Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-C Bài 151-165 Thiên Chúa của kẻ

Thứ bảy - 09/11/2019 09:30
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-C Bài 151-165 Thiên Chúa của kẻ sống
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-C Bài 151-165 Thiên Chúa của kẻ sống
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-C Bài 151-165 Thiên Chúa của kẻ sống
TN32-C151: XÁC TÍN CÓ ĐỜI SAU.. 1
TN32-C152: LẰN RANH.. 3
TN32-C153: SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 32 TN_C.. 8
TN32-C154: BÊN KIA SỰ CHẾT.. 12
TN32-C155: CÕI SỐNG.. 13
TN32-C156: GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG.. 18
TN32-C157: TIN ĐỂ SỐNG.. 21
TN32-C158: HỌ LÀ CON CÁI THIÊN CHÚA.. 23
TN32-C159: NGƯỜI LÀ THIÊN CHÚA CỦA KẺ SỐNG.. 24
TN32-C160: TIN VÀO SỰ SỐNG ĐỜI SAU.. 25
TN32-C161: ĐỜI NÀY VÀ ĐỜI SAU.. 28
TN32-C162: TẤT CẢ ĐỀU ĐANG SỐNG.. 30
TN32-C163: SỰ SỐNG ĐỜI SAU.. 31
TN32-C164: TIN SỰ SỐNG LẠI 33
TN32-C165: CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN_C.. 34

 

TN32-C151: XÁC TÍN CÓ ĐỜI SAU

PM.Cao Huy Hoàng
 

Câu chuyện của người Mẹ và 7 bảy anh em trong sách 2 Macabe 7,1-2.9-14  đã gửi đến cho chúng TN32-C151

Câu chuyện của người Mẹ và 7 bảy anh em trong sách 2 Macabe 7,1-2.9-14  đã gửi đến cho chúng ta những xác tín  về sự sống lại, về đời sau. Niềm xác tín ấy được soi sáng bởi Thánh Linh và cũng chính niềm xác tín quan trọng ấy đã giữ họ trung thành với Lề Luật của Thiên Chúa, qua truyền dạy của Moise: Không ăn thịt heo. Không phải họ không quí trọng thân xác, nhưng họ được linh hứng cho biết thân xác nầy được Chúa ban cho và dù có mất  đi dưới tay người phàm họ cũng sẽ lấy lại được. Họ “sẵn sàng thà chết hơn là vi phạm luật của cha ông” (c.2). Họ xác tín “Vua Vũ Trụ sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời” (c.9). Đối với họ , sự sống và tất cả những gì thuộc về sự sống ở đời nầy đều là của Chúa ban, và dù có mất đi, họ vẫn đặt hy vọng nhờ Thiên Chúa họ sẽ lấy lại được (c.11). Họ thà chết trong khi dựa vào Lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại (c.14).
Điểm ưu việt của đoạn sách nầy là : niềm xác tín Phục sinh vào thời kỳ Tin Mừng và Tin Mừng Phục sinh chưa xuất hiện.  Một cõi sống ở đời sau có thể nói là còn mơ hồ trong tâm tưởng loài người, thì bảy anh em đã tuyên tín về sự sống lại trước mặt vua chúa quan quyền thế gian. Dấu ấn mạc khải do Thánh Linh thật rõ nét và sống động đến nỗi người đời sau, những người đã tiếp nhận ánh sáng Tin mừng Chúa Giêsu và Tin Mừng Phục Sinh của Ngài, phải ngẫm nghĩ mà tự hổ thẹn về cách đón nhận và cách tuyên xưng niềm tin của mình.

Đức tin không lý luận
Không chỉ các người thuộc nhóm Sađốc, thời Chúa Giêsu, mà cả loài người, cả chúng ta nữa, cho đến hôm nay vẫn thích dùng cái lý trí nhỏ bé của mình mà suy luận về những mầu nhiệm cao siêu thuộc về Thiên Chúa, trong đó có Mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Kitô và sự sống lại của thân xác chúng ta. Từ cái suy luận duy lý trí nảy sinh những ảo tưởng về một thực tại thuộc phạm vi Đức Tin. “ Vậy, trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy anh em đều lấy nàng làm vợ”.(Lc 20,33).  Một suy luận hoàn toàn con người thì còn gì là mầu nhiệm.
Câu tuyên tín “Tôi tin xác loài người ngày sau sẽ sống lại” bắt đầu bằng hai từ “Tôi tin”, cho thấy rằng lý trí của tôi không nhất thiết phải tham gia gì thêm nữa. Không phải là một đức tin mù quáng, nhưng là sự hy sinh của lý trí một cách chính đáng, để niềm tin của tôi không bị chao đảo lung lay hay thay đổi, vì với lòng khiêm tốn, tôi biết lý trí của tôi không thể làm điều vượt qua khả năng của lý trí.
Cơn cám dỗ về  đức tin là một cơn cám dỗ nguy hiểm nhất, do bởi thần kiêu ngạo dữ tợn nhất, luôn thúc bách lý trí ta lý luận không phải để chấp thuận, mà tìm mọi cách để từ chối, phản bác.
Nhóm Sađốc đã bị sập bẫy của Satan khi dùng những lý luận để bảo thủ cho mình cái chủ trương không có sự sống lại, không có đời sau. Những lý luận chỉ dựa trên những gì có thể thấy được, có thể sờ đụng, có thể trải nghiệm thực tiễn. Họ hiểu sự sống lại và đoàn viên trong Nước Thiên Chúa như là một thế giới  khác với thế giới hôm nay, nhưng giống y như thế giới hôm nay về mọi sinh hoạt con người.
Chúa Giêsu nói: “Con cái đời nầy cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng hạnh phúc đời sau và sống lại từ cõi chết  thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì họ được ngang hàng với các thiên thần” (Lc 20,34-36)
Tôi nghĩ lời giải thích của Chúa Giêsu là một định tín. Chỉ có Đức Tin mới thấu đạt được, chứ không dễ chấp nhận theo lý luận con người. Không thể lấy một thực tại hữu hình, mà so sánh mới một thực tại vô hình; không thể lấy một sự đã trải nghiệm thực tiến đem so sánh với sự chưa trải nghiệm, mà sự chưa trải nghiệm ấy lại thuộc về tương lai của mỗi người, của nhân loại.

Con đường dẫn đến cái chết để phục sinh
Người tín hữu hôm nay có một ưu thế hơn anh em nhà Macabê vì nền tảng  niềm tin “xác loài người sẽ sống lại” được đặt vào “sự phục sinh của Chúa Giêsu”.
Chính vì tôi tin Chúa Giêsu Phục Sinh mà tôi cũng tin tôi sẽ được sống lại với người. Tôi không  nhất thiết phải dùng lý trí con người, suy luận, tưởng tượng hay hình dung sự sống lại ấy thế nào, sinh hoạt như thế nào. Tôi chỉ cần biết một điều là  để được Phục sinh với Chúa Giêsu, để sống lại như Ngài, tôi phải đi theo con đường của Ngài: “con đường dẫn đến cái chết để phục sinh”. Vì nếu không đi theo con đường của Ngài, tôi sẽ lao vào “con đường dẫn tới cái chết không phục sinh”.
Vậy con đường của Chúa Giêsu  là con đường khiêm hạ, con đường từ bỏ, con đường yêu thương phục vụ cho đến chết. Có thể tôi chưa thấy một người bằng xương bằng thịt phục sinh trở về để tôi hỏi người ấy về sinh hoạt của thế giới bên kia, nhưng tôi có thể thấy chung quanh tôi có những người sống trọn vẹn cho Thiên Chúa theo đường hướng của Chúa Giêsu khi họ từ bỏ tất cả cho vinh danh Chúa. Họ có thể chia sẻ cho tôi  những cảm nghiệm về sự sống đời sau mà họ đang có ngay ở đời nầy. Vâng chính họ đang sống trước mầu nhiệm phục sinh ngay ở dương gian nầy khi họ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và theo ý định của Ngài qua việc kết hiệp với Chúa Giêsu và đi theo con đường Chúa Giêsu đã vạch ra, “con đường dẫn đến cái chết để phục sinh”.
Lời Chúa hôm nay cho tôi thêm một cơ hội xác tín điều tôi vẫn tuyên xưng: “tôi tin xác loài người sẽ sống lại”, “ tôi tin một cuộc sống đời đời” và còn là cơ hội nhắc nhớ tôi không những phải hy sinh cái lý trí nhỏ bé của mình mà còn phải biết tránh “con đường dẫn tới cái chết không phục sinh”  để đi vào con đường của Chúa Giêsu, con đường từ bỏ, hy sinh, yêu thương, phục vụ… “con đường dẫn đến cái chết để phục sinh”.
Lạy Chúa, xin cho con yêu mến và tín thác hoàn toàn vào Chúa, xin cho con khát khao sống sự sống của Chúa, để không còn phải thắc mắc nào khác hơn là con luôn tự hỏi: “ Tôi có từ bỏ mọi sự để hoàn toàn thuộc về Chúa khi còn ở dương gian này hay chưa?”.

 

TN32-C152: LẰN RANH

Trầm Thiên Thu
 

Lằn ranh là biên độ phân định giữa cái này và cái kia, nơi đây và nơi đó, không chỉ có nghĩa đen TN32-C152

Lằn ranh là biên độ phân định giữa cái này và cái kia, nơi đây và nơi đó, không chỉ có nghĩa đen mà có cả nghĩa bóng, và có thể mang nghĩa tốt hoặc xấu. Giữa thiện và ác cũng có lằn ranh rõ ràng, đặc biệt nhất là lằn ranh giữa Thiên Đàng và Hỏa Ngục.
Người ta dùng thuật ngữ “Lằn Ranh Đỏ” để chỉ một giới hạn, một ranh giới vô hình được vạch ra, nhằm cảnh báo không được phép vượt qua vì có nguy cơ bị trừng phạt hoặc chịu hậu quả bất lợi. Cụm từ này có nguồn gốc từ tiếng Anh (Red Line), và bắt nguồn sâu xa từ tiếng Do Thái (קו אדום‎, Kav Adom). Danh từ này được đề cập trong một bài báo có tựa đề là “Lằn Ranh Đỏ Mong Manh”.
Một số quốc gia cũng đặt ra “lằn ranh đỏ” với các nước khác, đặc biệt là đối với các nước hiếu chiến, nguy hiểm. Ngày nay, hầu như các quốc gia trên thế giới đều đặt ra “lằn ranh đỏ” đối với Trung quốc, bởi vì người ta nhận thấy nước này như loại virus tiềm ẩn nhiều nguy cơ độc hại về nhiều lĩnh vực. Khi biết cái xấu mà cứ lao đầu vào thì chính mình là kẻ ngu xuẩn. Tiền nhân nói nhẹ mà thấm thía: “Chọn bạn mà chơi.”
Các tôn giáo cũng có những “lằn ranh” khác nhau. Công giáo khác hẳn với các tôn giáo khác là tin có sự sống lại và sự trường sinh bất tử. Đó không chỉ là niềm tin mà còn là sự thật minh nhiên, bằng chứng là Chúa Giêsu đã bị người ta giết chết, thế nhưng Ngài đã chiến thắng tử thần và phục sinh vinh hiển. Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa Hằng Sinh, đúng như Chúa Giêsu minh định: “Chính Thầy là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.” (Ga 14:6) Có điều đặc biệt là những ai tin Ngài thì Ngài cũng cho sống lại trong ngày sau hết, nhưng đây KHÔNG là tình trạng mà người ta gọi là kiếp luân hồi – nghĩa là không có kiếp luân hồi.
Với người vô thần thì chết là hết, nhưng với người có niềm tin vào Đức Kitô thì chết là ngưỡng để vào cõi vĩnh hằng – là hóa kiếp, là biến đổi, sống chứ không chết. Thánh Phanxicô Assisi xác định: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.” CHẾT mà lại là SỐNG. Những người không có niềm tin không thể tin nổi, bởi vì thông thường thì ai cũng tham sanh và úy tử, thậm chí còn biến thành hèn nhát, chứ mấy ai dám liều mạng. Thế nhưng cái nghịch-lý-thuận “chết là sống” kia chỉ có trong niềm tin Kitô giáo, mà là thật chứ không mơ hồ hoặc ảo tưởng. Và điều này được minh chứng sống động qua các vị tử đạo, cả xưa và nay, thời nào cũng có.
Từ xa xưa, Kinh Thánh cho biết sự kiện về một người mẹ bị bắt cùng với bảy người con trai. Sau đó, vua An-ti-ô-khô truyền đánh họ bằng roi và gân bò để bắt họ ăn thịt heo – loại thịt cấm ăn theo luật Môsê. Nhưng một người lên tiếng thay mặt các anh em: “Vua muốn tra hỏi chúng tôi cái gì? Vua muốn biết điều gì? Chúng tôi sẵn sàng THÀ CHẾT chẳng thà vi phạm luật pháp của cha ông chúng tôi.” (2 Mcb 7:1-2) Rất can đảm, ngoan cường. Thật xứng danh tín nhân!
Anh vẫn hiên ngang và dõng dạc nói trước khi chết: “Vua là một tên hung thần, vua khai trừ chúng tôi ra khỏi cuộc đời hiện tại, nhưng bởi lẽ chúng tôi chết vì Luật pháp của Vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời.” (2 Mcb 7:9) Lại một lần nữa chứng tỏ chí khí nam nhi, minh chứng niềm tin kiên cường, không sợ thế lực trần gian. Rất đáng khâm phục. Đúng như Kinh Thánh xác định: “Cậy vào thần thế vua quan, chẳng bằng ẩn náu ở bên Chúa Trời.” (Tv 118:9)
Người này chết, đến lượt người thứ ba bị tra tấn. Vừa được yêu cầu, anh liền thè lưỡi, can đảm đưa tay ra, và khẳng khái nói: “Tôi có được lưỡi này, tay này, là do Chúa Trời ban. Nhưng vì luật Chúa Trời, tôi coi khinh những thứ đó, và tôi hy vọng nhờ Chúa Trời, tôi sẽ lấy lại được.” (2 Mcb 7:11) Quá đỗi kỳ lạ, đến nỗi nhà vua và quần thần đều phải sửng sốt vì lòng can đảm của một người trẻ mà dám coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. (2 Mcb 7:12)
Đến lượt người thứ tư cũng bị tra tấn như vậy. Khi sắp tắt thở, anh xác định: “Thà chết vì tay người đời đang khi dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại. Còn vua, vua sẽ không được sống lại để hưởng sự sống đâu.” (2 Mcb 7:14) Và rồi tất cả bảy mẹ con đều có mẫu số chung: Can đảm chết vì đức tin. Chết là sự giải thoát và là mối lợi đối với họ. Cuối cùng, chính sự chết là “thù địch cuối cùng bị tiêu diệt.” (1 Cr 15:26) Đó là điều minh nhiên. Hại được người thì cười ha hả, rồi luật nhân quả sẽ tỏ tường.
Đối với người đời, những người-tin-vào-Đức-Kitô là đối thủ, bị coi là “kẻ thù không đội trời chung.” Kể cũng lạ, sống tốt, làm thiện mà lại bị ghét. Tại sao? Vì đối lập với ma quỷ. Tuy nhiên, mặc dù bị bách hại đủ cách, cá nhân hoặc tập thể, các tín nhân vẫn không kiếp nhược, không chịu khuất phục, luôn kiên tâm tin tưởng cầu nguyện liên lỉ, một mực yêu mến Sự Thật và Công Lý của Thiên Chúa mà thôi: “Lạy Chúa, xin nghe con giãi bày lẽ phải, lời con than vãn, xin Ngài để ý; xin lắng tai nghe tiếng nguyện cầu thốt ra từ miệng lưỡi chẳng điêu ngoa.” (Tv 17:1) Tín nhân đích thực là thế, đúng như Thánh Phaolô đã xác định: “Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu.” (Rm 8:39)
Ác nhân càng ngày càng gia tăng bách hại các tín nhân khắp nơi, nhưng càng bị bách hại, các tín nhân vẫn tín trung với Thiên Chúa, vì họ chân nhận rằng chỉ có Ngài là cùng đích và cứu cánh: “Con dõi vết chân Ngài, con không vấp ngã. Con kêu lên Ngài, lạy Thiên Chúa, vì Ngài đáp lời con. Xin lắng tai và nghe tiếng con cầu.” (Tv 17:5-6) Chúa chưa ra tay giải thoát ngay, không phải Ngài muốn thử lòng, mà Ngài thấy chưa thực sự cần thiết, và Ngài biết họ là những môn đệ chân chính của Ngài. Chắc chắn rồi Ngài sẽ ra tay cứu độ, Hỏa Ngục còn chưa làm gì được thì đáng gì những kẻ bách hại Giáo Hội của Ngài.
Vững lòng trung tín, các tín nhân tha thiết van xin Thiên Chúa: “Xin giữ gìn con như thể con ngươi, dưới bóng Ngài, xin thương che chở.” (Tv 17:8) Lời cầu nguyện đầy ắp niềm tín thác, ngay cả trong những lúc quẫn bách nhất. Họ biết mình thế nào nên không hề run sợ, không hề nhát đảm, chỉ muốn bảo vệ Chân Lý của Thiên Chúa Hằng Sinh: “Về phần con, sống công minh chính trực, con sẽ được trông thấy mặt Ngài, khi thức giấc, được thoả tình chiêm ngưỡng Thánh Nhan.” (Tv 17:15) Ánh Đức Tin sáng ngời, thật tuyệt vời!
Thời Cựu Ước, khi vua Khít-ki-gia lâm trọng bệnh, ông chân thành xác tín và cầu xin: “Lạy Chúa, ngày tháng đời con là của Chúa, sự sống linh hồn con thuộc về Ngài. Xin chữa lành và cho con được sống.” (Is 38:16) Ông đã được Thiên Chúa nhậm lời, cho ông được bình an, tha tội cho ông và cứu ông khỏi hố diệt vong. (Is 38:17)
Ngày xưa, Thánh Phaolô cũng đã từng tha thiết cầu chúc các Kitô hữu: “Xin chính Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta và đã dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp, xin các Ngài an ủi và cho tâm hồn anh em được vững mạnh, để làm và nói tất cả những gì tốt lành.” (2 Tx 2:16-17) Làm và nói luôn phải đi đôi, không thể nói suông mà không làm, có thể không cần nói nhưng phải làm. Đó mới là người luôn đứng thẳng, nhìn thẳng, và trực ngôn với bất kỳ kẻ thù nào, dù địch thù rất nham hiểm và tàn ác. Cây ngay chẳng sợ chết đứng.
Điều mong ước của Thánh Phaolô rất thực tế: “Xin Chúa hướng dẫn tâm hồn anh em, để anh em biết yêu mến Thiên Chúa và biết chịu đựng như Đức Kitô.” (2 Tx 3:5) Với tình yêu, người ta có thể vượt qua mọi trở ngại và đủ sức chịu đựng mọi thứ. Với lòng yêu thương chân thành, người ta cũng có thể làm bất cứ thứ gì. Tình yêu rất kỳ diệu, càng kỳ diệu hơn khi tình yêu đó dành cho Thiên Chúa.
Ở đâu cũng có những người mưu mô thâm độc, chẳng trừ ngõ ngách hoặc khe hở nào, họ là hiện thân của quỷ sứ. Đôi khi họ ảo tưởng hoặc ngộ nhận nên tỏ ra mình nhân đức và muốn chứng tỏ mình biết “thương người như thể thương thân,” năng nổ và nhiệt thành sinh hoạt các hội đoàn, nhưng lại ngấm ngầm gây chia rẽ giữa hội này với đoàn nọ, kỳ thì nhóm nọ với nhóm kia,… Loại “vẻ đạo đức” đó chỉ là tấm bình phong mà thôi. Thực sự hành động vì Chúa hay vì ai, hoặc vì cái gì?
Trình thuật Lc 20:27-40 cho biết rằng có mấy người thuộc nhóm Sa-đốc đến gặp Chúa Giêsu. Họ là những người chủ trương không có sự sống lại. Họ lải nhải hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, ông Môsê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình. Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. Người thứ hai, rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?” (Lc 20:28-33) Rất đểu, đểu thật! Ra cái vẻ lịch sự, nhưng họ chỉ ngọt cái miệng thế thôi, chứ bụng dạ trương phình và bốc mùi xú uế. Mức độ nham hiểm của họ rất tinh vi, đôi lúc lại “giả mù sa mưa” và mưu tính giăng bẫy khác.
Sa-đốc nói dóc, thèo lẻo lắm điều. Chúa Giêsu cũng làm “một lèo” luôn: “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, chính ông Môsê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống.” (Lc 20:34-38) Mấy kinh sư vào hùa và nịnh: “Thưa Thầy, Thầy nói hay lắm.” Và rồi họ im re!
Người ta nói: “Kẻ cướp gặp bà già.” Đừng tưởng bở. Bảy mươi còn phải học bảy mốt kia mà. Không nói thì thôi, họ càng nói ra thì càng lòi cái ngu, không phải ngu bình thường mà là dạng ngu bẩm sinh, ngu quốc tế, ngu tận số, ngu siêu đẳng, ngu trên từng cây số,… nói chung là “đại ngu”. Ngu mà chảnh, xấu mà đỏng đảnh.
Họ đành câm họng, im như thóc thối, bởi vì nghe Sư Phụ Giêsu phân tích rạch ròi, chí lý. Thôi thì bồ hòn có đắng mấy cũng ráng ngậm và ráng ra vẻ “ngọt như mía lùi” vậy. Cũng đáng đời lắm! Thế nhưng không như thế cũng không được, bởi vì có như vậy mới “xứng tầm” với những kẻ mặt người mà lòng ma dạ quỷ. Chẳng oan ức gì đối với những kẻ chuyên “ngậm máu phun người” như đám họ. Đúng như tiền nhân nói: “Thần khẩu hại xác phàm.” Chắc chắn họ phải lủi đi cho nhanh ngay sau đó, chứ còn mặt mũi nào nữa. Mặt họ có chai cỡ nào cũng không vênh váo được nữa rồi.
Chân phước Henry Suso (1295–1366) nói: “Người ta thường mua hỏa ngục bằng một cái giá quá đắt, vì họ chịu hy sinh bản thân để làm đẹp lòng thế gian.” Thật đáng quan ngại và đáng để chúng ta xem lại các động thái của chính mình.
Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin ban thêm ơn khôn ngoan, các đức đối thần và đối nhân, để chúng con luôn sống rạch ròi, nghiêm túc, thẳng thắn, mạnh mẽ, bất khuất, can đảm hành động theo sự thật của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

 

TN32-C153: SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA-CHÚA NHẬT 32 TN_C

Lm. Inhaxio Hồ Thông
 

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXXII Thường Niên Năm C thắp sáng một trong những vấn đề TN32-C153

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXXII Thường Niên Năm C thắp sáng một trong những vấn đề căn bản nhất của đức tin chúng ta: “Kẻ chết sống lại”.
2Mcb 7: 1-2, 9-14
Sách Ma-ca-bê quyển hai thuật lại cuộc tử đạo anh dũng của bà mẹ và bảy người con. Họ chấp nhận hy sinh sự sống đời này, vì họ tin chắc rằng Chúa sẽ cho họ được sống lại muôn đời.
2Tx 2: 16-3: 5
Thánh Phao-lô cầu nguyện cho các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca để họ gặp thấy ở nơi Chúa Giê-su niềm an ủi bất diệt và niềm tin vững mạnh trong những thử thách.
Lc 20: 27-38
Tin Mừng của thánh Lu-ca thuật lại cuộc tranh luận của Chúa Giê-su với nhóm Xa-đốc về vấn đề kẻ chết sống lại.

BÀI ĐỌC I (2Mcb 7: 1-2, 9-14)
Sách Ma-ca-bê quyển hai được viết bằng Hy-ngữ quãng năm 124 tCn. Sách này không kể những biến cố lịch sử tiếp theo sau sách Ma-ca-bê quyển một, nhưng đúng hơn trong lời tựa của mình, tác giả cho biết ông chỉ “thu gom lại” thành một cuốn duy nhất từ một tập sách gồm năm cuốn sách do công trình biên soạn của ông Gia-xon người Ky-rê-nê nào đó (x. 2: 23). Nhân vật này chúng ta không biết chút gì về ông ngoài việc ông là một kiều Do thái mộ đạo chịu ảnh hưởng Hy-lạp và có thể ông viết ở A-lê-xan-ri-a Ai-cập.
Sách Ma-ca-bê quyển hai đưa ra những cái nhìn rất sâu sắc về lòng tin của dân Ít-ra-en vào thời kỳ vua Hy-lạp là An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê chủ trương hy lạp hóa toàn thể đế quốc của ông bằng cách tiêu diệt niềm tin của dân Do thái. Đoạn trích hôm nay thuật lại một phần cuộc tử đạo anh dũng của người mẹ và bảy người con. Cuộc bách hại khủng khiếp này nêu bật niềm tin vào cuộc phục sinh thân xác của người công chính và cuộc tạo dựng từ hư không.

Cuộc phục sinh thân xác của người công chính
Sách Đa-ni-en đã khai mở rồi: “Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ chỗi dậy: người thì để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời” (Đn 12: 2). Sách Ma-ca-bê quyển hai tái khẳng định cách mạnh mẽ cuộc sống sau khi chết liên quan đến những người bị bách hại và “phần thưởng rất tốt đẹp dành cho những người đã an nghỉ trong cuộc đời đạo hạnh” (2Mcb 12: 45). Câu chuyện về cuộc tử đạo của bảy anh em và bà mẹ của họ tỏa ánh hào quang rực rỡ của niềm hy vọng này (2Mcb 7: 9, 11, 14, 23, 29, 36). Đối với những kẻ bách hại và quân vô đạo, họ “sẽ không thoát khỏi án phạt của Thiên Chúa toàn năng, là Đấng thấu suốt mọi sự” (2Mcb 7: 35).

Cuộc tạo dựng từ hư không (ex nihilo)
Lời của bà mẹ khuyên đứa con út của mình trong cảnh bị tra tấn vì đạo: “Mẹ xin con hãy nhìn xem trời đất và muôn loài trong đó, mà nhận biết rằng Thiên Chúa đã làm nên tất cả từ hư vô, và loài người cũng được tạo thành như vậy” (2Mcb 7: 28). Đây là lời khẳng định mạnh mẽ nhất và dứt khoát nhất về cuộc tạo dựng từ hư không.

BÀI ĐỌC II (2Tx 2: 16-3: 5)
Chúng ta tiếp tục đọc thư thứ hai của thánh Phao-lô gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca. Trong đoạn trích hôm nay, thánh Phao-lô cầu nguyện cho các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca để họ được gặp thấy ở nơi Chúa Giê-su niềm an ủi bất diệt và niềm tin vững mạnh trong mọi thử thách.
Niềm an ủi bất diệt (2: 16-17)
Thánh Phao-lô đã cố làm yên lòng các tín hữu Thê-xa-lô-nica bằng giáo huấn rõ ràng của mình. Tuy nhiên, thánh nhân nhận ra rằng giáo huấn vẫn chưa đủ. Thánh nhân cầu nguyện để họ gặp thấy niềm an ủi ở nơi Chúa Giê-su Ki-tô mà họ đã tín thác cuộc đời của họ vào Ngài, và ở nơi Thiên Chúa là Cha của họ. Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban cho họ niềm an ủi “bất diệt”, nghĩa là niềm an ủi không thuộc vào thế giới này nhưng vào vương quốc Thiên Chúa, vì thế, niềm an ủi này được chính Thiên Chúa bảo đảm.
Niềm tin vững mạnh trong mọi thử thách (3: 1-5)
Ở đây chúng ta thoáng thấy tấm lòng của một nhà truyền giáo không biết mệt mõi, mong ước phổ biến Tin Mừng để mọi người thấy được tình yêu của Thiên Chúa tuyệt diệu đến mức độ nào. Buồn thay, không phải mọi người đều tin, nhưng Thiên Chúa vẫn trung tín. Thánh Phao-lô tin tưởng rằng Ngài sẽ làm cho các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca thêm vững mạnh trong những thử thách mà họ đang phải gánh chịu.
Khi “truyền lệnh” cho họ (3: 4), thánh Phao-lô nhấn mạnh giáo huấn của thánh nhân xuất phát từ Chúa Ki-tô Phục Sinh, Đấng đã ủy quyền cho thánh nhân giảng dạy cho họ (x. 1Tx 2: 13; 4: 2, 11; cũng 2Tx 3: 6, 10, 12).
Kiểu nói: “biết yêu mến Thiên Chúa” (3: 5) bao gồm cả tình yêu Thiên Chúa dành cho họ, lẫn tình yêu họ dành cho Thiên Chúa, tương tự với kiểu nói: “biết chịu đựng như Đức Ki-tô”. Thánh nhân đang quy chiếu đến cả sự chịu đựng của Đức Giê-su giữa những đau khổ và thử thách, lẫn đến sự dự phần vào đức hạnh mà Đức Giê-su đã ban cho các môn đệ Ngài.

TIN MỪNG (Lc 20: 27-38)
Tin Mừng hôm nay thuật lại cuộc tranh luận của Chúa Giê-su với nhóm Xa-đốc về kẻ chết sống lại (20: 27-38). Cuộc tranh luận này được đặt vào trong bối cảnh Chúa Giê-su thi hành sứ vụ sau cùng của Ngài tại Giê-ru-sa-lem theo đó những nhóm có thế lực trong dân Ít-ra-en, lần lượt đến gặp Đức Giê-su và luân phiên đặt ra cho Người những câu hỏi thâm hiểm để mong hãm hại Người (19: 47-21: 38).
Vấn nạn của nhóm Xa-đốc (20: 27-33)
Đối thủ của Đức Giê-su lần này là nhóm Xa-đốc. Nhóm Xa-đốc tuy không đông bằng nhóm Pha-ri-sêu nhưng rất giàu có và có thế lực. Về phương diện trần thế, họ là giai cấp thống trị cộng tác chặt chẽ với chính quyền Rô-ma chiếm đóng, vì muốn bảo vệ của cải và duy trì địa vị của mình
Về phương diện tôn giáo, nhóm Xa-đốc chỉ chấp nhận thẩm quyền của bộ Ngũ Thư mà thôi. Dựa trên lối giải thích Ngũ Thư của họ, họ không tin kẻ chết sống lại. Nhóm Xa-đốc này cũng như bao người Do thái chính thống đều tin chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, nhưng việc Thiên Chúa có cho con người được sống lại hay không thì thuộc về thẩm quyền của Ngài. Vì thế, nhóm này không tin vào sự sống lại mai sau, bởi vì không có bằng chứng nào về một niềm tin như thế được tìm thấy trong bộ Ngũ Thư. Hơn nữa, không có kinh sư nào, những ngươi thông luật, giải đáp cho vấn nạn mà họ nêu lên.
Căn cứ theo luật Lê-vi (x. Đnl 25: 5tt.), nếu một người qua đời mà không có người nối dõi tông đường, thì người em phải cưới chị dâu ấy để cho anh mình có người con nối dõi tông đường. Dựa trên luật này, họ hư cấu một câu chuyện bảy anh em lần lượt lấy một người vợ để có người con nối dõi tông đường, nhưng đều chết mà không có con; vậy nếu có sự sống lại thì ai sẽ là chồng của người phụ nữ này. Như vậy, niềm tin vào sự sống lại thật là lố bịch.
Câu trả lời của Chúa Giê-su (20: 34-38)
Chúa Giê-su quả quyết có sự sống lại, đồng thời cũng giải thích những đặc tính của sự sống lại: “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng”. Như thế, theo Chúa Giê-su, lập luận của nhóm Xa-đốc về sự sống lại như vậy thì thật là quá duy vật. Theo lập luận này, cuộc sống lại chỉ là tiếp tục cuộc sống trần thế, dù được nâng cao lên đến mức độ nào. Nếu hiểu cuộc sống lại như vậy là giới hạn quyền năng của Thiên Chúa và coi thường tình yêu của Ngài: “Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại”.
Để bác bỏ lập luận của nhóm Xa-đốc dựa trên bộ Ngũ Thư để phủ nhận niềm tin vào sự sống lại, Chúa Giê-su viện dẫn sách Xuất Hành (Xh 3: 2, 6), một trong năm quyển sách được gọi là Ngũ Thư, để cho thấy cách hiểu của nhóm Xa-đốc thật sự sai lầm trầm trọng. Dựa trên Xh 3: 2, 6 trong đó Thiên Chúa tỏ mình ra cho ông Mô-sê: “Ta là Thiên Chúa của cha ông ngươi, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp”, Chúa Giê-su kết luận: “Thiên Chúa không là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống”, có nghĩa rằng Thiên Chúa vẫn thường hằng có mối liên hệ với ông Áp-ra-ham, ông I-xa-ác và ông Gia-cóp, dù các vị tổ phụ này đã chết từ lâu rồi. Vì thế, dù những người công chính này đã chết trên bình diện thể lý, họ vẫn đang sống, thật sự sống trong Thiên Chúa và mong chờ sự sống lại.
Barclay đã đưa ra một lời nhận xét rất xác đáng như sau: “Có thể chúng ta cảm thấy đoạn Kinh Thánh này thật khô khan. Nó đề cập đến những vấn đề có vẻ sôi bỏng trong thời Chúa Giê-su với những lý luận mà một kinh sư cho là rất mạnh, nhưng người thời nay lại không thấy thế. Nhưng từ chỗ khô khan đó, ta rút được một chân lý lớn lao cho những ai giảng dạy hoặc muốn làm chứng về Ki-tô giáo. Chúa Giê-su đã dùng những lý luận mà dân chúng đang nghe Người có thể hiểu được, Người nói với dân chúng theo ngôn ngữ riêng của họ, Người gặp gỡ họ trên chính mảnh đất của họ và chính đó là lý do tại sao giới bình dân đã nghe Người cách thích thú. Đôi lần, chúng ta đọc những sách đạo hoặc về thần học, ta thừa nhận rằng những gì được viết quả là đúng, nhưng không thể đem trình bày cho những đầu óc mới hiểu biết ít, và họ lại là đa số trên thế giới cũng như trong Hội Thánh. Chúa Giê-su đã dùng ngôn ngữ và lý luận mà dân chúng có thể và đã hiểu được, Người gặp gỡ họ trong ngữ vựng của họ. Chúng ta sẽ giảng đạo, làm chứng cho họ Chúa tốt hơn nhiều, khi học tập đường lối phổ biến Tin Mừng của chính Chúa Giê-su” (“Tin Mừng theo Thánh Lu-ca”, 238-239).

 

TN32-C154: BÊN KIA SỰ CHẾT

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
 

Số phận của con người sau khi chết vẫn là một vấn nạn bí ẩn đối với mọi thời đại. Ngay giữa những TN32-C154

Số phận của con người sau khi chết vẫn là một vấn nạn bí ẩn đối với mọi thời đại. Ngay giữa những tín hữu của Do Thái giáo cũng có hai lập trường khác nhau về vấn đề này. Mặc dầu tin vào Thiên Chúa quyền năng, nhưng những người thuộc phái Xađốc vẫn cho rằng con người chết là hết. Họ chủ trương không có sự sống lại. Vấn nạn “bảy ông lấy một bà” được nhóm này đưa ra như một cái bẫy để “gài” Chúa Giêsu.
 Ai trong chúng ta cũng đã trải qua kinh nghiệm đau đớn khi mất người thân. Sự chia lìa kẻ ở người đi là một nỗi mất mát không gì bù đắp nổi. Tình cảm vợ chồng, ơn nghĩa cha con, tình bạn bè lối xóm… tất cả đều bị cái chết làm cho gián đoạn. Nếu chủ trương “chết là hết”, thì cuộc sống trở nên vô nghĩa. Con người thật bất hạnh, vì người tốt kẻ xấu đều như nhau khi đều kết thúc cuộc đời bằng nấm mồ.
 Kinh Thánh nói với chúng ta, sự chết không phải là tiếng nói cuối cùng của Thiên Chúa. Nấm mộ không phải là đích điểm của cuộc sống con người. Con người được tạo dựng để sống hạnh phúc mãi mãi với Chúa là Đấng tạo thành và cứu độ, chứ không phải để hòa tan vào hư vô như nhiều người lầm tưởng. Đích điểm của đời sống chúng ta là Quê trời. Chúa Giêsu tiếp nối giáo huấn truyền thống của Cựu Ước để mời gọi con người hãy mở lòng đón nhận Nước Trời. Người hứa phần thưởng Nước Trời cho những ai sống công chính, tức là mến Chúa và yêu người. Đối với những ai mến Chúa thì không sợ sự chết, vì thực ra, sự chết chỉ là một cuộc chuyển tiếp để đi từ cuộc sống đầy khổ đau tới hạnh phúc, từ cuộc sống tạm thời đến vĩnh cửu. Người mẹ can đảm được kể lại trong Sách Macabê (Bài I) đã tin vững vàng vào những giá trị đời sau. Bà là niềm tự hào của dân tộc Do Thái, đồng thời là mẫu gương về lòng trung thành với Lề Luật. Bà chứng kiến bảy người con chịu hành hình. Những người con này thà chết còn hơn phạm Luật Chúa. Vào giờ phút thử thách đau thương ấy, bà đã mạnh mẽ khuyên các con hãy kiên trì chấp nhận những cực hình, vì bà tin rằng, sau cái chết là phần thưởng vinh quang Chúa dành cho người trung thành. “Thà chết vì tay người đời đang khi dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại”,  lời tuyên bố mạnh mẽ của một trong bảy anh em đã nói lên đức tin kiên cường và niềm hy vọng chắc chắn vào sự sống sau cái chết.
 Trước cái bẫy của người Xađốc, Chúa Giêsu đã khẳng định: người công chính sau khi chết sẽ được hưởng vinh quang Thiên Chúa. Họ không còn lấy vợ lấy chồng nữa, nhưng họ sẽ giống như các thiên thần. Thực vậy, nếu trên thiên đàng mà người ta còn lấy vợ lấy chồng, thì có nghĩa là người ta sẽ còn già, còn chết, còn ly dị và còn đau khổ. Thiên đàng là nơi con người không phải chết nữa. Họ cũng không còn đau khổ, vì nơi đó không có mâu thuẫn, chỉ có tình yêu ngự trị. Chúa Giêsu trích dẫn sự kiện Ông Môisen được thấy Thiên Chúa qua bụi gai cháy bừng. Khi tỏ mình cho Ông Môisen, Thiên Chúa tự xưng là Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp. Khi xưng danh như thế, Thiên Chúa chứng tỏ Ngài là Chúa của lịch sử, trong dòng lịch sử ấy, có những con người được tạo dựng để tồn tại mãi mãi.
 Trong tháng mười một dương lịch này, theo truyền thống của Giáo Hội, chúng ta thường đi viếng mộ người thân. Những nấm mộ không phải đống đất vô tri vô giác. Mỗi ngôi mộ đang bao bọc một cuộc đời,  một con người đã từng thành công, thất bại, đau khổ hạnh phúc. Ngôi mộ chính là một “phòng chờ” của những người đã chết trước khi sống lại vinh quang vào ngày tận thế để hưởng thánh nhan Chúa. Khi thinh lặng suy tư bên nấm mộ của người thân, chắc chắn chúng ta sẽ được nghe Chúa nói với chúng ta về ý nghĩa cuộc đời. Chúng ta cũng có thể nghe thấy người thân dưới nấm mộ chia sẻ với chúng ta về kinh nghiệm sống trên cõi đời đầy thử thách này.
 “Anh em hãy cầu nguyện cho chúng tôi được thoát khỏi tay người độc ác xấu xa, bởi vì không phải ai cũng có đức tin..” (Bài đọc II). Hạnh phúc Nước Trời là kết quả của những phấn đấu không ngừng để sống theo Lời Chúa dạy. Chỉ những ai sống tình yêu mến đối với Chúa và đối với tha nhân mới có thể được hưởng sự sống đời đời. Những chức tước, danh dự, của cải và vinh hoa trần thế chỉ là nhất thời, sẽ biến tan khi sự chết đến gặp chúng ta. Chỉ có tình yêu mới tồn tại vĩnh cửu và sẽ giúp chúng ta lãnh phần thưởng đời đời. Mến Chúa yêu người, đó là điều Chúa mong đợi nơi mỗi người chúng ta.

 

TN32-C155: CÕI SỐNG

Trầm Thiên Thu
 

Có Cõi Sống thì cũng có Cõi Chết. Chắc chắn ai cũng muốn vào Cõi Sống, không ai muốn vào TN32-C155

Có Cõi Sống thì cũng có Cõi Chết. Chắc chắn ai cũng muốn vào Cõi Sống, không ai muốn vào Cõi Chết. Nhưng “chẳng ai tìm được đường về cõi sống” (Cn 2:19). Vậy phải làm sao đây?
Có câu danh ngôn thế này: “Life lives, life dies; life laughs, life cries; life gives up and life tries. But life looks different through everyone’s eyes – Đời sống, đời chết; đời cười, đời khóc; đời bỏ cuộc và đời thử. Nhưng đời nhìn khác nhau qua con mắt của mỗi người”. Có nhiều loại đời, thật chí lý! Vâng, cuộc đời như thế nào là tùy cách nhìn của mình.
Cuộc đời như tấm gương, chúng ta cười thì nó cũng cười, chúng ta khóc thì nó cũng khóc. Ai cũng chào đời bằng tiếng khóc, sống với nhiều điều phàn nàn, nhưng chết với niềm hy vọng hoặc với nỗi thất vọng là cách chúng ta tự chọn.
Søren Kierkegaard (1813-1855), triết gia, thần học gia, thi sĩ, nhà phê bình người Đan Mạch, nói: “Ngay khi bạn sinh ra trên thế giới này, bạn đã đủ già để chết”. Còn Hans Christian Andersen (1805-1875), nhà văn kiêm nhà soạn kịch người Đan Mạch, nói: “Cái chết đi nhanh hơn gió và không bao giờ trả lại thứ gì mình đã lấy đi”.
Nói đến cuộc đời là nói đến cuộc sống, nói chính xác là cách sống. Có người sống nhanh, sống vội vã; có người sống chậm, sống từ từ; có người sống xả láng, bất cần; có người sống cẩn thận, ý tứ; có người sống ác độc, có người sống nhân hậu; có người sống tham sanh, úy tử; có người sống cực khổ, dám hy sinh vì người khác. Cách sống có đủ kiểu và đủ mức!
Trình thuật 2 Mcb 7:1-2. 9-14 nói về “cuộc tử đạo của bảy anh em”, và có cả người mẹ nữa. Trình thuật này là một thước phim bi hùng của những con người yêu công lý và hòa bình, dám chết cho chính nghĩa. Từ cổ chí kim, từ Đông chí Tây, từ Nam chí Bắc, đâu đâu cũng có những kiểu bách hại tôn giáo, càng ngày người ta càng ranh ma và tinh vi hơn.
Kinh Thánh kể rằng, có bảy anh em bị bắt cùng với bà mẹ. Vua An-ti-ô-khô cho lấy roi và gân bò mà đánh họ, để bắt họ ăn thịt heo là thức ăn luật Mô-sê cấm. Thay mặt cho anh em mình, một người lên tiếng nói: “Vua muốn tra hỏi chúng tôi cái gì? Vua muốn biết điều gì? Chúng tôi sẵn sàng thà chết chẳng thà vi phạm luật pháp của cha ông chúng tôi”.
Vua tức giận, ra lệnh nung một cái chảo lớn, ra lệnh cắt lưỡi người vừa nói thay cho anh em, lột da đầu và chặt cụt chân tay của anh ngay trước mắt các anh em và bà mẹ. Chặt chân tay anh rồi, vua truyền lệnh đưa anh còn đang thở thoi thóp đến lò lửa mà nướng. Cảnh tượng thật hãi hùng!
Thế nhưng bà mẹ và các anh em vẫn khích lệ nhau chết cho anh dũng. Họ bảo nhau rằng Thiên Chúa thấy rõ và chắc chắn người dủ lòng thương chúng ta, như lời ông Mô-sê đã làm chứng cho mọi người rằng: “Đức Chúa sẽ dủ lòng thương hàng tôi tớ”.
Người thứ hai cũng phải chịu các cực hình y như người thứ nhất. Khi sắp trút hơi thở cuối cùng, anh nói: “Vua là một tên hung thần, vua khai trừ chúng tôi ra khỏi cuộc đời hiện tại, nhưng bởi lẽ chúng tôi chết vì Luật pháp của Vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời”.
Đến người thứ ba bị tra tấn. Vừa được yêu cầu anh liền thè lưỡi, can đảm đưa tay ra, và khẳng khái nói: “Tôi có được lưỡi này, tay này, là do Chúa Trời ban. Nhưng vì luật Chúa Trời, tôi coi khinh những thứ đó, và tôi hy vọng nhờ Chúa Trời, tôi sẽ lấy lại được”. Nhà vua và quần thần phải sửng sốt vì lòng can đảm của người thanh niên đã dám coi thường đau khổ. Người thứ tư cũng bị tra tấn như vậy. Khi sắp tắt thở, anh nói: “Thà chết vì tay người đời đang khi dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại. Còn vua, vua sẽ không được sống lại để hưởng sự sống đâu”.
Lần lượt bảy anh em đều bị lý hình hành hạ cho đến chết, nhưng ai cũng hiên ngang đối diện với Tử Thần. Cuối cùng, người mẹ cũng chết theo các con. Cả gia đình trở thành thánh tử vì đạo. Diễm phúc biết bao! Tuy nhiên, vấn đề là họ can đảm liều thân vì Chúa. Tử đạo bằng máu là bị giết chết liền, còn tử đạo liên lỉ là chết từ từ. Tử đạo kiểu nào cũng khó, không có ơn Chúa thì không thể vượt qua chính mình!
Cuộc sống luôn có nhiều lúc khó khăn, cả tinh thần và thể lý, hãy chân thành tâm sự với Chúa: “Lạy Chúa, xin nghe con giãi bày lẽ phải, lời con than vãn, xin Ngài để ý; xin lắng tai nghe tiếng nguyện cầu thốt ra từ miệng lưỡi chẳng điêu ngoa” (Tv 17:1). Và cứ an tâm tín thác vào Ngài, như tác giả Thánh Vịnh bộc bạch: “Dõi vết chân Ngài, con không vấp ngã. Con kêu lên Ngài, lạy Thiên Chúa, vì Ngài đáp lời con. Xin lắng tai và nghe tiếng con cầu” (Tv 17:5-6). Càng tránh né đau khổ hoặc tìm cách diệt đau khổ thì càng đau khổ, dám đối mặt với nó và đi xuyên qua nó là chiến thắng nó, chúng ta sẽ thanh thản cười vào những nỗi đau khổ. Đó là một dạng tự trào phúng. Khôi hài có khả năng biến đau khổ thành tiếng cười.
Cầu nguyện là sức mạnh của con người, khả dĩ khiến Thiên Chúa “mủi lòng” và thay đổi số phận của chúng ta. Cầu nguyện để được bình an và được Thiên Chúa xót thương: “Xin giữ gìn con như thể con ngươi, dưới bóng Ngài, xin thương che chở. Về phần con, sống công minh chính trực, con sẽ được trông thấy mặt Ngài, khi thức giấc, được thoả tình chiêm ngưỡng Thánh Nhan” (Tv 17:8 và 15).
Cầu nguyện là hơi thở, là lương thực của Kitô hữu để có thêm sức sống. Thật vậy, Chúa Giêsu luôn cầu nguyện, làm gì Ngài cũng cầu nguyện một mình nơi thanh vắng. Ngài muốn chúng ta noi gương Ngài nên Ngài khuyên: “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (Lc 21:36).
Cõi sống đời này đã quan trọng rồi, cõi sống đời sau càng quan trọng hơn gấp bội, không gì có thể so sánh. Vì cõi sống đời sau là cõi trường sinh, bất tử, vô hạn; còn cõi sống đời này hữu hạn, sẽ có lúc chấm dứt. Muốn sống thì phải sống khôn, sống khéo. Đó là điều tất yếu.
Thánh Phaolô khuyên: “Anh em hãy đứng vững và nắm giữ các truyền thống chúng tôi đã dạy cho anh em, bằng lời nói hay bằng thư từ. Xin chính Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta và đã dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp, xin các Ngài an ủi và cho tâm hồn anh em được vững mạnh, để LÀM và NÓI tất cả những gì tốt lành” (2 Tx 2:15-17). Ngôn hành phải song song, cân bằng hai vế như trong một phương trình, không thể chỉ có một vế.
Như đã nói, cầu nguyện là điều cần thiết, lời cầu nguyện còn có sức mạnh liên đới, khả dĩ tác động tới người khác. Cầu nguyện lẫn nhau như chất xúc tác giúp cân bằng tâm linh lẫn nhau, vì ba thù là loại virus cực độc. Ba thù là Ma Quỷ, Thế Gian và Xác Thịt. Ma Quỷ như những tên cướp đường, chúng có thể ập đến bất ngờ, không cảnh giác thì trở tay không kịp; Thế Gian ví như thời tiết thất thường, chúng ta có thể bị bệnh tật nếu không bảo vệ mình bằng các dưỡng chất hoặc thuốc men; Xác Thịt là các thói hư tật xấu, ví như sâu bọ đục khoét thân cây, không kịp chữa thì cây sẽ chết. Xác thịt là chính mình, loại nội gián vô cùng nguy hiểm, có thể nguy hiểm hơn hai kẻ thù kia!
Không ai dám nhận mình là trong sạch, vô tội, công chính. Thánh Phaolô cũng đã phải cậy nhờ người khác: “Xin anh em cầu nguyện cho chúng tôi, để lời Chúa được phổ biến mau chóng và được tôn vinh, như đã thấy nơi anh em. Xin cũng cầu nguyện cho chúng tôi được thoát khỏi tay người độc ác xấu xa, bởi vì không phải ai cũng có đức tin” (2 Tx 3:1-2). Con người rất yếu đuối, sơ sảy một chút là sa ngã ngay, thậm chí chúng ta còn tự biện hộ và viện cớ với nhiều lý lẽ lắm. Cái tôi đúng là đáng ghét thật!
Không có Chúa thì chúng ta chẳng làm gì được (x. Ga 15:5), thở cũng chẳng nổi. Vì thế mà đừng cậy sức mình, ngay cả trên đường hoàn thiện chính mình. Nhưng có Chúa thì OK ngay, tất cả chỉ là “chuyện nhỏ”. Thánh Phaolô cho biết: “Chúa là Đấng trung tín: Người sẽ làm cho anh em được vững mạnh, và bảo vệ anh em khỏi ác thần. Trong Chúa, chúng tôi tin tưởng vào anh em: anh em đang làm và sẽ làm những gì chúng tôi truyền. Xin Chúa hướng dẫn tâm hồn anh em, để anh em biết yêu mến Thiên Chúa và biết chịu đựng như Đức Kitô” (2 Tx 3:3-5).
Trình thuật Lc 20:27-38 nói về Sự Sống Lại (tương đương Mt 22:23-33 và Mc 12:18-27). Chính sự sống lại này xác định giá trị của niềm tin Kitô giáo: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em” (1 Cr 15:17).
Kinh Thánh cho chúng ta biết có hai nhóm chuyên phá bĩnh: Pha-ri-sêu và Xa-đốc. Nhóm Pha-ri-sêu tin có sự sống lại nhưng lại ưa thói giả hình, còn nhóm Xa-đốc không tin có sự sống lại.
Một hôm, có mấy người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giêsu, và hỏi Ngài một lèo: “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình. Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. Người thứ hai, rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?”.
Đúng là những kẻ chuyên tìm cách hại người khác, bề ngoài làm ra vẻ nghiêm chỉnh nhưng đầu óc và lòng dạ họ đầy cặn bã, những thứ ô uế nhất. Cái miệng hại cái thân, vì phát ngôn bất cẩn. Kinh Thánh Cựu Ước cho biết: “Con người phải chịu hậu quả lời mình nói và được hưởng những gì môi miệng họ thốt ra. Sống hay chết đều do cái lưỡi, ai yêu chuộng nó, sẽ lãnh nhận hậu quả” (Cn 18:20-21). Còn Tân Ước xác định: “Ai cho mình đạo đức mà không kiềm chế miệng lưỡi là tự dối lòng mình, vì đó chỉ là thứ đạo đức hão” (Ga 1:26). Chớ khinh suất mà nói càn! Tự rước họa vào thân chỉ vì KHÔNG uốn lưỡi bảy lần trước khi nói.
Nhóm Xa-đốc cho rằng đó là vấn đề hóc búa, chỉ từ lết đến chết mà thôi. Nhưng họ lầm to! Chúa Giêsu thản nhiên chứng minh: “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy thì chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham,Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống”.
Ui da, nghe mà lùng bùng lỗ tai. Sao Anh Chàng Giêsu này thông minh và khôn ngoan thế nhỉ? Con Bác Thợ Mộc Giuse và Cô Maria ở xóm nghèo Na-da-rét mà hay dữ vậy ta? Tất nhiên bọn Xa-đốc phải câm họng, đành ngậm bồ hòn làm ngọt, lủi thủi kéo nhau đi chứ đứng lại đây thì có nước độn thổ mà thôi!
Không có Ánh Sáng của Thiên Chúa thì không ai biết đười về Cõi Sống, có Ánh Sáng của Ngài chiếu soi thì chúng ta tin tưởng sẽ đến đích, an tâm và vui sống: “Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!” (Tv 16:11).
Nhưng ai khả dĩ được vào Cõi Sống, Miền Trường Sinh? Tác giả Thánh Vịnh cho biết rạch ròi: “Người thực thi công chính được đi vào cõi sống, kẻ theo đuổi gian tà phải đến chốn tử vong” (Cn 11:19). Đó là sự công bình và công lý của Thiên Chúa vậy! Sống công chính là làm đúng những điều Thiên Chúa truyền dạy, như ông Nô-ê đã thi hành ngày xưa vậy (St 6:22 và 7:5).
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết không ngừng tìm kiếm Thánh Nhan Ngài, xin giúp con luôn sống đúng theo Thánh Ý Ngài – dù khi vui hay buồn, lúc sướng hay khổ. Ngài ở đâu thì xin cho con cũng được ở đó. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

 

TN32-C156: GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG

JM. Lam Thy.
 

Ba nhóm quyền lực nhất trong dân Do-thái thời bấy giờ, đó là: Nhóm Pha-ri-sêu (còn gọi là TN32-C156

Ba nhóm quyền lực nhất trong dân Do-thái thời bấy giờ, đó là: Nhóm Pha-ri-sêu (còn gọi là nhóm Biệt Phái), nhóm Ét-sê-ni và nhóm Xa-đốc. Nhóm Pha-ri-sêu và nhóm Ét-sê-ni gồm các kinh sư, các tiến sĩ Luật và cả tư tế nữa. Họ chỉ chú trọng đến việc đạo đức và giữ Luật cách tỉ mỉ, hình thức bên ngoài. Họ tổ chức thành hội, nhằm giúp nhau giữ đạo của cha ông và trung thành với Luật Mô-sê. Họ tin linh hồn bất tử và tin có sự sống lại của thân xác. Nhóm Xa-đốc thì lại chú tâm đến vấn đề chính trị và tiền bạc, còn vấn đề tôn giáo thì họ chỉ dựa trên Luật thành văn là bộ sách Ngũ Thư, nên nghĩ rằng không có chuyện kẻ chết sống lại (Mt 22, 23). Tuy thái độ và cách sống đạo khác nhau, nhưng cả 3 nhóm này đều là những người chống đối Đức Giê-su. Bài Tin Mừng hôm nay (CN XXXII/TN-C – Lc 20, 27.34-38) trình thuật câu chuyện nhóm Xa-đốc lại kiếm chuyện gài bẫy Đức Giê-su.
Theo Thánh sử Lu-ca thì “Nhóm Xa-đốc chủ trương không có sự sống lại” (Lc 20, 27). Đó chính là nhóm thuộc phe bảo thủ trong giới lãnh đạo tôn giáo của Do-thái, các tư tế Do-thái thường xuất thân từ nhóm này. Nhóm này chỉ công nhận 5 cuốn sách (Ngũ Thư) do ngôn sứ Mô-sê viết (Sáng Thế Ký, Xuất Hành, Lê-vi, Dân Số, Đệ Nhị Luật) là Thánh Kinh mà thôi. Trong những sách này, Mô-sê không đề cập đến việc sống lại, nên nhóm Xa-đốc chủ trương không có sự sống lại. Việc sống lại để sống vĩnh cửu chỉ được đề cập đến trong những sách Cựu Ước khác, chẳng hạn trong quyển Ma-ca-bê 2 (xc bài đọc 1 CN XXXII/TN-C – 2Mcb 7, 1-2.9-14  và xem thêm 2Mcb 12, 43-44), sách ngôn sứ I-sai-a (Is 26, 19). Ngược lại với nhóm Xa-đốc, nhóm Pha-ri-sêu không chỉ công nhận giá trị mạc khải của 5 cuốn sách do Mô-sê viết, mà còn công nhận những sách khác nữa, nên họ chủ trương có sự sống lại. Do đó, hai nhóm luôn tranh luận và bất đồng ý kiến với nhau về vấn đề này.
Tuy có bất đồng ý kiến với nhau về quan điểm tôn giáo, nhưng họ lại chung một tâm trạng ghen tức, tị hiềm với Đức Giê-su. Vì thế, sau thất bại thê thảm của nhóm Pha-ri-sêu và Ét-sê-ni gài bẫy Đức Giê-su về vấn đề “ném đá người đàn bà ngoại tình” (Ga 8, 2-11), rồi vấn đề “có nên nộp thuế cho vua Xê-da hay không?” (Lc 20, 20-25), giờ đến lượt nhóm Xa-đốc thử thách Người. Họ lợi dụng cơ hội Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem để chuẩn bị cho cuộc thương khó mà Người sẽ phải chịu: “Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và tất cả những gì các ngôn sứ đã viết về Con Người sẽ được hoàn tất.” (Lc 18, 31). Họ dựng lên một câu chuỵên không tưởng để dồn Đức Giê-su vào thế bí. Đó là chuỵên một người đàn bà lần lượt kết hôn với bảy anh em ruột, từ người anh cả trở xuống (chiếu theo Luật Mô-sê, nếu người anh chết mà chưa có con thì người em kế cận phải tiếp nối hôn nhân ấy). Chẳng người nào có con cái và tất cả 7 người đều chết. Thực tế, dù cho Luật Mô-sê có cho phép, cũng không thể có trường hợp cả 7 anh em ruột đều lần lượt ăn ở với chỉ một người phụ nữ, đều không có con và chết hết. Dụng ý của nhóm Xa-đốc chỉ là đặt câu hỏi: “Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai?” và tin rằng Đức Giê-su sẽ bí, không trả lời được.
Thật vậy, nếu Đức Giê-su trả lời là sau khi sống lại, cả bảy người sẽ cùng sống chung với duy nhất một bà vợ, thì quả là thậm vô lý và phạm luật của Thiên Chúa “một vợ một chồng, một xương một thịt”. Còn nếu trả lời là cả 7 người đàn ông và người phụ nữ đã chết là hết tất cả, làm gì có chuyện là vợ của ai, thì vô hình chung, Đức Giê-su cũng coi như không có đời sau. Không có đời sau thì làm gì có sự sống lại. Trả lời cách nào cũng kẹt, và vì thế càng thấy sự nham hiểm của nhóm người Xa-đôc (kể cả nhóm Pha-ri-sêu), đó là họ cố tình gài bẫy để có chứng cớ xử án Người (“Còn các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng thì tìm chứng gian buộc tội Đức Giê-su để lên án tử hình” – Mt 26, 59). Thánh Gio-an Tẩy Già đã quá đúng khi gọi họ là “nòi rắn độc” (“Thấy nhiều người thuộc phái Pha-ri-sêu và phái Xa-đốc đến chịu phép rửa, ông nói với họ rằng: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?” – Mt 3, 7). Chỉ có rắn độc có nọc độc mới có thể mau chóng giết chết những sinh vật bị chúng cắn phải.
Nhóm Xa-đốc đã tưởng với cách gài độ thâm hiểm của họ sẽ làm cho con mồi là Đức Giê-su sập bẫy. Nhưng thật không ngờ Đức Giê-su đã dùng chính “gậy ông đập lưng ông”. Họ dựa vào luật Mô-sê – mà họ công nhận có giá trị mạc khải – để tấn công Đức Giê-su, thì Người cũng dùng chính lời của Mô-sê để hoá giải, khiến họ phải câm miệng. Nếu họ dựa vào Mô-sê để nói rằng không có sự sống lại chỉ vì ông không minh nhiên đề cập đến sự sống lại, thì Người cũng dựa vào chính Mô-sê để minh chứng ngược lại: “Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống.” (Lc 20, 37-38). Rõ ràng là các tổ phụ vẫn sống trước nhan Thiên Chúa (mặc dù thân xác các ngài đã chết và đang chờ ngày sống lại), nên ông Mô-sê mới gọi là “Thiên Chúa của các tổ phụ”. Cuối cùng thì không nhũng Đức Giê-su làm cho đám Xa-đốc tịt ngòi, mà còn khiến nhóm Pha-ri-sêu cũng phải bái phục (“Mấy người thuộc nhóm kinh sư lên tiếng nói: “Thưa Thầy, Thầy nói hay lắm!” – Lc 20, 39).
Cả ba lần 2 nhóm người Pha-ri-sêu và Xa-đốc gài bẫy Đức Giê-su đều nhắm vào Lề Luật. Họ chỉ mong Đức Giê-su sập bẫy để họ kết án là Người đã chống lại Luật Thiên Chúa (Luật Mô-sê vốn được coi là Luật Thiên Chúa). Nhưng họ đã thất bại bởi chính cái bẫy họ giương lên. Đối với Lề luật, cũng đã nhiều lần Đức Giê-su dạy các môn đệ: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành.” (Mt 5, 18); hoặc lên án bọn kinh sư giả hình (“Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và sự thành thật. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ. Quân dẫn đường mù quáng! Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà.” – Mt 23, 23). Điều đó cho thấy, Đức Giê-su không hề chống lại, mà rất tôn trọng Lề Luật. Duy chỉ có điều Người muốn mọi người – nhất là đám Pha-ri-sêu và Xa-đốc – hiểu rằng “điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và sự thành thật”. Áp dụng Luật mà thiếu một trong ba điều đó, thì chưa thể coi là hiểu biết và tôn trọng Luật.
Rõ ràng bài Tin Mừng hôm nay, một lần nữa chứng minh rằng, cuộc sống siêu nhiên ở đời sau không giống với những suy nghĩ của con người căn cứ trên thực tại trần thế (“Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn ĐỨC CHÚA thì thấy tận đáy lòng.” – 1Sm 16, 7). Điều đó cũng cảnh báo cho con người hiểu rằng: đừng suy tính cuộc sống mai hậu như kiểu tính toán trong cuộc sống hiện tai ở trần gian, đừng lo rằng nơi cõi phúc có được lấy vợ lấy chồng hay không. Điều đáng quan tâm lo lắng nhất là hãy tìm cho ra con đường sự thật (đường chân lý), chuẩn bị sẵn sàng và kỹ lưỡng tất cả hành trang và dũng cảm nhập cuộc trên hành trình tiến về quê Trời. Và trên tất cả, hãy cầu cho được một nguồn động lực thúc đẩy như người mẹ đối với 7 người con trong bài đọc 1 (2Mcb 7, 1-2.9-14). Nguồn động lực đó tất yếu là Đức Giê-su Thiên Chúa cùng với Mẹ Maria Vô Nhiễm, hãy đến với Người bằng tất cả niềm cậy trông bất diệt (“Xin chính Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô, và xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta và đã dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp, xin các Ngài an ủi và cho tâm hồn anh em được vững mạnh, để làm và nói tất cả những gì tốt lành.” – 2Tx 2,16-17).
Ôi! Lạy Chúa! Con hiểu rằng thân xác này của con sẽ sống lại vào ngày sau hết để bước sang cuộc sống vĩnh cửu, đó là một trong những niềm tin căn bản nhất của Ki-tô giáo. Con tin chắc rằng những gì đang xảy ra với con trong cuộc sống ngắn ngủi này đều nằm trong sự quan phòng của Chúa, đều do Chúa cho phép xảy ra để chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu của con sau này. Vì thế, con sẵn sàng chấp nhận tất cả với lòng tin tưởng vào tình yêu vô biên của Chúa dành cho con. Cúi xin Chúa ban Thánh Linh củng cố niềm tin nơi con, để ngày chung thẩm con được vinh dự đứng ở bên phải Chúa như lời Chúa đã phán năm xưa (Mt 25, 31-46). Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con, Amen.

 

TN32-C157: TIN ĐỂ SỐNG

Lm. Jos. DĐH.
 

Đổi đời hay lên đời là điều nhiều người đã nghĩ tới: nghèo đói mong được no đủ, đau khổ cần TN32-C157

Đổi đời hay lên đời là điều nhiều người đã nghĩ tới: nghèo đói mong được no đủ, đau khổ cần có lối thoát, đang bế tắc mâu thuẫn, mong tìm được lời giải, mơ ước như vậy có chính đáng không ? Hy vọng dù có mong manh, bao giờ cũng là động lực dẫn đưa kẻ sầu muộn kiên nhẫn nhìn về phía tương lai. Sống và sống hạnh phúc hơn, hẳn luôn là mối bận tâm của người đang có danh phận, thầm ước xây dựng được thành trì vững chắc cho mình. Theo qui luật, người điên khùng sẽ không biết buồn, người say bí tỉ mấy ai biết nhớ biết thương, người lạc quan thường dễ tìm thấy niềm vui nơi cuộc sống.
Ưu tư của người lập gia đình là vợ chồng biết yêu thương nhau, sinh con, trước là để nối dõi dòng tộc, sau là các thành viên gia đình cùng giúp nhau đạt tới niềm vui hạnh phúc, chỉ thế là đủ. Tâm tình đó, những người không tin có sự sống lại họ cũng mơ ước như thế, vô lý ở chỗ không tin có linh hồn bất tử, vậy mà họ còn đặt vấn đề về sự sống lại, nhất là đưa ra sự kiện bảy anh em lấy một người phụ nữ. Quan niệm hạnh phúc không phải chỉ giới hạn nơi chuyện vợ chồng, đúng hơn nên hỏi con đường dẫn đến niềm vui và bình an thật ở đâu, niềm vui hiện tại và tương lai có gì khác biệt ?
Tục ngữ có câu : cọp chết để da, người chết để tiếng. Lời khuyên thực tế đó ngụ ý nói có sinh ắt có tử, con người hữu hạn, nếu biết sống tốt, tự hậu thế sẽ chứng minh hình ảnh bất tử của ta. Trong gia đình, con cái tin tưởng cha mẹ, anh em yêu thương nhau, đúng là ý tưởng và hành động đang phản ánh sự trường sinh : cha là núi mẹ là sông, anh em hiếu thuận, nhớ công sinh thành. Nhờ thao thức một chân lý sống, những người Sađucêô mới dám đặt vấn nạn chuyện vợ chồng sau khi chết là gì ? Đâu là điều kiện để trí lòng người ta cảm nhận được triết lý sống ở hiện tại và tương lai ?
Nhờ Đức Giêsu, một tình yêu sống động đang hiện diện, người không tin vào sự sống lại, cả những người hiểu mập mờ về linh hồn bất tử cũng được sáng hơn.“Con cái đời này lấy vợ cưới chồng, song những ai sẽ xét được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng ; họ sẽ không chết nữa, vì họ giống thiên thần, họ là con cái của sự sống lại”. Người xưa có để lại câu nói đáng để ta suy nghĩ : kẻ đặt câu hỏi ngốc nghếch, chỉ ngu dại năm phút, người không dám đặt câu hỏi ngu ngốc, sẽ ngu dại cả đời người. Kinh nghiệm đó cho thấy kẻ lạc quan là biết tin tưởng vào tình người, tình đời ; người lạc quan trong Đức Giêsu là biết cậy nhờ vào tình yêu Thiên Chúa để sống.
Kitô giáo chúng ta không ai thắc mắc khi lìa trần linh hồn đi đâu, cũng chẳng nghi ngờ : cuộc sống có Đức Giêsu có đúng là có bình an, là có sự sống trọn vẹn ? Vì thế, tin để sống, tin để minh chứng tình yêu bằng hành động, ắt sẽ gặp được sự sống trường sinh. Trải qua những tương quan nơi cuộc sống, ta từng đối đầu với cả thành công lẫn thất bại nơi gia đình, điều quan trọng không phải là nghi ngờ thắc mắc, là tại sao ? Chúng ta không thể im lặng ngồi đó nguyền rủa bóng tối, mà mỗi người được mời gọi sống xứng hợp với điều kiện ta đang có : cây cao bóng mát không ngồi, ra ngồi chỗ nắng trách trời không mây.
Mấy người Sađucêô không tin có sự sống lại, khi gặp và nghe Đức Giêsu nói đến một thực tại của sự sống, ít nhiều đó cũng là cơ hội để họ thể hiện mơ ước sống, hầu cảm nhận thế nào là bất tử. Ca dao có câu : nhà nghèo yêu kẻ thật thà, nhà quan yêu kẻ giầu ra nịnh thần. Chúng ta đây không giầu, cũng không là quan chức, vì thế Đức Giêsu vẫn đang chờ đợi chúng ta trước là thực hành bài học yêu thương, sau là trung thực trong các tương quan với Chúa và anh chị em. Không tin có sự sống lại, nói chuẩn hơn là do chưa có người sống đúng chân lý đức tin nhằm giúp họ hiểu và chỉnh sửa, thay đổi lại quan niệm về sự sống hiện tại.
Cầu nguyện và thưa chuyện với Đức Giêsu để hiểu mình, hiểu bạn, để rồi chia sẻ và sống yêu thương thì nên lắm, hết sức cần. Có Chúa trong hiện tại mới chỉ là khởi đầu dẫn ta tiến tới cửa ngõ hạnh phúc, do đó, ai cũng cần duy trì phát triển tình liên đới, tình yêu thương giữa Chúa và tha nhân. Hạnh phúc không thể vắng bóng tình yêu, trường đời luôn có bài học lý thuyết gởi gắm đến các học trò áp dụng vào thực tế. Sự sống thật chắc chắn phải được thể hiện bằng việc làm của đức tin, linh hồn bất tử chỉ được lý giải khi có Đức Giêsu trong hành trình đời người. Niềm tin chỉ trừu tượng khi không có thực hành, tình yêu nâng cao giá trị tinh thần gợi lên một khao khát sống, và sống hạnh phúc.
Người xưa nói rằng : sống kể ngày, chết kể năm, đại loại là độ ngắn dài, sống chết, ở mỗi người khác nhau. Tình yêu, niềm tin, sẽ không có ngày tháng năm, nhưng lại được cân đo đong đếm bằng việc làm cụ thể, đó chính là cánh cửa minh chứng tính bất tử của sự sống. Tham sống sợ chết, ăn cây táo rào cây sung, xã hội vẫn coi họ là anh hùng rơm, là kẻ tiểu nhân, chỉ biết hiện tại, thật đang tiếc.
Công thành danh toại ở trần gian không phải điềm xấu, nhắc nhớ đến thân phận con người giới hạn có sinh có tử, không bao giờ thừa, tin để sống, và sống thật để gặp được trường sinh, vẫn luôn thiết thực hơn cả. Quan niệm chết và sống lại, không chỉ dừng lại ở chân lý đức tin, do Chúa Giêsu đã gợi mở Ngài chính là Thiên Chúa của kẻ sống. Chết đi và sống lại vừa là qui luật tự nhiên, vừa là trách nhiệm mỗi người hãy ý thức sử dụng nén bạc Chúa trao cách tốt nhất. Amen.

 

TN32-C158: HỌ LÀ CON CÁI THIÊN CHÚA

Lm Phan Kế Sự
 

Bận tâm của con người qua mọi thời đại vẫn lẩn quẩn kiếm tìm trong các lạc thú : danh,lợi,dục TN32-C158

Bận tâm của con người qua mọi thời đại vẫn lẩn quẩn kiếm tìm trong các lạc thú : danh,lợi,dục, để hưởng thụ và cũng để tồn tại.Người ta chỉ biết tìm kiếm và thu góp những lợi nhuận thuộc về trần thế mà không hề lo lắng đến sự sống đời đời của mình như nhóm Xa-đốc ngày xưa. Chính khi mải mê với những đam mê và  hưởng thụ những giá trị trần thế,chúng ta đành mất tất cả. Kết thúc cho một đời chạy theo những đam mê là hủy diệt và  sự chết.Thiên Chúa là của kẻ sống và Ngài muốn tất cả chúng ta hãy biết sống cho sự tồn vong của mình; nhưng có một sự thật là Ngài lại không sống thay cho chúng ta.
Ước muốn sâu xa nhất của con người là muốn được tồn tại,tồn tại lâu dài,tồn tại mãi mãi.Nhóm Sa-đốc đến gặp Chúa cũng chỉ mong có một lời khuyên dành cho việc hưởng thụ đời này,ngoại trừ việc sống còn đời sau. Xem ra họ chỉ muốn thụ hưởng ,muốn kéo dài sự sống mình bằng sự hiện diện của con cái, dựng vợ gả chồng cho dòng máu của mình, nhưng chẳng hề muốn có sự thưởng phạt, không hề chịu trách nhiệm về những gì mình làm ở đời sau !
“Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống.”Có những giá trị ở đời tưởng chừng như bất tử : tiền bạc,danh vọng,thú vui xác thịt Nhưng tất cả đều có giới hạn, nay còn mai mất và chẳng tồn tại lâu dài. Sách Giảng Viên có câu “ Phù hoa nối tiếp phù hoa,ở đời tất cả chỉ là phù hoa”.Chỉ có Chúa mới là sự sống thật và chỉ ai thuộc về  Ngài,mới được vinh dự trường tồn vĩnh cửu.
Sẽ chẳng có câu trả lời cho hạng người,giống như phái Sađốc, và cũng chẳng có niềm hy vọng nào đáp ứng lại khát vọng cho con người,khi mà tất cả chúng ta đều phải đối diện với cái giới hạn cuối cùng là sự chết,là sự hủy diệt. Câu trả lời của Chúa chính là giải đáp cho sự sống còn đời sau,mà ai nấy đều phải nỗ lực để chiếm lấy,hầu có thể tồn tại vĩnh cửu.Nếu chỉ là hưởng thụ,chỉ là những giá trị thực tại,thì sinh mạng con người có khác gì những con vật và thật đáng xấu hổ.
   Lạy Chúa,con người chúng con vẫn mong ước một cuộc sống trường tồn, nhưng nhiều khi chúng con lại chỉ biết chạy theo và kiếm tìm những cái hư vong.Chúa dựng nên chúng con là để chúng con thuộc về Chúa. Xin giúp chúng con biết sống cho mình,dám sẵm sàng đánh đổi mọi giá trị trần thế, để được thuộc về Chúa. Amen.

 

TN32-C159: NGƯỜI LÀ THIÊN CHÚA CỦA KẺ SỐNG

 Fx. Đỗ Công Minh
 

Chết là hết ! Câu nói cửa miệng của những người tự xưng là vô tín. Vậy điều đó có đúng? Bài Tin TN32-C159

Chết là hết ! Câu nói cửa miệng của những người tự xưng là vô tín. Vậy điều đó có đúng? Bài Tin Mừng hôm nay Đức Kitô đã cho chúng con biết được một điều : Chết là bước vào một đời sống mới. Cuộc sống ở thế giới sau cái chết nối tiếp cuộc sống hôm nay. Đối với” những ai được xét là đáng hưởng hạnh phúc đời sau và sống lại từ cõi chết”, họ sẽ bước vào một cuộc sống không còn như cuộc sống tại thế, ở đó không cưới vợ, cũng chẳng lấy chồng. Không còn gì là ràng buộc với nhau. Họ sống trong ân sủng của Thiên Chúa, như các Thiên Thần, họ không bao giờ chết nữa vì” họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại “. Thế nhưng có phải tất cả mọi người đều được như thế? Chúa Giêsu đã nhiều lần nói trong Tin Mừng về những người được cứu, đó là ” những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ trở nên Con Thiên Chúa” (Ga. 1,12 ).
    Lạy Chúa,
    Để được sống lại trong nước Thiên Chúa, ngay từ cuộc sống nơi trần gian này con phải chuẩn bị mỗi ngày, từng ngày. Chuẩn bị cho ngày Chúa đến với con trong vinh quang. Nếu chỉ chăm bẳm lo cho cuộc sống hôm nay, lo có sức lực, tiền tài, địa vị, lo thụ hưởng mọi thú vui, thỏa mãn mọi nhu cầu về ăn uống, về lạc thú, về quyền lực như một bài hát đã diễn tả:”. . .ngày qua ngay đời nhiều vấn nghi, lạc lòai niềm tin, sống không ngày mai, sống quen không ai cần ai. . . Rồi cuộc vui tàn mọi người bước đi, một mình tôi về, nhiều lần ướt mi. . .” thì sao có thể bước vào một cuộc sống mới? May thay, “ Và con tim đã vui trở lại, tình yêu đến cho tôi ngày mai, tình yêu chiếu ánh sáng vào đời, tôi hy vọng được Ơn cứu rỗi. Và con tim đã vui trở lại, và niềm tin đã dâng về Người, trọn tâm hồn nguyện yêu mãi riêng Người mà thôi!(Và con tim đã vui trở lại- NS Đức Huy ). “ Người” ở đây chính là Đức Giêsu như Thánh Gioan đã diễn tả” Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban con Một( là Đức Giêsu), để những ai tin vào Con của người sẽ khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).
     Xin cho con luôn ý thức rằng rồi con sẽ chết, nhưng không phải là tuyệt vọng, vô vọng, sống không ngày mai. Con dù bất xứng, nhiều lỗi lầm, nhưng nếu con biết nhận mình thiếu sót, tội lỗi, con hồi tâm trở về xin ơn tha thứ, Chúa sẽ cho con sống mãi bên Chúa. Con tin rằng Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người tất cả đều đang sống.
      Nhân tháng cầu nguyện cho các đẳng Linh hồn, xin cho con biết nhớ đến các Linh hồn ông bà, cha mẹ, tổ tiên. Những người đã ra đi trước, đã để lại cho  con một niềm tin “Tôi tin xác lòai người ngày sau sống lại, tôi tin một cuộc sống muôn đời “, con luôn nhớ cầu nguyện cho các Ngài. Cái chết sẽ đến, xin Chúa giúp con biết sống sao, để khi từ bỏ cuộc sống này, con sẽ được tiếp tục sống lại cùng Chúa trên nước trời . AMEN.

 

TN32-C160: TIN VÀO SỰ SỐNG ĐỜI SAU

 Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
 

Có một bạn trẻ hỏi rằng: Tại sao những người cộng sản họ không thích người Công Giáo, họ có TN32-C160

Có một bạn trẻ hỏi rằng: Tại sao những người cộng sản họ không thích người Công Giáo, họ có thành kiến với người Công Giáo, coi những người Công Giáo như những đứa con lai trong xã hội ? Sự khác biệt dẫn đến nghi kị nơi những người cộng sản đối với người Công giáo, đó là trong việc chọn lựa niềm tin và đức tin. Những người vô thần tuyên bố rằng, họ không tin sự hiện hữu của thần linh. Những người vô thần chọn theo thuyết duy vật, họ cho rằng, con người và mọi vật chỉ là do vật chất kết tụ lại, chết là hết, không có linh hồn cũng không có đời sau. Trong thực tế, có những người xưng là vô thần nhưng vẫn tin vào thần thánh, vẫn cúng bái, kể cả lập bàn thờ lén lút trên lầu hoặc trong phòng. Ví dụ, ông Hồ Chí Minh là một người Cộng sản vô thần, nhưng trong di chúc, ông viết rằng: sau khi chết tôi sẽ phải đi gặp Cac Mac, Lenin và các đồng chí của tôi. Nếu ông viết như thế, có nghĩa là chết chưa phải là hết, hồn ông còn đi lang thang đây đó được.
Người Công Giáo tin rằng, thân xác con người được Thiên Chúa tạo dựng từ vật chất, linh hồn do Thiên Chúa trực tiếp tạo dựng nên và linh hồn thiêng liêng, bất tử. Hơn nữa, người Công Giáo còn tin sau khi bước qua cánh cửa sự chết, con người sẽ bước vào sự sống đời sau; đến ngày tận thế, thân xác con người sẽ sống lại, hồn trở về với xác. Đây là niềm tin hết sức đặc biệt của người Công Giáo khiến họ khác với các tôn giáo khác. Vì  niềm tin vào Thiên Chúa, vào sự sống đời sau và coi nhẹ sự sống đời này, khiến người vô thần không thích người Công Giáo.
Nếu như có những người tuyên bố mình vô thần, nhưng vẫn cúng bái, vẫn tin vào sự sống sau khi chết, thì cũng có những người tuyên bố mình là người có đạo nhưng lại sống như người vô thần, vô đạo sống như khống có đời sau. Những người có đạo nhưng không tin, không chỉ là những người ngày nay, mà từ thời Chúa Giêsu đã có những người như thế.
Thời Chúa Giêsu, tất cả những người Do Thái đều tin vào Thiên Chúa duy nhất là Thiên Chúa của tổ phụ Apraham, nhưng không phải tất cả đều tin như nhau. Cụ thể, những người thuộc phái Xa đốc, tức là thuộc hàng tư tế trong đền thờ, họ không tin vào sự sống lại và sự sống đời sau. Vì thế, khi thấy Chúa Giêsu rao giảng về Nước Trời và sự sống đời sau, những người thuộc nhóm Xađốc này đưa ra một ví dụ để bắt bẻ Chúa Giêsu. Họ nói: Mose đã ra luật nối dõi cho anh hoặc em mình: Khi một người cưới vợ không có con, anh ta chết, người em phải cưới người chị dâu đó để nối dõi cho anh mình. Vậy, có bảy anh em trai cùng cưới một người vợ nhưng ai chưa có con thì đã chết, sau này khi sống lại, người phụ nữ đó sẽ là vợ của ai? Những người này tưởng rằng với lý luận và ví dụ như thế, Chúa Giêsu không thể giải thích nổi.
Nhưng Chúa Giêsu đã chỉ cho họ thấy cái sai của họ khi họ lấy những quan điểm, tập tục của trần gian, của đời này để áp dụng cho đời sau. Nhiều người Việt cũng có suy nghĩ “cõi dương làm sao cõi âm làm vậy”, họ lấy suy nghĩ của con người để áp đặt cho Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói với họ: Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, những kẻ sống lại từ cõi chết sẽ không cưới vợ lấy chồng nữa. Họ không chết nữa, họ được ngang hàng với các thiên thần.
Câu trả lời của Chúa Giêsu không những chỉnh lại suy nghĩ của những người Xa đốc, mà còn mạc khải cho chúng ta biết về cuộc sống đời sau. Người ở cõi trần vì phải chết, nên họ có bổn phận và nhu cầu phải duy trì nòi giống cho mai sau. Khi đã bước vào đời sau, con người sẽ bước vào thế giới của thần linh, của bất tử. Vì thế, con người sẽ không có nhu cầu và cũng không cần phải có con nối dõi nữa. Cuộc sống của họ được sánh ngang hàng với các thiên thần, tức là họ được sống hạnh phúc đầy tràn sung mãn vì có Chúa là nguồn hạnh phúc của họ. Vì thế, họ không còn khao khát hoặc tìm kiếm bất cứ thứ hạnh phúc nào nữa.
Chúa Giêsu cũng dùng Kinh Thánh trích từ Sách Ngũ Kinh để minh chứng rằng, ngay từ ngày xưa, các tổ phụ như Apbraham, Isaac và Giacóp đã có một niềm tin sâu xa vào sự sống đời sau. Sở dĩ trích đọan sách Ngũ Kinh này, vì đây là năm cuốn sách đầu tiên và quan trọng nhất của người Do Thái, mà những người Xa đốc chỉ tin nhận năm cuốn sách này mà thôi. Đoạn sách cho thấy, Môse đã tin Thiên Chúa và tin Ngài là Đấng có quyền năng làm cho các tổ phụ trở thành những con người bất tử. Ông tin rằng, các tổ phụ Apbraham, Isaac, Giacop đang được xum họp cùng nhau trong vinh quang của Thiên Chúa. Vì thế, ông đã gọi Thiên Chúa là Chúa của Apbraham, Isaac, Giacop.
Niềm tin vào sự bất tử của linh hồn và sự sống đời sau là một niềm tin đã ăn sâu nơi người Do thái. Chính vì niềm tin này, bao nhiêu thế hệ các tín hữa đã dám liều thân chịu chết, mất mạng sống đời này để được sự sống đời sau. Câu chuyện sách Macabe cho thấy điều đó, khi kể câu chuyện bảy anh em cùng chịu chết với người mẹ, vì trung thành với lề luật Do thái và vì tin sự sống đời sau. Câu trả lời của bảy anh em thể hiện một đức tin vững chắc vào sự sống đời đời. Người anh trả lời các quan: Chúng tôi chết vì luật pháp của Vua vũ trụ, thì Ngài sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời. Người anh kế trả lời các quan: Tôi được Chúa ban cho các phần chi thể, vì lề luật của Chúa, tôi coi thường các thứ đó, vì tôi hy vọng, nhờ Chúa, tôi sẽ lấy lại các phần chi thể mà các ông lấy của tôi. Tất cả những lời tuyên xưng của bảy anh em này, đều nhắm đến một mục đích chung đó là sự sống lại đời sau mà Thiên Chúa sẽ ban cho những người trung thành với lề luật của Chúa.
Thực tế cho thấy, ngày nay có những người có đạo nhưng đang rơi vào tình trạng vô thần. Những người này có rửa tội, nhận mình là người Công giáo, nhưng trong đời sống, họ sống không khác gì những người vô thần. Niềm tin của họ vào Thiên Chúa, vào sự sống đời sau rất mờ nhạt, vì thế mục tiêu cuộc đời của họ không phải là tìm kiếm hạnh phúc đời sau, mà chỉ là tìm kiếm vật chất ở đời này.
Lý do dẫn đến tình trạng vô thần trong thực tế này, là do không đào sâu học hỏi về giáo lý đức tin của mình, để mình trở nên ấu trĩ trong đời sống đạo. Những người này chú tâm phát triển về kiến thức, nhưng lại mất cân bằng trong việc phát triển đức tin, khiến cho cuộc sống bị lệch lac. Lý do tiếp theo là do lối sống đạo hời hợt cảm tình bên ngoài, thiếu sự cầu nguyện và suy gẫm, thiếu gắn bó với Chúa Giêsu và Tin Mừng, khiến trở nên mù mờ trong đời sống đạo. Lý do khác nữa là, do lối sống thực dụng, chạy theo thỏa mãn vật chất, khiến cho nhiều người bỏ quên mục đích chung cuộc của đời mình, là tìm kiếm hạnh phúc Nước Trời, để lao vào tìm kiếm vật chất.
Niềm tin vào sự sống lại và sự sống đời sau sẽ phải là niềm tin thúc đẩy chúng ta sống thật tốt và tròn đầy cuộc sống hôm nay. Chúng ta hướng về cuộc sống đời sau nhưng không bê trễ bổn phận của cuộc sống này; trái lại, vì cuộc sống mai sau, mà chúng ta phải sống tốt ngay từ hôm nay. Chúng ta phải bắt đầu từ trong gia đình, làm cho gia đình mình mỗi ngày thật ấm cúng thuận hòa, trở thành thiên đàng ngay trong gia đình mình.
Niềm tin vào sự sống đời sau sẽ phải phải chi phối mọi hoạt động, lời nói việc làm của từng tín hữu chúng ta. Vì niềm tin ấy, chúng ta sống trong niềm vui và hy vọng và trở thành người đem niềm vui và hy vọng cho người khác. Vì niềm tin này, chúng ta cũng được mời gọi sống thanh thoát khỏi nhưng lôi kéo lệ thuộc của vật chất, danh vọng để sống thanh thoát cao thượng hơn.
Chúa Giêsu đã chết, đã sống lại và lên trời để mở đường cho chúng ta về trời, xin cho chúng ta luôn biết yêu mến Nước trời là quên hương đích thực và là cùng đích của mỗi người chúng ta. Amen.

 

TN32-C161: ĐỜI NÀY VÀ ĐỜI SAU

Lm. Inhaxiô Trần Ngà
 

Có người cho rằng: Chết là hết, không có sự sống đời sau, không còn gì hết. Nếu quả thật như TN32-C161

Có người cho rằng: Chết là hết, không có sự sống đời sau, không còn gì hết.
Nếu quả thật như thế thì cuộc sống của con người thật là bi đát, bởi vì, một khi cái chết đến nó sẽ cướp đi tất cả. Tiền rừng, bạc biển, công danh sự nghiệp lẫy lừng cũng chẳng đem lại lợi lộc gì cho kẻ đã chết.
Theo Giáo Huấn của Hội Thánh Công Giáo: Chết không phải là chấm dứt nhưng là bắt đầu một cuộc sống mới.
Đời nầy và đời sau là hai giai đoạn của một cuộc sống
Hôm nay, con lăng quăng ngo ngoe trong vũng nước, nhưng mai đây nó sẽ hoá thành muỗi, giã từ vũng nước và bay sang môi trường khác.
Hôm nay, con sâu còn nằm yên trong tổ kén; mai đây, nó hoá bướm bay lượn đó đây.
Hôm nay, hạt lúa bị chôn vùi trong bùn đất, tưởng sẽ mục nát đi, ai ngờ mấy tháng sau nó hoá thành bụi lúa sum suê mang nhiều bông hạt…
Con lăng quăng mạt hạng kia, con sâu tí ti hèn hạ kia hay hạt lúa bé nhỏ kia… còn có đời này và đời sau, không lẽ con người là tác phẩm tuyệt vời được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh Ngài lại chỉ có đời này mà chẳng có đời sau?
Thực ra, hôm nay, con người “ở trọ” trên mặt đất, nhưng mai đây sẽ từ giã nhà trọ trần gian để bước sang một thế giới khác.
Như thế, chết không phải là bị tiêu diệt, nhưng là biến đổi. Thánh Phaolô viết:“Chúng ta sẽ không chết, nhưng hết thảy chúng ta sẽ được biến đổi… vì chưng cái hư hoại nầy sẽ mặc lấy bất hoại, đồ chết dở nầy sẽ mặc lấy trường sinh bất tử. (I Cor 15, 51. 53).

Chúa Giê-su dạy có sự sống đời sau
Khi những người thuộc phái Xa-đốc đến chất vấn Chúa Giê-su về cuộc sống đời sau, Chúa Giê-su khẳng định là có. Ngài dạy rằng có “những người được xét là đáng được hưởng phúc đời sau thì không còn chết nữa. Họ giống như các thiên thần” (Lc 20, 36).
Trong dụ ngôn về ngày phán xét cuối cùng, Đức Giê-su cũng tỏ cho thấy kẻ dữ thì “phải ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng lấy sự sống muôn đời.” (Mt 25,46) Như thế, Chúa Giê-su khẳng định không những có cuộc sống đời sau mà còn cho biết cuộc sống đó sẽ kéo dài “muôn đời muôn kiếp.”
Ngoài ra, Chúa Giê-su còn báo cho ta biết có sự sống đời sau khi đoan hứa rằng: “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở… Thầy đi dọn chỗ cho anh em.  … và Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14, 1-2).  
Ngoài những lời dạy của mình, Chúa Giê-su còn dùng cả cuộc đời của Ngài để minh chứng cho thấy có cuộc sống đời sau.
Sự kiện Chúa Giê-su sống lại từ cõi chết chứng tỏ có sự sống đời sau
Dù là Thiên Chúa quyền năng, Chúa Giê-su đã trở nên hoàn toàn là người như chúng ta, đã sống kiếp phàm trần như chúng ta, đã chết như chúng ta và qua ngày thứ ba, Ngài đã từ trong cõi chết sống lại và lên trời vinh hiển. Điều nầy chứng tỏ loài người có sự sống đời sau.
Công trình cứu chuộc của Chúa Giê-su chứng tỏ có sự sống đời sau
Nếu không có cuộc sống đời sau, không có thiên đàng hoả ngục, con người chết rồi là hết, và sau khi chết, ai cũng chỉ còn là tro bụi như ai… thì cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su là hoàn toàn vô ích; cái chết đau thương của Chúa Giê-su trên thập giá chẳng mang lại lợi ích gì cho bất cứ ai. Chẳng lẽ Ngôi Hai Thiên Chúa lại chịu khổ nạn và chịu chết cách vô ích sao?
Để mang lại cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu đời sau cho muôn người, Chúa Giê-su đã không ngại trao hiến thân mình. Điều nầy chứng tỏ cuộc sống mai sau hoàn toàn có thực.
Lạy Chúa Giê-su,
Xin cho niềm tin vào cuộc sống đời sau trở thành một động cơ mạnh mẽ thúc đẩy chúng con sống tốt lành thánh thiện để mai đây được hưởng phúc đời đời.
Xin cho niềm hy vọng nầy cũng thúc đẩy chúng con hy sinh cầu nguyện nhiều hơn, siêng năng dâng lễ nhiều hơn trong tháng 11 nầy để cầu cho ông bà cha mẹ và các tín hữu đã ra đi trước chúng con được về quê trời vui hưởng hạnh phúc ngàn thu.

 

TN32-C162: TẤT CẢ ĐỀU ĐANG SỐNG

P. Trần Đình Phan Tiến
Kính thưa quý vị rất thân mến ! 
 

Suy niệm Lời Chúa trong ba bài đọc hôm nay, chúng ta thấy, sự chết dường như là một sự “đe TN32-C162

Suy niệm Lời Chúa trong ba bài đọc hôm nay, chúng ta thấy, sự chết dường như là một sự “đe dọa” của kẻ “bất lương”, kẻ thống trị bằng cường lực, cường quyền, nói chung là kẻ thủ ác. Vậy, kẻ thủ ác đầu têu là ai, hay nói cách khác kẻ thủ ác số một là ai? Há, không phải là “THẦN CHẾT” hay sao ?! vậy , thần chết đồng nghĩa với sự bại trận, bởi vì ĐỨC KITÔ đã đánh bại tử thần, mở đường cho tất cả những ai đã an giấc ngàn thu.
Vâng , chúng ta thấy Thiên Chúa chính là Tình Yêu là điều hiển nhiên. Nếu , ai biết tháp nhập vào Đức Kitô thì không bao giờ chết, dẫu thân xác thấp hèn chúng ta tạm nghĩ ngơi, sau khi linh hồn chúng ta lìa khỏi xác, dù được mai táng cách nào, cũng trở về bụi tro. Nhưng, linh hồn bất diệt, bởi vì linh hồn là hình bóng bởi Thiên Chúa, hay nói cách khác là Sinh Khí Thần Linh không bao giờ chết được. Nhưng, vì như thánh Phaolo nói : “… bởi vì không phải ai cũng có đức tin .”(2Tx 3, 2b)
Vậy, đức tin của người Công giáo là : “Tin xác loài người ngày sau sống lại .. tin hằng sống vậy…”. Vâng, đức tin Công giáo hoàn toàn có cơ sở. bởi vì, Đức Kitô là “ĐẦU”, Đầu sống vĩnh hằng, thì Thân Mình không thể chết được. Đây là điều chắc chắn, mà các thánh đã đi qua , đã cảm nghiệm và đã minh chứng cách trung kiên. Tuyên xưng đức tin bằng máu đào, không phải có từ thời Đức Kitô rao giảng công khai và cứu chuộc, nhưng, đã có từ thời Cựu Ứơc, sách II Mcb đã cho thấy điều đó. Bảy anh hùng tử đạo cùng với mẫu thân kiên cường anh dũng mà Bài đọc I hôm nay nhắc đến (2 Mcb 7, 1-2 ; 9 -14 ), là một tấm gương anh dũng muôn đời cho đức tin và sự sống muôn đời nơi những linh hồn thánh thiện bất tử. Vâng, sự bất tử của các thánh, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, là một minh chứng xác tín về sự sống vĩnh hằng.
Vâng, chính vì điều ấy, Thiên Chúa đã tự xác tín cho loài người qua cuộc Khổ Hình sinh ơn Cứu Độ của Ngôi Hai Thiên Chúa là Đức Giêsu- Kitô.
Tin Mừng hôn nay ( Lc 20, 27 -38), qua thánh Luca, Chúa Giêsu xác tín sự sống lại của loài người có đức tin và trên hết Người xác tín rằng : “… tất cả đều đang sống .” ( Lc 20, 38b)
Vâng, Đấng Hằng Sống xác tín điều hằng sống, mà chúng ta không tin, thì chúng ta là những kẻ mù quáng đến cực độ. Một sự mù quáng tin theo thần chết thì chúng ta làm sao cùng sống với Đức Kitô.
Sự sống vĩnh hằng không thể diễn tả bằng con mắt thể lý, nhưng được bày tỏ theo nhãn quan đức tin. Vì, Thiên Chúa hằng sống vô biên, không thể theo sự hữu hình mau tan biến .
Chúng ta tin vào Đức Kitô, vì trong Thiên Chúa không có sự chết, kẻ chết, vì vậy, “TẤT CẢ ĐỀU ĐANG SỐNG “, đó là LỜI HẰNG SỐNG từ Đức Giêsu- Kitô, Đấng đã PHỤC SINH.
Lạy Chúa Giêsu , Ngôi Lời Hằng Sống, xin thương ban cho chúng con biết bước theo Người, để đáng nhận được sự sống muôn đời bởi Chúa mà ra./. Amen.

 

TN32-C163: SỰ SỐNG ĐỜI SAU

Lm. Trịnh Ngọc Danh
 

Chết là hết hay chết là đi về một thế giới khác? Các nhà bác học, triết học cũng chưa ai giải TN32-C163

Chết là hết hay chết là đi về một thế giới khác? Các nhà bác học, triết học cũng chưa ai giải đáp thỏa đáng được nỗi băn khoăn của con người. Dù cho quan niệm vô thần bảo rằng chết là hết thì vẫn không làm an tâm người đang sống hưởng thụ. Hầu hết các tôn giáo đều quan niệm rằng chết chưa phải là hết, nhưng chết là được đưa sang một thế giới khác hoặc được đưa đến một chỗ nào đó để tiếp tục sống.
Người  Xađốc không tin có sự sống lại, người Do thái thì tin. Để tranh luận với Chúa Giêsu về việc kẻ chết sống lại, họ đã dựa vào luật Môsê: “Thưa Thầy, ông Môsê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải cưới lấy nàng, để gầy dựng một dòng giống cho anh em mình.” từ đó, họ nêu lên một trường hợp: nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. Cứ thế sáu anh em còn lại tiếp tục lấy cô vợ góa ấy; nhưng bảy anh em đều chết mà không ai để lại đứa con nào. Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết: “Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy là vợ của ai, vì cả bảy đều lấy nàng làm vợ?”
Để trả lời, Chúa đưa ra hai sự sống khác biệt giữa hai thế giới khác nhau: “ Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng.” Chúa Giêsu phủ nhận quan điểm cho rằng đời sau chỉ là tiếp nối đời này, và không thể so sánh giữa đời này với đời sau sau khi sống lại; đồng thời, Ngài dùng bằng chứng về các tổ phụ như Ápraham, Ixaác và Giacóp đang sống để khẳng định về niềm tin kẻ chết sống lại.
Người ta chỉ đối diện với thực trạng cái chết cho cuộc sống hôm nay về thân xác mà chưa ai biết được phần linh thiêng sẽ tồn tại và sống thế nào trong cõi mai sau. Nhưng cuộc sống đời sau ở một thế giới nào đó lại là kết quả của cuộc sống hôm nay: khi còn sống, ăn ngay ở lành thì sẽ được sống hạnh phúc, nhưng sống độc ác sẽ chịu hình phạt. Đó là luật nhân quả. Nhưng có một điều không tôn giáo nào, không triết thuyết nào quan niệm rằng con người chết đi rồi sẽ sống lại và sống vĩnh cửu không bao giờ chết nữa như Kitô giáo dạy. Đây là một niềm hy vọng tuyệt vời. Đời sống con người không phải là một cuộc hành trình dẫn đến nơi mơ hồ nào đó, nhưng là đến một miền đất hứa của đời sống vĩnh cửu. Niềm hy vọng ấy không dựa trên bất cứ điều gì của con người, nhưng trên quyền năng và lời của Thiên Chúa. Ngài liên kết chúng ta lại thành một dân mới đang hành trình trong hy vọng về miền đất hứa của sự sống đời đời. Thiên Chúa tạo dựng chúng ta không phải để chết nhưng để sống đời đời: “ Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.”(Ga 3:16)
Sau cái chết của thân xác, con người sẽ phải trải qua một cuộc phân loại như thợ gặt phân loại lúa tốt và cỏ lùng. Vào ngày phán xét chung, khi các dân thiên hạ sẽ được tập họp trước Con Người: “ Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên và dê.” Chiên và lúa tốt là những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết. Họ sẽ sống theo một trật tự khác. Họ không thể chết nữa và họ được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái của Thiên Chúa, con cái của sự sống lại.
Cái chết là sự vượt qua để bước vào cuộc sống mới. Điều tốt nhất giúp chúng ta đối diện với thực tế của cái chết là đức tin. Đức tin giúp chúng ta can đảm và hy vọng vào tình yêu của Thiên Chúa. Niềm hy vọng sống lại của người Kitô hữu dựa vào quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa.
Mọi người ai cũng chết, nhưng không phải ai cũng sống. Thảm kịch của cuộc đời là đến khi cuộc đời chấm dứt chúng ta mới nhận ra chúng ta chưa từng sống thực được bao giờ cả!

 

TN32-C164: TIN SỰ SỐNG LẠI

 Lm. Giacobe Tạ Chúc
 

Mỗi một tôn giáo đều có những quan niệm về cuộc sống sau khi chết. Vì suy cho cùng, nếu lý TN32-C164

Mỗi một tôn giáo đều có những quan niệm về cuộc sống sau khi chết. Vì suy cho cùng, nếu lý giải chết là hết xem ra không ổn chút nào. Con người “linh ư vạn vật”, “thác là thể phách hồn còn tinh anh”. Phật Gíao có Niết bàn, Hồi Giáo có miền thiên đàng cực lạc. Ki-tô Giáo đó là cuộc sống hạnh phúc trong Nước Trời. Dưới rất nhiều nhãn quan, người ta không thể chối bỏ một cuộc sống sau khi đã chết. Nếu vậy ý nghĩa của đời người thật phi lý, thật buồn nôn, như nhận định của triết gia hiện sinh Jean-Paul Sartre.
Những người Sa-đốc chịu ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp. Theo quan niệm của ông Pla-ton thì thân xác con người là ngục tù giam hãm linh hồn. Con người từ thượng giới đã bị vong thân, nên giải thoát là ra khọi ngục tù thân xác. Vì vậy, khi nghe Đức Giê-su nói về sự sống lại thì họ không thể chấp nhận. Đã mong cứu cánh đời mình là ra khỏi nó để bay vào thế giới ý tưởng, hay là thượng giới. Thật không thể hiểu nổi khi phải sống lại trong thân xác, mà trường phái Pla-ton rất xem thường. Để biện hộ cho lập trường của mình, những người Sa-đốc bèn đưa ra một câu chuyện phù hợp với luật Mô-sê dạy, nhưng rất khó xảy ra không đời sống thường ngày, nếu không dám nói là nó không có thật. Một phụ nữ kết hôn trong một gia đình với bảy anh em trai. Vì theo luật, khi người anh chết đi mà người vợ chưa có con, thì buộc người em kế tiếp sẽ cưới chị dâu đó làm vợ mình. Bảy anh em cùng chung một số phận, đều là chồng của người vợ này và hết thảy đều chết. Vấn nạn trở nên vô cùng éo le, khi vào ngày sống lại, làm sao để giải quyết các trường hợp này. Đức Giê-su chẳng đưa ra một phán quyết hay lời giải thích nào. Ngài chỉ khẳng định: “ Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là hưởng phúc đời sau, và sống lại từ cõi chết thì không cưới vợ, cũng chẳng lấy chồng” (Lc 20, 34-35). Như vậy, Đức Giê-su qua lời giải đáp đã bật mí cho con người biết sự khác nhau giữa đời này và đời sau. Vì Thiên Chúa là Chúa của những kẻ sống, chứ đâu phải của những người đã chết.
Trong những tuần gần hết năm phụng vụ, các bài đọc lời Chúa như được trưng bày qua lăng kính cánh chung. Cuộc sống sau này và số phận mỗi người, sẽ được định đoạt tùy theo những việc mình làm. Thiện ác sẽ được giải quyết một cách dứt khoát. Và Thiên Chúa của tổ phụ Aqp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ac, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Ngài cũng chính là Chúa của mọi con người trên khắp cõi trần gian. Nguyện xin Ngài đưa dẫn tất cả anh chị em vào cõi sống, phúc vinh muôn đời. Amen.

 

TN32-C165: CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN_C

Lm. Antôn
Ông bà anh chị em thân mến. 
 

Chúng ta đang ở trong tháng 11, và trong tháng này Giáo hội kêu gọi chúng ta hy sinh thời giờ TN32-C165

Chúng ta đang ở trong tháng 11, và trong tháng này Giáo hội kêu gọi chúng ta hy sinh thời giờ cầu nguyện cho những người đã chết, ông bà, cha mẹ, thân thuộc và những người đã sống trong cộng đoàn giáo xứ đã qua đời.  Và cũng trong tháng này, chúng ta được kêu mời suy niệm về sự chết và cuộc sống đời sau, qua giáo lý của Giáo hội, và qua những bài Kinh thánh trong những tuần cuối cùng của năm Phụng vụ.
Quả thực, như chúng ta biết, chết là một thực tại đáng sợ nhất trong cuộc đời, chính vì thế mà mọi người chúng ta cố gắng tìm đủ mọi cách tránh nói, tránh đề cập đến hay nghĩ về sự chết.  Và có nhiều người phủ nhận cái chết sẽ không đến với họ.
Trong ngôn ngữ Việt hay Mỹ, mọi người đều tránh nói đến hay đề cập đến sự chết.  Tiếng Việt, người chết được gọi là người quá cố, người khuất núi, người đã yên giấc nghìn thu hay người đã ra đi trước chúng ta.  Tiếng Mỹ, người chết được gọi là passed away, deceased, deparded.   Nhưng muốn hay không, cái chết là một sự thật, là một định luật của tạo hóa, có sinh thì phải có tử.  Sự chết đến bằng nhiều cách: bệnh, già, tai nạn và thiên tai. Chúng ta đã chứng kiến không biết bao nhiêu người thân thương ruột thịt chết, và chúng ta chứng kiến cái chết qua các qua những phương tiện truyền thông, truyền hình, báo chí mỗi ngày.
Thật vậy, đối với những người không có niềm tin, sự chết quả là một sự tuyệt vọng và phi lý nhất trong cuộc sống, nhưng đối với những người có niềm tin, thì chính sự chết mang lại ý nghĩa cho cuộc sống, và đó là thái độ mà mỗi Kitô hữu chúng ta khi đứng trước phần mộ của người đã chết.  Cái chết mang lại ý nghĩa và hy vọng cho chúng ta, bởi vì chúng ta xác tín rằng bên kia cái chết, cuộc sống vẫn tiếp tục, đó là cuộc sống vĩnh cửu đời sau. Đây là niềm tin, là niềm hy vọng mà chúng ta được mời gọi sống mỗi ngày, và cũng là lý do tại sao chúng ta cầu nguyện cho người thân yêu đã chết.
Lời Chúa mời gọi chúng ta hãy vững tin và hy vọng vào cuộc sống vĩnh cửu đời sau.  Chúa Giêsu không những rao giảng về sự sống lại mà chính Ngài là sự sống lại.  Sự phục sinh của Chúa Giê-su là bảo chứng cho sứ vụ cứu độ, cho của cuộc sống và làm chứng cho lời rao giảng của Ngài.  Thật vậy, đức tin của chúng ta được xây dựng trên sự phục sinh của Chúa Giê-su, như lời thánh Phaolô khẳng định trong thư gởi giáo đoàn Côrintô: “Nếu Chúa Giêsu không sống lại thì đức tin của chúng ta thật là hão huyền.”  Trong Kinh Tin Kính chúng ta vẫn thường đọc: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.  Tôi tin hằng sống vậy.  Amen.”  Chúng ta đọc và chúng ta vẫn tin như thế, nhưng không phải tất cả mọi người đều tin như vậy.
Trong bài Tin mừng hôm nay, những người Sa-đốc, không tin có sự sống vĩnh cửu đời sau, không tin có thiên thần, không tin có linh hồn bất tử, không tin có thưởng phạt, cho nên họ không tin có sự sống lại.  Chính vì vậy, họ đến gặp Chúa Giê-su với ý định muốn gài bẫy để làm nhục Ngài trước mặt mọi người.  Họ đưa ra câu chuyện bảy anh em đều cưới một phụ nữ, và chất vấn Chúa, khi sống lại, người phụ nữ này sẽ là vợ của ai?  Đây quả là một câu hỏi khó và là cạm bẫy, nhưng chúng ta thấy Chúa Giêsu đã trả lời cách rõ ràng cho họ dựa trên lý luận và trên Kinh Thánh.  Chúa cho họ biết những ai được Chúa xét là đáng hưởng hạnh phúc đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng, nghĩa là họ đã trở nên con cái Thiên Chúa, họ như những thiên thần, họ sẽ không còn chết nữa, họ được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa, sự sống phục sinh khác xa với sự sống ở trần gian này.
Ông bà anh chị em thân mến.  Đức tin vào sự phục sinh sống lại của Chúa Giê-su mang lại ý nghĩa, niềm phấn khởi và hy vọng cho cuộc sống Ki-tô hữu chúng ta hôm nay. Mặc dù phải đối diện hay phải trải qua nghịch cảnh, phải qua sự khó khăn, nhục nhằn và khổ đau, mặc dù phải hy sinh hay chịu thiệt thòi, với niềm xác tín vào Chúa Giê-su Ki-tô Phục sinh, chúng ta tìm được can đảm để sống Lời Chúa và trung thành làm chứng cho Chúa.  Sự phục sinh của Chúa cho chúng ta sức mạnh để chúng ta hy sinh phục vụ tha nhân, cũng như bác ái và quảng đại để xây dựng Nước Chúa và làm sáng danh Chúa.  Và với niềm xác tín vào sự phục sinh của Chúa, chúng ta tìm được bình an và vui mừng ở đời này, và nhất là hạnh phúc vĩnh cửu trong cuộc sống đời sau, như lời Chúa quả quyết với chúng ta: “Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống. Vì mọi người đều sống cho Chúa.” 
Vì là những người có đức tin vào sự phục sinh và lời của Chúa Giê-su Ki-tô, chúng ta biết về sự sống lại và thưởng phạt vĩnh cửu trong đời sống ngày sau, cho nên ngày hôm nay chúng ta hãy sống như những người con của Thiên Chúa, và như những người quản lý khôn ngoan và tốt lành của Ngài, có lòng hy sinh phục vụ, giúp đỡ, chia sẻ với người nghèo khổ, và có lòng quảng đại, bác ái đóng góp xây dựng Nước Chúa và làm sang danh Chúa nơi trần gian.
Một câu chuyện dụ ngôn kể về một người giàu có kia, khi gần chết lòng trí vẫn chỉ nghĩ đến tiền của, là động lực đã thúc đẩy ông khổ cực suốt cả cuộc đời. Dùng chút sức tàn, ông cố lấy chiếc chìa khóa dấu ở gầm giường và trao cho người con thương yêu của ông. Ông nhà giàu ra dấu chỉ chiếc rương nằm trong góc nhà, và bảo người con lấy những túi vàng và đô la ở trong đó bỏ vào quan tài.  Sau khi chết, ông gặp thánh Phê-rô, và được thánh Phê-rô chở vào khu ông sẽ cư ngụ.  Khi đi ngang qua khu nhà khang trang đẹp đẽ như ngôi nhà ông ở dưới trần thế, ông liền nói với thánh Phê-rô ông muốn ở đây, nhưng thánh Phê-rô nói với ông khu này đã có người ở và đặt cọc rồi.  Thánh Phê-rô tiếp tục chở ông đến khu nhà lụp xụp, và dẫn ông đến một ngôi nhà tại đó.  Ông nhà giàu bất bình phản đối và nói: “Thưa ngài, tôi không thể sống nơi đây và trong ngôi nhà này được.  Tôi xin xây một ngôi nhà khác với số vàng và đô la tôi mang theo đây.”  Thánh Phê-rô mỉm cười và nói với ông: “Thưa ông, đô la và vàng không có giá trị ở trên đây. Chúng tôi chỉ dùng tiền và những vật liệu mà trong cuộc sống trước đây, ông đã gởi lên để xây nhà cho ông mà thôi.  Nếu ông không muốn ở khu này, thì dưới kia còn nhiều chỗ lắm.” Chúa hứa sẽ chuẩn bị một chỗ cho chúng ta, nhưng chúng ta phải gởi tiền và vật liệu để xây khi chúng ta còn ở dưới trần thế này.
Tóm lại, qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mạc khải và khẳng định cho chúng ta tín điều về sự sống lại và đời sống đời sau. Chúng ta tự hỏi phải sống như thế nào, và thể hiện niềm tin ấy bằng cách nào trong đời sống hôm nay để được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu Nước Trời ngày sau.  Xin Chúa ban ơn lành và sự khôn ngoan cho chúng ta.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây