Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 TN-C Bài 101-127

Thứ bảy - 02/02/2019 10:28
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 TN-C Bài 101-127: Ngôn Sứ không được chấp nhận nơi quê hương
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 TN-C Bài 101-127: Ngôn Sứ không được chấp nhận nơi quê hương
TN 4-C Phần III Bài 101-127: Ngôn Sứ không được chấp nhận nơi quê hương
TN4-C101:  KHƯỚC TỪ ĐỨC GIÊSU.. 1
TN4-C102: Đức Giêsu thất bại tại Nadarét 3
TN4-C103: Chúa Nhật IV Thường Niên Năm C.. 9
TN4-C104: Chúa Nhật IV Mùa Thường Niên – Năm C.. 11
TN4-C105:  Chúa Nhật IV Mùa Thường Niên – Năm C.. 12
TN4-C106:  CN.4.TN.C.. 14
TN4-C107: CN.4 TN-C.. 16
TN4-C108: HÃY NHƯ ĐỨC GIÊSU.. 20
TN4-C109: GHEN GHÉT VÀ ĐỐ KỴ.. 23
TN4-C110: Suy niệm Chúa Nhật IV Thường Niên C.. 28
TN4-C111: Thân Phận Ngôn Sứ. 29
TN4-C112:  Truyền giáo. 33
TN4-C113: Thân phận ngôn sứ - ViKiNi 36
TN4-C114: Hiến thân làm chứng nhân cho ánh sáng. 39
TN4-C115: Mù quáng. 42
TN4-C116: Ngôn sứ bị từ chối 44
TN4-C117: Hãy là ngôn sứ của Chúa - Huệ Minh. 52
TN4-C118: Khổ vì đồng hương - Lm. Jos Tạ Duy Tuyền. 55
TN4-C119: Người Việt hay dìm hàng. 56
TN4-C120: Người đồng hương - Nguyễn Thái 58
TN4-C121: Trở về quê hương - Lm. John Nguyễn Tươi 62
TN4-C122: NGUYÊN NHÂN ĐỨC GIÊSU BỊ KHƯỚC TỪ.. 64
TN4-C123: Suy niệm của JKN.. 67
TN4-C124: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 4 TN C.. 71
TN4-C125: Ngôn sứ bị từ chối 74
TN4-C126: GHEN GHÉT VÀ ĐỐ KỴ.. 82
TN4-C127: SỐ PHẬN NGÔN SỨ.. 87

 

TN4-C101:  KHƯỚC TỪ ĐỨC GIÊSU

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 4, 21-30
 

 Chúa Giêsu trở về quê hương Nagiarét sau những ngày đi rao giảng với các môn đệ, danh tiếng TN4-C101 Dalat

Chúa Giêsu trở về quê hương Nagiarét sau những ngày đi rao giảng với các môn đệ, danh tiếng của Ngài đã lừng vang ở nhiều nơi.Vào Hội đường Nagiarét, nơi gia đình Cha mẹ, họ hàng của Ngài thường lui tới ngày Sabat để cầu nguyện và đọc Sách Thánh. Chúa đã đọc đoạn ngôn sứ Isaia và Ngài đã tuyên bố thẳng thừng :” Lời tiên báo của Thánh Kinh về Đấng Messia, hôm nay đã thực hiện “. Tất cả những người có mặt trong Hội đường lúc đó đều hiểu Chúa Giêsu nói Ngài là Đấng Messia phải đến và đã đến.
Sau khi Chúa Giêsu đọc Sách Thánh và giải thích Sách Thánh, nhiều người xầm xì, bàn tán, có người rất thán phục những lời của Ngài nói, có người không tin, chê bai và khích bác. Những người khâm phục thì cho rằng lời của Chúa không chỉ là lời khôn ngoan, thượng trí theo bậc vĩ nhân, mà còn là lời hằng sống, là Ngôi Lời Thiên Chúa, là “ Nôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta “ ( Ga 1, 14 ). Những người khác không tán thành thì quay lại truy tìm tông tích của Chúa Giêsu : “ Ông này không phải là con Ông Giuse đó sao ? “. Nói như thế, họ chỉ nhìn ra một con người bình thường của Chúa Giêsu tại Nagiarét, nên họ đã đòi hỏi Ngài phải làm phép lạ chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa, là Đấng Messia ( Lc 4, 23 ). Chúa Giêsu không chiều họ, không chùn bước trước sự đòi hỏi của họ, Ngài không cho họ một dấu chỉ nào, một phép lạ nào cả, để họ khỏi lầm tưởng về sứ mạng cứu thế của Ngài…Sứ mạng của Ngài không đóng khung hạn hẹp nơi gia đình, nơi quê quán của Ngài. Sứ mạng cứu thế của Ngài là sứ mạng  phổ quát.Ơn cứu độ của Chúa Giêsu vượt qua mọi ranh giới, không chỉ thuộc về người Do Thái, nhưng thuộc về mọi người. Chúa đã đưa ra hai trường hợp của hai vị ngôn sứ Êlia và Êlisê, hai vị ngôn sứ đã thi ân giáng phúc cho bà góa Sarépta và Naaman, viên sĩ quan ngoại bang người xứ Syria.
Phản ứng của những người đồng hương của Chúa Giêsu, là phản ứng rất hời hợt. Họ tới Hội đường chỉ vì họ đạo đức theo kiểu bề ngoài, nhưng thực tế họ không có lòng tin, do đó, họ đã khước từ Chúa Giêsu, coi Chúa Giêsu chỉ là một người dân thường, họ đã mất cơ hội, mất dịp tốt để trở thành môn đệ của Chúa Giêsu. Và chính Chúa đã nói :” Không một ngôn sứ nào được tiếp đón nơi quê hương mình “.
Tin Mừng của Thánh sử Luca hôm nay cho chúng ta thấy sự bi đát của Chúa. Chúa đã hiện diện, đã sống, đã làm nhiều việc tốt lành nhưng những người đồng hương của Chúa vì không có đức tin, nên đã không nhận ra Ngài. Sự bi đát này còn kéo dài trong toàn cõi Do Thái, bởi vì khi chứng kiến các phép lạ Chúa làm, người Do Thái đã không mở mắt đức tin, mở tâm hồn để nhận ra Đấng Cứu Thế. Họ đã căm phẫn đưa Ngài lên cao, muốn xô Ngài xuống vực thẳm cho chết. Việc này, còn tiên báo dân Do Thái sẽ đuổi Ngài ra khỏi thành và đóng đinh Ngài trên Thập Giá. Tin Mừng của Chúa được lan tỏa khắp nơi sau cuộc tử đạo của Stêphanô. Giáo Hội mở rộng  vòng tay để đón nhận mọi người.
Qua đoạn Tin Mừng này và qua ý tưởng các bài đọc Chúa nhật hôm nay, chúng ta có thể trách những người đồng hương của Chúa Giêsu, nóng vội để làm mất cơ hội nhận ra Đấng Cứu Thế và lỡ đi cơ hội để trở nên môn đệ của Ngài. Tuy nhiên chúng ta cũng phải nhìn vào chúng ta để tự suy nghĩ, bởi vì chính chúng ta cũng đã để mất đi nhiều vận may, nhiều cơ hội nhận ra Chúa nơi anh chị em chung quanh chúng ta.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn luôn biết khiêm tốn để nhận ra những thiếu sót nơi mình và nhận ra Chúa nơi anh chị em của chúng con. Xin cho chúng con biết can đảm vượt thắng tích ích kỷ để nhận ra những trổi trang nơi người khác. Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 
1.Chúa Giêsu  đã trở về quê hương Nagiarét vào dịp nào ?
2.Chúa đã tuyên bố điều gì ?
3.Người Nagiarét trong Hội đường có đức tin hay không ?
4.Muốn nhận ra Chúa phải làm gì ?
5.Điều kiện tiên quyết để trở thành môn đệ của Chúa ?

 

TN4-C102: Đức Giêsu thất bại tại Nadarét

(Luca 4,21-30 – CN IV TN - C)
 1.- Ngữ cảnh
 

Đoạn văn chúng ta đọc hôm nay nằm trong bối cảnh là “Hoạt động rao giảng của Đức Giêsu tại Galilê” TN4-C102

Đoạn văn chúng ta đọc hôm nay nằm trong bối cảnh là “Hoạt động rao giảng của Đức Giêsu tại Galilê” (Lc 3,1–9,50), và thuộc về phân đoạn 4,16-30, “Đức Giêsu tại Nadarét”. Chúng ta có thể xác định cầu trúc của bản văn 4,16-30 như sau:
+ Mở: Đức Giêsu đến Nadarét (c. 16a); Người vào hội đường (c. 16b).
I. Đọc sách Isaia
a) Dẫn nhập (c. 16c)
b) Chuẩn bị đọc (c. 17)
c) Bản văn Isaia (cc. 18-19)
b’) Kết thúc việc đọc (c. 20ab)
a’) Kết luận (c. 20c)
- Chuyển tiếp: Mọi người trong hội đường chăm chú nhìn Người (c. 20d)
II.Các lời nói của Đức Giêsu
A- Can thiệp thứ nhất của Đức Giêsu
a) lời nói về hoàn tất (c. 21)
b) các hậu quả đầu tiên nơi các thính giả (c. 22)
B- Can thiệp thứ hai của Đức Giêsu
a) lời nói về thầy thuốc (c. 23)
b) lời nói về ngôn sứ (c. 24)
C- Can thiệp thứ ba của Đức Giêsu
a) dân Israel trước Êlia (cc. 25-26)
b) dân Israel trước Êlisa (c. 27)
+ Kết: Dân Nadarét đuổi Đức Giêsu khỏi hội đường (cc. 28-29)
          Người rời Nadarét (c. 30)
2.- Bố cục
Bản văn Lc 4,21-30 có thể chia thành bốn phần:
1) Phản ứng tích cực của cử tọa đối với các lời Đức Giêsu nói (4,21-22);
2) Đức Giêsu xác định chiều hướng của sứ vụ của Người (4,23-24);
3) Đức Giêsu chứng minh bằng các lối xử sự của các ngôn sứ (4,25-27);
4) Dân chúng loại trừ Đức Giêsu (4,28-30).
3.- Vài điểm chú giải
- Hôm nay (21): Trạng từ sêmeron hiếm khi được hiểu theo nghĩa tổng quát là “vào ngày hôm nay, nowadays”. Do vị trí nhấn mạnh ở đầu câu, trạng từ này đánh dấu một điểm quan trọng trong các nhìn lịch sử của tác giả Lc (x. 4,21; 5,26; 19,5.9; 23,43): những điểm này, những lời nói này của Đức Giêsu vẫn còn giá trị cho cuộc sống của người Kitô hữu hôm nay.
- đều tán thành (22): Emartyroun autô dịch sát là “đều làm chứng cho [về] điều này? / cho [về] ngài?”. Đa số các nhà chú giải hiểu là đại từ autô ở tặng-cách (dative) nam-tính và có nghĩa là “cho Người”, tức là ca ngợi Người, chẳng hạn cha Nguyễn Thế Thuấn: “Mọi người đều làm chứng cho Ngài”. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng giáo sư Fitzmyer có lý khi cho rằng đại từ autô ở tặng-cách (dative) trung-tính (neuter) và có nghĩa là “về điều này”. Do đó, có thể dịch là “tán thành”, theo nghĩa là “làm chứng về điều này”.
- thán phục (22): Động từ thaumazein có thể diễn tả sự kinh ngạc (đi đôi với chỉ trích, nghi ngờ, phê phán; x. Lc 11,38) hoặc sự thán phục (đi đôi với sự thích thú bất ngờ; x. Lc 1,63; 2,18; 2,33; 7,9.8.25; 9,43;11,14; 20,26 …). Theo ngữ cảnh (đến sau “tán thành” và được nối với động từ bằng “và”), chỉ có thể chọn nghĩa “thán phục”.  
- không phải là con ông Giuse đó sao? (22): Câu này có thể diễn tả sự khó chịu, bực bội, khinh bỉ hoặc một sự ngạc nhiên đầy thích thú, sự thán phục. Theo ngữ cảnh, có thể hiểu là sự thán phục.
- Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình (23): Đức Giêsu dùng câu tục ngữ này để diễn tả ra nguyện vọng thầm kín của người Do Thái: Vì họ đã nghe biết nhiều về hoạt động của Đức Giêsu tại Caphácnaum, họ ước muốn Người cũng làm như thế cho quê hương. Câu nói tiếp theo câu tục ngữ đã giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ. Người dân Nadarét đang tính toán vụ lợi.
- không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương (24): Khi dịch tính từ dektos bằng “được chấp nhận”, Bản Dịch CGKPV đã coi dektos có ý nghĩa tương tự như atimos trong Mc 6,4 và Mt 13,57, mà thật ra đây cũng là cách dịch của các Bản dịch nổi tiếng thế giới là BJ, TOB NAB, và là ý kiến của một giáo sư chuyên về truyền thống Luca, J.A. Fitzmyer (x. The Gospel according to Luke I-IX, The Anchor Bible, Doubleday NY 1970, 537). Tuy nhiên, lúc ấy ta thấy là phản ứng mạnh của Đức Giêsu như thế không phù hợp với thái độ của cử tọa. Hơn nữa, các lời Đức Giêsu nói lại không thống nhất: người ta xin Người làm phép lạ (điều này giả thiết là người ta có tin, dù chút ít), Người lại than trách là bị tiếp đón tệ bạc (c. 24). Đã thế, các ví dụ Người nêu ra ở cc. 25-27 lại không phù hợp với hoàn cảnh: không phải là các ngôn sứ bị tiếp đón tệ bạc (như Người), nhưng lại là các ngôn sứ mới từ chối làm những phép lạ để giúp đỡ người đồng hương. Như vậy, phải kết luận là bản văn Lc thiếu mạch lạc?
          Vấn đề là các học giả đã hiểu bản văn Lc theo hướng của các bản văn song song McMt, thế mà bản văn Lc lại khác: thay vì dùng từ atimos (“bị khinh bỉ”), tác giả dùng dektos. Dektos là một tính từ phái sinh từ động từ dechomai (“đón nhận, đón tiếp, chấp nhận”) và thường có nghĩa bị động (passive); trong trường hợp này, dektos tương đương với atimos. Tuy nhiên, tính từ này cũng có một nghĩa chủ động (active) (x. M. Zerwick, Biblical Greek, Rome 1963, số 142), “đón nhận, ân cần, thuận thảo, thuận lợi”. Và trong thực tế, cách đó năm câu, từ dektos có ý nghĩa chủ động (eniautos dektos, “năm hồng ân = năm thuận lợi; năm đón nhận”). Nếu như thế, câu nói của Đức Giêsu hẳn sẽ có nghĩa là: không một ngôn sứ nào dành ưu tiên / thiên vị cho / với quê hương; và hiểu cụm từ “không một ngôn sứ nào” là một cụm từ nói “ngoa”, chứ không theo nghĩa chữ và nghĩa xấu (= một ngôn sứ luôn luôn tỏ ra bất thuận lợi với quê hương mình), bởi vì trong thực tế Mt 13,58 và Mc 6,5 cho thấy là Đức Giêsu cũng có làm một vài phép lạ tại Nadarét. Cuối cùng, câu nói của Đức Giêsu có ý nghĩa là: Một ngôn sứ không tỏ ra thuận thảo với quê hương mình hơn là với người ngoại quốc; tất cả là vấn đề đức tin và tình trạng tâm hồn sẵn sàng. Hiểu như thế, bản văn rất mạch lạc.     
          Có người bẻ lại: bản văn nói “en tê patridi”: patri, “quê hương”; giới từ en, “tại, trong”; vậy en tê patridi có nghĩa là “tại quê hương”, mà như thế, nghĩa bị động của dektos được biện minh. Thật ra, trong hy-ngữ phổ thông [koinê] (hy-ngữ Tân Ước là hy-ngữ này), en không chỉ có nghĩa nơi chốn, mà còn có nghĩa thời gian, dụng cụ, nguyên nhân, v.v. Trong nhiều cách sử dụng ấy, en thường được dùng với các động từ nói về tình cảm để diễn tả “điều mà tâm tình hướng về” (W. Bauer, A Greek-English Lexicon of the New Testament and Other Early Christian Literature, The University of Chicago Press, Chicago 1957, tr 160: III,3b).
- nhưng quả thật, tôi nói cho các ông hay (25): De, “nhưng”, tiêu từ ở đầu c. 25 này rất quan trọng, diễn tả một ý đối lập.  
- hạn hán ba năm sáu tháng (25): 1 V 18,1 nói rằng  có mưa “vào năm thứ ba”. Ở đây, tác giả Lc kế thừa một truyền thống khác, có được nhắc đến trong Gc 5,17. Theo truyền thống này, thời gian hạn hán kéo dài bằng thời gian khốn quẫn trong văn chương khải huyền (thời gian này được rút ra từ thời gian cuộc bách hại dưới triều Antiôkhô IV Êpiphanê: Đn 7,25; 12,7; x. Kh 11,2; 12,6.14. Lc không quan tâm đến ý nghĩa khải huyền. Trời hạn hán”: dịch sát là “trời bị đóng [cửa] lại”: thái bị động thay tên Thiên Chúa.
- không được sai đến  (26): Đây là thái bị động thay tên Thiên Chúa. Xem cả c. 27, “được sạch”. 
- bà góa thành Sarépta (26): xem 1 V 17,9 (LXX).
- ông Naaman (27): xem 2 V 5,1-19.
- thành này được xây trên cao (29): Nadarét hiện đại được xây trên một triền đồi, xung quanh có các đồi khác vây bọc. Nhưng ta không thể xác định được nơi nào đã xảy ra sự cố kể đây; với lại, thật ra cũng khó tìm được một chỗ nào ở đây có dốc núi để có thể xô người ta xuống cho chết, hoặc để ném đá. Vào thế kỷ ix, có một truyền thống đã coi địa điểm này là một chỗ cách Nadarét khoảng ba cây số về phía đông nam, nhưng nay người ta không chấp nhận giả thuyết này nữa. Đây rất có thể là dấu chứng tỏ Lc không biết rõ địa lý Paléttina và cũng có thể cho hiểu là tác giả đã ép các dữ kiện để báo trước việc Israel giết Đức Giêsu.  
- Người băng qua giữa họ mà đi (30): Không nhất thiết đây là một phép lạ. Điều chính yếu đối với Lc là cho thấy Đức Giêsu còn phải tiếp tục con đường của Người để loan báo Tin Mừng, và con đường này chỉ kết thúc tại Giêrusalem (x. 13,33).
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Phản ứng tích cực của cử tọa đối với các lời Đức Giêsu nói (21-22)
Người dân Nadarét đang ca ngợi và thán phục Đức Giêsu. Do đó, họ bắt đầu tính toán: “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?” (c. 22). Nếu đây đúng là con ông Giuse, nay đã thành ngôn sứ và thầy chuyên làm phép lạ, sao ta lại không tận dụng cơ hội để có lợi cho làng ta? Câu trả lời sau đó của Đức Giêsu cho hiểu là quả thật dân chúng đang tính toán như thế. 
* Đức Giêsu xác định chiều hướng của sứ vụ của Người (23-24)
          Đức Giêsu đã dùng một tục ngữ để lật tẩy lối giải thích vụ lợi của những người đồng hương về sứ mạng của Người: “Thầy lang ơi, hãy chữa lấy chính mình” (c. 23); “chính mình” đây là dân làng của Người. Người lập luận: Đơn giản chỉ vì các ông là người đồng hương với tôi, mà các ông đòi hỏi tôi phải làm ở đây những phép lạ giống như tôi đã làm ở Caphácnaum! Họ muốn Nadarét cũng được hưởng nhờ quyền lực của Người là “thầy thuốc-thầy làm phép lạ”. Nhưng một ngôn sứ không hề chiếu cố riêng đến quê hương mình (c. 24). Người phải làm việc theo kế hoạch của Thiên Chúa.
* Đức Giêsu chứng minh bằng các lối xử sự của các ngôn sứ (25-27)
Các ông cứ nghĩ đến trường hợp ngôn sứ Êlia và Êlisa. Có biết bao bà góa Israel phải đói, khi trời hạn hán ba năm sáu tháng; thế mà Êlia lại chỉ nuôi bà góa Sarépta mà thôi (1 V 17,9-16). Vào thời Êlisa, tại Israel đâu có thiếu người phong hủi; thế mà Êlisa chỉ chữa lành một người ngoại quốc mà thôi (2 V 5,1-19). Đức Giêsu từ chối liên kết các ân huệ thiên sai với những quan hệ thân tộc hoặc tình làng nghĩa xóm. Người là ngôn sứ; Người phải chu toàn một sứ mạng Thiên Chúa giao; chẳng phải là những yêu cầu của dân Nadarét có thể xác định hướng hoạt động cho Người. Đứng trước Thiên Chúa, phải bỏ đi mọi yêu sách, mọi đòi hỏi: Thiên Chúa hòan toàn tự do trong việc ban tặng các ân huệ; chỉ có một đức tin khiêm nhường và tín thác mới có thể trông chờ (chứ không đòi hỏi) một phép lạ.
* Dân chúng loại trừ Đức Giêsu (28-30)
Bởi vì Đức Giêsu không chiều theo ý họ, họ đã nổi giận và loại trừ Người. Nhưng Người còn phải tiếp tục ra đi để loan báo Tin Mừng và tiến về Giêrusalem (9,51; 13,22.33; 17,11; 19,28), tiến đến thập giá và vinh quang. Lúc này người ta chưa chặn được sứ vụ của Người. Người sẽ tiếp tục phục vụ những người nghèo ở Israel và cả các dân nước.
+ Kết luận
Con người không có quyền gì để được hưởng các ân huệ của Thiên Chúa. Không một  tư cách nào cho phép con người được quyền hưởng ơn cứu độ thiên sai. Ơn cứu độ được ban cho nhân loại, nơi bản thân Đức Giêsu, hoàn toàn là ân huệ. Đó là điều mà dân Nadarét đã không muốn hiểu. Chính thái độ này, khi đã phổ biến khắp Israel, đã khiến Đức Giêsu đi ngỏ lời với mọi người ngoài Do Thái.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Vì thấy Đức Giêsu là đồng hương, dân Nadarét nghĩ Người có bổn phận chiếu cố đến họ trước. Đức Giêsu đã thẳng thắn đánh tan ngộ nhận này. Sự sai lầm của người Nadarét, người tín hữu vẫn có thể mắc phải, khi nại ra tư cách đã được rửa tội, đã sống đạo lâu năm (là người “đạo dòng, đạo gốc”, là tu sĩ, là linh mục …), đã đóng góp nhiều cho Giáo Hội bằng công sức và của cải… Thiên Chúa hoàn toàn tự do ban phát các ân huệ cho bất cứ ai, như và khi Ngài muốn. Trước mặt Thiên Chúa, chúng ta mãi mãi là những con người nghèo hèn, bất xứng, luôn luôn cần được Ngài chiếu cố đến. Đức Giêsu không cứu chúng ta bằng cách làm phép lạ, nhưng bách cách loan báo Tin Mừng của Người và hy sinh mạng sống cho chúng ta. Phép lạ chính là Lời của Người; chính Lời này làm ra các phép lạ và biến đổi dân chúng và sẽ tạo ra một thế giới mới. 
2. Bằng cách nêu bật sứ mạng của hai ngôn sứ Êlia và Êlisa, Đức Giêsu cho hiểu rằng hoạt động của Người cũng nhằm chiếu cố đặc biệt đến Dân ngoại. Đấy là điều Đức Giêsu còn chứng tỏ khi đến sống tại Capha1cnaum, một thành đầy người ngoại giáo. Ở đây sứ mạng của người Kitô hữu được phác họa ra. Họ cũng được sai đi để chuyển trao ân phúc của Thiên Chúa cho Dân ngoại, như Đức Giêsu ngày trước, và như thế, chương trình sống của Đức Giêsu được công bố tại Nadarét (Is 61,1-2; 58,6) cũng phải là chương trình sống của mỗi Kitô hữu.
3. Với việc dân Nadarét từ khước Đức Giêsu, bắt đầu tiến trình kết án sẽ đưa Người đến thập giá. Nhưng chính lập trường của Đức Giêsu củng cố niềm tin của chúng ta. Người chính là Đấng Mêsia đích thực của Thiên Chúa, một Đấng Mêsia không vận dụng quyền lực mình để thực hiện một hoàn cảnh cứu độ trần thế, nhưng đặt tại trung tâm sứ điệp về Thiên Chúa. Nhu thế, khi sống trong một hoàn cảnh khó khăn, cùng quẫn, ta có thể đặt trọn niềm tin nơi Ngài, bởi vì chính Ngài sẽ ban cho chúng ta ơn cứu độ trọn vẹn.
4. Trong tư cách là Con Thiên Chúa, với uy quyền lớn lao nhất, Đức Giêsu loan báo Tin Mừng cho người nghèo. Là Đấng sống một cuộc sống nghèo, Đức Giêsu chính là lời chuẩn nhận rằng Thiên Chúa dủ thương chiếu cố đến những người nghèo. Đức Giêsu quy hướng niềm hy vọng của loài người không vào của cải trần thế, nhưng vào lòng nhân lành của Thiên Chúa.
5. Đức Giêsu nói năng tự do bởi vì Người không lo lắng tìm kiếm thành công riêng tư hay lợi lộc hoặc tránh né tiếng xấu có thể lan tỏa đi các làng phụ cận, hoặc mất sự tín nhiệm nơi các thính giả. Người chứng tỏ là một nhà rao giảng có tinh thần hoàn toàn tự do. Người cho thấy có một tầm nhìn bao trùm thế giới, nhìn tới các chân trời của chính Thiên Chúa.
Lm FX Vũ Phan Long, ofm

 

TN4-C103: Chúa Nhật IV Thường Niên Năm C

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca (Lc 4, 21-30)

21 Người bắt đầu nói với họ: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”.22 Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người.23 Người nói với họ: "Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Caphácnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!”24 Người nói tiếp: "Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình. 25 "Thật vậy, tôi nói cho các ông hay: vào thời ông Êlia, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà goá ở trong nước Ít-ra-en;26 thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Xa-rép-ta miền Xi-đôn.27 Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Ê-li-sa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Ít-ra-en, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Na-a-man, người xứ Xyri thôi”. 28 Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ.29 Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành -thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực.30 Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.

SUY NIỆM

 

Tin Mừng hôm nay trình thuật sự kiện Đức Giêsu về thăm Nagiarét, quê hương của Người. Khởi TN4-C103

Tin Mừng hôm nay trình thuật sự kiện Đức Giêsu về thăm Nagiarét, quê hương của Người. Khởi đầu mọi người vui vẻ đón tiếp Người và rất thám phục những gì Người giảng dạy, Người làm. Thế nhưng, sau đó thì hoàn toàn thay đổi thái độ đến mức khó tin: không chấp nhận Người, đòi giết Người. Tại sao họ lại có thái độ như thế? Thái độ đó của họ chính Chúa đã biết trước khi Người khẳng định với họ: "Hẳn các ngươi sắp nói cho ta nghe câu ngạn ngữ: hỡi thầy thuốc, hãy chữa lấy chính mình! Điều chúng tôi nghe xảy ra ở Capharnaum, ông hãy làm như vậy tại quê hương ông … không một tiên tri nào được đón tiếp tại quê hương mình".

Lời Chúa đã đi đúng vào tim đem của họ, nên họ phẫn nộ với Người. Những người đồng hương của Chúa dĩ nhiên là tự hào vì danh tiếng của Chúa, tuy nhiên, sự tự hào đó đã đưa họ đến chỗ muốn sở hữu, muốn độc quyền Người. Những gì Người có khả năng làm thì phải làm cho họ và chỉ cho họ mà thôi. Cho nên, khi Người cho họ biết Người phải loan báo Tin Mừng cho mọi dân tộc, cho người khác thì họ thấy khó chịu. Não trạng "một người làm quan cả họ được nhờ" đã ăn sâu vào vào tâm khảm của những người Nagiarét, quê hương của Chúa. Não trạng đó khiến họ không nhận ra tính phổ quát của ơn cứu độ, thấy được sứ mạng của Chúa Giêsu là đến với toàn thể nhân loại để rồi không thể đón nhận Người. Điều này cũng xảy ra với mọi người dân Israel khi cho rằng họ là dân được Chúa chọn, dân duy nhất đáng hưởng ơn cứu độ, dân duy nhất được Chúa thương nên vượt hơn hẳn các dân khác. Do đó, họ đã lên án và giết Chúa vì đã không thoả mãn những yêu sách của họ.

Ngày nay, thái độ của nhiều Kitô hữu cũng giống như thái độ của những người Nagiarét xưa: lúc đầu theo Chúa, hay nghe được một câu lời Chúa nào đó phù hợp với mình thì thấy thích thú, phấn chấn và nhiệt tình nhưng theo thời gian thì thái độ trở nên dửng dưng với Tin Mừng, thậm chí còn oán trách Chúa vì theo Người xem ra chẳng lợi lộc gì cả mà chỉ thấy thiệt thòi, thấy phải cho đi.

Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người suy nghĩ lại thái độ đức tin của mình "tôi có thực sự đón nhận Chúa hay không?"


 

TN4-C104: Chúa Nhật IV Mùa Thường Niên – Năm C

http://giaophandanang.org/newsdemo/chua-nhat-iv-mua-thuong-nien-nam-c.html
 

Chúa nhật 4 thường niên hôm nay, ngày 23 tháng chạp, ngày ông Táo về trời, để báo cáo những TN4-C104 danẵng

Chúa nhật 4 thường niên hôm nay, ngày 23 tháng chạp, ngày ông Táo về trời, để báo cáo những chuyện dưới đất cho ông Trời.
Ông Táo là ai ?
Dân gian kể rằng :
Trọng Cao có vợ là Thị Nhi, ăn ở với nhau mà không có con, nên sinh ra buồn phiền hay cãi cọ. Một hôm Trọng Cao giận quá đánh vợ, Thị Nhi bỏ nhà ra đi, sau đó gặp Phạm Lang và bằng lòng lấy chàng làm chồng. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình có lỗi, thì đi tìm vợ. Tiền bạc đem theo tiêu xài hết, Trọng Cao đành phải đi ăn xin.
Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, thì hai bên nhận ra nhau. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà. Hai người kể chuyện cho nhau và Thị Nhi tỏ lòng ân hận. Sợ Phạm Lang vể bắt gặp, Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trốn trong đống rơm ngoài vườn.
Phạm Lang, ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra, nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết liền nhảy vào đống rơm đang cháy theo chồng. Phạm Lang thấy vợ chết cũng nhảy vào đống rơm đang cháy chết theo vợ.
Linh hồn của ba vị được đưa lên Thượng Đế. Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa nên phong làm Táo Quân. Táo là bếp. Táo Quân là Ông Bếp.
 
Ngày nay bếp đun bằng ga, bằng điện. Còn ngày xưa đun bằng rơm, bằng củi. Bếp được xếp đặt bằng ba hòn đất, bằng cái kiềng ba chân. Ngày xưa mọi sinh hoạt trong gia đình đều ở trong bếp. Bếp tượng trưng cho tình cảm gia đình. Ngày Tết cả gia đình ngồi quây quẩn, nấu bánh chưng, bánh tét. Ngọn lửa sửa ấm cho cả gia đình.
BTM : Chẳng có tình cảm nào bằng tình cảm gia đình. Có đi xa mới cảm nhận được. Nhưng gìn giữ cho trọn vẹn thât là gian truân. Trọng Cao và Thị Nhi giận dỗi bỏ nhau.
Người đồng hương Nadarét trong BTM đã giận dỗi với Chúa Giêsu. Chúa trách lòng tin của họ không bằng dân ngoại. Chúa nói : “Vào thời ông Êlia khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà góa ở nước Ítraen, thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà góa thành Xarépta miền Xiđôn. Cũng vậy, vào thời ngôn xứ Êlisa, thiếu gì người phong cùi ở trong nước Ítraen, nhưng người nào được sạch, mà chỉ có ông Naaman, người xứ Xyri thôi” (Lc 4,25-27).
Bđ2 : Trong bđ2 thánh lễ tuần trước, các tín hữu Côrintô cũng ghen tị và chia rẽ nhau. Tháh Phaolô đã kuyên họ nhớ đến phép rửa mà đoàn kết. Thánh nhân viết : “Tất cả chúng ta dầu là Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí, để trở nên một thân thể” (1Cr 12,13).
Còn Bđ2 thánh lễ hôm nay, thánh Phaolô viết Bài Ca Đức Mến, để kêu gọi sự hiệp nhất.
Bđ1 : Bđ1 kể câu chuyện Chúa gọi ông Giêrêmia làm ngôn sứ. Ông sợ dân Do Thái chống lại ông, nhưng Thiên Chúa bảo đảm rằng : “Chúng sẽ giao chiến với ngươi, nhưng sẽ không làm gì được, vì có Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi” (Gr 1,19).
Mặc dầu Trọng Cao và Thị Nhi có lỗi với nhau, nhưng đã nhận lỗi. Ông Trời biết tình nghĩa của ba người, phong ba người làm Ông Táo:
– Phạm Lang làm Thổ Công trông coi việc bếp
– Trọng Cao làm Thổ Địa trông coi việc nhà cửa
– Thị Nhi làm Thổ Kỳ trong coi việc chợ búa.
Hằng năm cứ ngày 23 tháng chạp, ông Táo cỡi cá chép bay lên trời bá cáo mọi sinh hoạt của gia đình, việc tốt cũng như việc xấu.
Chúng ta là người Công giáo chắc chắn gia đình chúng ta làm nhiều viêc lành hơn việc dữ. Ông Táo về trời báo cáo, Thiên Chúa mến yêu ban nhiều ơn lành cho chúng ta.

 

TN4-C105:  Chúa Nhật IV Mùa Thường Niên – Năm C

Thứ năm tuần này, ngày 4-2, là lễ tấn phong Đức cha Mátthêu Nguyễn Văn Khôi phó giám mục Qui TN4-C105

Thứ năm tuần này, ngày 4-2, là lễ tấn phong Đức cha Mátthêu Nguyễn Văn Khôi phó giám mục Qui Nhơn. Đức cha sinh tại Gò Thị.
Giáo xứ Gò Thị là nơi cha Buzomi sáng lập. Năm 1617 các sư đổ vạ tại cha thần phật đã phạt hạn hán, quan Vĩnh Điện khuyên cha tạm lánh khỏi Hội An. Cha xuống thuyền về Macao. Thuyền cha bị dạt vào bờ. Giáo dân muốn đem cha về nhà chăm sóc, nhưng người lương dọa giết, cha phải trốn trong rừng và bị bệnh. Ông quan Qui Nhơn ra Vĩnh Điện có việc, gặp cha, đem cha về Gò Thị chữa bệnh và xây nhà thờ cho cha.
Gò Thị là nơi đầu tiên ở Qui Nhơn đón nhận hạt giồng Tin Mừng. Gò Thị là Tòa Giam Mục của Đức cha Cuenot Thể. Đặc biệt Gò Thị là quê hương của thánh tử đạo Anrê Nguyễn Kim Thông.
Thánh Anrê Kim Thông là ông câu, người Bắc gọi là ông chánh trương, của Đức cha Cuenot Thể. Thánh nhân có lòng mến, lòng thương người. Bất luận là giáo hay lương, ai thiếu thốn đều được thánh nhân sẵn sàng giúp đỡ.
Người cháu tên là Út, rượu chè cờ bạc, bị thánh nhân quở mắng, đã viết thư tố cáo. Thánh nhân bị bắt và bị lưu đày vào Vĩnh Long. Tới Mỹ Tho thì kiệt sức và qua đời ngày 15-7-1855 được 65 tuổi. Thi hài được chôn tại nhà thờ Cái Nhum. Sau được cải táng đem về Gò Thị.
Bđ2 : Bđ2 hôm nay là “Bài Ca Đức Mến”. Thánh Phaolô viết bài ca này gửi cho cộng đoàn Côrintô, một thành phố cảng của người Hy Lạp. Trong cuộc hành trình truyền giáo lần II, thánh Phaolô đem hạt giống Tin Mừng gieo vãi ở đây vào năm 30 và ngài ở lại đây 18 tháng.
Thánh Phaolô kể 4 sự trổi vượt của Đức Mến :
1- Đức mến trổi vượt hơn ơn nói các thứ tiếng
2- Đức mến trổi vượt hơn ơn hiểu biết mọi bí nhiệm cao siêu,
3- Đức mến trổi vượt hơn đức tin chuyển núi dời non,
4- Đức mến trổi vượt hơn việc đem hết gia tài bố thí hay thiêu đốt thân xác.
Rồi thánh Phaolô kể 15 đặc điểm của Đức Mến :
1- Đức mến nhẫn nhục,
2- Đức mến hiền hậu,
3- Đức mến không ghen tương,
4- Đức mến không vênh vang,
5- Đức mến không tự đắc,
6- Đức mến không làm điều bất chính,
7- Đức mến không tìm tư lợi,
8- Đức mến không nóng giận,
9- Đức mến không nuôi hận thù,
10- Đức mến không mừng khi thấy sự gian ác,
11- Đức mến vui khi thấy điều chân thật,
12- Đức mến tha thứ tất cả,
13- Đức mến tin tưởng tất cả
14- Đức mến hy vọng tất cả
15- Đức mến chịu đựng tất cả.
Cuối cùng thanh Phaolô so sánh với đức tin, đức cậy, thì chỉ có đức mến tồn tại sau khi chết.
Xin thánh Anrê Kim Thông cầu cho chúng ta được lòng mến, lòng thương yêu.

 

TN4-C106:  CN.4.TN.C

28-1-2007
 

Báo “Tuổi Trẻ Cuối Tuần” hôm nay, ngày 28-1-2007, đã dành ngay trang bìa đăng hình “Cha Pierre” TN4-C106

Báo “Tuổi Trẻ Cuối Tuần” hôm nay, ngày 28-1-2007, đã dành ngay trang bìa đăng hình “Cha Pierre” cùng với cái tít lớn : “Linh mục Pierre, một cuộc đời vì người nghèo”, và dành những trang đầu của tờ báo để viết về cuộc đời cha Pierre. Một tờ báo đời viết về một ông cố đạo. Thật là đặc biệt hiếm có !
Trong khi đó theo báo CG&DT số chúa nhật 28-1 này, thì báo “Người Lao Động” cũng số chúa nhật, song khác ngày, ngày 7-1-2007, trước “Tuổi Trẻ Cuối Tuần” 21 ngày, đã phỉ báng cha Đắc Lộ, người biến chữ nho thành chữ quốc ngữ mà cả dân tộc đang dùng. Không những có công với Giáo Hội Công Giáo VN, mà cha còn có công với nước VN. Vì thế, người ta đã đắp tượng ngài để ở Văn Miếu Hà Nội và lấy tên ngài đặt tên cho một con đường sau dinh Thống Nhất bây giờ.
Cha Pierre sinh năm 1912 tại Pháp. Ngài đã làm việc từ thiện ngay từ nhỏ. Đầu tiên ngài cùng với cha mẹ và phong trào “Thăm Viếng Bệnh Nhân” đến các bệnh viện. Rồi ngài tham gia vào hội “Hớt Tóc” cho người nghèo. Ngài muốn đi tu để dành cuộc đời cho người nghèo. Đến năm 16 tuổi ngài mới được dòng Phanxicô đón nhận. Ngài được khấn lần đầu năm 19 tuổi. Được thừa hưởng một phần tài sản do cha mẹ để lại, ngài đã biếu cho các hội từ thiện. Năm 26 tuổi ngài thụ phong linh mục. Năm sau ngài bị  gọi đi quân dịch để đánh lại quân Đức xâm lăng nước Pháp. Nước Pháp thất thủ, ngài tham gia kháng chiến, lấy bí danh là “Cha Pierre”. Từ đó ngài mãi mang tên này. Năm 1942, ngài tổ chức cho vợ chồng người em trai út của tướng De Gaulle vượt biên sang Thụy Sĩ. Năm 1944 ngài bị quân Đức bắt và bị giam trong tù. Ngài trốn tù chạy sang Tây Ban Nha, rồi sang Argentina gia nhập lực lượng kháng chiến của tướng De Gaulle.
Thế chiến thứ II chấm dứt, nước Pháp được giải phóng. Ngài lập hội “Emmaus” qui tụ những người nhặt “ve chai” thành những thợ hồ xây dựng nhà cho những người vô gia cư, không có nhà ở. Sau này hội thành hội từ thiện giúp những người nghèo. Hội gây qũi bằng cách đi bới các thùng rác, lượm nhặt bất cứ thứ gì có thể bán được.
Các cộng đồng Emmaus cho tới nay được thiết lập trên 41 nước. Tiếng tăm ngài được biết khắp thế giới. Tổng thống Mỹ Eisenhower mời ngài sang Mỹ. Quốc vương Marốc mời ngài sang để tư vấn cho việc xây nhà cho những người nghèo ở nông thôn. Năm 1956 thủ tướng Nehru Ấn Độ mời ngài sang giúp ý kiến trong việc cải cách nông thôn. Năm 1958 ngài giúp nước Pêru trong việc giáo dục người nghèo. Từ Peru ngài sang Côlômbia hỗ trợ cho phong trào “linh mục thợ”. Năm 1959 cha sang Ecuquador để yêu cầu Giáo hội đừng xây dựng những ngôi nhà thờ đồ sộ trong vùng đồng bào nghèo. Năm 1985 ngài tổ chức những “quán cơm tình thương”. Năm 1988 ngài xin Qũi Tiền Tệ Quốc Tế tha nợ cho các nước nghèo.
Tổng thống Pháp Chirac đã gọi cha Pierre là “Linh hồn quảng đại của nước Pháp” và năm 1988 khi cha 70 tuổi, tổng thống trao tặng huân chương cao qúi nhất của nước Pháp là “Bảo Quốc Huân Chương”. Nhưng vì chính phủ Pháp chậm trễ trong việc giải quyết nhà cho người nghèo, năm 1992 cha Pierre đã trả lại huân chương cho tổng thống. Và sau này tổng thống trao tặng lại huân chương cho ngài.
Năm 1989 Đức Cố Giáo hòang Gioan-Phaolô II sang Pháp đã mời cha ngồi bên phải.
Suốt đời cha Pierre sống chung với người nghèo, khi thì ngủ trên đường phố, khi thì ngủ ở dưới hầm cầu, các bến xe. Bất cử ở đâu có người nghèo là có sự hiện diện của cha.
Nước Pháp đã 17 lần bầu cha là người “nước Pháp yêu mến nhất”.
Năm 1988 được 70 tuổi, cha về nhà dòng để chuẩn bị chết. Cha qua đời  ngày 22-1-2007, mới cách đây một tuần, thọ 95 tuổi.
Thánh lễ an táng của cha là lễ quốc táng ở nhà thờ chính tòa Pari. Tổng thống Pháp đã phát biểu : “ Sự ra đi vĩnh viễn của cha Pierre làm cho tòan thể nước Pháp xúc động tận đáy con tim. Nước Pháp mất đi một khuôn mặt vĩ đại, một lương tâm ngay chính, một tấm lòng nhân ái cao cả.
Cuộc đời cha Pierre phản ảnh tinh thần “bài ca đức mến” của thánh Phaolô trong bđ2 thánh lễ hôm nay. Còn bài ca nào ca ngợi lòng mến bằng bài ca của thánh Phaolô. Chúng ta hãy nghe những lời ca ngợi của thánh Phaolô : “Gỉa như tôi có nói được các thứ tiếng của lòai người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chụm chọe xoang xỏang. Gỉa như tôi được ơn nói tiên tri…hay có được đức tin chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Gỉa như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1Cr 13,1-3).
Tiếp theo thánh Phaolô đưa ra 15 yếu tố làm nên đức mến : “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.
Cuối cùng thánh Phaolô nói lên tầm quan trọng của đức mến : “Đức mến không bao giờ mất được…Đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1Cr, 13,8.13).
Cám ơn Chúa đã cho chúng ta những con người sống đức mến như cha Pierre, hay như những con heo đất nhỏ bé của nhà thờ chúng ta.

 

TN4-C107: CN.4 TN-C

1-2-2004
 

Câu chuyện Chúa Giêsu về Nadarét, quê quán của mình, được tường thuật trong cả ba sách Tin TN4-C107

Câu chuyện Chúa Giêsu về Nadarét, quê quán của mình, được tường thuật trong cả ba sách Tin Mừng thánh Matthêu, thánh Maccô và thánh Luca, nhưng sách thánh Luca dài hơn. Bà Monique Piettre cho rằng : Chúa Giêsu về quê hương không chỉ một lần, mà là hai lần. Bài tường thuật của thánh Luca đã gộp cả hai lần làm một (Comprendre La Parole. C, p.192). Vì thế Giáo hội đã chia đọc 2 Chúa nhật : Chúa nhật trước là lần về thứ nhất, lần “vinh qui bái tổ”, dân làng ca tụng, ngợi khen. Chúa nhật này là lần về thứ hai, lần về thứ hai này bị dân làng ghen ghét, chống đối. Bị ghen ghét, chống đối, đó chính là thân phận của những người làm việc cho Chúa trong mọi thời, thời ngôn sứ  Giê-rê-mi-a cũng như thời Chúa Giêsu, thời các thừa sai Việt Nam, và cả thời nay.
 
Bài đọc 1 : Bđ1 đã mô tả thân phận khổ đau của ngôn sứ  Giêrêmia. Ngôn sứ chào đời quãng năm 650 TCGS tại A-na-thốt, cách Giêrusalem độ 5 cây số. Gia đình ông là tư tế. Năm 24 tuổi, ông được Thiên Chúa gọi làm ngôn sứ. Ông thi hành sứ vụ suốt bốn đời vua liên tiếp, mãi sau biến cố đau thương năm 587 tCGS, thành Giêrusalem bị tàn phá. Cuối cùng ông bị một nhóm qúa khích lôi sang Ai Cập và chết tại đó. Sách “Các Ngôn Sứ” của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ viết như sau : “Tính tình ông dịu dàng và nhạy cảm, vậy mà ông được gọi để nhổ, để lật, để hủy, để phá (1,10). Thích yên hàn mà cứ phải đấu tranh, để cho người ta chống đối, cho cả nước gây gỗ với mình (15,10). Yêu quê hương, yêu đất nước, mà không được cầu nguyện cho đồng bào (14,11), cứ phải cổ vũ sự thần phục ngoại bang, để bị lên án là kẻ phản quốc (20,8; 38,4)…Ông phải sống như một kẻ đơn chiếc nhất trên đời, luôn phải ngồi riêng một mình (15,17). Đúng là một thảm kịch !…Ông phàn nàn với Chúa : Tại sao con cứ phải khổ hoài ? (15,18)… Nhưng tất cả chỉ đơn giản để nói rằng : cuộc đời ông bị xâu xé bởi một sứ mệnh mà ông không thoái thác được” (1996, trang 224).
 
Bài Tin Mừng : Và nay đến lượt Chúa Giêsu. Họ chống đối Chúa. Thánh Luca kể ở cuối bài TM : “Mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi người ra khỏi thành – thành này được xây trên núi – Họ kéo người lên tận đỉnh núi, để xô người xuống vực” (4,28-29).
Trong khi thánh Mátthêu và thánh Luca ghi lại lời Chúa Giêsu : “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình (4,24), thì thánh Máccô lại ghi : “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi” (Mc 6,4). Đối với thánh Máccô, không chỉ  người đồng hương, mà cả gia đình bà con thân thuộc cũng chống đối, khinh rẻ.
Tại sao người đồng hương Nadarét và bà con Chúa Giêsu đi ngược lại với câu người ta thường nói “một người làm quan cả họ được nhờ” ?
Cha Brown, nhà Thánh Kinh nổi tiếng của Mỹ, viết : “Đế cắt nghĩa tại sao Chúa Giêsu Nadarét trải qua phần lớn cuộc đời rao giảng tại Caphácnaum, thánh Luca bắt đầu kể câu chuyện “Người Nadarét từ khước Chúa Giêsu”. Vì thế câu chuyện đã được kể đầu đời họat động; còn ở sách thánh Máccô và thánh Mátthêu được kể muộn hơn” (An Introduction To The New Testament, p.237).
Cha Karris thì cho rằng : “Đề tài ‘Ngôn sứ bị từ khước’ làm nổi bật lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa là Người vẫn tiếp tục gửi các ngôn sứ đến với dân phản loạn” (The New Jerome Biblical Caommentary, p.690).
Lý do của ông Samuel Abogunrin là : “Một vài người nghe Chúa Giêsu giảng thì thán phục, còn phần đông thì tự hỏi : ‘Ông ta nghĩ ông ta là ai, là Đấng Mesia phải không ?’. Họ không thể chấp nhận Chúa Giêsu là Đấng Mesia, nhất là Ngài không làm phép lạ nào. Chúa Giêsu là con thánh Giuse thợ mộc, Mẹ Ngài và anh em Ngài cũng có mặt ở hội đường đây, làm sao Chúa Giêsu có thể là Đấng Mêsia được ?” (The International Bible Commentary,p.1382).
Cha Hoàng Đắc Ánh cũng đồng quan điểm : “Họ lại thắc mắc, vì Đức Giêsu cùng quê với họ là Nadarét, mà làng Nadarét có gì đáng nói đâu ? Thứ đến Đức Giêsu lại thuộc giới lao động tay  chân” (Tin Mừng theo Thánh Luca, tr.98).
Còn cha Noel Quesson cũng cho là vì lý lịch tầm thường : “Cảm tưởng đầu tiên là người lấy làm hài lòng về giáo huấn của Chúa Giêsu, nhưng rồi người ta không chấp nhận, vì Người tầm thường, chả là gì, chỉ  là “con ông Giuse thợ mộc” (Parole De Dieu, p.161)
Ông William Barclay, nhà Kinh Thánh Anh giáo, thì cho là : “Điều làm cho dân làng giận dữ là lời khen ngợi dân ngoại của Chúa Giêsu. Người Do Thái vẫn coi  mình là dân Thiên Chúa và họ kinh dể các dân tộc khác. Họ nghĩ rằng : “Thiên Chúa dựng nên dân ngoại để làm dầu đốt hỏa ngục”. Thế mà ở đây chàng thanh niên trẻ tuổi Giêsu lại cả gan giảng: dân ngoại được Thiên Chúa yêu thương đặc biệt. Từ đầu đến cuối bài giảng là những gì họ chưa bao giờ nghe” (The Gospel of Luke, p.48).
Từ ngôn sứ Giêrêmia đến Chúa Giêsu và rồi đến các nhà truyền giáo đầu tiên của Giáo hội Việt Nam, tất cả đều gặp chống đối, loại bỏ.
Từ Macao, sau 12 ngày vượt biển, hai cha Buzomi, người Ý và cha Cavalho, người Bồ, cùng hai thầy trợ sĩ José và Paolo, người Nhật, dòng Tên, đến Đà Nẵng ngày 18-1-1615. Lễ phục sinh năm đó, các cha đã rửa tội được 10 người, 10 bông qua đầu mùa. Năm 1616 cha Cavalho trở về để sang Nhật và cha đã được phúc tử đạo tại đó ngày 24-2-1624. Thay cha Cavalho là cha Fernandes, người Bồ. Cánh đồng truyền giáo ngày càng chín vàng, năm sau, năm 1617, bề  trên dòng Tên ở Macao gửi thêm hai cha Francisco de Pina và Francisco Barreto và một thầy trợ sĩ Dias. Đước mấy tháng hai cha Fernandes và Barreto được sai sang Campuchia, chỉ còn hai cha Buzomi và Pina cùng các thầy trợ sĩ.
Mùa thu năm 1617, sau hai năm tới Đà Nẵng, trời hạn hán. Các sư tổ chức lễ cầu mưa, nhưng trời vẫn không mưa. Các sư cho rằng trời hạn hán là vì các thần nổi giận, thấy dân chúng theo đạo mới mà bỏ không đi chùa chiền, nên phải đuổi các cha các thầy đi, thì các thần mới hết giận mà cho mưa xuống. Dân chúng tin theo, kéo đến đòi chúa Sãi phải đuổi các cha các thầy đi. Chúa Sãi mời các ngài tới và nói rằng : ông vẫn qúi mến các ngài, nhưng để xoa dịu lòng giận dữ của dân chúng, xin các ngài ra đi khỏi nước. Các ngài xuống thuyền về Macao. Thuyền ra khơi chẳng may gặp bão dạt vào bờ. Các ngài không dám ra mặt phải trốn vào rừng, sống lén lút khổ sở. Cha Buzomi bị đau nặng gần chết. Giáo dân muốn đem về  nhà chữa chạy, nhưng người ngoại dọa giết. Chinh lúc tưởng như  bó tay tuyệt vọng, thì Chúa đến cứu. Quan Qui Nhơn đi ra Huế có việc, khi về đã đem cha Buzomi và thầy Dias về Qui Nhơn; còn cha Pina và hai thầy Jose, Paolo được người Nhật đem về nhà của họ ở Hội An.
Trong cái rủi có cái may. Cha Buzomi được quan trấn Qui Nhơn rất thương. Tháng 7-1618 quan trấn làm cho cha và thầy một ngôi nhà gỗ rộng rãi tại Nước Mặn, tức Gò Thị ngày nay. Rồi ông dùng voi đưa các ngài đến ở. Cha được tự do giảng đạo. Thỉnh thoảng quan trấn còn sai người đem thực phẩm đến cho các ngài, không để các ngài thiếu thốn. Hơn nữa ông sai 1000 thợ khiêng cột kèo đã làm sẵn dựng cho các ngài một nhà thờ. Chỉ trong một ngày đã dựng xong ngôi thánh đường đầu tiên ở Qui Nhơn.
Sau một năm quan trấn bị bệnh qua đời. Trước khi qua đời, quan đã được cha Buzomi rửa tội. Quan qua đời, cha Buzomi và thầy sợ các sư sẽ phao tin rằng : vì quan thương các ngài, nên Trời Phật đã phạt quan chết. Thật là may, Ông Đề là con cả của quan vẫn thương cha và thầy. Thấy con của quan thương, các sư không dám phao tin đồn. Trong đám tang, các ngài đã tới nhà quan phúng điếu. Ông Đề còn cho voi chở các ngài về.
Qua ba bài đọc của thánh lễ hôm nay, người tông đồ, người làm việc cho Chúa, cho nhà Chúa luôn luôn gặp đau khổ. Chính Chúa Giêsu cũng đã lặp lại lời thánh vịnh : “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây phải thiệt vào thân” (Ga 2,17). Qủa thật vì Chúa, vì đồng loại mà người tông đồ phải thiệt thân.
Tóm lại vì yêu, như thánh Phaolô viết trong bài đọc 2 : “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả” (1Cr 13,4-6).
Linh mục Nguyễn Trung Thành

 

TN4-C108: HÃY NHƯ ĐỨC GIÊSU

Những nét vẽ đơn giản, minh họa hình ảnh cô gái, chàng trai, kèm theo những dòng chữ theo mẫu TN4-C108

Những nét vẽ đơn giản, minh họa hình ảnh cô gái, chàng trai, kèm theo những dòng chữ theo mẫu câu: “Đây là… Hãy như…” đang làm đảo điên dân mạng. Đây là trò xuất phát từ nước ngoài, có tên gọi là “Be like Bill” ( Hãy như Bill ). Trên khắp các diễn đàn, trang mạng xã hội, hình ảnh về trào lưu này được chia sẻ rất nhiều. Ngay sau khi xuất hiện, dân mạng khắp nơi, trong đó có Việt Nam liền hưởng ứng nhiệt tình. Nhất là khi Trần Hoàng ( hay còn được gọi là Hoàng Downy, 24 tuổi, cựu sinh viên Trường Đại Học Ngoại thương Hà Nội ) “việt hóa” bộ ảnh “Be like Bill” thì trào lưu này ngày càng lan rộng, khiến dân mạng thích thú.
Trong loạt ảnh của Hoàng Downy, chàng trai này đã sử dụng những câu từ hài hước, dí dỏm để chọc cười người khác. Có thể kể như: “Đây là Hà. Hà độc thân. Hà vẫn vui vẻ và không than vãn về chuyện không có người yêu. Hà thông minh. Hãy như Hà”. Trong một ảnh khác, chàng trai này viết: “Quốc rất lịch sự. Quốc không gửi tin nhắn trêu chọc người khác. Quốc thường động viên an ủi bạn bè. Quốc là người tốt. Hãy như Quốc”…
Bộ ảnh này đã thu hút hơn 21.000 lượt like và hơn 6.400 lượt chia sẻ trên mạng xã hội. Bên cạnh đó còn thu hút hơn 7.400 bình luận. Dân mạng liên tục “tag” ( đánh dấu ) bạn bè có tên trùng hình ảnh mà Hoàng Downy mô tả để trêu bạn bè. Nhiều thành viên tìm xem và không thấy có tên giống mình trong loạt ảnh đã vội yêu cầu: “Làm tên cho tôi với”, “Còn thiếu tên này nè”… Ngay lập tức Hoàng Downy cập nhật bổ sung. Mọi người nhìn hình, đọc những dòng chữ hài hước và cười ngặt nghẽo. Thành viên Phan Vũ nhận xét: “Đây đúng là trò giúp xả stress. Nhìn mà không thể nhịn cười”. Còn thành viên Quốc Thanh thì bình luận: “Trò này thú vị thật, đọc vui nè”…
Cũng vì trào lưu này gây sốt, nhiều ứng dụng “Đây là… Hãy như…” đã được ra đời như: haychiase.net, appnet.com… thu hút hàng trăm ngàn lượt chơi của các thành viên. Ban đầu chỉ là trò hài hước để trêu đùa bạn bè, sau đó nhiều người đã sáng tạo và biến tấu lại để châm biếm, phản ánh những câu chuyện thời sự.
Với mẫu câu: “Đây là… Hãy như…”, dân mạng áp dụng vào những trường hợp “người tốt việc tốt” chia sẻ để mọi người làm theo như: “Đây là Nhung. Nhung tích cực tham gia các câu lạc bộ tình nguyện. Nhung hay đi từ thiện khắp các vùng miền trên cả nước. Nhung dễ mủi lòng trước các hoàn cảnh khó khăn hơn mình. Nhung không tiêu xài hoang phí, mà dành dụm để giúp đỡ người khác. Nhung là người tốt. Hãy như Nhung”. ( Xuân Phương, Cơn sốt “Hãy như Bill,” Thanhnien.vn ).
Hôm nay Tin Mừng theo Thánh Luca thuật việc Đức Giêsu giảng dạy trong hội đường. Thoạt đầu dân chúng "đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp, thốt ra từ miệng Người". Ai cũng muốn nghe và theo Người, cũng như có thể thiện ý ao ước "Hãy như Đức Giêsu !" Thế nhưng ngay sau đó, khi Người thẳng thừng từ chối, không chiều theo mong muốn của họ, Người liền bị tẩy chay, bị điệu ra ngoài thành, toan bị "xô xuống vực". Nhưng "Người Người băng qua giữa họ mà đi", dẫu rằng Người hết sức bao dung, quảng đại, vâng theo Thánh Ý Chúa Cha và nhân ái đầy lòng thương xót con người.
Bao dung
Họ bảo nhau: “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao ?” Mặc dù dân chúng vừa hết sức thán phục, vừa vui vẻ cảm phục Lời Chúa giảng dạy, nhưng họ liền trở mặt, quay ra bất kính, bất phục Đức Giêsu, vì lòng đầy tràn cố chấp, hẹp hòi, kiêu ngạo và thành kiến.
Vì trở nên bất nhã, miệt thị, mù quáng, tráo trở, họ hoàn toàn không nhận ra Đấng Mêsia đến cứu độ cả nhân loại, mà chỉ nhìn thấy một anh chàng khắc khổ, con ông Giuse thợ mộc bình dị. Họ bất bình, đố kỵ, nhỏ mọn, khi thấy Đức Giêsu từng lẫy lừng rao giảng Tin Mừng và làm những phép lạ rất ngoạn mục, kỳ tài, ở Capharnaum, mà không chịu phô diễn quyền năng ở Nadarét.
Một Giáo Xứ, một công đoàn hưng thịnh, phát triển, truyền giáo, không thể nào khép kín, chỉ biết quy tụ, vui vầy, hiệp nhất các thành viên với nhau, qua các sinh hoạt Phụng Vụ, kinh hạt, lễ lạc, rước xách, hay chỉ chăm lo, giúp đỡ, tương thân, tương ái cho người đồng đạo, đồng môn, cho con chiên trong nhà mà thôi. Như thế cũng không khác dân làng Nadarét bảo thủ, háo danh lợi, nhỏ nhen, cục bộ, ấu trĩ, không dám can đảm thoát ra khỏi cái ghetto chật chội, tù túng, ra ngoài khuôn viên Nhà Thờ, Giáo Xứ, cộng đoàn, để dấn thân đem Tin Mừng đến với lương dân gần xa.
Bản thân Kitô hữu nào thiếu bao dung, thiếu lòng thương xót, thiếu nhân ái với tha nhân, cũng sẽ trở thành những tín đồ cuồng tín, tự cao, tự đại, tự mãn là đạo gốc chánh tông, khép mình vào trong pháo đài, mạo danh đạo đức, thánh thiện, bất khả xâm phạm, cứ mãi ảo tưởng rằng, Thiên Đàng đã dành sẵn cho mình. Vì thế, Đức Giêsu đã phải cực lực lên tiếng cảnh báo, xoá tan ngộ nhận đáng tiếc: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa ! lạy Chúa !" là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” ( Mt 7, 21 ).
Vâng phục
“Người nói với họ: “Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình ! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Capharnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào !” Đức Giêsu thấu suốt tâm tư, nguyện vọng, ước muốn của dân chúng tại đó. Người chẳng ngần ngại vạch trần tư tưởng thầm kín của họ, những sở thích rất dung tục, phàm hèn, những mưu đồ nhạo báng, kích động, khiêu khích, thách đố và xúc phạm.
Người vốn chẳng bao giờ tỏ ra thói mị dân, xu thời, chiều theo thị hiếu phàm nhân, để lấy lòng, mua chuộc sự tôn sùng, khâm phục, tình cảm của người đồng hương, kiếm chút vinh quang phù phiếm. Vì Người luôn dốc lòng vâng phục Thánh Ý Thiên Chúa Cha: Cứu độ toàn thể nhân loại khỏi sự chết đời đời, chứ không dành riêng cho cư dân Nadarét hay Dân Chúa chọn. Như các Ngôn Sứ vĩ đại Êlia và Êlisa, đã chẳng hề tỏ ra ưu ái riêng biệt cho dân Do Thái, mà lại đi cứu giúp bà goá thành Xarépta miền Siđon, hay cứu chữa ông Naaman, người xứ Xyria. Cả hai người may mắn này là dân ngoại nhưng đều biết tin yêu Thiên Chúa. Đức Giêsu đã chúc phúc cho những ai biết lắng nghe và vâng phục Thiên Chúa: “Phúc thay kẻ biết lắng nghe và giữ lời Thiên Chúa” ( Lc 11, 28 ).
Lòng Thương Xót
Phẫn nộ, mê muội, dân chúng muốn sát hại Đức Giêsu, khai trừ Người ra khỏi cộng đồng. “Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành, họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.” Người vẫn bình tĩnh đi giữa dân chúng, vẫn hiện hữu ở giữa mọi người, vẫn quyến luyến, không lìa xa, vẫn thương yêu, chẳng nỡ giận dữ giã biệt, cũng như chẳng hề chống đỡ, đáp trả, kháng cự. Bởi vì “Thiên Chúa là đấng chậm bất bình và giàu lòng thương xót, đã không nỡ bỏ con người” ( Xh 34, 6 ).
Dẫu các Kitô hữu đã được Thanh Tẩy, đều được hiệp nhất với Cây Nho, Đức Giêsu, trở nên chi thể của Người, vẫn không hiếm trường hợp khích bác, lên án khai trừ, loại bỏ lẫn nhau, xa lìa nhau, chỉ vì đụng chạm, lạm dụng, tranh giành tiền của, vật chất, quyền hành, lợi danh. Chỉ vì chạy theo thế gian, kiêu căng, gian manh, đạo đức giả, tà tâm, tà ý mà lạnh lùng khước từ tha nhân, cũng như Lòng Thương Xót vô biên, vô hạn của Thiên Chúa.
Thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Roma hãy sống sao, xứng đáng báo đáp lại Lòng Thương Xót của Thiên Chúa: “Vậy hỡi anh em, nhân vì lòng thương xót của Thiên Chúa, tôi khuyên anh em: hãy hiến dâng thân mình anh em là lễ tế sống, thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa. Ðó là sự thờ phượng thiêng liêng của amh em. Ðừng rập theo đời này, trái lại hãy canh tân lương trí, mà biến hình đổi dạng, làm sao anh em thẩm định được ý Thiên Chúa là gì, thật là tốt lành, thú vị, trọn hảo” ( Rm 12, 1-2 ).
“Nếu con chỉ “giữ đạo”, con chưa canh tân. Ma quỷ muốn đuổi Chúa ra khỏi thế gian và lôi thế giới ra khỏi Chúa. Con phải đem Chúa đến cho thế gian và đưa thế giới về với Chúa.” ( Đường Hy Vọng, số 650 ).
Lạy Chúa Giêsu, xin cứu thoát chúng con khỏi cám dỗ xác thịt nặng nề, hẹp hòi, nhỏ nhen, chỉ tha thiết tìm kiếm vật chất, danh lợi hư ảo, phù vân, để chúng con biết hướng lòng lên Chúa hằng bao dung, khiêm hạ và tràn đầy Lòng Thương Xót, nguồn bình an, niềm vui, hạnh phúc và sự sống muôn đời.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ hoàn toàn xả kỷ, khiêm nhu, vâng phục Thánh Ý Chúa và nhân ái với mọi người, xin dạy chúng con canh tân, biết bỏ mình cho đi, biết sống bao dung, tha thứ, biết đón nhận và phục vụ tha nhân, để được hiệp nhất bền vững trong Con Mẹ. Amen.  
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN4-C109: GHEN GHÉT VÀ ĐỐ KỴ

Sáng thứ 5, ngày 21.1.2016, lễ kính Thánh Anê, trinh nữ tử đạo, Đức Thánh Cha Phanxicô đã TN4-C109

Sáng thứ 5, ngày 21.1.2016, lễ kính Thánh Anê, trinh nữ tử đạo, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cử hành Thánh Lễ tại Nguyện Đường Thánh Marta. Trong bài giảng, Đức Thánh Cha đã chia sẻ về sự ghen ghét và đố kỵ. Người ta có thể dùng lời nói mà giết hại lẫn nhau. Nhưng Thiên Chúa sẽ bảo vệ chúng ta khỏi những tội lỗi xấu xa này.
“Bài đọc một trích sách Samuen thuật lại sự đố kỵ của Saun vua Ítraen, với Đavít. Sau chiến thắng vẻ vang trước người Philitinh, các phụ nữ từ khắp mọi thành của Ítraen kéo ra múa nhảy và ca hát rằng: ‘Vua Saun hạ được hàng ngàn, ông Đavít hàng vạn’. Từ ngày đó, vua Saun nhìn Đavít với con mắt ghen tỵ và hoài nghi. Vua nghi ngờ sau này Đavít sẽ phản bội, và vì thế vua nảy sinh ý định giết Đavít. Nhưng sau đó, vua Saun đã nghe lời khuyên của người con trai mà suy nghĩ lại, không thực hiện ý đồ xấu xa của mình nữa. Ghen ghét là một căn bệnh sẽ dẫn đến sự đố kỵ
Lòng đố kỵ thật xấu xa ! Đó là một thái độ xấu. Sự ghen ghét và lòng đố kỵ phát triển trong lòng người ta như cỏ dại. Nó phát triển và không để cho bất kỳ thứ thảo mộc tốt lành nào có thể mọc lên được nữa. Thứ cỏ dại ấy sẽ khiến tâm hồn người ta ra tối tăm, bệnh hoạn. Nó không để cho con người được bình an nhưng khiến con tim luôn dằn vặt, đau đớn. Một con tim đố kỵ rất có thể dẫn đến mưu sát và chết chóc. Kinh Thánh đã nói rất rõ: Lòng ghen tị tội lỗi đã mang sự chết vào trần gian.
Lòng đố kỵ dẫn đến việc ‘giết’ những người có điều mà mình không có. Nhưng người ấy sẽ luôn đau khổ, vì một con tim ghen ghét và đố kỵ sẽ luôn khổ đau, một sự khổ đau muốn người khác phải chết. Chúng ta không phải đi đâu xa mới có thể thấy những điều này. Rất nhiều lần, trong cộng đoàn của chúng ta, vì ghen ghét, người ta đã giết hại nhau bằng miệng lưỡi và ngôn từ của mình. Khi không thích hay ghen ghét một điều gì đó, người ta bắt đầu xì xầm, bàn tán. Và chính những lời bàn tán đó sẽ giết chết người khác.
Tổng trấn Philatô thật thông minh và nhạy bén vì biết rằng chỉ vì ghen tỵ mà các thượng tế nộp Đức Giêsu. Lòng ghen tỵ – theo cách giải thích của Philatô, một người thông minh nhưng lại không đủ can đảm – chính là điều dẫn đến cái chết của Đức Giêsu. Các thượng tế trao nộp Ngài vì ghen tỵ. Bởi vậy, chúng ta hãy tha thiết xin Chúa giúp chúng ta đừng vì ghen ghét, đố kỵ mà ra tay ‘trao nộp’ những người anh chị em của chúng ta trong cùng một xứ đạo, một cộng đoàn, một xóm làng, khiến họ phải đau khổ và phải chết. Ai cũng có những tội lỗi và thiếu sót, nhưng ai cũng có những nhân đức riêng của mình. Tội lỗi và nhân đức đều có nơi mỗi người. Chúng ta hãy để ý đến nhân đức và đừng giết chết người khác bằng những lời xì xầm bàn tán chỉ vì ghen tương và đố kỵ.” ( x.vietvatican.net ).
Tin Mừng hôm nay kể về những lời xì xầm bàn tán chỉ vì ghen tương và đố kỵ của dân làng Nadaret nên họ muốn giết Đức Giêsu. Đức Giêsu trở về thăm quê nhà. Ngày Sabát, ngày lễ nghỉ hàng tuần, dân làng đến hội đường nghe đọc Sách Thánh và hát Thánh Ca từ 9 giờ đến 12 giờ trưa.
Đức Giêsu và các môn đệ cùng tiến vào hội đường cầu nguyện. Đọc sách Luật và Thánh Vịnh xong, Đức Giêsu đăng đàn giảng thuyết như một Tín Hữu tham dự vào chức Tư Tế. Vẻ uy nghi trang trọng của Ngài khác thường. Gương mặt Ngài luôn tỏa ra nét dịu hiền, mến yêu, đầy thiện cảm. Giọng nói tự nhiên của Ngài càng hấp dẫn dân chúng hơn. Ý tứ Ngài trình bày đơn sơ trong sáng hợp với tâm trí mọi người. Họ cảm thấy thấm thía sự kỳ diệu của nước Thiên Chúa. Họ cảm nhận lòng nhân ái Chúa Cha trên Trời. Họ cảm phục về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Đức Giêsu đòi hỏi mọi người phải sống thương yêu nhau như anh em ruột thịt. Họ ngạc nhiên thì thầm với nhau: “Bởi đâu ông ta được như thế ? Sao ông ta được khôn ngoan như vậy ? Ông ta làm được nhiều phép lạ, như thế nghĩa là gì ?
Họ chẳng biết sự khôn ngoan và quyền phép của Đức Giêsu bởi đâu ? Họ xì xầm về nguồn gốc chỉ thấy: “Mẹ ông là bà Maria, anh em họ hàng là Giacôbê, Giosuê, Giuđa và Simon”. Tất cả bà con lối xóm đều coi ông như bạn bè từ gần 30 năm nay ở Nadarét này, một thôn ấp nhỏ bé chỉ có độ 150 gia đình nghèo nàn, tối tăm, mấy ai quan tâm đâu. Ông ấy lại là bác thợ mộc, con nhà lao động, làm thuê làm mướn, lang thang từ nhà này sang nhà khác, đóng bàn sửa ghế, ráp giường ghép tủ, đục đẽo cày bừa, thành phần địa vị thấp kém trong xã hội. Có bao giờ thấy ông ấy nói năng, làm được gì hay lạ đâu ? Ông ta bỏ quê nhà đi lang thang mấy tháng, nay trở về, sao thay đổi nhanh như thế !?! Một quá khứ và hiện tại như thế đã khiến họ vấp phạm. Họ không tin Ngài là một Ngôn Sứ, lại càng không thể tin Ngài là Mêsia, và chắc chắn họ chẳng bao giờ dám nghĩ rằng mình là người đồng hương với Ngôi Hai Con Thiên Chúa.
Để cảnh tỉnh họ, Đức Giêsu chỉ cho họ thấy chỉ vì tổ tiên họ ngày trước đã không đón nhận các ngôn sứ Thiên Chúa gửi đến nên đã đánh mất những ân huệ lớn lao. Cụ thể là vào thời ngôn sứ Êlia, khi trời hạn hạn suốt ba năm sáu tháng, dân Itraen phải lâm vào cơn đói khát trầm trọng, vậy mà ngôn sứ Êlia được sai đến, không phải để cứu giúp các bà goá trong dân Ítraen thời đó, mà là để cứu đói cho hai mẹ con bà goá ngoại giáo nghèo khổ thành Xarépta, miền Xiđôn.
Một sự kiện khác tương tự là vào thời Ngôn Sứ Êlisa, đang khi có nhiều người phong cùi trong  dân Itraen cần được cứu chữa, thế mà không ai trong bọn họ được vị ngôn sứ chữa lành, ngoại trừ tướng Naaman ngoại giáo, người nước Syri. Thế nhưng, những lời cảnh tỉnh của Đức Giêsu không làm cho họ tỉnh ngộ, trái lại càng khiến họ oán ghét Ngài. Họ nhất tề đứng dậy, xông vào túm lấy Ngài, lôi ra khỏi hội đường rồi kéo ra khỏi thành, kéo lên tận đỉnh núi, để xô xuống vực cho nát thịt tan xương.
Lòng đố kỵ ganh ghét thật khủng khiếp ! Đức Giêsu trở thành nạn nhân của “chủ nghĩa lý lịch”. Mc. Kenzie nói: Người có tình yêu nhìn bằng viễn vọng kính, còn người định kiến hẹp hòi nhìn bằng kính hiển vi. Sự kiện này là khởi điểm những thử thách gian nan và cái chết đang chờ đợi Đức Giêsu trong những tháng ngày sắp tới.
Còn Đức Giêsu thì luôn âm thầm, kiên nhẫn, nhỏ nhẹ nói với họ bằng câu ngạn ngữ: “Không ai là tiên tri cho xứ sở mình”. Một câu chuyện quen thuộc nhưng đáng buồn “Ngôn sứ không được quê hương mình chấp nhận”. Đức Giêsu thật ngạc nhiên vì thấy họ không tin. Ngài rất muốn giúp đỡ họ nhưng cũng đành phải bó tay. Họ chỉ biết nhìn Ngài theo lối nhìn bên ngoài đầy thành kiến, chẳng thấy được những điều sâu lắng bên trong, những cái tinh thần cao thượng, những mầu nhiệm thiêng liêng chân thật. Chính những điều sâu xa bí ẩn mới làm ích rất lớn cho con người. Chính những chất màu mỡ nằm ẩn trong đất mới làm cho cây trái, hoa mầu trổ sinh tươi tốt, đâm chồi nẩy lộc, nuôi sống muôn người, muôn vật. Chính những kho tàng nằm sâu trong lòng đất, như mỏ dầu, mỏ vàng, mỏ bạc, đồng, sắt, kim cương, đá quý mới là nguồn tài nguyên phong phú giúp phát triển nền văn minh nhân loại. Chính những tài năng thượng đẳng, thiêng liêng trong con người như: tinh thần tự do, trí khôn sáng suốt, ý chí mạnh mẽ, tình cảm nhân từ mới có sức thăng tiến con người hơn chân tay, mắt mũi. Thế nhưng loài người vẫn thích thờ bò vàng óng ánh hơn thờ Thiên Chúa siêu việt.
Chuyện ngày xưa cũng như chuyện ngày nay. Rất nhiều khi chúng ta phán đoán giá trị lời nói của một người dựa trên bằng cấp, sự giàu có, uy tín của họ nhiều hơn là dựa vào sự hợp lý, tính chính xác của câu nói ấy. Hễ ai có chức có quyền, có địa vị, có của cải, có học vấn mà nói thì ta cho rằng họ nói đúng. Còn ai nghèo nàn, rách rưới, thấp cổ bé miệng, ít học mà nói thì ta cho rằng họ nói sai hoặc chẳng có giá trị gì. Chính vì tâm lý sai lạc này mà các ngôn sứ giả thường được người đời ưu đãi, còn ngôn sứ thật thì thường bị bạc đãi ( x. Lc 6, 23.26 ). Lối hành xử như vậy là coi trọng của cải, tiền bạc, chức quyền, địa vị chứ không phải là người coi trọng chân lý, công lý và tình thương. Thực ra, một điều sai trái, dù kẻ nói ra có quyền thế, học vấn hay giàu sang tới đâu thì cũng vẫn là sai trái. Còn một điều đúng, thì dù người nói ra một đứa trẻ, một người nghèo thì cũng vẫn là đúng. Lời nói sai đâu thể biến thành đúng, hay lời nói đúng đâu thể biến thành sai vì thế giá hay trình độ học vấn của người nói ra câu nói đó.
Đức Giêsu buồn phiền nhưng không cay cú, thất vọng chứ không tức giận. Ngài quyết định đem ánh sáng và quà tặng thần linh đi đến nơi khác.Những người ở làng quê Nagiarét đã để lỡ cơ hội đón tiếp Đấng Cứu Thế. Con Thiên Chúa làm một thường dân đến sống giữa họ mà họ không biết. Họ chỉ biết đó là con ông thợ mộc Giuse. Họ chỉ biết gia đình Ngài rất nghèo, chẳng có danh giá gì trong làng. Họ coi thường Ngài. Họ không tin Ngài. Họ hất hủi Ngài. Họ đã để lỡ cơ hội nghìn năm một thuở. Đức Giêsu không làm một phép lạ nào ở đó. Ngài bỏ Nadarét đi đến các làng chung quanh. Và Ngài sẽ chẳng bao giờ trở lại Nadarét nữa. Một cơ hội vàng đã không được đón nhận nên dân làng Nagiarét đánh mất hồng ân vô giá.
Hằng ngày chúng ta cũng đã bỏ lỡ biết bao nhiêu cơ hội như thế. Ta đã bỏ lỡ không tiếp đón Chúa đến thăm khi ta bịt mắt không nhìn thấy những cảnh khổ chung quanh; khi ta bưng tai không nghe những tiếng kêu than khóc lóc; khi ta làm ngơ trước những cảnh ngộ nghiệt ngã, khi ta ngoảnh mặt quay lưng trước những nạn nhân của thiên tai hoạn nạn. Nhất là ta bỏ lỡ không nghe thấy tiếng Chúa cảnh báo để ăn năn sám hối. Chúa đã nhắc nhở ta nhiều lần nhiều cách: qua các vị bề trên; qua các tai nạn; qua lời khuyên của những người thân; qua lời phê phán của những người thù ghét ta… Hôm nay, Chúa còn tiếp tục nhắc nhở. Nếu ta không nghe, biết đâu hôm nay sẽ là lần cuối cùng. Chúa sẽ không bao giờ nhắc nhở nữa. Chúa sẽ bỏ ta mà đi như đã bỏ làng Nadarét và không bao giờ trở lại. Như thế thì thật nguy hiểm cho linh hồn ta. Để nhận biết Chúa, ta phải rèn luyện cho mình một đức tin mạnh mẽ. Ánh mắt đức tin giống như ngọn đèn soi chiếu vào đêm đen giúp ta nhận ra Chúa trong anh em, trong những biến cố Chúa gửi đến. ( Tgm. Ngô Quang Kiệt ).
Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ: “Tôi đã suy nghĩ và tự phản tỉnh nhiều về những điều này khi cầu nguyện. Tôi nhận thấy mình được mời gọi và chắc chắn mọi người cũng được mời gọi phải nhận ra những gì là ghen ghét, đố kỵ trong tâm hồn hình, vì chúng luôn dẫn tới đau khổ và chết chóc, không làm cho người ta vui mừng, hạnh phúc được. Người có lòng ghen ghét, đố kỵ luôn nghĩ rằng những điều tốt lành mà người khác có chống lại họ. Và đó là khởi đầu của bao nhiêu tội lỗi, gian ác khác. Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa giúp chúng ta đừng bao giờ mở con tim mình ra cho những ghen ghét, đố kỵ đi vào, vì chúng chỉ dẫn tới đau khổ và chết chóc mà thôi”.
Cuộc sống sẽ hạnh phúc biết bao khi người ta biết tôn trọng, cảm thông, tha thứ và nâng đỡ nhau. Thay cho lời kết án, ghen tỵ là lời chúc mừng khuyến khích. Thay cho những cái nhìn thiển cẩn hẹp hòi là những cái nhìn nhân ái bao dung. Cuộc sống thật đẹp khi người ta biết nhìn cái tốt nơi nhau, để khen ngợi, để khuyến khích nhau, thay vì nhìn điểm yếu của nhau để kết án, xem thường nhau.
Xin Chúa cho chúng con có một trái tim luôn rộng mở để yêu thương mọi người. Amen.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

TN4-C110: Suy niệm Chúa Nhật IV Thường Niên C

LỜI CHÚA: Lc 4, 21-30

21 Người bắt đầu nói với họ: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe."22 Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người. 23 Người nói với họ: "Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Ca-phác-na-um, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào! "24 Người nói tiếp: "Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình.25 "Thật vậy, tôi nói cho các ông hay: vào thời ông Ê-li-a, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà goá ở trong nước Ít-ra-en;26 thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Xa-rép-ta miền Xi-đôn.27 Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Ê-li-sa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Ít-ra-en, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Na-a-man, người xứ Xy-ri thôi."28 Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ.29 Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành -thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực.30 Nhưng Người băng qua giữa họ mà

SUY NIỆM

 

Cha ông Việt Nam có câu: “gần chùa gọi bụt bằng anh” để nói lên thái độ tầm thường hóa sự thánh TN4-C110

Cha ông Việt Nam có câu: “gần chùa gọi bụt bằng anh” để nói lên thái độ tầm thường hóa sự thánh thiêng của những con người được diễm phúc sống gần cạnh các vị thần thánh, nhưng lại không nhận ra diễm phúc này. Thái độ đó có thể bắt nguồn từ việc đánh giá sai các giá trị của cuộc sống. Coi của cải vật chất như cùng đích của cuộc đời, nên thần thánh chỉ là những vị có trách nhiệm phục vụ cho nhu cầu trần thế, còn giá trị linh thiêng thì hầu như không được quan tâm đến.

Đấy cũng là thái độ của những người đồng hương đối với Chúa Giêsu. Họ không nhận ra hồng phúc họ có được từ một người con cháu, một người anh em,một người bạn sống giữa họ là vị “Thiên Sai”. Họ từ chối không đón nhận sự hiện diện của Chúa như vị Ngôn sứ không phải vì mặc cảm tự ti về sự nhỏ bé nghèo hèn của ngôi làng Nazareth, nhưng là vì sự khát vọng thèm thuồng về một sự thay đổi cuộc sống vật chất từ nghèo hèn đến sang trọng, từ nhỏ bé đến uy dũng, từ vô danh đến sự nổi danh, vâng, họ muốn sự hiện diện của Chúa trở thành hiện tượng mang lại một sự đổi đời cho họ, cho con cháu họ.

Sự chờ đợi đó đã đã làm cho tâm trí họ ra u mê để không thể nào nhận ra con người đích thật của Cháu Giêsu. Lòng họ ra chai đá để không thể mở tai đón nhận lời mang lại sức biến đổi cuộc sống, không phải biến đổi từ nghèo hèn đến nhung lụa, nhưng là từ xa lạ đến bằng hữu, từ bất an đến hòa bình, từ u buồn đến niềm vui, từ thất vọng đến tràn ngập niềm hy vọng. Họ đã đánh mất ân huệ về sự hiện diện của Chúa bên cạnh họ.

Đó không chỉ là thái độ của người đương thời với Chúa Giêsu, thái độ đó còn được tiếp tục bày tỏ trong môi trường sống hôm nay đối với nhiều Kito hữu. Đã không ít người lẩm bẩm kêu ca về việc phải đi lễ vào ngày Chúa nhật: “đi lễ có làm cho gia đình giàu có hơn được không? Nếu không, thì đi lễ làm gì?”. Tệ hơn nữa, thái độ tầm thường hóa sự thánh thiêng trở thành nếp sống trong mối tương giao giữa Kitô hữu với Thiên Chúa, đến nỗi vì một chút danh dự người ta không ngần ngại phá thai, hay là không còn phân biệt đâu là tội và không tội để dễ dàng phạm thánh khi lên rước lễ mà còn sống trong tình trạng rối. Ngoài ra, sự nhận thức về hồng ân đức tin Chúa ban hầu như quá mơ hồ để không đủ can đảm tuyên xưng đức tin trong cuộc sống, dễ dàng thỏa hiệp với việc thờ phượng các ngẫu thần khác. Thái đọ tầm thường hóa sự thánh thiêng dẫn tói một sự lầm lạc về đức tin và dễ dàng đánh mất đức tin.

Lạy Chúa, người đồng hương đương thời  không đón nhận Chúa vì Chúa không làm thỏa mãn những nhu cầu vật chất của họ, xin cho chúng con đừng thể hiện thái độ đánh mất giá trị cao quí  của hồng ân đức tin mà Chúa ban tặng vì những nhu cầu vật chất chóng qua. Trên hết mọi sự, xin cho chúng con luôn cất tiếng tạ ơn vì sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống là niềm vui khôn sánh mà Chúa đã dành để cho chúng con. Amen.

Lm. Antôn Hà Văn Minh


 

TN4-C111: Thân Phận Ngôn Sứ

CN IV TN C
Lm. Giuse Nguyễn
 

Bài “người hành khất”, trong nhật ký truyền giáo của cha Piô Ngô Phúc Hậu kể về việc cha đi TN4-C111

Bài “người hành khất”, trong nhật ký truyền giáo của cha Piô Ngô Phúc Hậu kể về việc cha đi xin tiền cho giáo điểm Năm Căn. Cha nghe nói có một ông giám đốc là người công giáo ở đường Pasteur rất giàu, nên cha mon men đến đó. Thấy cha, ông hỏi “đi đâu vậy ông cha?” Cha vào thẳng vấn đề: “Thưa ông Bảy, con đi truyền giáo ở Năm Căn, thiếu thốn về mọi phương diện. Con đến xin ông Bảy giúp đỡ”.Ông hỏi: “Cha muốn tôi giúp cái gì?” Cha trả lời: “Xin ông Bảy giúp cho chúng con một cái máy Kohler 7”. Ông giám đốc nhún vai theo kiểu tây phương, rồi đi vào hành lang và biến mất trong tòa nhà đồ sộ. Còn cha thì đứng đó, hụt hẫng. Một cái máy Kohler so với ông giám đốc giàu sụ chẳng là gì… Có một giáo dân chia sẻ: “Tội nghiệp các cha, lặn lội xin chỗ này, vay chỗ nọ, mất giờ, mất sức, mất đủ thứ, mà chẳng phải cho mình, toàn cho Họ đạo, cho Giáo hội”… Tất cả âu chỉ là thân phận của ngôn sứ mà thôi.

I. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
Bài Đọc I: Gr 1, 4-5.17-19
Trong bài đọc I, tiên tri Giêrêmia chia sẻ về ơn gọi của mình. Ông luôn xác tín Thiên Chúa đã chọn gọi mình: “Trước khi ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi, Ta thánh hóa ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân” (Gr1, 5). Vì vậy ông luôn trung thành với sứ mạng của mình. Ông sống trong hoàn cảnh đất nước Giuđa bị đế quốc Babylon đe dọa. Nhà vua và triều thần sợ hãi muốn tìm sự cứu giúp của Ai Cập. Còn Giêrêmia thì kêu gọi nhà vua đừng sợ, đừng cậy dựa vào sức mạnh của nước ngoài, mà hãy cậy dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa. Đồng thời mời gọi dân chúng hãy lo sửa đổi cuộc sống, thì chắc chắn Thiên Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi họ. Tuy nhiên lời kêu gọi của Giêrêmia không được nhà vua và dân chúng ủng hộ, ngược lại họ còn xem ông là một tên độc mồm độc miệng và bắt bỏ tù ông. Nhưng ông vẫn trung thành với sứ mạng, vì ông tin tưởng vào Thiên Chúa: “Chúng sẽ giao chiến với ngươi, nhưng sẽ không làm gì được ngươi” (Gr 1, 19)

Tin Mừng: Lc 4, 21-30
Tuần trước Đức Giêsu trở về quê hương của mình. Bài giảng của Ngài đã làm cho nhiều người thích thú. Tuy nhiên họ không chấp nhận Ngài là một tiên tri đơn giản vì:“Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?” (Lc 4, 22). Họ muốn một vị tiên tri theo cái nhìn của họ. Họ thách thức Chúa làm phép lạ: “Những gì ông làm ở Caphacnaum, ông làm tại quê hương ông xem nào!”(Lc 4, 23b). Đức Giêsu không làm theo thách thức của họ. Ngài cho họ biết phép lạ không phải là một màn biểu diễn ngoạn mục mà để bày tỏ tình thương của Thiên Chúa và củng cố lòng tin. Giống như bà góa thành Sarepta thời tiên tri Elia, lúc hạn hán xảy ra trong 3 năm 6 tháng, nhưng hũ bột và bình dầu nhà bà không cạn vì bà đã đón tiếp vị ngôn sứ của Chúa. Hay vào thời của Êlisa, thiếu gì người cùi, nhưng chỉ một mình ông Naaman, người ngoại giáo được khỏi, vì ông tin tưởng vào vị tiên tri của Chúa. Qua đó, Chúa còn muốn cho họ thấy ơn cứu độ của Chúa dành cho mọi người, kể cả người ngoại giáo chứ không dành riêng cho một ai; miễn họ tin tưởng và đón tiếp Chúa. Đỉnh điểm của bài Tin Mừng hôm nay là sự tức giận của dân Do Thái vì Ngài đã không làm theo ý họ. “Họ đứng dậy lôi Người ra khỏi thành” (Lc 4, 29a), tệ hại hơn nữa: “Họ kéo Người lên tận đỉnh núi để xô Người xuống vực” (Lc 4, 29b).
Phụng vụ lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy thân phận của một ngôn sứ là như vậy đó. Người xưa nói một câu xem ra đúng với thân phận của ngôn sứ: “Bạc như dân, bất nhân như lính”. Nhưng cho dù người ta có đối xử tệ bạc với mình, có hất hủi mình, thì một ngôn sứ vẫn phải trung thành với sứ mạng của mình.

II. THÂN PHẬN NGÔN SỨ, THÂN PHẬN MỖI CHÚNG TA
Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, mỗi người chúng ta cũng đã lãnh nhận sứ mạng ngôn sứ, nghĩa là phải nói thay lời Thiên Chúa. Dĩ nhiên chúng ta không thể làm ngôn sứ theo kiểu của Giêrêmia, Isaia, hay Đức Giêsu…, mà chúng ta làm ngôn sứ trong chính cuộc sống của mình, mỗi người một hoàn cảnh khác nhau, nhưng điểm chung là cho mọi người chung quanh biết chân lý, biết sự thật, biết tìm về Chân Thiện Mỹ. Điểm chung nữa đó là chúng ta đều phải mang thân phận của một ngôn sứ, là sẽ gặp khó khăn, nguy hiểm, thậm chí bắt bớ và giết chóc. Giáo hội Việt Nam chúng ta tự hào vì hiện tại có hai bộ hồ sơ phong thánh cho những vị tôi tớ Chúa, đó là ĐHY. Px. Nguyễn Văn Thuận, và cha Phanxicô Trương Bửu Diệp. Các Ngài đã sống sứ mạng ngôn sứ của mình, và vì vậy chúng ta hãy dõi theo tấm gương của các Ngài.
ĐHY. Px. Nguyễn Văn Thuận
Ngài mang thân phận của một ngôn sứ một cách rõ ràng vì Ngài bị bắt, bị cầm tù, trong khi bản thân Ngài chẳng làm gì nên tội. Ngài làm ngôn sứ khi ở trong tù mà vẫn hát những bài thánh ca cho những người cai ngục nghe, vẫn dạy giáo lý cho những cán bộ trại giam, và vẫn viết những lá thư mục vụ cho giáo dân của mình trên những tờ lịch. Ngài ý thức rõ dù ở đâu, làm gì vẫn phải làm ngôn sứ cho Thiên Chúa… Giáo Hội muốn đề cao nhân đức của Ngài nên đã làm hồ sơ tuyên thánh cho Ngài.

Cha Px. Trương Bửu Diệp
Gần chúng ta hơn, có cha Px. Trương Bửu Diệp. Trong thời buổi nhiễu nhương, có người khuyên cha về Bạc Liêu lánh nạn, cha nói “tôi sống với giáo dân của tôi, thì tôi cũng sẽ chết với giáo dân của tôi”. Quả thực như vậy, cha đã bị bắt cùng với một số giao dân của mình. Cha đã mang thân phận ngôn sứ thực sự khi chịu chết thay cho giáo dân của mình. Khi còn sống Ngài làm cho mọi người biết Chúa. Khi đã chết vẫn tiếp tục sứ mạng ngôn sứ qua việc lôi kéo mọi người khắp nơi đến với Ngài, để qua Ngài họ đến với Chúa.

Thân phận chúng ta
Với thân phận ngôn sứ, chúng ta phải trung thành với Bí tích rửa tội mình đã lãnh nhận. Thánh Phaolô đã nhắc các tín hữu của mình: “Anh em hãy kiên vững trong đức tin”. Còn Đức Giêsu thì nói với chúng ta: “Ai bền đỗ đền cùng sẽ được cứu độ”. Đời sống đức tin của chúng ta không phải một ngày một bữa, mà là trọn cả cuộc đời. Vì vậy đừng để mình sống đạo theo tình cảm, vì sẽ có lúc tình cảm nhạt nhòa và chúng ta sẽ không còn sống đạo nữa. Nhưng phải sống đạo bằng thái độ đức tin. Chúng ta biết chúng ta tin vào ai, để rồi chúng ta phó thác cuộc đời chúng ta cho Đấng đó. Khi đã xác tín được như vậy, thì chúng ta sẽ trung thành trong đời sống đức tin, dù cuộc đời chúng ta có như thế nào đi chăng nữa. Đặc biệt với những gia đình gặp khó khăn, hãy nhớ đó là thân phận của ngôn sứ để can đảm chiến đấu cho đến cùng.
Với thân phận ngôn sứ, chúng ta phải biết rao truyền chân lý cho người khác, dù cho chân lý đó không được người khác đón nhận. Chân lý đó chính là tình yêu thương, công bằng, lẽ phải trong cuộc sống. Kitô hữu bị cám dỗ càng ngày càng trở nên giống người khác, kể cả làm những việc sai, miễn là có lợi cho mình. Hãy nhớ kitô là những người có Chúa Kitô, những người rập khuôn cuộc đời mình với Chúa để sẵn sàng vác lấy thập giá hằng ngày.
Tóm lại, phụng vụ lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy thân phận của một ngôn sứ. Họ phải sống và nói theo những gì Chúa chỉ dạy. Và chắc chắn khi sống và nói như vậy họ có thể gặp chống đối, thậm chí phải bỏ mạng, nhưng ngôn vẫn trung thành với nhiệm vụ của mình. Từ đó mời gọi chúng ta ý thức lại thân phận ngôn sứ của mình để trung thành với đức tin mình đã lãnh nhận, và loan truyền đức tin đó qua việc sống đức công bằng trong đời sống chúng ta.
Xin Mẹ Maria giúp chúng con trung thành cho đến chết như Mẹ vẫn hiên ngang bước đi trên con đường thập giá xưa.

 

TN4-C112:  Truyền giáo

Hôm nay đã ứng nghiệm lời tiên tri các ngươi vừa nghe. Nhìn vào cuộc đời của Chúa Giêsu, chúng TN4-C112

Hôm nay đã ứng nghiệm lời tiên tri các ngươi vừa nghe. Nhìn vào cuộc đời của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Ngài đã thực hiện tất cả những gì Cựu ước và nhất là các tiên tri đã nói về Ngài.
Thực vậy, Ngài đã đến cho những người nghèo túng, cho những người đau yếu và cho những người bị bóc lột. Trong suốt quãng đời công khai, Ngài đã cúi xuống xoa dịu mọi khổ đau cũa những người Ngài gặp thấy trên khắp các nẻo đường. Làm sao chúng ta có thể kể hết những phép lạ Ngài đã làm, những lời nói cảm động và những cử chỉ ủi an Ngài đã thực hiện.
Thế nhưng, Ngài không dừng lại ở những thiếu thốn vật chất, ở những khổ đau thân xác, mà Ngài còn đi xa hơn nhữa, tới những thiếu thốn của ơn sủng và những khổ đau của tâm hồn, bởi vì những khổ đau ngoài thân xác chỉ là một phản ảnh, một dấu chỉ của những khổ đau trong tâm hồn.
Chính vì thế, trong khi chữa lành những tật bệnh phần xác, trong khi làm cho người chết sống lại, cũng như trong khi làm cho bánh hóa nhiều, Ngài đã dẫn chúng ta vào một cảnh vực thần linh, vào thế giới siêu nhiên. Ngài muốn giải phóng con tim chúng ta khỏi những trói buộc của tội lỗi. Ngài muốn khủ trừ ảnh hưởng của ma quỉ, cũng như muốn mở cho chúng ta cặp mắt đức tin.
Tuy nhiên, những hành động yêu thương này, không phải chỉ được thực hiện trong ba năm của quãng đời công khai, mà hơn thế nữa, còn được tiếp tục qua dòng thời gian trong Giáo Hội và nhờ Giáo Hội.
Thực vậy, Giáo Hội là hiền thê của Đức Kitô, hay nói một cách mạnh mẽ hơn, Giáo Hội chính là Đức Kitô được kéo dài trong lịch sử. Giáo Hội tiếp nối sứ mạng cứu độ của Đức Kitô. Nhờ các bí tích trong Giáo Hội, Đức Kitô tiếp tục giải phóng chúng ta khỏi những trói buộc của tội lỗi,nuôi sống chúng ta bằng lương thực thần linh và bổ sức cho chúng ta bằng muôn vàn ơn sủng của Ngài.
Nhờ những lời giảng dạy và giáo huấn của Giáo Hội, Đức Kitô tiếp tục truyền thông ánh sáng cho những kẻ còn ngồi trong bóng tối. Thế nhưng, để Giáo Hội hoàn tất được sứ mạng của mình ở trần gian, thì mỗi phần tử, hay nói đúng hơn, mỗi người chúng ta phải ý thức bổn phận truyền giáo, bổn phận làm việc tông đồ, bổn phận góp phần nhỏ bé của của mình trong công cuộc loan báo Tin mừng của Giáo Hội.
Thực vậy, trước khi về trời, Đức Kitô đã phán:
- Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh thần…
Chúng ta cần phải đánh tan một quan niệm sai lạc cho rằng: việc tông đồ truyền giáo là việc riêng của các linh mục, tu sĩ, hay một số người nào đó. Không phải là như vậy. Đây là một trách nhiệm, một bổn phận của mỗi người Kitô hữu, bởi vì đã là chi thể trong nhiệm thể Đức Kitô, chúng ta có trách nhiệm, có bổn phận phải làm cho nhiệm thể ấy lớn mạnh và phát triển.
Nếu không thể đi rao giảng như các thánh tông đồ, như các vị thừa sai, hay như các nhà truyền giáo, thì ít nữa là chúng ta phải sống đức tin, phải làm chứng cho Đức Kitô ngay giữa lòng cuộc đời của mình, bằng một cuộc sống đạo đức và thánh thiện, bác ái va yêu thương, vì:
- Lời nói như gió lung lay,
Việc làm như tay lôi kéo.
Chính gương sáng mới là một bài giảng hùng hồn nhất, có sức hấp dẫn và lôi cuốn những người chung quanh, để rồi dẫn đưa họ trở về cùng Thiên Chúa.
Mỗi người chúng ta phải ý thức bổn phận tông đồ và phải kêu lên như thánh Phaolô:
- Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin mừng.
Mỗi người chúng ta phải ý thức sứ mạng truyền giáo và phải van xin như thánh Phanxicô Xaviê:
- Lạy Chúa, xin ban thêm nữa cho con những linh hồn.
Mỗi người chúng ta phải cố gắng góp phần nhỏ bé vào công cuộc phát triển của Giáo Hội và phải nói được như thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu:
- Nếu như tôi đã vào thiên đàng, mà thấy ở trần gian còn có một linh hồn sắp sa hỏa ngục, thì tôi xin tình nguyện trở lại trần gian để cứu vớt linh hồn ấy.
Mỗi người chúng ta đã đón nhận tình yêu thương của Chúa, thì bây giờ đến lượt chúng ta, chúng ta cũng phải chuyển thông tình yêu thương ấy cho những người chung quanh, như lời Chúa đã dạy:
- Được nhưng không, thì phải cho nhưng không.
Mỗi người chúng ta phải là một Đức Kitô khác, một Đức Kitô thứ hai, hay nói cách cụ thể, phải là một hiện thân, một chứng tá cho Đức Kitô giữa môi trường chúng ta đang sống. Mỗi người chúng ta phải kéo dài sự hiện diện của Đức Kitô trong thời gian và không gian. Mỗi người chúng ta phải tiếp nối những hành động của Đức Kitô bằng cách đem tình thương vào nơi oán thù, đem tha thứ vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm, đem tin kính vào nơi nghi nan, đem trông cậy vào nơi thất vọng, đem ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu…
Ngày kia, khi sắp phải giao tranh một trận quyết liệt, Napoléon đã lên tiếng khuyến dụ các binh sĩ như sau:
- Hỡi anh em chiến hữu, tôi cần đến các bạn.
Giáo Hội cũng đang đứng trước một trận chiến đầy cam go, chống lại ma quỉ, thế gian và tội lỗi, nên đã nói với chúng ta:
- Hỡi các con, ta cần đến các con.
Napoléon kêu gọi các binh sĩ để giết chết những thường dân vô tội, nhưng Giáo Hội kêu gọi chúng ta để cứu vớt những người anh em. Napoléon kêu gọi các binh sĩ để giúp ông được vinh quang, nhưng Giáo Hội kêu gọi chúng ta để làm cho Nước Chúa được trị đến.
Người ta kể lại rằng: khi Ringhoff, một thương gia người Đức, mừng thượng thọ 80 tuổi,rất nhiều người đã gửi lời chúc mừng, trong số đó có ông bộ trưởng công chánh. Lý do: trong thời gian hành nghề, nhà thủy thủ này đã vớt được 120 người khỏi chết đuối.
Cứu thân xác kẻ khác khỏi chết đã là một công việc tốt đẹp, thế nhưng, công việc đó chẳng thể nào so sánh được với công việc của người làm tông đồ, cứu linh hồn kẻ khác khỏi chết, bởi vì chính Chúa sẽ chúc phúc cho họ.
Nếu mỗi người chúng ta đều trung thành với bổn phận tông đồ, thì hẳn lời tiên tri Isaia cũng đã được thực hiện trong thời buổi hôm nay, đó là: Tin mừng được rao giảng cho người nghèo khó, năm hồng ân được công bố và Nước Chúa dã hiện diện giữa chúng ta.
Cầu nguyện
Lạy Chúa, ngày hôm nay Chúa lên tiếng kêu mời chúng con cộng tác với Chúa trong công cuộc truyền bá Tin mừng. Xin cho chúng con bết quảng đại đáp trả tiếng gọi của Chúa. Bằng một đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương, chúng con góp phần nhỏ bé làm cho Danh Chúa được cả sáng, Nước Chúa được trị đến và ý Chúa được chu toàn.

 

TN4-C113: Thân phận ngôn sứ - ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)
 

Một tân Linh mục tự nhiên bộc lộ tâm sự: Bao nhiêu năm làm thầy ở Giáo xứ, người ta coi TN4-C113

Một tân Linh mục tự nhiên bộc lộ tâm sự: Bao nhiêu năm làm thầy ở Giáo xứ, người ta coi thường mình quá! Thế mà chỉ sau một giờ thụ phong Linh Mục, ai ai cũng kính trọng cúi chào và chúc mừng nồng nhiệt.
Một cảm giác thật kỳ diệu!
Nếu Đức Giêsu cũng được tấn phong theo nghi lễ bên ngoài cho người ta trông thấy, chắc chắn sẽ được dân làng Nazareth kính trọng biết bao. Đằng này Đức Giêsu chỉ nói: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh thánh quý vị vừa nghe”. Lời Kinh thánh đó đã được đọc Chúa nhật trước là: “Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi…”. Họ không thấy Thánh thần xức dầu tấn phong người làm Ngôn sứ như Êlia xức dầu tấn phong Êlisê (1V. 19,16), làm Linh mục như Môise xức dầu tấn phong cho Aharon (Lv. 8,13), làm vua như Samuel xức dầu tấn phong cho David (1S. 16,13). Dầu mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp Người đã nói. Họ không tin lời Tiên tri Isaia đã ứng nghiệm nơi Đức Giêsu vì hai lý do:
1) Thứ nhất: “gần chùa gọi bụt bằng anh”.
Họ nói: “Ông này không phải là con Ông Giuse đó sao?” cảm tưởng thán phục về Đức Giêsu thoát chốc biến mất khi họ nhận ra Người là con ông Giuse, con bác thợ mộc vẫn lang thang làm mướn cho hết nhà này cho đến nhà kia. Gần suốt ba mươi năm, Người sống với họ trong một miền quê nghèo nàn nhỏ bé, làm sao có thể bỗng chốc trở thành Ngôn sứ, trở thành vĩ nhân được. Họ đã biết rất rõ nguồn gốc Người thuộc dòng dõi những kẻ tầm thường từ Giuse đến Eli con ông Mátthát, tới ông cụ ông kỵ là dòng dõi Lêvi như thánh Luca đã kể đoạn gia phả (Lc. 3, 23. 24). Và họ đã vấp phạm vì họ quá bám vào thành kiến loài người: “Con Vua thì lại làm Vua. Con bác Sãi Chùa thì quét lá đa”.
Làm sao loài người thoát khỏi những thành kiến nô lệ đó. Họ phải biết rằng: Xưa kia đã có những kẻ mục đồng tầm thường như Saulê, như David đã được tấn phong làm Vua, những bác nông phu đi cầy, đang hái nho như Êlisê, Amos cũng được sai làm Ngôn sứ. Ở Việt Nam cũng có người dân áo vải đã trở nên những vị Vua anh hùng như Lê Lợi, Quang Trung. Nhiều con nhà nghèo cũng được bầu làm Giáo Hoàng như Piô 10, Gioan 23.
Đức Giêsu chẳng những là người dân lao động mà còn có nguồn gốc dòng dõi siêu phàm. Hôm nay Người tỏ ra cho họ biết Người đã thực hiện sứ mệnh siêu phàm đó là cho người nghèo được nghe Tin Mừng, những tâm hồn tan nát được băng bó, người mù được sáng…
Họ cũng đã nghe thấy Người làm ở Caphanaum “cho người què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại” (Mt. 11, 5).
2) Thứ hai, từ coi thường đến thách thức và phẫn nộ:
“Ông cũng hãy làm tại đây, tại quê hương Ông xem nào!”. Đây là một thách thức ghê gớm để thử Người như Satan đã thử Người từ trên nóc đền thờ lao mình xuống đất, như những kẻ đòi Người làm một dấu tạ từ trời (Lc. 11, 16). Họ cũng hy vọng như những kẻ lười biếng, ỷ lại ích kỷ muốn: “Một người làm quan cả họ được nhờ”. Họ muốn Đức Giêsu phải làm cho họ hơn những người khác vì họ đồng hương với Người. Đó là óc gia đình trị, bè đảng trị. Chúng ta cũng giống như những người làng Nazaneth muốn Thiên Chúa giải quyết cho chúng ta mọi vấn đề. Nhưng Thiên Chúa không thiên vị ai. Chỉ những ai thành tâm mến Ngài, trông cậy phó thác và thực thi Thánh ý Ngài, sống theo đường Thánh giá của Đức Giêsu, lúc đó Ngài mới ra tay cứu thoát.
Thấy họ ngạo mạn, ích kỷ vụ lợi như thế, Đức Giêsu đã nói thật về họ. Họ giống như tổ tiên họ thời các tiên tri Êlia và Êlisê.
Trong thời Êlia, nạn đói do hạn hán hoành hành trong ba năm sáu tháng, Thiên Chúa sai Êlia đến cứu giúp bà goá lương dân thành Sarépta, còn bao nhiêu bà nghèo đói khác trong dân Israel lại không được cứu giúp. Tại sao thế? Thưa vì bà góa dân ngoại này đã có lòng thương người biết chia cơm, sẻ nước cho người khách lạ là Êlia, còn các bà dân Israel theo nhà Vua A-kháp và Hoàng Hậu Iza-bel đi cầu khẩn tà thần Ba-al (1V. 16, 30-17,15)
Trong thời Êlisê, bao nhiêu người phong cùi trong dân Israel không đến xin Êlisê, tiên tri của Thiên Chúa cứu chữa, mà chỉ có đại tướng Naaman, người dân ngoại nước Syri, cùng đoàn tùy tùng đông đảo đến nài xin Êlisê cứu và đã nghe lời tiên tri dậy bảo xuống sông Gióc-đan thanh tẩy và đã được khỏi (2V. 5,1-15). Những lời nói thật đó lại làm họ phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành, kéo lên đỉnh đồi, để xô Người xuống vực thẳm. Đáng lý ra, nghe những lời giảng dậy cao siêu lạ lùng đó, họ phải thán phục, kính trọng lãnh nhận để suy niệm. Đáng lý ra, biết Người làm nhiều phép lạ ở Caphanaum, họ phải tin quyền phép Thiên Chúa nơi Người và khiêm tốn cầu xin cứu chữa. Đáng lý ra, khi Người vạch ra cho họ thấy rõ sự thật, họ phải đau đớn ăn năn sám hối, cải thiện để được ơn tha thứ. Nhưng họ lại khinh bỉ, tự ái kiêu căng lao đầu theo dục vọng phẫn nộ điên cuồng của tội ác giết người.
       Ngày nay, Đức Giêsu cũng đang nói với chúng ta những sự thật đó: Những sự thật phũ phàng đang xẩy ra, những nạn kỳ thị khủng khiếp đe dọa tiêu diệt lẫn nhau giữa các nước, các chủng tộc, tôn giáo, giai cấp, trong xóm làng và trong gia đình. Có những người công chính dám nói lên những sự thật đó, đều bị thảm sát như Grandhi ngày 14/01/1948, Luther King ngày 04/04/1968, như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bị sát hại hai lần ngày 13/05/1981 tại Roma và 05/05/1982 tại Tây Ban Nha.
Lời Chúa hôm nay cho thấy: người ta cũng muốn sát hại Đức Giêsu và tiên tri Giêrêmia. Để mỗi người chúng ta, trong gia đình, trong giáo xứ tránh khỏi nạn kỳ thị lẫn nhau, thánh Phaolô trong bài đọc II kêu gọi chúng ta phải sống bác ái theo gương Đức Giêsu: Đem Tin Mừng đến cho nhau, chứ đừng đem sầu khổ ; băng bó những tâm hồn tan nát, chứ đừng đâm bị thóc, chọc bị gạo ; giải thoát cho kẻ bị áp bức, đem ánh sáng Đức Kitô cho kẻ ngồi trong bóng tối tội lỗi ; ban bố hồng ân của Chúa, chứ đừng gieo tai bay vạ gió.
Lạy Chúa, Chúa đã thương chọn mỗi người chúng con làm ngôn sứ của Chúa ngay khi chúng con chịu phép Rửa tội: “Thánh Thần Chúa đã xức dầu chúng con để nhập đoàn dân Người, chúng con mãi mãi làm chi thể của Đức Kitô là tư tế, tiên tri và vương đế đến cõi sống đời đời”. Xin cho chúng con quyết tâm thực thi sứ mệnh cao cả đó, dù có bị phẫn nộ, xô đẩy xuống hố sâu, thì Chúa cũng cho chúng con “băng qua giữa họ mà đi”.
 
 

TN4-C114: Hiến thân làm chứng nhân cho ánh sáng

(Trích trong ‘Suy Niệm Lời Chúa’ – Radio Veritas Asia)
 

Hằng năm, cứ vào ngày thứ 40 sau lễ Giáng sinh, Giáo Hội cử hành lễ dâng Chúa Giêsu trong đền TN4-C114

Hằng năm, cứ vào ngày thứ 40 sau lễ Giáng sinh, Giáo Hội cử hành lễ dâng Chúa Giêsu trong đền thờ cũng gọi là lễ Nến. Các Giáo Hội Tây Âu đã chỉ bắt đầu cử hành ngày lễ này từ thế kỷ thứ VII và thứ VIII trở đi. Trước khi khởi sự thánh lễ có cuộc rước đèn trọng thể, mọi người cầm đèn sáng trong tay tượng trưng cho Chúa Giêsu Kitô là ánh sáng cứu độ hiện diện giữa lòng trần gian tăm tối. Ánh đèn sáng cũng diễn tả ơn đức tin, mà mỗi tín hữu đã nhận lãnh trong bí tích Rửa tội, đồng thời nó cũng diễn tả ơn gọi Kitô, là phản chiếu ánh sáng ơn cứu độ của Chúa trong cuộc sống thường ngày. Ngày nay, trong lễ này, nhiều dòng tu đặc biệt là các dòng tu nữ có thói quen tận hiến trong thánh lễ này, nhất quyết dấn thân làm chứng nhân cho ánh sáng cứu độ của Chúa giữa lòng thế giới.
Trong ngày lễ dâng Chúa Giêsu trong đền thờ, Giáo Hội cũng kêu mời mỗi người trong chúng ta hiến thân làm chứng nhân cho ánh sáng cứu độ của Chúa và đem ánh sáng cứu độ đó đến cho tất cả những ai chưa biết Ngài. Giữa lòng xã hội, mỗi một Kitô hữu phải là một sứ giả dọn đường cho Chúa đến trong tâm lòng con người. Ðây là hình ảnh được tiên tri Malakia miêu tả trong chương 3,1-4. Trong dòng lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã gởi các sứ giả của Ngài đến trước để dọn đường cho Ngài. Họ là các tiên tri có nhiệm vụ chuyển sứ điệp của Chúa đến cho con người và giúp mọi thành phần xã hội tẩy rửa tâm lòng thay đổi lối sống. Những lời rao giảng và khuyến cáo của các vị giống như lửa nóng trong lò luyện kim, đốt cháy và nung chảy mọi sự để thanh lọc vàng bạc khỏi tất cả mọi chất cặn bã dơ bẩn, hầu khiến cho chúng trở nên tinh ròng trong sáng. Những lời cảnh cáo kêu mời của các vị giống như thuốc giặt có sức mạnh gột rửa mọi vết ô uế trong tâm lòng và cuộc sống con người. Lửa và thuốc giặt, thiêu đốt và chà xát khiến cho tâm lòng và cuộc đời con người có đau xót thật, nhưng đó là cái đau xót cần thiết cho việc thanh luyện và biến đổi.
Tầng lớp xã hội đầu tiên mà vị sứ giả của Chúa phải thanh tẩy là hàng giáo sĩ, nơi người có nhiệm vụ lãnh đạo cuộc sống tinh thần của dân. Bởi vì hàng giáo sĩ không thể chỉ đường cho dân đến với Chúa, nếu chính họ là những người sống xa Chúa, phản chứng, bê tha, tội lỗi mù lòa, tâm linh yếu ớt và bệnh hoạn tinh thần. Và cuộc thanh tẩy ấy sẽ lan dần cho các thành phần xã hội khác, đặc biệt là giới lãnh đạo xã hội, dân sự là những người có phần vụ liên hệ tới cuộc sống hạnh phúc hay khốn khổ của toàn dân. Mục đích tối hậu của cuộc thanh tẩy toàn diện ấy là chuẩn bị cho Thiên Chúa đến xét xử loài người và thế giới. Là các sứ giả của Chúa, Kitô hữu có một sứ mạng vô vùng cao trọng giữa lòng trần gian, ơn cứu độ của thế giới tùy thuộc một phần nơi ý thức trách nhiệm, nơi thái độ sống chứng tá và hành xử của họ. Chúa Giêsu Kitô nhập thể làm người, là hiện thân của Giavê Thiên Chúa vào trần gian để xét xử thế giới, và thánh Gioan Tẩy Giả là tiên tri cuối cùng của Thiên Chúa gởi tới để dọn đường cho Ngài. Khi kể ra các nhân tố lịch sử và địa lý trong chương 2,22-40, thánh sử Luca muốn chứng minh rằng Chúa Giêsu đã thật sự nhập thể làm người, bởi vì Ngài đã chấp nhận sinh ra trong một gia đình, thuộc một dân tộc, sống trong một vùng đất nhất định của thế giới này với những tập tục và luật lệ riêng. Khi tuân phục các phong tục tập quán và lề luật đó. Ngài hoàn toàn chấp nhận mọi hệ lụy của kiếp sống con người. Trong tường thuật này của thánh Luca, cần phân biệt hai tập tục khác nhau. Thứ nhất là tập tục dâng hiến hay sát tế lễ vật và con trai đầu lòng cho các thần linh, và thứ hai là tập tục cha mẹ đem con cái lên đền thờ Giêrusalem, dâng chúng cho Thiên Chúa vào ngày thứ 40 sau khi sinh. Các dân tộc Sémite và nhiều dân tộc trên thế giới bên Châu Phi và Châu Mỹ Latinh thời rất xa xưa, đã có thói quen dâng hiến tất cả mọi thứ đầu mùa cho các thần linh, hoa trái đầu mùa, con đầu lòng của súc vật và con trai đầu lòng của họ nữa. Sở dĩ họ làm như thế trước hết vì xác tín rằng, tất cả đều thuộc về các thần linh. Sau đó vì tin rằng, hiến dâng hay sát tế cho các thần linh những súc vật và con đầu lòng nghĩa là những gì quí báu nhất đối với họ, là diễn tả lòng thành kính đối với các vị, và qua đó, kéo được phúc lành của các thần linh xuống trên cuộc sống của họ.
Dân Do Thái cũng lấy lại thói quen này nhưng không chấp nhận việc sát tế người, vì luật Do Thái cấm sát tế người như đã viết trong sách Lêvi đoạn 18,21. Sách Xuất Hành đoạn 13 có nhắc đến luật hiến tế con trai đầu lòng của người và vật cho Thiên Chúa, khi viết: "Thiên Chúa phán với Môisen: Hãy thánh hiến cho Ta tất cả con trai đầu lòng, lọt lòng mẹ giữa con cái Israel, giữa con người cũng như súc vật vì nó thuộc về Ta". Nhưng sau đó trong câu 13, thì lại cho chuộc lại đứa con đầu lòng với một con lừa, nếu không thì phải giết nhưng trong hình thức không đổ máu, bởi vì lừa lại là loại vật ô uế không làm loài vật sát tế như cừu được. Câu 13 cũng xác định rằng phải chuộc con trai đầu lòng. Luật thánh hiến con trai đầu lòng này được soạn giả lồng khung trong biến cố xuất hành và lễ nghi sát tế chiên vượt qua, lễ nghi này được dân du mục cử hành vào mùa xuân khi họ sát tế con chiên đầu lòng cho các thần linh. Chúa Giêsu sau này sẽ được các soạn giả Tân Ước coi là Chiên Vượt Qua bị sát tế để đền bù tội lỗi cho loài người.
Tập tục hay luật lệ tôn giáo thứ hai được thánh Luca nói đến trong tường thuật là thanh tẩy người mẹ sau khi sinh con, như ghi trong sách Lêvi chương 12: "Khi sinh nở phụ nữ bị băng huyết nên bị coi là ở trong tình trạng ô uế". Quan niệm về ô uế hay tinh sạch trong Kinh Thánh Cựu Ước không có ý nghĩa luân lý như chúng ta thường hiểu ngày nay, mà có nghĩa là thánh thiện. Tất cả những gì là ngoại lệ bất thường, tất cả mọi thái độ, trạng thái được bị coi là một đe dọa, biểu lộ quyền lực nhiệm mầu linh thiêng, quyền lực ấy có thể là tốt hay là xấu. Do đó con người phải làm một lễ nghi thanh tẩy để giải thoát mình khỏi bị lây quyền lực đó. Ðối với dân Do Thái, máu là một nhân tố diễn tả sự sống nhiệm mầu và thánh thiêng đáng sợ, vì thế khi ở trong tình trạng băng huyết sau khi sinh con, là người mẹ đang trong tình trạng ô uế, là mất bình thường, do đó, phải làm lễ nghi thanh tẩy. Lễ nghi này người mẹ phải thi hành sau mỗi lần sinh con. Con trai thì phải đợi 40 ngày sau lễ nghi cắt bì tức 48 ngày sau khi sinh; trong khi con gái thì phải đợi 70 ngày nên kể thêm 2 tuần kiêng cữ từ khi sinh thì tổng cộng là 84 ngày tất cả. Nếu là người giàu thì người mẹ dâng một con chiên một tuổi làm lễ vật toàn thiêu và một con bồ câu hay chim gáy làm lễ vật đền tội. Còn nếu nghèo không có khả năng thì dâng một đôi bồ câu hay một đôi chim gáy cho các lễ nghi này.
Nói cách khác, tường thuật dâng Chúa Giêsu trong đền thờ của thánh sử Luca, chọn lễ nghi dâng con đầu lòng cho Thiên Chúa ghi trong chương 13 sách Xuất hành, với lễ nghi thanh tẩy người mẹ sau khi sinh con của sách Lêvi chương 12. Khi lặp lại nhiều lần kiểu nói: "Theo luật Chúa truyền", thánh Luca muốn khẳng định rằng, sự kiện Chúa Giêsu và Mẹ Maria tuân hành mọi luật lệ tôn giáo, là một thứ dấu ấn của biến cố nhập thể làm người. Chúa Giêsu hiện thân của Thiên Chúa là đền thờ mới bằng xương bằng thịt, nơi Thiên Chúa ngự trị một cách toàn vẹn. Thân xác Chúa Giêsu chính là đền thờ thánh thiện của Thiên Chúa. Ngôi Lời của Thiên Chúa nhập thể làm người đã cắm lều sống giữa chúng ta. "Các ngươi hãy phá hủy đền thờ này, trong ba ngày Ta sẽ xây cất lại." Chúa Giêsu có ý ám chỉ thân thể của Ngài. Nói cách khác, Chúa Giêsu là Hòm Bia mới vẹn toàn và sống động của Thiên Chúa.
Ý nghĩa thứ hai được nêu bật trong tường thuật của thánh Luca đó là Chúa Giêsu là ánh sáng cứu độ chiếu soi trần gian. Bài ca của cụ già Siméon là một trong những bài thánh ca mục vụ cổ xưa nhất, diễn tả tương quan giữa thị kiến và ánh sáng cứu độ mà những người thánh thiện như cụ được xem thấy trong cuộc sống của mình. Chúa Kitô là ánh sáng chiếu soi Israel và toàn thế giới. Sự kiện Chúa Giêsu, ánh sáng cứu độ, bước vào đền thờ cũng biểu tượng cho biến cố Ngài bước vào dòng lịch sử và thế giới con người. Nhưng để có thể nhận biết Chúa Giêsu là ánh sáng và là niềm hy vọng cứu độ, cần phải có ơn Chúa Thánh Thần trợ lực như cụ già Siméon và bà Anna. Cả hai người đều là những mẫu gương của đời cầu nguyện và cuộc sống thánh thiện và là các tiên tri của Thiên Chúa đã hiểu được biến cố lịch sử và sứ điệp của Thiên Chúa giấu ẩn trong đó. Cụ Siméon trông thấy Chúa Giêsu sẽ là dấu chỉ của sự chống đối và chia rẽ, bởi vì con người hoàn toàn tự do chấp nhận hay từ chối Chúa Giêsu, và sự kiện Ngài đã bị khước từ, bắt bớ, kết án và xử tử sẽ là lưỡi gươm đâm thấu con tim từ mẫu của Mẹ Maria. Khác với ông Siméon, bà Anna không trông chờ Ðấng Cứu Thế vì biết rằng Ngài hiện diện giữa trần gian. Sau khi được gặp Chúa Giêsu trong đền thờ, bà bắt đầu loan báo Ngài cho mọi người dân trong thành Giêrusalem đang trông chờ ơn cứu độ.
Chương 2 thơ gởi giáo đoàn Do Thái cũng nêu bật sự kiện Chúa Giêsu nhập thể, bằng cách chấp nhận cuộc sinh ly của số phận làm người kể cả cái chết. Và Chúa Giêsu vẫn tiếp tục hiện diện qua Lời Ngài, qua sự hiện diện sống động của Ngài trong bí tích Thánh Thể, trong tâm lòng và cuộc sống của chúng ta, mỗi một tín hữu là một đền thờ sống động nơi Thiên Chúa ngự trị và sứ mạng là Giáo Hội là Mình mầu nhiệm Chúa mà các kitô hữu là chi thể của Ngài.

 

TN4-C115: Mù quáng

Nhà văn Dickens có kể một câu chuyện như thế này: Số là có một anh thợ đóng giày vì quá TN4-C115

Nhà văn Dickens có kể một câu chuyện như thế này: Số là có một anh thợ đóng giày vì quá nóng giận đã dùng búa đập chết một khách hàng. Anh ta liền bị bắt, ra tòa và bị giam cầm lâu năm ở ngục Castille. Trong thời gian ngồi tù, anh phải làm một công việc là đóng giày, vá giày. Suốt ngày anh ta cứ ngồi dán lưng vào tường, trong bóng tối mờ ảo và chăm chú làm các công đoạn: đóng, vá, cắt, may đều đều một cách vô vị đến nỗi có ai gọi hay bảo anh ta làm một việc gì đó thì hầu như điếc không nghe. Và rồi trong một dịp ân xá, anh ta được tha về nhà ở Luân đôn. Đáng lẽ như mọi người tù được thả về đều vui mừng, ăn uống vui vẻ, gặp gỡ thăm viếng bà con bạn bè để hàn huyên, đàng này anh ta vừa mới về nhà chân ướt chân ráo, liền bắt tay làm ngay một phòng giam ở giữa nhà. Trong lúc mọi người vui sống, hưởng trăng thanh gió mát, nghe chim chóc ca hót, riêng anh thợ giày tự giam mình trong phòng kín và mọi người chỉ nghe tiếng kéo kìm lạch cạch của anh thợ giày ngồi lì trong bóng tối.
Trên đời này không thiếu gì những chuyện kỳ cục và cũng có lắm người sống không giống ai. Và biết đâu chính chúng ta là những con người đang có lối suy nghĩ và cách sống kỳ cục đến khó tin mà chúng ta không biết
Vì thật ra, sự kỳ cục, bất thường đến khó hiểu của con người do một trong hai nguyên nhân này gây ra: một là điên, mát, khùng, bốc đồng dở hơi; hai là do suy nghĩ, hành động một chiều quá lâu ngày thành thói quen mất hết khả năng thay đổi, trở nên máy móc cứng nhắc. Chính vì thế mà anh thợ giày trở thành một con người có lối sống kỳ cục đến nỗi anh ta không còn cảm thấy mình kỳ cục nữa.
Và đây cũng chính là lý do khiến dân làng Nagiareth đã có những phản ứng kỳ cục, độc ác, bất công đối với Chúa. Bởi vì do thói quen thân thường ngày của họ nên anh chàng Giêsu, suốt trong 30 năm từ lúc còn bé đến khi lớn khôn, không có gì lấy làm đặc sắc, nổi bật và ngay cả cha mẹ, họ hàng cũng chả có gì nổi đình nổi đám cả. Thế mà, giờ đây anh ta phút chốc trở thành nổi tiếng khắp nơi. Điều đó vừa làm họ hãnh diện đôi chút, nhưng cũng vừa làm mích lòng tự tôn tự mãn của họ không ít vì nó đi ngược lại với cảm nghĩ, thành kiến xưa nay của họ về anh ta thuộc một gia đình tầm thường. Do đó, cho dù Chúa Giêsu có làm được những gì tốt đẹp, có ăn nói giỏi giang đến mấy cũng không thể vượt khỏi thiện kiến có sẵn trong ký ức của họ. Và nếu có điều gì trái ngược với cảm nghĩ xưa nay của họ thì họ lên án, tẩy chay ngay, bất xét phải trái.
Như thế thói quen, thành kiến đã làm cho anh thợ giày và dân làng Nagiareth trở nên kỳ cục, bất thường, lầm lạc. Vì những ai quá nặng óc thành kiến, quen thói chủ quan sẽ dễ dàng trở nên mù quáng khi đánh giá về người khác cách thiên lệch khiến ý kiến của họ chẳng những vô giá trị mà nhiều khi còn trở thành những mũi tên tẩm độc giết hại danh giá người khác nữa. Riêng đối với bản thân, kẻ hay phán đoán một chiều thường để lộ chân tướng xấu xa của mình vì thiên lệch, nặng chủ quan. Càng chủ quan càng cố chấp cứng đầu. Mà càng cố chấp càng biểu lộ sự ngu dốt và điên khùng của mình.
Nếu thế, xem ra ai trong chúng ta ít hay nhiều cũng đều đã có những thành kiến thiên lệch, những thói quen chủ quan khiến cách suy nghĩ, cách sống, cách đối xử với nhau, với Chúa kỳ cục, tai hại, sai trái xưa nay mà chúng ta cứ tưởng là đúng đắn.
Vì như người ta thường nói “xa thì thương, gần thì thường” nên khi chúng ta sống bên nhau lâu ngày như vợ chồng, cha mẹ, con cái, bạn bè, chòm xóm… và biết rõ tính tình nhau, giọng nói cử chỉ của nhau, thói quen, cách sống của nhau. Do quá hiểu nhau nên cách đối xử với nhau dễ sinh nhạt nhẽo, coi thường, thiếu kính trọng, ít thông cảm. Nếu có mang nặng thành kiến với nhau mà đã thương thì thương mù quáng, đã ghét thì ghét cay ghét đắng. Từ đó, người ta dễ làm bất công cho nhau như làm hại danh giá nhau bằng cách phê bình chỉ trích ác ý, phê phán sai lạc sự thật, nhất là lỗi bác ái nặng nề khi đối xử với nhau thiếu lòng quảng đại, khoan dung.
Có lẽ, nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng đối với Chúa mình không thể cư xử hỗn láo như dân làng Nagiareth, nhưng trong đời sống thực tế người ta tôn thờ Chúa, tìm đến Chúa không phải vì yêu mến Chúa hay vì giáo lý của Ngài mà là vì chính bản thân họ. Nói khác đi, lối sống đạo và cách suy nghĩ của chúng ta đã thành thói quen máy móc, đã coi trọng hình thức bên ngoài đến độ tê liệt mọi tình cảm bên trong. Bởi vì, người ta yêu mình hơn yêu Chúa, đặt mình làm trung tâm, bắt Chúa và giáo lý của Ngài phải phục vụ cho mọi ý đồ, ước muốn của chúng ta. Suốt đời ai mà chẳng nghe Lời Chúa răn dạy, thường xuyên tham dự các lễ nghi, năng lãnh nhận các Bí tích, nhưng vì quá quen thuộc, quá lặp đi lặp lại nên sinh ra coi thường, mất cảm giác sốt sắng, biến mình thành một cỗ máy vô hồn.
Tóm lại, thói quen và thành kiến đã đưa đẩy con người đến chỗ sống mất tình cảm, điên loạn. Hơn nữa, trong cuộc sống đừng bao giờ dại dột bắt Chúa phải làm theo ý nghĩ ngông cuồng của mình, nhưng hãy biết khiêm tốn thú nhận mình bất lực, thiếu sót, nghèo hèn, yếu đuối và chỉ tồn tại được là nhờ tình thương của Chúa mà thôi.

 

TN4-C116: Ngôn sứ bị từ chối

(Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)
"Họ kéo Ngài lên tận đỉnh núi để xô Ngài xuống vực"
(Lc 4,29)
I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến
 

Tục ngữ có câu "Lời thật mất lòng". Chúa Giêsu ưu tiên loan Tin Mừng cho những người đồng hương TN4-C116

Tục ngữ có câu "Lời thật mất lòng". Chúa Giêsu ưu tiên loan Tin Mừng cho những người đồng hương của Ngài ở Nadarét, thế mà họ lại xua đuổi Ngài. Thời bây giờ cũng vậy, nhiều người không muốn nghe những lời xây dựng chân thành, thậm chí còn ghét những người nói thẳng nói thật.
Hôm nay chúng ta hãy suy gẫm về thực tế chua chát ấy, và xin Chúa giúp chúng ta đừng rơi vào thói xấu ấy.

II. Gợi ý sám hối
Xin Chúa tha thứ cho những lần chúng con bỏ ra ngoài tai những lời xây dựng chân thành của kẻ khác.
Xin Chúa tha thứ cho những lần chúng con có phản ứng không tốt với người khác chỉ vì họ đã nói thẳng nói thật.
Xin Chúa tha thứ cho những lần chúng con đối xử bất công: vui vẻ với người khen nịnh, và khó chịu với người chân thành góp ý.

III. Lời Chúa
1. Bài đọc I (Gr 1,4-5,17-19)
Giêrêmia tự thuật về việc Thiên Chúa gọi ông làm ngôn sứ: Thực ra Giêrêmia không muốn làm ngôn sứ chút nào cả vì ông biết mình không có khả năng, và ông cũng ý thức rằng ông sẽ gặp rất nhiều chống đối và đau khổ vì nhiệm vụ ấy. Nhưng vì tin tưởng vào sự trợ giúp của Chúa nên ông đã can đảm đáp lại lời Chúa gọi.
2. Đáp ca (Tv 70)
Thánh vịnh 70 quãng diễn tâm tình của ngôn sứ Giêrêmia. Đó là tâm tình cậy trông và phó thác: "Con ẩn náu bên Ngài lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ... Xin Ngài như núi đá cho con tru ẩn, như thành trì để cứu độ con".
3. Tin Mừng (Lc 4,21-30)
Đoạn Tin Mừng hôm nay nói về hoạt động của Chúa Giêsu ở Nadarét quê hương Ngài:
Ngày Sabát, Ngài vào hội đường, dựa trên đoạn sách Isaia để công bố chương trình hành động của Ngài. Đó là mang Tin Mừng và ơn cứu độ cho những người nghèo khổ.
Bài giảng đã gây hứng khởi trong lòng thính giả. Họ thầm mong rằng, vì tình đồng hương, Ngài sẽ ưu tiên làm phép lạ cho họ. Nhưng Ngài đã từ chối, bởi vì Ngài là Đấng cứu độ của mọi người chứ không của riêng ai.
Thất vọng, dân Nadarét đã trục xuất Ngài khỏi thành và còn muốn giết Ngài.
4. Bài đọc II (1 Cr 12,31--13,13) (Chủ đề phụ)
Sau khi giải thích cho tín hữu Côrintô về các đặc sủng nhằm phục vụ cộng đoàn (Chúa nhật trước), Thánh Phaolô nói đến ân sủng cao quý nhất trong mọi ân sủng, đó là Đức Mến.
Đức Mến làm cho các ơn khác có giá trị thực ("Giả như tôi có nói được các thứ tiếng... mà không có đức mến thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chủm choẹ xoang xoảng").
Đức Mến cao trọng hơn mọi nhân đức khác ("Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là Đức Mến")

IV. Gợi ý giảng
* 1. Cần có ngôn sứ
Mỗi thời kỳ lịch sử đều có ngôn sứ. Mỗi thời kỳ lịch sử đều cần ngôn sứ. Bởi vì "ngôn sứ" là sứ giả của Lời Chúa, nếu không có ngôn sứ thì có thể Lời Chúa sẽ bị yếu đi.
Thời Cựu Ước có các ngôn sứ Isaia, Giêrêmia, Êdêkiên v.v. Thời Tân Ước có Chúa Giêsu, có các tông đồ... Thế kỷ XIII có Phanxicô Assisi... Thế kỷ XVII có Vinh Sơn Phaolô... Thế kỷ XX có Têrêsa Calcutta v.v.
Thực ra con người ngôn sứ chẳng có gì khác lạ hơn người thường: dân làng Nadarét đã nhận định về Chúa Giêsu "Ông ta chẳng phải là con bác thợ mộc Giuse đó sao?" Ở một vài phương diện nào đó, ngôn sứ còn thua kém người khác nữa: Giêrêmia đã thành thật thưa với Chúa "Lạy Chúa, con không biết nói. Con chỉ là một đứa trẻ".
Nhưng ngôn sứ hơn người là do Lời Chúa: ngôn sứ nghe được Lời Chúa, tin tưởng vào Lời Chúa, và nhiệt thành chuyển đạt Lời Chúa đến cho mọi người.
Dù "hơn người", nhưng không hẳn ngôn sứ được người quý mến, trái lại thường bị người chống đối và bách hại, bởi vì "Lời thật mất lòng".
Tuy thường bị người ta đối xử tệ, nhưng ngôn sứ chính là kẻ làm ơn cho người. Nhờ ngôn sứ nhắc người ta sống đúng lời Chúa.
Sứ mạng ngôn sứ rất khó khăn và bạc bẽo. Nhưng ngôn sứ sẽ chu toàn sứ mạng nhờ cậy dựa vào sự trợ giúp của Chúa.
Qua bí tích Rửa Tội, mỗi kitô hữu chúng ta đều được Chúa trao sứ mạng là ngôn sứ của Ngài.
* 2. Kiên vững - Dịu hiền
Thôi Trữ là quyền thần nước Tề, định giết vua Trang Công, bèn hội họp sĩ phu lại cùng nhau thề thốt. Ai nấy đều sợ hãi, răm rắp vâng lời. Duy có Án Tử nghiễm nhiên như không, nhất quyết không chịu thề.
Thôi Trữ bảo Án Tử: "Ngươi nghe ta. Ta lấy được nước, thì ta cho một nửa. Nhược bằng không nghe, ta giết ngay lập tức".
Lúc ấy, bốn mặt quân lính hầm hầm những muốn đưa gươm giáo ra đâm chém Án Tử. Chết đến nơi, mà Án Tử vẫn không biến sắc, ung dung nói rằng:
"Lấy lợi nhử người ta, bảo người ta phản bội quân thượng là bất nhân; lấy binh khí hiếp người ta, làm người ta mất chí khí là bất dũng. Giết thì giết, ta đây không theo việc bất nhân của nhà ngươi đâu".
Thôi Trữ nghe nói, không dám làm gì Án Tử. Án Tử đứng dậy, ung dung bước ra.
****
Thôi Trữ quyền hành là thế, mà chỉ một câu nói của Án Tử cũng đủ làm ông phải chùn bước. Thế mới biết sự thật có sức mạnh hơn bạo lực quyền uy.
Bài Tin Mừng hôm nay kể lại: "Mọi người trong hội đường đều đầy căm phẫn, họ chỗi dậy và trục xuất Người ra khỏi thành: Họ dẫn Người lên triền núi, nơi xây cất thành trì của họ, để xô Người xuống vực thẳm. Nhưng Người rẽ qua giữa họ mà đi" (Lc 4,29-30). Chúa Giêsu chính là Sự Thật tuyệt đối, nên từ nơi Người toát ra sức mạnh phi thường, khiến đám người bạo động phải đứng như trời trồng để Người đi qua.
Những người đồng hương với Chúa Giêsu cảm thấy khó chịu, vì họ không thể tin rằng "Thần khí Chúa" lại ngự xuống trên con ông Giuse thợ mộc.
Họ cảm thấy nghi ngờ, vì họ không thể chấp nhận một con người nghèo khổ làng Nadarét lại là tiên tri, là Đấng Thiên sai.
Họ càng căm phẫn, khi con người ấy không chịu thực hiện những phép lạ mà họ yêu cầu. Thế là bạo động nảy sinh, họ muốn tiêu diệt Người cho khuất mắt. Đúng như lời Chúa Giêsu đã nói: "Không một tiên tri nào được đón tiếp nơi quê hương mình" (Lc 4,24).
Thế mới ứng nghiệm lời ông Simêon: "Trẻ này là dấu hiệu bị ngưới đời chống báng" (Lc 2,34). Lời tiên tri này còn theo Người suốt cả cuộc đời.
Nếu dân làng Nadarét ép Chúa Giêsu làm phép lạ để minh chứng Người là tiên tri, thì các đầu mục Do Thái cũng đòi Chúa Giêsu chứng minh giáo lý của Người là chính thống.
Nếu dân làng Nadarét tố cáo Chúa Giêsu là lộng ngôn phạm thượng, thì các người Pharisêu cũng kết tội Người dựa vào thế giá cửa quỉ vương.
Nếu dân làng Nadarét cố tìm cách giết Chúa Giêsu, thì dân thành Gíêrusalem cũng quyết tâm đóng đinh Người trên thập giá.
Mỗi người tín hữu Kitô đều có thể hiểu được thế nào là bị xua đuổi, bị loại trừ, bị kỳ thị và bị bỏ rơi, vì "Nếu thế gian đã ghen ghét các con, thì hãy nhớ rằng họ đã ghét Ta trước" (Ga 15,18), nhưng ít có ai cảm nhận được tâm trạng của Chúa Giêsu vào những lúc như thế này: Người có căm thù những kẻ ruồng rẫy Người không? Người có đầu hàng trước nghịch cảnh này chăng? Nói như Martin Luther King: "Tôi vui mừng vì Thiên Chúa chúng ta thờ là Thiên Chúa có tinh thần kiên vững và con tim dịu hiền".
Vâng, nếu Thiên Chúa chỉ là Đấng có tinh thần kiên vững, thì Người sẽ là một Thiên Chúa xa cách, lạnh lùng, ngự trị tại một nơi nào đó trên chốn trời cao để ngắm nhìn thế sự thăng trầm. Nhưng nếu Người chỉ là Đấng có con tim dịu hiền, thì Người sẽ là một Thiên Chúa uỷ rnị nhu nhược, không thể hành động khi mọi sự đi lệch hướng.
Đứng trước cảnh bị ruồng rẫy hôm nay, con tim của Người không hề chai đá và tinh thần của Người không chút bạc nhược. Người có tinh thần đủ kiên vững để vượt trên thế giới, và có con tim đủ dịu hiền để ở giữa con người.
Nếu có một bài học nào được rút ra từ bài Tin Mừng hôm nay thì đó chính là: Thiên Chúa mạnh mẽ vô song, có thể "băng qua giữa họ mà đi", nhưng Người cũng là Đấng giàu lòng thương xót. Khi chúng ta ngỗ nghịch xúc phạm đến Người, khi chúng ta muốn "xô Người xuống vực thẳm", thì chúng ta cần biết rằng, chính lúc đó Người đang yêu thương chúng ta và sẵn sàng cho chúng ta một cơ hội để quay trở về.
Thiên Chúa là Đấng có tinh thần kiên vững trong phán quyết công minh, nhưng Người cũng là Đấng có tính dịu hiền trong tình thương và ân sủng.
Thiên Chúa ban ân sủng cứu độ cho hết mọi người, chứ không chỉ dành riêng cho một số người được đặc ân.
Thiên Chúa ban ân sủng Cứu độ để chúng ta sinh ích cho mình và làm lợi cho anh em, chứ không phải để chúng ta khư khư giữ lấy cho riêng mình.
***
Lạy Chúa, Tiên Tri là ơn gọi và là sứ mạng của mỗi người tín hữu chúng con.
Xin cho chúng con luôn can đảm nói điều Chúa muôn nói, và nói nhân danh Chúa, cho dù có phải bị chống đối, phẫn nộ.
Xin cho chúng con luôn xác tín rằng: Chúa đầy quyền năng cả nhưng cũng rất giàu lòng xót thương, luôn dẫn dắt chúng con từ những hố sâu tăm tối đến những nẻo đường chan hoà ánh sáng, tràn đầy hy vọng, nhờ đó, cuộc đời chúng con được viên mãn. Amen. (Thiên Phúc)
* 3. Ưu tiên cho ai?
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với dân làng Nadarét ban đầu rất tốt đẹp: "Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Ngài". Nhưng sau đó là đổ vỡ hoàn toàn: "Mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy lôi Ngài ra khỏi thành.... Họ kéo Ngài lên tận đỉnh núi, để xô Ngài xuống vực"
Nguyên do gây đổ vỡ là quan niệm về ưu tiên. Dân làng Nadarét nghĩ rằng Chúa Giêsu phải ưu tiên cho họ, bởi vì họ là đồng hương của Ngài. Ngài đã từng làm phép lạ ở thành Capharnaum xa lạ thì Ngài phải làm nhiều phép lạ hơn nữa ở Nadarét này mới phải, vì đây chính là quê hương của Ngài kia mà: "Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Capharnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào". Phần Chúa Giêsu thì muốn dành ưu tiên cho những người nghèo khổ: "Thần khí Chúa ngự trên tôi... để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức..."
Nói cách khác, dân làng Nadarét muốn ưu tiên theo tình cảm, còn Chúa Giêsu thì chủ trương ưu tiên theo sứ mạng. Tình cảm thường hẹp hòi, sứ mạng thì bao la. Tình cảm thường mù quáng, sứ mạng mới sáng ngời.
Chúng ta thường bị tình cảm làm mù quáng và lệch lạc, ngay cả khi chúng ta làm việc bác ái và làm công tác tông đồ. Gương Chúa Giêsu nhắc ta phải luôn ý thức đến sứ mạng. Nếu có ưu tiên thì hãy ưu tiên cho những người nghèo nàn, khổ sở.
* 4. Trở lại quê hương
Sau nhiều năm xa cách ngôi làng Transkei là nơi ông đã sinh ra và lớn lên, Nelson Mandela có dịp trở lại đấy. Lúc bấy giờ ông đã là một luật sư có nhà cửa ở thủ đô Johannesburg. Ông đã ghi lại cảm tưởng như sau: "Trở lại một nơi chẳng có gì thay đổi để khám phá ra rằng mình đã đổi thay. Quê hương thì vẫn như xưa, chẳng có gì khác hơn hồi mình sinh ra và lớn lên ở đấy. Nhưng tôi nhận ra rằng suy nghĩ và cách nhìn của mình đã khác xưa rất nhiều". Vì thế Nelson Mendela rất hạnh phúc khi trở về thăm lại quê cũ, nhưng ông không ở lại đó, vì nó đã trở thành quá chật hẹp đối với ông.
Có lẽ cảm nghĩ của Chúa Giêsu cũng giống như thế khi Ngài trở về Nadarét. Những người đồng hương của Ngài chẳng có gì thay đổi: họ vẫn mãi coi Ngài là con bác thợ mộc chứ không phải là Đấng Messia; họ vẫn quen lối suy nghĩ hẹp hòi cho rằng ơn cứu độ là đặc ân của người Do Thái, chứ không thể chấp nhận rằng mọi người đều được hưởng ơn cứu độ.
Chúa Giêsu trở về quê hương để mang cho đồng hương của Ngài một sự đổi mới. Tuy nhiên họ không chịu thay đổi. Vì thế nên Ngài không thể ở lại quê hương, Ngài đành ra đi, tiếp tục đến những nơi khác. (FM)
* 5. Đức Mến
Có một sự liên kết thiết yếu giữa Đức Tin và Đức Mến. Câu chuyện sau đây cho thấy rõ điều ấy:
George Herbert là một Linh mục, một thi sĩ và một nhạc sĩ nghiệp dư. Một hôm khi ông đang trên đường đến tham dự một cuộc hòa nhạc thì gặp một người nghèo bị té ngựa. Ông đã dừng lại, cởi áo dòng, xắn tay áo để đỡ người ấy lên, đỡ con ngựa lên và giúp chất hành lý người ấy lên lưng ngựa. Xong xuôi mọi chuyện, ông mới tiếp tục đến phòng hòa nhạc.
Bình thường ông ăn mặc rất sạch sẽ. Nhưng hôm nay tay chân và quần áo của ông đều dính đầy bụi bẩn. Vì thế bạn bè rất ngạc nhiên. Khi ông kể lại chuyện mình đã làm dọc đường thì một trong các người bạn tỏ ra không đồng ý vì cho rằng việc đó không cần thiết và cũng không phải là trách nhiệm của ông. George Herbert đã trả lời như sau: "Tôi thường cầu nguyện cho những người nghèo khổ. Hôm nay tôi có dịp giúp đỡ người nghèo khổ. Nếu tôi không ra tay giúp thì tức là tôi không làm đúng như lời mình cầu nguyện. Cũng giống như cây đàn chưa lên dây đúng cung vậy."
Thánh Giacôbê đã nói: "Đức tin mà không có việc làm là đức tin chết". Những việc làm biểu lộ đức tin dễ thấy nhất là những việc bác ái.
Ngày nay, hai chữ được người ta nói nhiều nhất là "tình yêu". Nhưng hình như cái mà người ta gọi là tình yêu trong các phim ảnh và bài hát thường chẳng phải là tình yêu gì cả. Đó chỉ là khát vọng, chiếm hữu và chế ngự. Nó ngược hẳn với tình yêu.
Một trong những lý do là ngày nay người ta đã hiểu rõ hơn về tính phức tạp - hay phức hợp - trong bản chất con người. Từ đó người ta làm gì cũng do bị thúc đẩy bởi nhiều động cơ. Đàng sau một việc xem ra bất vụ lợi thì cũng có động cơ vụ lợi.
Bởi thế, Thánh Phaolô khuyến cáo chúng ta coi chừng những động cơ đàng sau những việc tốt chúng ta làm. Ngài nói rằng Đức Mến đích thực thì "không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc". Ngài còn nói "Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi". (FM)
V. Lời nguyện cho mọi người
Chủ tế: Anh chị em thân mến, hôm nay ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu những lời Kinh thánh chúng ta vừa nghe. Nhờ Người, chúng ta dâng lên Chúa Cha những lời nguyện xin tha thiết của chúng ta:
1. Hội thánh được Chúa Giêsu thiết lập để đem Tin mừng đến cho muôn dân trên khắp hoàn cầu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho công cuộc rao giảng Tin mừng của Hội thánh / luôn đạt được nhiều thành quả tốt đẹp.
2. Khát vọng sâu xa nhất của con người ngày nay / là được sống trong hòa bình và thịnh vượng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Chúa / ban hòa bình cho những vùng còn khói lửa chiến tranh.
3. Hiện nay đức tin / đức cậy / đức mến / cả ba đều tồn tại / nhưng cao trọng hơn cả là đức mến / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Kitô hữu / luôn cố gắng sống trọn vẹn nhân đức quan trọng này.
4. Nhờ bí tích Thánh Tẩy / người Kitô hữu trở nên anh em với nhau / vì có cùng một niềm tin và một Cha chung trên trời / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết dẹp bỏ mọi kỳ thị hẹp hòi / những chia rẽ bất hòa / để tất cả chúng ta nên một trong Chúa.
Chủ tế: Lạy Chúa, Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một để cứu chuộc chúng con. Xin cho chúng con luôn biết vâng nghe lời Người là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. Trong Thánh Lễ
- Trước kinh Lạy Cha: Chúng ta đang ở trong ngôi Nhà Thờ này như những anh chị em ruột thịt sum họp trong mái ấm gia đình. Đúng vậy, vì chúng ta đều là con của cùng một Cha chung trên trời. Giờ đây chúng ta hãy nghĩ đến Cha chúng ta và hãy cùng nhau thưa chuyện với Ngài qua lời kinh Lạy Cha.
VII. Giải tán
Do Bí Tích Rửa Tội, chúng ta được chia xẻ sứ mạng ngôn sứ của Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta hãy can đảm thi hành sứ mạng vừa cao đẹp vừa khó khăn ấy. Nguyện xin ơn sủng Chúa luôn phù giúp anh chị em. Chúc anh chị em ra về bình an.

 

TN4-C117: Hãy là ngôn sứ của Chúa - Huệ Minh

Mở đầu Trang Tin Mừng hôm nay là câu đầy ý nghĩa của Trang Tin Mừng tuần trước. Thật vậy TN4-C117

Mở đầu Trang Tin Mừng hôm nay là câu đầy ý nghĩa của Trang Tin Mừng tuần trước. Thật vậy, rõ ràng là sự gì Kinh Thánh đã nói về Người, thì “hôm nay” được ứng nghiệm. Điều đó đồng nghĩa với: “Tôi là Đấng Cứu Thế” đây. Từ “hôm nay”, có nghĩa là đã đến lúc Thiên Chúa thực hiện Lời Hứa từ ngàn xưa.
Hình bóng của Giêrêmia chính là hình ảnh của Đấng Cứu Thế hôm nay. Trang Tin Mừng (Lc 4, 21) hôm nay, nhắc lại câu nói tuần trước của Chúa Giêsu. Vâng! Thưa quý vị: “Hôm nay đã ứng nghiệm Lời Kinh Thánh mà quý vị vừa nghe” (Lc 4,21).
Giêrêmia là một trong bốn đại ngôn sứ thời Cựu Ước, đã được Thiên Chúa cho biết: “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân”.
Thật sự Thiên Chúa đã chuẩn bị và đã chọn Giêrêmia từ xa xưa. Thiên Chúa sai ông đi “để nhổ và lật đổ, để hủy và để phá”. Tiếc thay, sứ vụ của ông quả đã thất bại, chính ông cũng chết tại Ai cập, nhưng dung mạo của ông không ngừng lớn lên sau khi ông chết.
Nhìn vào cuộc đời, ta thấy ông là một người có tâm hồn hiền hậu. Ông vốn dĩ sinh ra để được yêu mến, luôn luôn nêu cao những liên lạc thân mật tâm hồn phải có đối với Thiên Chúa. Đọc kỹ cuộc đời ông, ta thấy ông đã quên mình, chịu đau khổ để phục vụ Thiên Chúa và quả thật ông đã trở thành một dung mạo của Chúa Kitô.
Ta thấy ngôn sứ là người được sai đi để nói Lời của Thiên Chúa. Mặc nhiên, ngôn sứ chính là Lời của Thiên Chúa. Người được thay thế nói Lời của Thiên Chúa, như vậy chúng ta thấy ngôn sứ thật diễm phúc.
Trong lịch sử Thánh Kinh, ta thấy rất nhiều ngôn sứ, nhưng có một số ngôn sứ nổi bật như ngôn sứ Giêrêmia. Như trong bài đọc thứ nhất hôm nay: “Đây Ta đặt Lời nói Ta trong miệng ngươi”.
Ta thấy ngôn sứ Giêrêmia thật là diễm phúc, như vậy, lời của ông nói ra chính là Lời của Thiên Chúa được đặt vào miệng ông.
Chúa Giêsu cũng vậy khi ta thấy lời của Chúa Giêsu hôm nay cũng được mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Ngài.
Thật vậy, Chúa Giêsu đúng là một “người đặc biệt nhất” trong những người đặc biệt, một “dị nhân” chính hiệu, khiến ai cũng phải tâm phục và khẩu phục. Thế nhưng đáng tiếc là người ta đã cố tình không nhận ra Chúa và dã tâm tìm cách hại Ngài.
Chúa Giêsu biết lòng dạ xấu xa của họ nên Ngài nói với họ như thế này: “Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Ca-phác-na-um, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!” (Lc 4, 23).
Người ta có dã tâm không phải vì Chúa Giêsu làm gì sai trái, mà vì tính đố kỵ, thói ghen ghét, không muốn người khác hơn mình, sợ mình lép vế. Ngài thản nhiên nói tiếp: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình” (Lc 4, 24). Câu nói này vẫn đúng ngay trong những ngày này dù cây nói này quả là quá xa với thời đại của chúng ta!
Thấy họ im lặng, không đối đáp được câu nào, mà làm sao họ cãi lại chứ? Rồi Chúa Giêsu nói một hơi: “Thật vậy, tôi nói cho các ông hay: vào thời ông Êlia, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà goá ở trong nước Israel; thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Xarépta miền Xiđôn.
Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Êlisa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Israel, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Naaman, người xứ Xyri thôi” (Lc 4, 25-27).
Quá rõ, thật thấm thía và đau điếng, trúng tim đen mà! Còn ai cãi được gì nữa?
Tưởng chừng họ ngưỡng mộ và tin vào lời của Chúa nhưng tiếc thay họ lật mặt như trở bàn tay, mới khen nức lòng mà lại chống đối ngay. Thánh sử Luca kể: “Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Ngài ra khỏi thành – thành này được xây trên núi. Họ kéo Ngài lên tận đỉnh núi để xô Ngài xuống vực” (Lc 4,28-29).
Nhìn họ, ta thấy lòng dạ của họ quá dã tâm và nham hiểm. Cũng chính vì lòng chai dạ đá nên họ chẳng làm gì được người chính trực. Thấy họ phẫn nộ, Chúa Giêsu thản nhiên “băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4, 30). Chắc hẳn lúc đó bọn ác nhân muốn lộn ruột gan và phát điên lên được.
Cũng vậy, ngày hôm nay ta thấy cũng không thiếu những lòng dạ mưu mô nham hiểm với người khác. Loại người này ở đâu cũng có, chẳng trừ nơi nào, y như ma quỷ có mặt mọi nơi để rình rập người tốt vậy!
Sự thật luôn phũ phàng, vì: “Không một ngôn sứ nào được đón nhận tại quê hương mình” (c 24). Vâng! Chính Chúa Giêsu đã nói như vậy. Tại sao? thưa, bởi vì họ không đón nhận sự thật, họ không muốn nghe sự thật, và không tin sự thật. Chỉ có ai muốn đón nhận sự thật, thì mới lắng nghe sự thật. Vì “sự thật thì mắc lòng”.
Và như thế! Là họ, người Nazaret không phải là những người nghèo được đón nhận Tin Mừng. Vì họ không đón nhận ngôn sứ đích thực của Thiên Chúa. Họ tìm vết bới lông, họ soi mói nguồn gốc lai lịch của Đấng Cứu Thế và như vậy, họ khinh dễ Chúa Giêsu.
Như vậy, họ hay Chúa Giêsu bị thất bại tại Nazaret, quê hương của Người Trước đó chính họ đã ngưỡng mộ Chúa Giêsu, họ khâm phục những gì từ miệng Người nói ra (c. 22). Nhưng chính Người đã đọc được ý nghĩ ngay trong thâm tâm của họ, vì Chúa không muốn họ khâm phục Người bằng môi miệng. Người đã kể tội của họ và tội của cha ông họ, thế là họ tìm cách trục xuất Chúa Giêsu ra khỏi họ.
Phần ta là Kitô hữu được kêu gọi làm ngôn sứ của Chúa Cha cho thời đại chúng ta, cũng như Chúa Giêsu từng là tiên tri của Chúa Cha cho thời đại của Ngài. Đây chính là sứ vụ mà chúng ta lãnh nhận khi chịu phép rửa tội và thêm sức. Chúng ta hãy lập lại lời thánh Phaolô; “Người Kitô hữu chúng ta được Chúa kêu gọi để toả sáng như các vì sao giữa lòng thế giới tăm tối này” (Pl 2, 15)
 
 

TN4-C118: Khổ vì đồng hương - Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Có hai thanh niên lớn lên trong gia đình có một người cha nghiện rượu. Vì còn trẻ, mỗi cậu sống TN4-C118

Có hai thanh niên lớn lên trong gia đình có một người cha nghiện rượu. Vì còn trẻ, mỗi cậu sống theo ý riêng mình.
Nhiều năm sau, một cậu trở nên người nghiện rượu không thể cải thiện. Cậu kia là người chống uống rượu. Một tâm lý gia tìm hiểu hậu quả của việc nghiện rượu gây cho những đứa trẻ trong gia đình hỏi cậu thứ nhất: “Tại sao anh trở nên người nghiện rượu?” và cậu thứ hai: “Tại sao anh trở nên người chống rượu?”
Cả hai có cùng câu trả lời: “Ông có thể mong đợi điều gì khác khi ông có người cha như tôi?”
Đôi khi gia đình có thể trở thành trợ lực cho ta thăng tiến, nhưng cũng có thể là trở lực khiến ta không thể làm người. Gương sáng hay gương mù của người thân luôn ảnh hưởng đến chúng ta. Sự khích lệ hay chê bai cũng ảnh hưởng đến công việc của chúng ta.
Trong đời sống tôn giáo, cộng đoàn đôi khi cũng giúp cho một con người nên thánh nhưng cũng có thể đẩy một người lao xuống hảo ngục. Nhất là thực trạng “Bụt nhà không thiêng” đã khiến bao nhiêu người không thể phát huy tài năng ngay giữa anh em mình. Sự chê bai, xem thường còn làm cho chính những người đang sống với mình luôn cảm thấy bất an, đau khổ vì những lời chê bai, vu khống bâng quơ, đầy ác ý.
Thật khó tin, nhưng vẫn có những người Kitô hữu bách hại anh em mình: Họ luôn làm mất bình an trong tâm hồn và thanh danh của người lối xóm bằng những mẩu chuyện ngồi lê đôi mách, họ khinh dể những người khác địa vị xã hội và kinh tế, họ dửng dưng với những mảnh đời bất hạnh, kẻ thiếu thốn ngay bên cạnh mình. Họ sống như thể chưa bao giờ nghe Chúa nói: “hãy yêu mến người thân cận”, như thể họ chưa bao giờ nghe thánh Phaolô tông đồ khuyên: Tình yêu thì nhân hậu, khoan dung, không đố kỵ, ghen tương và luôn lấy mối dây thân ái để sống liên đới với tha nhân. Trái lại họ sống quá tàn nhẫn với người lân cận. Họ dùng thủ đoạn để lừa dối anh em, để kết án, hạ bệ và xô đẩy anh em nhằm thỏa mãn tính tự tôn tự đại của mình. Năm xưa Chúa Giêsu đã bị người đồng hương kết án, phải chăng hôm nay vẫn còn đó những người kytô hữu bị những người đồng đạo hãm hại, nhục mạ và đẩy vào đường cùng của lầm than?
Vâng, vẫn còn đó sự khinh dể, xa lánh của người đồng đạo với những người nghèo khổ, bệnh tật và lầm than...
Vẫn còn đó sự kết án vô căn cứ bằng lời ra tiếng vào, thêm mắm thêm muối để hại người vô tội.
Vẫn còn đó sự toa rập với nhau để loại trừ kẻ yếu, kẻ thân cô thế cô...
Và vẫn còn đó những giọt nước mặt bị hàm oan, bỏ rơi ngay giữa anh chị em mình.
Thế nhưng, chúng ta vẫn cảm tạ Chúa, vì nhân loại hôm nay vẫn còn có những con người đang cố gắng thực hành giới luật yêu thương với những người thân cận mình. Họ vẫn sống bao dung, độ lượng. Họ vẫn miệt mài xây dựng tình hiệp nhất cho cộng đoàn mình.
Ước gì những người mang danh Kytô hữu đừng bao giờ hạ thủ anh em mình chỉ nhằm thoã mãn thói kiêu căng, tự cao tự đại của mình. Xin đừng tiếp tay với những kẻ muốn xô đẩy Đức Kitô xuống vực thẳm bởi hành vi tàn bạo với người lân cận. Ước gì mỗi người chúng ta hãy biết sống theo lòng nhân hậu của Chúa để mở rộng đôi tay đón nhận anh em, để nâng đỡ, bảo vệ anh em và biết nắm lấy tay nhau tạo thành một vòng tròn thân ái, hiệp nhất và yêu thương. Amen.

 

TN4-C119: Người Việt hay dìm hàng

(Suy niệm của Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
 

Người Việt có câu "thà chết cả đống còn hơn sống một mình". Đây là câu cô đọng về thói đố kỵ, TN4-C119

Người Việt có câu "thà chết cả đống còn hơn sống một mình". Đây là câu cô đọng về thói đố kỵ, không muốn ai hơn mình, đôi khi lại còn muốn kéo mọi người xuống ngang bằng với mình. Tôi cũng từng nghe một người đã nói giỡn vui rằng: “nếu mỗi quốc gia đều có một chiếc chảo dầu dưới âm phủ cho những kẻ phạm tội bị thảy vào thì chắc chắn chảo dầu của người Việt Nam không cần đậy nắp. Đơn giản, nếu kẻ nào ngoi lên là ngay lập tức bị kéo xuống”.
Sự đố kỵ là lý do dẫn đến người Việt hay ghen tương, dìm hàng, nói xấu, tẩy chay nhau. Sự đố kỵ ấy lại thường xảy ra nơi những bà con láng giềng với nhau.  Hai nhà đang sống cạnh nhau có thể rất thân thiết khi cơ hàn như nhau, nhưng chắc chắn sẽ có chuyện khi một nhà tự dưng phất lên. Sống trong một tập thể dường như có ai thành công thì ắt sẽ bị gièm pha, nhòm ngó.
Sự đố kỵ không chỉ muốn người khác thua kém mình mà thậm chí còn cầu mong cho họ gặp thất bại cay đắng mới hả dạ.
Có một nhà buôn rất sùng đạo. Dù hoàn cảnh cuộc sống vất vả thế nào thì cũng không bỏ việc cúng vái thần thánh. Lời khẩn cầu vang lên tới trời, và thần tiên xuất hiện và ban cho ông ta những điều ước, nhưng với điều kiện sẽ cho hàng xóm ông được gấp đôi. Ông vui mừng, nhưng rồi lại buồn, vì nếu:
- Bây giờ mình xin một chiếc xe thì sợ tiên lại cho họ hai chiếc.
- Xin một căn nhà thì sợ họ được hai căn.
- Xin 1 tỷ thì hàng xóm được 2 tỷ.
- Và cứ thế, ông đưa ra đủ thứ ước muốn, nhưng lại không chọn gì cả, vì sợ mình được một thì người khác được hai.
- Cuối cùng ông quyết định: xin thần tiên cho con bị mù một mắt. Vì ông nghĩ nếu mình bị mù một thì người kia sẽ bị mù hai con mắt.
Những người biệt phái năm xưa dường như cũng muốn dìm hàng với Chúa Giê-su. Họ không muốn Chúa Giê-su nổi lên giữa họ. Họ chỉ muốn Chúa sống bình dị an phận trong sự dẫn dắt của họ. Đó là lý do họ gièm pha, khó chịu khi Chúa Giê-su nổi lên với lời giảng dạy và việc làm đầy uy quyền. Họ không phục vì bản tính cố chấp không muốn ai hơn mình. Họ đã đánh mất niềm vui khi nhìn thấy thành công của người đồng hương. Và dường như Chúa Giê-su cũng không thể làm điều gì cho họ vì họ quá cứng lòng tin.
Ở đời vẫn còn đó sự đố kỵ dẫn đến ghen tương mà làm hại lẫn nhau.
Tôi vẫn nghe những lời nói xấu ông A, bà B nhưng đều phát xuất từ ghen tỵ mà dựng chuyện bêu xấu nhau.
Tôi vẫn thấy những người làm việc tông đồ nhưng vẫn rỉ tai nhau để kết bè, kết phái để loại trừ nhau.
Tôi vẫn thấy những ý tốt bị mọi người loại trừ chỉ vì “trứng mà khôn hơn rận” nên cố chấp loại trừ nhau.
Tôi vẫn thấy những người môn đệ của Chúa vẫn đố kỵ dìm hàng nhau bằng nói xấu, gièm pha và bất hợp tác với nhau.
Cuộc đời sẽ đẹp biết bao nếu sống bên nhau mà thôi đố kỵ nhau. Cuộc sống sẽ thăng tiến nếu ai cũng hợp tác và khích lệ nhau thay cho sự chê bai, dìm hàng nhau. Đặc biệt những người trong một tổ chức, một hội đoàn cần có tình yêu thương hiệp nhất với nhau. Xin đừng đố kỵ ghen tương với nhau nhưng luôn hợp tác và chia sẻ thành công và thất bại với nhau.
Xin Chúa giúp chúng ta học nơi Chúa Giê-su luôn hiền lành và khiêm nhường để hòa hợp với mọi người. Xin đừng vì cố chấp mà dèm pha lẫn nhau gây mất tình hiệp nhất trong cộng đoàn. Xin loại bỏ trong chúng ta tính đố kỵ để sống hòa hợp với nhau. Amen.

 

TN4-C120: Người đồng hương - Nguyễn Thái

“Chúa Giêsu, như Elia và Elisa, không phải chỉ được sai đến với người Do Thái”.
 

Trong thời gian theo học tại đại chủng viện St. Mary of The Lake, Mundelein thuộc tổng giáo phận TN4-C120

Trong thời gian theo học tại đại chủng viện St. Mary of The Lake, Mundelein thuộc tổng giáo phận Chiacago, tôi có dịp học chung với một thầy người Nigeria ở Phi Châu sang Mỹ du học. Thầy chia sẻ lý do tại sao người dân Nigeria vẫn còn giữ tục lệ đa thê. Sự chênh lệch giữa những người giầu và nghèo là một trong những nguyên nhân làm cho vấn dề đa thê vẫn còn phổ biến. Các ông điền chủ giàu sang có nhiều ruộng đất, một mình không thể trông coi hết được. Ông cần có nhiều người coi sóc và nhiều con cháu chia nhau trách nhiệm lo việc ruộng rẫy. Vì thế cứ mỗi nơi có ruộng ông điền chủ để lại đó một bà vợ cùng với một bầy con chăm sóc mùa màng. Có nhiều ông có đến trên 10 bà vợ, vì ruộng đất ở rải rác nhiều nơi.
Chuyện kể về một trong những vị giám mục đầu tiên người bổn xứ Nigeria. Sau khi đã được thụ phong Giám mục, ngài trở về quê quán cho dâng làng chúc mừng. Dân làng của ngài là những điền chủ giàu có, nên họ tổ chức một buổi tiệc liên hoan vĩ đại để vinh danh ngài. Nhưng họ cũng lại là những người không mấy có thiện cảm với luật lệ hôn nhân của Công giáo. Trong bài diễn văn, vị bô lão đại diện lên phát biểu. Họ rất hãnh diện vì một trong những người con cháu được cất nhắc lên một chức vị danh dự và lớn lao trong giáo hội, đại diện cho Thiên Chúa. Họ hứa sẽ gia nhập đạo Công giáo, nếu với tư cách là Giám mục, ngài dùng quyền của ngài bỏ đi một trong 10 điều răn cho họ. Đó là điều răn thứ sáu, “chớ mê dâm dục!”
Trong bài đáp từ, vì tân giám mục trẻ mượn cơ hội này để giảng cho những người đồng hương một bài học. Mười điều răn là luật lệ và ý muốn của Thiên Chúa chứ không phải của loài người. Do đấy không thể thay đổi được. Buổi tiệc chúc mừng bỗng trở nên ngột ngạt và tuyệt vọng. Sau đó vị tân Giám mục bèn vội vã từ biệt dân làng ra đi.
Giống như vị tân giám mục, Chúa Giêsu về thăm gia đình và những người đồng hương ngay sau khi chịu phép rửa ở sông Giodan, nơi Thần khí ngự xuống trên Ngài và công khai tuyên bố Ngài là Con Thiên Chúa.
Giống như vị tân Giám Mục, đồng hương của Chúa Giêsu cũng đón tiếp Ngài với sự kinh ngạc và ca ngợi: “Mọi người đều làm chứng cho Người và thán phục Người về những lời từ miệng Người thốt ra, và họ nói: Người này không phải là con ông Giuse sao?” (Lc 4:22)
Giống như vị tân giám mục, đồng hương cũng mong chờ Ngài dùng quyền bính làm cho họ được hưởng những ân huệ đặc biệt, vì họ tự coi mình là dân riêng của Ngài.
Và sau cùng, giống như vị tân giám mục, Chúa Giêsu đã nói sự thật rằng Thiên Chúa không thiên vị một người nào, nhưng đối xử với toàn thể nhân loại như nhau. Nghe thế họ tuyệt vọng, quay ra chống đối Ngài, tìm cách xô Ngài xuống vực thẳm. Nhưng Ngài thoát khỏi họ mà đi. Vì: “Không một tiên tri nào được đón tiếp tại quê hương mình” (Lc 4:24).
Chúa Giêsu đã nhìn thấy trước nỗi tuyệt vọng của những người đồng hương, vì Ngài đã hiểu thấu đáo sứ mệnh tiên tri của ngài. Theo từ ngữ của Thánh Kinh, một tiên tri không chỉ là người nói trước việc tương lai sẽ xảy đến, nhưng tự bản chất, tiên tri là người nói thay cho Thiên Chúa, là xướng ngôn viên của Thiên Chúa. Vì thế, ngôn ngữ của vị tiên tri được Thánh Kinh diễn tả theo khuôn mẫu như sau: “Do đó, Thiên Chúa phán…” Tiên tri phải tập trung vào việc diễn tả lời của Chua, cho dù được dân chúng đón nhận hay không (1Cr 9:15-16). Các tiên tri phải nói lên sự thật (2Cr 11:10; 13,8). Mà sự thật thì mất lòng. Sự thật làm các ngài bị từ chối, bị bắt bớ, và khốn khổ! (Pl 1:29-30; 1Pr 4:12-14).
Chúa Giêsu phải nói cho những người đồng hương Do thái biết sự thật rằng đức tin, ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa được ban phát cho tất cả mọi người (Rm 1:16), gồm toàn thể nhân loại, chứ không riêng gì dân Do Thái, hay đồng hương. Sự cứu rỗi đã đến với toàn thể nhân loại, không phải chỉ giới hạn cho dân tộc được “tuyển chọn”. Óc địa phương, phe nhóm, chủng tộc, màu da… đều không phải là tiêu chuẩn của một Thiên Chúa yêu thương và công bằng.
Đối với Thiên Chúa, tiêu chuẩn để ban ơn cứu rỗi là đức tin và lòng sám hối.“Con người cần phải được mời gọi để tin và hoán cải” (Sacrosanctum Concilium đoạn 9), “Giáo hội phải tiến bước trên con đường của sám hối và đổi mới” (Lumen Gentium đoạn 171; GLCG #827,853). Bởi Chúa Kitô đã chết cho tất cả chúng ta là những người tội lỗi (Ga 3:14-16; Rm 5:8-10; Gaudium et Spes đoan 38).
Xưa kia có một bà nông dân dữ tợn. Khi bà chết chẳng để lại một việc lành phúc đức nào, do đó mà quỷ chờ lệnh cuả Thiên Chúa đưa bà xuống hỏa ngục để dìm vào trong hồ lửa. Nhưng thiên thần bản mệnh vẫn đứng bên cạnh bà, cố gắng suy nghĩ, may ra tìm được một việc lành nào đó bà đã làm để bầu cử cho bà trước tòa Thiên Chúa. Sau cùng, thiên thần nhớ ra một điều; nó không lớn lắm, nhưng là điều thiên thần có thể đưa ra biện minh trước Thiên Chúa. “Xưa kia, bà đã nhổ một cọng hành trong vườn của bà và đem cho một người ăn xin nghèo khó,” thiên thần nói với Thiên Chúa. Thiên Chúa trả lời: “Được lắm. Hãy lấy cọng hành, để bà bám chặt vào nó, rồi kéo bà lên thiên đàng. Nếu thiên thần kéo bà lên được, hãy cho bà vào thiên đàng. Còn nếu cọng hành bị đứt, bà ấy sẽ ở dưới hỏa ngục muôn đời”.
Thiên thần đưa cho bà cọng hành: “Nào, mau lên! Hãy nắm chặt lấy nó để ta kéo ngươi lên thiên đàng.” Và thiên thần bắt đầu kéo rất cẩn thận. Vừa kéo bà lên được một chút, những người tội lỗi khác nhìn thấy bèn cố gắng giành nhau bám vào chân của bà để họ cũng sẽ được cứu thoát. Nhưng người đàn bà đã vùng vẫy dữ dội, đá họ văng ra, đồng thời la hét rằng: “Ta đã được cứu chứ không phải các ngươi!” “Đây là cọng hành của ta, không phải của các ngươi!” Ngay khi bà vùng vẫy la hét như vậy cọng hành đã bị đứt, và bà bị rơi xuống hồ lửa. Vị thiên thần bản mệnh chỉ thương tiếc cho thân phận của bà rồi quay bước ra đi mà thôi!
Chúa nhật tuần trước, chúng ta đã nghe bản tuyên ngôn của Chúa Giêsu loan báo Tin Mừng cho những người đồng hương của Ngài ở Nagiaret. Phần đầu của bài giảng đã được những người đồng hương nhiệt liệt khen ngợi. Trong bài Phúc Âm hôm nay, Lc. 4:21-30, Chúa Giêsu áp dụng bài giảng của Ngài để chứng tỏ cho những người Do Thiếu thấy rằng chương trình cứu độ của Thiên Chúa cũng bao gồm cả những người dân ngoại. Để chứng minh, Người đã dùng câu chuyện của tiên tri Elia đang bị đói và người đàn bà góa đã giúp ông lại là một người dân ngoại xứ Xiđon. Thời tiên tri Êlisa, những người cùi Do Thái đã không được chữa lành, mà là một người cùi dân ngoại, Naaman, xứ Syria. Điều này đã làm cho họ giận dữ!
Dân chúng ngày nay cũng vẫn tự hào rằng họ tốt hơn những người khác. Dân tộc, quốc gia, cộng đoàn, gia đình, và bản thân mình là nhất! Nhìn vào các biểu tượng của lá cờ và huyền thoại của các quốc gia đủ biết rằng lòng tự ái dân tộc trong tâm tư của con người rất cao độ.
Các nhà đạo đức thường khuyên rằng lòng kính sợ Thiên Chúa chính là khởi điểm của sự khôn ngoan (Hc 1:14; Gn 1:7). Vì biết kính sợ Thiên Chúa tức là biết mình tội lỗi và cần đến ơn cứu rỗi của Thiên Chúa.
Câu chuyện thần thoại Hy lạp cổ kể rằng ở bên ngoài thành phố Thebes có một quái vật gọi là Sphinx. Mọi người đi ngang con quái vật này phải trả lời một câu đố, nếu trả lời sai sẽ bị giết chết. Câu đố như sau: Con vật nào vào ban sáng bước đi bằng bốn chân, vào ban trưa, bước hai chân, và vào ban tối bước đi bằng ba chân? Nhiều người đã phải chết vì không trả lời được! Cuối cùng chỉ có Oedipus trả lời đúng câu hỏi này mà thôi. Đó là con người, khi còn nhỏ bò bằng hai tay và hai chân, khi trưởng thành bước đi bằng hai chân, và khi về già phải chống thêm cây gậy nữa mới bước đi được.
Thế hệ của chúng ta cũng đang đối diện với cùng một câu hỏi, trả lời được câu hỏi này hay không sẽ liên hệ tới sự sống còn của đời sống tâm linh. “Tôi là ai? Cuộc đời có nghĩa lý gì?” là câu hỏi rất quan trọng. Thái độ của chúng ta đối với chính chúng ta, sự liên hệ của chúng ta với tha nhân và Thiên Chúa, sự tham gia của chúng ta vào trong thế giới đều tùy thuộc vào câu trả lời này.
Vào những năm xảy ra chiến tranh tại Sarajevo, thủ đô Bosnia. Báo chí đã đăng tải câu chuyện sau đây của một anh phóng viên chiến trường. Trong khi đôi bên đang bắn nhau dữ dội, một em bé gái bị trúng đạn. Người đầy máu, em bước đi thất thểu dọc theo vệ đường nơi hai bên đang giao tranh. Trước khi anh phóng viên ra tay hành động, đã có một người đàn ông nhào ra ôm lấy em, và năn nỉ anh phóng viên lái xe đưa họ tới bệnh viện:
“Anh có xe không?” người đàn ông hỏi. “Anh làm ơn đưa chúng tôi đến bệnh viện ngay được không?” không do dự, anh phóng viên chiến trường vội vàng đưa họ lên xe ngồi ở băng ghế phía sau đưa tới bệnh viện. Sau đó vài phút, người đàn ông hối thúc: “Làm ơn chạy mau đi! Cháu vẫn còn sống!” Anh phóng viêng tăng ga, chạy mau hơn. Vài phút sau, người đàn ông lại hối thúc: “Chạy lẹ đi, làm ơn làm phúc mà! Cháu vẫn còn thở!” Anh phóng viên nhấn thêm ga, chạy mau hơn nữa. Tuy nhiên, sau đó, người đàn ông lại hối: “Làm ơn chạy lẹ nữa đi! Cháu vẫn còn ấm!”
Sau cùng, họ đã đậu xe ngay trước cửa bệnh viện. Nhưng em bé gái đã chết! Người đàn ông và anh phóng viên chiến trường cùng đi vào phòng vệ sinh để rửa những vết máu dính trên tay. Người đàn ông nói: “Và bây giờ đến phần khó khăn nhất đây!” “Chuyện gì vậy?” Anh Phóng viên hỏi. “Bây giờ tôi phải đi tìm người cha của em bé gái này để báo cho biết, con gái ông ấy đã chết!” Trong kinh ngạc anh phóng viên nói: “Tôi lại cứ tưởng ông là cha của em gái ấy! Và em gái là con của ông chứ!”
Tất cả chúng ta lại không phải là con cái của Thiên Chúa sao? (1Ga 3:1-2; Rm 8:16-17). Trong tình thương - sự nhân đạo và ơn cứu rỗi – tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa yêu thương như nhau, không thiên vị (1Pr 1:17; Rm 2:11; Cv 10:34; Gl 2:6).

 

TN4-C121: Trở về quê hương - Lm. John Nguyễn Tươi

Quê hương… mỗi người đều có Vừa khi mở mắt chào đời. Quê hương …là dòng sữa mẹ. Thơm TN4-C121

Quê hương… mỗi người đều có
Vừa khi mở mắt chào đời
Quê hương …là dòng sữa mẹ
Thơm thơm giọt xuống bên nôi
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ...
Sẽ không lớn nổi thành người.
(Quê Hương- Đỗ Trung Quân)
Trong trái tim của mỗi người, quê hương được gắn liền với tuổi thơ, với tình yêu thương con người. Khi đi xa quê hương, thì lòng người càng thêm nhớ thương. Nhớ về cha mẹ, nhớ anh chị em, nhớ những người thân quen trong tình làng nghĩa xóm, nhớ những người bạn cũ một thời cắp sách đến trường. Quê hương được ví như dòng sữa mẹ nuôi dưỡng đời con. Quê hương được khắc ghi trong trái tim của mỗi con người. Quê hương nếu ai không nhớ, thì sẽ không lớn nổi thành người. Đọc lại bài thơ quê hương, nó đã gợi lại cho tôi nhiều kỷ niệm của tuổi thơ nơi tôi được sinh ra và lớn lên. Càng xa quê hương thì lòng càng thêm nhớ thương. Dù đi đến đâu thì lòng tôi vẫn muốn trở về thăm lại mái nhà xưa.
Trong hành trình đi rao giảng khắp nơi, Chúa Giê-su cũng tranh thủ trở về quê hương Nazaret, nơi Ngài đã được dưỡng dục và lớn lên. Chúa Giêsu vào Hội đường, Ngài đọc và giảng dạy Kinh Thánh cho dân chúng: "Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà tai các ngươi vừa nghe". Mọi người đều kinh ngạc và thán phục về giáo huấn của Ngài. Chúa Giê-su dùng từ "hôm nay" có nghĩa là hiện tại ngay bây giờ quý vị vừa nghe. Nó không phải là ngày mai hay là tương lai mà là ngày hôm nay. Lời Chúa phải được ứng nghiệm trong chính tâm hồn mọi người. Nhưng chúng ta phải biết mở rộng con tim, thì Lời Chúa mới có thể gieo vào, lớn lên và sống được. Giống như hạt lúa được gieo vào mảnh đất tốt, nó sẽ đơm hoa kết trái.
Tuy nhiên, có những kẻ nghe Lời Chúa, nhưng họ còn mang nặng thành kiến, vì do lối sống của họ đi ngược lại với đường lối của Thiên Chúa, nên họ tìm cách chống đối, phủ nhận và không muốn nghe Lời Chúa. Chẳng ai xa lạ, họ là những người đồng hương của Chúa Giê-su. Họ nói rằng: "Người này không phải là con ông bác thợ mộc sao?". Hóa ra bụt nhà không thiêng là vậy. Cho dù, Chúa Giê-su đã làm nhiều phép lạ chữa lành bệnh tật cho nhiều người để cho họ nhận ra ơn cứu độ và quyền năng của Thiên Chúa. Thế nhưng, họ đã từ chối đón nhận ơn thánh, mà đáng lẽ họ được ân hưởng.
Chúa Giê-su đã thấu hiểu cõi lòng của họ, Ngài nói tiếp: "Quả thật, Ta bảo các ngươi, không một tiên tri nào được đón tiếp tại quê hương mình". Thật là đau lòng. Chúa Giê-su yêu quê hương da diết, muốn trở về để chia sẻ và ban ân phúc cho những người đồng hương và cho mảnh đất quê hương, mà Ngài gắn bó như ruột thịt máu mủ. Ấy thế mà họ đã phủ nhận và không đón tiếp với những gì Chúa Giê-su giảng dạy và làm cho họ. Vì lòng ganh tỵ, ích kỷ và thành kiến, họ không còn nghĩ đến những gì Ngài đã làm cho họ. Họ cắt đứt mối dây liên kết tình đồng hương, và cũng không chấp nhận sự thật hay biến cố đã xẩy ra tại quê hương mình. Họ nói: Người ấy không phải là con bác thợ mộc sao? Hoàn cảnh của ông ta có gì hơn người khác đâu! Một gia đình nghèo nàn, đơn sơ trong cái làng này.
Hơn nữa, điều làm cho chúng ta đáng suy nghĩ trong đoạn cuối của bài Tin mừng hôm nay, khi Chúa Giê-su chỉ cho họ biết lý do tại sao các phép lạ chỉ xẩy ra cho các người dân ngoại Ca-phác-na-um trong thời các tiên tri, mà không thực hiện cho những người Itrael. Lời nói này đã đụng chạm đến lòng tự ái dân tộc, vì họ luôn tự cho mình là một dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn. Họ tự cho mình đạo đức thánh thiện hơn người nên họ đã phẫn nộ, trục xuất Chúa Giê-su ra khỏi thành. Họ dẫn Ngài lên núi để xô Ngài xuống vực thẳm cho chết. Nhưng Ngài rẽ qua giữa họ mà đi. Thật là phủ phàng.
Cuộc trở về quê hương của Chúa Giê-su đã thất bại. Ngài đã bị người đồng hương xua đuổi, coi thường, khinh dễ. Điều Chúa Giê-su muốn nói với đám đông không phải là coi thường họ, hay bình phẩm về lối sống đạo hình thức giả tạo bên ngoài của họ, nhưng Ngài muốn chỉ cho họ thấy rằng, ơn cứu độ của Thiên Chúa không chỉ dành riêng cho dân Itrael mà còn cho những người dân ngoại nữa. Sự cứu rỗi không tùy thuộc vào công việc họ đã làm, mà chính là ân sủng và nhờ lòng tin mà họ được ơn cứu độ của Thiên Chúa. Đó là ân huệ lớn lao của Thiên Chúa ban cho. Ơn cứu độ được mở ra cho tất cả mọi người và ơn thánh đó cần được ứng ngiệm trong cuộc sống mỗi người chúng ta hôm nay.
Mỗi ngày là một cuộc trở về. Trở về với gia đình. Trở về với chính mình. Trở về với căn tính của mình. Trở về với Thiên Chúa của mình. Trở về để biết mình đang đi về đâu. Mỗi người chúng ta có thể đi nhiều nơi, nhưng quê hương mỗi người chỉ một. Đó là quê hương trên trời, mà mỗi người chúng ta mong đợi khi kết thúc hành trình trên trần gian này. Thế gian là quán trọ dừng chân, để cho ta bước về quê hương vĩnh cửu. Chỉ có quê hương của Chúa Giêsu giới thiệu cho chúng ta mới là quê hương thật. Nếu chúng ta không nhớ thì không thể lớn thành người con dân của nước Thiên Chúa.
Ước gì, Lời Chúa hôm nay được ứng nghiệm trong mỗi người chúng con . Amen.

 

TN4-C122: NGUYÊN NHÂN ĐỨC GIÊSU BỊ KHƯỚC TỪ

TẠI QUÊ HƯƠNG
Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển
 

Ở đời, người ta vẫn thường nói: “Bụt nhà không thiêng”, để nói lên thái độ khinh thường những gì TN4-C122

Ở đời, người ta vẫn thường nói: “Bụt nhà không thiêng”, để nói lên thái độ khinh thường những gì là gần gũi. Nguyên nhân dẫn đến thái độ trên chính là do thói kiêu ngạo, tự mãn...
Thật vậy, kiêu ngạo là đầu mối sinh ra mọi giống tội.
Trong lịch sử cứu độ, chúng ta thấy rất nhiều thái độ kiêu ngạo đã từng xảy ra. Chẳng hạn như:
Lucifer đã muốn ngang bằng Thiên Chúa; Adam và Eva đã chống lại lệnh truyền của Người (x St 3, 1-20). Dân chúng muốn xây tháp Babel chọc trời...(x. St 11, 1-9).
Tuy nhiên, những điều tưởng chừng như thay thế Thiên Chúa, thì lại là mối họa cho con người, bởi lẽ nó được khởi xướng từ Ma Quỷ, qua thái độ kiêu ngạo.
Vì thế, không lạ gì, khi con người kiêu ngạo với Thiên Chúa, thì đương nhiêu họ cũng khước từ anh chị em đồng loại và có nguy cơ giết chết đời sống tâm linh, đánh mất đức tin và không đón nhận được nguồn sống từ Thiên Chúa. Suốt ngày, họ chỉ quay quắt với chính mình, và không chừng đánh mất luôn chính bản thân!
Như vậy, sự kiêu ngạo là con đường không thể đến với Thiên Chúa, ngược lại, nó dẫn đưa kẻ tự mãn đến hố diệt vong.
Đây chính là khinh nghiệm từ tạo thiên lập địa và đến muôn đời sau cho tất cả mọi người Kitô hữu.
Vì kiêu ngạo nên họ không chấp nhận Đức Giêsu
Hôm nay, Tin Mừng thuật lại việc Đức Giêsu bị đồng hương khước từ. Nguyên nhân cũng không là gì khác, đó chính là sự kiêu ngạo của người đồng hương.
Vì kiêu ngạo, nên trước mặt họ, Đức Giêsu chỉ là người bình thường nếu không muốn nói là tầm thường. Vì thế, mắt họ mờ đi và lương tâm trở nên trai cứng. Những dấu lạ điềm thiêng nơi Đức Giêsu đã không làm họ rung động và thay đổi đời sống, ngược lại, trước mặt họ: “Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao?”.
Tại sao vậy? Thưa sự kiêu ngạo đã là đó ngáng chỗ và lòng kiêu căng đã chiếm mất chỗ của Chúa trong cuộc đời của họ.
Trước thái độ trên, Đức Giêsu đã tuyên bố một câu mà muôn đời vẫn giữ nguyên giá trị: Đó là: “Tiên tri không bao giờ được tôn trọng trên chính quê hương mình”.
Qủa đúng như vậy, vì xét theo lẽ tự nhiên, một con người dù tài giỏi đến đâu, làm việc hiệu quả thế nào, và thành đạt trên nhiều lãnh vực hay nhiều nơi đi nữa, thì khi trở về gia đình, quê hương, họ luôn bị chính những người thân cận, làng xóm coi ở mức độ “thường thường bậc chung” vì lối suy nghĩ thiển cận, nên: “Gần chùa gọi bụt bằng anh”.
Điều này Đức Giêsu đã trải qua khi Ngài trở về quê hương của mình!
Chính vì sự coi thường này đã khiến cho ơn cứu độ của Thiên Chúa vuột mất khỏi họ, và suốt bao thế kỷ, họ vẫn đang chờ đợi một Đấng Kitô khác chứ không phải Đức Giêsu, Đấng đã hiện diện giữa họ cách đây hơn 2.000 năm.
Thực trạng kiêu ngạo của con người hôm nay
Thực trạng ấy nơi những người đồng hương với Đức Giêsu khi xưa, hôm nay vẫn còn đây đó nơi chúng ta, vì: thói ích kỷ, kỳ thị, chấp nhất, định kiến, ác cảm, nên ta hay giam người anh chị em mình trong quá khứ và không bao giờ cho họ cơ hội để mở ra một tương lai tốt đẹp hơn...
Lý do họ không nhìn anh chị em mình dưới lăng kính màu hồng, mà toàn màu đen, bởi mắt họ đang đeo cặp kính râm của sự kiêu ngạo! Vì thế, lối suy nghĩ nông cạn, vu vơ và trống rỗng đã dẫn đến việc đánh giá, đối xử lệch lạc và thiếu công bằng cũng như bất nhân. Quả đúng là: “Yêu ai thì nói quá ưa – Ghét ai nói thiếu nói thừa như không”.
Những người nông nổi như vậy, họ đâu có hiểu được rằng: “Sông có khúc, người có lúc”.
Thật vậy, có người bị coi là không tốt, đồ bỏ, vứt đi ở chỗ này, nhưng họ lại được nhiều người coi trọng và kính nể ở một nơi khác... Còn có nhiều người được xem là nhẹ nhàng, tao nhã, lịch thiệp chốn quan trường, ngoài xã hội, nhưng khi về đến gia đình, họ lại là kẻ bất nhân, vô liêm sỉ với gia đình. Mở miệng ra là quát tháo, chửi bới nên “thượng thẳng tay, hạ thẳng chân” với người thân. Họ thuộc hạng “khôn nhà dại chợ”; “làm phúc nơi nao để cầu ao rách nát”;... hay có những người ăn nói ngọt như đường mía lau, nhưng thực ra họ thuộc dạng: “Đội trên, đạp dưới” nên tâm địa bỉ ổi, xấu xa chẳng khác gì kẻ: “Miệng thì thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”.
Sống sứ điệp Lời Chúa
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay vừa nhắc nhở, vừa mời gọi chúng ta ý thức sứ mạng tiên tri cũng như lối sống và cách thức loan báo Tin Mừng!
Trước tiên, sứ mạng tiên tri được trao ban cho chúng ta ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Sứ mạng ấy càng thôi thúc mãnh liệt khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Thêm Sức.
Vì thế, mỗi người phải có trách nhiệm loan báo Lời Chúa, thi hành sứ mạng ở mọi nơi, mọi lúc, dù: “Thuận tiện hay không thuận tiện”; được ủng hộ hay chống đối, được đón nhận hay bị khước từ... được tôn vinh hay giết chết... Mặt khác, khi thi hành sứ vụ, chúng ta không thể chọn lựa theo ý mình, mà phải nói và làm điều Thiên Chúa muốn một cách trung thành (x. 1Cr 9,15-16); không được giả hình và bóp méo Lời Chúa (x. 2Cr 11,10 ; 13,8).
Thứ đến, khi thi hành sứ vụ, cần nhớ nằm lòng câu nói của Đức Giêsu: “Không tiên tri nào được kính trọng nơi quê hương mình”.
Bởi vì làm tiên tri không phải là chuyện đơn giản, mà là: “Vô cùng phong nhiêu”, phúc tạp! Vì Lời Chúa một đàng là lời tình yêu, nhưng một đàng là lời cật vấn lương tâm, vạch trần tội ác, bất công, gian dối, hình thức... nên: “Nếu thế gian ghét các con, thì hãy nhớ rằng họ đã ghét Thầy trước … Đầy tớ không lớn hơn chủ mình. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, thì họ cũng sẽ bắt bớ các con”(Ga 15,18-20).
Thật vậy, sứ mạng tiên tri đòi chúng ta chấp nhận lội ngược dòng, không thể sống theo phong trào hay “hiệu ứng đám đông”. Đôi khi chấp nhận điên vì sứ vụ, khùng Tin Mừng, khi dám nói lên tiếng nói công lý, công bằng ngay tại những nơi nguy hiểm như: sòng bài, quán rượu, quán karaokê…, nơi những con người đang “quậy” tứ tung hay “điên cuồng” trong những cuộc chơi bất chính...
Khi lựa chọn như thế, sự lẻ loi, cô lập và chống đối hay phải thí mạng là lẽ đương nhiên!
Mong sao, sứ mạng và số phận tiên tri của Đức Giêsu trong thời của Ngài, cũng là của chúng ta trong thời đại hôm nay.
Ước gì vì: “Nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân” là lựa chọn của mỗi người Kitô hữu, vì: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng ta” nên chúng ta “được Chúa kêu gọi để tỏa sáng như các vì sao giữa lòng thế giới tối tăm này”(Pl 2,15).
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con tình yêu của Chúa, để chúng con yêu cả những người thù ghét mình. Xin ban sức mạnh của Chúa, để chúng con can đảm, vững bước trên con đường thi hành sứ vụ.
Xin cho chúng con mặc lấy lòng bao dung, nhân hậu của Chúa, để chúng con đón nhận anh chị em chúng con trong tình Chúa và tình người. Amen.

 

TN4-C123: Suy niệm của JKN

Có bao giờ chính người Kitô hữu chối bỏ Đức Kitô không? Câu hỏi gợi ý:1. Tại sao Đức Giêsu lại TN4-C123

Có bao giờ chính người Kitô hữu chối bỏ Đức Kitô không?
Câu hỏi gợi ý:
1. Tại sao Đức Giêsu lại bị từ chối tại chính làng của mình? tại chính đất nước Do Thái? còn dân ngoại thì lại đón nhận Ngài để cuối cùng trở nên Dân Ngài? Liệu lịch sử có thể tái diễn tương tự như thế đối với Kitô giáo không?
2. Đức Giêsu có muốn dành ưu tiên cho quê hương hay dân tộc mình không? Ngài có thành công trong việc dành ưu tiên ấy cho quê hương hay dân tộc mình không? Tại sao?
3. Điều đã xảy ra với Do Thái có thể xảy ra tương tự với Kitô giáo không? Chúng ta phải làm gì để tránh vết xe đã đổ?
CHIA SẺ
1. Các ngôn sứ thường bị từ chối tại chính quê hương mình
Đoạn Tin Mừng hôm nay và những đoạn khác tương tự trong các sách Tin Mừng khác cho thấy: những người cùng quê cùng làng với Đức Giêsu có vẻ coi thường Ngài và không tin ở Ngài cho lắm. Vì đối với họ, Đức Giêsu chỉ là con của một bác thợ mộc nghèo hèn, và của một phụ nữ không danh giá gì trong làng. Nếu chúng ta ở vào địa vị của dân chúng làng Nagiarét, chưa chắc chúng ta đã suy nghĩ và đánh giá về Ngài khác hơn họ. Và nếu có một ngôn sứ nào xuất hiện ở thời đại này, tại thành phố hay tỉnh ta đang sống, chưa chắc ta đã nhận ra và đánh giá vị ấy một cách đúng đắn.
Thông thường, người ta thường đánh giá một người tùy theo những gì thấy được ở bên ngoài, chứ không thấy được giá trị thâm sâu ở bên trong. Và càng là người thân quen với vị ngôn sứ, thì càng khó đánh giá đúng đắn vị ngôn sứ ấy, vì các ngôn sứ thường mặc lấy những dáng vẻ bên ngoài rất bình thường, và cũng thường có quan niệm rất khác với người đương thời. Chính vì thế, các ngôn sứ ít được người đồng thời và đồng hương biết được giá trị con người mình, thậm chí còn bị coi thường, khi rẻ, kết án. Vì thế, Đức Giêsu nói: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình”.
2. Các ngôn sứ có muốn ưu đãi quê hương mình cũng không được
Vì thường bị người đồng thời, đồng hương hay đồng đạo coi thường và không tin, nên các ngôn sứ thường không thể hoạt động hữu hiệu hay có kết quả tốt đẹp tại quê hương hay thời đại mình. Chẳng hạn Đức Giêsu không thể làm được nhiều phép lạ tại Nagiarét, vì họ cứng lòng tin (x. Mt 13,58); đồng bào và đồng đạo của Ngài chẳng những không tin Ngài mà còn tìm cách giết Ngài nữa. Thái độ của những người đồng hương, đồng đạo hoặc đồng thời với Ngài như thế, khiến họ không được lợi lộc gì vì được làm người đồng hương, đồng đạo hay đồng thời với vị ngôn sứ cả.
Đức Giêsu đã kể ra những trường hợp cụ thể minh chứng điều ấy, chẳng hạn trường hợp của hai ngôn sứ Êlia và Êlisa. Thời Êlia, khi Israel bị đói, ông chẳng giúp một bà góa khốn khổ nào trong nước cả, mà lại giúp một bà góa ở tận đâu đâu, vì bà này tỏ ra yêu quí, tin tưởng và trọng vọng ông một cách đặc biệt. Thời Êlisa, biết bao người Israel bị phong hủi thì ông chẳng chữa cho ai, mà lại chữa cho một người từ ngoại quốc đến.
3. Thực tế ấy đã xảy ra trên nhiều bình diện khác nhau
Do tình cảm tự nhiên, ngôn sứ nào cũng đều muốn dành ưu tiên quyền lợi cho quê hương mình, nhưng nhiều khi vì thái độ khinh thường và cố chấp của người đồng hương, nên quê hương của các vị không hưởng được cái quyền ưu tiên mà các vị muốn đặc biệt dành cho. Để rồi cuối cùng sự ưu đãi đó lại được dành cho những người hay dân tộc xa lạ ở đâu đâu nhưng lại xứng đáng với sự ưu đãi đó hơn.
Thật vậy, Đức Giêsu luôn luôn muốn dành ơn cứu độ ưu tiên cho người Do Thái (x. Ga 4,22; Mt 10,6; 15,24). Nhưng Người Do Thái lại từ chối sự ưu tiên đó, nên ơn cứu độ lại được đem đến cho các dân tộc khác. Nhiều dụ ngôn của Đức Giêsu nói lên thực trạng đó. Chẳng hạn dụ ngôn những tá điền sát nhân (x. Mt 21,33-46; Mc 12,1-12; Lc 20,9-19), dụ ngôn tiệc cưới (x. Mt 22,1-14; Lc 14,15-24).
Bài Tin Mừng lễ Hiển Linh cho thấy các kinh sư Do Thái - đại diện cho dân tộc được Thiên Chúa ưu tiên dành cho mọi quyền lợi thiêng liêng - mặc dù có Kinh Thánh trong tay và biết được chính xác Đức Giêsu sinh ra ở đâu, nhưng họ lại không thèm tìm đến Ngài, mà lại còn muốn làm hại Ngài. Còn các đạo sĩ - đại diện cho dân ngoại, dân không được ưu tiên - từ mãi đâu đâu tới và phải nhờ tới các kinh sư Do Thái mới biết được Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, thì lại quyết tâm tìm kiếm Ngài và họ đã tìm thấy.
Sự việc ấy là hình bóng của thực tế xảy ra sau đó: Mặc dù Đức Giêsu sinh ra tại Do Thái, và dân Do Thái là dân được ưu tiên hưởng ơn cứu độ, thì thực tế là cho tới nay, dân Do Thái vẫn chưa nhìn nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu Tinh Nhân Loại, mà vẫn còn tiếp tục chờ đợi. Còn những dân tộc đang tin vào Đức Giêsu hiện nay thì lại là những dân tộc bị dân Do Thái xưa khinh thị và gọi là dân ngoại. Thế là ứng nghiệm điều Đức Giêsu tiên báo trong hai dụ ngôn vừa nêu trên.
4. Nói người lại nghĩ đến ta
Lịch sử thường hay tái diễn lại theo kiểu tương tự. Điều đó khiến ta phải suy nghĩ vì nó có thể xảy ra cho chính chúng ta. Hiện nay, Kitô giáo luôn tự hào mình là tôn giáo do chính Thiên Chúa thiết lập, được chính Thiên Chúa mặc khải những chân lý thâm diệu nhất, và là con đường chính thống nhất dẫn đến ơn cứu độ. Kitô giáo với các tôn giáo khác cũng phần nào tương tự như Do Thái giáo với dân ngoại xưa. Liệu điều đã đúng với Do Thái giáo có đúng một cách tương tự với Kitô giáo không?
Dân Do Thái xưa lúc nào cũng tự hào về tôn giáo của mình là tôn giáo duy nhất đúng đắn vì là tôn giáo duy nhất được Thiên Chúa mặc khải. Còn các dân tộc khác thì thờ thần tượng, đi trong sai lạc. Nhưng kết cục ra sao? Dân Do Thái không chỉ phủ nhận Đức Giêsu mà còn giết Ngài nữa. Họ từ chối ơn cứu độ, và ơn cứu độ đã được trao cho dân ngoại. Dân ngoại lại đón nhận ơn cứu độ và gia nhập Giáo Hội. Thế thì xét cho cùng, đối với dân Do Thái, việc có tôn giáo duy nhất đúng đắn, việc nắm được nhiều chân lý hơn các dân tộc khác có ích lợi gì?
Như thế, xem ra điều quan trọng không phải là có tôn giáo chân chính cho bằng sống đúng những gì tôn giáo mình đòi hỏi, sống đúng theo lương tâm của mình. Hãy nghe thánh Phaolô nói: “Người ta được Thiên Chúa coi là công chính, không phải vì nghe biết Lề Luật, nhưng là vì tuân giữ Lề Luật” (Rm 2,13). Vì thế, nếu “bạn tự hào vì có Lề Luật, mà bạn lại vi phạm Lề Luật, thì như vậy bạn làm nhục Thiên Chúa!” (Rm 2,23). Tương tự, nếu chúng ta có tôn giáo chân chính mà lại không thèm sống đúng theo tôn giáo ấy, thì ta cũng làm nhục Thiên Chúa, Đấng thiết lập tôn giáo ấy. Lúc ấy chúng ta rất xứng đáng với lời kết án của thánh Phaolô: “Thật đúng như lời chép: Chính vì các người mà danh Thiên Chúa bị phỉ báng giữa chư dân” (Rm 2,24). Lúc ấy, tôn giáo chân chính có ích lợi gì cho ta, hay đó chính là lý do để Thiên Chúa kết án chúng ta?
Bài Tin Mừng hôm nay chính là lời cảnh tỉnh chúng ta: Đừng để tinh thần yêu thương của Kitô giáo lại bị chính các Kitô hữu như chúng ta coi thường, không thèm sống, mà người sống tinh thần ấy lại là những người thuộc các tôn giáo khác. Vậy tốt nhất, chúng ta hãy đem tinh thần yêu thương của Đức Giêsu ra áp dụng thật sự vào đời sống. Đừng để trường hợp của Do Thái giáo lại tái diễn một cách tương tự với Kitô giáo, trong đó người chủ động tái diễn trường hợp ấy lại chính là chúng ta!
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã gián tiếp cảnh giác chúng con: chính quê hương, đất nước, dân tộc và đồng đạo của Ngài - là những người mà Ngài muốn dành ưu tiên hưởng ơn cứu độ Ngài đem lại - lại từ chối Ngài. Hiện nay, rất có thể chúng con đang đi vào vết xe đã đổ ấy: ngoài miệng chúng con luôn tuyên xưng mạnh mẽ niềm tin vào Đức Giêsu, nhưng đời sống của chúng con thì lại đi ngược lại những điều Ngài dạy. Chúng con tuyên xưng hay biểu lộ đức tin mạnh mẽ ra ngoài để che lấp thực tế phủ nhận đức tin ấy ở bên trong. Xin giúp chúng con ý thức rằng thái độ giả hình ấy vô cùng có hại cho chúng con. Xin Cha cứu chữa chúng con khỏi thái độ ấy.

 

TN4-C124: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 4 TN C

Thiếu nhi chúng con yêu quí,
 

Chúng con lại vừa được nghe một bài Tin Mừng nữa do thánh Luca kể lại. Câu chuyện hôm nay TN4-C124

Chúng con lại vừa được nghe một bài Tin Mừng nữa do thánh Luca kể lại.
Câu chuyện hôm nay tiếp nối câu chuyện tuần trước.
Phải nói câu chuyện hôm nay là một câu chuyện buồn đối với Chúa đồng thời cũng là câu chuyện buồn với cả những người ở Nagiareth.
 
1. Chúa Giêsu buồn.
 
Chúa buồn vì thấy những người ở quê hương mình không có niềm tin vào Chúa. Họ chỉ coi Chúa như một con người bình thường không hơn không kém, thậm chí còn thua kém nhiều người khác ở trong xã hội nữa: "Họ bảo nhau: "Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?"(Lc 4,22). Rồi từ chỗ coi thường Chúa như thế họ muốn thách thức Chúa. Chúa đã đọc được những ý nghĩ như thế trong lòng của họ cho nên Chúa đã thẳng thắn trả lời: "Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Caphácnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!"(Lc 4,24). Đúng là họ coi Chúa chẳng ra gì. Có gì đi nữa thì cũng chỉ là con một người làm thợ mộc!
 
Với những người coi thường Chúa như thế thì làm sao mà kéo được tình thương của Chúa đến với mình được. Chính vì thế mà chúng con thấy Chúa đã từ chối thẳng thừng không một chút nhẹ nhàng. Hơn thế nữa Chúa còn tỏ ra như muốn khiêu khích họ khi trưng ra hai thí dụ trong Cựu Ước làm cho họ phẫn uất và muốn giết luôn Chúa cho bõ ghét.
Cha hỏi chúng con những Nagiareth có thể thực hiện được ý muốn của họ không?
-Thưa không.
- Chúng con trả lời rất đúng.
Chúng ta đã thấy Chúa thoát âm mưu của những người Nagiareth như thế nào thì tất cả chúng ta đã thấy.
Chính vì thế mà chúng con phải tập cho mình biết sống khiêm nhường trước mặt Chúa. Chỉ có những ai biết sống khiêm nhường mới xứng đáng được Chúa yêu thương.
 Một vị ẩn tu nọ sau 50 năm sống khắc khổ giữa sa mạc bỗng cảm thấy chán nản khi nghĩ rằng, mình chưa làm được một phép lạ nào như các vị tiền bối. Ông quyết định rời bỏ sa mạc để trở về đô thị sống một cuộc sống tiện nghi, bình thường thường như mọi người. Nhưng đôi mắt Chúa lúc nào cũng dõi theo từng suy nghĩ, từng đường đi nước bước của ông... Biết ông đang tính toán bỏ cuộc để trở lại đô thị, Thiên Chúa bèn sai một thiên thần đến nói với ông. Và vị sứ thần đã đến nói với ông những lời này:
- Ngươi đang tính toán điều gì thế? Ngươi hãy thử nghĩ, có phép lạ nào kỳ diệu hơn chính cuộc sống của ngươi không? Ai đã ban cho ngươi sức mạnh để có thể cầm cự được ở nơi hoang vu này mấy chục năm qua? Ai đã chúc lành cho cây cỏ ngươi dùng trong những tháng ngày qua mà không hề gây nguy hại cho ngươi? Ngươi hãy ở lại đây và xin Chúa ban cho ngươi lòng khiêm nhường.
 Được lời của một vị sứ thần nâng đỡ, nhà ẩn sĩ ở lại trong sa mạc và tiếp tục cuộc sống tu trì. Từ đó trở đi ông cảm thấy cuộc đời của mình tràn đầy hạnh phúc với niềm tin thật vững vàng: Mỗi một giây phút qua đi trong cuộc sống là một phép lạ mà Thiên Chúa đang thực hiện cho mình.
 
2. Những người ở Nagiareth buồn.
 Tin Mừng thuật lại: Chúa đã làm rất nhiều việc lạ lùng tại Capharnaum. Lý ra thì khi nghe được đó những người ở Nagiareth phải hân hoan vui sướng và tin Chúa. Nhưng rất tiếc là họ đã không làm như thế. Họ đã đánh mất một cơ hội ngàn vàng để được Chúa ban ơn. Lý do tại sao? Chỉ vì họ không biết nhận ra những gì hồng ân quí giá mà họ đang có ở trước mặt. Chỉ vì họ ích kỷ hẹp hòi mà họ đã không nhận ra Chúa.
 Nói tới đây cha nhớ đến một câu chuyện vui. Câu chuyện như thế này. Đây là câu chuyện mà những người Đức thường kể cho nhau về việc phải biết nhận ra những hạnh phúc Thiên Chúa dành cho mình mỗi ngày.
 Có một nhà hiền triết nọ chuyên cố vấn giúp đỡ những ai gặp buồn phiền, chán nản trong cuộc sống. Bất cứ ai đến xin chỉ bảo cũng đều nhận được lời khuyên thiết thực.
Một hôm,  có một người thợ may mặt mày thiểu não chạy đến xin cầu cứu. Gia đình ông gồm có ông, vợ ông và 7 đứa con trai nhỏ. Tất cả chen chúc nhau trong một căn nhà gần như đổ nát.  Người vợ phải la hét suốt ngày vì sự quấy phá của 7 đứa con. Xưởng may của ông lúc nào cũng lộn xộn, bẩn thỉu vì những nghịch ngợm của lũ con. Thêm vào đó là những tiếng la hét, khóc nhè suốt ngày,  khiến người thợ may không thể chú tâm làm việc được.
 Nghe xong câu chuyện, nhà hiền triết mới đề nghị với người thợ may như sau:
- Anh hãy ra chợ mua cho kỳ được con dê, rồi dắt nó về cột ngay trong xưởng may của anh.
Người đàn ông đáng thương không đoán được ẩn ý của nhà hiền triết, nhưng đặt tất cả tin tưởng vào ông, cho nên anh về thu góp hết tiền của trong nhà để ra chợ mua cho kỳ được con dê.
 Chúng ta hãy thử tưởng tượng: sự hiện diện của con dê trong xưởng may sẽ giúp được gì cho anh ta? Con vật hôi hám ấy không những phóng uế nhơ bẩn lại suốt ngày còn kêu những tiếng không êm ái chút nào. Cái xưởng may chỉ trong một ngày đã biến thành một chuồng súc vật bẩn thỉu không thể chịu được…
Người thợ may lại đến than phiền với nhà hiền triết vì sự hiện diện của con dê. Lúc bấy giờ, nhà hiền triết mới bảo anh:
- Anh hãy tức khắc mang nó ra chợ và bán lại cho người khác.
 Người đàn ông cảm thấy như nhẹ nhõm cả người. Anh dắt con vật ra chợ. Trong khi đó, ở nhà, vợ anh mang nước vào tẩy uế cái xưởng may. Bảy đứa nhóc con của anh bắt đầu trở lại xưởng may và hò hét trở lại. Người đàn ông nhìn xuống sàn nhà của xưởng may rồi mỉm cười nhìn thấy mấy cậu con trai của anh đang chạy nhảy la hét.  Anh tự nhủ: dù sao, tiếng la hét của mấy đứa con của mình, so với tiếng kêu của con vật dơ bẩn, vẫn dễ chịu hơn … Và chưa bao giờ anh cảm thấy hạnh phúc cho bằng ngày hôm đó.
 Tâm lý thông thường, chúng ta dễ có thái độ “đứng núi này nhìn núi nọ”. Những cái quen thuộc, những cái trước mặt, những cái thường ngày,  những cái nhỏ bé thường dễ bị khinh thường. Chúa Giêsu hôm nay cũng chịu một cảnh tượng tự như vậy. Chúa đã bị đuổi đi và cơ hội đã không bao giờ trở lại.
Chúng ta hãy coi chừng. Đừng bao giờ xem thường những hồng ân của Chúa.
 Giá trị của cuộc sống chính là được gặp gỡ Chúa mỗi ngày. Không ai trong chúng ta được chọn lựa cha mẹ và gia đình để được sinh ra. Có người sinh ra trong cảnh giàu sang phú quý. Có người sinh ra trong cảnh nghèo nàn. Có người thông minh, có người đần độn…Chúa mời gọi chúng ta đón nhận cuộc đời như một Hồng ân của Chúa. Ngài mời gọi chúng ta đón nhận từng phút giây của cuộc sống như một ân huệ… Nói như thánh Phaolô “tất cả đều là ân sủng của Chúa”: tất cả đều phải được đón nhận với lòng biết ơn và tín thác.Amen.
 Lm Giuse Đinh Tất Quý

 

TN4-C125: Ngôn sứ bị từ chối

SCĐ Chúa Nhật 4 TN.C
“Họ kéo Ngài lên tận đỉnh núi để xô Ngài xuống vực” (Lc 4,29)
 

Nhiệm vụ làm ngôn sứ thật là bạc bẽo : Thời Cựu Ước, ngôn sứ Giêrêmia đã bị dân mình bách hại TN4-C125

Nhiệm vụ làm ngôn sứ thật là bạc bẽo : Thời Cựu Ước, ngôn sứ Giêrêmia đã bị dân mình bách hại (bài đọc I) ; Thời Tân Ước, Chúa Giêsu cũng bị những người đồng hương Nadarét muốn xô xuống vực thẳm (Bài Tin Mừng). Nhưng các ngôn sứ vẫn can đảm thi hành sứ mạng của mình vì các ngài dựa vào Thiên Chúa (đáp ca).

I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến
Tục ngữ có câu “Lời thật mất lòng”. Chúa Giêsu ưu tiên loan Tin Mừng cho những người đồng hương của Ngài ở Nadarét, thế mà họ lại xua đuổi Ngài. Thời bây giờ cũng vậy, nhiều người không muốn nghe những lời xây dựng chân thành, thậm chí còn ghét những người nói thẳng nói thật.
Hôm nay chúng ta hãy suy gẫm về thực tế chua chát ấy, và xin Chúa giúp chúng ta đừng rơi vào thói xấu ấy.

II. Gợi ý sám hối
– Xin Chúa tha thứ cho những lần chúng con bỏ ra ngoài tai những lời xây dựng chân thành của kẻ khác.
– Xin Chúa tha thứ cho những lần chúng con có phản ứng không tốt với người khác chỉ vì họ đã nói thẳng nói thật.
– Xin Chúa tha thứ cho những lần chúng con đối xử bất công : vui vẻ với người khen nịnh, và khó chịu với người chân thành góp ý.

III. Lời Chúa
Bài đọc I (Gr 1,4-5,17-19)
Giêrêmia tự thuật về việc Thiên Chúa gọi ông làm ngôn sứ : Thực ra Giêrêmia không muốn làm ngôn sứ chút nào cả vì ông biết mình không có khả năng, và ông cũng ý thức rằng ông sẽ gặp rất nhiều chống đối và đau khổ vì nhiệm vụ ấy. Nhưng vì tin tưởng vào sự trợ giúp của Chúa nên ông đã can đảm đáp lại lời Chúa gọi.
Đáp ca (Tv 70)
Thánh vịnh 70 quãng diễn tâm tình của ngôn sứ Giêrêmia. Đó là tâm tình cậy trông và phó thác : “Con ẩn náu bên Ngài lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ… Xin Ngài như núi đá cho con tru ẩn, như thành trì để cứu độ con”.
Tin Mừng (Lc 4,21-30)
Đoạn Tin Mừng hôm nay nói về hoạt động của Chúa Giêsu ở Nadarét quê hương Ngài :
Ngày Sabát, Ngài vào hội đường, dựa trên đoạn sách Isaia để công bố chương trình hành động của Ngài. Đó là mang Tin Mừng và ơn cứu độ cho những người nghèo khổ.
Bài giảng đã gây hứng khởi trong lòng thính giả. Họ thầm mong rằng, vì tình đồng hương, Ngài sẽ ưu tiên làm phép lạ cho họ. Nhưng Ngài đã từ chối, bởi vì Ngài là Đấng cứu độ của mọi người chứ không của riêng ai.
Thất vọng, dân Nadarét đã trục xuất Ngài khỏi thành và còn muốn giết Ngài.
  4. Bài đọc II (1 Cr 12,31–13,13) (Chủ đề phụ)
Sau khi giải thích cho tín hữu Côrintô về các đặc sủng nhằm phục vụ cộng đoàn (Chúa nhật trước), Thánh Phaolô nói đến ân sủng cao quý nhất trong mọi ân sủng, đó là Đức Mến.
– Đức Mến làm cho các ơn khác có giá trị thực (“Giả như tôi có nói được các thứ tiếng… mà không có đức mến thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chủm choẹ xoang xoảng”).
– Đức Mến cao trọng hơn mọi nhân đức khác (“Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là Đức Mến”)

IV. Gợi ý giảng
* 1. Cần có ngôn sứ
Mỗi thời kỳ lịch sử đều có ngôn sứ. Mỗi thời kỳ lịch sử đều cần ngôn sứ. Bởi vì “ngôn sứ” là sứ giả của Lời Chúa, nếu không có ngôn sứ thì có thể Lời Chúa sẽ bị yếu đi.
Thời Cựu Ước có các ngôn sứ Isaia, Giêrêmia, Êdêkiên v.v. Thời Tân Ước có Chúa Giêsu, có các tông đồ… Thế kỷ XIII có Phanxicô Assidi… Thế kỷ XVII có Vinh Sơn Phaolô… Thế kỷ XX có Têrêsa Calcutta v.v.
Thực ra con người ngôn sứ chẳng có gì khác lạ hơn người thường : dân làng Nadarét đã nhận định về Chúa Giêsu “Ông ta chẳng phải là con bác thợ mộc Giuse đó sao ?” Ở một vài phương diện nào đó, ngôn sứ còn thua kém người khác nữa : Giêrêmia đã thành thật thưa với Chúa “Lạy Chúa, con không biết nói. Con chỉ là một đứa trẻ”.
Nhưng ngôn sứ hơn người là do Lời Chúa : ngôn sứ nghe được Lời Chúa, tin tưởng vào Lời Chúa, và nhiệt thành chuyển đạt Lời Chúa đến cho mọi người.
Dù “hơn người”, nhưng không hẳn ngôn sứ được người quý mến, trái lại thường bị người chống đối và bách hại, bởi vì “Lời thật mất lòng”.
Tuy thường bị người ta đối xử tệ, nhưng ngôn sứ chính là kẻ làm ơn cho người. Nhờ ngôn sứ nhắc người ta sống đúng lời Chúa.
Sứ mạng ngôn sứ rất khó khăn và bạc bẽo. Nhưng ngôn sứ sẽ chu toàn sứ mạng nhờ cậy dựa vào sự trợ giúp của Chúa.
Qua bí tích Rửa Tội, mỗi kitô hữu chúng ta đều được Chúa trao sứ mạng là ngôn sứ của Ngài.
* 2. Kiên vững – Dịu hiền
Thôi Trữ là quyền thần nước Tề, định giết vua Trang Công, bèn hội họp sĩ phu lại cùng nhau thề thốt. Ai nấy đều sợ hãi, răm rắp vâng lời. Duy có Án Tử nghiễm nhiên như không, nhất quyết không chịu thề.
Thôi Trữ bảo Án Tử : “Ngươi nghe ta. Ta lấy được nước, thì ta cho một nửa. Nhược bằng không nghe, ta giết ngay lập tức”.
Lúc ấy, bốn mặt quân lính hầm hầm những muốn đưa gươm giáo ra đâm chém Án Tử. Chết đến nơi, mà Án Tử vẫn không biến sắc, ung dung nói rằng :
“Lấy lợi nhử người ta, bảo người ta phản bội quân thượng là bất nhân ; lấy binh khí hiếp người ta, làm người ta mất chí khí là bất dũng. Giết thì giết, ta đây không theo việc bất nhân của nhà ngươi đâu”.
Thôi Trữ nghe nói, không dám làm gì Án Tử. Án Tử đứng dậy, ung dung bước ra.
*
Thôi Trữ quyền hành là thế, mà chỉ một câu nói của Án Tử cũng đủ làm ông phải chùn bước. Thế mới biết sự thật có sức mạnh hơn bạo lực quyền uy.
Bài Tin Mừng hôm nay kể lại : “Mọi người trong hội đường đều đầy căm phẫn, họ chỗi dậy và trục xuất Người ra khỏi thành : Họ dẫn Người lên triền núi, nơi xây cất thành trì của họ, để xô Người xuống vực thẳm. Nhưng Người rẽ qua giữa họ mà đi” (Lc 4,29-30). Chúa Giêsu chính là Sự Thật tuyệt đối, nên từ nơi Người toát ra sức mạnh phi thường, khiến đám người bạo động phải đứng như trời trồng để Người đi qua.
Những người đồng hương với Chúa Giêsu cảm thấy khó chịu, vì họ không thể tin rằng “Thần khí Chúa” lại ngự xuống trên con ông Giuse thợ mộc.
Họ cảm thấy nghi ngờ, vì họ không thể chấp nhận một con người nghèo khổ làng Nadarét lại là tiên tri, là Đấng Thiên sai.
Họ càng căm phẫn, khi con người ấy không chịu thực hiện những phép lạ mà họ yêu cầu. Thế là bạo động nảy sinh, họ muốn tiêu diệt Người cho khuất mắt. Đúng như lời Chúa Giêsu đã nói : “Không một tiên tri nào được đón tiếp nơi quê hương mình” (Lc 4,24).
Thế mới ứng nghiệm lời ông Simêon : “Trẻ này là dấu hiệu bị ngưới đời chống báng” (Lc 2,34). Lời tiên tri này còn theo Người suốt cả cuộc đời.
Nếu dân làng Nadarét ép Chúa Giêsu làm phép lạ để minh chứng Người là tiên tri, thì các đầu mục Do thái cũng đòi Chúa Giêsu chứng minh giáo lý của Người là chính thống.
Nếu dân làng Nadarét tố cáo Chúa Giêsu là lộng ngôn phạm thượng, thì các người Pharisêu cũng kết tội Người dựa vào thế giá cửa quỉ vương.
Nếu dân làng Nadarét cố tìm cách giết Chúa Giêsu, thì dân thành Gíêrusalem cũng quyết tâm đóng đinh Người trên thập giá.
Mỗi người tín hữu Kitô đều có thể hiểu được thế nào là bị xua đuổi, bị loại trừ, bị kỳ thị và bị bỏ rơi, vì “Nếu thế gian đãghen ghét các con, thì hãy nhớ rằng họ đã ghét Ta trước” (Ga 15,18), nhưng ít có ai cảm nhận được tâm trạng của Chúa Giêsu vào những lúc như thế này : Người có căm thù những kẻ ruồng rẫy Người không ? Người có đầu hàng trước nghịch cảnh này chăng ? Nói như Martin Luther King : “Tôi vui mừng vì Thiên Chúa chúng ta thờ là Thiên Chúa có tinh thần kiên vững và con tim dịu hiền”.
Vâng, nếu Thiên Chúa chỉ là Đấng có tinh thần kiên vững, thì Người sẽ là một Thiên Chúa xa cách, lạnh lùng, ngự trị tại một nơi nào đó trên chốn trời cao để ngắm nhìn thế sự thăng trầm. Nhưng nếu Người chỉ là Đấng có con tim dịu hiền, thì Người sẽ là một Thiên Chúa uỷ rnị nhu nhược, không thể hành động khi mọi sự đi lệch hướng.
Đứng trước cảnh bị ruồng rẫy hôm nay, con tim của Người không hề chai đá và tinh thần của Người không chút bạc nhược. Người có tinh thần đủ kiên vững để vượt trên thế giới, và có con tim đủ dịu hiền để ở giữa con người.
Nếu có một bài học nào được rút ra từ bài Tin Mừng hôm nay thì đó chính là : Thiên Chúa mạnh mẽ vô song, có thể “băng qua giữa họ mà đi”, nhưng Người cũng là Đấng giàu lòng thương xót. Khi chúng ta ngỗ nghịch xúc phạm đến Người, khi chúng ta muốn “xô Người xuống vực thẳm”, thì chúng ta cần biết rằng, chính lúc đó Người đang yêu thương chúng ta và sẵn sàng cho chúng ta một cơ hội để quay trở về.
Thiên Chúa là Đấng có tinh thần kiên vững trong phán quyết công minh, nhưng Người cũng là Đấng có tính dịu hiền trong tình thương và ân sủng.
Thiên Chúa ban ân sủng cứu độ cho hết mọi người, chứ không chỉ dành riêng cho một số người được đặc ân.
Thiên Chúa ban ân sủng Cứu độ để chúng ta sinh ích cho mình và làm lợi cho anh em, chứ không phải để chúng ta khư khư giữ lấy cho riêng mình.
*
Lạy Chúa, Tiên Tri là ơn gọi và là sứ mạng của mỗi người tín hữu chúng con.
Xin cho chúng con luôn can đảm nói điều Chúa muôn nói, và nói nhân danh Chúa, cho dù có phải bị chống đối, phẫn nộ.
Xin cho chúng con luôn xác tín rằng : Chúa đầy quyền năng cả nhưng cũng rất giàu lòng xót thương, luôn dẫn dắt chúng con từ những hố sâu tăm tối đến những nẻo đường chan hoà ánh sáng, tràn đầy hy vọng, nhờ đó, cuộc đời chúng con được viên mãn. Amen (TP)

Ưu tiên cho ai ?
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với dân làng Nadarét ban đầu rất tốt đẹp : “Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Ngài”. Nhưng sau đó là đổ vỡ hoàn toàn : “Mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy lôi Ngài ra khỏi thành… Họ kéo Ngài lên tận đỉnh núi, để xô Ngài xuống vực”
Nguyên do gây đổ vỡ là quan niệm về ưu tiên. Dân làng Nadarét nghĩ rằng Chúa Giêsu phải ưu tiên cho họ, bởi vì họ là đồng hương của Ngài. Ngài đã từng làm phép lạ ở thành Capharnaum xa lạ thì Ngài phải làm nhiều phép lạ hơn nữa ở Nadarét này mới phải, vì đây chính là quê hương của Ngài kia mà : “Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Capharnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào”. Phần Chúa Giêsu thì muốn dành ưu tiên cho những người nghèo khổ : “Thần khí Chúa ngự trên tôi… để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức…”
Nói cách khác, dân làng Nadarét muốn ưu tiên theo tình cảm, còn Chúa Giêsu thì chủ trương ưu tiên theo sứ mạng. Tình cảm thường hẹp hòi, sứ mạng thì bao la. Tình cảm thường mù quáng, sứ mạng mới sáng ngời.
Chúng ta thường bị tình cảm làm mù quáng và lệch lạc, ngay cả khi chúng ta làm việc bác ái và làm công tác tông đồ. Gương Chúa Giêsu nhắc ta phải luôn ý thức đến sứ mạng. Nếu có ưu tiên thì hãy ưu tiên cho những người nghèo nàn, khổ sở.

* 4. Trở lại quê hương

Sau nhiều năm xa cách ngôi làng Transkei là nơi ông đã sinh ra và lớn lên, Nelson Mandela có dịp trở lại đấy. Lúc bấy giờ ông đã là một luật sư có nhà cửa ở thủ đô Johannesburg. Ông đã ghi lại cảm tưởng như sau : “Trở lại một nơi chẳng có gì thay đổi để khám phá ra rằng mình đã đổi thay. Quê hương thì vẫn như xưa, chẳng có gì khác hơn hồi mình sinh ra và lớn lên ở đấy. Nhưng tôi nhận ra rằng suy nghĩ và cách nhìn của mình đã khác xưa rất nhiều”. Vì thế Nelson Mendela rất hạnh phúc khi trở về thăm lại quê cũ, nhưng ông không ở lại đó, vì nó đã trở thành quá chật hẹp đối với ông.
Có lẽ cảm nghĩ của Chúa Giêsu cũng giống như thế khi Ngài trở về Nadarét. Những người đồng hương của Ngài chẳng có gì thay đổi : họ vẫn mãi coi Ngài là con bác thợ mộc chứ không phải là Đấng Messia ; họ vẫn quen lối suy nghĩ hẹp hòi cho rằng ơn cứu độ là đặc ân của người do thái, chứ không thể chấp nhận rằng mọi người đều được hưởng ơn cứu độ.
Chúa Giêsu trở về quê hương để mang cho đồng hương của Ngài một sự đổi mới. Tuy nhiên họ không chịu thay đổi. Vì thế nên Ngài không thể ở lại quê hương, Ngài đành ra đi, tiếp tục đến những nơi khác. (FM)

Đức Mến
Có một sự liên kết thiết yếu giữa Đức Tin và Đức Mến. Câu chuyện sau đây cho thấy rõ điều ấy :
George Herbert là một Linh mục, một thi sĩ và một nhạc sĩ nghiệp dư. Một hôm khi ông đang trên đường đến tham dự một cuộc hòa nhạc thì gặp một người nghèo bị té ngựa. Ông đã dừng lại, cởi áo dòng, xắn tay áo để đỡ người ấy lên, đỡ con ngựa lên và giúp chất hành lý người ấy lên lưng ngựa. Xong xuôi mọi chuyện, ông mới tiếp tục đến phòng hòa nhạc.
Bình thường ông ăn mặc rất sạch sẽ. Nhưng hôm nay tay chân và quần áo của ông đều dính đầy bụi bẩn. Vì thế bạn bè rất ngạc nhiên. Khi ông kể lại chuyện mình đã làm dọc đường thì một trong các người bạn tỏ ra không đồng ý vì cho rằng việc đó không cần thiết và cũng không phải là trách nhiệm của ông. George Herbert đã trả lời như sau : “Tôi thường cầu nguyện cho những người nghèo khổ. Hôm nay tôi có dịp giúp đỡ người nghèo khổ. Nếu tôi không ra tay giúp thì tức là tôi không làm đúng như lời mình cầu nguyện. Cũng giống như cây đàn chưa lên dây đúng cung vậy.”
Thánh Giacôbê đã nói : “Đức tin mà không có việc làm là đức tin chết”. Những việc làm biểu lộ đức tin dễ thấy nhất là những việc bác ái.
Ngày nay, hai chữ được người ta nói nhiều nhất là “tình yêu”. Nhưng hình như cái mà người ta gọi là tình yêu trong các phim ảnh và bài hát thường chẳng phải là tình yêu gì cả. Đó chỉ là khát vọng, chiếm hữu và chế ngự. Nó ngược hẳn với tình yêu.
Một trong những lý do là ngày nay người ta đã hiểu rõ hơn về tính phức tạp – hay phức hợp – trong bản chất con người. Từ đó người ta làm gì cũng do bị thúc đẩy bởi nhiều động cơ. Đàng sau một việc xem ra bất vụ lợi thì cũng có động cơ vụ lợi.
Bởi thế, Thánh Phaolô khuyến cáo chúng ta coi chừng những động cơ đàng sau những việc tốt chúng ta làm. Ngài nói rằng Đức Mến đích thực thì “không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc”. Ngài còn nói “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi”. (FM)

V. Lời nguyện cho mọi người
Chủ tế : Anh chị em thân mến, hôm nay ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu những lời Kinh thánh chúng ta vừa nghe. Nhờ Người, chúng ta dâng lên Chúa Cha những lời nguyện xin tha thiết của chúng ta :
Hội thánh được Chúa Giêsu thiết lập để đem Tin mừng đến cho muôn dân trên khắp hoàn cầu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho công cuộc rao giảng Tin mừng của Hội thánh / luôn đạt được nhiều thành quả tốt đẹp.
Khát vọng sâu xa nhất của con người ngày nay / là được sống trong hòa bình và thịnh vượng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Chúa / ban hòa bình cho những vùng còn khói lửa chiến tranh.
Hiện nay đức tin / đức cậy / đức mến / cả ba đều tồn tại / nhưng cao trọng hơn cả là đức mến / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Kitô hữu / luôn cố gắng sống trọn vẹn nhân đức quan trọng này.
Nhờ bí tích Thánh Tẩy / người Kitô hữu trở nên anh em với nhau / vì có cùng một niềm tin và một Cha chung trên trời / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết dẹp bỏ mọi kỳ thị hẹp hòi / những chia rẽ bất hòa / để tất cả chúng ta nên một trong Chúa.
Chủ tế : Lạy Chúa, Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một để cứu chuộc chúng con. Xin cho chúng con luôn biết vâng nghe lời Người là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. Trong Thánh Lễ
– Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta đang ở trong ngôi Nhà Thờ này như những anh chị em ruột thịt sum họp trong mái ấm gia đình. Đúng vậy, vì chúng ta đều là con của cùng một Cha chung trên trời. Giờ đây chúng ta hãy nghĩ đến Cha chúng ta và hãy cùng nhau thưa chuyện với Ngài qua lời kinh Lạy Cha.

VII. Giải tán
Do Bí Tích Rửa Tội, chúng ta được chia xẻ sứ mạng ngôn sứ của Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta hãy can đảm thi hành sứ mạng vừa cao đẹp vừa khó khăn ấy. Nguyện xin ơn sủng Chúa luôn phù giúp anh chị em. Chúc anh chị em ra về bình an.

 

TN4-C126: GHEN GHÉT VÀ ĐỐ KỴ

Tin Mừng hôm nay kể về những lời xì xầm bàn tán chỉ vì ghen tương và đố kỵ của dân làng Nadaret TN4-C126

Tin Mừng hôm nay kể về những lời xì xầm bàn tán chỉ vì ghen tương và đố kỵ của dân làng Nadaret nên họ muốn giết Đức Giêsu. Đức Giêsu trở về thăm quê nhà. Ngày Sabat, ngày lễ nghĩ hàng tuần, dân làng đến hội đường nghe đọc Sách Thánh và hát thánh ca từ 9 giờ đến 12 giờ trưa.
Sáng thứ 5, ngày 21.01, lễ kính thánh Anê, trinh nữ tử đạo, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cử hành thánh lễ tại nguyện đường thánh Marta. Trong bài giảng, Đức Thánh Cha đã chia sẻ về sự ghen ghét và đố kỵ. Người ta có thể dùng lời nói mà giết hại lẫn nhau. Nhưng Thiên Chúa sẽ bảo vệ chúng ta khỏi những tội lỗi xấu xa này.
“Bài đọc một trích sách Samuen thuật lại sự đố kỵ của Saun vua Ítraen, với Đavít. Sau chiến thắng vẻ vang trước người Philitinh, các phụ nữ từ khắp mọi thành của Ítraen kéo ra múa nhảy và ca hát rằng: ‘Vua Saun hạ được hàng ngàn, ông Đavít hàng vạn’. Từ ngày đó, vua Saun nhìn Đavít với con mắt ghen tỵ và hoài nghi. Vua nghi ngờ sau này Đavít sẽ phản bội, và vì thế vua nảy sinh ý định giết Đavít. Nhưng sau đó, vua Saun đã nghe lời khuyên của người con trai mà suy nghĩ lại, không thực hiện ý đồ xấu xa của mình nữa. Ghen ghét là một căn bệnh sẽ dẫn đến sự đố kỵ
Lòng đố kỵ thật xấu xa! Đó là một thái độ xấu. Sự ghen ghét và lòng đố kỵ phát triển trong lòng người ta như cỏ dại. Nó phát triển và không để cho bất kỳ thứ thảo mộc tốt lành nào có thể mọc lên được nữa. Thứ cỏ dại ấy sẽ khiến tâm hồn người ta ra tối tăm, bệnh hoạn. Nó không để cho con người được bình an nhưng khiến con tim luôn dằn vặt, đau đớn. Một con tim đố kỵ rất có thể dẫn đến mưu sát và chết chóc. Kinh Thánh đã nói rất rõ: Lòng ghen tị tội lỗi đã mang sự chết vào trần gian.
Lòng đố kỵ dẫn đến việc ‘giết’ những người có điều mà mình không có. Nhưng người ấy sẽ luôn đau khổ, vì một con tim ghen ghét và đố kỵ sẽ luôn khổ đau, một sự khổ đau muốn người khác phải chết. Chúng ta không phải đi đâu xa mới có thể thấy những điều này. Rất nhiều lần, trong cộng đoàn của chúng ta, vì ghen ghét, người ta đã giết hại nhau bằng miệng lưỡi và ngôn từ của mình. Khi không thích hay ghen ghét một điều gì đó, người ta bắt đầu xì xầm, bàn tán. Và chính những lời bàn tán đó sẽ giết chết người khác.
Tổng trấn Philatô thật thông minh và nhạy bén vì biết rằng chỉ vì ghen tỵ mà các thượng tế nộp Đức Giêsu. Lòng ghen tỵ - theo cách giải thích của Philatô, một người thông minh nhưng lại không đủ can đảm – chính là điều dẫn đến cái chết của Đức Giêsu. Các thượng tế trao nộp Ngài vì ghen tỵ. Bởi vậy, chúng ta hãy tha thiết xin Chúa giúp chúng ta đừng vì ghen ghét, đố kỵ mà ra tay ‘trao nộp’ những người anh chị em của chúng ta trong cùng một xứ đạo, một cộng đoàn, một xóm làng, khiến họ phải đau khổ và phải chết. Ai cũng có những tội lỗi và thiếu sót, nhưng ai cũng có những nhân đức riêng của mình. Tội lỗi và nhân đức đều có nơi mỗi người. Chúng ta hãy để ý đến nhân đức và đừng giết chết người khác bằng những lời xì xầm bàn tán chỉ vì ghen tương và đố kỵ.” (x.vietvatican.net).
 Tin Mừng hôm nay kể về những lời xì xầm bàn tán chỉ vì ghen tương và đố kỵ của dân làng Nadaret nên họ muốn giết Đức Giêsu.
Đức Giêsu trở về thăm quê nhà. Ngày Sabat, ngày lễ nghĩ hàng tuần, dân làng đến hội đường nghe đọc Sách Thánh và hát thánh ca từ 9 giờ đến 12 giờ trưa.
Đức Giêsu và các môn đệ cùng tiến vào hội đường cầu nguyện. Đọc sách luật và thánh vịnh xong, Đức Giêsu đăng đàn giảng thuyết như một giáo dân tham dự vào chức tư tế. Vẻ uy nghi trang trọng của Ngài khác thường. Gương mặt Ngài luôn tỏa ra nét dịu hiền, mến yêu, đầy thiện cảm. Giọng nói tự nhiên của Ngài càng hấp dẫn dân chúng hơn. Ý tứ Ngài trình bày đơn sơ trong sáng hợp với tâm trí mọi người. Họ cảm thấy thấm thía sự kỳ diệu của nước Thiên Chúa. Họ cảm nhận lòng nhân ái Chúa Cha trên trời. Họ cảm phục về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Đức Giêsu đòi hỏi mọi người phải sống thương yêu nhau như anh em ruột thịt. Họ ngạc nhiên thì thầm với nhau: “Bởi đâu ông ta được như thế ? Sao ông ta được khôn ngoan như vậy ? Ông ta làm được nhiều phép lạ, như thế nghĩa là gì ?”.
Họ chẳng biết sự khôn ngoan và quyền phép của Đức Giêsu bởi đâu ? Họ xì xầm về nguồn gốc chỉ thấy: “Mẹ ông là bà Maria, anh em họ hàng là Giacôbê, Giosê, Giuđa và Simon”. Tất cả bà con lối xóm đều coi ông như bạn bè từ gần 30 năm nay ở Nagiarét này, một thôn ấp nhỏ bé chỉ có độ 150 gia đình nghèo nàn, tối tăm, mấy ai quan tâm đâu. Ông ấy lại là bác thợ mộc, con nhà lao động, làm thuê làm mướn, lang thang từ nhà này sang nhà khác, đóng bàn sửa ghế, ráp giường ghép tủ, đục đẽo cày bừa, thành phần địa vị thấp kém trong xã hội. Có bao giờ thấy ông ấy nói năng, làm được gì hay lạ đâu ? Ông ta bỏ quê nhà đi lang thang mấy tháng, nay trở về, sao thay đổi nhanh như thế ! Một quá khứ và hiện tại như thế đã khiến họ vấp phạm. Họ không tin Ngài là một Ngôn Sứ, lại càng không thể tin Ngài là Mêsia, và chắc chắn họ chẳng bao giờ dám nghĩ rằng mình là người đồng hương với Ngôi Hai Con Thiên Chúa.
Để cảnh tỉnh họ, Đức Giêsu chỉ cho họ thấy chỉ vì tổ tiên họ ngày trước đã không đón nhận các ngôn sứ Thiên Chúa gửi đến nên đã đánh mất những ân huệ lớn lao. Cụ thể là vào thời ngôn sứ Êlia, khi trời hạn hạn suốt ba năm sáu tháng, dân Itraen phải lâm vào cơn đói khát trầm trọng, vậy mà ngôn sứ Êlia được sai đến, không phải để cứu giúp các bà goá trong dân Ítraen thời đó, mà là để cứu đói cho hai mẹ con bà goá ngoại giáo nghèo khổ thành Xarépta, miền Xiđôn.Một sự kiện khác tương tự là vào thời ngôn sứ Êlisa, đang khi có nhiều người phong cùi trong dân Itraen cần được cứu chữa, thế mà không ai trong bọn họ được vị ngôn sứ chữa lành, ngoại trừ tướng Naaman ngoại giáo, người nước Syri.Thế nhưng, những lời cảnh tỉnh của Đức Giêsu không làm cho họ tỉnh ngộ, trái lại càng khiến họ oán ghét Ngài. Họ nhất tề đứng dậy, xông vào túm lấy Ngài, lôi ra khỏi hội đường rồi kéo ra khỏi thành, kéo lên tận đỉnh núi, để xô xuống vực cho nát thịt tan xương.Lòng đố kỵ ganh ghét thật khủng khiếp! Đức Giêsu trở thành nạn nhân của “chủ nghĩa lý lịch”. Mc. Kenzie nói : Người có tình yêu nhìn bằng viễn vọng kính, còn người định kiến hẹp hòi nhìn bằng kính hiển vi. Sự kiện này là khởi điểm những thử thách gian nan và cái chết đang chờ đợi Đức Giêsu trong những tháng ngày sắp tới.
Còn Đức Giêsu thì luôn âm thầm, kiên nhẫn, nhỏ nhẹ nói với họ bằng câu ngạn ngữ: “Không ai là tiên tri cho xứ sở mình”. Một câu chuyện quen thuộc nhưng đáng buồn “Ngôn sứ không được quê hương mình chấp nhận”. Đức Giêsu thật ngạc nhiên vì thấy họ không tin. Ngài rất muốn giúp đỡ họ nhưng cũng đành phải bó tay. Họ chỉ biết nhìn Ngài theo lối nhìn bên ngoài đầy thành kiến, chẳng thấy được những điều sâu lắng bên trong, những cái tinh thần cao thượng, những mầu nhiệm thiêng liêng chân thật. Chính những điều sâu xa bí ẩn mới làm ích rất lớn cho con người. Chính những chất màu mỡ nằm ẩn trong đất mới làm cho cây trái, hoa mầu trổ sinh tươi tốt, đâm chồi nẩy lộc, nuôi sống muôn người, muôn vật. Chính những kho tàng nằm sâu trong lòng đất, như mỏ dầu, mỏ vàng, mỏ bạc, đồng, sắt, kim cương, đá quý mới là nguồn tài nguyên phong phú giúp phát triển nền văn minh nhân loại. Chính những tài năng thượng đẳng, thiêng liêng trong con người như: tinh thần tự do, trí khôn sáng suốt, ý chí mạnh mẽ, tình cảm nhân từ mới có sức thăng tiến con người hơn chân tay, mắt mũi. Thế nhưng loài người vẫn thích thờ bò vàng óng ánh hơn thờ Thiên Chúa siêu việt.
Chuyện ngày xưa cũng như chuyện ngày nay. Rất nhiều khi chúng ta phán đoán giá trị lời nói của một người dựa trên bằng cấp, sự giàu có, uy tín của họ nhiều hơn là dựa vào sự hợp lý, tính chính xác của câu nói ấy. Hễ ai có chức có quyền, có địa vị, có của cải, có học vấn mà nói thì ta cho rằng họ nói đúng. Còn ai nghèo nàn, rách rưới, thấp cổ bé miệng, ít học mà nói thì ta cho rằng họ nói sai hoặc chẳng có giá trị gì. Chính vì tâm lý sai lạc này mà các ngôn sứ giả thường được người đời ưu đãi, còn ngôn sứ thật thì thường bị bạc đãi (x. Lc 6,23.26). Lối hành xử như vậy là coi trọng của cải, tiền bạc, chức quyền, địa vị chứ không phải là người coi trọng chân lý, công lý và tình thương. Thực ra, một điều sai trái, dù kẻ nói ra có quyền thế, học vấn hay giàu sang tới đâu thì cũng vẫn là sai trái. Còn một điều đúng, thì dù người nói ra một đứa trẻ, một người nghèo thì cũng vẫn là đúng. Lời nói sai đâu thể biến thành đúng, hay lời nói đúng đâu thể biến thành sai vì thế giá hay trình độ học vấn của người nói ra câu nói đó.
Đức Giêsu buồn phiền nhưng không cay cú, thất vọng chứ không tức giận. Ngài quyết định đem ánh sáng và quà tặng thần linh đi đến nơi khác.Những người ở làng quê Nagiarét đã để lỡ cơ hội đón tiếp Đấng Cứu Thế. Con Thiên Chúa làm một thường dân đến sống giữa họ mà họ không biết. Họ chỉ biết đó là con ông thợ mộc Giuse. Họ chỉ biết gia đình Ngài rất nghèo, chẳng có danh giá gì trong làng. Họ coi thường Ngài. Họ không tin Ngài. Họ hất hủi Ngài. Họ đã để lỡ cơ hội nghìn năm một thuở. Đức Giêsu không làm một phép lạ nào ở đó. Ngài bỏ Nadarét đi đến các làng chung quanh. Và Ngài sẽ chẳng bao giờ trở lại Nadarét nữa. Một cơ hội vàng đã không được đón nhận nên dân làng Nagiarét đánh mất hồng ân vô giá.
Hằng ngày chúng ta cũng đã bỏ lỡ biết bao nhiêu cơ hội như thế. Ta đã bỏ lỡ không tiếp đón Chúa đến thăm khi ta bịt mắt không nhìn thấy những cảnh khổ chung quanh; khi ta bưng tai không nghe những tiếng kêu than khóc lóc; khi ta làm ngơ trước những cảnh ngộ nghiệt ngã, khi ta ngoảnh mặt quay lưng trước những nạn nhân của thiên tai hoạn nạn. Nhất là ta bỏ lỡ không nghe thấy tiếng Chúa cảnh báo để ăn năn sám hối. Chúa đã nhắc nhở ta nhiều lần nhiều cách: qua các vị bề trên; qua các tai nạn; qua lời khuyên của những người thân; qua lời phê phán của những người thù ghét ta… Hôm nay, Chúa còn tiếp tục nhắc nhở. Nếu ta không nghe, biết đâu hôm nay sẽ là lần cuối cùng. Chúa sẽ không bao giờ nhắc nhở nữa. Chúa sẽ bỏ ta mà đi như đã bỏ làng Nagiarét và không bao giờ trở lại. Như thế thì thật nguy hiểm cho linh hồn ta. Để nhận biết Chúa, ta phải rèn luyện cho mình một đức tin mạnh mẽ. Ánh mắt đức tin giống như ngọn đèn soi chiếu vào đêm đen giúp ta nhận ra Chúa trong anh em, trong những biến cố Chúa gửi đến. (Đức TGM Ngô Quang Kiệt).
Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ: “Tôi đã suy nghĩ và tự phản tỉnh nhiều về những điều này khi cầu nguyện. Tôi nhận thấy mình được mời gọi và chắc chắn mọi người cũng được mời gọi phải nhận ra những gì là ghen ghét, đố kỵ trong tâm hồn hình, vì chúng luôn dẫn tới đau khổ và chết chóc, không làm cho người ta vui mừng, hạnh phúc được. Người có lòng ghen ghét, đố kỵ luôn nghĩ rằng những điều tốt lành mà người khác có chống lại họ. Và đó là khởi đầu của bao nhiêu tội lỗi, gian ác khác. Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa giúp chúng ta đừng bao giờ mở con tim mình ra cho những ghen ghét, đố kỵ đi vào, vì chúng chỉ dẫn tới đau khổ và chết chóc mà thôi”.
Cuộc sống sẽ hạnh phúc biết bao khi người ta biết tôn trọng, cảm thông, tha thứ và nâng đỡ nhau. Thay cho lời kết án, ghen tỵ là lời chúc mừng khuyến khích. Thay cho những cái nhìn thiển cẩn hẹp hòi là những cái nhìn nhân ái bao dung. Cuộc sống thật đẹp khi người ta biết nhìn cái tốt nơi nhau, để khen ngợi, để khuyến khích nhau, thay vì nhìn điểm yếu của nhau để kết án, xem thường nhau.
Xin Chúa cho chúng con có một trái tim luôn rộng mở để yêu thương mọi người. Amen.
 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

TN4-C127: SỐ PHẬN NGÔN SỨ

(Chúa Nhật IV TNC)
 

Đã là Kitô hữu thì thảy đều được tham dự vào ba chức vụ của Chúa Kitô là ngôn sứ, tư tế TN4-C127

Đã là Kitô hữu thì thảy đều được tham dự vào ba chức vụ của Chúa Kitô là ngôn sứ, tư tế và vương giả. Lướt cái nhìn qua ba sứ vụ ấy thì sứ vụ tư tế xem ra được kính nể hơn cả. Sứ vụ vương giả tuy có nhiều vất vả nhưng lại được trọng kính một cách nào đó. Còn sứ vụ ngôn sứ thì có lẽ hẩm hiu nhất.
Làm ngôn sứ là nhân danh Chúa và thay mặt Chúa mà trình bày ý, lời của Chúa cho đồng loại. Lời Chúa là lời tình yêu, nhưng cũng là lời chân lý. Chính vì thế mà Lời Chúa được ví như thanh gươm hai luỡi phân rẽ tâm hồn con người. Ngay lời của con người, nếu là lời của sự thật, thì cũng đã dễ mất lòng. Phận người chúng ta xem ra công ít mà tội nhiều. Mặt tốt cũng có, việc lành cũng có, nhưng chẳng đáng là bao so với mặt tồn tại và những lỗi lầm. Và thế là người ta thật khó chấp nhận khi sự thật về con người mình bị phơi bày.
Ngôn sứ là người thường nói những lời khó nghe. Vâng lệnh Thiên Chúa để nói nói lời tình yêu mà cũng là lời sự thật, quả là một sứ vụ đầy cam go. Hình như các ngôn sứ khi được Chúa kêu mời thi hành sứ vụ, thì thường run rẩy hoặc tìm cách thoái thác. Quả thật chuyện “chưa được mạ thì má đã sưng” là chuyện xưa nay không hiếm. Nói lời sự thật cho nhau, nhất là cho những người đang nắm quyền cao, chức trọng, thì biết bao nguy hiểm rình chờ ập xuống đầu, xuống cổ, không biết khi nào. Thế mà Chúa vẫn cứ bảo với ngôn  sứ: “Người hãy thắt lưng, hãy chỗi dậy! Hãy nói với chúng tất cả những gì Ta sẽ truyền cho ngươi. Trước mặt chúng, ngươi đừng run sợ, nếu không, trước mặt chúng, chính Ta sẽ làm cho ngươi run sợ luôn” (Gr 1,17).
Đã là ngôn sứ thì phải nói lời sự thật. Đây không chỉ là sứ mạng mà còn là cái giá của hạnh phúc người sứ ngôn. Nếu không nói thì chính sứ ngôn sẽ nhận lấy tại họa từ chính Thiên Chúa: “chính Ta sẽ làm cho ngươi run sợ”. Nếu người ngôn sứ mà không nói cho kẻ gian ác biết điều gian ác nó đã phạm, khiến nó phải chết trong sự gian ác của nó, thì chính Thiên Chúa sẽ đòi nợ máu nó nơi người sứ ngôn (x.Ed 3,18).
Vấn đề thật lắm oái ăm: khi nói lời sự thật mà đó là những sự không hay, không tốt có đụng chạm đến những người chức cao quyền lớn thì rất dễ bị quy chụp là phản động, là gây chia rẽ, là vạch áo cho người xem lưng, là… Và số phận các sứ ngôn từ trước đến nay dường như chẳng khác nhau bao nhiêu, chẳng hạn như Êlia, Giêrêmia, Gioan Tẩy Giả…thảy đều có kết cục chẳng sáng sủa chút nào.
Tuy nhiên làm sao để phân định rằng khi nào thì một ngôn sứ nói lời chân lý do Chúa phán truyền? Bởi chưng, vẫn có đó nhiều sứ ngôn giả hiệu, chỉ nói những điều mình muốn nói, cho dù nhiều lúc đó là sự thật, nhưng không phải do Chúa ra lệnh nói. Chúng ta đừng quên, thần dữ cũng đã từng xui khiến nhiều người nó ám, mở miệng tuyên xưng Chúa Kitô là Con Thiên Chúa, Đấng Messia và Chúa Kitô đã ngăn cấm chúng (x.Mc 1,21-28; Lc 4,31-37).
Dĩ nhiên, đã là ngôn sứ chính hiệu thì phải nói những gì Chúa phán dạy. Những gì Chúa phán dạy luôn hướng đến điều tốt đẹp. “Đã nhổ thì phải biết trồng”; “Đã đập phá thì phải biết dựng, biết xây” (x.Gr 1,10; 18,7-10). Ngôn sứ chính hiệu thì sau khi phê phán những điều tiêu cực, những mặt hạn chế, những lỗi lầm của con người, của xã hội, thì luôn đề ra giải pháp khắc phục và biện pháp sửa sai.
Như thế, mục đích của sứ ngôn khi nói lời sự thật thì luôn nhằm điều thiện hảo cho người nghe. Thánh Phaolô nói với tín hữu Côrintô rằng để mọi hành vi của chúng ta có giá trị thì phải xuất phát từ một tấm lòng đầy đức mến. “Giả như tôi được ơn nói tiên tri (làm ngôn sứ), và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến thì tôi cũng chẳng là gì” (1Cr 13,2). Tình mến ở đây phải là tình yêu như Chúa Kitô đã yêu thương chúng ta. Tình yêu thương đích thực được biểu hiện qua việc chúng ta làm tất cả chỉ vì hạnh phúc người mình yêu mến, trong sự liên đới đến cùng. Thánh tông đồ dân ngoại đã từng thốt lên:“Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng sôi lên” (2Cr 11,29).
Một ngôn sứ của Chúa thì phải nói lời Chúa dạy. Lời Chúa dạy luôn là lời tình yêu, lời sự thật. Khi đã nói lời sự thật, dù rằng khởi đầu bằng những hiện thực chẳng hay chẳng tốt về tha nhân hay xã hội nhưng được kết thúc bằng những phương thế giúp nhau hoán cải, đổi thay, thăng tiến. Ngôn sứ của Chúa thì luôn chân thành mong ước điều tốt đẹp cho cả người mình phê phán hay góp ý. Và dĩ nhiên một trong những hệ quả dù không mong cũng thường xảy đến đó là thập giá.
Giêrêmia đã phải hứng chịu nhiều nỗi truân chuyên khi làm kiếp “tứ phía kinh hoàng” (x.Gr 20,4). Đó là thân phận con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt. Và ngay cả những người đồng hương của ngài, dân Anathốt, cũng đã đe dọa làm hại tính mạng ngài (x.Gr 11,19-21). Số phận của Vị Đại ngôn sứ là Giêsu Kitô cũng không hơn gì. Khi thẳng thắn nói cho người đồng hương biết về tính phổ quát của ơn cứu độ, tức là tình yêu của Thiên Chúa không dành riêng cho một ai, một dân tộc nào, một xứ sở nào, thì Chúa Giêsu đã phải đón nhận sự phẫn nộ, đúng hơn là sự cuồng nộ của dân Nagiarét. Sự ích kỷ đã làm cho tâm hồn người dân Nagiarét lúc bấy giờ ra mù quáng. Ăn không được thì đập bỏ, chứ không cho kẻ khác hưởng nhờ chăng? Dù sao đi nữa thì thái độ cuồng nộ đến nỗi bắt Chúa Giêsu đem lên núi để xô Người xuống vực cho chết là một thái độ không thể tưởng, nhưng lại là sự thật.
Một vài nhà chú giải Thánh Kinh cho rằng Chúa Giêsu có hai lần về Nagiarét. Một lần thì Người được tung hô, đón nhận, và lần khác thì bị tẩy chay, ngược đãi. Thế nhưng, việc thánh sử Luca kể liền một mạch hai thái độ trái ngược của người đồng hương Chúa Giêsu cũng nhắc nhớ cho ta thấy rõ lòng người rất dễ đổi trắng thay đen, khi sự ích kỷ, nhỏ nhen ngự trị. Sau này dân thành Giêrusalem cũng thế. Trước thì hoan hô, chúc tụng Con vua Đavit, thế mà sau đó mấy ngày lại giơ cao nắm đấm, la gào: “đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá”.(x.Mt 21,9; 27,23).
Làm tất cả vì hạnh phúc người mình yêu, nói lời sự thật cho mình yêu và rồi sẵn sàng đón nhận sự ngược đãi, bách hại trong sự khoan dung, tha thứ, chính là chân dung ngôn sứ thật. Tuyên phán những sự may lành thì không khó, nhưng khi phải nói những điều chẳng hay, để giúp nhau thay đổi thì quả là chẳng dễ chút nào, nhất là khi sự chẳng hay ấy lại liên hệ đến những người có thể làm hại chúng ta cách này cách khác. Tuy nhiên đã là Kitô hữu thì tất thảy chúng ta đều phải làm sứ ngôn cho Thiên Chúa. Đây là một sứ mạng không thể khước từ hoặc cố tình xao nhãng hoặc tìm cách biện bạch để bỏ qua. Ước gì không một ai trong chúng ta, cách riêng các mục tử trong Giáo hội, phải hứng chịu lời tuyên án của Thiên Chúa khi Người đòi nợ máu của người gian ác trên mình, vì đã không chu toàn sứ mạng ngôn sứ đó là nói lời tình yêu trong sự thật và nói lời sự thật với cả tấm lòng.
Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây