Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 TN-C Bài 1-50

Thứ tư - 30/01/2019 10:18
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 TN-C Bài 1-50: Ngôn Sứ không được chấp nhận nơi quê hương
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 TN-C Bài 1-50: Ngôn Sứ không được chấp nhận nơi quê hương
TN 4-C Phần I Bài 1-50: Ngôn Sứ không được chấp nhận nơi quê hương
TN4-C1. CON CÁI TRONG NHÀ.. 2
TN4-C2. PV/376- NÓI TỐT.. 3
TN4-C3. PV/378- LOẠI BỎ.. 5
TN4-C4. PV/380- ĐỨC MẾN.. 6
TN4-C5. NTGT/55- SỨ VỤ.. 8
TN4-C6. CSTM/52- ÂN HUE.. 10
TN4-C7. HRK/48- THÀNH KIẾN.. 12
TN4-C8. SCĐ/463- KIÊN VỮNG VÀ DỊU HIỀN.. 13
TN4-C9. SCĐ/468- TIN YÊU.. 14
TN4-C10. NGƯỜI TỐT THÌ KHÓ TÌM... 15
TN4-C11. Không được chấp nhận. 17
TN4-C12. CHI TIẾT HAY Nhóm Đồng Hành. 19
TN4-C13. Đồng hương chối từ - Lm. Đan Vinh. 20
TN4-C14. Ngôn sứ thời nay - Phaolô Ngô Suốt 23
TN4-C15. LÀM NGÔN SỨ LÀ LUÔN PHẢI CHỊU PHẦN THIỆT.. 25
TN4-C16. NGƯỜI ĐẾN NHÀ MÌNH, 27
TN4-C17. CÓ BAO GIỜ CHÍNH NGƯỜI KITÔ HỮU.. 29
TN4-C18. Tiên tri không được đón tiếp tại quê nhà - Lm Trần Bình Trọng. 32
TN4-C19.  SUY NIỆM - Anrê Nguyễn hữu Nghĩa. 33
TN4-C20. GHEN TỊ - Br. Phillip Bình Khả, CMC.. 36
TN4-C21. SUY NIỆM - Lm Augustine Nguyễn Huy Tưởng. 39
TN4-C22. LÒNG NGƯỜI THAY TRẮNG ĐỔI ĐEN - Lm Damien OFM... 40
TN4-C23. THỜI ĐIỂM ĐIỆU VŨ CỦA MAI -  Lm Trần Cao Tường. 42
TN4-C24. ĐỨC MẾN - Lm. Linh Tiến Khải 45
TN4-C25. TIÊN TRI - Lm. Giuse Nguyễn Thanh Sơn, DCCT.. 48
TN4-C26. ĐƯỢC KÊU GỌI LÀM NHỮNG VÌ SAO - Mark Link S.J. 49
TN4-C27. BÁC ÁI THÌ NHÂN HẬU.. 51
TN4-C28. Vai trò tiên tri - Pt. Huyền Đồng. 52
TN4-C29. Tin mừng cho mọi người - Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn. 55
TN4-C30. Đồng hương chối từ - Lm. Đan Vinh. 58
TN4-C31. Làm ngôn sứ là luôn phải chịu phần thiệt về mình. 65
TN4-C32. TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG.. 69
TN4-C33. CẢI THIỆN VÀ ĐỔI ĐỜI 71
TN4-C34. TIN HAY KHÔNG TIN.. 73
TN4-C35. ĐỨC GIÊSU - LỜI THIÊN CHÚA.. 76
TN4-C36. Đức Giêsu, con bác Giuse thợ mộc bị chối từ. 78
TN4-C37. Khiêm nhường để khám phá sự thật 80
TN4-C38. Khiêm nhường và yêu thương. 83
TN4-C39. Vượt trên mọi chia rẽ và thử thách. 87
TN4-C40. RAO GIẢNG TẠI NAZARET THẤT BẠI 92
TN4-C41. Chúa nhựt 4. 99
TN4-C42. CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN.. 101
TN4-C43. PHẢN ỨNG CỦA HỘI ĐƯỜNG.. 104
TN4-C44. Cánh cửa khép kín. 109
TN4-C45. Mở rộng tâm trí 110
TN4-C46. Loại trừ Chúa Giêsu chăng?. 111
TN4-C47. SỐ PHẬN CỦA NGÔN SỨ.. 113
TN4-C48. Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt. 114
TN4-C49. Mở rộng tâm trí 115
TN4-C50. Để yêu như Đức Kitô yêu - Charles E. Miller 116

 

TN4-C1. CON CÁI TRONG NHÀ

Đọc lại Kinh thánh, chúng ta thấy Thiên Chúa đã xác quyết : - Tư tưởng và đường nẻo của Ta TN4-C1

Đọc lại Kinh thánh, chúng ta thấy Thiên Chúa đã xác quyết :
- Tư tưởng và đường nẻo của Ta không giống với tư tưởng và đường nẻo của các ngươi. Như trời cao hơn đất bao nhiêu, thì tư tưởng và đường nẻo của Ta cũng cao hơn tư tưởng và đường nẻo của các ngươi bấy nhiêu.
Thực vậy, trong cuộc sống chúng ta thường yêu thương những người thân cận và đặc biệt là con cái trong nhà. Còn Thiên Chúa thì chưa hẳn đã là như vậy, bởi vì Ngài vừa là Đấng giàu lòng thương xót, lại vừa là Đấng rất mực công bằng và ngay thẳng.
Qua đoạn Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã đưa ra hai trường hợp để chứng minh sự thật trên.
Trường hợp thứ nhất, đó là là khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng dưới thời tiên tri Elia khiến cho các dân nước lâm vào cảnh đói kém. Lúc bấy giờ trong Israel không thiếu gì những bà góa, thế nhưng Thiên Chúa không sai tiên tri Elia đến giúp cho một bà góa nào cả, mà chỉ sai đến giúp cho bà góa tại Sarepta mà thôi.
Trường hợp thứ hai đó là dưới thời tiên tri Elisê, trong dân Israel không thiếu gì những người phong cùi, thế nhưng chẳng một ai trong bọn họ được tiên tri Elisê chữa lành, mà chỉ có một mình tướng Naaman, người Syria mà thôi.
Từ đó, chúng ta có thể kết luận :
- Không phải cứ là người Do Thái, không phải cứ là người thuộc về dân riêng của Chúa thì sẽ được Chúa yêu thương và chúc phúc.
Sự thật này còn được chứng tỏ rất nhiều lần trong Phúc âm. Thực vậy, rất nhiều lần Chúa đã lên tiếng khen ngợi lòng tin của những người ngoại giáo và Ngài còn xác quyết mạnh mẽ hơn nữa khi nói :
- Những kẻ tội lỗi, thu thuế và gái điếm sẽ được vào Nước Trời, còn con cái trong nhà thì sẽ bị đuổi ra ngoài.
Đoạn Tin mừng hôm nay cũng cho thấy : Chúa Giêsu đã không làm một phép lạ nào cho dân làng Nagiarét, những người thân cận và đồng hương với Ngài, như đã từng làm ở những nơi khác, chỉ vì họ cứng lòng tin.
Vì thế, không phải cứ là bà con họ hàng với Chúa mà dành được từ những ưu đãi này đến những ưu đãi khác. Chính Chúa Giêsu có lần cũng đã nói :
- Thiên Chúa có thể biến những hòn đá này trở nên con cháu Abraham.
Lần khác Ngài cũng đã xác quyết :
- Mẹ Ta và anh em Ta chính là những người biết lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.
Với chúng ta cũng vậy. Chúng ta vốn tự hào vì mình là người đạo dòng, đạo gốc. Chúng ta vốn hãnh diện vì mình đã được lãnh nhận bí tích Rửa tội cũng như đã tin vào Chúa từ hồi còn tấm bé. Và chúng ta yên trí rằng : chắc chắn mình sẽ được cứu rỗi.
Nếu quả thực đã nghĩ như vậy, thì chúng ta đã lầm to. Có tên trong sổ sách của giáo xứ, có giấy chứng nhận đã chịu phép Rửa tội mà thôi cũng chưa chắc là sẽ chiếm lấy được phần thưởng Nước Trời, bởi vì trong ngày sau hết rất có thể con cái trong nhà sẽ bị loại ra ngoài.
Bởi đó, cách thức bảo đảm nhất để chiếm lấy niềm hạnh phúc vĩnh cửu, đó là hãy tuân giữ lời Chúa, hãy thực thi những điều Ngài truyền dạy, nhất là giới luật yêu thương, như Ngài đã từng nói :
 
  • Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thày, là các con yêu thương nhau.
  •  

TN4-C2. PV/376- NÓI TỐT

Khi Đức Giêsu trở lại quê hương Nagiarét ; người ta đã mời Ngài giảng dạy ở hội đường. Phản: TN4-C2

Khi Đức Giêsu trở lại quê hương Nagiarét ; người ta đã mời Ngài giảng dạy ở hội đường. Phản ứng đầu tiên của họ đối với Ngài hết sức thuận lợi. Họ ngạc nhiên về những lời nhân từ của Ngài. Tuy nhiên, sự thán phục của họ chẳng bao lâu đã đổi thành nghi ngờ và kế đó là thù hận. Có lầm lẫn nào đã xảy ra.
Họ vẫn còn coi Ngài chỉ là con ông Giuse. Và họ cảm thấy rằng nếu Ngài có điều gì ban phát thì những người đồng hương như họ phải được hưởng trước tiên. Không hề bày tỏ một niềm tin chân thật vào Ngài, họ yêu cầu Ngài thực hiện ở Nagiarét một số phép lạ mà họ thấy Ngài đã làm ở nơi khác – dù sao, bác ái phải bắt đầu ở tại nhà mình. Họ cảm thấy họ có quyền thiêng liêng được hưởng những ơn của Ngài trước tiên.
Nhưng Ngài đã nói bất kể anh em là ai, điều quan trọng là anh em có đức tin hay không. Không có chỗ trong vương quốc của Thiên Chúa cho những kẻ có đặc quyền. Bác ái của Thiên Chúa bắt đầu ở bất cứ nơi nào mà con người đang cần, và đức tin là điều kiện để nhận lãnh nó. Đức Giêsu đã cho hai ví dụ – cứu chữa cho bà góa ở Xadépta và cho ông Naaman, và cả hai người này đều là dân ngoại. Khi nghe những ơn huệ mà họ đã từ khước (vì thiếu niềm tin vào Đức Giêsu) sẽ được ban cho dân ngoại, người dân Nagiarét đã phẫn nộ. Là những người Do thái, họ là dân Thiên Chúa. Những người khác đều là những kẻ bên lề và tội lỗi. Làm sao Đức Giêsu lại dám cho rằng dân ngoại sẽ được ưa thích hơn họ. Trong sự bùng phát nhiệt tình của chủ nghĩa dân tộc, họ quay lưng với Ngài. Họ đưa Ngài ra khỏi hội đường, và tìm cách thủ tiêu Ngài. Tại sao họ đã quay ra phẫn nộ với Ngài như thế ? Bởi vì những điều Ngài đã nói. Đó là lý do đầu tiên. Nhưng có một lý do sâu xa hơn. Đó là vì Ngài đã nói ra những điều xấu xa nằm ẩn kín trong lòng họ. Nếu bạn khuấy nước ao tù lên một lớp bùn sẽ nổi lên trên mặt nước. Điều đáng tiếc là đôi khi tôn giáo làm lộ rõ điều xấu nhất trong lòng người. Điều này làm cho họ trở nên hẹp hòi hơn, mù quáng hơn và có khả năng thù ghét và giết chóc hơn. Chúng ta thấy một gương xấu của điều đó trong những người dân Nagiarét. Nhưng những sự việc như thế vẫn còn xảy ra. Tôn giáo có thể bị bóp méo và trở thành một điều ghê tởm như cuồng tín và mù quáng. Tôn giáo trở thành đồng nghĩa với tâm lý hẹp hòi, nhỏ nhen và không dung thứ.
Nhưng tôn giáo cũng có thể nói lên điều tốt nhất trong con người. Nó làm cho họ trở nên bao dung và có lòng yêu thương hơn. Tôn giáo chân thật giải phóng tâm hồn và trí tuệ con người, và nuôi dưỡng những mối quan hệ hài hòa với những người khác. Tôn giáo có như thế mới tốt đẹp. Mỗi người trong chúng ta phải tự hỏi : “Tôn giáo thể hiện điều gì nơi tôi ?” Có một dây liên kết chủ yếu giữa đức tin và tình yêu, hay đức mến. Thánh Phaolô nói : “Đức tin, đức cậy, đức mến cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến”. (Bài đọc 2) Có đức tin và đức cậy để làm gì nếu chúng ta thiếu lòng yêu mến ?

 

TN4-C3. PV/378- LOẠI BỎ

Sau nhiều năm rời bỏ ngôi làng nơi ông đã chào đời ở Transkei, Nelson Mandela đã trở về: TN4-C3

Sau nhiều năm rời bỏ ngôi làng nơi ông đã chào đời ở Transkei, Nelson Mandela đã trở về thăm quê hương. Lúc bấy giờ ông đã là một luật sư và sống ở Johannesburg. Sau này ông đã viết về cuộc thăm viếng đó : “Không có gì giống như khi ta trở về một nơi vẫn không thay đổi để tìm lại những con đường trong đó chính bạn đã đổi thay. Chốn cũ tiếp tục như trước đây, không đổi khác với khi tôi lớn lên ở đó. Nhưng tôi nhận ra rằng quan điểm của tôi và thế giới quan của tôi đã tiến triển”. Thật vậy, ông đã nói điều đó đúng lúc ông trở về quê hương, ông không thể sống ở đó nữa – nó trở nên quá nhỏ đối với ông.
Đức Giêsu đã trở lại Nagiarét và với dân làng. Ngài đã lớn lên ở giữa họ. Người cũng muốn đem lại cho họ những  ơn ích của Người. Họ là những người biết rõ Người. Hẳn bạn nghĩ rằng họ sẽ đánh giá Người cao nhất. Đáng buồn là họ không tin Người.
Quang cảnh mà bạn có về một nhà thờ lớn thì một khoảng cách rất khác với quang cảnh khi bạn ở thật gần. Từ một khoảng cách, ngôi nhà thờ đứng rực rỡ trong khung cảnh xung quanh. Bạn có thể nhìn thấy những đường nét, hình thể và vẻ đẹp của nó. Nhưng khi ở thật gần, bạn thấy toàn là bụi bẩn và rạn nứt.
Một điều tương tự xảy ra với người ta. Một người không bao giờ là một anh hùng với những người thân. Một thiên tài dường như không được chính bạn bè mình khám phá. Những người ở gần phải chịu đựng vì các khuyết điểm và giới hạn quá rõ ràng. Những người ở xa, trái lại, được sự quí trọng cổ vũ vì chỉ những đức hạnh của người ấy được thấy rõ.
Nhưng điều đã xảy ra với Đức Giêsu ở Nagiarét còn sâu xa hơn thế. Không phải chỉ vì họ không đánh giá đúng Đức Giêsu. Họ khước từ Người. Tại sao ? Bởi vì Người đã chỉ ra sự thiếu đức tin của họ và nói với họ rằng dân ngoại còn cởi mở với Thiên Chúa hơn họ. Những ơn ích từ lời hứa trong giao ước không có ý nghĩa là tất cả.
Đức Giêsu đã chịu đựng số phận của mọi ngôn sứ – bị dân của Người khước từ. Lời ngôn sứ không phải để làm vui lòng người ta, nhưng để nói lên sự thật mà người ta không muốn nghe, sự thật mà người ta thường che đậy. Nhưng động lực khiến Đức Giêsu nói lên sự thật là lòng thương xót của Người.
Người phải làm gì ? Hẳn Người có thể nói : “Tôi đã chán họ! Tôi đã chán mọi người. Vì vậy tôi sẽ rút lui vào một cái lều trong rừng và để cho cỏ dại mọc quanh trên mặt đất”.
Hoặc Người có thể nói : “Họ muốn gì nào ?” Và khi đã tìm ra điều họ muốn, Người có thể xúc tiến cho họ điều đó. Nhưng trong trường hợp này, ơn đặc biệt mà Người muốn cho họ và họ hết sức cần sẽ bị bỏ mất.
Sau cùng, Người có thể cố gắng tìm ra một số ít người sẵn sàng đón nhận điều Người muốn cho họ. Nếu Người tìm được ít người đó, Người có thể cho họ điều đó tùy theo khả năng họ đón nhận. Đó là điều Người đã chọn để thực hiện.
Bị những người thân quen của mình khước từ là một việc tổn thương sâu sắc. Đức Giêsu đã đau buồn bởi những điều xảy đến với Người ở Nagiarét, nhưng Người đã không trở nên cay cú và chôn vùi những ân huệ của Người. Người làm điều Người có thể làm cho những kẻ đã tin Người ở Nagiarét, và rồi Người mang những ân huệ của Người đi nơi khác.

 

TN4-C4. PV/380- ĐỨC MẾN

Có một dây liên kết giữa đức tin và đức mến. Có một câu chuyện minh họa cho điều ấy nói về: TN4-C4

Có một dây liên kết giữa đức tin và đức mến. Có một câu chuyện minh họa cho điều ấy nói về George Herbert, một thi sĩ Anh quốc, một linh mục và nhạc sĩ nghiệp dư. Một ngày nọ, trên đường đi đến một buổi họp về nhạc với một số bạn bè, ông gặp một người nghèo bị ngã ngựa. Cả hai, người và ngựa lâm vào cảnh hiểm nghèo và cần gấp sự giúp đỡ.
Herbert cởi áo dài tu sĩ và giúp cho người ấy ra khỏi lưng ngựa và đứng dậy trước khi lên ngựa trở lại. Rồi ông cho người nghèo ấy một món tiền để mua nước giải khát cho cả người và ngựa. Sau đó, ông lại tiếp tục cuộc hẹn gặp bạn bè.
Dĩ nhiên, ông đã giữ cho mình rất sạch sẽ và chỉnh tề. Vì thế khi ông quay lại với đôi tay bẩn và áo quần dính đầy đất, các bạn ông kinh ngạc. Nhưng khi ông nói với họ về nguyên nhân của điều đó, một người bạn tỏ ý không tán thành việc ông để mình liên lụy vào một việc dơ bẩn như thế.
Nhưng ông đáp : “Suy nghĩ về điều tôi đã làm sẽ giống như âm nhạc đến với tôi lúc nửa đêm. Nếu bỏ đi nó sẽ tạo ra sự bất hòa trong ý thức của tôi. Bởi vì nếu tôi bắt buộc phải cầu nguyện cho mọi người trong cơn hoạn nạn, thì chắc chắn rằng tôi bắt buộc phải đi xa hơn là thực hành những gì tôi cầu nguyện”. Rồi ông nói tiếp : “Giờ đây, chúng ta so dây đàn đi”.
Trong bài đọc 2 hôm nay, thánh Phaolô cho chúng ta một mô tả đẹp nhất về đức mến từ trước tới nay. Ngày nay tình yêu (đức mến) là từ ngữ được dùng nhiều nhất. Nhưng điều mà nền văn hóa chúng ta gọi là tình yêu trong các bản nhạc và phim ảnh thường không có gì là tình yêu cả, nó là sự đối lập của tình yêu. Nó chỉ là ước muốn làm chủ hoặc chiếm hữu.
Ngày nay có nhiều người hoài nghi về sự hiện hữu của tình yêu chân chính. Họ không tin có lòng nhân ái nào mà không bị hoen ố bởi tư lợi. Một lý do của điều ấy là ngày nay chúng ta có sự hiểu biết tốt hơn về tính chất phức tạp trong bản chất con người và sự pha tạp của nhiều động lực đàng sau mỗi việc chúng ta làm.
Thánh Phaolô hiểu rõ những động lực pha tạp đàng sau những việc người ta làm. Ông hiểu người ta có thể thực hiện những hy sinh to lớn như thế nào, dù rằng những hy sinh không có giá trị bởi vì những động lực để thực hiện chúng đều do tư lợi.
Nhưng thánh nhân vẫn tin vào khả hữu của đức yêu thương và đó là trung tâm điểm của người Kitô hữu. Điều mà ông đề nghị trong sự mô tả đức yêu thương rõ ràng là một lý tưởng. Một lý tưởng giống như một ngôi sao. Dù chúng ta không bao giờ có thể đạt đến, nó vẫn luôn hướng dẫn chúng ta. Nhưng điểm chính yếu mà thánh Phaolô đưa ra là sự ưu tiên của đức yêu thương trong đời sống của một Kitô hữu. Chúng ta phải sẵn sàng cố sức thực hiện. Nhưng chúng ta cũng phải sẵn sàng chấp nhận sự yếu đuối và thất bại của chúng ta mà không tức giận và thất vọng.
Khi được đức yêu thương chiếm hữu, người ta sẽ được tràn đầy quyền năng mà người ta không thể từ chối, đó là quyền năng làm bất cứ việc gì, đương đầu với bất cứ điều gì, chịu đựng bất cứ việc gì cho con người hoặc sự việc mà người ta yêu mến.
Yêu thương, nhân từ, bác ái, làm việc vì người khác – đó là những phẩm chất chủ yếu. Đức yêu thương không bao giờ phai tàn ! Những sự việc khác phai nhạt và qua đi, nhưng đức yêu thương tồn tại mãi. Nếu một người yêu thương thật sự thì người ấy cũng có được mọi nhân đức khác.
Đức tin, đức cậy và đức yêu thương (đức mến) là ba nhân đức lớn. Chúng còn mãi nhưng lớn nhất là đức yêu thương. Mọi sự việc qua đi, nhưng lời nói yêu thương, việc làm yêu thương không bao giờ qua đi.

 

TN4-C5. NTGT/55- SỨ VỤ

Người xưa thường nói : “Vạn sự khởi đầu nan”. Điều này cũng đã xảy ra ngay khi Chúa Giêsu: TN4-C5

Người xưa thường nói : “Vạn sự khởi đầu nan”. Điều này cũng đã xảy ra ngay khi Chúa Giêsu khởi đầu sứ vụ rao giảng công khai của Người tại hội đường Nagiarét, nơi sinh trưởng của Người. Thành công vừa mới chớm nở, thì khó khăn, thử thách, không mời đã chợt ập đến, không chịu uốn mình chiều theo những toan tính vị kỷ của những người đồng hương, Chúa Giêsu đã bị chống đối khước từ, thậm chí họ muốn thủ tiêu Người. Dẫu sao, Chúa vẫn dũng mạnh thi hành sứ vụ của Người bằng một trái tim rộng mở, luôn đập những nhịp đập của yêu thương.
Thánh Luca đã ghi lại trong Tin Mừng hôm nay. Sau khi nghe Chúa Giêsu đọc và giải thích đoạn sách của tiên tri Isaia, những người trong hội đường xì xầm với nhau : “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao ? “. Có lẽ, câu nói này không diễn tả một thái độ nghi ngờ, trần tục hóa sự thiêng liêng cao cả của Đức Giêsu, bởi vì họ vừa mới chăm chú lắng nghe và thán phục những lời thốt ra từ miệng Người. Đúng hơn, câu nói đó như diễn tả một sự toan tính đầy ích kỷ, tư lợi của những người đồng hương với Chúa. Họ mang một tâm tính vốn rất thường gặp ở đời : “Một người làm quan cả họ được nhờ”. Nếu người này là con ông Giuse, bây giờ trở thành tiên tri và làm được các phép lạ, vậy tại sao chúng ta lại không lợi dụng địa vị đó để mưu ích cho thôn xóm, bản làng của mình. Câu ngạn ngữ Chúa Giêsu trưng dẫn để nói với họ : “Thầy lang ơi ! Hãy chữa lấy mình” cho thấy, họ muốn Chúa hãy làm cho họ hưởng các phép lạ trước rồi sau đó mới cho người khác được hưởng. Họ muốn đưa ra một tối hậu thư bi đát ép Chúa phải phục vụ họ trước. Vậy Chúa Giêsu đã xử trí thế nào trước thái độ hẹp hòi của họ.
Biết rõ đầu óc cục bộ địa phương, còn nhiều ganh tỵ, mang đậm tính mầu cờ sắc áo Nazareth của những người đồng hương như thế, Chúa Giêsu muốn từ chối ràng buộc ơn cứu độ của Người trong mối liên hệ máu mủ thân quen nên Người đã nói rõ ý định của Người : “Tôi bảo thật các ông, không một tiên tri nào được chấp nhận tại quê hương mình”. Nghĩa là, vị tiên tri không có tình cảm ưu ái với những người đồng hương hơn những người xa lạ. Chúa đã trưng dẫn hai vị tiên tri lớn trong Cựu ước là Elia và Elisa đã có những hoạt động vượt ra ngoài ranh giới tôn giáo cũng như lãnh thổ, để từ chối không ban cho những người Nazareth, mà cả dân tộc Israel độc quyền chiếm hữu ơn cứu độ. Ý thức mình là dân riêng Chúa chọn, nên người Do thái không thể tưởng tượng được một Đấng Cứu thế được Thiên Chúa sai đến lại lưu tâm đến dân ngoại là người tội lỗi, hơn là ghé mắt chiếu cố đến họ. Chính điều này đã khiến họ tức giận. Họ lôi Người ra khỏi thành và xô Người xuống vực. Tuy nhiên, thánh Luca đã ghi lại : “Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi”. Nghĩa là, Chúa vẫn bình tĩnh thi hành sứ vụ trước thái độ “được ăn cả, ngã về không” hay “không ăn được thì đạp đổ” của họ.
Thái độ hẹp hòi của người Nazareth và phản ứng của Chúa Giêsu như thế có giúp chúng ta rút ra bài học gì cho cuộc sống hôm nay không ?
Trong cuộc sống, người tín hữu nếu không tỉnh thức, không xét mình đấm ngực hằng ngày và không thắp lên trong tim ngọn lửa truyền giáo sẽ dễ trượt theo “vết xe đổ” của những người Do thái thời xưa.
Tự hào mình thuộc dòng dõi đạo gốc lâu đời, được rửa tội, được hưởng nền giáo dục và đời sống ơn thánh, dễ làm cho người Công giáo có cảm tưởng, Thiên Chúa thuộc về người Công giáo và phục vụ cho người Công giáo. Và điều này dễ dẫn đến khuynh hướng đóng khung giam hãm Thiên Chúa để độc quyền chiếm hữu Chúa Kitô và ơn cứu độ của Người hơn là chia sẻ cho những anh em chưa được biết Chúa.
Có thể nói khuynh hướng này là “Tội thứ nhất, tội của những người được soi sáng mà không sáng tỏa ra. Họ biết ý nghĩa của cuộc sống, biết hướng đi, biết những điểm có nước, những trạm có xăng dầu nhưng họ không chỉ dẫn cho ai”. Thế nên, thay vì là những rào cản, sẽ tốt hơn, đẹp hơn, ý nghĩa hơn nếu mỗi người trở nên những nhịp cầu dẫn đưa người khác đến với Chúa. Đừng vô tình tự nguyện biến mình thành một trở lực, nhưng hãy cố tình biến đổi thành một trợ lực cho tha nhân.
Một nhà thần học rất nổi tiếng người Đức là cha Karl Rahner có một ý tưởng rất đáng cho chúng ta lưu ý. Ngài nói : “Một cách nào đó, tất cả chúng ta đều là những Kitô hữu ngoại đạo ; trong số những người Công giáo, không phải tất cả đều thực sự là con cái của Nước Trời. Bao nhiêu kẻ xem ra ở bên ngoài thực sự lại ở trong, còn những người bẩm sinh là công dân Nước Trời thì sẽ bị ném vào nơi tối tăm dầy đặc”.
Vì thế, sứ mạng loan báo Tin Mừng đòi hỏi chúng ta phải cố gắng khám phá “những người ngoại có tâm hồn Kitô hữu”. Họ là những người ở gần Thiên Chúa mà không hay biết. Họ bị bóng tối vị kỷ của chúng ta làm che mất ánh sáng. Tuy nhiên, không thể có tâm hồn truyền giáo nếu không có đức ái. Không phải vô tình mà thánh Phaolô đã dùng tới 10 lần chữ “đức ái” trong bài đọc 2 để nhấn mạnh đức ái là nhân đức tuyệt đối cần và quí trọng nhất. Người loan báo Tin Mừng cần phải có và cầu xin hơn cả, vì đây chính là con đường hoàn hảo.
Có lẽ là không quá cường điệu khi nhà bác học Pascal nói rằng : “Tất cả mọi vật chất gộp chung lại, cộng với tất cả mọi tinh thần gộp chung lại, cộng với tất cả mọi sản phẩm của hai thứ đó gộp chung lại, cũng không có giá trị bằng một chút bác ái. Đó là một trật tự khác hẳn, vô cùng cao cả hơn”.
Ước chi “vết đen” của những người Nazareth thời xưa không lập lại và trở thành “phách mạnh” trong đời sống chúng ta, nhưng chớ gì tấm gương đời sống của Chúa hôm nay giúp chúng ta ý thức và mở lòng mình ra trước sứ vụ truyền giáo, dẫu có gặp khó khăn thử thách, thậm chí là chống đối bách hại, vẫn kiên trì và dũng mạnh thi hành sứ vụ bằng một trái tim chan chứa tình yêu như Ngài, trong Ngài và nhờ Ngài.

 

TN4-C6. CSTM/52- ÂN HUE

Đoạn Tin Mừng hôm nay tiếp liền đoạn Tin Mừng Chúa nhật tuần trước, kể lại diễn tiến buổi: TN4-C6

Đoạn Tin Mừng hôm nay tiếp liền đoạn Tin Mừng Chúa nhật tuần trước, kể lại diễn tiến buổi thuyết giảng của Chúa Giêsu trong hội đường Nagiaret. Thánh Luca, tác giả đoạn Tin Mừng này chỉ kể lại việc Chúa Giêsu đọc sách thánh và câu mở đầu bài giảng của Chúa : “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quí vị vừa nghe”. Rồi ngừng lại ở đây, không cho biết thêm Chúa Giêsu đã giảng dạy những gì ngày hôm ấy, để nói về phản ứng của những người nghe : “Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người”. Thái độ này diễn tả một sự cảm phục, sung sướng, đồng thời nhận rằng những điều họ đang nghe vượt khỏi sự chờ đợi, tức là họ không ngờ rằng : Người đang nói với họ thông điệp ân sủng của Thiên Chúa lại chính là người làng của họ, người mà ngôn sứ Isaia loan báo lại chính là con ông Giuse và bà Maria ở làng họ.
Nhưng Chúa Giêsu không muốn cho niềm thích thú bất ngờ này trở thành một thái độ ích kỷ, muốn nhân danh tư cách đồng hương để đòi hỏi, chiếm lãnh cho mình quyền hưởng thụ ân huệ của Đấng Mêsia. Chúa Giêsu phanh phui tâm địa của họ : “Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ : “Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình !”, ý các ông muốn bảo tôi : Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Capharnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào !”. Qua lời phanh phui của Chúa Giêsu cho chúng ta hiểu tâm trạng của dân làng Nagiarét là muốn đòi quyền ưu tiên hưởng những ân huệ Chúa mang đến. Vì thế, Chúa đưa ra hai thí dụ trong Cựu ước  để từ chối không thỏa mãn yêu sách đó. Thí dụ thứ nhất xảy ra thời ngôn sứ Elia, khi trời hạn hán, ông Elia chẳng được Thiên Chúa sai đến với người đàn bà góa nào trong dân Israel, nhưng chỉ được sai đến xứ Xiđôn, đến với một bà góa ở Xarépta. Thí dụ thứ hai xảy ra thời ngôn sứ Elisa, có nhiều người phong hủi tại Israel, nhưng chẳng ai được lành sạch, chỉ có ông Naaman, người xứ Xyri.
Chúa Giêsu nhấn mạnh đến sự tự do của Thiên Chúa khi ban ơn, và vai trò của ngôn sứ là người được Thiên Chúa dùng để ban ơn. Thiên Chúa sai các ngôn sứ Elia và Elisa đem ân huệ của Ngài cho người ngoại giáo. Đối chiếu lại trường hợp Chúa Giêsu, Chúa được sai đến làm phép lạ ở Capharnaum chứ không phải ở Nagiarét. Như thế, qua hai thí dụ rút từ Cựu ước, Chúa Giêsu muốn bảo cho dân làng thấy tính phổ quát của ơn cứu độ. Chúa được sai đến không phải để cứu riêng người Do thái mà là cứu tất cả mọi người. Phản ứng cuối cùng của thính giả là sự công phẫn tột độ. Họ đứng dậy, xô Chúa Giêsu ra ngoài, đẩy Ngài lên đồi, để xô Ngài xuống vực thẳm cho chết đi. Nhưng Chúa Giêsu ngang qua giữa họ mà tiếp tục con đường của Ngài. Con đường của Ngài phải đưa Ngài tới Giêrusalem. Trên con đường ấy Ngài tiếp tục bị người Do thái xô đẩy, và cuối cùng họ xô được Ngài lên thập giá trên đồi Gôngôtha, xô được Ngài xuống mồ. Nhưng Ngài lại chỗi dậy từ trong cõi chết và tiếp tục con đường của Ngài : Ngài đem ơn cứu độ đến cho muôn dân. Ngài sai các môn đệ của Ngài tiếp tục con đường : đi làm chứng cho Ngài đến tận cùng mặt đất.
Từ chối hay đón nhận Chúa là những thái độ hoàn toàn tự do của con người. Người ta có quyền chối bỏ hay có quyền chấp nhận. Thiên Chúa không áp đặt ai hay cố tình đưa họ vào một thế triệt buộc nào đó. Nhưng thời nào cái quyền tự do kia cũng là con dao hai lưỡi khiến phải đề phòng. Kẻ khôn ngoan bao giờ cũng dè dặt. Giả như chúng ta thử đặt mình vào số những người có mặt trong hội đường Nagiarét ấy để nghe Chúa Giêsu, chúng ta sẽ phản ứng thế nào ? Người bên tả, kẻ bên hữu tôi sao vội vàng đến nóng nảy như vậy trước câu Kinh Thánh và những lời chú giải tuyệt mỹ xuất phát từ miệng Chúa. Chúa đã lặp lại lời ngôn sứ Isaia, một vị ngôn sứ được kính trọng nhất của niềm hy vọng Israel, rồi Ngài đã bình giảng những lời đó. Nhưng sau khi nghe, mọi người trong hội đường đều đầy căm phẫn, trục xuất Ngài và muốn giết Ngài. Chứng kiến cảnh tượng ấy chúng ta có quyền trách họ vội nóng, hay tiếc thay cho họ bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng. Nhưng nếu suy nghĩ kỹ, chúng ta sẽ tự trách mình và còn tiếc xót biết bao cơ may trong đời chúng ta đã đánh mất.
Chúa muốn chúng ta trở về với đời sống cụ thể của mình để nhận ra những ơn cao cả Chúa ban cho chúng ta. Phải nhận ra mình được yêu thương, cũng như phải yêu thương đáp trả. Chúng ta hãy nhớ lại biết bao hồng ân đã lãnh nhận để tạ ơn Chúa và cố gắng sống tốt hơn với những hồng ân ấy.

 

TN4-C7. HRK/48- THÀNH KIẾN

Với thành kiến sẵn có đối với những người da đen,bà Anna cho họ là những kẻ lười biếng, trộm: TN4-C7

Với thành kiến sẵn có đối với những người da đen,bà Anna cho họ là những kẻ lười biếng, trộm cắp, nghiện ngập, độc ác và giết người không gớm tay. Bà luôn lưu ý những nơi mình đi qua và mỗi lần thấy bóng dáng một người da đen là bà lánh sang nơi khác. Một hôm bà vừa bước vào thang máy thì một bóng người da đen to lớn cùng bước vào đóng ngay cửa lại làm bà không thể trở lui, bà chết điếng người và té xỉu. Tỉnh dậy nơi nhà thương, bàrất lấy làm hổ thẹn khi biết được rằng chính người da đen cùng đi trong thang máy với bà là một ca sĩ nổi tiếng tên là Vicky. Anh được mọi người mộ mến và chính anh đã đỡ bà khi té xỉu  và đưa đến nhà thương.
Thành kiến làm chúng ta ra mù quáng không thể nhận diện được thực tại về những người chúng ta gặp thường ngày một cách đúng sự thật. Những người làng Nagiarét thời Chúa Giêsu cũng mắc phải khuyết điểm như bà Anna. Sau thời gian rao giảng tại Capharnaum, Chúa Giêsu trở về quê hương Nagiarét và rao giảng tại hội đường. Dân chúng biết rõ nguồn gốc nhân trần của Ngài nên nói : Người này không phải là con ông thợ mộc Giuse hay sao ? Họ đã nghe biết những sự lạ Ngài thực hiện tại Capharnaum, những sự lạ chứng minh nguồn gốc thần linh, Ngài là con Thiên Chúa được Chúa Cha sai xuống trần gian để cứu rỗi con người. Bởi vậy, những thành kiến không cho phép những họ nhìn xa hơn. Họ bị giới hạn trong cảm nghĩ trần tục của họ, muốn Ngài thực hiện những sự lạ để hưởng lợi. Họ không thể vượt qua khía cạnh trần tục, khía cạnh vật chất ích kỷ để có lòng tin vào Chúa. Vì thế họ đã bị Chúa nhắc khéo nhớ lại chuyện xưa đã xảy ra trong cuộc đời của tiên tri  Elia và Elisêô, đó là trường hợp của bà góa tại Sarepta và tướng Naaman người Syria. Lời nhắc  khéo của Chúa làm cho họ bực tức và chống đối. Họ đem Ngài lên nơi cao để xô Ngài xuống vực thẳm cho chết. Quả thật, thành kiến đã làm cho họ mù quáng và dẫn đến những hành động điên rồ như vậy.
Nhưng thử hỏi chúng ta hôm nay thì sao ? Chúng ta tin thờ Đức Kitô nào đây ? Một Đức Kitô chỉ àm phép lạ để thỏa mãn những nhu cầu ích kỷ của riêng mình ? Hay một Đức Kitô Con Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta và mời gọi chúng ta bước theo Ngài ? Làm thế nào để chứng thực trong đời sống là chúng ta đã tin vào một vị Thiên Chúa làm người để cứu rỗi chúng ta ? Không có cách nào khác ngoài con đường bác ái yêu thương trong cuộc sống thường ngày.
Xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi những thành kiến ngăn cản chúng ta  nhìn thấy Chúa đến với dung mạo con người nơi những người anh chị em, nơi những biến cố của cuộc sống. Vì thành kiến, chúng ta đã không nhận ra điều tốt nơi những người anh chị em và vì không nhận ra những điều tốt ấy, thì làm sao chúng ta có thể nhận ra Chúa thực sự hiện diện nơi họ được.

 

TN4-C8. SCĐ/463- KIÊN VỮNG VÀ DỊU HIỀN

Thôi Trữ là quyền thần nước Tề, định giết vua Trang Công, bèn hội họp sĩ phu lại cùng nhau: TN4-C8

Thôi Trữ là quyền thần nước Tề, định giết vua Trang Công, bèn hội họp sĩ phu lại cùng nhau thề thốt. Ai nấy đều sợ hãi răm rắp vâng lời. Duy có Án Tử nghiễm nhiên như không, nhất quyết không chịu thề. Thôi Trữ bảo : Nếu ngươi nghe ta, khi lấy được nước, ta sẽ cho một nửa. Bằng không, ta giết ngay lập tức. Án Tử vẫn không biến sắc ung dung nói : lấy lợi nhử người ta, bảo người ta phản bội vua là bất nhân; lấy binh khí hiếp người ta, làm người ta mất chí khí là bất dũng. Giết thì giết, ta đây không theo việc bất nhân của nhà ngươi đâu. Thôi Trữ nghe nói vậy, không dám làm gì. Án Tử đứng dậy, ung dung bước ra.
Qua đoạn Tin mừng hôm nay, những người đồng hương với Chúa Giêsu cảm thấy khó chịu vì họ không thể tin rằng “Thần khí Chúa” lại ngự xuống trên con ông Giuse thợ mộc. Họ cảm thấy nghi ngờ vì không thể chấp nhận một con người nghèo khổ làng Nagiarét lại là tiên tri, lại là Đấng Thiên sai. Họ càng căm phẫn khi con người ấy không chịu thực hiện những phép lạ mà họ yêu cầu. Thế là bạo động nảy sinh, họ muốn tiêu diệt Ngài cho khuất mắt. Đúng như lời Ngài đã nói : Không một tiên tri nào được tiếp đón nơi quê hương mình. Thế mới ứng nghiệm lời ông già Simêon : Trẻ này là dấy hiệu bị người đới chống báng.
Nếu dân làng Nagiarét ép Ngài làm phép lạ để minh chứng Ngài là tiên tri, thì các đầu mục Do Thái cũng đòi Ngài chứng minh giáo lý của Ngài là chính thống. Nếu dân làng Nagiarét tố cáo Ngài là lộng ngôn phạm thượng thì bọn pharisêu cũng kết tội Ngài dựa vào thế gía của quỉ vương. Nếu dân làng Nagiarét cố tìm cách giết Ngài, thì dân thành Giêrusalem cũng quyết tâm đóng đinh Ngài vào thập giá. Mỗi người Kitô hữu đều có thể hiểu được thế nào là bị xua đuổi, bị loại trừ, bị kỳ thị và bị bỏ rơi, vì “nếu thế gian đã ghen ghét các con, thì hãy nhớ rằng họ đã ghét Thầy trước”. Thế nhưng ít có ai cảm nghiệm được tâm trạng của Chúa Giêsu vào những lúc như thế này : Ngài có căn thù những kẻ ruồng rẫy Ngài không ? Ngài có đầu hàng trước nghịch cảnh không ? Nói như Martin Luther King : Tôi vui mừng vì Thiên Chúa chúng ta thờ là Thiên Chúa có tinh thần kiên vững và có con tim dịu hiền.
Nếu Thiên Chúa chỉ là đấng có tinh thần kiên vững, thì Ngài sẽ là một Thiên Chúa xa cách, lạnh lùng, ngự trị một nơi nào đó trên chốn trời cao để ngắm nhìn thế sự thăng trầm. Nhưng nếu Ngài chỉ có con tim dịu hiền, thì Ngài sẽ là một Thiên Chúa ủy mị nhu nhược, không thể hành động khi mọi sự đi lệch hướng. Đứng trước cảnh bị ruồng rẫy hôm nay, con tim của Ngài không hề chai đá và tinh thần của Ngài không chút bạc nhược. Ngài có đủ tinh thần kiên vững để vượt trên thế giới và có con tim đủ dịu hiền để ở giữa con người.
Bài học chúng ta cần rút ra, đó là Thiên Chúa mạnh mẽ vô song, có thể băng qua giữa họ mà đi, nhưng Ngài cũng là Đấng giàu lòng thơng xót. Khi chúng ta ngỗ nghịch xúc phạm đến Ngài, khi chúng ta muốn xô Ngài xuống vực thẳm, thì chúng ta cần biết rằng chính lúc đó Ngài đang yêu thương chúng ta và sẵn sàng cho chúng ta một cơ hội để quay trở về. Thiên Chúa là Đấng có tinh thần kiên vững trong phán quyết công minh, nhưng Ngài cũng là Đấng có tình dịu hiện trong tình thương và ân sủng.

 

TN4-C9. SCĐ/468- TIN YÊU

George Herbert là một linh mục, một thi sĩ và một nhạc sĩ nghiệp dư. Ngày kia, khi ông đang: TN4-C9

George Herbert là một linh mục, một thi sĩ và một nhạc sĩ nghiệp dư. Ngày kia, khi ông đang trên đường đến tham tự một cuộc hòa nhạc, thì gặp một người nghèo bị té ngựa. Ông đã dừng lại, cởi áo choàng, xắn tay áo để đỡ người ấy lên ngựa. Xong xuôi mọi chuyện, ông mới tiếp tục đến phòng hòa nhạc.
Bình thường ông ăn mặc rất sạch sẽ, nhưng hôm nay, tay chân và quần áo của ông đều dính đầy bùn đất. Vì thế bạn bè rất ngạc nhiên. Khi ông kể lại chuyện mình đã làm dọc đường thì một trong các người bạn tỏ ra không đồng ý vì cho rằng việc đó không cần thiết và cũng không phải là trách nhiệm của ông. Nhưng ông đã trả lời như  sau : Tôi thường cầu nguyện cho những người nghèo khổ. Hôm nay tôi có dịp giúp đỡ người nghèo khổ. Nếu tôi không ra tay giúp đỡ, thì tôi không làm đúng như lời mình cầu nguyện. Cũng giống như cây đàn chưa lên dây đúng cung vậy.
Thánh Giacôbê đã nói : đức tin không có việc làm là đức tin chết. Những việc làm biểu lộ đức tin dễ thấy nhất là những việc bác ái. Ngày nay, hai chữ được người ta nói nhiều nhất là “tình yêu”. Nhưng hình như cái mà người ta gọi là tình yêu trong các phim ảnh và bài hát lại chẳng phải là tình yêu gì cả. Đó chỉ là khát vọng, chiếm hữu và chế ngự. Nó ngược hẳn với tình yêu.
Một trong những lý do là ngày nay người ta đã hiểu rõ hơn về tính phức tạp trong bản chất con người. Từ đó, người ta làm gì cũng bị thúc đẩy bời nhiều động cơ. Đằng sau một việc xem ra bất vụ lời, thì cũng đã có động cơ vụ lợi.
Bởi thế, thánh Phaolô khuyến cáo chúng ta coi chừng những động cơ đằng sau những việc tốt chúng ta làm. Thánh nhân nói : đức mến đích thực thì không ghen tương, không vênh vang tự đắc. Thánh nhân còn nói tiếp : Giả như tôi đem hết gia tài, cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.

 

TN4-C10. NGƯỜI TỐT THÌ KHÓ TÌM

Chúng ta đã nghe câu đố: "Con gì buổi sáng thì đi bằng bốn chân, buổi trưa bằng hai chân, và: TN4-C10

Chúng ta đã nghe câu đố: "Con gì buổi sáng thì đi bằng bốn chân, buổi trưa bằng hai chân, và buổi chiều bằng ba chân?" Có người giải thích rằng đó là con người. Khi còn bé, con người đi bằng cả hai tay và hai chân. Đến khi trưởng thành thì con người đi bằng hai chân, tuy nhiên, đến tuổi già thì con người đi bằng ba chân bởi vì đó là cây gậy. Điều thú vị ở trong câu truyện này đó chính là thế hệ của chúng ta đang sống đây cũng phải đương đầu với câu hỏi liên quan đến con người: "Tôi là ai và con người là gì?" Trừ phi chúng ta trả lời được câu hỏi này, nếu không thì cuộc sống của chúng ta sẽ dần dần chấm dứt một cách vô ích. "Tôi là ai?" là một câu hỏi thúc bách trong thời đại chúng ta. Herman Hesse, một tác giả người Thụy Sĩ mà nhiều bạn trẻ rất thích, đã nói rằng "Who I Am?" là một câu hỏi rất quan trọng bởi vì nó là cốt lõi và nền tảng của tất cả những câu hỏi khác, cách xử sự của chúng ta với chính chúng ta, sự giao tế với những người khác, và sự tiếp xúc với thế giới của chúng ta. Đúng thế, một trong những vấn đề mà chúng ta đã phải đương đầu, ở trong xã hội thế giới này, những người không biết họ là ai đang chạy vòng quanh thế giới để nói với chúng ta trở nên những con người như thế nào. Và như thế sự lộn xộn càng thêm lộn xộn. Chúng ta sẽ không tiến lên được một chút nào hết cho tới khi chúng ta trả lời câu hỏi này.
Thiên Chúa nhân từ, người đã dựng nên chúng ta, đã cho chúng ta câu trả lời cho câu hỏi "Tôi là ai?" Ngài đã không trả lời chúng ta cách trừu tượng và chúng ta nên tạ ơn Ngài về điều này. Thường thường những câu hỏi này được đặt ra và chúng ta bị điên đảo với những câu trả lời trừu tượng. Platô, một triết gia nổi tiếng, định nghĩa con người là con vật hai chân và ít lông lá. Diogenes ngay sau đó đã bắt một con gà, nhổ hết lông của nó và giơ lên cho Platô coi và nói, "Này triết gia, đây là con người!" Đây là chuyện xảy ra khi chúng ta dùng triết lý để định nghĩa tôn giáo một cách chung chung. Thiên Chúa đã làm một cách khác. Các bạn hãy suy nghĩ một phút, hãy suy nghĩ xem coi nếu chúng ta nhìn thấy một tấm gương tốt của một người thì điều đó có nghĩa là gì. Không phải là nguyên lý hoặc chung chung, nhưng là điều mà khoa học thường nói rất nhiều ngày nay: một thần tượng, một mẫu người tốt. Tuy nhiên người tốt thì thật là khó tìm!
"Anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu" (Pl 2:5), chính là điều mà Thánh Phaolô đã viết. Tất cả khoa thần học đều dựa trên câu nói này. "Hãy lấy Chúa Kitô làm biểu tượng." Chúng ta vẫn thường nghe câu nói này trong cuộc sống của mình. Hết nhà giảng thuyết này đến nhà giảng thuyết khác cũng đều lập đi lập lại câu nói này, "Hãy lấy Chúa Kitô là khuôn mẫu cho cuộc sống." Thế nhưng vấn đề mà nhiều người chúng ta gặp đó là chúng ta chỉ nghe và biết câu nói này một cách hời hợt bên ngoài mà không biết đem vào thực hành trong cuộc sống để thân thể, tinh thần, lý trí của chúng ta trở nên giống Chúa Kitô. Đây là điều mà Thánh Phaolô đề cập đến. Ngài van nài chúng ta hãy hiểu điều vĩ đại mà Thiên Chúa đang làm cho chúng ta; hãy hiểu Thiên Chúa đang chỉ cho chúng ta một Thần Tượng, một Con Người tốt, Ngài sẽ nói cho chúng ta cách làm người.
Nếu Chúa Kitô là thần tượng, thì chúng ta cần phải hiểu biết Ngài. Tuy nhiên, đó là chỗ mà chúng ta sẽ phải đương đầu với nhiều khó khăn. Có rất nhiều người mang danh là Kitô hữu, đi nhà thờ đều đặn, nhưng không biết một tí chút gì về đời sống và sứ mạng của Chúa Kitô. Đó thật là một điều phi lý khi chúng ta gọi mình là Kitô hữu, mà chúng ta không biết Chúa Giêsu Kitô. Một cách ngẫu nhiên, đó là điều mà nhiều người trên thế giới đang nói với chúng ta. Có lẽ đang có những điều xảy ra trong giây phút chúng ta tụ họp nơi đây, tuy nhiên có thể có một điều gì đó đặc biệt sẽ xảy ra. Chúng ta nên dành thêm thời giờ để học hiểu về Chúa Giêsu. Chúng ta nên quyết định, ngay bây giờ, sẽ tìm giờ để đọc Thánh Kinh theo chiều sâu của nó. Chúng ta sẽ được biến đổi thành người tốt như Chúa Giêsu.
Trong câu truyện "Cry the Beloved Country" của tác giả Alan Paton, một người thanh niên trẻ được sinh ra khi cả hai bố mẹ anh đã đứng tuổi. Khi lớn lên, anh đã bỏ nhà và đi đến thành phố để kiếm sống. Anh đã không có liên lạc gì với gia đình cả. Sau cùng, người cha già đã quyết định vào thành phố để thăm người con. Bởi vì ông không quen thành thị, nên ông đã gặp nhiều vất vả không biết phải bắt đầu từ con đường nào để tìm con ông. Sau đó, ông bắt gặp được một vị mục sư và được vị này giúp đỡ để đi tìm con của ông. Khi sự việc được tiến triển tốt đẹp, người cha già đã cố gắng để tìm những lời lẽ đẹp đẽ để cám ơn vị ân nhân của mình, nhưng ông không biết phải nói làm sao, chỉ biết nói câu, "Mục sư là một người tốt!" Vị mục sư trả lời, "Tôi không phải là một người tốt. Tôi là một kẻ tội lỗi và ích kỷ. Thế nhưng nhờ Chúa Giêsu đã đặt tay Ngài trên tôi, chỉ có vậy thôi."
Một người tốt thì thật là khó tìm, nhưng Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một người rất tốt, đó chính là Con Một Ngài, Đức Giêsu để chúng ta có thể noi theo mà không sợ bị lừa dối.

 

TN4-C11. Không được chấp nhận

Tin là thái độ căn bản trong cuộc sống. Chẳng ai có thể sống mà không tin. Không tin người: TN4-C11

Tin là thái độ căn bản trong cuộc sống. Chẳng ai có thể sống mà không tin. Không tin người này nhưng lại tin người kia. Không tin lý thuyết này nhưng lại tin giả thuyết nọ. Thành ra ai cũng phải chọn một niềm tin. Không phải chọn một cách vu vơ, mù quáng, nhưng một cách sáng suốt và tự do.
Điều khó là giữ cho lòng mình được tự do thanh thoát, không bị những định kiến ràng buộc hay tư lợi chi phối, nhờ đó chúng ta dám chọn sự thật, dù sự thật đó làm đổ nhào mọi điều ta nghĩ, và xoay lại hướng đi của cả đời ta.
Có lẽ dân làng Nadarét ít có thứ tự do này.
Khi Đức Giêsu giảng trong hội đường Nadarét thân quen, họ đã ngỡ ngàng thán phục trước lời Ngài nói. Hãnh diện biết mấy khi một thành viên trong làng nay được tiếng tăm lẫy lừng khắp miền Galilê! Nhưng tin Đức Giêsu là một ngôn sứ lại là điều họ không làm được.
"Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?"
Ký ức của họ vẫn còn giữ nguyên những hình ảnh của Đức Giêsu  sống tại đây hơn ba mươi năm qua. Một cuộc sống quá đỗi bình thường! Một ông thợ mộc, con một ông thợ mộc khác. Gốc gác, họ hàng của Đức Giêsu, họ đều nắm rõ. Tiếc là họ đã không thể đi xa hơn.
Cái hiểu biết trước đây khiến họ mãn nguyện, tự hào, và tưởng mình chẳng còn gì để biết thêm về Giêsu.
"Những gì ông đã làm ở Caphácnaum, hãy làm ở đây xem."
Người làng Nadarét không tin Đức Giêsu là ngôn sứ. Họ muốn Ngài chứng minh bằng phép lạ. Họ muốn thấy tận mắt, chứ không chỉ nghe nói thôi. Nhưng Đức Giêsu không làm phép lạ để ép người ta tin.
Chính lòng tin đưa đến phép lạ, mà Ngài lại chẳng gặp lòng tin nào nơi người đồng hương. Lòng chai đá cứng cỏi của họ chuyển thành sự phẫn nộ, khi Đức Giêsu kể chuyện hai ngôn sứ Êlia và Êlisa được Thiên Chúa sai đến thi ân cho dân ngoại.
Dân làng không giữ được Đức Giêsu cho riêng mình. Khi thấy mình chẳng còn chút đặc quyền, đặc lợi, thì họ tìm cách thủ tiêu Ngài.
Tin Đức Giêsu là ngôn sứ, là Mêsia, là Con Thiên Chúa, điều đó chẳng dễ dàng chút nào. Người không tin cũng có thể đưa ra bao lập luận.
Điều cần thiết là phải tìm kiếm chân lý với cả tâm hồn.
Chúa Thánh Thần vẫn soi sáng cho người thành tâm thiện chí.
Hôm nay, chúng ta đã biết, tin và gần gũi Đức Giêsu, nhưng chúng ta vẫn có nguy cơ tương tự như người Nadarét: tưởng mình đã múc cạn được mầu nhiệm hay muốn độc quyền giữ Đức Giêsu cho mình.
Gợi Ý Chia Sẻ
Theo ý bạn, dựa vào đâu để bạn tin người khác? Dựa vào đâu để bạn biết người đó thành thật?
Người dân làng Nadarét gặp khó khăn khi phải tin Đức Giêsu. Con người hôm nay gặp khó khăn nào khi tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, dân làng Nadarét đã không tin Chúa vì Chúa chỉ là một ông thợ thủ công.
Các môn đệ đã không tin Chúa khi thấy Chúa chịu treo trên thập tự. Nhiều kẻ đã không tin Chúa là Thiên Chúa chỉ vì Chúa sống như một con người.
Cũng có lúc chúng con không tin Chúa hiện diện dưới hình bánh mong manh, nơi một linh mục yếu đuối, trong một Hội Thánh còn nhiều bất toàn.
Dường như Chúa thính ẩn mình nơi những gì thế gian chê bỏ, để chúng con tập nhận ra Ngài bằng con mắt đức tin.
Xin thêm đức tin cho chúng con để khiêm tốn thấy Ngài tỏ mình thật bình thường giữa lòng cuộc sống.

 

TN4-C12. CHI TIẾT HAY Nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay

Theo phong tục xã hội Do Thái thời đó, người con tiếp tục nghề nghiệp của cha ông mình. Không: TN4-C12

Theo phong tục xã hội Do Thái thời đó, người con tiếp tục nghề nghiệp của cha ông mình. Không ai được làm những việc gì trội hơn. Đây là quan niệm căn bản về danh dự của họ. Vì vậy khi Đức Giêsu vượt ra ngoài giới hạn đó Ngài đã bị dị nghị và mang tiếng xấu.
"Đây không phải là con ông Giuse sao?" Thánh Luca đã dùng lời của đám đông để nói lên quan niệm của họ theo đó Đức Giêsu đã không tiếp tục công việc của Giuse là đã làm mất danh dự của gia đình.
Một quan niệm khác nữa của người Do Thái là "gia đình là trên hết". Khi Đức Giêsu chữa lành cho một người không phải trong làng hoặc gia đình, một lần nữa Ngài đã đi ngược lại tập tục.
Việc Êlia và Êlisa làm phép lạ cho người ngoại giáo cho thấy rằng không phải chỉ có người Do Thái mới được cứu chuộc.
Trong khi phản ứng phẫn nộ của đám đông tiên báo trước sự khổ nạn và sự chết của Đức Kitô, thì sự tránh đi của Ngài để tiếp tục rao giảng tiên báo về sự phục sinh khải hoàn và Lời Chúa được rao truyền khắp nơi.
Đoạn này nói đến việc Đức Giêsu bị chống báng - điều mà ông Simêon đã tiên đoán (2:34). Đức Giêsu bị dân của Ngài chối bỏ nhưng đã được các dân ngoại đón nhận. Các điểm để so sánh rất đơn giản và rõ ràng:
Đức Giêsu = một vị ngôn sứ
Na-da-rét = Do Thái
Ca-phác-naum = Dân ngoại
Một Điểm Chính
Đức Giêsu xác nhận Ngài là Đấng được sai đến, là Đấng Cứu Thế.
Suy Niệm
Chúa luôn luôn tỏ sự yêu thương của Ngài qua hành động. Tôi đã tỏ sự yêu thương của Ngài với anh chị em tôi ra sao ?
Tôi đã nghe hoặc phản ứng thế nào đối với người tôi không thích mặc dù họ có ý ngay lành?
Thật là khó để có thể hiểu được Chúa Giêsu đã chịu đau khổ đến mức nào vì yêu thương. Xin bạn hãy suy niệm về tình yêu thương vô biên của Ngài dành cho mỗi người chúng ta.

 

TN4-C13. Đồng hương chối từ - Lm. Đan Vinh

Ý chính : Cuộc xung đột giữa người đồng hương với Đức Giêsu :
Học sống Lời Chúa
1) Chủ đề 1 : Chúa Giêsu bị người đồng hương xua đuổi :
- Lời Chúa : “Bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1,5).
- Câu chuyện 1 : Đứa con bị từ chối :
 

Đệ nhị thế chiến vừa kết thúc, một người lính trẻ đã viết một lá thư về nhà để báo tin anh còn: TN4-C13

Đệ nhị thế chiến vừa kết thúc, một người lính trẻ đã viết một lá thư về nhà để báo tin anh còn sống và sắp trở về đoàn tụ với gia đình. Trong thư có đoạn viết như sau : “ Thưa ba má, con muốn đưa một anh bạn thân cùng một đơn vị, đã từng chiến đấu bên con. Nhưng anh đã bị cụt một giò trong cuộc chiến vừa qua”. Người cha viết thư trả lời như sau : “Con cứ mời bạn con về ở với gia đình ta. Xưởng cưa của ba có thể thâu nhận những người tàn tật như thế vào làm việc”. Trong lá thư tiếp theo, anh lính trẻ lại cho biết thêm một chi tiết nữa. Anh viết : “Thưa ba má, anh bạn của con không những bị cụt chân mà còn cụt cả một bàn tay nữa!”. Người cha liền hồi âm trả lời như sau : “Con ơi, ba không thể thu nhận vào xưởng của ba một con người vừa cụt tay cụt chân như anh bạn của con được. Một người như thế thì còn làm được gì hữu ích cho xã hội nữa!”. Nhận được bức thư với những lời như vậy, anh lính trẻ ngưng viết thư và quyết định không trở về đoàn tụ với cha mẹ nữa. Vì anh và người bạn tàn phế trong bức thư kia chỉ là một!
- Câu chuyện 2 : Thành kiến biến con người thành mù quáng:
Bà Anna là một người có thành kiến rất tệ hại về người da đen. Bà cho rằng : người da đen hôm nay là con cháu của bọn nô lệ ngày xưa. Họ là những kẻ lười biếng, gian dối, trộm cướp, nghiền ma tuý, say xỉn, độc ác, hãm hiếp phụ nữ và giết người không gớm tay…Với thành kiến như vậy, bà Anna luôn đề cao cảnh giác và tránh tiếp xúc với bất cứ người da đen nào. Nhưng rồi một hôm khi bà vừa bước vào một chiếc thang máy thì một bóng người da đen cao lớn cũng bước theo sau và đứng ngay sau lưng bà. Bà chưa kịp thối lui ra ngoài thì cửa thang máy đã tự động khép lại. Bà chết điếng người và bị ngất xỉu không còn biết gì nữa. Tỉnh dậy tại phòng cấp cứu, bà cảm thấy xấu hổ khi biết được rằng : người da đen to lớn kia chính là ca sĩ Lê-o-nát Vi-xi (Leonard Vichy), là một ca sĩ nổi tiếng và được nhiều người mộ mến. Cũng chính anh ta đã đưa tay đỡ khi bà bị ngất xỉu trong thang máy và sau đó chính anh đã đưa bà đến nhà thương cấp cứu.
- Suy niệm :
+ Thành kiến làm cho người ta mù quáng, đến nỗi không thể nhận ra đâu là sự thật, và khó lòng có được nhận xét đúng đắn về người khác. Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Đức Giêsu trở về thăm quê nhà Nadarét. Những người đồng hương tuy thán phục lời giảng của Người, nhưng vì có thành kiến về gia đình tầm thường của Người, nên đã không chấp nhận sứ mệnh Thiên Sai của Người. Họ muốn thấy Người làm phép lạ để chứng minh sứ mệnh ấy. Khi không được thoả mãn, và nhất là sau khi nghe Người không phân biệt dân Do Thái với dân ngoại, dân thành ngoại giáo Ca-phác-na-um hay dân Nadarét đồng hương…thì họ đã nổi giận và tìm cách giết hại Người.
+ Qua 2000 năm từ thời Đức Giêsu đến nay, Đức Giêsu vẫn tiếp tục bị người đời chối bỏ khước từ nơi những kẻ nghèo hèn bệnh tật và bị bỏ rơi. Chính khi chúng ta từ chối giúp đỡ một người đói rách đau khổ, là ta từ chối và xua đuổi chính Đức Giêsu giống như dân Nadarét xưa (x. Mt 25,45). Mỗi người chúng ta được mời gọi đón nhận Thiên Chúa, tin Đức Giêsu và làm chứng nhân cho Người. Ta chỉ có thể chu toàn sứ mệnh làm chứng cho Chúa khi ta thực hành yêu thương tha nhân.
- Thảo luận : Thành kiến là gì ? dân làng Nadarét đòi điều kiện nào khi tin Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai ? con người hôm nay đòi hỏi những gì để tin theo Chúa ?
2) Chủ đề 2 : Sức mạnh của sự thật.
- Lời Chúa : “Người băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4,30).
- Câu chuyện : Sức mạnh của sự thật.
Thôi Trữ là một quyền thần nước tề, định giết vua Trang Công để đoạt ngôi báu. Ông ta cho mời các quan chức triều đình đến tư dinh để cùng nhau bàn mưu tính kế và uống máu ăn thề. Sau khi nghe Thôi Trữ tuyên bố làm phản chống lại nhà vua, các quan chức triều đình hiện diện đều khiếp nhược trước uy thế của Thôi Trữ và răm rắp nghe theo. Duy chỉ có An Tử là vẫn điềm nhiên tự tại và không chịu thề thốt gì cả. Bấy giờ Thôi Trữ bảo với án Tử rằng : “Nếu người nghe theo ta, thì sau khi ta thâu đoạt được ngai vàng, ta sẽ chia một nửa nước cho. Còn nếu không nghe ta thì ngươi sẽ bị tiêu diệt ngay !”. Trước khí thế của quân phản loạn, nhưng An Tử vẫn luôn bình tĩnh. Ông trả lời rằng : “Lấy cái lợi để nhử và bắt người ta chống lại quân vương là bất trung. Lấy binh khí để hiếp đáp làm người ta sợ hãi phải nghe theo là thất đức. Giết thì giết ! ta đây quyết tâm không theo một việc bất trung thất đức của ngươi đâu !”. Nói xong An Tử đứng dậy ung dung ra về, thế mà Thôi Trữ cũng không dám ra lệnh cho quân lính ngăn cản giết hại An Tử.
- Suy niệm :
+ Thôi Trữ quyền hành là thế mà chỉ cần một câu nói, Án Tử đã làm cho chùn bước. Thế mới biết : sự thật có sức mạnh còn hơn cả thế lực quyền uy !
+ Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại một câu chuyện xảy ra tương tự về Đức Giêsu. Sau khi từ chối không làm dấu lạ như yêu cầu của dân làng, vì họ cứng lòng tin, thì “Mọi người trong hội đường đều đầy phẩn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4,28-30). Đức Giêsu chính là sự thật, nên từ nơi Người toát ra một sức mạnh phi thường, khiến đám người bạo động kia không thể làm gì hại được Người.
+ Mỗi người tín hữu chúng ta cũng cùng chung số phận bị ngược đãi giống như Đức Giêsu như Người đã tiên báo : “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó ghét Thầy trước…Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em” (Ga 15,18.20. Nhưng khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì. Thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em (x. Mt 10,20).
- Thảo luận : Chúa Giêsu luôn quan tâm, ưu ái và đề cao dân ngoại khi có dịp tiếp xúc với họ. Vậy tôi phải đối xử thế nào đối với những anh em khác tôn giáo mà tôi tiếp xúc hằng ngày để đem Chúa đến cho họ ?
Hiệp sống nguyện cầu
1) Lạy Chúa Giêsu, dân làng Nadarét không tin Chúa vì theo họ biết : Chúa chỉ là một anh thợ mộc và cha mẹ của Chúa cũng chỉ là những người dân quê bình thường giống như họ. Môn đệ không tin Chúa nên đã bỏ Thầy mà chạy trốn khi kẻ thù đến bắt.
Lạy Chúa, cũng có những lúc chúng con không tin Chúa hiện diện nơi một tấm bánh nhỏ bé tầm thường, nơi một vị chủ chăn bất toàn, trong một Hội Thánh còn có nhiều thiếu sót tội lỗi. Dường như Chúa thích ẩn mình nơi những gì thế gian chê bỏ, để chúng con nhận ra Chúa bằng con mắt đức tin. Xin thêm đức tin cho chúng con, để chúng con luôn nhìn thấy Chúa đang hiện thân nơi những người nhỏ bé và đau khổ giữa lòng xã hội hôm nay.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
2) Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ cầu cùng Chúa giúp chúng con có được tình yêu của Chúa, vì nhiều khi chúng con bị cám dỗ trả thù những kẻ có ác cảm, thù ghét và làm hại chúng con. Xin giúp chúng con có sức mạnh của Thánh Thần để không ngã lòng khi gặp các tai ương hoạn nạn liên tiếp đổ xuống cuộc đời chúng con. Xin ban cho chúng con lòng dũng cảm để không đầu hàng trước những khó khăn và trách nhiệm luôn đè nặng trên chúng con. Xin giúp chúng con trở thành muối mặn để ướp mọi người khỏi hư hỏng, trở thành ngọn đèn cháy ánh sáng tin yêu, xin cho chúng con trở nên những vì sao luôn chiếu tỏa ánh sáng như lời Chúa dạy : “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em, Đấng ngự trên trời”.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con

 

TN4-C14. Ngôn sứ thời nay - Phaolô Ngô Suốt

Hiện nay trên thế giới, người ta chia tôn giáo ra làm hai loại: một loại gọi là tôn giáo dạng tiên: TN4-C14

Hiện nay trên thế giới, người ta chia tôn giáo ra làm hai loại: một loại gọi là tôn giáo dạng tiên tri gồm Kitô giáo, Do Thái giáo; và Hồi giáo. Loại thứ hai gọi là tôn giáo dạng giải thoát gồm Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo và các tôn giáo còn lại. Tôn giáo của chúng ta đúng là phát xuất từ Thần Linh, được loan truyền, dạy dỗ qua các tiên tri thời Cựu Ước, chuyển sang thời Tân Ước được các Tông Đồ của Hội Thánh kế tục.
Trong cả bốn cuốn Tin Mừng đều có nói đến việc Chúa Kitô được thiên hạ gọi là ngôn sứ, riêng các Thánh sử không bao giờ cho rằng Ngài là ngôn sứ. Còn Chúa Kitô thì Ngài không hề phủ nhận cũng như xác nhận mình là ngôn sứ. Điều này cho chúng ta thấy Ngài vừa là Thiên Chúa, vừa là Vị Ngôn Sứ hoàn hảo nhất (Ngôn sứ danh từ gốc Hy Lạp có nghĩa là nói nhân danh người khác, chính Chúa Kitô đã nhiều lần nói về Thiên Chúa Cha, Đấng đã sai Ngài). Trong bài Tin Mừng hôm nay chúng ta được nghe Vị Ngôn Sứ tối cao nói thẳng, nói thật với dân chúng. “Trực ngôn” lúc nào cũng “nghịch nhĩ”, bởi vậy người ta tìm cách giết chết Ngài. Phải chăng đây là cái giá, kết quả đang chờ đón các ngôn sứ của Thiên Chúa !
Giêrêmia là một trong bốn đại tiên tri thời Cựu Ước, đã được Thiên Chúa cho biết :” Trưóc khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân”. Đúng là Thiên Chúa đã chuẩn bị, Ngài chọn Giêrêmia từ xa xưa, sai ông đi “để nhổ và lật đổ, để hủy và để phá”. Tiếc thay, sứ vụ của ông quả đã thất bại, chính ông cũng chết tại Ai cập, nhưng dung mạo của ông không ngừng lớn lên sau khi ông chết. Ông là một người có tâm hồn dịu hiền, sinh ra để được yêu mến, luôn luôn nêu cao những liên lạc thân mật tâm hồn phải có đối với Thiên Chúa, ông đã quên mình, chịu đau khổ để phục vụ Thiên Chúa, nên ông trở thành một dung mạo của Chúa Kitô.
Người Kitô hữu chúng ta hôm nay cũng được kêu mời sống, làm ngôn sứ cho Chúa Kitô, trở thành một dung mạo của Ngài. Các bạn nhớ cho chỉ có Chúa mới ban đức tin cho ta, đây là một ơn nhưng không. Chính Ngài đã có kế hoạch riêng cho từng người, còn kết quả thành hay bại là do từng người chúng ta quyết định. Biết bao lần ta được nghe Ngài, hay Giáo hội của Ngài nhắc nhở, thế nhưng chúng ta vẫn sợ thiên hạ hơn sợ các giáo huấn của Ngài, đến nỗi nhiều người không dám làm một việc tuyên xưng đức tin dù đơn giản. Thí dụ có mấy người dám làm dấu trước bữa ăn trong sở làm ? Có mấy người dám khước từ để không đến những nơi gây dịp tội như sòng bài, quán rượu; hy sinh những buổi xem thể thao, để đưa con em mình đi học Giáo lý ? Có mấy người tôn trọng những phương pháp ngừa thai tự nhiên, phù hợp với mong muốn của Giáo hội !
Thần học gia lớn của Giáo hội Công giáo trong thế kỷ 20, Karl Rahner viết : "… Chính bản thân Giáo hội là sự hiện diện vĩnh viễn của lời ngôn sứ, Đức Giêsu Kitô.” Bởi thế Giáo hội phải tiếp tục nhiệm vụ ngôn sứ, nói lên tiếng nói của Thiên Chúa. Điều này luôn luôn là một thách đố lớn lao trong mọi thời đại, cho từng người Kitô hữu. Giáo Hội thật khôn ngoan khi sắp xếp bài đọc của Thánh Phaolô, vị Tông đồ dân ngoại muốn dạy chúng ta về đức “Ái”, dạy chúng ta đừng cay đắng, cáu kỉnh khi người khác không đồng ý với niềm tin của mình. Ngược lại Giáo hội dạy chúng ta tiếp tục can đảm làm nhân chứng, làm ngôn sứ qua việc làm và lời nói.
Tóm lại, vai trò ngàn đời của Giáo hội Công giáo là làm ngôn sứ cho Chúa Kitô trong vũ trụ này, bạn và tôi những chi thể của Thân Thể Mầu Nhiệm đó. Những khó khăn ngày xưa, ngôn sứ Giêrêmia và Chúa Kitô phải đối đầu, hôm nay chúng ta cũng sẽ gặp. Ngày xưa Giêrêmia bất đắc dĩ phải vâng lời làm ngôn sứ cho Chúa. Hôm nay người Kitô hữu có bổn phận “xin vâng”, tiếp bước người xưa. Chúng ta sẽ gặp vô vàn thách đố, nhưng hãy vững tin, ngày xưa Giêrêmia được Giavê Thiên Chúa ban cho sức mạnh, can đảm, để hoàn thành nhiệm vụ, hôm nay chúng ta cũng được Ngài ban ơn trợ sức như vậy, và hơn cả ngày xưa, người ngôn sứ thời nay đòi hỏi phải có -dĩ nhiên Chúa sẽ ban cho- cả ba nhân đức : vâng phục, can đảm và bác ái, hầu chúng ta có thể can trường, làm được như Ngài trong bài Tin Mừng hôm nay, khi Ngài nói sự thật, bị người ta trục xuất, đưa ra đồi cao, tìm cách xô Ngài xuống vực sâu, nhưng Ngài đã rẽ qua mặt họ mà đi. Bởi vì vinh quang chỉ thuộc về những ai chịu đau khổ với Ngài.

 

TN4-C15. LÀM NGÔN SỨ LÀ LUÔN PHẢI CHỊU PHẦN THIỆT

VỀ MÌNH - Gier. Nguyễn Văn Nội
SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA
1. Đức Giêsu chịu “phần thiệt” của Vị Ngôn sứ của Thiên Chúa.
 

Đi sâu vào nguyên nhân khiến những người Nadarét đã hắt hủi và loại trừ Đức Giêsu: TN4-C15

(a) Đi sâu vào nguyên nhân khiến những người Nadarét đã hắt hủi và loại trừ Đức Giêsu, chúng ta sẽ thấy rằng: chỉ vì Đức Giêsu đã không làm chọn Na-darét làm trung tâm hoạt động rao giảng Tin Mừng và đã không làm ở đó những phép lạ như ở Caphácnaum mà lại còn lên tiếng cảnh tỉnh người đồng hương bằng cách nhắc lại những sự tích trong lịch sử… Còn nguyên nhân sâu xa khiến Đức Giêsu đã không làm được nhiều phép lạ ở nơi quê hương đất mẹ là vì những người dân Nadarét không tin vào Người.
(b) Sở dĩ sự việc xẩy ra như thế vì mỗi bên có quan điểm riêng của mình. Người dân làng Nadarét thì muốn Đức Giêsu phục vụ lợi ích “cục bộ” của họ, trong khi Đức Giêsu phải phục vụ chương trình và kế hoạch Cứu độ phổ quát của Thiên Chúa. Lợi ích cục bộ của người dân Nadarét là Nadarét phải được Đức Giêsu chọn làm trung tâm truyền giáo chứ không phải Caphácnaum, và Đức Giêsu phải làm ở đây những phép lạ mà Người đã làm ở Caphácnaum. Còn chương trình và kế hoạch Cứu độ phổ quát của Thiên Chúa là: chẳng những Ơn Cứu độ phải được loan báo và được dành hết mọi người Do Thái (chứ không chỉ những người Do Thái đạo đức) mà còn phải được loan báo và dành cho hết mọi người trong thế gian này, bất phân biệt người đó là Do Thái, Hy Lạp hay dân ngoại. Còn đứng về phía mình thì Đức Giêsu mong đợi và đòi hỏi người dân làng Nadarét tin vào Người là Đấng Mêsia, là Vị Ngôn sứ của Thiên Chúa mà người dân Nadarét thì không thể vượt qua nổi những thành kiến tầm thường và cái nhìn hẹp hòi của con người, nên họ không thể nào tin được rằng con bác thợ mộc Giuse và bà Maria lại có thể là một Ngôn sứ của Thiên Chúa.
(c) Chúng ta có thể suy nghĩ sâu hơn bằng cách tự hỏi: Thế tại sao Đức Giêsu không chịu chiều lòng dân làng Nadarét? Cách hành động của Đức Giêsu có quá cứng nhắc, quá nguyên tắc, không thức thời và không phù hợp với hoàn cảnh và con người cụ thể không? Nếu chúng ta ở vào trường tương tự, chắc chúng ta sẽ tìm cách “thỏa hiệp” với người xung quanh để “hai bên cùng có lợi”, chắc chúng ta sẽ tìm cách lấy lòng, thậm chí mua chuộc người ta để có thuận lợi cho công việc của mình. Vả lại người Việt Nam vẫn chẳng coi “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” là ba yếu tố quyết định thành công đó sao? Vậy tại sao Đức Giêsu lại không tạo “địa lợi nhân hòa” với người cùng quê? Tại sao Đức Giêsu đã không chiều lòng những người Nadarét mà thỏa mãn các mãn nguyện vọng “xem ra cũng chính đáng” của họ? Câu trả lời chỉ có thể là Đức Giêsu đã muốn và phải giữ cho mình sự tự do tuyệt đối trong việc chọn lựa cách thi hành sứ vụ mà Chúa Cha giao phó. Người không thể lệ thuộc, quỵ luỵ một ai, kể cả những người thân trong dòng tộc họ hàng. Một cách trả lời khác, là: Tin Mừng và Đấng Cứu thế không phải là để phục vụ lợi ích riêng tư của một nhóm người nào mà là phục vụ hạnh phúc thật và vĩnh cửu của hết mọi người. Điều hết sức quan trọng là trong cuộc xung đột với người làng Nadarét nói riêng và người Do Thái nói chung, Đức Giêsu đã chấp nhận “phần thiệt” về mình là bị dân làng Nadarét xô xuống vực và bị người Do Thái treo trên Cây Thập Tự Giá.
2. Cá nhân hóa (personnalization) sứ điệp Lời Chúa.
(a) Lời Chúa mời gọi chúng ta hãy biết “cá nhân hóa” sứ điệp Lời Chúa bằng cách tự hỏi: chúng ta có dám chấp nhận “phần thiệt” như Đức Giêsu, để làm chứng cho Tin Mừng không? Thường thì con người bao giờ cũng thích và tìm mọi cách để được lợi, được hơn, chứ ai chẳng dại gì mà chịu phần thua, phần kém, phần thiệt về mình. Nhưng để làm ngôn sứ tức làm chứng cho Tin Mừng, thì dường như bao giờ cũng phải chịu “phần thiệt” như đã được minh chứng cách hùng hồn bằng cuộc đời của các ngôn sứ, nhất là của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.
(b) Vậy chúng ta phải làm gì đây? - Thiết tưởng chúng ta cần có một ý thức sâu sắc về ơn gọi, vai trò và thân phận ngôn sứ của mình như Giêrêmia và Đức Giêsu (bài đọc 1) và đồng thời cần có một đức tin, cậy mến - nhất là đức mến - mạnh mẽ và kiên cường (bài đọc 2). Ngoài ra còn có một khát vọng cháy bỏng nên giống Chúa Giêsu là Đấng tự hạ, tự hủy, như Charles de Foucauld đã khao khát từ khi trở lại với Chúa. Cầu xin Thiên Chúa và rèn luyện tâm linh sẽ giúp chúng ta có được tất cả những điều cần thiết trên.

 

TN4-C16. NGƯỜI ĐẾN NHÀ MÌNH,

NHƯNG NGƯỜI NHÀ KHÔNG ĐÓN RƯỚC -  Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn
 

Chúng ta đang ở trong Hội đường Nazarét và đang theo dõi những lời giảng dạy của Chúa: TN4-C16

Chúng ta đang ở trong Hội đường Nazarét và đang theo dõi những lời giảng dạy của Chúa Giêsu cũng như thái độ của những người đồng hương đối với Chúa.
Thánh sử Luca cho thấy, ngay sau khi người dân Nazarét thán phục về những “lời hay ý đẹp” trong giáo huấn của Chúa thì liền sau đó là thái độ tỏ rõ sự xem thường về nguồn gốc của Chúa. Họ xem thường Chúa Giêsu vì hai lẽ. Trước hết vì họ quá biết rõ gia thế của Chúa Giêsu là con Bác thợ mộc không hơn không kém. Và vì thái độ này nên họ cố đòi cho bằng được phép lạ như Chúa đã làm tại Caphácnaum để thử xem “tài” của Chúa đến đâu.
Đứng trước thái độ khinh khi đó, Chúa Giêsu đã cho người dân Nazarét thấy rằng các Ngôn sứ không bao giờ được tôn trọng trên chính quê hương mình. Xét về mặt tâm lý, điều này thật chính xác. Bởi sự thường cho dù một người có tài năng, giúp ích và phục vụ rất hiệu quả cho nhiều người, nhiều nơi nhưng khi trở về gia đình, trở về nơi sinh trưởng của mình thì lại bị những người bà con xóm giềng chỉ xem ở mức độ “thường thường bậc trung”, do ảnh hưởng điều mà chúng ta vẫn thường nói “gần chùa gọi Bụt bằng anh!”. Chúa Giêsu cũng không nằm ngoài sự thường này. Người làng Nazarét sở dĩ xem Chúa Giêsu chỉ là một anh chàng “thường thường” thôi là bởi vì ngay trong ngôi làng này, ai mà không biết gia đình của anh ta. Từ nhỏ tới lớn chỉ sống với bố mẹ. Bố thì làm nghề mộc, mẹ thì nội trợ, còn anh ta thì cùng lắm chỉ là người kế tục nghề mộc được truyền từ người bố, chứ có gì đặc biệt đâu! Thế nên, dù có công nhận những lời lẽ thốt ra từ miệng con bác thợ mộc là “lời vàng, lời ngọc” thì họ cũng không sao vượt qua được một thứ định kiến đã ăn sâu vào nếp nghĩ của họ.
Chính vì thế, bằng hai câu chuyện từ Cựu ước, Chúa Giêsu không chỉ cho thấy chân lý xuất phát từ câu tục ngữ “Bụt nhà không thiêng” mà cao hơn, đó còn là sự diễn tả một cách nhìn, một sự tiên báo cho công cuộc và sứ mệnh rao giảng của Người sẽ được mở ra cho muôn dân- tính phổ quát của ơn cứu độ- một khi lời rao giảng đó không được những người trong nhà đón tiếp mà cụ thể mà dân làng Nazarét nói riêng và dân Israel nói chung.
Trong câu chuyện của Ngôn sứ Êlia, khi đất nước Dothái bị hạn hán trong khoảng ba năm ròng rã, ấy thế mà Thiên Chúa không sai “người nhà” của mình là Êlia đến để cứu đói dân Israel đang lâm nguy mà lại sai đến với một bà goá dân ngoại ở thành Xarépta thuộc Xiđon. Tại đây, Êlia đã hoá bánh và dầu ăn để nuôi sống bà goá này. Cũng giống như thầy mình, Ngôn sứ Êlisa đã chữa lành bệnh phong cùi cho một vị tướng người Syria tên là Naaman khi ông từ miền đất dân ngoại đến gặp Êlisa ngay trên đất nước Israel. Điều này cho hay thiếu phụ thành Xarépta miền Xiđon và vị tướng của Syria đại diện cho một tầng lớp đông đảo những người có nguồn gốc từ dân ngoại sẽ được giải phóng, sẽ được lãnh nhận tin mừng như lời loan báo của Ngôn sứ Isaia xưa nay trở thành hiện thực vào thới đại của Chúa Giêsu.
Người dân Nazarét càng giận dữ Chúa Giêsu hơn vì hơn ai hết, họ hiểu rõ câu chuyện trong Cựu ước mà Chúa Giêsu gợi lên để nhắm vào chính thái độ cứng tin của họ. Cơn giận dữ lên đến cực điểm khi họ cùng nhau đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành, kéo Người lên đỉnh núi để định xô xuống vực. Tuy xét về địa lý vùng Nazarét, chúng ta thấy không đúng nhưng chủ ý của Luca không nằm ở vấn đề địa dư mà chính là nhằm loan báo một thực tại sẽ diễn ra trong tương lai, rằng chính dân Israel chứ không phải dân nào khác sẽ lên án Chúa (trong thành) và đem Chúa đi (khỏi thành) để kết án Chúa trên đồi Canvê. Đó cũng còn là một lời loan báo cho hết những ai theo Chúa mà đặc biệt cho sứ vụ rao giảng của các môn đệ Chúa sau này được Luca ghi lại trong sách Công vụ tông đồ về trường hợp của Thầy Phó tế Têphanô.
Những gì xảy ra trong hội đường Nazarét hôm nay như là sự loan báo cho những bi kịch mà Chúa Giêsu sẽ phải chịu trong cuối sứ vụ rao giảng của Người. Một sứ vụ sẽ dẫn Người đến với cái chết nhục nhã trên Thập giá do bởi chính những người cùng mầu da, huyết thống, cùng tổ quốc với Người lên án, đúng như Thánh sử Gioan đã từng viết trong tin mừng: “Người đến giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Ngươi. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con cái Thiên Chúa” (Ga 1, 10-12)

 

TN4-C17. CÓ BAO GIỜ CHÍNH NGƯỜI KITÔ HỮU

CHỐI BỎ ĐỨC KITÔ KHÔNG - JKN
Câu hỏi gợi ý:
 

Tại sao Đức Giêsu lại bị từ chối tại chính làng của mình? tại chính đất nước Do Thái? Còn: TN4-C17

1. Tại sao Đức Giêsu lại bị từ chối tại chính làng của mình? tại chính đất nước Do Thái? còn dân ngoại thì lại đón nhận Ngài để cuối cùng trở nên Dân Ngài? Liệu lịch sử có thể tái diễn tương tự như thế đối với Kitô giáo không?
2. Đức Giêsu có muốn dành ưu tiên cho quê hương hay dân tộc mình không? Ngài có thành công trong việc dành ưu tiên ấy cho quê hương hay dân tộc mình không? Tại sao?
3. Điều đã xảy ra với Do Thái có thể xảy ra tương tự với Kitô giáo không? Chúng ta phải làm gì để tránh vết xe đã đổ?
CHIA SẺ
1. Các ngôn sứ thường bị từ chối tại chính quê hương mình
Đoạn Tin Mừng hôm nay và những đoạn khác tương tự trong các sách Tin Mừng khác cho thấy: những người cùng quê cùng làng với Đức Giêsu có vẻ coi thường Ngài và không tin ở Ngài cho lắm. Vì đối với họ, Đức Giêsu chỉ là con của một bác thợ mộc nghèo hèn, và của một phụ nữ không danh giá gì trong làng. Nếu chúng ta ở vào địa vị của dân chúng làng Nadarét, chưa chắc chúng ta đã suy nghĩ và đánh giá về Ngài khác hơn họ. Và nếu có một ngôn sứ nào xuất hiện ở thời đại này, tại thành phố hay tỉnh ta đang sống, chưa chắc ta đã nhận ra và đánh giá vị ấy một cách đúng đắn.
Thông thường, người ta thường đánh giá một người tùy theo những gì thấy được ở bên ngoài, chứ không thấy được giá trị thâm sâu ở bên trong. Và càng là người thân quen với vị ngôn sứ, thì càng khó đánh giá đúng đắn vị ngôn sứ ấy, vì các ngôn sứ thường mặc lấy những dáng vẻ bên ngoài rất bình thường, và cũng thường có quan niệm rất khác với người đương thời. Chính vì thế, các ngôn sứ ít được người đồng thời và đồng hương biết được giá trị con người mình, thậm chí còn bị coi thường, khi rẻ, kết án. Vì thế, Đức Giêsu nói: «Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình».
2. Các ngôn sứ có muốn ưu đãi quê hương mình cũng không được
Vì thường bị người đồng thời, đồng hương hay đồng đạo coi thường và không tin, nên các ngôn sứ thường không thể hoạt động hữu hiệu hay có kết quả tốt đẹp tại quê hương hay thời đại mình. Chẳng hạn Đức Giêsu không thể làm được nhiều phép lạ tại Nadarét, vì họ cứng lòng tin (x. Mt 13,58); đồng bào và đồng đạo của Ngài chẳng những không tin Ngài mà còn tìm cách giết Ngài nữa. Thái độ của những người đồng hương, đồng đạo hoặc đồng thời với Ngài như thế, khiến họ không được lợi lộc gì vì được làm người đồng hương, đồng đạo hay đồng thời với vị ngôn sứ cả.
Đức Giêsu đã kể ra những trường hợp cụ thể minh chứng điều ấy, chẳng hạn trường hợp của hai ngôn sứ Êlia và Êlisa. Thời Êlia, khi Israel bị đói, ông chẳng giúp một bà góa khốn khổ nào trong nước cả, mà lại giúp một bà góa ở tận đâu đâu, vì bà này tỏ ra yêu quí, tin tưởng và trọng vọng ông một cách đặc biệt. Thời Êlisa, biết bao người Israel bị phong hủi thì ông chẳng chữa cho ai, mà lại chữa cho một người từ ngoại quốc đến.
3. Thực tế ấy đã xảy ra trên nhiều bình diện khác nhau
Do tình cảm tự nhiên, ngôn sứ nào cũng đều muốn dành ưu tiên quyền lợi cho quê hương mình, nhưng nhiều khi vì thái độ khinh thường và cố chấp của người đồng hương, nên quê hương của các vị không hưởng được cái quyền ưu tiên mà các vị muốn đặc biệt dành cho. Để rồi cuối cùng sự ưu đãi đó lại được dành cho những người hay dân tộc xa lạ ở đâu đâu nhưng lại xứng đáng với sự ưu đãi đó hơn.
Thật vậy, Đức Giêsu luôn luôn muốn dành ơn cứu độ ưu tiên cho người Do Thái (x. Ga 4,22; Mt 10,6; 15,24). Nhưng Người Do Thái lại từ chối sự ưu tiên đó, nên ơn cứu độ lại được đem đến cho các dân tộc khác. Nhiều dụ ngôn của Đức Giêsu nói lên thực trạng đó. Chẳng hạn dụ ngôn những tá điền sát nhân (x. Mt 21,33-46; Mc 12,1-12; Lc 20,9-19), dụ ngôn tiệc cưới (x. Mt 22,1-14; Lc 14,15-24).
Bài Tin Mừng lễ Hiển Linh cho thấy các kinh sư Do Thái - đại diện cho dân tộc được Thiên Chúa ưu tiên dành cho mọi quyền lợi thiêng liêng - mặc dù có Kinh Thánh trong tay và biết được chính xác Đức Giêsu sinh ra ở đâu, nhưng họ lại không thèm tìm đến Ngài, mà lại còn muốn làm hại Ngài. Còn các đạo sĩ - đại diện cho dân ngoại, dân không được ưu tiên - từ mãi đâu đâu tới và phải nhờ tới các kinh sư Do Thái mới biết được Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, thì lại quyết tâm tìm kiếm Ngài và họ đã tìm thấy.
Sự việc ấy là hình bóng của thực tế xảy ra sau đó: Mặc dù Đức Giêsu sinh ra tại Do Thái, và dân Do Thái là dân được ưu tiên hưởng ơn cứu độ, thì thực tế là cho tới nay, dân Do Thái vẫn chưa nhìn nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Tinh Nhân Loại, mà vẫn còn tiếp tục chờ đợi. Còn những dân tộc đang tin vào Đức Giêsu hiện nay thì lại là những dân tộc bị dân Do Thái xưa khinh thị và gọi là dân ngoại. Thế là ứng nghiệm điều Đức Giêsu tiên báo trong hai dụ ngôn vừa nêu trên.
4. Nói người lại nghĩ đến ta
Lịch sử thường hay tái diễn lại theo kiểu tương tự. Điều đó khiến ta phải suy nghĩ vì nó có thể xảy ra cho chính chúng ta. Hiện nay, Kitô giáo luôn tự hào mình là tôn giáo do chính Thiên Chúa thiết lập, được chính Thiên Chúa mặc khải những chân lý thâm diệu nhất, và là con đường chính thống nhất dẫn đến ơn cứu độ. Kitô giáo với các tôn giáo khác cũng phần nào tương tự như Do Thái giáo với dân ngoại xưa. Liệu điều đã đúng với Do Thái giáo có đúng một cách tương tự với Kitô giáo không?
Dân Do Thái xưa lúc nào cũng tự hào về tôn giáo của mình là tôn giáo duy nhất đúng đắn vì là tôn giáo duy nhất được Thiên Chúa mặc khải. Còn các dân tộc khác thì thờ thần tượng, đi trong sai lạc. Nhưng kết cục ra sao? Dân Do Thái không chỉ phủ nhận Đức Giêsu mà còn giết Ngài nữa. Họ từ chối ơn cứu độ, và ơn cứu độ đã được trao cho dân ngoại. Dân ngoại lại đón nhận ơn cứu độ và gia nhập Giáo Hội. Thế thì xét cho cùng, đối với dân Do Thái, việc có tôn giáo duy nhất đúng đắn, việc nắm được nhiều chân lý hơn các dân tộc khác có ích lợi gì?
Như thế, xem ra điều quan trọng không phải là có tôn giáo chân chính cho bằng sống đúng những gì tôn giáo mình đòi hỏi, sống đúng theo lương tâm của mình. Hãy nghe thánh Phaolô nói: «Người ta được Thiên Chúa coi là công chính, không phải vì nghe biết Lề Luật, nhưng là vì tuân giữ Lề Luật» (Rm 2,13). Vì thế, nếu «bạn tự hào vì có Lề Luật, mà bạn lại vi phạm Lề Luật, thì như vậy bạn làm nhục Thiên Chúa!» (Rm 2,23). Tương tự, nếu chúng ta có tôn giáo chân chính mà lại không thèm sống đúng theo tôn giáo ấy, thì ta cũng làm nhục Thiên Chúa, Đấng thiết lập tôn giáo ấy. Lúc ấy chúng ta rất xứng đáng với lời kết án của thánh Phaolô: «Thật đúng như lời chép: Chính vì các người mà danh Thiên Chúa bị phỉ báng giữa chư dân» (Rm 2,24). Lúc ấy, tôn giáo chân chính có ích lợi gì cho ta, hay đó chính là lý do để Thiên Chúa kết án chúng ta?
Bài Tin Mừng hôm nay chính là lời cảnh tỉnh chúng ta: Đừng để tinh thần yêu thương của Kitô giáo lại bị chính các Kitô hữu như chúng ta coi thường, không thèm sống, mà người sống tinh thần ấy lại là những người thuộc các tôn giáo khác. Vậy tốt nhất, chúng ta hãy đem tinh thần yêu thương của Đức Giêsu ra áp dụng thật sự vào đời sống. Đừng để trường hợp của Do Thái giáo lại tái diễn một cách tương tự với Kitô giáo, trong đó người chủ động tái diễn trường hợp ấy lại chính là chúng ta!
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã gián tiếp cảnh giác chúng con: chính quê hương, đất nước, dân tộc và đồng đạo của Ngài - là những người mà Ngài muốn dành ưu tiên hưởng ơn cứu độ Ngài đem lại - lại từ chối Ngài. Hiện nay, rất có thể chúng con đang đi vào vết xe đã đổ ấy: ngoài miệng chúng con luôn tuyên xưng mạnh mẽ niềm tin vào Đức Giêsu, nhưng đời sống của chúng con thì lại đi ngược lại những điều Ngài dạy. Chúng con tuyên xưng hay biểu lộ đức tin mạnh mẽ ra ngoài để che lấp thực tế phủ nhận đức tin ấy ở bên trong. Xin giúp chúng con ý thức rằng thái độ giả hình ấy vô cùng có hại cho chúng con. Xin Cha cứu chữa chúng con khỏi thái độ ấy.

 

TN4-C18. Tiên tri không được đón tiếp tại quê nhà - Lm Trần Bình Trọng

Một trong những điều khó nói ra hay nói ra làm mất lòng là khi phải nói cho ai biết cái điều: TN4-C18

Một trong những điều khó nói ra hay nói ra làm mất lòng là khi phải nói cho ai biết cái điều mà họ không thích nghe hay không muốn nghe. Đọc Thánh kinh cựu ước, ta thấy thế nào là một vị tiên tri. Tiên tri hay ngôn sứ là người phát ngôn viên của Thiên Chúa, được gọi để nhắc nhở cho dân chúng biết họ là ai và phải sống thế nào để xứng đáng với tước hiệu dân được chọn. Bài trích sách Giê-rê-mi-a hôm nay ghi lại, khi Giê-rê-mi-a được Chúa sai đến để nói cho dân về sự thật, thì bị dân chúng chống đối, không chấp nhận sứ điệp của ông.
Đó là lý do tại sao Chúa Giê-su trong Phúc âm hôm nay nhắc nhở cho dân chúng là các tiên tri trong Cựu ước thường được sai đến với dân ngoại hơn là dân bản xứ. Và họ cũng thường không làm phép lạ cho dân của họ, nhưng cho dân ngoại bang. Chúa bảo họ tiên tri Ê-li-a được sai đến với bà goá ngoại quốc xứ Sy-ri-a để hứa với bà rằng hũ bột của bà sẽ không hề cạn, bởi vì bà đã tỏ ra hiếu khách với ngưòi của Thiên Chúa. Bà chỉ còn một rúm bột cho bà và con bà, nhưng nghe lời người của Thiên Chúa, bà đã dùng làm bánh cho Ê-li-a rồi cho mẹ con bà phần còn lại. Còn tiên tri Ê-li-sa đươc sai đến chữa lành viên sĩ quan ngoại quốc, tư lệnh quân đội Sy-ri-a tên là Na-man cho khỏi bệnh phong cùi, bởi vì ông tỏ ra có lòng tin mạnh. Khi Chúa Giê-su ám chỉ cái sứ mệnh của Người là đến với dân ngoại, thì họ bực tức và căm phẫn, và tìm cách tẩy chay Người.
Sở dĩ có sự tẩy chay là vì những lời giảng dạy của Chúa, đường lối sống của Người, không thích hợp với tư tưởng và lối sống của họ, nên làm tâm trí họ bị xáo trộn. Và từ cái trạng thái xáo trộn của tâm trí, người ta nảy sinh ra hai phản ứng khác nhau. Thứ nhất là người ta phản đối, không chấp nhận lời giảng dạy của Chúa. Đó là cái phản ứng của những người trong Phúc âm hôm nay và cũng là phản ứng của người Biệt phái. Cái phản ứng thứ hai là khi tâm trí bị xáo trộn bởi những lời giảng dạy của Chúa, là việc chấp nhận sứ điệp Phúc âm, và thay đổi cách sống cho phù hợp với sứ điệp Phúc âm.
Khi Chúa Giê-su nhận định: Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình (Lc 2: 24), Chúa muốn đồng hoá với hàng ngũ các tiên tri trong Cựu ước, cũng cùng chung một số phận bị tẩy chay. Như vậy vị tiên tri nào nhắc nhở cho dân chúng về những điều họ không muốn nghe, thường không được dân chúng chấp nhận. Vị tiên tri nào cứ phê bình dân chúng về sự gỉa dối, việc làm vô luân và bất chính của họ, về việc họ bất trung phản nghịch với Thiên Chúa, thì thường bị dân chúng tẩy chay. Tuy nhiên đó là điều khác biệt giữa tiên tri thật và tiên tri giả. Tiên tri giả là người không có xác tín về điều họ nói, không có kinh nghiệm sống những điều họ giảng dạy. Do đó họ thường nói hiêu nói vượn, nói nịnh nói bợ để nhắm làm vừa lòng người nghe.
Tiên tri thật là ngưòi nói thẳng ra sự thật, là người mang theo một sứ điệp và là sứ điệp của Thiên Chúa, chứ không phải của loài người. Theo nghĩa này thì Chúa Giê-su là một vị đại tiên tri. Người có một sứ điệp để ban bố. Người giảng lời Chúa và nói lời Chúa. Và hơn thế nữa, Người còn là lời Chúa, Ngôi lời nhập thể. Lời Người là lời Chúa, lời hằng sống. Việc chấp nhận hay từ chối là tuỳ thuộc vào sự tự do của loài người.

 

TN4-C19.  SUY NIỆM - Anrê Nguyễn hữu Nghĩa

Câu hỏi gợi ý:
 

Lý do nào khiến Đức Giêsu không làm nhiều phép lạ tại quê hương của Ngài như ở những: TN4-C19

1. Lý do nào khiến Đức Giêsu không làm nhiều phép lạ tại quê hương của Ngài như ở những nơi khác? Có phải Ngài chủ trương bạc đãi quê hương Ngài không?
2. Có phải mình là đạo gốc, là người theo chính đạo, thì mình sẽ chắc chắn được cứu rỗi hơn người ngoại giáo không? Mình có những thuận lợi hơn họ để được cứu rỗi ở chỗ nào?
Suy tư gợi ý:
1. Chú giải về đoạn Tin Mừng
Đoạn Kinh Thánh này chúng ta thấy câu Đức Giêsu nói: «Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được biệt đãi tại quê hương mình» (với động từ ở thể thụ động) có vẻ không phù hợp với ngữ cảnh của toàn đoạn văn. Nếu đổi động từ sang thể chủ động thì ý nghĩa của câu sẽ phù hợp hơn với đoạn trước đó và đoạn sau đó: «Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào biệt đãi quê hương mình».
Thật vậy, khi Đức Giêsu về thăm quê hương, những người đồng hương yêu cầu Ngài hãy làm những phép lạ tại quê hương của Ngài, như Ngài đã từng làm ở những nơi khác. Họ muốn yêu cầu Ngài hãy biệt đãi quê hương mình một chút, và có vẻ như muốn trách Ngài là đã bỏ quên quê hương mình.
Đức Giêsu đáp lại bằng cách kể hai câu chuyện của hai ngôn sứ Ê-li-a và Ê-li-sa trong Cựu Ước. Vào những năm đói kém dữ dội, Ê-li-a chẳng cứu giúp bà góa nào ở quê hương ông, mà lại giúp cho một bà góa ở Si-đôn. Mà Si-đôn lại là một vùng thuộc dân ngoại thờ ngẫu tượng, tính tình hung dữ, là một địa danh mà Cựu Ước coi là xấu xa (xem Is 23,2), được Đức Giêsu nói đến cùng với vùng Ty-rô như những vùng tội lỗi (xem Mt 11, 21-22). Còn Ê-li-sa thì đang khi tại Í-ra-en có biết bao người phong cùi tôi ông chẳng chữa cho ai, mà lại chỉ chữa cho Na-a-man, một vị quan người Si-ri, cũng là một dân thờ ngẫu tượng (xem 2V 5,1-19). Đức Giêsu muốn minh chứng rằng các ngôn sứ xưa không ưu đãi quê hương riêng của mình, nên Ngài cũng vậy. Chính vì thế, dân thành Na-gia-rét mới bực tức và muốn hãm hại Ngài.
Tuy nhiên, nếu hiểu câu nói trên của Chúa Giêsu theo nghĩa thụ động thì cũng vẫn đúng, vì nói chung, không mấy ngôn sứ được quê hương của mình, tức những người đồng hương, bạn bè mình chấp nhận và nể phục (xem Mt 13,54). Điều này cũng đúng cho Đức Giêsu tại quê hương Ngài.
2. Lý do khiến Đức Giêsu không thi ân giáng phúc tại quê hương
Đoạn Tin Mừng này không nói lý do tại sao Đức Giêsu lại không làm phép lạ ở Na-gia-rét giống như Ngài đã làm ở những nơi khác. Nhưng Tin Mừng Mát-thêu nói rõ: «Họ xúc phạm đến Người» (Mt 13,57), và «Người không làm nhiều phép lạ tại đó vì họ không tin» (Mt 13,58).
Đúng ra, ngôn sứ nào cũng có quê hương, và chắc hẳn theo tình cảm tự nhiên thì cũng muốn ưu đãi quê hương mình. Nhưng sự đời lắm chuyện chéo ngoe: nơi mình muốn ưu đãi thì nhiều khi lại không xứng đáng với sự ưu đãi ấy. Ê-li-a cứu bà góa thành Sa-rép-ta, vì bà ấy rất xứng đáng được cứu giúp (xem 1V 17,9tt). Năm đó vùng ấy bị hạn hán, nhà bà chỉ còn một chút bột để làm bánh. Bà định làm bánh nốt số bột đó để bà cùng các con ăn xong rồi chết. Nhưng khi ngôn sứ Ê-li-a xin ăn, thì bà sẵn sàng nhường chiếc bánh đầu tiên làm được cho ông ăn. Vì thế, để thưởng lòng quảng đại yêu thương của bà ta, Chúa đã làm phép lạ cho hũ bột của bà không bao giờ cạn hết, nhờ vậy mà bà và gia đình sống qua nạn đói. Bà được cứu giúp vì bà xứng đáng được cứu giúp.
Đức Giêsu không làm được phép lạ nào ở Na-gia-rét vì người đồng hương của Ngài xúc phạm đến Ngài, và vì họ cứng lòng tin. Nguyên do nằm ở nơi họ, chứ không phải ở nơi Ngài.
3. Đừng tự hào mình là Kitô hữu, hay là người đạo gốc
Chúng ta có thể rút ra bài học gì từ đoạn Tin Mừng này?
Ta thấy cách xét đoán và xử sự của những ngôn sứ và của chính Đức Giêsu không giống như cách ta thường nghĩ. Các Ngài dường như lúc nào cũng dành ưu tiên cho dân tộc của mình, cho dân riêng của mình, rồi mới tới dân ngoại. Thật vậy, khi sai các tông đồ đi loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu nói: «Anh em đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của dân Sa-ma-ri. Tốt hơn, hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en» (Mt 10,5-6), hay «Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi» (Mt 15,24). Nhưng khốn nỗi những người được Ngài dành ưu tiên  tức Dân Ngài, những người mang danh là đạo đức trong Dân Ngài  thì lại tự kiêu và không thèm tin Ngài cũng như không chịu thực hành những điều Ngài dạy là sống yêu thương. Trái lại, chính những người tội lỗi (gái điếm, thu thuế) và lương dân lại tin theo và thực hành lời của Ngài (xem Mt 21,31-32; Cv 8,5; 13,5). Ngài đã bất bình với chính Dân của Ngài và nghiêng chiều về phía dân ngoại. Ngài nói: «Khốn cho ngươi, hỡi Kho-ra-din, khốn cho ngươi, hỡi Bết-sai-đa, vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Ty-rô và Si-đôn, thì họ đã mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu để tỏ lòng sám hối. Vì thế, Ta nói cho các ngươi hay: đến ngày phán xét, thành Ty-rô và Si-đôn sẽ được xử khoan hồng hơn các ngươi» (Mt 11,21-22).
Vấn đề quan trọng trong ngày phán xét không phải chuyện chúng ta là đạo Công giáo hay là người ngoại, là đạo gốc hay đạo mới, đạo theo, mà là chúng ta có tin thật sự vào Thiên Chúa, vào Đức Giêsu, và sống có tình có nghĩa với mọi người chung quanh hay không. Trong bài đọc 2, thánh Phaolô cho chúng ta thấy «con đường trổi vượt hơn cả» là sống đúng theo những đòi hỏi của yêu thương. Ngài xác định hết sức rõ ràng và lập đi lập lại rằng nếu không có tình yêu đích thực ở trong lòng, thì dù có tài năng siêu quần bạt chúng, dù có đức tin chuyển núi dời non, dù có làm được những việc tốt lành vĩ đại, thì tất cả chỉ là những con số không to tướng, chẳng có giá trị gì trước Thiên Chúa cả. Và Ngài cũng phân biệt giữa yêu thương đích thực và có vẻ yêu thương: bố thí hết gia tài để được khen là người đạo đức, là người biết yêu thương, thì chỉ là có vẻ yêu thương, chứ không phải yêu thương đích thực. Biết bao người trong chúng ta làm những việc bác ái chẳng phải do thương người, mà là để được khen!
Chúng ta là người Kitô hữu, nên chúng ta là đối tượng ưu tiên của Nước Trời, chúng ta được dạy dỗ và ban ơn để sống tốt lành nhiều hơn người ngoại. Nhưng thật vô phúc cho chúng ta, nếu chúng ta lại sống ích kỷ, lỗi công bằng, bác ái hơn người ngoại. Biết bao người ngoại nếu được dạy dỗ như chúng ta, có điều kiện học hỏi về Chúa như chúng ta, thì họ đã tốt hơn chúng ta nhiều. Họ đáng được Thiên Chúa ân thưởng hơn chúng ta đấy!
CẦU NGUYỆN:
Lạy Cha, xin cho con biết sống theo ý Chúa, sống tinh thần của Chúa là tinh thần yêu thương. Cho con xác tín rằng tình yêu chân thân đối với mọi người chính là điều cần thiết nhất để nên thánh, nên trọn lành, và cũng là điều Chúa yêu quí nhất. Lạy Cha, xin tăng triển tình yêu trong lòng chúng con. Amen.

 

 TN4-C20. GHEN TỊ - Br. Phillip Bình Khả, CMC

Lc 4:21-30
 

Hai đệ tử sau nhiều năm luyện tập, được sư phụ cho xuống núi để cứu nhân độ thế. Sau nhiều: TN4-C20

Hai đệ tử sau nhiều năm luyện tập, được sư phụ cho xuống núi để cứu nhân độ thế. Sau nhiều tháng đi khắp nơi cứu giúp dân lành, họ trở về núi để tường trình lại cho sư phụ những việc họ đã thực hiện. Sau khi báo cáo, sư phụ thấy đệ tử A làm khá lắm, và đệ tử B làm khá hơn. Sư phụ cảm thấy rất hài lòng, liền nói:
Hai con làm khá lắm. Ta sẽ ban thưởng cho hai con. Tuy nhiên đệ tử B lập nhiều công trạng hơn. Để cho công bằng, ta cho đệ tử A xin trước. Nếu đệ tử A xin một thì ta sẽ cho đệ tử B hai.
Suy nghĩ giây lát, đệ tử A (trong lòng rất bất mãn) nói:
- Xin sư phụ cho con chột một con mắt.
Trong câu chuyện trên, chúng ta nhận thấy thái độ và hành động ghen tị của đệ tử A đối với đệ tử B cũng là thái độ và hành động ghen tị, thù hiềm của thính giả đối với Chúa Giêsu trong bài Phúc âm hôm nay. Họ không bằng lòng đối với sự thành công của Chúa Giêsu.
Bài Phúc Âm thánh Luca thuật lại rằng sau khi Chúa Giêsu đọc xong thánh thư Isaia, người giảng dậy những người Do thái. Những lời giảng dậy của Chúa Giêsu quá hay làm họ trầm trồ, ca ngợi và thán phục. Tuy nhiên sau mấy phút họ đã thay đổi thái độ- từ thái độ thán phục chuyển sang thái độ ghen tị, hiềm thù, ganh ghét. Thái độ của họ thay đổi khi họ nhìn lại cuộc sống không tên tuổi, địa vị của Chúa Giêsu. Đây là con ông Giuse thợ mộc, nghèo nàn đây mà. Tại sao ông ta nói hay như thế. Đối với nhà lãnh đạo tôn giáo thì họ cảm thấy bị đe dọa khi Chúa Giêsu giảng dậy hay. Chúa Giêsu được đưa lên cao, còn họ bị lép vế. Chiến thuật ghen tị của họ rất là đơn giản: tìm cách hạ Chúa Giêsu xuống để họ được đưa lên cao. Từ thái độ ghen tị, hiềm thù của họ đã dẫn đến hành động đả phá. Họ "chỗi dậy và trục xuất Người khỏi thành. Họ dẫn đưa người lên triền núi... để xô người xuống vực thẳm."
Rút từ bài học của Phúc âm và nhìn vào cuộc sống của mỗi người chúng ta nói riêng và xã hội nói chung, chúng ta phải chân nhận rằng lòng ghen tị của con người len lỏi khắp nơi trong cuộc sống từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Trong gia đình anh chị em ghen tị nhau khi cảm thấy rằng mình không được thương yêu hơn anh chị em khác trong gia đình. Nơi học đường học sinh này ghen tị học sinh khác trong khía cạnh học hành. Nơi xưởng làm nhân công này cảm thấy không bằng lòng với nhân công khác trong vấn đề tiền lương.
Quả thật, sống trong xã hội ngày hôm nay, chúng ta thường dễ đem chính mình so sánh với người khác. Chúng ta so sánh quần áo, xe hơi, nhà cửa, công danh, sự nghiệp. So sánh để rút ra điều hay, điều dở làm cho cuộc sống chính mình và người khác khá hơn là rất tốt. Tuy nhiên so sánh để rồi mang đến thái độ ghen tị, hiềm thù, đả phá, đè bẹp, dèm pha người khác vì người khác thành công hơn mình là điều không tốt. Con người ghen tị sẽ không tìm thấy chính mình và không có hạnh phúc vì họ luôn ao ước và tìm kiếm nơi người khác điều mà không phải là của họ.
Bước vào đầu năm mới của 2001, ước gì mỗi người nhìn vào chính mình để làm sao chúng ta thay đổi con người cũ của chính mình từ thái độ ghen tị, hiềm thù của chúng ta đối với người khác để mặc lấy con người mới yêu thương, bác ái của Chúa Giêsu. Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai - thư gởi cho những người Corintô - đã chỉ cho thấy thái độ và cử chỉ yêu thương, bác ái đuổi lòng ghen tị khỏi tâm hồn chúng ta: "Bái ái là kiên nhẫn, là nhân hậu...là không ích kỷ..., không vui mừng trước sự bất công." Bác ái giải thoát chúng ta khỏi ghen tị để vui mừng trong sự thành công của người khác. Thành công của họ là thành công của tôi. Thành công của họ đem lại lợi ích cho tôi.
Thế vận Hội 2000 trong mùa hè vừa qua cho chúng ta một câu chuyện rất cảm động về yêu thương. Esther Kim and Kay Poe là hai nữ sinh võ thuật Tae Kwon Do được huấn luyện nhiều năm bởi võ sư Jin Won Kim, cha của Esther Kim. Họ cũng là hai bạn thân. Họ cùng có ước mơ đi tham dự cuộc đấu võ thuật Tae Kwon Do ở Thế Vận Hội mùa hè 2000. Trong cuộc thi tuyển chọn người xuất sắc ở Mỹ để đi tham dự Thế Vận Hội tại Úc Châu, cả hai cô, Kay Poe và Esther Kim, được vào bán kết. Tuy nhiên trong cuộc thi đấu trước cô Kay Poe bị thương đầu gối, cần phải đi gặp bác sĩ để được chữa trị và cần thời gian chữa khỏi nhưng cô từ chối nhất định không đi. Cô muốn tiếp tục đấu với cô Esther Kim để được trúng tuyển đi tham dự Thế Vận Hội.
Thấy bạn thân của mình muốn được tham dự Thế Vận Hội, Esther Kim đã xin rút khỏi cuộc giao đấu với Poe để bạn của cô được trúng tuyển đi tham dự Thế Vấn Hội mùa hè tại Úc. Esther thổ lộ rằng: "Không hẳn chỉ có cuộc tranh giải thể thao để giành được huy chương vàng là vô địch nhưng còn có nhiều cách để đạt tới chức vô địch."
Quả thật, Esther Kim đã vô địch lòng người. Esther Kim không những không ghen tị với bạn mà còn muốn cho bạn thành công, muốn giúp bạn đạt được ước nguyện. Cử chỉ yêu thương của Esther quá đẹp và đáng khâm phục. Chắc hẳn mỗi người ai cũng muốn có những hành động như Esther Kim, và không ai thích thái độ và hành động của đệ tử A trong câu chuyện trên cũng như hành động của một số người Do thái trong bài Phúc âm hôm nay vì ghen tị sự thành công người khác mà dẫn đến hành động dèm pha và phá đổ.
Br. Phillip Bình Khả, CMC

 

TN4-C21. SUY NIỆM - Lm Augustine Nguyễn Huy Tưởng

Chúa Nhật hôm nay nói về quan niệm của con người. NgườI Naza nhận xét về Chúa Giêsu cũng: TN4-C21

Chúa Nhật hôm nay nói về quan niệm của con người. NgườI Naza nhận xét về Chúa Giêsu cũng đúng theo quan niệm con người vì Chúa đã ở đây từ thuở nhỏ và người ta biết rõ nguồn gốc của Chúa. Cha ngài đúng là ông thợ mộc Giuse và Mẹ ngài là bà Maria và các anh em họ của ngài là những người trong làng xóm. Tuy nhiên quanh con người Giêsu có một huyền nhiệm họ không biết được đó là nguồn gốc siêu nhiên và là Đấng Cùu Thế con của Thiên Chúa.
Khi nhìn vào một con người điều đàu tiên chúng ta nhận xét là nguồn gốc của họ. Chúng ta đánh giá họ theo tiêu chuẩn của chính chúng ta. Chúng ta để ý đến y phục phong cách đồng tiền của họ và gia đình của họ. Và cũng theo nhận xét đó mà chúng ta coi trọng họ hay khinh bỉ họ. Tuy nhiên con người không cao trọng hay thấp hèn về những cái lỉnh kỉnh bên ngoài đó.
Thiên Chúa không đánh giá con người như thế. Ngài yêu thương tất cả và coi trọng tất cả. Và giá trị con người không phải ở những cái bên ngoài mà trong chính tâm hồn của họ được dựng nên và kêu gọi làm đền thờ của Chúa và còn là thân thể màu nhiệm của Chúa Giêsu. Thánh Phao lô gọi các tín hữu là thánh trong thơ của Ngài khi Ngài viết các thánh ở Côrintô gửI lời chào anh em. Nghĩa là các tín hữu của Chúa Kitô gửI lời chào anh em.
Là thánh là được chọn riêng ra, được tách rời ra khỏi thế gian tức là được tách rời ra khỏi những cái tầm thường của thế gian và trong những cái tầm thường đó có cả những tiêu chuẩn của con người, của thế gian khi xét đoán người khác. Thánh Giacôbê trong thơ gửi bổn đạo, đã cảnh cáo chúng ta về việc nhận xét người khác. Khi anh em đang làm việc phụng thờ nếu có người giàu có ăn mặc đẹp đẽ đi vào anh em sẽ săn đón họ ra sao và cách săn đón khác hẳn dành cho người ăn mặc rách rưới. Ngài cảnh cáo việc xét đoán con người theo cái bề ngoài theo tiêu chuẩn thế gian, theo cái nhìn trần tục.
Từ cái nhìn và tiêu chuẩn đó chúng ta thường bị bịnh đóng kịch vì bị ảnh hưởng của xét đoán và cái nhìn của người khác. Từ tội giả hình này chúng ta lây nhiễm thói máy móc khi yêu Chúa và yêu tha nhân. Chúng ta thiếu lương thiện trong việc giữ đạo. Chúng ta có cái nhìn bi quan về con người vì chỉ nhìn thấy cái xấu. Chúng ta không tin họ có thể tốt hơn và nghi ngờ tất cả. Khi có người thực sự là tốt chúng ta vẫn luôn nghi ngờ. Cái nấm mồ luôn đẹp nhưng khi nhìn vào bên trong chúng ta thấy được sự thật như thế nào. Nên Chúa đã ví người giả hình đóng kịch như nấm mồ. Chúng ta thế nào Chúa biết, không cần giả dối. Thế gian xét đoán ta ra sao chúng ta đừng quá sợ hãi miễn là chúng ta không then với lương tâm và tinh thần trước mặt Chúa.
Sách Gương phúc nói : Con là gì mà sợ người hay chết. Nếu lương tâm trong sạch nếu chúng ta ngay thẳng chúng ta hãy ngửng mặt nhìn đời nhìn trời, đừng lo sự xét đoán của thế gian hay người đời. Xét đoán thế gian không làm cho chúng ta cao hơn đẹp hơn hay xấu hơn, chúng ta vẫn là chúng ta vi chúng ta là con Chúa và chúng ta được Thiên Chúa yêu thương.
Thánh vịnh gia nói : Phúc cho người được Thiên Chúa yêu thương. Người công chính tươi tốt như cây dừa lớn lên như cây hương nam núi Libăng trồng nơi nhà Thiên Chúa. Họ trổ sinh hoa quả đúng mùa và lá hoa không bao giờ tàn úa.
Điều đáng sợ là chúng ta không dám sống đúng con đường công chính và sống như người con cái của Chúa. Nhân dịp năm mới sách Nho nói : nhật tân hựu nhật tân : MỗI ngày nên mớI, canh tân luôn vì thiên nhiên biến đổi chúng ta cũng phải canh tân tất cả trong Chúa Kitô và canh tân trước nhất là linh hồn ta, cuộc đời ta để có cái nhìn mới về con người, về cuộc đời, về thế giớI và vũ trụ chung quanh, cái nhìn đức tin, nhân sinh quan đức tin để nhìn ra Chúa trong vũ trụ và mọi người và trong chính thẳm cung linh hồn ta.
Hãy nhớ : nihil novi sub sole (không có gì mới mẻ dưới ánh mặt trời) nhưng chỉ là cái nhìn mới sẽ làm cho mọi sự nên mới. Hãy xin Thánh Thần đến canh tân bộ mặt trái đất và canh tân tâm hồn chúng ta.

 

TN4-C22. LÒNG NGƯỜI THAY TRẮNG ĐỔI ĐEN - Lm Damien OFM

Lc.4,21-30
 

Khi đọc bài Tin Mừng nầy, chúng ta thấy phản ứng của đám dân chúng thay đổi rất mau như từ: TN4-C22

Khi đọc bài Tin Mừng nầy, chúng ta thấy phản ứng của đám dân chúng thay đổi rất mau như từ trắng ra đen vậy.
LÒNG NGƯỜI THAY TRẮNG ĐỔI ĐEN.
Vừa nghe Chúa nói thì "mọi người đều thán phục". Nhưng khi nghe Chúa vạch trần thái đô hoài nghi và cố chấp của họ: "Người nầy không phải là con ông Giuse đó sao?", họ liền đổi thái độ: "Mọi người trong hội đường đều căm phẫn, họ liền chỗi dậy và trục xuất Người ra khỏi thành. Họ dẫn Người lên triền núi để xô Người xuống vực thẳm."
Tại sao thế ? Bởi vì họ có quan niệm hẹp hòi về Nước Chúa ; nước Chúa đối với họ chỉ là nước Do thái. Bởi thế khi thấy Chúa mở rộng tầm nhìn đến các miền dân ngoại, đến miền Sidon, đến Syria, thì họ không chấp nhận . Và cũng bởi vì con cái Israel, những đồng hương của Người đã hoài nghi, cố chấp, không chấp nhận Người, và Người đã nói với họ: "Không một tiên tri nào được đón tiếp tại quê hương mình."
Hôm nay, giữa người kitô hữu, quan niệm hẹp hòi về Giáo Hôi chưa phải là đã hết.
-Điều răn thứ bốn:thảo kính cha mẹ đã rành rành như thế mà lịch sử đã cho thấy việc tôn kính ông bà tổ tiên đã không được chấp nhận trong các gia đình, làm cho người không công giáo hiểu lầm: cho con đi đạo là con bỏ ông bà tổ tiên. Trong lúc đó thì không có một thánh lễ nào là chúng ta không cầu nguyện cho ông bà tổ tiên. Óc hẹp hòi đã gây thiệt hại không ít cho việc truyền giáo.
Cũng có những quan niệm hẹp hòi và sai lầm về vinh quang Nước Chúa. Nhiều người cứ mơ tưởng đến vinh quang trần thế của Giáo Hội, trong lúc đó thì nước Chúa chỉ trị đến trước hết trong các tâm hồn.
ĐỪNG CHỦ QUAN.
"Người nầy không phải là con ông Giuse sao? Những người đồng hương của Chúa ngạc nhiên hỏi nhau như thế . Câu hỏi đó có thể diễn đạt ra cách khác: Tưởng ai chớ ông nầy thì chúng ta qúa biết, vì ông ở cùng xóm với chúng ta, con ông Giuse chứ ai xa lạ đâu! Họ tưởng mình biết rõ về Chúa, nhưng sự thật họ có biết gì đâu. Qua cái tầm thường bề ngoài, lần nầy Người cho họ biết Người là một tiên tri; nhưng người cũng nói với họ rằng: "Không một tiên tri nào được đón tiếp tại quê hương mình." Sau nầy Người sẽ còn nói rõ hơn về mình: "Đây còn hơn cả một tiên tri", Người là Con Thiên Chúa; và lần nầy thì đối với họ, quá lắm rồi, họ không thể tha được nữa, và họ đã giết Người.
Suy gẫm bài Tin Mừng hôm nay, Chúa cho chúng ta thấy được một vài kết luận rất thực tế và quí giá cho cuộc sống : sự thay đổi thái độ từ thán phục đến hận thù của đám người Do thái, nói với chúng ta rằng đừng quá tin tưởng ở tình cảm người đời, vì tình cảm người đời hay thay trắng đổi đen. Chỉ có Chúa là nơi ta nương tựa vững chắc.
Một kết luận thứ hai: tự ái là điều rất tai hại, không cho phép ta nhận ra sự thật, và khi ấy tự ái là kẻ thù của chân lý. Khi nghe Chúa vạch trần quan niệm hẹp hòi và sự cố chấp của họ, đám dân chúng ấy đã thay đổi: từ thán phục thành thù hận và muốn tiêu diêt Chúa, định xô Chúa xuống vực thẳm.
Trong chúng ta, không nhiều thì ít, ai cũng có tự ái cả. Tự ái thường là bức tường ngăn cản chúng ta đến với kẻ khác , là lý do của sự đổ vỡ của nhiều gia đình , lý do của những bầu khí ngột ngạt đến khó thở trong gia đình hay cộng đoàn
Một kết luận cuối cùng : Có lần Chúa Giêsu dặn các Tông Đồ: các con đừng đoán xét bề ngoài . Có người, khi suy gẫm về con người, bảo con người là một mầu nhiệm, nghĩa là không thể hiểu hết được . Chúng ta đừng vội vàng cho mình hiểu biết người nầy kẻ nọ vì họ là hàng xóm ta, sống bên cạnh ta hằng ngày. Hôm nay, những người đồng hương của Chúa Giêsu đã phạm phải cái sai lầm đó và đã đưa đến hậu quả rất nặng nề: họ muốn loại trừ Chúa . Cũng vì thành kiến hay là xét đoán bên ngoài cách hồ đồ mà lắm khi người ta loại trừ nhau cách dễ dàng.
Cac vị thánh thường ẩn đằng sau một lớp vỏ rất tầm thừơng.
CHA MẸ CỦA NÓ.
Lúc 11 tuổi, nó bảo: "Cha mẹ tôi rất vĩ đại. Không có gì mà cha mẹ tôi không biết. Không có gì mà cha mẹ tôi không làm được". Lên 16 tuổi, nó nói: "Cha mẹ tôi không vĩ đại như tôi tưởng. Không phải cái gì họ cũng biết và cũng làm được". Lúc 19 tuổi, vào đại học, nó bảo: "Cha mẹ tôi thường cho mình là đúng, kỳ thực kiến thức của họ so với tôi còn kém xa". Lúc 24 tuổi, tốt nghiệp đại học, nó phát biểu: "Cha mẹ tôi không hiểu tuổi trẻ; thanh niên thì tiến bộ, còn họ thì bảo thủ, cổ lỗ sĩ quá!". Lúc 30 tuổi có vợ và con cái, nó khám phá ra chân lý sau đây: "Ở nhiều việc, cha mẹ tôi có lý". Đến 50 tuổi, khi cha mẹ nó đã chết rồi, nghĩ đến cha mẹ, nó không cầm được lòng và tuyên bố: "Đúng là cha mẹ tôi thât tuyệt vời. Họ có đầu óc rất khôn ngoan và minh mẫn, xử sự rất hợp thời và rất có lý. Họ đúng là các vị thần!"
Đời là thế đó. Thay trắng đổi đen với thời gian. Lên án kẻ khác chỉ vì hẹp hòi.

 

TN4-C23. THỜI ĐIỂM ĐIỆU VŨ CỦA MAI -  Lm Trần Cao Tường

Ngày đầu năm theo lịch Tây nằm vào cao điểm mùa đông giá lạnh, cảnh vật tiêu điều. Trái : TN4-C23

Ngày đầu năm theo lịch Tây nằm vào cao điểm mùa đông giá lạnh, cảnh vật tiêu điều. Trái lại, ngày Tết đầu năm của mình mang đầy ý nghĩa, nhằm vào lúc trời đất bắt đầu cựa mình khai mở mùa xuân. Đúng là ngày khởi đầu một tiết nhịp mới.
TẮM NẮNG ĐÀO
Ngày Tết mà nhà không có một cành mai hay cành đào thì xem ra như thiếu vắng một cái gì rất quan trọng. Người trồng mai thì biết nhịp vũ "đạo sống" của mai. Trước Tết cả tháng đã phải vặt hết lá cho cành thật trơ trụi. Ai không thấy được "lẽ đạo" của mai thì cho chuyện vặt trụi lá như vậy là kỳ cục, đang tự nhiên tự lành đi làm cho "con nhà người ta" ra xơ xác, xem ra bị tước đoạt mất hết chả còn gì! Vậy mà lạ lắm, gần đến ngày Tết thì những cành trơ trụi kia bắt đầu đơm nụ, và đúng buổi sáng sang xuân thì nở rộ những bông hoa tươi thắm đầy sinh động.
Thì ra trời đất vẫn xoay vần theo nhịp theo điệu. Có lúc thì xuống thật thấp, như những củ thủy tiên bị vùi dập cho "chết" đi từ tháng mười năm trước, nằm im lìm sâu dưới "lòng đất lạnh". Vậy mà sức gì lạ lắm: đúng tiết đúng nhịp thì bật lên những mầm non đầy nhựa sống. Rồi nở ra những bông hoa rực rỡ đủ màu hấp dẫn quá chừng. Như vậy thì trời đất có lễ nghi giao thừa đàng hoàng đấy chứ. Khi "chết" thì biết mình chết, không giẫy giụa la hét như con người. Vì củ thủy tiên khi bị vùi dập đã "thấy" trước ngày lễ bàn giao của sự cựa mình đất trời mà hòa vào khúc luân vũ. Nó "thấy" được bên dưới đợt sóng sinh tử chuyển vần là một sức sống Thần Linh duy nhất, nên nó an nhiên nhảy múa theo nhịp dòng đời.
Con trăng có nhịp, con nước thủy triều có nhịp lên xuống. Con tim cũng có nhịp. Có những lúc sau một thời gian u ám tối tăm như hết đường, thì tự nhiên một sức đột biến thật lạ. Khúc Hát Dâng Tình trong Kinh Thánh đã diễn tả sức đột biến này bằng một hình ảnh hết sức tình tứ, như lời Chúa Xuân nói với con người:
Lời chàng văng vẳng bên rào
Em ơi tỉnh dậy ra chào Chúa xuân.
Mưa ngớt tạnh đông tàn băng giá
Hoa đồng nhà muôn đóa khoe tươi
Nhạc xuân rộn rã nơi nơi
Ngàn chim đua hót vang trời líu lo.
Trái vả chính hồng tô rực rỡ
Nụ nho tươi thắm nở ngọt ngào
Lời chàng nồng ấm siết bao
Dậy mau mình tắm nắng đào đầu năm.(Diễm Tình Ca 2:10-13, Đào Mộng Nam chuyển thơ)

BẮT LẠI NHỊP MỚI
Công thức diễn tiến cuộc đột biến rất giống nhau, như nhịp vũ của bánh dầy bánh chưng trong văn hóa Việt tộc: cành mai phải xả trống cái hộp vuông bưng bít nhốt giam mình lại là những chiếc lá cũ vốn làm dáng cho mình, để hòa nhập đón nhận sức sống mới của Trời tròn bánh dầy viên mãn làm bừng nở những nụ hoa xuân. Mọi sự bỗng trở thành mới, với trời mới và đất mới, trong một tiết nhịp mới.
Nhà văn Nguyễn Tuân trong bài tùy bút Đẹp Lòng đã diễn tả cái cảm nghiệm đột biến thật kì thú này trong một sự chuyển mình đột ngột:
"Sớm nay tự nhiên tôi đâm bỡ ngỡ đứng trước cuộc sống đầy sinh thú. Cuộc sống có thể sán lạn đến thế kia ư? Và tôi lại được có, để mà thấy mọi cái sán lạn? Tôi muốn tỏ một lời cám ơn... Ta chỉ biết có đạo sống. Ta cũng bắt chước tín đồ kia, nói lên một lời để công nhận phép mầu của đạo Sống, vì chưng một buổi sớm mai này, phép đó đã cho ta thấy rõ ý nghĩa cuộc sống. Nếu ta còn bị Buồn, Hờn ám ảnh đến nỗi quên điều vui trong đạo sống, là chỉ tại ta thiếu hẳn thành kính với cuộc sống. Bắt đầu từ nay, ta thắp một nén hương trong tâm vui để mà sống để khỏi phụ những cái gì đã cấu tạo nên ta. Lòng ta sẽ rung động trước mọi cái hiền lành thơm ngát...
Lòng tôi đang như một đóa hoa gặp thời nở đủ. Bao nhiêu cái thuần túy, thơm tho, lành đẹp của tâm hồn, tôi đều muốn được tiết ra ngoài cho mọi người thấy.
Là một đóa hoa nở tung, lòng tôi còn có thể nhận được mọi cái từ ngoài đưa vào, bất cứ là lành hay độc Lòng tha thứ ở người tôi, lúc này rất thừa thãi. Tôi muốn đem nó ra dùng với tất cả mọi người. Nghĩ đến tội lỗi của mọi người đã gây nên và có thể gây thêm ra nữa, tôi muốn viện những trường hợp giảm đẳng ra để bào chữa cho họ.
Nghĩ đến mọi sự bất công xã hội này, tôi chỉ lạc quan đặt mong mỏi của mình vào lẽ tiến hóa của loài người rồi thế nào một ngày nào cũng phải đi tới chỗ tận thiện tận mĩ...
Sáng nay tôi vui vẻ với tất cả người ngoài đường. Và mọi người nhìn tôi với bao vẻ hiền từ.
Trời hôm nay, là một trời đầy màu sắc. Tương lai; tôi thở toàn những khí lành của của bầu không khí không vấn tí bụi, trong như thủy tinh...
Tôi đang sung sướng vì thấy lòng mình vui, rộng, và biết yêu mọi người, mọi vật, và tôi tưởng mình từ giờ về sau có thể không bao giờ làm được tội ác, phải nói dối hay là để lụy phiền đến ai..."
TIN VUI THỜI ĐIỂM
Cảm nghiệm của nhà văn Nguyễn Tuân đúng là một thể hiện sức đột biến trong ngày đầu năm mới. Những gì xem ra ứ đọng ám ảnh và bệnh hoạn tự nhiên tan biến khi hòa mình được vào một dòng sống mới, tiết nhịp của đất trời. Sự đột biến luôn kinh ngạc lạ lùng, không do sức riêng của mình nữa. Đó là những phép lạ của đời sống.
Trong Kinh Thánh, Đức Giêsu đã thể hiện sự đột biến này nơi những người đau ốm bệnh tật:
"Chiều đến khi mặt trời lặn, người ta dẫn đến người tất cả những bệnh nhân, tất cả những người bị quỉ ám, và cả thành tụ họp trước cửa nhà. Người chữa nhiều người đau ốm những chứng bệnh khác nhau, xua trừ nhiều quỉ" (Mc 1:32-34)
Bí mật gì đã làm cho Đức Giêsu đầy quyền năng như vậy? Câu trả lời thật đơn giản:
"Sáng sớm tinh sương, Người chỗi dậy ra khỏi nhà, đi đến một nơi thanh vắng và cầu nguyện tại đó". (Mc 1:35)
Đúng thế, khi làm người, Đức Giêsu cũng mang thân phận yếu sức như bất cứ ai, nhưng Ngài đã buông xả cái hộp vuông bánh chưng vật chất của tiểu ngã để hòa nhập được vào cõi tròn đầy bánh dầy đại ngã tâm linh là chính Chúa Trời Đất toàn năng và luôn hiện diện. Diễn tiến cuộc đột biến này thường vẫn được gọi là cầu nguyện, là tĩnh niệm, là kết hợp với Chúa.
Dịp đầu năm mới, mà cũng là dịp chuyển mình bước vào năm 2000, chả lẽ mình cứ chịu nhốt tù trong cái hộp vuông cũ rích, khư khư giữ lấy nếp sống duy vật hiện tại khiến đời sống mình mỗi ngày mỗi cằn cỗi? Theo phong tục Việt vào dịp Tết, mình mặc chiếc áo mới, tha thứ xả buông mọi ứ đọng, từng lời ăn tiếng nói đều mới. Ngày Tết đúng là một ngày mẫu, ngày điển hình cho mỗi ngày trong năm. Cây mai hay cây thủy tiên đều có đạo, đều biết cầu nguyện. Chả lẽ mình là con người lại không biết đạo Trời?! Chả lẽ mình không để ra được 10 hay 15 phút mỗi ngày để đi vào tĩnh lặng, tìm nối được vào dòng sức sống là chính Thần Linh Chúa vẫn đang hiển hiện? Và kìa lạ quá: "Đầu cành khô bỗng noa nở tràn".

 

TN4-C24. ĐỨC MẾN - Lm. Linh Tiến Khải

1 Co 13:1-8
 

Vào mỗi dịp Tết Dương Lịch hay Âm Lịch, người ta thường có thói quen tính sổ đời, kiểm kê sổ: TN4-C24

Vào mỗi dịp Tết Dương Lịch hay Âm Lịch, người ta thường có thói quen tính sổ đời, kiểm kê sổ sách, công việc làm ăn, buôn bán, kiểm điểm các thành quả chính trị, văn hóa, xã hội và tôn giáo. Nếu có phải viết một bản báo cáo để kiểm điểm tình hình chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 20 vừa qua đi, người ta phải ghi nhận tình trạng thiếu vắng yêu thương trên thế giới.
Vì thiếu vắng yêu thương nên thế kỷ 20, dù được mệnh danh là thế kỷ nguyên tử tân tiến, đã trở thành một thế kỷ man rợ nhất vì nó mang quá nhiều dấu vết hận thù, chiến tranh, bạo lực, sắt máu và tàn phá thương đau nhất trong lịch sử loài người.
Chúng là hậu quả của những quái thai ý thức hệ mang đủ mọi thứ nhãn hiệu khác nhau chủ trương biến con người thành súc vật và giết chết tất cả những gì là thánh thiêng nhất nơi con người, kể cả sự trong trắng thơ ngây vô tội của trẻ em và mạng sống của các thai nhi còn trong lòng mẹ.
Tuy nhiên, bên cạnh cuốn sổ đen tiêu cực khổng lồ ấy cũng có các công nghiệp tích cực của biết bao nhiêu người thiện chí, vô danh. Chính cuộc sống tích cực, thánh thiện và những việc làm bé nhỏ âm thầm nhưng tràn đầy tình yêu thương của họ đã khiến cho trái đất này vẫn tồn tại và chưa bị hủy hoại như nó đáng bị hủy hoại. Họ là muối đất, là men tốt, là ánh sáng chiếu soi đêm đen, ngày càng xem ra dầy đặc của lịch sử nhân loại.
Những người thiện chí ấy đã sống tinh thần của Bài Ca Đức Mến trên đây. Đây là một trong những bài ca hay nhất, và là một trong những trang đẹp nhất của Kinh Thánh Tân Ước. Nó hay không phải chỉ vì diễn tả được lõi tủy của Tin Mừng và sứ điệp của Kitô Giáo mà còn vì giá trị thực tiễn giúp giải quyết những vấn nạn của cuộc sống và tái tạo hạnh phúc cho con người nữa.
Thật thế, nếu mỗi người trong chúng ta chỉ thực thi được một phần mười những gì thánh Phaolô dạy trong Bài Ca Đức Mến thì cuộc sống trên trần gian này đã sung sướng, hạnh phúc và thịnh vượng biết bao. Chắc chắn, thế giới này chưa phải là thiên đàng nhưng cũng không là hỏa ngục. Tất cả 11 yếu tố trong lời nhắn nhủ của thánh nhân đều là quan trọng. Nhưng xem ra cần phải cấp thiết chống trả lại hai kẻ thù chính trong số những nguyên nhân giết chết hạnh phúc của con người đã được thánh Phaolô nhắc tới ở đây. Đó là sự gian ác và lòng ích kỷ.
Chỉ cần đưa mắt nhìn quanh, chúng ta cũng nhận ra ngay những hậu quả của thái độ sống gian tham, ác độc và ích kỷ của con người trong gia đình, ngoài xã hội và trên thế giới. Vì con người gian ác, ích kỷ hay để cho thần dữ cám dỗ và hướng dẫn lèo lái nên gia đình là tổ ấm yêu thương đã bị hủy hoại bởi các tệ nạn ly dị, ly thân, tự do chung sống và đồng tính luyến ái. Vì con người để cho gian tham ác độc và ích kỷ chế ngự tâm hồn và cung cách suy tư, hành xử của mình nên vợ chồng con cái giận dữ, ghen tương, thù ghét, oán giận nhau, không nhẫn nhục chịu đựng, tha thứ cho nhau và làm hòa với nhau. Trái lại, họ còn ăn thua đủ với nhau và sát hại nhau nữa.
Những hoàn cảnh thê thảm đó cũng diễn ra trong cuộc sống xã hội, quốc gia và quốc tế là đại gia đình trong các tầm mức rộng lớn và nghiêm trọng hơn. Vì gian tham, ác độc và ích kỷ nên các phe nhóm và đảng phái dùng đủ mọi mánh khoé, thủ đoạn, kể cả những phương thức đê hèn nhất để củng cố địa vị và quyền lực, tranh giành lợi nhuận, vơ vét cho đầy túi tham mà không hề biết thương dân và nghĩ đến tương lai đất nước.
Vì gian tham, ác độc và ích kỷ mà cường quốc kinh tế không chia sẻ các tiến bộ kỹ thuật cho các nước nghèo. Trái lại, họ còn tìm đủ mọi cách để khống chế và điều kiện hóa các nước nghèo, sản xuất, buôn bán khí giới và tìm kiếm thị trường bằng cách xúi bẩy các lực lượng đối kháng nổi lên chống đối nhau để gây ra chiến tranh. Họ cũng dùng Qũy Tiền Tệ Quốc Tế , Ngân Hàng Thế Giới và các chính thể độc tài làm các cơ quan kinh tài gây ra cảnh nợ nần hầu tha hồ vơ vét tài nguyên thiên nhiên của các nước nghèo chậm tiến. Họ sống xa hoa trên tiền lời phát xuất từ mồ hôi nước mắt của hàng tỷ dân nghèo.
Ôi phải chi từng người trong gia đình, phải chi từng thành phần trong xã hội, phải chi từng quốc gia biết thực thi một chút đức mến mỗi ngày thì thế giới này đâu có tan nát như hiện nay, thì trên trái đất này đã không có hàng chục triệu người phải chết đói mỗi năm, thì 250 triệu trẻ em đâu có phải lam lũ như trâu ngựa và bị bóc lột sức lao động dã man, thì 800 triệu người mù chữ đã biết đọc, biết viết, thì 1 tỷ 300 triệu người bần cùng đã có được cuộc sống ấm no hạnh phúc hơn, được chăm sóc sức khoẻ và có nước trong lành để uống.
Ôi phải chi tất cả chúng ta biết sống yêu thương thì thế giới này đã hạnh phúc dường nào và trái đất này đã xinh đẹp biết mấy.

 

TN4-C25. TIÊN TRI - Lm. Giuse Nguyễn Thanh Sơn, DCCT

Trong Do Thái Giáo, tức đạo của người Do thái (Judaism), có một thành phần rất quan trọng : TN4-C25

Trong Do Thái Giáo, tức đạo của người Do thái (Judaism), có một thành phần rất quan trọng, gọi là các Tiên Tri. Từ này được chuyển dịch từ tiếng "Prophet".
Tiên Tri ở đây không có nghĩa là người nói trước, hay tiên đoán các biến cố sẽ xảy ra trong tương lai, như kiểu các thầy bói toán, các bà xem tử vi hôm nay. Tiên Tri là người của Thiên Chúa, được chính Thiên Chúa sai đi công bố các lời sấm của Người cho toàn dân. Vì thế, họ được gọi chính xác hơn là các Ngôn Sứ, tức những người mang lời Thiên Chúa để truyền đạt cho dân mình.
Ơn gọi và sứ mạng của các Ngôn Sứ rất cao cả, nhưng cũng thật khó khăn, cam go, trong việc chu toàn. Nhiều Ngôn Sứ trong Cựu Ước đã bị từ khước, xua đuổi hoặc bị giết chết thê thảm.
Nhân một dịp trở về mái nhà xưa để thăm gia đình và dân làng, cùng giảng dạy trong hội đường, Đức Yêsu đã tuyên bố Ngài là một Ngôn Sứ. Và do hậu quả của lời tuyên bố này, Ngài đã bị "mọi người trong hội đường phẫn nộ", bị họ "lôi ra khỏi thành, kéo lên tận đỉnh núi, để xô xuống vực thẳm." Họ ghét Con Thiên Chúa đến thế là cùng! Nhưng, "Ngài đã băng qua giữa họ mà đi."
Ngày nay mọi Kitô hữu đều được kêu gọi làm Ngôn Sứ của Thiên Chúa. Chúng ta được trao ban sứ vụ trọng đại là mang "sấm ngôn" của Thiên Chúa cho những người đồng thời, đương thời của mình. Và khi thi hành sứ vụ này, chúng ta cũng sẽ phải chịu cùng định mệnh "hẩm hiu" như các vị Ngôn Sứ kia cũng như chính Đức Yêsu.
Tuy nhiên, chúng ta sẽ là các Ngôn Sứ Tình Thương!
Mẹ Têrêsa thành Calcutta chính là Ngôn Sứ Tình Thương nổi bật nhất, đáng kính nhất, trong thế kỷ XX vừa qua. Và Mẹ sẽ mãi mãi là như vậy cho thế gian sa đọa, hư mất này.
Chúng ta hãy ước ao mình được trở nên Ngôn Sứ Tình Thương cho nền văn hóa tử thần mà trong đó chúng ta và con cháu mình đang phải sống.
Chúng ta hãy can đảm, uy dũng là Ngôn Sứ Tình Thương cho thế giới ích kỷ, thù hận, chia rẽ, đang bị ma quỉ giật giây, phá hoại và tiêu diệt từng phút giây.

 

TN4-C26. ĐƯỢC KÊU GỌI LÀM NHỮNG VÌ SAO - Mark Link S.J.

Chủ đề: Chúng ta được kêu gọi làm những vì sao chiếu sáng trong cõi trần u ám này.
 

Có người đã mô tả các tiên tri trong Kinh Thánh như những người an ủi những ai phiền não: TN4-C26

Có người đã mô tả các tiên tri trong Kinh Thánh như những người an ủi những ai phiền não, và cũng là người gây phiền não cho những ai giầu sang, tự mãn. Chẳng hạn như tiên tri Giêrêmia. Vị tiên tri này sống vào thời kỳ Isael đang bị băng hoại từ bên trong. Và bị quân đội ngoại bang hùng mạnh đe doạ từ bên ngoài. Tình hình như thế làm cho Giêrêmia hết sức đau xót vì Ngài yêu mến tổ quốc và đồng bào mình. Có lẽ vì thế mà Chúa đã kêu gọi Giêrêmia làm ngôn sứ cho bạn hữu và láng giềng của ông.
Nhưng lần nào được Chúa kêu gọi, Giêrêmia cũng đáp lại một cách hết sức miễn cưỡng, vì ông biết rằng làm tiên tri nơi quê hương mình rất là khó khăn. Nhưng rồi Giêrêmia cũng phải thuyết giảng, ông tuyên bố thẳng thắn với dân chúng con đường sống còn duy nhất của họ là phải canh tân đời sống hướng về Chúa và kêu cầu Ngài cứu giúp.
Nghe ông giảng thuyết như thế, đám dân liền nổi giận. Họ lầm bầm kêu: “Ông nội Giêrêmia này dám nghĩ mình là ai mà bày đặt phê phán chúng ta, vì dầu sao chúng ta cũng là đồng bào của ông ấy?” Tình trạng căm ghét này càng dâng cao đến nỗi có lần nhà cầm quyền đã công khai đánh đòn ông, lần khác thì cột ông vào trong bao, lần khác nữa thì xô ông vào một đống phân.
Chúa Giêsu cũng đã cảm nghiệm được những khó khăn và đau đớn ấy khi lãnh nhận sứ mệnh làm tiên tri ngay trong xứ sở của Ngài. Ngài đã từng bị bạn bè láng giềng ruồng rẫy. Chẳng hạn bài Phúc Âm hôm nay cho ta thấy những gì đã xảy ra khi Chúa Giêsu lần đầu thuyết giảng nơi quê nhà Ngài, sau khi lãnh nhận phép rửa từ sông Giodan trở về. Khi Chúa đứng lên tuyên bố với bạn bè và láng giềng rằng: “Thần Khí Chúa ngự xuống trên Ngài và chính Ngài làm ứng nghiệm lời Thánh Kinh”, thì lập tức họ cảm thấy khó chịu ngay. Khắp hội đường đều nghi hoặc và dân chúng xầm xì bàn tán với nhau: “Anh ta không phải là con ông Giuse sao? Anh ta nghĩ mình là ai mà dám tự nhận mình là tiên tri? Đâu là bằng chứng cho thấy anh ta là Đấng Thiên Sai chứ không phải là tên mạo nhận?”. Lời xầm xì càng lúc càng lớn và chẳng bao lâu đám dân chúng bắt đầu la lên. Rồi tình hình đột nhiên không thể kiềm chế được nữa. Thánh Luca kể lại trong Phúc Âm như sau: “Dân chúng đứng dậy kéo Chúa Giêsu ra khỏi thành và dẫn Ngài lên đỉnh đồi trong thành phố dự tính xô Ngài lộn đầu xuống dưới. Nhưng Ngài  bước qua giữa họ và bỏ đi chỗ khác” (Lc 4: 29-30)
Bài mô tả của thánh Luca về khó khăn đầu tiên Chúa Giêsu gặp phải tại Nagiarét khiến cho người Kitô hữu đang hăng hái phấn khởi bỗng như bị “té cái bịch” xuống đất. Nhưng sau khi suy niệm về Kinh nghiệm chua chát đó, chúng ta bỗng nhớ lại những lời phiền não cụ già Simeon đã thốt ra khi Chúa Giêsu được dâng vào đền thánh “Trẻ này… là một dấu chỉ cho người ta chống đối” (Lc 2:34). Lời nói này sẽ còn vang đi vọng lại suốt thời kỳ giảng thuyết của Chúa Giêsu. Nếu dân làng Nagiaret từng đòi Chúa Giêsu trưng ra bằng cớ xác minh Ngài là tiên tri thế nào, thì các nhà lãnh đạo tôn giáo Irsael cũng buộc Ngài chứng minh giáo lý của Ngài là chính thống y như vậy (Mc 2: 18). Nếu dân làng Nagiaret từng tố cáo Chúa Giêsu là kẻ dối trá, là kẻ lộng ngôn phạm thượng thế nào thì bọn biệt phái cũng thẳng thừng buộc tội Ngài là khí cụ của chính ma quỉ y thế ấy (Mt 12:24). Và nếu dân làng Nagiaret từng cố tìm cách giết Chúa Giêsu vì lời tuyên bố của Ngài như thế nào, thì đám dân thành Giêrusalem cũng hò hét khản cổ: “Đóng đinh nó đi ! Đóng đinh nó đi!” y hệt như vậy. Thực sự mà nói, Chúa Giêsu quả là một kẻ bị nhiều người chống đối và khích bác. Lời tiên báo của cụ già Simeon về con trẻ Giêsu sẽ theo sát Đức Giêsu trong suốt cuộc đời dương thế Ngài.
Làm sao áp dụng những điều nói trên vào cuộc sống của chúng ta? Chính Chúa Giêsu đã từng nêu gương cho chúng ta trước. Ngài từng bảo các môn đệ: “Nếu thế gian ghét các con, thì hãy nhớ rằng họ đã ghét Ta trước… Đầy tớ không lớn hơn chủ mình. Nếu họ đã bắt bớ Ta thì họ cũng sẽ bắt  bớ các con” (Ga 15:18-20). Bất cứ ai cố gắng sống đúng là Kitô hữu sẽ hiểu được những lời nói trên chân thực thế nào. Chúng ta thử xét trường hợp những thanh niên đang học trung học hay đại học. Cách đây không lâu, trong đám thanh niên có một số cảm nhận được những điều Chúa Giêsu đang đề cập đến. Chúng ta hãy hỏi họ xem điều gì đã xảy đến cho họ khi họ cố gắng thật thà trong cuộc thi đang khi bạn bè xung quanh gian lận? Điều gì đã xảy đến cho họ khi họ cố gắng giữ mình đúng đắn trong một buổi tiệc vui, đang khi chung quanh họ lũ bạn đang “quậy” tứ tung? Điều gì đã xảy ra cho họ khi họ lên tiếng chống lại việc phá thai trong khi những người xung quanh họ lên tiếng ủng hộ việc ấy? Điều gì đã xảy ra cho họ khi họ tuyên bố chống nạn kỳ thị chủng tộc, đang khi quanh họ người ta đang tìm cách tiêu diệt cá tính của những dân tộc thiểu sổ? Điều gì đã xảy ra cho những thanh niên này thì cũng xảy ra tương tự cho những người lớn tuổi hơn. Quả thế, nhiều lúc chúng ta đã từng bị ruồng bỏ và bắt bớ vì niềm tin của chúng ta.
Tuy nhiên chúng ta không nên vì thế mà từ bỏ lối sống lương thiện và trong sạch. Không nên vì thế mà từ chối không dám bảo vệ quyền lợi trẻ em và nhóm người thiểu số. Lý do thật rõ ràng là vì Chúa Giêsu đã từng nói với các môn đệ trong bài giảng trên núi: “Các con là muối đất… Các con là ánh sáng thế gian… Người ta không đốt đèn rồi đặt dưới đáy thùng nhưng đặt nó trên giá đèn… Cũng thế, ánh sáng của các con phải toả sáng trước mọi người để  họ trông thấy việc thiện các con làm và ngợi khen Cha các con ở trên trời” (Mt 5:13-15).
Chúng ta là Kitô hữu được kêu gọi làm tiên tri của Chúa Cha cho thời đại chúng ta, cũng như Chúa Giêsu từng là tiên tri của Chúa Cha cho thời đại của Ngài. Đây chính là sứ vụ mà chúng ta lãnh nhận khi chịu phép rửa tội và thêm sức. Chúng ta hãy lập lại lời thánh Phaolô; “Người Kitô hữu chúng ta được Chúa kêu gọi để toả sáng như các vì sao giữa lòng thế giới tăm tối này” (Pl 2:15)
Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện nói lên cảm nghĩ của bất cứ ai đã từng cố gắng trung thành bước theo Chúa Giêsu.
“Lạy Chúa xin ban cho chúng con tình yêu của Chúa, vì đôi khi chúng con bị cám dỗ căm thù đám người ruồng rẫy chúng con.
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con sức mạnh của Chúa. Vì đôi khi chúng con như muốn ngã lòng trước những cảnh ngộ gai góc.
Lạy Chúa xin ban cho chúng con lòng dũng cảm vì đôi khi chúng con như muốn đầu hàng trước những gánh nặng đè lên chúng con.
Xin giúp chúng con là muối ướp mọi người, là đèn soi thế giới. Xin hãy giúp chúng con toả sáng như những vì sao trong thế giới tăm tối này. Amen”

 

TN4-C27. BÁC ÁI THÌ NHÂN HẬU

Gm. Arthur Tonne
 

Vị tử đạo đầu tiên trên đất Mỹ là cha Gioan Padilla một vị thừa sai dòng Phanxicô, cha đến Kansas: TN4-C27

Vị tử đạo đầu tiên trên đất Mỹ là cha Gioan Padilla một vị thừa sai dòng Phanxicô, cha đến Kansas với Coronadô vào năm 1541 từ Mexicô. 80 năm trước, những người thuộc Giáo phái Pilgrim đến vùng Plymonth Rock, cha đã giúp cho nhiều người da Đỏ tin Chúa, mặc dầu có nhiều người chẳng muốn nghe người giảng: khi Coronado trở về Mexicô, vị linh mục nhiệt thành này ở lại với một ít bạn đồng hành tiếp tục rao giảng, rửa tội và dâng thánh lễ. Một ngày kia, cha và một số người đem Chúa Kitô đến cho một bộ lạc lân cận, một toán người da đỏ đã tấn công. Không sợ hãi, cha bảo các bạn đồng hành chạy trốn còn cha, cha quì trên bãi cỏ Kansas làm bia đỡ những mũi tên và trở nên người đầu tiên đổ máu đào vì Đức Kitô.
Câu truyện của cha là câu truyện của Kitô giáo. Đó là câu truyện trong bài Tin Mừng hôm nay. Và buồn mà nói, đó là câu truyện trong rất nhiều cộng đồng Kitô giáo.
Khi Chúa Giêsu sống trên mặt đất, nhiều người tiếp nhận Chúa, nhiều người từ chối Chúa, một số người đồng hương đã cố tâm xô Người xuống triền núi dốc như chúng ta vừa nghe đọc, vì Chúa nói cho họ những chân lý không vừa ý họ. Cuối cùng họ đã thành công khi đóng đinh Chúa vào thập giá. Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng những người theo Chúa cũng sẽ chịu như Người: “Họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ các con”. Hàng triệu người đã chịu khổ cực và chết vì yêu Chúa Kitô, bị giết chết bởi những kẻ ghét Chúa Kitô. Chúng ta có thể chịu đựng những sự tàn bạo do những người không tin Chúa Kitô, nhưng có khi sự tàn bạo lại do những người mệnh danh là Kitô hữu thì sao?
Hầu như khó tin, nhưng lại có những Kitô bách hại anh em Kitô hữu khác: họ lợi dụng người nghèo, người yếu đuối, kẻ mồ côi, góa bụa. Họ làm mất bình an trong tâm hồn và thanh danh của người lối xóm bằng những chuyện ngồi lê đôi mách. Họ khinh dể những người khác mầu da, khác địa vị xã hội và kinh tế. Họ không cố gắng giúp kẻ thiếu thốn, họ sống như thể chưa bao giờ nghe Chúa Giêsu nói: “Hãy yêu mến người thân cận” như thể họ chưa bao giờ nghe Thánh Tông đồ Phaolô nói: “Tình yêu thì nhân hậu” trái lại họ sống quá tàn nhẫn.
Cảm tạ Chúa, hầu hết các bạn đang cố gắng thực hành những gì Chúa Giêsu và các tông đồ của Người nói với chúng ta. Nếu chẳng may bạn là nạn nhân bị bách hại, bạn nên đọc những câu đáp ca hôm nay: “Trong sự công chính của Chúa, xin hãy cứu giúp con, xin giải thoát con’.
“Ôi lạy Chúa của con, xin cứu con khỏi bàn tay kẻ ác”. Bạn hãy dâng lời kinh này cho những người bị bách hại trên thế giới.
Nếu bạn đối xử bất công với một ai khác, bạn hãy đọc kỹ bài ca tình yêu Thánh Phaolô hát cho chúng ta trong bài đọc hai hôm nay.
Ước gì các bạn đừng tiếp tay với những kẻ muốn xô đẩy Đức Kitô xuống vực thẳm bởi hành vi tàn bạo với người lân cận. Ước gì nhờ sự chết của Người, mà chúng ta được lặp lại bây giờ và nơi đây cảm hứng chúng ta, củng cố chúng ta để chúng ta có thể quyết tâm sống theo lòng nhân hậu của Chúa Kitô. Amen.

 

TN4-C28. Vai trò tiên tri - Pt. Huyền Đồng

VietCatholic (Chúa Nhật 4 Thường Niên C)

Chúa nhật 4 Thường niên C / 4th Sunday in Ordinary Time

Lời Chúa cho hôm nay: VAI TRÒ TIÊN TRI

* The Role of Prophet *

 

Thiên Chúa gọi ông trong sứ vụ 40 năm 627 to 587 BC. Ông đã vâng Lời Chúa gọi: TN4-C28

* BÀI ĐỌC 1 : Giêrêmia 1, 4-5; 17-19 = Thiên Chúa gọi ông trong sứ vụ 40 năm 627 to 587 BC. Ông đã vâng Lời Chúa gọi:. / The mission of Jeremiah covers a period of some 40 years 627 - 587 BC with great obeyed God’s call.

* BÀI ĐỌC 2 : 1 Cor.12, 31-13,13= Cao trọng hơn cả là Đức mến. Bạn nên tiếp tục làm chứng cho Chúa qua lời nói và việc làm./ The greatest of these is Love. We should continue to bear witness through word and example.

* TIN MỪNG (Gospel) : Luca 4, 21-30 = Rao giảng ơn cứu độ: Chiến thắng cuối cùng thuộc về Đức Kitô và tất cả những ai muốn đau khổ với Người./Final victory belongs to Christ and all who are willing to suffer with Him.

A- Bạn và tôi cùng Cảm -Nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên : (Reflections, live out and share)

1/ Bài Tin Mừng hôm nay nói sự đón tiếp Chúa tại quê hương Na-ra-ret bị coi thường, nên Ngaì nói: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình.” Ngài muốn làm người như tôi, nên có sự chối bỏ là tình thường. Đúng là bụt nhà không thiêng. Ngày hôm nay tôi làm chứng cho Chúa cũng gặp như vậy. Những đức tính nào tôi cần có trong chức vụ hiện tại? (Sống đạo)

He went on: no prophet gains acceptance in his native place.” (Luca 4, 24)

2/ Những điều giải thích đầy cương quyết trong hội đường của Đức Giêsu, nên: “Họ đứng dậy lôi Người ra khỏi thành…họ kéo Ngừơi lên tận đỉnh núi để xô Người xuống vực.” Bạn thấy Chúa lúc nào cũng đầy quả cảm và thẳng thắn nói sự thật, không sợ sệt như vậy, còn sẵn sàng để cho họ lôi kéo như tên tội hình để làm nhục và tiêu diệt Người. Trong đời sống chứng nhân bạn đã làm gì? (Hành đạo)

They rose up and expelled Him from the town, leading Him to the brow of the Hill… (Luca 4, 29)

3/ Lời Chúa gọi Giê-rê-mia ngày xưa và đang nói với tôi hôm nay: “…Hãy chỗi dậy! hãy nói với chúng tất cả những gì Ta sẽ truyền cho ngươi, trước mặt chúng ngươi đừng run sợ…” Thiên Chuá đã dùng chữ Đừng Sợ để nói rất nhiêù lần trong Kinh Thánh với tôi, nhưng tôi chẳng lưu tâm và thiếu lòng tin nên lúc nào cũng sợ sệt lo lắng vô ích. Khi có khó khăn trong Gia đình tôi đã làm gì? (Học đạo)

“…stand upand tell them all that I command you. Be not crushed on their account…” (Gr. 1, 17)

4/ Thánh Phaolô đã chỉ cho bạn con đường ngắn nhất để gặp Chúa là Lòng mến như sau: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiều hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc.” Dân chúng ngày xưa họ đã xua đuổi Chúa vì họ kiêu ngạo, bảo thủ. Còn bạn hôm nay đã học biết Chúa có thực thi những điều này với tha nhân với Gia đình hay là cũng giống họ. Đức mến quan trọng thế nào của Tín hữu hôm nay?(Sùng đaọ)

“Love is patient; love is kind. Love is not jealous, it does not put on airs, it is not snobbish…” (1Cor.13, 4)

B- Câu Kinh Thánh thúc đẩy tôi chọn Sống tuần này : ( The Best God’s Word )

KHÔNG MỘT NGÔN SỨ NÀO ĐƯỢC CHẤP NHẬN TẠI QUÊ HƯƠNG MÌNH

“No prophet gains acceptance in his native place” (Luca 4, 24)

Vatican II : Các anh em ly khai với chúng ta cũng cử hành nhiều lễ nghi phụng vụ của Kitô giáo. Những lễ nghi ấy chắc chắn có thể thực sự phát sinh đời sống ơn thánh và phải được công nhận là đường đưa đến sự hiệp thông vào ơn cứu rỗi, tuy cách thức có khác tùy hòan cảnh của Giáo hội hay Cộng đoàn. (HN # 3)

Mẹ Maria : Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. (Luca 1, 51)

C- Ngay bây giờ tôi phải làm gì để Sống Lời Chúa : (So what am I doing / For Action )

Tôi co1 thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm- Nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để áp dụng vào đời sống.

D- Tôi cầu nguyện với Lời Chúa : (I pray ) Lạy Cha ! Đức Giêsu đã nói: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình. Xin daỵ con biết đón nhận giáo huấn của con Cha là thực hiện lòng mến.

 
Hoa thơm cỏ lạ : LÒNG NHÂN ÁI THÌ LÚC NÀO CŨNG ĐÚNG LÚC
Kindness is always in season
Pt. Huyền Đồng

 

TN4-C29. Tin mừng cho mọi người - Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn

VietCatholic (Chúa Nhật 4 Thường Niên C)

Chúa nhật 4 Thường niên C

Bài đọc 1 : Jer 1, 4-5. 17-19

Bài đọc 2 : 1 Cr 12, 31-13, 13

Tin mừng : Lc 4, 21-30

 

Theo báo cáo của Hội Đồng Giám Mục trong khoá họp thường niên vừa qua tại Bãi Dâu, thì số tín: TN4-C29

Theo báo cáo của Hội Đồng Giám Mục trong khoá họp thường niên vừa qua tại Bãi Dâu, thì số tín hữu Công giáo Việt Nam hiện nay là 5.572.525 người trên tổng số dân là 79.347.431 người, chiếm khoảng 7% dân số (Hiệp Thông, trang 67). Đây quả là con số thật khiêm tốn so với khoảng thời gian 470 năm Tin mừng được loan báo cho dân tộc Việt Nam chúng ta. Những con số nói trên thật vô tri, nhưng là một lời nhắc nhở chúng ta về bổn phận truyền giáo mà mỗi người chúng ta đã lãnh nhận từ khi chịu phép Rửa.

Loan báo Tin mừng cho thời đại hôm nay, một thời đại đang bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa thực dụng, đánh giá mọi sự dựa theo lợi nhuận về kinh tế, chắc chắn là một điều không dễ, nhưng cho dù có khó khăn, thì mỗi người chúng ta vẫn phải loan báo cho mọi người biết về Tin mừng của Đức Giêsu Kitô. Đó cũng là điều mà Đức Giêsu đã làm khi Ngài trở lại quê hương Nazareth, mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin mừng. Đồng thời, thánh Phaolô cũng cho chúng ta thấy sống đức ái, chính là phương thế truyền giáo tốt nhất trong thời đại hôm nay.

1. Sứ mạng loan báo Tin mừng:

Trước lúc về Trời, Đức Giêsu đã trao cho các môn đệ của Ngài một sứ mạng: “Các ngươi sẽ là chứng tá của Ta ở Giêrusalem, trong toàn cõi Giuđê và Samari, và cho đến mút cùng trái đất” (Cv 1, 8). Sứ mạng này không chỉ được giao cho các tông đồ, nhưng cũng là cho tất cả chúng ta, những người đã chịu phép Rửa. Trong ngày lãnh nhận phép Rửa, khi xức dầu thánh cho thụ nhân, vị chủ sự đã nhắn nhủ: “Thiên Chúa toàn năng là Cha Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã giải thoát các con khỏi tội và tái sinh các con bởi nước và Chúa Thánh Thần. Chính Người xức dầu cứu độ cho các con, để sau khi nhập đoàn với dân Người, các con mãi mãi làm chi thể của Đức Kitô là Tư tế, Ngôn sứ và Vương đế đến cõi sống đời đời”. Lãnh nhận chức vụ Ngôn sứ, nghĩa là chúng ta trở thành sứ giả của Lời Chúa, có nhiệm vụ loan báo Tin mừng của Thiên Chúa cho muôn dân.

Được trở nên sứ giả của Lời Chúa, không phải do chúng ta tài giỏi hay đạo đức, nhưng đúng hơn đó là do tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Chính Người đã đoái thương chọn chúng ta trước khi chúng ta biết Người, như lời Người phán với ngôn sứ Giêrêmia: “Trước khi ngươi ra khỏi lòng mẹ, Ta đã thánh hiến ngươi. Ta đã đặt ngươi làm tiên tri trong các dân tộc”.

Thiên Chúa, Đấng chủ tể cả vũ trụ đã đoái thương chọn chúng ta là những thụ tạo hữu hạn, đầy bất toàn để làm sứ giả của Ngài, đây quả thật là một vinh dự. Tuy nhiên, sứ mạng này cũng không thiếu những khó khăn. Trong bài Tin mừng hôm nay, khi trở về lại quê hương Nazareth để rao giảng, mặc dù mọi người đều thán phục Người, nhưng cuối cùng, Đức Giêsu cũng đã gặp phải sự cứng tin nơi những người đồng hương với Ngài. Những người đồng hương của Đức Giêsu đã vấp ngã, đơn giản chỉ vì gia đình Ngài đang sống ở giữa họ. Đúng là “quen quá hoá nhàm”, vì quá quen thuộc, nên họ không nhận ra Đức Giêsu chính là vị ngôn sứ mà Thiên Chúa đã hứa từ bao đời.

Mặt khác, vì là sứ giả của Lời Thiên Chúa, nên mỗi người chúng ta cần nói đúng lời của Ngài, cho dù lời đó có làm mất lòng người nghe, như lời Chúa phán bảo với ngôn sứ Giêrêmia: “Phần ngươi, ngươi hãy thắt lưng, hãy chỗi dậy và nói cho họ biết tất cả những điều Ta truyền dạy cho nguơi. Đừng run sợ trước mặt họ”. Không chỉ rao giảng bằng lời nói, là sứ giả của Thiên Chúa, chúng ta còn có nhiệm vụ rao giảng bằng chính đời sống chứng tá của mình, nhất là trong thời đại hôm nay, một thời đại mà người ta “tin vào chứng nhân hơn là thầy dạy”. Và một trong những cách thế làm chứng tốt nhất, đó là sống đức ái, bởi vì đức ái chính là dấu hiệu rõ ràng nhất để người ta nhận ra người môn đệ của Đức Kitô (x. Ga 13, 34-35).

2. Sống đức ái, phương thế rao giảng Tin mừng:

Đọc lại lịch sử Giáo Hội từ thuở ban đầu, chúng ta cũng thấy rõ chính đời sống hiệp nhất và chia sẻ của các tín hữu là một dấu chứng mạnh mẽ làm cho toàn dân thán phục và “số những kẻ được cứu rỗi cứ mỗi ngày được Chúa ban thêm mà nên một cùng nhau” (x. Cv 2, 42-47). Và ngay tại quê hương Việt Nam chúng ta, thì ngay từ những ngày đầu, anh chị em lương dân đã từng gọi đạo chúng ta là “Đạo yêu nhau”.

Ý thức được tác động mạnh mẽ của đức ái trong việc làm chứng cho Tin mừng của Đức Giêsu, nên thánh Phaolô nhắc bảo chúng ta: “Tôi chỉ bảo cho anh em một con đường hoàn hảo nhất. Nếu tôi nói được các tiếng của loài người và thiên thần, mà tôi không có bác ái, thì tôi chỉ là tiếng đồng la vang dội hoặc não bạt vang động”. Vâng, đối với thánh nhân, mọi việc làm của người tông đồ đều phải đặt nền trên đức ái, được đức ái thúc đẩy thì mới có giá trị. Còn nếu không có đức ái thì cho dù chúng ta có “phân phát mọi của cải tôi có, để nuôi kẻ nghèo khó,… cũng không làm ích gì”.

Như vậy, đối với thánh Phaolô, đức ái không hệ tại ở chỗ bố thí thật nhiều, nhưng là “không đố kỵ, không khoác lác, không kiêu hãnh, không ích kỷ, không nổi giận, không suy tưởng điều xấu, không vui mừng trước bất công”. Hay nói một cách khác, người có tình yêu thật không bao giờ đứng về điều xấu, cho dù điều đó xảy ra cho mình hay cho người khác. Người có đức ái theo Tin mừng không bao giờ cầu mong hay vui mừng khi người khác gặp sự rủi ro, bất hạnh. Trái lại, sống đức ái theo Tin mừng đòi hỏi chúng ta: “chia vui cùng chân lý, tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, trông cậy tất cả, chịu đựng tất cả”.

Lắng nghe lời Chúa hôm nay, chúng ta có thể rút ra các bài học:

Thứ nhất, chúng ta có thể cũng đang đi theo vết chân của dân làng Nazareth năm xưa, khi chúng ta vì quá quen nên không còn chú ý đến việc lắng nghe Lời Chúa, không còn đủ tỉnh táo để nhận ra hồng ân của Chúa qua các biến cố xảy ra trong cuộc sống. Dịp lễ Giáng Sinh vừa qua, tôi có dịp ghé thăm Giáo xứ Quảng Nhiêu thuộc Giáo phận Ban Mê Thuột, cách thành phố Buôn Mê Thuật khoảng chừng 17 km, Cha xứ tại đó cho biết, chỉ cần thông báo có Cha đến Giải tội là đồng bào dân tộc Êđê, Xêđăng sẵn sàng băng rừng cả 15 km đến để lãnh bí tích. Trong khi đó, nhiều người trong chúng ta vẫn ngại ngần khi đến Hoà Giải với Chúa. Thậm chí, nhiều người trong chúng ta đi dâng lễ, cũng chẳng buồn lên rước lễ. Thế thì làm sao chúng ta có thể mời gọi người khác đến với Chúa?

Kế đến, mặc dù chúng ta vẫn đang sẵn sàng mở rộng tay đóng góp tiền của vào các công tác cứu trợ, nhưng cuộc sống hàng ngày của chúng ta vẫn còn đó nhiều ích kỷ, nóng giận, chưa dám đặt trọn cuộc sống của chúng ta trong tay Chúa, chưa dám tha thứ và chịu đựng tất cả những gì Chúa cho xảy ra trong cuộc sống của mình. Gặp gian nan trắc trở, chúng ta vẫn còn xử sự như những người chưa tin, chúng ta vẫn còn nói hành nói xấu, vẫn sống bất công, vẫn đi coi bói, xin xăm, phải chăng vì thế, việc loan báo Tin mừng của chúng ta vẫn chưa có kết quả?

Giờ đây, nhờ sự trợ lực của Thánh Thể, chớ gì từng người chúng ta luôn biết sống đức ái theo đúng tinh thần của Tin mừng, nhờ đó, ngày càng có nhiều người tìm đến với Thiên Chúa, nguồn của tình yêu đích thực. Amen.
Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn


 

TN4-C30. Đồng hương chối từ - Lm. Đan Vinh

VietCatholic (Chúa Nhật 4 Thường Niên C)

Chúa Nhật 4 Thường Niên C

Lc 4,21-30

I. Tìm hiểu Lời Chúa

1) Ý chính : Cuộc xung đột giữa người đồng hương với Đức Giêsu :

 

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Đức Giêsu bị người đồng hương từ chối+ Ngày Sabát: TN4-C30

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Đức Giêsu bị người đồng hương từ chối :

+ Ngày Sabát, Người vào hội đường và tình cờ đọc đúng đoạn sách ngôn sứ Isaia về chương trình hành động của Đấng Thiên Sai. Người tuyên bố : “Hôm nay lời ấy đã được ứng nghiệm”.

+ Nhưng Đức Giêsu lại không thoả mãn đòi hỏi của dân làng là muốn được Người làm nhiều phép lạ, như đã làm ở Ca-phác-na-um. Vì theo Người : muốn được phép lạ thì người ta phải có lòng tin. Như trong phép lạ hũ bột không vơi của bà goá nghèo ở Sa-rép-ta xứ Si-đon thời ngôn sứ Elia, và phép lạ quan Na-a-man xứ Syria thời ngôn sứ Elisa được khỏi bệnh phong cùi. Họ được ơn lạ là do lòng tin chứ không phải do dòng giống dân Ítraen.

+ Vì không được thoả mãn, nên dân làng Nadarét từ thán phục lúc đầu biến thành ác cảm sau đó, đến nỗi họ hè nhau tìm cách giết hại Đức Giêsu, nhưng Người đã an toàn băng qua giữa họ mà đi.

2) Chú thích :

- Đức Giêsu bắt đầu nói với họ : “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”. Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người. Họ bảo nhau : “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao ?” (Lc 4,21-22) :

+ “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”: Đức Giêsu trình bày sự xuất hiện của Người như là sự khai mở thời kỳ hồng ân mà các ngôn sứ đã từng loan báo, nhưng dành cho mọi người, chứ không chỉ cho dân Ítraen. Luca thường nhấn mạnh đến tính cách hiện tại của ơn cứu độ : Ơn cứu độ cho ngày hôm nay (x. Lc 2,11; 3,22).

+ Những lời hay ý đẹp : Dân làng Nadarét tán thành và thán phục những lời ân sủng thốt ra từ miệng Đức Giêsu. Người đến để công bố ân sủng, là món quà vô giá của Thiên Chúa và ban ơn tha thứ cho loài người.

+ “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?” : Đức Giêsu ra giảng đạo vào khoảng 30 tuổi và thiên hạ vẫn coi Người là con ông Giuse (x. Lc 3,23)

- Người bảo với họ : “Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ : Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình ! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Ca-phác-na-um, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào !” Người nói tiếp : “Tôi bảo thật các ông : Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình” (Lc 4,23-24)

+ “Thầy lang ơi, hãy chữa lấy chính mình!” : Đức Giêsu dùng câu tục ngữ này để diễn tả tâm trạng đòi hỏi của người đồng hương rằng : Hãy cho họ là thân nhân của Người, được hưởng các phép lạ mà Người đã làm ở những nơi khác.

+ Ca-phác-na-um : Một thành ở mạn Tây Bắc hồ Galilê, được coi như trung tâm hoạt động của Đức Giêsu. Tại đây, Người chữa nhiều bệnh nhân, làm nhiều phép lạ (x. Mc 1,21-28,29-31,32-34), tha tội cho người bị bệnh bại liệt (x. Mc 2,1-12), quan tâm cứu chữa những người tội lỗi (x. Mc 2,15-17), khoan dung về luật ăn chay, luật hưu lễ (x. Mc 2,18-27).

+ “Ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!” : Dân làng Nadarét đang lặp lại cơn cám dỗ của Xatan là thử thách Người : Lợi dụng lòng tốt của Đức Giêsu để yêu cầu Người phục vụ cho họ (x Lc 4,1-14). Cũng vì cứng lòng tin, tưởng mình đã biết rõ nguồn gốc của Đức Giêsu, nên họ không tin Người là Con Thiên Chúa từ trời mà đến. Họ đòi Người phải làm dấu lạ để chứng minh nguồn gốc thần linh của Người (x. Lc 11,16).

+ “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình” : Ngôn sứ hay tiên tri làphát ngôn viên của Thiên Chúa với sứ mệnh như sau : An ủi những người đau khổ, tuyệt vọng, tiên báo một tương lai tốt đẹp sắp đến để động viên họ trung thành với đức tin (x. Is 49,8-15); Cáo trách tội của vua quan và dân chúng. Chẳng hạn : Samuel trách phạt tội không vâng lời của vua Saun (x. 1V 13,7-14; 15,12-23), Nathan vạch tội giết chồng đoạt vợ của vua Đavít (x. 2 Sm 12,1-15), Giêrêmia lên án dân chúng phụng thờ tà thần và đe doạ trừng phạt (x. Gr 7,30-34;9,1-15) … chính vì nói những điều khó nghe như thế mà nhiều ngôn sứ đã bị người đời thù ghét giết hại (x. Mt 23,37; Lc 6,23b). câu “Không một ngôn sứ nào được tiếp nhận tại quê hương mình” đồng nghĩa với câu : “Bụt nhà không thiêng”

- “Thật vậy, tôi nói cho các ông hay : thiếu gì bà goá ở trong nước Ítraen vào thời ông Elia, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội. Thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả. Nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Xa-rép-ta miền Xi-đon. Cũng vậy, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Ítraen vào thời ngôn sứ Elisa. Nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Na-a-man, người xứ Xy-ri-a thôi” (Lc 4,25-27) :

+ Tôi nói cho các ông hay : Đức Giêsu muốn trình bày tính phổ quát của ơn cứu độ, nghĩa là cho mọi dân nước, chứ không chỉ dành cho dân Ítraen hay cho làng quê Nadarét mà thôi. Bất cứ ai dù là dân ngoại, hễ tin vào Thiên Chúa và vâng lời Đức Giêsu truyền dạy đều được ơn cứu độ. Trong khi đi giảng đạo, Đức Giêsu cũng thường đề cao đức tin của người ngoại. Chẳng hạn : Khen đức tin của viên đại đội trưởng (x. Lc 7,9); Dạy làm theo người Samari (X. Lc 10,36-37); Khen đức tin của người đàn bà xứ Canaan (x. Mt 15-28).

+ Elia và bà goá ngoại giáo thành Xa-rép-ta được qua cơn đói kém : Elia là một ngôn sứ nổi tiếng sống vào thế kỷ thứ chín trước Công Nguyên. Một bà goá ở thành Xa-rép-ta miền Xiđon phía Bắc nước Do Thái sắp bị chết đói vì nạn hạn hán mất mùa. Bà may mắn gặp được ngôn sứ Elia. Nhờ tin và làm theo lời Êlia dạy mà người đàn bà ngoại giáo này đã được Elia làm phép lạ cho hũ bột và bình dầu cứ còn mãi cho tới khi hết hạn hán (x. 1 V 18,1tt).

+ Elisa và quan Na-a-man ngoại giáo bị phong cùi : Elisa là đồ đệ của Elia, nổi tiếng vì khả năng chữa bệnh cách lạ lùng. Tại xứ Xyria có một viên sĩ quan tên là Na-a-man bị bệnh phong cùi. Nhờ một nữ tì mách bảo, ông đã sang nước Ítraen tìm kiếm ngôn sứ Elisa xin chữa bệnh. Nhờ tin vào quyền năng Thiên Chúa và làm theo lời dạy của vị ngôn sứ, xuống sông Giođan tắm 7 lần và cuối cùng đã được khỏi bệnh cùi (x. 2 V 5,1-14).

- Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành (thành này được xây trên núi). Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi (Lc 4,28-30):

+ Mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ : Họ phẫn nộ vì Đức Giêsu không thoả mãn đòi hỏi muốn được thấy Người làm phép lạ mà không được. Họ tức giận vì xem ra Đức Giêsu lại đề cao dân ngoại hơn là dân Do Thái là dân tộc được Đức Chúa ưu tuyển. Họ ganh tỵ vì Người coi trọng dân thành Ca-phác-na-um ngoại giáo, hơn dân làng Nadarét là đồng hương của Người. Sự kiện này tiên báo số phận của Đức Giêsu đã được ông Simêon tiên báo là Đức Giêsu sẽ trở nên dấu hiệu cho người đời chống đối (x. Lc 2,34) : Người sẽ bị người đời chống đối (x. Mc 3,6), bị kết án tử hình trên cây thập tự (x. Lc 20,15).

+ Họ đứng dậy lôi Người ra khỏi thành (thành này được xây trên núi). Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực : Thực ra địa dư của làng Nadarét không có đồi núi. Khi viết ra điều này, có lẽ Luca muốn nói mạnh để tiên báo về việc dân Ítraen sẽ hè nhau giết hại Đức Giêsu (x. Lc 23,18-24). Về sau Têphanô cũng bị Thượng hội đồng Do Thái giết hại như vậy (x. Cv 6,12;7,54.57-58).

+ Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi : Trước sự chống đối và khước từ của dân làng Nadarét, Đức Giêsu đã băng qua giữa họ mà tiếp tục đi “con đường của Người và kết thúc tại Giêrusalem (x. Lc13,33).

II. Học sống Lời Chúa

1) Chủ đề 1 : Chúa Giêsu bị người đồng hương xua đuổi :

- Lời Chúa : “Bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1,5).

- Câu chuyện 1 : Đứa con bị từ chối :

Đệ nhị thế chiến vừa kết thúc, một người lính trẻ đã viết một lá thư về nhà để báo tin anh còn sống và sắp trở về đoàn tụ với gia đình. Trong thư có đoạn viết như sau : “ Thưa ba má, con muốn đưa một anh bạn thân cùng một đơn vị, đã từng chiến đấu bên con. Nhưng anh đã bị cụt một giò trong cuộc chiến vừa qua”. Người cha viết thư trả lời như sau : “Con cứ mời bạn con về ở với gia đình ta. Xưởng cưa của ba có thể thâu nhận những người tàn tật như thế vào làm việc”. Trong lá thư tiếp theo, anh lính trẻ lại cho biết thêm một chi tiết nữa. Anh viết : “Thưa ba má, anh bạn của con không những bị cụt chân mà còn cụt cả một bàn tay nữa!”. Người cha liền hồi âm trả lời như sau : “Con ơi, ba không thể thu nhận vào xưởng của ba một con người vừa cụt tay cụt chân như anh bạn của con được. Một người như thế thì còn làm được gì hữu ích cho xã hội nữa!”. Nhận được bức thư với những lời như vậy, anh lính trẻ ngưng viết thư và quyết định không trở về đoàn tụ với cha mẹ nữa. Vì anh và người bạn tàn phế trong bức thư kia chỉ là một!

- Câu chuyện 2 : Thành kiến biến con người thành mù quáng :

Bà Anna là một người có thành kiến rất tệ hại về người da đen. Bà cho rằng : người da đen hôm nay là con cháu của bọn nô lệ ngày xưa. Họ là những kẻ lười biếng, gian dối, trộm cướp, nghiền ma tuý, say xỉn, độc ác, hãm hiếp phụ nữ và giết người không gớm tay…Với thành kiến như vậy, bà Anna luôn đề cao cảnh giác và tránh tiếp xúc với bất cứ người da đen nào. Nhưng rồi một hôm khi bà vừa bước vào một chiếc thang máy thì một bóng người da đen cao lớn cũng bước theo sau và đứng ngay sau lưng bà. Bà chưa kịp thối lui ra ngoài thì cửa thang máy đã tự động khép lại. Bà chết điếng người và bị ngất xỉu không còn biết gì nữa. Tỉnh dậy tại phòng cấp cứu, bà cảm thấy xấu hổ khi biết được rằng : người da đen to lớn kia chính là ca sĩ Lê-o-nát Vi-xi (Leonard Vichy), là một ca sĩ nổi tiếng và được nhiều người mộ mến. Cũng chính anh ta đã đưa tay đỡ khi bà bị ngất xỉu trong thang máy và sau đó chính anh đã đưa bà đến nhà thương cấp cứu.

- Suy niệm :

+ Thành kiến làm cho người ta mù quáng, đến nỗi không thể nhận ra đâu là sự thật, và khó lòng có được nhận xét đúng đắn về người khác. Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Đức Giêsu trở về thăm quê nhà Nadarét. Những người đồng hương tuy thán phục lời giảng của Người, nhưng vì có thành kiến về gia đình tầm thường của Người, nên đã không chấp nhận sứ mệnh Thiên Sai của Người. Họ muốn thấy Người làm phép lạ để chứng minh sứ mệnh ấy. Khi không được thoả mãn, và nhất là sau khi nghe Người không phân biệt dân Do Thái với dân ngoại, dân thành ngoại giáo Ca-phác-na-um hay dân Nadarét đồng hương…thì họ đã nổi giận và tìm cách giết hại Người.

+ Qua 2000 năm từ thời Đức Giêsu đến nay, Đức Giêsu vẫn tiếp tục bị người đời chối bỏ khước từ nơi những kẻ nghèo hèn bệnh tật và bị bỏ rơi. Chính khi chúng ta từ chối giúp đỡ một người đói rách đau khổ, là ta từ chối và xua đuổi chính Đức Giêsu giống như dân Nadarét xưa (x. Mt 25,45). Mỗi người chúng ta được mời gọi đón nhận Thiên Chúa, tin Đức Giêsu và làm chứng nhân cho Người. Ta chỉ có thể chu toàn sứ mệnh làm chứng cho Chúa khi ta thực hành yêu thương tha nhân.

- Thảo luận : Thành kiến là gì ? dân làng Nadarét đòi điều kiện nào khi tin Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai ? con người hôm nay đòi hỏi những gì để tin theo Chúa ?

2) Chủ đề 2 : Sức mạnh của sự thật.

- Lời Chúa : “Người băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4,30).

- Câu chuyện : Sức mạnh của sự thật.

Thôi Trữ là một quyền thần nước tề, định giết vua Trang Công để đoạt ngôi báu. Ông ta cho mời các quan chức triều đình đến tư dinh để cùng nhau bàn mưu tính kế và uống máu ăn thề. Sau khi nghe Thôi Trữ tuyên bố làm phản chống lại nhà vua, các quan chức triều đình hiện diện đều khiếp nhược trước uy thế của Thôi Trữ và răm rắp nghe theo. Duy chỉ có An Tử là vẫn điềm nhiên tự tại và không chịu thề thốt gì cả. Bấy giờ Thôi Trữ bảo với án Tử rằng : “Nếu người nghe theo ta, thì sau khi ta thâu đoạt được ngai vàng, ta sẽ chia một nửa nước cho. Còn nếu không nghe ta thì ngươi sẽ bị tiêu diệt ngay !”. Trước khí thế của quân phản loạn, nhưng An Tử vẫn luôn bình tĩnh. Ông trả lời rằng : “Lấy cái lợi để nhử và bắt người ta chống lại quân vương là bất trung. Lấy binh khí để hiếp đáp làm người ta sợ hãi phải nghe theo là thất đức. Giết thì giết ! ta đây quyết tâm không theo một việc bất trung thất đức của ngươi đâu !”. Nói xong An Tử đứng dậy ung dung ra về, thế mà Thôi Trữ cũng không dám ra lệnh cho quân lính ngăn cản giết hại An Tử.

- Suy niệm :

+ Thôi Trữ quyền hành là thế mà chỉ cần một câu nói, Án Tử đã làm cho chùn bước. Thế mới biết : sự thật có sức mạnh còn hơn cả thế lực quyền uy !

+ Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại một câu chuyện xảy ra tương tự về Đức Giêsu. Sau khi từ chối không làm dấu lạ như yêu cầu của dân làng, vì họ cứng lòng tin, thì “Mọi người trong hội đường đều đầy phẩn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4,28-30). Đức Giêsu chính là sự thật, nên từ nơi Người toát ra một sức mạnh phi thường, khiến đám người bạo động kia không thể làm gì hại được Người.

+ Mỗi người tín hữu chúng ta cũng cùng chung số phận bị ngược đãi giống như Đức Giêsu như Người đã tiên báo : “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó ghét Thầy trước…Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em” (Ga 15,18.20. Nhưng khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì. Thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em (x. Mt 10,20).

- Thảo luận : Chúa Giêsu luôn quan tâm, ưu ái và đề cao dân ngoại khi có dịp tiếp xúc với họ. Vậy tôi phải đối xử thế nào đối với những anh em khác tôn giáo mà tôi tiếp xúc hằng ngày để đem Chúa đến cho họ ?

III. Hiệp sống nguyện cầu

1) Lạy Chúa Giêsu, dân làng Nadarét không tin Chúa vì theo họ biết : Chúa chỉ là một anh thợ mộc và cha mẹ của Chúa cũng chỉ là những người dân quê bình thường giống như họ. Môn đệ không tin Chúa nên đã bỏ Thầy mà chạy trốn khi kẻ thù đến bắt.

Lạy Chúa, cũng có những lúc chúng con không tin Chúa hiện diện nơi một tấm bánh nhỏ bé tầm thường, nơi một vị chủ chăn bất toàn, trong một Hội Thánh còn có nhiều thiếu sót tội lỗi. Dường như Chúa thích ẩn mình nơi những gì thế gian chê bỏ, để chúng con nhận ra Chúa bằng con mắt đức tin. Xin thêm đức tin cho chúng con, để chúng con luôn nhìn thấy Chúa đang hiện thân nơi những người nhỏ bé và đau khổ giữa lòng xã hội hôm nay.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

2) Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ cầu cùng Chúa giúp chúng con có được tình yêu của Chúa, vì nhiều khi chúng con bị cám dỗ trả thù những kẻ có ác cảm, thù ghét và làm hại chúng con. Xin giúp chúng con có sức mạnh của Thánh Thần để không ngã lòng khi gặp các tai ương hoạn nạn liên tiếp đổ xuống cuộc đời chúng con. Xin ban cho chúng con lòng dũng cảm để không đầu hàng trước những khó khăn và trách nhiệm luôn đè nặng trên chúng con. Xin giúp chúng con trở thành muối mặn để ướp mọi người khỏi hư hỏng, trở thành ngọn đèn cháy ánh sáng tin yêu, xin cho chúng con trở nên những vì sao luôn chiếu tỏa ánh sáng như lời Chúa dạy : “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em, Đấng ngự trên trời”.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con

Trích Hiệp sống Lời Chúa
Lm. Đan Vinh


 

TN4-C31. Làm ngôn sứ là luôn phải chịu phần thiệt về mình

- Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
Chúa nhật 4 Thường niên C

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

 

Phụng vụ Lời Chúa Chúa nhật 03 Thường Niên đã trình bày Đức Giêsu Kitô là Vị Ngôn Sứ của  TN4-C31

Phụng vụ Lời Chúa Chúa nhật 03 Thường Niên đã trình bày Đức Giêsu Kitô là Vị Ngôn Sứ của Thiên Chúa, Đấng đã được Thần Khí ngự xuống, tấn phong và sai đi loan báo Tin Mừng và Hồng ân của Thiên Chúa. Người đã xác định chân dung của mình ngay tại quê hương sinh trưởng của Người (bài Phúc âm Chúa nhật 3 Mùa thường niên). Và Người đã nhận được sự từ chối và chống đối ngay từ những người thân thuộc và quen biết ở làng quê Nada-rét. Bài Phúc âm hôm nay hé mở cho chúng ta thấy sự thiệt thòi mà những ai muốn làm sứ ngôn của Thiên Chúa phải gánh chịu.

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA

2.1 Bài đọc 1: Gr 1,4-6.17-19: (a) Sách Giêrêmia chép lời rao giảng của Giêrêmia, vị ngôn sứ hoạt động một thế kỷ sau Isaia đệ nhất, vào thời xứ Giuđa sắp bị diệt vong. Ông đã phải chứng kiến cảnh Giêrusalem thất thủ, vua, quan, tư tế và dân bị đày sang Babylon. Cuộc đời và lời rao giảng của ông mang trọn nỗi bi đát của thời đại.

(b) Gr 1,4-6.17-19 là những lời sấm ngôn của Thiên Chúa có liên quan trực tiếp tới thân phận và sứ mạng của Giêrêmia. Có ba yếu tố quan trọng sau đây: (*) Trước hết Giêrêmia là người đã được Thiên Chúa yêu thương, thánh hóa và tuyển chọn: “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho dân Ta.” (*) Kế đến là sứ mạng của Giêrêmia là nói Lời Thiên Chúa: “Còn ngươi, ngươi hãy thắt lưng. Hãy trỗi dậy! Hãy nói với chúng tất cả những gì Ta sẽ truyền cho ngươi.” (*) Và sau cùng, vì nói Lời Thiên Chúa, nên Giêrêmia phải dũng cảm đương đầu với mọi thế lực cản trở hay chống đối và tin tưởng vào sự phù trợ của Thiên Chúa: “Trước mặt chúng, ngươi đừng run sợ, nếu không, trước mặt chúng chính Ta sẽ làm cho ngươi run sợ luôn. Này hôm nay, chính Ta làm cho ngươi nên thành trì kiên cố, nên cột sắt tường đồng chống lại cả xứ: từ các vua Giuđa đến các thủ lãnh, các tư tế và toàn dân trong xứ. Chúng sẽ giao chiến với ngươi, nhưng sẽ không làm gì được, vì có Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi.”

2.2 Bài đọc 2: 1 Cr 12,31-13,13: (a) Thánh Phaolô viết về Đức Tin, Cậy, Mến của người tín hữu và cho rằng trong ba Đức ấy thì Đức Mến là cao trọng hơn cả vì ba lý do như sau: (*) Đức Mến là nền tảng của Đức Tin và Đức Cậy; (*) Đức Mến tồn tại mãi mãi; (*) Đức Mến hoàn hảo và vô giới hạn. Ngoài ra còn có một lý do khác không được Thánh Phaolô không nói ra ở đây, nhưng được Thánh Gioan nói đi nói lại nhiều lần trong Phúc âm và trong các thư. Đó là vì Thiên Chúa là Tình Yêu, và ở đâu có tình yêu là ở đấy có Thiên Chúa. Vì thế ai có Đức Mến là có chính Thiên Chúa ở cùng.

(b) Thánh Phaolô còn miêu tả Đức Mến một cách tỷ mỷ để giúp người tín hữu dễ nhận ra Đức ấy: “Đức Mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức Mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.” Vậy thì, một mặt, chúng ta cứ nhìn vào tâm tư và cuộc sống của mình để biết mình đã có Đức Mến hay chưa; mặt khác chúng ta cứ tập cho có những tâm tình và thái độ được Thánh Phaolô miêu tả là chúng ta có được Đức Mến.

2.3 Bài Tin Mừng: Lc 4,21-30: (a) Là đoạn tiếp theo của Tin Mừng Luca mà Giáo hội cho đọc trong thánh lễ Chúa nhật tuần trước. Câu chuyện xẩy ra ở Nadarét, nơi sinh trưởng của Đức Giêsu: Sau khi Đức Giêsu xác định vai trò, sứ mạng ngôn sứ của mình thì Người nhận được hai phản ứng trái nghịch nhau của dân chúng: Lúc đầu thì ai nấy đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người. Nhưng rất nhanh họ nghi ngờ và thắc mắc. “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?” Những người Do Thái nói thế có nghĩa là họ chỉ nhìn thấy ”mặt nổi” hay “vẻ bên ngoài” của Đức Giêsu còn họ không thấy được “mặt chìm” hay “thực tế bên trong” của Người. Vì thế Đức Giêsu mới có những lời lẽ hơi nặng: “Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Caphácnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!” Người nói tiếp: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình.” Và để chứng minh cho nhận định của mình, Đức Giêsu đã nhắc lại những sự kiện nổi tiếng trong Kinh Thánh: (*) Bà góa thành Xarépta miền Xiđon là người phụ nữ duy nhất đã được ông Êlia đến giúp trong khi cả nước Ítraen có rất nhiều bà góa đói khổ vì nạn hạn hán; (*) Ông Naaman, người xứ Xyria là người phong hủi duy nhất đã được ngôn sứ Elisa chữa sạch, trong khi trong Ítraen có nhiều người bị phong hủi mong được sạch.

(c) Nghe những lời lẽ ấy của Đức Giêsu, những người Nadarét hiểu rằng họ không phải là những người được Thiên Chúa chọn lựa cho hưởng đặc ân từ vị ngôn sứ. Nói cách khác họ cũng bị Thiên Chúa ‘lãng quên’ giống như cha ông họ thời xưa. Vì thế mà “mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy lôi Người ra khỏi thành. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi để xô Người xuống vực.” Đó là hậu quả tất nhiên và cũng là diễn tiến lô gích của sự việc.

III. ĐÓN NHẬN & SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA

3.1 Đức Giêsu chịu “phần thiệt” của Vị Ngôn sứ của Thiên Chúa.

(a) Đi sâu vào nguyên nhân khiến những người Nadarét đã hắt hủi và loại trừ Đức Giêsu, chúng ta sẽ thấy rằng: chỉ vì Đức Giêsu đã không làm chọn Na-darét làm trung tâm hoạt động rao giảng Tin Mừng và đã không làm ở đó những phép lạ như ở Caphácnaum mà lại còn lên tiếng cảnh tỉnh người đồng hương bằng cách nhắc lại những sự tích trong lịch sử… Còn nguyên nhân sâu xa khiến Đức Giêsu đã không làm được nhiều phép lạ ở nơi quê hương đất mẹ là vì những người dân Nadarét không tin vào Người.

(b) Sở dĩ sự việc xẩy ra như thế vì mỗi bên có quan điểm riêng của mình. Người dân làng Nadarét thì muốn Đức Giêsu phục vụ lợi ích “cục bộ” của họ, trong khi Đức Giêsu phải phục vụ chương trình và kế hoạch Cứu độ phổ quát của Thiên Chúa. Lợi ích cục bộ của người dân Nadarét là Nadarét phải được Đức Giêsu chọn làm trung tâm truyền giáo chứ không phải Caphácnaum, và Đức Giêsu phải làm ở đây những phép lạ mà Người đã làm ở Caphácnaum. Còn chương trình và kế hoạch Cứu độ phổ quát của Thiên Chúa là: chẳng những Ơn Cứu độ phải được loan báo và được dành hết mọi người Do Thái (chứ không chỉ những người Do Thái đạo đức) mà còn phải được loan báo và dành cho hết mọi người trong thế gian này, bất phân biệt người đó là Do Thái, Hy Lạp hay dân ngoại. Còn đứng về phía mình thì Đức Giêsu mong đợi và đòi hỏi người dân làng Nadarét tin vào Người là Đấng Mêsia, là Vị Ngôn sứ của Thiên Chúa mà người dân Nadarét thì không thể vượt qua nổi những thành kiến tầm thường và cái nhìn hẹp hòi của con người, nên họ không thể nào tin được rằng con bác thợ mộc Giuse và bà Maria lại có thể là một Ngôn sứ của Thiên Chúa.

(c) Chúng ta có thể suy nghĩ sâu hơn bằng cách tự hỏi: Thế tại sao Đức Giêsu không chịu chiều lòng dân làng Nadarét? Cách hành động của Đức Giêsu có quá cứng nhắc, quá nguyên tắc, không thức thời và không phù hợp với hoàn cảnh và con người cụ thể không? Nếu chúng ta ở vào trường tương tự, chắc chúng ta sẽ tìm cách “thỏa hiệp” với người xung quanh để “hai bên cùng có lợi”, chắc chúng ta sẽ tìm cách lấy lòng, thậm chí mua chuộc người ta để có thuận lợi cho công việc của mình. Vả lại người Việt Nam vẫn chẳng coi “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” là ba yếu tố quyết định thành công đó sao? Vậy tại sao Đức Giêsu lại không tạo “địa lợi nhân hòa” với người cùng quê? Tại sao Đức Giêsu đã không chiều lòng những người Nadarét mà thỏa mãn các mãn nguyện vọng “xem ra cũng chính đáng” của họ? Câu trả lời chỉ có thể là Đức Giêsu đã muốn và phải giữ cho mình sự tự do tuyệt đối trong việc chọn lựa cách thi hành sứ vụ mà Chúa Cha giao phó. Người không thể lệ thuộc, quỵ luỵ một ai, kể cả những người thân trong dòng tộc họ hàng. Một cách trả lời khác, là: Tin Mừng và Đấng Cứu thế không phải là để phục vụ lợi ích riêng tư của một nhóm người nào mà là phục vụ hạnh phúc thật và vĩnh cửu của hết mọi người. Điều hết sức quan trọng là trong cuộc xung đột với người làng Nadarét nói riêng và người Do Thái nói chung, Đức Giêsu đã chấp nhận “phần thiệt” về mình là bị dân làng Nadarét xô xuống vực và bị người Do Thái treo trên Cây Thập Tự Giá.

3.2 Cá nhân hóa (personnalization) sứ điệp Lời Chúa.

(a) Lời Chúa mời gọi chúng ta hãy biết “cá nhân hóa” sứ điệp Lời Chúa bằng cách tự hỏi: chúng ta có dám chấp nhận “phần thiệt” như Đức Giêsu, để làm chứng cho Tin Mừng không? Thường thì con người bao giờ cũng thích và tìm mọi cách để được lợi, được hơn, chứ ai chẳng dại gì mà chịu phần thua, phần kém, phần thiệt về mình. Nhưng để làm ngôn sứ tức làm chứng cho Tin Mừng, thì dường như bao giờ cũng phải chịu “phần thiệt” như đã được minh chứng cách hùng hồn bằng cuộc đời của các ngôn sứ, nhất là của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.

(b) Vậy chúng ta phải làm gì đây? - Thiết tưởng chúng ta cần có một ý thức sâu sắc về ơn gọi, vai trò và thân phận ngôn sứ của mình như Giêrêmia và Đức Giêsu (bài đọc 1) và đồng thời cần có một đức tin, cậy mến - nhất là đức mến - mạnh mẽ và kiên cường (bài đọc 2). Ngoài ra còn có một khát vọng cháy bỏng nên giống Chúa Giêsu là Đấng tự hạ, tự hủy, như Charles de Foucauld đã khao khát từ khi trở lại với Chúa. Cầu xin Thiên Chúa và rèn luyện tâm linh sẽ giúp chúng ta có được tất cả những điều cần thiết trên.

IV. CẦU NGUYỆN (tự phát)
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.


 

TN4-C32. TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG

CHỦ NHẬT 4 THƯỜNG NIÊN

Tin mừng : Lc 4, 21-30

Anh chị em thân mến,

 

Khi anh chị em có người thân từ ngoại quốc về thì láng giềng hàng xóm có hai thái độ : một là: TN4-C32

Khi anh chị em có người thân từ ngoại quốc về thì láng giềng hàng xóm có hai thái độ : một là vui vẻ tiếp đón như người làng thuở xưa, hai là thờ ơ lạnh nhạt và có khi khinh bỉ vì biết rõ lí lịch người ấy trước đây rất là nghèo khi còn ở trong làng xóm...

Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay cũng lâm vào hoàn cảnh như thế khi Ngài trở về quê hương...

Chúa Giêsu không phải là đứa con đi hoang trở về, Ngài cũng không phải là người tội lỗi trở về hối cải ăn năn, nhưng Ngài là một thành viên trong làng xóm về thăm quê nhà sau những năm tháng đi xa, cuộc trở về của Ngài đáng lẽ phải là một niềm vui cho làng xóm mới phải, nhưng vì thành kiến, vì kiêu ngạo và vì mặc cảm mà người làng đã từ chối tình cảm chân thành của Ngài dành cho họ, và như thế là họ khước từ luôn cả ơn cứu độ của Ngài đem đến cho họ.

Chắc chắn những người khước từ Chúa Giêsu không phải vì ghét Ngài hay vì thù oán với Ngài hay gia đình của Ngài, nhưng là vì lòng ghen ghét đã làm cho mắt họ mờ đi không nhận ra được tiònh cảm thân thương mà Chúa Giêsu đã dành cho họ, và như thế họ trở nên người xa lạ với Đấng đã đến không phải để luận phạt, nhưng là để cứu chữa...

Thái độ vui vẻ đón tiếp là nói lên tính cách của một con người lịch sự và hiểu biết, những người này chính là những con người yêu chuộng và thích kiến thiết hoà bình : hoà bình trong tâm hồn của chính họ, hòa bình trong làng xóm, trong cộng đoàn của họ, bởi vì phúc cho những ai có tâm hồn hoà bình, vì họ là những người con của Thiên Chúa.

Thái độ từ chối là bày tỏ một tâm hồn ghen ghét và kiêu ngạo, bởi vì chỉ có những ai có tâm hồn ghen ghét và kiêu ngạo mới đành lòng khước từ một tình cảm chân thành và một sự thật quá rõ ràng khi mà hết mọi người đều ca tụng và thán phục.

Anh chị em thân mến,

Tâm hồn của chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa, và nói được là quyền sở hữu của Ngài, thế nhưng khi Ngài đến thì chúng ta từ chối đón tiếp Ngài, chúng ta cười nhạo Ngài là “Thiên Chúa xa vời thực tế” không giúp ích gì được cho mình khi mà cuộc sống mình cứ lao đao lận đận; chúng ta cũng đã nhiều lần khước từ Chúa Giêsu “con bác thợ mộc” nghèo nàn đến xin chúng ta giúp đỡ vì gia đình họ đang gặp khó khăn...

Khi chúng ta thành tâm yêu mến rước Chúa Giêsu Thánh Thể vào trong tâm hồn của mình, thì chúng ta cũng nên thành tâm giang tay đón nhận mọi anh chị em bất kể họ là ai -nghèo hay giàu- khi họ cần đến chúng ta, đó chính là tiếp đón Chúa Giêsu vậy.

Gợi ý :

1. Tâm trạng của anh chị thế nào khi bị người ta từ chối chê bai giữa đám đông ?

2. “Tiếp đón tha nhân” là một niềm vui, anh chị có vui không khi tiếp đón một người nghèo bệnh hoạn ?

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Bài giảng chủ nhật 4 thường niên tại nhà thờ Phục Sinh-Taiwan
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.


 

TN4-C33. CẢI THIỆN VÀ ĐỔI ĐỜI

Chúa Giê-su trở về quê hương Na-da-rét. Vì ưu ái người đồng hương, Ngài muốn ưu tiên tỏ cho: TN4-C33

Chúa Giê-su trở về quê hương Na-da-rét. Vì ưu ái người đồng hương, Ngài muốn ưu tiên tỏ cho họ nhận biết vai trò và sứ mạng của Ngài là Người được Thánh Thần xức dầu, được sai đi loan Tin Mừng cho người nghèo khó, công bố ân xá cho những kẻ bị giam cầm, cho người mù tối biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, và công bố thời kỳ hồng ân của Thiên Chúa... với hy vọng là những người đồng hương cốt nhục của mình được đón nhận ơn cứu độ trước hết.
Thế nhưng đôi mắt của họ bị che phủ bởi tấm màn thành kiến nên họ đã không nhận ra vai trò và sứ mạng cao cả của Chúa Giê-su. Với thành kiến rằng Đức Giê-su chỉ là người một anh thợ mộc quèn con của bác thợ Giu-se, bà con thân thích của Ngài đâu có ai sáng giá... nên họ đã không tin Ngài. Họ đã để tuột khỏi tầm tay một cơ hội ngàn vàng,  đã đánh mất hồng ân vô giá.
Vì thế, Chúa Giê-su muốn giúp họ tỉnh ngộ. Ngài chỉ cho họ thấy chỉ vì tổ tiên họ ngày trước đã không đón nhận các Ngôn Sứ Thiên Chúa gửi đến cho mình, nên đã đánh mất những ân huệ quý báu.
Cụ thể là vào thời Ngôn Sứ I-sai-a, khi trời hạn hạn suốt ba năm sáu tháng, dân Ít-ra-en phải lâm vào cơn đói khát trầm trọng, vậy mà Ngôn Sứ I-sai-a được sai đến, không phải để cứu giúp các bà goá trong dân Ít-ra-en thời đó, mà là để cứu đói cho hai mẹ con bà goá ngoại giáo nghèo khổ thành Xa-rép-ta, miền Xi-đôn. Một sự kiện khác tương tự là vào thời Ngôn Sứ Ê-li-sa, đang khi có nhiều người phong cùi trong dân Israen cần được cứu chữa, thế mà không ai trong bọn họ được vị Ngôn Sứ chữa lành, ngoại trừ tướng Na-a-man ngoại giáo, người nước Xy-ri.
Thế nhưng, những lời cảnh tỉnh của Chúa Giê-su không làm cho họ tỉnh ngộ, trái lại càng khiến họ oán ghét Ngài khủng khiếp ! Họ oán ghét Ngài, nổi cơn phẫn nộ với Ngài chỉ vì Ngài đã chỉ cho họ thấy những sự thật phũ phàng liên quan đến họ. Cơn phẫn nộ trào dâng lên cực điểm khiến họ nhất tề đứng dậy, xông vào túm lấy Ngài, lôi Ngài ra khỏi hội đường rồi kéo ra khỏi thành.
Thế mà vẫn  chưa hả giận, họ còn kéo Ngài lên tận đỉnh núi, để xô Ngài xuống vực, cho Ngài nát thịt tan xương, để vĩnh viễn loại trừ Ngài ra khỏi cuộc sống, vì Ngài đã dám nói lên sự thật, một sự thật phũ phàng, đen tối liên quan đến họ... Ôi, khủng khiếp thay cơn giận của đám dân thành Na-da-rét !
Sự đời vẫn thế. Người ta không đủ can đảm để chấp nhận những sự thật đen tối, sự thật phũ phàng về mình. Khi có một ai đó chỉ cho ta thấy những lầm lỗi khuyết điểm của chúng ta, những sự thật đen tối về bản thân ta, chúng ta lồng lên như một thú dữ bị thương, gầm lên dữ dội và có thể có thái độ hung hãn đối với người đã vạch ra lầm lỗi của mình.
Chúng ta thường đánh mất nhiều thời giờ và dùng nhiều lý lẽ để biện minh cho những thói xấu của mình. Chúng ta thường đặt cho chúng những tên gọi khác, dễ nghe hơn và thậm chí cao đẹp hơn. Nếu ta keo kiệt thì biện minh rằng đó là tiết kiệm. Nếu ta sống bất cần dư luận thì lại gọi đó là trung thực với lòng mình. Cố chấp, ngoan cố thì tự coi mình có lập trường kiên định. Liều lĩnh thì tự coi là can đảm. Đua đòi theo đuôi người khác thì gọi là hợp thời trang... Nếu như thế mãi thì biết đến bao giờ mới có sự hoán cải thực sự nơi chúng ta ?
Lạy Chúa Giê-su, xin cho Lời Chúa soi dọi vào những ngóc ngách đen tối trong tâm hồn chúng con để vạch cho chúng con thấy những sự thật đen tối của lòng mình.
Xin cho chúng con can đảm lắng nghe những lời phê bình chân thực của người khác mà không tìm cách biện minh hay chống chế. Xin cho chúng con dám nhìn thẳng vào những thói xấu của mình, gọi đúng tên chúng, quan sát cách vận hành hay biểu lộ của chúng qua hành vi, lời nói, và cách cư xử hằng ngày của chúng con... May ta lúc đó, chúng con  mới có thể cải thiện và đổi đời.
Lm. I-nha-xi-ô TRẦN NGÀ

 

TN4-C34. TIN HAY KHÔNG TIN

1. Các Ngôn Sứ thường bị từ chối tại chính quê hương mình
 

Đoạn Tin Mừng hôm nay và những đoạn khác tương tự trong các sách Tin Mừng khác cho thấy: TN4-C34

Đoạn Tin Mừng hôm nay và những đoạn khác tương tự trong các sách Tin Mừng khác cho thấy: những người cùng quê cùng làng với Đức Giê-su có vẻ coi thường Ngài và không tin ở Ngài cho lắm. Vì đối với họ, Đức Giê-su chỉ là con của một bác thợ mộc nghèo hèn, và của một phụ nữ không danh giá gì trong làng. Nếu chúng ta ở vào địa vị của dân chúng làng Na-da-rét, chưa chắc chúng ta đã suy nghĩ và đánh giá về Ngài khác hơn họ. Và nếu có một Ngôn Sứ nào xuất hiện ở thời đại này, tại thành phố hay tỉnh ta đang sống, chưa chắc ta đã nhận ra và đánh giá vị ấy một cách đúng đắn.
Thông thường, người ta thường đánh giá một người tùy theo những gì thấy được ở bên ngoài, chứ không thấy được giá trị thâm sâu ở bên trong. Và càng là người thân quen với vị Ngôn Sứ, thì càng khó đánh giá đúng đắn vị Ngôn Sứ ấy, vì các Ngôn Sứ thường mặc lấy những dáng vẻ bên ngoài rất bình thường, và cũng thường có quan niệm rất khác với người đương thời. Chính vì thế, các Ngôn Sứ ít được người đồng thời và đồng hương biết được giá trị con người mình, thậm chí còn bị coi thường, khi rẻ, kết án. Vì thế, Đức Giê-su nói: “Tôi bảo thật các ông: không một Ngôn Sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình”.
 
  1.       Các Ngôn Sứ có muốn ưu đãi quê hương mình cũng không được
Vì thường bị người đồng thời, đồng hương hay đồng đạo coi thường và không tin, nên các Ngôn Sứ thường không thể hoạt động hữu hiệu hay có kết quả tốt đẹp tại quê hương hay thời đại mình. Chẳng hạn Đức Giê-su không thể làm được nhiều phép lạ tại Na-da-rét, vì họ cứng Lòng Tin ( x. Mt 13, 58 ); đồng bào và đồng đạo của Ngài chẳng những không tin Ngài mà còn tìm cách giết Ngài nữa. Thái độ của những người đồng hương, đồng đạo hoặc đồng thời với Ngài như thế, khiến họ không được lợi lộc gì vì được làm người đồng hương, đồng đạo hay đồng thời với vị Ngôn Sứ cả.
Đức Giê-su đã kể ra những trường hợp cụ thể minh chứng điều ấy, chẳng hạn trường hợp của hai Ngôn Sứ Ê-li-a và Ê-li-sa. Thời Ê-li-a, khi Ít-ra-en bị đói, ông chẳng giúp một bà góa khốn khổ nào trong nước cả, mà lại giúp một bà góa ở tận đâu đâu, vì bà này tỏ ra yêu quý, tin tưởng và trọng vọng ông một cách đặc biệt. Thời Êlisa, biết bao người Ít-ra-en bị phong hủi thì ông chẳng chữa cho ai, mà lại chữa cho một người từ ngoại quốc đến.
 
  1.       Thực tế ấy đã xảy ra trên nhiều bình diện khác nhau
Do tình cảm tự nhiên, Ngôn Sứ nào cũng đều muốn dành ưu tiên quyền lợi cho quê hương mình, nhưng nhiều khi vì thái độ khinh thường và cố chấp của người đồng hương, nên quê hương của các vị không hưởng được cái quyền ưu tiên mà các vị muốn đặc biệt dành cho. Để rồi cuối cùng sự ưu đãi đó lại được dành cho những người hay dân tộc xa lạ ở đâu đâu nhưng lại xứng đáng với sự ưu đãi đó hơn.
Thật vậy, Đức Giê-su luôn luôn muốn dành ơn cứu độ ưu tiên cho người Do-thái ( x. Ga 4, 22; Mt 10, 6; 15, 24 ). Nhưng Người Do-thái lại từ chối sự ưu tiên đó, nên Ơn Cứu Độ lại được đem đến cho các dân tộc khác. Nhiều dụ ngôn của Đức Giê-su nói lên thực trạng đó. Chẳng hạn dụ ngôn những tá điền sát nhân ( x. Mt 21, 33 – 46; Mc 12, 1 – 12; Lc 20, 9 – 19 ), dụ ngôn tiệc cưới ( x. Mt 22, 1 – 14; Lc 14, 15 – 24 ).
Bài Tin Mừng Lễ Hiển Linh cho thấy các kinh sư Do-thái – đại diện cho dân tộc được Thiên Chúa ưu tiên dành cho mọi quyền lợi thiêng liêng – mặc dù có Kinh Thánh trong tay và biết được chính xác Đức Giê-su sinh ra ở đâu, nhưng họ lại không thèm tìm đến Ngài, mà lại còn muốn làm hại Ngài. Còn các đạo sĩ – đại diện cho dân ngoại, dân không được ưu tiên – từ mãi đâu đâu tới và phải nhờ tới các kinh sư Do-thái mới biết được Đức Giê-su sinh ra tại Bê-lem, thì lại quyết tâm tìm kiếm Ngài và họ đã tìm thấy.
Sự việc ấy là hình bóng của thực tế xảy ra sau đó: Mặc dù Đức Giê-su sinh ra tại Do-thái, và dân Do-thái là dân được ưu tiên hưởng Ơn Cứu Độ, thì thực tế là cho tới nay, dân Do-thái vẫn chưa nhìn nhận Đức Giê-su là Đấng Cứu Tinh Nhân Loại, mà vẫn còn tiếp tục chờ đợi. Còn những dân tộc đang tin vào Đức Giê-su hiện nay thì lại là những dân tộc bị dân Do-thái xưa khinh thị và gọi là dân ngoại. Thế là ứng nghiệm điều Đức Giê-su tiên báo trong hai dụ ngôn vừa nêu trên.
 
  1.       Nói người lại nghĩ đến ta
Lịch sử thường hay tái diễn lại theo kiểu tương tự. Điều đó khiến ta phải suy nghĩ vì nó có thể xảy ra cho chính chúng ta. Hiện nay, Ki-tô giáo luôn tự hào mình là tôn giáo do chính Thiên Chúa thiết lập, được chính Thiên Chúa mặc khải những chân lý thâm diệu nhất, và là con đường chính thống nhất dẫn đến ơn cứu độ. Ki-tô giáo với các tôn giáo khác cũng phần nào tương tự như Do-thái giáo với dân ngoại xưa. Liệu điều đã đúng với Do-thái giáo có đúng một cách tương tự với Ki-tô giáo không ?
Dân Do-thái xưa lúc nào cũng tự hào về tôn giáo của mình là tôn giáo duy nhất đúng đắn vì là tôn giáo duy nhất được Thiên Chúa mặc khải. Còn các dân tộc khác thì thờ thần tượng, đi trong sai lạc. Nhưng kết cục ra sao ? Dân Do-thái không chỉ phủ nhận Đức Giê-su mà còn giết Ngài nữa. Họ từ chối Ơn Cứu Độ, và Ơn Cứu Độ đã được trao cho dân ngoại. Dân ngoại lại đón nhận Ơn Cứu Độ và gia nhập Giáo Hội. Thế thì xét cho cùng, đối với dân Do-thái, việc có tôn giáo duy nhất đúng đắn, việc nắm được nhiều chân lý hơn các dân tộc khác có ích lợi gì ?
Như thế, xem ra điều quan trọng không phải là có tôn giáo chân chính cho bằng sống đúng những gì tôn giáo mình đòi hỏi, sống đúng theo lương tâm của mình. Hãy nghe Thánh Phao-lô nói: “Người ta được Thiên Chúa coi là công chính, không phải vì nghe biết Lề Luật, nhưng là vì tuân giữ Lề Luật” ( Rm 2, 13 ). Vì thế, nếu “bạn tự hào vì có Lề Luật, mà bạn lại vi phạm Lề Luật, thì như vậy bạn làm nhục Thiên Chúa !” ( Rm 2, 23 ). Tương tự, nếu chúng ta có tôn giáo chân chính mà lại không thèm sống đúng theo tôn giáo ấy, thì ta cũng làm nhục Thiên Chúa, Đấng thiết lập tôn giáo ấy. Lúc ấy chúng ta rất xứng đáng với lời kết án của Thánh Phao-lô: “Thật đúng như lời chép: Chính vì các người mà danh Thiên Chúa bị phỉ báng giữa chư dân” ( Rm 2, 24 ). Lúc ấy, tôn giáo chân chính có ích lợi gì cho ta, hay đó chính là lý do để Thiên Chúa kết án chúng ta ?
Bài Tin Mừng hôm nay chính là lời cảnh tỉnh chúng ta: Đừng để tinh thần yêu thương của Ki-tô giáo lại bị chính các Ki-tô hữu như chúng ta coi thường, không thèm sống, mà người sống tinh thần ấy lại là những người thuộc các tôn giáo khác. Vậy tốt nhất, chúng ta hãy đem tinh thần yêu thương của Đức Giê-su ra áp dụng thật sự vào đời sống. Đừng để trường hợp của Do-thái giáo lại tái diễn một cách tương tự với Ki-tô giáo, trong đó người chủ động tái diễn trường hợp ấy lại chính là chúng ta !
Lạy Cha, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su đã gián tiếp cảnh giác chúng con: chính quê hương, đất nước, dân tộc và đồng đạo của Ngài – là những người mà Ngài muốn dành ưu tiên hưởng Ơn Cứu Độ Ngài đem lại – lại từ chối Ngài. Hiện nay, rất có thể chúng con đang đi vào vết xe đã đổ ấy: ngoài miệng chúng con luôn tuyên xưng mạnh mẽ Niềm Tin vào Đức Giê-su, nhưng đời sống của chúng con thì lại đi ngược lại những điều Ngài dạy. Chúng con tuyên xưng hay biểu lộ Đức Tin mạnh mẽ ra ngoài để che lấp thực tế phủ nhận Đức Tin ấy ở bên trong. Xin giúp chúng con ý thức rằng thái độ giả hình ấy vô cùng có hại cho chúng con. Xin Cha cứu chữa chúng con khỏi thái độ ấy.        
Gs. NGUYỄN CHÍNH KẾT

 

TN4-C35. ĐỨC GIÊSU - LỜI THIÊN CHÚA

VietCatholic News (29/01/2004 )

Chúa nhật 4 Thường niên  - Trinh Cong Son. MP3

 

Ngôn sứ là những người được Thiên Chúa yêu thương chọn gọi và nâng đỡ để có thể chịu: TN4-C35

Ngôn sứ là những người được Thiên Chúa yêu thương chọn gọi và nâng đỡ để có thể chịu đựng được trước sự tấn công của những kẻ thù địch với Lời Chúa. Vì Thiên Chúa không bao giờ chiều theo thị hiếu của con người, trái lại Ngài còn đòi hỏi con người phải luôn sống theo đường lối của Ngài, nên đã là người nói Lời Chúa, các ngôn sứ luôn phải tuyệt đối trung thành với Lời Chúa, nói hết mọi điều Thiên Chúa muốn tỏ cho dân biết, kể cả những điều mà nhiều người xem là chướng tai không thể nghe được. Điểm chung trong cuộc đời của hầu hết các ngôn sứ là phải trải qua con đường đau khổ, bị người đời lên án, chống đối và khai trừ, nhưng có Thiên Chúa là sức mạnh họ không bao giờ lo sợ.

1. Đức Giêsu - Lời Thiên Chúa ngỏ với con người :

Thật vậy, Đức Giêsu chính là một ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến với con người. Không những là người nói Lời Chúa với chúng ta, ngài còn chính là Lời Thiên Chúa ngỏ với con người. Ở nơi Ngài mọi điều đã được loan báo trước trong thời Cựu Ước đã trở thành hiện thực. Ngài đồng chia sẻ số phận đau khổ với các vị ngôn sứ khác.

Bài Tin Mừng hôm nay thánh sử Luca ghi lại thái độ của những người đồng hương với Chúa Giêsu. Đó chính là ví dụ điển hình của thái độ con người chối từ Lời Chúa và tiêu diệt các ngôn sứ. Trong lần về quê này, Chúa Giêsu đã bị những người đồng hương của Ngài chối từ. Bởi vì Chúa Giêsu đã không nói và làm theo ý muốn của họ. Ngài chỉ nói những điều mà Thiên Chúa muốn truyền dạy mà thôi. Dù thoạt đầu khi nghe Chúa Giêsu giảng giải Sách Thánh những thính giả đồng hương với Ngài rất thán phục. Đến khi Chúa Giêsu nói đến một chân lý là ơn cứu độ được ban cho tất cả mọi người thì những người đồng hương lại không đồng ý. Họ nghĩ rằng Chúa Giêsu sẽ trổ tài làm nhiều phép lạ tại chính quê hương của mình. Vì đã lâu rồi người làng Nagiarét đã nghe tin đồn về tài làm phép lạ của Chúa Giêsu. Họ suy nghĩ theo kiểu “Một người làm quan cả họ được nhờ”.Họ tưởng rằng Chúa Giêsu, một người thuộc làng quê Nagiarét mà có tài hơn người thì những người đồng hương, những người bà con họ hàng được tiếng thơm lây.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu lại không suy nghĩ và hành động như thế. Đối với Ngài không có một sự ưu tiên nào ngoài sự ưu tiên dành cho những người nghèo khổ bất hạnh và người có tấm lòng thành tâm thiện chí. Chúa Giêsu quả thật là ngôn sứ và là Lời Thiên Chúa. Ngài được sai đi với hết mọi người, mọi dân tộc, không loại trừ một ai. Ngài ra đi để loan báo Tin Mừng cứu độ cho những ai thành tâm cầu mong, muốn tiếp đón Ngài và nhận lấy ơn Ngài ban cho.

Nhờ bí tích Rửa tội, mỗi người Kitô hữu cũng được tham dự vào sứ mạng ngôn sứ. Chúa đang sai chúng ta đến với từng môi trường sinh sống hàng ngày, nơi mình học tập, làm việc và gặp gỡ nhau để đem Chúa đến cho tha nhân. Có thể cũng như các ngôn sứ, chúng ta sẽ bị người đời khước từ, nhưng đừng bao giờ thất vọng vì có Chúa là sức mạnh. Dù trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, chúng ta hãy đứng vững trong niềm tin cậy mến ở Chúa. Chúng ta đừng nói và làm theo yêu cầu của người đời mà chỉ nói và làm theo lời dạy của Tin Mừng, của Lời Chúa mà thôi.

2. Đức Giêsu - Đức Mến cao cả :

Trong bài đọc 2 hôm nay, đoạn thư thánh Phaolô gởi tín hữu Côlôsê là một bản văn quan trọng. Bản văn này chúng ta thường hay gọi là Bài ca Đức Mến. Thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu hãy ao ước những nhân đức cao cả, mà hơn hết là Đức Mến. Vì Đức Mến là nền tảng, không có Đức Mến thì mọi việc làm, dù được xem là lạ lùng, mọi nhân đức, mọi việc làm tốt, làm một cách anh hùng đều như không. Giáo huấn của Thánh Phaolô và của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay hoàn toàn ăn khớp với nhau. Bài Tin Mừng trình bày với chúng ta là sự nối dài của Bài ca Đức Mến. Đức Mến giữ vai trờ rất quan trọng trong đời sống của người tín hữu, mọi việc chúng ta làm mà thiếu Đức Mến thì không thể trở nên tốt lành.

Hơn nữa, qua đoạn thư này Thánh Phaolô còn đưa chúng ta đến một ý nghĩa cao sâu hơn. Đức Mến ở đây được đồng hóa với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Tình yêu, là Đức Mến cao cả được ban cho con người qua mọi thời đại. Cách nói trong lòng mến và trong tay Chúa được thấy trong các thư Phaolô nhắc đến ý nghĩa đó. Như vậy chỉ trong Chúa chúng ta mới làm được những điều có giá trị, cuộc đời sẽ có ý nghĩa và đáng sống hơn. Khi ca ngợi Đức Mến thánh nhân cũng muốn ca ngợi Đức Giêsu. Chỉ nhờ Ngài, trong Ngài, và cùng với Ngài, Thiên Chúa mặc khải chính mình cho con người và mặc khải quan trọng nhất là Thiên Chúa tỏ tình yêu thương với con người.

Nhưng chướng ngại vật chúng ta phải vượt qua là lòng ích kỷ, chúng ta muốn đóng khung ân sủng của Thiên Chúa, tính kiêu căng tự mãn làm cho chúng ta không mở lòng đón nhận Chúa được. Đó là tình trạng thiếu lòng mến, thiếu Đức ái hay thiếu sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời của chúng ta.

Điều mà hôm nay cần cầu nguyện với Chúa là xin Ngài ban cho chúng ta thật nhiều lòng mến, xin Ngài hiện diện trong cuộc đời của chúng ta mỗi ngày, để cùng với Ngài và với quyết tâm của mỗi chúng ta, mỗi một ngày mới là chúng ta biết đổi đời theo định hướng “hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật………..tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả”.
Martin Lê Hoàng Vũ


 

TN4-C36. Đức Giêsu, con bác Giuse thợ mộc bị chối từ

VietCatholic News (28/01/2004 )

Chúa nhật 4 Thường niên C

Lc 4, 21-30

 

Trở về quê hương sinh trưởng Nagiarét, sau những ngày Chúa Giêsu và các môn đệ miệt: TN4-C36

Trở về quê hương sinh trưởng Nagiarét, sau những ngày Chúa Giêsu và các môn đệ miệt mài đi rao giảng Tin Mừng, giới thiệu nước Thiên Chúa, lúc đầu dân làng có mặt hôm đó hồ hởi đón nhận những lời Chúa Giêsu trình bầy vì quả thực Ngài đã nổi tiếng về những phép lạ, những việc Ngài làm, những lời khôn ngoan Ngài phát biểu, Ngài dậy dỗ. Tưởng rằng dân chúng đã nhận ra Ngài, nhưng chớ trêu thay họ phấn khởi bao nhiêu, họ lại tỏ ra nghi ngờ về tông tích, lý lịch của Chúa Giêsu. Và sự gì xẩy ra đã xẩy ra như họ suy nghĩ, họ đánh giá.

LỜI NÓI CỦA CHÚA GIÊSU BỊ KHƯỚC TỪ :

Lời ngôn sứ Isaia mà Chúa Giêsu lật giở sáng nay trong Hội Đường Do Thái đã là một lời ám chỉ chính sứ mạng của Chúa Giêsu hay nói cách khác nói về Con người của Chúa Giêsu. Quả thực Chúa Giêsu đã nổi tiếng khắp miền Galilê, và các miền lận cận. Tiếng tăm của Ngài được đồn thổi khắp nơi. Tuy nhiên khi nói với những người đồng hương Nagiarét về vai trò, địa vị và sứ mạng của Chúa Giêsu, tất cả những người đồng hương chưa hiểu gì về lời mạc khải của Chúa, lòng họ đóng lại, họ không nhìn Chúa với con tim thật của họ mà họ nhìn Chúa với đôi mắt nghi ngờ. người đồng hương Nagiarét muốn Chúa phải làm những phép lạ như Ngài đã làm ở Capharnaum hay các vùng lân cận. Chúa từ chối họ vì thấy họ không có lòng tin, chỉ muốn thử thách Chúa như ma quỉ đã từng thách thức Chúa khi Chúa vào sa mạc ăn chay, cầu nguyện, ma quỉ tưởng Chúa đói sẽ dễ bề cám dỗ, thử thách Ngài và chúng tưởng Ngài sẽ theo ý gian tà của chúng. Chúa đã khước từ thẳng thừng chúng và la mắng chúng, xua đuổi chúng. Chúa Giêsu đã không chỉ đem Tin Mừng cho riêng người Israen mà Ngài đem ơn cứu độ cho mọi người, mọi dân tộc kể cảngười ngoại đạo.

TIN MỪNG HÔM NAY LÀ LỜI TIÊN BÁO BÁO SỰ CHỐNG ĐỐI VÀ BÁCH HẠI MÀ CHÚA GIÊSU PHẢI TRẢI QUA: Sự từ khước của những người đồng hương tại quê hương Nagiarét là một lời loan báo về sự chống đối và bách hại mà Chúa Giêsu phải đương đầu, đúng như lời Ngài đã nói:" Không ngôn sứ nào được đón tiếp nơi quê hương mình". Dân chúng hôm đó hăm hở nghe Chúa, hoan hô nhưng cuối cùng họ hết thiện cảm với Chúa và cuối cùng trở nên bạo động:" Tất cả giận dữ xô đẩy Chúa Giêsu ra ngoài thành". Đây là một thái độ thù nghịch vì đối với Chúa Giêsu quê hương của Ngài không phải chỉ là làng nhỏ bé Nagiarét, nhưng là toàn cõi Palestina và tận cùng thế giới. Chúa Giêsu đã nghe những lời căm phẫn của mọi thành phần trong Hội Đường Nagiarét hôm đó. Lời la hét, căm phẫn này làm ta liên tưởng tới thượng hội đồng Do Thái sau này lên án Chúa Giêsu và kết án Ngài phải treo trên thập giá. Cái chết trên thập giá là tuyệt đỉnh sứ mạng ngôn sứ của Ngài, là lời nói cuối cùng chứng minh tình yêu tuyệt đối của Ngài:" Khi nào Ta bị treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta"" Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của Người hiến mạng sống vì người mình yêu"( Ga 15, 13 ).

NGƯỜI KITÔ HỮU TIẾP TỤC SỨ MẠNG CỦA CHÚA GIÊSU:

Giáo Hội tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu dưới trần gian này. Người Kitô hữu được tham dự vào sứ mạng ngôn sứ của Chúa Giêsu bằng lời nói, hành động, việc làm bác ái của mình. Như Chúa Giêsu được Cha Ngài xức dầu tấn phong và sai đi rao giảng. Người Kitô hữu cũng được Giáo Hội sai đi làm chứng cho Chúa Giêsu vì Hội Thánh là Hội Thánh truyền giáo, nên mọi Kitô hữu đều được mời gọi loan báo Tin Mừng.Chúa Giêsu đã rao giảng Tin Mừng, giới thiệu chính Ngài cho mọi người. Ngài đã đến nhà Ngài, nhưng người nhà đã không đón tiếp Ngài. Giáo Hội cũng như Chúa Giêsu luôn bị chống đối và bách hại. Người Kitô hữu luôn được mời gọi loan báo Tin Mừng dù lúc thuận hay lúc nghịch vì họ đang sống ơn gọi ngôn sứ.

Xin cho mọi Kitô hữu luôn sẵn sàng chấp nhận thử thách, chống đối và cả bách hại nữa để luôn giới thiệu Đức Kitô phục sinh cho mọi người trên khắp cùng trái đất.

GỢI Ý CHIA SẺ:

1. Tại sao Chúa Giêsu lại bị chống đối ở Hội đường Nagiarét ?

2. Sứ mạng ngôn sứ là gì ?

3. Người Kitô hữu có được mời gọi sống ơn gọi ngôn sứ ?
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT


 

TN4-C37. Khiêm nhường để khám phá sự thật

VietCatholic News (28/01/2004 )

Chúa Nhật 4 Thường niên C

Tắc… tắc… tắc… cụp!

 

Đêm đã khuya lắm, những âm thanh nghe khô khốc ấy còn vang. Một chú bé dáng nhỏ nhắn, đi: TN4-C37

Đêm đã khuya lắm, những âm thanh nghe khô khốc ấy còn vang. Một chú bé dáng nhỏ nhắn, đi mải miết vào lòng con hẻm nhỏ, tiếp theo sau là những tiếng gõ. Chú bé bước nhanh, nhưng gật gà gật gù, chắc cậu ta buồn ngủ.

- Ê! hủ tíu mì…! Bộ điếc hả?

Sực tỉnh vì tiếng gọi giật giọng từ ban-công một căn lầu, chú bé quay bước tiến tới, hỏi:

- Thưa chú, mấy tô?

- Ba!

- Dạ! Chú bé đáp nhanh và chạy vụt đi.

Một lát sau. Chú bé khệ nệ bưng cái mâm xếp đầy những tô hủ tíu đến trước căn lầu khi nảy. Anh thanh niên gắt gỏng:

- Tưởng mày ngủ luôn ở ngoải rồi.

Chú bé lại cố nở nụ cười để làm dịu lòng người khách khó tính rồi tất tả bưng tiếp những tô mì còn lại đi về cuối hẻm. Vô ý thế nào mà… oạch, chú bé trợt chân vào vũng nước té sóng soài trên mặt sàn si măng. Những sợi hủ tíu trộn lẫn cát bụi, xà lách, giá, thịt nằm vương vãi, tô, đũa lăn lóc khắp nơi. Tiếng cười trong đêm vắng của mấy thanh niên kia lại ré lên, đeo lấy chú bé.

Chắc hẳn thằng bé tủi buồn, mà tôi cũng thấy xót xa trong dạ. Xót xa cho chú bé nghèo, phải vất vả lặn lội, bằng ấy tuổi phải cõng trên vai cuộc đời đã vậy. Càng xót xa hơn cho những người giàu tiền của lại nghèo yêu thương, sao nỡ nhẫn tâm cất tiếng cười không đúng lúc, đến mức quá quắc như thế. Một tràn cười chẳng những không vui cho những ai phải nghe, ngược lại còn khắc trong lòng một sự đánh giá chẳng hay ho gì: khả ố. Ai đó hay chăng: Nụ cười khả ố là nụ cười đánh mất giá trị con người!…

Những tràn cười như thế, chắc không bao giờ xuất hiện nơi những anh chị em lấy đức khiêm nhường làm thước đo cho mọi tương quan sống của mình. Chắc chắn chỉ có những kẻ kiêu ngạo, trong lòng chứa đầy nỗi tự phụ, hóng hách… mới có thể có thái độ khiếm nhã đến thế.

Trong cuộc sống thường ngày của bạn và tôi, chắc không thiếu những tràn cười khả ố tương tự. Thêm một lần nhắc lại những hình ảnh như thế này, để một lần nữa, chúng ta ý thức rằng, mình phải sống tốt đẹp và đừng vô tình trước nỗi bất hạnh của anh chị em. Nhất là hãy loại trừ thái độ kiêu căng, tự phụ để có thể đón nhận và sống Lời Chúa trong cuộc sống thường ngày với anh chị em.

1. GIÊSU TRONG TIN MỪNG

Đi từ cụ thể của đời thường, ta lại bắt gặp hình ảnh của một Giêsu trong Tin Mừng. Bởi Chúa Giêsu cũng đã từng bị khinh miệt như thế. Đặc biệt bài Tin Mừng hôm nay, người đồng hương của Chúa đã có thái độ coi thường Người. Phải chăng đấy cũng là biểu hiện của lòng kiêu căng, của thái độ tự phụ, hách dịch? Một mặt nghe những lời giảng dạy, họ khen ngợi nhưng liền sau đó, do lý lịch không mấy nổi nan, có khi còn tầm thường, những người đồng hương của Chúa đã vấp phạm.

Từ lời nhận xét thiếu thiện cảm, thiếu tế nhị: “Người này không phải là con ông Giuse sao?”, cho thấy cả một cái nhìn đầy thành kiến, tiêu cực, có cái gì như xoi mói và thiếu chấp nhận nơi những người đồng hương của Chúa Giêsu. Từ đó phản ánh lòng đầy kiêu căn qua thái độ mà họ dành cho một người con của quê hương của họ là chính Chúa Giêsu. Họ thật đáng trách vì lẽ ra, khi nhận thấy sự khôn ngoan lạ thường của Chúa, họ phải chân thành ghi nhận, đàng này chỉ vì một chút tự phụ, họ đã để ký ức về gia cảnh của Chúa ngự trị trong tim não: Và như thế, họ chỉ thấy một Giêsu hơn 30 năm bình dị đến mức tầm thường. Người có một cuộc sống quá đơn sơ: Một thợ mộc, con của một ông thợ mộc khác. Gốc gác, họ hàng của Giêsu cũng chẳng lạ gì, chẳng hề danh tiếng. Chính lòng kiêu ngạo mà đôi mắt của họ bị che mù.

Cũng chính lòng kiêu ngạo ấy đã biến họ thành những kẻ thiệt thòi không ít. Nếu từ xa xưa, vào thời đói kém, tiên tri Êlia đã không thể làm gì cho quê hương ông; Hay tiêng tri Êlisêô cũng đã từng không chữa một người cùi nào ở chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình, thì hôm nay cũng thế, Chúa Giêsu cũng chẳng làm được gì hơn trên chính nơi mà Người đã sinh ra và lớn lên. Lấy tích xưa để nói chuyện mình, Chúa Giêsu như muốn dạy người đồng hương và cả chúng ta nữa, kinh nghiệm ngu dại của thói kiêu căn. Sự kiêu ngạo làm ta bị đánh mất, bị tước mất tất cả những gì là ân huệ, là tốt đẹp. Và cái mất lớn nhất là mất chính Chúa.

Tưởng chỉ có cha ông mình từ ngàn xưa, vì thiếu hiểu biết mới tự phụ như thế. Nào ngờ bài học của cha ông đã qua bao nhiêu thế hệ, con cháu vẫn chưa thuộc, vì thế bạn và tôi càng đáng trách hơn, trách nhiệm càng nặng hơn. Thật là xót xa và đáng thương làm sao nếu mình thiếu ý thức điều này.

2. GIÊSU TRONG ĐỜI

Nếu đã có lần Chúa Giêsu khẳng định: Ai cho anh chị em mình, dù chỉ một chén nước lã là làm cho chính Chúa (Mt 10, 40-42), hơn thế, Người đã tự đồng hóa mình với biết bao anh chị em nghèo đói, bất hạnh, bị bỏ rơi… (Mt 25, 40), thì hôm nay, Người vẫn hiện diện với ta, trong ta và nơi mọi người cùng ta đang sống, nhất là nơi những anh chị em khổ nghèo.

Bởi đó, nếu một Giêsu trong Tin Mừng đã từng bị khinh miệt, thì khi Giêsu ấy hiện diện giữa đời, chắc còn bị nhiều khinh miệt hơn. Câu chuyện về em bé bưng hủ tíu mì bên trên là một bằng chứng rất thật trong cuộc đời, xung quanh chúng ta.

Chỉ có khiêm tốn mới có thể yêu thương. Và khi yêu thương, người ta sẽ càng khiêm tốn hơn. Và chỉ có khiêm tốn và yêu thương, người ta mới trao cho nhau tâm hồn khả ái, chứ không phải những nụ cười vô tình đến mức vô tâm và khả ố.

Chỉ có khiêm tốn và yêu thương, người ta mới có thể có lòng chân thành tìm kiếm sự thật. Những sự thật ấy có khi như ngọc lẫn trong đá phải bới, phải tìm mới thấy, mới khám phá. Những người đồng hương của Chúa Giêsu vấp phải khuyết điểm này, nên họ chẳng những bị Chúa chê trách mà còn không nhận được bất cứ điều gì do Chúa ban.

Nguyện xin cho lòng chúng ta luôn khiêm nhường để có thể nhận ra Chúa nơi anh chị em; Và khiêm nhường để nhờ đó, chân thành tìm kiếm những sự thật khác nhau được khoác những màu sắc khác nhau trong cuộc đời. Có chân nhận như thế, ta mới không lên án, không kỳ thị anh chị em, nhưng luôn sống điều mà trong bài đọc II, thánh Phaolô đã dạy: khoan dung, nhân hậu, tha thứ “không đố kỵ, không khoác lác, không kiêu hãnh, không ích kỷ, không nổi giận, không suy tưởng điều xấu, không vui mừng trước bất công…” (1Cr 13, 4-7).

Chỉ có một đời sống khiêm nhường, ta mới khám phá được điều mà thánh Phaolô đã khám phá. Đó mới là sự thật mà mỗi một Kitô hữu cần phải sống. Bởi vậy khiêm nhường thật cần thiết để ta nhận biết Thiên Chúa, nhận biết cuộc đời, và nhận biết anh chị em quanh mình. Nhờ đó sống cho Thiên Chúa, sống vì cuộc đời và bác ái với anh em.
Lm. Vũ Xuân Hạnh


 

TN4-C38. Khiêm nhường và yêu thương

VietCatholic News (28/01/2004 )
 

Không ai gọi khiêm nhường là giới răn: giới răn khiêm nhường. Nhưng xét theo nghĩa rộng: TN4-C38

Không ai gọi khiêm nhường là giới răn: giới răn khiêm nhường. Nhưng xét theo nghĩa rộng, có thể gọi khiêm nhường là giới răn vì nó được Chúa Giêsu dạy, lại còn được chính Chúa Giêsu làm gương. Nếu coi là giới răn, ta cần phải giữ. Đó cũng là điều Chúa muốn.

Nếu Chúa nhấn mạnh giới răn yêu thương, thì Ngài cũng dạy hãy sống khiêm nhường. Muốn yêu thương thật sự cần có khiêm nhường. Và yêu thương cũng làm gia tăng khiêm nhường.

Để dạy con người một điều gì đó, Thiên Chúa không chỉ lý thuyết hóa, nhưng trước hết, Ngài cho con người thấy chính hành động của Ngài. Thiên Chúa mê say trong tình yêu đối với con người, vì bản chất của Ngài là Tình yêu. Nhưng trong Tình yêu đó, Ngài cũng dạy con người phải thương yêu nhau. Chính vì yêu mà ngài đã hạ mình, thì Ngài cũng dạy con người phải biết khiêm nhu.

1. SỰ KHIÊM NHƯỜNG CỦA CON THIÊN CHÚA:

Thánh Phaolô đã từng ca ngợi sự khiêm nhường của Chúa Kitô: “Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ” (Pl 2, 6-7).

Sự khiêm nhường của Thiên Chúa không chỉ đơn thuần là “quên” đi cái “tôi”, như khi người ta nói ông A, bà B khiêm nhường, cho dù ông A, bà B có khiêm nhường thật. Sự khiêm nhường của Con Thiên Chúa là sự khiêm hạ của Đấng là Thiên Chúa trở nên người phàm. Đó là sự KHIÊM HẠ đúng nghĩa. Nếu con người khiêm nhường thì trước sau họ vẫn là con người. Còn Thiên Chúa khiêm hạ đã trở thành người thật sự, sống giữa xã hội loài người như chính con người là con người.

2. THIÊN CHÚA KHIÊM HẠ VÌ YÊU:

Tình yêu khiêm hạ của Chúa Kitô là Tình yêu đẹp lòng Chúa Cha.

Con Thiên Chúa đã tự nguyện lặn sâu xuống tận cùng của kiếp con người để nhân loại hiểu rằng giá trị của cuộc đời không phải quyền thế, giàu sang mà chính là ý Cha được thể hiện. Sự vâng lời của Ngài xuất phát từ Tình yêu tuyệt vời: Đó là lòng yêu mến đối với Chúa Cha, và lòng yêu thương đối với loài người. Tình yêu này đã làm cho Người từ một Đấng giàu sang, quyền năng, vĩnh cửu... trở nên “người Tôi tớ đau khổ” gánh chịu mọi tội lỗi nhân loại. Tình yêu ấy được Chúa Cha chấp nhận. Ngài tuyên bố Đức Kitô là “Con yêu dấu” của mình. Ngài cũng làm cho Tình yêu đó có sức cứu độ tuyệt vời. Và Đức Kitô, Con của Ngài, người Anh Cả của toàn thể nhân loại trở thành trung gian duy nhất giữa Ngài và nhân loại.

Tình yêu khiêm hạ của Con Thiên Chúa có sức cứu độ tuyệt vời.

Sự kiện Con Thiên Chúa “trở nên người phàm” và ở với loài người làm thay đổi cuộc sống trần thế: cuộc sống này nếu không có Người sẽ trở nên vô nghĩa. Nhưng có Người, cuộc sống có giá trị vĩnh cửu. Nhờ Chúa Kitô, Thân phận tội lỗi được Thiên Chúa cứu độ và trở lại làm Con Thiên Chúa. Dù thân phận yếu đuối, nhưng sự yếu đuối ấy cần thiết để nhận được ân sủng của Thiên Chúa. Chỉ cần con người ý thức mình mang thân phận yếu đuối, con người sẽ khát khao mỗi ngày một hơn được sống trong ơn Chúa, sống trong sự công chính của Ngài. Và chỉ có thế, con người mới nỗ lực để ơn hoán cải của Ngài thấm vào tâm hồn họ. Nơi Chúa Kitô, Thiên Chúa làm cho ơn cứu độ, sự công chính trở thành viên mãn. Sự khiêm hạ của Con Thiên Chúa thật cần thiết. Qua mọi thời, sự khiêm hạ ấy là dấu chứng lớn lao của Tình yêu Thiên Chúa. Qua mọi thời, sự khiêm hạ không ngừng được nhắc đến. Và Chúa Kitô - Thiên Chúa làm người vẫn là một thực tại sống động hôm qua, hôm nay và mãi mãi.

Tình yêu khiêm hạ của con thiên chúa là niềm an ủi lớn lao cho nhân loại.

Không ai điên dại đến nỗi muốn hóa kiếp thành con vật mình yêu quý để bày tỏ tình yêu với nó. Nhưng Thiên Chúa đã yêu con người bằng Tình yêu mà con người cho là điên dại ấy. Người thực sự chia sẻ kiếp người và thông cảm sâu xa với nỗi gian truân của họ. Trên thập gia, Tình yêu khiêm hạ của Người trở nên bằng chứng hùng hồn về sự hạ mình của Thiên Chúa. Người hạ mình xuống để nâng loài người lên. Vì thế, giữa cuộc sống đầy chông gai, con người có quyền hy vọng. Chúa Kitô không chỉ an ủi nhân loại bằng lời, nhưng còn bằng chính cuộc đời, bằng chính Tình yêu của một vì Thiên Chúa.

Tình yêu khiêm hạ của Con Thiên Chúa là cứu cánh của những kẻ tin.

Chúa Kitô bước vào cuộc trần và đã chết như một tên tử tội không phải tình cờ, chẳng mang một giá trị gì. Người đã sống để thông cảm với kiếp người bất tất, Người chết để loài người sống, và sống lại để những ai tin sẽ sống đời đời. Chúa Kitô vâng lời Chúa Cha, nhưng Người cũng vì tất cả loài người mà đã nhập thể và cứu độ. Nhờ Người mà “Chúa Cha đã khứng ban Nước trời cho chúng ta” (Lc 12, 32). Người là cứu cánh tối hậu cho những kẻ tin. Ngoài Người không còn ai khác.

3. THÁI ĐỘ CỦA CON NGƯỜI:

Các con hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương các con” (Ga 15, 12).

Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11, 28).

Đó là những lời dạy của Chúa Kitô. Dĩ nhiên lời ấy cần được áp dụng trong cuộc sống của kẻ bước theo Người.

Khiêm nhường và yêu thương

Khiêm nhường nằm trong yêu thương. Khiêm nhường và yêu thương bổ túc cho nhau. Có khiêm nhường thì mới yêu thương dễ dàng, yêu thương chân thành. Ngược lại yêu thương cũng giúp trở nên khiêm tốn. Nếu kiêu ngạo làm con người chỉ thấy mình, thì khiêm nhường mở ngỏ để họ đến với nhau. Nếu chỉ thấy mình, con người sẽ không nhận ra giá trị quanh mình, sẽ trở nên ấu trĩ, sẽ không biết thông cảm, không biết tha thứ. Yêu thương và khiêm tốn là trái phá làm nổ tung mọi hàng rào ích kỷ.

Cái “tôi”

Khiêm nhường cần phải có sự hy sinh đi trước, để khi gặp “chướng ngại”, tinh thần hy sinh giúp vượt qua mà thực hiện khiêm nhường. “Chướng ngại” lớn nhất, khó vượt qua nhất là cái “tôi”. Nhiều khi phải hy sinh để “tạm cất” cái “tôi” cho khiêm nhường thành công. Kinh nghiệm cho thấy, phải chiến đấu với bản thân nhiều lắm mới có thể “tạm cất” cái “tôi” dù chỉ trong khoảnh khắc cần thiết nào đó. Cần phải chiến đấu, cần phải hy sinh. Chiến đấu cam go, hy sinh trầy trụa, thì chiến thắng mới vẻ vang.

Đón nhận Lời Chúa

Vì kiêu ngạo, con người đi ra ngoài Tình yêu của Thiên Chúa và của nhau.

Vì kiêu ngạo, Ađam đã đánh mất sự sống nguyên khởi.

Chúa Kitô chịu chết cho loài người cũng vì loài người kiêu ngạo.

Ngày nay, chính vì kiêu ngạo, Giáo Hội bị chia rẽ, thế giới hận thù, con người không nhìn nhận nhau, chiến tranh và bạo lực leo thang.

Là người Kitô hữu, chúng ta có Lời Chúa hướng dẫn. Lời Chúa sẽ giúp hiểu giá trị của Tình yêu và biết học đòi nhân đức khiêm nhường. Đón nhận Lời Chúa, sống Lời Chúa, cuộc sống người Kitô hữu sẽ phong phú.

Hôm qua Chúa dạy các môn đệ: “Các con hãy yêu thương nhau”, thì hôm nay, Chúa cũng dạy chúng ta như thế. Thế giới đang cần tình yêu. Nếu mỗi người chỉ là một đóm lửa sáng cho tình yêu, nhiều người sẽ là một bó đuốc to.

Chúng ta hãy đón nhận Lời Chúa với lòng đơn sơ hết sức, nhờ đó sự kiêu ngạo trong ta được phá vỡ. Không còn kiêu ngạo thì yêu thương mới thật sự là yêu thương. Và yêu thương theo đúng như Lời Chúa dạy thì lòng yêu thương ấy mới có giá trị trước mặt Thiên Chúa.

Yêu thương thật sự hay không là do tấm lòng chân thật hay không. Đón nhận Lời Chúa và để cho Lời ấy lắng lại trong tâm hồn mình, soi lòng mình, thanh luyện mình để có được tâm hồn biết yêu thương chân thật, vô vị lợi. Vì ai nghe mà thực hành Lời ấy mới là người yêu mến Chúa Giêsu.

4. MẪU GƯƠNG VỀ TÌNH YÊU KHIÊM NHƯỜNG CỦA MẸ MARIA:

Nhân loại có một người Mẹ thật vĩ đại: Đức Maria. Mẹ vĩ đại vì tình yêu khiêm nhường đối với Thiên Chúa và đối với đồng loại. Lời kinh Magnificat của Mẹ trước hết là lời ca ngợi lòng lâng tuất của Thiên Chúa, sau nữa là lời loan báo về một xã hội công bằng mà tất cả những người nghèo, người khốn khổ ước mong: “Thiên Chúa sẽ đánh tan những kẻ kiêu ngạo, sẽ hạ bệ những người quyền thế, sẽ để cho người giàu trở về tay không, sẽ nâng cao những người phận nhỏ, và sẽ cho người đói khát dư đầy của cải” (Lc 1, 5- 53).

Nếu Đức Maria không có một tình yêu thật sự đối với tha nhân, làm sao trong khoảnh khắc, Mẹ có thể cất lên tiếng hát đầy lòng nhân ái như vậy. Và chắc chắn, Mẹ sẽ không nhận ra thế giới này cần gì, con người cần gì, nếu Mẹ không là người sống nhân đức khiêm nhường. Nơi Mẹ tình yêu và sự khiêm nhường sóng đôi.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là người đầu tiên nhận thấy tiệc cưới ở Cana thiếu rượu. Xin cho trái tim chúng con mang nhịp đập của một tình yêu nhạy cảm để chúng con biết yêu và trao ban tình yêu ấy cho những người chúng con gặp gỡ. Xin giúp chúng con có quả tim khiêm nhường. Một quả tim như thế sẽ giúp đôi mắt chúng con quan sát tinh tế hơn về những nhu cầu của mọi người xung quanh, để chúng con sẵn sàng cho đi và trao ban tình yêu của chính chúng con.
Lm. Vũ Xuân Hạnh


 

TN4-C39. Vượt trên mọi chia rẽ và thử thách

VietCatholic News (30/01/2004 )

Chúa nhật 4 Thường niên C

Lc 4,21-30

Thưa quý vị,

 

Trong những đám cưới mà tôi chủ trì hoặc tham dự, dễ thường đến phân nửa cô dâu, chú rể: TN4-C39

Trong những đám cưới mà tôi chủ trì hoặc tham dự, dễ thường đến phân nửa cô dâu, chú rể chọn bài đọc 2 hôm nay hoặc phần ngắn hơn làm bài thánh thư. Phần ngắn bắt đầu từ câu: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương…” và bởi vì thính giả trong các thánh đường gần như đã quen với bối cảnh, cho nên tôi cũng chọn bài này làm đề tài suy gẫm hôm nay. Tôi hy vọng bản văn sẽ có chút ít tác động vào cuộc sống chúng ta ở thời điểm này. Ngoài ra, nếu quý vị có thêm cơ hội để tham dự một đám cưới khác, hẳn bài đọc 2 thường niên C sẽ nảy sinh nhiều ý nghĩa hơn (hy vọng tôi không quá lạc quan, ít ra nó cũng đáng nhớ đấy chứ!). Vậy xin tiếp tục.

Điều thứ nhất phải trình bày là đừng để giọng văn lưu loát của thánh Phaolô làm chúng ta phân tán! Và cũng không quá hùng biện đến nỗi bay lên tới trời xanh, quên mất thực tại của Giáo Hội và thế giới. Tình yêu lúc nào cũng cho chúng ta nhiều cảm hứng. Nhưng thánh Phaolô không vì thế mà uỷ mị hoặc quá lý thuyết, ông lúc nào cũng tỏ ra cân bằng, chừng mực trong các tư tưởng của mình. Có nhiều điều trong Giáo Hội Côrintô làm thánh nhân phiền lòng. Nhưng cứ theo bài đọc hôm nay thì chúng ta khó mà đoán ra. Tình hình bên ngoài tuy không mấy thay đổi, nhưng nội bộ thì quá nhiều chia rẽ, không tốt đẹp như thánh nhân mong đợi. Tuy vậy, giọng điệu của thánh nhân không hề tỏ lộ giận dỗi, buồn lòng, chỉ cho họ biết rằng họ ăn ở, đối xử với nhau chưa đạt tiêu chuẩn người tín hữu. Giống như bậc bề trên ông đưa ra mẫu mực phải theo tức “bài ca bác ái”, để ai nấy so sánh với hạnh kiểm của mình mà sửa chữa. Giống như một người cha, người mẹ trong gia đình khích lệ con trai hay con gái, đưa cho chúng một gương bắt chước: “Này cưng, cuộc thăm viếng ba má của con phải đạo lắm đấy. Từ nay ngoan nhé!”.

Để hiểu rõ hơn vấn đề của thánh Phaolô, chúng ta cần một số thông tin. Bài đọc hôm nay là một phần của đoạn văn dài hơn, đề cập đến nội bộ của giáo đoàn Côrintô. Sau một năm rưỡi giảng đạo ở thành phố dân ngoại này, ông lập giáo đoàn và bỏ đi. Ít lâu sau ông nghe tin có sự chia rẽ trầm trọng trong nội bộ giáo đoàn. Người thì thuộc nhóm Phaolô, kẻ khác thuộc nhóm Apôllô, người khác thuộc Cephas (1,12). Một số khác lại tự coi mình có liên quan đặc biệt với Đức Kitô. Thánh Phaolô rất đau lòng viết thư kêu gọi sự hiệp nhất, chấm dứt chia rẽ. Độc giả nào chịu khó coi kỹ chương tám của thư này thì thấy Giáo Hội Côrintô còn nhiều nhiễu nhương hơn nữa. Nào là tội tà dâm, loạn luân (ăn ở với vợ kế của cha mình), kiện cáo nhau ở toà ngoại giáo, kiêng khem ăn uống, thờ cúng ngẫu tượng… Tất cả đều là con cái của Satan kêu ngạo, tự thổi phồng mình lên và gây chia rẽ.

Ngay cả trong bữa tiệc Thánh Thể, gọi là bữa tiệc yêu thương (agape) cũng không tránh khỏi tệ nạn. Có những nhóm trưởng giả, nhóm nghèo khổ, nhóm say sưa, nhóm “ngồi lê mách lẻo”, nhóm “vô công rỗi nghề” (không làm thì đừng ăn), nhóm khác thì gồm những “ông thánh bà thần”, cầu nguyện ngây ngất (ecstatic prayer) trong khi bỏ mặc mẹ goá con côi, người nghèo khổ, kẻ đói ăn, lại còn nhóm thần học gia tiến bộ nghi ngờ sự sống lại của thân xác (chương 15). Căn do của sự chia rẽ có lẽ hệ tại tính chất “mở cửa” của Hội Thánh. Khi được rửa tội sáp nhập vào cộng đoàn tín hữu thì mọi rào cản tôn giáo, văn hoá, xã hội, kinh tế, giai cấp đều bị phá đổ, mọi thành phần đều bình đẳng về nhân phẩm và lòng tin. Cho nên trong Giáo Hội có đủ mọi hạng người, tự do, nô lệ, Hy lạp, Do Thái, Tiểu Á, Pontô, đàn ông, đàn bà, con trẻ… không một thành phần dân cư nào trong thành phố lại mang tính “hổ đốn” như nhóm Giáo Hội tiên khởi nhỏ bé. Tuy nhiên, như chúng ta biết ngày nay, thì họ lại là dấu chỉ hữu hiệu của triều đại Thiên Chúa. Một tổng hợp lạ lùng chỉ có đức tin vào Chúa Giêsu Kitô mới có thể tập hợp được. Vậy thì sự chia rẽ tiềm ẩn, những cãi co lặt vặt là điều không thể tránh khỏi. Đòi hỏi một sự hiệp nhất hoàn toàn là không thực tế.

Xin nhớ lại ở giáo đoàn Galata, thánh Phaolô đã rao giảng việc xoá bỏ mọi ưu tiên xã hội và tôn giáo: “Không còn chuyện Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà, nhưng tất cả chỉ là một trong Đức Kitô” (3,28). Nhờ bí tích thánh tẩy, các Giáo Hội tiên khởi hoàn toàn bình đẳng về địa vị và tư cách làm con Thiên Chúa. Tất cả những phân biệt cũ đều không còn chỗ đứng trong cộng đồng mới, họ đã thực sự mặc lấy Đức Kitô. Đọc bài trích thư Côrintô hôm nay chúng ta thấy rõ điều đó. Chúng ta cũng nhận ra kế hoạch của thánh Phaolô về việc hiệp nhất Giáo Hội. Ngài không cưỡng ép nhưng để cho các thành viên tự giải quyết các khó khăn, vật lộn, bằng cách nêu ra cho họ hiểu thế nào là tín hữu đích thật của Chúa Giêsu Kitô, thánh nhân đã có đầy đủ lý do để viết thư cho các tín hữu địa phương Côrintô. Ong cũng có quá thừa thãi lý do để nhắc nhớ Hội Thánh và chúng ta hôm nay. Thật là một lợi ích to lớn khi phụng vụ cho chúng ta đọc lại thơ của ông trong những tuần đầu năm này, tuần cầu nguyện cho hoà hợp và bình an. Cộng đồng chúng ta không thiếu chiến tranh phe nhóm, tấn công và trả đũa, thậm chí loại trừ nhau.

Tuy nhiên thánh Phaolô dùng một hình ảnh tuyệt vời để mô tả Hội Thánh Chúa Kitô: “Thân mình mầu nhiệm của Ngài”. Thưa anh chị em, ví như thân thể chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận tuy có nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy (12,12). Hai tuần qua chúng ta đã được thánh nhân cho biết như vậy, bài đọc hôm nay tiếp tục bàn về thân thể đó. Chúng ta chối cãi thế nào được nguyên lý hợp nhất của Hội Thánh! Những tinh thần phe phái thật đáng trách trong lúc này. Phép rửa tội đã làm cho chúng ta nên một cộng đồng dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh, mỗi người một nhiệm vụ không lẫn lộn, không dẫm chân lên nhau, không bao cấp: “Thần Khí tỏ mình ra với mỗi người một khác, là vì ích lợi chung. Kẻ thì được ban ơn khôn ngoan để giảng dạy, người được ơn hiểu biết để trình bày, kẻ khác thì được ban cho lòng tin, kẻ khác nữa được ban ơn chữa bệnh…” (12,7). Ước vọng hiệp nhất của Hội Thánh phải bao gồm luôn những nhu cầu này và chúng ta phải phấn khởi vui mừng cử hành những khác biệt đa dạng đó. Như vậy độc tài, độc đoán, không có chỗ đứng trong lòng Giáo Hội tự do và thánh thiện. Nhưng thánh nhân còn một điều hằng ấp ủ: “Tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả…” và ông bắt đầu hát bài ca đức mến: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc…” bài ca chia ra làm ba phần: Thứ nhất tính siêu việt của tình yêu: Kiên nhẫn và phục vụ, thứ hai các nết xấu phải tránh kẻo làm tan nát tình yêu, thứ ba là các tính tốt phải vun xới để thăng tiến lòng yêu mến: Sự bền vững của đức mến. Trong bài ca này chúng ta có một điệp khúc nổi tiếng: “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến”. Chủ yếu thánh Phaolô nói về tình yêu trong Giáo Hội giữa các tín hữu. Thường thì nó đòi hỏi hy sinh và nếp sống tốt. Nhưng nó không tách biệt ra khỏi tình yêu Thiên Chúa. Chúa Giêsu dạy dỗ chúng ta phải yêu mến Chúa và yêu người, cả hai đều cần đến ơn Thiên Chúa, tự thân chẳng thể thực hiện được gì. Chính tình yêu Chúa khiến chúng ta nhận ra phải thương mến nhau ra sao?

Ở một buổi cầu nguyện chung mà tôi tham dự. Người ta đọc bài thánh thư hôm nay, nhưng mỗi khi gặp chữ “lòng mến” thì thay bằng “Đức Kitô” nghe tức cười nhưng thấm thía. Nó chạy như sau: “Đức Kitô thì nhẫn nhục, Đức Kitô hiền hậu, Đức Kitô không ghen tương…” nhờ việc thay đổi như vậy chúng ta ý thức được những điều Thiên Chúa đòi hỏi nơi chúng ta, thì đã hiện diện nơi Chúa Giêsu. Vậy đời sống người tín hữu như thánh Phaolô mô tả trong bài đọc 2 là có thể thực hiện trong nếp sinh hoạt hàng ngày. Mỗi người thể hiện ơn gọi theo cách thức mình sống. Giáo Hội sẽ tốt đẹp biết bao khi mọi người vâng theo lửa thúc đẩy của Chúa Thánh Linh. Năm nay là năm thánh truyền giáo của Hội Thánh Việt Nam, chúng ta đừng hô hào suông, nhưng hãy thực hiện có hiệu quả ước vọng của mình bằng tài năng, đức độ, mà Chúa Thánh Thần đã ban cho mỗi người như thánh Phaolô khuyên nhủ.

Trong bài đọc 1 tuần này và tuần tới, phụng vụ cho chúng ta gặp hai tiên tri của Cựu ước, đó là Giêrêmia và Isaia, cả hai đều gặp chống đối trong ơn gọi của mình. Chúng ta có thể so sánh với những khổ cực của Chúa Giêsu khi khởi đầu sứ vụ, như thánh Luca thuật lại. Chăm chú nghe các bài đọc chúng ta tự nhiên ngộ ra ơn gọi riêng của mỗi người và sẽ đáp trả tiếng Chúa ra sao! Ngôn sứ Giêrêmia một mình chống lại cả xã hội. Đơn phương độc mã ông thi hành sứ vụ, nhưng qua con người ông chúng ta học được phải vâng theo ơn gọi của mình thế nào cho đúng tiêu chuẩn, không chỉ khơi khơi ngoài miệng, còn việc làm thì ươn ái.

Có mối liên kết chặt chẽ giữa bài Tin Mừng và bài đọc 1. Từ cung lòng Đức Chúa Cha, Ngài được kêu gọi để thi hành sứ mệnh cứu chuộc và giống như Giêrêmia bị chống đối mãnh liệt ngay từ khởi đầu.Bài đọc tuần này tiếp tục Tin Mừng tuần trước. Thính giả đã được bảo cho biết lời tiên tri Isaia: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người sai tôi đi công bố cho kẻ tù đày biết họ được tha, người mù được sáng mắt, kẻ què đi được, công bố năm Hồng An của Chúa”, hôm nay được ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu. Nói cách khác Chúa Giêsu công khai tuyên bố sứ mệnh Ngài sắp thi hành. Sứ mệnh mang tính tiên tri như bài Magnificat của Đức Maria, tức Thiên Chúa đoái nhìn đến thân phận kẻ nghèo hèn, tù tội, khuyết tật, ngoài lề xã hội…

Ngài mang Tin Mừng giải phóng, giúp đỡ họ thoát khỏi số kiếp hẩm hiu, khốn khổ. Ngày nay sứ mệnh này được Giáo Hội kế thừa. Nhưng chẳng hiểu thiên hạ được nghe, nhìn từ phía chân trời góc biển nào? Tiếng nói ngôn sứ còn rõ ràng nữa không hay khàn khàn khó hiểu? Hoặc bị tiếng máy móc văn minh vật chất lấn át? Câu trả lời tuỳ mỗi lương tâm! Nhưng đối với nhà giảng thuyết thì bắt buộc phải là tiếng nói của tự do, hạnh phúc cho thế giới bị chà đạp. Thiên Chúa đã thấy nỗi thống khổ của họ như xưa Ngài trông thấy nỗi lầm than của dân tộc Do Thái ở Ai Cập. Nhà giảng thuyết phải nhân danh Thiên Chúa mà cứu giúp họ, gióng tiếng tố cáo những sai lầm, bất công của tầng lớp tay sai Satan. Về phe với những kẻ mạnh thế vô cớ áp bức người khác là hèn nhát.

Điều cuối cùng phải nhắc đến hôm nay là thái độ của dân làng Nadarét. Bất cứ ai cũng thuộc lòng câu ngạn ngữ “familiarity breeds contempt” (suồng sã nuôi dưỡng khinh bỉ) Chúa Giêsu trước mắt họ không có gì xa lạ, con bác thợ mộc Giuse và bà Maria, anh chị em Ngài không phải là Giacôbê, Giuđa, Simon sao? (Mt 13,23). Họ đã quá quen thuộc với gia đình Ngài, hàng xóm láng giềng với bà con Ngài. Cho nên chỉ ủng hộ Ngài, bao lâu Ngài đồng ý với họ, với những nét quen thân của xóm làng. Nhưng khi đi xa hơn nữa vào những mầu nhiệm Nước Trời, vào sứ mệnh thiên sai của Ngài, họ trù tính ném Ngài xuống vực thẳm. Như thế mới hay, thói đời chỉ ưa thích những điều họ muốn nghe, ủng hộ những gì vừa bụng mình. Ngoài ra, từ chối tuốt luốt, bắt đầu từ những kẻ thân thích nhất. Quý vị nhận định thế nào? Có phải là sự thật? Cầu xin Chúa cho chúng ta đừng vì thế mà thối chí, nản lòng trong bổn phận, nhưng cứ sự thật mà rao giảng Tin Mừng. Amen.

*** Mỗi đời người là một câu chuyện thần tiên chính tay Thượng Đế viết (Anderson).
Lm. Jude Siciliano, OP.


 

TN4-C40. RAO GIẢNG TẠI NAZARET THẤT BẠI

Lc 4,21-30
 

Nhiều nhà chú giải kinh thánh nhận thấy có nhiều sự rời rạc trong đoản văn này, hay ít ra có: TN4-C40

1. Nhiều nhà chú giải kinh thánh nhận thấy có nhiều sự rời rạc trong đoản văn này, hay ít ra có những nhược điểm văn chương “lạ lùng nơi một tác giả cẩn thận như Lc” (A.Gheorge), điều đó giả thiết Lc đã dùng nhiều nguồn liệu mà ông đã không khép tổng hợp. Nhưng hình như cảm tưởng này là do việc người ta muốn tìm nơi Lc một lược đồ của Mc, trong lúc Lc lại thay đổi toàn diện cơ cấu trình thuật của Mc, không những chỉ làm cho trình thuật ấy thành một toát yếu biểu tượng về cuộc đời CGS và một bản tóm lược những đề tài của mình, nhưng còn qui hướng trình thuật ấy vào một cao điểm: CGS từ chối dành riêng ơn cứu độ cho quê hương Ngài, đó là lý do người Do thái từ chối và giết Ngài.
Những “rời rạc” mà các nhà chú giải đưa ra có thể được tóm tắt như sau:
1/ Sự bất tương xứng giữa phản ứng đầu tiên của cử tọa - tất cả đều rất thán phục (c.22) - và những lời giận dữ của CGS ở các câu 23-27.
2/ Thiếu đồng nhất trong diễn từ của CGS (cc.23-27): ở c.23, CGS biết trước người ta sẽ xin Ngài làm phép lạ (điều này giả thiết họ đã tin), trái lại qua câu 24, hình như Ngài phàn nàn là bị bạc đãi. Ngoài ra, ở c.23 có đối chọi giữa Caphanaum và Nazaret, ở cc. 25-27 giữa Israel và lương dân. Cuối cùng, câu 24 cho thấy chính người Do thái loại trừ các tiên tri, còn các câu 25-27 lại nói chính các tiên tri từ chối làm phép lạ tại Israel.
Có nhiều cách giải thích các lủng củng trên: như nói đến sự khác biệt về các nguồn liệu, hoặc bằng cách ép nghĩa chữ emarturoun, (họ làm chứng “ils témoignaigent") và ethaumazon (họ thán phục ils s” étonnaiment, câu 22), hoặc bằng cách giải thích sở dĩ thính giả tức giận là vì CGS, khi trích Isaia, đã bỏ sót câu loan báo Đấng Messia sẽ trả thù, hoặc xem các lời của CGS đủ nói lên phản ứng của thính giả, hoặc đặt câu 5a của Mc ngay từ đầu đoản văn và giả thiết Lc đã đọc Mc theo mạch văn đó: “giọng điệu bất ngờ của CGS thì có thể hiểu được, nếu cho đến bây giờ Ngài đã không có thể làm một phép lạ nào ở Nazareth. Nếu đồng ý như thế, tất cả thật dễ hiểu, rõ ràng (C. Masson).
Sở dĩ có nhận xét về các “rời rạc” đó, là vì dựa vào lược đồ của Mc:
a) Sự rạn nứt giữa CGS và người đồng hương xảy ra ở các câu 22-23.
b) Ở câu 24 CGS nói là đã bị bạc đãi ở quê hương, đó có phải là điều Lc muốn nói ? Dù sao, phương pháp tốt nhất là phải tiên thiên nghiên cứu trình thuật Lc như là một đơn vị văn chương có mạch lạc, và tìm điểm cốt yếu của nó bằng phương cách dựa vào lược đồ của Lc, chứ đừng dựa vào lược đồ của Mc. Như thế sẽ rõ là sự rạn nứt giữa CGS và người đồng hương chỉ xảy ra sau câu 27.
2. Thực ra, các thính giả CGS đã phản ứng tích cực. Marturoin (làm chứng - témoigner, câu 22) được dùng một mình hay với một datif, trong ngôn ngữ Lc, luôn có nghĩa tích cực: xem Cvsđ 6,3; 10,22; 13,23; 15,8; 16,2; 22,12; đặc biệt trong Cvsđ 14,3). Nghĩa tích cực này đồng nghĩa với “họ ca tụng Ngài” của câu 15.
Còn chữ “thaumazoin” (thán phục “s'étonner” c.22) nếu có thể diễn tả một sự ngạc nhiên vì gương xấu (x. Mc 6,6; Lc 11,38) thì ở Lc nó thường chỉ một ngạc nhiên đầy thán phục (1,63; 2,18; 7,9; 8,25; 9, 43; 11,14; 20,26; Cvsđ 3,12; 4,13). Vậy người ta có thể xem phản ứng đầu tiên của đám thính giả ấy là một ngạc nhiên đầy thán phục. Hình như Lc không muốn nhấn mạnh đến sự thán phục này: ông không lấy lại lối diễn tả dài dòng của Mc, cũng không còn dùng tiếng: “họ đã vấp phạm vì Người” (Mc 6,3). Phải đợi đến câu 28 mới gặp được thành ngữ của Lc tương đối với “họ đầy căm tức”. Vậy đối với Lc, đâu là lý do xác đáng để người Nazaret căm tức ? Và trong sự rạn nứt này, câu 24 có vai trò gì ?
3. Conzelmann khám phá 2 cao điểm trong các câu 23-27. Quả thực câu 23 được xây dựng trên sự đối thoại giữa Nazaret - Carpharnaum, các câu - trên sự đối chọi khác nhau giữa người Naaret - dân ngoại. Cao điểm thứ hai này làm nên lời tuyên bố rõ rệt về ơn cứu độ phổ quát, là bước đầu của nền thần học về dân tuyển chọn tiềm ẩn trong tác phẩm của Lc, và chỗ đứng của nó ngay từ lần rao giảng đầu tiên của CGS đem lại cho tác phẩm Lc một tầm quan trọng đáng kể. Và đối với Lc, chính lời tuyên bố đó là lý do khiến người Nazaret giận dữ. Thực ra phải lưu ý rằng chính “khi nghe những lời ấy”, nghĩa là khi nghe các câu 23-27 thì họ ly khai với CGS.
Điều này có thể giúp chúng ta khám phá ý nghĩa cao điểm thứ nhất và tương quan thực sự của câu 24 với toàn văn mạch. Nơi câu 23 CGS linh cảm các người Nazaret với chiêu bài là người đồng hương của Ngài, sẽ xin Ngài gia ân giáng phúc của thời đại thiên sai mà Ngài mới tuyên bố (có lẽ linh cảm này được diễn tả ở câu trước đó. Thực ra, nếu chấp nhận phản ứng đầu tiên của thính giả là tích cực, thì có thể giải thích câu “người này không phải là con ông Giuse ?” như là một cảm thức của người Nazaret về những đặc ân dành cho họ qua sự kiện CGS là một người trong họ). CGS đề phòng họ khỏi những cơn cám dỗ đó (chữ “eipen de": “nhưng Ngài nói”, mà cuốn BJ dịch thoáng là: “rồi Ngài nói thêm”, cho thấy sự tương phản với lời yêu cầu vừa được đưa ra: “quả thật, ta bảo các người, không một tiên tri nào dektos en tại quê hương mình).
Do ảnh hưởng của đoạn Mc song song atimos (bị khi khinh chê, không vinh dự) và so với dechomai (tiếp nhận), người ta dịch dektos bởi “được tiếp nhận” (acceptus) (bản Vulgata), “được ưu ái” (en faveur) (Gheorge), “được trọng đãi” (bien reen) (Osty - BJ), “được hoan nghênh”
Theo một bài của Grundmann trong “Theologisches Wortorbuch” chữ này (dùng 32 lần trong bản LXX) thường được dùng để dịch chữ Hy bá râson (tình yêu, ân huệ, ý muốn). Phải phân biệt cách dùng chữ này trong văn chương tế tự, được áp dụng vào các hy lễ, chữ này có nghĩa thứ nhất ("được tiếp đón” hay “có thể được tiếp đón": accepte - acceptable) với cách dùng trong Isaia-đệ-nhị nó mang ý nghĩa thiên sai và hoàn toàn tích cực: “thi ân, thuận lợi” hay cứu độ (favorable, salvifique): xem Is 49,8: “trong thời thuận tiện (dektos), ta sẽ nhận lời ngươi” và Isaia 61,2 (được trích dẫn lại trong Lc 4,19): “Hãy loan báo năm nhân hậu của Giavê” (bản dịch của J.Coenig, Pleiade 1959). Qua hai ví dụ trong Isaia, thời gian (hoặc năm) dektos có nghĩa là thời gian thuận tiện (favorable) cho dân Israel, đó là thời gian cứu độ, thời gian thực hiện ý định của TC. Violet, theo một phương pháp khác Grungmann cũng đi đến một kết luận tương tự (trong ZNV 37,1938, 251-271): theo ông, detos đồng nghĩa với charis (ý muốn nhân hậu, lòng nhân hậu, dự định thuận tiện). Ngoài các ví dụ nói trên, có thể thêm Xac 28,38 (dektos trong dùng như một danh từ và có nghĩa: ân huệ, lòng nhân hậu).
Những phần phân tích đó cho thấy chữ dektos đã biến đổi về ngữ học: từ ngữ thụ động “có thể trong tiếp đón, được tiếp đón, được đặc ân” dần dần chuyển sang nghĩa tích cực: “có thiện cảm, thuận tiện”. Trong TƯ, ngoài hai đoản văn Lc 4,19 trích Is, và Lc 4,24 mà chúng ta đang nghiên cứu, chữ dektos được dùng 3 lần: hai lần theo nghĩa thụ động (cả hai đều trong sạch văn tế tự: Cvsđ 10,35 và Ph 4,18), và một lần trong nghĩa tích cực: “Vì người phán: vào thời thuận tiện (dektos, favorable), Ta đã nhận lời ngươi; vào ngày cứu độ, Ta sẽ cứu ngươi. Đây là thời thuận tiện, bây giờ là ngày cứu độ” (2Co 6,2)
Như thế có thể kết luận, đối với người đọc bản 70, chữ: dektos có thể có nhiều tiểu dị và nhất là khi trích dẫn Isaia, có một nghĩa khác xa nghĩa nguyên ngữ (dechomais, recevoir, nhận). Vì thế thật có lý khi dịch eniauton dekton trong Lc 4,19 thành “năm hồng ân” (année de grâce, bản dịch của Osty, Goerge, hay"năm tiếp nhận"(année d'accueil, bản dịch của TOB).
4. Như thế, đâu là hậu quả việc Lc muốn móc nối với sách Isaia-đệ-nhị ? Nếu Lc đã cố tâm đổi công thức cổ truyền của câu nói logion, (được Mc và Mt viết là “bị khinh chê” và Gio 4,44: “không được hưởng một đặc ân nào") để dùng lại một chữ (không được biết nơi các tác giả nhất lãm) của văn mạch trước đó, chính là vì ông muốn cho cách dùng thứ hai của chữ này cũng một nghĩa như cách thứ nhất và như vậy phải hiểu câu 24 như sau: “không một tiên tri nào có thiện cảm (favorable) với chính quê hương mình.
Từ đây tương quan của câu 24 với văn mạch được sáng tỏ: nó đi nghịch với câu 23 (CGS từ chối lời xin phép lạ) và được nối kết với các câu 25-27 bởi hai ví dụ trong CƯ (lưu ý là nơi Lc 11,29-32 cũng có một lược đồ như vậy). Ngoài ra có một sự tương đồng về thể văn đối ứng với một tương đồng về ý nghĩa: “quả thực, Ta bảo các ngươi” (c.24). Và “Ta bảo thật các ngươi” (c.25); điều quan hệ cũng chính một ý nghĩa nhưng được viết dưới một hình thức khác. CGS làm ngơ khi đứng trước môi trường xã hội của mình. Cũng thế, ta mới hiểu tại sao Lc xóa bỏ Mc 6,4b ("nơi bà con và nơi nhà mình") vì nhằm nới rộng nghĩa của chữ “quê hương” được dùng trong nghĩa hẹp nơi câu 23 (Nazaret) và nghĩa rộng nơi các câu 25-27 (Israel).
Dưới viễn tượng đó trình thuật Lc không còn đứt đoạn: chắc hẳn câu 21 không phải là tổng hợp bài diễn từ của Chúa, nhưng lại là giáo đầu của bài giảng về bản văn Isaia. Trong đó Ngài công bố thời thiên sai bắt đầu. Bấy giờ Lc ngắt bài diễn từ một chút để cho thấy phản ứng đầu tiên của thính giả (ngưỡng mộ CGS), rồi tác giả tiếp tục bài diễn từ nơi các câu 23-27 ("và Ngài nói cùng họ” của câu 23 đáp lại “bấy giờ Ngài bắt đầu nói cùng họ” của câu 21) và bấy giờ CGS minh giải câu 21 bằng cách vạch trần là Ngài không muốn giới hạn sứ mệnh của mình trong thành hay trong quốc gia mình: cũng như Elia và Elisê đã không chỉ có thiện cảm (favorable) với dân Israel, thì Ngài cũng không chỉ có thiện cảm với quê hương mình. Nơi Lc, chính điểm này gây phản kháng nơi người Nazareth.
Một dư âm của bài giảng này hình như còn sót lại ở Lc 4,42-43 trong đó dân chúng Caphanaum muốn giữ CGS ở lại với họ. Để trả lời Ngài cũng lấy lại gần nguyên văn lời tiên tri Isaia mà Ngài đã giải thích trong hội đường xứ Nazareth: “Ta còn phải loan báo Tin mừng Nước TC cho nhiều thành khác nữa, chính vì thế mà Ta đã được sai đến”. Ở đây thái độ của CGS cũng như trước Ngài không muốn ai độc quyền chiếm hữu Ngài.
Vậy trong trước tác của Lc không có một rời rạc nào, và ta hãy mau phục hồi uy tín cho Lc: trình thuật của tác giả thật rất mạch lạc và kỹ lưỡng (với điều kiện là gán cho tiếng dektos nghĩa tích cực (sens actif) của nó, thì sẽ có được sự mạch lạc của đoạn văn). Điều đó không lạ gì vì đây là đoạn văn có tính cách khai mào đoản văn, thì dĩ nhiên một văn sĩ cẩn thận như Lc phải lưu ý trau chuốt cách đặc biệt.
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
“Các lời đầy ân sủng": một số nhà chú giải dịch câu “epitois logois tês charitée” như vậy, hoặc theo tương tự như “các lời ân sủng”, “các lời được linh ứng”... bằng cách giả thiết câu đó tiềm tàng các đặc tính văn chương Semit. Nhưng việc dùng mạo từ “la” (au sujet des paroles de la grâce) cũng như các đoạn song song trong Cvsđ và văn mạch thì thiên về lối dịch “các lời của ân sủng” (A.Goerge) hay “sứ điệp của ân sủng” (TOB), nghĩa là sứ điệp do ân sủng đem đến, hay sứ điệp loan báo ân sủng (Cvsđ 14,3; 20,32).
“Người này phải là con ông Giuse sao ?": vì câu này nằm trong bối cảnh thán phục và ca tụng, nên đừng xem đây là khởi điểm việc người Nazaret bất bình, phẫn nộ: trong bản văn không có điểm nào cho phép giải thích như thế. Đúng hơn phải xem câu đó diễn tả 1 sự tính toán đầy tư lợi: nếu người này là con Giuse, bây giờ trở thành tiên tri và thần thông, tại sao lại không lợi dụng địa vị ấy để mưu ích cho làng họ ? Cách giải thích vấn nạn đó của người Nazaret được xác nhận qua lời CGS chú giải ngay sau đó. Câu ngạn ngữ “thầy lang ơi, hãy cho thân nhân của ông được hưởng các phép lạ của ông trước khi cho người lạ hưởng. Ở đấy nghĩa câu ngạn ngữ là đúng như thế. Vì thế CGS khi giải thích tư tưởng của cử tọa, đã áp dụng ngạn ngữ đó cho Ngài: “Với tư cách là người đồng hương với Ta mà các ngươi giục ta làm ở đây các phép lạ Ta đã làm ở Capharnaum. Nhưng (ở đầu câu 24, tương tự với tiếng Hy lạp de) vị tiên tri không luôn thi ân cho quê hương mình... hãy xem Elia và Elisê: các Ngài đã tận tình giúp đỡ người ngoại bang trong khi tại Irael không phải là không có nhu cầu”.
Được đọc trong nghĩa đó, bản văn sẽ rất mạch lạc: CGS từ chối ràng buộc ơn cứu độ của Ngài trong mối liên hệ máu mủ hay thân quen. Ngài là tiên tri, Ngài hành động theo sứ mệnh thần linh. Dân Nazareth không thể áp lực bắt Ngài hành động theo ý họ. Phải từ bỏ mọi yêu sách, đòi hỏi, khi đứng trước TC: Ngài ban ơn cho ta hoàn toàn theo tự do của Ngài, và chỉ có một tâm hồn khiêm nhượng, tín thác mới có thể trông chờ (chứ không đòi hỏi) phép lạ.
“Không một tiên tri nào được đón tiếp tại quê hương mình": chúng ta hãy nhớ rằng, sau khi phân tích tiếng dektos trên đây thì phải dịch: “Không một tiên tri nào có thiện cảm với quê hương mình”. Công thức này cho thấy tính phổ quát. Luật chung không có luật trừ. Tuy nhiên theo Mt 13,58 và Mc 6,5 ghi lại thì CGS cũng làm một vài phép lạ ở Nazareth. Vậy ý nghĩa của câu nói CGS phải hiểu như sau: tiên tri không có cảm tình với người đồng hương hơn những người xa lạ, tất cả chỉ là vấn đề đức tin và ý hướng tốt là đủ; kể cả cộng đoàn Kitô giáo nguyên thủy cũng không có tư cách nào để được hậu đãi.
“Đã có nhiều bà góa trong Israel thời Elia": sự đề cập đến: “quê hương” nơi câu trước cho phép CGS mở rộng cuộc tranh luận. Không những chỉ có Nazareth và Caphanaum, nhưng là dân Israel và dân ngoại. Cũng như Nazareth không có quyền đòi hỏi gì dù với tư cách là nơi chôn nhau cắt rún của Đấng Messia, của Đấng đem đến ơn cứu độ, cũng thế Israel không được lấy cớ là nơi phát sinh Đấng cứu thế để đòi hỏi quyền lợi về ơn cứu chuộc. Ơn cứu độ là một ân sủng. Và chính vì tính cách phổ quát rỗi này mà CGS khiến người Nazareth hết sức bất bình. Nếu họ muốn ném đá Ngài, rõ ràng là chính vì Ngài (xuất hiện như) là một kẻ phạm thượng khi từ chối ban cho Israel độc quyền chiếm hữu ơn cứu độ, vì ném đá là một hình phạt dành cho những kẻ phạm thượng (x. Lv 24).
“Nhưng Ngài rẽ qua giữa họ mà đi”... Thật khó mà tìm thấy một chỗ nào gần Nazareth có dốc núi để có thể xô người tử tội xuống để rồi ném đá. Nhưng Lc lưu tâm đến ý nghĩa cảnh tượng hơn là chi tiết. Khi đưa CGS ra ngoài thành để mưu toan giết Ngài, những người đồng hương đã cho thấy trước án quyết đẫm máu dân Israel sẽ gây ra cho CGS. Về phần CGS, Ngài thoát khỏi họ như Ngài sẽ còn làm nhiều lần cho đến khi tới giờ Ngài (x. Gio 7,10; 7,44; 8,59; 10,39). Việc dự phòng cho đến ngày cuối cùng của CGS đối với Lc quan trọng hơn phương cách Ngài thực hiện: tác giả nói một lời về việc Ngài có dùng phép lạ hay không để lẩn thoát. Bấy giờ CGS bỏ đi. Kiểu nói này được dùng nhiều lần và rất có ý nghĩa, như ông sẽ còn ghi lại nhiều lần, vì CGS tiến lên Giêrusalem (9,51; 13,22.33; 17,11; 19,28), tiến lên thánh giá và vinh quang.
KẾT LUẬN
Con người không có tư cách gì để đòi hỏi ân huệ của TC. Không phải những liên hệ máu mủ, đồng quê đồng xứ có thể đòi hỏi ơn cứu độ của đấng Messia. Vì chưng hồng ân của TC, ơn cứu độ ban cho nhân loại trong Đấng Messia, trước hết hoàn toàn là do ân sủng. Đó chính là điều mà người Nazareth đã không muốn hiểu. Chính thái độ này của dân Israel đã khiến CGS có dịp ngỏ lời với tất cả mọi người.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Vì CGS là người đồng hương với mình nên người Nazareth tưởng Ngài có bổn phận ban cho họ những hồng ân Ngài có thể giúp đỡ họ. Như thế có thể nói vì là người đồng hương với CGS, nên người Nazareth có quyền đòi độc quyền chiếm hữu một vài ân huệ của CGS. Người ta thấy CGS đã kịch liệt chống đối lời đòi hỏi đó. Trước mặt TC và Đấng tiên sai, không ai có quyền đòi hỏi gì.
Chúng ta phải luôn luôn sáng suốt để khỏi rơi vào những lầm lỗi của những người Nazareth. Chúng ta được rửa tội trong giáo hội công giáo, được hưởng nền giáo dục Kitô giáo, đạo dòng lâu đời, tất cả những điều ấy không có quyền gì trước mặt Chúa. Chúng ta có cảm tưởng rằng TC thuộc về những người công giáo, đến nỗi chúng ta có thói quen liên kết TC và giáo hội, TC và những người Kitô hữu. Nhưng chính ra TC không thuộc về những Kitô hữu, nhưng chính Kitô hữu thuộc về TC. Cũng có rất nhiều người trong thâm tâm không hề biết Ngài nhưng lại thuộc về Ngài - có lẽ còn thuộc về Ngài cách sâu xa hơn chính chúng ta. TC không dành ân sủng của Ngài cho riêng những người công giáo, cũng như CGS không dành phép lạ ưu tiên cho những người Nazareth. TC hoàn toàn tự do, nếu không Ngài sẽ không còn là TC. Vì vậy trước mặt Ngài chúng ta không thể đòi hỏi gì hết; chúng ta chỉ có thể nhìn nhận thân phận bất xứng, nghèo nàn của mình, và nài xin Ngài đoái thương nhìn đến thân phận tôi tớ thấp hèn của Ngài.
2. Điều làm những người Nazareth cay cú nhất không phải là CGS phung phí những phép lạ của mình trong những thành khác của Israel nhưng trước hết là vì CGS bằng cách viện cớ vào gương hai vị tiên tri Elia và Elisê là hai vị tiên tri lớn thời xưa, minh định rằng Ngài cũng có quyền làm những phép lạ cho dân ngoại: một tiên tri không ưu tiên dành ân huệ cho quê hương mình. Đối với người Do thái, vì ý thức mình là dân chúa chọn, họ lấy làm tức giận và không thể tưởng tượng được rằng Đấng Messia, Đấng TC sai đến, lại lưu tâm đến dân ngoại. Sự minh định của CGS là một tiếng chuông rót vào tai họ như là một lời phạm thượng đáng phải ném đá. CGS thường gặp thái độ trong mấy măm sống công khai. Ở đây nhắc lại dụ ngôn những người thợ (làm vườn nho vào giờ thứ 11: những người thợ giờ thứ nhất đã bất bình vì lòng quảng đại của ông chủ vườn nho đã thuê những người vào trước hết cũng bằng những người cuối hết). Đối với họ thì lòng tốt này là một điều bất công. Nhưng cách tính toán của TC không phải là cách của chúng ta. Nếu TC đã muốn chọn dân Do thái làm dân riêng Ngài (Đnl 7,6) không phải là vì Ngài không ưa thích dân tộc khác, nhưng chính là vì Ngài muốn dùng dân này như dụng cụ để mạc khải ơn cứu độ cho các dân tộc khác. Nếu nhờ phép rửa tội và nền giáo dục Kitô giáo, TC đã chọn chúng ta làm con cái Ngài, cũng không phải vì Ngài không ưa thích gì dân ngoại, nhưng chính vì Ngài muốn dùng gương lành của ta để lôi kéo họ đến cùng Ngài. Và nếu TC không thương ta, Ngài ban cho dân ngoại ân sủng hơn chúng ta (ân sủng do lòng quảng đại để sống một đời ngay thật, xứng hợp với lương tâm và trình độ ánh sáng chân lý mà họ có) thì lúc đó chúng ta cũng đừng căm phẫn về lòng tốt của Ngài, nhưng trước hết phải ca tụng TC là Đấng thiện hảo “muốn cho mọi người được cứu rỗi và nhìn biết chân lý” (1Tm 2,4).
3. Mặc dù có ý định ném đá CGS, nhưng người Nazareth đã thất bại, Ngài vượt qua giữa họ mà đi bằng yên: giờ Ngài chưa đến. Điều này cho thấy rõ ràng, người Do thái giết được CGS vì Ngài đã tự do quyết định như vậy. Cái chết của Ngài lúc đó là một cái chết tự do ưng thuận.

 

TN4-C41. Chúa nhựt 4

Lc 4,21-30
A. Hạt giống...
 

Đoạn Tin Mừng hôm nay nói về hoạt động của Chúa Giêsu ở Nadarét quê hương Ngài : TN4-C41

Đoạn Tin Mừng hôm nay nói về hoạt động của Chúa Giêsu ở Nadarét quê hương Ngài :
1. Ngày Sabát, Ngài vào hội đường, dựa trên đoạn sách Isaia để công bố chương trình hành động của Ngài. Đó là mang Tin Mừng và ơn cứu độ cho những người nghèo khổ.
2. Bài giảng đã gây hứng khởi trong lòng thính giả. Họ thầm mong rằng, vì tình đồng hương, Ngài sẽ ưu tiên làm phép lạ cho họ. Nhưng Ngài đã từ chối, bởi vì Ngài là Đấng cứu độ của mọi người chứ không của riêng ai.
3. Thất vọng, dân Nadarét đã trục xuất Ngài khỏi thành và còn muốn giết Ngài.
B.... nẩy mầm.
1. Sứ mạng của chúng ta nối tiếp sứ mạng Chúa Giêsu, là mang Tin Mừng và ơn cứu độ cho mọi người. Nếu có ưu tiên cho ai, thì đó là những người nghèo khổ chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, chứ không phải là những người bà con bạn bè thân thuộc của chúng ta.
2. Thế nào là “loan Tin Mừng cho người nghèo khổ” ? Những người nghèo khổ quanh tôi là ai ? Tôi có quan tâm ưu tiên đến việc loan Tin Mừng cho họ chưa ?
3. Hai chuyện Cựu Ước cho thấy các ngôn sứ Êlia và Êlisê ưu ái những người ngoại. Chúa Giêsu cũng thế. Còn tôi, hình như tôi xa lánh người ngoại, tôi e dè với họ, tôi còn giữ nhiều thành kiến về họ, tôi có thái độ tự tôn coi mình hơn họ v.v.
4. Đối với Chúa Giêsu, người dân Nadarét chỉ mong Ngài nễ tình đồng hương mà ưu tiên ban cho họ nhiều đặc ân. Khi ước muốn đó không đạt thì họ quay mặt phản đối và trục xuất Ngài. Đó là một thái độ hoàn toàn vụ lợi. Phải chăng thái độ của tôi đối với Chúa cũng vụ lợi như thế ?
5. Bài Tin Mừng này làm tôi nhớ đến quê hương, cha mẹ, anh chị em, bà con, bạn bè v.v. Những người này thực sự là một nguồn an ủi và trợ lực cho tôi. Xin Chúa thay tôi đền ơn vì những điều họ đã làm cho tôi. Xin cho họ luôn là trợ lực chứ đừng bao giờ là trở lực cho sứ mạng Tin Mừng của tôi.
6. Trợ lực và trở lực : Hai thanh niên lớn lên trong gia đình với một người cha nghiện rượu. Vì còn trẻ, mỗi cậu sống theo ý riêng mình.
Nhiều năm sau, một cậu trở nên người nghiện rượu không thể cải thiện. Cậu kia là người chống uống rượu. Một tâm lý gia tìm hiểu hậu quả của việc nghiện rượu gây cho những đứa trẻ trong gia đình hỏi cậu thứ nhất : “Tại sao anh trở nên người nghiện rượu ?” và cậu thứ hai : “Tại sao anh trở nên người chống rượu ?”
Cả hai có cùng câu trả lời : “Ông có thể mong đợi điều gì khác khi ông có người cha như tôi ?” (Góp nhặt)
7. “Ngài đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19)
Tôi lênh đênh trên chiếc xuồng máy vào các xã vùng sâu của miền Đồng Tháp đã được nửa ngày. Là thành viên của đoàn công tác xã hội cứu trợ lũ lụt, hơn chục lần tôi phải leo lên bờ đất trơn tuột, sình lầy để vào những căn chòi phong phanh cũ nát. Không khí oi nồng và cảm giác chênh vênh trên mặt nước làm tôi nuốt không trôi mẫu bánh mì ăn trưa. Còn nửa trái quít, cảm thấy ăn không nổi nữa, tôi lén nhét vào tay một cậu bé ốm nhách, đen thui như cục than. Không hiểu vì vị ngọt không thể tìm thấy ở vùng đất khắc nghiệt ấy hay vì điều gì khác mà ánh mắt em nhìn tôi vui vui, thật lạ.
Một niềm vui bé con được thắp lên chỉ từ một hành động vô tình. Niềm vui ấy có lẽ sẽ được nhân lên gấp đôi trong tôi nếu tôi biết san xẻ cho em phần ăn với tất cả tấm lòng yêu thương, nhân ái.
Lạy Cha, xin cho con biết luôn luôn đem niềm vui đến mọi người, để niềm vui được nhân lên và trở thành hồng ân Chúa tuôn tràn trên nhân loại trong từng phút giây. (Hosanna)
8. “Tôi bảo thật các ông : không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình” (Lc 4,24)
“Nếu bị đau bao tử, bạn đừng uống thuốc này, sẽ có nhiều tác dụng xấu…” Phụng chỉ dẫn cho tôi cách cặn kẽ, tự tin.
Không ai nhận ra Phụng với phong thái tự tin, vững vàng đó. Năm lớp 9, Phụng chỉ là cô bé nhút nhát có phần chậm hiểu nữa. Có những lần tôi đã phải mất hàng giờ để giảng cho Phụng một bài toán đơn giản. Vậy mà trong lần gặp gỡ này, Phụng lại khác hẳn.
Chúng tôi thực sự ngạc nhiên vì Phụng có một kiến thức thực phong phú, sâu rộng. Có nhiều điểm trong học tập tôi chiếm ưu thế ; thế mà bây giờ chưa chắc tôi đã hiểu được chuyên môn cách sâu sắc như vậy. Tự nhiên tôi cảm thấy tức tối. Thay vì biết xấu hổ, tôi lại tự mãn nghĩ rằng “Dẫu sao nó cũng chỉ học đến Trung cấp y tế thôi”.
Với kiểu suy nghĩ theo quán tính như thế, tôi luôn là kẻ hẹp hòi, bảo thủ và lạc hậu.
Lạy Cha, xin cho con biết vượt lên mọi thành kiến, để có thể đón nhận anh em với tất cả khả năng và giá trị của họ. (Epphata)
9. Mầm khác :

 

TN4-C42. CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN

Lu-ca 4, 21-30
Người bắt đầu nói với họ : "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe." Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người.
Họ bảo nhau : "Ông này không phải là con ông Giuse đó sao ?" Người nói với họ : "Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ : thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình ! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Ca-phác-na-um, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào !" Người nói tiếp : "Tôi bảo thật các ông : không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình.
"Thật vậy, tôi nói cho các ông hay : thiếu gì bá góa ở trong nước Ít-ra-en vào thời ông Ê-li-a, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà góa thành Xa-rép-ta miền Xi-đon. Cũng vậy, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Ít-ra-en vào thời ngôn sứ Ê-li-a, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Na-a-man, người Xy-ri-a thôi."
Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành-thành này được xây trên núi-họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.
*****
 

Sau khi đã sai nhóm Mười hai đi từng hai người để thực tập việc tông đồ tại miền quê xứ Ga-li-lê: TN4-C42

Sau khi đã sai nhóm Mười hai đi từng hai người để thực tập việc tông đồ tại miền quê xứ Ga-li-lê, Đức Giê-su một mình trở về thăm Na-da-rét, nơi mà Ngài đã được nuôi dưỡng và lớn lên trong mái ấm gia đình dưới sự chăm sóc của Mẹ Ma-ri-a và thánh Giu-se. Sau khi làm cho cô bé con ông Giai-rô viên trưởng hội đường sống lại, Ngài dừng chân tại Ca-phác-na-um. Các môn đệ đi theo Ngài ít ngày đầu, nhưng sau đó, một mình Ngài trở về thăm quê, và tới dự một buổi thờ phượng nhằm ngày sa-ba. Được mời lên tiếng, Ngài có cơ hội đưa ra một thông điệp quan trọng.
Các khán giả nghe Ngài với nỗi kinh ngạc. Họ không thể nào chống lại vẻ dịu dàng của bài giảng, hoặc chối bỏ vẻ quyến rũ của lời Ngài nói, nhưng họ cũng không thể chấp nhận lời tuyên bố của Ngài. Họ biểu lộ lòng không tin bằng một câu hỏi : "Hẳn không phải là con ông Giu-se sao ?" Ý họ muốn nói : "Đây không phải là người lân cận với chúng ta, một người thợ mộc mà chúng ta đều quen biết, chúng ta đã không biết bản thân anh ta và cả gia đình anh ta sao ? Chắc chắn anh ta không thể là Đấng Mê-si-a được !"
Câu trả lời của Chúa Giê-su ngụ ý nói sở dĩ họ không nhận Ngài, vì Ngài không làm trước mặt họ những phép lạ mà Ngài đã làm ở nơi khác. Khi Ngài trích dẫn câu tục ngữ : "Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình" là Ngài có ý nói : "Hãy chứng thực lời tuyên bố của anh ở đây như anh đã làm ở các nơi khác. nếu anh muốn chúng tôi nhận anh là Đấng Ki-tô." Chúa cũng trích dẫn một câu tục ngữ khác cắt nghĩa đầy đủ hơn về mối nghi ngờ ghen ghét của họ : "Không có ngôn sứ nào được chấp nhận nơi quê hương mình." Những kẻ quá quen thuộc với những bậc vĩ nhân thường không thể nhận biết được sự vĩ đại của họ. "Quen quá hóa lờn" (Bụt nhà không thiêng) vì người ta có khuynh hướng phán đoán kẻ khác theo tiêu chuẩn giả dối, theo hình thức bên ngoài, vì người ta không hiểu biết những kẻ mà họ tưởng họ từng quen biết hơn cả. Chính những nhận xét nông cạn này đã làm tàn hại cho đời sống ngày nay. Nó khiến ta không nhận thức được giá trị của bạn hữu, của cơ hội để khi biết được thì quá trễ. Chính cái đó đã có một ảnh hưởng bi đát trên chức vụ của Chúa Giê-su, có người chối bỏ Ngài vì những lý do hết sức nông cạn và điên rồ, tưởng rằng họ đã biết Ngài vì đã quen thuộc với tên Ngài từ lâu, trong khi trên thực tế họ không thể hiểu được vẻ đẹp của nhân vị Ngài và quyền năng hối cải của ân điển Ngài.
Thái độ của khán giả biến thành tức giận khi Chúa Giê-su lấy hai thí dụ trong Cựu ước, cả hai câu đều ám chỉ rằng dầu người đồng hương của Ngài biết rõ về Ngài hơn hết, nhưng họ vẫn không xứng đáng hưởng ơn cứu rỗi do chức vụ của Ngài đem lại hơn những người ngoại bang. Ngài tự ví sánh mình với Ê-li-a và Ê-li-sê. Ê-li-a đã đem ơn phúc lớn cho người ở Si-đon và Ê-li-sê cho người ở Sy-ri, trong khi dân Ít-ra-en vẫn không nhận được ơn vì lòng họ cứng cỏi. Như vậy các dân tộc trên thế giới sẽ nhận được ơn phúc do Chúa Cứu Thế mang lại trong khi những kẻ quen biết Ngài lại phải khổ sở vì không tin. Họ đâu có chịu nổi lời quở trách nghiêm khắc ấy, điều làm họ tức giận là Ngài khen tụng dân ngoại. Người Do-thái vẫn đinh ninh rằng chỉ có mình họ là dân của Thiên Chúa, cho nên họ xem khinh các dân tộc khác. họ tin rằng "Chúa đã dựng nên các dân ngoại để làm chất đốt cho lửa hỏa ngục". Thế mà giờ đây chàng thanh niên Giê-su này, người mà hết thảy họ đều biết, lại giảng như thể dân ngoại được Thiên Chúa ưu đãi, họ nổi xung lên đuổi Ngài ra khỏi thành và toan làm hại mạng sống Ngài.
Ngay từ khi mới sinh ra, Đức Giê-su nhận được một định mệnh "Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en phải vấp ngã hay được chỗi dậy. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng." (Lc 2,34), lời tiên tri ấy nay đã thành sự thật.
Hẳn thật, sau khi đã suy gẫm lâu dài về cuộc đời Thầy mình, Gio-an tông đồ đã phải đưa ra một nhận định cay đắng : "Ngài đã đến nhà mình nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận !" (Ga1,11). Việc xảy ra thật đáng buồn nhất là cho Chúa Giê-su là người giàu tình cảm đối với quê hương xứ sở. Đáng lẽ họ phải mở rộng vòng tay đón tiếp Ngài, đáng lẽ Ngài được tiếp rước như một người đi xa trở về, người đã làm mở mày mở mặt cho quê hương xứ sở. Nhưng Ngài đã bị chối bỏ.
Bài học của Na-da-rét đây vẫn luôn được lặp lại, nhiều người có cơ hội để biết Chúa lại chối bỏ Ngài, nhưng nơi nào có đức tin thì những tấm lòng tan vỡ được hàn gắn như thời Ê-li-a, và những người phong sẽ được lành mạnh như Na-a-man nhờ lời của Ê-li-sê. Vậy trong khung cảnh nhà hội Na-da-rét, Chúa Giê-su đã nói, chẳng những về ơn lành của chức vụ Ngài mà còn về quyền năng phổ thông của chức vụ ấy nữa. Ngài đến để thỏa mãn những nhu cầu của nhân loại trong cả thế gian.
Jelana là một trong sáu em đã được phúc nhìn thấy Đức Mẹ trong suốt mười tám năm, và được đích thân Đức Mẹ dạy dỗ, một lần có người hỏi cô về số phận của những người theo đạo Công giáo, cô kể lại lời Đức Mẹ dạy : "Có lần Đức Mẹ cho biết có một phụ nữ đang sống ở Mễ-du, bà ấy đả gần đạt tới sự thánh thiện. Các thị nhân hỏi tên bà ấy, Đức Mẹ trả lời : bà ấy là một người Hồi giáo. Nghe câu trả lời ấy, các thị nhân sửng sốt hỏi lại : sao lại thế được. Đức Mẹ trả lời : "Chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền xét đoán về những điều ấy." Sau đó Đức Mẹ giải thích : "Các con hãy nói cho mọi người biết là chính các con tự chia rẽ nhau ở trần gian. Người Hồi giáo và Chính thống giáo cũng một thể như người Công giáo, đều bình đẳng với nhau trước Con Mẹ và Mẹ. Các con hết thảy đều là con cái Mẹ. Thật ra mọi tôn giáo không phải đều bằng nhau, nhưng hết mọi người đều bình đẳng trước mặt Thiên Chúa. không phải cứ thuộc về Giáo Hội Công giáo là đủ để được cứu rỗi … Những người không Công giáo không phải là những thọ tạo kém hơn đâu. Họ cũng được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được định phần chung cuộc là sống trong nhà Thiên Chúa, Cha chúng ta. Ơn cứu độ được cống hiến cho hết mọi người không trừ ai. Chúa Giê-su Con mẹ đã cứu chuộc toàn thể nhân loại trên địa cầu. Chỉ những ai từ chối Thiên Chúa một cách cố tình thì bị kết án, do bởi sự lựa chọn của chính họ.

 

TN4-C43. PHẢN ỨNG CỦA HỘI ĐƯỜNG

THÀNH NAGIARÉT - Giám mục Nguyễn sơn Lâm
 

Chúa nhật trước, chúng ta thấy Đức Giêsu khởi sự đi giảng đạo, Người đã vào hội đường Nagiarét: TN4-C43

Chúa nhật trước, chúng ta thấy Đức Giêsu khởi sự đi giảng đạo, Người đã vào hội đường Nagiarét, xưng mình là vị tiên tri Thiên Chúa hứa sẽ gởi đến cho dân Người. Hơn nữa, khi áp dụng lời sách Isaia về người Tôi tớ Thiên Chúa vào cho mình, Đức Giêsu đã khẳng định Người là Cứu thế đến công bố năm hồng ân của Thiên Chúa tức là khai mạc thời đại cứu độ mọi người. Hôm nay, thánh Luca cho chúng ta thấy phản ứng của người đồng hương với Đức Giêsu trước những lời xác quyết của Người.
Đó là thái độ cố hữu của người Do Thái, như Giêrêmia đã kinh nghiệm. Đó cũng có thể là cách trả lời của chúng ta đối với mọi mạc khải của Thiên Chúa nơi các ngôn sứ của Người, nếu chúng ta không nghe lời thánh Phaolô mà đặt đức ái lên trên hết. Vậy chúng ta hãy suy nghĩ về cả ba bài Kinh Thánh hôm nay để hiểu mình và sửa mình cho xứng đáng với ơn Chúa muốn cứu độ chúng ta.
1. Thái độ cố hữu của người Do thái
Không dân tộc nào được Chúa yêu thương như cộng đồng con cái Israen. Không phải vì họ có những đức tính trổi vượt hơn hết mọi dân tộc; nhưng chỉ vì Thiên Chúa đã khấng chọn họ làm dân riêng của Người. Họ có luật pháp là mạc khải khôn ngoan cao cả của Thiên Chúa. Họ còn thường được các tiên tri đến dạy dỗ. Đó là những ngôn sứ thay mặt Thiên Chúa đến soi sáng và hướng dẫn họ sống theo luật pháp, hầu được đẹp lòng Chúa và hưởng các ân huệ Người ban.
Nhưng Do Thái lại là dân cứng đầu cứng cổ. Họ vứt bỏ đường lối của Thiên Chúa để đi theo lòng dục của mình. Vị tiên tri nào Chúa gửi tới cũng gặp nhiều chống đối và khó khăn. Một phần nữa cũng vì có quá nhiều những tay bịp bợm, lạm dụng sự mê tín của quần chúng tự xưng là sứ giả của Thiên Chúa. Nên bên cạnh một số ít tiên tri thật, có nhan nhản những tiên tri giả và những kẻ "muốn làm nghề tiên tri". Vì sự hiện diện và hoạt động của những kẻ này, các ngôn sứ của Chúa phải tăng thêm nỗ lực để khẳng định Lời Chúa và ơn gọi của mình. Và thường khi các ngài phải "chết để nói lên lời". Giêrêmia là một trong những vị đại tiên tri. Ông là một trong 4 đại tiên tri còn để lại văn phẩm. Không vị tiên tri nào đã gặp nhiều đau khổ vì ơn gọi như ông.
Thế nên, xét về phương diện đau khổ, ông là vị tiên tri gần với Đức Giêsu Kitô hơn hết. và Phụng Vụ hôm nay đã theo truyền thống coi ông là hình ảnh báo trước về nhà tiên tri thành Nagiarét có định mệnh "phải chịu đau khổ". Chúng ta đọc lại những chương 36-45 trong sách Giêrêmia để xem nhà tiên tri này đã khổ sở thế nào. Người ta chống đối, muốn bịt miệng ông, bắt ông phải vào tù ra khám, và có lần đã muốn chấm dứt đời ông rồi. Nhưng trong mọi trường hợp, Giêrêmia vẫn cương quyết công bố Lời Chúa và khẳng định ơn gọi thiêng liêng của mình.
Bài đọc hôm nay không cố ý mô tả cuộc đời thơ ấu của Giêrêmia đâu. Nhưng đây là cái nhìn của một người rất đứng tuổi và chín chắn nghĩ lại ơn gọi của mình, để làm chứng cho mọi người thấy thiên mệnh đã đè xuống trên ông.
Đồng bào của Giêrêmia, tức là cộng đồng con cái Israen vẫn tin rằng Thiên Chúa là nguồn gốc mọi sự và con người cũng do tay Người nặn lên. Nhưng điều ít ai để ý, là trước khi Thiên Chúa tạo dựng nên vũ trụ và muôn vật hữu hình này, Người đã có một kế hoạch rất rõ ràng. Ơn gọi của các tiên tri nằm trong kế hoạch ấy.
Thế nên "trước khi Ta nắn ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi; và trước khi lọt dạ mẹ, Ta đã tác thánh ngươi. Ta đã đặt ngươì làm tiên tri cho các dân tộc". Và để chứng minh điều này, Giêrêmia nói thêm rằng: khi được gọi, ông chưa biết nói, nhưng Chúa bảo chính Người sẽ ban Lời cho ông để ông chỉ có việc nói những lời của Người mà thôi.
Đó là những lời thành thật. Chúng ta không có gì phải nói thêm. Chúng ta chỉ để ý đến lời Giêrêmia khẳng định mình đã được đặt làm tiên tri cho "các dân tộc". Ý ông muốn nói sấm ngôn của Chúa, mạc khải của Người, không dành riêng gì cho dân Do Thái, nhưng cho mọi dân nước và thời đại. Tính cách phổ cập này thêm vinh dự cho ơn gọi tiên tri tự nó đã cao quý vì phát xuất từ Thiên Chúa. Tuy nhiên ơn gọi này lại rất bi đát. Những lời sau của Giêrêmia tóm tắt định mệnh của ông.
Ông phải "nai lưng", tức là phải lấy thế để chiến đấu, vì người ta sẽ tuyên chiến với ông. Họ cưỡng lại mọi lời ông nói, vì lời của ông diễn tả ý Chúa chứ không chiều theo dục vọng của loài người.
Đó là tiêu chuẩn để phân biệt các tiên tri giả và các tiên tri thật. Những người này dù bị chống đối và đau khổ vẫn như thành trì, trụ sắt và tường đồng, cự lại các vua và khanh tướng. Không phải vì họ có can đảm phi thường, nhưng chỉ vì Chúa đã giữ lời hứa với các tiên tri của Người "Ta sẽ ở với ngươi khiến chúng không làm gì được ngươi".
Thật ra không phải vị tiên tri nào cũng thoát khỏi bàn tay sát nhân của loài người độc dữ đến nỗi sau này có lần Đức Giêsu phải kêu lên "Giêrusalem, Giêrusalem, kẻ giết hại các tiên tri" (Mt 23,37). Và có như thế, các tiên tri mới là những người báo trước vị tiên tri sẽ phải đến trong thời kỳ sau hết, Người cũng sẽ bị giết, nhưng sự sống lại của Người sẽ làm chỗi dậy mọi bậc tiên tri đến trước hầu cho thấy "thủ lãnh thế gian bị luận phạt".
Hôm nay bài Tin Mừng Luca cho chúng ta thấy vị tiên tri này. Không những Người đã gợi lại mà còn thực hiện bài sách Giêrêmia. Chúng ta hãy quan sát Người theo lời thuật của Luca.
2. Phản ứng của hội đường thành Nagiarét
Đức Giêsu bấy giờ vừa giảng xong. Người ta thán phục Người. Họ cảm thấy như có một nguồn ân sủng thoát ra từ môi miệng của Người. Nhưng Người không là con nhà ông Giuse sao? Suy nghĩ này làm chứng họ không muốn khiêm nhường đón nhận sứ điệp cứu độ đến với họ qua một con người bình thường ở giữa họ. Đức Giêsu chua chát nghĩ đến câu: "Không tiên tri nào được tôn trọng ở quê nhà".
Và từ đó, Luca nghĩ rằng Đức Giêsu đã nhìn xa hơn nữa, không những Người thấy những kẻ đồng hương với Người ở Nagiarét không muốn chấp nhận Người; nhưng qua họ, Người còn thấy rõ cả dân tộc Do Thái nữa cũng sẽ không đón nhận. Họ cậy mình đã có luật pháp và không muốn bị xáo trọn bởi một luồng gió mới nào nếu người khởi xướng không làm được những dấu lạ điềm thiêng như Môsê ngày trước. Nghĩa là họ chỉ muốn mãi mãi là những người xác thịt, coi trọng những cái bề ngoài và không bao giờ muốn trở nên trưởng thành, biết ý thức về ý nghĩa của luật pháp như các tiên tri thường hướng dẫn. Tín ngưỡng của họ trở thành thứ tôn giáo của chữ viết, và của hình thức, chứ không muốn là sự sống tinh thần như Thiên Chúa kêu gọi. Do đó, họ rất ít nghe lời các tiên tri. Hơn nữa, họ còn bỏ rơi các ngài. Thường khi họ còn giết chết các ngài nữa. Mà các ngài đâu có thiếu gì các quyền năng? Êlya không có quyền đóng góp cửa trời và làm mưa sao? Thế mà có ai trong dân Do Thái được nhờ ông? Trái lại một góa phụ ở Sarepta thuộc dân ngoại đã được ông cứu đói. Êlisê cũng vậy. Ông là tiên tri rất mạnh thế.
Tuy nhiên cũng chẳng ai trong dân Do Thái được cho lành bệnh, đang khi Naaman, một bậc khanh tướng ngoại đạo đã được ông chữa khỏi bệnh cùi. Luca trích dẫn những câu chuyện này để phục vụ ý kiến của ông khi viết cuốn Tin Mừng thứ ba. Ông có ý diễn tả rằng dân Do Thái đã không biết đón nhận nhà tiên tri ở giữa họ là Đức Giêsu thành Nagiarét. Và vì vậy sự nghiệp ân sủng của Người đã được chuyển sang cho dân ngoại là Hội Thánh hiện nay.
Luca đã không muốn lợi dụng câu chuyện đã xảy ra trong Hội đường Nagiarét để tổng quát hóa công cuộc cứu thế của Đức Giêsu Kitô và để báo trước đau khổ vinh quang đang chờ đợi Người. Người đã đến giữa dân Người, rao truyền tin mừng cứu độ, nhưng thân nhân của Người và dân Người đã không đón nhận, nên ơn cứu độ của Người mang đến đã chuyển sang dân ngoại là Hội Thánh chúng ta ngày nay.
Lời khẳng định này, làm sao người Do Thái có thể chịu đựng được? Họ đã nhất tề đứng lên, hung hăng lôi Đức Giêsu ra khỏi thành, đưa Người lên một sườn đồi và định tâm đẩy Người xuống cho chết đi. Nhưng Người đã nhẹ nhàng đi qua mặt họ để tiếp tục cuộc hành trình.
Bằng những lời đơn sơ này, Luca muốn báo trước cuộc tử nạn của Đức Giêsu. Người sẽ bị người Do Thái kéo ra khỏi thành và đóng đinh trên sườn đồi... Nhưng Người sẽ nhẹ nhàng linh diệu thoát khỏi nơi họ đẩy Người tới để sống lại vinh quang, tiếp tục công việc cứu thế của Người.
Như vậy, có thể nói, bài Tin Mừng hôm nay không chỉ đơn sơ thuật lại những gì xảy ra trong hội đường ở Nagiarét. Hoặc Luca đã dùng câu chuyện này để vẽ ra trước tất cả định mệnh của vị tiên tri đến rao giảng ơn cứu độ cho dân Người. Người cũng bị đối xử không hơn gì các tiên tri đi trước. Như bài sách Giêrêmia đã nói. Nhưng cũng như tiên tri này đã loan báo, Người thật là sứ giả của Thiên Chúa gửi đến báo cho các dân tộc. Hoặc đúng hơn, Luca đã dùng những biến cố trong cuộc đời của Đức Giêsu Kitô, và đặc biệt những sự kiện tử nạn và phục sinh của Người, làm đèn chiếu sáng lên câu chuyện xảy ra tại hội đường ở Nagiarét và thuật lại sự kiện theo ánh sáng mầu nhiệm chết và sống lại của Đức Giêsu Kitô.
Dù sao, bài Tin Mừng hôm nay không những cho chúng ta thấy cuộc đời vất vả của Chúa Cứu Thế, nhưng còn muốn gợi lên phản ứng tự nhiên của loài người xác thịt đối với tin mừng cứu độ và hạnh phúc đang dành cho lương dân đón nhận tin mừng.
Chúng ta dĩ nhiên không muốn cư xử như người Do Thái. Nhưng để được như vậy, phải làm gì? Xin vị tông đồ các dân ngoại soi sáng giúp đỡ chúng ta.
3. Con đường chúng ta phải đi
Thánh Phaolô gởi thư cho giáo dân Côrintô. Ở đây người ta đang háo hức được các ơn lạ để phục vụ Chúa, họ thèm ơn nói tiếng lạ, ơn tiên tri, ơn chữa bệnh, ơn xưng đạo mạnh mẽ hơn. Nhưng thánh tông đồ thấy có nhiều khuynh hướng chuộng hào nhoáng trong những sự háo hức này. Đó không phải là con đường nên đi vào. Nó sẽ biến những tín hữu trở thành những con người xác thịt như dân Do Thái ngày trước.
Và thánh nhân đã chỉ cho mọi người thấy con đường phải đi vào. Đó là bác ái. Thiếu bác ái mọi đặc sủng kia sẽ rỗng tuyếch. Vì người ta muốn phục vụ ư? Ao ước làm được những sự ngoạn mục, thật là vô ích. Đức Giêsu đến phục vụ không làm như vậy. Người đã yêu thương chúng ta và yêu thương cho đến chết. Thế nên đối với thánh Phaolô, ở đây, con đường bác ái yêu thương rất cụ thể.
Nó có hai hạng người làm đối tượng: kiên nhẫn với kẻ thiếu nhân đức và giúp đỡ những kẻ thiếu thốn. Đối với cả hai hạng người, kẻ bác ái phải có những thái độ chứng tỏ lòng kiên nhẫn và bộc lộ lòng quảng đại. Tiêu cực, họ không được nóng nảy, bực tức, hoặc chán nản, tuyệt vọng; còn tích cực, họ phải duy trì niềm vui, tin tưởng và kiên trì. Được như vậy, đức bác ái sẽ toàn thắng sự dữ và giúp đỡ được hiệu năng.
Thế nên, so sánh với những đặc sủng mà người ta ao ước như các ơn nói tiếng lạ, ơn nói tiên tri, ơn chữa bệnh, ơn giảng đạo, đức bác ái rõ ràng trổi vượt. Tất cả các ơn kia có ngày sẽ hết. Chúng chỉ cần cho đời tạm này. Nhưng lòng bác ái sẽ tồn tại mãi mãi đi theo ta sang cả thế giới bên kia. Mà sánh với hai nhân đức khác là đức tin và đức cậy, nhân đức bác ái vẫn trổi hơn. Cả ba nhân đức này đều cần thiết cho đời sống đạo và cho mọi nhân đức khác. Cả ba cũng theo ta sang cả đời sau, theo nghĩa đức tin là trạng thái cởi mở tâm hồn nhận biết Chúa thì đời sau vẫn cần; và đức cậy cũng sẽ cần vì là trạng thái của linh hồn muốn được Chúa yêu thương. Nhưng đức mến sẽ tồn tại và cao quý hơn hết vì nó làm cho chúng ta kết hợp với Thiên Chúa là bản chất của đời sóng hạnh phúc sau này ở trên trời.
Thế nên chúng ta hãy đi vào con đường bác ái. Trươc đây, người Do Thái không đi con đường ấy nhưng bước theo hướng xác thịt hời hợt bề ngoài vì họ như là trẻ con đối với thời đại Thánh Thần yêu mến đã được đổ xuống trong Hội Thánh. Ngày nay được phúc ở trong thời đại sung mãn, chúng ta phải đi vào con đường trưởng thành là bác ái.
Và giờ đây hơn bao giờ hết khi cử hành thánh lễ, chúng ta được đưa vào con đường bác ái. Không những chúng ta được thấy Đức Giêsu đến rao giảng tin mừng cứu độ như là vị tiên tri cao trọng hơn mọi tiên tri. Người còn thể hiện mầu nhiệm tử nạn phục sinh để hoàn thành sứ mệnh tiên tri của Người một cách siêu việt hẳn hơn Giêrêmia ngày trước... Và hơn cả hôm Người ở trong hội đường ở Nagiarét.
Mầu nhiệm bàn thờ đây còn tuôn đổ Thánh Thần yêu mến cho những ai thành khẩn tham dự. Nhưng cử hành thánh lễ sốt sắng bao nhiêu, họ phải sống bác ái chân thật và cụ thể bấy nhiêu để lấy kiên nhẫn lướt thắng sự tội và lấy phục vụ xóa bỏ nghèo khó. Phấn đấu hết mình cả về phương diện tinh thần cả về phương diện vật chất là nhiệm vụ của những ai đi trong con đường bác ái. Ai đã dự lễ mà có thể từ chối đi vào con đường ấy?

 

TN4-C44. Cánh cửa khép kín

Ngày xưa, có một ông hà tiện và keo kiệt. Ông ta có một cái thú là đếm tiền. Vì thế, ông ta đã: TN4-C44

Ngày xưa, có một ông hà tiện và keo kiệt. Ông ta có một cái thú là đếm tiền. Vì thế, ông ta đã xây một căn phòng bí mật, thật kiên cố, thật vững chắc để cất dấu tất cả tiền bạc của mình ở đó, và đêm đêm ông lẻn xuống căn phòng bí mật ấy, để hưởng cái thú đếm tiền.
Thế nhưng, một đêm kia, ông bước vào căn phòng bí mật ấy, nhưng lại để quên chiếc chìa khóa ở bên ngoài. Cánh cửa sập lại, ông ta kêu gào thế nào cũng không một ai nghe thấy để tiếp cứu. Và căn phòng bí mật ấy đã trở nên như một ngôi mộ chôn sống ông. Mãi sau này người ta mới tìm thấy. Lúc bấy giờ thì ông ta chỉ còn là một thây ma rữa thối.
Đọc lại Phúc âm, chúng ta thấy dân Do Thái cũng có một thái độ khép kín như vậy. Họ nghĩ rằng mình là con cháu Abraham, là dân tộc được Chúa lựa chọn, cho nên phải nắm giữ địa vị ưu tiên số một, khiến mọi dân tộc khác phải hướng về họ.
Từ thái độ khép kín này, họ trở nên tự mãn, kênh kiệu và không sẵn sàng đón nhận những lời giảng dạy của Chúa. Ngay cả dân làng Nagiarét hôm nay cũng vậy, trước hai thí dụ Chúa đưa ra để cảnh cáo họ : Bà góa tại Sarepta và tướng Naaman. Họ chẳng những không nghe mà lại còn muốn xô Chúa xuống vực thẳm.
ta bất bình trước thái độ của họ, nhưng biết đâu, chính chúng ta lại cũng hành động như vậy. Niềm tin của chúng ta như ngọn đèn sắp tắt, như một thân cây đã dập nát và tàn héo. Bản thân chúng ta không chịu sống đức tin, không chịu thực thi những điều Chúa truyền dạy, thế mà chúng ta vẫn tự mãn với  chính mình. Chúng ta chớ cho rằng mình đạo gốc, đạo dòng và không chịu mở rộng tâm hồn để đón nhận ơn Chúa, để rồi cũng như dân Do Thái, chúng ta đánh mất Chúa, chúng ta xua đuổi Chúa và chúng ta nhẫn tâm giết chết Chúa.
Chúng ta đóng kín trong những nghi thức và lấy làm tự mãn với những nghi thức ấy. Chúng ta chết lúc nào cũng không hay biết, bởi vì sống là không ngừng luân lưu, không ngừng trao đổi với Thiên Chúa và với anh em.
Tin không phải chỉ là chấp nhận một số những nghi thức, những lề luật, những giáo điều, nhưng là chấp nhận Đức Kitô Đấng đã chết vì yêu thương chúng ta. Từ việc chấp nhận và sống gắn bó với Đức Kitô, chúng ta sẽ đi đến việc cảm thông và giúp đỡ những anh em chúng ta, bởi vì, Đức Kitô đang hiện diện nơi họ, nhất là những kẻ đau khổ và nghèo túng, nhưng liệu chúng ta có nhận ra Ngài và nhất là có đón nhận Ngài hay không ?

 

TN4-C45. Mở rộng tâm trí

Chúa Giêsu ám chỉ Người đến khai mạc thời cứu độ muôn dân hằng mong đợi. Chúa thừa biết: TN4-C45

Chúa Giêsu ám chỉ Người đến khai mạc thời cứu độ muôn dân hằng mong đợi. Chúa thừa biết những phản ứng ít nhiều công khai của đám thính giả. Chúa nói lớn ra điều họ nghĩ thầm và lẩm bẩm trong miệng. Có hai khó khăn làm họ bực mình. Nặng đầu óc địa phương, họ bất bình thấy Chúa làm những phép lạ tại những miền khác được dư luận rộng rãi đồn đại. Họ nghĩ, công cuộc cứu nhân độ thế thần kỳ của Chúa phải khởi đầu tại nơi sinh quán mới phải. Họ đâm ra ngờ vực con người mà họ biết rõ lai lịch, tuy họ quý mến, nhưng trong con ông Giuse và bà Maria, họ không nhận ra hình ảnh Đấng Messia. Chúa cho họ thấy một tâm tình khô cứng như thế thật nghèo nàn. Tâm hồn không thuần khiết, trí óc mắc bệnh thiên kiến thì sao hiểu được ý nghĩa một dấu chỉ, cho dù dấu chỉ phi thường tới mức nào. Người xung quanh có thể đem đến cho chúng ta một sứ điệp, nếu chúng ta không biết đến hoặc không thừa nhận giá trị của họ chẳng là thái độ hẹp hòi ư? Than ôi! ngoại trừ vài ba trăm người, toàn dân Do thái đều giống người Galilêa và không biết nhận diện được Đấng Messia đã sinh ra giữa lòng dân tộc. Từ đó xảy ra hiện tượng Tin Mừng lan tràn tới các dân tộc ngoại chủng, nghĩa là trên khắp hoàn vũ.
Đoạn Phúc Âm gợi ra hai câu hỏi:
1) Chính chúng ta chẳng mắc cái bệnh thành kiến như người Galilêa sao? Gặp dịp, chúng ta cũng dễ dàng đưa ra một nhận xét: ‘ông này, ông nọ, tôi biết lắm!’. Cách suy nghĩ cư xử ấy là bằng chứng rằng chúng ta thật sự chẳng biết gì về người ấy. Trong trường hợp này, sự hiểu biết của chúng ta về tha nhân không phải là một sự hiểu biết thông cảm, khả năng đón tiếp của chúng ta giống như một động mạch bị cứng lại, tắc nghẽn. Vậy mà sự hiểu biết của Thiên Chúa về chúng ta thì khác xa biết chừng nào. Không bao giờ Thiên Chúa nghĩ rằng chúng ta mãi mãi ở trong một trạng thái nào đó, giữ mãi nguyên trạng đó. Dưới mắt Thiên Chúa, chúng ta bao giờ cũng có khả năng cải tiến, có thể trở nên tốt hơn, và Thiên Chúa giúp đỡ chúng ta tiến bộ. Như vậy, phải chăng chúng ta nên cố gắng có một nhận định về kẻ khác giống như Chúa nghĩ về chúng ta?
2) Chúng ta có phòng ngừa bệnh thiên kiến không, vì nó cản trở sự phát triển đức tin của chúng ta? Dân chúng Galilêa tin vào Thiên Chúa và mong đợi Đấng Messia. Thiên kiến làm mờ mắt họ, không nhận ra Chúa Giêsu đến thành toàn niềm tin và mong đợi của họ. Vậy mà chúng ta biết rằng tiến trình của đức tin luôn luôn vấp phải những bất ngờ khiến người ta bối rối. Đức tin sống động không ưa thứ tư tưởng đặt thành hệ thống và những việc làm theo thói quen máy móc. Thanh luyện tâm trí, chuẩn bị tâm trí sẵn sàng nghênh tiếp Thiên Chúa là một trong những yêu cầu chủ yếu của sự tiến bộ trong đức tin. Theo quan điểm ấy, điều cực kỳ quan trọng là ngày nay người Công giáo phải chuẩn bị tâm trí đón nhận những ân huệ chưa hề có trước nay, phát xuất từ Công Đồng Vaticanô II. Trong niềm tuân phục nghiêm cẩn và triệt để những huấn lệnh của Giáo Hội, người Công giáo phải cầu nguyện, hành động và suy nghĩ theo những chiều hướng Công Đồng mở ra cho các tín hữu.

 

TN4-C46. Loại trừ Chúa Giêsu chăng?

Đây là một trang dễ sợ. Trang này bắt đầu bằng một phản ứng đúng ra là đầy cảm tình: “họ: TN4-C46

Đây là một trang dễ sợ. Trang này bắt đầu bằng một phản ứng đúng ra là đầy cảm tình: “họ thán phục các lời về ân sủng xuất bởi miệng Ngài”. Nhưng kết thúc bằng sự bạo động: “mọi người trong hội đường đầy lòng tức tối; đứng dậy họ đuổi Ngài ra ngoài thành”.
Loại trừ Chúa Giêsu! Loại bỏ Đấng là những cánh tay của Thiên Chúa rộng mở để tiếp đón tất cả mọi người. Thật là dễ sợ! Điều này không thể xảy đến với chúng ta.
Chúng ta hãy hy vọng điều đó, nhưng Tin Mừng cần phải luôn báo động cho chúng ta. Tại sao những người Nagiarét đi từ khâm phục đến căm ghét?
Chúa Giêsu đã phải cảm thấy những thái độ ngập ngừng mạnh hơn trong bài Tin Mừng này và Ngài không ngần ngại rút ra những hệ quả từ đó: những ơn cứu độ mà ta vừa mang lại cho các ngươi, những người khác sẽ nhận lãnh, như xưa kia bà goá người Phênixi và người cùi Syri là những người được nhậm lời chứ không phải người Do thái.
Việc mở rộng cho dân ngoại xúc phạm đến người Do thái. Họ không còn có thể tin vào người này nữa. Trong suốt các thế kỷ, người ta sẽ loại trừ Chúa Giêsu vì những lý do khác nữa nhưng nền tảng của tất cả những sự loại trừ này sẽ có chính sự từ chối cơ bản được gợi ra đây do sự bối rối của thính giả: “Không phải ông ấy là con bác Giuse sao?”; đây chỉ là con trai của Giuse mà thôi. Những người nghĩ rằng Chúa Giêsu chỉ là một con người mà thôi, mặc dầu họ khâm phục Ngài nhiều, họ vẫn không thể gán cho Ngài trong tư tưởng và trong cuộc sống của họ vị trí to lớn mà Ngài đòi hỏi. Họ chấp nhận con người, họ loại trừ Con Thiên Chúa.
Lại một lần nữa đây không phải là trường hợp của chúng ta hay sao? Không, nhưng chúng ta phải coi chừng một số loại trừ âm ỉ hơn thế nữa. Trước tiên có một cách để sát nhập Chúa Giêsu vào các ý nghĩ của chúng ta hoặc vào môi trường của chúng ta, mà môi trường này tương đương với việc từ chối tinh thần của Ngài và do đó từ chối chính Ngài. Chúng ta hãy xác minh chẳng hạn như những ngập ngừng của chúng ta và có thể là những giận dữ của chúng ta trước những cởi mở của Giáo Hội, của Giám mục này, của linh mục nọ. “Tốt hơn hết là chăm sóc các Kitô hữu tốt”. Mỗi lần chúng ta hạn hẹp món quà cứu độ là chúng ta loại trừ Chúa Giêsu.
Tôi cũng gặp những tín hữu sẵn sàng chấp nhận Chúa Giêsu mà không suy xét tỉ mỉ, bao lâu cuộc sống của họ yên ả. Nhưng một biến cố nào đó đã đặt họ trước một sự bó buộc của Tin Mừng là điều đối với họ dường như không thể chấp nhận được đến độ họ thốt lên sự từ chối: “Ngài không thể yêu cầu tôi làm điều này!”. Họ loại bỏ Chúa Giêsu ‘ra ngoài thành’, ra ngoài cuộc sống của họ. Không có gì ngao ngán cho bằng thấy biết bao niềm tin và thậm chí một cuộc đời trung thành lâu dài chuyển đổi thành sự không biết, sự bỏ rơi, sự căm ghét. Tôi nghĩ rằng phải rất thận trọng trong việc chọn lựa trong Tin Mừng điều hợp và điều không hợp với chúng ta: chúng ta có nguy cơ chuẩn bị trong một góc nào đó của con tim chúng ta sự loại trừ Chúa Giêsu.
“Ngài đã ngang qua giữa họ mà đi”. Chúa Giêsu đi qua với những lời mời gọi và những dâng hiến của Ngài. Nói chung, nói vâng với Ngài là điều rất dễ. Tin Mừng không phải được viết ra cho những người xuất chúng, mà là cho những người bé mọn. Dầu sao nếu điều này trở nên khó hơn, chúng ta đừng buông Đấng duy nhất “có lời ban sự sống đời đời”. Ngài đi con đường của Ngài, hướng về những người khác có niềm tin và lòng can đảm hơn.

 

TN4-C47. SỐ PHẬN CỦA NGÔN SỨ

“Họ đứng dậy, lơi Người ra khỏi thnh.” (Lc 4,21-30)
 

Số phận chung của các ngôn sứ là bị chống đối, bị loại trừ. Làm ơn mắc oán! Chính những người: TN4-C47

Suy niệm: Số phận chung của cc ngơn sứ l bị chống đối, bị loại trừ. Lm ơn mắc ốn! Chính những người m cc ngi muốn gip uốn nắn, cải hĩa lại thường l những kẻ ra tay ‘giải quyết’ cc ngi. Khơng hẳn vì người ta phán đoán sai lầm v khơng nhận ra gi trị chn thực của lời cc ngơn sứ, m su xa hơn, về mặt tâm lý, đây l diễn biến của căn bệnh ‘đề kháng thay đổi’. Người ta ngại thay đổi nn tìm cch lm cm tiếng nĩi thc giục họ đổi thay. Một cch thế dễ di để yn ổn lương tm v, dĩ nhin, lương tm họ chẳng thể no yn ổn! Đĩ l số phận của cc ngơn sứ xưa, của Gioan Tẩy Giả, v của chính Đức Gisu. Hơm nay người ta nhỡ hụt Người ở Nadart, nhưng mai mốt đây họ sẽ khơng hụt Người ở Girusalem, trn đồi Gơngơtha.
Mời Bạn: Tìm về với lương tri ngay thẳng, phán đoán công bằng, v nhất l lịng dũng cảm đón nhận sự thật, sẵn sng thay đổi - để chính mình được giải phĩng v để khỏi gy thm oan khin cho bao ‘số phận ngơn sứ’ Cha gửi đến cho mình.
Chia sẻ: Theo bạn, nĩi “tôi sai, anh đúng” dễ hay khĩ? V thực sự bước ra khỏi ci sai của mình để dấn thân theo cái đúng của người kia thì dễ hơn hay khĩ hơn?
Sống Lời Cha: Tập điềm tĩnh lắng nghe những ý kiến đóng góp (từ bất cứ ai) dễ lm mình bực bội khĩ chịu, v tập DM HNH ĐỘNG cũng trong chính tinh thần điềm tĩnh v khch quan ny.
Cầu nguyện: Lạy Cha, xin cho con dm ‘uống thuốc đắng’ để được ‘đ tật’ – v biết chn thnh tri n bất cứ ‘y sĩ’ no n cần trao ‘thuốc đắng’ để gip chữa lnh con. Amen.

 

TN4-C48. Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt.

ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐÓN TIẾP CHÚA.
 

Sau khi rao giảng một thời gian, Chúa Giêsu trở về làng cũ. Thoạt nghe Chúa rao giảng, họ khâm TN4-C48

Sau khi rao giảng một thời gian, Chúa Giêsu trở về làng cũ. Thoạt nghe Chúa rao giảng, họ khâm phục tán thành. Nhưng sau đó họ lại xua đuổi và muốn giết Chúa. Thật là đáng buồn. Đúng như lời thánh Gioan đã viết: “Người đã đến nhà nhưng người nhà không nhận biết Người”. Tại sao có cảnh trái ngang đau lòng như thế? Thưa vì tư tưởng của Thiên Chúa khác với tư tưởng của họ.
Chúa đi tìm đức tin còn họ đi tìm lợi lộc. Khi đi rao giảng, Chúa muốn đem cho ta niềm tin. Niềm tin đã là khởi điểm của nhiều phép lạ. Chúa chỉ làm phép lạ khi người ta có niềm tin. Niềm tin đã là kết quả của nhiều phép lạ. Chúa chỉ làm phép lạ khi phép lạ dẫn đến niềm tin. Nhưng dân làng Nazareth không nhìn thấy điều đó. Họ không tin Người là Đấng Cứu Thế. Lời giảng của Người không đưa họ tới đức tin và Thiên Chúa, vào Nước Trời. Họ chỉ mong được có phép lạ. Vì họ chỉ mong được lợi lộc vật chất: được khỏi bệnh; được ăn no. Mong ước của họ không gặp được mong ước của Chúa.
Chúa sống trong khiêm nhường nhưng họ sống trong kiêu căng. Chúa không bao giờ làm phép lạ với mục đích biểu diễn. Chúa chỉ làm phép lạ đê giải nghĩa mầu nhiệm Nước Chúa. Chúa không làm phép lạ khi ma quỷ cám dỗ Chúa trong hoang địa. Chúa không xuống khỏi thập giá khi dân chúng thách thức Chúa trên Núi Sọ. Nên hôm nay Chúa cũng không làm phép lạ để thoả mãn tính hiếu kỳ và tính kiêu căng của dân làng Nazareth. Họ mong Chúa làm phép lạ để làng họ được vinh dự có người đồng hương quyền phép. Họ mong Chúa làm phép lạ để làng họ cũng được nở mày nở mặt với Capharnaum. Suy nghĩ của họ rất khác với suy nghĩ của Chúa.
Chúa có tâm hồn mở rộng trong khi tâm hồn họ hẹp hòi. Họ mong ước Chúa là người làng Nazareth thì phải dành mọi ưu tiên cho dân làng từ việc rao giảng cho đến việc làm phép lạ. Tất cả phải bắt đầu và bó gọn trong làng. Nhưng Chúa Giêsu, khi trích dẫn chuyện tiên tri Elia ở nhà bà goá Sarepta trong thời hạn hán, làm cho bình dầu và hũ bột của gia đình bà không bao giờ vơi và chuyện tiên tri Elisa chữa tướng Naaman, người Syria khỏi bệnh phong, đã cho thấy Nước Chúa không chỉ bó hẹp lại trong phạm vi người thân thuộc nhưng phải mở rộng tới tất cả mọi người. Không chỉ những người trong đạo Do Thái mà cho cả những người ngoại đạo nữa. Hai nhãn quan khác hẳn nhau.
Tôi là người có đạo. Nhưng biết đâu tôi không đón nhận được Chúa vì tôi cũng giống như dân làng Nazareth, đến với Chúa chỉ mong được lợi lộc vật chất, đến với Chúa chỉ vì hư danh, đến với Chúa với tâm hồn hẹp hòi. Hôm nay tôi xin Chúa thanh tẩy tâm hồn tôi khỏi thói ham mê lợi lộc, thói phô trương bề ngoài và thói hẹp hòi khép kín, để tôi được đón nhận Chúa và để tôi trở nên tông đồ của Chúa.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1. Giữ đạo tốt để được may mắn. Bạn có ý nghĩ như thế không?
2. Bạn khó chịu khi người ngoại đạo được may mắn. Thái độ này có đúng không?
3. Thường thường, bạn đi tìm Chúa, tha thiết cầu nguyện để đạt được điều gì? Để được may mắn, khỏi tai hoạ, hay để được hiểu biết, yêu mến Chúa?

 

TN4-C49. Mở rộng tâm trí

Đức Giêsu ám chỉ Người đến khai mạc thời cứu độ muôn dân hằng mong đợi. Chúa thừa biết: TN4-C49

Đức Giêsu ám chỉ Người đến khai mạc thời cứu độ muôn dân hằng mong đợi. Chúa thừa biết những phản ứng ít nhiều công khai của đám thính giả. Chúa nói lớn ra điều họ nghĩ thầm và lẩm bẩm trong miệng. Có hai khó khăn làm họ bực mình. Nặng óc địa phương, họ bất bình thấy Chúa làm những phép lạ tại những miền khác được dư luận rộng rãi đồn đại. Họ nghĩ, công cuộc cứu nhân độ thế thần kỳ của Chúa phải khởi đầu tại nơi sinh quán mới phải. Họ đâm ra ngờ vực con người mà họ biết rõ lai lịch, tuy họ quý mến, nhưng trong con ông Giuse và bà Maria họ không nhận ra hình ảnh Đấng Messia. Chúa cho họ thấy một tâm tình khô cứng như thế thật nghèo nàn. Tâm hồn không thuần khiết, trí óc mắc bệnh thiên kiến thì sao hiểu được ý nghĩa một dấu chỉ, cho dù là dấu chỉ phi thường tới mức nào. Người xung quanh có thể đem đến cho chúng ta một sứ điệp, nếu chúng ta không biết đến hoặc không thừa nhận giá trị của họ chẳng phải là thái độ hẹp hòi ư? Than ôi, ngoại trừ vài ba trăm người, toàn dân Do Thái đều giống người Galilê và không biết nhận diện được Đấng Messia đã sinh ra giữa lòng dân tộc. Từ đó xảy ra hiện tượng Tin Mừng lan tràn tới các dân tộc ngoại chủng, nghĩa là trên khắp hoàn vũ.
Đoạn Phúc Âm gợi ra hai câu hỏi:
1) Chính chúng ta chẳng mắc cái bệnh thành kiến như người Galilê sao?
Gặp dịp, chúng ta cũng dễ dàng đưa ra một nhận xét: “Ông này, ông nọ, tôi biết lắm?”. Cách suy nghĩ cư xử ấy là bằng chứng rằng chúng ta thật sự chẳng biết gì về người ấy. Trong trường hợp này, sự hiểu biết của chúng ta về tha nhân không phải là một sự hiểu biết thông cảm, khả năng đón tiếp của chúng ta giống như một động mạch bị cứng lại, tắc nghẽn. Vậy mà sự hiểu biết của Thiên Chúa về chúng ta thì khác xa biết chừng nào. không bao giờ Thiên Chúa nghĩ rằng chúng ta mãi mãi ở trong một trạng thái nào đó, giữ mãi nguyên trạng đó. Dưới mắt Thiên Chúa, chúng ta bao giờ cũng có khả năng cải tiến, có thể trở nên tốt hơn, và Thiên Chúa giúp đỡ chúng ta tiến bộ. Như vậy, phải chăng chúng ta nên cố gắng có một nhận định về kẻ khác giống như Chúa nghĩ về chúng ta?
2) Chúng ta có phòng ngừa bệnh thiên kiến không, vì nó cản trở sự phát triển đức tin của chúng ta?
Dân chúng Galilê tin vào Thiên Chúa và mong đợi Đấng Messia. Thiên kiến làm mờ mắt họ, không nhận ra Đức Giêsu đến thành toàn niềm tin và mong đợi của họ. Vậy mà chúng ta biết rằng tiến trình của đức tin luôn luôn vấp phải những bất ngờ khiến người ta bối rối. Đức tin sống động không ưa thứ tư tưởng đặt thành hệ thống và những việc làm theo thói quen máy móc. Thanh luyện tâm trí, chuẩn bị tâm trí sẵn sàng nghênh tiếp Thiên Chúa là một trong những yêu cầu chủ yếu của sự tiến bộ trong đức tin. Theo quan điểm ấy, điều cực kỳ quan trọng là ngày nay người Công giáo phải chuẩn bị tâm trí đón nhận những ân huệ chưa hề có trước nay, phát xuất từ Công đồng Vaticanô II. Trong niềm tuân phục nghiêm cẩn và triệt để những huấn lệnh của Giáo Hội, người Công giáo phải cầu nguyện, hành động và suy nghĩ theo những chiều hướng Công đồng mở ra cho các tín hữu.

 

 TN4-C50. Để yêu như Đức Kitô yêu - Charles E. Miller

Một thiếu niên đã ném những cái túi ra xa lộ trước mặt nhà của hắn ta, hắn ta mất một trong: TN4-C50

Một thiếu niên đã ném những cái túi ra xa lộ trước mặt nhà của hắn ta, hắn ta mất một trong những kiếng sát tròng của mình, hắn ta tìm kiếm nhưng không tìm thấy nó. Hắn vào nhà và nói: “Bố ơi con mất kiếng sát tròng rồi và con không tìm thấy nó”. Cha của cậu ta đứng dậy rời khỏi tờ báo và đi ra ngoài, một lúc sau thì ông trở lại với cái kiếng sát tròng. Đứa con trai kinh ngạc: “Cha ơi làm sao Cha tìm thấy nó?”. Nó hỏi, cha nó trả lời”“Mày tìm kiếm một miếng plastic. Còn tao, tao tìm kiếm vì một trăm năm mươi đô”.
Khi chúng ta không nắm vững ý nghĩa đúng của những giá trị, chúng ta có thể thất bại trong việc tìm thấy những thực tại quan trọng của đời sống. Đó là lý do vì sao mà nhiều người trong bài Phúc Âm hôm nay đã từ bỏ Chúa Giêsu. Họ không thể chấp nhận được một thanh niên sinh đẻ tại đây là Đấng Mêsia của họ, họ bỏ sót những gì thật sự là quan trọng. Đối với họ Chúa Giêsu không khác gì một miếng plastic.
Một điều gì đó cũng tương tự như thế xảy ra ở Corintho và Thánh Phaolô đã viết thư cho tín hữu ở đây. Họ đã trở nên say mê bởi những món quà đặc sủng, một số có thể nói những ngôn ngữ khác nhau, số khác cắt nghĩa được những ngôn ngữ đó, một số được đặc ân chữa lành, một số khác được nói tiên tri. Những đặc ân này thì tốt cho dân chúng, nhưng những người Corintho thì thất bại trong việc nắm bắt được giá trị của đặc ân lớn nhất đó là đặc ân tình yêu.
Đó là lý do vì sao Thánh Phaolô nói với họ: “Tôi sẽ trình bày cho các bạn biết điều vượt trên những điều đó”. Đó là con đường tình yêu. Nhưng với Thánh Phaolô, tình yêu không chỉ hấp dẫn hoặc không đơn giản chỉ là lý thuyết. Ngài không nghĩ về một tuần trăng mật hay một tình yêu lãng mạn. Đối với thánh nhân, tình yêu là thực tế, là hiện diện nơi trái đất này, là diễn ra ngày này qua ngày nọ khi giao dịch với những người khác.
“Tình yêu thì tử tế”, thánh nhân có thể đặt nó một cách đơn giản và trực tiếp hơn không? Chúng ta phải tử tế với nhau nên mới nói: “xin vui lòng”,”cám ơn” hay”xin lỗi”.”Tình yêu thì kiên nhẫn”. Thật khó để mà luôn luôn kiên nhẫn với những người mà chúng ta cùng sống hoặc làm việc, nếu họ không làm cho thần kinh chúng ta căng thẳng thì cũng làm phiền chúng ta bởi những điều mà chúng ta không thích. Tình yêu thì không ghen tỵ. Tình yêu thì không làm bộ làm tịch. Tình yêu thì không thô lỗ. Tình yêu không nói lời hư từ. Mọi đề mục trong danh sách của thánh nhân đều là thực tế. Trên tất cả, tình yêu là không kiếm tìm chính mình. Tình yêu luôn luôn quảng đại và không ích kỷ. Cuối cùng, tình yêu không bao giờ thất vọng. Tình yêu thật sự không chỉ ở giữa người chồng và người vợ, để tốt hơn hoặc xấu hơn, để giàu hơn hoặc nghèo hơn, lúc bệnh hoạn hay khi khỏe mạnh.
Những tác giả thiêng liêng đã nhận thấy nơi thư của Thánh Phaolô từ”tình yêu” có thể được thay thế với tên”Đức Kitô”. Đức Kitô thì kiên nhẫn, Đức Kitô thì tử tế, Đức Kitô không nói lời hư từ, Đức Kitô không tìm kiếm chính mình, Đức Kitô thì không bao giờ thất vọng. Chân lý này giúp chúng ta nhận thấy lý tưởng cao vời của một tình yêu thật sự và chúng ta sẽ không đạt được nó nếu dựa vào chính chúng ta. Thánh Thể là ý nghĩa để chúng ta lớn lên trong tình yêu giống như Đức Kitô. Chúng ta lãnh nhận Thánh Thể, chúng ta cầu nguyện: “Lạy Chúa xin biến đổi con và những tình yêu của con. Xin giúp con yêu mến như chính Chúa yêu. Xin giúp con mỗi khi con gặp khó khăn”.
Thánh Phaolô đã nhận biết có ba nhân đức lớn lao là đức tin, đức cậy và đức mến. Khi chúng ta lên thiên đàng chúng ta không còn cần đến đức tin, bởi vì chúng ta đã thấy Thiên Chúa diện đối diện. Và cũng không còn cần đức cậy bởi vì chúng ta đã đạt được mục đích của chúng ta. Nhưng chúng ta sẽ có nhân đức lớn hơn mọi nhân đức; chúng ta sẽ có tình yêu. Chúng ta sẽ bắt đầu từ bây giờ cho đến đời đời, bởi việc cầu xin và đem ra thực hành một tình yêu giống như Đức Kitô là yêu thương anh em.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây