Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 TN-C Bài 101-110

Thứ sáu - 08/02/2019 10:35
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 TN-C Bài 101-110: Mẻ cá lạ lùng
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 TN-C Bài 101-110: Mẻ cá lạ lùng
TN 5-C Phần III Bài 101-110: Mẻ cá lạ lùng
TN5-C101 : Được gọi 1
TN5-C102 :  Người trẻ mau thoái chí và an phận. 2
TN5-C103 : MẺ LƯỚI CÁ LẠ VÀ GỌI SIMON PHÊRÔ.. 5
TN5-C104: BÊN BỜ HỒ GHEN-NÊ-XA-RÉT, 7
TN5-C105 : CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN.. 12
TN5-C106 : MẺ CÁ LẠ LÙNG.. 18
TN5-C107 :  Tin vào sức mạnh Lời Chúa. 20
TN5-C108 : MẺ CÁ LẠ LÙNG.. 21
TN5-C109 : Được sai đi rao giảng Tin Mừng. 23
TN5-C110 : Tiếng gọi của Lòng Thương Xót 25
 

TN5-C101 : Được gọi

Thưa ông, thưa bà muốn gặp ai ạ ?”. Đó là câu nói mà Chị Céline phải lặp đi lặp lại mỗi ngày TN5-C101 

“Thưa ông, thưa bà muốn gặp ai ạ ?”. Đó là câu nói mà Chị Céline phải lặp đi lặp lại mỗi ngày khoảng 10 lần và cứ thế suốt ròng rã trong 40 năm trường khi Chị coi giữ phòng khách của nhà dòng để đi gọi người khác. Biết bao nhiêu khuôn mặt đã xuất hiện, biết bao nhiêu giọng nói đã vang lên, nhưng Chị biết rõ một điều là người ta đến nhờ Chị để xin gặp một người khác. Do đó, một ngày của Chị bị cắt vụn thành những miếng, công việc của Chị bị chẻ thành từng mảnh, nghĩa là luôn luôn bị gián đoạn, không khi nào được yêu thân lâu. Nhưng sự gián đoạn của Chị là sự liên lạc của người khác. Và rồi một hôm, trong lúc vội vã đi gọi, Chị Céline đã ngã quỵ nơi hành lang và thổ huyết. Chị qua đời, nhưng đôi tay của Chị vẫn giữ chùm chìa khóa như bảo chứng của ơn gọi. Chị Céline đã suốt đời trung thành với tiếng gọi của Chúa và với công việc bổn phận hằng ngày của mình là: được gọi để gọi người khác. Giá trị và sự cao cả của Chị là ở chỗ đó.
Và đó cũng lã ý tưởng chủ yếu của bài Phúc âm hôm nay. Bốn môn đệ đầu tiên được Chúa gọi bằng việc chứng kiến một mẻ cá lạ, rồi các ông tin phục và bỏ mọi sự mà đi theo Chúa với một mục đích là được Chúa huấn luyện để trở thành những kẻ sau này đi chài lưới người về cho Chúa. Như thế, rõ ràng các ông được Chúa gọi không phải đi theo Chúa để hầu hạ Ngài hay làm quan này chức nọ, nhưng để các ông đi gọi để kẻ khác về với Chúa.
Ngày nay, tuy không được Chúa gọi trực tiếp, công khai như các môn đệ ngày xưa, nhưng chúng ta vẫn được Chúa gọi cách gián tiếp qua trung gian để đi gọi kẻ khác về cho Chúa. Chỉ khác một điều là cách thức chinh phục các linh hồn có thể không giống nhau vì tùy theo khả năng, hoàn cảnh và địa vị riêng. Chính vì sự khác nhau này mà mỗi người chúng ta cần phải lưu tâm đến hai yếu tố quan trọng sau đây:
Trước hết, đã là Kitô hữu thì bất cứ ai cũng đều phải chấp hành nghiêm chỉnh sứ mạng mà Chúa giao phó là ra sức chinh phục các linh hồn về cho Chúa. Đây là lệnh truyền của ơn gọi vì nó gắn liền với bản chất của những ai muốn làm môn đệ Chúa, của những ai mang danh công giáo đích thực. Nghĩa là được gọi làm con cái Chúa chỉ có thể xứng đáng và đúng nghĩa khi biết đi gọi người khác trở thành như mình. Nhưng hãy coi chừng vì chúng ta không được phép chinh phục người khác cho mình mà là cho Chúa, không phải để thống trị họ mà là phục vụ giúp đỡ họ, không vì tư lợi mà là hoàn toàn bác ái vị tha. Do đó, trong việc làm tông đồ đúng nghĩa thì chúng ta chỉ là kẻ môi giới, trung gian, dẫn đường cho người khác đến với Chúa, nhưng nếu chúng ta lấy mình làm đích điểm cho việc truyền giáo thì chẳng những không đưa được ai trở lại đạo mà chính bản thân mình lại lạc đạo.
Thứ đến, việc được gọi làm con Chúa để đi gọi người khác về cho Chúa là một trách nhiệm mà mọi người phải chu toàn. Nhưng nếu vì lười biếng, khinh thường không cố gắng hoàn tất bổn phận quan trọng đó mà Chúa giao phó đã là lỗi nặng, huống chi khi sống bất xứng, làm gương mù gương xấu khiến nhiều người ngoài chê cười đạo, xa lánh đạo thì tai hại biết chừng nào ! Bởi vì, Giáo Hội được ví như một mắt lưới chài cá, mà mỗi Kitô hữu giống như một mắt lưới. Giả sử mô mắt lưới đứt thì bao nhiêu cá theo đó mà lọt ra ngoài. Cũng thế, một tín hữu xấu làm nhiều người vì đó mà không tin vào đạo nữa; một người công giáo sống bất xứng không làm cho Giáo Hội xấu, nhưng lại làm nhiều người nghĩ xấu về đạo.
Tóm lại, được gọi để gọi là mục đích của việc chinh phục người ngoài về cho Chúa chứ không phải cho mình. Và phương cách chinh phục không thể bằng mưu mô xả quyệt, thủ đoạn lừa đảo, mua chuộc hay áp lực vì những thứ đó là trò của ma quỉ, nhưng bằng sự hấp lực của một đời sống thánh thiện gương mẫu.
 

TN5-C102 :  Người trẻ mau thoái chí và an phận

. Câu chuyện Tin mừng

Một hôm, Đức Giê-su đang đứng ở bờ hồ Ghen-nê-xa-rét, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người TN5-C102 

Một hôm, Đức Giê-su đang đứng ở bờ hồ Ghen-nê-xa-rét, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa. Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. Đức Giê-su xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Si-môn, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy dân chúng.
Giảng xong, Người bảo ông Si-môn: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Ông Si-môn đáp: “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”. Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.
Thấy vậy, ông Si-môn Phê-rô sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Si-môn và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. Cả hai người con ông Dê-bê-đê, là Gia-cô-bê và Gio-an, bạn chài với ông Si-môn, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giê-su bảo ông Si-môn: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”. Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.
. Dẫn giải
Nếu năm bạn trẻ chúng ta làm quen hôm qua phấn khởi và hào hứng thế nào thì anh bạn Phê-rô và có lẽ cả các bạn bè của anh hôm nay lại “ỉu xìu” và tầm thường tới mức đáng thất vọng.
Sáng hôm ấy, tại bờ hồ Ghen-nê-xa-rét ở Ga-li-lê, mặt trời đã lên cao, dân chúng đang chen lấn nhau rất đông. Tưởng là họ tụ tập để đón các thuyền đánh cá xa bờ trở về. Nhưng kì thực không phải. Hay nếu có thì đó chỉ là lí do ban đầu. Sau khi biết các thuyền trở về với khoang trống, người ta đã lập tức đổ dồn sang một hướng khác. Lần đầu tiên, làng chài hèn kèm của họ được một vị ngôn sứ nổi tiếng đến thăm và giảng đạo. Các tay chài đã thất vọng vì đánh cá hụt, càng thất vọng hơn trước nhân tình thế thái: thường ngày khi thuyền họ chở đầy cá về thì hết người nịnh nọt tới kẻ chiều chuộng để mua cho được cá; còn hôm nay khi họ tay trắng trở về, không có lấy một người nào hỏi han để an ủi và động viên họ. Họ cũng đâm ra bực lây cả vị ngôn sứ nổi tiếng kia. Si-môn và các bạn nhanh tay neo thuyền vào bến, giặt lưới, rồi vội vàng quay về: lúc này vào giường ngủ là thượng sách!
Nào ngờ, Đức Giê-su lại chọn ngay thuyền của Si-môn, xin ông cho mượn để ngồi giảng đạo và xin ông chèo ra xa một chút để dễ nói với dân chúng. Miệng lẩm bẩm: “Thế là lại mất một buổi sáng và … mất luôn cả giấc ngủ!”. Si-môn vừa ngáp dài vừa ngồi bó gối ở cuối thuyền chờ Đức Giê-su giảng xong. Ông hí hửng định chèo thuyền vào bờ khi thấy Đức Giêsu kết thúc bài giảng. Nhưng lại một lần nữa, Ngài đề nghị ông chèo thuyền ra xa hơn không phải để giảng mà là để ….đánh cá. Thế này thì thật quá đáng! Trước mặt bàn dân thiên hạ mà Ngài chẳng nể nang ông: gián tiếp nhắc lại vết thương lòng của ông là đã đánh cá thất bại cả đêm qua, trực tiếp dạy khôn ông về việc săn bắt cá - một người làm nông cả đời bám chặt đất liền lại dám chỉ vẽ chuyện sông nước cho tay chài chuyên nghiệp!
Nhưng vừa nể Ngài đang được dân chúng ái mộ, vừa muốn chứng tỏ sự thất bại của mình là có lí nếu lần này ông cũng chẳng bắt được gì, Si-môn chèo ra chỗ nước sâu. Có ngờ đâu, chỉ trong nháy mắt, tay ông đã buông thõng xuống vì cá vào lưới quá nhiều. Ông vội vàng hô to gọi các bạn chài ở thuyền khác đến tiếp sức. Cả đám thanh niên vạm vỡ mới kéo nổi lưới lên thuyền: không phải vài con cá lòng tong, mà cả hai thuyền đầy những con cá to bằng bàn chân người và còn lớn hơn thế nữa.
Đến lúc này, Si-môn mới thấy xấu hổ vì đã có những cử chỉ, lời nói và ý nghĩ không tốt về Đức Giê-su. Không riêng gì ông, mà cả đám bạn như Gia-cô-bê và Gio-an cũng lặng người đi vì ngạc nhiên: Giê-su chẳng những không phải là tay mơ về sông nước, mà hình như còn là chủ nhân của sông nước nữa! Bây giờ, cả đám không còn dám huênh hoang to tiếng nữa, mà chỉ biết lặng lẽ làm những gì Ngài nói. Họ đưa thuyền vào bờ và đi theo Ngài.
Thật ra, sự chán nản tới mức chỉ muốn bỏ việc và quay về nhà ngủ nghỉ - sự an phận thủ thường của Si-môn và bạn bè ông rất dễ hiểu và rất dễ thông cảm. Có ai không buồn bã thất vọng khi đã chuẩn bị tất cả, từ lương thực cho người tới mồi cho cá, từ thuyền bè tới lưới cá, từ sự hồ hởi phấn chấn trong tâm hồn tới sự khoẻ khoắn chắc chắn trong thân xác, mà rốt cuộc chẳng làm được gì, ngoài khoang thuyền trống hoác!
Rồi khi đã có cá, nhiều nữa là khác, đủ hái ra tiền tiêu cả mấy tháng, ai dại gì ra khơi một lần nữa. Cám ơn Đức Giê-su rối rít, xin lỗi Ngài tới tấp, nếu cần đãi Ngài mấy bữa ăn liền, là đủ. Nếu sáng nay cả bọn chỉ muốn yên thân trong giấc điệp là vì hoàn cảnh bắt phải chịu vậy, thì bây giờ cả đám sẵn sàng an phận vì đã được toại nguyện. Dù có là thanh niên trai tráng, ai cũng muốn có lúc dừng tay chèo, dừng chân bước để hưởng thụ, để nghỉ ngơi.
Chỉ tiếc đó cũng chính là sai lầm của ông và các bạn ông. Câu nói của Đức Giê-su: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá” không chỉ là một lời mách nước cho người đánh cá, mà là bí quyết cho mọi thành công trong cuộc đời. Si-môn thất bại trong lần đánh cá đêm qua, có thể không phải vì chưa ra khơi tính theo cây số biển, mà là chưa ra khơi tính theo thước đo của sự quyết tâm trong lòng: tuy đã ra khơi, nhưng mới thử vài keo đã bỏ cuộc. Sau khi đánh được mẻ cá lớn chưa từng thấy, ông lại tính tới chuyện không “ra khơi” nữa. Ông chỉ nghĩ tới việc loay hoay trong xó nhà hay cùng lắm, hì hục trên sông nước, kiếm cá, mua bán, sắm sửa và…chơi. Một lần nữa, Đức Giê-su cho biết Ngài giúp ông bắt được cá không phải chỉ để như thế thôi, mà để ông nghĩ đến một số phận mới, một chân trời mới và một kiếp sống khác: đó chính là không chỉ nghĩ cho mình và gia đình mình, mà còn phải nghĩ tới những người khác, không chỉ nghĩ đến chuyện mưu sinh, mà còn phải nghĩ đến chuyện hạnh phúc đời đời… Vẫn biết mỗi lần “ra khơi” như thế là mỗi lần phải đương đầu với những thử thách và bất ngờ, nhưng tục ngữ Việt Nam có câu: “Không vào hang, làm sao bắt được cọp!”. Nhất là nếu những lần “ra khơi” ấy là những lần ra khơi do Chúa đề nghị và có Chúa đi cùng – những lần ra khơi cao đẹp và ý nghĩa!
Tuổi trẻ hiếu kì tọc mạch, tuổi trẻ hăng hái xông pha. Nhưng tuổi trẻ cũng rất mau nản chí, mau thất vọng và sớm hưởng thụ, cầu an. Thử hỏi nếu Đức Giê-su không đến khuấy động cuộc đời Si-môn và bạn bè ông, thì cuộc đời họ và cuộc đời nhiều người đã ra sao? Thử hỏi nếu các ông không chấp nhận cùng với Đức Giê-su ra khơi, thì cuộc đời họ và cuộc đời nhiều người đã thế nào?
. Gợi ý để suy nghĩ thêm
Hiện nay, tôi thấy mình đang ở trong tình trạng nào: chán nản thất vọng? buông xuôi để mặc? ích kỉ và lười biếng thụ hưởng? lao đầu vào những việc không đâu? phấn đấu để thực hiện những điều tốt?
Có bao giờ tôi dám tiến lên thực hiện những điều tốt không: chẳng bao giờ, vì sợ bị thiệt hại? chỉ một đôi lần, chứ không dám hơn? chỉ khi nào nắm vững mọi sự trong tay? sẵn sàng nếu thấy Chúa ra hiệu, dù có thể bị thương tích hay thậm chí bị ngã?
 

TN5-C103 : MẺ LƯỚI CÁ LẠ VÀ GỌI SIMON PHÊRÔ

Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

Bản văn đóng khung ở dưới đây sẽ cho thấy: việc kêu gọi Simon là đối tượng của một sự chuyển TN5-C103 

Bản văn đóng khung ở dưới đây sẽ cho thấy: việc kêu gọi Simon là đối tượng của một sự chuyển vị. Thực vậy, đối với Luca lời kêu gọi này giả thiết Chúa Giêsu và Simon đã quen biết nhau; lời đáp của Simon sẽ dễ hiểu hơn khi ông biết Chúa Giêsu như một người giảng dạy và chữa bệnh cách lạ lùng.
Lc 5,1-11 không đơn giản, vì nó không chỉ vay mượn ở cảnh kêu gọi các môn đệ trong Mc 1,16-20. Lúc đầu, vì quá đông dân chúng, Chúa Giêsu phải lên một chiếc thuyền để giảng dạy, đó là cảnh ở Mc 4,1-2. Nhưng đặc biệt, bản văn này kết hợp trình thuật về mẻ lưới lạ đến từ truyền thống và cụng thấy việc đánh cá trong cả hai trường hợp đều ám chỉ sứ mệnh của Giáo Hội. Việc gắn liền phép lạ này vào trình thuật kêu gọi môn đệ không có mục đích cung cấp cho Simon một dấu hiệu mới về quyền năng của Chúa Giêsu, nhưng trước hết phép lạ đó làm cho kẻ đánh lưới cá trở thành kẻ đánh lưới người. Như vậy, toàn bộ trình thuật được cấu trúc trên ẩn dụ này.
Việc đặt vị trí cho câu chuyện (c. 1-3), việc giảng dạy của Đức Giêsu – mà Luca có ý nhấn mạnh nhiều – bị cản trở do chính thành công của mình = đám đông chen lấn Người để nghe lời Thiên Chúa – Lời Thiên Chúa mà về sau Phêrô và nhóm Mười Hai cũng sẽ không bỏ quên được (Cv 6,2). Hai chiếc thuyền và đoàn thủy thủ đang sẵn sàng – nếu họ giặt lưới là vì công việc đã xong. Hơn nữa, Chúa Giêsu và Simon đã biết nhau. Chiếc thuyền của ông không chỉ giúp cho Thầy tách ra khỏ đám đông và tiếp tục việc giảng dạy một cách thỏa đáng hơn.
Vì liền sau đó, Chúa Giêsu bảo Simon đưa thuyền ra chỗ nước sâu và, cùng với cả đoàn ngư phủ thả lưới (c. 4-7). Đã từng trải trong nghề, ông chủ thuyền bực bội trước lệnh của một người sống ở nông thôn và trước một kết quả hết sức là bấp bênh. Tuy nhiên, nếu ông thả lưới, không phải vì ông thử bắt cá – bởi lẽ ông đã vất vả suốt đêm và đã thất bại – mà vì muốn vâng theo một lời nói mà ông đã có kinh nghiệm về hiệu quả. Mà, trong trường hợp này, hiệu quả còn ở điểm hẹn: hiệu quả vượt hẳn qua sức chứa của những chiếc lưới của Simon đến nỗi sắp rách. Không thể rách lưới được, vì bằng một dấu hiệu ngầm, đoàn ngư phủ khác đã đến giúp: như vậy chiếc thuyền thứ hai nêu rõ sự vĩ đại của phép lạ. Nhưng Luca còn nhấn mạnh thêm đến hiệu quả của Lời Chúa Giêsu: dưới sức nặng của mẻ cá bắt được: hai chiếc thuyền suýt gần như chìm.
Với các câu 8-11, mọi chú ý đều hướng về Simon Phêrô, bằng cách ghép hai tên mà Chúa Giêsu đặt người đứng đầu nhóm Mười Hai (6,14). Thấy phép lạ, Simon cùng có một phản ứng như Isaia (Is 6,5-6): một con người, tất nhiên là tội nhân, không thể sống được khi tiếp cận với quyền năng thần linh của Thiên Chúa. Sự kinh hãi thánh thiêng chiếm ngự cả các bạn đồng nghiệp của Phêrô. Để làm nổi vai trò của Phêrô, mãi đến bây giờ Luca mới nhắc đến Giacôbê và Gioan, Anrê được nói đến ở Mc 1,16 với ba vị khác, ở đây bị bỏ qua – như ở 4,38. Chính vì Luca đặt nổi bộ ba Phêrô, Gioan và Giacôbê, sẽ là những nhân chứng về hai dấu chỉ của quyền năng thần linh khác nữa (8,51; 9,28).
Nhưng trở ngại mà Phêrô đặt ra đã được giải tỏa: cũng giống như các sứ giả thần linh trong các cảnh mặc khải (x. 1,13-30; 2,10). Chúa Giêsu vượt qua khoảng cách khi bảo Phêrô đừng sợ. Rồi, không gọi rõ tên Simon như đã xảy ra cho ông và anh của ông ở Mc 1,17, Chúa Giêsu chỉ nói lên một lời hứa cho mình ông thôi. Luca viết lại lời hứa này để giải tỏa ẩn dụ của việc đánh cá khỏi khía cạnh tiêu cực của nó – những con cá chết – và nhắc tới việc phán xét của Chúa (Gr 16,16): “Từ nay, anh sẽ là kẻ cứu sống người ta”. Động từ mà Luca chọn có nghĩa đen là “bắt sống”. Bởi đó chúng ta hiểu mẻ lưới lạ tiên báo lời rao giảng Kitô giáo có mục đích quy tụ những con người lại – hình ảnh chiếc lưới bắt cá – để họ được sống. Cũng có những tiếng “từ nay” – một diễn ngữ quen thuộc của Luca (xem trong kinh Mangificat 1,48), mở ra giai đoạn mới của ơn cứu độ. Thời tương lai được mở ra bởi câu 10, đó là hiện tại của Giáo Hội đã bắt đầu từ ngày ấy.
Simon Phêrô không chỉ là phát ngôn viên của nhóm người quy tụ xung quanh Chúa Giêsu (Lc 9,20); ông sẽ còn giữ một nhiệm vụ tương tự trong cộng đoàn đầu tiên ở Giêrusalem sau Phục Sinh (Cv 1,15). Nhất là ông sẽ rao giảng lời Chúa, như vậy là thả một mẻ lưới lớn quy tụ nhiều người để họ được sống (Cv 2,14-41).
Chúa Giêsu không có một lời kêu gọi nào cho các bạn đồng nghiệp của Simon; phép lạ và lời Chúa nói với Simon đã là một tiếng gọi và tất cả sẽ theo Người. Được mượn ở ngôn ngữ của các Kinh sư, thuật ngữ này chỉ điều kiện của người môn đệ chấp nhận đi theo bước chân của Thần mình (x. Lc 5,27-28). Sau cùng, một nét đặc trưng nữa của Luca; những môn đệ mới bỏ tất cả, không chỉ bỏ lưới như ở Mc 1,18. Theo Chúa Giêsu, đó làm một chọn lựa triệt để.
 

TN5-C104: BÊN BỜ HỒ GHEN-NÊ-XA-RÉT,

NGƯ PHỦ SIMON ĐƯỢC CHÚA KÊU GỌI  TRỞ THÀNH PHÊRÔ KẺ BẮT NGƯỜI NHƯ BẮT CÁ
Chú giải của Fiches Dominicales
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Một chiếc thuyền đánh cá.

Một lần nữa, chúng ta lại sắp được thấy Luca vẽ nên bức tranh này một cách rất tài tình. Khi đặt TN5-C104

Một lần nữa, chúng ta lại sắp được thấy Luca vẽ nên bức tranh này một cách rất tài tình. Khi đặt việc Đức Giêsu kêu gọi những môn đệ đầu tiên trong bối cảnh một mẻ lưới lạ lùng, mà ta sẽ gặp lại Phúc âm Gioan 21, 1-11, Luca có ý lấy Simon-Phêrô làm một nguyên mẫu, và dùng chiếc thuyền làm biểu tượng Giáo Hội truyền giáo.
Theo Phúc âm Máccô và Matthêu, hành động đầu tiên của Đức Giêsu khi thi hành sứ vụ là kêu gọi các môn đệ. Còn trong Phúc âm Luca, đầu tiên Đức Giêsu lại được giới thiệu xuất hiện một mình đứng trước đám đông, rồi chỉ sau đó Người mới kêu gọi các môn đệ.
+ Trước tiên là "Simon", chủ chiếc thuyền mà lát nữa Đức Giêsu sẽ ngồi vào vị trí của ông. Chỉ trong có ít dòng mà tên ông được nói tới năm lần, trong đó có một lần và là lần đầu tiên ông được gọi là Simon-Phêrô Lúc này ông là târn điểm của bài tường thuật, mà cũng sẽ là tâm điểm trong Phúc âm của Luca nữa.
+ Rồi đến "hai con ông Zêbêđê là Giacôbê và Gioan, bạn chài với ông Simon"
+ Cả ba ông, được kêu gọi trước tiên, sẽ là những chứng nhân đặc tuyển được chứng kiến việc hồi sinh cho con gái ông Giai-rô, việc Chúa biến hình sáng láng trên núi Taborê (Lc.9,28).
- Khung cảnh là "ven bờ Biển hồ Ghennêxarét": Đức Giêsu giảng dạy bên bờ hồ, bao quanh người là đông đảo dân chúng chen lấn nhau "để nghe lời Thiên Chúa ". Có hai chiếc thuyền đậu gần đó. Còn "những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới", sau khi đã đi đánh cá trở về.
R. Meynet nhận xét: "Đức Giêsu giảng dạy bên bờ hồ, bao quanh Người là đông đảo dân chúng chen lấn nhau. Trong khi đó, những người dân chài đang lo toan công việc thường ngày của họ: họ đang giặt lưới. Đám đông có đó, nhưng họ lại không tham dự cùng với đám đông. Đám đông lắng nghe lời Chúa, còn họ đang lao dộng" (Lévangile se lon saint Luc. Phân tích tu từ ", tập 2 trg 70).
2. Trở thành toà giảng
Bỗng dưng mọi sự bắt đầu đảo lộn. Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, "thuyền đó của ông Simon và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút ".
Thế là từ đây hai người, Đức Gìêsu và ông Simon, là những kẻ "đồng hội đồng thuyền" dấn thân vào cùng một cuộc phiêu lưu: Simon, người dân chài của Biển hồ sát cánh liền kề với Đức Giêsu, người đang "ngồi" trong tư thế của một vị tôn sư dạy dỗ các môn sinh của mình, để ngỏ lời với đám đông. "Con thuyền của Phêrô đã trở thành tòa để giảng dạy" (Sđd).
3….và cũng là biểu tượng Giáo Hội truyền giáo.
“Hãy chèo ra chỗ nước sâu, mà thả lưới bắt cá”, giờ đây Đức Giêsu lệnh cho ông Phêrô như vậy. "bắt cá", chuyện đó các ông đã vất vả "suốt đêm rồi mà không bắt được gì cả”dù rằng đêm tối vẫn là thời điểm thích hợp nhất cho việc đánh cá. Vậy mà, đang lúc các bạn chài người Nadarét của ông từ chối đề nghị kia của Đức Giêsu, thì Simon lại đầu hàng trước lệnh của người dân quê miền đồi núi ấy vốn không biết gì về chuyện chài lưới cả, ông đáp: “Thưa Thầy, dựa vào lời Thầy tôi sẽ thả lưới".
- Lời của Đức Giêsu tỏ ra rất hữu hiệu, vì mẻ lưới bắt được rất nhiều cá, đến nỗi lưới hầu như bị rách; họ phải "làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp", dẫu sao hai thuyền đều đầy cá đến gần chìm.
- Đối với người dân chài chân chất kia, chẳng có gì phải nghi ngờ nữa: trong Đức Giêsu Nadarét này, đúng là Thiên Chúa đã đột nhập vào đời sống của Người. Thế là ông liền quỳ gối sấp mặt dưới chân Người hành khách trên thuyền của mình như sấp mặt trước Đức Chúa" vậy. Con người ông giờ đây bỗng dưng giống như Isaia xưa khi được thị kiến ở trong Đền Thờ (bài đọc thứ nhất), đang ý thức được khoảng cách tách biệt ông với Đấng, mà như ông thấy, đang thực hiện những việc lạ lùng trong con thuyền của ông: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi".
- Câu trả lời Simon nhận được từ Đức Giêsu sẽ đánh dấu một khúc quanh quyết định cho cuộc đời của ông: "Đừng sợ, từ nay anh sẽ bắt người như bắt cá".
+ "Đừng sợ ": kiểu nói thường đi theo sau mọi loan báo quan trọng trong Kinh thánh: loan báo cho Apraham trong sách Sáng thế 15, 1; loan báo cho Zacaria trong Luca 1,13; loan báo cho Đức Maria trong Luca 1,30.
+ "Từ nay" cuộc đời của Simon, vị quan thầy-ngư dân bắt đầu mở sang trang mới. Cuộc đời của ông xoay chiều đổi hướng để hướng đến một bến bờ khác.
+ "Từ nay": một giai đoạn mới của chương trình cứu độ, giai đoạn truyền giáo, được mở ra ngay tức thì.
+ "Anh sẽ bắt người": sát nghĩa là: anh sẽ bắt những con người sống, có nghĩa là anh sẽ giựt lên những con người đang sống, anh sẽ kéo họ ra khỏi thế lực của sự ác để bảo đảm cho họ được sống an lành. Là "ngư dân", Simọn-Phêrô vẫn sẽ giữ nghề đánh cá, nhưng cái nghề đi tìm cá ban đêm của ông, một khi thay đổi đối tượng, thì cũng sẽ thay đổi ý nghĩa.
"Từ nay", sứ mệnh của ông sẽ là lôi kéo người ta ra khỏi vòng kiềm tỏa của sự ác và cái chết, mà thời đó người ta vốn dùng hình ảnh biểu tượng là chỗ nước sâu, để đưa họ đến cõi sống nên R. Meynet có thể viết: "Mẻ lưới lạ lùng hôm nay chỉ là hình ảnh báo trước mẻ lưới lạ lùng đích thực. Giống như mẻ lưới lạ lùng xưa, mẻ lưới lạ lùng đích thực cũng sẽ diễn ra dựa vào Lời của Đức Giêsu" (Sđd, tr.68).
- Thế rồi, sau khi đã đưa thuyền vào bờ, Simon-Phêrô, Giacôbê và Gioan "bỏ hết mọi sự mà theo Đức Giêsu" để dấn thân vào con đường mà theo kiểu nói của Ph. Bossuyt và J. Radermakers sẽ là một cuộc thả lưới lâu dài nhất và phi thường nhất trong cả cuộc đời của các ông ("Đức Giêsu, Lời ban ân sủng theo thánh Luca” tr. 183).

BÀI ĐỌC THÊM.
1. “Tin là dám liều”
Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật việc Đức Giêsu kêu gọi ông Phêrô. Chúa xuống thuyền của ông; Người đi vào đời ông. Đúng là sáng kiến từ phía Chúa. Mà điều Chúa yêu cầu Phêrô làm cũng không có chi là hoàn toàn mới lạ cả. Người đòi Phêrô hành nghề của ông. Phêrô làm nghề đánh cá. Nghề này thì ông rành quá rồi; ông biết phải đánh bắt khi nào, đánh bắt ở đâu. Nên ông chẳng sợ hãi gì khi phải thưa với Chúa rằng ông gặp ngày không hên thôi. Dựa vào sự hiểu biết và tay nghề của mình, Phêrô thành thực nói cho Thầy biết rằng điều Thầy yêu cầu là hoàn toàn sai lầm. Vậy mà điều Chúa yêu cầu ông thực hiện lại là điều mới lạ: tin cậy vào lời của Người. Và thế là Phêrô, dù bụng dạ chẳng vững chút nào, ông vẫn mạnh dạn thả lưới" Chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả, Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới. Phêrô dám đặt cọc vào sự tin tưởng hơn cả uy tín của mình. Và cá đang ở điểm hẹn.Vai trò chủ động của con người trước sáng kiến của Chúa được Phúc âm mô tả như vậy đó. Nó hệ tại ở một lòng tin tưởng. Lòng tin tưởng ấy không phải là thái độ thụ động, mà đôi khi là sự anh hùng và luôn luôn là sự dám liều táo bạo. Lòng tin tưởng thường là một thái độ tình nguyện can đảm nhất, bởi lẽ lòng tin tưởng không bị ai chỉ huy nhưng là một sự tặng ban, một hành vi tự do.
2. "Một bài tường thuật lúc nào cũng có tính thời sự"
Nếu bài tường thuật của Luca, chỉ là kể lại một phép lạ tỏ tường, thì chúng ta chỉ cần vỗ tay ca ngợi, và bày tỏ vẻ ngỡ ngàng cùng cảm tạ Chúa vì quyền năng của Người đã được biểu lộ ra trong Đấng Mêsia của Người, thiết tưởng cũng đủ rồi. Nhưng còn hơn một phép lạ nữa."Mẻ lưới lạ lùng" chính là một ẩn dụ mà mỗi chi tiết của câu chuyện đều quy chiếu về một thực tại thiêng liêng", và mỗi nét biểu hiện đều đòi hỏi phải được cắt nghĩa bằng biểu tượng". Không chỉ là một cú ngoạn mục diễn ra trên Biển hồ Ghennêxarét cách đây gần hai ngàn năm mà thôi, mà chính là một vấn đề lúc nào cũng mang tính thời sự.
Ở thế kỷ XX hôm nay cũng như ở thế kỷ đầu, Đức Kitô vẫn luôn bồn chồn đi lại dọc theo các bờ sông, bờ biển và các nẻo đường của chúng ta. Người hòa mình với dân chúng, đi vào các nhà, năng lui tới các nơi làm việc hay các khu vui chơi giải trí. Gặp lúc thuận tiện hay không thuận tiện, Đấng Mêsia vẫn không mệt mỏi loan báo, đề nghị Tin Mừng kêu gọi sám hối, Tin Mừng chữa lành, Tin Mừng giải thoát. Như thời ngôn sứ Isaia, Người là Thiên Chúa làm cho những người mắc bệnh cùi dơ bẩn được lành sạch. Người tha thứ tội lỗi và muốn cho những người hối cải đáp ứng lời người kêu gọi và tự nguyện hiến thân phục vụ Người.
Hôm nay vị Tôn sư ấy vẫn còn gặp gỡ "những ngư phủ" do ơn gọi, có năng lực, giầu kinh nghiệm và đảm đang; họ đã neo thuyền không người của họ ở bến an toàn. Họ đã được huấn luyện rất sâu và kỹ, đã theo những lớp đào tạo lại, đã phác thảo một cách ý thức và thông minh những chương trình và kế hoạch, đã chọn nơi và những hoàn cảnh thuận lợi. Họ đã trở về tay không và chán nản; lưới chẳng dính lấy được một con tép; trái tim họ bị đâm xiên và lòng trí thật ê chề.
Nhưng con thuyền của Phêrô không thể cứ trú ẩn mãi ở cảng, cũng chẳng được bỏ neo an toàn ở một vùng vịnh thanh bình không còn sợ gì nguy hiểm. Cùng với Chúa và theo lệnh Người, Giáo hội phải ra khơi, bất chấp những hiểm nguy của miền nước sâu gợi lên bao loài thủy quái cùng những hang sâu vực thẳm là vương quốc của những hung thần, của Satan và sự chết.
Không thể nào đánh cá được, những chuyên viên từng tuyên bố và lặp đi lặp lại như vậy. Còn các vị "quân tử gàn" mà lòng tin đã què quặt, nỗi sợ đã làm họ tê liệt và phần họ lại chỉ muốn được an thân thì tuyên bố: thật là sự điên rồ giết người, là sự thiếu khôn ngoan và lệch lạc, là muôn vàn khó khăn nguy hiểm không sao tính được.
Nhưng ta phải tin tưởng vào Thầy chứ.
Phêrô, các bạn đường của ông và các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi cuối cùng đều đã hiểu rõ lời kêu gọi của Đấng Phục-sinh là phải rời bỏ cái nôi của buổi ấu thơ đã được những truyền thống và luật lệ lỗi thời và trì trệ bao kín. Với sự can đảm, nếu không muốn nói là anh hùng, họ đã cất đi những hàng rào bao quanh khu vực khép kín của họ để liều lĩnh đi vào miền đất dân ngoại, đối đầu với thế gian, bất chấp những cám dỗ bị lây nhiễm, bị hiểu lầm, phải thất bại hay phải chết vì đạo.
Hôm nay đức tin vẫn đủ để đương đầu với những khu vực nguy hiểm, dám đối thoại, mở toang những cánh cửa vẫn đóng kín, từ bỏ lối độc quyền cao ngạo về chân lý, về độc quyền rao giảng Tin Mừng và sự thánh thiện. Hãy tách những con thuyền của các bạn ra! Hãy ra xa bờ! Hãy tiến ra khơi và thả lưới ngay nơi mà bạn đã vất vả và thất bại ê chề!
Tuy nhiên, ẩn dụ về mẻ lưới không phải là một công cuộc đi chinh phục để chiếm đất đai, hay quyền lợi hoặc bổng lộc. Không phải là vấn đề lôi kéo những con cá ra khỏi thiên đường của chúng, để cắt xẻ thịt nó, mà ăn cho thỏa, hoặc đem đi buôn bán. Những kẻ đánh bắt người như bắt cá phải là những con người cứu nhân độ thế, những người giải phóng nô lệ và tù nhân khỏi bóng tối, giải phóng những ai bị trói buộc vì những dục vọng mù quáng, hay bị bầm dập vì những bất công, những ai ngụp lặn trong dòng tư lợi nhỏ nhen bẩn thỉu, những ai bị chới với vì những thử thách gian truân. Chính trong những vực sâu tăm tối này, chính trong những ngục tù không chắn song kia mà lưới của nhà giải phóng ấy làm nên những việc thần kỳ. Nghĩa là một bầu khí tự do, một vùng trời đầy ánh sáng, một niềm hân hoan trở về miền đất hứa, nhưng luôn luôn là có các bạn chài của chiếc thuyền kia đến giúp".
 

TN5-C105 : CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay tập trung vào một chủ đề duy nhất: “Ơn Gọi”, hay đúng TN5-C105 

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay tập trung vào một chủ đề duy nhất: “Ơn Gọi”, hay đúng hơn: “Ơn Thiên Triệu”.
Is 6: 1-2a, 3-8
Trong Bài Đọc I, ngôn sứ I-sai-a thuật lại ơn gọi ngôn sứ của mình từ một thị kiến uy nghi hùng vĩ xảy ra trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, vào năm 740 trước Công Nguyên.
1Cr 15: 1-11
Trong đoạn trích thư thứ hai của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô nhắc lại ơn gọi đặc biệt mà thánh nhân đã lãnh nhận từ chính Chúa Ki-tô Phục Sinh. Ngài đã biến đổi thánh nhân từ một kẻ bách đạo cuồng tín trở thành một Tông Đồ nhiệt thành loan báo Tin Mừng.
Lc 5: 1-11
Thánh Lu-ca thuật lại câu chuyện về ơn gọi của các môn đệ tiên khởi: ngay liền sau mẽ cá kỳ diệu, thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gioan đáp trả lời mời gọi của Chúa Giê-su, họ từ bỏ mọi sự mà cất bước đi theo Ngài.
BÀI ĐỌC I (Is 6: 1-2a, 3-8)
Chúa Nhật vừa qua chúng ta đã đọc bài tường thuật về ơn gọi của ngôn sứ Giê-rê-mi-a; Chúa Nhật này, chúng ta đọc ơn gọi của ngôn sứ I-sai-a. Hai bài tường thuật được viết theo văn phong rất khác nhau và hai phản ứng của hai vị ngôn sứ này cũng đối lập với nhau. Nét đặc trưng của ơn gọi ngôn sứ Giê-rê-mi-a là bầu khí thân tình lòng bên lòng với Thiên Chúa, trong khi ơn gọi của ngôn sứ I-sai-a được định vị vào một thị kiến uy nghiêm hùng vĩ trong một cuộc thần hiển. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a không hề run sợ trước Thiên Chúa, nhưng lại sợ hãi khi phải đối đầu với con người. Trái lại, ngôn sứ I-sai-a run sợ trước vẻ uy nghi cao cả của Thiên Chúa và tự nguyện xin Chúa sai mình đi thi hành sứ vụ của Ngài cho con người.
Xem ra ngôn sứ I-sai-a xuất thân từ một gia đình thế giá ở Giê-ru-sa-lem và có mối quan hệ gần gũi với giai cấp lãnh đạo. Những người mà ông có sứ mạng chuyển giao sứ điệp là vua và các triều thần ở chốn cung đình. Ơn gọi của ngôn sứ I-xai-a được định vị vào “năm vua Út-di-gia-hu băng hà”. Vua Út-di-gia-hu là vị vua bất hạnh của vương quốc Giu-đa. Vào cuối triều đại hạnh phúc và thịnh vượng, vua bị bệnh cùi và qua đời năm 740 trước Công Nguyên.
1.Thị kiến khai mạc:
I-sai-a sinh vào năm 765 trước Công Nguyên. Vào khoảng 25 tuổi, ông đón nhận thị kiến ở Đền Thánh Giê-ru-sa-lem, trong những giờ phút xuất thần hay trong một buổi phụng vụ. Dù thế nào, ông đón nhận một mặc khải về tính siêu việt và sự thánh thiện của Thiên Chúa đến nổi làm xáo động tâm trí của ông. Ngay liền sau đó, ông trở thành vị ngôn sứ của Thiên Chúa ngàn trùng chí thánh.
Cuộc thần hiển được diễn tả theo hình tượng truyền thống: đất rung chuyển, khói tỏa mù mịt, như ở trên núi Xi-nai trong Cựu Ước hay như ở Nhà Tiệc Ly vào ngày lễ Ngũ Tuần trong Tân Ước. Đền Thờ Giê-ru-sa-lem đã là nơi Thiên Chúa ngự giữa cõi thế. Đức Chúa tỏ mình ra cho ông I-sai-a như một vị vua quyền năng mà sự uy nghi cao cả của Ngài bao phủ đền thánh, có các thần Xê-ra-phim hộ giá. Các thần này tung hô: “Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!”. Đây là lời tung hô “ba lần thánh”, nghĩa là, cực thánh hay ngàn trùng chí thánh, xem ra được dùng trong phụng vụ rồi. I-sai-a hiểu lời tung hô này và sẽ đặt nó vào trọng tâm sứ điệp của mình. Ông sẽ gọi Đức Chúa là “Đấng Thánh của Ít-ra-en”.
2.Sự khiêm hạ của con người và lòng xót thương của Thiên Chúa:
I-sai-a nhận ra ngay sự bất xứng của mình nên thốt lên: “Khốn thân tôi, tôi chết mất! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh!”. Với lời thú nhận đầy khiêm hạ này, Đức Chúa đáp trả bằng lòng xót thương; Ngài sai một trong các thần Xê-ra-phim, tay cầm một hòn than hồng trên bàn Hương Án và thanh tẩy môi miệng ô uế của vị ngôn sứ tương lai: “Đây, cái này đã chạm vào đến môi ngươi, ngươi đã được tha tội và xá tội”, để ông có thể xứng đáng là sứ giả của Ngài, người được Chúa sai đi truyền đạt Lời Chúa cho con người.
3.Ơn gọi:
Đức Chúa đã bày tỏ sự siêu việt của Ngài nhưng cũng sự hào hiệp của Ngài. Trước tiếng gọi của Thiên Chúa: “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?”, I-sai-a vào lúc đó mới 25 tuổi đời mau mắn đáp trả không một chút đắn đo suy nghĩ: “Dạ, con đây, xin sai con đi”. Cảm thấy mình có liên đới với dân này, “một dân môi miệng ô uế”, I-xai-a sẽ là sứ giả của Thiên Chúa cho họ. Trong Tân Ước, thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gioan sau mẽ cá kỳ diệu, sau này thánh Phao-lô sau thị kiến về Đấng Phục Sinh trên đường đi Đa-mát, đã không thể nào cưỡng kháng lại trước tiếng gọi của Chúa Ki tô.
BÀI ĐỌC II (1Cr 15: 1-11)
Chúng ta tiếp đọc thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô.
1.Hai điều lợi ích:
Đoạn trích hôm nay cho chúng ta hai điều lợi ích. Điều lợi ích thứ nhất đó là thánh Phao-lô biện minh phẩm chất Tông Đồ của mình, vì thánh nhân đã lãnh nhận ơn gọi của mình từ chính Chúa Ki-tô. Điều lợi ích thứ hai rất nổi tiếng: bản văn này là lời tuyên xưng đức tin về giá trị cứu độ của cái chết Đức Ki tô và một lời khẳng định quý báu về cuộc Phục Sinh, kèm theo danh sách của tất cả những chứng nhân đã thấy Đấng Phục Sinh, danh sách mà chỉ một mình thánh Phao-lô cho đầy đủ nhất. Các tác giả Tin Mừng không nói đến việc Chúa Ki tô hiện ra cho năm trăm người, cũng không nói đến việc Ngài hiện ra cho ông Gia-cô-bê, người anh em họ của Chúa Giê-su, người đảm nhận trách nhiệm của Cộng Đoàn Giê-ru-sa-lem. Trong danh sách này, thánh Phao-lô cũng kể ra việc Chúa Giê-su hiện ra cho tất cả các Tông Đồ. Thuật ngữ “Tông Đồ” ở đây rõ ràng phải được hiểu theo nghĩa rất rộng, bởi vì Nhóm Mười Hai được trích dẫn trước đó.
Chúng ta ghi nhận rằng thánh Phao-lô đặt cuộc xuất hiện của Chúa Ki-tô mà thánh nhân đã được thụ hưởng trên đường đi Đa-mát trên cùng một bình diện với những lần xuất hiện của Chúa Ki-tô giữa biến cố Phục Sinh và biến cố Thăng Thiên. Ở đây chúng ta chỉ dừng lại ở nơi ơn gọi của thánh Phao-lô mà chủ đề phụng vụ Lời Chúa hôm nay muốn hướng đến.
2.Ơn gọi của thánh Phao-lô:
Như ngôn sứ I-sai-a, thánh Phao-lô đã bị Thiên Chúa bắt lấy. Thánh nhân đã có một thị kiến về Đức Ki-tô Phục Sinh, Ngài tỏ mình ra trong một luồng ánh sáng rực rỡ khiến thánh nhân ngã xuống đất. Kẻ trước đây đã cuồng tín ra tay bắt hại các người Ki-tô hữu, bây giờ thú nhận là mình bất xứng: “Tôi là kẻ hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa”. Nhưng giống như I-sai-a, thánh Phao-lô đã được tha thứ và được gọi đích thân: “Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu”. Chúng ta nhận ra tâm hồn của vị Tông Đồ này: một sự trộn lẫn thường hằng giữa sự khiêm tốn và sự tự hào hãnh diện.
3.Thánh Phao-lô biện minh ơn gọi Tông Đồ của mình:
Thánh Phao-lô có nhiều lý do để mà biện minh ơn gọi của mình. Trong số những tín hữu Cô-rin-tô, vài người bác bỏ tước hiệu Tông Đồ của thánh nhân và buộc tội thánh nhân là huênh hoang tự đắc.
Ở đầu thư, thánh Phao-lô tự giới thiệu mình: “Tôi là Phao-lô, bởi ý Thiên Chúa được gọi làm Tông Đồ của Đức Giê-su Ki tô” (1Cr 1: 1). Như vậy, ngay từ đầu thư, các tín hữu Cô-rin-tô được báo trước rằng vị rao giảng của họ đòi hỏi tính chính danh ơn gọi Tông Đồ của mình. Sự đòi hỏi này được lập lại xa hơn một chút: “Tôi không phải là tông đồ ư? Tôi đã không thấy Đức Giê-su, Chúa chúng ta sao? Anh em không phải là công trình của tôi trong Chúa sao? Nếu đối với những người khác tôi không phải là tông đồ, thì ít ra đối với anh em tôi là tông đồ, vì ấn tín chứng thực chức vụ tông đồ của tôi trong Chúa chính là anh em” (9: 1-2).
Đoạn văn mà chúng ta đọc hôm nay được định vị vào cuối thư, vì thế, đây là lời thánh Phao-lô nhắc lại lần thứ ba về tính chất đặc thù của ơn gọi mình: chính Đức Ki-tô đã đích thân ủy thác sứ vụ tông đồ cho thánh nhân, chứ không có bất kỳ trung gian phàm nhân nào.
TIN MỪNG (Lc 5: 1-11)
Xem ra khi viết đoạn Tin Mừng này, thánh Lu-ca vận dụng cùng một phương pháp văn chương mà thánh ký đã sử dụng rồi trong bài tường thuật “Chúa Giê-su viếng thăm Na-da-rét”: tập hợp lại những sự kiện nối tiếp nhau thành một bài trình thuật duy nhất trong cùng một khung cảnh, để tránh những lập lại và để câu chuyện trở nên sống động hơn, thậm chí kịch tính hơn. Bài trình thuật này là “một bức tranh có ba cảnh” nối tiếp nhau:
-Chúa Giê-su rao giảng trên bờ hồ Ghen-nê-xa-rét (5: 1-3).
-Mẽ cá kỳ diệu (5: 4-7).
-Ơn gọi của các môn đệ đầu tiên (5: 8-11).
1.Chúa Giê-su rao giảng bên bờ hồ (5: 1-3):
Theo Tin Mừng Lu-ca, trước đây Đức Giê-su chọn các hội đường để truyền đạt đạo lý của Ngài cho dân chúng, giờ đây Ngài chọn bờ hồ Ghen-nê-xa-rét làm khung cảnh cho lời rao giảng của Ngài. Trong cùng câu chuyện này của thánh Mác-cô (Mc 1: 16-20), Chúa Giê-su chưa ban cho ông Si-mon một tên mới là Phê-rô; chỉ sau này Ngài sẽ cho ông tên mới này vào lúc Ngài chọn Nhóm Mười Hai (Mc 6: 14). Nhưng ngay trong câu chuyện của thánh Lu-ca, Chúa Giê-su chỉ định trước người ngư phủ miền Ga-li-lê này sẽ là thủ lãnh của Giáo Hội Ngài qua tên kép “ông Si-mon Phê-rô”. Như vậy, câu chuyện của thánh Lu-ca mang đậm nét viễn cảnh Giáo Hội hơn câu chuyện của thánh Mác-cô.
Trong hai con chuyền neo đậu ở đó, Chúa Giê-su chọn thuyền của ông Si-mon, “từ trên thuyền này Người giảng dạy đám đông”. Đây không phải là một sự tình cờ. Hình ảnh con thuyền Giáo Hội được thánh Phê-rô lèo lái đã trở thành kinh điển kể từ Giáo Phụ Tết-tu-li-a-nô và thánh Giáo Phụ Âu-gút-ti-nô; hình ảnh này xem ra tiềm ẩn ở nơi đoạn Tin Mừng này rồi. Đối với các Giáo Phụ, hình ảnh này là một biểu tượng kinh điển về Giáo Hội lữ hành trên trần thế, như lời giải thích của thánh Am-rô-si-ô: “Đây là con thuyền mà theo thánh Mát-thêu đang có nguy cơ bị chìm và theo thánh Lu-ca thì đầy cá. Ở đây chúng ta có thể thấy những bước khởi đầu đầy khó khăn của Giáo Hội và những thành quả sau này của nó” (St Ambrose, Expositio evangelii sec. Lucam, in loc.). Đức Ki-tô bước vào thuyền của thánh Phê-rô để giảng dạy đám đông dân chúng – và từ con thuyền của thánh Phê-rô, tức Giáo Hội, Ngài vẫn tiếp tục giảng dạy toàn thể thế giới.
2.Mẽ cá kỳ diệu (5: 4-7).
Mẽ cá kỳ diệu được thánh Lu-ca thuật lại ở đây, một tình tiết mà thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu không biết. Chúng ta cũng gặp thấy mẽ cá kỳ diệu này ở trong phần phụ chương của Tin Mừng Gioan (ch. 21), nhưng được đinh vị sau biến cố Phục Sinh. Có thể chỉ có một biến cố duy nhất, nhưng chúng ta không còn biết rõ biến cố này được định vị vào lúc nào. Điều này cho thấy mỗi tác giả Tin Mừng có quan điểm thần học khác nhau về cùng một biến cố.
Sau khi rao giảng cho đám đông dân chúng, Chúa Giê-su đòi hỏi thánh Phê-rô một hành vi đức tin. Đối với một ngư phủ chuyên nghề đánh cá trên biển Hồ, đêm là thời gian thuận tiện để ra khơi thả lưới bắt cá, chứ không phải ban ngày. Ấy vậy, Chúa Giê-su lại bảo ông Si-mon: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Dựa trên kinh nghiệm nghề nghiệp của mình, ông Si-mon nhấn mạnh sự phi lý của sự đòi hỏi này: “Thưa Thầy, chúng tôi vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”; tuy nhiên, đức tin của ông mách bảo ông chấp nhận sự thách đố này: “Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”. Đối với đức tin, điều không thể lại có thể. Một mẽ lưới đầy cá đến nổi họ phải ra hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền khác, là Gia-cô-bê và Gioan, đến giúp.
Chúng ta ghi nhận rằng ông An-rê, anh của ông Si-mon, không được kể ra. Tuy nhiên thánh Lu-ca dùng số nhiều: “Họ đã làm như vậy, và bắt được nhiều cá”, khi nói về những người bạn đồng nghiệp cùng ở với ông Si-mon. Sở dĩ không nêu tên thánh An-rê ở đây, thánh Luca nghĩ đến bộ ba: thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gioan, bộ ba này sẽ được liên kết với Chúa Giê-su một cách đặc biệt hơn các Tông Đồ khác: chỉ ba người môn đệ này sẽ được diễm phúc chứng kiến việc Chúa phục sinh con gái của ông trưởng hội đường (Lc 8: 51), biến cố Chúa Giê-su biến hình trên núi (Lc 9: 28), và cơn hấp hối của Ngài trong vườn Ô-liu (Mc 14: 33). Thật đáng ghi nhận rằng Chúa Giê-su vẫn tôn trọng tình bạn đồng nghiệp của họ trong suốt cuộc đời thi hành sứ vụ của Ngài; tuy nhiên, ba người môn đệ này sẽ là cột trụ của Giáo Hội tiên khởi. Sự cộng tác của tất cả họ vào mẽ cá kỳ diệu này phác họa sứ vụ của Giáo Hội tương lai rồi.
3.Ơn gọi của các môn đệ đầu tiên (5: 8-11).
Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều trình thuật “ơn gọi của các môn đệ tiên khởi” trong cùng một khung cảnh bên bờ hồ. Trong khi họ đang làm công việc hằng ngày của những ngư phủ: thánh Phê-rô và thánh An-rê đang quăng lưới đánh cá, còn thánh Gioan và thánh Gia-cô-bê thì đang vá lưới ở trong thuyền, Chúa Giê-su gọi họ: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”. Trước tiếng gọi của Chúa Giê-su, không một chút đắn đo suy tính hơn thiệt, họ mau mắn đáp trả bằng thái độ dứt khoát: lập tức họ bỏ tất cả mà đi theo Ngài. Hoạt cảnh thật giản dị nhưng thật cảm động.
Nét độc đáo của thánh Lu-ca là liên kết câu chuyện về ơn gọi của các môn đệ tiên khởi với mẽ cá kỳ diệu. Khi làm như thế, thánh Lu-ca làm cho câu chuyện nầy thêm phần kịch tính hơn. Các môn đệ tương lai xem ra không thể cưỡng lại trước Đức Giê-su, một nhà phép thuật thần thông hơn là một nhà giảng thuyết lưu động, cho dù họ không tách biệt quá rõ nét hai khía cạnh hấp dẫn này ở nơi con người Đức Giê-su. Thánh Phê-rô phản ứng như ngôn sứ I-sai-a khi thánh nhân bày tỏ một khoảng cách tách biệt giữa phàm nhân tội lỗi và Thiên Chúa thánh thiện: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”. Như trong câu chuyện ơn gọi của vị ngôn sứ I-sai-a, lòng xót thương của Thiên Chúa đáp trả sự khiêm tốn của vị ngôn sứ, Chúa Giê-su cũng trấn an thánh Phê-rô: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”. Chính con người mà thánh nhân có sứ mạng thu phục. Trong viễn cảnh của sứ mạng này, bờ hồ Ghen-nê-xa-rét mờ nhạt trước một thế giới bao la đang chờ đợi Tin Mừng thu phục.
Một bức tranh ba cảnh của thánh Lu-ca có một sự duy nhất thật thấm thía: trên phong nền của toàn cảnh nổi bật một viễn cảnh về Giáo Hội phổ quát.
 

TN5-C106 : MẺ CÁ LẠ LÙNG

(Lc 5, 1-11) Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, ta như thấy có một cái gì đó thật xuyên suốt, thật TN5-C106 

(Lc 5, 1-11) Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, ta như thấy có một cái gì đó thật xuyên suốt, thật chặt chẽ và rất ư gợi hứng, gợi hình gợi cảm. Từng biến cố, từng sự việc đều được Chúa Giêsu lấy ra từ những câu chuyện, những việc xẩy ra trong đời thường để gởi gắm sứ điệp, dậy dỗ môn đệ và nhân lọai muôn thời. Đọan Tin Mừng hôm nay cho thấy một cảnh rất đời thường bên biển hồ Ghen-nê-xa-rét, nhưng đó lại là một việc làm hết sức thực tế,và hết sức cảm động của Chúa Giêsu khi Ngài làm phép lạ cho mẻ cá đầy ắp lưới, một việc màcác môn đệ như Simon, Anrê, Giacôbê và Gioan đã lục hục suốt đêm mà không tài nào làm nổi…

MẺ LƯỚI QUÁ LẠ LÙNG:
Tin Mừng Luca viết :” Simon và các bạn chài đã vất vả suốt đêm mà không hề bắt được con cá nào cả, dù họ là những ngư phủ lành nghề. Họ biết chỗ nào cá có nhiều, chỗ nào sâu, chỗ nào cạn, chỗ nào cá sủi bọt, chỗ nào cá hay tới ăn và đi theo bầy. Nhưng đêm qua từ chập tối cho tới sáng Simon và các bạn đã mệt nhòai, đã mất ngủ hầu như trắng mắt, vẫn không có một con cá nào vào lưới. Đức Giêsu đã có mặt đứng đó trên bờ biển Ghen-nê-xa-rét từ sáng sớm và rồi hiểu được sự khốn quẫn của các môn đệ, Chúa truyền lệnh cho Simon và các bạn ra khơi thả lưới. Simon không dám cưỡng lại lời Chúa, dù ông đang mệt, ông muốn nghỉ ngơi, ông muốn ngủ, nhưng :” Vì lời Thầy, con sẽ thả lưới”( Lc 5, 5 ). Simon hết đỗi ngạc nhiên và cả các bạn của ông cũng thế, họ dụi mắt, họ tưởng như giấc mơ, họ kinh ngạc đến sung sướng, một mẻ cá quá nhiều, quá bất ngờ, lưới của các ông hầu như muốn rách. Simon Phêrô bất ngờ đến phát sợ hãi, ông chỉ còn cách đến gần Chúa Giêsu phủ phục trước mặt Ngài mà nói :” Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi”( Lc 5, 8 ). Phêrô tự nhiên cảm thấy mình quá bé nhỏ, quá tầm thường và quá bất xứng đối với Chúa Giêsu. Thái độ khiêm tốn của Ngài cũng na ná như Đức Mẹ khi đứng trước lời đề nghị của sứ thần Gabrien ngày truyền tin. Mẹ chỉ là nữ tỳ bé nhỏ, đơn hèn trước lời mời gọi lớn lao làm Mẹ Thiên Chúa. Simon cũng cảm thấy bất xứng như Phaolô trên đường đi Đamát và Ngài đã hỏi Chúa:” Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì ?”. Vâng, ơn Chúa chỉ đổ xuống trên những ai có lòng khiêm nhượng, thật thà, đơn hèn.

SỰ BẤT LỰC CỦA CON NGƯỜI LÀM NỔI BẬT QUYỀN NĂNG CỦA THIÊN CHÚA:
“ Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không bắt được con cá nào. Nhưng vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới” ( Lc 5, 5). Lời nầy chứng tỏ sự bất lực của con người và là lời tin nhận quyền năng tối thượng của Thiên chúa Giavê. Từ đáy lòng, sự khiêm hạ của con người như lời nói xin vâng của Đức Mẹ Maria, phép lạ đã xẩy ra và phép lạ đem con người tới lòng tin sâu thẳm. Trước phép lạ lớn lao:” mẻ cá lạ lùng”. Simon xưng Chúa là Thầy và sau phép lạ tuyệt vời ấy, Simon lại tuyên xưng Chúa là Chúa. Chính qua phép lạ mẻ cá lạ lùng, Simon đã nhận ra quyền năng vô song, khôn lường của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu và đã tuyệt đối tin tưởng vào Người. Mẻ cá diệu kỳ ấy đã giúp Simon nhận ra quyền năng cao vời và sự bất lực, yếu đuối của con người trước quyền năng vô biên của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu. Đây cũng là kinh nghiệm của Môisen trước Thiên Chúa trong bụi gai, là kinh nghiệm của Isaia:” Khốn cho tôi, tôi chết mất…”. Nhưng khi được tình thương của Chúa thanh tẩy miệng lưỡi, ngôn sứ Isaia đã mau mắn vâng lời đi làm ngôn sứ cho Thiên Chúa. Giờ phút này, Chúa cũng trấn an Phêrô:” Đừng sợ, từ đây các con sẽ là những kẻ chài lưới người ta”( Lc 5, 10 ). Đức Giêsu Kitô hôm nay muốn trấn an, động viên, khuyến khích các môn đệ, đặc biệt ba vị tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan, để tất cả tin vào sự yêu thương, lòng từ tâm và sự quan phòng của Thiên Chúa khi tiếp nhận và thi hành sứ mạng Ngài trao phó.
Chính lời trấn an, và trao ban sứ vụ, mà Phêrô và các bạn của Ngài đã bỏ tất cả mọi sự mà đi theo Chúa ( Lc 5, 11 ). Đó là ơn gọi của Phêrô và các bạn để các Ngài ra đi theo Chúa mà chinh phục người ta.
Phêrô và các bạn ngư phủ lành nghề trước khi gặp Chúa đã vất vả hết mình, suốt đêm nhưng khôngbắt được một con cá nào, nhưng khi gặp Chúa, Chúa đã chỉ, đã giúp, đã hướng dẫn các Ngài bắt được quá nhiều cá đến nỗi lưới gần rách và thuyền gần bị chìm. Nhưng tất cả những điều đó chỉ là phần thưởng trước mắt Chúa ban cho các Ngài mau qua, chóng tàn, điều quan trọng là từ nay các Ngài đã hòan toàn thuộc về Chúa và trở thành ngư phủ giỏi, lành nghề lưới người ta.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết sẵn sàng từ bỏ mọi sự để đi theo Chúa và trở thành chứng nhân trung kiên cho Chúa. Amen. 
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT
 

TN5-C107 :  Tin vào sức mạnh Lời Chúa

(Lc 5,1-11)

Phê-rô Ngư Phủ đánh bắt cá giỏi hơn Giê-su Thợ Mộc, đó là điều chắc chắn. Thế nhưng, với Phê-rô TN5-C107 

Phê-rô Ngư Phủ đánh bắt cá giỏi hơn Giê-su Thợ Mộc, đó là điều chắc chắn. Thế nhưng, với Phê-rô còn có một điều chắn chắn hơn: sức mạnh kỳ diệu của Lời Đức Giê-su, Lời đã chữa cho mẹ vợ ông khỏi cơn sốt (Lc 4,39). Vì tin vào sức mạnh của Lời ấy, ông gạt bỏ đi kinh nghiệm nghề nghiệp lâu năm của mình, cũng như vượt thắng sự mệt nhọc sau một đêm trắng tay. Mẻ cá dư dật minh chứng cho niềm tin đúng đắn của ông, đồng thời khai mở cho ông một cái nhìn mới. Từ nay Đức Giê-su không chỉ là một vị thầy (5,5), nhưng còn là Chúa của ông (5,8). Ông không còn là người chuyên đánh bắt cá nuôi sống bản thân và gia đình, nhưng là người thu phục người khác về cho Chúa. Niềm tin vào Lời Chúa đã đổi hẳn đời ông.
Mời Bạn: Bạn có thể dựa vào kinh nghiệm sống để cho rằng Lời Chúa viển vông, không khả thi trong thực tế. Cũng có thể do ngã lòng quá sớm, mệt mỏi trong cuộc sống, bạn không muốn thực hiện theo Lời Chúa dạy. Cuộc đổi đời của Phê-rô hôm nay có thể giúp bạn có một cái nhìn mới về Lời Chúa.
Chia sẻ: Người Ki-tô hữu Việt Nam cần làm gì để Lời Chúa có một vị trí tương xứng hơn trong cuộc đời của họ?
Sống Lời Chúa: Chọn một câu Lời Chúa như kim chỉ nam cho sinh hoạt của mình, và nỗ lực sống theo Lời ấy.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, Chúa không ép ông Phê-rô chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá, nhưng chỉ gợi ý mời gọi ông. Ngày hôm nay, con tin chắc Chúa cũng đang đưa ra những lời gợi ý mời gọi tương tự như vậy. Xin cho chúng con, tựa như ông Phê-rô, tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh của Lời Chúa và hết lòng thực hiện Lời ấy. Amen.
 

TN5-C108 : MẺ CÁ LẠ LÙNG

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN, năm C
Lc 5, 1-11

Tin Mừng của Thánh Luca hôm nay tường thuật cho chúng ta về một phép lạ vô cùng ấn tượng TN5-C108 

Tin Mừng của Thánh Luca hôm nay tường thuật cho chúng ta về một phép lạ vô cùng ấn tượng. Bởi vì Phêrô và các tông đồ khác hầu hết đều là những người lành nghề đánh cá, thế mà cả một đêm thả lưới không hề bắt được một con cá nào ! Việc thả lưới, bắt cả là việc rất bình thường của các ngài, tuy nhiên suốt đêm qua, lưới của các ngài thả xuống biển không dính một con cá nào. Chúa Giêsu quả thực đã có mặt đúng lúc, can thiệp đúng lúc và động viên, khích lệ các ngài đúng lúc. Phêrô đã thưa với Chúa Giêsu :” Thưa Thầy chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới “.

CÁI LẠ LÙNG CỦA CHÚA GIÊSU :
Quyền năng của Thiên Chúa được thi thố nơi Chúa Giêsu. Lời nói của Ngài, lệnh truyền của Ngài là lời toàn năng. Nếu xét về mặt tự nhiên, Phêrô và các bạn khác là những ngư phủ rất lành nghề, rất thông thạo về biển, các ngài đã kinh qua việc đánh bắt cá từ lâu, do đó, các ngài đã kinh nghiệm chỗ nào là chỗ nước sâu, chỗ nào có cá nhiều, chỗ nào có cá ít. Nhưng thực tế, suốt một đêm chèo thuyền ra khơi, thả lưới, lùa cá, mệt nhọc, vất vả, mất ngủ, các ngài đã không bắt được một con cá nào.Chúa bảo Phêrô và các tông đồ khác ” Hãy chèo thuyền ra chỗ nước sâu mà thả lưới “. Phêrô đã thưa với Chúa :” Suốt đêm qua chúng con đã vất vả mà chẳng bắt được một con cá, con tôm, con tép nào ”. Tuy nhiên, trước lệnh truyền của Chúa Giêsu, Phêrô đã nhanh nhẩu cùng với các bạn chèo thuyền ra chỗ sâu thả lưới. Kết quả, Phêrô và các bạn đã bắt được mẻ cá nhiều ngoài sức tưởng tượng của con người. Đứng trước mẻ cá lạ lùng như thế, Phêrô và các bạn đều run sơ.Đáng lẽ các ngài phải mừng vui, hớn hở, đáng lẽ các ngài phải can đảm, mạnh mẽ.Nhưng các ngài run sợ vì các ngài chưa có đức tin, chưa có lòng phó thác vào Chúa. Các ngài nhận ra các ngài còn quá nhiều tội lỗi, còn quá nhiều tham sân si. Kết quả của mẻ cá lớn lao, phong phú này không phải sức riêng của Phêrô, nhưng là do lời quyền năng của Chúa. Phêrô đang đối diện với Đấng quyền năng, Đấng tạo dựng vũ trụ, tạo nên con người. Phêrô và các bạn phải hoàn toàn tín thác vào Chúa.
Sau khi kéo lưới đầy hai thuyền, Phêrô nhận ra Chúa Giêsu là ai và Phêrô là ai. Phêrô chỉ là một con người yếu hèn, nên ngài xin Chúa tránh xa ra vì Phêrô là người tội lỗi. Con người của Phêrô yếu đuối thật đó, nhưng Chúa lại chọn ngài trở thành thuyền trưởng lèo lái con thuyền Giáo Hội…

MẺ CÁ TƯỢNG TRƯNG CHO CÁC LINH HỒN :
Tin Mừng của thánh Luca trong đoạn này tường thuật lại mẻ cá lạ lùng của quyền năng vô song của Chúa. Nhưng đàng khác thánh Luca ám chỉ cá là linh hồn…Phêrô và các tông đồ trở thành các ngư phủ lưới người. Bởi vì, lúc đó các Giáo đoàn đã được thiết lập ở nhiều nơi. Giáo Hội của Chúa giống như một hạt cải rất bé nhỏ nhưng nó cứ tiệm tiến lớn dần và ngày hôm nay Giáo Hội do Chúa Giêsu thiết lập đã có mặt trên khắp cùng thế giới.Vai trò của thủ lãnh Phêrô thật là quan trọng. Chúa luôn coi trọng và đề cao vai trò của thủ lãnh Phêrô. Mặc dù, Giáo Hội của Chúa ở trần gian gặp biết bao cam go thử thách ngay từ thời mới thiết lập đến bây giờ, nhưng Giáo Hội vẫn luôn phát triển, lớn mạnh vì có Chúa luôn hiện diện đúng như lời Chúa hứa :” Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế “. Các môn đệ, các tông đồ vẫn luôn tin vào Chúa bởi vì :” Không có Chúa không ai có thể làm được gì “.
Mẻ cá lạ lùng cũng còn ám chỉ đến ơn gọi của các tông đồ. Các ngài đã bỏ mọi sự : cha mẹ, vợ con, ruộng vườn, nghề nghiệp mà đi theo Chúa…Chúa luôn nâng đỡ, giữ gìn, ủi an. Dù rằng, các tông đồ đã gặp biết bao giông tố, các ngài đã anh dũng, hiên ngang, làm chứng cho Chúa bằng chính cái chết của mình.
Ngày nay, Chúa vẫn tiếp tục kêu gọi chúng ta như Ngài đã mời gọi Simon, Anrê , Giacôbê và các tông đồ, chúng ta hãy để cho Chúa dẫn đưa chúng ta trên đường phục vụ tùy theo ý Chúa.Chúng ta hãy tín thác vào quyền năng và lòng thương xót của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, trong chiếc thuyền đời của chúng con, xin Chúa tiếp tục hướng dẫn và đưa chúng con đi xa hơn nữa, đi tới những nơi bất ngờ. “ Hãy chèo thuyền ra chỗ sâu mà thả lưới “. Xin cho chúng con luôn biết vâng lời Chúa như Phêrô đã vâng theo ý Chúa. Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1.Tại sao các môn đệ không bắt được con cá nào ?
2.Tại sao Phêrô lại xin Chúa tránh xa ông ?
3.Vâng lời Chúa Phêrô và các bạn đã có kết quả thế nào ?
 

TN5-C109 : Được sai đi rao giảng Tin Mừng

CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Is 6:1-2a, 3-8;  1 Cr 15:1-11;  Lc 5:1-11)

Được sai đi là một đặc nét của công cuộc rao giảng Tin Mừng.  Chúa Giê-su thi hành sứ mệnh TN5-C109 

Được sai đi là một đặc nét của công cuộc rao giảng Tin Mừng.  Chúa Giê-su thi hành sứ mệnh, nhưng không phải Người tự mình làm công việc ấy, mà là do Chúa Cha sai Người đi.  Trước khi sai các môn đệ ra đi để tiếp tục sứ mệnh rao giảng, Chúa Giê-su đã nói rõ ràng rằng như Chúa Cha sai Người đi thế nào, Người cũng sai họ đi như vậy.  Trong lịch sử Ít-ra-en, biết bao người đã được Thiên Chúa sai đi để thực hiện một tác vụ đặc biệt, thí dụ các vị ngôn sứ được sai đến với một cộng đồng hoặc cá nhân để mang thông điệp của Chúa đến cho họ.  Các ngài đã tuân thủ mệnh lệnh, dù phải chấp nhận hy sinh hoặc ngay cả nguy hiểm tính mạng.  Trong đại cuộc rao giảng Tin Mừng, Chúa Giê-su đã được Chúa Cha sai đến với nhân loại để loan báo tình yêu cứu độ và lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho nhân loại.  Sau khi đã chu toàn sứ mệnh ở trần gian, Chúa Giê-su sai các môn đệ và cả chúng ta hãy ra đi tiếp nối những gì Người đã khởi đầu, làm những kẻ “thu phục người ta”.
          Trong Cựu Ước, các vị ngôn sứ đều là những người được sai đi thi hành sứ mệnh.  I-sai-a là một trong số bốn vị đại ngôn sứ.  Bài đọc 1 hôm nay thuật lại việc ngài được Thiên Chúa kêu gọi và sai đi như thế nào.  Trước hết ngài kể lại khung cảnh sự hiện diện của Thiên Chúa trên ngai tòa cao cả, có các thần thánh đứng chầu và tung hô vinh quang Người.  Trước khung cảnh uy nghi ấy, I-sai-a nhận biết thân phận mình quá bất xứng liền kêu lên:  “Khốn thân tôi, tôi chết mất!  Vì tôi là một người môi miệng ô uế!”  Tuy nhiên đối với Thiên Chúa, những gì là ô uế đều có thể được Người thanh tẩy.  Lập tức Thiên Chúa sai một thần Xê-ra-phim cầm hòn than hồng chạm vào môi I-sai-a để thanh tẩy môi miệng ô uế của ông và biến ông trở thành một vị ngôn sứ, tức là người nói thay cho Thiên Chúa.  Sau khi “tha lỗi và xá tội” cho I-sai-a, Thiên Chúa không độc đoán ép buộc ông phải lãnh nhận sứ mệnh, nhưng Người chỉ gợi ý cho ông khi Người “bâng quơ” phán rằng:  “Ta sẽ sai ai đây?  Ai sẽ đi cho chúng ta?”  Lạ đời chưa!  Lúc ấy chỉ có Chúa với ông I-sai-a, thế mà Người lại bảo “Ta sẽ sai ai đây”, thì đúng là Người không muốn áp đặt, mà chỉ mong ông sẽ tự nguyện đáp lại ước ao của Người.  Quả thực I-sai-a đã hiểu được ý Chúa và ông đủ quảng đại để thưa với Chúa:  “Dạ, con đây, xin sai con đi”.  Chúng ta có thể tưởng tượng Chúa mỉm cười mãn nguyện khi thấy I-sai-a đáp lại lời Người kêu gọi.  Thế là I-sai-a có đủ tư cách để được Thiên Chúa sai đi thi hành sứ mệnh Người trao.
          Nếu biến cố Thiên Chúa kêu gọi I-sai-a làm ngôn sứ và sai ông đi được diễn ra trong khung cảnh uy nghi của triều thần thiên quốc, thì việc Chúa Giê-su kêu gọi các môn đệ và sai họ đi lại diễn ra trong khung cảnh đời sống thường ngày, đôi khi còn gắn bó với nghề nghiệp sinh sống nữa.  Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Lu-ca đưa chúng ta trở lại khung cảnh bờ hồ Ghen-nê-xa-rét, nơi một nhóm người đánh cá hành nghề.  Họ đang giặt lưới để chuẩn bị cho chuyến đánh cá tới, vì hôm qua họ “đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”.  Chúng ta thử tưởng tượng Chúa nghĩ gì về mẻ lưới hoàn toàn thất bại của họ.  Có lẽ Chúa nói thầm trong bụng:  Tốt lắm, các anh vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả, thì tôi sẽ giúp các anh tha hồ bắt những thứ cá khác, đó là bắt các tâm hồn, thu phục người ta để đem về cho Thiên Chúa!”  Bằng một phép lạ, Chúa muốn chứng minh rằng Người có khả năng biến họ thành những kẻ đánh bắt các tâm hồn như lưới cá.  Nếu Chúa chỉ cần “chỉ điểm” giúp họ có một mẻ lưới bắt được thật nhiều cá đến nỗi hầu như rách cả lưới, thì chắc chắn Người cũng thừa sức đào tạo họ trở nên những kẻ lưới các tâm hồn!  Ở đây, chúng ta thấy có điểm tương đồng giữa ngôn sứ I-sai-a và ông Phê-rô.  I-sai-a nhận biết mình là người miệng lưỡi ô uế.  Còn ông Phê-rô thấy phép lạ Chúa làm liền “sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói:  ‘Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi’”.  Nhưng Chúa trấn an:  “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”.  Như chúng ta biết, sau ba năm trong trường huấn luyện tông đồ của Chúa và trải qua nhiều thực tập cùng quan sát, Phê-rô đã được Chúa sai đi trong lời hứa của Chúa:  “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.

Sống sứ điệp Lời Chúa
          Sau khi sống lại, Chúa Giê-su còn kêu gọi một người rất đặc biệt là Phao-lô và sai ông đi.  Phao-lô từng là một kẻ hung hăng bách hại Ki-tô hữu, vậy mà ông cũng được Chúa gọi và sai đi rao giảng Tin Mừng.  Đặc biệt hơn nữa, sứ mệnh rao giảng của Phao-lô còn được thi hành ở một môi trường xa lạ:  rao giảng Chúa Ki-tô và Tin Mừng cho anh chị em dân ngoại tại nhiều nơi bên ngoài Ít-ra-en.
          Tuy nhiên cả ba vị đều để lại cho chúng ta cùng một bài học:  hãy quảng đại đáp lại lời kêu gọi của Chúa và tin tưởng vào sự nâng đỡ của Người khi chúng ta thi hành sứ mệnh Người trao.  Dù chúng ta có là “người môi miệng ô uế” giống như I-sai-a, hoặc là “người tội lỗi” như ông Phê-rô, hoặc là kẻ bách hại đạo Chúa như ông Phao-lô, thì Chúa vẫn kêu gọi chúng ta, huấn luyện chúng ta thành những kẻ giúp anh chị em đón nhận Tin Mừng và trở về với Chúa.  Chúa không ép buộc chúng ta khi sai chúng ta đi, nhưng Người luôn hy vọng chúng ta sẽ quảng đại và tự nguyện thưa với Người:  “Dạ, con đây, xin sai con đi”.
        Lm. Đa-minh Trần đình Nhi       
Suy Niệm Lời Chúa Năm C
 

TN5-C110 : Tiếng gọi của Lòng Thương Xót

CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 5:1-11)

Qua bài Tin Mừng hôm nay, thánh Lu-ca cho chúng ta một câu chuyện tuyệt vời về việc Chúa Giê-su TN5-C110 

Qua bài Tin Mừng hôm nay, thánh Lu-ca cho chúng ta một câu chuyện tuyệt vời về việc Chúa Giê-su kêu gọi những môn đệ đầu tiên.  Động lực nào khiến Chúa kêu gọi những người xem ra không đủ khả năng để chu toàn một sứ mệnh cao cả nếu không phải là do tình yêu đặc biệt Người dành cho họ?  Trong bối cảnh của Năm thánh ngoại thường về lòng Chúa thương xót, chúng ta thấy dễ dàng xác tín rằng tiếng gọi mạnh mẽ của Lòng Thương Xót đã thay đổi những người được Chúa tuyển chọn.  Họ bắt đầu cuộc thay đổi này bằng một hành vi thật ý nghĩa:  bỏ hết mọi sự mà theo Người.
          Trong mọi việc lớn lao, sự tuyển chọn luôn là quan trọng.  Để kiếm người xây dựng một mái ấm gia đình, người ta phải trải qua một cuộc tuyển chọn cẩn thận và cân nhắc, có khi đòi thời gian lâu dài.  Muốn kiếm người cộng sự trong công việc, chúng ta cũng phải cố tìm ra người mình có thể tin tưởng.  Nhưng điều khiến chúng ta ngạc nhiên là làm sao Chúa Giê-su nhận ra điều hay điều tốt nơi những vị tông đồ tương lai.  Đâu là tiêu chuẩn hoặc điều kiện để Người tuyển chọn?  Thông minh?  Bằng cấp?  Xuất thân từ gia đình thế giá?  Dĩ nhiên đạt những tiêu chuẩn này là điều tốt, nhưng đây là cuộc tuyển chọn tông đồ chứ không phải tuyển giáo sư đại học, giáo sư Kinh Thánh hay thần học, cho nên Chúa cần những người có lòng hăng say và quảng đại, sẵn sàng đón nhận một sứ mệnh vô vị lợi.  Nói khác đi, Chúa cần những người có một tấm lòng, cần những người có “hồn tông đồ”.  Chúa Giê-su là Lòng Thương Xót được sai đến trần gian để cứu độ nhân loại. Do đó Người cần có những cộng sự viên được đào tạo để đem lòng thương xót của Thiên Chúa đến với anh chị em.
          Giờ đây chúng ta hãy trở lại với khung cảnh bờ hồ Ghen-nê-xa-rét.  Chúa Giê-su “đứng ở bờ hồ” và “dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa”. Người ta muốn đến với Lòng Thương Xót của Thiên Chúa đấy!  Có thể vì sự chen lấn đó nên Chúa Giê-su đã phải “mượn” thuyền của ông Phê-rô làm bục giảng lời Chúa.  Ít ra chúng ta có thể nhận thấy lòng quảng đại của ông Phê-rô khi ông để cho Chúa sử dụng thuyền của ông.  Chắc chắn Chúa Giê-su còn thấy điều ấy rõ hơn, vì Người là Đấng “dò thấu tâm can” con người.  Mặc dù ông Phê-rô đã nhận ra thế giá của Chúa Giê-su qua khung cảnh dân chúng chen lấn đến với Người và hành vi mượn thuyền để mở đầu cho một tương quan giữa Chúa với ông, nhưng ông cần một bước nữa để biết rõ Người hơn.  Thì đây, Lòng Thương Xót sẵn sàng mở lòng đón nhận ông.  Chúa Giê-su cho ông biết Người là ai.  Người để cho mối tương quan vừa thiết lập được trở nên sống động:  Chúa bảo ông thả lưới, ông dẹp bỏ kinh nghiệm nghề nghiệp để “vâng lời Thầy”.  Lòng Thương Xót đi từng bước để giúp ông Phê-rô “biết mình biết Người”!  Sau khi biết thì:  Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!  Nhưng Chúa đâu kể gì tội lỗi của ông, vì tội lỗi đứng trước Lòng Thương Xót thì có khác chi cục đá lạnh sẽ tan lập tức dưới ánh nắng mặt trời.  Người chỉ muốn tấm lòng quảng đại của ông.  Chúa biết ông là con người yếu đuối, nhưng không sao, Người sẽ làm cho ông mạnh và vững chắc như Tảng Đá!  Người bảo đảm với ông:  “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”.

Sống sứ điệp Tin Mừng
          Sau lời gọi của Chúa Giê-su, chúng ta thấy không chỉ một mình ông Phê-rô “bỏ hết mọi sự mà theo Chúa”, nhưng cả hai người con của ông Dê-bê-đê nữa.  Quả thực Lòng Thương Xót có sức mạnh kinh hồn.  Nghe tiếng gọi của Lòng Thương Xót, các tông đồ tiên khởi không sao cưỡng lại được!  Chúa đã quảng đại mở lòng thương xót với các ngài, thì các ngài cũng quảng đại đáp lại tiếng gọi tông đồ của Chúa.
          Thấy người lại ngẫm đến ta!  Ngôn sứ I-sai-a thì thưa với Chúa:  “Dạ, con đây, xin sai con đi”, sau khi ông được tha lỗi và xá tội (bài đọc 1).  Tông đồ Phao-lô tuy từng là kẻ “ngược đãi Hội Thánh”, nhưng nhờ ân sủng của Lòng Thương Xót đã trở thành Tông đồ Dân ngoại.  Như thế, bạn và tôi, chúng ta không tránh nổi tiếng gọi của Lòng Thương Xót đâu.  Chúng ta cứ quảng đại và can đảm thưa với Chúa:  Dạ, con đây, xin sai con đi!
     Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây