Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-C Bài 51-100 Thiên Chúa của kẻ

Thứ tư - 06/11/2019 08:23
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-C Bài 51-100 Thiên Chúa của kẻ sống
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-C Bài 51-100 Thiên Chúa của kẻ sống
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32 TN-C Bài 51-100 Thiên Chúa của kẻ sống
TN32-C51. KHIÊM TỐN VÀ QUẢNG ĐẠI 2
TN32-C52. Sự bất tử của linh hồn. 5
TN32-C53. PHỤC VỤ LÀ PHỤC SINH.. 8
TN32-C54. THIÊN ĐÀNG CÓ GÌ ?. 12
TN32-C55. ĐI ĐÂU LOANH QUANH CHO ĐỜI MỎI MỆT ?”. 13
TN32-C56. Chắc chắn và bảo đảm có sự sống. 15
TN32-C57. ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA, TẤT CẢ ĐỀU ĐANG SỐNG.. 16
TN32-C58. ĐỜI SAU.. 20
TN32-C59. CUỘC HÀNH HƯƠNG TIẾN VỀ VĨNH CỬU.. 21
TN32-C60. CUỘC CHIẾN KHỐC LIỆT.. 24
TN32-C61. NÓI TRĂNG NÓI CUỘI 28
TN32-C62. Thân xác sống lại 31
TN32-C63. Nhìn cái chết của chúng ta qua cái chết của Đức Giêsu. 33
TN32-C64. Sống lại – ĐTGM Ngô quang Kiệt. 34
TN32-C65. CẢ LOÀI NGƯỜI NAY ĐỔI LỐT.. 36
TN32-C66. TẤT CẢ ĐỀU ĐANG SỐNG.. 39
TN32-C67. ĐỊNH LUẬT BẤT BIẾN.. 43
TN32-C68. ĐỨC TIN VÀ SỰ KHÔN NGOAN CỦA LOÀI NGƯỜI 44
TN32-C69. Sống lại 47
TN32-C70. Một mầu nhiệm lớn hơn chúng ta biết 48
TN32-C71. Mất hết cả đời người! 49
TN32-C72. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin. 52
TN32-C73. Chú giải của Noel Quesson. 54
TN32-C74. Vấn đề đời sau - R. Gutzwiller 58
TN32-C75. MỘT THỰC TẠI MỚI LẠ TUYỆT VỜI 59
TN32-C76. CUỘC SỐNG MAI HẬU.. 64
TN32-C77. KẺ CHẾT SỐNG LẠI. 73
TN32-C78. THIÊN CHÚA CỦA KẺ SỐNG.. 75
TN32-C79. TIN VÀ HY VỌNG.. 76
TN32-C80. CHÚA NHẬT 32 TNC.. 78
TN32-C81: SỰ CAO TRỌNG CỦA LOÀI NGƯỜI 81
TN32-C82: CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN.. 83
TN32-C83: CÓ LINH HỒN BẤT TỬ KHÔNG?. 85
TN32-C84: HẠNH PHÚC ĐỜI SAU.. 87
TN32-C85: SỰ SỐNG LẠI 88
TN32-C86: ĐỜI NÀY và ĐỜI SAU.. 89
TN32-C87: KẺ CHẾT SỐNG LẠI 91
TN32-C88: SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXXII - 2001. 94
TN32-C89: Chúa Nhật thứ 32 Thường Niên. 95
TN32-C90: CÓ SỐNG LẠI KHÔNG ? HÃY TÌM HIỂU…... 99
TN32-C91: SỐNG.. 101
TN32-C92: Chúa Nhật 32 Quanh Năm.. 104
TN32-C93: CHÚA NHẬT 32 QUANH NĂM... 106
TN32-C94: CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN.. 110
TN32-C95: VĨNH HẰNG.. 112
TN32-C96: Họ là con cái Thiên Chúa giống như các thiên thần. 114
TN32-C97: Niềm Tin Xác Tín. 116
TN32-C98: THIÊN ĐÀNG VĨNH PHÚC.. 117
TN32-C99: Trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai 120
TN32-C100: ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA, MỌI NGƯỜI ĐỀU ĐANG SỐNG.. 121

 

TN32-C51. KHIÊM TỐN VÀ QUẢNG ĐẠI

Tin Mừng Mc 12,38-44
 

Trong lúc giảng dạy, Đức Giêsu nói rằng: "Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh,: TN32-C51

Trong lúc giảng dạy, Đức Giêsu nói rằng: "Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn".
Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng bạc Rôma. Đức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói:"Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống".
=======
KHIÊM TỐN VÀ QUẢNG ĐẠI
Từ đoạn Tin mừng ngắn ngủi này, ta có thể rút ra hai suy niệm: suy niệm về đức khiêm tốn và suy niệm về đức quảng đại.
1. Chúng ta có khiêm tốn đúng không?
Trước hết, Đức Giêsu tấn công các kinh sư, các "tiến sĩ Luật", Người tố cáo thói hư vinh, hám của và giả hình của họ. Thật kinh khủng mà nghĩ rằng một thẩm quyền lớn lao trong các khoa học thánh không tất nhiên đem lại sự cao thượng tâm hồn.
Nhưng xem ra tất cả cái này chẳng mấy liên hệ tới ta. Biếm họa về thói hư vinh có lẽ đã khiến ta nghĩ đến ai đó kiêu căng hợm hĩnh mà ta biết rõ để rồi mỉm cười. Ta chẳng vượt lên trên những thói kiếm tìm uy thế thảm hại đó sao? Tuy nhiên, khi thấy Đức Giêsu chê ghét những kẻ tự phụ đến độ ấy, ta hãy để dâng lên trong mình một lời báo động: "Phải chăng tôi hoàn toàn sạch mọi thói hư vinh?"
Tại sao Đức Giêsu lại khắt khe đối với tật xấu này, vốn nực cười hơn là ác hiểm? Toàn bộ Tin Mừng trả lời chúng ta: Đức Giêsu là chân lý, mà thói hư vinh lôi lại chúng ta đến chỗ giả tạo. "Một ngày kia tôi tự hỏi, thánh nữ Têrêxa Avila kể lại, tại sao Chúa lại yêu đức khiêm nhường đến thế? Tôi nhớ lại rằng chính vì Thiên Chúa là sự thật cao vời và khiêm tốn chẳng là gì khác ngoài việc bước đi trong sự thật".
Như thế, khiêm tốn chắc chắn là điều tốt đẹp. Thế nhưng có những người vẫn không thích nó. Đúng ra họ chẳng nên thích lòng khiêm tốn giả hiệu, là một cái gì xấu xa. Có lẽ chính vì cái hỏng kiểu này mà thời đại thẳng thắn cách tàn nhẫn của chúng ta chê ghét đức khiêm tốn. Nó trách đức khiêm tốn có những thái độ gàn dở và một giọng điệu giả hình. Ai chẳng khó chịu trước những lối nói "theo thiển ý" chẳng khiêm tốn tí nào cả?
Vậy phải phản ứng ra sao khi Đức Giêsu khẳng định với chúng ta rằng khiêm tốn đúng là dấu hiệu chân thực của Người: "Tôi có lòng hiền hậu và khiêm tốn" (Mt 11,29). Người mời chúng ta đạt đến đức khiêm tốn chắc chắn rất thuần khiết và rất xinh đẹp nào đây?
Đạt đến đức khiêm tốn dâng lên từ đáy sâu thẳm nhất của chúng ta, vốn là chính chúng ta, chứ chẳng phải đạt đến lòng khiêm tốn "dỏm" mà nếu "trau dồi là trau đồi thói đạo đức giả" (Gandhi). Khi dạy ta coi chừng thói hư vinh, Đức Giêsu cũng bảo ta đề phòng thói giả nhân giả nghĩa. Không được làm ra vẻ khiêm tốn, song là nên khiêm tốn thật.
Ta chỉ đạt đến điều này bằng cách đặt mình trước sự vô biên của Thiên Chúa. Chính trong kinh Vinh danh mà ta tìm thấy tiếng kêu đẹp nhất của lòng khiêm tốn: "Chúng con cảm tạ Chúa vì vinh quang cao cả Chúa, chúng con hạnh phúc vì Chúa vĩ đại nhường bao".
Trước Hy mã lạp sơn này, các dịbiệt hơn kém giữa chúng ta thật ra chẳng là gì, và khi ý thức điều này, ta được một niềm vui quý giá, dám nói là khá hiếm hoi: niềm vui thấy người khác có những đức tính và những thành tựu. Trong thói khao khát hư danh, có biết bao buồn bã và bao giả dối. Vào chính lúc tôi tuyên bố mình không đố kỵ ghen ghét, khuôn mặt và cung giọng của tôi nói lên điều trái ngược. Việc tập tành đức khiêm tốn là một trường dạy sự thật rất cam go.
Trên con đường sự thật này nổi lên một vật cản lạ lùng. Một vài trào lưu tu đức khiến chúng ta nói theo kiểu như sau: "Tôi chỉ là hư vô", trong khi Thánh vịnh 8, ví dụ vậy, dám khẳng định: "Con người là chi mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm? Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên". Điều này khiến chúng ta lúng túng. Sự thật con người của chúng ta ở chỗ nào, trong việc hư vô hóa hay trong việc quá tán dương?
Vẫn biết rằng chúng ta nhỏ bé, như Đức Giêsu bảo, nhưng chúng ta lại được mến yêu vô cùng! "Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã mạc khải những điều này cho những người bé mọn" (Mt 11,25).
Tình yêu ấy mời gọi chúng ta tiến đến sự cao cả. Vài kiểu khiêm tốn của chúng ta ("tôi chẳng đáng... tôi không có khả năng...") thật ra chỉ là do kiêu ngạo: sợ thất bại, sợ bị phê bình. Nếu thế là có nguy cơ muốn sống tầm thường xoàng xĩnh. Đó chẳng phải là khiêm tốn! Đức Giêsu đề nghịvới chúng ta điều khác hẳn, một sự pha trộn khá khó khăn giữa khiêm tốn và tham vọng: "Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện" Có tham vọng nào hơn? Nhưng "không có Thầy, anh em chẳng làm gì được". Đúng là đưa chúng ta về lại sự khiêm tốn của một tạo vật! Như thế chúng ta phải bơi giữa tự phụ và chán nản, hai bộ mặt của thói kiêu căng.
2. Chúng ta có quảng đại đủ không?
Trong phần hai của bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu muốn lôi chúng ta đến một lãnh vực làm ta khiếp sợ: lãnh vực của đức quảng đại điên rồ. Xin nói rõ: "điên rồ". Vì tất cả chúng ta đều có thực thi lòng quảng đại, nhưng cách thận trọng. Và đó là cái Đức Giêsu nhẩn nha nhìn khi ngồi đối diện với hòm cúng Đền thờ. Người nhận thấy "có lắm kẻ giàu bỏ thật nhiều tiền", tuy nhiên Người vẫn tỏ ra lạnh nhạt.
Nhưng thình lình Người bị thu hút bởi một cái gì rất khác: của dâng của một bà góa nghèo. Và Người mạc khải cho các môn đệ, ít chú ý hơn vì họ không thể phá vỡnhững bề ngoài như Người, rằng đó là một cử chỉ cuồng điên: "Thầy bảo thật anh em (Người dùng thành ngữ này khi bài học là quan trọng): bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết".
Bài toán kỳ lạ! Một bên, nhiều số tiền lớn, và bên kia chỉ hai đồng kẽm. Thế nhưng Đức Giêsu quả quyết: những đồng tiền này có giá trịhơn những quan tiền của mấy người kia.
Lúc đó xuất hiện hai từ ta chê ghét vì chúng gây cho ta mặc cảm phạm tội và làm cho ta bực bội khó chịu: dư thừa và túng thiếu. Ta muốn tin mình quảng đại khi cho, nhất là nếu cho nhiều, nhưng ta biết rõ rằng bao lâu cái đó chưa động đến cái cần thiết tối thiểu của ta, ta vẫn còn xa những điên rồ của Tin Mừng. "Nếu cái bạn cho người khác không là một mất mát đối với bạn, thìđó chẳng phải là một món quà" (Mẹ Têrêxa Calcutta)
Được ân sủng tác động, đôi khi ta cũng cố gắng phân biệt nhiều ít cái ta thật sự cần thiết với cái ta, xét cho cùng, có thể hy sinh. Ta rốt cục muốn hơi điên một tí, và rất có thể cho bộ cánh này, đồ đạc này, số tiền này, mà sẽ chẳng vì đó tiêu tùng. Nhưng một sợi dây cáp to tổ bố đã giữ ta lại: "Lỡngày mai mình cần đến nó thìsao?". Ngọn lửa quảng đại đẹp đẽ vụt tắt.
Ngọn lửa này chỉ có thể cháy với đức tin thôi. Bà góa Đức Giêsu ca ngợi lâm vào một cảnh khó nghèo đáng sợ, nhưng bà lại giàu có một đức tin khiến bà muốn cười lên khi các đồng xu cuối cùng của bà biến mất. Chỉ đức tin mới trục xuất được nỗi sợ thiếu hụt, và đó không phải là điều deă thực hiện! "Cha anh em, Đức Giêsu nói, biết rõ anh em cần gì. Vậy khi cầu nguyện, anh em hãy thưa như sau: xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày". Chúng ta có lẽ muốn thêm: "Và lương thực ngày mai nữa". Ngày mai, tôi còn chỗ của mình chăng? có lương hưu đầy đủ chăng? Cái gì sẽ rơi xuống trên đầu tôi: một tai nạn ghê gớm, một cơn bệnh hiểm nghèo?
Các tư tưởng này chẳng phải là mảnh đất tốt để vun đắp lòng quảng đại.
Nhưng Đức Giêsu nhìn chúng ta: "Thầy bảo thật anh em: bà này đã túng thiếu, lại còn bỏ vào đó tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân". Không thể không nghĩ tới chính Người là kẻ sắp cho tất cả. Bà góa nghèo là nhân vật cuối cùng mà Tin Mừng đặt trước mắt chúng ta trước khi xảy ra cuộc Khổ nạn. Chúng ta có nhận thấy rằng người đàn bà này là một trong những hình ảnh đẹp nhất của Đức Giêsu chăng? Vứt bỏ mọi tính toán cái cần thiết của chúng ta, các nỗi sợ thiếu hụt của chúng ta, bà còn làm rạng sáng đức tin laăn thái độ dâng hiến: "Lạy Chúa, con cho tất cả bởi lẽ con chẳng sợ gì". Đó là lý do tại sao Đức Giêsu ngợi khen bà, kẻ với Người cùng một hạng.
Tìm ở đâu sức mạnh tiến đến những điên rồ như thế? Trong đức tin. Bỏ đi một đức tin lý thuyết và sợ hãi để nhảy vào trong những kinh nghiệm đức tin thực sự. Một câu nói có thể giúp chúng ta, câu nói của vịthánh đã từ khước nỗi sợ ngày mai cách quyết liệt nhất: Cottolengo. Ngài từng nói: "Cha của ngày mai sẽ cũng là Cha của hôm nay".
Nhưng đâu là Cha của chúng ta hôm nay: Thiên Chúa hay trương mục ngân hàng? Từ "ngân hàng" này khiến ta nhớ đến suy nghĩ khủng khiếp của thánh VinhSơn Phaolô, vịtông đồ bác ái: "Hạnh phúc cho những người nghèo là có những người nghèo, chỉ họ mới biết cho thôi". Tai họa đích thực của của cải là thế: gây lo lắng và làm chật bụng. Được hỏi về lòng quảng đại, một kitô hữu đã trả lời: "Tôi có một đồng lương rất thoải mái nhưng không thể làm khác được, tôi sợ phải trao tặng vì sợ cho ngày mai". Bao lâu đức tin chúng ta còn ve vãn các nỗi sợ của chúng ta, chúng ta vẫn sẽ ở trong những kiểu quảng đại rất ư là khôn ngoan, thận trọng (lược dịch André Sève, Un rendez-vous d"amour)

Suy Niệm của Linh Mục Phêrô Phan Văn Lợi

 

TN32-C52. Sự bất tử của linh hồn

Lu-ca 20, 27-38
“Có mấy người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Mấy người ấy hỏi Đức Giê-su : "Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta điều luật này : Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình. Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. Người thứ hai, rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ ?"
Đức Giê-su đáp : "Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham,Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống."
***
 

Chúa Giê-su đã đánh bại các kinh sư và các thầy tư tế khi họ tìm cách gài bẫy Ngài về chuyện: TN32-C52

Chúa Giê-su đã đánh bại các kinh sư và các thầy tư tế khi họ tìm cách gài bẫy Ngài về chuyện nộp thuế, bây giờ đến lượt một nhóm người Xa-đốc, một đảng thế lực trong hàng các thượng tế tấn công Ngài. Họ không tin sự bất tử của linh hồn, không tin sự sống lại của người chết, không tin có các thiên sứ và các thần linh. Về Kinh Thánh họ chỉ công nhận bộ luật thành văn của Cựu ước, và trong Cựu ước họ chỉ coi trọng luật Mô-sê.
Dựa vào luật hôn nhân kế tục Lê-vi (Đnl 25,5) : Khi một người đàn ông chết không con nối dõi, em trai (hay anh trai) người này phải cưới người vợ góa đó và sinh con để nối dòng cho người thân quá cố. Có lẽ vào thời Chúa Giê-su, luật đó không còn thi hành nữa, nhưng nó đã có trong bộ luật Mô-sê, vì thế người Xa-đốc coi luật đó còn hiệu lực. Vậy người Xa-đốc đã đến với câu hỏi rằng ai sẽ là chồng trên trời của người vợ đã gả cho bảy người đàn ông khác nhau. Họ cho đó là một câu hỏi làm cho niềm tin vào sự sống lại thành ra lố bịch. Họ hy vọng Chúa Giê-su sẽ chối tín lý cổ truyền về sự sống lại hay sẽ nói một câu chống lại luật pháp Mô-sê qui định về luật hôn phối kế tục. Nhưng Chúa Giê-su đã đưa ra một câu trả lời hàm chứa một chân lý vĩnh cửu. Ngài nói chúng ta không nên hiểu về trời theo cách hiểu dưới đất này. Sự sống ở đó sẽ hoàn toàn khác bởi chúng ta sẽ hoàn toàn khác. Cuộc sống phục sinh sẽ được điều hành bởi những qui luật khác hơn những qui luật hiện nay. Những kẻ dự phần vinh hiển trong thời đại đó, từng kinh nghiệm các phước hạnh của sự sống lại từ kẻ chết sẽ trở nên bất diệt về linh hồn cũng như về thân thể. Hôn nhân cần thiết cho sự lưu truyền dòng giống ngày nay, lúc ấy sẽ không còn tồn tại nữa. Những tương quan trong cuộc sống ấy sẽ cao hơn, cả những tương quan thiêng liêng nhất của cuộc sống hiện tại. Những kẻ có phần trong sự sống lại này "sẽ giống như các thiên thần", không phải về mọi phương diện mà về trạng thái bất tử của họ. Trong một ý nghĩa rộng rãi hơn, họ sẽ là "con cái Thiên Chúa" và là "con cái của sự sống lại, vì sự chết đã mất uy lực trên họ."
Chúng ta cần lưu ý, nhiều tín lý ngày nay có vẻ khôi hài và mâu thuẫn với những qui luật chính xác của khoa học thực nghiệm một ngày kia sẽ trở nên sáng tỏ nhờ khám phá ra những quy luật cao hơn những quy luật hiện nay. Chúng ta sẽ tránh được nhiều sai lầm nếu ta đừng tiếp tục tưởng tượng một cõi trời như thế nào (theo ý chúng ta) cứ trao trọn vẹn mọi sự cho tình yêu của Thiên Chúa.
Chúa Giê-su còn đi xa hơn nữa. Như chúng ta đã biết, người Xa-đốc không tin sự sống lại của thân thể. Họ tuyên bố rằng, họ không thể tin điều đó vì không  có lời nào, càng không có chứng cớ nào về điều đó được tìm thấy trong các sách luật mà Mô-sê là tác giả. Vả lại không có ra-bi nào có thể giải đáp thỏa mãn vấn đề đó cho họ, nhưng việc này Chúa Giê-su đã làm. Ngài chỉ cho họ biết chính Mô-sê đã được nghe Thiên Chúa phán : "Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-sa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp." (Xh 3,1-6) và không thể nào Thiên Chúa lại là Thiên Chúa của kẻ chết, cho nên Áp-ra-ham, I-sa-ác, Gia-cóp vẫn đang sống. Ý Ngài muốn xác định sự trường tồn của kẻ chết, nhưng chẳng phải chỉ có bấy nhiêu đó, Ngài còn chứng minh được sự sống lại của kẻ chết. Đó chính là vấn đề đang bàn cãi. Chữ "kẻ sống" của Chúa dùng, là chỉ những kẻ sống một cuộc sống thường, không phải của những sinh linh không có thân thể, mà của những linh hồn bất tử được khoác bằng một thân thể bất tử. Do đó, Chúa thêm rằng : "Vì đối với Chúa tất cả đều đang sống." Ý muốn và mục đích của Thiên Chúa là đem mọi người ra từ kẻ chết để hưởng đầy đủ những phước hạnh của sữ sống lại.
Căn cứ vào tương quan của ta hiện nay mà ta biết mình sẽ đến tương lai đó hay không. Nếu Ngài thật là Thiên Chúa của chúng ta vì ta là dân Ngài, thì sự chết sẽ không làm hại ta, một ngày kia ta sẽ đạt đến sự bất tử vinh quang thân thể lẫn linh hồn.
"Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ trỗi dậy : người thì để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời" (Đn 12,2) "Ai đã làm điều lành, thì sống lại để được sống ; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án."
Qua việc cho sống lại, Thiên Chúa hoàn tất việc cứu độ chúng ta, không phải với thân xác được chắp vá lại, nhưng thân xác mới, thích ứng với con người mới. Qua việc tái sinh và nên thánh, Chúa đã đổi mới con người bề trong bằng, bây giờ với một thân thể mới để thích ứng. Thân thể mới liên kết nhưng khác biệt với thân xác cũ giống như cây liên kết với hạt (nhưng khác biệt) từ đó chúng đã mọc lên (Cf 1 Cr 15, 35-44). Thân xác hiện tại của tôi-mà Phanxicô Assisi muốn gọi bằng "anh lừa" cũng giống như chiếc xe cọc cạch của chàng sinh viên-dù tôi chăm sóc mấy đi nữa vẫn chạy tạm thời-không khi nào suông sẻ, lại thường khiến tôi và ông chủ của tôi thất vọng não nề. Nhưng thân thể mới của tôi sẽ cảm thấy và hoạt động như một chiếc Rolls-Royce, và khi ấy công tác phụ vụ của tôi không còn bị hỏng hóc nữa.
Chắc chắn, ai trong chúng ta, cũng yêu quý thân thể của mình vì nó là một phần của chúng ta-nhiều lúc cũng khó chịu vì nó hạn chế ta. Thật rất tốt khi biết Thiên Chúa ban cho chúng ta một bộ khung hạng nhì nhằm giúp ta chuẩn bị quản lý thân thể tốt hơn. Sau này : có người đã nói rằng : "Người ta giao cho bạn một con ngựa tầm thường là để bạn tập cưỡi, và chỉ khi nào bạn sẵn sàng rồi, bạn mới được giao cưỡi con ngựa biết phi nước đại và phóng qua chướng ngại vật. Một người lùn đã khóc vì vui sướng khi nghỉ đến cái thân thể Chúa dành sẵn cho mình trong ngày sống lại. Khi nghĩ đến những người ta quen thân mà về mặt này mặt khác, thân thể không được toàn vẹn, vì tật bệnh, suy nhược … Thật vui khi nghĩ đến hạnh phúc của họ. Muốn được thế , ta phải nên giống Chúa Giê-su.

 

TN32-C53. PHỤC VỤ LÀ PHỤC SINH

Khát vọng được hạnh phúc muôn đời nó dội lên từ đáy lòng mọi người thuộc mọi tôn Giáo: TN32-C53

Khát vọng được hạnh phúc muôn đời nó dội lên từ đáy lòng mọi người thuộc mọi tôn Giáo. Nhưng chỉ Kitô Giáo đáp ứng thoả đáng khát vọng này, qua những chứng từ cụ thể. Trong Do Thái Giáo vốn đã có niềm tin này, nhưng không thể minh chứng xác thực và cụ thể, do đó nó đã trở thành một đề tài tranh luận sôi nổi giữa hai bè Biệt phái và Sađóc. Chỉ một mình Đức Giêsu mới là trọng tài xác quyết có sự sống lại, dựa vào mặc khải từ miệng Thiên Chúa và đồng thời Ngài cũng cho biết khái niệm chính xác về sự sống của thời Phục Sinh. Tuy nhiên thế giới Phục Sinh vinh hiển hay tủi nhục cũng còn tuỳ vào kiếp sống mỗi người trên đời có sống theo Giáo lý của Chúa hay không?
1. TẠI SAO NIỀM TIN PHỤC SINH KHÔNG ĐỒNG NHẤT TRONG DO THÁI GIÁO :
Nhóm Sađóc chỉ tin ngũ thư của Môsê : Sáng thế, Xuất hành, Lêvi, Dân số, Đệ nhị luật, mà trong Ngũ thư không mặc khải rõ về sự sống lại !
Trong khi nhóm biệt phái yêu thích lề luật, nên họ đã nhận cả pho Cựu ước (46 cuốn) làm kinh điển chính thức cho niềm tin. Niềm tin vào thế giới Phục Sinh chỉ được mặc khải rõ nét trong sách ngôn sứ (xem Os 6, 1t; Ez 37, 1-14; Is 51,17 và 60,1). Nhất là sách Daniel và Macabê, điển hình như trong bài đọc I hôm nay. Có lẽ mặc khải nói rõ và sự Phục Sinh trễ như thế vì lý do trước đây dân Do Thái cứ mơ tưởng cùng đích ơn cứu độ là đóng khung và dừng lại ở đền thờ Giêrusalem và nơi đất Chúa hứa ! Nhưng qua những cuộc bách hại từ thời lưu đày Babylon trở đi, dân Chúa kinh nghiệm rằng ơn cứu độ không thể hoàn tất ở đời này được, mà chỉ đựơc hoàn tất trong một thế giới sau cuộc đời trần thế.
Bởi vì bè Sađóc chỉ Chấp nhận Ngũ Thư của Môsê, nên khi Chúa Giêsu trả lời cho Sađóc về sự Phục Sinh, Ngài đã trích một đoạn trong sách Xuất hành, đoạn nói về tiếng Chúa nói với Môsê trong Bụi Gai bốc Cháy: “Ta là Chúa của Abraham, Chúa của Isaac, Chúa của Giacóp” (Xh 3, 2-6).
Và Ngài đã giải thích : ngay đoạn sách này Chúa đã mặc khải sự sống lại, vì các tổ phụ thực đã chết trước khi Chúa gọi Môsê. Thế mà Chúa vẫn là Chúa các tổ phụ của Môsê, thì Ngài là Chúa của kẻ sống, chứ không phải là Chúa của kẻ chết !
2. SỐNG LẠI LÀ HỢP LÝ VÀ KITÔ GIÁO ĐÃ MINH CHỨNG ĐƯỢC ĐIỀU NÀY:
a- Sống lại là hợp lý: Con người đúng nghĩa không chỉ có xác hay có hồn, mà là xác lẫn hồn. Do đó điều lành hay điều dữ con người làm là cả xác cả hồn đều làm, không lẽ kết quả chỉ có hồn được thưởng hay bị phạt? Bởi lẽ xác phải sống lại với hồn để cùng chung một số phận mới là hợp lý.
Mặt khác, phải có thế giới Phục Sinh, một thế giới hoàn toàn không có sự ác chế ngự con người, quyền lực sự ác phải bị tiêu diệt, và để những ai sống chiến đấu cho công lý. Bởi thế Thánh Phaolô nói: “Nếu ta đặt mối hy vọng vào Chúa vỏn vẹn cho lúc sinh thời này thôi, thì quả ta là kẻ khốn nạn nhất trong cả Thiên hạ” (I Cr 15,19).
b- Kitô Giáo đã minh chứng thế giới Phục Sinh: Chính Chúa Giêsu đã khẳng định “Phục Sinh và sự sống chính là Ta, ai tin vào Ta, thì dầu chết cũng sẽ sống” (xem Ga 11,25). Lời nói này đã đi đôi với việc làm của Chúa Giêsu : Ngài đã làm cho con gái ông Giairô; con trai bà goá thành Naim, cậu Lazarô được sống lại (Mc 5, 21t; Lc 7, 11t; Ga 11).
Dĩ nhiên sự Phục Sinh này mới chỉ là dấu chỉ sự Phục Sinh thời cách chung, và minh chứng cho quyền năng Phục Sinh cho chính Chúa Giêsu mà thôi.
Chính sự Phục Sinh của Chúa Giêsu trong ba ngày khổ nạn mà các tông đồ đã được sờ nắn, ăn uống với Ngài mới thực là nếu Giá trị sự sống thời cách chung : cùng một lúc Ngài có mặt ở khắp nơi để phục vụ những khát vọng của các kẻ đã từng theo Ngài (xem Lc 24; Ga 20,21).
3/ KIẾP SỐNG THỜI CÁCH CHUNG THẾ NÀO ?
Thánh Phaolô được Chúa cho tham quan đến “tầng trời thứ ba”, được nghe những lời khôn tả, người phàm không được phép nói lại (xem 2 Cr 12,2.4).
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu, Đấng từ “Tầng trời thứ chín” đến nói với chúng ta lời khôn ngoan : “Người sống trong Nước Trời” khác với người đời này là:
- Họ không cưới vợ lấy chồng.
- Họ giống như các Thiên Thần (Lc 20,34-35)
a. Sống thời cách chung không cưới vợ lấy chồng:
Sống ở đời này không ai thoát khỏi nỗi khổ vì tình cảm nam nữ: hoặc là khổ vì chính mình bị giăng mắc đắm đuối, hay là khổ vì bị người ta hiểu lầm, dị nghị… đến như Thánh Phaolô cũng còn phải lên tiếng thanh minh cho mình : “Tôi không có quyền đem theo mình một tín nữ sao?” (I Cr 9, 5). Thậm chí còn có những tiểu thuyết gán ghép, hay hồ nghi cho cả Đức Giêsu không thoát khỏi nợ tình này?
Bởi thế, nếu trong thế giới Phục Sinh mà người ta còn giăng mắc chuyện tranh vợ tranh chồng, thì thế giới ấy cũng Chẳng hơn gì thế giới này mà thôi ! Đó là luận cứ của bè Sađóc khi họ đặt câu hỏi với Chúa Giêsu về chuyện 1 cô đã có bảy đời chồng, thì trong thế giới Phục Sinh, cô ấy là vợ của ai?
Dầu sao đời sống vợ chồng tuy cùng chung một lý tưởng phục vụ, thì cũng còn đóng khung giới hạn trong một công đoàn nhỏ thuộc phạm vi gia đình. Điều này cũng chưa phù hợp hoàn toàn với tinh thần phục vụ trong Nước Trời là phục vụ không có ranh giới.
Ít nhất là vì hai lý do trên mà Chúa Giêsu cho biết trong thế giới Phục Sinh không có việc cưới vợ lấy chồng. Về vấn đề này Thánh Phaolô cũng đã cho ý kiến trong kinh nghiệm sống của ông : “Đối với một người thì không vương vấn cùng phụ nữ, quả là điều tốt. Thực thì tôi ao ước cho mọi người đều như tôi (độc thân), vì thời buổi này đã co rút lại; Cho nên từ nay, những ai có vợ hãy kể như không có, vì tôi muốn cho anh em thoát khỏi những lo âu. Người độc thân thì lo việc Chúa, sao cho hài lòng Chúa. Người đã kết bạn thì lo việc đời, sao cho hài lòng vợ chồng, và như thế là bị chia sẻ” (xem I Cr 7 ).
Có một anh đến cửa trời hỏi Thánh Phêrô:
- Thưa Ngài vợ con có lên đây không?
Phêrô vui vẻ đáp ngay:
- Có, vợ con vừa mới vào đấy, con vào ngay theo kịp vợ con. !
Chồng sụ mặt và lắc đầu :
- Thôi nó vào rồi con chẳng vào đâu, gặp lại nó, sợ muốn chết !
b. Sống thế giới Phục Sinh là phục vụ như Thiên thần:
Ai sống đời độc thân vì Nước Trời, họ giống như Thiên thần, mà đời sống sinh hoạt của Thiên thần chỉ nhằm mục đích “được sai đi giúp đáp vì phần ích những kẻ sẽ thừa hưởng ơn cứu độ” (Dt 1, 14). Chính vì để nhấn mạnh Giá trị phục vụ là nét sáng chói nhất trong thế giới Phục Sinh, mà khi Đức Giêsu từ cõi chết sống lại, Ngài đã mặc lấy hình ảnh người làm vườn để tỏ mình ra cho bà Maria Madela (xem Ga 20, 15). Và cụ thể, mỗi lần các tông đồ gặp lại Đấng Phục Sinh là họ được Ngài chăm sóc đến nhu cầu của họ, như Ngài cắt nghĩa Thánh kinh cho họ (xem Lc 24), chỉ dẫn họ cách đánh cá, nướng bánh và cách phục vụ họ (xem Ga 21), thông chia cho họ quyền bính và trao việc cho họ (Mt 28; Ga 20).
Như vậy độc thân vì Nước Trời để phục vụ cũng là một ơn Thiên triệu, và như thế đời mỗi người chỉ có quyền chọn một trong ba ơn Thiên triệu.
- Hoặc là bậc tu trì chuyên lo cầu nguyện và giảng lời cho mọi người .
- Hoặc là ở bậc gia đình để chuyên lo diễn tả tình yêu giữa Chúa Kitô và Hôi Thánh.
- Hoặc là sống bậc độc thân vì Nước Trời để chuyên lo phục vụ mọi từ thiện trong xã hội
4/ SỐNG THẾ NÀO Ở ĐỜI NÀY ĐỂ ĐẢM BẢO CHO SỰ PHỤC SINH VINH HIỂN MAI SAU?
Dĩ nhiên trong ngày cánh chung, mọi người từ Ađam trở đi, dù kẻ dữ hay người lành đều Phục Sinh :
- Xác hồn người lành sống lại để được vinh hiển như Chúa.
- Xác hồn kẻ dữ sống lại để chuốc lấy khổ nhục đời đời.
Vậy muốn sống lành để tránh dữ hầu Phục Sinh vinh hiển, ta phải thực hành ba điều cơ bản sau đây :
1. Ham mộ lời Chúa và Bí Tích, nhất là Thánh Thể (Ga 5,24-25; 6,27)
2. Vui say làm việc, không mặc cảm khi phải làm việc hèn kém, và hãnh diện khi làm điều tốt mà phải khổ ! (I Pr.1,10-11; 3, 13t).
3. Khó với mình nhưng quảng đại với kẻ khác như trái tim của Chúa Giêsu (xem Pl. 2).
Dựa vào ba tiêu chuẩn sống trên mà tra vấn lương tâm ta đã có hành động cụ thể nào để sống điều đã xác tín trên? Nếu còn thiếu sót thì trong Thánh Lễ này ta hãy xin Chúa thương xót ta, và xin Ngài giúp ta có sức mạnh của Thánh Thần  để sinh hoa trái của lòng đạo, (Ga .5,2-25). Phù hợp với lời cầu: “ý Chúa ta thể hiện dưới đất trước sau đó ta mới được hiện hữu trên trời !”

 

TN32-C54. THIÊN ĐÀNG CÓ GÌ ?

Joe Lovelaxe là một luật sư bang Texas. Một hôm bé gái 10 tuổi hỏi ông về thiên đàng: thiên: TN32-C54

Joe Lovelaxe là một luật sư bang Texas. Một hôm bé gái 10 tuổi hỏi ông về thiên đàng: thiên đàng giống cái gì vậy Ba ? Ong nói với em bé: thiên đàng là nơi sống với Chúa và tất cả mọi người ngay lành ở mọi thời đại, nghĩa là không có bệnh hoạn, không có đau đớn và không chết nữa. Thế rồi ông kết luận: “Đó là đất sữa và mật”. Cô bé chăm chú lắng nghe, rồi la lên: “Không có nước ngọt trên thiên đàng sao ?”
Sau bài Tin Mừng hôm nay tôi có thể nghe nhiều bạn hỏi: “Trên thiên đàng không có hôn nhân sao ?” Linh mục không phải trả lời câu hỏi như: “Trên thiên đàng có đá banh không, có tivi không, có bia không ? Có xe hơi không ? Hay trên thiên đàng có gì ? Vị linh mục có thể nửa đùa nửa thật trả lời rằng nếu đá banh tuyệt đối cần thiết cho hạnh phúc trọn hảo của bạn trên thiên đàng, thì bạn sẽ có đá banh.
Thực tế, câu trả lời cũng như câu hỏi chứng tỏ rằng: thiếu hiểu biết về thiên đàng. Hạnh phúc trên thiên đàng là:
1. Chúng ta thấy Chúa “nhãn tiền”, thấy Chúa trước mặt. Chúa làm sao, chúng ta thấy như vậy. Chúng ta gọi là hưởng kiến: hạnh phúc vì thấy Chúa. Trong Chúa chúng ta cũng biết được những gì liên quan tới chúng ta và đối với những người thân yêu và bạn bè trên mặt đất.
2. Chúng ta sẽ yêu Chúa, bị Chúa thu hút, và chúng ta sẽ nhiệt tình ca tụng Chúa.
3. Chúng ta vui hưởng Chúa. Trên mặt đất này chúng ta vui hưởng tình yêu, cái đẹp, sự hiểu biết, quyền lực và sự lành; cái vui có hạn, có mức độ. Thiên Chúa là tất cả tình yêu, là chính tình yêu, là toàn mỹ, toàn năng, toàn thiện. Chúng ta sẽ vui hưởng trọn vẹn.
Nhưng nước ngọt, đá banh, Tivi, hôn nhân thì sao ? Thân thể chúng ta trên thiên đàng là thân xác vinh hiển. Thánh Phaolô dạy rằng: thân xác chúng ta trên thiên đàng sẽ khác với thân xác trên mặt đất, như một cây to lớn khác với hạt giống khởi đầu. Cái gieo xuống là thân xác tự nhiên, cái mọc lên là thân xác thiêng liêng.
Thân xác vinh hiển không cần đồ ăn, thức uống hay hôn nhân. Thay cho niềm vui ăn uống và hôn nhân, có niềm vui hoan lạc lớn lao hơn nhiều mà mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, trí khôn chưa hề nghĩ tới, lòng chưa hề mơ tưởng. Đó là những gì Chúa chuẩn bị cho người yêu Chúa.
Chúng ta hãy cầu xin niềm hoan lạc này trong Thánh lễ: “Chúng con hy vọng vui hưởng muôn đời nhìn thấy vinh quang Chúa”.
Thánh lễ cho chúng ta một vài ý tưởng và sự khác biệt giữa đất với trời: ít phút nữa chúng ta dâng lên cha trên trời bánh và rượu, ít phút sau đó qua vị linh mục, cha trên trời sẽ ban tặng cho bạn và tôi bánh rượu đổi thành Mình và Máu Con của Người trong khi rước lễ. Khác biệt thay, vĩ đại thay biết bao quà tặng khi rước lễ sánh với bánh và rượu.
Thân xác yếu hèn và hay chết của chúng ta sẽ lãnh nhận sự sống, ánh sáng và sức mạnh. Xin thánh lễ giúp chúng ta xứng đáng với những sự trên trời.
Xin Chúa chúc lành  bạn. Amen.

 

TN32-C55. ĐI ĐÂU LOANH QUANH CHO ĐỜI MỎI MỆT ?”

Mấy hôm nay các sinh hoạt trong Hội Thánh sôi động hẳn lên, các nghĩa trang (Đất Thánh): TN32-C55

Mấy hôm nay các sinh hoạt trong Hội Thánh sôi động hẳn lên, các nghĩa trangất Thánh )nhộn nhịp như một thành phố bừng sự sống, các phòng đựng hài cốt người qua đời luôn luôn đầy ắp tiếng kinh lời ca, đèn nến sáng chưng, khói hương ngào ngạt cay xè mắt. Khá vui, một sinh hoạt đầy lòng tin và lòng yêu mến. Mỗi năm ít là một lần, ta đi viếng mộ người thân, dâng lời cầu nguyện cho những người đã khuất, dừng chân đ có một chút nghĩ suy về cuộc sống hiện tại trong cái nhìn xa xăm về sự chết.
Đến nghĩa trang nhưng lòng không tuyệt vọng, khăn tang có thấp thoáng ở đâu đó nhưng lòng vẫn vui, đôi dòng lệ đã chảy để lại dư âm là những con mắt đỏ, nhưng nụ cười vẫn nở trên môi cho dù có pha lẫn chút muộn phiền héo hắt, người ta tìm thấy Niềm Tin của những con người đi theo Chúa.
Nhớ năm xưa, cũng một lần đến nghĩa trang, nhưng những người phụ nữ được Tin Mừng Lu-ca ghi nhận đi theo “Chúa Giê-su từ Ga-li-lê” ( Lc 23, 55 ) đã tìm đến nghĩa trang bằng một tâm hồn khác, dẫu vẫn biết rằng các bà yêu mến Chúa Giê-su nhiều lắm, dẫu vẫn biết rằng các bà đã thắng được sự sợ hãi của nhi nữ thường tình để đến nghĩa trang “khi trời còn tảng sáng”, nhưng lời Thiên Thần đã phản ánh một sự thật: Sao các bà lại tìm Người Sống giữa kẻ chết ?” ( Lc 24, 5 ).
Tình cảm của con người, niềm tin của con người mạnh đến mấy đi nữa, thì cũng chỉ dừng lại ở giữa thế giới nhân sinh hữu hạn, không sao vượt quá cái ngưỡng của số kiếp, của thân phận. Vẫn là chốn của kẻ chết”, vẫn là... “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”.
Những người  Do-thái đã loay hoay với những suy nghĩ của mình về cái sống và cái chết, giả như họ đã thành tâm hết sức thì họ vẫn không thể vượt quá cái thân phận con người. Câu chuyện bảy người anh em lấy cùng một người đàn bà, vì cứ lần lượt người này qua đời thì người kia phải tiếp nối, để cái bế tắc là ngày sau cùng thì ai sẽ là chồng của người đàn bà goá bụa đến bảy lần ấy ? Vẫn là một lý luận hết sức hợp lý, nhưng chỉ là hợp lý của thân phận, vì cái ngưỡng chưa bước qua thì lấy đâu để nghĩ suy về một thế giới bên kia cái ngưỡng ?
Ông Mô-sê đã phải chiều theo suy nghĩ và ước mơ của con người. Hoá ra việc sinh con đẻ cái là một sự kéo dài chính sự sống của mình. Và để bảo vệ duy trì sự sống, người ta đã xin Mô-sê giúp người ta làm sao để chắc chắn có con “nối dõi tông đường”, thực hiện ước mơ kéo dài sự sống, để lại giữa thế giới luyến lưu này sự sống của chính mình được tiếp tục sinh sôi nảy nở. Vì thế nếu người anh chết mà chưa sinh được con, thì người em phải cưới người vợ của anh mình để duy trì nòi giống.
Để lại giữa thế giới mà con người luyến lưu này một công trình của chính mình là thể hiện ước mơ duy trì sự sống. Chẳng lạ gì người ta có thể nhân danh “lòng nhiệt thành Nhà Chúa” để xây dựng một ngôi Thánh Đường nguy nga gọi là để sáng danh Chúa, nhưng ẩn dấu phía sau lại chính là thoả mãn cái khao khát... “có đứa con” để đời, để duy trì cái tôi ở giữa thế gian mà tôi đang hết sức vấn vương gắn bó. Không có đứa con bằng xương bằng thịt, tôi có thể đi tìm chăm chút đứa con bằng... gạch bằng đá ?!? Thế là bằng mọi cách Mô-sê phải thỏa mãn ước vọng của con người, tôi cũng sẽ bằng mọi cách thỏa mãn ước vọng “chính đáng” của tôi hôm nay. Cứ quan sát chung quanh ắt ta sẽ thấy !
Người ta đã dẫn Chúa Giê-su đi gặp ông Mô-sê trong một điều luật tưởng chừng là hợp lý, nhưng Chúa lại dẫn người ta đi xa hơn nơi mà người ta muốn đến, bởi nơi người ta muốn đến chỉ là nơi chưa qua được cái ngưỡng cần qua. Ap-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp đã được gọi ra làm nhân chứng ( c. 37 ). Thiên Chúa không chỉ là Đấng mà các tổ phụ đã tôn thờ, Người còn là Đấng luôn có mặt để bảo trợ các ông. Và mặt khác, các ông vẫn đang sống thì Thiên Chúa mới là Thiên Chúa bảo trợ của các ông, Người không thể bảo trợ các ông nếu các ông không còn tiếp tục sống. Chính vì các tổ phụ vẫn còn đang được sống và luôn sống nên Thiên Chúa mới được gọi là Thiên Chúa của kẻ sống, và mới là Thiên Chúa cho kẻ sống tôn thờ.
Các bà đã ra nghĩa trang để đi cho hết hành trình tuyệt vọng của mình, nhưng Chúa Giê-su lại dẫn các bà đi xa hơn nơi các bà muốn đến, ấy là: Hãy đi gặp anh em Thầy...” ( Ga 20, 17 ), và các bà đã ra đi trong niềm hy vọng, niềm hy vọng không ai dập tắt được.
Mấy ngày này khi ra nghĩa trang, chúng ta tuyên xưng niềm xác tín của chúng ta vào một Thiên Chúa của người sống. Nơi Đức Giê-su Phục Sinh, bức tường sự chết đã bị phá đ tan tành, không còn là cái ngưỡng ngăn bước chúng ta vươn dài tới Cõi Sống ngàn đời. Ra nghĩa trang, cũng là đ nói với nhau, nói với chính mình về một Cõi Vĩnh Hằng, nơi chúng ta phải dứt bỏ những luyến lưu của thế giới này mới mong có thể bước vào trong Cõi của Thiên Chúa.
Lm. TÙNG DƯƠNG, DCCT, 3.11.2004

 

TN32-C56. Chắc chắn và bảo đảm có sự sống

VietCatholic News (04/11/2004 )

Chắc chắn có sự sống

Lc 20:27,34-38

 

Có mấy người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này .... Lời dạy bảo này của Chúa Giêsu: TN32-C56 (bai 1)

Có mấy người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Đức Giê-su đáp: "Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham,Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống."

“Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống.” Lời dạy bảo này của Chúa Giêsu nhắc nhở cho chúng ta một thực tại đã bị chúng ta thường xuyên quên lãng: Thiên Chúa là Đấng hằng sống hằng trị muôn đời. Ngài luôn luôn sống và hiển trị với uy quyền tối cao tuyệt đối của Ngài, không có một thế lực hay thần linh nào khác có khả năng hay quyền hạn để chia sẻ quyền hành với Ngài, vì Ngài là Thiên Chúa duy nhất. Nếu Thiên Chúa hằng sống chỉ có quyền hành trên các kẻ chết mà thôi, thì Ngài có nghĩa lý gì đâu với cuộc sống con người ở trần gian này? Và nếu các kẻ chết không bao giờ sống lại, thì Thiên Chúa cũng chỉ cai trị trong khoảng không gian mịt mù trống rỗng, hoàn toàn vắng bóng sự sống như trên mặt các hành tinh xa lạ bên ngoài trái đất! Nếu Thiên Chúa chỉ là một Đấng hoàn toàn cách biệt với sự sống trần gian như thế, thì làm sao Ngài có thể được con người nhìn nhận là Đấng hằng sống hằng trị?

Câu trả lời của Chúa Giêsu khẳng định với mọi người rằng: bảo đảm chắc chắn là có sự sống lại, vì chính Thiên Chúa luôn là Đấng hằng sống, và Ngài hiển trị trog toàn thể vũ trụ. Sự sống lại này sẽ là câu trả lời trọn vẹn cho hết những khao khát mãi nung nấu trong đáy tim của từng con người: được sống hạnh phúc mãi mãi!

Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ

 

TN32-C57. ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA, TẤT CẢ ĐỀU ĐANG SỐNG

VietCatholic News (05/11/2004 )

CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN. C

ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA, TẤT CẢ ĐỀU ĐANG SỐNG

(Lc 20,27-38)

Thưa quý vị.

 

Chúng ta cảm thấy năm phụng vụ C đã gần kết thúc, vấn đề tương lai sẽ ra sao được đưa ra cho chúng ta: TN32-C57

Chúng ta cảm thấy năm phụng vụ C đã gần kết thúc, vấn đề tương lai sẽ ra sao được đưa ra cho chúng ta suy gẫm trong ba tuần tới. Tuần này là về sự sống lại. Nội dung của nó không phải là thế gian sẽ kết thúc thế nào và bao giờ, nhưng tương lai nhân loại ra sao sau khi thời gian chấm dứt, cuộc sống loài người hoàn thành sứ vụ? Cả hai bài đọc 1 và 3 đều đề cập đến sự kiện sống lại. Bài đọc 1 về cuộc tử nạn của 7 anh em nhà Macabê dưới thời vua Antiôkhô. Bài đọc 3 về một người người phụ nữ qua bảy đời chồng mà không có con, cuối cùng khi sống lại bà là vợ của ai? Câu chuyện đặt trước mắt tín hữu nội dung quan trọng về Đức tin. Liệu cuộc đời này sẽ chấm dứt vĩnh viễn hay sự liên kết giữa chúng ta với Thiên Chúa sẽ muôn năm tồn tại, bất chấp cái chết và thế giới qua đi? Thực tế chúng ta biết rằng, cuộc sống của mỗi cá nhân trên dương gian không kéo dài mãi mãi, thần chết đánh bại mọi người! Nhưng người Công giáo tin rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi mình. Ngược lại, Ngài luôn liên kết chúng ta với sự sống vĩnh cửu của mình, ngay cả khi thân xác qua đi trong cái chết. Kinh thánh liên tục mạc khải chân lý này. Mối tương giao bền chặt giữa mỗi linh hồn và Thượng đế luôn được Kinh thánh nhắc lại, nó chẳng bao giờ bị bẻ gẫy, dầu là do sức mạnh khủng khiếp của hoả ngục và tử thần. Đó là lý do Hội thánh luôn thúc giục các tín hữu tin vào bằng chứng của Kinh thánh chứ không phải của khoa học. Thiên Chúa không phải của kẻ chết mà là của người sống. Trước mặt Thiên Chúa tất cả đều đang sống. Khoa học thì chứng minh ngược lại.

Để nuôi dưỡng Đức tin và để kích thích tưởng tượng của các tín hữu, Thánh kinh đã đưa ra nhiều hình ảnh về cuộc sống vĩnh cửu mượn từ các biểu tượng đời này. Ví dụ: Nước hằng sống, Bánh trường sinh, tái sinh, thuộc vương quốc của Thiên Chúa... Dĩ nhiên, chúng chỉ là hình ảnh hoặc ẩn dụ để mô tả một thực tại siêu việt, không thể diễn tả bằng ngôn ngữ loài người. Hiện nay chúng ta đã lãnh nhận trong linh hồn thực tại ấy và vẫn kéo dài mãi, một khi cuộc đời dương thế chấm dứt. Nhưng ngôn ngữ chỉ là ý niệm chung chung, tổng quát chứ không phải là các chi tiết chính xác. Bởi lẽ chưa ai có kinh nghiệm, ngôn ngữ loài người bất lực trước những sự thật vô hình. Bà thánh Bernadette Soubirous khi nhìn thấy Đức Mẹ Vô Nhiễm ở bang Massabielle (Lộ Đức) đã kinh nghiệm sự bất lực này, cô bé mơ ước được sống trong cõi vô biên với bà lạ, nhưng không làm thế nào diễn tả nổi. Người ta coi cô bé 14 tuổi mắc bệnh loạn trí, ngày nay gọi là bệnh tâm thần và đã đề nghị nhốt cô vào nhà thương điên! Vì vậy ẩn dụ chỉ là hình thức rất nghèo nàn để mô tả đời sống vĩnh cửu mà chúng ta đã lãnh nhận khi chịu phép rửa tội. Thế nhưng đối với con mắt trần xác thịt, thì đã rõ ràng lắm rồi. Họ cố gắng dùng những hình ảnh mượn từ cuộc sống hay từ óc tưởng tượng lấp đầy chỗ trống và vẽ lên cảnh tượng nào đó trong đầu óc. Ví dụ: Đền bằng vàng, cửa dát ngọc, lối đi trải nệm đỏ, thiên thần có cánh, đàn ca vô tận... Tuy nhiên, những cảnh tượng ấy về căn bản vẫn là cuộc sống dương gian dù rằng được dùng để miêu tả thiên cung thần tiên. Sự thực thì phải nói chúng ta chẳng hề biết gì cả. Bà thánh Bernadette đã phải vượt một quãng đường dài từ tình trạng ngất trí đến khi tỉnh dậy về cõi dương gian.

Những người Sađucêo trong Phúc âm hôm nay lầm lớn khi dùng một nghi vấn giả lấy từ cuộc sống dương gian để minh chứng tính nghịch lý của sự sống lại, một thực tại siêu nhiên. Theo họ cuộc sống mai sau chỉ là một cuộc du hành liên tục của cuộc đời hiện tại. Bảy người chồng kế tiếp nhau của một người phụ nữ sẽ ở cùng mặt bằng thời gian, vậy thì cuối cùng cô ta sẽ là vợ của ai? Thực chất người Saducêo không tin có đời sau, không tin có thiên thần và sự phục sinh, cho nên đối với họ câu hỏi thật thâm độc, trả lời kiểu nào cũng vô lý, nực cười. Các tín hữu thường xuyên suy tư về vấn đề này, bởi vì đối với họ kẻ chết sống lại là quan trọng. Họ không thể tưởng tượng tổ tiên mình, những người đã khuất, không còn tồn tại. Hằng ngày họ vẫn cầu nguyện cho các kẻ thương yêu đã qua đời, sống chung trong ký ức với họ, cho nên khó mà tách rời kẻ sống người chết ra khỏi trí óc các tín hữu. Hơn nữa họ hằng tin tưởng các kẻ đã chết luôn được Chúa thương yêu ban cho một kiếp sống bất tận, không bệnh tật, khổ đau, không nghèo đói, thiếu thốn. Ngược lại hạnh phúc và bình an. Đối với mỗi cá nhân chúng ta cũng vậy, chúng ta khao khát được sống mãi, sống bất tận và đến thời điểm phải ra đi chúng ta cũng hy vọng sẽ sống lại. Như vậy phục sinh để sống cuộc đời mới, đáp ứng khát vọng căn bản của mỗi linh hồn tin kính. Tuy nhiên, phái Sađucêo không than khóc thân nhân qua đời, không tìm kiếm niếm tin sống lại khi họ đặt câu hỏi với Chúa Giêsu. Quan niệm của họ rõ ràng và bất định; không bao giờ có chuyện kẻ chết sống lại. Họ thuộc tầng lớp trí thức trong xã hội, cộng tác với người La Mã và là tư tế. Rất nhiều thành viên của đảng phái này giàu có và nhiều ảnh hưởng. Họ đặt niềm tin tôn giáo của mình trên 5 cuốn sách đầu của Kinh thánh Do thái, tức sách lề luật của ông Môsê viết ra. Theo như những cuốn sách này thì không có sống lại, bởi Môsê không hề nói chi về chuyện đó. Cho nên niềm tin cốt cán của đạo không bao gồm sự kiện kẻ chết sống lại. Thêm thắt vào là bịa đặt, chỉ những kẻ ít học thức mới chấp nhận hoang đường. Trái lại, nhóm Biệt phái và tầng lớp bình dân không những công nhận 5 cuốn sách của Môsê và còn lời dạy truyền khẩu và các văn bản khác nữa, trong đó có vấn đề kẻ chết sống lại. Thánh Luca đã kể việc tranh luận giữa hai bên trong Công vụ Tông đồ (23,6-10). Và thánh Phaolô đã lợi dụng sự mâu thuẫn này mà thoát nạn. Hôm nay người Sađucêo lại mang câu chuyện ra gài bẫy Chúa Giêsu. Họ lật ngược câu chuyện 7 anh em nhà Macabê thành 7 người chồng của một người phụ nữ và áp dụng sách Đệ nhị luật (25,1-10) để chế giễu những ai tin vào sự sống lại. Họ cho niềm tin đó là hoang đường. Chắc hẳn quý vị đã cảm thấy Đức Kitô thất vọng biết bao khi nghe họ đưa vấn đề ra bàn luận. Bởi Ngài là Thiên Chúa, biết rõ sự thật, còn phái Sađucêô đóng kín, sai lầm và chẳng tỏ dấu chi cởi mở cho chân lý thấm nhuần.

Dầu sao Ngài trả lời họ trong ngôn ngữ họ có thể hiểu được. Tức là đừng dùng lý luận và biểu tượng đời này mà xây dựng thực tế đời sau, một thực tế chưa ai từng kinh nghiệm. Người Sađucêô đã ngây thơ dùng luật Lêvi trong sách Đệ nhị luật 25,5-10, nói rằng nếu một người đàn ông có vợ mà chết không con, thì người anh em kế tiếp phải kết hôn với người đàn bà góa đó để duy trì giòng giống và tài sản cho anh mình. Phái Sađucêô đưa ra tới 7 anh em cùng kết hôn với một phụ nữ, rồi cuối cùng người phụ nữ cũng chết, thì khi sống lại, cô là vợ của ai ? Như vậy, sự sống lại là điều không thể xảy ra (tôi không hiểu trong cộng đoàn chúng ta, chị em nghĩ sao ? Vì theo ý kiến các Sađucêô, chị em không có quyền làm người, bị truyền từ tay đàn ông này tới tay đàn ông khác như thể một tài sản !). Câu trả lời của Chúa Giêsu làm cho người nghe ngạc nhiên. Theo Ngài (và đây là một mặc khải quan trọng cho nhân loại), có sự khác biệt căn bản giữa cuộc sống đời này và mai sau. Hiện thời kết hôn và sinh sản là điều quan trọng để giòng sông sự sống tiếp tục chảy. Nhưng đối với những ai được xét là xứng đáng hưởng hạnh phúc đời đời, thì mọi sự khác hẳn : Người ta không chết nữa, không cần lo lắng cho tương lai, chẳng phải thu tích tài sản để người khác hưởng dùng. Sự chết không làm chủ được ai nữa, mọi người sẽ giống như thiên thần. Việc sinh sản là điều thừa thãi bởi sự sống tồn tại muôn đời, vì được chia sẻ sự sống vĩnh viễn của Thiên Chúa. Ngài đã ký giao ước với nhân loại thì giao ước ấy muôn thuở, không thể bị bẻ gãy. Cho dù cuộc sống mai hậu hoàn toàn khác với hiện nay, nhưng mối ràng buộc trong giao ước sẽ tồn tại mãi, bởi lòng tín trung của Thiên Chúa. Ngài không thể mâu thuẫn với chính mình làm tiêu tan giao ước. Đó là nội dung của sự sống lại. Nó không tuỳ thuộc vào công nghiệp nhân loại. Nhưng chủ yếu vào lòng trung tín muôn thuở của Thượng đế. Ngài hứa cuộc sống vĩnh viễn cho những tôi tớ mình, thì nhất định việc đó phải xảy ra. Cho nên tôi nghĩ nội dung chính của bài Tin Mừng hôm nay là lời mời gọi tin tưởng vào mặc khải của Chúa Giêsu : Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết mà là của người sống, vì đối với Người tất cả đều sống, kể cả những Tổ phụ đã khuất bóng của dân tộc Do thái, Abraham, Isaac, Giacóp, Giuse, và mọi người đã yên nghỉ từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế. Chúng ta tin vào giao ước nhiều lần Thiên Chúa đã ký với nhân loại. Thiên Chúa yêu thương, qua Đức Giêsu, hằng săn sóc, gìn giữ chúng ta đời này và muôn thuở đời sau.

Nhưng vấn đề là, về phần mình, lòng tin vào sự sống lại và sự sống muôn đời, ảnh hưởng trên nếp sống hằng ngày của chúng ta ra sao ? Nhiều người tuyên xưng lòng tin của mình, nhưng thực chất thái độ và suy nghĩ của họ giống như người Sađốc, chạy theo tiền tài, danh vọng, địa vị, chức quyền, tất cả những tiện nghi sung sướng thoải mái mà thế gian có thể cung cấp. Họ sống như chẳng có đời sau, hoặc đời sau chỉ là cái bóng mờ. Ngược hẳn với gương lành của 7 anh em nhà Macabê. 7 Người này đã sẵn sàng chịu đựng khổ hình và cái chết để trung thành với Đức Chúa Trời. Không chi có khả năng chia rẽ họ khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa. Người thứ tư nói như sau : “Chúng tôi thà chết vì tay người đời, đang khi dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng được Người cho sống lại. Còn nhà vua, vua sẽ không được sống lại, để hưởng sự sống đâu.” Như vậy, niềm hy vọng sống lại ban ý nghĩa cho cuộc đời hiện tại của chúng ta và củng cố lòng tin các tín hữu khi gặp gian nan thử thách. Bà mẹ 7 anh em Macabê đã vững tin vào tình yêu bất tử của Thiên Chúa và dùng lời can đảm an ủi các con đứng vững trong tình yêu này. Như vậy, với lăng kính phục sinh, chúng ta dễ dàng phân định giá trị của thế giới, đâu là những điều thế gian tìm kiếm, ước ao và quý trọng, đâu là những chân lý người tín hữu phải theo đuổi. Nhờ ơn Chúa soi sáng, qua mặc khải phục sinh, chúng ta sẽ nhìn thế gian và những của cải đời này từ một góc độ khác, tức từ viễn tượng đời đời. Viễn tượng này dạy người tín hữu nên đầu tư tiền tài, sức lực, trí khôn, tài năng vào đâu cho hợp lý và bảo đảm tương lai vững bền. Chúng ta chỉ đi qua cuộc đời một lần mà thôi. Nếu đầu tư sai, mọi sự đều hỏng cả, tương lai kể như không có, cuộc sống hiện tại kể như vất bỏ. Do đó, bài học từ Phúc âm hôm nay rất quan trọng : Tôi đã tiêu phí tiền tài, thời gian, trí tuệ, năng khiếu, sức lực, vào việc chi ? Tìm kiếm ơn Chúa ? Bảo trì giao ước với Ngài hay chơi bời trác táng như người con phung phí ? Chúa Giêsu đã chỉ rõ nội dung khác nhau giữa cuộc đời hiện tại và kiếp sống mai hậu, không còn thắc mắc nghi ngờ. Những lựa chọn, những ưu tiên của chúng ta ngày nay chắc hẳn sẽ ảnh hưởng quyết định đến số phận tương lai của mình. Tương lai ấy mở rộng nếu chúng ta nghe theo lời Chúa khuyên nhủ, bằng không nó khép lại. Vậy chúng ta nên làm gì lúc này ?

Nữ hoàng “Lạc quan” sẽ cho chúng ta câu trả lời. Nàng sẽ ban khả năng cho mỗi người, đầu tư chính mình vào những chương trình to lớn. Chương trình có lẽ cả đời chúng ta không thực hiện hết. Nhưng chẳng hệ gì, đã có những người thuộc tương lai tiếp tục. Khi tham gia thực hiện nó, chúng ta sẽ bày tỏ niềm hy vọng sống lại và dấn thân trong đường lối của Đức Chúa Trời : Các dự án đó rất nhiều và cụ thể. Thí dụ : Hoạt động cho công bình bác ái, hoà bình công lý, chấm dứt đói nghèo, bình đẳng màu da, giới tính, chống xì ke, ma tuý, áp bức, bóc lột, khủng bố, chiến tranh, chia rẽ, loại trừ, tẩy chay. Đúng là những dự án lớn đòi hỏi nhiều nghị lực, kiên nhẫn, tiền tài, năng khiếu và ơn Chúa trợ giúp. Chúng chính là dự án thuộc Nước Trời và sẽ được thực hiện bởi những thế hệ con người đầy lòng hy vọng sống lại. B. Pascal đã cống hiến cho các tín hữu một tư tưởng hay, ông gọi là “cuộc đánh cược lớn”. Lý luận như sau : Tin vào sự sống lại, bạn chẳng thua thiệt gì. Nếu sau cái chết, có đời sau, lúc ấy bạn đâu phải thất vọng, ngược lại, được lời to. Trường hợp không đó đời sau, bạn cũng không thất vọng bởi vì bạn có sống đâu mà kinh nghiệm thất vọng. Nhưng Chúa Giêsu đến thế gian không phải để xác nhận Pascal đúng hay sai. Ngài đến để công bố Tin Mừng. Tin Mừng là thế này : “Lạy Cha, Con xin phó thác linh hồn con trong tay cha”. (Lc 23,46). Rõ ràng Ngài đặt trọn vẹn linh hồn, thân xác, thần trí, sức lực của Ngài trong tay Đức Chúa Trời cao cả, là người Cha, Đấng sẽ làm cho kẻ chết sống lại bởi Ngài là Thiên Chúa của người sống chứ không phải của kẻ chết, đối với Cha Ngài, tất cả đều đang sống. Amen.

Lm. Jude Siciliano, OP.

 

TN32-C58. ĐỜI SAU

Chúa Nhật 32 Thường niên, ngày 07/11/2004

Lc, 20,27-38:

“ Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại”

 

Cuộc đời con người chấm dứt bằng cái chết. Cái chết chính là phần số của con người, nhưng nói chung: TN32-C58.

Cuộc đời con người chấm dứt bằng cái chết. Cái chết chính là phần số của con người, nhưng nói chung chẳng ai trên đời muốn chết cả. Đức Giêsu vén mở cho ta biết phần nào bức màn đời sau: người ta không còn dựng vợ gả chồng, không cần có con cái nối dõi tông đường, nhưng sống như các Thiên Thần, chỉ lo phụng sự Chúa.

Đời sau là nơi không còn bóng dáng của thần chết, người ta thoát khỏi quy luật thông thường của lẽ tử sinh.

Lời cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin hãy dạy chúng con biết cách sống để chuẩn bị cho cái chết của mình. Xin cho chúng con biết tìm kiếm sự tồn tại ở đời sau, nơi mà những đam mê, thú vui không thể lôi kéo chúng con xuống tận bùn đen của sự huỷ diệt. Xin khơi dậy trong chúng con niềm khát khao những điều cao cả. Xin đừng để chúng con tự mãn nguyện với những cái tầm thường.Amen.

Lm Phan Kế Sự

 

TN32-C59. CUỘC HÀNH HƯƠNG TIẾN VỀ VĨNH CỬU

VietCatholic News (06/11/2004 )

CHÚA NHẬT 32 TN (C) CUỘC HÀNH HƯƠNG TIẾN VỀ VĨNH CỬU

Dẫn nhập đầu lễ :

Kính thưa Cộng đoàn,

 

Chúng ta đang họp nhau cử hành phụng vụ Chúa Nhật XXXII quanh năm. Sứ điệp phụng vụ hôm nay: TN32-C59

Chúng ta đang họp nhau cử hành phụng vụ Chúa Nhật XXXII quanh năm. Sứ điệp phụng vụ hôm nay dành cho chúng ta có thể được tóm tắt trong trong ý nghĩa nầy : Có một cuộc sống vĩnh cửu đang đợi chờ chúng ta. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta sống đức “Trông cậy” một cách vững vàng, trông cậy sẽ được hưởng hạnh phúc bất diệt trong vương quốc của Thiên Chúa, vương quốc của sự phục sinh. Đó chính là tiêu đích cho cuộc sống hôm nay : sống là để chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa đời đời. Thánh Lễ hôm nay vừa là một dấu chỉ vừa là một đảm bảo cho hạnh phúc trường sinh mai hậu.

Giờ đây, để xứng đáng cử hành Thánh lễ, chúng ta hãy nhìn nhận tội tỗi.

Giảng Lời Chúa :

Có một bài hát mang âm hưởng triết lý nhân sinh của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mà tôi rất thích, đó là bài CÁT BỤI : Để diễn tả kiếp phù du bọt bèo của phận người tác giả đã viết : “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi. Để một mai tôi về làm cát bụi…” Và để nói lên tính cách đổi thay, thoáng chốc của kiếp người, TCS lại viết : “Bao nhiêu năm làm kiếp con người. Chợt một chiều tóc trắng như vôi. Lá úa trên cao rụng đầy. Cho trăm năm vào chết một ngày”

Sứ điệp phung vụ hôm nay cũng mang âm hưởng như thế. Đúng hơn, không phải là âm hưởng mà là một lời gọi mời hướng tầm nhìn đức tin về cõi vĩnh hằng, hướng cuộc sống về một chân trời hy vọng của ngày mai, hướng tâm tư đến một niềm trông cậy vững vàng vào cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu Thiên Chúa sẽ ân ban. Chính vì thế, chúng ta không lấy làm lạ khi các bài đọc Lời Chúa hôm nay gần như xoay quanh nội dung nầy. Trước hết,

Bài đọc 1 : Trích sách Ma-ca-bê-ô quyển II : Kể lại lòng dũng cảm của 7 anh em người Do Thái đối diện với cuộc tra tấn dữ tợn trong cuộc bách hại thời vua An-ti-ô-khô, cùng với lòng trông cậy vững vàng của họ vào cuộc sống vĩnh hằng mai hậu dành cho những ai trung tín với lề luật của Thiên Chúa. Phải chăng đây là điểm mới mẻ sau cùng của mặc khải cựu ước để hướng đến chân lý về sự phục sinh mà Đức Ki-tô sẽ công bố trong thời Giao ước mới. Thật vậy, cho dù chưa được hồng phúc đón nhận mạc khải về sự sống lại, sự phục sinh vinh quang trong Vương quốc của Thiên Chúa do Đức Kitô mang đến, các tín hữu Do Thái, nhờ ánh sáng Lời Chúa, vẫn tin tưởng mãnh liệt vào cuộc sống mai sau, một cuộc sống có lành có dữ, có thưởng có phạt. Sứ điệp của sách Macabêô cho đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị sư phạm trong trường dạy đức tin. Thật vậy, trong cuộc hành trình tiến về vĩnh cửu, có ai trong chúng ta lại không đối diện với những thử thách đau thương, với những bách hại cách nầy hay cách khác. Sợ rằng, với những cuộc bách hại tinh vi của thời đại hôm nay, không phải là “dầu sôi lửa bỏng, là gưom giáo ngục tù”, mà là danh vọng tiền tài, sắc dục, đam mê, thành công hưởng thụ…liệu chúng ta có còn đủ can đảm và trung thành để nói lên một lời xác tín như lời của Thánh vịnh 16 trong đáp vịnh ca hôm nay : “Về phần con sống công minh chính trực, con sẽ được trông thấy mặt Ngài, khi thức giấc, được thỏa tình chiêm ngưỡng Thánh Nhan”

Thế nhưng, đích điểm của niềm trông cậy vĩnh hằng của chúng ta, hạnh phúc vĩnh cửu mai hậu mà chúng ta đang tiến về, quê hương Nước Trời mà chúng ta đang nỗ lực dựng xây lại không bao giờ là một cõi vu vơ, hảo huyền như kiểu :

“Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”

Hay :

“Kiếp sau xin chớ làm người

Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay”

Hay lãng đãng mơ màng như những lời ca trong bài hát “Một cõi đi về “của Trịnh Công Sơn :

“Nghe mưa nơi nầy lại nhớ mưa xa. Mưa bay trong ta bay từng hạt nhỏ. Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ. Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà…”

Trái lại, ở cuối chân trời hy vọng, ở đích điểm vĩnh hằng, ở cội nguồn hạnh phúc của chúng ta lại là một CON NGƯỜI, MỘT NGÔI VỊ : Một Thiên Chúa tình yêu, Một Mục Tử tốt lành, Một Người Cha thương yêu đang ngóng đợi con về, một bạn đồng hành đang thân thương sánh bước, một “Rabbouni” đang từng bước đi về…Vâng Thiên Chúa của chúng ta, Đức Kitô của chúng ta không phải chỉ đứng đợi mà là đang đi tới, đang trở về, như tư tưởng của thư thứ 2 Thánh Phao lô gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca : Thánh Phao-lô động viên tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca hãy vững lòng trông cậy đợi chờ ngày Chúa đến. Đức Ki-tô phục sinh sẽ giải thoát những ai đặt niềm tin vào Ngài khỏi quyền lực của ác thần và ban thưởng xứng đáng cho họ vì những việc lành mà họ đã thực hiện trong cuộc sống tại thế.

Tuy nhiên, sống chiều kích vĩnh cửu trong giữa đời thường ô trọc hôm nay không phải lúc nào cũng dễ dàng, cũng êm trôi. Bởi vì, khi đối diện với những vấn nạn mang chiều kích vĩnh cửu của phận người như : có không thiên đàng, hỏa ngục, có không hạnh phúc vĩnh hằng, có không thế giới bên kia…và những thực tại đó nó như thế nào ? thì đã có không ít người hoặc đã quay lưng chạy trốn hoặc bực bội khước từ. Đối với họ : cuộc sống đời thường là trên hết, hưởng thụ là cần thiết nhất, thành công phương tiện là ưu tiên số một. Mọi thứ khác chẳng đáng quan tâm. Ngay vào thời Chúa Giêsu cũng đã có cả một phong trào, một cộng đoàn Do Thái chủ trương như thế. Họ chính là nhóm Sa-đu-kê-ô mà hôm nay trong trích đoạn Tin mừng Lu-ca bày đặt ra câu chuyện “một vợ bảy chồng” để bắt bí Chúa Giêsu về niềm tin sống lại. Và Ngài đã khoá miệng nhóm trí thức Sa-đu-kê-ô, và đập tan những luận điệu xuyên tạc sự sống lại ở đời sau của họ. Ngài khẳng định chân lý về cuộc sống vĩnh hằng, một cuộc sống được thăng hoa, biến đổi để trở nên “con cái của Thiên Chúa”, con cái của sự sống lại.

Quả thật nếu không có sự sống lại thì thế giới nầy quả là vô nghĩa, cuộc sống nầy chẳng có chút giá trị gì. Bởi vì nếu khống có đời sau, không có vĩnh hằng, không có thưởng phạt thì “thiện ác đáo đầu cũng như nhau”, bậc công chính hiền nhân hay tên tàn ác giết hại sinh linh cũng chỉ là hai chiếc đầu lâu mục nát. Và như thế, người ta có thể nói với nhau “ta ăn đi, ta uống đi, vì ngày mai ta sẽ chết” (Is 22,13). Hay như lời Thánh Phaolô : nếu không có sự sống lại “thì lời rao giảng của chúng tôi thật hư không…và việc anh em tin cũng thật hảo huyền” (1 Cr 15,12-17).

Tóm lại, vào những ngày gần kết thúc năm phụng vụ, sứ điệp Lời Chúa mời gọi chúng ta sống đức “Trông cậy” một cách vững vàng, trông cậy sẽ được hưởng hạnh phúc bất diệt trong vương quốc của Thiên Chúa, vương quốc của sự phục sinh. Đó chính là tiêu đích cho cuộc sống hôm nay : sống là để chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa đời đời. Sứ điệp nầy lại được vang lên trong những ngày của tháng “Các đẳng linh hồn” sẽ là một nhắc nhớ mỗi người chúng ta đừng quên số phận của những anh chị em đang được thanh luyện trong luyện ngục, và sốt sắng cầu nguyện cho họ để họ sớm được hưởng phúc thiên đàng. Và chúng ta cũng đừng quên, chút nữa đây, Tấm bánh là Thân mình Đức Kitô được bẻ ra để trao ban cho chúng ta như quà tặng tuyệt vời nhất, như lương thực trường sinh cao quí nhất để dẫn chúng ta tiến bước về quê hương bất diệt. Vì chính Ngài đã dạy : “Ai ăn và uống máu tôi, sẽ được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6, 54)

LM. Jos. Trương Đình Hiền

 

TN32-C60. CUỘC CHIẾN KHỐC LIỆT

 [CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN NĂM C (11.11.2007)]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Có một điều khó hiểu và ngược đời là trên thế giới, số người cộng sản càng ngày càng ít đi, nhưng số: TN32-C60

Có một điều khó hiểu và ngược đời là trên thế giới, số người cộng sản càng ngày càng ít đi, nhưng số người vô thần duy vật thì lại càng ngày càng tăng lên. Những người và thế lực chủ trương vô thần duy vật thì tin chỉ có cuộc sống hiện tại tức cuộc sống ở đời này mà thôi. Họ cho rằng con người chết là hết, không có đời sau, không có sự sống lại. Vì thế mà họ tìm hết mọi cách để thụ hưởng vật chất và lạc thú trần gian và sống theo chủ nghĩa thực dụng. Cũng vì thế mà họ gây tội ác trong thế giới này không biết ghê tay, không áy náy lương tâm, miễn việc làm ấy đem lại cho họ quyền lực chính trị và những khoản tiền kếch xù.
Hơn bao giờ hết, niềm tin của các Kitô hữu bị thử thách một cách quyết liệt. Muốn tồn tại và không bị cuốn đi, chúng ta cần củng cố niềm tin vào cuộc sống đời sau, vào sự sống lại của con người. Chúng ta cũng phải dũng cảm biểu lộ niềm tin vào sự sống lại, chống lại sự tấn công khốc liệt của các thế lực vô thần duy vật.
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1: Lời Chúa trong Mác-ca-bê quyển thứ 2 (7,1-2.9.16-14): 1 Có bảy anh em bị bắt cùng với bà mẹ. Vua An-ti-ô-khô cho lấy roi và gân bò mà đánh họ, để bắt họ ăn thịt heo là thức ăn luật Mô-sê cấm. 2 Thay mặt cho anh em mình, một người lên tiếng nói: "Vua muốn tra hỏi chúng tôi cái gì? Vua muốn biết điều gì? Chúng tôi sẵn sàng thà chết chẳng thà vi phạm luật pháp của cha ông chúng tôi."
          9 Khi sắp trút hơi thở cuối cùng, anh nói: "Vua là một tên hung thần, vua khai trừ chúng tôi ra khỏi cuộc đời hiện tại, nhưng bởi lẽ chúng tôi chết vì Luật pháp của Vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời."
           10 Sau người này, đến lượt người thứ ba bị tra tấn. Vừa được yêu cầu anh liền thè lưỡi, can đảm đưa tay ra, 11 và khẳng khái nói: "Tôi có được lưỡi này, tay này, là do Chúa Trời ban. Nhưng vì luật Chúa Trời, tôi coi khinh những thứ đó, và tôi hy vọng nhờ Chúa Trời, tôi sẽ lấy lại được." 12 Nhà vua và quần thần phải sửng sốt vì lòng can đảm của người thanh niên đã dám coi thường đau khổ.
              13 Người này chết rồi, người ta cũng tra tấn hành hạ người thứ tư như vậy. 14 Khi sắp tắt thở, anh nói như sau: "Thà chết vì tay người đời đang khi dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại. Còn vua, vua sẽ không được sống lại để hưởng sự sống đâu."
(2) Bài đọc 2: Lời Chúa trong thư thứ 2 của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca (2 Tx 2,16-3,5):  16 Xin chính Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô, và xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta và đã dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp, 17 xin các Ngài an ủi và cho tâm hồn anh em được vững mạnh, để làm và nói tất cả những gì tốt lành.
        Sau cùng, thưa anh em, xin anh em cầu nguyện cho chúng tôi, để lời Chúa được phổ biến mau chóng và được tôn vinh, như đã thấy nơi anh em. 2 Xin cũng cầu nguyện cho chúng tôi được thoát khỏi tay người độc ác xấu xa, bởi vì không phải ai cũng có đức tin. 3 Nhưng Chúa là Đấng trung tín: Người sẽ làm cho anh em được vững mạnh, và bảo vệ anh em khỏi ác thần. 4 Trong Chúa, chúng tôi tin tưởng vào anh em: anh em đang làm và sẽ làm những gì chúng tôi truyền. 5 Xin Chúa hướng dẫn tâm hồn anh em, để anh em biết yêu mến Thiên Chúa và biết chịu đựng như Đức Ki-tô.
(3) Bài Tin Mừng: Lời Chúa trong Sách Tin Mừng theo Thánh Lu-ca (Lc 20,27-38): 27 Có mấy người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. 28 Mấy người ấy hỏi Đức Giê-su:  "Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình. 29 Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. 30 Người thứ hai, 31 rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. 32 Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. 33 Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ? "
              34 Đức Giê-su đáp: "Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, 35 chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. 36 Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. 37 Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham,Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. 38 Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống."
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 (2 Mcb 7,1-2.9-14) là tường thuật hình phạt và cái chết kiên cường của bẩy anh em trong sách Ma-ca-bê quyển thứ hai. Những thanh niên này tin vào Thiên Chúa, tin có đời sau nên can đảm chấp nhận cực hình và cái chết oan uổng.   
Qua đoạn Sách Ma-ca-bê quyển 2 (7,1-2.9-14) này, chúng ta thấy rõ lòng tin vào sự sống đời sau của mấy người thanh niên Ít-ra-en. Qua đó chúng ta thấy Thiên Chúa là sức mạnh vô song, là chỗ dựa vững chắc của các tâm hồn.
(2) Bài đọc 2 (2 Tx 2,16-3,5) là những lời Thánh Phao-lô viết cho các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca để củng cố niềm tin và lòng cậy trông của họ vào Thiên Chúa. Trong đoạn thư trên, Thánh Phao-lô còn xin các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca cầu nguyện cho ngài để Tin Mừng được phổ biến nhanh chóng và để ngài thoát khỏi sự hãm hại của những kẻ độc ác.
            Trong đoạn thư thứ hai của Thánh Phao-lô gửi các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca (2,16-3,5), chúng ta được biết: Thiên Chúa là đấng quyền năng và sẵn sàng trợ giúp các tín hữu hết lòng thờ kính và tìm vinh danh Người với tất cả thiện chí và bằng mọi công việc. 
(3) Bài Tin Mừng (Lc 20,27-38) là tường thuật về cuộc chạm trán giữa Chúa Giêsu và nhóm người Xa-đốc sống cùng thời với Người. Những người Xa-đốc này chủ trương không có sự sống lại. Họ tưởng tượng ra một trường hợp tuy hy hữu nhưng có thể xẩy ra và đúng luật Mô-sê, để thử thách Chúa Giêsu: “một phụ nữ có bẩy chồng ở đời này thì sẽ là vợ của ai ở đời sau?” Chúa Giêsu trả lời cách không thể minh bạch hơn: "Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại.” Người nói thêm về sự sống lại: “Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống."
          Qua đoạn Phúc âm Lc 20,27-38 chúng ta khám ra Thiên-Chúa-làm-người là Chúa Giê-su Ki-tô, đã nhẫn nại chịu đựng những người Xa-đốc và quảng đại với họ như thế nào? Với dã tâm họ đến với Người, thì Chúa Giêsu lấy từ tâm mà đối xử lại với họ. Họ bám vào chuyện mặt đất, thì Chúa Giêsu nâng họ lên để họ thấy chuyện trên cao. Họ chỉ nhìn thấy chuyện trước mắt, thì Chúa Giêsu giúp họ nhìn thấy chuyện từ xa, rất xa, để thấy Thiên Chúa là Đấng hằng sống và là Chúa của kẻ sống.
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?    
Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay được chứa đựng trong lời công bố của Chúa Giêsu trong Tin Mừng Luca: Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống."
Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta biết rằng: sự sống của chúng ta nói riêng và của loài người nói chung, xuất phát từ Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống, nên chúng ta là tạo vật bất tử. 
          Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta sống tương xứng với tư cách và phẩm giá của tạo vật bất tử và của con cái Đấng Thiên Chúa Hằng Sống.
III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
          Vì chúng ta là tạo vật bất tử nên mọi hành động của chúng ta đều có giá trị trường tồn: việc tốt được thưởng, việc xấu bị phạt. Đó là lẽ công bằng.
           Vì chúng ta là tạo vật bất tử và là con Thiên Chúa Hằng Sống nên chúng ta phải coi trọng những gì là linh thiêng, trường tồn hơn những gì là vật chất, chóng qua.
IV. CẦU NGUYỆN  (Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân trong Thánh Lễ)
4.1 Chúng ta hãy cầu nguyện cho Hội Thánh, nhất là cho các vị lãnh đạo là Đức Thánh Cha Bê-nê-đi-tô XVI, các Giám Mục, các Linh Mục, Phó Tế và Tu Sĩ Nam Nữ, để các vị ấy kiên cường làm chứng cho sự sống lại và sự sống đời sau.  
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.2 Chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi người trong thế giới hôm nay, để họ đủ khôn ngoan và sức mạnh, chống lại sự tấn công mãnh liệt của các thế lực vô thần duy vật.
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.3 Chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi người trong giáo xứ (cộng đồng/cộng đoàn) chúng ta, để mọi người cương quyết thể hiện tư cách và phẩm giá của một tạo vật bất tử, của con cái Đấng Thiên Chúa Hằng Sống dù phải hy sinh thiệt thòi. 
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.4 Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người chủ trương không có sự sống lại, để họ khám ra sự vô lý, vô nghĩa của đời này và sự hiện hữu của đời sau, mà chấp nhận chân lý mặc khải của Ki-tô Giáo.
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.
          Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
         Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 
         Seattle (WA/USA) ngày 28 tháng 10 năm 2007

 

TN32-C61. NÓI TRĂNG NÓI CUỘI

Có người thợ vẽ cho vua nước Tề mấy bức tranh. Vua hỏi: “Vẽ cái gì khó ?” Người ấy thưa: TN32-C61

Có người thợ vẽ cho vua nước Tề mấy bức tranh. Vua hỏi: “Vẽ cái gì khó ?” Người ấy thưa: “Thưa, vẽ chó, vẽ ngựa khó”. Vua Tề hỏi: “Vậy vẽ cái gì dễ ?” – “Thưa, vẽ ma, vẽ quỉ dễ.” Vua Tề tò mò: ”Sao lại thế ?” Người thợ vẽ thưa: “Chó ngựa ai cũng trông thấy, vẽ mà không giống thì người ta chê cười, cho nên khó vẽ. Ma quỉ là giống vô hình, không ai trông thấy, tuỳ ý muốn vẽ thế nào cũng được, không sợ ai bẻ, cho nên dễ vẽ”.
Người thợ vẽ ấy rất thành thật, khác xa với mấy anh Sa-đu-xê-ô mạnh mồm bạo miệng cật vấn Chúa Giê-su về một vấn đề mà họ tin chắc Chúa Giê-su cũng sẽ chào thua trước con át chủ bài muôn thuở của họ, giúp cho lập trường của họ đứng vững, giống như nhóm của họ vẩn đứng vững trước ánh mắt miệt thị nhưng ngán ngẫm của các nhóm tôn giáo khác trong đất Ít-ra-en này…
Cái phao để họ bám vào, không hẳn là vì không tin vào sự sống lại hoặc không có đời sau, cho bằng vin vào một “Chân Lý” là chưa và không có ai từ cỏi chết sống lại để phản bác lập luận của họ. Chẳng khác nào vẽ ma: Muốn “nói trăng nói cuội” gì cũng chẳng sợ ai chê sai ! Vài chục thế kỷ sau, kiểu lập luận này đã được những người theo thuyết duy khoa học vô thần sử dụng lại. Kết luận đầu tiên của họ: không có sự sống lại. Từ đó họ bỏ xa những người Sa-đu-xê-ô với tuyên bố: Thiên Chúa không hiện hữu.
Công việc của Giáo Hội chúng ta là phải chứng minh được giữa Giáo Hội và những người theo thuyết duy khoa học vô thần, ai mới là kẻ... “nói trăng nói cuội ?”
Tiếc là bài Tin Mừng hôm nay kết thúc ở câu 38, vì nếu thêm vào một câu nữa thôi, câu 39 ( Bấy giờ có mấy người thuộc nhóm Kinh Sư lên tiếng nói: ”Thưa Thầy, Thầy nói hay lắm” ), ta sẽ dễ dàng tưởng tượng cảnh lần đầu tiên nhóm kinh sư “mọt sách” thật sự phục Chúa Giê-su. Câu chuyện và vấn đề “thế giới bên kia” cực kỳ mơ hồ, bí hiểm, nhiệm mầu, đến nỗi ai muốn “nói ngược nói xuôi” ra sao cũng khó lòng bắt bẻ – như xưa nay vẫn thế – vậy mà Chúa Giê-su giải quyết gọn nhẹ, làm vấn đề sáng sủa chỉ bằng vài câu nói.
Chắc chắn những câu nói của Chúa Giê-su vô cùng thuyết phục, vì nhóm Sa-đu-xê-ô lập tức im lặng, tâm phục khẩu phục. Họ hiểu ngay những lời của Chúa Giê-su là “có thẩm quyền”: Người “đến từ đó” và rõ mọi chuyện như “trong lòng bàn tay”. Trong đám người theo rình mò để bắt bí Chúa Giê-su, thì nhóm Sa-đu-xê-ô là những kẻ lòng dạ tối tăm độc dữ nhất, vì họ thuộc các gia tộc tư tế, mà ảnh hưởng đang bị xói mòn trầm trọng với sự xuất hiện của Chúa Giê-su ( mà dân chúng tôn vinh là một Đại Tiên Tri, là Đấng Ki-tô ) với vô số phép lạ và những lời giảng dạy khác thường, đầy quyền uy của một bậc Đại Tôn Sư.
Châm ngôn Pháp có câu: “Chercher midi à quatorze heures” ( tìm giờ Ngọ vào lúc hai giờ chiều ), luôn thích phức tạp hóa mọi vấn đề để lừa dối người khác. Sự việc diễn ra rành rành trước mặt chẳng giúp cả bọn họ lẫn Pha-ri-sêu và kinh sư giải toả lòng đố kỵ và thù hận đối với Chúa Giê-su.
Khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa cách nay vỏn vẹn hai mươi năm, thì những luồng gió độc văn hoá xã hội đang chực chờ sẵn bao năm bên ngoài, như sư tử – sicut leo, theo cách ví của Thánh Phê-rô – liền ùa vào. Chúng gặp ngay miêng đất màu mỡ dọn sẵn là những con người thuộc mọi lứa tuổi bao năm mơ ước khao khát hưởng thụ và sùng ngoại, đang háo hức đợi chờ.
Đối với lớp “trưởng giả học làm sang” này ( tinh thần chẳng khác trong vở hài kịch của Molière ), tất cả những gì của ngoại đều tốt, đều hay và đều đáng thu nhận, bắt chước, trong đó có cả lối suy nghĩ bệnh hoạn về tình dục, hôn nhân và gia đình đang làm suy đồi đạo đức Âu Mỹ.
Hệ quả và hậu quả ra sao sau chỉ mấy năm bước qua thế kỷ XXI này, thì ai ai cũng đã thấy rõ: Xã hội Việt Nam vốn an bình, tốt đẹp là thế, nay ngập tràn sách báo, phim ảnh bạo lực dâm ô, ngập tràn nạn cờ bạc, nghiệp ngập, khách sạn nhà hàng – một số lớn trong đó là những ổ mại dâm trá hình – đã đẩy thế hệ trẻ vào những con đường hư đốn, với những cái nhìn và đánh giá mọi giá trị nhân bản, truyền thống, gia đình và hôn nhân hết sức lệch lạc, duy vật, vô thần và sa đọa. Chúng không được hướng dẫn để trả lời câu hỏi: ”Vậy trong bảy người này ai sẽ là chồng của nàng ?” vì chuẩn mực ( và lý tưởng ) của chúng là ở sách báo, phim ảnh và lớp đàn anh đàn chị đi trước, đã ngã trước và kéo chúng ngã theo.
Câu chuyện nhỏ do thạc sĩ tâm lý học Lê Thị Linh Trang ( báo Tuổi Trẻ số ra ngày 29.10.2007, mục thời sự ) cho thấy nhận thức hết sức sai lầm, đánh đồng người Âu Mỹ với hạng sống trác táng bừa bãi của nhiều người trẻ Việt Nam “đợt sống mới”: ”Hồi đó tôi có tham gia lớp tập huấn về sức khỏe sinh sản do hai chuyên gia một nam một nữ người Đan Mạch hướng dẫn. Có một học viên hỏi rằng: ‘Thế bao nhiêu năm trời anh chị đi cùng với nhau khắp các nước, anh chị có quan hệ tình dục với nhau không ?’ Hai chuyên gia cười. Đáng lẽ đây là chuyện cá nhân họ không nói, nhưng vì họ thấy người Việt Nam mình hay nghĩ rằng người phương Tây quan hệ bừa bãi nên họ phải nói. Phương Tây thì cũng một bộ phận nào đó như thế thôi. Còn họ vẫn có những chuẩn mực chung: lòng chung thủy, lòng yêu thương… Và từ nhỏ họ đã được trang bị các kỹ năng: giá trị hạnh phúc, công bằng xã hội, giá trị con người...”
Bổ sung vào đó là thống kê của Google: năm vừa qua, số người lên mạng tìm những mục liên quan tới “sex” đông nhất là từ Việt Nam. Đâu phải vì không có người từ Tây, Mỹ về nói cho biết những sai trái, nhầy nhụa, buông thả đến điên loạn ở các xã hội ấy, mà vì rác rưởi, hoang đàng, dâm loạn thì Đông hay Tây, Cổ hay Kim chẳng hề khác nhau. Đơn giản vì chúng đều có một thứ chúa tể là xác thịt và cùng chung một thầy là Xa-tan.
Khi người ta không tin đời sau, không tin có Thiên Chúa, thì không sa vào dâm ô, ích kỷ, độc ác, mới là lạ ! Nều không có những chuẩn mực đạo đức tối thiểu, không có ảnh hưởng – ít là rơi rớt – của các tôn giáo, thì những xã hội như thế sẽ rơi thẳng xuống đáy thẳm vô luân. Đọc những bài nhận xét của lứa tuổi teen đăng suốt cả tuần qua trong báo, về “chuyện ây” ngày nay, mới thấy nhói lòng và lo âu: dường như Giáo Hội Việt Nam vẫn đang an nhiên tự tại ở thời “Đàn ông chớ kể Phan Trần – Đàn bà chớ kể Thuý Vân, Thúy Kiều” !
Phải làm sao để Chân Lý đức tin, đạo đức luân lý do Giáo Huấn Giáo Hội trình bày, không bị phê là “nói trăng nói cuội” và tiếng nói của “ba thù“ là xác thịt, ma quỷ, thế gian, cất cao lời ca ! Ai đoán được trong bao lâu nữa Nhà Thờ – Giáo Hội – ở đất nước mộ đạo này sẽ thưa thớt và trống vắng tín hữu như Âu Mỹ hiện nay ! Nhưng có một điều mà Việt Nam “đi sau về trước”, vượt mặt mọi quốc gia phát trển nhất trên thế giới. Đó là con số nạo phá thai: hơn 1,5 triệu ca được thống kê ( con số không chính xác từ năm 2005 ) !
Thế kỷ XXI này là thế kỷ mà Giáo Hội – và chúng ta, Ki-tô hữu – phải trả lời rành mạch không chỉ bằng lý lẽ ( lập lại Lời của Chúa Giê-su ), mà bằng chứng từ cuộc sống thanh tịnh, câu hỏi: “VẬY TRONG NGÀY SỐNG LẠI, NGƯỜI ĐÀN BÀ ẤY SẼ LÀ VỢ AI ?” ( Lc 20, 33 ). Đồng tiền liền khúc ruột, mọi sự xấu xa đều bắt nguồn từ nó, kể cả – và nhất là tội lỗi và những vấn đề xác thịt – nhưng tách riêng nó ra để giải quyết, lại không quá khó, như chúng ta đọc thấy trong bài đọc đi ngay trước bài Tin Mừng hôm nay: của Thiên Chúa và của Xê-da ( Lc 20, 20 – 26 ), đơn giản là vì nó có thể cân-đong-đo-đếm và ta biết nó “đi đâu về đâu”.
Chuyện sống lại, chuyện đời sau – dù được cố tình lồng ghép vào một câu chuyện hôn nhân rất gần gũi dễ hiểu – lại không có nơi đi và địa chỉ đến. Hay đúng ra, chẳng dễ gì chứng minh được nơi đi và nơi đến – where from and where to. Nhưng nếu không chứng minh được cho thế gian về sống lại và sự sống đời sau, thì chúng ta cũng chỉ “nói trăng nói cuội” !
CVK Nguyễn-Thế-Bài TÌNH CA CHO NGƯỜI ĐƯỢC YÊU 75

 

TN32-C62. Thân xác sống lại

Trong Kinh Tin Kính, chúng ta đã tuyên xưng: Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau. TN32-C62

Trong Kinh Tin Kính, chúng ta đã tuyên xưng: Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau. Niềm tin tưởng này trước hết là dựa vào Lời Chúa.
Thực vậy, ngày hôm nay Chúa Giêsu đã trả lời cho bọn Sađucêo, là những người không tin việc sống lại như sau: Các ngươi đã lầm và chẳng hiểu gì về Kinh Thánh cũng như về quyền năng của Thiên Chúa. Vào ngày sống lại, người ta sẽ chẳng lấy vợ lấy chồng nữa, mà nên giống như các thiên thần ở trên trời. Về việc kẻ chết sống lại, há các ngươi chẳng đọc thấy lời Chúa phán: Ta là Thiên Chúa của Abraham, của Isaac và của Giacob. Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết nhưng là Thiên Chúa của người sống.
Trong bài giảng về bánh ban sự sống Ngài cũng bảo: ý của Cha Ta là hễ ai thấy Chúa Con và tin ở Ngài thì có sự sống đời đời và Ta Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết.
Rồi bên nấm mồ của Lagiarô Chúa Giêsu cũng đã nói với Martha: Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ sống và ai sống mà tin Ta thì sẽ không phải chết bao giờ.
Hơn nữa chúng ta cũng có thể dùng sự suy luận thường tình để xác quyết về việc thân xác chúng ta sẽ sống lại. Trước hết Thiên Chúa đã từ không mà dựng nên mọi vật, thì chẳng lẽ quyền năng của Ngài lại không đủ để thực hiện việc sống lại hay sao? Chúng ta nên nhớ đối với Thiên Chúa không có gì mà Ngài chẳng làm được.
Vậy thì dựng nên cho có hay hồi phục lại cái đã có đằng nào dễ hơn. Thiên Chúa đã làm được cái khó, lẽ nào Ngài lại chẳng làm được cái dễ hơn sao? Chính vì thế mà ngay từ những thế kỷ đầu, Tertuliano đã nói: Đấng đã kéo chúng ta lên từ hư vô, lẽ nào lại chẳng có thể kéo chúng ta lên từ một nấm mồ.
Trong thiên nhiên đông qua rồi xuân lại đến, tất cả như một sợi xích liên tục giữa chết và sống. Như thế, Thiên Chúa đã công bố sự sống lại trong những công trình của Ngài trước khi công bố nó bằng lời nói.
Sau cùng, việc sống lại còn là một việc hợp tình và hợp lý. Con người gồm có hồn và xác. Thân xác là một người bạn của linh hồn. Và sự xa cách chia lìa giữa hồn và xác chỉ là tạm thời mà thôi. Thân xác là dụng cụ của linh hồn để làm điều tốt cũng như để làm điều xấu. Với thân xác, linh hồn đã thực hiện được những việc tốt lành. Thân xác ấy được thánh hóa nhờ các bí tích, trở nên đền thờ Thiên Chúa, qua việc rước lễ. Chính vì thế mà thân xác phải được sống lại để hưởng niềm hạnh phúc vĩnh cửu với linh hồn. Nhưng đồng thời, với thân xác linh hồn cũng đã làm những việc xấu xa. Vì thế thân xác cũng phải được sống lại để bị trừng phạt cùng với linh hồn. Thân xác có thể là dụng cụ của nhân đức, có thể là dụng cụ của tội lỗi. Tùy theo đó mà sẽ cùng với linh hồn được hạnh phúc hay phải đau khổ trong cuộc sống bên kia.
Trong cuộc sống nơi trần gian toàn diện con người chúng ta đã đi đến với Chúa hay đã quay lưng chống lại Ngài, thì trong cuộc sống bên kia, toàn diện con người chúng ta sẽ được hạnh phúc hay đau khổ mãi mãi. Bởi đó, hãy làm chủ lấy thân xác, biến nó trở thành người bạn tốt của linh hồn, nhờ đó mà trong ngày sau hết nó sẽ được sống lại, cùng với linh hồn hưởng niềm hạnh phúc trong vinh quang bất tận.

 

TN32-C63. Nhìn cái chết của chúng ta qua cái chết của Đức Giêsu

Đức Giêsu nhắc nhở mạnh mẽ rằng Thiên Chúa của người tin không phải là Thiên Chúa của kẻ: TN32-C63

Đức Giêsu nhắc nhở mạnh mẽ rằng Thiên Chúa của người tin không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, Người là Thiên Chúa của người sống vì chính Người là Thiên Chúa hằng sống, yêu mến sự sống. Với sự xác định như thế, Đức Giêsu nâng cuộc tranh luận lên tầm cao sự thật vượt trên những cuộc bàn cãi vô bổ. Chúa đưa những người Sađốc (giáo phái chủ trương không có sự sống lại) vào thế lố bịch trong khi họ muốn chế giễu Chúa. Câu vấn nạn tiêu biểu cho xảo thuật biện chứng mà một số người xa lạ với đức tin ưa dùng. Từ chối thảo luận toàn bộ mầu nhiệm, họ tách riêng nhân tố này hoặc nhân tố khác của mầu nhiệm, họ tự hào mình thông thái, thừa sức lý luận để bác bỏ từng nhân tố một. Đức Giêsu cho ta hiểu, muốn tranh luận với hạng người ấy thì phải đứng ngoài lãnh vực sở trường của họ. Phải đơn giản xác định đức tin trong tầm mức đức tin, nói về những dữ kiện đức tin thì phải ở chính cao độ của đức tin. Đức Giêsu xác định kẻ chết sẽ sống lại, nhưng Chúa loại bỏ cách nhìn quá giản lược cho rằng sống lại là trở lại đời sống thế gian như hiện nay. Chúng ta có thể nêu ra hai câu hỏi:
1) Chết là gì? Thật vậy, trước khi nói về sự sống lại, nên nói rõ về ý nghĩa sự chết. Chết là một sự kiện tàn khốc. Xét bề ngoài, một người chết là một người hết sinh tồn. Nhưng thật sự việc gì đã xảy ra? Sự chết đã chẳng bắt đầu cùng lúc với sự sống ư? Nghĩa là đời sống con người, trong thân phận hiện tại của mình, chẳng mang dấu vết sự chết đó sao? Sự chết được kiểm chứng chẳng biểu lộ một sự mất mát thê thảm, mất đi một trạng thái in hằn lên con người suốt cuộc đời dưới thế ư? Tội lỗi đã biến đổi chúng ta, chúng ta không còn là những con người phù hợp với quan niệm của Thiên Chúa trong ngày đầu sáng tạo. Do ân huệ Thiên Chúa, sự sống phải chăng là sự hoàn trả về nguyên trạng theo thánh ý Thiên Chúa quan niệm, muốn như thế và thương mến vô cùng? Trạng thái phục sinh sẽ như thế nào? Về điểm này, Đức Giêsu dạy chúng ta hãy gạt đi tất cả những ảo tưởng của xác phàm. Chúng ta sẽ sống lại trong trạng thái ‘con Thiên Chúa’ cả hồn lẫn xác, trong toàn bộ bản thể chúng ta. Đức Giêsu không muốn nói thêm. Nhưng nghĩ cho cùng, còn có gì hơn chức vị làm ‘con Thiên Chúa’ mà phải băn khoăn muốn biết thêm!
2) Đức Giêsu nghĩ về sự chết của chúng ta thế nào? Qua những lời phán dạy của Chúa, chúng ta cảm thấy Chúa nhìn cái chết của chúng ta qua cái chết của Người. Chúa phán, chúng ta sẽ là con Thiên Chúa. Chúa liên kết chúng ta với phẩm tước ‘Con Thiên Chúa’ của Người. Chúa nói thêm: “Hết thảy sẽ sống cho Thiên Chúa”. Đức Giêsu liên kết chúng ta với lịch sử Người, với mục đích tối hậu lịch sử Người, là đời sống của Chúa cho Thiên Chúa. Chúa biết sẽ vượt qua cái chết, để liên kết chúng ta với cuộc vượt qua của Chúa tiến lên đời sống trường sinh. Khi nói về cái chết của chúng ta, Chúa liên tưởng đến sự sống lại của Người. Đứng trước viễn ảnh đó, câu hỏi bẫy của phái Sađốc nó nhỏ mọn thiển cận làm sao! Không bao giờ người tín đồ của Đức Kitô phấn khởi đúng mức về niềm hy vọng do Thiên Chúa hằng sống biểu lộ trong Đức Giêsu Kitô ban cho?

 

TN32-C64. Sống lại – ĐTGM Ngô quang Kiệt.

Trong chương trình “Những điều bạn có thể chưa biết” của đài VTV3 tuần rồi có tường thuật: TN32-C64 FB

Trong chương trình “Những điều bạn có thể chưa biết” của đài VTV3 tuần rồi có tường thuật một trường hợp lạ lùng: Một phụ nữ bị nhồi máu cơ tim. Chị tắt thở. Chị đã chết. Nhưng nhiều giờ sau, chị tỉnh lại. Các bác sĩ hỏi chị đã thấy gì trong thời gian ấy. Chị trả lời: chị thấy mình như bay bổng lên cao, và từ trên cao chị nhìn xuống thấy các bác sĩ, các y tá đang chăm sóc cho mình, nhìn thấy thân xác mình nằm bất động, nhìn thấy thuốc men, dụng cụ y tế. Chị cũng nhìn thấy một chiếc giày tennis cũ màu xanh da trời, đế giày bị mòn ở mép trong bàn chân, giây giày màu trắng, đầu một sợi dây thòng xuống dưới đáy giày. Nghe lời tả rất chi tiết của chị, vị bác sĩ chuyên điều tra băn khoăn để ý tìm kiếm. Một hôm vị bác sĩ đi qua tòa nhà đối diện nhìn sang bệnh viện, bà giật mình kinh hãi vì thấy ở tầng ba của tòa nhà, trên một gờ xi măng rất cheo leo, có một chiếc giày tennis cũ ai đã đặt ở đó tự hồi nào. Vị bác sĩ quan sát kỹ lưỡng và thấy chiếc giày giống từng chi tiết với chiếc giày mà người chết kể lại: chiếc giày vải cũ màu xanh, đế giày mòn ở mép trong, dây giày màu trắng, đầu một dây thòng xuống nằm ở dưới đáy giày.
Đó là một trong 1370 trường hợp trở về từ cõi chết mà các bác sĩ Đức và Mỹ đã điều tra. Theo những người có kinh nghiệm về cái chết này thuật lại thì: Cuộc sống ở “cõi bên kia” hạnh phúc hơn cuộc sống ở đời này. Và sau khi “chết đi sống lại”, không ai còn sợ chết nữa, không ai muốn kiếm tiền bạc, danh vọng, lạc thú gì nữa. Điều duy nhất mà họ quan tâm là sống yêu thương, quảng đại, phục vụ mọi người. Tất nhiên đây chưa phải là bằng chứng chắc chắn về việc người chết sống lại. Nhưng nó rất gần với mặc khải của Lời Chúa hôm nay. Và kinh nghiệm hiếm có của họ rất có thể hữu ích cho ta. Kinh nghiệm của họ nói với ta hai điều:
1) Có cuộc sống khác ở bên kia cái chết. Kinh nghiệm của họ phù hợp với niềm tin dân gian, nhất là của người Việt Nam vẫn tin rằng: thác là phế thách, còn là tinh anh. Vì tin có sự sống ở bên kia cái chết mà chúng ta mới thờ kính tổ tiên, cúng quảy, giỗ chạp.
Niềm tin ấy phù hợp với giáo lý của Chúa. Khi Môsê thấy Chúa hiện ra trong bụi gai cháy đỏ. Ông hỏi Chúa là ai. Chúa trả lời: “Ta là Thiên Chúa của Abraham, Isaác, Giacóp”. Vào thời của Môsê, Abraham đã qua đời được 5, 6 trăm năm. Vậy mà Chúa vẫn tự giới thiệu là Thiên Chúa Abraham, tức là Abraham vẫn sống, đang sống bên Chúa. Vì Thiên Chúa là Thiên Chúa của người sống chứ không phải Thiên Chúa của kẻ chết.
Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu nhiều lần nhắc đến cuộc sống sau cái chết như dụ ngôn người giàu có và Lagiarô, trong dụ ngôn về ngày phán xét, dụ ngôn lúa đồng và cỏ dại.
Theo thánh Phaolô, cuộc sống đời sau mới là đích điểm mà mọi tạo vật nhắm tới. Trong thư Rôma, Ngài viết: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng chờ ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con cái Người. Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt phải chịu vậy. Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến nay, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8,19-23)
Chúng ta rên siết vì cuộc sống hiện tại đầy khổ ải. Chúng ta mong chờ cuộc sống đích thực ở mai sau. Đời sống này là thời kỳ thai nghén. Ta phải chịu đau đớn để sinh vào đời sau.
2) Cuộc sống ở bên kia rất khác với cuộc sống hiện tại. Khi Chúa Giêsu trả lời người Sadducêô, Chúa Giêsu đã mặc khải ba chân lý.
Chân lý thứ nhất: Chỉ những ai được tuyển chọn mới được vào Nước Chúa. Sự sống đời sau có đó. Nhưng không phải ai cũng vào được. Chỉ có những người được xét là xứng đáng mới được vào. Trong Phúc Âm, nhiều lần Chúa đã nói tới việc tuyển chọn này. Chúa sẽ loại chiên ra khỏi dê, lúa tốt ra khỏi cỏ dại, cá tốt ra khỏi cá xấu. Tiêu chuẩn để chọn lựa là Tám mối phúc, nhất là giới răn bác ái yêu thương.
Chân lý thứ hai: Người ta sẽ giống như thiên thần. Đời sống trên trời sẽ không có gì giống với đời sống dưới đất. Sẽ không còn đói khát nên sẽ không cần ăn uống. Sẽ chẳng có lấy vợ lấy chồng, sẽ chẳng cần sinh con để nối dõi vì người ta không bao giờ chết nữa. Nếu vậy, trên trời ta có còn là ta nữa không hay ta trở thành một người khác, một kiếp khác? Thưa, tuy có khác nhưng ta vẫn là ta. Đứa bé bụ bẫm hôm nay chẳng có gì giống với cái bào thai ngọ nguậy trong bụng mẹ hôm qua. Nhưng cả hai chỉ là một. Bà cụ 90 tuổi hôm nay chẳng còn gì giống với cô thiếu nữ mà bà đã là cách nay 70 năm. Nhưng cả hai vẫn là một. Chú bướm xinh đẹp nhởn nhơ bay lượn trên khóm hoa hôm nay chẳng có gì giống với gã sâu xấu xí lê la trên đất hôm qua. Nhưng cả hai vẫn chỉ là một.
Trên trời, ta sống một cuộc sống khác, không ăn uống, không lấy vợ lấy chồng. Nhưng ta vẫn là ta. Có khác biệt nhưng vẫn có liên tục.
Chân lý thứ ba: Ta sẽ trở thành con Thiên Chúa. Sống lại rồi, ta như đứa con bấy lâu phiêu bạt xa quê nay được trở lại nhà cha mẹ. Tâm hồn luôn bị dằn vặt vì niềm khao khát vô biên, nay mới được no thỏa: Thiên Chúa chính là hạnh phúc lấp đầy được vực thẳm khao khát vô biên của ta. Thánh Augustinô đã nói: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, nên lòng con mãi khắc khoải băn khoăn cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”. Là con Thiên Chúa, hạnh phúc lớn nhất của ta là được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi là cội nguồn hạnh phúc, nên thánh Phaolô đã nói: Những đau khổ ta chịu bây giờ không thấm gì so với hạnh phúc sau này ta sẽ được. Và mọi tạo vật mong tới ngày được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, để được cùng con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang (Rm 8,22). Vì hạnh phúc ấy mà tám mẹ con trong bài đọc thứ nhất đã cam chịu mọi khổ hình.
Lời Chúa hôm nay đem lại cho ta bao niềm hy vọng. Chúa cho ta biết, đời ta sẽ không đi trong bất định, lạc vào hư vô, nhưng đời ta có một cùng đích, đó là trở về với Thiên Chúa là cội nguồn của ta. Đời ta sẽ không chìm đắm trong đau khổ, nhưng sẽ vươn lên hạnh phúc, hạnh phúc làm con Thiên Chúa, hạnh phúc chia sẻ sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Đời ta như vậy sẽ không đi vào mạt kiếp lụi tàn, nhưng sẽ triển nở trong vinh quang tự do. Đúng như lời thánh Phaolô nói: Gieo xuống thì hư nát, mà chỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà chỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà chỗi dậy thì mạnh mẽ; gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà chỗi dậy là thân thể có thần khí” (1Cr 15,43-44)
Lạy Chúa, xin cho con biết sống ở đời này theo đúng Lời Chúa dạy, để mai sau con xứng đáng được trở nên con của Chúa. Amen.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1) Cái chết là một thành phần của đời sống. Bạn chuẩn bị và đón nhận cái chết thế nào?
2) Con người sinh ra không phải để chết nhưng để sống. Bạn hiểu câu này thế nào?
3) Đời sau ta sẽ sống với Chúa. Ngay từ bây giờ bạn phải làm gì để chuẩn bị cho cuộc sống với Chúa?

 

TN32-C65. CẢ LOÀI NGƯỜI NAY ĐỔI LỐT

Tôi tưởng như mình vừa sống lại. Tự nghìn kiếp trước nối oan khiên. Oằn lưng gánh lấy hồn TN32-C65

Tôi tưởng như mình vừa sống lại
Tự nghìn kiếp trước nối oan khiên
Oằn lưng gánh lấy hồn sông núi
Hiu hắt trong lòng đóm lửa thiêng.
( thơ Song Nhị )
          Với nhà thơ Song Nhị hôm nay, loài người như đã đổi lốt. Vừa đổi lốt, sống lại tự nghìn kiếp, rất oan khiên. Với nhà Đạo xưa rày, người từ cõi chết đã sống lại, rất yêu thương. Sống lại hay đổi lốt. Oan khiên hay yêu thương. Tất cả, đều đáp ứng lời dạy của Đức Chúa. Thiên Chúa của tình yêu. Thiên Chúa của sự sống. Sự sống vĩnh hằng nơi Thiên Quốc, đó là thông điệp của trình thuật, rất hôm nay.
          Trình thuật hôm nay ghi rõ cuộc sống với Đức Ki-tô sau khi chết, là cuộc sống khác. Vẫn đang sống, nhưng theo trạng thái khác, như Ngài từng quả quyết:“Người không là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống. Vì, với Người tất cả đều đang sống.” ( Lc 20: 38 )
          Đã từ lâu, thi văn – đạo giáo bỏ nhiều công sức và nỗ lực để diễn tả về sự sống xảy đến ngay sau cái chết. Trong Tân Ước, thánh Gio-an cũng ra sức ghi lại nguồn mặc khải, giải thích cho Hội Thánh biết thế nào là “chốn ấy” đầy sinh động, đáng sống, bằng ngôn ngữ rất Khải Huyền.
          Trình thuật hôm nay, cho thấy bè nhóm Xa-đốc đã thách thức Chúa bằng những vấn nạn xem ra khôi hài, khó tưởng tượng. Dù có tiến bộ hơn nhóm Pha-ri-sêu về luật pháp, bè Xa-đốc vẫn cứng ngắc – bảo thủ, về niềm tin nơi Đạo.
          Lập trường bảo thủ của bè này, là chỉ công nhận có sách Ngũ Thư ở Cựu Ước. Họ bác bỏ hoàn toàn luận thuyết về việc thân xác sống lại sau khi chết. Chính vì thế, họ quyết gài bẫy Đức Ki-tô bằng những câu lắt léo hỏi về giả thuyết “chị dâu lấy tiếp những bẩy em chồng”, tưởng rằng Đức Ki-tô sẽ không tài nào giải mã nổi.
Với Đức Ki-tô, bẫy cạm mà họ gài cũng chẳng có gì khó giải. Bởi lẽ sau khi chết, con người đâu giữ lại thể trạng thân xác cũ xưa, để có “nghìn kiếp, nỗi oan khiên”, như vẫn tưởng tượng. Trái lại, sau khi chết, người người sẽ có tương quan rất mới. Tương quan thích hợp với Chúa. Với mọi người, ở chung quanh.
Ngay đời này, Đức Chúa thường nhắc nhở: sống ở Nước Trời là về với cuộc sống có tương quan mới với hết mọi người. Về với cuộc sống Nước Trời, là về với gia đình mới. Ở nơi đó, mọi người trở thành huynh đệ. Ở nơi đó, mọi người chẳng còn lý tới nguồn gốc, sắc tộc, hoặc những khác biệt từ đâu tới.
          Chính Đấng Nhân Hiền đã xác nhận việc này, khi có người bảo: Kìa, Mẹ và anh em Thầy đang tìm Thầy ở ngoài. Ngay lập tức, cử tọa lúc ấy được Ngài khẳng định: “Ai là mẹ Ta và là anh em Ta ?, Rồi nhìn quanh mình, các người ngồi vòng quanh Ngài, Ngài nói: Này là mẹ Ta và anh em Ta. Ai làm theo thánh ý Thiên Chúa, thì người ấy là anh chị em và là mẹ Ta” ( Mc 3, 33 – 35 )
          Ở cuộc sống đời sau, gia đình của Nước Trời là thực thể gồm mọi nguời chúng ta. Sự sống ấy, sẽ không còn phân biệt ai ruột thịt, ai người dưng. Không còn phân rẽ sắc tộc, lẫn nguồn gốc. Ở nơi này, cũng chẳng còn phân rẽ về mặt thể lý. Sự sống mới, mà người thường gọi là nghìn kiếp sau, trên thực tế, đã và đang xẩy đến với Hội Thánh, thời tiên khởi và lúc này.
          Hội Thánh, chính là người làm chứng tá cho Đức Ki-tô, Thiên Chúa của Sự Sống. Và, Hội Thánh gồm các vị luôn cống hiến đời mình cho Nước Trời, ở trần gian. Và, công dân Nước Trời nay trở thành nhiệm tích mới, có tương quan thương yêu nồng thắm, hiện hữu trong lai thời. Hiện hữu ngay cả vào Vương Quốc vĩnh cửu của Ngài.
          Đối ứng lại bẫy cạm bè nhóm Xa-đốc đặt ra, Đức Ki-tô cũng sử dụng ngôn ngữ của lề luật trong Cựu Ước. Luật Lê-vi được dùng, để chứng minh: “Thiên Chúa của cha ông các người đã sai tôi đến với các người ! Và nếu họ sẽ nói với tôi: ‘Tên Người là gì ? Thì tôi sẽ nói làm sao với họ ?’ Thiên Chúa phán: ‘TA CÓ sao TA CÓ vậy ! Và Người phán: Ngươi sẽ nói với con cái Ít-ra-en thế này: ‘TA CÓ’ đã sai tôi đến với các người ! Hãy nói với con cái Ít-ra-en: Thiên Chúa của Áp-ra-ham, I-sa-ác, và của Gia-cóp đã sai tôi đến với các người. Đó là tên Ta mang mãi mãi, và đó là cách tưởng niệm về Ta đời này qua đời khác.” ( Xh 3, 13 – 15 )
          Như nhà thơ từng viết: “Ở đây trời đất vừa thu lại, còn một vòm đen chứa thế gian” ( Song Nhị ), cốt lõi của trình thuật là: nhiều giá trị của cuộc đời còn đáng quý hơn cuộc sống ở dưới thế. Giá trị ấy, đáng để ta chết vì nó. Sự hy sinh của các đấng tử đạo, được coi như một trong các giá trị xứng đáng để trả lẽ. Hy sinh ấy, sẽ được trọng thưởng bằng vào việc bước vào cuộc sống mới, tốt đẹp hơn.
          Xem như thế, cuộc sống người tín hữu Đức Ki-tô, trước nhất, đặt căn bản trên niềm hy vọng vững chắc, là: một ngày kia ta hợp nhất với Đấng, từ đó ta được sinh ra. Và rồi ra, tất cả mọi sự, mọi loài cũng sẽ quay về lại với Đấng ấy.
          Về hy vọng, thánh Phao-lô từng xác định với Giáo Dân Rô-ma, rằng: “Ơn cứu thoát đến với ta như hy vọng. Hy vọng mà thấy được, thì hết còn hy vọng. Bởi đã thấy rồi, ai nào còn hy vọng nữa ! Nhưng nếu quả thực ta hy vọng vào điều ta không thấy, thì ta hãy kiên nhẫn đợi trông.” ( Rm 8, 22 – 25 ).
          Và, hy vọng của ta đặt nền tảng vào lòng tin yêu – cậy trông nơi Đức Chúa. Ngài chính là Cội Nguồn và Đích Điểm mọi cuộc sống. Hy vọng ấy, là tin tưởng rằng: ngày nào đó ta có kinh nghiệm từng trải về điều mà hiện thời còn nằm ngoài tầm tay với vọng, của mọi người.
          Trình thuật hôm nay ta đi dần vào những ngày cuối năm phụng vụ. Đây là lúc, mọi người chúng ta sẽ đi dần vào với những suy tư chiêm niệm về phút cuối, của mọi sự. Đặc biệt hơn, chính là phút cuối của đời sống cá nhân, riêng lẻ. Đây còn là ý nghĩa được diễn tả nơi kinh Tiền Tụng của thánh lễ tiễn đưa người quá vãng, qua lời câu: “Lạy Chúa, cuộc sống của các kẻ tin vào Chúa nay đổi thay, chứ không chấm dứt. Lúc mà thân xác của các cư dân trần thế là thân bằng quyến thuộc chúng con đi vào sự chết, là lúc các vị được Chúa tặng ban nơi ngụ cư cùng Ngài ở chống đời đời, nơi Thiên Quốc.”
          Vào Tiệc Thánh ngày cuối hôm nay, ta ghi lại những giọt vắn giọt dài nơi giòng chảy mà người nghệ sĩ hôm xưa từng hát:
Giọt mưa trên lá tiếng khóc chơi vơi
Thế giới lạc loài chưa thoát ra phận người
Giọt mưa trên lá cố gắng nguôi ngoai
Nói với loài người: xin cứ nuôi mộng dài.
Giọt mưa trên lá thấp thoáng, bơ vơ
Khép nép, đợi chờ, xa cách ngau vài giờ
Giọt mưa trên lá dĩ vãng xa xôi
Sớm tối bùi ngùi, xa cách nhau một đời. ( Phạm Duy – Giọt Mưa Trên Lá )
          Sớm tối bùi ngùi, xa cách nhau một đời. Nhưng, cứ hy vọng và mãi nuôi mộng dài. Vì, mộng dài là hy vọng. Hy vọng, dài cả ngàn năm. Hy vọng, được sống lại để rồi sẽ cùng sống với Ngài. Và với nhau. Sống với nhau, nơi miên trường. Là, Thiên Quốc rất gần.Và, không lâu.
Lm. PHAN ĐỖ THỤC LINH, MAI TÁ ( Úc ) diễn dịch

 

TN32-C66. TẤT CẢ ĐỀU ĐANG SỐNG

 (CN 32TN – 2Tx 2, 16-3, 1-5; Lc 20, 27-38)
 

Lời của Chúa Giêsu, trong bài Tin Mừng CN 31TN, đã gieo vào lòng tôi một thúc bách khôn nguôi: N32-C66

          Lời của Chúa Giêsu, trong bài Tin Mừng CN 31TN, đã gieo vào lòng tôi một thúc bách khôn nguôi. Người muốn chính tôi cũng phải biết “đi tìm và cứu những gì đã mất như Người. Và tôi đã không thể cưỡng lại mình. Tôi đã tìm đến Mái Ấm Phan Sinh cách nơi tôi ở khoảng 20 cây số với chiếc xe máy ba bánh dành cho người bại liệt.
Khi được nhìn, được nghe những gì anh em đồng cảnh ngộ đã và đang sống, cũng như đã và đang chịu đựng khổ đau, tôi vô cùng xúc động, bởi cuộc đời của tôi đã trải qua như thế nào thì tôi cũng thấu hiểu ngọn nguồn nỗi đớn đau của họ như thế. Một anh bạn ngồi xe lăn tay tiến sát lại gần tôi hơn, rồi chia sẻ nỗi đắng cay như rót vào tim tôi. Anh nói thật nhỏ, thật chân thành như chưa từng được bộc bạch:
“Anh biết không, cuộc đời của tôi là cả một chuỗi ngày tháng bầm dập, đau đớn và ê chề. Gia đình gồm vợ và cháu gái nhỏ sinh sống tại miền Bắc với những khổ cực của đời nông dân chân lấm tay bùn. Thế rồi, tai nạn đổ ập xuống trên cơ thể cường tráng của tôi, khi tôi bị gẫy giập cột sống do cây đè. Tôi được đưa vào Saigòn này để điều trị. Nhưng cuối cùng, anh biết đấy, với thân tàn ma dại bởi chứng “liệt tủy sống” tàn khốc, với 2 chân khô khốc cằn cỗi như 2 que củi thì làm sao tôi có thể tự đứng vững trên đôi chân mình được để mà tự lo toan cho mình! Làm sao tôi có thể lèo lái con thuyền gia đình mới chớm của tôi! Nhất là làm sao tôi có thể đáp ứng những nhu cầu sinh lý của vợ, khi nàng ăn đã quen ngon miệng !!!
Chính vì thế mà tôi đã có nhiều lúc muốn tự kết liễu đời mình để tìm vào quên lãng, không chỉ vì mình bất lực, mà vì hận tình, hận đời, hận số kiếp quá khắc nghiệt với mình.... Trong những lúc quá tuyệt vọng như thế, tôi đã gặp được một “ân nhân tốt bụng”. Người này đã an ủi, đã vực tôi dậy. Và rồi nhờ vào lòng từ bi của ông ta mà tôi được hội nhập vào Mái Ấm Phan Sinh này. Cũng từ nơi đây, dần dà tôi đã nhận ra đâu là cùng đích của cuộc sống làm người. Nhờ sức mạnh Thần Linh của Đức Kitô mà tôi đã vượt lên khỏi cái chết vì hận thù tức tuởi và oan uổng, đồng thời ý thức sâu xa về tình yêu cao cả của Thập Giá, nên tôi đã không còn oán hận như trước kia tôi đã ôm ấp trong chán chường tuyện vọng...
Cám ơn anh đã lắng nghe!”
Trước những lời chân tình không che dấu của người đồng cảnh ngộ mới quen nhưng như đã gần gũi với chính mình, tôi đã thấu hiểu được sức mạnh của lời mà chính Đức Giêsu đã nói với chị Macta để điều chỉnh niềm tin về sự sống lại đời sau nơi chị. Đức Giêsu đã quả quyết mãnh liệt và dứt khóat:
“Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống.
Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết,
cũng sẽ được sống.
Ai sống và tin vào Thầy sẽ không bao giờ phải chết.
Chị có tin thế không?” (Ga 11, 25-26)
Sau này, thánh Phaolô đào sâu mầu nhiệm tình yêu của Đức Kitô qua cái chết và phục sinh. Ngài xác tín và giáo huấn như sau:
“Một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết,  thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. Người đã chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống là sống cho Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô” (Rm 6, 9-11)
Từ mặc khải về sự “sống lại cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô” ngay trong cuộc đời này mới là điều tối cần thiết để bước vào sự sống trường tồn vĩnh cửu. Do đó, Đức Giêsu đã nói với nhóm Xađốc không tin nên đã hiểu sai lầm về sự sống lại rằng:
“Những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ lấy chồng nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại” (Lc 20, 34-36)
“Để đựơc xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết”, thánh Gioan đã nhắn nhủ rất khẩn thiết và cấp bách là:
          “Chúng ta biết rằng:
          Chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống,
          vì chúng ta yêu thương nhau.
          Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết.” (1Ga 3, 14)
Những anh em trong Mái Ấm đã cho tôi hiểu rằng họ đã sống lại để được thông phần vào cuộc thương khó của Đức Kitô, và trong Đức Kitô, họ đã yêu thương những người đã bỏ mặc họ, đã phụ bạc họ, đã để họ rơi vào khủng hoảng hầu tìm đến cái chết nhục nhã. Lại nữa, khi những lúc anh bạn tuyệt vọng vì hận thù vì bị phản bội trong lúc gian nan khốn khổ để tự hủy diệt mình, thì Thiên Chúa đã gửi đến cho anh một người tôi tớ của Ngài mà anh ta gọi là “ân nhân tốt bụng”. Từ đây, tôi hiểu được lòng yêu thương vô bờ bến của Chúa Giêsu, khi Người đúc kết phần bài Tin Mừng hôm nay:
“Vì đối với Thiên Chúa, tất cả đều đang sống” (Lc 20 38).
Người yêu thương tất cả, người đã chết về phần hồn cũng như người sống công chính, vì những người này đều đang sống trong trái tim yêu thương không hề cạn kiệt của Người. Trước kia, khi tiên tri Edêkien được sai đi làm người lính tuần canh va khi mà dân chúng chán chường thất vọng đang bị dồn dập dưới gánh nặng tội lỗi, Thiên Chúa đã truyền cho ông nói với dân Israen rằng:
“Ta lấy mạng sống Ta mà thề - Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để đựơc sống. Hãy trở lại. Hãy từ bỏ đường lối xấu xa của các ngươi, mà trở lại. Sao các ngươi lại muốn chết, hỡi nhà Israen? (Ed 33, 11)
Cảm nghiệm được nỗi thổn thức trong yêu thương vô bờ bến của Thiên Chúa mà thánh Phaolô đã khao khát van nài cho mọi người trong đó có tôi và những anh em trong Mái Ấm:
“Xin chính Chúa chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta và đã dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp...
... Người sẽ làm cho anh em được vững mạnh, và bảo vệ anh em khỏi ác thần.” (2Tx 2, 16. 3, 3)
Lạy Cha Dấu Yêu của chúng con,
Với niềm tin rằng tất cả chúng con đều đang sống trong trái tim yêu thương vô bờ bến của Cha, chúng con xin cám ơn và chúc tụng ngợi khen Cha.
Xin Cha ban Thần Khí để chúng con biết mở lòng ra yêu thương nhau, nhất là những người đang đau khổ va thất vọng như anh em trong Mái Ấm của Cha.
Xin Cha cũng tăng thêm ơn khôn ngoan để nhiều người không còn hiểu lầm về sự sống lại đời sau như nhóm Xađốc, mà hăng say góp tay vào xây dựng Một Mái Ấm Tình Thương ngay từ đời này,  vì Chúa Giêsu, Con Cha đã mặc khải:
“Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống....
Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”.
Lạy Cha, xin thương xót những anh em trong Mái Ấm Phan Sinh của Cha được sống trong tình thương của Cha luôn mãi. Amen.
Chúa Nhật 32TN, ngày 11/11/2007
Phêrô Vũ văn Quí CVK64
Email: peterquivu@gmail.com

 

TN32-C67. ĐỊNH LUẬT BẤT BIẾN

Nhìn lại bản thân cũng như môi trường sống, thế giới sinh vật chung quanh, và vũ trụ vô hạn: TN32-C67

Nhìn lại bản thân cũng như môi trường sống, thế giới sinh vật chung quanh, và vũ trụ vô hạn định, con người nhận thực được sự thể hiện hữu hữu hình cũng như vô hình đang biến chuyển không ngưng nghỉ. Nơi cơ thể mỗi người, thân xác đang phát triển hoặc thoái hoá từng giây từng phút. Mỗi nhịp tim đập chuyển đi một lượng máu mới. Mỗi hơi thở một lượng không khí không giống nhịp thở cũ. Từng tế bào biến dịch và nơi mỗi tế bào, từng âm điện tử, trung hòa tử xoay quanh dương điện tử với những vận tốc khác nhau chẳng khác gì hệ thống thái dương hệ. Tư tưởng, quan niệm, nhận định, ý thích, ước mơ nơi mỗi người cũng luôn luôn biến dịch tùy thời gian và không gian.

Nơi thế giới, vạn vật chung quanh, thời tiết luân chuyển thay đổi liên tục không ngưng nghỉ. Cây cối, sinh vật, đất đai cũng đang biến chuyển dẫu con người đ ý nhận biết hay không. Lớp người này qua đi, thế hệ sau tiếp nối. Môi trường sống biến đổi, cuộc sống con người thay đổi, quan niệm đổi thay tạo nên nhận định thay đổi chẳng bao giờ ngừng. Tuy nhiên, bởi nhãn quan hạn hẹp đồng thời vô tình hoặc không đ ý nhận định, đặt vấn đ, con người sống như bị phải sống, yêu thích sự sống, e sợ sự chết xác thân dẫu biết rằng không thể tránh thoát thực thể tự nhiên đã được sinh ra thì phải chết. Mỗi người ngay khi được sinh vào đời đều đã tự mang nơi mình bản án tử bất dịch.

Bình thường, cũng chỉ vì không đ ý nhận định về thực thể của chính mình, con người đành chấp nhận tin theo những gì người khác nói đ tạm được yên lòng sống cho qua kiếp người. Thí dụ, chấp nhận mình có linh hồn nhưng không dám tự đặt câu hỏi linh hồn mình là gì, mầu sắc xanh, đ, tím, hoặc vàng, không dám thử dù chỉ trong ý nghĩ kiếm tìm sao cho có thể nhận biết linh hồn mình ra sao, hình dạng thế nào. Thêm vào đó, bởi không đ ý nhận định, con người dễ dàng chấp nhận những nhận định phiến diện thế tục như một chân lý bất di dịch. Chẳng hạn, chúng ta thường nói, tai nghe, mắt thấy. Thực tế minh chứng, đã biết bao người có mắt, tai tốt lành nhưng sau khi chết, sau khi linh hồn ra khỏi xác thì con mắt đâu thể nhìn được gì, cặp tai nào nghe được chi. Điều dễ dàng ai cũng có thể nhận định nếu đ ý, con mắt, cặp tai và ngay cả ngũ quan, xác thân, bộ óc, chỉ là phương tiện cho một thực thể nơi mình được gọi là linh hồn hoạt động.

Hoạt động của thực thể này, của linh hồn của một người chính là ước muốn, ý định, suy tư, tham vọng. Như vậy, thân xác con người là phương tiện cho linh hồn người đó thực thi ước muốn, ý định, tham vọng của linh hồn. Có thể nói, cuộc đời một người là cơ hội hay phương tiện cho linh hồn hoạt động hoặc học những bài học cần phải học bởiAi nên khôn không khốn một lần.” Xét thế, vấn đ được đặt ra lại là tại sao mình được sinh vào đời và sau khi xác thân qua đi, linh hồn sẽ ra sao, đi về đâu.

Lời Chúa cho chúng ta biết qua bài Phúc Âm Luca, “Con cái đời này thì cưới vợ lấy chồng. Còn những ai đã được xét là đáng hường đời sau, cùng sự sống lại từ cõi chết thì sẽ không cưới vợ lấy chồng! Vì chưng họ không thể chết nữa, bởi họ được như thiên thần và nên con cái Thiên Chúa, một khi đã là con cái của sự sống lại” (Lc. 20:34-36). Chúng ta thường nghĩ đến sự sống và sự chết xác thân nên đã lầm lẫn giữa sự hiệu hữu của xác thân và sự hiện hữu của linh hồn. Linh hồn không thể chết. Câu Phúc Âm, “Dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy" (Mt. 16:19). Ai cầm buộc được mình điều gì nếu không phải là chính mình, chính niềm mơ, ước muốn, ý định, tham vọng của một người trói buộc họ. Ý định, ước muốn là hoạt động, sản phẩm của linh hồn. Nơi trần thế này, linh hồn một người tạo nên và theo đuổi ước muốn, ý định nào đó thì khi xác thân qua đi, linh hồn người đó vẫn theo đuổi ước muốn ý định đó. Linh hồn một người bị cầm buộc bởi ý định, ước muốn của chính mình.

Suy như vậy, linh hồn không thể chết. Sự sống của linh hồn chính là dứt khỏi những ước muốn, ý định lầm lạc thế tục đ trở về nguyên bản của mình, thoát khỏi sự chết tâm linh. Linh hồn được phát xuất tự Thiên Chúa, cội nguồn quyền lực hiện hữu nên khi nhận biết được thực thể của mình sẽ được gọi là sống lại từ cõi chết tâm linh. Tất nhiên, linh hồn không có hình thể nên được nói, “Như thiên thần.”

Cuộc đời một người là phương tiện, nói cách khác, là cơ hội cho linh hồn nhận thức bản thể thực thể của mình, nhận thức thực thể Tin Mừng Nước Trời, “Thiên Chúa cùng chúng ta.” Mỗi người chính là hiện thể của Thiên Chúa đang hoạt động nơi giòng sống vĩnh cửu đang biến chuyển.

Lã Mộng Thường

 

TN32-C68. ĐỨC TIN VÀ SỰ KHÔN NGOAN CỦA LOÀI NGƯỜI

Chúa Nhật XXXII Thường Niên C
 

Bài Tin Mừng hôm nay nằm trong chương 20 của thánh Luca, có thể được gọi là chương của sự chống: TN32-C68

Bài Tin Mừng hôm nay nằm trong chương 20 của thánh Luca, có thể được gọi là chương của sự chống đối, của những cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu với hầu hết các phe nhóm trong nước Do thái lúc bấy giờ. Hành trình lên Giêruselem với tư cánh là Mêsia, con đường thương khó – phục sinh đã thực sự bắt đầu từ đây. Mở màn cho những cuộc tranh luận là những lời chất vấn về quyền bính, tiếp đến là việc nộp thuế cho Xêda và hôm nay vấn đề kẻ chết sống lại. tất cả đều nhằm “tìm cách gài bẫy” Đức Giêsu để nộp cho nhà chức tránh và cuối cùng là “tìm cách giết Người”.
Sau khi các thượng tế, các kinh sư và những người thuộc phe Hêrôđê phải rút lui có trật tự vì những lý luận sắc bén của Đức Giêsu, những người thuộc nhóm Xa đốc – nhóm cấp cao trong hàng tư tế, nhóm chủ trương không có sự sống lại đến với Đức Giêsu mang theo một vấn nạn xem ra nắm chắc phần thắng trong tay. Ho đưa ra một giả định, một phụ nữ lấy bảy đời chồng một cách hợp luật, nếu có sự sống lại thì sau khi sống lại người phụ nữ sẽ là vợ của ai trong bảy người chồng.
Một giả định không thật đến độ mỉa mai, nhưng vấn đề nêu ra lại rất hợp lý. Không thật bởi chẳng bao giờ có chuyện cả bảy anh em trai chỉ lấy một người phụ nữ; nhưng hợp lý ở chỗ nếu có sự sống lại thì người phụ nữ đó không thể cùng một lúc làm vợ cả bảy anh em. Rõ ràng, nếu có sự sống lại, nghĩa là có sự sống khác tiếp nối cuộc sống vừa qua đi thì vấn đề mà những người thuộc nhóm Xa đốc nêu ra quả thật nan giải.
Tuy nhiên, cũng như những lần trước, dù biết những người đến hỏi mình chỉ để thử (Lc 10, 25-28) hoặc chỉ để “ tìm cách gài bẫy”, Đức Giêsu vẫn trả lời qua đó, mạc khải những chân lý dẫn đưa con người đến sự thật toàn vẹn. Ở đây, không những khẳng định sự thật tuyệt đối là có sự sống lại, Đức Giêsu còn cho những người Xa-đốc biết sự sống đó như thế nào và ai là Chủ của sự sống ấy.
Theo lời Đức Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay, sự sống đời sau là một thực tại hoàn toàn khác hẳn với cách sống và lối suy nghĩ của con người trần gian “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, nhưng những ai được sống lại từ cõi chết thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng” Nếu quy chiếu theo cái nhìn của thư Rôma, điều này có thể được hiểu theo nghĩa “ không lấy vợ gả chồng” là “không còn sống theo xác thịt”  vì “những ai sống cho tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt, còn những ai sống theo Thần Khí thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an.( Rm 8, 5-6). Khi sự sống lại, vì “là con Thiên Chúa, “ là con sự sống lại”, người ta được nâng lên ngang hàng với các thiên thần. Từ đây, những toan tính chiếm hữu sở hữu theo kiểu kiểu “của tôi”, “của anh” không còn. Những thú vui xác thịt, những tham sân si trong cuộc sống bị đẩy lùi. Cái tầm thường vốn kéo ghì những ước mơ hướng về trời cao không còn chỗ. Chẳng còn vợ chồng con cái, chẳng còn những vướng bận gì khác ngoài cuộc sống thanh thoát, như các thiên thần. Do đó, chẳng có lý do gì để hỏi “ngày sống lại, người đàn bà đó sẽ là vợ của ai, vì cả bảy đều đã lấy bà làm vợ”.
Ở đây, Đức Giêsu không giảm thiểu giá trị hôn nhân mà một cách nào đó nhắc nhở con người, cuộc sống trần gian này sẽ qua đi. Sống trách nhiệm với cuộc sống hiện tại là một bổn phận, nhưng không được vì thế mà coi đó là cứu cánh. Cuộc sống mai hậu mới là tất cả. Ở đó, có những điều lớn lao hơn người ta tưởng nhiều (Gá, 50- 51).
Sau khi cho biết sự sống sau cái chết khác hẳn với sự sống đời này, Đức Giêsu tiếp tục mạc khải cho biết Chủ của sự sống ấy chính là Thiên Chúa “ Người là Thiên Chúa của tổ phụ Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa, Thiên Chúa của Giacóp”. Câu trích dẫn Xh 3, 8 này cho thấy Thiên Chúa hằng sống điều khiển lịch sử của kẻ sống. Vì Người “không phải là Thiên Chúa của kẻ chết nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống”.
Tin “Kẻ chết sống lại” tin “Thiên Chúa là Chúa kẻ sống” là một trong những ơn thiêng lớn lao Thiên Chúa ban cho ai người ấy được. Đối với các khoa học khác người ta có thể khám phá bằng sự tìm tòi, nghiên cứu, nhưng đối với khoa học về Thiên Chúa thì khác hẳn. Không phải hễ có có khôn ngoan thông thái là có thể hiểu được mầu nhiệm Nước Trời. Ở khía cạnh nào đó, sự khôn ngoan của con cái loài người đã cản lối đi của Thần Khí. Mầu nhiệm Nước Trời mãi mãi vẫn cứ là điều gì đó xa lạ với lý lẽ hùng hồn và triết lý cao siêu của con người. Đức Giêsu đã từng lên tiếng “Lạy Cha, con cảm ta Cha vì đã giấu không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này. Vâng lạy Cha, đó là ý Cha? Nhóm Xa-đốc được xem là nhóm trí thức nhất trong dân . Có lẽ vì vậy mà việc kẻ chết sống lại đối với họ là một điều nhảm nhí, chỉ dành cho hạng thứ dân, ít học, là một liều thuốc “an thần”  cho những người bị áp bức không có khả năng vươn dậy !
Ngày nay, khoa học dường như làm được tất cả. Khoa học tạo ra đầy đủ mọi tiện nghi để phục vụ cuộc sống con người, kéo dài sự sống con người, thay thượng đế tạo sự sống cho những người hiếm muộn bằng việc thụ tinh trong ống nghiệm. Khoa học tiến bộ kéo theo sự an sinh xã hội cũng được bảo đảm. Do vậy, sự sống lại đối với con người ngày nay quá xa xôi, qua viễn vông. Người ta cho rằng không có Thiên Chúa vẫn có thể sống hạnh phúc vẫn cảm thấy an vui !!! Không phản ứng mạnh mẽ với tín điều “xác loài người ngày sau sống lại” nhưng con người ngày nay tỏ ra quá dửng dưng về nó. Những cảm thức về thực tại thiêng liêng, thực tại vô hình đang mất dần trong các chọn lựa của con người ngày nay, kể cả đối với người Kitô hữu. Dửng dưng tưởng chừng là một lối phản đối nhẹ nhàng nhất, kỳ thực nó là một cách loại trừ hiệu quả nhất.
Sống trong một thời đại với những tiến bộ vượt bậc của khoa học có bao giờ tôi trăn trở trước câu hỏi xé long của Đức Giêsu “ liệu khi Ta đến có còn thấy niềm tin trên mặt đất này nữa không ?”( Lc 18, 8)
Nt. Anna Nguyễn Thị Kim Loan, Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm

 

TN32-C69. Sống lại

Mặt trận phía tây hoàn toàn yên tĩnh”, đó là tựa đề của cuốn tiểu thuyết nổi tiếng. Cuốn tiểu: TN32-C69

“Mặt trận phía tây hoàn toàn yên tĩnh”, đó là tựa đề của cuốn tiểu thuyết nổi tiếng. Cuốn tiểu thuyết này kể lại một câu chuyện thật cảm động:
Trong cuộc giao tranh giữa Đức và Pháp, một chú lính trẻ người Đức đang ngồi dưới hầm để tránh đạn, thì bất ngờ, một người lính Pháp lạc bước cũng nhảy xuống. Trước khi người lính Pháp nhận ra kẻ địch dưới hầm, thì anh đã bị chú lính Đức đâm cho mấy nhát, khiến anh ngã quỵ. Anh nằm thoi thóp chờ chết.
Chú lính Đức chăm chú nhìn vào cặp mắt sợ hãi của người lính Pháp. Chú thấy miệng của người lính này há hốc với đôi môi nứt nẻ. Chú ta liền động lòng thương, rút chai nước của mình và cho người lính thù địch ấy uống. Khi người lính ấy qua đời, chú ta cảm thấy ân hận thấm thía.
Trông thấy chiếc ví, chú ta liền mở ra xem, trong đó có bức ảnh chụp một người đàn bà và một bé gái. Chú ta bỗng nhận thấy người lính đã chết kia không còn phải là kẻ thù nữa, nhưng là một người chồng, một người cha, một người biết yêu thương như chú ta. Và điều gì đã xảy ra dưới hầm nơi chú lính Đức đối diện với người mà chú mới giết chết?
Phải chăng chú bất ngờ nhận ra bổn phận phải yêu thương đồng loại? Không phải vậy. Chú chợt nhìn thấy người từng bị xem là kẻ thù của chú bằng một ánh sáng hoàn toàn mới. Chính nhờ ánh sáng này mà chú đã thay đổi thái độ đối với người lính Pháp.
Từ câu chuyện trên, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng sáng hôm nay. Như chúng ta đã biết: Nhóm Sađốc gồm những kẻ không tin có sự sống lại. Họ đã dựa vào đoạn sách Đệ Nhị Luật để đưa ra vấn nạn với Chúa Giêsu. Sách Đệ Nhị Luật viết: Khi anh em ruột ở chung với nhau mà một người chết không con, thì vợ của người ấy không được thuộc về người chồng khác ngoài nhà. Một người anh em của chồng sẽ lấy nàng làm vợ. Và đứa con trai đầu lòng sinh ra sẽ lưu danh người anh em đã chết.
Với vấn nạn này nhóm Sađốc đòi Chúa Giêsu phải có một lập trường dứt khoát. Nếu Ngài không tin có sự sống lại thì họ được thêm một đồng minh. Còn nếu Ngài tin, thì làm sao giải quyết vụ hôn nhân cho người vợ goá với bảy người anh em ruột làm chồng mình.
Dựa vào lời của Chúa, chúng ta thấy: nhóm Sađốc hiểu sai về việc sống lại, cũng như về cuộc sống mai sau. Với họ sống lại là phục hồi những điều kiện vật chất của người quá cố. Trong khi đó Chúa Giêsu lại bảo: Người sống lại sẽ giống như các thiên thần, nên không còn dựng vợ gả chồng nữa. Đối với chúng ta, vấn đề chỉ được thực sự giải quyết qua cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, để rồi chúng ta luôn tuyên xưng: Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau.
Từ những điều vừa trình bày, chúng ta đi tới hai kết luận. Kết luận thứ nhất đó là hãy biết yêu thương giúp đỡ những người chung quanh, nhất là những người thân yêu trong gia đình, như ông bà cha mẹ, anh chị em ngay từ bây giờ, lúc họ còn sống, kẻo khi sự chết đến thì đã quá muộn.
Kết luận thứ hai đó là hãy biết chuẩn bị cho mình những hành trang cần thiết là một tâm hồn trong sạch, không bị hoen ố bởi tội lỗi và đôi bàn tay chất đầy công nghiệp, bằng những hành động bác ái yêu thương chúng ta đã thực hiện được, nhờ đó trong ngày sau hết, chúng ta sẽ được Chúa đón nhận vào cuộc sống vĩnh cửu.

 

TN32-C70. Một mầu nhiệm lớn hơn chúng ta biết

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ - Charles E. Miller)
 

Những mầu nhiệm là một phần của cuộc sống, những mầu nhiệm đó đã xảy ra trong hành tinh: TN32-C70

Những mầu nhiệm là một phần của cuộc sống, những mầu nhiệm đó đã xảy ra trong hành tinh của chúng ta, đã được xoay vần với những khoảng cách chính xác của mặt trời, nếu không như thế một là chúng ta bị tiêu hủy trong ngọn lửa hoặc sẽ đông cứng thành băng? Vì sao trời đã mưa xuống và đất đã trổ sinh hoa trái? Và điều gì đã làm nên công việc tuyệt diệu ấy? Những điều kỳ diệu đó tâm trí con người chúng ta có thể miêu tả nhưng không thể hiểu hoặc cắt nghĩa. Một trong những điều kỳ diệu là nòi giống con người. Chúng ta là một sự kỳ diệu lớn nhất và là mầu nhiệm sâu xa nhất trong vũ trụ.
Chúng ta bắt đầu sự hiện hữu của mình trong thân xác mẹ của chúng ta như một phòng đơn độc nhỏ xíu có vẻ tầm thường, đã bám vào trong nhau của mẹ như một đặc ân quý giá của đời sống, đang tìm kiếm sự an toàn cư trú trong dạ của mẹ chúng ta. Chúng ta lớn lên và phát triển mỗi ngày rõ ràng hơn, thành một tạo vật mà Thánh Vịnh đoạn 8 đã miêu tả là nhỏ hơn các thiên thần một chút. Không phải những sự kỳ diệu này đã có thể trình bày những điều kỳ diệu lớn hơn chăng?
Không phải những người Pharisiêu trong bài Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay không tin vào sự Phục Sinh từ cõi chết. Họ nghĩ rằng họ đã đánh bẫy Chúa Giêsu và đặt một câu hỏi cho có vẻ giống như sự Phục Sinh thì không thể có. Một người đàn bà đã kết hôn với bảy người chồng hành sự. Một câu hỏi đặt ra là người đàn bà đó là vợ của ai sau khi sống lại. Cái sai lầm của họ là nghĩ về giáo lý của sự Phục Sinh có nghĩa là những người sống lại sẽ sống một đời sống xác thịt như đã được sở hữu trước khi họ chết. Chúa Giêsu trong một vài từ đã sửa chữa những sai lầm của họ bằng bài giáo huấn này, mặc dầu trước khi Phục Sinh chúng ta có nhỏ hơn thiên thần một chút nhưng sau khi Phục Sinh chúng ta sẽ giống như các thiên thần. Chúng ta sẽ có một sự thay đổi. Chúng ta sẽ qua một sự phát triển mà không giống như việc chúng ta ở trong dạ mẹ để sửa soạn cho ngày sinh của chúng ta.
Sự phát triển của chúng ta đang diễn ra ngay bây giờ, đặc biệt là qua sự tiếp nhận Thánh Thể. Chúng ta lãnh nhận Thân Mình và Máu của Chúa, Đấng đã chết và sống lại. Đó là Chúa của sự sống lại vinh quang, Đấng đã nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của chúng ta, duy trì và làm phong phú ân sủng cho đời sống của chúng ta. Khi chúng ta lãnh nhận Thánh Thể chúng ta hãy nhớ rằng, lời hứa đã được củng cố bởi Lời của Chúa Giêsu: “Ai ăn Thịt và uống Máu Ta sẽ được sống đời đời, và Ta sẽ cho chúng sống lại vào ngày sau hết”. Chúng ta chờ đợi trong niềm hy vọng và vui mừng việc đến để cứu thoát chúng ta, và chúng ta sẽ nói với Người những lời đáp ca trong Thánh Vịnh: “Lạy Chúa khi vinh quang Ngài xuất hiện, niềm vui của chúng con được tràn đầy”. Niềm tin của sự Phục Sinh đã đem lại niềm hy vọng và can đảm cho những người đi trước chúng ta. Những người sốt sắng, giống như bảy anh em trong bài đọc đầu tiên hôm nay đã sẵn sàng đi đến cái chết để giữ vững đức tin của họ. Thật là kinh ngạc khi chính mẹ của họ van xin họ hãy chấp nhận cái chế. Tất cả những điều này đã xảy ra bởi Thiên Chúa đã ban cho niềm tin và hy vọng phục hồi viên mãn sự sống trong sự Phục Sinh vào ngày sau hết.
Chúng ta bị thách đố không phải để chết cho đức tin nhưng là để sóng theo đức tin của chúng ta. Thật sự, sự Phục Sinh của chúng ta diễn ra như một mầu nhiệm được ẩn giấu trong Thiên Chúa, khi chúng ta có thể bảo đảm rằng điều đó sẽ là một điều kỳ diệu lớn lao bởi vì chúng ta sẽ thông dự vào sự Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô.

 

TN32-C71. Mất hết cả đời người!

Chiều hôm ấy, một nhà bác học đứng trên bãi biển thấy nước phẳng lặng, trời trong veo, ông liền: TN32-C71

Chiều hôm ấy, một nhà bác học đứng trên bãi biển thấy nước phẳng lặng, trời trong veo, ông liền gọi một ngư phủ lấy thuyền chèo đưa ông ra khơi. Hai người cùng trò chuyện: Nhà bác học hỏi người chèo thuyền có biết đọc không? Người chèo thuyền trả lời: “Không”.
Nhà bác học nói: “Vậy thì anh mất hết nửa đời người rồi, uổng quá! Vì biết đọc sách, người ta sẽ tiếp thu được biết bao điều hay, học thêm được bao nhiêu điều mới lạ”.
Rồi ông bắt đầu kể cho người ngư phủ: nào là lòng sâu của biển cả, nào là tuổi đời cũng như độ bơi của bao nhiêu loài cá. Người ngư phủ thích thú lắng tai nghe. Nhưng kìa, trên vòm trời xanh thấy điểm nhiều mây đen từ đâu bay đến, rồi từng cơn gió mạnh quấy động mặt nước, biển nổi sóng. Gió càng thổi mạnh, mây càng hạ thấp. Người ngư phủ đâm ra lo sợ và báo cho nhà bác học hay một cơn giông tố sắp xảy đến. Nói chưa dứt thì một làn sóng mạnh đã lật úp chiếc thuyền nan của hai người. Người ngư phủ lớn tiếng hỏi nhà bác học:
- “Thưa ông, ông có biết bơi không?” – “Tôi không biết bơi”, nhà bác học trả lời.
- “Thưa ông, thế thì ông mất hết cả đời người rồi!”
Người ngư phủ lại hỏi thêm:
- “Thưa ông, ông có tin đời sau không?”
Nhà bác học vừa lặn hụp chóng chọi dưới làn sóng vừa trả lời:
- “Đời sau là cái gì. Im đi! Để ta chết!”
Nhưng người ngư phủ lại nói thêm: “Thưa ông, thế thì ông chẳng những mất cả đời nầy mà còn mất cả đời sau nữa. Thật vô phúc cho ông!” Một cơn sóng lớn đã cuốn hút nhà bác học vào lòng sâu biển cả.
Thưa anh chị em,
Đời như ví như cuộc vượt biển trùng khơi: có khi phẳng lặng, có khi đầy sóng gió. Trong cuộc đời ấy, có người tin rằng: sau cuộc đời dương thế còn có cuộc đời mai sau. Nhà bác học trong câu chuyện trên đây cũng như những người theo pháo Sađốc trong Tin Mừng hôm nay đại diện cho hạng người không tin có cuộc sống đời sau. Còn người ngư phủ đại diện cho hạng người tin có cuộc sống bên kia cái chết, trong đó có chúng ta.
Chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính: “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”. Đó là tột đỉnh của niềmhy vọng mà Chúa Kitô đem lại cho chúng ta. Vì nếu không có sự sống lại và cuộc sống đời sau thì tất cả đời người đều vô nghĩa.
Hầu hết các tôn giáo đều nghĩ rằng: chết chưa phải là hết. Con người sau khi chết sẽ được đưa sang một thế giới khác, hoặc được dẫn đến một nơi khác để tiếp tục sống. Nhưng đời sau, đối với họ, là đêm tối, buồn thảm và không có gì hấp dẫn cả. Lý do là vì đó là thế giới của sự chết, của âm phủ.
Các tôn giáo khác có thể tin có sự sống đời sau, nhưng không có tôn giáo nào nói đến sự phục sinh của người chết như kitô giáo. Ngay cả Do Thái giáo, niềm tin vào sự phục sinh của người chết cũng không dứt khoát rõ ràng. Bài đọc I hôm nay trích sách Maccabêô đã nói lên niềm tin nầy: Anh em Maccabêô đã thưa với nhà vua đang định giết hại họ: “Vua chỉ cất mạng sống chúng tôi ở đời nầy, nhưng Vua vũ trụ sẽ làm cho chúng tôi là những kẻ đã chết vì lề luật của Ngài, được sống lại trong cuộc sống đời đời ”. Vào thời Chúa Giêsu, người Biệt phái cũng tin như vậy. Nhưng những người thuộc phái Sađốc lại không tin có sự sống lại. Chẳng những không tin mà họ còn chế nhạo những ai tin thân xác con người ngày sau sẽ sống lại. Vì vậy, hôm nay họ kéo đến chất vấn Chúa Giêsu để “chọc quê” Ngài. Vì nếu có sự sống lại của kẻ chết thì sau này một người đàn bàn đã lần lượt lấy bảy anh em làm chồng theo luật pháp, sẽ là vợ của ai? Chúa Giêsu đã giải đáp bằng cách cho họ biết rằng cuộc sống sau phục sinh không phải là một sự tái diễn của cuộc sống trên trần gian. Thân xác phục sinh sẽ là một thân xác được biến đổi, không còn đau ốm bệnh tật, không còn già cả và chết chóc nữa. Những người phục sinh sẽ giống như các thiên thần, không còn cần phải cưới vợ lấy chồng để có con cái nối dõi tông đường nữa.
Chúa Giêsu còn dựa vào Ngũ Thư để chứng minh rằng Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết mà là Chúa của kẻ sống. Nếu Thiên Chúa đã là Thiên Chúa của các Tổ phụ Abraham, Isaac và Giacop thì các Tổ phục là những người đang sống với Chúa, đang có sự sống lại. Ở đây, Chúa Giêsu đã không tả rõ sự sống lại như thế nào. Điều ngài muốn khẳng định ở đây, đó là “Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống”. Và trong suốt cuộc đời của Chúa Giêsu qua những lời giảng dạy và nhất là qua thái độ của Ngài, Chúa Giêsu đã muốn cho người ta hiểu rằng Thiên Chúa là Đấng ban sự sống, Đấng làm cho sống. Và ngay cả những người tội lỗi, Ngài cũng không muốn họ phải hư mất, trái lại, muốn họ hối cải để được sống và sốn một cách dồi dào. Những phép lạ chữa bênh hay làm cho kẻ chết sống lại của Chúa Giêsu là những dấu chỉ về một Thiên Chúa yêu chuộng sự sống. Và khi Chúa Giêsu đón nhận cái chết trên thập giá, đó cũng là để toàn thắng cái chết, và để trả lại cho loài người sự sống đời đời. Chỉ có căn cứ vào những gì chúng ta biết về Chúa Kitô Phục Sinh, chúng ta mới thấy rõ về cuộc sống của chúng ta sau khi chết. Chúng ta sẽ được sống lại với Ngài.
Chính vì Chúa Kitô đã sống lại mà chúng ta xác tín vào sự phục sinh của những người đã chết. “Thiên Chúa của các Tổ phụ Abraham, Isaac và Giacop là Thiên Chúa của kẻ sống”. Những người mà chúng ta gọi là đã chết là những người đang sống và sẽ sống đời đời với Thiên Chúa hằng sống. Chối bỏ sự sống lại của những người đã chết là chối bỏ Thiên Chúa hằng sống và chân thật.
Anh chị em thân mến,
Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống. Một lời đầy an ủi cho tất cả chúng ta. Đừng thất vọng trước cái chết của một người Kitô hữu, của những người thân yêu chúng ta. Sự chia ly chỉ có trong một thời gian và tất cả sẽ gặp lại nhau. Lúc đó, chúng ta sẽ thấy một tình trạng mới của những người con Chúa là được giống như các thiên thần và nhất là nên giống Chúa Kitô trong vinh quang phục sinh.
Còn sống trên trần gian, chúng ta hãy tín thác vào Thiên Chúa hằng sống. Ngài luôn yêu thương chúng ta và muốn cho tất cả chúng ta, ngày sau sẽ được sống với Ngài mãi mãi. Ngay bây giờ, hãy đáp lại lời mời gọi của Chúa bằng một đời sống tốt đẹp hơn, tin tưởng và hy vọng vào Đấng sẽ phục sinh chúng ta trong cuộc sống hạnh phúc đời đời.
“Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”. Amen.

 

TN32-C72. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

Cuộc tấn công tiếp theo là do một vài người thuộc nhóm Sađôc (cc. 27-33). Đó là lần duy nhất: TN32-C72

Cuộc tấn công tiếp theo là do một vài người thuộc nhóm Sađôc (cc. 27-33). Đó là lần duy nhất các thành viên của”đảng” nay xuất hiện trong Luca; trong sách Công vụ họ sẽ can thiệp nhiều lần; cũng như ở đây việc họ phủ nhận sự sống lại được nhấn mạnh (trên hết là Cv 23,6-9; x. 4,1); và Luca nói về họ như về một nhóm gần gũi với vị đại tư tế (Cv 5,17). Rất bảo thủ, họ hiểu sát chữ luật Môsê mà họ quý trọng ngũ thư hơn các sách ngôn sứ và các sách khác. Nghĩ rằng niềm tin vào việc kẻ chết sống lại không có nền tảng trong Luật nên họ từ chối tin –niềm tin này xuất hiện vào khoảng những năm 165 trước Công nguyên; trong bối cảnh nổi dậy của nhà Macabê, khi những người Israel trung thành với Chúa chịu chết vì đạo.
Những người thuộc phải Sađôc biết rằng Chúa Giêsu, cùng với các người Pharisêu và đại đa số quần chúng, tin vào sự sống lại. Để làm sáng tỏ tính cách vô lý của niềm tin này, một vài kẻ trong họ đặt ra một vấn nạn thuộc kinh viện nhằm chứng tỏ những sai lạc mà niềm tin này dẫn tới. Luật nối dõi tông đường –bị khủng hoảng vào thế kỷ thứ nhất- cho phép người ta cưới chị dâu khi người này bị goá và không con, để người anh quá cố có kẻ nối dòng; đứa con đầu lòng chị ta sinh ra sẽ lấy tên người anh quá cố, và sẽ được luật pháp nhìn nhận là con của người anh (x. Đnl 25,5-10). Đây là trường hợp: một người đàn bà son sẻ lần lượt trở thành vợ của bảy anh em lần lượt chế mà không có con. Rồi chị này cũng chết.”Khi chị này sống lại –theo những người Pharisêu và cả Thầy cũng tin như vậy- chị sẽ có con, nhưng bởi người nào trong họ mà chị ta sẽ mang thai?” (c. 33).
Vấn nạn ngây thờ một cách giả tạo, cho thấy hình ảnh về sự sống lại mà những người Sađôc chế giễu: một quan niệm duy vật thường được đặt việc kẻ chết sống lại trước việc Triều Đại Mêsia đến và trước cuộc phán xét cuối cùng. Khi đó sự trở về với cuộc sống trần thế sẽ cho phép những người chết trong các thế hệ trước đây tham dự vào triều đại này, và tất cả sẽ bị xét xử. Trong chiều hướng này, một số người Pharisêu khẳng định rằng nhân loại khi sống lại sẽ sinh con đẻ cái (đó là ý tưởng tiềm ẩn trong câu hỏi của các người Sađôc ở câu 33). Kinh sư Gamaliel, vào khoảng năm 90, sẽ khẳng định:”Sẽ đến thời mà người nữ sẽ sinh con mỗi ngày một lần”, khi ông nêu bằng chứng là các con gà mái đẻ trứng mỗi ngày (Talmud, Shabat 20b). Một kinh sư khác, vào khoảng năm 150, sẽ đi tới chỗ cho rằng mỗi người Israel sẽ có nhiều con bằng số những người Israel khi ra khỏi Ai Cập, nghĩa là 600.000… Tóm lại, việc sống lại được quan niệm như sự hoàn sinh của thân xác, mà thân xác này sẽ có được khả năng sinh sản cách kỳ diệu và sẽ trở lại với các sinh hoạt trần thế. Như các người Sađôc và như Chúa Giêsu cta sẽ mỉm cười loại bỏ một cách trình bày như thế. Tuy nhiên, một số Kitô hữu ít hiểu biết vẫn nghĩ tưởng như thế; nhất là giống như các ông Sađôc thuở xưa, ngày nay nhiều người vô tín ngưỡng từ chối tin vào sự sống lại, bởi vì họ nghĩ đó là niềm tin Kitô.
Câu trả lời của Chúa Giêsu (cc. 34-38) gồm hai đợt. Phản bác lại các trình bày bình dân và theo các kinh sư, quá thô kệch, về tình trạng của các kẻ sống lại, Ngài bắt đầu giới thiệu quan niệm của riêng Ngài về sự sống lại (cc. 34-36). Theo Ngài, có một khác biệt tận căn giữa cuộc sống trần gian và cuộc sống mới mà người ta được hưởng khi sống lại. Ở đời này con người sinh ra rồi chết; tính dục bảo đảm việc duy trì nòi giống. Còn những kẻ, vào ngày phán xét, mà Chúa xét là đáng hưởng phúc đời sau, và khi họ sống lại, họ sẽ không chết nữa; như vậy sự bất tử sẽ loại bỏ sự sinh sản.
Kiểu nói”ngang hàng với các thiên thần” rất có ý nghĩa. Người ta gặp thấy kiểu nói này trong nhiều bản văn khải huyền của Do Thái để khẳng định rằng việc kẻ chết sống lại không phải là trở lại đời sống trần thế, nhưng là một sự tái tạo dựng không thể tưởng tượng được, một biến đổi tận căn của hữu thể nhân linh, khi đó sẽ có được mọi hình dáng theo ý mình, đi từ vẻ đẹp đến sự rực rỡ, từ ánh sáng đến chiếu rang vinh quang chói ngời (Baruch syriaque 51). Giáo huấn rất phong phú này về tình trạng của những kẻ sống lại kết thúc bằng khẳng định”họ là con cái Thiên Chúa, vì con cái sự sống lại”: điều này làm cho họ sinh ra trong tình trạng thiên quốc, là tình trạng của các thiên thần (x. St 6,2), và đặt họ trước nhan Thiên Chúa hằng sống. Trong quan niệm mà Chúa Giêsu trình bày ở đây –sẽ quan niệm của Phaolô ở 1Cr 15,35-44, sự sống lại đến liền theo cuộc thẩm phán, nó liên hệ tới các người công chính và là sự sống lại phúc lộc. Không hề thấy nói gì tới số phận của các kẻ”vô đạo”; tất cả xảy ra dường như là Chúa xét họ không xứng đáng để được kéo ra khỏi cái hư vô của sự chết, để được tái tạo.
Trong đợt thứ hai, Chúa Giêsu xác nhận chính sự kêịn các kẻ chết sống lại (cc. 37-38), khi đặt cơ sở, như các ông Pharisêu trên một bản văn của Luật:”Về việc kẻ chết sống lại thì chính ông Môsê cũng đã cho thấy…”, dường như y hệt, trong giới kinh sư: lời hứa phải được thực hiện cho chính những kẻ đã được hứa, -điều đó đòi hỏi là họ phải sống lại. Quan hệ mà Thiên Chúa thiết lập với các thành viên của dân Ngài không thể bị gián đoạn mãi mãi. Chúa Giêsu trích dẫn Xh 3,6, trong đó Đức Chúa được gọi là”Thiên Chúa của tổ phụ Abraham, Thiên Chúa của tổ phụ Isaac và Thiên Chúa của tổ phụ Giacop” –trong một thời điểm mà Kinh Thánh chưa được chia ra thành chương (điều đó sẽ được làm vào thế kỷ XIII), câu này như thuộc về đoạn nói về Bụi gai. Công thức đó quy chiếu về một sự kiện quyết định của Giao Ước mà qua đó Thiên Chúa đã cam kết làm việc không ngừng để ban ơn cứu độ cho Israel. Ý tưởng nền tảng là ý tưởng về lòng trung thành của Thiên Chúa đối với các kẻ được Ngài tuyển chọn; và ngay cả thần chết, địch thủ của Thiên Chúa, cũng không thể làm gì được để chống lại lòng trung thành này. Như vậy niềm tin vào việc kẻ chết sống lại được khơi dậy bởi lòng trung thành của Thiên Chúa đối với Giao Ước. Câu cuối cùng”Tất cả các tổ phụ và các người công chính đều sống cho Ngài” ám chỉ về niềm tin sống động của các vị tử đạo Do Thái:”Họ xác tín rằng khi chết vì Chúa, là người ta sống cho Chúa, như Abraham, Isaac, Giacop và các tổ phụ sống” (4#? Mcb 16,25).

 

TN32-C73. Chú giải của Noel Quesson

Có mấy người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giêsu. Nhóm này ..... Vấn đề sự chết là một vấn đề nghiêm  TN32-C73 (bài 2)

Có mấy người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giêsu. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Mấy người ấy hỏi Đức Giêsu.
Vấn đề sự chết là một vấn đề nghiêm trọng, không thể tránh khỏi và phổ biến nhất mà con Người có thể đặt ra. Những căn bệnh đến bất ngờ như sét đánh, như các tai nạn trên đường hoặc lúc đi làm việc... không ngừng đặt ra câu hỏi này: Có cái gì sau đó không? Mọi nền văn minh không ngoại lệ đã khẳng định sự "trướng tồn" của con người, đã cử hành việc "thờ cúng người chết" và đã nhận định rằng "ông bà" vẫn còn có ảnh hưởng đến đời sống của con cháu còn sống.
Ngày nay, ở phương Tây, một thứ chủ nghĩa duy vật dường như lôi kéo đầu óc người ta theo một cuộc điều tra mới đây, 50% nghiêng người Pháp không còn tin vào bất cứ hình thức tồn tại nào sau cái chết. Những hoài nghi của những người hiện đại có thể chờ đợi chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta khám phá rằng vào thời Đức Giêsu đã có những người tu hành như nhóm Xa-đốc không tin vào sự sống lại, bởi "chủ nghĩa bảo thủ lý thuyết" vì họ chỉ thừa nhận những sách của Ngũ Kinh.
Ba sách Tin Mừng nhất lãm đều thuật lại cho chúng ta giai thoại này, và trong cùng một khung cảnh, nghĩa là những ngày sau cùng của Đức Giêsu trong cuộc sống trần gian. Thật cảm động khi nghĩ rằng Đức Giêsu đã thấy cái chết của Người đến gần và người ta đã cho Người cơ hội để bày tỏ quan điểm cá nhân của Người về đời sau; không phải như một cuộc tranh luận lý thuyết mà như một câu trả lời hiện sinh đem lại cho câu hói ấy: “Thầy Giêsu, Thầy tin điều gì sắp xảy ra khi Thầy sắp chết?"
"Thưa Thầy, ông Môsê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình.
Phải, ước muốn say mê được trường tồn trong lòng mọi người đã dẫn các nền văn minh Hít-tít, Át-xy-ri và Do Thái đến tập tục "hôn nhân với anh em chồng". Thật ra Người ta nghĩ rằng con người chỉ thật sự trường tồn trong con cái của mình.
Vậy bằng bất cứ giá nào phải gầy dựng dòng giống cho người anh em mình đã quá cố. Và đứa bé sinh ra từ cuộc hôn nhân đó được luật pháp coi như đứa con của người quá cố.
Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. Người thứ hai, rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?
Để chế giễu niềm tin vào sự sống lại, những người Xa-đốc đã đặt cho Đức Giêsu một "Pipoul" tức một cuộc bàn luận tinh tế mà các trường của các kinh sư rất thích. Nố lương tâm này xem ra rất lố bịch đối với chúng ta. Tuy nhiên bỏ qua khía cạnh kỳ cục huyền hoặc, cuộc bàn luận rất giống với sự tò mò của chúng ta về đời sau: chẳng phải chúng ta luôn luôn ngây thơ tưởng rằng đời sau như sự kéo dài đơn giản của đời sống trần gian này mà chúng ta từng biết đó sao? Đức Giêsu sẽ trả lời gì?
Đức Giêsu đáp: "Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa”.
Như vậy, Đức Giêsu thiết lập một sự tương phản hoàn toàn giữa "thế giới này" và "thế giới sẽ đến” mà Người tin chắc là có. Và Người khẳng định rõ ràng chỉ những người được xét là đáng hưởng mới được vào.
Vậy đây là một sự thật đầu tiên, hết sức sáng tỏ: người ta không vào cuộc sống đời đời "như thế đấy", để vui đùa; cần phải được xét là xứng đáng! Đời sau không phải là một miền đất mơ hồ, hoặc một căn phòng của những bước đi hụt hẫng mở ra cho bất cứ ai, ở đó người nào cũng có thể đủng đỉnh bước vào; có một thứ gì giống như một kỳ thi để nhập học... phải làm các bài trắc nghiệm để phụ trách một số công việc hoặc một số nghề nghiệp nào đó. Và đương nhiên là bài thi để vào "thế giới mai sau” không thể chỉ liên quan về cách sống của chúng ta "trong thế gian này”. Chúng ta đã được cảnh báo về điều chủ yếu nào đó.
Vì được ngang hàng với các thiên thần.
Phải hiểu rõ khẳng định thứ hai này của Đức Giêsu.
Người nói với chúng ta phải từ bỏ sự tưởng tượng về đời sau. So sánh những người được tuyển chọn với các "thiên thần" có nghĩa là cách sống của những người quá cố nằm ngoài sự tìm hiểu của khoa học và tri thức. Sự sống của đời sau không theo kiểu mẫu của sự sống chúng ta. Không thể hình dung dù bằng cách nào thế giới sẽ đến cũng như người ta không thể hình dung các thiên thần. Có còn tiếp tục hoạt động tính dục hay không là một câu hỏi cũng hạ cấp như cuộc tranh luận về giới tính của các thiên thần! Họ không là đàn ông cũng không là đàn bà. Họ là gì? Họ “hoàn toàn" khác với chúng ta. Và Đức Giêsu trả lời cho những người Xađốc duy vật rằng không cần phải sinh con đẻ cái nữa, bởi vì người ta không thể chết nữa.
Tại sao, một số người sẽ tự hỏi, Thiên Chúa không giải thích thêm chút gì về đời sau khác thường đó? Rõ ràng là Người không thể, bởi vì chúng ta không có chút kinh nghiệm nào về nó. Người ta có thể nói gì về đứa bé sắp sinh ra và còn trong bụng mẹ để chỉ cho nó biết về đời sống trần gian đang chờ đợi nó? Giả sử nó biết ngôn ngữ mà bạn nói với nó thì những từ ngữ của bạn không nói được gì cho nó chừng nào mà nó chưa có kinh nghiệm gì về thế giới chúng ta. Nó chỉ có thể bắt đầu khám phá thế giới này khi nó "đã đến thế gian"... Con bướm là một sinh vật hoàn toàn khác với sâu róm sẽ trở thành bướm. Cây lúa mì còn non hoàn toàn khác với hạt lúa mì... Bà cụ già 90 tuổi hoàn toàn khác với cô bé gái lúc cô mới bắt đầu cuộc sống của mình. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, vừa có tính liên tục vừa có sự khác nhau hoàn toàn. Con sâu róm sống bằng cách bò sát mặt đất, gắn chặt vào đất: một ngày kia nó ngủ yên trong cái kén mà nó dùng như cái quan tài nhỏ, và rồi, một ngày kia nó thức dậy thành con bướm xinh đẹp có cánh, bay lượn trong bầu trời. Nếu con sâu róm biết được sụ biến đổi hoàn toàn đang chờ nó, hẳn nó sẽ mong mà một ngày kia nó phải trở thành.. Đó là hình ảnh sự sống lại đang chờ đới chúng ta cũng như thế.
Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại.
Đó là điều mạc khải thứ ba, tích cực, của Đức Giêsu, về những Người quá cố: Người nói, họ được đưa vào sự thân thiết với Chúa Cha. "Còn đẹp hơn điều mà anh em muốn tưởng tượng ra! Giá như Đức Giêsu nói như thế, anh em sẽ thật sự sống như con cái của Thiên Chúa. Và, anh em hãy tin Thầy, Thầy biết mình đang sống trong hạnh phúc được làm "con" Người?" Ở đây, người ta nhận ra một chủ đề thường gặp nơi Thánh Phaolô: "Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô" (Ep 1,5). Chúng ta không còn nằm trong vấn đề khôi hài của những người Xa-đốc: Chúng ta đang ở tâm điểm của đức tin đích thực nhất." Những đau khổ chúng ta phịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mạc khải nới chúng ta. Muốn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa: mạc khải “vinh quang của con cái Người" (Rm 8,18-19). Sự sống đời sau không thể tưởng tượng ra được, hoàn toàn khác hẳn đời sống trần gian bởi vì đó là sự tham dự vào sự sống của Đấng Hoàn Toàn Khác (Đấng Siêu Việt) của Thiên Chúa! Cũng như mọi sự liên quan đến Thiên Chúa, chúng ta không có phương tiện nào để khái niệm hóa một cách duy lý về những thực tại như thế vì chúng hoàn toàn vượt quá trí tuệ của chúng ta. Khả năng đuy nhất của chúng ta là tín hoặc không tin sự sống đời sau đó.
Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống."
Vậy Đức Giêsu khẳng định rõ ràng sự sống lại của những người chết, khi rút sự sống lại từ những quan điểm đơn giản vẫn cho rằng sự sống vĩnh cửu chỉ là sự kéo dài của đời sống trần gian.
Sự tin chắc của Đức Giêsu dựa trên hai thực tại đức tin chủ yếu: 1. Tình yêu mà Thiên Chúa yêu thương chúng ta vượt quạ sư chết: đối với Thiên Chúa, Ápraham, Isaác, Gia-cóp không chết. Giao ước của Thiên Chúa với con người là một trong những trực giác sâu xa của Kinh Thánh. "Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ". (Tv 16,10). Nếu những người Thiên Chúa đã tạo dựng và yêu thương như Apraham, Isaác, hay chị Nguyệt, anh Minh sau cùng bị hóa thành hư vô thì tình yêu của Thiên Chúa phải chịu thất bại. Nói về Thiên Chúa của những người chết khác nào nói về "cái khiên của người chết", nếu một Người đã chết thì cái khiên của người ấy phỏng có ích gì?. Nhưng trong bản văn của Luca, Đức Giêsu đưa ra thêm một lý lẽ thứ hai của sự trường sinh của chúng ta: tình yêu của chính chúng ta đối với Thiên Chúa: "Thật vậy mọi sự sống vì Người”. Như thế người ta nói: "Lạy Chúa, chúng con yêu mến Chúa quá đến nỗi còn phải yêu mến Chúa sau cuộc đời này": Đó là kinh nghiệm của tử đạo phải chấp nhận nguy cơ tận hiến hoàn toàn sinh mạng mình vì Chúa, cho đến chết, để sáu cùng được sống tình yêu của mình. Đó là mầu nhiệm Vượt qua; phải "đi qua" cái chết để “yêu mến" cho đến tận cùng. Vậy trong niềm tin của Người Kitô hữu vào đời sau không có gì là huyện thoái hoặc ấu trĩ: niềm tin vào sự sống lại không phải là một niềm tin ở bên lề, không bắt buộc. Đó là đức tin vào chính Thiên Chúa!

 

TN32-C74. Vấn đề đời sau - R. Gutzwiller

Sau vấn đề quyền bính và luân lý, đối phương tấn công vào mặt giáo lý. Cần nói ngay, đặt vấn đề: TN32-C74

Sau vấn đề quyền bính và luân lý, đối phương tấn công vào mặt giáo lý.
Cần nói ngay, đặt vấn đề như vậy có phần hợp lý. Mỗi lần bắt bẻ, đối phương đều đưa ra một vấn đề có căn cơ. Sự sống lại là một trong những điểm dị biệt quan trọng giữa nhóm Biệt phái và Sađốc. Nhóm Sađốc không tin có sự sống lại. đối với họ, chết là hết. Các tư tế phái Sađốc không đặt lại vấn đề tìm hiểu lập trường của Đức Giêsu về giáo thuyết này. Họ thừa biết Đức Giêsu nói nhiều về đời sau và nhất là về chung cuộc thế giới. Nhưng phải chăng Người là một vị Cứu thế không có sứ mạng gì ở đời này? Niềm hy vọng vào thế giới bên kia, đối với họ, đã chứng tỏ Đức Giêsu không phải là Đấng Xức Dầu của Thiên Chúa.
Vấn đề đời sau có một tầm quan yếu sinh tử đối với toàn thể nhân loại. Thực vậy, nếu không có đời sau, thì con người chỉ có một đường lối duy nhất là tự tạo một cuộc đời trần thế cho thực đẹp, thực hoàn mỹ, sống cho trường thọ và hưởng thụ hết mình. Mọi hy vọng về đời sau sẽ chỉ là ảo mộng và cuối cùng sẽ chuốc lấy thất vọng ê chề. Nhưng nếu có đời sau, thì sự việc sẽ đảo ngược lại, cuộc đời hiện tại chỉ là tạm bợ, là giai đoạn chuẩn bị. Mọi cái đều trông vào lá bài quyết định: tất cả phải quy hướng về đời sau. Tóm lại thái độ của chúng ta tuỳ thuộc vào niềm tin có đời sau hay không. Vấn đề đặt ra không những chính đáng mà còn là vấn đề cơ bản. Tuy nhiên, người Sađốc đặt vấn nạn dưới một điển tích thật buồn cười. Họ tìm được một điểm phi lý, nhưng quá chi li trong niềm tin về sự sống lại. Theo luật Môsê, một người đàn bà goá mà không có con phải kết hôn với em chồng để duy trì giòng dõi cho anh quá cố. Cho nên nhóm Sađốc bèn nghĩ ra một vụ có người đàn bà kết hôn tới 7 lần và sau cùng chính nàng cũng chết. Ở thế giới bên kia, nàng sẽ chung sống với ai? Đặt vấn đề như thế là chưa nói lên đúng trọng tâm của vấn đề ấy là chưa kể vấn đề đó không tưởng. Giải-nghi-học (casuitique) cũng là chuyện hợp lý thôi vì lẽ các nguyên tắc luân lý tổng quát luôn phải được ứng dụng để giải quyết những vấn đề trong hoàn cảnh cụ thể và cuộc sống lúc thế này lúc thế khác. Đó là một chuyện tốt. Nhưng cũng có những nguy cơ: có thể làm mất sự trọng kính chân thực tinh thần của Thiên Chúa. Điều gì cũng đem ra suy tư với lý luận. Người ta tìm những kẽ hở kín đáo và lợi dụng sự tinh tế của luật mà đưa ra những giải pháp không những không phù hợp với chủ đích của lời Chúa mà còn dễ sinh ra sự khinh mạn Lề Luật. Học hỏi lề luật là điều tốt, nhưng nó có thể giảm bớt lòng khiêm nhu tuân phục thánh ý Thiên Chúa.
Ở đây chúng ta thấy Đức Giêsu tin có đời sau hay không, đối với nhóm Sađốc, đó là điều không quan hệ. Điều họ muốn ấy là lấy một trường hợp lắt léo để làm đầu đề chế nhạo giáo lý về đời sau, và chính Người giảng dạy giáo lý đó nữa: Đức Giêsu.
Đức Giêsu trả lời. Trước tiên Người cho họ biết trường hợp họ đặt ra đó và thái độ của họ chỉ hoàn toàn là chuyện bên lề. Đời sau là một thực tại, nhưng lại rất khác đời này. Nơi cao xanh, tất cả đều biến đổi: không còn cưới hỏi gì nữa. Chúng ta chẳng thể biết liên hệ ra sao giữa vợ với chồng nữa. Không nên lấy tiêu chuẩn thế trần mà xét đoán đời sau. Vốn liếng tư tưởng của con người không có đủ năng lực để diễn tả Thiên Chúa và thế giới siêu nhiên, dù chỉ là tối thiểu. Mọi sự đều khác, lý do dễ hiểu: khi đó Thiên Chúa vô biên sẽ hiển hiện trong vinh quang và vạn sự đều mờ khuất trước ánh quang sán lạn của Người. Ở đời này con người còn có một chút giá trị vì Thiên Chúa chưa hiển hiện. Nhưng ở đời sau Thiên Chúa là vấn đề duy nhất và mọi sự khác hoàn toàn chỉ phụ thuộc. Vấn nạn của nhóm Sađốc bắt nguồn từ cách trình bày sai lầm tự căn bản quan niệm thấp hèn. Nó không dính dáng gì đến niềm tin tưởng ở cuộc đời mai hậu, nhưng là do ý niệm quá ấu trĩ và trần tục của họ. Lần này, Đức Giêsu cũng lại phá tan mưu mô xảo quyệt của đối phương và còn cho họ thấy sự cao cả và vô biên của Thiên Chúa. Sau đó Người xác nhận rằng đời sau có thực với lý chứng của chính Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng sống động, Người đã tác tạo sự sống và không nỡ để sự sống biến dần thành hư vô nhưng Người duy trì sự sống qua việc hồi kẻ chết và ban phát sự sống trường cửu. Khi nói Thiên Chúa của Ápraham, của Isaác và của Giacóp, Kinh Thánh không chỉ có ý gợi lại các biến cố thời quá khứ và những nhân vật đã qua rồi: Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết. Vì đó Ápraham, Isaac và Giacóp hiện nay đang sống. Các Ngài sống ở thế giới bên kia vì Thiên Chúa, Đấng sáng tạo, đã ban sự sống cho các Ngài tồn tại. Niềm tin chân chính vào Thiên Chúa đi đôi với niềm tin bất tử và sự khác biệt giữa cõi đời hiện tại với thế giới mai sau. Chỉ có ở trước nhan Thiên Chúa hằng sống mới tìm được giải đáp đúng đắn cho vấn đề này: giải đáp không phải của phàm nhân mà là của Thiên Chúa. Như vậy là hai lần bắt bẻ của đối phương đều bị phá vỡ cùng một kiểu cách: chính Thiên Chúa làm họ phải bẽ mặt.

 

TN32-C75. MỘT THỰC TẠI MỚI LẠ TUYỆT VỜI

Chú giải của Fiches Dominicales
ĐỜI SỐNG CỦA NHỮNG KẺ SỐNG LẠI: MỘT THỰC TẠI MỚI LẠ TUYỆT VỜI
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
 

Gài bẫy từ một trường hợp không thực: Khi những kinh sư và thượng tế phái các "tay sai" đến: TN32-C75

1. Gài bẫy từ một trường hợp không thực: Khi những kinh sư và thượng tế phái các "tay sai" đến hỏi Đức Giêsu về việc nộp thuế cho hoàng đế Rôma, người đã trả lời họ một cách quá khôn khéo đến độ họ "phải ngạc nhiên và làm thinh luôn".
1. Gài bẫy từ một trường hợp không thực:
Khi những kinh sư và thượng tế phái các "tay sai" đến hỏi Đức Giêsu về việc nộp thuế cho hoàng đế Rôma, người đã trả lời họ một cách quá khôn khéo đến độ họ "phải ngạc nhiên và làm thinh luôn".
Bấy giờ là chính những người thuộc nhóm Sađốc tới thay phiên. Những người này làm thành một "phe" thân với thượng tế (Cv 5,l7). Có nguồn gốc là quý tộc, thuộc giai cấp tư tế, và là những người bảo thủ trong vấn đề tôn giáo, họ rất quý chuộng bộ Ngũ Thư của Kinh Thánh, nhưng lại không đếm xỉa đến sách các ngôn sứ; còn về các trước tác gần đây hơn, họ chối bỏ uy tín của những sách ấy. Nếu nhóm này "chủ trương không có sự sống lại", là vì họ không tìm thấy dấu vết nào trong bộ Ngũ Thư mà họ thường tham khảo: Họ coi niềm tin vào sự sống lại như một sự canh tân và lệch lạc, mà thực ra chỉ xuất hiện trong bối cảnh cuộc nổi dậy của anh em nhà Macabê khi những người Israel trung thành với luật Chúa đã can đảm chịu chết vì đạo (cf. Bài đọc 1 Chúa nhật này).
Vì thế, khi biết Đức Giêsu cũng như tất cả nhóm biệt phái và phần đông dân chúng đều tin có sự sống lại, thì những người thuộc nhóm Sađốc liền nêu ra cho Người một trường hợp không có thực chứng tỏ sự phi lý của niềm tin này, dựa vào câu chuyện kỳ cục mà họ đưa ra. Đó là câu chuyện hoang đường về một người phụ nữ hiếm muộn nọ, mà theo luật Lêvi (một luật đã bị huỷ bỏ ở thế kỷ I) đã lần lượt kết hôn với sáu người em chồng chết mà không có con. Họ hỏi Chúa: "Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?".
2. Câu trả lời khiến đối phương phải rút lui:
Câu trả lời Chúa đưa ra hôm nay thật không ai ngờ, khiến đối phương phải rút lui, tuy nó vẫn thích nghi phần nào với não trạng của những người đôi thoại, những người Pharisêu, và nhóm Sađốc. Với những người biệt phái, Chúa đả phá cái quan niệm quá duy vật mà họ đưa ra về vấn đề kẻ chết sống lại, quan niệm mà những người thuộc nhóm Sađốc hẳn cũng chế giễu: họ mường tượng sự sống lại như chuyện thân xác được hồi sinh để có một nếp sống sau này đại khái như nếp sống hiện nay ở trần gian: cũng sinh con đẻ cái, cũng làm công việc kia nọ vậy.
Đời sống của các kẻ sống lại được hiệp thông với Thiên Chúa hấng sống, Đức Giêsu khẳng định, là đời sống hoàn toàn mới lạ so với đời sống trần gian này. Đời sống đó không có một kiểu mẫu nào ở đời này cả. Đó là một cuộc sống không thể nào tưởng tượng ra nổi, một cuộc sống hoàn toàn được biến đổi, một cuộc sống của những người "Con Thiên Chúa", những "người được hưởng ơn phục sinh": "Họ giống như các thiên thần".
Với những người thuộc nhóm sađốc dựa vào Lề Luật Môsê để chối bỏ niềm tin kẻ chết sống lại, thì Đức Giêsu không trưng dẫn những sách gần đây hẳn, như sách Đanien. Người dựa vào Luật Chúa mà khẳng định rằng: "Mọi kẻ chết đều phải sống lại".
Trong bụi gai cháy sáng (Xh 3,6) Thiên Chúa tự xưng mình là "Thiên Chúa của tổ phụ Ápraham, Thiên Chúa của tổ phụ Isaac, Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp". Nếu Thiên Chúa làm bạn hữu với các tổ phụ, thì không phải chỉ trong thời gian của một đời người mà thôi. Giao ước người đã ký kết với các tổ phụ không thể chết, mà phải tồn tại đến muôn đời, vì Thiên Chúa đời đời trung tín.
Tất cả "những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết" đều là những người sống mãi, sống muôn đời, họ hiện diện trước tôn nhan Thiên Chúa vì "Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Chúa của kẻ sống".
H. Cousin chú giải: "Ý tưởng nền tảng là lòng trung tín của Đức Chúa đối với những kẻ Người tuyển chọn, thì ngay cả Thần chết, kẻ thù của Thiên Chúa cũng không làm gì nổi. Do lòng trung tín của Thiên Chúa đối với Giao ước chính là động cơ thúc đẩy niềm tin vào sự sống lại của kẻ đã chết"
BÀI ĐỌC THÊM:
1. Thiên Chúa hằng sống
Đức Giêsu lợi đụng những vấn đề lắt léo người ta đưa ra chống đối Người để tiếp tục mạc khải của Đức Chúa Cha cho đến những ngày cuối cùng. Những người thuộc nhóm Sađốc vốn chủ trương không có sự sống lại đến đặt cho người một trường hợp giả trang, mà theo họ nghĩ thì việc sống lại là điều phi lý không thể có được. Để tuân theo luật Môsê, bảy anh em lần lượt cưới cùng một người phụ nữ, và sau mỗi lần người phụ nữ ấy lại trở thành kẻ góa bụa. Sự sống lại hẳn sẽ đặt họ vào tình cảnh éo le: "Khi sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đều lấy bà làm vợ? ". Đức Giêsu dùng thời giờ trả lời đầy đủ cho vấn đề phục sinh, vì đó là điều rất hệ trọng. Không có sống lại, như thánh Phaolô nói, đức tin của chúng ta hóa ra "hão huyền". Cũng đáng công cho chúng ta chăm chú lắng nghe lời Chúa phán về điều này. Thí dụ người ta đưa ra để chống đối Người, tạo cho Người cơ hội để giải thích tình trạng mới lạ của "những ai được xét là đáng hưởng phúc đòi sau và sống lại từ cõi chết". Đây không phải là vấn đề trở lại với cuộc sống đời này, để mà dựng vợ gả chồng, mà là một sự tham dự vào thế giới mai sau, ở đó người ta không còn chết nữa, không còn lấy vợ lấy chồng, người ta giống như thiên thần. Đó là một dạng sinh ra mới, làm cho người ta trở thành con cái của sự sống lại. Và do đó, hoàn toàn là con cái Thiên Chúa.
Sự sống lại là hành động của một Thiên Chúa hằng sống, Đấng ban sự sống ngay cả bên kia cái chết; Thiên Chúa của bụi gai cháy sáng, tự giới thiệu mình là Thiên Chúa của tổ phụ Apraham, Thiên Chúa của tổ phụ Isaac và là Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp. Người đâu có giới thiệu mình là Thiên Chúa của kẻ chết?" Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của các kẻ chết mà là của kẻ sống". Suốt cả cuộc đời Đức Giêsu luôn quy hướng về Đức Chúa Cha; chính Người là cội nguồn, là sự sống mà ngay cả thần chết cũng không có được tiếng nói cuối tùng. Vì có mấy vị kinh sư dám ngả về lập trường của Chúa - họ vui mừng thấy những ngươi thuộc nhóm Sađốc phải bẽ mặt - nên chúng ta chỉ có thể ngợi khen Đức Giêsu vì đã loan báo cho chúng ta một vị Thiên Chúa như thế: " Thưa Thầy chúng tôi biết Thầy nói và dạy cách thắng thắn!". Chẳng bao lâu nữa, sự phục sinh của chính Đức Giêsu sẽ tỏ cho thấy một tương lai mà chẳng bao giờ chúng ta dám mơ ước? ".
2. “Sự sống lại đã bắt đầu rồi"
"Đối với những người thuộc nhóm sa-đốc, đây là cơ hội tốt để chế giễu có pha chút hài hước, những ai tin rằng sự sống lại là chuyển đổi nếp sống ở trần gian này lên thiên đàng.
Câu hỏi mà cũng là cái bẫy cho Đức Giêsu khiến Người phải nói rõ "giáo lý" của Người về sự sống lại từ cõi chết và thỏa mãn tính tò mò của đám thính giả? "Nếu các vị tin vào sự sống lại, thì cụ thể điều đó sẽ xảy ra như thế nào?".
Đức Giêsu hẳn làm cho đối phương của Người phải rút lui bẽ mặt và bỏ đi những điều tưởng tượng quá trớn cùng những câu chuyện trẻ con chỉ làm cho ngủ gật thôi. Thiết tưởng là vô ích, vả lại cũng không thể có được một ý niệm nào về "Thế giới mai sau" dựa vào những thực tại trần gian này. Những "người được hưởng sự sống lại" sẽ được tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa. Họ sẽ "giống thư các thiên thần", và sẽ không có thể chết nữa. Thế nhưng với một điều kiện là "được xét là xứng đáng”.
Đức Giêsu cũng hướng thính giả của mình về tận cội nguồn Kinh Thánh. Chắc chắn là những người Pharisêu và những người thuộc nhóm Sađốc đều biết Kinh Thánh, nhưng còn phải giải thích cho đúng những dữ kiện của Mạc khải nữa. Phải quy chiếu về Môsê, nhưng để tìm ra những điều mà người khác đã không tìm thấy. Nếu Đức Chúa tự giới thiệu với Môsê là "Thiên Chúa của tổ phụ Ápraham, Isaác và Giacóp", thì rõ ràng người là Thiên Chúa của những kẻ "còn đang sống" chứ không phải của những "kẻ đã chết rồi". Bởi lẽ, mọi người đều sống với Người, nhờ Ngươi và vì Người. Và điều đó thiết tưởng phải đủ để ta hân hoan cùng với lòng tin tưởng mà hiểu biết rằng mầu nhiệm này thật khôn lường, trí con người không thể vươn tới được. Đời sống của kẻ sống lại là đời sống sung mãn tràn đầy, là kinh nghiệm về tình yêu trọn vẹn, là sự nối dài và phát triển mối tương quan đã được thiết lập và phát triển ngay ở đời này. Phần còn lại đều là tò mò hão huyền vô ích. Trang sử vĩ đại của tình yêu không thể "bị kết thúc và vùi sâu dưới nấm mồ".
Còn hôm nay, mặc dầu Đức Kitô đã phục sinh, mặc dầu truyền thống Kitô giáo đã trải qua hai ngàn năm, mặc dầu trong kinh Tin Kính chúng ta vẫn tuyên xưng rằng xác loài người ngày sau sẽ sống lại, thế mà nhiều Kitô hữu vẫn lo lắng, và bối rối; có những người còn để mình lạc lõng trong những chi tiết vụn vặt và những điều ấu trĩ. Lại còn có những người bày tỏ bất mãn hoặc tìm ánh sáng và ủi an bên ngoài nguồn ánh sáng và an ủi. Người thì đòi hỏi những chứng cớ lịch sử hoặc cho đó là những chuyện huyền thoại; người khác lại bám víu vào thế giới bên kia để tìm an ủi mình một cách rẻ tiền.
Hôm nay cũng như hôm qua, chúng ta không ngừng sẵn sàng lắng nghe Đức Kitô và đặt niềm tin tưởng nơi Người để luôn tin vào sự sống lại và sống như người đã sống lại rồi ".
3. "Một điều bất ngờ hoàn toàn”.
"Người chết sống lại làm sao? Họ trở về với thân thể nào?"
Chẳng ai có thể đưa ra câu trả lời thỏa đáng. Đã hẳn, trong Tân Ước, có vài chỗ đề cập đến chủ đề này nhưng luôn luôn với chừng mực và giản dị hết sức. Một sự giản dị đến độ cuối cùng người ta chẳng biết được gì khá hơn! Thực ra những đoạn văn ấy chỉ muốn cảnh giác tin tưởng tượng của ta thôi. Bởi lẽ người ta luôn luôn có nguy cơ, đặc biệt trong những lãnh vực này, là thích phản ánh những điều ta mơ ước vào thế giới bên kia và mường tượng rà một thực tại, mà đứng ra, chúng ta tuyệt đối không thể nào hình dung ra được, bởi vì không ai trong chúng ta đã có lần nào được nhìn thấy thực tại ấy cả? Làm sao ta có thể mô tả một cây sồi mà suốt đời ta chưa bao giờ được nhìn thấy cây ấy hoặc có được trong tay chỉ một trái cây sồi thôi? Đó là lý do tại sao các tác giả Tân ước, những người cũng chẳng biết gì hơn ta, mời gọi ta phải có sự khôn ngoan hết sức và dẫu sao cũng phải từ bỏ mọi cách trình bày duy vật.
Vì thế chúng ta hoàn toàn bất lực để nói về cái thực tại mà chúng ta hoàn toàn chẳng biết gì cả. Những điểm mốc ta quen dùng, rõ ràng là không đủ khả năng giúp ta tưởng tượng ra cái thế giới khác ấy, cái tình trạng "thân xác vinh hiển" mà thánh Phaolô nói đến ấy, những "trời mới, đất mới" mà sách Khải Huyền (21,l) hứa hẹn cho ta thấy. Thực tại đó chẳng có gì để so sánh với cái ta biết ở trên mặt đất này. Sẽ là một bất ngờ lạ lùng theo nghĩa mạnh nhất của từ ngữ này.
Và là một bất ngờ vui sướng? Một thế giới tuyệt vời diễn ra không ngừng những điều mới lạ, một cái gì đó không thể tưởng tượng nổi?".

 

TN32-C76. CUỘC SỐNG MAI HẬU

CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN C
A. DẪN NHẬP.
 

Chết là một qui luật phổ biến : mọi người đều phải chết. Người Việt nam chúng ta tin rằng: TN32-C76

          Chết là một qui luật phổ biến : mọi người đều phải chết. Người Việt nam chúng ta tin rằng, trong tình trạng bình thường, cuộc đời của mỗi người phải trải qua 4 giai đọan : sinh, lão, bệnh, tử. Chết là giai đọan kết thúc cuộc đời. Nhưng chết rồi sẽ ra sao ? Đi về đâu ? Hay là đi vào hư vô ?  Người Việt chúng ta tin rằng chết là trở về cội nguồn vì “Sinh ký tử qui” (Hòai Nam Tử) : Sống là gửi, là nhờ, chết mới là về!
          Trong thời Đức Giêsu, người ta cũng tin như thế, nhất là với nhóm biệt phái. Nhưng nhóm Sađucêu là những tư tế thiên về chính trị và vật chất thì không tin như thế. Họ không tin có sự sống lại và sự sống đời sau. Do đó họ đã cố bịa ra một câu chuyện kỳ cục để gài Đức Giêsu vào thế bí và để cho mọi người thấy rằng sống lại là một chuyện lố bịch. Nhưng dựa vào Kinh Thánh, Đức Giêsu đã chứng minh cho họ là có sự sống lại và có đời sau; đồng thời cũng cho họ biết là đời sống mai hậu khác với đời sống ở trần gian này, không còn cưới vợ gả chồng nữa, người lành sống lại giống như các thiên thần luôn lo việc phụng thờ và ca ngợi Thiên Chúa trong hạnh phúc vinh quang.
          Chúng ta vẫn tuyên xưng niềm tin ấy khi đọc kinh Tin kính :”Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Lời thánh Phaolô nhắn gửi cho tín hữu Côrintô càng làm cho chúng ta xác tín :”Nếu chết là hết, thì quả thật chúng ta là những kẻ khốn nạn nhất trong thiên ha”(x. 1Cr 15,19). Cuộc sống của chúng ta ở trần gian này là cuộc hành trình đi về nguồn cội là quê trời, nơi mà Đức Giêsu đã nói :”Để con ở đâu thì chúng cũng ở nơi đó với Con”. Cuộc sống mai hậu của chúng ta sẽ như thế nào thì tùy thuộc vào cuộc sống hiện tại của chúng ta ở trần gian này vì “gieo giống nào thì gặt giống  nấy”.
          B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
          + Bài đọc 1 : 2Mcb 7,1-2.9-14.
          Khi cuộc bách hại khốc liệt xẩy ra vào thế kỷ II thời vua Antiochus, dân Do thái đã có những vị tử đạo. Câu chuyện kể về một bà mẹ với 7 người con thà chịu chết chứ không chịu bỏ đạo Chúa đã chứng tỏ  niềm tin ngày càng gia tăng rằng sau khi chết, mỗi người vẫn còn tiếp tục sống. Lần đầu tiên các vị tử đạo của Cựu ước đã khẳng định xác kẻ lành sẽ được phục sinh. Sở dĩ những thanh niên này can đảm chối từ sự sống trần thế, là vì họ tin chắc rằng  Thiên Chúa đủ quyền năng để phục sinh họ vĩnh viễn.
          Giá trị câu chuyện ở chỗ cho thấy sự phục sinh không là một ý tưởng. Đó là niềm hy vọng cho những ai chịu mất mạng. Hồng ân đáp lại sự dâng hiến.  Ai không bao giờ cho  sẽ không mong lãnh nhận được điều gì. Tư tưởng này liên kết với Tin mừng hôm nay.
          + Bài đọc 2 : 2Tx 2,16-3,5.
          Tiếp theo đoạn thư của Chúa nhật tuần trước, thánh Phaolô khuyên tín hữu Thessalonica hãy kiên tâm bền chí. Khó khăn không thiếu, nhưng phương tiện để vượt qua cũng nhiều, đó là lòng trung tín chân thật dựa trên Lời Chúa và những hướng dẫn của ngài.
          Sau đó, ngài xin họ cầu nguyện cho việc truyền giáo của ngài được thành công, dù gặp nhiều chông gai. Ngài phục vụ Lời Chúa và mong Lời Chúa được hoàn thành cũng như được “tôn vinh” nơi lời đáp  xin vâng của những người được Lời Chúa kêu gọi.
          + Bài Tin mừng : Lc 20,27-38.
          Nhóm Sađucêu thiên về chính trị có quan điểm khác với nhóm biệt phái và luật sĩ. Họ không tin có cuộc sống đời sau.  Họ không công nhận điều gì  ngoài những điều Thiên Chúa đã mạc khải cho Maisen. Họ bác bỏ sự sống lại và cho rằng đó chỉ là truyền thống hoàn toàn của con người. Họ tưởng rằng cuộc sống mai hậu nếu có thì cũng chỉ như cuộc sống ở đời này, cũng cưới vợ gả chồng, sinh con cái và hưởng thụ tất cả lạc thú như ở đời này. Nên họ đưa ra cho Đức Giêsu một vấn nạn khó giải quyết.
          Để trả lời cho họ, Đức Giêsu vừa xác nhận có sự sống đời sau, vừa cho họ biết ý nghĩa về cuộc sống ấy :
          - Trong cuộc sống mai hậu, người ta sẽ bất tử, không còn vấn đề truyền sinh, nên không còn cưới vợ gả chồng nữa.
          - Trong ngày sống lại, người ta sẽ giống như các thiên thần để hưởng hạnh phúc bên Chúa.
          Đức Giêsu cho chúng ta hiểu rằng ngôn ngữ loài người không đủ sức diễn tả  tình trạng cụ thể của người được phục sinh. Câu hỏi của nhóm Sađcêu vì thế không đáng phải ghi nhớ.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
                                                Cuộc sống mai hậu của chúng ta.
I. MỘT VẤN NẠN ĐƯỢC ĐẶT RA.
          1. Thân thế nhóm Sađucêu.
          Trong thời Đức Giêsu, có ba nhóm rất có thế lực và chi phối đời sống tôn giáo cũng như xã hội Do thái. Ba nhóm ây là luật sĩ, biệt phái và Sađucêu. Nhóm luật sĩ và biệt phái là những người đạo đức chuyên lo việc học hỏi Thánh Kinh và giữ luật một cách tỉ mỉ. Họ chuyên lo việc đạo chứ không quan tâm đến chính trị. Tuy thế, họ là những người giả hình và hay chống đối Đức Giêsu. Nhiều lần Ngài đã phải thẳng thắn vạch trần bộ mặt giả dối của họ.
          Còn nhóm thứ ba là Sađucêu.  Đây là một nhóm tư tế cao cấp trong Do thái giáo. Họ có quyền cả về sinh hoạt tôn giáo và chính trị Do thái từ trước thời Đức Kitô. Họ chỉ chấp nhận Ngũ Kinh, coi Maisen là vị tiên tri vĩ đại và hoài nghi các tiên tri khác.  Họ không tin linh hồn bất tử và sự sống lại (họ trái ngược và kình địch với nhóm biệt phái) vì hai lý do : một là họ bảo giáo lý về sự sống đời sau không có trong Thánh Kinh (đối với họ chỉ có luật Maisen thôi), hai là họ nghĩ rằng : quyền năng của Thiên Chúa không vượt qua con người.
          2. Một cái bẫy được giương ra .
          Với trí khôn minh mẫn và trào phúng, họ cố làm cho câu chuyện sống lại trở nên lố bịch và buồn cười, họ đã nại đến thế giá ông Maisen mà Đức Giêsu không thể không nhìn nhận (Đnl 23,5) để bịa ra câu chuyện về sự sống lại.
          Theo luật Maisen, luật mà Thánh Kinh gọi là luật Levirat (Dt 25, 5-10), khi có người anh em trong gia đình chết mà không có con, người anh em còn sống phải lấy chị dâu hay em dâu góa  để gây dòng họ cho anh em mình. Đứa con đầu tiên sinh ra  do sự phối ngẫu này được xem như là con đẻ của người anh xấu số,  được phép nhân danh người quá cố để tiếp tục sống  trong cộng đoàn Israel. Theo phái Sađucêu, việc áp dụng luật như vậy, nhất thiết chứng minh rằng không có sự sống lại.          Họ hỏi Đức Giêsu : Nếu một người đàn bà theo luật Levirat lấy liên tiếp 7 anh em mà không có con thì khi sống lại  bà là vợ ai ?
          Thực ra, trong thực tế không có trường hợp nào xẩy ra như vậy; nhưng ở đây chỗ quá đáng của 7 anh em có mục đích cho ta thấy việc sống lại  là một việc không thể tin được.
          Cái sai lầm của những người Sađucêu đặt ra câu chuyện này là ở chỗ quan niệm có tính cách vật chất về sự sống lại. Họ nghĩ đời sống trần gian này thế nào, thì khi sống lại  ở đời sau cũng vậy : Đời này dựng vợ gả chồng thì đời sau cũng chồng nào vợ nấy.
II. MỘT GIẢI ĐÁP ĐƯỢC THỰC HIỆN.
          Đức Giêsu đã trả lời bằng cách  bác bỏ quan niệm sai lầm  về sự sống lại mà phái Sađucêu chế giễu. Ngài chứng minh rằng :”Con cái đời này cưới vợ gả chồng”, sự sống tại trần thế có cưới vợ gả chồng  vì lẽ đời sống con người có sinh có tử, và vì có tử nên con người cần phải dựng vợ gả chồng để truyền sinh và nối dõi.
          Trong đời sống mai hậu họ không còn cưới vợ gả chồng vì hai lý do : một là vì họ sẽ không thể chết được nữa, và họ được ngang hàng với các thiên thần; hai là vì họ trở nên con cái Thiên Chúa, và là con cái của sự sống lại, nghĩa là được thừa hưởng một thế giới mới và sự sống mới từ nơi Thiên Chúa.
          * “Quả thật, họ không thể chết nữa”, vì được ngang hàng với các thiên thần : khi sống đời đời, người ta sẽ không còn lo lắng việc đời nữa, ngoài việc phụng sự và ngợi khen Thiên Chúa, giống như nhiệm vụ của các thiên thần.
          * “Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại” : Kiểu nói của người Sêmít này có nghĩa là  một khi được Thiên Chúa nhận là con cái thì họ cũng được thừa hưởng thế giới mới và sự sống mới nhờ việc sống lại (x. Ep 1,5; Rm 8,18-21).
          Còn nói về việc kẻ chết sống lại thì Đức Giêsu dựa vào Thánh Kinh để chứng minh có sự sống lại. Ngài nêu ra một đoạn trong sách Xuất hành mà nhóm Sađucêu công nhận để chứng minh chân lý ấy : khi hiện ra với Maisen trong bụi gai đang cháy, Thiên Chúa đã tự xưng là Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaác và Thiên Chúa của Giacóp (x. Xh 3,6). Mà Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống : Các tổ phụ Abraham, Isaác và Giacóp dù đã qua đời, nhưng câu nói của Thiên Chúa với Maisen có hàm ý là các vị ấy hiện vẫn còn sống. Vì Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống đang điều khiển lịch sử loài người. Ngài không thể là Thiên Chúa của những kẻ chết, mà phải là của những kẻ sống. Con người gồm cả hồn lẫn xác, nên không những linh hồn con người thiêng liêng không bao giờ chết được, mà cả thân xác con người, dù có hóa thành bụi đất, thì nhờ quyền năng của Thiên Chúa Hằng Sống, cũng sẽ được sống lại trong ngày tận thế (x. Ga 11,23-26).
III. CUỘC SỐNG ĐỜI NAY VÀ MAI HẬU.
          1. Chết là một qui luật phổ biến.
          Có biết bao vĩ nhân thế giới, biết bao anh hùng cái thế đã qua đi mà chỉ còn trong sử sách. Ngay Hoàng đế Tần Thủy Hoàng của Trung hoa xưa đã truyền lệnh cho các thầy thuốc tìm ra thuốc  trường sinh cho nhà vua mà đành chịu bó tay. Ông đã chết như mọi người. Kinh nghiệm này đã được Văn Thiên Trường nói lên như một khẳng định :
                             Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
                             Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
          “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử” : từ xưa đến nay ai mà không chết ? Đúng vậy. Đời người ngắn ngủi lắm. Thi sĩ Cao Bá Quát cũng nói lên kinh nghiệm đó trong mấy vần thơ :
                             Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy,
                             Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười.
                             Thôi công đâu chuốc lấy sự đời,
                             Tiêu khiển một vài chung lếu láo.
          Thi sĩ nghĩ rằng đời người vắn vỏi lắm, dài nhất là 3 vạn 6 ngàn ngày, nghĩa là 100 năm, sau đó thì ai cũng chết, mà chết là hết tất cả, cho nên còn sống bao lâu thì hãy lo ăn chơi, hưởng thụ, uống rượu “tiêu khiển một vài chung lếu láo”.
          2. Nhưng chết là gì ?
          Có nhiều cách định nghĩa về cái chết nhưng không định nghĩa nào thấy thỏa đáng. Chúng ta chỉ biết rằng con người kết thúc cuộc đời này khi linh hồn lìa khỏi  xác. Chỉ khi nào linh hồn lìa khỏi xác thì mới là chết thật.
          Chết là một sự chuyển đổi chứ không phải là một mất mát, đi vào ngõ cụt hay đi vào hư vô.
Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu trước khi sinh thì đã nói với chị em đang đứng chung quanh :”Em không chết đâu, em đi vào cõi sống.
 Ngay cả những người ngoại giáo từ ngày xưa đã tin như thế, nên Hòai Nam Tử đã nói :”Sinh ký tử qui” : sống là sống gửi, còn chết mới là về. Về đâu ?  Đi về cội nguồn, đi về một kiếp khác chứ không phải đi vào hư vô.
 Cũng trong niềm tin đó, thi sĩ Nguyễn Du trong “Đoạn trường tân thanh” đã khẳng định :”Thác là thể phách còn là tinh anh”.
          Lời than thở của thánh Augustinô đã nói lên nỗi khát khao của con người  được an nghỉ trong Chúa sau khi lìa cõi đời này :”Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con hướng về Chúa, nên hồn con luôn khắc khoải cho đến khi được an nghỉ trong Chúa”.
                                      Truyện : Đại tá David Marcus.
          Đại tá David Marcus bị chết trong trận chiến ở Israel tháng 6 năm 1948. Trong bóp của ông, người ta thấy một tấm thẻ ghi lại những lời thi vị hóa cái chết như sau :
          “Tôi đang đứng trên bờ biển. Bên cạnh tôi một con tầu đang trương buồm trắng phất phơ trong gió sớm hướng về đại dương. Con tầu trông thật đẹp và mạnh mẽ. Tôi đứng nhìn theo nó cho đến khi nó chỉ còn là  một dải mây trắng nơi trời và nước hòa lẫn với nhau. Lúc đó có người đứng cạnh tôi thốt lên :”Kìa, con tầu biến mất rồi” ! – Biến đi đâu ? – Biến khỏi tầm mắt tôi, thế thôi ! Nó vẫn là cột buồm, là vỏ tầu rộng lớn như lúc nó rời cạnh tôi và cũng vẫn đủ khả năng mang hàng hóa tươi sống  đến nơi đã định.  Kích thước con tầu chỉ giảm đi trong ánh nhìn của tôi chứ không phải nơi chính nó. Và ngay lúc đó tiếng người cạnh tôi vang lên :”Kìa ! Nó biến mất rồi”! thì lại có nhiều tiếng khác ở chân trời đàng kia vang lên đầy hoan hỉ :”Kìa ! Nó đến rồi”! Và đó chính là lúc chết (M. Link).
          3. Kiếp sống mai hậu.
          Nhiều người tự nghĩ : nếu cuộc sống chỉ có đời này, và chết là hết, thì liệu những việc tôi đang làm đây có ý nghĩa gì không ? Và nói như thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Corintô : “Nếu chết là hết, thì quả thực chúng ta là những kẻ khốn nạn nhất trong cả thiên hạ” (x. Cr 15,19). Quả thật, nếu không có niềm tin vào sự sống lại, không có niềm tin vào sự phán xét công minh và yêu thương của Thiên Chúa sau khi chết, có lẽ không ai trong chúng ta ngu dại gì mà sống ngay thẳng, thành thật; và cũng chẳng có ai  dù đủ kiên trì để chịu đựng những thử thách, bất công, hoặc cũng chẳng ai dại gì mà đi chia sẻ, giúp đỡ người khác nếu điều đó không có lợi cho mình.
          Tiền nhân chúng ta tin tưởng :”Hữu công tắc thưởng, hữu tội tắc trừng” : Có công thì được thưởng, có tội thì phải phạt.  Điều này rất hợp với tự nhiên, bởi vì kinh nghiệm đã cho thấy nhiều người ngay lành gặp phải rủi ro trong khi những người tội lỗi gặp nhiều may mắn, nếu không có thưởng phạt đời sau, thì sao cho hợp lẽ công bằng ?
          Mấy năm gần đây, một số bác sĩ người Đức và Mỹ đã rất chú ý đến  hiện tượng mà họ gọi là “kinh nghiệm cận tử”(near death experience) : nhiều người vì một tai nạn hay một lý do nào đó đã ngất đi trong một thời gian khá dài. Về mặt thể lý, coi như họ đã chết. Nhưng sau đó họ sống lại. Các bác sĩ đã phỏng vấn 1370 người ấy. Trong những điều họ thuật lại, có những điểm mà ai cũng nhất trí, như sau :
          -  Cuộc sống ở “cõi bên kia” hạnh phúc hơn cuộc sống ở đời này.
          -  Sau khi “chết đi sống lại”, không ai còn sợ chết nữa, không ai muốn kiếm tiền bạc danh vọng lạc thú gì nữa. Điều duy nhất mà họ quan tâm là sống yêu thương, quảng đại, phục vụ mọi người (Tóm bài của Willie Hoffsuemmer).
          Chúng ta chưa ai có kinh nghiệm về cuộc sống mai hậu nên không thể hiểu được và cũng không diễn tả được, nhưng chúng ta hãy tin vào Lời Chúa. Đức Giêsu cho chúng ta biết trật tự, cách tổ chức, sinh hoạt, cách thế hiện hữu trong cuộc sống mai hậu không giống như cuộc sống đời này. Không thể lấy kinh nghiệm hiện hữu của cuộc sống này để áp dụng vào  việc suy đoán cách hiện hữu của cuộc sống mai hậu. Đối với cuộc sống mai hậu, con người không hề có một kinh nghiệm nào và cũng không có một từ ngữ nào  tương xứng để diễn tả.  Thánh Phaolô có nói về sự siêu nghiệm ấy như sau :”Điều mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người là điều mà mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ được”(1Cr 2,9).
          Đức Giêsu đã khẳng định : Đời sống của các kẻ sống lại được  hiệp thông với Thiên Chúa hằng sống, là đời sống hoàn toàn mới lạ so với đời sống trần gian này. Đời sống đó không có kiểu mẫu nào ở đời này cả. Đó là một cuộc sống không thể nào tưởng tượng ra nổi, một cuộc sống hoàn toàn được biến đổi, một cuộc sống của những người “con Thiên Chúa”, những “người được hưởng ơn phục sinh” :”Họ giống như các thiên thần”.
                                      Truyện : Bác sĩ Paul Nagai.
          Chết không phải là hết. Paul Nagai, từ sau quả bom nguyên tử ném xuống Nagasaki, đã  trở thành con người bất hủ, vì sự tận tụy và tấm lòng hy sinh vô bờ bến của ông đối với các nạn nhân.
          Chính ông đã để lại mấy dòng tâm sự làm cho ta biết tại sao ông từ vô thần đã trở thành con người có tin tưởng.
          “Trong kỳ nghỉ xuân – lời ông -  lúc đó tôi học hết năm thứ hai đại học y khoa, mẹ tôi bị trúng phong. Tôi hối hả chạy đến đầu giường mẹ tôi, người chỉ còn một chút hơi thở.  Mẹ tôi trừng trừng nhìn tôi, mà thở ra. Cái nhìn cuối cùng  của cặp mắt bà mẹ đã sinh ra, đã giáo dục và đã thương tôi đến cùng, cặp mắt này nói cho tôi một cách rõ rệt : dầu sao khi người khuất núi, người vẫn còn luôn luôn ở bên Takashi yêu dấu của bà. Tôi nhìn trong con mắt đó, tôi con người đã không tin có linh hồn và tự nhiên tôi cảm thấy : linh hồn mẹ tôi có; linh hồn mẹ tôi lìa khỏi xác nhưng còn tồn tại mãi mãi”.
          Sau đó ông thêm rằng :”Con người tôi đã đổi hẳn, dầu tôi làm hết sức cũng không thể làm cho tôi tin phục rằng cái đã gọi là mẹ tôi đã bị hoàn toàn tiêu diệt… Con mắt tôi lần đầu tiên mở ra nhìn thấy  cái thế giới siêu hình” (Văn Quy, Đi về đâu, tr 7-8).
          4. Tin vào sự sống lại.
          Chúng ta rất phấn khởi và đầy tin tưởng khi đọc lời tung hô Alleluia :”Vạn tuế Đức Kitô, Đấng đầu tiên từ cõi chết sống lại. Người vinh hiển quyền năng. Vạn vạn tuế”. Người là đầu thân thể đã sống lại để cho chi thể được sống lại với Người.
          Mỗi khi chúng ta đọc kinh Tin kính, chúng ta vẫn tuyên xưng :”Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Chúng ta tuyên xưng như thế và chúng ta tin điều đó dễ dàng. Chứ thực ra vấn đề này không dễ dàng cả vào thời Đức Giêsu lẫn ở thời nay.
          Người Kitô hữu tin rằng không chỉ có linh hồn tham dự vào cuộc sống mai hậu, mà cả thân xác  cũng sẽ sống lại  sau khi hư nát một thời gian, để tham dự vào sự sống thần linh và vĩnh cửu đời sau. Thân xác ấy sẽ được biến đổi để phù hợp với cách hiện hữu mới ấy. Niềm tin vào sự sống lại được xây dựng trên nền tảng sự sống lại của Đức Kitô, mà các tông đồ là những người đã thấy tận mắt, đã sẵn sàng chịu đau khổ và chết để làm chứng. “Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng”(Cv 2,32; 10,41).Đây là một trong những niềm tin căn bản nhất của người Kitô hữu, đến nỗi có thể nói  ai không tin vào sự sống lại thì không phải là Kitô hữu.
          Tin vào sự sống lại không phải là niềm tin vu vơ, phản khoa học, nhưng ngược lại chính các nhà khoa học thượng thặng lại tin nhận điều đó. Ông Eymieu đã công bố bản thống kê 432 nhà bác học thế kỷ 19 thì có 367 vị tin có Thiên Chúa và sự sống lại. Bác sĩ Dennaert người Đức cho biết trong số 300 nhà bác học  lỗi lạc nhất ở 4 thế kỷ vừa qua có 242 vị tin, 38 vị không rõ lập trường, 20 vị không tin và dửng dưng (Văn Quy, Đi về đâu, tr 39).
                                      Truyện : Con bọ nước.
          Một nhà sản xuất và giám đốc của một hãng phim lớn, ông Cecil B. DeMille vừa có nhiều năng khiếu về nghệ thuật, lại có đời sống nội tâm sâu xa nữa. Ông nhận xét sự chia sẻ của mình với bạn bè như sau :
                   “Trong khi đi thuyền canô trên hồ Maine, ông chú ý thấy một bầy con bọ nước cánh cứng ngay  dưới mặt nước. Một con trong bầy ngoi lên trên mặt nước và từ từ bò lên mạn thuyền canô. Sau cùng, nó phấn đấu leo lên được bên trên thuyền, bám vào thành gỗ và lăn ra chết. DeMille đã quên bẵng đi con bọ nước này cho đến mấy tiếng đồng hồ sau đó ông lại chú ý thấy một con bọ nước khác. Trong ánh mặt trời ấm áp, cái vỏ cứng bên ngoài của nó  đã trở nên khô và dòn. Chăm chú theo dõi, ông thấy cái vỏ của nó đã vỡ đôi ra, và từ bên trong nổi ra một hình thức mới, một con chuồn chuồn,  cất cánh bay lên không gian với mầu sắc tráng lệ lóng lánh trong ánh mặt trời. Chỉ trong một thoáng, con chuồn chuồn đã bay được xa hơn là con bọ nước bò đi chậm chạp trong nhiều ngày. Nó bay lượn vòng quanh, phóng lên, lao xuống, chập chờn trên mặt nước.
          DeMille chú ý thấy cái bóng của nó in hình trên mặt hồ. Con bọ ở dưới nước cũng có thể nhìn thấy điều đó, nhưng bây giờ người đồng loại của chúng  trước đây đã hiện hữu trong một tình trạng vượt xa sự hiểu biết của chúng. Còn con bọ nước vẫn đang sống trong thế giới nhỏ bé và giới hạn, trong khi người anh chị em bà con  của nó  đã có được tất cả sự tự do giữa trái đất và bầu trời.
          Khi nói với bạn bè của ông điều đã nhìn thấy, DeMille đã kết luận với câu hỏi gợi ý như sau :”Có thể nào Thượng Đế vĩ đại của vũ trụ làm điều đó cho con bọ nước, lại không làm cho con người sao”(Nguyễn văn Thái, Sống Lời Chúa…, tr 367-368).
          5. Chuẩn bị cho đời mai hậu.
          Chúa dựng nên con người để hưởng hạnh phúc, nhưng không phải chỉ là hạnh phúc tạm bợ đời này, mà là hạnh phúc vĩnh hằng đời sau. Sống là một cuộc hành trình tiến về đời sau, về với Đấng hằng đợi chờ và yêu thương ta mãi mãi. Đừng mải mê với những hạnh phúc mau qua, những lạc thú bên đường mà quên cùng đích cuộc đời là phải gặp được Chúa. Có những kẻ sống như thể mình không bao giờ phải chết, họ ung dung hưởng thụ những lạc thú trần tục. Họ đã chết ngay khi còn đang sống. Có những kẻ sống như thể chỉ có đời này, tự điển sống của họ không có từ “đời sau”. Họ đang sống mà như đã chết.
          Cuộc đời này tuy ngắn ngủi, nhưng lại rất quan trọng : nó ảnh hưởng một cách quyết định đến cách thế hiện hữu của ta trong cuộc sống mai hậu. Một người sống đầy tình người, đầy yêu thương ở đời này chắc chắn tình trạng đời sau sẽ khác hẳn  với người đời này sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến mình. Đời này là nhân, đời sau là quả : nhân nào sinh quả nấy, cây nào sinh trái nấy, “Cây tốt thì sinh trái tốt, cây xấu thì sinh trái xấu. Cây tốt không thể sinh trái xấu, cũng như cây xấu không thể sinh trái tốt”(Mt 7,17-18). Người làm tốt sẽ được thưởng, người làm điều xấu sẽ bị phạt như thư Rôma và sách Khải huyền viết :”Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm”(Rm 2,6; Kh 2,23).
          Nói đến nguyên tắc “gieo gì thì gặt nấy”, phương Tây có một câu ngạn ngữ rất hay :
          Nếu bạn muốn hạnh phúc một ngày, hãy mua một cái áo mới.
          Nếu bạn muốn hạnh phúc một tuần, hãy làm thịt một con heo.
          Nếu bạn muốn hạnh phúc một năm, hãy cưới vợ lấy chồng.
          Nếu bạn muốn hạnh phúc một đời, hãy làm người sống tử tế.
          Nếu bạn muốn hạnh phúc muôn đời, hãy làm người có đạo tốt.
          Để kết luận, chúng ta tự hỏi : Tôi sẽ chọn cho mình cách sống nào ? Sống để chiếm lấy vĩnh cửu hay là chỉ những kẻ chọn lấy đời này và đánh mất đời sau ? Đời sau vẫn cứ là huyền nhiệm lớn không thể tả. Chẳng ai biết thiên đàng, hỏa ngục như thế nào. Người ta chụp được rất nhiều hình ảnh lạ mắt, nhưng chưa từng có ai  lấy được hình ảnh của thiên đàng hay hỏa ngục. Vì không thể tìm được chân dung, người tín hữu nói riêng và loài người nói chung, dễ bị cuốn hút vào những cái thấy được của cuộc đời này, bám chặt vào nó  đến nỗi có lúc đã trở nên tội lỗi và lún sâu vào tội lỗi.
          Chúng ta hãy tâm niệm rằng Sống là để chết. Ta biết mình đang đi về đời sau để gặp Đấng mà mình tin yêu suốt đời. Vì thế, cái chết không làm cho chúng ta bi quan, ngược lại, cái chết dạy ta biết cách sống. Ta hãy sống như sẽ chết, để khi chết, ta trở về nguồn cội đích thật của mình là quê hương vĩnh cửu. Nơi đó Chúa đang chờ để ban hạnh phúc muôn đời cho kẻ đã “xét đáng được dự phần đời sau” là chính chúng ta.
                                                                   Lm Giuse Đinh lập Liễm
                                                                   Giáo xứ Kim phát
                                                                   Đà lạt


 

TN32-C77. KẺ CHẾT SỐNG LẠI.

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN
Lc 20,27-38
 

Câu chuyện bảy anh em lần lượt cưới cùng một người phụ nữ làm vợ là chuyện bịa để cố ý làm: TN32-C77

Câu chuyện bảy anh em lần lượt cưới cùng một người phụ nữ làm vợ là chuyện bịa để cố ý làm khó Đức Giêsu. Chủ ý là bác bỏ sự sống lại và chống ĐứcGiêsu vì Người rao giảng sự sống lại. Còn họ thì không tin sự sống lại.
Không có sự sống lại thì Thiên Chúa làm sao chủ trì sự công bình cuối cùng cho mọi loài mọi vật: kẻ ác cứ ăn to nói lớn, người lành mãi thua thiệt. Cứ làm ác, làm lành mà chi!
Phần linh thiêng của con ngưòi không chết. Đa số xác tín như vậy vì nếu tất cả nơi con ngưòi đều tiêu tan với sự chết thì con người cũng chỉ thuần tuý là con vật không hơn không kém. Thân xác vật chất nặng nề chỉ có những ham muốn của cảm giác, chỉ có giác hồn. Lý trí, trí khôn, hồn thiêng, linh hồn “anima intellectualis, spiritualis” là nguyên lý điều khiển nơi con người giúp phân biệt phải trái, tốt xấu, biết làm tốt tránh xấu, làm cho con người là con ngưòi, khác với con vật, làm cho con người khác nhau, có thể là thánh nhân, chí nhân. Có làm tốt làm xấu thì phải có thưởng phạt thoả đáng. Không có sống lại thì làm sao thực hiện được thưởng phạt công minh.
Sống lại thì:
- Không cần việc vợ chồng
- Không chết nữa vì giống như các thiên thần
- Là con cái thiên Chúa vì là con ái sự sống lại.

1/ Hôn nhân là do nhu cầu sinh sản để nhân số loài người và bảo tồn nhân loại. Thiên Chúa ban cho con người lạc thú xác thịt là để “mang nặng đẻ đau” và “lao nhọc nuôi vợ con”. Hưởng thụ thì có trách nhiệm kèm theo. Không có nhu cầu thì không cần thiết. Ngày nay người ta - trái tự nhiên – tách rời việc hưởng lạc thú xác thịt và việc sinh con. Dâm dục, tình dục khác với hôn nhân. Hôn nhân là trăm năm theo thường. Còn đạo thì vĩnh viễn vì con cái. Không tử thì không cần sinh. Sinh là để điền vào chổ hao hụt. Hơn nữa lạc thú vợ chồng không thể sánh với hạnh phúc thiên đàng vĩnh viễn. Vinh quang Thiên Chúa thoả mãn mọi ước muốn của con người. Được hưởng kiến vinh quang Thiên Chúa thì không còn cần gì khác nữa. ngay đời nầy có nhiều người không cần việc ấy. Người thì do tự nhiên người thì tự nguyện vì lý tưởng. Hạnh phúc hôn nhân chẳng là gì lớn lao! Xem ra còn làm khổ hơn là cho con người hạnh phuc đích thực.
2/ Sống lại thì không còn chết nữa. Từ sống lại không đầy đủ vì “sự sống thay đổi chứ không mất đi”. Kinh dịch : Sinh sinh chi vị dịch. Sống là biến đổi. Sự sống nầy nối tiếp sự sống khác chỉ khi đạt mức hoàn hảo tột đỉnh hết thay đổi được thì là vĩnh cửu. Mạc khải thì cho biết có hai đời sống mà thôi: đời nầy có hạn đời sau vĩnh cửu. Làm gì thì làm ở đời nầy, đời sau là mãi mãi. Được mãi mãi, mất mãi. Chỉ có một lần để lo làm việc. Nếu có nhiều lần thì người ta cũng chẳng chịu lo mà cứ lần lựa mãi.
Không còn chết nữa vì đã biến đổi. “Giống như các thiên thần”: thời gian dừng lại. Tốt xấu cũng dừng lại. Giống như các thiên thần là nói những kẻ lành. Kẻ ác thì giống quỉ! Không còn nhu cầu vật chất nữa. Thân xác cũng biến đổi để không còn biến đổi nữa. Giống các thiên thần là không cần việc vợ chồng. Không ham muốn cũng không cần thiết vì không có nhu cầu sinh con và đã hạnh phúc đầy đủ.
3/ Là con cái Thiên Chúa vì là con cái sự sống lại: Mọi ngưòi đều sống lại để chịu phán xét chung. Nhưng không nói tới ké ác vì họ sống lại để gọi là “chết đời đời”. Chỉ kẻ lành “sống lại để được sống đời đời” và được vinh quang trong Thiên Chúa. Được ở trong vinh quang Thiên Chúa. Không muốn đi đâu nữa. Được Thiên Chúa chính thức nhận là con vì đã làm con Thiên Chúa xứng đáng trong cuộc sống trần gian, giống Chúa Giêsu. Là con thì được hưởng gia tài của Cha là sự sống và hạnh phúc.
Sống lại là xác hồn hợp lại. Hồn lìa xác là chết. Hồn hợp lại với xác là sống lại. Nói kẻ chết sống lại là chỉ về ngày tận thế, ngày chung thẩm: Thiên Chúa tổng kết và phục hồi vạn vật. Thiên Chúa hoàn thành công trình của Ngưòi. Nước Thiên Chúa đến và Thiên Chúa sẽ hiển trị. Vũ trụ tạo vật sẽ tuyệt đối nhìn nhận và phục tùng Thiên Chúa, kể cả ngưòi tốt kẻ xấu, thiên thần các thánh và cả ma quỉ. Trời mới đất mới cho người công chính. Thiên Chúa ở với loài ngưòi và loài người được ở cùng Thiên Chúa.
Tin không tin chừng đó hẳn biết.Coi chừng muộn mất.

 

TN32-C78. THIÊN CHÚA CỦA KẺ SỐNG

Lc 20, 27 – 38
 

Có lẽ ít nhất một lần trong đời chúng ta đã nghe những lời trong bài hát sau đây: “Sống trên đời: TN32-C78

Có lẽ ít nhất một lần trong đời chúng ta đã nghe những lời trong bài hát sau đây:
“Sống trên đời này, người giàu sang cũng như người nghèo khó, trời đã ban cho ta cám ơn trời cuộc sống thương đau mai khi chết rồi trở về cát bụi người giàu có như nhau, nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao. Này nhà lớn lầu vàng son này lợi danh chức quyền cao sang có nghĩa gì đâu sau chắc bền lâu như nước trôi qua cầu. Này lời hứa này thủy chung này tình yêu trót lưỡi đầu môi cũng thế mà thôi sẽ mất ngày mai khi áng mây cuối trời. Sống trên đời này tựa phù du có đây rồi lại mất, cuộc sống mong manh xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen. Này người sang giàu đừng vì tham tiền bỏ nghĩa anh em, người ơi nên nhớ cát bụi là ta mai này trắng tay”.
Những lời trong bài hát trên đây cho thấy thân phận con người thật là mỏng manh, nay còn mai mất, chỉ có tình thương là tồn tại. Do đó, tác giả bài hát này muốn nhắn gởi chúng ta sứ điệp là hãy biết trọng tình nghĩa hơn là tiền bạc của cải.
Người ta thường nói: “Hổ tử lưu danh nhân tử lưu bì” nghĩa là “Cọp chết để da người ta chết để tiếng”. Với lời nhắc nhở này, người ta cố gắng sống làm sao hầu lưu lại tiếng tốt cho đời.
Như vậy với cái nhìn tự nhiên, con người ta tin rằng vẫn còn cái gì đó sau cuộc sống trần gian này. Từ đó, người ta mới nhắc nhở nhau sống tốt. Phải chăng đây là cái nhìn chưa được rõ nét về sự sống đời sau mà Thiên Chúa muốn mạc khải cho con người.
Không hiểu vì sao, những người thuộc phái Sađucêô thời Chúa Giêsu lại chẳng có chút niềm tin nào vào sự sống đời sau. Họ đặt lên một tình huống muốn gài bẫy Người. Theo luật Môisen người nữ nào lấy chồng mà chồng chết phải lấy người em trai kế làm chồng. Vì thế, có một người phụ nữ phải lấy lần lượt bảy anh em làm chồng nếu có sự sống lại thì người nào sẽ là chồng của người phụ nữ này.
Chúa Giêsu đã trả lời họ: "Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng …Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống." (Lc 20, 34 - 35. 38)
Chúa Giêsu khẳng định một chân lý quan trọng là những ai thuộc về Thiên Chúa sẽ không có sự chết đời đời. Hằng ngày chúng ta chứng kiến nơi người khác hay chính mình sẽ đến đó chỉ là sự chết thể xác. Sự chết thể xác này là hậu quả của tội nguyên tổ. Những ai thuộc về Thiên Chúa sẽ luôn luôn sống chỉ thay đổi tình trạng. Thay đổi từ sự sống tạm bợ sang sự sống vĩnh cửu bền lâu.
Ngay đời này nếu chúng ta để mình thuộc trọn về Chúa thì tin chắc rằng đời sau chúng ta sẽ được sống mãi trong Chúa. Chúng ta nhớ rằng chúng ta đến trần gian này chỉ với hai bàn tay trắng. Những gì chúng ta có được là do Chúa ban để phục vụ cho sự sống của mình ngay trần gian này. Đặc biệt, Chúa muốn chúng ta sử dụng những gì Người ban để đạt được sự sống vĩnh cửu đời sau.
Hãy biết tận dụng những gì Chúa ban để ngay đời này chúng ta được sống trong Chúa. Để rồi chúng ta cũng sẽ được sống mãi trong Chúa. Bởi vì Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống.

 

TN32-C79. TIN VÀ HY VỌNG

Lc 20, 27-38
 

Mỗi ngày Chúa Nhật chúng ta kết Thúc Kinh Tin Kính với những lời: “Tôi trông đợi kẻ chết sống: TN32-C79

Mỗi ngày Chúa Nhật chúng ta kết Thúc Kinh Tin Kính với những lời: “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”. Tin vào đời sau là một trong những niềm tin quan trọng nhất của người Kitô hữu. Không có đời sau, đời sống chúng ta trên trần gian này là một cuộc hành trình không dẫn đến một nơi nào cả. Chỉ khi nào có đời sau, thì cuộc sống hôm nay của chúng ta trên trần gian là một cuộc hành trình đến miền đất hứa của đời sống vĩnh cữu.
Hy vọng là một phần quan trọng của cuộc sống, nó như món ăn tinh thần không thể thiếu, như cơ thể cần có lương thực để sống, thì tinh thần cần có hy vọng để tiến lên. Phần lớn cuộc đời chúng ta là sống trong chờ mong, hy vọng và khát khao một vùng đất “chảy sữa và mật”. Nhưng chúng ta biết rằng thế gian này không bao giờ có thể làm đầy những hy vọng và khát khao sâu thẳm nhất của chúng ta, chỉ có Thiên Chúa mới làm được điều đó. Nhưng muốn thế thì trước tiên chúng ta phải có niềm tin vững chắc, niềm tin mới dẫn chúng ta đến sự sống đời đời. Nhưng trong Bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy phái Sa-đốc có một đòi hỏi thật ngựơc ngạo, trong khi họ không tin vào sự sống lại mà lại muốn biết sự sống đời sau như thế nào. Một câu hỏi không phải nhằm tìm hiểu chân lý nhưng mà là để bắt bẻ. Vì đối với quan niệm của họ, sự giáng lâm của Đấng Mêssia chỉ làm cho cuộc sống đầy đủ của họ bị xáo trộn, họ cho đó là thứ câu hỏi làm cho niềm tin vào sự sống đời sau thành ra lố bịch. Chúa Giêsu đã cho họ câu trả lời hàm chứa một chân lý vĩnh cữu, Ngày nói chúng ta không nên hiểu về trời theo cách hiểu dưới đất này, sự sống đó sẽ hoàn toàn khác, bởi chúng ta đã hoàn toàn khác. Chúng ta sẽ tránh được sai lầâm nếu ta đừng tưởng tượng một cõi trời như thế, nhưng cứ trao trọn vẹn cho tình yêu Thiên Chúa bằng niềâm tin và hy vọng cho cuộc sống mai sau. Đó mới chính là điều mà chúng ta cần biết và cần làm ngay trong cuộc sống này.
1 . Tin vào đời sau
Như chúng ta đã biết phái Sa đốc không tin có sự sống lại của thân thể. Họ tuyên bố rằng, họ không thể tin điều đó, bởi không có lời nào, càng không có chứng cứ nào về điều đó được tìm thấy trong các sách luật mà Môisen là tác giả. Và lại cũng không có Rabbi nào có thể giải đáp vấn đề thoả mãn cho họ, nhưng việc này Chúa Giêsu đã làm. Ngài chỉ cho họ biết chính Môisen đã từng nghe Thiên Chúa phán “Ta là Thêin Chúa Apraham. Thiên Chúa của Isaac, và Thiên Chúa của Giacop” và không thể nào Thiên Chúa lại là Thiên Chúa của kẻ chết, cho nên Aùpraham, Isaac và Giacop vẫn đang sống.
Phải chăng có sự sống lại là điều tất yếu? Đó là niềm tin mà chúng ta hằng tuyên xưng trong các Chúa Nhật, cũng như khi lãnh Bí Tích Rửa Tội. Niềm tin đó còn được thể hiện không chỉ bằng lời, mà bằng công nghiệp đôi khi bằng cả cuộc sống như những luận cứ. Tiêu biểu như các vị tử đạo, không ai ngu dại gì lấy mạng sống để đổi lấy cái chết, không ai ngu dại gì hy sinh mạng sống để rồi mất đi mãi mãi. Nhưng ngược lại những người tử đạo là một bằng chứng cho sự sống đời sau và niềm tin kiêu hùng. Với xác tín mãnh liệt các ngài đã khôn ngoan đổi cái tạm bợ để lấy cái vĩnh cữu. Đổi sự sống ngắn ngủi để lấy cái muôn đời. Nói tóm lại, những người tử đạo là nhân chứng cho chúng ta thấy có cuộc sống vĩnh cữu phía sau cuộc sống tạm bợ này.
2. Hy vọng vào cuộc sống mai sau
Trong thông điệp “Spe Salvi, số 11, ĐGH có nhắc lại lời của Thánh Augustinô: “thực ra chúng ta chỉ muốn một điều “cuộc sống hạnh phúc, một cuộc sống đơn thuần là sự sống là “hạnh phúc”. Xét cho cùng chúng ta không xin điều gì khác trong kinh nguyện của mình. Chúng ta không tiến về hướng nào cả, mà chỉ nhằm mục tiêu ấy”. Và tiếp theo số 12 ĐGH đã chỉ rõ cho chúng ta biết mục tiêu ấy là gì, và con người hằng hy vọng “ một cách nào đó chúng ta mong muốn chính sự sống, sự sống thật, một sự sống không bị cái chết chạm tới; nhưng đồng thời chúng ta không biết rõ đìêu mà mình được thúc đẩy hướng đến”. Tuy ngài không xác tín cuộc sống mai sau như thế nào, nhưng ngài cũng có thể dùng ngôn ngữ hạn hẹp của loài người để diễn tả nó “giống như thời điểm mãn nguyện đầy tràn”. Điều đó chứng tỏ có cuộc sống mai sau, đặc biệt chúng ta có quyền hy vọng vì Thiên Chúa hứa với chúng ta trong Đức Kitô, và những lời hứa ấy là chắc chắn, không thể sai sót, cà cái chết cũng không thể huỷ bỏ. Niềm hy vọng sống lại của chúng ta nằm trong quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa. Cái chết không là một kẻ thù đặt một dấu chấm hết cho mọi chuyện, nhưng là một người bạn nắm tay và đưa chúng ta vào vương quốc tình yêu vĩnh cữu. Amen

 

TN32-C80. CHÚA NHẬT 32 TNC

Lc 20, 27 – 38.
 

Sống và còn sống lại, tiếp tục sống là một điều khát khao của nhân loại. Nó là điều vượt: TN32-C80

Sống và còn sống lại, tiếp tục sống là một điều khát khao của nhân loại. Nó là điều vượt trên sự hiểu biết của con người. Triết học Hy Lạp cho rằng tự bản tính linh hồn con người thiêng liêng bất tử. Người Hy Lạp quan niệm theo thuyết Platon, sau khi chết, linh hồn con người được giải thoát khỏi thể xác vật chất, linh hồn bất tử bước vào thế giới thần linh.Thế nhưng những người Kitô hữu thì tin có sự sống lại. Bởi vì tất cả những người đã chết sẽ sống lại để góp phần vào cuộc vinh hiển Chúa quang lâm. Sự Phục Sinh của Chúa Kitô là nguyên nhân và kiểu mẫu sự sống lại của loài người.
Niềm tin vào sự sống lại này của Kitô hữu không phải dựa vào các triết thuyết, hay cũng không phải dựa vào sự suy nghĩ của con người nhưng niềm tin này xuất phát từ nền tảng mạc khải trong Thánh Kinh. Người DoThái tin rằng chỉ có Thiên Chúa Giavê là Thiên Chúa Hằng Sống, làm chủ sự sống (Xh 3, 15) có quyền trên Shéol (Is 2, 6; Kn 16,13; Tv 139,8) có khả năng làm cho kẻ chết sống lại: “Đấng cầm quyền sinh tử, đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên” (1Sm 2, 6). Bên cạnh đó, các ngôn sứ loan báo về sự sống lại của dân Israel, Hôsê nói Thiên Chúa sẽ cho ta hồi sinh (Hs 6, 18), Isaia hy vọng người chết sống lại (Is 26, 19). Người ta cũng đã chứng kiến các tiên tri Êlia, Êlisê cho một số người chết được hồi sinh (1V 17, 17 – 24; 2V 4, 29 – 37; Hc 48, 5. 14). Ngoài ra, ta còn thấy ước vọng và lời cầu nguyện của Israel cũng hướng về chân lý này (Tv 16, 10, G 19, 25). Khi Isaia và Edekien loan báo về sự sống của Israel thì niềm hy vọng của họ trở thành vững chắc hơn (Is 25, 7 – 8; 26, 19; Ed 37, 7 – 8; 37, 11 – 14). Đến cuối thời Cựu Ước (thế kỷ thứ II trước Chúa Giêsu Giáng Sinh) nhờ biến cố bách hại đạo giúp dân Israel ý thức rõ ràng về sự sống lại (2Mcb 7,11; 14, 16). Như thế, ngay từ đầu cho đến cuối thời Cựu Ước, từ quan niệm dân Israel đã tin vào sự sống lại.
Trong Tân Ước. Chúa Kitô phục sinh là một sự kiện lịch sử mà các Tông Đồ và một số người đã gặp thấy và làm chứng về điều này (Cv 1, 22; 2, 32). Vì thế, Chúa Kitô phục sinh là trung tâm sứ điệp Kitô giáo, là trung tâm điểm của niềm hy vọng Kitô giáo, là nguyên nhân và là kiểu mẫu sự sống lại của loài người. Vào thời Chúa Giêsu, nhóm Biệt phái, Pharisêu và một số người trong dân chúng đã tin vào sự sống lại (Ga 11, 24), người Sađốc không tin sự sống lại (Mc 12, 18 – 27, Mt 22, 23 – 33). Chúa Giêsu đã khẳng định: “ Người là Thiên Chúa của kẻ sống” (Mc 12, 26 – 27). Sự sống lại xảy ra do quyền năng của Thiên Chúa. Đàng khác, Đức Giêsu chỉnh đốn lại quan điểm về sự sống lại của người Pharisêu: cuộc sống mai sau khác với cuộc sống hiện tại. Thánh Gioan cho thấy Đức Giêsu là nguồn sống (Ga 1, 4), là sự sống lại và là sự sống (Ga 12, 25). Người đến trần gian để ban sự sống đời đời cho ai tin nơi Người (Ga 5, 24 – 25; 11, 25 – 26) và ai ăn uống Mình Máu Người (Ga 6, 39 – 55). Thánh Phaolô là người biệt phái nên Ngài tin (Cv 23, 6), làm chứng (Cv 24, 15) và triển khai giáo lý về sự sống lại đặc biệt qua các thư. Còn Sách Khải Huyền vẽ lên một bức tranh huy hoàng về sự sống lại. Các thánh hưởng một đời sống mới trong Giêrusalem thiên quốc (Kh 20, 5). Thánh Gioan khẳng định kẻ chết sẽ chỗi dậy (Ga 5, 28; 6, 40 – 44) trong ngày sau hết để chịu phán xét (Kh 20, 12 – 13) người lành thì được hưởng sự sống đời đời, kẻ sữ thì bị luận phạt (Ga 5, 29).
Như thế, niềm tin về sự sống lại càng làm cho chúng ta xác tín hơn vì Chúa Kitô đã mạc khải qua việc giảng dạy (Mt 10, 28; Mc 12, 18 – 27), Người đã hồi sinh những người chết (Mc 5, 22 – 23; Lc 7, 11 – 17). Người còn hứa ban sự sống cho những ai tin Người ( Ga 5, 24 – 25; 11, 25 – 26; 6, 39 – 55). Cuối cùng, chính Người đã chết và đã sống lại. Nhờ đó Kitô hữu xác tín hơn vào sự sống lại.
Vào ngày Chúa quang lâm (1Tx 4, 16, Ga 6, 39 – 40. 44. 54; 11, 24) mọi kẻ chết sẽ được sống lại để chịu phán xét (Mt 5, 29 – 30; 11, 22; 12, 41; 25, 31 – 44, Ga 5, 28 – 29; 6, 40 – 44; Cv 24, 15 ; Kh 20, 12 – 13). Mọi kẻ chết sẽ sống lại bằng thân xác của mình được Chúa Thánh Thần biến đổi. Sự biến đổi này tựa như hoa so với hạt, bướm so với sâu, nhưng không do tiềm năng nội tại sẵn có của con người mà hoàn toàn do quyền năng thuần tuý của Thiên Chúa. Thân xác phục sinh không còn là thân xác trong tội (corpus peccati) nhưng là một thân xác được cứu chuộc (1Cr 15, 38.57) là tác phẩm của Tạo Hoá (Mt 22, 29; 1Cr 15, 38 . 57). Sự sống lại ấy khó mà dùng ngôn ngữ và hình ảnh của con người mà diễn tả vì nó vượt sức tưởng tượng và hiểu biết của loài người. Chúng ta chỉ hiểu trong đức tin. Thân xác phục sinh là cùng một thân xác đã chết. Trong thân thể phục sinh, giống Chúa Kitô, người kitô hữu sẽ sống lại với thân xác đó vẫn đồng nhất như cũ tương tự Chúa Giêsu (2Mcb 7, 11; 1Cr 15, 51; Pl 3, 21; Rm 8, 29).
Người kitô hữu sẽ sống lại với thân xác không còn bị lệ thuộc định luật vật lý học, không còn lệ thuộc thời gian và không gian nữa. Khi đó, chúng ta sẽ được thống nhất và toàn diện tràn ngập quyền năng Thần Khí ban sự sống của Chúa Kitô. Thiên Chúa chỉ mạc khải về chân lý phục sinh, không mô tả cách thế phục sinh, nhưng ta có thể quả quyết một điều chắc chắn: “ đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể” (Kn 18, 14: Gr 32, 37; Lc 1, 37).
Con người đầu hàng trước cái chết vì thấy mình bị giới hạn bởi chính cái chết. Tuy nhiên, Chúa Kitô phục sinh chính là nguồn hy vọng sống lại duy nhất của nhân loại. Ngài là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người (1Tm 2, 5) có liên hệ và hiệp thông với toàn thể nhân loại, là hoa quả đầu mùa mở đường cho những người an giấc đã sống lại (1Cr 15, 20, Rm 8, 29). Từ đây cái chết không còn là tiếng nói cuối cùng mà chỉ là bước ngoặt để con người bước vào sự sống mới trong Chúa Kitô. Nên ai hướng về Chúa Kitô và biết mở lòng ra đón nhận Ngài thì đều được đón nhận ơn cứu độ.
Sống niềm tin phục sinh là đón nhận và đi trong đường lối Ngài. Nhờ Bí tích rửa tội, người kitô hữu được làm con Thiên Chúa, tháp nhập vào thân thể Chúa Kitô, được hiệp nhất với nhau trong sự sống mới (Ep 2, 14) được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu Chúa Kitô, đón nhận “liều thuốc trường sinh” và “hạt giống phục sinh” (Ga 6, 27. 33. 40. 54. 58) để thuộc về thân thể Người, trở nên đồng hình đồng dạng với Người, chia sẻ đời sống yêu thương như Người. Hơn nữa, khi tham dự bữa tiệc Thánh Thể ở trần gian là họ tham dự vào bữa tiệc cánh chung (Mt 26, 29) vì Mình và Máu Chúa Kitô còn nuôi dưỡng niềm hy vọng của dân Kitô cho tới khi Chúa lại đến. Như vậy, người Kitô hữu đang thuộc về Chúa Kitô, được sống lại trong Chúa Kitô trong từng giây phút hiện tại nên họ sẽ được sống lại với Người (1Cr 6, 14; Ep 2, 6; Cl 2, 12). Mặt khác, niềm hy vọng này không chỉ giúp người kitô hữu hoàn tất cuộc vượt qua khi đối diện với cái chết nhưng còn đón nhận gian lao trong cuộc sống trong tâm tình lạc quan, vì tin rằng sẽ được phục sinh với Chúa Kitô phục sinh trong ngày sau hết.
Sự sống lại cánh chung nói lên hiệu quả của ơn cứu độ Kitô giáo làm cho nhân loại được hoàn hảo trọn vẹn. Nhiều nền văn hóa, tư tưởng triết học của nhân loại đã tỏ ra khinh bỉ thể xác, nhưng nhờ Chúa Kitô phục sinh, chúng ta mới nhận rõ giá trị quý báu của thân xác. Trong truyền thống Kitô giáo, xác thể được quý trọng không những vì niềm hy vọng sống lại mà nhất là vì nó được liên kết với Đấng phục sinh, như là chi thể của nhiệm thể, là đền thờ Chúa Thánh Thần (1Cr 3, 16. 17; 6, 9). Thể xác thần thiêng của Chúa Kitô (1Cr 15, 44) hiện đang đổi mới thân xác của các chi thể Ngài. Tự nó, xác thể vẫn hướng chiều theo đàng xấu (x Rm 7, 21 – 25) nhưng nhờ ơn của Đấng phục sinh, xác thể không còn gây trở ngại, song đã trở thành khí cụ phục vụ vinh quang Thiên Chúa (Rm 6, 12 – 14; 1Cr 6, 20; Pl 1, 20). Kitô giáo không khinh rẽ thân xác nhưng cũng không sùng nó bái như thần tượng nhưng đánh giá đúng mức vai trò của nó (1Cr 6, 20).
Thế nên, người kitô hữu đặt trọn niềm tin và hy vọng vào Đức Kitô Phục Sinh. Ngài chính là nguồn hạnh phúc đích thật và vững bền của con người. Ngài là lẽ sống và ý nghĩa cho cuộc đời.
Chúa Kitô phục sinh khai mở sự sống đời đời cho nhân loại. Chúa Kitô phục sinh giải đáp cho vấn nạn về sự sống đời sau của nhân loại. Chúa Kitô phục sinh đem đến cho nhân loại ơn cứu độ, sự sống đời đời, tình yêu, niềm vui, nguồn bình an. Ngài chính là niềm hy vọng mãnh liệt của con người.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con tin tưởng và phó thác cuộc sống chúng con trong tay Chúa. Chúng con hy vọng sẽ được sống đời đời với Chúa để hưởng hạnh phúc bất diệt trong nước Chúa. Amen.

 

TN32-C81: SỰ CAO TRỌNG CỦA LOÀI NGƯỜI

Lc 20, 27 – 38.
 

Trong các loài hữu hình nơi trần gian loài nào cao quí nhất?  Ngoài loài người ra có loài nào: TN32-C81

Trong các loài hữu hình nơi trần gian loài nào cao quí nhất?
Ngoài loài người ra có loài nào biết thiện ác, hay dở, tốt xấu, sáng chế ra máy móc hay không? Duy chỉ loài người! Nhờ có linh hồn mà con người trở nên cao trọng, có phần giống thiên thần, biết phân biệt điều hay lẽ phải, có khả năng suy tư ... Chính Chúa đã trao quyền canh tác và chăm sóc trái đất cho loài người(x. St 1, 26t). Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài, nhờ đó, con người trở nên một sinh vật có lý trí, biết yêu thương, thông minh, hiểu biết, có khả năng qui hướng về chúa, biết cách canh tác và làm chủ mặt đất này.
Chỉ có loài người là loài hữu hình cao quí nhất, bởi vì Chúa đã thông ban sự sống của Chúa cho loài người (x. st 2, 7). Con người lúc đó sống rất hạnh phúc trong tình yêu mến chúa. Thế nhưng, Ma Quỷ đã cám dỗ nguyên tổ Ađam-Eva của chúng ta ăn trái cấm, chống lại thiên chúa. Và hai ông bà đã mắc bẫy ma quỉ. Con người ngày nay cũng có nhiều trào lưu chống lại thiên chúa như trào lưu vô thần. Tưởng rằng khi mình chống lại Thiên Chúa thì Thiên Chúa sẽ biến mất khỏi trần gian. Nhưng như 2 ông bà nguyên tổ, nghe con rắn nói: "Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần..."
Thế nhưng ăn vào mới biết mình bị lừa, bị ma quỉ dối gạt, chẳng thấy thông minh gì mà chỉ thấy mù tối, chẳng thấy quyền phép sáng láng gì mà chỉ thấy mình trần truồng, ngoài ra còn bị dục vọng nổi lên lấn át lý trí, làm cho ý chí yếu đuối khó làm chủ được thú tính của mình.
Chính vì phủ nhận Thiên Chúa mà loài người bị sa đoạ, sống theo bản năng hơn là đi tìm những điều cao thượng như Chúa kêu mời. Nhiều giá trị đạo đức bị đảo lộn. Xưa kia, con người là quí trọng nhất, ngày nay biết bao em chưa lọt lòng mẹ đã bị lôi ra, cắt làm 2, làm 3 cho đồng loại mình ăn thịt. Có nhiều em mới 7, 8 tháng bị buộc lấy ra khỏi bụng mẹ, khóc oe oe ít tiếng đồng hồ rồi tắt thở vì sự giá băng của lòng người. Người ta nói hùm dữ không ăn thịt con. Hổ là loài thú tàn ác hơn mọi loài thú khác, sẵn sàng ăn thịt tất cả các loại thú hiền lành khác. Nhưng nó còn có trái tim, dù chỉ là trái tim của loài thú, không nỡ giết hại con nó. Còn loài người là loài cao trọng có lý trí, biết phải quấy nhưng đã nhắm mắt bịt tai trước tiếng nói lương tri, dễ dàng giết hại con mình để lấy 1 chút dễ dàng cho mình hay để giữ chút tiếng thơm vô đạo.
Chỉ là loài vật mà còn biết thương yêu, có chút tình nghĩa nên bây giờ người ta quí con vật(!) Nhiều nước phương tây không bao giờ làm thịt chó. Có nhiều người đấu tranh hết lòng hết sức bảo vệ loài hổ, tê giác, rùa, voi, gấu trúc…mới hôm nay đây, tôi đọc được một tin của hội bảo vệ động vật hoang dã như sau: Một con Kangaroo bị bắn xuyên đầu.
Tại Australia, một con kangaroo bị bắn ở khu vực gần ngoại ô Melbourne, vào hôm thứ 3. Hội bảo vệ động vật hoang dã Australia đã treo thưởng 7.500 USD để tìm ra kẻ đã có hành động dã man này. Bác sỹ thú y đã tiến hành phẫu thuật và cho biết họ rất lạc quan về những cơ hội sống của con kangaroo. Chỉ mấy ngày trước đó, người ta cũng tìm thấy một con kangaroo khác bị bắn xuyên mông bằng mũi tên ngay tại cùng một địa điểm. Bà Fiona Corke, người phát ngôn cho Hội bảo vệ động vật hoang dã Victoria, cho biết họ không thể tin được là ai đó có thể làm những việc tàn ác như vậy và thực sự muốn tìm ra những kẻ chịu trách nhiệm cho việc này.
Còn bảo vệ sự sống các em bé sắp ra đời thì người ta không cho là quan trọng lắm(?!)
Loài người là loài cao quí nhất trong thế giới hữu hình lại tự lừa gạt chính mình. Nghe nói tại Mỹ và nhiều nước khác, trẻ em còn trong bụng mẹ dù 8,9 tháng, phá cũng không bị tù tội gì. Nhưng dù mới 7 tháng đã sinh ra đời rồi, ai giết thì bị tù tội, bị lên án. Như thế quyền con người bị xâm phạm nặng nề. Trên thế giới này, mỗi ngày có hằng trăm trẻ sắp ra đời bị sát hại trong bụng mẹ, nhưng những kẻ giết người hàng loạt đó được pháp luật bảo vệ. Ngược lại, một người tắc trách gây chết 1 em bé đã sinh ra rồi thì bị lên án, có thể vô tù. Như vậy có lầm lạc không?
Một khi con người chối bỏ Thiên Chúa, chối bỏ linh hồn, chối bỏ sự sống đời sau thì con người là gì? Có còn phân biệt thiện ác, tốt xấu đúng mức không? Nhiều người cứng lòng mà tưởng mình sáng suốt, không tin có sự sống lại như nhóm Sađốc trong bài Tin Mừng hôm nay. Họ kể một câu chuyện 7 anh em cưới một người vợ mà không có con và tâm đắc với cách lý luận của mình.
Thế nhưng Chúa Giêsu cho họ biết. Đời sau không lập gia đình sinh con cái như đời này, mọi người sống với nhau như anh em, sống hạnh phúc yêu thương chứ không tranh giành vụ lợi ích kỷ như người thế gian.
Con người hơn các loài vật vì con người có linh hồn, chết chỉ là bước chuyển đổi để đi vào cuộc sống mới. Vì vậy, 7 anh em trong sách Macabê chúng ta nghe trong bài đọc I đã không sợ cực hình, không sợ kẻ có quyền thế, không sợ áp bức, không sợ cái chết. Họ sẵn sàng chịu chết vì lề luật Thánh, vì sự thật để rồi Chúa sẽ ban lại cho họ sự sống đời đời.
Các Thánh Tử đạo cũng vậy, dù mạng sống là quí nhất, nhưng vì biết có sự sống đời đời nên các ngài vui lòng chịu tử đạo để làm chứng cho chân lý và chắc chắn Chúa sẽ ban cho các Ngài hạnh phúc đời sau.
Ước gì mỗi người chúng ta biết làm chứng trước mặt mọi người về sự cao trọng của con người, về sự sống đời sau, qua các việc lành, việc sống đạo chân thành của chúng ta để mọi người nhận ra tình thương cứu chuộc của Chúa mà được sự sống đời đời.

 

TN32-C82: CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN

Lc 20, 27- 38
Anh chị em thân mến.
 

Chúng ta có dịp nhìn những đứa trẻ, chúng tổ chức những trò chơi, dường như một xã hội : TN32-C82

Chúng ta có dịp nhìn những đứa trẻ, chúng tổ chức những trò chơi, dường như một xã hội đang hiện hữu dưới cái nhìn của chúng. Thí dụ như chúng chơi trò làm vua. Chúng có tổ chức của một triều đình, có những quan án xét xử thưởng phạt cũng rất nghiêm minh.
Những quân lính biết tuân phục cấp trên cách hết sức hoàn hảo, nếu cần phải chết, chúng sẳn sàng chết. Những kẻ có lỗi cần chịu những hình phạt, chúng vui lòng nhận lãnh. Một xã hội có nề nếp, được tổ chức hết sức chu đáo. Nhưng nó chỉ tồn tại trong phút chốc nào đó. Khi lủ trẻ trở về với đời sống thật của chúng, thì những gì chúng đã thực hiện, giờ đây không còn cần thiết nữa, vì giờ đây chúng có một cuộc sống hoàn toàn khác với những gì là của chúng. Giờ đây chúng có một cuộc sống mà chúng không còn phải lo lắng gì nữa, vì đã có cha mẹ và những người có trách nhiệm lo lắng cho chúng, chúng cứ yên tâm tuân theo và tận hưởng.
Nếu trong cuộc sống đời thường đó có đứa trẻ nào vẫn còn ảnh hưởng cuộc chơi, cứ đòi làm vua hay làm việc gì trong cuộc chơi mà nó đã thưc hiện, thì chắc nó sẽ được nhắc nhở để quay về cuộc sống thật chứ không phải cuộc chơi.
Chúa Giêsu nói với những người thuộc phái Saducêô khi họ đến chất vấn Ngài về sự sống lại. Họ dùng những hình ảnh của cuộc sống đời này để chất vấn Chúa Giêsu về đời sau, nên Ngài nói: Các ông thật sai lầm, khi sống lại con người sống như ThiênThần, không có cưới vợ lấy chồng. Sự sống đời sau là sự sống Thiên Chúa ban cho con người, chứ không phải con người tự tạo nên được. Con người chỉ có thể vào đó để tận hưởng khi có đủ điều kiện.
Còn những người đến hỏi Chúa Giêsu, họ ngoan cố trong ý nghĩ của mình, không chấp nhận ý kiến của người khác, chỉ có chính họ mới tốt, mới đúng, còn của người khác thì không có gì là hay, nên không cần phải nghe theo. Chính vì thế, họ tự mãn trong cuộc sống đời này, tự mãn trong cái mà họ sẽ phải bỏ nó trong một ngày không xa, nhưng họ vẫn tiếc nuối nên muốn lôi kéo những gì họ có được theo họ suốt cuộc đời. Nhưng Chúa Giêsu nhắc nhở: Các ông thật sai lầm, sự sống lại không phải như cuộc sống hiện tại nầy.
Cách suy nghĩ của những người Saducêô ngày xưa vẫn còn âm vang còn tồn tại cách mãnh liệt cho ngày hôm nay, nơi mỗi người chúng ta. Mỗi người cũng có cái để tự hào, để khẳng định mình. Nhưng khẳng định mình không phải là ngoan cố trong ý kiến của mình, ngoan cố trong cách suy nghĩ của mình. Khẳng định mình không cần phải làm những điều lạ lùng, nhưng hãy làm những gì là chính đáng và cần thiết, khi đó chúng ta không cần khẳng định, nhưng chính Thiên sẽ đưa chúng ta lên đúng vị trí mà Ngài muốn.
Nếu chúng ta cứ ngoan cố trong cách suy nghĩ, trong việc làm của mình, thì chúng ta không phải giống như những đứa trẻ chơi trò trẻ con. Nhưng những đứa trẻ đã chơi và đã nghỉ, còn chúng ta cứ bám vào cuộc chơi, trò chơi của cuộc đời mà chúng ta cứ ngở là thật. Như vậy khi trò chơi kết thúc, chúng ta sẽ là gì? Khi cuộc sống này qua đi, chúng ta sẽ còn lại điều gì? Có khi nào chúng ta suy nghĩ và đặt vấn đề thật nghiêm túc cho cuộc sống, để chúng biết chuẩn bị cho cuộc sống mai sau thật tốt.
Hiện tại chúng ta có thể làm được, đó là biết lắng nghe Thiên Chúa dạy bảo trong từng giây từng phút của cuộc đời, trong từng biến cố của cuộc sống. Những hồng ân Thiên Chúa ban trong hoàn cảnh sống. Nếu chúng ta nhìn thấy và nhận ra Chúa thì hạnh phúc cho chúng ta biết bao, vì khi đó mỗi người biết tận dụng hồng ân của Chúa mà chuẩn bị cho cuộc sống mai sau.
Nếu chúng ta tin có sự sống đời sau mà không lo chuẩn bị, chỉ biết lo những gì là hiện tại, chỉ biết tìm những lợi lộc, những thú vui, chỉ biết thoả mản những ước muốn của mnh mà không nghĩ đến hậu quả mai sau mình sẽ như thế nào, khi đó, chúng ta có khác gì những người thuộc nhóm Saducêô ngày xưa. Khi đó Chúa Giêsu sẽ nói gì, chắc Ngài cũng sẽ lập lại những lời khi xưa: Các ngươi thật sai lầm. Nếu như thế thì vô phúc cho chúng ta quá.
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa ban ơn thêm sức mạnh cho mỗi người biết lắng nghe lời Chúa, biết dùng những gì Thiên Chúa ban trong hiện tại mà biết chuẩn bị cho sự sống mai sau theo thánh ý Chúa.

 

TN32-C83: CÓ LINH HỒN BẤT TỬ KHÔNG?

CÓ SỰ SỐNG ĐỜI SAU KHÔNG?
Lc 20, 27- 38
Cđ : “Người ta ở đời này mới cưới vợ lấy chồng, những ai đáng hưởng phúc đời sau, thì không cưới vợ, cũng không lấy chồng nữa” (Lc 20, 34-35)
Anh chị em thân mến,
 

Trong quyển truyện Ngụ ngôn của nhà văn Pháp La Fontaine, có kể câu chuyện Thần chết và Lão: TN32-C83

Trong quyển truyện Ngụ ngôn của nhà văn Pháp La Fontaine, có kể câu chuyện Thần chết và Lão tiều phu. Câu chuyện kể rằng: bác tiều phu, buổi chiều tối, trên đường đi đốn củi về, bác vừa đi vừa than van trách phận: tại sao cuộc đời quá vất vả, chẳng lấy ngày nào là sung sướng…Trong cơn bực tức bác rủa trời, rủa đất, bác còn van nài thần chết đến đem bác đi cho rãnh…Nhưng bất thần, thần chết hiện đến thật, tay cầm lưỡi hái sáng choang… gọi bác đi ngay… Bác tiều phu lúc này sực tỉnh cơn mê…sợ hải tột cùng, bác thay đổi thái độ lập tức. Thay vì cầu thần chết đem mình đi, bây giờ chính bác lại van nài thần chết cho bác được tiếp tục sống. Bác quì mọp dưới đất lạy thần chết, lạy như tế sao… Câu chuyện ngụ ý: sống trên đời này dù vất vả cở nào, ai cũng muốn và cũng ham sống….Bài Tin Mừng hôm nay, nhân vì phái Sađốc không tin có đời sau, không tin linh hồn bất tử, không tin cuộc sống đời sau….nên có cuộc tranh luận giữa họ và Chúa Giêsu. Xin mời chúng ta suy niệm.
a/. Phái Sađốc là nhóm tư tế cao cấp trong đạo Do Thái. Họ có quyền cả về sinh hoạt tôn giáo và chính trị Do Thái từ trước thời Đức Kitô. Họ chấp nhận Ngũ kinh, coi Môisen là tiên tri vĩ đại. Nhưng họ không tin linh hồn bất tử và không tin có sự sống lại. Chính vì những điều này mà họ kình địch với nhóm Pharisêu. Họ căng thẳng với quân Rôma nên dẫn đến Rôma phá hủy đền thờ Giêrusalem năm 70. Phái này vì không tin có sự sống lại, linh hồn bất tử, nên nhóm biệt phái kỳ thị họ. Còn các luật sĩ, ký lục: là nhóm thông thạo luật pháp Do Thái và thân thiết với Biệt Phái, nhóm này cũng chống lại phái sađốc.
Nhóm Sađốc bày ra câu chuyện trên để hỏi Chúa Giêsu, vừa để đả kích hai phái Pharisêu và kinh sư nữa. Câu chuyện họ bày ra để hỏi Chúa Giêsu thoạt nhìn thật có lý: bảy anh em trai, cùng cuới một cô gái, đều không con, và đều chết hết, vậy khi sống lại, ai là vợ của bảy người anh em này? Vậy mà khi nghe Chúa Giêsu trả, họ hoàn toàn thán phục Chúa…
b/. Trước những cái chết bất ngờ, nhất là của những người trẻ, làm sao người ta không băn khoăn tự hỏi: có sự sống đời sau không? Đời sống đó sẽ ra thế nào? Niềm tin của nhiều tôn giáo, ngay cả của những dân tộc thiểu số vẫn tin có cuộc sống của những người chết, do đó người ta đốt tiền giả, cúng tế, chia của cho người chết dù niềm tin đó không chắc chắn lắm. Hội Thánh Công Giáo tin có đời sau, có thưởng phạt, thiên đàng hỏa ngục và điều đó đã trở thành một điều buộc người Kitô hữu phải tin. Chính bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu xác định rõ Ngài là Đấng Cứu Thế, của kẻ sống cũng như kẻ chết. Giáo huấn của Chúa Giêsu về cuộc sống hiện tại hay mai sau rất rõ ràng:
- Cuộc sống trần gian mới có dựng vợ gả chồng, cuộc sống mai sau là vĩnh cửu, không còn chết nữa nên cũng không cần lấy vợ lấy chồng nữa. Lúc đó, họ sánh ngang với thiên thần, vì họ là con cái Thiên Chúa, và đây là những người được sống cuộc sống mới hoàn toàn biến đổi thiêng liêng, không thuộc trần gian bất hoại bất tử. Nếu chúng ta hiểu, không thuộc trần gian bất hoại bất tử nữa, thì cần gì phải có vợ có chồng?
c/. Gợi ý sống và chia sẻ: Tin vào Thiên Chúa tức là tin vào cuộc sống hạnh phúc muôn đời, vì thế nếu khi ta quá gắn chặt vào đời sống vật chất này, thì làm sao ta không thể đồng thời bước vào cuộc sống vĩnh cửu cùng Thiên Chúa.
Bao lâu nay ta có tin vào Thiên Chúa, vào sự sống mai sau không? Ta đã sống thế nào để thể hiện lòng tin đó?

 

TN32-C84: HẠNH PHÚC ĐỜI SAU

Lc 20, 27- 38
 

Dường như hơn bao giờ hết, ngày nay con người sống trong phập phồng lo sợ. Lo sợ vì bao: TN32-C84

Dường như hơn bao giờ hết, ngày nay con người sống trong phập phồng lo sợ. Lo sợ vì bao nhiêu tai nạn giao thông xảy ra hằng ngày. Lo sợ vì sự an toàn thực phẩm và nổi lo sợ lớn nhất có lẽ là chết. Đang khi đó nổi khao khát lớn nhất của con người là được sống hạnh phúc. Hạnh phúc làm sao được khi phải sống trước bao nỗi lo sợ. Vậy con người có thể sống hạnh phúc không? Trước hết, với niềm tin Kitô giáo, chúng ta phải khẳng định hạnh phúc thật chỉ có được sau cuộc sống trần thế này. Nói vắn tắt là hạnh phúc đời sau.
Hôm nay, qua đoạn Tin mừng chúng ta thấy những người thuộc phái Sađốc đã đặt ra một tình huống để gài bẫy Chúa Giêsu. Họ là những người không tin có sự sống đời sau. Họ đặt ra tình huống là có người phụ nữ phải lấy 7 người đàn ông làm chồng theo luật nối dõi của ông Môisen. Họ hỏi rằng sau khi sống lại người phụ nữ ấy sẽ là chồng của ai. Chúa Giêsu đã trả lời họ: “ Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại”.
Như thế, Chúa Giêsu đã cho mọi người chúng ta biết một trong những điều cần phải tin là sự sống đời sau. Sự sống đời sau hoàn toàn khác với sự sống đời này. Đời này chúng ta sống chỉ là tạm bợ, chỉ là chuẩn bị cho đời sau vĩnh cửu. Đời sau mới thật sự là hạnh phúc.
Hạnh phúc thật là tình trạng con người được thông hiệp mật thiết với Thiên Chúa Ba Ngôi. Con người được sống trong tình yêu của Thiên Chúa là nguồn sống của mình. Thật ra, tình trạng ấy ngay từ thuở ban đầu Thiên Chúa đã ban cho con người rồi. Nhưng tiếc thay tổ tông loài người vì bất tuân nên đã đánh mất. Từ đó, con người phải chấp nhận trải qua một thời gian thử thách ở đời này.
Mặc dù, con người bất tuân nhưng Thiên Chúa vẫn không bỏ mặc. Thiên Chúa luôn tìm mọi cách để giúp con người tìm lại hạnh phúc. Thiên Chúa đã ban chính Con Một mình xuống thế làm người để chuộc tội loài người. Qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã chỉ cho con người biết cần phải làm gì và sống thế nào để đời sau được hạnh phúc.
Có tin vào sự sống đời sau thì những gì chúng ta cố gắng sống tốt ở đời này mới có ý nghĩa và có giá trị. Hãy vâng theo lời dạy của Chúa Giêsu và nhất là đi theo con đường mà chính Chúa Giêsu đã đi để chuẩn bị cho cuộc sống đời sau. Chúa Giêsu đã cầu nguyện cùng Chúa Cha: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con ” . Do đó, mỗi người chúng ta hãy góp phần của mình để ước nguyện của Chúa Giêsu trở thành sự thật sau khi trời đất này qua đi.

 

TN32-C85: SỰ SỐNG LẠI

Lc 20, 27- 38
 

Đối với người không tin có sự sống lại, thì họ cho rằng chết là hết, chết là không được hưởng: TN32-C85

Đối với người không tin có sự sống lại, thì họ cho rằng chết là hết, chết là không được hưởng thụ nữa, không còn được gần người thân nữa, không còn vui chơi giải trí, chết là vĩnh viễn mất đi, do đó họ rất sợ khi phải đối diện với cái chết. Nhưng đối với người Kitô hữu, cái chết là cửa ngõ để đi vào sự sống đời đời, chính Đức Giêsu đã chết và sống lại, để xác tín niềm tin cho chúng ta là chắc chắn có sự sống đời sau.
Nếu như lý luận của những người Sa-đốc đúng thì cuộc sống ở trần gian không còn ý nghĩa nữa, nó như bèo trôi vô định hướng, không có bến đỗ. Tuy cuộc sống con người ở trần gian có thể gọi là: “thân phận tầm gửi”, nó bấp bênh không chắc chắn, mặc dù tư tưởng cùa người Việt Nam phần nào đã quen dần với cái chết. Người ta luôn quan niệm sinh- lão-bệnh -tử, bốn cái đau khổ mà bất cứ ai cũng phải chịu, tuy phải chấp nhận cái chết, nhưng với niềm tin dân gian họ vẫn cho rằng còn có cái gì đó ở phía sau cái chết. Nên người ta vẫn hay nói: “Chết là trở về đoàn tụ với ông bà”, hay “về bên kia suối vàng”, hoặc “thác là phể phách còn là tinh anh”. Nhất là qua việc họ giỗ chạp, cúng bái chứng tỏ phần nào trong tâm thức con người đã tin có sự bất tử. Niềm tin có sự bất tử trong tâm thức của người Việt Nam có phần nào giống giáo lý về sự sống lại của người Kitô giáo. Đức Giêsu đã nhiều lần nói về sự sống lại qua các dụ ngôn, người giàu có và Ladarô, dụ ngôn ngày phán xét, dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng lúa. Hôm nay, Đức Giêsu đã lấy Kinh Thánh để chứng minh cho người Sa-đốc thấy có sự sống lại. Người lấy chính một đoạn trong Ngũ Kinh, sách mà người Sa đốc công nhận để chứng minh Thiên Chúa đã hiện ra với ông Môisen trong bụi gai, và xưng là Chúa Áp-ra-ham của I-sa-ac và của Gia-cóp, và vị đó vẫn còn sống, vì Thiên Chúa là Thiên Chúa của kể sống, nên việc sống lại sau khi chết là điều chắc chắn phải có. 
Mỗi ngày Chúa nhật chúng ta đều tuyên xưng niềm tin phục sinh, khi kết thúc kinh tin kính:”tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”. Khi chúng ta tin vào cuộc sống đời sau, thì mới cho chúng ta niềm hy vọng ở giây phút hiện tại. Với đời sau, đời sống hiện tại của chúng ta trên trần gian là một cuộc hành trình đi về miền đất hứa của đời sống vĩnh cữu. Khi con người không tin vào sự sống lại thì tự nhiên bị rơi vào thế mất quân bình đưa họ vào sự sống buông thả, không còn qúy trọng chính bản thân mình và người khác. Cho nên, họ chỉ biết làm sao thỏa mãn bản thân, bất chấp mọi cái, hưởng thụ hết ở giấy phút hiện tại, vì đối với họ đời sau không có nên không cần lo. Không tin vào sự sống lại dễ đưa con người đến kiêu ngạo tự mãn, từ đó gây nên những hành động tội ác, những cuộc đáng bom cảm tử, những băng đảng chém giết… những tội ác mà họ gây ra là vì không thấy mục đích mà đời người hướng tới. Họ mất niềm tin, mất định hướng, không biết mình sống ở đời này để làm gì. 
Không phải chỉ có phái Sađốc thời Đức Giêsu không tin có sự sống lại mà từ buổi đầu của Giáo hội sơ khai, sách Tông Đồ Công Vụ qua thơ Côrintô cho ta thấy có nhiều người không hiểu và chống lại đức tin Kitô giáo về sự phục sinh. Người ta luôn đặt ra những câu hỏi: “Ai sẽ được sống lại ? và sống lại như thế nào ?”. Đó thật là một câu hỏi khó có thể giải thích thõa man cho những người luôn muốn chống lại sự sống lại. Vi “Thân xác con người phục sinh như thế nào” là điều vượt qúa sực tưởng tượng và qúa tầm hiểu biết của chúng ta. Chúng ta chỉ có thể hiểu đựơc và biết đựơc nhờ đức tin. Do đó, những người Sađốc hôm nay không thể nhận ra được cho dù Chúa đã vạch ra cho họ thấy những sai lầm của họ, vì họ đến với Chúa không phải để nghe giáo huấn của Người, mà muốn bắt bẻ chống đối. Chúng ta thấy lập luận của Chúa Giêsu chứng tỏ một cuộc sống lại đời sau là hiển nhiên, và tất cả mọi người đều sống lại, nhưng kết qủa như thế nào tùy vào cuộc sống ta ở đời này. Do đó, bài Tin Mừng cũng là dịp thuận tiện để chúng ta suy nghĩ về lời tuyên xưng trong Kinh Tin Kính và xác tín rằng: Chết không phải là hết mà nó chỉ bắt đầu cuộc sống mới. 
Lạy Chúa, Chết và sống lại là một điều tất yếu, xin cho chúng con biết sống tốt giây phút hiện tại này, đặc biệt là trong những ngày cuối năm phụng vụ này, để ngày sau con cũng cùng được sống lại với Người.

 

TN32-C86: ĐỜI NÀY và ĐỜI SAU

Bạn đã làm người được bao nhiêu năm?  Chết hết làm người, bạn dự định sẽ làm gì? Sống và: TN32-C86

Bạn đã làm người được bao nhiêu năm?
Chết hết làm người, bạn dự định sẽ làm gì ?
Sống và chết là điều mà mọi người đều nghĩ tới. Và hơn thế nữa, ý nghĩa và cùng đích của cuộc đời này luôn luôn là điều mà ta hằng quan tâm suy nghĩ.  Ngay cả những người vô thần, dù không tin có cuộc sống ở đời sau, vẫn băn khoăn lo lắng cho những gì xảy ra sau khi ta chết: Lúc đó ta sẽ ra sao ? Sẽ làm gì ? Sẽ đi về đâu ? Về cõi trường sinh vĩnh phúc, hay nơi trầm luân đời đời ?
***
Bạn thân mến! Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến đời sau, nơi mà con người không còn đói khát nên sẽ không cần ăn uống.  Sẽ chẳng cần lấy vợ lấy chồng. Sẽ chẳng cần sinh con để nối dõi vì người ta không bao giờ chết nữa. Nhưng đời sau vẫn là một nhiệm mầu, vì chẳng ai tận mắt nhìn thấy đời sau, chẳng ai chụp hình quay phim được thiên đàng hay hỏa ngục.  Người đã chết cũng chẳng bao giờ trở lại đời này để kể cho ta nghe về đời sau. Bởi thế, nhiều người không tin có đời sau.  Đời sau là chuyện ở đâu đó, hoàn toàn xa lạ, cho nên con người bị cuốn hút bởi “tham sân si” của đời này, sống như thể chỉ có đời này, bám dính lấy đời này.
Thế nhưng, đời này được kết thúc bằng cái chết. Mọi người đều phải đi qua sự chết. Cái chết là cánh cửa mở ra cho con người đi vào cuộc sống mới ở đời sau. Nơi đó những người công chính không còn phải chết nữa, nhưng được sống lại, và sống đến muôn muôn đời.
Một số tôn giáo tin rằng đời người có nhiều kiếp.  Giáo lý Công giáo khẳng định chỉ có một kiếp người, đó là cuộc đời ta đang sống.  Chính cuộc đời duy nhất này định đoạt số phận của ta ở đời sau.  Lúc đó ta sẽ ra sao ?  Sẽ đi về đâu?  Về nơi trường sinh vĩnh phúc hay cõi trầm luân đời đời ? 
Chúng ta chỉ đi qua cuộc đời này một lần mà thôi, không có một cơ hội thứ hai để ta làm lại. Chính vì thế ta phải cố gắng nỗ lực sống hết mình trong cuộc đời này, để đời sau ta được sống lại với Thiên Chúa, vì “Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, và đối với Ngài, tất cả đều đang sống.” (Lc.20:38). Và đó cũng là cơ sở vững chắc cho ta mạnh dạn tuyên xưng đức tin trong kinh Tin Kính : “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”.
Lời Chúa hôm nay đem lại cho ta bao niềm hy vọng.  Hy vọng vì đời ta sẽ không đi trong bất định, không lạc vào hư vô, nhưng có một cùng đích là trở về với Thiên Chúa là cội nguồn của ta.  Đời ta sẽ không chìm đắm trong đau khổ, nhưng sẽ vươn lên trong hạnh phúc; hạnh phúc được làm con cái Thiên Chúa, hạnh phúc được chia sẻ sự sống siêu nhiên của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Chúng ta tin tưởng vững vàng và hy vọng chắc chắn rằng : Cũng như Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì sau khi chết, người công chính cũng được sống mãi với Đức Kitô Phục sinh và Người sẽ cho họ sống lại ngày sau hết. (GLHTCG, số 989)
***
Lạy Chúa Giêsu, trần gian này quá đẹp khiến con mải mê, quên mình là lữ khách. Thiên đàng lại xa xôi, chẳng có chỗ trong lòng con. Con loay hoay vun quén cho đời sống cá nhân, như thể con sẽ sống mãi trong cuộc đời này.  Xin khơi dậy trong con niềm khát khao những điều cao cả trên trời, và đừng để con mãn nguyện với những cái tầm thường nơi trần thế tạm bợ này. Amen .
Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: 2 Maccabees 7:1-2,9-14 - BĐ2: 2Thessalonians 2:16-3:5 – PÂ: Luca 20:27-38)
Linh Xuân Thôn

 

TN32-C87: KẺ CHẾT SỐNG LẠI

CHÚA NHẬT 32 TN C
Lc 20, 27-38
I- Ý nghĩa :
 

Chúa Giêsu đã long trọng tuyên bố về sự sống lại đời sau. Phúc Âm của Chúa là Phúc Âm sự sống: TN32-C87

Chúa Giêsu đã long trọng tuyên bố về sự sống lại đời sau. Phúc Âm của Chúa là Phúc Âm sự sống. Ai tin vào Đức Giêsu ,Ngài là Thiên Chúa hằng sống thì không bao giờ chết nữa.
1/ Những thắc mắc nhân sinh.
Người Sađucêô, họ đến chất vấn Chúa Giêsu về việc người chết sống lại. Nhóm này là một chi tộc người Do Thái,  ít hơn nhóm Biệt Phái,  họ kết thành phe đảng với giai cấp tư tế của đến thờ Giêsrusalem. Chúng ta có thể nói họ thuộc nhóm chính trị hơn là tôn giáo, họ rất bảo thủ, họ giới hạn mạc khải vào 5 cuốn sách trong toàn bộ Sách Kinh Thánh, họ phủ nhận sự sống lại của thân xác con người sau khi chết.
Đặt vấn nạn với Chúa Giêsu , họ đưa ra một ví dụ khá lạ kỳ, một lời khuyên luân lý hoàn toàn xác đáng của Lề Luật. Luật đòi buộc người đàn bà goá phải lấy em chồng để có thể sinh con nối dõi tông đường. Họ tưởng tượng một người đàn bà goá lấy tới 7 đời chồng. Từ đó họ đưa ra kết luận : Sau khi sống lại ai sẽ là người chồng của bà. Quả thực; câu chuyện sống lại thật là phi lý vô nghĩa , sự sống lại sẽ gây nên những tình cảm vô cùng phức tạp.
Một số người quan niệm :  Sau khi chết chính là cuộc sống hiện tại , khi họ được hoàn toàn thành công,  mỗi người tuỳ theo hoàn cảnh,  tính tình, cuộc sống sẽ là hôn nhân, tiếp tục đời sống gia đình hạnh phúc, được hoan lạc bình an trong công bình và chính trực.
Có người cho rằng thiên đàng tại thế không phải là cái gì quá xa vời,  nhưng là có ngay đời này, họ đạt được tức thời bây giờ. Họ tin vào sự tiến bộ khoa học vô hạn định của nhân loại, sự sống lại từ cõi chết không thể tin được.
Đối với người khác, họ quan niệm sau khi chết là một thế giới nhiệm mầu, đầy quyến rũ nhưng mù mờ, tương ứng với các hoài vọng về một thiên đàng trần thế.
2/ Lời giải đáp vấn nạn :
Chúa Giêsu áp dụng  ngay vào ví dụ của người đối thoại với Ngài,  họ đang chú trọng về đời hôn nhân và sự vĩnh tồn của hôn nhân sau khi chết.
Chúa Giêsu giải thích : Việc dựng vợ gả chồng chỉ hợp tình hợp lý trên trái đất này thôi,  không còn thích hợp với thế giới bên kia nữa. Trong thế giới khác,  khi sống lại từ cõi chết, người ta sống như các thiên thần, và ai cũng được no thoả hạnh phúc bất diệt trong Chúa, không còn nối dõi tông đường,  đời hôn nhân không cần thiết nữa.
a/ Chúa Giêsu xác quyết sau khi chết, con người nhân loại chúng ta sẽ trở nên “ giống như thiên thần ”: Điều này không có nghĩa là sau khi chết,  chúng ta chẳng còn là người nữa;  chúng ta sau khi chết vẫn là một con người đích thực;  nhưng con người đã siêu thoát khỏi thế tục, sự hiện hữu mới cũng khác với sự hiện hữu của con người tại thế.
b/ Chúa Giêsu xác quyết sau khi chết, con người  “  không còn phải chết nữa ” : Bởi vì con người sau khi chết đã  thoát khỏi những định luật của sinh vật học, thoát ra khỏi luật phát triển được quan niệm bằng những hạn từ như : đào thải, mỏng dòn, yếu đuối …và mọi người đều là “ con cái của Thiên Chúa hằng sống ”, một cuộc sống khác đến thay thế cuộc sống cũ, một cuộc khai sinh mới đã được thực hiện.
c/ Chúa Giêsu dựa vào Kinh Thánh để minh chứng sự xác tín của họ vào Tổ Phụ Mộisê , vị tiên tri vĩ đại vẫn còn đang sống giữa lòng  dân tộc Israel. Chúa Giêsu nói: “ Thiên Chúa là Chúa của Abraham, của Isaac, của Giacop…không phải Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Quả thật;  mọi người đều đang sống với Ngài ”.
II- Áp dụng bài học :
Câu trả lờí Chúa Giêsu thật quan trọng cho niềm tin của chúng ta hôm nay. Đây là lời giải đáp vấn nạn của người Sađucêô và cũng là giải đáp của cả toàn thể nhân loại chúng ta. Không ai có thể dựa trên sự sống trần thế này,  để bàn về sự sống đời sau. Phải Chính Chúa Giêsu, Ngài là Ngôi lời Thiên Chúa, Ngài từ Thiên Chúa xuống trần gian để giảng dạy cho chúng ta hiểu biết mầu nhiệm sự sống lại này.
Chúa Giêsu khuyên chúng ta đừng bao giờ có ai lộng ngôn xúc phạm đến Thiên Chúa , khi có quan niệm Thiên Chúa là Đấng bất toàn, khiếm khuyết , tầm thường như chúng ta .  Thiên Chúa của chúng ta là Đấng Toàn Năng vô biên rất đáng tôn thờ , Ngài đã yêu thương là yêu thương mãi mãi,  Ngài không thể để con cái của Ngài phải chết  mà không cho họ sống lại,  hoặc không cho người lành cùng chung hưởng phúc vinh quang với Ngài.
Vậy;  ai trong chúng ta chối bỏ sự sống lại đời sau , là chúng ta chống lại Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống chân thật. Nếu chúng ta tin vào Thiên Chúa là Chúa kẻ sống thì chúng ta hãy tín nhiệm và tin cậy vào Ngài, Ngài đang hiện hữu vô cùng tận.
Chúa mời gọi mỗi người kitô hữu chúng ta: Hãy tín thác vào Thiên Chúa hằng sống, Đấng luôn luôn yêu thương chúng ta và hết lòng ao ước mọi người  chúng ta một ngày nào đó sẽ được sống viêm mãn với Ngài trên thiên quốc . Ngay bây giờ chúng ta hãy tín thác và đặt hy vọng vào Đức Giêsu Kitô,  Đấng Phục sinh của chúng ta.gtình cannhusu1 hoàn toàn xác d
Giáo huấn của Giáo Hội : “ Nhờ đâu biết Chúa Giêsu sống lại ? Nhờ hai điều này. Một là Ngôi mộ trống không còn xác Chúa, mà chỉ còn lại những khăn niệm xếp ngay ngắn gọn gang. Hai là Chúa Giêsu đã hiện ra nhiều lần với các Môn Đệ, cùng ăn cùng uống và trò chuyện thân mật với họ . Chúng ta xác tín rằng : Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại “ ( GLCG 988-1004 )
Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Roma có viết : “ Quả thế; chúng ta đã được cứu độ, nhưng vẫn còn phải trông mong. Thấy được điều mình trông mong, thì không còn phải là trông mong nữa : vì ai lại trông mong điều mình đã thấy rồi ? ” ( Rm 8, 24 ).
III- Minh hoạ :
          Câu chuyện kể về một người tù nhân ở Nga Sô như sau: Tất cả các tù nhân phải bị lục xét rất kỹ lưỡng trước khi vào phòng giam. Một người đàn ông đã bị phát giác có một miếng giấy nhỏ ngậm trong miệng. Miếng giấy đó có ghi câu Kinh Thánh đã mang lại niềm hy vọng và sức mạnh cho ông trong nhiều năm tại các trại lao động khổ sai của Nga Sô.
Chúng ta có thể đoán ra câu Kinh Thánh nào đươc viết trong miếng giấy nhỏ đã an ủi ông trong suốt những năm tháng bấp bênh và bị tra tấn cùng cực trong ngục tù không ?
Đoạn Phúc Âm đó là : “ Ta là sự Sống Lại và là Sự Sống. Ai tin Ta, thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin ta, sẽ không bao giờ phải chết ”  ( Ga 11, 25 )
IV- Ý nguyện :
Thiên Chúa đã cho Đức Giêsu Kitô sống lại từ trong kẻ chết, để chúng ta có niềm hy vọng chắc chắn được hưởng gia nghiệp hạnh phúc đời đời.
Lạy Chúa !  xin nghe lời chúng con nguyện cầu và giúp chúng con luôn kiên vững niềm tin trong mọi thử thách và siêng năng làm việc lành phúc đức,  để dứng vững trong ngày Con Người ngự đến. Amen.

 

TN32-C88: SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXXII - 2001

Người Sađốc không tin có sự sống lại, và họ tìm được một vấn đề mà theo họ không có lời : TN32-C88

Người Sađốc không tin có sự sống lại, và họ tìm được một vấn đề mà theo họ không có lời giải đáp nếu có sự sống lại. Đức Giêsu tuy có câu trả lời cho thắc mắc của họ, nhưng Ngài không dựa vào đó để khẳng định có sự sống lại. Ngài đưa người ta trở về với niềm tin của Abraham, của Isaac, của Giacob, đúng hơn là đưa mọi người về với niềm tin truyền thống. Trong niềm tin ấy, dân Israel đã khẳng định Abraham,Isaac,Giacob tổ phụ của họ vẫn hiện diện trong dân tộc họ, không phải chỉ như những kỷ niệm không bao giờ quên, nhưng với tất cả uy quyền của sự sống trong Thiên Chúa, vẫn đang chở che và cầu phúc cho con cháu qua muôn thế hệ. Cách giải đáp của Chúa Giêsu cho vấn đề có sự sống lại, là vì theo mạc khải Thiên Chúa được Môsê kêu cầu là "Thiên Chúa của Abraham, của Isaac, của Giacob", và theo Đức Giêsu thì diều gì gắn liền với Thiên Chúa thì cũng mang sự sống vĩnh hằng của Người.
          Thánh Phaolô cũng khẳng định như thế khi trình bày với dân Thessalonica : "Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta và đã lấy lòng nhân hậu mà ban cho chúng ta niềm phấn khởi bất diệt...".
          Chính niềm tin truyền thống ấy đã làm nẩy sinh những chứng từ Tử Đạo ngay từ thời Cựu Ước như sách Macabêô đã thuật lại : mọi người Tử Đạo tin mình sẽ nhận lại sự sống từ tay Thiên Chúa, nếu họ trung tín liều chết để giữ trọn giao ước của Người.
          Chính vì sự sống lại gắn liền với giao ước của Thiên Chúa, nên niềm tin này cũng đã tiến triển theo lịch sử giao ước. Đây là một khía cạnh cần phải được suy niệm nhiều hơn trong thời đại chúng ta, thời đại mà cá nhân chủ nghĩa đang làm băng hoại mọi giao ước, và do đó cũng làm băng hoại chính Giao Ước của Thiên Chúa.
          Công đồng Vaticanô II trong hiến chế tín lý về Hội Thánh cũng đã long trọng nhắc lại niềm tin này trong khẳng định "Thiên Chúa không muốn cứu độ con người từng cá nhân riêng lẻ, nhưng kêu gọi họ làm thành một Dân Tộc." Trong cách nhìn ấy, mọi lề luật của Thiên Chúa không phải là những thứ để cưỡng chế hay làm mất tự do của con người, nhưng đó là những cam kết để đi vào Giao Ước yêu thương, nơi mà sự tự do đạt tới mức phong phú tột đỉnh, vì là tự do phục vụ cho sự sống.
          Nhưng thánh Phaolô nói "không phải ai cũng có đức tin" như vậy !
          Con người ngày nay thường có suy nghĩ rằng sự sống là lợi ích của cá nhân, và định luật cạnh tranh sinh tồn dường như là điều tất yếu của lịch sử. Thế nhưng thực tế lịch sử nhân loại cho thấy cách suy nghĩ ấy chỉ đem lại hết thảm họa này tới thảm họa kia. Người ta bảo rằng cái chiến tranh khủng bố có nguyên ủy từ lối sống vị kỷ của những giới lãnh đạo...muốn đẩy những dân tộc nghèo mạt vào đường cùng. Nhưng chính khủng bố cũng là một thái độ bảo vệ ích kỷ không kém. Chỉ có lối nhìn của Lời Chúa mới giúp nhân loại thoát ra khỏi cái ngõ cụt của mọi suy nghĩ và hành động tự sát này. Sự sống vốn là hồng ân gắn liền với Giao Ước, người ta phải xây dựng Giao Ước này trong những giao ước gia đình, bộ tộc, quốc gia và quốc tế, để cho gia đình, bộ tộc, quốc gia và nhân loại mãi mãi là lời tiên báo của sự sống và sự sống lại.
          Rõ ràng, có một sự khác biệt rất lớn, sự khác biệt giữa cuộc sống tại thế và cuộc sống đời sau như Đức Giêsu đã cho thấy trong cái giây hôn nhân. Tuy nhiên có một sự thống nhất nội tại giữa hai cuộc sống ấy : chính là cùng thuộc về Thiên Chúa hằng sống. Chối bỏ điều thống nhất nội tại này là nguyên nhân đưa đến cái chết của mình hay gây nên cái chết cho người khác.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

TN32-C89: Chúa Nhật thứ 32 Thường Niên

 (7-11-2004)
Cuộc sống hiện tại là để chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu
ĐỌC LỜI CHÚA
·        2Mcb 7,1-2.9-14: (9) Chúng tôi chết vì Luật pháp của Vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời.
·        2Tx 2,16-3,5: (16) Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta, đã dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp.
 ·       TIN MỪNG: Lc 20,27-38
Vấn đề kẻ chết sống lại
 (27) Có mấy người thuộc nhóm Xađốc đến gặp Đức Giêsu. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. (28) Mấy người ấy hỏi Đức Giêsu: «Thưa Thầy, ông Môsê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình. (29) Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. (30) Người thứ hai, (31) rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. (32) Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. (33) Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?»
 (34) Đức Giêsu đáp: «Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, (35) chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. (36) Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. (37) Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Môsê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Ápraham, Thiên Chúa của tổ phụ Ixaác, và Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp. (38) Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống».
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
 

Lập luận của Đức Giêsu nhằm giải đáp vấn nạn của nhóm Xađốc có vững chắc và khôn ngoan không: TN32-C89

1.      Lập luận của Đức Giêsu nhằm giải đáp vấn nạn của nhóm Xađốc có vững chắc và khôn ngoan không? Qua giải đáp ấy, Ngài mặc khải điều gì?
2.      Sau khi sống lại, thân xác sống lại của ta có phải là chính thân xác ta đang có không? Có gì khác lạ không? Có những nhu cầu như thân xác hiện tại không?
3.      Cuộc sống trần thế của ta hiện nay có ích lợi gì cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau không? Mọi sự xảy ra trong cuộc sống này có liên quan gì đến cuộc sống vĩnh cửu không? Liên quan thế nào?
Suy tư gợi ý:
1.      Bối cảnh của bài Tin Mừng
Không chỉ nhóm Pharisêu mà cả nhóm Xađốc cũng muốn gài bẫy Đức Giêsu. Nhóm Xađốc là phe bảo thủ trong giới lãnh đạo tôn giáo của Do Thái: các tư tế Do Thái thường xuất thân từ nhóm này. Nhóm này chỉ công nhận 5 cuốn sách do Môsê viết (Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số, Đệ Nhị Luật) là Thánh Kinh mà thôi. Trong những sách này, Môsê không hề đề cập đến việc sống lại, nên họ chủ trương không có sự sống lại. Việc sống lại để sống vĩnh cửu chỉ được đề cập đến trong những sách Cựu ước khác, chẳng hạn trong quyển thứ hai Macabê (như bài đọc 1 của Chúa Nhật này; xem thêm 2Mcb 12,43-44), sách ngôn sứ Isai (x. Is 26,19). Nhóm Pharisêu không chỉ công nhận giá trị mặc khải của 5 cuốn sách do Môsê viết, mà còn công nhận những sách khác nữa, nên họ chủ trương có sự sống lại. Do đó, hai nhóm luôn tranh luận và bất đồng ý kiến với nhau về vấn đề này.
Nay nhóm Xađốc muốn thử Đức Giêsu bằng một vấn nạn đã từng làm cho nhóm Pharisêu bị đuối lý, không trả lời được. Họ hy vọng cũng sẽ làm Ngài phải câm miệng. Nhưng Đức Giêsu đã dựa vào chính lời của Môsê – mà họ công nhận có giá trị mặc khải – để chứng minh lập trường của Ngài, khiến họ phải câm miệng. Nếu họ dựa vào Môsê để xác nhận không có sự sống lại chỉ vì ông không minh nhiên đề cập đến sự sống lại, thì Ngài cũng dựa vào chính Môsê để minh chứng ngược lại. Nhóm Pharisêu vì thế cũng phải bái phục Ngài: «Mấy người thuộc nhóm kinh sư lên tiếng nói: “Thưa Thầy, Thầy nói hay lắm!”» (Lc 20,39).
2.      Lập luận của Đức Giêsu về sự sống lại
Giả thiết của người Xađốc về 7 anh em trai làm chồng của cùng một người phụ nữ xuất phát từ luật Môsê: «Khi có những anh em ở chung với nhau, và một trong những người đó chết mà không có con trai, thì vợ của người chết không được lấy một người xa lạ, ngoài gia đình; một người anh em chồng sẽ đến với nàng, lấy nàng làm vợ và chu toàn bổn phận của một người anh em chồng đối với nàng. Đứa con đầu lòng nàng sinh ra sẽ duy trì tên của người anh em đã chết; như vậy tên của người chết sẽ không bị xoá khỏi Ítraen» (Đnl 25,5-6). Người Xađốc đặt vấn đề: như vậy, giả như có sự sống lại, thì người phụ nữ ấy sẽ là vợ của ai? – Trả lời câu đó không xuôi thì ai chủ trương có sự sống lại sẽ bị đuối lý.
Để trả lời vấn nạn ấy, Đức Giêsu dùng chính lời của Môsê tường thuật về việc Thiên Chúa hiện ra với ông lần đầu trên núi Sinai. Thiên Chúa phán với ông: «Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Ápraham, Thiên Chúa của Ixaác, Thiên Chúa của Giacóp» (Xh 3,6). Trong sách Đệ Nhị Luật, Môsê minh xác rằng Thiên Chúa phán với ông hôm đó là «Thiên Chúa hằng sống» (Đnl 5,26). Nếu Ngài hằng sống, thì Ngài không thể là Thiên Chúa của người chết, mà chỉ có thể là Thiên Chúa của người sống. Khi phán với Môsê câu trên, thì các tổ phụ Ápraham, Ixaác, Giacóp đã qua đời. Nếu Thiên Chúa hiện ra với Môsê vẫn xác nhận rằng Ngài là Thiên Chúa của các tổ phụ ấy, thì chứng tỏ các tổ phụ vẫn đang sống, vì Ngài không thể là Thiên Chúa của những người chết. Nếu các tổ phụ ấy không còn sống, thì Thiên Chúa đã không phán với Môsê như vậy!
Còn người đàn bà có 7 người chồng kia sau khi sống lại sẽ là vợ của ai? Thật khó chấp nhận được bà ấy lại làm vợ cùng một lúc của tất cả 7 người đàn ông kia (hiểu ngầm có những sinh hoạt vợ chồng như ở trần gian)! – Đức Giêsu trả lời: «Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng». Ý Ngài muốn nói: sau khi sống lại, thân xác con người không còn những nhu cầu như khi còn tại thế nữa. Vì thân xác con người sẽ được biến đổi, tuy vẫn là chính là thân xác cũ, nhưng lại rất khác với thân xác cũ.
Thánh Phaolô minh họa tương quan giữa thân xác cũ và thân xác sống lại như hạt lúa và cây lúa do hạt ấy mọc lên (x.1Cr 15,35-38). Cây lúa là chính hạt lúa ấy biến đổi mà thành, nhưng lại rất khác với hạt lúa. Cũng vậy, thân xác sau khi sống lại rất khác với thân xác hiện nay, dù cũng chính là thân xác đó. Phần nào tương tự như thân xác của tôi hiện nay cũng chính là thân xác của tôi hồi còn con nít, nhưng rất khác với thân xác hồi ấy. Về sự khác biệt nhưng vẫn chính là một giữa thân xác sống lại và thân xác hiện nay, thánh Phaolô viết tiếp: «Việc kẻ chết sống lại cũng vậy: gieo xuống thì hư nát, mà trỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà trỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà trỗi dậy thì mạnh mẽ; gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà trỗi dậy là thân thể có thần khí» (1Cr 15,42-44).
Vì thế, sau khi sống lại, con người không còn nhu cầu sống theo vợ chồng như ở trần gian, nên không còn vấn đề người nào là chồng hay là vợ của ai. Lúc đó, họ đều «là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại», và đều là anh em với nhau, có cùng một người cha chung là Thiên Chúa.
3.      Suy tư về sự sống lại
Sự sống ở trần gian này chỉ là tạm bợ so với sự sống vĩnh cửu đời sau. Tương tự như sự sống dài 9 tháng của ta trong bụng mẹ so với sự sống «ba vạn sáu ngàn ngày» tại thế của ta sau khi ta sinh ra. Nếu trong bụng mẹ mà ta biết suy nghĩ, hẳn sẽ có rất nhiều điều ta không sao hiểu nổi và ta cho là vô cùng phi lý. Tại sao Thiên Chúa, Đấng tạo dựng ta, lại để ta sống tối om và chật chội thế này? Đôi mắt dùng để nhìn có ích gì trong cảnh tối om này? Đôi tay để cầm nắm, để làm việc, đôi chân để đi lại có ích gì trong cái không gian chật chội ấy? Rất nhiều điều phi lý mà với kinh nghiệm của một bào thai ta không thể hiểu nổi! Khi ấy, ta có cảm tưởng rằng Đấng dựng nên ta thật là phi lý đến độ ngu xuẩn vì đã dựng nên những thứ thật là vô ích, chỉ làm chật chội thêm cái không gian vốn đã quá chật chội! Nhưng khi ra chào đời và lớn lên, ta mới biết đời sống trong bụng mẹ chỉ là tạm bợ hầu chuẩn bị cho cuộc sống kéo dài sau đó. Lúc đó ta mới thấy sự hiện hữu của đôi mắt và đôi tay không phải dùng cho cuộc sống bào thai, mà cho cuộc sống sau khi chào đời.
Cũng vậy, ta không chỉ sống có cuộc sống trần thế hiện tại. Đức Giêsu cho ta biết thân xác ta sẽ sống lại để sống một cuộc sống khác lâu dài vô cùng: cuộc sống vĩnh cửu. Cách thế hiện hữu sau khi sống lại rất khác với cách thế hiện hữu hiện nay. Và cuộc sống hiện nay chỉ là để chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu ấy. Nếu Thiên Chúa đã chuẩn bị cuộc sống tại thế này cho ta từ cuộc sống trong bào thai một cách rất hoàn hảo, thì chắc chắn Ngài cũng đang chuẩn bị cuộc sống vĩnh cửu cho ta từ trong cuộc sống hiện tại này một cách thật hoàn hảo.
Rất nhiều điều ta hiện nay không thể hiểu nổi và cho là vô cùng phi lý (chẳng hạn những nghịch cảnh, những đau khổ, những oan trái, v.v…) thì rồi ta sẽ thấy chúng vô cùng hữu lý khi ta bước vào đời sống vĩnh cửu. Rất có thể đời sống vĩnh cửu của chúng ta sẽ mỗi người mỗi khác, nên Thiên Chúa đang chuẩn bị cuộc sống ấy cho chúng ta mỗi người mỗi cách. Nhất cử nhất động xảy ra trong cuộc sống này của ta đều không vượt ra ngoài sự quan phòng của Ngài. Nếu «tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi» (Mt 10,30), thì chắc hẳn không một sợi nào rơi xuống, không một biến cố nhỏ nào xảy ra mà ra ngoài được ý muốn của Ngài. Vì thế, người có đức tin đích thật luôn nhận ra thánh ý Thiên Chúa trong mọi biến cố của cuộc sống và vui vẻ chấp nhận cho dù mình không sao hiểu được. Vì họ tin rằng: «Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người» (Rm 8,28).
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, thân xác này sẽ sống lại để sống vĩnh cửu là một trong những niềm tin căn bản nhất của Kitô giáo. Con tin chắc rằng những gì đang xảy ra với con trong cuộc sống ngắn ngủi này đều nằm trong ý muốn quan phòng của Cha, đều do Cha cho phép xảy ra để chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu của con sau này. Vì thế, con sẵn sàng chấp nhận tất cả với lòng tin tưởng vào tình yêu vô biên của Cha dành cho con. Xin Cha hãy củng cố niềm tin nơi con.         
Joan Nguyễn Chính Kết

 

TN32-C90: CÓ SỐNG LẠI KHÔNG ? HÃY TÌM HIỂU…

CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 20, 27-38
 

Có sống lại không ? chết rồi con người sẽ đi đâu ? Đây là những vấn nạn cần phải suy nghĩ, tìm: TN32-C90

Có sống lại không ? chết rồi con người sẽ đi đâu ? Đây là những vấn nạn cần phải suy nghĩ, tìm hiểu và giải quyết. Bởi vì, tự bản tính con người là loài hay chết : con người hợp thành bởi xác và hồn, có hợp thì có tan. Nhưng khi tạo dựng con người nguyên tuyền, Thiên Chúa ban cho con người đặc ân rất đặc biệt và cao quí: “ Con người không phải chết”, mà sau cuộc sống trần gian sẽ được Chúa đưa lên trời cả hồn lẫn xác để hưởng hạnh phúc đời đời cùng Chúa. Tuy nhiên, con người đã phản nghịch lại Thiên Chúa, do đó, đặc ân không phải chết được Chúa cất đi. Vì tội, nên con người tất cả đều phải chết. Nên, hữu sinh tất hữu tử !
CUỘC SỐNG HÔM NAY SẼ QUYẾT ĐỊNH CHO CUỘC SỐNG MAI SAU : Đáng lẽ con người sẽ chẳng bao giờ phải chết, nếu ông bà tổ tiên không bất tuân lệnh truyền của Chúa. Và Chúa tuyên phạt Adong khi phạm tội:” Vì ngươi theo vợ mà ăn trái cây Ta đã truyền cho ngươi rằng ngươi không được ăn, thì đất đai hãy là đồ chúc dữ vì cớ ngươi, có đau lkhổ ngươi mới nhờ được nó mà có ăn mọi ngày đời của ngươi. Những gai cùng góc sẽ mọc lên cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ bả ngoài đồng nội. Ngươi phải đổ mồ hôi đẫm mặt mới có bánh mà ăn, cho đến lúc ngươi trở về bụi đất.Bởi ngươi là bụi đất, ngươi sẽ trở về bụi đất “  (Stk 3, 17-19 ). Do tội nguyên tổ gây ra, nên trong con cái loài người không ai tránh khỏi cái chết. Người công giáo tin cái chết chỉ là ngưỡng cửa đưa vào chốn trường sinh. Con người mỗi người chỉ có một cuộc sống, cuộc sống đời này sẽ quyết định cho cuộc sống đời sau. Những công việc từ bi, bác ái, các việc thiện sẽ đảm bảo cho hạnh phúc ngày mai. Sống cái hiện tại với tất cả con người thật của mình. Sống tử tế, bác ái và làm việc phúc đức sẽ đảm bảo cho hạnh phúc mai sau. Chết là sự thực hiển nhiên vì có hợp phải có tan. Có sinh có chết. Đó là định luật tất yếu của con người. Còn đối với người Kitô hữu, vì có đức tin, nên tin rằng thân xác con người chắc chắn sẽ sống lại, nhưng sống lại để sống như thiên thần hay sống như loài quỷ dữ thì lại là một vấn đề. Chắc chắn thân xác con người sẽ sống lại, nhưng sống lại để được thưởng hay chịu phạt đời đời lại là một vấn đề khác con người cần phải quan tâm. Căn cứ vào đâu để Thiên Chúa thưởng phạt con người? Hôm nay, đời này quyết định số phận ngày sau. Do đó, con người phải biết dùng thời giờ, cơ hội, dịp để làm lành, tránh dữ. Đó cũng là đảm bảo con người được chết lành, là dấu hiệu báo trước con người sẽ sống lại để hưởng trọn vẹn hạnh phúc trong Nước Trời.
HÃY TÌM KIẾM NƯỚC TRỜI :Chuyện cô Bé quàng khăn đỏ đã bị mụ phù thủy bỏ thuốc độc, đã nằm yên như chết và cô Bé chỉ tỉnh dậy  khi các chú lùn phát hiện ra cô và giúp cô tìm lại sự sống. Cô Bé quàng khăn đỏnằm chết là hình ảnh của người Kitô hữu an nghỉ trong ơn nghĩa Chúa.Sau một giấc ngủ dài, người Kitô hữu được chính Đức Giêsu cầm tay nâng dậy, đưa vào tiệc cưới Nước Trời. Thánh Công Đồng Vaticanô II trong hiến chế: Giáo Hội trong thế giới ngày nay đã viết :” Trước cái chết, óc tưởng tượng của con người đành bất lực, nhưng Giáo Hội được mạc khải của Thiên Chúa dạy bảo, quả quyết           rằng con người được  dựng nên để đạt tới cứu cánh hạnh phúc sau những khổ cực trần thế này…”.Để giải bầy và tiết lộ bí mật về sự sống lại cho các người Xa đốc vốn không tin có sự sống lại, Chúa Giêsu đã cho hay rằng  : Đời sau khác hẳn đời này. Người ta không lấy vợ cũng chẳng lấy chồng vì con người đã trường sinh đâu cần gây nòi giống nữa. Con người lúc đó sống ngang hàng với các thiên thần ( Lc 20, 36 ). Thánh Phaolô đã viết:” Việc kẻ chết sống lại cũng vậy :…gieo xuống thì yếu đuối, mà chỗi dậy thì mạnh mẽ; gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà chỗi dậy là thân thể có thần khí “ ( 1 Co 15, 43-44). Con người sẽ không mãi mãi bị giam hãm trong sự chết mà tìm lại được quyền bất tử của mình. Chính vì thế, con người phải sống tốt, phải lắng nghe và thực thi lời Chúa, phải làm lành lánh dữ. Lời Chúa mời gọi con người suy nghĩ về ngày sau cùng của mỗi người. Trước khi lìa đời, con người thường bị vây hãm bởi những lo âu, run sợ trước cái chết, bởi những tiếc nuối thời gian, của cải, vật chất, bởi những đớn đau của bệnh họan, bởi sức tấn công củasự dữ, của ma quỷ vv…Trong những giờ phút ấy, lời Chúa sẽ là sức mạnh cho con người:” Bấy giờ ai ở miền Giuđê hãy trốn lên núi; ai ở trong thành hãy bỏ đi nơi khác; ai ở vùng quê thì chớ vào thành “. Con người rồi cũng phải rời bỏ thân xác, đành rằng thân xác đã cho con người những ngày tháng tốt lành. Con người phải thoát ra khỏi thân xác để đi vào ơn cứu dộ của Thiên Chúa.
          Lạy Chúa, xin cho chúng con biết tìm kiếm điều vĩnh cửu hơn là những sự tạm bợ mau qua của cuộc đời.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

TN32-C91: SỐNG

Chúa Nhật 32C Thường Niên.
 

Càng bị đe dọa, sự sống càng vùng dậy mãnh liệt.   Cái chết là một đe dọa lớn nhất và ghê: TN32-C91

Càng bị đe dọa, sự sống càng vùng dậy mãnh liệt.   Cái chết là một đe dọa lớn nhất và ghê sợ nhất.   Muốn vươn đạt tới sự sống vĩnh hằng, con người phải có một sức mạnh hơn tử thần.  Hôm nay, Đức Giêsu dẫn ta tới một cuộc sống trên cõi thiên thần.
HAI CUỘC SỐNG.
Cuộc sống rất tương đối.   Sự sống thật hữu hạn.   Thế nhưng niềm tin mở ra một chân trời mới.    Thế giới đang tiến về một đỉnh cao dành cho “những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết” (Lc 20:35)   Sống trong thế giới đó, con người không còn bị lệ thuộc vào những điều kiện vật chất hữu hạn nữa.    Tất cả đều “là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại.” (Lc 20:36)   Một cuộc lột xác hoàn toàn sẽ đem lại cho nhân loại một sự sống mới chưa từng thấy.
Sự sống bắt nguồn từ chính Thiên Chúa.   Bởi vậy, sự sống không thể thua sự chết, không thể bị tắc nghẽn vì những giới hạn tử thần.   “Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi ?   Tạ ơn Thiên Chúa, vì Người đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” (1 Cr 15:56-57)   Nếu không có Đức Giêsu, chắc chắn tất cả nhân loại sẽ bị tử thần khuất phục.   Đó là điều sỉ nhục đối với Thiên Chúa.  Nhưng Đức Giêsu đã phục sinh để chứng minh Thiên Chúa “không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống” (Lc 20:38) nhờ máu Đức Giêsu đổ ra trên thập giá.   Chính niềm xác tín vào sự sống như thế đã cho ta có quyền hi vọng vào chiến thắng cuối cùng của Thiên Chúa, Đấng “đã dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp.” (2 Tx 2:16)
Nếu chỉ nhìn theo nhãn quan trần thế, không thể nào có được niềm an ủi và cậy trông đó.   Nhóm Xađốc đã dựa trên hiện tại để củng cố “chủ trương không có sự sống lại.” (Lc 20:27)   Họ hoàn toàn căn cứ vào tương quan hôn nhân để phi bác cả một thế giới thiêng liêng, nơi con người “không thể chết nữa, vì được ngang hàng với thiên thần.” (Lc 20:35)   Chỉ trong cuộc sinh tồn đắp đổi này, con người mới cần đến hôn nhân để duy trì cuộc sống.   Còn trong cõi vĩnh hằng, tại sao cần phải duy trì sự sống bằng những phương tiện của thế giới vật chất nữa ?     Hai thế giới khác nhau không thể dựa trên cùng một nền tảng.   Lập luận của nhóm Xađốc hoàn toàn nằm ngoài qui luật  thiên giới.   Họ không thể vượt ra ngoài cõi tục để thấy được cuộc sống của con cái Thiên Chúa, vì họ không phải là con cái sự sống lại.   Cuộc sống đó thật là mầu nhiệm và siêu việt, nhưng lại rất thực tiễn vì đáp ứng được niềm ước vọng bất tử của nhân loại và vào chính sự phục sinh của Đức Giêsu.   Thật vậy, “nếu kẻ chết không sống lại, thì Đức Kitô đã không chỗi dậy.   Mà nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em.” (1 Cr 15:13.16)  Nếu niềm tin chúng ta hoàn toàn hão huyền, làm sao Kitô giáo lại có thể đem lại cho nhân loại một nền văn minh tốt đẹp như vậy ?   Thực tế, nhân loại đã được giải thoát khỏi xích xiềng tội lỗi nhờ cuộc phục sinh của Đức Giêsu.   Bởi thế, không thể không có sự sống lại.   Đó là niềm tin căn bản nhất và vững chắc nhất, chi phối toàn thể cuộc sống Kitô hữu.
Niềm tin đó đã bắt nguồn rất sâu xa trong Kinh thánh.   Quả thế, “hồi ấy, có bảy anh em bị bắt cùng với bà mẹ” (2 Mcb 7:1) dưới thời vua Antiôkhô.   Họ đã có tất cả sức mạnh chiến thắng tử thần nhờ “dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hi vọng sẽ được Người cho sống lại.” (2 Mcb 7:14)   Bao nhiêu cực hình đã không chiến thắng nổi niềm tin vững chắc và đầy quả cảm đó.   Nếu “luật pháp của cha ông” (2 Mcb 7:8) đã khiến cho họ có sức mạnh lớn lao đến thế, thì “Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.” (Rm 8:11) Thế nên, niềm tin vào sự sống lại được chính Ba Ngôi bảo đảm.  Niềm tin đó đang trổ sinh những mùa màng tươi tốt trên toàn thế giới.  
Như vậy Đức Giêsu đã dùng một lập luận vững chắc để phi bác niềm tin của phai Xađốc.   Lập luận đó căn cứ trên thực tế cuộc sống thiên thần và qui chiếu vào Kinh thánh.   Chính thực tại lớn lao là “Thiên Chúa của kẻ sống” đã đủ mạnh để áp đảo tất cả những lập luận bênh vực cho sự chết.   Đối với Thiên Chúa, không có vấn đề chết. Vì tất cả đã được Đức Kitô trả lại sự sống mới bắt nguồn từ Thiên Chúa.
MỞ RỘNG TẦM NHÌN.
Không có sự sống mới đó, cuộc sống hiện tại sẽ trở thành nhàm chán và vô nghĩa.   Nói khác sự sống lại không phải là sự nối tiếp cuộc sống hiện tại.  Bởi vậy vấn đề các người Xađốc đặt ra hoàn toàn “trật dơ”.  Sự sống lại khác tự bản chất, vì con người sẽ “ngang hàng với các thiên thần.” (Lc 20:36)    Không có niềm hi vọng sống lại, không thể đủ nghị lực và phấn khởi vượt qua những thách đố phi lý của cuộc sống hiện tại.  Trái lại, sự sống lại là động cơ thúc đẩy con người vươn tới những mục tiêu siêu việt.
Không mở rộng tầm nhìn, không thể thấy được tất cả ý nghĩa sự sống lại đem lại cho sự sống hôm nay.   Sự sống hôm nay đang dẫn tới cái chết.   Đó là một sự phi lý hoàn toàn.   Nhưng sự sống lại giúp con người hiểu được tại sao mình sống và đang đi về đâu.   Sự sống lại sẽ dẫn con người tới một sự thật : Thiên Chúa là “Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống.”  (Lc 20:38)   Nghĩa là, đối với các tín hữu, không gì, kể cả cái chết, có thể làm họ thất vọng.   Những người không có niềm tin vào “Thiên Chúa của kẻ sống”, chỉ thích chọn giải pháp dễ dãi của tử thần.   Chẳng hạn, những người chủ trương cho chết êm dịu, phá thai, triệt sản, khủng bố v.v hoàn toàn đóng khung tầm nhìn vào những giới hạn trần giới.  
Bởi đấy, cần phải mở rộng tầm nhìn vào cõi sống của “con cái sự sống lại” để tìm một giải pháp toàn diện cho những bế tắc hôm nay.   Nhưng đừng để bị những kẻ mơ mộng đánh lừa.   Họ có thể nhân danh sự sống đời sau để đẩy con người vào cõi chết.  Những kẻ khủng bố 11/9/2001 vừa qua cũng tin vào sự sống bất diệt nơi Thiên Chúa. Nhưng họ đã tạo ra bao đau thương cho chính mình và nhân loại.   Có một sự mâu thuẫn giữa cuộc sống hiện tại và tương lai trong niềm tin của họ.  Mặc dù có sự khác biệt sâu xa, nhưng niềm tin vào cõi bất tử không thể là một lối thoát cho những người tuyệt vọng như vậy.
Bởi đấy niềm tin vào sự sống lại chỉ chính đáng khi đem lại cho con người sức mạnh xây dựng cuộc sống hiện tại tốt đẹp hơn.   Niềm tin đó đang là điểm tựa cho nhiều người trong cuộc chiến chống lại tử thần.  Đó là lý do tại sao Kitô hữu không ngừng vận dụng mọi nỗ lực xây dựng nền văn minh sự sống, chống lại nền văn minh sự chết. Từ nay nhờ Đức Giêsu, trong văn minh sự sống Kitô hữu có thể đem lại niềm hi vọng lớn lao cho nhân loại.  
Tất cả đều “dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại.” (2 Mcb 7:14)   Lời hứa đó thực sự đã được thực hiện trên thập giá Đức Giêsu.  Chính Người “là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11:25) của chúng ta.   Không có Người, tất cả sẽ trở thành vô nghĩa và vô giá trị, vì tất cả bị thần chết tiêu diệt.   Nhưng nếu muốn thoát ách tử thần, Kitô hữu phải “đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hi vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết.” (Pl 3:10)   Thập giá là con đường dẫn tới sự sống và sự sống lại trong Đức Giêsu Kitô. 
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

TN32-C92: Chúa Nhật 32 Quanh Năm

Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh:       2 Thê-xa-lô-ni-ca 2:16 - 3:5
 

Bài đọc hôm nay nằm trong phần tạ ơn thứ hai (2:13-3:16). Thánh Phao-lô cảm tạ Chúa đã tuyển: TN32-C92

Bài đọc hôm nay nằm trong phần tạ ơn thứ hai (2:13-3:16). Thánh Phao-lô cảm tạ Chúa đã tuyển chọn anh chị em tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca "như quả đầu mùa, để được cứu độ nhờ Thần Khí thánh hóa và nhờ lòng tin vào chân lý" (2:13). Để kết thúc phần tạ ơn này, thánh Phao-lô hứa cầu nguyện cho họ (2:16-17) và cũng xin họ cầu nguyện cho mình (3:1-5). Như thế chúng ta thấy rõ ràng khi chọn đoạn thư này, Phụng vụ Lời Chúa muốn trình bày chủ đề về việc cầu nguyện cho nhau, như thánh Phao-lô cầu nguyện cho tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca và ngược lại.
          Nhưng tại sao lại cầu nguyện cho nhau? Nếu trở lại với chủ đề Chúa Nhật 31, chúng ta sẽ hiểu được lý do. Trong đoạn trước, thánh Phao-lô nói đến việc Chúa Ki-tô chắc chắn sẽ trở lại trong vinh quang để xét xử trần gian. Nhưng trước khi Người đến, sẽ là thời gian tên phản-Ki-tô tung hoành và xảy ra hiện tượng chối đạo quy mô. Do đó, đây chính là thời gian nguy hiểm cho số phận của mọi Ki-tô hữu, liệu họ có trung thành, "đứng vững và nắm giữ" (2:15) những giáo lý họ đã được dạy dỗ không. Đấy chính là mối ưu tư của vị tông đồ Dân ngoại và cũng là động lực để mọi người cần phải cầu nguyện cho nhau.
          Theo mạch văn của Thư, đoạn thư hôm nay được dùng để chuyển ý từ việc trình bày về Ngày của Chúa (2:1-12) sang việc nhắn nhủ những người sống buông thả, không chịu làm việc, cần phải tu chỉnh lại và sống kỷ luật (3:6-16). Dù chỉ là một chuyển ý, nhưng ý nghĩa của việc cầu nguyện cho nhau lại hết sức quan trọng đối với cuộc sống Ki-tô hữu chúng ta. Nó cho chúng ta thấy nhiều khía cạnh. Trước hết là khía cạnh thông hiệp của mọi phần tử trong Nhiệm Thể Chúa Ki-tô. Rất nhiều lần chúng ta được người khác xin chúng ta cầu nguyện cho họ, hoặc ngược lại, chúng ta xin họ nhớ đến chúng ta trong kinh nguyện. Nhưng có lẽ đó chỉ là những lời lẽ nói ra hay viết xuống theo thói quen, hoặc vì chúng ta hay họ đang gặp một khó khăn nào đó cần lời cầu nguyện, chứ không phải để nói lên tính cách liên đới của anh chị em con cùng một Cha trên trời. Chính tinh thần liên đới ấy đã được nói lên trong lời nguyện của thánh Phao-lô: "Xin Đức Giê-su Ki-tô và xin Thiên Chúa... an ủi và cho tâm hồn anh em được vững mạnh, để làm và nói tất cả những gì tốt lành" (2:16); hoặc: "Xin Chúa hướng dẫn tâm hồn anh em, để anh em biết yêu mến Thiên Chúa và biết chịu đựng như Đức Ki-tô" (3:5). Đọc kỹ lại những gì thánh Phao-lô cầu nguyện cho tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, chúng ta mới nhận ra được những nhu cầu đích thực và thiết yếu nhất của đời Ki-tô hữu. Không phải chỉ lúc nào cũng "xin cầu nguyện cho tôi được chóng khỏi bệnh, kiếm được việc làm, được đoàn tụ gia đình...", nhưng là "xin cầu nguyện cho tôi biết làm Ki-tô hữu đích thực, biết sống như con cái Thiên Chúa và anh chị em của Đức Ki-tô." Nếu mọi người đều biết cầu nguyện cho nhau và giúp nhau sống như những Ki-tô hữu đích thực, thì mối thông hiệp đã được thể hiện một cách trọn vẹn rồi.
          Một khía cạnh nữa là việc thánh Phao-lô xin tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca cầu nguyện cho ngài. Có lẽ chúng ta sẽ lấy làm lạ về việc này. Một người như Phao-lô mà lại khiêm tốn và thành khẩn xin tín hữu của mình cầu nguyện cho mình! Chúng ta tưởng Phao-lô là thần thánh hay sao? Không phải vậy đâu. Nhiều lần Phao-lô thú nhận mình cũng là con người yếu đuối, đã nhờ ơn Chúa mà chiến đấu và hoàn tất cuộc chạy đua của mình. Dù ở vai trò lãnh đạo, dạy dỗ tín hữu, nhưng Phao-lô lại cần lời cầu nguyện của người khác hơn ai hết (Ep 6:19-20). Việc tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca cầu nguyện cho Phao-lô và những cộng sự viên của ngài sẽ nói lên mối quan hệ mật thiết giữa chủ chăn với đoàn chiên, điều mà nhiều anh chị em tín hữu quên sót hoặc chưa ý thức đủ.
          Phao-lô cầu nguyện cho nhu cầu thiết yếu của tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca. Ngược lại, tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca cầu nguyện cho Phao-lô trong sứ vụ của ngài. Cả hai bên gặp nhau trong môi trường cầu nguyện, bởi vì trong cầu nguyện cũng có nghĩa là "trong Chúa" (3:4). Cả hai bên tạo nên một sự hài hòa và tương trợ nhau, trong khi cùng nhắm một mục đích và cùng trên hành trình tiến về Ngày của Chúa.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Cầu nguyện cho nhau vẫn bị coi là một đề tài cũ rích, "biết rồi khổ lắm nói mãi." Nhưng qua đoạn thư của thánh Phao-lô hôm nay, tôi đã học được những điều gì mới mẻ? Tôi có thể chia sẻ với nhóm không?
          Lời nguyện giáo dân trong Thánh lễ là một hình thức cụ thể nhất diễn tả ý nghĩa việc cầu nguyện cho nhau. Vậy tôi có thực sự chú tâm và thực sự tham gia vào việc cầu nguyện ấy không? Hay chỉ biết làm theo thói quen chờ cho hết câu xướng để thưa thật to "Xin Chúa nhậm lời chúng con" mà không biết là mình và cộng đoàn vừa cầu xin điều gì?
          Đoạn thư của thánh Phao-lô hôm nay giúp tôi nhận ra lý tưởng sống của Ki-tô hữu như thế nào?
          Tôi sẽ làm gì để tập cầu nguyện cho nhau? Cho Giáo Hội? Cho các linh mục? Cho anh chị em trong cộng đoàn, giáo xứ?...
Cầu nguyện kết thúc
          Trong cầu nguyện bộc phát, mọi người cầu nguyện cho nhau. Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát "Đâu có tình yêu thương..." (CNLT 58) hoặc "Bài ca hiệp nhất" (CNLT 178).
Lm. Đa Minh Trần Đình Nhi

 

TN32-C93: CHÚA NHẬT 32 QUANH NĂM

(Lu-ca 20:27-38)
 

Chương 20 sách Tin Mừng Lu-ca kể lại sinh hoạt của Chúa Giê-su tại Giê-ru-sa-lem.  Ngoài: TN32-C93

Chương 20 sách Tin Mừng Lu-ca kể lại sinh hoạt của Chúa Giê-su tại Giê-ru-sa-lem.  Ngoài việc giảng dạy Tin Mừng, có lẽ sinh hoạt bận rộn nhất của Người là đối phó với kẻ thù.  Lên Giê-ru-sa-lem là đi vào đất địch, vào đường thập giá và chỗ chết để làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa.  Ở đấy kẻ thù của Chúa Giê-su vây quanh Người, luôn “rình rập, dò la” để tìm cách làm cho Người bẽ mặt hoặc ám hại Người.  Các thượng tế, kinh sư và Pha-ri-sêu hạch hỏi và tìm cách nộp Người cho chính quyền.  Nhóm Xa-đốc thì muốn biến Chúa Giê-su thành trò cười cho thiên hạ.  Nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào Người cũng có thể lợi dụng để trình bày hoặc làm sáng tỏ một chân lý hữu ích cho cuộc sống của ta, thí dụ:  Của Xê-da, trả về Xê-da;  của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa.  Hoặc trong câu truyện Tin Mừng hôm nay:  Đức Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống.
 a)  Ý nghĩa cuộc sống con người
          Sau thất bại của nhóm Pha-ri-sêu gài bẫy Chúa về vấn đề có nên nộp thuế cho vua Xê-da hay không, giờ đến lượt nhóm Xa-đốc thử thách Người.  Họ không giả hình giả bộ như đám Pha-ri-sêu, nhưng dụng ý sắp đặt một câu truyện để bác bỏ sự sống lại và đưa Chúa Giê-su vào hoàn cảnh không thể có câu trả lời.  Họ đưa ra một trường hợp:  một người đàn bà lần lượt kết hôn với bảy anh em, từ người anh cả trở xuống, vì theo luật nếu người anh chết mà chưa có con thì người em kế cận phải tiếp nối hôn nhân ấy.  Chẳng người nào có con cái và tất cả đều chết.  “Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai?”  Chẳng lẽ bà ấy lại là vợ của cả bảy anh em sau khi sống lại!  Nói khác đi, đám Xa-đốc muốn đi từ sự kiện không thể có và nực cười ấy để đi tới kết luận rằng:  Bà ấy chẳng là vợ của người nào cả, vì chết là hết, và như thế không thể có sự sống lại.
          Nhưng thật là ngạc nhiên vì Chúa Giê-su đã bẻ gãy cạm bẫy của họ và còn nhân đấy dạy họ một chân lý.  Họ sử dụng luận lý của Kinh Thánh, trưng dẫn luật Mô-sê.  Đối lại, Chúa Giê-su cũng sử dụng luận lý của Kinh Thánh, dùng lời lẽ của ông Mô-sê gọi “Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp” làm bằng cớ.  Ta có thể hiểu lý luận của Chúa Giê-su như sau:  Các ông Xa-đốc nhận mình là con cháu của các tổ phụ và nhìn nhận điều ông Mô-sê gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của các tổ phụ.  Vậy nếu các ông bảo chết là hết thì các tổ phụ sẽ chẳng còn là gì nữa và như vậy không thể gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của các tổ phụ như ông Mô-sê đã gọi.  Cho nên phải kết luận là các tổ phụ vẫn đang sống trước mặt Thiên Chúa, mặc dù thân xác họ đang chờ đợi ngày sống lại, vì có như vậy thì ông Mô-sê mới gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của các tổ phụ.  Chúa Giê-su còn giải thích thêm:  “Vì đối với Thiên Chúa, tất cả đều đang sống.”  Sống và chết, hiện tại và quá khứ là của ta.  Nhưng đối với Chúa, Đấng vượt ra ngoài thời gian và không gian, tất cả đều hiện diện trước mặt Người.
          Sự sống của ta đến từ Thiên Chúa.  Sách Sáng Thế đã ghi lại một hình ảnh đẹp về nguồn gốc sự sống của ta.  “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St 2:7).  Người ban sự sống cho ta, vì chính Người là sự sống.  “Ta là Đấng Hiện Hữu”, danh của Thiên Chúa nói lên lý do tồn tại của các tổ phụ và của mọi người, nói khác đi, sự sống của ta là do sự hiện hữu vĩnh cửu của Thiên Chúa mà có, để ta có mặt ở thế giới này và sẽ được ở bên Chúa muôn đời.  Đó là ý nghĩa sự sống của ta.  Còn nếu ta không được ở bên Chúa đời đời thì sự sống của ta không còn ý nghĩa nữa.
 b)  “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10:10)
          Cuộc sống trần gian của ta trở nên chật vật và phải luôn phấn đấu, vì đó là hậu quả của tội nguyên tổ.  Nhưng Thiên Chúa, Đấng Hiện Hữu, không bỏ rơi ta trong tình trạng khốn khổ ấy.  Qua Chúa Giê-su, Người đến cứu giúp ta.  Như Đức Chúa chăn dắt đàn chiên Ít-ra-en, Chúa Giê-su nhân lành cũng chăm sóc ta như vị Mục tử chăm sóc đàn chiên mình.  Người nuôi dưỡng ta bằng Lời Tin Mừng của Người.  Người còn bổ dưỡng ta bằng chính Thân Thể bí tích của Người là Thánh Thể.  Người dùng các Bí tích để giúp cho ta được mạnh mẽ trong mọi lãnh vực:  sống làm con cái Chúa, sống ơn gọi của mình và được chữa lành mỗi khi đau yếu thiêng liêng và cả thể xác nữa.  Người đến để bảo đảm sự sống đời đời cho ta.  Nếu ta luôn nhận ra tiếng của Người và theo Người, Người sẽ dẫn ta đến sự sống đời đời (Ga 10:27).
 c)  “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11:25)
          Sau bài giảng về Mục tử nhân lành, Chúa Giê-su tuyên bố:  “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10:30).  Như thế có nghĩa là sự sống của ta là do Chúa Giê-su mà có.  Thánh Phao-lô cũng từng khẳng định điều này.  “Trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình” (Cl 1:16).  Ở nơi khác, thánh Phao-lô còn nói thẳng:  “Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô” (Pl 1:21).
          Điều có thể làm ta ngạc nhiên là khi nói với bà Mác-ta, Chúa Giê-su nói:  Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống, chứ Người không nói:  Chính Thầy là sự sống và sự sống lại.  Ta suy nghĩ bình thường theo biến chuyển thời gian:  sống, rồi chết, rồi sống lại và sau cùng là được sống đời đời.  Đối với cuộc sống trần gian, Chúa Giê-su mời gọi ta:  “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:28).  Nhưng cái nhìn của Chúa Giê-su ở đây là nhìn về sự sống vĩnh cửu.  Người mời gọi ta hãy chết đi cho con người tội lỗi của mình để sống cuộc sống lại trong ân sủng, cuộc sống mới của Người và sẽ được sự sống đời đời.
          Khi đặt lại vấn đề ý nghĩa sự sống qua lời khẳng định “Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống”, quả thực Chúa Giê-su đã đặt trước mặt ta một thách đố:  Nếu ta muốn Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa của ta, thì ta phải là những kẻ sống.  Muốn được gọi là con cái Chúa, ta phải giữ sao cho mối quan hệ Cha-con luôn sống động, đừng để cho tội lỗi cắt đứt mối quan hệ ấy.
 d)  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Tôi có thường cám ơn Chúa về sự hiện diện của mình ở trần gian này không?  Làm sao để tôi có thói quen năng cám ơn Chúa về hồng ân sự sống?
          Thánh I-nha-xi-ô Loyola diễn tả ý nghĩa cuộc sống qua điều ngài gọi là Nguyên lý và Nền tảng:  “Con người được dựng nên để ngợi khen, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa, và nhờ đó cứu rỗi linh hồn mình.  Mọi loài khác dưới đất cũng được tạo dựng cho con người, để giúp họ đạt tới cùng đích Đấng Tạo Hóa đặt cho họ.”  Vậy có khi nào tôi suy nghĩ và xác tín về mục đích của đời sống con người trên trần gian như thế không?  Suy nghĩ này sẽ giúp tôi sắp đặt lại cuộc sống thế nào cho đúng với mục đích?
          Thánh Phao-lô phát biểu:  Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô.  Lời này có ý nghĩa gì với cá nhân tôi?
          Mỗi ngày, trong giờ xét mình ban tối, tôi hãy trả lời câu hỏi:  Đối với tôi hôm nay, Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ chết hay Thiên Chúa của kẻ sống?
 Cầu nguyện:
          “Lạy Chúa Giê-su,
          khi ra thăm nghĩa địa,
          khi vào viếng phòng hài cốt,
          con hiểu rằng mình phải có lòng tin lớn lao
          mới dám nghĩ một ngày nào đó
          những thân xác hư hoại này sẽ sống lại.
          Con người trở về bụi tro,
          nhưng bụi tro sẽ trở lại làm người,
          vì con người sinh ra là để bất tử như Thiên Chúa.
          Lạy Chúa Giê-su,
          trần gian này quá đẹp
          khiến con mải mê, quên mình là lữ khách;
          thiên đàng lại xa xôi, chẳng có chỗ trong con.
          Con loay hoay vun quén cho đời sống cá nhân,
          như thể con sẽ sống mãi trên mặt đất.
          Xin khơi dậy nơi con niềm khát khao những điều cao cả.
          Xin đừng để con mãn nguyện với những cái tầm thường.
          Ước gì Chúa cho con nếm chút vị ngọt của trời cao,
          khi con quên mình để sống cho anh em trên mặt đất.”
                                      (Trích RABBOUNI, lời nguyện 47)
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN32-C94: CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN

(11-11-2001)
NGHE:
* Bài đọc 1: 2 Mcb 7,1-2.9-14:
 

Có bẩy anh em bị bắt cùng với bà mẹ. Vua An-ti-ô-khô cho lấy roi và gân bò mà đánh họ, để: TN32-C94

Có bẩy anh em bị bắt cùng với bà mẹ. Vua An-ti-ô-khô cho lấy roi và gân bò mà đánh họ, để bắt họ ăn thịt heo là thức ăn luật Mô-sê cấm. Thay mặt cho anh em mình, một người lên tiếng nói: "Vua muốn tra hỏi chúng tôi cái gì? Vua muốn biết điều gì? Chúng tôi sa#n sàng thà chết chẳng thà vi phạm luật pháp của cha ông chúng tôi."
Khi sắp trút hơi thở cuối cùng, anh (thứ hai) nói: Vua là một tên hung thần, vua khaitrừ chúng tôi khỏi cuộc đời hiện tại, nhưng bởi lẽ chúng tôi chết vì Luật pháp của Vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời."
* Bài đọc 2: 2 Tx 2,16-3,5:
Xin chính Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô, và xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta và đã dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp, xin các Ngài an ủi và cho tâm hồn anh em được vững mạnh, để làm và nói tất cả những gì tốt lành.
* Bài Tin Mừng: Lc 20,27-38: Kẻ chết sống lại
Có mấy người Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Mấy người ấy hỏi Đức Giê-su: "Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ và không có con, thì người ấy phải cưới nàng, để gây dựng một dòng giống cho anh hay em mình. Vậy nhà kia có bẩy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. Người thứ hai rồi người thứ ba đã lấy người vợ góa ấy. Cứ như vậy, bẩy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. Cuối cùng người đàn bà ấy cũng chết. Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bẩy đều đã lấy nàng làm vợ?"
Đức Giê-su đáp: "Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. Còn về vấn đề kẻ chết chỗi dậy, thì chính ông Mô-sê cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống."
NGẪM:
* Câu hỏi gợi ý:
1. Niềm tin vào cõi vĩnh hằng nơi người xưa và người hôm nay.
2. Có nhiều cách thể hiện niềm tin vào sự sống lại?
3. Cách nào là riêng của gia đình Khôi Bình chúng ta?
* Suy tư gợi ý:
1. Niềm tin vào sự sống lại của người xưa và của người hôm nay.
Sách 2 Mác-ca-bê được biên soạn vào khoảng năm 124 trước Công nguyên, có một tầm quan trọng đáng chú ý vì sách này chứa đựng những khẳng định rõ ràng về sự phục sinh, về thưởng hạt đời sau, về việc cầu nguyện cho người chết, về công trạng của các vị tử đạo, sự chuyển cầu của các thánh. Bài đọc 1 là câu chuyện tử đạo của bẩy anh em của một gia đình đã chết dưới bàn tay vua An-ti-ô-khô vì họ nhất quyết tuân giữ Lề luật của Thiên Chúa và xác tín rằng: sau khi chết, họ sẽ được Thiên Chúa cho sống lại. Đó là niềm tin vào sự sống lại của người xưa.
Ngày nay, cũng không thiếu gì người tin chắc chắn rằng chết không phải là hết, mà chết chỉ là một chuyển tiếp từ cuộc sống hiện tại sang cuộc sống vĩnh hằng, từ cuộc sống đời này sang cuộc sống đời sau. Đó là các tín đồ các tôn giáo trên thế giới. Nhưng không chỉ có những tín đồ các tôn giáo tin vào sự sống mai hậu mà còn có nhiều người khác ở ngoài các tôn giáo cũng tin vào điều ấy.
Nhưng chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng: bên cạnh những người tin vào sự sống lại, ngày nay cũng như ngày xưa có rất nhiều người không tin vào sự sống ấy. Tin hay không tin vào sự sống lại là quyền của mỗi người, nhưng để chứng minh lòng tin hay lòng không tin của mình là một vấn đề không đơn giản vì rất khó đưa ra những lý lẽ đủ sức thuyết phục, theo nhãn quan người trần.
2. Có nhiều cách thể hiện niềm tin vào sự sống lại?
Nếu chúng ta quan sát cách sống của các tín đồ các tôn giáo, tức của những người tin vào sự sống lại, chúng ta dễ dàng nhận ra có nhiều cách thể hiện khác nhau:
Vì tin vào sự sống đời sau, nhiều người sống thụ động, cam chịu tất cả mọi khó khăn, thử thách, thiệt thòi của cuộc sống đời này. Nhưng cũng vì tin vào sự sống lại, nhiều người vượt qua được những khó khăn thử thách và chấp nhận những hy sinh từ bỏ một cách lạc quan, tích cực và tin tưởng chứ không chỉ thụ động và cam chịu. Vì tin vào sự sống đời sau và cho rằng đó mới là sự sống thật, nhiều người tìm cách xa lánh "thế gian" tức khinh rẻ và trốn tránh các thực tại trần thế như gia đình, nghề nghiệp, xã hội loài người. để đi tìm một đời sống ẩn dật, thanh thoát, càng tách ra khỏi cuộc đời bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Nhưng cũng vì tin vào sự sống đời sau và cho rằng đời sống ấy là tiếp nối và là kết quả của cuộc sống đời này nên nhiều người sống dấn thân vào các công việc của trần thế: gia đình, nghề nghiệp, xã hội..để xây dựng thế giới này theo các giá trị của Tin Mừng.
NGUYỆN:
Lạy Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh, chúng con tin vào sự sống lại và xin hứa với Chúa là từ nay chúng con sẽ cố gắng hết sức mình để đem tinh thần của Chúa vào trong gia đình, khu xóm, xã hội của chúng con và thể hiện tinh thần ấy bằng các việc làm cụ thể như yêu thương, phục vụ, đoàn kết, xây dựng.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

 

TN32-C95: VĨNH HẰNG

Chúa nhật 32c thường niên (2004)
 

Một thiếu phụ trải qua bẩy đời chồng, và mỗi người đều có cưới hỏi đàng hoàng. Nói một : TN32-C95

Một thiếu phụ trải qua bẩy đời chồng, và mỗi người đều có cưới hỏi đàng hoàng. Nói một cách thực tế theo từ ngữ hiện thời, nàng đã lên xe hoa bẩy lần. Như vậy, trên nơi vĩnh hằng nàng sẽ là vợ ai? Ai sẽ là chồng của nàng? Nhóm Sađốc đã đưa ra câu hỏi này nhằm thách thức Chúa Giêsu, và ngụ ý chối bỏ sự sống lại, sự sống vĩnh hằng. Vì không lẽ ở trên Thiên Đàng, và ở đời sau người ta cũng cưới vợ, gả chồng, sinh con, đẻ cái; hoặc tranh dành vợ chồng với nhau sao?
Chối bỏ đời sau, không tin nhận giá trị của sống lại, cũng có nghĩa là chôn bám và chấp nhận giá trị của vật chất, của thế giới hữu hình. Đây có lẽ cũng là quan niệm và lối sống của nhiều người không riêng gì mấy người theo nhóm Sađốc. Tuy nhiên, một mặt nói là không tin có đời sau, nhưng dường như họ vẫn không chối bỏ sự hoài nghi về đời sau, nên họ đã muốn dùng hình ảnh người thiếu phụ với bảy đời chồng ấy, để dò hỏi, và để xem Chúa giải quyết cách nào nếu như thật sự có đời sau. Hiểu được tâm lý hụt hẫng, hoang mang, và nghi ngờ ấy, Chúa Giêsu đã nói với họ và cho tất cả những ai đang có cùng một thắc mắc về vĩnh hằng, rằng: “Con cái đời này lấy vợ, gả chồng, nhưng những ai được tuyển chọn và sống lại từ cõi chết không lấy vợ, gả chồng. Họ cũng không chết, mà là giống như các thiên thần. Là con cái của sự sống lại, họ cũng là con cái Thiên Chúa” (Lc 20:34-36). Vì theo Chúa Giêsu thì: “Thiên Chúa không phải là Chúa kẻ chết nhưng là Chúa của kẻ sống vì tất cả đều sống cho Ngài” (Lc 20:38). Câu trả lời của Chúa Giêsu đã đem lại một cái nhìn đầy xác tín về đời sau, về vĩnh hằng.
Trước hết, nó mở ra một nhãn quan về vĩnh hằng, và cho thấy rằng sự sống đời sau, Thiên Đàng và hỏa ngục là có thật., khi Ngài gọi những người được lên nơi cao xanh ấy là “những người được tuyển chọn và sống lại từ cõi chết”. Điều này cho thấy rằng là mọi người đều sống lại, tuy nhiên, chỉ có những ai được tuyển chọn mới sống lại để sống với Ngài mà thôi. Và lý do để ta có thể xác tín được điều này, chính là vì: “Thiên Chúa không phải là Chúa của kẻ chết nhưng là Chúa của kẻ sống”.
Nhưng sống lại rồi người ta sẽ làm gì trên chốn vĩnh hằng. Liệu rồi có diễn lại cảnh lấy vợ, gả chồng, sinh con, đẻ cái nữa không? Để trả lời câu hỏi này, Chúa Giêsu đã hé mở cho ta biết về sinh hoạt của con người trên nơi cao xanh ấy bằng một lối diễn tả cũng rất “cao xanh”, khi so sánh đời sống, và sinh hoạt của họ với các thần trời: “Người ta sống với nhau như các thiên thần”. Như vậy, trên nơi vĩnh hằng, con người vẫn là con người, vẫn có tình cảm, tình thương. Họ vẫn có trách nhiệm, vẫn có những ràng buộc liên đới với nhau, và vẫn trao đổi, thông cảm với nhau. Tuy nhiên, sinh hoạt của họ, tình cảm của họ, và cách thức trao đổi của họ không giống như con người tự nhiên qua lối diễn tả của xác thịt, của cái nhìn vật chất, đầy tính thế tục. Những hành động trực tiếp liên quan đến thân xác, hay việc làm vật chất như con người vẫn thường đối xử với nhau trong thế giới hữu hình không thể mang áp dụng nơi thế giới siêu hình. Tóm lại, Chúa Giêsu qua câu trả lời cho nhóm người Sađốc, đã vẽ cho chúng ta một bức tranh về hoạt động và sinh hoạt của con người ở thế giới siêu hình. Các thiên thần giao tiếp, thông cảm, chia sẻ, trao đổi với nhau như thế nào, con người sau khi đã lên nơi cao xanh ấy, cũng giao tiếp, trao đổi, và thương yêu nhau như vậy.
Quan niệm về đời sau, về cuộc sống vĩnh hằng nếu đem áp dụng vào sinh hoạt tâm linh của người Việt Nam, chúng ta cũng thấy rất gần gũi. Tuy không đồng nhất về quan niệm tín lý và thần học, nhưng phần đông mỗi người Việt Nam đều có một ý niệm về đời sau. Tại mỗi gia đình đều có bàn thờ tổ tiên. Họ cúng quả hàng ngày, đặc biệt vào những dịp giỗ lạt. Họ tảo mộ, họ dâng hương, đốt tiền mã, đồ dùng giả ngụ ý giử về bên kia thế giới cho người thân mình tiêu dùng. Hành động như vậy, vì họ tin rằng ông bà, cha mẹ, anh chị em họ đang sống bên kia thế giới, và đang cần những thứ ấy. Bằng con mắt tâm linh, họ luôn nhắc về người quá cố, cầu xin với người quá cố. Như vậy, là chúng ta đã tin nhận có đời sau, có cuộc sống bên kia thế giới. Và nếu đem tâm tình sống ấy lồng vào niềm tin Kitô Giáo, và cho tâm tình ấy một cái nhìn đời đời qua sự tin nhận Chúa Kitô, chúng ta sẽ không thấy khó khăn gì khi chấp nhận sự sống lại, và đời sống vĩnh hằng.
Nhưng một khi đã tin nhận đời sau, đã tin vào Chúa Kitô thì niềm tin ấy phải đi tới chỗ thực hành: “Đức tin không việc làm là đức tin chết” (Giacôbê 2:17). Và một khi áp dụng thực hành niềm tin của mình, người Kitô hữu phải làm sao để phản ảnh đầy đủ khuôn mặt của Chúa Cứu Thế trong mọi khía cạnh của cuộc đời mình cách thành thật, đơn sơ, nhưng đầy xác tín.
Con cái đời này cưới vợ, gả chồng, nhưng con cái đời sau thì lại đối xử với nhau như các thiên thần. Đó là hai mặt của một đồng tiền, hai mặt của một bàn tay, hai cách nhìn và lối sống của người Kitô hữu trong khi còn ở trần thế và sau khi đã về Thiên Đàng. Trong lúc còn sống trên thế gian này, họ phải hoàn tất vai trò và trách nhiệm của mình như một phần tử của gia đình, của cộng đoàn, và của xã hội. Tuy nhiên, để chuẩn bị cho sự sống đời sau, thì họ phải làm sao để những việc làm ấy mang lại những giá trị đời đời, bằng cách như Đúc Thánh Cha Gioan Phaolô II đã diễn tả khi nói về sự thánh thiện, là phô diễn gương mặt Chúa Cứu Thế qua những biến cố của đời mình khi vui cũng như khi buồn, khi gặp gian nan thử thách, cũng như khi được may mắn, và an ủi. Và đó cũng là đời sống của một Kitô hữu biết tin tưởng, và xác tín về đời sau và về vĩnh hằng.
T.s. Trần Quang Huy Khanh

 

TN32-C96: Họ là con cái Thiên Chúa giống như các thiên thần

Chúa nhật 32 thường niên C -2007
 

Bài đọc thứ nhất và Phúc Âm hôm nay có cùng một nội dung: sự sống lại đời sau. Vấn đề sự sống lại: TN32-C96

Bài đọc thứ nhất và Phúc Âm hôm nay có cùng một nội dung: sự sống lại đời sau. Vấn đề sự sống lại trong bài Phúc Âm hôm nay được nêu lên do nhóm Xađuxê. Vậy chúng ta hãy tìm hiểu qua về nhóm này: Hai nhóm vị vọng trong dân Do Thái thời Chúa Giêsu mà Phúc Âm thường nhắc đến là Pharisiêu và Xađuxê. Hai nhóm này có nhiều khác biệt. Điển hình là nhóm Pharisiêu chủ trương lo việc tôn giáo, không nhúng tay vào chính trị. Họ tin có sự sống đời sau và có thiên thần. Ngược lại Xađuxê là một nhóm nhỏ nhưng có chỗ đứng trong guồng máy cai trị của người Rôma. Phái Xađuxê không tin có thiên thần và không tin có sự sống đời sau.
Nhìn lại bối cảnh Phúc Âm, có lẽ sau khi nghe Chúa Giêsu nói về sự sống đời sau, nhóm Xađuxê cảm thấy "khó chịu" nên muốn tìm cách gài bẫy Chúa Giêsu và đặt Ngài vào chỗ bí. Câu hỏi họ đặt ra về việc một người đàn bà lần lượt lấy 7 anh em theo luật Maisen có ghi trong sách Đệ Nhị Luật, đoạn 25, câu 5. Họ hỏi nếu người đàn bà đó lấy cả 7 anh em, thì sau khi sống lại, người đàn bà đó sẽ là vợ của ai? Câu hỏi này khi mới nghe thì có vẻ hóc búa và có lẽ nhóm Xađuxê hí hửng vì bắt bí được Chúa Giêsu. Nhưng câu trả lời của Chúa trước hết khiến cho họ bẽ mặt và làm cho câu hỏi đó thật chỉ là câu hỏi có vẻ "trẻ con". Thứ nữa, câu trả lời của Chúa hé mở cho chúng ta thấy "tình trạng" con người được sống lại trên thiên đàng thế nào: trên thiên đàng người ta không sống trong tình trạng vợ chồng nhưng sống như các thiên thần (Lc 20:34-36). Thực sự chúng ta không biết các thiên thần "sống" như thế nào trên thiên đàng nhưng một số điều căn bản chúng ta biết về các thiên thần là các ngài không có thể xác, không lệ thuộc vào vật chất, và các ngài được hưởng kiến nhan Chúa nên được tràn ngập hạnh phúc.
Kinh nghiệm sống cho chúng ta thấy một tình trạng tâm lý tự nhiên là khi người ta được an toàn dư dật trong cuộc sống vật chất và danh vọng thì người ta coi nhẹ hay ít màng tới đời sống tinh thần. Họ thoả mãn với cuộc sống hiện tại, nên việc họ không tin vào đời sống sau này cũng là một điều dễ hiểu. Một điều lạ là ngày nay số người tin có sự sống sau khi chết (life after death) hay linh hồn bất tử tại Hoa Kỳ gia tăng. Nhưng nhiều người chỉ tin một cách mơ hồ nào đó chứ không tin theo lối tin truyền thống của niềm tin Kitô Giáo. Là những Kitô Hữu đích thực, chúng ta cần xác tín một chân lý là đời sống trên thế gian này không phải là đích tối hậu, nhưng là thiên đàng mai sau. Dầu thế, thiên đàng bắt đầu ngay từ đời này. Do đó đời sống hiện tại của chúng ta sẽ quyết định đời sống mai sau.
Theo Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, con người là chiếc cầu nối liền thế giới thần linh (spiritual) và vật chất (material) vì trong con người có cả hai yếu tố: linh hồn và thể xác. Qua con người, thế giới vật chất được nâng lên biên giới của thế giới thần linh (xem God and the World, tr. 89). Như thế, ngay ở đời này, chúng ta cũng có thể bắt đầu "sống như thiên thần", và nếu chúng ta muốn bắt đầu cuộc sống như thiên thần trên đời này, chúng ta cũng cần phải đặt lại thứ tự giá trị cuộc sống: giá trị tinh thần trên vật chất; đòi hỏi của Phúc Âm và Giáo Hội trên đòi hỏi của nhu cầu tự nhiên; hướng tất cả về đời sống mai sau.
Có lẽ chúng ta còn nhớ lời Chúa Giêsu dạy: "Được lời lãi cả thế gian này mà mất linh hồn mai sau thì được ích gì" (Mt 16:26). Lời Chúa hôm nay, một lần nữa kêu gọi chúng ta lựa chọn: Đời này hay đời sau.
Lm. Huy Châu, CMC - NS-TTĐM

 

TN32-C97: Niềm Tin Xác Tín

Chúng ta sống trên đời này là để thờ phượng Chúa và phục vụ tha nhân hầu được phúc hưởng: TN32-C97

Chúng ta sống trên đời này là để thờ phượng Chúa và phục vụ tha nhân hầu được phúc hưởng nhan Thiên Chúa Hằng Sống đời sau. Để được thế mỗi người phải chiếu giãi đức tin trong cuộc sống hằng ngày. Còn gương lành nào chiếu giãi đức tin cho bằng gương của bảy anh em lần lượt chịu tử đạo trước sự chứng kiến của người mẹ can đảm trong Bài Đọc thứ nhất hôm nay? (x. 2Mac 7:1-2; 9-14). Đây qủa là một tấm gương đáng được ghi nhớ muôn đời trong lịch sử nhân loại!
Bảy anh em đã chiếu sáng sự thánh thiện và lòng kiên trì qua sự chấp nhận những tra tấn dã man dưới tay phường vô nhân đạo. Sở dĩ họ chịu đựng được những tra tấn cũng một phần do sự khuyên bảo và khích lệ của người mẹ tràn đầy lòng tin. Đặc biệt hơn nữa là vì họ có một niềm tin xác tín rằng Thiên Chúa Hằng Sống, Thiên Chúa của công bằng và yêu thương, Đấng mà họ sẵn sàng hy sinh mạng sống đời này, đã dành cho họ một cuộc sống vĩnh cửu trên thiên đàng.
Trải qua hơn hai ngàn năm, hằng triệu Kitô hữu đã hy sinh mạng sống cách anh hùng vì đức tin. Trong số đó có các Thánh Tử Đạo Việt Nam của chúng ta. Ngày nay cũng có hằng triệu người đang chịu đau khổ và tử đạo liên lỉ vì cùng một đức tin. Tuy nhiên, họ may mắn hơn bảy anh em người Do-thái xưa vì họ có gương lành của Chúa Kitô, Con Thiên Chúa làm người, Đấng đã chịu đựng một cuộc tử đạo đau đớn dã man hơn mọi người. Vì thế, một cách nào đó, gương lành của người mẹ và bảy anh em Do-thái đáng được ngưỡng mộ hơn. Nhưng, điều quan trọng là cũng chính một Thiên Chúa, Đấng đã ban cho họ những ơn cần thiết để chịu đựng mọi cơn thử thách, ngày nay vẫn tiếp tục ban cho mọi Kitô hữu những ơn cần thiết để chịu đựng mọi thử thách hầu được hưởng cuộc sống vĩnh cửu trên quê trời với Thiên Chúa Hằng Sống.
Những gương anh dũng của các tiền nhân đều đáng cho chúng ta phải thật sự ngưỡng mộ. Tuy nhiên, là những Kitô hữu, ngưỡng mộ không chưa đủ! Ta cần phải bắt chước và thực hành những gương anh hùng đó trong cuộc sống thường ngày. Theo tự nhiên, ai trong chúng ta khi nghĩ đến những thử thách tra tấn cũng phải giùng mình kinh hãi. Chắc chắn các đấng đi trước cũng vậy. Nhưng, khi cơn thử thách đến thì Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta những ơn cần thiết để chịu đựng như Chúa đã ban cho các đấng tiền nhân.
Những tấm gương chứng nhân đức tin sáng ngời của các bậc đi trước là một thách đố mà chúng ta có thể áp dụng cho cuộc sống ngày nay. Chúng ta không cần phải hỏi, "Tôi có sẵn sàng chấp nhận những cực hình và cái chết vì đức tin hay không?" Điều chúng ta nên làm là xét xem mình có sẵn sàng và thật sự sống đức tin trong cuộc sống hằng ngày chưa. Nghĩa là chúng ta đã sống tinh thần chịu đựng, hy sinh và can đảm đúng với địa vị của mình hay chưa? Thí dụ: vợ chồng có nhịn nhục, can đảm hy sinh chịu đựng lẫn nhau hay không? Bố mẹ có quan tâm đến con cái và săn sóc, dậy dỗ chúng nên người hay chỉ lo làm ăn đến độ bỏ bê chúng? Con cái có biết vâng lời bố mẹ và chăm chỉ học hành cho giỏi hay chỉ biết đi chơi và phá nghịch xóm làng...v.v.?
Cuộc sống là một chuỗi ngày chiến đấu với ma quỉ, thế gian và xác thịt. Vì thế, để sống đúng địa vị của chính mình không phải là một chuyện dễ làm đối với bất cứ một ai. Với nhiều người đây chính là một cuộc tử đạo liên lỉ. Nhưng, hãy nghĩ đến hoặc nhìn lại những tấm gương xác tín đã tăng cường sức lực cho người mẹ và bảy anh em Do-thái xưa. Mọi Kitô hữu phải luôn tạo cho mình có một niềm tin xác tín vào Thiên Chúa Hằng Sống như thế.
Nếu chúng ta trung thành với Chúa thì Ngài sẽ thưởng chúng ta. Nếu chúng ta trung thành với giới răn của Chúa thì Ngài sẽ giữ lời hứa của Ngài. Và nếu Chúa có muốn chúng ta hy sinh mạng sống để làm chứng nhân cho Ngài thì Ngài sẽ ban cho chúng ta một cuộc sống hạnh phúc trường sinh trên quê trời. Được thế thì chúng ta đã hoàn tất được mục đích cuộc sống đời này; đó là chiếm được cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu đời sau với Thiên Chúa Hằng Sống.
Br. Quốc Toản, CMC

 

TN32-C98: THIÊN ĐÀNG VĨNH PHÚC

chúa nhật 32c thường niên (2004)
 

Trong một lớp giáo lý, bé Tâm thưa với thầy: "Thưa thầy, Thiên Đàng là gì cơ?" Thầy trả lời: TN32-C98

Trong một lớp giáo lý, bé Tâm thưa với thầy: "Thưa thầy, Thiên Đàng là gì cơ?" Thầy trả lời: "Thiên Đàng là nơi các Thần Thánh và các linh hồn tốt lành được cùng Chúa tận hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Ở đó, không còn có bệnh tật, không còn phải đi học khó khăn, làm lụng vất vả, cũng không còn phải khổ sở mồ hôi nước mắt, thức khuya dậy sớm hoặc phải chết chóc". Bé Tâm rất chăm chú nghe lời thầy giảng, rồi bỗng nhiên em trố đôi mắt ngây thơ nhìn thầy và bỡ ngỡ hỏi: "Vậy trên Thiên Đàng không có kẹo à thầy?"
Sau khi nghe bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta cũng có thể được nghe nhiều bạn trẻ thốt lên câu hỏi: "Vậy trên Thiên Đàng không còn cưới gả gì nữa à?" Và rồi còn nhiều câu hỏi khác tương tự như: "Cũng không có beer, rượu, whisky; không có nhậu, party, khiêu vũ, không có T.V., radio, video tape, phim chưởng kiếm hiệp, không xe hơi, nhà lầu... thế thì buồn chết?" Quả thực, tất cả những thứ đó nếu là tuyệt đối cần thiết cho hạnh phúc của chúng ta được hoàn hảo hơn, thì hẳn cũng sẽ có chứ.
I. HẠNH PHÚC THIÊN ĐÀNG ĐÍCH THỰC
Thực ra câu trả lời này cũng như những câu hỏi kia, tỏ ra người ta chưa am hiểu được cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu trên Thiên Đàng là gì?
Trên Thiên Đàng:
1. Chúng ta sẽ được chiêm ngắm Chúa nhãn tiền, "diện đối diện" (1 Cor 13:12) như Người "hiện hữu" (1 Jn 3:2). Chúng ta gọi đó là "Phúc Hưởng Kiến". Đó là hạnh phúc được nhìn thấy Chúa. Khi được thấy Chúa rồi, chúng ta cũng được thấy những gì liên hệ với chúng ta, như những người thân yêu và bạn hữu của chúng ta còn nơi trần gian hay đã được cùng chung hưởng hạnh phúc với chúng ta nơi Thiên Quốc.
2. Chúng ta sẽ được yêu mến Chúa tha thiết, "lòng bên lòng" với tất cả sự hiểu biết, lòng sốt sắng và sùng mộ; khiến chúng ta say sưa không ngớt dâng lời ca ngợi chúc tụng Chúa.
3. Chúng ta sẽ được tận hưởng Chúa cách no thỏa tràn đầy, vì Chúa là Đấng gồm đủ mọi chân, thiện, mỹ; là Đấng toàn năng, toàn thiện, toàn ái, toàn mỹ... làm cho chúng ta được vui sướng, hạnh phúc khoái lạc vô cùng. Trái lại, những vui sướng hạnh phúc nơi trần gian sánh với những vui sướng hạnh phúc chân thật nơi Thiên Quốc, trở thành những cái tầm phào, phù ảo và mau qua.
II. MỘT BIẾN ĐỔI KỲ DIỆU CAO SIÊU
Theo giáo lý Thánh Phaolô, thân xác chúng ta trên Thiên Đàng sẽ là thân xác vinh hiển, khác hẳn với thân xác sống nơi trần gian; nó giống như cây đã mọc lên với cành lá xum xuê, hoa trái ngon ngọt; trái hẳn với hạt giống còn chôn vùi dưới lòng đất đang bị mục nát thối rữa; như lời Thánh Tông Đồ đã viết: "Gieo thể xác sinh vật, sống lại thân xác thần thiêng" (1 Cor 15:44).
Thân xác vinh hiển của chúng ta khi đó, được tận hưởng tràn đầy mọi vui sướng hạnh phúc cao siêu tuyệt diệu, nên không còn thiết gì những vui sướng hạnh phúc nơi trần gian nữa. Chính Thánh Phaolô đã được niếm hưởng đôi phút khi được Chúa cất lên tầng trời thứ ba qua phúc "Hưởng Kiến", Ngài đã được tràn đầy hạnh phúc thỏa mãn sung sướng thuật lại: "Mắt chưa hề xem, tai chưa hề nghe, lòng chưa hề cảm nghiệm được những vui sướng hạnh phúc Chúa đã sắm sẵn cho những ai yêu mến phụng sự Người" (2 Cor 2:9).
Thánh Lễ chúng ta đang cử hành cũng cho chúng ta ý niệm về sự khác biệt lạ lùng giữa Thiên Đàng và trần gian. Một lát nữa, chúng ta hiến dâng bánh rượu lên Chúa Cha trên trời; rồi trong giây lát, qua tay Linh Mục, Cha trên trời sẽ ban cho chúng ta những sự dưới đất đã được biến thể nên Mình Máu Thánh chân thật của Con Một Người nơi Mầu Nhiệm Thánh Thể, mà chúng ta được diễm phúc lãnh nhận vào linh hồn chúng ta. Khác biệt biết bao, kỳ diệu dường nào, Báu Vật ban tặng khác biệt bánh rượu! Thân xác mê muội, đau yếu, bệnh tật, chết chóc của chúng ta, cũng sẽ được biến đổi thành thân xác vinh hiển, sáng láng, quyền năng và dũng mạnh tương tự! Chớ gì nhờ việc tham dự Thánh Lễ và lãnh nhận Chúa Giêsu Thánh Thể ngự vào linh hồn, Chúa cho chúng ta được xứng đáng lãnh nhận sự biến đổi kỳ diệu cao siêu này! Vì thân xác chúng ta khi đó cũng sẽ trở nên giống như thân xác vinh hiển của Chúa Giêsu sau khi Ngài phục sinh từ cõi chết, có tính cách thấu nhập như luồng sáng thâu qua thủy tinh, giống như Chúa đã xuất ra khỏi cung lòng trinh khiết của Mẹ Thánh Người, mà không làm thiệt hại nhưng còn thánh hiến sự trinh khiết vẹn toàn của Mẹ.
III. ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC VĨNH PHÚC THIÊN ĐÀNG
Để chiếm được sự sống đời đời và đạt được hạnh phúc Thiên Đàng vĩnh cửu cách chắc chắn bảo đảm, Chúa đã ban cho chúng ta một thứ Lương Thực Nhiệm Mầu, đó là Bánh Thánh Thể Chúa Kitô, vì theo lời Chúa quả quyết: "Ta là Bánh Hằng Sống từ trời xuống, ai ăn Bánh này sẽ được sống đời đời; mà Bánh Ta sắp ban chính là Thịt Ta nuôi sống thế nhân" (Jn 6:51-52). Chúa còn xác quyết nếu chúng ta ăn Thịt và uống Máu Thánh Chúa cách xứng đáng, chúng ta sẽ được phục sinh vinh hiển trong ngày sau hết: "Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta thì có sự sống đời đời và Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết" (Jn 6:54). Nhờ lãnh nhận Bánh Thánh Thể cách xứng đáng, chúng ta còn được Chúa sống trong chúng ta và chúng ta được sống trong Chúa: "Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy. Như Cha là Đấng Hằng Sống đã sai Ta và Ta sống bởi Cha thế nào thì kẻ ăn Ta cũng sẽ bởi Ta như vậy" (Jn 6:57-58).
Nếu chúng ta lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa cách xứng đáng, chắc chắn Chúa sẽ ban cho chúng ta được đúng như lời Chúa đã hứa, là cho chúng ta chiếm được sự sống đời đời, được phục sinh vinh hiển và được tận hưởng hạnh phúc Thiên Đàng vĩnh cửu... Trái lại, nếu chúng ta lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa cách bất xứng thì theo lời Thánh Phaolô: "Nếu anh chị em lãnh nhận Thánh Thể Chúa cách bất xứng, thì anh chị em ăn và uống án phạt cho mình" (1 Cor 11:29).
Kết Luận
Xin Mẹ giúp chúng con biết lãnh nhận Thánh Thể Chúa là Hoa Trái của lòng Mẹ cách xứng đáng, để chúng con cũng đáng lãnh nhận sự sống muôn đời trong hạnh phúc vĩnh cửu Chúa đã hứa ban cho các con cái trung thành.
Lm. Minh Vận, CMC

 

TN32-C99: Trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai

 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 20:27-38)
 

Không hiểu nhóm Xa-đốc này đã tốn bao nhiêu chất xám để nghĩ ra một đòn rất thâm độc nhằm hạ uy TN32-C99

Không hiểu nhóm Xa-đốc này đã tốn bao nhiêu chất xám để nghĩ ra một đòn rất thâm độc nhằm hạ uy tín Chúa Giê-su?  Họ đưa ra một câu chuyện được coi là giả tưởng, nhưng lại dựa trên Lề Luật hẳn hoi để đi tới vấn nạn gần như không thể trả lời được.  Nhà kia có bảy anh em.  Một trong số đó lấy vợ, không có con và chết.  Theo luật Mô-sê, một người anh em của người đó phải lấy người đàn bà góa ấy để nối dòng dõi cho người đã chết.  Kết cục là cả bảy anh em đều kết hôn với người đàn bà ấy và đều không có con.  Và đây là câu hỏi Chúa Giê-su phải trả lời:  “Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?” 
          Thực ra nhóm Xa-đốc này không nhắm đến câu trả lời cho vấn nạn họ nêu ra với Chúa Giê-su, vì ai ai cũng thấy rõ không thể có câu trả lời.  Nhưng thâm ý của họ là vì không thể trả lời được ai là chồng thực sự của người đàn bà ấy trong ngày sống lại, cho nên vấn đề kẻ chết sống lại là điều không thể có.  Chúng ta đều biết những người nhóm Xa-đốc không tin có việc sống lại và sự sống đời sau.
          Khi trả lời, Chúa Giê-su phân biệt rõ ràng hai vấn đề.  Trước hết Người đồng ý với họ là trong ngày sống lại, người đàn bà ấy chẳng là vợ của người nào trong cả bảy anh em kia.  Nhưng sự kiện đó không phải là chứng lý để phủ nhận vấn đề thứ hai, là việc sống lại và sự sống đời sau.  Tại sao?  Vì “dựng vợ gả chồng là việc của con cái đời này”, còn việc kẻ chết sống lại và thưởng phạt đời đời là việc của Thiên Chúa.  Qua việc phán xét của Thiên Chúa, những kẻ chết đời đời sẽ phải xa lìa Thiên Chúa và trở thành con cái ma quỷ, còn những kẻ sống đời đời sẽ là con cái Thiên Chúa, thí dụ như các tổ phụ của Do-thái.
          Như thế, Chúa Giê-su vừa trả lời câu hỏi hóc búa của nhóm Xa-đốc, vừa đặt ra một thách đố cho mọi người.  Thách đố ấy là người ta có muốn nhận biết Thiên Chúa và sống tốt để làm con cái đời đời của Người, hay là người ta muốn chối bỏ sự sống lại và quyền thưởng phạt của Thiên Chúa để sống đồi bại và đời đời sẽ trở thành con cái ma quỷ?  Dĩ nhiên câu trả lời và chọn lựa đã quá rõ ràng.  Chúng ta phải lựa chọn làm con cái Chúa cả đời này lẫn đời sau.  Không thể làm con cái Chúa ở đời sau nếu trước hết không làm con cái Chúa ở đời này.  Đó chính là sứ điệp Tin Mừng vậy.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Trước hết người ta phải sống làm con cái Chúa ở đời này.  Nhưng sống làm sao?  Chúa Giê-su dạy:  Thiên Chúa đích thực là “Thiên Chúa của kẻ sống”.  Đây quả thực là một chân lý quá đơn giản, nhưng lại vô cùng sâu xa.  Sâu xa ý nghĩa đã đành, nhưng nhất là sâu xa để thực hành.  Chúa là Thiên Chúa của tôi nếu tôi đang sống, nghĩa là nếu tôi còn đang ở trong tương quan ân nghĩa với Người.  Chúa Giê-su giải thích “Thiên Chúa của kẻ sống” có nghĩa là “đối với Người, tất cả đều đang sống”.  Vậy nếu tôi cắt đứt tương quan ân nghĩa với Người tức là tôi đã chết và như thế Thiên Chúa không thể là Thiên Chúa của tôi nữa!
          Một chân lý rõ ràng như thế, vậy mà ít khi chúng ta quan tâm.  Nếu quan tâm, chúng ta đã chẳng dám… “chết trong tội lỗi” bao lần rồi!  Mà thôi, không nói chuyện tiêu cực nữa.  Nhưng chúng ta hãy vui và hãnh diện vì Chúa luôn yêu thương chúng ta, muốn chúng ta “sống và sống dồi dào” (Gio-an 10:10).  Người mong chúng ta sống đích thực như con cái Người trong chính hoàn cảnh hiện tại và những gì chúng ta có trong tầm tay.  Chúng ta cứ lấy gương Con Yêu Dấu của Chúa Cha là Chúa Giê-su mà bắt chước!
Lm. Dominic TTL

 

TN32-C100: ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA, MỌI NGƯỜI ĐỀU ĐANG SỐNG

Cách đặt vấn đề ‘kẻ chết sống lại’ của nhóm Xađốc quả là rất ấn tượng, nhưng cũng ấn tượng: TN32-C100

Cách đặt vấn đề ‘kẻ chết sống lại’ của nhóm Xađốc quả là rất ấn tượng, nhưng cũng ấn tượng không kém là cách giải đáp của Đức Giêsu. Chúng ta rất dễ bị cuốn hút vào một cuộc tranh luận mang tính triết lý như thế: ‘có hay không có sự sống lại từ cõi chết ?’ Thật ra trong câu trả lời, Đức Giêsu không chỉ giới hạn trong việc chứng minh tính lôgíc của sự sống lại. Người còn đi xa hơn thế rất nhiều khi khẳng định: sự sống và sự sống lại liên quan trực tiếp tới bản chất hay yếu tính của Thiên Chúa.
Vấn đề ‘sống lại từ cõi chết’ thường được chúng ta đặt ra như sau: Con người có thật sẽ sống lại không ? Tại sao họ lại cần phải sống lại ? Do quyền năng nào mà họ được sống lại ? Thiết nghĩ các vấn nạn tương tự cũng được anh em Phật Giáo đặt ra khi thuyết pháp về kiếp luân hồi. Và anh em cũng trưng ra những giải thích hết sức hợp lý dựa trên một số định đề được công nhận, mà không cần đề cập gì tới sự hiện hữu của Thiên Chúa.
Để trả lời thắc mắc của nhóm Xađốc là những người Do Thái chính hiệu, Đức Giêsu chỉ cần viện dẫn quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa thì đã quá đủ sức thuyết phục. Qua câu giải đáp, Đức Giêsu thực tình muốn đưa các thính giả tới một khám phá rất Tin Mừng về Thiên Chúa. Nhân vấn đề ‘kẻ chết sống lại’, Người mời gọi đám thính giả tiến sâu hơn vào sự hiểu biết về bản tính đích thực của Thiên  Chúa: “Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống”.
Trước hết, Chúa Giêsu cho một định nghĩa về Thiên Chúa trong tương quan trực tiếp với từng người chúng ta. Trong tương quan này Thiên Chúa không những là sự sống qua việc tạo dựng loài người và ban cho họ sự sống qua việc thổi hơi trên họ, nhưng Ngài còn là sự sống lại của họ… vì tất cả – tất cả mọi người đều đã chết trong tội. Khi đề cập tới các kẻ được cứu rỗi Người gọi “họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại”. Nói như thế, hầu như Đức Giêsu muốn khẳng định: đối với mỗi con người tội lỗi, cũng như toàn thể nhân loại hư hỏng, thì Thiên Chúa không những là sự sống trong tạo dựng, mà còn là sự sống lại nữa trong thực tế hiện sinh của kiếp người. Sẽ không tìm thấy bất cứ một người lành hay thánh thiện nào trên Thiên Quốc, nếu không phải là những kẻ được sống lại từ cõi chết tội lỗi. Sách Khải Huyền đã xác định rõ điều này bằng hình ảnh: “Những người mặc áo trắng kia là ai vậy ?... Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” ( Kh 7, 13 – 14 ).
Đối với tất cả mọi người, không trừ một ai, bằng cách này hay cách khác, họ chỉ có thể trở thành con Thiên Chúa vì họ đã được sống lại từ cõi chết của tội lỗi. Thực thế, như Phaolô khẳng định sau này: không một ai thoát khỏi tình trạng này, không một ai có thể là luật trừ. “Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội” ( Rm 5, 12 ). Trong giai thoại về Ladarô sống lại, Đức Giêsu cũng đã tự giới thiệu: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống !” ( Ga 11, 25).
Đáng lưu ý ở đây là ‘sự sống lại’ được đặt trước cả ‘sự sống’. Người không chỉ khẳng định là Ta – hay Thiên Chúa có khả năng ‘làm’ cho sống lại, mà chính Người ‘là’ sự sống lại. Đối với Người, làm cho sống lại thể lý từ cõi chết như trường hợp Ladarô, hay sẽ xảy đến cho hết mọi người trong ngày sau hết, chỉ là sự kiện nhỏ; sự thật lớn hơn nhiều là những ai đặt trọn niềm tin vào Đức Kitô Giêsu, Đấng cứu độ duy nhất, sẽ được cho sống lại từ cõi chết của tội lỗi, vì đã tiếp nhận lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa. Người quả là sự sống lại, nhất là đối với những ai đã chết trong lỗi tội nặng nề. “Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống”.
Và vì Thiên Chúa là sự sống lại và là sự sống, nên “đối với Người, tất cả đều đang sống”. Lòng thương xót và ơn cứu độ của Ngài đạt tới hết thảy mọi người, không loại trừ ai. Con người có muốn tiếp nhận hay không tiếp nhận lòng nhân từ đó lại là một chuyện khác. Vì thế Ngài tuyên bố mình “không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống”. Phaolô gợi lại tư tưởng trên như sau: “Ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người… vì họ trở nên công chính… được sống… và được thống trị” ( Rm 5, 15 . 17 ).
Quả thế, Đức Giêsu Kitô, trong cái chết và phục sinh của Người, đã minh chứng cách hùng hồn rằng, tự bản chất Thiên Chúa tiên quyết chính là sự sống lại. Đó là nền tảng vững chắc nhất của niềm tin và hy vọng của mọi Kitô hữu. Tin và hy vọng được sống lại, không chỉ sẽ sẩy đến về mặt thể lý trong ngày sau hết, nhưng đã và đang sẩy ra liên tục trong cuộc sống Đức Tin, trước hết vào ngày chịu Phép Rửa, rồi mỗi khi con người rơi vào cái chết muôn hình vạn trạng của tội lỗi, họ được trỗi dậy trong lòng thương xót tha thứ của Thiên Chúa.
Quả thật "Thiên Chúa là sự sống lại và là sự sống" của hết thảy mọi người, của tôi và bạn nữa, trong mọi nơi mọi lúc. Có điều chúng ta có thật xác tín điều đó không ?
Lạy Chúa Kitô đã chết và sống lại, xin cho con biết tuyên xưng không ngừng: Chúa chính là sự sống lại và là sự sống của con. Mỗi khi tự nhắc nhở mình là ‘con Thiên Chúa’, xin cho con cũng xác tín vững chắc rằng, mình đã và đang không ngừng được sống lại từ cõi chết của tội lỗi…, nhờ vào lượng từ bi hải hà của Chúa mà thôi. Con muốn luôn nhắc nhở mình điều này, để con có thể không ngừng cất tiếng ca tụng lòng từ bi thương xót Chúa, ngay giữa những tội lỗi và yếu hèn nhất của con. Amen.
Lm. NGUYỄN VĂN TY, Dòng Thánh Don Bosco
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây