Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 TN-C Bài 1-50

Thứ năm - 14/02/2019 08:00
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 TN-C Bài 1-50: Tám mối phúc thật
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 TN-C Bài 1-50: Tám mối phúc thật
Suy Niệm TN 6-C Phần I Bài 1-50: Tám mối phúc thật
TN6-C1. TINH THẦN CỦA CHÚA.. 2
TN6-C2. CSTM/62- PHÚC HỌA.. 4
TN6-C3. HRK/57- CHỨNG NHÂN.. 5
TN6-C4. HRK/270- ĐỨC TIN.. 7
TN6-C5. NTGT/65- HẠNH PHÚC.. 9
TN6-C6. SCĐ/488- HẠNH PHÚC.. 11
TN6-C7. SCĐ/493- NGHỊCH LÝ.. 13
TN6-C8. PV/396- NGƯỜI GIÀU  CŨNG KHỔ.. 14
TN6-C9. PV/402- TIN TƯỞNG VÀO CHÚA.. 15
TN6-C10. Phúc Cho Anh Em.. 16
TN6-C11. Phúc Cho Anh Em Là Những Người Nghèo. 19
TN6-C12. CHI TIẾT HAY - Nhóm Đồng Hành. 21
TN6-C13. Những mối phúc và những mối họa đích thực - JKN.. 22
TN6-C14. Phúc cho kẻ nghèo khó - Lm. Đan Vinh. 25
TN6-C15. PHÚC HOẠ THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ.. 28
TN6-C16. Những Anawim của Thiên Chúa - Lm Phạm Ngọc Ngôn. 29
TN6-C17. Hiến chương Nước Trời - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi 31
TN6-C18. Chúa hứa ban hạnh phúc - Lm. Trần Bình Trọng. 33
TN6-C19. Phúc Cho Người Nghèo Khó. 34
TN6-C20. SUY TƯ - Giêrônimô Nguyễn văn Nội 36
TN6-C21. NGỒI XE LĂN LO LỚP TÌNH THƯƠNG.. 39
TN6-C22. PHÚC CHO BẠN VÌ ĐÃ TIN.. 42
TN6-C23. Phúc thật tám mối - Tâm hồn cởi mở - Lm. Thu Băng, CMC.. 46
TN6-C24. Thả mồi bắt bóng - Lm. Bùi Mạnh Tín. 48
TN6-C25. Hạnh phúc chân thực - Lm. Minh Vận, CMC.. 50
TN6-C26. Kho tàng Thiên quốc - Br. B.M. Thiện Mỹ, CMC.. 53
TN6-C27.  Đọc, Suy niệm Lời Chúa và Cầu nguyện. 56
TN6-C28. Các mối phúc, lời hứa thành hiện thực - Martin Lê Hoàng Vũ. 65
TN6-C29. Điều thế giới đang cần - Phaolô Ngô Suốt 68
TN6-C30. Tìm kiếm hạnh phúc thật - Pt. Ịịnh Nguyễn. 69
TN6-C31 Phúc cho kẻ nghèo khó - Lm. Đan Vinh. 72
TN6-C32 Phúc hoạ theo quan điểm của Chúa Giêsu Kitô. 79
TN6-C33. Lựa chọn đúng tương lai của mình. 83
TN6-C34. Phước và Họa, bài giảng đầu tiên của Đức Giêsu. 87
TN6-C35. Ngài giảng như có một quyền uy sức mạnh. 90
TN6-C36. DIỄN TỪ KHAI MẠC: CHÚC PHÚC VÀ CHÚC DỮ.. 91
TN6-C37. Chúa nhựt 6. 101
TN6-C38. CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN.. 104
TN6-C39. MỘT TRÁI TIM RỘNG MỞ.. 106
TN6-C40. THIÊN CHÚA HAY NGƯỜI   ĐỜI ?. 107
TN6-C41.  Gợi ý bài giảng của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 112
TN6-C42. Giúp đỡ. 114
TN6-C43. Nghèo vì Nước Trời - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt 115
TN6-C44. Hạnh phúc đích thật - Achille Degeest 117
TN6-C45. Thiên Chúa muốn chúng ta được hạnh phúc. 118
TN6-C46. Ai là người hạnh phúc. 120
TN6-C47. Thế giới của các mối phúc - McCarthy. 123
TN6-C48. Chú giải của William Barclay. 125
TN6-C49. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin. 126
TN6-C50. Chú giải của Noel Quesson. 128

 

TN6-C1. TINH THẦN CỦA CHÚA

Ngày kia, các nhà truyền giáo đến hỏi ý kiến ông Gandhi xem phải làm gì để những người theo: TN6-C1

Ngày kia, các nhà truyền giáo đến hỏi ý kiến ông Gandhi xem phải làm gì để những người theo Ấn Độ giáo có thể chấp nhận bài giảng trên núi của Chúa Giêsu về tám mối phúc thật. Ông Gandhi đã trả lời :
- Các ông hãy suy nghĩ về bí quyết của những bông hồng. Mọi người đều yêu thích chúng, bởi vì ngoài vẻ đẹp và màu sắc tươi thắm, chúng còn tỏa lan một mùi hương thoang thoảng và tuyệt vời. Vậy các ông cũng hãy tỏa ngát hương thơm.
Lời thách đố  ông Gandhi đặt ra cho các nhà truyền giáo, cũng là lời thách đố Chúa Giêsu muốn đặt ra cho tất cả các môn đệ của Ngài, cũng như cho tất cả những người muốn tin theo Ngài, khi Ngài tuyên bố những tư tưởng mới, làm đảo lộn trật tự và quan niệm của mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc  :
- Phúc cho các ngươi là những kẻ nghèo khó…Phúc cho các ngươi là những kẻ đói khát…Phúc cho các ngươi là những kẻ khóc lóc…Phúc cho các ngươi là những kẻ bị thế gian ghét bỏ…
Trong cuộc sống hiện nay, thiên hạ thường ca tụng và chọn làm thần tượng của mình những người giàu sang và quyềm thế. Họ có thể là những chính trị gia đầy quyền lực, đã thành công trong việc điều hành đất nước. Họ có thể là những tay tỷ phú đã thành công trong việc buôn bán. Họ có thể là những nữ tài tử, những ca sĩ đã thành công trong lãnh vực nghệ thuật và đã bước lên đàidanh vọng. Họ có thể là những lực sĩ, những cầu thủ, những vận động viên nhà nghề đã thành công trong phạm vi thể thao và đã từng đoạt được những chiếc huy chương vàng tại các giải quốc tế…Tất cả những người này đều hãnh diện và thỏa mãn về những thành tích cũng như về những gì đã đưa họ tới đỉnh vinh quang.
Tuy nhiên, có một người đã lên tiếng, đã đi ngược lại với những thành công rực rỡ của họ. Người đó chính là Đức Kitô khi Ngài công bố bài giảng trên núi về tám mối phúc thật mà chúng ta vốn gọi đó là bản hiến chương Nước Trời.
So sánh những gì Chúng truyền dạy với những gì thế gian theo đuổi  hay nói cách khác, so sánh tinh thần của Chúa với tinh thần của thế gian chúng ta thấy chúng hoàn toàn khác biệt nhau như lửa và nước, như ánh sáng và bóng tối…để rồi cuối cùng đã dẫn tới những hậu quả cũng hoàn toàn khác biệt : một bên là hạnh phúc đời đời còn một bên là khổ đau luôn mãi trong cuộc sống bên kia.
Để trở thành người môn đệ của Chúa, chúng ta phải bước đi trên con đường Ngài đã chỉ cho. Để được thừa hưởng niềm hạnh phúc vĩnh cửu, chúng ta phải tuân giữ những điều Chúa đã truyền dạy. Vì thế, điều quan trọng đối với chúng ta trong lúc này là phải làm thế nào để biến những lời chúc phúc của Chúa trờ thành sự thật.
Đúng thế, trước lời thách đố của ông Gandhi, các nhà truyền giáo đã làm xuất phát tại Ấn Độ một phong trào dấn thân để phục vụ. Và đối tường được phục vụ là  những trẻ em mồ côi, những người bị xã hội ruồng bỏ, những người mắc phải những chứng bệnh nan y và truyền nhiễm, những người đang trong cơn hấp hối…Tất cả đều được chăm sóc, nuôi dưỡng và nhất là được trọng kính và yêu thương bởi những bàn tay dịu dàng, chẳng hạn như của các nữ tu Thừa Sai Bác Ái, do Mẹ Têrêsa sáng lập, người mà vừa mới được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc chân phước vào sáng Chúa nhật ngày 19 tháng 10 năm 2003.
Dòng Thừa Sai Bác Ái cùng với những hội đoàn khác và những người thiện chí đang cố gắng xoa dịu những nỗi khổ đau của người dân Ấn Độ, cũng như đấu tranh cho quyền lợi của trẻ em, phụ nữ và những kẻ thấp cổ bé miệng.
Hãy cố gắng tỏa ngát hương thơm qua những hành động bác ái và yêu thương, để nhờ đó góp phần vào việc làm cho những lời chúc phúc của Chúa được trở nên sự thật ngay trong cuộc sống hôm nay.

 

TN6-C2. CSTM/62- PHÚC HỌA

Đoạn Tin Mừng là phần mở đầu một bài giảng rất quan trọng của Chúa Giêsu, bài giảng đầu tiên: TN6-C2

Đoạn Tin Mừng là phần mở đầu một bài giảng rất quan trọng của Chúa Giêsu, bài giảng đầu tiên, bài giảng khai mạc chương trình truyền giảng của Chúa. Chúng ta thấy bốn lần Chúa nói “Phúc cho” và bốn lần Chúa nói “Khốn cho”, nên thường được gọi là bốn mối phúc và bốn mối họa, đối chiếu nhau gần như hoàn toàn : nghèo khó đối lại với giàu có, đói khát đối lại với no đầy, khóc lóc đối lại với vui cười, bị ghét bỏ đối lại với được ca tụng.
Chúng ta thấy ba mối phúc đầu và ba mối họa đầu đi với nhau, nghĩa là nghèo, đói và khóc lóc là bộ ba không thể tách rời. Đối lại, giàu, no và cười là bộ ba ngược lại. Bởi vì đói và khóc là hậu quả của nghèo, là biểu hiệu cụ thể nhất của cái nghèo. Trái lại, no và cười là biểu hiệu của sự giàu có. Chúng ta thấy hai hình ảnh nổi bật lên trong một thế tương phản rõ rệt : người nghèo, đói và khóc – người giàu, no và cười. Còn mối phúc thứ tư là những người bị ghét bỏ, loại trừ và bách hại vì Chúa, là những môn đệ của Chúa, họ chung số phận với các ngôn sứ. Ngược lại, mối họa thứ tư là những người được thế gian trọng vọng, là giới kinh sư, Pharisêu. Họ giống như những ngôn sứ giả trong lịch sử dân Chúa.
Qui chiếu lại như thế chúng ta thấy đoạn Tin Mừng này chỉ nêu lên hai đối tượng của phúc và hai đối tượng của họa : người nghèo và người bị ghét bỏ vì Chúa, đó là đối tượng của phúc. Người giàu và người được thế gian ca tụng, đó là đối tượng của họa. Giàu và nghèo, đó là những đề tài lớn, muốn hiểu được nội dung của phúc và họa, về người giàu và người nghèo, chúng ta phải tìm hiểu thật nhiều và thật sâu sát, ở đây chỉ xin gợi ý một vài điều thôi.
Giàu và nghèo, phúc ở đâu và họa ở đâu ? Trước hết, chúng ta phải xác định cho rõ ràng : đừng hiểu rằng giàu có ở đời này là không được hạnh phúc ở đời sau, và ngược lại, nghèo khó ở đời này tất nhiên được hạnh phúc đời sau. Nếu như vậy thì chúng ta không được giàu có, không nên giàu có, vì giàu có là một điều xấu, làm chúng ta không được hạnh phúc đời sau. Trái lại, chúng ta hãy chịu nghèo ở đời này, hãy sẵn sàng chịu khổ, để đời sau được hạnh phúc. Không phải như vậy, chúng ta phải hiểu rằng : giàu có cũng là một cái phúc, nếu đó là thành quả do chúng ta cố gắng chuyên cần mà xây dựng được, tức là do công sức lao động mà chúng ta đã tạo được một cách chân chính. Đối lại, nghèo khó tự nó chẳng bao giờ là cái phúc cả. Cái phúc của người nghèo không phải là chính sự nghèo, nhưng là tinh thần của họ. Họ có một tấm lòng phó thác, không phàn nàn, không kêu trách, không bất mãn.
Như vậy, cái họa của người giàu là khi họ tự mãn, tự kiêu, tự đắc về tài sức của mình mà quên mất Thiên Chúa, là Đấng đã ban cho họ được giàu có. Hoặc cái họa cho người giàu là họ ích kỷ, keo kiệt, không biết dùng của cải chia sẻ cho người nghèo hay không biết dùng sự giàu có của mình mà mua sắm của cải nước trời. Cũng thế, cái họa của người nghèo là nghèo tiền, nghèo của nhưng không nghèo dục vọng, không nghèo tham sân si, thì đó lại là thứ giàu có giả hiệu… họ không được gì ở đời này mà cũng chẳng được gì ở đời sau.
Cũng thế, nếu chúng ta may mắn có tiền có của, giàu có hơn người, chúng ta phải biết sử dụng cho nên cái giàu của mình. Phải biết cảm tạ Chúa, phải biết chia sẻ cho người túng thiếu, phải biết đóng góp vào những việc chung, tức là giàu của và cũng giàu lòng nữa, chứ đừng giàu của mà nghèo lòng, đó là nguy cơ mất hạnh phúc nước trời. Ngược lại, nếu chúng ta nghèo khó, chúng ta cũng phải biết lợi dụng kiếp nghèo để leo về trời. Đừng vì nghèo mà ghen tương, đố kỵ, tham lam. Và dù nghèo cũng không bao giờ lỗi đức công bằng… đó là cơ may giúp chúng ta đạt hạnh phúc nước trời.
Chúng ta hãy nhớ : Phúc hay họa cho người giàu cũng như người nghèo, không phải là chính sự giàu có hay nghèo khổ của họ, nhưng là tinh thần của họ biết đánh giá đúng và hành động đúng với cái giàu hay cái nghèo của mình. Câu chuyện sau đây minh họa để chúng ta hiểu thêm điều đó. Linh mục Hattinggơ, một hôm đi dạo trên một cánh đồng, ngài gặp một em bé đi học. Ngài vừa đi với em vừa đặt nhiều câu hỏi để xem em có biết gì về giáo lý không. Ngài hỏi : “Những người giàu có được vào nước trời không ?”. Em bé trả lời : “Được, nếu họ biết giúp đỡ những người nghèo”. Ngài lại hỏi : “Vậy những người nghèo có được vào nước trời không ?”. Em bé trả lời : “Được, nếu họ biết nhẫn nại chịu đựng”. Cha Hattinggơ thích nhắc lại những câu trả lời của em bé ấy, và ngài thêm rằng : “Những lời đó chứa đựng một triết lý, triết lý của Tin Mừng Phúc âm”.
Chúng ta hãy nhớ : đời này được nối tiếp bằng đời sau, và chỉ có một con đường duy nhất cho mỗi người : người giàu thì đi theo con đường của mình, người nghèo cũng đi theo con đường của mình. Cả hai cùng phải đi, cùng phải biết dùng cái giàu, cái nghèo của mình để đạt được hạnh phúc nước trời. Xin Chúa cho tất cả chúng ta đều hiểu rõ lời Chúa dạy để rồi dù giàu hay nghèo tất cả chúng ta cùng gặp nhau trong nước trời.

 

TN6-C3. HRK/57- CHỨNG NHÂN

Phúc âm Chúa nhật VI Mùa thường năm C nhắc lại cho chúng ta nội dung giáo lý của Chúa: TN6-C3

Phúc âm Chúa nhật VI Mùa thường năm C nhắc lại cho chúng ta nội dung giáo lý của Chúa Giêsu là giáo huấn trường tồn trong Giáo Hội.
Chúa Giêsu bấy giờ ở trên núi xuống, Người vừa qua một đêm cầu nguyện với Thiên Chúa Cha, đến sáng ngày Ngài đã gọi mười hai môn đệ lại và đặt họ làm tông đồ. Bấy giờ Người xuống khỏi núi, không những có đoàn mười hai và nhiều môn đệ khác đi theo mà còn có rất đông dân chúng đang đứng chờ ở một chỗ đất rộng. Họ từ khắp nơi kéo đến như muốn được chia sẻ những gì mà Chúa Giêsu đã ban cho các tông đồ của Người khi ở trên núi.
Quả vậy, thánh Matthêu nói rằng, Chúa Giêsu đã giảng dạy về “Tám mối phúc thật” khi Ngài ở trên núi, và bài giảng đó được mệnh danh là bài giảng trên núi, kê khai tám điều phúc hứa cho những người nghe Lời Chúa nên được gọi là bài giảng “Tám mối phúc thật”.
Ở đây, nơi Phúc âm thánh Luca thì chúng ta chỉ thấy có bốn điều phúc và thấy Chúa Giêsu đã tuyên bố những điều này ở một nơi đất bằng và rộng. Chắc chắn không phải Luca đã xén bớt bài giảng của Chúa Giêsu khiến “Tám mối phúc thật” chỉ còn có bốn. Chúng ta phải nói rằng, cả thánh Luca và thánh Matthêu đều đã ghi lại toàn bộ bài giảng của Chúa qua trung gian một bản văn đã có trước các ngài. Bản văn này ghi bốn điều phúc cho kẻ nghèo khổ : kẻ nghèo, kẻ khổ, kẻ đói và kẻ bắt bớ vì đạo. Matthêu và Luca cũng chép lại cả bốn nhưng cả hai đều quảng diễn thêm. Matthêu thì phân bốn thành tám, còn Luca thì nhân hai với bốn, tức là dùng thêm hình thức tiêu cực để củng cố cho hình thức tích cực, nghĩa là sau khi nói đến bốn điều phúc, thánh sử Luca nói đến bốn điều vô phúc cho những kẻ mâu thuẫn với bốn hạng người được phúc ở trên. Bốn điều phúc được dành cho bốn hạng người : nghèo, đói, khóc lóc và bị ghét bỏ, bốn điều vô phúc thì lại đe dọa những kẻ : giàu, no, cười cợt và được tâng bốc.
Thánh sử Luca tỏ ra trung thực với truyền thống của các tiên tri trong Cựu ước, vì các ngài luôn luôn loan báo những kẻ nghèo khó sẽ được rao giảng Tin Mừng. Nay Chúa Giêsu mang Tin Mừng đến, những người có phúc nhận lãnh chính là những thành phần khó nghèo trong xã hội. Chính Người cũng đã sinh ra giữa đám người này, họ là những người đầu tiên được loan báo ơn cứu độ khi sứ thần hiện ra với các mục tử trong đêm Giáng sinh. Nhiều lần Chúa khẳng định Tin Mừng và của cải không thể đi với nhau, vì nhất thiết hoặc sẽ mê của mà bỏ Chúa, hoặc ngược lại người ta sẽ đi theo Chúa mà bỏ hết mọi sự.
Có thể nói ba mối phúc đầu làm thành một bộ và chủ yếu nhắm tới hạng người khổ sở trong xã hội mà Kinh Thánh gọi chung là những người nghèo khó. Họ sẽ được rao giảng Tin Mừng ở đời này và sẽ được bù lại ở đời sau. Nhưng khi lãnh nhận Tin Mừng họ phải cẩn thận, nếu họ bị ghét bỏ bởi danh Chúa thì họ có phúc vì họ sẽ giống các tiên tri thật, còn nếu họ được khen lao thì họ sẽ như các tiên tri giả. Người ta không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền của một trật được, thế nên phúc cho người nghèo khó vì Nước Thiên Chúa là của họ.
Đời sống Kitô hiện nay của chúng ta đang thể hiện những lời thánh Luca đã viết và đã được sự khôn ngoan của các tiên tri ngày xưa báo trước. Về mặt xã hội, chúng ta là những thành phần khó nghèo và đang phải phấn đấu nhiều, nhưng hiện nay nhờ vào mầu nhiệm Chúa Giêsu Phục sinh không những chúng ta được an ủi vì đang được ở trong Nước Trời. Nhưng hơn nữa chúng ta còn nắm giữ niềm tin về hạnh phúc bất diệt sau này khi những kẻ chết trong Chúa Kitô sẽ sống lại cho sự sống muôn đời. Đó là nền tảng của đức tin chúng ta, đó là nền tảng của những “Mối phúc thật” mà chúng ta tuân giữ trong cuộc sống hằng ngày.

 

TN6-C4. HRK/270- ĐỨC TIN

Phụng vụ lời Chúa hôm nay mở đầu với đoạn sách ngôn sứ Giêrêmia, công bố án phạt những: TN6-C4

Phụng vụ lời Chúa hôm nay mở đầu với đoạn sách ngôn sứ Giêrêmia, công bố án phạt những kẻ gắn chặt đời mình vào quyền lực vật chất để rồi lòng dạ xa rời Thiên Chúa. Song song đó là lời cầu chúc cho những ai ký thác mọi ước vọng của mình nơi Người. Đó là dòng văn tiêu biểu của đạo lý ngôn sứ thời Cựu ước vốn nêu bật ý niệm về đức công chính của Thiên Chúa, Đấng thật nghiêm minh, công thưởng, tội trừ.
Trong bối cảnh dân tộc Israel thời các ngôn sứ là một nước nhỏ yếu thế, non trẻ so với bao cường quốc xung quanh, luôn là món mồi bị giành giựt, xâu xé về mặt chính trị lẫn tôn giáo thì nguy cơ đánh mất niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất do cha ông truyền lại để ngả theo thói tục ngoại giáo không ngừng là một ám ảnh. Lời kêu gọi của các ngôn sứ do Thiên Chúa sai đến phải mang một âm sắc mạnh mẽ quyết liệt nhằm khuyến thiện và răn ác.
Mặt khác, do quan niệm thực tiễn và thiên về vật chất đối với thế giới bên kia, đời sau, cách nào hơn kém là phần nối tiếp của cõi dương gian này, nên thưởng phạt cũng thi hành rất cụ thể, rất nhãn tiền. Người lành được hưởng một cuộc đời sung túc, trường tồn, trong khi kẻ ác phải đọa đày tiêu diệt. Phải nhất thiết cầm cương nảy mực trên nhân loại, như vậy thì Thiên Chúa mới làm sáng tỏ thánh đức và uy quyền của Người.
Bài Tin Mừng hôm nay thánh Luca muốn giới thiệu Đức Giêsu như một ngôn sứ chính hệ nối tiếp dòng đạo lý các ngôn sứ tiền bối cựu trào, bởi đó nội dung giảng dạy của Người tất yếu bao gồm chúc lành và khuyến cáo. Một dị đồng đầy ngụ ý với đoạn văn song hành thường gọi là “Tám mối phúc thật” trong Tin Mừng thánh Matthêu, đó là sự vắng mặt của những lời quở trách.
Một lần nữa, nguy cơ do môi trường ngoại giáo nơi tác giả Luca nhắm tới vẫn đe dọa cộng đoàn Kitô hữu non trẻ mỏng manh. Tuy nhiên, đạo lý về đức công chính của Thiên Chúa đã được thay thế bằng đạo lý Thiên Chúa là tình thương trong sứ điệp Tin Mừng của Đức Giêsu. Thánh đức của Thiên Chúa từ nay sẽ rạng ngời trước thế gian, không ở án phạt nghiêm khắc mà chính là nơi lòng khoan dung tha thứ của Người, biểu hiện rõ nét, kiểm nghiệm được qua con người của Đức Giêsu, Đấng được sai đến để cứu vớt, để chữa lành và tha thứ.
An xử nếu nói theo ngôn ngữ của Tin Mừng thánh Gioan chính là do thái độ bất tín, cố chấp của con người từ chối sứ điệp tình thương Thiên Chúa. Trong thư gửi giáo đoàn Côrintô cũng là giáo đoàn non trẻ giữa một thế giới chịu ảnh hưởng sâu đậm mạnh mẽ của triết lý và phong hóa ngoại giáo, thiên về duy lý và duy vật, thánh Phaolô kêu gọi Kitô hữu bám chặt vào cốt lõi đức tin của mình nơi huyền nhiệm Đức Kitô Phục sinh.
Hẳn nhiên, đây không chỉ thuần là một tín điều lý thuyết phải bảo vệ bằng luận cứ hàn lâm uyên bác, song nhất là phải minh chứng nơi nếp sống cụ thể của mỗi người, nơi từng mảng đời của những người tuyên xưng Chúa của mình đã Phục sinh, có nghĩa là huyền nhiệm Phục sinh Đức Kitô cách nào đó cũng cần tỏ hiện, tái diễn nơi sự Phục sinh những giá trị tốt đẹp. Hình ảnh thuần hậu nguyên bản buổi đầu sáng tạo, nơi con người đã được thánh tẩy với cái chết của Đức Kitô và đã được cùng sống lại với Người trong đời sống mới của Thánh Thần.
Thất bại không thể tuyên xưng niềm tin Đức Kitô Phục sinh do cuộc sống vẫn còn nô lệ cho tội lỗi và tà thần là nỗi nhục nhã của Kitô hữu, vì tự bêu rêu mình như kẻ lừa dối. Thất bại không làm sáng tỏ được thánh đức của Thiên Chúa nhân từ yêu thương do hành vi tâm tưởng còn u ám, ác ý, hận thù là nỗi đau đớn của Kitô hữu, vì tự trói cột mình vào quyền lực tử thần. Thất bại không sống trọn vẹn phẩm giá con cái ánh sáng, chân lý và tự do, quá quỵ lụy vào vật chất, danh lợi, là gông ách nặng nề của Kitô hữu, vì tự thúc thủ dưới bạo quyền của Satan. Thất bại trong nếp sống mới của Tin Mừng, đó cũng là thất bại trong tư cách thừa kế lời chúc phúc của Thiên Chúa. Vì thế, mỗi người tín hữu Kitô hãy giữ vững niềm tin của mình vào Chúa Kitô, đó là đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh tin kính.

 

TN6-C5. NTGT/65- HẠNH PHÚC

Giữa lúc mọi nơi trong xã hội đang đẩy mạnh chương trình “Xóa đói giảm nghèo”, đồng thời báo: TN6-C5

Giữa lúc mọi nơi trong xã hội đang đẩy mạnh chương trình “Xóa đói giảm nghèo”, đồng thời báo chí không ngớt ca ngợi những tấm lòng của những nhà hảo tâm, giàu có đã rộng tay giúp đỡ cho những người khổ đau bệnh tật, nghèo khó bất hạnh. Thế mà Tin Mừng lại đưa ra một điều dường như nghịch lý : “Phúc cho kẻ đói khát, phúc cho kẻ nghèo khổ,… và khốn cho kẻ giàu có, no đủ…”. Vậy, phải chăng những người nghèo là người hạnh phúc, còn những người giàu có sẽ là người bất hạnh ? Thế thì, vấn đề được đặt ra ở đây là : ai mới thật là người hạnh phúc, và phải sống thế nào để được hạnh phúc ?
Những cơ nguy của người giàu có.
Với những lời có vẻ như lời nguyền rủa : khốn cho các ngươi là những người giàu có, no đủ… Chúng ta cần hiểu, đây là một lối văn thường gặp trong Cựu ước, các lời này không phải là những lời nguyền rủa hay lên án nhưng là những lời có ý ngăn đe thương hại.
Tại sao Chúa Giêsu lại ngăn đe thương hại những người giàu có, no đủ ?
Ai cũng đi tìm hạnh phúc, đó là vấn đề cơ bản của cuộc sống con người. Thế nhưng, bi kịch của con người mọi thời khi cho rằng càng có nhiều tiền của, tiện nghi, quyền lực, danh vọng thì càng được hạnh phúc. Đây cũng là bi kịch của xã hội thời Chúa Giêsu, và cũng là bi kịch cho thời đại chúng ta.
Thật vậy, trong xã hội tiêu thụ ngày nay, nghệ thuật quảng cáo đạt đến mức thặng thừa đã đẩy người tiêu thụ từ trẻ em cho đến người lớn đến với những nhu cầu vật chất giả tạo. Người ta thi nhau mua sắm, càng mua càng thấy thiếu, càng sắm càng thấy chưa đủ. Người ta trở thành nô lệ cho nhu cầu tiêu dùng của mình, nô lệ cho tiện nghi máy móc, hưởng thụ. Thử hỏi như thế thì làm sao mà có được sự tự do và hạnh phúc thật ?
Cũng trong xã hội tiêu thụ này, có không ít người xem sự giàu có, thành đạt, nổi tiếng, là cứu cánh duy nhất của cuộc đời, đến nỗi họ sẵn sàng chà đạp lên tất cả đạo đức luân lý, để đạt cho kỳ được điều họ muốn. Biết bao người đã ngã gục trước đồng tiền, tiền của kiếm được cách bất chính thì cũng được sử dụng một cách bất hảo, đem đổ vào các cuộc vui chơi sa đọa trác táng… Họ phè phỡn ăn chơi, no nê, vui thú, trong khi có biết bao người vì họ mà phải tán gia bại sản. Và bên cạnh họ, còn biết bao người đói khổ, chỉ cần một lần tiêu xài của họ cũng có thể nuôi sống biết bao người trong nhiều tháng.
Bởi đó, Chúa Giêsu đã ngăn đe những người giàu có khi họ lấy của cải vật chất làm cứu cánh thay vì chỉ là phương tiện sử dụng trong cuộc sống hằng ngày. Họ chỉ cậy dựa vào quyền lực trần thế như lời ngôn sứ Giêrêmia trong bài đọc 1 đã cảnh báo : “Khốn cho kẻ tin tưởng vào người đời, họ nương tựa vào sức mạnh con người, còn tâm hồn họ xa Chúa”.
Những cơ may của người nghèo khó.
Đối với những người nghèo khó, đói khát, thái độ của Chúa Giêsu đối với họ như thế nào ? Phải chăng Chúa Giêsu đã rao giảng một điều nghịch lý khi cho đói, nghèo… là phúc ?
Khi tuyên bố : phúc cho kẻ nghèo khó, đói khát, khóc lóc, bị bách hại… Chúa Giêsu không giảng dạy một điều nghịch lý, và Ngài cũng không chủ trương bần cùng hóa thế giới này. Khi tuyên bố : phúc cho kẻ nghèo khó, đói khát, khóc lóc, bị bách hại ; Chúa Giêsu đã xác định cho con người một bậc thang giá trị đích thực trong cuộc sống.
Chính mối phúc cuối cùng cho thấy chìa khóa của câu trả lời : nghèo đói, khóc lóc, bị ganh ghét, xỉ vả vì Con Người, và cũng câu này cho biết chính các ngôn sứ cũng từng bị đối xử như thế. Vậy, có thể hiểu những người nghèo đói, khóc lóc được Thiên Chúa chúc phúc ở đây chính là những người mà tiên tri Giêrêmia đã loan báo : “Phúc thay cho những người tin tưởng vào Thiên Chúa, và Chúa sẽ là niềm cậy trông của họ”.
Bởi đó, những người nghèo khó mà Tin Mừng nhắc đến hôm nay không chỉ thuần túy là những người thiếu cơm ăn áo mặc, nhưng là những người nghèo theo nghĩa biết tín thác cuộc đời mình trong tay Thiên Chúa, biết cậy dựa vào Chúa, lấy Chúa làm cứu cánh của cuộc đời mình. Như thế, họ sẽ trở thành những người có Thiên Chúa làm gia nghiệp, và họ sẽ là những người hạnh phúc thực sự, cho dẫu họ có là người nghèo đích thực.
Những cơ hội cho con người hôm nay.
Trong cuộc sống thực tại hôm nay, mỗi người đều phải vất vả với việc làm ra của cải để nuôi sống bản thân và gia đình. Nhưng lời Chúa hôm nay, đòi hỏi mỗi người làm sao một đàng vừa chu toàn trách nhiệm với gia đình, nhưng đàng khác vẫn sống niềm cậy trông vào Thiên Chúa.
Khi sống trọn vẹn niềm cậy trông vào Thiên Chúa, khi càng lệ thuộc vào Ngài, chúng ta càng cảm thấy tự do đối với của cải, vật chất nơi thế trần này. Khi đó, dù phải vất vả với cuộc sống, chúng ta sẽ sẵn sàng quan tâm đến những người chung quanh, nhất là những người nghèo thật sự, những người nghèo vật chất, nghèo tinh thần, nghèo học vấn… nhằm chia sẻ, những gì có thể được cho những người anh chị em cùng con một Cha trên trời.
Trong những năm qua, chúng ta thường nghe nói đến mẹ Têrêxa Calcutta, một người chỉ biết sống cho người khác : Khi còn tại thế, mẹ không thiếu tiền của, nhưng mẹ vẫn sống như một “người nghèo khó của Thiên Chúa”. Với chiếc xe hơi Đức Giáo Hoàng Phaolô VI tặng ở Bombay, mẹ đã bán để lấy tiền xây dựng một trung tâm lớn cho bệnh nhân phong. Với số tiền nhận từ giải Hòa Bình Gioan XXIII của Vatican, mẹ đã thiết lập một trung tâm phục hồi chức năng cho người cùi. Với số tiền nhận từ giải Nobel Hòa Bình mẹ đã xây nhà cho những người nghèo.
Mẹ Têrêxa đã tận hiến cuộc đời mình cho những người nghèo và tất cả những gì của mẹ đều thuộc về những người nghèo đói,khổ đau, vì mẹ luôn gắn kết cuộc đời mình với Đức Kitô, tín thác cuộc đời mẹ trong bàn tay yêu thương của Thiên Chúa. Mẹ đã lấy Thiên Chúa làm cứu cánh và cùng đích của cuộc đời mẹ.
Tóm lại, cho dù là người giàu sang hay người đói khổ, vẫn có thể trở thành “người nghèo của Thiên Chúa”, thành “người không vật sở hữu”, cho đi tất cả vì yêu mến và tín thác cuộc đời mình cho Thiên Chúa, lấy Chúa làm niềm cậy trông là niềm hạnh phúc. Xin cho mỗi chúng ta cho dẫu có là người nghèo khó, vất vả, khổ đau hay là người giàu có, biết lấy Chúa là niềm cậy trông, là niềm hạnh phúc.

 

TN6-C6. SCĐ/488- HẠNH PHÚC

Vào năm 1918, tại Mỹ đã xảy ra một trận dịch cúm tàn sát bao nhieu sinh mạng. Các bác sĩ và: TN6-C6

Vào năm 1918, tại Mỹ đã xảy ra một trận dịch cúm tàn sát bao nhieu sinh mạng. Các bác sĩ và y ta phải tối tăm mặt mũi vì công việc. Tình cảnh trong các bệnh viện thật là thảm hại. Trong lúc dầu sôi lửa bỏng ấy, các thành viên của một hội thượng lưu ở Nữu Ước quyết đem sức lực ra giúp đồng bào. Họ giàu có và đã lớn tuổi, có thể chỉ ký một tấm ngân phiếu để giúp bệnh nhân là xong. Nhưng không, họ không những đã bỏ tiền ra mà còn tình nguyện tới các bệnh việc săn sóc, tắm rửa cho các bệnh nhân, an ủi những gia đình đang đau khổ mà không ngại mệt nhọc, cũng nhưng sợ lây bệnh cho chính bản thân.
Tin mừng hôm nay hướng chúng ta về những người xấu số, bất hạnh và cho họ niềm hy vọng hạnh phúc ở tương lai. Tin mừng không hề lên án người giàu chỉ vì họ có nhiều tiền của, nhưng chỉ lên án những ai giàu có mà không biết sử dụng của cải cho đúng, thậm chí còn dùng của cải như chướng ngại vật chặn đứng lối vào Nước Trời. Giàu có mà hành sử như các thành viên của hội thượng lưu ở Nữu Ước trong câu chuyện trên còn được Chúa chúc phúc. Họ được hưởng hạnh phúc đời này lẫn đời sau. Bí quyết của họ rất đơn giản, đó chính là biết chia sẻ và trao ban.
Chúa Giêsu không lên án của cải nói chung, nhưng Ngài lên án cách sử dụng của cải. Tiền bạc tự nó không có giá trị đạo đức. Nó có thể dùng vào việc tốt, cũng như việc xấu. Tự bản chất, của cải không là những gì xấu và tự bản chất, nghèo khó cũng không phải là nhân đức.
Chỉ khốn cho người giàu có khi họ không phân định rõ ràng giữa phương tiện và cùng đích, giữa điều kiện vật chất và định mệnh con người. Đời sống của họ bị nhận chìm bởi các con sóng là những phương tiện vật chất như áo quần, xe cộ, nhà cửa và các tiện nghi…Đời sống họ bị đè bẹp bởi các hành trang vật chất. Họ quên rằng con người sống nhờ phương tiện, nhưng lại sống cho cùng đích. Và cùng đích của con người là “hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Thảm kịch của cuộc sống chính là lo lắng tìm kiếm phương tiện mà quên mất cùng đích của mình…
Dưới mắt Chúa, làm giàu một cách lương thiện không phải là tội. Tiêu dùng của cải do mình làm ra không hề là một điều xấu. Nhưng điềm nhiên hưởng thụ và nhắm mắt làm ngơ trước nỗi khổ của tha nhân lại là một tội ác. Thiên Chúa đã dựng nên trái tim con người để rung lên những nhịp đập yêu thương, và trao tặng cho con người đôi tay để mở ra ban phát. Kẻ nào khóa lại trái tim và mắm chặt đôi tay là đi ngược với bản tính con người mà Chúa đã tạo dựng. Vì thế, ai sống co cụm trong vỏ ốc ích kỷ của mình, kẻ ấy có thể rất giàu về tiền của nhưng lại thật nghèo trong nhân tính.
Có nhiều người lẫn lộn giữa hạnh phúc và cái bóng của nó. Họ mải mê chạy theo cái bóng, để rồi mau chóng thất vọng khi nó vỡ tan như bọt xà phòng. Hạnh phúc đích thực không nằm nơi của cải hay những gì mình chiếm hữu, nhưng nằm nơi những gì mình đã trao ban. Vì thế, thánh Phaolô đã viết : Cho thì vui sướng hơn là nhận. Hạnh phúc đích thực không nằm trong những lời ca tụng hay trong chức tước quyền uy, nhưng nằm trong sự an bình vui tươi của một lương tâm thanh thản.
Một tác giả có viết : trong hạnh phúc có mầm đau khổ. Quả thật, hạnh phúc bao giờ cũng trộn lẫn với mồ hôi nước mắt. Có hạnh phúc đích thực nào mà không phải trả giá bằng đau khổ ? Có ai sống trên đời này mà được hạnh phúc trọn vẹn đâu ? Điều này giải thích tại sao những gì chúng ta coi là bất hạnh, thì Chúa Giêsu lại cho là hạnh phúc. Chỉ khi nào chúng ta cảm nghiệm được cái nghịch lý của Lời Chúa thì chúng ta mới có được hạnh phúc đích thực. Chỉ khi nào chúng ta dám nghèo vì thanh liêm, đói vì ngay thẳng, khóc vì đại nghĩa, bị ghét vì nói thật, bị sỉ  vả vì danh Chúa, chúng ta mới sống trọn vẹn các mối phúc thật. Chỉ khi nào chúng ta thấy mình giàu lên khi chịu nghèo, no thỏa lúc đói khát, vui cười khi rơi lệ, và hân hoan lúc bị bách hại, chúng ta mới thực sự nếm cảm được niềm hạnh phúc Nước trời.

 

TN6-C7. SCĐ/493- NGHỊCH LÝ

Người ta thường nói “nghèo khổ”, nghĩa là cái nghèo và cái khổ luôn đi đôi với nhau. Đã nghèo: TN6-C7

Người ta thường nói “nghèo khổ”, nghĩa là cái nghèo và cái khổ luôn đi đôi với nhau. Đã nghèo thì tất nhiên phải khổ. Thế mà Chúa Giêsu lại nói “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo”. Hình như Chúa Giêsu muốn đảo ngược kiểu nói “nghèo khổ” thành “nghèo phúc”. Thật nghịch lý!
Nhưng chuyện nghịch lý không phải là không có trên đời. Thông thường ai cũng muốn một cuộc sống sang giàu. Thế nhưng, có những người lại đi tìm một cuộc sống nghèo. Chẳng  hạn như các nhà nho cởi áo từ quan rời bỏ nếp sống tiện nghi nơi thành thị để tìm nếp sống thanh đạm giữa thiên nhiên. Hay như thánh Phanxicô Assisi là con nhà giàu, nhưng từ bỏ tất cả để sống nghèo, lại còn lập cả một huynh đoàn qui tụ những người  muốn sống nghèo nàn. Những con người đó không phải điên khùng mà hoàn toàn sáng suốt. Quyết định sống nghèo của họ không phải do bốc đồng nhất thời, mà là kết quả của một thời gian dài suy nghĩ chọn lựa. Sự chọn lựa ngược đời của họ khiến chúng ta phải suy nghĩ vì chắc hẳn họ đã nghiệm ra có nhiều điều hay trong cái nghèo nên họ mới chọn lựa như vậy.
Dĩ nhiên cái nghèo mà họ chọn lựa không phải là tình trạng túng thiếu : không đến nỗi phải chết đói, chết khát, chết lạnh, mà chỉ cần tối thiểu để ăn, để uống, để mặc : tri túc tiện túc, biết đủ là đủ.
Vì chỉ cần tối thiểu như thế, nên lòng họ không bị giao động vì những ham muốn có thêm. Túi tham không đáy. Lòng ham muốn sẽ không bao giờ được thỏa mãn, nên cứ giao động hoài.
Không ham muốn thêm mà cũng không sợ bị mất, nên người nghèo như thế rất bình tâm, nhờ đó có thể ăn ngon, ngủ yên.
Người nghèo không kiêu căng, không khoe của, không khinh miệt người khác.
Người nghèo không cậy dựa vào tiền bạc của cải, nên dễ cậy dựa vao Chúa hơn.
Có thể người nghèo bị người đời khinh ghét, nhưng bù lại, họ được chính Thiên Chúa yêu thương che chở.

 

TN6-C8. PV/396- NGƯỜI GIÀU  CŨNG KHỔ

Trong những ngôi nhà của người giàu, chúng ta nhận thấy thiếu một điều, thiếu sự sống và tiếng: TN6-C8

Trong những ngôi nhà của người giàu, chúng ta nhận thấy thiếu một điều, thiếu sự sống và tiếng cười. Chúng ta không bao giờ thấy con trẻ chơi đùa trên bãi cỏ. Một bàu khí u buồn dường như bao quanh chúng và đó chính là sự sầu muộn của giàu có.
Một cặp vợ chồng giàu sống trong một ngôi nhà lộng lẫy. Họ có một bà giúp việc. Buổi sáng bà nấu một bữa ăn nhẹ. Buổi trưa một bữa ăn ngon và buổi tối một bữa an thịnh soạn cho cặp vợ chồng và những người khách lui tới. Nhiều năm trôi qua, cặp vợ chồng già đi. Vì thế, họ không tiếp đãi ai. Bữa ăn của họ gồm có trứng chiên, bánh mì và nước trà pha lạt. Họ im lặng ngồi ăn, hiếm khi nhìn nhau. Vào tối thứ bảy, bà giúp việc mời ít người bạn vào một căn phòng dưới tầng hầm. Ở đó, họ dùng một bữa cơm đạm bạc, uống một chút rượu, mở nhạc, nhảy múa và nói những câu chuyện vui đùa. Một tối nọ, đang khi những tiếng cười vang lên, thì cánh cửa mở ra. Đó là cặp vợ chồng chủ nhà. Họ nói với bà giúp việc : chúng tôi không muốn quấy rầy các bà, nhưng chỉ muốn nhìn các bà vui đùa mà thôi…Người giàu cũng khổ vì không có niềm vui, không có hạnh phúc.
Câu chuyện trên cho chúng ta một hiểu biết thấu đáo về các mối phúc thật mà Chúa Giêsu đã nói. Dưới mắt thế gian, người giàu dường như được Thiên Chúa chúc lành, trong khi người nghèo dường như bị chúc dữ. Thế nhưng, Chúa Giêsu đã nói về sự nghèo khó kỳ lạ của những người sống trong sự giàu sang của thế gian và sự giàu sang kỳ lạ của những người tin tưởng vào Thiên Chúa. Người giàu có xu hướng cậy dựa vào của cải. Đối với họ, chính thế giới này mới quan trọng, còn Thiên Chúa không ít thì nhiều cũng thừa thãi và thế giới khác thì xa xôi và mơ hồ. Trái lại, người nghèo quay về Thiên Chúa một cách tự nhiên. Như một bà cụ nghèo đã nói với một linh mục : Có một Thiên Chúa để cậy trông, há chẳng phải là một điều cao cả đó sao.
Điều đó không có nghĩa là nghèo khó là một điều tốt. Khi Chúa Giêsu nói : Phúc cho người nghèo khó và đói khát, Ngài không ban lời chúc lành cho cái nghèo xơ xác và đói lả vì đây là những điều xấu. Tuy nhiên, đối với người nghèo những nguy cơ của đời sống làm cho cái chết đến gần hơn, thì đời sau cũng đến gần hơn. Đó là lý do trong câu nói của Chúa Giêsu : Phúc cho những kẻ nghèo khó vì nước Thiên Chúa là của họ.
Sự nghèo khó được chúc lành là sự nghèo khó của những người đặt tin tưởng vào Thiên Chúa  hơn là vào của cải vật chất. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể thỏa mãn những khát vọng của tâm hồn con người.

 

TN6-C9. PV/402- TIN TƯỞNG VÀO CHÚA

Chủ đề của Lời Chúa hôm nay chính là sự tin tưởng vào Thiên Chúa. Thực vậy, những kẻ tin: TN6-C9

Chủ đề của Lời Chúa hôm nay chính là sự tin tưởng vào Thiên Chúa. Thực vậy, những kẻ tin tưởng vào thế gian giống như cây gai cằn cỗi trong sa mạc, đang khi đó những người tin tưởng vào Thiên Chúa giống như cây sai trái trồng bên dòng sông nhiều nước. Tin tưởng vào Thiên Chúa là cậy trông nơi Ngài, vì Ngài là suối nguồn sự sống. Những người tin tưởng vào Thiên Chúa là những người nghèo được Thiên Chúa chúc phúc.
Khi Chúa Giêsu nói : Phúc cho những kẻ nghèo khó, Ngài đã không chúc phúc cho sự đói khát và khốn cùng. Đói khát và khốn cùng là điều xấu. Điều được chúc phúc chính là lòng cậy trông, tin tưởng vào Chúa. Những kẻ đặt sự tin tưởng của họ vào thế gian sẽ thất vọng, còn những người đặt tin tưởng vào Thiên Chúa sẽ không bao giời bị thất vọng. Bởi vì chỉ mình Thiên Chúa mới có thể lấp đầy sự trống rỗng của cõi lòng chúng ta. Chỉ mình Thiên Chúa mới có thể thỏa mãn những khát vọng của tâm hồn chúng ta. Nhưng thường chúng ta chạy đến Thiên Chúa sau cùng, thay vì chạy đến Thiên Chúa trước tiên.
Thánh Giacôbê nói rằng những người nghèo khó đối với thế gian này sẽ được Thiên Chúa làm cho giàu có trong đức tin. Những người giàu thường có xu hướng cậy dựa vào của cải vật chất. Đối với họ, chính thế gian này mới quan trọng. Thiên Chúa không ít thì nhiếu cũng thừa thãi và đời sau thì xa vời và mơ hồ. Trái lại, những người nghèo thường có xu hướng tự nhiên quay về Thiên Chúa. Đối với họ, mọi nguy cơ và khó khăn của đời sống làm cho Thiên Chúa và đời sau gần gũi và hiện thực hơn.
Sự nghèo khó ấy tự nó không phải lài điều tốt. Nhưng khi đời sống trở nên khó khăn và luôn bị đe dọa, nó sẽ trở nên phong phú hơn bởi lẽ khi chúng ta càng ít mong đợi thì những điều tốt lành của đời sống càng trở nên những ân huệ bất ngờ mà chúng ta đón nhận ví lòng biết ơn. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu lại nói : Phúc cho những kẻ nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
Ngày kia, một người nghèo đi dọc theo một con đường, tình cờ ông gặp một người ăn mày đến xin ông bố thí. Xấu hổ vì không có gì để bố thí, người nghèo đáp : Tiếc thật, nhưng tôi cũng nghèo như anh thôi. Khi nghe nói điều đó, người ăn mày nói : Cám ơn bạn, vì món quà của bạn. Không hiểu người ăn mày muốn nói gì, người nghèo hỏi lại :  Tại sao anh lại cám ơn tôi ? Tôi có cho anh cái gì đâu. Người ăn mày đáp : Ồ có chứ, bạn đã cho tôi sự lương thiện của bạn, sự nghèo khó của bạn và lòng tin tưởng của bạn.
Thiên Chúa không nghèo, nhưng chúng ta thì nghèo. Thế mà chúng ta lại có cái để cho Thiên Chúa. Chúng ta có thể cho Ngài sự lương thiện, sự nghèo khó và lòng tin tưởng của chúng ta.

 

TN6-C10. Phúc Cho Anh Em

Suy Niệm
 

Cái chết của công nương Diana làm hàng triệu người xúc động. Người ta thương bà không chỉ vì: TN6-C10

Cái chết của công nương Diana làm hàng triệu người xúc động. Người ta thương bà không chỉ vì bà xinh đẹp, nhân từ, mà còn vì bà chưa được hưởng chút hạnh phúc mới hé nụ.
Hạnh phúc là niềm khao khát của mọi người.
Con người sinh ra là để được sống hạnh phúc.
Cả đời người là cuộc hành trình kiếm tìm hạnh phúc.
Thiên Chúa cũng bận tâm đến hạnh phúc con người.
Những gì Ngài làm: sáng tạo, nhập thể, cứu chuộc, thánh hóa... đều nhằm đem lại hạnh phúc đời này và đời sau.
Hạnh phúc của Thiên Chúa như gắn liền với hạnh phúc con người. Thiên Chúa vui khi thấy con người hạnh phúc.
Chẳng có gì dễ hiểu như hai từ hạnh phúc. Nhưng định nghĩa hạnh phúc lại là điều không dễ.
Mỗi người có một quan niệm về hạnh phúc, và nơi mỗi người, quan niệm này cũng biến đổi theo thời gian.
Thường ta hay chạy theo những cái bóng của hạnh phúc, để rồi vỡ mộng, nhưng nhờ đó ta dần dần hiểu hơn thế nào là hạnh phúc đích thật.
Hạnh phúc không nằm nơi của cải, kiến thức, quyền uy. Hạnh phúc không do chiếm được những gì mình muốn, nhưng do trao hiến điều quý nhất của mình.
Hạnh phúc là mãn nguyện với những gì mình được ban.
Hạnh phúc là niềm vui nhẹ nhàng, là bình an sâu lắng.
Hạnh phúc là sự ổn thỏa giữa tôi với Chúa, giữa tôi với anh em, giữa tôi với chính tôi...
Sống ở đời, con người thấy mình không hạnh phúc trọn vẹn. Hạnh phúc bao giờ cũng được trộn với mồ hôi, nước mắt. Nhưng có hạnh phúc thật nào lại không mua bằng khổ đau? Chỉ ai biết yêu thực sự, mới cảm thấy hạnh phúc. Chúng ta cần nhiều thời gian mới hiểu được các mối phúc.
Những điều ta coi là bất hạnh, Đức Giêsu bảo là hạnh phúc.
Nghèo, đói, khóc than, bị oán ghét, khai trừ, sỉ vả: những điều đó tự chúng chẳng có giá trị gì. Nhưng nếu ta nghèo vì thanh liêm, đói vì ngay thẳng, khóc vì đại nghĩa, bị ghét vì nói thật, bị sỉ vả vì Chúa, thì ta thật là người có phúc.
Hạnh phúc ngay trong hiện tại, nơi một lương tâm thanh thản.
Ta thấy mình giàu lên khi chịu nghèo, no thỏa khi đói khát, vui tươi khi rơi lệ, và nhảy mừng khi bị bách hại.
Có bao Kitô hữu đã sống các mối phúc thật trong đời mình.
Họ cảm nghiệm được cái nghịch lý dễ thương của Lời Chúa.
Không phải chỉ có bốn hay tám mối phúc trong Tin Mừng.
Phúc cho ai nghe và giữ Lời Chúa, phúc cho ai không thấy mà tin...
Đức Giêsu có thể kéo dài các mối phúc đến vô tận, để các mối phúc đi vào mọi ngõ ngách của đời thường.
Chính chúng ta cũng có thể viết những mối phúc mới, nhờ dựa vào những niềm vui Chúa ban cho ta mỗi ngày.
Chính chúng ta phải cộng tác với Chúa để các mối phúc được thành tựu ngay ở đời này, nhờ biết chia sẻ cho người đói, đem niềm vui cho kẻ khổ đau.
Gợi Ý Chia Sẻ
Theo ý bạn, thế nào là con người hạnh phúc? Bạn có gặp ai được hạnh phúc trọn vẹn ở đời này không?
Vẫn có nhiều người coi tiền bạc đem lại tất cả, kể cả hạnh phúc, vì thế họ dùng mọi thủ đoạn để làm giàu. Bạn nghĩ tiền bạc có vai trò nào trong việc xây dựng hạnh phúc?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, các sách Tin Mừng chẳng khi nào nói Chúa cười, nhưng chúng con tin Chúa vẫn cười khi thấy các trẻ em quấn quýt bên Chúa. Chúa vẫn cười khi hồn nhiên ăn uống với các tội nhân. Chúa đã cố giấu nụ cười trước hai môn đệ Emmau khi Chúa giả vờ muốn đi xa hơn nữa.
Nụ cười của Chúa đi đôi với Tin Mừng Chúa giảng. Nụ cười ấy hòa với niềm vui của người được lành bệnh.
Lạy Chúa Giêsu, có những niềm vui Chúa muốn trao cho chúng con hôm nay, có sự bình an sâu lắng Chúa muốn để lại.
Xin dạy chúng con biết tươi cười, cả khi cuộc đời chẳng mỉm cười với chúng con
Xin cho chúng con biết mến yêu cuộc sống, dù không phải tất cả đều là màu hồng.
Chúng con luôn có lý do để lo âu và chản nản, nhưng xin đừng để nụ cười tắt trên môi chúng con.
Ước gì chúng con cảm thấy hạnh phúc, vì biết mình được Thiên Chúa yêu thương và được sai đi thông truyền tình thương ấy. Amen.

 

TN6-C11. Phúc Cho Anh Em Là Những Người Nghèo

Suy Niệm
 

Một học sinh nghèo trả lại chiếc bóp lượm được. Một giáo viên kiên trì theo đuổi nghề giáo: TN6-C11

Một học sinh nghèo trả lại chiếc bóp lượm được. Một giáo viên kiên trì theo đuổi nghề giáo. Một cán bộ về hưu trong cảnh thanh bạch. Một bạn nữ bỏ chỗ làm có thu nhập cao... Một nhân viên từ chối những đồng tiền hối lộ.
Giữa cuộc sống khó khăn, vẫn có bao người không bị mê hoặc bởi bạc tiền. Họ chọn sống trong cảnh nghèo, lam lũ hơn, nhưng vui hơn và thanh thản hơn.
Vẫn có bao người nếm được mối phúc của Tin Mừng: "Phúc cho anh em là những người nghèo khó, vì Nước Trời là của anh em."
Người đời thường coi hạnh phúc bắt nguồn từ giàu sang, no đủ, từ danh thơm tiếng tốt.
Đức Giêsu đưa chúng ta đi vào một thế giới khác, với lối đánh giá khác, làm chúng ta ngỡ ngàng.
Ngài cho các môn đệ của Ngài biết rằng: họ là những người có phúc, khi phải chịu nghèo đói, đau khổ, bách hại vì Ngài. Nước Trời đã thuộc về họ từ đây, và hạnh phúc sẽ trọn vẹn trong ngày sau hết.
Đức Giêsu đã sống những mối phúc trước chúng ta.
Ngài là một người thợ thủ công nghèo, Ngài biết đến sự dày vò của cơn đói, Ngài đã từng nhỏ lệ trước thành Giêrusalem, và đã chịu mọi khổ hình cho đến chết. Nhưng Đức Giêsu là con người hạnh phúc, vì biết mình luôn sống cho Cha và con người.
Chúng ta cần có kinh nghiệm của Đức Giêsu: Nghèo của cải mà thật giàu Nước Thiên Chúa.
Đức Giêsu chúc phúc cho những môn đệ nghèo của Ngài, nhưng Ngài không ca ngợi sự bần cùng, lạc hậu.
Cả cuộc đời Ngài là một hành vi cúi xuống để nâng dậy những ai nghèo sức khoẻ, nghèo niềm vui.
Hôm nay Ngài muốn chúng ta đến với khu lao động, với lớp học tình thương, xóa đi cái nghèo tri thức, nghèo những ước mơ cao cả.
Sự no đủ và niềm vui phải bắt đầu từ đời này.
Ước gì chúng ta sống như Đức Kitô, tự nguyện trở nên nghèo hơn để làm giàu cho người khác (2Cr 8,9).
Gợi Ý Chia Sẻ
Theo ý bạn, ai là những người nghèo được Chúa chúc phúc? Một người giàu có thể có tinh thần nghèo khó không?
Thế giới hôm nay cho chúng ta nhiều tiện nghi và phương tiện giải trí. Bạn có thấy mình bị cuốn hút không? Làm sao để khỏi rơi vào chủ nghĩa hưởng thụ?
Câu Nguyện
Lạy Chúa, xin cho con nhìn thấy những người nghèo ở quanh con, ở trong gia đình con, đang cần đến con.
Bất cứ ai cần đến con đều là người nghèo, xin cho con thấy Chúa trong họ.
Dần dần con hiểu rằng cả người giàu cũng nghèo, nghèo vì cần thấy đời họ có ý nghĩa.
Dần dần con chấp nhận rằng cả bản thân mình cũng nghèo và cần đến người khác.
Lắm khi con cần một nụ cười, một ánh mắt, một lời thăm hỏi đỡ nâng.
Cám ơn Chúa vì đã dựng nên chúng con ai cũng nghèo về một mặt nào đó, ai cũng cần đến người khác. Như thế là chúng con được mời gọi sống cho nhau, làm cho nhau thêm giàu có.
Cám ơn Chúa vì Chúa cũng nghèo, vì Chúa rất cần đến chúng con để hoàn thành công trình cứu độ.
Xin cho con khiêm tốn nhận mình nghèo để nhận lãnh, can đảm nhận mình giàu để hiến trao. Amen.

 

TN6-C12. CHI TIẾT HAY - Nhóm Đồng Hành

Trong câu chuyện hôm nay, thánh Luca dùng một số những chi tiết tương tự như trong bài giảng: TN6-C12

Trong câu chuyện hôm nay, thánh Luca dùng một số những chi tiết tương tự như trong bài giảng Tám Mối Phúc Thật của thánh Matthêu (5:1-12). Tuy nhiên thay vì giảng ở trên núi, Đức Giêsu xuống ở một chỗ đất bằng để giảng dạy cho đám đông dân chúng đến với Ngài.
Baì giảng theo Luca ngắn hơn bài giảng theo Matthêu. Phúc Âm Matthêu có chín diều chúc phúc và không có lời đe doạ, trong khi đó Phúc Âm Luca có cả hai thứ và xếp thành từng cặp tương phản: nghèo-giàu, đói-no, khóc lóc-vui cười, oán ghét-ca tụng.
Trong câu 20a, Đức Giêsu nói với các môn đệ của Ngài, tuy nhiên theo câu 24, Đức Giêsu hẳn đã không nhắm đến họ vì các môn đệ của Ngài không có ai giàu sang. Chia sẻ của cải, cho vay mà không hy vọng đòi lại, tha nợ cho người khác (c.34,35,37,38) là dấu chỉ của người có dư thừa của cải.
(c.22) "Oán ghét, khai trừ, sỉ vả". Ba động từ đi từ thái độ (oán ghét) đến hành động (khai trừ) đến lời nói (sỉ vả). Một sự xua đuổi trọn vẹn.
(c.24) Phần an ủi của người giầu có là của cải, đối chọi với sự an ủi của người nghèo khó là Nước Thiên Chúa.
Trong khung cảnh văn hóa xã hội Palestine thời đó, giầu và nghèo có ý nghiã khác so với ngày hôm nay. Thời đó quyền lực là phương tiện để làm giầu. Người có thế lực tước đoạt của cải của người yếu kém không tự bảo vệ được chính mình. Trái lại, thời nay quyền lực nằm trong tay những người giầu có.
Một Điểm Chính
Các Mối Phúc Thật của Đức Giêsu là lời an ủi và cũng là những đức tính mà chúng ta phải nhắm tới.
Suy Niệm
Tôi cảm thấy mình "giầu có" và "nghèo khó" ở những khía cạnh nào?
Lời hứa nào của Đức Giêsu mang nhiều ý nghiã nhất cho tôi? Tại sao?
Tôi cảm thấy gần gũi với điều bị nguyền rủa nào nhất trong lúc này? Tại sao?

 

TN6-C13. Những mối phúc và những mối họa đích thực - JKN

Câu hỏi gợi ý :
 

Bạn có thấy những mối phúc và họa đích thực bài Tin Mừng này có liên hệ đến luật nhân quả: TN6-C13

1. Bạn có thấy những mối phúc và họa đích thực bài Tin Mừng này có liên hệ đến luật nhân quả không? Bạn hiểu thế nào về luật nhân quả?
2. Nếu chỉ có đời sống trần gian này là duy nhất, thì bài Tin Mừng trên có còn đúng không? Nếu còn có đời sống vĩnh cửu nữa thì sao?
Suy tư gợi ý :
1. Luật nhân quả trong vũ trụ, trong cuộc đời trần gian
Bài Tin Mừng hôm nay nói lên tương quan nhân quả mang tính tất yếu giữa quá khứ và hiện tại, giữa hiện tại và tương lai, hay giữa thời trước và thời sau. Tương quan đó diễn tiến theo những định luật cố định đã được Thiên Chúa thiết lập trong vũ trụ. Những định luật đó có thể tóm lại trong những mệnh đề sau đây: Có gieo mới có gặt; Gieo nhân nào gặt quả nấy; Gieo ít thì gặt ít, gieo nhiều thì gặt nhiều; Từ lúc gieo đến lúc gặt đòi hỏi phải có thời gian, và phải vất vả bỏ công sức ra.
2. Giải thích luật nhân quả
- Có gieo mới có gặt: Không sự việc nào xảy ra trong cuộc đời mà không có nguyên nhân. Thấy một cây rợp bóng mát bên vệ đường, không ai nghĩ rằng tự nhiên nó mọc lên, mà nghĩ rằng phải có người trồng nó. Hay ít ra là có một con chim nào đó đã gieo hạt ở đấy… Hạnh phúc hay đau khổ ta được hưởng hay phải chịu đều có nguyên nhân do chính ta - đôi khi do ai đó - tạo ra trước đó. Và những gì ta đang có hoặc đang làm đều là nguyên nhân phát sinh hiệu quả trong tương lai. Sách Giảng Viên viết: «Kẻ không gieo chẳng bao giờ gặt» (Gv 11,4).
- Gieo nhân nào gặt quả nấy: Nhìn cây cam, ta chắc chắn nó phải mọc lên từ hạt cam, không thể từ một hạt khác được. Nghĩa là thấy nhân thì biết quả, và nhìn quả thì biết nhân: «Cứ xem người ta sinh ra quả nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt» (Mt 7,16-18). Cũng vậy, hành động tốt ắt phải đem lại hạnh phúc, và hành động xấu ắt phải dẫn đến đau khổ. Sự tương ứng này đạo Phật gọi là «nghiệp báo». Thánh Kinh viết: «Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy» (Gl 6,7); «Gieo gió thì phải gặt bão» (Hs 8,7; x. G 4,8);
- «Gieo ít thì gặt ít, gieo nhiều thì gặt nhiều» (2Cr 9,6): Nhân và quả không chỉ tương ứng về chất, mà còn về lượng nữa. Gieo một hạt thì chỉ được một cây, gieo trăm hạt thì được cả trăm cây.
- Từ lúc gieo đến lúc gặt đòi hỏi phải có thời gian: Thời gian là một yếu tố quan trọng để hạt phát triển thành cây, và để cây ra trái. Thời gian đó lâu hay mau tùy từng loại cây. Cây ngô chỉ cần trồng 3 tháng là ra trái, nhưng cây sầu riêng thì phải mất 7 đến 10 năm. Không thể thúc cây mọc nhanh hơn hay giục hoa kết trái sớm hơn. Kết quả của việc lành nhiều khi phải 5, 10 năm sau mới hưởng được. Cũng như hậu quả của một hành động xấu phải 3, 4 năm hay cả chục năm sau mới thấy được. Do đó, nhiều khi phải chờ đợi kết quả, hoặc đừng tưởng sẽ tránh được hậu quả. Rất nhiều trường hợp hành động ở đời này, nhưng đến đời sau mới sinh kết quả hay hậu quả.
- … và phải vất vả bỏ công sức ra: Để cây lúa mọc lên và sinh ra hạt lúa, người nông dân phải cày bừa, gieo hạt, làm cỏ, dẫn nước, trừ sâu, bón phân, rồi gặt, đập lúa và xay lúa. Bao công lao và mồ hôi phải đổ ra: «Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần» (Ca dao). Nhưng công lao và mồ hôi ấy nếu chính đáng sẽ đổi thành vui mừng và hạnh phúc: «Gieo trong đau thương sẽ gặt giữa vui mừng» (Tv 126,5-6).
Ai cũng sợ khổ và muốn được hạnh phúc. Nhưng người khôn thì tránh được khổ và tạo được hạnh phúc, còn người dại tuy muốn tránh khổ nhưng vẫn vướng đau khổ và không tìm thấy hạnh phúc. Vì «người khôn sợ nhân, người dại sợ quả». Muốn tránh khổ thì phải tránh từ nhân. Cứ tạo nhân khổ thì khi quả khổ đến làm sao tránh được? Muốn được phúc thì phải tạo phúc từ nhân. Nếu tạo nhân phúc thì dù chẳng mong cầu, quả phúc vẫn đến.
3. Luật nhân quả với các mối phúc thật và các mối họa thật
Chúng ta dễ hiểu đoạn Tin Mừng hôm nay khi đối chiếu nó với luật nhân quả và niềm tin vào đời sống vĩnh cửu sau cuộc sống ngắn ngủi này. Minh họa sau đây cũng giúp ta hiểu đoạn Tin Mừng trên sâu xa hơn.
Trên thế giới, có rất nhiều người đang phải sống trong những chế độ độc tài, thiếu nhân quyền và tự do cần thiết. Họ cảm thấy khó sống nên quyết tâm đi tị nạn, nghĩa là di chuyển với bất cứ giá nào đến những vùng đất tự do để cuộc sống thoải mái hơn. Những người có ý định đi tị nạn này có hai cách suy nghĩ và hai cách sống khi còn ở vùng đất cũ mà họ muốn rời bỏ:
Cách 1: Từ khi có ý định đi tị nạn, họ coi cuộc sống của họ tại vùng đất họ đang sống như cuộc sống tạm bợ, và coi cuộc sống họ sẽ sống tại vùng đất tự do mới là cuộc sống đích thực và lâu dài của họ. Vì thế, nhiều người đến tuổi lập gia đình đã không dấn thân vào tình yêu để không bị cản trở cho việc dời đổi chỗ ở. Nhiều người bị thiếu thốn nghèo khổ nhưng đã từ chối những chỗ làm có lương bổng rất lớn để khỏi bị ràng buộc vào hợp đồng khi cần phải ra đi. Nhiều người rất giàu có, thay vì mua sắm nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ sang trọng như những người giàu có khác, thì lại chấp nhận sống nghèo khổ để có thể dành tiền hầu có thể sử dụng trong cuộc sống mới. Tóm lại, tại vùng đất cũ, họ sống một cách đơn sơ, khó nghèo, làm những nghề tạm bợ để «lấy ngắn nuôi dài», tạm ngưng tiến hành tất cả những chuyện quan trọng trong cuộc đời. Tất cả đều để chuẩn bị cho cuộc sống sau này tại vùng đất tự do.
Cách 2: Mặc dù có ý định đi tị nạn, nhưng những người theo cách này chẳng chuẩn bị gì cho cuộc sống sắp tới. Khi còn sống tại vùng đất mà họ sẽ rời bỏ, họ sống như thể họ sẽ sống ở đấy vĩnh viễn. Vì thế, họ mua sắm nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ như bao người không có ý định tị nạn. Họ tiếp tục tính toán những chuyện lâu dài như dấn thân vào tình yêu hôn nhân, hợp đồng làm ăn lâu dài với nhiều người, v.v… Đến khi được phép ra đi, họ không kịp bán ruộng vườn, nhà cửa, xe cộ, nên phải bỏ lại tất cả. Tình yêu hôn nhân của họ đang tiến hành bỗng dở dang: đi thì đành phải chia tay với người yêu và thành kẻ bội tình, mà muốn chung tình thì phải bỏ ý định đi tị nạn… Các hợp đồng lâu dài bỗng nhiên bị cắt ngang và phải bồi thường (nếu không trả trước khi ra đi thì khi qua vùng đất mới cũng phải trả)… Vì thế, khi đến vùng đất tự do, họ không còn gì, mà nợ nần thì chồng chất.
Giữa hai cách ấy, cách nào khôn ngoan hơn? Khi còn ở vùng đất cũ, những người theo cách 1 phải sống thiếu thốn, khó khăn, đang khi những người theo cách 2 thì sống rất đầy đủ, ung dung. Nhưng khi sang đến vùng đất mới thì ngược lại, người theo cách 1 có một tương lai tươi sáng, còn người theo cách 2 có một tương lai đen tối. Vậy thì sự khó khăn thiếu thốn của những người theo cách 1 ở vùng đất cũ là họa hay là phúc? Và sự đầy đủ, ung dung của những người theo cách 2 ở vùng đất cũ là phúc hay là họa?
Cuộc đời ta đang sống tại trần gian - mà theo Thánh Kinh thì thủ lãnh của nó là ma quỉ (x. Ga 12,31; 14,30; 16,11; Ep 2,2) - đầy những bất trắc, đau khổ và đầy hạn chế… có khác gì cuộc sống khó khăn dưới một chế độ độc tài. Nhưng cũng theo Thánh Kinh, chúng ta còn có một cuộc sống khác lâu dài hơn, hạnh phúc hơn, tự do hơn rất nhiều ở bên kia cõi chết; đó là đời sau hay cuộc sống vĩnh cửu. Cuộc sống cơ cực đời này kéo dài nhiều lắm khoảng 100 năm, còn cuộc sống hạnh phúc kia kéo dài vô tận. Người Kitô hữu tuy sống ở trần gian, tuy tích cực xây dựng cuộc sống ở trần gian, nhưng tâm hồn luôn ngưỡng vọng về cuộc sống hạnh phúc đời sau. Có hai cách sống ở đời này, tương tự như cách 1 và 2 trong minh họa trên.
Mỗi người chúng ta đang sống theo cách nào? Những gì bất lợi cho cuộc sống đời sau, dù nó có đem lại lợi lộc vô vàn ở đời này, cũng là những mối họa. Còn những gì thuận lợi cho cuộc sống đời sau, dù có đem lại nhiều bất lợi cho cuộc sống đời này, cũng là những mối phúc. Đặt vấn đề như thế, chúng ta sẽ dễ hiểu được đâu là những mối phúc đích thực, đâu là những mối họa đích thực khi ở trần gian này. Nhờ đó ta mới hiểu được những câu nói có vẻ như nghịch lý của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng trên.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, con biết luật nhân quả là gieo nhân nào thì gặt quả nấy. Nếu con gieo nhân thuộc trần gian, con sẽ gặt được những gì thuộc trần gian. Nếu con gieo nhân thuộc vĩnh cửu, con sẽ gặt được những gì thuộc vĩnh cửu. Khi còn ở trần gian, nếu con chỉ gieo nhân thuộc trần gian, thì khi bước sang đời sống vĩnh cửu, con hoàn toàn trắng tay. Nếu ở đời này, con gieo nhân cho đời sau, thì đời sau con sẽ giàu có, nhưng đời này con phải chấp nhận cuộc sống chỉ tạm đủ với những gì tình thương quan phòng của Cha ban cho con. Xin cho con nhận ra đâu là cách gieo nhân khôn ngoan nhất, đem lại lợi ích cho con nhất.

 

TN6-C14. Phúc cho kẻ nghèo khó - Lm. Đan Vinh

Học sống Lời Chúa
1) Lời Chúa : “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó”
2) Câu chuyện : Chiếc áo lót của một người chăn chiên
 

Một ông vua nọ có đủ mọi thứ trên đời : Nào là cung điện nguy nga tráng lệ, vàng bạc chất: TN6-C14

Một ông vua nọ có đủ mọi thứ trên đời : Nào là cung điện nguy nga tráng lệ, vàng bạc chất đầy kho, đủ thứ cao lương mỹ vị; Lại cũng có cả một đoàn cung tần mỹ nữ phục vụ ngày đêm…Thế mà nhà vua vẫn không cảm thấy được hạnh phúc. Ngài buồn phiền không ăn uống bình thường được nên đã phát bệnh. Một danh y được mời đến bắt mạch và bốc thuốc chữa bệnh cho nhà vua. Sau khi thăm mạch, vị danh y cho biết đức vua bị tâm bệnh, không cần dùng thuốc, chỉ cần nhà vua mặc được chiếc áo lót của một ai đó đang sống sung sướng hạnh phúc, là đủ để khỏi bệnh. Quân lính được sai đi khắp nơi tìm kiếm con người hạnh phúc nhất để mượn chiếc áo lót mang về cho nhà vua mặc và chữa bệnh. Sau nhiều ngày tìm kiếm mà vẫn không tìm ra ai là người thực sự hạnh phúc. Người được hạnh phúc thỏa mãn về điều này thì lại bất hạnh về điều kia; người được no đủ cơm áo vật chất thì lại bị đau khổ dằn vặt trong tâm…Rồi đến một hôm, khi đoàn người tìm kiếm sắp nản lòng thất vọng, thì đột nhiên họ nghe tiếng hát của một anh chàng chăn chiên rất vui vẻ. Anh ta ca hát say sưa với nét mặt sung sướng hạnh phúc. Chắc hẳn đây chính là con người hạnh phúc nhất trên đời, mà họ đang ra sức tìm kiếm. Đám quân lính liền đến bên hỏi thăm anh chàng chăn chiên và được anh thừa nhận luôn cảm thấy mình được sung sướng hạnh phúc. Toán lính liền xông vào lột chiếc áo khoác sờn rách cũ kỹ của người chăn chiên để tìm lấy chiếc áo lót đem về cho nhà vua mặc. Thế nhưng thật bất ngờ : Anh chàng chăn chiên này nghèo quá đến nỗi ngoài chiếc áo khoác đang mặc, trên người anh ta chẳng có một chiếc áo nào cả !
3) Suy niệm :
+ Cái chết của công nương Dai-nơ (Diana) bên nước Anh làm cho trái tim hàng triệu người trên thế giới xúc động. Người ta thương tiếc bà không phải vì bà có nét mặt khả ái xinh đẹp, nhân từ, mà còn vì bà chưa kịp được hưởng một chút hạnh phúc mong manh bên người bạn trai sắp làm chồng của bà. Hạnh phúc là niềm khao khát của con người. Người ta sinh ra là để được sống hạnh phúc. Cả đời người là một cuộc hành trình đi tìm hạnh phúc. Thiên Chúa muốn cho con cái loài người được hạnh phúc.
+ Một em thiếu nhi lượm được tiền mà đem nộp cho công an để trả lại cho người đánh rơi; Một giáo viên nghèo nhưng vẫn theo đuổi nghề giáo, đào tạo những công dân tốt cho xã hội; Một cô gái trẻ đẹp sẵn sàng bỏ nghề thư ký riêng với mức thu nhập hằng tháng khá cao, để tránh vướng mắc vào mối tình vụng trộm với ông giám đốc; Một anh công an dám từ chối một số tiền hối lộ lớn lao…Những người này đang thực hành sống theo mối phúc thật trong Tin Mừng hôm nay : “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em”.
+ Người đời thường coi hạnh phúc bắt nguồn từ sự giàu sang phú quý, từ danh thơm tiếng tốt, từ quyền cao chức trọng…Nhưng Đức Giêsu lại có một kiểu đánh giá riêng : Người chúc phúc cho những kẻ nghèo hèn ! Tuy vậy, Người không đề cao sự bần cùng, vì : “Bần cùng sinh đạo tặc !”.
+ Đức Giêsu đã sống các mối phúc : Người chọn làm nghề thợ mộc nghèo hèn hằng ngày phải lao động kiếm sống; Người đã từng cảm nghiệm sự đói khát trong thời gian ăn chay 40 đêm ngày; Người từng nhỏ lệ khóc thương thành Giêrusalem sắp bị tàn phá; Trong cuộc khổ nạn, Người chấp nhận đau khổ : chịu xỉ nhục, bị đánh đòn và chịu đóng đanh vào thập giá…Nhưng Đức Giêsu luôn được hạnh phúc vì đã vâng phục thánh ý Chúa Cha…Tóm lại, Đức Giêsu đã tự nguyện sống khó nghèo về vật chất, là để giúp loài người chúng ta trở nên giàu có về tinh thần.
+ Hôm nay Người muốn chúng ta thay Người để đi thăm và chia sẻ một món quà cho những người nghèo đang nằm la liệt tại các bệnh viện, cho những trẻ em đường phố…Người muốn chúng ta xóa nghèo về kiến thức, vì bệnh tật yếu đau và vì thiếu niềm vui…sự no đủ và niềm vui ấy phải được bắt đầu ngay từ đời này. Ước gì chúng ta sống như Đức Kitô : “Nguồn vốn giàu sang phú quý, nhưng đã hóa nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (x. 2 Cr 8,9).
4) Thảo luận : 1) Tiền bạc có gía trị thế nào ? Tại sao Đức Giêsu lại dạy rằng : “Người giàu có thật khó mà vào Nước Trời!”. 2) Phải chăng Chúa coi sự nghèo khó bần cùng là điều tốt và đáng được chúc phúc ? Ta phải hiểu câu : “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em” thế nào cho đúng ý Chúa ? 3) Mỗi người chúng ta phải làm gì để góp phần xóa đói giảm nghèo trong môi trường chung quanh chúng ta : Giúp mọi người đều được ăn no mặc ấm, giúp dẫn đưa trẻ em thất học đến trường, giúp các bệnh nhân đau ốm được có đủ phương tiện chữa bệnh cách hữu hiệu…?
Hiệp sống nguyện cầu
1) Lạy Chúa Giêsu, Sao Chúa lại sinh ra trong thân phận người nghèo ? Đói nghèo cực khổ lắm, Chúa không biết hay sao? Vừa túng thiếu vừa vất vả nhọc nhằn, vừa bị người ta khinh dể, ôi thật là bị thiệt thòi đủ thứ ! Chúa chọn cảnh nghèo như thế làm chi vậy ? Nếu không phải là Chúa, thì thế nào người ta cũng chê Chúa khờ dại ! Nhưng lạy Chúa, dần dần con đã hiểu được rằng : Chỉ có Chúa là Đấng thánh thiện, khôn ngoan và thương yêu vô cùng mới dám dại khờ như thế. Thật vậy, việc Chúa chọn thân phận nghèo chính là nguồn động viên an ủi lớn lao cho con. Trước hết, với cuộc sống nghèo, Chúa đã tích cực chia sẻ thân phận nghèo hèn của con. Chúa chia sẻ thực sự bằng cách sống với người nghèo, sống trong cảnh nghèo, như người nghèo và cho người nghèo. Nhìn vào cuộc đời của Chúa, con thấy Chúa còn nghèo khổ hơn con. Nhưng nhờ đó con cảm thấy Chúa thật gần gũi với con như một người bạn, như một người Cha. Không ai dám chia sẻ đời nghèo của con để sống gần con như Chúa. Có Chúa ở bên, con cảm thấy bớt cô đơn buồn tủi. Xin cho con từ bỏ ý riêng của con để hoàn toàn vâng theo thánh ý Chúa.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
2) Lạy Mẹ Maria. Xin cho con nhìn thấy Chúa Giêsu đang hiện thân nơi những người đau khổ, nghèo đói và bất hạnh. Con hiểu rằng cả những người giàu có cũng vẫn là người nghèo, vì họ cũng đang cần sự giúp đỡ để tìm ra cho cuộc đời mình một ý nghĩa. Con cảm nhận rằng chính con cũng là một người nghèo, vì con cũng cần sự giúp đỡ của tha nhân : Cần một nụ cười cảm thông, một ánh mắt an ủi, một lời động viên nâng đỡ.
Lạy Mẹ, xin cho chúng con biết dâng lời cảm tạ Chúa, vì Người đã dựng nên chúng con trong tình trạng nghèo khó, nghĩa là luôn cần được cha mẹ và người khác giúp đỡ. Qua đó, Chúa mời gọi chúng con cũng phải mở rộng vòng tay để chia sẻ tình thương cho tha nhân. Xin Mẹ giúp chúng con cảm tạ Chúa, vì Chúa cũng mang thân phận nghèo hèn với chúng con, cũng cần được chúng con cộng tác giúp đỡ, để hoàn tất chương trình cứu độ mà Chúa đã khởi sự cách đây 2000 năm. Xin cho chúng con biết cảm tạ những ơn lành Người đã thương ban, để chúng con cũng biết quảng đại chia sẻ tình thương cho những người nghèo đói bất hạnh chung quanh chúng con.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

 

TN6-C15. PHÚC HOẠ THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ

- Gier. Nguyễn Văn Nội.
ĐÓN NHẬN & SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA
 

Tiêu chuẩn phúc họa của Đức Giêsu Kitô: (a) Thật khó mà cho rằng cảnh nghèo (vật chất: TN6-C15

1. Tiêu chuẩn phúc họa của Đức Giêsu Kitô: (a) Thật khó mà cho rằng cảnh nghèo (vật chất, tinh thần) là cảnh phúc và cảnh giàu có (vật chất, tinh thần) là cảnh khổ. Tự nó, cảnh nghèo là cảnh khổ và cảnh giầu là cảnh sướng. Nhưng tất cả chỉ là tương đối và phiến diện mà thôi. Cảnh nghèo (tức sống nghèo khó hoặc đang bị đói hoặc đang phải khóc, hoặc đang bị oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa vì Chúa và vì đạo) sẽ trở thành cảnh phúc khi người trong cuộc khám phá ra rằng: Họ được Đức Giêsu và Thiên Chúa đặc biệt yêu thương, chăm sóc vì họ đã bị thiệt thòi đủ điều về mặt kinh tế, xã hội, chính trị và tôn giáo. Còn cảnh giầu (được giầu có, no nê, vui cười, được mọi người kính trọng và ca tụng) sẽ trở thành cảnh họa, vì những giầu sang hạnh phúc ấy không phải là hạnh phúc thật mà trái lại có thể trở thành những vật cản, những cạm bẫy khiến con người ta bị lừa, bị gạt (Dụ ngôn ông nhà giầu và Ladarô nghèo khó trong Lc 16,19-31).
 (b) Để hưởng được phúc thật của Chúa, chúng ta phải biết sống yêu thương, san sẻ những gì mình đang có với những người nghèo khó hơn mình, giúp đỡ những người đang cần đến chúng ta. Chúng ta còn phải sống siêu thoát, không tìm kiếm những lời khen hão huyền giả trá. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng: một trong những trọng điểm của Phúc âm là những mời gọi cũng là những đòi hỏi của Đức Giêsu Kitô đối với những ai muốn theo Người là phải từ bỏ, nhất là từ bỏ của cải và danh vọng thế gian.
2. Quyết tâm thực thi sứ điệp Lời Chúa trong tuần:
* Nếu tôi đang sống trong cảnh nghèo thì quyết tâm của tôi là: sống tin cậy, phó thác cho Chúa Quan Phòng, không ham muốn của cải vật chất chóng qua, mà chú tâm khám phá Tình Thương của Chúa trong cuộc đời mình.
* Nếu tôi đang sống trong cảnh giầu thì quyết tâm của tôi sẽ là: sống tỉnh thức, siêu thoát đối với của cải và danh vọng và san sẻ những gì đã lãnh nhận với những người thiếu thốn hơn mình.
CẦU NGUYỆN : Lạy Thiên Chúa là Cha toàn năng và yêu thương, nhờ Đức Giêsu Kitô, Con Cha, Chúa chúng con, Cha đã chỉ dạy cho chúng con con đường đạt tới hạnh phúc thật. Nhưng chúng con phải thú nhận rằng: chúng con đi tìm hạnh phúc theo phương cách và tiêu chuẩn của thế gian hơn là theo phương cách và tiêu chuẩn mà Chúa Giêsu đã vạch ra cho chúng con trong Phúc âm, nhất là Lời Chúa hôm nay. Chúng con ham hố của cải, danh vọng, chức quyền thế gian. Chúng con sống giả hình trong đời sống đạo. Chúng con còn xa với Giáo lý của Đạo mặc khải. Xin Cha đoái thương cứu giúp và biến đổi chúng con bằng sức mạnh của Đấng Phục Sinh, Con Cha và bằng ơn canh tân biến đổi của Ngày Lễ Ngũ Tuần của Thần Khí Cha. Amen.
 

TN6-C16. Những Anawim của Thiên Chúa - Lm Phạm Ngọc Ngôn

Sau khi lên núi cầu nguyện suốt đêm và tuyển chọn trong số các môn đệ 12 vị làm Tông đồ: TN6-C16

Sau khi lên núi cầu nguyện suốt đêm và tuyển chọn trong số các môn đệ 12 vị làm Tông đồ cách long trọng, giờ đây Chúa Giêsu cùng các môn đệ của Người xuống núi đến một chỗ bằng phẳng có đông dân chúng tụ tập. Chính tại đây, thánh sử Luca ghi lại bài giảng của Chúa Giêsu về 4 mối phúc và 4 mối hoạ được lồng trong loạt “bài giảng dưới đồng bằng”. Về xuất xứ của các mối phúc - hoạ này, dựa theo văn mạch Tin mừng, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra chủ ý của Luca. Thật thế, Luca cho thấy rằng trước đó, Chúa Giêsu đã bị những người giàu có, quyền thế Pharisêu và Kinh sư hạch sách nhiễu nhương (x. 6,1-11); đang khi đó, các môn đệ và dân chúng mà chủ yếu là những kẻ nghèo hèn, bệnh hoạn tật nguyền thì lại kéo đến với Chúa để nghe lời Người (x. 6,17-19). Chính từ trong bối cảnh này, Chúa Giêsu công bố mối phúc cho những ai đến nghe lời Người và mối hoạ cho những kẻ hạch sách, khinh khi.
Khác với Mátthêu, Tin mừng Luca gắn kết các mối phúc đầu liên hệ chặt chẽ với nhau để nói đến thân phận nghèo khổ của con người. Người nghèo ở đây, theo nghĩa Kinh thánh, là những “Anawim” đồng nghĩa với những kẻ khố rách áo ôm, sống hoàn toàn lệ thuộc vào người khác. Chúng ta có thể hiểu Anawim theo hai nghĩa.
Theo nghĩa xã hội, Anawim là những người nghèo thật sự, bất lực, chịu nhiều thiệt thòi, không thể bênh vực cũng như không thể chống cự lại được. Đó chính là hạng người cùng đinh vô sản, cuộc đời của họ đầy khóc lóc đau thương.
Theo nghĩa tôn giáo, Anawim là những con người sống đời sống khiêm hạ. Cuộc đời của họ không chỉ khiêm nhu trước mặt người đời mà còn cúi mình khiêm hạ trước Thiên Chúa và đón nhận thánh ý Người. Bởi lẽ, hơn ai hết, các Anawim này hiểu rõ mình chỉ là tôi tớ khiêm nhu của Thiên Chúa và đặt hết niềm vậy trông nơi tình yêu quan phòng của Người. Họ hiểu rằng cuộc đời của họ luôn luôn và vẫn phải luôn là những trẻ thơ tựa nương vào lòng mẹ để tin tưởng và phó thác.
Chính từ trong ý nghĩa này, Chúa Giêsu đã chúc phúc cho những Anawim khó nghèo. Chúng ta biết rằng, tự bản chất, nghèo khó không phải là cái đáng quý. Tuy nhiên, nghèo khó có giá trị hay không tuỳ thuộc vào thái độ của người đón nhận. Thật vậy, người nghèo mà bất mãn sự đời, đố kỵ tham lam thì chẳng khác gì những người giàu có sống xa Chúa. Như thế, nghèo chỉ có giá trị khi chúng ta biết đón nhận với lòng tin tưởng phó thác cậy trông. Bao lâu chúng ta chưa ý thức thân phận nghèo hèn bất lực của mình, khi ấy chúng ta chưa nhận ra quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa. Chúa Giêsu chúc phúc cho những người nghèo không phải vì họ đã làm gì nên công trạng, nhưng là vì cảnh đời nghèo khó của họ và hơn thế nữa chính do bởi lòng tin tưởng phó thác mà Thiên Chúa đứng về phía họ. Cho hay, hạnh phúc của con người không phải được xây dựng trên khía cạnh vật chất mà chính là được xây trên tình yêu của Thiên Chúa cũng như lòng cậy trông của con người.
Chúa Giêsu dùng các mối hoạ để cảnh báo những người giàu có, ăn chơi phè phởn, hả hê sung sướng và được thiên hạ ca tụng. Sở dĩ những hạng người này đón nhận lời chúc dữ là bởi vì chính sự giàu sang của họ, chính sự ăn chơi vô độ của họ cách nào đó đã khép chặt tâm hồn họ. Với cái nhìn thiển cận, họ chỉ nhìn với cái nhìn nông cạn, thực tế của đời sống hiện tại mà không biết rằng, lợi ích thực sự không nằm ở đó. Sự giàu sang không cho phép họ nghĩ đến người khác, khép kín tâm hồn lại trước những người nghèo khổ, bệnh hoạn tật nguyền. Và, điều quan trọng hơn chính ở chỗ, sự giàu sang, vinh hoa phú quý trên đời này như một ông thần chiếm lĩnh toàn bộ con tim, khối óc và hành động của họ, không còn chỗ cho Thiên Chúa ngự trị. Xét cho cùng, những kẻ giàu sang này kỳ thực là những người nghèo đáng thương. Họ nghèo vì nhiều lẽ: nghèo về lý tưởng cuộc đời, về ý nghiã cuộc sống; nghèo về lòng bao dung thương xót và nhất là nghèo về một cuộc sống hạnh phúc trường cửu mai sau.
Hơn ai hết, Chúa Giêsu đã sống triệt để các mối phúc để nêu gương cho chúng ta. Riêng phần mình, thiết tưởng chúng ta hãy tự phản tỉnh để nhìn ra con người thật của mình: giờ đây tôi là người có phúc hay là người mang hoạ? Có thể chúng ta chẳng giàu có gì nhưng vấn đề không phải ở đó, không phải ở chỗ chúng ta có nhiều của cải hay không mà chính là thái độ dính bén vào của cải nhiều hay ít. Là Kytô hữu, chúng ta hiểu rằng danh vọng, giàu sang nơi trần thế này chỉ là giới hạn sớm muộn gì nó cũng tan biến, nay còn mai mất, điều chúng ta thực sự hạnh phúc đó chính là lòng cậy trông, tin tưởng phó thác trong tình yêu của Thiên Chúa và hạnh phúc trường cửu mai sau.

 

TN6-C17. Hiến chương Nước Trời - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Chúa Giêsu sau một thời gian đi rao giảng cùng các môn đệ khắp các vùng Galilêa, Capharnaum: TN6-C17

Chúa Giêsu sau một thời gian đi rao giảng cùng các môn đệ khắp các vùng Galilêa, Capharnaum và các vùng phụ cận, sau khi Ngài đã làm nhiều phép lạ, sau khi tiếng tăm Ngài đã lừng danh khắp nơi, trở về Nagiarét, quê hương của Ngài, Chúa Giêsu đãđọc đoạn ngôn sứ Isaia Lc 4, 18-19, ám chỉ chính Ngài, và sau khi đã có trong tay 12 đệ tử thân tín, Chúa Giêsu hôm đó đã công bố Hiến Chương Nước Trời hay nói cách nôm na hơn Tám Mối Phúc Thật.
CÔNG BỐ TÁM MỐI PHÚC, CHÚA GIÊSU KHAI MỞ TRIỀU ĐẠI THỰC SỰ CỦA NƯỚC NGÀI: Khác với mọi hứa hẹn và chương trình hành động của các vị Tổng Thống, Thủ Tướng ở trần gian, Chúa Giêsu không hứa hẹn sẽ làm cho thần dân giầu sang phú quí, xe hơi, nhà lầu, vườn tược, phân bón, nước tưới tiêu đầy đủ và hứa hẹn cho thần dân được quyền lợi này nọ, ấm no hạnh phúc hoặc đưa ra một chương trình hành động xôm tụ trước nội các là 12 môn đệ và dân chúng xúm quanh Ngài để nghe Ngài công bố chương trình. Không, Chúa Giêsu có một quan niệm ngược hẳn mọi suy nghĩ, cân nhắc, đắn đo của con người trần thế. Trước một nhóm gọi được là nội các của Chúa Giêsu gồm 12 ông hầu hết là dân chài, những thành phần lao động cần cù trong xã hội Do Thái và trước một đám đông dân chúng ngưỡng mộ, khao khát lời Chúa và các phép lạ họ đã chứng kiến. Hôm nay, họ cũng tưởng rằng Chúa Giêsu sẽ đưa ra một chương trình hành động, một kế hoạch cho một nhiệm kỳ lãnh đạo của Ngài, Chúa Giêsu lại tuyên bố một hiến chương xem ra làm thất vọng mọi người. Thay vì hứa hẹn cho con người được ấm no, cơm ăn áo mặc, phủ phê, Chúa Giêsu lại công bố những điều trái với quan niệm và suy nghĩ của con người.” Phúc cho kẻ đói, kẻ khát, kẻ rách rưới, trần truồng, bị áp bức, tù đầy, bị khinh chê, ruồng bỏ” và “khốn cho những kẻ giầu có, kẻ o đủ, kẻ vui cười, ngồi trên nhung lụa, ăn mặc diêm dúa, quần này áo nọ, kẻ được ăn trên ngồi trốc, được kính nể trọng vọng”. Rõ ràng là những lời công bố khác với ý định của mọi người, người bần cùng thì có phúc mà người khá giả, thành đạt lại bị kết án nguyền rủa.
MỘT HIẾN CHƯƠNG KHÁC LẠ: Thực tế, đối với con người trần gian ở muôn thời thì nơi đâu giầu có, phong túc, phong nhiêu thì nơi đó tốt đẹp. Người nào có tiền, có của thì người đó xem ra muốn làm gì cũng được và được người khác trọng vọng, tôn kính. Nhưng đối với Chúa Giêsu lại khác. Tám mối phúc lại là những nấc thang giúp con người bước lên để đạt được sự vinh quang linh thánh. Chúa yêu thương những con người xem ra không ra gì trước mặt con người, nhưng lại biết mở lòng khao khát sự phong nhiêu của Thiên Chúa. Khi đưa ra hiến chương nước trời, Chúa Giêsu không có ý làm cho xã hội bần cùng hóa, không muốn làm cho con người nghèo hèn, yếu đuối, lạc hậu, Chúa không muốn đi ngược lại với đà tiến bộ của xã hội con người. Hiến chương nước trời của Chúa Giêsu không có ý để Chúa làm phép lạ cho đất chảy sữa và mật ong, rồi con người cứ ung dung chờ đợi, không cần làm việc, không cần lao động. Chúa Giêsu quả thực đã đưa ra một lối sống mới, lối sống của Tin Mừng đi ngược lại với danh vọng, tiền của của con người luôn ước muốn có được để mong được cái hạnh phúc chóng qua. Khi tuyên bố”Phúc cho những con người nghèo khó”, Chúa Giêsu không có ý biến thế giới nầy thànhh nghèo đói, bần cùng, của cải là phương tiện, chính cái cốt lõi để được hạnh phúc là yêu thương, liên đới và bác ái, quảng đại, tình người.
Lạy Chúa, xin cho mọi người Kitô hữu nhận ra rằng Hiến Chương Nước Trời là những nấc thang giá trị vĩnh cửu để con người tìm và đạt được chính nước Thiên Chúa. Xin cho con người cảm nghiệm tiền của là phương tiện giúp con người biết sống giá trị vĩnh cửu của cuộc đời và cứu cánh của con người là chính Đức Kitô cứu thế.
GỢI Ý CHIA SẺ :
1. Bạn biết gì về Hiến Chương Nước Trời ?
2. Hiến chương nước trời còn được gọi bằng tên gì nữa ?
3. Tại sao Chúa Giêsu lại công bố Hiến chương nước trời ?


 

TN6-C18. Chúa hứa ban hạnh phúc - Lm. Trần Bình Trọng

Thế kỷ ta đang sống là một thế kỷ tiến bộ lạ lùng trong mọi cố gắng của loài người. Loài người: TN6-C18

Thế kỷ ta đang sống là một thế kỷ tiến bộ lạ lùng trong mọi cố gắng của loài người. Loài người đã khống chế được không gian và thời gian: du lịch mau lẹ hơn tiếng động. Loài người còn được hưởng những dịch vụ nhanh chóng bằng cách chỉ cần bấm nút là có món hàng mình muốn, và có thể nói với người ở xa cả hàng ngàn dậm. Muốn mua bao thuốc lá, bỏ tiền vào máy, bấm nút, có liền; muốn mua lon nước ngọt cũng vậy. Người ta có thể thu gọn cả thế giới vào trong cái màn ảnh vô tuyến truyền hình trong phòng. Loài người đã lên cung trăng, đã đi vào thế giới nguyên tử, đã khám phá ra những bí mật của bệnh truyền sinh. Loài người tiến quá lẹ đến nỗi một món hàng sản xuất vừa ra khỏi khuôn đã trở thành lỗi thời. Chẳng hạn như đồ vi tính, vừa mua máy này, đã nghe có máy tốt hơn sắp ra.
Tất cả những tiến bộ đó có được là nhờ sự hiểu biết về khoa học của loài người. Du lịch, truyền thông, y tế, canh nông, giải trí, hầu như tất cả mọi lãnh vực trong cuộc sống con người đều được phát triển nhờ khoa học kỹ thuật. Khi gặp nguy hiểm, người ta xây hầm trú ẩn, hay có quân đội bảo vệ an ninh. Người ta lái xe có thắt giây an toàn. Người ta giữ giấy tờ quan trọng trong hộp an toàn trong nhà băng. Người ta mua bảo hiểm sức khoẻ, bảo hiểm sinh mạng, đóng tiền an sinh xã hội cho tuổi già…
Tuy nhiên mặc dầu với những tiến bộ về khoa học, cũng như những tiện ích người ta được hưởng dùng, người ta vẫn không có hạnh phúc thực sự ở đời này. Vậy làm sao để giải quyết vấn đề thiếu hạnh phúc? Tiên tri I-sai-a trong bài trích sách Cựu ước hôm nay cho ta một giải pháp: Phúc cho người đặt tin tưởng vào Chúa vì có Chúa làm nơi nương thân (Gr 17: 7). Thánh Phao-lô trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô vọng thêm: Nếu chúng ta đặt hi vọng vào Đức Ki-tô chỉ ở đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hại nhất trần gian (1Cr: 15:19). Trong bài Phúc âm, Chúa Giê-su chúc phúc cho những người mà trước mặt người đời là những người đáng thương hại: người nghèo khó, đói khát, khóc lóc và bị thù ghét. Chúa bảo ta những người được Chúa chúc phúc không phải là những người được người đời ưu đãi. Những đau khổ và bất hạnh của những người bất hạnh trước mặt thế gian, không phải là dấu hiệu Chúa bỏ rơi họ.
Tại sao những người này được chúc phúc và làm sao để được Chúa chúc phúc? Thường những người nghèo khó, đói khát, khóc lóc và bị thù ghét không có gì để bám víu, không có tài năng để làm nên sự nghiệp, không có thế lực để tự bênh đỡ mình, không có bạn bè để nương tựa. Trong trường hợp này họ có thể nảy sinh ra hai phản ứng khác nhau. Phản ứng thứ nhất là họ có thể trở nên thất vọng, sinh ra hận Chúa và hận đời nên dễ làm càn. Cái phản ứng thứ hai là họ tìm đến cậy trông, nương tựa vào Chúa khi không còn gì để bám víu và nương tựa. Họ ý thức về sự hiện diện của Chúa trong đời sống. Và ý thức về sự hiện diện của Chúa là dấu hiệu sơ khởi được Chúa chúc phúc. Khi ý thức được sự hiện diện của Chúa trong đời sống, họ nảy sinh ra cái lòng kính sợ Chúa, không dám làm mất lòng Chúa. Họ cũng nảy sinh ra cái lòng cậy trông vào quyền năng Chúa, tin rằng Chúa sẽ bênh đỡ họ, ở bên họ và trợ giúp họ. Họ tin rằng Chúa sẽ bù đắp cho họ những thiếu sót của họ về của cải, bạn bè, và tài năng mà họ không có, nếu không được ở đời này, thì đời sau họ sẽ được bù đắp. Khi mà cái cùng đích, cái chủ thể, cái lẽ sống của họ là Chúa, thì mặc dù họ không có của cải, bạn hữu, quyền thế, sự nghiệp, họ vẫn không bị sụp ngã, thất vọng, nhưng vẫn còn gì để bám víu. Và cái nơi họ nương tựa bám víu là chính Chúa. Và đó là hạnh phúc của họ.

 

TN6-C19. Phúc Cho Người Nghèo Khó

Một bé gái đi học ngày đầu tiên. Khi nó trở về nhà và bố nó hỏi rằng, "Hôm nay con học được: TN6-C19

Một bé gái đi học ngày đầu tiên. Khi nó trở về nhà và bố nó hỏi rằng, "Hôm nay con học được những gì?" Đứa bé trả lời, "Con làm những gì mà những đứa khác làm." "Thế con làm cái gì?" bố nó hỏi lại. "Thì chúng nó khóc nhè, khóc nhiều lắm!" Tôi cho rằng nếu chúng ta làm những gì mà nhiều người khác làm, thì chúng ta sẽ là những con người đang khóc. Chúng ta thường thấy rằng những gì đang xảy ra trên thế giới và trong cuộc sống cá nhân của mỗi người đi ngược lại với những gì Thiên Chúa đã thể hiện nơi Chúa Giêsu. Chúng ta phải là đoàn người của niềm vui và hy vọng. Đó là một điều vĩ đại mà chúng ta cần phải tụ tập và lắng nghe lời Chúa lập đi lập lại để giúp chúng ta có thể đứng vững sau những công việc vất vả đã lôi chúng ta xuống. Đây là chân lý của Phúc Âm: Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô vàn.
Tuy nhiên đó chỉ mới có một nửa của câu truyện vĩ đại. Giây phút mà các bạn nghe Tin Mừng, lắng nghe với tất cả tâm tình, các bạn sẽ tự hỏi mình, "Tôi cần phải làm gì để đáp lại lời mời gọi đó? Tôi có thể làm gì để thực hiện những điều đó trong cuộc sống của tôi? Làm sao để cho những lời đó trở thành của tôi?"
Bài Giảng Trên Núi, từ đầu cho đến cuối, là những lời chỉ dẫn. Chính Chúa Giêsu đã cho rằng các bạn đã nghe Tin Mừng của Ngài và các bạn muốn đáp lại. Bài giảng trên núi bắt đầu bằng những mối phúc, "Phúc cho ai..." Chữ Phúc tiếng Anh là "Blessed", có nghĩa là "đầy đủ", "hoàn hảo", "trọn vẹn." Một người mà được chúc phúc thì có nghĩa là cuộc sống của họ bình an hạnh phúc. Đó chính là điều mà Chúa Giêsu muốn đề cập đến trong các mối phúc. Thật là tốt lành khi bạn được chúc phúc. Bạn sẽ trọn vẹn và đầy đủ biết bao nếu bạn đáp lại những điều mà Ngài dạy dỗ chúng ta.
Đọc các mối phúc trong Bài Giảng Trên Núi thì giống như là chúng ta mở một thùng quà có nhiều cái ngạc nhiên. Cái ngạc nhiên đầu tiên chính là khi Chúa Giêsu nói rằng phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó. Khi đề cập đến sự khó nghèo thì đó là một vấn đề, bởi vì chúng ta thường làm tất cả những gì có thể để tránh nghèo khó. Chúng ta không ai muốn nghèo cả. Như một người đã từng nói, "Suốt cuộc đời của tôi, nghèo có, giàu có, nhưng tôi nói thiệt, giàu thì tốt hơn." Ở trong tận thâm sâu chúng ta vẫn thường nghĩ như vậy. Vấn đề được đặt cho chúng ta đó là trong tiếng Hy lạp, tiếng mà Chúa Giêsu đã dùng để diễn tả sự khó nghèo không phải là chữ nói đến sự thiếu thốn, nhưng mà có nghĩa là nghèo cùng cực. Và chúng ta phải đương đầu với một vấn đề. Bài giảng trên núi bắt đầu bằng cái mối phúc khó nghèo. Khi chúng ta so sánh bản văn của Thánh Luca hôm nay với bản văn của Thánh Matthêu, thì vấn đề khó nghèo được rõ nghĩa hơn. Chúa Giêsu có ý muốn nói với chúng ta rằng khi dùng của cải, chúng ta không được cậy dựa vào chúng, nhưng phải biết rằng chúng từ Thiên Chúa mà đến. Và "Phúc cho ai" nhận biết rằng họ thật khó nghèo khi họ không có Chúa ở trong lòng; khi họ nhận ra sự trống vắng trong nội tâm và biết cậy trông vào Chúa.
Có lẽ nhiều lần chúng ta đã nghe những lời nói trên, thế nhưng đã có bao lần chúng ta để ý và đem ra thực hành trong cuộc sống. Đó là một sự mẫu thuẫn nếu chúng ta bắt đầu suy nghĩ về nó. Chúng ta những người biết hãnh diện về cái ý tưởng 'tự mình làm nên mình' và 'tự lập'. Khi Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng chúng ta cần phải khó nghèo, sự thất vọng và sự trống vắng trong con người của chúng ta nói với chúng ta rằng, "Không, tôi không thể nào làm như vậy được. Tôi đã không được nuôi lớn bằng kiểu cách như vậy. Tôi đã không được qui định như thế." Chúng ta có thể nhìn thấy điều này trong hai câu thơ sau đây: "Tôi là chủ vận mạng của tôi. Tôi là thủ lĩnh linh hồn của tôi (William B. Henley). "Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ." Một người nói, "Tôi quá đầy đủ", đó là kiêu ngạo. Người kia nói, "Tôi hoàn toàn cậy dựa vào Thiên Chúa", và đó là cái phúc. Đây là một thách đố cho chúng ta. Chính Chúa Giêsu đã nói với chúng ta rằng nếu chúng ta muốn nên hoàn thiện thì phải biết từ bỏ tất cả con người của mình và phó thác cuộc đời mình cho Ngài. Sự viên mãn của cuộc sống được bắt đầu khi chúng ta nói với Chúa, "Lạy Chúa, con đã đến chỗ cùng cực." Thật là phúc cho ai biết sống khó nghèo trong tâm hồn. Đó là cái chìa khóa, mối phúc thứ nhất, trong Bài Giảng Trên Núi. Nếu các bạn không biết đón nhận mối phúc thứ nhất này, thì các bạn sẽ không có thể nào hiểu nổi những mối phúc khác.
Trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giêsu đã ban bố cho chúng ta chương trình của đời sống Kitô hữu. Chương trình này được dựa trên tiền đề là chúng ta phải biết cậy trông phó thác cho Chúa, không phải chỉ là cuộc sống Ngài đã ban cho chúng ta, nhưng còn là tất cả những lời chỉ dẫn mà chúng ta cần phải thi hành. Đó là một điều dễ nói, nhưng khó chấp nhận. Bản tính tự nhiên của con người thì khó mà chấp nhận cái chương trình sống mà phải phó thác cho Đấng Toàn Năng. Chúng ta không thể nào thi hành được những việc này nếu chúng ta không có tình yêu của Chúa ở trong tâm hồn.
Tuy nhiên, đó không phải là một sự đòi hỏi của đức tin mù quáng và vâng lời trọn hảo. Đó là tại sao mà Phúc Âm là Tin Mừng. Thiên Chúa mạc khải Ngài qua Chúa Giêsu Kitô, không phải là một con người với một cái gậy lớn, nhưng là một người với một trái tim lớn. Thiên Chúa không chỉ kêu mời chúng ta tin tưởng vào Ngài và cậy dựa vào Ngài và chấm hết. Ngài còn muốn chúng ta tin tưởng Ngài và cậy trông Ngài bởi vì Ngài yêu thương chúng ta, Ngài biết điều gì tốt cho chúng ta.

 

TN6-C20. SUY TƯ - Giêrônimô Nguyễn văn Nội

Câu hỏi gợi ý:
 

Hạnh phúc là điều ai cũng tìm kiếm, nhưng không phải ai cũng có được. 2. Thế nào là hạnh: TN6-C20

1. Hạnh phúc là điều ai cũng tìm kiếm, nhưng không phải ai cũng có được.
2. Thế nào là hạnh phúc theo quan điểm của Thiên Chúa?
Suy tư gợi ý:
1. Hạnh phúc là điều ai cũng tìm kiếm,
nhưng không phải ai cũng có được:
Ai cũng nhìn nhận rằng: con người được dựng nên để hưởng hạnh phúc và sống ở đời này là để hưởng hạnh phúc. Nhưng thế nào là hạnh phúc thì đó lại là vấn đề phức tạp, gây nhiều tranh cãi và bất đồng: Có người cho rằng hạnh phúc là có dư thừa của cải vật chất. Có người lại cho rằng càng hưởng nhiều lạc thú bao nhiêu con người càng sung sướng bấy nhiêu. Người khác chủ trương rằng hạnh phúc hệ tại có được quyền cao chức trọng trong xã hội, được mọi người phục tùng kính sợ. Nhưng có người lại coi thường cả quyền lực, cả tiền bạc, cả thú vui mà đi tìm hạnh phúc trong đời sống thanh bần, xả kỷ, phục vụ tha nhân. Có thể nói mỗi người có một quan điểm khác nhau về hạnh phúc. Và do đó mỗi người có một cách sống khác nhau.
Nhưng không phải ai cũng có được hạnh phúc như lòng mong muốn. Thật vậy nếu chúng ta đặt câu hỏi với những người chúng ta gắp: "Bạn có cho rằng bạn là người hạnh phúc không?" thì chắc chắn đại đa số sẽ trả lời rằng: "Còn lâu tôi mới là người hạnh phúc!" Cuộc sống con người luôn thiếu một cái gì đó khiến người ta còn mong mỏi chờ đợi và lòng con người như hố sâu không đáy, không biết bao nhiêu là đủ.
2. Thế nào là Hạnh phúc theo quan điểm của Thiên Chúa?
-  Là người công giáo chúng ta tin rằng chúng ta được Thiên Chúa dựng nên và khi Thiên Chúa dựng nên chúng ta thì Người có một chủ ý, một chương trình, kế hoạch cho chúng ta. Chủ ý của Thiên Chúa là để chúng ta được thụ hưởng hạnh phúc trần gian đời này và hạnh phúc thiên đàng đời sau. Chương trình kế hoạch của Thiên Chúa là chúng ta biết xử dụng tất cả mọi cái Thiên Chúa ban cho để đạt tới hạnh phúc ấy. Và để hướng dẫn, soi sáng, nhắc nhở chúng ta thì Thiên Chúa ban cho chúng ta Lời của Ngài. Vì thế mà chúng ta phải tìm hiểu, lắng nghe Lời Chúa, nhất là trong lãnh vực trọng đại này.
- Bài đọc I dậy chúng ta rằng: ai cậy dựa vào Thiên Chúa thì là người có phúc; còn kẻ cậy dựa vào sức mạnh phàm nhân thì là người đáng nguyền rủa. Lời giáo huấn ấy đã trở thành khó hiểu, khó theo, vì chưng khắp nơi người ta thấy sức mạnh của con người là sức mạnh ghê gớm. Còn Thiên Chúa dường như vắng bóng, vì bao thiên tai, lụt lội, chiến tranh, đán áp, bất công, bóc lột vẫn tiếp tục đổ xuống trên những người dân thấp cổ bé miệng và vô tội.
- Lời của Đức Giê-su trong bài Tin Mừng còn khiến chúng ta phải ngỡ ngàng hơn nhiều, vì là những lời còn khó hiểu hơn nhiều: Nghèo khó, đói khát, túng thiếu, phải khóc lóc, bị sỉ vả, hành hạ, khai trừ vì Thiên Chúa là những người có phúc. Còn giầu có, no nê, vui cười, được ca tụng.. lại là những người bất hạnh!!! Nghe lạ tai quá!!! Để tìm hiểu xem Đức Giê-su muốn nói gì với các thính giả thời của Ngài và với chúng ta ngày nay, chúng ta nên nối kết bài Tin Mừng này với đoạn Tin Mừng Lc 4,14-21 của Chúa Nhật thứ 3 Thường Niên. Trong đoạn Tin Mừng ấy Đức Giê-su xác nhận sứ mạng của Ngài là đến cứu chữa, giải thoát những người khổ đau, nghèo hèn, bị áp bức, bị, tù tội. Thiên Chúa Cha giao cho Đức Giê-su sứ mạng ấy vì Thiên Chúa yêu thương những người bị thiệt thòi, bị bỏ quên trong xã hội loài người. Nhờ Tình Thương Yêu ấy mà những người đói nghèo, bất hạnh được an ủi và ấm lòng. Hạnh phúc của họ là được Thiên Chúa xót thương quan tâm đến họ.
- Nhìn vào Đức Giê-su, chúng ta thấy Người cũng đã chọn một cuộc sống có thể gọi là lầm than, vất vả và bị thiệt thòi trăm bề: sinh ra trong cảnh nghèo hèn tại Bê-lem, sống âm thầm và lao nhọc ở Na-gia-rét, đi rao giảng nay đây mai đó khắp các miền đất Pa-lét-tin và nhất là trải qua những ngày bị bắt bớ, đánh đập, tra vấn, sỉ nhục, kết án và chết trên thập giáBất cứ người nghèo hèn, khốn khố nào nhìn vào Đức Giê-su cũng nhận thấy rằng Người có phần nào giống mình: hạnh phúc của những người nghèo hèn, đói khổ là được phần nào giống Đức Giê-su, giống Con Một Thiên Chúa, giống Đấng Cứu Độ nhân loại! Chỉ trong cái nhìn như thế, chúng ta mới hiểu được ý nghĩa đích thực của các mối phúc thật của Tin Mừng.
- Vậy theo quan điểm của Thiên Chúa thì hạnh phúc là được Thiên Chúa thương yêu. Vậy thì mọi người đều là người hạnh phúc, vì mọi người đều được Thiên Chúa yêu thương! Đúng thế, nếu xét trên phương diện lý thuyết và khách quan, vì quả thật mọi người đều được Thiên Chúa yêu thương và được Chúa Giêsu cứu độ bằng Máu châu báu cùa Ngài. Nhưng trong thực tế không phải tất cả mọi người đều cảm nhận được Tình Yêu của Thiên Chúa, không phải tất cả mọi người đều ước ao nên giống Đức Giê-su. Chính vì thế mà những người có hạnh phúc thật chỉ là một số người giới hạn. Hạnh phúc theo quan điểm của Thiên Chúa là hạnh phúc thật, vì tồn tại mãi mãi không bao giờ phai. Còn hạnh phúc theo quan niệm thường tình của người đời chỉ là thứ hạnh phúc chóng qua và có thể nguy hại cho cuộc sống trường củu của chúng ta. Vậy chúng ta hãy cảnh giác!
Nguyện:
Lạy Chúa Giê-su, xin cho con cảm nhận một cách mạnh mẽ Tình Chúa yêu thương con. Xin cho con cảm nhận một cách sâu sắc rằng con là người có phúc, vì dù con tội lỗi bất xứng, Chúa vẫn yêu thương, cứu độ con. Con cảm tạ Chúa vì con có được một cuộc sống lao động lầm than, vất vả, bị thiệt thòi, bị khinh khi trong xã hội. Xin giúp con ý thức được rằng đời sống của con có nét giống như đời sống của Chúa khi xưa.

 

TN6-C21. NGỒI XE LĂN LO LỚP TÌNH THƯƠNG

Báo Tuổi Trẻ ngày 2.11.1994, ở trang 6, có đăng bài nói về cô Vương Ngọc Sương là một người : TN6-C21

Báo Tuổi Trẻ ngày 2.11.1994, ở trang 6, có đăng bài nói về cô Vương Ngọc Sương là một người tàn tật phải ngồi xe lăn mà còn lo mở lớp tình thương cho trẻ em nghèo. Hơn nữa, cô còn sử dụng cả nhà riêng của mình để săn sóc một số bệnh nhân tàn tật giống như cô!
Câu chuyện xảy ra vào năm 1985 khi cô Sương bị sụp hầm bẫy của người dân tộc trong một chuyến đi công tác xã hội ở vùng Cao Nguyên. Tai nạn đó khiến cột sống của cô bị ép tủy và đôi chân mất dần cảm giác. Chồng cô kiên nhẫn thăm cô được 6 tháng rồi biệt tăm, để lại người vợ tàn tật với 2 con nhỏ 9 và 11 tuổi. Cô phải nằm điều trị suốt 4 năm. Có năm trải qua ngày tết không có gì ăn, cô được người ta cho ít trái chuối ăn cho đỡ đói. Giữa cảnh túng quẫn, cô Sương được mẹ nuôi bên Pháp và linh mục Vương Đình Bích không có họ hàng gì với cô Sương tuy cùng tên họ là Vương, tới giúp đỡ.
Điều đáng thán phục là cô Vương Ngọc Sương đã vận dụng số tiền giúp đỡ mà cô nhận được, để chính cô và hai con của cô có cơ hội phục vụ người tàn tật và trẻ em nghèo.
Hai Con Tích Cực Lo Cho 7 Người Tàn Tật
Căn nhà chừng 2m x 7m mà cô Sương mua làm nhà ở, hiện là nơi chăm sóc 7 người tàn tật như cô. Đó là những bệnh nhân bị gia đình bỏ rơi nơi nhà thương, nên được cô mời về nhà để hai con của cô săn sóc. Hai con của cô Sương ở gác lửng, còn 7 bệnh nhân ở tầng trệt. Tuy căn nhà đơn sơ, thanh bạch, chỉ có chiếc TV là đồ dùng đáng kể, nhưng ai tới thăm cũng phải nhận ra bầu khí ấm cúng, sạch sẽ và chu đáo, nhờ tinh thần phục vụ cao cả của hai con cô Sương: con trai lớn là Vinh năm nay 19 tuổi, còn em gái của Vinh là Hạnh, 17 tuổi.
Bố Khóc Vì Hối Hận
Căn nhà mà cô Sương mướn ở cách nhà vừa nói chừng 1 cây số trên đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình. Tấm ảnh của cô Sương ngồi trên xe lăn ở số báo Tuổi Trẻ nói trên, chụp tại căn nhà mướn này. Phóng viên Tuổi Trẻ có nêu trường hợp cảm động liên quan tới 3 anh em ruột trong số 11 em được cô Sương săn sóc ở đây. Các em khác được cha mẹ đưa tới từ Kà-tum, Tà Lài, Hố Nai, v.v Riêng 3 em này được bà ngoại đưa tới từ Vũng Tàu. Bố của các em là một con sâu rượu, mỗi lần về nhà là đánh đập các con. Đám trẻ cứ lớn lên như cỏ hoang. Hùng 11 tuổi, bé loắt choắt, đi ăn cắp bị công an xã bắt. Còn Cường, đứa em kế, không có cơm ăn, phải qua hàng xóm ăn cắp giựt. Hôm cha ruột các em lên thăm thấy cô Sương, ông bật khóc với những giọt nước mắt hối hận: Tôi nguyên vẹn nhu thế này, mà hư hỏng trong khi chị tật nguyền phải lãnh hết việc nuôi dạy các con tôi! Và ông hứa từ bỏ rượu.
Cô Sương, quả thực, lấy làm ngỡ ngàng trước những cuộc trở lại đạo Công Giáo của những người từng đến săn sóc các bệnh nhân ở nhà cô, gồm một bác sĩ và hai y tá. Chính mẹ nuôi ở Pháp cũng viết thư cho cô biết mấy người Pháp đến Việt Nam thăm cô nay về cũng tỏ ra là những người sốt sắng giữ đạo khác hẳn trước!
Đã từng dửng dưng trước những đau khổ của người khác
Riêng phần mình, cô không ngại thú thật cô đã từng dửng dưng trước những đau khổ của những người anh em khác, đó là điều mà cô cảm thấy cô đã làm mất lòng Chúa. Nay chính nhờ bị tàn tật mà cô được hoán cải. Cô vui vẻ đảm nhận lấy mọi điều Chúa để cho xảy ra nơi thân xác cô cũng như nơi môi trường hiện cô đang sống.
Có khả năng bao nhiêu, cô sử dụng bấy nhiêu để phục vụ những người lâm cảnh bệnh tật và nghèo khó như cô. "Thày giáo" Minh mà số báo Tuổi Trẻ nói trên nhắc tới, thực ra chỉ là một giáo dân sốt sắng tuổi 18-19, từ họ đạo Huyện Sĩ. Mỗi tuần ba buổi, cậu Minh tới dạy cho các em biết đọc biết viết. Nhưng một phần cũng nhờ cậu Minh này mà các em biết giữ kỷ cương và ngoan ngoãn trong cũng như ngoài lớp học. Một người khác nữa là anh Khấn mà cô Sương gặp ở bệnh viện Sùng Chính. Anh này từng bị đau cột sống. Thấy cô Sương mời mấy người tàn tật về nhà cô để được săn sóc, anh đã tò mò theo dõi. Nay anh đã trở nên người sốt sắng cộng tác vào việc săn sóc cho các em lớp tình thương. Hiện anh đang đi Tây Ninh lo cho mấy em có giấy tờ cần thiết để nhập học niên khoá tới.
Cô Sương rất mừng về hai con của cô có đủ việc làm ở nhà, hơn nữa còn được linh mục Vương Đình Bích giúp đỡ cho học nghề cũng như học giáo lý. Nhưng chúng còn ở tuổi lớn lên nên cô Sương chưa thể nào chia sẻ được những khó khăn mà cô gặp phải.
Đụng Chạm Tới Khát Vọng Của Con Người
Thử hỏi với bối cảnh hiện thực trong cuộc sống như đang diễn ra cho những con người như cô Sương, "thầy giáo" Minh, anh Khấn, hai con cô Sương, người bố từ Vũng Tàu đến thăm với những giọt nước mắt hối hận, cũng như chính những bệnh nhân tàn tật và những trẻ em nghèo được cô Sương săn sóc, bài Tin Mừng hôm nay có sứ điệp gì đặc biệt để nói chăng? Những mối phúc cũng như những bất hạnh được nêu lên hôm nay đụng chạm như thế nào đến những khát vọng mà con người hàng khao khát?
- Trước hết, tất cả những nhân vật vừa nói đều phải được vui mừng vì nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa thực sự chiếu cố đến hoàn cảnh hiện có của từng người. Người không chỉ đến loan Tin Mừng cho người nghèo (Lc 4,18) nhưng còn là hiện thân của Tin Mừng đó. Bởi lẽ mặc dầu là Con Thiên Chúa (Lc 1,35; 3,21), Người đã vì yêu thương mà xuống thế làm người để trở nên người anh em với hết mọi người. Do đó không một khổ đau nào loài người phải chịu mà không đụng tới lòng thương xót và chương trình cứu nhân độ thế do chính Người thực hiện. Người nghiệm thấy cái đói của một bà goá (Lc 4,26). Người chủ trương chữa lành mọi người bệnh phong đáng thương, bất cứ họ là người Xy-ri-a hay người Ít-ra-en (c.27). Do đó mới có sự kiện đoàn lũ dân chúng từ khắp nơi, kể cả từ vùng Tia và Xiđon ngoại giáo, tuốn đến nghe Người giảng và để Người chữa lành tật bệnh (Lc 6,17-18).
Giải Quyết Tận Căn Về Hạnh Phúc
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giêsu có ý giải quyết tận căn về các mối phúc và những bất hạnh đối chiếu với những khát vọng của con người. Vấn đề được đặt ra dĩ nhiên là trầm trọng và gay cấn như ai cũng có thể nghiệm thấy nơi bản thân và thâm sâu nơi lòng mình. Không ai có thể dửng dưng trước vấn đề: giàu / nghèo; đói / no; khóc lóc / vui cười; được ca tụng / bị oán ghét và khai trừ (cc.20-26).
Chính Đức Giêsu thấy rõ vấn đề loại đó thực sự là trầm trọng như thế nào. Do đó Người đã thức suốt đêm để cầu nguyện trước là để kêu các môn đệ lại hầu chọn mười hai ông làm tông đồ (Lc 6.12-13), sau là để trình bày cho thấy hạnh phúc đích thực của con người (Lc 6,20-49). Hạnh phúc ấy Mátthêu đã cho thấy là "trở nên con cái của CHA anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt (Mt 6,45). Luca cũng qui hạnh phúc đích thực đó của con người về một nguồn mạch duy nhất, đó là: "Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ" (Lc 6,36).
Trước khi bị bắt và bị giết, chính Đức Giêsu sẽ phải đối diện với niềm khát vọng nơi bản thân mình. Đêm ấy Người cũng sẽ miệt mài cầu nguyện và dạy các tông đồ cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ (Lc 22,40). Người sẽ toát ra những giọt mồ hôi giống như máu khi phải từ bỏ ý riêng mình đi hầu theo ý CHA (c.42), là nguồn hạnh phúc đích thực cho mình và cho cả nhân loại.
Để Chính Mình Hạnh Phúc Và Giúp Người Khác Đạt Điều Đó
Vậy vấn đề thiết yếu để chính mình được hạnh phúc cũng như giúp cho người khác được hạnh phúc là phải theo sát gót bước Đức Giêsu trong cuộc chọn lựa giữa khát vọng của con người và khát vọng của Thiên Chúa về con người. Do đó mà Đức Giêsu nhắm tới bất cứ ai muốn trở nên môn đệ của Người (c.20) khi Người lên tiếng dạy người ta về các mối phúc. Cả trường hợp được chọn làm tông đồ mà bị biến chất, không còn theo sát gót bước Thày Giêsu nữa, người đó cũng sẽ nghe bài giảng về các mối phúc một cách như "nước đổ đầu vịt" mà thôi! Rõ ràng đó là trường hợp tông đồ Giuđa Ít-ca-ri-ót (Lc 22,48).
Ngược lại, có biết bao người chẳng bao giờ được chọn vào số mười hai tông đồ, nhưng nhờ theo sát gót bước Đức Giêsu, nên chính mình được hạnh phúc và còn giúp cho nhiều người khác được hạnh phúc. Cho nên ta sẽ chẳng lấy làm lạ khi thấy hạnh phúc ló dạng nơi những người như cô Vương Ngọc Sương và những người cộng tác với cô, khi cô và những người ấy biết theo sát gót bước Đức Giêsu để trở nên môn đệ của Người.
Một số câu hỏi gợi ý
1. Trong các mối phúc của Luca (cc.20-23), bạn nghĩ ai là người cảm thấy thấm thía nhất: Cô Sương? Ông bố của 3 con từ Vũng Tàu đến thăm cô? Hay bạn nghĩ tới nhân vật nào khác trong Phúc Âm?
2. Bạn nghĩ gì về hạnh phúc của người "trở nên con cái của CHA anh em, Đấng ngự trên trời" (Mt 6,45)? Hoặc người "có lòng nhân từ như CHA anh em là Đấng nhân từ" (Lc 6,36)? 

 

TN6-C22. PHÚC CHO BẠN VÌ ĐÃ TIN

Suy niệm Lời Chúa hôm nay: “Phúc cho các ngươi là những người nghèo, vì Nước Thiên Chúa: TN6-C22

Suy niệm Lời Chúa hôm nay: “Phúc cho các ngươi là những người nghèo, vì Nước Thiên Chúa là của các ngươi”, làm tôi nhớ lại một lần xem phóng sự trên đài truyền hình. Đó là phóng sự nói về dân nghèo ở xã Tân Quới, Cù Lao Tây, thuộc tỉnh Đồng Tháp lên Sài-gòn kiếm sống bằng “nghề” đi lượm ve chai. Không ít người đi một thân, một mình, nhưng phần đông, mang theo cả những đứa con còn rất bé. Những trẻ em lớn hơn một chút cũng bới móc ve chai như những người lớn thật, như cha mẹ, như anh chị của chúng.
Họ lên thành phố vì ở quê không đủ sống Vì thà bới rác tìm ve chai còn dễ sống hơn. Họ sống trong những mái nhà che tạm bằng manh chiếu, bằng miếng nilông, bằng mảnh giấy các-tông… Gọi là mái nhà nhưng thực ra, đó là những căn nhà ổ chuột: nào là ngột ngạt, nào là dơ bẩn, nào là ẩm mốc...
Chưa hết, hàng ngày họ phải dậy sớm, dậy từ khuya, tủa ra các bãi rác ở ngoại ô thành phố, cả trẻ con, lẫn người lớn, để bới móc từng cái bọc ni-lông, từng thanh sắt, từng mảnh giấy, hay bất cứ cái gì có thể bán được... mà các xe rác từ trong nội thành chở ra ngoại ô đổ. Họ làm việc cậc lực, làm việc với tốc độ nhanh, để làm sao kiếm được nhiều ve chai nhất, càng nhiều bao nhiêu, càng tốt bấy nhiêu.
Tôi còn thấy trên màn ảnh truyền hình, những em bé gom góp, chắt chiu những con búp bê, những chiếc xe, những thanh kiếm bằng nhựa... có khi còn nguyên vẹn, có khi móp bên này, lủng bên kia, đem về nhà rửa kỹ, làm đồ chơi. Thật là xót xa khi đồ bỏ của những đứa trẻ sung túc, lại trở thành quý giá đối với những đứa trẻ đi lượm ve chai.
Nghèo như thế mà bảo rằng hạnh phúc, thì “Phúc” nằm ở chỗ nào ? Suy niệm Lời Chúa: “phúc cho các ngươi là những người nghèo...”, rồi nhìn lại những cảnh đời nghèo nàn túng quẫn, ta khó lòng chấp nhận đó là một mối phúc. Nghèo đến mức độ cùng đinh, mà lại bảo rằng “Phúc”, xem chừng người ngoài cuộc đang cười cợt chúng ta. Họ nhìn ta bằng ánh mắt khó hiểu. Cũng có thể ta là một tập thể những người điên chăng ? Hay chính Lời Chúa quá mâu thuẫn, quá xa lạ với cuộc sống ?
Nhưng đâu chỉ có “Phúc cho các ngươi là những người nghèo, vì Nước Trời là của các ngươi”, Chúa còn nói tiếp: “Phúc cho các ngươi là những người bây giờ đói khát, vì các ngươi sẽ được no đầy. Phúc cho các gươi bây giờ khóc lóc, các ngươi sẽ được vui cười”. Lời Chúa quá sức ngược ngạo, quá sức mâu thuẫn.
Nhưng từ chỗ ngược ngạo và đầy mâu thuẫn ấy, cho ta thấy Thánh Lu-ca rất tinh tế, khác hẳn các mối phúc mà Chúa Ki-tô nói trong Tin Mừng Thánh Mát-thêu. Thánh Mát-thêu viết: “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, phúc cho ai hiền lành, phúc cho ai khóc lóc…”. Một cái “AI” nào đó, nghe rất xa xôi, chung chung. Hơn nữa, “AI có TINH THẦN”: một cái “AI” trong TINH THẦN, chứ không phải “các ngươi” trong đời tường, như Thánh Lu-ca đã nói thật là cụ thể.
Dĩ nhiên mỗi cách viết của mỗi thánh sử đều có một mục đích, một ý hướng, một nghĩa riêng, khó mà so sánh. Nhưng nếu nói: “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó” thì dễ hiểu hơn. Vì tinh thần nghèo khó mà có phúc thì có thể bạn và tôi cũng đang có phúc ấy. Bởi nếu một người rất giàu, nhưng sống thanh bần, không lệ thuộc của cải vật chất, biết đề cao đức bác ái và cho đi một cách dễ dàng, ta gọi người đó có tinh thần nghèo khó. Vì đó là tinh thần mà ! Tinh thần nghèo khó không có nghĩa là thiếu thốn cái ăn, cái mặc nhưng là sống siêu thoát.
Còn trong Tin Mừng theo Thánh Lu-ca, Chúa lại nói một cách trực tiếp: “Phúc cho các ngươi là những người nghèo, phúc cho các ngươi là những kẻ bây giờ đang đói, phúc cho các ngươi là những kẻ bây giờ đang khóc...”, tức là phúc cho bạn và tôi là những người, chính lúc này, đang nghèo, đang đói, đang khóc... Nghèo thật sự, đói thật sự, khóc thật sự, chứ không có tinh thần gì ở đây hết ! Nghèo lắm, đói lắm, đau khổ lắm, chứ không phải xa xôi, ở tận đâu đâu.
Nếu nghèo, nếu đói, nếu khóc như thế thì phúc ở đâu ? Lời Chúa nói không mâu thuẫn lắm hay sao ? Và nếu bạn và tôi cứ coi là phúc, phúc thật, thì cứ đi vào trong những bãi rác thối tha, đến với những người đi lượm ve chai, đi bươi, đi bới trên những đống rác dơ bẫn như trường hợp những anh chị em ở Tân Quới bên trên, rồi hô to rằng: “Hỡi anh chị em, anh chị em nghèo lắm, phúc cho anh chị em”. Ta cứ hô to như thế xem, họ nghe lời, hay họ sẽ làm gì ta ?
Đấy ! Họ là những người nghèo, nghèo thật, có khi còn đói, còn khóc lóc thật. Nhưng nếu chúng mình bảo đó là phúc, coi chừng nếu họ không lấy cây mà đánh, thì ít là cũng đánh cho gãy răng ! Dễ hiểu thôi, nghèo làm sao có phúc. Đói khát, khóc lóc thì phúc ở đâu ?
 Vậy ta phải giải thích cách nào ? Tôi nghĩ cách tốt nhất, ta hãy dựa vào chính mẫu mực của mình là Chúa Ki-tô. Cuộc đời của Người là một bằng chứng rất đỗi lớn lao cho mối phúc khó nghèo. Chúa không bao giờ nói điều gì mà Người đã không sống. Chúa là người nghèo thật, nghèo lắm ! Chúa nghèo đến nỗi, Người nói với anh em mình rằng: Con chồn có hang, con chim có tổ, nhưng chính Chúa thì không có chỗ gối đầu. Nghèo đến nỗi không có chỗ sinh ra, mà phải mượn chuồng lừa làm nhà, mượn máng lừa ăn làm nôi. Nghèo trơ trọi đến nỗi chết không có một mảnh vải che thân, phơi thây giữa trời giữa đất.
Chúa Giê-su nghèo lắm. Nhưng không chỉ nghèo vật chất, Người còn bị nghèo về phương diện sự sống vì loài người đã tước đoạt hết của Người: bị ngược đãi, bị chống đối, bị thù ghét, bị lột sạch danh dự và nhân phẩm, bị giết chết đau đớn và ê chề... nỗi khổ của Người lớn lắm. Lớn cho đến mức, trong vườn Ghết-sê-ma-ni, Người lo buồn đến túa mồ hôi nặng như những giọt máu.
Vẫn chưa hết, trong giờ hấp hối tang thương trên thập giá, Chúa cô đơn cùng cực. Nỗi cô đơn ấy, tưởng như ngay cả Chúa Cha, chỗ dự duy nhất của mình, hình như cũng đã bỏ mặc. Chính miệng Người thốt lên: “Lạy Cha, sao Cha lại bỏ con”. Khổ đến thế là cùng, vậy mà Người vẫn một lòng yêu mến và vâng lời Cha đến khi sức mòn, lực cạn, và gục đầu phó dâng linh hồn. Vâng lời cho đến nỗi không còn gì thuộc về mình, chỉ còn thánh ý Cha mà thôi. Và như vậy cuộc đời của Chúa Ki-tô là một cuộc đời rực sáng niềm tin tưởng vào thánh ý Chúa Cha. Tin như thế, Người vui nhận mọi thử thách. Tin như thế, Chúa bằng lòng đón nhận thân phận của một con người bị vùi dập.
Bạn thân mến, nếu Chúa Ki-tô trung thành với Thánh Ý Chúa Cha đến hết đời của mình, thì chúng ta cũng phải như thế. Vì vinh quang bao giờ cũng có giá của nó. Vinh quang mãi mãi vẫn đứng phía sau thập giá.
Suy nghĩ như thế, tôi thấy trong lời chúc phúc của Chúa Giê-su: “Phúc cho các ngươi là những người nghèo, phúc cho các ngươi là những kẻ bây giờ đang đói, phúc cho các ngươi là những kẻ bây giờ đang khóc...”, có một tâm huyết dành cho chúng ta lớn lắm: Hãy tin vào Thiên Chúa. vì chỉ có những ai dù đói nghèo, dù khổ sở đến đâu, nhưng vẫn vững một lòng tin, mới là người có phúc.
Bạn ạ, có ai sống trong cuộc đời, lại không muốn hạnh phúc ! Chúa Ki-tô cũng vậy. Chắc chắn Chúa không muốn chúng ta phải nghèo, phải đói, phải khóc lóc. Nhưng Người muốn bạn và tôi đi trên con đường mà Người đã đi. Đó là con đường của Đức Tin: Tin vào Thiên Chúa, Cha của Chúa Giê-su và Cha của chúng ta.
Tôi có kinh nghiệm thế này, khi phải đối mặt với những hoàn cảnh bi lụy, tự nhiên tôi trông cậy nhiều hơn, tôi cầu nguyện nhiều hơn. Càng gặp phải những khó khăn lớn, lắm lúc quá sức mình, tưởng chừng khó thể vượt qua, tôi lại càng phó dâng tha thiết hơn, chạy đến với Chúa, tâm sự cùng Người nhiều hơn, sốt sắng hơn, yêu mến hơn. Bởi vậy, dù ai cũng ao ước hạnh phúc, cũng muốn tránh xa đau khổ, nhưng không ai có thể phủ nhận một thực tế hết sức rõ ràng: Đau khổ như một người bạn thân thiết của từng cuộc đời mỗi người, dù người bạn thân ấy là người bạn không được mời, lại luôn luôn bám chắc lấy ta.
Nghèo đói, thiếu thốn, than khóc... là những đau khổ. Nhưng trong đau khổ, hãy cứ tin. Đức Tin sẽ giúp lắng bớt nỗi đau. Đức Tin sẽ cho ta yên lòng vì biết Chúa nhìn thấy nỗi khổ sở, sự chịu đựng của mình. Đức Tin sẽ thêm ơn sức mạnh để ta đủ nghị lực vượt qua thử thách. Nhờ Đức Tin, tâm hồn sẽ bình an và ấm áp hơn. Hiểu như thế, ta sẽ thấy đau khổ chính là phương tiện tuyệt vời chắp cánh cho Đức Tin bay cao và bay xa. Chỉ hiểu như thế thôi, đủ thấy nỗi khốn cùng chính là mối phúc. Vì nói cho cùng, ta phải nói: “Phúc cho kẻ đã tin. Và Phúc lớn cho kẻ trong đói nghèo, trong nước mắt, vẫn tin”.
Nếu Chúa đã từng cho biết: “Phúc cho những ai không thấy mà tin”, thì hôm nay, sống trong cuộc đời này, ta phải nói rằng, phúc cả thể cho những ai đi trong tăm tối, nhưng vẫn cảm nhận Thiên Chúa là Tình Yêu.
Phúc cho người tin như thế, sẽ đúng như lời Ngôn Sứ I-sai-a đã nói trong bài đọc thứ nhất: “Phúc cho người tin tưởng vào Chúa, Chúa sẽ là niềm cậy trông của họ”.
Lm. VŨ XUÂN HẠNH

 

TN6-C23. Phúc thật tám mối - Tâm hồn cởi mở - Lm. Thu Băng, CMC

VietCatholic (Chúa Nhật 6 Thường Niên C)

Chúa nhật 6 Thường niên C

LC. 6:17-27

 

Michel Angelo là một nghệ thuật gia và là một điêu khắc gia nổi tiếng vào thế kỷ thứ 16. Trong đờ: TN6-C23

Michel Angelo là một nghệ thuật gia và là một điêu khắc gia nổi tiếng vào thế kỷ thứ 16. Trong đời Đức Giáo Hoàng Sito thứ 4, ông đã họa 6 bức họa rất lộng lẫy về Cựu Ước, trên tường và trên trần nhà nguyện Giáo Hoàng của ngài. Những bức tranh ấy ngày nay vẫn còn đẹp như vậy. Ông đã tạc những pho tượng thật sắc sảo, đáng giá cả triệu Mỹ Kim như tượng Đức Mẹ ãm Chúa Con dưới chân Thánh Giá "Tượng Pieta", tượng Phaolô ngã ngựa. Khi hoàn tất bức tượng Moisen, nhà điêu khắc nhìn một cách mãn nguyện, rồi ông nhăn mặt, xoa đầu, gãi trán mà nói: "Tiếc một điều là Moisen thiếu sự sống. Tượng rất có hồn mà không có linh".

Lần khác ông vẽ bức tranh cho một vị Bá Tước. Bức tranh rất tuyệt hảo đến nỗi ông không muốn bỏ đi một chi tiết nào. Khi đem bức tranh treo lên tường phòng khách, tường hẹp quá, không xứng với bức tranh, ông nói với Bá Tước: "Hãy xây lại bức tường khác cho rộng hơn, đừng cắt xén bức tranh, uổng lắm".

Bài Sách Thánh hôm nay, Chúa Giêsu cũng là một nghệ thuật gia đại tài. Ngài không chỉ tạc một bức tượng, một cái thân hình con người như tượng Moisen, mà Ngài tạc lại tất cả vẻ đẹp của một con người hoàn hảo như khi Thiên Chúa Cha dựng nên. Ngài đã khen "Đẹp, tuyệt đẹp!". Chúa Giêsu muốn tả lại cho chúng ta cả những nét đẹp sống động của linh hồn con người. Ngài công bố những nét đẹp sống động của tâm hồn là:

- Hiền lành (Ở hiền gặp lành, mọi người thương mến).

- Thanh sạch, trinh trong.

- Rộng lượng từ bi (thương người, vui với người vui, khóc với kẻ khóc). Người khác an ủi và Chúa an ủi.

- Hòa thuận (làm hòa, gây tạo sự bình an cho người khác).

- Khao khát sự công chính (sẽ được thỏa mãn).

- Sống đơn sơ, đơn bạch (không cầu kỳ, không bon chen danh vọng, không ham giầu có). Nước trời là của họ. Chúa sẽ lo cho họ mọi sự đời này.

- Chấp nhận khốn khó (tuân theo thánh ý Chúa an bài trong cuộc sống). Nước trời là của họ.

Bức tranh này Chúa vẽ lại cho chúng ta thấy rõ cái đẹp tinh thần của con người Chúa dựng nên. Ngài muốn chúng ta vẽ lại trên đời sống mỗi người cho người khác thấy mà khen, mà ham, mà ca ngợi công trình của Chúa (Đám tang mẹ cha Mulloy toàn khen những nét đẹp của người chết. Người giả trong viện Bảo Tàng).

Bức tranh nguyên thủy của mỗi người thiệt đẹp, nhưng với thời gian, con người chúng ta bị phai mờ, bụi bậm trần gian, bụi bậm của bạn bè, của báo chí, của màn ảnh, của sách vở xấu, của nhà trường, của hoạt cảnh xã hội, của kiêu ngạo, tự phụ, tự cao tự đại, của cái tôi ích kỷ, của ma qủy, của tội lỗi.... phủ kín bức tranh nguyên thủy của mình, khiến con người mình biến đổi ra ác quái, ra người rừng.... mất giáng vẻ con người thật.

Xin Chúa ban cho chúng ta nhận ra mình và cho chúng ta một tâm hồn rộng mở như Chúa, một tâm hồn khao khát vẻ đẹp tinh thần. Chúng ta hãy vẽ lại bức tranh của mình bằng chính loại mầu Chúa đã dùng.

- Mầu đó là vàng: Quảng đại, rộng rãi, yêu thương, thanh sạch...

- Màu đó là màu xanh: Đạo đức, nhân từ, đức độ, can đảm, chịu khó....

- Màu đó là mầu đỏ: Khiêm nhường, chịu đựng, tha thứ, hy sinh, chấp nhận trái ý...

Hãy rửa sạch những nét sơn cũ, những bụi bậm của trần gian, cho hình nét hạnh phúc và bình an Chúa vẽ trong tâm hồn được nổi lên.

Chúng ta hãy nhìn gương các thánh, các ngài đã vẽ những vẻ đẹp cho đời mình. Xin Chúa cho chúng ta tâm hồn rộng mở để sống hạnh phúc vì Chúa và vì linh hồn mình. (2.2004).

Trích Dongcong.net
Lm. Thu Băng, CMC


 

TN6-C24. Thả mồi bắt bóng - Lm. Bùi Mạnh Tín

VietCatholic (Chúa Nhật 6 Thường Niên C)

Chúa nhật 6 Thường niên Coäng ñoaøn:

 

Ngụ ngôn "Thả Mồi Bắt Bóng" được nhiều người truyền tụng, kể lại rằng: ngày kia, sau cuộc tranh chấp: TN6-C24

Ngụ ngôn "Thả Mồi Bắt Bóng" được nhiều người truyền tụng, kể lại rằng: ngày kia, sau cuộc tranh chấp, sư tử chiếm được miếng mồi ngon và lớn nhất, liền vội vàng bơi qua sông để thưởng thức một mình. Ra giữa dòng nước, chú ta nhìn thấy một miếng mồi y hệt miếng mồi đang ngậm trong miệng nhưng lớn hơn rất nhiều, in hình trên mặt nước. Vì tham lam và lầm tưởng, chú liền thả ngay miếng thịt trong miệng ra, vội vã chúi đầu xuống nước đuổi theo miếng mồi lớn. Nhưng không ngờ, mồi lớn chẳng lấy được, chỉ lấy được một bụng đầy nước, khiến sư tử gần chết.

Sự lầm tưởng và lòng tham ấy nhiều lần cũng xảy ra nơi con người, làm con người bỏ đi hạnh phúc thật, rồi chạy theo những ảo tưởng, đi tìm hạnh phúc gỉa. Sách Sáng Thế Ký đã kể lại khuynh hướng này: Thiên Chúa tạo dựng con người và muốn con người được hạnh phúc thực sự. Vườn Địa Đàng và sự chăm sóc đầy yêu thương của Thiên Chúa đã nói lên điều đó. Nhưng vô phúc thay, ông bà nguyên tổ đã gạt bỏ hạnh phúc này để chạy theo những mơ ước hão huyền qua lời dụ dỗ của ma qủy, muốn trở nên thần thánh để biết mọi điều thiện ác như Thiên Chúa (Gen 3, 5). Chính sự "hiểu lầm" này đã làm ông bà nguyên tổ chúng ta bất chấp mệnh lệnh của Thiên Chúa, đánh mất hạnh phúc mình đang có, mà hạnh phúc "lớn hơn" cũng chẳng chiếm được. Đó cũng là một hình thức "thả mồi bắt bóng". Và từ đấy, khuynh hướng "thả mồi bắt bóng" này đã kéo theo bao vụ "thả mồi bắt bóng" khác, như chúng ta thấy hiện nay.

Nhưng cũng còn may, "Thiên Chúa đã không bỏ mặc con người dưới quyền sự chết" (Kinh Tiền Tụng 4), nên đã sai các nhà lãnh đạo và các tiên tri đến với con người để điều chỉnh sự lầm lạc này. Và sau cùng, Con Một Ngài đã đích thân nhập thể làm người hầu hướng dẫn con người vào con đường hạnh phúc thực sự và vĩnh cửu. Thật vậy, con đường hạnh phúc đó chính Đức Kitô đã vạch ra và chúc phúc. Con đường ấy như thế nào và đòi hỏi ra sao, chúng ta gặp thấy trong lời giáo huấn của Ngài hôm nay. Đó là mỗi người phải can đảm và sáng suốt chấp nhận những hy sinh và thiệt thòi trong cuộc sống hiện tại. Hy sinh và thiệt thòi đó có thể là cảnh nghèo nàn, thiếu thốn, bị ghét bỏ, bị xỉ nhục... Chúa Giêsu qủa quyết:

- Dù có đói khát chút ít, nhưng chẳng bao lâu sẽ được no thỏa.

- Dù có nghèo đói chút ít, nhưng chẳng bao lâu sẽ được một gia sản trong Nước Chúa.

- Dù có phải nhỏ dăm ba giọt lệ, nhưng chẳng bao lâu những nụ cười sẽ tươi nở trên môi.

- Dù có bị ghét bỏ, nhưng chẳng bao lâu sẽ được chính Thiên Chúa yêu thương.

- Dù có bị xỉ vả, nhưng chẳng bao lâu sẽ được thông phần vào vinh quang Thiên Chúa.

Ý tưởng này được Thánh Phêrô nhấn mạnh: "Nếu anh chị em bị xỉ nhục vì danh Chúa thì anh chị em thật đáng chúc phúc" (1 Pet 4,14a ). "Sau khi anh chị em chịu đau khổ một thời gian, Thiên Chúa là nguồn mọi ân sủng sẽ mời gọi chúng ta hưởng vinh quang đời đời với Đức Kitô" (1 Pet 5,10). Thánh Phaolô cũng đồng quan điểm: "Tôi nghĩ rằng, những đau khổ ở đời này chẳng có thể sánh ví được với vinh quang mà Chúa sẽ tỏ hiện cho chúng ta ở đời sau" (1 Rom 8, 18). Các Thánh, đặc biệt các anh hùng Tử Đạo, đã hiểu và thực thi cách trọn vẹn những lời Chúa chúc phúc hôm nay. Nhưng ngược lại, nếu theo đuổi những hạnh phúc gỉa tạo, sống trong ảo tưởng "thả mồi bắt bóng", thì ngày nào đó, chúng ta sẽ phải hối hận, tiếc xót, như chính Chúa Giêsu đã nói trong dụ ngôn về người giầu có và Lazaro (Lc 16).

Xin Chúa Giêsu, Đấng là đường, là chân lý và là hạnh phúc, giúp chúng ta biết xác tín vào lời Ngài và luôn sáng suốt can đảm bước theo con đường chính Ngài đã vạch ra.

NS. Trái Tim Đức Mẹ
Lm. Bùi Mạnh Tín


 

TN6-C25. Hạnh phúc chân thực - Lm. Minh Vận, CMC

VietCatholic (Chúa Nhật 6 Thường Niên C)

Chúa nhật 6 Thường niên Coäng ñoaøn:

 

Sống trên trần gian, tự nhiên ai trong chúng ta cũng khát mong được hạnh phúc, được thoải mái, được dễ: TN6-C25

Sống trên trần gian, tự nhiên ai trong chúng ta cũng khát mong được hạnh phúc, được thoải mái, được dễ chịu, được mọi điều như ý. Chính vì niềm khát mong đó mà nhiều người đã tận dụng mọi cách, áp dụng mọi phương thế, bất chấp mọi thủ đoạn, dù tốt hay xấu, chính đáng hay bất chính, miễn sao đạt được điều họ khát mong.

Vậy hạnh phúc là gì? Thế nào là hạnh phúc chân thật? Chúng ta phải làm gì để đạt được hạnh phúc chân thật đó?

I. HẠNH PHÚC LÀ GÌ

Theo quan niệm của cổ nhân, thì đời sống con người có năm điều đáng khát mong, đó là ngũ phúc: Phú, Quí, Khang, Ninh, Thọ. Tức là: Được giầu sang, có quyền thế, được mạnh khỏe, được an bình, được sống lâu.

Với cái nhìn khách quan vào thực trạng của cuộc sống nhân sinh, biết bao nhiêu người có tiền muôn bạc triệu, uy quyền thế lực, kẻ hầu người hạ, binh hùng tướng mạnh, đánh đông dẹp bắc, một lời truyền lệnh, muôn kẻ tuân theo... Thế mà, họ vốn không được hạnh phúc! Chẳng hạn như Hoàng Đế Mohammed Reza Pahlavi, vua nước Ba Tư, triều đại ông kéo dài tới 37 năm, với uy quyền thế lực dường như không ai sánh kịp, đến nỗi đã có lần ông tự cao tự đại tuyên bố trước mọi người: "Trẫm là vua trên muôn vua!" Thế mà, ngày 16 tháng 2 năm 1979 khi ông và hoàng gia đi nghỉ mát, thì thần dân của ông đùng đùng kéo nhau xuống đường, biểu tình bạo động, lật đổ cái ngai vàng đế vương của ông, khiến ông phải lưu vong tại Ai Cập. Bốn tháng sau, xin tá túc tại Mexico. Rồi bốn tháng kế tiếp, được bao che, chấp nhận vào Hoa Kỳ với lý do chữa bệnh. Hai tháng sau, ông lại phải rời bỏ Hoa Kỳ, xin tỵ nạn tại Pamama... Dù ở bất cứ nơi nào, ông cũng chẳng được yên thân, hễ tới đâu là bị nhân dân của ông, cùng với những người địa phương nhục mạ, xua đuổi, y như con rắn hổ mang, hễ ló đầu ra, là người ta muốn giết; vì thế, ông và hoàng gia chẳng còn chỗ dung thân, phải trốn lẩn nay đây mai đó.

Biết bao nhiêu người khác cũng có dư tiền của, nhưng có một ước ao mười, lòng tham vô đáy, không khi nào vừa; vì thế, họ bôn ba xuôi ngược lo thu tích cho nhiều, keo kẹt chắt bóp từng đồng, khiến họ trở nên nô lệ cho tiền của, có người chết đói, chết khát, chết rét, bên hòm tiền đống bạc. Cũng có những người đầy uy quyền trong tay, nhưng không bao giờ được yên thân, đi đâu cũng lo sợ bị ám sát, bị thủ tiêu, bị hiềm khích. Cũng có biết bao người coi như luôn được an nhàn với cuộc sống phong lưu thoải mái, vui hưởng tuổi già với con đàn cháu đống, nhưng có ngờ đâu trong lòng họ đầy u uất, bôn chôn lo lắng trăm chiều, khiến họ không sao nếm hưởng được hạnh phúc.

Tất cả của cải, danh vọng, chức quyền, an nhàn, phong lưu với đủ mọi thứ tiện nghi, xem ra có thể tạo cho con người được một cuộc sống hạnh phúc; nhưng thực sự lại trái hẳn, mà có khi còn tạo ra cho họ biết bao khổ đau bất hạnh.


II. THẾ NÀO LÀ HẠNH PHÚC CHÂN THẬT

Vậy thế nào là hạnh phúc chân thật đáng khát khao tìm kiếm? Chúng ta hãy lắng nghe giáo huấn Chúa Kitô răn dạy chúng ta trong bài giảng Bát Phúc, được mệnh danh là bản Hiến Chương Nước Trời, mà Thánh Sử Mathêu đã tường thuật đầy đủ.

Còn trong bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Sử Luca chỉ tường thuật tóm tắt lời Chúa phán với các môn đệ và dân chúng đang nghe Ngài: "Phúc cho các con là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của các con! Phúc cho các con là những kẻ bây giờ phải đói khát, vì các con sẽ được no thỏa! Phúc cho các con là những kẻ bây giờ phải khóc lóc, vì các con sẽ được hân hoan vui sướng! Phúc cho các con, nếu vì Ta, các con bị người đời phỉ báng, khinh chê như kẻ bất lương! Các con hãy vui mừng hoan lạc, vì phần thưởng các con sẽ được bội hậu trên trời!" Theo lời Chúa dạy trên đây, thì hạnh phúc chân thật cho những ai siêu thoát khỏi những ràng buộc vật chất, để dễ nâng tâm hồn lên khát khao những kho tàng vĩnh cửu trên trời. Những của cải, tiện nghi vật chất chỉ là phương tiện giúp chúng ta đạt tới hạnh phúc chân thật, chứ không phải là mục đích, là cứu cánh khiến chúng ta phải trở nên nô lệ cho vật chất. Chính vì nếm hưởng được hạnh phúc chân thật đó, mà các Thánh đã sẵn sàng chấp nhận tất cả những cảnh nghèo túng, đói khát, sầu buồn, hoặc bị bạc đãi, khinh chê, bách hại vì Chúa như là một vinh dự.

Sau những lời chúc phúc Chúa còn thêm: "Khốn cho các ngươi là những kẻ giầu có, được no nê đầy đủ, được vui cười hớn hở, được người đời ca tụng, vì ở đời này các ngươi đã được phần an ủi rồi, nhưng đời sau các ngươi sẽ phải than phiền khóc lóc". Chắc chắn, Chúa không khinh miệt tiền của, vì đó là những ơn huệ Chúa ban cho con người, như phương tiện sinh sống để phụng sự Ngài. Chúa cũng không kết án chức quyền, vì đó là sứ mạng Chúa ủy thác cho những ai thay quyền thế vị Chúa, để phục vụ kẻ khác, mưu cầu công ích và giúp tha nhân có phương tiện phụng sự Chúa nơi trần gian này. Nhưng Chúa kết án những ai cậy dựa vào tiền của như chúa tể, đem thân nô lệ cho của cải, chỉ lo thu tích mà không phân phát, không làm việc phúc thiện. Chúa cũng kết án những kẻ lạm dụng quyền bính để nạt nộ kẻ dưới, đàn áp kẻ yếu thế, cư xử bất công với đồng loại.

Chính Chúa đã dùng miệng tiên tri Jeremia thẳng lời quả trách những kẻ kiêu căng tự phụ thường hay cậy dựa vào tiền của: "Vô phúc cho kẻ tin tưởng ở người đời, họ nương tựa vào sức mạnh con người, còn tâm hồn họ thì sống xa cách Thiên Chúa!" Trái lại, Chúa chúc phúc cho kẻ khiêm hạ luôn biết nương tựa vào Chúa: "Hạnh phúc cho kẻ tin tưởng vào Thiên Chúa, vì Thiên Chúa sẽ là niềm cậy trông của họ!"


III. ĐỂ ĐẠT HẠNH PHÚC CHÂN THẬT

Đại tướng Marceau, một nhà vô thần thượng hạng đã phải thú nhận trước một cử tọa đông đảo quần chúng đang nghe ông thuyết trình như sau: "Thưa các bạn, không ai vô thần hơn tôi, không ai ghét Đạo Công Giáo hơn tôi, nhưng tôi phải công nhận rằng: Bao lâu chưa là Tín Hữu Công Giáo, thì tôi vẫn còn khổ sở". Ông quả quyết rằng: "Đây là tất cả bí quyết hạnh phúc trên mặt đất này là hòa theo thánh ý Chúa".

Nhà vô thần này, sau khi được ơn thánh khuất phục trở về chính lộ, ông đã cảm nghiệm được hạnh phúc chân thật khi trở nên Tín Hữu Công Giáo, làm con Thiên Chúa, ông đã tìm được bí quyết sống hạnh phúc trong chính học thuyết: "Nhìn thấy Chúa trong mọi sự; phục tùng thánh ý Chúa trong mọi sự".

Đây một đoạn trích trong bức tâm thư của một Thầy Chủng Sinh: "Trọng kính thăm ba má, bác hai, cậu và anh chị. Con không cầu cho gia đình được giầu sang, chỉ xin cho mọi người trở nên Kitô Hữu tốt, sống nghèo khó, bằng an, phó thác trong tay Chúa quan phòng. Con lấy làm vinh dự sống trong cảnh nghèo nàn của gia đình mình, không bánh mì, chỉ ăn cháo, không bao giờ biết đến thịt, có chăng là đôi ba dịp trong năm. Lễ Giáng Sinh thì được thẻo bánh, má tự làm. Tuy nhiên, gần 20 đứa con đang chờ chực điã cháo, nhưng nếu có người đến xin ăn, má vẫn mời họ ngồi vào bàn mà chia bữa ăn với chúng con. Xin ba má tha cho những kẻ đã và đang làm hại gia đình mình. Biết đâu trước nhan Chúa, họ tốt hơn mình. Chúa muốn con làm Linh Mục không vì giầu sang. Nếu thế thì thật là khốn nạn. Con sẽ làm Linh Mục để phục vụ người nghèo. Con: Augelo (Thầy Rocalli tức là Đức Giáo Hoàng Gioan. XXIII).

Trên đây là một trong những tâm tình của các Thánh Nhân. Các ngài đã cảm nghiệm được hạnh phúc chân thật ngay trong cuộc sống nghèo nàn cùng cực của các ngài. Các ngài đã có một tấm lòng bao dung, nhân từ tha thứ cho tất cả những kẻ làm hại các ngài; hơn nữa, các ngài còn luôn nghĩ tốt về họ và coi họ là những người tốt lành trước nhan Chúa. Đó là hạnh phúc chân thật các Thánh đã được tận hưởng ngay trên trần gian.

Kết Luận

Là Tín Hữu, con cái của Chúa, xin Chúa ban cho chúng ta cũng có những tâm tình như các Thánh, để chúng ta cũng cảm nghiệm được nguồn an vui hạnh phúc chân thật của ơn gọi làm con cái Chúa, hầu nên nhân chứng đích thực cho Chúa giữa trần gian này như các Thánh.

Xin Mẹ Maria, Mẹ nguồn hạnh phúc chân thật, vì Mẹ đã chiếm hữu được Chúa là chính nguồn hạnh phúc, xin Mẹ giúp chúng con được tận hưởng hạnh phúc như Mẹ, vì chúng con luôn được Chúa ngự trong tâm hồn chúng con.

Trích Dongcong.net
Lm. Minh Vận, CMC


 

TN6-C26. Kho tàng Thiên quốc - Br. B.M. Thiện Mỹ, CMC

Câu chuyện của tạp chí Times ngày 10 tháng 05 năm 1993 nói về bà Hillary Rodham Clinton: TN6-C26

Câu chuyện của tạp chí Times ngày 10 tháng 05 năm 1993 nói về bà Hillary Rodham Clinton. Nó mô tả bài phát biểu của đệ nhất phu nhân tại đại học Texas vài ngày trước khi cha bà chết. Giọng bà đứt quãng khi trích dẫn lời Lee Atwater (người phụ trách chiến dịch Bush, đã chết ở tuổi 40 vì chứng bướu não). Ông có được tiền của và sự kính trọng, nhưng lại cảm thấy trống rỗng sâu xa trong tâm hồn. Ông nói:

-“Căn bệnh của tôi giúp tôi nhận ra rằng: điều xã hội đang đánh mất cũng là điều tôi đánh mất, đó là một trái tim nhỏ bé nhưng giầu tình thương”.

“Kẻ đánh mất của cải đã mất đi nhiều. Những kẻ đánh mất đời sống tinh thần là mất đi tất cả” (Elbert Hubbard).

Trong sinh hoạt của cuộc sống hằng ngày trên thế giới, có những người chủ trương làm sao kiếm cho được nhiều tiền, tiền sẽ giải quyết mọi vần đề, tiền là chìa khoá vạn năng mở ra mọi lối đi, vì: “Tiền là tiên là phật, là sức bật của lò so, là thước đo lòng người, là nụ cười của tuổi trẻ, là sức khoẻ của thanh niên, là viên thuốc của tuổi già, là cái đà danh vọng, là chiếc lọng che thân, là cán cân công lý, là “hết ý” cho cuộc tình v.v.”.

Nhưng có người cho rằng tiền bạc cần thiết mà cũng nhiều phức tạp, có khi lâm vào cảnh rối ren tơ vò. Thế rồi họ quay sang châm ngôn đạo đức: “cha mẹ lành để đức cho con”. Họ bắt đầu sắm một trái tim vàng yêu thương đối với mọi người.

Quan niệm về những điều trên có nhiều ý tưởng tốt lành: Về đồng tiền nó là ông chủ xấu, nhất là ông chủ đó dẫn con người đi vào đường bất chính hoặc những việc vô tích sự. Nhưng đồng tiền là kẻ đầy tớ tốt khi nó phục vụ con người, nhất là những công việc cao cả như việc bác ái, công ích, những công việc trực tiếp lo việc nhà Chúa.

Còn việc chúng ta thực thi hiền đức để phúc lộc lại cho con cái, cháu chắt là điều thật tuyệt vời. Không những chúng ta cố gắng để đức lại cho hậu duệ mà chúng ta còn chất vào kho lẫm Nước trời những ân lộc mà “mối mọt không thể đục khoét” được, như Chúa Giêsu khuyên bảo để chúng ta thừa hưởng ở đời sau.

Như vậy tiền bạc và đạo đức con người đều quí giá cho những sinh hoạt đời này và nó là những phương tiện làm phong phú đời sống con người cho mai ngày trên Thiên quốc. Tuy nhiên tiền bạc chỉ lo sao cho vừa đủ sống và là phương tiện cần thiết để phục vụ đời sống tinh thần, đó mới là phương cách tuyệt hảo.

Trên phương diện lý thuyết là như thế, còn trên phương diện thực tế, bài Phúc âm hôm nay đi vào tâm cảm của lòng người. Chúa nói: “Phúc cho những kẻ nghèo khó”. Nghèo khó chứ không phải cùng cực, cùng cực lao đao vất vả tìm kiếm kế sinh nhai cũng khó có thời giờ và lòng thanh thản cho việc phụng sự Chúa. Nhưng nghèo khó để lòng thanh thoát khỏi vương vấn trần đời, khỏi mọi ôm ấp giầu sang, là hoàn cảnh tốt để tìm kiếm Nước trời. Vì “của cải ngươi ở đâu thì lòng ngươi cũng ở đó”, khó mà hướng lòng về với Chúa. Chúa Giêsu nói: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu có vào Nước trời”. Còn Thánh Giacôbê nói một cách tích cực rằng: “Những người nghèo khó đối với thế gian này sẽ được Thiên Chúa làm cho giàu có trong Đức Tin (Gc. 2.1-5).

Con người ta gồm các quan năng: Ngoại quan và nội quan. Nhưng tất cả các khả năng đó đều bị giới hạn. Mắt cũng chỉ xem được một khoảng cách nào đó; tai chỉ nghe được một số âm thanh trong cõi trời đất bao la; miệng cũng chỉ nói lên một ít lời hoặc nói với Chúa hoặc với tạo vật. Các tài năng thượng đẳng cũng suy nghĩ giới hạn và yêu mến trong một trái tim nhỏ bé. Thế nên khi con người say mê vào việc đời, ham thích thú vui tự nhiên quá đáng thì tình yêu Chúa sẽ nhạt mờ hoặc tạm dừng bước nơi tâm hồn họ. Trái lại tình yêu Chúa sẽ tác động một cách hiện thể, sống động khi tâm hồn được thanh thản gắn bó mật thiết với Thiên Chúa qua các tạo vật hoặc trong đời sống chiêm niệm.

Hôm nay Phúc âm thánh Luca có nói đến đến 4 phúc và 4 sự khốn, câu chuyện tuy gồm hai lãnh vực nhưng cùng có một ý nghĩa chung là trần thế. Đau khổ vì không chiếm hữu được những sự trần gian là có phúc vì có cơ may chuyển hướng đi tìm lòng thương xót của Thiên Chúa, tìm kho tàng Nước Thiên Chúa. Còn những ai sung sướng vì chiếm hữu no say được của trần đời thì lại trở về tay không đối với ân lộc Nước trời. Nói một cách chi tiết hơn: Nhờ nghèo khổ, đói khát, ghét bỏ; chúng ta mới tìm về sự giầu sang, no đầy nơi Thiên Chúa. Phúc thứ tư Chúa nói rất rõ là phúc cho ai khi vì Con Người mà bị oán ghét sỉ nhục, sẽ lại được phần thưởng lớn lao ở trên trời. Còn khốn cho những kẻ giầu có; họ lao mình vào tiền của, tình yêu, danh vọng; họ thích được người đời ca tụng mà quên đi tình yêu cao cả của Thiên Chúa.

Câu chuyện mà Phúc âm Thánh Luca đoạn 16 từ câu 19 đến 25 đã minh họa thật sống động về thực trạng này: Câu chuyện nhà phú hộ giầu sang với Lazarô nghèo khó ở cõi đời này. Đến khi bước sang “thế giới bên kia”, Lazarô lại được cao trọng trong lòng Abraham, còn nhà phú hộ bị lửa thiêu đốt khổn khổ muôn đời.

Trần gian này chỉ là cuộc sống tạm bợ mau qua, khốn cho ai dừng chân tại đó mà không màng chi đến cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Trái lại phúc cho người biết lợi dụng thời gian vắn vỏi ở trần gian làm phương thế tiến bước trong cuộc hành trình đi về quê trời, để lập công, để thu tích của báu thiêng liêng gởi vào ngân hàng Thiên quốc. Việc đó rất dễ thực hiện: Ta có thể trao cho tha nhân một ly nước lã, một nụ cười thân thiện, một lời nói thông cảm, một việc từ thiện nho nhỏ. Còn đối với Thiên Chúa ta lại càng dễ thực hiện công phúc hơn nữa: Chỉ cần một giây phút hướng tâm hồn về Ngài, một lời than thở yêu mến, một tâm tình trao đổi với Ngài v.v. Kho tàng Nước trời ở ngay trong lòng mỗi người. Bao lâu trái tim còn đập là bấy lâu ta còn kín múc được nguồn ơn vô tận để làm giầu cho Thiên đàng và cho chính bản thân ta.

Gương Đức Mẹ thật tuyệt hảo cho chúng ta noi theo. Suốt cuộc đời Mẹ chỉ chuyên lo tìm kiếm kho báu Nước trời, chỉ một lòng khao khát Thiên Chúa. Không những Mẹ được phúc vinh trên Thiên đàng mà Mẹ còn chiếm hữu được Ngôi Lời ở trong lòng Mẹ ngay từ hồi tuổi xuân xanh và Mẹ luôn gia tăng tình mến ấy cho đến hết cuộc đời của Mẹ.

Trích Dongcong.net
Br. B.M. Thiện Mỹ, CMC


 

TN6-C27.  Đọc, Suy niệm Lời Chúa và Cầu nguyện

 Giêrônimô Nguyễn Văn Nội
VietCatholic (Chúa Nhật 6 Thường Niên C)

BÀI PHÚC ÂM CHÚA NHẬT 6 THƯỜNG NIÊN: “BÀI GIẢNG KHAI MẠC- CÁC MỐI PHÚC THẬT - CÁC MỐI HỌA”

Luca 6, 17.20-26

 

Phương pháp “Đọc, suy niệm Lời Chúa & cầu nguyện” sẽ được tiến hành thành 6 bước như sau:: TN6-C27

Phương pháp “Đọc, suy niệm Lời Chúa & cầu nguyện” sẽ được tiến hành thành 6 bước như sau:

BƯỚC 1.- CHUẨN BỊ - XIN ƠN CHÚA THÁNH THẦN (PREPARATIO).

Ở bước 1 này, chúng ta nên lưu ý những điều sau đây: “Khi mở Sách Thánh, chúng ta cần ý thức rằng đọc Lời Chúa là để nghe Chúa nói với chúng ta. Việc lắng nghe này không tùy thuộc ở chúng ta hay do chúng ta cố gắng, nhưng do Chúa, Đấng muốn chúng ta nghe được tiếng Ngài. Vậy chúng ta hãy lắng nghe Chúa nói qua Lời của Ngài, trong tâm tình khiêm tốn của người nghèo của Thiên Chúa, sẵn sàng đón nhận và thực thi Lời Chúa.

“Chúng ta cũng nên nhớ cuốn sách này không phải của riêng chúng ta, mà là của cộng đoàn Hội Thánh. Khi cầu nguyện với Lời Chúa, chúng ta được hòa mình vào truyền thống của Hội Thánh đã có từ bao đời. Dù đọc Lời Chúa một mình đi chăng nữa, chúng ta vẫn không cô đơn vì được liên kết với bao anh chị em tín hữu khác đã và đang “suy niệm luật Chúa đêm ngày” (Tv 1,2).

“Chúng ta hãy đặt mình trước mặt Chúa để đi vào cuộc đối thoại với Người. Chúng ta cũng hãy xin Người cử Thánh Thần đến giúp chúng ta hiểu Lời Chúa; đồng thời đi vào sự thinh lặng nội tâm để đón nghe Lời Chúa.”


BƯỚC 2.- ĐỌC & TÌM HIỂU BẢN VĂN (LECTIO).

Chúng ta hãy đọc chậm rãi từng chữ từng câu một đoạn văn Lc 6,17.20-26. Không cần đọc lấy nhiều. Đọc đi đọc lại nhiều lần, nhất là những câu ngắn mà chúng ta thấy hay thấy thích; Chúng ta có thể lặp đi lặp lại nguyên văn các câu ngắn ấy nhiều lần. Chúng ta đọc trong tâm tình yêu mến, lắng nghe, tìm hiểu, đón nhận ơn soi sáng và ơn tác động của Thánh Thần. Chúng ta đọc Lời Chúa trong cầu nguyện, xin Thiên Chúa, xin Chúa Giêsu nói với chúng ta, tỏ lộ Ý Ngài cho chúng ta, chỉ đường vạch lối cho chúng ta soi sáng hướng dẫn chúng ta.

Ở bước 2 này chúng ta nên dùng phương pháp gồm 3 việc: (a) quan sát, (b) giải thích và (c) tóm kết, để nắm bắt được nội dung bản văn Lc 6.17.20-26 và nhận ra sứ điệp của Lời Chúa:

a/ Quan sát bằng cách tự đặt những câu hỏi: Ở đâu? khi nào? // Ai? // Làm gì? // Nói gì?

 
..... Ở đâu?

Khi nào ?
.....
.. ....Ai?.. ... .....Làm gì?.. ... .....Nói gì?.....
- - - -


b) Giải thích:

H. 1) Tại sao đông đảo môn đệ và dân chúng đến với Đức Giêsu?

Đ. 1)…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

H. 2) Tại sao đoạn Lc 6,20-26 được gọi là bài giảng khai mạc?

Đ. 2)…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

H. 3) Trong Lc 6,20-23 có bốn câu: “Phúc cho anh em là những kẻ….. “ Chữ “phúc” có ý nghĩa gì đối với Đức Giêsu?

Đ. 3)…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

H. 4) Trong Lc 6,24-26 có bốn câu “Khốn cho các ngươi là những kẻ….” Chữ “khốn” có nghĩa gì đối với Đức Giêsu?

Đ. 4)…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

H. 5) Tại sao Đức Giêsu lại công bố: (a) những kẻ nghèo khó, (b) những kẻ bây giờ đang phải đói, (c) những kẻ bây giờ đang phải khóc, (d) những kẻ vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa, là những người có phúc?

Đ. 5)…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….

H. 6) Với là những người giầu có, những kẻ bây giờ đang được no nê, đang được vui cười và khi được mọi người ca tụng, tại sao Đức Giêsu lại nói “khốn cho các ngươi”?

Đ. 6)…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….

c) Tóm kết ý nghĩa đoạn văn TK:

H. 1) Trong đoạn Lc 6,17.20-26 này, chúng ta khám phá Đức Giêsu là ai?

Đ. 1) Trong đoạn Lc 6,17.20-26 này, chúng ta khám phá Đức Giêsu là:

(1) …………………………………………………………………………………………………………………………………………………

(2) …………………………………………………………………………………………………………………………………………………

H. 2) Chúng ta học được những gì từ đoạn Lc 6,17.20-26 này?

Đ. 2) Từ đoạn Lc 6,17.20-26 này, chúng ta học được những điều sau đây:

(1) ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

(2)………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..




BƯỚC 3: SUY NIỆM LỜI CHÚA (MEDITATIO).

H. 1) Đức Giêsu đã nói với các môn đệ: “Phúc cho anh em…..” Đức Giêsu có nói lời này với tôi không? Tại sao?

Đ. 1) ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

H. 2) Đức Giêsu đã nói với các kinh sư và biệt phái: “Khốn cho các ngươi….” Đức Giêsu có nói lời này với tôi không? Tại sao? Để khỏi bị rủa “khốn” tôi phải làm gì?

Đ. 2) ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

H. 3) Qua bài giảng khai mạc này, Đức Giêsu nói gì với tôi?

Đ. 3) Qua bài giảng khai mạc này, Đức Giêsu nói với tôi những điều này:

(1) ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

(2)………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

BƯỚC 4: CẦU NGUYỆN (ORATIO).

H. Tôi có những tâm tình gì khi nghe/đọc đoạn Lc 6,17.20-26?

Đ. Khi nghe/đọc đoạn Lc 6,17.20-26 tôi có những tâm tình sau đây:

(1) ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

(2)………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

Khi tôi nói lên những tâm tình ấy với Chúa. Đó chính là cách tôi cầu nguyện vậy.

BƯỚC 5: CẦU NGUYỆN CHIÊM NIỆM (CONTEMPLATIO).

(Dành vài phút thinh lặng để tôi đi sâu vào cõi lòng của Chúa, sống một mình với Chúa: đó chính là cách cầu nguyện chiêm niệm vậy).

BƯỚC 6: DẤN THÂN HÀNH ĐỘNG theo lời mời gọi của Lời Chúa (ACTIO).

H. Tôi có quyết tâm và việc làm cụ thể nào để thực thi Lời Chúa trong đoạn Lc 6, 17.20-26?

Đ. Để thực thi Lời Chúa trong đoạn Lc 6,17.20-26, tôi có quyết tâm và việc làm cụ thể như sau:

(1) …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

(2)…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….



PHẦN TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI TRONG 5 BƯỚC (2-6):

BƯỚC 2.- ĐỌC & TÌM HIỂU BẢN VĂN (LECTIO).

a) Quan sát (tự làm):

b) Giải thích:

H. 1) Tại sao đông đảo môn đệ và dân chúng đến với Đức Giêsu?

Đ. 1) Đông đảo môn đệ và dân chúng đến với Đức Giêsu, vì họ muốn được nghe Người giảng dậy và nhiều người trong số họ mong được Người lành.

H. 2) Tại sao đoạn Lc 6,20-26 được gọi là bài giảng khai mạc?

Đ. 2) Đoạn Lc 6,20-26 được gọi là bài giảng khái mạc vì là bài giảng đầu tiên của Đức Giêsu trong Phúc âm Luca và vì bài giảng ấy chứa đựng một nội dung rất quan trọng có tính quyết định đối với những ai muốn đi theo Chúa Giêsu. Đó là vấn đề sống thế nào để có được hạnh phúc thật và tránh được cảnh khốn khổ muôn đời.

H. 3) Trong Lc 6,20-23 có bốn câu “Phúc cho anh em là những kẻ…..” Chữ “phúc” có nghĩa gì đối với Đức Giêsu?

Đ. 3) Trong Lc 6,20-23, “chữ phúc” theo ý Đức Giêsu, có nghĩa là được Thiên Chúa quan tâm và yêu thương một cách đặc biệt, không phải vì họ tốt lành thánh thiện mà vì họ đang sống trong một hoàn cảnh nghèo hèn, khổ cực hay bị thiệt thòi vì Chúa Giêsu, vì Nước Trời.

H. 4) Trong Lc 6,24-26 có bốn câu “Khốn cho các ngươi là những kẻ….” Chữ “khốn” có nghĩa gì đối với Đức Giêsu?

Đ. 4) Trong Lc 6,24-26, “chữ khốn” theo ý Đức Giêsu, có nghĩa là những kẻ giầu có, những kẻ bây giờ đang được no nê, những kẻ bây giờ đang được vui cười và được người mọi người ca tụng phải coi chừng vì họ đang gặp nguy cơ lớn là lầm tưởng rằng những điều họ đang có là hạnh phúc thật. Thật ra đó chỉ là một chút hạnh phúc chóng qua và có gía trị tương đối mà thôi. Nếu họ bình chân vui hưởng và kiêu căng tự mãn thì họ sẽ dễ dàng rơi vào nỗi khốn khổ trầm luân.

H. 5) Tại sao Đức Giêsu lại công bố: (a) những kẻ nghèo khó, (b) những kẻ bây giờ đang phải đói, (c) những kẻ bây giờ đang phải khóc, (d) những kẻ vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa, là những người có phúc?

Đ. 5) Đức Giêsu công bố: (a) những kẻ nghèo khó, (b) những kẻ bây giờ đang phải đói, (c) những kẻ bây giờ đang phải khóc, (d) những kẻ vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa, là những người có phúc, vì họ được Thiên Chúa yêu thương, bênh vực và được Đức Giêsu đứng về phía họ và cứu vớt họ.

H. 6) Tại sao Đức Giêsu lại nói “khốn cho các ngươi” là những người giầu có, những kẻ bây giờ đang được no nê, đang được vui cười và khi được mọi người ca tụng?

Đ. 6) Đức Giêsu lại nói “khốn cho các ngươi” là những người giầu có, những kẻ bây giờ đang được no nê, đang được vui cười và khi được mọi người ca tụng, vì hạnh phúc họ đang hưởng chẳng đáng kể gì so với hạnh phúc thật mà Thiên Chúa muốn ban cho con người và vì hạnh phúc họ đang hưởng chỉ là chút hạnh phúc chóng qua và giả tạo, lại có thể trở thành cái bẫy khiến họ bị lừa mà rơi vào chốn khốn khổ muôn đời.

c) Tóm kết ý nghĩa đoạn văn TK:

H. 1) Trong đoạn Lc 6,17.20-26 này, chúng ta khám phá Đức Giêsu là ai?

Đ. 1) Trong đoạn Lc 6,17.20-26 này, chúng ta khám phá Đức Giêsu là:

(1) Là Đấng giảng dạy được dân chúng tìm nghe.

(2) Là Đấng có đủ thẩm quyền xác định thế nào là phúc, thế nào là họa đối với con người.

(3) Là Đấng yêu thương muốn cho hết mọi người theo được hạnh phúc thật và quan tâm bù đắp cho những ai phải nghèo đói, khổ cực, bị thiệt thòi ở đời này vì Thiên Chúa và vì Chúa Giêsu.

H. 2) Chúng ta học được những gì từ đoạn Lc 6,17.20-26 này?

Đ. 2) Từ đoạn Lc 6,17.20-26 này, chúng ta học được những điều sau đây:

(1) Đức Giêsu yêu thương con người và muốn cho hết mọi người được hạnh phúc thật. Đối với những người nghèo khó, khốn khổ, bị thiệt thòi vì đức tin, thì Người ủi an khích lệ. Đối với những người đang gặp thuận lợi xét về mặt thế gian thì Chúa Giêsu cảnh báo là hãy coi chừng kẻo phải khốn

(2) Khổ cực, nghèo túng, bị hoạn nạn vì Tin Mừng có giá trị to lớn trước mặt Thiên Chúa. Còn của cải, danh vọng chỉ có gía trị tương đối và có nguy cơ làm người không cảnh giác bị lừa.



BƯỚC 3: SUY NIỆM LỜI CHÚA (MEDITATIO).

H. 1) Đức Giêsu đã nói với các môn đệ: “Phúc cho anh em…..” Đức Giêsu có nói lời này với tôi không? Tại sao?

Đ. 1) Có. Nếu tôi đang sống trong cảnh đói nghèo, cực khổ về kinh tế hay vì đức tin thì tôi hãy vững tâm vì tôi được Thiên Chúa quan tâm và yêu thương.

H. 2) Đức Giêsu đã nói với các kinh sư và biệt phái: “Khốn cho các ngươi….” Đức Giêsu có nói lời này với tôi không? Tại sao? Để khỏi bị rủa “khốn” tôi phải làm gì?

Đ. 2) Có. Nếu tôi sống trong sung sướng đầy đủ thì tôi phải cảnh giác, để đừng ngủ quên và lầm tưởng đó là hạnh phúc thật. Trái lại, tôi phải thực thi Lời Chúa dạy về từ bỏ của cải, không dính bén chức quyền danh vọng mà theo Chúa.

H. 3) Qua bài giảng khai mạc này, Đức Giêsu nói gì với tôi?

Đ. 3) Qua bài giảng khai mạc này, Đức Giêsu nói với tôi những điều này:

(1) Hạnh phúc thật không tùy thuộc vào việc tôi có sở hữu nhiều của cải, chức quyền, danh vọng đời này hay không, mà tùy thuộc vào việc tôi có đón nhận được tình yêu thương của Chúa hay không mà thôi.

(2) Mọi thứ trong cuộc đời này chỉ có gía trị tương đối. Thứ có gía trị tuyệt đối là cách sống của tôi có phù hợp với tinh thần và giáo lý của Đạo Chúa hay không.




BƯỚC 4: CẦU NGUYỆN (ORATIO).

H. Tôi có những tâm tình gì khi nghe/đọc đoạn Lc 6,17.20-26?

Đ. Khi nghe/đọc đoạn Lc 6,17.20-26 tôi có những tâm tình sau đây:

(1) Khát khao có được hạnh phúc thật.

(2) Ước mong không bị mê hoặc bởi các thứ hạnh phúc chóng qua, giả tạo và lừa dối. Trái lại luôn có được sự tỉnh táo và siêu thoát cần thiết.

(3) Cảm ơn Đức Giêsu đã dùng những lời ngọt ngào đối với hạng người thứ nhất và đã dùng những lời mạnh mẽ và răn đe đối với hạng người thứ hai.

NB.-Khi tôi nói lên những tâm tình trên của tôi với Chúa. Đó chính là cách tôi cầu nguyện vậy.



BƯỚC 5: CẦU NGUYỆN CHIÊM NIỆM (CONTEMPLATIO).

(Dành vài phút thinh lặng để tôi đi sâu vào cõi lòng của Chúa, sống một mình với Chúa: đó chính là cách cầu nguyện chiêm niệm vậy).

BƯỚC 6: DẤN THÂN HÀNH ĐỘNG theo lời mời gọi của Lời Chúa (ACTIO).

H. Tôi có quyết tâm và việc làm cụ thể nào để thực thi Lời Chúa trong đoạn Lc 6, 17.20-26?

Đ. Để thực thi Lời Chúa trong đoạn Lc 6,17.20-26, tôi có quyết tâm và việc làm cụ thể như sau:

(1) Dù sống trong hoàn cảnh nào, tôi luôn cố gắng giữ tinh thần lạc quan, tin tưởng phó thác cậy trông vào Tình Thương Quan Phòng của Thiên Chúa.

(2) Tôi tập tương đối hóa của cải vật chất, chức quyền, danh vọng: nhìn những thứ ấy như phương tiện phục vụ đời sống nhân bản và đức tin. Tôi tìm dịp san sẻ và giúp đỡ người chung quanh, nhất là những người cần đến mình.

Sàigòn ngày 8 tháng 2 năm 2004
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội


 

TN6-C28. Các mối phúc, lời hứa thành hiện thực - Martin Lê Hoàng Vũ

Bài Tin Mừng hôm nay Thánh sử Luca thuật lại việc Chúa Giêsu công bố các mối phúc. Cả hai: TN6-C28

Bài Tin Mừng hôm nay Thánh sử Luca thuật lại việc Chúa Giêsu công bố các mối phúc. Cả hai thánh sử Luca và Matthêu đều ghi lại bài giảng này, nhưng mỗi người lại có một lối viết riêng, rất độc đáo và có tính bổ sung cho nhau nhằm cung cấp cho các độc giả Kitô hữu những bài học cụ thể trong đời sống đức tin.

1. Các mối phúc theo Tin Mừng :

Các mối phúc của Tin Mừng thánh Luca ghi lại hướng trực tiếp đến những người nghèo, những hoàn cảnh đáng thương vì thiếu cơm ăn áo mặc, những người thấp cổ bé miệng bị xã hội bạc đãi, những nạn nhân của bất công. Họ lại được Thiên Chúa yêu thương, hứa ban hạnh phúc Nước Trời. Có thể nói Tin Mừng Luca là Tin Mừng của người nghèo, cái nhìn của Luca là suốt cuộc đời hoạt động của Chúa Giêsu, Ngài luôn ưu tiên dành chỗ cho người nghèo. Bên cạnh đó, các mối phúc theo Tin Mừng Mátthêu lại mang nặng tính luân lý hơn. Khi nói đến người nghèo, Mátthêu cho thấy con người được vào Nước Trời không phải là những người ở trong tình trạng thiếu thốn phương tiện vật chất, nhưng lại do tình trạng sở hữu. Thánh sử Mátthêu nhấn mạnh đến những cơn đói khát tinh thần của con người, đói khát công lý, bác ái và hòa bình viên mãn.

Tóm lại cả hai thánh sử đều muốn khẳng định rằng: Nước Trời mà Chúa Giêsu loan báo trong các mối phúc không phải là thiên đàng trong thế giới tương lai đang đến. Những thực tại Nước Trời được xem như là những giá trị bền vững như công bình, bác ái, liên đới. Đó là Nước Trời mà suốt cả cuộc đời người Kitô hữu luôn kiếm tìm và xây dựng.

2. Phúc cho người nghèo khó :

Đối với Chúa Giêsu, nghèo hay giàu không phải là cái tội. Của cải, danh vọng và chức quyền tự nó không có gì trái ngược với Tin Mừng. Nhưng Chúa Giêsu trong cuộc đời rao giảng Tin Mừng luôn cảnh cáo những thái độ làm cho con người trở thành nô lệ. Một cuộc sống nghèo túng có thể là cạm bẫy, những sinh hoạt hằng ngày có thể biến con người thành ngu dại, chỉ biết nhìn thấy miếng cơm manh áo mà quên đi ý nghĩa cùng đích của đời người. Một cuộc sống thiếu thốn vật chất dễ nảy sinh những tật xấu như chúng ta thường nói với nhau “Bần cùng sinh đạo tặc”.

Ngoài ra, sự giàu có cũng có thể là sợi dây trói buộc lòng quảng đại của con người, phát sinh tính ích kỷ và biến cuộc sống trở thành khép kín. Khi công bố các mối phúc Chúa Giêsu không khuyến khích một thái độ sống vô lo, thiếu trách nhiệm hay phó mặc cuộc đời cho số phận may rủi. Vì đó cũng không phải là thái độ đích thực mà Tin Mừng muốn dạy chúng ta.

Trong bài đọc 1 hôm nay, qua miệng Ngôn sứ Giêrêmia, Thiên Chúa muốn nói rằng: Ai cũng cần phải lớn lên trong trách nhiệm và tự do. Nhưng không vì thế mà chúng ta chối bỏ sự hiện diện và tác động của Thiên Chúa. Hơn bất cứ ai, Ngài chính là điểm tựa vững chãi của đời người. Bởi đó chúng ta đừng đi tìm kiếm điều gì khác ngoài Ngài, đừng cậy dựa vào sức riêng của mình mà rời xa Thiên Chúa. Chính khi biết đặt niềm tin vào Thiên Chúa, con người sẽ tìm được hạnh phúc đích thực. Đó là bí quyết hạnh phúc Chúa muốn truyền lại cho mỗi người Kitô hữu hôm nay. Tất cả chúng ta điều là những người nghèo của Thiên Chúa. Trước mặt Thiên Chúa là Đấng giàu sang phú quí vô cùng, chúng ta đâu có gì để mà tự hào khoe khoang, nếu chúng ta có gì cũng đều là của Chúa ban cho mà thôi. Chính vì thế chúng ta hãy tin tưởng ở Chúa, hãy tìm đến với Ngài để được Ngài ban cho hạnh phúc. Thực tế cho thấy, ngày nay trong khi con người đi tìm kiếm lợi lộc trần thế họ dễ có nguy cơ tách cuộc đời mình ra khỏi Chúa và chỉ phụ thuộc vào vật chất. Suốt cả cuộc đời con người luôn tìm kiếm giàu sang, danh tiếng, chức quyền nhưng họ đâu có biết đi tìm chính Thiên Chúa là nguồn mạch của tất cả mọi sự.

3. Nước Trời, nước tình yêu :

Khi xuống thế làm người, Chúa Giêsu đã sống nghèo, Ngài đứng về phía những người nghèo, tuy nhiên Ngài không lấy việc san bằng xã hội làm mục tiêu tranh đấu. Ngài chỉ luôn nhắc nhở con người rằng : Giá trị đích thực của mỗi người không phải là những gì nó có mà là do cái nó là, có nghĩa là chỉ có tình yêu mới làm nên giá trị đích thực của con người mà thôi.

Theo các mối phúc của Tin Mừng Luca, Chúa Giêsu không hứa hẹn một thiên đàng ngay tại trần thế này, Ngài cũng không loan báo một Nước Trời xa lạ với trần thế. Thực ra Nước Trời mà Chúa Giêsu loan báo thiết yếu là Nước Tình Yêu, Nước của Liên Đới và Chia Sẻ.

Chính khi biết sống yêu thương, công bình, bác ái trong đời sống chúng ta mới hiểu được Nước Trời là gì. Khi biết tận hưởng niềm hân hoan, hòa bình chúng ta mới khám phá ra thế nào là niềm hạnh phúc đích thực. Và khi được quyền sống, được quyền thể hiện và phát triển phẩm giá của mình một cách trọn vẹn nhất thì chính lúc đó các mối phúc Thiên Chúa ban, qua Chúa Giêsu sẽ trở thành hiện thực.

Như vậy các mối phúc không phải là một lời hứa hão, không phải là chuyện ảo tưởng, viễn vông, nhưng là một sự thật hiển nhiên, điều sẽ đến với mỗi người, rất gần gũi với chúng ta, bởi vì chính Chúa Giêsu đã nói Nước Thiên Chúa ở giữa anh em”.

Lạy Chúa Giêsu. Khi công bố các mối phúc Chúa hứa ban Nước Trời cho những người nghèo khó, Chúa mời gọi chúng con sống tinh thần khó nghèo là biết tận dụng những gì Chúa ban để sinh lợi ích cho mọi người, chứ không bo bo giữ cho riêng mình. Xin cho chúng con biết yêu thương, liên đới và chia sẻ với người nghèo, những người đang cần chúng con giúp đỡ, những nạn nhân của bất công xã hội để chúng con được Chúa yêu thương chúc phúc và hứa ban Nước Trời. Amen.
Martin Lê Hoàng Vũ


 

TN6-C29. Điều thế giới đang cần - Phaolô Ngô Suốt

Lc 6 : 17; 20-26.
 

Sau khi nguyên tổ phạm tội, bị đuổi ra khỏi vuờn địa đàng, nhân loại bắt đầu phải lao động lam lũ: TN6-C29

Sau khi nguyên tổ phạm tội, bị đuổi ra khỏi vuờn địa đàng, nhân loại bắt đầu phải lao động lam lũ và phải chết. Từ lúc ấy cái nghèo khổ gắn liền với định mệnh từng người. Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta được nghe về bốn trong tám mối phúc thật. Mối phúc đầu tiên dành cho người nghèo khó. Mới nghe qua có vẻ chướng tai, mang tính cách an ủi những kẻ khó nghèo. Tuy nhiên, ý nghĩa thật sự của nó vô cùng phong phú, và sâu sắc. Chúng ta cùng triển khai một góc độ của mối phúc này, xem thử Chúa muốn chúng ta hiểu thế nào và sống thế nào để đạt đến mẫu số chung của các mối phúc thật : hạnh phúc.

Ngày xưa Vua Càn Long của Trung quốc đã nhiều lần cải trang, giả dạng làm dân, đi đây đó để nghiên cứu, tìm hiểu tình hình dân chúng. Ông ta đi xem dân tình sống ra sao, để điều chỉnh chính sách cai trị của mình cho phù hợp; thứ hai xem thử có thành phần nào bất mãn chống đối, nổi loạn không. Cả hai việc này nhằm mục đích củng cố, kéo dài sự trị vì, vương quyền của Ông ấy. Đây đúng là việc làm hết sức khôn ngoan của một ông vua trần thế. Ngược lại, Ông Vua của các Vua đã tự nguyện đi vào thế gian này, trở thành một thường dân, nghèo nàn, kém cỏi, thấp hèn và chấp nhận chết nhục nhã trên thập giá với ba mục đích : 1/ Hòa giải nhân loại tội lỗi với Cha Ngài. 2/ Sống nghèo hèn và chết để thánh hóa nó. Nghĩa là từ nay cái nghèo và sự chết bắt đầu có ý nghĩa. 3/ Dạy cho chúng ta phương cách để có thể trở về tình trạng nguyên tuyền trong vườn địa đàng thuở trước.

Thánh Tôma Aquinô giải thích về tinh thần nghèo khó là tách rời một cách hoàn toàn và tự nguyện ra khỏi của cải bên ngoài : tước vị, danh dự và sự giàu sang. Đúng vậy, nhân đức nghèo khó bắt nguồn từ ơn kính sợ Thiên Chúa và trông cậy vào Chúa. Dĩ nhiên không phải chúng ta hoàn toàn gạt bỏ mọi giá trị của vạn vật trên đời này, vì tạo vật vẫn có thể hướng ta đến vói Thiên Chúa, như tiếng suối reo, tiếng chim hót trên cành, mùi thơm của cây cỏ. v.v.. Nhưng chúng ta sử dụng nó, đạp chân lên nó để tiến về Thiên Chúa. Nói cách khác chúng ta đặt chân lên của cải, vật chất, danh vọng, chứ không đặt tâm hồn, lòng trí chúng ta vào nó. Chúng ta dùng của cải vật chất như một cái đòn bẩy để lao về phía Thiên Chúa, cội nguồn của hạnh phúc thật sự.

Không phải Thiên Chúa muốn chúng ta sống nghèo khổ, cơ cực. Ngài muốn chúng ta được sống đầy đủ, đúng phẫm cách, nhân vị của con người, giúp đỡ kẻ khác. Ngài muốn chúng ta giàu lắm chứ : giàu lòng bác ái, giàu các nhân đức, giàu những lần tham dự Thánh lễ trong tuần, dồi dào những lần kết hợp với Ngài trong Bí Tích Thánh Thể, giàu sự đóng góp cho giáo xứ, cho các chương trình truyền giáo của Giáo Hội, giàu lòng hy sinh cho con em mình theo học tại các trường Công giáo v.v…

Tóm lại, thế giới vật chất, hưởng thụ hôm nay cần một cuộc cách mạng cho não trạng tối tăm hiện tại, cần phải thoát khỏi nền văn hóa của sự chết đang gặm nhắm từng giây phút cuộc đời. Vật chất nói chung, chính nó là một cám dỗ ác liệt, người ta cần vượt thoát khỏi nó, và chính bản thân sự tách rời khỏi nó đã là sự sung sướng, hạnh phúc rồi. Sự cám dỗ nào cũng nguy hiểm, cũng gây nhiều xáo trộn, trăn trở cả, chỉ có ơn Chúa con người mới đương cự được. Nhưng muốn có ơn Chúa trước hết phải biết và tín thác nơi Ngài. Học nơi Ngài, chúng ta sẽ cảm nghiệm được rằng mình là tạo vật mỏng dòn, luôn trần trụi, vô nghĩa trước mặt Ngài. Nên chúng ta cần có Ngài, phó thác vào Ngài, chứ không nhắm đến, hay cậy dựa vào mọi thứ tro bụi mau qua ở đời này. Ước gì mỗi người Công Giáo đều nhận biết chân lý này, ráng sống trong nhân đức khó nghèo, bắt chước học tập phần nào tấm gương của Thánh Franxicô Assisi, nhất là mẫu gương hết sức lý tưởng của Đại Thánh PhaoLô, vị Tông Đồ Dân Ngoại.
Phaolô Ngô Suốt


 

TN6-C30. Tìm kiếm hạnh phúc thật - Pt. Ịịnh Nguyễn


Lời Chúa cho hôm nay: TÌM KIẾM HẠNH PHÚC THẬT* Search for happiness *
* BÀI ĐỌC 1: Giêrêmia 17, 5-8= Lòng tin trong Chúa: Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời, phúc thay kẽ tin vào Thiên Chuá./ Cursed is the person who trusts in humans alone beings, happy the person trusts in the Lord.

* BÀI ĐỌC 2: 1 Cor. 15,12; 16-20=Hy vọng đời sống vĩnh cửu: Nếu Đức Kitô không chỗi dậy, thì lòng tin cuả anh em thật hão huyền./ Hope for Eternity: If Christ was not raised, your faith is worthless. You are still in your sins.

* TIN MỪNG (Gospel) Luca 6, 17-26= Bốn chúc phúc và bốn nguyền rủa:nghèo khó/giầu có; đói khó/giầu có/vui cười/,khóc lóc…./Four blests and four curses: hungry/full; full/hungry/; laugh/weep; and so on…

A- Bạn và tôi cùng Cảm -Nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )

 

Khi dân chúng từng đoàn lũ rất đông đến nghe Người giảng, Đức Giêsu ngứơc mắt lên nhìn các: TN6-C30

1/ Khi dân chúng từng đoàn lũ rất đông đến nghe Người giảng, Đức Giêsu ngứơc mắt lên nhìn các môn đệ và nói: Phúc cho anh em là những người nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của anh em…đang phải đói, đang phải khóc, bị người ta oán ghét…” Chúa Giêsu đưa ra bốn Phúc trên, vì chính Người cũng sinh ra giống như họ. Đây cũng là lời mời gọi tất cả mọi người nên có lòng nhân ái với kẻ khốn khổ và vui mừng đón nhận các điều trên. Chia sẻ những Hạnh phúc tôi đang có trong Gia đình?(Sùng đạo)

“Blest are you poor; the reign of God is yours...who are hunger, who are weeping, who were hasting…” (Lc. 6, 20-22)

2/ Tiếp theo Chúa Giêsu nói đến bốn mối họa như sau: “Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giầu có, vì các ngươi đã được phần an uỉ của mình rồi…đang được no nê, đang được vui cười, được mọi người ca tụng…” Đây là các lời khuyên và chỉ dạy về nước Thiên Chúa trái ngược với con người, nên bạn nên biết đón nhận những sướng và khổ; đây là những đòi hỏi cuả Chúa, chứ không phải là nhũng lời nguyền rủa hay buộc tội, nhưng tha thiết kêu goị. Nói những từ bỏ của bạn trong cuộc sống? (Hành đaọ)

“But woe to you rich, for your consolation is now…who are full, who laugh now, all speak well…” (Lc. 6, 24-26)

3/ Trong bài đọc 1, Chúa đã nói với ông Giêrêmia như sau: “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chốn nương thân.” Như trên, Chúa muốn tôi mở rộng con tim và đôi tai để lắng nghe và nhìn ra được Lời dạy bảo khôn ngoan cuả Chúa và tìm ra những giá trị cũng như các biến cố cuộc sống thì họa sẽ trở thành phúc cho tôi. Cho Cảm Nghiệm khi tôi đặt niềm tin vào Chuá? (Sống đạo)

“Blest is the man who trusts in the Lord, whose hope is the Lord.” (Gr. 17, 7)

4/ Thánh Phaolô đã quả quyết với bạn: “Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.” Nếu nói chết là hết thì làm sao bạn có thể từ bỏ những thú vui đời này; nhưng có thưởng công và phạt tội thì niềm tin sống lại cùng với Đức Kitô mới là sự trông đợi của bạn hôm nay. Nói những đổi mới cuả bạn để vui sống với anh em? (Học đạo)

“If our hopes in Christ are limited to this life only, we are the most pitiable of men.” (1Cor. 15, 19)

B- Câu Kinh Thánh đánh động tôi chọn làm Châm ngôn Sống tuần này: ( The Best God’s Word )

PHÚC THAY KẺ ĐẶT NIỀM TIN VÀO CHÚA VÀ CÓ CHÚA LÀM CHỐN NƯƠNG THÂN

“ Blest is the man who trust in the Lord, whose hope is the Lord” (Gr. 17, 7)

Vatican II: Thật vậy, mọi Kitô hữu dù sống ở đâu, đều phải lấy gương mẫu đời sống và lời chứng để biểu dương con người mơí họ đã mặc lấy nhờ phép Rửa… (Truyền giáo số 11)

Mẹ Maria: Người nữ này đã được phác họa trước trong lời hứa chiến thắng con rắn. (Giáo hội#55)

C- Ngay bây giờ tôi phải làm gì theo Lời Chúa dạy: ( So what am I doing / For action)

Tôi nên chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm - Nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để áp dụng vào đời sống.

D- Tôi dựa vào Lời Chúa để Cầu nguyện và Sống Cầu nguyện: ( I pray and practice / Pray in Action)

Lạy Cha, Đức Kitô đã nói: Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. Xin cho con vui mừng với hiện tại và luôn tỏ lòng nhân ái với những người nhỏ bé đang sống bên con.

 
Lời hay ý đẹp: CHÚNG TA CÓ THỂ HỌC TỪ BUỒN RẦU NHIỀU HƠN VUI CƯỜI
We can learn more from sorrow than from laughter
Pt. Định Nguyễn

 

TN6-C31 Phúc cho kẻ nghèo khó - Lm. Đan Vinh


Lc 6,17.20-26

I. Tìm hiểu Lời Chúa

1) Ý chính : Phúc cho kẻ nghèo khó.

 

Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại bài giảng khai mạc của Đức Giêsu. Đoạn Tin Mừng này tương: TN6-C31

Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại bài giảng khai mạc của Đức Giêsu. Đoạn Tin Mừng này tương đương với tám mối phúc thật trong Bài Giảng Trên Núi của Tin Mừng Mátthêu. Nội dung đề cập đến các mối phúc và các mối họa như sau :

- Các Mối Phúc : Bốn lời chúc phúc cho những kẻ nghèo, đói khát, đang phải khóc lóc và bị bách hại.

- Các Mối Họa : Bốn lời thở than ái ngại và ngăm đe đối với những người giàu có, no đầy, vui cười và được tâng bốc.

2) Chú thích :

- Đức Giêsu đi xuống cùng với các ông. Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giuđê, Giêrusalem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xiđon (Lc 6,17) :

+ Đi xuống cùng với các ông : Như Môsê (x. Xh 19,21-25), Đức Giêsu xuống từ một quả núi, nơi Người “thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” (Lc 6,12).

+ Chỗ đất bằng : Thánh Mátthêu trình bày bài giảng Tám Mối Phúc Thật ở trên một quả núi nên gọi là Bài Giảng Trên Núi. Còn ở đây, Luca cho biết Đức Giêsu giảng bài đầu tiên của Người ở nơi bằng phẳng rộng rãi, vì muốn nói đến tính phổ quát của Tin Mừng.

+ Đông đảo môn đệ, dân chúng… : Đức Giêsu muốn cho hết mọi dân tộc đều được nghe giảng Tin Mừng. Tư tưởng này được diễn tả qua việc : “Đông đảo môn đệ và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giuđê, Giêrusalem và miền duyên hải Tia và Xiđon kéo đến nghe Người giảng và được chữa lành bệnh tật. Cả những kẻ bị các thần ô uế quấy nhiễu cũng được chữa lành” (Lc 6,17b-18).

- Đức Giêsu ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói : “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười (Lc 6,20-21) :

+ Phúc cho anh em… : Trong Cựu Ước, các lời chúc phúc là những công thức cổ truyền nhằm tiên báo một niềm vui cho tương lai như : “Hạnh phúc thay mọi kẻ đợi chờ Người” (Is 30,18); là lời tạ ơn vì một niềm vui hiện tại : “Hạnh phúc thay kẻ lỗi lầm mà được tha thứ” (Tv 32,1-2)… Trong Tân Ước, các sách Tin Mừng ghi lại nhiều lời chúc phúc của Đức Giêsu : Là lời chúc mừng cho một ân huệ được ban : “Mắt anh em thật có phúc vì được thấy…” (Mt 13,16); là lời hứa cho những ai đón nhận lời dạy của Người : “Phúc thay kẻ nào không vấp ngã vì tôi” (Mt 11,6) hoặc “Phúc thay ai nghe và giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,28)… Ý chính của đoạn Tin Mừng này là : Ơn cứu độ sẽ được dành cho những ai bây giờ phải nghèo khổ. Vì họ sẽ được Chúa ban Nước Trời để đền bù những thua thiệt họ đã phải gánh chịu, và báo trước sẽ có sự đảo ngược tình thế ở đời sau (x. Lc 1,51-53; 16,19-26).

+ So sánh các mối phúc trong Tin Mừng Mátthêu và Luca :

** Cả hai Tin Mừng đều bắt đầu bằng các mối phúc. Nhưng Luca chỉ ghi lại 4 mối, nhắm tới những tình huống cụ thể hiện tại, còn Mátthêu ghi lại 9 mối, 9 thái độ của người công chính.

** Matthêu nhấn mạnh khía cạnh khuyến thiện, còn Luca nhấn mạnh tính cách xã hội đối với người nghèo khổ.

** Trong Luca, theo sau các mối phúc là các mối họa tương phản của nó, dành cho người đã được hưởng thụ thỏa mãn ở đời này.

+ Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó … :

** Nghèo khó trước hết là nghèo tiền bạc và của cải vật chất, khác với Tin Mừng Mátthêu là nghèo khó trong tâm hồn. Đức Giêsu thường tỏ ra ưu ái đối với những người nghèo : Người khuyên chàng thanh niên giàu bán gia sản đem chia cho người nghèo (x Mc 10,21); Khen bà goá nghèo đã bỏ tiền nhiều hơn ai hết (x. Mc 12,43); Khuyên nên mời người nghèo khi đãi tiệc (x. Lc 14,13); Ladarô nghèo khó đã được đền bù ở đời sau (x. Lc 16,23); Dakêu đã hứa chia nửa tài sản cho người nghèo (x. Lc 19,8)…

** Nghèo khó là bé mọn, khiêm hạ : Khi nói đến người nghèo khó (x. Lc 4,18;7,22), Đức Giêsu nhắm tới những người bé mọn (x. Lc 10,21), khiêm nhường tự hạ (x. Lc 14,11;18,14), không cậy dựa vào tiền bạc, nhưng đặt trọn niềm tin cậy vào Thiên Chúa.

** Đức Giêsu tỏ lòng ưu ái đặc biệt đối với những người nghèo hèn : Chính Người chọn sinh ra trong cảnh nghèo (x. Lc 2,12), sống nghèo khổ bằng việc lao động chân tay, và chấp nhận “Con Người không có một viên đá gối đầu”.

+ Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói… : Sự đói khát và no thỏa ở đây nên hiểu theo ý hướng cánh chung. Cựu Ước cũng đã loan báo những người đói sẽ được no dạ thỏa lòng và sau thời than khóc sẽ tới thời kỳ hân hoan (x. Is 49,10; Gr 31,12.25).

+ Vui cười và khóc lóc : ám chỉ những người sung sướng và đau khổ ở đời này. Cả Tin Mừng cho thấy : không phải sự sung sướng hay đau khổ đời này đều là tai họa hay được chúc phúc. Nhưng ta phải đón nhận sự sướng hay khổ này trong mầu nhiệm cứu độ.

- Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa. Vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế (Lc 6,22-23) :

+ Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa : “Bị xóa tên như đồ xấu xa” trong Tin Mừng Luca nói trên nghĩa là bị bôi nhọ, bêu xấu và làm cho mang tiếng.

+ Hãy vui mừng nhảy múa, vì phần thưởng dành cho anh em trên trời thật lớn lao : sứ mệnh của Đức Giêsu là chống lại đau khổ, chữa lành bệnh tật, an ủi những người đau khổ, tha thứ tội nhân sám hối ăn năn. Ở đây sự đau khổ sẽ trở thành niềm vui hân hoan, vì Chúa đến sẽ thiết lập một Trời Mới Đất Mới (x. Kh 21,1), Người sẽ đền bù sự thiệt thòi ấy bằng việc ban ơn cứu độ.

+ Các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế : Từ cuộc bách hại của vua An-ti-ô-khô IV vào năm 167 trước Công Nguyên (x. 2 Mcb 6-7), Cựu Ước thường hay nói đến những cuộc bắt bớ và giết hại các ngôn sứ. Đức Giêsu cũng nhắc lại cuộc tử đạo của các ngôn sứ : Người quở trách các nhà thông luật vì đã xây lăng cho các ngôn sứ mà cha ông họ đã từng giết chết (x. Lc 11,47); Người tuyên bố sẽ chịu chết tại thủ đô Giêrusalem giống như các ngôn sứ đã từng bị dân Ítraen giết hại (x. Lc 13,33).

- Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi. Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói. Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than. Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế (Lc 6,24-26) :

+ Khốn cho các ngươi…: Bốn lời tuyên bố dưới đây song đối với bốn mối phúc ở trên, nhằm làm nổi bật các lời hứa cũng như các đòi hỏi của Chúa. Đây không phải là những lời nguyền rủa, cũng không phải là những lời lên án gay gắt. Nhưng chỉ nhằm mục đích xác nhận, than thở và ngăm đe, nhằm kêu gọi người ta ăn năn hối cải.

+ Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi : Đây là lời kêu gọi người giàu có phải hồi tâm sám hối, vì không thể vừa phụng sự Thiên Chúa và tiền của một lúc được (x. Lc 16,13).

+ Khốn cho các ngươi hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói. Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than : Đức Giêsu loan báo một sự đảo ngược tình hình : No nê bây giờ, thì sau này đói khát ! Vui cười hôm nay, mai ngày khóc than buồn khổ !

+ Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế : Nếu người ta ưa được ca tụng, thì số phận của họ sẽ giống như các ngôn sứ giả mà thôi.

II. Học sống Lời Chúa

1) Lời Chúa : “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó

2) Câu chuyện : Chiếc áo lót của một người chăn chiên

Một ông vua nọ có đủ mọi thứ trên đời : Nào là cung điện nguy nga tráng lệ, vàng bạc chất đầy kho, đủ thứ cao lương mỹ vị; Lại cũng có cả một đoàn cung tần mỹ nữ phục vụ ngày đêm…Thế mà nhà vua vẫn không cảm thấy được hạnh phúc. Ngài buồn phiền không ăn uống bình thường được nên đã phát bệnh. Một danh y được mời đến bắt mạch và bốc thuốc chữa bệnh cho nhà vua. Sau khi thăm mạch, vị danh y cho biết đức vua bị tâm bệnh, không cần dùng thuốc, chỉ cần nhà vua mặc được chiếc áo lót của một ai đó đang sống sung sướng hạnh phúc, là đủ để khỏi bệnh. Quân lính được sai đi khắp nơi tìm kiếm con người hạnh phúc nhất để mượn chiếc áo lót mang về cho nhà vua mặc và chữa bệnh. Sau nhiều ngày tìm kiếm mà vẫn không tìm ra ai là người thực sự hạnh phúc. Người được hạnh phúc thỏa mãn về điều này thì lại bất hạnh về điều kia; người được no đủ cơm áo vật chất thì lại bị đau khổ dằn vặt trong tâm…Rồi đến một hôm, khi đoàn người tìm kiếm sắp nản lòng thất vọng, thì đột nhiên họ nghe tiếng hát của một anh chàng chăn chiên rất vui vẻ. Anh ta ca hát say sưa với nét mặt sung sướng hạnh phúc. Chắc hẳn đây chính là con người hạnh phúc nhất trên đời, mà họ đang ra sức tìm kiếm. Đám quân lính liền đến bên hỏi thăm anh chàng chăn chiên và được anh thừa nhận luôn cảm thấy mình được sung sướng hạnh phúc. Toán lính liền xông vào lột chiếc áo khoác sờn rách cũ kỹ của người chăn chiên để tìm lấy chiếc áo lót đem về cho nhà vua mặc. Thế nhưng thật bất ngờ : Anh chàng chăn chiên này nghèo quá đến nỗi ngoài chiếc áo khoác đang mặc, trên người anh ta chẳng có một chiếc áo nào cả !

3) Suy niệm :

+ Cái chết của công nương Dai-nơ (Diana) bên nước Anh làm cho trái tim hàng triệu người trên thế giới xúc động. Người ta thương tiếc bà không phải vì bà có nét mặt khả ái xinh đẹp, nhân từ, mà còn vì bà chưa kịp được hưởng một chút hạnh phúc mong manh bên người bạn trai sắp làm chồng của bà. Hạnh phúc là niềm khao khát của con người. Người ta sinh ra là để được sống hạnh phúc. Cả đời người là một cuộc hành trình đi tìm hạnh phúc. Thiên Chúa muốn cho con cái loài người được hạnh phúc.

+ Một em thiếu nhi lượm được tiền mà đem nộp cho công an để trả lại cho người đánh rơi; Một giáo viên nghèo nhưng vẫn theo đuổi nghề giáo, đào tạo những công dân tốt cho xã hội; Một cô gái trẻ đẹp sẵn sàng bỏ nghề thư ký riêng với mức thu nhập hằng tháng khá cao, để tránh vướng mắc vào mối tình vụng trộm với ông giám đốc; Một anh công an dám từ chối một số tiền hối lộ lớn lao…Những người này đang thực hành sống theo mối phúc thật trong Tin Mừng hôm nay : “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em”.

+ Người đời thường coi hạnh phúc bắt nguồn từ sự giàu sang phú quý, từ danh thơm tiếng tốt, từ quyền cao chức trọng…Nhưng Đức Giêsu lại có một kiểu đánh giá riêng : Người chúc phúc cho những kẻ nghèo hèn ! Tuy vậy, Người không đề cao sự bần cùng, vì : “Bần cùng sinh đạo tặc !”.

+ Đức Giêsu đã sống các mối phúc : Người chọn làm nghề thợ mộc nghèo hèn hằng ngày phải lao động kiếm sống; Người đã từng cảm nghiệm sự đói khát trong thời gian ăn chay 40 đêm ngày; Người từng nhỏ lệ khóc thương thành Giêrusalem sắp bị tàn phá; Trong cuộc khổ nạn, Người chấp nhận đau khổ : chịu xỉ nhục, bị đánh đòn và chịu đóng đanh vào thập giá…Nhưng Đức Giêsu luôn được hạnh phúc vì đã vâng phục thánh ý Chúa Cha…Tóm lại, Đức Giêsu đã tự nguyện sống khó nghèo về vật chất, là để giúp loài người chúng ta trở nên giàu có về tinh thần.

+ Hôm nay Người muốn chúng ta thay Người để đi thăm và chia sẻ một món quà cho những người nghèo đang nằm la liệt tại các bệnh viện, cho những trẻ em đường phố…Người muốn chúng ta xóa nghèo về kiến thức, vì bệnh tật yếu đau và vì thiếu niềm vui…sự no đủ và niềm vui ấy phải được bắt đầu ngay từ đời này. Ước gì chúng ta sống như Đức Kitô : “Nguồn vốn giàu sang phú quý, nhưng đã hóa nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (x. 2 Cr 8,9).

4) Thảo luận : 1) Tiền bạc có gía trị thế nào ? Tại sao Đức Giêsu lại dạy rằng : “Người giàu có thật khó mà vào Nước Trời !”. 2) Phải chăng Chúa coi sự nghèo khó bần cùng là điều tốt và đáng được chúc phúc ? Ta phải hiểu câu : “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em” thế nào cho đúng ý Chúa ? 3) Mỗi người chúng ta phải làm gì để góp phần xóa đói giảm nghèo trong môi trường chung quanh chúng ta : Giúp mọi người đều được ăn no mặc ấm, giúp dẫn đưa trẻ em thất học đến trường, giúp các bệnh nhân đau ốm được có đủ phương tiện chữa bệnh cách hữu hiệu…?

III. Hiệp sống nguyện cầu

1) Lạy Chúa Giêsu, Sao Chúa lại sinh ra trong thân phận người nghèo ? Đói nghèo cực khổ lắm, Chúa không biết hay sao ? Vừa túng thiếu vừa vất vả nhọc nhằn, vừa bị người ta khinh dể, ôi thật là bị thiệt thòi đủ thứ ! Chúa chọn cảnh nghèo như thế làm chi vậy ? Nếu không phải là Chúa, thì thế nào người ta cũng chê Chúa khờ dại ! Nhưng lạy Chúa, dần dần con đã hiểu được rằng : Chỉ có Chúa là Đấng thánh thiện, khôn ngoan và thương yêu vô cùng mới dám dại khờ như thế. Thật vậy, việc Chúa chọn thân phận nghèo chính là nguồn động viên an ủi lớn lao cho con. Trước hết, với cuộc sống nghèo, Chúa đã tích cực chia sẻ thân phận nghèo hèn của con. Chúa chia sẻ thực sự bằng cách sống với người nghèo, sống trong cảnh nghèo, như người nghèo và cho người nghèo. Nhìn vào cuộc đời của Chúa, con thấy Chúa còn nghèo khổ hơn con. Nhưng nhờ đó con cảm thấy Chúa thật gần gũi với con như một người bạn, như một người Cha. Không ai dám chia sẻ đời nghèo của con để sống gần con như Chúa. Có Chúa ở bên, con cảm thấy bớt cô đơn buồn tủi. Xin cho con từ bỏ ý riêng của con để hoàn toàn vâng theo thánh ý Chúa.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

2) Lạy Mẹ Maria. Xin cho con nhìn thấy Chúa Giêsu đang hiện thân nơi những người đau khổ, nghèo đói và bất hạnh. Con hiểu rằng cả những người giàu có cũng vẫn là người nghèo, vì họ cũng đang cần sự giúp đỡ để tìm ra cho cuộc đời mình một ý nghĩa. Con cảm nhận rằng chính con cũng là một người nghèo, vì con cũng cần sự giúp đỡ của tha nhân : Cần một nụ cười cảm thông, một ánh mắt an ủi, một lời động viên nâng đỡ.

Lạy Mẹ, xin cho chúng con biết dâng lời cảm tạ Chúa, vì Người đã dựng nên chúng con trong tình trạng nghèo khó, nghĩa là luôn cần được cha mẹ và người khác giúp đỡ. Qua đó, Chúa mời gọi chúng con cũng phải mở rộng vòng tay để chia sẻ tình thương cho tha nhân. Xin Mẹ giúp chúng con cảm tạ Chúa, vì Chúa cũng mang thân phận nghèo hèn với chúng con, cũng cần được chúng con cộng tác giúp đỡ, để hoàn tất chương trình cứu độ mà Chúa đã khởi sự cách đây 2000 năm. Xin cho chúng con biết cảm tạ những ơn lành Người đã thương ban, để chúng con cũng biết quảng đại chia sẻ tình thương cho những người nghèo đói bất hạnh chung quanh chúng con.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

Trích Hiệp sống Lời Chúa
Lm. Đan Vinh


 

TN6-C32 Phúc hoạ theo quan điểm của Chúa Giêsu Kitô

 Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
 

Phụng vụ Lời Chúa Chúa nhật 06 Thường Niên đề cập đến một vấn đề mà mọi người quan tâm: TN6-C32

Phụng vụ Lời Chúa Chúa nhật 06 Thường Niên đề cập đến một vấn đề mà mọi người quan tâm vì có liên hệ mật thiết với hết mọi người. Đó là một vấn đề các mối phúc và các mối họa trong cuộc sống. Hẳn nhiên là quan điểm của Chúa Giêsu Kitô về phúc/họa rất khác biệt với quan niệm thông thường của người đời. Là Kitô hữu, chúng ta được mời gọi lắng nghe và đón nhận sự chỉ dạy của Chúa để đạt được hạnh phúc thật và tránh được các mối họa thật sự nguy hiểm.


II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA

2.1 Bài đọc 1 : Gr 1,5-8 : (a) Sách Giêrêmia chép lời rao giảng của Giêrêmia, vị ngôn sứ hoạt động một thế kỷ sau Isaia đệ nhất, vào thời xứ Giuđa sắp bị diệt vong. Ong đã phải chứng kiến cảnh Giêrusalem thất thủ: vua, quan, tư tế và dân bị đày sang Babylon. Cuộc đời và lời rao giảng của ông mang trọn nỗi bi đát của thời đại.

(b) Gr 1,5-8: là đoạn nói về phúc họa đối với con người: Đối với Giêrêmia thì những kẻ tin ở người đời và lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa và lòng dạ xa rời Đức Chúa là những kẻ bất hạnh và đáng nguyền rủa. Còn những ai đặt niềm tin vào Đức Chúa và có Đức Chúa làm chốn nương thân là những người có phúc. Hạng người thứ nhất được ngôn sứ ví như bụi cây trong hoang địa chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ…. Còn hạng người thứ hai được ngôn sứ so sánh như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong nên chẳng sợ mùa nóng cũng chẳng sợ trời hạn hán.

(c) Quan điểm về họa phúc của ngôn sứ Giêrêmia không giống như quan điểm của người đời: Người ta thường cho những người giầu sang, có quyền cao chức trọng là những người có phúc. Còn những ai nghèo đói, túng thiếu, bị đói khát hay miệt thị là những kẻ bất hạnh.

2.2 Bài đọc 2 : 1 Cr 15,12.16-20: Thánh Phaolô nói với các tín hữu Côrintô về nền tảng và ý nghĩa của cuộc sống là sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Nếu không có sự kiện Đức Giêsu Kitô phục sinh, thì “lòng tin của anh em thật hão huyền và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em.” Tại sao vậy? -Tại vì niềm Tin Kitô giáo xuất phát từ Tin Mừng Phục Sinh của Đức Giêsu Nadarét. Nói cách khác Kitô hữu chúng ta tin rằng Đức Giêsu Nadarét, một nhân vật lịch sử, là Con Thiên Chúa nhập thể làm người, để loan báo Tin Mừng và cứu độ mọi người. Người đã sống đẹp lòng Thiên Chúa trong mọi sự, và đã bị giết chết trên Thập tự giá, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết, để khởi đầu công trình phục sinh mọi thụ tạo đã chết.

2.3 Bài Tin Mừng : Lc 6,17.20-26 : (a) Là bài giảng khai mạc của Đức Giêsu. Bài giảng này rất quan trọng, vì là lời công bố quan điểm của Đức Giêsu về một vần đề mà ai cũng quan tâm và có liên hệ mật thiết với mọi người. Đó là vấn đề họa phúc trong cuộc đời. Các nhà chú giải Thánh kinh thường coi đây là Hiến chương Nước Trời. Trong Phúc âm Luca thì 4 mối phúc thật có kèm 4 mối họa thật, như sau:

(b) Các mối phúc thật là: ”Phúc cho anh em là những người nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng. Phúc thay anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa. Ngày đó anh em hãy vui mừng nhẩy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ đã từng bị cha ông họ đối xử như thế.” Còn các mối họa là: ”Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giầu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi. Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các người sẽ phải đói. Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang vui cười, vì các người sẽ phải sầu khổ khóc thân. Khốn cho các ngươi, khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như vậy.”

(c) Chúng ta nên lưu ý những chi tiết quan trọng sau đây trong Bài Phúc âm:

(*) Ở đây các mối phúc và các mối họa đều được gắn với những con người cụ thể chứ không chỉ là những lời công bố chung chung như trong Tin Mừng Mátthêu: “Phúc cho ai có lòng tâm hồn nghèo khó, vì…...” Đó là các môn đệ và những người mà Đức Giêsu gọi là “các ngươi”. Nhờ Phúc âm Mátthêu chúng ta biết được “các ngươi” đây là các kinh sư và Pharisêu gỉa hình tức là những người giảng dạy trên tòa Môsê mà lại không thực hành những điều họ giảng dạy, không tin và đón nhận Đấng Mêsia được Thiên Chúa gửi đến, không thay đổi cách suy nghĩ và cách sống cho phù hợp với Thánh Kinh và giáo huấn của Đức Giêsu Kitô.

(*) Trong các lời công bố của Đức Giêsu có phân biệt rạch ròi giữa hiện tại và tương lai và có sự tương phản khốc liệt giữa những cái người có phúc hay kẻ gặp họa đang sở hữu và những cái mà những người ấy sẽ nhận được trong tương lai.

(d) Nếu chúng ta đối chiếu với Phúc âm Mátthêu, thì chúng ta thấy sự khác biệt: trong Luca thì bốn mối họa theo liền sau bốn mối phúc còn trong Mátthêu thì tám mối phúc thật ở chương 5, còn các mối họa ở tận chương 23. Xem ra cách xếp đặt của Mátthêu hợp với thực tế và lôgích hơn, vì hai lý do:

(*) Đã là Hiến chương Nước Trời thì chỉ nêu lên những tiêu chuẩn tích cực, làm kim chỉ nam cho mọi người noi theo.

(*) Đức Giêsu chỉ lên tiếng cảnh cáo, đe dọa khi một số người đồng hương của Người tỏ ra cố chấp, cứng đầu cứng cổ, không chịu thay đổi theo đường lối và giáo huấn của Người. Hiểu như thế chúng ta mới dễ giải thích các lời tuyên bố: “khốn cho các ngươi”.

(đ) Vậy thử hỏi: Tại sao Đức Giêsu lại cho rằng các môn đệ - là những người nghèo khó, bị đói, phải khóc, bị oán ghét, khai trừ và bị xoá tên như đồ xấu xa vì Con Người- lại là những người có phúc? Tại sao Đức Giêsu lại cho rằng những kẻ giầu có, đang được no nê, đang được vui cười, đang được mọi người ca tụng lại là những người gặp họa? Để tìm cách hiểu được điều Đức Giêsu muốn nói, chúng ta phải đặt mình vào hoàn cảnh các môn đệ và những người chống lại Đức Giêsu mà ta có thể gọi là kẻ thù của Đức Giêsu. Trên thực tế đại đa số những người theo Chúa lúc ban đầu, kể cả các Tông đồ, đều là những người thuộc giới bình dân, nghèo khó, không có địa vị, chức quyền, không được ai coi trọng. Vì thế họ không hề bị “xốc” hay thấy chướng tai khi nghe Đức Giêsu tuyên bố: “Phúc cho anh em”, vì quả họ đang cảm thấy hạnh phúc vì được Đức Giêsu và Thiên Chúa yêu thương, quí trọng và bênh vực họ. Còn những người giầu có đang được no nê, vui cười và được mọi người ca tụng chính là các kinh sư và Biệt phái. Họ bị Đức Giêsu nói: “khốn cho các ngươi không phải vì họ đang giầu có, được no nê, vui cười và được ca tụng, mà vì họ đã không” thực hành những điều Thánh Kinh và Đức Giêsu dạy.




III. ĐÓN NHẬN & SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA

3.1 Tiêu chuẩn phúc họa của Đức Giêsu Kitô: (a) Thật khó mà cho rằng cảnh nghèo (vật chất, tinh thần) là cảnh phúc và cảnh giàu có (vật chất, tinh thần) là cảnh khổ. Tự nó, cảnh nghèo là cảnh khổ và cảnh giầu là cảnh sướng. Nhưng tất cả chỉ là tương đối và phiến diện mà thôi. Cảnh nghèo (tức sống nghèo khó hoặc đang bị đói hoặc đang phải khóc, hoặc đang bị oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa vì Chúa và vì đạo) sẽ trở thành cảnh phúc khi người trong cuộc khám phá ra rằng: Họ được Đức Giêsu và Thiên Chúa đặc biệt yêu thương, chăm sóc vì họ đã bị thiệt thòi đủ điều về mặt kinh tế, xã hội, chính trị và tôn giáo. Còn cảnh giầu (được giầu có, no nê, vui cười, được mọi người kính trọng và ca tụng) sẽ trở thành cảnh họa, vì những giầu sang hạnh phúc ấy không phải là hạnh phúc thật mà trái lại có thể trở thành những vật cản, những cạm bẫy khiến con người ta bị lừa, bị gạt (Dụ ngôn ông nhà giầu và Ladarô nghèo khó trong Lc 16,19-31).

(b) Để hưởng được phúc thật của Chúa, chúng ta phải biết sống yêu thương, san sẻ những gì mình đang có với những người nghèo khó hơn mình, giúp đỡ những người đang cần đến chúng ta. Chúng ta còn phải sống siêu thoát, không tìm kiếm những lời khen hão huyền giả trá. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng: một trong những trọng điểm của Phúc âm là những mời gọi cũng là những đòi hỏi của Đức Giêsu Kitô đối với những ai muốn theo Người là phải từ bỏ, nhất là từ bỏ của cải và danh vọng thế gian.

3.2 Quyết tâm thực thi sứ điệp Lời Chúa trong tuần:

* Nếu tôi đang sống trong cảnh nghèo thì quyết tâm của tôi là: sống tin cậy, phó thác cho Chúa Quan Phòng, không ham muốn của cải vật chất chóng qua, mà chú tâm khám phá Tình Thương của Chúa trong cuộc đời mình.

* Nếu tôi đang sống trong cảnh giầu thì quyết tâm của tôi sẽ là: sống tỉnh thức, siêu thoát đối với của cải và danh vọng và san sẻ những gì đã lãnh nhận với những người thiếu thốn hơn mình.



IV. CẦU NGUYỆN : Lạy Thiên Chúa là Cha toàn năng và yêu thương, nhờ Đức Giêsu Kitô, Con Cha, Chúa chúng con, Cha đã chỉ dạy cho chúng con con đường đạt tới hạnh phúc thật. Nhưng chúng con phải thú nhận rằng: chúng con đi tìm hạnh phúc theo phương cách và tiêu chuẩn của thế gian hơn là theo phương cách và tiêu chuẩn mà Chúa Giêsu đã vạch ra cho chúng con trong Phúc âm, nhất là Lời Chúa hôm nay. Chúng con ham hố của cải, danh vọng, chức quyền thế gian. Chúng con sống giả hình trong đời sống đạo. Chúng con còn xa với Giáo lý của Đạo mặc khải. Xin Cha đoái thương cứu giúp và biến đổi chúng con bằng sức mạnh của Đấng Phục Sinh, Con Cha và bằng ơn canh tân biến đổi của Ngày Lễ Ngũ Tuần của Thần Khí Cha. Amen.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội


 

TN6-C33. Lựa chọn đúng tương lai của mình


Lc 6,17-26

Thưa quý vị,

 

Tạp chí Chủ Nhật Thời Báo (số 14/01/01) đăng bài của tác giả Natalie Angier. Cô bênh vực thái độ: TN6-C33

Tạp chí Chủ Nhật Thời Báo (số 14/01/01) đăng bài của tác giả Natalie Angier. Cô bênh vực thái độ vô thần của mình. Theo thống kê thì nước Hoa Kỳ có tới 92-97% dân chúng có niềm tin tôn giáo và thực hành niềm tin đó. 80% tin có đời sống sau khi chết. Nhưng các nước khác thì không đúng như vậy, thí dụ Pháp, Đan Mạch, Thuỵ Sĩ, Áo, Anh, Hà Lan,… chỉ từ 40-70% tin sự sống “có lẽ” không tồn tại sau cái chết. Kết luận cô nói: “Tôi tin rằng vũ trụ này tuân theo luật vật lý. Một số đã được biết, số khác chưa, nhưng nếu chúng chưa được biết đến thì… do trí khôn chúng ta phát xuất từ trái đất bé nhỏ, nên bị hạn chế. Tôi tin rằng thế giới như chúng ta thấy trước mắt, đã được định hình một cách bí nhiệm, xin tạm gọi là siêu việt, do bàn tay của Biến Hoá Tự Nhiên có chọn lọc”.

Bài của cô Angier thực sự thách thức các tín hữu. Để làm cho quan điểm của mình vững chắc hơn, cô trích tác giả Michael Cromarte: “Các dữ liệu điều tra chỉ ra rằng phần lớn tin Thiên Chúa, nhưng khi đi vào chiều sâu thì niềm tin đó rỗng tuếch. Nhiều người xưng mình là tín đồ Thiên Chúa giáo, nhưng khi hỏi có biết ai là tác giả Bài Giảng Trên Núi thì đa số trả lời không. Cô Angier điều tra giới sinh viên thì thấy họ dù vô thần hay tín hữu, đều gian lận như nhau trong các kỳ thi. Cùng tình nguyện như nhau làm việc giúp đỡ bệnh nhân, người già cả, khuyết tật trong bệnh viện. Cô đưa ra nhận xét chung: “Vấn đề cần bàn cãi là tôn giáo có đủ khả năng làm cho ai đó thành người tốt, trong trường hợp định mệnh bắt họ xấu hay tầm thường.

Thật ra, tin vào Thiên Chúa, sự trỗi dậy của Đức Kitô từ cõi chết, sự sống lại tương lai và hạnh kiểm con người phải đan kết với nhau. Điều nọ là hậu quả của điều kia, không tách rời được. Chúng ta hãy nghe thánh Phaolô lý giải trong bài đọc 1, khi ngài viết cho tín hữu thánh Côrintô có thân nhân đã chết trước khi được thấy Đức Kitô trở lại. Số phận của họ sẽ ra sao lúc Chúa xuất hiện? Họ đã từng khát khao giây phút ấy. Họ sẽ mãi mãi bị chôn vùi không được xem thấy Chúa của mình, Đấng họ hằng hy vọng? Thánh Phaolô đưa ra Chúa Kitô Phục Sinh là nền tảng cho sự sống lại tương lai của nhân loại: “Nếu Đức Kitô không trỗi dậy thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. Thế ra chúng tôi là những nhân chứng giả hiệu của Thiên Chúa vì đã chống lại Thiên Chúa mà làm chứng rằng Người đã cho Đức Kitô trỗi dậy, trong khi Người đã không cho Đức Kitô trỗi dậy, nếu kẻ thật kẻ chết không trỗi dậy. Vì nếu kẻ chết không trỗi dậy thì Đức Kitô đã không trỗi dậy. Mà nếu Đức Kitô không trỗi dậy thì lòng tin của anh em thật hão huyền và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của mình” (15,13-17). Như thế, theo thánh Phaolô, chối bỏ Chúa Phục Sinh là chối bỏ sự sống lại của loài người trong tương lai, chẳng có nhập thể, chẳng có cứu chuộc, chẳng có hy vọng, chẳng có mục tiêu của cuộc lữ hành trần gian, tất cả đức tin là con số không trống rỗng.

Tuy nhiên, tin vào sự sống lại tương lai phải có dấu ấn trên cuộc đời mỗi tín hữu. Nó phải thay đổi trong nếp sống chúng ta và chúng ta phải phản ánh niềm tin đó vào các sinh hoạt hàng ngày. Hiện thời nó là sự phục sinh tâm linh của nhân loại và báo trước Chúa sẽ ngự đến. Chúa Kitô của đức tin cũng là Chúa Kitô của lịch sử. Việc Ngài sống lại vừa là biến cố vật lý vừa là một mầu nhiệm. Chúng ta phải sống trong cả hai thực tại đó dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chẳng phải biết ai là tác giả Bài Giảng Trên Núi hay thuộc lòng giáo lý là bằng chứng của một tín hữu tốt nhưng là nếp sống của mình. Người tín hữu không thể được lượng giá bằng những con số thăm dò, hoặc tan biến vào đám đông tổng quát với những tính tốt và nết xấu. Họ là những kẻ chia sẻ cuộc đời Chúa Cứu Thế, cái chết và phục sinh của Ngài.

Trong thế giới của Chúa Giêsu, hầu hết mọi người đều là kẻ khó nghèo, hoặc vật chất hoặc tâm linh, Ngài chúc phúc cho kẻ thanh bần vật chất vì họ là kẻ giàu có về tâm linh. Ngược lại, Ngài nguyền rủa hạng trọc phú vì nghèo trong tâm hồn. Một người giàu vật chất là kẻ có đủ quyền bính bóc lột người khác, thường thường là vậy, và trên bình diện toàn cầu cũng đúng như thế. Những nước hùng mạnh là những quốc gia đi khai thác những nước chậm tiến bằng trăm phương nghìn kế. Khi đã bị áp bức, bóc lột người nghèo vô phương tự vệ, đơn giản vì thiếu quyền lực. Tệ hơn nữa, theo tác giả John Pitch (The cultural world of Jesus) ở vùng cận đông thời Chúa Giêsu, người giàu thường khinh miệt kẻ nghèo hèn, coi họ như súc vật: mèo, chó, lừa, ngựa… trong khi đó danh dự là tài sản quý báu nhất của một người sống giữa xã hội.

Cho nên Phúc Âm Luca hôm nay nói lên nội dung to lớn. Thực sự nó là bản tóm lược Tin Mừng. Thánh nhân thuật lại: “Một hôm Đức Giêsu từ trên núi xuống cùng nhóm mười hai, Ngài dừng lại ở một chỗ đất bằng” nghĩa là Ngài không khinh thị đám đông, Ngài trà trộn với họ, làm thành viên trong họ. Khác với thái độ của các kinh sư giảng dạy dân chúng từ trên cao, toà Maisen. Ngài đứng giữa họ, nghe họ nói, cảm thấy những bàn tay, gót chân chạm tới mình. Giáo lý của Ngài cũng không bí nhiệm, cao siêu, vượt quá tầm hiểu biết của họ. Nhưng vừa trí khôn mọi người, tức là những điều họ ao ước được nghe: “Phúc cho anh em nghèo khó, đói khát, khóc than, bị bách hại. Thiên Chúa đã nhìn, đã nghe, đã hiểu thấu nỗi thống khổ của anh em. Ngài tôn trọng anh em…”

Thiên Chúa là nguồn mạch đích thực của mọi danh dự. Nếu Ngài ban vinh dự cho ai, người ta không thể chối bỏ hoặc cướp đi. Như vậy Chúa Giêsu thực chất ban Tin Mừng cho những linh hồn đang cần danh dự, tức là những kẻ thấp hèn của thế giới. Trước tiên họ được nghe Ngài loan báo, sau đó bổn phận đáp trả. Chúng ta được nghe sứ điệp Thiên Chúa chúc phúc, sứ điệp này Ngài ban nhưng không, cho nên không ai có quyền chiếm hữu cho mình, nhưng hoàn toàn bởi lượng hải hà của Ngài. Cũng chẳng ai có danh nghĩa hoặc công trạng gì kẻo lên mày lên mặt. Tất cả đều là kẻ thụ ơn, được hưởng ân huệ do công nghiệp của Chúa Giêsu. Tiếp theo là đáp ứng về phía nhân loại. Bí quyết để hiểu ơn lành của Thiên Chúa là mệnh đề mô tả chân dung của kẻ thụ ơn: “đói khổ và khóc lóc”. Họ là những kẻ bị bạo lực ức hiếp và chà đạp. Đây cũng là chân dung của những người đấu tranh cho nhân phẩm trong truyền thống các tiên tri. Như vậy lời chúc phúc của Chúa Giêsu cũng hiểu được cho những người hoạt động chống bất công xã hội, băng bó những vết thương do người khác gây nên: Chiến tranh, khủng bố, dịch hoạ,… Nó là giải pháp hữu hiệu mang tính cánh chung và thiên sai. Hạnh phúc chỉ có thực hiện khi không còn cường quyền và áp bức. Mọi người sống trong nhân phẩm, được tôn trọng, yêu thương và bình an.

Nhưng trên thực tế, ít người tin ở sứ điệp của Chúa Giêsu. Nó trái ngược với ước vọng của nhân loại: “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó”. Thánh Matthêu phải chỉnh như vậy, nhưng ở đây thánh Luca chỉ nói đơn giản: “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, phải khóc” không thêm bớt chi hơn nữa. Mong ước của loài người là tìm kiếm giàu sang phú quý. Không ai đi tìm sự nghèo khó, ngay cả những tâm hồn khấn ba lời khuyên Phúc Âm, thậm chí còn coi là không tưởng. Chiều nào cũng nghe quảng cáo mở xổ số. Ở nước Mỹ, lô trúng độc đắc khoảng 10 triệu USD, một số tiền hấp dẫn với đa số dân trung bình. Cờ bạc nở rộ khắp nơi, mặc dù bất hợp pháp. Ở đâu người ta không được tổ chức trên đất liền, thì chèo thuyền ra khơi, chỗ hải phận quốc tế, tha hồ sát phạt nhau đêm ngày. Chẳng ai coi nghèo là một cái phúc. Tuy nhiên lương thiện mà nói, giàu sang chưa phải là hạnh phúc thật. Nhiều cuộc đời đổ vỡ vì thảm kịch tiền bạc. Theo Tin Mừng tiền bạc là đối thủ kỳ cựu của Thiên Chúa. Nó phá đổ nhiều tổ chức, nhiều linh hồn đạo đức, cho nên Chúa Giêsu có lần đã cảnh báo: “Các con không thể làm tôi hai chủ được” tức tiền bạc và Thiên Chúa. Nếu chúng ta kiên nhẫn theo dõi những người trúng số lớn sẽ thấy số phận họ ra sao sau cuộc may mắn đó. Chúa Giêsu không tuyên bố phúc cho sự nghèo khó, Ngài chỉ nói: Phúc cho anh em là những kẻ khó nghèo. Trong lúc nói, Ngài ngước mắt nhìn các môn đệ, dạy bảo họ về nếp sống mới, nếp sống Tin Mừng, thanh bạch, tự do, thoát khỏi mọi ràng buộc, để sống trong Nước Chúa, để có tương quan hoàn toàn mới, bất vụ lợi với Thiên Chúa. Những người môn đệ nghèo khó này dễ dàng chấp nhận sứ điệp của Ngài. Sẵn sàng đi theo Ngài. Trong dụ ngôn người thanh niên giàu có, chúng ta thấy rõ ràng thái độ của người giàu đối với Thiên Chúa và Đức Kitô. Đúng ra, người nghèo mới hiểu được giá trị thực của sự sống, họ vật lộn để sống cho nên họ thấy sống là quý. Còn kẻ giàu có chỉ biết hưởng thụ, ngoài ra coi thường mọi sự. Cho nên nghèo mới nhiều khả năng tuân theo đường lối khác thường Chúa Giêsu chỉ dạy. Một lần nữa chúng ta nghe Lời Chúa tuyên bố: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, đói khát, khóc than và bị bách hại vì danh Thầy”, chúng ta sẽ thấy âm hưởng tích cực, tràn trề hy vọng của nó trong thẳm sâu cõi lòng. Chúng ta chẳng cần thắng xổ số để được giàu có, chúng ta đã phú quý trong tương giao lành thánh với Đức Chúa Trời.

Do đó, “bốn cái phúc và bốn cái khốn” của Chúa Giêsu nêu rõ linh hồn hướng về Thiên Chúa hay thế gian. Tin Mừng chủ yếu kêu gọi chúng ta dấn thân theo Chúa toàn diện, không phải nửa vời. Ngoài miệng theo Chúa nhưng lòng dạ thì tham lam giàu sang. Trong các Phúc Âm, thánh Luca quyết liệt hơn cả về sự ngược đời của Tin Mừng. Thánh nhân làm cho tâm trí chúng ta đảo lộn. Các giá trị thông thường của con người bị đặt xuống cấp dưới và những chi con người xa lánh thì được tôn trọng ở cấp trên. Trong ánh sáng của đoạn Tin Mừng hôm nay, mọi sự được nhìn từ một viễn ảnh khác. Chúng ta phải đối diện với một thực tại mới: Lượng định xem mình đã sống ra sao? Thiên hạ thế nào? Họ ấp ủ những điều gì? Thái độ của mình đối với sự vui thoả thế gian? Điều chi thực sự có giá trị? Điều chi mình coi là thực tiễn? Dưới con mắt đức tin được Phúc Âm soi sáng, nhiều giá trị chúng ta quý trọng thì lại là thảm hoạ cho đời sống thiêng liêng. Những tiêu chuẩn chúng ta coi là đáng mơ ước thì Phúc Âm thách thức, gọi những kẻ nghèo hèn, đói khổ, than khóc là có phước. Những kẻ đầy đủ, giàu có, vui cười là bất hạnh. Đúng là nghịch lý. Nhưng dưới nghịch lý là sự thật vĩnh hằng. Tin tưởng vào bất cứ cái gì khác ngoài Thiên Chúa, hy vọng vào bất cứ ai khác ngoài Chúa Giêsu là báo trước một tương lai thảm khốc.

Cho nên tiên tri Giêrêmia trong bài đọc 1 viết: “Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa và lòng dạ xa rời Đức Chúa”. Giữa những khốn khổ, nhục nhã, khước từ của thế gian, người tín hữu được Thiên Chúa ban thêm sức mạnh, như thánh Phaolô nhắc nhở, bởi lòng họ tin vào Đấng Phục Sinh: “Nếu chúng ta hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người. Nhưng không phải thế! Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu”. Xin cho mọi tín hữu luôn chọn lựa đúng tương lai của mình. Amen.
Lm. Jude Siciliano, OP.


 

TN6-C34. Phước và Họa, bài giảng đầu tiên của Đức Giêsu


Chúa nhựt 6 /TN/C - Jer 17: 5-7; 1Cor 15: 12, 26-20; Lc 6: 17, 20-26

Phước và Họa, bài giảng đầu tiên của Đức Giêsu.

 

Giàu sang, phú quý. Ăn sung mặc sướng. Vui cười hả hê. Danh tiếng lẫy lừng. Đó là giấc mơ của loài: TN6-C34

Giàu sang, phú quý. Ăn sung mặc sướng. Vui cười hả hê. Danh tiếng lẫy lừng. Đó là giấc mơ của loài người, ai cũng mong tìm cho bằng được, thế mà theo Phúc Âm thánh Luca hôm nay lại cho là Hoạ. Trái lại nghèo, đói, buồn sầu, bị khinh chê, cái mà người đời cố tình tránh, lại cho là có Phúc.

Người được thế gian ưu đãi chưa phải là kẻ được Chúa chúc phúc.

Kẻ xem như bất hạnh không phải là kẻ bị Chúa bỏ rơi.

Cũng là lời Chúa mà hai thánh sử Matthêu (Mtt 5:1-12) và Luca (Lc 6:20-26) đã có hai cái nhìn qua hai lăng kính khác nhau.

Matthêu nhìn Đức Giêsu qua ông Môisen, người được Thiên Chúa trao 10 điều răn trên núi Sinai, Đức Giêsu từ trên núi, nhìn xuống đám đông dân chúng, Người công bố tám mối phước thật (Beatitudes) còn gọi là Hiến chương nước trời.

Trái lại Luca, là một lương y, nhìn Đức Giêsu qua một vị bác sĩ một vị lương y giàu lòng từ ái. Luca chọn bối cảnh đồng bằng, nơi mà dân chúng tập họp đông đảo, xô đẩy nhau, chen lấn nhau để được đến gần Chúa, họ mang theo đủ thứ bệnh tật và mong được Chúa chữa lành. Đức Giêsu đứng ơ giữa họ, ngang với họ và chữa lành các thương tích của họ. Đức Giêsu dạy họ qua những tư tương thật rõ ràng, ngắn gọn và dễ hiểu: ai là kẻ được chúc phúc, ai không:

Phúc cho ngươi, bây giờ đang nghèo khó.
Khốn cho ngươi, bây giờ đang giàu có.
Phúc cho ngươi bây giờ phải đói khát.
Khốn cho ngươi bây giờ được ăn uống no nê. . . vân vân. . .


Đức Giêsu không chúc lành cho người nghèo cũng không lên án người giàu mà Chúa trực tiếp nói với mỗi người chúng ta (you, là anh, là chị, là ngươi là chính tôi.. . ) và ngay bây giờ đang đói hay đang no, đang khóc hay đang cười ?

Đức Giêsu cảnh giác về một sự lừa dối, một sự phỉnh gạt (deception) của thế gian là đam mê của cải, đam mê ăn uống, đam mê thú vui vật chất, muốn được ca ngợi mà quên đi sự tín thác vào Chúa, làm suy giảm đi niềm tin và hy vọng vào cuộc sống vĩnh cửu.

Khốn cho tôi là kẻ đang vui cười vì thấy đời đẹp quá, đầy đủ quá, thoả mãn với những gì tôi đang mong ước. Don’t worry, be happy! mà quên đi mình đang trên con đường lữ thứ trần gian, quên đi những những kẻ chung quanh đang phải đói rách lầm than.

Thiên Chúa có thể làm đảo ngược những ước mơ, những kỳ vọng của tôi, những gì mà thế gian ban tặng và tôi đã hài lòng về nó.

Tôi cảm nghiệm rằng, Chúa đang ơ với tôi, với con người thực của tôi với đầy tham vọng, muốn được giàu sang, phú quý, thành công, thịnh vượng.

Tôi cũng cảm nghiệm rằng Chúa thấu rõ cái nghèo, cái khổ, những lo âu dằn vật, những thất bại ê chề, ngay cả tội lỗi của tôi nữa. Đó cũng là con người thật của tôi.

Tôi cảm nghiệm rằng Chúa đang đứng bên tôi, nơi đồng bằng, ngang vai với tôi, nơi tôi đang mang thương tích, nơi tôi đang vật lộn với đời để tìm miếng cơm manh áo, nơi tôi đang chiến đấu để gìn giữ đức tin.

Tôi cảm nghiệm rằng tôi có thể sờ đến Người và được Người sờ đến tôi để chữa lành tôi và tôi đặt hết tin tương ơ nơi Người.

Trong quyển nhật ký của người đàn bà, nuôi mẹ già bệnh hoạn, có mấy giòng như sau: Tôi thật có phúc được đền đáp phần nào công ơn của mẹ. Tôi thật có phước được ơ gần bên mẹ trong những ngày cuối của cuộc đời bà. Được nhìn lần cuối nụ cười héo hắt nơ trên môi mẹ. Được nghe tiếng nói phều phào: Mẹ thương con. Tôi được Chúa chúc phúc mỗi lần tôi thay tả cho mẹ.Tôi được chúc phúc mỗi lần tôi đút muổng cháo cho mẹ và tôi được diễm phúc được khóc khi mất mẹ!

Lời của Đức Kitô trên núi nơi Matthêu hay ơ dưới đồng nơi Luca hàm chứa trong cái vui có cái buồn, bên kia nụ cười là nước mắt, bên kia giàu sang sung túc là nghèo đói, túng thiếu, bên kia hân hoan, khen thương là bị lạm dụng, chế diêu, bắt bớ tù đày. Nhưng tôi cảm nghiệm rõ ràng rằng quyền năng và sức mạnh của Chúa, sự hiện diện của Chúa rõ ràng nhất mỗi khi tôi tôi làm một việc lành, dù là rất bé nhỏ. Khi tôi giúp đơ một người nào đó trong cơn hoạn nạn, qua ánh mắt, người đó như thầm nói với tôi: Đức Giêsu đang ơ với bạn, tôi đã gặp Đức Giêsu nơi bạn.

Các bạn thân mến, Thiên Chúa có thể làm nhiều hơn nữa với chúng ta và qua chúng ta nếu chúng ta mơ rộng lòng mình hơn nữa cho Người.

Hạnh phúc thật không gặp được nơi giàu sang phú quý, trong các bữa ăn thịnh soạn, trong các trận cười thâu đêm hay trong những lời khen tặng của người đời mà hạnh phúc thật chỉ tìm được nơi tín thác vào Chúa và làm công việc của Chúa là biết yêu thương (loving) biết săn sóc (caring) chữa lành (healing) biết chia sẻ (sharing) và biết tha thứ (forgiving).

Phúc thay cho các goá phụ vất vả nuôi đàn con dại và dạy cho chúng biết mến Chúa yêu người.

Phúc cho những đứa con đang lo chăm sóc cho cha mẹ già bệnh hoạn thay vì đưa các ngài vào nursing homes.

Phúc thay cho những người cha biết dành thì giờ với con cái thay vì đi tìm những thú vui hoan lạc cho riêng mình.

Phúc cho những ai biết chia sẻ những gì mình đang có, tinh thần cũng như vật chất, cho kẻ khác khi cần.

Phúc cho những ai tín thác vào Chúa và dõi theo đường lối của Người.

Họ như cây được trồng bên suối nước mà Tiên tri Jeremia đã nói trong bài đọc 1, cành lá sum sê bốn mùa tươi tốt và không ngừng trổ sinh hoa trái.

Để kết thúc bài suy niệm hôm nay, tôi xin mượn lời Thánh Phao-lồ trong bài đọc hai: Nếu chúng ta không đặt hết tin tương vào Đức Kitô mà chỉ tin tương vào đời nầy mà thôi thì chúng ta là kẻ đáng thương hại nhất trên cõi đời nầy.

Xin Chúa chúc lành cho mỗi người chúng ta./.
Phó Tế Jos. Huỳnh Văn Ngọc


 

TN6-C35. Ngài giảng như có một quyền uy sức mạnh

Anh chị em thân mến,
 

Hôm nay Chúa Gêsu giảng cho chúng ta nghe một bài học rất là thấm thía, người ta nói lời Ngài: TN6-C35

Hôm nay Chúa Gêsu giảng cho chúng ta nghe một bài học rất là thấm thía, người ta nói lời Ngài giảng như có một quyền uy sức mạnh khiến cho ai nghe cũng phải cảm phục và thích nghe Ngài giảng, vậy Chúa Giêsu giảng như thế nào ?

1. Chúa Giêsu giảng : “Phúc cho anh em là những người nghèo khó; phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói; phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc; phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét.v.v...”

Những cái phúc này xem ra ngược đời với những người cùng thời với Chúa Giêsu, và càng ngược đời chói tai hơn đối với người thời đại của chúng ta -thời đại của kim tiền vật chất thống trị- nhưng nó sẽ không chói tai chút nào đối với những người đã nghe và thực hành các mối phúc mà Chúa Giêsu đã dạy.

Chúng ta cho rằng không có phúc vì chúng ta nghèo khó, chúng ta phải đói meo vì chúng ta không có gì ăn, chúng ta đáng khóc vì dồn dập những bất công đang ập xuống trên bản thân cũng như trên gia đình, chúng ta đang âm thầm cử hành các bí tích, đang chịu bắt bớ vì tin vào Chúa Giêsu, đó là những thực tế quá chua cay và không một ai muốn như thế. Nhưng cũng có một thực tế huy hoàng khác mà chúng ta phải cảm nhận và phải biết, đó là những người đã thực hành các mối phúc này đang ngày đêm vui tươi hoan ca trong tình yêu của Chúa, họ sống khó nghèo, họ vui tươi khi gặp buồn phiền, họ trưởng thành hơn khi chịu bắt bớ vì đạo Chúa, họ chính là các thánh nam nữ, là những người lành thánh đang hưởng phúc thiên đàng...

2. Chúa Giêsu giảng tiếp : “Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có; khốn cho các ngươi là những kẻ bây giờ được no nê; khốn cho các người là những kẻ đang vui cười; khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng...”

Những cái khốn này cũng là chói tay và khó nghe, bởi vì con người ta ai lại không thích có tiền, ai lại không thích được ăn sung mặc sướng, ai lại không thích đùa giỡn vui vẻ, ai lại không thích được người khác ca tụng ?

Nhưng đúng là khốn nạn khi chúng ta có tiền của để rồi dùng tiền mua lấy tội lỗi cho mình, dùng tiền để làm điều gian ác. Đúng là khốn nạn thật khi chúng ta bây giờ được no nê phè phởn trên sự đói nghèo của anh em mà không một chút chạnh lòng. Đúng là khốn nạn thật khi mà chúng ta cười cợt thâu đêm bên những bóng hồng kĩ nữ với những lon bia li rượu hàng trăm đô la. Đúng là khốn nạn thật khi chúng ta vênh mặt lên khi được mọi người ca tụng vì thành quả của mình mà quên mất rằng chính Thiên Chúa là tác giả của thành công ấy..

Anh chị em thân mến,

Trong cuộc sống của mình chúng ta thường đi tìm bốn cái khốn nạn mà Chúa Giêsu đã giảng, còn cái phúc thì chúng ta lại không tìm kiếm, bởi vì chúng ta chưa hiểu trọn lời giảng của Ngài, chúng ta chưa hiểu là vì chúng ta không nhiệt tâm nghe và suy tư, chúng ta không nhiệt tâm là vì chúng ta yêu mến Ngài chưa đũ.

Xin Chúa ban cho chúng ta sự khôn ngoan của Thánh Thần để chúng ta biết chọn cái phúc của Chúa hơn là cái phúc của người đời.

Bài giảng chủ nhật 6 thường niên tại nhà thờ Phục Sinh - Taiwan.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

 

TN6-C36. DIỄN TỪ KHAI MẠC: CHÚC PHÚC VÀ CHÚC DỮ

Lc 6,17.20-26
 

Trái với Mt, Lc đặt diễn từ khai mạc của CGS không phải xảy ra ở trên núi, nhưng trên đồng: TN6-C36

1. Trái với Mt, Lc đặt diễn từ khai mạc của CGS không phải xảy ra ở trên núi, nhưng trên đồng bằng. Hơn nữa, ông không đề cập gì đến mối quan hệ giữa giáo huấn của CGS với Luật cũ hoặc luật tôn giáo của các luật sĩ và biệt phái. Nếu ông trình bày giáo huấn của CGS theo kiểu đối ngẫu, chính là để đối chiếu chống lại tinh thần thế tục. Vả lại bản văn của Lc ngắn hơn bản văn của Mt nhiều, chỉ bằng 1/3 số câu thôi. Sau cùng, trong Mt, CGS bắt đầu sứ vụ bằng diễn từ trên núi trong lúc theo Lc, CGS đã bắt đầu sứ vụ một thời gian trước khi tuyên bố diễn từ này. Do sự khác biệt về bối cảnh và cách trình bày tổng quát cũng như chi tiết, người ta tự hỏi: 2 diễn từ này phải chăng chỉ là hai cách diễn dịch từ một diễn từ nguyên thủy, hay là 2 bản văn độc lập ghi lại hai diễn từ đọc trong những hoàn cảnh và cho nhiều thính giả khác biệt ?
Cho đến nay, đa số các nhà chú giải nhất trí công nhận đây là hai lối diễn dịch của cùng một diễn từ CGS. Và họ phân tích kỹ lưỡng hai bản văn đó để đưa ra một diễn từ nguyên thủy có lẽ đã được CGS công bố.
Tuy nhiên việc soạn lại một diễn từ nguyên thủy như thế thật đáng nghi ngờ. Riêng sự kiện có nhiều cách soạn lại bài diễn từ đó cũng đủ cho thấy công việc đó không mấy bảo đảm và trung thực, vì dựa trên nhiều định đề không xác đáng:
a) Định đề cho rằng CGS chỉ một lần công bố diễn từ khai mạc nói về các mối phúc thật.
b) Định đề cho rằng các tác giả phúc âm tự do thêm (hoặc bớt) bốn mối phúc và tự do thêm (hoặc bớt) 4 lời chúc dữ.
c) Định đề cho rằng 2 tác giả phúc âm Mt và Lc đã tham khảo cùng một bản văn chép tay chứ không dựa trên một số các thủ bản hay truyền thống truyền khẩu có ít nhiều khác biệt và thiếu sót. Bao lâu chưa giải quyết ổn thỏa các định đề trên, tốt hơn là nên xem hai diễn từ này độc lập với nhau và đừng nghĩ đến việc so sánh chúng với một diễn từ nguyên thủy nào khác. Điều tôi sẽ làm sau đây, là làm nổi bật các đặc điểm riêng của Lc so với Mt.
2. Trong các thành tố của riêng Lc, sự hiện diện của các lời “chúc dữ” là một sự kiện ý nghĩa hơn cả (sau này tôi sẽ bàn về từ ngữ “chúc dữ”, ở đây tôi tạm thời dùng chữ “chúc dữ” với tất cả dè dặt). Đối ngẫu với từng chữ của các mối phúc thật, các lời chúc dữ cho thấy Lc đã chú giải các mối phúc thật dựa trên cơ sở các mối bận tâm trong phúc âm thứ ba và Cvsđ. Bốn chữ “bây giờ” trong bản văn nói lên một khía cạnh quan trọng khác trong Lc.

I. MỐI PHÚC THẬT ĐẦU TIÊN VÀ LỜI CHÚC DỮ TƯƠNG ỨNG: NGƯỜI NGHÈO VÀ NGƯỜI GIÀU.
a) Tương quan với giáo huấn cổ truyền:
* Cựu ước:
Việc chúc dữ người giàu có: chúc dữ sự xài phí sang trọng các bất công xã hội, tinh thần vô đạo và vô luân của họ là một chủ đề rất cổ xưa. Amos đã đổ lỗi cho những người quyền thế Samaria: 4,1-3; 6,1-14; 8,4-14; so sánh với Mi 3,1-4. Chủ đề này còn được nói đến trong các sách Khôn ngoan: Gióp 31,24; Tv 49,7-8; Si 11,16tt; 40,13...
* Tân ước:
Không kể các sách phúc âm, thư thánh Giacôbê là thư lên án các người giàu có nhiều nhất. Trong 1,9-11 (so sánh với 4,14), Giacobe cảm hứng theo Is 40,6-8 tiên báo người giàu có sẽ bị triệt hạ, còn người nghèo khó sẽ được nâng lên. Giac 2,2-6 đối chiếu người nghèo với kẻ nghèo trên bình diện thế tục và xã hội. Cuối cùng Giac 5,1-6 nhắc lại những lời quở mắng mạnh mẽ của các tiên tri xưa. Đoạn văn này có lẽ đã được dùng làm cơ sở cho những lời chúc dữ trong Lc. Người giàu thường là người áp chế, kiêu ngạo vô đạo; còn người nghèo thường khiêm nhu và hướng về TC. Sách Khải huyền đã đối chiếu như thế giữa các người giàu có thành Smyrne (2,9).
* Các phúc âm:
Trong lời giải thích dụ ngôn người gieo giống. Các hạt giống rơi trong bụi gai tượng trưng cho các thính giả đã đón nhận lời Chúa; “nhưng các lo lắng thế tục, sự quyến rũ của giàu sang và những đam mê khác xâm chiếm họ, bóp nghẹt lời Chúa, khiến Lời không thể sinh hoa trái được” (Mt 13,22; Mc 4,19; Lc 8,14). Sự giàu có, những bận tâm do nó gây nên cũng như những khoái lạc nó tạo ra đã khiến Lời phúc âm không thể sinh hoa trái được. Vậy khốn cho các người giàu có, vì đến ngày gặt hái, người ta sẽ không gặt được gì nơi các ngươi.
Giáo huấn CGS (về sự khốn khổ thường phát xuất từ sự giàu có) được đặc biệt lưu ý trong bản văn kể lại việc CGS kêu gọi người thanh niên giàu có (Mc 10,17-31; Mt 19,16-30; Lc,18,18-30). Khi trả lời các yêu sách đầu tiên CGS đưa ra, người thanh niên giàu có trả lời đã tuân giữ mọi giới răn (Mc 10,20; Mt 19,20; Lc 18,21); do đó anh là một người giàu tốt. Nhưng ngoài việc tuân giữ các giới răn, CGS còn đòi anh từ bỏ thực sự (Mc 10,21 và song song). Khi anh ta từ chối, CGS mạnh mẽ xác quyết của cải giàu sang thực sự là một nguy hiểm: “những người giàu có khó mà vào nước TC...” (Mc 10,23 và song song). Khi các môn đệ hỏi: “Như thế ai sẽ được cứu rỗi ? ”, CGS trả lời rằng người giàu có cũng có thể được cứu rỗi, nhưng nhờ phép lạ. Các câu tiếp theo (Mc 10,28-30 và song song) giới thiệu các môn đệ đã từ bỏ mọi sự vì Đức Kitô, như là hình ảnh đối ngẫu với các người giàu có bị của cải ngăn cản không thể theo CGS vào nước Trời.
CƯ và thánh Giacobe nhắm đến các sự lạm dụng của người giàu có. Còn lời chúc dữ của CGS xem ra nhắc đến chính của cải giàu sang, vì nó giam hãm người giàu có, là những người hầu như không thể từ bỏ và dứt khoát với của cải được. Mà sự từ bỏ này lại là điều kiện cần cho những ai muốn vào nước trời.
b) Giáo huấn của Lc:
1/ Về sự từ bỏ tuyệt đối:
Lc có khuynh hướng đưa ra những yêu sách của việc từ bỏ bằng những từ ngữ tuyệt đối. Ông trình bày việc hoàn thành từ bỏ như là điều kiện thường tình để trở thành môn đệ CGS.
Như đã thấy khi nghiên cứu đoản văn nói về chọn các môn đệ đầu tiên, Lc nhấn mạnh nhiều hơn Mt và Mc về việc phải từ bỏ “tất cả” (panta) để theo CGS (5,11). Trong ba đoản văn song song với Mt và Mc, ông đã nói đến sự từ bỏ “tất cả” ở những chỗ mà hai tác giả phúc âm kia không nói: ví dụ Lc 18,22 (so sánh với Mc 2,14; Mt 9,9). Ngoài 3 đoản văn đó, có thể kể thêm Lc 6,30 (so sánh với Mt 5,42): “Hãy cho mọi kẻ kêu xin” (hãy cho: động từ ở thì hiện tại để chỉ một hành động liên tục, cho nên đó cũng là một luật sống phải thực hành luôn).
Ngoài ra có nhiều sửa đổi khác nhằm nói lên các yêu sách tận căn hơn trong Lc và Mt. Ví dụ Lc 14,26 có một thành ngữ cứng rắn hơn Mt 10,37: “Kẻ nào đến cùng Ta mà không ghét cha mẹ...”; Lc , cũng nhấn mạnh tương tự: “Hãy vác thập giá mình mỗi ngày...” (so sánh với Mt 16,24; Mc 8,34). Sau câu 14,26, Lc ghi lại hai dụ ngôn mà chỉ ông có: việc xây tháp mà ông vua trù tính có nên gây chiến hay cầu hòa (cc. 28-32). Tiếp theo là một thành ngữ riêng của Lc, như là chìa khóa để chú giải hai dụ ngôn vừa nói: “Cũng vậy, bất cứ ai trong các ông, nếu không từ bỏ tất cả của cải mình có, ắt không thể làm môn đệ Ta được”
Sách Công vụ sứ đồ cũng nhấn mạnh đến việc thực hành hoàn toàn từ bỏ đó: “Tất cả các tín hữu đều để tất cả mọi sự là của chung” (2,44.45). “không ai có vật gì là của riêng mình, nhưng giữa họ mọi sự đều là của chung...” (4,32).
2/ Về cách xử dụng tốt của cải:
Cách xử dụng tốt hệ tại ở việc phân phát của cải. Trong các bản văn kế tiếp, không còn nhấn mạnh đến sự từ bỏ, mà nhấn mạnh đến lòng quảng đại, phát xuất từ sự hoàn toàn dứt khoát (dépouillemet et désinteressement) chỉ là những kiểu dị của cùng một quan niệm về sự đối kháng giữa việc chiếm hữu của cải trần gian này với việc chiếm hữu của cải nước trời.
Hãy cho và đừng mong người đời đáp trả; phương thế chắc chắn để được TC tưởng thưởng (Lc 14,12-14: là câu riêng của Lc).
Hãy so sánh Lc 6,30.34-35 với Mt 5,12. Thì quá khứ aorists của Mt nhằm diễn tả một sự tình cờ; còn thì hiện tại của Lc nói lên một nguyên tắc sống thường xuyên. Ngoài ra Lc còn thêm “tất cả ai kêu xin” chứ không nói như Mt “đi kêu xin” làm nổi bật thêm ý hướng của ông. Sau cùng Lc còn thêm: đừng mong chờ nhận lại của cải. Quảng đại như thế là một cách từ bỏ của cải.
So sánh Lc 12,33 với Mt 6,19-20. Lời khuyên của Mt thuộc về bình diện ý hướng: CGS đối kháng nỗi lo lắng thu tích của cải trần gian chóng qua với nỗi lo lắng thu tích của cải trên trời. Còn Lc nói đến việc hoán đổi cụ thể của cải trần thế để lấy của cải trên trời. Cuối dụ ngôn người quản lý bất trung, Lc 16,9 lập lại ý tưởng đó: việc xử dụng của cải hệ tại ở việc phân phát chúng cho người nghèo để họ trở nên bạn hữu của ta và dẫn đưa ta vào hạnh phúc vĩnh cửu. Giai thoại ông Giakêu, chỉ mình Lc ghi lại, cho thấy một lối sống kiểu mẫu của nhà phú hộ không muốn bị hư mất đời đời (Lc 19,8-9).
Chỉ mình Lc ghi lại các lời Gioan Baotixita khuyên bảo những kẻ ăn năn sám hối (3,10-14). Tất cả những lời khuyên đó đều nói đến việc xử dụng tốt của cải trần thế: hãy cho. Nơi khác Lc nhấn mạnh đến nghĩa vụ bố thí: 11,41; Cvsđ 9,36; 10,2.4.31.
Tóm lại, phương thế để người giàu có có thể được hưởng hạnh phúc sau này, là quảng đại phân phát của cải cho những người nghèo khó. Điều đó giả thiết một sự từ bỏ hoàn toàn.
3/ Về nỗi khốn khổ của các người giàu có:
Dụ ngôn người phú hộ và Lazarô nghèo khó (Lc 16,19-31) làm sáng tỏ mối phúc thứ nhất và lời chúc dữ tương ứng. Dù được trình bày dưới hai thể văn khác nhau, nhưng có cùng một từ ngữ, cùng một giáo huấn. Người phú hộ mắc tội: bất công đàn áp người nghèo, thiếu bác ái với người hành khất trước cửa nhà mình. Ông là một người giàu hà tiện, chỉ biết hưởng thụ. Đối lại, người nghèo khó thật khổ sở nhưng được xem là người biết kiên nhẫn, tin tưởng vào TC... Khi chết, cảnh huống của hai người bị đảo lộn, sự giàu sang của cải xem ra phải bị chúc dữ, vì không được xử dụng tốt.
Dụ ngôn người điên rồ (Lc 12,16-21) khai triển cùng một chủ đề, nhưng còn đi xa hơn. Ông không lạm dụng của cải, chỉ đặt kế hoạch hưởng thụ gia sản của mình như thể chúng có khả năng tạo hạnh phúc cho ông. Câu 21 là câu đặc biệt của Lc: người phú hộ trong dụ ngôn chỉ biết thu tích của cải cho riêng mình; trái lại CGS đề nghị người ta “làm giàu nơi TC”, nghĩa là biết từ bỏ của cải, phân phát cho kẻ nghèo để nhờ đó chuẩn bị lãnh nhận kho tàng nơi TC.
Kinh Magnificat (Lc 1,51-53) loan báo việc đảo lộn cảnh huống đó. Người giàu có và người quyền thế của thế gian này phải khốn khổ, vì thế giới tương lai mà Đức Kitô sẽ thiết lập, sẽ làm những người ngày xưa được biệt đãi mai ngày sẽ bị mất mát.
c) Bối cảnh thời gian của phép đối ngẫu:
Trong Lc 16,21-25 để đối nghịch với thì tương lai của các động từ thể hiện lời chúc phúc hay chúc dữ, chữ “bây giờ” được thêm vào để cho thấy phép đối ngẫu (antithèse) ở đây đối nghịch thời gian hiện tại với thời gian sau khi chết. Bây giờ chính là thời kỳ đau khổ và bách hại; sau này, sau cái chết của mỗi người, là thời kỳ tuyên dương công trạng.
Bối cảnh thời gian này đã được đề cập trong các đoản văn nói về sự khốn khổ của người giàu có. Phép đối ngẫu, trong dụ ngôn người phú hộ và Lazarô nghèo khổ, đối nghịch cuộc sống hiện tại với cuộc sống sau khi lìa trần. Cái ngoặc lịch sử quyết định, chính là cái chết của mỗi người. Viễn ảnh cánh chung học cá nhân này cũng được đề cập đến trong dụ ngôn người phú hộ lập dự án thụ hưởng gia sản của mình cũng như trong câu kết thúc dụ ngôn người quản lý bất trung (Lc 16,9). Sau hết cánh chung học cá nhân này cũng xuất hiện trong Lc 12,33 và trong lời Chúa hứa cho người trộm lành (Lc 23,43).
d) Ý nghĩa lời chúc phúc thứ nhất và lời chúc dữ tương ứng:
Trước hết cần loại bỏ những gì trái ngược với tư tưởng Lc. Ông không lên án của cải trần gian tự nó là xấu, hoặc vì nó thuộc bình diện vật chất, hoặc vì nó là kết quả của một nền văn minh hư đốn, hoặc vì ông kết án quyền tư hữu.
Trong cộng đoàn Kitô hữu sơ khai, có một trào lưu đối nghịch của cải đời này với của cảiđ ời sau: Lc chỉ khai triển trào lưu tư tưởng đó và nhấn mạnh đến sự cần thiết phải chọn lựa một trong hai. Không thể muốn cùng một lúc cả hai thế giới. Phải chọn lựa dứt khoát: nếu muốn sự sống đời sau, phải từ bò của cải đời này. Thế mà các người giàu có đã quyết định thái độ, hay đúng hơn, và đây chính là nỗi khốn khổ của các người giàu có, của cải giàu sang đã quyết định thái độ cho họ, vì của cải đã làm cho họ bám víu vào một cuộc sống êm ả, thoải mái dựa trên cơ sở vật chất. Các người giàu có trong dụ ngôn là những người thỏa mãn với cuộc sống hiện tại, họ không nhìn xa hơn được. Đời sống hiện nay làm cho họ không còn tha thiết gì nữa, không mơ ước đến cuộc sống tương lai. Trái lại, phúc cho những người nghèo khó, vì không có gì có thể ngăn cản họ lựa chọn cuộc sống vĩnh cửu.

II. NGƯỜI ĐÓI KHÁT VÀ KẺ NO SAY:
Theo Lc, cơn đói khát liên hệ mật thiết với sự khó nghèo vật chất: các dụ ngôn tả người giàu có ăn uống no nê, còn người nghèo khó lại đói khát.
Người đó khát và kẻ no say chính là người nghèo khó và kẻ giàu sang. Do đó có cùng một giáo huấn: người đói khát chọn lựa hạnh phúc đời sau; còn kẻ no say, vì đã thỏa mãn với cuộc sống hiện tại nên gắn bó với cuộc sống trần thế này mà không để gì đến cái đang chờ đợi họ sau khi lìa trần.

III. NHỮNG NGƯỜI KHÓC VÀ NHỮNG KẺ CƯỜI:
“CƯỜI” là một đặc điểm mà trong TƯ chỉ bản văn Giac 4,4-10 đáng được lưu ý. Thánh Giacobe ngỏ lời với “những người hai lòng” tưởng có thể sát nhập tình yêu TC với tình yêu thế tục được. Của cải đời này làm họ vui cười thỏa thích .
Sách Khải huyền (chương 18) mô tả lời than khóc của các vua chúa, thương gia, khách du lịch trước sự sụp đổ của Babilone. Thành ngữ “khóc lóc và than van” được xử dụng bốn lần: đây là việc các người giàu có khóc than của cải họ đã tiêu dùng tan nát.
Hai đoản văn song song của Giacobe và Khải huyền cũng như văn mạch của hai lời chúc phúc và hai lời chúc dữ tương ứng, soi sáng ý nghĩa lời chúc phúc thứ ba và lời chúc phúc tương ứng. Chính những kẻ giàu sang vui cười, vì đã hưởng thụ thỏa mãn của cải và khoái lạc đời này. Trái lại, người nghèo khó khóc than vì không được hưởng hạnh phúc đời này. Nỗi đau khổ làm cho họ có hy vọng về một thế giới tốt đẹp hơn, trong khi những người giàu có hoàn toàn thỏa mãn đời này.

IV. NHỮNG NGƯỜI BỊ LĂNG NHỤC VÀ NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC CA TỤNG:
a) Điểm đối ngẫu:
Đối nghịch với việc chúc phúc các người bị bách hại, đáng lẽ phải là lời chúc dữ người bách hại. Ở đây lời chúc dữ thứ tư không nhắm đến người bách hại, mà nhắm đến kẻ được người đời tôn vinh, ca tụng.
Lời chúc dữ này cho thấy ý nghĩa Lc gán cho lời chúc phúc thứ tư không nhắm đến người bách hại, mà nhắm đến kẻ được người đời tôn vinh, ca tụng.
Lời chúc dữ này cho thấy ý nghĩa Lc gán cho lời chúc phúc thứ tư. Ông lưu tâm đến chính sự kiện bách hại. Vì thế ông đã thêm nhiều chi tiết hơn Mt (so sánh Lc 6,22 với Mt 5,11). Do đó ý nghĩa lời chúc phúc thứ tư của Lc hoàn toàn trùng hợp với ba lới chúc phúc trước: đối ngẫu giữa bị lăng nhục và được ca tụng. Điều này cho thấy Lc có nhiều kinh nghiệm về nỗi khốn khổ củng cực.
b) Khốn cho những kẻ bị người đời ca tụng:
Lc rất để ý đến sự vinh vang và thiện cảm được thể hiện qua việc kính cẩn bên ngoài. Do đó, Lc 14,7-11 (là đoản văn riêng của Lc nói về việc chọn chỗ trong các bữa tiệc) cho thấy mối bận tâm của ông về điểm này: vinh dự của người được chọn lên chỗ nhất đối nghịch với sự nhục nhã của người ngồi chỗ rốt hết. Sách Cvsđ cũng thường nói đến danh thơm tiếng tốt của một vài nhân vật.
Tuy nhiên thế gian chỉ niềm nở chào hỏi người giàu sang (Giac 2,1-4); còn người nghèo bị lăng mạ và xấu hổ đi ăn mày (Lc 16,3 so với Mc 10,42 và Mt 20,25; Lc 22,25) có một sửa đổi đầy ý nghĩa: thay vì viết “các người làm lớn thì lộng quyền”, Lc ghi “những kẻ cầm quyền thì được gọi là những vị ân nhân”.
Vậy những người được ca tụng là những người giàu sang, no say và vui cười. Dư luận quần chúng thường kính trọng những người giàu có. Họ chỉ việc xuất đầu lộ diện là được người ta niềm nở chào hỏi.
Bối cảnh thời gian của lời chúc dữ thứ tư cũng như bối cảnh thời gian của ba lời chúc dữ trước: là đối nghịch đời này với đời sau.
c) Phúc cho những người bị lăng nhục:
Lời chúc phúc thứ tư phù hợp với lòng ưu ái Lc dành cho những người khiêm nhu và bị khinh chê (1,48.51-52; 18,9-14). Vì sao các người bị khinh chê lại được biệt đãi như thế ? Trái với những kẻ thỏa mãn vì đã được hưởng thụ mọi thứ họ ao ước trên đời này, những người bị khinh chê hy vọng tất cả ở đời sau.
Việc đối ngẫu tận căn giữa sự vinh quang (doxa) của người đời với vinh quang của TC được phúc âm thứ tư diễn tả cách rõ ràng (5,4.44; 12,43). Không thể vừa tìm kiếm vinh quang nhân thế và vinh quang TC. Theo thánh Gioan, tìm kiếm cái này là mất cái nọ; theo Lc, chiếm hữu cái này là mất cái kia.

V. KẾT LUẬN VỀ BÀI TRƯỚC TÁC CỦA LUCA:
Nếu Mt đã trình bày các lời chúc phúc trện bình diện luân lý (nhấn mạnh đến các thái độ nội tâm cần phải có để được Nước Trời), Lc trình bày trên bình diện xã hội. Ông đã thích nghi sứ điệp các lời chúc phúc vào các môi trường xã hội giàu, nghèo cách biệt nhau. Với tinh thần bác ái Kitô giáo, Lc có thiện cảm hơn với các người đau khổ. Đồng thời ông nhận thấy đa số các cộng đoàn Kitô hữu gồm các người nghèo khổ, bị khinh chê. Còn các người giàu sang quyền thế, chưa mấy thấm nhiễm sứ điệp hy vọng của phúc âm. Theo Lc, người giàu có xem ra bị khốn khổ, vì cuộc sống dễ dãi đã giam hãm mọi khát vọng và làm cho họ thiện cẩn không thể có cái nhìn siêu thế (supra-terrestre). Đặc quyền của người nghèo khó là không hy vọng gì vào cuộc sống trần thế. Tất cả mọi sự trong đời trần thế đều làm họ ghê tởm. Họ đã nếm chịu nỗi khổ nào mà hướng về trời ? Tuy nhiên, nếu đề cập đến tình trạng xã hội của những người nghèo khó, Lc cũng không loại bỏ phương diện Mt đã gợi ra, đó là tình trạng vật chất của người nghèo khó thường làm họ có một tâm thức, một sự kiện dễ dàng hướng về Nước Trời; niềm an ủi họ sẽ được đời sau, liên hệ với Nước Trời mà Đức kitô đã đến thiết lập.
KẾT LUẬN
Nước TC được ban cho kẻ nghèo khó, vì thường những kẻ trắng tay mới cởi mở đón nhận TC, vì họ luôn đặt niềm hy vọng vào giờ Ngài sẽ thống trị, vì cái nhìn họ trong suốt, tự do, luôn ngước nhìn lên TC, vì họ xác tín rằng của cải, hạnh phúc trần thế, không thể bảo đảm cung ứng tất cả nhu cầu thiết yếu của họ.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Ở đây CGS khích lệ và an ủi các người nghèo khó. Trong suốt lịch sử của mình, Israel đã từng kinh nghiệm rằng TC luôn quan tâm đến kẻ nghèo hèn, người bị áp bức nếu họ trông cậy nơi Ngài. Trong thời nô lệ (ở Ai cập và lưu đày ở Babilone, Israel đã gặp nghèo đói và bị kềm kẹp, TC đã lưu tâm đến dân Ngài: “Chúa an ủi dân Ngài và xót thương những người cùng khốn” (Is 49,13). TC hướng lòng về những người nghèo đói, khổ sở lầm than “Lạy Chúa, xin hãy nghiêng tai về bên con, xin nhậm lời con; vì con nghèo nàn khổ sở” (Tv 86,1). TC cũng hành động tương tự như thế trong thời gian cứu độ mà CGS loan báo. Tin mừng được rao giảng cho người nghèo (4,8). Do đó, người nghèo thật hạnh phúc vì họ là những người đầu tiên được Chúa Cha quan phòng săn sóc và được phúc âm Chúa Kitô hướng dẫn dưỡng nuôi.
2. Tình trạng sung sướng hạnh phúc CGS công bố không phải là khổ sở, thiếu ăn, đói khát, dốt nát, chậm tiến, ăn mày. Trái lại, CGS xem các cảnh huống đó như là những cảnh huống làm con người thoái hóa, do đó phải sớm gạt bỏ: đến ngày phán xét chung thẩm, chúng ta sẽ bị phán xét theo cách thế chúng ta đã làm hầu xoa dịu các nỗi thống khổ của nhân loại (x.Mt 25), phù hợp với các giáo huấn và gương sáng của giáo hội qua mọi thời đại. Được xem là hạnh phúc, tình trạng của người dù nghèo nhưng luôn tín thác vào bàn tay quan phòng của Chúa Cha (dĩ nhiên là họ hết sức cố gắng làm việc), tình trạng của người luôn ý thức mình là con TC. Tóm lại, điều làm người ta dễ dàng đón nhận Nước trời, chính là sự tự do của người nghèo khó: chịu đựng các cảnh thăng trầm, bấp bênh đầy va chạm của cuộc sống mai ngày mới có thể thỏa mãn mọi thiếu thốn và khát vọng hạnh phúc của họ.
3. Những người bị bắt bớ vì đạo (theo dõi, giam tù, chèn ép, thiếu thốn mọi sự) và những người nhờ quan phòng tìm được tự do thường làm chứng rằng trong đời sống họ không có lúc nào cảm thấy được an ủi, bình thản và vui sướng cho bằng những lúv họ bị khốn khổ cùng cực. Có biết bao vị tử đạo đã vui hát khi bị giết. Hạnh phúc của người bị bách hại không phải là một hạnh phúc “bánh vẽ”. Ngay từ đời này, TC đã ban hạnh phúc cho những ai sẵn sàng chấp nhận mọi đau khổ vì Ngài.
4. Không nên phàn nàn những người có tiếng tốt là thanh liêm ngay thật, thích vụ tha nhân. Nhưng những kẻ mà CGS chúc dữ đó là những kẻ giàu sang được người ta nịnh bợ, tâng bốc chỉ vì họ giàu sang, quyền thế, nhiều áp lực... Họ giống các tiên tri giả, chỉ biết nói lời đường mật, nịnh hót, trấn an dân Do thái, trong lúc đang theo đuổi các ngẫu thần (x. Is 30,9tt; Giêr 23,17tt)
5. Ngay cả môn đệ, tín hữu, những người sống trong giáo hội cũng phải nghe lời chúc phúc và chúc dữ đó như thể được áp dụng cho chính mình. Phải tự vấn xem mình có sợ vì bị chúc dữ hay không. Phải luôn luôn lượng giá đúng các lời tuyên bố ngắn ngủi của CGS. Những lời tuyên bố đảo ngược mọi giá trị, đánh đổ mọi pháo đài con người xây lên cho mình, đó là hoàng hồn, là lời cáo chung của mọi thần tượng ta tin hằng tin tưởng. Các lời chúc phúc và chúc dữ mở cửa nước TC, một nước trong đó ta sẽ được mọi thứ mà của cải đời này không thể cung cấp nhưng chỉ TC mới có thể ban tặng khi Ngài bắt đầu thống trị.

 

TN6-C37. Chúa nhựt 6

Lc 6,17.20-26
A. Hạt giống...
 

Có thể coi đoạn Tin Mừng này là Bài giảng đầu tiên của Đức Giêsu trước đông đảo dân chúng: TN6-C37

Có thể coi đoạn Tin Mừng này là Bài giảng đầu tiên của Đức Giêsu trước đông đảo dân chúng (bài giảng thứ nhất ở quê hương Nadarét, Lc 4,16-30, chỉ giảng cho đồng hương Ngài nghe).
Bài giảng này có những điểm giống và những điểm khác với bài giảng trên núi trong Tin Mừng Matthêu : Trong khi Thánh Mát-thêu ghi lại 8 lời chúc phúc của Chúa Giêsu, thì thánh Luca chỉ ghi 4 lời chúc phúc kèm theo 4 lời quở trách.
- Những kẻ được chúc phúc là những người nghèo, đói khát, đang phải khóc lóc, bị bách hại.
- Những kẻ bị chúc dữ là những người đang giàu có, no đầy, vui cười, được tâng bốc.
Điều nên chú ý là : không phải tự thân sự nghèo nàn khổ sở là hạnh phúc, nhưng chúng mang lại hạnh phúc vì chúng giúp người ta không dính bén với trần gian để hướng lòng về Chúa. Cũng không phải tự thân sự giàu có sung sướng là xấu, nhưng chúng có thể trở thành nguồn bất hạnh khi chúng trói buộc lòng con người vào thế giới vật chất đời này.
B.... nẩy mầm.
1. “Đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giuđê, Giêrusalem cũng như miền duyên hải Tia và Xiđôn đến để nghe Ngài giảng và để được chữa lành tật bệnh” (Lc 6,17-18)
Cả 4 chúng tôi đã tham gia chiến dịch “ánh sáng văn hóa hè” tại vùng biên giới thuộc tỉnh Tây Ninh. Chúa nhựt tuần đầu tiên, chúng tôi phải hỏi thăm hết một giờ rưỡi mới tới được nhà thờ. Chỗ chúng tôi ở chỉ có một vài gia đình công giáo và hầu hết thỉnh thoảng mới đi lễ vì nhà thờ quá xa. Mà xa thật, mưa thì lầy lội, còn nắng thì bụi mù.
Trên đường đi, chúng tôi cứ nghĩ là nhà thờ chắc không đông. Nhưng đến nơi, chúng tôi thấy cả một nhà thờ đông đúc. Nhà thờ không rộng, cũng chưa có cha xứ. Cha thì từ nơi khác về dâng lễ, còn giáo dân thì đến từ nhiều nơi khác nhau.
Chúng tôi còn được biết ở đây chỉ có một lễ vào sáng Chúa nhựt nên nhiều gia đình phải thay phiên nhau đi lễ hàng tuần. Họ ước ao có cha xứ để được dự lễ thường xuyên hơn. Ra về, ai nấy trong chúng tôi đều cảm thấy như được thúc bách đến gần Chúa hơn, hạnh phúc dù có phải đi xa và mệt nhọc.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết tìm kiếm Chúa trong những hoàn cảnh khó khăn nhất. (Hosanna)
2. Phúc cho các ngươi là những kẻ nghèo khó… Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có…” : Có một truyện phim được chiếu trên truyền hình, kể chuyện một gia đình nghèo nhưng hạnh phúc, về sau khi họ giàu lên thì không còn hạnh phúc nữa. Có lẽ dụng ý của Đài khi chiếu phim này là để đưa ra một lời cảnh giác cho mọi người trong thời kỳ đất nước đang mở cửa theo hướng kinh tế thị trường. Nghèo chưa hẳn là khổ, và giàu chưa hẳn là sướng. Sướng hay khổ là do lòng người, hay nói cho đúng hơn, do những giá trị mình theo đuổi. Như gia đình ấy khi còn nghèo thì mọi người biết lo lắng và hy sinh cho nhau ; đến khi giàu thì mạnh ai nấy lo hưởng thụ một cách ích kỷ.
3. Trong bài Tin Mừng này, thánh Luca chú ý ghi rõ những chữ “bây giờ” và “sẽ”. Nghĩa là có thể có sư thay đổi tình trạng. Bây giờ đang khổ nhưng sau này có thể sẽ hạnh phúc ; ngược lại bây giờ đang sung sướng nhưng sau này có thể sẽ khổ. Người đang khổ vật chất nhưng biết tìm kiếm những giá trị siêu nhiên thì sẽ hạnh phúc ; ngược lại kẻ đang sung sướng với những giá trị vật chất nhưng cứ bám vào chúng mà không vươn lên những giá trị siêu nhiên thì sẽ bất hạnh.
4. Chúa rất yêu thương và rất công bình : ngay cả những người đang khổ, Chúa cũng ban cho họ hạnh phúc, một thứ hạnh phúc lạ lùng mà sự khôn ngoan thế gian không nghĩ ra được.
Xin cho con đừng bi quan chán nản trong những cái khổ hiện tại của con, nhưng biết tìm trong đó nguồn hạnh phúc siêu nhiên.
5. Lời cầu nguyện của người nghèo :
Chúa ơi, sao Chúa lại sinh ra trong thân phận người nghèo ? Đói nghèo cực khổ lắm, Chúa không biết sao ? Vừa túng thiếu vừa vất vả nhọc nhằn, vừa bị người ta khinh bỉ, thiệt thòi đủ thứ. Chúa chọn cảnh nghèo làm chi vậy ? Nếu Chúa không phải là Chúa, thế nào người ta cũng chê là dại. Nhưng dần dần con đã hiểu : chỉ có Chúa thánh thiện, khôn ngoan và thương yêu vô cùng mới dám dại như thế. Thật vậy, việc Chúa chọn phận nghèo chính là một nguồn an ủi lớn cho con. Trước hết, với cuộc sống nghèo, Chúa đã tích cực chia sẻ cộc đời túng thiếu của con. Chúa chia sẻ thực sự bằng cách sống với người nghèo, trong cảnh nghèo, như người nghèo và cho người nghèo. Nhìn vào cuộc đời Chúa, con thấy Chúa còn nghèo hơn con. Nhưng nhờ đó con cảm thấy Chúa gần con như một người bạn, như một người thân. Chẳng ai dám chia sẻ đời nghèo của con đề sống gần con như thế. Có Chúa, con cảm thấy bớt cô đơn buồn tủi.
Ngoài ra, việc Chúa chọn phận nghèo còn dạy con giá trị cao quý của đau khổ. Chúa đã dùng đau khổ để cứu con và cứu nhân loại. Con không thể lên trời bằng con đường khác. Hiện giờ, đau khổ không thiếu, chỉ cần con chịu những đau khổ ấy với tâm tình mến Chúa và khao khát tìm Chúa, tức khắc đau khổ sẽ trở thành con đường đưa con về hạnh phúc bất diệt. Cũng nhờ đó, con mới nhận ra rằng cảnh nghèo không kéo dài hơn cuộc sống trần gian. Nó chỉ tạm thời rồi nó sẽ qua đi. Nếu nó có thể dùng vào việc mở cửa thiên đàng, thì nó không chỉ biết gây đau thương và bất hạnh. Tất nhiên, con sẽ cố gắng xoay sở làm ăn để đủ sống xứng đáng con người, nhưng nếu cảnh nghèo cứ bám chặt lấy đời con thì con phải lợi dụng để biến nó thành một phương tiện làm giàu thiêng liêng (Chờ đợi Chúa)
6. “Khốn cho các ngươi hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói. Khốn cho các ngươi hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ than khóc” (Lc 6,25)
Mày mò mấy tháng trời, tôi mới khám phá ra được cách chép nhạc bằng máy vi tính. Một mình trước máy vi tính, tôi thấy mình thật vui với một chút kiêu hãnh : mình vượt mấy thằng bạn trong lớp rồi.
Nhưng tôi cảm thấy như có cái gì đó “không ổn” trong kiểu suy nghĩ của mình. Tôi quyết định tận tình chỉ lại cho bạn bè như một sự chia sẻ niềm vui. Và kìa, lòng tôi sao hạnh phúc quá !
Thiên Chúa chắc chắn không thể chúc dữ chỉ vì tôi giàu có, no nê, vui cười ; nhưng nhất định Ngài sẽ chỉ trích khi tôi không biết chia sẻ những gì mình có cho anh em.
Giêsu ơi ! Con vẫn cảm thấy hạnh phúc, bình an và vui tươi khi chia sẻ và trao ban cho tha nhân. Nhưng để chia sẻ cách thật tình hơn với những người ít thân hơn thì con lại ngần ngại. Lạy Chúa xin hãy dạy con, xin hãy dạy con. (Hosanna)
7. Mầm khác :

 

TN6-C38. CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN

Lu-ca 6, 17. 20-26
“Đức Giê-su đi xuống cùng với các ông, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giu-đê, Giê-ru-sa-lem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xi-đon đến để nghe Người giảng và để được chữa lành bệnh tật.
Đức Giê-su ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói : "Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng. Phúc cho anh em em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế.
Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi.
Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than.
Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.
***
 

Có thể vì quen thuộc quá nên chúng ta không nhận ra tính chất cách mạng của những lời giảng: TN6-C38

Có thể vì quen thuộc quá nên chúng ta không nhận ra tính chất cách mạng của những lời giảng dạy này. Đó là một loạt những trái bom, mỗi câu là một lời thách thức. Các lời đó có tác dụng như điện lực, nó không phải chỉ là những ngôi sao im lặng, nhưng là những tia sáng chớp loè theo sau bằng những tiếng sấm bỡ ngỡ và kinh ngạc ! Đúng ra đây là những tiêu chuẩn thông thường đã bị đảo ngược. Những người mà Chúa Giê-su kể là có phúc thì thế gian cho là vô phúc, và những người Chúa Giê-su coi là vô phúc thì thế gian lại coi là có phúc. Thử tưởng tượng rằng gặp một người nghèo túng mà lại bảo họ rằng : bạn có phúc quá ! Và gặp một người giàu có lại bảo họ rằng : Khổ cho bạn quá ! Nói như thế chẳng khác nào tuyên bố rằng giá trị của trần gian đã cáo chung, chẳng còn gì nữa.
Vậy đâu là chìa khóa của việc đó, chìa khóa nằm trong câu 24. Tại đây Chúa Giê-su phán : "Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có vì các ngươi đã được phần thưởng của mình rồi !" Chúa Giê-su dùng từ "được" ở đây là chữ thường dùng khi nhận đủ số tiền trả cho một món hàng. Chúa Giê-su có ý nói rằng : "Nếu các ngươi đặt cả tâm hồn và nghị lực để tìm kiếm điều thế gian yêu chuộng, các ngươi sẽ được những điều đó, nhưng đó là tất cả những gì các ngươi sẽ được. Theo cách nói mạnh mẽ ngày nay thì quả các bạn đã thành đạt rồi đó.
Câu chuyện ông nhà giàu với La-da-rô nghèo khó minh họa ý tưởng này. Bước sang ngưỡng cửa đời sau, bị đau khổ, nhà phú hộ xin được giúp đỡ thì nhận được câu trả lời của cụ tổ Áp-ra-ham : "Con ơi, hãy nhớ lại : suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi !" Phần phước ấy là : "Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình." (Lc 16, 25. 19). Chỉ lưu tâm đến trần gian này, đầu tư tất cả vào đó, thì thật phải lẽ phần phúc cũng sẽ chấm dứt tại đây. Câu chuyện này cũng được họa lại qua câu chuyện phú nông "Người giàu kia trúng mùa, thu hoạch hoa lợi dư dật, kho lúa quá đầy, không còn chỗ chứa thêm, ông phải suy tính mãi. Cuối cùng ông quyết định : "Được rồi, ta sẽ phá nhà kho cũ, xây kho mới lớn hơn, như thế sẽ có đủ chỗ chứa tất cả của cải, hoa lợi. Xong xuôi, ta sẽ tự nhủ : của cải này có thể tiêu dùng hàng chục năm. Thôi, ta hãy nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi !" Nhưng Thiên Chúa bảo : "Ngươi thật dại dột ! Tối nay ngươi qua đời, của cải dành dụm đó để cho ai ?"
Và Chúa Giê-su kết luận : " Người nào lo làm giàu dưới trần gian nhưng nghèo nàn trên Nước Trời cũng dại dột như thế."
Nhưng trên một phương diện khác, nếu các bạn dùng hết tâm hồn và nghị lực để sống trung thành với Thiên Chúa nhờ Chúa Giê-su, các bạn sẽ gặp đủ thứ rầy rà, rắc rối. Đối với các tiêu chuẩn trần gian thì bạn vô phúc, nhưng thành quả của bạn đang đến, và khi nó đến, bạn sẽ có được vui mừng đời đời. "Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian yêu thích cái gì thuộc về nó, nhưng vì anh em không thuộc về thế gian nên thế gian ghét anh em ! Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em." (Ga 15, 18-20) "Nếu ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được." (Lc 14, 27).
Tại đây chúng ta phải đối diện với một sự lựa chọn đời đời, đó là một sự lực chọn quyết liệt và liên tục mãi cho đến khi chấm dứt cuộc đời. Chúng ta muốn chọn con đường dễ dãi, con đường đưa đến thú vui và lợi lộc ngay trước mắt ? Hay chúng ta chọn con đường khó khăn, chỉ thấy đớn đau trước mắt ? Chúng ta có bám víu lấy lạc thú và lợi lộc hiện tại ? Hay chúng ta muốn dấn thân và hy sinh những điều đó vì những của quý báu hơn ? Chúng ta chú tâm vào những phần thưởng của thế gian này hay chú tâm vào Chúa Cứu Thế. Nếu chúng ta chấp nhận đường lối của thế gian thì phải lìa bỏ những giá trị của Chúa Cứu Thế, ngược lại nếu chọn Chúa Giê-su thì bạn không thể không khước từ giá trị của trần gian.
Chúa Giê-su biết chắc chắn con đường nào dẫn tới hạnh phúc. Có người đã nhận xét : "Chúa Giê-su đã hứa cho các môn đệ ba điều : Họ sẽ hoàn toàn không khiếp sợ, hạnh phúc cách vô lý và luôn luôn gặp khó khăn." Chính Chúa Giê-su dạy rằng sự vui thỏa thiên thượng sẽ thường bù gấp bội cho những đau khổ trần gian. Thánh Phao-lô cũng nói : "Một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời" (2Cr 4,17). Lời thách thức của các phúc lành ấy là : Chúng ta muốn hạnh phúc theo đường lối của Thiên Chúa hay đường lối của thế gian ? Và chắc chắn chọn gì được nấy !

 

TN6-C39. MỘT TRÁI TIM RỘNG MỞ

Whisler là một nghệ sĩ danh tiếng được nhiều người  biết đến nhờ bức họa một thiếu phụ trầm: TN6-C39

Whisler là một nghệ sĩ danh tiếng được nhiều người  biết đến nhờ bức họa một thiếu phụ trầm lặng, tựa đề: “Mẹ của Whisler” vẽ trên chiếc ghế đá, ngày kia một người bạn xin Whisler giúp treo một bức họa đẹp, sau vài phút suy nghĩ, nhà nghệ sĩ tuyên bố: “Này bạn, bạn khởi sự sai rồi: bạn không thể làm bức tranh vừa với căn phòng, bạn phải làm cho căn phòng vừa với bức tranh.
Đó là điều chúng ta phải làm về bài Tin Mừng hôm nay. Chúa Giêsu phác họa cho chúng ta một bức tranh mới, đẹp về người môn đệ thật của Chúa. Chúa cho chúng ta bốn mối phước, gọi như vậy, vì nó là biểu hiện, là dấu chỉ của một con người Thánh vì hạnh phúc thật sự. Chúa nói với chúng ta những gì chúng ta phải làm để xứng đáng với lời hứa: “Phần thưởng của các con trọng đại ở trên trời” phần thưởng cũng lớn lao ngay ở đời này nữa: một sự toại nguyện bình an thâm sau khi biết phải làm gì để làm đẹp lòng Thiên Chúa quả là một bức tranh lộng lẫy.
Điều này quá lớn lao với tim óc của một con người bình thường. Chúng ta cần giúp đỡ để bước lên con đường sống ấy, chúng ta không thể làm một mình, tự chúng ta, rất khó để chấp nhận sự nghèo khó, sự đói khát, nỗi lo âu và sự chỉ trích vì Chúa Kitô. Chúng ta cần sự trợ giúp của Chúa Kitô sẽ ban cho chúng ta.
Hơn nữa bức tranh về chân phước hạnh phúc rất khác với bức tranh về hạnh phúc phác họa bởi thế gian, bởi bạn bè chúng ta, bởi truyền hình, bởi báo chí, và ngay cả bởi nền giáo dục và phong tục xã hội. Nhiều người không tin Chúa Giêsu chấp nhận đó là lối sống rất tốt đẹp cho mọi người thời đại. Nhưng họ chủ trương là không thể được.
Có thể sống theo các mối phúc thật không ? Chưa, có thể nếu Thày chí thánh giúp chúng ta mở rộng cõi lòng quảng đại hơn, xứng hợp với tầm cỡ bức tranh đức Kitô đã vẽ về những gì Người muốn về chúng ta, cũng như Whisler đã nhắc nhở bạn ông phải nới rộng bức tường để thích hợp với tầm cỡ của bức tranh.
Chúa Giêsu không bao giờ đòi hỏi cái gì quá sức chúng ta khi được sức mạnh Chúa trợ giúp. Để được sức mạnh ấy, chúng ta cầu xin trong thánh lễ này. Hãy đọc sốt sắng lời kinh “xin làm cho chúng con lớn mạnh trong tình yêu” Lớn lên trong ước muốn làm đẹp lòng Chúa bằng cách tuân giữ theo lời chỉ dẫn của Con chí thánh của Người đã dậy chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay.
Nhớ lại và nhắc lại những lời của bài đọc một: “Hạnh phúc cho những ai tin cậy nơi Chúa” một ý, một lòng chúng ta sẽ cùng đọc lời kinh Đấng cứu thế đã dậy chúng ta: “Ý cha thể hiện”. Ý của Chúa Cha là  gì ? Là chúng ta sống theo lời của Chúa Con, đặc biệt trong bài Tin Mừng hôm nay.
Với sự trợ giúp của Chúa mà thánh lễ ban cho tràn đầy, chúng ta có thể mở rộng con tim, chúng ta có thể sống các mối phúc thật. Xin Chúa Giêsu giúp chúng ta nghèo khó trong tinh thần, chấp nận đói khát, buồn sầu, lăng nhục – vì đức Kitô. Amen.

 

TN6-C40. THIÊN CHÚA HAY NGƯỜI   ĐỜI ?      

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Là người Công Giáo không chỉ đơn giản là tin vào Mạc Khải của Thiên Chúa  và Giáo Lý mà Giá: TN6-C40

Là người Công Giáo không chỉ đơn giản là tin vào Mạc Khải của Thiên Chúa  và Giáo Lý mà Giáo Hội giảng dạy, mà còn là chọn lựa một lối suy nghĩ, nói năng và hành động phù hợp với Mạc Khải và Giáo Lý Ki-tô giáo. Nói một cách cụ thể người Ki-tô hữu phải chọn lựa hoặc sống theo Thiên Chúa, hoặc sống theo người đời và hoặc cậy dựa vào Thiên Chúa, hoặc cậy dựa vào người đời.
Thật ra thì không thể đặt người đời làm đối trọng với Thiên Chúa trên một bàn cân để chọn lựa. Nhưng vì là người, bằng xương bằng thịt với 5 giác quan tiếp xúc với những thứ hữu hình và sống trong một môi trường văn hóa, xã hội nhất định nên Ki-tô hữu dễ bị tác động và lôi cuốn bởi những thực tại của thế giới hữu hình xung quanh hơn là bởi những giá trị trường cửu của thế giới vô hình cũng ở xung quanh và trong chính mình nhưng thường người ta không biết. Vì thế những lời cảnh cáo, nhắc nhở, khuyên nhủ của Thiên Chúa Cha trong Cựu Ước và của Chúa Giê-su trong Tân Ước, nhất là trong ba bài Sách Thánh của Chúa Nhật VI Thường Niên hôm nay, không phải không cần thiết!
 II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1: Gr 17,5-8: Đáng nguyễn rủa thay kẻ tin ở người đời; phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Chúa.
              5 Đức Chúa phán như sau: Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa, và lòng dạ xa rời Đức Chúa!  6 Người đó sẽ như bụi cây trong hoang địa chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ, hạnh phúc có đến cũng chẳng nhìn ra, nhưng sẽ ở mãi nơi đồng khô cỏ cháy, trong vùng đất mặn không một bóng người. 7 Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương thân. 8 Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái.
(2) Bài đọc 2: 1 Cr 15,12.16-20: Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền.
                 12 Thưa anh em, nếu chúng tôi rao giảng rằng Đức Ki-tô đã từ cõi chết trỗi dậy, thì sao trong anh em có người lại nói:  không có chuyện kẻ chết sống lại? 13 Nếu kẻ chết không sống lại, thì Đức Ki-tô đã không trỗi dậy.  16 Vì nếu kẻ chết không trỗi dậy, thì Đức Ki-tô cũng đã không trỗi dậy. 17 Mà nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. 18 Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Ki-tô cũng bị tiêu vong. 19 Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.
       20 Nhưng không phải thế! Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu.
(3) Bài Tin Mừng: Lc 6,17.20-26: Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó. Khốn eho các ngươi là những kẻ giấu có.
             17 Một hôm, Đức Giê-su ở trên núi xuống cùng với Nhóm Mười Hai, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, có nhiều môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giu-đê, Giê-ru-sa-lem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xi-đôn.  20 Thấy vậy, Đức Giê-su ngước mắt nhìn các môn đệ và nói:
        "Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. 21 Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. 22 Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa. 23 Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế.
        24 "Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi. 25 Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói. Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than. 26 Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 (Gr 17,5-8) là một đoạn văn ghi lại lời của Thiên Chúa nói với ngôn sứ Giê-rê-mi-a, để hướng dẫn và thuyết phục những người Ít-ra-en biết, nên tin và cậy dựa vào ai? vào người đời hay vào Thiên Chúa? Kết quả sẽ rất khác nhau giữa một người tin ở người đời và một người tin ở Thiên Chúa.
          Trong đoạn Gr 17,5-8 trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng, vì lòng yêu thương, không muốn con cái mình sai lạc trong cuộc sống trần gian, nên dùng ngôn sứ Giê-rê-mi-a để chỉ dậy và hướng dẫn họ tường tận. Chúng ta cũng khám phá ra Thiên Chúa là Đấng hết sức tôn trọng tự do và chọn lựa của con người, khi Người không ép buộc, cưỡng bức mà chỉ trình bày cặn kẽ, so sánh thiệt hơn cho con cái nhà Ít-raen mà thôi. Ở đây lại nổi bật lên dung mạo của một Thiên Chúa là nhà sư phạm tuyệt vời!
(2) Bài đọc 2 (1 Cr 15,12.16-20) là những lời diễn giải của Thánh Phao-lô về việc Chúa Giê-su Ki-tô đã trỗi dậy tức sống lại. Thánh Phao-lô dùng lý luận để thuyết phục các tín hữu Cô-rin-tô hãy kiên định trong giáo lý mà họ đã đón nhận mà tin vững vàng vào sự phục sinh của Chúa Giê-su Ki-tô. Ngài cũng khẳng định mầu nhiệm chết và phục sinh của Chúa Giê-su Ki-tô là trung tâm, là nền tảng của đời sống Ki-tô hữu.
          Trong đoạn 1 Cr 15,12.16-20 trên, chúng ta khám phá ra rằng Chúa Ki-tô Phục Sinh là trung tâm và nền tảng, là nguyên lý và điểm tựa của niềm tin Ki-tô giáo. Có nghĩa là tất cả mọi hoạt động (tư tưởng, lời nói, việc làm, lối sống) của người tín hữu đều phải xoay quanh mầu nhiệm phục sinh của Chúa Ki-tô, đặt nền tảng trên mầu nhiệm ấy, xuất phát từ mầu nhiệm ấy và dựa vào mầu nhiệm ấy!
(3) Bài Tin Mừng (Lc 6,17.20-26) là bài giảng trên núi của Chúa Giê-su trong Phúc âm Lu-ca. Có bốn lời “phúc cho anh em” và bốn lời “khốn cho các ngươi.” Khách quan mà nói không dễ gì hiểu được ý nghĩa của những lời “phúc cho” và “khốn cho” này, vì những điều Chúa Giê-su nói trái ngược hẳn với suy nghĩ và đánh giá của người đời.
Có nhà chú giải dựa vào một chi tiết nhỏ là “Đức Giê-su ngước mắt nhìn các môn đệ và nói” để giải thích rằng Chúa Giê-su nói những lời này với các môn đệ là những người muốn đi theo Chúa, chứ không nói lời này với hết mọi người, hay với bất cứ người nào! Giải thích như thế có vẻ trùng khớp với hai nhóm người là “anh em” và “các ngươi.”
                   Qua đoạn Phúc Âm Lc 6,17.20-26 này chúng ta khám phá ra một nét chân dung của Chúa Giê-su. Đó là Người có một quan điểm khác xa với quan điểm thông thường của con người, liên quan tới hạnh phúc đích thật của đời người môn đệ. Chúa Giê-su cho thấy người môn đệ, dù có gặp bất cứ hoàn cảnh nào tồi tệ đến đâu đi nữa (nghèo, phải đói, phải khóc, bị oán ghét sỉ vả và khai trừ) thì họ vẫn không phải vì thế mà mất hạnh phúc. Hạnh phúc mà họ có vượt trên mọi hạnh phúc trần gian. Hạnh phúc đó là được Thiên Chúa yêu, gọi, chọn và thưởng. Còn những thứ mà người đời coi là hạnh phúc (như giầu có, no nê, được vui cười và ca tụng) thì chỉ có giá trị nhất thời, chóng qua và nguy hiểm.
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?    
Vậy sứ điệp của Lời Chúa hôm nay rất rõ ràng:
Được chọn là Ki-tô hữu, là thành viên của cộng đoàn Dân Chúa, mỗi người chúng ta được mời:
* tin vào Thiên Chúa (hơn tin vào người đời),
* tin vào sự phục sinh của Chúa Giê-su Ki-tô (hơn là tin vào những lời tuyên truyền dối trá của những người phản Ki-tô chung quanh) và
* tin vào lời công bố phúc/họa của Chúa Giê-su Ki-tô (hơn là tin vào quan điểm thông thường của người đời và thế gian).

* thể hiện niềm tin ấy trong đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng của  chúng ta.
III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
          Để thực thi sứ điệp mà Chúa dành cho tôi hôm nay, tôi quyết tâm thực hiện những việc sau đây trong đời sống hằng ngày, nhất trong những lúc khó khăn, thử thách, bế tắc :
* Tin vào Thiên Chúa, cậy dựa vào một mình Thiên Chúa mà thôi.
* Tin vào Mầu Nhiệm Chúa Giê-su Ki-tô chết và phục sinh và sống theo niềm tin ấy.
* Tin vào quan điểm và lời công bố của Chúa Giê-su về phúc/họa của người môn đệ (tất cả các Ki-tô hữu đều là môn đệ Chúa) và sống theo quan điểm ấy.
IV. CẦU NGUYỆN 
(Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân)       
4.1 Lạy Thiên Chúa là Đấng Thông Minh và Sáng Suốt Vô Cùng, Chúa đã phán qua miệng ngôn sứ Giê-rê-mi-a: “Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa, và lòng dạ xa rời Đức Chúa!” Chúng con cảm tạ ngợi khen Chúa vì Lời Chúa đã khiến chúng con phải thức tỉnh mà điều chỉnh lại cách suy nghĩ và cách sống của chúng con. Xin Chúa dạy chúng con biết “đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương thân.”
Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.2 Lạy Thiên Chúa là Cha Chúa Giê-su Ki-tô, Thánh Phao-lô đã quả quyết với các tín hữu Cô-rin-tô xưa và với chúng con hôm nay: "Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em…. Nhưng Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu”  Chúng con ngợi khen và chúc tụng Chúa vì Chúa đã làm cho Con Một Chúa trỗi dậy từ cõi chết, bằng sức mạnh của Thần Khí Chúa. Xin Chúa ban cho chúng con ơn phục sinh, chẳng những ở đời sau mà ngay cả ở đời này để chúng con chiến thắng tội lỗi và tính hư hết xấu của chúng con!
Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
                                      4.3 Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa đã nói với các môn đệ xưa và với chúng con hôm nay: "Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó…; Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói…; Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc…; Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa…”  Chúng con cảm tạ và chúc tụng Chúa vì Chúa cho chúng con là những người bé mọn trước mặt người đời nhưng cao trọng trước mặt Chúa. Xin Chúa hãy ban cho chúng con ơn mỗi ngày một nên giống Chúa hơn!
Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
              4.4 Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa đã nói với các môn đệ xưa và với chúng con hôm nay:  "Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có..; khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê..; khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười..; khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng…”  Chúng con cảm tạ và chúc tụng Chúa vì Chúa nói với chúng con những lời cảnh cáo “khó nghe” nhưng có sức cứu độ. Xin Chúa hãy ban cho chúng con ơn siêu thoát đối với mọi của cải và hạnh phúc trần gian!
Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.   Sàigòn ngày 28.01.2007.

 

TN6-C41.  Gợi ý bài giảng của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

Ở đây Chúa Giêsu khích lệ và an ủi các người nghèo khó. Trong suốt lịch sử của mình, Israel: TN6-C41

1. Ở đây Chúa Giêsu khích lệ và an ủi các người nghèo khó. Trong suốt lịch sử của mình, Israel đã từng kinh nghiệm rằng Thiên Chúa luôn quan tâm đến kẻ nghèo hèn, người bị áp bức nếu họ trông cậy nơi Ngài. Trong thời nô lệ (ở Ai cập và lưu đày ở Babilone, Israel đã gặp nghèo đói và bị kềm kẹp, Thiên Chúa đã lưu tâm đến dân Ngài: “Chúa an ủi dân Ngài và xót thương những người cùng khốn” (Is 49,13). Thiên Chúa hướng lòng về những người nghèo đói, khổ sở lầm than “Lạy Chúa, xin hãy nghiêng tai về bên con, xin nhậm lời con; vì con nghèo nàn khổ sở” (Tv 86,1). Thiên Chúa cũng hành động tương tự như thế trong thời gian cứu độ mà Chúa Giêsu loan báo. Tin mừng được rao giảng cho người nghèo (4,8). Do đó, người nghèo thật hạnh phúc vì họ là những người đầu tiên được Chúa Cha quan phòng săn sóc và được phúc âm Chúa Kitô hướng dẫn dưỡng nuôi.
2. Tình trạng sung sướng hạnh phúc Chúa Giêsu công bố không phải là khổ sở, thiếu ăn, đói khát, dốt nát, chậm tiến, ăn mày. Trái lại, Chúa Giêsu xem các cảnh huống đó như là những cảnh huống làm con người thoái hoá, do đó phải sớm gạt bỏ: đến ngày phán xét chung thẩm, chúng ta sẽ bị phán xét theo cách thế chúng ta đã làm hầu xoa dịu các nỗi thống khổ của nhân loại (x.Mt 25), phù hợp với các giáo huấn và gương sáng của giáo hội qua mọi thời đại. Được xem là hạnh phúc, tình trạng của người dù nghèo nhưng luôn tín thác vào bàn tay quan phòng của Chúa Cha (dĩ nhiên là họ hết sức cố gắng làm việc), tình trạng của người luôn ý thức mình là con Thiên Chúa. Tóm lại, điều làm người ta dễ dàng đón nhận Nước trời, chính là sự tự do của người nghèo khó: chịu đựng các cảnh thăng trầm, bấp bênh đầy va chạm của cuộc sống mai ngày mới có thể thoả mãn mọi thiếu thốn và khát vọng hạnh phúc của họ.
3. Những người bị bắt bớ vì đạo (theo dõi, giam tù, chèn ép, thiếu thốn mọi sự) và những người nhờ quan phòng tìm được tự do thường làm chứng rằng trong đời sống họ không có lúc nào cảm thấy được an ủi, bình thản và vui sướng cho bằng những lúc họ bị khốn khổ cùng cực. Có biết bao vị tử đạo đã vui hát khi bị giết. Hạnh phúc của người bị bách hại không phải là một hạnh phúc “bánh vẽ”. Ngay từ đời này, Thiên Chúa đã ban hạnh phúc cho những ai sẵn sàng chấp nhận mọi đau khổ vì Ngài.
4. Không nên phàn nàn những người có tiếng tốt là thanh liêm ngay thật, thích vụ tha nhân. Nhưng những kẻ mà Chúa Giêsu chúc dữ đó là những kẻ giàu sang được người ta nịnh bợ, tâng bốc chỉ vì họ giàu sang, quyền thế, nhiều áp lực... Họ giống các tiên tri giả, chỉ biết nói lời đường mật, nịnh hót, trấn an dân Do thái, trong lúc đang theo đuổi các ngẫu thần (x. Is 30,9tt; Giêr 23,17tt)
5. Ngay cả môn đệ, tín hữu, những người sống trong giáo hội cũng phải nghe lời chúc phúc và chúc dữ đó như thể được áp dụng cho chính mình. Phải tự vấn xem mình có sợ vì bị chúc dữ hay không. Phải luôn luôn lượng giá đúng các lời tuyên bố ngắn ngủi của Chúa Giêsu. Những lời tuyên bố đảo ngược mọi giá trị, đánh đổ mọi pháo đài con người xây lên cho mình, đó là hoàng hôn, là lời cáo chung của mọi thần tượng ta tin hằng tin tưởng. Các lời chúc phúc và chúc dữ mở cửa nước Thiên Chúa, một nước trong đó ta sẽ được mọi thứ mà của cải đời này không thể cung cấp nhưng chỉ Thiên Chúa mới có thể ban tặng khi Ngài bắt đầu thống trị.

 

TN6-C42. Giúp đỡ

Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 2.11.1994 có đăng bài viết về cô Vương Ngọc Sương, một người tàn tật: TN6-C42

Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 2.11.1994 có đăng bài viết về cô Vương Ngọc Sương, một người tàn tật, phải ngồi xe lăn mà còn mở lớp học tình thương cho trẻ em nghèo. Và hơn thế nữa, còn sử dụng căn nhà bé nhỏ của mình để chăm sóc một số bệnh nhân tàn tật giống như cô.
Câu chuyện xảy ra vào năm 1985, trong một tai nạn cô bị chấn thương cột sống, khiến cho đôi chân mất dần cảm giác. Chồng cô kiên nhẫn thăm nuôi cô được sáu tháng rồi biệt tăm, để lại cho người vợ tàn tật hai đứa con nhỏ. Giữa cảnh túng quẫn, cô được một người mẹ nuôi bên Pháp giúp đỡ. Điều đáng thán phục đó là cô đã vận dụng số tiền nhận được để phục vụ những người tàn tật và trẻ em nghèo túng.
Có một ông bố mà những đứa con đã được cô nhận nuôi, sau khi đến thăm cô đã phải bật khóc và nói:
 
  • Tôi còn nguyên vẹn như thế này mà đã hư hỏng, trong khi chị tật nguyền lại phải lãnh hết việc nuôi dạy các con tôi.
Và từ đó ông cố gắng chừa bỏ tật nghiện rượu là nguyên nhân gây nên những đổ vỡ trong gia đình ông. Chính mẹ nuôi của cô ở Pháp cũng viết thư và cho biết:
 
  • Mấy người Pháp đến Việt Nam thăm cô nay trở về cũng tỏ ra là những người sốt sắng sống đạo khác hẳn trước. Riêng phần mình, cô đã không ngần ngại thú nhận: trước kia cô đã từng dửng dưng với những khổ đau của người khác và đã từng làm mất lòng Chúa. Chính nhờ sự tàn tật mà cô được hoán cải. Cô vui vẻ đón nhận mọi điều Chúa cho xảy ra nơi thân xác cô cũng như nơi môi trường cô đang sống.
Từ mẩu chuyện trên chúng ta nhận thấy: việc làm của cô là một phản ảnh trung thực cho lời giảng và việc làm của Chúa. Thực vậy Thiên Chúa đã chiếu cố đến hoàn cảnh của từng người. Ngài không chỉ loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó, mà còn là hiện thân của Tin Mừng đó. Bởi lẽ, vì yêu thương, Ngài đã xuống thế làm người, trở nên anh em với hết mọi người. Do đó, không một đau khổ nào chúng ta phải chịu mà không đụng tới lòng thương xót và chương trình cứu nhân độ thế do chính Ngài thực hiện. Ngài đã nghiệm thấy cái đói của một bà goá. Ngài đã chữa lành mọi kẻ phong cùi, bất luận họ là người Syria hay là người Do Thái. Vì thế mới có sự kiện đoàn lũ dân chúng từ khắp nơi, tuốn đến nghe Ngài giảng và để Ngài chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền.
Đồng thời Ngài cũng muốn chúng ta biểu lộ lòng thương xót với anh em bằng những hành động cụ thể, bởi vì khi chúng ta giúp đỡ anh em là chúng ta giúp đỡ cho Chúa. Nhờ đó mà chúng ta trở nên con cái của Chúa Cha, Đấng ngự ở trên trời:
 
  • Các con hãy có lòng nhân từ như Cha các con là Đấng nhân từ.
Bởi đó, hãy giúp đỡ những người chung quanh, nhất là những kẻ bất hạnh và nghèo khổ, để nhờ đó chúng ta sẽ được nếm thử niềm hạnh phúc dạt dào như lời Ngài đã phán:
 
  • Phúc cho những ai có lòng thương xót vì họ sẽ được xót thương.

TN6-C43. Nghèo vì Nước Trời - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Bầu khí ngày Tết vẫn chưa tan, nhất là tại miền Bắc giàu truyền thống lễ hội. Ta vẫn còn nghe: TN6-C43

Bầu khí ngày Tết vẫn chưa tan, nhất là tại miền Bắc giàu truyền thống lễ hội. Ta vẫn còn nghe những lời chúc thịnh vượng, khang ninh cho năm mới. Đầu năm mới, các nước trên thế giới đều phấn đấu để kinh tế phát triển, tăng thu nhập cho toàn dân. Thế nhưng Lời Chúa hôm nay lại nói: “Hỡi anh em là những kẻ nghèo khó, anh em thật có phúc, vì Nước Thiên Chúa là của anh em”. Phải chăng Chúa Giêsu phản lại tiến bộ, muốn nhân loại tụt hậu?
Để thấu hiểu Lời Chúa, ta cần ghi nhận mấy điểm sau đây:
Trước hết ở đây Chúa Giêsu không nói về kinh tế, nhưng nói về hạnh phúc, nhưng vật chất tự nó chưa phải là hạnh phúc. Câu chuyện về công nương Diana là một minh hoạ rõ nét.
Mùa hè năm 1997, cả thế giới xôn xao về cái chết của công nương Diana. Công nương Diana là một phụ nữ xinh đẹp. Từ khi kết hôn với thái tử Charles, con của nữ hoàng nước Anh, công nương trở thành người có danh vọng và đồng thời cũng có nhiều tiền của vào bậc nhất trên thế giới. Có lẽ ai cũng nghĩ rằng một phụ nữ đẹp đẽ, giàu sang, phú quý như thế phải là người hạnh phúc nhất trên đời. Nhưng không đúng như thế. Công nương rất đau khổ vì cảnh gia đình thiếu tình yêu thương chân thực. Thái tử Charles vẫn lén lút quan hệ với người tình cũ. Đau khổ mà chẳng thể nói ra, vì cả gia đình bên chồng muốn giữ uy tín cho hoàng gia. Chán nản với đời sống gia đình, công nương đã tìm vui bên người bạn trai mới. Trong một chuyến đi chơi ở Paris, cả hai bị thiệt mạng trong một tai nạn xe hơi. Có nhiều người cho rằng chính hoàng gia Anh đã gây ra tai nạn. Không ai nghĩ rằng cuộc đời công nương có hạnh phúc, dù bà có tất cả: sắc đẹp, tiền của, danh vọng.
Thứ đến, Chúa không lên án vật chất, nhưng chỉ lên án thái độ sử dụng vật chất. Vật chất do Chúa dựng nên để phục vụ con người. Chúa dựng nên và Chúa thấy mọi sự đều tốt đẹp. Nhưng con người đã làm sai chương trình của Chúa. Thay vì sử dụng vật chất như phương tiện, người ta đã biến nó thành mục đích. Thay vì sử dụng vật chất phục vụ đồng loại, người ta đã sử dụng đồng loại để phục vụ vật chất. Đó là những thái độ bị Chúa lên án. Những thái độ ấy biến vật chất thành chướng ngại ngăn cản ta đạt đến hạnh phúc Nước Trời.
Sau cùng, Chúa không khuyến khích cảnh nghèo, càng không khuyến khích những người vì lười biếng mà trở nên nghèo. Chúa chỉ khuyến khích những người vì Nước Trời mà tự nguyện sống nghèo.
Những người vì Nước Trời mà tự nguyện trở nên nghèo là những người hiểu biết giá trị thực sự của tiền bạc. Biết rõ tiền bạc chỉ là phương tiện nên họ dùng tiền bạc mà không dính bén, có tiền mà không nô lệ cho đồng tiền, nhất là biết dùng tiền vào những việc hữu ích cho đồng loại. Vì tha nhân, vì Nước Trời mà tự nguyện sống nghèo.
Những người tự nguyện sống nghèo như thế không làm cho xã hội tụt hậu, trái lại giúp phát triển xã hội, đưa nhân loại tiến lên. Không chỉ tiến lên về văn minh vật chất mà còn tiến về nền văn minh tình thương.
Những người tự nguyện sống nghèo như thế giúp nâng cao nhân phẩm con người, đem niềm vui cho người sầu khổ, gieo niềm hy vọng cho những người bị bỏ quên, đem tình thương đến cho những người bị gạt ra ngoài lề xã hội.
Những người tự nguyện sống nghèo như thế không phải là những người lười biếng, hèn nhát, uỷ mị, bạc nhược. Trái lại đó là thái độ của những tâm hồn dũng mạnh, luôn phấn đấu với chính mình để nâng tâm hồn mình và nâng cả thế giới lên.
Tự nguyện sống nghèo như thế là một mối phúc cho thế giới, cho nhân loại. Thế giới sẽ tốt đẹp biết bao nếu có nhiều người tự nguyện như thế.
Sau đám tang của công nương Diana 1 tuần lễ, thế giới lại xôn xao về một đám tang khác: đám tang của mẹ Tesexa Cancutta. Khác hẳn với công nương Diana, mẹ Tesexa là một nữ tu già nua, sống một đời sống nghèo. Trong phòng của mẹ chỉ có một chiếc ghế và một chậu thau đựng nước. Người ta cho mẹ nhiều tiền, nhưng mẹ tự nguyện sống nghèo, dành hết tiền của để giúp những người nghèo, những trẻ mồ côi, tàn tật. Khi Đức Giáo hoàng sang thăm Ấn Độ, thấy mẹ đi lại công tác nhiều, tặng mẹ một xe hơi sang trọng. Nhưng khi Đức Giáo hoàng về, mẹ đã bán xe lấy tiền giúp người nghèo. Có 40 nguyên thủ quốc gia đến tham dự đám tang của mẹ. Và Ấn Độ, một nước không ưa gì đạo Công giáo, đã cử hành quốc tang cho mẹ. Hai mươi mốt phát súng đại bác tiễn đưa linh hồn mẹ trong khi các vị nguyên thủ quốc gia quyền uy đứng cúi đầu kính cẩn trước thi hài vị nữ tu già nua, nghèo khó. Mẹ đã thực hành Lời Chúa: “Phúc cho anh em là người nghèo khó, vì Nước Trời thuộc về anh em”.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
 
  1. Bạn có kinh nghiệm vui buồn gì về tiền bạc? Vì tranh chấp tiền bạc mà mất tình nghĩa? Nhờ biết nhường nhịn về tiền bạc mà thêm bạn hữu?
  2. Lời Chúa hôm nay có chúc phúc và chúc dữ. Bạn thuộc diện nào? Được chúc phúc hay bị chúc dữ?
  3. So sánh cuộc đời của công nương Diana và cuộc đời của mẹ Tesexa, bạn rút ra được quyết định nào cho đời bạn?
  4. Tiền bạc và hạnh phúc. Bạn thấy chúng có liên hệ gì với nhau?
 

TN6-C44. Hạnh phúc đích thật - Achille Degeest

Bài giảng của Chúa về tám mối phúc thật, từ xưa đến nay là đề tài cho không biết bao nhiêu: TN6-C44

Bài giảng của Chúa về tám mối phúc thật, từ xưa đến nay là đề tài cho không biết bao nhiêu thiên chú giải. Chúng ta lắng nghe cha De Gradmaison: “Người ta rất dè dặt thận trọng khi bàn đến những điều kỳ diệu ấy. Phải có được sự tế nhị thiêng liêng của một Phanxicô thành Assisi, mà cuộc đời và tinh thần nói đúng ra là một bản chú giải tuyệt tác nhất về bài giảng trên núi. Ai là người ít nhất chẳng thấy rằng những lời giảng dạy về hạnh phúc thật bắt nguồn từ sự lựa chọn phải có giữa phục vụ Thiên Chúa và phục vụ thế gian, những lời khuyên ấy cho ta nhìn suốt tới đỉnh cao nhất con đường từ bỏ và phó thác trong niềm hiếu thảo, con đường ấy kết thúc cách hoàn toàn kín đáo ở điều mãi mãi cần thiết cho mọi người: Thiên Chúa phải được phục vụ trước hết”.
Một khía cạnh khác được bản văn gợi lên: Nhãn quan Thiên Chúa khác nhãn quan chúng ta khi xét về nhân loại. Sự kính nể của thế gian dành cho ai? Ai là người được lưu danh trong lịch sử? Thiên Chúa nhớ rõ tên tuổi kẻ nghèo hèn, kẻ bé mọn nhất, kẻ túng thiếu, kẻ bị khinh miệt. Với những kẻ ấy, Thiên Chúa dành cho lòng từ ái của Người, ban cho họ hạnh phúc vĩnh cửu. Tại sao thế? Bởi vì bước đường lữ thứ của họ dưới thế này không vương mắc chướng ngại tiền của và kiêu ngạo.
 
  1. Phải chăng có một sự mâu thuẫn giữa những thực tại khắc nghiệt của đời sống và tình yêu của Thiên Chúa bao phủ kẻ nghèo? Phải chăng Thiên Chúa cần áp đặt công lý trên trái đất? Đó là một câu hỏi đặt sai. Thật vậy, căn bản của hạnh phúc nói đến trong Phúc Âm không ở một tầm mức thuần tuý xã hội. Phúc Âm không phải là không biết đến cơ cấu xã hội, nhưng nếu muốn thay đổi chúng thì Phúc Âm không chỉ đề xướng một cuộc đấu tranh trực tiếp mà chỉ hô hào đem sức sinh động vào trong những cơ cấu ấy. Thiên Chúa là Đấng công chính vô cùng nên Người không thể nào sử dụng sự tranh chấp giữa loài người như một phương tiện thực thi công lý.
Người ta sẽ không hiểu được, không dùng được Phúc Âm nếu không chấp nhận rằng sự thành toàn chung cục của công lý và hạnh phúc chỉ hiện thực trong Nước của Cha. Tất nhiên, tất cả chúng ta phải phấn đấu cho công lý, nhưng với những phương tiện của Phúc Âm và phải vượt quá những viễn ảnh thuần tuý thế gian, bởi vì tính chất cứu cánh của Phúc Âm nâng cao chúng ta khỏi tầm mức thế gian.
Bằng cách nào phân biệt tiên tri thật với tiên tri giả? Tiên tri thật thường bị phỉ báng, bị gạt ra ngoài, bị bách hại vì liên hệ sinh động với Đức Kitô. Trái lại tiên tri giả thường được kính trọng, gặt hái nhiều thành công, được khen ngợi về khéo xử thế, vì có những ý tưởng thật “hấp dẫn”, vì học thức cao, đôi khi vì giàu sang. Thế giới chúng ta rất xứng đáng tiêu biểu cho thế giới khắp mọi thời đại. Tiên tri thật ngày nay quy hướng mọi sự về Đức Kitô. Một triết thuyết khá thiển cận muốn coi thời đại hiện nay là thời tiền lịch sử. Lịch sử thì theo như người ta nói hứa hẹn “những ngày mai tưng bừng ca hát”. Nhưng chính Đức Kitô sống ngày xưa, bây giờ và trong tương lai, giúp chúng ta ổn định hiện tại, sống thời buổi hiện tại bằng cách đem đến cho hiện tại một giá trị và ý nghĩa của nó. Bởi vậy, chúng ta hãy cố gắng đem vào thế giới hiện tại một nền công lý và một niềm thương yêu phát xuất từ một lịch sử thần thánh và sẽ thành toàn khi nào tới tận cùng lịch sử thần thánh ấy. Những ngôn sứ đích thật duy nhất là những ai quyết tâm rao giảng: Đức Kitô là nguồn mạch và thành toàn của mọi công lý, mọi tình thương.

 

TN6-C45. Thiên Chúa muốn chúng ta được hạnh phúc

 (Suy niệm của Charles E. Miller)
 

Có 150 Thánh Vịnh trong Thánh Kinh, một trong những Thánh Vịnh đó là hình thức chúng ta thưa: TN6-C45

Có 150 Thánh Vịnh trong Thánh Kinh, một trong những Thánh Vịnh đó là hình thức chúng ta thưa đáp sau bài đọc đầu tiên vào mỗi Chúa Nhật. Thánh Vịnh dành cho ngày hôm nay là Thánh Vịnh đầu tiên, Thánh Vịnh ấy được đặt trong 149 bài đọc, bắt đầu cho 149 bài Thánh Vịnh kia. Lời thứ nhất của bài Thánh Vịnh đầu tiên này là”hạnh phúc”.
Thiên Chúa muốn chúng ta được hạnh phúc. Một từ khác chỉ về sự hạnh phúc trong Thánh Kinh là ”chúc phúc”. Chúng ta được hạnh phúc khi chúng ta được Thiên Chúa chúc phúc. Thánh Vịnh tuyên bố rằng để được chúc phúc là được giống như cây trồng bên suối nước trong, được sinh hoa quả bốn mùa và lá của nó không bao giờ tàn úa, hình ảnh này đề nghị một sức mạnh to lớn và sự sống mãnh liệt.
Chúng ta sẽ được hạnh phúc với sức mạnh và sự sống của Thiên Chúa nếu chúng ta theo đường lối mà Chúa đã chỉ định cho chúng ta, tiên tri Giêrêmia đã giúp chúng ta hiểu con đường này là: “Phúc cho những người tin tưởng vào Chúa, những ai hy vọng vào Ngài”. Chúa tiết lộ hình ảnh đó trong Thánh Vịnh đầu tiên khi nói về một người tin tưởng vào Chúa và những người hy vọng vào Ngài thì giống như cây trồng bên suối nước trong.
Chúng ta biết rằng nước thì cần thiết cho sự sống. Sau cơn mưa xuân đầu mùa những cây cỏ thì xanh tươi mơn mởn sự sống. Nhưng trong nắng hạn vào mùa hè mọi vật lớn lên đều trở nên vàng úa và trơ trọi, không có gì ngạc nhiên khi bí tích phép rửa đã dùng biểu hiệu nước trong phép rửa tội mà chúng ta lãnh nhận đầu tiên trong sự sống của Thiên Chúa, đặc ân của ân sủng thần linh, là bắt đầu thông dự vào hạnh phúc của Người.
Nếu không có một sự tuôn trào nước sự sống đời đời của Thiên Chúa thì đời sống của chúng ta có thể trở nên vàng úa và trơ trọi. Không có ân sủng Thiên Chúa chúng ta có thể trở thành không hạnh phúc. Nguồn mạch chính yếu ân sủng tươi mát của Thiên Chúa là Thánh Lễ. Trong suốt lúc cử hành Thánh Lễ, chúng ta nghe lời của Chúa tuyên bố trong Thánh Kinh và trong bài giảng. Lời Chúa đã nuôi dưỡng đức tin của chúng ta. Thứ hai là chính Thánh Thể, Thánh Thể nuôi dưỡng đời sống của Thiên Chúa bên trong chúng ta. Không có gì có thể thay thế được Lời Chúa và Thánh Thể. Chúng ta đã được nuôi dưỡng vào mỗi ngày Chúa Nhật bởi Lời và Bí tích. Chúng đi cùng với nhau. Lời làm phong phú đức tin của chúng ta còn Thánh Thể ban cho chúng ta sức mạnh như chúng ta cần để sống và thực hiện đức tin của chúng ta.
Chúng ta tin rằng chúng ta biết hạnh phúc là gì, nhưng thực tại của nó thì khác hẳn. Đôi khi chúng ta nghĩ rằng hoàn cảnh của chúng ta thì xa vời với điều mang lại hạnh phúc nhưng Thiên Chúa đã có những cách khác để nhìn xem sự vật. Đó là lý do vì sao Thiên Chúa đã cho chúng ta những mối phúc và chúng là những nghịch lý. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng đối nghịch với những gì mà những mối phúc đó nói là sự thật nhưng Chúa Giêsu nhấn mạnh: “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó. Phúc cho những kẻ đói ăn, phúc cho những kẻ khóc lóc”.
Chúng ta có thể hạnh phúc khi chúng ta nghèo khổ, khi sự nghèo khổ làm cho chúng ta quay đầu về với Thiên Chúa và tin tưởng vào Người. Chúng ta có thể được hạnh phúc khi chúng ta đói khát nếu chúng ta cho phép sự đói khát của chúng ta làm cho chúng ta khao khát Thiên Chúa và ao ước Người tràn đầy sự trống rỗng nơi trái tim chứ không chỉ nơi bao tử của mình. Chúng ta có thể được hạnh phúc khi chúng ta khóc lóc, nếu những đau thương của chúng ta đặt trọng tâm vào sự thất bại và sẵn sàng làm theo ý muốn của Thiên Chúa trong mọi sự.
Thiên Chúa muốn chúng ta được hạnh phúc. Hãy yêu mến Thiên Chúa và theo con đường sự sống của Ngài là con đường duy nhất để được hạnh phúc, một hạnh phúc thật.

 

TN6-C46. Ai là người hạnh phúc

Con người khát vọng hạnh phúc và bằng mọi cách đạt tới hạnh phúc. Nhưng thế nào là hạnh: TN6-C46

Con người khát vọng hạnh phúc và bằng mọi cách đạt tới hạnh phúc. Nhưng thế nào là hạnh phúc? Hạnh phúc tuỳ thuộc những yếu tố nào? Mọi người không đồng ý kiến với nhau. Trong một cuộc thăm dò ở Pháp, 90% người được hỏi ý kiến cho rằng yếu tố cấu tạo nên hạnh phúc là: sức khoẻ, 80% cho là tình yêu, 75% cho là tự do, 60% cho là công lý, 63% cho là việc làm và 52% cho là tiền của. Vì thế, con người tự hỏi: đâu là hạnh phúc thật và đâu là con đường chắc chắn nhất, ngắn nhất để đạt tới hạnh phúc?
Là Kitô hữu, chúng ta tìm kiếm thứ hạnh phúc nào? Và phải làm gì để đạt tới hạnh phúc thật? Câu trả lời tìm thấy trong phụng vụ Chúa Nhật hôm nay là: “Phúc thay người đặt niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh” (Bđ. 1), dù sống hay chết vẫn một niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh (Bđ. 2) thì chắc chắn “Nước Trời sẽ là của họ” (Bài Tin Mừng).
Theo quan niệm của Cựu Ước được diễn tả qua bài đọc 1 (Gr 17,5-8) thì người biết đặt niềm tin vào Thiên Chúa là người hạnh phúc. Ngôn sứ Giêrêmia đã quả quyết: Hạnh phúc thật chỉ có thể phát xuất từ niềm tín thác vào Chúa mà thôi. Giêrêmia đã dùng những hình ảnh cây trái để quảng diễn ý tưởng ấy: Ai dựa vào mình thì tự khép lại trong sự mong manh của mình, và sẽ khô héo như bụi cây trong sa mạc; còn ai trung thành hướng về Chúa, sẽ đâm rễ tận nguồn mạch sự sống và trở thành cây xanh tốt, đầy hoa trái.
Hoặc theo quan niệm của Thánh Phaolô ở bài đọc 2 (1Cr 15,12.16-20) thì ai sống gắn bó đời mình với Chúa Kitô chết và sống lại là người hạnh phúc. Vì dù sống, dù chết, người ấy vẫn thuộc về Chúa và nhờ đó luôn được hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh.
Còn đối với Chúa Giêsu, qua Tin Mừng theo thánh Luca hôm nay, Ngài công bố bốn mối phúc là: nghèo khó, đói khát, khóc lóc và bị ngược đãi. Đối lại với bốn mối phúc là bốn mối hoạ: giàu có, no nê, vui cười và được ca tụng. Đói và khóc là hậu quả và biểu hiện cụ thể nhất của cái nghèo. Bụng đói vì không có gì ăn. Tâm hồn đau khổ vì không có ai để an ủi, chỉ còn biết lấy tiếng khóc để làm vơi nỗi khổ của mình. Còn người giàu thì bụng no. họ khổ thì họ lại có trăm ngàn thứ để đánh đổi, để lấp đầy. Hai hình ảnh tương phản: người nghèo đói và khóc lóc, người giàu có no và vui cười.
Hình ảnh người phú hộ và ông Lagiarô nghèo đói đã minh hoạ điều này: người phú hộ mặc lụa là gấm vóc, ngày nào cũng yến tiệc linh đình. Còn Lagiarô nghèo đói, ngồi chờ bố thí ngoài cổng, không ai ngó ngàng, không ai bênh vực, những con chó đến liếm vết mụn nhọt trên người Lagiarô là tột đỉnh nỗi khổ của ông. Cuối cùng, lúc chết, chúng ta mới thấy hạnh phúc thật ở đâu và ai là người hạnh phúc, ai là người vô phúc?
Người đời thường đặt hạnh phúc vào trong những cái có: có tiền của, có vợ đẹp, có con khôn, có địa vị, có nhà cửa, có bạn bè sang trọng phú quý… Nhưng để có được những cái đó, nhiều khi chúng ta làm cho nhiều người khác mất đi cái họ đang có, hay là bớt cái có của người khác đi, và do đó, gây tranh chấp, hận thù, và kết quả là mình khổ và người khác càng khổ hơn. Ai cũng khao khát hạnh phúc cho mình và vì hạnh phúc của mình, nên nhiều khi cố ý hay vô tình gây đau khổ, làm mất hạnh phúc của kẻ khác. Điều đó cũng giống như khi chúng ta tìm cách kéo hết phần chăn đắp về mình, thì chỉ mình ta được ấm, nhưng người bên cạnh tất nhiên sẽ bị lạnh. Trong một bàn ăn mà ta chỉ nghĩ đến mình, thì thế nào cũng có người bị thiệt, bởi đó mà cha ông ta dạy: “Ăn trông nồi ngồi trông hướng”. Trong một cơ quan, xí nghiệp, nếu những người lãnh đạo chỉ lo cho lợi lộc cá nhân, thì tất nhiên những người khác phải chịu thiệt thòi. Trong một nước, nếu những người cầm quyền chỉ lo vun quén cho bản thân, cho gia đình và bạn bè mình, thì toàn thể nhân dân khó có thể được ấm no hạnh phúc.
Trong một lá thư cám ơn và tâm tình đầu xuân, Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã nói đến hiện trạng đời sống xã hội của đất nước chúng ta: “Nhờ công cuộc đổi mới, nền kinh tế của nước nhà đang trên đà phát triển mạnh: nhiều người ăn nên làm ra, thậm chí trở thành triệu phú, tỷ phú; hàng tiêu dùng có chất lượng cao tràn ngập thị trường… lúa gạo chẳng những đủ ăn mà còn thừa để xuất cảng vào hàng thứ ba thế giới. Nhưng những thành tựu đáng phấn khởi đó không che mắt được chúng ta trước những mặt trái phũ phàng của nền kinh tế thị trường: đồng tiền trở thành thước đo của mọi giá trị, hưởng thụ vật chất trở thành lý tưởng của cuộc sống, và kết quả là khoảng cách giữa một thiểu số giàu có và đại bộ phận nghèo túng ngày càng lớn…”.
Thưa anh chị em, tinh thần nghèo khó mà Chúa Giêsu công bố hôm nay trong bản Hiến Chương Nước Trời phải được hiểu theo nghĩa một sự nghèo khó vì Nước Trời, một sự quên mình vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của mọi người. Chúa Giêsu không chủ trương nghèo khó để mà nghèo khó, nghĩa là Ngài không coi nghèo khó là một giá trị, một lý tưởng. Ngài không bao giờ tán đồng cuộc sống khốn khổ trong những căn nhà tồi tàn ở các khu nhà ổ chuột nơi các thành phố ngày nay cũng như nơi các đô thị thời đại của ngài. Tinh thần nghèo khó mà Chúa Giêsu muốn nói là tinh thần không cậy dựa vào tiền của, quyền lực, mà chỉ biết đặt trọn niềm tin cậy vào Chúa. Phúc cho anh em là những người nhận thức rằng không thể tìm hạnh phúc bằng cách cậy dựa vào của cải vật chất, mà bằng cách đặt trọn niềm tín thác vào Chúa. Đó chính là tinh thần nghèo khó ấy, chúng ta mới cân lường được sự chóng qua của tiền của vật chất. Có tinh thần nghèo khó ấy, chúng ta mới thấy cảnh nghèo khổ của anh em. Có tinh thần nghèo khó ấy, chúng ta mới dễ cảm thông và chia sẻ cho tha nhân.
Chân lý của Lời Chúa và thực tế cũng dạy chúng ta rằng hạnh phúc chỉ đến với chúng ta khi mỗi người đừng sống vì mình và cho mình, mà phải sống vì tha nhân và cho tha nhân. Phải biết hy sinh những lợi ích riêng nhỏ bé để mưu cầu lợi ích chung cho toàn thể: gia đình có hoà thuận an vui thì mỗi người trong gia đình mới được hạnh phúc; xã hội có an ninh trật tự và thịnh vượng thì mỗi gia đình mới thực sự được bảo đảm về công ăn việc làm và được ấm no hạnh phúc. Cũng vậy, thế giới có hoà bình thì các dân tộc mới có thể phát triển và đạt tới sự thịnh vượng bền lâu.
Mỗi người hãy quên mình đi, quên lợi ích riêng tư, không tìm cách để có thêm, có nhiều, bằng cách bóc lột kẻ khác hay bớt phần kẻ khác. Hãy sống hiền hoà với mọi người, sẵn sàng chịu đau khổ vì tha nhân, luôn luôn biết xót thương người, luôn luôn có lòng trong sạch và ngay thẳng, sống hoà thuận với mọi người và làm cho mọi người được hoà thuận với nhau, sẵn sàng chịu hy sinh vì chính đạo, vì Nước Trời. Mỗi người phải là niềm vui, là hạnh phúc cho kẻ khác, bởi vì hạnh phúc thực sự của chúng ta là chính con người, cũng như đau khổ của chúng ta cũng chính là con người. Hạnh phúc hệ tại ở một cuộc sống hoà hợp giữa ta và người khác, và sự hoà hợp đó đòi hỏi ta phải tôn trọng nhân vị và quyền lợi của người khác, chấp nhận và yêu thương người khác như chính bản thân.
Chúng ta hãy thiết tha cầu xin cho mọi Kitô hữu biết noi gương Chúa Kitô sống hoà mình với mọi người, biết lấy hạnh phúc của mọi người làm hạnh phúc của chính mình để tạo nên hạnh phúc đích thực cho bản thân và cho mọi người.

 

TN6-C47. Thế giới của các mối phúc - McCarthy

SỰ TỈNH THỨC TÂM LINH
 

Đức Kitô đã đặt con người đối diện với một chọn lựa căn bản: sống theo những giá trị của thế: TN6-C47

Đức Kitô đã đặt con người đối diện với một chọn lựa căn bản: sống theo những giá trị của thế gian (theo đuổi tiền bạc, lạc thú, sự nổi danh, quyền lực, địa vị) hoặc sống theo những giá trị của Nước Trời (sự nghèo khó tâm linh, sự trong sạch của tâm hồn, khả năng bày tỏ lòng thương xót, chịu đựng đau khổ vì công lý…).
Trong cuốn truyện The Forst Circle, Salzhenisyn kể lại câu chuyện của một nhà ngoại giao tên Innokenty. Trong suốt thời kỳ Staline cầm quyền, Innokenty và vợ ông, Dottie, sống một cuộc sống được ưu đãi. Ở mỗi nhiệm sở ông được gởi đến, một căn nhà đầy đủ những đồ dùng hoang phí đang chờ đợi họ. Và họ xum xoe thoả mãn. Họ có mọi thứ họ muốn, và vào một thời kỳ mà Thế Chiến II tàn phá khắp nơi. Nhưng không có một tiếng thở dài lo âu nào của thế giới làm động lòng họ.
Tuy nhiên, trong năm thứ sáu của cuộc hôn nhân của họ, Innokenty bắt đầu có cảm giác bất ổn về mọi vật chất. Cảm giác ấy làm ông bối rối và lo sợ. Ông có tất cả nhưng ông thiếu một điều gì đó. Cả người vợ yêu quý Dottie cũng trở thành một người xa lạ với ông. Cách sống xu thời làm ông lúng túng. Ở đâu, người ta cũng giống nhau và ở đâu, người ta cũng nhảy cẫng lên và nâng ly chúc tụng người Stalin mà trong thâm tâm họ sợ hãi và khinh miệt.
Một ngày kia, ông bắt đầu xem kỹ những bức thư và sách vở mà người mẹ quá cố của ông để lại. Khi đọc những bức thư ấy, ông đã khám phá ra một bảng giá trị hoàn toàn trái ngược với những giá trị của tầng lớp xã hội trong đó có ông.
Những giá trị của mẹ ông bắt đầu làm ông thức tỉnh. Trong các bức thư của bà, bà nói về những điều như lòng thương xót, chân lý, lòng nhân hậu, v.v… Và rồi ông đọc đến một đoạn thư lạ lùng này: “Điều quý giá nhất trong thế giới này là luôn ý thức rằng mình không được dự phần vào sự bất công”.
Bỗng nhiên, ông khám phá điều mà đời sống ông còn thiếu. Và trong nhiều ngày đêm, ông đã tiếp tục ngồi đó để hít thở những giá trị của thế giới mẹ ông như một người hít thở không khí trong lành. Ông khám phá một phương thế mới để nhìn và phán đoán đời sống. Cho tới lúc đó, triết lý sống của ông là chúng ta chỉ sống có một lần. Đem chính mình để phục vụ người khác là hoàn toàn điên rồ. Giờ đây, ông hiểu rõ một sự thật khác: chúng ta chỉ có một lương tâm và nếu lương tâm trở nên què quặt thì đời sống coi như đánh mất không gì bù đắp lại.
Bà mẹ ông có một bác sĩ đứng tuổi là người điều trị căn bệnh cho bà trước khi bà mất. Một ngày kia, ông này sắp lên đường sang Pari nơi đó ông định trao cho Phương Tây một số bí mật về y khoa bởi vì ông cho rằng thế giới có quyền biết những bí mật ấy. Nhưng một cái bẫy đã được giăng ra để bắt ông bác sĩ. Innokenty biết được điều đó. Ông tìm cách gọi điện cho ông bác sĩ. Nhưng cuộc gọi ấy đã bị theo dõi và Innokenty bị bắt.
Innokenty đã biết giàu sang như thế nào. Khi bạn giàu có tiếng tăm, bạn là một thành viên của một nhóm được kính trọng, và thật sự bạn không bao giờ bị đàn áp. Một cuộc gọi điện thoại là một quyết định. Nhưng giờ đây ông đánh mất việc làm, địa vị, sức khoẻ, và mất cả vợ mình, ông khám phá sự nghèo khó có ý nghĩa gì. Nghèo khó là không có bạn bè và không có sự an toàn.
Tuy nhiên Innokenty đã tìm được một kho tàng và ông biết điều đó. Ông có kinh nghiệm về sự thức tỉnh tâm linh. Và như Kahlil Gibran đã nói: “Sự tỉnh thức tâm linh là điều quan trọng nhất trong đời sống; nó là mục đích duy nhất của bản thân chúng ta”.
Có bao nhiêu Kitô hữu có thể nói được rằng mình sống theo những giá trị các mối Phúc thật? Trong những sự việc tác động trực tiếp đến với chúng ta –việc làm, xe cộ, tiện nghi, nhà ở, tương lai của con cái- chúng ta không sống như mọi người đó sao? Ngày nay các môn đệ của Đức Giêsu thường sống trong tiện nghi sang trọng trong khi nhiều người còn sống trong cảnh khốn cùng.
Của cải và tiện nghi sau cùng rồi cũng để chúng ta lại trong sự trống vắng của tinh thần. Chỉ khi sống bằng những giá trị của Tin Mừng, khát vọng sâu xa nhất của chúng ta mới được thoả mãn. Để hiểu biết các mối Phúc Thật, chúng ta cần một sự thức tỉnh tâm linh.

 

TN6-C48. Chú giải của William Barclay

CHẤM DỨT MỌI GIÁ TRỊ TRẦN GIAN (6,20-26)
 

Bài giảng nơi hoang địa trong Luca và Bài giảng trên núi ở Matthêu 5-7 rất giống nhau. Cả hai: TN6-C48

Bài giảng nơi hoang địa trong Luca và Bài giảng trên núi ở Matthêu 5-7 rất giống nhau. Cả hai cùng bắt đầu một loạt các mối phúc. Tuy có những khác biệt giữa hai bản văn của Luca và Matthêu, nhưng điều rõ ràng là: đó là một loạt những trái bom. Có thể chúng ta đã quen thuộc đến nỗi không nhận ra nó có tính cách mạng. Nó thật không giống những luật mà triết gia hay nhà thông thái có thể đặt ra. Mỗi câu là một lời thách thức.
Deissmann đã nói: “các lời đó có tác dụng như điện lực, nó không phải là những ngôi sao im lặng, nhưng là những tia chớp sáng loè theo sau bằng những tiếng sấm của bỡ ngỡ và kinh ngạc! Đúng ra, đây là những tiêu chuẩn thông thường đã bị đảo ngược. Những người mà Chúa Giêsu kể là có phúc thì thế gian cho là vô phúc, và những người mà Chúa Giêsu gọi là vô phúc, thì thế gian lại coi là có phúc. Thử tưởng tượng một người nào đó bảo rằng “phúc cho kẻ nghèo và khốn cho ai giàu có”. Nói như thế chẳng khác nào tuyên bố rằng giá trị của trần gian đã cáo chung, chẳng còn gì nữa.
Vậy đâu là chìa khoá? Chìa khoá nằm trong câu 24. Tại đây Chúa Giêsu phán: “khốn cho các ngươi là người giàu có, vì đã được sự yên ủi rồi”. Chúa Giêsu dùng từ “được” ở đây thường dùng khi nhận trọn số tiến trả cho một món hàng. Chúa Giêsu có ý nói rằng: “Nếu các ngươi đặt cả tâm hồn và nghị lực để tìm kiếm những điều thế gian yêu chuộng, các ngươi sẽ được những điều đó, nhưng đó là tất cả những gì các ngươi sẽ được”. Theo cách nói mạnh mẽ ngày nay thì “quả các bạn đã thành đạt rồi đó”. Nhưng trên một phương diện khác, nếu các bạn dùng hết tâm hồn và nghị lực để sống trung thành với Chúa và thành thực với Chúa, các bạn sẽ gặp đủ mọi thứ rầy rà, rắc rối. Đối với các tiêu chuẩn trần gian thì bạn vô phúc, nhưng tiền công của các bạn đang đến, và khi nó đến, bạn sẽ có được vui mừng đời đời.
Tại đây chúng ta phải đối diện với lựa chọn đời đời, đó là một lựa chọn từ lúc nhỏ tuổi và liên tục mãi cho đến khi chấm dứt cuộc đời. Các bạn muốn chọn con đường dễ dài, con đường đưa tới thú vui và lợi lộc ngay trước mắt? Hay các bạn sẽ chọn con đường đưa tới khó khăn, chỉ đem đến khổ nhọc, và đôi khi chỉ thấy đau đớn trước mắt? Bạn có bám víu lấy lạc thú và lợi lộc hiện tại? Hay bạn muốn dấn thân và hy sinh những điều đó vì những của quý báu hơn? Bạn có chú tâm vào những phần thưởng của thế gian này chăng, hay chú tâm vào Chúa Giêsu Kitô? Nếu bạn chấp nhận đường lối của thế gian thì bạn lìa bỏ những giá trị của Chúa Cứu Thế, ngược lại nếu chọn Chúa Cứu Thế thì bạn không thể không khước từ những giá trị của trần gian.
Chúa Giêsu biết chắc chắn con đường nào mang lại hạnh phúc, F.R.Maltby đã nói: “Chúa Giêsu đã hứa cho các môn đệ ba điều: họ sẽ hoàn toàn không khiếp sợ, hạnh phúc cách vô lý và luôn luôn gặp khó khăn”. Chesterton là người luôn luôn phải khổ sở vì các nguyên tắc của chính mình, đã nói “tôi thích dìm mình trong nước nóng, nước nóng làm cho bạn sạch sẽ”. Chính giáo lý của Chúa Giêsu dạy niềm vui trên trời là phần thưởng, bù gấp bội cho đau khổ trần gian. Phaolô cũng nói “vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta đem cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng vô biên” (2Cr 4,17). Lời thách thức của các mối phúc là “bạn muốn hạnh phúc theo đường lối thế gian hay theo đường lối Chúa?”.

 

TN6-C49. Chú giải mục vụ của Hugues Cousin

Để dễ đọc, tôi trình bày riêng rẽ bản văn nổi tiếng này vì nó là phần mở đầu của Bài giảng trên: TN6-C49

Để dễ đọc, tôi trình bày riêng rẽ bản văn nổi tiếng này vì nó là phần mở đầu của Bài giảng trên cánh đồng. Một sự kiện đáng chú ý: Luca đặt hai nhóm người và hai mẫu tình huống tương phản một cách có hệ thống “các mối phúc” và “các mối hoạ”. Tôi dùng từ “hoạ” bởi vì ở đây không phải là lời nguyền rủa mà là những lời thở than ái ngại; Chúa Giêsu than tiếc cho những kẻ lao mình vào thảm hoạ: “Khốn cho các người?”. Ngài đối lập họ với những người được Chúa ưu đãi, những mối hoạ là những mối phúc bị đảo ngược:
 
Phúc cho những kẻ nghèo
Phúc cho những kẻ bây giờ
đang đói
Phúc cho những kẻ bây giờ
đang khóc lóc
Phúc cho anh em, khi người ta xoá tên anh em như đồ xấu xa
Nhưng khốn cho các người, những kẻ giàu
Khốn cho các người bây giờ đang no nê
Khốn cho các người bây giờđang vui cười
Khốn cho các người được được mọi người ca tụng
Cũng thế, đối lập nhau:
Nước Thiên Chúa đến           và      sự an ủi hiện tại
Sự no thoả tương lai              và      cái đói tương lai
Sự vui cười tương lai            và      sự xấu hổ tương lai
Phần thưởng trên trời               và  [tương lai vô vọng]
Ba cặp hoạ-phúc đầu tiên được cấu thành một cách đối xứng và những kẻ nghèo khổ, đói khát và khóc than ám chỉ cùng những con người như nhau; những kẻ giàu có, no nê và vui cười cũng vậy. Sáu từ thực tiễn chỉ hai loại người trong xã hội. Cặp thứ tư cũng là cặp cuối cùng có một cấu trúc hoàn toàn khác; nó được khai triển thành ba phần. Trước hết là thử thách phải chịu trong tương lai, một cách như ở các mối phúc trước đó: bị oán ghét, khai trừ khỏi hội đường và sỉ vả (c.22). Rồi lời mời gọi hãy hân hoan vui mừng. Điều này không phải là trong tương lai nhưng bắt đầu đồng thời với sự bách hại; được đảm bảo phần thưởng cuối cùng –ơn cứu độ và sự sống- gây ra niềm vui cánh chung, cuối cùng ngay giữa lúc bị thử thách (c. 23a-b). Sau hết, các người bị bách hại được đồng hoá với các ngôn sứ thời Cựu Ước. Sự kiện đáng lưu ý: nếu người giàu đối lập với người nghèo, thì không phải những người bách hại đối lại với những người bị bách hại, mà là những kẻ được ca tụng; họ được đồng hoá với các ngôn sứ giả.
Bản song đôi của Luca công bố một sự đảo ngược cánh chung, cuối cùng, của các trạng huống hiện thời; thực ra thời kỳ sau hết đã bắt đầu rồi. Trong câu 21, bây giờ và tương lai đối kháng nhau rõ ràng. Ngược lại trong mối phúc thứ nhất điều kiện của việc đảo ngược đã được thực hiện: “Nước Thiên Chúa là của anh em!”. Cũng giống như vậy ở mối phúc cuối cùng. Một sự đảo ngược như vậy giữa các tình huống là một đề tài được Luca ưa thích; chúng ta đã gặp cấu trúc này trong kinh Magnificat (1,51-53) và chúng ta sẽ còn gặp trong một bản văn khác cũng riêng của Luca: dụ ngôn người nghèo Ladarô (16,19-31).
Ở đây trên môi miệng Đức Giêsu thành Nagiaret, từ ngữ những kẻ nghèo phải được ưu tiên hiểu theo nghĩa kinh tế và xã hội; nó chỉ những người không được bảo vệ và không quyền lợi, bị khinh dể và là những kẻ chỉ trông chờ được cứu độ nơi một mình Thiên Chúa. Chính Ngài tự lãnh bổn phận bênh vực quyền lợi của họ và vì vậy, Ngài phải đến nắm quyền bình (“xin cho triều đại Cha mau đến!” 11,2). Thái độ giải phóng của Chúa Giêsu đã là dấu chỉ hữu hiệu rằng Thiên Chúa ra tay hành động; nơi Chúa Giêsu và nơi công trình của Thiên Chúa, “triều đại” của Người. Vì vậy dường như Luca không thoải mái hơn chúng ta trước những mối phúc của Chúa! Nếu vấn đề của cải được nêu rõ trong Luca và Công vụ, chính vì giữa lòng Giáo Hội vào thời Luca có những người túng thiếu và những người giàu có. Như vậy đâu là tính thời sự của Tin Mừng? Luca hiểu thế nào điều mà Chúa Giêsu đã nói về người nghèo?
Nếu người ta tách rời những mối phúc và hoạ khỏi tác phẩm của Luca, người ta sẽ sai lầm lớn trong công việc diễn giải. Trong trường hợp đó, sự đối kháng rõ rệt và được lặp đi lặp lại giữa bây giờ và thời tương lai sẽ đề xuất việc đảo lộn các giá trị về sau này; người nghèo sẽ được khuyến khích tự an ủi về sự khốn khó hiện tại khi nghĩ đến một tương lai huy hoàng… Và trong lúc đó, người giàu có thể tiếp tục chè chén say sưa mà không sợ người nghèo Ladarô tìm cách lật đổ cái hiện tại (x. 16,17-31). Như vậy, Luca sẽ chuốc lấy lời chỉ trích của Karl Marx liên quan đến tôn giáo, thuốc phiện ru ngủ nhân dân!
Các mối phúc ấy đòi hỏi phải được đọc dưới ánh sáng của phần còn lại của Luca và Công vụ. Nếu Luca có thể nhắc lại các mối phúc chính vì ông tô vẽ Giáo Hội lý tưởng như cộng đoàn nơi mà “không một tín hữu nào coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ mọi sự là của chung… Trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, bởi vì người ta phân phát một phần tiền bạc để làm của chung cho mỗi anh em tuỳ theo nhu cầu” (Cv 4,32-35). Những bản văn sẽ cho chúng ta thấy việc chia sẻ với người nghèo –tuy khiêm tốn hơn- phải được thực hành ngay ngày hôm nay, trong cộng đoàn Giáo Hội. Nếu không cộng đoàn sẽ không có khả năng để loan báo các mối phúc và biểu lộ thực tại của ơn cứu độ đã bắt đầu.

 

TN6-C50. Chú giải của Noel Quesson

Ngày hôm nay chúng ta suy niệm về “các mối phúc thật theo thánh Luca”: Chúng ta biết nhiều: TN6-C50

Ngày hôm nay chúng ta suy niệm về “các mối phúc thật theo thánh Luca”: Chúng ta biết nhiều hơn về các mối phúc thật của thánh Matthêu, vẫn được hát trong ngày lễ Các Thánh. Nhung vì chúng ta có một Lời Chúa được truyền lại bởi hai truyền thống khác nhau, chúng ta hãy thử lắng nghe bản văn hoàn toàn đặc biệt của Luca. Ở đấy, có một thứ liệu quả của kỹ thuật âm thanh lập thể bởi hai cái loa khác nhau.
Các mối phúc thật theo Thánh Matthêu (5,1):
Bài giảng trên Núi…
Bao gồm chín "mối phúc thật...”
Nhấn mạnh đến sự “nghèo khó tâm linh”, sự đói khát công lý sự đau khổ nội tâm...
Các mối phúc thật của Thánh Luca (6,20):
Bài giảng ở chỗ đất bằng.
Bao gồm "bốn" mối phúc thật và bốn mối hoạ.
Nói về những người nghèo đói thật, bụng đói thật sự và khóc chảy nước mắt.
Đức Giê-su đi xuống cùng với các ông, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giu-đê, Giê-ru-sa - lem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xi-đôn
Như Môsê (Xh 19,21), Đức Giêsu xuống từ một ngọn núi nơi Người đã gặp Thiên Chúa. Vâng, trước khi nói với chúng ta điều Người sẽ nói, Đức Giêsu đã "qua một đêm cầu nguyện Thiên Chúa” (Lc 6,12). Thiên Chúa không nhìn sự vật như chúng ta. Đức Giêsu đã dùng cái nhìn của Thiên Chúa trong Thiên Chúa... trong một sự cầu nguyện kéo dài! Đối với chúng ta, hạnh phúc là một vấn đề của may mắn, sức khoẻ, tiền bạc, sự thành công. Chúng ta sắp nghe từ miệng của Đức Giêsu rằng, đối với Thiên Chúa, hạnh phúc là một vấn đề chọn lựa: Người ta quyết định mình được hạnh phúc! Phúc cho những người khốn khổ, Đức Giêsu sẽ nói như thế. Bạn có thể hạnh phúc, dù nghèo, dù đói, dù bị lăng nhục. Nghịch lý chăng: ảo tưởng phi thực chăng? Chúng ta hãy lắng nghe Đức Giêsu.
Đức Giê-su ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói: "Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó”
Ở đây trong tiếng Hy Lạp có từ: “makarioi" dịch từ một tiếng Do Thái thường gặp trong Kinh Thánh, đó là từ đầu tiên của Thánh Vịnh đầu tiên "asheri"... Đó là một từ ở số nhiều muốn diễn tả một niềm vui tràn đầy, mà ông Chouraqui vốn nhạy cảm với ngôn ngữ của mình, đã dịch bằng chữ "hoan hỉ"!
Khi loan báo niềm hạnh phúc, hoan hỉ cho những người khốn khó ở trần gian này, Đức Giêsu đáp lại sự chờ đợi lớn lao của họ.
Những người có mặt ngày hôm đó, trước mặt Người quả thật là những người' "làm nghề mọn”, những "người bệnh tật" những người nghèo bị các thần ô uế “quấy nhiễu” (Lc 6,18). Sinh vật kỳ quặc! Con người đó không bao giờ thoả mãn với những khoái cảm xác thịt, cũng không bao giờ chịu được những đau khổ thân xác! Tại sao con vật ấy, khác với những sinh vật khác, biết mình giới hạn, tương đối và hữu hạn... vẫn giữ trong lòng mình khát vọng vô cùng về tuyệt đối? Tại sao lại muốn được hạnh phúc? Tại sao có khát vọng thánh thiêng ấy?
Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó... Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói... Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang khóc...
Matthêu đã tâm linh hoá khi diễn tả: "phúc cho những ai có tâm hồn nghèo khó!"
Còn Luca thì nói về những người nghèo thật sự, đói khát thật sự, đau khổ thực sự trong thân xác. Trạng ngữ “bây giờ" mà Luca xác định rất có ý nghĩa. Luca gợi ý rằng sẽ có một sự đảo lộn tình thế: anh em bây giờ đang khóc, anh em sẽ cười!
Người ta sẽ còn bàn cãi lâu dài để biết đích xác Đức Giêsu đã nói điều gì... và để biết trong hai bản văn của: Matthêu và của Luca bản văn nào là chính thức hơn. Thật ra, tại sao Đức Giêsu đã không nói cả hai điều đó... ngày hôm đó... hay trong nhiều lần khác?
Nếu người ta đọc toàn bộ Tin Mừng, thì dẫu sao chính cách giải thích của Luca xem ra gần với tư tưởng sâu xa của Đức Kitô hơn.. Đức Giêsu là Đấng "Mêsia của người nghèo". Chính Người đã sống khó nghèo; nhiều lần Người đã cho thấy Người thích hướng về phía nào". Dĩ nhiên, Người đã hiệp thông trong thân xác và trong cảm thức con người với điều kiện khắc nghiệt của những ai thiếu thốn. Khi chia sẻ thân phận của họ từ lúc nằm trong máng cỏ cho đến lúc bị đóng đinh, "không có một viên đá để kê đầu!”, Người đã cảm thấy một trái tim huynh đệ đang đập vì họ. Là Đấng Mêsia của người nghèo bị Do Thái giáo của giới trí thức Giêrusalem khinh bỉ, Đức Giêsu đã đau khổ như những "người phận nhỏ" và "cùng với họ" bị những "người có của" lăng nhục, khinh khi. Oâi! sự khinh miệt đáng sợ ấy thường là vô thức đối với sự nghèo khó. Từ phía những kẻ no nê và cười ngạo nghễ. Vậy Đức Giêsu hứa hẹn gì với những người nghèo ấy?
Nước Thiên Chúa là của anh em... Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng... anh em sẽ được vui cười.
Vậy thì, những kẻ khốn khổ có thể được "hạnh phúc" như thế nào?
Bởi vì, Đức Giêsu đã nói: "Nước Thiên Chúa là của họ". Sự khẳng định này là truyền thống, trong toàn bộ Kinh Thánh. Tương tự như thế, Giêrêmia (17,5-8) trong bài đọc mà chúng ta nghe hôm nay nói với chúng ta cùng một chân lý: "Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa, và lòng dạ xa rời Đức Chúa... Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương thân ".
Nguy cơ to lớn của sự giàu sang chính là tạo ra sự thoả thích hoang tưởng. Người nào tự mãn với của cải trần thế dần dà sẽ nghĩ rằng mình có thể bỏ qua Thiên Chúa...Trái lại, người nghèo vốn không: có chỗ nương tựa nơi con người, vì thế được mời gọi hướng về Thiên Chúa. Chính sự giàu có đặt người giàu vào sự nguy hiểm, khi cất đi khối người ấy mọi "sự đói khát Thiên Chúa", người ấy bị giam hãm trong "căn phòng đóng kín" của những hạnh phúc nhỏ bé phàm tục của mình. Bất hạnh của những người giàu chính là họ đặt cuộc quá thấp và quên rằng chỉ Thiên Chúa mới có thể lấp đầy khát vọng hạnh phúc vô cùng trong mỗi con người. Ngườí giàu có tự mãn bị tiền bạc của mình đánh lừa. Đức Giêsu sẽ nói về "tiền bạc, đánh. lừa" (Lc 16,9). Chúng ta sẽ nói gì về một người' đánh cá ba con ngựa, lại dứt khoát đặt cuộc cho một con ngựa chắc chắn không bao giờ vượt qua mức đến? Vả lại, điều chắc chắn là trương mục trong ngân hàng sẽ không vượt qua "mức" vĩnh cửu. Sự giàu sang hứa hẹn hạnh phúc là một "điều dối trá". Hạnh phúc duy nhất, chung cuộc quyết định, tuyệt đối, chính là Tình Yêu, chính là Thiên Chúa! Đó là Nước Thiên Chúa.
Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa.
Vậy thì, ai là nhân vật chủ chốt? Con Người... mà người nghèo sẽ có thể thiết lập tương quan? Thiên Chúa táo bạo biết bao trong Đức Giêu Nadarét ấy, trong người nghèo ấy vốn còn là một bí ẩn.
Câu này, cũng như nhiều câu khác trong Tin Mừng, cho thấy rằng nghèo khó hoặc khốn khổ không đủ đề có được "hạnh phúc của Thiên Chúa". 'Trái lại, cũng có khi sự đau khổ làm người ta chai cứng và chống lại Thiên Chúa. Giữa cơn thử thách, để đạt đến hành phúc mà: Đức Giêsu đã hứa, phải hiểu biết là đón nhận thử thách ấy trong chính ánh sáng của Đức Giêsu, Còn Người sư hiệp thông với Đức Giêsu là suối nguồn của mềm hân hoan. Lạy Chúa, xin hãy biến đổi những "thử thách" của con thành sự hân hoan" với Chúa.
Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế.
Đức Giêu không giải thích vấn đề sự ác, Đức Giêsu không biện minh cho sự đau khổ. Trong toàn bộ Tin Mừng, Người luôn chiến đấu chống lại đau khổ, Người chữa lành, an ủi, tha thứ. Nhưng ở đây, Người khẳng định, với sự bình thản và mạnh mẽ rằng đau khổ có thể trở thành nơi xuất hiện một niềm vui mầu nhiệm. Một sự "nhảy múa vui mừng". Ai có tai để nghe phải hiểu. Vả lại, chúng ta hãy nhận ra sự tinh tế của tư tưởng ấy: Niềm vui được hứa chỉ khai mở trọn vẹn trong nước Trời... tuy nhiên nó đã được bắt đầu từ cái ngày người ta đau khổ.'Đức Tin là một sự tham dự trước vào Thiên Đàng, vào đời sống vĩnh cửu.
Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi!
Khác với Matthêu, Luca đặt vào trong miệng của Đức Giêsu bốn câu hoàn toàn đối lại...bốn mối phúc thật. Ở trên là đôi khi người ta gọi là các mối hoạ. Tuy nhiên người ta khó mà tưởng tượng các mối hoạ trong lòng của Đấng đã đến, để cứu chữa chứ không phải để chuộc tội. Trong bản văn tiếng Hy Lạp, không có các mối hoạ (Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có!")... cũng không có sự lên án (Hỡi những kẻ giàu có? Một bất hạnh sẽ đến với các người!")... nhưng chỉ là một thứ xác nhận một lời than thở: "A, giàu có khốn khổ biết bao!" Từ ngữ mà chúng ta dịch là khốn cho... "' không phải là một tính từ nhưng là một từ thán diễn tả sự đau xót: than ôi! các ngươi là những người giàu có!" 'Vâng, Đức Giêsu trong một tiếng kêu đau đớn, than thở cho những kẻ giàu có: Tai hại cho họ biết bao nếu họ nhắm mắt trước những giá trị chân chính, những giá trị "vượt qua lằn mức"! Đáng buồn biết bao khi một Người đặt niềm tin của mình vào cái nay còn mai mất!
Hãy coi chừng! Hãy coi chừng! Lời cảnh báo ấy không phải chỉ dành cho những người khác. Tôi là kẻ giàu có ấy thường xuyên có nguy cơ quên đi điều chủ yếu.
Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói! Khốn cho các người, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than!
Đức Giêsu thật sự loan báo một sự lật ngược tình thế: Hình ảnh trong bản văn Hy Lạp còn mạnh hơn nhiều: ôi khốn khổ cho các người là những kẻ no nê! Than ôi! các ngươi là những kẻ no căng bụng!
Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.
Từ tưởng của Đức Giêsu, cũng như mọi tư tưởng Kinh Thánh và Do Thái là một tư tưởng tuyệt đối, bằng song luận: "hoặc là... hoặc là..." Qua các phản đề đối chiếu này. Có một sự đối lập không thể thoả hiệp được giữa Nước Thiên Chúa và tiền bạc. Người ta không thể cùng lúc phục vụ Thiên Chúa và Mam-mon! (Lc 16,13). Đức Maria đã hát trong bài ca Ngợi Khen (Magnificat): "Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng”.
Chúng ta có tiếp tục để mình bị ảo ảnh đánh lừa không? Chúng ta hãy bước theo Đức Giêsu. "Người vốn giàu sang phú quý, như đã tự ý trở nên nghèo khó" (2 Cr 8,9). Lạy Chúa Giêsu, Ngài là Đấng Nghèo Khó, Vinh quang đời đời của Thiên Chúa trong Ngài.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây