách nhiệm nhặt, mà còn làm tốt hơn những gì luật ấy buộc nữa. Chẳng hạn luật Môsê chỉ buộc kiêng ăn mỗi năm một lần vào ngày lễ tạ tội, tức ngày 10 tháng 7 của lịch Do Thái (x. Lv 16,29), thế mà ông đã ăn chay mỗi tuần hai lần. Nghĩa là nhiều hơn gấp 104 (=52 x 2) lần luật buộc! Chính những việc làm xem ra tốt lành ấy đã khiến ông tự hào mình đạo đức, khiến ông rơi vào tình trạng mà sách Cách Ngôn nói: «Có hạng người cứ cho mình là trong sạch, dù chưa được gột rửa khỏi vết nhơ» (Cn 30,12).
Nhưng rõ ràng theo quan điểm Đức Giêsu thì ông không phải là người công chính trước mặt Thiên Chúa. Điều đó hẳn phải làm ta ngạc nhiên. Nhưng ta còn ngạc nhiên hơn nữa khi Đức Giêsu lại coi người thu thuế tội lỗi kia – là người công chính sau khi ông cầu nguyện cách khiêm cung như thế. Mặc dù người thu thuế chắc chắn đã phạm nhiều tội hơn người Pharisêu kia. Quả thật, cách suy nghĩ, đánh giá của Đức Giêsu ngược hẳn với cách thường tình của chúng ta, kể cả những Kitô hữu “cao cấp”. Nhưng là người Kitô hữu, chúng ta phải học cách suy nghĩ và đánh giá của Đức Giêsu, chứ không phải tiếp tục cố chấp với cách suy nghĩ của mình.
Thiên Chúa cũng sẽ xét xử chúng ta dựa trên cách suy nghĩ và đánh giá của Đức Giêsu chứ không theo cách của chúng ta. Do đó, tới ngày phán xét, sẽ có một sự đảo lộn không ngờ so với những suy nghĩ hay dự đoán của con người, vì có «những điều cao trọng đối với người đời lại là điều ghê tởm trước mặt Thiên Chúa» (Lc 16,15). Vì thế, ngày ấy có thể xảy ra: «Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót» (Mt 20,16; Mc 10,31; Lc 13,30); «Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 8,11-12); «Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?” Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác» (Mt 7,22-23).
2. Sự công chính theo quan điểm của Đức Giêsu
Rõ ràng Đức Giêsu không phán đoán theo kiểu con người, kể cả những Kitô hữu “cao cấp”. Sự công chính không chính yếu hệ tại những việc đạo đức, những lễ nghi tôn giáo mà ta làm được, cho dù nhiều tới đâu. Lời của thánh Phaolô soi sáng cho ta phần nào: «Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13,2-3). Như vậy, tất cả những việc tốt lành mà ta làm được, dù nhiều đến đâu, nếu không phát xuất từ tình yêu đích thực, thì trước mặt Thiên Chúa, vẫn chỉ là một con số không to tướng.
Những việc làm tốt đẹp ấy nếu thật sự phát xuất từ tình yêu, thì ta sẽ không bao giờ kể ra để được mọi người khen ngợi, kể cả việc kể ra với Thiên Chúa. Khi kể ra để được khen ngợi, thì việc kể ra đó chứng tỏ ta làm những việc ấy không phải do tình yêu, mà do ý muốn được khen ngợi là đạo đức, là có tình yêu, là giỏi giang, là tuyệt hảo. Và như thế thì ta «đã được phần thưởng rồi» (Mt 5,2.5), nên Thiên Chúa không còn phải thưởng cho ta nữa.
Nếu ta kể công với Thiên Chúa, thì hóa ra ta làm những việc ấy chỉ để Ngài trả công như thể ta là người làm công. Họ làm việc để được trả lương hơn là làm vì tình yêu, khác với con cái trong nhà làm vì yêu thương cha mẹ chứ không để được cha mẹ trả công. Trường hợp này, Thiên Chúa, Đấng vô cùng công bằng, luôn trả công cho ta xứng đáng bằng một phần thưởng nào đó có thể ngay ở đời này; nhưng Ngài không thể kể ta là người công chính đáng được hưởng thứ phần thưởng vốn chỉ dành cho những người có tình yêu đích thực. Cũng như ông chủ có thể trả lương sòng phẳng cho những người làm công, nhưng không bao giờ chia gia tài cho họ, mà chỉ chia gia tài cho con cái, cho dẫu con cái làm được ít việc cho ông hơn người làm công. Cũng vậy, trước con mắt Thiên Chúa, giá trị của một công việc dù nhỏ bé nhưng được làm vì tình yêu thì vẫn vô cùng lớn hơn giá trị của một công việc dù to tát nhưng lại làm vì một động lực khác.
3. Trường hợp hai người cầu nguyện trong dụ ngôn
Trong dụ ngôn của bài Tin Mừng trên, người Pharisêu tưởng rằng ông có thể cậy vào việc giữ lề luật và những việc đạo đức của mình để tự hào là công chính trước mặt Thiên Chúa. Nhưng thánh Phaolô cho biết, «Trước nhan Chúa, không người phàm nào được nhìn nhận là công chính vì đã làm những gì Luật dạy» (Rm 3,20; Gl 2,16); «Dân Ítraen tìm một luật làm cho họ nên công chính thì lại không đạt tới Luật đó.  Tại sao thế? Vì họ không tìm cách nên công chính nhờ đức tin, nhưng nhờ việc làm» (Rm 9,31-32). Sự công chính không đến từ việc làm hay việc tuân giữ lề luật, mà đến từ việc tin vào ân sủng của Thiên Chúa và sống phù hợp với niềm tin ấy.
Do đó, càng cậy vào việc giữ luật và những việc mình làm để tự hào về sự công chính của mình thì càng trở nên bất chính trước mặt Thiên Chúa. Vì «Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường» (Gc 4,6; Pl 5,5). Do đó, ta đừng bao giờ tự hào về sự thánh thiện hay những việc làm tốt đẹp của mình. Thánh Phaolô viết: «Người nào không dựa vào việc làm nhưng tin vào Thiên Chúa, Đấng làm cho kẻ vô đạo nên công chính, thì lòng tin sẽ làm cho người ấy được Thiên Chúa kể là công chính» (Rm 4,5). Trước khi sa ngã, chắc chắn thiên thần Lucifer còn thánh thiện hơn ta bây giờ rất nhiều. Nhưng ‘ông’ đã trở nên xấu xa tội lỗi vì tính kiêu ngạo và niềm tự hào về sự thánh thiện của ‘ông’. Do đó, kiêu ngạo là đầu mối mọi tội lỗi, nó xấu xa và tác hại hơn bất kỳ tội ác nào.
Còn người thu thuế, tuy rằng ông tội lỗi thật, ông đã từng phạm nhiều tội ác, nhưng ông đã hối hận và thành thật nhận chân tình trạng tội lỗi của mình. Qua sự đánh giá của Đức Giêsu, ta thấy đối với Thiên Chúa, tuy tội lỗi làm mất lòng Thiên Chúa nặng nề, nhưng tình yêu được thể hiện bằng tâm hồn khiêm nhượng lại làm đẹp lòng Ngài nhiều hơn. Thật vậy, thánh Phêrô nói: «Lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi» (1Pr 4,8; x. Tb 12,9). Kẻ thánh thiện nhất trên đời cũng vẫn có tội, vì trước mặt Thiên Chúa, «không ai là người công chính, dẫu một người cũng không» (Rm 3,10). Vấn đề không phải là mình tội lỗi nhiều hay ít, mà là mình có được Thiên Chúa tha thứ hay không: «Hạnh phúc thay kẻ lỗi lầm mà được tha thứ, người có tội mà được khoan dung! Hạnh phúc thay người Chúa không kể là có tội!» (Rm 4,7-8). Chính tình yêu và lòng khiêm nhường thống hối khiến Chúa tha thứ tất cả và «không kể là có tội». Do đó, một người vô cùng tội lỗi nhưng một khi đã thật lòng thống hối, thì trước mặt Thiên Chúa, người ấy công chính hơn một người ít phạm tội, làm được nhiều việc phúc đức, nhưng lúc nào cũng tự hào về sự vô tội hay đạo đức của mình.
Bài Tin Mừng hôm nay mặc khải cho chúng ta biết điều ấy. Đó là tin vui cho những người tội lỗi, vì họ chỉ cần thật lòng thống hối là được nên công chính; nhưng lại là tin buồn cho những người kiêu ngạo, thích tự hào về sự đạo đức hay thánh thiện của mình.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, có thể nói: trước mặt Cha, tính ích kỷ và kiêu ngạo của một người che lấp tất cả mọi sự tốt đẹp của người ấy, khiến người ấy trở thành bất chính. Và tình yêu thương và lòng khiêm nhượng của một người co thể che lấp được những tội lỗi xấu xa của người ấy. Vậy, xin Cha giúp con biết sống yêu thương, khiêm nhượng và trừ tuyệt tính ích kỷ và kiêu ngạo trong con.
Joan Nguyễn chính Kết

 

TN30-C70: NGƯỜI KHIÊM NHƯỢNG CẦU NGUYỆN

Lc 18, 9-14
 

Tôi còn nhớ rất rõ khi còn thời trung học, một hôm tôi tới lớp, anh em cùng lớp đã tề tựu khá: TN30-C70

Tôi còn nhớ rất rõ khi còn thời trung học, một hôm tôi tới lớp, anh em cùng lớp đã tề tựu khá đông, một anh bạn kể cho tôi câu chuyện làm tôi vẫn còn nhớ tới ngày nay. Anh bạn kể rằng :” Gần nhà anh ta có một cậu sinh viên rất giỏi nhưng đầy tự kiêu và khoe khoang.Một hôm anh ta ba hoa chích chòe khoe hết môn này môn nọ và môn nào anh ta cũng cho là anh ta không ngán, môn nào nào anh ta cũng xem mình là giỏi, là hơn cả giáo sư. Một anh bạn khác đế vào :” Trên trần gian này chỉ có ba bồ chữ anh bạn sinh viên này đã chiếm hơn cả hai bồ, vậy còn gì cho người khác nữa đâu ! “. Câu chuyện xem ra rất thường nhưng nó gây cho tôi nhiều suy nghĩ cho tới lúc này. Tin Mừng Lc 18,9-14 hôm nay cũng đưa ra hai nhân vật ông Pharisiêu kiêu ngạo, khoe khoang và khóac lác, kể công, người thu thuế thì khiêm nhượng, tự hạ, bị lép vế không dám khoe khoang, tự kể, tự  trưng thành tích gì cả.
CÁI TRỚ TRÊU CỦA CON NGƯỜI : Đời thường và trong giới đạo đức cũng thế. Có những người được Chúa ban cho ơn huệ, được tài trí khôn ngoan, làm giầu, học hành giỏi giang hơn người, thành công trong cuộc đời, làm được những việc nổi bật trong xã hội, lại đâm ra tự khoe, tự mãn, khinh rẻ người khác. Có những người tự cho mình đạo đức, giữ luật, đọc kinh,lại cũng đâm coi mình là thánh thiện, đạo đức hơn người khác. Những chuyện ấy nhan nhản trong xã hội trong giới đạo đức và xem ra thực thường tình, do đó, Chúa Giêsu mới nhắc nhở nhân lọai, nhắc nhở con người, nhắc nhở mỗi người qua dụ ngôn :” Người Pharisiêu công chính và người thu thuế tội lỗi “. Đọc đọan Tin Mừng này, chúng ta cảm thấy nực cười, cảm thấy nhột nhạt, khó chịu, cười ra nước mắt. Ông Pharisiêu lên đền thờ cầu nguyện. Nếu chỉ nhìn qua sự việc, cầu nguyện là điều tối quan trọng và ông Pharisiêu lên đền thờ để cầu nguyện là việc thật chính đáng. Nhưng ông Pharisiêu đã không cầu nguyện như chúng ta tưởng tượng, như chúng ta suy nghĩ. Ông lên đền thờ để khoe thành tích của ông. Ông cầu nguyện, thưa chuyện với Chúa nhưng thực ra ông đang nói một mình và chỉ mình ông nghe mà thôi. Ông tạ ơn Chúa nhưng kỳ thực ông bắt Chúa phải cám ơn ông. Ông đã huênh hoang kể công đức của ông. Quả thực những điều ông kể là đúng nhưng thay vì khiêm nhượng biết ơn Chúa, ông lại cho rằng ông làm được những việc đó là do tự sức ông, ông không biết đây là do ân huệ của chính Thiên Chúa ( Pl 3, 9 ). Do đó, những việc ông làm được, những điều ông giữ, những việc đạo đức ông làm thay vì trở nên ơn nghĩa, công phúc thì nó lại trở nên bọt bèo đi theo cái tôi quá lớn của ông. Ông thẳng thừng khinh miệt người khác. Ông trở nên sai lầm nặng nề khi ông so sánh mình với người thu thuế khiêm nhượng. Sai lầm của ông ở chỗ:” Vì con không như bao kẻ khác ; tham lam, bất chính, ngọai tình hoặc, như tên thu thuế kia “( Lc 18, 11 ). Phải chi, ông Pharisiêu đừng đem mình ra so sánh với người khác, với người thu thuế mà huênh hoang, ngạo mạn, dậy đời. Phải chi, ông pharisiêu biết nhìn lên Chúa, ông sẽ thấy mình chưa ra gì mà còn phải cố gắng hết sức để cậy trông vào Chúa, vì đối với Chúa ông chỉ là hư vô…Nếu biết nhìn vào Chúa, ông sẽ cần đến lòng nhân từ xót thương của Chúa, ông sẽ cần đến sự tha thứ và khoan dung của Người. Khi đó, ông mới nhận ra sự yếu hèn của mình và mới biết cầu nguyện bằng những lời lẽ chân thành và khiêm tốn của người thu thuế:” Lạy Tiên Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội “ ( Lc 18, 13 ). Người thu thuế tự nhận mình là kẻ đắc tội với Chúa và với anh em. Nên, anh ta chỉ biết cúi mặt xin Chúa tha thứ tôi lỗi. Chính vì thế, người thu thuế đang sống trong sự thật và là người công chính trước mặt Thiên Chúa.   
CÁI ĐẸP CỦA TIN MỪNG : Câu chuyện về người sinh viên tự mãn, tự kiêu, tự khoe mà tôi đã được một anh bạn cùng lớp trung học kể lại giúp tôi hiểu thật rõ ý nghĩa của dụ ngôn hôm nay. Bởi vì, tất cả đều là hồng ân của Chúa. Tất cả đều do Chúa ban và mọi người đều phải dùng những tài năng, những thành công, danh vọng, chức tước, địa vị, của cải để làm vinh danh Chúa. Tự kiêu,tự mãn, tự khoe, tự đề cao sẽ chẳng nhận được lợi ích nào. Kẻ  tự cho mình là thánh thiện, đạo đức, là đầy đủ sẽ trở nên không trước mặt Thiên Chúa, còn kẻ khiêm tốn, tự nhìn nhận mình là yếu hèn, tội lỗi sẽ được Chúa khỏa lấp và ban tràn đầy hồng ân. Bởi Chúa đã phán :” Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên “( Lc 18, 14 ). Đây là nét rất đẹp và hoàn toàn thật của Tin Mừng, của con đường cứu độ của Chúa Giêsu.
CHÚA MỜI GỌI MỌI NGƯỜI, MỖI NGƯỜI : Đường vào Nước Trời là con đường hẹp, đường vác thập giá. Người Kitô hữu tất cả đều được mời gọi trở nên thánh. Tuy nhiên, theo đạo không chưa đủ mà giữ đạo không vẫn chưa đủ. Con người còn được mời gọi sống công chính và thực hiện con đường phục vụ khiêm tốn. Lời cầu nguyện của người thu thuế phải nên mẫu mực cho chúng ta. Cầu nguyện không phải là khoe khoang, đòi Chúa phải biết ơn chúng ta hay nói cách nôm na là chúng ta đòi nợ Chúa. Cầu nguyện là khiêm tốn tạ ơn Chúa và xin Chúa đoái thương tha thứ cho chúng ta.” Lạy Chúa xin xót thương con là kẻ tội lỗi “.
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết cầu nguyện như Chúa đã dạy các môn đệ. Xin giúp chúng con biết nhìn ra sự yếu hèn của mình và nhận ra chúng con chỉ là không trước mặt Thiên Chúa. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

TN30-C71: TỰ TRỌNG

Cầu nguyện là đặc điểm của con người.   Cầu nguyện là hơi thở của các tín hữu.  Nhưng đâu là: TN30-C71

Cầu nguyện là đặc điểm của con người.   Cầu nguyện là hơi thở của các tín hữu.  Nhưng đâu là bản chất và hình thức cầu nguyện đích thực.  Hôm nay, Đức Giêsu trình bày những điều kiện sâu xa cần thiết cho việc cầu nguyện.
HAI LỜI CẦU NGUYỆN.
Cầu nguyện là một hành vi đạo đức. Nhưng việc đạo đức đó cũng có thể trở thành vô đạo đức, nếu con người không biết tự trọng.   Lời cầu nguyện hão huyền chỉ dựa trên những điều hư không.   Hư không đích thực và lớn nhất trên trần gian này chính là cái tôi.     “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện.” (Lc 18:10)   Cả hai người đều thờ một Chúa, đều ở trong một đền thờ, đều đang làm một hành vi đạo đức cao cả nhất.   Một trong hai người cầu nguyện trong đền thờ là ông Pharisêu.  Từ tâm tình, cung cách  đến lời nói đều không thích hợp với  việc cầu nguyện.   “Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng : ‘Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như  bao người khác : tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.” (Lc 18:11)   Oâng xác định thế đứng của minh trong tương quan với người thu thuế.  Khi so sánh, ông mới thấy mình cao vượt hơn mọi người về mặt đạo đức.   Trong khi mọi người sống ích kỷ, xa hoa, trác táng, ông chỉ lo việc đạo đức.   Trong việc đạo đức, ông là người rất kỷ luật và sốt sắng.    Oâng cầu nguyện thường xuyên và giữ Luật Thiên Chúa.  Oân vượt trên cả những đòi hỏi của lề luật.  Trong khi luật chỉ đòi ăn chay mội năm một lần vào Ngày Xá Tội Vong Aân, ông ăn chay một tuần hai lần vào thứ hai và thứ năm.   Oâng kể lể với Chúa : “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.” (Lc 18:12)    Thái độ tự mãn đã không cho ông nhìn thấy sự thật về mình và người khác nữa.   Như vậy ông còn cần gì đến Chúa nữa không ?  Vậy tại sao ông lại vào đền thờ ?   Thực ra ông quan niệm cầu nguyện chỉ là việc đổi chác theo lẽ công bình, chứ không phải là một ân sủng.
Trong khi đó, người thu thuế hoàn toàn ý thức tự bản chất cầu nguyện chỉ là xin Chúa thương xót.   Oâng cảm thấy phải tùy thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa.    Nhìn cung cách ông cầu nguyện cũng có thể thấy được tất cả tâm tình của ông.  “Người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời.” (Lc 18:13)   Cung cách đó cho thấy một khoảng cách giữa Thiên Chúa cực thánh và con người tội lỗi.   Nếu Chúa không thương xót, khoảng cách đó không bao giờ lấp đầy được.   Oâng thành tâm cầu nguyện, “vừa đấm ngực vừa thưa rằng : ‘Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.’” (Lc 18:13)   Oâng nhận sự thật về mình, chứ không dám so sánh với ai.  Oâng chỉ biết tương quan giữa Thiên Chúa và mình là một tương quan bất tương xứng.  Nhưng ông tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh của lòng Chúa xót thương sẽ xóa nhòa biên giới giữa cõi thánh thiêng và trần tục.  
Dụ ngôn hôm nay mạc khải một lúc hai tương quan.   Tương quan giữa Thiên Chúa và con người không thể ổn định nếu tương quan giữa con người với nhau không tốt đẹp.  Trong dụ ngôn này, rõ ràng ông Pharisêu tập trung hoàn toàn vào cái tôi của mình.  Không thông cảm với người khác, làm sao ông có thể đòi Thiên Chúa cảm thông với mình ?   Đó là lý do tại sao ông thất bại trong việc cầu nguyện.   Ông không làm đẹp lòng Chúa như mình tưởng.   Thật là công dã tràng bao nhiêu khó nhọc trong việc giữ luật và đóng góp vào đền thờ.   Trái lại, dù không có những việc đạo đức như ông, người thu thuế “đã được nên công chính” (Lc 18:14) vì đã hết lòng cầu khẩn Chúa xót thương đến thân phận mình.   Oâng không có công trạng gì để tự hào.   Khi nhìn lại mình, ông chỉ thấy một vực thẳm tội lỗi.   Nhìn lên Thiên Chúa, ông lại thấy vực thẳm đầy ân sủng, “ân sủng tự bản chất đầy lòng thương xót và tha thứ.” (NIB 1995:343)   Trái lại, ông Pharisêu không hề cầu xin Chúa tha thứ hay thương xót, nên tình trạng ông trước sau như một.   Oâng coi mình hoàn hảo về mọi phương diện, nên cầu nguyện đối với ông là đòi nợ.   Thiên Chúa chẳng nợ ai cả, tại sao ông lại biến Thiên Chúa thành con nợ ?  Lời cầu của ông hoàn toàn dựa trên công trạng riêng, chứ không trên tình yêu Thiên Chúa.   Oâng nói bằng một ngôn ngữ lạ hoắc.  Thiên Chúa không hiểu ông muốn nói gì.   Oâng tin Chúa.  Nhưng ông tin mình hơn. 
Thế mới biết tại sao Đức Giêsu lại nói có “một số người tự hào cho mình là người công chính mà khinh chê người khác.” (Lc 18:9)  Những hạng công chính như thế không bao giờ là đối tượng của sứ mệnh cứu độ.  Nói khác, ơn cứu độ không dành cho những người kiêu ngạo.   Bởi đấy Chúa mới nói : “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn.” (Lc 5: 32)  Chỉ những người tội lỗi mới hiểu được Chúa.  Ngược lại, chỉ Chúa mới thông cảm với người tội lỗi, vì chính Chúa đã từng đi sát với họ, đến nỗi bị mang tiếng là “bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.” (Lc 7:34)    Người tội lỗi hoàn toàn tay trắng trước nhan Chúa.  Họ cũng là một hạng người nghèo về tinh thần.   Họ không có gì để kể lể.  Lời cầu nguyện của họ thật là vắn tắt và đơn sơ, nhưng đầy ý nghĩa đối với Chúa. “Oâng đã chẳng cho đi cái gì, nhưng đã nhận được tất cả.” (Faley 1994:696)
PHARISÊU THỜI ĐẠI.
Thánh Phaolô cũng đã từng là Pharisêu hạng gộc.   Nhưng thánh nhân đã trải qua một kinh nghiệm đau thương và đã thấy được tất cả bộ mặt thật của những hạng “người tự hào cho mình là công chính.”   Nhưng giờ đây Người không tự cho mình là công chính, nhưng hi vọng được vinh dự ấy : “Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính.” (2 Tm 4:8)   Thánh nhân cũng cảm thấy tự hào khi nói : “Nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe  biết Tin Mừng.” (2 Tm 4:17)   Thế nhưng, khác với đồng môn xưa, Người qui hướng tất cả về Thiên Chúa, Đấng “đã ban sức mạnh cho tôi.” (2 Tm 4:17)   Đó là lý do tại sao Người đầy hứng khởi khi “chúc tụng Chúa vinh hiển đến muôn thuở muôn đời. Amen ” (2 Tm 4:18)    Khác với thái độ ngông nghênh của ông Pharisêu, thánh nhân thú nhận : “Tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa.  Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa.” (1 Cr 15:9-10)  Ơn Chúa vô cùng sung mãn đã bù đắp được tất cả những thiếu sót quá khứ và đưa thánh nhân vào một tương quan hoàn toàn mới với Thiên Chúa và tha nhân.
Tương quan giữa con người với Thiên Chúa và với anh em đang đổ vỡ.  Khủng bố và chiến tranh là bằng chứng cho thấy vẫn còn nhiều Pharisêu trong cộng đồng nhân loại.  Thượng phụ Igace IV Hazim đã vạch mặt chỉ tên: “Chính phủ Hoa Kỳ vô tình cho người ta cảm tưởng họ đang tìm cách thống trị thế giới,”(CWNews 22/10/2001) trong khi họ vẫn tỏ ra nhân đạo qua chính sách viện trợ.  Nhân  đạo chỉ là phấn son che đậy những nét cao ngạo trên gương mặt Aâu Mỹ.  Giống như Pharisêu, họ xuất hiện trước nhan Chúa với một tay đầy ắp công đức, một tay ngổn ngang bom đạn.   Thử hỏi có thể lập tương quan với Thiên Chúa trong khi tương quan con người bị gẫy đổ không ? Tương quan nhân loại hôm nay cần phải được điều chỉnh lại.   Nếu không, nhân loại sẽ trở về thời ăn lông ở lỗ, xây dựng cuộc sống trên luật báo thù.  Theo phái đoàn Vatican tại Liên Hiệp Quốc, cuộc không kích vào Afghanistan là “‘những hành động bào thù’, không loại trừ được các nguyên nhân gây nên khủng bố.” (CWNews 23/10/2001)    Đức Tổng Giám mục Martino cho biết cần phải “loại bỏ các yếu tố hiển nhiên tạo nên những điều kiện dễ dàng sinh ra thù hận và bạo lực.  Việc phủ nhận nhân phẩm, thiếu tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản, việc loại trừ một số người khỏi đặc quyền xã hội, những nơi tị nạn không thể chịu đựng nổi, và sự đàn áp về thân thể cũng như tâm lý là những mảnh đất mầu mỡ sẵn sàng cho bọn khủng bố khai thác.  Bởi đấy, bất cứ chiến dịch chống khủng bố nào cũng cần đưa ra các hoàn cảnh xã hội, kinh tế, và chính trị nuôi dưỡng mầm mống khủng bố, bạo lực, và xung đột.” (CWNews 23/10/2001)

 

TN30-C72: Chúa Nhật 30 Quanh Năm

Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh:       2 Ti-mô-thê 4: 6-8, 16-18
 

Trong ba Thư Mục vụ gửi cho Ti-mô-thê và Ti-tô, thánh Phao-lô thường chia sẻ về chính cuộc: TN30-C72

Trong ba Thư Mục vụ gửi cho Ti-mô-thê và Ti-tô, thánh Phao-lô thường chia sẻ về chính cuộc sống ngài và những đau khổ ngài phải chịu vì Tin Mừng, để khích lệ hai ông và những người kế vị các ông hãy kiên trì trong gian khổ đời tông đồ.
          Phao-lô nói đến hoàn cảnh cô đơn của ngài khi bị mọi người bỏ rơi trong lúc ngài cần tới họ. Chỉ có mình Lu-ca là ở bên cạnh ngài lúc này. Nhưng có lẽ một mình Lu-ca không đủ trấn an ngài. Ngài muốn có càng đông người càng tốt. Những tên người này người nọ, cả đến những đồ vật thường dùng cũng được nhắc đến, như cái áo choàng, sách vở, cuộn giấy da, đã gián tiếp nói lên tâm trạng cô đơn ấy (cc. 10-15) và ước mong của Phao-lô là "Anh (Ti-mô-thê) hãy mau mau đến với tôi... Anh hãy mau đến trước mùa đông" (câu 9 và 21). Cho dù hoàn cảnh như vậy, Phao-lô vẫn xác tín rằng Chúa ở với ngài và ban sức mạnh cho ngài. Hơn lúc nào hết, ngài vững tin rằng Chúa Ki-tô sẽ đến cứu thoát ngài và đem ngài vào "vương quốc của Người ở trên trời" (4:18).
          Thánh Phao-lô so sánh cuộc đời ngài như một cuộc chạy đua và chính ngài như một lực sĩ của Chúa Ki-tô. Cuộc đua ấy có biết bao gian khổ và bách hại, nhưng Phao-lô đã luôn trung thành với Chúa Ki-tô. Hình ảnh về cuộc đua hoặc cuộc chiến đấu này còn được thánh Phao-lô nhắc đến rất nhiều lần trong các thư của ngài. Nhưng ở đây, khi ví mình như lực sĩ điền kinh của Chúa Ki-tô, ngài muốn nhắn nhủ Ti-mô-thê và những ai đọc thư này hãy kiên trì trong cuộc chạy đua là chính cuộc đời Ki-tô hữu. Để khích lệ họ, ngài đã lấy chính mình làm gương mẫu cho Ti-mô-thê và những tín hữu khác. Ngài nhấn mạnh đến hình ảnh "chạy hết chặng đường" để nhắc nhở những ai bị cám dỗ bỏ cuộc hay dừng lại trước khi tới đích. Bởi vì ngài đã tới đích nên ngài có thể cam kết với chúng ta những gì chúng ta sẽ được lãnh nhận sau cuộc đua. Đó là vòng hoa và phần thưởng cho những ai "hết tình mong đợi" Đức Ki-tô xuất hiện.
          Hai thái độ người Ki-tô hữu phải có trong cuộc chạy đua ở trần gian này là kiên trì và hy vọng. Đối với hiện tại, chúng ta kiên trì để chấp nhận và thắng vượt gian khổ để trung thành với Chúa Ki-tô và sống theo những giá trị Tin Mừng. Đối với tương lai, chúng ta đặt tất cả niềm hy vọng nơi Chúa vì chúng ta biết "Chúa là vị Thẩm Phán chí công."
          Đức cậy giúp chúng ta biết kiên nhẫn và hy vọng thế nào, thì cũng thế, đức tin làm cho chúng ta nhận biết sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình. Bản thân Phao-lô, qua những kinh nghiệm khổ đau quá khứ ngài đã nhận thấy rõ ràng: "Chúa đứng bên cạnh, Người ban sức mạnh cho tôi." Vị Tông đồ Dân ngoại giờ đây nhìn lại những việc mình đã thực hiện, "việc rao giảng được hoàn thành và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng," không phải để vỗ ngực tự phụ, nhưng là để khiêm tốn tôn vinh sự hiện diện và sức mạnh của Chúa đã hành động qua ngài.
          Ki-tô hữu khi đã sống đức tin và đức cậy thì lòng họ cũng đầy ắp lòng mến Chúa. Chính Phao-lô đã cảm nghiệm điều ấy và ngài đã nói lên xác tín của ngài trong thư Rô-ma: "Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, chiều cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta" (Rm 8:38-39).
          Cả ba nhân đức đối thần ấy đã nắn đúc con người Phao-lô với đầy đủ đức tính để đối phó với những phũ phàng cuộc đời khi thi hành sứ mệnh, theo cùng cách thức Đức Ki-tô đã làm gương cho ngài. Như Đức Ki-tô giờ phút cuối cùng vẫn có thể cầu nguyện cho những kẻ giết hại mình - "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23:34) - Phao-lô cũng có thể nói tương tự: "Mọi người đã bỏ mặc tôi. Xin Chúa đừng chấp họ." Một thái độ bình tĩnh, đầy tin tưởng lạc quan trong khi "sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ phải ra đi", phải là thái độ được nuôi dưỡng và thấm nhuần do đức tin, cậy, mến.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Có nhiều lý do khiến chúng ta sống cô đơn. Nhưng tôi có thể chia sẻ với nhóm nỗi cô đơn vì cố gắng sống Tin Mừng như thế nào?
          Nhìn lại thái độ của mình đối với cuộc đời, tôi phải diễn tả thái độ của tôi thế nào? Đó có phải là thái độ tôi cần thay đổi và học hỏi nơi Chúa Giê-su và nơi thánh Phao-lô không?
          Những lúc mệt mỏi và chán nản nào đã cám dỗ tôi dừng lại trong cuộc chạy đua của đời sống đức tin? Tôi đối phó với mệt mỏi và chán nản thế nào trong khi thi hành bổn phận hoặc sứ vụ?
          Ý thức "Chúa đứng bên cạnh"có mạnh mẽ nơi tôi không? Nếu không thì tại sao?
Cầu nguyện kết thúc
          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát một bài thích hợp hoặc đọc kinh sau đây:
          Lạy Chúa Giê-su, có những ngày con cảm thấy đời sống thật nặng nề;
          có những lúc con muốn buông trôi, để mặc cho dòng đời đưa đẩy;
          có những khoảng thời gian dài, con như mảnh đất khô khan cằn cỗi.
          Xin cho con ánh sáng của Chúa để con biết lối mà đi.
          Xin cho con tấm bánh của Chúa để con có sức mà dấn bước.
          Xin cho con Lời của Chúa để con vững một niềm tin.
          Xin cho con sự sống của Chúa để con lấy lại niềm hăng say và sự tươi tắn,
          niềm vui và sáng tạo.
          Lạy Chúa Giê-su, con thấy mình cần Chúa trong mỗi giây phút cuộc đời.
          Ước gì ai gặp con cũng gặp được sự hiện diện của Chúa. A-men.

                                                         (Trích RABBOUNI, lời nguyện 1)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN30-C73: CHÚA NHẬT 30 QUANH NĂM, C

(Lu-ca 18: 9-14)
 

Ta thường hiểu dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế nói về việc cầu nguyện, nghĩa là: TN30-C73

          Ta thường hiểu dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế nói về việc cầu nguyện, nghĩa là khi cầu nguyện ta cần phải có lòng khiêm nhường.  Tuy nhiên, theo hướng đi của Phụng vụ Lời Chúa và nhất là do hoàn cảnh Chúa Giê-su kể dụ ngôn “với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác”, ta sẽ thấy là dụ ngôn muốn nêu lên sự khiêm nhường như một thái độ căn bản người con cái Chúa phải có để được trở nên công chính.  Giống như bà góa tin rằng ông quan tòa bất chính sẽ phải nhượng bộ sự quấy rầy của bà (bài Tin Mừng Chúa Nhật trước), ta vững lòng tin Chúa hằng bênh vực ta, bởi vì Chúa luôn bênh vực những kẻ Người đã chọn.  Nhưng điều kiện để được Chúa bênh vực là ta phải nhìn nhận thân phận yếu hèn của ta.  Trong dụ ngôn, người Pha-ri-sêu và người thu thuế là hai mẫu người trái nghịch, một người tự hào cho mình là công chính, còn người kia khiêm nhường nhận mình là kẻ tội lỗi.
 a)  Một số người tự hào cho mình là công chính
          Người Pha-ri-sêu muốn tự mình trở nên công chính.  Việc tự công chính hóa của ông có đủ cả hai mặt, tiêu cực và tích cực, nói khác đi là những điều không nên làm và những điều nên làm.  Trước hết ông ta lấy mình làm tiêu chuẩn để xác định sự thánh thiện, chứ không phải lấy Chúa là Đấng Thánh.  Xét trên phương diện tiêu cực, ông ta coi mình là công chính vì đã không làm những điều Lề Luật dạy không nên làm, không giống như bao người khác là những kẻ “tham lam, bất chính, ngoại tình.”  Để đánh bóng cho sự công chính của mình, ông còn trưng dẫn một thí dụ cụ thể ngay bên cạnh ông, đó là “tên thu thuế” cũng đang có mặt trong đền thờ lúc ấy.  Về phương diện tích cực, ông ta kê khai những việc mình đã chu toàn theo Lề Luật như ăn chay, nộp thuế thập phân..., tóm lại đều là những việc làm người ta có thể nhìn thấy và kiểm chứng để công nhận ông ta là công chính!  Tin Mừng Mát-thêu chủ yếu viết cho tín hữu gốc Do-thái nên dành nguyên chương 23 ghi lại những điều Chúa Giê-su mạnh mẽ tố cáo thái độ giả công chính của nhóm Pha-ri-sêu và các kinh sư.  Còn Tin Mừng Lu-ca nhắm tới Ki-tô hữu gốc Dân ngoại nên lời lẽ ôn hòa hơn nhưng không kém phần mỉa mai trong dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế cầu nguyện trong đền thờ.
          Điều thánh Lu-ca muốn nêu lên là người Pha-ri-sêu này thực sự chu toàn những điều Lề Luật dạy và ông ta coi đó là bằng cớ để tuyên dương sự công chính của ông.  Sự công chính ấy là do ông chủ động, chứ không phải đến từ Thiên Chúa.  Nhưng thánh Phao-lô cho ta một ý niệm rõ ràng về sự công chính.  Theo ngài, được nên công chính có nghĩa là chiếm đoạt được Chúa Ki-tô và được kết hợp với Người.  Ngài viết:  “Được như vậy, không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do luật Mô-sê đem lại, nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Ki-tô, tức là sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên lòng tin” (Pl 3:9).
          Trong cộng đoàn dân Chúa mọi thời đều có những người “tự hào cho mình là công chính,” nhiều khi chính ta cũng ở trong số ấy.  Tự hào có nhiều cách.  Tự hào bằng cách phô trương những việc làm của mình.  Trong nhà thờ ta đọc kinh thật lớn tiếng, át cả những người chung quanh.  Khi đóng góp dâng cúng, ta đòi phải khắc tên mình trên bảng vàng hoặc hạch hỏi sổ sách.  Ta bắt người khác phải nhìn nhận sự công chính thánh thiện của ta.  Hoặc tự hào bằng cách “khinh chê người khác.”  Phê bình chỉ trích thường có ngụ ý:  tôi mà làm thì sẽ tốt hơn thế!  Tệ hại hơn nữa, ta còn tự hào bằng cách phá phách, kéo bè kéo cánh và gây chia rẽ trong cộng đoàn.
 b)  “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!”
          Đây phải là hình ảnh đích thực của ta.  Một lời cầu nguyện hết sức ngắn gọn, nhưng lại chứa đựng một chân lý thật sâu sắc và cảm động.  Nó giúp ta nhìn nhận thân phận đích thực của mình và cho ta thấy nhu cầu căn bản của ta.  Nó cũng nói lên quan hệ giữa chúng ta với Chúa, một quan hệ hoàn toàn lệ thuộc vào Người.  Vì ta “sinh ra trong tội” nên đương nhiên đã trở thành “kẻ thù của Thiên Chúa”, không có quyền đứng thẳng (jus-stare; justification) trước mặt Thiên Chúa và hoàn toàn không thể tự mình đến với Người được.  Do đó ta không thể làm gì hơn là “đứng đằng xa, chẳng dám ngước mắt lên trời, vừa đấm ngực vừa thưa rằng:  Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.”
          Ta thường quên đi thân phận tội lỗi của mình nên ít ý thức về con người và sứ mệnh của Chúa Giê-su.  Giê-su có nghĩa là Thiên Chúa cứu.  Ta đấm ngực kêu xin Chúa bênh vực và cứu vớt ta.  Thiên Chúa đáp lại lời cầu của ta và Người đến với ta qua Chúa Giê-su.  Có lẽ nghe xong dụ ngôn này, ta không mấy lưu ý tới cách viết của Lu-ca.  Ngay sau dụ ngôn, ngài ghi lại lời khẳng định của Chúa Giê-su:  “Tôi nói cho các ông biết:  người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi.”  Lời của Chúa Giê-su là lời của vị quan tòa công chính phán xét.  Trong dụ ngôn Chúa Nhật tuần trước, Thiên Chúa là vị quan tòa công chính hằng bênh vực những kẻ Người tuyển chọn.  Còn trong dụ ngôn hôm nay, Chúa Giê-su đã hành động như vị quan tòa công chính để làm cho những ai đến kêu cầu Người thì sẽ được nên công chính.  Được nên công chính không phải tại ta chu toàn Lề Luật, nhưng là do lời phán xét yêu thương của Đấng thi hành sứ mệnh “Thiên Chúa cứu.”
          Bài học thực hành đã được Chúa Giê-su nêu lên qua một câu cách ngôn (aphorism):  Phàm ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống;  còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.  Không phải là cách mánh mung của người đời để sống, nhưng là thái độ Ki-tô hữu phải luôn luôn có, để khi sống trước mặt Chúa, ta biết ta là ai, Chúa là Đấng nào, và ta hoàn toàn cần Chúa, tùy thuộc vào Chúa.
 c)  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Tôi thuộc mẫu người nào?  Là người Pha-ri-sêu hay người thu thuế trong dụ ngôn?
          Tôi có thói quen hay khinh chê người khác, hay phê-bình chỉ trích, luôn nghĩ một cách tiêu cực về người khác?  Tôi có biện pháp nào để tránh thói xấu này không?  Sẽ thực thi biện pháp này thế nào?
          Khiêm nhượng nhìn nhận thân phận tội lỗi của mình sẽ đem lại cho tôi những lợi ích nào?  Nhất là nó có giúp tôi mỗi ngày một tin kính và kết hợp với Chúa Giê-su hơn không?
 Cầu nguyện:
          “Lạy Chúa,
          xin cho con nhìn thấy những người nghèo
          ở quanh con, ở trong gia đình con,
          đang cần đến con.
          Bất cứ ai cần đến con đều là người nghèo,
          xin cho con thấy Chúa trong họ.
          Dần dần con hiểu rằng
          cả người giàu cũng nghèo,
          nghèo vì cần thấy đời họ có ý nghĩa.
          Dần dần con chấp nhận rằng
          cả bản thân mình cũng nghèo
          và cần đến người khác.
          Lắm khi con cần một nụ cười, một ánh mắt,
          một lời thăm hỏi đỡ nâng.
          Cám ơn Chúa vì đã dựng nên chúng con,
          ai cũng nghèo về một mặt nào đó,
          ai cũng cần đến người khác.
          Như thế là chúng con được mời gọi sống cho nhau,
          làm cho nhau thêm giàu có.
          Cám ơn Chúa vì Chúa cũng nghèo,
          vì Chúa rất cần đến chúng con
          để hoàn thành công trình cứu độ.
          Xin cho con khiêm tốn nhận mình nghèo
          để nhận lãnh,
          can đảm nhận mình giàu
          để hiến trao.  A-men.”
                                      (Trích RABBOUNI, lời nguyện 8)
 Lm. Trần đình Nhi

 

TN30-C74: CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN

(28-10-2001)
NGHE:
* Bài đọc 1: Hc 35, 12-14.16-18.
Chúa là vị Thẩm Phán, Người không xét theo vẻ hoàng nhoáng bên ngoài. Người không dựa vào vẻ bề ngoài, mà làm cho kẻ nghèo bị thiệt; Người nghe lời kẻ bị áp bức kêu cầu. Người chẳng khinh chê tiếng van nài của kẻ mồ côi, cũng như lời kể lể của người goá bụa. Kẻ hết lòng thờ Chúa sẽ được Người chấp nhận, lời họ kêu cầu thấu tận mây xanh.
* Bài đọc 2: 2 Tm 4,6-8.16-18
Cha sắp đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ cha phải ra đi. Cha đã chiến đấu xuất sắc, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây cha chỉ còn đợi vòng hoa dành cho kẻ chiến thắng. Chúa là vị Thẩm phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho cha trong ngày ấy..
* Bài Tin Mừng: Lc 18,9-14: Dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế.
Đức Giêsu còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác: "Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con. Còn người thu thuế thì đứng đàng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi, Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên."
NGẪM:
* Câu hỏi gợi ý:
 

Trong xã hội cũng như trong Dân Chúa, có nhiều hạng người: Thiên Chúa và Giáo hội nghiêng: TN30-C74

1. Trong xã hội cũng như trong Dân Chúa, có nhiều hạng người: Thiên Chúa và Giáo hội nghiêng về phía hạng người nào? Tại sao?
2. Thái đ và lời cầu nguyện nào đẹp lòng Chúa và đem ơn công chính cho người cầu nguyện? Tại sao?
* Suy tư gợi ý:
1. Trong xã hội cũng như trong Dân Chúa, có nhiều hạng người: Thiên Chúa và Giáo hội nghiêng về phía hạng người nào? Tại sao?
Trong xã hội có nhiều hạng người: giầu/nghèo, sang/hèn, sung sướng/khổ cực. Thường thì con người ta ai cũng muốn là người giầu, sang, sung sướng. Và thường thì ai cũng quí trọng người giầu, ưa thích người sang và thân thiết với những người sung sướng. Nhưng Thiên Chúa thì không giống như con người chúng ta: "Chúa là vị Thẩm Phán, Người không xét theo vẻ hoàng nhoáng bên ngoài. Người không dựa vào vẻ bề ngoài, mà làm cho kẻ nghèo bị thiệt; Người nghe lời kẻ bị áp bức kêu cầu. Người chẳng khinh chê tiếng van nài của kẻ mồ côi, cũng như lời kể lể của người goá bụa. Kẻ hết lòng thờ Chúa sẽ được Người chấp nhận, lời họ kêu cầu thấu tận mây xanh." (bài đọc 1)
Trong Giáo hội là Cộng đoàn Dân Chúa cũng có nhiều hạng người: thánh thiện/tội lỗi, sốt sáng/khô khan, giầu/nghèo.. và thường thì những người thánh thiện, sốt sáng và giầu có được trọng nể và những kẻ tội lỗi, khô khan, nghèo hèn bị xem thường, coi khinh. Nhưng đó cũng chỉ là cách cư xử theo thói người đời, chứ chưa phải cách cư xử theo tinh thần của Thiên Chúa là Đấng yêu thương hết mọi người và ưu tiên dành một tình yêu đặc biệt cho người nghèo, người tội lỗi.
Giáo hội càng ngày càng khám phá ra cách cư xứ ấy của Thiên Chúa và tìm cách áp dụng vào đời sống mục vụ của mình. Vì thế chúng ta thường nghe nói đến "Tình yêu ưu tiên dành cho người nghèo" (Amour préférentiel des pauvres) hoặc u tiên chọn lựa người nghèo" (Option préférentielle pour les pauvres). Các nền thần học của các nước thuộc thế giới thứ ba, như thần học giải phóng ở Nam Mỹ hay thần học của các Giáo hội Á châu đều thấm nhuần tính chất "ưu tiên" này của Thánh Kinh và nhất là của Phúc Aâm.
Nhưng chúng ta sẽ phải tìm cách trả lời câu hỏi này: Tại sao Thiên Chúa và Giáo hội lại chọn lựa như thế? Có phải Thiên Chúa yêu thương người nghèo là để chống lại người giầu không? Có phải vì người nghèo đạo đức hơn người giầu không?
* Dựa vào Lời Chúa trong Thánh Kinh Cựu và Tân Ước, chúng ta có thể nói mà không sợ sai lạc rằng: Quả thật Thiên Chúa Kitô giáo là Đấng Thiên Chúa đứng về phía người nghèo, Nhưng Thiên Chúa đứng về phía người nghèo không phải để chống lại người giầu, mà là để bênh vực người nghèo chống lại sự áp bức đàn áp mà người giầu và người quyền thế thường áp đặt lên người nghèo. Thiên Chúa đứng về phía người nghèo còn để mời gọi người giầu hãy bắt chước Thiên Chúa mà yêu thương giúp đỡ anh chị em nghèo của mình. Nói cho cùng thì kẻ giầu cũng như người nghèo đều phải hoán cải mới được ơn cứu độ. Người giầu hoán cải bằng cách sống không đính bén vào của cải, không làm nô lệ cho tài sản mà Chúa ban cho mình. Còn bằng cách sống mở rộng tấm lòng, mở rộng bàn tay chia sẻ của cải ấy với những người túng thiếu khó khăn hơn mình. Còn kẻ nghèo hoán cải bằng cách không oán hận hoàn cảnh, số phận mà sống cậy trông phó thác vào Thiên Chúa.
* Còn có một lý do khác không kém sâu sắc là: Thiên Chúa và Giáo hội ưu tiên dành cho người nghèo, người tôi lỗi tình thương yêu đặc biệt của mình là vì nếu Thiên Chúa và Giáo hội không yêu thương những người ấy thì họ chẳng có ai khác quan tâm đến họ và yêu thương họ cả. Họ sẽ là những con người khốn khổ nhất trên trần gian này!
2. Thái độ và lời cầu nguyện nào đẹp lòng Chúa và đem ơn công chính cho người cầu nguyện? Tại sao?
Hiểu được những điều cốt yếu, căn bản ở trên, chúng ta sẽ dễ dàng hiểu ý nghĩa của dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện của Đức Giêsu mà Phúc Aâm Luca tường trình lại cho chúng ta hôm nay: Trước mặt Thiên Chúa chúng ta chẳng là gì hết mà chỉ là những tội nhân, những người bất xứng vì tội vô ơn và phản bội. Mọi sự chúng ta có, chúng ta đều nhận từ chính Thiên Chúa hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Mặt khác, chúng ta cũng chẳng có thể mua chuộc được Thiên Chúa, hay mua được Nước Thiên Đàng và ơn công chính bằng những việc làm gọi là đạo đức của chúng ta. Nếu chúng ta thực hiện những việc đạo đức, bác ái, hy sinh, chia sẻ ấy để thể hiện lòng chúng ta kính trọng yêu mến Thiên Chúa và yêu thương anh em thì rất tốt. Còn nếu chúng ta tưởng rằng bằng những việc ấy, chúng ta mua được Thiên Chúa để có chỗ trên Thiên Đàng thì chúng ta đã sai lầm nghiêm trọng. Vì chỉ có tình thương của Thiên Chúa mới có thể cứu vớt chúng ta chứ không phải cô#ng lao của chúng ta. Hơn nữa thái độ tự cao tự đại, kiêu căng tự mãn thì lại càng trái ngược với bản tính, với tinh thần và cách hành xử của Thiên Chúa. Người Pharisêu đã kể công trước mặt Chúa và tệ hại hơn nữa là ông ta tưởng rằng nhờ những việc đạo đức đã làm mà ông ta có quyền được Thiên Chúa yêu thương và tưởng thưởng cũng như ông ta có quyền coi khinh người anh em thu thuế của mình, Thái độ và lời cầu nguyện của người Pharisêu không hề đẹp lòng Thiên Chúa, cũng chằng khiến ông ta trở thành người công chính. Trái lại thái độ biết mình là người tội lỗi, khiêm tốn và cậy trông vào lòng Chúa yêu thương của người thu thuế đã làm Thiên Chúa mủi lòng và đã đem ơn công chính cho ông ta.
Vì thế chẳng khó khăn gì để hiểu tại sao trong hai thái độ và hai lời cầu nguyện thì có một được nhận, một bị loại: Thái độ và lời cầu nguyện của người thứ nhất là người Pharisêu đi ngược lại chân lý của Thiên Chúa và của con người. Còn thái độ và lời cầu nguyện của người thứ hai là người thu thuế thì phù hợp với chân lý của Thiên Chúa và của con người.Nên kết quả tất phải khác xa nhau.
NGUYỆN:
Lạy Thiên Chúa là Thẩm Phán Công Minh, là Đấng đứng về phía người nghèo, là Đấng bênh vực người bị áp bức bóc lột, xin Chúa đoái thương đến cảnh yếu đuối, tội lỗi của chúng con, giúp chúng con mạnh tin vào Tình Thương và Sức Mạnh của Chúa. Xin Chúa đoái thương mà nghe lời than van cầu khấn của bao người đang chiụ cảnh lũ lụt lầm than, đói khổ; của bao người ốm đau,bệnh tật; của bao người cô đơn sầu khổ; của bao người bị bất công chèn ép, bị bóc lột sức lao động và phẩm gía làm người và làm con Chúa.
Xin Chúa mở lòng, mở tay chúng con, để chúng con noi theo Chúa mà biết sống yêu thương, quí trọng, chai sẻ giúp đỡ những người nghèo khổ hơn chúng con.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

 

TN30-C75: CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN

Lc. 18, 9 - 14
Anh chị em thân mến.
 

Một câu chuyện cổ tích mà nhiều người trong chúng ta đã được biết: Đó là chuyện Công Chúa: TN30-C75

Một câu chuyện cổ tích mà nhiều người trong chúng ta đã được biết: Đó là chuyện Công Chúa Bạch Tuyết và Bảy Chú Lùn. Trong câu chuyện nói lên sự việc: nàng công chúa dịu hiền luôn bị bà hoàng hậu tìm cách hãm hại. Bà hoàng hậu có một thái độ tự tôn quá đáng, bà tự hào mình là người đẹp nhất, không ai có quyền vượt qua bà.
Nhưng sự thật không phải thế, bà không đạt được như ý muốn. Không bao giờ bà thỏa mản được tham vọng của mình, vì bà luôn đố kỵ, luôn tìm cách so đo mình với người khác, muốn mình vượt trên tất cả. Chính cái tôi ích kỷ, cái tôi tự tôn đó đã làm hại bà. Cả cuộc đời không bao giờ được yên ổn, luôn tìm cách để loại trừ người khác để mình được vươn lên. Cuối cùng bà không thể tồn tại được trong sự đố kỵ đó. Còn nàng công chúa hiền dịu phải chịu bao sự khốn khó, nhưng với lòng chân thành, nàng đã được hạnh phúc.
Trên đây là hai thái độ của cuộc đời.
Chúa Giêsu trong bài phúc âm cũng cho chúng ta hai thái độ sống, hai thái của sự cầu nguyện, hai thái độ của cuộc đời.
Một người đến cầu nguyện, nhưng anh ta chỉ khoe khoan công trạng, đồng thời còn chỉ trích người khác. Anh ta chỉ nhìn thấy chính mình, thấy những gì mình đã làm được, để rồi tự hào. Ngoài ra anh không nhận thấy những gì mình đã nhận được, cũng không nhìn thấy những thiếu sót, những lỗi lầm của chính mình, mà trái lại chỉ nhìn thấy những điều xấu của người khác. Anh không nhận ra được bên cạnh anh còn biết bao nhiêu người tốt hơn anh, và cũng không muốn nhận ra có người tốt hơn mình.
Anh ta chỉ còn nhìn thấy có chính mình, ngay cả Thiên Chúa mà anh ta đến cầu nguyện, dường như cũng không đáng là gì trước mắt anh, vì những công trạng của anh đã che lấp đi tất cả. Nên người đứng cầu nguyện bên cạnh kia càng không đáng để anh quan tâm, hay đúng hơn là không nên hiện diện trước mắt anh.
Một người đến cầu nguyện, anh không có gì để khoe khoan, anh chỉ có con tim chân thành, nhìn thấy những yếu đuối, nhìn thấy sự hư không. Anh ta chỉ còn trông cậy vào Tình Thương bao la của Đấng mà anh đang cầu nguyện. Anh không còn nhìn thấy mình nữa, mà trước mắt anh chỉ có Đấng làm cho anh tất cả mọi sự. Anh chỉ biết xin tha thứ. Thế mà, chúng ta nghe Chúa Giêsu nói: "Người nầy ra về được khỏi tội, còn người kia thì không".
Nghe qua câu chuyện, chắc chúng ta cũng đang khó chịu vì thái độ của người kiêu căng, có lẽ chúng ta tự nhủ: mình không giống như hắn. Chính trong giây phút nầy, chúng ta đang mang tâm trạng của người biệt phái rồi đó. Giống trong thái độ loại trừ, trong thái độ khó chịu với người khác, giống trong thái độ chỉ nhìn thấy cái xấu của người khác. Thử nhì lại xem: người biệt phái có nhiều điều rất đáng tự hào: anh ta ăn chay, bố thí, anh ta chu toàn lề luật rất tốt. Nhưng vì thái độ anh ta đã làm, cho nên những công trạng đó không còn giá trị nữa. Còn chúng ta, không thể so sánh được với người biệt phái về công trạng, nhưng coi chừng chúng ta lại hơn hẳn người biệt phái về thái độ bên ngoài kia.
Còn thái độ của người thu thuế, mặc dù là thái độ tốt, nhưng khó để chúng ta có thể noi theo được. Chúng ta cũng có chút tài năng, chút công trạng, cũng làm được một vài việc tốt đáng tự hào, đáng biểu dương. Nhưng nếu xét kỷ lại, trước mặt Chúa những công việc đó có đáng là gì, có đáng để tự hào so với những gì mình đã nhận được, hay đem so với những người chung quanh, chúng ta có hơn được ai chưa, nếu nhìn thẳng vào thực tế. Nếu nhìn sâu hơn nữa, tội lỗi chúng ta chất chồng, nếu đem lên bàn cân, nó sẽ như thế nào? Vậy chúng ta còn dám tự hào trước mặt Chúa được không? Những lần đến trước mặt Chúa cầu nguyện, được bao nhiêu lần chúng ta ra về và được khỏi tội, còn bao nhiêu lần chúng ta ra về với tiếng không mà Chúa Giêsu đã chỉ về người biệt phái.
Xin Chúa cho chúng ta biết chọn thái độ sống cho xứng đáng trước Mặt Chúa và mọi người. Để mỗi việc làm là những giây phút cầu nguyện phát xuất từ lòng thống hối chân thật.

 

TN30-C76: ĐÂU LÀ CẦU NGUYỆN CHÂN THẬT?

Lc 18, 9-14
Cđ : “Tôi nói cho anh em biết, người thu thuế khi trở về nhà, được nên công chính, còn người  kia thì không:”
Anh chị em thân mến,
 

Đôi khi chúng ta chế nhạo người bên lương, khi họ chưởi kẻ khác bằng những câu như: “tháng : TN30-C76

Đôi khi chúng ta chế nhạo người bên lương, khi họ chưởi kẻ khác bằng những câu như: “tháng này tôi ăn chay, nếu không ăn chay, tôi sẽ đào mồ đào mã của chị lên cho mà coi..” Hay những câu khác: “Nè nè, bà đó ăn chay trường đó! Vậy mà lại cho vay ăn lời cắt cổ!!!..” Nhiều khi mình chỉ trích kẻ khác, nhưng phần người công giáo chúng ta, thử ngay thẳng mà nhìn lại coi? Chúng ta có hơn họ không? Câu chuyện dụ ngôn hôm nay, Chúa Giêsu muốn kể lại là để dạy cho người ta cách cầu nguyện chân thật, theo như lời thánh Luca tường thuật: Chúa kể dụ ngôn sau đây với những kẻ tự đắc cho mình là công chính mà khinh chê người khác… Kính mời anh chi em cùng suy niệm…
a/. Chúng ta thử đọc lại câu chuyện dụ ngôn này: có hai người lên đền thờ cầu nguyện: một người là biệt phái – người kia là thu thuế. Hai hạng người này có nếp sống rất khác biệt nhau. Trước hết là người biệt phái: dân do thái coi anh biệt phái là hạng thánh thiện, hạng đàng hoàng, không có gì đáng trách; và chính anh ta cũng tự phụ như thế; vì anh ta giữ luật lệ khá chi li, không hề phạm tội gì; lại còn ăn chay mỗi tuần hai lần, dâng cúng 1/10 của cải cho đền thờ nữa. Chúng ta biết được các việc anh làm, chính là vì khi anh cầu nguyện, anh ta đã khoe với Chúa trong câu chuyện hôm nay…
Phần anh chàng thu thuế, ta dư biết rồi: anh là hạng tội lỗi, chính anh cũng tự nhận như thế mà không chối cải. Anh không hề coi mình là công chính… Trong khi cầu nguyện, anh ta chỉ làm mỗi việc duy nhất, quì dưới cuối đền thờ, mọp sát đất và thưa: Lạy Chúa, con là người tội lỗi… Ngoài ra ta chẳng nghe được câu nào khác hơn. Kêt luận, chính lời Chúa Giêsu nói: anh thu thuế này ra về được tha thứ, nhưng người biệt phái kia thì không. Lạ lùng quá! Nếu Chúa Giêsu không nói, có khi ta chấm điểm anh chàng biệt phái mất rồi.
b/. Trong Phúc âm, Chúa Giêsu nói thế nào về việc cầu nguyện? Mt 6, 5-6: “khi anh em cầu nguyện, hãy vào phòng đóng cửa lại… chỉ cầu nguyện với Chúa Cha, người sẽ trả công cho anh em.” Ngay khi ăn chay, bố thí, Chúa Giêsu cũng dạy: hãy làm nơi kín đáo, đừng phô trương…Chúa còn nói đừng bắt chước bọn Biệt phái giả hình, vì họ hay phô trương công đức mình trước mặt người ta… Chúa còn dạy cách chân thành: Khi anh em làm điều gì, hãy nói: tôi chỉ là đầy tớ vô dụng…Ngày hôm nay, bệnh giả hình, hình thức, nói theo Phúc âm, bệnh của người Biệt phái: kiêu căng, giả hình, bề ngoài. Thực chất, người biệt phái thời xưa, hay con người ngày nay không khác biệt nhau mấy. VN chúng ta cũng một thời khốn đốn, nghèo mạt vì thói giả hình, bề ngoài này…Lucifer, là thiên thần mang ánh sáng, nghĩa là thiên thần sáng láng, thông biết hơn các thiên thần, lại phúc chốc biến thành tà thần, chỉ vì tội kiêu ngạo. Phêrô quá tự tin nơi mình mà 3 lần chối Chúa, Chúng ta mỗi người nhiều ít, có kinh nghiệm đau thương về tính tự kiêu của mình
Trong đời sống thường nhật đâu có thiếu những người luôn khoe khoan thành tích của mình dưới hình thức này hay hình thức khác, vd. Hình thức phê bình, chỉ trích kẻ nọ người kia, cũng là gián tiếp đề cao chính mình. Chúa Giêsu dạy chúng ta phải sống khiêm tốn; điều này thật đúng đắn, vì nó chính là nền tảng các nhân đức khác. Ta phải nhìn nhận một thực tế này: người khiêm tốn thì không ai không quí mến, vì ai có thể ghét người khiêm tốn, ngoại trừ người kiêu ngạo…?
c/. Gợi ý sống và chia sẻ: Là người công giáo, bao lâu nay tôi đã sống đạo kiểu nào? Tôi có nhận ra, nhiều lúc mình sống chưa thật với chính mình và với Thiên Chúa không? Tôi hay chê trách người biệt phái, thực ra tôi có hơn họ không?

 

TN30-C77: CHÂN THÀNH

Lc 18, 9-14
 

Tin mừng hôm nay tiếp tục nói về cầu nguyện và thái độ cần có trong đời sống cầu nguyện: TN30-C77

Tin mừng hôm nay tiếp tục nói về cầu nguyện và thái độ cần có trong đời sống cầu nguyện. Trong xã hội mà tiền bạc và quyền lực được tôn vinh là Chúa và là tất cả, thì nhưng người nghèo khổ, thấp cổ bé miệng ít có được tiếng nói. Nhưng Thiên Chúa đối xử rất công minh. Ngài không thiên vị bất cứ ai dù giàu hay nghèo, có địa vị cao hay đơn hèn bé nhỏ. Ngài luôn lắng nghe và đáp trả những ai biết cậy trông vào Ngài và chân thành khi đến với Ngài.
Bài đọc 1 cho chúng ta thấy Thiên Chúa không thiên tư người giàu có và quyền thế, nhưng Ngài luôn lắng nghe lời cầu khẩn của người công chính và khiêm hạ.
Trong bài Tin mừng, thánh Luca trình bày cho chúng ta dụ ngôn về người Pharisiêu được coi là đạo đức và người thu thuế được coi là tội lỗi lên đền thờ cầu nguyện. Hai con người này cũng là đại diện cho hai tầng lớp chính yếu trong xã hội Do thái lúc bấy giờ. Người Pharisiêu được mọi người tôn trọng và coi là thánh thiện công chính; còn người thu thuế thì bị thù ghét và bị coi là hạng người tội lỗi công khai, kẻ thù của dân tộc. Định kiến ấy dần dần trở thành lối sống của họ và nguy hiểm là làm cho họ có ảo tưởng về chính mình hay bi quan về cuộc đời. Chúa Giêsu đến và Ngài sẽ mở mắt cho con người để họ hiểu biết về chính mình và hiểu biết về Thiên Chúa cũng như tấm lòng của Ngài đối với nhân loại.

Có thể nói, khi con người cầu nguyện là lúc họ tỏ ra thành thật nhất. Họ có thể quanh co luồn lách với người này người nọ, nhưng họ sẽ rất chân thành khi nói chuyện với Chúa. Bởi lẽ, khi con người đến với Thiên Chúa là họ đã nhìn nhận Ngài là Đấng Tạo thành nên mình nên họ không thể che giấu hay dối trá với Thiên Chúa được.

Dụ ngôn mà thánh Luca trình bày hôm nay không nhắm đến thái độ kiêu căng của người Pharisêu và thái độ khiêm nhường của người thu thuế. Vì thật ra, cả người Pharisêu và người thu thuế đều rất chân thành trong thái độ cầu nguyện. Nhưng dụ ngôn dạy cho chúng ta bài học về chỗ cậy dựa của chúng ta là gì: vào Thiên Chúa hay vào chính mình? Và điểm quan trọng khác nữa là quan về Thiên Chúa của mỗi người chúng ta: Chúa ban ơn cho chúng ta vì công trạng của mình hay Ngài ban ơn miễn phí cho ta.
Ta hãy xem cách cầu nguyện của người Pharisêu: “Lạy Chúa. con cảm tạ Chúa, vì con. . .” Anh ta đến với Chúa nhưng anh ta quy về chính mình “ Vì con . . .” anh kể ra hàng loạt những việc tốt anh ta đã làm. Tốt lắm. Đáng khen lắm. Chỉ có điều là anh ta nghĩ rằng, những việc tốt lành anh ta làm được đó là chỗ dựa vững chắc và an toàn cho anh. Anh nghĩ rằng anh đã lập công quá nhiều và Thiên Chúa phải là người trả công cho anh. Chúa đang mắc nợ anh. Nhưng thật là tội nghiê#p cho anh vì sự lầm lẫn tai hại này. Chúa không hề mắc nợ ai cả và công trạng của con người không thể cứu nỗi được họ. Ta có được Chúa ban cho ơn này hay ơn khác, nhất là hạnh phúc thiên đàng, thì tất cả là ân ban miễn phí của Thiên Chúa cho con người, vì tình yêu nhưng không của Ngài cho con người, chứ không phải do công trạng của họ mà Chúa có trách nhiệm phải trả. Điều đáng buồn là có không ít người trong chúng ta cũng còn mang não trạng “Đạo lập công”. Chúng ta còn nghĩ: tôi là đạo gốc, đi lễ mỗi ngày, giữ luật Chúa cách sát sao, làm được nhiều chuyện để xây dựng họ đạo và có ích cho người khác… Nên tôi chắc chắn sẽ được lên thiên đàng và Chúa phải thưởng ông cho tôi. Chúng ta hãy suy nghĩ lại để có thái độ đúng đắn hơn, kẻo Chúa cũng nói với ta như nói với người Pharisêu “người này thì không được công chính”.
Còn người thu thuế, anh ta nhìn nhận mình tội lỗi nhiều lắm, nhất là tội lỗi đức công bình. Anh đã gây ra quá nhiều nên không thể gánh trả hết được. Điều đó là sự thật. Anh đang ở trong tình trạng tuyệt vọng. Chỗ dựa duy nhất của anh ta giờ đây chỉ con là Thiên Chúa và anh chỉ còn biết xin Ngài xót thương và đón nhận “tấm lòng tan nát khiêm c ung” của anh mà thôi. Quả thật, anh đã tìm được đúng chỗ dựa vững chắc cho anh. Chúa đã thương nhận lời cầu của anh vì Ngài luôn ở gần bên những ai “tấm lòng tan nát khiêm cung” như thế.
Thầy bảo thật anh em “người này ra về được sạch tội, còn người kia thì không” Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa tình thương. Ngài luôn gần gũi với hết những ai biết nương tựa vào Ngài, biết dâng lên Ngài tấm lòng tan nát của mình. Chùa ban ơn cho con người hoàn toàn miễn phí, không do công trạng hay do thành tích nào của con người. Chúa không mắc nợ ai cả. “Người không hề vay mượn của ai trước để rồi phải trả lại sau”. Chúng ta có ca tụng Thiên Chúa cũng không làm vinh danh Thiên Chúa hơn hay thêm gì cho Chúa cả. Nhưng tất cả là vì chúng ta và cho chúng ta mà thôi. Chúng ta hãy tìm đến với Chúa bằng tấm lòng chân thành, khiêm tốn và tín thác để hưởng nhờ lòng Chúa khoan dung luôn mãi. Amen.

 

TN30-C78: KHIÊM NHƯỜNG DƯỚI BÀN TAY CHÚA

Lc 18,9-14
 

Mục thư giãn cuối tuần của báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần, ngày 16/09/2007 , có một mẩu tin vui: TN30-C78

Mục thư giãn cuối tuần của báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần, ngày 16/09/2007 , có một mẩu tin vui: " Nam , độc thân, 25 tuổi, cao 1m8, nặng 72kg. Thành đạt, đẹp trai, khoẻ mạnh, thông minh, sở hữu 2 xe BMW, 1 thuyền buồm, 1 biệt thự ở bãi biển, 2 nhà mặt tiền khu trung tâm. Không mua, không bán, cũng không cần tìm bạn gái. Chỉ muốn khoe vậy thôi!"
Nếu anh chàng trên "nổ" về sự giàu sang của mình, thì trong Kinh Thánh cũng có một anh chàng "nổ" về sự đạo đức! Phúc Âm Luca kể lại như sau: Có một người thu thuế và một người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện. Người Pharisêu đứng thẳng nguyện rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như kẻ khác tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia, con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con". Còn người thu thuế kia biết thân phận tội lỗi của mình nên đứng xa và chỉ nói: "Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi".
Nếu làm một cuộc bình chọn ai là người đáng thương nhất trong ba người trên thì chắc phần thắng thuộc về anh thu thuế. Đúng vậy, Chúa Giêsu đã không ngần ngại gì khi quyết định tha tội cho anh. Lý do thật đơn giản: "Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên". Qua câu khẳng định nầy, ta không phải bối rối khi phát biểu rằng Chúa Giêsu coi trọng và đề cao đức khiêm nhường.
Khiêm nhường là một nhân đức luân lý. Thánh Augustinô quả quyết: "Không gì cao trọng bằng đức mến, nhưng duy có đức khiêm nhu mới duy trì được đức mến". Như vậy, "đức khiêm nhu là mẹ của các nhân đức" (Jennysod). Đức khiêm nhu là nền tảng và bệ phóng để ta được lớn lên trong tương quan với Chúa và tha nhân.
Thật vậy, người khiêm nhu luôn nhận ra thân phận tội lỗi, mỏng dòn và đầy khiếm khuyết của mình; và họ luôn sống đúng với thân phận đó. Trước mặt Chúa, ta chẳng có công gì để mà đáng được hưởng ân huệ. Có hay không là tội xúc phạm Chúa mà thôi. Hơn nữa, việc mang ơn Chúa, ta còn chưa trả xong thì nói gì là phần thưởng. Nếu làm việc đạo đức chỉ cốt để khoe với đời hoặc để bắt Chúa đền công thì cũng kể bằng không vậy.
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, thực tế cũng có rất nhiều người tốt lành hoàn toàn xứng đáng được công phúc - Đó là các Thánh. Thế nhưng, các vị ấy đều luôn xác tín rằng: "Tôi có làm gì đi nữa cũng là nhờ ơn Thiên Chúa" (1 Cr 15,10). Mọ sự thiện hảo của ta đều bởi và từ Chúa mà ra. Nếu Chúa ngưng đôi tay của Ngài thì mọi sự cũng chỉ là vất vả mà luống công!
Nói cách công thẳng, ta chẳng có điều gì tự bởi ta mà ra, nên ta chẳng có điều gì để mà tự túc tự mãn trước mặt Chúa. Do đó, ta cần hết sức khiêm nhu nhìn nhận thân phận thụ tạo bất xứng của mình, cũng như luôn ý thức mọi sự thiện hảo của ta là từ Chúa, nhờ tình yêu của Ngài. Qua đó, ta biết tùng phục và quy hướng về Ngài.
Hơn thế nữa, chính lúc ta biết tùng phục Thiên Chúa cũng chính là lúc ta chiếm đoạt được ân sủng của Ngài. Ta thấy rõ được điều nầy khi Chúa Giêsu hoan hỉ tha tội cho người thu thuế, trìu mến dẫn người trộm lành vào thiên đàng.
Như thế, khiêm nhu là chìa khoá mở cửa vào Nước Trời, lòng kiêu căng sẽ làm cho cửa ấy đóng lại. Nói cách khác, "Chúa chống lại kẻ kiêu căng và ban ơn cho người khiêm hạ" (1 Pr 5,5) là một sự thật bất biến theo không gian và thời gian.
Khiêm tốn trước mặt Chúa là chuyện phải có, vậy trước mặt người đời ta cần khiêm tốn không? Chắc không ai trả lời không! Bởi vì "vỏ quýt dày có móng tay nhọn". Ta không là thiên hạ đệ nhất trên mặt đất này. Khiêm hạ trước tha nhân là bỏ qua chính bản thân mình, là xem trọng tài năng và nhân đức của người khác. Vượt qua tính kiêu ngạo và ganh tị để đón nhận sự sửa dạy của người khác cũng như biết tế nhị, biết cảm thông khuyên bảo anh em nếu phải vì trách nhiệm. Ở đây khiêm tốn không đồng nghĩa với nhu nhược, cũng không theo kiểu "một khiêm tốn, bốn mươi kiêu ngạo", mà là biết chấp nhận mình với tất cả tài năng và giới hạn, biết cho và nhận trong tình bác ái và khôn ngoan.

 

TN30-C79: TÍN THÁC VÀO LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Lc 18, 9 - 14
 

Khi học giáo lý, chúng ta đã được Giáo hội dạy cho biết cầu nguyện là điều cần thiết cho: TN30-C79

Khi học giáo lý, chúng ta đã được Giáo hội dạy cho biết cầu nguyện là điều cần thiết cho đời sống đức tin của mình. Bởi lẽ, cầu nguyện như là hơi thở. Việc làm ấy giúp ta gắn bó mật thiết với Chúa và với nhau. Tuần trước Chúa Giêsu đã chỉ cho ta khi cầu nguyện cần phải kiên trì như người đàn bà góa. Hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục dạy ta một tâm tình cần có nữa khi cầu nguyện. Tâm tình ấy chính là tín thác vào lòng thương xót Chúa.
Dụ ngôn Chúa Giêsu cho chúng ta suy niệm hôm nay cho thấy hai thái độ cầu nguyện của hai con người hoàn toàn đối nghịch nhau. Một người Pharisêu hết sức tự hào về những gì mình làm được trong đời sống đạo. Anh ta thưa với Chúa nào là “ Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia ” . Rồi đến “ Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con ”.
Trong khi đó, người thu thuế hoàn toàn chẳng làm được gì. Vả lại anh còn là một con người tội lỗi. Theo cái nhìn bình thường, tình trạng của anh thu thuế này là hết phương cứu chữa, là tuyệt vọng rồi. Từ đó, anh chỉ biết cúi đầu tín thác vào lòng thương xót Chúa: “ Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi ” . Thế nhưng, chính tình trạng ấy lại đẹp lòng Chúa.
Chúng ta biết trước mặt Chúa tất cả chúng ta đều là loài thụ tạo không hơn không kém. Hơn nữa, chính chúng ta là những kẻ tội lỗi cần được hưởng lòng thương xót Chúa. Kinh Cáo Mình mỗi khi dâng lễ chúng ta thường đọc “ lỗi tại tôi ” và đấm ngực ba lần. Người thu thuế đã nhận ra được đúng thân phận ấy của mình. Cho nên anh đã “ đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời” và thưa với Chúa. Một thái độ rất đáng cho chúng ta noi gương khi đến với Chúa.
Nhờ lòng thương xót Chúa mà chúng ta được sinh ra và lớn lên. Đến nỗi, mỗi khi phạm tội Chúa không những không từ bỏ mà lại tìm mọi cách để cứu chữa chúng ta. Vì thế, những gì ta làm được chỉ là phần nào đền đáp lại công ơn trời biển ấy của Người. Nếu có tự hào thì chúng ta hãy tự hào vì mặc dù bất xứng nhưng Chúa vẫn cho ta được sống trong tình thương của Người. Miễn là chúng ta biết chạy đến với Người với lòng tín thác như người thu thuế. Như vậy, đời sống của chúng ta sẽ mãi mãi được Chúa chúc lành. Ngược lại nếu chỉ biết cậy dựa vào sức riêng mình, thì e rằng chúng ta khó mà nhận được sự chúc lành của Chúa.

 

TN30-C80: KHIÊM NHƯỜNG KHI CẦU NGUYỆN

Lc 18, 9 - 14
 

Bài Tin Mừng hôm nay tiếp tục nói về thái độ phải có trong khi cầu nguyện. Người Pharisêu: TN30-C80

Bài Tin Mừng hôm nay tiếp tục nói về thái độ phải có trong khi cầu nguyện. Người Pharisêu cùng lên đền thờ cầu nguyện với người thu thuế. Nhưng với hai thái độ trái ngược nhau hoàn toàn. Người pharisêu tự cao, tự đại khoe khoang những việc tốt, việc mình làm. Ông ta tự nhủ, những việc tốt như thế hiển nhiên sẽ được ơn cứu độ. Ngược lại người thu thuế, nhìn nhận mình là tội nhân, những việc ông làm toàn là tội lỗi , không có chút công trạng nào trước mặt Chúa, nên hoàn toàn phó thác mình cho lòng thương xót của Chúa. Thái độ khiêm nhường hối lỗi của ông chính là lời nguyện đẹp lòng Thiên Chúa và được Người nhận lời.
Một câu chuyện kể lại chuyến công du của quận công nọ. Trong chương trình ngài được dẫn đi thăm nhà tù. Các tù nhân được tự do trao đổi với quận công, ngài ân cần hỏi lý do tội gì lại bị giam giữ tại đó. mỗi tù nhân trình bày sự lầm lẫn của công lý, không ai nhìn nhận tội mình. Một người than rằng anh ta bị phạt vì ông quan tòa thích vậy. Người khác đổ tội cho sự cáo gian của một người bạn thân về tội do lòng ghen tỵ của kẻ thù. Nói chung không ai đáng tội cầm tù tại đó cả. Cuối cùng một tù nhân thưa : Thưa ngài quận công tôi rất đáng hình phạt tại đây, tôi cần tiền, tôi đã ăn trộm và bị bắt. Quân công rất là cảm động thấy lòng thành thật và khiêm nhường của tù nhân đó. Những tù nhân đứng xung quanh ngài nói lớn: anh thật qúa tệ anh không xứng đáng ở chung với những người vô tội này, anh phải ra khỏi đây ngay lập tực. Ngay tức thì ngài tha thứ cho tội nhân đó.
Chỉ cần lòng thành thật và sự khiêm nhường nhìn nhận tội lỗi mình đã mang lại tự do cho tù nhân kia. Ngược lại những người bạn cùng phòng với anh ta vì chống chế tìm đủ mọi lý do để bào chữa mình. Kết qủa là họ phải tiếp tục bị giam cầm, để có giờ suy nghĩ để biết mình hơn.
Khiêm nhường là một đức tính cần có trong khi cầu nguyện, vì tất cả chúng ta đều mang thân phận yếu đuối dễ sa ngã. Đứng trước mật Thiên Chúa chúng ta lại càng phải khiêm nhường hơn vì: “nhân vộ thập toàn”. Người biệt phái không được nhận lời vì kiêu căng được tỏ lộ ra bên ngoài vời một thái độ hả hê về những việc tốt mình đã làm. Thực sự ông không biết mình là người có tội vì ông giữ lề luật rất tốt, có thể ông giữ lề luật còn tốt hơn cả những người Pharisêu khác. Nhưng ông có tội ở chỗ là lòng kiêu ngạo. Ông chỉ muốn khoe khoang nhân đức của mình. Nhìn chung các việc làm của người Pharisêu hôm nay không xấu nhưng thái độ của ông xấu. Xấu thứ nhất là kiêu ngạo, thứ hai là khinh khi người khác. Qua hình ảnh người chúng ta rất dễ thấy trong cuộc sống. Thường thi ta hay thấy được tội người khác nhưng lại không nhìn thấy tội của mình. Điều này thật là nguy hiểm vì chỉ có Thiên Chuá mới có quyền xét đoán. Còn chúng ta chỉ nên sống với tinh thần bác ái huynh đệ. Khi thấy người hèn kém yêu thương nâng đỡ. Thấy người tội lỗi xấu xa phải tế nhị kính trọng. Vì Chúa đến là để tìm kiếm và tha thứ những người như thế. Trái ngược với hình ảnh người Pharisêu là hình ảnh người thu thuế, ông bộc bạch lòng mình ra trước mặt Thiên Chúa với sự chân thành và đầy lòng khiêm tốn: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Người thu thuế không liệt kê mình phạm tội gì, nhưng ông lại biết nhìn nhận mình là tội nhân, cần được tha thứ. Điều đó làm đẹp lòng Chúa. Kết qủa là khi trở về nhà ông được nên công chính.
Thiên Chuá luôn ghét tội, nhưng Ngài lại yêu thương tội nhân, vậy mỗi người chúng ta khi cầu nguyện đều có thể nói:”Con là kẻ có tội”. Chính lời nói khiêm nhường đó của chúng ta sẽ được Thiên Chuá thương hơn vì: “ Chúa hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1,25).
Lạy Chuá, xin cho con biết khiêm tốn và thống hối khi cầu nguyện để được ơn nghĩa với Chuá, đồng thời không bao giờ tự mãn về sự công chính của mình, vì tất cả những gì con có, những gì con được đều là hồng ân Chuá ban.

 

TN30-C81: THÁI ĐỘ KHI CẦU NGUYỆN

Lc 18, 9 - 14
 

LỜi Chúa hôm nay tiếp nối chủ đề chủ đề cầu nguyện của tuần trước nhưng lại xoáy sâu vào: TN30-C81

LỜi Chúa hôm nay tiếp nối chủ đề chủ đề cầu nguyện của tuần trước nhưng lại xoáy sâu vào một khía cạnh khác. Nếu như tuần trước Chúa Giêsu cho thấy sự cần thiết và lợi ích của cầu nguỵên, từ đó Ngài mời gọi chúng ta cầu nguyện kiên trì. Thì hôm nay, Chúa cho chúng ta biết phải kiên trì cầu nguyện trong tư thế nào cho xứng hợp.
Bài đọc I trích sách Huấn Ca chương năm. Nếu như đặt bài này trong bối cảnh văn mạch toàn chương ta sẽ thấy rõ tác giả đang nói về việc thờ phượng. Và một trong những điều quan trong của việc này là tế lễ. Tế lễ là tuân giữ lề luật và tuân giữ lề luật là một của lễ.
Tế lễ cho Thiên Chúa là một bổn phận của lề luật mà con người phải chu toàn để thể hiện lòng biết ơn, lòng hiếu thảo. Với Chúa. Nhưng phải tế lễ trong thái độ nào? Của lễ và lời cầu nguyện của người giàu có, người quyền thế xem ra không được Chúa đón nhận. Điều này không phải Chúa thiên vị. Nhưng bởi vì họ cầu nguyện, họ tế lễ với thái độ khoe khoang, để chứng tỏ mình... để cho Chúa thấy rằng họ quảng đại. Khi con người có của cải trong tay thì cũng là lúc họ bắt đầu kiêu ngạo. Kiêu ngạo vì thấy mình đã làm được, mình có khả năng. Từ đó, họ thấy không cần phải cậy nhờ vào ai, kể cả Thiên Chúa.
Vì thế, tác giả sách Huấn Ca cho thấy lời cầu nguyện và lễ tế của họ không được Chúa đoái nhìn. Chúng ta phải hiểu rằng, Thiên Chúa không thiên tư tây vị bất kỳ hạng người nào. Ngài là Đấng xét xử công minh. Nhưng sao người nghèo khó cầu nguyện thì Chúa lại nhìn đến, Chúa lại nghe họ?
Bởi vì Chúa không phải là hạng ham lễ vật, "cao lễ thì dễ thưa". Trong khi người giàu có đến với Chúa trong lễ vật hậu hỉ nhưng không được chấp nhận vì thái độ của họ. Thì người ngèo ra trước mặt Chúa với hai bàn tay trắng, nhưng xem ra Chúa lại quan tâm hơn. Vì không có gì, nên người nghèo chỉ còn biết nhờ vào lòng nhân từ, lòng thương xót của Chúa. Ngoài Chúa ra họ không còn ai để nương tựa. Vì người đời thường đối xử với nhau theo chức quyền và quà cáp. Còn Chúa, Ngài không như vậy. Vì những thứ lễ vật phàm tục đó không thể mua chuộc được tình thương của ngài. Đành rằng tình thương ấy được ban phát cách nhưng không nhưng chỉ có những người biết cần đến tình thương ấy cách thật sự thì mới được.
Tình cảnh đáng thương của người nghèo không nơi trông cậy ngoài Chúa cũng giống như tình cảnh thánh Phaolô trong bài đọc hai. Ngài gặp nhiều sự chống đối, bị khinh rẻ, bị mọi người bỏ rơi. Nhưng trong sự cô đơn buồn tủi đó, ngài lại được Thiên Chúa, ủi an, đón nhận. Chính Chúa là chỗ dựa vững chắc mà ngài chọn lấy. Đặc biết là đứng trước cái chết mà ngài phải đối diện, phải đổ máu ra làm lễ tế. Nhưng tấ cả những đau buồn tủi nhục của đời này không làm cho ngài thất vọng, chán nản. Trái lại, ngài cảm thấy được vinh dự khi gặp đau khổ vì Chúa, vì Tin mừng.
Ý tưởng của bài sách Huấn ca và thơ thánh Phaolô dẫn ta đến cái nhìn sâu sắc và thấm thía trong đời sống cầu nguyện mà Chúa Giêsu dạy qua câu chuyện người thu thuế và người Pharisêu cầu nguyện trong đền thờ.
Thái độ cầu nguyện của người Pharisêu là thái độ công chính hóa theo lề luật. Chỗ dựa cùa ông chính là những việc đạo đức và cuộc sống nhiệm nhặt. Nhưng ông đã quên một điều quan trọng, là tất cả những việc làm tốt đó không bao giờ có thể so sánh được những gì Chúa làm cho ông. Ong nghĩ rằng với những việc làm đó đương nhiên sẽ được cứu độ. Nhưng ơn cứu độ là ơn nhưng không mà con người không thể đánh đổi với bất cứ việc lành nào. Đành rằng ông ta không làm gì xấu. Nhưng vấn đề của ông là quá tự hào và hảnh diện với nhưng việc đó. Cái ông cậy dựa không phải là tình thương và lòng nhân từ của Chúa mà là công đức của ông.
Một vấn đề nữa mà người Phari|sêu vấp phải là thái độ khinh thường người khác. Chúa cấm ta xét đoán người khác bất kỳ khía cạnh nào và bất cứ họ là ai. Chỉ có duy mình Thiên Chúa mới đủ tư cách xét xử người khác. Tất cả những việc đạo đức mà ông giữ không làm ông khiêm tốn, biết cảm thông và thương xót người khác thì thử hỏi nhưng việc đó có ý nghĩa gì? Cầu nguyện, giữ đạo, đi lễ # la2nhu7ng4 việc đạo đức truyền thống của người Công giáo. Nhưng vượt lên trên những hình thức bên ngoài đó phải đi đến hiệu quả thâm sâu là làm cho chúng ta phải biết khiêm tốn, biết yêu thương và cảm thông hơn.
Còn người thu thuế. Ong ta ý thức rằng cả đời ông chẳng có gì xứng đáng để dâng Chúa ngoài tâm hồn tan nát cần được Chúa xót thương. Và điều kỳ diệu mà ông không ngờ đã đến. Thiên Chúa ban ơn cho chúng ta là ban cách nhưng không. Cho dù chúng ta có làm gì chăng nữa cũng không thể đền đáp được nỗi. Những lễ tế, lời cám ơn … của chúng ta chỉ là sự thể hiện bên ngoài để chúng ta có thể nhận nhiều hơn. Thật là sai lầm khi con người nghĩ rằng mình có thể đền đáp ơn Chúa.
Ví thế sứ điệp mà Chúa muốn gởi đến với chúng ta hôm nay như một lời nhắc nhở: chúng ta phải biết cậy dựa vào ai? Chúng ta cậy dựa vào tài cán ư ? Có ngày sẽ thất vọng. Vì khả năng con người hữu hạn. Chúng ta cậy vào của cải ư ? Chắc chắn không được vững bền. Vì bản chất của cải hư mất và chóng qua. Chúng ta cậy vào công đức của mình ư ? Chẳng đáng là bao. Vì công đức đức chung1ta không thể đánh đổi được với ơn cứu độ.
Chỉ có tình thương và lòng thương xót của Thiên Chúa là nơi vững vàng đáng để ta trông cậy. Nhưng lòng thương xót và ơn cứu độ của Thiên Chúa chỉ có thể đến với những ai có tâm hồn khiêm tốn, ý thức sự nghèo nàn của mình mà cần thiên Chúa giúp.
Người Pharisêu sẽ trở thành tấm gương trong đời sống đạo nếu như ông làm tất cả nhưng điều tốt đó với tinh thần khiêm tốn “ tôi chỉ làm việc bổn phận của một đầy tớ vô dụng ” và đừng lên án anh em. Vì lòng đạo đức và sự thánh thiện đích thực luôn được thể hiện bằng sự thông cảm và yêu thương.
Chúa Giê su trách người biệt phái không phải vì những việc ông ta làm. Nhưng Ngài trách vì thái độ sống bên ngoài thiếu tình người. Ong ta ăn chay, cầu nguyện, bố thí … nhưng lại không để lộ một chút cảm thông tha thứ nào đối với tha nhân “ Ta muốn lòng nhân từ chứ không phải hy lễ ” .
Lời Chúa hôm nay cũng cảnh báo ta: những lời kinh, những việc đạo đức bên ngoài # tất cả đều vô giá trị nếu như chúng không là một lời mời gọi chúng ta đến với cuộc sống yêu thương, cảm thông và tha thứ.

 

TN30-C82: CẦU NGUYỆN KHIÊM NHƯỜNG

Lc 18, 9 - 14
 

Trong bài Tin Mừng Lc 18,9-14 hôm nay, Chúa Giêsu kể dụ ngôn hai người lên Đền Thờ cầu: TN30-C82

Trong bài Tin Mừng Lc 18,9-14 hôm nay, Chúa Giêsu kể dụ ngôn hai người lên Đền Thờ cầu nguyện: người Pharisiêu và người thu thuế. Thiên Chúa nhậm lời cầu nguyện của người thu thuế.
Có hai người lên Đền Thờ cầu nguyện, người thứ nhất là người Pharisiêu, người thứ hai là người thu thuế. Người Pharisiêu thì đứng hiên ngang ngẩng mặt lên, tự hào về mình, hắn ta có thái độ tự mãn về những gì mình đã có, hắn “đứng thẳng mà cầu nguyện” (Lc18,11). Hắn tự cho mình là công chính khi thực thi các lề luật của Chúa hơn người thu thuế kia nên khoe khoang công trạng của mình với Thiên Chúa: “Lạy Thiên Chúa , xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác hay như tên thu thuế kia”. Hán chỉ thấy và kể ra tội của người khác ( Tham lam, bất chính, ngoại tình,..) nhưng hắn không thấy tội của hắn là tự mãn, tự kiêu, khinh miệt kẻ khác. Hắn không ý thức về tội đó. Hắn không nhìn nhận mình là người tội lỗi để biết thân phận tội lỗi của mình.
Không thấy thân phận tội lỗi của mình nên hắn không thấy lòng thương xót, nhân hậu của Thiên Chúa. Từ cái nhìn như thế, hắn khoe khoang công trạng của mình: “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, dâng cho chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18,12 ). Người Pharisiêu nghĩ rằng với những việc đạo đức ấy, hắn chắc Chúa sẽ hài lòng lắm. Đó là cách nghĩ của hắn. Hắn làm vì mình chứ không phải vì lòng mến Chúa thật sự. Thế nên, từ việc phủ nhận ơn Chúa, hắn đã tự mãn và lên mặt khinh dễ người thu thuế, kẻ đang đứng cuối Đền Thờ. Hắn cầu nguyện, nhưng thật ra chỉ để phô trương công nhiệp của hắn chứ không cần gì để xin ơn Chúa. Đó là thái độ kiêu ngạo không muốn đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa.
Còn người thu thuế khi lên đền thờ, anh chỉ đứng xa xa, không dám ngước mặt lên, nhìn nhận mình là kẻ có tội cần đến lòng thương xót của Thiên chúa nên đấm ngực thưa rằng : “Lạy Thiên Chúa, xin xót thương con là kẻ có tội”( Lc 18,13), diễn tả tâm tình khiêm tốn và thống hối, nói lên một tâm trạng công chính bên trong. Như thế, không những thấy thân phận tội lỗi của mình mà anh còn thấy được lòng thương xót của Chúa nữa. Dưới ánh sáng của Chúa anh đã nhận ra tội của mình. Chính tâm trạng và thái độ khiêm tốn này của người thu thuế mà Thiên Chúa đã nhìn đến và làm cho anh nên công chính.
Chúa Giêsu quả quyết : người thu thuế ra về thì được sạch tội, còn người kia thì không (Lc 18,14). Phải chăng Chúa cho chúng ta thấy rằng : điều làm chúa hài lòng và sẳn sàng thương xót cứu độ, không phải là thành tích đạo đức, thái độ tự mãn tự kiêu, nhưng là chính tâm tình khiêm cung, biết nhìn nhận là mình có tội , chân thành thống hối,biết sẳn sàng cộng tác với ơn Chúa để thay đổi cuộc sống đời mình.
Bên cạnh cái chí công của Thiên Chúa, còn nổi bật lên lòng thương xót, và đã trở thành một điểm tựa vững chắc, một nơi ẩn náu an toàn cho những người nghèo khổ, tội lỗi. Thiên Chúa thật tuyệt vời!
Khi nghe đoạn Tin Mừng này, chúng ta không hài lòng về thái độ của người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện. Tuy nhiên nhìn kỹ lại đời sống mình, có lẽ ít nhiều chúng ta cũng có những tâm tình sống như vậy, thiếu tâm tình khiêm tốn và trông cậy vào ơn cứu độ của Người. Từ đó, ta dễ dàng lên mặt , coi thường người khác không ra gì.
Ngày kia, có người đến nói với Cha xứ:
Thưa Cha, Chúa nói người giàu có khó vào Nước Trời. Nhưng theo con nghĩ: người giàu có nhiều cơ hội vào Nước Trời hơn người nghèo khó ,Giàu có nên họ có thời gian đi lễ và tham gia các sinh hoạt. Hơn nữa, còn có thể dâng cúng,đóng góp vào các việc xây dựng cơ sở, nhà thờ. Ngay cả lúc chết , họ cũng có thể xin lễ nhiều , nhờ đó mà được cất bớt các hình phạt. Nên có thể nói: “Người giàu có thể sung sướng cả đời này lẫn đời sau”. Cái thực tế ấy, đôi khi làm cho chúng ta, những người mà chân lấm tay bùn, ăn trước hụt sau cảm thấy mặc cảm, và đôi khi than trách Chúa. Phải chăng Chúa cũng có cái nhìn và hành động thiếu công minh? Lời Chúa hôm nay đưa cho chúng ta những giải đáp về vấn đề này. Trong sách huấn ca (Hc 35,12-14 ) trình bày Mạc khải về đường lối và tư tưởng của Thiên Chúa. Theo đó, Thiên Chúa là Vịị Thẩm Phán chí công, liêm chính sẽ:

- Luôn nhận lời kẻ bị áp bức kêu cầu. Không khinh kẻ mồ côi, goá bụa khấn nguyện.
- Và lời cầu nguyện của kẻ khiêm nhường vọng rõ tới Chúa.

Trong bài Tin Mừng này, Chúa Giêsu đã bày tỏ rõ cách thức và đường nẻo của Thiên chúa: Người luôn đúng về phía các tội nhân, Người lên án sự kiêu căng, tự mãn, khước từ lòng thương xót của Thiên Chúa, khi cho mình là công chính, đã làm được nhiều điều tốt và tự cho mình có quyền khinh dễ anh em nhất là những người nghèo nàn về tinh thần lẫn vật chất. Ngược lại, Người tỏ ra bao dung, thương xót và sẳn sàng lắng nghe lời van xin của người thu thuế, tội lỗi đã biết nhìn ra yếu đuối của mình và khiêm tốn trông cậy vào Chúa.
Có lẽ khi nghe đoạn Tin Mừng này, chúng ta đều sốt sắng lên án người Pharisêu và mong muốn chia sẻ với người thu thuế. Tuy nhiên, có lẽ Chúa muốn chúng ta biết rút ra bài học từ cả hai người thái độ cần thiết, để sống trọn ơn gọi người Kitô hưũ:
- Không phô trương như người Pharisêu nhưng chúng ta biết trung thành giữ lề luật Chúa: không trộm cắp, không bất công, không ngoại tình, biết làm việc bổn phận, góp phần vào những việc chung..
- Con người tự nhiên, ai lại chẳng có những phút sa ngã, lội lầm. Vì thế,ta cần có thái độ khiêm tốn, tin tưởng cầu xin, loại bỏ những mặc cảm tội lỗi để siêng năng đến cùng Chúa qua Bí tích Giải tội, hầu đón nhận lòng thương xót của chúa
- Ơn chúa không chỉ giúp cho Phaolo trở về ( 2Tm 4,6-8.16-18) nhưng còn tiếp thêm sức mạnh để giúp Ngài sống ơn gọi người chiến sĩ nước Trời. Một cuộc sống đầy thử thách và cam go vì bị người đời khinh chê và loại bỏ. Chúng ta hãy biết học với ngài để cộng tác với Chúa và nói không với ma quỷ để đi trọn con đường trần gian, xứng đáng được đạt đến hạnh phúc thiên dàng mà Chúa hứa ban.
Lạy chúa , cám ơn Chúa vì đã không theo cái nhìn của thế gian, nhưng yêu người khiêm nhường, thưong xót người nghèo khó, bị bỏ rơi. Xin cho chúng con trung thành giữ luật Chúa và biết tín thác vào chúa, can đảm bảo vệ đức tin như Phaolo để xứng đáng nhận lảnh Nước trời.

 

TN30-C83: Giải Mã

Chúa Nhật 30 thường niên năm C (28-10-07)
I Có hai người lên đền thờ cầu nguyện:
 

Xin được tặng cho mỗi người 10 điểm, vì việc làm đạo đức hai ông đang làm. Giữa một xã hội lú: TN30-C83

Xin được tặng cho mỗi người 10 điểm, vì việc làm đạo đức hai ông đang làm. Giữa một xã hội lúc nào cũng xô bồ và tấp nập đến chóng mặt, thế mà hai ông cũng biết sắp xếp thời gian để đến được với điểm hẹn là mhà thờ, đến được với Chúa để dâng lời cầu nguyện.
Hẳn hai ông đã ý thức được một cách sâu sắc rằng: chính việc đi lễ, đi đọc kinh cầu nguyện tại nhà thờ là điều hệ trọng, bởi điều ấy, sẽ làm tăng giá trị cao cả của con người. Bởi lẽ vũ trụ này, có con vật nào biết đi lễ, đọc kinh đâu cơ chứ.
Xin được tặng tiếp cho mỗi người 10 điểm nữa. Vì cái ý thức chững chạc khi đến nhà thờ của các ông. Đến nhà thờ là vào nhà thờ ngay, không có lang thang bên ngoài như nhiều người trẻ ngày nay đang làm. Hay có khi tệ hơn, đi lễ nhưng có ý đứng ở bên ngoài, hoặc kiếm một xó xỉnh nào đó, ngồi vật vờ cho hết giờ lễ. Rồi chờ đến lúc rước lễ là đã vội vã ra về.
Và lần thứ ba, xin được tiếp tục tặng điểm cho các ông, nhưng lần này, chỏ 5 điểm thôi, bởi cung cách cầu nguyện của các ông chưa đạt lắm. Tuy nhiên, cũng tạm chấp nhận được, vì cầu nguyện trong định nghĩa là một cuộc thưa chuyện với Chúa, như đứa con tâm sự với cha mình, kể cho cha nghe những lo sầu, những vui cười, những toan tính. Nói tắt là tâm sự với cha về cả cuộc sống của mình.
Nghe giọng các ông cầu nguyện, cũng nhận thấy con mắt đức tin của các ông đã gặp được Chúa rồi.
25 điểm ấy là nhận xét và đánh gía của người phàm mắt thịt. Còn về ý nghĩa đích thực, phần cốt lõi của vấn đề, thì xin dành lại cho Chúa, vị chánh chủ khảo, đối tượng cuối cùng và duy nhất của mọi cuộc cầu nguyện.
II Chúa bật mí:
Lời cầu nguyện riêng tư của mỗi người là một bí mật. Bởi thường ra, đó là những nỗi tâm sự của mỗi người. Tâm sự thì ai muốn nói to. Chỉ nói nhỏ để cho Chúa nghe thôi. Thường thì những chuyện ấy, có bao giờ Chúa kể ra đâu, thế nhưng hôm nay, một trường hợp ngoại lệ. Chúa kể ra cho mọi người nghe.
Ta hãy chú ý lắng nghe!
Chúa điểm mặt một người là người biệt phái, một người là người thu thuế. Em biệt phái, quần chùng áo dài, nghênh ngang tiến hẳn lên gần cung thánh. Em thu thuế thì lại lụi hụi ở cuối nhà thờ.
- cho em thu thuế 10 điểm. Em biệt phái không được điểm nào.
- Em biệt phái không được điểm nào.
Không được điểm nào cũng đúng thôi, bởi vì điều hệ trọng mà lại không nhớ : Ra trước mặt Thiên Chúa, người ta bao giờ cũng phải khiêm tốn, bởi Thiên Chúa là đấng quyền phép vô cùng, là đấng Tạo Hóa, còn con người chỉ là tạo vật, được Ngài dựng nên bằng bụi đất tầm thường.
Người thu thuế được điểm, bởi ông ta biết mình là ai và Chúa là ai?
Rồi đến nội dung của cuộc cầu nguyện.
Ta nghe Chúa kể tiếp:
Người biệt phái thưa với Chúa rằng: Lạy Chúa, tôi không như người thu thuế kia. Một tuần tôi ăn chay hai lần, tôi dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của tôi.
Còn người thu thuế, vừa cúi mặt vừa đấm ngực thân thưa: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con, vì con là người tội lỗi.
Là một người khách, tôi đi tham dự Thánh lễ ngày Chúa nhật tại một cộng đoàn hải ngoại. Chẳng riêng gì tôi mà cả nhà thờ hôm đó khoảng 5, 600 người tham dự. Mọi người được nghe vị Linh Mục chủ tế nói sau Thánh lễ rằng:
“Tôi ra đi để lại cho Cộng đoàn gần 600,000 (úc Kim), cũng như đồ lễ và nhiều thứ khác... Cha nào về không phải mua sắm gì cả.
Ngồi trong xe trên đường về nhà, tôi nói với người thân của tôi rằng: Gia đình ông Cha này chắc giầu có lắm hay sao mà ông quá tốt như vậy, ông để lại cho Cộng đoàn gần 600,000. Người thân tôi trả lời: Đó là tiền của giáo dân đóng góp, chứ ông có bỏ ra đồng nào đâu.
Cho điểm thế nào được đây?
Người biệt phái không cầu nguyện mà đang khoe công với Chúa đấy chứ. Ong ta tự hào về những việc lành mìng đã làm. Qua những việc làm ấy, nhất định ông ta phải là người đạo đức, không cách khác được. Trong giọng điệu ấy có cái gì như nghênh ngang, toát ra cái gì đó như một niềm tự hào. Nhưng trong thái độ ấy, nó lòi ra một sự thật, mà ông ta không muốn lộ ra, đó là, ông ta làm mọi việc, không phải là làm vì Chúa, mà là làm vì mình. Ong ta làm để lấy tiếng khen với thiên hạ, chứ có phải vì lòng đạo đức đâu. Người ta khen ông ta rồi, cho điểm ông ta rồi, cho nên giờ này ông ta không được Chúa cho điểm nào hết. Cho 0 điểm.
Còn người thu thuế được 50 điểm, bởi vì anh ta đã nhìn thấy bộ mặt thật của mình cái thực tế bẽ bàng đời mình, nên anh ta hối hận, anh ta ăn năn, và tha thiết xin Chúa tha thứ.
III Chúa giải mã.
Tổng cộng người biệt phái chỉ được có 25 điểm, còn người thu thuế được 85 điểm, nhưng đấy chưa là điểm quan trọng. Điều quan ttrọng nhất là lời kết luận của Chúa :
- Người thu thuế ra về, và được tha hết mọi tội. Tâm hồn thành trắng trong.
- Người biệt phái ra về, và tội ác vẫn cứ còn đấy. Cái tôi nặng qúa đã đành, còn phải gánh thêm sức nặng của tội lỗi nữa, nghĩ mà thương mà tội nghiệp, cho đời của một người quá tự kiêu và tự mãn.
Linh mục Đỗ-Văm-Thiêm.
Chánh xứ Kim-Long địa phận Long-Xuyên
Lm Đỗ Văn Thiêm - Việtnam

 

TN30-C84: Khiêm Nhượng, Biết Mình

Ngày xưa, có một vị niên trưởng nổi tiếng là thánh thiện, đến nỗi mỗi khi các thiên thần gặp: TN30-C84

Ngày xưa, có một vị niên trưởng nổi tiếng là thánh thiện, đến nỗi mỗi khi các thiên thần gặp ông đều cảm thấy vui mừng và phấn khởi. Mặc dầu rất thánh thiện, ông không bao giờ nghĩ rằng mình thánh thiện. Hàng ngày, ông vui vẻ chu toàn bổn phận, và trao ban sự tốt lành cho tha nhân, giống như những bông hoa trong vườn luôn toả hương thơm một cách vô vị lợi cho những vật chung quanh.
Sự thánh thiện của ông được tỏ hiện bằng cách ông quên quá khứ của mọi người và chỉ nhìn thấy hiện tại của họ. Ông không nhìn bề ngoài, nhưng nhìn thấu tận nội tâm của mỗi người, để thấy rằng trong thẳm sâu cung lòng, ai cũng thật đơn sơ và ngây ngô, nên đã không ý thức được những điều họ làm. Vì vậy, ông có thể tha thứ cho tất cả những ai ông gặp gỡ. Đối với ông, điều này chẳng có gì lạ, vì đó là hậu quả của cách thức ông nhận xét về con người.
Một ngày kia, Chúa sai thiên thần đến và cho ông biết là ông có thể xin bất cứ điều gì Ngài cũng sẽ ban cho. Thiên thần hỏi:
- Ông có muốn được ơn chữa lành không?
- Không, tôi muốn chính Thiên Chúa chữa lành cho tôi và cho mọi người.
- Thế ông có muốn đem tất cả những người tội lỗi trở về đường công chính không?
- Việc chạm đến tâm hồn của con người là việc của thiên thần chứ không phải của tôi.
- Vậy ông có muốn trở thành một nhà gương mẫu để người ta kéo đến chiêm ngưỡng và bắt chước không?
- Không. Làm như vậy thì tôi sẽ trở thành trung tâm điểm để lôi kéo sự chú ý của mọi người.
- Vậy thì ông muốn điều gì?
- Tôi chỉ muốn ân sủng của Chúa. Được như thế là tôi được tất cả những điều tôi mong ước.
- Không đuợc, thiên thần nài nỉ, ông phải xin cho ông một phép lạ, nếu không thì tự Chúa sẽ phải chọn cho ông một phép lạ thôi.
- Nếu vậy thì tôi xin Chúa hãy để cho sự lành được thể hiện qua con người của tôi mà tôi không hề biết đến.
Thế là Chúa quyết định, mỗi khi ông đi đến đâu, mỗi lần bóng của ông ngả về đâu thì những ai chạm đến bóng đó sẽ được ơn chữa lành, đất đai sẽ trở nên phì nhiêu, suối sẽ tràn đầy sự sống và niềm vui sẽ trở về với những ai đã bị trĩu nặng vì khổ đau. Trong khi những phép lạ này xẩy ra, thì người ta chẳng để ý gì đến người đàn ông thánh thiện nữa, vì họ tập trung tất cả năng lực vào cái bóng của ông, và như vậy, ý nguyện của ông đã được thể hiện (Anthony de Mello).
Người Pharisiêu trong dụ ngôn đã quá chú trọng về con người của ông, về cuộc sống của ông, về công việc của ông, nhưng đồng thời ông cũng chú trọng đến những lỗi lầm và cuộc sống tội lỗi của người khác. Câu chuyện của người đàn ông tốt lành kể trên hoàn toàn đi ngược lại với những gì người Pharisiêu đã làm. Ông không hề muốn nghĩ đến điều tốt mình làm và không bao giờ nhớ điều xấu của kẻ khác. Sự khiêm nhường thẳm sâu đã giúp ông ý thức rằng ông chỉ là dụng cụ Chúa dùng, và không có gì để ông phải khoe khoang tự đắc.
Mỗi khi tự hào về con người của mình và nghĩ đến những điều xấu của kẻ khác, là chúng ta mang trong tâm hồn sự kiêu ngạo của người Pharisiêu. Biết mình là một hồng ân, đó là điều các Thánh thường tâm niệm, vì vậy mà Robert Burdette đã có một nhận xét sau đây: "Nếu bạn muốn biết mình quan trọng như thế nào, hãy đặt một ngón tay vào chậu nước, sau đó rút ngón tay ra để xem bạn đã để lại một lỗ hổng như thế nào."
Lậy Chúa, xin dậy chúng con sống hiền lành và khiêm nhường trong lòng.
Sr. Thanh Thủy, LHC

 

TN30-C85: MÃNH LỰC LỜI NGUYỆN

Xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu, người ta thường phân thành hai đẳng cấp cách biệt nhau: TN30-C85

Xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu, người ta thường phân thành hai đẳng cấp cách biệt nhau, đôi khi còn đối nghịch miệt thị nhau, như chúng ta thấy Chúa đề cập tới trong dụ ngôn của bài Tin Mừng hôm nay.
Thượng cấp: Các thầy thông giáo, biệt phái, luật sĩ và phái pharisiêu là bậc thầy được dân chúng tôn là hàng đạo đức, người công chính. Vì thế, họ thường được trọng kính, được bái chào ngoài đường phố, dành chỗ danh dự nơi bàn tiệc, chiếm chỗ nhất nơi hội đường; mang y phục lộng lẫy, tua rua dài, thẻ bài lớn, huy chương đầy ngực.
Hạ cấp: Trái lại, các nhân viên thâu thuế lại bị liệt vào hạng người tội lỗi, kẻ bất lương đáng khinh bỉ; vì họ là những viên chức của chính quyền Roma, như những tay sai của ngoại bang, tôi tớ của đế quốc, những hạng người bị gọi là mọt dân, đục khoét, hối lộ, hà hiếp, bóc lột dân chúng.
I. ĐỂ CẢNH TỈNH NGƯỜI KIÊU CĂNG
Để cảnh tỉnh những con người kiêu căng, tự cao, tự đại, tự tôn mình là người công chính và khinh dể kẻ khác, Chúa đã nêu ra một dụ ngôn hai người lên Đền Thờ cầu nguyện:
Người biệt phái với điệu bộ huênh hoang, thay vì dâng lời ngợi khen chúc tụng Chúa, ông ta lại liệt kê một loạt những công phúc việc lành ông đã thực hiện; thay vì thống hối xưng thú tội lỗi mình để cầu xin Chúa tha thứ, ông lại phang phui các tội lỗi của người khác. Sau cùng, ông đã tự mãn kết tội: "Tôi không như tên thu thuế khốn nạn tội lỗi dưới kia". Trái lại, người thu thuế, tự cảm thấy mình là kẻ tội lỗi, khép nép đứng đàng xa mãi cuối Đền Thờ, cúi đầu không dám ngước mắt nhìn lên, đấm ngực khẩn cầu ơn tha thứ: "Lạy Chúa, xin thương xót tôi là kẻ tội lỗi". Để kết thúc dụ ngôn, Chúa đã quả quyết: "Người thu thuế ra về được khỏi tội, còn người biệt phái không đáng lãnh nhận ơn tha thứ ". Rồi Chúa kết luận: "Vì, tất cả những ai tự tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống và những ai tự hạ mình xuống, sẽ được tôn lên".
II. MÃNH LỰC CỦA LỜI CẦU KHIÊM TỐN
Lời cầu nguyện của những kẻ khiêm tốn có một mãnh lực vô song, vì họ luôn chân nhận mình là một thụ tạo, có nghĩa vụ phải tôn vinh ca ngợi Đấng Tạo Hóa; họ ý thức thân phận thụ tạo của mình là phải hoàn toàn tùy thuộc Đấng dựng nên mình, như những kẻ thụ ân luôn phải cảm tạ Chúa, vì muôn ơn phúc Người đã ban; họ thú nhận mình chỉ là những tội nhân đáng Chúa trừng phạt, nên họ cần phải thống hối ăn năn và khẩn cầu ơn Chúa tha thứ tội lỗi. Sau cùng, họ tự cảm nhận được diễm phúc làm con cái Chúa, nên họ phải luôn dâng lời cảm tạ Chúa là Cha Nhân Từ hằng ban muôn vàn ơn lành cho họ và họ cố gắng sống hết tình con ngoan thảo đối với Chúa.
Vì thế, lời cầu của người khiêm tốn dâng lên được Chúa đoái thương chấp nhận, tha thứ tội lỗi và ban muôn phúc lành cần thiết. Đúng như lời Thánh Phêrô đã quả quyết: "Chúa hằng ban ơn cho người khiêm hạ; nhưng Chúa chống lại kẻ kiêu căng tự phụ".
Ngoài ra, lời cầu của người khiêm tốn còn có thế lực chinh phục tha nhân trở về với Chúa. Câu truyện sau đây minh chứng điều đó: Bà Dorothy Day từ trần tháng 11, 1980, hưởng thọ 84 tuổi. Khi tường thuật về cái chết thánh thiện của bà, tời báo New York Times đã kể bà là một nhân vật có thế lực nhất trong lịch sử Công Giáo Hoa Kỳ. Sau ngày bà từ giã cõi đời, người ta đã khơi dậy một phong trào, vận động xin Giáo Hội phong Thánh cho bà, vì cuộc đời thánh đức và các công việc từ thiện bái ái bà đã thực hiện để cứu giúp những người nghèo đói túng thiếu ở thành phố New York.
Trong cuốn sách nhan đề: "From Union Square to Rome", bà đã tự thuật cuộc trở lại Công Giáo của bà như sau: "Một điều lôi cuốn tôi trước hết, là một hôm, tôi thấy hình ảnh một bà mẹ đang quì đăm chiêu sốt sắng cầu nguyện. Hình ảnh ấy đã lay động lòng tôi cách mãnh liệt và sâu xa, đến nỗi không bao giờ tôi có thể quên được". Cũng trong cuốn tự thuật đó, bà còn viết: "Trong những ngày đầu khi tôi mới trở lại, tôi thường nghỉ đêm ở quán trọ, để sáng mai tôi có thể tới dự Thánh Lễ sớm tại nhà thờ Thánh Giuse; điều lôi cuốn tôi đến nhà thờ này, là tôi được thấy người ta quì cầu nguyện cách sốt sắng". Bà còn quả quyết: "Tôi khát khao được Đức Tin như họ, và bỗng nhiên tôi được ơn tin vào Chúa, nên tôi đã quyết tâm gia nhập Giáo Hội Công Giáo".
III. SỰ SÁNG CÁC CON PHẢI CHIẾU GIÃI
Mãnh lực nào đã chinh phục bà Dorothy Day từ một người ngoại trở lại Công Giáo? Sức mạnh nào đã biến đổi con người của bà, từ một người phụ nữ tầm thường đã trở nên một người thánh thiện, hăng say xả thân phục vụ trong công cuộc từ thiện bác ái, cứu giúp những người nghèo khó cùng khổ? Đó chính là hấp lực gương sáng của những người có Đức Tin vững mạnh khi họ khiêm tốn sốt sắng cầu nguyện.
Một Cha già Việt Nam, dâng Thánh Lễ trong một cộng đồng người Mỹ. Sau Thánh Lễ, một số người đã tới bày tỏ: "We are very happy to attend your Mass". Ngài hỏi: "Why?" Họ đã trả lời: "You believe what you do".
Những người đã từng được chứng kiến Đức Thánh Cha Piô XII cầu nguyện, đều đồng thanh quả quyết: "Ngài giống như một Thiên Thần sốt mến".
Cha Thánh Gioan Maria Vianney thường xuyên thấy một ông già nông dân vào nhà thờ quì gối thầm lặng, mắt đăm chiêu nhìn lên nhà tạm Thánh Thể Chúa cách sốt sắng phi thường. Một hôm, ngài hỏi cho biết ông cầu nguyện thế nào, mà không thấy ông nói gì với Chúa. Ông trả lời đơn sơ: "Je Le vois, Il me voit. Ca suffit". Xin tạm dịch: "Con nhìn Chúa, Chúa nhìn con. Thế là đủ rồi".
Một cụ già nhà quê, là một trong những người được mời đến thẩm vấn, để lập án xin phong Thánh cho Cha Gioan Maria Vianney, đã được ông phát biểu một nhận định thâm thúy về Cha Gioan Vianney như sau: "Tôi nhìn thấy Thiên Chúa nơi con người Cha Gioan Vianney".
Kết Luận
Khi dâng hay tham dự Thánh Lễ, tham dự các giờ phượng tự hay bất cứ một việc đạo đức nào, chúng ta có cảm nghiệm được rằng: Chúng ta đang được diễm phúc diện kiến với Thiên Chúa, tâm sự với Đấng thánh thiện và uy linh cao cả, Đấng đáng yêu mến vô cùng, Đấng mà các Thần Thánh trên trời, các chính nhân dưới thế và muôn loài muôn vật phải hết lòng yêu mến, phụng thờ, kính tôn?
Khi giao tiếp với tha nhân, nhất là khi chúng ta làm việc phụng sự Chúa, người ta đã gặp thấy Thiên Chúa nơi chúng ta và cảm nghiệm được Thiên Chúa đang tưởng nghĩ, nói năng và hành động nơi con người chúng ta chưa?
Lm. Minh Vận, CMC

 

TN30-C86: Tự công chính hóa chính mình một thái độ sai lầm

Chúa Nhật 30 thường niên năm C (28-10-07)
(Lc 18,9-14)
 

Chắc hẳn dụ ngôn người «Pha-ri-sêu và người thu thuế» - mà bài Tin Mừng hôm nay giới: TN30-C86

Chắc hẳn dụ ngôn người «Pha-ri-sêu và người thu thuế» - mà bài Tin Mừng hôm nay giới thiệu – đối với tất cả chúng ta đã quá quen thuộc, và có lẽ vì quá quen thuộc nên chúng ta cũng khó nhận ra được ý nghĩa trọng yếu của câu chuyện nữa.
Vâng, bình thường chúng ta hay tự đồng hóa mình với người thu thuế từ tốn trong dụ ngôn, bởi vì đối với chúng ta hình ảnh người Pha-ri-sêu quá đậm nét kiêu kỳ và tiêu cực. Nhưng nếu chúng ta tự thành thật với chính mình, chúng ta sẽ nhận thấy rằng cả hai hình ảnh đó – người Pha-ri-sêu và người thu thuế - đều ít nhiều có mặt trong chính bản chất con người chúng ta.
Thực ra, những người Pha-ri-sêu thường là những thành phần tốt và đàng hoàng của xã hội lúc bấy giờ, chứ không xấu như người ta ngày nay thường có ấn tượng về họ. Những ý kiến cho rằng tất cả những người Pha-ri-sêu đều là những kẻ giả hình giả bộ, gian trá, tham lam và chỉ chú trọng đến việc sống đạo theo văn tự và theo hình thức bên ngoài, chứ tinh thần và sự xác tín nội tâm thì hoàn toàn thiếu hẳn, là những ý kiến hoàn toàn không phản ảnh đúng với thực tại cụ thể.
Đúng vậy, vào thời Đức Giêsu, những người Pha-ri-sêu nói chung là những người có tâm hồn tôn giáo, luôn rất coi trọng luật Môsê. Sự cầu nguyện và việc cử hành các lễ nghi phụng tự luôn giữ một vai trọng quan trọng trong cuộc sống của họ. Tuy nhiên, quan niệm và cách thức sống đạo của một số lớn trong họ đã trở nên quá khích và lệch lạc, cần phải được sửa sai. Dẫn chứng cụ thể là hình ảnh người Pha-ri-sêu đã được Đức Giêsu nêu lên trong câu chuyện dụ ngôn.
Vâng, người Pha-ri-sêu được nói đến trong câu chuyện dụ ngôn tự cho rằng ông ta có thể tồn tại được trước Thiên Chúa. Trong khi cầu nguyện, ông ta chỉ nêu lên những tội lỗi mà ông ta không hề sa phạm bao giờ. Ông ta cảm tạ Chúa vì ông sống hoàn hảo và tử tế hơn tất cả những người khác. Trong khi cầu nguyện, người Pha-ri-sêu chỉ nói lên lòng cảm tạ biết ơn của mình đối với Thiên Chúa, chứ không hề khẩn cầu kêu xin cùng Người bất cứ điều gì cả. Ông ta cũng nói đến những công trạng của mình. Và thực ra, những điều ông ta đã làm không phải là ít: Mỗi tuần ông ta ăn chay hai lần và dâng cúng một phần mười hoa lợi của mình cho Đền Thờ.
Thử hỏi ai trong chúng ta có thể dám tự coi mình ngang hàng với một người đạo đức như thế? Bởi vì, nhiều người hễ khi nghe nói động đến vấn đề bớt ăn nhịn uống cũng như vấn đề dâng cúng của cải tiền bạc, là tự nhiên mất hết hứng thú, mất hết vui vẻ và tâm tình đạo đức tôn giáo cũng biến đâu mất. Trong khi đó người Pha-ri-sêu này hoàn toàn ngược lại. Vì để tôn vinh Thiên Chúa, ông ta đã ăn chay, đã hy sinh nhịn ăn nhịn uống mỗi tuần đến hai lần và cắt giảm mức sống bình thường của mình lại để dâng cúng cho đền thờ Thiên Chúa. Đối với ông, Thiên Chúa cũng cụ thể như những đồng tiền nằm lẻ kẻng trong túi tiền của ông. Như vậy, chúng ta không có quyền coi mình cao thượng hơn người Pha-ri-sêu này. Trái lại, ông ta có cuộc sống vượt trội hơn chúng ta.
Nhưng sự ngạc nhiên ở đây, trong câu chuyện dụ ngôn này, là theo nhận xét của Đức Giêsu, thì người Pha-ri-sêu này, một người Do-thái có thể được coi là đạo đức kiểu mẫu, sau khi cầu nguyện ở Đền thờ trở về nhà, sẽ không được công chính!
Tại sao lại vậy, khi mà ông ta đã trưng dẫn cho thấy là ông ta đã thực thi được bao điều tích cực, bao việc lành phúc đức?
Vâng, đức Giêsu đã có lý khi đưa ra sự nhận xét như thế. Bởi vì, sự sai lầm và tiêu cực đáng trách nơi người Pha-ri-sêu này là ông đã tự công chính hóa chính mình, đã tự cho mình là đúng và thánh thiện hơn người khác. Nhất là ông đã quá ỷ lại vào chính mình, vào các khả năng và công cán cá nhân của ông ta, chứ không dựa vào Thiên Chúa và ơn trợ giúp của Người. Ông ta đã quên đi rằng, tự bản chất con người nói chúng và bản thân ông ta nói riêng hoàn toàn yếu hèn, bất toàn và khốn cùng trước mặt Thiên Chúa Tạo Hóa, và mọi khả năng, tài lực và của cải ông ta có được đều là hồng ân của Người ban cho.
Do đó, ông ta đã tự vô hiệu hóa các công sức, các việc lành phúc đức của mình, và qua đó ông ta đã vô tình tự hạ mình xuống thấp. Vâng, người Pha-ri-sêu đã đánh giá các việc lành nhân đức của mình bằng các phạm trù, bằng các tiêu chuẩn và cách thế trần gian, khi ông ta muốn dựa vào công sức của mình để khẳng định địa vị và chỗ đứng trước mặt Thiên Chúa. Tiếp đến ông ta ra mặt khinh thường những người mà ông ta cho là còn thấp kém và còn đầy khiếm khuyết hơn ông ta. Cái chuẩn độ mà ông ta đưa ra để đo lường nhân đức và sự thánh thiện hoàn toàn không phải là Thiên Chúa. Vì thế, tất cà những gì ông ta làm, đều mất hết giá trị.
Đức Giêsu đã đưa ra câu chuyện dụ ngôn này là có ý muốn nhắn gửi đến những người đã luôn tự phụ cho mình là công chính thánh thiện và coi khinh những người khác. Người đã thẳng thắn nói cho những người vốn có quan niệm sai lầm như thế rằng Thiên Chúa, Đấng mà Người loan báo, hoàn toàn kết án việc tự công chính hóa chính mình, việc tự cho mình là lành thánh vô tội. Trong khi đó, chỉ có một mình Thiên Chúa là Đấng duy nhất có thể công chính hóa con người và các hành động của họ bằng sự phán quyết tuyệt đối công minh và đúng đắn của Người mà thôi.
Còn những người thu thế vào thời Đức Giêsu không được đại chúng kính trọng, vì nghề thu thuế của họ là một nghề lem nhem đáng khinh, một nghề không hoàn toàn dựa trên pháp lý và sự công bằng. Họ bị dư luận quần chúng cho là những người tội lỗi, bởi vì họ cộng tác với quân ngoại xâm Roma và trong vấn đề thu thuế má họ đã lợi dụng để làm giàu cho chính mình trên sự đau khổ của đồng bào. Dó đó, đời xưa những người thu thuế bị xếp vào hàng ngũ những kẻ trộm cướp. Họ mất hết phẩm giá của một công dân Do-thái và người ta tránh tiếp xúc giao lưu với họ.
Nhưng cũng chính vì lý do đó mà câu chuyện dụ ngôn lại làm cho chúng ta ngạc nhiên một lần thứ hai nữa. Đó là việc Đức Giêsu đã quả quyết rằng người thu thuế, một kẻ đã sai phạm không biết bao nhiêu là tội lỗi và bất công, sẽ rời Đền Thờ ra về trong an bình vui sướng với Thiên Chúa và với chính mình, sẽ trở về nhà như một người công chính!
Tại sao?
Điều tích cực nơi người thu thuế là chính việc anh đã thành tâm đến cầu nguyện cùng Thiên Chúa thực sự. Trước tòa Chúa anh đã nhận ra mình chỉ là một kẻ tội lỗi bất xứng và anh biết rằng với một lương tâm u uẩn, đầy tội lỗi nặng nề như thế, chắc chắn anh sẽ không thể tồn tại được trước mặt Thiên Chúa. Như thế, người thu thuế đã đánh giá cuộc sống và các việc mình làm theo các tiêu chuẩn trên cao, theo luật lệ Thiên Chúa. Vâng, Thiên Chúa là mẫu mực, là mô phạm và là tiêu chuẩn của anh. Do đó, trước mặt Chúa anh đã xưng nhận tội lỗi của mình và chân thành khẩn cầu Người tha thứ cho anh.
Qua đó chúng ta thấy rằng người thu thuế tội lỗi - với một tâm hồn khiêm tốn chân thành - được ở gần kề bên Thiên Chúa hơn là người Pha-ri-sêu đạo đức – với một tâm hồn đầy tự phụ, kiêu căng và khinh người.
Nói tóm lại, người Pha-ri-sêu bị chê trách không phải vì lý do sự công bằng và những việc phúc đức ông đã làm. Điều gì tốt thì luôn luôn vẫn là điều tốt. Nhưng vào giai đoạn kết thúc câu chuyện, người Pha-ri-sêu lại không còn được coi là một người tốt, đó là do ông đã quá tự đề cao mình khi so sánh với những người khác và rồi coi khinh họ.
Trong khi đó người thu thuế được khen ngợi không phải vì những tội lỗi anh đã sa phạm. Điều gì xấu thì vẫn luôn luôn là điều xấu. Nhưng anh ta được khen ngợi, bởi vì:
• anh ta thành tâm đến với Chúa trong tinh thần khiêm tốn;
• anh ta đã can đảm biết nhìn thẳng vào chính đời mình;
• anh ta đã không đâm ra thất vọng, chán nản và buông xuôi trước các tội lỗi của mình;
• anh ta chấp nhận sự yếu đuối và sự bất toàn của mình, v.v…!
Chính sự thành tâm đó là khởi đầu cho công cuộc thay đổi và canh tân cuộc sống.
Vậy, qua dụ ngôn «Người Pha-ri-sêu và người thu thuế», Đức Giêsu muốn nói cho chúng ta biết điều gì thực sự là thánh thiện và hoàn hảo trước mặt Thiên Chúa: Không phải là việc chỉ nhắm giữ đúng các luật lệ và các đòi hỏi luân lý, nhưng là sự xác tín rằng mình hoàn toàn bất toàn trước mặt Thiên Chúa, nên cần đến lòng thương xót của Người và nhất thiết phải canh tân cải thiện cuộc sống của mình.
Lm Nguyễn Hữu Thy - Vietcatholic.net

 

TN30-C87: Mũi nhọn xung kích – ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

(Trích dẫn từ ‘Nút Vòng Xoay’)
 

Phúc Âm hôm nay là một dụ ngôn sống động và mang tính khái quát. Rất gọn về số câu, số chữ : TN30-C87

Phúc Âm hôm nay là một dụ ngôn sống động và mang tính khái quát. Rất gọn về số câu, số chữ nhưng lại rất rộng về hàm ý nội dung. Chỉ có hai nhân vật với vài nét chấp phá sơ sài nhưng cũng đủ khái quát cho mọi tầng lớp dân chúng. Chỉ là một thoáng lên Đền cầu nguyện nhưng lại biểu trưng cho mọi sinh hoạt tôn giáo. Chỉ quanh quẩn trong chu vi Đền Thánh nhưng lại điển hình đến nỗi có thể nới rộng ra cả cuộc đời.
Nhưng điều làm cho dụ ngôn sống động đến hôm nay thiết tưởng không những vì tính khái quát ấy mà đáng lưu ý hơn, theo ngôn từ báo chí, còn vì “tính xung kích” với những mũi nhọn không thể tránh né của nó.
Đẹp lắm nhưng cũng đau lắm. Khéo léo lắm nhưng cũng nhức nhối không kém. Xin chia sẻ về tính xung kích ấy.
1. Mũi  nhọn thứ nhất: tố giác một não trạng tôn giáo đầy ảo tưởng
Đối với người Do Thái, luật Thiên Chúa là trên hết, đời sống của họ được khuôn đúc theo lề luật, xã hội của họ gắn liền với tôn giáo nên cũng được tổ chức theo lề luật. Đã có những thành phần ưu tuyển chuyên viên về lề luật được gọi là Luật sĩ và cũng có những thành phần khác chú tâm đến việc thi hành luật đến độ tỉ mỉ, đó là mấy ông biệt phái. Luật lệ là khuôn vàng thước ngọc cho đời sống. Quan điểm ấy không có gì đáng phàn nàn nếu qua lề luật người ta nhận ra bàn tay và tấm lòng của Thiên Chúa luôn dẫn đưa và giáo hóa con người. Nhưng quan điểm ấy trong thực tế đã không giữ được vẻ tinh ròng của nó mà đã bị biến chất dần dà theo năm tháng để trở thành một thái độ tôn giáo kệch cỡm, di căn trong nếp nghĩ và đồng thời méo mó trong thực hành. Và đây là một thực trạng nguy hiểm mà Chúa Giêsu gọi là “men Biệt phái” cũng là điều dụ ngôn hôm nay tố giác.
Nguy hiểm nhất là tất cả đã bị đảo lộn: luật lệ thay vì là phương tiện đã được nâng lên hàng mục đích và Thiên Chúa thay vì là cùng đích lại bị xếp xuống hàng phương tiện.
Nguy hiểm thứ hai là tất cả đã trở thành máy móc: làm như cứ chu toàn một số khoản luật là tức khắc người ta trở thành công chính và có quyền đòi hỏi Thiên Chúa phải ký tên đóng dấu chứng thực cho sự công chính này, giống như kiểu chấm công và báo công trong các xí nghiệp trước đây đã bị báo chí phê bình gay gắt, chấm công thì rất nhiều nhưng việc chẳng chạy bao nhiêu, ấy là chưa nói tới việc công, việc tư, lẫn lộn và thế là vỡ nợ thất bại.
Và nguy hiểm hơn hết là tất cả đã làm thành một ảo tưởng đặc dầy về quá khứ công trạng để rồi thành chuẩn mực phủ định những người không thuộc về phe cánh mình, không giống như mình, không đúng ý mình, kể cả Thiên Chúa nữa.
Ông Biệt phái trong dụ ngôn đã rơi vào cái ảo tưởng mà Chúa Giêsu muốn tố giác này:
Lời kinh của ông khởi đầu bằng tâm tình tạ ơn rất đẹp, nhưng đã nhanh chóng trở nên xấu bởi có ý đồ níu kéo Thiên Chúa thỏa hiệp với lối sống vụ luật “trên mức bó buộc” của ông. Có biết đâu ông đã ảo tưởng. Thiên Chúa vì yêu thương tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài, nhưng chính ông lại xây dựng một Thiên Chúa theo hình ảnh của ông.
Và lời kinh của ông còn tồi tệ hơn khi tự hào cho mình là công chính để so sánh mình với đời sống bên ngoài của những người khác. “Đứng thẳng nguyện thầm” có vẻ tốt đấy, nhưng kênh kiệu làm sao và cũng ảo tưởng biết bao. Khẳng định mình đúng cách là tốt, nhưng khẳng định mình bằng cách phủ định kẻ khác, bằng cách dèm pha nói xấu bôi nhọ khinh chê người ta thì quả thật là trơ trẽn.
Và nguy hiểm cuối cùng đến từ những mối nguy hiểm trên là chính mình không còn cảm thấy nỗi hiểm nguy nào nữa, thành ra khô đạo mà tưởng mình sống đạo, phá đạo mà tưởng mình xây đạo, bài tôn giáo ngay giữa lòng tôn giáo và bóp nghẹt Thiên Chúa trong khi tưởng như mình vẫn tôn thờ Ngài, làm lu mờ Danh Chúa mà tưởng như mình đang làm sáng danh Ngài.
2. Mũi nhọn thứ hai: xây dựng một thực chất tôn giáo.
Nếu qua hình tượng ông biệt phái, dụ ngôn muốn tố giác một thứ đạo đức ảo tưởng đầy nguy hiểm, thì ngược lại qua ông thu thuế, dụ ngôn lại nhắm một mục đích tích cực nhưng cũng không kém phân xung kích, đó là xây dựng một nền đạo đức đích thực tôn giáo.
Nền đạo đức đích thực ấy dựa trên những thái độ cơ bản là không phải chỉ tin có Thiên Chúa mà phải tới chỗ tin vào Ngài. “Tin có” và “tin vào” là hai động từ gói ghém những thái độ khác nhau lắm dẫu ở đó đều hiện diện chữ “tin”. Không ít người tin có Thiên Chúa, nhưng để gọi được là tin vào Thiên Chúa thì còn phải hạ hồi phân giải tùy theo chất lượng chứng minh của cuộc sống. Ông biệt phái tin có Thiên Chúa quá đi chứ, nhưng nếu hỏi “ông có tin vào Ngài chưa?” thì phải trả lời là chưa, mà ngược lại, thay vì tin vào Ngài, đời sống ông lại cho thấy chỉ tin vào mình, cậy dựa vào sức mình để kèn cựa sao cho người khác xem mình là công chính.
Còn ông thu thuế, dẫu không cầu nguyện dài lời cũng cho thấy ông là người đã tới mức tin vào Thiên Chúa và phó thác hoàn toàn cho Ngài. Bởi thấy mình quá lem luốc theo mắt nhìn thành kiến của người đương thời, nên ông chỉ có thể đợi chờ một sự gột rửa trong mắt nhìn của Thiên Chúa; bởi thấy mình đã bất chính trong vòng quay nghiệt ngã của nghề nghiệp, nên con người ông nếu có cái gì phải tiến dâng thì đó chính là cuộc đời tội lụy của tấm lòng tan nát khiêm cung cúi đầu đấm ngực xin ơn tha thứ. Và bởi thấy mình chỉ đáng tội nên Thiên Chúa lại thấy ông chỉ đáng thương, nên bằng tình thương, Ngài đã ban ơn cho ông theo như ông tin vào Ngài.
Rõ ràng là tình thương Thiên Chúa ban cho con người như nước chảy về chỗ trũng, chỉ khi gặp tâm hồn khiêm tốn khai hoang, tình thương ấy mới có thể đổ vào tràn đầy chan chứa. Hay nói cách khác, tình thương Thiên Chúa là một “tình cho không biếu không”, nhưng chỉ những ai đã gạt bỏ ảo tưởng về mình để nhìn nhận mình là không, người ấy mới có thể nhận được tình thương của Thiên Chúa.
Tin vào Thiên Chúa sẽ gặp được tình thương của Ngài, còn chỉ tin vào mình rốt cuộc lại gặp chính mình trong những ảo tưởng chất chồng. Nhưng cũng phải thưa ngay rằng: luôn luôn có một sự quân bình giữa một đàng là tình thương Thiên Chúa và đàng khác là cố gắng của con người. Chỉ ỷ lại vào tình thương Thiên chúa cũng sẽ rơi vào ảo tưởng như là chỉ ỷ y vào sức mình. Thế nên, đạo đức đích thực chính là dung hòa giữa nỗ lực và cậy trông. Xin mượn kiểu chơi chữ của thánh Augustinô để minh họa. Ngài bảo ai càng cảm nhận về sự khốn cùng của mình, người ấy càng gặp được sự khôn cùng của tình thương Thiên Chúa. Ai sống hết mình với cái miseria của mình, người ấy cũng biết cách để tiếp nhận cái misericordia của Thiên Chúa. Giống như người say rượu một khi biết tật của mình mới hết khướt say.
3. Mũi nhọn thứ ba: cật vấn hôm nay.
Với hai mũi nhọn trên, dụ ngôn đã trở thành sống động và sở dĩ còn sức sống đến hôm nay là vì mũi nhọn thứ ba: dụ ngôn là lời cật vấn gởi đến mọi kẻ tin, ngân vang tới mọi sinh hoạt tôn giáo và len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống đời thường. Thế nên vấn đề được đặt ra ở đây trên bình diện cá nhân cũng như tập thể với những thích ứng cần thiết là hãy thử nhận diện cuộc sống của mình và của cộng đoàn mình.
Có thể ta không gặp sừng sững một ông Biệt phái lộ liễu ngất ngưỡng ở trong lối sống đạo của ta, nhưng biết đâu cái ảo tưởng an toàn khi chu toàn các bổn phận trong đạo như ông biệt phái lại chẳng lây lan len lỏi lập lòe trong tâm thức của mình? Biết đâu lúc này khác hơn một lần ta đã tự ru mình vào giấc ngủ “tự hào” khi bằng lòng với cách thể hiện đức tin hiện tại? Biết đâu đó đây trong ngày sống ta đã chiều theo ý nghĩ so sánh đời ta với đời người khác về phương diện đạo đức, theo kiểu “Trông lên mình chẳng bằng ai, nhưng khi trông xuống chẳng ai bằng mình”? Xưa Chúa Giêsu gọi đó là “men Biệt phái”, nay có lẽ nên gọi là “viris BP” xin tránh xa. Nếu “virus BP” mà giống “dầu nhớt BP liên tục phát triển” như quảng cáo trên tivi thì nguy quá! Trượt té dài dài.
Có thể ta thấy mình bỗng dưng gần gũi với ông thu thuế vì đời ta vương nhiều tội lụy, vì ta đi lễ thích đứng cuối nhả thờ, và vì ta cầu nguyện chỉ mong thật ngắn chẳng thích dài lời như như Phúc Âm kể: “Ông thu thuế đứng dàng xa, không dám ngước mặt, vừa đấm ngực vừa cầu nguyện: Lạy Chúa xin thương con là kẻ tội lỗi”. Nhưng chưa chắc đâu, bởi ông thu thuế khiêm tốn hết mình để được thứ tha hết tình, còn ta có khi chỉ là khiêm tốn nửa mùa tưởng bở, như thoáng thấy qua trang Nhật Ký của Đức Gioan XXIII ngày nào: “Tôi tưởng mình là cậu bé Séraphim nhưng nhìn kỹ tôi lại thấy mình là một chú Lucife nhỏ.
Và vượt lên tất cả chính là lời thầm nhủ: hãy tin vào tình thương của Chúa mà sống tốt cuộc sống Ki-tô của mình. Với người này có thể trút bỏ những ảo tưởng tự hào, với người kia có thể là nhen lên lòng sám hối khiêm cung. Riêng cá nhân tôi nhân ngày tròn bảy năm linh mục, cùng với lời tạ ơn Thiên Chúa, lời cảm tạ cha sở và cộng đoàn, cũng sẽ là một lời kinh âm thầm xin được luôn tin vào tình thương Thiên Chúa.
Chiều qua khi đang sắp xếp lại sách vở, nghe cassette nhà ai mở bài “L’amour c’est pour rien” với lời hát “Tình cho không biếu không chớ nên mua bán tình yêu”, bất giác tôi nghĩ về tình thương Thiên Chúa: một tình thương luôn sẵn cho đi, một tình thương chẳng chờ đợi gì, một tình thương không mong đáp trả, một tình thương mãi mãi thứ tha.
Cầu chúc mọi người luôn tin vào tình thương Thiên Chúa để mãi vươn lên trong mọi cảnh ngộ cuộc đời, bởi xét cho cùng mỗi cảnh ngộ cũng là một dụ ngôn sống động ẩn chứa những mũi nhọn xung kích mời ta khám phá không ngừng.

 

TN30-C88: Người thu thuế ra về được khỏi tội

(Trích dẫn từ ‘Suy Niệm Phúc Âm Hàng Ngày’ – Radio Veritas Asia)
 

Tác giả tập sách nổi tiếng có tựa đề: "Nơi Thiên Chúa khóc". Do kinh nghiệm sống đức tin của: TN30-C88

Tác giả tập sách nổi tiếng có tựa đề: "Nơi Thiên Chúa khóc". Do kinh nghiệm sống đức tin của một cộng đồng Kitô hữu bị bách hại tại Đông Âu trước đây, kể lại kinh nghiệm cảm động nhất của mình trong việc cầu nguyện như sau:
Tôi cùng với một số người Đức bị đưa đi đày xa quê hương từ giữa thế chiến thứ hai. Tất cả đều là người Công giáo và cùng lao động tại một nông trường. Nơi ấy không có nhà thờ cũng chẳng có linh mục, nhưng chúng tôi được tụ họp mỗi chiều Chúa Nhật tại một nghĩa địa cũ để cầu nguyện chung với nhau. Khi biết cách đó 1,000 km có linh mục, anh chị em Kitô bèn quyết định hàng tháng góp chung nhau ít tiền để mua vé xe cho một bà già đi về nơi ấy, để đem Mình Thánh đến cho cộng đoàn. Thế rồi, từ đó mỗi buổi chiều Chúa Nhật, cộng đoàn gặp nhau trong nghĩa địa với tâm hồn hân hoan vui sướng, vì biết rằng có Chúa Giêsu Thánh Thể hiện diện với mình. Chúng tôi sốt sắng cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa. Những ai yếu liệt đều được trao cho của ăn đàng quí giá trước khi qua đời. Nhờ vậy, trong suốt mấy chục năm trời, cộng đoàn Kitô hữu chúng tôi vẫn sống niềm tin kiên vững, đùm bọc lẫn nhau trong tình yêu thương bác ái huynh đệ.
Tác giả của tập sách nói trên được sang sống bên thế giới tự do và cho biết chính mình là người điều khiển cộng đoàn Kitô hữu vào mỗi buổi chiều Chúa Nhật tại nghĩa địa như đã kể trong tập sách. Sống trong xã hội tự do, nhưng tâm hồn tác giả lúc nào cũng hướng về cộng đoàn huynh đệ vây quanh Chúa Giêsu Thánh Thể để cầu nguyện và nâng đỡ nhau.
Anh chị em thân mến!
Lời cầu nguyện thật lúc nào cũng là lời cầu nguyện của tình yêu thương và tha thứ, lời cầu nguyện liên kết mọi người với nhau, lời cầu nguyện của sự xây dựng cộng đoàn. Thật là khác với những lời cầu nguyện của những người Pharisiêu như được mô tả trong bài Tin Mừng hôm nay.
Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta liền nhớ đến những lời nhắn nhủ sau đây của Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận trong tập sách "Đường Hy Vọng":
Dù con có tử đạo, nộp mình chịu thiêu, dù con có làm tông đồ, giảng dạy các thứ tiếng của nhân loại và thiên thần, dù con có hoạt động từ thiện, đem hết cả tài sản phân phát cho người nghèo khó mà con không có lòng mến thì cũng như không. Việc con làm không quan hệ, cách con làm mới quan hệ.
Người biệt phái cầu nguyện đứng thẳng, chi tiết này nói lên tinh thần tự kiêu, ỉ lại trước nhan Thiên Chúa, và nội dung lời cầu nguyện của ông chỉ là những lời khoe khoang với Chúa và gây chia rẽ: "Con không phải như người thu thuế, tôi lỗi kia, con không giống như những kẻ khác: tham lam, bất công, ngoại tình..." Đó là những lời kết tội anh em, lỗi đức ái, không có chút gì tích cực xây dựng cộng đoàn và tôn vinh lòng nhân từ của Thiên Chúa. Ngược lại, người thu thuế đã ý thức được thân phận tội lỗi của mình, nên khiêm tốn cúi mình xin Chúa thương xót, hướng dẫn mình trở về với tình thương của Chúa, trở về với anh em mà mình đã xúc phạm.
Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, tác giả tập sách "Đường Hy Vọng" đã nhắn nhủ chúng ta về việc cầu nguyện như sau: Khi hai hay ba người hiệp nhau cầu nguyện thì có Chúa ở giữa họ. Lời Chúa Giêsu đã được ứng nghiệm, đặc biệt nơi nhiều cộng đoàn cầu nguyện. Họ sống xa linh mục từng ngàn cây số mà vẫn hướng dẫn nhau cầu nguyện cách kiên trì giữa những gian nan thử thách và cô đơn. Dầu miệng con không nói ra, Chúa đã hiểu thấu lòng con. Con hãy noi gương người đàn bà bị băng huyết động đến gấu áo Chúa được nhận lời ngay. Con tội lỗi không dám ra trước mắt Chúa, nhưng lời Hội Thánh khiến con vững tâm: "Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con".
Vậy, tất cả sự thương khó của Chúa Giêsu và công nghiệp của Đức Mẹ và các thánh không đủ để bao bọc lời cầu nguyện nhỏ bé của con sao? Trong cuộc đời Chúa Giêsu, hình như Chúa yêu thương cách riêng những kẻ khiêm nhượng và Ngài quên hết tội lỗi của họ, không bao giờ nhắc lại: "Phêrô, Madalena, Simon phong cùi, Giakêu... Chúa đã tự đến nhà họ và đành chịu tiếng làm bạn với quân thu thuế và người tội lỗi".
Quyền năng nơi Thiên Chúa phục vụ qua lòng nhân từ của Ngài. Quyền năng của một người Cha nhân từ đủ sức thanh tẩy và đổi mới cuộc đời tội lỗi, nếu chúng ta khiêm tốn để cho ơn Chúa được tự do tác động.
Lạy Chúa, như người thu thuế kia, con thành tâm kêu xin Chúa, xin Chúa thương xót con, hãy tha thứ mọi tội lỗi con và dẫn đưa con về với tình yêu: Yêu Chúa và yêu anh em như Chúa đã yêu. Amen.

 

TN30-C89: Người Pharisêu và người thu thuế – Vincent Travers

Dụ ngôn này nhắc nhở tôi câu chuyện về một người đàn ông khoe khoang như sau: nếu trên trần: TN30-C89

Dụ ngôn này nhắc nhở tôi câu chuyện về một người đàn ông khoe khoang như sau: nếu trên trần thế này chỉ còn lại hai người tốt mà thôi thì đó chính là tôi và con trai của tôi. Nhưng nếu chỉ còn lại một người tốt, thì chắc chắn người đó phải là tôi!
Người Pharisêu tự thấy mình cũng như người đàn ông đó, nổi tiếng và gương mẫu về mọi phương diện, từ đầu đến chân, trên mọi người khác. Thật thế, ông ta đã nói: “Tôi lương thiện và ai giống tôi?”
Điều nguy hiểm khi đọc dụ ngôn này là chúng ta tự khen ngợi mình không giống như người Pharisêu kia, cũng như người này tự khen ngợi mình không giống như người thu thuế. Nếu chúng ta dám nhìn kỹ hơn, tôi thiết tưởng có rất nhiều điều giống với người Pharisêu ở trong tất cả chúng ta. Vấn đề là giống bao nhiêu mà thôi.
Vào một ngày nắng đẹp trời, một con voi ngâm mình trong một cái hồ ở trong rừng sâu. Một con chuột đến bờ hồ và yêu cầu con voi ra khỏi hồ. Con voi hỏi: “Tại sao?” Con chuột nói: “Tôi sẽ nói cho bạn biết tại sao, khi bạn ra khỏi hồ.” Vì vậy con voi đã ra khỏi hồ và nói: “Tao ra khỏi hồ rồi đó. Vậy mầy muốn gì?” Con chuột đáp: “Tôi chỉ muốn xem có phải bạn đã mặc bộ đồ tắm của tôi không.”
Tất cả chúng ta là những tay tổ trong nghệ thuật phóng đại sự kiện tự quan trọng hoá mình.
Tự ca ngợi mình không phải là ca ngợi
Chúa Giêsu đã dùng những kỹ thuật gây nên sửng sốt. Qua câu chuyện này, thính giả của Ngài đều nhận biết một nhân vật là tốt, còn nhân vật kia thì xấu. Nhưng Chúa Giêsu đã làm cho họ sửng sốt bằng cách kết án nhân vật tốt và ca ngợi nhân vật xấu.
Để hiểu câu chuyện gây nên sửng sốt đến mức độ nào cho những người nghe nói lần đầu tiên, chúng ta phải nhận thức rằng người Pharisêu ở đây không phải là một kẻ giả dối. Ông ta thực sự tốt hơn những người khác. Ông đã đi quá xa hơn những gì ràng buộc ông ta. Ông ăn chay hai lần một tuần không phải là điều bắt buộc đối với ông. Người Pharisêu cũng không bắt buộc phải dâng cúng cho Chúa một phần mười tài sản của mình. Tất cả những điều đó đều tốt và đáng ca tụng nữa.
Rõ ràng công bằng mà nói thì người thu thuế là một nhân vật hoàn toàn xấu. Vào thời Chúa Giêsu, thuế má được thâu bởi những nhà kinh doanh địa phương. Những thuế đó được ấn định bởi những người La-mã mà dân chúng ghét cay ghét đắng, nhằm hỗ trợ cho quân đội chiếm đóng.
Một khi người La-mã đã lấy đủ phần mình, họ không phải quan tâm tới số hoa hồng mà người thu thuế thêm vào. Những người này đã bày đủ thủ đoạn làm tiền để ăn chặn của dân chúng càng nhiều càng tốt. Chính những người thu thuế đó mới đáng ghét và bị tất cả những người tử tế lánh xa.
Trong dụ ngôn của Chúa Giêsu, người thu thuế tự gọi mình là “kẻ tội lỗi” (Lc 18, 13). Như thế, ít nữa, ông ta đã nói lên một điều hoàn toàn đúng sự thật. Vậy tại sao người thu thuế – không phải người Pharisêu – đã ra về được chứng minh là công chính trước mặt Thiên Chúa.
Sự phản bội
Người Pharisêu đến đền thánh, không phải để cầu nguyện nhưng để khoe khoang, để cho Chúa biết ông ta tốt chừng nào, để cổ võ chính hình ảnh của ông. Lời cầu nguyện của ông đầy những chữ “tôi”, “tôi” và “tôi”. Đó là “tự kỷ trung tâm” (tự cho mình là trung tâm điểm của vũ trụ), thay vì đặt để Thiên Chúa làm trung tâm điểm.
Chúng ta nên cảnh giác đừng chỉ ngón tay vào người Pharisêu. Đó là một thói quen rất nguy hiểm. Điều đó có nghĩa là ba ngón tay kia chĩa lại chúng ta!
Lấy thí dụ đi xem lễ Chúa nhật. Tại sao tôi đi xem lễ? Động cơ nào đã thúc đẩy tôi? Có phải tôi đến để thoả mãn Chúa hay chỉ để thoả mãn tôi? Có phải tôi đến nhà thờ để được khuyên giải và an ủi? Để vinh danh Chúa hay tự vinh danh tôi? Để làm vui lòng Chúa hay làm vui chính tôi? Có phải tôi đã làm đúng, nhưng động cơ thúc đẩy tôi lại sai?
T.S. Eliot trong vở kịch “Murder In The Cathedral” (“Án Mạng trong Nhà Thờ Chính Tòa”) đã đề cập đến việc làm thì đúng, nhưng động cơ thúc đẩy thì sai, nên cuối cùng là một hành động “phản bội”.
Chúng ta thường nghe nhiều người than phiền như sau: “Tôi đi xem lễ nhưng chẳng được ích gì. Tôi không thể chịu đựng được vị linh mục. Bài giảng chán ngấy. Tôi không thể nghe ca đoàn hát. Tôi không thể chịu được tiếng ồn ào. Tôi không thể chịu đựng trẻ con.” Tất cả đều là “tôi”, “tôi” và “tôi”. Đúng họ là những chuyên gia về “cái tôi”!
Những người khác không cùng nhau đến nhà thờ không phải vì bị chống đối; họ không bị đá bị đuổi, đứng trên phương diện đạo giáo. Giờ đây, nếu tôi đến dự lễ hay không đến “vì tôi, cho tôi, để tôi được nhận nhưng không cho đi”, tức nhiên có điều gì đó tự bản chất đã sai lầm rồi. Tôn giáo chân chính là tôn giáo lấy Thiên Chúa làm trung tâm, chứ không phải lấy tôi làm trung tâm (“tự kỷ trung tâm”).
Sự khác biệt giữa “TÔI” và “CHÚA”
Lời cầu nguyện của người Pharisêu nhằm đề cao “cái tôi”, trong khi lời cầu nguyện của người thu thuế nhắm đến “Thiên Chúa”. Người Pharisêu nói: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình…” (Lc 18, 11). “TÔI!” Còn người thu thuế chỉ nói: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.” (Lc 18, 13). “CHÚA!”
Điều khác biệt giữa sự tiếp cận “CÁI TÔI” và sự tiếp cận “THIÊN CHÚA” trong bất cứ tương quan nào, dù ở trên trời hay dưới đất, là điều khác biệt giữa sự kiện sống cho chính mình hay cho kẻ khác, giữa sự vị kỷ hay vị tha, giữa sự ấu trĩ hay đã trưởng thành. Chính người thu thuế, chứ không phải người Pharisêu đã đi về nhà được công chính hoá trước mặt Thiên Chúa.
Có một câu chuyện nói về một cậu bé đi xem lễ sáng sớm Chúa nhật. Mẹ cậu cho cậu hai đồng tiền bằng bạc và nói: “Một đồng cho con, còn đồng kia con dâng cho Chúa”, tức là bỏ trong giỏ khi thu tiền trong nhà thờ. Cậu bé cầm chặt hai đồng tiền trong nắm tay, khi bắt đầu đi đến nhà thờ. Trong khi băng qua đường, cậu bé đó vấp ngã trượt chân và té. Tự nhiên theo bản năng, cậu bé mở tay ra để chống đỡ cho khỏi bị ngã và hai đồng tiền vuột khỏi tay cậu. Một đồng lăn tới nằm ở lề đường, còn đồng kia lăn xuống đường mương. Cậu nhặt đồng tiền ở lề đường lên và nhìn xuống đường mương.
Đột nhiên một cuộc chiến đấu dữ dội nổi lên bên trong con người của cậu. Sau một lúc do dự, cậu đút nhanh đồng tiền nhặt được vào túi, nhìn lên trời và nói: “Chúa ôi, con rất lấy làm buồn, đồng tiền của Chúa nằm dưới đường mương rồi!”
Không biết câu chuyện đó có xác thực không? Nhưng cũng có thể lắm. Tất cả đều tùy thuộc vào “cái tôi” và có thể trở thành điển hình cho toàn bộ việc tiếp cận của chúng ta với Thiên Chúa. “Tôi”, chỉ “tôi” thôi, luôn luôn là “tôi” và không ai khác. Một chân lý chứa đựng nhiều điều trong câu chuyện có tính cách bông đùa đó!
Người thu thuế “đã hiểu điều đó một cách đứng đắn”. Việc tiếp cận của ông với Thiên Chúa là lương thiện, khiêm tốn và được công chính hoá. Giờ đây sự tương quan giữa ông với Đấng Tạo Hoá được trực tiếp, thẳng tắp và một cuộc sống mới đã bắt đầu đối với ông.

 

TN30-C90: Nâng mình lên sẽ bị hạ xuống

(Suy niệm của Lm. Ignatio Trần Ngà)
 

Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống" là một giáo huấn rất quan trọng nên thường được Chúa Giêsu: TN30-C90

“Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống" là một giáo huấn rất quan trọng nên thường được Chúa Giêsu đề cập nhiều lần trong Tin Mừng bằng nhiều hình thức (Lc 18,14. Lc 14, 7-11. Mt 23,12)
Lần nầy, để minh hoạ cho bài học của mình, Chúa Giêsu nêu lên hai nhân vật.
Người biệt phái rất tự phụ, vênh vang phô trương công đức của mình. Ông tự cho mình thánh thiện, đạo đức và tự đặt mình lên trên những người khác: "Xin tạ ơn Chúa vì con không như bao kẻ khác, không tham lam, không bất chính, không ngoại tình, không như tên thu thuế kia!"
Rồi ông phô trương thành tích đạo đức của mình: "Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con".
Quả là ông nầy có nhiều thành tích tốt lành ít ai bì kịp. Thế nhưng Thiên Chúa chê bỏ ông vì thái độ tự kiêu của ông. Ông ta như chiếc bình đầy tràn, đầy kiêu căng tự phụ, nên chẳng còn chỗ nào cho Chúa rót thêm.
Trong khi đó, người thu thuế vốn biết thân biết phận tội lỗi của mình nên chỉ đứng ở đằng xa, thậm chí không dám ngước mặt lên, chỉ biết đấm ngực mà nguyện rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi".
Anh nầy đến với Chúa như một chiếc bình trống rỗng, nghĩa là với lòng thống hối khiêm cung và khao khát được Chúa tuôn đổ ơn tha thứ nên anh đã được Thiên Chúa thứ tha.
Với dụ ngôn nầy, Chúa Giêsu ghi sâu bài học đáng nhớ nầy vào tâm khảm chúng ta: "Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên."
* * *
Một hôm khi cùng với học trò vào thăm miếu của vua Hoàn Công, nước Lỗ, Đức Khổng Tử thấy có cái lọ đứng nghiêng. Ngài nói với môn sinh: Ta nghe nói vua Hoàn Công có một vật quý để răn dạy người đời. Đó là một chiếc lọ đặc biệt, khi để trống không thì nghiêng, khi đổ nước vào vừa phải thì đứng; nếu đổ đầy nước vào thì lọ đổ nhào. Không rõ vật ấy có phải là cái lọ nầy không?
Rồi ngài sai học trò đổ nước vào thử xem. Quả thật, mới đầu lọ đứng nghiêng, khi nước được rót vào được một nửa, thì chiếc lọ chuyển sang vị thế đứng thẳng; rồi cứ đổ tiếp cho đầy tới miệng thì lọ đổ nhào.
Người đông phương ngày xưa khôn khéo tạo nên chiếc lọ đặc biệt như thế để ghi khắc vào tâm khảm người đời bài học khiêm tốn, bài học trung dung, một cách rất ấn tượng.
Còn người phương tây cũng diễn tả nội dung đó qua một ngạn ngữ khá phổ thông: "virtus in medio - nhân đức nằm ở mực trung". Người nhân đức là người biết sống trung dung, không bất cập mà cũng không thái quá.
Bởi vì bất cứ điều gì quá dư đầy phải sụp đổ.
"Mặt trời đứng bóng rồi phải xế,
Mặt trăng tròn đầy rồi sẽ khuyết,
Vật gì thịnh lắm rồi cũng phải suy". (Thái Trạch)
"Cái gì dư đầy sẽ phải đổ "... (Khổng Tử)
Thế nên, Lão tử khuyên chúng ta:
"Thông minh duệ trí, thủ chi dĩ ngu,
Dũng lực chấn thế, thủ chi dĩ khiếp".
Bậc thông minh duệ trí thì nên giữ mình bằng khiêm nhường, nhận rằng mình còn nhiều điều chưa biết; bậc anh hào có sức mạnh chấn động thế giới hãy biết bảo trọng thân mình bằng cách sống hạ mình như người nhát sợ thì mới được vững bền.
Còn Chúa Giêsu vẫn hằng nhắc nhở chúng ta: chớ dại mà nâng mình lên vì "hễ ai nâng mình lên sẽ phải bị hạ xuống" như trường hợp người biệt phái trong câu chuyện trên đây hay chớ dại dột chọn ngồi chỗ cao trong bữa tiệc, kẻo có ngày chủ nhà sẽ mời xuống chỗ cuối (như ở Tin Mừng Luca chương 14, 7-11).

 

TN30-C91: Con mắt – Lm. Vũ Đình Tường

Mắt là đèn soi cho chúng ta. Mắt giúp quan sát, nhìn sự việc. Có người ví von mắt là cửa sổ của: TN30-C91

Mắt là đèn soi cho chúng ta. Mắt giúp quan sát, nhìn sự việc. Có người ví von mắt là cửa sổ của tâm hồn. Rất nhiều trường hợp hai người cùng quan sát một sự việc, cùng dùng mắt kết quả nhìn khác nhau. Trường hợp hai người nghe cùng câu chuyện do một người kể, kết quả nhận định khác nhau. Tai, mắt hay ngũ quan không nắm vai trò chủ động trong mọi quyết định. Mắt thấy, tai nghe là bước mở đường cho bước kế tiếp đưa đến phán đoán. Khi phán đoán tai mắt đóng góp bao nhiêu phần trăm?
NHÌN KHÁC NHAU
Điều chắc chắn hầu như mọi biến cố quan trọng trong đời mỗi người nhìn một cách khác nhau, nhận định sự việc khác nhau mặc dù họ nhìn chung một sự kiện, nghe cùng một câu chuyện, do một người kể nhưng phán đoán mỗi người mỗi khác. Mắt giúp quan sát, nhìn đi nhìn lại cũng chỉ rõ bên ngoài, không thấu suốt nội tình, bên trong. Phán đoán dựa vào quan sát bên ngoài để đoán những gì bên trong đưa đến kết quả có thể là đúng cũng có thể sai. Bởi vì đoán nên không thể quả quyết. Khi quả quyết thì không còn đoán. Nếu đoán thì không thể xác quyết vì có thể còn những chuẩn đoán chính xác hơn, hợp lí hơn.
XÉT MÌNH
Phúc âm đưa ra trường hợp hai người cầu nguyện trong đền thờ. Một được Chúa nhận lời; một không. Cả hai cùng xét mình, nhìn lại cách ăn, nết ở trong thời gian qua. Trong thánh điện kết quả xét mình của hai người đối nghịch nhau.
Một đứng thẳng, ưỡn ngực cầu nguyện; một cúi mặt, đấm ngực ăn năn.
Một đứng gần gian cung thánh; một xa tít cuối đền thờ.
Một tự hào ăn ngay, ở lành; một hối hận vì tội đã phạm.
Một vỗ ngực tự xưng công chính giữ trọn luật; một đấm ngực ăn năn xin Chúa xót thương.
Cả hai đều nhìn vào chính mình, nhận xét về chính mình, cầu nguyện trong đền thờ. Người tự nhận là tội nhân được tôn vinh; người tự tôn vinh bị hạ xuống.
HAI NGỘ NHẬN
Tự nhận mình công chính là một ngộ nhận lớn, bắt nguồn từ kiêu hãnh, tự phụ. Thực thi đức ái và giữ trọn luật là nhiệm vụ chung mọi thành phần trong xã hội, không trừ ai. Làm xong, làm tốt nhiệm vụ được coi là công dân tốt. Trong Giáo Hội họ là người đầy tớ khôn ngoan và trung thành. Hoàn thành nhiệm vụ không biến ta thành công chính. Ta trở nên công chính nhờ Đức Kitô. Nói theo ngôn ngữ Phúc âm hôm nay ta được công chính hoá nhờ lòng thương xót Chúa.
‘Lậy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi’.
Nhờ thành tâm thống hối, đấm ngực ăn năn sấp mình trước Thánh Nhan xin chúa thương xót để trở nên công chính. Như thế công chính hoá không phải do tài năng con người tự kiếm mà là đặc ân Chúa ban do khiêm nhường, thống hối, thành tâm và tạ ơn.
Khiêm nhường là con đường mở thêm lối đi dẫn ta đến cùng Chúa, đưa ta tới tha nhân. Kêu ngạo là con đường một chiều, không ngã rẽ. Đường dài mấy cũng có cuối đường. Như thế kêu ngạo là con đường cụt, đường dẫn đến sự chết. Người đi đường cụt bị tắc nghẽn nơi cuối đường. Không lối thoát.
Ngộ nhận thứ hai của ngưòi tự nhận công chính là soi mói, buôn điều. Không biết đang đi trên đường cụt. Đến khi nhận ra đã cuối ngày. Kêu ngạo, tự phụ che mất đường công chính. Tôn mình lên cao đến nỗi chỉ nhìn thấy người, còn mình thì không. Dùng quá nhiều thời gian kháo chuyện thiên hạ. Hãy nghe anh ta nói: ‘con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia’.
Trong lời cầu anh nhắc đến tạ ơn. Tạ ơn chân thành luôn đi với khiêm tốn. Thiếu lòng thành việc tạ ơn chỉ là môi mép. Người tự phụ không cần Chúa vì tin vào khả năng mình.
Nhắc đến việc tốt lành: ăn chay mỗi tuần hai lần và công đức mười phần trăm mức thu nhập.
Không thấy anh nhắc đến việc thương người nghèo, cho kẻ đói ăn, khát uống. Không nhắc đến thăm người đau yếu bệnh tật. Những người này không có trong đời của anh có lẽ vì ‘con không như bao kẻ khác’
PHÚC HỌA
Ngộ nhận xảy ra cho mọi thời đại. Thiếu cẩn trọng phúc biến ra hoạ, rơi vào ngộ nhận.
Thay vì đi xét mình, xét tội mình thì kháo tội người, buôn điều, chỉ trích, phê bình người khác. Tưởng như thế là giúp người, làm đẹp lòng Chúa. Lỗi lầm dễ mắc phải, xét tội người khác, cáo lỗi người khác tưởng làm như thế là làm phúc, giúp người trở về đường ngay nẻo chính.
Chê người là tự phong cho mình hay hơn.
Nói xấu người là tự cho mình tốt hơn.
Chỉ trích người là tự nhận mình đúng, người sai.
Làm thế là tự hại chính mình, đang chích cho mình liều thuốc Pharisiêu.

 

TN30-C92: Chỉ công đức không mua được thiên đàng

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Thành Long)
 

Ngay sau khi dạy cho các môn đệ biết về việc cần thiết phải cầu nguyện luôn luôn và cầu nguyện: TN30-C92

Ngay sau khi dạy cho các môn đệ biết về việc cần thiết phải cầu nguyện luôn luôn và cầu nguyện cách kiên trì, với tất cả lòng tin tưởng (dụ ngôn “Bà goá quấy rầy”), Chúa Giêsu còn dạy các môn đệ biết phải có tâm tình và thái độ nào khi cầu nguyện, qua dụ ngôn “Người biệt phái và người thu thuế. Đây là một trong những dụ ngôn kinh điển của Tin Mừng Luca. Dụ ngôn đề cập 2 nhân vật chính: người thu thuế và người biệt phái. Cả hai cùng lên Đền Thờ cầu nguyện.
1. Thái độ của người biệt phái khi cầu nguyện là gì?
Người biệt phái đã tự hào cho mình là người công chính. Thế ông đã sống thế nào mà tự cho mình là một người công chính, một “á thánh”? Thưa, ông đã thực hành nghiêm chỉnh những gì luật dạy: không trộm cướp giết người, không tham ô hối lộ, không cờ bạc rượu chè, không xì ke ma tuý, không số đề bia ôm… Nói cách khác, ông chẳng làm gì đáng chê, đáng trách. Ông còn làm những việc đạo đức hơn cả những gì luật dạy: “Mỗi tuần tôi ăn chay hai lần” (Lc 18,12). Trước thời lưu đày Babilon, luật chỉ buộc mỗi năm ăn chay một lần vào dịp Lễ Xá Tội (x. Lv 23,27). Sau lưu đày, người ta đã thêm vào luật một lần ăn chay nữa để tưởng nhớ cảnh Giêrusalem bị tàn phá. Nhưng người biệt phái này tỏ ra rất đạo đức, mỗi tuần tự nguyện ăn chay thêm 2 lần vào ngày Thứ Hai và Thứ Năm (tức là 104 lần/năm) để đền bù những thiếu sót của dân tộc đối với lề luật (x. Tanila Hoàng Đắc Ánh, Bài giảng Chúa Nhật – Tin Mừng theo Thánh Luca, tr. 214). Chưa hết ông còn tự phụ kể lể: “Tôi nộp thuế Thập phân về hết mọi vật tôi mua” (x. Lc 18,12). Luật chỉ buộc dâng một phần mười lợi tức cho các thầy Lê-vi; trong khi đó, người Biệt phái này tình nguyện dâng một phần mười tất cả các thứ, kể cả các thứ ông mua được vốn không buộc phải dâng.
Như vậy, rõ ràng những điều ông làm là rất tốt, tốt hơn điều Thiên Chúa đòi hỏi. Ông là người giữ đạo rất mẫu mực, không có gì đáng chê trách. Có lẽ ông còn mẫu mực hơn nhiều người Công giáo chúng ta gấp bội.
Nhưng vì sao ông lại không đẹp lòng Thiên Chúa? Vì sao Thiên Chúa không nhận lời cầu nguyện của ông? Thưa vì 2 lý do:
- Lý do thứ nhất, vì ông đã tự mãn tự phụ và kể công trước mặt Thiên Chúa, như thể sự công chính ông đang có là nhờ vào công trạng của mình, và như thể Thiên Chúa mắc nợ ông, vì thế Thiên Chúa phải trả công, phải ban thưởng cho ông. Ông lầm tưởng rằng với công đức của mình, ông có thể mua được Nước Thiên Đàng.
- Lý do thứ hai là vì ông tự cao tự đại, cậy dựa vào công đức của mình mà khinh thường người khác. Đại khái ông đã vênh váo: “Lạy Chúa, con không giống như thằng thu thuế khốn nạn đáng sa hoả ngục, đang đứng cuối nhà thờ kia kìa! Chắc là Chúa thấy nó rồi đó”. Rõ là ông không hề biết đấm ngực mình mà chỉ đấm ngực người khác.
Như thế, động cơ của những việc đạo đức ông làm là để tỏ ra mình là người công chính, chứ không phải là do lòng yêu mến. Ông chẳng mến Chúa mà cũng chẳng yêu người. Chính vì thế mà khi ra về, chẳng những ông không được tha thứ mà còn mắc thêm tội: tội kiêu ngạo. Ngược lại, người thu thuế tội lỗi thì được tha thứ và được nên công chính.
2. Thái độ của người thu thuế như thế nào mà lại được Thiên Chúa tha thứ và được nên công chính?
Có phải là do anh ta đã có nhiều công trạng đặc biệt không? Có phải do anh ta là người đạo đức và bác ái không? Hoàn toàn không ! Anh ta chẳng có công trạng gì, ngoài một “mớ tội” công khai. Bởi lẽ theo cái nhìn thời bấy giờ, tất cả những người thu thuế đều bị liệt vào hạng người tội lỗi công khai đáng khinh bỉ, hạng mọt dân bán nước, tiếp tay với ngoại bang bóc lột chính đồng bào của mình.... Vậy thì do đâu mà anh ta được nên công chính, như lời Chúa Giêsu quả quyết ở đoạn cuối Tin Mừng: “Người thu thuế được nên công chính, còn người pharisêu thì không”? (x. Lc 18,14). Do trước mặt Chúa, anh biết khiêm tốn nhìn nhận mình là kẻ tội lỗi. Thể hiện qua các cử chỉ: đứng xa xa mà không dám tới gần cung thánh, cúi đầu, đấm ngực… Tất nhiên là đấm ngực chính mình, chứ không phải đấm ngực người khác như người Biệt phái. Hơn nữa, còn do anh biết giục lòng thống hối ăn năn một cách sâu xa, và tha thiết kêu xin lòng thương xót thứ tha của Thiên Chúa: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18,13). Chỉ với một lời cầu xin ngắn gọn, có thể nói được là ngắn gọn nhất, mà anh lại được trở nên công chính. Thế mới hay lời Chúa Giêsu đã từng tuyên bố: “Phàm ai nâng mình lên, sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (Lc 18,14).
3. Phần chúng ta thì sao?
Chúng ta nên bắt chước thái độ của người nào khi chúng ta cầu nguyện? Của người biệt phái hay của người thu thuế? Có khi nào tôi rơi vào thái độ của người Pharisiêu không? Có đấy ! Đó những lúc tôi đã gân cổ tranh cãi với người khác: “Tao đúng, mày sai; tao có lý, mày vô lý”… Đó là những lúc tôi bỉu môi, lên tiếng chê bai những người mà tôi cho là xấu xa, đáng trách. Đó là những lúc tôi tự cao tự đại vì thấy mình hơn người nào đó về nhiều mặt: đẹp trai hơn, xinh gái hơn, học giỏi hơn, con nhà giàu có hơn, v.v... Như vậy tôi chính là người Biệt phái đứng nghênh ngang trong Đền Thờ và khoe công trạng của mình với Chúa. Chúa không cần những cái đấm ngực thình thịch “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”. Chúa cũng chẳng cần công trạng của tôi. Chúa chỉ cần tấm lòng khiêm nhường thống hối của tôi.
Xin Chúa cho mỗi người chúng ta luôn biết khiêm cung để nhận ra mình cũng đầy những thói hư tật xấu, đầy lỗi tội, để hiểu và cảm thông với anh chị em mình hơn, nhất là để biết xin Chúa thứ tha và biết cất lời ngợi khen một mình Chúa là Thiên Chúa, là Đấng Thánh, ngàn trùng chí thánh. Amen.

 

TN30-C93: Ai là người công chính?

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng)
LỜI CẦU CỦA NGƯỜI PHARISÊU
“Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: ‘Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.’” (Lc.18,9-12).
 

Mở đầu cho lời cầu nguyện, sau khi chào Chúa bằng hai tiếng “tạ ơn”, ông liền thực hiện một cuộc: TN30-C93

Mở đầu cho lời cầu nguyện, sau khi chào Chúa bằng hai tiếng “tạ ơn”, ông liền thực hiện một cuộc so sánh giữa mình và “người thu thuế để hình ảnh mình được nổi bật, và nhờ đó Chúa “thấy rõ” được sự “công chính” của mình thật “không thể chê vào đâu được”!
Trong cách so sánh này, người Pharisêu thật như một họa sĩ sành điệu. Trước tiên, ông cho gam màu đen tối bao quanh bằng những hình ảnh của phường “tội lỗi”, điển hình như tên thu thuế kia: “con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia”, để rồi, ngay sau đó, ông tô đậm hình ảnh của ông với gam màu rực sáng bằng những công đức mà ông đã tự thấy mình đã chu toàn hoàn hảo: “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.”
Người Pharisêu cố tạo cho mình hình ảnh “rực sáng”, và tất nhiên là muốn “tỏa sáng” giữa “bao kẻ khác”, từ đó, người Pharisêu có dáng đứng đầy tự hào, đầy kiêu hãnh - “đứng thẳng” - khi cầu nguyện. Cung cách cầu nguyện của người Pharisêu tương tự như cung cách của người ngồi vào vòng “đàm phán” với đối phương với tư thế “mạnh” của kẻ đang nắm ưu thế, đầy tự tin, đặt sệt tự tôn.
Cách cầu nguyện như vậy, giống hệt cách cầu nguyện mà Chúa Giêsu đã từng dạy các môn đệ của Ngài phải xa lánh: “Và khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả : Chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy” (Mt.6,5).
Cầu nguyện kiểu như Pharisêu là lời cầu nguyện để “vinh danh chính mình” chứ không phải “vinh danh Thiên Chúa”. Vì họ “tự nhận” và “tự tôn” họ đã nên công chính rồi.
Chính vì thấy mình đã nên công chính, nên họ trở nên mù lòa không còn nhận ra mình là kiếp người tội lỗi nữa. “Nhân vô thập toàn”. “Bảy mươi chưa gọi mình lành”… Những người Pharisêu không còn thấy được những thiếu sót của thân phận con người. Và sự đui mù tệ hại nhất, đó là họ không còn thấy sự kiêu căng nơi con người của họ. Một khối kiêu căng to đùng ở trong chính tâm hồn họ, mà họ vẫn không thấy, họ vẫn cho rằng lòng họ đạo đức và trong sáng. “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn” (Ga 9,40).
Vì họ tự cho mình có công đức, nên họ cho rằng đương nhiên là họ được Chúa ban ơn. Nên lời cầu nguyện của họ tuyệt nhiên không thấy kêu cầu đến lòng thương xót của Chúa, mà chỉ khoe khoang và phô trương công đức.
Vì họ cho mình là người công chính, nên họ khinh thường và loại trừ anh em đồng loại. Họ tự cho mình quyền được hưởng những ơn lộc Thiên Chúa, và xua đuổi anh em đồng loại ra khỏi con tim của họ. Họ từ bỏ anh em đồng loại của họ. Từ bỏ có nghĩa là không thể tha thứ. Không tha thứ cho anh em được, thì Thiên Chúa cũng không tha thứ cho con người. “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em” (Mt.6,14).
Nếu không được Thiên Chúa thứ tha, con người không thể trở nên công chính. Vì con người chỉ có thể nên công chính, khi con người được là con Thiên Chúa.
LỜI CẦU CỦA NGƯỜI THU THUẾ
“Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.” (Lc18,13).
Sau khi kêu cầu đến thánh danh Chúa, là lời van xin Chúa thương xót. Thật ngắn gọn. Có thể người thu thuế không còn biết nói gì thêm! Vì anh chắc đã tin rằng Chúa đã hiểu thấu nỗi lòng của anh. “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin” (Mt.6,7).
Người thu thuế đang cần gì? - Cần Chúa thương tha thứ.
Xin thương xót là khát khao được Chúa thứ tha những lỗi lầm. Khát khao được thứ tha, là khát khao được vẫn là con Chúa.
Khát khao được vẫn là con Chúa, là nhìn ra thân phận bọt bèo, tro bụi, chẳng nghĩa lý gì, nếu không có Chúa. Điều ấy, cũng có nghĩa là nói lên: “con mãi mãi cần đến Chúa”.
Tâm tình ấy từng bước vươn lên, để từ những lời van xin biến thành những lời ca tụng. Từ những giọt nước mắt ăn năn biến thành những nụ cười hạnh phúc. Từ cử chỉ ngại ngùng khép nép “đứng đằng xa”, đến việc được Chúa ôm vào lòng tràn đầy yêu thương tha thứ.
Và thế là tình yêu Thiên Chúa được ca tụng đến muôn đời.
Vậy, lời kêu xin Thiên Chúa thương xót chính là lời ca tụng tuyệt vời, như lời Chúa Giêsu tóm gọn trong giáo huấn của Ngài: “Yêu thương như Thầy”.
Tin tưởng vào tình yêu Thiên Chúa và biết múc nguồn tình yêu Thiên Chúa để chia sẻ với tha nhân, con người sẽ không có sự lên án nhau, không có sự loại trừ nhau.
Lời nguyện cầu của người thu thuế được đón nhận. Ông trở nên công chính từ giọt lệ thành tâm sám hối. “Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không” (Lc.18, 14).
ĐỂ KẾT LUẬN
Trong dòng đời, ai biết ai công chính, ai biết ai tội lỗi?
Có những người trông thật công chính lại cực kỳ gian xảo! Có những tên trông gian manh nhưng lòng lại rất chân thành! Có những người ở địa vị cao trông rất đạo mạo lại có những hành động lừa đảo, dã tâm. Có những tên vô danh tiểu tốt lại âm thầm làm việc chân thiện hết lòng hết dạ!
Nhận ra thiện ác đã là khó, nhận ra người thiện người ác lại càng khó hơn!
Nhận ra hàng thiệt hàng giả đã là khó, nhận ra người thiệt người giả lại càng khó hơn!
Ai là người công chính? Đừng vội trả lời. Đừng vội xét đoán. (Lc.6,37). Chỉ có Thiên Chúa, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, mới có quyền kết luận. (Mt.6,4).
Trong Khổng Tử Gia Ngữ có câu chuyện “Thế nào là kẻ trộm” như thế này: Tử Cống được bổ làm quan Tể Tướng ở xứ Tín Dương. Khi sắp đi nhận chức, đến từ biệt Khổng Tử. Khổng Tử nhân bảo Tử Cống: - Phải siêng năng, phải cẩn thận. Chớ cướp, chớ đánh, chớ bạo tàn, chớ trộm cắp…
Tử Cống đáp: - Tứ này ngay từ lúc nhỏ đã theo học thầy là bực quân tử, có khi nào lại trộm cắp để lụy đến thân?
Khổng Tử nói: - Ngươi chưa hiểu nghĩa.
Ôi! đem người hiền đức này để thay người hiền đức kia, thế là cướp. Đem kẻ bất tiếu này để thay kẻ bất tiếu kia, thế là đánh đập. Hờ hững mệnh lệnh mà gấp rút hình phạt, thế là tàn bạo. Nhận ra điều thiện của người để làm ra điều thiện của mình, thế là trộm cắp. Trộm cắp đây không phải là trộm cắp tiền của vậy!
Lạy Chúa, Con yếu đuối quá, xin thương xót con, xin biến đổi sự yếu đuối của con thành sức mạnh cho cuộc đời con, tất cả nhờ lòng thương xót của Chúa. Amen.

 

TN30-C94: Khiêm tốn

Hai nhân vật được đặt đối diện nhau trong bài Tin Mừng sáng hôm nay là đại diện cho hai hạng TN30-C94 Lượng

Hai nhân vật được đặt đối diện nhau trong bài Tin Mừng sáng hôm nay là đại diện cho hai hạng người trong xã hội Do Thái, đồng thời cũng tượng trưng cho hai thái độ tôn giáo ở bất cứ thời điểm nào.
Trước hết là người biệt phái. Họ được nhìn nhận thuộc thành phần ưu tú và đạo đức. Họ có học thức, thông thạo lề luật, giữ các quy định và tập tục tôn giáo một cách nghiêm chỉnh từng li từng tí. Họ tự nhận mình là người công chính và đi tìm sự công chính trong việc giữ luật hình thức. Không phải mọi việc họ làm đều xấu. Thật ra họ cũng có nhiều đức tính tốt đẹp. Tuy nhiên nơi họ, những điều tự bản chất là tốt đã bị nhiễm độc bởi thứ vi khuẩn tinh tế là lòng tự mãn và tính kiêu căng. Họ tự thoả mãn với chính mình, tự coi mình là hơn kẻ khác và tự đặt mình làm khuôn mẫu cho mọi người noi theo.
Còn người thu thuế thì bị coi là hạng bất lương, bị đồng hoá với phường tội lỗi. Họ bị xã hội khinh chê và xa lánh bởi vì họ thường lạm thu quá mức, làm giàu nhờ gian lận, cộng tác với đế quốc Lamã mà bóc lột đồng bào của mình. Hơn ai hết người biệt phái khinh miệt giới thu thuế và bực tức vì Chúa Giêsu thường tiếp xúc với họ. Thế nhưng qua đoạn Tin Mừng vừa nghe chúng ta thấy người thu thuế đã đem lại cho chúng ta những tình cảm tốt đẹp và lời cầu của anh thực sự có một giá trị to lớn.
Đó là một lời cầu chân thành của một người sáng suốt về mình, biết rõ thân phận mình, không ảo tưởng; trái lại ý thức được tình trạng nghèo nàn của mình. Vì thế, thay vì tin tưởng nơi mình, anh đã hướng tới Thiên Chúa, tìm ơn tha thứ và sự công chính nơi Ngài: Lạy Chúa xin thương xót con vì con là kẻ tội lỗi. Chỉ những ai thất vọng về mình mới có thể khát khao và cậy trông nơi Chúa. Và ai trông cậy nơi Chúa thì Ngài sẽ biến đổi nỗi thất vọng của người ấy thành niềm hy vọng. Ơn công chính chỉ được ban cho những tâm hồn khiêm tốn và chân thành nhận lỗi.
Trái lại lời cầu của người biệt phái không đáng được gọi là lời cầu. Đây là những lời ngạo mạn của một kẻ tự mãn. Và không thể có ơn tha thứ cho một kẻ tự mãn. Thiên Chúa chỉ có thể làm no đầy người đói khát, còn những người coi mình là no đầy thì vô phương cầu cứu. Thiên Chúa đuổi họ về tay không vì ơn tha thứ không có lối để vào một tâm hồn khép kín. Những ai biết mình không công chính thì Thiên Chúa sẽ làm cho họ nên công chính, còn những ai tự nhận mình là công chính thì họ không còn là công chính nữa. Thiên Chúa không phân chia nhân loại làm hai hạng người có tội và không có tội, bởi vì tất cả chúng ta đều là tội nhân. Nhưng Ngài phân chia cách khác thành người có tội biết hối cải và người có tội không nhận tội. Một bên thì được tha thứ còn một bên thì nặng tội thêm. Từ những điều vừa trình bày chúng ta rút ra hai kết luật:
1- Con người không thể tìm thấy sự công chính nơi bản thân. Phải tìm nơi Thiên Chúa, chính Ngài sẽ làm cho chúng ta được nên công chính.
2- Người tự mãn vốn thường tự ý khước ơn tha thứ, trong khi đó lòng khiêm tốn ăn năn sẽ xoá xạch tội lỗi vì luôn gặp được lòng thương xót của Chúa. Thiên Chúa thì ghét tội nhưng lại yêu thương tội nhân chính vì thế mà Chúa Giêsu đã đến trong thế gian.

 

TN30-C95: Người tín hữu

Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay đưa ra hai mẫu người, đó là ông biệt phái và người thu thuế. Còn TN30-C95

Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay đưa ra hai mẫu người, đó là ông biệt phái và người thu thuế. Còn người tín hữu chúng ta thì sao?
Chúng ta thường có khuynh hướng tự liệt mình vào hạng người khá nhất, chúng ta không phải là những kẻ bết bát như anh chàng thu thuế. Tuy nhiên, người thu thuế, không có công trạng gì nhưng biết quỳ gối trước mặt Thiên Chúa, biết tin tưởng vào lòng nhân từ của Ngài, thì đã được tha thứ và trở nên công chính. Còn lời cầu của ông biệt phái thì lại bị khước từ.
Tin vào Chúa là ơn huệ trọng đại, được làm người kitô hữu là một quà tặng quý giá. Sống như Đức Kitô là một lời mời gọi tha thiết. Tuy nhiên chúng ta cần phải lưu ý: Đức tin là hồng ân vô cùng lớn lao, nhưng lại không lệ thuộc vào công trạng của riêng mình. Thiên Chúa không dựa vào cấp bậc xã hội, vốn liếng văn hoá hay nòi giống chủng tộc mà đánh giá con người. Trái lại Ngài thường tỏ lộ cho những người hèn mọn, Ngài thường yêu thương những người khiêm nhu. Trong khi đó, Ngài lại thường hạ bệ những kẻ giàu có, quyền thế của trần gian.
Lòng khiêm nhường là dấu chứng trung thực nhất của đặc ân Kitô giáo như lời thánh Augustinô: Anh em có gì mà không phải là đã được lãnh nhận. Vậy tại sao chúng ta lại có thái độ như thể đức tin là một cái gì thuộc quyền sở hữu của chúng ta? Tại sao chúng ta chỉ biết xét đoán những người không nghĩ và không sống như chúng ta? Là người Kitô hữu, dù nghèo nàn, nhưng chúng ta đã trở nên giàu có nhờ Đấng đấng cho chúng ta được lãnh nhận tất cả. Vì thế chúng ta có bổn phận phải chuyển ơn Chúa đến với người khác. Đó là sứ mạng truyền giáo.
Truyền giáo theo tôi nghĩ không phải là một sự tuyên truyền rầm rộ về tôn giáo như người ta thường quảng cáo sản phẩm để kinh doanh, nhưng là làm chứng về Tin Mừng mà Thiên Chúa đã trao ban cho con người. Tin Mừng ấy chính là Đức Kitô. Chúng ta là những mảnh gương nhỏ phản chiếu trung thực ánh sáng mặt trời là Đức Kitô, cho dù những mảnh gương ấy thật giòn mỏng và dễ vỡ. Bao giờ chúng ta xác tín được như người thu thuế trong Tin Mừng rằng tình yêu của Thiên Chúa không phải là một cái gì chúng ta chiếm đoạt được, nhưng là một cái gì chúng ta lãnh nhận, lúc đó chúng ta sẽ hiểu vì sao Thiên Chúa ưu đãi kẻ nghèo túng là kẻ không có gì để kể công, để tự phụ mà chỉ tin vào tình thương của Ngài.
Là người kitô hữu chúng ta được ưu đãi không phải để cho mình nhưng để cho Thiên Chúa được vinh quang và người khác được cứu độ bằng sự cộng tác của chúng ta vào tình thương của Chúa.

 

TN30-C96: Hai con người – Hai thái độ

Chúa Giêsu vẫn hết sức uyển chuyển, hết sức bình dị để gửi đến những bài học hết sức gần gũi cho TN30-C96

Chúa Giêsu vẫn hết sức uyển chuyển, hết sức bình dị để gửi đến những bài học hết sức gần gũi cho những người Ngài gặp gỡ.
Hôm nay, chúng ta bắt gặp hình ảnh của hai con người và hai con người này ở hai hoàn cảnh khác nhau. Một người thuộc nhóm Pharisêu và nhóm kia là người thuế. Theo quan niệm và lập trường hết sức bình thường của người Do Thái thời bấy giờ thì người Pharisêu dù muốn dù không, dù nói gì nói thì họ vẫn đạo đức hơn những người khác bởi lối sống dù là bên ngoài của họ. Ngược lại, chẳng ai tôn trọng người thu thuế cả vì mãi mãi người thu thuế là người xấu, người tiếp tay với ngoại bang để lấy thuế của dân. Không phải người thua thuế thời đó bị người ta chê bai coi khinh nhưng ngày hôm nay người thu thuế cũng bị người ta coi thường và cho là người tội lỗi.
Pharisêu – thu thuế: hai hạng người nầy không khác biệt xét theo giai cấp xã hội hoặc tài sản. Lu ca đã nói rằng người Pha ri sêu thích tiền bạc (16,14) và chúng ta biết rằng người thu thuế thường làm giàu bằng nghề của mình (x. Lê vi 5,39; và ông Gia kêu: 19,2). Tự thân, người Pha ri sêu gần với Thiên Chúa hơn vì tuân giữ lề luật, còn người thu thuế làm việc dưới sự chỉ huy của giới cai trị; đó là tội theo lề luật. Trong thực tế, theo ý kiến chung, thì người Pharisêu được xếp vào loại công chính và thu thuế vào loại tội nhân.
Hai con người ngày hôm nay, theo như lời Chúa Giêsu, họ lên Đền Thờ cầu nguyện. Dĩ nhiên là lên trước mặt Thiên Chúa thì phải bày tỏ lòng mình để Thiên Chúa biết.
Người Pharisêu: lời cầu nguyện của người Pha ri sêu dưới dạng tạ ơn, không khác gì một lời nói tự cao tự đắc về chính mình. Ông ta hài lòng về chính mình và kể ra những công nghiệp mình đã đạt được. Ông đứng riêng ra để cầu nguyện; đó là điều phù hợp với lí tưởng của ông ta. Lời cầu nguyện của ông ta phân cách, tách biệt khỏi cộng đòan; trái lại lời cầu nguyện mà Chúa Giê su dạy tìm cách hòa giải, liên kết (11, 2-4).
Rất thật thà, rất minh bạch, rất rõ ràng, người Pharisêu không ngần ngại: "Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con". Anh ta còn hơn cả cái thật thà vốn có trong anh nữa mà anh còn tốt bụng nữa. Tốt bụng đến độ chỉ cho Chúa biết luôn cả cai tội của anh chàng thu thuế đứng đàng xa xa vì cảm thấy mình có tội. Nếu bình thường như người thường thì Thiên Chúa sẽ thích thú lắm bởi vì không đánh mà khai, không cần tìm hiểu nhưng có người tố tội người khác rồi.
Chúa Giêsu cho chúng ta thấy chân dung của người Pharisêu. Đó là một người có một lối sống hoàn toàn đúng với những gì người ta đồn thổi về họ. Ông trung thành với lề luật; ông ăn chay mỗi tuần hai lần. Ông làm việc bố thí. Tất cả những gì ông ta nói trong lời cầu nguyện, ông đã thực sự thi hành và ông hãnh diện về điều đó. Nhưng có một vấn đề nơi ông, đó là lời ông nói không thực sự là một lời cầu nguyện vì chứa đầy sự kiêu căng. Ông chỉ nhìn ngắm chính bản thân thay vì nhìn ngắm Thiên Chúa. Ông không cần gì cả, vì điều duy nhất mà ông quan tâm ấy là kể lể các công nghiệp của mình.
Tiếp đến, Chúa Giêsu vẽ nên hình ảnh của người thu thuế. Người thu thuế thuộc tầng lớp bị người đời căm ghét. Họ là “bọn người tiếp tay cho đế quốc La mã”. Họ phục vụ cho đế quốc thống trị trong một môi trường rất nhạy cảm là thu thuế. Những người lãnh đạo ấn định số tiền mà họ phải nộp. Họ phải ứng trước cho cấp trên rồi sau đó bóc lột của dân nghèo. Vì thế khi anh chàng thu thuế cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con là người tội lỗi”, ông bộc lộ đúng sự thật của đời mình. Và chính vì cái sự thật đó mà Thiên Chúa đã nâng ông lên.
Người thu thuế không ngần ngại đứng đàng xa bởi vì thấy mìn là người tội lỗi. Bi đát đến độ không dám ngước mắt nhìn lên trời nữa và chỉ biết đấm ngực thưa rằng: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi".
Lời kinh của người thu thuế là lời kinh của người tự nhận mình là người tội lỗi. Anh ta ý thức mình không yêu thương đủ hoặc yêu thương không đúng. Anh ta nhớ một vài trang sách cuộc đời mình không được sáng sủa.
Anh ta nhìn thấy cái đà trong mắt mình lớn đến nỗi không thể thấy cái rác nhỏ xíu trong mắt anh em, vì anh biết rằng sự tha thứ chỉ đến từ Thiên Chúa mà thôi. Lời kinh ấy cho phép người tội lỗi tiếp nhận tình yêu Thiên Chúa. Bài Tin mừng nói với chúng ta rằng người thu thuế đã trở nên công chính. Trong Kinh Thánh, từ ấy không có nghĩa là “hoàn hảo”. Người công chính là người có thể khép mình theo Thiên Chúa trong một tương quan tin tưởng tuyệt đối, tiếp nhận thánh ý Chúa và dùng mọi phương tiện để sống thánh ý đó. Người công chính còn là người để cho Thiên Chúa công chính hóa thay vì tự công chính hóa bản thân mình.
Người thu thuế: anh ta đến đền thờ không mang theo công nghiệp nào cả, chỉ mang theo tội lỗi của mình mà thôi. Ông đặt mình trước mặt Thiên Chúa với tâm hồn sám hối (x.5,8;7,36-38; 15,19; 19,8; 23,41-42). Ông khẩn cầu ơn tha thứ, tin vào một Thiên Chúa cứu độ, sẽ đổ tràn ơn phúc của Người xuống nơi có nhiều tội lỗi (Rm 5, 20).
Quả thật, tội thật với cái anh chàng thu thế như thế này! Phải nói rằng anh ta khá can đảm vì cũng đã bước chân đến Đền Thờ nhưng có điều anh cảm thấy mình tội lỗi.
Căn cốt lời Chúa dạy hôm nay đó là được nên công chính. Được nên công chính: động từ này ở thể bị động và ở quá khứ có nghĩa là Thiên Chúa đã công chính hóa người thu thuế và đã cho thầy lòng thương xót của Ngài.
“Khi trở về nhà, ông là người được công chính hóa”. Đó chính là điều mà Tin Mừng mời gọi chúng ta hôm nay. Thành tâm nhận ra sự yếu kém của mình trước mặt Chúa đó là lời cầu nguyện đích thực được Thiên Chúa yêu thích.
Ai tôn mình lên: x. 14,11 (Ed 21,31). Sự đảo ngược tình thế nầy không phải là một sự thay đổi thất thường, hay là một cách trả thù của Thiên Chúa. Nhưng nó vạch rõ chân lý: người tự tôn thì luôn ảo tưởng về chính mình; trái lại, ai hạ mình xuống thì cảm nhận được sự nghèo hèn của mình và dám tin rằng Thiên Chúa có thể và muốn nâng mình lên.
Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đứng về phía nào? Có lúc chúng ta là người Pha ri sêu mỗi khi chúng ta làm điều mà chúng ta thường chê trách người khác. Chỉ trích mà không bao giờ đề ra những giải quyết xây dựng thực tiễn thì luôn dễ. Người Pha ri sêu là người cho rằng mình được Thánh Thần soi sáng hơn người khác, nhưng điều trầm trọng hơn là sử dụng các câu Kinh thánh để tố cáo sự giả hình của kẻ khác. Thái độ ấy là một sỉ nhục Thiên Chúa và tình yêu của Người. Tất cả chúng ta đều phải cầu xin Ngài tha thứ sự kiêu căng cũng như thái độ tự phụ của chúng ta, cách chúng ta muốn dạy người khác bằng cách làm nhục họ.
Lý tưởng là hai người đối lập nhau ấy cùng hòa hợp với nhau để dâng lời kinh chung của họ lên Thiên Chúa: “Xin thương xót chúng con là những người tội lỗi. Xin thương xót chúng con vì chúng con đã làm điều sai trái cho người khác. Xin thương xót chúng con vì tưởng rằng mình hơn người khác. Xin thương xót chúng con khi chúng con giận nhau..”. Và Chúa sẽ trả lời: “Khi hai hay ba người hợp nhau vì danh Ta, có Ta ở giữa họ”. Chính lời kinh chung đó cho phép chúng ta thực sự đến gần Thiên Chúa và cũng đến gần người khác. Vì Chúa hiện diện để nói với chúng ta rằng Người được nhận diện nơi từng người trong họ. Và Người muốn dạy chúng ta nhìn họ và yêu mến họ như anh chị em chúng ta.
Ngày mỗi ngày chúng ta vẫn dâng lời cầu nguyện. Chúng ta được mời gọi kết hợp lời cầu nguyện của chúng ta với lời cầu nguyện của tất cả những người khác và của tất cả mọi người ki tô hữu trên thế giới cử hành ngày của Chúa. Ước mong sao sau khi cầu nguyện chúng ta trở được công chính hóa.

 

TN30-C97: Lòng khiêm nhường sám hối

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Thế giới chúng ta đang sống là một thế giới ngập tràn những hàng giả, người giả. Cái giả và cái thực TN30-C97

Thế giới chúng ta đang sống là một thế giới ngập tràn những hàng giả, người giả. Cái giả và cái thực luôn tồn tại song hành bên nhau. Một thế giới “vàng thau lẫn lộn” khó mà phân biệt kẻ tốt người xấu. Có những người bề ngoài sang trọng: có nhà cao cửa rộng, có địa vị, có quyền lực nhưng lại lừa đảo, tham nhũng và tham lam ích kỷ. Có những con người bề ngoài thật bần cùng nhưng tấm lòng lại chân thành và vị tha. Có những người giả nhân giả nghĩa nhưng để hại ngừơi hại đời. Có những người bộc trực thẳng ngay nhưng luôn sẵn lòng giúp người giúp đời. Cuộc đời dường như luôn tồn tại hai loại người trái ngược nhau. Kẻ tốt người xấu. Người hiền kẻ dữ luôn song hành tạo nên một thế giới đầy những trái ngang, bất công và phi lý. Kẻ dữ luôn ngạo mạn khinh người còn người hiền đức luôn khiêm tốn hoà hợp. Kẻ ngay lành thường thua thiệt. Người ác đức lại phủ phê no đầy.
Lời Chúa hôm nay cũng diễn tả về hai cách sống của hai loại người. Người biệt phái và kẻ thu thuế. Người biệt phái thi huênh hoang tự đắc, người thu thuế thì khiêm tốn ăn năn. Người biệt phái luôn khoe khoang công đức của mình còn người thu thuế thì thống hối về qúa khứ lỗi lầm của mình. Người biệt phái tự cho mình đạo đức nên tự cho mình quyền dòm ngó kết án anh em. Người thu thuế cúi mình khiêm cung và sám hối. Xem ra kẻ kiêu căng tự mãn luôn cho mình là nhất và thường coi khinh anh em của mình. Còn người khiêm cung luôn sống hoà nhã và gần gũi với mọi người. Bởi lẽ họ không bao giờ kết án và coi thường anh em.
Để có một hành vi sám hối cần phải biết nhìn lại chính mình. Nhìn lại trong khiêm tốn để thấy con người bất toàn của mình. Nhìn lại với lòng chân thành để thấy những giới hạn của mình. Có nhìn lại chính mình mới thấy cái sai để sửa, cái tốt để thăng tiến. Có nhìn lại chính mình mới có cái nhìn đúng về mình để sống đúng với con người thật của mình.
Vào buổi tối nọ, có người đàn bà phải chờ đợi chuyến bay mất nhiều thời giờ tại một phi trường Hoa Kỳ.
Bà rảo qua các sạp báo trong phi trường, mua một cuốn sách và một gói bánh, rồi tìm chỗ yên tĩnh ngồi đọc sách.
Tuy cắm cúi đọc sách, người đàn bà cũng nhận ra người đàn ông đang ngồi bên cạnh, ngoài cái đầu hói ra chẳng có gì gây sự chú ý. Tuy nhiên, có một điều khiến bà khó chịu, là chốc chốc người đàn ông lại đưa tay vào gói bánh và kéo ra một hai cái. Tuy khó chịu thật, nhưng bà cố tình làm như không biết để tránh người đàn ông khỏi ngượng. Bà cố gắng quên sự hiện diện của người đàn ông không mấy biết điều ấy.
Thỉnh thoảng, bà đưa tay vào gói bánh lấy ra một hai cái, và người đàn ông cũng làm theo. Cuối cùng, gói bánh chỉ còn vỏn vẹn một cái, bà chờ xem người đàn ông mất dạy này sẽ làm gì. Người đàn ông liền mỉm cười và lấy chiếc bánh cuối cùng bẻ ra làm hai và trao cho bà một nửa, nửa kia ông cho vào miệng. Người đàn bà nghĩ đây quả là người vô liêm sỉ, đã không biết xấu hổ thì chớ lại cũng chẳng nói một lời cảm ơn.
Bà thở ra nhẹ nhõm khi chuyến bay được loan báo. Bà thu dọn hành lý và đi về phía cổng lên máy bay, nhưng bà thật sững sờ vì cuốn sách và gói bánh vẫn còn nguyên vẹn bên cạnh chỗ bà ngồi. Như vậy, cuốn sách bà đã đọc khi chờ máy bay là của người đàn ông, và gói bánh bà dùng cũng là của ông ta. Quá trễ để nói lời xin lỗi, bà thở ra tự nhận rằng: Kẻ ăn cắp bánh, người vô liêm sỉ chính là bà.
Sở dĩ con người có thái độ bất khoan nhượng và thiếu cảm thông với người khác là vì họ không biết nhìn vào bản thân. Có lục soát lại hành lý, nghĩa là có nhìn lại chính mình, người đàn bà trong câu chuyện trên đây mới nhận ra lỗi lầm của mình, và thay đổi cái nhìn về người đàn ông.
Một trong những sứ điệp nền tảng của Kitô giáo chứa đựng trong lời kêu gọi của Chúa Giêsu:”Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Sự sám hối đòi phải có thái độ khiêm nhường. Chính sự khiêm nhường sẽ giúp chúng ta sống đúng với con người thật của mình. Sự khiêm nhường cũng giúp chúng ta không cậy dựa vào sức mình quá đáng nhưng biết cậy dựa vào ơn Chúa và sự trợ giúp của đồng loại để hoàn thiện mình mỗi ngày một tốt hơn.
Thế nhưng, thật đáng tiếc, con người thường che dấu yếu đuối của mình bằng những hình thức giả tạo bên ngoài. Có người tham ô nhưng vẫn tỏ ra mình liêm khiết. Có người lừa đảo lại hay làm từ thiện. Có người đầy đam mê tật xấu lại hay dạy đời... Thực ra, giá trị của con người là ở chỗ sống đúng với phận mình. Sống đúng với khả năng của mình mới được người khác yêu mến. Kẻ sống giả hình, sống hai mặt luôn bị người đời coi khinh và xa lánh. Và có lẽ, người đời càng coi khinh đối với những người không biết nhìn lại mình nên chỉ nhìn thấy tật xấu, tội lỗi của anh em. Họ sẽ bị người đời cười chê vì:
“Chân mình còn lấm bê bê
Lại cầm bó đuốc mà rê chân người”
Xin Chúa cho chúng ta biết khiêm tốn để nhận ra mình cũng đầy những thói hư tật xấu, để hiểu và thông cảm với anh em và để có thể cất lời ngợi khen Chúa là Đấng thánh, ngàn trùng chí thánh. Xin đừng vì những thói tự cao tự đại mà trở thành kẻ lừa dối Chúa và anh em. Amen.

 

TN30-C98: Đối với Đức Giêsu, ai mới thực là công chính?

(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty)
 

Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu đang vẽ lên hai diện mạo đối chọi nhau hoàn toàn: ‘một người thuộc TN30-C98

Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu đang vẽ lên hai diện mạo đối chọi nhau hoàn toàn: ‘một người thuộc nhóm Biệt Phái / người kia làm nghề thu thuế’. Cả hai diện mạo này đều rất gần gũi và điển hình trong xã hội Do Thái thời bấy giờ: một thật tích cực đáng trọng và một thật tiêu cực đáng khinh. Nhưng chính kết luận của Người mới thực sự gậy kinh ngạc vì nó ngược hẳn với lối suy nghĩ thông thường vẫn được mọi người chấp nhận; và nếu như thế thì bài học Người muốn chuyển tải chắc hẳn phải quan trọng lắm đối với Tin Mừng mà Người đang ra công quảng bá. Và quả đúng như thế, vì nó liên quan tới khái niệm ‘công chính’, một khái niệm nền tảng của tất cả mọi trật tự xã hội và tôn giáo mọi thời.
Tất cả mọi xã hội loài người, kể cả các xã hội bán khai hơn hếtđều đề ra các tiểu chuận ‘công chính’ cho mình, thường thì các tiêu chuẩn này dựa trên nền luân lý và luật pháp được xã hội đó chấp nhận. Bất cứ ai giữ luân lý và luật pháp, hay duy trì trật tự mà xã hội đó đề ra, đều được coi là công chính, là lương thiện, là mẫu mực; còn ngược lại thì bị coi là thành phần bất lương, phản động, gây gương mù gương xấu. Ngay cả trong các tập thể tôn giáo, các cộng đoàn tu trì thì định luật trên vẫn cứ được áp dụng cách triệt để! Bất cứ xã hội nào thì cũng phân chia các phần tử của mình thành hai hạng: ‘công chính’ và ‘bất chính’, dựa theo tiêu chuẩn luật pháp. Đây quả là một phân biệt rất cần thiết cho mọi trật tự, cũng như cho sự tồn vong của xã hội đó!
Theo tiêu chuẩn này, xã hội Do Thái thời Đức Giêsu cũng có sự phân định rõ: hai hạng người được nêu lên đúng là tiêu biểu: Biệt Phái là những người, theo tiêu chuẩn luân lý và luật pháp Mô-sê, phải được coi là công chính nhất; còn bọn ‘thu thuế’, dựa trên cùng một tiêu chuẩn đó, rõ ràng là bất lương nhất. Như vậy người Biệt Phái, trong cái xã hội ông đang sống, tự coi mình - hay được người khác suy tôn - là công chính thì cũng chẳng có gì sai; và nếu ông có cho mình là hơn kẻ kia thì cũng hoàn toàn hợp lý thôi; “Lạy Chúa, con xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác”. Ngay giữa các người có đạo hay tu sĩ cũng chẳng như thế là gì! Trong Giáo Hội người ta coi người này là đạo đức, kẻ kia là tội lỗi, tùy thuộc vào người đó có giữ các phép đạo hay không. Trong cộng đoàn tu sĩ cũng thế, người ta phân biệc: tu sĩ tốt và tu sĩ xấu, từ đó điều chỉnh cách cư xử khen / chê, giữ thái độ trên / dưới, phản ứng trọng / khinh, thì cũng là điều đương nhiên thôi.
Thế nhưng, trong câu chuyện được kể, Đức Giêsu đã không đặt hai hạng người này trên bình diện xã hội, mà là trên diện Tin Mừng, tức là trước lối nhìn của Thiên Chúa; ‘Có hai người lên đền thờ cầu nguyện…’. Cái sai của người Biệt Phái là ở chỗ: đứng trước Thiên Chúa mà ông vẫn cứ tiếp tục giữ thái độ xã hội. Còn người thu thuế thì khác; chính địa vị xã hội hèn kém (‘Người thu thuế thì đứng ở đàng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời’) đã là cơ sở để ông có được tư thế ‘công chính’ trước mặt Thiên Chúa. Tư thế ‘công chính’ đối với Tin Mừng chính là một người có thể kêu lên: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!” Hình như Đức Giêsu muốn khảng định rằng: bất luận tình trạng công chính xã hội của một người có là thế nào đi nữa, thì người đó vẫn có thể trở nên công chính trước mặt Thiên Chúa, một khi biết nhìn nhận sự yếu hèn của mình và khiêm tốn khẩn cầu (hay tin tưởng vào) lòng thương xót Chúa, còn ai cứ khư khư tự tôn tự mãn về sự công chính xã hội của mình, để không cầu khẩn - đón nhận lòng thương xót, thì sẽ trở thành bất chính trước mặt Thiên Chúa; “Tôi nói cho các ông biết, người này, khi trở xuống mà về nhà thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không.” Khi nói câu này Đức Giêsu hầu như muốn khảng định: sự công chính theo luật pháp của con người không có mấy giá trị trước mặt Thiên Chúa; nắm giữ một nền luân lý cao đẹp tới đâu đi nữa, sẽ không bao giờ có thể là mục tiêu tối hậu của niềm tin Ki-tô hữu. Công chính đích thực trước mặt Thiên Chúa nhân ái lại rất đơn giản: chỉ cần khiêm tốn đón nhận tình yêu cứu độ. Điều này là một đòi hỏi chung cho tất cả mọi người, cho bất kỳ ai, kể cả các bậc thánh hiền đạo đức nhất. Vì trước mặt Thiên Chúa ngay cả các thánh cũng có thể lỗi phạm tới bẩy lần một ngày! Bình đẳng tuyệt đối của con người trước Thiên Chúa chính là ở đây: sang / hèn, cao / thấp (về chức tước hay sự kính nể của người đời), tốt / xấu, lương thiện / bất lương (trước mặt xã hội) đều không mấy quan trọng. Phương thế tối cần để đạt được sự công chính của Nước Trời chỉ là: khiêm hạ (con là kẻ tội lỗi, xin dủ lòng thương xót con!). Ai khiêm hạ cầu khẩn lòng thương xót, người đó sẽ được tình yêu Thiên Chúa nâng lên cao, được nên công chính; ngược lại kẻ tự tôn tự đại, cho dẫu có đạo đức thánh thiện (trước mặt con người) tới mấy, cũng sẽ không bao giờ được coi là công chính trước mặt Thiên Chúa. Quả thế: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”.
Trong tư cách linh mục, có thể tôi là: đáng kính đáng nể trước mặt xã hội, nhưng trong tư cách Ki-tô hữu, làm sao tôi trở thành ‘công chính’ trước mặt Chúa đây? Thật là thiếu yếu việc tôi phải tìm ra đáp án cho vấn nạn này và sống nó cách trung thực.
Lạy Chúa, con cảm tạ ơn Chúa đã cho một Phê-rô, một Ma-đa-lê-na, một Mát-thêu, một tên gian phi thống hối, được trở nên công chính! Con cũng hằng được Chúa mời gọi chiêm ngưỡng sự công chính cao cả của Đức Ma-ri-a nơi cõi lòng khiêm cung sâu thẳm của người; xin hãy giúp con để, mỗi khi vì bất hạnh rơi vào vòng tội lỗi, con vẫn biết như thánh Âu-tinh coi đó là dịp hồng phúc để con trở nên công chính hơn trước mặt Chúa; chính vì nhờ đó con mới có thể khám phá sâu hơn lòng thương xót vô biên của Chúa. Amen.

 

TN30-C99: Người Pharisêu và người thu thuế

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
 

Chúa nhật tuần trước, Đức Giêsu trình bày hai nhân vật mang tính biểu tượng: một bên là vị thẩm TN30-C99

Chúa nhật tuần trước, Đức Giêsu trình bày hai nhân vật mang tính biểu tượng: một bên là vị thẩm phán bất công, mô hình của kẻ áp bức, bên kia là bà góa đi kiện, mô hình của kẻ bị áp bức. Qua dụ ngôn ngắn và không thiếu tính hài ước, Đức Giêsu khuyến khích chúng ta kiên trì cầu nguyện với niềm xác tín Thiên Chúa luôn nghe lời chúng ta (Lc 18, 1-8).
Để xác định thái độ nội tâm và hình thức bề ngoài khi hướng về Thiên Chúa, Chúa nhật tuần này, Đức Giêsu đã đặt hai nhân vật tương tự đại diện cho con người ngày hôm nay: một bên là người pharisiêu công chính tuân giữ Luật Chúa cách hoàn hảo và bên kia là người thu thuế, tội lỗi, tay sai cho bọn đế quốc, vơ vét tiền bạc trên lưng của đồng bào (Lc 18, 9-14).
Khi đọc lý do tại sao người Pharisiêu lại tạ ơn Chúa, chúng ta chiêm ngưỡng sự hào phóng của ông thực sự là một người " tốt ", không chê trách được gì. Điều này dường như không phải là quan điểm của Đức Giêsu, Ngài không kể dụ ngôn này cho những người công chính, nhưng "cho những ai hay tự hào mình là người công chính."
Người Pharisêu tiêu biểu cho người bảo thủ cảm thấy mình phù hợp với Thiên Chúa và tha nhân, coi khinh kẻ khác. Người thu thuế là kẻ đã phạm một lỗi lầm, nhưng anh nhìn nhận lỗi lầm đó và khiêm tốn xin Chúa tha thứ. Anh ta không nghĩ cứu được mình nhờ công nghiệp riêng mình, nhưng đúng hơn nhờ lòng thương xót Chúa. Sự ưu tiên của Đức Giêsu giữa hai người này rõ rệt, như câu cuối cùng của dụ ngôn minh chứng: Người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi, tức là, được tha và hoà giải với Chúa; người Pharisêu trở về nhà trong tình trạng y như hồi ra đi vẫn giữ cảm giác về sự công chính của mình, mà phải mất sự công chính của Chúa.
Trong thực tế, người Pharisiêu đã đặt ra cho mình chỉ tiêu công chính. Ông không như những người khác: ăn chay, nộp thuế...Ông tự xây dựng hình ảnh người công chính cho mình khi quên mất điều quan trọng nhất của lề Luật là tình yêu tha nhân.
Tệ hơn nữa là thái độ của ông. Ông "tạ ơn Thiên Chúa"; nhưng không được, ông thích liệt kê những kẻ tội lỗi. Trong lời cầu nguyện, ông không cần đến Thiên Chúa. Như thế, ông không công chính với chính mình, sức mạnh nội tâm của ông cho phép ông vượt lên trên mức tầm thường, nhưng ông đã coi thường sự đáng kính của ông. Một người hài lòng với chính mình, làm sao có thể giao tiếp được với Thiên Chúa?
Người thu thuế biết mình không có gì để khoe, và cũng chẳng có ai thấp kém hơn mình để đạp. Anh chỉ biết mình được xếp loại ngang hàng với gái điếm. Anh đứng xa xa, không dám ngước lên trời, đấm ngực và nói lên điều mà lòng anh đang khao khát: "Lạy Chúa, xin thương con là kẻ có tội." Chính vì lòng khao khát này mà anh được Chúa đoái thương và lời nguyện xin của anh được Ngài chấp nhận. Một kẻ tội lỗi như anh, có thể chứa đựng lòng thương xót, bởi vì không giống như các pharisiêu đóng cửa lòng mình và thỏa mãn với sự đầy đủ của mình, anh mở rộng tâm hồn, sẵn sàng đón lấy ơn tha thứ của Thiên Chúa, Đấng mà anh đã đặt tất cả niềm tin và hy vọng của mình.
Giống như hầu hết các dụ ngôn, Đức Giêsu cho thấy hai nhân vật trái ngược nhau. Những người thu thuế hôm qua là những người Pharisêu mới của ngày nay! Ngày nay người thu thuế, kẻ phạm tội, nói với Chúa: "Lạy Chúa con tạ ơn Chúa, vì con không phải như những người Pharisêu có lòng tin kia, giả hình và bất bao dung, lo lắng về sự ăn chay, nhưng trên thực tế sống còn xấu hơn chúng con." Thật nghịch lý, xem ra dường như có những kẻ cầu nguyện như thế này: "Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa, vì con là kẻ vô thần!"
Rochefoucauld nói rằng sự giả hình là đồ cống nạp nết xấu trả cho nhân đức. Ngày nay đó thường là đồ cống nạp nhân đức trả cho nết xấu. Thực vậỵ điều này được tỏ bày ra, nhất là những kẻ tỏ ra mình xấu hơn và vô sỉ hơn mình là, ngõ hầu không xuất hiện kém hơn những kẻ khác. Nhà triết học Tin Lành Soren Kierkegaard viết: "Ngược lại với tội lỗi không phải là nhân đức, nhưng đức tin."
Một kết luận thực tế: Rất ít người có lẽ không ai luôn đóng vai trò người Pharisêu hay là luôn trong vai trò người thu thuế, tức là, công chính trong mọi sự hay là tội lỗi trong mọi sự. Phần đông chúng ta có một chút ít cho cả hai trong cuộc sống. Lúc tồi tệ nhất chúng ta ứng xử như quan thu thuế trong cuộc sống, kinh doanh vô đạo đức, và lúc khác chúng ta như người Pharisiêu trong đền thờ, được cho là hợp lý bởi hành vi tôn giáo của chúng ta. Nói cách khác, ngày nay chúng ta phải quay lại với những từ ngữ xung quanh việc đạt tới ý chỉ nguyên thủy. Điều tệ nhất có lẽ là hành động như người thu thuế trong sự sống hàng ngày của chúng ta và như người Pharisêu trong nhà thờ. Những người thu thuế là kẻ tội lỗi, là những người không có áy náy lương tâm, là những kẻ coi tiền bạc và nghề nghiệp trên mọi sự khác. Những người Pharisêu, ngược lại, là rất khắc khe và chăm chú đến lề luật trong sự sống hằng ngày của mình. Như vậy chúng ta xem ra như người thu thuế trong sự sống hằng ngày và như người Pharisêu trong đền thờ, nếu như người thu thuế chúng ta lả kẻ tội lỗi, và như người Pharisêu, chúng ta tin chúng ta là công chính.
Nếu chúng ta đành cam chịu nên một ít của cả hai, bấy giờ chúng ta hãy nên kẻ nghịch của điều chúng ta mới diễn tả: Pharisêu trong sự sống hằng ngày và thu thuế trong nhà thờ! Như người Pharisêu, chúng ta phải cố gắng trong sự sống hằng ngày không làm kẻ trộm và người bất chính, nhưng theo những điều răn của Chúa và trả những món nợ chúng ta mắc; như người thu thuế, khi chúng ta ra trước mặt Chúa, chúng ta phải công nhận rằng chút ít gì chúng ta đã làm là hoàn toàn ân huệ của Chúa, và chúng ta hãy cầu xin, cho chính chúng ta và cho tất cả mọi người, lòng thương xót Chúa. Amen.

 

TN30-C100: Khiêm tốn trong cầu nguyện.

(Suy niệm của Lm. GB. Trần Văn Hào)
 

Ông Alexin Carnel, người lãnh giải Nobel về Y khoa năm 1978, đã chia sẻ kinh nghiệm về đức tin khi TN30-C100

Ông Alexin Carnel, người lãnh giải Nobel về Y khoa năm 1978, đã chia sẻ kinh nghiệm về đức tin khi ông phát biểu: “Cầu nguyện là một hoạt động không thể thiếu để phát triển con người toàn diện. Càng cầu nguyện, chúng ta càng trở nên con người hơn”. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu một lần nữa dạy chúng ta cầu nguyện với sự khiêm hạ chân thành. Càng khiêm tốn, chúng ta càng trở nên vĩ đại, vì được thông dự vào sự cao cả và quyền năng của Thiên Chúa. Điều đó cũng tương hợp với tư tưởng của Pascal khi ông nói: “Con người rất nhỏ bé và tầm thường, nhưng chúng ta sẽ trở nên vĩ đại và phi thường nếu biết cầu nguyện”.
Cầu nguyện: Từ thái độ kiên trì đến tâm tình khiêm tốn.
Tuần trước, lời Chúa khuyên mời chúng ta kiên trì trong việc cầu nguyện qua hình ảnh của Moise đứng giang tay trên núi cầu khẩn khi đoàn quân của ông giao chiến với đội quân Amalếch, hoặc qua thái độ kiên nhẫn của một bà góa đứng kiện cáo nơi cửa công. Tuần này, Chúa cũng vay mượn hình ảnh khiêm hạ của một người thu thuế, đối nghịch với thái độ cao ngạo của ông Pharisiêu khi lên đền thờ cầu nguyện, để dạy chúng ta phải có thái độ khiêm tốn mỗi lần đến với Chúa. Chúng ta đã nghe khá nhiều về việc cầu nguyện. Nhưng sự khiêm hạ Chúa nói hôm nay đòi hỏi nơi chúng ta điều gì và chúng ta đã thực hành như thế nào?
Trước hết, chúng ta nghe lại bài đọc 1 trong sách Huấn ca được đọc lên trong phụng vụ hôm nay. Tác giả viết: “Đức Chúa là Đấng xét xử, người chẳng thiên vị ai. Người không vị nể mà hại kẻ nghèo hèn, nhưng nghe lời kêu xin của người bị áp bức, lời khấn nguyện của kẻ mồ côi, hay tiếng than van của người góa bụa”. Ba hạn từ nêu trên, nói về những người nghèo khổ, cô thế cô thân trong xã hội Do thái thời xưa. Kẻ mồ côi, kẻ bị áp bức, người góa bụa, là những người thấp kém và bị mọi người coi khinh. Họ là đại biểu của giai tầng thấp nhất trong xã hội, nhưng lời cầu nguyện của họ luôn được Thiên Chúa lắng nghe. Trong bài giảng trên núi, Chúa công bố bản Hiến chương Nước Trời với 8 mối phúc dành cho những ai ‘nghèo khó, hiền lành, khóc lóc, bị áp bức..’, tức là những con người luôn biết sống khiêm hạ, không vênh váo và tự mãn về cái tôi của mình như những người quyền quý hay cao sang. Sự khiêm hạ đó một lần nữa được Chúa nói tới qua hình ảnh người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện, đối kháng với sự kiêu căng tự mãn của người Pharisiêu. Vào thời Chúa Giêsu, dân chúng luôn dị ứng và tẩy chay những người hành nghề thu thuế. Họ được xếp ngang với bọn đĩ điếm và phường tội lỗi. Dân chúng ghét họ vì 3 lý do. Thứ nhất, họ làm tay sai cho đế quốc Rôma. Thứ hai, họ phản bội tổ quốc và đồng bào ruột thịt. Thứ ba, khi đụng đến tiền bạc, chắc chắn họ dễ rơi vào tham nhũng hay hối lộ. Những người thu thuế thường hay thu quén tiền bạc cách bất chính trên xương máu và mồ hôi nước mắt của người khác. Đế quốc Rôma ra chỉ tiêu về tiền thuế phải nộp, còn họ sẽ bày ra phương cách để có thật nhiều tiền. Vì vậy, dân Do Thái luôn khinh ghét họ và xếp họ chung với phường tội lỗi.
Người thu thuế ra về được nên công chính, còn người kia thì không (c.14).
Sự công chính nơi người thu thuế khởi đầu từ việc ông nhận ra lỗi lầm của mình và thực tình sám hối. Sám hối, theo nguyên ngữ Hy Lạp ‘Metanoia’, có nghĩa là ‘trở về’. Sám hối không phải chỉ là đấm ngực mình cách máy móc như nhiều khi chúng ta vẫn hay làm khi đọc kinh ‘tôi thú nhận’. Hành vi đấm ngực, cúi gầm mặt xuống vì xấu hổ nơi người thu thuế là bước khởi đầu của cuộc hành trình trở về. Thánh Luca trong chương 15 kể dụ ngôn đứa con đi hoang để nói về cách sám hối chúng ta cần biểu tỏ. Chàng thanh niên can đảm đứng lên, giã từ quá khứ để trở về nhà trong vòng tay yêu thương của Cha. Sự công chính chúng ta có được không phải do nỗ lực cá nhân, nhưng trước hết là do ơn sủng nhưng không, đến từ Thiên Chúa. Trong thơ Rôma, Thánh Phaolô đã cắt nghĩa rất rõ: “Ân sủng Đức Kitô làm cho chúng ta nên công chính, vì ở đâu tội lỗi càng nhiều, ơn sủng càng chan chứa gấp bội (Rm 5, 20-21). Đức Giêsu đã khiêm nhường, tự hạ chấp nhận cái chết và máu của Ngài làm cho chúng ta được công chính hóa. Vì vậy điều kiện tiên quyết để được tha thứ và chữa lành, chính là thái độ khiêm tốn nội tâm.
Muốn sống khiêm tốn phải biết mình.
Người thu thuế biết rõ về chính mình, về những bất xứng và tội lỗi anh ta đã gây ra. Từ chỗ biết mình, anh đã can đảm đi ra khỏi cái tôi để quy hướng về Thiên Chúa. Ngược lại, người biệt phái quá kiêu ngạo, tưởng rằng biết rõ về bản thân, nhưng thực sự thì không. Ông chỉ biết quy về mình. Ông trưng ra những thành tích đạo đức để khoe mẽ mà không biết rằng những việc tốt mà ông có thể làm, tất cả là do ơn của Chúa chứ không phải do công lao của ông. Ông đến đền thờ cầu nguyện tựa như đi tham dự một hội nghị biểu dương ‘Người tốt việc tốt’, giống như xã hội hôm nay vẫn hay tổ chức. Một người đứng lên giữa đám đông kể ra những ‘thành tích xuất sắc’ của mình để nhận bằng khen hay giấy khen, nhiều khi rất lố bịch và giả tạo. Nhiều người đi tham dự hội nghị còn đeo đầy huy chương để khoe cho mọi người biết tôi là người có công với đất nước. Người Pharisiêu trong dụ ngôn hôm nay cũng thế. Ông ta trưng ra những thành tích đạo đức để mong Chúa ban cho ông một tấm bằng khen. Chúa biết rõ tâm hồn mỗi người, từ những gì sâu kín nhất tận bên trong. Điều Chúa mong muốn nhất, chính là sự khiêm hạ và thành tâm sám hối. Khi chúng ta đến trình diện trước mặt Chúa, Chúa không thích ngắm những bộ huy chương chúng ta đeo trên ngực hay nhìn những bằng khen chúng ta trưng ra để khoe khoang. Ngài chỉ thích mân mê sờ nắn những vết sẹo nơi tâm hồn chúng ta, là dấu chứng tội lỗi chúng ta phạm nhưng đã được Thiên Chúa yêu thương và chữa lành. Câu chuyện dụ ngôn trong bài Tin mừng hôm nay khẳng quyết điều ấy.
Kết luận
Bắt chước người thu thuế trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta hãy đến với Chúa với tâm tình sám hối và khiêm hạ, đặc biệt khi chúng ta giơ tay đấm ngực mỗi lần dâng Thánh lễ. Nhiều khi chúng ta đấm ngực mình một cách rất máy móc để rồi khi về đến nhà, lại giơ tay đấm nhầm qua ngực người khác, bằng cách kết án hết người này đến người nọ. Chúng ta mượn lại tâm tình của Thánh Charles de Faucauld để thưa lên với Chúa: “Lạy Chúa, dù còn xấu xa hay tội lỗi đến mấy, Chúa cũng không bao giờ kết án và luận phạt. Chúa cho con tự do để làm mọi sự, nhưng Chúa luôn cấm con không được thất vọng trước sự khốn nạn do tội lỗi con gây ra. Lạy Chúa, xin xót thương con.”
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây