Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 31 TN-C Bài 51-100 Chuyện ông Giakêu

Thứ hai - 28/10/2019 23:23
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 31 TN-C Bài 51-100 Chuyện ông Giakêu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 31 TN-C Bài 51-100 Chuyện ông Giakêu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 31 TN-C Bài 51-100 Chuyện ông Giakêu
TN31-C51. Gặp gỡ và đổi đời 2
TN31-C52. Ơn cứu độ đã đến với Giakêu. 4
TN31-C53. Cuộc hạnh ngộ của niềm tin. 6
TN31-C54. THIÊN CHÚA TÌM KIẾM VÀ KÊU MỜI CHÚNG TA.. 10
TN31-C55. Chúa đến tìm những người tội lỗi 14
TN31-C56. ĐIỀU RĂN NÀO ĐỨNG ĐẦU?. 15
TN31-C57. TÌNH THƯƠNG CỦA CHÚA! 17
TN31-C58. Tầm cao của Phúc Âm.. 22
TN31-C59. Tiền bạc. 23
TN31-C60. Ánh mắt yêu thương. ĐTGM Ngô quang Kiệt. 25
TN31-C61. GẶP GỠ ĐỨC KITƠ.. 27
TN31-C62. NỖI NIỀM DA-KÊU.. 29
TN31-C63. HÀNH TRÌNH GẶP GỠ ĐỨC KITÔ.. 35
TN31-C64. GIAKÊU - Trần Mỹ Duyệt 38
TN31-C65. VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH.. 41
TN31-C66. HÔM NAY, NHÀ NÀY ĐƯỢC CỨU ĐỘ.. 44
TN31-C67. CON NHÌN ẢNH CHÚA, RỒI CON KHÓC.. 47
TN31-C68. TRÔNG LÊN MÌNH CHẲNG BẰNG AI 51
TN31-C69. Đổi đời 54
TN31-C70. Chúng ta thì giống như Giakêu. 55
TN31-C71. Gặp gỡ Đức Kitô biến đổi cuộc đời mình. 57
TN31-C72. CUỘC HOÁN CẢI CỦA ÔNG GIAKÊU.. 59
TN31-C73. Chú giải của Noel Quesson. 62
TN31-C74. Người tội lỗi - R. Gutzwiller 66
TN31-C75. TẠI GIÊRICÔ, HAI ÁNH MẮT GẶP NHAU.. 67
TN31-C76. CON NGƯỜI ĐƯỢC ĐỔI MỚI 73
TN31-C77. SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXXI - 2001. 84
TN31-C78. LÙN THẤP BÉ NHƯNG…... 85
TN31-C79. NIỀM VUI HÔM NAY.. 87
TN31-C80. Chúa Nhật 31 Quanh Năm.. 90
TN31-C81. CHÚA NHẬT 31 QUANH NĂM, C.. 93
TN31-C82. CHÚA CỨU VỚT NGƯỜI TỘI LỖI 97
TN31-C83. TÌNH THƯƠNG LÀM THAY ĐỔI LÒNG NGƯỜI 106
TN31-C84. NGƯỜI TỘI LỖI HAY NGƯỜI CÔNG CHÍNH.. 109
TN31-C85. CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN.. 111
TN31-C86. BIẾN ĐỔI 113
TN31-C87. GẶP CHÚA - KHƠI NGUỒN CHO ĐỔI MỚI 114
TN31-C88. BIẾN ĐỔI NHỜ NHẬN RA CHÚA YÊU THƯƠNG.. 116
TN31-C89. KIỂU MẪU NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA KITÔ: SỐNG CHIA SẺ.. 117
TN31-C90. HOÁN CẢI TỪ CON TIM... 120
TN31-C91: CHƯA CHẮC LÙN ĐÃ THẤP. 122
TN31-C92: LÙN TRÍ CAO.. 125
TN31-C93: CHÚA HẢO TÂM VỚI HẾT MỌI LOÀI 128
TN31-C94: ĐỨC KITÔ NIỀM VUI CỦA NHÂN LOẠI 130
TN31-C95: Ánh mắt thần linh. 132
TN31-C96: Ông Giakêu. 135
TN31-C97: GẶP CHÚA ĐỔI ĐỜI 136
TN31-C98: TÂM HỒN GIA KÊU.. 139
TN31-C99: GẶP CHÚA VÀ THAY ĐỔI 141
TN31-C100: Tin Sau Khi Gặp Chúa. 142

 

TN31-C51. Gặp gỡ và đổi đời

VietCatholic News (29/10/2004 )
CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN
 

Bài Tin Mừng hôm nay Thánh sử Luca thuật lại một cuộc gặp gỡ. Chúa Giêsu gọi ông Giakêu và: TN31-C51

Bài Tin Mừng hôm nay Thánh sử Luca thuật lại một cuộc gặp gỡ. Chúa Giêsu gọi ông Giakêu và dùng bữa tại nhà ông ta. Việc Chúa ở lại nhà ông Giakêu đã khiến cho những người cùng thời phải ngạc nhiên. Bởi theo cái nhìn của họ, ông Giakêu chỉ là một người thu thuế, hay đúng hơn một kẻ tội lỗi, hợp tác với ngoại bang, phản nước hại dân. Chúng ta cũng được biết thêm rằng, theo chế độ thuế lúc bấy giờ, nhà cằm quyền Rôma cho đấu thầu, kẻ lắm của nhiều tiền mới trúng thầu, và khi đã trúng thầu họ ra sức thu thuế thật nặng để thu hồi vốn mà ra sức làm giàu.
Cuộc gặp gỡ bắt đầu từ thiện chí của ông Giakêu. Nghe tin có một ông Giêsu, là Đấng Công chính đang nổi đình nổi đám trong dân đi ngang qua thành Giêricô, vì lùn quá, ông trèo lên cây để xem. Nhưng điều bất ngờ đã xảy ra, Chúa Giêsu đã nhìn thấy và gọi tên ông” Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông” Ông vui mừng và hạnh phúc khôn xiết. Khi gọi ông chắc Chúa Giêsu biết rõ con người của ông như thế nào. Có thể nói đó là cuộc hành trình đức tin của Giakêu. Ông đang từng bước đến gặp gỡ Ngài trọn ven. Nhưng quan trọng hơn hết là Chúa đã đến với ông bằng với tấm lòng bao dung tha thứ. Người cùng thời làm sao hiểu được ý nghĩa của cuộc gặp gỡ này nếu họ không biết mở lòng ra với mọi người. Thật vậy, có một khoảng cách giữa những người xem mình là công chính với những người tội lỗi. Một lần nữa, như đã nhiều lần trong cuộc đời công khai, Đức Giêsu đã yêu thương chiếu cố đến những người tội lỗi lầm lạc. Đức Giêsu đã bước qua khoảng cách do con người tạo ra để đến với Giakêu. Ngài luôn tiếp đón, gặp gỡ và ân cần thăm hỏi họ. Ngài thể hiện tình yêu thương vô biên của Thiên Chúa đối với nhân loại. Và chính Ngài cũng có sứ mạng kêu gọi người tội lỗi ăn năn trở về,” Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”
Ngày nay, người ta vẫn còn tìm mọi cách để lên án, kì thị, diệt trừ những người lầm lỗi không cho họ có con đường đi về. Chúng ta phải hiểu được thái độ của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay. Ngài luôn mong mỏi chờ đợi những người tội lỗi trở về. Gia kêu là một kêu mẫu điển hình cho tất cả mọi người tự ý thức mình còn nhiều lầm lỗi và khuyết điểm, đang trông chờ vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Qua cuộc gặp gỡ, Giakêu đã thay đổi cuộc sống hoàn toàn. Trước khi Chúa Giêsu nhắc đến những tội lỗi của ông, ông đã đề ra kế hoạch sửa đổi lầm lỗi của mình. Hệ qủa của cuộc gặp gỡ là đây.” Đây phân nữa tài sản của ot6i, tôi cho người nghèo; nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn“ Đó là thái độ của một người có quyết tâm trở về. Từ việc gặp Chúa, rồi được Chúa yêu thương kêu gọi, và ông đã thay đổi cuộc sống.
Câu kết thúc bài Tin Mừng thật có hậu “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này”Như vậy, hiểu đơn giản, ơn cứu độ là chúng ta được gặp gỡ thật sự với Chúa, được Chúa yêu thương và vì Chúa mà từ bỏ tất cả mọi sư.
Lời Chúa hôm nay soi sáng cuộc sống thường ngày của mỗi người chúng ta. Đã biết bao lần chúng ta được vinh dự gặp Chúa trong Thánh lễ, trong Bí tích Thánh Thể và nơi tha nhân, nhưng chúng ta không nhận ra Ngài. Chúa luôn có đó trong cuộc sống của chúng ta rất nhẹ nhàng, chân tình, và tha thiết. Ngài đang mong mỏi chúng ta đến với Ngài dể được trú ẩn trong vòng tay từ nhân của Chúa. Và hơn nữa, trên bước đường đến với Chúa, Ngài nhắc chúng ta “ rủ thêm bạn” là nhiều người nữa. Chúng ta hãy cho những anh em lầm lỗi khuyết điểm một cơ hội để trở về cùng Chúa và xoá bỏ mọi khoảng cách do lòng ích kỉ, nghen nghét của mình tạo ra. Chúa đã tha thứ cho họ thì mỗi người môn đệ của Chúa hãy học lấy tâm tình yêu thương của Chúa. Chúng ta cần cầu nguyện cho những người tội lỗi nhiều hơn nữa.
Lạy Chúa hôm nay Chúa đến dùng bữa nhà ông Giakêu đã làm thay đổi cuộc sống của ông. Chúng con đây cũng đầy dẫy lầm lỗi và khuyết điểm. Xin Chúa đến với chúng con trong cuộc sống hằng ngày. Để chúng con càng ngày càng sống tốt hơn, biết tuân nghe và thực hành Lời Chúa dạy. Amen
Martin Lê Hòang Vũ

 

TN31-C52. Ơn cứu độ đã đến với Giakêu

Anh chị em thân mến,
 

Ơn cứu độ đã đến với Giakêu cách dễ dàng hơn ông ta tưởng, và làm ngạc nhiên những người Do TN31-C52

Ơn cứu độ đã đến với Giakêu cách dễ dàng hơn ông ta tưởng, và làm ngạc nhiên những người Do Thái khác vì ông ta là một quan thu thuế được coi là người tội lỗi. Chúa Giêsu, Đấng đến để tìm kiếm những người tội lỗi đi lạc đường chân lý, và Ngài đến để chữa lành những tâm hồn dập nát đau khổ vì những bon chen của cuộc đời, vì những bất công và thù hận của người khác...
Bài Tin mừng hôm nay có hai việc mà chúng ta cần phải suy nghĩ và khắc sâu trong lòng :
Một là, Chúa Giêsu đã thưởng công bội hậu cách bất ngờ cho ông Giakêu : vào nghỉ trong nhà ông và dùng cơm với ông, một phần thưởng quá to lớn và bất ngờ đối với ông Giakêu -một người được coi là người tội lỗi- và gia đình của ông, hành động này của Chúa Giêsu đã làm đảo lộn những suy nghĩ của những người đồng thời với Ngài tự gọi mình là người công chính hơn những gái điếm và thu thuế...
Giữa đám đông chen chúc nhau đi theo Chúa Giêsu, một Giakêu lùn tịt đã không thể nào nhìn cho được người mà bấy lâu nay mình đã nghe tiếng, ý tưởng này đã thôi thúc ông bỏ ngay buổi làm việc va quyết tâm thấy mặt Chúa Giêsu cho bằng được...
Giữa hàng trăm người đi theo mình, Chúa Giêsu chỉ chọn một nhà thu thuế Giakêu để vào nghỉ ngơi và dùng bữa với ông, không phải ngẫu nhiên mà Ngài thấy Giakêu, cũng không phải nhờ các môn đệ mách bảo để Ngài biết Giakêu, nhưng chỉ có Đấng thấu suốt tâm hồn mới nhìn thấy tâm tình của ông Giakêu tội nghiệp mong muốn thấy mặt Ngài, và lòng nhân hậu xót thương của Ngài đã khiến Ngài làm một hành động bất ngờ cho Giakêu và ngạc nhiên cho những người theo Ngài : “Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông !” (Lc 19, 5b).
Hai là, Chúa Giêsu đến để tìm kiếm và cứu những gì đã mất, đây là một tin vui cho chúng ta những con người tội lỗi, đây cũng là một lời phán xét cho chúng ta là những người tự coi mình là công chính hơn tha nhân, để rồi kết án và đoán xét anh em mình...
Ông Giakêu đột nhiên thay đổi lối suy nghĩ và cách sống của mình khi được Chúa Giêsu vào nhà mình, ông nói với Ngài : “Thưa Ngài, đây là phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ái cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19, 8). Tình thương của Chúa Giêsu đã làm ông Giakêu thay đổi cuộc sống : biết chia sẻ với người nghèo những gì mình có, biết đền bù thiệt hại cho người khác do mình gây ra, mà những suy nghĩ và thái độ này trước đây chưa bao giờ ông Giakêu nghĩ đến...
Những người tội lỗi sẽ không thể tự mình làm lại cuộc đời, nhưng phải cậy nhờ ơn Thiên Chúa và quyết tâm của mình, nhưng chính thái độ thờ ơ vì thành kiến, kiêu ngạo vì thành tích của chúng ta là những nhân tố tích cực làm cho người anh em không thể đứng lên để làm lại cuộc đời, Chúa Giêsu đã làm một cuộc cách mạng đổi mới cách nhìn của chúng ta với tha nhân : tất cả mọi người đều cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa chứ không phải chỉ có người tội lỗi mà thôi.
Suy nghĩ như thế chúng ta mới có thể thay đổi cách nhìn của mình với người khác, nhất là với những người tội lỗi trong cuọc sống hôm nay.
Anh chị em thân mến,
Mỗi người trong chúng ta là một Giakêu lùn, tức là cũng đầy dẫy những tội lỗi, cho nên chúng ta không thể làm quan tòa phán xét tội của người anh em, bởi vì chỉ có Thiên Chúa là Đấng phán xét mà thôi.
Do đó, một, chúng ta học gương của Giakêu biết trãi rộng lòng mình ra với tha nhân khi đã được Thiên Chúa thứ tha tội lỗi; hai, chúng ta noi gương của Chúa Giêsu biết chia sẻ với những anh em đã ngã xuống (sống trong tội) mà chưa thể đứng lên vì nhiều lý do, để qua chúng ta, những anh em ấy mạnh dạn vứt bỏ những xấu xa của quá khứ, mà đứng lên đồng hành với mọi người trong ánh sáng của Chúa Giêsu Kitô.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.
Bài giảng chủ nhật 31 thường niên tại nhà thờ Phục Sinh-Taiwan.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

 

TN31-C53. Cuộc hạnh ngộ của niềm tin

VietCatholic News (30/10/2004 )
(Kn11,23;12,2; 2Tx 1,11-2; 2,2; Lc 19,1-10)
Dẫn nhập đầu lễ :
Kính thưa Cộng đoàn,
 

Chúng ta đang họp nhau cử hành phụng vụ Chúa Nhật XXXI quanh năm. Sứ điệp phụng vụ hôm : TN31-C53

Chúng ta đang họp nhau cử hành phụng vụ Chúa Nhật XXXI quanh năm. Sứ điệp phụng vụ hôm nay dành cho chúng ta có thể được tóm tắt trong trong ý nghĩa nầy : ĐỨC TIN : CHÍNH LÀ CUỘC HẠNH NGỘ GIỮA TÌNH THƯƠNG CỨU ĐỘ CỦA THIÊN CHÚA VÀ NỔI KHÁT KHAO TÌM KIẾM CỦA CON NGƯỜI. Qua các chỉ dẫn của Lời Chúa được công bố trong thánh lễ hôm nay, đặc biệt qua câu chuyện gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và ông ty trưởng thuế vụ Gia-kê của Tin Mừng Luca, chúng ta một lần nữa xác tín rằng : qua Đức Kitô, Thiên Chúa luôn đưa mắt kiếm tìm những con chiêc lạc để tình thương cứu độ sẽ mãi mãi là cuộc hạnh ngộ của yêu thương và tha thứ, của sám hối và đổi đời, của đại tiệc hoan ca tình huynh đệ, nồng ấm nghĩa gia đình…
Để thánh lễ hôm nay, với mỗi người chúng ta, cũng sẽ là cuộc hạnh ngộ như thế với Đức Kitô, với Thiên Chúa tình yêu, chúng ta hãy khiêm hạ thú nhận tội lỗi…

Giảng lời Chúa :
Nếu cho rằng Cây Thánh Giá là biểu tượng cốt yếu của Kitô giáo, thì liệu chúng ta có tìm được nơi hình tượng nầy một ý nghĩa thâm thúy nào khác nữa chăng, ngoài ý nghĩa nhắc nhớ cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu ? Thưa rằng có một ý nghĩa độc đáo nữa : đó chính là mối tương quan giữa Trời – Đất (Thanh dọc) và Người với Người (Thanh ngang). Quả thật, Đức Kitô đến, qua cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Ngài đã nối kết Đất-Trời, Thiên Chúa - Nhân loại và liên kết người với người thành anh em với nhau. Một tôn giáo chỉ có “chiều dọc” và loại bỏ chiều ngang sẽ biến tín đồ thành những con người cuồng tín, sẵn sàng chà đạp lên mạng sống và phẩm giá của anh em; trái lại một tôn giáo chỉ tập trung thăng tiến con người mà loại bỏ chiều kích “hướng thượng”, thì sẽ trở thành một chủ thuyết duy vật vô thần, sẽ sớm đưa lịch sử con người vào ngõ cụt, chẳng chóng thì chầy sẽ xô đẩy nhân loại vào những cuộc huynh đệ tương tàn, hận thù chia rẽ.
Sứ điệp Lời Chúa của Chúa Nhật hôm nay là một khắc họa rõ nét về hai mối tương quan nầy : Chúa và tôi / Tôi và anh em đồng loại. Chúa đến để tìm tôi để nói với tôi lời yêu thương tha thứ, và tôi đưa mắt khát khao gặp gỡ Chúa để làm lại cuộc đời. Rồi từ cuộc gặp gỡ thân thương nầy Ngài sẽ biến đổi tôi để tôi có thể giang rộng vòng tay ôm lấy mọi anh em.
- Ngay từ Bài đọc thứ nhất, Trích sách Huấn ca : Đây là những đoạn hiếm hoi của mặc khải cựu ước khi trình bày dung mạo yêu thương của Thiên Chúa : “Chúa yêu thương hết mọi loài…Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người…Chúa xử khoan dung với mọi loài, vì mọi loài là của Chúa…”. Vâng, Thiên Chúa của chúng ta là một “Thiên Chúa giàu lòng nhân ái”, một Thiên Chúa đã mạnh mẽ đoan quyết rằng : “Cho dù có người mẹ nào không thương con dạ nó mang, thì Ta, Ta vẫn không hề quên ngươi” (Is 49,15)
- Phải chăng việc thể hiện Đức tin đúng nghĩa đó là không ngừng tuyên xưng tình yêu của Thiên Chúa như lời tuyên xưng của đáp ca Thánh vịnh 144, hôm nay : “Chúa thành tín trong mọi lời Chúa phán, đầy yêu thương trong mọi việc Ngài làm. Ai quị ngã Chúa cũng đều nâng dậy, kẻ bị dìm xuống Người cho đứng thẳng lên”.
- Và Thiên Chúa đó đã không mệt mõi dấn thân đi tìm con chiên lạc, để hôm nay bắt gặp một Gia-Kê, kẻ vừa thấp bé trong cái nhìn nhục mạ rẻ khinh của người Do Thái, vừa lùn trong hàng rào đố kỵ của đám đông. Đây là một cuộc gặp gỡ đặc biệt mang dấu ấn sâu sắc về Tin Mừng Cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện trong Đức Ki-tô. Sáng kiến cứu độ, tình yêu tha thứ, luôn bắt nguồn từ Thiên Chúa : “Đức Giê-su đi ngang qua thành phố ấy…tới chỗ ấy..Người nhìn lên và gọi ông…Quả thật Đức Kitô đã tìm thấy con chiên lạc đang “vướng trên cành’ và niềm vui rạng rỡ đã bật thành lời : “Hỡi Gia-kê hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại nhà ngươi” (Lc 19,5).
Trong cuộc hạnh ngộ hi hữu nầy không phải chỉ có Giakê là người hạnh phúc mà theo chú giải của Noel Quesson, chính Đức Kitô cũng là người hạnh phúc vui mừng : “Ôi chao ! Ngày hôm nay đó, chắc Đức Giêsu phải sung sướng hạnh phúc lắm !Còn vài cây số nữa là đến Giêrusalem. Còn vài ngày nữa là cuộc khổ nạn được dâng hiến để cứu chuộc con người. Mọi nổi đơn độc chơ vơ của thập giá, mọi hình khổ Ngài sẽ gánh chịu, mọi vết thương xé nát bàn tay và đôi chân đẩm máu sẽ mang lại ơn ích cho nhân loại. Ngài biết điều đó. Ngài đã cứu thế gian khi tiến lên Giêrusalem. Và Giakê là hoa trái đầu mùa”…
Và phải chăng với câu chuyện Giakê hôm nay, Đức Kitô muốn hiện thực hóa những dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa mà Ngài vừa rao giảng : “Tìm con chiên lạc”, “Đồng bạc tìm thấy”, “Người con hoang đàng”.
Nhưng cuộc hạnh ngộ của niềm tin không chỉ đọng lại nơi bữa tiệc vui mà phải đi tới, phải tiến về phía trước, phía của đổi đời, của cuộc cách mạng nội tâm, cuộc thay da đổi thịt đời sống. Quả thật đúng như lời ca mà ai ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần ngâm nga : “Gặp gỡ Đức Kitô biến đổi cuộc đời mình, gặp gỡ Đức kitô đón nhận ơn tái sinh”. Vâng, “Thiên Chúa yêu chúng ta đến nổi ban Con Một” (Ga 3, 16), và Người Con ấy, đã đến và “cắm lều ở giữa chúng ta” (Ga 1, 14), “đã đến nơi nhà chúng ta” (Ga 1, 11). Tuy nhiên, để “sáng kiến cứu độ” đó được trở thành hiện thực thì chúng ta phải mở rộng cõi lòng đón nhận, phải can đảm đổi đời như Da-kêu : “Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người… Ông đứng lên thưa với Chúa rằng : “Tôi xin lấy phân nữa tài sản của tôi mà cho người ngèo; và nếu đã lường gạt ai, tôi xin đền gấp bốn”. Quả thật, “những ai đón nhận Người, Người cho họ trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,12).
Và chính cuộc đổi đời đó đã đưa Giakê và một vị trí mới, một sự hàn gắn mối tương quan người với người, một cuộc hiệp thông huynh đệ, một đại gia đình không còn chỗ cho đố kỵ rẻ khinh, mà tất cả sẽ là “anh em trong Đức Kitô”. Đó chính là “Gặp gỡ Đức Kitô chân thành mình gặp mình, gặp gỡ Đức Kitô nẩy sinh tình đệ huynh”. Bởi vì chính Đức Kitô hôm nay đã khẳng quyết : “bởi người nầy cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham” (Lc 19,10)
Tóm lại, sứ điệp phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta luôn sống đức tin một cách tích cực, sinh động bằng những nỗ lực hằng ngày vươn mình về phía trước, về phía của Đức Ki-tô, của Tin Mừng với một trái tim yêu thương và tin tưởng tuyệt đối vào lòng nhân ái của Thiên Chúa. Khiêm hạ đón nhận sứ điệp Lời Chúa và can đảm đổi đời đó chính là định hướng căn bản của đức tin và là chìa khoá giải mã, là điểm tựa cho cuộc sông hôm nay và ngày mai. Một niềm tin vững vàng như thế không cho phép chúng ta dao động, lo lắng trước bất cứ biến cố nào, tin đồn thất thiệt nào hay những thử thách gian truân nào như lời khuyến dụ trong Bài đọc 2 : Trích thư Thánh Phao-lô gởi giáo đoàn Thê-xa-lô-ni-ca : “Anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ…” (2 Tx 1,11-2,2). Và một niềm tin như thế sẽ biến chúng ta thành chứng nhân của yêu thương, khoan dung và tha thứ để xây dựng thế giới quanh ta, cộng đoàn quanh ta thành gia đình của hiệp nhất, yêu thương, huynh đệ.
Khi nào chúng ta thực hiện được như thế, chúng ta sẽ nghe vọng lên chính Lời của Đức Ki-tô : “Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà nầy …Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã hư mất”.
LM. Jos. Trương Đình Hiền

 

TN31-C54. THIÊN CHÚA TÌM KIẾM VÀ KÊU MỜI CHÚNG TA

VÀO BÀN TIỆC
CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN. C
(Lc19, 1-10)
Thưa quý vị.
 

Ngày xưa các cụ sống trong văn hoá Khổng Mạnh, việc đặt tên cho con cháu là hệ trọng. Các cụ chọn: TN31-C54

Ngày xưa các cụ sống trong văn hoá Khổng Mạnh, việc đặt tên cho con cháu là hệ trọng. Các cụ chọn ngày tháng, bói quẻ, mở sổ sách kiếm tên cho đứa trẻ mới sinh. Nhưng việc đó không hẳn tự động tạo nên nhân cách cho nó. Ví dụ: Hùng, chưa chắc nó sẽ là một tay thể thao cừ khôi. Mến, chưa hẳn là một cô gái hiền hoà. Hoa, không báo trước đứa trẻ đẹp, có khi ngược lại còn xấu như ma mút. Nhung, đa số là phụ nữ dữ tợn, trộm cướp. Bên Phương Tây cũng vậy. “Marie” đâu phải là một người nhân đức như Đức Maria. Steve không giống như thánh Têphanô. Bob đâu phải là thánh Giacôbê. Christina chưa chắc là một tín hữu nhiệt thành. Nhưng đôi khi tên cũng trùng hợp với hạnh kiểm người mang nó, nhất là khi đương sự được hưởng một ơn đặc biệt. Trường hợp này có trong Tin mừng hôm nay. Truyện của ông Giakêu.
Trước khi gặp gỡ Đức Giêsu, ông Giakêu sống ngược với ý nghĩa của tên mình. Vì Giakêu trong tiếng Do thái có nghĩa là trong sạch, người công chính được Chúa nhớ tới. Nhưng ông lại là đầu mục của phường thu thuế. Trong con mắt dân chúng lúc ấy, ông là kẻ đại tội lỗi. Thánh Luca còn miêu tả ông là người giàu có. Thu thuế, giàu có, chắc chắn là kẻ bất lương, phản bội dân tộc mình, nhờ uy đế quốc Roma đàn áp và bóc lột dân đen. Thời ấy, người La Mã không trực tiếp thu thuế dân thuộc địa mà cho thầu từng vùng, từng miền. Quan chức địa phương nào bỏ thầu cao nhất thì được thu thuế của dân chúng miền hoặc vùng đó. Hệ thống này cho phép những kẻ tham lam nhiều cơ hội làm giàu. Bởi lẽ họ biết rõ tình hình tài chính của dân chúng trong vùng, họ sẽ lợi dựng để vơ vét, bóc lột không thương tiếc. Họ sẽ thuê mướn những tay côn đồ khác để vắt cạn kiệt tiền bạc của các gia đình. Sau khi trả cho người Roma số tiền bỏ thầu, phần dư khổng lồ sẽ vào túi các quan chức địa phương này. Do đó họ tối đa hút máu mủ của dân địa phương. Quần chúng khinh bỉ coi họ là người tội lỗi, ngang hàng với đĩ điếm. Thánh Luca cho biết Giakêu rất giàu có, cho nên chúng ta có thể ước đoán ông đã lỗi phạm khá nhiều trong nghề nghiệp. Ở tình trạng như thế, việc Chúa Giêsu tìm gặp ông Giakêu không phải là ngẫu nhiên. Thiên Chúa đã xúi giục ông tò mò trèo lên cây sung để có thể xem thấy Đức Giêsu đi ngang qua.
Đây là điểm chính yếu của câu chuyện hôm nay. Giakêu hoàn toàn bất lực không có khả năng thoát ra khỏi tình trạng luân lý của mình. Ông không có công trạng nào để được Chúa thương tha thứ. Tên Giakêu của ông là một trò cười đối với nghề nghiệp và nếp sống của mình. Ông sống hoàn toàn trái ngược với tiêu huẩn đạo đức của xã hội. Vậy mà trước khi câu chuyện kết thúc, Chúa Giêsu xác nhận ông là: “Con cháu tổ phụ Abraham”, nghĩa là kẻ được thừa hưởng lời hứa cứu độ của Thiên Chúa, kẻ được sống trong Giao ước với Thiên Chúa. Câu chuyện thât lạ lùng, khiến cho dân chúng bàng hoàng và phái Pharisêu lộn ruột. Nếu như Giakêu thực sự như Chúa Giêsu nói, thì ông phải cảm thương đồng bào mình, không bỏ thầu, không cộng tác với người La Mã bóc lột dân chúng. Chí ít ông ăn ở công bình, không vơ vét, bằng lòng với số lương chính đáng. Nhưng thánh Luca lại nói ông là người giàu có, chứng cớ quá hiển nhiên, không thể chối cãi. Tuy nhiên khi câu chuyện kết thúc, Giakêu thay đổi hoàn toàn, ông ta là người ngược hẳn với lúc khởi đầu. Sau khi đối diện với Chúa Giêsu ông biến thành người Israel đích thật, là dòng giống Abraham đầy lòng tin, đúng như Chúa Giêsu tuyên bố, Ông sẵn sàng chia sẻ một nửa gia tài cho người nghèo khó, đền gấp bốn những thiệt hại ông đã gây nên. Luật Môsê không buộc phải đi xa đến như vậy. Tội gian lận theo như Lêvi ký, chỉ phải đền 1/5 tài sản thiệt hại (5,24). Giakêu lúc này đã trở thành con người lương thiện. Hậu quả, dĩ nhiên không thuộc về công nghiệp của ông mà là lòng thương xót rộng rãi của Đức Chúa Trời, tha thứ cho ông. Đây cũng là kinh nghiệm của mỗi linh hồn trở lại. Họ sống tốt lành để đền bù ơn Chúa. Nếu không chẳng có dấu chỉ nào chứng minh chúng ta đã trở lại. Chúng ta vẫn sống trong ảo tưởng về đạo đức riêng của mình, chứ không phải là sự thánh thiện Phúc âm, như tuần vừa qua Chúa Giêsu chỉ rõ. Tin Mừng không nói cho độc giả hay tâm trạng ông Giakêu thế nào trước khi ông ra đi đón gặp Đức Giêsu. Có lẽ ông bị thúc đẩy bởi phép lạ Chúa Giêsu chữa lành cho người mù ăn xin ở cổng thành Giêrikhô vừa xảy ra trước đó ít lâu. Ông tò mò muốn biết Chúa Giêsu là ai? Hoặc ông bị lương tâm cắn rứt, muốn thay đổi cuộc sống. Ông đã gian lận quá nhiều, bị cộng đồng khu phố khinh miệt. Hoặc giả con cái ông bị hàng xóm láng giềng tẩy chay, không được chơi chung với con cái họ. Gia đình ông bị lăng nhục vì nghề nghiệp bẩn thỉu. Liệu thời thế đã chín mùi để ông thay đổi nếp sống? Chúng ta chẳng có phương cách nào để biết rõ sự thật, bởi vì Phúc âm không nói. Mọi sự chỉ là phỏng đoán mà thôi.
Tuy nhiên, có một điều chắc chắn ông muốn tìm hiểu Chúa Giêsu là người như thế nào? Phúc âm kể: “Ở thành Giêrikhô có một người tên là Giakêu, ông đứng đầu những người thu thuế và là người giàu có. Ông muốn tìm cách để xem Đức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông mà ông ta lại lùn. Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu, vì Người sắp đi qua đó. Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: “Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”. Như vậy ý định của Giakêu là được ngắm nhìn một nhân vật nổi tiếng! Còn những sự kiện khác chúng ta chẳng hề hay. Ví dụ: Cơ hội để xem một người cùi hủi khác được chữa lành, người mù được mở mắt cho trông thấy, đám đông được nuôi nấng cách lạ lùng, kẻ chết sống lại... Chúng ta chỉ được biết như thánh Luca muốn cho cho hay. Và đó là dụng ý của thánh nhân khi viết Tin Mừng. Tình trạng tâm hồn của Giakêu không được tỏ lộ. Chỉ biết rằng ông là người thu thuế mướn cho chính quyền bảo hộ, là kẻ tội lỗi công khai, được xếp chung với bọn đĩ điếm và bị khinh bỉ. Công việc bỉ ổi của ông ai cũng biết, không phải thầm kín. Đến đây, thánh nhân cho hay vế thứ hai của câu chuyện, Chúa Giêsu hay làm bạn với hạng người này, chè chén với họ. Cho nên giới lãnh đạo đền thờ không mấy có cảm tình. Nhiều lần Ngài đã bị họ phê bình, chỉ trích, nhất là những người tự coi mình thanh sạch, đạo đức như Biệt phái, ký lục, kinh sư... Trước mắt họ xem ra Chúa Giêsu là một tên vô lại, không có hy vọng cải thiện, hay lui tới nhà người tội lỗi. Lần này là ông Giakêu, khét tiếng bóc lột. Ngài gọi ông xuống khỏi cây sung và đề nghị dùng bữa tại nhà ông. Sự thực, thánh Luca thuật: “Chúa Giêsu đi đến chỗ ấy, thì nhìn lên và nói với ông: Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay ta phải ở lại nhà ông”. Tại sao Chúa Giêsu phải trú lại nhà Giakêu? Bài đọc 1 cho chúng ta câu trả lời. Thiên Chúa toàn năng, Đấng tạo dựng vũ trụ, hằng quan tâm đến mọi loài, đến từng cá thể, từng mỗi linh hồn. Đó là sự quan phòng riêng biệt chứ không phải chung chung trên các sự vật Ngài đã tạo thành: “Lạy Chúa, trước Thánh Nhan, toàn thể vũ trụ ví tựa hạt cát trên bàn cân, tựa hạt sương mai rơi trên mặt đất”. Nghĩa là từng chi tiết trong hoàn vũ, đặc biệt Ngài thương cảm những sinh vật có hơi thở, nhất là loài người. Ngài chăm lo cho chúng tốt tươi, hạnh phúc: “Quả thế, Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã dựng nên, và giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên”. Tình yêu ấy được cụ thể hoá nơi Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa biến thành nhục thể, chăm lo cho mọi linh hồn được ơn cứu rỗi. Vì vậy khi Đức Giêsu bước đi trên đường phố Giêrikhô hôm đó, Ngài đã thực hiện công việc của Đức Chúa Trời và biểu lộ lòng thương yêu của Thiên Chúa luôn tưới gội trên con người. Quyền năng của Ngài là để phục vụ lòng hiền từ nhân ái của mình chứ không phải ra án phạt, tuy rằng án phạt vẫn là mặt khác của quyền bính cai trị. Ông Giakêu trèo lên cây sung để tìm kiếm Thiên Chúa, xem Ngài là ai? Nhưng thực chất Chúa Giêsu đang kiếm tìm ông để cứu vớt ông. Ngài nhìn thấy ông, truyền cho ông bườc xuống và đề nghị ăn bữa tại nhà ông. Trường hợp này giống như Chúa Giêsu tìm kiếm Nathanael (tức tông đồ Bartôlômêô) dưới cây vả (Ga 1,48). Chúa Giêsu thấu suốt mọi tâm can, không chi có thể dấu được cái nhìn của Ngài. Vượt qua sự tò mò của Giakêu, Chúa Giêsu còn thấy rõ linh hồn ông. Ngài đã bày tỏ lòng yêu mến của Thiên Chúa cho ông, bởi rõ ràng ông là con chiên lạc, đáng được mang về đàn. Đám đông xì xào bàn tán: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ”. Chúa Giêsu trả lời: “Con người đến để tìm và cứu những gì đã mất”.
Rõ ràng đó là cách thức Thiên Chúa bày tỏ quyền năng, ngược hẳn với quyền bính thế gian và cũng khác với sức tưởng tượng của chúng ta. Nhân từ, thương xót là lúc Chúa biểu lộ uy quyền hơn cả. Sách Khôn ngoan và Tin mừng hôm nay đều đồng ý như vậy: “Lạy Đức Chúa, sinh khí bất diệt của Ngài ở trong muôn loài, muôn vật. Vì thế, những ai sa ngã, Chúa sửa dạy từ từ”. Thần khí bất diệt cũng ở trong ông Giakêu tội lỗi và Chúa Giêsu đã cho chúng ta hay, Thiên Chúa đối xử ra sao với những kẻ lầm đường, lạc lối. Ngài đã xót thương, tỏ lòng nhân từ đối với ông. Ông đã đứng dậy, thật lòng hối cải, ăn năn, thay đổi cuộc sống. Con mắt yêu thương hằng theo dõi Giakêu vì ông là thụ tạo của bàn tay Ngài dựng nên. Ngài không để mất một linh hồn nào trên cõi dương gian. Cho nên đừng vì thân xác lùn thấp và hành động kỳ quặc của ông mà cho ông như một người đãng trí, nực cười. Điều này có thể làm cho cuộc trở lại của ông không thành thực. Ông đã là người tội lỗi, vơ vét tài sản trên lưng đồng bào nghèo khó. Đức Kitô đã phát hiện ra ông và ông đã đón tiếp Ngài vào nhà mình, tức cuộc đời mình. Ông đã mời Chúa dùng bữa với toàn thể gia đình, bữa tiệc bày tỏ tình bạn hữu chân thành. Mặc nhiên gia đình ông trở nên thân thiết với Chúa Giêsu. Vì thế Chúa tuyên bố: “Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham”. Phần Chúa Giêsu, tình thương của Ngài cũng vươn tới gia đình Giakêu rõ ràng. Ngài không để mất thời giờ, vội vàng phán bảo ông: “Xuống mau đi, vì hôm nay ta phải ở lại nhà ông”. Bổn phận của Ngài là cứu chữa linh hồn Giakêu, tội lỗi đầy mình. Tuy nhiên giữa Chúa Giêsu và Giakêu, ai là chủ, ai là khách? Thường tình Giakêu là chủ, nhưng thái độ tích cực của Chúa Giêsu chứng tỏ Giakêu là khách, Ngài là chủ. Bởi lẽ Ngài tìm kiếm và kêu gọi Giakêu. Ngài chủ động trong hoàn cảnh này, mặc dầu ngôi nhà là của Giakêu. Ngài đã mời Giakêu dự tiệc ngay trong nhà ông. Một điều hết sức gây ngạc nhiên cho người Biệt phái vì họ chẳng thể hiểu được tâm ý của Chúa Giêsu. Chúng ta xây dựng thánh đường, thấp hèn hay nguy nga tráng lệ, chúng ta họp nhau thờ phượng Ngài tại đó. Chúng ta mang bánh rượu dâng tiến Ngài trên bàn thờ. Nhưng xin nhớ chúng ta chỉ là khách được mời. Còn chính Chúa Giêsu mới là chủ sự bữa tiệc. Thiên Chúa đã dọn tiệc cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô. Ngài đã tìm kiếm và kêu mời nhân loại vào bàn tiệc. Cho nên chúng ta phải có tâm tình thống hối, tạ ơn giống như ông Giakêu. Sau đó đến lượt mình, chúng ta cũng phải ra đi, tìm kiếm và kêu mời những kẻ còn bên lề ơn cứu rỗi. Họ là ai? Có thể là cha mẹ, anh em, bà con, láng giềng, hay những kẻ tha hương lữ thứ, hoặc xì ke, ma tuý, đĩ điếm, cướp giật, lừa đảo, buôn gian bán lận. Những người mà Chúa Giêsu “phải ở trong nhà họ”. Amen.
Lm. Jude Siciliano, OP.

 

TN31-C55. Chúa đến tìm những người tội lỗi

VietCatholic News (29/10/2004 )
 

Phúc Âm Chúa Nhật tuần này một lần nữa nhắc cho chúng ta nhớ lại một trong những mục tiêu: TN31-C55

Phúc Âm Chúa Nhật tuần này một lần nữa nhắc cho chúng ta nhớ lại một trong những mục tiêu chính của Chúa Giêsu khi Người đến trong trần gian cách nay trên 2000 năm
Chúa đến để rao giảng Tin Mừng Cứu Độ hầu dẫn đưa mọi người vào Nước Thiên Chúa là Vương Quốc của bình an, yêu thương và công chính.Chúa cũng đến để kêu gọi những người tội lỗi hoán cải để được tha thứ : “Anh em hãy sám hối và tin vào Tín Mừng” (Mk 1, 15) Chúa không đến để tìm những người công chính, tốt lành, không cần thống hối vì “người khỏe mạnh không cần thầy thuốc.Người đau ốm mới cần”(Mt 9:12) Vì thế Chúa đã không lên án những người bị coi là tội lỗi công khai hay thầm kin. Ngược lại, Chúa tỏ lòng thương xót và khoan dung với họ, mong họ sám hối ăn năn để được tha thứ. như Người đã nói rõ trong bài Tin Mừng hôm nay : “ Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” ( Lk 19, 10).
Nhưng mục đích và thiện chí của Chúa phải được đáp trả bằng thiện chí tương xứng của con người muốn tìm đến với Chúa để lãnh nhận tình thương và ơn tha thứ...Nghĩa là nếu người tội lỗi biết ăn năn hối lỗi thì Chúa luôn rộng mở cánh tay nhân từ để đón nhận và tha thứ hết. Ngược lại, ai khước từ tình thương tha thứ này thì Chúa không thể cứu họ được. Người thu thuế Da Kêu biết mình tội lỗi và đang bị xã hội lên án nhưng chắc đã nghe nói về Chúa Giêsu và muốn tìm đến với Ngài. Tiếc thay anh ta lại thấp lùn nên bị những người cao lớn hơn che khuất không cho nhìn thấy Chúa giữa đám đông đang vây quanh.. Dầu vậy, Dakêu không thất vọng. Anh đã trèo lên một cây sung để hy vọng được thấy Chúa rõ hơn Sự kiện này đã nói lên thiện chí của anh muốn vượt qua trở ngại “lùn thấp” của mình để được xem thấy Chúa cách tỏ tường hơn. Nó cũng biểu lộ lòng ước muốn tìm gặp Chúa để được thông cảm, tha thứ.Chúa Giêsu đã nhìn rõ thiện chí và cố gắng này của Dakêu.,nên sau đó, Chúa đã vào nhà anh để dùng bữa mặc cho bọn Biệt phái sầm xì ca thán rằng “nhà của một người tội lỗi mà Ông ấy cũng vào trọ”.Ca thán như vậy vì họ không hề có chút tình thương thông cảm nào đối với những người mà họ coi là “tội lỗi xấu sa”,như Dakêu, người thu thuế. Họ cũng không muốn Chúa thương xót đám người này nữa. Cũng vì họ khép kín tâm hồn như vậy nên Chúa Giêsu đã nặng lời lên án họ như sau: “ Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình. Các ngươi khóa cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào ! Các ngươi đã không vào mà những kẻ muốn vào, các ngươi cũng không để họ vào..”(Mt 23: 13)..
Thế giới ngày nay còn quá nhiều những người đang bi xã hội lên án là tội lỗi, xấu sa. Và cũng còn rất nhiều “Biệt phái” khinh chê hạng người này và không muốn cho họ được thông cảm và hòa giải để sống trong bình an và thân tình với những người khác.
Còn chúng ta thì sao ? chúng ta có phải là những người tội lỗi nhưng không thất vọng về lòng thương xót của Chúa và cũng có thiện chí, cố gắng như Dakêu đang đi tìm gặp Chúa cho bằng được, hay đang tự cho mình là người công chính và không muốn Chúa thương xót kẻ tội lỗi như bọn Biệt phái kia ? Đó là những câu hỏi chúng ta cần suy nghĩ và tự trả lời trong tuần này.
Lm . FX. Ngô Tôn Huấn.

 

TN31-C56. ĐIỀU RĂN NÀO ĐỨNG ĐẦU?

VietCatholic News (01/11/2006)
Mc 12, 28-34
 

Chúa Giêsu cùng các môn đệ đang ngụ tại Giêrusalem chuẩn bị hoàn tất sứ vụ của Người ở trần gian: TN31-C56

Chúa Giêsu cùng các môn đệ đang ngụ tại Giêrusalem chuẩn bị hoàn tất sứ vụ của Người ở trần gian. Chính tại đây, Chúa Giêsu đã “đụng” với các thế lực quyền uy nhất thành đô, đó là giới Pharisêu, Kinh sư, phe Hêrôđê và nhóm Sađốc. Tin mừng Chúa nhật hôm nay chính là một trong ba cuộc tranh luận tay đôi giữa Chúa Giêsu với nhóm người trên. Cuộc tranh luận hôm nay liên quan đến vấn đề điều răn nào là điều răn đứng đầu trong toàn bộ lề luật.
Câu hỏi của người Kinh sư liên quan đến điều răn nào trọng nhất không khỏi làm chúng ta có cảm giác rằng chính ông tuy là người sau bao nhiêu năm miệt mài nghiên cứu và đã trở nên một nhà chuyên môn về Kinh thánh; là người kế t hừa truyền thống các Ngôn sứ, có đầy đủ quyền để giải thích và áp dụng lề luật tuỳ theo từng hoàn cảnh; là một trong những nhân vật quan trọng trong Thượng hội đồng Dothái, thế nhưng khi đứng trước lời giáo huấn- hay đúng hơn trước những cuộc tranh luận đầy Thượng trí và khôn ngoan của Chúa với những người cùng giới - trong tận sâu thẳm nơi con người ông có một sự lung lay trước vấn đề mà có lẽ sau bao năm tìm kiếm ông vẫn chưa thể nào hiểu thấu : “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?”.
Chúng ta biết là, ngoại trừ Lề luật đã được ghi trong Sách thánh, chính giới Kinh sư này còn bày vẽ hàng loạt những điều luật khác với con số ớn lạnh : 613 điều trong đó gồm 248 điều khuyên làm và 365 điều cấm. Chính vì thế, chúng ta khÍ ?ng ngạc nhiên khi thấy ông Kinh sư kia túng túng không biết đâu là thực đâu là giả trong khu rừng lề luật dù ông là bậc Rápbi của Dothái!
Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp câu hỏi của ông, đáp lại, Người đọc đoạn kinh có tên là “Shema” là kinh mà mỗi người Dothái đều đọc mỗi ngày để tuyên xưng niềm tin. Kinh này được trích trong sách Đệ nhị luật (x. Đnl 6, 4-5). Và điều răn thứ hai được Chúa Giêsu đọc trong sách Lêvi khi nói về bổn phận phải yêu thương người thân cận như chính mình (x. Lv 19, 18). Người đưa đến kết luận : chẳng có điều răn nào khác lớn hơn hai điều răn ấy.
Người Kinh sư đã bị thuyết phục trước giáo huấn của Chúa Giêsu. Con mắt tâm hồn ông giờ đây đã được khai mở sau bao nhiêu năm mờ khuất : “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”.
Thưa ông Kinh sư, ông đã đúng! Tình yêu Thiên Chúa và mối tình đối với tha nhân phải được xem là “quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”. Chúng ta thấy tư tưởng này trước đây Ngôn sứ Hôsê đã quảng diễn khi nói về tình yêu của Giavê : “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Hs 6,6). Tư tưởng của ông Kinh sư giờ đây đã rất gần với tư tưởng của Chúa Giêsu khi tìm ra chân lý tối việt cho hành trình theo Chúa của mình.
Như thế là, Lời Chúa nhắc nhớ mỗi người chúng ta điều quan trọng này, đó là tình yêu của chúng ta đối với t ha nhân phải đạt tới mức cao nhất. Nghĩa là mức độ đó phải làm sao cân bằng với mức độ mà chúng ta yêu chính bản thân mình. Thánh Bênađô viết : “Giới hạn của tình yêu là yêu không giới hạn”. Lẽ dĩ nhiên, chúng ta biết, theo sự thường, ai trong chúng ta cũng đều quý mình hơn tha nhân, xem mình hơn người. Thế nên, để được như điều Chúa muốn thật khó nhưng không phải là không thể bằng cách siêng năng chạy đến với Chúa mỗi ngày qua kinh nguyện, qua bí tích; đến với tha nhân trong sự chia sẻ, thăm viếng khi họ gặp khốn khó. Hy vọng với ơn Chúa biến đổi sẽ giúp cho mỗi người chúng ta ngày càng mến Chúa và yêu người hơn.
Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

 

TN31-C57. TÌNH THƯƠNG CỦA CHÚA!

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Xin được mượn lời của nhạc sĩ Phương Anh “Tình Thuơng của Chúa, con sẽ ca ngọi Tình hương của: TN31-C57

Xin được mượn lời của nhạc sĩ Phương Anh “Tình Thuơng của Chúa, con sẽ ca ngọi Tình hương của Ngài suốt năm canh dài. Con sẽ ca ngọi đến muôn muôn đời” để bước vào Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXXI Mùa Quanh Năm năm C này. Thiên Chúa của Ki-tô giáo là Thiên Chúa Yêu Thương đáng được chúc tụng vì “Chúa xót thưong hết mọi người, Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu”. Nhưng càng ngày người ta càng xem thường Thiên Chúa Yêu Thuơng ấy. Con người thời nay, nhất là ở các nước tiên tiến về khoa học kỹ thuật, đối xử với Thiên Chúa chẳng khác gì những đứa trẻ con nhà giầu, được cha mẹ cung cấp mọi tiện nghi cuộc sống, tạo mọi điều kiện để công thành danh toại, nhưng chúng lại không nhận biết công ơn của cha mẹ, thậm chí còn phung phá và hư hỏng nữa. Mạc khải Thánh Kinh còn cho chúng ta biết là Thiên Chúa còn lên đường tìm kiếm và ra tay cứu vớt những người con sa ngã, lỗi phạm. Các bài Sách Thánh hôm nay mời chúng ta khám phá lại Đấng Thiên Chúa Yêu Thương ấy, để biết cách sống đẹp lòng Người và loan truyền Tình Thương của Người cho hết mọi người.              
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1: Lời Chúa trong Sách Khôn Ngoan (11,22-12,2): 22 Trước Thánh Nhan, toàn thể vũ trụ ví tựa hạt cát trên bàn cân, tựa giọt sương mai rơi trên mặt đất.
23 Nhưng Chúa xót thương hết mọi người, vì Chúa làm được hết mọi sự. Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải. 24 Quả thế, Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra,
vì giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên. 25 Nếu như Ngài không muốn, làm sao một vật tồn tại nổi? Nếu như Ngài không cho hiện hữu, làm sao nó có thể được duy trì? 26 Lạy Chúa Tể là Đấng yêu sự sống, Chúa xử khoan dung với mọi loài, vì mọi loài đều là của Chúa.
           1 Quả vậy, lạy Đức Chúa, sinh khí bất diệt của Ngài ở trong muôn loài muôn vật. 2 Vì thế, những ai sa ngã, Chúa sửa dạy từ từ. Chúa cảnh cáo họ, nhắc cho họ nhớ họ đã phạm tội gì, để họ bỏ điều ác mà tin vào Chúa.
(2) Bài đọc 2: Lời Chúa trong thư 2 của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi ttín hữu Thê-xa-lô-ni-ca (2 Tx 1,11-2,2): 11 Vì thế, lúc nào chúng tôi cũng cầu nguyện cho anh em: xin Thiên Chúa chúng ta làm cho anh em được xứng đáng với ơn gọi, và xin Người dùng quyền năng mà hoàn thành mọi thiện chí của anh em và mọi công việc anh em làm vì lòng tin. 12 Như vậy, danh của Chúa chúng ta là Đức Giê-su, sẽ được tôn vinh nơi anh em, và anh em được tôn vinh nơi Người, chiếu theo ân sủng của Thiên Chúa chúng ta và của Chúa Giê-su Ki-tô.
               1 Thưa anh em, về ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, quang lâm và tập hợp chúng ta về với Người, tôi xin anh em điều này: 2 nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã được thần khí mặc khải, hoặc đã nói, đã viết thư quả quyết rằng ngày của Chúa gần đến, thì anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ.
(3) Bài Tin Mừng: Lời Chúa trong Sách Tin Mừng theo Thánh Lu-ca (Lc 19,1-10): 1 Sau khi vào Giê-ri-khô, Đức Giê-su đi ngang qua thành phố ấy. 2 Ở đó có một người tên là Da-kêu; ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có. 3 Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giê-su là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn. 4 Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giê-su, vì Người sắp đi qua đó. 5 Khi Đức Giê-su tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: "Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông! "6 Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người. 7 Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: "Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!" 8 Ông Da-kêu đứng đó thưa với Chúa rằng: "Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn." 9 Đức Giê-su mới nói về ông ta rằng: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. 10 Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất."
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 (Kn 11,22-12,2) là kinh nghiệm tôn giáo và tâm linh của dân riêng của Thiên Chúa đã được tác giả Sách Khôn Ngoan đúc kết lại. Thật lạ lùng là trong một thế giới chật hẹp và cục bộ, mà người tin theo Chúa lại có những quan điểm rộng mở và đại đồng như vậy. Nào là “Chúa xót thương hết mọi người - Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra- Chúa xử khoan dung với mọi loài, vì mọi loài đều là của Chúa”, nào là “Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải.” Hoặc “giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên.” 
Qua đoạn của Sách Khôn Ngoan (11,22-12,2) này, chúng ta thấy rõ tấm lòng bao la, quảng đại, yêu thương của Thiên Chúa. Nói đúng hơn, yêu thương là bản chất của Thiên Chúa như Thánh Gio-an đã viết: “Thiên Chúa là Tình Yêu!”
(2) Bài đọc 2 (2 Tx 1,11-2,2 là những lời Thánh Phao-lô viết cho các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca mà Ngài luôn cầu nguyện cho, để - với ơn Thiên Chúa trợ giúp - họ thực thi ơn gọi và làm sáng danh Chúa qua những việc họ được mời thực hiện.
            Trong đoạn thư thứ hai của Thánh Phao-lô gửi các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca (1,11-2,2), chúng ta được biết: Thiên Chúa là đấng quyền năng và sẵn sàng trợ giúp các tín hữu hết lòng thờ kính và tìm vinh danh Người với tất cả thiện chí và bằng mọi công việc. 
(3) Bài Tin Mừng (Lc 19,1-10) là tường thuật độc đáo của Phúc âm Lu-ca về câu truyện Chúa Giê-su đến nhà ông Gia kêu, một nhân vật nổi tiếng về sự giầu có và về chức vụ quan trọng trong xã hội thời bấy giờ. Nhưng vì làm nghề thu thuế, ông bị người Do Thái khinh rẻ và bị các người Biệt Phái coi là người tội lỗi. Thế mà Chúa Giê-su đã cư xử với ông một cách trân trọng và yêu thương, đúng như sách Khôn Ngoan đã ghi chép về cách cư xử của Thiên Chúa.
                   Qua đoạn Phúc âm Lc 19,1-10 này chúng ta khám ra Thiên-Chúa-làm-người  là Chúa Giê-su Ki-tô, đã trân quý và cứu vớt người tội lỗi một cách tuyệt vời như thế nào. Chúa đã chủ động tìm đến với ông Gia-kêu bất chấp thành kiến và dư luận xã hội. Chúa đã thay lòng đổi dạ ông, đã giúp ông hoán cải và làm lại cuộc đời, vì ông cũng là con cái Chúa và vì sứ mạng của Con Người là “đến để tìm và cứu những gì đã mất."
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?    
Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay được chứa đựng trong đoạn sách Khôn ngoan và trong câu truyện của Phúc âm Lu-ca. Nói rõ hơn:                      
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hiểu rõ tấm lòng của Thiên Chúa là Đấng, đã vì yêu thương, mà dựng nên mọi loài, mọi người. Thiên Chúa xót thương mọi người, nhất là những kẻ có tội. Người chỉ mong tội nhân ăn năn hối cải để được thứ tha và ở kề bên Chúa. 
          Lời Chúa hôm nay cũng mời gọi chúng ta hiểu rõ sứ mạng của Chúa Giê-su K-tô. Đó là cứu vớt những gì đã mất, đến với những con bệnh (hay chiên lạc) về thể lý và nhất là về tâm linh, để cứu chữa và đem về dưới mái nhà Cha.

III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
                   Sống sứ điệp của Lời Chúa chúng ta có ba việc phải làm:  (1o) Trước hết là cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Thiên Chúa và Chúa Giê-su Ki-tô về tình thương tạo dựng và cứu độ mà chúng ta đang được thừa hưởng một cách “nhưng không”. (2o) Thứ hai là giao phó cả cuộc đời mình cho tình thương ấy che phủ, bao bọc, thứ tha, chữa lành và biến đổi. (3o) Sau cùng là thể hiện một tấm lòng yêu thương, quý trọng đối với những người mà chúng ta cho rằng họ ở xa Chúa và đi ngược với giáo lý của Chúa, tức là những người khô khan, nguội lạnh, tội lỗi.
IV. CẦU NGUYỆN  (Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân trong Thánh Lễ)
4.1 Chúng ta hãy cầu nguyện cho Hội Thánh, nhất là cho các vị lãnh đạo là Đức Thánh Cha Bê-nê-đi-tô XVI, các Giám Mục, các Linh Mục, Phó Tế và Tu Sĩ Nam Nữ, để các vị ấy cảm nghiệm được Tình Thương của Thiên Chúa và của Chúa Giê-su Ki-tô, mà không ngừng cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Tình Thương ấy.  
                 X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
                   Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.2 Chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi người trong giáo xứ (cộng đồng/cộng đoàn) chúng ta, nhất là cho những người có chức vụ và trách nhiệm chung, để mọi người cảm nghiệm được Tình Thương của Chúa và sống yêu thương, phục vụ giáo xứ cộng đồng/cộng đoàn.
                 X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
                   Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.3 Chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi người trong giáo xứ (cộng đồng/cộng đoàn) chúng ta, để mọi người nhìn nhận mình là người tội lỗi, thiếu sót và yếu đuối,  mà giao phó cuộc đời mình cho Tình Thương chữa lành và biến đổi của Thiên Chúa. 
                 X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
                   Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.4 Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người sống trong mặc cảm tội lỗi, do bị hoàn cảnh cá nhân hoặc xã hội khống chế, để họ khám ra Thiên Chúa là Đấng xót thương mọi người và thứ tha mọi tội lỗi, mà tin tưởng quay trở về với Thiên Chúa.
                 X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
                   Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 
         Seattle ngày 21 tháng 10 năm 2007

 

TN31-C58. Tầm cao của Phúc Âm

Giakêu là một người giàu có. Sự giàu có của ông có thể khiến cho người ta có lý do chính đáng: TN31-C58

Giakêu là một người giàu có. Sự giàu có của ông có thể khiến cho người ta có lý do chính đáng nghi ngờ ông tham nhũng. Thật vậy, phụ trách thu thuế cho người La mã chiếm đóng xứ sở mình, ông trích ra những khoản đáng kể làm của riêng, lấy ở những số tiền thuế do ông quản lý. Vậy mà Đức Giêsu đã không nề hà đến thăm, lưu lại nhà ông, đem đến cho ông ơn cứu rỗi. Đoạn kết bài tường thuật nhấn vào ý nghĩa sứ vụ của Chúa là đến cứu rỗi nhân loại. Vấn đề đặt ra ở đây là gì? Ơn cứu rỗi đối với ông Giakêu phải chăng là bố thí rộng rãi và hoàn trả gấp bội số tiền phù thu lạm bổ? Chúng ta không nên tách riêng đoạn Phúc Âm hôm nay với giáo huấn tổng quát của Đức Kitô về của cải thế gian. Mọi của cải thế gian, mọi sự giàu có, bất lương hay lương thiện cũng vậy, đều có xu thế chiếm đoạt tâm hồn, đều được chứa đựng hiểm họa gây thiệt hại cho kẻ khác. Muốn được cứu rỗi thì phải cố lên tới tầm mức Nước Thiên Chúa, ở độ cao ấy tâm hồn tự giải thoát khỏi sự chi phối của tiền bạc để có thể thờ phụng Thiên Chúa và đối xử với đồng loại bằng một tình huynh đệ thực tế và công bằng. Tình thương công bằng cho đồng loại, ưu tiên tuyệt đối cho Thiên Chúa, đó là tầm cao ơn cứu rỗi của Phúc Âm. Thế mới biết, những viễn ảnh muốn nhìn Phúc Âm như một hệ thống bình đẳng đáng ngờ trong hưởng thụ của cải đời này, quả là một lối nhìn thiển cận biết chừng nào. Phúc âm trong thực tế chủ trương công bằng xã hội, chính là vì Phúc Âm nhắm một mục tiêu vượt xa đời này vô cùng. Ơn cứu rỗi của Phúc Âm ở tầm cao của đức tin và trong trật tự đức tin. Do đó có hai câu hỏi:
1)      Ai dám tự phụ hoàn toàn không mắc cái “tội” của ông Giakêu? Kitô hữu nào thật sự giàu hoặc thèm muốn giàu mà không cần lo giải thoát tâm hồn mình khỏi sức hấp dẫn của tiền bạc? Tới đây, chúng ta phải đề phòng kẻo rơi vào một ảo tưởng. Sống trong hoàn cảnh đầy đủ, người ta có thể ngay lòng xác nhận mình không bận tâm về của cải thế gian. Nhưng trong hoàn cảnh may mắn ấy, người ta có đặt ưu tiên cho việc thờ phụng Thiên Chúa không? Vì ở đây không chỉ là giá trị của sự từ bỏ những điều giam hãm tâm hồn, ở đây là giá trị của sự thờ phụng và kính mến Thiên Chúa hằng sống.
2) Đức Giêsu có ghét bỏ Giakêu kẻ giàu có không? Chúng ta biết rõ Đức Giêsu nghĩ gì về sự giàu có. Thế mà Người đối thoại với những kẻ giàu. Chúa đứng về phía những kẻ hèn mọn, nghèo khổ, Chúa bênh vực quyền lợi họ, nhưng không lấy đó làm vũ khí chống kẻ giàu có. Chúa không hô hào bần cùng hóa nhà giàu và tư hữu hóa kẻ nghèo. Tất nhiên Đức Giêsu tiếp lời các ngôn sứ giảng dạy về sự Thiên Chúa đòi hỏi gắt gao phải đối xử công bằng. Nhưng Đức Giêsu đi xa hơn nữa, Người nhắm vấn đề cơ bản. ‘Người này cũng là con cái Abraham’, Chúa nói như thế về ông Giakêu ăn năn trở lại. Vậy thì, con cái Abraham, nghĩa là gì? Là đặt niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa và tin cậy sắt đá vào Thiên Chúa. Dòng dõi thiêng liêng Abraham tập hợp và liên kết chặt chẽ với nhau trong niềm tin vào Đức Kitô. Kẻ nào thành thật sống niềm tin ấy thì tìm được thái độ thích đáng là không gắn bó thiết tha với sự giàu có, giàu có thật sự hoặc giàu có trong mơ ước thèm khát cũng vậy.

 

TN31-C59. Tiền bạc

Qua thái độ đền bù rộng rãi của ông Giakêu tôi muốn chia sẻ một vài ý tưởng nhỏ mọn về: TN31-C59

Qua thái độ đền bù rộng rãi của ông Giakêu tôi muốn chia sẻ một vài ý tưởng nhỏ mọn về vấn đề tiền bạc.
Người xưa đã nói: của đồng lần thiên hạ tiêu chung. Thực ra tiền bạc có mục đích là để phục vụ con người. Nó được dùng để nuôi sống và thăng tiến con người toàn diện. Vì thế của cải phải được phân chia công bằng, và mọi người phải chung tay đóng góp vào đó. Kẻ giàu phải biết mở rộng con tim và bàn tay cứu giúp người nghèo túng. Còn người nghèo, không có gì phải mặc cảm khi nhận lãnh sự giúp đỡ của họ, dù giá nào mình vẫn sống khiêm hạ và công chính. Nào có ai giàu ba họ khó ba đời đâu mà lo!.
Trên thực tế, chúng ta thấy có điều đáng buồn, đó là số người nghèo quá đông, chiếm tới 3/4 nhân loại. Còn kẻ giàu lại làm giàu trên sự túng cực của người nghèo. Kẻ giàu thì như chuột sa chĩnh gạo, còn người nghèo thì lại bị chó cắn áo rách. Giàu nghèo mãi mãi trở thành hai phe chống đối nhau, gieo tai họa cho nhau.
Kinh Thánh đã lên án những kẻ giàu bất công và ích kỷ. Đồng thời tục ngữ Việt Nam cũng xác quyết :
- Của thiên trả địa.
- Của phù vân thì vần xuống biển.
Của cải dành cho một số người có nghĩa là nó sẽ loại trừ hạnh phúc của một số đông. Của cải sẽ làm cho chúng ta xa lìa Thiên Chúa là Đấng ban phát cho chúng ta. Một xứ đầy vàng bạc sẽ chóng biến thành ngẫu tượng. Vì khi đã mãn nguyện rồi, họ sẽ kiêu căng mà lãng quên Thiên Chúa. Và chính Chúa Giêsu cũng đã cảnh cáo : Không ai có thể làm tôi hai chủ, hoặc yêu chủ này mà ghét chủ kia, cũng vậy không ai có thể làm tôi Thiên Chúa và vừa làm tôi tiền bạc. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Trời.
Bởi đó, vấn đề là phải biết san sẻ cho nhau, bởi vì không ai có thể tự sống tự lập một  mình, không cần nhờ cậy ai. Ngay như kẻ giàu có, cũng phải nhờ vào người nghèo túng mà trở nên khấm khá. Cho nên chia sẻ là điều hợp tình và hợp ý.
Trước hết là cùng nhau chia sẻ những gì mình có. Chẳng hạn cùng là người Việt Nam, chúng ta hãy chia sẻ gia tài quí giá cũng như phúc lộc do tổ tiên để lại về luân lý và văn hóa. Cùng là con cái Thiên Chúa, chúng ta hãy chia sẻ với nhau trong Giáo Hội những việc lành thánh và ơn cứu rỗi. Còn về của cải, chúng ta thấy các tín hữu đầu tiên ở Giêrusalem đã chia sẻ cơm áo cho nhau không để của mình là của riêng.
Tiếp đến là chia sẻ cái mình hơn cho người kém, cái mình có mà người khác không có và ngược lại người khác cũng làm như thế. Đó là lá lành đùm lá rách, có đi có lại, chị ngã em nâng.
Thật ra chúng ta luôn luôn có những cái để chia sớt và luôn có những người để lãnh nhận, vì chính chúng ta cũng đang ở trong tình trạng như thế. Cùng là chi thể của một thân thể, chúng ta có trách nhiệm lẫn nhau như câu nói: ‘Môi hở răng lạnh, một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ’.
Và sau cùng, chúng ta phải sống thế nào để đem lại hạnh phúc cho người khác, nhất là những người túng thiếu hơn mình. Chúng ta phải coi hạnh phúc của người khác là hạnh phúc của mình. Khóc cùng kẻ khóc, vui cùng kẻ vui.
Sự chia sẻ cho người khác hàm ý cho đi mà không đòi lại, cho đi thì có phúc hơn là nhận lãnh. Hãy coi sự cho đi của tre già cho măng mọc, của cha mẹ cho con cái được phát triển. Chúng ta hãy nối rộng vòng tay tình thương đến những ai đang cần tới chúng ta để họ thuộc về gia đình của Chúa sớm hơn.
Hãy coi Chúa Giêsu, Đấng giàu có đã trở nên nghèo khó để nhờ Ngài mà chúng ta được trở nên giàu có, thì đến lượt chúng ta, chúng ta không có quyền sống ích kỷ hưởng thụ cho riêng mình. Tất nhiên cho đi là tiếc xót và thiệt hại, nhưng khi chúng ta đã chọn Chúa làm gia nghiệp thì Ngài sẽ là tất cả cho chúng ta.

 

TN31-C60. Ánh mắt yêu thương. ĐTGM Ngô quang Kiệt.

Mỗi khi đọc câu chuyện ông Giakêu, tôi ngỡ ngàng trước ánh mắt của Chúa Giêsu khi Ngài: TN31-C60 FB

Mỗi khi đọc câu chuyện ông Giakêu, tôi ngỡ ngàng trước ánh mắt của Chúa Giêsu khi Ngài nhìn lên ông Giakêu trên cây sung. Ánh mắt ấy có sức mạnh kỳ lạ. Ánh mắt ấy chất chứa bao tâm tình. Chỉ trong một ánh mắt cuộc đời Giakêu hoàn toàn biến đổi.
Đó là ánh mắt quan tâm. Chúa Giêsu vào thành Giêricô. Giêricô là một thành phố rộng lớn, người đông đúc, buôn bán sầm uất. Một đám đông lớn đi theo Chúa Giêsu. Trong khi đó ông Giakêu thật bé nhỏ. Nên ông phải leo lên cây sung để nhìn Chúa. Thật lạ lùng. Giữa đám đông mênh mông ấy, Chúa vẫn nhìn thấy ông Giakêu, dù ông thấp lùn. Giữa muôn người, Chúa chỉ tìm Giakêu. Lại còn biết rõ tên ông. Điều đó chứng tỏ Chúa quan tâm tới Giakêu, dù ông bé nhỏ trong một đám đông hỗn độn. Giakêu chắc chắn cảm thấy ấm lòng vì ánh mắt quan tâm của Chúa.
Đó là ánh mắt khiêm nhường. Hãy tưởng tượng cảnh Chúa ngước lên nhìn Giakêu. Chúa nhìn lên. Giakêu nhìn xuống. Thật là một cảnh tượng phi thường. Người có tầm vóc cao lớn phải ngước nhìn lên mới gặp ánh mắt người thấp bé. Thiên Chúa phải ngước mắt nhìn  lên mới gặp được phàm nhân. Đấng vô cùng thánh thiện phải ngước mắt nhìn lên mới gặp kẻ tội lỗi tầy trời. Tạo hóa phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được thụ tạo. Đấng Cứu Độ phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được kẻ cần được cứu. Đấng tha tội phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được kẻ cần được thứ tha. Thật là một sự khiêm nhường thẳm sâu. Giakêu chắc chắn phải choáng váng vì ánh mắt khiêm nhường của Chúa.
Đó là ánh mắt tha thứ. Nguyên một việc quan tâm tìm kiếm cũng đã chứng tỏ Chúa tha thứ cho ông rồi. Huống hồ Chúa còn khiêm tốn ngước nhìn lên. Hơn thế nữa Chúa còn ngỏ lời muốn đến thăm nhà ông. Giakêu chưa tìm Chúa thì Chúa đã tìm Giakêu. Giakêu chưa gọi Chúa thì Chúa đã gọi Giakêu. Giakêu chưa mời thì Chúa đã ngỏ ý đến nhà. Giakêu chưa xin lỗi thì Chúa đã tha thứ. Ánh mắt tha thứ mới khoan dung độ lượng và ấm áp làm sao. Giakêu chắc chắn tràn đầy niềm hối cải khi nhìn vào ánh mắt tha thứ của Chúa.
Đó là ánh mắt tin tưởng. Chúa Giêsu nhìn Giakêu bằng ánh mắt tin tưởng. Tin tưởng nên không nhìn về quá khứ mà chỉ hướng về tương lai. Chúa quên hết tội lỗi của ông. Hơn thế nữa Chúa tin rằng ông sẽ nên người tốt. Chúa tin rằng ông sẽ làm lại cuộc đời. Chúa tin vào tương lai của ông. Nên Chúa đã nhìn ông. Nên Chúa tha thứ cho ông. Nên Chúa kết thân với ông. Trước ánh mắt tin tưởng của Chúa, chắc chắn Giakêu sẽ cương quyết làm lại cuộc đời.
Đó là ánh mắt yêu thương. Tất cả sẽ không thể giải thích được nếu không có tình yêu. Chúa quan tâm tới Giakêu vì Chúa yêu thương ông, như người mục tử tốt lành đi tìm con chiên lạc. Chúa khiêm nhường vì Chúa yêu thương ông, như người cha cõng con trên vai. Chúa tha thứ vì Chúa yêu thương ông, như người cha sẵn sàng chờ đón đứa con hoang đàng. Chúa tin tưởng vì Chúa yêu thương ông, như người mẹ không khi nào nói rằng con mình xấu, dù nó phạm tội trăm lần. Chúa nhìn ông bằng ánh mắt yêu thương. Ngập tràn trong yêu thương, trái tim Giakêu bừng lên ngọn lửa yêu thương. Đời ông được đốt cháy trong yêu thương. Nên ông đã đáp lại tình yêu thương của Chúa. Vì yêu mến Chúa mà ông yêu thương đồng loại. Yêu thương nên đền bù thiệt hại. Yêu thương nên chia sẻ chân thành.
Lạy Chúa, Chúa luôn nhìn con bằng ánh mắt yêu thương. Xin cho con biết nhìn vào mắt Chúa, nhận ra tình yêu thương của Chúa và biến đổi cuộc đời như ông Giakêu.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1) Chúa nhìn Giakêu bằng ánh mắt thế nào?
2) Giakêu đã đáp lại ánh mắt của Chúa ra sao?
3) Bạn có bao giờ nhìn thấy ánh mắt Chúa nhìn bạn chưa?
4) Bạn có muốn nhìn tha nhân bằng ánh mắt của Chúa không?

 

TN31-C61. GẶP GỠ ĐỨC KITƠ

Một trong những người tiền phong vận động chính phủ cải cách hệ thống nhà tù ở Hoa Kỳ là: TN31-C61

Một trong những người tiền phong vận động chính phủ cải cách hệ thống nhà tù ở Hoa Kỳ là một tội phạm đã hối cải, tên Starr Daily. Câu chuyện ông hoán cải thật lạ lùng nhưng thật tuyệt vời như sau:
Khi Daily bị kết án tù lần thứ ba trong đời, quan toà nói với ông:
- Có phạt thêm nữa thì ông ấy cũng vậy, và tôi không biết phải làm gì khác trong vụ xử ông.  Sự bất lực của chúng tôi là sự tuyệt vọng của ông.
Trong thời gian ở tù, lối sống của Daily thật tệ hại đến nỗi người ta phải giam ông vào một cái "hố" biệt lập. Thông thường một tù nhân chỉ có thể chịu nổi cảnh giam cầm đó hai tuần lễ. Sau đó có bác sĩ đến thăm và ra lệnh đưa về nhà giam bình thường.
Nhưng trường hợp của Daily thì đã hơn hai tuần lễ và vẫn tiếp tục. Rồi một ngày kia, một sự kiện khác thường xẩy đến. Khi Daily nằm trên sàn lạnh lẽo của cái "hố", một tư tưởng kỳ lạ nảy ra trong đầu. Ông thường có một sức mạnh và năng lực đáng kể. Bỗng dưng ông tự hỏi điều gì sẽ xảy ra cho ông nếu ông dùng sức mạnh và năng lực ấy để làm việc thiện hơn là làm điều xấu. Ý tưởng ấy tràn ngập tâm trí ông. Và trong một thời gian thật lâu, ông nằm suy nghĩ về điều đó.
Điều kế tiếp xẩy đến thì thật khó để diễn tả. Daily bắt đầu có những giấc mơ đứt đoạn về Đức Giêsu Kitô, là người mà từ lâu ông cố gạt ra khỏi cuộc đời mình. Trong giấc mơ, ông thấy Đức Giêsu đứng bên cạnh ông và nhìn vào mắt ông. Tất cả những người mà Daily đã làm họ đau khổ dường như lướt qua trong tâm trí ông. Và khi đó, Daily đã tỏ lòng thương mến họ,
Cảm nghiệm đó đã thay đổi hoàn toàn con người Daily. Trước đó, ông là một tội phạm cứng cỏi, đầy căm thù. Sau đó, ông là một con người mới, đầy tình yêu.
Sau cùng, Daily được phóng thích và bắt đầu một sự nghiệp mới để nói chuyện và viết lách hỗ trợ việc cải cách nhà tù.
Nhận định về sự hoán cải lạ lùng của ông Daily, ông Peter Marshall, một tuyên uý nổi tiếng của Quốc Hội, nói rằng: "Starr Daily là một bằng chứng sống động tốt nhất mà tôi chưa từng thấy, đó là ‘một tạo vật mới trong Đức Giêsu Kitô’. Ông không chỉ là một con người cũ được chắp vá, nhưng là một con người hoàn toàn mới "
(Catherine Marshall, A Man Called Peter.)
* * * * *
Câu chuyện của ông Starr Daily có sự tương đồng kỳ lạ với câu chuyện của ông Giakêu trong bài Phúc Âm hôm nay.
Cả hai đều có đời sống tệ hại. Cả hai đều gặp gỡ Chúa Giêsu. Cả hai đều thay đổi nhờ sự gặp gỡ đó. Và cả hai đều đền bù cho quá khứ.
Daily tuôn đổ tình yêu trên những người mà ông đã làm tổn thương họ. Ông dành trọn cuộc đời còn lại để vận động cải cách hệ thống nhà tù.
Giakêu phân phát nửa gia tài cho người nghèo. Và những ai bị ông lường gạt đều được bồi thường gấp bốn. Số tiền bồi thường này nhiều hơn luật buộc gấp đôi. (Xh 22:3)
Bạn và tôi, chúng ta áp dụng câu chuyện của ông Daily và ông Giakêu vào đời sống của chúng ta như thế nào?
Cả hai câu chuyện đều nhắc nhở chúng ta về một điều mà chúng ta thường hay quên. Chúa Giêsu muốn đi vào cuộc đời chúng ta và thay đổi chúng ta trở nên tốt hơn, cũng như Người đã thay đổi ông Daily và Giakêu.
* * * * *
Bạn thân mến, Chúng ta hãy kết thúc bài chia sẻ hôm nay với những lời thật tuyệt vời của Chúa Giêsu nói với chúng ta qua sách Khải Huyền (3:20):
"Hãy lắng nghe! Ta đứng ở ngoài cửa và gõ; nếu ai nghe tiếng Ta và mở cửa, Ta sẽ đi vào nhà của họ và ăn với họ, và họ sẽ ăn với Ta"
Trích R. Veritas

 

TN31-C62. NỖI NIỀM DA-KÊU

 (x. Lc 19:1-10; 5:29-32)
 

Da-kêu vội vã rảo bước trên con đường dắt ra trung tâm thành phố, ánh mắt sắc bén đánh một vòng: TN31-C62.

Da-kêu vội vã rảo bước trên con đường dắt ra trung tâm thành phố, ánh mắt sắc bén đánh một vòng xung quanh như đang tìm kiếm cái gì đó để định hướng cho bước chân.  Đôi tai ông vểnh lên nghe ngóng, cánh mũi to phập phồng lên xuống theo nhịp thở như đang cố gắng tận dụng hết chức năng của mình để ngửi ra mùi vị mới lạ của thành phố Giê-ri-khô.  “A, đây rồi!”, mắt ông nheo lên mừng rỡ.  Một đám bụi mịt mờ xa xa cuối con đường lớn cùng với tiếng người ồn ào xôn xao khiến bước chân ông bẻ ngoắt tiến nhanh về hướng đó.
Giê-ri-khô, một thành phố nhộn nhịp trù phú nằm trong vùng thung lũng sông Gio-đan, mấy hôm nay đang sôi lên với bước chân viếng thăm của một vị ngôn sứ cùng với nhóm môn đệ Ngài.  Trước khi đặt chân vào thành phố giàu có này, vị ngôn sứ mang tên Giêsu đã chữa lành một người mù ngoài cổng thành, làm bao nhiêu phép lạ khác và giảng dạy những điều mới mẻ về Tình Yêu, Nước Thiên Chúa, và những điều răn mới….  Phố xá hôm nay vắng tanh, hàng quán đóng cửa, người ta bỏ cả công việc đồng áng ùn ùn kéo nhau đi nghe Giêsu giảng dạy. 
Hôm nay Da-kêu quyết phải gặp mặt cho được vị ngôn sứ này để xem thực hư ra sao, có đúng như lời thiên hạ đồn đãi hay không.  Những gì mà ông được nghe đồn thổi về Giêsu đã kích thích óc tò mò của ông.  Thật ra, cái mà thôi thúc ông phải thấy tận mắt con người bằng xương bằng thịt Giêsu chính là câu chuyện truyền miệng gây xôn xao trong thành phần thu thuế mà ông là người thủ lãnh.  Đấng tự xưng là Con Người đến rao giảng như một Đấng Thiên Sai đầy quyền uy lại thu nhận một đệ tử là tay thu thuế Lê-vi lợi hại.  Chưa hết, ông Giêsu ấy lại còn ngồi cùng bàn ăn uống với nhóm bạn bè ông, đám thu thuế sừng sỏ và các cô gái làng chơi, những người mà dưới mắt dân chúng là tay sai ngoại bang, gian ác và đầy tội lỗi.  Dĩ nhiên là trong buổi tiệc đó ông Giêsu bị nhóm Pha-ri-sêu và kinh sư chống đối kịch liệt nhưng ông ta vẫn tiếp tục ngồi ăn, còn mắng vào mặt những con người đạo đức giả hình đó nữa.  Hay lắm!  Khá lắm!  Câu chuyện này làm Da-kêu thích thú và ông rất ngưỡng mộ trước hành động “ngang tàng” của vị ngôn sứ có một không hai này.  Chỉ tiếc là ông không có mặt trong buổi tiệc hôm đó! 
********
Đôi chân ngắn ngủn của ông chẳng mấy chốc bắt kịp đám đông.  Ông kinh ngạc mở to đôi mắt nhìn dòng thác người chen chúc.  Đúng là một đám đông khổng lồ di chuyển!  Ông không ngờ thiên hạ lại đi nghe ông Giêsu giảng đông đến thế.  Da-kêu không thấy gì hết, chỉ có người, hơi người và bụi mịt mờ trong nắng chiều gay gắt.  Những cái lưng ướt đẫm mồ hôi quay lưng ngược về phía ông đang chầm chậm đi giựt lùi lại phía sau, vừa đi vừa gật gù cái đầu ra chiều đắc ý với những lời giảng dạy. 
Ông len lỏi chạy vòng ra phía sau đám đông.  Cũng không thấy gì nốt!  Vẫn chỉ là những cái lưng di động tiến về phía trước, còn Giêsu thì lọt thỏm trong đám đông to lớn ấy, Ngài vừa đi vừa giảng lớn tiếng, giọng nói hùng hồn truyền cảm làm ông càng thêm phấn chấn.  Da-kêu rướn người bám vào vai áo người đứng trước, ráng kiễng chân, ngướng cổ nhìn vào phía trung tâm vòng tròn.  Chẳng khá hơn tí nào!  Chỉ thấy toàn là bả vai và đầu thiên hạ mà thôi.  Sực nhớ ra số vốn ít ỏi về thước tấc ngoại hình của mình, Da-kêu hạ chân xuống và bực cái thân hình ngũ đoản đã không giúp ích gì được trong lúc này.  Ông hậm hực nhủ thầm: “Không thể dùng cách này được”.
Vài người trong đám đông nghe tiếng động phía sau bèn quay lại, họ bĩu môi dè bỉu khi nhận ra ông, một thủ lãnh của các tay thu thuế thường ngày rúc rỉa tiền của họ bằng nhiều cách để nộp thuế cho Rô-ma, giờ đang đứng xớ rớ để nghe giảng về luân lý đạo đức.  Đâu đó vài tiếng xầm xì:  “Đồ chó săn Rô-ma!”.  Vài người khác thì nhẹ nhàng mỉa mai: “Đây không phải là chỗ của ông, xin mời ông đi chỗ khác dùm cho, chỗ của ông ở bên bọn lính Rô-ma, cạnh thùng tiền và các cô gái điếm kia!”.  Da-kêu nghẹn họng nuốt nước miếng, thấy ran rát ở cuống họng.  Ông buông xuôi hai tay, luống cuống ngại ngùng ngó lơ đi chỗ khác tránh những cặp mắt soi mói khinh khi.  Vài người bạn thu thuế đang đứng lảng vảng gần đám đông chạy lại kéo tay ông đi chỗ khác.  Da-kêu hất tay họ ra.  Không, ông không chịu thua một cách dễ dàng như thế được!  Cái ông muốn là ông phải làm cho bằng được!  Ông bực tức nhìn đám đông cản đường đang vây lấy Giêsu và tự hỏi chẳng lẽ một con người đa mưu túc kế như ông mà lại chịu thua một cách dễ dàng như vậy sao?
Da-kêu bỏ đám đông và trước những cặp mắt ngơ ngác của bạn bè, ông chạy lên phía trước một lần nữa rồi đứng lại quan sát tình hình và nhận định hướng di chuyển của đám đông.  Đầu óc nhiều mánh lới liên tục làm việc: “Muốn xem thấy mặt Giêsu phải cao hơn đám đông này”, ông nhủ thầm.  Thế là Da-kêu chạy ào ào về phía trước thật xa, dưới gốc một cây sung to rậm rạp, cành lá xum xuê mà ông đoán thế nào đám đông cũng phải đi ngang qua đây.  Ngồi trên cây sung này thì chắc chắn thế nào cũng thấy được mặt người mà ông ngưỡng mộ.

*****************
Thế nhưng… vừa đặt chân lên thân cây chuẩn bị leo lên thì ông lại ngập ngừng bỏ xuống.  Da-kêu nhìn lại mình: bộ quần áo mắc tiền được đặt may ở bên Rô-ma, đai thắt lưng nạm vàng, đôi săng đan sang trọng chỉ giới nhà giàu mới dám tung tiền ra mua, tuổi tác và ngôi vị nguời giàu có nhất nhì thành phố Giê-ri-khô thịnh vượng…. làm sao ông có thể ngồi thu lu trên cây sung như một đứa con nít hay như một tên ăn trộm được?  Nếu chẳng may người ta nhìn thấy thì chỉ có nước… độn thổ.  Lòng kiêu ngạo, tự ái, sĩ diện… tất cả ở đâu ào ào tuôn tới như làn nước lũ làm cản bước chân ông.  Da-kêu lưỡng lự e ngại, đầu óc khôn lanh bắt đầu tính toán hơn thiệt: “Nếu giữ thể diện không làm cách này thì không còn cách nào khác, và ta sẽ mãi mãi không bao giờ được thấy mặt Giêsu!” 
Nghĩ đến đó ông lại hăng hái leo lên.  Biết có ngày Giêsu trở lại thành phố này lần thứ hai hay không?  Con người đã biết chụp thời cơ để làm giàu thì cũng không bao giờ để vuột mất cơ hội nào trong tay.  Ông ao ước được xem thấy mặt Giêsu, dù chỉ một thoáng cũng thoả lòng, ông quyết đạt cho được mục đích của mình bằng mọi cách, như đã không từ một thủ đoạn nào để làm giàu!  Chỉ cầu xin đừng ai thấy ông ngồi trên cây lúc này.  Da-kêu đưa tay kéo những tàn lá to để che thân thể tròn trĩnh đang cố thu gọn mình lại trên cành cây cao.
Đúng như ông dự đoán, đám đông từ từ tiến về phía cây sung.  Ông hồi hộp chờ đợi, cặp mắt căng ra chăm chú dõi theo bóng dáng Giêsu thấp thoáng trong đoàn người đang từ từ rõ nét dần.  Đằng sau cái dáng dấp cao lớn phong trần là một bộ quần áo cũ dính đầy bụi đường, Giêsu với làn da rám nắng, nét mặt mệt mỏi của người đi xa chưa được nghỉ ngơi, khuôn mặt chữ điền đầy nét cương nghị với cái sóng mũi cao thẳng tắp vẫn không che dấu được nét nhân từ hiền hậu.  Cặp mắt sáng quắc nhìn thẳng vào người đối diện  như muốn nhìn xuyên đến đời sống tâm linh kín đáo bên trong đáy tâm hồn của mỗi người.  Ông xít xoa hả hê trong bụng và sung sướng với nụ cười mãn nguyện.  Con người bằng xương bằng thịt của Giêsu thật sống động và mạnh mẽ, giọng nói trầm ấm lôi cuốn, thật khác nhiều lắm so với những gì ông đã tưởng tượng.
Ông nín thở!  Ô kìa, sao đám đông cứ chằm chằm nhắm phía cây sung mà tiến đến.  Da-kêu biết Giêsu đi hướng nào thì đám đông bu quanh sẽ di chuyển về hướng đó, nhưng tại sao Ngài lại tiến thẳng về phía cây sung này thế nhỉ?  Ông đoán họ sẽ đi ngang qua cây sung thôi mà!  Chắc có lẽ Giêsu muốn ngồi nghỉ một lát dưới bóng mát của tàng cây sung này chăng?  Nếu đúng thế thì hạnh phúc cho ông quá!  Ông sẽ có nhiều thời gian hơn nữa để chiêm ngắm “vị ngôn sứ của các tay thu thuế” này cho thoả thích.  Chỉ có một điều lo lắng là nếu người ta nhìn thấy ông trên cành cây đang nhìn trộm Giêsu thì thật xấu hổ quá!  Đám đông càng đến gần, lòng ông càng hồi hộp lo sợ, mồ hôi toát ra như tắm.
Bỗng…. bước chân Giêsu dừng lại ngay phía dưới chỗ ông núp, Ngài từ từ… ngước mặt nhìn lên… kéo theo hàng ngàn cặp mắt tò mò ngẩng cổ nhìn theo….  Ông chới với khi bị bắt gặp quả tang đang nhìn trộm!  Ngạc nhiên!  Xấu hổ!  Hoảng hốt!  Da-kêu luống cuống khi bất ngờ phải đối diện với hàng ngàn cặp mắt đang mở to trừng trừng nhìn ông như một quái thai.  Họ chẳng hiểu ông đang làm gì trên đó.  Ông nhắm mắt lại, mặt đỏ tía tai, hai tay bấu chặt vào cành cây như cố bám vào một nơi nương tựa.  Chẳng có đất đâu để mà độn thổ!  Chẳng cành lá nào che được khuôn mặt đang đổi nhiều sắc màu.  Rồi lại mở mắt ra đối diện với sự thật kinh hoàng, ông bặm môi bối rối chưa biết phải ứng xử ra sao trong hoàn cảnh trớ trêu này, tia mắt lúng túng ngượng ngùng của ông cuối cùng chạm vào ánh mắt khoan dung hiền dịu của Giêsu. 
Một ngạc nhiên khác tiếp nối.  Cái gì thế nhỉ?  Một ánh mắt âu yếm cảm thông như trấn tĩnh bảo ông đừng sợ hãi!  Ông nhíu mày ngỡ ngàng tưởng mình nhìn lầm:  không phải là một ánh mắt khinh bỉ mà ông thường gặp trong cuộc đời thu thuế, cũng chẳng phải là cái nhìn nghiêm khắc kết án của mấy vị Pharisêu đạo đức, càng không là một cặp mắt trách móc của Đấng có thẩm quyền xét xử.  Đó là tia nhìn bao dung của một người Cha nhân từ, quyện với nét hân hoan mừng rỡ của người mẹ như muốn dang rộng cánh tay ôm vào lòng đứa con đi hoang mới về, cả một biển hồ mênh mông êm dịu chất chứa trong cái nhìn sâu lắng đầy tình thương của Đức Giêsu.  Da-kêu như muốn buông mình để ngụp lặn trong ánh mắt đó.  Đi từ ngạc nhiên này qua ngạc nhiên khác, ông chỉ biết xoe tròn mắt nhìn Giêsu, miệng ú ớ không thành tiếng.
Một giọng nói trầm ấm quen thuộc vang lên phá tan bầu khí yên lặng ngột ngạt:
-  Này, Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông! (Lc 19:5)
          Tai ông ù lên, “phải ở lại nhà ông!”, ông có nghe lộn không?  Ai bắt ông Giêsu này phải ở lại nhà ông, nhà của một người tội lỗi?  “Ông Giêsu này có biết mình là ai không nhỉ?”, ông tự hỏi.  “À, mà ông ấy lại còn kêu đích danh tên của mình nữa chứ!”  Ông thấy lạnh người.  “Sao ông ta biết nhỉ?  Đúng là Đấng Thiên Sai rồi!”  Như vậy là ông không nghe lộn!  Trước niềm vui quá lớn lao, một niềm hạnh phúc không chờ mà đến, bất ngờ ông buông tay ra thả mình rơi xuống đất cái bịch trước sự kinh ngạc của mọi người.  Chẳng còn xấu hổ hay sĩ diện gì nữa, Da-kêu hổn hển chạy đến chụp lấy bàn tay Giêsu lắc lắc mạnh như ngầm hỏi:  “Ngài không nói lộn chứ, thưa Ngài!”.  Gương mặt Giêsu rạng rỡ niềm vui với một nụ cười nhân từ, ánh mắt trìu mến vẫn không rời xa ông, Ngài nhè nhẹ lắc đầu như ngầm xác nhận là ông không nghe lộn.
          Da-kêu thở hắt ra, bao nhiêu hồi hộp sợ hãi tan theo mây khói.  Hai tay ông xiết chặt lấy bàn tay chai sạn của Giêsu xoa xoa rồi đưa lên môi hôn, rồi lại đặt xuống trước lồng ngực đang thổn thức như muốn cho Giêsu nghe nhịp đập của trái tim mình.  Mặt ngửa lên trời, cặp mắt ông nhắm lại để tận hưởng phút giây hạnh phúc bất ngờ mà ông tin rằng rồi sẽ không mong manh như ráng chiều xa xa.
          Sau một phút ngỡ ngàng, đám đông bắt đầu lao xao trước hiện tượng lạ, một vị ngôn sứ nổi tiếng thánh thiện trong thiên hạ lại đang “tay bắt mặt mừng” một kẻ tội lỗi cũng nổi tiếng không kém.  Trông họ như một đôi bạn chí thân đang tay trong tay mừng mừng tủi tủi sau một thời gian dài biệt ly.  Những tiếng xầm xì vang lên đó đây trong đám đông:
Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ! (Lc 19:7)
Da-kêu vui không bút mực nào tả xiết, niềm vui lớn quá làm những lời ghen ghét tị nạnh như làn gió thoảng bên tai chẳng gây cho ông sự khó chịu nào.  Hơi ấm từ đôi tay của Giêsu truyền qua cho ông một sức mạnh vô hình, ông dạn dĩ đứng thẳng người, nhìn vào đám đông đang hậm hực, rồi quay sang Giêsu, ông kính cẩn cúi đầu thưa:
Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn (Lc 19:8).
Những cặp mắt trố ra nhìn ông kinh ngạc như tưởng nghe lầm, những tiếng xầm xì trước đây nghe rầm rì nho nhỏ, giờ bỗng náo động lên với những tiếng kêu thất thanh ngạc nhiên.  Cả đám đông bị chấn động!  Người này chuyền tai người kia lời tuyên bố bất hủ của kẻ giàu có nhất vùng.  Họ xô đẩy, chen lấn đạp lên nhau để đứng gần hơn giữa hai người, để nghe cho rõ hơn, để thấy tận mắt cuộc gặp gỡ kỳ diệu nào đã biến đổi tâm hồn tay trùm thu thuế sừng sỏ vùng đất Giê-ri-khô này.  Những khuôn mặt cau có ghen tị trước đây, giờ đổi sang nghi ngờ, rồi thoáng chốc lại chau mày suy tư như cố moi óc nhớ xem họ có phải là một trong những nạn nhân của ông không?
          Da-kêu đưa mắt rộng lượng nhìn đám đông đầy yêu thương, những con người mới hôm qua còn xa lạ, nay bỗng trở nên thân thiết gần gũi.  Ông biết chứ, với câu tuyên bố xanh rờn đó, ông có thể bị phá sản như chơi.  Với hơn nửa đời người trong nghề thu thuế, những con người bị ông làm hại hay chiếm đoạt tài sản không phải là ít.  Nhưng…. tất cả đều không là gì so với niềm vui được biết Đức Giêsu Con Thiên Chúa, được vinh dự đón tiếp Ngài vào ngôi nhà tội lỗi của ông, ngôi nhà mà chẳng một người Do Thái bình thường nào thèm đặt chân bước vào vì sợ liên lụy và ô uế.  Mặc dù Giêsu không hề đòi hỏi ông phải làm điều đó nhưng ông tình nguyện từ bỏ những gì không chính đáng, tình nguyện sống theo những gì mà ông đã được nghe giảng dạy, như Ngài đã “tình nguyện” “phải” ở lại nhà ông đêm nay.
Chính ông cũng không ngờ cuộc gặp gỡ này đã biến đổi cuộc đời ông đến thế!  Da-kêu thấy lòng mình thật thanh thản nhẹ nhàng cho dù có thể bị tán gia bại sản.  Ông như người vừa được tự do, được giải thoát khỏi những thèm muốn của cải vật chất mà ông đã bỏ cả đời người để đeo đuổi.  Ông không ngờ, gặp không phải để mà gặp cho biết, nhưng gặp rồi để đi theo Đấng mà mình đã có duyên được gặp gỡ.  Mà làm sao có thể đi theo Ngài với những xiềng xích, những ràng buộc lòng thòng kéo trệ bước chân của người lữ hành được.
          Ông hân hoan nắm tay Giêsu kéo đi về phía nhà mình như đứa con thơ tung tăng kéo tay người Cha đi chơi.  Đức Giêsu quay lại nói với đám đông đang vẫn còn đứng trân trân tại chỗ như chưa hết ngạc nhiên:
Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham.  Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất (Lc 19:9-10).
Nắng đã tắt dần nơi cuối phố, đoàn người từ từ giải tán với những lời bàn tán xôn xao về biến cố bất ngờ vừa xảy đến cho thành phố Giê-ri-khô.  Họ ra về với những tâm trạng buồn vui khác nhau.  Biết bao con người cùng một diễm phúc được gặp gỡ Đức Giêsu hôm ấy, cùng nghe một bài giảng, cùng chứng kiến những phép lạ như nhau, nhưng có bao nhiêu tâm hồn thật sự đổi thay như Da-kêu???  Những chú chim hoảng hốt vỗ cánh bay lên cao như mang theo câu trả lời cho gió cho mây.
Lang Thang Chiều Tím - July 06

 

TN31-C63. HÀNH TRÌNH GẶP GỠ ĐỨC KITÔ

 (CN 31TN – 2Tx 1, 11- 2, 2; Lc 19, 1-10)
 

Điều đọng lại trong trái tim, tâm hồn sau khi đọc, suy niệm va cầu nguyện xin ơn soi sáng về câu: TN31-C63

Điều đọng lại trong trái tim, tâm hồn sau khi đọc, suy niệm va cầu nguyện xin ơn soi sáng về câu chuyện ông Dakêu, người lùn thành Giêrikhô, là tôi cảm nhận được ánh mắt vừa bao dung, nhân hậu, quảng đại, lại vừa thâm sâu tự hữu của ngôi vị Thiên Chúa làm người, của “Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người” (Ga 1, 10).
Khi nhìn vào ánh mắt thẩm thấu tận tâm can lòng người, tôi nhớ lại lời thánh Augustinô đã xác tín mà thưa cùng Chúa rằng:
“Khi tạo dựng nên chúng con, Chúa không cần hỏi ý kiến chúng con; nhưng để cứu chuộc chúng con, Chúa cần chúng con ưng thuận và cộng tác với Chúa.”
Và cũng từ đó, tôi nhận ra hành trình gặp gỡ Đức Kitô của người “đứng đầu những người thu thuế và là người giầu có” với tên gọi là Dakêu. Ông này đã nghe biết Đức Giêsu là một ngôn sứ rất độc đáo vì hay làm phép lạ chữa lành những người bệnh tật đau khổ, một ngôn sứ giảng dậy có sức lôi cuốn lòng người và lại là người sống gần gũi với những người thu thuế và tội lỗi.
Điều này được thể hiện rất rõ vì thánh Luca đã tường thuật trước đó rằng: “Khi Đức Giêsu đến gần Giêrikhô, Người đã chữa lành người mù đang ăn xin ở vệ đường”. Mà sự kiện này đã “được toàn dân cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa” (Lc 18, 35 - 43).
Chính vì cảm nếm dịu ngọt trong lòng những việc Đức Giêsu làm, những lời quyền năng Người nói, cũng như những tình cảm thân thương với mọi người, vượt rào cản, không phân biệt như những người kinh sư và Pharisêu, mà ông đã “tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai”. Chính cách sống yêu thương chan chứa tình người như thế của Đức Giêsu đã đánh động đến trái tim tâm hồn đầy thương tích của ông, như xã hội thời đó coi khinh ông ra mặt và xa lánh. Và đó cũng là cung cách sống của “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19, 10).
Một khi con người có tên là Giêsu đã gieo vào lòng ông sự cuốn hút đậm đà như vậy thì ông phải bắt đầu thể hiện bằng hành động cụ thể là “ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu, vì Người sắp đi ngang qua đó”. Với những tâm tư cùng hành động đi ngược dòng chảy của cuộc sống lúc đó, mà Đức Giêsu đã không từ chối cứu chuộc tâm hồn ông. Đây cũng chính là cảm nghiệm sâu xa của thánh Phaolô về lòng bao dung thương xót của Chúa, khi ngài nói trong thư thứ 2 gửi cộng đòan Thêxalônica:
“Người dùng quyền năng mà hoàn thành mọi thiện chí của anh em và mọi công việc anh em làm vì lòng tin” (1, 11).
Quả thật, thiện chí muốn “tìm cách để xem” cũng như hành động “chạy tới”, nhưng vẫn chưa nhìn thấy vì lùn thấp, ông bèn “leo lên một cây sung” như trẻ con “để xem” cho rõ khuôn mặt Đấng mà ông hy vọng sẽ “đi qua đó”. Hành trình tìm kiếm ấy của ông đã được Đức Giêsu vui mừng đón nhận ông mà rằng:
“Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” Và sau đó, Người nói tiếp với ông thêm rằng: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này”.
Ôi đúng như thánh Augustinô chia sẻ là: “Để cứu chuộc chúng con, Chúa cần chúng con ưng thuận và cộng tác với Chúa”. Vì, khi mới bắt đầu đọc Lời Chúa trong Phúc Âm, tôi thực sự chưa cảm nghiệm được những rung động linh thiêng trong lời nói va việc làm của Người; nếu có thì cũng chỉ nghe biết Người như là vị ngôn sứ hay chữa bệnh để cứu nhân độ thế. Nhưng với lòng nung nấu không nguôi để được cùng nhịp đập với Người mà tôi đã năng tìm kiếm Người qua những sách thiêng liêng, những tác phẩm đi sâu về ý nghĩa siêu nhiên trong Tin Mừng và những sách tâm linh đa dạng của nhiều tác giả tu đức khác. Nhờ khát khao kiên trì luôn hướng về phía trước và rồi khi suy niệm Tin Mừng, tôi đã rung lên sung sướng vì tình yêu kỳ diệu của Mầu Nhiệm Lời Chúa. Cuối cùng thì tôi đã dành nhiều thời gian để chiêm ngắm Người trong cầu nguyện. Tôi đã gặp được Đức Kitô trong đỉnh cao của cầu nguyện Lời Chúa, theo phương pháp Lectio Divina.
Suy tới đây, tôi nhớ lại trong rung cảm tận sâu thẳm và xin được chia sẻ niềm hạnh phúc tuyệt với mà ngay khi ghi lại, tôi đã trào ra nước mắt vì tôi cảm nghiệm chính Chúa đã nhìn và đã nói với tôi về hồng ân cao cả là được Chúa ở lại luôn luôn mãi là “hôm nay” trong ngôi nhà tâm hồn và thân xác của tôi.
Cách nay hơn hai năm, khi đọc, suy niệm và cầu nguyện bài Tin Mừng về ông Dakêu tại nhà xong, tôi bừng lên một khát vọng được Chúa nhìn và nói như nhìn và nói với ông Dakêu. Qua ước nguyện cháy bóng đó, đúng vào lúc ba giờ chiều, tôi đón “xe ôm” và cố gắng có mặt tại nhà thờ với 2 chân lê lết, với cơ thể đang mang bệnh viêm phế quan mãn tính bám đuổi. Khi đã ngồi trên ghế nơi nhà nguyện giáo xứ và sau khi đã đọc chuỗi kinh Lòng Thương Xót Chúa theo linh đạo thánh nữ Faustina, cùng cầu nguyện tự phát, tôi bắt đầu nhìn chăm chăm vào Nhà Tạm Thánh Thể với lòng rộn rã và nóng bỏng muốn được nhìn thấy Chúa nơi luôn có ngọn đèn nhỏ lung linh cháy sáng. Chỉ trong giây lát, tôi đã ngất ngây và mừng rỡ vì tại nơi linh thiêng kia, tôi nhận ra hai con mắt tròn to sáng lên. Sau đó, chung quanh hai con mắt mầu nhiệm ấy rực phát sáng lên như hào quang tỏa ra.
Cứ thế, tôi chiêm ngắm say mê, tôi như ngây ngất để ngụp lặn trong sự rực rỡ ánh sáng siêu phàm ấy. Cơ thể tôi bất động. Hai tay níu chặt ghế ngồi. Tất cả không gian và thời gian, lúc đó như tan biến, như không còn hiện hữu. Tôi cũng chẳng còn nghĩ gì khác ngoài chú tâm vào vùng sáng kỳ diệu và quang vinh đó mà đắm say vui sướng vô tận.
Cho đến khi mọi người ra về và chuẩn bị khóa cửa bên hông nhà thờ lại, tôi mới bừng tỉnh khỏi cơn ngất ngây quá tuyệt vời này và rồi tôi run rẩy trong hạnh phúc, tôi vô cùng luyến tiếc về hạnh phúc chiêm ngưỡng ánh sáng vô phương đạt đáo đã quá ngắn.
Và hôm nay, được Chúa ngự trong tâm hồn qua thường xuyên đón nhận Thánh Thể Chúa, tôi chỉ mong được như Người là tìm đến với những người đã một thời đau khổ không chỉ trong thân xác mà cả trong tâm hồn đã mất để “tôi không còn là tôi mà là Chúa sống trong tôi”. Cũng như thánh Augustinô đã thâm tin:
“Không phải con thay đổi Ta thành như lương thực cho thể xác con, nhưng con được biến đổi thành Ta”.
Tôi cũng thầm thì cám ơn ông Dakêu, người đã giúp tôi tìm được một hành trình gặp gỡ Đức Kitô, Người Đang Sống. Từ thiện chí tìm cách gặp Chúa trong lòng, cho đến những bước chân chạy vội vã và thậm chí leo lên cây cao để được nhìn ngắm Người, ông đã được Chúa biến đổi tận gốc rễ con người ích kỷ vơ vén của ông để rồi dốc quyết:
“Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã  cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19, 8).
Hành trình này cũng là mặc khải mà Chúa Giêsu đã nhiều lần nhắc nhở ngắn gọn thâm sâu trong các sách Tin Mừng:
“Thế nên, Thầy bảo anh em, anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho.” (Lc 11, 9)
Và quan trọng là: “Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?”(Lc 11:13)
Tôi xin mượn lời thánh vịnh 62, tin tưởng vào Thiên Chúa, để nói lên lời chúc tung tạ ơn hồng ân vô biên cao cả mà Thiên Chúa đã “đến để tìm và cứu những gì đã mất”:
“Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,
này hồn tôi hãy nghỉ ngơi yên hàn.
Vì hy vọng của tôi bởi Người mà đến,
duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi,
là thành lũy chở che: tôi chẳng hề nao núng.
Nhờ Thiên Chúa tôi được cứu độ và vinh quang,
Người là núi đá vững vàng,
ở bên Thiên Chúa tôi hằng ẩn thân.”Amen.
Chúa Nhật 31TN, ngày 04/10/2007
Phêrô Vũ văn Quí CVK64
Email: peterquivu@gmail.com

 

TN31-C64. GIAKÊU - Trần Mỹ Duyệt

 “Giakêu hãy xuống mau. Hôm nay tôi muốn lưu lại nhà ông” (Lc 19:5).
 

Thế là lại một lần nữa, Chúa Giêsu sẽ bị mang tiếng xấu là giao du, thân mật, và bạn bè với những: TN31-C64

Thế là lại một lần nữa, Chúa Giêsu sẽ bị mang tiếng xấu là giao du, thân mật, và bạn bè với những bọn tội lỗi. Vì làm gì mà đến nỗi mà phải xin đến nghỉ ở nhà một người vốn được tiếng là chẳng ra gì trong xã hội như Giakêu. Hay là Chúa cần tiền. Cần một bữa ăn ngon. Cần một nơi nghỉ ngơi thoải mái.
Nhưng sự giầu có, sang trọng của một người như Giakêu thì có thấm tháp gì với nguồn phú túc và vinh quang của thế gian này, là những thứ được tạo dựng nên do bàn tay của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã chẳng từng bị ma quỉ cám dỗ biến đá thành bánh, thì Ngài cần gì bữa ăn ngon của Giakêu. Và ngôi biệt thự sang trọng của Giakêu làm sao có thể thu hút được người như Chúa, một người đã từng tuyên bố: “Cáo có hang, chim trời có tổ, con người không có chỗ dựa đầu” (Lc 9:58). Tóm lại, những thứ người đời tưởng chừng hấp dẫn ấy của Giakêu, không thể thu hút được sự chú ý của Chúa Giêsu. Ngài chỉ có một chủ ý là muốn chinh phục ông, cũng như chinh phục mọi người, dù là những người tội lỗi nhất.
Trong cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Giakêu, điều khiến chúng ta phải chú ý nhất, đó là sau khi cảm nhận được sự quan tâm và tình thương mà Thiên Chúa đã danh cho mình, Giakêu đã công khai xác nhận tội lỗi mình và thành tâm xám hối: “Nếu tôi có làm thiệt hại ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19:8). Hành động xám hối bất ngờ ấy, cũng giống như Maria đã đập bể bình bạch ngọc quí giá, để cho chẩy ra những giọt dầu thơm hảo hạng xức chân Chúa sau khi được Ngài giải thoát cho khỏi bẩy quỉ, chỉ xẩy ra đối với những cảm nhận xâu xa và do tình yêu mến, kính trọng dành cho Thiên Chúa.
Có lẽ khi nghe câu truyện về sự hội ngộ giữa Chúa Giêsu và Giakêu, nhiều người trong chúng ta cũng lấy làm tiếc. Phải chi Chúa Giêsu ghé mắt nhìn đến mình một lần cũng là mãn nguyện lắm rồi. Hoặc giả, nếu Chúa lên tiếng muốn nghỉ đêm trong nhà mình dù chỉ là một lần thôi thì còn gì vinh hạnh cho bằng. Nghĩ như vậy, nên chúng ta thường có thái độ và lối sống hoàn toàn trái ngược với luân lý và đạo đức hơn cả Giakêu trước khi chưa gặp Chúa. Chúng ta cũng ngoại tình, cũng gian dâm, cũng làm chứng gian, cũng nói dối, cũng lường gạt thể xác, tinh thần và tiền của người này, người khác, và cũng mánh mung, gian lận, hoặc kiêu căng, tự phụ.
Nhưng có thật là trong đời chúng ta, chúng ta chưa một lần được nghe tiếng Chúa, hay chưa một lần được Ngài ghé thăm?
Thánh Kinh mà chúng ta đọc hằng ngày, hàng tuần chẳng phải là tiếng Chúa nói với chúng ta sao? Những biến cố xẩy ra trong cuộc sống và xẩy ra ngoài cuộc sống chẳng phải là những tiếng nói của Thiên Chúa muốn nhắn nhủ đó sao? Trong cuộc đời chúng ta, chẳng lẽ không một lần chúng ta được cứu thoát qua cơn hiểm nghèo trong đường tơ, kẽ tóc? Hoặc chúng ta chưa một lần được hưởng một niềm vui thật bất ngờ? Những trường hợp ấy là gì, nếu không phải là những tiếng Chúa muốn nói với mỗi người chúng ta?
Chúng ta nghĩ gì mỗi lần mình được rước Thánh Thể. Những lúc ấy, Chúa Giêsu không những đến với chúng ta, và còn hơn Giakêu, Chúa đã tan và trở thành của nuôi linh hồn và thân xác chúng ta. Như vậy, sao lại nói rằng chúng ta không một lần được Chúa ghé thăm như trường hợp của Giakêu.
Nhưng cái khó là Chúa đã không tìm được nhiều người như Giakêu để tâm sự và nghỉ ngơi trong nhà họ. Thích được Chúa đến thăm, nhưng không phải ai cũng sẵn sàng chia sẻ một nửa gia tài của mình cho kẻ nghèo. Không phải ai cũng sẵn sàng đền trả gấp bốn những lỗi lầm mình đã xúc phạm đến người này, người khác nhân danh Chúa và vì mến yêu Chúa như Giakêu. Vì chỉ cần một số ít hành động như Giakêu thì thế giới này đã bớt đi rất nhiều người nghèo khổ. Và những tiếng than van, ai oán của những kẻ thấp cổ, bé miệng bị bóc lột và đối xử bất công sẽ vắng dần trên mặt đất.
Điều gây ngạc nhiên trong cuộc hội ngộ giữa Chúa Giêsu và Giakêu, là Giakêu chỉ vì tò mò, đón đường muốn thử nhìn xem con người mang tên Giêsu mà thiên hạ vẫn thường đồn đại như thế nào. Nhưng Chúa Giêsu thì đã không tò mò, mà thực sự muốn gặp mặt Giakêu, vì thế, trong khi Giakêu còn chưa nhìn xem rõ mặt Ngài như thế nào, và chưa kịp phản ứng gì, thì Chúa Giêsu đã lên tiếng gọi ông: “Giakêu xuống mau, vì hôm nay tôi muốn lưu lại nhà ông” (Lc 19:5). Và vì được Chúa mời gọi, nên Giakêu đã đổi thái độ từ tò mò qua kính trọng, và từ kính trọng qua yêu mến. Đây là cốt lõi của những lần gặp gỡ giữa chúng ta và Thiên Chúa, giữa Thiên Chúa và con người.
Giakêu đã xuống khỏi cây vả để gặp gỡ Chúa. Chúng ta cũng phải xuống khỏi cây tự ái, kiêu căng, tham lam, dục vọng, và quyền lực để gặp Ngài.
Giakêu đã dám xác nhận tội mình khi gặp Chúa. Chúng ta cũng phải xét mình và tự vấn lương tâm mỗi khi nghe Chúa nói trong tâm hồn, cũng như qua những biến cố đến từ bên trong và bên ngoài cuộc sống.
Giakêu đã sám hối, và thực hành sám hối bằng cách chia sẻ tài sản và đền trả những người ông đã làm thiệt hại. Chúng ta cũng phải có những quyết tâm thực hành, rõ ràng, và bằng hành động thực tế đối với những tài năng, của cải, và thời giờ mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta.
Không thấy Thánh Kinh nói gì về việc Giakêu có đổi nghề sau khi gặp gỡ Chúa. Hoặc sau khi chia gia tài cho người nghèo, và đền trả sòng phẳng những món nợ của ông thì tài sản còn lại là bao nhiêu. Nhưng chúng ta có lý để tin rằng cuộc sống của ông sẽ không giàu có như trước. Và cũng có thể là ông sẽ tự ý giải nghệ để sinh sống bằng một nghề khác. Ông và gia đình ông sẽ phải sống thanh bần hơn, tần tiệm và chắt chiu hơn. Nhưng cũng qua hành động của ông và sự ưu ái mà Chúa dành cho ông, chúng ta có lý để tin rằng, ông sẽ sống một cuộc sống bằng an hơn, và lương thiện hơn, mặc dù có nghèo, có khổ hơn trước. Tóm lại, dù bất cứ chuyện gì xẩy ra cho Giakêu sau cuộc gặp gỡ với Chúa đi nữa, thì ông cũng sẽ không bị thiệt thòi, vì nếu ông có Chúa là ông có tất cả.

 

TN31-C65. VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH

Xin mượn một câu của tác giả An Mai, DCCT, viết về Mát-thêu Nguyễn Văn Hùng để mở: TN31-C65

Xin mượn một câu của tác giả An Mai, DCCT, viết về Mát-thêu Nguyễn Văn Hùng để mở đầu chia sẻ hôm nay: “Không có ai là không có quá khứ và cũng chẳng ai lại không có tương lai. Mát-thêu Hùng cũng như Thánh Mát-thêu ngày xưa mang trong mình một quá khứ không mấy là tốt đấy, nhưng Thánh Mát-thêu và Mát-thêu Hùng đã có một tương lai tươi sáng”.
Câu chuyện quá khứ của Mát-thêu Nguyễn Văn Hùng vốn đã là “cổ tích”, lại càng thêm chất thơ ngọt ngào và cảm động, khi báo chí đưa tin về mối tình kỳ lạ của cô đạo diễn người Pháp Leslie Wiener đối với anh: trung thành, ân cần chăm sóc và yêu thương như bất cứ người vợ hiền thục nhất nào khác những tháng ngày cuối đời của anh trên giường bệnh cho đến khi anh trút hơi thở cuối cùng.
Thế mà ước hẹn một đám cưới vào ngày 4.1.2008 đã không thành: ngày 16.10.2007, Hùng đã ra đi vĩnh viễn, về với Thiên Chúa là Đấng đã thấy anh, gọi anh và ở lại nhà anh – như Chúa Giê-su đã làm với Da-kêu trong đoạn Tin Mừng hôm nay – để rồi cảm tạ hồng ân vô biên của Chúa, anh đã tận hiến trọn đời cho trẻ em đường phố, cho những người bị bỏ rơi, bệnh hoạn tật nguyền. Nữ đạo diễn kể lại rằng, khi đi quay những thước phim về trẻ nhiễm HIV ở Sài-gòn, bà thấy có những phụ nữ nghèo than khóc tuyệt vọng, muốn từ bỏ những đứa con, đứa cháu nhiễm bệnh đó. Thật kỳ lạ, khi nghe anh Hùng trò chuyện, họ trở nên bình tĩnh, ánh mắt đã lóe lên niềm hy vọng, lạc quan...
Vươn lên từ vũng lầy của đam mê ma túy, được làm con người tốt rồi trở thành một Ki-tô hữu, anh có được ảnh hưởng qua công việc đã làm và với những người bất hạnh. Dù anh em Tin Lành có công lớn trong việc dắt tay anh đến với Chúa, nhưng chính vì Mẹ Ma-ri-a mà anh đã chọn đạo Công Giáo, như anh tâm sự: “Dù được biết Thiên Chúa nhưng tôi thấy cuộc đời thiếu vắng Mẹ Ma-ri-a, một hình ảnh mà tôi đã được thấy khi ở trong trại cai nghiện gần nhà thờ Fatima, nên tôi quyết định theo đạo Công Giáo”.
Những người đã quen biết, đã sát cánh với anh trong các công tác bác ái xã hội, đã ghi những hàng tâm sự về anh “Cái phúc lớn của đời anh là đi từ trong cõi u tối của thế giới để đến ánh sáng của niềm tin. Chúng ta là những con người bị hư đi nhưng được Chúa cho sống dậy. Vâng, anh “sống dậy” giúp đời rồi lại đi về gặp Chúa” ( Maria Vũ Loan, VietCatholicNews 16.10.2007 ).
Thêm một Hùng khác ở cuối bắc miền Trung cũng gây bao ngạc nhiên thán phục không chỉ với rất nhiều người trong nước, mà cả báo chí nước ngoài, khi người ta đọc, nghe, thấy chàng Hiệp Sĩ Công Nghệ Thông Tin Nguyễn Công Hùng 25 tuổi của Xứ Nghệ chỉ là một hình nhân bé tẹo và mất khả năng vận động, dáng ngồi đầu gối quá tai và luôn như chực ngã.
Hình ảnh ấy khiến người ta liên tưởng đến nhà vật lý học thiên tài Stephan Hawkin cũng gắn chặt đời mình vào chiếc xe lăn, đã nhận được huy chương do Toà Thánh trao tặng và đã thẳng thắn xin Đức cố Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II ra phán quyết thanh minh cho Ga-li-lê-ô. Đó cũng là ý định của Toà Thánh và chỉ ít lâu sau ngưòi ta đọc được thông báo: ”Hơn 300 năm trước đây phán quyết của Tòa Thánh đối với Ga-li-lê là sai lầm, những phát hiện khoa học của Ga-li-lê là chính xác".
Nguyễn Công Hùng của xứ Nghệ còn là con chiên Giáo Phận Vinh và có tên Thánh là Phan-xi-cô Xa-vi-ê, vị Thánh Quan Thầy các xứ truyền giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến suy nghĩ và cách làm của Hùng, khi anh mở công ty để giúp đỡ những người có cùng cảnh ngộ như mình, như một Hiệp Sĩ Công Nghệ Thông Tin và như một hiệp sĩ của Chúa Giê-su. Trong những ngày này, Nguyễn Công Hùng đang dẫn đầu một đoàn đi cứu trợ anh chị em các vùng bị lũ lụt ở Nghệ An và Hà Tĩnh.
Một nhân vật “Hùng” thứ ba mà chúng ta nói tới hôm nay, nhân vật chính của đoạn Tin Mừng. Xin được gọi tên Ông là Áp-ra-ham Nguyễn Anh Hùng, tức là Da-kêu của quá khứ ! Áp-ra-ham, vì Chúa Giê-su đã nói về ông như thế: ”Người này cũng là con cháu Áp-ra-ham” và vì quyết định của ông chỉ có nơi một người thật sự can đảm, một anh hùng, một “đệ tử”” của Áp-ra-ham, Cha của kẻ tin.
Ông khác xa với thói hợm hĩnh của người Pha-ri-sêu trong Tin Mừng Chúa Nhật vừa qua và dù không có những lời nói và cử chỉ thống hối như đồng nghiệp cũng trong dụ ngôn ấy, nhưng lòng thống hối của ông thể hiện qua hành động, cho thấy lòng quảng đại của một hối nhân chân thành.
Ông khác xa với Hê-rô-đê dâm ô loạn luân chỉ vì một điệu nhảy của một đứa con gái sa đoạ độc ác mà sẵn sàng cắt tặng một nửa nước ( vốn thực sự chẳng phải của một tay vua bù nhìn như y ).
Ông cũng khác người thanh niên nhà giàu xụ mặt bỏ đi, khi Chúa Giê-su dạy anh phải bán hết của cải, phân phát cho người nghèo, như là điều kiện để đi theo Người.
Ông cũng không lén la lén lút đi gặp Chúa giữa đêm hôm như Ni-cô-đê-mô, hòng tránh tai mắt và lời đàm tiếu của các đồng nghiệp và đồng sự Pha-ri-sêu. Với ông, “đã yêu thì nói là yêu; không yêu thì nói một điều cho xong” giữa thanh thiên bạch nhật !
Áp-ra-ham Nguyễn Anh Hùng – Da-kêu – đã chiến thắng bản thân vì đã nên giống như Cụ Tổ Áp-ra-ham: nghe tiêng Chúa gọi – từ đất màu mỡ xứ Ua hay từ trên cành cao cây sung – để bỏ hết tất cả, khi theo Chúa. Lòng tin ấy không phải ai cũng có được.
Thánh Clê-men-tê thành Rô-ma chứng nhận rằng về sau Da-kêu trở thành bạn đồng hành của Thánh Tông Đồ Phê-rô và cùng giảng dạy ở Rô-ma với Thánh Phao-lô, cuối cùng đã tử vì đạo dưới tay hoàng đế Nê-rông vì Danh Chúa Giê-su Ki-tô. Ông đã ngẩng cao đầu và trả mọi nợ nần cho người Rô-ma, những kẻ ngày trước đã cám dỗ và bắt ông làm tôi mọi cho danh lợi. Ông mang đến Rô-ma không phải là những lời chúc dữ, mà là Tin Mừng, vì nó mà ông không chỉ hy sinh bạc tiền, mà còn cả mạng sống.
“Vượt lên chính mình” là chương trình truyền hình phát vào mỗi tối thứ bảy, có lẽ là chương trình có ý nghĩa nhất dành cho người nghèo: vượt qua được hai vòng thi theo ngành nghề của họ được chọn ở khắp ba miền, gia đình ấy sẽ xóa được số tiền họ nợ ngân hàng ( mà tự thân không làm sao họ trả được ) và được rút bảng “cấp vốn” vơi những món tiền được các công ty tài trợ khá lớn. Có khi cả tiền xóa nợ và cấp vốn lên đến gần 30 triệu đồng, một con số mà các gia đình nghèo ấy có nằm mơ cũng không dám nghĩ tới.
Da-kêu – hay là Áp-ra-ham Nguyễn Anh Hùng của chúng ta – đã “vượt qua chính mình” sau khi đã cố gắng xóa mặc cảm tự ti vì thân hình thiếu ni tấc, bằng việc làm quan to, tiền nhiều bạc lắm, nay được Chúa Giê-su “cấp vốn” để ông không chỉ xóa được sự nghèo nàn tâm hồn những ngày tháng quá khứ, để từ nay quyết tâm trở nên giàu có trong ân sủng.
Con thì khác ! Lạy Chúa, con khư khư ôm chặt quá khứ, không chịu buông cả những thói hư tật xấu, không muốn nhả những nọc độc nghiền ngẫm trong lòng để nghĩ xấu, làm xấu đối với tha nhân, gom về hết cho mình những gì đáp ứng tham sân si của mình. Con cũng đã tò mò khi đọc về Chúa, khi nghe giảng dạy nhiều về Chúa và cũng đã không ít lần trèo lên cao, vươn mình lên để nhìn cho rõ Chúa.
Chúa thấy con, gọi con, muốn đến thăm nhà và dùng bữa với con. Nhưng con đã tụt xuống chỗ thấp, để khỏi nhìn và khỏi nghe tiếng Chúa, để khỏi phải đón Chúa vào, bởi việc Chúa vào nhà, dùng bữa, sẽ kéo theo quá nhiều thay đổi, và là những thay đổi tận gốc rễ: Con chưa sẵn sàng ! Con không muốn đâu ! Hãy để con lầm lũi theo Chúa xa xa, như trong quá khứ !
Con sẽ tiếp tục ca ngơi Da-kêu: một câu chuyện có một kết thúc quá đẹp, đẹp như mơ !
Con sẽ tiếp tục trèo lên cao, nhướng mắt nhướng cổ tìm Chúa, không cần “vượt lên chính mình” !
CVK NGUYỄN THẾ BÀI, Tình Ca Cho Người Được Yêu 74

 

TN31-C66. HÔM NAY, NHÀ NÀY ĐƯỢC CỨU ĐỘ

Tin Mừng của Thánh Lu-ca là Tin Mừng của “lòng thương xót”. Thánh Lu-ca đặc biệt nêu bật lòng ưu ái: TN31-C66

Tin Mừng của Thánh Lu-ca là Tin Mừng của “lòng thương xót”. Thánh Lu-ca đặc biệt nêu bật lòng ưu ái và sự kiên nhẫn của Chúa Giê-su đối với những tội nhân và những kẻ đau khổ. Ngài luôn mở rộng vÑng tay đón nhận họ: Những người xứ Sa-ma-ri, những kẻ bị bệnh phong hủi, những người thu thuế, những kẻ phạm tội công khai, những người nghèo cũng như những mục đồng thất học.
Bài Tin Mừng hôm nay là một bằng chứng điển hình rõ ràng về lÑng thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân. Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, khi đi ngang qua thành Giê-ri-khô, Chúa Giê-su đã gặp một người tội lỗi, nhưng đầy thiện chí, là ông Da-kêu. Chúa đã ghé vào trọ nhà ông và ban Ơn Cứu Độ cho cả nhà ông, bất chấp mọi lời dị nghị dèm pha.
Ông Da-kêu không những là một người thu thuế, mà cÑn là thủ lãnh những người thu thuế, tức là một chủ thầu thuế má, nên ông cũng là một người rất giàu có. Dân Do Thái rất ghét những người thu thuế và coi họ là những người tội lỗi, không thể ăn năn hối cải, không thể tha thứ. Vì vào thời ấy, những người thu thuế bị xếp vào hàng ngũ quân trộm cắp, giết người và đĩ điếm. Hơn nữa vì họ làm việc cho người Rô-ma, nên người ta coi họ là những kẻ phản bội, làm tay sai cho ngoại bang.
Cho nên dân chúng đã xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ !” Đứng trước sự phản đối của dân chúng, Chúa Giê-su chỉ đưa ra một lý do: Ông Da-kêu cũng là con cháu của Áp-ra-ham và có quyền được Thiên Chúa xót thương như những người Do Thái khác. Và người công bố rằng: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã hư mất.”
Chúa Giê-su nhìn thấy Da-kêu trên cây, lúc đó cách sống của Da-kêu hoàn toàn trái ngược với những điều mà Chúa Giê-su bảo vệ. Chắc chắn đám đông chờ đợi và hy vọng Chúa Giê-su sẽ quở trách, lên án ông đã cướp lấy và bóc lột tiền bạc của người nghèo, cũng như cấm đoán ông ta không được làm bậy. Làm như thế Chúa Giê-su sẽ chiếm được cảm tình của dân chúng. Nhưng Chúa Giê-su đã không làm như thế, không những Ngài không lên lên án và quở trách mà Ngài lại lưu lại nhà ông Da-kêu và dùng cơm tối với ông. Dân chúng ghét Da-kêu, và ghét luôn của Chúa, họ không muốn nhìn thấy ông được cứu, họ không muốn ông thay đổi cuộc sống, điều họ mong muốn là nhìn thấy ông bị lên án và trừng phạt.
Nhưng Chúa Giê-su đã không nghĩ như thế, Ngài biết điều mà Da-kêu đang cần không phải là sự lên án hay trừng phạt, nhưng là sự cứu chuộc.Vấn đề không phải là ông ta có xứng đáng với ơn cứu chuộc hay không, nhưng điều quan trọng là ông ta cần nó. Đối với Chúa Giê-su, như thế là quá đủ. Với việc đi đến nhà Da-kêu, Chúa Giê-su phải đối đầu với sự giận dữ của dân chúng trong thành, Chúa Giê-su muốn cho Da-kêu thấy rằng, Ngài quan tâm đến ông. Nếu Ngài tránh xa ông, hoặc lên án ông, phép lạ hẳn không bao giờ xảy ra. Phép lạ không phải là biến một con gà thành một con vịt vì đó là ma thuật; phép lạ là làm cho một người đang sống trong tình trạng xấu bước sang một tình trạng tốt hơn.
Đứng trước lÑng nhân hậu của Chúa, Da-kêu đã thấy những sai lầm của mình và quyết tâm thay đổi, ông đã mở rộng tâm hồn, ông thưa với Chúa Giê-su là ông sẽ đem nửa gia tài mà phân phát cho người nghèo. Không những thế, ông cÑn đền gấp bốn cho những ai đã bị ông làm thiệt hại.
Sau khi ông Da-kêu tuyên bố quyết định của ông, Chúa Giê-su tuyên bố: “Hôm nay nhà này được cứu độ”. Ông Da-kêu trở thành kiểu mẫu đón nhận Ơn Cứu Độ và là cơ hội để Chúa Giê-su khẳng định sứ mạng của Ngài: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã hư mất”. Chúa đã nhìn ông và cứu ông. Cái nhìn của Chúa, cái nhìn chinh phục, cái nhìn của tình thương muốn cứu vớt. Ông Da-kêu đã tìm cách nhìn thấy Chúa, nhưng ông cũng đã để cho Chúa nhìn ông và chinh phục ông. Chúa Giê-su nhìn thấy Da-kêu đã mắc những lỗi lầm, nhưng đó không phải là tất cả những gì Chúa nhìn ông, Da-kêu cÑn có khả năng làm điều tốt lành. Cách nhìn của Chúa Giê-su trên Da-kêu đã tác động cách nhìn của Da-kêu về chính ông: LÑng nhân từ kêu gọi lÑng nhân từ.
Hoán cải của Da-kêu để hướng đến điều tốt lành. Tất cả chúng ta đều cần có sự hoán cải tương tự. Mỗi người chúng ta đều có khả năng mà Da-kêu đã có dù bị che dấu hoặc không được bày tỏ. Mỗi người chúng ta đều cần hoán cải mỗi ngày để từ tâm hồn khép kín chuyển sang tâm hồn rộng mở, từ trái tim bằng đá thành trái tim bằng thịt.
Việc hối cải của Da-kêu được Thánh Lu-ca tường thuật, một đàng biểu lộ lÑng luân tuất của Chúa đối với tội nhân mà Chúa nôn nóng muốn cứu vớt, đàng khác cho thấy những điều kiện để thực sự trở về với Thiên Chúa.
Việc hối cải không chỉ hệ tại vào điểm hoàn lại tiền bạc đã bớt xén ăn chặn, nhưng chủ yếu là giải thoát tâm hồn khỏi dây ràng buộc của tiền tài vật chất để hướng lÑng lên tôn thờ Thiên Chúa và yêu mến tha nhân với lÑng chân thành.
Lời Chúa hôm nay đưa ra cho chúng ta những bài học hữu ích. Bài học đàu tiên là bài học về niềm tín thác: Dù chúng ta có tội lỗi đến đâu, dù chúng ta có thế nào đi nữa thì cũng đừng thất vọng hay bi quan, nhưng hãy luôn tin tưởng vào lÑng xót thương nhưng không của Thiên Chúa. Vì Ngài là Đấng từ bi nhân hậu, chậm giận nhưng giàu lÑng xót thương và nhất là Thiên Chúa “không muốn tội nhân phải chết, nhưng muốn nó hối cải và được sống”.
Thứ đến là bài học về tình bác ái huynh đệ: chúng ta phải đối xử với anh chị em chúng ta như Thiên Chúa đối xử với chúng ta. Đừng xét đoán họ, đừng lên án cũng đừng chỉ trích họ, Chúa cấm điều đó. Hãy tìm hiểu tha thứ, luôn sẵn sàng đón tiếp, giúp đỡ và thân thiện với họ. Mặc dầu họ xúc phạm đến ta hoặc gây thiệt hại nào đó, chúng ta hãy tha thứ không hạn chế, như thế chúng ta mới là môn đệ Chúa Ki-tô là những người chỉ có một luật duy nhất là: Luật Tình Yêu.
Đạo Công Giáo là đạo cứu độ, đạo của tình yêu, của lÑng quảng đại và tha thứ chứ không phải đạo của lÑng hận thù ghen ghét, lên án hay phán xét kẻ khác… Chúng ta là con cái chúa chúng ta phải mang lấy tâm tình của Chúa đó là chậm giận nhưng giàu lÑng thương xót, là khiêm nhường và hiền hậu trong lÑng. Nhà của Da-kêu, một kẻ tội lỗi, bất xứng nhưng nhờ có Chúa Giê-su hiện diện đã trở thành một nguyện đường, nơi đó cử hành Phụng Vụ về lÑng thương xót và nghi lễ hiệp thông. Ông đã dùng việc công bằng và bác ái để xóa sạch tội lỗi của ông và không ai cấm ông ngồi bên cạnh Chúa trong bữa ăn sau đó.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho mình và cho mọi người để mỗi lần chúng ta đến với Chúa qua Bí Tích HÑa Giải, chúng ta thật sự có được tấm lÑng ăn năn sám hối chân thành. Và mỗi khi chúng ta rước Chúa vào lÑng là mỗi lần chúng ta biết từ bỏ tội lỗi và hăng say thực thi công bình, bác ái, để ơn cứu độ của Chúa tỏ hiện trong ta và trong mọi người. Amen.
Lm. HOÀNG XÔ BĂNG, DCCT 11.2007

 

TN31-C67. CON NHÌN ẢNH CHÚA, RỒI CON KHÓC

Trăm thảm nghìn thương mắt mỏi mòn. Chuông ngọ, từng hồi chuông ngọ đổ. Từng hồi chuông TN31-C67

Trăm thảm nghìn thương mắt mỏi mòn
Chuông ngọ, từng hồi chuông ngọ đổ
Từng hồi chuông ngọ, đổ chơi vơi
Con nghe chuông ngọ đổ, rồi con khóc
Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi !
( thơ Nguyễn Bính )
Nhìn ảnh Chúa, chỉ thế thôi ! Mà sao nhà thơ bật lên thành tiếng khóc ? Khóc xong nghe chuông đổ hồi, thi sĩ mới nguyền cầu Chúa cứu linh hồn mình. Phải chăng, đây cũng là nghịch lý, của người đời ?
          Với nhà Đạo, nghịch lý còn thấy rõ ở dụ ngôn “người thu thuế giàu có”, rất Da-kêu. Xưa nay, Chúa vẫn bảo: “Người giàu có, rất khó mà vào Nước Trời !” Hôm nay, trình thuật thánh Luca lại đã ghi: Chúa ghé nhà người thu thuế, không chỉ là người giàu có bình thường, mà là trưởng ban thu thuế, rất đáng chê.
          Đọc trình thuật, mọi người thấy ở đây xuất hiện hai nhân vật chính. Một, là người giàu sang lâu nay khét tiếng bủn xỉn, dáng rất lùn. Ông bị mọi người chê bai, ghét bỏ. Thứ đến, là Đấng Cao Sang Nhân Hiền, mọi người luôn ao ước. Ao ước đến gần. Ao ước được theo nghe Ngài giảng dạy. Ngài dạy, bằng dụ ngôn truyện kể, rất dễ thương.
          Về ông Da-kêu bị mọi người cách ly, vì ông chỉ nói chuyên tiền bạc, và đóng thuế. Chuyên ăn chặn của cải vật chất. Chuyên đon đả chạy vạy bọn đô hộ chuyên bóc lột, không thương tiếc. Nên, ông bị người Do Thái khinh chê, ghét bỏ. Ông cứ bị mọi người đứng khuất tầm mắt, không cho ông diện kiến Đấng Nhân Hiền Lành Thánh, tất cả đổ xô xem nghe. Xem và nghe, như đã từng chiêm ngưỡng một thần tượng.
          Theo ngôn ngữ Hy Lạp, hình dung từ “lành thánh” mang ý nghĩa tâm trạng của những người rất khác thường. Khác mọi nguời. Khác hết mọi việc. Khác cả nhân sinh quan lẫn dụ ngôn truyện kể Chúa đưa ra. Hai nhân vật đây, đều rất khác thường. Một đằng là Da-kêu thu thuế, không cùng tầm vóc – hình hài, lẫn khả năng. Vì khác người, ông mới phải trèo cao, quyết tìm gặp Đấng Nhân Hiền Lành thánh. Ông “nhìn hình Chúa, rồi ông khóc”. Không khóc như nhà thơ nọ. Nhưng, khóc vì vui mừng. Sung sướng.
          Điều khác thuờng của Đấng Lành Thánh hôm nay, là: Ngài vẫn thương yêu ghé viếng những người bị hắt hủi bỏ rơi. Bất kể họ là người phong hủi, tội lỗi hoặc điếm đàng, rất đáng sợ.
          Hành vi khác thường nữa của Da-kêu hôm nay, không chỉ là lời ông tuyên bố “sẽ cho đi phân nửa tài sản, để chia sẻ bố thí cho người khó nghèo. Không chỉ có thế, ông còn hứa: nếu ông từng làm gì thiệt hại cho ai, thì xin đền gấp bốn. Khác thường ở đây, là: lời hứa ấy đã được thực hiện ngay trong hiện tại. Chứ không phải vào thời tương lai.
          Cũng hệt như thế, khác thường có hơi nghịch lý của Đấng Nhân Hiền hôm nay, là nơi quả quyết trong hiện tại: “Hôm nay, nhà này ( nhà của kẻ tội lỗi bị ghét bỏ ) được ơn cứu độ”. ( Lc 19, 9 ).
          Nơi đời người, đã thấy có khác thường ở nhà-thơ-từng-biết-khóc, dám thưa:
“Chúng con ngoại Đạo hay ngoan Đạo
vẫn biết và tin có “Chúa lòng”. ( Nguyễn Bính – Chuông ngọ ).
Và, khác thường của nhà thơ ở đây, hôm nay cũng là: ông “vẫn biết và tin có Chúa lòng”. Bằng trạng từ “vẫn”, nhà thơ cũng muốn ngụ ý, rằng: hôm nay và mãi mãi về sau, người ngoài Đạo hay ngoan hiền trong Đạo, đều vẫn biết và tin có “Chúa ( ở trong ) lòng”.
Và, “Chúa lòng” mà thi sĩ họ Nguyễn nhấn mạnh, chắc chắn không là vị lãnh chúa, hoặc chúa thượng, ở đâu đâu. Nhưng là chúa ở ngoài đời, chẳng có được lòng thương bao la đối với con dân bày tôi nô lệ, ở phía dưới. Chứ đâu được như “Chúa lòng” của mọi người, rất thân thương. Rất Ngoan Hiền. Lành Thánh.
Ở dụ ngôn hôm nay, điểm khác thường đặc biệt còn thấy rõ nơi qui cách sử dụng “thì” hiện tại ở động từ “cho đi” trong tuyên bố của người thu thuế. Cũng thế, cụm từ “được ơn cứu độ”, của Đức Chúa, thấy chứa chan “thì” hiện tại, rất miên trường.
Và, ý thơ rất đời thường của thi sĩ ngoài Đạo hôm nay cũng hiện rõ sự khác thường đặc biệt nơi trạng từ “vẫn”. Vẫn biết và vẫn tin. Nên, dù có là người ngoài hay trong Đạo, “chúng con vẫn biết và tin”. Vì vẫn biết và tin, nên chúng con mới xin Chúa “cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi.”
Tin Mừng trích dẫn hôm nay, với từ “lại” ở câu: ông này lại đến trọ … “ ( Lc 19, 7 ) cũng thế, cho thấy việc Chúa đã và đang làm cho người thấp hèn, bị bỏ rơi “vẫn biết và vẫn tin”, là: “lại” đến trú ngụ, để được cùng ở và ban ơn cứu độ, cho cùng khắp mọi người.
          Có thể nói, những người tự-cho-mình-lành-thánh, dù có phàn nàn lẩm bẩm mọi chuyện, Đấng Nhân Hiền Lành Thánh vẫn chẳng nề hà dọn lều đến trú ngụ, ở với mình. Miễn là, mình vẫn biết và vẫn tin. Nghịch lý ở đây là như thế. Nghịch thường là vẫn cứ như vậy. Nếu người thường mà còn thấy chuyện nghịch ngạo giữa đường, mà để mắt quan tâm, để rồi “vẫn biết và tin có Chúa lòng”, thì “ơn cứu rỗi linh hồn” cũng vẫn luôn xảy đến, khỏi cần xin.
          Suy cho kỹ dụ ngôn Chúa vừa kể, hẳn người người sẽ thấy quyết tâm của Da-kêu thu thuế, đại diện cho những kẻ bị ghét bỏ, là một quyết tâm rất “hiện tại”. Hiện tại như “thì” động từ didomi mà bản Bẩy Mươi sử dụng, chính là “thì” hiện tại, đang diễn tiến với Hội thánh khắp nơi nơi. Và mặc khải cứu độ Chúa đem đến cũng hiện tại không kém, rất hôm nay. Ơn cứu độ của Chúa, luôn mang tính hiện tại, chứ không phải xảy đến lúc lai thời. Rõ ràng, ý nghĩa của câu nói “Hôm nay, nhà này” là như thế.
          Tóm lại, hiện tại vẫn là thời gian của Người. Là, trạng thái “ở đây – bây giờ”, ta nhận ơn Chúa gửi đến. Cứu độ vẫn là ơn Ngài gửi đến hết mọi người. Từ kẻ nghèo hèn, đau khổ, cho đến người bị khinh chê ghét bỏ, hệt phong cùi. Người ấy, hôm qua là Da-kêu hoặc Ma-ri-a, nữ phụ nổi danh chuyên phạm lỗi. Người ấy, hôm nay lại là nhà thơ “ngoài luồng”, là những kẻ ngoan hiền đạo đức, mới nhìn ảnh Chúa, đã khóc ròng.
          Tham dự Tiệc Thánh vào thời hiện tại hôm nay dù những người có vóc dáng không cao, không ngoan hiền như Da-kêu thu thuế, hoặc bất cứ kẻ nghèo, nhà thơ từng “Khóc lả người đi, Chúa biết không ?” ( Nguyễn Bính – Chuông ngọ ), hoặc những người đang có mặt ngay bên, ta vẫn hiên ngang hưng phấn, cứ hy vọng.
          Hy vọng, để rồi sẽ nghêu ngao với nhà nghệ sĩ tài danh thuở trước, hát lên lời thơ vui khí thế, mà rằng:
                   “Từ đồng xanh ra đi biên giới
                   bụi trường chinh bạc vai áo tôi
xuân đã mang hương trời
ta quyết đem hương đời
để đây đó thấy mầu nắng tươi.” ( Văn Phụng – Vó câu muôn dặm )
          Những đây và đó, đầy mầu nắng tươi. Tươi, vì nay nhà thơ đã hết khóc. Tươi, vì nay Da-kêu thu thuế hết bị chê bai, vẫn biết và tin. Tin là tin, “hôm nay, ơn cứu độ đã đến với nhà này”. Với nhà này, không ai còn khóc nữa. Không khóc, vì được nhìn Chúa, được thấy Chúa như Da-kêu.
Lm. PHAN ĐỖ THỤC LINH, MAI TÁ ( Úc ) diễn dịch

 

TN31-C68. TRÔNG LÊN MÌNH CHẲNG BẰNG AI

Lc 19, 1 – 10
 

Sau lễ sinh nhật 100 tuổi vào ngày 16.10 vừa qua,cụ Bholaram Das đã đăng ký chương trình học: TN31-C68

Sau lễ sinh nhật 100 tuổi vào ngày 16.10 vừa qua,cụ Bholaram Das đã đăng ký chương trình học tiến sĩ tại đại học Gauhati bang Assam,miền đông bắc Ấn Độ. Chắc chắn đây là một kỷ lục thế giới mới. Cuốn sách (và tổ chức) Guinness chuyên sưu tầm và cổ vũ các kỷ lục thế giới nầy tuy không phải “lấy sự khốn khó của kẻ khác làm vui mừng”, nhưng quả thật không bỏ qua cho bất cứ kỷ lục nào. Ngày 14.10 vừa qua, anh lùn Edward Nino Hernandez,Colombia,cao 70cm đã mất “vị trí” khi Tổ chức kỷ lục Guinness chính thức công nhận Khagendra Thapa Magar, người Nepal là người lùn nhất thế giới hiện nay. Năm nay 18 tuổi, Magar chỉ cao 67,08 cm và nặng 6,5 kí lô. Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta cũng có thêm một kỷ lục mới : một anh lùn làm quan lớn và đã đem cả gia sản giàu có làm việc bác ái. Sự thay đổi đột ngột nầy càng ngoạn mục,khi Thánh Luca ghi lại một cử chỉ và một lời nói đã làm thay đổi cả cuộc đời Gia-kêu : Chúa Giêsu nhìn lên [nơi cành sung mà Gia-kêu rán leo lên để nhìn cho kỹ Chúa Giêsu] và nói :”Hãy xuống đi, vì hôm nay tôi lưu lại nhà ông” (Lc 19,5).
Trong “Tin Mừng như đã mạc khải cho tôi” (L'Évangile tel qu'il m'a été révélé), của Maria Valtorta, đoạn tả về Gia-kêu như sau:
Là người xứ Giuđêa, chi cục trưởng chi cục thuế Jéricho, do vậy, ông cũng mua bán các đồ vật qúy “vì là tay cho vay nặng lãi và trộm cắp như tất cả đồng nghiệp, luôn có những vòng vàng do dùng đe doạ hoặc cho nặng lãi giật lấy ở một người khốn khổ nào đó mà có. Và ông rất thân với Diomède vốn buôn bán vàng và xác thịt…”.Được Chúa Giêsu cải hoá, ông đã lột bỏ khỏi những của cải bất lương nầy. Ông chỉ giữ lại một người tôi tớ :” Đó là người tôi tớ của cha tôi. Ông ta ở lại với tôi. Những người khác, tôi đã cho nghỉ hết. Còn người tôi tớ nầy thân thiết với tôi. Đây là tiếng nói đã không bao giờ chịu nín lặng khi tôi phạm tội và tôi đã xử tệ ông ta vì việc ấy. Nay, ở bên Ngài, chính ông ta là người tôi yêu mến hơn bất kỳ ai..”…. Tiếp theo sau sự hoán cải, ông muốn đi theo Chúa Giêsu,nhưng trong một lần cầu nguyện ở Đền thờ, ông nhận thấy được kêu gọi làm một việc tông đồ khác : những người bị cách ly khỏi xã hội. Ông bắt đầu tiếp đón những người tội lỗi,những người không cắt bì,những “người thu thuế, bất hạnh như tôi, những người ở thuê,những tên lưu manh côn đồ, những tay cho vay nặng lãi, những phu mộ người chèo thuyền và khổ sai, những phu tuyển nô lệ, những tên lý hình,những binh lính bất tuân và bất nhẫn,những ta nhậu nhẹt say sưa..” và cho họ ăn ở cho tới khi tìm được một nghề nghiệp khác hay một cuộc sống mới. Cùng nhau, họ bắt tay phục hồi một vùng đất sở hữu trên đường đi đến sông Gioa-đan…Nhóm người nầy đạt đến con số mười lăm”. 40 tuổi,nhỏ con,không linh lợi lắm mà cũng chẳng mạnh mẽ gì nhiều. Một tội nhân sám hối, một người vốn đã có tâm hồn chai đá, thích sống sung túc, kiêu căng,khoe khoang,xa hoa và keo kiệt. Kẻ tội lỗi cũ nầy [Gia-kêu] từ nay được tái sinh trong ân sủng, nhờ ân sủng mà được nên lại là một con người trẻ trung,mới mẻ như một em bé nhỏ, có tâm hồn khiêm nhu nhờ luôn nhớ mình đã từng là tội nhân và quyết tâm dành phần đời còn lại làm việc lành phúc đức, để sửa chữa những điều xấu mà ông có thể đã làm”.
Trước đây, Gia-kêu chỉ biết ngó xuống, chỉ nhìn thấy những người đến nịnh bợ, van xin,cầu cạnh ông. Tiền tài,danh vọng, quyền thế đã che lấp khuyết điểm thể lý lẫn tâm hồn ông, không chỉ với người khác, mà cả với chính ông : ông thấy mình vĩ đại. Ông thấy mình như người ban ơn,như một loại cứu nhân độ thế . Quả thực,trông xuống thì chẳng mấy ai hơn được ông! Và cuộc đời Gia-kêu rồi cũng sẽ chôn vùi trong xa hoa,dục vọng, ích kỷ,kêu căng tự phụ, nếu như không có một ngày nọ ông đã phải “trông lên” : ông nhận ra cái bất lợi vể thể lý và đã phải gác lại tự ái, để muối mặt cùng nhập bọn với lũ trẻ mà trèo lên cây sung (loại cây lắm mắt lắm eo,dễ leo hơn các thứ cây khác) .Sau đó, khi nhìn thấy Chúa Giêsu, ông càng nhận rõ “chiều thấp” tâm hồn của mình, trước con người hơn ông không chỉ chiều cao, mà là mênh mông vực thẳm tâm hồn. Ông thấy mình không chỉ nhỏ bé,thấp kém,mà như một con số không trước Người Nầy. Đặc biệt nhất là nhờ “ánh sáng” của Người, Gia-kêu mới nhìn thấy anh em, nhìn thấy người nghèo và những người mà Ông lường gạt bằng cách nầy hay cách khác,về vật chất cũng như tinh thần. Và không còn gì ngăn giữ ông bái phục,kính ngưỡng Người và muốn thể hiện sự tùng phục Người và sự cải hoá tâm hồn ông bằng những cử chỉ hết sức phi thường, có một không hai trong lịch sử : một sự hoà giải với Thiên Chúa và với tha nhân mẫu mực,hoàn hảo!
[Hãy nghe lời ông tâm sự với Chúa Giêsu:] “ Lạy Thầy..người ta đã nói với con về Thầy cách nay một thời gian.Một ngày nọ, trên một ngọn núi (x Bài Giảng Trên Núi), Thầy đã nói biết bao chân lý mà các nhà thông luật của chúng con không biết nói nữa. Những chân lý ấy ở lại trong tâm hồn…và từ đó, con luôn nghĩ về Thầy…Rồi người ta nói với con rằng Thầy nhân hậu và Thầy không xua đuổi các tội nhân. Lạy Thầy,còn con,con là kẻ có tội. Người ta nói với con là Thầy chữa lành các bệnh nhân. Tâm hồn con đau ốm, vì con đã gian lận lừa gạt, vì con đã cho vay nặng lãi, vì con là đứa xấu xa đồi bại,trộm cắp, khắc nghiệt với người nghèo.Nhưng giờ đây, nầy Thầy xem, con đã được chữa lành vì thầy đã nói với con. Thầy đến gần bên con và tà thần xác thịt dâm ô và giàu sang vật chất trốn chạy hết. Và con, từ hôm nay, con thuộc về Thầy,nếu như Thầy không chê con và để chứng tỏ cho Thầy thấy con được tái sinh trong Thầy, nầy con đây sẽ lột bỏ hết mọi của cải bất lương. Con sẽ đem một nửa tài sản con có cho người nghèo;nửa còn lại con sẽ bồi thường gấp bốn lần những gì con đã lừa gạt gian dối. Con biết những ai con đã lừa gạt”(Tin Mừng như đã mạc khải cho tôi)
Muốn thật sự cải hối, chúng ta cũng không còn lựa chọn nào khác, ngoài nhận ra sự thấp hèn tội lỗi của mình trước mặt Thiên Chúa và anh em. Đắm chìm trong tội lỗi hay cải hối để nên công chính (con cái Abraham x. Lc 19,10) chẳng thêm bớt gì cho vinh quang Thiên Chúa,nhưng đòi hỏi phải biểu hiện sự thay đổi nầy tương ứng với “nội dung” cải hối : “ai được tha nhiều thì yêu mến nhiều;ai được tha ít, thì yêu mến ít “(Lc 7,47). Gia-kêu biết ông được tha nhiều, và ông đã đưa ra những quyết định có một không ai, để bày tỏ niềm vui vỡ bờ,nhưng chủ yếu là để nối lại tình người,tình con cái cùng một Cha trên trời với tha nhân : thực thi công bằng (với những người ông gây thiệt hại) và bác ái (với người nghèo). Không có bất cứ tội nào - kể cả khi phạm trong tư tưởng hoặc một mình – mà lại không phạm đến cả Thiên Chúa lẫn anh em, vì thế việc đền tội không thể không bày tỏ cụ thể với cả anh em nữa.
“Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em…”. “Vì vậy tôi xin….anh chị em khẩn cầu cho tôi trước toà Thiên Chúa”! Cũng như trong hai điều răn “mến Chúa,yêu người”,tha nhân, người lân cận, luôn là vế thứ hai,là nhân tố, là điều kiệu sine qua non của mọi sự thống hối trở về với Chúa.
ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI 73

 

TN31-C69. Đổi đời

Trong cuộc sống, có nhiều người đã thoát xác, đã đổi đời một cách bất ngờ để trở nên tốt lành: TN31-C69

Trong cuộc sống, có nhiều người đã thoát xác, đã đổi đời một cách bất ngờ để trở nên tốt lành và thánh thiện.
Phanxicô Borgia đã từ bỏ chức vị tại triều đình khi đứng trước thi thể rữa thối của hoàng hậu Isabella. Phanxicô Xaviê đã trở nên một vị tông đồ Á châu chỉ vì lời Kinh Thánh mà Ignatio không ngừng nhắc đến mỗi khi gặp gỡ: Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì có ích lợi chi. Magueritte de Cortone đã xa lìa nếp sống tội lỗi và trở nên một vị thánh trước cái chết của người tình. Và ngày hôm nay, ông Giakêu cũng đã thực hiện một cuộc đổi đời, một cuộc thoát xác như thế.
Thực vậy, khi trèo lên cây sung để nhìn xem Chúa Giêsu, có lẽ ông chỉ muốn thoả mãn tính tò mò của mình cứ chẳng có nghĩ ngợi xa xôi gì. Thế nhưng thật bất ngờ là sự việc tưởng như vô nghĩa này đã đưa ông đi rất xa, đánh dấu một khúc quanh, mở ra một huyết mới có tính cách quyết định toàn bộ cuộc đời của ông.
Từ đó chúng ta nhận thấy Chúa thường đến với chúng ta, thường bước vào cuộc đời chúng ta một cách bất ngờ, bằng những con đường đầy bí ẩn, hầu dẫn chúng ta tới những nơi thật xa lạ. Ngài luôn chủ động, đưa ra sáng kiến và chọn lựa chúng ta như lời Ngài đã phán: Không phải các con chọn Thầy nhưng chính Thầy đã chọn các con.
Phần chúng ta là phải nắm lấy cơ hội một cách đúng lúc, chấp nhận sáng kiến của Chúa và cùng bước đi với Ngài trên nẻo đường Ngài đã mở ra. Điều quan trọng đó là đừng lỡ hẹn với Ngài. Bởi vì cơ hội bỏ qua sẽ không bao giờ trở lại.
Nếu như ngày hôm nay, ông Giakêu không muốn xem thấy Chúa hay không đón nhận Ngài đến thăm nhà ông, thì có lẽ đã chẳng xảy ra sự gì, để rồi ông mãi mãi vẫn là một người thu thuế, mải mê làm giàu một cách bất chính. Thế nhưng ngày hôm nay, một con đường mới đã mở ra cho ông, một cuộc sống mới đã bùng lên trong ông và một con người mới được khai sinh nơi cõi lòng ông. Cuộc đổi đời của ông đã diễn ra tức khắc và triệt để.
Tức khắc bởi vì ông không xin được gia hạn, được trì hoãn, và bởi vì ông biết rằng nếu không thực hiện ngay hôm nay, ngay lúc này thì cũng sẽ chẳng bao giờ thực hiện được.
Triệt để bởi vì ông sẵn sàng chấp nhận mọi hậu quả của cuộc hoán cải: chia tài sản cho người nghèo túng, đền bù gấp bốn cho những thiệt hại mình đã gây nên. Cuộc hoán cải nào cũng có cái giá phải trả. Có sẵn lòng trả thì mới là hoán cải thực sự.
Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đã quyết tâm trở lại với Chúa biết bao nhiêu lần, nhưng có lẽ chưa một lần chúng ta đã trở lại thật sự với Ngài. Phải chăng, vì sợ phải trả cái giá đắt ấy mà chúng ta cứ còn trì hoãn, và thoái thác mãi.

 

TN31-C70. Chúng ta thì giống như Giakêu

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ - Charles E. Miller)
 

Một số người khiếp hãi về cách cư xử của Chúa Giêsu. Bài Phúc Âm ngày hôm nay cho chúng ta : TN31-C70.

Một số người khiếp hãi về cách cư xử của Chúa Giêsu. Bài Phúc Âm ngày hôm nay cho chúng ta thấy những người bàng quan đã không bằng lòng với chú ý đặc biệt mà Chúa Giêsu đã dành cho Giakêu. Bài Phúc Âm ngày hôm nay cho chúng ta thấy những người bàng quan đã không bằng lòng với chú ý đặc biệt mà Chúa Giêsu đã dành cho Giakêu, người bị đóng nhãn như một người tội lỗi. Thật ra họ đã bị sốc và họ phải xì xào bàn tán chống lại Chúa Giêsu.
Mặc dầu không được chuẩn nhận từ đám đông, Giakêu đã làm một quyết định đúng. Ông nhận thấy rằng Chúa Giêsu, Đấng có thể làm cho ông trở lại đường ngay chính bằng cuộc sống của mình. Ông hiểu rằng, Chúa Giêsu có đầy đủ tình yêu và lòng nhân từ. Giakêu cũng đã xác định được, ông ta sẽ không đi đến với bất cứ ai hoặc bất cứ điều gì có thể ngăn cản ông gặp gỡ Chúa Giêsu, không phải sự bất bình của những kẻ phán xét ông không có giá trị gì, và hình hài nhỏ bé của ông cũng không thể ngăn cách ông thấy Chúa Giêsu từ trên đầu của đám đông.
Tôi tưởng tượng ra Giakêu giống như một đứa trẻ khi cha mẹ chúng đang đi ngang qua. Ông bị những người trưởng thành che khuất tầm nhìn. Ông đã nhảy lên nhảy xuống nhưng vẫn không thể thấy những gì đang xảy ra. Giakêu biết rằng không một người nào giúp ông nhưng ông có một ý tưởng để tự giúp mình. Ông đã chạy tới phía trước để trèo lên một cây vả và ở đó ông có thể thấy Chúa Giêsu, khi ở trên đám đông ông cố gắng nín thở để quan sát một cách cẩn thận, nhưng sự kinh ngạc của ông thì không phải ông chỉ thấy có Chúa Giêsu nhưng ông đã thật sự nghe Ngài nói. Chúa Giêsu đã gọi đích danh tên ông, Giakêu đã ngạc nhiên làm sao Chúa Giêsu biết ông là ai. Có phải Chúa Giêsu đã nghe về những tội lỗi khủng khiếp của ông không? Một người nào đó đã chỉ ông cho Chúa Giêsu phải không? Tiếp đó, ông nhận ra những gì Chúa Giêsu đang nói: “Giakêu, hãy xuống nhanh lên, Ta sẽ lưu lại nhà ngươi hôm nay”. Ông vội vàng trèo xuống khi biết rằng ông đang ở trên cây và ông đã hộ tống Chúa Giêsu đến nhà ông. Ông hứa sẽ thống hối, sẽ thay đổi để theo những lời giáo huấn của Chúa Giêsu, đó là một ngày hạnh phúc trong đời ông.
Những gì Chúa Giêsu đã làm cho Giakêu, nay Ngài cũng làm cho chúng ta. Ngài đã bước vào trong thế giới của chúng ta, thế giới mà sự thật là nhà của người tội lỗi. Chúng ta đã được chúc phúc bằng cách cư xử bất ngờ của Con Thiên Chúa. Cho dù những người khác có thấy đó là gương mù hay không, chúng ta phải làm một quyết định đúng là tìm kiếm Chúa Giêsu, nâng tầm nhìn của chúng ta lên trên những người loại bỏ Chúa Giêsu hoặc nhìn Giáo Hội một cách khinh miệt. Với đôi mắt của đức tin, chúng ta tháy Chúa Giêsu như là Đấng cứu độ của chúng ta, và với đôi tai đức tin chúng ta nghe Ngài nói với chúng ta. Vào ngày chúng ta chịu phép rửa Ngài đã gọi tên chúng ta, Ngài đã biết chúng ta là ai bởi vì Cha Ngài là Đấng Sáng Tạo chúng ta, đã chỉ định chúng ta cho Ngài. Chúng ta đã trở thành con cái của Thiên Chúa.
Trở lại vấn đề, Chúa Giêsu đã không trở thành người khách của chúng ta như Ngài đã là khách của Giakêu, nhưng chúng ta đã trở thành khách của Người. Phép rửa đã mở ra cho chúng ta cánh cửa vào nhà Người là Giáo Hội, nơi mà Chúa Giêsu, chủ của chúng ta đang mời gọi chúng ta tới bàn tiệc thánh, là Thân Mình và Máu Người trong bí tích Thánh Thể. Chúng ta có một đặc ân kỳ diệu vào mỗi ngày Chúa Nhật và mọi ngày nếu chúng ta muốn.
Chúa Giêsu trông đợi chúng ta sẽ thay đổi bất cứ những gì phải xếp đặt lại để theo giáo huấn của Ngài, như Giakêu đã làm. Vào lúc kết Thánh Lễ, chúng ta đã nghe nói: “Hãy đi trong bình an, để yêu thương và phục vụ Thiên Chúa”. Đó là lời hứa của chúng ta trung thành với ý muốn của Thiên Chúa.
Chúng ta không bị sốc bởi cách cư xử của Chúa Giêsu, chúng ta phải sung sướng nghĩ rằng Ngài đã đến để tìm kiếm chúng ta và cứu thoát những gì đã hư mất. Giống như Giakêu chúng ta phải là những kẻ được chúc phúc bởi tình yêu Thiên Chúa và lòng nhân từ của Người.

 

TN31-C71. Gặp gỡ Đức Kitô biến đổi cuộc đời mình

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
 

Tại Boston ở Hoa Kỳ có một đại hội đặc biệt. Đó là đại hội người lùn. 400 người trong 3000: TN31-C71

Tại Boston ở Hoa Kỳ có một đại hội đặc biệt. Đó là đại hội người lùn. 400 người trong 3000 hội viên đã đến tham dự đại hội người lùn của nước Mỹ. Người cao nhất của hội chỉ có 4 feet (=1m40) và người lùn nhất chỉ có 2 feet (=0m70). Đây là đại hội thứ 25, có mục đích để người lùn gặp gỡ vui chơi với nhau và để cho mọi người bớt thiên kiến với thế giới người lùn.
Tin Mừng hôm nay nói đến một người lùn, một người lùn nổi tiếng trong thành Giêricô có tên là Giakêu. Con người lùn tịt ấy đã đi vào lịch sử vì đã được gặp Đức Giêsu. Giakêu là trưởng phòng thuế vụ của thành phố và là một người giàu có, do chức vụ, do việc làm của mình và cũng có thể do đã ăn của đút lót, đã bớt xén của công… Ông là người có tiếng tăm vừa được nể sợ, vừa bị chê ghét trong dân chúng. Có thể chỉ vì tò mò muốn biết Đức Giêsu là người thế nào, có thể trong lòng ông có sẵn một tâm tình ngưỡng mộ, yêu mến. Điều đáng ngạc nhiên là ông tìm bằng được mọi cách để có thể ngó mặt Đức Giêsu khi Ngài đi qua đường phố. Vì lùn, bị đám đông vây kín, Chúa khuất tầm nhìn, ông phải chui ra khỏi đám đông, chạy lên phía trước, leo lên một cây sung để xem thấy Đức Giêsu.
Kìa Giakêu đang ngồi trêng chạng hai của cây sung, ẩn mình trong cành lá. Trăm ngàn người đi theo Chúa Giêsu nào có ai để ý? Và nếu có bị để ý thì ông cứ để mặc. Nhưng Chúa Giêsu thì khác: Đến nơi gốc cây, chân Ngài dừng lại như thể đã hẹn hò; mắt Ngài ngước lên như âu yếm chào; miệng Ngài khẽ kêu đúng tên như người thân đã từng quen biết: “Ông Giakêu ơi! Hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ông”. Hạnh phúc của Giakêu thật tràn đầy vượt quá lòng mong ước. “Ông vội vàng tụt xuống và mừng rỡ đón rước Chúa Giêsu”.
Giakêu đã ngỡ ngàng, nhưng phải nói là dân chúng thành Giêricô còn bị bất ngờ hơn nữa. Mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!”. Thật quá sức, thật không thể chấp nhận được. Họ cùng trao đổi với nhau như người Pharisêu đã mời Chúa dùng bữa tại nhà ông: “Nếu quả thật ônt nầy là Ngôn sứ, thì ông phải biết người kia là hạng người nào chứ: Hắn là hạng người tội lỗi” (Lc 7,39).
Gặp Đức Giêsu, Giakêu thấy mỉnh phải thay đổi cách sống, phải chuộc lại những lỗi lầm, phải đền bù những bất công đã gây ra trong quá khứ. “Tôi xin lấy phân nửa tài sản của tôi mà cho người nghèo; và nếu tôi đã lường gạt ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Dân chúng càng bàng hoàng kinh ngạc khi Chúa Giêsu chẳng những đến nhà Giakêu trú ngụ ở đó ít ngày, mà lại còn tuyên bố minh bạch: “Hôm nay nhà nầy đã được ơn cứu độ, bởi vì người nầy cũng là con cháu tổ phụ Abraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã hư mất”. Chỉ có một cái dừng chân do tình thương và lòng nhân hậu thúc đẩy, Chúa Giêsu đã biến đổi một con người tội lỗi trở thành người công chính. Từ giây phút gặp gỡ ấy, cuộc sống của Giakêu đã hoàn toàn đổi mới: từ một người bị cộng đoàn khinh chê ruồng bỏ, ông được Chúa Giêsu cho hội nhập vào cộng đoàn con cháu tổ phụ Abraham.
Thưa anh chị em,
Lời Chúa hôm nay khẳng định với chúng ta về tình yêu thương của Thiên Chúa. Tình yêu thương đó là tinh yêu thương không giới hạn, không phân biệt tình trạng của đối tượng. Tình yêu thương ấy dường như ngả về người tội lỗi, nghiêng về những người sống bên lề xã hội, bên ngoài tôn giáo.
Qua đời sống trần thế của Chúa Giêsu, chúng ta thấy rõ Chúa Giêsu dành tấm lòng yêu thương, ưu ái cho những hạng người mà xã hội tôn giáo Do Thái lúc bấy giờ gạt ra ngoài lề. Đó là những dân ngoại, những người nghèo, những cô gái điếm, những phụ nữ, trẻ em, những người bênh phong cùi, bỉ quỷ ám, những người thu thuế cộng tác và phục vụ ngoại bang… như Matthêu, như Giakêu hôm nay. Chính những hạng người đó lại là đối tượng của Thiên Chúa tình yêu. Vì, như Chúa Giêsu đã nói: “Không phải người khỏe mạnh cần thầy thuốc, nhưng là những người đau bênh”. Và họ cần Chúa là thấy thuốc vạn năng, chữa bá bệnh, có thể làm hồi sinh người đã chết, có thể chữa lành mọi vết thương thân xác cũng như tâm hồn. Chính vì những người tội lỗi, những người yếu đuối, những người bệnh tật mà Chúa Giêsu đã đến.
Giakêu là một thí dụ, Madalenna là một thí dụ khác. Người phụ nữ ngoại tình, người trộm lành lại là một thí dụ khác nữa. Trong bốn sách Tin Mừng, chúng ta gặp được nhiều khuôn mặt méo mó đã được trả lại vẻ đẹp, chúng ta thấy nhiều tâm hồn tan nát đã được ban đầy sức sống mới. Công trình cứu độ là như thế. Tình yêu thương của Thiên Chúa không bị chi phối bở sự trong sáng hay vẫn đục trong lý lịch con người. Trái lại, ai có một lý lịch càng nhiều vết đen, càng phức tạp thì tâm hồn lại càng được yêu thương cứu chữa. Điều cần thiết trước nhất là chúng ta dám mạnh dạn tin tưởng và tiến lại gần tình yêu thân linh vô vị lợi của Thiên Chúa. Và chúng ta hãy cảnh giác, bao lâu chúng ta tưởng mình đã là người khỏe mạnh, đã là người đạo đức thánh thiện… thì lúc đó coi chừng, chúng ta khước từ tình yêu của Thiên Chúa đang nâng đỡ chúng ta từng giây từng phút.
Chúng ta cho rằng mình chẳng có tội gì ư? Có thể nhiều người nghĩ như thế, vì trong cuộc đời nhiều người không hề giết người, không hề gian dâm, không hề trộm cắp. Thế nhưng chãy coi chừng! Tội vì làm những điều ác thì có lẽ phần đông chúng ta không có, nhưng tội vì không làm những điều tốt mà Thiên Chúa truyền dạy thì chẳng ai cò thể vỗ ngực là mình không sai phạm. Vậy thì chúng ta cũng trở thành đối tượng của lòng yêu thương vô bờ của Thiên Chúa.
Anh chị em thân mến,
Gặp được Chúa Giêsu là cuộc đời chúng ta được biến đổi. Chúng ta phải biết tìm đến gặp cho bằng được Chúa Giêsu. Nếu thực sự chúng ta gặp Chúa như Giakêu, thì thế nào đời sống chúng ta cũng sẽ được đổi mới, tội lỗi chúng ta sẽ được xóa sạch và tâm hồn chúng ta sẽ trở nên trong sáng hơn. Càng gặp gỡ Chúa trong thâm sâu của cõi lòng, chúng ta càng được biến đổi. Nếu chung quanh chúng ta có bao người vẫn mang một nếp sống cũ rích, sói mòn, càng ngày càng nghèo nàn hơn về mặt chất lượng, thì đó là dấu chứng họ chưa thực sự gặp được Đức Kitô Giêsu. Nếu cuộc sống của chúng ta chưa thể hiện được một thay đổi quyết liệt, thì đó là dấu chứng chúng ta chưa gặp Đức Kitô thực sự. Bởi vì bất kỳ một cuộc gặp gỡ nào với Đức Kitô thì đều phát sinh một hiệu quả là thay đổi cuộc sống.
Nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã thực sự ở giữa loài người chúng ta và Ngài mong ước mỗi người chúng ta gắt chước Giakêu mở rộng cõi lòng ra để đón nhận ngài. Khi gặp gỡ Chúa cách chân thành như thế thì chính Chúa sẽ ban ơn hoán cải cho ta và biến đổi ta thành những con người mới: trong sạch, liêm chính theo thánh ý Ngài.

 

TN31-C72. CUỘC HOÁN CẢI CỦA ÔNG GIAKÊU

Chú giải mục vụ của Hugues Cousin
 

Chúng ta đã thấy những liên hệ chặt chẽ gắn liền trình thuật này với trình thuật trước. Lần: TN31-C72.

Chúng ta đã thấy những liên hệ chặt chẽ gắn liền trình thuật này với trình thuật trước. Lần này hoạt cảnh diễn ra khi Chúa Giêsu đi ngang qua Giêricô. Nhân vật ở đây không phải là kẻ vô danh và ông ta nổi bật trước hết bởi hai điểm trong địa vị xã hội của ông ta, làm cho độc giả do dự không biết phần cuối cùng của câu chuyện sẽ ra sao. Giakêu thuộc thành phần những tội nhân công khai và những người thu thuế (ông lại đứng đầu những người thu thuế), một nhóm người mà Chúa Giêsu giao du và hay dùng bữa với (5,29tt; 15,1tt); ông là một trong những người mà Luca đưa ra như một mô hình của tội nhân ăn năn sám hối (18,13-14). Nhưng phần khác, ông ta giàu có và chúng ta đã nhận thấy, như ở 18,18-27 về một thủ lãnh rất giàu, trở ngại mà tiền bạc gây ra cho lời đáp lại tiếng gọi của Tin Mừng.
Nhưng trở ngại đầu tiên mà Giakêu gặp chính là sự hiện diện của đám đông (cc.1-6). Như ở 18,39, họ chắn mất tầm nhìn của ông và, bởi lẽ ông lùn (một nét về thể lý) họ làm cho ông không thấy được Chúa Giêsu là ai và dĩ nhiên, Chúa Giêsu cũng không trông thấy ông. Như một đứa con nít, ông thủ lãnh thu thuế chạy leo lên một cành cây: ông biết đúng lúc điều phải làm, tuy rằng không hợp với địa vị xã hội và phẩm giá của ông. Kết quả vượt quá một cách ấn định lúc khởi đầu: và kìa Chúa Giêsu nhìn lên. Sáng kiến đầu tiên của Ngài được nối tiếp ngay bằng một sáng kiến thứ hai. Ngài tự ý muốn đến nhà ông Giakêu. Dù sao, ông này không chỉ ước ao nhìn thấy Chúa Giêsu chứa đựng những thông tin thần học quan trọng khác. Việc Ngài dùng bữa tối và qua đêm tại nhà người thủ lãnh những người thu thuế là thuộc về kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa (Tôi phải…). Và hôm nay của cuộc viếng thăm này –được nhấn mạnh do việc lặp lại động từ vội vàng- cho thấy loé lên một “hôm nay” khác, là chính “hôm nay” của ơn cứu độ (x. 4,21; 5,26). Có điều gì đó làm ông Giakêu mừng rỡ!
Chính lúc đó, nổi lên một chướng ngại mới phải vượt qua (cc. 7,10). Việc Chúa Giêsu vào trọ một người tội lỗi gây ra một phản ứng: mọi người xầm xì, phản đối chống lại cách hành xử của Chúa Giêsu, như vậy là họ lặp lại thái độ của các người Pharisêu và kinh sư trước hai hoàn cảnh giống hệt nhau (5,30; 15,2). Những người này cũng làm trước những gì là phản ứng của các Kitô hữu ở Giêrusalem lúc chống lại phêrô khi trách ông đã vào nhà những người không chịu cắt bì và đã ăn uống với họ (Cv 11,2-3). Điều ấy có nghĩa là sứ điệp của câu chuyện Tin Mừng không mất đi tí nào tính cách thời sự trong Giáo Hội sau này.
Lần thứ hai, Giakêu quyết liệt và tức khắc làm điều phải làm. Điều này liên hệ với tiền bạc và ở hai mức độ. Nói với Chúa và trong khi nhận biết Ngài là Chúa –như người mù (18,41) và khác với ông thủ lãnh giàu có chỉ bằng lòng với “Thầy nhân lành” (18,18)- ông tuyên bố trước hết sẽ chia phân nửa tài sản của ông cho người nghèo. Ông không theo lời khuyên hãy cho tất cả (x. 18,22), nhưng ông cam kết san sẻ cách đúng mức, theo đòi hỏi của Gioan Tẩy Giả (x. 3,11-12); ông cũng phải đền gấp bốn, dựa trên phần gia tài con, cho những ai ông đã làm thiệt hại (x. Xh 21,37). Bố thí tới mức độ lớn lao như thế và đền bù những thiệt hại đã gây ra, đó là dấu chỉ của một cuộc hoán cải hoàn toàn. Tương phản với thái độ của ông nhà giàu thật là rõ rệt (x. 18,23).
Ở câu 9, Chúa Giêsu vừa muốn nói với Giakêu, đã trở thành một tội nhân biết sám hối, vừa muốn nói cho tất cả những ai không chịu đựng nổi việc Ngài đón nhận lòng hiếu khách của một người thu thuế. Một lần nữa Ngài nói đến ngày hôm nay; đó không còn chỉ là ngày hôm nay của việc trú ngụ tạm thời của ngài trong một ngôi nhà, nhưng là ngày hôm nay của ơn cứu độ cho tất cả những ai sống trong nhà đó. Điều ấy căn cứ trên việc Giakêu thuộc về dòng dõi Abraham: khi ban ơn cứu độ cho người đứng đầu những kẻ thu thuế, Thiên Chúa đã trung thành với lời hứa cùng tổ phụ các kẻ tin (x. 1,55-73). Giakêu đã kể như bị loại trừ đằng sau rào cản của đám đông, một mình lẻ loi trên cây; điều mà ông quyết định làm với số của cải của ông chứng tỏ ông thuộc về dân của Thiên Chúa. Cuối cùng, Chúa Giêsu nhắc lại đâu là sứ mệnh của Ngài. Chắc hẳn, Ngài nói bằng những từ ngữ gần gũi với những từ đã dùng ở 5,22. Nhưng ở đây, Ngài thân mật ám chỉ tới Ed 34,16, theo đó chính Thiên Chúa đi tìm con chiên bị lạc mất. Công việc của Chúa Giêsu không khác gì công việc của Thiên Chúa (xem đã có ở 15,7).
Cách thức mà đạo Do Thái theo nhóm Pharisêu quan niệm về ơn tha thứ được diễn tả như sau: “Yom Kippour – Ngày đền tội” dịp lễ long trọng, trong dịp đó con người có thể được Chúa tha thứ, xem Lv 16- mang lại ơn tha thứ cho những tội mà con người đã xúc phạm đến Chúa, nhưng đối với những lỗi lầm mà con người xúc phạm đến người lân cận Yom Kippour không thể mang lại ơn tha thứ bao lâu người này chưa được người lân cận của mình tha thứ, chưa đền bù sự thiệt hại luân lý vật chất mà mình đã gây ra (Misnha Yoma VIII, 9). Đối với Luca, ơn cứu độ được Thiên Chúa ban, là sáng kiến của Thiên Chúa (x. 18,27); nhưng để ơn cứu độ trở thành hiện thức thì con người cần phải đón nhận bằng việc hoán cải. Và điều này được diễn tả cách thiết yếu bằng một hành động cụ thể đối với người khác, và đặc biệt là đối với người nghèo. Ở đây, nhân danh Chúa, sáng kiến đã có được nhờ Chúa Giêsu là vị khách từng đến thăm nhà ông Giakêu, ông này đã đáp lại cách thích hợp, không những là đón nhận Chúa Giêsu (c.6) mà còn là mở lòng để đón nhận ơn cứu độ bằng việc sám hối nữa (c.8).

 

TN31-C73. Chú giải của Noel Quesson

Sau khi vào Giê-ri-khô, Đức Giêsu đi ngang qua thành phố ấy.
 

Giê-ri-khô, một địa danh bất thường trong môn địa lý của hành tinh này: thành phố thấp: TN31-C73

Giê-ri-khô, một địa danh bất thường trong môn địa lý của hành tinh này: thành phố thấp nhất của trái đất; thấp hơn mặt nước biển 250 mét! Khi những người sống ở mức thấp đó; ngay khi họ quyết định đi từ nới họ ở, họ chỉ có thể đi lên cao; Giakêu sẽ khởi hành ở chỗ rất là thấp.
Giê-ri-khô, một biểu tượng cho nhân loại già nua: nó là một trong những thành phố cổ nhất trái đất; có những di tích mà số tuổi lên đến tám ngàn năm trước Đức Giêsu Kitô. Khi Abraham dẫn đàn súc vật đi ngang qua thì nơi đó đã là một thành phố có số tuổi hơn sáu ngàn năm; Giakêu sẽ rất giống với nhân loại từ muôn thuở.
Giêrikhô thành phố cuối cùng trong cuộc hành trình của những người hành hương lên Giêrusalem. Đối với Đức Giêsu ngày hôm đó là một ngày leo dốc mệt nhọc! Đồi cái Sọ (tiếng Do Thái là Golgotha) ở đàng kia, gần cổng Épraim, cách đó hai mươi kilô mét, ở đầu một con dốc dài bất tận và ở đó cao hơn một ngàn mét so với ốc đảo Giêrikhô.
“Đức Giêsu đi ngang qua thành phố ấy” Giai đoạn cuối cùng của cuộc hành trình cuối cùng.
Đức Giêsu hoàn toàn sáng suốt về điều đang chờ đợi Người trên kia, ở Giêrusalem. Hôm qua có lẽ hoặc hôm kia, Người đã gọi riêng các bạn hữu. Người đã loan báo cho họ điều sắp xảy đến: “Này chúng ta lên Giêrusalem, và tất cả những gì các ngôn sứ đã viết về Con Người sẽ được hoàn tất. Quả vậy, Người sẽ bị nộp cho dân ngoại, sẽ bị nhạo báng, nhục mạ, khạc nhổ. Sau khi đánh đòn, họ sẽ giết Người và ngày thứ ba Người sẽ sống lại” (Lc 18, 31.34). Nhưng thánh Luca nói với chúng ta, mười hai Tông Đồ của Đức Giêsu không hiểu gì cả. Chỉ mình Đức Giêsu sáng suốt, lòng tràn ngập những mối suy tư.
Ở đó có một người tên là Giakêu
Phải chăng là sự hài hước? hoặc là sự chế giễu? Cái tên “Zakkay” này trong tiếng Do Thái có nghĩa “Người Thanh Khiết, Người Công Chính”. Con người tội lỗi công khai ấy lại có tên “thanh khiết, trong sạch” làm chúng ta nghĩ tới một kẻ lừa bịp ác tâm mà người ta đặt cho biệt danh là “người vô tội, dịu dàng”!
Nhưng chúng ta hãy chờ cho câu chuyện chấm dứt.
Ai mà biết được ông ta sẽ không mang tên thật của mình… vào lúc cuối.
Ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có.
Giakêu, người tội lỗi bởi nghề nghiệp, trong lúc này đúng ra đáng có cái tên “kẻ bị tuyệt thông”. Một con người ghê tởm, bị mọi người ghét bỏ. Phục vụ cho đoàn quân chiếm đóng La Mã. Thỏa hiệp với ngẫu tượng, Hoàng Đế Bóc Lột! Kẻ bóc lột những người nghèo! Một Thủ trưởng vô liêm sỉ của những người thu thuế, đã thu những món lại to lớn khi bỏ đói dân nghèo và phô trương sự giàu sang, xa hoa trong ngôi biệt thự sang trọng nhất thành phố. Cách đó ít lâu Đức Giêsu đã nói về điều đó: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Lc 18,25).
Giakêu, một con người bị tránh xa như bệnh dịch. Kẻ tội lỗi hoàn toàn bị hư mất. Đồ thối tha. Cấm không được giao du với hạng người hư hỏng ấy. Người ta nhổ xuống đất và quay mặt đi khi đi ngang qua con người ấy.
Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn. Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu, vì Người sắp đi qua đó.
Một chuỗi những “biểu tượng: A! ông ta lùn quá lùn nên không nhìn thấy Đức Kitô; đám đông thù nghịch; cả một dư luận phải vượt qua, để xem Đức Kitô; leo lên một cây (cây nào lạ lùng bằng cây thập giá!) để xem Đức Giêsu. Những sự giải thích tượng trưng không làm mất đi sử tính của các chi tiết cụ thể: người ta phải nhớ lại ở Giêrikhô, vào thời của Luca đã xảy ra một biến cố khó tin là sự hoán cải của ‘kẻ đứng đầu những Người thu thuế’. Vả lại mọi chi tiết hoàn toàn tự nhiên. Lúc mới vào thành phố, Đức Giêsu đã chữa lành một người mù (Lc 18, 35.42). Tiếng vang của việc chữa lành này lan ra nhanh chóng như vệt thuốc súng. Người ta biết rằng Giakêu đã có ước muốn “xem” Đức Giêsu đó, leo lên một cây sung dưới ánh mắt châm biếm của đám đông; mà không còn quan tâm đến phẩm giá của một thủ trưởng nhân sự Tổng Kho Bạc của Đế quốc!
Tôi thử tưởng tượng điều gì có thể thúc đẩy Giakêu, bất chấp sự chế giễu đã xắn chiếc áo thụng của một ông trưởng giả Do Thái và có lẽ cái áo choàng La Mã để leo lên cây sung như một thằng nhóc tầm thường? Vì tính tò mò chăng? Vì sự lôi cuốn mầu nhiệm chăng? Vì nỗi khắc khoải mơ hồ và chán chường cuộc sống của mình chăng? ông ta đã sống để đếm tiền và khuấy động thành phố của ông. Mọi người tránh xa ông; ông biết rõ tại sao: nhân danh pháp luật, ông bức bách họ. Nhưng rồi khi người ta nói Đức 'Giêsu đi qua đó và Người là bạn của những người không được ai yêu thương. Lúc đó, ông giữ cửa kho bạc đã leo lên một cây đang trổ hoa để xem Đức Chúa.
Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông
Người ta có thể gọi chỗ ấy là “nơi hai ánh mắt gặp nhau”. Bề ngoài, cái nhìn đầu tiên là của Giakêu, đang cháy bỏng ước muốn xem Đức Giêsu. Nhưng sẽ không có gì xảy ra nếu như Đức Chúa đã không ngước mắt nhìn lên người ở trọ lạ lùng, trên cây sung. Tôi ở yên một lúc để tưởng tượng, để chiêm niệm hai ánh mắt gặp nhau đó. Đức Giêsu và ông Giakêu đang nhìn nhau!
Chúng ta tiếng rằng chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa, trong khi mà chính Người “tìm kiếm” chúng ta trước, tự muôn đời! ôi chào! Ngày hôm đó, Đức Giêsu đã phải sung sướng hạnh phúc! Còn vài cây số nữa là đến Giêrusalem, còn vài ngày nữa là cuộc khổ nạn được hiến dâng để cứu chuộc nhân loại. Công cuộc cứu chuộc cao đẹp nhất của Người sẽ thành công? Mọi nỗi chơi vơi cô quạnh của thập giá mọi hình phạt mà Người sẽ gánh trên lưng, mọi vết thương xé ra ở tay chân đẫm máu của người. Người biết, biết chắc chắn là điều đó có ích. Người đã cứu thế gian, khi tiến lên ‘Giêrusalem’. Giakêu là hoa trái đầu mùa. Hỡi hạn, là người tội lỗi, bạn đã được Thiên Chúa tạo dựng chỉ để ‘xem’ khuôn mặt của Người. Hỡi bạn, là người tội lỗi, hay nhận ra mình được tha thứ khi ánh mắt bạn gặp ánh mắt của Đấng yêu thương bạn.
“Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!”
Qua những lời ấy, chúng ta đoán ra rang chính Đức Giêsu đã tìm kiếm Giakêu. Mọi sụ diễn ra như thể Đức Giêsu đã dự kiến hành động của Người: Đức Giêsu được mời đến nhà ông và ông được ưu tiên chọn lựa đối với mọi người khác ở Giêrikhô. Người đã chọn lựa kẻ thấp hèn nhất, kẻ bị khinh bỉ nhất.
Đó là cách mà Đức Giêsu dùng để yêu cầu một người nào đó phục vụ Người để rồi Người ban cho họ một ân sủng của bậc đế vướng: hoàng tử trở thành người ăn xin để ban cho mà không làm thương tổn.
Đức Giêsu dường như chỉ là một người giảng thuyết lưu động tìm một bữa ăn và một 'cái giường để nghỉ qua đêm. Và thân mật biết bao trong sự vội vàng ấy! “Này ông Giakêu xuống mau đi!” như thể Đức Giêsu muốn nói: Này ông Giakêu, tôi rất đói, mau lên nào! Cũng thế, Đức Giêsu đã xin nước uống của một phụ nữ Samari bị bỏ rơi, bên bờ giảng. Cũng thế Người đã chấp nhận việc xức dầu thơm của người đàn bà tội lỗi nhân ông Simon, một người Pharisêu.
Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người.
Sự vội vàng khi ông từ cây nhào bổ xuống tương ứng với sự vội vàng của Đức Giêsu.
Niềm vui là dấu chỉ sự gặp gỡ với Đức Giêsu. Một khoảnh khắc vui mừng và hân hoan ngắn ngủ, kể từ Bài ca Ngợi khen (Magnificat) của Đức Maria qua niềm vui của hai môn đệ trở về Emmau.
Còn bạn, là người tội lỗi, bạn có những lúc vui mừng không?
Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!”
Đức Giêsu đã từng đòi hỏi không được gây ra những cớ làm cho người ta vấp ngã (Lc 17,1.3) nhưng chính Người đôi lúc không ngần ngại gây ra bởi những thái độ không phù hớp với dư luận của thời đại Người; đặc biệt vì lòng nhân từ khác thường của Người đối với những tội lỗi! Đức Giêsu là “Cứu Chúa” đến độ làm người ta vì thế mà khó chịu. Người tha thứ đến độ gây cớ vấp ngã cho những người công chính.
Ông Giakêu đứng đó thưa với Chúa rằng: “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.”
Thánh Ambrosiô trong bài thuyết giảng của ngài ở Milan đã nói “Không có lỗi khi mình giàu, nhưng khi mình không biết sử dụng tài sản của mình... “ Và toàn bộ Tin Mừng của Thánh Luca dường như muốn nói rằng cách duy nhất sử dụng hợp lý tài sản của thế gian này là chi dùng nó, đem cho nó đi! “Hãy bán của cải mình đi mà bố thí” (Lc 12,33). “Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn hữu (Lc 16,9).
Giakêu đã bị đảo lộn bởi lòng quảng đại của Đức Giêsu đối với ông. Ông muốn đem lại cũng niềm vui ấy cho những Người khác.
Giakêu khốn khổ với tất cả vàng bạc của mình.
Giakêu hoàn toàn sung sướng khi chia sẻ niềm vui.
Đức Giêsu mới nói về ông ta rằng: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.”
Đức Giêsu đã qua những giờ nói chuyện trực diện với Giakêu. Họ đã nói với nhau điều gì? Họ đã ăn uống cùng bàn... mặt giáp mặt. Trong mọi tôn giáo kể cả tôn giáo ở Israel, Thiên Chúa là Đấng đáng sợ mà Đền thờ khuyến khích sự kính sợ linh thiêng đó.
Trong Đức Giêsu, chính Thiên Chúa di chuyển và đến ở nhà kẻ tội lỗi; vậy từ ngày đó, các nhà thờ, kể cả những đại thánh đường chỉ là ngôi nhà khiêm tốn của Giakêu; nơi mà những lũ tội nhân và các thánh tìm gặp nhau với Thiên Chúa trong tình huynh đệ. Giáo Hội chuộc “những gì đã mất”.
Giờ đây, Giakêu có thể mang tên thật của mình: “Người thanh khiết”, người được thanh khiết hóa.

 

TN31-C74. Người tội lỗi - R. Gutzwiller

Đức Giêsu vừa chữa lành người mù, bây giờ Ngài lại gặp một người tội lỗi, một người vị: TN31-C74

Đức Giêsu vừa chữa lành người mù, bây giờ Ngài lại gặp một người tội lỗi, một người vị vọng ở Giêricô. Ở thị trấn gần biên giới này, thu thuế là nghề rất phát tài. Giakêu thi hành công việc này nhiều nơi nên ông đã thu tích được một gia sản đáng kể, tuy phải dùng đến những phương sách mà người Do thái coi là bất chính. Thực thế, vì nghề nghiệp, ông luôn phải giao tiếp với lương dân và còn phải chi li từng đồng với bọn thuộc hạ, rồi với dân chúng qua những người trung gian. Thế cho nên người Do thái cứ yên trí rằng bọn thu thuế khỏi cần nói cũng là người tội lỗi. Tội lỗi đã nên như đặc điểm nơi ông Giakêu.
Tuy nhiên đó chỉ là dáng vẻ cuộc đời ‘dân sự’ bình thường của Giakêu, nhưng bên trong ông có cả một chiều sâu. Ông muốn gặp gỡ Đức Giêsu. Không phải ông là người hiếu kỳ, vì cứ theo lời ông người ta sẽ nhận ra nỗi lòng hối tiếc trong tâm tư con người dư dật đó. Ông sẵn sàng dành phân nửa tài sản để bố thí cho người nghèo và nếu có lỡ gian lận của ai thì bồi thường gấp bốn. Giakêu không thoả mãn vơí chính mình, với đời sống, địa vị và thành công của mình. Tự đáy lòng ông cảm nghiệm được sự trống vắng. Tiền của có thể dư giả, nhưng không bù lấp được tâm tư. Uy thế có thể củng cố địa vị xã hội của ông, nhưng không cứu vãn được linh hồn ông trước mặt Thiên Chúa. Với tuổi đời như Giakêu, con người không còn ảo tưởng nữa và sự vĩnh cửu bắt đầu là một cái gì có ý nghĩa. Trên đời vẫn còn có nhiều người xử sự như Giakêu.
Cái nhìn và lời nói của Chúa đến với ông thật đúng lúc. Đức Kitô không bị ràng buộc với phán đoán của con người. người thường mai mỉa những ai ra vẻ đạo đức, rồi Người luôn kêu gọi người tội lỗi trở lại đường lành. Người không hề mị dân. Trong trình thuật này, Người đã chọn Giakêu-một con người dị dạng giữa đám dân chúng. Người không chỉ trao đổi hay gặp gỡ qua loa nhưng còn đem lại niềm vui và cho ông vinh dự đón tiếp Người tại nhà cho đến ngày hôm sau. Người biết rõ, theo quan niệm đạo đức thông thường, vào nhà một người tội lỗi là làm một cái gương xấu. Nhưng Đức Giêsu đến ‘để tìm và cứu chữa những gì đã hư mất’. Suốt cuộc hành trình cuối cùng đi lên Giêrusalem, Người đã nghĩ đến những kẻ lầm đường lạc lối; vì tha nhân quên mình, bất chấp quan niệm thường tình, Người đến với Giakêu vì Người đáp ứng được niềm ông mong đợi, đưa ông trở về với Thiên Chúa khoả lấp tâm hồn ông bằng sự sung mãn tinh thần, ban ân sủng, thức tỉnh và hướng dẫn tâm hồn con người để họ lắng nghe lời Ngài. Kẻ tội lỗi sẵn sàng hoàn lương ấy chính là điều Đức Giêsu lấy làm mãn nguyện.

 

TN31-C75. TẠI GIÊRICÔ, HAI ÁNH MẮT GẶP NHAU

BẮT NGUỒN CHO MỘT KHỞI ĐẦU MỚI
Chú giải của Fiches Dominicales
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Giêricô chặng dừng chân cuối cùng trước khi lên Giêrusalem:
 

Căn cứ vào Luca 9,51, chuyến đi Giêrusalem lần này là lần chót, nên Đức Giêsu đi tới Giêrico: TN31-C75

Căn cứ vào Luca 9,51, chuyến đi Giêrusalem lần này là lần chót, nên Đức Giêsu đi tới Giêricô, thành phố giáp ranh và là cửa ngõ đưa vào Đất Hứa.
Đức Giêsu lại loan báo lần nữa về cuộc khổ nạn sắp tới của mình. Còn các môn đệ thì vẫn ngỡ ngàng, “không hiểu”, “không rõ” (18,31) gì cả. Nên khi gần tới Giêricô, Đức Giêsu đã mở mắt cho một người mù và lấy anh ta ra làm gương cho các ông: “Lập tức anh ta nhìn thấy được và theo Người” (18,35-43).
Chính trong chuyến đi ngang qua thành phố này, Luca kể lại câu chuyện mà chỉ riêng Tin Mừng ngài có, câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và Giakêu, một người với cái tên có nghĩa là “người thuần khiết” thì quả là nghịch thường. Bởi lẽ tất cả cuộc sống xem ra phải đưa đẩy ông đến chỗ xa rời Nước trời.
Giakêu là người tội lỗi công khai. Ông làm nghề thu thuế, một nghề đáng khinh bỉ của những người “publicanô”, những tên thu thuế làm lợi cho đế quốc Rôma. Phải gọi ông là “đầu sỏ” publicanô mới đúng. Giakêu lại giàu có nữa. Câu chuyện kể lại trước đây về cuộc trò chuyện giữa Đức Giêsu và “người thanh niên giàu có” (18,18-30), càng làm sáng tỏ hơn sự giàu có có thể là trở ngại cho lời mời gọi của Tin Mừng.
2. Đám đông: vai trò quan trọng trong câu chuyện.
Thường thường bị quên lãng trong các chú giải, “đám đông” xem ra không có được vai trò quan trọng mấy để làm cho câu chuyện thêm phần sinh động.
- Trước tiên, đám đông cản trở ước muốn của Giakêu; ông muốn “xem cho biết Đức Giêsu là ai”, nhưng khổ nỗi dân chúng thì đông, mà “ông ta lại lùn”.
Đám đông còn gây cản trở cho thái độ Chúa đã chọn đối với Giakêu. Họ giống như các người biệt phái và kinh sư vốn bất bình trước thái độ Chúa niềm nở tiếp đón và cùng ngồi ăn uống với những kẻ tội lỗi (Lc l5), và cũng giống như các Kitô hữu ở Giêrusalem sau này, đã tỏ thái độ bực bội trước cách xử sự của Phêrô khi vào nhà viên đại đội trưởng Rôma ở Xêdarê (Cv 10 và 11) họ nổi loạn, họ gầm lên: “Thấy vậy mọi người xầm xì với nhau: Nhà một người tội lỗi, mà ông ấy cũng vào trọ” (19,7)
3. Những ánh mắt, cử chỉ, lời nói đầy ý nghĩa:
Chúng ta vừa mới quan sát những cái nhìn, thái độ, lời nói của đám đông, vốn chỉ dừng lại ở những dáng vẻ bên ngoài. Ta hãy đi sâu hơn vào chiều sâu của bài tường thuật bằng cách giờ đây chú ý đến những ánh mắt, thái độ và lời nói của Đức Giêsu cũng như của Giakêu. Suốt bài tường thuật này, Đức Giêsu không ngừng biểu lộ sáng kiến của lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những con người tội lỗi.
+ Người “đi ngang qua Giêricô”, trước khi lên Giêrusalem nơi người sắp tự ý hiến dâng mạng sống mình có ý tìm kiếm và cứu vớt những gì đã mất.
+ Người “nhìn lên” Giakêu mà thường thường thì người ta nhìn xuống mới phải, vì ông lùn.
+ Người tự làm người khách không mời khi vào nhà một người thu thuế, đang khi thường thường chẳng có ai bước vào đó, trừ khi bị gọi đến vì chuyện thế má: “Hôm nay, tôi phải lưu lại nhà ông”.
+ “Niềm vui” gặp gỡ làm nẩy sinh nơi người tội lỗi ước vọng thiết tha được khởi đầu một cuộc sống mới: “Thưa Ngài, đây là phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo, và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền bù gấp bốn”.
+ Sau cùng Chúa Giêsu tỏ cho chủ nhà biết rằng cuộc gặp gỡ này mang “ơn cứu độ” cho ông ta ngay “hôm nay”: nhà người tội lỗi đã trở nên nơi Thiên Chúa cư ngụ:
- Về phần Giakêu, việc ông di chuyển vị trí là dấu hiệu chứng tỏ nội tâm ông đang có sự chuyển biến, điều mà ông hằng mong muốn.
+ Vì người ta quá đông, mà ông lại thấp bé, nên ông “liền chạy tới trước, leo lên một cây sung”.
+ “Vội vàng”, ông tụt xuống khỏi cây, theo lời Chúa gọi.
+ “Mừng rỡ”, ông đón tiếp Chúa vào nhà ông.
+ Và lòng ông mở ra để biết sống chia sẻ và thực thi công bình với mọi người.
Giakêu, con người đã mất thanh danh, bị người đời coi rẻ, bởi cái nghề nghiệp đã xếp ông vào hạng “người tội lỗi” lại được nghe gọi tên mình: “Giakêu”, lại được Đức Giêsu công khai nhìn nhận mình là “con cháu tổ phụ Apraham”.
Chính ông vì muốn tìm cách để “xem” cho biết “Đức Giêsu” ấy là ai khi Người đi ngang qua thành, thì giờ đây lại đứng ra thưa với “Chúa” về quyết định làm lại cuộc đời của mình, đồng thời chính ông cũng được nghe từ miệng “Con Người” nói cho ông biết rằng “ơn cứu độ đã đến cho nhà ông”.
BÀI ĐỌC THÊM:
1. Cùng với Giakêu, chúng ta hãy khám phá ra ơn tha thứ là gì.
Làm sao để khám phá ra ơn tha thứ là gì? Trong lãnh vực này cũng như nhiều lãnh vực khác, Tín Mừng thường đi ngược với suy nghĩ của ta, bắt buộc ta phải nhìn từ khía cạnh ngược lại nghĩa là không nhìn sự tha thứ, nhưng nhìn ơn được thứ tha.
Kẻ được ơn tha thứ sẽ ra sao? Giakêu chẳng phải là điển hình tốt hơn đó sao? (Lc l9,l-10). Điều gì đã xảy ra giữa Đức Giêsu với ông? Ông chẳng có gì to tát đâu. Chỉ một ánh mắt của Thầy khi đi ngang qua, chỉ một tia nhìn hướng về phía anh chàng lùn ấy đang núp trên cây sung thôi. Và rồi kìa, Đức Giêsu tự đóng vai người khách không mời, đến nhà Giakêu dùng bữa, mặc dầu ông chưa lên tiếng mời. Giakêu đã quay trở lại với Đức Giêsu. Cuộc sống ngày mai hẳn sẽ khác với nếp sống hôm nay lắm. Tưởng chừng như nghe dư âm của lời Chúa trong sách Êgiêkien: “Ta không muốn kẻ gian phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối là được sống” (Ez 18,23).
Những cảnh tha thứ thuộc loại này không phải chỉ trong Tin Mừng mới có mà thôi. Trong khung cảnh gia đình, thường khi xảy ra những “lỗi lầm” có lẽ không quá nghiêm trọng, chúng ta thảy đều đã sống kinh nghiệm của sự tha thứ. Các bậc làm cha mẹ khi biết tha thứ cho nhau, đều tìm lại được đà tiến sau khi đổ vỡ. Đôi khi chỉ cần một ánh mắt thôi, mà đứa trẻ cũng dần dần học được sự tha thứ. Lời Chúa cũng tỏ cho ta biết, trong nếp sống ngày qua ngày của ta, điều gì làm cho ta nên cao thượng.
Đối với hai người là vợ là chồng, thì việc tha thứ cho nhau không chỉ nhất thiết là đòi hỏi về mặt đạo đức, mà còn thuộc lãnh vực đức tin được hiểu là ơn tận hiến cho nhau. Được tha thứ, chính là tin rằng tha nhân vẫn còn yêu ta; niềm vui bắt đầu nẩy sinh khi ta ngỡ ngàng khám phá ra ràng tha nhân có khả năng yêu thương ta thực sự, cũng như ta có khả năng, mặc dầu về phía ta cũng có những khía cành tăm tối khiến chính ta cũng phải khổ. Thanh thản có cái nhìn như thế về ta, cái nhìn làm cho thấy được con người, nguyện vọng và cả bên kia những lỗi lầm của ta, là một cái nhìn làm ta phát triển, mời giọi ta phát triển hơn nữa. Cái nhìn ấy hướng ta về tương lại, cứu thoát ta khỏi chính bản thân mình.
Tha thứ nói cho cùng là chuyện đơn giản lắm, là cứ tiếp tục yêu thương đi. Đôi khi chính là làm hồi sinh lại tình yêu nếu đang lụi tàn. Lúc ấy người ta đã giết chết sự hận thù. Sức mạnh của sự chết không chiến thắng được sức mạnh của sự sống nữa. Tha thứ chính là mở ra tương lai, là đặt lòng tin tưởng của mình nơi tha nhân, là tin vào ánh sáng cùng với sự rủi ro đi kèm. Hơn một lần sẽ có thể bị nhạo báng, hiểu lầm. Tin người vẫn luôn luôn là một rủi ro phần nhiều sự tha thứ không chỉ là liên hệ giữa hai người mà thôi, mà còn có cả người thứ ba nữa. Trong Tin Mừng Luca (7,36-50), ngoài Đức Giêsu và người phụ nữ ngoại tình, còn có cả ông Simon tiêu biểu cho dư luận quần chúng. Dư luận này thích đóng vai quan toà, không ủng hộ cho việc tha thứ. Dẫu sao con người chỉ cảm thấy mình được tha thứ thực sự, sau khi đã được người chung quanh yêu mến và tin tưởng.
Với mỗi người chúng ta, tha thứ là hành trình lâu dài khám phá tha nhân. Còn Thiên Chúa chính Người là sự tha thứ. Người đã tha thứ cho ta trước khi ta cầu xin Người: vì Người yêu ta và biết rõ ta; vì người yêu ta và tin tưởng ta. Giữa chúng ta với nhau, sự tha thứ luôn luôn là hỗ tương; một ngày nào đó, ta sẽ phải xin lỗi người ta tha thứ hôm nay. Đối với Thiên Chúa thì khác. Chính Người là nguồn ơn tha thứ và khi ta muốn cầu nguyện thì không phải nói: “xin tha thứ cho chúng con, như chúng con cũng tha thứ” mà tốt hơn nên cầu nguyện rằng: “Xin cho chúng con biết tha thứ, như Chúa hằng thứ tha”.
2. “Giakêu: tên người thu thuế ở Giêricô đã lưu danh hậu thế”
“Đó là một anh chàng đã “quên” lớn lên, nên đành phải miễn cưỡng chấp nhận vóc dáng nhỏ thó của mình.
Vậy mà chàng ta cũng đã leo lên được nấc thang xã hội, đã đạt được vị trí ước mong, đã thu tích được một gia tài. Chàng có được gia tài này, một phần là nhờ trí tuệ, sự miệt mài làm việc; một phần cũng là nhờ bòn mót và kiếm chác của người khác. Bởi lẽ chàng là người thu thuế.
Chàng cũng đã không coi rẻ việc phải cộng tác nào đó với quân chiếm đóng, một phần vì không thể làm khác, một phần cũng vì “nồi cơm” của chàng.
Này kìa, chàng đã được ngồi ở một địa vị cao trong xã hội, đang khi chính chàng lại chỉ là con người nhỏ thó. Có địa vị không thiếu gì, luôn được thoả mãn, giàu có. Mấy ai được như chàng.
Cùng lúc đó, từ một góc bé nhỏ của bản thân, chàng cảm thấy có một cái gì đó làm chàng không hài lòng mấy. Chàng thấy thiếu một cái gì đó mà không biết xác định rõ là cái gì. Thế rồi, ngày hôm đó, trong thành phố của chàng có một vị ngôn sứ của Thiên Chúa đi qua. Giả như Thiên Chúa dạo chơi tới nhà bạn, hẳn bạn sẽ không bỏ lỡ cơ hội để xem Người thế nào, hoặc nghe người nói gì!
Phố xá đầy người. Thật là náo nhiệt Chàng là một viên chức cao cấp không lẽ lại trà trộn với đám lệ dân kia. Hơn nữa chàng còn phải len lỏi lên được hàng đầu mới có cơ may trông thấy được vị ngôn sứ. Còn mặt mũi nào. Vả lại chàng cũng chẳng thích như vậy.

Có một cây lớn đây rồi, mà lại là cây sung. Thật là một đài quan sát tuyệt vời. Từ đó, chàng có thể nhìn thấy hết, mà không có nguy cơ bị người ta nhìn thấy mình.
Nhưng không sự thể lại hoàn toàn trái ngược: vị ngôn sứ của Thiên Chúa trông thấy chàng. Ngài chú ý đến chàng, như thể trước đây vẫn đang tìm chàng. Quan sát từ trên cây cao, chàng nghĩ là có thể hay biết hết, mà chẳng phải liên luỵ gì! Nhưng không! Sự thể lại hoàn toàn trái ngược: Thiên Chúa bắt chàng phải liên lụy với đám đông. Thiên Chúa hỏi han chàng giữa đám dân phố của chàng. Tự Ngài ra dấu bảo chàng xuống khỏi cây. Rồi ngỏ ý muốn được mời đến nhà chàng. Thế là chàng buộc lòng phải quyết định!
Đừng ở trên đó mà nhìn như khách bàng quan nữa? Xuống mau lên! Nhập bọn với dân phố và chỉ cho họ biết bạn thấy Chúa thế nào, phản ứng ra sao khi nghe lời Người và bạn sống làm sao để chứng tỏ Chúa đã đi vào đời bạn.
Ngày hôm đó, một anh chàng nhiều tiền lắm của phần nào do kiếm ăn bất chính và tự mãn, với địa vị là chủ nhà đón tiếp Đức Giêsu. Nhà của anh ta trở thành nhà của Thiên Chúa.
Anh ta đã hiểu ra rồi. Anh cho đi của cải, cho đi bản thân mình. Đó chính là ơn cứu độ cho cả nhà anh, và tên của anh lưu danh hậu thế: Giakêu!

 

TN31-C76. CON NGƯỜI ĐƯỢC ĐỔI MỚI

A. DẪN NHẬP.
 

Thiên Chúa yêu thương và cứu chữa mọi người”, đó là chủ đề của Lời Chúa hôm nay. Thiên: TN31-C76

“Thiên Chúa yêu thương và cứu chữa mọi người”, đó là chủ đề của Lời Chúa hôm nay
          Thiên Chúa yêu thương mọi loài . Lý do : nếu Chúa không yêu thương thì Ngài đã không tạo dựng, nếu Ngài ghét bỏ thì Ngài đã không bảo tồn (bài đọc 1). Câu chuyện ông Giakêu là một minh họa sống động và cụ thể cho tư tưởng trên đây. Quả thật, Thiên Chúa không thiên vị ai, không khinh bỉ ai, Ngài chỉ nhìn đến thiện chí của người ta và ban ơn cứu độ.
          Trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Luca thuật lại cho chúng ta câu chuyện của ông Giakêu trở lại như thế nào. Vào thời ấy, những người thu thuế bị xếp chung với hạng người trộm cắp, giết người và đĩ điếm. Hơn nữa, vì họ làm việc cho người La mã, nên người ta cho họ là những kẻ phản bội và ruồng bỏ họ. Trái lại, Đức Giêsu lại có lối hành xử khác, Ngài kêu gọi ông, lại còn đến ăn uống và trọ trong nhà ông nữa. Việc này làm cho người Do thái rất tức giận. Ngài xử sự như thế để tỏ rõ sứ mạng của Ngài là “đến tìm và cứu chữa những gì hư mất”. Cảm động bởi lòng nhân hậu của Đức Giêsu, Giakêu đã nhận thấy những sai lầm của mình và quyết tâm sửa đổi.
          “Sai lầm là bản tính của con người và tha thứ là bản tính của Thiên Chúa”(A.Pope). Đối với những người tội lỗi, chúng ta hãy có thái độ khoan dung và tạo điều kiện cho họ ăn năn hối cải. Còn đối với từng người chúng ta, không ai dám nhận là mình hoàn toàn trong sạch, không bao giờ lầm lỗi. Hãy tin vào lòng nhân hậu và thương xót của Chúa, hãy tìm đến gặp Ngài và quyết chí thay đổi cuộc sống của mình để nên tốt hơn.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
          + Bài đọc 1 :  Kn 11,22-12,2.
          Kết luận một trình thuật về cuộc Xuất hành, câu chuyện khá độc đáo ở điểm tác giả nhấn mạnh việc Thiên Chúa nương tay đối với người Ai cập (Kn 11,15-20). Vì sao Ngài nương tay ? Bởi vì Thiên Chúa thương yêu “tất cả những gì hiện hữu”; nếu không, Ngài đã không tạo thành. Vì thế, Thiên Chúa yêu thương mọi người bất kỳ ai và mời gọi họ hoán cải.
          Nhìn lại lịch sử, tác giả sách Khôn ngoan khám phá được đường lối hành xử của Thiên Chúa : Ngài tỏ ra rất khoan hồng đối với những người tội lỗi. Đây là một giảng dạy ngược với cách sống khép kín  của dân Do thái lưu lạc, họ không muốn tỏ cho lương dân thấy  Thiên Chúa không ngừng yêu thương họ.
          + Bài đọc 2 : 2Tx 1,11-2,2.
          Các Kitô hữu ở Thessalonica hoang mang bởi những lời tiên tri, những câu chuyện và những lá thư được gán cho thánh Phaolô nói đến ngày tận thế đã gần kề. Vì thế, họ đâm ra lười biếng không muốn làm việc nữa.
          Để giải tỏa những lo lắng của họ, thánh Phaolô viết lá thư thứ hai này khuyên họ đừng tin  vào những luận điệu mơ hồ ấy.
          + Bài Tin mừng : Lc 19,1-10.
          Câu chuyện ông Giakêu là một minh họa cụ thể những khẳng định của sách Khôn ngoan :”Chúa xót thương mọi người và tạo điều kiện cho họ ăn năn hối cải”.
          Giakêu là một người đứng đầu những người thu thuế, ông rất giầu. Ông muốn tìm cách để biết xem Đức Giêsu là người thế nào. Thiện chí của ông đã được đáp ứng : Đức Giêsu hứa sẽ đến nhà thăm ông. Việc này đã làm cho nhiều người khó chịu, họ xầm xì với nhau:”Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ”!
          Được Chúa thương vào nhà thăm, ông rất phấn khởi và tỏ ra quảng đại, ông đã tự nguyện hứa với Chúa : lấy nửa tài sản mà phân phát cho người nghèo và nếu làm hại đến ai thì xin đền gấp bốn.
          Đức Giêsu đã chấp nhận lòng quảng đại của ông và đã tuyên bố :”Hôm nay, nhà này được ơn cứu độ”. Lời tuyên bố này phù hợp với  lời Ngài đã phán:”Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”. Nhờ Đức Kitô, ông Giakêu không những  đã được giải hòa cùng Thiên Chúa mà còn được làm hòa cùng anh em đồng loại nữa.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
Xanh vỏ đỏ lòng.
I. ĐỨC GIÊSU KÊU GỌI ÔNG GIAKÊU.
          Bài Tin mừng hôm nay nhằm nói lên sứ mạng của Đức Giêsu là “tìm và cứu chữa những gì đã hư mất”. Ông Giakêu đã là người được cứu chữa. Ông là thủ lãnh những người thu thuế ở Giêricô, nhờ gặp được Đức Giêsu nên đã được ơn hoán cải. Do thành tâm đi tìm biết Đức Giêsu, nên ông đã được gặp và còn được Ngài đến thăm nhà mình nữa. Trước tình thương của Đức Giêsu, ông đã tỏ ra quảng đại, chia nửa phần tài sản cho kẻ khó và đền bù gấp bốn những ai ông đã làm hại. Vì thế Đức Giêsu đã tuyện bố :”Hôm này, nhà này được ơn cứu độ”.
          1. Hoàn cảnh .
          Giêricô có biệt danh thật thơ mộng và đẹp đẽ là “Moon city” : thành phố Nguyệt Nga, một thành phố quan trọng ở phía Bắc của Biển chết, ở cách Giêrusalem 37 km, thấp hơn mặt biển 256 mét. Giêricô là thành phố cuối cùng trong cuộc hành trình  của những người hành hương lên Giêrusalem.
          Trên con đường dẫn vào thành phố Giêricô có hai hàng cây đổ bóng mát. Loại cây thường được trồng có tên là sycamore – cây sung. Sung là một loại cây kết hợp hình thù của cây vả và cây dâu, với những cành to lớn không cách xa khỏi mặt đất, rất dễ trèo lên, dù người thấp bé và lùn như Giakêu.
          “Đức Giêsu đi ngang qua thành phố ấy” để đi lên Giêrusalem và đây là giai đoạn cuối cùng của cuộc hành trình. Ngài lên Giêrusalem và chịu tử nạn ở đó. Trong cuộc hành trình này, tình cờ Ngài đã gặp ông Giakêu.
          2. Con người ông Giakêu.
          Ông là người Do thái, tên Giakêu tiếng Do thái là “Zakkay” có nghĩa là “người thanh khiết – người công chính”. Phải chăng là một sự hài hước, hoặc chế diễu ? Ông không thanh khiết tí nào vì lòng ham mê tiền bạc, tham nhũng, hối lộ, và hà hiếp dân lành ?
          Nhưng chúng ta hãy chờ cho câu chuyện chấm dứt.
          Giakêu là trưởng ty thuế vụ giầu có ở Giêricô. Thu thuế là một nghề  bị người Do thái khinh chê, ghét bỏ. Ngay cả những người Rôma cũng không muốn làm nghề này, nên họ mướn những người Do thái làm. Kẻ làm nghề thu thuế bị coi là người phản bội lại dân tộc, chạy theo đế quốc Rôma. Họ bóc lột tiền bạc của dân chúng càng nhiều càng tốt để chính họ có thể tránh né khỏi phải trả thuế.
          Giakêu, một con người bị tránh xa như dịch. Kẻ tội lỗi hoàn toàn bị hư mất. Đồ thối tha. Cấm không được giao du với con người hư hỏng ấy. Người ta nhổ xuống đất và quay mặt đi  khi đi ngang qua con người ấy.
          Ta thử tưởng tượng điều gì có thể thúc đẩy Giakêu bất chấp sự chế diễu,  đã xắn chiếc áo thụng của một ông trưởng giả Do thái và có lẽ cái áo choàng La mã để leo lên cây sung như một thằng nhóc tầm thường. Vì tính tò mò chăng ? Vì sự lôi cuốn mầu nhiệm chăng ? Vì nỗi khắc khoải mơ hồ và chán chường cuộc sống của mình chăng ? Phải nói rằng đây là cử chỉ nói lên lòng khao khát của Giakêu muốn nhìn thấy Đức Giêsu tận mắt, chứ không chỉ  nghe thấy tiếng vang của Ngài đối với người bình thường. Cử chỉ này không có gì đáng nói, nhưng đối với Giakêu, một người thu thuế tội lỗi bị người ta khinh bỉ và sống cách biệt, mà lại có lòng khao khát như vậy thì quả là một người có thiện chí và lòng ngay.
          3. Đức Giêsu gọi tên ông.
          Đứng trên cây sung, Giakêu đang trố mắt nhìn xuống Đức Giêsu, nhưng đồng thời Đức Giêsu cũng trố mắt nhìn lên Giakêu. Bốn con mắt nhìn nhau thật thắm tình. Đức Giêsu lên tiếng gọi :”Hỡi Giakêu hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi”. Một lời kêu gọi bất ngờ đối với Giakêu vì Ngài gọi tên riêng ông, nhưng đối với Chúa thì không. Ta nhận thấy Đức Giêsu biết rõ con người của ông, chứ không phải là một cuộc gặp gỡ tình cờ, ngẫu nhiên, Chúa đã gọi đúng tên ông như đã quen biết ông từ lâu rồi.  Chúa tỏ ý muốn vào nhà thăm và ở lại với ông như người bạn thân.
          Nghe được lời mời gọi này, Giakêu quá sung sướng nên vội vã tụt xuống. Vì quá lòng mong ước, nên Giakêu cũng có một lòng hiếu khách, một đức tính sẵn có trong dòng máu Do thái, ông đã mời Đức Giêsu vào nhà và tiếp đãi rất ân cần.
          Việc Đức Giêsu vào nhà ông Giakêu ăn tiệc, lại còn muốn trọ tại nhà ông mấy bữa  làm cho mấy người biệt phái ưa chỉ trích rất bất mãn; vì theo quan niệm của người Do thái, việc giao thiệp với người tội lỗi đưa đến sự dơ bẩn (Lc 5,30; 7,34; 15,2). Việc lẩm bẩm chỉ trích như vậy  tỏ thái độ khắt khe của con người đối với tội nhân, nhưng cử chỉ đón nhận của Đức Giêsu đối với tấm lòng ngay và thiện chí của Giakêu lại là thái độ đầy tình thương và cứu độ của Thiên Chúa đối với tội nhân.
          Thấy thái độ thành thực của Giakêu, Đức Giêsu đã tuyên bố :”Hôm nay nhà này được ơn cứu độ, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham”. Giakêu trở thành kiểu mẫu đón nhận ơn cứu độ và là cơ hội để Đức Giêsu khẳng định sứ mạng của Ngài:”Con Người đến đi tìm và cứu những gì đã hư mất”. Giakêu là con cái Abraham, nhưng đối với Giakêu, người Do thái cho là tội lỗi, không thuộc về dòng dõi Abraham nữa, thì nay nhờ ơn cứu độ lại là con cái Abraham một cách đúng nghĩa : Con cái Abraham không phải theo xác thịt nhưng là người được Thiên Chúa cứu độ.
II. CON NGƯỜI ĐƯỢC ĐỔI MỚI.
          1. Tiếng gọi của Thiên Chúa.
          Người ta nói :”Con mắt là cửa sổ của tâm hồn”. Câu nói văn hoa và thâm thúy này chắc hẳn bắt nguồn từ Lời Đức Kitô:”Đèn của thân thể là con mắt…”(Mt 6,22t; Lc 11,34t). Hiểu được ánh mắt của một người quả là không mấy dễ dàng (có chăng là ánh mắt tuổi thơ). Vì ánh mắt của một người là biểu lộ của chính tâm hồn người đó… Mà mấy ai trong chúng ta dám cho rằng mình hiểu được tâm hồn ai ?  Dĩ nhiên là tùy vào cách xử sự và hành động… Như qua bài Tin mừng Chúa nhật hôm nay, trong khi những người biệt phái chỉ nhìn các người thu thuế (như Giakêu) bằng cái nhìn khinh thị kết án – Thì Đức Kitô, với cái nhìn tuyệt vời không những đã làm đổi mới cuộc đời ông và gia đình, mà còn bao điều tốt đẹp  cho những người từng bị điêu đứng vì Giakêu. Cao qúi biết bao chỉ một cái nhìn…
          Cái nhìn của Đức Giêsu là cái nhìn chinh phục, cái nhìn của tình thương muốn cứu vớt, một cái nhìn có sức cảm hóa tâm hồn, một cái nhìn nhân từ, như không thấy tội gì trong ông. Chính cái nhìn đầu  tiên chân tình và yêu thương ấy đã khiến ông nhìn lại chính mình và quyết tâm đổi mới.
          Thiên Chúa luôn luôn đi bước trước, con người theo sau. Người ta có thể gọi cây sung là “nơi hai ánh mắt gặp nhau”. Bề ngoài, cái nhìn đầu tiên là của Giakêu, đang cháy bỏng ước muốn xem Đức Giêsu. Nhưng sẽ không có gì xẩy ra  nếu Đức Giêsu không ngước mắt nhìn lên Giakêu ở cây sung. Chúng ta tưởng rằng chúng ta tìm kiếm Chúa trong khi mà chính Ngài  tìm kiếm chúng ta trước, tự muôn đời.
          2. Sự đáp trả của con người.
          Được đón nhận lòng nhân hậu và thương xót của Đức Giêsu, Giakêu đã tỏ bầy một tâm trạng muốn hoán cải đời sống bằng cách ông muốn thực hiện ngay việc bác ái và công bằng. Ông quyết định đem nửa phần gia tài mình phân phát cho người nghèo, và nửa phần còn lại ông cũng không định giữ riêng cho ông, song ông sẽ dùng để đền bù cho tất cả  những gian lận mà ông tự thú đã phạm.
          Trong việc đền trả này ông lại còn đi xa hơn điều luật pháp đòi hỏi.  Chỉ khi nào trộm là một hành động bạo lực và dụng tâm gây tàn hại, bấy giờ mới phải đền bù gấp bốn (x. Xh 22,1). Nếu chỉ là việc trộm cắp thường và nguyên vật không thể hoàn trả, thì phải tính gấp đôi mà đền (x. Xh 22,4.7). Nếu bị can tự thú và tình nguyện hoàn trả thì chỉ phải trả theo giá nguyên vật, cộng thêm một phần năm nữa thôi (x. Lv 6,5; Ds 5,7). Giakêu nhất định làm nhiều hơn điều luật pháp đòi hỏi. Bằng hành động, ông tỏ ra đã được biến cải.
          Giakêu đã tỏ ra là con người quảng đại sau khi đã hoán cải. Việc bố thí cho người nghèo sinh ích lợi nhiều cho ông. Thánh Kinh đã làm chứng :”Bố thí thì cứu cho khỏi tội và khỏi chết” (Tb 4,11).
          Tiên tri Đaniel viết theo :”Hãy chuộc tội con bằng bố thí, và bằng sự thương yêu kẻ khó nghèo”(Dn 4,24).
          Nơi khác lại khen :”Của bố thí bay lên như hương thơm trước mặt Chúa”(Cv 11,4).
          Đức Giêsu hứa:”Hãy bố thí, rồi mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các con”(Lc 11,41).
          Khi ở thành Rages về, sứ thần Raphael bảo cha con ông Tobia :”Nước mắt ông chảy ra cũng như của làm phúc bố thí với những lần bỏ bữa ăn đi chôn xác kẻ chết, Ta đã thu lượm và dâng lên trước mặt Thiên Chúa… bây giờ Ta về với Đấng đã sai Ta, ông hãy tạ ơn Thiên Chúa”(Tb 12,12-13).
          3. Khả năng đổi mới của con người.
          Sách Tam tự kinh có viết :”Nhân chi sơ tính bản thiện, tính tương cận tập tương viễn”. Bản tính của con người lúc đầu là tốt nhưng vì hoàn cảnh mà trở nên xấu. Đây là chủ trương lạc quan của Mạnh Tử. Trái lại, Mặc Tử lại chủ trương :”Nhân chi sơ tính bản ác”. Nếu bản tính con người vốn tốt mà vì hoàn cảnh mà trở nên xấu thì dễ sửa hơn, còn nếu bản tính mà xấu rồi thì sẽ sửa làm sao ?
          Chúng ta phải khẳng định rằng con người xấu có thể trở nên tốt được bởi vì bản tính vốn là tốt, và nếu có ơn Chúa trợ giúp nữa thì sẽ dễ dàng. Chúng ta hãy lấy trường hợp ông Giakêu ra làm điển hình. Người Do thái coi ông là một người tội lỗi, ô uế, phải tránh xa, đã xấu thì cho xấu luôn, không thương tiếc.
          Nhưng sau cuộc gặp gỡ Đức Giêsu, Giakêu đã nhận thấy tình yêu và lòng thương xót của Chúa đối với mình, ông nhận ra con người thật của ông : một con người xấu xa tội lỗi, đáng bị nguyền rủa. Nhưng ông thấy rằng mình có thể sửa đổi được, có thể cải tà qui chính, và ông thực sự đã hoán cải. Do đó, Đức Giêsu đã tuyên bố rằng :”Hôm nay nhà này được ơn cứu độ”. Nhìn vào cuộc đời của Giakêu lúc này chúng ta phải lấy câu tục ngữ Việt nam mà khen ông :
                                      Xanh vỏ đỏ lòng (Tục ngữ)
          Câu tục ngữ này có ý nói những cái bề ngòai xem ra xấu xa nhưng bên trong thì tốt. Người ta chỉ có thể thấy cái bên ngoài của một người mà không biết được lòng người ta.
          Người ta muốn đánh giá Giakêu thế nào cũng được, nhưng Đức Giêsu có cái nhìn thấu suốt, không nhìn cái vẻ bề ngoài của con người mà Ngài nhìn rõ cả bên trong, cho nên Đức Giêsu sẽ khen cho Giakêu một câu chắc nịch như đinh đóng cột :
                             Xù xì da cóc trong bọc trứng tiên (câu đố).
          Đây là một câu đố bình dân mà người ta thường đố nhau. Vậy “xù xì da cóc trong bọc trứng tiên” là cái gì ? Chúng ta hãy giải đáp xem nó là cái gì. Nhưng cho dù nó là cái gì thì lúc nào cũng có ý nói rằng bề ngoài xem ra xấu xa nhưng bên trong thì tốt, giống như câu “Xanh vỏ đỏ lòng” vậy.
          Nếu chúng ta có gặp được Giakêu sau khi nhờ ơn Chúa trở lại rồi thì ông sẽ tâm sự cho chúng ta nghe. Ông cho biết nhờ ơn Chúa ông đã thực sự sửa đổi con người của mình. Đời ông không còn như xưa nữa, nay đã trở nên con người mới hoàn toàn. Có thể bề ngòai không giống nhau, nhưng thực sự bề trong đã được đổi mới hoàn toàn
 :                                              Thân em như quả ấu gai,
                                Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen.
                                      Ai ơi, nếm thử mà xem,
                                Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.
                                                (Ca dao)
                                      Truyện : Harold Hughes trở lại.
          Harold Hughes xưa kia là Thống đốc tiểu bang Iowa, và là một nghị sĩ của Hoa kỳ. Nhưng cuộc đời của ông đã không luôn luôn thành công. Trong tập tự truyện, Hughes kể lại rằng thời trai trẻ ông đã là “một người nghiện rượu, dối trá và lừa đảo”. Vào một thời điểm trong đời ông, đã phá hủy tất cả mọi sự, và mất tất cả.
                   Một đêm nọ ông nhảy vào bồn tắm và chuẩn bị tự tử. Ông dí khẩu súng shotgun vào bụng, rồi nhốt cái chùi giẻ vào miệng. Khi ông sắp sửa bóp cò súng, thình lình ông nhớ lại Thánh Kinh đã nói giết mạng sống mình là sai. Và ông đã cố cắt nghĩa với Chúa lý do tại sao ông lại làm điều kinh tởm này. Ông trèo ra khỏi bồn tắm, qùi xuống nền gạch lạnh lẽo, và gục đầu trên thành bồn tắm. Trong tư thế đó, ông nói chuyện với Chúa đang khi khóc nức nở. Sau đó có một điều gì đã xẩy ra mà ông chưa bao giờ cảm nghiệm thấy trong đời.  Ông viết trong cuốn tự truyện như sau :
          “Một sự bình an ấm áp dường như bao phủ lấy tôi. Những tội lỗi của tôi dường như tan biến. Thiên Chúa cúi xuống và ôm lấy tôi. Giống như một đứa trẻ bị thất lạc trong cơn giông bão, thình lình tôi bị vấp chân ngã vào cánh tay ấm áp của Cha tôi. Đang khi quì gối trên nền nhà tắm, tôi đã hiến dâng hoàn toàn con người của tôi cho Thiên Chúa, và tôi nói với Ngài,”Bất cứ việc gì Ngài sai con làm, lạy Cha, con sẽ thực thi thánh ý Cha”.
          Kinh nghiệm đáng nhớ muôn đời đó đã bắt đầu một sự biến đổi hoàn toàn đối với Harold Hughes. Mười năm sau, ông được bầu làm Thống đốc tiểu bang Iowa. Bảy năm sau nữa, ông được bầu vào Thượng viện của Hoa kỳ. Sau cùng, vào năm 1975, ông rút lui khỏi hậu trường chính trị, về hưu và làm việc trọn ngày cho chương trình  giúp đỡ những người cai thuốc phiện và nghiện rượu (Nguyễn văn Thái).
          4. Thái độ với kẻ tội lỗi.
                   Vấn đề chính của con người là ở chỗ chúng ta có thể thay đổi tâm hồn và học yêu thương người khác như thế nào. Phải có một tâm hồn cảm kích, mềm mại xúc động mới làm cho tâm hồn ấy mở ra và sau cùng chia sẻ sự phong phú, cảm thông. Một sự tiếp cận khắt khe làm cho tâm hồn khép kín và chai cứng. Một sự tiếp cận nhân từ, như cách Đức Giêsu thực hiện với Giakêu làm cho tâm hồn mềm mại và cởi mở không có gì có thể làm thay đổi tâm hồn bằng chính tâm hồn. Theo cách thức đó, ông Goethe đã phát biểu :”Đối xử với một người như người đang là sẽ làm cho người ấy trở nên tệ hơn, đối xử với người ấy như người ấy phải trở thành hoặc như người ấy mong ước trở thành sẽ làm cho người ấy trở nên tốt hơn, bởi vì khát vọng của chúng ta là phần chúng ta thật sự đã đóng góp”.

          Như vậy, gần gũi và biểu lộ tình thương với người tội lỗi là tốt nhất. Đây là thái độ Đức Giêsu thường xử sự đối với người tội lỗi, và hầu như luôn luôn có tác dụng tốt. Ngài không hề xa tránh những người thu thuế, bọn đĩ điếm, vốn bị coi là hạng người tội lỗi, như những biệt phái và luật sĩ thường làm.  Kết quả của thái độ nhân từ đó là biết bao người tội lỗi trở lại con đường ngay chính, say mê nghe Ngài rao giảng Tin mừng, mà bài Tin mừng hôm nay kể ra một trường hợp điển hình. Chính vì Đức Giêsu sẵn sàng vào nhà ông Giakêu, một kẻ bị coi là tội lỗi, ăn uống và trọ lại nhà ông, mà con người ông đã hoàn toàn thay đổi. Thử tưởng tượng xem, nếu Ngài cũng đối xử với Giakêu như cách mà người Do thái thường làm là tẩy chay và xa lánh ông, thì kết quả ra sao !

                                      Truyện : Thiền sư Sengai và đệ tử.
          Nhiều đệ tử đang theo học thiền định dưới sự hướng dẫn của thiền sư Sengai. Một người trong bọn họ thường hay thức dậy ban đêm, vượt tường ra phố để dạo mát cho thỏa thích.
          Một đêm kia, Sengai đi giám thị phòng ngủ, thấy một đệ tử vắng mặt và cũng khám phá ra được chiếc ghế đẩu cao mà anh ta thường dùng để leo qua tường. Sengai dời chiếc ghế đi chỗ khác và đứng thay vào chỗ đó. Khi anh chàng rong chơi trở về, không biết rằng Sengai là chiếc ghế, anh ta đặt chân lên đầu thầy và nhảy xuống đất. Lúc khám phá ra việc mình đã làm, anh ta hoảng sợ, nhưng Sengai nhẹ nhàng bảo :
          - Sáng sớm hôm nay trời lạnh lắm. Con hãy cẩn thận kẻo bị cảm đấy.
          Từ đó, người đệ tử ấy không bao giờ bỏ ra ngoài ban đêm nữa. Anh chuyên tâm học tập và trở thành người đệ tử gương mẫu của thầy Sengai.
          5. Công cuộc đổi mới của mỗi người.
                   Như ở trên chúng ta đã nói : “Nhân chi sơ tính bản thiện” thì con người có hư hỏng rồi cũng có thể cải thiện được. Khi chịu phép Rửa tội, chúng ta đã được trở nên tinh tuyền, đã được mặc lấy Chúa Kitô và có thể nói là trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, nhưng chúng ta phải nhớ rằng chúng ta đã được tha tội nguyên tổ  nhưng không thể tránh được hậu quả của tội ấy, do đó con người chúng ta trở nên yếu đuối, dễ sa ngã phạm tội. Vì vậy, thánh Phaolô cảnh giác chúng ta :”Ai đang đứng ý tứ kẻo ngã”.
          “Sai phạm là bản tính của con người, còn tha thứ là bản tính của Thiên Chúa”(A. Pope). Vì thế chúng ta có thể nói : sai lỗi là chuyện bình thường, sa ngã mà không biết chỗi dậy mới là bất bình thường. Có biết bao nhiêu gương sa ngã mà đã chỗi dậy nhờ ơn Chúa.  Người lành thánh mà còn sai phạm một ngày ít là 7 lần, chúng ta chưa lành thánh là bao, có sai lỗi thì cũng là chuyện bình thường, không đáng lo, cứ cậy trông vào ơn Chúa và quyết tâm hoán cải.
                                      Truyện : Leonard da Vinci vẽ hình.
Danh họa Leonard de Vinci đang thực hiện tuyệt tác “Bữa Tiệc ly”. Nhưng để diễn tả một phần nào đúng chân dung của Chúa và 12 vị tông đồ, danh họa phải đi tìm những nét mặt đó nơi những người đương thời. Một hôm, họa sĩ bắt gặp trong thánh đường ở Rôma, một vị kinh sĩ trẻ tuổi có gương mặt thanh tú, trong sạch tuyệt vời hợp với chân dung thánh Gioan. Thế là ông đi theo và xin vị Kinh sĩ ngồi làm mẫu cho mình vẽ. Vị Kinh sĩ bằng lòng và họa sĩ đã vẽ được một gương mặt đẹp như Thiên thần.
Vài năm sau, bức tranh “Bữa Tiệc ly” vẫn chưa hoàn thành vì không tìm ra người mẫu để vẽ chân dung độc đáo của Giuđa. Tình cờ, trên đường phố, họa sĩ gặp một người ăn mày, áo quần rách tả tơi với vẻ mặt quái đản, gian ác đến độ vừa kinh ngạc vừa mừng thầm tự chủ :”Trời ơi, người mẫu này thật lý tưởng, ta sẽ vẻ mặt gian xảo này cho thật mâu thuẫnvới vẻ mặt Thiên thần của chàng trai trước đây”. Sau khi thương lượng với giá cao, người ăn mày bằng lòng làm mẫu cho họa sĩ vẽ. Vẽ xong, họa sĩ sung sướng  lấy chân dung chàng trai trẻ đặt bên chân dung người ăn mày mà ngắm nghía. Còn người hành khất giật mình chết lặng, rồi hai dòng nước mắt chảy dài trên hai gò má đen đủi và nghẹn ngào nói:”Bức chân dung người trẻ kia chính là tôi mà ông đã vẽ cách đây mấy năm. Khi đó trông tôi tốt lành, trong trắng dường nào, nhưng bây giờ tôi là một tên ăn mày, cờ bạc rượu chè say sưa”. Nói xong, anh ta bỏ đi thật tội nghiệp.
          Nếu chẳng may chúng ta đã để cho mình trở nên xấu như chàng ăn mày kia, chúng ta hãy bắt chước ông Giakêu tìm đến gặp gỡ Đức Giêsu. Phía Chúa Ngài luôn khẳng định là Ngài xuống thế cốt tìm kiếm và cứu kẻ tội lỗi, nên Ngài luôn luôn hiện diện mọi nơi mọi lúc, sẵn sàng theo dõi, đợi chờ con người tỏ dấu ăn năn thì Ngài sẽ hành động ngay.
          Nhưng nếu chỉ gặp Chúa mà thôi thì chưa đủ, cần phải có hành động cụ thể. Muốn biến cuộc gặp gỡ thành một cuộc tình gắn bó, một cuộc liên kết chặt chẽ, lâu dài thì phải thực hiện một công đoạn tiếp theo là đổi mới cuộc sống. Như Giakêu, ông ta không dừng lại ở chỗ gặp Chúa, trái lại ông ta muốn tiến xa hơn là thay đổi cuộc sống bằng cách bố thí và thực hiện đức công bằng. Cũng thế, để nhận được sự tha thứ và sự bình an của Chúa trao tặng, mỗi người chúng ta phải đổi mới ngay cuộc sống của mình bằng những cố gắng thực tế như : bỏ dần những tính hư tật xấu, cắt đứt ngay những liên hệ xấu xa, sửa lại Lm Giuse Đinh lập Liễm,         Giáo xứ Kim phát, Đà lạt

 

TN31-C77. SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXXI - 2001

Những tâm tình cầu nguyện của người khôn ngoan thật sâu lắng khó gặp được trong trái tim: TN31-C77

Những tâm tình cầu nguyện của người khôn ngoan thật sâu lắng khó gặp được trong trái tim con người "Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ ăn năn hối cải". Câu chuyện bình thường trong thế giới hôm qua và hôm nay không thể dẫn con người vào một tâm tình cầu nguyện như thế. "Anthrax, bom đạn, bắt người, đóng cửa biên giới..."không thể sản sinh những lời cầu nguyện như vậy. Người khôn ngoan đã tìm thấy nguồn mạch tâm tình cầu nguyện "Lạy Chúa Tể, Đấng yêu sự sống, Chúa sử khoan dung với mọi người... Thật vậy, lạy Chúa, sinh khí bất diệt của Chúa ở trong mọi loài." Chính nơi nguồn mạch thánh thiện vô đối ấy mà chính những tội nhân có được nơi ẩn náu.
          Nếu như trước khi gieo vãi những mầm mống Anthrax, trước khi trút bom đạn, trước khi tra tay bắt bớ cầm cố, trước khi đóng của biên giới xô đẩy những con người vào nguy cơ chết vì bom đạn, vì đói khát... con người có được sự cảm xúc trào dâng trong trái tim Phaolô "Thiên Chúa làm cho anh em được xứng đáng với ơn gọi...hoàn thành mọi thiện chí của anh em.". Cuộc sống phú túc muôn hình muôn dạng của con người lại cũng chính là Tình Yêu, là sự khoan hồng độ lượng, là sự thành tín của Thiên Chúa, là "sinh khí bất diệt của Chúa". Cuộc sống an bình thịnh vượng, đó là "vinh hiển của Chúa nơi anh em", là để Thánh Danh được vinh hiển, điều đó cuối cùng quy hướng về mục đích "sửa dạy từ từ những kẻ sa ngã" để như thánh vịnh đáp ca nói "muôn tạo vật phải dâng lên Ngài lời tán tạ".
          Đức Giêsu đến là để mỗi người biết đọc lại lịch sử mỗi cá nhân, mỗi dân tộc, và toàn nhân loại trong ý định của Đấng Chủ Tể của lịch sử : Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót. Câu chuyện trong tin mừng là một trong những cố gắng như thế. Lịch sử Israel ngay từ khai nguyên đã là lịch sử của Thiên "Chúa một niềm xót thương tứ ái, đã khoan khồng, lại lắm nghĩa giầu ân", thế nhưng từ thời này qua thời nọ, những người có trách nhiệm đã vùi dập Thánh Danh bằng bao lề luật đóng kín mọi ngõ vào lòng Từ Bi thành tín ấy. Thậm chí từng lũ đông những con người chân lấm tay bùn, những đoàn lũ làm thuê làm mướn như các kẻ chăn chiên, những kẻ mang những chứng bệnh nan y : phong cùi, quỷ ám... và còn hạng đĩ điếm , thu thuế như Gia kêô... đại đa số nhân loại ấy bị cấm vào các hội đường, đền thờ, và ngay cả nhà người tín hữu đạo hạnh... Thiên Chúa không còn là "đầy yêu thương trong mọi việc Người làm". Đức Giêsu ngay từ lúc sinh ra đã dành mọi ưu tiên cho quảng đại những con người bị loại trừ ấy : gần máng cỏ là các kẻ chăn chiên, là những hài nhi bị sát hại của Bethleem, là những đạo sỹ từ miền dân ngoại xa xăm... và hôm nay là Giakêô được ơn cứu độ. Lịch sử đời một con người, một dân tộc, và tất cả gia đình nhân loại phải là lịch sử của Thiên Chúa Tín Thành trong giao ước bênh vực sự sống.
          Chúng ta sẽ không tín trung với niềm tin này, nếu chúng ta thiếu lòng khoan dung và đi tìm "những gì đã mất" như Đức Giêsu. Một vấn đề thực tế : trong những ngày đi làm cỏ nghĩa trang, ai chẳng thấy văng vãi hàng trăm, hằng nghìn ống chích... có một bóng tối dày đặc chết chóc ngay chính trên mảnh đất chúng ta thường gọi là đất thánh. Chính vì đất thánh này không mấy ai lui tới trừ ra vào tháng này... nơi thánh thiêng đã thành hang tội lỗi. Có quá nhiều mảnh đất trong đời thường vẫn bị bỏ hoang phế như thế đó trở thành chỗ trú ngụ của tối tăm. Con người hôm nay chỉ chú tâm vào làm giàu...chỉ đi lại và tô điểm cho những địa chỉ kinh doanh, còn những con đường qua lại, những trường học, những công trình công cộng,...được giao khoán... đang trở nên mồi ngon ngọt cho những tệ nạn. Chúng ta cần có trái tim của Đức Giêsu đi tìm kiếm những gì đã hư mất, để thế giới này nói lên sự Tín Thành của Thiên Chúa yêu thương và cứu độ.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

TN31-C78. LÙN THẤP BÉ NHƯNG…

Lc 19, 1-10
 

Đọc câu chuyện ông Gia kêu có lẽ ai cũng phải nực cười xen lẫn cảm động. Cái nực cười thứ : TN31-C78

Đọc câu chuyện ông Gia kêu có lẽ ai cũng phải nực cười xen lẫn cảm động. Cái nực cười thứ nhất là Gia kêu thấp bé, vóc người không giống ai. Cái nực cười thứ hai, ông Gia kêu làm trưởng ban thu thuế thời Chúa Giêsu. Gia kêu lúc nào xem ra cũng rổn rẻng với tiền bạc, với việc làm giầu vv…Con người bề ngoài khác thường về vóc dáng, nhưng thực tế lại là một con người đầy lòng nhân từ, biết sám hối, biết hối cải. Chúa Nhật 31 thường niên cho chúng ta một cái nhìn rất thực tế, đầy an ủi về lòng nhân từ bao la của Chúa :” Lạy Chúa, Chúa sẽ dạy con đường về cõi sống: Trước Thanh Nhan, ôi vui sướng tràn trề “( Tv 15, 11 ).
MỘT CÂU CHUYỆN TUYỆT VỜI : Gia kêu nếu xét theo một nghĩa nào đó thực là một người đáng ghét, đáng khinh vì ông làm việc cho đế quốc Roma, làm nghề thuế vụ, làm trưởng ban thuế, làm cái nghề tiếp tay với ngọai bang bóc lột dân chúng. Gia kêu giầu có, có quyền lực vì ông làm việc cho đế quốc Roma. Dân Do Thái không ưa ông, ghét ông, xếp ông vào hàng tội lỗi và đặt ông ngang hàng với bọn điếm đàng. Đối với dân Do Thái, ông không thể ăn năn, không thể hối cải. Ông đáng sa vào hỏa ngục lửa thiêu. Thế nhưng, Chúa Giêsu lại chọn nhà ông Gia kêu để ghé thăm nhà ông. Gia kêu chỉ muốn nhìn Chúa Giêsu đi ngang chứ làm sao dám mời Chúa Giêsu ghé thăm nhà ông được. Chúa Giêsu đã làm một việc không ai ngờ được. Chúa đã chọn nhà ông Gia kêu. Chúa Giêsu đã chứng tỏ Người được Thánh Thần hướng dẫn khi thấy ông Gia kêu giữa đám đông. Chúa Giêsu minh chứng Người đã tới Giê-ri-khô để cứu một người giầu có.Tuy nhiên, người Do Thái vẫn dị nghị, vẫn hiểu lầm Chúa và hiểu lầm cả ông Gia kêu. Họ cho rằng “ Chúa lại vào ở nhà người tội lỗi “. Nhưng thực ra Chúa Giêsu hiểu mọi người và hiểu ông Gia kêu. Chúa đến nhà của Gia kêu không phải vì miếng ăn, vì bữa tiệc, vì chén rượu, chén trà, nhưng vì ơn cứu rỗi của ông và của gia quyến ông. Dịp này, ông Gia kêu và cả gia đình ông đã công khai thú tội trước mặt Chúa Giêsu và trước mặt mọi người dự tiệc, và hứa “ xin bán đi nửa gia tài, phân chia cho kẻ nghèo khó, và đền trả một gấp bốn cho những ai ông gây thiệt hại”( Lc 19, 8 ). Chúa Giêsu đã nói về ông:” Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham”  (Lc 19, 9 ).
CON NGƯỜI ĐẾN ĐỂ TÌM VÀ CỨU NHỮNG GÌ ĐÃ MẤT : Tự sức con người, con người không thể làm lành, nhưng Thiên Chúa có thể làm được tất cả. Chúng ta hãy đọc các đọan Tin Mừng như :” Con chiên lạc. Đồng bạc đánh mất. Người con hoang đàng. Người phụ nữ ngọai tình vv…” để thấy lòng nhân từ của Thiên Chúa như thế nào. Con người phản nghịch, con người tội lỗi nhưng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người. Thiên Chúa yêu con người và không muốn để bất cứ ai bị hư mất. Ông Gia kêu dư biết thiên hạ ganh ghét ông và thèm được như ông. Gia kêu đâu có phải là người xấu bụng dù rằng ông đã nhúng tay vào việc thật xấu xa, nhưng trong cõi lòng sâu kín của ông vẫn còn chứa chất điều thiện, ông thầm tin tưởng và cám ơn Chúa Giêsu mà ông coi như một vị ngôn sứ lớn. Ông tha thiết muốn gặp gỡ Chúa Giêsu, do đó ông và cả gia đình ông đã được ơn cứu độ. Chúa đã giải thoát cho ông và gia đình ông khỏi tội lỗi, khỏi hư đi. Ân huệ cao vời Chúa ban cho ông khiến ông đã bộc lộ tất cả những gì là tốt lành, là nhân ái, còn chứa trong nỗi lòng sâu kín nhất của ông. Gia kêu đã trở nên mẫu gương cho những ai biết đón nhận ơn tha thứ bằng việc thật tâm hối cải, quay trở về với Chúa. Đúng thật, Chúa tới để tìm kiếm những gì đã hư mất.
CHÚA MỜI GỌI CON NGƯỜI XƯNG THÚ TỘI LỖI : Bí Tích Giải Tội là Bí Tích do Chúa Giêsu thiết lập và là một hồng ân cao vời Chúa ban cho nhân lọai. Đây là phươn thế giúp chúng ta làm hòa với Chúa, với Giáo Hội và với anh chị em,là phương thế Chúa ban lại sự an bình tâm hồn cho con người và thêm sức mạnh cho tương lai, trả lại tình trạng trong sáng đã bị tội lỗi làm lu mờ. Bí Tích Giải Tội nối những gì tội lỗi đã làm con người xa lìa Thiên Chúa. Do đó, chúng ta phải yêu mến Bí Tích Giải Tội và luôn siêng năng lãnh nhận Bí Tích Giao Hòa để được gần gũi Thiên Chúa, gần gũi Giáo Hội và gần gũi anh chị em.
Lạy Chúa xin cho chúng con có tấm lòng như Chúa, có đôi mắt của Chúa để chúng con luôn biết cảm thông với những yếu hèn của người khác. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCCT

 

TN31-C79. NIỀM VUI HÔM NAY

Thế giới ngày càng căng thẳng.   Tìm được nụ cười như tìm thấy một bảo vật.   Niềm vui thực: TN31-C79

Thế giới ngày càng căng thẳng.   Tìm được nụ cười như tìm thấy một bảo vật.   Niềm vui thực sự là dấu chỉ của một cuộc giải tỏa tâm hồn hay một cuộc giải thoát khỏi một hoàn cảnh khó khăn.   Hôm nay Đức Giêsu đem lại một niềm vui cho nhà Dakêu.   Cần dừng lại đôi phút để thấy niềm vui đó lớn lao chừng nào.
Oâng Dakêu là một người “đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có,” (Lc 19:2) nghĩa là một “người tội lỗi” (Lc 19:7) nhất trong những người tội lỗi.   Trong khi mọi người tránh xa những hạng người như thế, Đức Giêsu lại “vào trọ” (Lc 19:7) nhà ông.   Oâng vô cùng kinh ngạc và xúc động vì thái độ thân thiện khác thường này.   Từ kinh ngạc đến cảm phục, ông đã thay đổi hẳn cuộc sống.   Oâng “thưa với Chúa rằng : ‘Thưa Ngài, tôi xin lấy phân nửa tài sản của tôi mà cho người nghèo ; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.’” (Lc 19:8)   Đức Giêsu không hề giảng cho ông một bài nào về công bình hay lên tiếng đánh động tấm lòng để thúc đẩy ông dốc hết tài sản cho những người nghèo và bị bạc đãi hay đàn áp.   Nhưng dung nhan Chúa đã chiếu một luồng ánh sáng siêu nhiên phơi bầy tất cả sự thật về những việc ông làm cho đồng loại từ xưa đến nay.     Oâng chợt tỉnh và nhận ra tất cả những dơ bẩn trong cõi lòng mình.   Thế là ông nhất quyết thanh tẩy tất cả để chuẩn bị đón nhận những hồng ân lớn lao.
Oâng đã đánh mất chính bản thân.   Nhưng nhờ Đức Giêsu, ông đã tìm lại những gì đã tiêu trầm trong vũng tội lệ.   “Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.” (Lc 19:10)    Hơn nữa, ông còn tìm được một giá trị tuyệt vời.  Trước giá trị vô cùng lớn lao này, tất cả đều trở thành bóng mờ hay vô nghĩa.  Bởi đấy ông mới có thể quyết liệt dứt bỏ những tài sản bất công ông đã chiếm đoạt của người khác.  
Lúc đầu ông Dakêu cứ tưởng mình là người tìm Chúa.   Nhưng thực tế, Chúa đã tìm ông.   Oâng tìm Chúa để thỏa mãn tính tò mò.   Oâng tò mò vì thực tế quá khác với những ưu tư của mình.   Ông giàu có và quyền lực như thế, nhưng vẫn không chiếm được lòng người.   Trong khi một anh chàng khố rách áo ôm như Đức Giêsu lại thu hút mọi người.   Không hiểu mãnh lực nào đã khiến có sự sai biệt như thế.    Mọi người xa lánh khiến ông cảm thấy cuộc đời thật trống rỗng và vô nghĩa.   Oâng mơ một ngày được quí mến như Đức Giêsu.   Một phần thôi cũng không bao giờ được !   Đó là lý do tại sao ông “leo lên một cây sung để xem Đức Giêsu.” (Lc 19:4)   Khi giáp mặt Người, ông mới cảm thấy một sức thu hút mãnh liệt từ Con Người Giêsu.   Từ tấm lòng cảm phục sâu xa, tim ông bật thành tiếng bi thương vượt quá lòng mong đợi của những người nghèo khổ và bị áp bức.   Ơn cứu độ đã có một chiều kích xã hội.  
Đức Giêsu đã cho mọi người cảm thấy bầu khí ấm áp và thân mật của hồng ơn Thiên Chúa: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham.” (Lc 19:9)    Nghĩa là, đức tin đã dẫn ông Dakêu tới nguồn ơn cứu độ là Đức Giêsu Kitô.   Rõ ràng không phải vì tò mò mà “ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai.”  (Lc 19:3)  Nhưng lòng tin thúc đẩy ông muốn tìm một lối thoát cho những bế tắc hôm nay trong thân phận làm người.  Oâng đã mãn nguyện.   Quả thực, Thiên Chúa “dùng quyền năng mà hoàn thành mọi thiện chí của anh em và mọi công việc anh em làm vì lòng tin.” (2 Tx 1:11)  
Quyền năng đó đã thể hiện mãnh liệt khi Thiên Chúa tỏ lòng “xót thương hết mọi người, để họ còn ăn hăn hối cải.” (Kn 11:23)    Oâng Dakêu đã phung phí bao nhiêu thời giờ và sức lực để tạo nên những bất công cho xã hội.   Giờ đây, Thiên Chúa cho ông cơ hội nhìn lại con người mình.   Tất cả những gì theo đuổi từ xưa tới nay đều vô nghĩa.  Oâng đã đánh mất chính mình khi quay cuồng với những tham vọng vật chất đó.  Cứ tưởng có tiền là có tất cả.  Oâng đã vong thân và tha hóa cùng cực.   Bởi vậy, ông thấy phải trả giá.   Nói khác, tất cả những gì đã mất mát đều được tìm lại trong cuộc hội ngộ với Đức Giêsu dưới mái ấm gia đình ông.   Những mất mát do bất công ngoài xã hội đã được tìm lại trong bầu khí gia đình.   Khi chạy ra bên ngoài, người ta dễ đánh mất những giá trị đích thực bên trong.   Ra đi là mất mát, là chết chóc.   Trở về là sống dồi dào, phong phú.  Chỉ khi nào trở về với chính nội tâm, con người mới nhận ra “Đấng yêu sự sống” (Kn 11:26) và “là sự sống” (Ga 11:25) đang hiện diện rất gần gũi với mình.   Oâng Dakêu đã cảm nhận sự sống ấy như một kho tàng vô cùng phong phú.   Thế nên, ông đã đánh đổi tất cả.   Những hi sinh của ông chẳng là gì so với ân sủng ông đón nhận qua bàn tay Đức Giêsu.  
Sở dĩ ông Dakêu đã đón nhận được hồng ân cao cả đó, vì “Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải.” (Kn 11:23)   Chúa khác hẳn con người.   Thế mới biết lòng Chúa vô cùng bao la.  Trước mắt con người giàu có như Dakêu đáng bị lên án.  Hình như Đức Giêsu cũng đồng ý như thế : “Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao !  Quả vậy, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.” (Lc 18:24-25)  Nếu Chúa cũng giống con người, không bao giờ con người có thể được tha thứ.   Người sống trên xương máu đồng bào như Dakêu chỉ có mỗi con đường duy nhất là xuống hỏa ngục !   Tình trạng vô cùng tuyệt vọng.   Thế nhưng, đứng trước tình trạng vô phương cứu vãn đó, Đức Giêsu đã bật sáng lên một tia lửa cuối đường hầm : “Những gì không thể đối với loài người, thì đều có thể được đối với Thiên Chúa.” (Lc 18:27)   Thực tế, “Chúa xót thương hết mọi người vì Chúa làm được hết mọi sự.” (Kn 11:23)   Người đến cứu rỗi cả người nghèo lẫn người giàu.   Ơn cứu độ không hề lệ thuộc vào một ranh giới nào !
Người giàu nhưng có thiện chí như ông Dakêu, làm sao Chúa ngoảnh mặt làm ngơ cho đành ?   Thực thế, Chúa “dùng quyền năng mà hoàn thành mọi thiện chí của anh em và mọi công việc anh em làm vì lòng tin.” (2 Tx 1:11)   Oâng đã chứng tỏ thiện chí và lòng tin khi tìm mọi cách giáp mặt Đức Giêsu.   Một nỗ lực âm thầm như thế được Thiên Chúa đánh giá rất cao.   Bởi vậy, Người mới lấy ơn cứu độ để đáp trả thiện chí ấy.   Có lẽ trong quá khứ, đối với những người đã làm nhiều việc bất công như ông Dakêu, “Chúa sửa dạy từ từ, Chúa cảnh cáo họ, nhắc cho họ nhớ họ đã phạm tội gì, dể họ bỏ điều ác mà tin vào Chúa.” (Kn 12:2)   Cuộc hội ngộ với Đức Giêsu chỉ là giọt nước tràn ly.   Giọt nước nặng ký đó phủ ngập ân sủng.   Việc gì phải đến đã đến.   Đức Giêsu là tất cả nguồn ân sủng lớn lao biến cải toàn thể cuộc đời ông.
Oâng còn sống sót tới lúc đón nhận nguồn ân sủng ấy.   Điều đó không ngoài thánh ý Chúa.   Biết bao người đã ghê tởm, nguyền rủa, lánh xa ông.   Nhưng, “Chúa không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra, vì giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên.   Nếu như Ngài không muốn, làm sao môọt vật tồn tại nổi ?   Nếu như Ngài không cho hiện hữu, làm sao nó có thể được duy trì ?” (Kn 11:24-25)   Thế nên thời gian ông đang sống là một thời gian của lòng thương xót.   Ơn cứu độ cũng trào ra từ lòng thương xót đó.
Nhìn vào ông Dakêu, chúng ta mới thấy rõ tất cả sự thật về con người và cuộc đời mình.   Cuộc sống chỉ thật có ý nghĩa và phong phú khi “danh của Chúa chúng ta là Đức Giêsu, sẽ được tôn vinh nơi anh em, và anh em được tôn vinh nơi Người, chiếu theo ân sủng của Thiên Chúa chúng ta và của Chúa Giêsu Kitô.” (2 Tx 1:12)   Aân sủng Thiên Chúa chỉ biểu lộ nơi Danh Đức Giêsu, Danh gói trọn toàn thể lòng thương xót của Thiên Chúa đối với loài người.  Chính vì Danh ấy, chúng ta được kêu gọi làm Kitô hữu.  Nghĩa là, chúng ta được kêu gọi để biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa !
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

TN31-C80. Chúa Nhật 31 Quanh Năm

Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh:       2 Thê-xa-lô-ni-ca 1: 11-2: 2
 

Phụng vụ Lời Chúa sử dụng Thư 2 Thê-xa-lô-ni-ca cho những Chúa Nhật cuối cùng mùa : TN31-C80

Phụng vụ Lời Chúa sử dụng Thư 2 Thê-xa-lô-ni-ca cho những Chúa Nhật cuối cùng mùa Thường niên là thời gian chủ đề suy niệm hướng về sự phán xét, cuộc tái lâm của Đức Ki-tô và Vương quốc Người. Lý do sử dụng là vì giáo huấn của Phao-lô về ngày cánh chung được trình bày phong phú trong thư này. Tuy nhiên thư được viết trong hoàn cảnh đặc biệt của cộng đoàn Thê-xa-lô-ni-ca nên chúng ta cũng cần lưu ý tới hoàn cảnh lịch sử của thư này.
          Trong khi Thư 1 Tx trình bày Ngày của Chúa sẽ tới bất ngờ như kẻ trộm đến ban đêm (5:1-11), thì Thư 2 Tx lại kể ra những biến cố sẽ xảy ra trước khi Chúa đến (2:1-11). Trong thời gian giữa hai Thư, hoàn cảnh cộng đoàn Thê-xa-lô-ni-ca đã thay đổi rất nhiều. Trong 1 Tx, Phao-lô đề cập tới những vấn đề: Số phận những người chết trước khi Chúa quang lâm ra sao? Họ có được cứu rỗi, hay bị loại vì chết trước khi Chúa tái lâm? Phao-lô trả lời: Những ai chết trong Đức Ki-tô thì sẽ được sống lại khi Người lại đến. Tuy nhiên trong 2 Tx, vấn đề lại khác. Tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca được biết là "ngày của Chúa gần đến" (2:2), nên có nhiều người nghĩ ngày của Chúa sắp đến hoặc đã đến rồi. Nhưng thánh Phao-lô dạy rằng ngày của Chúa chưa đến và trước khi Chúa quang lâm sẽ có một số dấu chỉ: Xa-tan gia tăng hoạt động và hiện tượng bỏ đạo quy mô (2:1-11).
          Phụng vụ Lời Chúa không chú trọng tới những biến cố xảy ra trước khi Chúa quang lâm, nhưng muốn mời gọi chúng ta để tâm vào chính việc Chúa Ki-tô trở lại trong ngày phán xét chung. Thư 2 Tx nêu lên hai điểm chính về việc Chúa quang lâm. Trước hết việc quang lâm ấy sẽ là ngày phán xét khi "Thiên Chúa trả báo, nghĩa là bắt những kẻ gây gian truân cho anh em phải chịu gian truân, và cho anh em, những kẻ gặp gian truân, được nghỉ ngơi" (xem 1:5-10). Những gian truân này đã được thánh Phao-lô nói đến khi trình bày bổn phận rao giảng và sống Tin Mừng qua những Thư Mục vụ chúng ta đã suy niệm những Chúa Nhật trước đây. Vì Chúa là Đấng công chính, sẽ trả báo cho chúng ta, nên Ki-tô hữu đừng mất niềm hy vọng trong thời kỳ khốn khó, cũng không cần phải ra tay trả thù. Phán xét là thuộc quyền của Chúa và Chúa sẽ xét xử nhờ Đức Ki-tô trong ngày sau hết. Chính vì niềm tin ấy, thánh Phao-lô đã "xin Thiên Chúa làm cho anh chị em (tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca) được xứng đáng với ơn gọi, và xin Người dùng quyền năng mà hoàn thành mọi thiện chí của anh chị em và mọi công việc anh chị em làm vì lòng tin" (1:11).
          Thứ đến, mặc dù thánh Phao-lô xác tín rằng ngày quang lâm của Chúa sắp xảy đến, nhưng ngài biết rằng ngày ấy sẽ tới sau khi một số biến cố phải xảy đến trước (sự xuất hiện của "tên gian ác, đứa hư hỏng", tức là tên phản-Ki-tô, ngôn sứ giả, và hiện tượng chối đạo quy mô).
          Mới đọc bài đọc, chúng ta có cảm tưởng thánh Phao-lô sắp đặt một thời khóa biểu chi tiết cho chúng ta biết khi nào Chúa sẽ trở lại. Cho biết những thời điểm là điều chúng ta thường thấy trong Kinh Thánh, nhưng mục đích của những "thời khóa biểu" ấy không phải để chúng ta tính toán ra khi nào là ngày tạân thế, vì ngày ấy không ai biết được, kể cả Con Người (Mc 13:32). Nhưng mục đích thực sự là để cho thấy kế hoạch của Thiên Chúa luôn luôn vượt trên lịch sử nhân loại. Khi nào ngày cánh chung tới và tới như thế nào chỉ duy mình Thiên Chúa biết mà thôi.
          Mở đầu cho chủ đề suy niệm về ngày cánh chung và vương quyền của Chúa Ki-tô (lễ Chúa Ki-tô Vua), Phụng vụ Lời Chúa muốn công bố điểm chính của chủ đề: Ki-tô hữu hãy vững tin rằng Chúa Ki-tô sẽ lại đến. Niềm tin ấy được nói lên trong giây phút linh thiêng nhất của Thánh lễ sau Truyền phép: Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết, và tuyên xưng Chúa đã sống lại, cho tới khi Chúa lại đến. Sống với niềm tin ấy, Ki-tô hữu sẽ tránh được những thái độ tiêu cực như "tinh thần dao động, hoảng sợ, dễ bị lừa dối" và nhất là sẽ không để mình bị cuốn hút vào trào lưu của "hiện tượng chối đạo" trong thời đại hôm nay.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Được xứng đáng với ơn gọi làm Ki-tô hữu là điều thánh Phao-lô hằng lo lắng cho tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca cũng như cho chúng ta. Vậy tôi có thường nhắc nhở mình về ơn gọi được làm con cái Chúa không? Tôi có lập lại "lời hứa khi chịu phép Rửa Tội" mỗi ngày khi xét mình và làm phút hồi tâm không?
          Trong lời cầu xin, thánh Phao-lô cũng xin Chúa hoàn thành mọi công việc chúng ta làm vì lòng tin. Đức tin sống động phải thể hiện qua việc làm. Vậy đâu là những việc làm vì lòng tin của tôi? Hay đức tin của tôi là đức tin cằn cỗi, không thể hiện qua hành động?
          Quan sát "hiện tượng chối đạo" của thế giới hôm nay, tôi thấy gì? Tôi phải làm gì để chiến đấu và tiêu diệt hiện tượng ấy?
          Lời Tung hô sau Truyền phép tôi vẫn đọc hằng ngày hoặc ít nhất hằng tuần. Vậy tôi chỉ tung hô bằng miệng, hay sống lời Tung hô ấy trong đời sống hằng ngày? Tôi có thể chia sẻ một vài kinh nghiệm sống đạo về lời Tung hô này với nhóm không?
Cầu nguyện kết thúc
          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát một bài thích hợp, hoặc cầu nguyện kinh sau đây:
          Lạy Chúa Giê-su phục sinh
          Xin ban cho con sự sống của Chúa,
          sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.
          Xin ban cho con bình an của Chúa,
          bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.
          Xin ban cho con niềm vui của Chúa,
          niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.
          Xin ban cho con hy vọng của Chúa,
          hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.
          Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa,
          Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con.
                                      (Trích RABBOUNI, lời nguyện 85)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN31-C81. CHÚA NHẬT 31 QUANH NĂM, C

(Lu-ca 19:1-10)
 

Biến cố kể lại trong bài Tin Mừng hôm nay không phải là một dụ ngôn nữa, nhưng là một: TN31-C81

          Biến cố kể lại trong bài Tin Mừng hôm nay không phải là một dụ ngôn nữa, nhưng là một câu truyện có thực xảy ra tại thành phố Giê-ri-khô trên đường Chúa Giê-su đi lên Giê-ru-sa-lem.  Ông Da-kêu, trưởng ban thu thuế và là người giàu có, đã nhìn nhận thân phận tội lỗi của mình trước mặt Đấng Cứu Thế, quyết tâm thay đổi để sống cuộc sống mới, nên ông đã được Chúa Giê-su xác nhận:  “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này.”  Nhân vật độc đáo này đã có những nét rất thực của con người, từ vóc dáng cho tới cung cách, diễn tả tiến trình trở về của một người bị coi là tội lỗi.
 a)  Đi tìm gặp Đấng cứu độ
          Tin Mừng Lu-ca giới thiệu một con người với đầy đủ chi tiết về thân thế sự nghiệp đến tìm gặp Đấng Cứu Thế.  Người ấy có tên là Da-kêu, “đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có”, chứ không phải vô danh như “người làm nghề thu thuế” trong dụ ngôn bài Tin Mừng Chúa Nhật trước.  Một kẻ vị vọng như vậy chắc chắn mọi người trong thành phố Giê-ri-khô đều biết cả.  Họ còn biết rõ việc làm ăn không đàng hoàng của ông.  Nhưng vì tế nhị và kính trọng nên thánh Lu-ca tránh không muốn nhắc tới điểm này, mà lại nêu lên đặc điểm về hình dáng lùn tịt của ông Da-kêu.  Thánh sử viết:  “Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giê-su là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn.”  Viết như thế, có lẽ thánh sử muốn ta hiểu cả hai nghĩa đen và bóng.  Ông Da-kêu muốn “xem” cho biết Chúa Giê-su là ai, nhưng ông gặp trở ngại từ bên ngoài là vì dân chúng quá đông, và từ chính ông vì kích thước quá thấp bé của mình.  Những trở ngại ấy cũng ám chỉ nhữmg trở ngại vô hình do thái độ của những người chung quanh hoặc do những biến động tâm lý trong ta.  Những cái “nhưng không được” trong hành trình tìm Chúa bao giờ ta cũng thấy, và dường như phải luôn luôn có thì điều ta tìm thấy mới có giá trị.  Nhưng lời mời gọi của Chúa “Đến mà xem” thúc giục ta thắng vượt những trở ngại ấy để “đến và ở lại” với Người (Ga 1:39).
          Điểm nổi bật mà thánh Lu-ca muốn nói lên nơi con người Da-kêu là ông quyết tâm thắng vượt trở ngại.  Trước khi được gặp Chúa, ông cố gắng thắng trở ngại “dân chúng thì đông” bằng cách chạy tới phía trước để đón đường Chúa.  Rồi ông thắng trở ngại “lùn” của ông qua sáng kiến “leo lên một cây sung.”  Đối với những trở ngại tâm lý, ông cũng phải can đảm vượt thắng.  Trước hết, những lời xầm xì của dân chúng khinh bỉ ông là “người tội lỗi” không thể làm ông chấm dứt cuộc gặp gỡ với Chúa.  Tiếp đến, ông chiến thắng lòng tham của mình để sẵn sàng đền bù những lỗi phạm về công bằng ông đã gây ra trước đây.  Chiến thắng của ông Da-kêu được biểu tượng qua tư thế đáng khâm phục của ông.  Thánh Lu-ca diễn tả tư thế ấy như sau:  “Còn ông Da-kêu thì đứng mà thưa với Chúa.”  Ông đứng một cách hiên ngang, giống hệt như tư thế của tác giả Thánh Vịnh thách thức quân thù: “Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào?  Chúa là thành lũy bảo vệ đời tôi, tôi khiếp gì ai nữa? (Tv 27:1).
 b)  Đấng cứu độ đến tìm gặp ta
          Câu truyện không chỉ đặt trọng tâm vào ông Da-kêu, nhưng cũng vào Chúa nữa.  Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-su có thể đi thẳng, không cần ghé Giê-ri-khô.  Và nếu có ghé Giê-ri-khô, thì Chúa có thể dừng chân ở địa điểm nào đó để dân chúng đến gặp Người cũng đủ rồi.  Nhưng Chúa “đi ngang qua thành phố ấy”, nghĩa là Người đến trung tâm thành phố, vì đấy là nơi ở của những người giàu có và làm việc cho chính phủ, nhất là ở đấy có ông Da-kêu.  Chúa cần phải ra đi để tìm kiếm con chiên lạc.  Người đến không chỉ để làm thỏa mãn ước muốn của ông Gia-kêu là “xem cho biết Đức Giê-su là ai.”  Nhưng Người đến gặp ông để ông “biết” Người – động từ diễn tả một mối quan hệ mật thiết – không chỉ như một nhân vật nổi tiếng thu hút quần chúng, nhưng như một người bạn muốn xây dựng tình bạn thân thiết với cá nhân ông.  Người phải đến để phục hồi cho ông nhân phẩm và sự kính trọng ông đã đánh mất.  Dân chúng hạ ông xuống tận đất đen thì Chúa Giê-su lại nâng ông lên cao hơn cả cây sung mà ông đã leo lên.  Người nói với ông trước mặt dân chúng:  “Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông.”  Tại sao Chúa Giê-su lại phải ở lại nhà ông Da-kêu, điều này khiến ta liên tưởng đến lời nói của người cha trong dụ ngôn đứa con hoang đàng:  “Chúng ta phải ăn mừng và hoan hỷ” (Lc 15:32).  Cả hai trường hợp đều ngụ ý nói lên giá trị đích thực của một người “đã chết nay lại sống, đã mất nay lại tìm thấy.”
          Ông Da-kêu đã can đảm làm chứng cho Chúa Giê-su trước đám dân chúng, thì Chúa Giê-su cũng can đảm bênh vực và phục hồi nhân phẩm cho ông trước mặt mọi người.  Với tính cách là Đấng Cứu Thế, Chúa Giê-su khẳng định tựa như một quan tòa công chính:  “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham.”
 c)  Gặp gỡ Chúa sẽ biến đổi con người của ta
          Sự biến đổi nơi con người ông Da-kêu xảy ra qua một cuộc gặp gỡ.  Ông đã thành một con người mới.  Trước lòng quảng đại của Chúa khi Người cho là một vinh dự được đến nhà ông, ông cũng lấy lòng quảng đại để đáp lại lòng quảng đại của Chúa.  Khi sẵn sàng cho người nghèo phân nửa tài sản và đền bù gấp bốn lần cho những người ông đã cưỡng đoạt, ông đã lấy hành động để nói cho mọi người biết rằng ông thực thi lời Chúa dạy:  Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu mến anh em.
          Chúa Giê-su đã xác nhận cho sự biến đổi ấy.  Từ một kẻ tội lỗi, ông được Chúa cho trở nên công chính.  Từ một kẻ bị coi là theo gót ngoại bang, ông được Chúa khẳng định ông là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham.  Cuối cùng, tuy thánh Lu-ca không nói đến, nhưng ta tin chắc rằng từ nay ông Da-kêu là một người môn đệ của Chúa Giê-su, làm chứng cho lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa, như chủ đề của Tin Mừng Lu-ca vẫn thường trình bày, đồng thời cũng làm chứng cho sứ mệnh cứu thế của Chúa Giê-su, “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.”
 d)  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Tôi đến với Chúa Giê-su “để xem cho biết Người là ai” hay là để làm môn đệ Người?  Nhìn lại cuộc sống của tôi và mối liên hệ với Chúa, tôi có thực sự tìm gặp Chúa không?  Tại sao tôi phải đến tìm gặp Chúa?
          Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông.  Lời nói ấy của Chúa Giê-su có ý nghĩa gì đối với tôi?  Tôi có mời Chúa ở lại nhà tâm hồn tôi không?  Nếu tôi ngại ngùng thì tại sao?
          Sự hiện diện và tình thương đã biến đổi con người ông Da-kêu.  Tôi để cho tình yêu của Chúa biến cải tôi như thế nào?
 Cầu nguyện:
          “Lạy Chúa Giê-su,
          xin cho con biết con,
          xin cho con biết Chúa.
          Xin cho con chỉ khao khát một mình Chúa,
          quên đi chính bản thân,
          yêu mến Chúa và làm mọi sự vì Chúa.
          Xin cho con biết tự hạ,
          biết tán dương Chúa và chỉ nghĩ đến Chúa.
          Ước gì con biết hãm mình và sống trong Chúa.
          Ước gì con biết nhận từ Chúa
          tất cả những gì xảy đến cho con
          và biết chọn theo chân Chúa luôn.
          Xin đừng để điều gì quyến rũ con, ngoài Chúa.
          Xin Chúa hãy nhìn con, để con yêu mến Chúa.
          Xin Chúa hãy gọi con, để con được thấy Chúa.
          Và để con hưởng nhan Chúa đời đời.  A-men.
                                      - Thánh Augustinô
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 5)
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi.

 

TN31-C82. CHÚA CỨU VỚT NGƯỜI TỘI LỖI

CHÚA NHỰT XXXI
- Bài đọc I : "Chúa nhắm mắt làm ngơ trước tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải"
- Đáp ca : "Chúa là Đấng chậm giận và giàu tình thương"
- Tin Mừng : "Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất"
I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến
 

Bài Tin Mừng hôm nay sẽ cho ta thấy Chúa Giêsu đi tìm và cứu vớt một người tội lỗi là ông: TN31-C82

Bài Tin Mừng hôm nay sẽ cho ta thấy Chúa Giêsu đi tìm và cứu vớt một người tội lỗi là ông Dakêu. Chúa cũng đi tìm và cứu vớt chúng ta nếu chúng ta mở rộng cửa lòng cho Chúa vào.
Chúng ta hãy mở rộng cửa lòng mình và bắt đầu Thánh lễ.
II. Gợi ý sám hối
- Rất nhiều lần Chúa đứng trước cửa lòng chúng con và gõ cửa, nhưng chúng con đã không mở ra.
- Chúa biết chúng con nhiều tội lỗi và Chúa chờ chúng con sám hối để Chúa tha. Nhưng chúng con vẫn thờ ơ.
- Nhiều lần Chúa nhìn chúng con và lên tiếng kêu gọi chúng con như Chúa đã nhìn và kêu gọi ông Dakêu. Nhưng chúng con không đáp lại.
III. Lời Chúa
1. Bài đọc I (Kn 11,22--12,2)
Nhìn lại lịch sử, tác giả sách Khôn ngoan khám phá được đường lối hành xử của Thiên Chúa : Ngài đối xử rất khoan hồng đối với những người tội lỗi.
Tác giả cũng thấy được lý do của cách hành xử ấy : "vì Chúa yêu sự sống" và không muốn ai phải chết. Bởi thế "những ai sa ngã, Ngài sửa dạy từ từ. để họ bỏ điều ác".
2. Đáp ca (Tv 144)
Ca tụng lòng nhân từ của Chúa : "Ai qu# ngã Chúa đều nâng dậy. Kẻ bì đè nén, Ngài cho đứng thẳng lên"
3. Tin Mừng (Lc 19,1-10)
Mở đầu câu chuyện, ông Dakêu được mô tả là kẻ tội lỗi : thu thuế (lại còn "đứng đầu những người thu thuế") và lo thu tích của cải ("và là người giàu có") - Cuối câu chuyện, ông thay đổi hẳn : "Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này" ; phân phát tài sản cho người nghèo (là điều Chúa Giêsu thường khuyên làm. x. Lc 12,33-34 16,1-8 16,9-13 v.v.) ; đền bù những thiệt hại đã gây cho người khác.
Có hai nhân tố tạo nên sự thay đổi đó :
          - một là những cố gắng của chính Dakêu : "tìm cách xem" mặt Chúa Giêsu, "chạy tới phía trước", "leo lên một cây sung để xem Chúa Giêsu".
          - hai là lòng nhân từ của Chúa Giêsu : Ngài "nhìn lên" ông, Ngài gọi ông "xuống mau đi", Ngài đưa đề nghị đến nhà ông "Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông". Chúa Giêsu tự giới thiệu là "Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất".
4. Bài đọc II (2 Tx 1,11--2,2)
Ở giáo đoàn Thêxalônica, một số tín hữu cho rằng ngày tận thế đã gần đến. Vì thế họ đâm ra lười biếng không muốn làm việc nữa.
Thánh Phaolô viết thư khuyên tín hữu đừng tin vào những luận điệu ấy.
IV. Gợi ý giảng
1. Ông Giakêu hoán cải trở lại
Câu chuyện được kể lại trong bài Tin Mừng hôm nay có nhiều tình tiết diễn biến như một vở kịch sinh động. Vậy chúng ta hãy theo dõi lần lượt những diễn biến đó.
- Khởi đầu nhân vật thứ nhất xuất hiện. Đó là Chúa Giêsu. Ngài đang đi trên lộ trình ngang qua thành Giêricô để tiện về thành Giêrusalem. Ngài chỉ đi như vậy thôi hay là còn có một mục đích nào khác nữa không ? Câu chót của đoạn Tin Mừng này cho thấy Chúa không phải chỉ đi lang thang, mà có mục đích rõ ràng, đó là để "tìm cứu vớt những gì đã hư hỏng".
- Tới phiên nhân vật thứ hai xuất hiện, đó là ông Giakêu, một người giàu có nổi tiếng ở thành phố Giêricô này. Ông làm giàu nghề nghiệp của ông, trưởng ban thu thuế. Dĩ nhiên nếu chỉ có đồng lương hàng tháng thì ông không giàu như vậy được. Sở dĩ ông giàu là vì ông đã gian lận trong việc thu thuế. Ai cũng coi ông là một kẻ tội lỗi. Phần Giakêu dù giàu nhưng vẫn thấy thiếu thốn một cái gì đó trong tâm hồn, ông đang muốn tìm cái đó thì hay tin có Chúa Giêsu đang đi ngang qua thành phố. Ông vội vàng chạy tới để mong gặp được Ngài. Nhưng dân chúng thì đông, mà ông thì thấp lùn không thể nhón gót lên mà thấy Ngài được, nên ông trèo lên một cây sung cho dễ nhìn.
- Xin hãy chú ý nghĩa của những chi tiết này : Chúa Giêsu đang đi tìm người tội lỗi, và người tội lỗi cũng đang đi tìm Chúa. Hai bên gặp nhau và ơn cứu rỗi được thực hiện. Ơn Cứu rỗi là kết quả của sự gă#p gỡ của 2 phía : phía Chúa và phía người tội lỗi. Nếu Chúa không đi tìm thì chẳng ai được cứu rỗi. Nhưng dù Chúa có tìm mà người tội lỗi không đáp lại thì cũng chẳng có ơn cứu rỗi. Phải có sự hợp tác của cả 2 phía.
- Khi hai nhân vật ấy gặp nhau, thì ai lên tiếng trước. Thưa là Chúa Giêsu. Ngài nhìn lên cây sung và nói với Giakêu. Xin chú ý lần nữa, chi tiết Chúa Giêsu lên tiếng trước cũng có ý nghĩa lắm : mặc dù ơn cứu rỗi là sự hợp tác giữa 2 phía, nhưng sáng kiến khởi đầu là từ phía Chúa.
- Chúng ta hãy theo dõi tiếp câu chuyện. Chúa Giêsu lên tiếng trước, nhưng Ngài nói gì ? Chúa nói "Ông Giakêu ơi, xuống mau đi vì hôm nay tôi cần đến trọ ở nhà ông". Lại một lần nữa xin chú ý : Chúa Giêsu quả là người tế nhị. Chúa muốn giúp ông Giakêu nhưng lại nói là Chúa cần ông giúp đỡ. Tế nhị là ở chỗ đó, để sau đó ông Giakêu không ngại nhận sự giúp đỡ của Chúa.
- Bây giờ tới nhóm nhân vật thứ ba, là quần chúng. Khi họ nghe Chúa Giêsu nói là muốn đến ở trọ nhà một tên thu thuế tội lỗi như vậy thì họ ngạc nhiên đến ngỡ ngàng : không lẽ nào một người thánh thiện như Chúa Giêsu mà lại đến ở nhà một người tội lỗi như ông Giakêu sao ?
- Phần ông Giakêu thì quá mừng rỡ trước đề nghị của Chúa Giêsu. Ông tức khắc có một quyết định là từ nay sẽ chấm dứt lỗi làm ăn tội lỗi cũ. Ông sẽ lấy phân nửa tài sản của ông để bố thí cho những người nghèo. Còn đối với những người đã bị ông gian lận tiền bạc thì ông sẽ đền cho họ gấp bốn. Chúng ta nên biết rằng theo luật đạo Do thái ai phạm tội lỗi đức công bình mà muốn được tha thì tùy mức tội nặng nhẹ mà phải đền bù với mức độ khác nhau : nhẹ thì đền trả đủ số và cộng thêm 1/5 ; nặng thì phải đền gấp đôi. Ông Giakêu xin đền gấp bốn nghĩa là ông tự thú tội ông quá năng. Còn theo luật Rôma thì đối với những tội trộm cắp công khai thì phải đền gấp bốn. Ông Giakêu xin đền gấp bốn tức là ông cũng thừa nhận mình là một tên tội lỗi công khai. Cho nên quyết định của ông vừa là khiêm nhường, vừa là công bình vừa là bác ái.
- Nhưng khi Giakêu chịu bỏ ra phân nửa tài sản đó bố thí cho kẻ nghèo, lại sa#n sàng đền gấp bốn cho những ai bị ông làm thiệt hại. Thì tính ra số tiền ông phải bỏ thật quá nhiều. Ông làm như vậy có phải là quá đáng không ? Hay hỏi cách khác : ông có tiếc vì phải bỏ quá nhiều như vậy không ? Thưa chắc chắn là không vì chính ông tự nguyện làm như thế. Vả lại cái mà ông bỏ đi so với cái mà ông nhận được, tức là ơn tha thứ, thì chẳng thấm tháp vào đâu cả. Cho nên ông không hề tiếc. Hơn nữa, cuộc trở lại nào mà không phải từ bỏ.
- Chúng ta hãy dừng lại ở tư tưởng chót này : Bất cứ cuộc trở lại nào cũng đòi phải từ bỏ. Một người từ trước tới giờ không có đạo, tin vào đủ thứ mê tín dị đoan, nay trở lại theo đạo thì phải từ bỏ tất cả những mê tín dị đoan ấy chỉ còn tin vào một mình Chúa duy nhất mà thôi. Một người bấy lâu nay không giữ đạo, sống bê tha tội lỗi, nay muốn ăn năn trở lại thì cũng phải từ bỏ con đường tội lỗi cũ. Đó là những cuộc trở lại lớn. Còn những cuộc trở lại nhỏ hơn thì cũng thế, cũng phải từ bỏ. Từ trước tới giờ, anh làm ăn bằng những mánh khóe gian lận, nay anh muốn trở lại sống tốt thì tức nhiên anh phải bỏ những món tiền gian lận ấy. Chứ không thể nào vừa muốn sống đàng hoàng mà vừa tiếp tục những kiểu làm ăn gian lận cũ được. Hay từ trước tới giờ anh quen nhậu nhẹt rượu chè say sưa, làm cho gia đình buồn khổ, làm cho phẩm cách mình bị hạ thấp, nay anh muốn sống tử tế lại thì đương nhiên anh phải bỏ tật rượu chè say sưa ấy. Có một số người ghiền rượu đã nói rằng : bỏ rượu thì nếu cố gắng một chút chắc sẽ bỏ được, nhưng cái khó là như người ta nói, muốn bỏ rượu thì phải bỏ bạn luôn. Gương từ bỏ hết sức quảng đại của ông Giakêu là câu trả lời cho thắc mắc đó : Nếu thực tình muốn sống đàng hoàng hơn, thì phải thực sự bỏ rượu, mà nếu vì bỏ rượu mà mất bạn, thì cũng phải đành mất vậy thôi. Bởi vì chân lý đã được nêu rõ trong bài Tin Mừng này : bất cứ cuộc trở lại nào, dù lớn dù nhỏ, cũng đòi ta phải từ bỏ hết.
Niềm vui sướng của ông Giakêu khi trở lại là một niềm vui rất lớn. Lớn đến nỗi ông trở thành một con người hết sức hào phóng, quảng đại bỏ đi hơn phân nửa tài sản của mình mà cũng không tiếc. Nếu chúng ta trở lại từ những gì xấu xa khuyết điểm cũ của ta để sống đàng hoàng tử tế hơn, thì chắc chúng ta cũng sẽ hưởng được niềm vui sướng to lớn như vậy trong tâm hồn. Nhưng, như Tin Mừng hôm nay dạy, bất cứ cuộc trở lại nào cũng đòi hỏi phải từ bỏ. Vậy, trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa ban thêm ơn giúp chúng ta can đảm từ bỏ, để chúng ta được vui mừng trong niềm vui trở lại.
2. Có một cái nhìn như thế
Nhiều đệ tử đang theo học Thiền định dưới sự hướng dẫn của thiền sư Sengai. Một người trong bọn họ thường hay thức dậy ban đêm, vượt tường ra phố để dạo mát cho thoả thích.
Một đêm kia, Sengai đi giám thị phòng ngủ, thấy một đệ tử vắng mặt và cũng khám phá ra được chiếc ghế đẩu cao mà anh ta thường dùng để leo qua tường. Sengai dời chiếc ghế đi chỗ khác và đứng thay vào chỗ đó. Khi anh chàng rong chơi trở về, không biết rằng Sengai là chiếc ghế, anh ta đặt chân lên đầu thầy và nhảy xuống đất. Lúc khám phá ra việc mình đã làm, anh ta hoảng sợ, nhưng Sengai nhẹ nhàng bảo :
- Sáng sớm hôm nay trời lạnh lắm. Con hãy cẩn thận kẻo bị cảm đấy ?
Từ đó, người đệ tử ấy không bao giờ bỏ ra ngoài ban đêm nữa. Anh chuyên tâm học tập và trở thành người đệ tử gương mẫu của thầy Sengai.
*
Thiên Chúa không những tế nhị, dịu dàng, và nhân từ như thầy Sengai mà Người còn khoan dung, tha thứ và yêu thương những con người tội lỗi.
Ông Gia kêu là một trưởng ty thuế vụ thành Giêricô, một người giàu có vì lạm thu bất chính. Ông bị liệt vào số những kẻ tội lội, bị khai trừ và khinh bỉ. Đức Giêsu không nhìn ông bằng con mắt ấy, Người ngước nhìn ông đang ngồi trên cây sung ; một cái nhìn thân thiện, có sức cảm hoá tâm hồn ; một cái nhìn nhân từ như không thấy tội gì trong ông. Chính cái nhìn đầy chân tình và yêu thương ấy đã khiến ông nhìn lại chính mình và quyết tâm đổi mới.
Người nói với ông : "Này Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông !" (Lc 19,5). Hạnh phúc quá bất ngờ : Người không chỉ biết ông đang ở trên cây mà còn biết cả tên ông. Người không chỉ muốn đến thăm mà còn xin ở lại nhà ông. Ông chỉ có một ao ước nhỏ nhoi là được nhìn thấy Người, nhưng Người lại cho ông cả một ân huệ lớn lao vượt quá lòng ông mong ước. Ông chỉ muốn thấy kẻ đã chữa cho anh mù Báctimê là người thế nào, nhưng chính Đấng ấy lại chữa lành đôi mắt tâm hồn ông.
Vâng, chính đôi mắt tâm hồn ông đã bừng sáng, để ông không chỉ thấy một con người bình thường trước mặt, nhưng còn thấy Người chính là Đấng ban ơn cứu độ, đầy lòng nhân từ và xót thương ; để ông không chỉ thấy tiền bạc là tất cả nhưng còn thấy cần chia sẻ và trao ban. Ông đã quá vui mừng hứa với Chúa : "Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo, và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn" (Lc 19,8). Và chúa chỉ chờ có thế, để nói với mọi người : "Ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Ápraham" (Lc 19,9). Thật vậy, ở đâu có Chúa hiện diện là có ơn cứu độ, ở đâu có ơn cứu độ là có sự tha thứ. Ông Giakêu đã được thứ tha để được nhận lại làm con cái Ápraham, con cái của lòng tin, con cái của Thiên Chúa.
Và chắc chắn, không ai có thể ngăn cản ông ngồi đồng bàn với Chúa, trong bữa tiệc hân hoan ngay sau đó. Chắc chắn, ông Gia kêu không còn giàu có như trước nữa, nhưng ông sẽ hạnh phúc hơn nhiều. Chắc chắn thân xác ông vẫn lùn như xưa, nhưng tâm hồn ông đã cao thượng hơn gấp bội. Những người được Chúa "tìm đến và cứu chữa" bao giờ cũng trỗi vượt trong nhân cách và kiên vững trong lòng tin.
*
Lạy Chúa, có rất nhiều người cần chúng con nhìn họ với cái nhìn của Chúa. Có rất nhiều người mong chúng con ghé thăm.
Xin cho chúng con một tấm lòng khoan dung như Chúa, và một tâm hồn quảng đại như Giakêu, để cả thế giới này trở nên con cái Ápraham, và được hưởng nhờ ơn cứu độ của Chúa. Amen.
3. Hoán cải bằng con tim
Chắc hẳn Dakêu đã nghe người ta nói nhiều điều tốt về Chúa Giêsu. Nhưng ông muốn chính mình gặp Ngài, lý do thứ nhất là để xem tướng mạo Ngài ra sao, và lý do thứ hai quan trọng hơn là để biết con người của Ngài thế nào.
Hôm đó cũng có rất đông người muốn nhìn thấy Chúa Giêsu. Họ ở cạnh Ngài, họ bao quanh Ngài. Còn Dakêu thì không đến gần được, ông phải trèo lên một cây sung. Thế mà Chúa Giêsu lại đặc biệt để ý tới ông. Thật sung sướng khi được người khác để ý tới.
Tuy nhiên, để ý tới ai không hẳn chỉ là để chăm sóc hay khen ngợi người đó. Nếu người đó là kẻ xấu thì có thể người ta để ý tới để mà dò xét hay khiển trách. Dakêu là người xấu, nhưng Chúa Giêsu để ý tới ông không phải để khiển trách. Ngài dừng lại và nhìn lên ông. Dakêu hiểu là Chúa Giêsu quan tâm đến ông. Được để ý tới là sung sướng, được quan tâm lại càng sung sướng hơn.
Chúa Giêsu còn nói với Dakêu nữa. Đặc biệt là Ngài không nói một lời nào về những tội lỗi của ông. Thay vào đó Ngài gọi đích danh ông "Này ông Dakêu". Rồi Ngài gọi ông xuống "Xuống mau đi". Ngài còn ngỏ ý muốn đến trọ nhà ông "Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông". Điều này không ai ngờ. Dakêu không ngờ, mà tất cả mọi người có mặt ở đó cũng không thể ngờ một người đạo đức như thế mà lại đến trọ nhà một người tội lỗi công khai. Dakêu sung sướng quá, "Ông vội vàng trèo xuống và mừng rỡ đón rước Ngài". Ban đầu ông chỉ mong nhìn được Chúa Giêsu một cái thôi. Bây giờ ông được nhìn Ngài mặt đối mặt và sắp được ở chung với Ngài ngay trong nhà của ông nữa.
Dakêu đã biết chẳng những tướng mạo mà cả con người của Chúa Giêsu. Ông còn biết được tâm hồn dạt dào yêu thương của Ngài nữa.
Và khi nhìn thấy tâm hồn Chúa Giêsu rồi, Dakêu cũng nhìn lại tâm hồn của ông : một tâm hồn đầy tội lỗi. Ông thấy đời mình bấy lâu nay như một sa mạc khô cằn, thế mà hôm nay Chúa Giêsu lại đến, như một cơn mưa rào.
Thế là Dakêu hoán cải. Cuộc hoán cải thể hiện bằng những hành động cụ thể : đền bối tất cả những thiệt hại đã gây ra cho người khác, và phân chia tài sản mình cho những người nghèo. Đây không phải là hoán cải chỉ bằng ý muốn mà bằng cả con tim : Dakêu đã biết xót xa cho những người bị ông làm thiệt hại, và biết yêu thương những người nghèo khổ. Đây chính là sự hoán cải thật, vì con tim có hoán cải thì cuộc đời mới hoán cải thật.
Con tim của Dakêu hoán cải nhờ Chúa Giêsu đã để ý tới ông, quan tâm ông, đối xử nhẹ nhàng với ông. Goethe đã viết : "Hãy đối xử với một người như người ấy là, và người ấy sẽ xấu hơn. Hãy đối xử với người ấy như người ấy phải là, hoặc như người ấy muốn là, và người ấy sẽ tốt hơn. Bởi vì những ước muốn trong chúng ta chính là phần tốt nhất của con người chúng ta".
Chúa Giêsu hiểu rằng những việc làm xấu của Dakêu không phải là toàn phần con người của ông ; Ngài hiểu trong ông còn có phần tốt, phần muốn làm điều tốt và có khả năng làm những điều tốt ấy. Ngài đã khơi lên chính cái phần tốt ấy.
Cuộc hoán cải của Dakêu là hoán cải con tim, là hướng con tim về điều tốt.
Cũng giống như Dakêu, trong con người chúng ta cũng có phần tốt mặc dù có thể phần tốt ấy xưa nay bị những việc xấu chèn ép và chưa phát huy ra. Hãy hoán cải con tim bằng cách để Chúa để ý đến ta, quan tâm ta, nói với ta, trọ trong tim ta và đánh động con tim ta.
4. Từ đứng nhìn đến tham dự
Nhiều khi chúng ta xem Tivi, thấy những cảnh nghèo, cảnh khổ, cảnh tai nạn. Chúng ta cảm động. Nhưng chỉ một thoáng thôi. Sau đó tới phần chiếu phim, chúng ta say sưa theo dõi chuyện phim, những xúc động kia đã tan biến đâu mất. Nghĩa là chúng ta thường là khách bàng quan, là khán giả.
Ông Dakêu cũng thế. Hôm đó ông muốn làm khán giả. Ông trèo lên một cành cây để nhìn xuống. Ở vị trí đó, ông có thể nhìn Chúa Giêsu và nhìn mọi người mà không bị ai nhìn ông. Ông là một người ngoài cuộc, không cùng đám đông đi theo Chúa Giêsu. Cũng như trước đó ông đã là một người ngoài cuộc : ông giàu có, đầy đủ, không cần đến ai, cũng không muốn dây dưa làm chi đến đa số người khác nghèo nàn thiếu thốn.
Nhưng điều gì đã xảy ra ? Chúa Giêsu gọi Dakêu xuống, Ngài ngỏ ý đến trọ nhà ông. Nghĩa là Ngài kéo ông ra khỏi tư thế khán giả bàng quan để nhập cuộc và tham gia. Và như chúng ta thấy, Dakêu đã tham gia tích cực như thế nào.
V. Trong Thánh Lễ
- Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta hãy đọc kinh Lạy Cha trong tâm tình của ông Dakêu, xin Thiên Chúa là Cha tha thứ những tội lỗi của chúng ta và giúp chúng ta hoán cải thật lòng.
VI. Giải tán
Anh chị em đã thấy ông Dakêu sau khi hoán cải đã rất rộng rãi đem tài sản mình phân chia cho người nghèo. Anh chị em cũng hãy cố gắng noi theo gương chia xẻ ấy.
Carôlô Hồ Bặc Xái

 

TN31-C83. TÌNH THƯƠNG LÀM THAY ĐỔI LÒNG NGƯỜI

Lc 19, 1 – 10
 

Giang s ơn dễ đổi bản tính khó dời ” . Đó là cái nhìn của nhiều ng ười. Thế nhưng dù sao thì “Nhân: TN31-C83

“Giang s ơn dễ đổi bản tính khó dời ” . Đó là cái nhìn của nhiều ng ười. Thế nhưng dù sao thì “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Bản tính đó nhiều khi được hình thành do nhiều yếu tố khác nhau. Chính vì thế chúng ta có cơ sở để nói rằng lòng người có thể thay đổi. Sự thay đổi ấy sẽ tùy thuộc vào cố gắng nỗ lực của bản thân đương sự và nhất là nhờ vào tình yêu thương của tác nhân bên ngoài.
Điều khẳng định trên đây được minh chứng qua hình ảnh ông Dakêu trong đoạn Tin mừng hôm nay. Trước hết chúng ta tìm hiểu những chi tiết cho thấy sự cố gắng nỗ lực của ông. Ông là thủ lãnh những người thu thuế và là người giàu có (Lc 19, 2). Có lẽ, bấy nhiêu vẫn chưa đủ đối với ông, tự đáy lòng mình ông vẫn còn khao khát một điều gì đó và ông nghĩ là chỉ có Chúa Giêsu mới có thể làm cho ông được thỏa lòng. Nghe biết có Chúa Giêsu đi ngang qua thành Giêricô nên ông tìm cách thấy mặt cho được Người. Là thủ lãnh những người thu thuế và do dáng thấp bé quá nên chắc ông không được mọi người ủng hộ. Dầu vậy, ông không chịu đầu hàng với số phận. Đúng như ông bà chúng ta nói cái khó nó ló cái khôn nên: “Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giê-su, vì Người sắp đi qua đó”. (Lc 19, 4).
Những nỗ lực của ông đã được Chúa Giêsu đền bù thỏa lòng vượt khỏi những gì ông mong đợi. "Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!" (Lc 19, 5b). Câu nói này xuất phát từ một tình thương vô bờ bến của Chúa Giêsu dành cho ông. Một con người dường như không còn giá trị, không còn ích lợi gì cho đời nữa. Thể lý thì thấp bé, đã vậy còn là thủ lãnh những người thu thuế. Đối với xã hội Do thái nghề thu thuế được coi là nghề tội lỗi công khai. Cho nên, không ai còn ưa thích ông, mọi người đều tìm cách xa lánh. Thiết nghĩ ông sẽ rất đau khổ. Nỗi thống khỗ ấy không ai nhìn thấy nhưng Chúa Giêsu đã nhìn thấy.
Chi tiết hết sức đẹp trong đoạn Tin mừng hôm nay là sự thay đổi của ông Dakêu: "Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn." (Lc 19, 8b). Từ một con người chỉ biết thu góp tích trữ cho mình bây giờ ông đã thay đổi trở thành một con người biết mở ra cho người khác.
Có nhiều lúc chúng ta cảm thấy mình như lạc lỏng giữa cộng đoàn vì tội lỗi hay vì lý do nào đó. Không còn ai hiểu mình, mọi người đều xa lánh. Những lúc ấy chúng ta hãy tin tưởng đặt trọn con người mình vào vòng tay yêu thương của Chúa Giêsu. Hãy noi gương ông Dakêu vượt qua số phận và dự luận để đến múc lấy nguồn ơn của Chúa Giêsu. Và rồi chúng ta cũng được kêu mời noi guơng Chúa Giêsu dùng tình thương mà đến với anh chị em mình. Biết đâu nhờ tình thương của mình mà họ được thay đổi tốt hơn.
SÁM HỐI
Lc 19, 1-10
Khi còn học giáo lý rước lễ ở họ đạo, tôi được cha sở dạy rất kỹ về những việc mà hối nhân phải làm trước khi xưng tội gồm có: thật lòng ăn năn, xưng tội và thành tâm đền tội. Nhưng trong 3 việc đó thì ăn năn tội là điều quan trọng nhất. Ví ăn năn tội là đau đớn trong lòng và chê ghét tội đã phạm, dốc lòng chừa từ nay không phạm tội nữa. Tương tự như thế hình ảnh Giakêu trong bài Tin Mừng hôm nay cũng cho chúng ta một bài học về “sám hối”. Đó chính là tấm lòng mà Thiên Chúa luôn cần nơi mỗi người và đặc biệt trong cuộc sống mỗi người phải biết sám hối vì “nhân vô thập toàn”.
Có câu chuyện kể rằng một cha sở nọ nằm mơ, thấy Đức Giêsu thăm giáo dân đang tụ họp trong nhà thờ. Khi Đức Giêsu ra về khuôn mặt Ngài rất vui và hớn hở. Cha mới chạy theo hỏi Đức Giêsu tại sao thế? Và Chúa đáp: vì có những người nói những lời hết sức đẹp ý Ta. Thưa Chúa đó là những lời nào vậy, những lời chúc tụng ngợi khen ư? Không phải. Vậy những lời ta ơn tri ân cảm tạ phải không? Chúa trả lời cũng không đúng nữa. Không chịu thua cha sở nọ lại hỏi tiếp: hay là những lời cầu xin Chúa ban ơn này ơn no cho họ? Chúa Giêsu lắc đầu: con đoán sai cả rồi họ đã nói với ta: “Lạy Chúa xin hãy tha thứ tội lỗi chúng con”. Câu nói của Giakêu trong bài Tin mừng hôm nay, cũng có nội dung tương tự như thế và nó còn thể hiện việc sám hối bằng cả hành động nữa “thưa Ngài, này đây là phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo, và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Do đâu mà những người giáo dân trong câu chuyện lại mau mắn sám hối như vậy. Vì lí do gì mà Giakêu lại quyết tâm hoán cải nhanh đến như thế. Chúng ta thấy cả hai đều có điểm chung là đã gặp được Chúa. Vậy để có thể sám hối tôi thiết tưởng phải cần có những yếu tố sau:
1. Thiên Chúa mời gọi
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và ông Giakêu đặt chúng ta vào trung tâm vấn đề cơ bản của lòng chúng ta, làm sao nối lại tình thân với Thiên Chúa sau khi tội lỗi đã làm ta xa cách Ngài? Làm sao nhìn thấy Chúa Giêsu khi giữa ta và Ngài còn một “khoảng đám đông” đang chen lấn, mà ta lại là người đang “nhỏ bé như Giakêu”. Chúng ta không nên quá lo lắng về điều đó, vì Thiên Chúa luôn quan tâm đến mỗi người, nhất là những người tội lỗi “vì con người đến để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư mất” (Mt 19,10). Thiên Chúa không chờ ta quyết định đến với Ngài, Ngài đi bước trước và đến với ta trước. Hầu hết các sách Tin Mừng không trình bày việc gì khác ngoài việc Thiên Chúa đến với loài người và gặp gỡ họ. Như trong Bài Tin Mừng không phải Giakêu đã nhận ra Đức Giêsu trước, nhưng chính Đức Giêsu đã nhân ra Giakêu trên cây. Điều đó chứng tỏ Đức Giêsu đã quan tâm đến chúng ta hơn là chính Người. Đức Giêsu chỉ đi ngang qua Giêrikhô một lần thôi, Ngài cũng chỉ gặp Giakêu ở đó một lần thôi, nhưng trong đời chúng ta Ngài sẽ đến mãi trong từng giây phút, nếu ta chưa tiếp xúc được với Ngài.
Kinh nghiệm gặp gỡ Đức Giêsu của Giakêu như bài học kêu gọi mỗi người chúng ta hãy làm một cuộc sám hối như thế, và biết rằng sám hối là một đặc ân Chúa ban, chính Chuá là người đi bước trước và có sáng kiến chứ không phải nơi chúng ta, đó là tiếng gọi của Chúa mà chúng ta có bổn phận phải đáp lại.
2. Con người đáp trả
Thánh Augustinô đã nói: “Khi dựng nên con Chúa không hỏi con, nhưng khi dựng nên con Chúa phải hỏi con”, nghĩa là Thiên Chúa luôn cần đến sự cộng tác nơi con người, không những thế Thiên Chúa còn muốn con người cộng tác một cách chủ động và trưởng thành. Chúa không đòi ai cũng phải chờ đợi để leo lên cây sung , nhưng quan trọng là phải đi gặp Chúa trong chính hành động của mình. Giakêu luôn ao ước được gặp Chúa và chính lòng khao khát đó đã được Chúa cho thoã mãn. Nhưng để phá rào cản tội tội, rào cản mă#c cảm, và nhất là rào cản giữa con người với nhau thật sự không dễ chút nào. Chắc chắn Giakêu đã nghe Danh Đức Giêsu từ lâu và hằng ao ước đến chỉ để nhìn mặt thôi, nhưng kết quả thật không ngờ, ông được hưởng hơn những gì mà ông mong đợi và hơn thề nữa “ơn cứu độ đã đến cho nhà này”.
Giakêu được như vậy không phải do ông này nỉ, van xin, cũng không do công trạng lập được, lại không phải là một người tốt đáng khen, nhưng điều quan trọng là ông biết “đáp trả” lời Chúa mời gọi, trong khi những người được cho là tốt thì lại không biết làm. Như Giakêu chúng ta cũng hãy biết đáp trả tình yêu Chúa băng cách sám hối để được tha thứ và đổi mới cuộc đời, vì tình yêu Thiên Chúa luôn bai la rộng mở, dù chúng ta là ai, dù chúng ta đang sống trong hoàn cảnh nào, cuộc đời chúng ta có xấu đến đâu cũng không sao. Chúa sẽ tẩy xoá hết để mỗi người chúng ta sẽ là một giọt tình thường trong bể tình thương bao la của Chúa.
Lạy Chúa, xin cho con biết ăn năn sám hối mỗi ngày, để con xứng đáng đáp trả tình yê mà Thiên Chúa đã ban cho con. Amen

 

TN31-C84. NGƯỜI TỘI LỖI HAY NGƯỜI CÔNG CHÍNH

Lc 19, 1 – 10.
 

Chuyện kể rằng, một hôm có vị Quận công vào thăm trại tù. Ông là người tốt lành, nhân hậu. Khi ông: TN31-C84

Chuyện kể rằng, một hôm có vị Quận công vào thăm trại tù. Ông là người tốt lành, nhân hậu. Khi ông đến, ông hỏi thăm các tù nhân về tội trạng của họ. Ông lấy làm ngạc nhiên vì các tù nhân ông hỏi đến đều nói mình vô tội. Người thì nói bị cáo gian, kẻ thì nói vì lòng ghen tỵ mà người ta thêu dệt tội trạng để bỏ tù mình, có người còn nói tại quan toà thích bỏ tù thì kết án chứ anh có làm gì sai đâu! Nhưng có một người đứng lên thú nhận tội mình: thưa quận công, tôi là người có tội, trong lúc cần tiền, tôi đã đi ăn trộm, tôi thấy mình đáng bị phạt nơi này. Lúc đó các bạn tù xỉ vả anh: anh thật tệ, anh không xứng đáng ở chung với những người vô tội. Lúc đó, vị quận công nhìn anh với lòng thương xót và tuyên bố tha bổng cho anh. Còn những người kia thì tiếp tục ở lại trong tù để có thời giờ suy nghĩ về sự công chính giả hiệu của mình.
Chúa Giêsu đến không phải để cứu chữa người công chính, nhưng để cứu người tội lỗi. Hay nói một cách khác: ai khiêm tốn và nhận lỗi, sẵn sàng để cho Chúa khám và điều trị thói hư, lầm lạc của mình thì Chúa mới chữa được. Vì Chúa luôn tôn trọng tự do của con người. Những người xưng mình là công chính, tự cho mình là đúng, không muốn nghe dư luận, không sửa mình, kể cả lời nhắc bảo của Chúa họ cũng để ngoài tai thì làm sao Chúa chữa lành được họ. Chúng ta biết, Chúa Giêsu khi muốn chữa bệnh cho ai, thì Ngài hỏi: “Con muốn ta làm gì cho con?” Chắc chắn Chúa biết người đó phạm tội gì, bệnh tật gì. Nhưng Ngài muốn người đó tự thú nhận, cầu xin ơn tha thứ. Kế đó Ngài mới giải tội, ra tay chữa trị cho lành cả hồn lẫn xác.
Giakêu là mẫu gương về lòng hoán cải. Giakêu biết tội mình, nhưng vì ông thấy nhiều luật sĩ và biệt phái hữu danh vô thực. Tuy mang danh là đạo đức nhưng thật ra nhiều người biệt phái luật sĩ cũng tham lam đâu thua gì ông, họ cũng ỷ quyền, áp bức kẻ khác, lạm quyền đâu kém gì ông mà có khi, ông nghĩ, họ còn tệ hơn ông nữa! Vì vậy, ông tuy biết việc mình làm là không đúng nhưng nhất định không đến thú tội với bọn người giả hình kia.
Tuy nhiên, thật may mắn cho ông, xu hướng trở về với Chúa vẫn thôi thúc lòng ông đêm ngày. Ông là người thức thời, ông nghe người ta đồn về một ông Giêsu, là một vị tiên tri đầy quyền năng, đối xử nhân từ với người thu thuế và tội lỗi chứ không như bọn Luật sĩ, Biệt phái giả hình, khinh khi và loại trừ người thu thuế. Vì thế, ông đã hỏi thăm kỹ càng ngày giờ Thầy Giêsu sẽ đi ngang qua đó. Đúng lúc đám đông theo Chúa Giêsu đi ngang, ông vội vàng trèo lên cây sung để mong được nhìn Thầy Giêsu, một người đầy lòng thương xót đối với tội nhân, và ông đã nhìn thấy Chúa. Hay đúng hơn Ánh Mắt Nhân Từ đã nhìn thấy ông trước khi ông nhận ra Ngài. Ngài đã gọi đúng tên ông. Thật ngỡ ngàng quá. Ông những tưởng chỉ có lòng ông khao khát tìm gặp Chúa, ai ngờ Chúa lại thao thức đi tìm ông. Dường như Chúa biết tất cả về ông về những tội lỗi và lòng chân thành sám hối của ông.
Thật quả đúng như lời người ta đồn đại và còn hơn thế nữa, Giêsu là Đấng Cứu Thế, Giakêu xúc động vô cùng trước tấm lòng của vị chủ chăn đi tìm chiên lạc. Ông chỉ còn biết thốt lên: tôi làm thiệt ai trong thời gian qua thì xin đền gấp 4 lần, còn phân nửa tài sản tôi xin chia cho kẻ khó. Đối với Giakêu, cuộc đời ông đã được Chúa Giêsu cứu chuộc rồi, của cải tài sản ông coi như phân phát hết cũng được, ông không cần gì khác nữa. Ông nhận ra tình thương của Chúa rồi. Cuộc đời ông tràn đầy ý nghĩa. Ông thấy cuộc đời mình đáng sống và hạnh phúc trong tình thương cứu chuộc của Chúa.
Trong ngày Chúa Nhật hôm nay, chúng ta hãy suy nghĩ đến tình thương của Chúa. Dù chúng ta thấy mình là công chính thì chúng ta hãy xét mình thêm xem mình đã đáp trả lại tình thương của Chúa đúng mức chưa? Chúng ta có dám nói như Giakêu: nếu tôi có làm thiệt hại danh giá hay vật chất của ai thì tôi xin đền gấp 4 và phân nửa tài sản của tôi xin chia cho kẻ khó. Rõ ràng, chúng ta chưa dám nói như vậy. Điều này cũng cho thấy là chúng ta chưa yêu mến Chúa bằng Giakêu. Vì vậy chúng ta phải dành thời giờ lưu lại với Chúa nhiều hơn sau thánh lễ và thiết tha cầu xin Chúa cho đời mình gắn bó Chúa hơn nữa. Ước gì chúng ta luôn biết nhận ra sự thật về chính mình để được Chúa gột rửa nên hoàn hảo, xứng đáng là môn đệ của Thầy chí thánh Giêsu. Amen

 

TN31-C85. CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN

Lc. 19, 1-10
Anh chị em thân mến.
 

Nhạc sĩ Trần Tiến có một bài hát đi vào lòng người, không phải chỉ những người Việt Nam: TN31-C85

Nhạc sĩ Trần Tiến có một bài hát đi vào lòng người, không phải chỉ những người Việt Nam, nhưng cả người ngoại quốc đến Việt Nam và biết tiếng Việt khá một chút, cũng biết bài hát này.
Bài hát diễn tả tâm tình của một chú bé miền quê, mê tiếng đàn của anh lính xa nhà. Không biết "Đàn anh hát câu gì mà sao chú bé cười ngộ ghê, cũng không biết đàn anh hát câu gì, mà sao chú bé ngồi mơ màng. Hạnh phúc quá đơn sơ...."
Hạnh phúc quá đơn sơ thật, với tiếng đàn nghiệp dư, tiếng đàn để giải sầu cho riêng mình, mà cũng có người tìm được niềm vui. Chú bé tìm đến tiếng đàn của anh lính, chú bé ngất ngây dường như bước vào một cỏi thần tiên.
Cũng một cuộc đi tìm, một biến cố không chỉ làm ngất ngây lòng người trong phút chốc, nhưng cái tìm gặp nầy làm thay đỗi cả một đời người. Đó là sự tìm gặp giữa Chúa Giêsu và Giakêô.
Giakêô muốn tìm Chúa, muốn nhìn thấy Chúa Giêsu. Nhưng lực bất tòng tâm, tầm vóc của ông không đủ để vượt qua đám đông để cho ông có thể nhìn thấy Chúa Giêsu. Thân phận của ông cũng khó công khai đến gần những người được gọi là đạo đức, vì ông là thủ lãnh người thu thuế, là người mang tội với dân tộc. Nhưng ông không chịu thua số phận, ông vượt lên số phận, tìm cách vượt qua những trở ngại.
Với những cố gắng như thế, ông đã nhận được hơn cái mình mơ ước. Ong chưa nhìn thấy Chúa Giêsu thì Ngài đã nhìn thấy ông, không chỉ thế, Ngài còn gọi đúng tên ông, ngoài sức tưởng tượng, Ngài còn nhả ý ngụ tại nhà ông. Niềm vui tràn ngập cỏi lòng, ông bất chấp những người chung quanh, bất chấp hoàn cảnh sống, cái hoàn cảnh không cho ông có cơ hội đỗi đời. Giờ đây ông ông không bỏ lở cơ hội mà ông có được. Ong làm một cuộc đỗi mới ngoạn mục, việc làm của ông còn hơn việc làm của một người đạo đức bình thường, ông đã sẵn sàng và Chúa Giêsu nhìn thấy sự đỗi mới này nên Ngài thốt lên: "Hôm nay nàh này được ơn cứu độ, vì ông cũng là con cái Abraham".
Một sự tìm kiếm, một cái nhìn thông cảm, hơn cả tiếng sét ái tình, một cuộc chạm trán làm thay đỗi đời người. Giakêô đi tìm và đã tìm được hơn cái mình muốn tìm, ông không thể nào ngồi yên bất động, nhưng ông nghe tiếng Chúa nên ông phải đi, phải hành động. Không phải chỉ hành động bằng đôi tay, nhưng bằng cả con người của ông. Ong không để cho con người mình bất động trong những gì mà người khác gọi là tội lỗi, ông đã bước ra khỏi đó, để trở thành một người mới hoàn toàn.
Câu chuyện của ngày xưa, nhưng không xưa, câu chuyện vẫn còn mang tính cách hiện đại cho những người thời nay, cho mỗi người trong chúng ta. Giakêô chỉ ao ước nhìn thấy Chúa, nhưng ông được Chúa đến ở tại nhà và như thế sự đỗi mới đã xẩy ra. Cũng như chú bé trong bài hát Mặt Trời Bé Con của nhạc sĩ Trần Tiến, chỉ cần tìm đến nghe tiếng đàn, chú bé có thể đỗi đời được từ buồn, đã đỗi sang vui và mơ màng. Còn chúng ta, chúng ta có tìm và chúng ta có gặp được gì chưa?
Mỗi người để ra một giây phút nhìn lại mình, xem đời sống mình có gì mới hơn so với những ngày tháng trước đó. Hay chúng ta vẫn tự hào về đời sống của mình, rồi tự cho là thánh thiện đạo đức, nên không cần phải thay đỗi gì nữa. Nếu có thay đỗi thì người khác, những người tội lỗi, những người mà chúng ta đã từng chỉ trích và khinh dể họ, vì họ có đời sống mà chúng ta cho là không xứng đáng. Như thế thì chúng ta đang đứng về phía đám đông đi theo Chúa Giêsu, họ cũng cho mình là đạo đức thánh thiện xứng đáng hơn Giakêô, họ đã che khuất tầm nhìn của ông, họ đã khinh dể chỉ trích ông và chỉ trích cả Chúa Giêsu. Họ cũng đã tự hào về chính mình. Nhưng Chúa Giêsu không ghé vào nhà của người nào trong họ, mà lại ghé nhà người mà họ khinh dể, vì ông ta nhìn thấy chính mình và biết thay đỗi cuộc sống.
Còn chúng ta, không phải Chúa Giêsu chỉ ghé qua, nhưng Ngài luôn ở trongtâm hồn mỗi người. Ngài không chỉ nhìn và kêu gọi, nhưng Ngài hằng hoạt động và kêu mời liên tục. Nếu chúng ta biết lắng nghe, biết từ bỏ những gì làm cho chúng ta trở thành không xứng đáng, khi đó chúng ta cũng được nghe Chúa Giêsu nói như đã nói với Giakêô: "Hôm nay nhà này được ơn cứu độ".
Xin Chúa chúc lành cho cuộc sống chúng ta mỗi ngày biết thay đỗi cho tốt hơn.

 

TN31-C86. BIẾN ĐỔI 

Lc. 19, 1-10
 

Người ta thường nói: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”, Để sửa chữa hay thay đổi một người: TN31-C86

Người ta thường nói: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”, Để sửa chữa hay thay đổi một người nào đó là một điều rất khó. Ngược lại nếu không khéo chúng ta lại càng làm cho ra thêm tệ hơn. Trong thực tế, có những người nói hay, nói khéo, khuyên giỏi… nhưng kết qủa không mấy khả quan, mà còn làm cho cho họ càng khép kín, bảo thủ, trở nên oán hận và chai cứng tâm hồn.
Hôm nay, Đức Giêsu với đường lối sư phạm đại tài, Ngài đã từng bước hoán cải một người thu thuế bị xếp chung với hạng trộm cắp, giết người và đĩ điếm. Vậy Đức Giêsu đã làm gì mà lại có sực mạnh biến đổi kỳ lạ như thế?
Thông thường người có tội hay lẫn trốn, tránh xa những người được cho là công chính. Ở đây Gia-kêu lại càng không dám trực tiếp gặp thầy Giêsu, ông cũng không hoà nhập được với dân, ông như bị cô đơn giữa một rừng người xa cách không ai quan tâm đến ông. Lúc mà mọi người không ai để ý đến, không ai quan tâm đến thì Đức Giêsu lại quan tâm. Điều đó quá lạ đối với suy nghĩ của ông, từ trước đến giờ ông không bao giờ dám nghĩ đến: Chúa lại tìm một người “đứng đầu những người thu thuế” như mình. Dù đang mang mặc cảm tội lỗi, dù đang bơ vơ lạnh lẽo, ông vẫn cảm thấy ấm lòng vì được Thiên Chúa quan tâm, trong cuộc sống những người tội lỗi vẫn thường hay tự ty xa cách, họ không thể hòa mình với mọi người, họ vẫn cảm thấy cô đơn vì bị người khác bỏ rơi. Những điều đó càng làm cho họ ngày càng lún sâu vào vũng lầy tội lỗi, không có ai đưa bàn tay để kéo họ lên. Vậy những lúc tuyệt vọng, những lúc chúng ta không còn chỗ nương tựa chúng ta hãy biết chạy đến cùng Chuá, cho dù tất cả bỏ rơi chúng ta thì Thiên Chúa vẫn cưu mang chúng ta, vì lúc nào Ngài cũng đang “nhìn” chúng ta, quan tâm chúng ta
Dân chúng cứ nghĩ Đức Giêsu sẽ quở trách Gia-kêu về những việc làm xấu xa của ông. Nhưng Đức Giêsu không những không quở trách mà còn muốn dùng cơm tối ở nhà ông. Việc làm đó không chỉ làm cho dân chúng kinh ngạc về cách hành xử của Đức Giêsu, mà cả Gia-kêu nữa cũng bị bất ngờ. Ông đã thay đổi tâm hồn từng bước một, bắt đầu từ lúc Đức Giêsu nhìn thấy ông, gọii ông rồi còn lưu lại nhà ông. Đáng lẽ ông là tội nhân đáng bị trừng phạt và lên án, thì Đức Giêsu lại đến với ông bằng sự tín nhiệm yêu thương, vì Người đến không phải để lến án nhưng là để cứu chuộc.
Thiên Chúa luôn nhìn người tội lỗi với một cắp mắt bao dung, Ngài không để tội nhân đi vào con đường bế tắc mà mở cho họ một hướng đi trong tương lai, Ngài tin ở sự hoán cải, nơi người tội nhân. Chính đường lối sư phạm này mà Thiên chúa đã làm cho Gia-kêu quay lại 180 độ. Từ một người tội lỗi trở thành tốt, nhưng để được thay đổi tâm hồn con người không phải “ngồi để chờ xung rụng”, mà phải có thiên chí, có lòng hoán cải ao ước thật sự… Vậy chúng ta hãy đến xin Chúa để người thay đổi cuộc đời, vì con người chỉ có thể đổi mới khi có ơn Chúa ban. Hơn nữa, Thiên Chúa lại luôn quan tâm đến tội nhân. Vì thế, chúng ta phải đáp lại tiếng gọi của Chúa, sự trông đợi của Người… thì công việc mới hoàn thành cho dù chúng ta có tội lỗi xấu xa có đáng ghét đến dâu đi nữa thì thiên Chúa vẫn chờ đợi chúng ta 
Lạy Chúa, “không có một ông thánh nào mà không có quá khứ, không có tội nhân nào lại không có tương lai”. Xin Chúa cho con đừng vì quá khứ mà trở nên xấu xa. Nhưng cho con giống Giakêu biết hướng đến tương lai, nhờ ơn Chúa tất cả chúng con trở thành con người mới.

 

TN31-C87. GẶP CHÚA - KHƠI NGUỒN CHO ĐỔI MỚI 

Lc. 19, 1-10
 

Thấp bé trước mặt người đời có thể không ảnh hưởng đến cuộc sống chúng ta, nhưng thấp bé: TN31-C87

Thấp bé trước mặt người đời có thể không ảnh hưởng đến cuộc sống chúng ta, nhưng thấp bé trước mặt Thiên Chúa đòi buộc chúng ta phải nỗ lực vươn lên. Tình yêu Thiên Chúa dẫn đưa chúng ta đến với Ngài. Chúng ta hãy đến với Chúa để được thanh luyện và được ơn hoán cải đích thực. Đó chính là sứ điệp của Lời Chúa hôm nay. 
Thiên Chúa đầy lòng khoan dung
Khởi đi từ bài đọc Cựu Ước, tác giả sách Khôn Ngoan cho thấy hình ảnh một Thiên Chúa đầy lòng khoan dung trước những sai lỗi của con người. Theo thói thường, "ác giả ác báo", tội nhân ắt phải bị trừng trị. Chúng ta thường lên tiếng phản đối trước những hình phạt chưa xứng với tội. Chuyện toà án để "lọt người, sót tội" xuất hiện hằng ngày trên các phương tiện truyền thông. Luật lệ là thước đo cho sự công bằng giữa người với người, nhưng đôi lúc cũng là công cụ gây nên biết bao đau khổ cho con người. 
Thiên Chúa thì lại khác, Ngài làm ngơ trước tội lỗi của con người. Phải chăng Ngài "bó tay"? Không. Mọi vật đối với Ngài như hạt sương nhỏ. Ngài thừa khả năng đánh phạt những ai lầm lỗi. Nhưng nếu Ngài làm thế, biết còn mấy ai tồn tại trước nhan Ngài? Ngược lại, vì yêu thương mà Ngài dễ dàng kiên nhẫn chờ đợi. Ngài là Thiên Chúa sáng tạo chứ không phải là kẻ huỷ diệt, mang đến sự sống chứ không rắc gieo cái chết. Ngài tạo dựng muôn loài vì yêu mến thì cũng vì yêu mến mà Ngài khoan dung tha thứ cho tội nhân. Ngài để cho tội nhân có cơ hội hoán cải. Chúng ta thay vì nhìn vào sự dữ thì hãy nhìn vào lòng khoan dung của Thiên Chúa, chạy đến với Ngài để được Thánh Thần Ngài an ủi, biến đổi như Giakêô trong bài Phúc Âm hôm nay. 
Gặp Chúa để được biến đổi
Giakêô  - một người tội lỗi công khai. Ông là thủ lãnh những người thu thuế, thủ lãnh của những kẻ "cõng rắn cắn gà nhà", chỉ làm lợi cho đế quốc Rôma mà gây hại cho dân cho nước.
Ông là người thấp bé nhưng ông chẳng mảy may lo lắng, vì ông sang giàu và có địa vị. Ông đã "quên" lớn lên trong lòng mọi người, và cũng "quên" lớn lên trước mặt Thiên Chúa. Cuộc sống của ông đang đẩy ông rời xa Nước Thiên Chúa. 
Cho đến một ngày, cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu đã biến đổi cuộc đời ông. Cuộc gặp gỡ xuất phát từ cái nhìn và tiếng gọi của Chúa Giêsu, đồng thời cũng là thành quả của sự nỗ lực vươn lên từ chính Giakêô. Sáng kiến của Thiên Chúa gặp gỡ thái độ thành tâm thiện chí của con người đã đem đến cho con người một sự biến đổi. Cuộc gặp gỡ phát sinh ơn cứu độ! 
Hoán cải nhằm thực thi công bằng – bác ái
Giakêô đã trở lại! Niềm vui đã đến với ông, với gia đình ông. Chúa đến viếng thăm nhà ông thì cuộc sống của ông ngày mai hẳn sẽ phải khác với nếp sống hôm nay. Ông đã lớn tiếng tuyên bố rằng từ nay ông sẽ sống đời sống mới và sẽ sửa chữa những lỗi lầm của mình. Ông vui vẻ từ bỏ sản nghiệp, sẵn sàng từ bỏ tất cả để ông được lớn lên trong Chúa. 
Ơn hoán cải mà Chúa ban cho mỗi người không chỉ dừng lại ở lời cầu nguyện và lòng sám hối, nhưng còn nhằm thực thi công bằng bác ái, từ bỏ của cải theo tinh thần Phúc Âm. Giakêô có thể còn nhiều của cải sau cuộc biến đổi, nhưng là một người giàu có với tinh thần nghèo khó, sẵn sàng cho đi nếu Chúa cần. 
Ngày nay, Chúa Giêsu vẫn đứng trước cửa ngõ tấm lòng chúng ta. Ngài mời gọi chúng ta mở rộng cửa lòng để Ngài ngự vào. Còn thái độ của chúng ta thì sao? Đón tiếp với thái độ của đám đông hay của Giakêô? Thờ ơ, lạnh nhạt hay thành tâm, thiện chí? Hãy nhìn vào những bất công, những cảnh đời bất hạnh của tha nhân, rồi nhìn lại thái độ của chúng ta trước những nghịch cảnh như thế, chúng ta sẽ biết mình đón tiếp Chúa thế nào. Chúa đến với ta không như một ông vua uy quyền, mà trong hình hài của những người đói khát, bệnh tật, buồn phiền, ngu dốt... Chúa Giêsu là chính tha nhân và "những gì các con làm cho họ là các con làm cho ta" (Mt25,40). 
Ước mong mỗi người chúng ta như Giakêô, luôn sẵn sàng đón tiếp Chúa trong từng giây phút cuộc đời. "Lạy Chúa, đây là nhà của Chúa, xin hãy ngự đến".

 

TN31-C88. BIẾN ĐỔI NHỜ NHẬN RA CHÚA YÊU THƯƠNG

VÀ TIN TƯỞNG
Lc. 19, 1-10
 

Có lẽ trong cuộc sống ít nhiều chúng ta đã chứng kiến nhiều sự biến đổi. Biến đổi cảnh vật,: TN31-C88

Có lẽ trong cuộc sống ít nhiều chúng ta đã chứng kiến nhiều sự biến đổi. Biến đổi cảnh vật, biến đổi nơi chốn và nhất là con người được biến đổi. Sau khi biến đổi những cảnh vật, những nơi chốn và những con người có thể tốt hơn hay có khi cũng xấu hơn. Dường như ai trong chúng ta cũng đều mong muốn với sự biến đổi đó mọi sự sẽ trở nên tốt hơn và có giá trị hơn.
Mỗi sự biến đổi đều có động lực của nó. Chẳng hạn, một bạn trẻ sau khi đi làm xa một thời gian, nhờ có được nhiều tiền trở về quê biết quan tâm và giúp đỡ đến bà con của mình. Đoạn Tin mừng Giáo hội cho chúng ta suy niệm hôm nay cũng cho thấy một sự biến đổi. Đó là ông Dakêu đã biến đổi cách sống của mình. Chúng ta xem ông đã biến đổi như thế nào và do đâu khiến ông đã được biến đổi.
Chúng ta biết, trong xã hội Do thái lúc đó những ai làm nghề thu thuế được liệt vào một trong những người tội lỗi đáng sợ. Ai tiếp xúc với những hạng người như thế sẽ bị ô uế. Những ai được xem là công chính rất sợ phải tiếp xúc với những người tội lỗi như thế. Mà ông Dakêu là một người thu thuế. Hơn nữa, ông lại còn là người đứng đầu trong các người thu thuế. Như thế, với cái nhìn ấy ông Dakêu thật là một người tội lỗi rất đáng sợ.
Ngày kia, nghe tin Chúa Giêsu đi ngang thành Giêricô ông chỉ muốn tìm cách xem Người là ai. Vì quá lùn nên ông đã trèo lên cây sung để xem mặt Người. Biết thế, không những Chúa Giêsu cho ông thấy mặt mà Chúa Giêsu còn bảo ông: “ Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông! ” . Nghe lời ấy ông quá đỗi vui mừng: “ vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người ” .
Vì yêu thương và tin tưởng Dakêu nên Chúa Giêsu đã không ngại gợi ý để vào nhà ông và dùng bửa với ông. Đến nổi những người khác bàn tán xầm xì: “ Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ! ” . Chắc chắn ông Dakêu đã nhận ra được điều ấy nên ông đã hoàn toàn thay đổi cách sống của mình : “ Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn ” . Từ một con người chỉ biết thu vào cho mình giờ đây nhờ tình yêu và sự tin tưởng của Chúa Giêsu nên ông đã trở thành con người biết mở ra cho người khác.
Ai trong chúng ta cũng được Thiên Chúa yêu thương và tin tưởng như thế. Vì yêu thương và tin tưởng nên Thiên Chúa đã trao phó cho chúng ta quản lý mạng sống của mình. Vì yêu thương và tin tưởng nên Thiên Chúa đã trao cho chúng ta những sứ mạng. Có người làm giáo sĩ, có người làm tu sĩ, có người làm cha làm mẹ trong gia đình, có người lãnh trách nhiệm này trách nhiệm nọ trong họ đạo...
Nếu chúng ta nhận ra được Thiên Chúa đang yêu thương và tin tưởng mình chắc chắn đời sống chúng ta sẽ thay đổi nhiều. Chúng ta sẽ biết phục vụ tốt trong vài trò bổn phận của mình.

 

TN31-C89. KIỂU MẪU NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA KITÔ: SỐNG CHIA SẺ

Lc. 19, 1-10
 

Tin mừng của Thánh Luca được gọi là Tin mừng về Lòng thương xót của Thiên Chúa. Thánh: TN31-C89

Tin mừng của Thánh Luca được gọi là Tin mừng về Lòng thương xót của Thiên Chúa. Thánh Luca có nhiều tường thuật và những dụ ngôn rất tuyệt vời về lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người. Đoạn Tin mừng hôm nay là một bức tranh tuyệt đẹp về lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho người tội lỗi, và cũng mở rộng cho tất cả chúng ta nữa.
1. Thành tâm tìm Chúa sẽ được gặp Chúa:
Da-kêu lại là thủ lãnh của những người thu thuế nên chắc chắn ông phải giàu có lắm. Dù vậy, Da-kêu vẫn thấy còn thiếu một điều gì đó mà lương tâm của ông mách bảo ông phải đi tìm. Nhưng biết tìm gì đây? Chắc chắn là không phải đi tìm cách để làm giàu hơn nữa rồi. Và cơ may như tình cờ đã đến Da-kêu. Đức Giêsu đi ngang qua làng quê của ông. Ông đã nghe danh tiếng Đức Giêsu đã lâu rồi nhưng chưa được dịp gặp. Hôm nay, Da-kêu nhất định phải tìm cách để nhìn thấy mặt Đức Giêsu một lần cho biết. Hành động leo lên cây sung để nhìn ngắm Đức Giêsu cho thấy Da-kêu rất quyết liệt trong việc tìm kiếm Chúa. Ta thử hỏi động lực nào thúc đẩy Da-kêu như thế? Câu trả lời là vì ông đang thiếu Chúa nên mới tìm kiếm quyết liệt như thế dù là để thấy Ngài thôi. Phúc âm ghi là “Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giêsu là ai” mà thôi. Sự thành tâm của ông đã được Đức Giêsu đáp lại vượt quá sức tưởng tượng của ông. “Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông.” Chúa Giêsu muốn cứu ông nên mới hối thúc ông như thế “xuống mau đi”. Câu nói của Chúa Giêsu cho ta thấy được rằng : việc Chúa đến để cứu giúp ông là điều cần thiết vì nó nằm trong chương trình của Thiên Chúa “Tôi phải”.
Vậy là Da-kêu đã gặp được điều mà ông còn thiếu, còn trống vắng trong tâm hồn ông. Ông đi tìm và ông đã gặp. Nhưng trên hết là lòng thương xót của Thiên Chúa, là tình yêu nhưng không của Ngài dành cho con người. Nói là con người đi tìm Thiên Chúa nhưng thật ra là Thiên Chúa đi tìm và cứu lấy con người. Thiên Chúa làm nên những việc vượt quá ước muốn của con người. Tấm lòng của Thiên Chúa là như thế : đi tìm và cứu chữa những gì xem ra đã hư mất dưới cái nhìn của nhân loại. Phần chúng ta, để được Thiên Chúa cứu độ, chúng ta cần có lòng ước muốn và khao khát đến với Chúa dù động lực chưa rõ ràng hay còn lệch lạc đi chăng nữa. Chúa hiểu tấm lòng của con người. Và khi gặp được Chúa rồi, chúng ta cần làm theo những gì Chúa đã ân cần hướng dẫn và ngoan ngoãn bước theo đường lối của Ngài.
2. Da-kêu, kiểu mẫu của người môn đệ Chúa Kitô:
Như một điều mỉa mai đối với Da-kêu. Tên của ông có nghĩa là “trong sạch” nhưng ông lại làm nghề thu thuế, một nghề tội lỗi và bất công. Nhưng sự mỉa mai này chấm dứt khi ông gặp được Đức Giêsu. Nhờ biết chia sẻ, ông đã trở nên trong sạch đúng với tên gọi của ông.
Có thể nói cách mạnh mẽ rằng: Da-kêu là người đầu tiên thực hiện lời mời gọi chia sẻ của Chúa Giêsu. Theo Tin mừng của thánh Luca, người môn đệ đích thực của Chúa là người biết sống chia sẻ, cả vật chất lẫn tinh thần cho người khác, đặc biệt là cho những người nghèo khổ và túng thiếu.
Những ai sống giàu có dư đầy mà không biết chia sẻ cho người khác thì sẽ có một kết cục thật bi thảm: đảo lộn số phận trong cuộc sống mai sau. Câu chuyện về “người phú hộ và anh Lazarô nghèo khổ” hay câu chuyện “anh thanh niên giàu có buồn rầu bỏ đi trước lời mời gọi sống chia sẻ của Chúa Giêsu” là những điển hình. Số phận của những kẻ như thế sẽ bị đạo lộn và sẽ rất tối tâm. Nếu giàu có ở đời này thì sẽ nghèo khổ ở đời sau muôn ngàn kiếp, “người giàu có trở về tay không”.
Còn ở đây, Ông Da-kêu tuy giàu có nhưng ông biết sẵn sàng và tự nguyện chia sẻ của cải của mình cho người nghèo khổ, nên ông sẽ không bị đảo lộn số phận mà còn trở nên kiểu mẫu cho hình ảnh người môn đệ Đức Giêsu, trở thành công dân trong Israel mới do chính Chúa lập nên. “Tôi xin bố thí nửa tài sản của tôi cho kẻ khốn khó, và nếu tôi làm thiệt hại ai điều gì, tôi xi đền gấp bốn”. Thật là một hình ảnh tuyệt đẹp của những con người hoán cải tận căn sau khi gặp được Chúa. Gặp Chúa thật sự thì không thể không hoán cải và không thể không thay đổi trong mọi sự, từ suy nghĩ cho đến hành động. Da-kêu thật là một kiểu mẫu cho chúng ta noi theo. Từ một người chỉ biết thu góp, nay trở thành người cho đi; từ một người sống trong bất công nay trở thành người thực thi sự công bằng và trả lại sự công bằng cho người khác.
Chúng ta hãy nhìn vào sự biến đổi của Da-kêu mà xét mình lại. Chúng ta giữ đạo đã nhiều năm, nhưng chúng ta đã gặp được Chúa chưa? Chúng ta đi lễ quá nhiều, rước Chúa vào lòng quá nhiều đến mức không nhớ nổi, chúng ta nghe lời Chúa đến mức có thể thuộc lòng được… nhưng thử hỏi chúng ta đã thật sự gặp được Chúa chưa? Nếu ta chưa biết hoán cải, chưa biến đổi gì hết trong thái độ sống, trong suy nghĩ và hành động của ta cho tốt hơn thì có thể nói: Chúng ta chưa gặp được Chúa.
Sẽ thật là vô phúc cho chúng ta nếu chúng ta lo giữ đạo, giữ luật Chúa mà không lo gặp Chúa. Không có Chúa trong cuộc đời ta thì ta là những kẻ đáng thương vô cùng. Coi chừng chúng ta đang biến thành những Biệt Phái của thời đại mới này mà chúng ta không hề hay biết.
Hãy noi gương Da-kêu để trở thành người môn đệ đích thực của Chúa Giêsu: biết sống chia sẻ, biết hoán cải nội tâm, biết đi tìm Chúa cách thành tâm thiện chí, để khi hoàn tất cuộc đời tại thế này, chúng ta sẽ được Chúa cho vào dự tiệc cưới Nước Trời dành cho những tâm hồn thiện chí và trung tín của Chúa. Ước gì trong ngày sau hết, ta được Chúa nói với ta như đã nói với Da-kêu rằng: “người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham” và “hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này”. Amen.

 

TN31-C90. HOÁN CẢI TỪ CON TIM

Lc. 19, 1-10
 

Nếu như tuần trước Chúa Giesu kể dụ ngôn người Biệt phái và người thu thuế lên đền thờ cầu: TN31-C90

Nếu như tuần trước Chúa Giesu kể dụ ngôn người Biệt phái và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện để cho chúng ta thấy lòng nhân từ hay thương xót của Thiên Chúa. Thì hôm nay, qua câu chuyện ông Giakêu muốn thể hiện cách cụ thể lòng thương xót đó bằng việc Ngài thương xót và an ủi cho Giakêu khi đến viếng và ở lại nhà ông, một người tội lỗi.
Thế giới và những những gì chứa đựng trong nó chỉ là những hạt cát nhỏ bé, mong manh so với sự vĩ đại lớn lao của Thiên chúa. Nhưng Thiên Chúa yêu thương tất cả các tạo vật ấy. Vì Chúa tạo dựng vũ trụ này chỉ vì tình yêu. Chúa không hề chê bất cứ tạo vật nhỏ bé nào. Vì nếu ngài chê ghét thì không một tạo vật nào có thể tồn tại. Vì thế, mọi vật hiện hữu quanh ta điều có giá trị trước mặt Thiên Chúa cho dù một vài thụ tạo không đi đúng đường lối Ngài thì ngài vẫn tỏ lòng khoan dung để nhắc nhở, sửa dạy hầu chúng biết được lỗi lầm mà bỏ đường gian ác. Đó là tư tưởng của bài đọc I
Bài Tin Mừng sẽ cho chúng ta một ví dụ về lòng thương xót Chúa qua việc Chúa Giêsu tìm được một người thu thuế tội lỗi Giakêu để kêu gọi ông ta sám hối. Sự sám hối này được ông ấm ủ trong lòng bấy lâu qua sự khao khát muốn gặp Chúa Giêsu.
Chắc chắn Chúa Giêsu không xa lạ gì đối với dân thành Giêricô. Vì tại đây, Ngài đã chửa cho một người mù tên Bartimê. Và không biết tình cờ hay ngẫu nhiên mà chúa Giêsu người Samaria nhân hậu xuất phát từ Giêricô. Vì thế, là người giàu có trong thành, Giakêu cũng đã nghe đồn đây đó về Chúa Giêsu và ông muốn gặp Ngài.
Dẫu biết sự khao ấy nơi ông có nhiều khó khăn cản trở: giới hạn về thân xác, là một người lùn “ đừng chơi với thằng lé đùng ghé nhà thằng lùn; giới hạn về tâm hồn, là người không có uy tín mấy, bị khinh khi ” Nhưng tất cả những cản trở, những khó khăn đó không ngăn được ước muốn gặp Chúa và ngăn cản đôi chân ông cất bước đi tìm. Bấy nhiêu đó cũng đủ thấy sự cố gắng nổ lực khát khao gặp Chúa xuất phát từ tấm lòng chân thành của ông.
Nhưng sự quảng đại và lòng thương xót của Chúa Giêsu cũng đâu chịu thua sự nỗ lực và cố gắng của Giakêu. Vì Chúa Giêsu đã biết trước Ngài sẽ phải làm gì cho ông hôm nay. Giữa đám đông chen lấn vây quanh Chúa Giêsu. Nhưng Ngài không mấy quan tâm. Vì ánh mắt của Ngài đã hướng lên ngọn cây sung cao chót vót, nơi Giakêu đang ngồi chờ đợi. Điều này chứng tỏ Chúa Giêsu đã quan tâm đến ông cách đặc biệt. Vì thế nếu chúng ta cảm phục trước tấm lòng khao khát Chúa Giêsu cách chân thật nơi Giakêu bao nhiêu thì chúng ta càng phải thán phục trước sự quảng đại và lòng khoan dung của Chúa gấp bội.
Vì Ngài đã không mấy quan tâm đến đám đông reo hò đón rước vây quanh mà lại đoái nhìn đến Giakêu, một người bị xã hội loại trừ khinh bỉ. “ Này ông Giakêu hãy xuống mau đi vài hôm nay tôi phải ở lại nhà ông” . Cách đối xử của Thiên Chúa hoàn toàn khác và vượt xa với suy nghĩ của con người. Việc Chúa Giêsu đến trọ nhà ông đã nói lên ơn cứu độ của Thiên Chúa không loại trừ một ai. Vì Chúa không nhìn con người với những lầm lỗi của họ. Nhưng Ngài chỉ để ý đến phẩm giá cao quý được đặt để nơi người đó. Và chính cái nhìn thông cảm thấu suốt tâm can của Chúa Giêsu đã làm cho Giakêu cảm phục và hoán cải đời sống. Một sự hoán cải chân thật xuật phát từ con tim bị đánh động bởi lòng quảng đại của Chúa Giêsu.
Chính khi cảm nhận được tấm lòng bao la quảng đại và tình thương của Chúa Giêsu dành cho mà Giakêu đã nhận ra, ý thức được chính mình. Con tim của ông đã bị đánh động và bị chinh phục. Chính sự khao khát của ông đã được đáp đền. Giakêu đã thật sự mặt chạm mặt và lòng gặp lòng với Chúa Giêsu.
Sự hoán cải liền xảy ra ngay lập tức, có thể thấy được và chắc chắn là sự hoán cải này sẽ chi phối suốt cuộc đời Giakêu. Đây không chỉ hoàn toàn là sự hoán cải theo lý trí mà bao gồm cả con tim. Đây mới là sự hoán cải thật sự, đúng nghĩa và là sự hoán cải quan trọng. Nó vượt ra ngoài những suy nghĩ của lý trí và đi đến một hiệu quả sâu xa. Sự sợ hãi của con người không thể có được sự hoán cải này mà chỉ có con tim, chỉ có gặp gỡ và tình yêu.
Chính sự hoán cải này mới có thể thay đổi được lòng người, thay đổi được cái nhìn, biết yêu thương người khác và biết chia sẻ cho nhau. Kỳ thị, ghen ghét … chỉ có thể làm cho con tim đóng kín và trở nên chai đá. Sự thông cảm đón nhận và cách đối xử thân tình của Chúa Giêsu sẽ làm cho con tim nhân lọai trở nên mềm mại và rộng mở. Không có gì có thể làm thay đổi hay có thể hoán cải một con người nếu không phải là con tim.
Để tỏ lòng sám hối thật sự và để Chúa Giêsu không phải thất vọng, Giakêu đã chứng minh bằng một sự từ bỏ và hứa hẹn một cuộc đời công chính. Danh lợi và vật chất giờ đây đối với ông chỉ là phù vân. Vì bấy lâu nay có nó nhưng đâu có ngày nào ông cảm thấy hạnh phúc, bình an. Sống trong nhung lụa nhưng tâm hồn ông vẫn cứ khắc khoải, lo lắng như còn thiếu một điều gì đó. Và Chúa Giêsu đã lấp đầy mọi khoảng trống trong tâm hồn và thỏa mãn mọi khát vọng cuả ông.
Giờ đây ông cảm thấy thư thái, bình an trước cuộc. Đây quả là một sự hoán cải sâu xa xuất phát từ nội tâm của Giakêu. Tất cả chúng ta cũng đang cần sự hoán cải đó. Mỗi người chúng ta cũng có khả năng hoán cải như Giakêu nhưng khả năng đó còn đang bị đóng kín và chưa được khơi dậy. Chúng ta đang sống trong sự khao khát hoán cải mỗi ngày để biến đổi một con tim hẹp hòi thành con tim quảng đại, từ một con tim chai đá cho đến một con tim bằng thịt biết yêu thương.

 

TN31-C91: CHƯA CHẮC LÙN ĐÃ THẤP

Không là người Việt Nam, nên không chắc Chúa Giêsu đã biết câu tục ngữ : Đừng chơi nhà thằng: TN31-C91

Không là người Việt Nam, nên không chắc Chúa Giêsu đã biết câu tục ngữ : Đừng chơi nhà thằng lé, đừng ghé nhà thằng lùn.
Nghiêm chỉnh lại mà nói. Về bản tính Thiên Chúa, thì Chúa thừa biết câu ấy. Nhưng về bản tính con người, thì có lẽ Chúa không biết câu ấy.
Nhưng một sự thật đã xảy ra. Hôm nay, Chúa không những đã ghé, mà còn ở lại ăn cơm, ở nhà một người rất lùn, tên là Giakêu.
1. Duyên tình gặp gỡ
Sao Ngài lại gặp Giakêu, hay đúng hơn, sao Giakêu lại gặp được Ngài.
Giakêu gặp được Chúa, bởi ông đã ước mơ đi tìm “Ông ta tìm cách để xem cho biết Chúa Giêsu là ai”. Ông đã nghe nhiều người nói với ông về Chúa Giêsu, nhưng ông không chịu vậy. Ông muốn đích thân ông phải đi tìm, đi gặp Ngài. Tìm hiểu và gặp gỡ Thiên Chúa phải là việc làm của chính mình. Bởi đây là việc vô cùng hệ trọng, không thể là phong thanh được. Hành trình đi tìm Chúa, phải khởi đi, từ nỗi khát vọng trong trái tim, được nối kết bằng sự kiên trì để vượt qua được những khó khăn thử thách trên đường đi.
Giakêu ước mong tìm xem Chúa, nhưng biết mình thấp bé, nên ông đã phải tìm giải pháp. Phải có một quyết tâm cao. Ông leo lên một cây sung. Thế đấy, để gặp Chúa, người ta phải biết vượt cao hơn cái trần tục của mình, leo cao, bao giờ cũng đòi phải cố gắng. Ông leo cao để tìm Chúa.
Vừa ngay lúc ấy, Chúa đến nơi, và Người nhìn lên, bốn mắt gặp nhau, Chúa đọc được cái khát vọng trong lòng ông Giakêu. Chúa thương thiện chí của ông. Chúa cảm động trước cố gắng của ông. Và rồi Chúa gọi ông xuống, Chúa chưa vào nhà ông, nhưng Chúa đã cho ông vào lòng Chúa rồi. Ông vẫn còn đứng trên cây, nhưng Chúa đã đưa ông vào trong trái tim Chúa rồi.
“Này Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại trong nhà ông.”
Cài gì thế này ? Mình tỉnh hay mình mơ? Chúa đã gọi đúng tên mình. Thân thương quá. Chúa gọi ông xuống với Chúa. Xuống mau đi. Hạnh phúc quá ! Mình là người tội lỗi, sao Chúa lại gọi mình. Sao Chúa không đuổi mà lại gọi ?
Thế là ông vội vã tụt xuống, để đến với Chúa. Khó có ngôn từ nào, để có thể diễn tả được khuôn mặt ngỡ ngàng, pha lẫn với sung sướng của ông lúc này. Ông nhìn Chúa, và Chúa nhìn ông. Ông thấy Chúa thật lạ lùng. Không xa cách ông như những người quanh ông đã làm. Chúa nhân từ quá, không kết án, mà lại muốn gần gũi với ông.
Còn với Chúa, Giakêu không thấp. Thân xác thì lùn thật, nhưng tầm hồn ông không thấp. mà giá trị một người, nằm ở tâm hồn, chứ không phải ở thân xác bên ngoài. Và ông mừng rỡ ra đón rước Ngài. Ông lùn thật, nhưng ý thức chiều sâu còn cao hơn ối người. Đầy người, không hề bao giờ, biết hân hoan đón Chúa vào nhà mình.
2. Và rồi trong lòng bừng nắng hạ
Và rồi, bữa tiệc được mở ra. Được chung mâm, chung bàn với Chúa. Hồn Giakêu chao đi vì hạnh phúc. Nhìn thấy Chúa, ngồi bên Chúa, ngồi gần ánh sáng, tự nhiên Giakêu lại nhìn rõ khuôn mặt nhơ nhớp của hồn mình.
Tôi xin lấy nửa gia tài của tôi mà cho người nghèo.
Ô hay, sao lạ thế. Việc đầu tiên lại là nghĩ đến người nghèo? Phải chăng, đưới ánh sáng của Chúa, ông đã chợt nhận ra rằng : suốt những tháng năm qua, ông đã là kẻ ích kỷ. đóng khung. Ông đã không hề biết đến ‘Tình nười”. Sống mà không biết đến người khác, là tự huỷ cái tính đồng loại của mình. Ông chỉ là một kẻ ích kỷ. Kẻ ích kỷ là kẻ cô đơn nhất trong cuộc đời. Bởi không bao giờ, có một chỗ đứng trong con tim người khác.
Bây giờ ông muốn trở lại, hội nhập lại với cộng đồng, ông muốn san sẻ, ông muốn mình thành kẻ hữu ích cho cuộc đời.
Và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.
Trước đây, hẳn với nghề nghiệp thu thuế của mình, nhiều lúc ông đã là kẻ gian tham, nhưng sao những lúc ấy, ông vẫn thấy cứ tỉnh bơ. Giờ này gặp được Chúa, ông đã thấy những bất công ấy là tội ác. Ông nghiệm ra rằng : Sự gian dối luôn là một gánh nặng, đè trĩu linh hồn con người. Chỉ có sự công bằng, mới làm hồn con người thanh thản và bình an.
3. Một con người mới hiện ra
Trước mặt Chúa, vẫn còn là Giakêu thấp bé. Nhưng trong con mắt Chúa, Giakêu, giờ này, đã là cao cả.
Vì cái gánh nặng của tội lỗi, đã được cất bỏ. Chúa Giêsu đã cứu độ ông.
Ông trở thành cao cả, bởi ông đã biết sống có tình người.
Ông trở thành cao cả, bởi hồn ông bây giờ thênh thang, trắng trong, không bận vướng.
Chiều cao thân xác ông vẫn thấp, nhưng chiều cao linh hồn ông giờ ngất cao.
Bởi vậy, lùn chưa chắc đã thấp.
Lm. Đaminh Đỗ Văn Thiêm - tinvui.org

 

TN31-C92: LÙN TRÍ CAO

Lúc nhỏ nhiều người có cơ hội leo cây hái trái vì nhỏ con, vì lùn thấp không với tới trái để hái : TN31-C92

Lúc nhỏ nhiều người có cơ hội leo cây hái trái vì nhỏ con, vì lùn thấp không với tới trái để hái nên phải leo cây.
Ngoài việc leo cây hái trái đôi khi còn trò leo đùa vui chơi, hoạ hoằn có trường hợp leo cây xem rước dâu.
Trò leo cây đông tây đều có. Dakêu leo cây vì lùn, vì muốn nhìn thấy người ông muốn nhìn. May mắn ông đoán đúng đường Chúa sẽ đi ngang và ông được toại nguyện như lòng mong ước.
Thực ra ông được nhiều hơn những gì ông khát khao, mong đợi từ lâu. Ông chỉ mong được nhìn ông Giêsu, không dám mong mời về nhà riêng. Chính Đức Kitô đề nghị điều đó ‘này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông’.
Ông mừng rỡ đón Đức Kitô vào nhà. Niềm vui chia sẻ tăng lên, vui gấp bội, Dakêu mời bạn bè đến dự tiệc mừng. Niềm vui chia sẻ được nên trọn.
Đức Kitô đến nhà Dakêu tạo nên hai luồng sóng đối chọi nhau. Phe ủng hộ nhảy mừng ca hát, yến tiệc linh đình. Phe chống đối phê bình chỉ trích, khinh khi.
ỦNG HỘ
Phe ủng hộ có nhiều, chiếm đại đa số. Căn cứ vào đâu để đưa ra kết luận đó. Thưa hai việc làm của Dakêu.
Thứ nhất ông hứa với Chúa: ‘Thưa Ngài, tôi xin lấy phân nửa tài sản của tôi mà cho người nghèo’.
Người nghèo luôn chiếm đa số trong xã hội. Một nửa tài sản của Dakêu chia cho người nghèo tạo được tiếng vang lớn trong việc bác ái của ông. Không biết bao nhiêu nhưng chắc chắn làm cho họ vui vì Chúa vào nhà Dakêu mà họ được hưởng ơn mưa móc.
Thứ hai ông giải oan khi tuyên bố: ‘nếu tôi chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn’.
Những ai bị xử oan, bị chiếm đoạt trước đây, bây giờ được trả lại, không phải hoàn lại như cũ mà hoàn lại lời gấp bốn lần.
Của cải không hàn gắn vết thương lòng, xoá tan đau khổ tinh thần nhưng ít ra việc làm đó cho thấy Dakêu thực sự thay đổi tận trong tâm, đổi lối suy nghĩ, các xử thế, bỏ ham muốn vật chất, thay vào đó là yêu người và thực hành công lí theo đường lối Chúa.
Có lẽ Dakêu không phải là mẫu người tội lỗi, gian tham như quan niệm người ta gán cho người thu thuế. Nếu tôi đã chiếm đoạt của ai. Theo mạch văn Dakêu không cố tình chiếm đoạt. Nếu có chỉ là lầm lẫn hơn là cố tình hay lạm dụng quyền hành. Nếu Dakêu có tội là tội không nhận biết Thiên Chúa, coi trọng của cải, vật chất. Khi gặp Chúa ông đã tự nguyện chia phân nửa tài sản cho người nghèo. Một điều mà người giầu có trong Lk 18,18 không thể làm được, chia của cho người nghèo, ông bỏ Chúa theo của. Dakêu trái lại, tự nguyện chia của cho người nghèo. Chúa nói: ‘Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này’
Dakêu thống hối đem lại niềm vui cho chính ông và hai nhóm người. Thứ nhất là nhóm nghèo được ông san sẻ cho phân nửa tài sản. Thứ hai nhóm bị oan ức (nếu có) được giải oan và nhận huê lợi hơn bốn lần thiệt hại. Việc thống hối của một người mang lại niềm vui cho nhiều người.
Dakêu quả là một người lùn, trí rất cao. Người lùn trí cao này làm thủ lãnh người thu thuế, biết nhìn ra Đấng Cứu Thế và biết chính đạo.
CHỐNG ĐỐI
Phe chống đối là thiểu số, ít người nhưng nắm quyền, nhiều phép, giỏi tuyên truyền. Người ta kết án Dakêu là tay sai cho quân xâm lược. Làm thủ lãnh thu thuế phải là kẻ tham nhũng. Giàu có nên nhất định gian tham. Dakêu chọn cửa rộng để đi, chọn đại lộ tiến thân. Họ ghét Dakêu và ghét lây ai làm bạn với người họ ghét. Tố cáo vô căn cứ mà vẫn có người tin : ‘nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ’
Trả lời họ Đức Kitô nói Ngài không trọ nhà Dakêu.
Đức Kitô đến mang ơn cứu độ. Đến tìm. Đến cứu những gì đã mất.
‘Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cái Abraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.
ĐƯỜNG HẸP
Con đường thương yêu, tha thứ, khuyên bảo, giúp đỡ, kết bạn. Người chọn đường này cần nhiều cố gắng, lắm gian lao, phấn đấu nên có kẻ chọn cố gắng theo, có kẻ bỏ, có kẻ giữa chừng bỏ cuộc.
ĐƯỜNG RỘNG
Con đường rộng nhẹ thì bỏ mặc, tẩy chay, ngầm phá; nặng thì kết án, chửi rủa, mắng nhiếc, từ bỏ. Đường rộng không cần cố gắng, phấn đấu. Không cẩn trọng rất dễ đi vào đường này. Mỗi khi làm một trong những điều trên là chúng ta đã tự chọn cửa rộng, đường thênh thang.
CHUNG ĐƯỜNG
Cả Dakêu lẫn phe kết án ông đi chung con đường, chọn cửa rộng thênh thang tiến bước. Kẻ kết án và người bị kết án đi chung đường. Đồng hành, không đồng tâm. Xã hội ngày nay chứng kiến lắm cảnh người này phê bình, chê bai người nọ, phe này chỉ trích, bài xích phe kia, cộng đoàn này khích bác, chê bai cộng đoàn khác vì tất cả đều chọn cửa rộng, chọn đại lộ. Cùng chọn cửa rộng nhưng sao phê bình nhau? Vì kẻ chọn cửa nhỏ hơn một chút lên tiếng phê bình kẻ chọn cửa lớn. Kẻ chọn đường đi nhỏ hơn phê bình kẻ chọn đường thênh thang hơn.
Dakêu người lùn, trí cao sớm trở về chính lộ, còn chúng ta?
Lm. Vũ Đình Tường - vietcatholic.net

 

TN31-C93: CHÚA HẢO TÂM VỚI HẾT MỌI LOÀI

Mọi du khách đến viếng thăm nhà thờ chánh toà kính thánh Phaolô tại thánh phố Luân đôn đều được: TN31-C93

Mọi du khách đến viếng thăm nhà thờ chánh toà kính thánh Phaolô tại thánh phố Luân đôn đều được người hướng dẫn cho biết về hành lang nổi tiếng, nhờ cấu trúc đặc biệt, có thể truyền được tiếng thì thầm từ phía bên này đến phía bên kia của mái vòm cho ai áp tai vào mái vòm đó.
Hành lang đó càng nổi tiếng hơn với câu chuyện về một anh thợ đóng giầy đến đó than thở với người yêu là anh chưa thể cưới nàng được đang khi còn thất nghiệp dài dài vì chưa có đủ tiền mua da và các vật liệu cần thiết. Nghe thế, người yêu của anh chỉ biết sụt sùi khóc. Tình cờ, một người ở phía hành lang bên kia nghe được câu chuyện thương tâm, và ông thấy mình phải làm một cái gì đó cho tình yêu của họ. Sau lời chia tay, lúc anh thanh niên buồn bã ra về thì ông lặng lẽ bước theo để biết chỗ ở của anh và cho người mang đến tặng anh một số da. Thế là anh chàng đóng giầy phấn khởi bắt tay vào việc. Công việc trở nên phát đạt, và anh đã tìm được hạnh phúc với người yêu xưa. Nhiều năm sau họ mới biết vị ân nhân của họ là William Gladstone, thủ tướng nước Anh lúc đó.
Thiên Chúa là Tình yêu, hạnh phúc của Chúa không phải là được yêu mến, được tôn thờ, mà là yêu thương, là ban phát niềm vui và hạnh phúc. Lời cầu nguyện đầu tiên của Đức Kitô trên cây Thánh giá không phải là cầu cho mình mà là cho chính những kẻ đang làm khốn mình.
Vì thế, khi thấy Giakêu vất vả tìm xem cho biết những gì đã được nghe về Đấng Cứu thế, Chúa liền thấy mình phải đến với ông, cho ông biết về tình yêu Chúa, và đem hạnh phúc đến cho ông : “Này ông Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”.
Là thủ lãnh của những người thu thuế nên Giakêu giầu có và chẳng thiếu thốn chi. Nhưng việc ông phải vất vả tìm cách để nhìn xem Chúa Giêsu cũng nói lên được sự nghèo túng và bất hạnh trong tâm hồn ông, sự nghèo túng và bất hạnh của một người không có Chúa làm nơi ẩn náu, khác xa vua Đavít ngày xưa khi giả điên trước mặt vua Abimêléc, bị đuổi và ra đi mà vẫn có thể ca hát được: “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi”, nhờ tin vào Chúa : “Ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi”. (Tv 33,2.6).
Người Việt ta có câu “một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Việc được Chúa Giêsu, một người đang thu hút đám đông bằng đời sống và lời giảng dạy thánh thiện, đích thân đến nhà làm cho ông Giakêu, một người đang bị mặc cảm với cái tên Giakêu (người thanh sạch) của mình thấy được niềm vui của ơn cứu độ. Chúa đến nhà làm cho ông như đụng chạm được vào tình thương của Chúa, cảm nghiệm cách rõ ràng là “Chúa thương xót mọi loài, vì Chúa có thể tác tạo mọi sự, và nhắm mắt làm ngơ trước tội lỗi loài người để họ ăn năn sám hối” (Kn 11,23).
Tình thương Chúa giúp ông trở lại được với chính mình, sống đúng cái tên của mình, sống đúng với ý định tốt đẹp Chúa đã đặt nơi con người từ ban đầu : “xin Thiên Chúa chúng ta làm cho anh em được xứng đáng với ơn gọi, và xin Người dùng quyền năng mà hoàn thành mọi thiện chí của anh em và mọi công việc anh em làm vì lòng tin” (2Tx 1,11).
Niềm vui đi theo niềm tin đã biến đổi con người Giakêu, giúp ông nhìn mọi sự với một nhãn quan mới. Hôm qua gom góp, tích lũy bất kể mọi mánh khoé gian ác thì hôm nay đã : “Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”. Ai cũng có thể thấy được niềm vui của ông khi làm việc bác ái và đền trả cho người mình đã gây thiệt hại. Không phải là ông làm việc bác ái hay giữ luật công bằng cho bằng ông đang ca tụng tình yêu Chúa : “Lạy Thiên Chúa, tôi sẽ chúc tụng danh Chúa tới muôn đời”.
Trong Hàn lâm viện Florence có trưng bày một trong những kiệt tác vĩ đại nhất của nước Ý, là bức tượng David của Michelangelo. Mỗi năm, hàng ngàn người đến chiêm ngưỡng một tác phẩm đầu tay trong những kiệt tác của bậc thầy vĩ đại này, mà không biết rằng cái khối đá khổng lồ được dùng để tạc nên bức tượng vô giá đó đã có một lịch sử lạ lùng.
Đầu tiên, một nghệ sĩ kém cỏi đã bắt đầu làm việc với nó, nhưng vì thiếu kỹ năng, anh ta chỉ thành công trong việc đốn đẽo và phá hoại tảng cẩm thạch đó. Thế rồi nhà cầm quyền Florence đã gọi đến chàng trai Michelangelo, và tác phẩm nghệ thuật để đời này đã được ra đời.
Như một nghệ sĩ thực thụ có thể nhìn ra những đường nét của một tác phẩm kiệt xuất bên trong một khối đá méo mó, Chúa cũng thấy trong những kẻ tội lỗi nhất một tia sáng chưa bị dập tắt của sự thiện mà Ngài có thể cứu độ, vì “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất”.
Vì thế, dù tội lỗi đến đâu, tôi cũng có thể cùng hát với Giakêu : “Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa”.
Lm. HK - tinvui.org

 

TN31-C94: ĐỨC KITÔ NIỀM VUI CỦA NHÂN LOẠI

Tin Mừng Lc 19: 1-10

1 Sau khi vào Giê-ri-khô, Đức Giê-su đi ngang qua thành phố ấy.2 Ở đó có một người tên là Da-kêu; ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có.3 Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giê-su là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn.4 Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giê-su, vì Người sắp đi qua đó.5 Khi Đức Giê-su tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: "Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông! "6 Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người.7 Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: "Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ! "8 Ông Da-kêu đứng đó thưa với Chúa rằng: "Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn."9 Đức Giê-su mới nói về ông ta rằng: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham.10 Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất."

SUY NIỆM

 

Chắc chắn ông Giakêu đã không cảm nhận được hạnh phúc của cuộc đời, cho dẫu, xét về mặt vật chất, TN31-C94

Chắc chắn ông Giakêu đã không cảm nhận được hạnh phúc của cuộc đời, cho dẫu, xét về mặt vật chất, ông là người dư của thừa tiền, và lắm người hầu kẻ hạ, bởi xét cho cùng, ông cũng chỉ là thành phần bị khinh bỉ trong xã hội Do Thái, một hạng người thu thuế được xếp ngang hàng với người tội lỗi.

Sống trong nhung lụa nhưng ông vẫn cảm thấy cuộc đời sao trống rỗng, và vô vị. Những bữa tiệc không làm ông no thoả, những chén rượu nồng không làm ông thoả mãn. Ông vẫn khắc khoải về một niềm vui đích thật. Và ở đâu ông có thể tìm thấy niềm vui đó? Ông nghe nói về một con người Giêsu với những điều mà Người thực hiện và lời giảng dạy Người đã rao truyền. Có lẽ ông đã từng nghe loan truyền rằng, những ai gặp được Giêsu, là gặp được một kho tàng vô giá, bởi nơi Người toát ra một niềm vui khôn tả, điều mà ông đang khao khát. Có lẽ, ông đã nghe nói về niềm vui của người bất toại, của người bị quỉ ám, của những người đui mù, què qặt, của người phong cùi đã gặp được Chúa và được Người chữa lành; niềm vui của những ngừoi thu thuế và tội lỗi nhận được từ nơi Giêsu, khi Người đón nhận để cùng đồng bàn với họ, niềm vui của người phụ nữ phạm tội ngoại tình bị bắt gặp quả tang, nhưng Người cương quyết không kết án, và ra tay chở che cho chị khỏi bị ném đá.

Giakêu khao khát gặp Người, có thể ban đầu vì tò mò để xem Người là ai, nhưng sự tò mò đó lại là cần thiết để khởi đầu cho một biến cố trọng đại. Ông gặp được Chúa, và ông đã nhận được niềm vui đích thật, điều ông hằng ước mong.  

Câu chuyện về Giakêu là một lời thách đố cho những ai đang lấy tiền bạc làm Chúa của mình để tôn thờ. Quả thật, người thời đại hôm nay đang tạo ra những thần tượng mới, điều mà Đức Phanxicô đã nhận định:  “Việc thờ phượng con bò vàng ngày xưa đã tìm thấy một hình tượng mới và tàn nhẫn vô tâm trong sự sùng bái tiền bạc”. Thật vậy, khi con người bước vào một nền văn minh hiện đại, cứ tưởng rằng, cuộc sống sẽ an vui hơn, hạnh phúc hơn, nhưng mọi chuỵen xảy ra đều trái ngược với ước mong. Chưa bao giờ cuộc sống của con người đối diện với nhiều bất an như hôm nay, chỉ vì con người đối xử với nhau càng ngày càng xa lạ, và mối quan hệ chỉ còn được xây dựng trên nền tảng tiền bạc. Điều mà Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày xưa xót xa: “Còn tiền còn bạc còn đệ tử, hết cơm hết rượu hết ông tôi”, nay đã trở thành một chủ nghĩa hưởng thụ ích kỷ tạo nên một nền văn hoá vô cảm, nền văn hoá này đang huỷ diệt mối tương giao huynh đệ giữa cộng đồng xã hội.

Thất vọng với sự giàu sang của mình, Giakêu quyết đi tìm cho được một con đường dẫn tới niềm vui đích thật, ông phải gặp Đức Kitô. Bất chấp mọi dị nghị ông đã tìm cách leo lên cây sung để giải quyết vấn đề thấp bé của mình để thấy cho được Đức Kitô. Vâng, Thiên Chúa đã trao ban muôn ngàn phương thế để con người có thể gặp gỡ được ơn cứu độ. Chỉ tiếc, con người đầy kiêu hãnh, cao ngạo với cái tôi ích kỷ của mình, không nhận ra sự giới hạn và mỏng dòn của mình, cho nên chẳng bao giờ khiêm cung để tìm hiểu, để khước từ ý riêng, đón nhận sự trợ giúp của người khác, hoặc lắng nghe ý kiến khôn ngoan của các bạc thánh hiền.  Để rồi, cuộc đời họ mãi lầm lũi trong bất an, và khổ não. Nếu không mạnh dạn tìm gặp cho được Chúa, nếu không sẵn sàng cởi bỏ đôi dép sang trọng để trèo lên cây sung, có lẽ Giakêu vẫn mãi là một chàng thu thuế đáng nguyền rủa. Thế nhưng mọi sự đã đổi thay sau khi gặp được Đức Kitô, Giakêu đã trở thành một con người mới, con người được cứu độ và được Đức Kitô dẫn vào hội nhập với cộng đoàn thuộc con cái Abraham, cộng đoàn được Chúa yêu thương. Và quả thật, Giakêu đã tìm thấy niềm vui mà ông hằng khao khát, giờ thì ông mãn nguyện, niềm vui được biểu tỏ qua việc ông sãn sàng chia sẻ của ông cho người nghèo, và đền bù những bất công ông gây ra. Có nghĩa là niềm vui không  nẩy sinh từ sự giàu có tiền bạc, nhưng bắt nguồn từ chỗ biết cho đi, biết yêu thương, biết kết nối với tha nhân, hay nói cách kahsc niềm vui không ở tropng những trái tim chai cưng, nhưng được tuôn trào từ những nhịp đập yêu thương của trái tim.

Lm. Antôn Hà Văn Minh


 

TN31-C95: Ánh mắt thần linh

Năm 1956, bấy giờ cố Tổng Thống Ngô đình Diệm còn đang làm Thủ Tướng Chính Phủ, về thăm: TN31-C95

Năm 1956, bấy giờ cố Tổng Thống Ngô đình Diệm còn đang làm Thủ Tướng Chính Phủ, về thăm hai trại Tân Thành và Tân Phát, Bảo Lộc, đồng bào nô nức tụ tập đón chào suốt cả một buổi sáng giữa lúc trời mưa như trút. Mãi tới gần trưa, Thủ Tướng mới đáp máy bay trực thăng xuống, ai nấy chen chúc nhau cố tới gần để được tận mắt xem thấy Thủ Tướng. Nhiều người bị xô rách cả áo, ngã nằm xoài dưới bùn. Vì Thủ Tướng hơi thấp, nhiều người phải trèo lên các cây cao dọc đường để có thể nhìn thấy Thủ Tướng, một vị đại ân nhân đã đem họ từ Miền Bắc vào Miền Nam Việt Nam, để thoát ách bạo tàn của cộng sản và đang lãnh đạo họ chống lại đế quốc thực dân... Ước mong được thấy tận mắt, gặp tận mặt những vị anh hùng, những bậc vĩ nhân, những nhà quân tử danh tiếng siêu quần bạt chúng, là ước muốn chung của mọi người với nhiều lý do khác nhau.
I. ÁNH MẤT THẦN LINH CỦA CHÚA GIÊSU
Trong bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc ông Giakêu muốn được nhìn thấy Chúa Giêsu, bởi ông đã từng được nghe người ta nói về những việc kỳ diệu Chúa đã thực hiện, những giáo lý cao siêu Chúa đã giảng dạy. Vì thế, nhân dịp Chúa Giêsu đi qua, ông khát khao được tận mắt chiêm ngưỡng Ngài, nhưng vì ông lại quá thấp, nên đành phải trèo lên cây sung để xem cho kỳ được.
Để thưởng công cho tấm lòng chân thành khiêm tốn khát khao của ông Giakêu, một người có địa vị và quyền thế trong xã hội, đã trở nên đơn sơ như con trẻ, bất chấp lời dị nghị của tha nhân, quên đi cả chức vị của mình, để trèo lên cây sung cho được xem thấy Chúa, nên khi đi qua, không những Chúa đã ngước mắt lên nhìn ông mà còn nói với ông: "Hỡi ông Giakêu, hãy xuống mau, vì hôm nay Ta muốn lưu lại nhà ông". Thế là ông sung sướng tụt xuống ngay, vui vẻ tiếp đón Ngài cùng với các môn đệ Ngài, và nhiều vị vọng trong dân với thân bằng quyến thuộc.
Hiểu được tấm lòng ngờ vực, nghi kỵ, thắc mắc của nhiều người đang dự tiệc hiện ra trên nét mặt, ông Giakêu đã can đảm đứng lên lớn tiếng thề hứa với Chúa rằng: "Lạy Thầy, tôi xin lấy nửa phần cơ nghiệp của tôi để phân phát cho các người nghèo khổ, và nếu tôi có làm thiệt hại ai điều gì, tôi xin bồi thường gấp bốn". Chắc chắn Giakêu đã thực hiện điều ông long trọng thề hứa với Chúa trước mặt mọi người. Chúa quá thấu hiểu tấm lòng chân thành của ông nên Ngài đã tuyên bố với mọi người đang hiện diện: "Hôm nay, nhà này được Ơn Cứu Độ, bởi người này cũng là con cái Abraham. Vì Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất" (Lc 19:10).
Động lực nào đã biến đổi ông Giakêu từ con người tầm thường, như người đời thường quan niệm là hạng mọt dân, hối lộ, tham lam khi ở vào địa vị của ông thời đó, trở nên con người bác ái cao cả, đến sẵn sàng chia sẻ cả phân nửa gia tài của ông cho người nghèo khó và bồi thường gấp bốn lần cho tất cả những ai, nếu có lỡ bị ông làm thiệt hại? Đó chính là bởi thần lực do ánh nhìn thần linh của Chúa Giêsu, đã xuyên thấu trái tim ông, chinh phục và biến đổi con người ông, để rồi ông được hân hạnh đón tiếp Chúa, thiết tiệc Ngài, tâm sự với Ngài và còn hơn nữa, được Ngài yêu thương ban Ơn Cứu Độ.
II. ÁNH NHÌN THA THỨ VÀ CHINH PHỤC
Các mục đồng xưa được lời Thiên Sứ loan báo đã vội vã tức tốc đến hang Belem để thờ lạy Chúa Hài Nhi và cũng được Ngài đoái nhìn (Lc 12:21). Khi Chúa đi rao giảng Tin Mừng, từng ngàn và từng ngàn người lớn bé già trẻ, người trí thức hay người bình dân, cũng đã được ánh nhìn thần linh hiền từ yêu đương của Chúa thu hút, đến nỗi họ đã đi theo nghe lời Chúa như say mê, từ ngày nọ qua ngày kia (Mt 15:32) không biết mỏi mệt; cũng ánh nhìn nhân từ ấy mà khi vừa nghe lời Chúa phán: "Hãy theo Ta" (Mt 4:22) thì lập tức Phêrô và Anrê đã từ giã cha mẹ thân bằng quyến thuộc, bỏ cả nghề nghiệp nhà cửa ruộng đất để đi theo Chúa, cả đến nhân viên thâu thuế Matthêu có địa vị chức quyền trong xã hội, cũng bị chinh phục bởi ánh mắt Chúa dịu hiền khi nghe lời Ngài phán: "Hãy theo Ta" (Mt 9:9). Ngay chính những kẻ đối nghịch đang rình rập tìm cách hãm hại, cũng bị ánh nhìn yêu thương tha thứ của Chúa chinh phục mà phải thốt lên lời: "Chưa hề nghe ai có tài lời khẩu như Ngài" (Jn 7:46). Người đàn bà xứ Samaria bên bờ giếng Jacob cũng đã bị ánh nhìn thấu suốt tâm hồn, đã khiến bà khâm phục, trở về làng loan truyền cho mọi người: "Hãy ra mà xem, Đấng đã nói với tôi mọi việc quá khứ tôi đã làm" (Jn 4:28). Sau khi Thánh Phêrô sa ngã chối Chúa ba lần, Chúa cũng đã dùng ánh mắt yêu đương tha thứ liếc nhìn và lập tức Phêrô hối cải tội lỗi, ăn năn khóc lóc trở về với Chúa và được Chúa thứ tha (Lc 22:61). Ngay cả kẻ đã đóng đinh Chúa, kẻ cùng chịu án tử hình với Ngài, kẻ lấy giáo đâm cạnh sườn Ngài, cũng đã được thần lực ánh nhìn thần linh của Ngài chinh phục, cải tà qui chính và nhận biết tôn thờ Ngài... Tất cả đều đã được cải thiện, được biến đổi, được đổi mới, trở nên hoàn thiện do ánh mắt thần linh nhân từ yêu thương của Chúa chinh phục.
III. CÒN CHÚNG TA, CHÚNG TA ĐÃ LÀM GÌ
Còn chúng ta, không những chúng ta đã được Chúa đoái nhìn, được nghe lời Chúa giáo huấn, được hiểu biết các việc kỳ diệu Chúa đã thực hiện, được đàm đạo thân mật với Chúa, diện đối diện, lòng bên lòng; hơn nữa, chúng ta còn được sờ đến bằng tay, đón rước vào trong linh hồn mình, chính Đấng đã yêu thương chúng ta qua Bí Tích Thánh Thể mỗi ngày. Điều mà những người Do Thái xưa được xem thấy bằng con mắt tự nhiên, thì ngày nay chúng ta được trực tiếp với Chúa qua Niềm Tin, nhưng cả hai đều là một thực tại chân thật... Vậy chúng ta đã được biến đổi, được thánh hóa như các Thánh và những người Chúa tuyển chọn, khi được diễm phúc Chúa đoái nhìn, được tâm sự, được sờ tới và được Chúa ngự vào linh hồn chúng ta chưa?
Kết luận
Chúa phán với chúng ta như xưa Ngài đã phán với các Tông Đồ: "Phúc cho các con vì đã được thấy, đã được nghe, đã được chạm tới, được chịu lấy vào tâm hồn các con. Nhiều người ước ao mà không được và cũng chẳng đáng được".
Vậy chúng ta phải sống thế nào, để đáp trả phần nào những ơn phúc Chúa đã ban cho chúng ta?
Lm. Minh Vận, CMC

 

TN31-C96: Ông Giakêu

(Lc.19:1-10)
 

Harold Hughes là một chàng trai, con nhà giầu có, sang trọng. Vì thấy được cha mẹ nuông chiều: TN31-C96

Harold Hughes là một chàng trai, con nhà giầu có, sang trọng. Vì thấy được cha mẹ nuông chiều, muốn gì được nấy, nên năm mới được 28 tuổi, chàng đã sinh ra đủ mọi tật xấu: Biết nghiện rượu, biết lừa đảo, gian dối, tứ độ tường và lừa gạt hết moi người, mọi cấp bậc trong xã hội. Tưởng cuộc đời đã đến lúc xuống dốc.
Vào một buổi tối nọ, sau khi đã choáng váng với men say, chàng vào buồng tắm, cởi hết áo quần, đứng trước gương soi, hai tay chàng cầm hai khẩu súng lục, chịa mũi đúng vào trong miệng, Hughes định bóp cò để kết liễu cuộc đời đen bạc, thì chợt nhìn thấy tấm gương phản chiếu hình ảnh bức tranh Thánh Tâm Chúa Giêsu nhân lành hiện ra trước mắt với lời than trách “Sao con lại hủy hoại thân thể mình, tội chết!”. Ngay lúc đó, tay chàng vội rụt lại và tâm trí chàng như cảm thấy hối hận. Thiên Chúa như đang đi vào cuộc đời và chạm đến chàng. Chính giây phút linh thiêng, cảm động đó, chàng đã biến đổi tâm hồn. Mười năm về sau, ông đã trở thành Nghị Sỹ của nước Hoa Kỳ và trở thành người biến đổi người khác.
Câu chuyện về ông Harold Hughes cũng giống như câu chuyện về ông Gia Kêu đã thuật lại trong Phúc Âm Chúa hôm nay. Chúa đã biến đổi ông Gia Kêu từ một người thuộc quyền Đế Quốc Lamã, làm giầu trên dân Israel bị trị. Ông đã trở thành người giầu có trên dân bị áp bức Ông Hughes từ một cuộc đời biển lận biến thành người phục vụ. Một người đã biết mở rộng cửa lòng để đón nhận Thiên Chúa và được tràn trề niềm vui, niềm hạnh phúc mà ông không bao giờ nghĩ tới. Ông Hughes bệ rạc đã nhìn thấy tấm hình Chúa chiên lành. Ông Gia Kêu nhỏ bé, đã tò mò trèo lên cây cao để được thấy Chúa, để được nhìn thấy một kẻ kỳ lạ mà bao người đã nói đến tên. Chúa đã nhìn đến lòng ngay thật, không kiêu kỳ của ông mà đáp lại lòng ông.
Thánh Augustinô đã nói: “Khi tôi mới nhận ra Chúa, mặc dù tôi không đáng, nhưng Chúa đã nâng tôi lên, để tôi được nhìn thấy điều tôi đáng nhìn”.
Chúa Giêsu muốn đi vào cuộc đời của chúng ta và biến đổi chúng ta trở nên tốt hơn như Ngài đã làm cho ông Harold Hughes, cho ông Gia Kêu khi bước vào cuộc sống của riêng mình và biến đổi họ thành người tuyệt hảo. Khi bước vào cuộc đời chúng ta, Ngài sẽ làm cho chúng ta tất cả mọi điều Ngài đã từng làm cho người khác.
Có ba điều làm cho chúng ta biết Chúa bước vào cuộc đời. Thứ nhất là khi chúng ta trở nên nghèo nàn, tội lỗi, trơ trọi nhất (một trong 8 mổi phúc thật) trong cuộc đời, nghĩ mình nên kẻ khốn nạn nhất không ai có thể giúp chúng ta được. Thứ hai là lúc chúng ta nhận ra Chúa Giêsu (Thánh Thể) ”là Đấng lấy Thịt và Máu Mình làm của nuôi dưỡng chúng ta” (Jn6:56), bổ sức cho chúng ta. Sau hết, là Chúa Giêsu cho mình nhận ra những người nghèo khó, cùng quẫn là người cần đến lòng thương xót của ta “Ai làm cho một trong những người bé mọn này là làm cho chính Ta” (Mt.25:40).
Lạy Chúa, xin giúp chúng con nhìn ra nét yếu đuối, bất lực của mình, nhìn ra Chúa là sức mạnh vô song nuôi sống và bổ dưỡng cho chúng con, để chúng con trào thông sứ điệp ấy cho mọi người nghèo khổ, cho mọi kẻ bé mọn, đáng thương của Chúa. (10.2004).
Lm. Thu Băng, CMC

 

TN31-C97: GẶP CHÚA ĐỔI ĐỜI

Sinh ra trong một trong những gia đình giàu nhất của Indonesia, Maria Donna Dewiyanti Darmoko  TN31-C97

Sinh ra trong một trong những gia đình giàu nhất của Indonesia, Maria Donna Dewiyanti Darmoko, người Indonesia gốc Trung hoa, đã rời bỏ những sa hoa nhung lụa để dâng hiến đời mình phục vụ cho những người nghèo ở Hồng Kông, ở Hoa kỳ và hiện nay ở Đông Timor. Chị vào Dòng Mẹ Têrêsa với tên Lucy Agnes.
Maria Donna sinh tại Kudus, trong một gia đình Công Giáo giàu có, sở hữu ngành công nghiệp thuốc lá PT Djarum. Cô đã theo học tại Úc và sau đó tốt nghiệp tại Hoa kỳ. Lần đầu tiên cô gặp các Nữ Tu Thừa Sai Bác Ái là khi cô tham gia vào việc chăm sóc các người vô gia cư ở Illinois. Rồi một lần kia khi cô đang nghỉ hè với gia đình ở Hồng Kông, trong một khách sạn sang trọng, cô cảm thấy khó chịu khi nhìn thấy quá nhiều người không nhà cửa trên các con đường của Hồng Kông, những người nghèo khổ, thấp bé, dơ dáy, bệnh tật. Bản năng tình cảm đầu tiên của chị là muốn chạy khỏi cảnh tượng gây buồn nôn. Rồi khi chị tránh những người này, đã có điều gì đó ngăn chị lại, dường như bảo chị trở lại với họ, để làm điều gì đó tốt cho những người kém may mắn này.
Maria Donna đã quyết định vào Dòng các Thừa Sai Bác Ái với tên khấn Dòng là Lucy Agnes mặc dú cha mẹ chị phản đối mạnh mẽ chọn lựa của chị. Từ ngày đó chị Lucy bắt đầu làm việc với người nghèo và những người thấp bé nhất trong xã hội, tránh sự quan tâm của báo chí. Hiện nay chị đang phục vụ ở Đông Timor, một trong những đất nước nghèo nhất Á Châu. Rất khó liên lạc với chị, vì chị không cho nhiều người biết địa chỉ Email cũng như số điện thoại của chị; giống như các Thừa Sai Bác Ái ở Indonesia, vì họ hoạt động trong âm thầm và không quảng cáo về mình. ( Từ bỏ giàu sang để theo Mẹ Têrêsa Calcutta, Asia News 5.9.2016 ).
Tuy là đạo gốc, nhưng chị Lucy Agnes chỉ tìm thấy Chúa qua những người nghèo khó, bần cùng, khi đang nghỉ hè tại khách sạn sang trọng. Còn Tin Mừng theo Thánh Luca hôm nay, ông Dakêu khao khát tìm Chúa, ông đã được toại nguyện, và Chúa đến thăm tận nhà ông.
Tìm Chúa
Vượt qua khó khăn thể lý: cơ thể thấp bé; vượt qua khó khăn khách quan: đám đông che chắn; vượt qua khó khăn tinh thần: thiên hạ dị nghị, chế giễu, Dakêu cứ hăng hái, vô tư trèo lên cây sung, để nhìn thấy Đức Giêsu đi ngang. Khao khát tìm Chúa, bất chấp khó khăn thử thách, Dakêu đã không uổng công tìm kiếm. “Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ thấy; hãy gõ, cửa sẽ mở cho. Vì bất cứ ai xin, sẽ nhận được; ai tìm, sẽ thấy; ai gõ, cửa sẽ mở ra” ( Mt 7, 7-8 ).
Trong cuộc đời, biết bao chướng ngại vật che khuất Chúa, nào bản năng xác thịt đòi hỏi, nuông chiều, nào thế gian đồng loã nhạo báng, khai trừ Chúa, nào áp lực nặng nề ngẫu tượng bò vàng. Tất cả đều ra sức bưng bít, ngăn cản con người tìm Thiên Chúa Tình Yêu. Chỉ những ai thiện chí, thiện tâm mới khám phá ra sự hiện diện của Ngài, tưởng xa xăm, hoá ra rất gần gũi qua Tin Mừng, Bí Tích Thánh Thể, qua Hội Thánh, các mục tử, chứng nhân và qua chính những người bé nhỏ, khốn khó, bệnh tật, bị bỏ rơi. "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy" ( Mt 25, 40 ). Liệu lương tâm mỗi người có thức tỉnh, tâm hồn có khao khát chân thiện mỹ, tinh thần có dũng cảm, quyết tâm tìm Đấng Toàn Năng, đầy Lòng Thương Xót chăng ?  
Chúa gặp
Đáp lại nguyện vọng nóng bỏng, chính đáng, thánh thiện, đáng ca ngợi của Dakêu, Đức Giêsu nhìn lên, trông thấy ông ấy, nên Người bảo ông rằng: "Hỡi Dakêu, hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi."
Với những tâm hồn chân thành tìm đến, Chúa không đành làm ngơ, làm thất vọng. Chính Người sẽ đích thân đáp lại, gặp gỡ, chủ động tạo điều kiện hội ngộ, bất chấp hoàn cảnh xứng đáng hay không. Vì Người đã phán: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” ( Mc 2, 17 ).
Hơn nữa, Người còn mời gọi, mở rộng cánh tay, ôm lấy an ủi, vỗ về, cứu thoát bất cứ ai đang sầu khổ, thất vọng, cơ cực, khốn khó trong thung lũng đầy nước mắt, đắm chìm trong dục vọng, tội lỗi. “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” ( Mt 11, 28 ).
Đổi đời
Khi được gặp Chúa, ông Dakêu hoàn toàn đổi đời, được tái sinh. Một sự thay đổi tận căn, hay đúng hơn, một phép lạ cả thể, nhãn tiền. Từ con người tham sân si, tôn thờ ngẫu tượng bò vàng, chỉ biết say mê mùi tanh tưởi đồng bạc, bỗng dưng ngộ ra phép công bằng, lòng nhân ái, tình yêu tha nhân, Dakêu mau chóng đền bù gấp bốn lần cho những ai bị bóc lột, cùng quảng đại giúp đỡ kẻ nghèo. "Lạy Ngài, tôi xin bố thí nửa phần của cải tôi cho kẻ khó, và nếu tôi có làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn."
Gặp gỡ Đức Kitô là canh tân đổi mới, như Thánh Phaolô nhắn nhủ tín hữu Êphêsô: “Anh em hãy cởi bỏ kiểu sống xưa kia, con người cũ đã ra hư hỏng, buông theo những đam mê lầm lạc. Hãy để Thần khí canh tân đổi mới anh em thấu tận trí khôn. Hãy mặc lấy người mới đã được dựng nên tạo theo Thiên Chúa, trong công chính và thánh thiện bắt nguồn trong sự thật” ( Ep 4, 22-24 ).
Gặp gỡ Đức Kitô, không chỉ biến đổi mình, mà còn biến đổi cả thân nhân, tha nhân, môi trường chung quanh mình. Gặp gỡ Người, sẽ trở nên muối và ánh sáng cho đời, “để thiên hạ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Ðấng ngự trên trời" ( Mt 5, 13-16 ).
Lời chào của Thiên Thần: "Kính mừng Bà đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng Bà..." và lời chào của Hội Thánh: "Chúa ở cùng anh chị em" có mang một ý nghĩa sâu xa, khả dĩ biến đổi cuộc đời con không ? ( Đường Hy Vọng, số 238 ).
Gặp gỡ Đức Kitô, biến đổi cuộc đời mình. Gặp gỡ Đức Kitô đón nhận ơn tái sinh. Gặp gỡ Đức Kitô chân thành mình gặp mình. Gặp gỡ Đức Kitô nảy sinh tình đệ huynh. ( Lm. Tiến Lộc, Gặp Gỡ Đức Kitô ).
Lạy Chúa Giêsu, chúng con thường luôn gặp Chúa trong kinh nguyện, trong Thánh Lễ, nhất là trong Lời Chúa và Thánh Thể, cũng như gặp Chúa nơi anh chị em khốn khổ, nhưng chúng con chưa hề biến đổi như ông Dakêu. Xin Chúa thức tỉnh, hồi phục, cảm biến tâm hồn chúng con biết mẫn cảm, nhạy bén nhận ra Chúa đang trông mong, tìm kiếm chúng con trở về đoàn chiên.
Khấn xin Mẹ Mai Khôi xoá tan đi những chướng ngại vật, che chắn, khó dễ, cản trở chúng con tìm gặp Chúa, để chúng con sớm được tái sinh trong vòng tay yêu thương của Người. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN31-C98: TÂM HỒN GIA KÊU

Lc 19, 1-10
 

Đã một thời người ta mô tả Thiên Chúa như một vị một quan tòa nghiêm khắc trừng trị những kẻ có tội. TN31-C98

Đã một thời người ta mô tả Thiên Chúa như một vị một quan tòa nghiêm khắc trừng trị những kẻ có tội. Nhưng không phải vậy, Thiên Chúa là Cha nhân từ hằng yêu thương chăm sóc chúng ta. Ngài sẵn sàng tha thứ những lầm lỗi của chúng ta. Giakêu, ông không chỉ là một người thu thuế bình thường, mà là đứng đầu những người thu thuế, rất giàu có. Người thu thuế bình thường đã bị người Do thái thời bấy giờ liệt vào hàng trộm cướp và quân tội lỗi, đây ông lại là người đứng đầu, thêm vào đó ông có nhiều của cải giàu “nứt đố đổ vách”, thì càng bị dân chúng ghét cay ghét đắng. Bởi Giakêu và những người thu thuế dám cấu kết với ngoại bang, vơ vét tiền bạc của cải mồ hôi nước mắt của dân chúng. Có lẽ cũng vì vậy mà ông giàu có. Thế nên dân chúng loại trừ ông ra khỏi cộng đoàn.
Ông khao khát, ước mong được nhìn thấy Chúa Giêsu dù chỉ một lần, nhưng làm sao có thể được, ông là người có chiều cao khiêm tốn, theo ngôn ngữ bình dân gọi là lùn, dân chúng lại quá đông. Mà cho dù ông có chiều cao, dân chúng không đông, thì họ cũng chẳng cho phép ông có cơ hộp gặp được Chúa Giêsu, đơn giản vì ông là người thu thuế, người tội lỗi. Trong “cái khó nó ló cái khôn”, Ông đã leo lên cây sung gần đó, để mong nhìn thấy Chúa Giêsu. Và ông đã được toại nguyện.
Đức Giêsu nhìn thấu tâm hồn ông, không những cho Giakêu được toại nguyện mà còn làm những điều ngoài sức tưởng tượng, ước mong của ông. Chúa gọi đích tên ông “ Gia kêu hãy xuống mau, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”, Ông vội vàng tụt xuống và tiếp đón Ngài”. Niềm vui gặp được Chúa Giêsu đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời ông. Từ một tội nhân, ông trở thành thánh nhân, một người lùn về thể lý nhưng lại cao cả về lòng bác ái vị tha, một người công chính, một môn đệ tiến bước theo Chúa Giêsu trên con đường trọn lành: dâng nửa tài sản cho người nghèo, của cải chiếm đoạt bất chính đền gấp bốn”.
Ông đã trở thành tấm gương cho mỗi người chúng ta. Là những người con cái của Chúa, chúng ta cũng phải có một tâm hồn như Giakêu. Thiên Chúa luôn kiên nhẫn đợi chờ chúng ta khiêm tốn biết thành tâm sửa chữa những khiếm khuyết lỗi lầm. Mỗi ngày chúng ta đi tham dự Thánh Lễ, học giáo lý phải dẫn đến sự biến đổi thật tật căn như Gia Kêu, sống thật thà ngay thẳng, bỏ đi tính ích kỷ kiêu căng, thói lười biếng, gian dối lừa lọc chửi thề nói xấu, tội lỗi bất chính và biết sống bác ái với mọi người.
Được như vậy, lời Chúa nói với Giakêu năm xưa cũng là dành cho mỗi người chúng ta “hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này”. Chắc chắn ơn cứu độ của Chúa chỉ dành cho những ai có tâm hồn như Gia kêu, biết sám hối và sửa đổi cuộc đời mỗi ngày. Amen

 

TN31-C99: GẶP CHÚA VÀ THAY ĐỔI

Lc 19, 1-10
 

Một bạn trẻ tâm sự trên trang facebook của mình, tốt nghiệp ra trường hạng ưu, nhưng khó xin TN31-C99

Một bạn trẻ tâm sự trên trang facebook của mình, tốt nghiệp ra trường hạng ưu, nhưng khó xin việc chỉ vì “lùn”. Hình như người xưa và cả hôm nay, nhiều người chưa có một cái nhìn đúng về những anh chị em “thấp bé nhẹ cân”,“nhất lé, nhì lùn tam rô tứ rỗ”. Hình dáng bề ngoài nó cũng quan trọng, nhưng không thể nói hết được tính cách của con người, “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” là thế. Không phải lúc nào cũng “nhìn mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo cỗ lòng mới ngon”, cụ thể trong bài Tin mừng hôm nay là Giakêu.
Thánh Luca mô tả khá chi tiết về ông: là người đứng đầu ngành thu thuế, có quyền và có tiền. Ông cũng như bao nhiêu người thu thuế khác bị dân chúng ghét cay ghét đắng, bởi vì cái tội “cõng rắn cắn gà nhà”, cấu kết với ngoại bang, sưu cao thuế nặng, vơ vét tiền của, |ăn trên ngồi chốc” bằng sức lao động mồ hôi nước mắt của dân chúng. Với cái nhìn thiếu thiện cảm như vậy, nên ông và những người thu thuế, bị dân chúng liệt vào hàng tội nhân, phường trộm cắp và quân tội lỗi. Đã vậy, ông lại có một thân hình không mấy hấp dẫn, một chiều cao khiêm tốn “lùn”. Nhưng dù sao ông cũng là người có địa vị, quyền hành trong tay.
Hẳn là ông đã nghe nói nhiều về Chúa Giêsu và ao ước muốn được nhìn thấy Ngài. Ước mong đó không bao giờ có thể được với một con người quá lùn như ông, giữa một đám đông dân chúng chen chúc nhau. Ông lại là người tội lỗi, người thu thuế nữa, làm sao những người tạm gọi là “đạo đức” có thể chấp nhận cho một con người như ông được gặp Chúa Giêsu. Chẳng còn cách nào khác, ngoài việc ông phải bỏ lại danh dự, uy tín, của một vị quan đứng đầu, để như một đứa trẻ vội vàng chạy nhanh, trèo lên một cây sung, mong sao được nhìn thấy Chúa, người mà ông vẫn mãi từng hâm mộ. Cuối cùng ước mơ của ông đã được toại nguyện.
Nhưng điều làm ông bất ngờ hơn, hình như Ngài đã biết ông, ông đã ở trong trái Chúa từ lâu lắm rồi. Chúa ngước mắt lên và gọi đích tên ông “Gia kêu hãy xuống mau, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”. Không chỉ có thể nhìn, mà giờ đây ông được tay bắt mặt mừng, được đồng bàn với Chúa. Quá xúc động vì hạnh phúc, bởi chỉ có Chúa mới nhìn thấu tâm hồn ông, chỉ có Chúa mới không loại trừ ông. Đáp lại tình thương trời bể ấy, ông đã quyết tâm làm lại cuộc đời : đem nửa phần gia sản bố thí cho người nghèo, đền trả gấp bốn cho những gì mà ông đã gây hại cho người khác.
Giakêu vẫn mãi là một tấm gương sáng cho mỗi chúng ta về lòng khiêm nhường sám hối. Không ai trong chúng ta là không có tội, nhưng điều quan trọng là chúng ta có biết sám hối sửa đổi như Giakêu hay không. Và Thiên Chúa đợi chờ chúng ta điều ấy.

 

TN31-C100: Tin Sau Khi Gặp Chúa

(GiaKêu)
 

Câu chuyện của Giakêu tưởng chừng như tình cờ, nhưng thật sự Chúa Giêsu đã đến tìm ông, dù ông TN31-C100

Câu chuyện của Giakêu tưởng chừng như tình cờ, nhưng thật sự Chúa Giêsu đã đến tìm ông, dù ông đã leo lên cây để muốn gặp Chúa khi Người đi ngang qua. Nhờ việc ông mở lòng ra đón nhận Chúa vào nhà mình, ông được biến đổi.
Chúa đi bước trước.
Không có gì ngoài ý muốn của Chúa. Bởi vì Người là Đấng tự mở ra cho con người, để con người có thể tiếp cận với Chúa. Chúa đến trong một con người cụ thể, bằng xương bằng thịt, như cách nói của thư Do Thái: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1, 1 – 2). Đấng tự trao ban cho con người, không phải chỉ là Đấng Tối cao nhưng còn như một người bạn hữu, như Chúa nói với các Tông Đồ: “Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe nơi Cha thầy, thì Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15, 15).
Thiên Chúa tự thông ban chính mình là Đấng đón nhận tất cả mọi sự thuộc về con người, Người mang lấy lịch sử của nhân loại, đón nhận một nền văn hóa, được sinh trưởng trong môi trường kinh tế và chính trị. Cuối cùng cũng chịu sự bất công và đón nhận cả sự bạo tàn, tội ác của nhân loại, chịu chết trên thập giá. Sự dữ đã bị tiêu diệt bởi sự phục sinh của Chúa. Chúa đón nhận tất cả để biến đổi tất cả: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành.” (1Pet 2, 24). Chính vì vậy, mọi người có thể tìm thấy câu trả lời của Chúa trong mọi hoàn cảnh cuộc đời mình.
Giakêu tìm gặp Chúa.
Con người trong tự nhiên với lương tâm ngay thẳng luôn quy hướng tìm về chân lý, sự thiện và vẻ đẹp hoàn mỹ, hay nói cách khác trong tâm hồn họ luôn hướng về Thiên Chúa, Đấng có thể gọi với nhiều Danh xưng.
Giakêu đi tìm gặp Chúa bởi nghe biết nhiều điều tốt đẹp về Người. Dù ông chịu người khác liệt vào hàng tội lỗi, vì cũng đã cộng tác với chính quyền đô hộ trong ngành thuế. Nhưng không phải ai cũng bị chai lỳ lương tâm, dù ở chức nghiệp nào vẫn có người tốt, người xấu. Ông Giakêu thiết tha với chân lý, với sự thiện, ông đã cố gắng tìm mọi cách để gặp Chúa, dù với chức quyền như ông vẫn chấp nhận trèo lên một cây ven đường nhìn xem Chúa đi ngang qua.
Lòng khao khát được Chúa lấp đầy. Giây phút gặp gỡ có lẽ là giây phút ngỡ ngàng nhất với ông, (đớ người ra) vì Chúa lại nhận lời mời của ông vào nhà dùng bữa. Đức tin, đối với ông Giakêu, giống như nhiều người đã lãnh nhận đức tin, đó là (hành vi bị quyến dụ) như cảm nghiệm của Giêrêmia: “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ. Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng. (Gr 20, 7).
Đức tin trỗi dậy và ngay lúc ấy dẫn tới một quyết định: "Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn." (Lc 19, 8). Đức tin của ông được Giáo hội dẫn giải là một bước nhảy do một tình yêu lớn mạnh thúc đẩy (hết lòng, hết sức, hết cả trí khôn) dấn thân cách triệt để, như lời thưa “Amen” một cách long trọng sau lời vinh tụng ca trong Thánh lễ: “Chính nhờ Người, với Người và trong Người…)
Đức tin là một hành động của lý trí và ý chí. Ông Giakêu lãnh nhận đức tin bởi được chạm đến lòng thương xót của Chúa Giêsu. Có nhiều người chứng kiến nhưng không hẳn mọi người đều được thuyết phục lòng thương xót của Chúa, “mọi người xầm xì với nhau: "Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!" (Lc 19, 7). Đức tin được triển nở nhờ hồng ân Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt động nơi nội tâm con người, tuy nhiên cũng cần sự cộng tác của con người là sẵn sàng mở lòng ra đón nhận tác động của Chúa Thánh Thần.
Chính Chúa là Đấng hoàn tất hành trình của đức tin bằng hoạt động Chúa Thánh Thần, Đấng đổi mới con tim, giúp con người hoán cải tận căn: “Chúa khiến con quay về với Chúa” (Augustine) và hành trình này luôn lại được bắt đầu bằng việc “đi tìm gặp Chúa”.
Để kết, xin mượn lại lời cầu nguyện của Thánh Augustine: “Xin cho con hướng mọi nỗ lực của con theo quy luật của đức tin. Con đã tìm kiếm Chúa, chừng nào con có thể, chừng nào Chúa cho con khả năng đó; con đã ước ao nhìn thấy bằng trí hiểu điều con tin… Xin nhận lời con, vì con sợ rằng, do mệt mỏi, chán chường, con không còn muốn tìm kiếm Chúa nữa” (De Trinitate)
Lm. Giuse Hoàng Kim Toan
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây