Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 TN-C Bài 51-100

Thứ năm - 07/02/2019 10:17
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 TN-C Bài 51-100: Mẻ cá lạ lùng
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 TN-C Bài 51-100: Mẻ cá lạ lùng
TN 5-C Phần II Bài 51-100: Mẻ cá lạ lùng
TN5-C51. Chúa Gọi Các Tông Đồ. 2
TN5-C52. SUY NIỆM CHÚA NHẬT 5 TN, C.. 7
TN5-C53. Chúa Nhật thứ 5 Thường Niên, C.. 8
TN5-C54. THƯA THẦY, VÂNG LỜI THẦY CON THẢ LƯỚI 13
TN5-C55. TRỞ THÀNH NGƯ PHỦ LƯỚI NGƯỜI 14
TN5-C56. MẺ CÁ LẠ LÙNG.. 16
TN5-C57. CÁI THUỞ BAN ĐẦU.. 18
TN5-C58.  Chúa Nhật 5 quanh năm.. 21
TN5-C59. CHÚA NHẬT  5 QUANH NĂM... 25
TN5-C60.  CHÚA KHÔNG LẦM... 28
TN5-C61. Đánh Bắt Con Người 31
TN5-C62. Chúa Nhật 5 Thường niên. 34
TN5-C63.  Tự do. 35
TN5-C64. Khiêm nhường. 37
TN5-C65. Con đường của Thiên Chúa là tốt nhất 38
TN5-C66. Được gọi để gọi người khác. 40
TN5-C67. Kêu gọi các môn đệ đầu tiên - McCarthy. 42
TN5-C68. Những môn đồ tiên khởi - R. Gutzwiller 44
TN5-C69.  ĐỨC GIÊSU VÀ VỊ TÔNG ĐỒ ĐẤU TIÊN.. 48
TN5-C70: ĐÁP LẠI ƠN GỌI LÀM TÔNG ĐỒ.. 57
TN5-C71:  Nhận lãnh sứ mệnh Chúa trao. 61
TN5-C72:  Tay thả lưới lành nghề trong Chúa. 63
TN5-C73:  ĐÁP LẠI TIẾNG GỌI CỦA THIÊN CHÚA.. 66
TN5-C74:  CẦU DỪA ĐỦ XOÀI 71
TN5-C75: Bất lực. 74
TN5-C76:  Được mời gọi để loan báo Tin Mừng. 76
TN5-C77:  Lợi ích của vâng lời - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 78
TN5-C78:  Được gọi cộng tác với Thiên Chúa. 81
TN5-C79:  Gặp gỡ Chúa trong cuộc đời – Cố Lm Hồng Phúc. 83
TN5-C80:  Mẻ cá lạ. 84
TN5-C81:  Người trẻ mau thoái chí và an phận. 87
TN5-C82: Tuân theo Thiên Ý - Chìa khóa hạnh phúc. 90
TN5-C83: Đức Giêsu và vị Tông Đồ đầu tiên. 94
TN5-C84: Chú giải của Noel Quesson. 103
TN5-C85: Vâng lời Thầy, Con thả lưới 107
TN5-C86:  "RA KHƠI MÀ THẢ LƯỚI !". 110
TN5-C87: TỪ BỎ ĐỂ ĐI THEO CHÚA.. 114
TN5-C88:  GẶP GỠ CHÚA TRONG CUỘC ĐỜI 118
TN5-C89: SIÊU PHÚC.. 120
TN5-C90: CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN C.. 123
TN5-C91: Vâng lời Thầy con thả lưới - ViKiNi 126
TN5-C92: Dám một lần nữa. 129
TN5-C93  Lòng thương xót Chúa biến đổi con người 130
TN5-C94: Mau mắn đáp lời Chúa gọi 133
TN5-C95: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành. 142
TN5-C96: Muôn sự nhờ Trời – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 145
TN5-C97: Chúa gọi - Ta đáp trả. 147
TN5-C98: Ân huệ được gọi - Dã Quỳ. 150
TN5-C99: Vâng lời Thầy, con rao giảng - Huệ Minh. 152
TN5-C100: MỘT KHỞI ĐẦU TỐT ĐẸP. 154

 

TN5-C51. Chúa Gọi Các Tông Đồ

(Isaia 6,1-2a.3-8; 1Côrintô 15,1-11; Luca 5,1-11)
 Phúc Âm: Lc 5, 1-11
"Các ông đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Người".
Khi ấy, dân chúng chen nhau lại gần Đức Giêsu để nghe lời Thiên Chúa, lúc đó Người đứng ở bờ hồ Giênêsarét. Người trông thấy hai chiếc thuyền đậu gần bờ; những người đánh cá đã ra khỏi thuyền và họ đang giặt lưới. Người xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon, và Người xin ông đưa ra khỏi bờ một chút. Rồi Người ngồi trên thuyền, giảng dạy dân chúng. Vừa giảng xong, Người bảo ông Simon rằng: "Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu, và thả lưới bắt cá". Ông Simon thưa Người rằng: "Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết; nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới". Các ông đã thả lưới và bắt được rất nhiều cá; lưới các ông hầu như bị rách. Bấy giờ các ông làm hiệu cho các bạn đồng nghiệp ở thuyền bên cạnh đến giúp đỡ các ông. Những người này tới, họ đổ cá đầy hai chiếc thuyền, đến nỗi những thuyền chở nặng gần chìm.
Thấy thế, ông Simon sụp lạy dưới chân Chúa Giêsu và thưa Người rằng: "Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi". Ông kinh ngạc và tất cả mọi người ở đó với ông cũng kinh ngạc trước mẻ cá mà các ông vừa mới bắt được; cả ông Giacôbê và Gioan, con ông Giêbêđê, bạn đồng nghiệp với ông Simon cũng thế. Nhưng Chúa Giêsu phán bảo ông Simon rằng: "Đừng sợ hãi: từ đây con sẽ là kẻ chinh phục người ta". Bấy giờ các ông đưa thuyền vào bờ, và đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Người.

 Suy Niệm:
 

Tiếp tục chương trình của những Chúa nhật mở đầu mùa Thường Niên day dỗ chúng ta về những: TN5-C51

Tiếp tục chương trình của những Chúa nhật mở đầu mùa Thường Niên day dỗ chúng ta về những bước đầu trong cuộc đời truyền đạo của Chúa Giêsu, bài Tin Mừng Luca hôm nay nói đến việc Chúa chọn những tông đồ đầu tiên. Bài Cựu Ước được dùng để báo trước vấn đề này là đoạn sách Isaia kể lại việc Chúa gọi nhà tiên tri. Các tông đồ ngày nay ở trong Hội Thánh tiếp nối công việc của những người được Chúa chọn trong Cựu Ước cũng như Tân Ước.
Thế nên bài Thánh Thư nói họ phải rao giảng giáo lý nào cho trung thành với truyền thống. Như vậy, Chúa nhật hôm nay đáng gọi là ngày ơn gọi. Chúng ta xem Chúa đã gọi chúng ta như thế nào để chúng ta biết phải sống thế nào cho xứng đáng với ơn gọi ấy.
 1. Chúa Gọi Isaia
Chúng ta đều biết những câu đầu chương VI sách Isaia. Nhà tiên tri kể lại ơn gọi của mình. Năm ấy Ôzya, vị vua thứ 10 của Israen mới thăng hà. Đó là điềm không tốt cho quốc gia này. Vì Ôzya, cũng có tên là Azarias, là một vị vua đạo đức. Dưới triều đại ông, Israen không những thái bình, mà còn ghi vào lịch sử một số chiến thắng. Ông thăng hà, có nghĩa là thời vận Israen bắt đầu thay đổi. Sách Isaia nói đến thế lực của Assyria phương bắc đang dần dần kéo xuống gần bờ cõi Israen. Người ta run sợ trước kỵ binh và tên nỏ. Nhưng chính những lúc ấy, Chúa lại tỏ ra thương dân lạ lùng. Người sai đến cho họ những người sẽ nói nhân danh Người.
Isaia được ơn gọi vào năm ấy, năm 740 trước Đức Giêsu ra đời. Ông đang ở trong đền thờ. Bỗng dưng ông thấy Chúa hiện ra ngự trên ngai, có áo choàng phủ khắp đền thờ. Lại có những Sêraphim chầu hầu. Và có tiếng tung hô: "Thánh, thánh, thánh, Chúa các đạo binh, khắp đất đầy tràn vinh quang Người". Rồi mộng cửa rung rinh, nhà nghi ngút khói.
Có thật Isaia đã thấy như vậy không? Hay đây là những nét tả đầy tính cách thần học? Dù sao quang cảnh này cũng có nhiều ý nghĩa. Trung thành với truyền thống không bao giờ dám mô tả chính Thiên Chúa, - vì mắt phàm thấy sao được long nhan Người? ở đây tác giả nói đến những sự chung quanh Thiên Chúa hơn là diễn tả chính Người. Việc Người ngự trên ngai và có áo choàng trải khắp đền thờ chứng tỏ Người là vị hoàng đế cao cả, làm cho những kẻ đang sợ danh tướng của vua Assyria đến, được an tâm bình tĩnh lại. Và việc có các Sêraphim chầu hầu quanh ngai còn nói lên hơn nữa rằng Chúa trổi vượt hơn các thần dân xâm lược. Là vì ở Assyria người ta sợ hãi sùng bái các Sêraphim, đang khi ở đây chúng chỉ đáng bậc tôi tớ.
Và khác với thần thánh ở Assyria chỉ là những ngẫu tượng kính nhi viễn chi, tức là phải sợ hãi tôn thờ để khỏi bị oán trả, Thiên Chúa của Isaia trải vinh quang Người khắp cả mặt đất. Và tuy là Đấng Thánh và ngàn trùng chí thánh, siêu việt ngàn lần đối với tạo vật... Người là Đấng Thiên Chúa ở liền với các đạo quân của dân Người, và Người can thiệp vào lịch sử để mặt đất đầy vinh quang Người.
Hôm nay Người hiện ra với Isaia khác nào hôm Người ngự xuống trên núi Sinai: Có đất động và mây khói phủ đầy.
Tự nhiên Isaia phải sợ. Nhưng đây là một sự sợ tinh thần, khác hẳn sự sợ nô lệ. Isaia thấy Đấng Thánh chiếu cố đến mình. Ông thấy mình bất xứng. Sự sợ của ông nói lên ý thức tội lỗi của con người ở giữa dân tội lỗi. Ông cầu cứu ơn cứu độ. Và ông đã được nhận lời. Vị thần sứ đã gắp một cục than hồng trên bàn thờ hương đi đến thanh tẩy môi miệng ông để xóa tội lỗi và biến môi miệng ấy nên xứng đáng cho việc rao giảng Lời Chúa.
Viết lại những dòng chữ này, Isaia khẳng định những quan điểm thần học sâu xa của ông. Mọi người đều là phàm nhân và tội lỗi, không thể cáng đáng những công việc thánh thiện, trước khi được thanh tẩy bằng chính ơn của Chúa, chứ không phải bằng nỗ lực và sự nghiệp của mình.
Có thể vì ý thức đã được thanh tẩy, Isaia chấp nhận ngay đề nghị của Chúa để đi làm tiên tri. Nhưng cũng có thể vì đứng trước một vị hoàng đế cao cả đến nỗi các Sêraphim cũng phải ngoan ngoãn chầu hầu, ai mà dám không mau lẹ thi hành ý muốn của Người.
Dù sao Isaia cũng đã hân hoan lãnh nhận sứ mạng tiên tri vì tất cả quang cảnh ông vừa thấy đầy khích lệ cứu độ. Israen không còn phải lo quân xâm lược nữa. Thiên Chúa là hoàng đế cao cả, siêu việt vượt hẳn vua chúa Assyria. Người điều khiển cả các Sêraphim của nước ấy. Người thánh thiện thật nhưng không ở xa dân. Người sẽ làm cho mặt đất đầy vinh quang Người. Và trước hết Người sẽ thanh tẩy, xóa bỏ tội lỗi cho chúng ta, để chúng ta nên tông đồ tiên tri rao giảng tin mừng cho các dân tộc.
Như vậy, bài sách Isaia rất nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên phụng vụ hôm nay cũng chỉ dùng để đưa chúng ta vào bài Tin Mừng. Vì ở đây sẽ có những sự thực cụ thể hơn và nhất là có tầm mức phổ cập và luôn luôn hiện đại. Chúng ta hãy xem.
 2. Chúa Gọi Các Tông Đồ
Thánh Luca không xác định hôm ấy là ngày nào. Có lẽ tính cách "không có thời gian" rõ rệt này thuận lợi hơn để nói đến những công việc luôn có giá trị hiện đại.
Tác giả thoạt tiên cho chúng ta thấy một quang cảnh khác hẳn với những gì Isaia đã nhìn thấy. Ở đây là bờ hồ Giênêzaret chứ không phải là tại đền thờ Giêrusalem. Quang cảnh cởi mở này hợp với tinh thần truyền giáo và công giáo của sách Phúc âm Luca hơn. Nhưng tuy ở trên bờ hồ, Đức Giêsu vẫn không thiếu vẻ oai phong cao cả, vì quần chúng xán lại bên Người và chăm chú muốn nghe Lời Người dạy dỗ... Người thấy có hai chiếc thuyền bỏ neo gần đó. Không một người nào ở trên hai chiếc thuyền ấy vì những người đánh cá đã xuống cả rồi và đang giặt lưới.
Đó là hình ảnh những cái ngai đang còn trống. Đức Giêsu lên chiếc thuyền thuộc về Phêrô và truyền đẩy ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống phán dạy quần chúng đang đứng trên bờ.
Rõ ràng Luca muốn cho những bức họa có phần oai phong như lại sống động. Một Đức Giêsu ngồi một mình trên thuyền nhìn xuống quần chúng dưới bờ mà phán dạy họ những điều cao cả, cũng có Đấng "Thánh" đang can thiệp vào thế gian. Chúng ta có thể nói Chúa trong điện thờ mà Isaia đã nhìn thấy, nay đang ở giữa loài người. Người ở gần chúng ta mà vẫn không mất vẻ siêu vời, Người muốn đem tinh thần và sức mạnh thần linh của Người vào thế gian.
Người bảo Phêrô: "Hãy chèo ra khơi thả lưới mà bắt cá". Làm sao ông có thể không vâng lời? Chúng ta có thể thấy ông đã tức khắc sửa soạn hành trang. Nhưng đồng thời ông đã thành thật thưa: Đêm vừa rồi ông không bắt được gì cả, nhưng Thầy đã dạy, ông xin làm theo. Phản ứng của ông rất thành khẩn. Nó vừa nói lên đức vâng lời và niềm tin tưởng, lại vừa báo trước và làm nổi bật phép lạ sắp xảy ra. Cả đêm đã đánh không được cá, huống nữa là lúc này, trời đã sáng.
Thế mà vì lệnh truyền, lưới của Phêrô đã đầy cá, sắp nứt ra rồi. Ông không kéo nổi và phải gọi đồng bạn ở cái thuyền kia đến giúp.
Từ trước đến giờ, Luca chỉ nói đến Giêsu và Phêrô. Tác giả muốn đề cao vai trò của vị tông đồ này ở trong Hội Thánh. Phêrô được ưu tiên trong cái nhìn của Chúa. Sau đó ông mới gọi đồng bạn là Gioan và Giacôbê ở thuyền kia đến giúp.
Thấy mẻ cá lạ lùng này, họ đâm kinh sợ con người đã truyền lệnh cho họ. Phêrô liền bắt chước Isaia, quỳ mọp xuống trước mặt Người, xưng thú thân phận tội lỗi chẳng dám đứng trước long nhan. Nhưng Chúa ôn tồn bảo: "Đừng sợ, từ nay hãy đi lưới các linh hồn". Người đã gọi các tông đồ một cách cụ thể hơn Chúa gọi Isaia ngày trước. Các ông sẽ đi làm công việc của các ông vừa làm, nhưng trên bình diện khác. Và công việc của các ông đã được báo trước sẽ kết quả lạ lùng như các ông vừa thấy cá đua nhau chạy vào lưới các ông.
Chúng ta hãy tạ ơn Chúa. Người đã làm những việc cao cả trong cuộc đời của Isaia. Nhưng nơi các tông đồ của đạo mới, Người còn tỏ ra uy quyền và mạnh hơn biết bao. Không những nơi Đức Kitô, Thiên Chúa đã đến với loài người và ở giữa chúng ta, cụ thể hơn khi Người bày tỏ vinh quang cho Isaia nơi đền thánh, Người còn gọi Phêrô và các tông đồ để Hội Thánh làm cho vinh quang của Người trải ra trên khắp địa cầu.
Tác giả Luca thật ra đã muốn nói lên những điều ấy trong đoạn Tin Mừng hôm nay. Người viết lại câu chuyện Chúa gọi Phêrô sau khi Đức Giêsu đã phục sinh và lên trời. Khi ấy đã là thời đại của Hội Thánh. Do đó câu chuyện Người kể nhất thiết phải mang các tính chất Kitô học và Giáo hội học. Đức Giêsu đã là vua và là Chúa. Hội Thánh đã có Phêrô đứng đầu. Và công cuộc truyền giáo của các tông đồ đang mang lại nhiều kết quả. Nhưng tất cả đã khởi sự ngay khi Đức Kitô còn tại thế.
Đưa các hình ảnh về phục sinh đặt lên khoảng thời gian Đức Giêsu mới xuất thân giảng đạo, tác giả Luca khiến chúng ta tin tưởng nhiều hơn về Hội Thánh hiện nay. Bề ngoài đời sống Hội Thánh như không có gì lạ lùng, nhưng cũng như cuộc đời trần gian của Chúa Cứu Thế, đây chẳng phải là lúc đang chứa chấp nhiều thành quả phong phú trong tương lai sao? Gioan chỉ kể chuyện về mẻ cá lạ sau phục sinh, Luca đặt lên trước phục sinh để đảm bảo thành công rực rỡ cho ơn gọi của các tông đồ và của Hội Thánh. Ta sẽ sống ơn gọi này thế nào?
 3. Thi Hành Sứ Mạng Kitô Giáo
Muốn hiểu đoạn thư Phaolô hôm nay, chúng ta cần biết rằng nhiều người trong cộng đoàn Côrintô hồi ấy không tin lắm vào mầu nhiệm xác thịt sau này sẽ sống lại. Họ sống trong nền văn minh Hy Lạp vốn coi rẻ thân xác. Nhiều lý thuyết thời ấy quan niệm thân thế là tù ngục giam hãm linh hồn. Người ta phải mong có ngày ra khỏi chốn tối tăm ấy để được lên nơi tinh thần... Nhiều khi chúng ta không mặc nhiên nghĩ như vậy sao?
Nhưng đó là suy nghĩ rất tai hại, sai hẳn với tin mừng cứu độ. Thánh Phaolô nhắc lại cho người Côrintô biết: Nếu nghĩ như vậy thì đã theo đạo một cách vô ích. Chúng ta không những tin Chúa đã chịu chết, mà đặc biệt hơn, chúng ta tin Người đã sống lại. Có phục sinh, Người mới ban ơn cứu độ, chứ nếu cứ chết mãi thì hỏi Người cứu được ai? Tin điều Chúa sống lại vì thế là nền tảng và khởi điểm của đức tin trong Hội Thánh. Hội Thánh nắm vững niềm tin này vì mầu nhiệm Tử nạn Phục sinh phù hợp với Sách Thánh; vì Phêrô và đoàn 12 tông đồ đã được nhìn thấy Chúa sống lại; vì cả cộng đoàn tín hữu đã được xem thấy Chúa Phục sinh hiện ra.
Cuối cùng chính Phaolô cũng được Người tỏ mình ra ở trên đường Đamas. Nhưng dù là Phaolô, Giacôbê, hay Phêrô, mọi tông đồ trong Hội Thánh chỉ có một giáo lý. Đó là Đức Giêsu đã chết vì tội lỗi của chúng ta như lời Sách Thánh dạy và Người cũng đã sống lại theo như lời Kinh Thánh nói, để chúng ta có đức tin và được ơn cứu độ.
Thành ra ơn gọi của chúng ta là niềm tin vào Đức Giêsu tử nạn phục sinh. Đó là Tin Mừng cứu độ mọi người. Nó phải hướng dẫn đời sống chúng ta. Chúng ta không được bi quan về tương lai, như thể sẽ có sự chết mãi mãi. Ngược lại chúng ta phải lạc quan mạnh mẽ vì sẽ có sự sống lại cho ngay cả thân xác yếu đuối này. Sống niềm tin này một cách cụ thể, chúng ta sẽ trung thành tiếp nối truyền thống của Hội Thánh không những từ thời các tông đồ mà có thể nói ngay từ thời các tiên tri. Isaia trong bài đọc một hôm nay chẳng hạn đã nhìn thấy ơn gọi của mình rất lạc quan trong tình hình đáng run sợ của đất nước. Luca khẳng định ơn gọi của các tông đồ nhất định đem lại thành công như mẻ cá lạ lùng. Phaolô kêu gọi chúng ta hãy nhớ mình là tín hữu khi tuyên xưng Đức Giêsu Kitô chịu chết và sống lại. Người Công Giáo phải lạc quan phấn khởi. Dân Chúa phải rao truyền mầu nhiệm Chúa Phục Sinh.
Ở nhà thờ này, chúng ta vẫn làm như thế. Khi cử hành thánh lễ chúng ta hân hoan tuyên xưng việc Chúa chịu chết và sống lại. Chúng ta tin rằng thánh lễ ban sự sống mới cho tâm hồn. Thế thì chúng ta hãy ra về đi vào xã hội với niềm tin mạnh mẽ và ơn phục sinh mà Thánh Thể đã đặt vào lòng ta để đổi mới cuộc đời, xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, nhìn thấy tương lai hấp dẫn lạ thường. Xin Chúa thêm niềm tin cho chúng ta.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

TN5-C52. SUY NIỆM CHÚA NHẬT 5 TN, C

Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay muốn nói riêng với chúng ta, những người cộng tác vào việc Loan: TN5-C52

Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay muốn nói riêng với chúng ta, những người cộng tác vào việc Loan Báo và Làm Chứng Tá cho Tin Mừng.
Chúng ta có thể lắng nghe được một âm vang thâm tình Chúa dành riêng cho chúng ta. Thực vậy, với Isaia, với Phaolô, hay với các môn đệ dường như Chúa đã mở rộng trái tim Người khi nhìn thấy trước những khó khăn muôn hình vạn trạng của họ, và với sự tín nhiệm không giới hạn, Người đã trao cho họ công việc lớn lao của Người. Và lấy chính Người làm bảo chứng cho mọi thành qủa. Không còn sự tín nhiệm nào lớn lao hơn, và do đó không còn tình yêu nào mạnh mẽ hơn.
Nếu như chúng ta đều có thể thốt lên lời của Phêrô đứng trước mọi trách vụ và mỗi công việc "Nhưng vì Lời Thầy, con xin thả lưới", thì thành qủa tất nhiên sẽ vượt qúa mọi mong đợi. Đáng tiếc là, chúng ta trong chỗ đứng của mình đã không cảm nghiệm được sự tín nhiệm không bao giờ hối tiếc của Chúa.
Cũng có thể chúng ta nắm bắt được sự tín nhiệm yêu thương ấy, nhưng còn một điều quan trọng không kém, cũng xuất phát từ trái tim rộng mở của Chúa : Đích thân Người hoàn tất công trình của Người, thậm chí, như Isaia, chúng ta vốn chỉ là những môi miệng dơ bẩn, những lòng trí hoang đàng... nhưng chính Chúa đã lấy than hồng tẩy rửa, để chúng ta có thể cộng tác vào công việc của Chúa. Và như thánh Phaolô nói, không phải là than hồng từ một lò lửa bừng cháy nào, mà là chính ngọn lửa Thánh Thần trong cuộc tử nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô, đã thánh hiến và sai chúng ta vào thế giới. Vấn đề là chúng ta có chấp nhận cuộc thanh tẩy ? Thánh Phêrô dường như đã có một thái độ khác thường khi qùy sụp dưới chân Chúa để thú nhận "vì tôi là người tội lỗi". Tất cả cái kinh nghiệm và khả năng của con người chỉ là thế ! Sự thành đạt trong sứ mạng không có chút nào phát xuất từ phía con người. Và như thánh Phaolô nói "Tôi có là gì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người đã ban cho tôi thì không vô hiệu".
Vượt qúa những cảm nghiệm của Phêrô, của Phaolô, Chúa Giêsu bày tỏ một tình yêu lạ lùng đối với chúng ta khi nói với Phêrô "Đừng sợ, từ nay con sẽ là kẻ chinh phục người ta", Phêrô sẽ trở thành con người khác, con người của công việc Thiên Chúa, chúng ta cũng là thế. Chính Chúa biến đổi chúng ta trong công việc của Người. Về điều này, chúng ta có thể cảm nghiệm được khi chúng ta tín thác và dấn thân cho công cuộc của Chúa.
Có một điều cũng cần chia sẻ là, bên cạnh giòng thác ân sủng và sự trung tín của Chúa để biến đổi con người chúng ta, thì cũng còn đó, như là một "cái gai, cái dằm" thật nhức nhối : chúng ta luôn để sự nghi ngờ tình yêu của Chúa len lỏi vào công việc chúng ta đang làm, và dường như muốn ngả theo cảm tình của nhân loại hơn. Cũng còn đó sự tự tin vào trí tuệ, tài năng của bản thân và quên đi tội lỗi đeo bám mình trong mọi cảnh vực. Và nhất là cái quán tính trì trệ không để mình được biến đổi theo ân sủng. Chính những điều ấy làm cho Tin Mừng thay vì được loan báo và làm chứng, lại trở thành xa lạ với cuộc sống con người. "Lạy Chúa, xin Thương Xót chúng con".
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

TN5-C53. Chúa Nhật thứ 5 Thường Niên, C

 “Sống thuận theo ý Chúa thì khôn ngoan hơn sống theo ý mình”
ĐỌC LỜI CHÚA
 
  •     Is 6,1-2a.3-8: (3) «Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!»
  •     1 Cr 15,1-11: (10) Tôi có là gì thì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi.
 
 
  •    TIN MỪNG: Lc 5,1-11
Đức Giêsu kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên (Mt 4,18-22; Mc 1,16-20)
 (1) Một hôm, Đức Giêsu đang đứng ở bờ hồ Ghennêxarét, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa. (2) Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. (3) Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simôn, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông.
 (4) Giảng xong, Người bảo ông Simôn: «Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá». (5) Ông Simôn đáp: «Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới». (6) Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. (7) Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.
 (8) Thấy vậy, ông Simôn Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: «Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!» (9) Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Simôn và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. (10) Cả hai người con ông Dêbêđê, là Giacôbê và Gioan, bạn chài với ông Simôn, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giêsu bảo ông Simôn: «Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta». (11) Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.

CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
 

Đặt mình vào địa vị của Simon, bạn sẽ nghĩ thế nào khi đã đánh cá suốt đêm mà không được con : TN5-C53

  1.      Đặt mình vào địa vị của Simon, bạn sẽ nghĩ thế nào khi đã đánh cá suốt đêm mà không được con cá nào, mà Thầy mình lại bảo đánh cá lần nữa?
  2.      Ta có thể rút ra bài học nào từ sự kiện trên? Giữa ý Chúa và ý ta, thực hiện ý của ai thì đem lại kết quả tốt đẹp cho ta hơn?
Suy tư gợi ý:
 
  1. Cứ tuân theo ý Chúa, sẽ chứng kiến nhiều việc lạ lùng
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy: nhờ vâng lời Đức Giêsu, Simon đã thành công trong mẻ lưới cá đêm ấy. Điều đáng lưu ý là lệnh truyền hay ý muốn của Đức Giêsu trong trường hợp này rất ngược với ý muốn hay kinh nghiệm nhà nghề của Simon. Ông đã đánh cá suốt đêm mà không bắt được con cá nào, nên theo kinh nghiệm bao năm trong nghề của ông, ông nghĩ nếu có tiếp tục đánh nữa thì cũng chẳng có kết quả gì. Mặc dù vậy, ông vẫn vâng lời Thầy mình, nhờ đó ông đã tận mắt chứng kiến sự lạ lùng xảy ra.
Đó là một bài học cho chúng ta trong cuộc đời Kitô hữu giữa trần gian. Chúng ta – dù là người được mọi người coi là khôn ngoan nhất – không thể biết chắc chắn hành động như thế nào thì sẽ đem lại kết quả tốt đẹp nhất. Rất nhiều tính toán – mà ai cũng phải công nhận đó là những tính toán hết sức khôn ngoan kiểu trần gian – lại dẫn đến những kết quả bi thảm. Chính vì thế dân gian mới có câu: «May hơn hay», «Người tính không bằng Trời tính», «Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên». Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy: để thành công và hạnh phúc, tốt nhất ta nên hành động theo ý muốn của Thiên Chúa. Vì Ngài yêu thương ta hơn chính ta yêu thương mình, luôn mong muốn ta được hạnh phúc. Ngài lại khôn ngoan vô cùng, chẳng những biết cách tốt nhất và hữu hiệu nhất để ta hạnh phúc, mà còn có quyền năng vô biên để giúp ta thực hiện cách tốt nhất ấy nữa. Vì thế, cách khôn ngoan nhất của ta là phó mặc vận mạng của mình trong tay Ngài, và cương quyết làm tất cả những gì Ngài muốn ta làm.
Rất nhiều trường hợp, điều Ngài muốn ngược lại với sự khôn ngoan hay cách tính toán của ta. Nhưng nếu ta cứ quyết tâm làm theo ý Ngài thì kết quả cuối cùng chắc chắn sẽ có lợi cho ta hơn là ta làm theo ý muốn hay sự khôn ngoan của ta. Người Trung Hoa có câu: «Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong» (Hành động thuận theo ý Trời thì sẽ tồn tại, còn làm ngược lại ý Trời thì sẽ tiêu vong).
 
  1. Chia sẻ kinh nghiệm cuộc đời
Tôi – người viết bài này – xin chia sẻ kinh nghiệm sau đây. Cuộc đời tôi có hai giai đoạn: giai đoạn sống theo ý muốn của mình, và giai đoạn từ bỏ mọi ý riêng để hoàn toàn sống theo ý của Thiên Chúa. Chỉ trong giai đoạn sau tôi mới sống bình an, hạnh phúc và mạnh mẽ.
a) Giai đoạn sống theo ý muốn của mình:
Trong giai đoạn này, tôi lấy «cái tôi» của mình là trung tâm (égocentrique) và coi những gì liên quan đến «cái tôi» ấy là quan trọng (trong đó có ý kiến của tôi, quan điểm của tôi, ý muốn của tôi…) Vì thế, tôi luôn tìm cách đề cao «cái tôi» của mình, điều này thường đồng nghĩa với việc tìm cách hạ «cái tôi» của người khác xuống. Khi thấy người khác được ca tụng, nổi bật, còn mình bị chìm lỉm giữa đám đông, tôi thường cảm thấy buồn bã, đau khổ, thậm chí bị xúc phạm. Trong tôi hình thành nhiều tham vọng về tâm linh cũng như về xã hội.
Về tâm linh, tôi quyết tâm trở nên một vị thánh lớn như Têrêxa hay Phanxicô. Tôi muốn mọi người phải khâm phục tôi là thánh thiện, đạo cao đức cả. Về xã hội, tôi quyết trở nên một nhân vật nổi bật: trong Giáo Hội thì phải là một chức sắc cao, ngoài xã hội thì phải là bậc vị vọng. Và tôi quyết tâm tu đức, học hành, cố gắng tập luyện hầu đạt được những tham vọng đó. Tôi trở thành một con người duy ý chí: tôi nghĩ cứ quyết tâm là được, và coi mọi ý muốn của mình là quan trọng. Từ đó tôi có tính hay áp đặt ý muốn của mình trên người khác, muốn mọi người phải theo ý của mình. Nếu ý mình không được thực hiện, tôi cảm thấy bị xúc phạm và đau khổ rất nhiều.
Sống với ý hướng như vậy hàng chục năm, tôi cảm thấy tâm hồn mình không bình an, không hạnh phúc. Về tâm linh, tôi luôn phải đối diện và bất mãn vì những yếu đuối của mình. Tôi quyết tâm cao độ rất nhiều điều tốt đẹp, nhưng cuối cùng xét lại chẳng thực hiện được bao nhiêu. Về xã hội, so sánh với nhiều người, tôi thấy mình vẫn bị thua kém, khiến tôi luôn luôn bị dằn vặt, đau khổ. Nỗ lực liên tục trong đau khổ như thế, một thời gian sau tôi bị bệnh: bắt đầu là bệnh dạ dày, sau đến bệnh ho lao, cơ thể tôi suy yếu, và tôi đâm ra chán chường thất vọng… Nhưng về sau tôi đã trở nên hạnh phúc và khỏe mạnh nhờ thay đổi cách suy nghĩ và cách sống.
b) Giai đoạn sống theo ý muốn của Thiên Chúa:
Trong thời gian sống khắc khoải như thế, tôi đã dành một thời gian rất dài để nghiên cứu, tìm hiểu các tôn giáo khác. Tôi nhận ra tôn giáo nào cũng đòi hỏi con người phải coi nhẹ «cái tôi» của mình và những gì liên quan đến «cái tôi» ấy, đồng thời đặt nặng việc sống theo những đòi hỏi của «Đạo», của lẽ phải, của sự khôn ngoan, hợp lý, của luật lệ tôn giáo… Nhờ vậy, trong đời sống tâm linh Kitô hữu, tôi hiểu được sự cần thiết của tinh thần «tự xóa» (kenosis) và của lập trường hoàn toàn làm theo thánh ý Thiên Chúa. Chính Đức Giêsu đã nêu gương sáng ngời về hai điều ấy. Ngài đã tự xóa mình một cách hoàn toàn (x. Pl 2,6-8), và triệt để tuân theo thánh ý Chúa Cha trọn đời Ngài: «Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi» (Ga 5,30; x. 6,38; 4,34).
Hiểu được như thế, tôi tập sống quên mình, không lấy mình hay ý muốn của mình làm trung tâm nữa, mà lấy Thiên Chúa làm trung tâm, đồng thời luôn cố gắng sống thuận theo thánh ý Ngài. Theo tôi, ý của Thiên Chúa được biểu lộ qua tiếng lương tâm, qua lời của Ngài trong Kinh Thánh, qua sự hợp tình hợp lý đòi hỏi, qua lề luật tôn giáo, qua các định luật hay lẽ tự nhiên trong vũ trụ, qua những dữ kiện khách quan xảy ra, qua thiên cơ hay những dấu chỉ thời đại. Tôi bắt đầu từ bỏ mọi tham vọng, mọi ý riêng: không còn mong muốn mình trở nên một nhân vật to tát nữa, mà sẵn sàng chấp nhận làm một người nhỏ bé, tầm thường nhất, và không còn coi ý muốn của mình là quan trọng nữa. Tôi nhận ra ngay cả ý muốn trở nên một vị thánh cao cả của tôi trước đây cũng chỉ là một thứ tâm lý muốn «phình to bản ngã», một hình thức của tính kiêu ngạo.
Rất nhiều sự việc xảy đến ngược lại sự khôn ngoan hay dự tính của tôi, mà tôi thấy trước mắt là bất lợi cho tôi. Nhưng khi tôi thấy rằng mình không thể thay đổi được, và nhận ra rằng ý của Thiên Chúa là muốn tôi vui vẻ chấp nhận, thì tôi sẵn sàng vâng theo. Tôi phó thác để mặc Ngài dẫn tôi đi đâu tùy ý Ngài. Thường là sau một thời gian, tôi nhận ra rằng điều mà trước đó tôi cho là bất lợi ấy cuối cùng lại trở nên hết sức ích lợi cho tôi. Dần dần tôi chứng nghiệm được rằng «Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người» (Rm 8,28). Kinh nghiệm cho tôi thấy: khi những bất lợi xảy đến, nếu cứ vui vẻ đón nhận theo ý Thiên Chúa và kiên nhẫn chờ đợi, thì tất cả những bất lợi ấy cuối cùng đều trở nên lợi ích.
Sống «vô ngã» và sống không có ý riêng như vậy, tôi cảm thấy mình thanh thản hơn xưa rất nhiều. Thay vì sợ đau khổ thì sẵn sàng chấp nhận mọi khổ đau đến với mình; thay vì lấy hạnh phúc của mình làm mục đích phải đạt tới thì lấy thánh ý Thiên Chúa và hạnh phúc của người khác làm đối tượng tìm kiếm và thực hiện. Sống như vậy, tôi cảm thấy tâm hồn bình an và không còn nhạy bén với đau khổ như xưa. Dường như càng sợ và tránh đau khổ thì ta càng nhạy bén với đau khổ và càng vướng vào đau khổ. Còn càng chấp nhận đau khổ – bất cứ loại đau khổ nào – để thực hiện thánh ý Thiên Chúa và hạnh phúc của tha nhân thì đau khổ càng không ảnh hưởng được tới mình. Hiện nay tôi thấy mình hạnh phúc và thành công hơn xưa rất nhiều. Sức khỏe tôi cũng được cải thiện, mọi bệnh tật đều tan biến, và tôi cảm thấy tràn đầy sức sống, cả tinh thần lẫn thể chất. Một điều khá lạ lùng là những tham vọng mà tôi đã dẹp bỏ, mà giờ đây tôi không thèm quan tâm thực hiện nữa thì lại đang thành tựu tốt đẹp theo kiểu «bất chiến tự nhiên thành», hay không muốn mà được! Vì thế, tôi cho rằng sống theo ý Chúa thì khôn ngoan và thành công hơn là sống theo ý mình.

CẦU NGUYỆN2
Lạy Cha, nhiều khi đứa con nhỏ của con cứ nhất quyết làm theo ý của nó, cách thức của nó vì nó cho rằng phải làm như thế thì mới khôn ngoan và thành công. Trong khi đó, con lại nhìn thấy nếu nó cứ làm theo ý nó hay cách của nó thì chắc chắn sẽ thất bại. Nhưng nó không nghe con và cuối cùng nó đã thất bại. Từ sự việc đó, con nhận ra chính con cũng hành động ngu xuẩn như nó khi con cứ khăng khăng làm theo ý của con chứ không theo ý của Cha. Và con đã thất bại ê chề trong cuộc sống. Con đã sống trong đau khổ bao năm vì cứ cố chấp sống theo ý của con. Nay con đã nhận ra rằng sống theo ý của Cha là cách đơn giản nhất, dễ dàng nhất và khôn ngoan nhất để thành công và hạnh phúc trong cuộc đời. Xin cho con giữ được sự khôn ngoan này suốt cuộc đời con. Amen.       
Joan Nguyễn Chính Kết

 

TN5-C54. THƯA THẦY, VÂNG LỜI THẦY CON THẢ LƯỚI

Lc 5, 1-11
 

Đây cũng là một đẹp của Tin Mừng  thánh Luca khi Giáo Hội trong phụng vụ mùa thường niên: TN5-C54

   Đây cũng là một đẹp của Tin Mừng  thánh Luca khi Giáo Hội trong phụng vụ mùa thường niên, Chúa nhật V năm C, giới thiệu cho mọi người, cho nhân loại về con người của Chúa Giêsu, một Vị cứu tinh đầy uy quyền luôn giúp đỡ, bênh vực con người đặc biệt trong các thử thách, gian truân. Trường hợp của ông Phêrô và Anrê, những người thuyền chài đơn sơ, chất phác, khi nghe lời mời gọi của Chúa đã bỏ tất cả mọi sự mà theo Ngài. Phêrô, một dân chài lành nghề, nhưng suốt một đêm cùng với các bạn thả lứoi, mất ngủ, không được một con cá nào, đứng trước mẻ cá lạ lùng, cũng luống cuống, xấu hổ thưa với Chúa Kitô :” Thưa Ngài, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”.
   Chúa Giêsu, một người làm nghề thợ mộc nhà quê, một con người sống ở miền quê Nagiarét trong suốt 30 năm có lẽ chẳng biết gì về biển. Thế mà hôm nay, đứng trước những người thuyền chài lành nghề, quen biển, đã giục giã họ ra khơi thả lưới.Thánh Phêrô, một dân chài vạm vỡ, một con người biết biển khúc nào sâu, chỗ nào cạn, đã mạnh dạn thưa với Chúa là mùa này không thuận tiện cho việc thả lưới, bởi vì cả đêm qua Phêrô và các bạn đã vất vả, đổ mồ hôi, mất cả ngủ nhưng không lưới được một con cá nào cả.Tuy nhiên, với lời thúc giục của Chúa, Phêrô đã tuân phục ngay :” Nhưng vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới “. Kết quả, Phêrô và các bạn của Ông đã kéo được đầy ắp cá. Một mẻ cá lạ lùng ngoài sức tưởng tượng của các Ông. Trước mẻ cá thật lạ lùng đến kinh ngạc, đáng lẽ Phêrô và các bạn phải tỏ ra thật vui sướng nhưng ở đây Tin Mừng cho thấy Phêrô rất sợ hãi. Phêrô run sợ cũng như các bạn của Ông sợ hãi vì Phêrô thấy mình còn thiếu đức tin và còn hoài nghi. Phêrô và các bạn đang phải đối diện với Đấng tối ư cao trọng, đầy quyền uy. Đấng chế ngự được cả định luật thiên nhiên, khiến mọi vật trên trời dưới đất phải tuân phục. Do đó, Phêrô và các bạn sợ hãi là điều thường tình.
   Mẻ cá lạ lùng ở đây không chỉ đơn thuần là mẻ cá bắt được thường tình như mọi mẻ cá nhưng thánh Luca muốn nói lên những con người, nhưng kẻ đang khao khát lắng nghe lời Chúa dạy bảo. Cá biểu lộ các linh hồn.Thánh Luca viết Tin Mừng của Ngài vào thời lời Chúa đã lan tỏa tới Địa Trung Hải, đã tới tận La Mã. Đi tới đâu, các tông đồ cũng thiết lập các cộng đoàn và tất cả những cộng đoàn ấy đều phát triển lớn mạnh. Chính vì thế, chúng ta có thể hiểu được đây là những mẻ cá lớn, mẻ cá lạ lùng Chúa đang làm cho nhân loại. Thánh Luca thật sự đề cao vai trò của thủ lãnh Phêrô. Phêrô đã thành công ngay trong sứ vụ đầu tiên của Người và hơn nữa thánh Luca muốn cho chúng ta hiểu Chúa Giêsu đang cho Phêrô đứng trước tương lai của một Hội Thánh phát triển nhưng cũng đầy cam go thử thách như Phêrô đang là ngư phủ, một nghề cũng lắm may mà cũng lắm rủi ro.
   Mẻ cá lớn, mẻ cá kỳ diệu là hình ảnh của ơn gọi của các môn đồ. Các tông đồ của Chúa đã bỏ cái nghề cha truyền con nối để đi theo Chúa Giêsu, ra đi rao giảng Tin Mừng và ra đi để đánh cá người, trở thành những kẻ lành nghề chài lưới người khác. Các môn đệ của Chúa ra đi và trong đời rao giảng chắc chắn các Ông sẽ gặp nhiều chuyện vui có, buồn có, thành công có, thất bại có. Các môn đệ vẫn thưa với Chúa :” Vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới “. Đời truyền giáo của các tông đồ luôn có lúc thịnh, lúc suy nhưng tin vào Chúa, các môn đệ Chúa đã hiên ngang, can đảm ra đi lưới người.
   Lời Chúa Chúa nhật V thường niên, năm C, giúp chúng ta hiểu thấu đáo, minh bạch:” Không có Chúa, các con không làm gì được “ hoặc như thánh Phaolọ viết :” Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi “. Vâng, không có Chúa chúng ta chẳng là gì và không thể làm gì được. Dù chúng ta yếu hèn, tội lỗi nhưng với lòng khiêm tốn xin Chúa thứ tha Ngài sẽ tha thứ tội lỗi cho chúng ta. Lời Chúa sẽ nâng đỡ chúng ta và mọi sự sẽ xẩy ra ngoài sức tưởng tượng của chúng ta.
  Lạy Chúa, xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con sẵn sàng tin vào Chúa. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCCT

 

TN5-C55. TRỞ THÀNH NGƯ PHỦ LƯỚI NGƯỜI

Lc 5, 1-15
 Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

Simon Phêrô và các tông đồ là những ngư phủ lành nghề, họ biết đâu có cá, chỗ nước: TN5-C55

Simon Phêrô và các tông đồ là những ngư phủ lành nghề, họ biết đâu có cá, chỗ nước nào sâu, khoảng biển nào nông, chỗ nào cá làm sủi tăm, chỗ nào nước biến động. Các tông đồ đã đi bủa lưới suốt một đêm trường, mệt mỏi vì mất ngủ, họ phải đương đầu với biển cả. Suốt một đêm cực nhọc, vất vả, các tông đồ không bắt được một con cá nào. Các ông nản chí, mệt nhoài quay thuyền vào bến, Đức Giêsu đang ở đó. Ngài khuyên các tông đồ hãy ra khơi: các ông đã vâng theo lời của Chúa Giêsu, ra khơi bủa thêm mẻ lưới nữa.

THÀNH CÔNG BẤT NGỜ CỦA MẺ LƯỚI, PHẢN ỨNG CỦA SIMON PHÊRÔ:
 Đã là ngư phủ đánh bắt cá, Simon Phêrô và các tông đồ nào còn kém chi ai vì họ đã có kinh nghiệm thả lưới. Tuy nhiên, cả một đêm hùng hục bủa lưới bắt cá, các tông đồ nào bắt được một con cá nào. Do đó, trước mẻ cá lạ lùng theo lời Của Chúa Giêsu, các tông đồ hết sức bỡ ngỡ, ngạc nhiên. Simon Phêrô đã phản ứng cách rất chân thành:” Phêrô phủ phục dưới chân Chúa Giêsu mà nói rằng:” Xin hãy xa tôi, lạy Ngài ! Vì tôi là kẻ tội lỗi”( Lc 5, 8 ). Nói lên điều này, Phêrô cảm thấy thân phận yếu hèn của Oâng và nhận ra tự sức các tông đồ, họ không thể làm được gì cả.
 “Chúng con đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”( Lc 5, 5 ). Với sức mạnh với ơn của Chúa:” Các tông đồ đã bắt được quá nhiều cá”( Lc 5, 6 ). Chúa Giêsu không để các tông đồ dừng lại trước phép lạ của mẻ cá ngoài sức tưởng tượng, Ngài còn muốn đi xa hơn trong việc kêu gọi và mời các tông đồ tham gia vào công việc cứu thế của Chúa:” Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người cứu sống người ta”( Lc 5, 10 ). Rồi các tông đồ trước lời mời gọi của Chúa và trước sự lạ lùng của mẻ cá mới đánh bắt được; các tông đồ đưa thuyền vào bời và bỏ mọi sự mà theo Đức Giêsu ( Lc 5, 11 ).

 LƯỚI NGƯỜI: HÌNH ẢNH CHÚA GIÊSU DÙNG ĐỂ NÓI VỀ VIỆC LOAN BÁO TIN MỪNG:
 Hình ảnh đánh bắt người, lưới người, Chúa Giêsu dùng để nói về công cuộc cứu thế của Ngài ở trần gian. Các tông đồ hẳn đã nghiệm ra sự bất toàn, yếu đuối và bất lực của mình:” Không có Thầy, các con không làm được gì “. Lưới người là hình ảnh sống động, cụ thể Chúa Giêsu dùng để kêu gọi các tông đồ, mời gọi Giáo Hội và mọi người trở thành ngư phủ cứu vớt con người. Lưới người được diễn tả bằng nhiều hoàn cảnh, bằng nhiều cách hoặc có khi là những con người khó nghèo bám víu vào chiếc lưới tình thương để được nuôi sống, cho ăn, cho mặc, cho uống, hoặc là những người yếu đau, bệnh tật bám víu vào chiếc lưới yêu thương của Chúa để được chữa lành, có khi là những người đau khổ, bị đàn áp, bị thử thách đang bám víu vào chiếc lưới nhân từ, chạnh thương của Chúa để được an ủi, chữa lành và cứu vớt. Tuy nhiên, việc lưới người mà Chúa Giêsu nói trên hết mọi sự là lòng nhân lành chạnh thương của Thiên Chúa đối với nhân loại, Ngài muốn qui tụ, chữa lành và cứu vớt tất cả mọi người để đem về một đàn chiên duy nhất dù con người có là gì đi nữa, có ngỗ nghịch và có những tham vọng thấp hèn theo ý con người.

 CHÚA MỜI GỌI MỌI NGƯỜI LOAN BÁO TIN MỪNG:
 Cánh đồng lúa bao la mà thiếu thợ gặt: Chúa vẫn mời gọi nhiều tâm hồn thành tâm thiện chí đi theo chân Chúa mà ra khơi thả lưới. Giáo Hội là Giáo Hội truyền giáo. Chúa vẫn hiện diện trong Giáo Hội, trên con thuyền của Hội Thánh để nâng đỡ, giữ gìn và cứu vớt. Con thuyền Hội Thánh có lúc yên lặng, nhưng có lúc có sóng gió nổi lên làm tròng trành, khó khăn, dễ chìm, dễ ngã. Chúa vẫn tiếp tục làm những việc cả thể ngoài sức tưởng tượng của con người ngay cả khi con người tưởng bó tay, buông xuôi. Chúa vẫn yêu thương con người, tiếp tục yêu thương con người và luôn nâng đỡ Giáo Hội. Một Phêrô chỉ có thể cảm nhận sự vững mạnh để lèo lái con thuyền Giáo Hội khi Oâng cảm nghiệm sự yếu hèn cần ơn trợ giúp của Chúa và sự tác động của Thánh Thần. Một Phaolô ngã ngựa mới nhận ra sự lộng hành, cuồng dại của mình mà trổi dậy để đi theo Chúa làm tông đồ cho dân ngoại. Chúa vẫn mời gọi mọi người ở mọi thời đại góp tay vào công việc cứu thế của Chúa. Lưới người là lệnh truyền của Chúa Giêsu.
 Lạy Chúa, xin cho mọi người chúng con, có con mắt nhậy bén để nhận ra nơi nào có cá, nơi nào cần để chúng con mau mắn vâng lệnh Chúa loan báo Tin Mừng tình thương của Chúa.
 GỢI Ý CHIA SẺ:
1. Phêrô và các tông đồ cảm nghiệm thế nào về mẻ lưới lạ lùng vừa qua ?
 
  1.   Phản ứng của Phêrô và các tông đồ ?
3. Công cuộc cứu thế là gì ?

 

TN5-C56. MẺ CÁ LẠ LÙNG

Lc 5, 1-11
 

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, ta như thấy có một cái gì đó thật xuyên suốt, thật chặt chẽ và rất: TN5-C56

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, ta như thấy có một cái gì đó thật xuyên suốt, thật chặt chẽ và rất ư gợi hứng, gợi hình gợi cảm. Từng biến cố, từng sự việc đều được Chúa Giêsu lấy ra từ những câu chuyện, những việc xẩy ra trong đời thường để gởi gắm sứ điệp, dậy dỗ môn đệ và nhân lọai muôn thời. Đọan Tin Mừng hôm nay cho thấy một cảnh rất đời thường bên biển hồ Ghen-nê-xa-rét, nhưng đó lại là một việc làm hết sức thực tế,và hết sức cảm động của Chúa Giêsu khi Ngài làm phép lạ cho mẻ cá đầy ắp lưới, một việc màcác môn đệ như Simon, Anrê ,Giacôbê và Gioan đã lục hục suốt đêm mà không tài nào làm nổi…
MẺ LƯỚI QUÁ LẠ LÙNG: Tin Mừng Luca viết :” Simon và các bạn chài đã vất vả suốt đêm mà không hề bắt được con cá nào cả, dù họ là những ngư phủ lành nghề. Họ biết chỗ nào cá có nhiều, chỗ nào sâu, chỗ nào cạn, chỗ nào cá sủi bọt, chỗ nào cá hay tới ăn và đi theo bầy. Nhưng đêm qua từ chập tối cho tới sáng Simon và các bạn đã mệt nhòai, đã mất ngủ hầu như trắng mắt, vẫn không có một con cá nào vào lưới. Đức Giêsu đã có mặt đứng đó trên bờ biển Ghen-nê-xa-rét từ sáng sớm và rồi hiểu được sự khốn quẫn của các môn đệ, Chúa truyền lệnh cho Simon và các bạn ra khơi thả lưới. Simon không dám cưỡng lại lời Chúa, dù ông đang mệt, ông muốn nghỉ ngơi, ông muốn ngủ, nhưng :” Vì lời Thầy, con sẽ thả lưới”( Lc 5, 5 ). Simon hết đỗi ngạc nhiên và cả các bạn của ông cũng thế, họ dụi mắt, họ tưởng như giấc mơ, họ kinh ngạc đến sung sướng, một mẻ cá quá nhiều, quá bất ngờ, lưới của các ông hầu như muốn rách. Simon Phêrô bất ngờ đến phát sợ hãi, ông chỉ còn cách đến gần Chúa Giêsu phủ phục trước mặt Ngài mà nói :” Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi”( Lc 5, 8 ). Phêrô tự nhiên cảm thấy mình quá bé nhỏ, quá tầm thường và quá bất xứng đối với Chúa Giêsu. Thái độ khiêm tốn của Ngài cũng na ná như Đức Mẹ khi đứng trước lời đề nghị của sứ thần Gabrien ngày truyền tin. Mẹ chỉ là nữ tỳ bé nhỏ, đơn hèn trước lời mời gọi lớn lao làm Mẹ Thiên Chúa. Simon cũng cảm thấy bất xứng như Phaolô trên đường đi Đamát và Ngài đã hỏi Chúa:” Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì ?”. Vâng, ơn Chúa chỉ đổ xuống trên những ai có lòng khiêm nhượng, thật thà, đơn hèn.

SỰ BẤT LỰC CỦA CON NGƯỜI LÀM NỔI BẬT QUYỀN NĂNG CỦA THIÊN CHÚA: “ Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không  bắt được con cá nào. Nhưng vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới” ( Lc 5, 5). Lời nầy chứng tỏ sự bất lực của con người và là lời tin nhận quyền năng tối thượng của Thiên chúa Giavê. Từ đáy lòng, sự khiêm hạ của con người như lời nói xin vâng của Đức Mẹ Maria, phép lạ đã xẩy ra và phép lạ đem con người tới lòng tin sâu thẳm. Trước phép lạ lớn lao:” mẻ cá lạ lùng”. Simon xưng Chúa là Thầy và sau phép lạ tuyệt vời ấy, Simon lại tuyên xưng Chúa là Chúa. Chính qua phép lạ mẻ cá lạ lùng, Simon đã nhận ra quyền năng vô song, khôn lường của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu và đã tuyệt đối tin tưởng vào Người. Mẻ cá diệu kỳ ấy đã giúp Simon nhận ra quyền năng cao vời và sự bất lực, yếu đuối của con người trước quyền năng vô biên của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu. Đây cũng là kinh nghiệm của Môisen trước Thiên Chúa trong bụi gai, là kinh nghiệm của Isaia:” Khốn cho tôi, tôi chết mất…”. Nhưng khi được tình thương của Chúa thanh tẩy miệng lưỡi, ngôn sứ Isaia đã mau mắn vâng lời đi làm ngôn sứ cho Thiên Chúa. Giờ phút này, Chúa cũng trấn an Phêrô:” Đừng sợ, từ đây các con sẽ là những kẻ chài lưới người ta”( Lc 5, 10 ). Đức Giêsu Kitô hôm nay muốn trấn an, động viên, khuyến khích các môn đệ, đặc biệt ba vị tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan, để tất cả tin vào sự yêu thương, lòng từ tâm và sự quan phòng của Thiên Chúa khi tiếp nhận và thi hành sứ mạng Ngài trao phó.
Chính lời trấn an, và trao ban sứ vụ, mà Phêrô và các bạn của Ngài đã bỏ tất cả mọi sự mà đi theo Chúa ( Lc 5, 11 ). Đó là ơn gọi của Phêrô và các bạn để các Ngài ra đi theo Chúa mà chinh phục người ta.
Phêrô và các bạn ngư phủ lành nghề trước khi gặp Chúa đã vất vả hết mình, suốt đêm nhưng khôngbắt được một con cá nào, nhưng khi gặp Chúa, Chúa đã chỉ, đã giúp, đã hướng dẫn các Ngài bắt được quá nhiều cá đến nỗi lưới gần rách và thuyền gần bị chìm. Nhưng tất cả những điều đó chỉ là phần thưởng trước mắt Chúa ban cho các Ngài mau qua, chóng tàn, điều quan trọng là từ nay các Ngài đã hòan toàn thuộc về Chúa và trở thành ngư phủ giỏi, lành nghề lưới người ta.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết sẵn sàng từ bỏ mọi sự để đi theo Chúa và trở thành chứng nhân trung kiên cho Chúa. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCCT

 

TN5-C57. CÁI THUỞ BAN ĐẦU

Chúa Nhật 5C Thường Niên
1 Cr 15:1-11
Lc 5:1-11
Is 6:1-2a.3-8

 

Mỗi sáng đứng ngắm bình minh từ từ trườn trên ngọn cây và xà xuống mặt đất, ai chẳng thấy sung: TN5-C57

Mỗi sáng đứng ngắm bình minh từ từ trườn trên ngọn cây và xà xuống mặt đất, ai chẳng thấy sung sướng hân hoan.   Có một tiếng gọi mơ hồ từ vạn vật vọng lên hay từ trên cao thoang thoảng.   Con người thấy mình gần gũi với cảnh vật và trời đất.   Ơn gọi đã vang lên.   Con người phải làm gì trước tiếng mời gọi đó ?

ƠN GỌI ĐẦU ĐỜI.
Quang cảnh buổi sáng hôm đó thật rạng rỡ.   Nhưng cơn thất vọng đêm qua vẫn đè nặng tâm hồn các ngư phủ bờ hồ Ghennexarét.   Không một con cá lọt lưới.   Sau khi thi hành xong sứ mạng giảng dạy quần chúng, Đức Giêsu nói với ông Simôn : “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.” (Lc 5:4)  Xuất thân từ ngành mộc, làm sao Đức Giêsu có thể kinh nghiệm nghề đánh cá bằng Simon ?   Bởi vậy, Simon mới phản ứng : “ThưaThầy, chúng tôi đã vất vả suốt đem mà không bắt được gì cả.” (Lc 5:5)   Trên bình diện tự nhiên, ông không thể nghe lời một người không chuyên môn như thế. Nhưng tương quan Thầy trò đã tạo được sức mạnh khiến ông có thể vượt trên bình diện tự nhiên ấy.   Oâng đã mạnh mẽ nói : “Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới.” (Lc 5:5)   Sự vâng phục của ông đã được đáp ứng ngoạn mục: “họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.” (Lc 5:7)   Những tính toán tự nhiên không còn là tiêu chuẩn tối hậu để tìm thấy sự thật nữa.  
Từ mẻ cá lạ lùng đó, ông Simon Phêrô đã nhận thức được một khoảng cách vô cùng giữa siêu nhiên và tự nhiên, giữa Thiên Chúa và con người. Oâng thưa với Chúa : “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi !” (Lc 5:8)   Tội lỗi khiến ông nhìn nhận mình chỉ là hư vô trước Đấng Tạo Hóa.   Tất cả “đều kinh ngạc” (Lc 5:9,10)   Người ta chỉ kinh ngạc khi thấy mâu thuẫn nơi hai thực tại kề cận nhau.   Mâu thuẫn tới mức tuyệt đối.   Một bên Thiên Chúa chí thánh.   Một bên con người tội lỗi đang đi tới biên giới hư vô.   Nỗi kinh ngạc diễn tả một khoảng cách vô cùng to lớn giữa hai cực tuyệt đối.  Một bên hiện hữu vô cùng sung mãn.  Một bên vô cùng hữu hạn và hư không.   Thiên Chúa tạo dựng vạn vật từ hư vô.  Người cũng sẽ cứu độ con người một cách vô điều kiện.  Đúng hơn, tất cả công cuộc tạo dựng và cứu độ đều phát xuất từ tình yêu Thiên Chúa.   Bởi dó, Đức Giêsu trấn an ông Simon : “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” (Lc 5:10)   Đừng sợ, vì khoảng cách vô cùng đó sẽ được lấp đầy bằng tình yêu vô biên của Thiên Chúa.   Đừng sợ, mặc dù tội lỗi đã đẩy Phêrô tới bờ vực thẳm, nhưng Thiên Chúa vẫn cương quyết trao cho ông sứ mệnh cao cả nhất.   Thiên Chúa là thung lũng tình yêu sẽ nuốt trọn con người biết phó thác hoàn toàn nơi Chúa.  
Cảm phục trước tấm lòng vô bờ bến đó, các môn đệ đầy phấn khởi và vô cùng mạnh mẽ.   Họ đã dám “bỏ hết mọi sự mà theo Người.” (Lc 5:11)   Thật là một quyết định táo bạo.   Tấm lòng quả cảm đó chính là thái độ sẵn sàng đáp ứng lời mời gọi của Thiên Chúa.   Ngày xưa Chúa cũng lên tiếng kêu mời Isaia : “Ta sẽ sai ai đây ?”   Tức khắc ông đáp lại : “Dạ, con đây, xin sai con đi.” (Is 6:8)   Lời Chúa đã tác động đến toàn thể cuộc sống và con người.   Chính lời Chúa đã lôi cuốn đám đông đến với Chúa : “Dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa.” (Lc 5: 1)   Không những lời Chúa có sức qui tụ, nhưng còn biến đổi con người.  Đức Giêsu chính là Ngôi Lời đã lôi cuốn mọi người đến với Thiên Chúa. Từ nay, Người cũng cho các môn đệ trở thành điểm thu hút muôn dân vào Nước Thiên Chúa.  
Chính ông Phêrô và các môn đệ được trao một sứ mệnh cao cả : thu phục muôn dân bằng sức mạnh lời Chúa.   Lời Chúa đã được trao vào tay các ông để xây dựng một Giáo Hội mà “quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.” (Mt 16:18)   Tại sao những con người yếu đuối và tội lỗi lại có một sức mạnh như vậy ?   Chính nhờ lời cầu nguyện sâu thẳm, Giáo Hội đã chiến thắng ác thần.   Sở dĩ lời cầu nguyện có một sức mạnh khủng khiếp, vì  noi gương thày chí thánh, ông Phêrô đã biết khiêm tốn nhìn nhận sự thật về chính mình và Thiên Chúa.  Càng khiêm tốn, càng đi sâu vào tương quan với Thiên Chúa và càng nhận ra sự lệ thuộc hoàn toàn vào Người.   Càng đi sâu vào tương quan với Người, càng thấy rõ sưcù mạnh Thiên Chúa trong những yếu đuối con người (2 Cr 12:9). 

 GIÁO HỘI : ĐIỂM QUI TỤ MUÔN DÂN
Giáo Hội đã vấp phải bao lỗi lầm quá khứ.   Nhưng không một sức mạnh tà thần nào có thể ngăn cản Giáo Hội trở thành điểm thu hút muôn dân.   Chính nhờ lời hứa của Đức Giêsu, Giáo Hội đã làm cho muôn dân “chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa.” (Lc 5:1)   Lời Thiên Chúa là sức mạnh qui tụ mọi người thuộc mọi sắc tộc và ngôn ngữ, thuộc mọi nước mọi dân.   Mọi nền văn hóa có thể tìm thấy chỗ đứng trong Nước Thiên Chúa.   Ngược lại, Nước Thiên Chúa không biết đến bất cứ thứ biên giới nào docác nền văn hóa, kể cả văn hóa của dân tộc Do thái hay Aâu Mỹ, dựng nên.
Thế nên, nếu muốn xây dựng Nước Thiên Chúa ở trần gian, phải biết vượt trên ranh giới của sắc tộc, ngôn ngữ, văn hóa, chính trị.   Tự cho mình có sứ mạng rao truyền lời Chúa mà còn hoạt động trên nền tảng văn hóa là đánh mất chính căn tính và sức mạnh của mình.   Nếu chỉ dừng lại ở bình diện tự nhiên, ông Phêrô không thể đến với Chúa, không thể chứng kiến phép lạ lớn lao và không được trao sứ mệnh qui tụ muôn dân vào Nước Chúa.  Đã đến lúc những não trạng cục bộ phải mở rộng cái nhìn vào miền đất vô biên của Nước Chúa.   Không vượt qua biên giới tự nhiên của văn hóa, chủng tộc, xã hội, chính trị, không thể hoàn thành sứ mệnh Chúa trao phó và không thể thực hiện một Giáo Hội phổ quát cho muôn dân.   Hôm nay, Giáo Hội còn bị khựng lại nhiều nơi chỉ vì còn đầy dẫy những con người có óc cục bộ.   Nếu không “bỏ hết mọi sự mà theo Đức Giêsu”, họ sẽ giống như “gà mù ăn quẩn cối xay” mà thôi.
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

 TN5-C58.  Chúa Nhật 5 quanh năm

(Lu-ca 5: 1-11)
 

Sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su vừa trải qua một thử thách lớn ngay tại quê nhà, như: TN5-C58

          Sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su vừa trải qua một thử thách lớn ngay tại quê nhà, như ta đã thấy qua câu truyện Người trở về Na-da-rét và bị dân thành khinh miệt.  Chúa Giê-su thắng vượt khó khăn nhờ sức mạnh Chúa Thánh Thần và lòng trung thành với Chúa Cha.  Người lại tiếp tục lên đường.  Sau thất bại là lúc thành công.  Bài Tin Mừng hôm nay đã khéo léo đan kết câu truyện việc rao giảng của Chúa với phép lạ mẻ lưới cá lạ lùng, để trình bày một công việc hết sức khẩn thiết trong sứ vụ của Người:  kêu gọi các môn đệ đầu tiên và họ mau mắn bỏ hết mọi sự mà đi theo Người.
 
  1.   “Đám đông chen lấn nhau đến sát bên Người để nghe lời Thiên Chúa”
          Rời khỏi Na-da-rét, Chúa Giê-su đi “rao giảng trong các hội đường miền Giu-đê” (Lc 4:44).  Thánh Lu-ca diễn tả Chúa Giê-su như một người “đầy ân sủng” (charismatic), có sức thu hút dân chúng.  Chúa đi tới đâu là người ta ùn ùn đi theo Người tới đó.  Nhưng mặt khác, thánh sử cũng muốn nói lên hình ảnh dân chúng khao khát đón nghe lời giảng của Chúa.  Như thế, trong tương lai sứ vụ của Chúa lại có thể gặp trở ngại, là nhu cầu đón nghe lời Chúa của dân chúng sẽ đè nặng trên vai Chúa Giê-su và sức người thì có hạn.  Chính vì vậy, Chúa Giê-su muốn tìm một cách giải quyết cho hợp với hoàn cảnh.  Viễn tượng của sứ vụ không thể bị giới hạn trong một ít năm và tại một vài địa phương, nhưng là một sứ vụ toàn cầu và phải được tiếp tục cho đến ngày tận thế.  Phải có những người cộng tác và tiếp tay với Chúa, lúc này và trong tương lai của Giáo Hội Người.
          Ta thử tưởng tượng Chúa Giê-su là một “ngư phủ thiêng liêng” đang “bắt người như bắt cá”.  Hình ảnh này vô cùng sống động và hứa hẹn một tương lai hết sức tươi sáng, trái ngược hẳn với cảnh bị chối từ và xua đuổi tại Na-da-rét.  Sức mạnh của lời giảng quả thực đã mang lại những kết quả to lớn.  Tuy nhiên, ngay bên cạnh hình ảnh lạc quan này là hình ảnh bi quan và thất bại của ông Si-môn với các bạn:  họ neo thuyền và giặt lưới, vì “đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”.  Trong bối cảnh này, Chúa Giê-su muốn bắt đầu một nỗ lực mới, là tìm người cộng tác để giúp sứ vụ rao giảng lời Chúa được tiếp nối mãi mãi.  Không thể để cho những chiếc thuyền kia trở thành vô dụng.  Không thể để cho những tay nghề lưới cá kia ngồi chơi giặt lưới cho giết thời gian.  Cũng như đám đông chen lấn đến với vị ngư phủ thiêng liêng, đàn cá dưới hồ Ghen-nê-xa-rét đang chờ đợi những tấm lưới của Si-môn và các bạn!
          Chúa Giê-su xuống một trong hai chiếc thuyền đậu ở bờ hồ.  Vậy là chiếc thuyền ấy không còn phải là vô dụng và không người nữa, vì ngư phủ thiêng liêng sẽ dùng nó để “bắt người như bắt cá”.  Chiếc thuyền đã biến thành một giảng đài để cho lời Chúa từ đó đến với dân chúng.  Lu-ca tài tình đưa ta đi qua lại giữa hai việc rao giảng lời Chúa và việc lưới cá, để dẫn ta tới câu chuyện Chúa làm cho Si-môn và các bạn thành những tay nghề bắt người như bắt cá.
 
  1.   “Dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”
          Giờ đây, Lu-ca đưa ta trở lại với việc lưới cá sau khi đã nói đến việc Chúa giảng.  Chúa bảo ông Si-môn đi thả lưới bắt cá.  Ta nhận thấy ngay phản ứng của ông trước mệnh lệnh của Chúa.  Đã vất vả suốt đêm mà chẳng được mống cá nào, bây giờ có thả lưới nữa cũng chỉ vô ích thôi.  Nhưng “dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”.  Khẳng định của ông Si-môn hết sức ý nghĩa.  “Dựa vào lời Thầy” là cảm nghiệm của Si-môn sau khi chứng kiến Chúa Giê-su giảng dạy cho dân chúng.  Lời Chúa đã thay đổi cuộc sống con người, đã làm thỏa mãn khao khát đón nghe sự thật.  Ông đã nhận ra hiệu lực của lời Chúa.  Lòng tin của ông đã bắt đầu nhen nhúm trong lòng.  Ông không còn tin vào khả năng tay nghề của mình nữa, nhưng vào uy thế của vị ngư phủ thiêng liêng đang ra lệnh cho ông thả lưới.  Ta có thể mường tượng ra dáng điệu của Si-mon khi ông thẳng thắn nói với Chúa:  “Dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”.  Mắt ông nhìn thẳng vào Chúa và từng lời ngắn gọn của ông nói lên sự cương quyết hành động.  Một lần nữa, ta thấy đức tin và hành động phải luôn đi đôi với nhau.
          Hành động đức tin của Si-môn đã đem lại kết quả bất ngờ, càng chứng tỏ quyền năng của lời Chúa.  Không phải nhờ tài năng của ông Si-môn và các bạn, cũng không phải do những mắt lưới đã được giặt sạch mà những tay chài Ga-li-lê đã bắt được mẻ cá lớn, nhưng hoàn toàn là do lời truyền phán của vị ngư phủ thiêng liêng đang hiện diện.  Sự hiện diện ấy tỏa ra một uy quyền, một tình yêu hoặc tình bạn, một lời mời gọi cao cả chứ không tầm thường như đánh lưới cá, khiến cho ông Si-môn Phê-rô nhận biết được Đấng đang hiện diện là ai.  Ông thưa với Chúa Giê-su:  “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”.  Nhưng vị ngư phủ thiêng liêng có khi nào lại chịu bỏ con cá lớn sau khi đã bắt đàn cá con!  Người nói như ra lệnh:  “Đừng sợ, từ nay anh sẽ bắt người như bắt cá”.  Si-môn không sợ sao được!  Có nhiều lý do để sợ.  Mà sợ là phải, khi ông nhìn lại thân phận tội lỗi và yếu đuối.  Ông thấy mình không xứng đáng hiện diện trước mặt Chúa, nói chi đến việc lãnh nhận một sứ vụ còn khó khăn hơn cả việc đánh lưới cá.  Nhưng Chúa không để ý tới thân phận tội lỗi, mà chỉ nhìn thấy lòng tin của Si-môn.  Ông đã mạnh dạn và tin tưởng nói với Chúa trước khi thả lưới, thì bây giờ, sau khi ông lưới được cá, Chúa cũng mạnh dạn và tin tưởng cam kết với ông rằng chính Người sẽ biến đổi ông cho xứng với sứ mệnh mới.
 
  1.   “Từ nay, anh sẽ bắt người như bắt cá”
          Chúa Giê-su nói với ông Si-môn chắc như đinh đóng cột.  “Từ nay” diễn tả khởi đầu của một sứ mệnh.  Đời ông bước sang một khúc quặt mới.  Nó đưa ông tới đâu đây?  Chỉ có Đấng gọi ông mới biết.  Người chỉ đòi ông một điều kiện:  quảng đại bỏ mọi sự và đi theo Người.  Người là một huấn luyện viên đại tài, không phải bằng mớ lý thuyết suông, nhưng bằng lời giảng dạy thực tế và nhất là bằng gương sáng.  Người huấn luyện bằng chính những kinh nghiệm bản thân.
          Học với Thầy Giê-su, môn đệ Si-môn cũng không phải là một học trò xuất sắc.  Văn hóa thì kém.  Tài năng thì ngoài nghề lưới cá có lẽ ông không biết gì hơn.  Tính tình nóng nảy, bộc trực.  Chỉ được lòng hăng say và quảng đại bù lại.  Ông vẫn luôn là anh chàng “Si-môn” như cái tên cha mẹ đặt.  Nhưng ở đây, ta nhận thấy một chi tiết rất ý nghĩa, đó là thánh sử Lu-ca viết tên ông ở đây bằng một cái tên kép đôi:  Si-môn Phê-rô.  Đây là lần duy nhất Tin Mừng Lu-ca gọi ông như thế.  Phê-rô là cái tên Chúa Giê-su đặt cho ông.  Con người ông có hai chiều kích: loài người và Thiên Chúa, con người và sứ mệnh, nỗ lực của loài người và quyền năng của Thiên Chúa.  Hai bề mặt ấy đan quyện nhau, nâng đỡ nhau và dần dần biến đổi ông từ tay lưới cá thành kẻ bắt người.
          Khi gọi ta làm môn đệ Người hôm nay, Chúa cũng nói với ta y như vậy:  Từ nay, con sẽ bắt người như bắt cá.  Việc Chúa gọi ông Si-môn là một gương mẫu.  Nhưng liệu ta có dám “bỏ hết mọi sự mà theo Người” không?
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
          Sứ mệnh “bắt người như bắt cá” có ý nghĩa gì đối với tôi?  Đâu là những người tôi cần phải bắt?  Trong gia đình?  Nơi sở làm?  Hoặc bất cứ nơi nào tôi đến và những người tôi gặp gỡ?
          Tôi có dám “bỏ hết mọi sự” để theo Chúa không?  Những gì là “mọi sự” và “theo Chúa” được hiểu với ý nghĩa nào?
Cầu nguyện
          “Lạy Chúa,
          chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn Si-môn,
          một người đánh cá ít học và đã lập gia đình,
          để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội.
          Chúa xây dựng Giáo Hội
          trên một tảng đá mong manh,
          để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.
          Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con
          theo Chúa, sống cho Chúa,
          đặt Chúa lên trên mọi sự:
          gia đình, sự nghiệp, người yêu.
          Chúng con chẳng thể nào từ chối
          viện cớ mình kém đức kém tài.
          Chúa đưa chúng con đi xa hơn,
          đến những nơi bất ngờ,
          vì Chúa cần chúng con ở đó.
          Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Si-môn,
          bỏ mái nhà êm ấm để lên đường,
          hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa.  A-men.”
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 79)
                    Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
          2-2-2007

 

TN5-C59. CHÚA NHẬT  5 QUANH NĂM

(Lu-ca 5: 1-11)
 

Sau khi bị ngược đãi tại quê nhà, Chúa Giê-su rời Na-da-rét tiến sang Ca-phác-na-um, nơi Người: TN5-C59

          Sau khi bị ngược đãi tại quê nhà, Chúa Giê-su rời Na-da-rét tiến sang Ca-phác-na-um, nơi Người đã khởi đầu sứ vụ.  Có lẽ sau những ngày bắt đầu tại Ca-phác-na-um, Chúa Giê-su đã nhìn thấy nhu cầu phải có những người cộng tác.  Người đặt hy vọng trước hết nơi những người thân thuộc bạn bè từ hồi niên thiếu.  Do đó Người đã trở về Na-da-rét, mong tìm được những người đồng chí hướng.  Nhưng Người đành phải chào thua thói thường bụt nhà không thiêng.
          Tại Ca-phác-na-um, Chúa Giê-su kêu gọi bốn môn đệ.  Ông Phê-rô là người đầu tiên được kêu gọi.  Thánh Lu-ca đã khéo léo ghi lại mọi hoàn cảnh liên hệ đến việc kêu gọi này, từ ngoại cảnh cho đến niềm thán phục tận trong tâm hồn, để diễn tả việc Phê-rô đáp lại lời gọi của Chúa sẽ là gương mẫu cho tất cả những ai muốn dấn thân làm môn đệ Chúa.  Nói khác đi, Chúa gọi ta làm môn đệ Người thì lời gọi của Người được biểu lộ qua những hoàn cảnh bên ngoài và lời đáp lại của ta sẽ là thái độ khiêm tốn nhìn nhận mình bất xứng, nhưng vẫn muốn quảng đại đi theo Người và tín thác hoàn toàn nơi Người.  Ta có thể nhận ra tiến trình làm môn đệ Chúa qua việc Chúa gọi Phê-rô.
 
  1.   Ngoại cảnh ơn gọi làm môn đệ của ông Phê-rô
          Để hiểu được những lý do nào đưa tới việc Chúa gọi ông Phê-rô và ông đáp lại lời gọi của Chúa, ta nên đọc lại mấy đoạn Tin Mừng trước đó, để thấy rằng có những ngoại cảnh đã đưa Chúa Giê-su và Phê-rô đến với nhau.
          Trước hết là những gì đã xảy ra tại Ca-phác-na-um.  Ca-phác-na-um, một làng đánh cá bên bờ hồ Ghen-nê-xa-rét và là quê hương của Phê-rô, ít lâu nay không còn im lìm từ khi Chúa Giê-su xuất hiện.  Tất cả những gì người ta thấy và nghe tại đây đều gây một ấn tượng mạnh mẽ cho Phê-rô.  Thánh Lu-ca ghi lại một vài biến cố tiêu biểu mà nhân vật chính là Chúa Giê-su.  Chúa Giê-su giảng dạy và chữa lành một người bị quỷ ám (Lc 4:31-37).  Chúa Giê-su chữa bà mẹ vợ ông Phê-rô khỏi cơn sốt (Lc 4:38-39).  Chúa Giê-su chữa lành đủ thứ bệnh nhân và những người bị quỷ ám (Lc 4:40-41).  Chúa Giê-su lên đường đi rao giảng khắp miền Giu-đê (Lc 4:42-44).  Tất cả những gì Chúa Giê-su thực hiện và rao giảng đã giúp ông Phê-rô nhận ra Người không tầm thường như những người khác.  Tuy nhiên vẫn chưa có một quan hệ cá nhân nào giữa hai người, mãi cho tới khi Chúa chữa lành cơn sốt cho bà mẹ vợ ông.  Việc chữa lành này đã lôi cuốn ông đến gần Chúa hơn và trở nên quảng đại với Chúa hơn.  Ông đã hy sinh những mẻ lưới cá, neo thuyền bên bờ hồ và để cho Chúa sử dụng thuyền của ông, phương tiện sinh sống của ông, làm giảng đài và “thí điểm truyền giáo.”
          Khi kể lại những điều Chúa Giê-su làm tại Ca-phác-na-um, thánh Lu-ca như muốn diễn tả một cánh đồng truyền giáo, một tình huống của nhân loại cần được nghe Tin Mừng rao giảng và cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa.  Rao giảng, chữa lành và tiêu diệt quyền năng của ma quỷ là tất cả nội dung của sứ vụ cứu thế mà Chúa Giê-su đã công bố khi Người tuyên đọc Sách Thánh tại hội đường Na-da-rét.  Ca-phác-na-um, cái nôi của công cuộc truyền giáo, chỉ là khởi đầu.  Chúa Giê-su đưa mắt nhìn về Giu-đê và toàn thế giới:  “Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa” (Lc 4:43).  Trong viễn ảnh đó, Người cần có những người cộng tác.  Hoàn cảnh thế giới cần chữa lành, cần chiến thắng thần dữ, cần nhận ra tình thương Thiên Chúa là yếu tố giúp ta nhận ra tính cách khẩn thiết của lời kêu gọi làm môn đệ Chúa Giê-su.  Hoàn cảnh ấy đặt câu hỏi trong tâm hồn Phê-rô:  Vậy tôi phải làm gì cho Chúa Ki-tô?
 
  1.   “Đừng sợ, từ nay anh sẽ bắt người như bắt cá”
          Với những lời mộc mạc, ngắn gọn và thích hợp với con người Phê-rô, Chúa Giê-su nhìn thẳng vào mắt Phê-rô và nói với ông những lời trên.  Đâu cần phải khách sáo như Lưu Bị ba lần đến lều cỏ cầu Khổng Minh!  Chúa Giê-su đi thẳng vào tâm tư của Phê-rô:  đó là tâm tư sợ hãi và không biết sẽ làm gì.  Ông sợ sắp sửa phải phiêu lưu với một tương lai chẳng có gì rõ ràng.  Ông sợ không dám đến gần Chúa vì ông là kẻ tội lỗi.  Ông sợ cho mẹ già, vợ con.  Hằng trăm nỗi sợ nổi lên như sóng lớn.  Nhưng Đấng sẽ truyền cho sóng gió yên lặng nói với ông như ban một mệnh lệnh:  Đừng sợ.
          Trước mối ưu tư không biết sẽ làm gì của Phê-rô, Chúa Giê-su cũng có cách giải quyết của Người.  Dễ ợt mà!  Anh là dân đánh cá, thì anh cứ tiếp tục đánh cá!  Nhưng là loại cá có trí khôn, loại cá sẽ bị mắc vào lưới Nước Trời, vì “Nước Trời giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá...” (Mt 13:47).  Mẻ lưới cá vừa bắt được là điển hình cho thấy nếu Phê-rô đã thực hiện thành công theo lời chỉ dẫn của Chúa Giê-su về một mẻ cá biển hồ, thì chắc chắn ông cũng sẽ hoàn tất được sứ vụ mới dưới sự hướng dẫn của Thầy trong những mẻ cá thiêng liêng. 
Thành công của mẻ lưới giúp Phê-rô xác tín nhiều điều.  Nó giúp ông biết mình, biết Chúa.  Không chỉ là cái biết của trí óc, nhưng của con tim, của quan hệ mật thiết giữa Chúa và mình.  Ông biết mình là kẻ tội lỗi, không đáng theo Chúa.  Nhưng ông cũng biết Chúa sẵn sàng tiếp nhận ông, dạy dỗ ông trong ơn gọi làm môn đệ.  Cho nên mới có chuyện “đưa thuyền vào bờ, bỏ hết mọi sự mà theo Người.”
 
  1.   Ơn gọi làm môn đệ Chúa là ơn gọi cho mọi người   
          Những gì Chúa đã làm cho Phê-rô cũng chính là những gì Chúa đã hoặc đang làm cho ta.  Nhìn vào bản thân, ta cũng thưa với Chúa:  Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!  Nhưng đáng tiếc, lời thưa đó thường lại ngầm hiểu là một lời thoái thác, chứ không phải là một nhìn nhận đích thực về sự bất xứng của ta.  Thưa như vậy để làm cớ trốn tránh cho lẹ thôi.  Ông Phê-rô thưa với Chúa những lời trên, nhưng với một thái độ chân thành, ngay thật và không có gì là che đậy, đúng như thánh Lu-ca mô tả:  “Ông Si-mon Phê-rô sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói...” (Lc 5:8).
          Câu truyện ông Phê-rô làm môn đệ Chúa bao giờ cũng gợi cho ta những ý lạ, giúp ta cũng giống như ông, nghĩa là biết mình, biết Chúa.  Nhưng ta có dám bỏ hết mọi sự mà theo Người hay không, thì đó là chuyện của ta với Chúa.
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện         
 Chúa Giê-su gọi tôi làm môn đệ Người trong hoàn cảnh nào?  Hoàn cảnh ấy thích hợp với sứ mệnh tông đồ nào của tôi?
          Có khi nào tôi nghĩ là Chúa cần tôi không?  Nếu không, thì tại sao?
          Khi nói với tôi:  “Đừng sợ, từ nay con sẽ bắt người như bắt cá,” Chúa muốn bảo tôi làm gì?
          Tôi bắt đầu theo Chúa để học điều gì?
          “Lạy Chúa Giê-su,
          sống cho Chúa thật là điều khó.
          Thuộc về Chúa thật là một thách đố cho con.
          Chúa đòi con cho Chúa tất cả
          để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa.
          Chúa thích lấy đi những gì con cậy dựa
          để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa.
Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà
để cây đời con sinh thêm hoa trái.
Chúa cương quyết chinh phục con
cho đến khi con thuộc trọn về Chúa.
Xin cho con dám ra khỏi mình,
ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan
để sống theo những đòi hỏi bất ngờ của Chúa,
dù phải chịu mất mát và thua thiệt.
Ước gì con cảm nghiệm được rằng
trước khi con tập sống cho Chúa
và thuộc về Chúa,
thì Chúa đã sống trong con
và thuộc về con từ lâu.  A-men.
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 30)
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN5-C60.  CHÚA KHÔNG LẦM

(CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN, NĂM C)
(Bài Đọc I: Isaia 6: 1-2, 3-8); Bài Đọc II: 1 Corintô 15: 1-11;
Bài Phúc Âm: Luca 5: 1-11)
(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương)
 

Trong kinh “Vinh Danh” chúng ta đọc trong Thánh Lễ có câu “Chỉ có Chúa là Đấng Thánh”, và : TN5-C60

Trong kinh “Vinh Danh” chúng ta đọc trong Thánh Lễ có câu “Chỉ có Chúa là Đấng Thánh”, và trong Phúc Âm, khi một người đến thưa với Đức Kitô “Lạy Thày Nhân Lành…” Đức Kitô, với tư cách như một con người, đã nói với anh: Tại sao anh gọi tôi là Đấng Nhân lành… Chẳng có ai là Nhân Lành cả, chỉ có Thiên Chúa là Đấng Nhân Lành mà thôi…” (Luca 18:18-19).
Trước mặt Thiên Chúa là “Đấng chí thánh, ngàn trùng chí thánh!” chúng ta cảm thấy mình yếu đuối, tội lỗi. Vua Đavid phải thú nhận với Chúa “Con là kẻ tội lỗi… Con được hoài thai trong tội lỗi… (Thánh Vịnh 50). Thánh Phaolô cũng thú nhận: “Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối…” (2 Corintô 11: 29). Thánh Gioan Tông Đồ nói: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, thì chúng ta đã tự lừa dối mình …” (1 Gioan 1: 8).
Trong Bài Phúc Âm hôm nay, khi ông Phêrô kinh ngạc trước mẻ cá đánh được cách lạ lùng do “Vâng lời Thày, con thả lưới…” đã sấp mình dưới chân Chúa Giêsu và thưa: “Lạy Chúa, xin tránh xa con ra vì con là kẻ tội lỗi…” Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã nói  với Phêrô: “Đừng sợ, từ nay con sẽ là kẻ đánh lưới người”. Những năm tháng sống bên Chúa Giêsu, Phêrô có những lần bị Chúa Giêsu quở mắng vì tính nóng nảy và hay nói bộc trực. Cũng chính Phêrô đã quá yếu đuối đến nỗi chối Chúa tới 3 lần, dù Chúa đã cảnh cáo trước “Chính đêm nay, con sẽ chối Thày 3 lần…” (Matthêu 26: 69-75) Dầu vậy, Chúa Giêsu vẫn chọn Phêrô làm Tông Đồ và là vị lãnh đạo đầu tiên của Giáo Hội Chúa tại trần gian vào những ngày sóng gió nhất của lịch sử khởi đầu phát triển Giáo Hội trong Đế Quốc Rôma. Trên đường truyền giáo, Chúa đưa đẩy để Phêrô có thể đi đến Rôma và chịu tử đạo tại đó.
  Trong Bài Đọc I hôm nay, chúng ta cũng đọc được câu chuyện thật cảm động về ơn gọi của Isaia: Khi cảm nghiệm được sự uy nghi cao cả của Thiên Chúa “Chí Thánh, Ngàn Trùng Chí Thánh”, Isaia đã quá sợ hãi và kêu lên “Vô phúc cho tôi, tôi chết mất! Miệng tôi thật nhơ bẩn trước sự thánh thiện của Thiên Chúa!” Nhưng Chúa đã sai Thiên Thần sốt mến, lấy than lửa tẩy sạch lưỡi Tiên tri và kêu gọi ông để ông đáp lại tiếng Chúa: “Này tôi đây, xin Chúa hãy sai tôi đi…” Isaia đã trở nên một tiên tri lớn trong Cựu Ước, và trong cuộc đời ra đi rao giảng mệnh lệnh Chúa, ông đã gặp biết bao khó khăn, chống đối, nhưng ông luôn trung thành với Ơn Gọi cho đến cùng. Các Tiên tri trong Cựu Ước cũng đều cảm thấy ‘sợ hãi’ khi nghe tiếng Chúa gọi, vì cảm thấy mình thật bé nhỏ, yếu đuối trước những sứ mệnh cao cả Chúa trao phó. Tiên tri Giona đã phải trốn đi, nhưng rồi Chúa vẫn tìm cách đưa ông đi làm nhiệm vụ mà Chúa muốn ông phải thi hành .
  Trong Bài Đọc II, Thánh Phaolô cũng phải thốt lên: “Tôi là người hèn mọn nhất trong các Tông đồ, tôi không xứng đáng được gọi là Tông Đồ, tôi đã ngược đãi Hội Thánh Chúa lúc ban đầu… Nếu tôi có là gì, cũng là do bởi ơn Thiên Chúa…”
  Dù là ai, dù ở địa vị nào, chúng ta đều là những con người đầy khuyết điểm và mang thân phận yếu đuối, dễ sa ngã phạm tội. Nhưng Thánh Gioan nói: “Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho chúng ta… Anh em đừng phạm tội; nhưng nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng bảo trợ trước mặt Chúa, đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng Công Chính. Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền tội vì tội lỗi chúng ta , không những vì tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn vì tội lỗi của cả thế gian nữa…” (1 Gioan 1: 9, 2: 1-2). Dù chúng ta tội lỗi mấy mặc lòng, nhưng hãy tin tưởng: “Ơn Chúa đủ cho con! Vì sức mạnh của Chúa được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối của con người…” (2 Corintô 12: 9). Miễn là chúng ta đừng bao giờ thất vọng, lià xa Chúa. Phêrô đã chối Chúa 3 lần, nhưng đã không thất vọng chán nản trở về với Chúa và được ơn tha thứ. Giuđa cũng đã hối hận tội lỗi của mình, xấu hổ vì đã phản bội Thày, và đã trả lại món tiền cho các kỳ mục (Matthêu 27: 3-5); nhưng thay vì trở về với Chúa, Giuđa đã thất vọng lìa xa Chúa  và ra đi tự tử. Thật tội nghiệp!
  “Chúa không lầm khi dựng nên chúng ta” và trao cho chúng ta cuộc sống, trao cho chúng ta mỗi người một ‘sứ mệnh’ để xây dựng Giáo Hội Chúa và xây dựng thế giới này mà chính Chúa đã dựng nên. Dù Chúa thấy rõ mọi yếu đuối, mọi khuyết điểm của chúng ta, nhưng Chúa vẫn muốn dùng chúng ta làm các công việc của Chúa. Hãy luôn tin tưởng vào lòng từ ái của Chúa. Hãy đứng lên mỗi lần trượt chân sa ngã.
  Hơn nữa, dù là Chủ chăn, linh mục, tu sĩ hay giáo dân, chúng ta đều được Chúa mời gọi để ‘đánh lưới người’. Chúng ta hãy mau mắn thưa với Chúa như tiên tri Isaia xưa: “Này con đây, xin sai con đi!” Nhiệm vụ thật khó khăn và nhiều khi có vẻ như “luống công vô ích!”, nhưng không, Chúa sẽ đem lại kết qủa bất ngờ, miễn là chúng ta phải biết thưa với Chúa ‘Dù khó nhọc suốt đêm mà chẳng được con cá nào… Nhưng vâng lệnh Thày, con xin thả lưới!’
  Ngoài ra, dù ở địa vị nào, tất cả chúng ta chỉ là những con người, nên chúng ta đừng to tiếng phê bình chỉ trích người khác, nhưng hãy thông cảm khuyết điểm của nhau và thành thực giúp nhau sửa đổi. Nhờ vậy, đường đời chúng ta đi sẽ trở nên dễ dàng hơn, cuộc sống vui tươi hơn, nhiệm vụ đỡ khó khăn hơn. Chúng ta sẽ lạc quan với chính mình và tha nhân, lòng luôn tâm niệm: “Dù tôi thân phận yếu hèn, nhưng Chúa là Cha nhân từ , Người vẫn thương tôi!”
  “Chúa không lầm khi Ngài dựng nên con, dù Lời Ngài con không giữ trọn. Vì Chúa đã biết từ ngàn xưa , rằng thân con bởi tro bụi, và được cưu mang trong tội lổi.
  Chúa không lầm khi Ngài đành hy sinh, để rồi nhìn con không đáp tình. Vì Chúa đã biết từ ngàn xưa, còn mang thân thể nặng nề, là còn luôn mê mải trần thế.
  Chúa không lầm khi Ngài gọi con theo, dù đời dạt trôi theo cánh bèo. Vì Chúa đã biết từ ngàn xưa, một khi hơi thở chưa tàn, là đời chưa qua hẳn sầu oán.
  Chúa không lầm khi Ngài dìu con lên, dù rằng đời con bao yếu hèn. Vì Chúa đã biết từ ngàn xưa, nhiều khi con chẳng trung thành, là vì đâu con phải thần thánh.
  Chúa không lầm khi Ngài dạy con yêu, dù đường tình con oan trái nhiều. Vì Chúa đã biết từ ngàn xưa, từng giây rung cảm trong lòng, là từng giây hơi thở rực nóng.”
  “Nhưng lòng Chúa vẫn bao la, dù bao phen con yếu đuối, thành tâm xin ăn năn thống hối, là Ngài lại thứ tha…” (Kim Long: Thánh Ca “Chúa Không Lầm”).

 

TN5-C61. Đánh Bắt Con Người

Luca 5:1-11: 1 Xảy ra là khi đám đông chen lấn đến gần Người đ nghe lời Thiên Chúa, và Người đang đứng bờ hồ Ghennêsarét. 2 Người thấy hai chiếc thuyền bờ hồ; những người đánh cá đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. 3 Bước xuống một trong những chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simôn, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi ngồi xuống và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông. 4 Giảng xong, Người bảo ông Simôn: “Các ông hãy chèo ra chỗ nước sâu và  thả lưới các ông xuống mà bắt cá.”5 Đáp lại ông Simôn nói: “Thưa Thầy, suốt đêm chúng tôi đã vất vả mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới.” 6 Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi lưới bắt đầu rách. 7 Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Họ tới, và đã đ đầy hai thuyền đến gần chìm. 8 Thấy vậy, ông Simôn Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin đi khỏi con, vì con là kẻ tội lỗi!” 9 Quả thật, sự kinh ngạc bắt lấy ông và tất cả những người có mặt đó với ông vì mẻ cá vừa bắt được. 10 Cũng thế cả Giacôbê và Gioan, hai người con ông Zêbêđê, bạn chài với ông Simôn. Bấy giờ Đức Giêsu bảo ông Simôn: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ đánh bắt người”. 11 Rồi đưa thuyền vào bờ, bỏ hết mọi sự họ đi theo Người.
 

Đoạn tin mừng Luca 5:1-11 nằm trong văn mạch của 5:1-6:16 trình bày sự can thiệp của Chúa: TN5-C61

Đoạn tin mừng Luca 5:1-11 nằm trong văn mạch của 5:1-6:16 trình bày sự can thiệp của Chúa Giêsu vào cuộc đời của một số người, và cách họ đáp lại Người. Đoạn nầy mở đầu với trình thuật kêu gọi Simôn, Gioan và Giacôbê và các đồng nghiệp của ông (5:1-11), và kết thúc với việc thành lập nhóm Mười Hai (6:12-16). Phần giữa đoạn là trình thuật về những việc Chúa Giêsu đã làm cho một số người; và qua đó Luca cho thấy thái độ của họ, hoặc đi theo Người hoặc tiếp tục chống đối Người: bệnh nhân và tội nhân được chữa lành (5:12-16; 17-26; 27-39); người Pharisêu từ chối tin vào Người (6:1-5; 6-11). Đoạn 5:1-11 có thể phân chia cách tổng quát làm hai: 1- Giảng dạy dân chúng (5:1-3). 2- Mẻ cá đầy và kêu gọi làm kẻ đánh bắt người (5:4-11). Hạn từ “Chiếc thuyền” ở khởi đầu và ở câu cuối đóng khung câu chuyện (5:2.11). Kết cấu câu chuyện xoay quanh chiếc thuyền của Simon. Chính ông cũng là nhân vật chính trong câu chuyện nầy (5:3.4.5.8.10[2X]). Hai phần liên kết với nhau nhờ “chiếc thuyền”: cũng một chiếc thuyền của Simon, Chúa Giêsu ngồi trên đó để rao giảng (5:3), rồi bảo Simon thả lưới bắt cá (5:4) và bỏ chiếc thuyền ấy mà đi (5:11). Chủ đề chính của đoạn 5:1-3 là Chúa Giêsu giảng dạy dân chúng; và đoạn 5:4-11 là Chúa mời gọi Simôn và bạn đồng nghiệp của ông đi đánh bắt người. Hai trình thuật nầy được liên kết với nhau để cho thấy ơn gọi các tông đồ không thể tách rời việc giảng dạy.
Khung cảnh của trình thuật ngắn 5:1-3 là bờ biển, ở đó đã thấy dân chúng chen lấn nhau, sự hiện diện của Chúa Giêsu và hai chiếc thuyền. Dân chúng đến để lắng nghe (5:1), còn Chúa Giêsu thì giảng dạy họ (5:3), và phương tiện nối kết hai bên là chiếc thuyền của Simôn (5:3). Lần đầu tiên Luca trình bày dân chúng xô lấn nhau bên Chúa Giêsu để nghe Người giảng dạy. Ước muốn nghe Người chạy dài suốt tin mừng Luca (x. 5:15; 6:17; 15:1; 19:48; 20:45; 21:38). Đối tượng của việc lắng nghe là lời Thiên Chúa (5:1; 8:11.21; 11:28). Nhiệm vụ rao giảng Lời Thiên Chúa cũng là ưu tiên một trong sứ vụ của các tông đồ (x. Cvtđ 6:2). Nhờ đó, dân ngoại được nghe và đón nhận Lời Thiên Chúa (x. Cv 11:1). Như thế, sứ vụ rao giảng của Chúa Giêsu sẽ được chuyển sang cho các tông đồ. Trong trình thuật nầy Luca cho thấy Chúa Giêsu đang chọn người tiếp nối làm công việc cao cả đó.
Trong đoạn tiếp theo (5:4-11), kết cấu dựa trên hai sáng kiến Chúa Giêsu. Người bảo Simôn thả lưới bắt cá (5:4) và sau đó mời gọi ông đi theo Người để làm nghề đánh bắt con người (5:10). Phía Simôn, ông đáp lại bằng hai hành động là thả lưới vì lời Người dạy (5:5) và bỏ thuyền mà đi theo Người (5:11). Chúa Giêsu ra mệnh lệnh thả lưới bắt cá như một người có uy quyền. Trong lời đáp Simôn gọi Người là “Thầy” (epistatçs). Chữ nầy chỉ được dùng trong Luca và không ngụ ý Người là thầy dạy, mà là người chỉ huy có uy quyền. Thông thường người ta dùng danh xưng nầy khi kêu xin Người làm một phép lạ (x. 5:5; 8:24, 45; 9:33, 49; 17:13). Bởi đó, lý do Simôn đưa ra là suốt đêm không bắt được con cá nào và bây giờ ông vẫn thả lưới là vì ông vâng lệnh và tin tưởng tuyệt đối vào “Thầy”; điều nầy được diễn tả trong cụm từ “theo lời Người” (x. 1:38; 2:19). Luca đặt trọng vị trí của Simôn, nên trong câu đáp lại ông đã dùng ngôi thứ nhất “tôi sẽ thả lưới” (5:5) như thể ông sẽ làm đại diện một cộng đoàn; trong khi Chúa Giêsu dùng ngôi thứ hai số nhiều “các anh/ông” (5:4). Kết quả của sự tín thác ấy là mẻ cá bắt được lạ lùng: cả hai thuyền đầy cá, lưới bắt đầu rách và thuyền gần chìm (x. 5:6-7).
“Nhìn thấy” thế, Simôn nhận ra vị Thầy (5:5) nầy là Chúa (5:8). Luca cho thấy Simôn đã đi từ nhận thức về Chúa Giêsu như một vị Thầy, người lãnh đạo theo nghĩa thông thường đến một vị Chúa mà ông phải sấp mình trước mặt Người (x. 5:12; 7:39; 8:28; 23:47). Simôn nhận ra một tương phản tận căn giữa Người và ông. Người là thánh thiện vì là Chúa và ông là người tội lỗi. Do đó, hành vi đầu tiên là quỳ gối trước mặt Người, vì ông sợ hãi hơn là thờ lạy Người như là Chúa. Điều nầy được minh chứng trong trấn an của Chúa Giêsu sau đó: “Đừng sợ!” (5:10).  Ông sợ hãi vì đang đối diện với Chúa. Ai thấy Thiên Chúa mà không phải chết (x. Xh 3:6; Quan án 13:22). Hơn thế nữa, vì ông là người tội lỗi.
Hành vi hợp lý tiếp theo là xin Người đi khỏi ông (5:8). Thay vì dịch “tránh xa con”, nên hiểu sát nghĩa của động từ nầy hơn. Động từ nầy ở thể mệnh lệnh thường được dùng để yêu cầu đi khỏi một nơi chốn nào đó (13:31; 14:21.23), hoặc ra lệnh cho ma quỉ xuất khỏi người bị chúng ám (4:35). Do đó, yêu cầu của Simôn được diễn tả cách cụ thể là ông yêu cầu Chúa Giêsu ra ngay khỏi thuyền của ông và đi xa khỏi ông; ngay cả chỉ tạm thời cho đến lúc thuyền vào bờ, ông không chịu nỗi sự hiện diện của Người bên ông. Người là Đấng Thánh, còn ông là người tội lỗi. Cả hai không thể ở chung trong một con thuyền, dù chỉ một chốc lát. Như thế Simôn đã được Chúa Giêsu tỏ mình và đã có kinh nghiệm về bản thân mình như Isaia: sợ hãi và thấy mình bất xứng (x. Is 6:5). Kinh nghiệm cũng bắt lấy cả những người chung quanh ông: Giacôbê và Gioan và các đồng nghiệp (5:9).
Lời thứ hai của Chúa Giêsu ngỏ với Simôn là “Đừng sợ!” (5:10). Lời trấn an nầy có nghĩa là không phải chết vì đã thấy Thiên Chúa. Trái lại, Thiên Chúa sẽ gia ân cho ai đã thấy được Người (x. 5:12-13). Bởi đó, sau lời nầy là một loan báo và một lời hứa (x. 1:13; 1:30; 5:10; 8:50; 12:32). Lời hứa cho Simôn ở đây là lời mời gọi chuyển nghề sang đánh bắt con người. “Đánh bắt” đây là “đánh bắt sống” không phải những con cá, mà là những con người không giới hạn. Chính Chúa Giêsu truyền nghề cho ông và ông đã chấp nhận. Trong Luca không có tiếng mời gọi trực tiếp từ Chúa Giêsu “Hãy theo Tôi” (x. Mt 4:19; Mc 1:17; Lc 5:27; 9:59: 18:22), có thể vì kinh nghiệm trực tiếp vừa xảy ra đã chuẩn bị cho Simôn, như Maria (1:30), Phaolô (Cvtđ 18:9), một sự sẵn sàng cho bất cứ ý muốn nào của Thiên Chúa. Chỉ còn lại là sự đáp trả của ông: bỏ chiếc thuyền và tất cả lại đàng sau và đi theo Người (5:11).
Chiếc thuyền ở khởi đầu trình thuật nằm bên bờ và di chuyển ra biển sâu. Ở cuối trình thuật nó nằm lại trên bãi, người đánh cá tiến sâu vào đất liền và để nó lại đàng sau lưng. Simôn và đồng nghiệp đã bỏ lại tất cả nghề đánh cá để chuyển sang hướng khác là đánh bắt con người, nên họ phải tiến sâu vào đất liền với Chúa Giêsu của họ.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

TN5-C62. Chúa Nhật 5 Thường niên

Sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 5:1-11)
 

Câu truyện Tin Mừng hôm nay kể lại việc Chúa Giê-su gọi những môn đệ đầu tiên.  Mời gọi và đáp: TN5-C62

          Câu truyện Tin Mừng hôm nay kể lại việc Chúa Giê-su gọi những môn đệ đầu tiên.  Mời gọi và đáp trả là yếu tố của điều chúng ta gọi là ơn gọi.  Chúa Giê-su mời gọi mấy thanh niên làm nghề lưới cá tại biển hồ Ghen-nê-xa-rét đi theo Người và làm môn đệ Người.  Họ bỏ lại nghề nghiệp, những gì là thân yêu như gia đình, thuyền, lưới… để đáp lại lời gọi của Chúa Giê-su và làm môn đệ Người.   Như thế, ơn gọi là hành động song phương giữa Chúa và môn đệ, giữa mời gọi và đáp trả.  Tuy nhiên, chủ động vẫn là Chúa, vì mời gọi là một ơn Chúa ban cho chúng ta.  Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em đ anh em ra đi, sinh được hoa trái (Ga 15:16).
          Cả lời mời gọi lẫn sự đáp trả đều mang những giá trị vô cùng cao quý và độc đáo.  Khi Chúa gọi một người làm môn đệ, tức là Người nhận thấy nơi người ấy một giá trị và nét độc đáo không thấy có nơi người nào khác.  Cũng vậy, người được Chúa gọi làm môn đệ đáp lại lời Chúa bằng tất cả con người riêng biệt của mình với cá tính, tài năng, thiện chí và nhất là lòng mến có một không hai.  Ơn gọi là một diễn trình liên tục suốt cuộc đời trần thế, tuy có những lúc thăng trầm trong mối quan hệ mật thiết giữa Chúa và chúng ta tùy theo cách đáp trả của chúng ta.  Như vậy, ta không lấy làm lạ khi thấy có lúc chúng ta hăng hái nhiệt thành sống ơn gọi và cũng có nhiều khi chúng ta cảm thấy chán nản muốn bỏ cuộc.  Do đó, ơn gọi đòi hỏi phải có sự trung thành.  Dĩ nhiên Chúa là Đấng luôn trung tín, còn chúng ta dễ dàng bị cám dỗ bất trung.
          Trở lại câu truyện Chúa gọi ông Phê-rô và các bạn ông, chúng ta nhận ra tất cả những điểm nói về ơn gọi.  Chúa gọi họ ngay trong hoàn cảnh sống và nghề nghiệp của họ, để họ khởi đi từ cuộc sống bình thường mà tiến đến mục đích cao cả, từ những kẻ lưới cá thành những kẻ lưới các linh hồn.  Như thế, ơn gọi bao giờ cũng nhắm mục đích giúp chúng ta được thăng tiến.  Chúa gọi một thanh niên làm linh mục, tu sĩ hay hay một thiếu nữ làm nữ tu là để họ biến đời mình thành khí cụ đặc biệt để Người sử dụng cho việc phục vụ tha nhân và Giáo Hội.  Chúa gọi một chàng trai và một cô gái vào đời sống hôn nhân là để họ xây dựng một tế bào lành mạnh của xã hội và Giáo Hội, đồng thời để hai người giúp nhau trở nên người toàn hảo hơn.  Do đó, chúng ta hãy hiểu ơn gọi theo ý nghĩa phổ quát, áp dụng cho mọi người mọi thời.  Người được gọi sống đời sống thánh hiến, kẻ được gọi sống bậc vợ chồng, người khác được gọi sống độc thân giữa đời.  Nhưng tất cả đều được Chúa mời gọi để trước hết giúp cho bản thân được thăng tiến, sau là để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân.  Nói tóm lại, ơn gọi là lời Chúa mời gọi chúng ta nên thánh giữa đời và trong chính hoàn cảnh sống của chúng ta.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Chúng ta lấy ngay tấm gương của ông Phê-rô để rút bài học sống sứ điệp Tin Mừng hôm nay.  Trước hết, ông Phê-rô mở lòng đón tiếp Chúa bằng cách quảng đại để Chúa mượn thuyền làm giảng đài.  Sau khi nghe Chúa giảng, ông vâng lời Thầy đưa thuyền đi lưới cá.  Qua mẻ cá lạ, ông nhận ra Chúa là Đấng nào, còn ông chỉ là kẻ tội lỗi.  Sau cùng, khi Chúa gọi ông từ nay anh sẽ là kẻ thu phục người ta, thì ông mau mắn bỏ hết mọi sự mà theo Người.
          Chúng ta xác tín cuộc đời mình là để đáp lại lời gọi của Chúa, cố gắng chu toàn bổn phận trong hoàn cảnh chúng ta đang sống và tin có Chúa luôn ở bên cạnh chúng ta.  Lời Chúa bảo “đừng sợ” là sức mạnh giúp ta thắng vượt mọi khó khăn trong bậc sống của chúng ta.
Lm. Dominic TTL

 

TN5-C63.  Tự do

Các ông từ bỏ mọi sự mà theo Chúa.
 

Đọc lại Phúc Âm chúng ta phải cảm phục thái độ dứt khoát và từ bỏ của các môn đệ trước lời: TN5-C63

Đọc lại Phúc Âm chúng ta phải cảm phục thái độ dứt khoát và từ bỏ của các môn đệ trước lời mời gọi của Chúa Giêsu. Thực vậy, sau khi Chúa Giêsu nói: Các con hãy theo Ta và Ta sẽ làm cho các con trở nên những kẻ chài lưới người ta, thì Phêrô, Anrê cũng như Giacôbê và Gioan đã từ bỏ ghe thuyền, chài lưới và cả những người thân yêu để bước theo Chúa Giêsu. Cũng vậy, khi Chúa Giêsu đi qua bàn thu thuế tại Capharnaum, Ngài lên tiếng gọi Matthêu: Hãy theo Ta. Lập tức Matthêu đã đứng dậy, từ bỏ bàn giấy, từ bỏ nghề nghiệp mà bước theo Chúa.  Thái độ mau mắn và dứt khoát ấy làm cho chúng ta nhớ tới lời Chúa đã phán: Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”. Các môn đệ là như thế, chúng ta thì sao?
Chúng ta thường nói rất nhiều mà làm thì chẳng được bao nhiêu. Trong tâm tư nguyện vọng, chúng ta muốn tôn thờ Chúa như một vị vua duy nhất của lõi lòng. Chúng ta muốn dâng tất cả cho Ngài, thế nhưng trong cuộc sống cụ thể, chúng ta rất ngại phải hy sinh, phải từ bỏ, phải dâng hiến cho Ngài. Tình yêu chúng ta dành cho Ngài giống như một ngọn đèn thiếu dầu. Bình thường thì nó cháy một cách leo loét, nhưng mỗi khi phải cố gắng, phải hy sinh thì nó bỗng dưng phụt tắt.
Chính vì thế, mỗi người chúng ta phải kiểm điểm lại đời sống, phải hồi tâm xét mình và phải chấp nhận con người thực sự của chúng ta là như thế nào? Chúng ta có quảng đại đáp trả lời mời gọi của Chúa hay không, bởi vì chính sự quảng đại này mới là thước đo sự gắn bó và tình yêu của chúng ta đối với Chúa.
Là người tín hữu, chúng ta có biết hy sinh những thú vui, cho dù là chính đáng, để chu toàn những bổn phận đạo đức của chúng ta đối với Chúa, để tuân giữ giới luật yêu thương của Ngài cũng như để thực thi thánh ý của Ngài trong lòng cuộc đời chúng ta hay không?
Là những bậc làm cha mẹ, chúng ta có biết chấp nhận những hy sinh gian khổ vì cuộc sống và tương lai của con cái hay không? Cho dù những khó khăn, những bất đồng, chúng ta có đem vào trong gia đình chúng ta một bầu khí yêu thương và đạo đức hay không?
Là những người con, chúng ta có biết mau mắn vui vẻ vâng theo những lời khuyên bảo của cha mẹ. Chúng ta có biết chia sẻ những lo lắng của cha mẹ bằng cách chu toàn những bổn phận của mình hay không?
Để kết luận, chúng ta nên nhớ điều này, đó là nếu chúng ta còn ngại hy sinh, nếu chúng ta không dám từ bỏ, thì đó là dấu chỉ chắn chắn nhất chứng tỏ chúng ta chưa hề yêu mến Chúa, chưa hề là người môn đệ đích thực của Ngài.

 

TN5-C64. Khiêm nhường

Nhìn vào cuộc sống, chúng ta thấy: người khôn ngoan là người biết tận dụng mọi cơ hội để làm: TN5-C64

Nhìn vào cuộc sống, chúng ta thấy: người khôn ngoan là người biết tận dụng mọi cơ hội để làm giàu cho mình, nhưng đồng thời cũng phải khiêm tốn để biết mình và biết người. Kẻ thành công đỗ đạt là kẻ biết tin tưởng, cậy dựa vào kinh nghiệm, kể cả kinh nghiệm của người khác.
Và hành trình của đức tin cũng không đi ra ngoài sự khôn ngoan ấy. Đoạn Tin Mừng hôm nay mô tả cho chúng ta khuôn mặt người khôn ngoan đi tìm Chúa và đã nhận ra Ngài, không ai khác hơn là thánh Phêrô.
Thực vậy, ông là một dân chài chuyên nghiệp, một người đi biển nhiều kinh nghiệm quý giá, thế nhưng ông không quá tự phụ với những sự từng trải ấy, trái lại, ông vẫn có một sự khôn ngoan đặc biệt, đó là khiêm tốn, tin tưởng và vâng phục vào lời Chúa Giêsu:
- Thưa Thầy, dựa vào lời Thầy, con xin thả lưới.
Trước mẻ cá lạ lùng này, Phêrô không tự hào về đức tin của riêng mình để mà khoe khoang với các bạn, cũng như để kể công với Chúa. Trái lại, thêm một lần nữa, ông vẫn khôn ngoan dựa vào mẻ cá lạ lùng ấy, để suy nghĩ và nhận ra Đức Kitô là Thiên Chúa của mình. Đứng trước mẻ cá, Phêrô đã thực sự khiêm tốn thú nhận:
- Lạy Chúa, xin hãy xa con vì con là kẻ tội lỗi.
Chính nhờ thái độ này, đức tin của ông được củng cố đến độ ông không chỉ nói lên lời cảm tạ suông, mà còn đáp trả bằng cả cuộc sống của mình, đó là ông đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Chúa.
Còn chúng ta thì sao? Liệu chúng ta có đủ khiêm tốn để lắng nghe lời Chúa qua những con người, qua những biến cố mà Ngài gởi đến hay không? Có lẽ Phêrô vẫn đoán biết Đức Kitô không có nhiều kinh nghiệm về biển cả, nhưng ông rút kinh nghiệm qua những phép lạ, vì thế ông vẫn khiêm tốn vâng phục và tin tưởng vào Chúa Giêsu vì Ngài còn là Thầy, là người hướng dẫn của ông. Liệu chúng ta có biết hồi tâm để rút ra những kinh nghiệm như Phêrô hay không?
Kinh nghiệm bản thân cho ông hay ban đêm là cao điểm để đánh bắt. Thế mà ông đã từng cực nhọc suốt cả đêm mà chẳng đánh bắt được một con cá nào, vậy mà lòng trọng kính đối với Chúa Giêsu đã thúc đẩy ông thả lưới giữa ban ngày ban mặt, là thời điểm chẳng thuận tiện chút nào. Liệu chúng ta có quá tự hào về kinh nghiệm bản thân, để rồi khép kín cõi lòng mình trước lời mời gọi của Chúa hay không?
Những kinh nghiệm và hiểu biết, đôi khi có thể trở thành chướng ngại vật cản trở cho hành trình đức tin, nếu chúng ta không có được sự khiêm tốn của Phêrô. Hãy cư xử như Phêrô, bằng cách đón nhận ý Chúa qua kinh nghiệm của Hội Thánh, đồng thời cảm tạ Ngài bằng một thái độ cụ thể và quyết liệt như Phêrô, đó là từ bỏ mọi sự mà đi theo Ngài.

 

TN5-C65. Con đường của Thiên Chúa là tốt nhất

(Suy niệm của Charles E. Miller)
 

Thiên Chúa thì kiên bền không thay đổi. Chúng ta có thể tùy thuộc vào Thiên Chúa. Thánh Kinh đã: TN5-C65

Thiên Chúa thì kiên bền không thay đổi. Chúng ta có thể tùy thuộc vào Thiên Chúa. Thánh Kinh đã mặc khải những hành động và những lời của Thiên Chúa trong quá khứ. Những gì Thiên Chúa đã thực hiện trong quá khứ là những gì mà Người sẽ thực hiện trong ngày hôm nay. Những gì Thiên Chúa đã nói trong quá khứ là những gì Thiên Chúa sẽ nói với chúng ta hôm nay. Những gì xảy ra cho Phêrô trong bài Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay đã xảy ra cho tất cả chúng ta trong cùng một cách thế như thế ngày hôm nay.
Thánh Phêrô là một người đánh cá, không phải là môn thể thao, nhưng là kế sinh nhai của thánh nhân. Ngài có một nghề nghiệp. Ngài và những người đồng nghiệp đã làm việc vất vả suốt đêm, đó là thời điểm tốt nhất để đánh cá trong vùng sông hồ này, nhưng họ đã không đánh bắt được gì. Tiếp đó, Chúa Giêsu là một người thợ mộc, đã nói với Phêrô là một người đánh cá, hãy thả lưới một lần nữa. Vấn đề to lớn ở đây, bây giờ là thời điểm tệ hại nhất để đánh cá. Chúng ta có thể nghe được việc nhấn mạnh và xác quyết trong giọng của Phêrô: “Lạy Thầy, chúng con đã khó nhọc suốt đêm mà không đánh bắt được gì”. Ngài đã trình bày quan điểm với Chúa Giêsu để nhắc Chúa Giêsu đừng quên điều đó nhưng khi ngài thình lình nhận biết mình đang nói với ai. Sau một lúc, có lẽ nhìn vào ánh mắt của Chúa Giêsu thấy sự nhấn mạnh trong đôi mắt của Ngài, nên Phêrô nói thêm: “Nhưng nếu Thầy đã phán như thế, con sẽ thả lưới”. Đức tin của Phêrô thì giống như một con trẻ khác xa với những người trưởng thành, nhưng nó đã mạnh đủ để ông đặt sự nhấn mạnh của ông vào từ”Thầy” khi ông nói: “Nếu Thầy nói như vậy con sẽ thả lưới”. Kết quả sự tin tưởng của Phêrô vào Chúa đã đưa đến một mẻ lưới kinh ngạc. Phêrô nghĩ rằng cách của ông là tốt nhất nhưng ông đã học biết rằng cách của Chúa thì tốt nhất.
Trước đó, tiên tri Isaia đã học cùng bài học như chính Phêrô đã học. Đầu tiên, Isaia không muốn chấp nhận sứ vụ trở thành một tiên tri cho dân Chúa. Ông cảm thấy mình bất xứng, ông tự mô tả chính mình như một người không biết ăn nói. Ông sung sướng bỏ đi và theo một cách sống khác, nhưng Thiên Chúa đã muốn ngài. Một thiên thần Sêraphim đã đụng đến môi của tiên tri Isaia, đó là một biểu hiện ân sủng của Thiên Chúa. Với ân sủng này Isaia đã đáp trả: “Này tôi đây xin hãy sai tôi”, ngài đã trở thành một trong những vị tiên tri lớn nhất bởi vì ngài đã theo đường lối của Chúa.
Trong lúc suy nghĩ chúng ta không thấy điều gì quen thuộc, xảy ra với chúng ta sao? Có lẽ các bạn có nơi trái tim hình ảnh của một người nào đó mà các bạn muốn kết hôn. Điều đó đã thực hiện được. Một người khác bước vào đời sống của các bạn và bây giờ các bạn sẽ cảm ơn Thiên Chúa, vì hôn thê của các bạn thật hợp với các bạn hơn. Có thể các bạn có một công việc mà các bạn thích, các bạn có vẻ như có một tương lai với một công ty đặc biệt. Nhưng trong thời suy thoái kinh tế, công ty giảm biên chế, bạn mất công việc của mình. Tiếp đó, một cơ hội lớn thình lình mở ra cho bạn và bạn trở thành một người có công việc khác khiến các bạn thấy rằng có một sự chăm sóc kỳ diệu mà các bạn không bao giờ nghĩ ra trước đó.
Những thí dụ này có thể không thích hợp với các bạn. Mọi người chúng ta phải có thời gian để suy nghĩ về những gì Thiên Chúa đã hành động trong cuộc sống của chúng ta theo một cách vượt xa những gì chúng ta đã dự định và mong đợi. Thánh Phaolô nghĩ rằng ngài đang thi hành bổn phận của một người Do Thái sốt sắng nhiệt tình. Thiên Chúa có một dự định khác cho ngài, như là một tông đồ và là tác giả của những bức thư Tân Ước. Ngài đã đặt bút viết những điều về những giáo lý quan trọng nhất cho chúng ta. Cách của Thiên Chúa thì tốt hơn của Thánh Phaolô.
Đôi khi chúng ta không bắt được một mẻ cá lớn. Những điều xem ra là sai, là thất bại đối với chúng ta. Tiếp đó chúng ta phải kêin nhẫn và dành thời gian để cho Chúa hành động. Từ thị kiến thiên đàng của tiên tri Isaia chúng ta sẽ ca lên khúc tán tụng của mình: “Thánh Thánh Thánh, Chúa là sức mạnh và quyền năng, trời và đất đầy vinh quang Chúa”. Sự diễn tả vẻ huy hoàng của Thiên Chúa sẽ nhắc nhở chúng ta rằng, Thiên Chúa siêu việt hơn chúng ta. Đường lối của Người thì không phải là đường lối của chúng ta và đường lối của Ngài luôn luôn là tốt nhất.

 

TN5-C66. Được gọi để gọi người khác

Thưa ông bà muốn gặp ai ạ?” Chị Céline đã nói câu ấy lần đầu tiên cách đây 40 năm. Từ đó ngôi: TN5-C66

- “Thưa ông bà muốn gặp ai ạ?”
Chị Céline đã nói câu ấy lần đầu tiên cách đây 40 năm. Từ đó ngôi nhà khách với chùm chìa khóa, cái chổi, chiếc ghế đã trở thành giang sơn của chị.
Bổn phận của chị giữ nhà khách là gọi người khác. Trong suốt 40 năm trường, chị Céline chỉ làm ngần ấy công việc. Câu hỏi trên kia chị phải lặp đi lặp lại đến hơn 10 lần mỗi ngày. Với thời gian, phương thế có đôi phần thay đổi: từ cái kẻng đến chuông điện, rồi điện thoại, sau đó lại trở về chuông kéo, kẻng sắt… nhưng công việc luôn luôn vẫn là gọi người khác.
Ôi chao! Biết bao khuôn mặt đã xuất hiện tại nhà khách, bao giọng nói đã vang rền trong điện thoại. Nhưng có một điều chị Céline hằng đoán chắc: người ta đang gọi, đang xin gặp một người nào đó… trừ ra chị. Vì thế chị thường nói đùa: “Tôi chỉ được Chúa gọi một lần duy nhất và từ dạo ấy, tôi đã luôn luôn gọi người khác: tôi được gọi để gọi”.
Một ngày của chị bị cắt vụn thành từng miếng, công việc của chị bị chẻ thành từng mảnh, luôn luôn là gián đoạn. Khi cầm chuỗi lần hạt, chị biết mình sẽ không đọc được quá 10 kinh, khi xem sách chị đoán sẽ thưởng thức không quá 10 dòng; trong nhà nguyện, chị quỳ ở ghế cuối cùng, gần cửa ra vào, luôn thấp thỏm đợi chờ chuông reo… luôn bị gián đoạn, nhưng chỉ với “sự gián đoạn” này của mình, chỉ mới có thể tạo nên “sự liên hệ” của người khác. Chị bao giờ cũng nhanh nhẹn đối với một khách sang cũng như một bà lão nhà quê. Tất cả mọi người đều ăn cắp giờ của chị. Không ai cần gặp chị… Với thời gian, da mặt chị nhợt nhạt hơn, người chị tiều tụy hơn, nhưng nụ cười vẫn tươi nở như thuở nào, lời kinh dâng Chúa mỗi ngày lại càng thêm sốt sắng hơn.
Và rồi một hôm, trong lúc vội vã đi gọi người khác, chị Céline đã ngã quỵ trong hành lang nhà dòng, thổ huyết! Chị bập bẹ: “Chúa đến gọi tôi lần hai” (và cũng là lần cuối). Đôi tay chị run run ôm lấy lồng ngực khiến chùm chìa khóa rơi trên nền gạch hoa. Đàng kia, chiếc ghế vẫn vô tình không biết từ nay mình sẽ là vô chủ…
Chị Céline đã suốt đời trung thành với tiếng gọi của Chúa và với công việc bổn phận hằng ngày của chị: được gọi để gọi người khác. Giá trị và sự cao cả của chị không phải là ở chỗ đó sao?
Chúa Nhật hôm nay nhắc lại cho chúng ta ban ơn gọi: ơn gọi của Isaia trong đền thánh Giêrusalem (Bđ. 1), ơn gọi của Phaolô trên đường đi Đamas (Bđ. 2) và ơn gọi của Simon Phêrô bên bờ hồ Giênêzaret (bài Tin Mừng). Nhưng chắc chắn có chủ ý dạy chúng ta lắng nghe tiếng gọi của Chúa và làm theo ý Chúa, ra đi gọi những người khác đến với Chúa: được gọi để gọi người khác.
Isaia tự thuật về chính ơn gọi làm ngôn sứ của ông. Chúa đã gọi ông. Ông đã can đảm, sẵn sàng đáp lại: “Tôi đây, hãy sai tôi đi”. Thái độ của Isaia chính là thái độ của Đức Giêsu sau nầy khi Ngài đi vào thế gian: “Này con xin đến để thực thi ý Chúa” (Dt 10,9).
Thánh Phaolô cũng khéo léo tế nhị nhắc lại ơn gọi của mình và cách mình đáp lại ơn gọi đó. Phaolô cho biết khi Chúa hiện ra với ông trên đường đi Đamas và chọn ông làm tông đồ cho dân ngoại, ông khiêm tốn cho mình là một tông đồ hèn mọn nhất, chẳng đáng gọi là tông đồ vì đã bắt bớ Giáo Hội. Ông coi đây là một ân huệ Chúa ban và không dám uổng phí, trái lại ông nhờ ơn Chúa mà hết lòng hết sức và sẵn sàng đáp lại tiếng gọi bằng cả cuộc sống.
Còn Simon Phêrô đã được Chúa gọi một cách rõ ràng và công khai sau mẻ cá thật nhiều đến nỗi gần rách lưới, Chúa Giêsu nói với ông: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ đi lưới người như lưới cá”. Điều này sẽ xảy ra sau đó? Tin Mừng cho thấy không phải chỉ có Phêrô, người được gọi đích danh, đã theo Chúa, mà cả những người khác nữa cũng đã vội vã theo Chúa: “Ho đưa thuyền vào bờ và bỏ mọi sự mà theo Chúa”. Đến đây chúng ta mới rõ “mẻ cá lạ” Chúa làm là có dụng ý hay có mục đích “mở đường” cho ơn gọi của Phêrô và đồng bạn. Nghề nghiệp đánh cá của các ông thật đã giúp ích cho các ông hiểu một cách dễ dàng sứ vụ mới là làm “những kẻ chài lưới người” (Mt 4,19), nhưng mẻ cá lạ mới giúp các ông quyết định lại ơn gọi một cách mau chóng, vì biết rằng có Chúa giúp khi thi hành sứ vụ của mình.
Anh chị em thân mến,
Chính Thiên Chúa, bằng cách trực tiếp hay gián tiếp, đã chọn gọi những người làm việc cho Ngài, làm cộng tác viên của Ngài trong công trình cứu chuộc nhân loại. Ngài đã gọi các tiên tri, các tông đồ, đã gọi bao nhiêu người khác, đã gọi chính chúng ta. Những ai được Chúa gọi phải mau mắn đáp lại ơn huệ của Chúa – Chúa kêu gọi đó là một ân huệ Ngài ban – một cách khiêm tốn và biết ơn vì ta chẳng đáng được vinh dự lớn lao như thế, và tự sức ta, ta cũng chẳng làm nổi việc gì.
Phải làm trọn ơn gọi của mình, khi đã chấp nhận thì không ngoái cổ lại đàng sau và hãy bắt tay vào việc một cách cần mẫn, hết lòng trông cậy vào ơn phù trợ của Ngài, vâng lời Ngài, tin tưởng phó thác và để Ngài tùy ý hoàn tất công việc lúc nào theo như Ngài muốn.
Chúng ta cầu xin Chúa ban ơn trợ giúp cách đặc biệt cho những người Chúa đã chọn, đã và đang khiêm tốn chịu khó làm việc Chúa trên khắp mọi cánh đồng và vườn nho của Chúa, nhất là cho Đức Thánh Cha, cho các vị Giám mục và các linh mục, cùng tất cả những người cộng tác chặt chẽ với các ngài.
Chúng ta cũng tha thiết xin Chúa kêu gọi thêm những người đang ước muốn vào làm việc tông đồ của Hội Thánh, đặc biệt trong những nơi đang xảy ra tình trạng “lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít”.
Chính chúng ta cũng hãy xin ơn biết lắng nghe tiếng Chúa chỉ bảo ra làm việc nầy hay việc khác trong hoàn cảnh Giáo Hội hiện nay trên quê hương đất nước chúng ta. Trước hết là giữ vững niềm tin vào Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Đó chính là ơn gọi đưa chúng ta vào Nước Trời bây giờ và sau nầy. Đó cũng là ơn gọi làm tông đồ giáo dân bằng chính cuộc sống đức tin của mình trong môi trường xã hội.
Nếu tình yêu đòi biểu lộ, và có khi biểu lộ bằng những cách “kỳ lạ”, thì Thiên Chúa vì quá yêu nhân loại, nêu đã biểu lộ bằng nhiều cách thế, trong đó có cách thế cho con người được tham dự vào việc truyền bá Tin Mừng, được đọc và được giảng Lời của Thiên Chúa. Lạ lùng lắm thay! Miệng lưỡi con người mà được nói Lời của Đấng siêu việt. Tình yêu Thiên Chúa vẫn gửi tới mỗi người tín hữu để họ đem Lời Thiên Chúa nói cho những người xung quanh, những người thân thuộc và cả những người đi theo Chúa, dùng chính nghề nghiệp khả năng của mình để thành nghề lôi kéo người khác về cho Chúa. Và Đấng là Tình Yêu đang luôn chờ đợi lời đáp trả của từng người chúng ta.
Và nhất là giờ đây, chúng ta kính nhớ Đức Kitô chịu chết và tuyên xưng Ngài sống lại vì chúng ta qua cử hành Thánh Thể, chúng ta hãy hết lòng tạ ơn Chúa đã gọi chúng ta đến tham dự vào mầu nhiệm cứu rỗi nầy. Nhờ nghe Lời Chúa và ăn uống Mình Máu Thánh Chúa, chúng ta sống ơn gọi một cách tốt đẹp để đời sống chúng ta cũng là một lời mời gọi nhiều người khác đến với Chúa.

 

TN5-C67. Kêu gọi các môn đệ đầu tiên - McCarthy

LẠY CHÚA, THEO LỜI CHÚA…
 

Thời gian ban đêm là thời gian để đánh cá. Nếu có người nào khác nói với Phêrô: “Chèo ra chỗ nước: TN5-C67

Thời gian ban đêm là thời gian để đánh cá. Nếu có người nào khác nói với Phêrô: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá” hẳn ông sẽ nói: “Bạn có điên không? Phải chăng bạn muốn tôi trở thành một kẻ điên trước mặt những bạn chài khác? Nếu bọn ngư phủ chúng tôi suốt đêm đã không bắt được con cá nào, thử hỏi chúng tôi còn có cơ may nào để bắt được cá giữa ban ngày?”.
Nhưng khi Đức Giêsu nói những lời ấy với Phêrô, câu trả lời tự phát của Phêrô là: “Thưa thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng theo lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”.
Đối với Phêrô, lời của Đức Giêsu khác với lời của bất cứ ai. Lời người mang theo quyền bính mà lời người khác không có được. Vì thế nếu Đức Giêsu đã yêu cầu, thì dù tình thế có vẻ tuyệt vọng, dù Phêrô có mệt mỏi hoặc có vẻ điên rồ, ông cũng phải thử làm lại.
Phêrô hoàn toàn tín thác vào Đức Giêsu. Theo lời Người, ông được chuẩn bị để cố gắng làm điều không thể làm được. Sau này chúng ta còn thấy được điều này trong Tin Mừng khi ông cố gắng đi trên mặt nước theo lời của Đức Giêsu.
Có bao nhiêu người mà chúng ta coi lời họ là nghiêm chỉnh? Chúng ta hoàn toàn tín thác vào lời ai? Chúng ta hoàn toàn tin cậy vào lời ai? Câu trả lời là “rất ít”.
Đánh cá là một nghề xứng đáng. Tuy nhiên, Đức Giêsu thấy Phêrô có khả năng làm những việc khác. Đức Giêsu cần loại người như Phêrô để giúp đỡ Người trong công việc của Người. Đức Giêsu đã nhìn thấy những đức tính nào của Phêrô khiến Người kêu gọi ông chia sẻ công việc với Người? Ông có một đức tính hàng đầu và quan trọng nhất là đức tin vào Đức Giêsu. Ông cũng có đức khiêm nhường.
Câu chuyện Tin Mừng không còn là một câu chuyện về việc đánh cá, nhưng về lòng tín thác. Đức Giêsu đã nói với Phêrô: “Anh sẵn sàng tín thác vào Thày tới đâu?”. Đây là một khúc quanh trong cuộc đời của Phêrô. Điều gì bắt đầu từ một khởi điểm mới sau một thất bại thì bắt đầu với một phương hướng mới.
Đánh cá là một nghề quan trọng. Nhưng Đức Giêsu đã kêu gọi Phêrô và các bạn chài của ông đến với một công việc còn quan trọng hơn. Người đã mang lại cho họ không chỉ một công việc mới, nhưng một mục tiêu để họ cống hiến cả cuộc đời họ cho mục tiêu ấy. Họ biết rằng người kêu gọi họ để phục vụ những người khác: “Thày làm cho anh em thành những người đi đánh lưới người”. Khi các giáo chủ của các giáo phái kêu gọi người ta đi theo họ, họ biến đổi người ta thành những nô lệ của họ. Đức Giêsu kêu gọi các Tông đồ không phải để họ phục vụ Người, nhưng phục vụ người khác.
Chúa vẫn còn kêu gọi con người, và ngày nay nhu cầu ấy to lớn. Và vẫn còn có những người đáp lại lời Người. Một số người (như các tông đồ) được kêu gọi để tận hiến mình, đi theo Đức Kitô bằng một phương thế “chuyên nghiệp”. Nhưng không phải mọi Kitô hữu đều được kêu gọi theo Đức Kitô bằng cách ấy.
Bằng phép Rửa tội, chúng ta cũng được kêu gọi đi theo Đức Kitô. Nhưng đối với một người bình thường, đi theo Đức Kitô có nghĩa là gì? Là sống xứng danh một Kitô hữu trong ngành nghề của bạn ở bất cứ nơi nào bạn có mặt. Còn có nhiều cách phục vụ Đức Kitô và Tin Mừng Người hơn nữa. Ơn gọi ban đầu không hướng đến những tông đồ nhưng hướng đến những người môn đệ.

 

TN5-C68. Những môn đồ tiên khởi - R. Gutzwiller

Cho đến bây giờ vẫn chỉ có một mình Đức Giêsu giảng Tin mừng. Bây giờ Ngài tụ tập các môn đệ: TN5-C68

Cho đến bây giờ vẫn chỉ có một mình Đức Giêsu giảng Tin mừng. Bây giờ Ngài tụ tập các môn đệ quanh Ngài. Chắc hẳn đó là một cộng đoàn thính giả, nhưng cũng là những cộng tác viên mà Ngài cho tham dự tích cực vào công việc của Ngài. Điều này xem ra có vẻ bất ngờ và ngạc nhiên. Thế nhưng, ngay bản chất của Thiên Chúa nhập thể đòi hỏi Ngài phải sử dụng con người để xây dựng Nước Thiên Chúa. Lời mời gọi thật là ý nghĩa bắt đầu nơi Simon Phêrô.
1. Chuẩn bị.
 Nơi Simon, thửa đất được chuẩn bị thật kỹ lưỡng, mặc dầu ông không ý thức được điều đó. Ông có mặt khi Chúa chữa lành người quỷ ám trong hội đường. Nơi nhà ông, Chúa đã chữa lành bà nhạc của ông và chiều đến, trước cửa nhà ông, nhiền bệnh nhân đã tìm lại được sức khoẻ một cách lạ lùng. Đây Chúa Giêsu đang ngồi trên chiếc thuyền đánh cá của ông, nhẹ nhàng đi ra xa bờ và từ đó, Ngài cất tiếng giảng dạy dân chúng; vị trí đặc biệt này cũng là vị thế của ông trong lãnh vực thiêng liêng.
Trong việc sửa soạn trực tiếp cho vị Tông đồ có hai phương diện: đòi hỏi và củng cố.
Yêu cầu thứ nhất là phải luôn dễ dàng suy phục đức tin. Chúa Giêsu bảo ông ra khơi thả lưới. Phêrô cũng từ chối như bất cứ người nào khác: ông tuyên bố rõ rằng: mình đã vất vả suốt đêm –thời gian thuận tiện để đánh cá- cùng các bạn, thế mà chuảng kết quả gì. Bây giờ tại sao lại phải làm nữa, vào một lúc bất lợi, khi mà con người mệt mỏi và xét theo loài người thì tất bại là cái chắc!
Nhưng ông cũng thưa: ‘Vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới’. Tinh thần đức tin đưa đến chỗ vâng phục, khiến cho ông được thừa nhận và được ban thưởng một mẻ cá lạ lùng. Mẻ cá mà Simon và em là Anrê bắt được quá nhiều đến độ ông phải làm hiệu cho bạn là Giacôbê và Gioan ở một chiếc thuyền khác đến giúp đỡ. Và cả hai thuyền đầy ắp những cá.
Con người lao công, Thiên Chúa thưởng công. Cần con người phải ra tay hành động, phải cố gắng, phải sử dụng mọi phương tiện cần thiết, nhưng trong việc phụng vụ nước Chúa, phần kết quả không tuỳ thuộc ở con người.
Kể từ thời ấy, Giáo Hội rất thường sử dụng mọi phương pháp để hoạt động tông đồ, dốc toàn lực và kiên trì làm việc; dầu hạt giống đã gieo, nhưng số thu hoạch không tăng gấp bội.
Ngược lại, khi không, ở một miền nào đó trên trái đất, nơi người ta chẳng hy vọng gì thì nhiều lần Thiên Chúa lại làm phát sinh một mùa thâu hoạch thật là phong nhiêu, chỗ mà người ta cho rằng kết quả chẳng có bao nhiêu. Ở đây trong sự mời gọi thi hành nhiệm vụ khởi đầu của Simon, rõ ràng thành công hay thất bại đều ở trong tay Chúa, vất cả chỉ có ý nghĩa khi nó hợp với Thánh ý và giới mệnh của Chúa, thi hành cả lúc coi là có viễn tượng thất bại, nhưng làm với một niềm tin trung kiên bền vững.
Đòi hỏi thứ hai là ý thức tình trạng tội lỗi của mình. Thánh Phêrô đã hiểu mẻ cá này có ý nghĩa gì rồi. Nó làm cho ông chú ý đến Đức Kitô dường như ngôi sao lạ đối với các đạo sĩ, bởi vì mẻ cá nhiều quá đỗi, trong một khoảng thời gian vắn, một nơi bất lợi, tất cả cho ông biết rằng có sự hiện diện của một lực siêu nhiên.
Do vậy, Thánh Phêrô có kinh nghiệm về Thiên Chúa nhờ gần gũi với Đức Kitô. Sự gần gũi này làm ông sợ hãi đến cùng cõi thâm sâu trong người ông, ông ý thức được tình trạng tội lỗi của mình, đó là cái không thể tồn tại trước nhan Thiên Chúa. Con người càng cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa hằng sống, thì càng thấy cái tôi tội lỗi cua mình biểu hiện ra thật đau khổ và không thể nào chịu được. Vì đó Thánh Phêrô, đã sụp xuống và sợ hãi thưa: ‘Lạy Chúa xin hãy xa tôi, vì tôi là kẻ tội lỗi’.
Đó hẳn là thái độ xứng hợp. Con người được mời gọi cộng tác vào nước Thiên Chúa chẳng phải vì có những khả năng đặc biệt như những tư chất tri thức, điều kiện luân lý và đạo đức, nhưng chỉ đơn giản là vì Thiên Chúa muốn họ cộng tác, có thế thôi, chứ nơi con người không có chi xứng đáng để Thiên Chúa phải chọn lựa. Một khi con người biết rằng mình được Thiên Chúa mời gọi không phải vì ‘mình thế này thế nọ’, nhưng ‘cho dù mình bất xứng, Thiên Chúa cũng vẫn…’, và nếu thành thực thú nhận rằng mình tội lỗi thì sẽ chẳng quy kết quả và vinh dự cho bản thân mình nhưng cho duy mình Thiên Chúa mà thôi.
Thế cho nên mẻ cá lạ lùng này là một chuẩn bị tuyệt hảo. Khi con người tội lỗi tín thác vào sức mạnh và sự cao cả của Thiên Chúa, và bắt tay vào việc với tinh thần dễ dậy và ngoan ngoãn với đức tin, thì lúc đó họ đang sống trong chân lý. Mọi thái dộ khác xuất phát từ nguyên một triết lý tự nhiên thôi, đều phải coi là sai lạc. Chúa Giêsu không đòi hỏi mà thôi, phép lạ của Ngài còn làm cho Simon và các đồng bạn được vững chắc trong tâm hồn.
Là những ngư phủ thiện nghệ, họ sẽ chẳng bao giờ quên được mẻ cá này. Họ chưa từng thấy hay kinh nghiệm một trường hợp nào tương tự. Nay bỗng dưng vào một lúc bất tiện, cả một đàn cá từ tứ phía đổ tràn vào lưới; nay bỗng nhiên mẻ cá nhiều đến độ hai thuyền chở nặng gần chìm; họ coi đây là hiện tượng siêu phàm không thể hiểu được.
Sau này khi đi giảng Tin mừng các ông sẽ gặp sự chống đối từ phía Israel, và sẽ phải từ bỏ dân riêng của mình sau bao năm trường vất vả mà không kết quả để quay về phía các dân ngoại.
Với một thiểu số ít ỏi, họ đã chinh phục được những thành phố lớn; đến giờ chịu tử đạo, các ông sẽ phải bỏ mạng sống mình và bỏ tất cả để chấp nhận một số phận bấp bênh hầu phục vụ nước Thiên Chúa. Thế nhưng các ông không lầm khi theo Chúa Kitô bởi vì từ nay các ông biết rằng kết quả có thể đến bất ngờ, hoàn toàn bất ngờ ở nơi nào, lúc nào tuỳ sự tự do cao cả Chúa định đoạt. Các ông không còn lo lắng đến thành công hay thất bại, chính Chúa Kitô sẽ quyết định những điều đó.
Sau những đêm trường vất vả mà công dã tràng, các ông nhận được những buổi mai vinh thắng. Trong nước Thiên Chúa, vất vả cố gắng không được cân đo theo những quy luật tự nhiên. Ta hãy tin rằng mọi sự đều ở trong tay Thiên Chúa; phải luôn luôn thi hành công việc với lòng hy vọng và đừng khi nào thất vọng.

2. Sứ vụ
Simon nài xin: ‘Lạy Thày, xin hãy tránh xa con’. Chúa Giêsu trả lời ông theo một hướng trái ngược hẳn: ‘Đừng sợ, các con sẽ là kẻ chinh phục người ta’. Tạo vật tội lỗi có lý do để sợ hãi. Nhưng ơn sủng của Chúa Kitô sẽ xua đuổi nỗi lo sợ này. Tội lỗi đẩy ra xa, còn ân sủng kéo lại gần. Không phải chỉ để vui hưởng yên ủi hay bản thân được cảm nghiệm, nhưng là để tham dự và cộng tác vào công trình của Chúa. ‘Con sẽ là ngư phủ lưới người ta’.
Chiếc ghe nhỏ của Phêrô từ đây sắp lướt trên đại dương, tức là lịch sử thế giới, đoàn người đi với Ngài không ngừng tìm cách câu lưới người ta. Con người sẽ trở nên miếng mồi của Thiên Chúa, nhưng không phải để bị huỷ diệt, mà là để được giải thoát: để được cứu vớt khỏi cái đầm lầy đáng thương tức là cuộc sống hoàn toàn có tính cách trần thế, và được đưa sang đại dương mênh mông tức là tình yêu của Thiên Chúa.
Bởi vì một khi sóng nước đời này muốn làm biển cả thì thực tế lại chỉ là một cái đầm lầy nước đọng. Chỉ khi nào sa vào lưới của Chúa và rồi được Ngài cho chìm ngập trong những cuộn sóng ơn sủng, bấy giờ, họ mới có được cái kinh nghiệm thế nào là sự phong phú của một đời sống trong Chúa.
Để thực hiện chương trình này, Chúa Giêsu sắp chinh phục những con người mà Ngài sẽ lấy quyền năng của mình để trang bị cho và trao cho nhiệm vụ ra đi giảng dạy. Do đó không được hoàn toàn quên đến phần đóng góp của con người để cho rằng một mình Thiên Chúa làm hết mọi sự.
Nhưng thể theo ý của Đức Kitô, Đấng đã sắp đặt như thế chứ không theo cách khác, những con người này phải chịu vất cả với sự kiên nhẫn, đam mê kiên trì của một ngư phủ, để đem hiểu biết cũng như tài khéo trong việc đánh bắt những con người ‘cô đơn’ sử dụng những phương pháp tinh xảo để thu phục đám đông, dành mọi nỗ lực để phục vụ sứ mạng đã được trao phó.
Không có gì cao quí cho bằng nghề lưới người: phải bắt đầu lại luôn luôn, hết mẻ này đến mẻ khác… đến với mọi giai tầng xã hội, mọi ý thức hệ chính trị, mọi phe nhóm quốc gia, chủng tộc.. Mọi tuổi tác, giới phái, trình độ văn hoá… Các ngư phủ lưới người phải làm việc theo lệnh của Chúa ở khắp mọi nơi. Đó là sứ vụ của họ.
Vậy họ trả lời ra sao? ‘Các ông đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Ngưới’. Bản văn không thuật lại một lời phản kháng nào của bốn môn đệ tiên khởi cả. Không bán tín bán nghi, cũng không từ chối vì thứ khiêm nhường giả tạo, cũng không vì nhiệt tình bồng bột; nhưng chỉ nhấn mạnh đến hai mặt của sự kiện: ‘Các ông đã bỏ mọi sự mà đi theo Người’. Mỗi một mặt đều có tầm quan trọng riêng của nó.
Bỏ mọi sự. Con người phải cởi bỏ những mối dây làm mình bị vướng víu và tê liệt. Cần phải có bàn tay và tâm hồn tự do. Không còn thuộc về thế giới xung quanh và cái vũ trụ quen thuộc. Chúa Kitô muốn cho kẻ được Ngài mời gọi cộng tác phải hoàn toàn tuỳ Ngài xếp đặt. Ân huệ tuyệt đối giả thiết sự từ bỏ hoàn toàn. Nhờ từ bỏ, con người chuẩn bị cho mình thật sẵn sàng.
Đi theo Người. từ nay có một nhóm môn đồ ở với Thầy. Các ông không theo Ngài kiểu như những học trò thụ giáo một bậc Thầy triết lý: bởi vì đây không nhằm mục đích tri thức, nhưng là một sự dấn thân thực sự. Chúa Giêsu đã biến những ngư phủ này thành những ngư phủ lưới người, kéo họ ra khỏi cái thế giới nhỏ hẹp của họ; họ sắp đi theo Ngài, cùng Ngài đi vào thế giới mênh mông. Họ thuộc về Ngài hoàn toàn, họ đã khám phá một tâm điểm mới cho cuộc sống, một mục đích mới để hoạt động.
Giờ đây chính Chúa Giêsu sắp xếp mọi sự cho họ; Chúa Kitô sẽ là số phận của họ trong suốt cuộc sống của họ trên dương thế, và là cuộc sống mới của họ. Sau mẻ cá lạ lùng này, họ đã cập bờ nhưng với con người hoàn toàn khác hẳn. Sự ra đi này biến thành một cuộc vượt biển mới, cuộc Vượt qua bao la và đòi can đảm mà họ chỉ thoáng linh cảm thấy.
Theo gương Chúa Kitô, qua việc từ bỏ và tận hiến mình thực sự là điều lớn lao nhất trong cuộc sống của con người.

 

TN5-C69.  ĐỨC GIÊSU VÀ VỊ TÔNG ĐỒ ĐẤU TIÊN

 (Luca 5,1-11 – CN V TN - C)
1.- Ngữ cảnh
 

Với bài Lc 5,1-11, chúng ta có một bản văn riêng của tác giả Luca. Như thế, bản văn này có: TN5-C69

Với bài Lc 5,1-11, chúng ta có một bản văn riêng của tác giả Luca. Như thế, bản văn này có thể giúp độc giả nhận biết cách thức bản văn này tiếp cận với truyền thống Tin Mừng và liên kết với truyền thống ấy.
          Quả thật, nếu trong tất cả ch. 5, tác giả đi theo bài tường thuật của Mc (x. 1,40–2,22), ở đây ngài lại tách ra. Trong khi tác giả Mc (1,16-20), và cả Mt (4,18-22), mô tả truyện kêu gọi các môn đệ đầu tiên trước sứ vụ công khai của Đức Giêsu, tác giả Lc lại đặt tiếng gọi ở sau, khi Đức Giêsu đã bắt đầu hoạt động giảng dạy và chữa lành (x. 4,14-44). Người đã biết ông Simôn, vì đã đến nhà ông và chữa là bà mẹ vợ (4,38-39). 
Bài tường thuật này là một đơn vị riêng, đến sau bức tranh bộ đôi Nadarét-Caphácnaum (4,14-44), được đóng khung bởi hai toát yếu về sứ vụ rao giảng nay đây mai đó của Đức Giêsu (4,14; 4,44), và được nối tiếp bởi một giai thoại mới, việc chữa lành một người phong hủi (5,12-16).  
Đoạn văn của chúng ta thuộc về một phân đoạn lớn hơn (5,1–6,19), trong đó có những đơn vị được dẫn nhập bởi công thức mà các bản dịch thường bỏ, “xảy ra là” (egeneto: 5,1.12.17; 6,1.6.12), với trung tâm là việc kêu gọi Lêvi và bữa ăn ông thết đãi (5,27-39).
Trong phân đoạn này, chân trời của sứ vụ của Đức Giêsu được mở rộng. Cho tới nay, Người hoạt động một mình, qua việc giảng dạy và chữa bệnh (các môn đệ đầu tiên vẫn còn đang ở trong tình trạng vô danh). Bây giờ cử tọa đang mở rộng ra hơn; Đức Giêsu không chỉ nói với những người hay lui tới hội đường mà thôi, nhưng với một đám đông sẵn sàng lắng nghe. Nhất là nay phát sinh nhóm các môn đệ, họ đi theo Người trong hành trình truyền giáo; bên trong nhóm này nổi lên khối sẽ là hạt nhân căn bản của Hội Thánh, đó là nhóm các Tông Đồ. Chính là trong ngữ cảnh này mà chúng ta đọc bài tường thuật Mẻ cá lạ lùng với việc kêu gọi Simôn và các bạn.

2.- Bố cục
          Bản văn có thể chia thành bốn phần:
          1) Giới thiệu khung cảnh và công việc của Đức Giêsu (5,1-3);
          2) Đức Giêsu - Phản ứng của Simôn trước mẻ cá (5,4-7);
          3) Phản ứng của Simôn sau mẻ cá -  Đức Giêsu (5,8-10);
          4) Kết luận: Đời môn đệ (5,11).

3.- Vài điểm chú giải
- Ghennêxarét (1): Đây là tên Hy Lạp của giải đất nhỏ thuộc phía tây “biển hồ”, có đất đai mầu mỡ và đông dân cư; giải đất này ở phía nam Caphácnaum. 
- lời Thiên Chúa (1): Đây là lần đầu tiên Tin Mừng Lc dùng công thức này (Lc dùng 4 lần: 5,1; 8,11.21; 11,28; Cv dùng 14 lần: 4,31; 6,2.7; 8,14; 11,1; 12,24 (?); 13,5.7.44.46.48; 16,32; 17,13; 18,11). Trong khung cảnh sách Cv, công thức ấy có nghĩa là sứ điệp Kitô giáo do các tông đồ rao giảng; ở đây tác giả Lc lại cho thấy là Đức Giêsu rao giảng. Như thế, tác giả đặt việc rao giảng của cộng đoàn trên nền tảng là lời rao giảng của Đức Giêsu. Nhưng nền móng tối hậu là chính Thiên Chúa, bởi vì công thức nói rõ là “Lời Thiên Chúa” hoặc “Lời do Thiên Chúa ban” (thuộc-cách diễn tả chủ từ hoặc tác giả hợp lý hơn là “lời nói về Thiên Chúa”: thuộc-cách diễn tả đối tượng).
- Người ngồi xuống (3): Đây là tư thế bình thường khi ở trên một chiếc thuyền nhỏ. Nhưng hẳn tác giả cũng muốn gợi ra tư thế của một vị thầy.
- Thưa Thầy (5): Lần đầu tiên Lc dùng từ epistata (hô-cách của epistatês) (x. 8,24.45; 9,33.49; 17,13). Các bản văn Nhất Lãm song song dùng từ didaskale, “thưa thầy”, hoặc rabbi, “thưa rabbi”. Trong văn chương Hy Lạp, từ ngữ epistatês thường có sắc thái rộng hơn, đó là “vị chỉ huy, vị điều hành, vị giám sát” (ví dụ trong việc huấn luyện giới trẻ). Trong các tác phẩm Lc, từ này luôn luôn được đặt trên môi miệng các môn đệ, còn từ didaskalos được người ngoài dùng. Epistatês diễn tả một đức tin sâu xa hơn vào uy quyền của Đức Giêsu.  
- chúng tôi đã vất vả (5): Động từ kopiaô, “làm việc vất vả”, là một động từ được Tân Ước dùng cho những dịp mô tả công việc tông đồ vất vả.
- Xin tránh xa con (8): Qua mẻ lưới lạ thường, Simôn nhận ra Thiên Chúa đang tỏ mình ra nơi Đức Giêsu, do đó ông đã gọi Người là “Chúa”. Từ đó, ông cũng ý thức về tình trạng tội lỗi, bất xứng của mình; ông cảm thấy sợ hãi khi đứng trước Thiên Chúa là Đấng Thánh (x. Is 6,5). Simôn vừa bị thu hút về phía Đức Giêsu do lòng thán phục, vừa muốn tránh xa Người do ý thức về sự bất xứng của mình.
- Anh sẽ là kẻ đi bắt người ta (10): So với Mc 1,17, câu nói này không nhấn mạnh đến thân thế môn đệ, nhưng nhấn mạnh đến hoạt động truyền giáo. Zôgreô (do zôos, “sống động”; agreô, “bắt”) có nghĩa là “bắt để làm cho sống”. So với Mc 1,17, bản văn nhấn mạnh trên hoạt động truyền giáo hơn là trên thân phận người môn đệ. 

4.- Ý nghĩa của bản văn
          Các tác giả còn tranh luận xem bản văn này thuộc thể văn nào: bài tường thuật ơn gọi, bài tường thuật về sự giao phó nhiệm vụ, tiên tri và lời hứa… Thật ra, đề tài ơn gọi chắc chắn có trong bản văn, nhưng dưới dạng một lời hứa và một lời tiên tri. Quả thế, chính lời hứa long trọng của Đức Giêsu nổi bật rõ nhất (“Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”).
Điều đánh động trong bài tường thuật chính là sự xen kẽ giữa số đơn và số phức. Ngay từ đầu, độc giả chuyển từ “đám đông” (ochlon) của c. 1 sang “các đám đông” (ochlous) ở c. 3. Tại c. 4, Đức Giêsu nói với Simôn: “Chèo ra chỗ nước sâu (epanagage [số đơn] eis to bathos) mà thả lưới bắt cá (kai chalasate [số phức] ta diktya hymôn eis agran); như thế, không phải chỉ có một mình Simôn ở trên thuyền. Sang c. 5, câu trả lời của Simôn lúc đầu khẳng định: “Chúng tôi đã vất vả (poiasantes)…”, nhưng rồi: “Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới (chalasô)”. Và nếu ở c. 8, Simôn xin Đức Giêsu: “Xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”, lý do lại là vì Simôn, những người có mặt ở đó, và cả Giacôbê và Gioan cũng kinh ngạc (cc. 9-10). Cuối cùng, Đức Giêsu nói với riêng Simôn: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta” (c. 10), nhưng ngay sau đó các bạn của Simôn lại xuất hiện: “Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người” (c. 11).
   Sự xen kẽ giữa Simôn và các bạn không chỉ gợi ý là mẻ cá cần nhiều người, mà còn nêu bật rằng Simôn, ngoài nhân cách độc đáo của ông, cũng đại diện cho một nhóm, nhóm các ngư dân sẽ bỏ mọi sự để trở thành môn đệ của Đức Giêsu.
Một nét khác trong bài tường thuật là cách vận dụng “khoảng cách” giữa các nhân vật khác nhau, để đưa lại cho mỗi nhân vật một nét độc đáo riêng. Đám đông quy tụ quanh Đức Giêsu để nghe Lời, nhưng Người lại lên thuyền của Simôn và bảo ông ra xa bờ một chút. Một cách nghịch lý, việc lấy khoảng cách như thế lại đưa Đức Giêsu đến gần các đám đông hơn, bởi vì do quá gần, việc loan báo Lời lại bị cản trở, và cũng đưa Người đến gần Simôn và các bạn hơn, bởi vì các ông đang ở trên thuyền với Thầy, nên cũng trở thành thính giả nghe Lời. Bằng cách đó, Đức Giêsu vừa có thể ngỏ lời với người ở gần lẫn người ở xa.
Việc lấy khoảng cách vẫn tiếp tục. Trước tiên lệnh của Đức Giêsu cho Simôn (“Chèo ra chỗ sâu”, epanagage eis to bathos) vừa giữ khoảnh cách chiều ngang với đám đông, vừa bắt đầu một chuyển động theo chiều đứng, một chiều hướng đầy xuống thấp và dấn dần kéo cả Simôn vào. Lệnh của Đức Giêsu theo nghĩa chữ là: “Đi ra xa, vào chỗ (nước) sâu”; đây không chỉ là đi ra xa hơn, mà còn là đi vào chiều sâu của cái hồ! Một vài động từ xác nhận chiều hướng biểu tượng này: “Các anh hãy thả lưới” (c. 4), “tôi sẽ thả lưới” (c. 5), “hầu như rách cả lưới” (c. 6), “đến gần chìm” (c. 7). Đây không chỉ là một chuyển động thể lý, gắn liền với việc đánh cá, vì chính cử chỉ và lời nói sau cùng của Simôn cho thấy: ông phục xuống dưới chân Đức Giêsu và nói: “Xin tránh xa con…”. Vấn đề là tương quan với Đức Giêsu, là gắn bó với Người hay tránh xa Người.
Tới cuối bài tường thuật, nhờ lời hứa của Đức Giêsu, khoảng cách đáng sợ giữa Đức Giêsu và Simôn được điều chỉnh lại và khoảng cách với đám đông cũng được xóa đi, bởi vì Simôn Phêrô và các bạn đã kéo thuyền vào bờ, nơi có đám đông, và đi theo Đức Giêsu.
Như vậy, qua biện chứng “cách xa”, chủ đề của bài tường thuật là việc kêu gọi Simôn và các bạn, việc kêu gọi này có nghĩa chính xác là đến gần Đức Giêsu, bằng cách lấp đầy các khoảng cách ngăn cách với Người. Vậy đây là hành trình đức tin. Nhưng điều này không chỉ liên hệ đến các môn đệ, mà còn liên hệ đến tất cả các thính giả hoặc độc giả Tin Mừng tương lai; chính vì thế mà có sự xen kẽ số đơn và số phức. Chúng ta sẽ thấy bản văn trình bày diễn tiến của hành trình đức tin.

* Giới thiệu khung cảnh và công việc của Đức Giêsu (1-3)
Sau thất bại ở Nadarét (4,16-30), Đức Giêsu vẫn có những người sẵn sàng lắng nghe, chính đám đông “chen chúc” (epikesthai) bên bờ hồ Ghennêxarét đã chứng tỏ điều đó. Chúng ta ghi nhận: không phải là họ tìm nghe lời một người phàm, nhưng nghe “lời Thiên Chúa”. Một ghi nhận kế tiếp: Đức Giêsu không rao giảng trong hội đường nữa. Đây là một biểu tượng: kể từ nay, nơi duy nhất chúng ta có thể nghe được lời của Thầy chí thánh chính là cộng đoàn Kitô hữu; đây là nơi mà tất cả những ai đi tìm ánh sáng, sự an ủi và niềm hy vọng đều phải đến. Trên con thuyền này, chỉ có Đức Giêsu là thánh thiện, còn những người khác thì tốt lành, nhưng đều là những “kẻ tội lỗi”. Dù vậy, cũng chính là từ con thuyền này mà Lời Chúa được công bố.
Đức Giêsu mau chóng chỉ định các cộng sự viên. Truyện hôm nay cho thấy bản chất của tương quan giữa Người và các ông này. Ở đây mọi sự đều do sáng kiến của Người và được nhắm đưa tới kinh nghiệm như Simôn sẽ có. Tuy vậy, bản văn cho thấy Đức Giêsu chỉ tỏ ra năng động có hai lần thôi: lần đầu khi Người ra lệnh (c. 4) và lần thứ hai khi Người ban một lời hứa (c. 10); còn ở giữa là hành động và phản ứng của Simôn và các bạn. Simôn cũng có hai câu nói thưa với Đức Giêsu: một câu là khẳng định về kinh nghiệm đánh cá (c. 5), một câu là lời mời (c. 8). Chính do quảng đại mà Simôn  đã hỗ trợ cho việc loan báo Lời. Trong giai thoại chữa bà mẹ vợ (4,38-39), Simôn là một nhân vật chìm: không nói không làm gì cả! Còn ở đây, nổi bật lòng quảng đại và sự sẵn sàng của ông, khiến ông trở thành một thính giả ưu tiên của Lời.

* Đức Giêsu - Phản ứng của Simôn trước mẻ cá (4-7)
          Việc lắng nghe Lời không tự động đưa tới đức tin. Để cho việc lắng nghe này là thật, thì cần có việc tận tình đáp trả những yêu cầu của Lời. Nói xong với đám đông, Đức Giêsu ban một lệnh trực tiếp cho một người, ngay giữa lòng cuộc sống cụ thể của người ấy (c. 4): “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá” (c. 4). Simôn đã phản ứng, ông khẳng định theo kinh nghiệm của ông: người ta bắt cá ban đêm; thế mà suốt đêm các ông đã vất vả (kopiasantes) mà chẳng bắt được gì, phương chi bây giờ là ban ngày! Lệnh này có vẻ như một sự gây chuyện! Tuy nhiên, Đức Giêsu không hề nêu lý do hoặc thêm ý soi sáng; Người nói một lời và cho thấy mọi sự tùy thuộc lời này. Đối với Simôn, Đức Giêsu không phải là một người xa lạ. Ông đã thấy Người chữa lành nhạc mẫu của ông (4,38-39). Do đó, ông tín nhiệm vào lời Đức Giêsu cho dù lời này có yêu cầu những điều bề ngoài không mong đạt kết quả, hoặc những điều phi lý vì đi ngược lại mọi kinh nghiệm của loài người. “Thưa Thầy, … dựa vào lời Thầy”, epistata, … epi de tô rêmati sou (c. 5): Những từ ngữ này hết sức quan trọng, vì đây là công thức  diễn tả thái độ của con người đối với Thiên Chúa (x. Tv 119, 25b.42.57.105). Epistatês theo nghĩa chữ là “người ở trên”, “người chủ tọa”. Simôn nhận biết Đức Giêsu là người dẫn đường, Người không chỉ là một thầy dạy, mà là một chủ nhân đời sống! 
Điều chúng ta ghi nhận ở đây là chính Simôn đã đưa thuyền ra khơi (c. 4); chính ông công bố niềm tin vào lời Đức Giêsu (c. 5); chính ông gọi Người là “Lạy Chúa” (c. 8); ông là người được mời trở thành “kẻ lưới người” (c. 10). Tất cả các yếu tố này cho thấy rằng Simôn được chọn cho một thừa tác vụ đặc biệt trong Hội Thánh. Nhiệm vụ của ông là nghe lời Chúa và di chuyển, không phải ra nơi mà kinh nghiệm dẫn đưa ông, nhưng nơi mà Thầy muốn ông đến.
          Và để chứng minh là người ta có thể tin vào lời Đức Giêsu, các ông đã kéo được mẻ cá quá sức phong phú. Lưới gần bị rách. Cả hai thuyền đều đầy cá, nặng đến nỗi gần chìm. Kết quả này không do tài năng của Simôn, nhưng do lời của Đức Giêsu. Simôn cần trợ giúp; ông ra hiệu cho các bạn chài ở thuyền kia đến giúp (c. 7). Nay ta biết tên họ là Giacôbê và Gioan, con ông Dêbêđê. Các ông này được gọi là “bạn” (koinônoi) của Simôn (c. 10). Koinônos không chỉ là bạn cùng nghề nghiệp; các tác giả Tân Ước dùng từ ngữ này để chỉ những tín hữu hiệp thông với nhau (x. Cv 2,42.44; 4,32; Rm 12,13; 15,26.27; …).

* Phản ứng của Simôn sau mẻ cá -  Đức Giêsu (8-10)
          Tức khắc, Simôn nhận ra Đức Giêsu là ai và chính ông là ai: kinh ngạc sợ hãi. Ông thưa với Đức Giêsu như là “Chúa tể”, là điều mà trước đây các mục đồng đã được loan báo: Đấng Cứu thế, Đức Kitô, Đức Chúa (2,11). Simôn đã trải nghiệm quyền năng thực thụ của vị Chúa tể này. Do đó, bây giờ không những ông biết ông không ở trên cùng một bình diện với Người, mà còn biết rằng đối diện với Người, ông là một kẻ tội lỗi. Đứng trước quyền năng và sự thánh thiện của Thiên Chúa, con người cảm thấy có nhiều điều trong đời mình không coi được. Kinh nghiệm về Đức Chúa cho thấy nơi Phêrô có nhiều chuyện sai lạc, đi ngược lại với Người và làm cho ông nên bất xứng và không trong sạch. Ông thấy giải pháp cho hoàn cảnh không thể chịu nổi này là Chúa xa ông đi: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (c. 8). Việc Simôn quỳ phục xuống, gọi Đức Giêsu là “Chúa” (kyrios), lời nói về thân phận bất xứng, cho thấy ông đang gặp Thiên Chúa, một kinh nghiệm về thần hiển như trong trường hợp Môsê (Xh 3,6) và Isaia (x. Is 6,5). Ở đây, y như thể Simôn muốn nói rằng: Chúa tránh xa con, để như thế con lại có thể chịu nổi con và lại có sự bình an bề ngoài của con. Nhưng chắc chắn cách xử sự của Đức Giêsu không phải là tránh xa những người tội lỗi và bỏ mặc họ trong tội lỗi và với số phận của họ (x. 5,32). Ý thức của Simôn hoàn toàn đúng, nhưng giải pháp ông đề ra không được Đức Giêsu chấp nhận: Người không tránh xa ông, Người cũng không đẩy ông xa Người, nhưng nhận lấy ông, đưa ông vào phục vụ chương trình của Người. Chính Simôn, người đã nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con!”, lại sẽ đi theo Đức Giêsu cùng với các bạn (5,11).
          Ở đây lần đầu tiên và lần duy nhất, bên cạnh tên Simôn quen thuộc, có tên Phêrô: phải chăng đây là một gợi ý kín đáo về sự phản bội của Phêrô trong tương lai? Trong thực tế, việc nhận biết thân phận tội lỗi của mình, trước khi đươc kêu gọi, chứng tỏ sứ vụ của Phêrô không dựa trên các đức tính của ông, nhưng hoàn toàn dựa trên sự ban tặng nhưng-không của Thiên Chúa. 
Đức Giêsu tỏ ra rất tế nhị với Simôn. Người không nhận định gì về tình trạng tâm hồn của ông, Người không khuyến cáo; trái lại Người để cho ông làm một hành vi đức tin. Kết quả là Simôn nhận ra sự cao cả, sự tốt lành và quyền lực của Đức Giêsu, nên ông đã dễ dàng, như theo bản năng, từ bỏ các tội lỗi của ông. Khi đó, ông trở nên hoàn toàn tự do, ông có thể hiểu lời mời gọi của Người. Lời mở đầu: “Đừng sợ!” chứng tỏ sự can thiệp của Đức Giêsu mang màu sắc một cuộc thần hiển thực thụ. Lời hứa của Đức Giêsu: “Từ nay, anh sẽ là người thu phục người ta như bắt cá” (NTT: “sẽ là kẻ chài lưới bắt người”) được thêm vào kinh nghiệm mà Simôn đã có về tính vững chãi của lời Đức Giêsu nói. Simôn nhận biết Đức Giêsu như là Đấng muốn người ta đón tiếp Tin Mừng. Trong một cách thức chưa rõ mấy, Đức Giêsu cho ông hiểu rằng ông phải tham gia vào lối hành động này, nhưng luôn dựa vào quyền lực của Người.

* Kết luận: Đời môn đệ (11)
          Simôn và các ông khác, tức Giacôbê và Gioan, “đã bỏ hết mọi sự mà theo Người”. Từ nay, Simôn và tất cả các môn đệ phải nhận biết rằng việc phục vụ mà Đức Giêsu đưa các ông vào dựa trên không phải là các đức tính, các năng khiếu cá nhân, nhưng dựa trên Lời của Người. Hai động từ “bỏ” và “theo” mô tả sứ mạng của người môn đệ. Nằm tại trung tâm cuộc sống của các ông, không phải là một giáo thuyết, nhưng là một con người và một dự phóng đời sống. Tiếng gọi này phát sinh không từ một mệnh lệnh, nhưng từ kinh nghiệm về một Lời mạnh mẽ và hữu hiệu, có thể không những tạo ra một mẻ cá dồi dào lạ lùng, nhưng còn gây nên một tiếng “xin vâng” cho trọn một cuộc đời.

+ Kết luận
Simôn đã hiểu thi hành một nhiệm vụ Đức Giêsu giao nghĩa là gì. Ông cũng trải nghiệm về bản thân ông là ai khi đứng trước Đức Giêsu. Như thế, ông cũng hiểu ra rằng, khi đứng trước một lời hứa của Đức Giêsu, tất cả các khả năng con người, dù có hạn hẹp, cũng như những cơ may thành công, dù có mong manh, cũng không còn đáng bận tâm nữa. Bài tường thuật phép lạ trước tiên là một biểu tượng về sự phong nhiêu của Lời Chúa.
Đây là một sự đảo lộn hoàn cảnh nguyên thủy. Lúc đầu, Simôn, có phần tự hào về bản thân, đã trở thành một người có khả năng nhảy một bước trong đức tin. Từ đó, ông cũng nhận ra được sự nghèo hèn của mình; do đó ông nên khiêm tốn để sống đức tin chan hòa. Chỉ nhờ kinh nghiệm về quyền năng của Thiên Chúa như thế, người môn đệ mới được đào tạo.
Sứ mạng được ký thác cho toàn thể cộng đoàn Kitô hữu, để cho thấy rằng có thể có một tập thể hoàn toàn đặt nền tảng trên sự tha thứ, việc chia sẻ của cải, việc phục vụ lẫn nhau, tôn trọng những người khác. Các Kitô hữu sẽ phải luôn luôn tự hỏi những người khác đang trông chờ mình đưa lại cho họ thứ “ơn cứu độ” nào, mình có thể phục vụ họ tốt nhất cách nào, mình đang lo tìm cứu độ từng con người hay chỉ bảo vệ một cơ cấu.
 
5.- Gợi ý suy niệm
1. Hoạt động tông đồ không thể dựa trên khả năng của các tông đồ hoặc trên thiện chí của những người mà các ngài được cử đến gặp, nhưng chỉ dựa trên trách nhiệm được giao và quyền năng của Chúa. Người ta chỉ có thể đảm nhận công việc ấy “theo lời Người”. Simôn có thể trải nghiệm quyền năng và giá trị của lời Đức Giêsu và phải trải nghiệm về sự giới hạn yếu đuối của bản thân ông. Đồng thời ông cũng trải nghiệm được sự hạ cố nhân ái của vị Chúa tể quyền năng, đã đưa ông vào phục vụ Người. Việc phục vụ này mãi mãi được liên kết với các kinh nghiệm cơ bản này.
2. Các mục tử hôm nay lại không nhận ra bài học cho mình sao? Quyền lãnh dạo của họ trên cộng đoàn Kitô hữu không phải là để họ áp đặt ý muốn của mình, nhưng là để giúp nhận ra ý muốn của Đức Giêsu. Họ có nhận ra tiếng nói của Thầy chí thánh và phân biệt tiếng nói này giữa các cảm xúc, các trực giác và các ý tưởng của họ chăng?
3. Người ta không thể trách Simôn về sự kiện ông là kẻ tội lỗi. Chính ông đã biết rồi, và ông sẽ trải nghiệm về điều này cách cay đắng (Lc 22,33t.54-60). Nhưng Đức Giêsu đã đưa kẻ tội lỗi ấy vào phục vụ Người, đã cầu nguyện cho ông (22,31t), đã nhìn ông với ánh mắt nhân hậu (22.61t). Như thế, Simôn có thể chu toàn nhiệm vụ, mà không bao giờ cậy dựa vào các sức mạnh của mình, nhưng tín thác vào Lời Chúa.
4. Khi biết nhìn đến lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta, quyền năng cũng như lòng tốt của Ngài, chúng ta mới nhận ra sự nghèo nàn và cần ơn cứu độ của chúng ta. Simôn đã nhân ra điều đó, ông không sợ hãi gì nữa; cho dù kẻ khác có nghĩ ông là một kẻ tội lỗi, điều này cũng quan hệ gì. Ông đã bước được một bước quyết liệt trong việc giải phóng bên trong. Đức Giêsu đã đào tạo môn đệ bằng phương tiện là những bước nhảy trong đức tin và bằng cách làm cho người ấy biết quyền lực thần linh của Người. Con thuyền của Phêrô chính là Họi Thánh. Đức Giêsu vẫn tiếp tục dạy chúng ta trên chiếc thuyền này, dọc theo dòng các cuộc cử hành Phụng vụ, và nhất là trong Bí Tích Thánh Thể.
5. Chính Thiên Chúa ban ơn gọi cho loài người. Mọi người phải bỏ mọi sự mà đáp trả quảng đại. Như thế là thực hiện một bước điên rồ, nhưng chính bước điên rồ này làm nên con người. Simôn đã thực hiện sự từ bỏ này khi thả lưới trái với kinh nghiệm thông thường, rồi sau đó, khi bỏ mọi sự mà bước theo Đức Giêsu. Nhờ dám “đánh liều cuộc đời”, Simôn trở thành người mà Thiên Chúa nhắm khi cho ông xuất hiện trong cuộc đời. Trong gia đình Kitô hữu, giáo dục con cái biết sống quảng đại là cách thức tốt nhất để chuẩn bị cho con cái sống quảng đại, để nhờ đó, chúng thực hiện được chương trình của Thiên Chúa.
 Lm PX Vũ Phan Long, ofm

 

TN5-C70: ĐÁP LẠI ƠN GỌI LÀM TÔNG ĐỒ

Is 6,1-2a.3-8 ; 1 Cr 15,1-11 ; Lc 5,1-11
I.HỌC LỜI CHÚA
1.TIN MỪNG: Lc 5,1-11
(1) Một hôm, đám đông chen lấn nhau đến sát bên Người để nghe Lời Thiên Chúa, mà Người thì đang đứng bên bờ hồ Ghen-nê-xa-rét. (2) Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lướt. (3) Đức Giê-su xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Si-mon, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông. (4) Giảng xong, Người bảo ông Si-mon: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. (5) Ông Si-mon đáp: “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”. (6) Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. (7) Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá đến gần chìm. (8) Thấy vậy, ông Si-mon Phê-rô sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (9) Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Si-mon và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. (10) Cả hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an, bạn chài với ông Si-mon cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ, Đức Giê-su bảo ông Si-mon: “Đừng sợ. Từ nay anh sẽ là người cứu sống người ta”. (11) Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.
2. Ý CHÍNH: MAU MẮN ĐÁP LẠI ƠN CHÚA KÊU GỌI LÀM TÔNG ĐỒ
 

Bài Tin mừng hôm nay cho thấy Đức Giê-su đã ngồi trên thuyền của Si-mon mà rao gảng Tin : TN5-C70

Bài Tin mừng hôm nay cho thấy Đức Giê-su đã ngồi trên thuyền của Si-mon mà rao gảng Tin mừng cho dân chúng, và sau đó đã cho Si-mon đánh bắt được một mẻ cá lạ lùng. Trước phép lạ này, Si-mon đã tuyên xưng đức tin: Đức Giê-su là Con Thiên Chúa và “Từ bỏ mọi sự mà đi theo Người”.
3. CHÚ THÍCH:           
- C 1-2: + Bờ hồ Ghen-nê-xa-rét: Đây là chiếc hồ lớn hình quả trám nằm tại miền Ga-li-lê, được thánh sử Lu-ca gọi là hồ Ghen-nê-xa-rét (x Lc 5,1), Mát-thêu gọi là biển hồ Ga-li-lê (x. Mt 4,13) Mác-cô gọi trống là Biển Hồ (x. Mc 4,1), còn Gio-an gọi là Biển hồ Ti-bê-ri-a (x Ga 21,1).
- C 3-4: + Người bảo ông Si-mon: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”: Ra chỗ nước sâu hay “ra khơi”, là chỗ “nước trên vực thẳm”. Đức Giê-su ra lệnh cho thuyền Hội thánh tiến vào nơi vực thẳm của thế gian với nhiều nguy hiểm đang chờ đón (x. Lc 10,3).
- C 5-7: + Chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả: Câu nói của Phê-rô cho thấy sự yếu đuối bất lực của các ông. Nhưng chính sự bất lực này lại làm nổi bật quyền năng mạnh mẽ vô song của Thiên Chúa (x Ga 15,5).
- C 8-9: + Si-mon Phê-rô: Ở đây Lu-ca dùng biệt danh Phê-rô (nghĩa là Đá) mà sau đó Đức Giê-su sẽ chính thức đặt cho khi chọn ông vào danh sách 12 Tông đồ (x. Lc 6,14; Mt 16,18). + Sấp mình dưới chân Đức Giê-su: Trước sự hiện diện của Thiên Chúa, Si-mon cảm thấy mình tội lỗi bất xứng và đã run sợ sấp mặt xuống đất vì không dám diện kiến Thánh Nhan của Chúa như Mô-sê xưa (x. Xh 2,6); I-sai-a (x. Is 6,4). + “Lạy Chúa”: “Ku-ri-os” trong tiếng Hy-lạp có nghĩa là “Chúa”, một danh hiệu dành riêng để gọi Đức Giê-su sau khi phục sinh (x. Lc 24,34-35 ; Pl 2,6-11).
- C 10-11: + “Đừng sợ”: Đây chính là một lời an ủi thường được các thiên sứ nói với những kẻ đang sững sờ khi gặp điều linh thánh (x. Lc 1,13.30; 2,10); là lời Đức Giê-su nói với các Tông đồ đang sợ hãi giữa biển khơi (x. Mt 14,27), và khi hiện ra chiều ngày phục sinh (x. Mt 28,10). + Bỏ hết mọi sự mà theo Người: Các Tông đồ đã đáp trả ơn Chúa kêu gọi bằng việc quảng đại từ bỏ mọi sự mà đi theo Người và sẵn sàng cộng tác với Người chu toàn sứ mệnh truyền giáo (x. Lc 5,11).
4. CÂU HỎI: 1) Hồ Ga-li-lê còn được các sách Tin mừng gọi bằng những tên gì khác nữa? 2) Ra khơi có liên quan thế nào đến công việc truyền giáo của Hội thánh? 3) “Đức Giê-su” được gọi là “Chúa” từ khi nào? 4) Câu “Đừng sợ” có ý nghĩa thế nào?
II.SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng dựa vào Lời Thầy, tôi sẽ thả lưới” (Lc 5,5).
2. CÂU CHUYỆN:
- ƠN GỌI CỦA NGÔN SỨ I-SAI-A: Khi chứng kiến vinh quang của Đức Chúa nơi Đền thờ, Ngôn sứ I-sai-a đã thốt lên: “Khốn cho tôi, tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn!” (Is 6,5). Nhưng sau khi được một thiên thần lấy than hồng từ bàn thờ đến thanh tẩy môi miệng, ông đã tình nguyện xin lãnh nhiệm vụ: “Lạy Chúa, này con đây, xin hãy sai con” (Is 6,8).
- ƠN GỌI CỦA SI-MON PHÊ-RÔ: Bài Tin mừng hôm nay cho biết Si-mon đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì. Ông đã khiêm tốn nói lên sự bất lực của mình: “Thưa Thầy, chúng con đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng dựa vào Lời Thầy, con sẽ thả lưới” (Lc 5,5). Quả thật nhờ vâng Lời Chúa mà Phê-rô đã đánh bắt được một mẻ cá lạ lùng. Trước kết quả lớn lao này, Si-mon đã tin Đức Giê-su chính là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa, ông sấp mình dưới chân Người và thưa rằng: “Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con ra, vì con là kẻ tội lỗi!”. Kẻ tự nhận mình là tội lỗi bất xứng ấy sau này đã trở thành “đá tảng” của đức tin, mà trên đức tin đó, Hội thánh đã được xây dựng và sẽ tồn tại bền vững đến muôn đời (x. Mt 16,16-18). Từ đây, Phê-rô trở thành thủ lãnh của Nhóm 12, được Chúa Giê-su trao chìa khóa Nước Trời với quyền cầm buộc tháo cởi (x. Mt 16,19) và được trao nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên của Người là Hội thánh (x. Ga 21,15-17).
- ƠN GỌI CỦA CHA THÁNH VI-AN-NÂY: Khi bị giáo sư thần học quở trách là dốt như con lừa! Thầy Vi-an-nây đã thừa nhận sự yếu đuối của mình, và chỉ trông cậy vào tình thương của Thiên Chúa. Cuối cùng Vi-an-nây bất tài vô lực kia đã trở thành một Thánh lớn trong Hội thánh, được đặt làm bổn mạng của các Cha sở và nên gương mẫu cho các vị mục tử noi theo. Chính nhờ ơn Chúa giúp, mà cha Vi-an-nây đã làm được việc hoán cải các tâm hồn, đưa nhiều tội nhân trở về với Người.

3. SUY NIỆM:
Sau khi đã trải qua thử thách bị người đồng hương không tin và còn tìm cách hãm hại, Đức Giê-su đã tiếp tục sứ vụ rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Tin Mừng hôm nay đan kết việc rao giảng của Đức Giê-su với phép lạ mẻ cá lạ lùng của Si-mon, nhằm kêu gọi ông và các môn đệ đẩu tiên từ bỏ mọi sự mà theo Người và tích cực góp phần vào sứ vụ loan báo Tin Mừng khắp thế gian. 
1) Đức Giê-su xuống thuyền của Si-mon giảng đạo và kêu gọi ông: Sau một đêm vất vả chài lưới cách luống công vô ích, Si-môn và các bạn neo thuyền gần bờ giặt lưới. Đức Giê-su đã chọn xuống thuyền của Si-mon và yêu cầu ông chèo thuyền ra xa bờ một chút, rồi Ngừơi sử dụng thuyền như một giảng đài lộ thiên để công bố Tin Mừng cho đám đông dân chúng đứng trên bờ hồ.
2) Hãy ra khơi thả lưới bắt cá: Giảng xong, Đức Giê-su bảo ông Si-môn “Hãy chèo thuyền ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Trước lời mời gọi ấy, tuy cảm nhận về sự bất lực của mình vì đã vất vả làm việc suốt đềm cách luống công vô ích, nhưng sau khi nghe Đức Giê-su giảng đạo, ông Si-mon đã tin vào Chúa. Lòng tin yêu Chúa khiến ông mạnh dạn thưa:  “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”.  Kết quả thật bất ngờ: Si-mon đã bắt được một mẻ cá lớn. Sự thành công này không phải do tài sức của ông mà hòan tòan do quyền năng của lời Đức Giê-su đem lại, khiến Si-mon đã tin Người là Đấng Thiên Sai, nên đã đầu phục Chúa. Ông khiêm tốn thưa với Người rằng:  “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”.
3) “Từ nay, anh sẽ là người cứu sống người ta”: Qua câu này, Đức Giê-su đã chọn Si-mon vào hàng ngũ tông đồ của Người. Thực ra Si-môn được Đức Giê-su chọn làm tông đồ không phải vì tài giỏi xuất sắc: Về văn hóa chắc Si-mon không học cao. Về tài năng thì ngoài nghề lưới cá cũng không có gì giỏi giang. Về tính khí thì lại nóng nảy, bộc trực… Nhưng ông được chọn làm đầu Hội Thánh là nhờ đức tin (x Mt 16,15-19) và lòng mến dành cho Thầy (x Ga 21,15-17). Từ giây phút nay tên của Si-mon được gắn liền với tên Phê-rô là Đá Tảng đức tin (x Mt 16,18) do Đức Giê-su đặt cho.  Chính ơn Chúa đã biến đổi Si-mon từ một người bắt cá trở thành kẻ đánh bắt các linh hồn.
4) Quảng đại và cậy nhờ ơn Chúa giúp: Trong Tin Mừng hôm nay, chính nhờ vâng Lời Chúa và làm theo Chúa mà ông Si-mon đã thả lưới và bắt được mẻ cá lạ lùng. Trong việc tông đồ, các tín hữu chúng ta cũng chỉ đạt được kết quả nếu biết năng học sống Lời Chúa và cậy trông vào ơn trợ giúp của Người như lời Người dạy: “Vì không có Thầy anh em không làm được gì” (Ga 15,5).. 
5) Bỏ hết mọi sự mà đi theo Người: Đức Giê-su không từ chối thiện chí của chúng ta. Bất kể chúng ta là ai, có khả năng gì, yếu đuối tội lỗi thế nào… Người luôn mời gọi chúng ta đồng hành trong sứ vụ loan báo Tin Mừng cho những người chưa nhận biết Thiên Chúa. Chúng ta hãy mau mắn đáp lại ơn Chúa kêu gọi bằng việc năng học sống Lời Chúa dưới ơn soi dẫn của Thánh Thần, để từ bỏ các thói hư, biến đổi ngày một nên hòan thiện hơn, quyết tâm chu tòan sứ vụ loan báo Tin Mừng, làm chứng cho Chúa mọi lúc mọi nơi, hầu giúp mọi người được ơn cứu độ.
4. THẢO LUẬN: 1) Phê-rô trong Tin mừng hôm nay đã thưa với Chúa Giê-su: “Dựa vào Lời Thầy con sẽ thả lưới” và sau đó ông đã bắt được mẻ cá lạ lùng. Vậy để làm được những việc vượt quá sức tự nhiên, chúng ta phải cậy dựa vào ai? 2) Trong những ngày này tôi sẽ làm gì để đưa được nhiều người về làm con Thiên Chúa?

5. NGUYỆN CẦU:
- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Trước đây con cứ thắc mắc không biết tại sao Chúa lại chọn ông Si-mon, một người thuyền chài ít học và đã có vợ con, đi theo làm môn đệ của Chúa, trở thành người đứng đầu Nhóm 12 Tông đồ. Xem ra Chúa đã xây dựng Hội thánh trên tảng đá Phê-rô không mấy vững chắc, vì ông đã từng hèn nhát chối Chúa ba lần và có nhiều khuyết điểm khiến Chúa đã phải nặng lời quở trách! Nhưng qua bài Tin mừng hôm nay, con nhận ra rằng: Chúa thường xử dụng những gì thế gian coi thường, những con người yếu đuối, dốt nát... như các người thuyền chài, người thu thuế... làm Tông đồ cho Chúa. Chúa chọn Vi-an-nây là người bị đánh giá dốt như lừa làm linh mục... để qua những con người yếu đuối này, Chúa có thể biểu lộ quyền năng cao cả của Chúa.
- LẠY CHÚA. Xin dạy con biết sống quảng đại: Biết phụng sự Chúa cho xứng đáng. Biết cho đi mà không cần tính toán. Biết chiến đấu mà không sợ thương tích. Biết làm việc mà không tìm an nghỉ. Biết xả thân mà không tìm một phần thưởng nào khác, ngoài việc biết mình đang thi hành thánh ý Chúa- AMEN” (Thánh I-nha-xi-ô Loy-ô-la).
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH

 

TN5-C71:  Nhận lãnh sứ mệnh Chúa trao

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 5:1-11)
 

Từ một kẻ lưới cá trở thành kẻ “lưới người”, từ một nghề nghiệp bước sang một sứ mệnh, đó là: TN5-C71

Từ một kẻ lưới cá trở thành kẻ “lưới người”, từ một nghề nghiệp bước sang một sứ mệnh, đó là sự kiện hết sức độc đáo của cuộc đời thánh Phê-rô, nhưng cũng là một bài học thực tế giúp chúng ta nhận ra lời Chúa kêu gọi chúng ta lãnh nhận sứ mệnh Người muốn chúng ta thi hành trong cuộc đời cá nhân chúng ta.
          Đây là một câu chuyện Tin Mừng được thánh Lu-ca kể lại rất sống động.  Trước hết hình ảnh nổi bật là Chúa Giê-su đang đứng bên bờ hồ;  chung quanh Người, dân chúng chen chúc nhau đến gần để nghe Người giảng.  Dưới hồ là mấy người đánh cá đang giặt lưới, chuẩn bị cho chuyến đánh cá kế tiếp.  Với người Việt mình, miếng trầu là đầu câu chuyện.  Ở đây chiếc thuyền là đầu câu chuyện của một sứ mệnh.  Đúng thế, Chúa Giê-su đã mượn chiếc thuyền của Phê-rô làm giảng đài và để bắt đầu câu chuyện gọi ông dấn thân cho sứ mệnh “lưới người”.   Sau bài giảng cho dân chúng và cũng là cách mô tả sứ mệnh mà Chúa muốn gọi Phê-rô, Người cho ông thấy rõ khả năng của ông và sự nâng đỡ của Người trong sứ mệnh ấy.  Cũng như Người đã giúp cho ông đánh được mẻ cá lạ lùng như thế nào, thì Người cũng sẽ luôn ở bên ông để giúp ông chu toàn sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cách tốt đẹp và thành quả như vậy.  Đứng trước vẻ vĩ đại của Chúa, ông Phê-rô nhìn vào thân phận nhỏ bé của mình và sợ hãi, không xứng đáng lãnh nhận bất cứ điều gì Người muốn ở nơi ông.  Nhưng Chúa đáp lại thái độ của ông bằng một lệnh truyền:  “Đừng sợ, từ nay anh sẽ kẻ là đánh lưới người ta”.  Sự thay đổi đã diễn ra hoàn toàn khi ông Phê-rô “đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người”.
          Bình thường Chúa không gọi chúng ta và trao cho một sứ mệnh qua khung cảnh ngoạn mục như trường hợp ông Phê-rô.  Việc Chúa gọi chúng ta thi hành một sứ mệnh thường là một diễn trình chậm chạp, từ biến cố này sang một biến cố khác, từ hoàn cảnh sống này tới hoàn cảnh sống kia, để chúng ta tìm hiểu và được chuẩn bị dần dần.  Chúng ta cứ nhìn vào việc một thanh niên hay thiếu nữ trở thành linh mục, tu sĩ, nữ tu thì thấy điều ấy.  Cụ thể hơn, chúng ta cũng nhìn vào một cuộc hôn nhân sẽ thấy được hai người đã gặp nhau, tìm hiểu nhau, nuôi dưỡng tình yêu, rồi tiến tới lãnh nhận sứ mệnh hôn nhân.  Nhưng khi lãnh nhận bất cứ sứ mệnh nào, người ta cũng gặp thấy mẫu số chung, là thái độ sợ hãi của con người trước sứ mệnh, những lời hứa trợ giúp của Chúa và việc họ “bỏ hết mọi sự”.  Hãi sợ là điều tự nhiên, vì đứng trước sứ mệnh chúng ta đều cảm thấy sức riêng chúng ta không thể nào chu toàn được.  Nhưng ơn Chúa trợ lực lại là một lời hứa chắc chắn giúp chúng ta làm được điều tự mình không làm nổi.  Sau hết là chúng ta phải bỏ lại tất cả những gì không phù hợp với sứ mệnh.  Như thế, sứ mệnh không phải là riêng về một phía, hoặc là Chúa trao sứ mệnh hoặc chúng ta lãnh nhận sứ mệnh.  Nhưng đó là lời gọi từ Chúa mà đến và sự đáp trả từ phía chúng ta.  Lời gọi và đáp trả không chỉ diễn ra trong một thời điểm, nhưng liên tục tất cả cuộc đời chúng ta.  Nghĩa là Chúa vẫn tiếp tục gọi Phê-rô đánh lưới người và Phê-rô vẫn tiếp tục đáp lại lời gọi của Chúa bằng cách dấn thân cho việc rao giảng Tin Mừng và phần rỗi các linh hồn, cho đến hơi thở cuối cùng.  Sứ mệnh của chúng ta cũng vậy!

Sống sứ điệp Tin Mừng
          Chúng ta đang sống sứ mệnh, nhưng chúng ta có thực sự ý thức bậc sống hiện thời của mình là một “sứ mệnh” hay không.  Nếu đang sống sứ mệnh hôn nhân, chúng ta hãy sống sứ mệnh ấy bằng tình yêu và nâng đỡ nhau đích thực mà Chúa mời gọi hai người cùng thực hiện.  Nếu là sứ mệnh tu trì, chúng ta sẽ yêu mến Chúa hết lòng, phục vụ Giáo Hội Chúa Ki-tô và các linh hồn.  Nếu là sứ mệnh của người công nhân, chúng ta hãy làm việc hết mình, làm sao cho công bằng với đồng lương chúng ta lãnh… Quan trọng là chúng ta vẫn lắng nghe tiếng Chúa mời gọi mình chu toàn trách nhiệm và làm hết sức mình để đáp lại những gì sứ mệnh ấy đòi hỏi.
          Điều rất quan trọng là chúng ta có dám “bỏ hết mọi sự mà theo Chúa” hay không?  Và đâu là “mọi sự” chúng ta cần phải bỏ lại?  Tiền bạc, địa vị, thú vui, những quyến rũ của trần gian…?  Để chỉ có Chúa là “phần gia nghiệp” của chúng ta!
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

TN5-C72:  Tay thả lưới lành nghề trong Chúa

Câu trả lời nghe sao có vẻ miễn cưỡng quá. Nhưng chúng ta cần phải đọc lại toàn thể câu truyện đối : TN5-C72

“Vâng lời thầy, tôi thả lưới” (Luc 5:5). Câu trả lời nghe sao có vẻ miễn cưỡng quá. Nhưng chúng ta cần phải đọc lại toàn thể câu truyện đối đáp giữa Chúa Giêsu và Phêrô mới thấy rằng để làm công việc “thả lưới” lần này, Phêrô đã phải cố gắng lắm lắm. Phải chiến đấu với tính tự ái và lý trí tự nhiên của mình, và sự cố gắng tâm lý này có khi còn hơn suốt một đêm canh thức và chài lưới mệt nhọc: “Chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà chẳng bắt được một con cá nào. Vậy, vâng lời thầy, tôi thả lưới” (Luc 5:5). Có nghĩa là chỉ vì vâng lời thôi, còn suy luận tự nhiên và kinh nghiệm nghề nghiệp thì thả lưới kiểu này không bảo đảm bắt được cá!
Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Phêrô có thể diễn tả một cách rất tự nhiên là Chúa Giêsu một anh thợ mộc trẻ, con ông phó một Giuse quê làng Nagiaréth. Còn Phêrô là một tay già đầu và chuyên nghiệp về nghề chài lưới sống gần biển hồ Têbêria. Một dân chuyên nghiệp đã vất vả suốt đêm không được một con cá nào, nay phải nghe lời một anh thợ mộc trẻ hướng dẫn về nghề nghiệp của mình. Đó mới là lý do tại sao trước khi nói: “Vâng lời thầy, tôi thả lưới” (Luc 5:5), Phêrô đã phải trút bỏ phần nào cái ngờ vực, cái bực bội, và cái khó hiểu trong đầu ông bằng một câu nói rất thẳng thừng, rất bộc trực: “Chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà chẳng được gì”.
Nhưng chúng ta có nghĩ rằng đây là mẻ cá mà chính Chúa Giêsu đã qua tay Phêrô buông lưới để bắt không? Và chúng ta có bao giờ nghĩ đến rằng qua hình ảnh mẻ cá đó, Chúa Giêsu muốn giới thiệu với chúng ta một hình ảnh của nước Trời, và về sự tham dự của mỗi Kitô hữu trong sứ mạng đem các linh hồn về cho ngài không: “Từ nay anh sẽ trở thành tay chài lưới người” (Lc 5:10).
Những con cá của mẻ lưới nước Trời:
Bằng cặp mắt Đức Tin, chúng ta phải nhìn nhận rằng chúng ta là những kết quả thực tiễn của Chương Trình Cứu Độ mà Chúa Giêsu đã thực hiện. Sứ mệnh của ngài khi xuống trần gian không gì hơn là để đem mọi người về với vĩnh hằng. Biến đổi tình trạng thù nghịch, tội lỗi của chúng ta thành thân thiện và tốt lành đối với Thiên Chúa. Và do đó, chúng ta chính là những con cá mà ngài muốn buông lưới để bắt.
Thật vậy, những con cá không được mẻ lưới lạ lùng này, mẻ lưới Tin Mừng bắt lấy là những con cá sẽ bị chết dưới lòng đại dương trần gian tội lỗi, và là mồi ngon cho thủy quái tức là ma quỉ. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh người ngư phủ thả lưới bắt cá làm nền tảng cho mẻ cá mà chính ngài là ngư phủ buông lưới. Phêrô thả lưới, nhưng Chúa mới chính là ngư phủ của mẻ lưới lạ lùng này. Những con cá mà Phêrô và các bạn chài kéo lên chính là hình ảnh các linh hồn mà Chúa Giêsu và các tông đồ, các nhà truyền giáo đem về cho Chúa Cha.
Nhưng như những con cá được Phêrô và các bạn chài mang lên thuyền, đòi phải bỏ lại phần biển quen thuộc của mình. Phải được kéo lên thuyền, và phải qua một cuộc chuyển đời. Những Kitô hữu được Chúa kéo lên thuyền Giáo Hội từ biển trần gian khổ ải cũng vậy. Họ cũng phải bỏ lại quá khứ của mình. Phải dễ dãi để Chúa đem lên thuyền. Bỏ lại quá khứ tội lỗi. Chấp nhận và sống cuộc đời đổi mới là điều cần thiết mà mỗi Kitô hữu chúng ta phải làm khi nghĩ về ơn gọi Kitô hữu của mình.
Những tay chài lưới nước Trời:
Không như những con cá được kéo lên bởi Phêrô và các bạn chài, những Kitô hữu một khi được Chúa kéo lên khỏi biển trần gian và đem lên thuyền của Giáo Hội, còn phải trở thành những bạn chài giúp Chúa tiếp tục buông lưới: “Từ nay anh sẽ trở thành những kẻ chài lưới người” (Luc 5:10).

Người Kitô hữu khi được Chúa kéo lên từ biển trần và đưa vào thuyền Giáo Hội qua Bí Tích Thánh Tẩy, cùng một lúc ngài cũng biến họ thành “những tay chài lưới người”. Qua Bí Tích Thánh Tẩy, mỗi Kitô hữu đều được trao phó ba vai trò gồm tiên tri, tư tế, và vương giả.
Vương giả, vì nhờ Bí Tích Thánh Tẩy chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, là công chúa và hoàng tử của nước Trời. Thuộc đại gia đình Thánh. Đời sống Kitô hữu chúng ta phải làm rạng danh dòng tộc của mình.
Tư tế, vì chúng ta tất cả đều được thông quyền Thượng Tế tối cao của Chúa Giêsu để tế lễ và tham dự tế lễ Thiên Chúa. Chúng ta được thừa hưởng bàn tiệc Nước Trời ngay từ đời này qua việc dâng lễ và hiệp lễ mỗi ngày. Ngoài ra, bàn tiệc tình thương ấy còn được biểu lộ qua đức ái thực hành mà mỗi người chúng ta phải cố thực hành để đem lại bình an, thương yêu, và hạnh phúc cho nhau như những người anh em ruột thịt.
Và tiên tri, vì tất cả chúng ta đều được xức dầu và sai đi. Thánh Thần Thiên Chúa đã ngự xuống và thánh hiến chúng ta trong ngày chúng ta lĩnh phép Thánh Tẩy, và ngài cũng đã sai chúng ta vào lòng đời.
Như Chúa Giêsu đã bảo Phêrô và các bạn ông chèo thuyền ra khơi để thả lưới. Kitô hữu chúng ta cũng được ngài sai đi vào lòng đời bằng tinh thần Tin Mừng của Phúc Âm để đem các linh hồn về với Chúa. Tức là phải trở thành những kẻ chài lưới người.
Sứ mạng những tay chài lưới nước Trời:
Do vai trò và sứ mạng là những tay chài lưới người, Kitô hữu chúng ta cần phải hiểu rằng, các linh hồn, tức là những con cá của nước trời không giống như những con cá mà Phêrô và các bạn chài của ông kéo lên thuyền. Chúng vô tư và không biết gì. Nhưng cá nước Trời, những con người mà chúng ta cần đem về cho Chúa thì khác. Họ có tự do, có tư tưởng, có suy nghĩ, có tất cả những gì mà một con cá bình thường không có. Do đó, việc chinh phục hẳn phải gắng sức và đòi hỏi nhiều nỗ lực. Mà nỗ lực chính là cuộc sống chứng nhân của mỗi Kitô hữu chúng ta. Ý nghĩa của hành động: “Hãy chèo thuyền ra chỗ nước sâu” (Luc 5:4) là vậy.
Chèo thuyền ra chỗ nước sâu, tức là phải đối diện với sóng gió và với nguy hiểm. Nhưng như Chúa Giêsu đã minh chứng với Phêrô và các bạn của ông là ở chỗ nước sâu, thì mới có nhiều cá. Đời sống và những hoạt động tông đồ của chúng ta cũng không đi ra ngoài định luật này. Chúng ta phải vượt ra khỏi nhà thờ, vượt ra khỏi khuôn viên nhà thờ, và phải dấn thân đi vào những môi trường mới, sẵn sàng với những thử thách mới, lúc đó chúng ta mới mong có dịp gặp gỡ và tiếp xúc với nhiều người, và mới có cơ hội đem họ trở về với con thuyền Giáo Hội. Đem họ về nhận biết và tôn thờ Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã làm gương về điều này. Ngày đã len lỏi vào mọi tầng lớp xã hội, kết thân với mọi người, đón nhận mọi người từ Phêrô, Mátthêu, Giakêu, Mađalêna, các người cùi, người mù, người điếc, người què. Cả đến những Pharisiêu, ký lục, luật sỹ và các thượng tế. Chúa cũng tiếp đón, trao đổi, và giao thiệp với họ.
Người tông đồ, người ngư phủ của nước Trời mà chỉ luẩn quẩn quanh bờ, sợ sóng gió, sợ chỗ nước sâu thì cũng giống như những linh mục, những Kitô hữu chỉ luẩn quẩn bên trong hoặc bên ngoài nhà thờ, chắc chắn là không bắt được cá, và cũng không có cá lớn. Cá lớn thì ở xa bờ, mà xa bờ thì biển sâu, và biển sâu thì sóng to và gió lớn nguy hiểm. Nhưng đó là sứ mạng của người Kitô hữu đích danh. Không ngại nguy hiểm, gian nan và vất vả. Lòng yêu mến Thiên Chúa, và nhiệt tình đối với các linh hồn chính là động lực tạo nên sức mạnh và lòng can đảm để chấp nhận hy sinh, thử thách. Nhưng cốt lõi vẫn chính là lòng tín thác và tin vào quyền năng của Thiên Chúa, như Phêrô đã vất vả suốt đêm nhưng rồi “vâng lời thầy, tôi thả lưới”. Chúng ta hãy tạo cơ hội cho Chúa Giêsu dùng chúng ta để thả lưới bắt cá các tâm hồn.
Thực vậy, nêu tôi nhận ra Chúa đang hiện diện và thực sự sống trong tôi để rồi trong niềm vui chan hòa tôi thả những tấm luới niềm vui Loan báo Tin Mừng ..Đó cũng chính là lúc tôi nhận ra Lời Chúa đang ứng nghiệm nơi tôi. Tôi đã trở thành tay lưới người lành nghề trong Chúa.
 T.s. Trần Quang Huy Khanh

 

TN5-C73:  ĐÁP LẠI TIẾNG GỌI CỦA THIÊN CHÚA

 [Is 6,1-2a.3-8; 1 Cr 15, 1-11; Lc 5, 1-11]
 I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Trong lịch sử cứu độ của Thiên Chúa, dù đã sai Con Một Người xuống trần gian, Thiên Chúa vẫn : TN5-C73

Trong lịch sử cứu độ của Thiên Chúa, dù đã sai Con Một Người xuống trần gian, Thiên Chúa vẫn dành cho con người một chỗ quan trọng vì Thiên Chúa không hoạt động một mình. Thời Cựu Ước, Thiên Chúa dùng các ngôn sứ (trong đó có I-sai-a). Thời Tân Ước, Thiên Chúa dùng các Tông Đồ (trong đó có Phê-rô, An-rê, Gio-an, Gia-cô-bê, Phao-lô). Còn thời nay, Thiên Chúa dùng những con người thời nay và ở  địa phương nào Thiên Chúa dùng những con người của địa phương ấy. 
Những Bài Thánh Kinh hôm nay cho ta thấy Thiên Chúa gọi và chờ đợi gì ở I-sai-a, Phê-rô, An-rê, Gio-an, Gia-cô-bê, Phao-lô, đám đông người Do-thái và các tín hữu Cô-rin-tô. Họ là những con người đã gặp gỡ Thiên Chúa và nghe lời rao giảng về Người. Họ đã đáp lại tiếng gọi và sự chờ đợi của Thiên Chúa và của Đức Giê-su Ki-tô. 
Thiên Chúa cũng gọi và chờ đợi ở mỗi tín hữu chúng ta lời đáp trả tương tự. Vậy chúng ta sẽ nói gì? làm gì?     

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH 
2.1 Trong bài đọc 1 (Is 6, 1-2a.3-8):  Dạ con đây, xin sai con đi. 
1 Năm vua Út-di-gia-hu băng hà, tôi thấy Chúa Thượng ngự trên ngai rất cao; tà áo của Người bao phủ Đền Thờ. 2a Phía bên trên Người, có các thần Xê-ra-phim đứng chầu. 3 Các vị ấy đối đáp tung hô: "Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa! " 
4 Tiếng tung hô đó làm cho các trụ cửa rung chuyển; khắp Đền Thờ khói tỏa mịt mù. 5 Bấy giờ tôi thốt lên: "Khốn thân tôi, tôi chết mất! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh!" 6 Một trong các thần Xê-ra-phim bay về phía tôi, tay cầm một hòn than hồng người đã dùng cặp mà gắp từ trên bàn thờ. 7 Người đưa hòn than ấy chạm vào miệng tôi và nói: "Đây, cái này đã chạm đến môi ngươi, ngươi đã được tha lỗi và xá tội." 8 Bấy giờ tôi nghe tiếng Chúa Thượng phán: "Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?" Tôi thưa: "Dạ, con đây, xin sai con đi." 
(2) Trong bài đọc 2 (1 Cr 15, 1 -11); Chúng tôi đều rao giảng như thế, và anh em đã tin như vậy. 
 1Thưa anh em, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng tôi đã loan báo và anh em đã lãnh nhận cùng đang nắm vững. 2 Nhờ Tin Mừng đó, anh em được cứu thoát, nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo, bằng không thì anh em có tin cũng vô ích.
3 Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, 4 rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. 5 Người đã hiện ra với ông Kê-pha, rồi với Nhóm Mười Hai. 6 Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. 7 Tiếp đến, Người hiện ra với ông Gia-cô-bê, rồi với tất cả các Tông Đồ. 8 Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non. 
 9 Thật vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa. 10 Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi.  11 Tóm lại, dù tôi hay các vị khác rao giảng, thì chúng tôi đều rao giảng như thế, và anh em đã tin như vậy. 
2.3 Trong bài Tin Mừng (Lc 5,1-11): Các ông bỏ hết mọi sự mà theo Đức Giê-su. 
1 Một hôm, Đức Giê-su đang đứng ở bờ hồ Ghen-nê-xa-rét, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa. 2 Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. 3 Đức Giê-su xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Si-môn, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông. 
4 Giảng xong, Người bảo ông Si-môn: "Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá." 5 Ông Si-môn đáp: "Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới." 6 Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. 7 Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm. 
 8 Thấy vậy, ông Si-môn Phê-rô sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói: "Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!" 9 Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Si-môn và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. 10 Cả hai người con ông Dê-bê-đê, là Gia-cô-bê và Gio-an, bạn chài với ông Si-môn, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giê-su bảo ông Si-môn: "Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta." 11 Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.                        

 III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
 3.1 Chân dung Thiên Chúa (Thiên Chúa là Đấng nào?)    
 3.1.1 Bài đọc 1 (Is 6,1-2a.3-8) là đoạn văn mô tả một thị kiến mà ngôn sứ I-sai-a được Thiên Chúa cho thấy về Thiên Chúa. Nhờ đó mà có được hai kết quả tốt lành sau đây: Thứ nhất là I-sai-a ý thức rằng Thiên Chúa là Đấng cao cả khôn lường, còn ông chỉ là một tạo vật thấp hèn, vô cùng bất xứng với sứ mạng ngôn sứ mà Thiên Chúa muốn giao cho ông. Thứ hai là ông được chuẩn bị tâm hồn để sẵn sàng đáp lại lời mời và sự chờ đợi của Thiên Chúa. Lời I-sai-a: "Dạ, con đây, xin sai con đi" là kết quả kỳ diệu mà Thiên Chúa đã thực hiện nơi I-sai-a.    
àTrong đoạn Is 6,1-2a.3-8 trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng cao trọng và thánh thiện vô cùng, ngự trên ngai tòa uy nghi, chung quanh có các thiên thần đứng chầu và hát ca chúc tụng. Đồng thời chúng ta thấy Thiên Chúa rất gần gũi với con người, quan tâm đến việc giúp đỡ dân Ít-ra-en sống theo Lề Luật của Thiên Chúa nên mới tìm người để sai đến với họ. Lời “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?” cho chúng ta thấy điều đó. Một đặc điểm nữa của Thiên Chúa là Người rất tôn trọng sự tự do và tự nguyện của I-sai-a. Thiên Chúa không ép mà chờ ông tự nguyện đáp lại lời mời và sự chờ đợi của Thiên Chúa.   
3.1.2 Bài đọc 2 (1 Cr 15, 1 -11) là trích đoạn của thư thứ nhất của Thánh Phao-lô gửi tín hữu Cô-rin-tô, trong đó có hai ý. Ý thứ nhất là nội dung niềm tin Ki-tô giáo mà các Tông đồ, trong đó có Phao-lô, hằng rao giảng và các tín hữu đã đón nhận. Nội dung đó là Chúa Giê-su Ki-tô, Con Một Thiên Chúa, đã xuống thế làm người, đã chịu chết để cứu chuộc loài người, đã phục sinh và hiện ra với các Tông đồ và nhiều người, phù hợp với lời Thánh Kinh đã chép về Người. Ý thứ hai là ơn gọi làm Tông đồ và thái độ khiêm tốn của Phao-lô, vì ngài ý thức việc sai trái đã làm trước khi được Chúa hiện ra và biến đổi ngài nên người phục vụ Tin Mừng giữa dân ngoại. 
àTrong đoạn 1 Cr 15,1-11 trên, chúng ta khám phá ra nhiều điều: (a) Thiên Chúa là Đấng đã ra tay cứu vớt loài người trong việc sai Con Một đến trần gian; (b) Chúa Giê-su đã cứu chuộc loài người bằng con đường thập giá; (c) Thiên Chúa rộng lượng vô cùng nên chẳng những không chấp tội Phao-lô mà còn dùng ông vào việc rao giảng Ơn Cứu Độ cho cả người Do Thái lẫn dân ngoại. 
3.1.3 Bài Tin Mừng (Lc 5, 1-11) là đoạn của Phúc âm Lu-ca kể lại hai việc mà Chúa Giê-su đã làm ở bờ hồ Ghen-nê-xa-rét. Việc thứ nhất là Chúa Giê-su giảng dậy cho đám đông. Việc thứ hai là Người làm phép lạ cho các Tông đồ được mẻ cá phi thường. Kết quả là các ông “đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người”
là Qua đoạn Phúc Âm Lc 5, 1-11 này chúng ta khám phá ra Chúa Giê-su sống gần gũi và quan tâm đến nhu cầu của những người chung quanh. Đám đông dân chúng khao khát Lời Chúa và ánh sáng soi đường, thì Chúa ân cần giảng dậy họ. Các Tông đồ đang thất vọng về một đêm lao động không kết quả thì Chúa giúp họ có được mẻ lưới đầy thuyền. Các Tông đồ đi theo Chúa nhưng chưa biết nhiều về Người thì Chúa cho các ông chứng kiến một sự kiện lạ lùng ngoài khả năng tự nhiên của con người, để các ông vững tin trong quyết định đi theo Người. Chúa Giê-su quả là một nhà sư phạm, một nhà giáo tuyệt vời, vừa có lòng vừa có tâm lý.
 3.2 Sứ điệp Lời Chúa (Thiên Chúa muốn chúng ta làm gì?)    
 Thiên Chúa mời và chờ đợi I-sai-a tư nguyện làm ngôn sứ (bài đọc 1). Thiên Chúa mời và chờ đợi các tín hữu Cô-rin-tô tin vào Chúa Giê-su qua lời rao giảng của các Tông đồ (bài đọc 2). Chúa Giê-su mời và chờ đợi đám đông và các môn đệ đầu tiên nghe và tin vào Lời  Người (bài Phúc Âm).
Vậy sứ điệp của Lời Chúa hôm nay rất đơn giản và dễ hiểu. Đó là: hãy tin và đi theo Chúa tức hãy đáp lại lời mời và sự chờ đợi của Chúa.
Những lời mời và sự chờ đợi của Chúa ở hai mức độ khác nhau: (a) tin vào Chúa Giê-su là Chúa Cứu Thế và trở thành Ki-tô hữu, như các Tông Đồ và Hội Thánh hằng rao giảng và mời gọi. (b) đáp lại lời mời và sự chờ đợi của Chúa để trở thành ‘ngôn sứ’ của Chúa như I-sai-a hay ‘tông đồ’ của Chúa như Phê-rô, An-rê, Gio-an, Gia-cô-bê và Phao-lô….

 IV. SỐNG VỚI CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI
 4.1 Sống với Thiên Chúa Cha là Đấng Chí Thánh đã tỏ mình ra với I-sai-a; để mời gọi ông làm ngôn sứ của Người; Sống với Chúa Giê-su là Đấng đã kêu gọi và thuyết phục các Tông Đồ bằng mẻ cá phi thường để các ông bỏ hết mà đi theo Người; Sống với Chúa Thánh Thần là Đấng luôn hiện diện và hành động với Chúa Cha và Chúa Con trong mọi diễn tiến của lịch sử cứu độ.
 4.2 Thực thi sứ điệp Lời Chúa 
 Để thực thi sứ điệp mà Chúa gửi cho tôi hôm nay, tôi phải kiểm điểm xem tôi được Chúa mời và chờ đợi gì? và tôi đã đáp lại Người như thế nào?
* Nếu Thiên Chúa mời và chờ đợi tôi làm Ki-tô hữu, thì tôi đã đáp lại Người đầy đủ chưa? Tôi là Ki-tô hữu loại nào: loại xác tín tích cực hay loại thờ ơ thụ động?
* Nếu Thiên Chúa mời và chờ đợi tôi làm ngôn sứ hay tông đồ, thì tôi đã đáp lại Người đầy đủ chưa? Tôi là ngôn sứ và tông đồ loại nào: loại sống chết vì sứ vụ hay loại thi hành sứ vụ như viên công chức?   

 V. CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH VÀ LOÀI NGƯỜI
 5.1 «Dạ, con đây, xin sai con đi.» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục và Phó Tế, để các ngài mau mắn đáp lại lời mời của Thiên Chúa như ngôn sứ I-sai-a và từ bỏ tất cả để theo Chúa như Si-mon Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê!
 Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!  Đáp:  Xin Chúa nhận lời chúng con! 
 5.2 «Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho Hội Thánh tại Việt Nam trong Năm Đức Tin 2013 này, để mọi thành phần Dân Chúa dấn thân vào việc loan báo Tin Mừng một cách dũng cảm, không sợ sệt và chùn bước trước những khó khăn, bách hại từ những kẻ ghen ghét Đạo Thánh Chúa!
Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!  Đáp:  Xin Chúa nhận lời chúng con! 
 5.3 «Từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho các tông đồ giáo sĩ cũng như giáo dân, để họ biết cách thu phục nhân tâm của những người chung quanh bằng lòng chân thật và đời sống bác ái yêu thương! 
Xướng: Chúng con cầu xin Chúa!Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con! 
 5.4 «Họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho các Ki-tô hữu trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta để ai nấy chấp nhận từ bỏ những gì cản trở việc đi theo Chúa Giê-su và thực thi những điều Chúa đã dậy trong Phúc Âm! 
Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!  Đáp:  Xin Chúa nhận lời chúng con! 
 Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.    

 

TN5-C74:  CẦU DỪA ĐỦ XOÀI

Truyện kể về một linh mục qua đời đến cổng thiên đàng, gặp thánh Phêrô giữ cửa. Thánh Phêrô hỏi: TN5-C74

Truyện kể về một linh mục qua đời đến cổng thiên đàng, gặp thánh Phêrô giữ cửa. Thánh Phêrô hỏi:
- Con muốn vào thiên đàng phải không? Con phải kể cho cha biết khi ở trần gian con đã làm được những gì.

Linh mục trả lời:
- Thưa thánh Phêrô, con đã mở được một nhà mồ côi chăm sóc trẻ con bị bỏ rơi hoặc cha mẹ chết sớm.
- Tốt. Con được một điểm. Còn gì nữa?
- Thưa thánh Phêrô, con đã xây được một nhà thờ làm nơi giáo hữu đến dâng của lễ và cầu nguyện sốt sắng.
- Tốt. Được thêm một điểm nữa. Con còn gì nữa không?
- Thưa thánh Phêrô, con đã viết sách viết báo hướng dẫn cho người ta biết Chúa và sống ngay lành.
- Tốt, được thêm một điểm nữa. Con còn gì nữa không?

Linh mục gãi đầu:
- Thưa thánh Phêrô, vậy bao nhiêu điểm mới được vào thiên đàng cơ ạ?
-100 điểm.

Linh mục bối rối:
- Con chỉ có bấy nhiêu việc. Còn thì mọi sự đều do ơn Chúa cả.

Thánh Phêrô nói ngay:
- Vậy thì con đủ 100 điểm để vào thiên đàng rồi.

CÔNG THỨC NẤU MÓN HẠNH PHÚC CỦA VĂN HÓA VIỆT
Câu truyện trên nói lên một phần cái cảm nghiệm từ thâm tâm mỗi người: trên mình còn có một lực lớn hơn, sức riêng của mình chỉ là phần nhỏ nhoi, mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên: con người thì cứ phải lo toan tính toán, nhưng thành đạt hay không còn do ơn Trời. Đây cũng là niềm tin chung của người dân Việt qua bao thời. Người bình dân thấy rõ được việc làm ăn vất vả lam lũ cấy cầy, nhưng Ông Trời không phù hộ thì cũng vô ích. Chính vì thế mà vừa làm lụng canh tác người mình vừa cầu xin qua lời ca dao mộc mạc:
Ơn Trời mưa nắng phải thì,
Nơi thì bừa cạn nơi thì cầy sâu.

Niềm tin này cũng được diễn tả qua nét vuông tròn của văn hóa Việt. Đầu năm mọi người chúc nhau mọi sự được vuông tròn, làm ăn phát đạt. Khi có người sắp đi sinh thì chúc cho được mẹ tròn con vuông, mọi sự may lành.
Không hiểu từ thời nào mà nét tròn của bánh dầy bị mai một biến đi trong nhiều gia đình qua phong tục ngày tết. Hình ảnh tết chỉ còn được ghi lại: thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ; nêu cao, pháo nổ, bánh chưng xanh. Ít thấy bánh dầy tròn! Đang khi công thức nấu món hạnh phúc của tổ tiên lại rất rõ: nét vuông phải trộn kỹ với nét tròn thì mới vuông tròn sung mãn được. Nét vuông chỉ đất, vật chất; nét tròn chỉ Trời, tinh thần. Vậy mà chỉ còn giữ bánh chưng không thì còn chúc nhau hạnh phúc làm sao được, nên cứ bị khốn khổ tối tăm mặt mày là phải! Không khéo mà người mình lại đi dạy cho con cháu cái "chủ thuyết" duy vật trong phong tục ngày tết. Rõ ràng đây nhá: sau khi chúc tuổi và lì xì cho con cháu xong, cả nhà bày bánh chưng ra ăn, gọi là ăn tết, không thấy dấu vết bánh dầy đâu.Trong thực tế và trong vô thức, nhiều người đã cổ võ chủ nghĩa duy vật từ lâu, mang cả vào trong ngày tết là ngày linh thiêng nhất, là ngày quyết định hướng nhìn và hướng đi cho cả năm. Bỏ bánh dầy là vất Trời tròn đi, cho ông Trời "lây-óp", để quyết cậy vào sức riêng cho là vuông vắn của mình, thì khấm khá thế nào được! Thế mới phải lãnh đủ!
Ta về ta dựng mây lên
Trời xe mây lại một bên hòn Lèn.

Ở miền Nam nhiều nơi có thói quen tết bằng bốn thứ trái cây: măng cầu, dừa, đu đủ và xoài. Ấy là muốn diễn tả niềm tin cậy vào ơn Trời tròn cho cả năm với ý nguyện "cầu vừa đủ sài." Nhưng vào thời buổi kinh tế vĩ mô "toàn cầu" thờ thần đô la trọng tài khinh nghĩa này, một vài người bèn nói chơi là thay vì măng cầu thì tết bằng trái chôm chôm cho chắc ăn. Có nghĩa là nhiều người không cần cầu nữa, mà chỉ lo đi chôm chỉa chộp giật cho lợi tức gia tăng theo đà "tiến hóa tất yếu của lịch sử người là con vật rình mồi."
Có lần một người Mỹ trắng đến tham dự một buổi hội chợ Tết Việt để tìm hiểu nét văn hóa người mình qua sinh hoạt ngày tết, đã nhận xét một câu ngắn gọn nhưng làm giật mình: "Tôi đọc truyện hoàng tử Tiết Liệu làm bánh dầy bánh chưng mà được nối ngôi làm vua thì cũng ham quá. Nhưng vào đây tôi tìm mãi mà chưa thấy bánh dầy đâu."
Bánh dầy như người Mỹ này nói không chỉ là đồng bánh dầy bị bỏ mất trong phong tục ngày tết, mà còn là những nét tròn đề cao tâm linh và giáo dục như hoàng tử Tiết Liệu đã được thần linh soi sáng cho biết. Những sinh hoạt chỉ diễn nét vuông không thôi thì cũng phải coi chừng lắm.

TIN VUI CHO LỜI CHÚC LÀM ĂN PHÁT ĐẠT
Ngày đầu năm người mình có phong tục "xông nhà". Được người tốt phúc đến chúc tuổi thì may biết chừng nào, như kiểu bà Eligiabet đã nói với người em họ là Maria: "Bởi đâu tôi được mẹ Thiên Chúa đến thăm tôi, vì tai tôi vừa nghe lời em chào thì hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi." Ai cũng chúc nhau một năm hạnh phúc, được mạnh khỏe, làm ăn phát đạt. Nhưng có được như vậy không lại là một chuyện khác. Chả lẽ đây chỉ là chuyện may rủi?!
Tin Vui tuần này kể lại câu truyện mẻ cá lạ. Các môn đệ lam lũ cực nhọc suốt đêm mà chả được gì cả, nhưng khi nghe lời Chúa Giêsu "Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá" (Luca 5:4), thì đã "bắt được rất nhiều cá, lưới các ông hầu như bị rách. Bấy giờ các ông làm hiệu cho cho các bạn chài ở thuyền bên cạnh đến giúp đỡ các ông. Những người này tới, họ đổ cá đầy hai chiếc thuyền, đến nỗi những thuyền chở nặng gần chìm"(Luca 5:6-7).
Muốn làm ăn khấm khá phát đạt thì hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu. "Chỗ nước sâu" được khoa tâm lý miền sâu ngày nay diễn tả là chính cõi tâm, đời sống nội tâm. Đang khi các hoàng tử khác của vua Hùng lo hướng ngoại vật chất, đi khắp nơi để kiếm tìm cách thức đạt điểm để có thể nối ngôi làm vua sống sang giầu hạnh phúc, thì hoàng tử Tiết Liệu lại tìm vào sức mạnh của nội tâm. Ông thấy sức mình quá giới hạn, lại thấp cổ bé miệng, nên lo đi trồng mãng cầu, tức là tìm cầu khẩn ơn Trời. Mà quả thực, khi tin tưởng và cầu khấn với thần linh, ông đã được ơn soi sáng biết được công thức nấu món hạnh phúc, làm ăn phát đạt, được nối ngôi làm vua.

PHÚT CẢM NHẬN VUÔNG TRÒN
Thánh Phêrô đã nhận ra sức riêng thật nhỏ nhoi khi chứng nghiệm thần lực Chúa lớn lao chừng nào: "Lạy Chúa, xin tránh xa con vì con là người tội lỗi" (Lc 5: 8).
Tiên tri Isaia đã cảm nhận sự bất xứng của mình khi được Chúa mời gọi: "Vô phúc cho tôi, tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn."
Và thánh Phaolô cũng nhận ra mình: "Tôi vốn là kẻ hèn mọn nhất trong các tông đồ, và không xứng đáng được gọi là tông đồ, vì tôi đã bắt bớ hội thánh của Chúa."
Tất cả đều thấy rõ nét vuông của sức mình mà tin tưởng vào sức thiêng Trời tròn: Có Chúa chăn dẫn tôi, tôi luôn được đầy đủ.
Chả lẽ mình quá tin tưởng vào nét vuông trong việc làm ăn hiện tại để đến nỗi không còn giờ cầu nguyện, không còn dành đủ giờ cho nét tròn của đời sống nôi tâm?
Vâng, con muốn tìm vào cõi tâm, dành ra mỗi ngày mấy phút trước khi đi ngủ để thực hành công thức nấu món hạnh phúc vuông tròn, như tâm tình ca dao Việt luôn tin tưởng vào ơn Trời.
Non kia ai đắp nên cao
Sông kia ai bới ai đào mà sâu

 Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

 

TN5-C75: Bất lực

Đang đi bên này sông, tình cờ nhìn thấy một người bạn thân lâu năm không gặp, đang đứng ở bên TN5-C75

Đang đi bên này sông, tình cờ nhìn thấy một người bạn thân lâu năm không gặp, đang đứng ở bên kia sông, bấy giờ chúng ta sẽ làm gì? Tôi xin thưa rằng chúng ta làm mọi việc có thể, nào gọi to, nào vẫy tay, nào kiếm một cái xuồng để qua sông. Thế nhưng có một điều chúng ta lại không làm đó là nhảy xuống sông để bơi qua bờ bên kia, vì làm như thế chúng ta sẽ bị cho là điên khùng.
Tuy nhiên, điều điên khùng này chính thánh Phêrô đã làm. Phúc Âm kể lại, khi nhìn thấy Chúa Giêsu đi trên mặt nước, thánh Phêrô cũng đã nhảy xuống nước mà tiến lại với Chúa Giêsu. Có lẽ lúc bấy giờ thánh Phêrô cũng đã thầm nghĩ: Điều Thầy đã làm thì tại sao tôi lại không làm được. Nhưng rồi ông bắt đầu nghi ngờ và bị chìm dần xuống mặt nước. Bấy giờ ông bèn van xin Chúa giúp đỡ. Chính trong cái bối cảnh này mà chúng ta nhận thấy Phêrô cần phải sửa chữa cái thói tự cao tự đại, quá ỷ vào sức riêng của mình. Ông cần phải ý thức được những giới hạn của mình, cũng như những khả năng nhỏ bé và những bất lực của mình để nhờ đó mà khiêm nhường hơn.
Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng đã dùng chiến thuật đó để răn dạy Phêrô. Sau một đêm vất vả chẳng bắt được một con cá nào, thế mà giữa ban ngày ban mặt Chúa Giêsu lại truyền cho ông phải thả lưới, và rồi sau đó một mẻ cá lạ lùng đã xảy ra. Sau mẻ cá lạ lùng ấy Phêrô đã thú nhận sự bất lực của mình: Lạy Chúa, xin hãy xa con vì con là kẻ tội lỗi.
Với mỗi người chúng ta cũng vậy, Chúa chờ mong chúng ta thú nhận sự bất lực, sự hạn hẹp của mình, để rồi tin tưởng và phó thác cho Ngài, cũng như để Ngài sẽ ra tay cứu giúp. Và đó chính là cái nền tảng để xây dựng đức tin.
Thế nhưng con người thời nay, đã hành động một cách khác hẳn. Với những thành công của khoa học, với những bước tiến nhảy vọt của kỹ thuật, người ta muốn lên ngôi bá chủ và không còn lệ thuộc vào Thiên Chúa nữa. Người ta không còn muốn cầu nguyện vì tưởng rằng sẽ không bao giờ còn cần đến một sự trợ giúp từ trời cao.
Thế nhưng nếu suy nghĩ cho chín chắn, chúng ta nhận thấy rằng: Khoa học càng tiến bộ thì lãnh vực của nó càng mở rộng, tưởng chừng như vô tận. Hơn nữa dù kỹ thuật có tân kỳ thì những sơ hở và trục trặc vẫn có thể xảy ra. Chỉ sơ hở một chút là sẽ tiêu ma cả một công trình nghiên cứu, như trường hợp đã xảy ra cho phi thuyền “Schalenger” của Mỹ, đã thiêu sống cả một phi hành đoàn gồm 6 người.
Đứng trước không gian vô tận, đứng trước thiên nhiên hùng vĩ, đứng trước những sự trục trặc của kỹ thuật, chúng ta mới nghiệm ra rằng: Tài năng con người thật nhỏ nhoi và có nhiều lãnh vực dường như con người cũng phải bó tay chưa khám phá ra nổi. Để rồi trong cố gắng, chúng ta vẫn phải khiêm nhường, nhờ đó mà chúng ta sẽ nhận được những sự trợ giúp của Thiên Chúa.


 

TN5-C76:  Được mời gọi để loan báo Tin Mừng

Franco là một kịch sĩ người Italia nổi tiếng. Suốt 40 năm lão luyện trong nghề, ông đã đặt hàng TN5-C76

Franco là một kịch sĩ người Italia nổi tiếng. Suốt 40 năm lão luyện trong nghề, ông đã đặt hàng trăm vở kịch thành phim được chiếu trên màn ảnh truyền hình nhà nước, từ năm 1980 đến nay ông đã dùng để rao giảng Lời Chúa. Franco đi khắp các thành phố và xứ đạo Italia, vào các nhà tù hay tham dự đại hội ca múa dân tộc để trình diễn Phúc Âm. Ông dùng mọi nhân tố kịch nghệ để đạo diễn Tin Mừng, chẳng hạn 16 chương Phúc Âm thánh Marcô được ông diễn xuất thành 96 cảnh. Ước mong duy nhất của ông là dùng kịch nghệ để loan báo Lời Chúa. Trong số bạn bè và người thân, có kẻ chế nhạo ông là người mất trí, nhưng cũng có nhiều người khuyến khích ông trong sáng kiến mới này, và đã có hàng trăm ngàn người được nghe loan báo Tin Mừng cứu độ qua hình thức nghệ thuật đó. Ông tâm sự: "Tôi thật may mắn được tin vào Chúa Giêsu và có Ngài làm bạn đường trong đời. Không có Chúa Giêsu, cuộc đời thật là nhạt nhẽo vô vị. Và chính lòng tin đã giúp tôi nảy ra sáng kiến lấy Ngài làm đề tài diễn xuất. Trong bao nhiêu năm cuộc đời nghệ sĩ, tôi đã chỉ nói và diễn xuất những gì người khác biết. Nhưng từ 10 năm nay, tôi đã lựa chọn việc thông truyền cho khán thính giả lịch sử nhất thế giới, đó là Phúc Âm kể lại cuộc đời Chúa Cứu Thế".
Là Kitô hữu, mỗi người trong chúng ta cũng được mời gọi dùng các tài năng và cuộc sống của mình để loan báo Tin Mừng cứu độ của Chúa, đó là sứ điệp Giáo Hội muốn nhắn gởi chúng ta qua các bài đọc Chúa Nhật hôm nay. Ba bài đọc giới thiệu với chúng ta ba ơn gọi khác nhau. Ơn gọi của tiên tri Isaia, thánh Phaolô, thánh Phêrô và các bạn đồng nghiệp.
Isaia 6 lồng khung ơn gọi của ông trong lịch sử cứu độ của dân Do Thái, để khiển trách dân Do Thái sống trong tội lỗi và bất trung với Thiên Chúa. Ngài can thiệp bằng cách mời gọi Isaia trở thành sứ giả ra đi rao giảng Lời Ngài, giúp dân Israel hoán cải, dẫn đưa họ về với Chúa. Tiên tri chẳng những là người thấy trước tương lai nhưng còn là phát ngôn viên của Chúa, là sứ giả mang sứ điệp của Thiên Chúa xuống cho loài người. Ơn gọi đổi đời của Isaia xảy ra trong khung cảnh lúc cử hành phụng tự ở đền thờ Giêrusalem, ông được sống kinh nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa bằng các giác quan của mình. Isaia trông thấy Thiên Chúa ngự trị trên tòa vinh quang. Tòa cao là hình ảnh diễn tả xa cách con người ở trần gian hư hỏng tội lỗi này. Isaia còn được nghe tiếng của các thiên thần hát tung hô Thiên Chúa. "Thánh, Thánh, Thánh". Ba lần thánh là kiểu cách diễn tả sự vẹn toàn siêu việt và thánh thiện của Ngài. Trước sự thánh thiện cao cả tuyệt đối của Thiên Chúa, Isaia nhận thức ra thân phận yếu hèn tội lỗi bất xứng của mình. Xác tín con người tội lỗi không thể xem thấy Thiên Chúa, nếu trông thấy Người, con người sẽ phải chết. Tuy nhiên, Kinh Thánh cũng thường diễn tả tội lỗi của con người bằng cách nêu bật sự kiện Thiên Chúa Abraham cứu độ con người, bởi vì Ngài là Đấng duy nhất có thể biến đổi và thánh hóa con người. Để hiện thực điều đó, Thiên Chúa chọn lửa dùng thiêu đốt của lễ trên bàn thờ để thanh tẩy tội lỗi của Isaia, tạo dựng một tâm hồn mới. Ơn gọi của Isaia đã phát sinh trong khung cảnh của một đền thờ, giữa bầu khí trật tự trong lúc nguyện cầu thinh lặng trước mặt Chúa. Sự lựa chọn của ông là kết quả của một sự tự do, tươi vui, hăng hái nhưng là một quyết định liều lĩnh, bởi vì nó dẫn đưa Isaia vào một cuộc đối thoại đổi đời, một cuộc phiêu lưu mạo hiểm với những hệ lụy không lường được.
Thánh Luca đoạn 5 kể lại ơn gọi của thánh Phêrô và các bạn chài đồng nghiệp. Trong tường thuật, thánh sử Luca không cố ý nhấn mạnh đến phép lạ mẻ lưới nhiều cá cho bằng nêu bật kết quả mà Lời Chúa có thể tác động trong thế giới và ngay tâm lòng con người. Do đó, mọi nhân tố của bài tường thuật đều mang một ý nghĩa lệnh lạc. Hồ Giênêsareth mênh mông dài 21 cây số, ngang 12 cây số, và sâu 45 thước diễn tả thế giới này. Lời Chúa là cái lưới đánh cá, Phêrô và các bạn chài và tất cả những ai có nhiệm vụ rao truyền Lời Chúa. Một đêm vất vả mỏi mệt và thái độ chán nản của Phêrô với các bạn chài đồng nghiệp diễn tả các đặc thái sinh hoạt của Giáo Hội cũng như các động tác các thừa tác viên Lời Chúa. Mỗi khi Giáo Hội và các thừa tác viên coi mình là trung tâm điểm, là nhân vật chính trong công tác rao truyền Tin Mừng, mỗi khi Giáo Hội và các thừa tác viên chỉ cậy dựa trên sức lực của mình, trên các phương diện tài chính, trên các con số, các nhân lực, làm thế các thừa tác viên Lời Chúa sẽ không được gì. Trừ khi nào biết có thái độ khiêm tốn, vâng lời, phó thác hoàn toàn nơi sức mạnh Lời Chúa và để cho Chúa chủ động hướng dẫn mọi sự, thì Giáo Hội và các thừa tác viên Lời Chúa mới được một mẻ lưới đầy cá.
Đối với tâm lòng của mỗi người, Lời Chúa có sức mạnh biến đổi toàn cuộc sống đó là điều đã xảy ra cho Phêrô. Phêrô lại chèo thuyền ra khơi thả lưới. Sự kết quả nghe Lời Chúa, Phêrô và các bạn đồng nghiệp nhận ra mình là người yếu hèn và tội lỗi. Chúa Giêsu chỉ chờ có thế và kêu mời các ông trở thành cộng sự viên của Ngài trong công tác loan báo Tin Mừng cứu độ cho toàn thế giới. Phêrô và các bạn đồng nghiệp đã gặp gỡ Chúa Giêsu ngay trong khung cảnh cuộc sống thường ngày của họ và các sinh hoạt nghề nghiệp, qua biến cố của nếp sống thường nhật, Chúa Giêsu kêu gọi họ trong chính khung cảnh và tình trạng sống vật chất và tinh thần hạn hẹp ấy của cuộc đời họ. Chúng ta tất cả cũng có thể gặp gỡ Chúa ở khắp mọi nơi và trong mọi lúc của cuộc đời chúng ta. Và mỗi một cuộc gặp gỡ sâu đậm thật sự với Chúa Giêsu và Lời Ngài có tác dụng biến đổi tâm lòng của cuộc sống chúng ta để trở thành những nhà truyền giáo. Vấn đề là chúng ta biết thái độ của thánh Phêrô hay không? "Vâng lời Thầy con thả lưới".
Thư thứ nhất gởi cho giáo đoàn Côrintô đoạn 15, thánh Phaolô truyền lại cho giáo hữu Côrintô kinh Tin Kính của cộng đoàn Kitô tiên khởi tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết để đền bù tội lỗi cho loài người. Đấng đã bị chôn trong mồ và ngày thứ ba sẽ sống lại như lời Thánh Kinh. Thánh nhân cũng ghi lại những lần Chúa Kitô Phục sinh hiện ra cho các tông đồ, cho thánh Giacôbê, thủ lãnh của cộng đoàn Kitô hữu ở Giêrusalem và cho năm trăm môn đệ của cộng đoàn Kitô hiện thời. Và sau cùng, Chúa Kitô Phục sinh cũng đã hiện ra với thánh nhân trên đường Đamas, nghĩa là niềm tin vào Chúa Kitô Phục sinh là một kinh nghiệm sống động chớ không phải là một chuyện trừu tượng không chứng cớ. Kẻ sinh sau đẻ muộn thánh Phaolô, các biến cố đổi đời và ơn gọi của ngài là một cuộc tái sinh, bất ngờ gặp gỡ, không thể tưởng tượng được đối với một người chẳng những đã không tin vào Chúa Kitô mà lại còn bắt bớ thù ghét Chúa nữa. Trên con đường lòng tin, thánh nhân giống như một bào thai bị phá hoại và phải chết xa lòng mẹ. Những cuộc gặp gỡ bất ngờ với Chúa Kitô Phục sinh chẳng những đã trao ban cho thánh nhân cuộc sống mới trong ơn thánh, và còn cho thánh nhân trở thành tông đồ nhận lãnh từ Chúa Giêsu trong sứ mạng loan báo Tin Mừng cứu độ của Ngài cho muôn dân nữa. Ơn gọi Kitô là ơn gọi phát sinh từ một cuộc gặp gỡ đổi đời đối với Chúa Kitô Phục sinh. Những cuộc gặp gỡ ấy Chúa Kitô Phục sinh trao ban cho chúng ta sứ mạng làm chứng cho Ngài, và loan báo Tin Mừng cứu độ cho tất cả mọi người. Nhưng chúng ta có sẵn lòng nhận và ra đi như tiên tri Isaia, như thánh Phaolô, thánh Phêrô và các bạn đồng nghiệp của ngài hay không?

 

TN5-C77:  Lợi ích của vâng lời - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Người ta vẫn thường nói: "sau đêm dài là ánh bình minh". Cuộc đời không phải lúc nào cũng tối TN5-C77

Người ta vẫn thường nói: "sau đêm dài là ánh bình minh". Cuộc đời không phải lúc nào cũng tối tăm. Có những lúc tưởng như vô vọng nhưng dịp may lại đến với chúng ta. Có những lúc tưởng như không còn lối thoát nhưng bàn tay kỳ diệu của Đấng Tạo hoá đã kịp thời mở lối cho chúng ta.
Lời Chúa hôm nay kể về một câu chuyện rất đời thường của những người dân nghèo thuyền chài miền Galilêa. Họ vật vã với sóng gió biển cả suốt đêm. Họ luôn phải đối mặt với biết bao hiểm nguy. Thế nhưng lưới vẫn nhẹ, thuyền vẫn rỗng vì chẳng bắt được con cá nào. Ánh bình minh hôm nay không đem lại cho họ niềm vui. Niềm hân hoan của ngày mới không đến với họ. Họ thất vọng nhiều hơn vui. Một đêm vất vả chẳng được gì là dấu chỉ cho một ngày cơm bữa no bữa đói. Lòng buồn vời vợi. Họ ngồi giặt lưới trong tâm trạng nặng trĩu những âu lo. Thuyền lứơi của họ xem ra đã vô dụng. Bỗng dưng Thầy Giêsu lại muốn sử dụng chiếc thuyền của họ. Chúa mượn thuyền của Phêrô. Con thuyền mà Phêrô tưởng chừng như chẳng giúp ích gì cho ông. Thuyền đánh cá nhưng có được con cá nào đâu? Chúa mượn thuyền Phêrô không phải để đánh cá mà dùng làm phương tiện rao giảng tin mừng. Cuối đoạn tin mừng Chúa lại mượn luôn con người Phêrô làm kẻ chuyên lo chài lưới người.
Xem ra những thất bại trong cuộc đời luôn là cơ hội để chúng ta thay đổi cuộc sống. Vì Thất bại là mẹ thành công. Thất bại để hiểu rõ sự thật, để hiểu rõ con người và lượng giá sức người cho phù hợp với khả năng để tiến tới thành công. Phêrô đã thay đổi phận số đời mình từ ngày ông cho Chúa mượn chiếc thuyền làm phượng tiện rao giảng Tin mừng. Từ ngày Phêrô vâng lời Thầy Giêsu chèo ra chỗ sâu mà thả lưới bắt cá xem ra đã thay đổi mọi suy nghĩ của Phêrô. Phêrô từ đó đã đi theo Chúa. Phêrô từ đó càng hiểu hơn về giá trị của vâng lời. Vâng lời Thầy là tin tưởng hoàn toàn vào Thầy. Vâng lời là nhìn nhận sự yếu kém bất toàn của mình để làm theo lời Thầy chí thánh mà có lần ông đã tuyên xưng: "Thầy là Con Thiên Chúa". Vâng lời Thầy là làm tất cả những gì Thầy muốn Phêrô làm. Phêrô đã thành công khi vâng lời thầy chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới. Ông đã được một mẻ cá quá lớn, lớn đến nỗi một mình Phêrô không mang về hết phải nhờ đến các bạn đồng nghiệp. Mẻ cá này là hình ảnh tiên báo cho lời giảng thuyết đầu tiên của Phêrô sau ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống. Phêrô đã mang về cho Giáo hội hơn 3000 người tin theo Chúa.
Vâng, những thất bại trong cuộc đời. Những cay đắng trong cuộc sống đôi khi thật cần thiết để hoàn thiện con người chúng ta. Có những người suốt đời gặp toàn điều may lành có lẽ họ không cảm thấy sự bất toàn của mình để khiêm tốn sống đúng với con người thật của mình. Vì "biết người biết ta trăm trận trăm thắng". Không biết rõ mình nên khó có thể đứng vững trước nguy nan, trước sóng gió cuộc đời. Khi con người biết rõ giới hạn của mình là lúc con người sống khiêm tốn để cần sự trợ giúp của tha nhân, nhất là của Thiên Chúa.
Nhà bác học Archimède đã từng nói: "Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng trái đất này lên". Kinh nghiệm cho thấy: cho dù phiến đá đồ sộ to lớn mấy chăng nữa! nếu đòn bẩy có điểm tựa sẽ dễ dàng lăn tảng đá rời khỏi vị vị. Archimède đã dựa vào kinh nghiệm rất đời thường để xác tín điều đó. Ở đời cũng vậy, có nhiều việc tưởng chừng như sẽ bỏ dở dang, thế nhưng nhờ ơn trời và sự trợ giúp của nhiều người công việc đã tiếp diễn thật tốt đẹp, ngoài sức tưởng tượng. Và đôi khi cũng có nhiều ngừơi xem ra bất tài vô dụng nhưng họ vẫn thành công khiến chúng ta sững sờ ngạc nhiên. Sự thành công đến với họ không do tài trí của họ mà do sự trợ giúp của những người thân, của đồng nghiệp. Và trên hết đó chính là ơn ban của Chúa dành cho những ai biết tin tưởng cậy trông vào Chúa. Simon Phêrô đã dựa vào Lời Chúa mà ông đã bắt được một mẻ cá thật kỳ diệu. Các tông đồ đã dựa vào sức mạnh của Chúa để ra đi loan báo tin mừng. Các ngài đa phần là dân chài nghèo hèn thế mà đã thay đổi cả thế giới. Văn hoá kytô giáo đã phủ khắp năm châu bốn biển không do tài trí của con người, mà do quyền năng Chúa thực hiện trên những con người yếu hèn như khí cụ của Chúa.
Ước gì mỗi người chúng ta luôn biết cậy dựa vào Chúa để can đảm ra đi loan báo tin mừng. Ước gì mỗi người chúng ta dầu trong hoàn cảnh nào, cũng không bỏ cuộc nhưng luôn tin tưởng vào ơn trợ giúp của Chúa sẽ dẫn chúng ta đi qua những thăng trầm của cuộc đời. Cuộc đời luôn có những khó khăn. Dòng đời luôn có những bấp bênh nhưng chúng ta hãy tin tưởng, Chúa sẽ luôn kịp thời nâng đỡ và giải cứu chúng ta khỏi những nguy nan, bất trắc và hiểm nguy. Xin Chúa giúp chúng ta luôn biết chạy đến với Chúa và kêu cầu Chúa trong những lúc nguy nan. Amen.


 

TN5-C78:  Được gọi cộng tác với Thiên Chúa

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)
 

Các bài đọc trong thánh lễ Chúa Nhật hôm nay đều đề cập đến ơn gọi. Tiên tri Isaia đã được TN5-C78

Các bài đọc trong thánh lễ Chúa Nhật hôm nay đều đề cập đến ơn gọi. Tiên tri Isaia đã được thấy Thiên Chúa và cảm nhận thân phận nhơ uế của mình. Thiên Chúa đã xá tội bằng thanh tẩy đôi môi nhơ uế của Ysaya với than hồng nơi bàn thờ. Thiên Chúa phán: “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Isaia đã lên tiếng đáp lời: “Dạ, con đây, xin hãy sai con”. Thiên Chúa cần con người, và Isaia đã sẵn sàng đáp trả.
Đức Giêsu đã mời gọi Phêrô trở nên thợ lưới người sau khi Phêrô nhận ra mình tội lỗi bất xứng ở bên Đức Giêsu: “Lạy thầy, xin xa tôi ra vì tôi là kẻ tội lỗi”: “Đừng sợ, từ nay ngươi sẽ là kẻ chài lưới người”. Chèo thuyền vào bờ, Phêrô và các bạn đã bỏ mọi sự mà đi theo Đức Giêsu. Phêrô và các bạn đã quảng đại bỏ tất cả để theo Đức Giêsu.
Phaolô đã từng giữ áo cho những người Do Thái ném đá Stephen (Cv.7, 58); ông cũng tán thành việc giết Stephen (Cv.8, 1). Tuy nhiên, trên đường đi Đamas để bắt các Kitô hữu đem về Giêrusalem trị tội, Phaolô đã được ơn trở lại. Từ đó, Phaolô là khí cụ đặc biệt Thiên Chúa dùng để rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô: “Thưa anh em, trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta… Người đã trỗi dậy và đã hiện ra với Kêpha và với nhóm mười hai” (1Cr. 15, 3-5).
Cả ba người được gọi trong các bài đọc Kinh Thánh hôm nay đều đã là tội nhân hoặc đã ý thức mình là tội nhân. Chính Thiên Chúa đã tha thứ tội cho họ, và gọi họ cộng tác với Ngài. Được Thiên Chúa mời gọi cộng tác, là vinh dự đặc biệt cho những ai đã từng phạm tội chống cưỡng Ngài. Và rồi ngay cả khi đã đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa mà vẫn còn vấp ngã, thì Thiên Chúa vẫn tiếp tục trung thành mời gọi con người vươn lên. Điều này cũng đúng đối với các người theo Chúa, đặc biệt như các tông đồ. Dù đã là môn đệ, Phêrô cũng có lúc chối Thầy (Mc.14, 71), và có lúc chưa can đảm sống như mình phải sống (Gl.2, 11-14). Thiên Chúa vẫn tiếp tục mời gọi những người Ngài mời gọi, cho du họ giới hạn khiếm khuyết. Thiên Chúa là Đấng trung thành, Ngài vẫn yêu thương và liên lỉ mời gọi con người cho dù họ bất trung.
Kitô hữu cũng là những người đã được Thiên Chúa mời gọi. Ngài mời gọi con người hãy sống như con cái Thiên Chúa, trở thành tình yêu và sự hiện diện của Thiên Chúa cho con người hôm nay. Thiên Chúa mời gọi mỗi người hãy yêu thương mọi người, để mỗi người cảm được Thiên Chúa yêu thương qua những người sống xung quanh mình.
Người đời thường tìm tiền tài, danh vọng, địa vị. Thiên Chúa mời gọi con người trở thành tình yêu của Thiên Chúa cho con người hôm nay. Bao nhiêu người nghèo cần sự giúp đỡ của người khác. Ngày nay Thiên Chúa không làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, nhưng Ngài mong những người nghèo hôm nay nhận được tấm bánh từ tay anh chị em mình. Những ân nhân của người nghèo thực sự là đại diện của Thiên Chúa. Thiên Chúa cho họ ăn và giúp họ những gì họ cần thiết qua trung gian những ân nhân này. Thiên Chúa hiện diện với tôi qua anh chị em. Phần tôi, tôi được mời gọi để trở thành tình yêu của Thiên Chúa cho người khác.
Nhiều người tưởng rằng tiền của, địa vị, danh vọng chức quyền, sự thỏa mãn về thể xác làm cho người ta hạnh phúc, nên họ đã đi tìm những điều đó. Nhưng nếu biết quan sát và nhận định, họ sẽ thấy tiền bạc, danh vọng chức quyền địa vị, thỏa mãn vật chất, không làm con người được hạnh phúc đích thực. Chính khi giúp đỡ tha nhân, khi yêu thương vượt qua chính mình, khi hy sinh để giúp đỡ người khác, con người tìm được hạnh phúc thực. Kitô hữu được mời gọi để làm chứng về điều này. Phục vụ làm con người hạnh phúc.
Kitô hữu được mời gọi để làm vua. Không nô lệ vật chất, làm chủ, tự do với tất cả để chỉ có Thiên Chúa là nhất đối với mình; đó là nét vua mà Thiên Chúa muốn chia sẻ với con người. Ai thua thì bị làm nô lệ. Thiên Chúa không muốn con người nô lệ cho xác thịt, cho vật chất; Ngài mời gọi con người vượt lên, chiến thắng, làm chủ làm vua. Thiên Chúa mời gọi con người trở nên người tự do thật sự.
Kitô hữu được mời gọi để trở thành tiên tri. Tiên tri là người của Thiên Chúa, người nói nhân danh Thiên Chúa cho con người hôm nay. Nói cho người khác biết Đức Giêsu đã phục sinh, Ngài là người của Thiên Chúa, Ngài thuộc về Thiên Chúa đến độ có thể nói Ngài là Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa nhập thể. Một khi con người nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, con người biết Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng. Rao giảng tin mừng Đức Giêsu Phục Sinh, không phải chỉ bằng lời nói, nhưng còn bằng và chính yếu bắng chính cuộc sống của mình. Kitô hữu được mời gọi để làm chứng cho Đức Giêsu Phục Sinh bằng niềm tin và cách sống thấm nhuần đức tin của mình. Kitô hữu không phải là người không cảm thấy những khó khăn trong cuộc sống, cũng không phải là người không bị cám dỗ; Kitô hữu là người chia sẻ thân phận con người như bất cứ ai khác, nhưng vẫn có thái độ và cách hành xử khác với những người có lối sống không theo Tin Mừng. Kitô hữu được mời gọi sống vui và phó thác trong mọi hoàn cảnh vì họ biết Thiên Chúa yêu thương họ, và thế gian này không có giá trị tuyệt đối.
Kitô hữu được mời gọi để trở thành tư tế của Thiên Chúa, người đại diện con người tôn thờ Thiên Chúa. Cầu nguyện, dâng chính con người mình lên Thiên Chúa, là thái độ tôn thờ Thiên Chúa đích thực. Cầu nguyện phải là chính sức sống và hạnh phúc của con người. Được đại diện con người dâng lên Thiên Chúa lễ tế là chính con người mình, là một hạnh phúc của Kitô hữu. Chính khi kết hiệp với Thiên Chúa, con người được hạnh phúc đích thực.
Thiên Chúa mời gọi con người, đặc biệt là Kitô hữu, làm cho thế giới này vui hơn tươi hơn đẹp hơn, làm cho con người ngày hôm nay tin tưởng vào nhau hơn, sống vui và hạnh phúc với nhau hơn. Đó là ơn gọi của Kitô hữu. Xin cho Kitô hữu ý thức sứ mạng của mình, và cảm nghiệm hạnh phúc khi thực hiện sứ mạng này.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
1. Theo bạn, nơi con người Đức Giêsu có gì đặc biệt không? Ơn gọi của Đức Giêsu là gì? Sứ mạng của Đức Giêsu là gì?
2. Thiên Chúa có mời gọi bạn đặc biệt điều gì không? Thiên Chúa muốn bạn sống như thế nào? Thiên Chúa mời gọi bạn làm gì cho Thiên Chúa và con người ngày nay?

 

TN5-C79:  Gặp gỡ Chúa trong cuộc đời – Cố Lm Hồng Phúc

Giữa công trường Thánh Phêrô ở La-mã, một công trường rộng mênh mông, có hai pho tượng khổng TN5-C79

Giữa công trường Thánh Phêrô ở La-mã, một công trường rộng mênh mông, có hai pho tượng khổng lồ đứng oai vệ như những chứng nhân của lịch sử. Đó là tượng Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, hai vị Tông đồ Cả.
Phêrô và Phaolô là hai người khác biệt nhau về tính tình, về văn hóa và nghề nghiệp. Nhưng cả hai đã gặp gỡ Chúa Kitô và được Chúa biến hóa trở nên những chứng nhân, những tông đồ “đi bắt người”.
Bài Phúc Âm hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu kêu gọi Phêrô.
Thật ra, Chúa đã gặp Phêrô rồi, khi em ông là Anrê đem anh đến giới thiệu với Chúa, như Gioan kể lại (Gio. 1, 49). Lòng nhiệt huyết của Anrê cũng như lòng trinh bạch của Gioan không làm cho Chúa cảm động, nhưng khi nhìn thấy Simon, con Gioan, Chúa nhìn ông và nói: “Hỡi Simon, con Giona, từ nay con sẽ gọi là Kêpha nghĩa là Đá”. Đây là nền tảng của Giáo hội mà Ngài sắp thiết lập. Tuy nhiên, đây chỉ là cuộc sơ vấn gặp gỡ đầu tiên. Rồi ai về nhà nấy. Phêrô và các bạn vẫn còn nặng tình với vợ con, với sông sâu biển cả. Thì hôm nay, Chúa muốn kêu gọi ông cách dứt khoát, bằng một phương pháp mạnh, một phép lạ để cho ông nhìn thấy và “sờ đụng” quyền năng của Thiên Chúa.
Sau một đêm lao lực, thức trắng đêm – cá vẫn ăn về đêm – mà không bắt được con cá nào, Phêrô gặp Chúa. Chúa bảo: “Hãy ra khơi thả lưới”. Ông vừa từ ngoài khơi trở về, nhưng vâng lời Chúa, Ông lại ra khơi… Từng đàn cá ùn ùn chun vào lưới, khiến cho lưới gần rách, phải gọi các bạn thuyền đến trợ lực.
Cũng như ngày xưa, tiên tri Isaia, trong bài đọc I, đã nhìn thấy vinh quang của Chúa và kêu lên: “Chết tôi rồi, lưỡi tôi dơ bẩn”, thì ngày nay, Phêrô cũng cảm thấy mình bất xứng và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là người tội lỗi”. Nhưng Chúa trả lời: “Con đừng sỡ hãi. Từ đây, con sẽ là kẻ chinh phục người ta”. Con sẽ bỏ nghề bắt cá, để đi “bắt” các linh hồn. Và Phúc Âm nói: “Ông chèo thuyền vào bờ, bỏ hết mọi sự và đi theo Người”. Đó là ơn kêu gọi của Phêrô, con người đã gặp gỡ Chúa và được Chúa thu hút chinh phục.
Người thứ hai đã gặp gỡ Chúa là Thánh Phaolô, như bài đọc II kể lại. Phaolô là một con người đầy nhiệt huyết, đã đi vòng quanh Đế quốc La-mã 4 lần, đã đưa dân ngoại vào Đạo. Làm sao cắt nghĩa được nội tâm của con người đầy lửa ấy? Thưa vì người đã gặp gỡ Chúa. Đức Kitô… đã sống lại theo lời Thánh Kinh. Ngài đã hiện ra với Phêrô và mười một Tông đồ. Rồi cuối cùng Ngài đã hiện ra với tôi như đứa con sinh non” (1Cor. 15, 8).
Phải, cuộc gặp gỡ đó đã đảo lộn cuộc đời Phaolô, từ một kẻ bắt bớ tín hữu trở nên một Tông đồ nhiệt thành. Tất cả là ơn của Chúa và Người vui mừng được trả giá rất cao để “Ơn Chúa không ra vô ích”: 5 lần bị đánh đòn 39 trượng, 3 lần bị tra tấn, 1 lần bị ném đá, 3 lần bị đắm tàu 1 ngày 1 đêm chơi vơi trong lòng biển (2Cor 12, 24-25).
Trong cuộc đời, chúng ta cũng đã gặp gỡ Chúa trong nhiều hoàn cảnh. Nhưng phải chăng chỉ gặp Ngài như gặp một khách bàng quang…
Lạy Chúa, Xin Chúa hãy đến với con, đừng xa lánh con là kẻ tội lỗi.

 

TN5-C80:  Mẻ cá lạ

Một trong những lời giảng dạy làm nhiều người khó chịu, nhưng cũng rất thú vị, của Minh Sư TN5-C80

Một trong những lời giảng dạy làm nhiều người khó chịu, nhưng cũng rất thú vị, của Minh Sư là: ”Thượng Đế gần gũi kẻ có tội hơn là người thánh thiện.”
Ngài dùng hình ảnh để giải thích như sau:
- Thượng Đế ở trên thiên đàng nắm mỗi người ở đầu một sợi dây. Khi người ta phạm tội, sợi dây đó bị cắt đứt. Bấy giờ Thượng Đế cột sợi dây lại bằng cách làm một nút thắt - và như vậy, Ngài kéo họ lại gần Ngài hơn. Cứ như thế, mỗi khi người ta phạm tội, sợi giây bị cắt đứt, Thượng Đế lại buộc một nút thắt mới để kéo chúng ta lại gần Ngài nhiều hơn nữa.
Anthony de Mello, trích trong “One Minute Wisdom”
***
“Lạy Ngài! Xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc. 5,8).
Bạn thân mến! Trên đây là lời nói của Simon Phêrô thưa với Chúa Giêsu khi ông cảm nhận được sự thấp hèn tội lỗi của mình trước đấng thánh cao cả Giêsu, khi ông kinh ngạc trước phép lạ “Mẻ Cá Lạ” mà ông đã được chứng kiến và cũng là người trong cuộc. Xin mời bạn cùng tôi, chúng ta hãy lần theo dấu vết của Simon Phêrô trong Tin Mừng Chúa nhật hôm nay (Lc. 5:1-11) để hiểu thêm về ông, để biết thêm về “Mẻ Cá Lạ” ngày xưa đã tác động đến ông và các bạn chài của ông như thế nào? Và cũng để nhận ra “Mẻ Cá Lạ” ngày xưa đã tác động đến tôi và bạn hôm nay ra sao?
Trước hết, Simon Phê-rô là một người truyền giáo: Trong lúc ông và các bạn chài đang giặt lưới sau 1 đêm dài mệt mỏi vật lộn với biển khơi để đánh bắt cá nhưng chẳng được gì. Chúa Giêsu đã đến bên ông, Ngài lên thuyền của ông, xin ông chèo ra xa bờ 1 chút để Ngài ngồi trên thuyền mà giảng dạy cho dân chúng. Ông đã không ngại mệt mỏi sau một đêm vất vả làm việc, Ông đã bỏ công việc riêng bề bộn sau lưng, đã đứng dậy và làm theo lời yêu cầu của Ngài…Chúa giảng, ông chèo …Chắc hẳn trong lúc ông chèo thuyền cho Chúa giảng dạy, ông cũng đã lãnh nhận những lời vàng ngọc, những chân lý ngàn đời không thay đổi nơi môi miệng của Chúa Giêsu. Ông chèo, Chúa giảng...Ông đã góp công sức vào việc giúp những người xung quanh biết về Chúa và nghe Lời Ngài. Với chiếc thuyền nhỏ bé của ông, ông đã “mang Chúa đến cho người khác”, Ông đã làm công việc truyền giáo trong lúc Giáo Hội chưa được hình thành.
Bạn thân mến! Nếu hôm nay Chúa dùng những người xung quanh để mời gọi tôi và bạn đóng góp công sức của mình cho việc truyền giáo, Tôi và bạn sẽ đáp trả ra sao? Sự đáp trả của tôi và bạn có giống Simon Phêrô ngày xưa không?
Simon Phêrô: một người khiêm nhượng và biết lắng nghe. Sau 1 đêm vất vả đánh cá mà chẳng được gì, chắc hẳn ông mang một tâm trạng mệt mỏi, chán nản. Thế mà giờ đây, Chúa Giêsu lại bảo ông ra khơi đánh cá giữa ban ngày, lại ra tận chỗ nước sâu, nơi nguy hiểm nhất và cũng là chỗ khó bắt được cá nhất …Theo lẽ thông thường, Phêrô phải ngẫm nghĩ trong lòng: “Ông Giêsu ơi! Ông làm nghề thợ mộc mà! Đánh cá là nghề của tôi. Tôi đã sống bằng nghề này mấy mươi năm rồi, Ông biết gì về đánh cá mà lại hướng dẫn chỉ bảo tôi?” Nhưng không phải thế, Simon Phêrô đã lắng nghe lời hướng dẫn của Chúa Giêsu trong khiêm nhượng và tin tưởng. Ông đã nói lên tâm tình đó qua câu: "Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới".(Lc. 5:5)
Bạn thân mến! Trong cuộc sống hằng ngày, qua những vị linh mục trong cộng đoàn giáo xứ, qua các thầy cô trong trường học, qua cha mẹ anh chị em trong gia đình, qua bạn bè thân hữu ngoài xã hội…Có lẽ Chúa cũng đã gởi đến tôi và bạn biết bao lời khuyên răn nhắn nhủ, nhưng tôi và bạn có biết lắng nghe hay không? Tôi và bạn có đủ khiêm nhượng và tin tưởng để lắng nghe như Simon Phêrô ngày xưa không?
Simon Phêrô: Người được Chúa tỏ mình ra: Chứng kiến “Mẻ Cá Lạ”, Simon Phêrô đã nhận ra sự cao cả thánh thiện của Chúa Giêsu. Sợ hãi vì nhận thấy mình tội lỗi thấp hèn, ông đã vội quì xuống và thưa với Chúa Giêsu: “Xin Thầy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc.5:8). Nếu Chúa Giêsu không chủ động tỏ mình ra, chắc hẳn ông không thể nhận ra “Mẻ Cá Lạ” là do quyền năng cao cả của Thiên Chúa. Nếu không có ơn Chúa, chắc hẳn ông không thể nhận biết thân phận tội lỗi thấp hèn của mình. Một đêm dài vất vả mệt mỏi, ông đã làm việc với sức của riêng mình, kết quả là con số không, Ông chẳng đánh bắt được gì. Nhưng khi có Chúa bên cạnh, Ông đã cùng làm với Chúa và dùng sức của Chúa, kết qủa là ông đã có “Mẻ Cá Lạ” gần chìm thuyền.
Bạn thân mến! Cuộc sống có Chúa bên cạnh thật quan trọng và cần thiết biết bao! Xin bạn cùng với tôi, chúng ta hãy tự hỏi chính mình: ”Chúa ở đâu trong cuộc sống hằng ngày của tôi? Những lúc tôi ăn uống nghỉ ngơi, những lúc vui lúc buồn, những lúc thành công hạnh phúc cũng như lúc thất bại mệt mỏi vất vả… Ngài ở đâu? Ngài ở đâu?"
Simon Phêrô: Người biết phó thác để sẵn sàng ra đi và lên đường: Ra đi là bỏ nơi an toàn để đến nơi bấp bênh không chắc chắn. Ra đi là bỏ nơi quen biết để đến nơi xa lạ. ”Vâng lời thầy, con đi thả lưới” (Lc.5:5). Lên đường ra khơi thả lưới là chấp nhận đối đầu với phong ba bão táp, chấp nhận gian lao thử thách…”Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người” (Lc.5:11). Ra đi theo Chúa là bỏ lại tất cả: gia đình, thuyền bè, chài lưới… Bỏ cả nghề nghiệp cũ đã thành thạo để bắt tay vào nghề mới còn chập chững. Bỏ lưới cá để chài lưới người.
Bỏ tất cả để bước đi theo Chúa, để làm môn đệ của Ngài…Đây là việc đòi hỏi nhiều cố gắng nỗ lực, gặp nhiều khó khăn thử thách, nhưng cái khó khăn nhất có lẽ là “bỏ mình”, là ra khỏi “cái tôi hạn hẹp ích kỷ” của chính mình. Dù có đi xa ngàn dặm nhưng vẫn giữ những thói tật xưa cũ thì người môn đệ vẫn còn ở khởi điểm. Muốn lên đường theo Chúa, người môn đệ phải ra khỏi tính tự mãn của mình. Ra khỏi những quan niệm xưa cũ hẹp hòi. Ra khỏi những ảo tưởng viễn vông. Ra khỏi thói ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân. Và khi đã từ bỏ tất cả, người môn đệ sẽ trở nên hoàn toàn nghèo nàn. Gia tài chỉ có niềm cậy tin phó thác hoàn toàn vào Đấng kêu mời ta. Vũ khí chỉ có lòng vâng phục tuyệt đối vào Đấng sai ta.
***
Lạy Chúa, lên đường bước đi theo Chúa là được Chúa biến đổi. Giống như Simon Phêrô xưa kia đã được Chúa biến đổi từ “Simon lưới cá” trở thành “Phêrô lưới người”. Xin Chúa ban ơn giúp sức cho con để biết noi gương bắt chước Simon Phêrô xưa kia, biết cố gắng nỗ lực lên đường bước đi theo Chúa và cũng được Chúa biến đổi. Amen.
Linh Xuân Thôn

 

TN5-C81:  Người trẻ mau thoái chí và an phận

. Câu chuyện Tin mừng
Một hôm, Đức Giê-su đang đứng ở bờ hồ Ghen-nê-xa-rét, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa. Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. Đức Giê-su xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Si-môn, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy dân chúng.
Giảng xong, Người bảo ông Si-môn: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Ông Si-môn đáp: “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”. Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.
Thấy vậy, ông Si-môn Phê-rô sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Si-môn và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. Cả hai người con ông Dê-bê-đê, là Gia-cô-bê và Gio-an, bạn chài với ông Si-môn, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giê-su bảo ông Si-môn: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”. Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.
. Dẫn giải
 

Nếu năm bạn trẻ chúng ta làm quen hôm qua phấn khởi và hào hứng thế nào thì anh bạn Phê-rô TN5-C81

Nếu năm bạn trẻ chúng ta làm quen hôm qua phấn khởi và hào hứng thế nào thì anh bạn Phê-rô và có lẽ cả các bạn bè của anh hôm nay lại “ỉu xìu” và tầm thường tới mức đáng thất vọng.
Sáng hôm ấy, tại bờ hồ Ghen-nê-xa-rét ở Ga-li-lê, mặt trời đã lên cao, dân chúng đang chen lấn nhau rất đông. Tưởng là họ tụ tập để đón các thuyền đánh cá xa bờ trở về. Nhưng kì thực không phải. Hay nếu có thì đó chỉ là lí do ban đầu. Sau khi biết các thuyền trở về với khoang trống, người ta đã lập tức đổ dồn sang một hướng khác. Lần đầu tiên, làng chài hèn kèm của họ được một vị ngôn sứ nổi tiếng đến thăm và giảng đạo. Các tay chài đã thất vọng vì đánh cá hụt, càng thất vọng hơn trước nhân tình thế thái: thường ngày khi thuyền họ chở đầy cá về thì hết người nịnh nọt tới kẻ chiều chuộng để mua cho được cá; còn hôm nay khi họ tay trắng trở về, không có lấy một người nào hỏi han để an ủi và động viên họ. Họ cũng đâm ra bực lây cả vị ngôn sứ nổi tiếng kia. Si-môn và các bạn nhanh tay neo thuyền vào bến, giặt lưới, rồi vội vàng quay về: lúc này vào giường ngủ là thượng sách!
Nào ngờ, Đức Giê-su lại chọn ngay thuyền của Si-môn, xin ông cho mượn để ngồi giảng đạo và xin ông chèo ra xa một chút để dễ nói với dân chúng. Miệng lẩm bẩm: “Thế là lại mất một buổi sáng và … mất luôn cả giấc ngủ!”. Si-môn vừa ngáp dài vừa ngồi bó gối ở cuối thuyền chờ Đức Giê-su giảng xong. Ông hí hửng định chèo thuyền vào bờ khi thấy Đức Giêsu kết thúc bài giảng. Nhưng lại một lần nữa, Ngài đề nghị ông chèo thuyền ra xa hơn không phải để giảng mà là để ….đánh cá. Thế này thì thật quá đáng! Trước mặt bàn dân thiên hạ mà Ngài chẳng nể nang ông: gián tiếp nhắc lại vết thương lòng của ông là đã đánh cá thất bại cả đêm qua, trực tiếp dạy khôn ông về việc săn bắt cá - một người làm nông cả đời bám chặt đất liền lại dám chỉ vẽ chuyện sông nước cho tay chài chuyên nghiệp!
Nhưng vừa nể Ngài đang được dân chúng ái mộ, vừa muốn chứng tỏ sự thất bại của mình là có lí nếu lần này ông cũng chẳng bắt được gì, Si-môn chèo ra chỗ nước sâu. Có ngờ đâu, chỉ trong nháy mắt, tay ông đã buông thõng xuống vì cá vào lưới quá nhiều. Ông vội vàng hô to gọi các bạn chài ở thuyền khác đến tiếp sức. Cả đám thanh niên vạm vỡ mới kéo nổi lưới lên thuyền: không phải vài con cá lòng tong, mà cả hai thuyền đầy những con cá to bằng bàn chân người và còn lớn hơn thế nữa.
Đến lúc này, Si-môn mới thấy xấu hổ vì đã có những cử chỉ, lời nói và ý nghĩ không tốt về Đức Giê-su. Không riêng gì ông, mà cả đám bạn như Gia-cô-bê và Gio-an cũng lặng người đi vì ngạc nhiên: Giê-su chẳng những không phải là tay mơ về sông nước, mà hình như còn là chủ nhân của sông nước nữa! Bây giờ, cả đám không còn dám huênh hoang to tiếng nữa, mà chỉ biết lặng lẽ làm những gì Ngài nói. Họ đưa thuyền vào bờ và đi theo Ngài.
Thật ra, sự chán nản tới mức chỉ muốn bỏ việc và quay về nhà ngủ nghỉ - sự an phận thủ thường của Si-môn và bạn bè ông rất dễ hiểu và rất dễ thông cảm. Có ai không buồn bã thất vọng khi đã chuẩn bị tất cả, từ lương thực cho người tới mồi cho cá, từ thuyền bè tới lưới cá, từ sự hồ hởi phấn chấn trong tâm hồn tới sự khoẻ khoắn chắc chắn trong thân xác, mà rốt cuộc chẳng làm được gì, ngoài khoang thuyền trống hoác!
Rồi khi đã có cá, nhiều nữa là khác, đủ hái ra tiền tiêu cả mấy tháng, ai dại gì ra khơi một lần nữa. Cám ơn Đức Giê-su rối rít, xin lỗi Ngài tới tấp, nếu cần đãi Ngài mấy bữa ăn liền, là đủ. Nếu sáng nay cả bọn chỉ muốn yên thân trong giấc điệp là vì hoàn cảnh bắt phải chịu vậy, thì bây giờ cả đám sẵn sàng an phận vì đã được toại nguyện. Dù có là thanh niên trai tráng, ai cũng muốn có lúc dừng tay chèo, dừng chân bước để hưởng thụ, để nghỉ ngơi.
Chỉ tiếc đó cũng chính là sai lầm của ông và các bạn ông. Câu nói của Đức Giê-su: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá” không chỉ là một lời mách nước cho người đánh cá, mà là bí quyết cho mọi thành công trong cuộc đời. Si-môn thất bại trong lần đánh cá đêm qua, có thể không phải vì chưa ra khơi tính theo cây số biển, mà là chưa ra khơi tính theo thước đo của sự quyết tâm trong lòng: tuy đã ra khơi, nhưng mới thử vài keo đã bỏ cuộc. Sau khi đánh được mẻ cá lớn chưa từng thấy, ông lại tính tới chuyện không “ra khơi” nữa. Ông chỉ nghĩ tới việc loay hoay trong xó nhà hay cùng lắm, hì hục trên sông nước, kiếm cá, mua bán, sắm sửa và…chơi. Một lần nữa, Đức Giê-su cho biết Ngài giúp ông bắt được cá không phải chỉ để như thế thôi, mà để ông nghĩ đến một số phận mới, một chân trời mới và một kiếp sống khác: đó chính là không chỉ nghĩ cho mình và gia đình mình, mà còn phải nghĩ tới những người khác, không chỉ nghĩ đến chuyện mưu sinh, mà còn phải nghĩ đến chuyện hạnh phúc đời đời… Vẫn biết mỗi lần “ra khơi” như thế là mỗi lần phải đương đầu với những thử thách và bất ngờ, nhưng tục ngữ Việt Nam có câu: “Không vào hang, làm sao bắt được cọp!”. Nhất là nếu những lần “ra khơi” ấy là những lần ra khơi do Chúa đề nghị và có Chúa đi cùng – những lần ra khơi cao đẹp và ý nghĩa!
Tuổi trẻ hiếu kì tọc mạch, tuổi trẻ hăng hái xông pha. Nhưng tuổi trẻ cũng rất mau nản chí, mau thất vọng và sớm hưởng thụ, cầu an. Thử hỏi nếu Đức Giê-su không đến khuấy động cuộc đời Si-môn và bạn bè ông, thì cuộc đời họ và cuộc đời nhiều người đã ra sao? Thử hỏi nếu các ông không chấp nhận cùng với Đức Giê-su ra khơi, thì cuộc đời họ và cuộc đời nhiều người đã thế nào?
. Gợi ý để suy nghĩ thêm
Hiện nay, tôi thấy mình đang ở trong tình trạng nào: chán nản thất vọng? buông xuôi để mặc? ích kỉ và lười biếng thụ hưởng? lao đầu vào những việc không đâu? phấn đấu để thực hiện những điều tốt?
Có bao giờ tôi dám tiến lên thực hiện những điều tốt không: chẳng bao giờ, vì sợ bị thiệt hại? chỉ một đôi lần, chứ không dám hơn? chỉ khi nào nắm vững mọi sự trong tay? sẵn sàng nếu thấy Chúa ra hiệu, dù có thể bị thương tích hay thậm chí bị ngã?

 

TN5-C82: Tuân theo Thiên Ý - Chìa khóa hạnh phúc

(Suy niệm của Lm Phêrô Bùi Quang Tuấn)   
“Vâng lời Thầy, con xin thả lưới” (Lc 5:5b).
 

Hạnh phúc là nỗi khao khát triền miên có mặt trong từng hành động của con người.” Một nhà TN5-C82

“Hạnh phúc là nỗi khao khát triền miên có mặt trong từng hành động của con người.” Một nhà tư tưởng đã nói như thế. Tuy nhiên, trong thực tế, ai cũng nhận rằng dường như lúc nào khổ đau cũng nhiều hơn hạnh phúc. Nước mắt khi nào cũng đầy hơn tiếng cười. Tại sao vậy?
Tại sao đi tìm hạnh phúc mà cứ như đi bắt cái bóng, còn sự hiện hữu đích thật của hạnh phúc thì vẫn trốn ở nơi nào? Tại sao bao nhiêu người “thương” nhau lắm, những bất đồng thế nào cũng không màng, cha mẹ đôi bên có phản đối can ngăn cũng không xong? Họ cứ lấy nhau… Ấy thế mà, khi được vài mặt con, có người thẳng thừng tuyên bố: “Tôi chẳng có chút tình yêu nào với người ấy cả.”
Tại sao có người tu đã bao năm, tưởng rằng đắc đạo lắm, thế mà cũng có khi cởi áo nhảy rào? Phải chăng không có hạnh phúc thật trên cõi đời này? Hay vì “đời là bể khổ” nên đụng đâu cũng khổ sầu và nước mắt?
Thiết tưởng một câu trả lời đúng cho những câu “tại sao” trên đây sẽ là: vì con người đi tìm hạnh phúc nhưng cứ lẫn lộn mù mờ giữa những gì là tương đối với tuyệt đối, phương tiện với đích cùng, hữu hạn và vô hạn.
Có người đã nhận xét: “Sống trên đời, ai lại không cần tiền”. Thế nhưng khi hỏi tiền là phương tiện hay cùng đích thì ai cũng bảo tiền là phương tiện. Ấy vậy mà trong thực tế, biết bao người đã lấy tiền làm mục tiêu sống và giá trị trên mọi thứ giá trị, nên đã bất chấp nhân phẩm, luân lý, tình người, và những liên hệ thiêng liêng cao quí, miễn sao có tiền là được. Bao nhiêu quan hệ vợ chồng, cha mẹ, anh em bị sụp đỗ tan nát cũng vì người ta nhìn tiền là cùng đích chứ không phải phương tiện, tuyệt đối chứ không phải tương đối. Thế nên khổ đau và nước mắt là ở chỗ đó.
Một câu trả lời khác khả dĩ giải đáp cho các câu hỏi “tại sao” trên đây và giúp con người tìm được bình an cùng niềm vui sống sẽ là: vì người ta cứ chạy theo ý mình mà không hề nhận biết và vâng theo ý Chúa. Nếu như có ai đó có lòng kết hợp mật thiết với Thánh ý Thiên Chúa, thì chắc chắn, dù gặp bao nghịch cảnh gian nan trước mắt thế gian, họ vẫn là người bình an và hạnh phúc hơn thế gian suy tưởng.
Trong Thánh Kinh Cựu ước có hình ảnh nào khốn nạn và đau khổ như ông Gióp. Một người công chính, đang sống đời hạnh phúc giàu sang, thình lình đau thương ập xuống. Gia đình đang an lành, bỗng dưng thiên tai từ sa mạc thổi vào làm đổ tan nhà cửa. Con cái bị giết chết. Cơ nghiệp bị cướp sạch. Chính thân thể ông Gióp cũng bị lở loét, giòi bọ rúc rỉa. Đói khát hành hạ thường xuyên.
Trước cảnh sầu đau như thế, Gióp còn bị kẻ này người kia mỉa mai khinh bỉ, cho là bị trời phạt. Chính vợ ông cũng đay nghiến suốt ngày, xúi Gióp chửi Thiên Chúa. Gióp đã có lần than thở: “Ôi, đời người có khác chi cảnh tôi tớ, kiếp sống như kẻ làm thuê. Tôi tớ thì khát khao chút bóng mát để nghỉ ngơi; kẻ làm thuê thì trông mong giờ lãnh tiền công. Ấy thế mà thân tôi chẳng bao giờ được trả công, nghỉ ngơi một chút cũng không được. Bởi vì vừa nằm xuống thì tâm hồn sầu buồn mong cho trời mau sáng. Đến khi trời sáng thì thấy ngày đời trôi nhanh như con thoi” (G 7:1-6).
Trước cảnh khốn đốn tận cùng, dường như không còn chút hy vọng nào cho cuộc sống, Gióp vẫn một niềm kiên cường thốt lên: “Chúa đã cho, Chúa đã lấy đi. Ý Chúa muốn làm sao, thì nên như vậy. Xin chúc tụng danh Chúa” (G 1:21).
Thật lạ lùng! Giữa chốn âm u bão bùng mà vẫn nhắm ý Chúa thẳng tiến.
Kết quả, vì biết vâng theo thánh ý Thiên Chúa mà cuối cùng Gióp đã tìm lại ý nghĩa và hạnh phúc cho cuộc đời.
Như Đức Giêsu, suốt cả kiếp người đã không làm gì khác hơn là thi hành ý Cha. Cho đến giờ chết vẫn cứ là: “Lạy Cha, xin vâng như ý Cha.” Nhờ thế sự sống nơi Ngài đã tuôn tràn chứa chan cho nhân loại.
Liên quan đến chủ đề này, Thánh Anphongsô có nói về một thầy dòng kia, trông diện mạo bên ngoài thì không có gì đáng chú ý. Thầy cũng chẳng thường hãm mình bao nhiêu. Thế mà lại hay làm phép lạ. Bề trên ngạc nhiên mới hỏi: “Con có nhân đức gì trổi hơn anh em, hay có thi hành việc lành nào sốt sắng, mà sao cha thấy con làm được nhiều sự lạ vậy?” Thầy dòng khiêm tốn trả lời: “Con không dám so sánh với các nhân đức của anh em con… Chỉ có một điều con luôn chú ý hơn cả là vâng theo thánh ý Chúa hết lòng: Sự gì Chúa muốn là con muốn, dù vui sướng hay buồn khổ, an lành hay gian truân.”
Nghe thế bề trên liền hỏi lại: “Thế chứ cách đây mấy hôm, có kẻ đã làm thiệt hại cho dòng ta, họ đã đốt phá nhà cửa đất đai của ta tan tành, con có lấy làm đau đớn ưu phiền không?” Thầy liền thưa lại: “Thưa cha, con không lấy gì làm đau khổ, cũng chẳng lấy chi làm ưu phiền. Con vẫn bình an như thường, vì biết rằng Chúa luôn muốn cho chúng ta được phần ích lợi hơn. Nên con cảm tạ Chúa luôn.” Cha bề trên nghe những lời ấy đã công nhận rằng: Đây là một vị thánh, có đủ các nhân đức, vì thầy có lòng vâng phục thánh ý Thiên Chúa hết mình (Anphongsô, Chân Lý Đời Đời, tr. 299).
Vâng theo ý Chúa sẽ giúp ta vượt qua gian truân khốn khó của đường đời và tìm được bình an và niềm vui dồi dào phong phú. Vâng theo Chúa không chỉ lúc thuận ý nhưng cả khi nghịch lý. Không chỉ khi thành công may mắn nhưng cả lúc rủi ro thất bại ê chề.
Không phải là Thánh Phêrô đã thốt lên “Thưa Thầy, chúng tôi đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết; nhưng vì ý Thầy muốn, tôi sẽ thả lưới” sao?
Các tay đánh cá chuyên nghiệp của biển hồ Giênêsarét tất biết rõ chỉ thả lưới ban đêm mới mong bắt được cá. Ít ra thì cũng phải là “lúc chạng vạng hay khi rạng đông.” Chứ đời thuở nào mặt trời đã lên cao mà còn mong bắt được cá. Đó là chưa nói đến việc Phêrô và các bạn chài đã vất vả suốt đêm, chưa được nghỉ ngơi chút nào, lại mới giặt lưới xong, bây giờ nếu thả lưới xuống, lúc kéo lên là phải giặt lại, mệt nhọc biết bao.
Vậy mà “vâng lời Thầy, con xin thả lưới.” Và kết quả của việc xin vâng là một ngày bội thu hoan hỉ: “Họ thả lưới và bắt được một mẻ cá nhiều lắm, đến nỗi lưới muốn rách. Họ ra hiệu cho các bạn đồng nghiệp trên thuyền gần đó đến giúp. Những người này tới, và họ chất được hai thuyền đầy cá, đến sắp chìm” (Lc 5:6-7).
Dẫu rằng chủ đề của Lời Chúa tuần này là “Sai Đi” nhưng sống “Vâng Phục Ý Chúa” cũng không có chi là lạc đề. Bởi vì không “vâng phục” sẽ chẳng “sai đi” được. Nói đến “sai đi” là hàm ngậm một chỗ đến. Và dầu đã đến nơi phải tới, thì vai trò của người được sai vẫn là chu toàn sứ mạng. Còn không vâng phục đừng mong sứ mạng hoàn thành. Không có sứ mạng nào cao đẹp cho bằng làm đúng ý người sai mình đi. Thế nên Đấng Cứu Thế đã từng cầu nguyện: “Này con xin đến để thi hành ý Cha.” Thực thi ý Cha chính là lẽ sống của Người Con hiếu thảo quí yêu.
Thiết tưởng không có tâm tình nào ý nghĩa và sinh hoa trái nhiều hơn cho nhân gian bằng tâm tình xin vâng đó.


 

TN5-C83: Đức Giêsu và vị Tông Đồ đầu tiên

(Chú giải và suy niệm của Lm. PX Vũ Phan Long)
 

Đức Giêsu đã đào tạo môn đệ bằng phương tiện là những bước nhảy trong đức tin và bằng cách làm TN5-C83

Đức Giêsu đã đào tạo môn đệ bằng phương tiện là những bước nhảy trong đức tin và bằng cách làm cho người ấy biết quyền lực thần linh của Người.
1.- Ngữ cảnh
Với bài Lc 5,1-11, chúng ta có một bản văn riêng của tác giả Luca. Như thế, bản văn này có thể giúp độc giả nhận biết cách thức bản văn này tiếp cận với truyền thống Tin Mừng và liên kết với truyền thống ấy.
Quả thật, nếu trong tất cả ch. 5, tác giả đi theo bài tường thuật của Mc (x. 1,40–2,22), ở đây ngài lại tách ra. Trong khi tác giả Mc (1,16-20), và cả Mt (4,18-22), mô tả truyện kêu gọi các môn đệ đầu tiên trước sứ vụ công khai của Đức Giêsu, tác giả Lc lại đặt tiếng gọi ở sau, khi Đức Giêsu đã bắt đầu hoạt động giảng dạy và chữa lành (x. 4,14-44). Người đã biết ông Simôn, vì đã đến nhà ông và chữa là bà mẹ vợ (4,38-39).
Bài tường thuật này là một đơn vị riêng, đến sau bức tranh bộ đôi Nadarét-Caphácnaum (4,14-44), được đóng khung bởi hai toát yếu về sứ vụ rao giảng nay đây mai đó của Đức Giêsu (4,14; 4,44), và được nối tiếp bởi một giai thoại mới, việc chữa lành một người phong hủi (5,12-16).
Đoạn văn của chúng ta thuộc về một phân đoạn lớn hơn (5,1–6,19), trong đó có những đơn vị được dẫn nhập bởi công thức mà các bản dịch thường bỏ, “xảy ra là” (egeneto: 5,1.12.17; 6,1.6.12), với trung tâm là việc kêu gọi Lêvi và bữa ăn ông thết đãi (5,27-39).
Trong phân đoạn này, chân trời của sứ vụ của Đức Giêsu được mở rộng. Cho tới nay, Người hoạt động một mình, qua việc giảng dạy và chữa bệnh (các môn đệ đầu tiên vẫn còn đang ở trong tình trạng vô danh). Bây giờ cử tọa đang mở rộng ra hơn; Đức Giêsu không chỉ nói với những người hay lui tới hội đường mà thôi, nhưng với một đám đông sẵn sàng lắng nghe. Nhất là nay phát sinh nhóm các môn đệ, họ đi theo Người trong hành trình truyền giáo; bên trong nhóm này nổi lên khối sẽ là hạt nhân căn bản của Hội Thánh, đó là nhóm các Tông Đồ. Chính là trong ngữ cảnh này mà chúng ta đọc bài tường thuật Mẻ cá lạ lùng với việc kêu gọi Simôn và các bạn.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành bốn phần:
1) Giới thiệu khung cảnh và công việc của Đức Giêsu (5,1-3);
2) Đức Giêsu - Phản ứng của Simôn trước mẻ cá (5,4-7);
3) Phản ứng của Simôn sau mẻ cá - Đức Giêsu (5,8-10);
4) Kết luận: Đời môn đệ (5,11).
3.- Vài điểm chú giải
- Ghennêxarét (1): Đây là tên Hy Lạp của giải đất nhỏ thuộc phía tây “biển hồ”, có đất đai mầu mỡ và đông dân cư; giải đất này ở phía nam Caphácnaum.
- lời Thiên Chúa (1): Đây là lần đầu tiên Tin Mừng Lc dùng công thức này (Lc dùng 4 lần: 5,1; 8,11.21; 11,28; Cv dùng 14 lần: 4,31; 6,2.7; 8,14; 11,1; 12,24 (?); 13,5.7.44.46.48; 16,32; 17,13; 18,11). Trong khung cảnh sách Cv, công thức ấy có nghĩa là sứ điệp Kitô giáo do các tông đồ rao giảng; ở đây tác giả Lc lại cho thấy là Đức Giêsu rao giảng. Như thế, tác giả đặt việc rao giảng của cộng đoàn trên nền tảng là lời rao giảng của Đức Giêsu. Nhưng nền móng tối hậu là chính Thiên Chúa, bởi vì công thức nói rõ là “Lời Thiên Chúa” hoặc “Lời do Thiên Chúa ban” (thuộc-cách diễn tả chủ từ hoặc tác giả hợp lý hơn là “lời nói về Thiên Chúa”: thuộc-cách diễn tả đối tượng).
- Người ngồi xuống (3): Đây là tư thế bình thường khi ở trên một chiếc thuyền nhỏ. Nhưng hẳn tác giả cũng muốn gợi ra tư thế của một vị thầy.
- Thưa Thầy (5): Lần đầu tiên Lc dùng từ epistata (hô-cách của epistatês) (x. 8,24.45; 9,33.49; 17,13). Các bản văn Nhất Lãm song song dùng từ didaskale, “thưa thầy”, hoặc rabbi, “thưa rabbi”. Trong văn chương Hy Lạp, từ ngữ epistatês thường có sắc thái rộng hơn, đó là “vị chỉ huy, vị điều hành, vị giám sát” (ví dụ trong việc huấn luyện giới trẻ). Trong các tác phẩm Lc, từ này luôn luôn được đặt trên môi miệng các môn đệ, còn từ didaskalos được người ngoài dùng. Epistatês diễn tả một đức tin sâu xa hơn vào uy quyền của Đức Giêsu.
- chúng tôi đã vất vả (5): Động từ kopiaô, “làm việc vất vả”, là một động từ được Tân Ước dùng cho những dịp mô tả công việc tông đồ vất vả.
- Xin tránh xa con (8): Qua mẻ lưới lạ thường, Simôn nhận ra Thiên Chúa đang tỏ mình ra nơi Đức Giêsu, do đó ông đã gọi Người là “Chúa”. Từ đó, ông cũng ý thức về tình trạng tội lỗi, bất xứng của mình; ông cảm thấy sợ hãi khi đứng trước Thiên Chúa là Đấng Thánh (x. Is 6,5). Simôn vừa bị thu hút về phía Đức Giêsu do lòng thán phục, vừa muốn tránh xa Người do ý thức về sự bất xứng của mình.
- Anh sẽ là kẻ đi bắt người ta (10): So với Mc 1,17, câu nói này không nhấn mạnh đến thân thế môn đệ, nhưng nhấn mạnh đến hoạt động truyền giáo. Zôgreô (do zôos, “sống động”; agreô, “bắt”) có nghĩa là “bắt để làm cho sống”. So với Mc 1,17, bản văn nhấn mạnh trên hoạt động truyền giáo hơn là trên thân phận người môn đệ.
4.- Ý nghĩa của bản văn
Các tác giả còn tranh luận xem bản văn này thuộc thể văn nào: bài tường thuật ơn gọi, bài tường thuật về sự giao phó nhiệm vụ, tiên tri và lời hứa… Thật ra, đề tài ơn gọi chắc chắn có trong bản văn, nhưng dưới dạng một lời hứa và một lời tiên tri. Quả thế, chính lời hứa long trọng của Đức Giêsu nổi bật rõ nhất (“Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”).
Điều đánh động trong bài tường thuật chính là sự xen kẽ giữa số đơn và số phức. Ngay từ đầu, độc giả chuyển từ “đám đông” (ochlon) của c. 1 sang “các đám đông” (ochlous) ở c. 3. Tại c. 4, Đức Giêsu nói với Simôn: “Chèo ra chỗ nước sâu (epanagage [số đơn] eis to bathos) mà thả lưới bắt cá (kai chalasate [số phức] ta diktya hymôn eis agran); như thế, không phải chỉ có một mình Simôn ở trên thuyền. Sang c. 5, câu trả lời của Simôn lúc đầu khẳng định: “Chúng tôi đã vất vả (poiasantes)…”, nhưng rồi: “Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới (chalasô)”. Và nếu ở c. 8, Simôn xin Đức Giêsu: “Xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”, lý do lại là vì Simôn, những người có mặt ở đó, và cả Giacôbê và Gioan cũng kinh ngạc (cc. 9-10). Cuối cùng, Đức Giêsu nói với riêng Simôn: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta” (c. 10), nhưng ngay sau đó các bạn của Simôn lại xuất hiện: “Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người” (c. 11).
Sự xen kẽ giữa Simôn và các bạn không chỉ gợi ý là mẻ cá cần nhiều người, mà còn nêu bật rằng Simôn, ngoài nhân cách độc đáo của ông, cũng đại diện cho một nhóm, nhóm các ngư dân sẽ bỏ mọi sự để trở thành môn đệ của Đức Giêsu.
Một nét khác trong bài tường thuật là cách vận dụng “khoảng cách” giữa các nhân vật khác nhau, để đưa lại cho mỗi nhân vật một nét độc đáo riêng. Đám đông quy tụ quanh Đức Giêsu để nghe Lời, nhưng Người lại lên thuyền của Simôn và bảo ông ra xa bờ một chút. Một cách nghịch lý, việc lấy khoảng cách như thế lại đưa Đức Giêsu đến gần các đám đông hơn, bởi vì do quá gần, việc loan báo Lời lại bị cản trở, và cũng đưa Người đến gần Simôn và các bạn hơn, bởi vì các ông đang ở trên thuyền với Thầy, nên cũng trở thành thính giả nghe Lời. Bằng cách đó, Đức Giêsu vừa có thể ngỏ lời với người ở gần lẫn người ở xa.
Việc lấy khoảng cách vẫn tiếp tục. Trước tiên lệnh của Đức Giêsu cho Simôn (“Chèo ra chỗ sâu”, epanagage eis to bathos) vừa giữ khoảnh cách chiều ngang với đám đông, vừa bắt đầu một chuyển động theo chiều đứng, một chiều hướng đầy xuống thấp và dấn dần kéo cả Simôn vào. Lệnh của Đức Giêsu theo nghĩa chữ là: “Đi ra xa, vào chỗ (nước) sâu”; đây không chỉ là đi ra xa hơn, mà còn là đi vào chiều sâu của cái hồ! Một vài động từ xác nhận chiều hướng biểu tượng này: “Các anh hãy thả lưới” (c. 4), “tôi sẽ thả lưới” (c. 5), “hầu như rách cả lưới” (c. 6), “đến gần chìm” (c. 7). Đây không chỉ là một chuyển động thể lý, gắn liền với việc đánh cá, vì chính cử chỉ và lời nói sau cùng của Simôn cho thấy: ông phục xuống dưới chân Đức Giêsu và nói: “Xin tránh xa con…”. Vấn đề là tương quan với Đức Giêsu, là gắn bó với Người hay tránh xa Người.
Tới cuối bài tường thuật, nhờ lời hứa của Đức Giêsu, khoảng cách đáng sợ giữa Đức Giêsu và Simôn được điều chỉnh lại và khoảng cách với đám đông cũng được xóa đi, bởi vì Simôn Phêrô và các bạn đã kéo thuyền vào bờ, nơi có đám đông, và đi theo Đức Giêsu.
Như vậy, qua biện chứng “cách xa”, chủ đề của bài tường thuật là việc kêu gọi Simôn và các bạn, việc kêu gọi này có nghĩa chính xác là đến gần Đức Giêsu, bằng cách lấp đầy các khoảng cách ngăn cách với Người. Vậy đây là hành trình đức tin. Nhưng điều này không chỉ liên hệ đến các môn đệ, mà còn liên hệ đến tất cả các thính giả hoặc độc giả Tin Mừng tương lai; chính vì thế mà có sự xen kẽ số đơn và số phức. Chúng ta sẽ thấy bản văn trình bày diễn tiến của hành trình đức tin.
* Giới thiệu khung cảnh và công việc của Đức Giêsu (1-3)
Sau thất bại ở Nadarét (4,16-30), Đức Giêsu vẫn có những người sẵn sàng lắng nghe, chính đám đông “chen chúc” (epikesthai) bên bờ hồ Ghennêxarét đã chứng tỏ điều đó. Chúng ta ghi nhận: không phải là họ tìm nghe lời một người phàm, nhưng nghe “lời Thiên Chúa”. Một ghi nhận kế tiếp: Đức Giêsu không rao giảng trong hội đường nữa. Đây là một biểu tượng: kể từ nay, nơi duy nhất chúng ta có thể nghe được lời của Thầy chí thánh chính là cộng đoàn Kitô hữu; đây là nơi mà tất cả những ai đi tìm ánh sáng, sự an ủi và niềm hy vọng đều phải đến. Trên con thuyền này, chỉ có Đức Giêsu là thánh thiện, còn những người khác thì tốt lành, nhưng đều là những “kẻ tội lỗi”. Dù vậy, cũng chính là từ con thuyền này mà Lời Chúa được công bố.
Đức Giêsu mau chóng chỉ định các cộng sự viên. Truyện hôm nay cho thấy bản chất của tương quan giữa Người và các ông này. Ở đây mọi sự đều do sáng kiến của Người và được nhắm đưa tới kinh nghiệm như Simôn sẽ có. Tuy vậy, bản văn cho thấy Đức Giêsu chỉ tỏ ra năng động có hai lần thôi: lần đầu khi Người ra lệnh (c. 4) và lần thứ hai khi Người ban một lời hứa (c. 10); còn ở giữa là hành động và phản ứng của Simôn và các bạn. Simôn cũng có hai câu nói thưa với Đức Giêsu: một câu là khẳng định về kinh nghiệm đánh cá (c. 5), một câu là lời mời (c. 8). Chính do quảng đại mà Simôn đã hỗ trợ cho việc loan báo Lời. Trong giai thoại chữa bà mẹ vợ (4,38-39), Simôn là một nhân vật chìm: không nói không làm gì cả! Còn ở đây, nổi bật lòng quảng đại và sự sẵn sàng của ông, khiến ông trở thành một thính giả ưu tiên của Lời.
* Đức Giêsu - Phản ứng của Simôn trước mẻ cá (4-7)
Việc lắng nghe Lời không tự động đưa tới đức tin. Để cho việc lắng nghe này là thật, thì cần có việc tận tình đáp trả những yêu cầu của Lời. Nói xong với đám đông, Đức Giêsu ban một lệnh trực tiếp cho một người, ngay giữa lòng cuộc sống cụ thể của người ấy (c. 4): “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá” (c. 4). Simôn đã phản ứng, ông khẳng định theo kinh nghiệm của ông: người ta bắt cá ban đêm; thế mà suốt đêm các ông đã vất vả (kopiasantes) mà chẳng bắt được gì, phương chi bây giờ là ban ngày! Lệnh này có vẻ như một sự gây chuyện! Tuy nhiên, Đức Giêsu không hề nêu lý do hoặc thêm ý soi sáng; Người nói một lời và cho thấy mọi sự tùy thuộc lời này. Đối với Simôn, Đức Giêsu không phải là một người xa lạ. Ông đã thấy Người chữa lành nhạc mẫu của ông (4,38-39). Do đó, ông tín nhiệm vào lời Đức Giêsu cho dù lời này có yêu cầu những điều bề ngoài không mong đạt kết quả, hoặc những điều phi lý vì đi ngược lại mọi kinh nghiệm của loài người. “Thưa Thầy, … dựa vào lời Thầy”, epistata, … epi de tô rêmati sou (c. 5): Những từ ngữ này hết sức quan trọng, vì đây là công thức diễn tả thái độ của con người đối với Thiên Chúa (x. Tv 119, 25b.42.57.105). Epistatês theo nghĩa chữ là “người ở trên”, “người chủ tọa”. Simôn nhận biết Đức Giêsu là người dẫn đường, Người không chỉ là một thầy dạy, mà là một chủ nhân đời sống!
Điều chúng ta ghi nhận ở đây là chính Simôn đã đưa thuyền ra khơi (c. 4); chính ông công bố niềm tin vào lời Đức Giêsu (c. 5); chính ông gọi Người là “Lạy Chúa” (c. 8); ông là người được mời trở thành “kẻ lưới người” (c. 10). Tất cả các yếu tố này cho thấy rằng Simôn được chọn cho một thừa tác vụ đặc biệt trong Hội Thánh. Nhiệm vụ của ông là nghe lời Chúa và di chuyển, không phải ra nơi mà kinh nghiệm dẫn đưa ông, nhưng nơi mà Thầy muốn ông đến.
Và để chứng minh là người ta có thể tin vào lời Đức Giêsu, các ông đã kéo được mẻ cá quá sức phong phú. Lưới gần bị rách. Cả hai thuyền đều đầy cá, nặng đến nỗi gần chìm. Kết quả này không do tài năng của Simôn, nhưng do lời của Đức Giêsu. Simôn cần trợ giúp; ông ra hiệu cho các bạn chài ở thuyền kia đến giúp (c. 7). Nay ta biết tên họ là Giacôbê và Gioan, con ông Dêbêđê. Các ông này được gọi là “bạn” (koinônoi) của Simôn (c. 10). Koinônos không chỉ là bạn cùng nghề nghiệp; các tác giả Tân Ước dùng từ ngữ này để chỉ những tín hữu hiệp thông với nhau (x. Cv 2,42.44; 4,32; Rm 12,13; 15,26.27; …).
* Phản ứng của Simôn sau mẻ cá - Đức Giêsu (8-10)
Tức khắc, Simôn nhận ra Đức Giêsu là ai và chính ông là ai: kinh ngạc sợ hãi. Ông thưa với Đức Giêsu như là “Chúa tể”, là điều mà trước đây các mục đồng đã được loan báo: Đấng Cứu thế, Đức Kitô, Đức Chúa (2,11). Simôn đã trải nghiệm quyền năng thực thụ của vị Chúa tể này. Do đó, bây giờ không những ông biết ông không ở trên cùng một bình diện với Người, mà còn biết rằng đối diện với Người, ông là một kẻ tội lỗi. Đứng trước quyền năng và sự thánh thiện của Thiên Chúa, con người cảm thấy có nhiều điều trong đời mình không coi được. Kinh nghiệm về Đức Chúa cho thấy nơi Phêrô có nhiều chuyện sai lạc, đi ngược lại với Người và làm cho ông nên bất xứng và không trong sạch. Ông thấy giải pháp cho hoàn cảnh không thể chịu nổi này là Chúa xa ông đi: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (c. 8). Việc Simôn quỳ phục xuống, gọi Đức Giêsu là “Chúa” (kyrios), lời nói về thân phận bất xứng, cho thấy ông đang gặp Thiên Chúa, một kinh nghiệm về thần hiển như trong trường hợp Môsê (Xh 3,6) và Isaia (x. Is 6,5). Ở đây, y như thể Simôn muốn nói rằng: Chúa tránh xa con, để như thế con lại có thể chịu nổi con và lại có sự bình an bề ngoài của con. Nhưng chắc chắn cách xử sự của Đức Giêsu không phải là tránh xa những người tội lỗi và bỏ mặc họ trong tội lỗi và với số phận của họ (x. 5,32). Ý thức của Simôn hoàn toàn đúng, nhưng giải pháp ông đề ra không được Đức Giêsu chấp nhận: Người không tránh xa ông, Người cũng không đẩy ông xa Người, nhưng nhận lấy ông, đưa ông vào phục vụ chương trình của Người. Chính Simôn, người đã nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con!”, lại sẽ đi theo Đức Giêsu cùng với các bạn (5,11).
Ở đây lần đầu tiên và lần duy nhất, bên cạnh tên Simôn quen thuộc, có tên Phêrô: phải chăng đây là một gợi ý kín đáo về sự phản bội của Phêrô trong tương lai? Trong thực tế, việc nhận biết thân phận tội lỗi của mình, trước khi đươc kêu gọi, chứng tỏ sứ vụ của Phêrô không dựa trên các đức tính của ông, nhưng hoàn toàn dựa trên sự ban tặng nhưng-không của Thiên Chúa.
Đức Giêsu tỏ ra rất tế nhị với Simôn. Người không nhận định gì về tình trạng tâm hồn của ông, Người không khuyến cáo; trái lại Người để cho ông làm một hành vi đức tin. Kết quả là Simôn nhận ra sự cao cả, sự tốt lành và quyền lực của Đức Giêsu, nên ông đã dễ dàng, như theo bản năng, từ bỏ các tội lỗi của ông. Khi đó, ông trở nên hoàn toàn tự do, ông có thể hiểu lời mời gọi của Người. Lời mở đầu: “Đừng sợ!” chứng tỏ sự can thiệp của Đức Giêsu mang màu sắc một cuộc thần hiển thực thụ. Lời hứa của Đức Giêsu: “Từ nay, anh sẽ là người thu phục người ta như bắt cá” (NTT: “sẽ là kẻ chài lưới bắt người”) được thêm vào kinh nghiệm mà Simôn đã có về tính vững chãi của lời Đức Giêsu nói. Simôn nhận biết Đức Giêsu như là Đấng muốn người ta đón tiếp Tin Mừng. Trong một cách thức chưa rõ mấy, Đức Giêsu cho ông hiểu rằng ông phải tham gia vào lối hành động này, nhưng luôn dựa vào quyền lực của Người.
* Kết luận: Đời môn đệ (11)
Simôn và các ông khác, tức Giacôbê và Gioan, “đã bỏ hết mọi sự mà theo Người”. Từ nay, Simôn và tất cả các môn đệ phải nhận biết rằng việc phục vụ mà Đức Giêsu đưa các ông vào dựa trên không phải là các đức tính, các năng khiếu cá nhân, nhưng dựa trên Lời của Người. Hai động từ “bỏ” và “theo” mô tả sứ mạng của người môn đệ. Nằm tại trung tâm cuộc sống của các ông, không phải là một giáo thuyết, nhưng là một con người và một dự phóng đời sống. Tiếng gọi này phát sinh không từ một mệnh lệnh, nhưng từ kinh nghiệm về một Lời mạnh mẽ và hữu hiệu, có thể không những tạo ra một mẻ cá dồi dào lạ lùng, nhưng còn gây nên một tiếng “xin vâng” cho trọn một cuộc đời.
+ Kết luận
Simôn đã hiểu thi hành một nhiệm vụ Đức Giêsu giao nghĩa là gì. Ông cũng trải nghiệm về bản thân ông là ai khi đứng trước Đức Giêsu. Như thế, ông cũng hiểu ra rằng, khi đứng trước một lời hứa của Đức Giêsu, tất cả các khả năng con người, dù có hạn hẹp, cũng như những cơ may thành công, dù có mong manh, cũng không còn đáng bận tâm nữa. Bài tường thuật phép lạ trước tiên là một biểu tượng về sự phong nhiêu của Lời Chúa.
Đây là một sự đảo lộn hoàn cảnh nguyên thủy. Lúc đầu, Simôn, có phần tự hào về bản thân, đã trở thành một người có khả năng nhảy một bước trong đức tin. Từ đó, ông cũng nhận ra được sự nghèo hèn của mình; do đó ông nên khiêm tốn để sống đức tin chan hòa. Chỉ nhờ kinh nghiệm về quyền năng của Thiên Chúa như thế, người môn đệ mới được đào tạo.
Sứ mạng được ký thác cho toàn thể cộng đoàn Kitô hữu, để cho thấy rằng có thể có một tập thể hoàn toàn đặt nền tảng trên sự tha thứ, việc chia sẻ của cải, việc phục vụ lẫn nhau, tôn trọng những người khác. Các Kitô hữu sẽ phải luôn luôn tự hỏi những người khác đang trông chờ mình đưa lại cho họ thứ “ơn cứu độ” nào, mình có thể phục vụ họ tốt nhất cách nào, mình đang lo tìm cứu độ từng con người hay chỉ bảo vệ một cơ cấu.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Hoạt động tông đồ không thể dựa trên khả năng của các tông đồ hoặc trên thiện chí của những người mà các ngài được cử đến gặp, nhưng chỉ dựa trên trách nhiệm được giao và quyền năng của Chúa. Người ta chỉ có thể đảm nhận công việc ấy “theo lời Người”. Simôn có thể trải nghiệm quyền năng và giá trị của lời Đức Giêsu và phải trải nghiệm về sự giới hạn yếu đuối của bản thân ông. Đồng thời ông cũng trải nghiệm được sự hạ cố nhân ái của vị Chúa tể quyền năng, đã đưa ông vào phục vụ Người. Việc phục vụ này mãi mãi được liên kết với các kinh nghiệm cơ bản này.
2. Các mục tử hôm nay lại không nhận ra bài học cho mình sao? Quyền lãnh dạo của họ trên cộng đoàn Kitô hữu không phải là để họ áp đặt ý muốn của mình, nhưng là để giúp nhận ra ý muốn của Đức Giêsu. Họ có nhận ra tiếng nói của Thầy chí thánh và phân biệt tiếng nói này giữa các cảm xúc, các trực giác và các ý tưởng của họ chăng?
3. Người ta không thể trách Simôn về sự kiện ông là kẻ tội lỗi. Chính ông đã biết rồi, và ông sẽ trải nghiệm về điều này cách cay đắng (Lc 22,33t.54-60). Nhưng Đức Giêsu đã đưa kẻ tội lỗi ấy vào phục vụ Người, đã cầu nguyện cho ông (22,31t), đã nhìn ông với ánh mắt nhân hậu (22.61t). Như thế, Simôn có thể chu toàn nhiệm vụ, mà không bao giờ cậy dựa vào các sức mạnh của mình, nhưng tín thác vào Lời Chúa.
4. Khi biết nhìn đến lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta, quyền năng cũng như lòng tốt của Ngài, chúng ta mới nhận ra sự nghèo nàn và cần ơn cứu độ của chúng ta. Simôn đã nhân ra điều đó, ông không sợ hãi gì nữa; cho dù kẻ khác có nghĩ ông là một kẻ tội lỗi, điều này cũng quan hệ gì. Ông đã bước được một bước quyết liệt trong việc giải phóng bên trong. Đức Giêsu đã đào tạo môn đệ bằng phương tiện là những bước nhảy trong đức tin và bằng cách làm cho người ấy biết quyền lực thần linh của Người. Con thuyền của Phêrô chính là Hội Thánh. Đức Giêsu vẫn tiếp tục dạy chúng ta trên chiếc thuyền này, dọc theo dòng các cuộc cử hành Phụng vụ, và nhất là trong Bí Tích Thánh Thể.
5. Chính Thiên Chúa ban ơn gọi cho loài người. Mọi người phải bỏ mọi sự mà đáp trả quảng đại. Như thế là thực hiện một bước điên rồ, nhưng chính bước điên rồ này làm nên con người. Simôn đã thực hiện sự từ bỏ này khi thả lưới trái với kinh nghiệm thông thường, rồi sau đó, khi bỏ mọi sự mà bước theo Đức Giêsu. Nhờ dám “đánh liều cuộc đời”, Simôn trở thành người mà Thiên Chúa nhắm khi cho ông xuất hiện trong cuộc đời. Trong gia đình Kitô hữu, giáo dục con cái biết sống quảng đại là cách thức tốt nhất để chuẩn bị cho con cái sống quảng đại, để nhờ đó, chúng thực hiện được chương trình của Thiên Chúa.


 

TN5-C84: Chú giải của Noel Quesson

Trang Tin Mừng này, như nhiều trang khác, dưới vẻ bề ngoài hời hợt kể về một giai thoại của đời TN5-C84

Trang Tin Mừng này, như nhiều trang khác, dưới vẻ bề ngoài hời hợt kể về một giai thoại của đời sống Đức Giêsu thật ra là một trang về giáo hội học hay thần học về Giáo Hội.
Một hôm, Đức Giêsu đang đứng ở bờ hồ Ghen-nê-xa-rét, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa
Trước tiên, tôi nhìn ngắm quang cảnh cụ thể. Rồi tôi thử tưởng tượng. Đức Giêsu ở giữa một đám đông. Người nói. Đám đông lắng nghe Người. Người không nói bất kỳ điều gì: Người nói Lời Chúa. Nhà thần học Luca nói với chúng ta đó là vai trò đầu tiên của Giáo Hội: việc rao giảng! Điều mà Giáo Hội cố gắng thực hiện chính.Đức Giêsu đã bắt đầu điều đó. Sự rao giảng của Giáo Hội là sự kéo dài việc rao giảng của Đức Giêsu và có cùng một nội dung.
Lạy Chúa, xin cho con lòng yêu mến Lời Chúa, lòng khao khát được lắng nghe Lời Ngài.
Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông
Quang cảnh cụ thể và hiện thực. Nhưng cũng là quang cảnh có tính tượng trưng sâu sắc. Chiếc thuyền tạo ra một khoảng cách; giữa Đức Giêsu và đám đông, như thế nhấn mạnh vẻ uy nghi nào đó của Đức Giêsu đang ngồi giảng dạy. Và "thuyền đó là thuyền của Simon "tức Phêrô” Giữa đám đông các môn đệ, Luca thong thả nhận ra một vài người sẽ trở thành "nhóm mười hai mà Đức Giêsu gọi là các Tông Đồ." (Lc 6,12)...và trong nhóm mười hai này, Luca còn nhận ra Simon là trọng tâm của bài tường thuật và được gọi đích danh sáu lần trong trang Phúc âm này. Vì thế, đây là cơ cấu chủ yếu của Giáo Hội mà Đức Giêsu mong muốn.
Cơ cấu tổ chức của Giáo Hội có thể làm cho chúng ta vui mừng hay khó chịu. Dọc dài theo lịch sử, các giáo hoàng và các giám mục có thể đã đóng những vai trò trần tục theo hình ảnh các ông hoàng của thế gian này, hỡi ôi! Nhưng về mặt thần học, chính Đức Giêsu thiết lập cơ cấu tông truyền của Giáo Hội. Trong Giáo hội, các vị có chức tránh trước tiên không phải là một thủ lĩnh, một bề trên trong phẩm trật, một người chấp chính, mà là một người phục vụ đại diện cho Đức Kitô, Đấng Phục vụ trong bí tích. Giáo sĩ là một dấu chỉ, một Bí tích của Đức Giêsu Kitô. Giữa đám đông các môn đệ có linh mục là dấu chỉ rằng chúng ta không chinh phục ân sủng và Lời Chúa, nhưng chúng ta tiếp nhận Lời từ một Đấng khác. Thánh chức đại diện cho Đức Kitô quả là một trách nhiệm đáng sợ. Ngày hôm nay, chẳng phải chúng ta có khuynh hướng nguy hiểm là đánh giá thấp "lời giảng dạy" của Giáo Hội, là bác bỏ khỏi Giáo Hội khía cạnh bí tích, mầu nhiệm, thiêng liêng đó sao? Để chỉ nhìn thấy con người đang nói mà quên đi Đấng mà người ấy đại diện và biểu thị một cách hiệu lực đó sao? Công đồng dám khẳng đinh: "Chúa Kitô hằng hiện diện trong Giáo Hội nhất là trong các hoạt động phụng vụ Người hiện diện trong con người thừa tác viên. Người nói khi người ta đọc Thánh Kinh. Ai rửa tội chính là Đức Kitô rửa. Phụng vụ đáng được xem là việc thực thi chức vụ tư tế của chính Chúa Giêsu Kitô, trong đó công cuộc thánh hóa được biểu tượng nhờ những dấu chỉ khả giác" (S.C 7). Chúng ta có cầu nguyện để các Giáo hoàng, các Giám mục, các linh mục đóng đúng vai trò ấy hay không?
Chiếc thuyền ấy của Simon, neo trong cái vũng nhỏ ở Ca-phác-na-um; tôi thích tưởng tượng nó như một chiếc thuyền cũ kỹ tồi tàn mà khắp mọi chỗ có những mảnh ván đóng đinh chong vào để lấp kín những chỗ hư hại... một chiếc thuyền rất phàm nhân, rất bình thường, rất nghèo hèn! Nhưng Đức Giêsu đã bước lên chiếc thuyền ấy và từ đó Người nói! Ôi! Chiếc thuyền mẫu nhiệm, Giáo Hội của Người, và Lạy Chúa, nó vừa rất con người và cũng rất thánh thiêng…
Giảng xong, Người bảo ông Simon: "Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá
Bản dịch theo mặt chữ thì tốt hơn và nói rằng: Ra chỗ nước sâu hay đúng hơn: "Ra chỗ nước trên vực thẳm "eis to bathos" ' tiếng Hy Lạp. Từ tiếng Bathos có nghĩa là vực thẳm, mà có từ tiếng Pháp "bathiscaphe": Chiếc tàu lặn của Cousteau để thám hiểm các vực sâu dưới đáy biển. Đối với dân Sêmít, dân cư của các vùng đất khô cằn, biển là nơi đáng ngại nhất, biểu tượng của các vực thẳm nội tâm, nơi ở của các quái vật trong hỏa ngục (St 7,17; Tv 74,13-24,2; Gr 38,16; Gn 2,2; Kh 9,l-3-20,3-13,1). Nghề biển là một nghề nguy hiểm. Oi có biết bao thủy thủ, thuyền trưởng “bị nuốt chửng, nhận chìm" vào cái hàm mở rộng của biển cả!
Như thế, Đức Giêsu nói một cách tượng trưng điều này: "Con thuyền của Simon, Giáo Hội của Ta, hãy tiến vào nơi hiểm nghèo của biển cả, vào nơi hiểm nghèo của thế gian, hãy rời bỏ sự an toàn của bờ bến; hãy tiến lên trên vực thẳm". Lạy Chúa! Xin cho chúng con biết mạo hiểm.
Ông Simon đáp: "Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới.
Sứ mạng của Giáo Hội hoàn toàn vượt quá những sứ mạng của con người: Người môn đệ chân chính lắng nghe "lời" Chúa dù lời đòi hỏi người ấy những điều xem ra phi lý.
Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm
Luca nhấn mạnh đến tính chất phi thường của việc đánh cá siêu phàm ấy: Lưới rách, một sự giúp đỡ cần thiết, người ta đổ cá đầy "hai" thuyền, thuyền sắp chìm!
Giáo Hội chỉ có thể thành công nhờ tin vào Lời của Đức Giêsu. Thế thì Simon tư tế phải nhớ lại thôi! Trên mảnh đất chuyên môn của mình Simon tưởng mình có khả năng, nhưng Đức Giêsu đã đánh trúng ông, đã chỉ cho ông những giới hạn của mình: Vì thế, ông không là gì cả nếu không có Người. “Chúng tôi đã vất vả mà không bắt được gì cả!" Chúng ta cũng thế, trong chiếc thuyền của chúng ta, chúng ta thường phải nhường chỗ cho một Đấng Khác, để thả lưới ở nơi mà chúng ta không tự mình làm được.
Đó là ý nghĩa mẫu nhiệm của sự thất bại: giai đoạn đau khổ và khiêm hạ để chúng ta từ bỏ chính mình và đem lại cho chúng ta cơ hội giải phóng mình khỏi những ảo tưởng vẫn làm cho chúng ta tin tưởng vào giá trị của mình. Như thế, có chẳng lúc, chúng ta được mời gọi phải thực hiện một bước liều của đức tin: để hoàn thành các bổn phận nghề nghiệp của chúng ta, để yêu thương chồng mình để chấp nhận một đứa con, để chịu đựng một thử thách... hay hoàn toàn đơn giản, để chịu đựng một ngày của cuộc sống khô cằn trong đó chúng ta vất vả mà không thu hoạch được gì. Chúng ta phải tiến lên trên vực thẳm", phải liều mình với một cử chỉ điên rồ mà Đức Giêsu đòi hỏi chúng ta! Hỡi Giáo Hội! Tại sao bạn còn nghi ngại?
Thấy vậy, ông Simon Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: "Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!" Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Simon và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc
Ở đây Luca đùng trước biệt danh "Phêrô" mà sau này Đức Giêsu sẽ đặt cho ông Simon (Lc 6,14). Cũng vậy, Luca dùng trước danh hiệu "Chúa" ("Kurios" trong tiếng Hy Lạp) sẽ là danh hiệu của Chúa phục sinh trong vinh quang (Lc 24,3 - 24,34).
Trước sự hiện diện của Thiên Chúa, con người luôn cảm thấy một sự run sợ lạ lùng, đây là nền tảng hầu như phổ biến của tình cảm tôn giáo trong mọi tôn giáo trên thế giới. “Khốn cho tôi, tôi là một con người có đôi môi ô uế". Isaia đã nói (6, 1) khi nghe thấy các thiên sứ kêu lên: “Thánh! Thánh! Thánh! Lạy Chúa là Thiên Chúa hoàn vũ" Chúng ta còn nhớ những người dân ở Nadarét xin Thiên Chúa làm những phép lạ! Còn người môn đệ chân chính lại sợ hãi trước phép lạ và cầu khẩn Thiên Chúa tránh xa mình. Xin Chúa trách xa con, Phêrô khẩn khoản nài xin. Con là kẻ tội lỗi. Sau này khi nghe tiếng gà gáy, ông sẽ còn khám phá một cách sâu xa hơn tình trạng tội lỗi của mình! à thì ra người ta không thờ phụng nhân cách trong Giáo Hội, cũng không tôn thờ giáo hoàng. Con người mà Đức Giêsu đã yêu cầu đại diện Người tức vị giáo hoàng đầu tiên là một "con người tội lỗi". Trước đó, Phêrô là trưởng nhóm", ông tin tưởng vào kiến thức và kinh nghiệm của mình. Nhưng cuộc gặp gỡ với Đức Kitô đã cho ông thấy sự nhỏ bé của ông. Đức Giêsu chuẩn bị ông trở thành thủ lãnh tối cao của Giáo Hội Người bằng cách làm cho ông ý thức sự vô nghĩa của mình. Thánh Gioan khi kể lại sự đánh cá mầu nhiệm đã đặt nó sau sự Phục Sinh (21,1,19) và câu chuyện chấm dứt bằng việc nhắc đến Phêrô đã ba lần chối Chúa, và bằng sự tín nhiệm của Đức Giêsu đem lại cho người tội lỗi ấy một sứ mệnh!
Cả hai người con ông Dê-bê-đê, là Gia-cô-bê và Gio-an, bạn chài với ông Simon, cũng kinh ngạc như vậy
Ở đây trong quá trình câu chuyện, Luca kể lại cho chúng ta tên những người khác như để làm nổi bật Phêrô trước đó.
Và các người bạn ấy của Phêrô được kể ra để nói rằng họ chia sẻ niềm kinh ngạc lạ lùng của Phêrô là cũng là những người sẽ có đặc ân đáng sợ là bộ ba chứng kiến (Phêrô, Giacôbê và Gioan) sự sống lại của một bé gái (Lc 8,51), sự biến hình trên núi (Lc 9,28), sự hấp hối trong vườn cây dầu (Mt 26,37).
Ngày nay, sự sợ hãi mà điều thánh thiêng gây ra dường như biến mất. Nhưng đó không phải là sự biến mất. Đó là một sự di chuyển: Khi người ta mất đi sự kính sợ Thiên Chúa, thì người ta bị mọi thứ hốt hoảng và sợ hãi xâm chiếm: nguy cơ nguyên tử, sự mất quân bình đủ loại sự mỏng dòn mới về tâm lý, sự lo lắng trước tương lai.
Bấy giờ Đức Giêsu bảo ông Simon: Đừng sợ
Đó là lời an ủi mà trong Kinh Thánh các thiên sứ luôn luôn nói với những con người sững sờ vì sự hiện diện thánh thiêng (Lc 1,13-30 - 2,10). Đó cũng là lời mà Đức Giêsu sẽ luôn luôn nói sau khi Người sống lại (Mt 28,10; Kh 1,17).
Từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.
Theo hình ảnh tượng trưng của biển cả được khai triển bên trên, vấn đề là "cứu sống những con người khỏi vực thẳm quỷ quái": Đó là vai trò của Giáo Hội. Nhân loại là mồi ngon của những sức mạnh đáng sợ muốn nuốt trửng nhân loại. Bạn"hãy là "kẻ đánh lưới người", bạn hãy cứu họ!
Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người
Phép lạ thật sự không phải là đánh cá ngoài khơi xa mà là đánh cá trong các tâm hồn; họ đã chọn lựa sự liều lĩnh ấy của Đức tin để theo Đức Giêsu và bỏ hết mọi sự.

 

TN5-C85: Vâng lời Thầy, Con thả lưới

(Lc 5:1-11)
Bài trích Tin Mừng theo Thánh Luca,
Khi ấy, dân chúng chen nhau lại gần Chúa Giêsu để nghe lời Thiên Chúa, Lúc đó Người đang ở bờ hồ Giênêgiareth. Người trông thấy 2 chiếc thuyền đậu gần bờ, những người ngư-phủ đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. Người xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon và Người xin ông đưa thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi trên thuyền giảng dạy dân chúng. Vừa giảng xong, Người bảo ông Simon rằng: Hãy đưa thuyền ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Ông Simon thưa Người rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết; nhưng vâng lời Thầy tôi sẽ thả lưới”. Các ông đã thả lưới và bắt được rất nhiều cá ; lưới các ông gần bị rách. Bấy giờ các ông làm hiệu cho các bạn đồng nghiệp ở thuyền bên cạnh đến giúp. Họ tới bắt cá đổ vào đầy 2 thuyền, đến nỗi các thuyền nặng quá gần chìm. . Thấy thế, ông Simon sụp lạy dưới chân Chúa Giêsu và thưa rằng: “Lạy Chúa! Xin Chúa hãy tránh xa tôi, vì tôi là người tội lỗi”. Ông kinh ngạc và tất cả mọi người ở đó với ông cũng đều kinh ngạc trước mẻ cá mà các ông vừa bắt được. Cả ông Giacôbê và Gioan, con ông Giêbêđê, bạn đồng nghiệp với ông Simon cũng thế. Nhưng Chúa Giêsu phán bảo ông Simon rằng: “Đừng sợ! Từ nay con sẽ là kẻ chinh phục người ta!”. Bấy giờ các ông chèo thuyền vào bờ và các ông từ bỏ mọi sự mà đi theo Người.

**
 

Thiên Chúa mong muốn cho tất cả các con của Ngài góp phần mở rộng Vương Quốc Yêu Thương của TN5-C85

Thiên Chúa mong muốn cho tất cả các con của Ngài góp phần mở rộng Vương Quốc Yêu Thương của Người bằng tích cực ra đi loan báo Tin Mừng Cứu Độ. Đây là một vinh dự lớn lao, tuy nhiên không ai xứng đáng lãnh nhận trọng trách cao cả đó! Với thân phận con người, tất cả chúng ta đều cảm nhận mình bất xứng.
Ngôn Sứ Isaia,khi đứng trước Thiên Chúa Chí Thánh, Chí Tôn, Đấng ba lần Thánh, là Chúa Các Đạo Thiên Binh, trong Sách Is. 6:1-8 đã nhận thấy lưỡi ông nhơ nhớp không xứng loan báo Lời của Chúa, nhưng Thiên Thần Sốt Mến đã lấy cục than hồng trên bàn thờ bỏ vào miệng ông và nói: “Than hồng này chạm đến ngươi và lỗi ngươi được xóa bỏ”.
Thánh Phaolô, Vị Tông Đồ hăng say, nhiệt thành bậc nhất, là cột trụ của Hội Thánh nhưng Ngài tự nhận là “Đứa con sinh non”, là “Người hèn mọn nhất trong các Tông Đồ, và không xứng đáng nhận danh hiệu Tông Đồ”. (I Cor 15:1-11).
Đấy là thái độ khiêm tốn mà tất cả những ai muốn rao giảng, muốn đem Tin Mừng của Chúa cho các linh hồn cần có!
** Đoạn Tin Mừng Luca ở trên (Chương 5:1-11), Ông Simon và các Tông Đồ Gioan, Giacôbê cũng cảm nhận mình hoàn toàn bất xứng được cận kề Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa Hằng Sống!
Tin Mừng thuật lại rằng: Lúc ấy, Chúa Giêsu đang ở bờ biển hồ Giênêzareth, và giảng dạy cho đoàn lũ rất đông dân chúng. Vì quá đông dân, nên người ta không thể nhìn thấy và nghe được lời Ngài giảng, nên Chúa Giêsu bước xuống thuyền của ông Simon và xin ông chèo thuyền xa bờ một chút để mọi người có thể nhìn thấy và nghe được lời Ngài nói…. Chúa Giêsu là Đối Tượng mà mọi tâm hồn hướng tới, Ngài là Trung Tâm Điểm của Tin Mừng! Rao giảng Tin Mừng, là rao giảng Danh Thánh Chúa Giêsu, làm cho Chúa Giêsu lớn lên trong các linh hồn, để Ngài trở thành Trung Tâm của mọi Linh hồn tôn thờ và yêu mến.
Chúa Giêsu chắc chắn có giọng nói âm vang mạnh mẽ để đông đảo quần chúng có thể nghe được, hơn thế nữa, Thần Lực của Ngài có thể tác động, có thể len lỏi vào tận đáy thẳm của linh hồn để ngay cả “Kẻ chết cũng có thể nghe được”, những kẻ chết trong linh hồn, hay thực sự đã chết trong thân xác có thể nghe được! (Đan cử: Chúa gọi ông Lazarô ra khỏi mồ, khi ông đã chết thối 4 ngày, và đang mai táng trong huyệt đá).
** Sau khi giảng xong, Chúa Giêsu bảo ông Simon hãy chèo thuyền ra chỗ nước sâu để đánh cá. (Lc 5:4). Trong công việc thường ngày của mỗi người chúng ta, cũng như trong lời khẩn nguyện, Chúa Giêsu luôn bên cạnh chúng ta nếu chúng ta Vâng Lời Ngài. Nếu Chúa bên cạnh, ở trong thuyền đời chúng ta, thì dù ở trên cạn hay giữa đại dương… những phép lạ diệu kỳ chắc chắn sẽ xẩy đến để làm cho cuộc sống mỗi người chúng ta trở nên phong nhiêu, hạnh phúc khôn tả! Ngay cả khi chúng ta lo sinh kế, làm việc, thì Ngài vẫn muốn ở bên cạnh chúng ta!
Ông Phêrô và các bạn đồng nghiệp là những người chuyên nghề đánh bắt cá đã nhiều năm, thế mà sau một đêm “Cực nhọc, vất vả mà chẳng bắt được một con cá nào (Lc 5:4+5)… Khi thất vọng vì công việc vất vả mà không đem lại chút thành quả nào,đứng trước hoàn cảnh coi như hoàn toàn thất bại, thì giờ đây, các môn đệ đang có Chúa Giêsu bên cạnh, Ngài đang ở ngay trong khoang thuyền của họ, thì cuộc diện sẽ biến đổi một cách hoàn toàn nhất, thuận tiện nhất!... Chúng ta cứ làm mọi việc hết khả năng riêng mình, còn lại, chúng ta hãy phó thác cho Chúa Giêsu, vâng lời Ngài, mời Ngài đến với chúng ta và kết quả sẽ thập phần mỹ mãn! Những lúc quá thất bại, chán nản, và mệt nhoài… chúng ta hãy cậy dựa nơi Chúa Giêsu, hãy trình bày những khó khăn của chúng ta cho Ngài! : ”Chúng con đã cực nhọc vất vả mà không đạt thành quả nào!”
Cứ lẽ thường, khi Chúa bảo các ông thả lưới bắt cá, các ông sẽ tự nghĩ: Chúng tôi là dân chuyên nghiệp đã nhiều năm, còn Ngài đâu có bao giờ đánh bắt cá, nghe theo sẽ uổng công thôi!… Thế nhưng, vì tuyệt đối tin Chúa Giêsu, các ông đã thực hành theo lời Thầy! Ông Simon thưa: “Vâng lời Thầy, con xin thả lưới”. và vì sự tin tưởng, vâng lời ấy, phép lạ kỳ diệu đã xẩy ra : “Các ông bắt được rất nhiều cá đến nỗi lưới gần bị rách”, họ phải gọi các bạn đến giúp “Cả 2 thuyền chứa đầy cá đến nỗi gần bị chìm” (Lc 5:7).
Phép lạ này chứng tỏ Chúa Giêsu là Chúa của biển cả cũng như trên đất liền, và mọi phong nhiêu phú túc đều phát xuất từ Thiên Chúa, là nguồn mọi thiện hảo. Ngay lúc đó, nhiều người mới nghe Chúa Giêsu giảng vẫn còn ở đó nên được chứng kiến phép lạ mẻ cá lạ lung Chúa làm, nên đã tin kính Chúa. Đây là phần thưởng Chúa ban cho những ai làm việc dưới sự hướng dẫn của Chúa Giêsu.
**Tin Mừng kể lại rằng: “Mọi người đều kinh ngạc sau biến cố lạ lùng ấy” (Lc 5:9). Trước hết là ông Simon, sau đó là các ông Giacôbê, và Gioan con ông Giêbêđê. Hơn ai hết, các ông hiểu rõ do đâu mà có mẻ cá lạ lùng này! Đã bao nhiêu năm lăn lộn trong nghề chài lưới, các ông chưa từng chứng kiến một mẻ cá nào phi thường như thế! Các ông vui mừng không phải vì phép lạ này đem lại cho các ông đời sống vật chất khá hơn, nhưng Niềm Vui lớn trào lên từ tâm hồn! Niềm Vui của Niềm Tin khi các ông đã tìm được Vị Thầy của các Thầy, Vị Minh Sư có thể đem lại cho các ông Sự Cứu Rỗi! Các ông đã bừng mở mắt tâm linh để nhận ra Thiên Chúa đang sống động trong hình hài giống như mọi người khác mà các ông được phước hạnh cận kề!
Ông Phêrô quá kinh ngạc và cảm phục, ông chân nhận Chúa Giêsu chính là Thượng Đế giáng lâm, đồng thời nhận thấy mình tội lỗi, nên ông đã vội quỳ sụp dưới chân Chúa và thưa rằng: “Lạy Chúa! Xin hãy tránh xa con! Vì con là người tội lỗi!” (Lc 5:8). Ông cảm nhận sự bất xứng khi được diện kiến Chúa trong khoang thuyền của mình! Tuy nhiên, chính Chúa muốn sống và đồng hành với những người tội lỗi nhất để làm cho họ trở nên hoàn thiện nhất, khi được tiếp xúc với Ngài!
“Lạy Chúa Giêsu! Dù linh hồn con tồi tàn, tội lỗi và bất xứng tới đâu, thì tình yêu của Chúa cũng có thể xóa bỏ mọi tội lỗi của con! Tình yêu thương xót của Chúa luôn vĩ đại hơn tội lỗi của con! Con nài van Chúa đừng bao giờ lìa xa con, Xin đừng lánh mặt khỏi con! Xin cho con đừng bao giờ xa cách Chúa là Niềm Vui, là Hạnh Phúcvà là sự phong nhiêu, viên mãn của linh hồn và thân xác của con! Dù con tội lỗi muôn trùng, con cũng bắt chước Thánh Phêrô, sụp lạy dưới chân Chúa để được Chúa thương, nhận con làm môn đệ của Chúa, để con sẽ như Thánh Phêrô, sẵn sàng ra đi loan báo Tin Mừng cứu rỗi và sẵn sàng chịu chết để tuyên xưng, để loan báo Chúa cho mọi người!”.
** Ta thấy, không những Thánh Phêrô, và cả các ông Giacôbê, Gioan cũng như các bạn đều kinh ngạc về quyền năng siêu phàm của Chúa Giêsu, và các ông sau đó “Bỏ hết mọi sự mà theo Ngài” (Lc 5:11). Các ông Bỏ Mọi Sự khi mà gia tài của các ông trở nên phú túc do mẻ cá lạ lùng! Các ông đã khôn ngoan Bỏ Mọi Sự để đi theo Chúa Giêsu, để được sống thân thiết, sống bên cạnh Ngài! Để từ nay, sau khi dứt bỏ nghề chài lưới, bỏ mọi lo lắng trần tục, các ông chỉ còn một quyết tâm là dành trọn thời giờ, khả năng để học hỏi và loan báo Tin Mừng cho muôn dân.
Bỏ Mọi Sự để được Chúa Giêsu! Là một sự trao đổi có lợi quá lớn cho các ông! Bỏ những cái mau qua phàm trần để tìm gặp Chính Nguồn Chân Thiện Mỹ, Nguồn Hạnh Phúc vô biên, vô tận! Bỏ những cái hữu hạn để được Thiên Chúa là Kho Tàng Trân Quý Tuyệt Đối! Còn gì Hạnh Phúc hơn???

 

TN5-C86:  "RA KHƠI MÀ THẢ LƯỚI !"

( Chúa Nhật 5 Thường Niên C )
 

Chủ đề tĩnh tâm Giáo Phận năm nay là truyền giáo. Đức Giám Mục hô hào đẩy mạnh phong trào TN5-C86

"Chủ đề tĩnh tâm Giáo Phận năm nay là truyền giáo. Đức Giám Mục hô hào đẩy mạnh phong trào truyền giáo. Phương pháp truyền giáo là phát triển Dân Sinh, Dân Trí và Dân Đạo.... Bất ngờ ngài nói với anh em một câu của một vị Thừa Sai nào đó: “Linh Mục Việt Nam chỉ có tài coi sóc Họ Đạo, chứ không biết gầy dựng Họ Đạo”.
Vì tự ái dân tộc, mình giơ tay và đứng bật lên như m­ột cái lò xo: “Thưa Đức Cha, không phải Linh Mục VN không biết gầy dựng Họ Đạo, nhưng vì chưa có “Bài sai" ( Văn thư bổ nhiệm một Linh Mục do Đức Giám Mục ấn ký ) của Đức Cha.” Mình hung hăng chừng nào thì Đức Giám Mục bình tĩnh chừng ấy. Với giọng trầm buồn, ngài thủng thẳng trả lời: “Tôi biết đi truyền giáo thì thiếu thốn và cực khổ nhiều lắm, nên không nỡ tâm sai các cha đi. Cha nào tình nguyện thì tôi mới dám. Vậy cha nào tình nguyện thì giơ tay lên.” Mình đếm được sáu cánh tay giơ thật cao và thật thẳng: Hai cha già, hai cha sồn sồn, và hai cha trẻ. Đức Giám Mục cười và khôi hài: “Các cha đi truyền giáo thì bỏ Họ Đạo, bỏ Chủng Viện, bỏ trường học cho ai ?”
Cả hội trường cười hì một cái. Thế là đánh trống bỏ dùi. Vấn đề truyền giáo chỉ được nêu lên như một sự gợi ý và thăm dò. Rồi đây, sau tuần tĩnh tâm, ai nấy lại trở về với Họ Đạo của mình và tiếp tục rao giảng Tin Mừng cho ng­ười… đã nghe. Tuyệt nhiên không nghĩ gì, không làm gì cho người lương dân, những người chưa bao giờ được nghe Tin Mừng.
Viết đến đây, mình liên tưởng đến Đức Giêsu khi Ngài đến rao giảng tại Caphácnaum. Sau khi được nghe giảng và chứng kiến nhiều phép lạ, dân thành Caphácnaum nảy ra một sáng kiến: “Xin Thầy ở lại với chúng tôi, đừng đi đâu nữa.” Câu nói của họ hàm nhiều ý nghĩa: Thứ nhất, vì quá thương, họ muốn Chúa ở lại với họ. Họ không muốn Chúa lúc nào cũng đầm đìa mồ hôi, ăn không trọn bữa, ngủ không đầy giấc, do các chuyến đi liên tục. Họ muốn có một “ngôi nhà xứ” có đủ tiện nghi cho Chúa sử dụng. Họ sẽ kiếm cho Chúa một bà bếp nấu ăn thật giỏi, có thể đó là mẹ vợ của Simon. Thứ nhì, họ muốn gởi gắm sự nghiệp của mình vào sự nghiệp của Chúa. Caphácnaum sẽ là trung tâm rao giảng, trung tâm trị bệnh. Caphácnaum sẽ trở thành thủ đô của nước “Israel mới.” Sự nghiệp của Chúa sẽ gắn liền với sự nghiệp vẻ vang của Caphácnaum. “Xin Thầy ở lại với chúng tôi, đừng đi đâu nữa !” Ôi thương quá là thương ! Nghe mà nẫu cả ruột ! Đó là một chước cám dỗ, chước cám dỗ dễ thương vô cùng. Để đối phó, Chúa đã khẳng định: “Ta còn phải loan báo Tin Mừng cho các thành khác nữa. Chính vì thế mà Ta được sai đến.” Sau đó Chúa đã đi thật, và đi mãi.
Chúa ơi, Chúa đã giã từ Caphácnaum để đi loan báo Tin Mừng, còn chúng con thì đã chui vào đó để “Ngồi Họ.” Quả vậy, Giáo hội của Chúa có một truyền thống yêu thương giáo xứ. Con cái của Chúa quây quần bên nhau thành một xóm đạo…" ( Lm. Piô Ngô Phúc Hậu, Giáo xứ Caphácnaum, Nhật ký Truyền Giáo ).
Tin Mừng theo Thánh Luca Chúa Nhật hôm nay tường thuật mẻ cá ban ngày trúng đậm, khiến ông Simon nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa toàn năng, cảm thấy mình yếu hèn tội lỗi, bất xứng gần gũi Người. Nhưng Đức Giêsu đã hân hoan thâu nạp hai ông Anrê, và ông Simon, và các bạn chài con ông Dêbêđê, là hai ông Giacôbê và Gioan, làm những môn đệ đầu tiên thực hiện nhiệm vụ “chài lưới bắt người.” ( theo bản dịch của Lm. Nguyễn Thế Thuấn, DCCT ).
Lời Chúa hôm nay còn muốn nhắn gửi đến tất cả Kitô hữu, không phân biệt chủ chăn hay con chiên, sứ mạng truyền giáo rất cấp bách, đòi hỏi toàn thể tín hữu dấn thân vào đời, vào nơi đông đảo quần chúng chưa được vinh dự biết đến Tin Mừng, mặc dù ở vùng xa xôi, hẻo lánh, như ngoài khơi biển cả. Can đảm noi gương Đức Giêsu rời khỏi “Giáo xứ” Caphácnaum thuần đạo vẻ vang, để còn “loan báo Tin Mừng cho các thành khác nữa.”
Ra khơi
Sau khi giảng dạy cho dân chúng từ trên thuyền neo gần bờ, Đức Giêsu bảo ông Simôn: “Ra khơi mà thả lưới đánh cá !” Lệnh truyền súc tích, vắn gọn, rõ rang, chính xác, không thừa hay thiếu chữ nào. Người đi rao giảng không được nấn ná, ở lì, cắm dùi một chỗ Tin Mừng đã được loan báo, đã hình thành cơ cấu và sinh hoạt tâm linh.
Ra khơi là mệnh lệnh dấn thân phiêu lưu theo Đức Giêsu, sẵn sàng chấp nhận đối đầu những phong ba, bão táp, những ngày biển động, những thách đố bất ngờ, những tai ương hoạn nạn có thể đổ ập đến bất cứ lúc nào, nhưng sẽ luôn có Chúa ở cùng, luôn có Chúa Quan Phòng chở che, nếu một lòng một dạ mãi tín thác nơi Ngài.
Ra khơi còn là biểu lộ thái độ dứt khoát, một quyết định vững chãi, không còn dấm dớ theo Chúa nửa vời, nửa muốn theo Chúa, nửa lo sợ thế gian ghét bỏ, hãm hại, lo mất cuộc sống yên ả, sung túc, tiện nghi, lo đói khát, cực nhọc, khó khăn. “Kẻ vừa tra tay cầm cầy vừa ngó lui sau, là người bất kham đối với Nước Thiên Chúa” ( Lc 9, 62 ).
“Đi, đi, đi mãi, đi quyết liệt, đi không nhượng bộ cũng như không ai đi với người đi lui. Không nhượng bộ cho xác thịt, Không nhượng bộ cho lười biếng, Không nhượng bộ cho ích kỷ... Con không thể gọi đen là trắng, xấu là tốt, gian là ngay được.” ( Đường Hy Vọng, số 12 và 13 ).
Vâng lời
Lời đáp lại mau mắn của ông Simon chính là lời tuyên xưng Đức Tin công khai, với tâm hồm khiêm nhường, tôn kính, hoàn toàn vâng phục: "Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết; nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới."
Dẫu rằng ông Simon vốn là dân chài chuyên nghiệp, dẫu đã bao năm kinh nghiệm dầy dạn sương gió trên biển hồ Ghênêdarét, dẫu vừa mới thức trắng một đêm lao nhọc chài lưới công cốc, ông vẫn tận tâm, tận tuỵ thi hành mệnh lệnh, dù nghe thật chướng tai và bất hợp lý, khi đánh cá ngay ban ngày.
Khiêm nhường, bỏ đi những khôn ngoan thế gian, những lập luận lô gích, những kinh nghiệm cá nhân, để vâng theo Thánh Ý Chúa không bao giờ dễ dàng. Nhưng “Trời cao hơn đất chừng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” ( Is 55, 9 ).
“Đức Chúa có ưa thích lễ toàn thiêu và các hy lễ như ưa thích người ta vâng lời Đức Chúa không ? Này, vâng phục thì tốt hơn là dâng hy lễ, lắng nghe thì tốt hơn dâng mỡ cừu” ( 1Sm. 15, 22 ).
“Thế gian bảo con vâng phục như vậy là “điên khùng.” Chúa nói con vâng phục, vì Chúa là “anh hùng” ( Đường Hy Vọng, số 393 ).
Từ bỏ
Kinh ngạc trước phép lạ nhãn tiền, mẻ cá đầy ắp vô tiền khoáng hậu, ông Simon sụp lạy dưới chân Chúa Giêsu và thưa Người rằng: "Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi." Không chỉ mình ông Simon ngạc nhiên, mà tất cả bạn chài cũng kinh ngạc không kém. Tất cả mọi người, mọi loài thụ tạo đều phải quy phục trước quyền năng siêu phàm của Thiên Chúa. Khi đó, con người mới có cơ hội nhận thức được thân phận yếu kém, hèn hạ của mình, mà tôn kính, thờ lạy Đấng Tạo Hoá muôn loài, mới cảm thấy bất xứng, tội lỗi, xấu xa, trước Thánh Nhan Chúa.
Chính khi nhận ra mình phận hèn, là lúc Chúa đoái thương, gần gũi, nâng đỡ, mời gọi. Chúa không nỡ lìa xa, như ông Simon khẩn khoản nài xin, mà Lòng Thương Xót Chúa có dịp chiếu toả, sưởi ấm, vỗ về, bao bọc, chở che, tin tưởng, trao phó trọng trách: "Đừng sợ hãi: từ nay ngươi sẽ là kẻ chài lưới bắt người." Chèo đò vào bờ, họ đã bỏ mọi sự mà theo Ngài.” Bỏ lại tất cả những gì vướng víu, tiền của, nghề nghiệp, gia đình, tình cảm riêng tư, bỏ cả tương lai sáng lạn của thế gian, mà dấn thân phục vụ Nước Chúa, phục vụ rao truyền Tin Mừng, phục vụ tha nhân mọi nơi.
Từ bỏ tất tần tật mọi sự thế gian, nhưng chưa bỏ chính mình thì cũng vô ích hoàn toàn. Vì thế, Đức Giêsu đích danh kêu gọi từ bỏ bản thân, vị kỷ, ham muốn, bản năng, xác thịt, sẵn sàng chấp nhận gian khó, thử thách, đau khổ mà theo Chúa: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta. Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai chịu mất mạng sống mình vì Ta và vì Phúc Âm, thì sẽ cứu được mạng sống mình” ( Mc 8, 34-35 ).
“Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì con chưa bỏ gì cả, vì chính mình con sẽ dần dần quơ góp lại những gì con bỏ trước.” ( Đường Hy Vọng, số 3 ).
Lạy Chúa Giêsu, xin thức tỉnh chúng con khỏi đam mê thế gian, khỏi xác thịt nặng nề, khỏi u mê, mù loà trong đời phù vân, khỏi trầm luân trong đam mê hư ảo, tội lỗi, để chúng con nghe được tiếng Chúa mời gọi từ bỏ thế gian, mà can đảm ra khơi, trở nên con Chúa, vâng lệnh làm chứng nhân cho Tin Mừng, dẫu muôn khó khăn đau khổ đang chờ đợi chúng con.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ là ánh sao dẫn đường chỉ lối cho chúng con bước đi. Khấn xin Mẹ cầu bầu cho chúng con dấn thân theo Mẹ, cùng trung kiên đồng hành với Chúa đến tận cuối đời. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN5-C87: TỪ BỎ ĐỂ ĐI THEO CHÚA

Đọc lại trình thuật ơn gọi các Ngôn Sứ lớn trong Cựu Ước, ta sẽ thấy các ngài luôn ý thức sự thấp TN5-C87

Đọc lại trình thuật ơn gọi các Ngôn Sứ lớn trong Cựu Ước, ta sẽ thấy các ngài luôn ý thức sự thấp hèn bất xứng của mình.
-  Môsê là người chăn cừu cho nhạc phụ Yethrô. Có một lần ông lùa đàn cừu tận núi Khoreb, bỗng nhiên ông nhìn thấy một quang cảnh hùng vĩ: Bụi gai bốc cháy mà không bị thiêu rụi. Bị cuốn hút trong khung cảnh hùng vĩ ấy, ông chạy đến để nhìn xem. Khi ông tới gần, một tiếng nói uy nghiêm từ bụi gai tuyên phán: Chớ lại gần, cởi dép ra vì đất ngươi đang đứng là Đất Thánh. Rồi Chúa gọi Môsê nhưng ông ngại ngùng thoái thác: “Lạy Chúa, tôi là ai mà dám đối đầu với Pharaon… Từ xưa tới giờ, tôi đâu có lợi khẩu, tôi chỉ là một đứa nói cà lăm… vì thế, lạy Chúa, Chúa muốn chọn ai thì chọn, sai ai thì sai, nhưng xin tha cho tôi” ( Xh 3, 11; 4, 13 ). Chúa thuyết phục Môsê: “Cứ yên tâm ! Ta sẽ ở với ngươi, cho ngươi làm phép lạ, tài ăn nói và cho cả Aaron nói thay ngươi”. Môsê đã nhận lời nhưng vẫn run sợ sứ vụ cao cả Chúa trao.
- Isaia đã kể lại ơn gọi của mình: Trong một thị kiến đã nhìn thấy Đức Chúa trong một khung cảnh huy hoàng của Đền Thờ. Các Thiên Thần tung hô: “Thánh ! Thánh ! Thánh ! Đức Chúa đạo binh là Đấng Thánh ! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa !” Tôi thốt lên với tất cả nỗi kinh sợ: “Khốn cho tôi, tôi chết mất ! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh !” Một trong các thần Xêraphim bay về phía tôi, tay cầm một hòn than hồng người đã dùng cặp mà gắp từ trên bàn thờ. Người đưa hòn than vào ấy chạm vào miệng tôi và nói: “Đây, cái này đã chạm đến môi ngươi, ngươi đã được tha lỗi và xá tội”. Bấy giờ tôi nghe tiếng Chúa Thượng phán; “Ta sẽ sai ai đây ? Ai sẽ đi cho chúng ta ?” Tôi thưa:  “Dạ con đây, xin sai con đi” ( Is 6, 1-8 ).
- Giêrêmia cũng kể về việc Chúa gọi ông: Có lời Đức Chúa phán với tôi rằng: “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm Ngôn Sứ cho dân”. Nhưng tôi thưa: “Ôi ! Lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói !” Đức Chúa phán với tôi: “Đừng nói ngươi còn trẻ ! Ta sai ngươi đi đâu ngươi cứ đi; Ta truyền cho ngươi nói gì, ngươi cứ nói. Đừng sợ chúng, vì Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi”. Rồi Đức Chúa giơ tay chạm vào miệng tôi và phán: “Đây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi. Coi, hôm nay Ta đặt ngươi đứng đầu các dân các nước, để nhổ, để lật, để huỷ, để phá, để xây, để trồng” ( Gr 1, 4-10 ).
Các Ngôn Sứ luôn có tâm trạng kinh hãi đến run sợ trước sứ vụ Thiên Chúa trao. Tại sao phải kinh khiếp và run sợ như vậy ? Nỗi run sợ phát xuất từ cảm nhận cùng một lúc sự thánh thiện tuyệt đối của Thiên Chúa và thân phận tội lỗi của mình. Cảm nhận khoảng cách tuyệt đối giữa Thiên Chúa Chí Thánh và con người yếu đuối; giữa sứ vụ trọng đại và thân phận hèn mọn bé bỏng của mình.Ý thức khoảng cách ấy làm cho con người ta run sợ.
Trang Tin Mừng hôm nay cũng thuật lại, ngư phủ Simon run sợ, cảm nhận sự thấp hèn trước Thiên Chúa chí thánh. Thấy mẻ cá lạ lùng, Simon Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi !” ( Lc 5, 8 ). húa không tránh xa mà lại gần và chọn Phêrô: Đừng sợ, từ nay anh sẽ bắt người như bắt cá. Thế rồi: Họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người. 
Từ ngày theo Chúa, cuộc đời của Phêrô có nhiều sôi nổi, có nhiều lỗi lầm, nhiều va vấp và nhiều yếu đuối. Cho đến khi xác tín ba lần: “Thưa Thầy, thầy biết là con yêu mến Thầy”. Thánh Phêrô đã viết nên một thiên anh hùng ca cho Giáo hội sơ khai, rao giảng, làm chứng và chết cho Chúa Giêsu.
Chiêm ngắm cuộc đời Thánh Phêrô qua 3 nét đẹp sau đây:
Từ bỏ để đi theo Chúa
Không thể đi theo Chúa nếu không có sự từ bỏ. Khoa khảo cổ bên thánh địa đã khai quật lên cơ ngơi của Thánh Phêrô. Ngôi nhà lớn kế bên biển hồ Tibêria .Theo những chuyên viên về khảo cổ thì Thánh Phêrô là người rất giàu có, có những đội thuyền, có gia sản, sự nghiệp và có người vợ yêu quý.
Theo Chúa nên Phêrô đã từ bỏ tất cả: gia sản, của cải, danh vọng, ngay cả tình yêu chính đáng của mình. Sự từ bỏ này đưa Phêrô tới một hồng phúc rất lớn lao đó là yêu mến Chúa Giêsu. Từ bỏ để yêu mến và đi theo Chúa.
Tất cả những ai tin Đức Giêsu là Đấng Kitô mới có thể trung thành đi theo Người. Chúa Giêsu bộc lộ sứ mạng của Đấng Kitô là phải lên Giêrusalem, chịu nạn, chịu chết, ngày thứ ba sống lại. Phêrô yêu mến Chúa, gắn bó với Chúa nên thủ thỉ với Thầy và tìm mọi cách can ngăn. Chúa Giêsu quay lại trước mặt anh em và mắng Phêrô: Xéo đi Satan ! Chúa nói công khai. Trong đời có vị Tông Đồ nào bị mắng như thế chứ, kể cả Giuđa, bị mang tiếng là Satan.
Phêrô hiểu được rằng đã là môn đệ đi theo Chúa thì không được đi trước mặt Chúa. Đây là cốt lõi của vấn đề cuộc hành trình người môn đệ. Phêrô cản Chúa nghĩa là muốn đi trước Chúa. Phêrô không thể mở đường vào ơn cứu độ. Phêrô phải đi sau lưng để Chúa đi trước. Người môn đệ đi sau Thầy của mình, người môn đệ đặt vết chân của mình vào dấu chân của Thầy, người môn đệ không lớn hơn Thầy của mình. Bài học này Phêrô thật thấm thía. Từ bỏ để yêu mến, yêu mến để đi theo. Phêrô rao truyền bài học ấy cho mọi người.
Yếu đuối vấp ngã để khiêm tốn
Theo Chúa nhưng Phêrô là môn đệ yếu đuối và vấp ngã. Thường tình khi nói về một vị thánh, người ta thường nói những điểm tốt nhất, tích cực nhất, anh hùng nhất để ca ngợi. Còn về Phêrô, nếu đọc kỹ Thánh Kinh sẽ thấy thật lạ lùng. Phêrô có nhiều giới hạn, nhiều khuyết điểm và thậm chí rất nhiều vấp ngã.
Chúa đã chọn Phêrô ở giữa những con người tầm thường. Chúa không thay đổi sự tầm thường của Phêrô, nhưng xuyên qua sự tầm thường của Phêrô, Chúa trao ban kho tàng vô giá. Thấm thía điều đó nên sau này một người bạn của Phêrô là Phaolô đã nói: “Tôi chỉ là chiếc bình sành dễ vỡ trong khi tôi được chứa đựng kho tàng vô giá là Đức Giêsu Kitô”.
Qua những yếu đuối và vấp ngã của Phêrô, Chúa đã uốn nắn con người từng bước một. Xuyên qua những va vấp lỗi phạm của Phêrô, Chúa nâng đỡ và tha thứ cho ông. Một con người cần người khác nâng đỡ thì họ không bao giờ quá tự tin. Một con người cần lãnh nhận ơn tha thứ thì sẽ dễ dàng nói lời tha thứ với những người xung quanh, dễ cảm thông với người thất bại. Không yếu đuối không cảm thông. Không phạm tội không thể nào hiểu được niềm hạnh phúc của con người được tha thứ. Nói như thế không có nghĩa là nên phạm tội. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm đó. Thánh Phaolô nói rằng: “Điều phải làm tôi lại không làm, điều phải tránh tôi lại làm”.
Suy niệm kinh nghiệm yếu đuối và vấp ngã của Phêrô để chúng ta không trở nên những quan tòa. Khi tin rằng mình vững vàng mà quên ơn Chúa thì có thể sẽ vấp ngã. Đêm tiệc ly, Chúa Giêsu nói “Đêm nay chúng con sẽ bỏ Thầy mà đi hết”. Mọi môn đệ khác im lặng lắng nghe run sợ, còn Phêrô gần như vỗ ngực để thưa với Chúa rằng: “Thà chết không bỏ Thầy, con sẵn sàng liều chết với Thầy”. Chúa nói: “Đêm nay trước khi gà gáy, con sẽ chối Thầy ba lần”. Phêrô tự phụ: “Người khác chối chứ làm sao con chối Thầy được”. Vậy mà sau đó Phêrô chối Thầy đến ba lần.
Nếu không tựa vào ơn của Chúa, chúng ta sẽ vấp ngã. Nếu không có ơn Chúa, sức người không thể nào làm được. Thánh Phêrô để lại cho chúng ta bài học rất quý giá. Người môn đệ với nhiều lỗi lầm đi theo Chúa. Điều lạ lùng là Phêrô không bao giờ giận Chúa, không lúc nào bỏ Chúa mà vẫn luôn xác tín “bỏ Thầy con biết theo ai ?” Điều hết sức huyền nhiệm là Chúa lại chọn người yếu đuối vấp ngã ấy làm Tảng Đá để xây dựng Giáo hội và trao chìa khoá Nước trời.
Yêu mến Chúa hết tâm hồn
Thánh Phêrô là con người yếu đuối hay lầm lỗi nhưng rất chân thành và tràn đầy lòng yêu mến Thầy. Trong cuộc khổ nạn của Chúa, ông đã bộc lộ sự yếu đuối và Lòng Mến của mình cách rõ ràng nhất. Khi Chúa bị bắt, bị kết án, Phêrô đã chối Thầy đến ba lần. Phêrô chối Thầy vì quá yếu đuối chứ không phải vì không yêu Thầy. Trước cái chết của Thầy, Phêrô rùng mình sợ hãi, tìm đường chạy trốn. Lúc bình tĩnh lại, đối diện với sự yếu đuối và vấp ngã của mình, Phêrô đã khóc lóc hối hận, nước mắt ăn năn nhạt nhoà khuôn mặt hốc hác hằn những nếp nhăn. Gà gáy lần thứ ba, Phêrô nhớ lại lời Chúa nói về thân phận mình, ông oà khóc nức nở như một đứa trẻ, khóc thoả thích, khóc cho vơi hết bao sầu muộn chất chứa trong lòng.
Cuộc đời Thánh Phêrô là sự giằng co giữa yếu đuối và dũng cảm, giữa trọn vẹn và dang dở. Trái tim Ngài có u tối đi tìm ánh sáng, có nuối tiếc đi tìm lý tưởng. Sứ vụ Tông Đồ có tự tin gặp vấp ngã, có phấn đấu gặp thất bại. Chính trong sự vấp ngã vì yếu đuối, cuộc đời của Thánh Phêrô vẫn luôn có một tấm lòng yêu mến, gắn bó với Chúa.
“Tôi đi đánh cá đây, anh em hãy đi với tôi”. Lao nhọc vất vả suốt đêm mà không được gì cả. Đang lúc chán nản thì có tiếng bảo: Hãy thả lưới bên hữu thuyền. Phêrô buông lưới và cá quá nhiều, họ kéo cá lên, thuyền gần như chìm. Khi đó, có tiếng nói của Gioan: Chúa đó. Lời ấy như nhắc bảo Phêrô, tự sức mình không đưa tới kết quả đâu. Phải có Chúa, bao lâu hình ảnh của Chúa rọi soi nơi lời nói, việc làm, đời sống của Phêrô thì bấy giờ mới có thành quả. Còn nếu Phêrô chỉ dựa trên tài sức của mình, dù lao nhọc suốt đêm không bắt được một con cá nào.
Chúa đã thu phục nhân tâm bằng yêu thương. Chúa gọi Phêrô ra một bên và hỏi: Con có mến Thầy không ? Lần thứ nhất Phêrô trả lời: Lạy Chúa, có. Lần thứ hai ông nói: Lạy Chúa, có. Lần thứ ba Chúa hỏi thì Phêrô buồn vì Chúa hỏi cùng một câu hỏi đến ba lần. Nhưng Phêrô xác tín: Lạy Thầy, Thầy thông hay mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy. Và Chúa nói: Hãy chăm sóc đoàn chiên. Giống như Đức Maria thưa: Này tôi là tôi tớ Chúa; Phêrô nói: Con chỉ là vật mọn phàm hèn trước mặt Chúa mà thôi. Chính khi đó, Chúa Giêsu mới trao cả Hội Thánh cho Phêrô. Con biết con là ai thì con có thể chăm sóc Hội Thánh; bởi vì con đang làm công việc Thiên Chúa ủy thác và tin tưởng con. Con đang làm việc của Chúa !
Nhìn cuộc đời Thánh Phêrô ta thấy một điều rất rõ là trong trái tim ông lúc nào cũng yêu Chúa. Ngay cả khi Chúa bảo ông là Satan, ông cũng không giận Chúa. Ngay khi vì sợ hãi mà chối Chúa thì ông vẫn yêu mến Chúa. Không phải vì Phêrô yếu đuối hay tội lỗi mà Chúa bỏ ông. Tình yêu chân thành trong tâm hồn ông làm Chúa giữ ông lại và đặt làm lãnh đạo đoàn chiên của Chúa. Vị Giáo Tông đầu tiên của Hội Thánh có một dung mạo là người môn đệ đi theo Chúa, người môn đệ yếu đuối và vấp ngã, nhưng đã đứng dậy, không chán nản, không để mất phương hướng, không đầu hàng, không bỏ cuộc; người môn đệ sống bởi ơn Chúa, chan hòa ân sủng, bình an, niềm vui của Chúa.
Hội Thánh được xây dựng trên Tảng Đá là Tông Đồ Phêrô, hay đúng hơn là trên Đức Tin vào Chúa Giêsu là "Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống" ( Mt 16, 16; 1Cr 3, 10 ). Mỗi tín hữu chúng ta phải làm gì để trở thành viên đá sống động xây nên tòa nhà Hội Thánh ( x. 1Cr 3, 16-17 ), hay nên Đền Thờ của Thiên Chúa, có nền móng là các Tông Đồ và Ngôn Sứ, và Đá tảng góc tường là chính Đức Kitô Giêsu ?
Lạy Chúa Giêsu, Chúa tin tưởng và trao trách nhiệm cho người từ bỏ đi theo Chúa, hiểu biết Chúa, yêu mến Chúa và đặt trọn niềm tin nơi Chúa. Chúng con sẽ được Chúa tin tưởng và trao sứ mệnh xây dựng Hội Thánh, nếu chúng con có Lòng Tin, Lòng Cậy và Lòng Mến Chúa cho dù chúng con yếu đuối hay vấp ngã.
Xin Chúa cho chúng con có một Đức Tin vững chắc, một Lòng Cậy Trông tín thác và một Lòng Mến chân thành như Thánh Phêrô để chúng con có thể trở thành một viên đá sống động, góp phần xây nên tòa nhà Hội Thánh. Khi yêu mến Chúa, chúng con sẽ làm mọi sự đẹp lòng Chúa. Xin cho chúng con luôn xác tín lòng mến là thước đo cho mọi giá trị đạo đời. Amen.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

TN5-C88:  GẶP GỠ CHÚA TRONG CUỘC ĐỜI

Giữa quảng trường Thánh Phêrô ở Rôma có hai pho tượng khổng lồ đứng oai vệ như những chứng TN5-C88

Giữa quảng trường Thánh Phêrô ở Rôma có hai pho tượng khổng lồ đứng oai vệ như những chứng nhân của lịch sử. Đó là tượng Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, hai vị Tông đồ Cả.
Phêrô và Phaolô là hai người khác biệt nhau về tính tình, về văn hóa và nghề nghiệp. Nhưng cả hai đã gặp gỡ Chúa Kitô và được Chúa biến hóa trở nên những chứng nhân, những Tông Đồ “đi bắt người”.
Bài Phúc Âm hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu kêu gọi Phêrô. Thật ra, Chúa đã gặp Phêrô rồi, khi em ông là Anrê đem anh đến giới thiệu với Chúa, như Gioan kể lại ( Ga 1, 49 ). Lòng nhiệt huyết của Anrê cũng như lòng trinh bạch của Gioan không làm cho Chúa cảm động, nhưng khi nhìn thấy Simon, con Gioan, Chúa nhìn ông và nói: “Hỡi Simon, con Giona, từ nay con sẽ gọi là Kêpha nghĩa là Đá”. Đây là nền tảng của Giáo hội mà Ngài sắp thiết lập. Tuy nhiên, đây chỉ là cuộc sơ vấn gặp gỡ đầu tiên. Rồi ai về nhà nấy. Phêrô và các bạn vẫn còn nặng tình với vợ con, với sông sâu biển cả. Thì hôm nay, Chúa muốn kêu gọi ông cách dứt khoát, bằng một phương pháp mạnh, một phép lạ để cho ông nhìn thấy và “sờ đụng” quyền năng của Thiên Chúa.
Sau một đêm lao lực, thức trắng đêm – cá vẫn ăn về đêm – mà không bắt được con cá nào, Phêrô gặp Chúa. Chúa bảo: “Hãy ra khơi thả lưới”. Ông vừa từ ngoài khơi trở về, nhưng vâng lời Chúa, Ông lại ra khơi… Từng đàn cá ùn ùn chun vào lưới, khiến cho lưới gần rách, phải gọi các bạn thuyền đến trợ lực.
Cũng như ngày xưa, Ngôn Sứ Isaia, trong bài đọc I, đã nhìn thấy vinh quang của Chúa và kêu lên: “Chết tôi rồi, lưỡi tôi dơ bẩn”, thì ngày nay, Phêrô cũng cảm thấy mình bất xứng và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là người tội lỗi”. Nhưng Chúa trả lời: “Con đừng sợ hãi. Từ đây, con sẽ là kẻ chinh phục người ta”. Con sẽ bỏ nghề bắt cá, để đi “bắt” các linh hồn. Và Phúc Âm nói: “Ông chèo thuyền vào bờ, bỏ hết mọi sự và đi theo Người”. Đó là ơn kêu gọi của Phêrô, con người đã gặp gỡ Chúa và được Chúa thu hút chinh phục.
Người thứ hai đã gặp gỡ Chúa là Thánh Phaolô, như bài đọc II kể lại. Phaolô là một con người đầy nhiệt huyết, đã đi vòng quanh Đế quốc Rôma 4 lần, đã đưa dân ngoại vào Đạo. Làm sao cắt nghĩa được nội tâm của con người đầy lửa ấy ? Thưa vì người đã gặp gỡ Chúa. Đức Kitô… đã sống lại theo lời Thánh Kinh. Ngài đã hiện ra với Phêrô và mười một Tông Đồ. Rồi cuối cùng Ngài đã hiện ra với tôi như đứa con sinh non” ( 1Cr 15, 8 ).
Phải, cuộc gặp gỡ đó đã đảo lộn cuộc đời Phaolô, từ một kẻ bắt bớ tín hữu trở nên một Tông đồ nhiệt thành. Tất cả là ơn của Chúa và Người vui mừng được trả giá rất cao để “Ơn Chúa không ra vô ích”: 5 lần bị đánh đòn 39 trượng, 3 lần bị tra tấn, 1 lần bị ném đá, 3 lần bị đắm tàu 1 ngày 1 đêm chơi vơi trong lòng biển ( 2Cr 12, 24-25 ).
Trong cuộc đời, chúng ta cũng đã gặp gỡ Chúa trong nhiều hoàn cảnh. Nhưng phải chăng chỉ gặp Ngài như gặp một khách bàng quang…
Lạy Chúa, Xin Chúa hãy đến với con, đừng xa lánh con là kẻ tội lỗi.
Cố Lm. GB. HỒNG PHÚC

 

TN5-C89: SIÊU PHÚC

Mồng Một Tết Bính Thân 2016 ( Mt 5, 1-10 )
 

Mỗi năm, Mạng Lưới Giải Pháp Phát Triển Bền Vững trực thuộc Liên Hiệp Quốc lại công bố kết TN5-C89

Mỗi năm, Mạng Lưới Giải Pháp Phát Triển Bền Vững trực thuộc Liên Hiệp Quốc lại công bố kết quả thống kê khảo sát về chỉ số hạnh phúc. Bảng xếp hạng những quốc gia hạnh phúc nhất trên thế giới dựa trên việc người dân của mỗi đất nước, cảm thấy hạnh phúc như nào. Cuộc khảo sát dựa trên một số yếu tố chính bao gồm GDP bình quân đầu người, tuổi thọ, sức khỏe, có nơi nương tựa, sự tự do lựa chọn cuộc sống, lòng bao dung. Năm 2016, top 10 quốc gia hạnh phúc nhất thế giới xếp hạng như sau:
Thụy Sĩ ( 7,587 điểm ): Đất nước hạnh phúc nhất thế giới được tổ chức của Liên Hiệp Quốc xếp vị trí đầu tiên, đó là Thụy Sĩ, đất nước của chocolate và đồng hồ. Đất nước xinh đẹp, an toàn được coi là nơi tốt nhất để sống.
Iceland ( 7,561 điểm ): Đất nước Bắc Âu tự hào với vẻ đẹp tự nhiên đáng kinh ngạc và chất lượng sống hàng đầu, Iceland đặc biệt nổi tiếng về sự an toàn. 
Đan Mạch ( 7,527 điểm ): Mặc dù bị "rơi" từ vị trí số 1 xuống số 3, nhưng chỉ số hạnh phúc của đất nước Đan Mạch vẫn rất cao. Thu nhập bình đẳng, cuộc sống thịnh vượng, tự do dân sự là những gì nổi bật tự hào, cũng là lý do người Đan Mạch đang hạnh phúc về cuộc sống ở đất nước mình.
Với 7.522 điểm, không có gì ngạc nhiên khi người Na Uy được đánh giá có cuộc sống hạnh phúc, khi nơi đây có những địa danh nổi tiếng, thiên nhiên động vật hoang dã được bảo vệ, môi trường trong sạch, và có nền dân chủ phát triển nhất...
Là nước có diện tích lớn thứ 2 trên thế giới, Canada còn là một đất nước xinh đẹp với thiên nhiên hoang sơ. Quyền con người, tự do công dân, phẩm chất cuộc sống, tự do kinh tế cũng như giáo dục ở đây, đều mang lại cho người dân một cuộc sống hạnh phúc được đánh giá ở vị trí thứ 5 trên thế giới.
Phần Lan ( 7,406 điểm ): Ngoài những chỉ số như giáo dục, an toàn, hệ thống xã hội, sức khỏe... Phần Lan còn có tiềm năng cạnh tranh kinh tế.
Hà Lan ( 7,378 điểm ): Đất nước khiến nhiều người liên tưởng tới những rừng hoa ngào ngạt sắc hương, hay"cơn lốc màu da cam" cũng đủ biết người dân ở đây luôn cảm thấy hạnh phúc.
Thụy Điển ( 7,364 điểm ): Với thu nhập trung bình cao cùng chất lượng cuộc sống, hệ thống giáo dục, chăm sóc sức khỏe, quyền tự do dân sự... Thụy Điển luôn có môi trường trong sạch đảm bảo một cuộc sống hạnh phúc cho người dân.
New Zealand nổi tiếng với các địa danh và cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, đất nước phát triển với cơ sở hạ tầng hiệu quả, nền kinh tế hiện đại và thịnh vượng và hệ thống xã hội ổn định. Là một trong những nước phát triển và giàu có nhất thế giới, Melbourne – thủ phủ, thành phố lớn nhất của Úc thậm chí còn được đặt là "thành phố tốt nhất thế giới để sống". ( Phú Quý, Top 10 quốc gia hạnh phúc nhất thế giới, skcdvn ).
Như thế, dựa trên những số liệu cụ thể, Mạng Lưới Giải Pháp Phát Triển Bền Vững của Liên Hiệp Quốc xếp hạng chỉ số hạnh phúc cao thấp tại mỗi quốc gia. Vậy hạnh phúc được cân đong đo đếm chi li, chính xác này, có thật sự đáng tin cậy, hay chỉ có giá trị thống kê sơ bộ để nghiên cứu tham khảo mà thôi ?
Năm mới, Kinh Thư cầu chúc “Ngũ Phúc Lâm Môn”, tức năm phúc vào nhà: Nhất viết thọ, nhị viết phú, tam viết an khang, tứ viết hảo đức, ngũ viết khảo chung mệnh. Đó là trường thọ, phú quý, an khang, hảo đức và thiện chung. Tuy nhiên ngoài hảo đức có giá trị bất biến, bốn điều còn lại chỉ biểu lộ ước nguyện vị kỷ của con người. Nhưng có mấy ai may mắn lãnh hội được trọn cả năm phúc đó ? Ngoài ra, người ta còn hay cầu chúc nhau Tam Đa ( Phúc, Lộc, Thọ ), hay Đại Phúc. Theo nghĩa đen, Đại Phúc là cái bụng lớn, vốn biểu trưng cho lòng tham lam, thụ hưởng, vơ vét của cải, quyền cao chức trọng, quyền lực, bổng lộc, sống lâu, sống khoẻ, con đàn cháu đống, sung túc đến ba bốn đời. Tất cả ao ước, nguyện vọng thảy đều phù phiếm nhất thời trong giới vô thường.
Nhân Mồng Một Tết Bính Thân hôm nay, qua Tin Mừng theo Thánh Mátthêu, Đức Giêsu trao ban Bát Phúc cho con người, hay có thể nói mà không hề cường điệu, đó là Siêu Phúc. Vì đây không phải mong ước hão huyền, phàm tục, mà là Tám Mối Phúc Thật, vượt trên mọi phúc lộc hồng trần, Đại Phúc, Tam Đa, hay Ngũ Phúc.
Vì Lòng Thương Xót, nhờ công trình cứu độ của Đức Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa thưởng ban hạnh phúc viên mãn cho tất cả những ai tự nguyện đi theo Chúa. Chính Đức Giêsu đã công khai nêu gương sáng qua 33 năm nhập thế làm người, đã chịu chối bỏ, khổ nạn, chịu chết và sống lại. “Ai muốn đi sau Ta, thì hãy chối bỏ chính mình, hãy vác lấy khổ giá của mình và hãy theo Ta” ( Mt 16, 24 ).
Từ bỏ
Không cầu chúc vinh hoa phú quý, không chúc mâm cao cỗ đầy, cũng chẳng chúc thăng quan tiến chức, sống dai, sống khoẻ, con cháu đầy đàn, trái lại Đức Giêsu ban Nước Trời cho ai có tinh thần nghèo khó, không bon chen, vơ vào mình của cải chóng hư nát. “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.”
Hơn nữa, Đức Giêsu còn cầu chúc cho ai biết chối bỏ chính mình, không những từ bỏ từ vật chất lẫn tinh thần thế tục, mà còn từ bỏ thân xác và những ước muốn thấp hèn. Người chúc phúc cho tâm hồn không vấn vương bùn nhơ, bỏ đi tất cả những đam mê, những ham muốn cản trở, níu kéo, trói buộc, trên con đường dấn thân tìm kiếm và đi theo Chúa, Ngưồn mạch phước lành. “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.”
Khi từ bỏ chính mình, kềm hãm bản năng xác thịt, vị kỷ, kiêu căng, ngạo mạn, hợm hĩnh, kênh kiệu, khinh người, mới có thể mặc lấy nhân đức khiêm nhường, trở nên hiền lành, không ganh ghét, không tranh chấp, đố kỵ, tị hiềm, khước từ, loại bỏ bất cứ ai. “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.”
Từ bỏ được chính mình, thì tâm hồn mới có thể hướng lên Chúa, mới khát khao sự tuyệt hảo, mới mong trở nên người chánh trực, công chính. Như Đức Giêsu hằng mời gọi: "Các ngươi hãy nên trọn lành, như Cha các ngươi trên Trời là Ðấng trọn lành" ( Mt 5, 48 ). Người luôn chúc phúc cho những ai thiện tâm, muốn canh tân đời sống, trở nên thánh thiện. “Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.”
Khi từ bỏ chính mình, người ta mới có thể hướng đến tha nhân. Đức Giêsu chúc phúc cho ai có lòng nhân ái, thương người, chia sẻ vật chất lẫn tinh thần, phục vụ, giúp đỡ những ai thiếu thốn, đau khổ, như đã được diễn giải khá cụ thể trong Kinh Phúc Thật Tám Mối. “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.”
Tóm lại, từ bỏ chính mình là điều kiện tiên quyết để theo Chúa, làm môn đệ Chúa và được Chúa chúc hồng phúc. “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.” ( Lc 14, 33 ) Hơn nữa Chúa còn khẳng định phần thưởng vô cùng lớn lao dành cho những ai thực sự từ bỏ mọi sự: “Tất cả những ai bỏ nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, vợ con, ruộng nương vì danh Thầy, thì sẽ được gấp trăm và được sự sống đời đời” ( Mt 19, 29 ).
“Các Thánh là những người điên vì Chúa. Khôn ngoan thế gian quá, không làm thánh được.” ( Đường Hy Vọng, số 6 ).
Vác khổ giá
“Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.”Không chỉ từ bỏ chính mình mà thôi, ai còn chịu gánh vác thánh giá từ gia đình, cộng đoàn, đến giáo xứ, xã hội, cùng chịu khai trừ, loại bỏ, chịu chửi bới, miệt thị, chịu vu oan giá hoạ, chịu đòn vọt, khổ nạn, chịu đóng đinh vì Tin Mừng, vì thánh danh Thiên Chúa, thì càng được Chúa chúc lành, an ủi, ban thưởng đích đáng hơn thế. “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.”
Những khốn khổ, thách đố chính là thước đo lòng mến của Kitô hữu với Chúa, đồng thời cũng là hồng ân, mà bất kỳ tín hữu nào sống đạo cũng cần phải gánh vác suốt cuộc đời chứng nhân.“Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Người; vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người.” ( Rm 8, 17 ).
Theo Chúa
“Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.” Nhờ thành tâm gánh vác khổ giá, người Kitô hữu trở nên hiệp nhất với Đức Giêsu trong cuộc khổ nạn. Đồng thời hiệp nhất với tha nhân, đồng cảm, gần gũi, thân thiết với người khốn cùng, nghèo khó, bệnh tật, đau khổ, bị bỏ rơi. Hoà hợp, hoà giải, kết hiệp, xây dựng mối tương quan thân mật, vững chắc, bền bỉ với tha nhân, chính là kiến thiết, tạo dựng nên hoà bình giữa mọi người. “Chúc tất cả anh em, những người đang sống trong Đức Kitô, được bình an” ( 1Pr 5, 14 ).
“Hãy sống bên Chúa, và con sẽ nên thánh, Thiên Đàng không gì khác là Thiên Chúa hiện diện.” ( Đường Hy Vọng, số 242 ).
Lạy Chúa Giêsu, chúng con hết lòng biết ơn, cảm tạ và ngợi khen Chúa đã cầu chúc Bát Phúc cho chúng con vào ngày Tân niên. Xin Chúa luôn nhắc nhủ, khuyến khích và giúp đỡ chúng con thực thi việc từ bỏ chính mình, vác khổ giá và theo Chúa trọn đời.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã đem đến nhân loại Mùa Xuân Hồng Ân. Xin Mẹ cầu bầu cùng Chúa cho chúng con thực thi Bát Phúc đúng đắn và trung thực, để xứng đáng lãnh nhận Lòng Thương Xót. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN5-C90: CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN C

Lời Chúa: Is 6,1-2a.3-8; 1Cr 15,1-11; Lc 5,1-11
MỤC LỤC
1. Chinh phục người khác
 

Đừng sợ, từ nay các con sẽ là những kẻ chinh phục người ta. Chúa Giêsu vừa mới truyền dạy Phêrô TN5-C90

- Đừng sợ, từ nay các con sẽ là những kẻ chinh phục người ta.
Chúa Giêsu vừa mới truyền dạy Phêrô như thế, tuy nhiên qua đó, chúng ta có thể rút ra một bài học quí giá.
Vào một buổi sáng, đang khi các môn đệ giặt lưới, Chúa Giêsu xuống thuyền và đứng đó giảng dạy cho đám đông. Khi đã kết thúc, Ngài bảo Phêrô:
- Con hãy ra khơi và thả lưới.
Đây là một lệnh truyên vô lý dưới mắt Phêrô. Thực vậy, Chúa Giêsu sinh ra tại Bêlem, lớn lên tại Nagiarét, kiếm ăn bằng nghề thợ mộc, không phải là người sống bên sóng nước nơi biển hồ Giênêgiarét, nên chẳng có chút kinh nghiệm nào về chài lưới.
Còn Phêrô, với mười mấy năm lăn lộn trong nghề, ông biết rất rõ: ra khơi và thả lưới giữa ban ngày ban mặt như thế này, thì chẳng hy vọng chút nào. Hơn nữa, suốt cả một đêm Phêrô và các bạn đã vất vả mà chẳng bắt được một con cá nào. Nếu ra khơi vào lúc này, thì chỉ chuốc lấy mệt mỏi vào thân mà thôi. Đúng là dạ tràng xe cát biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì. Thế nhưng, Chúa Giêsu có lẽ muốn thử thách vị thủ lãnh tương lai của Giáo Hội, xem Phêrô có biết vâng lời và tin tưởng vào Ngài hay không ?
Sau một lúc do dự, Phêrô đã lấy lại bình tĩnh vì biết rằng đây là lệnh truyền của Chúa, cho nên phải thi hành mà chẳng cần đặt điều kiện hay đưa ra những câu hỏi và thắc mắc. Nghĩ vậy, Phêrô đã thưa lên cùng Chúa:
- Lạy Thày, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà chẳng được gì cả, nhưng vâng lời Thày, chúng con sẽ ra khơi và thả lưới.
Phần thưởng lớn lao cho niềm tin tưởng ấy là    gì ?  Đó là một mẻ cá thật bất ngờ đến nỗi cả hai ghe phải chở đầy, mà theo lẽ tự nhiên sẽ chỉ là một mẻ lưới luống công vô ích. Trước sự kiện lạ lùng ấy, Phêrô đã quì xuống và thưa lên cùng Chúa:
- Lạy Thày, xin hãy xa con vì con là kẻ tội lỗi.
Phép lạ này đã để lại một dấu ấn sâu xa trong tâm hồn Phêrô và đã chuẩn bị cho sứ mạng tương lai của ông trong Giáo Hội. Đúng thế, Phêrô sẽ không còn thả lưới trên mặt biển hồ nữa, nhưng cùng với các bạn đồng nghiệp, ông sẽ ra đi chinh phục thế gian về cho Chúa Giêsu, như lời Ngài truyền dạy:
- Đừng sợ, từ nay con sẽ là kẻ chinh phục người ta.
Nhưng để chu toàn một bổn phận, một trách nhiệm cao cả và nặng nề như thế,  Phêrô phải có một lòng khiêm tốn và tin tưởng hoàn toàn vào Chúa:
- Hãy chuẩn bị cho một sứ mạng siêu việt ở ngoài tầm tay và khả năng của con. Hơn một lần con đã thất bại, đã vất vả mà chẳng bắt được một con cá nào. Con hãy ý thức sự yếu đuối của con, nhưng đồng thời phải can đảm và tin tưởng vào Ta. Ta sẽ ở bên con. Ta là ai thì con đã biết. Ta là Thiên Chúa quyền năng. Ta là Đấng cả đất trời và muôn loài đều phải vâng phục. Ta sẽ chúc lành cho những cố gắng của con, nhờ đó con sẽ gặt hái được những thành quả tốt đẹp.
Chính phép lạ này, một lần nữa đã xảy ra cho cuộc đời của Phêrô. Thực vậy, tự bản chất, Phêrô chỉ là một người thuyền chài quê mùa, dốt nát và nhát đảm. Thế nhưng, Phêrô đã vâng lời Chúa, lên đường truyền giáo và đã đem về cho Chúa một mẻ cá lạ lùng, đó là những tâm hồn tin vào Phúc âm. Chắc chắn Phêrô đã nhiều lần suy nghĩ về bài học thấm thía này, nhất là vào những năm tháng cuối đời.
Đúng thế, Phêrô đã tới Rôma vào thời bạo vương Nêron, giữa lúc cơn bách hại đang nổi lên như cuồng phong vũ bão. Ông đã bị bắt, bị tống giam và sau cùng bị đóng đanh vào thập giá, đầu ngược xuống đất trên ngọn đồi Vatican. Thế nhưng, ngày hôm nay trên phần mộ của ông, một ngôi đền thờ nguy nga và lộng lẫy nhất đã được xây dựng và mang tên ông: Đền thờ thánh Phêrô.
Bài học của Phêrô cũng là bài học của mỗi người chúng ta: hãy kiên nhân và tin tưởng vào Chúa. Đứng trước những thất bại đắng cay, nhiều người đã phàn nàn và kêu trách Chúa, để rồi đi tới chỗ tuyệt vọng, vì họ nghĩ rằng Chúa đã ngoảnh mặt làm ngơ, thậm chí còn bịt tai không còn nghe tiếng họ kêu xin. Thế nhưng, họ đã lầm. Hãy bình tĩnh và tự vấn lương tâm xem: chúng ta đã hành động một mình hay là đã hành động với Chúa ?  Tự sức riêng, chúng ta sẽ chuốc lấy thất bại như lời Chúa đã phán:
- Không có Thày, các con chẳng làm gì được.
Hãy biết bắt đầu lại trong niềm cậy trông vào Chúa, nhất là trong lãnh vực hoạt động tông đồ.
Thực vậy, sứ mạng tông đồ là sứ mạng chung của mọi người tín hữu, bởi vì đã là phần tử của Giáo Hội, chúng ta có bổn phận làm cho nhiệm thể Đức Kitô được phát triển và lớn lên. Tuy nhiên, phương pháp tuyệt diệu nhất bảo đảm cho những thành quả tốt đẹp, chính là kiên nhẫn và tin tưởng vào Chúa.
Đúng thế, tục ngữ Việt Nam đã nói:
- Có công mài sắt, có ngày nên kim.
- Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo.
- Chớ thấy sóng cả mà lo,
  Sóng thời mặc sóng, chèo cho có chừng.
Sự kiên nhẫn chính là một bí quyết dẫn tới thành công. Một Augustinô đã trở lại nhờ vào đâu, nếu không phải nhờ vào những lời cầu nguyện liên tục và những giọt nước mắt khổ đau của người mẹ hiền là thánh nữ Monica.
Cùng với sự kiên nhẫn, chúng ta hãy đặt trót niền tin tưởng cậy trông vào Chúa. Chúng ta hãy ý thức mình chỉ là một đầy tớ vô dụng, một dụng cụ tầm thường, chính Chúa mới là Đấng làm nên kết quả. Một Saulô hung dữ, thế mà chỉ trong nháy mắt, Chúa biến đổi để trở nên một Phaolô nhiệt thành, một vị tông đồ dân ngoai.
Mỗi người chúng ta đều có thể và phải trờ nên một vị tông đồ, một kẻ chinh phục người khác về cho Chúa Giêsu, miễn là chúng ta biết kiên nhẫn và tin tưởng và Chúa.
Cầu nguyện
Lạy Chúa, đã hai ngàn năm trôi qua, thế mà vẫn còn biết bao nhiêu người chưa được đón nhận tin mừng của Chúa. Và như vậy, lệnh truyền của Chúa ngày xưa vẫn còn vang vọng bên tai chúng con: hay ra khơi và thả lưới. Xin cho mỗi người chúng con, bằng một đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương, góp phần nhỏ bé vào công cuộc truyền bà đức tin của Giáo Hội.

 

TN5-C91: Vâng lời Thầy con thả lưới - ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)
 

Dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa, dù chưa biết gì về đạo Thiên Chúa, thế mà đã có những lời nguyện TN5-C91

Dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa, dù chưa biết gì về đạo Thiên Chúa, thế mà đã có những lời nguyện thành khẩn trông cậy trời:
“Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống,
Lấy ruộng tôi cầy, lấy đầy bát cơm,
Lấy rơm đút bếp”.
Lời van xin đơn sơ mộc mạc đó đã nói lên sự bất lực của mình và nhận ra quyền phép vô cùng của Thiên Chúa, đã tỏ bày lòng thành khẩn của mình và nhận biết lòng thương xót vô biên ban ơn giáng phúc của Thiên Chúa. Quyền phép và tình thương của Thiên Chúa đã làm ra mưa, ra nước, ra ruộng, ra rơm. Giới hạn khả năng của con người ở chỗ biết cầy, biết uống, biết ăn, biết lấy rơm đút bếp.
Thiên Chúa đã làm những việc vĩ đại, những thứ căn bản, những thứ nguồn gốc sinh sự sống cho muôn loài muôn vật. Con người phải biết trông cậy, nương nhờ, tham gia, khai triển để làm ăn, nuôi dưỡng và phát triển sinh sống sao cho đáng lãnh ơn trời, chứ đừng phung phí, phá hoại.
Phaolô trước khi trở lại ông đã hăng hái phá hoại, bắt bớ những kẻ khác. Nhưng nhờ ơn Chúa, ông trở lại đạo Chúa, ông đã tham gia vào công trình cứu độ của Chúa, đã làm việc nhiều hơn tất cả các vị khác, nhưng ông đã thú nhận “thật ra không phải tôi, mà là ơn Chúa nơi tôi”, ông cũng nói: “Tôi gieo, anh em tưới và Thiên Chúa cho mọc lên!”
Isaia cũng nhận vô tài bất lực trước Thiên Chúa: “Thánh! chí Thánh! ngàn trùng chí thánh, Chúa tể càn khôn, cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!”. Ông đã thốt ra: “Khốn thân tôi, chết tôi rồi! Tôi là người môi miệng ô uế”. Nhưng nhờ than hồng là lửa tình thương của Chúa, ơn Thánh thần của Chúa đã thanh tẩy ông, ông đã được sạch, được sai đi làm tiên tri và ông đã mau mắn xin vâng: “Có con đây, xin Chúa sai con đi”.
Đặc biệt hôm nay, Đức Giêsu muốn chúng ta đưa mắt nhìn con thuyền Phêrô với cánh buồm no gió căng phồng lướt sóng, xa dần rồi mất hút giữa biển cả bao la. Phêrô sống với cái nghề vô danh, đầy may rủi và luôn phải vật lộn với giông tố nguy hiểm. Vô danh vì công việc nặng nhọc giữa biển khơi, không ai biết tới. May rủi vì chẳng bao giờ nắm chắc kết quả, thất bát thường xuyên, dù cố gắng vật lộn với nghề nghiệp. Con thuyền lại luôn tròng trành trên sóng nước, bảo tố. Mạng sống con người quá mong manh. Phêrô dầu kiên cường, hăng hái, lạc quan chống đỡ, nhiều lúc phải chán nản, thất vọng thở dài: Suốt đêm kéo lưới cực khổ chẳng được gì!
Đang lúc buồn phiền mệt nhọc đó, Đức Giêsu lại còn đến cậy nhờ lên thuyền để giảng cho dân chúng đông nghẹt đứng trên bờ. Tuy nhiên, Phêrô không quản ngại rước Người lên thuyền. Giảng xong, Người cũng không để Phêrô nghỉ ngơi, lại bảo ông chèo thuyền ra khơi thả lưới bắt cá. Dầu cực nhọc và biết rõ Thầy chẳng bao giờ làm người chài lưới. Còn ông rất rành nghề. Thế mà ông chỉ nói: “Thưa Thầy, suốt đêm chúng con vất vả kéo lưới chẳng được gì; nhưng vâng lời Thầy, con xin thả lưới”. Thật lạ lùng trước lòng tin của Phêrô vào Thầy! chính nhờ đức tin đó, Phêrô đã hiến nhà mình làm trung tâm truyền giáo cho thành phố Caphanaum, và các miền lân cận. Người đã ban cho ông một trung tâm truyền giáo vĩ đại là đế quốc Rôma. Ông đã hiến cho Chúa con thuyền bé nhỏ mong manh. Người đã ban cho ông con tầu Giáo Hội vững chắc dù sức hùng satan vẫy vùng như vũ bão, cũng phải đầu hàng. Ông đã hiến cho Chúa nghề đánh cá, Người đã làm cho ông nên ngư ông trên biển cả trần gian. Ông đã hiến cho Chúa trót cả mạng sống, Người đã ban cho ông được đời sống vinh quang muôn đời. Ông đã hiến tất cả cái tạm thời và ông đã được tất cả cái trường tồn vô cùng. Ông đã hiến cái nhỏ bé trần gian và ông đã được chìa khóa vĩ đại trên trời. Nhờ vâng lời Thầy, ông đã được tất cả.
Việt Nam có câu: “Không thầy đố mày làm nên” - “Nhờ thầy mới được làm thầy”. Loài người với nhau, còn phải cần nhau, nhờ nhau như thế mới nên người. Huống chi loài người với Thiên Chúa, Đấng làm nên mình, dựng nên vũ trụ vạn vật, thì loài người phải cần, phải nhờ, phải cầu khẩn Thiên Chúa biết chừng nào! Thế mà, có kẻ đã cả gan tuyên bố như Nietzsche: Thiên Chúa đã chết rồi, thay trời làm mưa, để họ tự tôn mình lên làm Chúa, làm chủ, để làm mưa, làm gió, tung hoành phá hoại khắp nơi. May thay những hạng đó đã chết rồi!
Nếu biết nhận ra mình quá bé nhỏ, quá bất lực để chạy đến cầu khẩn, vâng theo Thiên Chúa, thì họ đã được cứu sống muôn đời.
Thiên tài vĩ đại bậc nhất nhân loại như Newton hơn cả Descartes, Einstein, thế mà ông chỉ dám nói: “Tôi chỉ là một em bé chơi đùa trên bờ biển và thỉnh thoảng nhặt được một hòn sỏi nhẵn hơn, hoặc một vỏ sò đẹp hơn những cái người ta thường tìm thấy, trong khi đó biển chân lý mênh mông trải ra trước mắt nó, vẫn hoàn toàn bí mật, chưa hề bị xâm phạm”. Càng khiêm tốn, ông càng được thế nhân tôn vinh và nhớ ơn, nên trên bia mộ ông được khắc ghi câu: “Let men rejoice that so great a glory of the human race has appeared”: Loài người hãy hân hoan rằng một vinh quang lớn lao bậc ấy của nhân loại đã xuất hiện” (Nguyễn hiến Lê: Gương Hy Sinh – tr. 7).
Isaia cũng đã kêu lên: Khốn thân tôi, chết tôi rồi và được Thiên Chúa cho làm tiên tri vĩ đại. Phaolô đã thú nhận “Tôi là người hèn mọn nhất trong các tông đồ” và đã được ơn Chúa giúp cho làm việc nhiều hơn tất cả các vị khác. Phêrô đã sấp mình dưới chân Đức Giêsu và van xin: “Lạy Thầy, xin tránh xa tôi, vì tôi là kẻ tội lỗi”. Và đã vâng lời Thầy đi thả lưới được muôn linh hồn về cho Chúa.
Lạy Chúa, xin cho con hết lòng khiêm tốn vâng lời Chúa ra khơi biển đời để thả lưới, cho lưới con được đầy bạn hữu biết khẩn cầu và tôn vinh Chúa. Amen.

 

TN5-C92: Dám một lần nữa

Có những người đã xả thân nhiều cho Giáo Hội hay cho giáo xứ hoặc để cung cấp một nền giáo TN5-C92

Có những người đã xả thân nhiều cho Giáo Hội hay cho giáo xứ hoặc để cung cấp một nền giáo dục tốt nhất cho con cái họ, và sau nhiều năm cố gắng họ đã thất vọng, chua xót và ngã lòng. Họ có cảm tưởng như đã làm việc luống công. Họ không thấy xuất hiện những hoa quả tốt đẹp mà lẽ ra công việc của họ phải làm nảy sinh. Và thậm chí thường là điều trái ngược đã xảy ra ! những gì họ đã rất vất vả xây dựng đều sụp đổ; những gì tốt nhất họ đã cho con cái họ, thì chúng ta lại vứt bỏ đi.
Phải, những con người mà hôm qua đầy hăng say phấn khởi thì nay lại ủ rũ, buồn sầu ! và có lẽ chúng ta cũng thuộc vào số những người ấy. Vậy thì chúng ta hẵy chăm chú nghe lời kinh thánh nói với chúng ta hôm và để cho những lời ấy thấm sâu vào lòng chúng ta. Những lời này có thể gây nên niềm phấn khởi hoặc thoa dịu cõi lòng và trợ giúp chúng ta nhiều.
Sự mệt mỏi của thánh Phêrô.
Không khó khăn gì nếu chúng ta muốn nhận ra một chút kinh nghiệm bản thân trong kinh nghiệm mà thánh Phêrô tông đồ đã trải qua. Suốt đêm ông thả lưới. Hàng chục và hàng chục lần ông đã quăng lưới xuống hồ, nhưng không được gì cả. Không bắt được một con cá nào.
Biết bao nhiêu lần chúng ta đã đọc đi đọc lại cũng những cử chỉ đó, làm đi làm lại cũng những cố gắng đó, nói đi nói lại những lời đó, mà không bao giờ đạt được những điều mình muốn. Không lạ gì sau bao nhêu cố gắng chẳng mang lại kết quả chúng ta kiệt sức rồi và sự mệt mỏi đã xâm chiếm chúng ta hoàn toàn. Không còn chút hy vọng nào nữa.
Tuy nhiê , vì chính Chúa Giêsu yêu cầu, nên một lần nữa Phêrô lại ra khơi thả lưới. Một lần nữa ông làm điều mà ông không muốn làm chút nào cả. Và chính lần đó đã đem lại kết quả. Lưới đầy muốn rách.
Ta hãy nhớ bài học này: những gì tự sức mình chúng ta không làm được, thì chúng ta có thể làm được  với sự cộng tác của Chúa. Thường thường, khi con người mệt nhọc nhất, họ họ sắp hỏ cuộc, thì Chúa xuất hiện và ban ơn can đảm cần thiết đẩ một lần nữa họ tiếp tục công việc.
Sự đổi mới của ngôn sứ Isaia và thánh Phaolô.
Sau khi xem xét ngắn gọn kinh nghiệm của thánh Phêrô, ta hãy xem kinh nghiệm của ngôn sứ Isaia và thánh Phaolô tông đồ. Nó rất đáng cho chúng ta quan tâm tìm hiểu. Isaia rất thành thật tuyên bố: “Lạy Chúa, cong không thể nói nhân danh Chúa được. Con không xứng đáng làm ngôn sứ của Chúa”. Thánh Phaolô cũng Không kém thành thật khi người viết: “Tôi là kẻ rốt trong các tông đồ. Tôi không xứng đáng được gọi là tông đồ…Thậm chí tôi là một đứa sinh non”.
Ta biết điều gì sẽ xảy ra cho hay vị này. Cả hai đều được ơn của Chúa thanh tẩy và biến đổi. Cả hai sẽ trở thành những chứng nhân xuất sắc của Thiên Chúa.
Nơi đây nữa có một bài học ta cần đón nhận: dù chúng ta là ai, bất chấp những giới hạn và yếu đuối của chúng ta, chúng ta vẫn là quí báu trước mắt Thiên Chúa, va dều có thể được ân sủng của Ngài biến đổi.
Thánh Phaolô nói: “Những gì tôi đã trở thành, chính là nhờ ơn Chúa mà tôi được như vậy”. Isaia sẽ trả lời Thiên Chúa khi Ngài đang tự hỏi sẽ sai ai đi làm sứ igả cho Ngài: “Lạy Chúa, xin hãy sai con, con sẽ là sứ giả của Chúa”. Thánh Phaolô và Isaia, hai con người được đổi mới.
Những biến cố có ý nghĩa đối với chúng ta.
Nếu xem những biến cố này như là những biến cố đã qua, không có ý nghĩa cụ thể đối với chúng ta thì đó là sai lầm. Trái lại, nếu những biến cố ấy được nhắc lại cho chúng ta là vì chúng soi sáng con đường của chúng ta hôm nay.
Nếu, như thánh Phêrô, chúng ta dám một lần nữa thả lưới xuống hồ… Nếu, như ngôn sứ Isaia và thánh Pholô, chúng ta quay về Chúa và tin tưởng nơi Ngài, thì không gì – thật sự không gì – ngăn cản chúng ta có được kinh nghiệm giống như các Ngài. vì Thiên Chúa không thay đổi. Ân sủng mà trước kia Ngài đã ban cho vẫn là một ơn luôn luôn được ban lại cho người nào một lần nữa….Ơn này sẽ dcban lại cho người nào một lần nữa lại thả lưới…Người nào để cho Ngài gặp gỡ và biến đổi. Ta chớ nghi ngờ: kinh nghiệm cảu Thánh Phêrô, của thánh Phaolô, của ngôn sứ Isaia có thể là kinh nghiệm của chúng ta.

 

TN5-C93  Lòng thương xót Chúa biến đổi con người

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
 

Chủ đề nổi bật hơn cả trong Chúa nhật thứ V mùa Thường niên là "ơn gọi". Chúa gọi Isaia (x. Is TN5-C93

Chủ đề nổi bật hơn cả trong Chúa nhật thứ V mùa Thường niên là "ơn gọi". Chúa gọi Isaia (x. Is 6, 1-2a. 3,8), Phêrô (x. Lc 5,1-11) và Phaolô (1Cr 15,1-11). Cả ba đều thú nhận mình bất xứng, nhưng họ đã tin tưởng vào lòng thương xót và tha thứ, nhất là quyền năng của ơn thánh Chúa và sự đáp trả cách quảng đại của con người. Quả là lòng xót thương của Thiên Chúa biến đổi con người.
Chúa gọi Isaia
Trong một thị kiến uy nghi, Isaia cảm thấy mình hiện diện trước tôn nhan Thiên Chúa ba lần Thánh, khiến ông hoảng sợ và nhận ra sự vô phúc, bất xứng của chính mình. Nhưng một Thiên Thần Sốt Mến đã cầm cục than cháy đỏ thanh tẩy môi miệng ông, đồng thời xóa bỏ tội lỗi của ông: "Hãy nhìn xem, than lửa này đã chạm đến lưỡi ngươi, lỗi của ngươi được xoá bỏ, và tội của ngươi được thứ tha" (Is 6,7). Thế rồi ông cảm thấy sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa gọi, và thưa: "Lạy Chúa, này con đây, xin hãy sai con" (x. Is 6,8). Sự thứ tha và lòng quảng đại của Thiên Chúa đã biến đổi Isaia thành đại ngôn sứ của Thiên Chúa.
Chúa gọi Phêrô
Tâm trạng trên cũng xảy ra trong câu chuyện mẻ cá lạ lùng được Luca thuật lại. Chúa Giêsu bước xuống thuyền của Simon, rồi ngồi trên thuyền mà giảng dạy dân chúng, có Simon ở bên để giữ cho thuyền khỏi tròng trành, còn Chúa Giêsu thì cố gắng giảng dạy đám đông. Về phương diện thể lý, Simon gần Chúa hơn, ông nghe Chúa rõ lời Chúa và lời Chúa thấm nhập vào ông. Vừa giảng xong, Chúa Giêsu bảo ông Simon: "Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu, và thả lưới bắt cá" (Lc 5,4). Phản ứng của Simon là: "Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết; nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới" (Lc 5,8). Lời Chúa Giêsu tác động mạnh lên Phêrô, đặt ông vào tình thế phải thả lưới bắt cá tiếp, dù kinh nghiệm ngư phủ là không thể. Phêrô tin vào lời Chúa Giêsu, đức tin được nuôi dưỡng bằng tình Thầy trò, đức tin tái tạo cái mới và tôn vinh khả năng của con người. Ông tin Chúa, nên bắt được một mẻ đầy cá.
Bảo Phêrô: "Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu", là Chúa muốn ông bước ra ngoài sự toàn, thói quen, chắc chắn, "và thả lưới bắt cá". Ðứng trước sự lạ lùng ấy, Simon Phêrô đã không ôm choàng lấy Chúa Giêsu để bầy tỏ lòng biết ơn vì thu lượm được nhiều cá quá sức mong đợi. Nhưng, theo như thánh sử Luca ghi lại, ông đã quỳ xuống trước mặt Người và thưa: "Lạy Chúa, xin tránh xa con đi, bởi vì con là một kẻ tội lỗi"(Lc 5,8). Chúa trấn an: "Ðừng sợ:từ đây con sẽ là kẻ chinh phục người ta" (Lc 5,10); ông đã từ bỏ tất cả để đi theo Người.
Chúa Giêsu thật nhân lành! Phêrô, kẻ chài lưới, được Chúa gọi và trở nên nhà hùng biện đáng được ca ngợi nếu ông hiểu được công việc chài lưới người. Đó là tại sao thánh Phaolô gửi cho các tín hữu tiên khởi và nói: "Hãy coi đến, hỡi anh em, việc anh em được kêu gọi! Hẳn không có mấy người khôn ngoan xét theo xác thịt, không mấy người quyền thế, không mấy người tôn quí. Nhưng chính những điều thế gian coi là điên rồ, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu nhuốc hạng khôn ngoan; và những điều thế gian coi là yếu đuối, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu nhuốc những gì là mạnh mẽ.Những điều thế gian cho là ti tiện, là không đáng kể, thì Thiên Chúa đã chọn, những điều không không, để hủy ra không những điều có" (1Cr 1,26-28).
Vì nếu Chúa Giêsu chọn người hùng biện trước, người ấy có thể nói, "Tôi đã được chọn vì tài hùng biện của tôi" Nếu Chúa chọn làm một thượng nghị sĩ, thượng nghị sĩ có thể nói, "Tôi được chọn vì cấp bậc của mình". Sau cùng, nếu Chúa chọn một hoàng đế, hoàng đế có thể nói, "Tôi được chọn vì khả năng của mình".
Chúa gọi Phaolô
Phaolô, khi nhớ lại rằng mình đã từng là một kẻ bách hại Giáo hội, ông thú nhận mình không xứng đáng được gọi làm tông đồ, nhưng ông nhìn nhận rằng, Chúa Giêsu Phục Sinh đã thương xót ông và đã thực hiện nơi ông những điều kỳ diệu, và bất chấp con người có giới hạn của ông, Chúa còn trao cho ông nhiệm vụ và vinh dự được loan truyền Tin Mừng (x. 1Cr 15,8-10). Há chẳng phải lòng thương xót Chúa biến đổi con người ông sao?
Kinh nghiệm cuộc đời
Trong cả ba kinh nghiệm kể trên, chứng tỏ con người dù nghèo nàn và bất xứng, giới hạn và tội lỗi, kể cả mỏng dòn. Nhưng nếu gặp được Thiên Chúa là Ðấng giàu lòng xót thương và tha thứ, Chúa sẽ biến đổi con người. Isaia, Phêrô và Phaolô đã làm gương cho tất cả những ai được Chúa gọi thì hãy nhìn vào Chúa và lòng khoan nhân của Người, để thay lòng đổi dạ và hân hoan từ bỏ tất cả mọi sự vì Người.
Đây là lúc chúng ta kiên định và tin tưởng vào Lời hứa của Đấng đã không bao giờ bỏ chúng ta mồ côi. "Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết; nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới"(Lc 5,5). Câu trả lời của Phêrô tương tự như lời của Đức Maria tại tiệc cưới Cana: "Người bào gì thì phải làm theo" (Ga 2,5). Phải tin tưởng và thi hành thánh ý Chúa, nỗ lực của chúng ta mới hữu ích. Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Phêrô thật đơn giản nhưng sâu sắc, chúng ta có thể lấy làm của riêng của mình: giữa nơi sóng cả ba đào trong một thế giới tội lỗi, chúng ta đấu tranh và lội ngược dòng, tìm cách để loan báo Tin Mừng cách tốt nhất.
Mượn lời Phêrô chúng ta thưa Chúa: "Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi" (Lc 5,8). Thánh Irênê nói: ai nhận thức được bản chất tội lỗi của mình, thì người ấy có khả năng nhận biết tình trạng tạo vật của mình nữa. Chỉ có những người như Phêrô, mới chấp nhận những giới hạn của chính mình và nhận những thành quả tông đồ của mình. Chúa đã kêu gọi các Tông Đồ để trở thành kẻ lưới người, nhưng ngư dân đích thực chính là Chúa: trò giỏi không chỉ giỏi chài, mà còn bắt cá người giỏi. Điều này chỉ có hậu nếu chúng ta liều bỏ tất cả để theo Chúa.
Lạy Mẹ Maria, chúng con phó thác đời chúng con cho Mẹ. Xin Mẹ gợi lên nơi mỗi người chúng con lòng ước muốn đáp lại "Xin Vâng" với Chúa trong niềm hân hoan vui sướng. Amen

 

TN5-C94: Mau mắn đáp lời Chúa gọi

(Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)
"Họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Ngài"
(Lc 5,11)
I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến
 

Từ Chúa nhật đầu mùa Thường niên, chúng ta đã từng bước đi theo hành trình sứ vụ của Chúa TN5-C94

Từ Chúa nhật đầu mùa Thường niên, chúng ta đã từng bước đi theo hành trình sứ vụ của Chúa Giêsu. Hôm nay Phụng vụ dẫn chúng ta tới lúc Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên là Simon Phêrô, Giacôbê và Gioan. Điểm đáng chú ý trong chuyện này là các ông đã mau mắn bỏ hết mọi sự để đi theo Chúa.
Ngày hôm nay Chúa vẫn tiếp tục kêu gọi chúng ta. Chúng ta hãy lắng nghe tiếng Ngài và hãy mau mắn đi theo Ngài.

II. Gợi ý sám hối
Vì mải mê lo những công việc thế tục, chúng ta đã phớt lờ đi những lần Chúa lên tiếng kêu gọi chúng ta.
Có nhiều thứ chúng ta quá quyến luyến nên không thể từ bỏ mặc dù biết là nó xấu.
Cũng như thánh Phêrô ngày xưa, giờ đây chúng ta hãy khiêm tốn thưa cùng Chúa: "Lạy Chúa, con là kẻ tội lỗi".

III. Lời Chúa
1. Bài đọc I (Is 6,1-8)
Tường thuật ơn gọi của Isaia. Chúng ta hãy để ý đến tâm trạng và phản ứng của ông:
Trong một thị kiến, Isaia thấy mình đang ở trong Đền thờ. Qua những hiện tượng đặc biệt như cảnh các thiên thần tung hô, các cửa đền thờ rung chuyển, đền thờ nghi ngút khói v.v. Isaia, biết là có Thiên Chúa đang hiện diện.
Cảm giác đầu tiên của Isaia là thấy mình quá tội lỗi khi đứng trước Thiên Chúa thánh thiện.
Nhưng khi Thiên Chúa sai một thiên thần thanh tẩy Isaia và sau đó mời gọi ông làm ngôn sứ, thì Isaia đã mạnh dạn đáp lời.
2. Đáp ca (Tv 137)
Đây là bài ca được hát trong đền thờ, "giữa chư vị thiên thần, con đàn ca kính Chúa". Thánh vịnh này rất hợp với tâm tình của Isaia khi được Chúa kêu gọi.
3. Tin Mừng (Lc 5,1-11)
Bài tường thuật việc Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên trong Tin Mừng Luca có nhiều chi tiết hơn bài tường thuật ngắn gọn trong Mt 4,19-22:
Họ đang giặt lưới để dẹp cất, vì suốt đêm đánh không được con cá nào.
Chúa Giêsu bảo họ thử đánh một mẻ nữa. Phêrô không tin vào sự thành công, nhưng nễ lời Ngài nên ông thả lưới.
Một mẻ lưới nhiều cá quá sức tưởng tượng đã khiến Phêrô và các bạn khám phá ra thân phận siêu phàm của Chúa Giêsu đồng thời cũng ý thức thân phận hèn hạ tội lỗi của mình.
Khi đó Chúa Giêsu lên tiếng gọi họ theo Ngài làm môn đệ. Và họ đã từ bỏ mọi sự để theo Ngài.
4. Bài đọc II (1 Cr 15,1-11)
Nhiều người chống đối Phaolô, cho rằng ông không đủ tư cách làm tông đồ.
Để trả lời họ, Phaolô nói rằng tất cả những gì ông rao giảng đều là những gì ông đã lãnh nhận từ giáo huấn của Chúa Giêsu. Phaolô cũng chứng mình rằng chính Chúa Giêsu đã chọn ông như đã chọn các tông đồ khác.

IV. Gợi ý giảng
* 1. Chúa gọi
Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta hiểu được rất nhiều điều về ơn gọi.
a/ Con người không chọn Chúa, mà chính Chúa kêu gọi con người: Isaia tin có Chúa đang hiện diện trong Đền thờ, nhưng ông không dám nghĩ tới việc được "thấy" Chúa và được Ngài "gọi" (bài đọc I). Phaolô đang trên đường lùng bắt các môn đệ Đức Kitô thì được gọi (bài đọc II). Còn Phêrô và các bạn chài thì đang lo đánh lưới bắt cá nhưng lại được gọi làm những kẻ quăng lưới bắt người (bài Tin Mừng). Đúng như lời Chúa Giêsu nói: "Không phải các con chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con".
b/ Có khi ơn gọi phát sinh từ một cuộc gặp gỡ đặc biệt với Chúa. Cuộc gặp gỡ đặc biệt làm nẩy sinh một cảm nghiệm sâu sắc. Rồi cảm nghiệm sâu sắc cuốn hút con người vào một tương quan thân thiết mới mẻ với Chúa. Như trường hợp của Isaia, ông vẫn biết Thiên Chúa là Đấng vĩ đại và mạnh mẽ hơn các thần khác. Nhưng hôm ấy trong Đền thờ ông biết thêm rằng Ngài là Đấng hoàn toàn khác, là Đấng thánh gấp 3 lần. Điều đó khiến ông xúc động mạnh. Ông diễn tả cảm xúc mạnh mẽ ấy qua những hình ảnh các trụ của đền thờ rung chuyển và khói tỏa mịt mù khắp Đền thờ. Còn Phaolô thì mô tả việc Chúa gọi ông đột ngột như "một đứa trẻ sinh non" trước khi đủ ngày đủ tháng. Phần Phêrô, mẻ cá lạ làm ông chợt nhận ra Chúa Giêsu không phải chỉ là con người mà còn là Đức Chúa, đồng thời ông ý thức thân phận tội lỗi bất xứng của mình. Ông đã thốt lên "Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi".
c/ Nhưng nhiều khi Chúa gọi con người trong những hoàn cảnh rất bình thường. Như Phêrô và các bạn khi ấy đang làm công việc thường ngày là đánh cá. Hoàn cảnh thì bình thường, nhưng ý nghĩa lại đặc biệt: nó khiến con người khám phá một chân lý quan trọng, nó thôi thúc con người làm một cuộc lựa chọn mới mẻ chuyển hướng cả cuộc đời. Hôm đó Phêrô và các bạn đã bỏ tất cả mà đi theo Chúa Giêsu.
Dù gặp Chúa trong hoàn cảnh đặc biệt hay trong cuộc sống bình thường, hễ gặp được Chúa thì cuộc đời chắc chắn sẽ biến đổi.
* 2. Bất xứng và tín nhiệm
Ba bài tường thuật ơn gọi hôm nay đều có những nét giống nhau:
Tất cả những người được gọi đều cảm thấy bất xứng: Isaia thốt lên "Khốn thân tôi, tôi chết mất, vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế"; Phaolô tự nhận "Tôi là người hèn mọn nhất trong số các tông đồ, tôi không đáng được gọi là tông đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa"; Phêrô thì sấp mình xuống dưới chân Chúa Giêsu "Lạy Chúa xin tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi".
Nhưng tất cả đều được Thiên Chúa tín nhiệm: Isaia được trao sứ mạng ngôn sứ; Phêrô được chọn làm tông đồ; Phaolô được sai đi làm tông đồ cho lương dân.
Dù biết mình bất xứng mà Thiên Chúa vẫn tín nhiệm, nên các ngài đã nhiệt thành chu toàn sứ mạng được trao phó: Isaia mạnh dạn thưa lại với Chúa "Dạ con đây, xin sai con đi"; Phêrô "đưa thuyền vào bờ rồi bỏ hết mọi sự mà theo Ngài"; Phaolô dám khoe "Tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là Thiên Chúa ở cùng tôi".
* 3. Thành quả vàng son
Thánh Gioan Vianney, lúc còn là chủng sinh, học rất chậm. Ngày kia, một giáo sư thần học, thừa lệnh Đức Giám Mục đến khảo sát Vianney xem có đủ khả năng học vấn để tới chức linh mục chăng?
Tuy đã dốc hết sức học hành, Vianney vẫn không thể trả lời được câu nào cho trôi chảy.
Nổi nóng, vị giáo sư đập bàn nói: "Vianney, anh dốt đặc như con lừa! Với một con lừa như anh, Giáo Hội hy vọng làm nên trò trống gì".
Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời: "Thưa cha, ngày xưa Samson chỉ dùng một cái xương hàm con lừa mà đánh bại 3000 quân Philitinh. Vậy với cả một con lừa này, Thiên Chúa không làm được việc gì sao?"
***
Quả thật, con lừa của Thiên Chúa đó, sau này không chỉ trở thành một cha sở, mà còn được tôn phong làm thánh bổn mạng của các cha sở.
Hôm nay, Simon cũng vất vả suốt một đêm chài lưới mà không bắt được một con cá nào, nhưng: "Vì lời Thầy con sẽ thả lưới" (Lc 5,5). Và lạ thay, một mẻ cá lớn bất ngờ, đến nỗi lưới hầu như sắp rách. Trước tình thế này, Simon chỉ còn biết bỏ thuyền, chạy đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu mà nói: "Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi" (Lc 5,8).
Kẻ nhận mình là tội lỗi yếu hèn đó, sau này đã trở thành Phêrô, người thuyền trưởng của con thuyền Giáo Hội.
Có một điểm gì đó rất giống nhau, rất tương đồng giữa Vianney và Phêrô. Đó chính là nhận mình yếu hèn khuyết điểm và hoàn toàn để Chúa lèo lái điều khiển đời mình. Nhờ đó, Chúa đã ban tặng cho các ngài những đậc ân vô cùng lớn lao. Vì ơn Chúa chỉ ban xuống cho những kẻ khiêm nhượng.
"Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không bắt được gì hết. Nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới" (Lc 5.5). Đây là lời bày tỏ sự bất lực của con người, để chính sự bất lực này sẽ làm nổi bật quyền năng của Thiên Chúa: Chính sự vâng phục của con người trước uy quyền của Thiên Chúa sẽ đem lại hiệu quả vượt sức tự nhiên loài người.
Từ vâng phục dẫn đến phép lạ, từ phép lạ dẫn đến niềm tin: Trước mẻ cá, Simon xưng Chúa Giêsu là Thầy: "Vì lời Thầy, con sẽ thả lưới", nhưng sau mẻ cá diệu kỳ, người lại tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa: "Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi". Qua phép lạ mẻ cá, Simon đã nhận ra quyền năng Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu và đã tin vào Người. Đây chính là lời tuyên xưng thiên tính nơi Chúa Giêsu.
Chính khi tin vào quyền năng Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu, mà Simon đã ý thức thân phận tội lỗi bất xứng của mình trước sự thánh thiện vô song của Thiên Chúa. Đó cũng là kinh nghiệm của ngôn sứ Isaia trước Thiên Chúa: "Khốn cho tôi, tôi chết mất, vì lưỡi tôi dơ bẩn" (Isaia 6, 5). Nhưng sau khi được than hồng là lửa tình thương Chúa thanh tẩy, ông đã mau mắn xin vâng, ra đi làm ngôn sứ cho Chúa: "Lạy Chúa, xin hãy sai con". Hôm nay, Chúa cũng trấn an Phêrô: "Đừng sợ hãi, từ đây các con sẽ là kẻ chinh phục người ta" (Lc 5,10). Thành ngữ này thường gặp trong Cựu ước, để trấn an con người hãy tin tưởng vào quyền năng Thiên Chúa. Ở đây Chúa Giêsu muốn trấn an các Tông đồ, đặc biệt ba vị là Phêrô, Giacôbê và Gioan, để các ngài tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa khi đón nhận và thi hành sứ mạng Chúa giao.
Quả thật, ngay sau đó các Tông đồ đã "bỏ mọi sự mà đi theo Người " (Lc 5, 11). Đó là ơn gọi của Phêrô, con người đã gặp gỡ Chúa và đã được Chúa thu hút chinh phục, để rồi Phêrô lại ra đi chinh phục các tâm hồn về cho Người.
Trước khi gặp Chúa, Simon dù có vất vả suốt đêm cũng không được một con cá nào; sau khi gặp Chúa, Chúa đã hướng dẫn ngài kéo lên một mẻ cá bội thu. Nhưng dù cá có nhiều đến rách lưới ngài cũng không màng, vì từ đây mục đích đời ngài không phải là thành quả vàng son mà chính là Chúa mà thôi.
***
Lạy Chúa, từ bỏ mọi sự là điều kiện để đi theo Người. Xin cho chúng con một đức tin can đảm, dám từ bỏ những gì chúng con đã từng bám víu, cũng chẳng sợ thiệt thòi khi đã hiến dâng.
Xin cho chúng con một đức tin liều lĩnh, sẵn sàng mất đi tất cả, để chỉ xin giữ trọn một mình Chúa mà thôi. Vì Chúa chính là gia nghiệp và là phần phúc cuộc đời chúng con. Amen. (Thiên Phúc)
* 4. Thất bại và thành công
Phêrô và các bạn "đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả". Chán nản, mỏi mệt, các ông không đánh cá nữa và đi giặt lưới.
Cho dù đã làm hết sức mình nhưng con người vẫn có thể gặp thất bại. Người học sinh luyện thi rất chăm chỉ, nhưng rồi thi rớt. Vận động viên thể thao cố gắng chơi hết sức mình, vậy mà lại thua. Cha mẹ đã làm tất cả để giáo dục con nên người tốt, nhưng nó lại làm người xấu. Hầu hết chúng ta đều có khi gặp thất bại như thế.
Khi Phêrô và các bạn bị thất bại, Chúa Giêsu có thể trách các ông "Các anh đã hành nghề bao nhiêu năm trời rồi, thế sao đánh lưới suốt đêm mà không bắt được con cá nào hết vậy?" Nhưng Ngài đã không trách. Tại sao? Vì Ngài thông cảm với các ông. Đã cố gắng hết mình rồi mà vẫn thất bại, điều đó đã làm các ông đau khổ lắm rồi. Không cần trách móc để các ông càng đau khổ thêm. Thất bại đã là một vết thương, không cần sát muối vào cho nó càng xót xa thêm.
Điều người ta cần khi bị thất bại là có ai đó vẫn tin mình, an ủi mình và khuyến khích mình vươn lên. "Thất bại không phải là ngã quỵ, mà là không chịu vươn lên".
Vả lại, thành công là gì? Thành công không phải là tất cả. Ta có thể thành công cãi thắng một cuộc tranh luận, nhưng rồi bị mất một người bạn. Ta có thể thành công trong cuộc tranh dành một địa vị cao hơn, nhưng sau đó các mối tương quan với đồng nghiệp trở thành lạnh nhạt hơn. Hương vị của ly rượu thành công có thể rất ngọt ngào ngây ngất ngay lúc đó, nhưng về sau hầu hết đều cạn dần và cuối cùng là trống rỗng.
Chúa Giêsu không trách Phêrô và các bạn, nhưng Ngài không cho các ông cứ ở đó mãi để gậm nhấm nỗi chua cay. Ngài kích thích họ làm lại: "Hãy chèo ra chỗ nước sâu và thả lưới bắt cá".
Emerson nói rằng mỗi người chúng ta đều có một tiềm năng to lớn, giống như một căn phòng, một vòi nước chưa bao giờ được mở ra. Cần có ai đó chỉ cho ta biết tiềm năng đó và khuyến khích chúng ta mở ra: "Hãy chèo ra chỗ nước sâu".
Chúa Giêsu biết Phêrô yếu đuối tội lỗi, nhưng Ngài cũng biết ông có khả năng làm được những việc to lớn. Ngài không kích thích chỗ yếu đuối tội lỗi của ông, nhưng kích thích đúng vào tiềm năng của ông. Nhờ được kích thích, các ông đã thả lưới bắt được nhiều cá. Sau đó các ông còn hăng hái bỏ mọi sự để theo Ngài thả lưới bắt người.
Con người thường thất bại. Nhưng con người cần có người tin tưởng và khuyến khích để lại vươn lên, vì "Từ thành công đền thất bại chỉ là một bước. Nhưng từ thất bại đến thành công là cả một con đường dài" (Yiddish) (FM)
* 5. "Vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới"
Ban đêm là lúc thuận tiện để đánh cá. Nếu một người nào khác nói với Phêrô "Hãy chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá", có lẽ ông đã vặn lại "Bộ anh khùng hả? Anh muốn cho tôi thành trò cười cho các bạn chài khác sao? Đã thả lưới suốt đêm mà không bắt được con cá nào thì làm sao mà bắt được nữa khi trời đã sáng".
Nhưng vì người nói câu đó là Chúa Giêsu nên Phêrô đã không vặn lại như thế. Ông cũng trình bày quan điểm của mình "Thưa Thầy, chúng con đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả", nhưng liền sau đó thì vâng lời "Nhưng vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới". Đối với Phêrô, lời nói của Chúa Giêsu không như lời của những người khác, vì nó có uy tín mà lời của bất cứ ai khác đều không có. Bởi thế, nếu Chúa Giêsu đã bảo, thì cho dù tình thế có vô vọng bao nhiêu đi nữa, cho dù ông đã mệt mỏi bao nhiêu đi nữa, và cho dù người ta có thể nhạo cười bao nhiêu đi nữa, Phêrô cũng phải vâng theo.
Phêrô đã tin tưởng tuyệt đối vào Chúa Giêsu. Tin vào lời Ngài, ông đã thử làm điều bất khả. Sau này chúng ta lại thấy ông tin vào lời Chúa Giêsu mà bước đi trên mặt biển.
Chúa Giêsu chẳng những bảo ông thả lưới bắt cá, mà còn bảo ông làm môn đệ, chia xẻ sứ mạng của Ngài. Phêrô có đức tính gì mà được Chúa Giêsu mời gọi như thế? Đức tính thứ nhất và quan trọng nhất Chúa Giêsu thấy nơi Phêrô là Tin vào Lời Ngài. Đức tính thứ hai là Khiêm tốn.
Câu chuyện Tin Mừng hôm nay không chỉ là chuyện về đánh cá, mà còn là chuyện về lòng tin tưởng. Vì Phêrô tin tưởng vào lời Chúa Giêsu, nên Ngài chẳng những bảo ông thả lưới lại một lần nữa, mà còn kêu gọi ông lãnh nhận một sứ mạng quan trọng hơn "Từ nay anh sẽ là người thu phục người ta".
Mọi kitô hữu chúng ta cũng đều được Chúa gọi như Phêrô. Và điều quan trọng nhất Ngài chờ đợi nơi chúng ta là tuyệt đối tin tưởng vào Ngài. (FM)
* 6. Một bước khởi đầu tốt đẹp
Isaia, Phaolô và Phêrô là những gương mặt trung tâm của các bài đọc hôm nay. Cả ba đều đã làm được những việc trọng đại cho Chúa. Tuy nhiên cả ba, ai cũng mang mặc cảm thấp hèn, coi mình là người yếu kém. Các ngài không tự mình tiến lên phía trước, nhưng được Chúa mời gọi tiến lên. Các ngài đáp lại tiếng Chúa gọi một cách miễn cưỡng vì biết mình không xứng đáng.
Bước đi đầu tiên với nhận thức về thân phận bất xứng của mình, xét theo phương diện đạo đức, đó là một bước khởi đầu rất tốt. Người nào quá tự tin tiến về phía trước thì thường làm hại hơn là làm tốt, vì người đó dựa vào khả năng của mình và tìm kiếm vinh dự cho mình. Kiêu căng và tự phụ chỉ là cát, mà xây nhà trên cát thì sẽ sụp đổ thôi.
Ngược lại, khi ta gặp người nào biết sợ, biết lo thì ta có thể tin tưởng người đó. Thánh Phaolô nói một câu rất nghịch lý: "Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh" (2 Cr 12,10). Nghịch lý nhưng rất có lý, bởi vì khi Ngài biết mình yếu thì Ngài tìm về Chúa, và chính sức mạnh của Chúa làm cho Ngài mạnh.
Khi ta biết mình yếu, Chúa sẽ thêm sức cho ta. Khi ta biết mình trống rỗng, Chúa sẽ đong đầy cho ta. Khi ta biết mình nghèo nàn, Chúa sẽ làm giàu cho ta. Khi đó ta sẽ có thể làm được công việc của Ngài, và Ngài sẽ hoàn thành trong ta những điều ta không làm nổi.
Khiêm tốn là một bước khởi đầu tốt. Nhưng không phải vì thế mà ta cứ khăng khăng chối từ. Như thế chỉ là hèn nhát, lười biếng và ích kỷ. Cứ như thế thì ta không thể cứu nổi mình, càng không thể cứu ai khác. Isaia nói rằng môi miệng ông ô uế, nhưng Chúa đã sai thiên thần lấy than hồng thanh tẩy miệng ông. Phêrô xin Chúa lánh xa ông, nhưng Chúa gọi ông chia xẻ sứ mạng của Ngài. Chúa không chê bỏ người tội lỗi, trái lại Ngài đến với những kẻ tội lỗi, để cứu họ, và để mời họ hợp tác cứu những người tội lỗi khác. Chúa giúp những người tội lỗi đi bước đầu.
Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta lòng khiêm tốn để nhận biết sự yếu đuối của mình. Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta sức mạnh để chúng ta vượt lên sự yếu đuối ấy. Rồi chúng ta hãy mạnh dạn làm theo Lời Ngài dạy bảo. Khi đó chúng ta sẽ vui mừng cảm nhận được như Phaolô là "khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh" (FM)
V. Lời nguyện cho mọi người
Chủ tế: Anh chị em thân mến, vì yêu thương mà Chúa đã chọn chúng ta làm người Kitô hữu, làm tông đồ của Chúa. Với tâm tình cảm tạ tri ân, chúng ta cùng dâng lời cầu xin:
1. Hội thánh là Nhiệm Thể của Chúa Giêsu Kitô / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa tuôn đổ ơn Thánh thần xuống trên Hội thánh / để Hội thánh ngày càng được tinh tuyền / vững mạnh / và phát triển không ngừng.
2. Hằng năm / thiên tai vẫn hoành hành ở nhiều nơi trên thế giới / gây ra biết bao tang tóc cho nhân loại / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban cho mưa thuận gió hòa / để mọi người được sống trong cảnh an cư lạc nghiệp.
3. Chúa Giêsu bảo thánh Phêrô: / Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá / Chúng ta hiệp lời cầu xin / cho những anh chị em đã từ bỏ mọi sự mà dấn thân theo Chúa hiểu rằng / nếu vâng theo thánh ý Chúa / họ sẽ thu được những kết quả bất ngờ.
4. Đời sống đức tin của người Kitô hữu / không chỉ giới hạn trong việc đọc kinh / tham dự thánh lễ / lãnh nhận các bí tích ở nhà thờ / mà còn phải thể hiện ngoài xã hội nữa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết thể hiện niềm tin của mình / bằng đời sống bác ái yêu thương đối với hết thảy mọi người.
Chủ tế: Lạy Chúa, Chúa đã mời gọi chúng con từ bỏ mình và vác thập giá mà theo Chúa. Xin cho tất cả chúng con luôn cố gắng thực hiện lời mời gọi quan trọng ngày. Chúng con cầu xin...
VI. Trong Thánh Lễ
- Trước Kinh Lạy Cha: Chúa Cha đã sai Chúa Giêsu mang Tin Mừng cứu độ cho loài người. Chúa Giêsu lại kêu mời chúng ta chia xẻ sứ mạng ấy. Cùng với Chúa Giêsu, chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện lên Chúa Cha.
VII. Giải tán
"Hãy ra khơi thả lưới". Đó là lời Chúa mời gọi chúng ta. Chúng ta hãy mau mắn đáp lại như Phêrô xưa. Chúc anh chị em ra đi bình an.

 

TN5-C95: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành

Những ngày cuối năm, thông thường các Sr. các Thầy đã khấn trọn đời trong năm qua được về TN5-C95

Những ngày cuối năm, thông thường các Sr. các Thầy đã khấn trọn đời trong năm qua được về quê nghỉ tết và dâng lễ tạ ơn.
Năm nay, Giáo xứ chúng ta vinh dự có 5 thánh lễ tạ ơn cho 3 Sr. và 2 Thầy. Đây là niềm vui cho Giáo xứ, gia đình và đặc biệt là niềm vui cho bản thân các tân vĩnh khấn. Trong lời cám ơn sau lễ, hầu hết các tân khấn sinh đều bày tỏ tâm tình của mình về tình thương cao cả của Thiên Chúa trước sự bất xứng của thân phận con người.

1. Ơn gọi là một huyền nhiệm
Thật vậy, ơn gọi nói chung và nhất là ơn gọi đi tu là một huyền nhiệm. Ơn gọi phát xuất từ Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu đã từng nói: “Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con”(x. Ga 15,16). Thiên Chúa luôn đi bước trước để tuyển chọn con người. Cụm từ “hãy theo Ta” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong Kinh Thánh. Thiên Chúa chọn Isaia làm tiên tri. Thiên Chúa chọn Phaolô làm Tông đồ dân ngoại. Thiên Chúa chọn Phêrô làm kẻ chài lưới người. Thiên Chúa chọn tôi, chọn anh chị em làm việc nọ việc kia. Mỗi người đều được Thiên Chúa kêu gọi để giao trách nhiệm tuỳ hoàn cảnh và địa vị của mình.

2. Trước Thiên Chúa, con người luôn cảm thấy bất xứng
Nhưng, đứng trước lời mời gọi của Thiên Chúa, con người luôn cảm thấy bất xứng.
Bài đọc thứ nhất cho chúng ta biết, trước nhan Thiên Chúa ba lần Thánh, tiên tri Isaia đã tự nhận mình là kẻ bất xứng, ông thốt lên rằng: "Vô phúc cho tôi! Tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn, tôi ở giữa một dân tộc mà lưỡi họ đều nhơ nhớp, mắt tôi đã trông thấy Ðức Vua, Người là Chúa các đạo binh"(Is 6,5).
Bài đọc thứ hai, Thánh Phaolô cũng đã nhận mình là kẻ hèn mọn nhất trong các Tông đồ. Ngài cho mình là kẻ bất xứng không đáng làm Tông đồ, Ngài nói: “Tôi vốn là kẻ hèn mọn nhất trong các Tông đồ, và không xứng đáng được gọi là Tông đồ, vì tôi đã bắt bớ Hội Thánh của Thiên Chúa”(1Cr 15,9).
Bài Tin mừng Thánh Luca kể lại, sau khi thấy mẻ cá lạ lùng, Phêrô cảm thấy mình tội lỗi, không xứng đáng đứng gần Chúa. Ngài đã thốt lên với Chúa Giêsu rằng: "Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi"(Lc 5,8).
Đối với chúng ta, chắc chắn ai cũng cảm thấy bất xứng, vì không ai hoàn hảo.

3. Thiên Chúa biến sự bất xứng thành khí cụ của Ngài
Thiên Chúa đã làm cho Isaia trở thành một tiên tri, Thần Sốt Mến đã nói với Isaia rằng: "Hãy nhìn xem, than lửa này đã chạm đến lưỡi ngươi, lỗi của ngươi được xoá bỏ, và tội của ngươi được thứ tha"(Is 6,7). Và khi nghe tiếng Chúa phán: "Ta sẽ sai ai đi? Và ai sẽ đi cho chúng ta?"(Is 6,8). Isaia đã mạnh dạn thưa với Chúa rằng: “Này con đây, xin hãy sai con”(Is 6,8). Isaia đã trở thành một tiên tri lớn, một tiên tri vĩ đại trong thời Cựu Ước.
Thiên Chúa cũng đã biến Phaolô từ một người bắt bớ Giáo Hội trở thành vị Tông đồ dân ngoại. Chính thánh Phaolô đã nói: “Nhưng nay tôi là người thế nào, là nhờ ơn của Thiên Chúa, và ơn của Người không vô ích nơi tôi, nhưng tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn tất cả các Ðấng: song không phải tôi, nhưng là ơn của Thiên Chúa ở với tôi”(1Cr 15,10).
Còn Phêrô, từ một người làm nghề đánh cá, Chúa đã biến ông thành một Tông đồ đánh bắt các linh hồn. Từ một người đã từng phạm tội chối Thầy ba lần, trở thành người làm đầu Hội Thánh, vị Giáo Hoàng đầu tiên. Thật là kỳ diệu. Thiên Chúa biến sự bất xứng của con người thành khí cụ của Ngài. Đối với Ngài, “Không có gì mà Ngài không làm được”(Lc 1,37).

4. Thiên Chúa cần sự cộng tác của con người
Thánh Augustinô nói một câu rất nổi tiếng: “Chúa dựng nên con không cần có con nhưng để cứu chuộc con, Chúa cần sự cộng tác của con”. Mặc dầu, Thiên Chúa ban ơn để biến đổi con người từ bất xứng trở thành khí cụ hữu hiệu của Chúa. Nhưng Thiên Chúa luôn luôn cần sự cộng tác của con người. Khi nghe Thiên Chúa mời gọi, Isaia đã sẵn sàng đáp trả và dấn thân trong sứ mạng tiên tri.
Cũng vậy, sau cú ngã ngựa trên đường Đamát, Phaolô đã hỏi Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, con phải làm gì?”(Cv 22,10). Sau đó, Phaolô đã làm theo sự hướng dẫn của Chúa: Lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy bởi ông Anania. Cố gắng hoà nhập với các Tông đồ và các Kitô hữu tiên khởi. Đặc biệt, Phaolô đã dùng khả năng và cống hiến sức lực của mình để loan báo Tin Mừng cho dân ngoại. Có thể tóm tắt sự cộng tác của Ngài với ơn Chúa qua chính lời Ngài kể trong thư 2 Côrintô sau đây: “… Bao lần suýt chết. Năm lần tôi bị người Do-thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng. Không kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh!”(x. 2Cr 11, 23-28).
Với Thánh Phêrô, mặc dầu đang yên bề gia thất, nghề nghiệp ổn định...Nhưng Ngài đã đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu. Ngài đi theo Chúa trong suốt thời gian ba năm, được Chúa huấn luyện, uốn nắn. Mặc dầu Phêrô đã chối Chúa ba lần, nhưng sau đó đã ăn năn khóc lóc, hối hận về hành động của mình. Trước khi đặt làm đầu Giáo Hội, Chúa Giêsu đã hỏi Phêrô ba lần, con có yêu mến Thầy không? Phêrô đã không ngần ngại thưa lên rằng: “Lạy Thầy, con yêu mến Thầy”(x. Ga 21, 15-19). Phêrô đã thực sự yêu mến Chúa hết lòng hết sức, Ngài cống hiến hết mình vì sự tồn tại và phát triển của Giáo Hội thuở ban đầu.

5. Với chúng ta hôm nay
Trước mặt Thiên Chúa, chúng ta cũng là những người bất xứng, tội lỗi. Nhưng Thiên Chúa thương mời gọi chúng ta gia nhập Giáo hội. Dầu là linh mục, tu sỹ hay giáo dân, chúng ta phải biết cộng tác với ơn Chúa để chu toàn bổn phận của mình. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, Chúa giao cho chúng ta sứ mạng tư tế, vương đế và ngôn sứ. Chúa mời gọi chúng ta đóng góp phần mình trong công cuộc xây dựng và phát triển Giáo Hội. Mỗi chúng ta có trách nhiệm Phúc Âm đời sống chính mình, Phúc Âm hoá đời sống gia đình, Phúc Âm hoá đời sống xã hội, để qua chúng ta mọi người sẽ biết và tin yêu Chúa. Đặc biệt, đối với mỗi người giáo dân, sống giữa lòng xã hội và thế giới, Công Đồng Vaticanô II đã dạy rằng: “ …Giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội hiện diện và hoạt động trong những nơi và hoàn cảnh mà nếu không có họ, Giáo Hội sẽ không trở thành muối của thế gian” (LG, số 33)
Lạy Chúa, con có thể thưa với Chúa như tiên tri Isaia, như Phaolô hay như Phêrô. Vì con cảm thấy mình yếu kém hơn nhiều so với các Ngài. Nhưng tin tưởng vào Chúa, con mạnh dạn dùng khả năng và những gì Chúa ban cho con để phục vụ Chúa và Giáo hội. Xin Chúa luôn đồng hành và giúp đỡ con. Amen.

 

TN5-C96: Muôn sự nhờ Trời – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Ngày đầu năm chúng ta hay thăm hỏi nhau bạn làm ăn thế nào? Cuộc sống của bạn có bình an TN5-C96

Ngày đầu năm chúng ta hay thăm hỏi nhau bạn làm ăn thế nào? Cuộc sống của bạn có bình an không? Dường như ai cũng khiêm tốn trả lời: nhờ ơn Trời mà năm nay làm ăn tốt hơn. Nhờ ơn Chúa mà được bình an mọi sự.
Nhà thơ Nguyễn Du năm xưa cũng từng tin vào Trời. Ông Trời định đoạt mọi sự cho nhân gian.
Trời còn để có hôm nay
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời
Hoa tàn mà lại thêm tươi
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa
Quả thực, “Trời còn để có hôm nay”  để sống, để nhìn thấy nhau, là ân ban bởi Trời. Mỗi ngày là một tặng phẩm của đất trời. Dầu không biết ngày mai sẽ ra sao nhưng vẫn phải trân quý giây phút hiện tại để cám tạ ơn Trời đã ban cho chúng ta được đoàn viên hôm nay. Dẫu rằng có những lúc “Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời”, thế nhưngsau  những rủi ro, cùng cực, khổ đau, thao thức, ba đào... Trời vẫn cho chúng ta có ngày hôm nay để có thề sum vầy bên nhau.
Ngày xưa có người hỏi Socrates: “Ông là người có học vấn uyên thâm, ông có biết khoảng cách giữa trời và đất là bao nhiêu không?”
Socrates trả lời: “Khoảng 1 mét”.
Người đó không tin nói:“Thưa ông, ngoài trẻ sơ sinh ra, chúng ta ai cũng cao hơn 1m, nếu độ cao giữa trời và đất chỉ có 1m, thì chẳng phải chúng ta đã đâm vào bầu trời rồi hay sao?”
Socrates tiếp tục nói: “Đúng, ai mà chả cao hơn 1m, nếu muốn nổi bật giữa trời đất, thì phải biết cách cúi đầu”.
Hóa ra con người cần phải học cúi đầu. Cúi đầu để thấy mình không bằng ai. Cúi đầu để thấy con người mình thật hạn hẹp cần đến sự trợ giúp của Trời cao. Cúi đầu để thấy rằng mình cần sự trợ giúp của anh em. Cúi đầu để thấy mọi sự đều là ân ban của Trời mà biết sống cảm mến tri ân.
Phê-rô và các bạn chài năm xưa đã thấy quyền năng Chúa nhờ biết cúi đầu. Cúi đầu để vâng lời Thầy mà chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới. Họ đã được một mẻ cá quá lớn, lớn đến nỗi một thuyền không mang về hết mà phải nhờ đến các bạn đồng nghiệp.
Mẻ cá này cũng là hình ảnh tiên báo cho lời giảng thuyết đầu tiên của Phêrô sau ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống. Phêrô đã nhờ ơn Chúa thánh Thần mà mang về cho Giáo hội hơn 3000 người tin theo Chúa.
Các tông đồ cũng dựa vào sức mạnh của Chúa để ra đi loan báo tin mừng. Các ngài đa phần là dân chài nghèo hèn thế mà đã thay đổi cả thế giới. Văn hoá kytô giáo đã phủ khắp năm châu bốn biển không do tài trí của con người, mà do quyền năng Chúa thực hiện trên những con người vốn dĩ bất toàn vẫn làm nên những chuyện phi thường.
Cuộc đời luôn đưa đến biết bao khó khăn thử thách. Hãy tin tưởng phó thác vào Chúa. Hãy bước đi trong niềm tín thác nơi Chúa. Chính Chúa sẽ trợ giúp chúng ta. Chính Chúa sẽ dẫn chúng ta đến chỗ thành toàn. Nơi Thiên Chúa không gì mà Ngài không làm được. Ngài có đủ quyền năng để hoàn tất chương trình của chúng ta.
Ước gì mỗi người chúng ta luôn biết cậy dựa vào Chúa để can đảm ra đi loan báo tin mừng. Ước gì mỗi người chúng ta dầu trong hoàn cảnh nào, cũng không bỏ cuộc, nhưng luôn tin tưởng vào ơn trợ giúp của Chúa sẽ dẫn chúng ta đi qua những thăng trầm của cuộc đời. Cuộc đời luôn có những khó khăn. Dòng đời luôn có những bấp bênh nhưng chúng ta hãy tin tưởng, Chúa sẽ luôn kịp thời nâng đỡ và giải cứu chúng ta khỏi những nguy nan, bất trắc và hiểm nguy. Xin Chúa giúp chúng ta luôn biết chạy đến với Chúa và kêu cầu Chúa trong những lúc nguy nan. Amen.

 

TN5-C97: Chúa gọi - Ta đáp trả

(Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển)
 

Nếu mỗi một Chúa Nhật đều có một chủ đề để làm nổi bật lên ý nghĩa của Phụng Vụ được cử TN5-C97

Nếu mỗi một Chúa Nhật đều có một chủ đề để làm nổi bật lên ý nghĩa của Phụng Vụ được cử hành, thì Chúa Nhật hôm nay, chủ đề chính đó là nói về ơn gọi và sứ mạng loan báo Tin Mừng.
Tuy nhiên, để trở thành một ơn gọi, cần phải có tương quan hai chiều, đó là: Chúa gọi và lời đáp trả của mỗi người. Nhưng để một ơn gọi có giá trị trước mặt Chúa, con người cần phải có một sự cảm nghiệm sâu sắc về tình yêu giữa Thiên Chúa và bản thân.
Đây chính là mẫu số chung cho các ơn gọi mà Phụng Vụ hôm nay đề cấp đến.
1. Ơn gọi của Isaia và các Tông đồ
Trong bài đọc I, chúng ta thấy việc Chúa chọn và gọi tiên tri Isaia qua việc Người tỏ cho ông thấy vinh quang chói lòa trong đền thờ.
Trước cảnh huy hoàng và tráng lệ đó, ông nhận ra Thiên Chúa là Đấng vô cùng Thánh Thiện, toàn năng, trong khi ấy, Isaia là một người tội lỗi, bất xứng! Nhưng khi được Thiên Chúa thanh tẩy, khiến ông trở nên trong sạch..., rồi người gọi ông trở nên tiên tri cho Người, ông đã mau mắn đáp lại trong sự tin tưởng và đầy quyết tâm: “Có con đây, xin Chúa sai con đi” (Is 6,8).
Sang bài đọc II, thánh Phaolô trình thuật hành trình rao giảng của ngài bị nhiều người chống đối, chê bai đủ điều và cho rằng ngài không xứng đáng để trở thành Tông đồ. Phaolô không chối cãi, không đôi co hay tìm cách kháng chế, nhưng ngược lại, ngài đã luôn nhận mình là con người thấp hèn vì đã bắt bớ, hành hạ Giáo Hội một thời, hơn nữa lại được chọn và gọi sau hết so với các Tông đồ, nên bản thân chỉ như là đứa trẻ sinh non...
Nhưng nhờ ân sủng và tình thương của Thiên Chúa, nên ngài đã trở nên vị Tông đồ lừng danh về mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh.
Sang bài Tin Mừng, thánh sử Luca trình thuật việc Đức Giêsu gọi và chọn các môn đệ đầu tiên trong bối cảnh mẻ cá lạ nơi bờ biển.
Khởi đi từ việc Đức Giêsu mượn chiếc thuyền của Simon để làm chỗ đứng giảng dạy, rồi tiếp theo là lệnh truyền thả lưới bên phải mạn thuyền, và cuối cùng là một mẻ cá lạ!
Đứng trước những sự trùng khớp và nhiệm mầu như vậy, Simon đã sụp lạy dưới chân Đức Giêsu và thưa: “Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi”. Cả ông Giacôbê và Gioan cũng kinh ngạc như ông. Thấy vậy, Đức Giêsu đã phán bảo các ông: “Đừng sợ! từ nay con sẽ là kẻ chinh phục người ta”. Bấy giờ các ông đưa thuyền vào bờ, và đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Ngài.
2. Sứ điệp Lời Chúa
Qua các bài đọc hôm nay, chúng ta thấy sứ điệp Lời Chúa toát lên một điểm chung, đó là: Chúa gọi và chọn những người Chúa muốn. Mọi ơn gọi đều phát xuất từ Chúa do tình thương của Người. Điều quan trọng, con người phải ý thức rằng: mình chẳng là gì trước mặt Chúa, nhưng lại được Chúa yêu thương và tuyển chọn. Phần còn lại, đó là đương sự cảm nghiệm được tình thương của Chúa và mau mắn đáp lại là thôi.
Chúa không chọn ai khi người đó còn đang trong tình trạng kiêu ngạo, vì thế, Người chỉ gọi và chọn những ai có một tấm lòng khiêm nhường thẳm sâu và cảm nghiệm được tình yêu của Chúa trên cuộc đời mình.
Mặt khác, qua phép lạ mẻ cá lạ, Đức Giêsu mặc khải cho chúng ta thấy:
Trước quyền năng của Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được! Mẻ cá lạ đã minh chứng cho chúng ta thấy điều đó, đồng thời cũng cho thấy sự bất lực, giới hạn của con người, vì thế, con người có làm được việc gì là hoàn toàn dựa vào ơn Chúa.
Cá đầy thuyền là hình ảnh tiên báo về một Giáo Hội rộng khắp nơi nơi và sứ mạng loan báo Tin Mừng đến tận cùng trái đất của người môn đệ.
Sự dứt khoát từ bỏ mọi sự để đi theo Chúa của các môn đệ cho ta thấy: người môn đệ của Chúa, muốn theo Chúa thì phải dứt khoát từ bỏ những ràng buộc như tiền bạc, danh vọng, chức nghiệp và ý riêng để đi theo và thi hành ý muốn của Thiên Chúa.
Như vậy, Chúa chọn và gọi ai thì Người sẽ cho họ cảm nghiệm được Ngài là Đấng quyền năng, yêu thương và con người là bất xứng, để những người được gọi sẽ đi từ ngỡ ngàng đến vâng phục; từ vâng phục đến niềm tin và rồi ý thức mình chẳng là gì vì bất xứng, nên chỉ là dụng cụ Chúa dùng để ra đi thi hành sứ vụ của Người mà thôi!
3. Ơn gọi của chúng ta và lời đáp trả
Từ ơn gọi của các tiên tri, đến ơn gọi của các Tông đồ và cuối cùng là ơn gọi của mỗi người chúng ta.
Câu chuyện ơn gọi của ngôn sứ Isaia, Phaolô, Phêrô và các bạn trong các bài đọc hôm nay, cũng là mẫu số chung cho ơn gọi của mỗi người.
Ngày chúng ta được lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta được Chúa chọn để trở thành Kitô hữu, thành môn đệ của Ngài và nhất là trở nên chứng nhân của lòng thương xót mà chính mình đã cảm nghiệm.
Ơn gọi đó là ơn gọi phổ quát cho hết mọi người, vì thế, sứ mạng loan báo Tin mừng không chỉ dành riêng cho các linh mục hay tu sĩ, mà là cho hết thảy những ai đã trở thành Kitô hữu.
Nhiều khi chúng ta nghĩ rằng mình không xứng đáng để trở thành sứ giả của Chúa, hay nhiều khi đùn đẩy và coi như một gánh nặng, lại có khi thi hành nhưng kiêu ngạo và tự phụ...!
Tất cả những thái độ đó đều không phù hợp với chúng ta là những người tin và đi theo Chúa cũng như chung chia sứ mạng với Ngài.
Thái độ cần có đối với mỗi người, đó là: khiêm nhường, ý thức mình bất xứng nhưng được Chúa thương, sẵn sàng để Người biến đổi như tiên tri Isaia, Phaolô, Phêrô...
Thiết nghĩ, với ơn Chúa, chúng ta sẽ làm được tất cả. Archimède đã khẳng định: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng trái đất lên”.
Điểm tựa của chúng ta là chính Đức Giêsu, nếu chúng ta tựa vào Ngài, chúng ta sẽ làm được mọi chuyện. Chúng ta mặc lấy Ngài, chúng ta sẽ có sức hút lạ thường, chẳng khác gì các môn đệ bắt được một mẻ cá lạ!
Mong sao mỗi người chúng ta khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, đều ý thức được trách nhiệm, bổn phận cao quý của mình là trở nên sứ giả cho Thiên Chúa trong lòng xã hội hôm nay!
Ước gì mỗi người biết chu toàn trách vụ trong lòng mến, để nhờ sự quảng đại dấn thân của mỗi người, chúng ta sẽ làm cho nhiều người nhận biết Chúa và tin theo Ngài để được sự sống đời đời.
Lạy Chúa Giêsu, ngày nay vẫn còn quá nhiều người chưa tin hay không biết đến Chúa. Xin Chúa ban cho sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội được nhiều người quan tâm, quảng đại và dấn thân để ra đi loan báo Tin Mừng cứu rỗi cho anh chị em chưa biết đến Chúa. Amen.

 

TN5-C98: Ân huệ được gọi - Dã Quỳ

Trong xã hội hiện nay, dường như ai cũng có kinh nghiệm đi tìm việc làm. Để tìm được một công TN5-C98

Trong xã hội hiện nay, dường như ai cũng có kinh nghiệm đi tìm việc làm. Để tìm được một công việc hay một chỗ trong công ty, xí nghiệp tốt...quả là không dễ! Thường người ta phải chứng minh được là có khả năng, có kinh nghiệm lâu năm trong nghề và như thế mới có thể mở được những cánh cửa đang đóng kia, mới được tuyển nhận.
Với Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay ta nghe thì không như thế. Người đã chọn môn đệ mà không cần chứng nhận khả năng của họ. Chúa đã gọi Phêrô khi ông đang làm công việc chài lưới hằng ngày. Còn Tông đồ Phaolô được Chúa gọi lúc ông đang đi bách hại những Kitô hữu. Thiên Chúa luôn làm chúng ta ngạc nhiên bởi vì Người trao tặng cho mỗi chúng ta một ơn đặc biệt là xứng đáng được gọi. Chúng ta thường tự hỏi Chúa chờ đợi điều gì khi Người muốn chọn chúng ta cho sứ mệnh của Người? Chúng ta hay có thói quen so sánh với những người khác trong chức vụ nghề nghiệp để biết tài năng và ta nghĩ ngay đến địa vị xã hội của họ. Chúa Giêsu không theo cái lối suy luận mua bán này. Người gọi chúng ta với trái tim và xác tín rằng Người cần chúng ta cho sứ mệnh rao giảng Tin Mừng và cứu độ nhân loại.
- Chúa cần chúng ta cho sứ mệnh Rao Giảng Tin Mừng. Khi Chúa Giêsu đặt chân lên thuyền của Phêrô, Người đã nhìn thấy nơi ông một cộng tác viên đắc lực cho công cuộc rao giảng Tin Mừng "Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút...và từ trên thuyền, Người giảng dạy đám đông."(Lc 5,3) Đây là vùng sông nước mà Phêrô đã quen thuộc và hơn nữa ông là một người chài lưới đầy kinh nghiệm. Ông sẽ biết làm cho con thuyền vững vàng và lưới cá thành công. Thế nhưng, với sự hiện diện của Chúa Giêsu trên thuyền, Phêrô không còn là chủ, không phải là tay đánh bắt tài giỏi nữa. Sau lời Chúa mời gọi ra chỗ nước sâu thả lưới, Phêrô đã thú thực với Chúa "Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả."(Lc 5,5a) Có lẽ lúc này Phêrô và đồng bạn cũng ngạc nhiên hay mỉm cười trong lòng vì...Thầy Giêsu làm gì có kinh nghiệm gì về việc đánh cá. Nơi nào có cá nhiều, tay này đã rành rẽ. Chỗ nước sâu làm gì có cá mà lưới. Như vậy, Chúa đã yêu cầu những điều thật ngạc nhiên và không hợp lý. Dù thế, lòng chân chất của người thuyền chài và niềm hy vọng sẽ có mẻ cá mang về, Phêrô đã nhanh miệng "Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới."(Lc 5,5b) Vâng, bây giờ có Thầy trên thuyền, ra chỗ nước sâu cũng không sợ. Và Phêrô đã chèo thuyền theo sự hướng dẫn của Chúa.
Tiếp tục ra khơi thả lưới khi cả đêm đã vất vả mà không được gì. Đó là những điều mà đức tin đòi hỏi thực hiện. Công việc Rao Giảng Tin Mừng hay Truyền Giáo cũng thế. Hãy tin tưởng vào Chúa Giêsu. Đừng tự hào về tài năng hay tính toán của chính mình. Không dựa vào những phương tiện trần tục hay cậy sức bản thân. Ra chỗ nước sâu; rời những nơi gần bờ an toàn, tiện nghi, được bảo bọc... Người môn đệ Chúa Kitô cần dấn thân. Có Chúa và cùng với Chúa, lên đường đến những nơi xa xôi, gian khổ, những nơi anh chị em chưa biết Chúa và chưa được nghe Tin Mừng, họ đang rất cần chúng ta và Chúa cũng đang thật muốn chúng ta thi hành sứ mệnh. Và chỉ khi ta vâng theo Lời Chúa, kết quả sẽ thật mĩ mãn "Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá." (Lc 5,6)
- Chúa cần chúng ta cho sứ mệnh cứu độ nhân loại. Tự nhiên, chúng ta thường run sợ trước những việc kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng. Phêrô cũng thế, ông đã kinh hãi khi thấy mẻ cá lạ lùng và nhận ra Thầy Giêsu chính là Thiên Chúa, Đấng có thể làm được mọi sự tốt lành. Nhưng Chúa đã luôn giữ cho các ông được bảo đảm và bình an: "Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người cứu sống người ta."(Lc 5, 10b) Đừng sợ! Đây như là điệp khúc của Chúa Giêsu. Người thường trấn an và động viên môn đệ hãy tin vào Ngài, đừng sợ hãi. Chúa đã thay đổi số phận của Phêrô. Từ nay ông mang một ơn gọi thần linh, một sứ mệnh cứu độ. Biển trần gian rộng lớn, Chúa cần những ngư phủ nhiệt tâm và Người đã gọi Phêrô, đồng bạn và anh em ông: "Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá."(Mt 4,19)
Trong sứ mệnh cứu độ nhân loại, Chúa đã chọn gọi các Tông đồ và môn đệ cùng Chúa đem nhiều người về với Giáo Hội, trở nên con cái Chúa và được hưởng Ơn Cứu Độ của Chúa. Tiếp bước các Tông Đồ, mỗi người Kitô hữu cũng được Chúa gọi để loan báo Tin Mừng và đem nhiều tâm hồn về với Chúa. Loan Tin Mừng Cứu Độ cho muôn dân là trách nhiệm và sứ mệnh của Giáo Hội, của từng Kitô hữu. Chúng ta là những cánh tay nối dài của Chúa. Hãy hăng say thả lưới trong mọi hoàn cảnh sống của ta nơi gia đình, làng xóm; nơi công sở, chỗ làm việc; trong cộng đoàn hay ngoài xã hội. Hãy nhiệt tình đáp lại tiếng Chúa mời gọi và vâng lời Chúa để thực hiện sứ mệnh truyền giáo.
Ước gì mỗi Kitô hữu Việt nam hôm nay cũng luôn can đảm thưa lên như Isaia "Này con đây, xin hãy sai con đi"(Is 6, 8c) và vui mừng với ân huệ được gọi cách nhưng không.
Nguyện xin Chúa Giêsu luôn hướng dẫn, đồng hành với chúng con. Và xin ban cho chúng con ơn kiên trì, khiêm tốn, trung thành và không bao giờ bỏ cuộc vì chúng con luôn có Chúa cùng sống, cùng làm trong chúng con và qua chúng con. Amen.

 

TN5-C99: Vâng lời Thầy, con rao giảng - Huệ Minh

Trong Tân Ước, biển là biểu tượng của hoán cải, của trở lại, của cải tà qui chính. Trên biển, không TN5-C99

Trong Tân Ước, biển là biểu tượng của hoán cải, của trở lại, của cải tà qui chính. Trên biển, không có gì là bình thường cả mà luôn luôn là những cái gì bất ngờ, kỳ diệu hoặc rất chi là khó khăn nguy hiểm. Một vài phép lạ rất cảm động, có khi rất bi hùng đã được Chúa Giêsu làm trên biển Galilê.
Thánh Máccô thuật lại chuyện Chúa Giêsu khiến sóng gió, bão biển đang quay cuồng dữ tợn phải yên lặng (Mc 4, 35-39). Thánh nhân cũng diễn tả việc Chúa Giêsu đi trên mặt nước của biển này để chứng tỏ cho các môn đệ biết Người là ai. "...Chính Ta đây..." (Mc 6, 45-50)
Trong Tin Mừng Gioan, ta thấy quang cảnh biến chuyển tâm thức của Thánh Phêrô khi ông tuyên xưng niềm tin của ông với Chúa sau bữa ăn sáng trên bờ hồ Tiberias và Chúa đã đặt niềm tin của Người nơi ông là kẻ tội lỗi có lòng sám hối. (Ga. đoạn 21). Ta thấy lúc này Chúa cũng làm một phép lạ phi thường trước mặt rất nhiểu môn đệ.
Chúa Giêsu đang ở bờ biển hồ Giênêzareth và giảng dạy cho đoàn rất đông dân chúng. Vì dân chúng quá đông nên người ta không thể nhìn thấy và nghe được lời Ngài giảng. Và vì vậy, Chúa Giêsu bước xuống thuyền của ông Simon và xin ông chèo thuyền xa bờ một chút để mọi người có thể nhìn thấy và nghe được lời Ngài nói….
Chúa Giêsu là Đối Tượng mà mọi tâm hồn hướng tới, Ngài là Trung Tâm Điểm của Tin Mừng! Rao giảng Tin Mừng, là rao giảng Danh Thánh Chúa Giêsu, làm cho Chúa Giêsu lớn lên trong các linh hồn, để Ngài trở thành Trung Tâm của mọi Linh hồn tôn thờ và yêu mến.
Chúa Giêsu chắc chắn có giọng nói âm vang mạnh mẽ để đông đảo quần chúng có thể nghe được, hơn thế nữa, Thần Lực của Ngài có thể tác động, có thể len lỏi vào tận đáy thẳm của linh hồn để ngay cả“Kẻ chết cũng có thể nghe được”, những kẻ chết trong linh hồn, hay thực sự đã chết trong thân xác có thể nghe được!
Giảng vừa xong, Chúa Giêsu bảo ông Simon hãy chèo thuyền ra chỗ nước sâu để đánh cá. (Lc 5, 4). Trong đời sống thường nhật cũng như trong lời khẩn nguyện của ta, Chúa Giêsu luôn bên cạnh ta nếu ta Vâng nghe Lời Ngài. Và khi Chúa bên cạnh, ở trong thuyền đời chúng ta, thì dù ở trên cạn hay giữa đại dương… những phép lạ diệu kỳ chắc chắn sẽ xảy đến để làm cho cuộc sống mỗi người chúng ta trở nên phong nhiêu, hạnh phúc khôn tả! Ngay cả khi ta đối diện với bao vất vả của kế sinh nhau, làm việc, thì Ngài vẫn muốn ở bên cạnh ta!
Thánh Phêrô và các bạn đồng nghiệp là những người chuyên nghề đánh bắt cá đã nhiều năm, thế mà sau một đêm “Cực nhọc, vất vả mà chẳng bắt được một con cá nào (Lc 5, 4.5)… Phải nói là quá thất vọng vì công việc vất vả mà không đem lại chút thành quả nào. Đứng trước cảnh ngộ khá bi đát hay coi như hoàn toàn thất bại như vậy, thì giờ đây, các môn đệ đang có Chúa Giêsu bên cạnh, Ngài đang ở ngay trong khoang thuyền của họ, thì cuộc diện sẽ biến đổi một cách hoàn toàn nhất, thuận tiện nhất!...
Ta cứ làm mọi việc hết khả năng riêng mình, còn lại, ta hãy phó thác cho Chúa Giêsu, vâng lời Ngài, mời Ngài đến với ta và kết quả sẽ thập phần mỹ mãn! Những lúc quá thất bại, chán nản, và mệt nhoài… ta hãy cậy dựa nơi Chúa Giêsu, hãy trình bày những khó khăn của ta cho Ngài!: “Chúng con đã cực nhọc vất vả mà không đạt thành quả nào!”
Thường tình, khi Chúa bảo các ông thả lưới bắt cá, các ông sẽ tự nghĩ: Chúng tôi là dân chuyên nghiệp đã nhiều năm, còn Ngài đâu có bao giờ đánh bắt cá, nghe theo sẽ uổng công thôi!… Thế nhưng, vì tuyệt đối tin Chúa Giêsu, các ông đã thực hành theo lời Thầy! Ông Simon thưa: “Vâng lời Thầy, con xin thả lưới”. và vì sự tin tưởng, vâng lời ấy, phép lạ kỳ diệu đã xảy ra: “Các ông bắt được rất nhiều cá đến nỗi lưới gần bị rách”, họ phải gọi các bạn đến giúp “Cả 2 thuyền chứa đầy cá đến nỗi gần bị chìm” (Lc 5, 7).
Phép lạ này chứng tỏ Chúa Giêsu là Chúa của biển cả cũng như trên đất liền, và mọi phong nhiêu phú túc đều phát xuất từ Thiên Chúa, là nguồn mọi thiện hảo. Ngay lúc đó, nhiều người mới nghe Chúa Giêsu giảng vẫn còn ở đó nên được chứng kiến phép lạ mẻ cá lạ lung Chúa làm, nên đã tin kính Chúa. Đây là phần thưởng Chúa ban cho những ai làm việc dưới sự hướng dẫn của Chúa Giêsu.
Maccô (Mc 1,16-20), Matthêu (Mt 4, 18-22) kể lại cảnh các ngư phủ bỏ lưới, bỏ thuyền, bỏ cả cha mẹ để theo chúa Giêsu. Luca thì nói rõ họ bỏ lại tất cả mọi sự (Lc 5, 28; 12, 33; 14, 33; 18, 22), có nghĩa là hoàn toàn thoát ly khỏi mọi của cải, tư hữu vật chất. Làm môn đệ đòi hỏi phải có ơn gọi, một ơn gọi đầy quyền lực luôn luôn thôi thúc mình đi theo cuộc sống mới, xa cách khỏi những gì gọi là tầm thường của công việc hay tập tục đều đặn buồn tẻ hàng ngày, bỏ đi tất cả những gì là chán nản, thối chí, thất bại và vô vọng để nhắm vào một chủ đích, một cứu cánh mới.
Chính Chúa Giêsu lúc đó đã kêu gọi các ngư phủ cho họ trở nên những kẻ đánh cá người, để họ tham gia vào những cuộc tranh đấu, vật lộn với sóng nước biển cả. Biển đây chính là suối nguồn cuộc sống, là thức ăn của họ nhưng cũng là một mầu nhiệm, một đe dọa, một nguy hiểm và xáo trộn; biển này có thể lấy đi mạng sống của họ một cách dễ dàng, nhưng cũng nuôi dưỡng họ một cách phong phú và làm cho cuộc sống của họ hưng phấn.
Thiên Chúa mong muốn cho tất cả các con của Ngài góp phần mở rộng Vương Quốc Yêu Thương của Người bằng tích cực ra đi loan báo Tin Mừng Cứu Độ. Đây là một vinh dự lớn lao, tuy nhiên không ai xứng đáng lãnh nhận trọng trách cao cả đó! Với thân phận con người, tất cả chúng ta đều cảm nhận mình bất xứng. Và như vậy, ta lại xin Chúa thêm ơn đức tin để ta hoàn thành sứ mạng Chúa trao phó.

 

TN5-C100: MỘT KHỞI ĐẦU TỐT ĐẸP

Isaia, Phaolô và Phêrô là trung tâm của các Bài đọc hôm nay. Cả ba người đã làm những điều vĩ TN5-C100

Isaia, Phaolô và Phêrô là trung tâm của các Bài đọc hôm nay. Cả ba người đã làm những điều vĩ đại cho Thiên Chúa. Tuy nhiên họ đều có mặc cảm tự ti. Họ có một quan điểm thấp kém về mình. Họ không đặt mình ra trước, nhưng được Thiên Chúa kêu gọi. Họ chấp nhận ơn gọi ấy một cách miễn cưỡng, nghĩ rằng họ không xứng đáng với ơn gọi.
Isaia nói: “Tôi là một người có đôi môi ô uế”. Phaolô nói: “Tôi là người nhỏ nhất trong các tông đồ. Tôi không xứng đáng mang danh tông đồ”. Và Phêrô tuyên bố: “Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”. Đó không phải là một sự khiêm nhường giả tạo của ông mà là một chân lý rõ ràng.
Mỗi người bắt đầu bằng sự nhận ra sự bất xứng và không thích hợp của mình. Theo một quan điểm tâm linh, sự khởi đầu như thế là lý tưởng. Người nào đặt mình ra trước xem ra làm hại hơn có lợi. Người ấy chỉ cậy dựa sức mình là cát mà thôi và ngôi nhà tâm linh xây trên cát chắc chắn sẽ sụp đổ.
Mặt khác, khi chúng ta gặp một người lo sợ, miễn cưỡng ngần ngại, chúng ta nhận thấy người ấy đáng tin hơn, và nhân đạo hơn. Yếu tố miễn cưỡng này là cốt lõi của vấn đề, bởi lẽ nếu một thánh nhân hoặc tử đạo hăm hở đi tìm cái chết hoặc cực hình xem ra không chân thật.
Ở đây có một nghịch lý to lớn. Phaolô nói: “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,10). Nghĩa là khi ông nhận ra sự yếu đuối của mình và chạy đến Thiên Chúa, quyền năng của Thiên Chúa trở nên có hiệu lực nơi ông.
Khi chúng ta biết những yếu đuối của chúng ta, Thiên Chúa có thể làm chúng ta mạnh mẽ. Khi chúng ta biết sự trống rỗng của chúng ta, Thiên Chúa có thể đổ đầy chúng ta. Khi chúng ta biết sự nghèo nàn của chúng ta. Lúc đó, chúng ta thích hợp để làm công việc của Người, và Người hoàn thành trong chúng ta những việc mà chúng ta nghĩ mình không làm được.
Sự khiêm nhường là một khởi điểm. Điều đó không có nghĩa là chúng ta chỉ yếu đuối, vị kỷ và hèn nhát. Không có ân sủng, chúng ta không thể cứu lấy mình, càng không thể cứu người khác.
Tuy nhiên, người ta có thể dùng tội lỗi và yếu đuối của mình như một lá chắn. Isaia xin Thiên Chúa chọn người khác, người nào có cái miệng thanh sạch. Phêrô xin Đức Kitô tránh xa ông vì ông là kẻ tội lỗi. Khi chúng ta làm điều đó, chúng ta nhượng bộ sự yếu đuối của chúng ta. Chúng ta dùng sự yếu đuối của mình như một mánh khoé thách đố làm điều thiện hảo.
Theo Phêrô, Đức Giêsu là Đấng Thánh phải tránh xa ông là kẻ tội lỗi. Nhưng Đức Giêsu khước từ làm như thế. Người đã đến vì những người tội lỗi. Bằng cách ấy, Người đã thay đổi cách hiểu của con người về Thiên Chúa. Thiên Chúa không phải là Đấng xa lánh tội nhân, nhưng là một Thiên Chúa muốn họ được cứu, và đem đến cho họ một sự khởi đầu mới mẻ.
Isaia, Phaolô và Phêrô sau cùng đã chấp nhận lời mời gọi của Thiên Chúa, và cả ba đã làm một công việc sáng chói. Đây là một nghịch lý –sức mạnh vươn lên từ sự yếu đuối. Khi chúng ta đáp lại lời kêu gọi của Thiên Chúa, Người sẽ ban cho chúng ta sức mạnh để chúng ta có thể làm những điều mà chúng ta không bao giờ nghĩ mình làm được.
Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta sự khiêm nhường để hiểu biết những yếu đuối của chúng ta, và cho chúng ta sức mạnh vượt lên yếu đuối. Lúc đó, chúng ta sẽ có được niềm vui để khám phá ra rằng chính khi chúng ta yếu là lúc chúng ta mạnh, bởi vì quyền năng của Chúa trở nên có hiệu lực đối với chúng ta.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây