Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 31 TN-C Bài 151-162 Chuyện ông Giakêu

Thứ năm - 31/10/2019 10:32
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 31 TN-C Bài 151-162 Chuyện ông Giakêu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 31 TN-C Bài 151-162 Chuyện ông Giakêu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 31 TN-C Bài 151-162 Chuyện ông Giakêu
TN31-C151: NGƯỜI NÀY CŨNG LÀ CON CHÁU TỔ PHỤ ÁP-RA-HAM... 1
TN31-C152: HÀNH TRÌNH TRỞ VỀ: BIẾT CHÚA.. 3
TN31-C153: SÁM HỐI CỤ THỂ NHƯ ZAKÊU.. 6
TN31-C154: QUYẾT TÂM... 8
TN31-C155: TÌM VÀ CỨU.. 12
TN31-C156: GIA-KÊU GẶP CHÚA.. 15
TN31-C157: GẶP GỠ VÀ BIẾN ĐỔI 16
TN31-C158: TÌNH YÊU ĐẾN.. 17
TN31-C159: ĐÓN NHẬN LÒNG XÓT THƯƠNG.. 19
TN31-C160: ÁNH MẮT XÓT THƯƠNG.. 22
TN31-C161: SỨC MẠNH HOÁN CẢI CỦA TÌNH THƯƠNG.. 25
TN31-C162: CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN_C.. 31

 

TN31-C151: NGƯỜI NÀY CŨNG LÀ CON CHÁU TỔ PHỤ ÁP-RA-HAM

 Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty
 

Việc chủ động xin vào trọ trong nhà ông Da-kêu, một thủ lãnh nhóm thu thuế, một lần nữa lại TN31-C151

Việc chủ động xin vào trọ trong nhà ông Da-kêu, một thủ lãnh nhóm thu thuế, một lần nữa lại cho thấy, đời Đức Giê-su luôn gắn liền với các người tội lỗi… Có thể Ki-tô hữu chúng ta đã dần quen và xem thường hình ảnh này, nhưng không phải vậy đối với các Biệt Phái và đám quần chúng Do Thái; “Mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!” Lý do duy nhất Đức Giê-su đưa ra để biện minh cho quyết định táo bạo này là: “Bởi vì người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham”, cho dầu ông ta có tội lỗi bất xứng tới đâu.
“Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”! Bằng nhiều cách nói khác nhau, Đức Giê-su đã không ngừng xác định sứ mệnh của Người khi đến trần gian là: để cứu vớt. Đó là mục tiêu chính và lẽ sống của Người! Do đó, tin và chấp nhận Đức Ki-tô sẽ không là gì khác hơn: chân thành nhìn nhận rằng mình đáng bị hư mất. Ai không nhìn nhận như thế sẽ không thể là Ki-tô hữu, đơn giản vì họ cho là mình không có lý do gì để đón nhận ơn cứu độ Người mang đến. Nhưng để giải thích được điều rất mới mẻ này, tối hậu Đức Giê-su chỉ trưng ra được có một lý giải duy nhất; Người long trọng tuyên bố: “người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham”. Câu nói này mang tính cách mạng ghê gớm! vì trong đầu óc và ngôn ngữ Do Thái thì câu này cũng tương tự như nói với người Công Giáo về một người phạm trọng tội đáng bị rút phép thông công rằng: “vì người tội lỗi này cũng đang là con cái Thiên Chúa!”
Đối với quần chúng Do Thái, nhất là các luật sĩ và nhóm Biệt Phái, thì các người thu thuế nói riêng, và mọi kẻ tội lỗi nói chung, không còn là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham nữa: họ đã phản bội Giao Ước, họ phải bị khai trừ, họ đáng bị khinh miệt và ghét bỏ, họ sẽ bị coi như người dân ngoại. Mọi người Do Thái chân chính đáng danh con cháu tổ phụ Áp-ra-ham buộc phải xa tránh họ và nếu có thể…, tiêu diệt họ bằng cách ném đá cho chết. Do đó bất cứ ai tiếp xúc với họ (huống hồ tới trú ngụ trong nhà họ) đều bị coi là đã ‘mắc ô uế’. Lối suy nghĩ tương tự như thế là hoàn toàn hợp lý, và rất phổ biến trong bất kỳ tập thể xã hội hay tổ chức nào dựa trên luật lệ, kể cả xã hội Ki-tô giáo chúng ta hôm nay xét theo diện một tổ chức (thử nghĩ tới thái độ đối với các bè rối với những vạ tuyệt thông…). Vậy mà Đức Giê-su đã xác định ngược lại: thu thuế hay tôi lỗi tới đâu cũng vẫn là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham, và vì thế cần phải đi tìm và cứu vớt họ. Câu hỏi được đặt ra là: dựa trên tiêu chuẩn nào mà Người lại đòi hỏi như thế?
Suy nghĩ thông thường vẫn là: anh sai phạm thì anh phải cải tà qui chính để may ra được chúng tôi thứ tha và được nhận trở lại chăng; nếu anh thành tâm sám hối và sửa lỗi mình thì anh mới được tha, và được cho hội nhập trở lại. Rất thường khi, sự tha thứ này còn kèm theo nhiều điều kiện hoặc thử thách khắc nghiệt khác nữa. Trường hợp của Da-kêu cho ta thấy một tiến trình trái ngược: Đức Giê-su chủ động xin tới với ông ta trước, Người vào nhà chia sẻ cuộc sống với ông; điều này xảy ra trước cả khi ông hứa sẽ đền bù thỏa đáng những lầm lỗi của mình. Đối với Người, trình tự này là hoàn toàn hợp lý với lời giải thích: “hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi vì người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham!”. Nếu sau đó ông Da-kêu có thưa với Người: “Đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” thì đó vẫn không phải là lý do tại sao Đức Giê-su quyết định vào nhà ông; đó chẳng qua chỉ là hậu quả của việc Người chủ động xin đến trú ngụ mà thôi. Nếu vậy thì ta phải đi tới kết luận: khi Đức Ki-tô có quyết định đến với bất cứ tội nhân nào thì không phải là vì họ đã có công trạng gì trước, kể cả có lòng thống hối chân thành. Người cứu chuộc chúng ta chỉ vì Người là Con Thiên Chúa từ nhân, và muôn đời Người sẽ còn tiếp tục hành sử với chúng ta như thế. Cho dầu tội lỗi đầy mình tới mấy, chúng ta vẫn luôn mãi là con cái của Thiên Chúa, là con cái của tình yêu tha thứ xót thương. Đối với Người, con chiên dầu có đi lạc thì vẫn là chiên của chủ chăn, đồng bạc dầu có bị mất thì cũng vẫn là đồng bạc của bà chủ, và đứa con có đi hoang thì vẫn luôn là con của ‘cha già’. Vì như Người khảng định: “Con Người đến để tìm và cứu những gì (Người) đã mất”.
Một trong các tư tưởng căn bản của nền thần học Ki-tô giáo là: ơn cứu độ của Thiên Chúa hoàn toàn là một quà tặng biếu không (gratuitous). Chúng ta chỉ có thể khiên tốn đón nhận với lòng tri ân sâu xa chứ không bao giờ xứng với nó. Nếu có ai cho rằng mình xứng đáng được hưởng ơn cứu độ, hoặc vì lắm công nhiều nghiệp, hoặc vì đầy dẫy các nhân đức, thánh thiện, trung thành tới mức tử đạo, hoặc tối thiểu, vì đã chân thành thống hối ăn năn, thì, trong tiêu chuẩn của Đức Giê-su, người đó đã mắc sai lầm cực kì nghiêm trọng. Ngay cả Mẹ Tê-rê-xa Kơn-ka-ta, vị nữ tu cả đời chỉ làm toàn việc thiện và bác ái, được người đương thời bất luận thuộc tôn giáo nào tán dương như một vị đại thánh, một vĩ nhân, cũng vẫn phải chân thành nhìn nhận: “Thiên Chúa yêu thương tôi không phải vì tôi tốt lành, nhưng tôi cố gắng trở nên tốt lành, vì biết rằng Chúa thương yêu tôi”. Thế đấy, khi nói lên các việc đền bù mình sẽ làm, Da-kêu cũng đang cố gắng trở nên tốt hơn, chỉ vì nhận thức ra rằng: Thầy Giê-su đã chủ động yêu thương và tha thứ cho mình trước. Do đó ta có thể kết luận: nỗ lực sửa mình và cố gắng vươn lên không phải là điều kiện để được Chúa tha thứ và thương mến, nhưng chỉ là hiệu quả của niềm tin đó mà thôi; và đương nhiên việc vươn lên đó còn tùy thuôc rất nhiều vào mức độ ta nhận biết mình được Thiên Chúa yêu thương đến đâu. Hình như có một tỷ lệ thuận nào đó giữa hai vế, nhưng thứ tự lại ngược hẳn với lối suy nghĩ thông thường: không phải ‘ai yêu nhiều thì được tha nhiều’, nhưng là “Ai được tha nhiều (và nhận thức rõ điều đó) thì yêu nhiều hơn” (xem bình giải Lc 7:47 trong Christian Community Bible) .
Ôi sức mạnh của việc nhận biết lòng thương xót Chúa: vừa rất êm dịu, lại vừa mãnh liệt xiết bao!
Lạy Thiên Chúa từ nhân, xin cho con không ngừng nhận biết lòng Chúa xót thương, nhất là trong các dịp xét mình hay đi xưng tội. Ngay cả trước khi bước vào tòa giải tội để xưng thú tội lỗi, trước cả khi giục lòng thống hối ăn năn và quyết tâm sửa mình, con biết Chúa đã tha thứ cho con vô điều kiện rồi. Với niềm thâm tín này, xin cho các nỗ lực vươn lên của con luôn xuất phát từ niềm tin vào tình yêu tha thứ của Chúa, để ngay cả những lúc thấy mình tội lỗi và thấp hèn nhất, niềm tin của con vẫn luôn hòa quyện trong tâm tình tri ân cảm tạ sâu xa. A-men.

 

TN31-C152: HÀNH TRÌNH TRỞ VỀ: BIẾT CHÚA

– BIẾT NGƯỜI – BIẾT MÌNH
Lm. GB. Trần Văn Hào
 

Tin Mừng Luca nói rất nhiều về lòng thương xót của Chúa đối với các tội nhân. Bài Phúc âm hôm TN31-C152

Tin Mừng Luca nói rất nhiều về lòng thương xót của Chúa đối với các tội nhân. Bài Phúc âm hôm nay là một ví dụ tiêu biểu. Tuần trước, Chúa Giêsu đề cao gương khiêm nhường của một người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện với tâm tình sám hối. Tuần này, Thánh Luca cũng thuật lại cuộc hành trình trở về của Giakêu, cũng là một người thu thuế với bao tội lỗi. Giakêu không chỉ là một viêc chức quèn, nhưng còn là một cán bộ cao cấp và có thế giá trong ngành thuế vụ. Với chức vụ đó, đương nhiên ông ta rất giàu (c.2). Ông là người có dáng vóc nhỏ bé. Có lẽ Thánh Luca còn hình tượng hóa, không phải chỉ nói về sự nhỏ bé thể lý, nhưng cũng diễn bày sự bé nhỏ nơi tâm hồn của ông, khi ông ý thức được những lầm lỗi của chính mình. Cuối cùng, Giakêu đã hoán cải sau khi gặp được Đức Giêsu. Lộ trình trở về của Giakêu gồm 3 yếu tố: Biết Chúa – Biết người – và Biết về chính mình.

Biết Chúa.
Khởi đầu Giakêu muốn biết Chúa chỉ vì tò mò. Chúa Giêsu khá nổi tiếng lúc bấy giờ và được dân chúng nể phục. Nhân lúc Đức Giêsu sắp đi ngang qua, Gia kêu trèo lên một cây sung để xem rõ mặt mũi nhân vật nổi tiếng ấy như thế nào. Đây là điểm khởi đầu để dần dần ông được Chúa biến đổi, cho dẫu sự bắt đầu chỉ thuần mang tính nhân loại.
Ông Pchychari khi còn là dự tòng và đang trên con đường tìm kiếm Chúa, vẫn chân thành dâng lên Chúa lời cầu nguyện : “Lạy Chúa, nếu Chúa hiện hữu, xin hãy tỏ ra cho con biết Chúa là ai.” Biết Chúa không phải là động thái của tri thức, nhưng trên hết, đó là thái độ của tâm hồn. Đi vào thế giới của mầu nhiệm, không cần chúng ta phải vắt óc để lý luận, nhưng cần mở rộng cõi lòng để ánh sáng chân lý soi chiếu. Nhiều triết gia lỗi lạc đã nặn óc suy tư với những lý luận sắc bén, nhưng đã không tiếp cận được và biết về Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã từng cầu nguyện với Chúa Cha : “Lạy Cha, Con ngợi khen Cha vì Cha đã giấu không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn (Mt 11,25). Cuộc hành trình trở về của Giakêu bắt đầu từ việc ông khao khát biết Chúa, cho dầu động cơ nơi ông có như thế nào chăng nữa.

Biết người.
Sau khi Chúa gọi Giakêu lúc ông đang ở trên cây, ông đã vui mừng tụt xuống ngay và tiếp đón Đức Giêsu đến nhà mình cách trọng thị (c.6). Điều này cho thấy rằng cho dù ông đã làm nhiều điều xấu, đã thu quén tiền bạc một cách bất chính, nhưng căn gốc sự thiện vẫn còn nơi tâm hồn ông và nay được dịp bùng phát. Chúa Giêsu đã khơi dậy sự thiện hảo nơi ông, vốn đã bị vùi lấp từ lâu do sự cuốn hút của tiền bạc. Kết quả là ông đã được biến đổi. “Thưa Thầy, tôi xin lấy phần nửa tài sản của tôi cho người nghèo. Nếu tôi chiếm đoạt của ai cái gì , tôi xin đến gấp bốn”. Từ chỗ biết Chúa, Giakêu đã đi đến việc biết người. Biết người tức là biết chia sẻ, biết lưu tâm đến cận nhân nghèo khổ sống chung quanh. Một người giàu có đã từng chỉ biết thu gom tiền bạc để hưởng thụ cách ích kỷ, bây giờ can đảm chia một nửa tài sản cho người nghèo, là một con người rất đáng trân quý. Sự cao quý nơi Giakêu ở chỗ, ông đã can đảm phá vỡ pháo đài ích kỷ vốn đã xơ cứng nơi tâm hồn mình, bây giờ trở thành trái tim thịt mềm, một trái tim biết rung lên những giai điệu đồng cảm và yêu thương. Giakêu đã được biến đổi vì ông đã biết Chúa và biết người.

Biết mình.
Căn gốc của sự hoán cải chính là tự biết mình. Giakêu biết rõ mình là con người tội lỗi và bị mọi người khinh ghét. Nhưng ông còn biết rõ hơn, là chính Thiên Chúa không ghét bỏ ông.  Đức Giêsu đã tuyên bố cho mọi người cũng như cho ông biết rằng : “Con người đến để tìm kiếm những gì đã hư mất”. Chúng ta vẫn thường đi xưng tội, và trước khi xưng tội, chúng ta phải xét mình. Xét mình không phải chỉ là liệt kê một bản danh sách các tội một cách máy móc và điền đại vào đó số lần để xưng cho xong. Khi xét mình, chúng ta cần phải đi sâu vào tĩnh lặng để bới tìm những bẩn thỉu ẩn kín sâu tận bên trong. Chúng ta rất dễ bới móc cái rác trong mắt của tha nhân mà vẫn không nhận ra cái đà to đùng nơi con mắt của mình (Mt 7,3). Chúa Giêsu nói điều đó với chút cường điệu để dạy chúng ta phải khiêm tốn nhìn vào nội tâm, chứ đừng vội vã kết án người khác. Đây là phương thức để chúng ta biết về mình cách thực sự.
Tiến trình trở về của Giakêu là như thế. Tiến trình này được thể hiện do chính Đức Giêsu chủ động và lôi kéo. Thiên Chúa luôn đi bước trước để gọi mời, còn chúng ta hoàn toàn tự do để đáp trả hay từ chối. Giakêu đã nghe tiếng Chúa gọi. Ánh sáng từ đôi mắt Chúa đã hắt dọi vào tâm hồn ông và ông đã được biến đổi hoàn toàn. Ông đã gặp Chúa, đã tiếp đón Chúa tại nhà và đã được biết Chúa là ai, là ‘Đấng đến tìm kiếm và cứu chữa những gì hư mất’. Chúa đã soi sáng để ông cũng biết đến tha nhân bằng cách mở rộng cõi lòng chia sẻ. Nhưng quan trọng nhất, ông đã biết về chính mình với bao yếu đuối và tội lỗi. Sự biến đổi nội tâm nơi Giakêu là mô hình để chúng ta thực hiện cuộc trở về mỗi ngày.

Kết luận
Xin được kết luận bằng một câu chuyện dân gian Việt Nam. Một chàng thư sinh rất tự mãn về kiến thức của anh ta. Trên đường trở về quê, anh chàng phải đi qua một con sông lớn và bác lái đò quê mùa ở đó vẫn ngày ngày chở khách qua sông. Trên thuyền, chàng sinh viên khoe khoang hỏi bác lái đò : “Bác ơi bác có biết đọc biết viết hay không? – Cậu ơi, tôi không biết. Chàng thư sinh nói tiếp : “ Thế là bác chết một phần tư đời người rồi”. “Bác ơi, bác có biết về khoa học hay kỹ thuật gì không?”. Bác lái đò vẫn bình thản trả lời : “Cậu ơi, tôi quê mùa có biết gì về văn minh khoa học tí nào đâu” – Tiếc cho bác, thế là bác chết thêm một phần tư đời người nữa rồi”. Chàng thanh niên tiếp tục khoe khoang : “Thế, bác có biết chút gì về nghệ thuật hay không ? -Tôi đã bảo là tôi mù tịt, không biết gì cả. – “Thế là bác chết thêm ¼ cuộc đời nữa, tội nghiệp bác quá”. Đi đến giữa sông, trời bỗng nổi cơn giông rất mạnh. Bác lái đò hỏi chàng thanh niên :“Cậu ơi, cậu có biết bơi không”. “Thưa bác, không”. Chàng thanh niên run sợ trả lời. Bác lái đò nhẹ nhàng nói : “Thôi, thế là cậu sắp chết cả đời người rồi, tiếc cho cậu quá”.
Triết gia Socrates đã nói: “Khởi đầu của sự khôn ngoan là hỡi người, hãy ‘biết’ về chính mình.” Chúng ta hãy học lấy thái độ của Giakêu để thực hành cuộc sám hối trở về, bằng cách biết Chúa, biết người và biết rõ về mình.

 

TN31-C153: SÁM HỐI CỤ THỂ NHƯ ZAKÊU

Lm. Phêrô Lê Văn Chính
 

Để hiểu bài Tin mừng Chúa nhật tuần này về câu chuyện Zakêu người thu thuế, cần bắt đầu với TN31-C153

Để hiểu bài Tin mừng Chúa nhật tuần này về câu chuyện Zakêu người thu thuế, cần bắt đầu với chủ đề của sách Khôn ngoan về lòng thương xót tha thứ của Thiên Chúa. Một cách rất hiện thực và trong một cái nhìn tổng thể, sách Khôn ngoan cho thấy điều kiện của nhân loại rất là mong manh yếu đuối trước mắt Thiên Chúa, ví được như là hạt gạo trên đĩa cân, hay sương sa trên mặt đất, nó chẳng là gì cả, dễ tan biến vào hư vô. Nhưng bởi vì Thiên Chúa là Đấng yêu thương vô bờ bến, Người yêu thương nhân loại vô cùng nên rất nhẫn nại và chờ đợi con người sám hối tội lỗi để trở về với Thiên Chúa. Bằng chứng của tình yêu Thiên Chúa đối với mọi loài là ý định tạo dựng của Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa tạo dựng, có nghĩa là Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại và có ý định ban tặng sự sống cho mọi loài. Và điều quan trọng, đó là lần hồi, nhờ thần trí của Thiên Chúa tốt lành, Chúa sửa phạt những kẻ lầm lạc, khuyên răn những người tội lỗi để họ trở về với Thiên Chúa và từ bỏ con đường tội ác của mình mà được sống hạnh phúc sung mãn.
Điều này được cụ thể hoá qua hình ảnh cụ thể của người thu thuế Zakêu, một người tội lỗi, được Chúa Giêsu viếng thăm tại nhà và vui mừng thay đổi đời sống đón nhận ơn cứu độ. Điều rất cao đẹp và quí giá mà Thiên Chúa thực hiện cho con người, đó là từ tình trạng xấu xa tội lỗi và hậu quả là phải chết tủi nhục, Thiên Chúa biến đổi để con người trở nên thánh thiện và xứng đáng đón nhận sự sống đời đời. Sự biến đổi và thánh hóa của Thiên Chúa thực là kỳ diệu, và con người luôn được Thiên Chúa mời gọi và tìm kiếm, bởi vì Thiên Chúa luôn nhớ đến mỗi người và thành tín yêu thương vô cùng. Zakêu là một khuôn mặt tiêu biểu đáng nêu lên bởi vì sự biến đổi mà Thiên Chúa thực hiện nơi ông đã diễn ra một cách rất nhẹ nhàng và đầy niềm vui. Ông là một ông trùm trong số những người thu thuế giàu có, một người tội lỗi công khai vì nghề thu thuế tai tiếng. Đàng khác, vóc dáng nhỏ thó, lùn tịt của ông cũng làm cho ông bị người khác coi thường. Khi Chúa Giêsu đi ngang qua thành Giêrikô là nơi ông ở, Zakêu đã có một cử chỉ thực là hồn nhiên, là leo lên cây để được nhìn Chúa Giêsu đi ngang qua. Đáp lại, Chúa Giêsu quyết định đến gặp Zakêu tại nhà để đáp lại cách cụ thể ước muốn của ông, nên người nhìn lên và nói với ông: “Zakêu! Xuống mau đi, vì hôm nay tôi muốn tới ở nhà ông”. Và điều kỳ diệu bất ngờ đã xảy ra, vượt mọi dự đoán của mọi người. Trong khi mọi người khác vẫn còn đóng kín trong những phê phán hẹp hòi chật hẹp thiếu hiểu biết của mình, nói rằng Chúa Giêsu đến nhà  người tội lỗi.  Zakêu đã có những quyết định rất táo bạo cương quyết : “Thưa thầy, tôi xin bố thí nửa phần tài sản của tôi cho người nghèo, và nếu tôi có làm thiệt hại ai điều gì, tôi xin đến gấp bốn”. Ông không nói bố thí hết tài sản, mà chỉ chia một phân nửa,  phần còn lại giữ lại cho mình và đền bù gấp bốn lần cho những người mà ông đã làm thiệt hại. Thế nhưng đó đã là một cuộc hoán cải đầy đủ và trọn vẹn, nhắc lại phần nào lời giải đáp xưa kia của Gioan Tẩy giả khi rao giảng ở sông Giorđan. Cuộc gặp gỡ và hoán cải hiện thực là như thế, không viễn vông ảo tưởng nhưng chân thành hiện thực. Zakêu phải can đảm chấp nhận cho đi những của cải của mình. Đó không phải là điều dễ dàng. Nhưng phải chăng cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa cứu độ là như thế, không dừng lại ở cái nhìn tò mò, nhưng là đón nhận chính Đấng cứu thế vào trong nhà mình và can đảm mở lòng để đền bù lại những thiệt hại mà mình gây cho người khác, giúp đỡ cho những người nghèo khổ túng thiếu.
Trên con đường Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem, tin mừng theo Luca cho chúng ta được khám phá nhiều điều mới mẻ về ơn cứu độ. Chúa Giêsu đi đến gặp gỡ từng người trên con đường người đi qua. Một cách nghịch lý, những con người tội lỗi, bị ghét bỏ trong xã hội, bị đánh giá thấp lại là những người gặp gỡ được tình yêu thương xót tha thứ của Thiên Chúa. Và lời nói tiêu biểu của Tin mừng Luca được lặp lại như đã được công bố ở hội đường Nazarét: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi vì người này cũng là con cái Abraham”. Việc gặp gỡ Chúa Giêsu dẫn đến ơn cứu độ thực sự, đầy tràn niềm vui, đầy tràn sức sống. Ơn cứu độ trả lại cho con người phẩm giá làm con Thiên Chúa.  Zakêu, một con người bình thường như những người khác, lại có điều gì đó mà chúng ta cần phải học hỏi. Không yếu ớt, không tự phụ, không thu mình trong địa vị của hàng tư tế hay biệt phái tự cho mình là những người thánh thiện trong sạch,  nhưng dám quyết định và hành động mạnh mẽ chia sẻ chính tài sản của mình, đền bù lại những thiệt hại đã gây ra cho người khác. Đồng thời ơn cứu độ mà Zakêu nhận được là điều rất cao quí. Từ nay, ông lại được đón nhận thừa hưởng gia nghiệp của con cái Abraham. Từ tình trạng tội lỗi và thân phận phải hư mất đời đời, ông được chữa lành và được đón nhận vào trong sự sống sung mãn của Giao ước với Thiên Chúa. Lời mà Chúa Giêsu đã tuyên bố khởi đầu ở hội trường Nazarét, giờ đây lại được công bố cách mạnh mẽ: “Hôm nay ơn cứu độ lại đến với nhà này”.
Cộng đoàn Kitô giáo thời thánh Phaolô là cộng đoàn những người đã bắt đầu tin vào Chúa Giêsu và dấn thân trên con đường đón nhận ơn cứu độ của đời sống mới. Họ có thể bị chao đảo bởi những hoàn cảnh lịch sử mà họ đang phải trải qua. Họ vẫn tin rằng Chúa Giêsu sẽ trở lại gần kề, nhưng nghịch lý là Chúa Giêsu vẫn chưa đến như mọi người mong đợi. Thánh Phaolô nhắc nhở cộng đoàn hãy vững vàng trong ơn gọi của mình. Thái độ tỉnh thức và chờ đợi Chúa trở lại là thái độ cụ thể, không phải chỉ là những tâm tình chờ đợi hốt hoảng lo âu vì những tuyên bố của người này người khác không có thẩm quyền chính thức của tông đồ. Ngược lại, thái độ chờ đợi Chúa đến thực sự là luôn vững vàng trong lòng tin của mình và sống thánh thiện theo ơn Chúa kêu gọi.

 

TN31-C154: QUYẾT TÂM

Trầm Thiên Thu
 

Quyết định là điều khó khăn nhất để có thể bắt đầu hành động, phần còn lại là có kiên trì hay TN31-C154

Quyết định là điều khó khăn nhất để có thể bắt đầu hành động, phần còn lại là có kiên trì hay không. Cần phải mạnh mẽ và dứt khoát để có thể quyết tâm mau chóng, nhưng cần phải nhận thức tinh tế mới khả dĩ quyết tâm đúng đắn.
Edward Bulwer-Lytton (1803-1873, thi sĩ, tiểu thuyết gia, kịch tác gia và chính khách người Anh) nhận xét: “Ai thận trọng quan sát và kiên quyết vững vàng sẽ tự nhiên dần trở thành bậc anh tài”. Còn William Arthur Ward (1921-1994, nhà giáo dục người Mỹ) nhận định: “Sự kiên nhẫn của ngày hôm nay có thể biến những nản lòng của ngày hôm qua thành khám phá của ngày mai. Những mục đích của ngày hôm nay có thể biến những thất bại của ngày hôm qua thành quyết tâm của ngày mai”.
Càng về cuối năm Phụng Vụ, Lời Chúa càng “xoáy sâu” vào tâm hồn chúng ta – rõ ràng hơn, thẳng thắn hơn, mạnh mẽ hơn, và cũng… “gay gắt” hơn. Cuối năm là thời điểm cần thiết để xem lại chính mình, luôn có nhiều điều cần quyết tâm hoặc tái quyết tâm – cả về đời thường và tâm linh.
Vì yếu đuối, phàm nhân luôn cần phải cố gắng quyết tâm và tái quyết tâm. Thật hạnh phúc vì chúng ta có một Vị Thiên Chúa vô cùng nhân từ và kiên nhẫn: “Chúa xót thương hết mọi người, vì Chúa làm được hết mọi sự. Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải” (Kn 11:23). Chắc chắn không có thần linh nào như Thiên Chúa của chúng ta. Trong St 18:20-32, Tổ phụ Abraham đối diện Thiên Chúa với mối quan ngại về điều sẽ xảy ra cho thành Xô-đôm. Tổ phụ Abraham đã “mặc cả” với Thiên Chúa, và Ngài sẵn sàng tha thứ cho Xô-đôm nếu thành này có được 10 người công chính.
Kinh Thánh xác định: “Quả thế, Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra, vì giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên. Nếu như Ngài không muốn, làm sao một vật tồn tại nổi? Nếu như Ngài không cho hiện hữu, làm sao nó có thể được duy trì? Lạy Chúa Tể là Đấng yêu sự sống, Chúa xử khoan dung với mọi loài, vì mọi loài đều là của Chúa” (Kn 11:24-26). Thật vậy, Thiên Chúa là ĐẤNG HẰNG SINH (Đnl 5:26; Gs 3:10; Tl 8:19; R 3:13; 1 Sm 14:39 & 45; 1 Sm 17:26 & 36; 1 Sm 19:6; 1 Sm 20:3 & 21; 1 Sm 25:26 & 34; 1 Sm 26:10 & 16; 1 Sm 28:10; 1 Sm 29:6; 2 Sm 2:27; 2 Sm 4:9; 2 Sm 12:5; Tv 42:3; Tv 84:3; Mt 16:6; Mt 26:63; Ga 6:57; Cv 14:15; 2 Cr 3:3; 2 Cr 6:16; 1 Tx 1:9; 1 Tm 3:15; 1 Tm 4:10; Dt 7:24-25) và là ĐẤNG CẦM QUYỀN SINH TỬ (Đnl 32:39; 1 Sm 2:6; Kn 16:13), nhưng Ngài lại luôn GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT và RẤT MỰC YÊU MẾN chúng ta (Ep 2:4).

Quả vậy, sinh khí bất diệt của Ngài ở trong muôn loài muôn vật. Vì thế, “những ai sa ngã, Chúa sửa dạy từ từ; Chúa cảnh cáo họ, nhắc cho họ nhớ họ đã phạm tội gì, để họ bỏ điều ác mà tin vào Chúa” (Kn 12:1-2). Nếu Thiên Chúa không đại lượng như vậy thì chúng ta chết từ lâu rồi. Chỉ riêng một điều là chúng ta còn hít thở không khí ngày hôm nay cũng đủ cả đời để chúng ta cảm tạ Ngài – dù chúng ta còn khỏe hay đau yếu!
Là thụ tạo, chúng ta không chỉ có bổn phận tôn thờ ngài, mà còn có bổn phận chúc tụng và tôn vinh Ngài. Bức tượng không có quyền đòi hỏi gì ở nhà điêu khắc. Cầu nguyện không chỉ là cầu xin, hãy noi gương tác giả Thánh Vịnh: “Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con, con nguyện tán dương Chúa và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời. Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở muôn đời” (Tv 145:1-2).
Thiên Chúa mà chúng ta nhận biết và tôn thờ là Thiên Chúa của tình yêu, của lòng trắc ẩn, của lòng thương xót: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên. Lạy Chúa, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ, kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài, nói lên rằng: triều đại Ngài vinh hiển, xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng” (Tv 145:8-11).
Vì bản chất của Ngài là yêu thương, Ngài không thể đứng nhìn các thụ tạo của Ngài chịu đau khổ. Ngài sẽ ra tay kịp thời để bảo vệ chúng ta: “Chúa thành tín trong mọi lời Chúa phán, đầy yêu thương trong mọi việc Người làm. Ai quỵ ngã, Chúa đều nâng dậy, kẻ bị đè nén, Người cho đứng thẳng lên” (Tv 145:13cd-14). Mặc dù giờ của Ngài chưa đến, nhưng lời cầu nguyện chân thành của chúng ta có thể thay đổi số phận, càng hiệu quả hơn nếu chúng ta biết cầu xin Đức Maria. Sự việc đã xảy ra ở tiệc cưới Cana, miền Galilê, là một ví dụ điển hình (x. Ga 2:1-12).
Lời cầu nguyện thành tâm không chỉ có hiệu quả đối với chính mình mà còn đối với người khác – những người chúng ta cầu nguyện cho, đồng thời còn sinh ích lợi cho chính mình: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân” (Thánh Francis Assisi). Thánh Phaolô đã áp dụng cách cầu nguyện “hai chiều” đó: “Lúc nào chúng tôi cũng cầu nguyện cho anh em: xin Thiên Chúa chúng ta làm cho anh em được xứng đáng với ơn gọi, và xin Người dùng quyền năng mà hoàn thành mọi thiện chí của anh em và mọi công việc anh em làm vì lòng tin. Như vậy, danh của Chúa chúng ta là Đức Giêsu sẽ được tôn vinh nơi anh em, và anh em được tôn vinh nơi Người, chiếu theo ân sủng của Thiên Chúa chúng ta và của Chúa Giêsu Kitô” (2 Tx 1:11).
Đức tin sinh ra yêu thương, yêu thương sinh ra hành động, và hành động vì đức tin. Đức tin của chúng ta không mơ hồ, không hão huyền, mà chính xác: “Tin xác loài người ta sẽ sống lại” (Kinh Tin Kính). Vả lại, chính Chúa Giêsu đã phục sinh, điều này giúp chúng ta thêm xác tín.
Thánh Phaolô nói: “Về ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, quang lâm và tập hợp chúng ta về với Người, tôi xin anh em điều này: nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã được thần khí mặc khải, hoặc đã nói, đã viết thư quả quyết rằng ngày của Chúa gần đến thì anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ” (2 Tx 2:1-2). “Ngày ấy” có thật và sẽ xảy ra, nhưng chúng ta không tin những kẻ lợi dụng thời cơ để gây náo động. Tin phải có cơ sở đúng đắn, cần có lý trí lành mạnh. Tin để sống tốt hơn chứ không theo kiểu “phong trào”. Quyết tâm canh tân đời sống luôn là điều cấp bách.
Không ai biết ngày giờ tận thế, và cũng không biết chúng ta có được chứng kiến “ngày ấy” hay không, nhưng chắc chắn ai cũng chứng kiến ngày tận thế của cuộc đời mình: Chết. Vì thế mà luôn phải sẵn sàng – thay đổi và dứt khoát. Đó là quyết tâm vô cùng cần thiết, càng sớm càng tốt!
Trình thuật Lc 19:1-10 cho biết về một nhân vật đặc biệt: trưởng trạm thuế vụ Da-kêu. Ông là người có dáng dấp thấp bé, ngắn ngủn, lùn tịt, nhưng đức tin của ông lại cao vòi vọi. Ông là người thông minh, can đảm, dứt khoát, có quyết định mau mắn và chính xác.
Một hôm, Chúa Giêsu vào thành Giê-ri-khô. Ở đó có một trưởng trạm thuế vụ giàu có là Da-kêu. Nghe người ta nói về Chúa Giêsu, ông tìm cách để xem cho biết Ngài Giêsu là ai, nhưng ông không thể nhìn thấy Chúa Giêsu vì ông lùn quá, trong khi dân chúng chen chúc đông như kiến. Vốn thông minh và nhanh trí, ông chạy tới phía trước và leo lên một cây sung, vì Chúa Giêsu sắp đi qua đó.
Tới chỗ cây sung, Chúa Giêsu nhìn lên và nói: “Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!”. Lạ nhỉ, chưa gặp mà Ngài đã biết tên ông ta là Da-kêu. Có lẽ cũng vì thế mà ông Da-kêu càng tâm phục khẩu phục. Nghe Chúa Giêsu nói vậy, ông vội vàng tụt xuống và mừng rỡ đón rước Ngài. Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!”. Ghen ăn, tức ở, những con người như thế thật là xấu xa. Trong chúng ta cũng vẫn có những con người nhỏ nhen và hèn hạ như thế, có vẻ biết rõ người khác nhưng lại mù lòa về chính mình!
Chúa Giêsu biết người ta xì xầm, bàn ra tán vào, nhưng Ngài không nói gì vì chưa cần thiết, chưa đến lúc. Cũng có thể chính ông Da-kêu cũng biết người ta ghét và nói xấu mình, nhưng ông cứ mặc kệ, việc mình thì mình làm, cứ là chính mình, ai nói sao thì nói.
Hãy quyết tâm điều này: “Đừng bận tâm về những điều người ta nói xấu sau lưng bạn, vì họ là những người chỉ bới móc sai lầm trong đời bạn thay vì lo sửa sai lỗi lầm của chính mình” – kiểu giống như ông Pharisêu tự tôn nên chê trách ông thu thuế (x. Lc 18:9-14). Kể cũng lạ, có những kẻ chuyên gièm pha, ưa thọc gậy bánh xe, khoái ngậm máu phun người, thấy mình không ăn được thì phá cho hôi,… Họ là dạng “siêu nhân” thế nào? Văn sĩ Dale Carnegie (1888-1955, tác giả cuốn “Đắc Nhân Tâm” nổi tiếng) nhận định: “Bất cứ kẻ ngu nào cũng có thể chỉ trích, chê trách và phàn nàn – và phần lớn những kẻ ngu xuẩn đều làm như vậy” (Any fool can criticize, condemn and complain – and most fools do).
Ông Da-kêu đứng đó thưa với Chúa rằng: “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Ông này nhanh trí nên quyết tâm được ngay, nhanh mà chính xác chứ không liều lĩnh hoặc bốc đồng. Đức Giêsu nói về ông Da-kêu: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. Vì Con Người đến để TÌM và CỨU những gì ĐÃ MẤT”. Nghe Chúa Giêsu nói vậy, chắc chắn những kẻ lẻo mép kia vuốt mặt không kịp, đành phải câm họng mà thôi. Biết mắc cở mà sám hối thì tốt, nhưng khốn thay có những kẻ vẫn cố chấp, không phục thiện, chỉ tỏ ra bằng mặt mà không bằng lòng!
Biết mình, biết người mới có thể quyết tâm đúng đắn. Kẻ thù lớn nhất là chính mình, chiến thắng chính mình mới thực sự là dũng cảm. Không mặc kệ lời người ta nói về mình, nhưng đừng sợ vì người ta ghét mình, cần xét xem mình có sai như họ nói hay không để tự chấn chỉnh. Đa số chưa chắc hơn thiểu số. Có một nhận xét rất hay: “Nếu có bất cứ ai làm bạn tổn thương, bạn hãy coi họ như TỜ GIẤY NHÁM. Giấy nhám CHÀ XÁT và làm bạn ĐAU ĐỚN, nhưng bạn sẽ trở nên SÁNG BÓNG, còn họ thành miếng giấy VÔ DỤNG, chỉ BỎ ĐI thôi”.
Trong cuốn “Tự Thuật” (Confessions III, 6, 11), Thánh GM TS Augustinô (354-430) đã chia sẻ kinh nghiệm tâm linh: “Deus intimior intimo meo – Chúa còn thân mật với tôi hơn chính tôi thân mật với tôi”. Cuối cùng chỉ còn Chúa, chính Ngài mới là người mà chúng ta phải sợ, vì Ngài là Đấng “thấu suốt mọi sự” (Sbn 28:9; Gđt 8:14; Et 5:1; 2 Mcb 7:35; 2 Mcb 9:5; 2 Mcb 12:22; 2 Mcb 15:2; G 28:27; Tv 139:2; Cn 16:2; Cn 21:2; Cn 24:12; Kn 1:6; Kn 7:23; Hc 23:19; Hc 42:20; Gr 11:20; Gr 20:12; 1 Cr 12:4-6).
Quyết tâm đúng thì phát ngôn đúng và hành động đúng, quyết tâm sai thì phát ngôn sai và hành động sai. Đó là điều tất yếu. Trong những ngày trung tuần tháng 10-2016, cơn bão dữ Sarika đã làm cho dân miền Trung điêu đứng – đặc biệt là hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh. Trong khi đó, người ta lại cho xả đập để “nhận chìm” dân lành, rồi còn nói rằng làm vậy chỉ tính “đúng quy trình” chứ chưa tính đến hậu quả. Thật tồi tệ!
Có người còn phát ngôn “vô tư” rằng mong cho bão lụt nữa để tẩy rửa chất độc của Formosa thải ra. Không hề có chút yêu thương nào! Chưa hết, khi người ta xót xa đồng bào mà làm từ thiện thì lại bị cấm, chỉ có nhà nước mới có “quyền” đó – tức là để có dịp “chia chác” chăng? Một cán bộ của “trung tâm nghiên cứu phát triển và hỗ trợ cộng đồng” đã tuyên bố bất nhân thế này: “Làm từ thiện là làm mất bản sắc dân tộc”. Khốn thay, vì người ta dám cấm người khác thể hiện lòng yêu thương!
Tiền nhân đã dạy rằng: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Thế nhưng lời dạy này không được người ta coi trọng. Buồn thay, vì còn đâu là tình nhân loại và nghĩa đồng bào! Một danh nhân đã nói: “Chỉ có những ai có lòng yêu thương mới xứng đáng nhận danh hiệu con người”. Thật đúng như vậy!
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con nhận biết chính con và người khác, đặc biệt là xin cho con nhận biết Ngài. Xin giúp con luôn có quyết tâm đúng đắn, dứt khoát và chính xác theo Thánh Ý của Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

 

TN31-C155: TÌM VÀ CỨU

P. Trần Đình Phan Tiến
Kính thưa quý vị,
 

Lời Chúa trong trang Tin Mừng Chúa Nhật cuối tháng Mân Côi hôm nay ( Lc 19, 1-10), xác tín TN31-C155

Lời Chúa trong trang Tin Mừng Chúa Nhật cuối tháng Mân Côi hôm nay ( Lc 19, 1-10), xác tín cho chúng ta một lần nữa, Đức Giêsu- Kitô là : “ Đấng giải thoát ”.
Vậy , ai cần Người “TÌM và CỨU “, tức được giải thoát thì hãy chạy đến với Người, như người thu thuế Giakeu trong Tin Mừng. Vâng, và như vậy, hình ảnh ông Giakeu hôm nay là một tấm gương cho chúng ta, hầu đón nhận được ơn Cứu Độ bởi Thiên Chúa qua Đức Giêsu- Kitô.
Chúa Giêsu khẳng định : Người đến thế gian để TÌM và CỨU những gì đã mất. ( Lc  19, 10). Vậy, điều kiện để được đón nhận “ƠN CỨU ĐỘ” là gì ? thưa, đó là “ Tâm hồn Giakeu ”. Vâng, thật vậy, chúng ta phải có tâm hồn như Giakeu :
Giakeu nhận thức được Lời chúa
Giakeu khao khát Ơn cứu Độ
Giakeu mau mắn đặt trọn niềm tin vào Đấng Cứu Thế
Giakeu thể hiện niềm tin của mình bằng cách đón tiếp Chúa Giêsu.
Giakeu mau mắn đền bù tội lỗi.
Rõ ràng, với những tâm tình ấy của Giakeu, Chúa Giêsu đã nói : “ Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này…”( Lc 19, 9)
Chúng ta thấy, qua đoan Tin Mừng hôm nay, thuật lại biến cố trên đường truyền giàng Tin Mừng Cứu độ, Chúa Giêsu đã đón nhận một tâm hồn như lòng Chúa mong ước: đó là Giakeu, một con người có tài sản, có tất cả, nhưng chưa có Thiên Chúa. Dù người đời gièm pha, nhưng với ơn cứu độ, Chúa Giêsu đã mặc khải cho biết sứ vụ của Người đến trần gian là “TÌM và CỨU “những gì đã mất.
Đến đây, chúng ta hiểu rõ ràng về sứ vụ Thiên Sai của Đấng Cứu Thế là “TÌM và CỨU” những gì đã mất. Vâng, trước khi cứu thì phải đi tìm, tìm thấy và cứu chữa. Tìm thấy lý tưởng của Đấng Cứu Thế trong trang Tin Mừng hôm nay, mà Đức thánh cha Phanxico đã có những lời giáo huấn , về vác chiên lên vai, hay muc tử phải có mùi chiên, hoặc truyền giáo trực tiếp từ Đức Kitô- Giêsu, ra những vùng ngoại vi đến với muôn dân
Vâng, TÌM và CỨU là hai động gói gọn dễ nhớ, nhưng không dễ thực thi, nếu không có ”TRÁI TIM NHÂN TỪ QUẢNG ĐẠI “  của Thiên Chúa là Cha.
Chúa Giêsu, Đấng chăn chiên nhân lành, chính Người đã sống và thực thi. Xác tín một cách minh định nầy là nhân vât Giakeu, tâm hồn ông đã cảm nghiệm, xác tín Lời Chúa Giêsu, mà chúng ta được suy niệm qua trang Tin Mừng hôn nay.
Giakeu, một chứng nhân, đã cảm nghiệm Lời rao giảng của Đấng Cứu Thế, Đấng đã đến vì để “TÌM và CỨU “ những gì đã mất. Trải qua bao thế hệ,. những Giakeu như các vị đại thánh, đến những ai bước theo Đức Kitô đều phải thực thi. Nếu tất cả những ai mang tâm hồn Truyền giáo biết thực thi sứ vụ của Đứcc Kitô là : “TÌM và CỨU “ những gì đã mất, thì thật tuyệt vời
Ý thứ hai: Đức Kitô không đi tìm người công chính, nhưng tìm kiếm kẻ tội lỗi biết sám hối.
Vâng , thưa quý vị bài đọc I hôm nay (Kn 11, 22- 12 , 2) sách Khôn ngoan cho chúng ta hiểu được điều đó, bởi vì, Thiên Chúa là Đấng khôn ngoan, Người thực thi sự khôn ngoan bởi chính Thiên Chúa, để kẻ kiêu ngạo, tự đắc vì mình thánh thiện, sẽ phải cúi đầu thuần phục suy tôn Thiên Chúa. Vì hành động THƯƠNG XÓT của Thiên Chúa chính là : NÂNG CAO MỌI KẺ KHIÊM NHƯỜNG.
Vâng, khiêm nhường chinh là hành động , là thái đội ăn năn, hối lỗi, nhìn nhận thận phận bụi tro, thấp hèn của con người thế nhân, là thụ tạo. Như vậy, tai sao, Chúa Giêsu hành động theo hai động từ “TÌM và CỨU “đó. ? Thưa, bởi vì đó là hành động khôn ngoan của Thiên Chúa.
Qua trang Tin Mừng hôm nay, chúng ta học được bài học bởi Giakêu, là lắng nghe lời Chúa, mau mắn thực thi, và luôn khát khao chân lý. Vì khi thân xác bị thương, ốm đau bệnh tật, thì nhờ đến thầy thuốc để chữa bệnh thân xác. Nhưng , khi linh hồn bệnh tật hoặc bị lầm lạc, thì cần đến ai ? Há, chẳng phải là Đức Kitô – Giêsu hay sao? ! Vì , Người chính là Vị Lương Y của linh hồn.
Cũng vậy, theo đó, Bài đọc II hôm nay, thánh Phaolo trong ( 2 Tx 1, 11- 2, 2) khuyên chúng ta luôn vững tìn vào Đức Kitô, và Giáo Hội luôn cầu nguyện cho chúng ta. Cùng với những mặc khải mà được loan báo về ngày Chúa ngự đến, dù có những dấu lạ, điềm thiêng, chúng ta cũng đừng dao động.
Trở lại ý nghĩa Lời Chúa hôm nay , chúng ta thấy, tại sao, Thiên Chúa muốn tìm kiếm kẻ tội lỗi? Thưa, là bởi vì : “Lòng Thương xót ” của Thiên Chúa phù hợp với sự sám hối của tội nhân. Điều quan trọng là tội nhân phải biết sám hối. Điều nầy là căn nguyên mà Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian. Chúng at thấy,  kẻ tội lỗi chính là những kẻ không nhận biết Thiên Chúa, không có Thiên Chúa, nó chỉ sợ luật pháp trần gian trừng phạt. Nhưng, luật pháp trần gian luôn bị giới hạn, bởi sự hữu hạn của nó. Theo đó, những kẻ cầm quyền bất minh, nghĩ rằng luật pháp ở trong tay nó, thì nó tha hồ thao túng. Mặc nhiên, khi ấy những kẻ nầy hoàn toàn không có Thiên Chúa, nó chỉ dựa vào sự bất minh để hưởng lợi và thăng tiến. Hữu nhiên, ơn cứu độ không đến với nó, nhưng , nếu như nó nhận thức bởi lương tâm và sự thúc đẩy nội tâm , khi có dịp nghe nói đến Thiên Chúa và muốn cải tà quy chánh như Giakeu , thì nó cũng nhận được ơn cứu độ của Đức Kitô.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đến trần gian không phải để kêu mời người công chính, nhưng để kêu gọi kẻ tội lỗi ăn năn. Xin cho những kẻ tội lỗi biết lắng nghe Lời Chúa, nhận thức bởi sự thúc đẩy của Thánh Thần, hầu biết đáp trả chân lý và hưởng nhờ ơn cứu độ của Chúa./. Amen.

 

TN31-C156: GIA-KÊU GẶP CHÚA

Lm Gia-cô-bê Tạ Chúc
 

Một cuộc gặp chẳng hẹn mà hò, hay có thể nói cuộc hội ngộ quá bất ngờ giữa Chúa Giê-su với TN31-C156

Một cuộc gặp chẳng hẹn mà hò, hay có thể nói cuộc hội ngộ quá bất ngờ giữa Chúa Giê-su với viên thuế vụ Gia-kêu. Không biết vô tình hay hữu ý mà Chúa Giê-su đi ngang qua thành Giê-ri-kô, nơi làm việc của ông giàu có Gia-kêu. Từ đây câu chuyện thêm li kỳ và có thể là hiếu kỳ, khi có quá nhiều bất ngờ xảy ra.

Bất ngờ với Gia-kêu
Ông không nghĩ mình sẽ có diễm phúc để gặp được Chúa, khi Ngài đi ngang qua. Vốn là một viên thu thuế mà lại là trùm nữa. Dưới cái nhìn của những người Do Thái. Gia-kêu là người tội lỗi, ông bị mọi người ghét bỏ, lên án và xa lánh. Có lẻ cũng đôi chút mặc cảm, nhưng cũng có khi do hoàn cảnh, công ăn việc làm mà ông đành chấp nhận vậy.  Đã vậy, ông còn có một chiều cao hơi khiêm tốn, trước đám đông đang bủa vây Chúa Giê-su, làm sao có thể nhìn thấy Chúa, nếu không đứng ở một vị thế cao hơn mọi người. Nực cười cái sáng kiến hết sức “ hai lúa” của Gia-kêu. Trèo lên nhành cây sung để nhìn Chúa Giê-su khi Ngài đi ngang qua. Và cũng thật thi vị, Đức Giê-su dừng lại và nhìn lên Gia-kêu. Lúc này đám đông như khựng lại, có lẻ không ai ngờ Chúa Giê-su lại dừng lại cách đột ngột như thế. Xem ra có điều gì đó từ bốn ánh mắt gặp gỡ, và cấu thành dòng điện chạy vào con tim. Lúc này đây, vị thế, cách thức, hay mọi ánh nhìn thành kiến xung quanh, không còn ý nghĩa gì. Đức Giê-su không đi nữa Ngài quyết định dừng lại, và lưu lại nhà của Gia-kêu.

Bất ngờ với những người xung quanh
Một pha cứu thua trông thấy, nếu Chúa Giê-su không đứng lại và mở lời: “Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông !” (Lc 19,5), thì chắc Gia-kêu bẽ mặt vô cùng. Mọi người sẽ được phen ném gạch đá dư luận về ông. Vốn đã xấu thi giờ lại xấu hơn nữa. Nhưng không, Đức Giê-su thấy rõ lòng dạ của con người, và những kiếp người. Điều ngược lại đã xảy ra,  đám đông dân chúng không thể tin vào mắt mình: Đức Giê-su đã bỏ lại đằng sau, 99 con chiên để đi tìm một con chiên lạc. Ngài vào nhà và cùng ăn uống với gia đình ông Gia-kêu. Hôm đó chắc các ông kinh sư, Pha-ri-siêu, luật sỹ…giận Chúa Giê-su lắm, vì quá bất ngờ khi Ngài lưu lại nơi gia đình của một người tội lỗi.

Bất ngờ vì được ơn cứu độ
Như trong một giấc mơ, Gia-kêu đâu dám mơ cao, nhưng nào ai có thể biết được, ơn cứu độ đã được mang đến cho ông : “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”. Một ngày hồng phúc cho Gia-kêu, chắc ông đã nở một nụ cười viên mãn, sau bao nhiêu năm tháng đợi chờ, và “ Hôm nay”, một từ ngữ hết sức quen thuộc trong Kinh Thánh lại thuộc trọn về viên thu thuế Gia-kêu.
Tìm thì sẽ gặp, gõ thì sẽ mở cho, trong cuộc sống hằng ngày, xin cho mỗi chúng con biết đi tìm Chúa, qua ơn gọi mà Chúa ban cho từng người. Đối với Chúa, chúng con là vô giá, duy nhất và không thể thay thế. Chúa luôn đi tìm chúng con, xin cho lòng chúng con khắc khoải cho tới khi được an nghỉ trong Chúa. Amen.

 

TN31-C157: GẶP GỠ VÀ BIẾN ĐỔI

Lm. Trịnh Ngọc Danh
 

Điệp khúc trong ca khúc ‘ Gặp Gỡ Đức Kitô’, Lm nhạc sĩ Tiến Lộc đã cảm nhận: “ Gặp gỡ Đức TN31-C157

Điệp khúc trong ca khúc ‘ Gặp Gỡ Đức Kitô’, Lm nhạc sĩ Tiến Lộc đã cảm nhận: “ Gặp gỡ Đức Ki tô, biến đổi cuộc đời mình. Gặp gỡ Đức Kitô, đón nhận ơn tái sinh Gặp gỡ Đức Kitô, chân thành mình gặp mình, Gặp gỡ Đức Kitô, nẩy sinh tình đệ huynh.” Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và ông Giakêu hôm nay biểu lộ những tâm tình qua điệp khúc ấy.
Trước tiên, ông Giakêu là ai? Ông là người đứng đầu những người thu thuế. Ông  giàu có. Nhưng đối với dân chúng ông là một người tội lỗi, vì ông là người tiếp tay với đế quốc Lamã để bóc lột người ghèo và có thể ông trở nên giàu có vì những việc bất chính trong nghề nghiệp của ông. Nhưng trong địa vị xa hoa, giàu sang ấy, hình như ông vẫn chưa thỏa mãn với chính mình. Tự nơi thâm sâu của lòng mình, ông vẫn cảm thấy có một sự trống vắng. Người ta lánh xa thù ghét ông như một phường  tội lỗi.  Ông nghe dân chúng nói nhiều về ông Giêsu nào đó có quyền lực làm được những việc lạ như cho kẻ chết sống lại, chữa nhiều tật bệnh mà các thầy thuốc đều bó tay… Thế rồi một lần nghe nói ông Giêsu sẽ đi qua thành phố Giêri khô, ông quyết định phải xem cho được nhân vật nổi tiếng ấy.
Ông Giakêu âm thầm trong đám đông để tìm gặp Chúa. ông không dám xuất đầu lộ  diện trước quần chúng, hơn nữa ông lại lùn; đám đông sẽ che khuất tầm nhìn của ông. Khi thấy Chúa sắp đi qua, ông liền chạy đến phía trước, leo lên một cây sung. Có thể ông tìm biết Chúa vì tò mò, nhưng từ sự tò mò ấy, ông đã nhận được ơn hoán cải cuộc đời.
Ông đi tìm biết Chúa, nhưng Chúa lại là người đi bước trước. Chúa đã xóa bỏ ranh giới giữa người tội lỗi và người công chính. Dù chưa một lần quen biết, nhưng Ngài đã biết tên ông; và giữa đám đông đang bao quanh, dù ông leo lên cành cây cao, Ngài vẫn thấy ông, đã gọi đúng tên ông và còn gợi ý với ông: “ Hôm nay tôi sẽ ghé nhà ông.” Làm sao một Đấng thánh thiện lại bất kể dư luận để ghé đến nhà một người mà ai cũng cho là tội lỗi, đáng khinh bỉ như thế! Ông vội vàng tụt xuống và mừng rỡ đón rước Ngài. Còn đám đông lại xầm xì : “ Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!” Chúa thì xóa bỏ ranh giới giữa người tội lỗi, còn dân chúng lại phân cách với người tội lỗi! Ông mau chóng nhận ra Đấng ấy không phải là một người xa lạ, nhưng là một Đấng gần gũi, khoan dung. Qua việc ghé thăm nhà ông, ông đã đón nhận được ơn cứu độ, được trở thành con cháu Ápraham. Ông đã quyết định chia phân nửa gia tài cho người nghèo và đền bù gấp bốn lần cho những ai ông đã làm thiệt hại. Làm sao một người thu thuế bị mang ta mang tiếng như thế mà trong chốc lát đã có những hành động cách mạng đổi đời. Tiền bạc,  địa vị gây cho ông tội lỗi, thì ông lại lấy chính kết quả ấy mà đền bù tội lỗi của ông. Tất cả cũng phát xuất từ lòng thương xót và bao dung của Thiên Chúa. Ông đã nhận ra ân huệ ấy. Giữa ông và Đấng Giêsu không còn gì ngăn cách. Ông tìm và ông đã gặp Thiên Chúa qua lòng yêu thương và khoan dung của Ngài.
“Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra, vì giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên.” (Kn 11:24) “ Vì thế, những ai sa ngã, Chúa sửa dạy từ từ. Chúa cảnh cáo họ, nhắc cho họ nhớ họ đã phạm tội gì để họ bỏ điều ác mà tin vào Chúa.”( Kn 12:2). Đáp lại khát vọng muốn tìm gặp Chúa, Chúa đã đi bước trước để đến với ông. Cuộc gặp gỡ Đức Kitô đã mau chóng biến đổi cuộc đời ông qua cái nhìn yêu thương, tha thứ và khoan dung của Thiên Chúa.
Là những người Kitô hữu, chúng ta cũng đã gặp Chúa, nhưng chúng ta đã biến đổi hay vẫn cứ sống theo nếp sống cũ như người chưa gặp Ngài! Cuộc gặp gỡ Chúa đã làm biến đổi cuộc đời ông Giakêu. Ông đã đón nhận ơn tái sinh và từ đó ông đã nẩy sinh đệ huynh. Còn chúng ta thì sao?

 

TN31-C158: TÌNH YÊU ĐẾN

Lm. Jos. DĐH.
 

Đôi mắt, trái tim, sẽ phản ứng rất nhanh nhạy, khi chúng lên tiếng yêu thương, ví như các nhạc TN31-C158

Đôi mắt, trái tim, sẽ phản ứng rất nhanh nhạy, khi chúng lên tiếng yêu thương, ví như các nhạc sĩ biết hòa trộn lời ca vào âm giai mùi mẫm : đôi mắt em là cửa ngõ tâm hồn ; và con tim đã vui trở lại. Tình yêu đến, có thật là làm cho “mắt sáng” và “tim rung” lên vì sung sướng không ? Ở đây tình yêu nơi “chú lùn”, Đức Giêsu và cả số đông hôm xưa hôm nay, đều ngỡ ngàng bởi lời nói và hành động của ông. Chúng ta đôi lúc vẫn lẫn lộn giữa tình ái và tình yêu, thực ra, tình đời hay tình người cũng dễ biến ta nên dại khờ, lãng mạn, trước tình yêu thật đang lý giải tâm trạng nơi tâm hồn ta.
Cách tiếp cận khá ngộ nghĩnh về “chữ tình” được tỏ bày nơi chú lùn tên Giakêu, Đức Giêsu đã lấy tình yêu để đáp đền cho hành động rất “trẻ con” của ông. Khi đến nơi, Chúa Giêsu nói : “Này Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải lưu lại nhà ông !” Nét độc đáo giữa hai người yêu nhau, họ hiểu, họ nhận biết việc phải làm qua ánh mắt, sự rung động của trái tim, không cần phải dùng đến ngôn ngữ hoa mỹ nào cả. Tục ngữ có câu : xanh vỏ đỏ lòng. Đức Giêsu mời gọi đám đông chúng ta, hãy cùng Ngài nhìn Giakêu bằng ánh mắt nhân từ, yêu thương, đừng nhìn ông là tên thu thuế tội lỗi gian tham, bớt xén hại dân…
Tình yêu đến, tình yêu làm thay đổi hình ảnh Giakêu người thu thuế, tình yêu nơi ông trở nên dại khờ, xứng tầm với hình ảnh mới : xem mặt đặt tên. Tình yêu đến, tình yêu không thể im lặng khi người ta nhận mà quên cho đi, tình yêu thật biến đổi ông Giakêu trưởng thành trong đức tin và đức ái. “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản tôi, tôi xin chia cho người nghèo, và nếu tôi chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Tình yêu đến nơi người thu thuế, sẽ không còn là “rung rinh”, với ý nghĩ làm cho két sắt to lớn hay thu tích thêm tiền tài. Chữ tình ở Giakêu sẽ thơm và mùi bền vững hơn từ sâu thẳm tâm hồn, được ông xem là trách nhiệm, là công bằng.
Tình yêu thật không có ranh giới giầu nghèo, không “loáng thoáng” bởi vẻ đẹp hay tính hào phóng bề ngoài ; tình yêu thật không cần thỏa thuận hay điều kiện, mà là cho đi, là chia sẻ. Chúa Giêsu không đến để kêu gọi người thánh thiện đạo đức, Chúa không đến vì người giầu có địa vị, cũng không đến vì ông Giakêu thấp bé, Ngài đến ban “tình yêu cứu độ” cho muôn dân. Cuộc gặp đầy tình yêu thương giữa Đức Giêsu và cuộc hoàn lương trở lại nơi ông Giakêu sẽ còn là giai điệu rung động mọi thời, các bạn đừng lầm tưởng cứ trái đỏ là chín, cứ trái thơm đều là quả mít.
Tiền đến, thần tài đến, tình yêu đến, đều mang chung một ý là vận may đang tới, Đức Giêsu có vô tình đi ngang qua chỗ Giakêu hay không, nếu nghi ngờ, hãy hỏi các nhà chuyên môn. Nơi Giakêu, tự câu truyện đã cho biết ông rất muốn được nhìn xem Thầy Giêsu, vì sợ không nhìn được Thầy, ông đã chủ ý trèo lên cây sung với hy vọng nhìn thấy rõ. Lộ trình Đức Giêsu đi không hề mờ ảo trước đám đông dân chúng, nhưng với Giakêu, cường độ bất ngờ mỗi lúc một tăng dần, từ ánh mắt Chúa dõi nhìn, đến việc gọi tên, và tỏ ý ở lại nhà ông.
Thực hư của quan niệm : nhất lé nhì lùn, mẫu người bị tiếng là xấu người xấu nết, dịch nghĩa rộng hơn, không thể tìm ra người hiền tài trong số “bần nông”, khó thấy người tốt nơi hình ảnh khó coi. Ca dao cũng có câu đáng để ta bớt hồ đồ : tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người. Người thấp bé không thẩm mỹ, không áp đặt được “đại chúng”, nhưng chú lùn Giakêu đã minh chứng ông không tầm thường, không thể để cái đẹp hình thức đè bẹp nét đẹp tâm hồn của ông. Tình đến, tình đi, hay tình ở lại, tùy tự do của mỗi người. Tình yêu đến với Giakêu, ông đã trân trọng đón nhận, cộng tác và làm cho Tình Giêsu thực sự biến đổi ông nên người toàn diện trong công bằng của đức ái.
Nếu đặt câu hỏi, vì cớ gì Thầy Giêsu đến đồng bàn với người thu thuế, ta sẽ có câu trả lời của Thầy : vì Ta mang tình yêu đến thế gian để cứu chữa những gì đã hư mất. Nếu hỏi Giakêu, ông “tỉnh hay say đó”, cớ sao ông hào phóng đến độ bỏ phân nửa tài sản, bỏ nghề, chỉ vì một lần gặp Vị Thầy Giêsu ? Nếu được trả lời, ông sẽ trả lời ngắn gọn súc tích : bỏ tiền của chưa là gì đâu, tôi còn muốn bỏ mình vì tình yêu Ngài mang tới cho tôi. Vì gặp Ngài tôi sung sướng như thể Rồng đến nhà tôm, như tôi đang sắp chết chìm trong “biển trần” gặp được “phao cứu hộ”. Các bạn hãy mang tình yêu của mình đến với Ngài, các bạn cũng sẽ có cảm nghiệm về tình yêu của Đấng cứu độ, các bạn sẽ vui sướng hạnh phúc và từ bỏ như tôi. Amen.

 

TN31-C159: ĐÓN NHẬN LÒNG XÓT THƯƠNG

 Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
 

Trong những tuần vừa qua, cả nước hướng về miền Trung để chia sẻ với đồng bào những khốn khó TN31-C159

Trong những tuần vừa qua, cả nước hướng về miền Trung để chia sẻ với đồng bào những khốn khó do nhân tai và thiên tai gây ra khiến cho hàng chục ngàn người bị ngập lụt, đói khát. Nhờ các trang mạng xã hội, chúng ta có thể thấy, người dân Việt Nam có một tấm lòng hết sức quảng đại, sẵn sàng chia sẻ với đồng bào ruột thịt. Một anh chàng MC Phan Anh kêu gọi trên facebook chỉ một ngày mà số tiền mọi người nhờ anh chuyển ra miền Trung đã gần 20 tỉ. Còn rất nhiều các cá nhân, tổ chức tư nhân khác nữa cũng đem những nhu yếu phẩm ra cho đồng bào. Những thông tin ấy cho thấy tấm lòng quảng đại chạnh thương của rất nhiều người. Ngược lại cũng có những người đã ăn chặn những đồng tiền đóng góp đó. Một số cán bộ tìm cách cho con cháu, người nhà của mình được nhận quà, còn người nghèo thực sự thì không được, hoặc bị ăn chặn dưới nhiều hình thức. Hành động này cho thấy sự gian dối, vô cảm và ác tâm của những người có trách nhiệm.
Ông Giakêu ngày xưa, dù là một quan chức chính quyền giàu có, là đội trưởng đội thu thuế, nhưng trong cộng đồng Do Thái, ông đã bị coi thường, bị tẩy chay, loại trừ. Ông bị coi là hạng tội lỗi, bởi vì ông thường xuyên tiếp xúc với dân ngoại, đã gian tham để trở nên giàu có. Ông bị khinh coi như những kẻ tham ô phản quốc.
Dù trong mắt người Do Thái, ông là kẻ tội lỗi, nhưng ông lại có một tâm hồn rất đẹp và thiện chí. Ông chỉ nghe đồn về thầy Giêsu nhưng chưa có dịp gặp Ngài. Hôm nay có cơ hội, thầy Giêsu đi ngang qua, không phải vì tò mò cho bằng ông đã nuôi trong lòng sự khát khao tìm kiếm Ngài, ông đã quyết định xem cho biết Đức Giêsu là ai. Lọt trong một đám rất đông, lại vì thấp bé, ông không mặc cảm tự ti hay tự ái, ông quyết định trèo lên cây sung bên đường để xem Đức Giêsu sắp đi ngang qua.
Trong lúc mọi người không quan tâm đến sự hiện diện của ông, thì Chúa Giêsu đã nhìn thấy ông. Ánh mắt của lòng xót thương đã chạm đến tâm hồn Giakêu. Ngài thấu suốt thiện chí thành tâm của ông, Ngài gọi ông: Giakêu, hãy xuống mau, vì hôm nay, tôi phải ở lại nhà ông. Chúa Giêsu đã đáp ứng hơn cả sự khát mong của Giakêu. Ngài không chỉ nhìn và gọi tên ông, nhưng Ngài còn muốn bước vào nhà ông và ở lại đó.
Thánh Luca cho thấy, lòng xót thương của Chúa Giêu như dòng suối tuôn trào, đã gặp được một mảnh đất khô cằn nứt nẻ đang khát khao dòng nước. Dòng nước đem lại sự tươi mát, hồi sinh cho mảnh đất và còn làm cho mảnh đất trở nên màu mỡ và trổ sinh hoa thơm trái ngọt. Giakêu đã mở lòng để Chúa Giêsu bước vào tâm hồn khô cằn của ông và biến đổi ông. Không quan tâm đến những lời xì xèo của đám đông, Giakêu như một mảnh đất đã hồi sinh, ông đã được biến đổi hoàn toàn nhờ tình thương Chúa dành cho ông.
Trước đây làm nghề thu thuế, Giakêu chỉ biết vơ vét về cho mình ; trước đây chưa biết Chúa, ông hành xử gian tham dối trá để được lợi ; trước đây cuộc đời ông, tâm hồn ông khép kín bởi chức vị, tiền bạc, của cải, nay khi đón nhận lòng thương xót của Chúa, ông đã được biến đổi, đã mở lòng mình, đã để cho tình yêu tuôn chảy đến người khác. Ông đứng lên công khai thưa với Chúa Giêsu: Thưa Ngài, tôi xin lấy phân nửa gia sản tôi có để phân chia cho người nghèo; nếu tôi chiếm đoạt của ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn. Với hành động này, ông đã khai thông được sự bế tắc trong tâm hồn, khai thông được ao tù ích kỷ đã tích tụ lâu ngày trong cuộc đời ông. Từ nay, tâm hồn ông như một dòng chảy, đón nhận nguồn nước tình thương từ nơi Thiên Chúa, và để qua ông, dòng chảy tiếp tục lan tràn tình thương đến với người khác, đặc biệt là những người nghèo và những người bị thiệt hại.
Chúa Giêsu đã thấy thiện chí của ông, đã biến đổi ông, Ngài cũng không chịu thua lòng quảng đại của ông. Chúa Giêsu đã tuyên bố: Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Apbraham, vì Con Người đến để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư mất. Với lời tuyên bố này, Chúa Giêsu cho thấy ơn cứu độ Ngài đem đến, hôm nay, đã khởi đầu và đã sinh hiệu quả cho Giakêu và gia đình ông. Sự khởi đầu này bắt đầu từ những con người bị coi là tội lỗi, bị loại trừ khinh miệt, nhưng lại có một tâm hồn rộng mở, đã tin và đón nhận sứ điệp của Chúa Giêsu, đã chấp nhận để cho lời Chúa biến đổi nên những con người mới.
Do sự trợ giúp của Thiên Chúa, ông Giakêu đã bước được một bước dài trong đức tin, ông đã tin thầy Giêsu là Thiên Chúa và là Đấng Cứu độ. Ông tin rằng, khi ông đón Chúa vào tâm hồn và vào gia đình ông là ông có tất cả. Trước đây, ông tìm niềm vui trong công việc, ông cậy dựa vào tiền bạc và địa vị, nay biết Chúa Giêsu và tin Ngài, những thứ kia chẳng còn giá trị gì nữa, ông không giữ lại cho mình, nhưng cho đi tất cả để được Đức Kitô và ơn cứu độ của Người. Chúa Giêsu còn khẳng định: Bởi người này cũng là con cháu Apbraham. Chúa Giêsu muốn cho những người Do Thái khác thấy rằng, họ tự hào là dòng dõi Apbraham, nhưng họ đã không có đức tin như tổ phụ Apraham, không dám bước theo lời mời gọi của Thiên Chúa như Apbraham. Trái lại, ông Giakêu bị mọi người loại trừ, nhưng Giakêu lại tin vào Thiên Chúa, dám từ bỏ quyền lực địa vị và tiền bạc vì tin vào Chúa Giêsu, như thế, Giakêu mới xứng đáng là con cháu Apbraham.
Thiên Chúa không bao giờ chịu thua lòng quảng đại của con người. Lòng thương xót của Chúa không bao giờ bị giới hạn bởi bất cứ sự cản trở nào. Lòng thương xót của Chúa tuôn trào như sương mai rơi trên mặt đất; Ngài không tìm cách hủy diệt con người, cho dù tội của con người có tràn lan thì lòng thương xót của Thiên Chúa như biển cả nhấn chìm tất cả mọi loài mọi vật trong đại dương yêu thương của Ngài. Sách Khôn Ngoan đã khẳng định như thế. Tác giả còn lý luận rằng: Thiên Chúa yêu thương mọi vật mọi loài, không bao giờ chê bỏ nó, vì nếu Chúa không yêu thương nó, thì Ngài đã chẳng dựng nên nó làm chi.
Ánh mắt cảm thông và trái tim chạnh thương của Thiên Chúa đã đụng chạm đến tâm hồn của Giakêu cũng đang dành cho chúng ta. Cái nhìn của Thiên Chúa không bao giờ là cái nhìn thất vọng, nhưng là cái nhìn khích lệ và nâng đỡ, mời gọi chúng ta chỗi dậy đón Người vào nhà và vào tâm hồn mình. Chúa cũng ngỏ lời với mỗi người như Chúa đã nói với Giakêu : Hôm nay, Ta muốn cư ngụ tại nhà con.
Vì thế, hãy sẵn sàng vượt qua tất cả các mặc cảm tội lỗi và những trở ngại là những lười biếng ngại ngùng để mỗi người vui mừng đón Chúa bước vào tâm hồn qua Bí tích Thánh Thể và Thánh lễ mỗi ngày. Có Chúa trong tâm hồn, chúng ta sẽ tìm lại được bình an và niềm vui thật sự. Khi có niềm vui và bình an của Chúa trong tâm hồn, chúng ta sẽ không còn những bực bội, nóng nảy, cãi vã nữa, nhưng sẽ sống trong niềm vui, cư xử vui tươi và là người đem niềm vui đến cho người khác. Có Chúa bước vào tâm hồn, giống như Giakêu, chúng ta sẽ không tìm kiếm lợi lộc của thế gian, không thu vén về cho mình, không còn chỉ nghĩ đến bản thân, nhưng biết nghĩ đến, quan tâm đến và chia sẻ cho người khác những gì Chúa đã ban cho mình. Có Chúa trong tâm hồn, chúng ta sẽ không còn khép kín trong ích kỷ và cái tôi tự mãn, nhưng biết mở lòng ra với anh em để cảm thông và yêu thương.
Hôm nay, tôi muốn cư ngụ tại nhà ông – Chúa đang muốn vào cư ngụ và dùng bữa với mỗi gia đình chúng ta. Hãy mở rộng cửa nhà để mời Chúa bước vào và dành cho Chúa sự tiếp đón chân thành. Mỗi gia đình hãy dành cho Chúa một vị trí trong bàn ăn và trong sinh hoạt của gia đình, làm cho bữa cơm gia đình đậm đà hơn. Hãy cùng trò chuyện, tâm sự với Chúa mỗi  ngày qua các giờ kinh, dù đó là một ngày thành công hay một ngày thất bại. Hãy trao đổi với Chúa về những toan tính, dự định của gia đình và tâm sự với Chúa về những vướng mắc, khó khăn của gia đình. Chúa sẽ giải gỡ những khó khăn cho chúng ta.
Tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa, noi gương ông Giakêu, hãy mạnh dạn vứt bỏ khỏi gia đình những nóng nảy cãi vã, sự tham tiền tham việc để có nhiều giờ dành cho Chúa và cho nhau hơn, giúp gia đình mỗi ngày nên tốt hơn, ấm cúng, thuận hòa, hạnh phúc hơn. Amen.

 

TN31-C160: ÁNH MẮT XÓT THƯƠNG

JM. Lam Thy
 

Cách đây 2.000 năm, Do-thái bị đế quốc La-mã đô hộ. Chính quyền La-mã lúc đó đòi hỏi mỗi TN31-C160

Cách đây 2.000 năm, Do-thái bị đế quốc La-mã đô hộ. Chính quyền La-mã lúc đó đòi hỏi mỗi vùng thuộc địa phải đóng một số thuế đã được định trước, và họ cho bán đấu giá quyền thu thuế trong mỗi vùng. Người mua có thể thu thuế từ dân chúng bao nhiêu tùy ý, miễn là đóng lại cho chính quyền La-mã đủ số tiền đã định trước. Dân chúng bị những người thu thuế bóc lột một cách thẳng tay, rút tỉa đến tối đa, để bỏ vào túi riêng của mình. Người thu thuế là những người làm giàu trên xương máu đồng bào mình, vì thế, họ bị coi là hàng ngũ tội lỗi không thể tha thứ được, là người bị khinh bỉ nhất trong xã hội Do-thái lúc đó. Ông Da-kêu là một người như thế và còn hơn thế nữa, là một đầu sỏ của nhóm người tội lỗi này: ông là Trưởng ban Thuế vụ tại Giê-ri-khô. Có lẽ chính ông Da-kêu cũng nhận ra điều này; đàng khác, chắc chắn ông cũng nghe nhiều người kể lại danh tánh một người tên là Giê-su ở làng quê Na-da-rét, tự xưng là Con Thiên Chúa, đã làm nhiều phép lạ chữa bệnh cho nhiều người, và một điều đặc biệt là ông Giê-su ấy chỉ chuyên đến với những người nghèo hèn, tội lỗi, tù rạc, bệnh hoạn. Vì thế, Da-kêu muốn tìm cách gặp để xem ông Giê-su là người như thế nào và có thực đúng như những lời đồn đại hay không.
Cơ hội đã tới, khi biết người mình muốn tìm sắp đi ngang qua thành Giê-ri-khô, Da-kêu liền chen vào đám đông thực hiện ý định, chỉ hơi tiếc một điều là dân chúng chen chúc quanh Đức Ki-tô thì quá đông, mà ông lại quá… lùn. Nhưng ông quyết không bỏ lỡ cơ hội, bèn tìm cách leo lên cây cao để nhìn cho rõ, và đó chính là một sáng kiến xuất phát từ lòng ao ước muốn đạt mục đích. Cũng chính từ lòng ao ước ấy mà ông được toại nguyện còn hơn cả sự mong muốn của mình. Đức Giê-su không chỉ đi ngang cho Da-kêu nhìn thấy, mà Người còn gọi đích danh ông và hứa vào tận nhà ông (“Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” – Lc 19, 5). Quả đúng như lời đồn đại về Đức Giê-su, không những thế, Người còn thực hiện đúng những gì Người đã dạy (“Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho.” – Mt 7, 7).
Tất cả những sự kiện xảy ra nhãn tiền đã khiến ông Da-kêu, từ một người mới chỉ nghe danh và tò mò muốn biết Đức Ki-tô là ai và là người như thế nào, đã trở thành một người vững tin và quyết tâm sám hối, sửa chữa lỗi lầm của mình (“Thưa Ngài, đây là phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” – Lc 19, 8). Hành động ấy đã khiến Đức Giê-su xúc động và nói về ông Da-kêu thế này: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.” (Lc 19, 9-10). Lời dạy này mang ý nghĩa gì ?
Có 2 điều cần suy gẫm: Thứ nhất, ông Da-kêu là con cháu tổ phụ Ap-ra-ham, mà tổ phụ Ap-ra-ham là con cái Thiên Chúa, nên ông Da-lêu cũng là con cái Thiên Chúa. Đã là con cái Thiên Chúa thì tất cả đều bình đẳng trong ân nghĩa Chúa, hay nói khác hơn, đã là con cái Thiên Chúa thì tất cả đều được cứu độ, dù cho có bị lạc đường vì tội lỗi thế nào mặc lòng (xc “Con chiên lạc” – Mt 18,12-14) bởi Chúa đã khẳng định chắc nịch: “Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19, 8). Tuy nhiên, những con chiên bị lạc đường vì tội lỗi ấy khi được Chúa tìm và vui vẻ vác trên vai trở về, liệu có thực lòng muốn trở về đường ngay nẻo chính hay không? Và đó chính là điểm cần suy gẫm thứ hai: Ông Da-kêu khi được gặp Chúa, được Chúa lại thăm tận nhà, ông đã sáng mắt sáng lòng hiểu ra con người thực của mình chứa đầy tội lỗi nhuốc nhơ, hiểu được chính Con Người mà ông tò mò muốn biết là Thiên Chúa, Đấng cứu độ trần gian, nên ông đã thực lòng ăn năn sám hối và đã được cứu độ. Tất cả gói ghém trong Ánh mắt xót thương của Đấng giàu lòng thương xót.
Đó là ánh mắt biểu lộ sự quan tâm đặc biệt: Da-kêu thật thấp bé, nên ông phải leo lên cây sung để nhìn Chúa. Và thật lạ lung, giữa đám đông người chen chúc, dù Da-kêu thấp bé, Chúa vẫn nhìn thấy ông, lại còn biết rõ tên ông. Điều đó chứng tỏ Chúa quan tâm tới Da-kêu, chắc chắn sẽ làm ông cảm thấy ấm lòng vì ánh mắt quan tâm của Chúa. Đó là ánh mắt khiêm nhường: Cảnh Chúa ngước lên nhìn Da-kêu, thật là một cảnh tượng phi thường. Người có tầm vóc cao lớn phải ngước nhìn lên người thấp bé. Thiên Chúa phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được phàm nhân. Đấng vô cùng thánh thiện phải ngước mắt nhìn lên mới gặp kẻ tội lỗi tầy trời. Đấng tha tội phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được kẻ cần được thứ tha. Da-kêu chắc chắn phải choáng ngợp vì ánh mắt khiêm nhường của Chúa.
Chúa Giê-su còn nhìn Da-kêu bằng ánh mắt tin tưởng. Tin tưởng Da-kêu sẽ nên người tốt, sẽ làm lại cuộc đời, nên Chúa đã nhìn ông bằng ánh mắt thứ tha, quên đi quá khứ tội  lỗi của ông, mà hướng về tương lai tốt đẹp. Tất cả sẽ không thể giải thích được nếu không có tình yêu. Chúa quan tâm tới Da-kêu vì Chúa yêu thương ông, như người mục tử tốt lành đi tìm con chiên lạc. Chúa khiêm nhường vì Chúa yêu thương ông, như người cha cõng con trên vai. Chúa tha thứ vì Chúa yêu thương ông, như người cha sẵn sàng chờ đón đứa con hoang đàng. Nói cách cụ thể thì đó chính là Ánh Mắt Xót Thương của Đức Giê-su – hiện thân Lòng Chúa Thương Xót.
Suy niệm bài Tin Mừng hôm nay (CN XXXI/TN-C), người tín hữu thấy rõ được 2 ánh mắt xuất phát từ 2 phía: Ánh mắt của Da-kêu là ánh mắt tin tưởng, phó thác đã “dán chặt vào Chúa Giê-su”. Đối lại với ánh mắt Da-kêu là ánh mắt Đức Giê-su nhìn thấu tâm can Da-kêu nên đã chủ động tìm ông vì Người không muốn ông sống mãi trong tình trạng tội lỗi; đó là ánh mắt nhân từ thương xót. Vâng, chính “Ánh mắt yêu thương của Chúa đã cứu Da-kêu và Mat-thêu khỏi vòng nô lệ tiền bạc; đã giúp người đàn bà ngoại tình và Ma-đa-lê-na không còn kiếm tìm hạnh phúc nơi thụ tạo; đã khiến Phê-rô khóc lóc vì trót phản bội Chúa, và đã hứa Thiên Đàng cho người trộm cướp có lòng ăn năn.” (Kinh Năm Thánh Lòng Thương Xót). Quả thật “Với đôi mắt của chúng ta dán chặt vào Chúa Giê-su và ánh mắt xót thương của Ngài, chúng ta cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh. Sứ vụ của Chúa Giê-su được Chúa Cha trao phó là mạc khải mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa trong sự viên mãn của tình yêu ấy. “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4, 8.16).” (Tông chiếu Dung Mạo Lòng Thương Xót “Misericordiae Vultus”, số 8).
Như vậy là đã rõ, Lòng Thương Xót Chúa tuôn đổ tràn đầy, không phân biệt nội ngoại, giàu nghèo, sang hèn. Vấn đề đặt ra là anh có nhận ra và phân biệt được đâu là thật và đâu là giả giữa cõi đời chân giả khôn phân này hay không mà thôi. Và khi đã phân biệt được chân giả, thì biết tìm đến chân lý với tất cả lòng tin, với tất cả thiện chí. Chỉ đến khi đó, Thiên Chúa sẽ “…dùng quyền năng mà hoàn thành mọi thiện chí của anh em và mọi công việc anh em làm vì lòng tin” (2Tx 1, 11). Chắc chắn sẽ có một cuộc đổi đời xảy đến với anh cũng như đã xảy đến với ông Da-kêu thủa xưa. Cũng bởi vì “danh của Chúa chúng ta là Đức Giê-su, sẽ được tôn vinh nơi anh em, và anh em được tôn vinh nơi Người, chiếu theo ân sủng của Thiên Chúa chúng ta và của Chúa Giê-su Ki-tô.” (2Tx 1, 1). Ước được như vậy. Xin cùng dâng lời cầu nguyện:
Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa đã dạy chúng con phải thương xót như Cha trên trời, và cho chúng con biết: ai thấy Chúa là thấy Chúa Cha. Xin tỏ cho chúng con thấy nhan thánh Chúa và chúng con sẽ được cứu thoát. Ánh mắt yêu thương của Chúa đã cứu Da-kêu và Mat-thêu khỏi vòng nô lệ tiền bạc; đã giúp người đàn bà ngoại tình và Ma-đa-lê-na không còn kiếm tìm hạnh phúc nơi thụ tạo; đã khiến Phê-rô khóc lóc vì trót phản bội Chúa, và đã hứa Thiên Đàng cho người trộm cướp có lòng ăn năn. Xin cho chúng con biết lắng nghe, như chính Chúa đang gửi đến mỗi người chúng con, những lời Chúa đã nói với người phụ nữ Samaria: “Nếu chị biết nhận ra ơn Chúa!”
Chúa là gương mặt hữu hình của Chúa Cha vô hình, gương mặt của Thiên Chúa đang đem lòng xót thương và tha thứ mà biểu lộ uy quyền trên mọi sự: xin cho Hội Thánh được nên gương mặt hữu hình của Chúa nơi trần gian, gương mặt của Chúa sống lại hiển vinh. Chúa đã muốn các thừa tác viên của Chúa cũng phải khoác lên người sự yếu đuối để biết đồng cảm với những người đang sống trong u mê và lầm lạc: xin cho mọi người đến với các thừa tác viên đều thấy mình được Thiên Chúa tìm kiếm, yêu thương và tha thứ.
Xin Chúa gửi Thánh Thần đến và xức dầu thánh hiến mỗi người chúng con, để Năm Thánh Lòng Thương Xót này trở thành năm được Chúa ban ân sủng, để Hội Thánh Chúa được thêm lòng nhiệt thành mang Tin Mừng đến với người nghèo, loan báo tự do cho những người bị giam cầm và áp bức, và cho người mù lại được nhìn thấy. Nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria, Mẹ của Lòng Thương Xót, chúng con nguyện xin Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, đến muôn thuở muôn đời. Amen. (Kinh Năm Thánh Lòng Thương Xót)

 

TN31-C161: SỨC MẠNH HOÁN CẢI CỦA TÌNH THƯƠNG

Lm. Đan Vinh
I.  HỌC LỜI CHÚA
TIN MỪNG: Lc 19,1-10
(1) Sau khi vào Giê-ri-khô, Đức Giêsu đi ngang qua thành phố ấy. (2) Và kìa, có một người tên là Da-kêu. Ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có. (3) Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông lại lùn. (4) Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu, vì Người sắp đi qua đó. (5) Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: “Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”. (6) Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người. (7) Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ !” (8) Còn ông Da-kêu thì đứng mà thưa với Chúa rằng: “Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo. Và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. (9) Đức Giêsu nói với ông ta rằng: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu Tổ phụ Áp-ra-ham. (10) Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”.

Ý CHÍNH:
 

Bài Tin mừng hôm nay nhằm chứng minh Đưc Giêsu là Đấng Thiên Sai, với sứ mệnh “tìm và TN31-C161

Bài Tin mừng hôm nay nhằm chứng minh Đưc Giêsu là Đấng Thiên Sai, với sứ mệnh “tìm và cứu chữa những gì đã hư mất”. Cụ thể là ông Da-kêu thủ lãnh các người thu thuế ở Giê-ri-khô, nhờ gặp được Đức Giêsu nên đã được ơn hoán cải. Do thành tâm đi tìm, nên ông đã gặp được Người và được Người ưu ái đến ở trọ tại nhà ông. Trước tình thương của Đức Giêsu, ông đã quyết tâm hoán cải, thể hiện qua việc tình nguyện quảng đại chia phân nửa gia sản phân phát cho người nghèo và sẵn sàng đền bù cho những người đã bị ông làm thiệt hại trước đây.

CHÚ THÍCH:
– C 1-4: + Đức Giêsu vào thành Giê-ri-khô và đi ngang qua thành: Giê-ri-khô là một thành phố cách Giêrusalem 37 cây số. Có hai thành Giê-ri-khô: Một thành cũ đã bị ông Gio-su-ê phá huỷ, và một thành mới do vua Hêrôđê xây dựng cách nơi cũ không xa. + Có một người tên là Da-kêu: Tên Da-kêu nghĩa là “Người trong sạch”. Ong đứng đầu ngành thu thuế tại thành Giê-ri-khô, nên bị người Do thái liệt vào hạng người tội lỗi.
– C 5-7: + Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: “Này ông Da-kêu, xuống mau đi. Vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”: Đức Giêsu đã biết rõ về con người của Da-kêu trước khi ông gặp Người. Người đã nhìn thấy ông giữa muôn người, biết tên và công khai gọi tên ông. Nhất là Người còn đến ở trọ tại nhà của ông. + Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người: Cảm động trước tình thương và sự ưu ái quan tâm của Đức Giêsu, ông Da-kêu vội vàng tụt xuống khỏi cây sung và đón rước Người về nhà. Da-kêu chỉ muốn thấy mặt Đức Giêsu, nhưng ông lại được Người thương đến ở trọ tại nhà của ông. Lòng ưu ái của Người vượt quá sự mong ước của ông. + Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ !”: Theo quan niệm của người Do thái, ai lui tới giao thiệp với người tội lỗi cũng trở nên ô uế và bị khiển trách (x. Lc 5,30). Ở đây, Đức Giêsu không những đã tiếp xúc nói chuyện, mà còn đến ở trọ tại nhà của ông trưởng ngành thu thuế Da-kêu, nên không tránh khỏi sự xầm xì phản đối của đám đông. Qua hành động này, Đức Giêsu cho thấy sứ vụ của Người là đi tìm và cứu chữa những người tội lỗi mà Da-kêu là đại diện.
– C 8-10: + Này đây, phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo…: Cảm động trước tình thương của Đức Giêsu, Da-kêu đã biểu lộ quyết tâm hoán cải qua việc đền bù những tội lỗi trước đó. Ông tự nguyện chia nửa tài sản để phân phát cho người nghèo và đền trả gấp bốn lần những thiệt hại đã gây ra, trong khi Luật Môsê chỉ buộc đền gấp bốn cho tội trộm chiên mà thôi (x. Xh 21,37). + Hôm nay Ơn cứu độ đã đến cho nhà này: Nhờ sự hiện diện của Đức Giêsu mà cả nhà ông Da-kêu đã được cứu độ. + Con cháu Tổ phụ Áp-ra-ham: Do làm nghề thu thuế nên Da-kêu bị coi là kẻ tội lỗi không còn thuộc về dòng dõi của Áp-ra-ham. Nhưng khi ông đã hồi tâm sám hối, ông lại được Đức Giêsu trả lại quyền được làm con cháu của Tổ phụ Áp-ra-ham như trước. + Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất: Câu này cho thấy sứ mệnh Thiên Sai của Đức Giêsu là đến để tìm kiếm và giúp những kẻ tội lỗi ăn năn sam hối để được cứu độ.
CÂU HỎI: 1) Tên Da-kêu nghĩa là gì ? 2) Thiện chí của ông Da-kêu được biều lộ qua hành động nào ? 3) Tại sao dân chúng lại trách Đức Giêsu về việc đến ở trọ tại nhà Da-kêu ? 4) Tại sao ông Da-kêu lại được Đức Giêsu tuyên bố là con cháu Tổ phụ Áp-ra-ham và được cứu độ ? 5) Câu nào nói lên sứ mệnh Thiên Sai của Đức Giêsu ?

II.  SỐNG LỜI CHÚA
LỜI CHÚA: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19,10).
CÂU CHUYỆN:
1) NHỮNG KẺ KHỐN CÙNG (LES MISÉRABLES)
Đây là tựa đề một tác phẩm nổi tiếng của văn hào Vích-to Huy-gô (Victor Hugo), tường thuật câu chuyện về cuộc đời của Văn Giang (Han Valjean), một tên cướp của giết người đã từng bị ở tù 19 năm. Khi vừa được thả ra, anh đã phải nếm mùi bị mọi người khinh dể xa lánh: Bước vào tiệm ăn, anh liền bị chủ tiệm xua đuổi; Vào trong nhà trọ thì người gác cửa đã đóng sập cửa ngay trước mặt; Đi qua ổ chó, thấy bộ dạng nhếch nhác râu ria của anh, chúng liền thi nhau sủa inh ỏi… Chỉ khi bước vào nhà Đức giám mục My-ri-ê, anh mới được tiếp đãi nồng hậu như một con người: Anh được ăn một bữa tối thật ngon, được nằm trên một chiếc giường êm ấm. Nhưng rồi đêm hôm ấy, nhìn thấy các chân đèn bằng bạc quí giá, anh không cưỡng nổi lòng tham, nên nhẹ nhàng lấy năm cái chân đèn cho vào bao chuồn mất. Nhìn thay bộ dạng khả nghi của anh, cảnh sát liền đòi khám xét chiếc túi vải anh đang vác trên vai và nhìn thấy mấy cái chân đèn bằng bạc. Anh liền bị giải đến trước mặt vị giám mục để làm rõ. Nhưng ngài không những không kết tội, mà còn nhận là đã tặng cho anh mấy cái chân đèn bạc kia. Hơn nữa, ngài còn tặng thêm hai chân đèn nữa cho đủ bộ và nói nhỏ với anh: “Ta không kết tội con đâu, nhưng con phải sám hối để làm lại cuộc đời”. Sau khi được thả, anh luôn suy nghĩ về những lời nhắn nhủ của vị giám mục và xúc động trước tình thương bao dung của ngài. Anh quyết tâm sám hối và sau đó đã trở thành một người lương thiện. Nhiều năm sau, Văn Giang đã chinh phục được tình cảm của mọi người và còn được dân chúng tín nhiệm bầu làm thị trưởng của thành phố. Sở dĩ ông từ một tên tội phạm trở thành mot người lương thiện và được kính nể là do ông đã cảm nghiệm được tình thương của vị giám mục My-ri-ê.

2) SỨC MẠNH HOÁN CẢI CỦA TÌNH THƯƠNG:
Trong thiền viện của thiền sư SĂNG–GAI (Sengai) có nhiều đệ tử ở chung. Một đệ tử của vị thiền sư có thói quen thỉnh thoảng nửa đêm leo tường ra ngoài đi chơi với chúng bạn mãi đến gần sáng mới quay lại thiền viện. Một đêm kia, thiền sư Săng-gai đi kiểm tra, thấy một chiếc giường trống, rồi còn thấy một chiếc ghế cao để cạnh bức tường phía bên trong thiền viện. Thiền sư liền dời chiếc ghế kia sang chỗ khác và đứng thế vào chỗ đó. Khi anh đệ tử kia quay về, do không thấy thiền sư đang đứng thế chiếc ghế mọi khi, anh ta đã đặt bàn chân lên đầu thầy Săng-gai làm điểm tựa trước khi nhảy xuống đất. Lúc khám phá ra sự thể thì anh cảm thấy sợ hãi. Nhưng thay vì trách phạt, thiền sư lại mỉm cười nhỏ nhẹ nói với anh rằng: “Trời về sáng đang trở lạnh. Con mau vào phòng mặc áo ấm vào kẻo bị cảm lạnh nhé !” Cảm động trước tấm long từ bi và tình thương khoan dung của thầy, từ ngày đó người đệ tử kia không bao giờ còn dám tái phạm trèo tường đi chơi nữa. Anh chuyên cần học tập và về sau trở thành một học trò giỏi của thiền sư Săng-gai.

3) SỨC MẠNH CỦA LÒNG SÁM HỐI:
Công tước D’Ossome, phó vương xứ Napoli, nước Ý, Một hôm đi thị sát chiến thuyền Galère do một đội nô lệ ngồi chèo. Họ vốn là các tội nhân nặng bị án khổ sai chung thân. Khi gặp mặt công tước, các tù nhân ai cũng ca thán mình vô tội. Duy chỉ có một tù nhân ở góc phía xa là ngồi cúi đầu không nói một lời. Công tước liền bước đến bên và dịu dàng hỏi han. Anh nói: Thưa ngài, tôi chịu phạt xứng với tội tôi đã phạm và tôi chẳng có gì để bào chữa. Công tước quay sang nói với mọi người đi theo: “Người này đúng là một phạm nhân, anh ta không xứng đáng ngồi chung với những kẻ vô tội. Ta ra lệnh trục xuất tên này ra khỏi nơi đây”. Và thế là, chỉ nhờ vào lòng chân thành hối lỗi mà người tù nhân đã được giải phóng khỏi kiếp sống nô lệ.
THẢO LUẬN: 1) Trong các chuyện trên bạn thích câu chuyện nào nhất? Tại sao? 2) Tuần này mỗi người chúng ta sẽ làm gì cụ thể để giúp một tội nhân được ơn hoán cải nên lương thiện hơn ?
SUY NIỆM:
Tin mừng Luca Chúa nhật hôm nay thuật lại câu chuyện hoán cải của ông Da-kêu làm nghề thu thuế. Vào thời ấy, những người thu thuế bị xếp chung với bọn trộm cắp, giết người và đĩ điếm. Hơn nữa, do làm thu thuế phục vụ đế quốc Rôma, nên họ bị dân Do thái đồng hóa với bọn tội phạm và bị khinh dể. Nhưng Đức Giêsu lại có cách hành xử khác đối với những người thu thuế này. Tin mừng hôm nay cho thấy: Người đã gọi đích danh ông Da-kêu, đã đến ở trọ trong nhà ông và còn ngồi đồng bàn ăn uống chung với ông. Việc đó khiến dân chúng có mặt xầm xì phản đối. Tuy nhiên qua lối hành xử như thế, Đức Giêsu cho thấy sứ mạng của Ngài là “đến tìm và cứu chữa những gì bị hư mất”. Cảm động rrước tấm lòng bao dung nhân hậu của Đức Giêsu, ông Da-kêu đã nhìn nhận tội lỗi và quyết tâm sám hối để được nên công chính.

1) “NÀY ÔNG DA-KÊU XUỐNG MAU ĐI”:
Da-kêu là một người giàu có nổi tiếng ở thành Giê-ri-cô. Ông là trưởng ban thu thuế của thành phố này. Dĩ nhiên nếu chỉ là nhân viên làm việc ăn lương thì chắc ông đã không thể giàu có như vậy được. Sở dĩ ông có nhiều tiền là do gian lận móc ngoặc với gian thương trong việc thu thuế. Mọi người đều nhìn Da-kêu như một tội phạm đáng khinh, và chính ông cũng cảm thấy lương tâm bất an. Nghe tin Đức Giêsu sắp đi qua khu vực gần nhà, Da-kêu liền chạy tới gần để nhìn xem mặt Người. Nhưng dân chúng quá đông mà Da-kêu lại lùn thấp, nên ông đã chạy về phía trước, trèo lên một cây sung, hy vọng sẽ nhìn thấy mặt Đức Giêsu khi Người đi ngang qua. Khi tới chỗ Da-kêu núp, Đức Giêsu dừng lại ngước nhìn lên và nói với ông: “Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”.
Da-kêu không ngờ lại được Đức Giêsu ưu ái biết rõ tên và còn ngỏ ý muốn đến ở trọ tại nhà ông là một người tội lỗi ! Ông cảm thấy rất vui khi được Đức Giêsu phục hồi danh dự trước mặt đám đông luôn ác cảm và khinh dể ông. Còn Đức Giêsu cũng bỏ ngoài tai những lời xì xầm phản đối của nhiều người để đến ở trọ tại nhà một kẻ tội lỗi.
Ơn Cứu độ là kết quả của sự gặp gỡ hai chiều: Thiên Chúa đi tìm và tội nhân tiếp nhận. Nếu Đức Giêsu không đi tìm tội nhân thì chẳng ai có thể được ơn cứu độ: “Vì chưng, Con Người đến để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư mất” (Lc 19,10). Nhưng dù Đức Giêsu có đi tìm mà tội nhân lại né tránh, thì họ cũng không thể nhận được ơn cứu độ. Trong câu chuyện hôm nay, Đức Giêsu đã đi bước trước khi nhìn lên cây sung tìm kiếm Da-kêu đang ẩn núp và nói chuyện với ông và ông đã mau chóng đáp lại. Cuối cùng ông và cả gia đình đã nhận được ơn cứu độ.

2) “NÀY ĐÂY PHÂN NỬA TÀI SẢN CỦA TÔI, TÔI CHO NGƯỜI NGHÈO…”:
Chính ánh mắt bao dung, lời nói âu yếm và thái độ yêu thương của Đức Giêsu đã đánh động tâm hồn chai lì của Da-kêu, thổi bùng lên ngọn lửa hướng thiện còn đang leo lét trong lòng ông. Quả thật, hoán cải là kết quả của một sự cảm nhận về tình yêu của Chúa. Da-kêu bỗng chốc cảm thấy tâm hồn hân hoan và không còn yêu thích tiền bạc như trước. Ông đã sẵn sàng hiến phân nửa tài sản chia cho người nghèo, đồng thời tự nguyện đền trả gấp bốn những thiệt hại đã gây cho kẻ khác. Xin đền gấp bốn nghĩa là Da-kêu nhận biết tội của ông quá nặng và quyết tâm thực thi công bình bác ái. Dù Da-kêu đã trở nên nghèo hơn, nhưng ông lại cảm thấy hạnh phúc hơn vì đã được Đức Giêsu yêu thương đến ở trọ tại nhà ông và ban ơn cứu độ cho cả gia đình ông. Người còn trả lại cho ông tư cách là con cháu của tổ phụ Áp-ra-ham giống như bao người Do thái lương thiện khác khi phán: “Ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham” (Lc 19,9). Trong bữa tiệc vui hôm đó, tuy không còn giàu có như trước, nhưng Da-kêu đã cảm thấy hạnh phúc hơn. Chắc chắn thân thể ông vẫn còn lùn thấp như trước, nhưng tâm hồn ông đã hóa nên cao thượng hơn gấp bội phần.

3) LIÊN QUAN GIỮA HOÁN CẢI VÀ TỪ BỎ:
Bất cứ một cuộc hoán cải nào cũng đòi phải có sự từ bỏ: Một người lương muốn theo đạo Công giáo thì phải từ bỏ ma quỉ, bỏ các điều mê tín dị đoan, các đam mê tội lỗi… để chỉ tin thờ một mình Thiên Chúa và tin vào Đấng Ngài sai đến là Đức Giêsu Kitô. Một người mắc thói xấu cờ bạc, rượu chè, trai gái, hút sách… muốn hồi tâm sám hối cũng phải quyết tâm chừa bỏ các thói hư ấy. Một người buôn gian bán lận, muốn hoán cải quay về với Chúa cũng phải quyết tâm từ bỏ lối làm ăn gian dối ấy… Con tim của Da-kêu đã được hoán cải nhờ sự quan tâm và đối xử nhân hậu của Đức Giêsu. Thi hào người Đức Goethe (1749-1832) đã viết như sau: “Nếu đối xử với một người như “người ấy là”, thì người ấy sẽ trở nên xấu hơn. Nếu đối xử với người ấy như “người ấy phải là”, hoặc như “người ấy muốn là”, thì người ấy sẽ trở nên tốt hơn”. Đức Giêsu hiểu rằng trong tâm hồn Da-kêu còn có phần tốt, muốn làm điều tốt và có khả năng làm điều tốt, nên Người đã khơi phần tốt ấy lên. Mỗi người chúng ta cũng hãy tự hoán cải bằng cách để Đức Giêsu quan tâm đến ta, nói với ta, đến ở trọ trong lòng ta và đánh động con tim của ta.

4) HIỆN NAY VẪN CÒN NHIỀU DA-KÊU:
Đó là những người bị người khác khinh thường loại trừ như: những kẻ mang tiền án tiền sự, những trẻ em bụi đời lang thang không nhà, những cô gái đứng đường đón khách lúc đêm tối, những người nghiện sì-ke ma túy, những người đang tìm hưởng lạc thú trong những quán bia ôm, mượn rượu giải sầu… Họ cần những người có trái tim bao dung nhân ái như Đức Giêsu giúp họ hoàn lương giống như Da-kêu trong Tin mừng hôm nay. Vậy trong những ngày này chúng ta có thể làm gì cụ thể để tỏ lòng khoan dung yêu thương và giúp họ trở về với Chúa?

NGUYỆN CẦU:
– LẠY CHÚA GIÊSU. Ngày nay Chúa vẫn thường đến với chúng con trong hình hài của những người nghèo khó ăn xin, những bệnh nhân liệt giường không tiền chữa trị, những người đau khổ cần được ủi an. Chúa cần chút nước giếng của người phụ nữ Samari để uống cho đã khát; Cần năm chiếc bánh và hai con cá của một bé trai dâng hiến để nhân ra nhiều nuôi năm ngàn người ăn no; Cần căn nhà của Da-kêu để nghỉ qua đêm… Chúa khiêm tốn xin chúng con một chút tiền bạc, một chút lòng hảo tâm, một chút sự thương cảm… để sau đó Chúa lại đổ xuống trên chúng con muôn ngàn phúc lộc thiêng liêng gấp bội.
– LẠY CHÚA. Xin dạy chúng con biết đến với tha nhân, biết khám phá ra đốm lửa của sự thiện còn đang cháy leo lét nơi tâm hồn những người đang lạc xa Chúa. Ước gì chúng con biết nhìn các tội nhân công khai bằng ánh mắt nhân từ bao dung của Chúa, dám hy vọng vào thiện chí hoán cải của họ, và kêu gọi mọi người cùng hợp tác để xua tan cái xấu cái ác ra khỏi gia đình, khu xóm, trường học, và công sở … Nhờ đó, thế giới hôm nay sẽ được biến đổi ngày một tốt hơn, chan hòa tình người hơn và an bình hạnh phúc hơn.
X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

 

TN31-C162: CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN_C

Lm. Antôn
Ông bà anh chị em thân mến. 
 

Cuộc đời của chúng ta thường có nhiều cuộc gặp gỡ.  Có những cuộc gặp gỡ mà chúng ta biết TN31-C162

Cuộc đời của chúng ta thường có nhiều cuộc gặp gỡ.  Có những cuộc gặp gỡ mà chúng ta biết trước và cũng có những cuộc gặp gỡ bất ngờ.  Có những cuộc gặp gỡ chúng ta cố tránh né, nhưng cũng có những cuộc gặp gỡ mà chúng ta cảm thấy hồi hộp như đi phỏng vấn tại tòa đại sứ để đi đoàn tụ, hay có những sự háo hức mong đợi như về thăm những người thân yêu tại Việt Nam, hay như hẹn hò gặp người yêu, hay gặp một nhân vật nổi tiếng như tổng thống hay Đức giáo hoàng. Hàng tuần chúng ta đến nhà thờ để gặp gỡ Chúa Ki-Tô một cách đặc biệt và thân tình. Chúng ta thấy cuộc gặp gỡ nào cũng để lại những dư âm, những cảm xúc hay có ảnh hưởng đến đời sống chúng ta. Và có những cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa có sức hoán cải hay thay đổi hoàn toàn cuộc sống.
Ông bà anh chị em thân mến. Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Giakêu trong bài Tin Mừng hôm nay mang nhiều tính cách và có kết quả bất ngờ, tuy cuộc hành trình của Chúa có mục đích rõ ràng.  Khi đến thời điểm, Chúa Giê-su cương quyết lên Giê-ru-sa-lem để bày tỏ tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa Cha cho nhân loại.  Trên con đường và không bao lâu, Chúa biết không thể dùng đường tắt mà đi, cũng như phải đối diện với nhiều cản trở và gặp gỡ nhiều hạng người khác nhau.  Trước hết, Chúa phải đương đầu với sự khinh bỉ và thù hằn của người Samaritan chống đối không cho Chúa đi qua thành của họ, vì vậy, Chúa phải đi đường vòng khó khăn, nguy hiểm và xa hơn.  Sau đó, Chúa phải đối diện với những sự dận dữ, muốn trả thù của các môn đệ.  Nhưng với một cử chỉ sửa trách nhẹ nhàng và quyết định đi đường khác, Chúa đã hóa tan những cản trở, những sự thù hằn và chống đối.
Trong khoảng đường còn lại, Tin mừng thánh Lu-ca cho chúng ta thấy Chúa gặp và đương đầu với những tình cảnh khó khăn và những cản trở to lớn khi những người Pha-ri-sêu và luật sĩ thù hằn đưa ra những câu hỏi cố ý đánh lừa để tìm cách hại Người.  Ngoài ra, Chúa còn gặp những đầy tớ bất lương, sự chống đối của bà con thân thuộc, đối diện không những với ma quỉ mà còn tướng của ma quỉ, đó là chưa kể tới những sự chống đối và tẩy chay của dân chúng, cũng như sự lo sợ và yếu kém của các môn đệ theo Chúa. Nhưng thánh Lu-ca cho chúng ta biết, Chúa đã trấn an các môn đệ với những lời tăng thêm lòng xác tín của các ông vào Chúa: “Dân chúng sẽ chào mừng các con”, “Satan sẽ rơi xuống từ trời”, “Các con sẽ trừ được rắn độc, bò cạp và quyền lực của ma quỉ, và không có sự gì làm hại được các con”, “Tên các con đã được ghi sổ trên trời”, “Cha Ta sẽ ở cùng Ta”, “Lời cầu nguyện của các con sẽ được nghe lời”, “Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.  Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống.”
Tin mừng cho chúng ta biết, ngày hôm đó Chúa đang đi trên lộ trình ngang qua thành Giêricô để lên thành Giêrusalem. Ngài chỉ đi như vậy thôi hay là còn có một mục đích nào khác nữa không?  Câu chót của đoạn Tin Mừng cho chúng ta thấy Chúa không phải chỉ đi lang thang, mà có mục đích rõ ràng, đó là để “tìm cứu vớt những gì đã hư hỏng”, và ngày hôm đó Chúa đã gặp Gia-kêu. Câu chuyện gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và ông Gia-kêu là một trong những câu chuyện đẹp trong Tin mừng của Thánh Lu-ca.  Cuộc gặp gỡ này đã biến Gia-kêu từ một người rất xấu trở nên đẹp lạ thường.
Chúng ta nhận thấy mở đầu câu chuyện gặp gỡ, hình ảnh của Gia-kêu rất xấu vì ông được diễn tả như là một người gian dối tội lỗi, bị dân chúng thù hằn, khinh bỉ và tránh xa.  Lý do là vì ông làm nghề thu thuế và còn là thủ lãnh thu thuế và giàu có.  Nhưng sau đó vào cuối câu chuyện ông đã thay đổi, một sự thay đổi tuyệt vời làm cho Chúa Giê-su cũng phải nhìn nhận: “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ.”  Sự thay đổi như thế nào, thì chúng ta hãy nghe chính Gia-kêu thưa với Chúa: “Lạy Ngài, tôi xin bố thí nửa phần của cải tôi cho kẻ khó, và nếu tôi có làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn.”
Ông bà anh chị em thân mến.  Gia-kêu đã được gặp Chúa và cuộc gặp gỡ này đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời không những của ông mà còn cả gia đình của ông.   Đây không phải là cuộc gặp gỡ tình cờ, vì như chúng ta biết đối với Chúa Giê-su, mục đích của cuộc hành trình của Người lên Giê-ru-sa-lem là đem tình yêu, lòng thương xót và ơn cứu độ đến cho tất cả mọi người.  Thế nhưng, chúng ta tự hỏi do đâu hay nguyên nhân nào mà Gia-kêu đã thay đổi cuộc đời như thế?
Chúng ta nhận ra hai yếu tố thúc đẩy và tạo nên sự thay đổi cuộc sống của Gia-kêu.  Yếu tố thứ nhất là sự khao khát và thôi thúc của chính Gia-kêu.  Có lẽ ông đã nghe nói về lời rao giảng, những phép lạ và con người của Chúa Giê-su, cho nên, khi nghe nói Chúa đi ngang qua thành của mình thì ông tìm cách xem mặt Chúa Giê-su.  Ông vội vã chạy tới phía trước, nhưng vì sự cản trở của đám đông dân chúng, và nhất là vì thân hình ông nhỏ bé, cho nên ông leo lên một cây sung để xem Chúa Giê-su.  Như Chúa Giê-su đã tìm mọi cách vượt qua những cản trở để lên Giê-ru-sa-lem, ông Gia-kêu cũng đã tìm mọi cách để vượt qua những cản trở trong con người của mình là tội lỗi, và cản trở bên ngoài là đám đông dân chúng, để xem thấy mặt và gặp được Chúa.  Tình yêu, lòng thương xót, ơn tha thứ và cứu độ của Chúa luôn sẵn đó, chỉ cần Gia-kêu hay chúng ta, chịu khó và hy sinh tìm đến để lãnh nhận là có ngay.  Quả thực, chúng ta thấy chính Gia-kêu đã đóng góp một cách hết sức tích cực và chân thành vào sự biến đổi cuộc đời của ông.
Yếu tố thứ hai tạo nên sự thay đổi cuộc đời của ông Gia-kêu là lòng nhân từ và thương xót của Chúa Giê-su.  Tin mừng cho chúng ta thấy, Chúa Giê-su đã nhìn lên và gọi ông xuống mau đi.  Hơn nữa, chúng ta thấy Chúa còn muốn tháo gỡ những cản trở của dân chúng chỉ trích về khía cạnh tội lỗi cũng như sự không xứng đáng của ông Gia-kêu, để tạo sự mật thiết với ông và gia đình ông, và đem tình yêu tha thứ và ơn cứu độ đến cho gia đình ông.  Vì vậy. Chúa đề nghị đến nhà ông: “Hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi.”  Và còn cho ông biết “Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất.”
Ông bà anh chị em thân mến.  Tin mừng thánh Lu-ca khẳng định cho chúng ta biết nếu cuộc hành trình của chúng ta thực sự có sự hiện diện của Chúa, chúng ta sẽ tháo gỡ được những cản trở, thay đổi cục diện, tình huống từ hoàn cảnh xấu trở thành tốt, đầy hy vọng và ơn sủng của Chúa, cũng như có sức mạnh biến đổi cuộc sống người khác, như Chúa đã biến đổi cuộc sống của ông Gia-kêu trong Tin mừng hôm nay. Xin Chúa cho chúng ta cũng có một tấm lòng nhân từ như của Chúa và tấm lòng quảng đại như Gia-kêu.  Một chút nữa đây, Chúa Giê-su sẽ đến và ngự trong tâm hồn chúng ta.  Xin Chúa Giê-su Thánh Thể biến đổi cuộc đời chúng ta trở thành sứ giả đem tình yêu và lòng thương xót của Chúa đến cho mọi người chung quanh. 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây