Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 7 TN-C Bài 1-50

Thứ năm - 21/02/2019 09:40
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 7 TN-C Bài 1-50: Yêu thương kẻ thù
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 7 TN-C Bài 1-50: Yêu thương kẻ thù
TN 7-C Phần I Bài 1-50: Yêu thương kẻ thù
TN7-C1. YÊU THƯƠNG KẺ THÙ.. 2
TN7-C2. CSTM/67- YÊU THƯƠNG.. 4
TN7-C3. HRK/60- YÊU THƯƠNG.. 5
TN7-C4. HRK/274- YÊU THƯƠNG.. 7
TN7-C5. NTGT/70- YÊU THƯƠNG.. 9
TN7-C6. SCĐ/503- THA THỨ.. 12
TN7-C7. SCĐ/506- YÊU THƯƠNG KẺ THÙ.. 13
TN7-C8. SCĐ/508- ĐỪNG XÉT ĐOÁN.. 15
TN7-C9. SCĐ/509- HÃY CHO.. 15
TN7-C10. YÊU CẢ KẺ THÙ MÌNH- Lm. Phạm Thanh Liêm.. 16
TN7-C11. Cuộc Thảo Luận Tốt Về Kitô Giáo. 18
TN7-C12. CHI TIẾT HAY - Nhóm Đồng Hành. 20
TN7-C13. Hãy Yêu Kẻ Thù. 21
TN7-C14. Tinh thần công bằng và yêu thương của Kitô giáo - JKN.. 23
TN7-C15. Yêu thương kẻ thù - Lm. Nguyễn Hưng Lợi 26
TN7-C16. CHÚC LÀNH CHO KẺ NGUYỀN RỦA.. 28
TN7-C17. Hãy đối xử nhân từ - Lm Trần Bình Trọng. 29
TN7-C18: ĐỊA ĐIỂM TRUYỀN GIÁO CHÊNH VÊNH Ở SƯỜN NÚI 31
TN7-C19: HÃY NHÂN TỪ NHƯ CHA CÁC CON LÀ ĐẤNG NHÂN TỪ... 34
TN7-C20: HÃY YÊU KẺ THÙ - Lm. Damien OFM... 36
TN7-C21: KẾ HOẠCH YÊU THƯƠNG - Như Hạ OP. 38
TN7-C22: HÃY YÊU KẺ THÙ VÀ LÀM ƠN CHO KẺ GHÉT ANH EM... 41
TN7-C23: CHO SAO NHẬN VẬY.....- Mark Link S.J. 43
TN7-C24: HÃY THA THỨ VÀ BẠN SẼ ỊƯỢC THỨ THA.. 46
TN7-C25: KHUYẾT ĐIỂM CỦA CHÚA GIÊ-SU.. 47
TN7-C26: LẤY ÂN ĐỀN OÁN – Chuyện. 50
TN7-C27: MẮT ĐỀN MẮT – RĂNG ĐỀN RĂNG – Chuyện. 50
TN7-C28: ĐỪNG XÉT ĐOÁN - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An. 51
TN7-C29: Yêu thương kẻ thù bằng hành động - Lm. Đan Vinh. 55
TN7-C30: ĐỪNG CHỌN VIỆC CỦA CHÚA - Phaolô Ngô Suốt 63
TN7-C31: ANH EM ĐỪNG XÉT ĐOÁN - Pt. Huyền Đồng. 65
TN7-C32: Cách sống của con cái Thiên Chúa - Giêrônimô Nguyễn Văn Nội 68
TN7-C33: Yêu thương kẻ thù - Lm. Thu Băng, CMC.. 72
TN7-C34: Lòng nhân từ Chúa - Lm. Minh Vận, CMC.. 74
TN7-C35: Hãy thương xót như Cha là Đấng xót thương - Sr. Diễm Trang, CMR.. 78
TN7-C36: Tinh thần công bằng và yêu thương của Kitô giáo – JKN.. 80
TN7-C37: Đều bị mù mắt - Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 84
TN7-C38: YÊU KẺ THÙ, LÒNG NHÂN ÁI TỪ BI 85
TN7-C39: Triều đại của những con người mới 92
TN7-C40: Đừng thù ghét lại nhưng hãy yêu thương. 96
TN7-C41: CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN.. 99
TN7-C42: YÊU THƯƠNG THÙ ĐỊCH. 102
TN7-C43: THIN CHA YU TH? GIAN ... 105
TN7-C44: YÊU NGƯỜI NHƯ CHÚA- Đc. Ngô quang Kiệt 110
TN7-C45: CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN.. 112
TN7-C46: TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC.. 113
TN7-C47: TÌNH YÊU ĐÁP TÌNH YÊU.. 115
TN7-C48: YÊU THƯƠNG KẺ THÙ.. 116
TN7-C49: SUY NIỆM CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN.. 118
TN7-C50: CHÚA NHẬT 7 QUANH NĂM... 120

 

TN7-C1. YÊU THƯƠNG KẺ THÙ

Khi một cuộc chiến tranh vừa kết thúc, người ta nhận thấy dấu vết của nó còn để lại trên cả: TN7-C1

Khi một cuộc chiến tranh vừa kết thúc, người ta nhận thấy dấu vết của nó còn để lại trên cả một dân tộc : Nào là nghèo đói và túng thiếu, nào là đổ vỡ và tan hoang,  nào là những bất công và bóc lột, nào là những cô nhi và quả phụ, nào là những nhà tù và những nghĩa trang…
Thế nhưng, cùng với thời gian người ta dần dần quên đi, để rồi mọi cố gắng, mọi nỗ lực đều được tập trung vào việc kiến thiết lại xứ sở và làm đẹp cho đất nước. Phải chăng đó là một dấu hiệu tốt chứng tỏ các dân tộc đã sẵn sàng tha thứ, lấy tình thương xóa bỏ hận thù và mong muốn được chung sống trong bình an và thịnh vượng.
Còn về phương diện cá nhân thì sao ?
Người ta thường diễn tả một cách đáng cay và chua xót như sau :
- Rửa tội và kitô hóa cho cả một dân tộc thì dễ hơn là rửa tội và kitô hóa cho một cá nhân đã mang nặng tinh thần thế gian, tinh thần ngoại giáo, bởi vì khó mà tha thứ cho một kẻ nào đó đã nói hành nói xấu và xúc phạm đến bản thân chúng ta.
Trong những hoàn cảnh cụ thể như thế, trí nhớ của chúng ta không còn là một khả năng hay quên, trái lại nó đã làm việc một cách hăng say và đắc lực với tất cả công suất của nó, mặc dù chúng ta không muốn.
Bởi đó, thánh Phaolô đã khuyên chúng ta :
- Đừng lấy ác báo ác.
Và Chúa Giêsu qua đoạn Tin Mừng hôm nay cũng đã truyền dạy :
- Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại. Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy.
Điều đó có nghĩa là đừng đánh lại kẻ đã đánh chúng ta, đừng ném lại kẻ đã ném chúng ta, bằng không chúng ta cũng đã chẳng làm gì hơn những người ngoại đạo.
Và Chúa Giêsu còn nói tiếp :
- Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại.
Thế nhưng, có kẻ lại cho rằng :
- Hành động như vậy là hèn nhát. Phải dạy cho chúng một bài học, bằng không chúng cứ lấn át mãi. Tuy nhiên, nếu suy nghĩ  cho thấu đáo, chúng ta thấy đó chỉ là một cái cớ để che dấu việc chúng ta đang chạy theo tinh thần thế gian và rời xa tinh thần của Chúa.
Đừng lấy oán đền oán đã lành, người Kitô hữu chúng ta còn phải đi xa hơn thế nữa, bằng cách lấy ân đền oán, lấy tình thương xóa bỏ hận thù : Nếu kẻ thù đang đói, hãy cho ăn. Nếu kẻ thù đang khát, hãy cho uống. Chính với những việc làm như thế, chúng ta mới có thể cảm hóa được những kẻ thù của chúng ta, bởi vì cách thức hiệu nghiệm nhất để tiêu diệt kẻ thù không phải là chém giết, nhưng là làm cho họ trở thành những người bạn. Đồng thời những việc làm như thế còn là một phản ảnh trung thực cho tinh thần Kitô giáo, biến chúng ta trở thành giống Thiên Chúa, Đấn đã làm cho mặt trời mọc lên và chiếu sáng trên người lành và kẻ dữ, cũng như đã làm mưa xuống cho người công chính và kẻ bất lương. Trên một tờ báo, người ta đã đưa ra một câu hỏi như sau :
- Bạn sẽ hành động thế nào với khẩu hiệu : hãy trả lại cho họ cái họ đã làm cho bạn ?
Phần đông các độc giả đã trả lời :
- Hãy trừng phạt. Hãy báo thù. Hãy trả đũa. Hãy dạy cho cho họ một bài học nhớ đời.
Tuy nhiên,trong số các thư gủi về tòa soạn, có bức thư của một em nhỏ. Em nhỏ này đã trả lời như sau :
- Hãy cám ơn.
Ba chữ “hãy cám ơn” của em nhỏ này phải chăng đã phản ảnh đúng tinh thần của Chúa mà chúng ta phải thực thi trong cuộc sống hôm nay, một cuộc sống vốn còn chất đầy những hận thù và ghen ghét.

 

TN7-C2. CSTM/67- YÊU THƯƠNG

Bài Tin Mừng thánh sử Luca kể lại luật yêu thương tuyệt vời của Chúa Kitô. Chúa dạy chúng ta: TN7-C2

Bài Tin Mừng thánh sử Luca kể lại luật yêu thương tuyệt vời của Chúa Kitô. Chúa dạy chúng ta cách sống, cách xử thế đối với mọi người. Chúa dạy hãy yêu người khác như yêu bản thân mình. Người khác đây có thể là người yêu chúng ta, thương chúng ta, nhưng cũng gồm cả những người không yêu chúng ta, ghét chúng ta, và cả những người làm hại chúng ta nữa. Chúng ta thấy luật Chúa dạy cao trọng vượt bậc. Đó là luật vàng trong đạo Chúa. Người Do thái quen sống với luật công bằng : mắt đền mắt, răng đền răng. Nhưng từ đó họ đã đi đến chỗ báo oán báo thù, để rồi lại có những luật lệ nhằm giảm thiểu sự trả thù đó bằng sự tha thứ và kêu gọi yêu thương. Nhưng phải chờ tới Tân ước Chúa Giêsu mới chính thức công bố luật yêu thương, tha thứ. Chúa đưa ra một số thí dụ : “Ai vả má này, hãy đưa thêm má kia”, “ai đòi áo ngoài, hãy đưa cả áo trong”, “ai xin hãy cho, ai chiếm đoạt đừng đòi lại”, “hãy chúc lành cho kẻ chúc dữ mình”, “hãy cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình”.
Chúa dạy như thế không có nghĩa là Chúa đề cao lối sống buông xuôi, đầu hàng, cam chịu. Nhưng Chúa muốn dạy rằng : hãy khôn ngoan dùng tình thương là thượng sách. Tình thương mới xóa bỏ hận thù, lấy ơn mà đền oán, chứ không thể áp dụng “dĩ độc trị độc”. Thực tế, trả thù không bao giờ xóa bỏ được hận thù, mà còn chồng chất hận thù lên mãi. Cho nên, chúng ta thấy những lời Chúa dạy thật sự là hữu lý và có giá trị cho mọi thời đại. Có lẽ cuộc đời chúng ta vẫn sống theo lối “ăn miếng trả miếng”, “hòn đất ném đi, hòn chì ném lại” nên chúng ta thấy khó am hợp với những lời Chúa dạy là tha thứ, yêu thương. Chúa dạy chúng ta hãy sống yêu thương tối đa giữa cá nhân với nhau, và giữa cá nhân với nhân quần xã hội. Nếu mỗi người đều cố gắng đối xử như vậy thì cuộc sống này, trần gian này sẽ tốt đẹp, an bình và tươi vui hơn biết bao. Giáo huấn của Chúa, khó thì khó thật, nhưng không phải là bất khả thi, tức là vẫn có thể thực hiện được, và dĩ nhiên để có thể thực hiện đòi hỏi người ta một tình yêu thương cao hơn quan niệm bình thường. Trong thực tế đã có những người, dù không phải là Kitô hữu, dù chưa biết Tin Mừng của Chúa, thực hiện điều này. Người ta kể rằng : gần biên giới hai nước Lương và Sở, tức Hồ nam ngày nay, có hai người làm nghề trồng dưa : một người ở nước Lương, một người ở nước Sở. Nhờ sự chăm tưới và bón phân, vườn dưa của người nước Lương lên tốt, kết quả rất mỹ mãn và hàng năm đem lại một mối lợi đáng kể. Còn anh chàng nước Sở, lười biếng, cỏ chẳng làm, dưa không tưới và bón phân, dĩ nhiên không kết quả bao nhiêu. Thấy vậy anh ta sinh ghen ghét, đêm đêm lẻn sang vườn người phá hoại.
Vườn dưa đang tốt, song mỗi ngày cứ thấy lụi dần, tìm hiểu và biết được kẻ phá hoại, tức mình lắm, định trả đũa. Nhưng trước khi thi hành, anh đem việc đến trình quan huyện là Tống Tựu. Tống Tựu can và nói : “Làm như thế chỉ tổ gây hằn thù, tôi khuyên anh : thay vì trả đũa, mỗi đêm lẻn sang đó tưới và bón phân. Nhưng phải bí mật đừng cho nó trông thấy”. Thấy bên kia không trả đũa, lại nhận ra vườn của mình mỗi ngày xanh tốt. Sau lâu ngày mới biết người kia đã không báo oán mà còn làm ơn, anh liền sang xin lỗi. Hai gia đình đã kết thân và cùng trở nên giàu có.
Với một nền đạo đức tự nhiên người xưa còn thực hiện lòng nhân ái như thế. Vậy tại sao các Kitô hữu, được siêu nhiên trợ lực, lại đầu hàng trước huấn lệnh đó sao ?
Hơn nữa, Chúa còn dạy chúng ta hãy yêu thương kẻ thù. Đây là điểm vàng son của tình yêu Kitô giáo. Thực vậy, yêu kẻ yêu mình, đó là lẽ thường tình. Nhưng yêu được người không yêu mình, yêu kẻ ghét mình, làm hại mình, đấy mới là yêu thật, đấy mới xứng danh là con Thiên Chúa, là môn đệ của Chúa. Trước nhan Thiên Chúa, không còn là bạn hay thù, nhưng chỉ là đối tượng của tình yêu.
Như vậy, Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy yêu thương : yêu từng người, yêu hết mọi người, yêu vô tư, yêu quảng đại, yêu với chính tình yêu của Chúa và yêu như Chúa yêu. Một khi có tình yêu như vậy, nhất định chúng ta sẽ xóa bỏ mọi hiềm thù ghen ghét, nhất định chúng ta sẽ khoan dung quảng đại với mọi người.
Tóm lại, muốn là một Kitô hữu đích thực, chúng ta phải phấn đấu đạt tới cao điểm bác ái đó. Với gương của Chúa và sự trợ lực của Chúa, cùng với thiện chí và cố gắng của chúng ta, chúng ta sẽ thực hiện được giáo huấn Chúa dạy.

 

TN7-C3. HRK/60- YÊU THƯƠNG

Có một chị nữ tu nọ đặc trách quán cơm bình dân trong một trường học, vào những giờ đông: TN7-C3

Có một chị nữ tu nọ đặc trách quán cơm bình dân trong một trường học, vào những giờ đông người đến mua thức ăn cho bữa trưa hoặc bữa chiều thì chị phải chịu nghe không biết bao nhiêu là những lời than phiền, trách móc, đòi hỏi và cả khi bị mắng chửi trước mặt mọi người, vì không đáp ứng được nhu cầu bất chợt của những người mua thức ăn. Nhưng, dù vậy lúc nào chị cũng luôn luôn vui tươi phục vụ như không có gì xảy ra.
Một hôm có người tò mò hỏi chị cho biết lý do tại sao chị vẫn vui tươi phục vụ như vậy ? Chị trả lời như sau : Thường tình thái độ sống của chúng ta chịu ảnh hưởng hay đúng hơn bị lèo lái bởi ảnh hưởng của những kẻ khác. Phần tôi thì tôi đã cố gắng không sống theo tâm thức thường tình này, họ bất kính vô lễ đối với tôi, nhưng đó không phải là lý do để tôi trở thành bất kính vô lễ đáp lại họ. Chúng ta dễ dàng theo luật trả thù “mắt đền mắt, răng đền răng”, nhưng Chúa Giêsu trong bài Phúc âm của Chúa nhật VII mùa thường niên năm C hôm nay nhắc lại cho ta một việc quan trọng, chúng ta không dùng lửa để chống lại lửa, nhưng là lấy sự lành đáp lại sự dữ.
Chúa Giêsu, Người giảng dạy và đã sống nêu gương cho ta. Chúng ta có thể đọc lại đoạn Phúc âm Chúa nhật hôm nay như sau:
Tổng thống Abraham Lincol đã bị những người hầu cận phê bình là tỏ ra quá lịch thiệp vui vẻ cả đến những kẻ thù chính trị đã từng lăng nhục ông, nhưng ông thường trả lời họ như sau : Với thái độ thân thiện, tôi đã loại được kẻ thù và biến họ thành bạn của tôi. Các anh không thấy sao ? Thật ra, đây là điều dễ nói hơn là làm. Tình yêu thương tự nhiên của chúng ta thường bị giới hạn trong những kẻ thân hay những ai tốt với chúng ta. Chúa Giêsu biết vậy nên Ngài không ngừng khuyến khích chúng ta hãy can đảm đi xa hơn : “Nếu anh em yêu thương ai yêu thương anh em thì có gì đặc biệt hơn đâu ? Những kẻ thu thuế cũng làm như vậy”.
Chúa Giêsu muốn chúng ta hãy bắt chước mẫu gương của Đức Chúa Cha trên trời. Chúng ta không thể nào hy vọng mình có thể làm được, nếu không nhờ sự trợ giúp và sức mạnh của Chúa để vượt qua được vòng luẩn quẩn là lòng hận thù triền miên qua việc trả thù cách này hay cách khác. Cần phải phá bỏ vòng luẩn quẩn này như Chúa Giêsu đã thực hiện qua thập giá, qua cái chết hy sinh chính mình.
Chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta canh tân đời sống, yêu thương, tha thứ theo Tin Mừng. Thánh Augustinô đã nói : “Có nhiều cách thức để làm việc bố thí, để giúp ta lãnh nhận ơn tha thứ của Chúa, nhưng không có cách nào cao cả hơn là cách chúng ta tha thứ thật lòng cho người anh em đã xúc phạm đến ta”.
Chúng ta hãy nhớ lại lời kinh Lạy Cha, hãy nghiêm chỉnh xét mình và nhất là hãy xin Chúa ban cho ta sức mạnh thực hành lời xin tha thứ : “Lạy Cha, xin tha nợ cho chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”.

 

TN7-C4. HRK/274- YÊU THƯƠNG

Phụng vụ lời Chúa hôm nay nêu bật chủ đề đức dung thứ Kitô giáo. Bài Tin Mừng thánh Luca: TN7-C4

Phụng vụ lời Chúa hôm nay nêu bật chủ đề đức dung thứ Kitô giáo. Bài Tin Mừng thánh Luca được trích từ những giáo huấn của Chúa Giêsu đã giảng dạy. Cấu trúc song song của Tin Mừng thánh Luca và Tin Mừng thánh Matthêu xếp các qui luật cộng đoàn này sau bài giảng “Tám mối phúc thật”, hay còn được gọi là “Hiến Chương Nước Trời”. Vì đó là những qui tắc nền tảng như một bản hiến pháp để thành lập dân Chúa và định hình cho Hội thánh, thì phần qui luật cộng đoàn cũng có thể được coi là bộ luật luân lý hướng dẫn mọi lãnh vực sinh hoạt, xã hội, tôn giáo của những người tin Đức Kitô.
Một yếu tố không thể không nhấn mạnh, đó là cộng đoàn Hội thánh được qui tụ do niềm tin nơi Đức Kitô Phục Sinh và nhận được sinh khí mới do Thánh Thần của Đấng Phục sinh. Chính trong bối cảnh của cộng đoàn Phục sinh này xuất hiện cảm nghiệm sâu sắc về sức mạnh Thánh Thần, Đức Kitô đã và còn đang biến đổi những gì phàm tục, tội lụy và giới hạn nơi con người cũ xưa thành một con người mới, thụ tạo mới với mọi sức vóc sung mãn theo mô hình của chính Đức Kitô.
Cũng chính trong cộng đoàn nhuệ khí bừng bừng ấy, các quyển Tin Mừng hình thành không như tác phẩm của lý trí suy luận, hoặc của óc sáng tạo giàu chất lãng mạn, nhưng như là tinh hoa tích tụ lại từ vốn sống rất hiện thực, rất sinh động và thánh thiêng. Nói cách khác, cộng đoàn Kitô hữu như được mô tả trong Tin Mừng không chỉ thuần là một lý tưởng, một mẫu mực được phác họa cho một nỗ lực sẽ thành đạt trong tương lai, càng không thể là dấu hiệu của nỗi hoài vọng và một cõi địa đàng trải ra trước mắt, song đúng hơn đây chính là bức tranh xác thực của một nếp sống đã và vẫn còn tiếp diễn xuyên suốt thời gian và không gian, nếp sống của những người được đón nhận thực tại vào Nước Thiên Chúa.
Thánh Phaolô viết cho tín hữu Côrintô : “Những ai thuộc về trời thì giống như Đấng từ trời mà đến”. Nhờ lãnh nhận Thánh Tẩy trong mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Kitô, Kitô hữu đã hoàn toàn chết đi với con người cũ tội lỗi, nô lệ của thế gian để sống lại trong con người mới của ân sủng, tự do, chia sẻ chiến thắng vinh quang bất diệt của Đấng Phục sinh. Do đó, có thể nói qui luật sống của cộng đoàn Kitô hữu được trình bày trong Tin Mừng không thể bị giản lược thành một số lời khuyến thiện đẹp đẽ để ai nấy tùy nghi, tùy sức thực hiện, nhưng phải coi đó là những đức độ tất yếu phải có, phải thi hành nơi mỗi cá nhân và toàn thể cộng đoàn tín hữu Kitô.
Thật vậy, có một sự khác biệt sâu xa giữa hành vi anh hùng mã thượng của bậc trượng phu quân tử, như việc chàng dũng sĩ Đavid tha mạng cho kẻ cựu thù là vua Saolê, mặc dù cơ hội báo oán đang nằm trong tay, so với đức dung thứ của Kitô hữu khi họ bỏ qua cho kẻ xúc phạm hoặc hãm hại mình. Hành vi dẫu cao thượng của chàng Đavid có lẽ do nhiều động lực tình cảm gia đình và chính trị, vua Saolê là nhạc phụ của anh, nên anh phải cân nhắc những hậu quả có thể xảy ra trong cuộc sống gia đình giữa anh và công chúa Micam, nếu như anh sát hại phụ vương của nàng. Mặt khác, vì anh đang rất cần hậu thuẫn của đám quần chúng vốn còn nặng ân tình với Saolê. Chàng Đavid không muốn cho phe bảo hoàng ghép cho mình cái tội thí chúa, và tận thâm tâm chàng Đavid còn muốn ngăn ngừa một điều lệ đe dọa cho chính bản thân mình sau này khi anh tuyên bố : “Vua là thiên tử, là bất khả xâm phạm, vì đã được Giavê Đức Chúa xức dầu tấn phong”.
Trong khi đó, người tín hữu Kitô không toan tính so đo một điều gì khác, trong việc thực thi đức dung thứ ngoài ước muốn được xứng danh là con cái Thiên Chúa, Đấng từ bi nhân hậu, chỉ có vậy và đơn giản như vậy : “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. Được trở nên hoàn thiện như Hiền Phụ trên trời chính là động lực, là chuẩn mực luân lý Kitô giáo. Kitô hữu thực thi đức dung thứ và yêu thương kẻ thù, đó là một trong những nét độc đáo của Kitô giáo. Không điều kiện, không mong bất kỳ một hình thức đáp trả bồi hoàn nào, họ hành động và ứng xử như thể đó chính là bản chất của họ, là ơn gọi của họ.
Kitô hữu không bận tâm đến việc luận công phạt tội, vì tin đã có Thiên Chúa công minh cầm cân nẩy mực. Được thưởng công và trắng án trước pháp đình Thiên Chúa không thể coi là lý do của đời sống luân lý Kitô hữu, những người đã được giải thoát khỏi gông ách của tội lỗi, những người đã nắm trọn quyền thừa kế Nước Thiên Chúa, những người sẽ ngồi ghế thẩm phán xét xử thế gian. Bằng không, họ vẫn còn sống trong tội lỗi, chung đụng với những kẻ tội lỗi, hành xử như những kẻ tội lỗi : “Nếu anh em yêu thương những kẻ yêu thương mình thì có ơn nghĩa gì đâu, ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ”.
Giả như nói đến phần thưởng dành cho trọn một đời thủy chung với giáo huấn của Chúa, Kitô hữu sẽ chẳng mong mỏi nhận được một phần thưởng nào khác hơn là chính Thiên Chúa, là tình yêu hiền phụ của Người.

 

TN7-C5. NTGT/70- YÊU THƯƠNG

Phụng vụ các bài đọc Lời Chúa hôm nay đã phác thảo nên một bức tranh đẹp về lòng yêu thương: TN7-C5

Phụng vụ các bài đọc Lời Chúa hôm nay đã phác thảo nên một bức tranh đẹp về lòng yêu thương và tha thứ.
- Bài đọc 1 kể lại câu chuyện xưa giữa vua Saulê và Đavid : vua Saulê vì ganh ghét đã luôn tìm hại Đavid, nhưng Đavid là một con người có tâm hồn cao thượng và lòng đại độ đã tha thứ và thậm chí tha chết cho vua Saulê mặc dù mạng sống của vua Saulê đã được trao vào tay Đavid.
- Bài trích thư của thánh Phaolô đã tô điểm rõ nét hơn về sự sống yêu thương và tha thứ nơi mỗi Kitô hữu, đó là sự sống mới trong Đức Kitô, là sự sống của những người được nhận lãnh và sống bởi Thánh Thần của Đức Kitô Phục sinh.
- Trọng tâm mà hai bài đọc muốn dẫn đến chính là lời mời gọi yêu thương và tha thứ, là nội dung đoạn Lời Chúa trong Phúc âm Luca chúng ta vừa nghe đọc.
Đức Giêsu lên tiếng dạy các tông đồ : “Các con hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét các con”.
Quả thực, những lời này mới nghe qua, chúng ta thấy thật là vô lý và khó có thể chấp nhận theo như lẽ thường trong cuộc sống con người : Làm sao tôi có thể yêu thương và tha thứ cho kẻ hay gây rối và luôn tạo nên những phiền phức cho tôi ; thật là nhục nhã vô lý và không công bằng chút nào khi phải yêu thương và tha thứ cho kẻ đã hạ nhục tôi, hạ nhục gia đình tôi, những người thân quen của tôi… Chắc hẳn mỗi người hiện diện nơi đây còn có thể đặt ra rất nhiều câu hỏi nữa : tại sao, vì sao tôi phải yêu thương và tha thứ cho kẻ thù nghịch với tôi như lời Đức Giêsu dạy các tông đồ mà chúng ta vừa nghe.
Bình tâm lại, chúng ta thấy đây không chỉ là lời dạy mà còn là lệnh truyền, là lời mời gọi tha thiết của Đức Giêsu mời gọi các tông đồ và những kẻ theo Ngài phải có một tấm lòng yêu thương tha thứ vượt lên trên cách suy nghĩ và hành xử như lối người đời vẫn hằng cư xử với nhau. Quả thật, Đức Giêsu đã nhấn mạnh : Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình thì có ân nghĩa gì đâu ? ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ… nếu anh em làm ơn cho những kẻ yêu mình, thì người tội lỗi cũng làm được như thế. Như vậy, Đức Giêsu mời gọi mọi người hãy biết mở lòng mình ra cho tình yêu của Thiên Chúa được thấm nhập hầu biến đổi để chúng ta cũng biết mở rộng tâm hồn để mến yêu và tha thứ những lỗi lầm cho anh em đồng loại như ta được Thiên Chúa yêu mến và thứ tha.
Chúa Giêsu đã không dạy chúng ta một cách bâng quơ hời hợt bên ngoài của lời nói, nhưng Ngài còn đi xa hơn, Ngài lấy chính Thiên Chúa làm khuôn mẫu cho chúng ta về lòng yêu thương và tha thứ, Ngài nói : “Các con hãy có lòng nhân từ như Cha các con là Đấng nhân từ”.
Lần giở lại lịch sử cứu độ, chúng ta có thể bắt gặp được vô số chứng cứ và hình ảnh về lòng yêu thương và tha thứ của Thiên Chúa.
Trong Cựu ước, lòng yêu thương và tha thứ của Thiên Chúa đối với loài người bày tỏ qua một chuỗi các sự kiện:
. Thiên Chúa đã yêu thương sáng tạo ban lời hứa ơn cứu độ cho nguyên tổ.
. Một Abraham, một Mosê đã được Thiên Chúa tuyển chọn và mạc khải cho biết chính Ngài là Thiên Chúa nhân hậu, từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín.
Còn rất nhiều chứng cứ và hình ảnh mà các tác giả Cựu ước dùng đến để nói lên Thiên Chúa là Đấng yêu thương, bởi vì Ngài là Đấng thánh không thích hủy diệt, không thích tội nhân phải chết nhưng muốn họ hoán cải để được sống và đón nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa… như lời sách Ezêkiel đã viết : “… vì đường lối của Ngài không giống đường lối của chúng ta, và tư tưởng của Ngài vượt xa tư tưởng của chúng ta một trời một vực”.
Lòng yêu thương và tha thứ của Thiên Chúa không chỉ dừng lại trước những tội lỗi của nhân loại để chờ đợi họ hoán cải thống hối hầu sửa trị và nhắc nhở họ biết tin tưởng và quay về với Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa đã đi bước trước đến với con người, tình yêu tuyệt đỉnh của Thiên Chúa đã được biểu lộ qua việc trao ban người Con Một cho thế gian là chính Đức Giêsu.
Đức Giêsu đã đến trong thế gian, đó là một hành động, là một hồng ân mà Chúa Cha ban tặng. Ngài đến để loan báo lòng yêu thương nhân hậu của Thiên Chúa. Quả thật, suốt cuộc đời tại thế, trọng tâm lời rao giảng của Đức Giêsu là tình yêu của Thiên Chúa, Đức Giêsu thường dạy dỗ các tông đồ : “… các con hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương các con”.
… Cao điểm của việc rao truyền lòng yêu thương và tha thứ đó chính là Hy tế thập giá, Đức Giêsu đã đổ máu mình ra để hoàn tất công trình cứu độ hầu ban phát tình thương và ơn tha thứ của Thiên Chúa cho toàn thể nhân loại.
Qua Đức Giêsu, chúng ta đã được nhận lãnh lòng yêu thương và tha thứ của Thiên Chúa. Vậy mỗi Kitô hữu phải làm gì đây để tiếp nối vào sứ mạng yêu thương và tha thứ trong thế giới hôm nay ?
Hằng ngày, mỗi người chúng ta vẫn dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện mà Chúa Giêsu đã dạy : Lạy Cha chúng con ở trên trời… xin Cha tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con… Quả thật, đây là lời thú tội và cầu xin trước Thiên Chúa, mỗi người chúng ta cầu xin Thiên Chúa tha thứ cho mình thì chính bản thân cũng phải biết tha thứ cho anh em khi họ lỗi phạm đến chúng ta.
Lòng yêu thương và tha thứ quả thật là một thách đố lớn lao cho tất cả mọi người nhưng đó vẫn là điều khả thi. Một cách cụ thể trong cuộc sống hôm nay, để có thể hóa giải những tranh chấp, hận thù, oán hờn… thiết nghĩ mỗi người phải tự giác đi bước trước : hãy học biết quảng đại, hãy tôn trọng, chấp nhận nhau trong những khác biệt của cuộc sống, thậm chí trái ngược nhau ; đừng tìm cách hạ bệ, tranh chấp thắng thua, nhưng hãy biết cho và đón nhận, hãy cùng nhau nhìn về một hướng và giúp nhau đạt tới chân lý là chính Thiên Chúa. Muốn được như thế, thiết nghĩ mỗi cá nhân với sức riêng thì khó mà thực thi nhưng hãy cậy dựa vào ơn Chúa qua việc cầu nguyện và đến với các bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh thể để nhờ việc kết hiệp này, chúng ta cũng biết yêu thương và tha thứ theo gương Chúa Giêsu hầu biết hoán cải nội tâm trở nên người môn đệ đích thực và xứng đáng lãnh nhận lòng yêu thương và tha thứ của Thiên Chúa.
Chúng ta vừa cùng nhau điểm qua một số nét về lòng yêu thương và tha thứ. Quả thật, yêu thương và tha thứ là ý muốn là lệnh truyền của Thiên Chúa vì nó bắt nguồn từ chính Thiên Chúa. Lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa được biểu lộ cách tột đỉnh qua hành động ban tặng chính Con Một là Đức Giêsu Kitô, và nhờ mầu nhiệm Tử Nạn Phục Sinh, Đức Giêsu đã hoàn tất công trình cứu độ hầu ban phát tình thương và ơn tha thứ của Thiên Chúa cho toàn thể nhân loại. Ước mong nhờ việc chiêm ngắm và suy niệm mầu nhiệm Tử Nạn Phục Sinh của Đức Giêsu trong cuộc sống mỗi ngày, chúng ta học được nơi Ngài bài học yêu thương và tha thứ như lời Ngài vẫn hằng dạy bảo các tông đồ xưa kia : Nếu các con không biết tha thứ cho nhau, thì Cha trên trời cũng sẽ không tha thứ cho các con, nhưng nếu các con biết tha thứ cho nhau, thì Cha trên trời cũng sẽ tha thứ cho các con.

 

TN7-C6. SCĐ/503- THA THỨ

Có hai anh em ruột bắt trói được thủ phạm giết cha mình. Họ đem tên sát nhân đến trước tòa và: TN7-C6

Có hai anh em ruột bắt trói được thủ phạm giết cha mình. Họ đem tên sát nhân đến trước tòa và yêu cầu xử theo luật mắt đền mắt, răng thế răng. Kẻ sát nhân đã dùng đá để ném chết cha họ, thì hắn cũng phải bị ném đá theo như luật định. Trước mặt quan tòa, tên sát nhân nhận tội và sẵn sàng chịu hình phạt, nhưng chỉ xin hoãn ba ngày để về giải quyết vấn đề liên quan đến một người cháu gái được ký thác cho hắn trông coi từ thuở nhỏ.
Giữa lúc quan tòa đang do dự thì từ trong đám đông có một người giơ tay cam kết : Tôi xin đứng ra bảo lãnh cho tên tử tội, nếu sau ba ngày, hắn không trở lại, tôi sẽ chết thay cho hắn. Tên tử tội được tự do trong ba ngày để giải quyết việc gia đình. Đúng kỳ hạn, giữa lúc mọi người chờ đợi để chứng kiến cuộc hành quyết, thì hắn hiên ngang tiến ra pháp trường và dõng dạc tuyên bố : Tôi muốn trung thành với lời cam kết để người ta sẽ không nói : chữ tín không còn trên mặt đất này.
Sau lời phát biểu của tên tử tội, ông bảo lãnh cho hắn cũng tuyên bố : Sở dĩ tôi bảo lãnh cho người này vì tôi không muốn để cho người ta nói : lòng quảng đại không còn trên mặt đất này.
Sau hai lời tuyên bố trên, hai người thanh niên bỗng tiến ra và nói : chúng tôi xin tha cho kẻ đã giết cha chúng tôi để người ta sẽ không nói : Lòng tha thứ không còn trên mặt đất này.
Tha thứ là một cử chỉ anh hùng, là một nỗ lực vượt thắng tình cảm tự nhiên, phản ứng thường tình của con người để bước vào thế giới siêu nhiên của những người con Chúa, sống nhân hậu và hoàn thiện như Cha trên trời. Tha thứ là thể hiện cao cả nhất của tình yêu. Nếu chúng ta có thể cho đi của cải và chính mạng sống minh vì người mình yêu, thì tha thứ còn cao cả hơn rất nhiều vì tha thứ là trao ban cho kẻ thù của mình.
Hãy yêu kẻ thù. Đó là lệnh truyền đã được Chúa Giêsu nhắc lại hai lần trong bài Tin mừng hôm nay. Đó cũng là lệnh truyền khó thi hành nhất trong các lệnh truyền của Ngài. Khó nhưng không phải là không có thể. Chính Ngài đã làm gương cho chúng ta khi Ngài xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ đã hành hạ Ngài. Và hơn nữa, Ngài còn minh oan cho họ : Vì họ lầm chẳng biết. Chính hành vi cao cả này mà Chúa Giêsu đã thể hiện trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa. Và đó cũng là nét cao quí nhất trong dung mạo của Đấng Cứu thế. Ngài đến để yêu thương và cứu chuộc con người. Ngài đến để tha thứ và đem lại cho con người cơ may để sám hối và canh tân, tái tạo và phục sinh với Ngài.
Nhưng tại sao chúng ta phải yêu kẻ thù ? Yêu người yêu mình thì dễ, ai lại đi yêu kẻ làm hại mình bao giờ. Theo triết gia Nietzche thì lời khuyên yêu kẻ thù chỉ dành cho những kẻ bạc nhược, nhát đảm mà thôi. Và Chúa Giêsu chính là con người quá lý tưởng và thiếu thực tế.
Người xưa có câu “ác giả ác báo”, làm điều ác thì sẽ gặp điều ác. Lấy oán báo oán chỉ tăng thêm hận thù mà thôi. Chỉ có ánh sáng mới xóa tan được bóng tối. Chỉ có tình thương mới dập tắt được hận thù. Nếu chúng ta không sống theo lời dạy của Chúa, thì phản ứng dây chuyền của sự ác là hận thù sẽ tăng thêm hận thù, bạo lực sẽ kéo theo bạo lực và tất cả chúng ta sẽ rơi vào hố sâu diệt vong như cơn lốc xoáy ập tới tiêu diệt mọi người.
Hận thù gây tác hại cho chính con người người oán ghét kẻ khác. Nó làm tổn thương tinh thần của người oán thù, đồng thời hủy diệt nhân cách của chính họ : Khi trả thù, người ta biến mình thành kẻ thú. Còn khi tha thứ, người ta vượt cao hơn họ. Tâm lý học ngày nay khẳng định : hận thù thì hủy diệt, còn yêu thương thì phát triển nhân cách hết sức lạ lùng và hữu hiệu. Cuối cùng, tình yêu có phép mầu sẽ biến kẻ thù thành bạn hữu. Nếu hận thù là hủy diệt, thì tình yêu là xây dựng. Biến thù thành bạn, phải chăng là tiêu diệt kẻ thù rồi ? Đó chính là sức mạnh của tình yêu, sức mạnh có tính sáng tạo và cứu độ.
Đối với người Kitô hữu, lý do căn bản nhất để chúng ta yêu thương kẻ thù chính là lời Chúa truyền dạy : Anh em hãy yêu thương kẻ thù…Như vậy phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao. Chúng ta không bao giờ là con cái đích thực của Cha trên trời, nếu chúng ta không yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi chúng ta.

 

TN7-C7. SCĐ/506- YÊU THƯƠNG KẺ THÙ

Trong một gia đình kia, chẳng may người chồng bị bắn chết khi lái xe đến nhà thờ tham dự thánh: TN7-C7

Trong một gia đình kia, chẳng may người chồng bị bắn chết khi lái xe đến nhà thờ tham dự thánh lễ. Sau đó ít lâu, người vợ cùng đứa con đến nhà thờ cầu nguyện. Đứa con hỏi : Mẹ ơi, không biết kẻ đã bắn chết cha con có được lên thiên đàng không ? Câu hỏi khiến người mẹ bị bất ngờ. Suy nghĩ một lát, bà trả lời : Nếu người đó thành thật sám hối, thì Chúa cũng tha thứ và cho lên thiên đàng. Đứa con rất khó chịu : Nếu có kẻ đó trên thiên đàng, thì con không muốn lên thiên đàng đâu. Người mẹ càng bối rối hơn nữa. Bà lại suy nghĩ, rồi nói : Nếu Chúa tha cho ông ta, thì Ngài cũng sẽ đổi lòng ông ta khiến ông ta không còn dễ ghét nữa, mà thành dễ thương. Lúc đó đứa con mới thỏa mãn và nói với mẹ : Vậy thì mẹ con mình hãy cầu nguyện cho ông ta đi.
Bài học quan trọng nhất của Tin mừng hôm nay là làm thế nào chống lại sự ác mà không cần trả thù. Hầu hết chúng ta nghỉ rằng chỉ cố gắng đừng trả thù là đủ rồi. Nhưng Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta nhiều hơn thế, Ngài còn muốn chúng ta yêu thương kẻ thù nữa. Mặc dù việc này rất khó, nhưng chúng ta thấy hai mẹ con trong câu chuyện đã làm được.
Chỉ xét trên bình diện nhân loại mà thôi, thì giáo huấn của Chúa Giêsu cũng rất hữu ích : đà leo thang của sự ác chỉ có thể bị dừng lại bằng việc tiêu hủy nó chứ không phải bỏ qua nó : trả thù và trả đũa là lấy ác báo ác. Khi chọn thái độ báo thù,  chúng ta  bị thù hận làm nhiễm độc. Khi nuôi lòng hận thù báo oán, chúng ta bị tiêu hao nhiều năng lực. Trả thù chỉ thỏa mãn được sự tức giận của chúng ta, nhưng lại làm cho con tim chúng ta ra trống rỗng. Khi Chúa Giêsu dạy hãy tha thứ cho kẻ thù, Ngài không nhằm đến lợi ích của kẻ thù, mà nhắm đến lợi ích của ban thân chúng ta. Hơn thế nữa, yêu thương thì đẹp hơn hận thù rất nhiều.
Nếu lòng thù hận làm tiêu hao năng lực, thì ngược lại, lòng yêu thương tăng cường nghị lực trong chúng ta. Một trong những việc khó làm nhất là yêu thương kẻ ghét mình. Nhưng tình yêu chân thật là yêu thương cả những người khó thương hay không thể thương được. Chỉ người nào rất giàu năng lực mới làm được mà thôi. Tuy nhiên, việc này có thể làm được bởi vì sức mạnh của yêu thương lớn hơn sức mạnh của hận thù.
Dù sao thì tha thứ cho kẻ làm hại mình là một việc rất khó. Khi bị hại, làm sao trong lòng chúng ta không có những cảm giác đau đớn, đắng cay và ý định trả thù ? Muốn vượt thắng cảm giác và ý định đó, cần phải chiến đấu rất nhiều. Cầu nguyện chính là sức tăng viện giúp chúng ta chiến thắng. Bởi đó, Chúa Giêsu bảo chúng ta hãy cầu nguyện luôn, đừng bao giờ ngừng.

 

TN7-C8. SCĐ/508- ĐỪNG XÉT ĐOÁN

Chúng ta rất dễ xét đoán người khác. Thế nhưng, Chúa Giêsu khuyến cáo rằng khi chúng ta: TN7-C8

Chúng ta rất dễ xét đoán người khác. Thế nhưng, Chúa Giêsu khuyến cáo rằng khi chúng ta xét đoán người khác, tức là chúng ta xét đoán chính mình : Anh em đừng xét đoán thì anh em sẽ không bị xét đoán.
Vào một buổi sáng, vị linh mục đang dâng thánh lễ thì thấy một người đàn bà đến trễ. Cha rất bực bội, nên khi thấy bà này lên rước lễ, cha không đã trao Mình thánh Chúa. Điều này làm cho bà rất đau lòng.  Thực ra, bà là người rất siêng năng tham dự thánh lễ. Từ trước tới nay, bà không bao giờ đi trễ. Nhưng hôm nay, chồng bà đột ngột ngã bệnh, đứa con gái tàn tật lại lên cơn. Bà phải nán lại cham sóc chồng con. Nguyên việc trễ lễ đã là một mất mát rất lớn đối với bà rồi. Thế mà cha lại không cho bà rước lễ. Sở dĩ vị linh mục làm thế là vì ngài đã xét đoán một cách hàm hồ. Và cách làm của ngài là lời kết án tính hàm hồ của ngài.
Câu chuyệntrên phải là một sự cảnh cáo để chúng ta đừng xét đoán một cách hàm hồ. Thực ra xét đoán là một điều rất khó. Muốn xét đoán cho đúng thì chúng ta phải thấy đầy đủ mọi khía cạnh của sự việc. Thấy mọi khía cạnh của sự việc cũng chưa đủ, cần phải hiểu thêm về hoàn cảnh và động cơ thâm sâu của sự việc đó nữa. Trong khi đó, thường chúng ta chỉ thấy một phương diện mà thôi và chỉ thấy bề ngoài. Tóm lại, chúng ta chưa có đủ yết tố để xét đoán.
Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng có lần là nạn nhân bị người khác xét đoán. Hãy nhớ lại xem khi đó chúng ta đau khổ như thế nào : Điều gì bạn không muốn người khác làm cho bạn, thì bạn cũng đừng làm cho họ. Vả lại, có ai trong chúng ta không cần được Thiên Chúa xét đoán khoan hồng ? Bởi vì nếu Chúa chấp tội, thì nào ai đứng vững được ?
Vì thế, chúng ta phải khoan dung với anh em. Các ngươi đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho các ngươi bằng đấu ấy.

 

TN7-C9. SCĐ/509- HÃY CHO

Thiên Chúa sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng, đã dằn, đã lắc và tràn đầy mà đổ vào vạt áo: TN7-C9

Thiên Chúa sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng, đã dằn, đã lắc và tràn đầy mà đổ vào vạt áo của anh em.
Trong câu nói trên, Chúa Giêsu đã dùng một hình ảnh quen thuộc của nghề nông. Hay nói rõ hơn, đó là việc đong lúa : những kẻ gian lận hoặc keo kiệt thì dùng loại đấu thiếu, chẳng những thế, khi đong thì đong vội đong vàng để lúa chưa kịp lóng xuống mà đấu đã đầy tới miệng. Còn người công bình và rộng lượng thì dùng đấu chính xác, lại còn dằn, còn lắc để lúa trong đấu càng nhiều càng tốt.
Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh ấy để khuyến khích chúng ta đối xử rộng lượng. Nếu chúng ta đối xử rộng lượng với người khác thì bãn thân chúng ta sẽ được Thiên Chúa đối xử rộng lượng gấp bội.
Một tù nhân kể lại rằng : một người trong trại mà ông lấy làm sung sướng nhất mỗi khi được gặp, đó là anh đầu bếp. Khi tới giờ ăn, mỗi tù nhân bưng một cái tô, xếp hàng tới lãnh cháo nơi những anh đầu bếp, hễ gặp người nào mà họ có cảm tình, thì họ sẽ múc cho một tô đầy, còn người nào mà hắn không ưa, thì hắn chỉ múc cho có lưng tô mà thôi. Riêng anh đầu bếp này thì chẳng cần nhìn mặt ai cả, bởi vì ai đưa tô ra, anh cũng đều múc cho đầy.
Tại sao anh đầu bếp này lại làm như thế ? Người tù không biết, nhưng chúng ta có thể đoán ra rằng anh đầu bếp này cũng là một tù nhân, trước khai cũng đã phải bưng tô chờ các đầu bếp múc cháo. Một số lần bị múc cho có nửa tô và một số lần được múc cho đầy tô. Nay anh được làm đầu bếp và được trao trách nhiệm múc cho người khác. Anh đã làm theo lời Chúa Giêsu nói : anh em muốn người ta làm gì cho mình,thì hãy làm cho người ta như vậy.
Chúng ta càng mở rộng cửa lòng cho người khác, thì lòng chúng ta càng được mở rộng để đón nhận những ơn ban của Thiên Chúa. Cái đấu chúng ta dùng để đong cho người khác cũng chính là cái đầu Chúa sẽ dùng để đong lại cho chúng ta.

 

TN7-C10. YÊU CẢ KẺ THÙ MÌNH- Lm. Phạm Thanh Liêm

Sự khôn ngoan đích thực được thể hiện không chủ yếu bằng lời nói nhưng bằng cách sống trong: TN7-C10

Sự khôn ngoan đích thực được thể hiện không chủ yếu bằng lời nói nhưng bằng cách sống trong đời sống thường ngày của mỗi người.
Yêu kẻ ghét mình
Đavid bị vua Saul thù ghét, săn đuổi để giết, nhưng Đavid vẫn sống theo Luật Chúa, không hại kẻ Thiên Chúa xức dầu phong vương khi có thể làm điều đó. Dưới cái nhìn nhân loại, Đavid đã hành xử dại dột, bỏ mất một cơ may “nghìn năm một thuở” để khử trừ kẻ thù mình, nhưng Đavid đã chọn Thiên Chúa, không chọn lợi ích trước mắt theo con người. Giữ luật Chúa, là yêu người, và yêu kẻ thù ghét mình.
Chúa Yêsu trong tin mừng theo thánh Luca hôm nay đã dạy: “yêu kẻ thù ngươi, làm điều tốt cho kẻ ghét ngươi, chúc lành cho kẻ nguyền rủa ngươi, cầu nguyện cho kẻ ngược đãi ngươi… Cho kẻ xin ngươi, đừng đòi lại điều người ta lấy của ngươi, làm cho người khác điều ngươi muốn người khác làm cho mình… Đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán, không kết án thì sẽ không bị kết án. Tha thứ thì sẽ được tha thứ. Cho thì sẽ được tặng lại… Hãy thương xót như Thiên Chúa Cha là Đấng thương xót”. Nếu mỗi người sống theo những điều Chúa dạy trên, người đó sẽ sống bình an hạnh phúc.
Đức Yêsu là người đã sống trọn vẹn điều Ngài đã dạy. Những người thù ghét Ngài, tìm cách làm hại Ngài, hành hạ Ngài, giết Ngài, Ngài vẫn yêu thương. Trên thập giá Ngài vẫn xin Chúa Cha tha thứ cho họ. Ngài chỉ biết yêu mà thôi.
Không dễ để yêu kẻ ghét mình
Làm sao có thể yêu được kẻ thù ghét mình, luôn nói xấu mình, luôn tìm cách làm hại mình? Nội chuyện nhìn thấy mặt người đó, mình đã cảm thấy khó chịu, làm sao nói đến chuyện yêu người đó, thích người đó?
Yêu có nhiều mức độ, chẳng hạn không ao ước những điều chẳng lành cho họ, không muốn làm hại họ, muốn điều tốt lành cho họ. Về cảm tính, có thể mình không dễ dàng để cười hoặc nói chuyện với họ, nhưng nếu mình cố gắng vượt qua chính mình để nói hoặc cười, là mình đang “yêu” họ đó. Tình yêu không chủ yếu hệ tại cảm tính nhưng do lý trí. Chẳng hạn trong nghi thức bí tích hôn phối, vị đại diện Hội Thánh không điều tra “anh chị có yêu nhau không?”, nhưng “anh chị có tự do không?”, và lời thề hứa không là “yêu nhau” nhưng “sẵn sàng nhận X (hoặc Y) làm chồng (hoặc vợ), và hứa sẽ giữ lòng chung thủy lúc gian nan cũng như lúc thịnh vượng, để yêu thương và tôn trọng suốt đời”. Yêu thương và tôn trọng ở đây được hiểu như hành vi của lý trí và ý muốn, chứ không phải của cảm tính. Nói như vậy không muốn phủ nhận khía cạnh cảm tính, thân xác của tình yêu.
Con vật chỉ sống theo khuynh chiều của thể xác hay bản năng; con người sống theo lý trí. Sống theo lý trí, không là lừa dối mình, nhưng là sống theo ơn gọi làm người. Nếu lý trí thấy điều nào đó là đúng, là phải làm thì mới là người tốt, thì người ta phải sống theo điều đó dù mình thấy sợ, hay điều đó làm tổn hại về lợi ích vật chất của mình. Khi người ta có khunh chiều xác thịt, và lý trí thấy không được làm như vậy, vì như vậy là sai trái, thì người ta không được làm. Xin Chúa giúp mỗi người nhận ra lời mời gọi vươn lên làm con Chúa, và xin Chúa cho mỗi người có nghị lực để thực hiện những gì Thiên Chúa gợi lên trong tâm trí mình.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Yêu kẻ thù ghét mình, được gì và mất gì?
2. Tại sao Kitô giáo là đạo “yêu thương”?
3. Xin bạn liệt kê những câu Kinh Thánh nói về yêu thương.


 

TN7-C11. Cuộc Thảo Luận Tốt Về Kitô Giáo

Trong cuốn sách tựa đề "We Really Do Need Each Other" (Chúng Ta Rất Cần Nhau), một giáo: TN7-C11

Trong cuốn sách tựa đề "We Really Do Need Each Other" (Chúng Ta Rất Cần Nhau), một giáo sư về tôn giáo trình bày một cái nhìn cá nhân những điều mà Chúa Giêsu phán trong Phúc Âm:
Tôi không thể nào mà quên được một buổi chiều khi tôi trở về từ một cuộc tĩnh tâm ở trên núi Sierra. Tôi đang trên đường với khoảng 4 hoặc 5 chiếc xe trước tôi cũng đang xuống núi. Chúng tôi vừa lái vừa ngắm cảnh với tốc độ nhanh hơn khoảng chừng 1 hoặc 2 mile với tốc độc đã được ấn định cho đến khi một viên cảnh sát hú còi kêu chúng tôi dừng lại. Trong đám chúng tôi có năm người, và chúng tôi đều nghĩ rằng đây chỉ là một chuyện dở hơi. Trên sườn núi hiu quạnh này cách xa thành thị đến cả 50 miles, năm tài xế giận dữ và một viên cảnh sát trẻ. Chúng tôi phải đứng ở ngoài trời nóng như đốt, và tức tối bởi vì cái chuyện bất công mà viên cảnh sát đang làm. Khi tôi nhìn thấy viên cảnh sát trẻ đang viết ticket thì đồng thời tôi cũng nhận ra một điều là anh ta đang run. Nhìn kiểu điệu của anh ta tôi nhận ra ngay đây là 'lính mới', anh ta đang viết với bàn tay và đôi chân run run. Nhìn thấy anh ta mà sự phản ứng bực bội của tôi đã đổi hẳn. Không phải là bởi vì việc anh ta làm đúng, nhưng là bởi vì thái độ của tôi đối với anh ta đã thay đổi hẳn. Tôi nhìn anh ta không phải như là một kẻ thù, nhưng là một viên cảnh sát trẻ, mới ra nghề, hồi hộp run sợ khi bắt tay làm việc, và muốn làm việc đó cho đúng và mau để khỏi phải phiền phức gì hết.
Anh ta đứng đó, hồi hộp run sợ, tôi biết được cảm nghiệm của anh ta. Ở đằng sau lớp áo cảnh sát của anh chính là một con người sống động.
Đó là một điều tuyệt diệu. Tôi đã học được một vài điều quí giá trên con đường đó, một trong những cái đó chính là không một ai trên đời này là con người vô giá trị.
"Không một ai là người vô giá trị!" Đó là một trong những nguyên tắc chung chung về cách giao tế giữa con người với con người mà nó được bao bọc bằng một chiếc vòng Kitô giáo. Chúng ta thấy điều đó thật là hữu lý. Cũng giống như câu "Hãy yêu thương nhau" và "Yêu thương kẻ thù", đó là những câu nói mà chúng ta có thể chấp nhận được. Đó là điều mà chúng ta có thể dễ dàng chấp nhận, và bởi vì nó dễ dàng nên chúng ta lập đi lập lại mỗi ngày Chúa nhật. Nói một cách khác chúng ta có thể ghép những câu ở trên thành một câu, "Không một ai là người vô giá trị... Hãy yêu thương nhau... Hãy yêu thương anh em mình." Đó là một cách nói chuyện tốt của Kitô giáo.
Mỗi người chúng ta hôm nay đến đây với nhiều lý do. Tôi mong rằng một trong những lý do đó chính là các bạn đến đây để nghe lời Chúa nói với chúng ta qua Phúc Âm và bài giảng.
"Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em, và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại" (Lk 6:27-30).
Có phải vấn đề Đạo Chúa Kitô được chấp nhận một cách dễ dàng và trọn vẹn chăng? Nói một cách chung chung, mỗi người đang hiện diện trong nhà thờ này là những Kitô hữu tốt và trung thành. Thế nhưng, cũng phải thú nhận là nhiều lần chúng ta vô nhà thờ, ngồi đó bắt chân chéo, nghe Lời Chúa với những chia trí, nhưng không biết đón nhận để đem ra thực hành.
Các bạn tự hỏi mình xem các bạn có phải là những người lắng nghe Lời Chúa theo thói quen hay không? Có phải có cái gì đó ngăn trở các bạn làm cho các bạn không nhận ra giá trị của người khác? Có phải cuộc sống Kitô hữu của các bạn theo thói quen của các bạn thôi chăng?
"Chúa Giêsu yêu tất cả mọi người." Đó là câu truyện tốt về Kitô giáo. "Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em..." Theo bạn, có phải Lời Chúa trong thời gian khó khăn này không còn tác dụng nữa chăng? Hay đó là bằng chứng cho chúng ta thấy rằng chúng ta đã không cố gắng để thi hành Lời Chúa?
Đa số chúng ta mong muốn sống bằng tình yêu, nhưng chỉ một đôi lúc nào đó thôi. Đa số chúng ta còn chưa hết lòng tin rằng tình yêu sẽ tác dụng trên người khác, trừ những người nào yêu thương chúng ta chẳng hạn vợ, chồng, con cái, cha mẹ, hoặc là bạn bè. Đa số chúng ta còn chưa hết lòng nhìn thấy tất cả vũ trụ là chương trình của tình yêu. Đa số chúng ta còn chưa thấy bản nhạc của tình yêu trên thế giới một cách hoàn toàn.
Đây là Chúa Giêsu Kitô, Tình Yêu nhập thể, đã đến để chỉ cho chúng ta: Tình yêu với một mấy chiếc bánh và vài con cá đã nuôi cả hàng ngàn người; tình yêu chữa lành người phong cùi; ban ánh sáng cho kẻ bị mù lòa; ban lại sự sống cho kẻ đã chết. Tất cả là việc làm của Tình Yêu.

 

TN7-C12. CHI TIẾT HAY - Nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay

Đoạn Tin Mừng này nới rộng bài giảng các mối phúc thật và các mối họa tiếp theo tuần trước: TN7-C12

Đoạn Tin Mừng này nới rộng bài giảng các mối phúc thật và các mối họa tiếp theo tuần trước (6:20-26). Đây là một cách thực tiễn hóa bài giảng nàỷ
(c.27) Sứ điệp của Đức Giêsu nhắm vào các môn đệ và những người môn đệ dự bị, những người nghe Chúa giảng thuộc về giới khá giả vì họ mặc hai áo trong và ngoài (c.29), là mục tiêu cho người ăn xin và người ăn trộm, có tiền của để cho mượn (cc.34-25).
"Thương yêu kẻ thù" đi từ thái độ (thương yêu c.27), tới ngôn ngữ (chúc lành, cầu nguyện c.28), rồi sau đó tới hành động (đưa má bên kia, áo trong c.29). Đó là một tiến trình của yêu thương thật sự
(c.31) Giá trị đạo đức học của luật "khuôn vàng thước ngọc" là sự đáp trả, thường được chia ra làm ba loại: đáp trả sẵn lòng là sự chia sẻ của cải mà không cần đền đáp tiêu biểu trong liên hệ gia đình, đáp trả đồng đều là sự trao đổi dựa trên căn bản hổ tương va có lợi cho cả đôi bên thông thường trong mối liên hệ láng giềng, và đáp trả vô ơn khi người này lợi dụng người kia tiêu biểu trong sự liên hệ với người xa lạ. Luật "khuôn vàng thước ngọc" của Chúa Giêsu là biến đổi đáp trả vô ơn và đáp trả đồng đều tới đáp trả sẵn lòng.
Phúc Âm theo Luca và Matthêu có nhiều điểm hơi khác nhau về đoạn kinh thánh nàỷ
- (c.31) Mt 7:12 thêm vào "đây là luật Mosê và lời các ngôn sứ". Theo Luca ngôn sứ đích thật chính là Đức Giêsu (Lc 24:27,44).
- (c.32) Mt 5:46 so sánh với người thu thuế thay vì người tội lỗi. Có lẽ Luca tránh dùng ấn tượng của một tầng lớp người bị công kích trong xã hội Do Thái thời đó.
- (c.36) Mt 5:48 dùng "toàn thiện" thay vì "nhân từ". Toàn thiện trong Matthêu là một tiếng trong luật còn nhân từ trong Luca là một trạng thái của tâm hồn.
Luca diễn tả sứ điệp của Đức Giêsu dể hiểu cho dân ngoại hơn là Matthêu.
(c.38) "Đầy tràn vạt áo" diễn tả hình ảnh món quà tràn đầy của Chúa khi mọi người chia sẻ những gì mình sở hữu.
Một Điểm Chính
Món quà lớn lao khi yêu thương kẻ thù là được làm con Đấng Tối, người đã yêu thương chúng ta không điều kiện, không đòi hỏi đáp trả.
Suy Niệm
Bạn có nghĩ lời dạy yêu thương của Đức Giêsu hơi thụ động chăng? Đưa má bên kia, cởi cả áo trong? Bạn có bao giờ dùng cách này để giải quyết những bất đồng? Kết quả ra sao?
Hãy nghĩ về một kẻ thù của bạn, tại sao người này trở thành kẻ thù? Lỗi của ai? Đâu là kẻ thù đích thực? Bạn có thể làm hòa và cầu nguyện cho người này không?

 

TN7-C13. Hãy Yêu Kẻ Thù

Suy Niệm
 

Khi đọc lời nhắn nhủ trên đây của Đức Giêsu, chúng ta thường thấy đó là chuyện không thể làm: TN7-C13

Khi đọc lời nhắn nhủ trên đây của Đức Giêsu, chúng ta thường thấy đó là chuyện không thể làm nổi, hay nếu làm được, ắt sẽ sinh ra những hậu quả tồi tệ.
Chắc chắn Đức Giêsu không dạy ta bao che cho kẻ ác, hay đòi hủy bỏ luật hình sự để phạt các phạm nhân.
Ngài không cổ vũ việc ăn xin khi nói: "Ai xin, con hãy cho." Ngài cũng không biến chúng ta thành người bạc nhược.
Bài Tin Mừng hôm nay là một viên ngọc, vì nó cho thấy nét đặc trưng của người Kitô hữu. Nó vén mở một lý tưởng mà ta phải vươn tới.
Chúng ta cần vượt lên trên nghĩa đen của mặt chữ để cảm được tinh thần mà Chúa muốn ta sống. Không sống lời Ngài, ta vẫn là kẻ đứng ngoài Kitô giáo.
"Hãy yêu kẻ thù": câu này được nhắc lại hai lần.
Theo bài Tin Mừng này thì kẻ thù của tôi là ai? Đó là kẻ ghét tôi, kẻ nguyền rủa tôi và vu khống. Đó là kẻ tát vào mặt tôi và đoạt áo ngoài của tôi.
Như thế kẻ thù tôi chẳng đâu xa, ngày ngày tôi vẫn gặp. Họ là những người hay làm phiền và lợi dụng tôi, là những kẻ xúc phạm đến danh dự và quyền lợi của tôi. Họ là những người tự nhiên tôi không ưa, hay không ưa tôi.
Đức Giêsu không đòi tôi yêu kẻ thù như yêu người thân: về mặt tình cảm, chuyện đó khó thực hiện. Nhưng Ngài mời tôi yêu bằng hành động.
Yêu là làm ơn, là chúc lành, là cho vay. Yêu là cầu nguyện điều lành cho kẻ thù (cc. 27-28).
Khi làm điều tốt cho kẻ thù, tôi được giải phóng khỏi cái tôi ăn miếng trả miếng, và nhờ đó chính kẻ thù tôi cũng có thể được giải phóng khỏi cái tôi ích kỷ của họ.
Khi yêu kẻ thù bằng những hành động tử tế, tôi không còn coi họ là kẻ thù của tôi nữa. Dần dần, tình cảm của tôi đối với họ cũng biến đổi.
Cần can đảm biết bao khi chào hỏi, bắt tay một người làm tôi vô cùng đau khổ. Đó chẳng phải là một hành động giả hình, nhưng là một nỗ lực thắng vượt tình cảm tự nhiên. Đó chẳng phải là một hành vi của kẻ yếu, nhưng là dấu hiệu của tính quả cảm anh hùng.
Kitô hữu được mời gọi vượt lên trên cái tự nhiên. Suy nghĩ tự nhiên, tình cảm tự nhiên, phản ứng tự nhiên... Phải ra khỏi cái tự nhiên, thường tình, mới vào được thế giới siêu nhiên, thế giới của những người con, sống nhân hậu như Cha.
Sống nhân hậu như Cha là trở nên hoàn thiện.
Thế giới văn minh không chỉ nhờ tiến bộ của khoa học, nhưng chủ yếu nhờ những chiến thắng trên lòng ích kỷ của từng người cũng như của mọi tập thể lớn nhỏ. Trái đất chỉ tồn tại nhờ tha thứ yêu thương.
Kitô giáo chỉ sống còn nhờ yêu thương tha thứ.
Gợi Ý Chia Sẻ
Làm điều tốt cho kẻ thù, bạn có kinh nghiệm về điều này chưa? Bạn có khi nào chinh phục được một người nhờ yêu mến họ không?
Theo ý bạn, tại sao lại không nên xét đoán người khác? Dựa vào hành động bên ngoài, chúng ta có thể xét đoán lòng dạ một con người không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa, xin cho con quả tim của Chúa.
Xin cho con đừng khép lại trên chính mình, nhưng xin cho quả tim con quảng đại như Chúa vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thường để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ.
Xin cho con vượt qua mọi hờn oán nhỏ nhen, mọi trả thù ti tiện.
Xin cho con cứ luôn bình an, trong sáng, không một biến cố nào làm xáo trộn, không một đam mê nào khuấy động hồn con.
Xin cho con đừng quá vui khi thành công, cũng đừng quá bối rối khi gặp lời chỉ trích.
Xin cho quả tim con đủ lớn để yêu người con không ưa.
Xin cho vòng tay con luôn rộng mở để có thể ôm cả những người thù ghét con.


 

TN7-C14. Tinh thần công bằng và yêu thương của Kitô giáo - JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Giới bụi đời, dân giang hồ chủ trương «ân đền oán trả», đó có phải là luật công bằng không: TN7-C14

1. Giới bụi đời, dân giang hồ chủ trương «ân đền oán trả», đó có phải là luật công bằng không? luật này có tốt không? Ta đã sống khá hoàn hảo luật này chưa?
2. Sự công bằng mà Đức Giêsu chủ trương, có phải là công bằng kiểu «ân đền oán trả» không? hay Ngài chủ trương không công bằng? Thứ công bằng của Ngài là công bằng gì?
Suy tư gợi ý:
Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy Đức Giêsu đưa ra hai cách hành xử: một là hành xử dựa trên luật công bằng không tình thương của phường tội lỗi, và hai là hành xử dựa trên luật yêu thương của người môn đệ Chúa.
1. Luật công bằng thiếu tình thương của phường tội lỗi
Theo Đức Giêsu, cách hành xử thường tình của những người thu thuế hay phường tội lỗi là «yêu thương kẻ yêu thương mình», «làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình», «cho vay để được trả lại sòng phẳng». Như vậy, dù là người tội lỗi, họ vẫn chủ trương luật công bằng, sòng phẳng, trong cả chuyện yêu thương, nghĩa là ai yêu thương mình, thì mình phải yêu thương lại người ấy. Vì thế, họ chỉ yêu thương người thân hay bạn bè mình mà thôi, vì yêu những người ấy thì họ sẽ được yêu lại. Họ đòi hỏi: «Có qua có lại mới toại lòng nhau».
Một cách tương tự, giới giang hồ, bụi đời ở khắp nơi đều chủ trương «ân đền, oán trả». Mang ơn ai, thì họ nhất quyết phải biết ơn và đền ơn người ấy. Họ gây oán hay làm thiệt hại ai, thì theo luật giang hồ, họ sẵn sàng bồi thường cho người ấy. Còn ai gây oán hay gây bất công cho họ, thì họ cũng sẵn sàng trả thù, nghĩa là phải tạo thiệt hại trở lại một cách tương xứng cho kẻ đã gây thiệt hại cho mình. Họ chủ trương không khác gì luật Cựu ước: «Mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, vết bỏng đền vết bỏng, vết bầm đền vết bầm, vết thương đền vết thương» (Xh 21,24).
Theo Đức Giêsu, phường tội lỗi hay gian ác đều hành xử như thế. Nếu ta cũng hành xử như thế thì ta có hơn gì họ đâu? Còn nếu ta gây bất công, làm thiệt hại người khác mà không đền bù, sống thiếu công bằng (cho dù là thứ công bằng không tình thương), v.v… thì ta còn xấu xa và tệ hại hơn họ nữa. Hạng người tội lỗi mà còn tôn trọng luật công bằng, nếu ta không tôn trọng luật ấy thì ta thật không đáng được gọi là Kitô hữu, là người theo Chúa. Thế mà khá nhiều người lỗi luật công bằng hằng ngày nhưng vẫn vỗ ngực tự hào mình theo Chúa, mình là môn đệ Chúa!
2. Luật công bằng và yêu thương của người Kitô hữu
Là người Kitô hữu, là môn đệ Đức Giêsu, nếu ta tự cho rằng mình không thuộc hạng người tội lỗi, thì ít ra ta cũng phải giữ được khá hoàn chỉnh những luật mà chính hạng tội lỗi cũng tôn trọng, đó là luật công bằng. Luật công bằng là luật tối thiểu, là luật nền tảng trong xã hội mà chính người xấu cũng chủ trương phải tuân giữ, huống gì những người tự cho mình là tốt.
Nhưng người Kitô hữu không thể tự hài lòng khi mình chỉ giữ được những luật tối thiểu ấy. Đức Giêsu mời gọi những kẻ theo Ngài phải đi xa hơn sự công bằng đó, vì nếu không đi xa hơn thì ta có hơn gì hạng tội lỗi, vì chính họ cũng chủ trương sự công bằng và có thể thực hiện được sự công bằng ấy. Nhưng cho dù có chủ trương và thực hiện được luật ấy, họ vẫn bị liệt vào hàng tội lỗi.
Theo lập luận của Đức Giêsu, nếu ta chỉ giúp đỡ những người mà ta biết họ sẽ giúp đỡ lại ta, chỉ cho vay những ai ta nghĩ là sẽ hoàn trả lại ta, còn nếu cho ai vay mà người ấy không trả được thì ta bực tức, nói xấu, dùng đủ mọi biện pháp để đòi cho bằng được, bất chấp họ bị kẹt, v.v… nếu chỉ hành xử được như thế thì ta tốt hơn hạng tầm thường hay tội lỗi ở chỗ nào? Vì kẻ tầm thường và tội lỗi cũng hành xử y như thế!
Điều quan trọng mà người Kitô hữu - tức những người theo Chúa - phải làm là có tình thương đích thực. Tình thương luôn luôn vượt khỏi sự công bằng thường tình. Nghĩa là: để là một Kitô hữu đích thực, thì một đằng phải luôn giữ luật công bằng một cách hoàn hảo đối với người khác, một đằng phải thực hiện tình thương. Tình thương khiến chúng ta không đòi hỏi những người nghèo khó hơn, những người lâm cảnh khó khăn hơn mình phải giữ sự công bằng như thế đối với mình. Nghĩa là «hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả». Không đòi hỏi như thế không phải là không công bằng, mà là thực hành một thứ công bằng cao hơn: công bằng có tình thương.
3. Công bằng có tình thương
Công bằng có tình thương khác với thứ công bằng máy móc, là công bằng thiếu tình thương. Thứ công bằng có tình thương là thứ công bằng mà ta vẫn áp dụng trong nội bộ gia đình chúng ta. Trong gia đình, chúng ta có thể tốn rất nhiều tiền cho đứa con tàng tật, tốn cho nó hơn tất cả mọi người khác - vì tiền thuốc thang, vì phải ăn uống cách đặc biệt - đang khi chính nó không làm ra tiền và cũng chẳng làm được gì. Những cha mẹ có tình thương đích thực sẽ thương những đứa con tàn tật hoặc hư đốn một cách đặc biệt và sẵn sàng hy sinh cho chúng nhiều hơn những đứa con khác. Đó chính là công bằng có tình thương, thứ công bằng «làm theo khả năng, nhưng hưởng thụ theo nhu cầu».
Phân phát của cải cho người giầu và người nghèo, người cần ít và người cần nhiều, theo cùng một tiêu chuẩn như nhau, thì đúng là công bằng, nhưng là một thứ công bằng thiếu tình thương, và một cách nào đó không hợp lý. Người giầu mà đòi người nghèo cũng phải sòng phẳng với mình trong vấn đề vật chất tiền bạc, thì đúng là theo luật công bằng, nhưng không phải là thứ công bằng mà Đức Giêsu chủ trương. Ngài chủ trương: «Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại. Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy».
Có những chế độ xã hội chủ trương thứ công bằng này - là «làm theo khả năng, nhưng hưởng thụ theo nhu cầu» - nhưng không thực hiện nổi. Chính Đức Giêsu Chúa chúng ta cũng chủ trương thứ công bằng này khi tuyên bố: «Khi đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế bạn mới thật có phúc» (Lc 14,13-14). Vì thế, đây là thách đố đối với người Kitô hữu. Nếu chúng ta không thực hiện nổi thứ công bằng này trong đời sống chúng ta - ít nhất là giữa Kitô hữu với nhau, hay ít hơn nữa là giữa đám thân nhân bạn bè thân quen của mình - thì một cách nào đó, chúng ta đang chứng tỏ điều Đức Giêsu chủ trương cũng không tưởng như chủ trương của những chế độ xã hội không tưởng kia.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, con vẫn tự hào mình là Kitô hữu, nhưng rất nhiều khi con lại chủ trương và ủng hộ một thứ công bằng không tình thương. Xin cho con một trái tim bằng thịt biết yêu thương, để con sống công bằng với mọi người, nhưng là thứ công bằng có tình thương, thứ công bằng mà Đức Giêsu chủ trương như trong bài Tin Mừng hôm nay. Amen.

 

TN7-C15. Yêu thương kẻ thù - Lm. Nguyễn Hưng Lợi

Một trong những huấn lệnh quan trọng nhất và tuyệt vời nhất của Chúa Giêsu là yêu thương: TN7-C15

Một trong những huấn lệnh quan trọng nhất và tuyệt vời nhất của Chúa Giêsu là yêu thương thù địch. Đây là một giới luật xem ra nghịch với sự suy nghĩ và quan niệm của con người muôn thế hệ. Sống yêu thương là gặp Chúa vỉ Chúa là tình yêu. Sống hận thù là chối bỏ Đức Kitô. Môn đệ của Đức Giêsu không thể sống con đường nào khác là thể hiện lòng yêu thương.
SỨ ĐIỆP TIN MỪNG :
Chúa Giêsu đến trần gian không để thiết lập một mớ những nguyên tắc, một hệ thống luân lý hầu bóp nghẹt dân chúng. Chúa đến trước hết là vén mở tình yêu của Thiên Chúa và đưa con người vào mối quan hệ tình yêu với Chúa Giêsu. Con người được tạo dựng theo hình ảnh Chúa, nên họ cũng phải họa lại lối sống của Chúa. Yêu như Chúa, sống như Chúa, đó là con đường của Chúa đã vạch ra cho con người, cho nhân loại. Qua cuộc sống của Chúa, cách Ngài giao tế, tiếp xúc, cách Ngài đối xử với tha nhân, con người sẽ nhận ra được hình ảnh của Thiên Chúa tình yêu. Với cái chết của Chúa trên thập giá, Chúa Giêsu đã tỏ ra cho nhân loại thấy được tình yêu của Thiên Chúa Cha. Yêu như Chúa Giêsu có nghĩa là từ bỏ, trao ban và sẵn sàng hy sinh mạng sống vì người mình yêu:” Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu”( Ga 15, 13 ). Do đó, yêu như Thiên chúa yêu là yêu tất cả mọi người, không phân biệt, không loại trừ, yêu ngay cả kẻ thù của mình.
NHÂN LOẠI PHẢI SỐNG VÀ YÊU NHƯ CHÚA GIÊSU:
Chúa Giêsu đã nâng sự yêu thương lên một bình diện cao hơn, mới hơn. Theo bài đọc I trích từ sách Samuen cho thấy, Đavít không khử trừ Saun, mặc dầu Saun đang ngủ và đây là cơ hội ngàn vàng để Đavít có thể loại trừ Saun:” Đừng giết vua, vì có ai đưa tay hại người Chúa đã xức dầu mà không bị phạt”. Ở đây, ta vẫn thấy còn có ranh giới của yêu thương và sự tha thứ. Và bài Tin Mừng của Luca trích đọc hôm nay đưa nhân loại có cái nhìn rộng và sâu hơn, một giới luật yêu thương thật mới mẻ, tuyệt hảo” yêu thương và làm ơn cho kẻ thù”. Chính cái chết trên thập giá của Chúa Giêsu là lời chứng hùng hồn nhất về lòng yêu thương tuyệt đối của Chúa đối với nhân loại, đối với mọi người không phân biệt bất cứ ai, không loại trừ bất cứ người nào. Chóp đỉnh của yêu thương của Chúa Giêsu là chính lúc Ngài giang tay ra trên thập giá mà vẫn thưa với Cha mình:” Lạy Cha ! xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”. Chúa Giêsu muốn dậy chúng ta phải sống như Ngài, phải yêu như Ngài vì Ngài không bao giờ chỉ nói ngoài môi miệng mà không thực hành điều Ngài nói, Ngài đã chấp nhận cho kẻ dữ đóng đinh, nhưng lại cũng chính Ngài tha thứ cho những người làm hại mình, giết mình.
HÃY THA THỨ NHƯ CHÚA ĐÃ THA THỨ :
Chúa Giêsu quả thực đã làm gương cho nhân loại bằng chính con người yêu thương của mình. Ngài đã tha thứ cho những kẻ làm khổ, đánh đập, lên án và đóng đinh Ngài. Chúa đã sống trọn vẹn tình yêu xả kỷ của Ngài đối với nhân loại, đối với con người. Chúa mời gọi con người hãy yêu thương và tha thứ không ngừng như Phêrô đã hỏi Chúa:” Thưa Thầy, nếu anh em con xúc phạm đến con, con phải tha thứ mấy lần ? Chúa trả lời:” bảy mươi lần bảy “. Bảy mươi lần bảy có nghĩa là tha thứ và tha thứ luôn luôn, tha thứ không ngừng, không giới hạn. Chỉ có lòng tha thứ, con người mới thực sự trở nên nhân chứng sống động của tình yêu Thiên chúa đối với mọi người. Qua hành động tha thứ của Chúa Giêsu, Ngài khẳng định Ngài không bao giờ thỏa hiệp với cái xấu, Ngài loại trừ cái ác, sự dữ ra khỏi thế gian, ra khỏi con người.
GỢI Ý CHIA SẺ:
1. Tại sao Chúa Giêsu lại nói:” yêu thương và làm ơn cho kẻ thù” ?
2. Hành động nào của Chúa Giêsu nói lên tình yêu tuyệt đối của Ngài ?
3. Tha thứ như Chúa Giêsu là làm sao ?


 

TN7-C16. CHÚC LÀNH CHO KẺ NGUYỀN RỦA

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn
 

Thánh sử Luca tiếp tục trình bày cho chúng ta về loạt bài giáo huấn của Chúa Giêsu nơi đồng: TN7-C16

Thánh sử Luca tiếp tục trình bày cho chúng ta về loạt bài giáo huấn của Chúa Giêsu nơi đồng bằng. Sau khi đã trình bày các mối phúc/mối hoạ để tiên báo về những phúc lành cho những ai sống cảnh đời khiêm hạ, lấy Chúa làm gia nghiệp; đồng thời cũng cảnh tỉnh cho những kẻ chỉ biết lo thú vui hiện tại mà quên hạnh phúc mai sau trường cửu. Giờ đây, trong giáo huấn của mình, Chúa Giêsu muốn gửi đến các môn đệ và dân chúng một chủ đề có thể nói là đặc trưng riêng của Kytô giáo: Thước đo tình yêu của người môn đệ Chúa Kytô chính là thực thi lòng bác ái, khoan dung và tha thứ cách vô vị lợi, không chấp nhất, không loại trừ.
Hãy xem Chúa Giêsu trình bày những đòi hỏi cơ bản của một tình yêu không loại trừ là gì: “Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em”. Với những lời trên đây, chúng ta sẽ cảm nhận nó thật tuyệt vời, thật chí lý khi và chỉ khi cuộc đời của chúng ta ngập tràn niềm vui và hạnh phúc; khi gia đình, con cái, địa vị xã hội,… của chúng ta luôn ở trong gam màu hồng rực sáng, không mảy may u buồn đau khổ. Thế nhưng, cũng với những lời này khi chúng ta gặp phải những trắc trở trong cuộc đời, bị những người thân yêu, bè bạn xúc phạm chửi rủa, vu khống,… thì ôi thôi, xem ra lời Chúa Giêsu sao mà khó nghe quá, sao mà phi lý quá đổi, vân vân và vân vân…
Thật ra, kiểu luận lý này không có gì trái với quy luật tâm lý thông thường “mắt đền mắt, răng đền răng” của con người. Tuy nhiên, chúng ta cần phải chân nhận rằng, cái độc đáo và tuyệt vời nhất trong giáo huấn của Chúa Giêsu là ở chỗ Ngài đề nghị một phương thế để có thể trở thành “con cái của Đấng tối cao”, xứng đáng lãnh phần thưởng lớn lao sau này là hãy yêu thương kẻ thù, chúc lành cho kẻ nguyền rủa, cầu nguyện cho kẻ vu khống- điều mà bất cứ ai dù tâm hồn có cao thượng, có lương tri nhất cũng không thể nghĩ ra. Đây chính là nền giáo huấn mới siêu việt nhất không đến từ phía con người mà xuất phát từ chính Thiên Chúa. Thật vậy, con người làm sao có thể nghĩ ra một thứ tình yêu “điên rồ” kia, ngược lại hoàn toàn với lối cư xử và suy nghĩ của con người. Vâng, chỉ có Thiên Chúa, chỉ có Chúa Kytô - Đấng vốn dĩ là Thiên Chúa, mặc lấy xác phàm nhân loại, đến sống với nhân loại mới dám đưa thứ tình yêu “chết người, điên rồ” kia gieo vào lòng nhân loại để nhờ đó, biết bao người qua lời giáo huấn này, họ cảm nhận được một niềm vui khôn tả, một thứ hạnh phúc chỉ đến từ trời cao khi đem lời giáo huấn của Chúa Giêsu đi vào trong cuộc sống của họ, trong số đó không thiếu những người ngoài Kytô giáo như Mahatma Gandhi - một người chủ trương bất bạo động, ở An Độ chẳng hạn.
Hơn lúc nào hết, người Kytô hữu cần phải làm cho lời Chúa sinh hoa kết trái vì chính chúng ta - qua phép rửa, được trở nên con cái của Thiên Chúa, được mời gọi đến hưởng hạnh phúc, đến lãnh nhận phần thưởng nước trời sau khi đã trải nghiệm lời giáo huấn của Chúa Giêsu. Ước mong lời Chúa hôm nay được mỗi người chúng ta đem ra thực hành trong môi trường sống của mình để nhờ đó, giáo huấn về lòng yêu thương, bao dung và tha thứ vô vị lợi mà Chúa Giêsu rao giảng cách đây hơn 2000 năm mãi mãi vang vọng trên toàn thế giới.

 

TN7-C17. Hãy đối xử nhân từ - Lm Trần Bình Trọng

Theo khuynh hướng đổi chác tự nhiên của loài người, thì ai làm ơn cho mình, mình nên trả ơn: TN7-C17

Theo khuynh hướng đổi chác tự nhiên của loài người, thì ai làm ơn cho mình, mình nên trả ơn cho họ; ai ghét mình, mình phải ghét lại; ai chửi mình, mình phải chửi lại họ. Theo luật công bình cũng vậy. Luật công bình trong Cựu ước đòi: mắt đền mắt; răng đền răng. Điều đó có nghĩa là ai móc mắt mình, mình có quyền móc lại mắt họ, và ai bẻ gẫy răng mình, mình có quyền bẻ lại răng họ, Luật cônh bình trong xã hội hiện tại cũng vậy. Người phạm pháp phải bị kết án tuỳ theo tội nặng nhe họ đã phạm.
Vì thế mà lời Chúa dạy trong Phúc âm hôm nay phải yêu kẻ thù có thể trở thành đề tài cho người đời nhạo báng. Làm sao người ta có thể yêu kẻ thù? Ai lại nhu nhược đến nỗi theo lời Chúa dạy khi người khác vả má này, mình lại đưa cả má kia cho họ vả. Ai lại khờ dại đến nỗi khi người khác lấy áo ngoài, lại cho cả áo trong. Ai lại vô tư đến nỗi khi người khác lấy gì của mình, mình không đòi lại. Trong cái xã hội hưởng thụ và tranh sống, cái nguyên tắc yêu vô vị lợi của Chúa xem ra như là một giáo lý không tưởng, xa lạ với cuộc sống thực tế.
Chúa đến dạy ta luật từ bi, nhân hậu và bác ái thay vì luật báo thù báo oán. Nếu chỉ nghĩ đến chuyện tư lợi, trao đổi và đề đáp, thì đó là đổi chác và thương mại. Chúa nhận xét: Nếu anh em yêu những kẻ yêu thương mình,. . làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình,. . cho vay mà hi vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa, ngay cả người tội lỗi cũng làm như vậy (Lc 6:32-34). Và rồi Chúa bảo : Anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hi vọng được đền trả (Lc 6:35). Và Chúa bảo thêm: Anh em hãy có lòng nhân từ, … Anh em đừng xét đoán, … Anh em đừng lên án, … Anh em hãy tha thứ, … Anh em hãy cho, … (Lc 6:36-38).
Hôm nay ta cần nhận thức rằng xét đoán là quyền của Chúa, và chỉ có Chúa là Đấng phán xét công minh, vì Chúa thấu suốt tâm hồn của mỗi người. Khi ta đoạt lấy quyền xét đoán của Chúa, thì cái xét đoán của ta rất dễ bị sai lầm. Ngay cả tại tòa án dân sự, mặc dầu có luật sư biện hộ cho can phạm, chánh án và bồi thẩm đoàn cũng sai lầm. Theo hiệp hội tranh đấu cho tự do nhân quyền ở Hoa ky, thì từ năm 1900 tới 1992, có 25 người bị hành quyết oan, vì toà kết án lầm và 318 người bị tù cũng vì toà án lầm lẫn. Trước toà án lương tâm của mỗi người, biết bao lần ta cũng kết án người khác cách vô căn cớ. Tệ hơn nữa ta còn kết án người khác là xấu thay vì chỉ kết cái cái hành động xấu của họ. Hành động xấu của một người có thể chỉ xẩy ra một lần vì yếu đuối hay vì bệnh hoạn. Ta kết án người khác nhiều khi chỉ dựa trên một lời nói, một cử chỉ hay một hành động của họ, thay vì dựa trên toàn diện con người của họ và dựa trên tất cả các công việc làm của họ.
Nguyên tắc từ bi, nhân hậu, bác ái của Chúa dạy ta tránh việc phê bình, xét đoán. Tuy nhiên trong cuộc sống hằng ngày, ta vẫn phê bình, chỉ trích và xét đoán. Vậy có lẽ ta cần tìm ra cái căn nguyên cội rễ của việc tại sao có chuyện phê bình, xét đoán vô cớ. Tìm ra cái căn nguyên cội rễ của việc hay phê bình chỉ trích vá xét đoán vô căn cớ là bước khởi đầu cho việc chữa trị tính xét đoán. Sở dĩ người ta phê bình, chỉ trích, xét đoán có thể là để che đậy những cái chướng, những khuyết điểm và thất bại của mình để đánh lạc hướng người khác về mình. Và đó là một hình thức tự vệ.
Sống đức ái chân thực như lời Chúa phán là cái thước đo cái mối liên hệ của mỗi người với Chúa, thước đo mức độ đời sống thiêng liêng của mỗi người. Ta không thể trở nên môn đệ đích thực của Chúa, nếu giáo lý về đức ái chân thực của Chúa không ăn nhập gì đến cuộc sống hiện tại của mỗi người.

 

TN7-C18: ĐỊA ĐIỂM TRUYỀN GIÁO CHÊNH VÊNH Ở SƯỜN NÚI

Một địa điểm truyền giáo nằm chênh vênh trên sườn núi heo hút nơi cao nguyên Trung Hoa lục: TN7-C18

Một địa điểm truyền giáo nằm chênh vênh trên sườn núi heo hút nơi cao nguyên Trung Hoa lục địa. Đó là một điểm truyền giáo của các cha thừa sai Milanô, nước Italia.
Địa điểm truyền giáo này gồm một bệnh xá và một nhà mồ côi dành cho các em gái do các nữ tu Italia trông coi. Các linh mục thừa sai ít khi có mặt vì phải thường xuyên đi làm mục vụ ở xa. Do đó, các nữ tu đảm trách mọi việc không những liên quan tới bệnh nhân và các em mồ côi, nhưng còn nhiều việc khác nữa, như dạy giáo lý, tổ chức những giờ đọckinh. Đó là vào năm 1951, khi các thừa sai chưa bị trục xuất khỏi Trung Hoa.
Nghe Biết Về Các Nữ Tu
Nghe biết về lòng tốt của các nữ tu nên bệnh nhân nhiều nơi tìm đến bệnh xá để được các chị khám bệnh và phát thuốc. Riêng các bé gái được đưa tới viện mồ côi phần lớn chỉ vì cha mẹ quá nghèo không thể nuôi chúng được. Nhưng cũng có một số em bị bỏ rơi vì những lý do khác. Dù sao ở đây các em được lớn lên trong niềm tin vào Thiên Chúa quan phòng trong cụ thể dưới sự săn sóc tận tụy của các nữ tu. Ngoài giờ học chữ và học giáo lý, các em còn được dạy nghề đan, thêu và dệt.
Nếp sống trầm lặng của nhà mồ côi ở nơi hẻo lánh này không khác chi nếp sống của một đan viện, gồm có học hành, làm việc và cầu nguyện. Mỗi buổi chiều người ta đều nghe lời kinh vang lên từ cửa miệng các em mồ côi "Lạy Chúa Giêsu bé thơ, con yêu mến Chúa!"
Bỗng Xuất Hiện Toán Người Vũ Trang
Nhưng vào một buổi chiều mưa, tại nhà mồ côi bỗng xuất hiện một toán người đàn ông có vũ trang. Họ đứng nghênh ngang trước mặt các chị, súng cầm trong tay, miệng quát tháo: "Muốn sống thì đứng im!"
Đám người vũ trang này ăn mặc nửa dân sự nửa binh sĩ: chân mang giầy, bắp vế quấn vải, bên trong mặc aó gi-lê, bên ngoài choàng áo măng-tô, đầu đội mũ lưỡi trai. Các nữ tu thầm nghĩ "thôi lại bị cướp rồi!"
Tên chỉ huy ra lệnh cho đàn em trói các nữ tu lại. Thấy bọn cướp thô bạo dùng giây thừng trói các chị, các em mồ côi òa lên khóc rồi chạy lại nắm lấy áo dòng của các chị mà kêu "Chị ơi! Chị ơi!" Bọn cướp liền quát tháo và đẩy các em chúi xuống đất. Các em khiếp sợ chỉ còn biết chạy vào nhà thờ kêu lên cùng Chúa "Chúa Giêsu bé thơ ơi! Chúa Giêsu bé thơ ơi!"
"Mấy Lão Giám Mục Phải Trả Cho Tao Số Tiền Lớn"
Trong khi đó bọn cướp bắt đầu tra khảo các chị. Tên chỉ huy quát: "Các mụ là người Tây, phải không?" Các nữ tu trả lời: "Chúng tôi là người Italia." Tên cầm đầu cười đắc chí: "Hừ, tốt lắm. Phen này mấy lão Giám Mục phải trả cho chúng tao một khoản tiền lớn. Nếu không chịu, tao sẽ cắt cổ từng mụ một." Vừa nói hắn vừa cứa sống dao vào cổ một chị. Cả bọn cười hô hố. Kế đến là màn cướp phá viện mồ côi và bệnh viện.
Khi ấy có người đưa tin bệnh đậu mùa đang lan tràn ở vùng Latan, sào huyệt của đảng Hắc Long là đảng cướp cạn đã từng giết nhiều người. Tên đầu đảng bắt đàn em mở các thùng thuốc chúng vừa cướp được. Nhưng chúng thất vọng vì toàn là thuốc với nhãn hiệu Italia, chẳng ai đọc được! Hắn vừa vất mấy hộp thuốc vào thùng, vừa giận dữ lẩm bẩm: "Vô ích! Có gởi ba thứ quỉ này về cho đảng Hắc Long cũng chẳng ai biết sử dụng!" Ngừng một chút, hắn nói tiếp: "Phải kiếm cho ra một bác sĩ Tây Phương mới được."
"Hãy Đi Theo Cái Ông Chúa Bị Đóng Đinh Của Mụ"
Khi ấy chị Nga (Natalia), nữ tu trẻ nhất của địa điểm truyền giáo nói với tên chỉ huy "Tôi là y tá. Tôi biết các tên thuốc và cách dùng" Hắn nhìn chị Nga với cặp mắt nghi ngờ: "Mụ biết chữa bệnh đậu mùa đen à?" Trước câu hỏi vừa khiêu khích lại vừa khinh bạt, chị Nga điềm tĩnh trả lời: "Vâng, tôi biết." Hắn hỏi tiếp: "Vậy mụ có biết bệnh đậu mùa đen là bệnh giết người không?" Chị Nga trả lời: "Tôi biết chứ!" Hắn lại hỏi: "Thế mụ dám tình nguyện đến Latan sao?" Chị Nga dịu dàng trả lời: "Nếu ông muốn, tôi sẵn sàng đến cứu sống dân chúng vùng Latan." Hắn liền tươi nét mặt nhưng cũng vẫn ra bộ khinh bạt: "Được rồi, vậy mụ hãy đi theo cái ông Chúa bị đóng đinh của mụ đi."
Quả là giây phút cảm động khi chị Nga nhìn từng chị em có thể là lần chót: "Xin các chị cầu nguyện cho em, chúng ta hẹn gặp nhau trên trời!" Thấy tay mình còn bị trói, chị Nga nói với bọn cướp: "Xin các ông cởi trói cho tôi chứ!"
Đoàn người rời cứ điểm truyền giáo và xuống núi. Bóng dáng chị Nga nữ tu cứ xa dần rồi mất hút sau khúc đường dốc dưới nắng chiều của vùng cao nguyên Trung Quốc.
Câu chuyện nói trên tự nhiên làm cho ý nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay trở nên sống động. Lời Chúa Giêsu dậy các môn đệ xưa về yêu thương đối lại với thù ghét, chúc lành đối lại với nguyền rủa, v.v xem ra không còn là những lời trừu tượng. Lời đó nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Linh như đã mặc lấy xác phàm nơi một số nữ tu, đặc biệt là nơi chị Nga. Ngược lại, sự dữ cũng thấy nổi bật nơi bọn cướp, nhất là nơi tên làm đầu chúng. Điều lạ lùng là làm sao tên này đã có thể nói lên được mấu chốt sâu thẳm nhất không những của câu chuyện nhưng của trọn đời tu khi hắn nói với chị Nga còn bị trói tay rằng: "Vậy mụ hãy đi theo cái ông Chúa bị đóng đinh của mụ đi!"
Mấu Chốt Làm Sáng Tỏ Tin Mừng
Quả thật theo sát gót bước Chúa Giêsu chính là lý tưỏng của mọi Kitô hữu, tuy mỗi người mỗi cách khác nhau và các tu sĩ có cách riêng của tu sĩ trong việc theo chân Người. Dù sao, theo sát gót bước Chúa Giêsu chính là mấu chốt để làm sáng tỏ bài Tin Mừng hôm nay.
Bài Tin Mừng hôm nay chỉ là một đoạn của bài giảng khai trương về Nước của Thiên Chúa mà Đức Giêsu đến để thiết lập nơi bản thân Người. Nước đó không được thiết lập dựa vào lực lượng của binh hùng tướng mạnh nhưng dựa vào sức hấp dẫn của chính Thiên Chúa ngang qua người Con đã được Thiên Chúa tuyển chọn để ai nấy vâng nghe lời Người (Lc 9,35).
Hai chữ môn đệ (nguyên ngữ Hy Lạp mathetes) trong các sách Tin Mừng và Công Vụ không chỉ có nghĩa là học trò nhận lấy lời dạy của Thày. Ở đây phải hiểu là người có tương quan mật thiết hẳn với một bản vị. Một cách đích xác hơn, môn đệ là người được Đức Giêsu gọi, nên người đó bước theo Người (Lc 9,57-62). Và bước theo Đức Giêsu tức là bước vào Vương Quốc của Thiên Chúa đã có nơi bản thân Đức Giêsu. Vậy người môn đệ sẽ gắn bó với chính số phận, đặc biệt là với thập giá và vinh quang của Đức Giêsu.
Đám Đông Bước Theo Chúa Giêsu
Người môn đệ của Đức Giêsu phải vâng theo ý Thiên Chúa và sống gắn bó với Đức Giêsu tới mức hy sinh mạng sống mình vì yêu mến Người, như lời Người nói với đám đông đang bước theo Người rằng: "Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được (Lc 14,26). Thái độ vừa nói giả thiết người môn đệ của Đức luôn Giêsu phải khiêm nhường và nghèo khó theo điều kiện chính Người đã nêu là: "Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được." (Lc 14,27).
Yêu Kẻ Thù
Chính Đức Giêsu đã làm cho các mối phúc được sáng tỏ nơi cuộc sống và nhất là cuộc thương khó Người đã chịu:
- Người đã "yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét mình" (c.27). Người chịu "nhạo báng, đánh đập, xúc phạm" (Lc 22,63-65) chỉ vì yêu và muốn cứu chuộc những kẻ ngược đãi mình.
- Người đã "chúc lành" (c.28) cho những kẻ đóng đinh Người trên khổ hình thập giá bằng lời cầu: "Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm." (Lc 23,34).
- Ở chặng đường thánh giá thứ mười, Đức Giêsu đã sống theo nghĩa đen những điều Người dạy các môn đệ là: "Ai đoạt áo ngoài của anh thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin thì hãy cho. Ai lấy cái gì của anh thì đừng đòi lại." (cc.29-30).
Vậy khi chị Nga nữ tu hy sinh đi cứu sống bọn cướp Hắc Long là nạn nhân của bệnh đậu mùa đen, thì cũng chỉ là để theo sát gót bước Đức Giêsu, Đấng đã "yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét mình" (c.27) mà thôi.
Một số câu hỏi gợi ý
1. Bạn nghĩ điều gì nổi bật giữa việc Đức Giêsu hy sinh chịu chết cho những kẻ hãm hại Người và việc chị Nga hy sinh đi cứu sống những người thuộc bọn cướp? Sự kiện Đức Giêsu là Thiên Chúa mà hy sinh như vậy có làm cho giá trị của việc đó khác hẳn giá trị của việc chị Nga hy sinh chăng?
2. Bạn có biết tiểu sử một vị thánh nào, chẳng hạn như trong số 117 vị thánh Tử Đạo Việt Nam, đã hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên theo gương Chúa Giêsu?

 

TN7-C19: HÃY NHÂN TỪ NHƯ CHA CÁC CON LÀ ĐẤNG NHÂN TỪ...

Lm. Âu Quốc Thanh, CMC
Lk 6:27-38
 

Theo tờ báo Christian Digest, một người đàn bà làm việc từ thiện ở thành phố Luân Đôn gặp một : TN7-C19

Theo tờ báo Christian Digest, một người đàn bà làm việc từ thiện ở thành phố Luân Đôn gặp một cô gái giang hồ đang nằm la liệt trong một căn phòng trống, vắng lạnh. Như một người mẹ hiền, người đàn bà có đạo này tận tay chăm sóc cô gái từng miếng ăn hớp uống, giặt dũ nệm ra, đốt lửa, và làm cho bầu khí của căn phòng thêm ấm cúng và sáng sủa hơn.
Sau khi thu dọn xong, bà nói với cô gái: "Tôi có thể cùng cô cầu nguyện không?" Cô gái làng chơi lạnh lùng đáp: "Không! Bà đâu có thương tôi. Bà làm những việc đó để được về Thiên đàng thôi."
Nhiều ngày trôi qua, người đàn bà vẫn tận tình chăm sóc cô gái, và lòng cô gái vẫn cứ chát chúa, lạnh lùng. Rồi đến một ngày kia khi sức khỏe cô gái gần bình phục, bà khẽ nói với cô gái: "Này cô, cô sắp lành bệnh rồi, tôi sẽ không trở lại đây nữa. Vì là ngày cuối tôi xin phép được hôn cô một lần thôi." Và rồi đôi môi tinh khiết chỉ biết nói lời dịu ngọt và lời cầu nguyện đã chạm vào đôi môi bị hoen ố với những lời nguyền rủa và tình yêu bất chính. Và lòng cô gái đã mềm ra và bị chinh phục bởi lòng thương xót hầu như không bờ bến của người đàn bà ngoan đạo.
Người đàn bà trên có lẽ đã thực hiện đến mức thượng thặng những lời khuyên của Chúa Kitô trên đồi xưa: "Các con hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn cho những kẻ ghét mình, hãy cầu nguyện cho những kẻ vu khống mình . . . hãy cho vay mượn mà không trông báo đền . . . , hãy tha thứ . . . đừng xét đoán, đừng kết án . . . hãy ở nhân từ như Cha các con là Đấng nhân từ" (Lc 6:27-38).
Những lời khuyên trong bài giảng trên đồi dựa trên nguyên tắc "luật vàng" mà các vị lãnh đạo tinh thần vẫn rao giảng. Luật vàng ở dạng tiêu cực: "Đừng xét đoán để các con khỏi bị xét đoán." Luật vàng ở dạng tích cực: "Hãy tha thứ, thì các con sẽ được tha thứ." Vì thánh Luca chủ chương viết Sách Tin Mừng cho dân ngoại, những lời khuyên dựa trên nguyên tắc luật vàng sẽ dễ dàng được chấp nhận bởi lương dân. Một khi lương dân đã chấp nhận nguyên tắc luật vàng, họ được mời gọi để sống cách cao thượng hơn theo tinh thần của Chúa Kitô. Là môn đệ của Chúa Kitô, họ được mời gọi để "yêu cả kẻ thù, tha cho người ghét mình, và để cho người ta vả lẫn má bên kia." Sự mời gọi này không dựa trên nguyên tắc luật vàng, nhưng được đặt nền tảng khác là chính Thiên Chúa, Đấng vốn nhân hậu với những kẻ bội bạc và gian ác (Lc 6:35). Phần thưởng của những người thực thi lời huấn dụ này là sẽ được trở nên con cái của Thiên Chúa và sẽ lãnh nhận phần thưởng trọng hậu trong Nước Trời. Những người không tin có Thiên Chúa, không tin Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, không tin có đời sau, sẽ coi những lời khuyên trên là phi lý và dại dột.
Có lẽ người Việt Nam chúng ta phải cố gắng vượt bực mới có thể thực thi lời khuyên của Chúa Giêsu Kitô. Nước Việt Nam đã phải chiến đấu 1000 năm với Nước Hoa xâm lăng, 100 năm với ách đô hộ của Nước Pháp, và không biết bao nhiêu năm nữa với với chế độ Cộng Sản Vô Thần. Nhiều người dân Việt đã và đang mang những vết thương trầm trọng trên thân thể cũng như trong tâm hồn. Không biết đến bao giờ những vết thương đó mới có thể được chữa lành bằng sự tha thứ, cảm thông, và bác ái của Chúa Kitô? Với sức con người, có lẽ những vết thương đó sẽ không bao giờ lành. Nhưng với ơn Chúa và nỗ lực của mỗi người, dân Việt sẽ hưởng bình an thực sự.
Gương nhân từ của Ronald Cotton có thể là một gương lành cho chúng ta noi theo.
Vào ngày 17 tháng 11, 1985, Ronald bị kết án tù chung thân vì tội hãm hiếp cô Jennifer Thompson. Lúc đó chàng chỉ có 22 cái xuân xanh. Vì tiểu sử không tốt, một vài tang chứng bất động, và nhất là vì nhân chứng quá quyết liệt là Jennifer, Ronald đã bị kết án tù chung thân, mặc dù chàng vô tội. Một vài năm sau, Ronald được tái xử vì cảnh sát đưa ra một số tang chứng nói lên sự trong sạch của chàng. Nhưng đến khi Thompson lên bục lần thứ hai, đoàn cử tri cùng những mọi người trong tòa đều cảm thấy sự oán hận của nàng. Và nàng vẫn chỉ thẳng vào mặt Ronald và khẳng định chàng là hung thủ trong đêm bất hạnh kia. Ronald gục đầu và ngẹn lời, và chàng bị kết án tù chung thân lần thứ hai.
Trong tù Ronald đọc Thánh Kinh và cố bỏ đi những thói hư tật xấu. Chàng vẫn không nản lòng. Chàng viết báo và nói cho bất cứ những ai lắng nghe về sự oan ức của chàng. May mắn cho chàng, Richard Rosen, vị giáo sự dạy luật ở University of North Carolina, thương cảm cho chàng. Giáo Sư Richard cảm thấy án tù chung thân của Ronald không ổn vì chỉ dựa trên lời chứng của một người. Giáo sư xin thử tế bảo DNA của Ronald và Bobby Poole, người bị bắt vì một vụ hiếp dâm khoảng một tiếng sau vụ hãm hiếp của Thompson. Chứng cớ rành rành: Hung thủ là Bobby' Ronald vô tội và đã chịu tù cách oan uổng suốt 11 năm trường.
Sau khi biết là Ronald vô tội, Thompson thực ân hận và thốt lên: "Làm sao để trả lại 11 năm cho Ronald?" Nàng Thompson xin được gặp mặt Ronald tại một ngôi nhà thờ. Với tất cả nghị lực trong mình, nàng đến gặp Ronald. Nàng nói: "Tôi thực xin lỗi. Nếu tôi nói lời xin lỗi hằng ngày trong suốt đời tôi, nó cũng không thể diễn tả được những gì mà tôi đang cảm nghiệm trong tâm hồn." Ronald nhẹ nhàng và bình tĩnh đáp lại: "Tôi không giận cô. Tôi chưa bao giờ giận cô. Tôi chỉ muốn cô có một cuộc sống tốt." Hai người hàn huyên khoảng 2 giờ, trước sự ngóng trông hồi hộp của gia đình ở ngoài. Trước sự chứng kiến của những người thân, và với giòng lệ thứ tha, Ronald và Thompson trao nhau cái ôm bình an (Nhật báo Kansas City Star, Sept. 24, 2000, A1, A12).

 

TN7-C20: HÃY YÊU KẺ THÙ - Lm. Damien OFM

Lc.6,27-38
 

Chúa Giêsu cắt nghĩa , trong cụ thể yêu thương kẻ thù là : -làm ơn cho kẻ ghét mình: TN7-C20

Chúa Giêsu cắt nghĩa , trong cụ thể yêu thương kẻ thù là :
-làm ơn cho kẻ ghét mình,
-chúc phúc cho người nguyền rủa mình'
-cầu nguyện cho kẻ vu khống mình,
-Ai vả má nầy thì đưa cả má kia,
-Ai lột áo ngoài thì cho cả áo trong,
-Ai lấy gì thì đừng đòi lại

Lý do của thái độ nhân ái nầy là vì nếu các con sống như thế ,"các con sẽ là con cái Đấng Tối Cao, vì Người nhân hậu với kẻ bội bạc và những kẻ gian ác." Và nơi khác Chúa Giêsu lại dẫn chứng rõ ràng hơn: "Người cho mưa xuống trên kẻ lành cũng như người bất lương".
Lòng nhân ái của Thiên Chúa không phân biệt kẻ lành người dữ, không lên án vì lên án là loại trừ. Chuá Giêsu đến thể hiện cách cụ thể lòng nhân lành ấy của Thiên Chúa. "Ta đến không phải để lên án nhưng để cứu vớt" . Chúa đã làm thinh trước những người tội lỗi, một sự thinh lặng còn nói nhiều hơn muôn vàn lời nói . Sự thinh lặng thông cảm và đầy nhân ái ấy chứ không phải những lời lên án , đã làm cho những con người tội lỗi ăn năn hối cải .
Nhưng suy nghĩ đến đây, tôi chưa thỏa mãn, vẫn còn thắc mắc, tại sao Thiên Chúa lại tỏ ra nhân ái với con người phản bội? Vì Thiên Chúa là tình Yêu chăng? Chưa đủ, nghĩa là câu trả lời ấy vẫn chưa làm tôi thỏa mãn .
Các con hãy nhân từ như Cha các con.
Tha thứ và yêu thương, đó là thể hiện lòng nhân từ. Muốn trở nên con của Cha trên Trời thì con người cũng phải sống khoan dung như Ngài.
Và sở dĩ Chúa Cha đối xử với kẻ bất lương như với người công chính là vì một lẽ rất đơn giản: tuy là tội lỗi nhưng họ vẫn là hình ảnh của Thiên Chúa, Chuá không thể bỏ rơi những gì Người đã dựng nên , nếu không thì lòng nhân hậu của Chúa lại chịu thua tội lỗi sao ? Mọi tội lỗi không xóa được hình ảnh Thiên Chúa nơi con người .
Vì Thiên Chúa không chịu bỏ rơi con người tội lỗi, nên người đã sai Con Một Người đến thế gian, để theo đuổi con người cho đến cùng. PhạmDuy hát:
Kẻ thù tôi đâu có phải là người,
Giết người đi thì ta ở với ai ?
Một con người phàm mà còn có lòng nhân ái như thế, huống gì là Thiên Chúa . Phạm Duy khuyên đừng giết người vì tuy là kẻ thù, nhưng họ vẫn là người, vẫn giống chúng ta . Thiên Chúa tạo dựng nên con người giống hình ảnh Chúa, lẽ nào Người lại tiêu diệt nó đi ? Chúa Giêsu đến để đẩy lui sự ác là tội lỗi nhưng Người không đến để tiêu diệt người tội lỗi mà để cứu vớt; và lòng khoan dung là vũ khí mạnh nhất để đẩy lui tội lỗi nơi con người, làm thay đổi một con người . Mađalêna là một ví dụ .
Nhưng dù sao thì việc thực hiện những lời dạy của Chúa Giêsu hôm nay không phải là dễ; làm con Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta phải cố gắng sống khoan dung trong mọi nghịch cảnh . Có điều đáng lưu ý là ơn Chuá luôn luôn đi kèm với sự cố gắng của con người. Và đối với Thiên Chúa thì không có gì mà không thể được.
Sư tử và hoa hồng.
Sư tử ốm đã một tuần nay và nằm trong hang không dậy được. Nó buồn lắm vì là chúa tể sơn lâm mà chẳng con vật nào đến thăm hỏi hay mang cho nó chút quà gì cả. Nhìn cây hoa hồng bên cạnh, lúc nào cũng có bướm, có ong, có chim chóc ríu rít, đến bay lượn vui vẻ. Sư tử bèn hỏi cây hoa hồng:
-Hoa hồng ơi, vì sao ngươi mảnh dẻ yếu ớt như thế, mà lúc nào cũng có bạn bè đến thăm vui vẻ, còn ta là chúa tể sơn lâm mà chẳng có con vật nào đến thăm ta cả ? Hoa hồng trả lời-:
-Vì tôi luôn tặng cho mọi loài màu sắc tươi đẹp và hương thơm ngào ngạt khi mọi loài đến với tôi. Còn ngài là chúa tể sơn lâm uy quyền, nhưng ngài có tặng cho những con vật bé nhỏ thuộc hạ của ngài cái gì đâu ?
Hoa hồng là hình ảnh của con người. Bạn hãy là một đóa hoa hồng nhỏ đối với mọi người?

 

TN7-C21: KẾ HOẠCH YÊU THƯƠNG - Như Hạ OP

Làm sao phân biệt một cộng đoàn tiến bộ và thoái hóa ? Chính nhờ có kế hoạch yêu thương: TN7-C21

Làm sao phân biệt một cộng đoàn tiến bộ và thoái hóa ? Chính nhờ có kế hoạch yêu thương, cộng đoàn có thể đánh dấu nét tiến bộ từng giai đoạn. Nhờ đó có thể biết mình đã tiến tới đâu. Kế hoạch yêu thương đó nằm ngay trong tính cộng đoàn, nói khác, thuộc về bản chất cộng đoàn. Hôm nay lắng nghe lời Chúa, chúng ta sẽ khám phá kế hoạch yêu thương kỳ diệu khi “Đức Giêsu gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một” (Mc 6:7).
HUYNH ĐỆ CHI BINH
Ơn gọi tưởng như một ân huệ dành riêng cho cá nhân. Một mình ta với Chúa. Một mình Chúa với ta. Thực tế không phải như vậy. Ngay từ đầu Đức Giêsu đã cho thấy chiều kích cộng đoàn trong ơn gọi và sứ mệnh chứng nhân. Không ai có thể hoàn thành ơn gọi và sứ mệnh trong ốc đảo. Vì tự bản chất ơn gọi luôn phải hướng về Thiên Chúa và tha nhân. Sứ mệnh không phải là một thứ trên mây gió. Sứ mệnh chỉ được thi hành trong xã hội con người. Bởi thế, khi bắt đầu thành lập Giáo hội, “Đức Giêsu gọi Nhóm Mười Hai”(Mc 6:7a). Chắc chắn khi được gọi như thế, các ông ý thức ngay chiều kích cộng đoàn của ơn gọi. “Sức mạnh chúng ta bắt nguồn từ Thiên Chúa, nhưng Người đáp ứng nhiều nhu cầu hiện tại nhờ việc chúng ta làm việc chung với anh em” (Life Application Study Bible 1991: 1742). Anh em trở thành một điều kiện tối cần cho ơn gọi chứng nhân. Tình đồng đội, huynh đệ chi binh là chất keo gắn các chứng nhân với nhau và với Chúa. Có thế, Chúa mới tìm được mảnh đất mầu mỡ cho ân sủng Người hoạt động. Người môn đệ chắc chắn đã múc được nguồn sức mạnh nơi Chúa, nhưng cũng từ nơi anh em. Người anh em được sai đi với mình không nằm ngoài “kế hoạch yêu thương Thiên Chúa đã định từ trước trong Đức Kitô”(Ep 1: 9). Thực tế, dù sống giữa cộng đoàn Tin Mừng, người môn đệ có thể cô đơn hay bị hiểu lầm như ngôn sứ Amos, vì những lời tuyên sấm cứng cỏi nhưng chất chứa đầy sự thật. Dù sao, người môn đệ vẫn cứ trung thành rao giảng, vì ý thức sứ mệnh của mình phát xuất từ Thiên Chúa : “Hãy đi tuyên sấm cho Israen dân Ta” (Am 7:15). Tất cả đều nằm trong “kế hoạch yêu thương” của Thiên Chúa.
Chiều kích cộng đồng càng nổi cộm lên khi Chúa “sai đi từng hai người một” (Mc 6: 7b). Sứ mệnh đòi các môn đệ phải đối diện với thực tế. Một cá nhân không thể nào thấy hết những mọi mặt phức tạp của cuộc sống. Không thấy hết thì không thể chống trả kịp thời. Bởi thế, Đức Giêsu mới lập một tổ cơ bản gồm hai người. Tự nội tại, tổ cơ bản này cũng có những khó khăn riêng. Giả sử một người thật thà như Phêrô phải ở chung và làm việc với một người nhiều mánh lới gian tham như Giuđa, việc gì sẽ xảy ra ? Nhưng chính khi phải chịu đựng lẫn nhau, người môn đệ trưởng thành dần, đủ sức đương đầu với thực tại nhiều thử thách cam go. Chiều kích cộng đoàn càng lớn, khó khăn càng nhiều. Nhưng muốn làm được việc, người môn đệ không thể nhìn những nét tiêu cực trong cộng đoàn. Chắc chắn, các Tông đồ không bị chết dí dưới sức nặng con người Phêrô nóng nảy, cục cằn. Trái lại, những đức tính chân thật, nhiệt thành của ông đã có sức qui tụ anh em, biến cộng đoàn Mười Hai thành một lực lượng áp đảo thần dữ. “Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh” (Mc 6:13), vì Chúa “đã ban cho các ông quyền trên các thần ô uế” (Mc 6:7).
Nhưng sức mạnh chính yếu của cộng đoàn không dừng lại ở nét tiêu cực đó. Trái lại, sức mạnh chính yếu hệ tại lời “rao giảng” về Nước Trời, và “kêu gọi người ta ăn năn sám hối” (Mc 6:12) vì Nước Trời. Muốn chu toàn được sứ mạng đó, trước hết tất cả cuộc sống cá nhân và cộng đoàn của họ phải là một lời chứng về Nước Trời. Mỗi lời nói và việc làm của người anh em bên cạnh phải là một nhắc nhớ về Nước Trời. Dù anh em bất đồng với mình, Nước Trời vẫn là động lực vượt qua giới hạn trần gian. Ngay cả khi anh em hoàn toàn đồng ý với mình, càng có sức mạnh vươn tới Nước Trời. Bởi thế, theo thánh Phaolô, dù gặp thời thuận tiện hay không, người môn đệ vẫn cứ rao giảng. Giống như nước, người môn đệ có thể luồn lách khắp nơi, dưới mọi dạng thức, nhưng vẫn không đánh mất bản chất. Họ cũng giống như khí trời có thể nhẹ nhàng như cơn gió mùa thu hay vần vũ như cơn giông tố gạt phăng mọi trở ngại. Muốn được thế, họ phải trút bỏ mọi sự như người khinh binh, chỉ giữ lại những gì cần thiết cho cuộc chiến đấu vì Nước Trời. Bản chất linh thiêng của Nước Trời đòi họ phải thanh thoát như thế. Bởi vậy, Đức Giêsu “chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy ; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng ; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo”(Mc 6:8-9). Khi không còn những bận tâm về những nhu cầu hay tham vọng cá nhân, người môn đệ cũng bớt đi những tranh chấp, ghen tương. Nhưng không được giảm bớt tới mức tối đa khiến người môn đệ không còn phương tiện tối thiểu cho công cuộc làm chứng và xây dựng Nước Trời. Dầu sao cũng phải nương nhẹ con lừa mới mong đi xa được.
KẾ HOẠCH
Khi không còn những tranh chấp nội bộ và những bận tâm cá nhân, người môn đệ hướng tất cả tâm lực và tài lực vào việc xây dựng Nước Trời. Những xung khắc nội bộ cần thiết cho hướng đi lên của cộng đoàn Tin Mừng. Nhưng xung khắc quá mức sẽ gây nguy hại. Đúng hơn, nếu thực sự tất cả vì Tin Mừng, chúng ta sẽ tìm được giải pháp tốt đẹp nhất. Thực tế, bao cơ hội đã mất đi chỉ vì những quyền lợi cá nhân hay cộng đoàn lớn hơn quyền lợi Nước Trời. Đó là lý do tại sao công cuộc rao giảng Tin Mừng thất bại trong lịch sử. Nếu đúng thế, người môn đệ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm vì những hành động tắc trách của mình. Thực ra, quá lo lắng về quyền lợi cá nhân hay cộng đoàn chưa chắc đã làm cho cá nhân hay cộng đoàn thăng tiến ngay về mặt vật chất. Chứng nhân có quyền hưởng lợi lộc do việc rao giảng (1 Cr 9:14). Sở dĩ Chúa đòi hỏi gắt gao người môn đệ phải từ bỏ tất cả, chỉ vì muốn họ hoàn toàn phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Trong chương trình quan phòng đầy lòng yêu thương, trước tiên Thiên Chúa sẽ ưu đãi người đã vất vả vì Nước Trời. Bởi đấy, Chúa Giêsu mới mạnh dạn quả quyết : “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi” (Mc 6:10). Được phép ở lại trong nhà nào tức là đã chiếm được tình cảm chủ đối với sứ điệp Tin Mừng.
Nhưng không phải ai cũng như thế. Không chấp nhận sứ điệp có thể do lỗi của sứ giả hay người nghe sứ điệp. Thái độ bất nhẫn của người nghe đã được Chúa tiên báo : “Còn nơi nào người ta không đón tiếp và không nghe anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi đất dưới chân để tỏ ý cảnh cáo họ” (Mc 6:11). Người nghe sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về thái độ đối với Tin Mừng. Chính khi họ xử tệ với sứ giả Tin Mừng là họ khinh chê Tin Mừng. Đây là một cơ hội không thuận tiện. Dầu vậy, người môn đệ vẫn rao giảng bằng lời cảnh cáo : “Nước Trời đã đến gần !”
Rao giảng như thế sẽ có sức qui tụ muôn dân “dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô” (Ep 1:10a). Nếu chỉ rao giảng cho những người đạo đức, Tin Mừng đánh mất chiều kích cứu độ (Ep 1:13). Chính Chúa Giêsu, tác giả Tin Mừng, cũng đã nói : “Tôi không đến để kêu gọi người công chính mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9:13), và “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19:10). “Những người tội lỗi” và “những gì đã mất” là những thách đố lớn lao đối với Tin Mừng. Nếu không chinh phục được những người đó, sứ giả Tin Mừng đã tỏ ra bất lực. Nhưng Tin Mừng không bao giờ bất lực. Tin Mừng toàn năng vì là sức mạnh của Thiên Chúa. Nhưng để sức mạnh Tin Mừng thấm sâu vào văn hóa và xã hội, Đức Giêsu đã vẽ ra cả một “kế hoạch yêu thương”. Chúng ta có chấp nhận và thực hiện kế hoạch đó không ?
Như Hạ
Trích Tuyển Tập Dòng Đa Minh

 

TN7-C22: HÃY YÊU KẺ THÙ VÀ LÀM ƠN CHO KẺ GHÉT ANH EM

 Lm. FX Hồng Kim Linh
 

Đoạn Phúc Âm ta vừa nghe tóm gọn những lời dạy "tinh thâm" độc đáo nhất của Đạo thánh Chúa: TN7-C22

Đoạn Phúc Âm ta vừa nghe tóm gọn những lời dạy "tinh thâm" độc đáo nhất của Đạo thánh Chúa: "Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em...". Chỉ bấy nhiêu điều này để chứng tỏ đây không phải là dùng xảo thuật để gây cảm tình, để lấy lòng thiên hạ do thái độ khéo ngoại giao hay khéo cư xử bề ngoài. Cũng không phải là những thủ thuật xử sự đắc nhân tâm thông thường. Đây là một nếp sống nội tâm, một thế sống thành thật nội tại, trước nhất với Thiên Chúa, Đấng soi thấu lòng dạ sâu kín của ta, và kế đến trong sáng với chính mình qua một kiểm nhận của lương tâm ngay chính.
Để chân nhận giá trị 'tinh thâm độc đáo' này, Chúa Giêsu dẫn giải qua cách so sánh như sau:
Không giống như: với những kẻ tội lỗi: "Nếu anh em thương yêu những người thương yêu mình (hay nói rộng ra những người dễ thương) thì có gì là 'ân với nghĩa', có gì là độc đáo đâu? "ngay cả những người tội lỗi cũng yêu thương kẻ thương họ" vậy.
"Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn là gì ân với nghĩa. Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. Và nếu anh em cho vay và hy vọng đòi lại được thì còn gì là ân với nghĩa. Cả những người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẳng".
Mà giống như: với Thiên Chúa và làm con Thiên Chúa:
"Trái lại anh em phải yêu kẻ thù, hay làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Ngài vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác. Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ thì sẽ được Thiên Chúa tha thứ. Anh em hãy cho thì sẽ được Thiên Chúa cho lại".
Chân dung so sánh cho thấy kẻ được kêu gọi làm giống như Thên Chúa và để xứng đáng làm con cái Thiên Chúa mà bài Phúc Âm hôm nay gọi là "những người đang nghe Thầy đây" (Lc 6,27), những người nghe hôm nay phải xác tín hai điều:
Một vì họ là những thọ tạo được sáng tạo theo 'hình ảnh' và giống như Thiên Chúa (St 1,27). Hai vì tuy họ đã phạm tội "nhưng được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban nhưng không, nhờ công trình thực hiện trong Đức Kitô Giêsu" (Rm 3,23-24).
Những điều Chúa dạy nêu trên quả là rất khó nếu xét theo lẽ bình thường. Việc người ta ăn ngay ở lành, không gian lận hà hiếp ai, ai xử tốt mình, mình xử tốt lại, không gây thù gây oán với ai: việc ấy có thể làm cho người ta dễ tự mãn cho là lương thiện là đủ rồi. Nhưng đối chiếu với Phúc Âm điều này hãy còn xa lắm, cứ xem lại luận cứ của Chúa rất rõ ở trên khi đối chiếu thái độ 'coi là đủ rồi' đó với những người tội lỗi.
Tinh túy và sâu xa của 'lối sống' người Kitô hữu là vì Chúa đã yêu chúng ta mặc dù chúng ta không đáng yêu, Chúa tha thứ cho chúng ta dù chúng ta từ chối tha thứ. Chúa đành chịu khổ hình vì con người hung dữ với nhau, vì con người lấy oán báo oán, vì con người ghét ghen, không chấp nhận tha thứ.
Tóm lại qua những lời này: chúng ta phải sống như hình ảnh và giống như Thiên Chúa đừng để Lời Chúa Giêsu - Con một Cha với chúng ta, bị ta coi như 'lời chết'. Hãy nhớ rằng mỗi khi ta không tha thứ, mỗi khi ta lấy hung ác xử đối với nhau, đó là chúng ta thù địch với nhau và tức là thù địch với Chúa. Chúa Giêsu dạy: "yêu kẻ thù, gia ân cho kẻ ghét anh em" là vì Chúa đã làm điều đó. Những điều Chúa dạy đây, bắt nguồn từ chính Chúa đã thực hiện cho chúng ta, trong việc sáng tạo giống hình ảnh Ngài và trong chính việc cứu chuộc bằng cái chết trên Thập Giá để nâng chúng ta lên cao theo tầm mức của Thiên Chúa.
Đó là một lời dậy cao thâm mà cũng là một mời gọi thăng tiến 'thần thiêng' của Thiên Chúa đối với con người phàm trần của chúng ta. Hãy cúc cung bái nhận và hãy lấy làm sung sướng vì Thiên Chúa đã mời gọi chúng ta cùng tham dự vào chính nguyên ủy của chính Ngài là "Đấng Yêu Thương".
Để tập dần những điều cao siêu trong Phúc Âm hôm nay, chúng ta được Chúa Giêsu dạy cho một thái độ cụ thể, một thước đo lường tâm lý thường nghiệm trong cách sử thế đối nhân đó là câu: "anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy" (Luca 6,31).
Lm. Phanxicô Xaviê Hồng Kim Linh

 

TN7-C23: CHO SAO NHẬN VẬY.....- Mark Link S.J.

Bài đọc:1Sm26;2,7-9,12-13,22-23;1Cr 15 ;45-49;Lc.6; 27-38
Chủ đề: “Định luật âm hưởng” nói rằng chúng ta cho sao thì sẽ nhận được y vậy.
 

Một phụ nữ nọ đang ngồi đọc báo tin sáng, thình lình một mục quảng cáo trên cột rao vặt đập: TN7-C23

Một phụ nữ nọ đang ngồi đọc báo tin sáng, thình lình một mục quảng cáo trên cột rao vặt đập vào mắt bà. Mục quảng cáo ấy viết: “Nếu bạn cảm thấy cô đơn, buồn phiền hay tuyệt vọng, xin hãy gọi số 239-4305 và hãy lắng nghe”. Qúa đỗi tò mò, bà ta liền lập tức chạy đến máy địên thoại và quay con số nói trên, thế là một giọng nói dễ thương phát ra từ ống nghe: “Hãy biết rằng ở đâu bạn gặp được chính bản thân mình thì ở đấy bạn cũng gặp được Chúa, vì Chúa ở ngay trong bạn. Bạn không bao giờ lẻ loi. Dù bạn ở đâu hay đang trong tình trạng thế nào. Chúa vẫn luôn ở đó để giúp đỡ bạn”. Đoạn giọng nói tiếp tục bàn về “luật âm hưởng”. Theo luật này, nếu bạn la lên trong một căn phòng đóng kín thì tiếng la sẽ dội ngược trở lại với bạn, nếu bạn thốt ra tiếng nguyền rủa, thì tiếng nguyền rủa sẽ dội trở lại với bạn, và nếu bạn hát lên khúc hát thì tiếng ca ấy sẽ vọng lại cho bạn ngay. “Luật âm hưởng” này cũng sẽ áp dụng vào cả đời sống thường nhật nữa, nghĩa là nếu bạn cho đi cái gì trong cuộc sống thì bạn cũng sẽ được nhận lãnh y hệt như vậy. Bài Phúc Âm hôm nay minh hoạ định luật trên một cách cụ thể qua lời công bố của Chúa Giêsu: “Hãy tha thứ thì các ngươi sẽ được thứ tha. Các ngươi cho thế nào thì sẽ được nhận như thế ấy”.
***
Có câu chuyện nổi tiếng kể về một gã khùng nọ nghe Đức Phật dạy rằng đừng bao giờ lấy ác báo ác. Một ngày nọ hắn ta đến gặp Đức Phật và dự tính thử xem Đức Phật có thực sự sống điều ngài rao giảng không. Hắn bắt đầu tuôn ra đủ mọi lời thoá mạ Ngài, và gọi ngài là tên đần độn. Trong khi hắn liên tục xổ ra đủ thứ lời lăng mạ thì Đức Phật vẫn kiên nhẫn lắng nghe. Chờ hắn mỏi miệng không nói thêm lời nào nữa, Đức Phật mới ngỏ lời: “Này con, nếu một người không chịu nhận cái món quà mà kẻ khác biếu cho, thì món quà ấy sẽ đi về đâu?” Gã khùng nọ cay cú đáp lại : “Thằng điên nào mà chẳng biết, dĩ nhiên là món quà ấy sẽ trở về lại với người đem cho”. Đức Phật liền nói: “Hỡi con, chính con vừa mới tặng cho ta rất nhiều lời thoá mạ, nhưng ta chẳng nhận đâu nhé!”. Gã khùng liền câm miệng không nói thêm được lời nào. Đoạn Đức Phật nói tiếp: “Hỡi con, kẻ nào lăng mạ một người thánh thiện thì cũng giống như hắn ta khạc nhổ lên trời. Đờm bọt hắn khạc ra không làm ô uế bầu trời mà ngược lại sẽ rơi trở lại làm ô uế gương mặt của chính hắn; cũng thế, kẻ nào thoá mạ một người nhân đức thì khác nào tung đám bụi vào trong gió. Bụi đó sẽ chẳng đi đến đâu mà ngược lại chỉ rơi vào mắt của chính hắn.
Câu chuyện nổi tiếng trên về Đức Phật cũng là một minh hoạ  cho ta hiểu rõ  hơn về “luật âm hưởng”, nghĩa là: người ta cho thế nào thì sẽ nhận được y vậy. Nói lời lăng mạ thì sẽ nhận được lời lăng mạ; gieo rắc tình thương thì sẽ nhận được tình thương.
Sở dĩ nhiều người hôm nay bị cô độc và phiền muộn là vì cái “định luật âm hưởng” trên. Hoặc do đãng trí hay lơ là họ không đến với kẻ khác, cho nên cũng chả ai thèm đến với họ.
Cách đây ít lâu có một phụ nữ viết bài suy niệm gởi đến cho tập cẩm nang kinh nguyện hằng ngày The Upper Room (Thượng phòng). Bà cho biết trước đây bà từng bị đưa vào một nhà thương tâm thần. Trong suốt thời gian nằm viện kéo dài từ ngày nọ qua ngày kia, càng lúc bà càng cảm thấy tuyệt vọng. Vì gia đình bà hiện sống ở Âu Châu, nên bà chẳng còn biết nương cậy vào ai. Thế rồi ngày nọ bà  lại nhận được tin người em gái duy nhất trong gia đình  bà bị thảm sát. Bà càng rơi vào nỗi tuyệt vọng sâu xa hơn. Trong lúc tâm trí bị khủng hoảng như thế, tình cờ bà đọc thấy một ghi chú trong tờ tập san của bệnh viện như sau: “Cần những người tình nguyện phục vụ cho các cụ già bệnh hoạn”. Bà liền quyết định xung phong đăng ký. Giờ đây chúng ta hãy lắng nghe bà kể lại diễn tiến sự việc sau đó: “Chỉ có Chúa mới biết được tại sao tôi xin tình nguyện đăng ký, nhưng chắc chắn là Ngài muốn cứu sống tôi; mỗi ngày làm việc vất vả và lo cho các cụ già yếu đau đã khơi dậy trong tôi ngọn lửa, để rồi ngọn lửa ấy bùng lên vào ngày mà tôi nói với cụ già Miguel rằng tôi yêu quí cụ. Đây là một cụ già bị tê liệt, bị bỏ rơi, lúc nào cũng than van khóc lóc. Nghe tôi ngỏ lời, cụ liền nín khóc và nhìn thẳng vào mắt tôi. Cụ nói với giọng thơ ngây như một đứa trẻ: “Thật vậy sao cô?” Tôi liền trả lời: “Thật đúng như vậy, con yêu quí cụ”. Và ngay lúc ấy, tôi cảm thấy như mình bắt đầu hồi sinh”.
Khó tìm được minh hoạ nào cho “định luật về âm hưởng” rõ ràng hơn thế; Quả thực, trong cuộc sống, bạn cho đi cái gì thì bạn sẽ nhận lại được cái ấy. “Hãy tha thứ thì các ngươi sẽ được thứ tha, hãy cho đi thì các ngươi sẽ được cho lại”.
Bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta tự vấn xem, không chừng chúng ta đã quên mất hay đã lơ là cái ‘định luật về âm hưởng” ấy. Không chừng chúng ta bị cô độc và phiền muộn là vì chúng ta đã không biết đến với kẻ khác, nên vì thế họ đã chẳng đến với chúng ta. Có thể chúng ta bị cô độc và phiền não vì chúng ta đã lấy ác báo ác, nên đã phải gặt đầy sự dữ. Có thể chúng ta bị cô độc và phiền não, vì chúng ta đã quên mất tiếng nói phát ra từ chiếc điện thoại ngộ nghĩnh nói trên. “Hãy biết rằng ở đâu bạn gặp được chính mình, thì ở đấy bạn cũng gặp được Chúa, vì Chúa ở ngay trong bạn. Bạn không bao giờ lẻ loi. Dù bạn ở đâu hay đang trong tình trạng thế nào, Chúa vẫn luôn ở đó để giúp đỡ bạn”.
Để kết thúc, chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện: “Lạy Chúa xin nhắc chúng con nhớ lại “định luật về âm hưởng” mỗi lần chúng con cảm thấy cô đơn và phiền não. Xin nhắc chúng con nhớ rằng chúng con cho đi thế nào thì sẽ nhận được y như thế ấy. Nếu biết tha thứ, chúng con sẽ được thứ tha, biết cho đi thì chúng con lại được nhận lại, biết yêu thì sẽ được yêu lại: biết ca hát thì sẽ được người khác hát lại cho nghe.
Lạy Chúa,Xin đừng bao giờ để chúng con quên mất “định luật về âm hưởng”, vì gieo thế nào chúng con sẽ gặt thế ấy. Amen.

 

TN7-C24: HÃY THA THỨ VÀ BẠN SẼ ỊƯỢC THỨ THA

` Gm. Arthur Tonne
 

Trong chiến tranh Cách mạng, Peter Miller là một mục sư Tin Lành ở Pensylvania, gần nhà thờ: TN7-C24

Trong chiến tranh Cách mạng, Peter Miller là một mục sư Tin Lành ở Pensylvania, gần nhà thờ có một người luôn chỉ trích và ngược đãi Miller và cộng đoàn. Anh này mắc tội phản quốc và bị án tử hình. Vừa khi công bố án tử hình, Peter Miller chạy đến đại tướng Washington kêu xin ân xá cho kẻ thù. Đại tướng Washington trả lời không thể ân xá cho bạn hữu được. Miller kêu lên: “Thưa bạn, nó là kẻ thù số một của tôi”. Đại tướng hỏi: “Sao? Bạn đã chạy bộ 60 dặm đường dài để cứu sống một kẻ thù? Điều đó cũng lạ, được tôi ân xá”
Với tờ ân xá trong tay, Miller vội vàng đến pháp trường, 15 dặm cách đó. Ông tới nơi vừa lúc kẻ phản bội được dẫn tới đoạn đầu đài. Chợt thấy Miller, kẻ tử tội  la lên: “Ông Miller, ông đến đây trả thù tôi, để nhìn thấy tôi bị treo cổ”. Miller bước tới, trao cho anh tờ ân xá mang chữ ký của Đại tướng Washington.
Đây là một tấm gương về điều Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta trong bài Tin mừng hôm nay, có người cho rằng Chúa đòi hỏi hơi nhiều chăng? Khi Chúa Giêsu truyền cho chúng ta phải yêu thương kẻ thù và làm tốt cho họ, Chúa muốn dậy chúng ta điều chi?
Trước hết, Chúa không bảo chúng ta buông khí giới trước kẻ thù, khi chúng ta đương đầu với họ, cũng không phải là chúng ta không được dùng những phương thế hợp pháp để đòi lại những gì mà chúng ta bị tước đoạt một cách bất công. Nhưng Chúa dạy chúng ta đừng dùng phương thế xấu xa hay bạo tàn để đòi lại hoặc trả thù. Nhiều khi chúng ta đánh giá hành động của đối phương theo tưởng tượng, một chút sơ sót được thổi phồng lên một sự sỉ nhục nặng nề. Hơn nữa, ngay cả khi chúng ta chắc chắn đối phương có ác ý, chúng ta cũng phải tha thứ cho họ.
Cảm tạ Chúa, có nhiều người như Peter Miller. Xin được phép gợi ý một vài phương cách để chúng ta có thể giống Miller và giống Chúa chúng ta. Hãy cầu nguyện cho người mà bạn nghĩ là họ đã xúc phạm đến bạn,  bạn hãy xin Chúa tha thứ cho họ. Bạn hãy xin Chúa giúp bạn tha thứ. Bạn hãy xin Chúa giúp bạn một vài phương cách để chứng tỏ rằng bạn đã tha thứ cho họ. Bạn tìm cách giao thiệp với người được gọi là kẻ thù bằng: một nụ cười, một lời chào, một lá thư, một cú địên thoại… một cử chỉ khoan nhân, quảng đại.
Bạn nhớ vua Đavit đã tha thứ cho kẻ thù trong bài đọc thứ nhất hôm nay. Bạn nhớ Chúa Giêsu cũng tha thứ  thế nào.
Bạn đọc kinh Lạy Cha, hãy chú ý đặc biệt câu: “Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”.
Tha thứ cho một kẻ thù thật sự, hay tưởng tượng, có thể biến họ thành bạn hữu, có thể đem họ trở về cùng Chúa Kitô và nhất là làm cho bạn thành môn đệ đích thật của Đức Kitô, Đấng đã cầu nguyện cho những kẻ đóng đinh Người vào thập giá: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Amen.

 

TN7-C25: KHUYẾT ĐIỂM CỦA CHÚA GIÊ-SU

Tôi thấy Chúa Giê-su có khuyết điểm. Bạn có bao giờ nhận ra khuyết điểm của Chúa Giê-su?: TN7-C25

Tôi thấy Chúa Giê-su có khuyết điểm. Bạn có bao giờ nhận ra khuyết điểm của Chúa Giê-su ? Tôi chắc chắn rằng, không bao giờ. Vì cứ bình thường mà nói, Chúa làm gì có khuyết điểm. Nhưng ngược lại, Người là tấm gương tuyệt đối, không một ai có thể sánh được. Vì thế có khi bạn lại khó chấp nhận kiểu nói Chúa Giê-su có khuyết điểm.
Nhưng đừng vội cho tôi là kẻ nói phạm thượng. Xin đừng kết án tôi là rối đạo. Tôi nói Chúa Giê-su có khuyết điểm không nhằm hạ bệ Người, nhưng là để bạn và tôi tôn thờ, và yêu mến Người hơn nữa. Bởi vì khuyết điểm của Chúa Giê-su rất dễ thương. Mỗi một người cần, rất cần khuyết điểm của Chúa Giê-su để đến với Người, để sống với anh chị em của mình và để noi gương Người. Vậy bạn có biết khuyết điểm của Chúa Giê-su là gì không ?
Khuyết điểm của Chúa, đó là Tình yêu: Chúa yêu quá sức mình. Yêu để rồi, không còn kể gì đến bản thân mình nữa. Yêu đến nỗi tha thứ quá dễ dàng. Chẳng hạn, trong giờ xử án Chúa Giê-su, Thánh Phê-rô đã chối Chúa ba lần, nhưng tìm trong Tin Mừng, chẳng thấy có lời nào Chúa trách móc Thánh Phê-rô về tội chối Thầy. Nếu là tôi, không chừng tôi sẽ ghi lòng, sẽ nhớ mãi khuôn mặt kẻ bội phản và không dễ tha thứ. Hoặc có thể tôi sẽ tức tối, đau buồn vì người môn đệ của mình từ chối mình.
Nhưng Chúa Giê-su thì không. Chẳng những Chúa không tức tối, không vạch mặt kẻ phản bội, mà sau khi sống lại, Chúa còn công khai ban quyền cho Thánh Phê-rô coi sóc Hội Thánh. Chúa lặp đi, lặp lại đến ba lần: “Ngươi hãy chăn dắt đàn chiên của ta”. Chúa yêu quá sức, yêu đến nỗi bất chấp tội của Thánh Phêrô.
Khi hấp hối trên Thánh Giá, người trộm cùng bị đóng đinh bên phải Chúa Giê-su có cả một quá khứ tội lỗi đến nỗi người ta phải giết đi, vậy mà chỉ cần một lời nói thôi: “Thưa Thầy, Khi Thầy về nước của Thầy, thì cho tôi theo với”, ngay tức khắc, quá khứ đen tối của anh được lấp hết. Chúa trả lời dứt khoát: “Ngay hôm nay, anh ở trên thiên đàng với Ta”. Chúa yêu, yêu quá sức lẽ mình. Yêu đến mức, chỉ trong nháy mắt, mọi khuyết điểm, Chúa đều phủ lấp hết, quyên hết, tha thứ hết.
Khuyết điểm của Chúa Giê-su hóa ra không phải là khuyết điểm, nhưng là ưu điểm. Ưu điểm vì nó cần thiết cho mỗi một người: Nó mang đến niềm vui, mang lại niềm hạnh phúc và cho ta được sống. Là ưu điểm, vì nó chan chứa lòng yêu thương, có lợi cho người khác chứ không làm hại ai. Vì tự bản chất, yêu thương đã là một ưu điểm. Chúa Giê-su đã sống, đã nêu gương và dạy chúng ta cũng hãy thực hành lòng yêu thương như Người. Chúa muốn nét ưu điểm của Người là yêu thương, được ta áp dụng thành ưu điểm của mình. Vì thế trong Tin Mừng hôm nay, Chúa dạy rằng: “Thầy bảo các con đang nghe Thầy đây...”.
Bạn và tôi đang lắng nghe Lời Chúa. Chính lúc này là lúc Chúa nói với ta: “Thầy bảo các con đang nghe Thầy đây: các con hãy yêu kẻ thù”. Yêu bằng cách nào ? bằng những phương thế Chúa đưa ra: Hãy làm ơn, hãy làm phúc, hãy cầu nguyện cho họ. Yêu như thế khó lắm bạn ạ. Nếu yêu người yêu mình, dễ biết bao nhiêu, thì yêu kẻ thù khó bấy nhiêu.
Loài người nói chung hay sống theo cảm tính. Bạn và tôi đều là những con người, bởi thế chúng ta cũng không khác mọi người. Chính vì sống theo cảm tính, ta dễ ghét, dễ giận, có khi còn căm thù, mạnh hơn: trả thù những ai dám xúc phạm mình, ngay cả khi mình nghĩ rằng họ xúc phạm ( chứ chưa chắc đúng như mình nghĩ ), hoặc những ai thù nghịch với mình… Lắm lúc ta lại cho đó là điều hợp lý, cho nên mới có kiểu nói nghe mà phát sợ: “Ăn miếng trả miếng”. Nếu không thể “trả miếng” được vì bản thân yếu hơn hay vì một lý do nào khác chẳng hạn, thì mình ghi sâu theo kiểu “sống để vậy, chết mang theo”.
Vì thế đối chiếu tình yêu của Chúa Giê-su với bản thân mình, tôi dám khẳng định một lần nữa bằng tất cả niềm xác tín: Tình yêu của Chúa là một tình yêu lớn vô cùng. Người yêu con người hết sức lẽ mình. Yêu đến độ chỉ trong phút chốc tha thứ tất cả. Thành thử ra, khi nói Tình yêu của Chúa là một khuyết điểm vì tôi trên quan niệm của một con người đầy kém cỏi để mà nói. Cái khuyết điểm đó phải đảo ngược lại thì mới đúng: Tình yêu của Thiên Chúa là ưu điểm mà chúng ta phải noi theo, phải học tập. Còn lòng căm giận mà mình cho là hợp lý, đó mới là khuyết điểm, là thói xấu, có khi còn là tội lỗi nữa, thì mới hợp lý, hợp với Lời Chúa dạy.
Để kết thúc những tâm tình vừa chia sẻ, tôi muốn minh họa về đời sống yêu thương của chúng ta bằng câu chuyện mà ai đã từng viết ở đâu đó: hai ông cụ nhà ở sát vách nhau. Con cháu lớn hết, chúng nó đi ra ngoài suốt cả ngày, chỉ có hai ông như hai cái bóng lủi thủi ra vào trông chừng nhà cửa. Nỗi cô đơn do tuổi tác, đã làm cho tình bạn già của hai ông gắn chặt vào nhau, thân thiện lắm. Ông A có tâm sự nào, dù cho thầm kín đi nữa, ông B vẫn biết. Ông B có suy nghĩ nào, dù cho khó nói ra với mọi người, thì đối với ông A, ông B thố lộ rất dễ dàng.
Nhà ông A trồng một cây sung đã mấy chục năm nay. Ong bỏ bao nhiêu công sức để cắt cành, tỉa lá, uốn éo cho nó nên hình nên dáng, vậy mà một bữa nọ, con heo mọi nhà ông B nuôi, không biết chăn, biết giữ, cứ thả rong, đã chạy sang sân nhà ông A ủi văng cả gốc cây sung, nằm trơ trọi trên mặt đất, bể cả cái chậy cổ quý hiếm. Nóng ruột vì tiếc cây sung, ông A nặng lời với gia đình ông B. vậy là từ đó, hai ông cụ không thèm nhìn mặt nhau, không nói nửa lời với nhau.
Một bên mất toi mấy mươi năm chăm sóc gốc bon sai, một bên thấy như mình bị xúc phạm nặng nề lắm. Vì thế hai bên quyết định xây hàng rào. Vậy là hai bức tường kế sát nhau được xây cao để bên này khỏi nhìn thấy bên kia. Hai bức tường phân cách hai ngôi nhà, trước kia thân với nhau bao nhiêu, bây giờ trở thành kẻ thù của nhau bấy nhiêu. Tất cả chỉ vì một con heo mọi thả rong đáng giá vài trăm ngàn.
Từ câu chuyện, và ngay cả trong thực tế cuộc sống, mỗi nhười đều chân nhận rằng, tha thứ là một việc làm khó. Nhưng khó không có nghĩa là không thể làm được, chỉ sợ lòng ta cố chấp, tự ái, kiêu căng và nuôi mãi hận thù. Ước gì mỗi chúng ta luôn ý thức lời Chúa dạy, luôn biết để cho Lời của Người trở thành mọi phản ứng, mọi suy nghĩ và hành động của bản thân mình, để chính Lời Chúa làm sức mạnh, giúp ta xóa bỏ thù hận, xóa bỏ mọi ngăn cách, để tha thứ và để sống yêu thương. Và tôi nghĩ, cái hay cái giỏi của bất cứ ai nỗ lực sống yêu thương từng ngày, và từng bước thành công, chính là dám học lấy khuyết điểm của Chúa Giê-su: yêu anh em như Chúa yêu chúng ta...
Lm. VŨ XUÂN HẠNH

 

TN7-C26: LẤY ÂN ĐỀN OÁN – Chuyện

Tại một bộ lạc ở nước Nam Phi có hai người thổ dân chỉ vì một mối hiềm khích nhỏ mà đưa đến: TN7-C26

Tại một bộ lạc ở nước Nam Phi có hai người thổ dân chỉ vì một mối hiềm khích nhỏ mà đưa đến căm thù nhau khốc liệt. Một ngày kia, trên đường vào rừng đốn củi, một trong hai kẻ tử thù bắt gặp đứa bé gái con của đối phương đang tung tăng vui chơi hái hoa dại, người ấy bừng bừng nổi giận, sẵn con dao cầm trên tay, ông ta túm lấy bé gái mà chặt đứt mất hai ngón tay trên bàn tay phải của em. Ông ta ngửa mặt nhìn trời cười ha hả: “Thế là hôm nay, ta đã trả được mối cừu thù...” Trong lúc đó thì bé gái đáng thương hết sức kinh hãi và đau đớn, òa khóc bỏ chạy về nhà, bàn tay đầm đìa máu chảy...
20 năm thấm thoát trôi qua, em bé nạn nhân lớn lên, nay đã có chồng có con, làm ăn khá giả nhất trong làng, còn cha mẹ cô ta thì đã sớm qua đời, mang theo mối hận vẫn chưa thanh toán được với kẻ thù của mình.
Một hôm, có một người hành khất già đi ngang qua, mệt lả vì đói. Ông lão ghé vào nhà xin bà chủ chút cơm thừa canh cặn. Người đàn bà chợt nhận ra đó chính là hung thủ đã chặt đứt hai ngón tay mình năm xưa. Bà vội vào nhà trong dọn bánh thơm sữa ngọt cho người ăn xin đáng thương. Khi ông lão đã ăn no nê, định nói lời cám ơn để từ biệt thì bà ngăn lại, đến gần, đưa bàn tay phải đã cụt mất hai ngón tay ra, nhỏ nhẹ nói: “Thế là hôm nay, tôi đã trả được mối thù năm xưa của cha mẹ tôi và của chính tôi...”
Người hành khất già chợt hiểu ra mọi chuyện, ông gục đầu xuống, càng xúc động về nghĩa cử của bà chủ nhà, lại càng ân hận về hành động tàn nhẫn mù quáng của mình trước đây. Lấy oán báo oán thì oán ấy chất chồng, nhưng lấy ân đền oán thì oán ấy tiêu tan...
Trích NỐI LỬA CHO ĐỜI tập 2

 

TN7-C27: MẮT ĐỀN MẮT – RĂNG ĐỀN RĂNG – Chuyện

Tại một số địa phương trên thế giới hiện nay vẫn còn áp dụng một thứ luật lệ truyền thống khắc: TN7-C27

Tại một số địa phương trên thế giới hiện nay vẫn còn áp dụng một thứ luật lệ truyền thống khắc nghiệt theo kiểu “mắt đền mắt – răng đền răng”, thậm chí là “mạng đền mạng” nữa. Bất cứ ai làm cho người khác chết vì lý do gì thì cũng phải đền mạng y như vậy.
Một hôm, có một người thợ xây đang ở trên giàn giáo cao bị xẩy chân rơi xuống, chẳng may lại trúng ngay một người đang đi bộ ngang qua phía dưới. Điều oái oăm là anh thợ chỉ bị xây xát qua loa, còn người khách bộ hành thì chấn thương nặng, hôn mê rồi chết khi đưa vào bệnh viện. Chiếu theo luật của miền này, gia đình nạn nhân đưa nội vụ ra tòa đòi anh thợ phải đền mạng. Vị quan tòa vốn từ lâu đã thấy những cái vô lý trong bộ luật của địa phương, nhưng truyền thống và hủ tục xưa nay rất khó thay đổi.
Cuối cùng, để cứu người thợ xây oan ức, ông tuyên bố: “Việc gia đình nạn nhân đòi mạng người thợ xây theo truyền thống là chính đáng, nhưng tôi thấy phải nói rõ rằng: Nếu anh ta đã giết người nhà của các ông bằng cách nào, thì các ông cũng phải giết anh ta đúng bằng cách ấy, nghĩa là một người trong gia đình các ông phải trèo lên giàn giáo, nhẩy xuống đúng vào đầu anh thợ xây đang đi phía dưới...”
Nghe tòa xử công minh như thế, bên gia đình kiện cáo bèn vội vàng xin bãi nại và tha bổng cho anh thợ xây. Cũng từ sự kiện chấn động này, dân trong vùng mới thấy rõ sự tàn nhẫn phi lý và mù quáng của bộ luật địa phương mình và dần dần đi đến quyết định loại bỏ hẳn tính cách “mắt đền mắt – răng đền răng” trong quan hệ xử thế giữa con người với nhau.
Theo LỜI HẰNG SỐNG 3.2000

 

TN7-C28: ĐỪNG XÉT ĐOÁN - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

VietCatholic (Chúa Nhật 7 Thường Niên C)

Chúa nhật 7 Thường niên C

Lc 6, 27-38

 

Tin Mừng Chúa nhật hôm nay có nhiều đề tài suy niệm.Xin chọn chủ đề “xét đoán” để chúng ta cùng: TN7-C28

Tin Mừng Chúa nhật hôm nay có nhiều đề tài suy niệm.Xin chọn chủ đề “xét đoán” để chúng ta cùng suy gẫm cho chính mình “Anh em đừng xét đoán, thì sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán” (Lc 6,37).

Xét đoán được ghép bởi hai động từ là xét và đoán. Xét là tìm hiểu, đoán là phỏng chừng. Xét thì khó vì phải tìm hiểu hoàn cảnh, nguyên nhân, phân tích để có sự kiện rõ ràng. Đoán thì dễ hơn, chỉ cần ước lượng là thế, phỏng chừng như vậy, đoán thì dựa trên những điều không đủ chắc, không rõ sự thật. Khi nói xét đoán một người thì có phần xét và có phần đoán. Nhiều khi phần đoán lại nhiều hơn phần xét. Sai lầm nảy sinh từ đó.Ngay cả Đức Khổng Phu Tử cũng có khi xét đoán sai lầm về học trò của mình như trong câu chuyện kể sau đây :

Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết từ nước Lỗ sang nước Tề. Ngày đầu đến đất Tề đang lầm than đói khổ chiến tranh. Thầy trò vui mừng khi có người đem biếu ít gạo. Khổng Tử phân công Tử Lộ dẫn các bạn vào rừng kiếm rau còn Nhan Hồi lo nấu cơm. Khi Tử Lộ vào rừng, Nhan Hồi nấu cơm dưới bếp, Khổng Tử đọc sách ở nhà trên đối diện với nhà bếp cách một cái sân nhỏ.

Đang nằm đọc sách bỗng Khổng Tử nghe tiếng cộp từ nhà bếp vọng lên. Khổng Tử ngừng đọc liếc mắt xuống thấy Nhan Hồi từ từ mở vung lấy đũa xới cơm cho vào nắm tay vo chặt, rồi đậy vung lại và từ từ đưa cơm lên miệng.

Mọi hành động của Nhan Hồi không qua mắt Khổng Tử. Thở dài, Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than: Chao ôi! học trò đệ nhất của Khổng Tử mà lại ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt như thế này ư? Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là nay tan thành mây khói cả!

Tử Lộ và các bạn đem rau về. Nhan Hồi luộc rau. Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ. Một lát sau, rau chín. Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên, tất cả các môn sinh chắp tay mời Khổng Tử dậy dùng cơm.

Khổng Tử dậy và nói: Các con ơi! chúng ta đi từ đất Lỗ sang đất Tề đường xa vạn dặm. Thầy rất mừng vì trong cảnh loạn lạc, dầm sương dãi nắng, đói khổ như thế mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch, các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau, các con vẫn một dạ theo thầy trải qua bao nhiêu chặng đường, đói cơm khát nước. Hôm nay ngày đầu tiên đến đất Tề, thầy trò ta may mắn có được bữa cơm. Bữa cơm đầu tiên trên đất Tề làm thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ, thầy nhớ đến cha mẹ thầy, cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ thầy. Các con tưởng có nên chăng?

Nhan Hồi đứng im, các môn sinh đều chắp tay thưa: Thưa thầy nên lắm!

Khổng Tử lại nói: Nhưng không biết nồi cơm này có sạch không?

Tất cả các học trò đều không hiểu ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau. Bấy giờ Nhan Hồi chắp tay thưa: Thưa thầy nồi cơm này không được sạch.

Khổng Tử hỏi: Tại sao?

Nhan Hồi đáp: Thưa thầy, khi cơm chín con đã mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa. Chẳng may một cơn gió thổi tới, bồ hóng và bụi bay vào làm bẩn cả nồi cơ. Con đã nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đo, con xới cơm bẩn ra định vứt đi. Nhưng con lại nghĩ : cơm thì ít mà anh em thì đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này đi thì vô tình bỏ mất một phần cơm, anh em phải ăn rút lại. Vì thế cho nên con đã mạn phép thầy và anh em, con ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy cùng tất cả anh em. Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi, bây giờ con xin phép không ăn nữa, con chỉ ăn phần rau. Và thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa.

Nghe Nhan Hồi nói thế, Khổng Tử lại ngửa mặt lên trời mà than: Chao ôi! thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu đúng sự thật! Suýt tí nữa thì Khổng Tử này đã trở thành kẻ hồ đồ! (Tuyển tập truyện hay, giấc mộng vàng trang 270).

Đọc xong câu chuyện trên đây chúng ta liên tưởng đến lời Chúa Giêsu dạy “Các con đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán”. Ai đeo kính đen thì nhìn cài gì cũng tối cả. Lưỡi đắng thì ăn cái gì cũng đắng cả. Những người Pharisiêu luôn có thái độ xét đoán. Xét đoán làm cho họ đi đến đối nghịch, nhiều lần nhiều cách để gài bẫy để loại trừ Chúa Giêsu.

Phúc âm Ga 8, 1-11, kể câu chuyện người đàn bà ngoại tình bị xét đoán và bị kết án ném đá vì những hành động tội lỗi. Còn Chúa Giêsu lại mời gọi đám đông dân chúng xét lại mình trước khi kết án người phụ nữ này : ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi. Thế rồi họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Khi còn lại Chúa Giêsu và người phụ nữ, Chúa bảo : tôi cũng không kết án chị đâu, chị hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa!. Trước mặt xã hội người phụ nữ bị kết án, trước mặt Chúa Giêsu chị được thứ tha.

Thiên Chúa luôn nhìn thấy tâm hồn con người. Sách Samuel viết: “Ngươi chỉ nhìn thấy những điều trước mắt còn Thiên Chúa trông thấy điều ẩn náu trong lòng”(1Sam 7). Điều ẩn náu đó là lương tâm. Lương tâm là vấn đề riêng tư nhất, đã là riêng tư thì làm sao biết được, mà không biết thì làm sao định lượng giá trị.Thánh Phaolô nhắc nhở “ Ngươi là ai mà xét đoán gia nhân người khác? Nó đứng hay nó ngã, mặc chủ nó, song nó sẽ đứng vững, vì Chúa có đủ quyền năng cho nó đứng vững” ( Rm 14,4).

Thánh Gioan gọi những xét đoán của con người là: “Các ngươi căn cứ vào xác thịt để xét đoán”(Ga 8,15). Căn cứ vào xác thịt thì có sai lầm vì không xét được, không biết đủ sự kiện thì đoán chừng, có đoán chừng thì có sai lạc.Và khi xét đoán sai lầm là gây ra bất công cho người khác. Xét đoán của tôi không làm tha nhân xấu ra thêm nhưng hậu quả là làm tôi mất bình an. Tâm hồn tôi không còn thanh thản tươi sáng nữa mà vương vấn vì những ý nghĩ đen tối, tôi tự đem mảnh trời u ám mặc lấy hồn mình.Khi tôi xét đoán sự xấu cho ai thì tôi sẽ cho họ không tốt, từ đó nó làm tôi bớt kính trọng, bớt tín nhiệm người ấy. Lòng tôi dè dặt, tự nhiên thấy xa cách họ. Có một cái gì đó phân chia để rồi khi gặp nhau không còn chân thành nữa mà chỉ che dấu bằng bề ngoài giả tạo. Nếu cuộc sống chỉ toàn giả tạo thì còn gì là niềm vui, thì làm sao có bình an,hạnh phúc ?

Chỉ có Chúa mới thấu suốt tâm hồn con người, nên Chúa Cha đã dành quyền xét xử cho một mình Chúa Con mà thôi như đã viết trong Phúc âm Gioan “Mọi việc xử án ban cho Con”(Ga 5,22). Như thế, khi chúng ta phán đoán để xét xử về một người là dành quyền đó của Chúa. Thánh Giacôbê đã viết: “Xét đoán anh em là xét đoán Lề Luật. Nếu ngươi xét đoán Lề Luật thì ngươi không còn là kẻ giữ luật mà là Thẩm phán. Chỉ có một Đấng lập Luật và là Thẩm phán, Đấng có quyền cứu rỗi và tiêu diệt. Ngươi là ai mà dám xét đoán đồng loại?”(Gc 4,11-12).

Hoàn cảnh lương tâm của một người là vùng đất thánh. Chúng ta không thể dẫm chân vào được, chỉ có Chúa mà thôi. Thánh Phaolô căn dặn: Chính điều ngươi xét đoán kẻ khác, ngươi kết án chính mình ngươi”(Rm 2,1). Và khi ta xét đoán người khác là ta “ khinh thường kho tàng phong phú là lòng nhân từ, kiên nhẫn và quảng đại của Chúa” (Rm 2,4)

Đừng xét đoán, đây là lệnh truyền của Chúa. Cần sữa mình trước mới có thể giúp sữa người khác. Không xét đoán trái lẽ, đó là luật yêu thương công bình. Thánh Giuse thấy Đức Mẹ có thai nhưng ngài không xét đoán xấu, ngài chỉ âm thầm ôm lấy nổi đau lặng lẽ ra đi. Nhờ vậy mà ngài đã nên người công chính. Người có lòng mến Chúa, có tâm hồn đơn sơ thì không bao giờ nghĩ xấu cho ai, trái lại họluôn nghĩ tốt, nói tốt về người khác. Thánh Têrêxa Hài Đồng khi thấy chị nào có lỗi thì thường tự bảo mình rằng : chị đó chẳng may lỗi một điều, nhưng biết đâu lại chẳng đã làm được một trăm điều lành mà tôi không thấy. Biết đâu lỗi lầm của chị chỉ là cái màn Chúa dùng để che nhân đức sâu xa của chị.

Lạy Chúa, chúng con cần Ơn Chúa rất nhiều để kìm hãm mình khi muốn xét đoán người khác, vì xét đoán là cám dỗ nguy hiểm gây biết bao đổ vỡ xa cách. Xin cho chúng con có lòng mến Chúa, có tình bác ái khi suy nghĩ, khi nói về nói với anh em chúng con. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

 

TN7-C29: Yêu thương kẻ thù bằng hành động - Lm. Đan Vinh

VietCatholic (Chúa Nhật 7 Thường Niên C)

Chúa Nhật 7 Thường Niên C

Lc 6,27-38

I.TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1) Ý CHÍNH : YÊU THƯƠNG KẺ THÙ BẰNG HÀNH ĐỘNG.

 

Bài Tin Mừng hôm nay là tổng hợp các lời khuyên của Đức Giêsu dạy các môn đệ của Người về: TN7-C29

Bài Tin Mừng hôm nay là tổng hợp các lời khuyên của Đức Giêsu dạy các môn đệ của Người về cách cư xử đối với những kẻ thù địch và gian ác, để xứng đáng làm con Thiên Chúa nhân hậu từ bi. Một số việc cụ thể cần phải làm được tóm kết như sau :

+ Hãy chúc lành để đáp lại những lời nguyền rủa; Hãy cầu xin điều tốt để đáp lại sự vu khống; Không chống cự với những kẻ ngược đãi mình và cho họ nhiều hơn điều họ cần. Làm trước cho kẻ khác điều mình muốn kẻ khác làm cho mình.

+ Tỏ lòng nhân từ đối với những kẻ vô ơn độc ác. Làm ơn và cho vay mà không mong báo đền.

+ Không xét đoán ý trái và đừng vội kết án tha nhân. Quảng đại tha thứ và cho đi. Vì tất cả những việc tốt ấy sẽ không vô ích, nhưng sẽ được Thiên Chúa báo đền ở đời này và đời sau.

2) CHÚ THÍCH:

- Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây : Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em. Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin thì hãy cho. Ai lấy cái gì của anh thì đừng đòi lại. Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy (Lc 6,27-31) :

+ Những người đang nghe Thầy đây : Có lẽ những người giàu có, được thỏa mãn sung sướng, được no thỏa…đã chán nản bỏ đi khi nghe những lời Chúa than phiền trách móc trong bài giảng đầu tiên về 4 mối họa nói trên.

+ Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em : kẻ thù ở đây không những là những kẻ làm ác nói chung, mà cụ thể là những kẻ ganh ghét làm hại ta, những người nguyền rủa, vu khống, đánh đập và tước đoạt tài sản của ta…yêu kẻ thù không phải chỉ về tình cảm nhưng còn ở cách cư xử, cách phản ứng đối với việc họ làm chống lại ta.

+ Chúc lành, cầu nguyện, giơ má bên kia cho kẻ vả mặt mình, không cản nó lấy luôn cả áo trong…: Đó là những việc cụ thể biểu lộ tình thương của người môn đệ Chúa đối với kẻ thù. Nhưng đây là một kiểu nói nghịch lý được cường điệu hóa theo kiểu của người Do thái, tương tự như Chúa đòi người ta phải móc mắt, chặt tay nếu những bộ phận ấy nên dịp tội cho mình (x. Mt 5,29-30). Trong thực tế, dù mắt có bị móc, tay có bị chặt…cũng không làm cho người ta khỏi tiếp tục vấp phạm ! cái vả mặt thứ hai cũng không ngăn cản được cái vả thứ ba của kẻ gian ác. Ngoài ra vô tình sẽ làm mất đi sự an ninh trật tự và công bằng xã hội ! Nhưng thực sự người ta không được hiểu lời Chúa hoàn toàn theo nghĩa đen. Bằng chứng là Đức Giêsu đã không đưa má kia cho tên thuộc hạ của thượng tế Khan-na, sau khi hắn vả mặt Người mà hạch lại nó rằng : “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; Còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi ?” (Ga 18,23). Tuy nhiên Đức Giêsu vẫn đòi môn đồ phải kiên nhẫn chịu đựng những đau khổ do kẻ ác gây ra như lời tuyên sấm của ngôn sứ Isaia về cuộc khổ nạn của Đức Giêsu, người tôi trung của Thiên Chúa như sau : “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ” (Is 50,6).

+ Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy : Lời này được gọi là “Qui luật vàng”, một trong các nguyên tắc căn bản của việc đối nhân xử thế. Tôbia cha đã khuyên Tôbia con rằng : “Điều con không thích, thì cũng đừng làm cho ai cả” (Tb 4,15). Đức Khổng Tử cũng dạy : “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (nghĩa là : Điều mình không muốn, thì đừng làm cho người). Lời Đức Giêsu nhấn mạnh ở khía cạnh tích cực : Hãy làm mọi điều tốt có thể làm được cho người thân cận, dù họ đang thù ghét làm hại mình.

- Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có ân nghĩa gì đâu ? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ. Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ơn với nghĩa ? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ơn với nghĩa ? Cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẳng. Trái lại, anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao. Vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ơn và quân độc ác (Lc 6,32-35) :

+ Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có ân nghĩa gì đâu ? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ : Trong Mátthêu (5,46) thì nói về “công trạng”. Còn ở đây, cũng như ở Luca (17,9) thì nói đến “ơn nghĩa”. Đức Giêsu đòi môn đệ phải hành xử trổi vượt là “Yêu thương cả những người không yêu mình”. Tình yêu thương của môn đệ phải vượt qua tình cảm cục bộ tự nhiên tự phát như : tình cảm gia đình, tình đồng chí, tình đồng bào, tình đồng đạo…Vì những băng nhóm tội phạm cũng có tình cảm với nhau như vậy. Vì viết cho các tín hữu Do Thái, nên Tin Mừng Mátthêu viết : “Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao ?” (Mt 5,47b). Ở đây, Luca vì viết cho lương dân nên thay từ “Người ngoại” bằng từ “Người tội lỗi”.

+ Anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả: Trong Tin Mừng Mátthêu không nói đến việc “cho vay”. Đang khi Luca không bao giờ bỏ lỡ cơ hội để nhấn mạnh đến tiền bạc vật chất cụ thể. Đối với Luca, việc chia sẻ của cải vật chất là dấu chỉ của tình yêu thương thực sự vì “Đồng tiền liền khúc ruột !”. Cho kẻ khác tiền bạc của cải là một việc làm rất khó thực hiện, cũng giống như khi phải yêu thương và tha thứ cho kẻ thù của mình vậy.

+ Phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là Đấng Tối cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ơn và quân độc ác : Thiên Chúa là mẫu gương để các môn đệ Đức Giêsu học tập về cách cư xử với kẻ gian ác. Phần thưởng của người yêu kẻ thù là sẽ xứng đáng là “con của Đấng Tối Cao”. Danh hiệu này đã được ban cho vị Vua nối dòng Đavít (x. 2 Sm 7,14; Tv 2,7); Đức Giêsu cũng được gọi bằng danh hiệu này khi sứ thần truyền tin cho Đức Maria (x. Lc 1,32). Về sau, ơn gọi làm “con Thiên Chúa” cũng được ban cho những người “xây dựng hòa bình” (x. Mt 5,9). Hành động “Yêu kẻ thù”là một việc Thiên Chúa không ngừng thực hiện : “Người luôn nhân hậu với cả phường vô ơn và quân độc ác”.

- Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán thì anh em sẽ không bị xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ thì sẽ được Thiên Chúa tha thứ. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy (Lc 6,36-38) :

+ Anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ : Khác với Tin Mừng Mátthêu : “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48), ở đây Luca thế chữ “Đấng hoàn thiện” bằng “Đấng nhân từ”. Đây là một kiểu nói được nhắc đến nhiều lần trong Cựu Ước như : Chúa là “Thiên Chúa nhân hậu và từ bi” (Xh 34,6; Tv 86,15), “Thiên Chúa từ bi” (Đnl 4,31).

+ Anh em đừng xét đoán…Đừng lên án…Hãy tha thứ…Xét đoán là một hành vi nhân linh, cần được thực hiện trong cuộc sống hằng ngày, để phân biệt đâu là người tốt kẻ xấu, điều nào là đúng hay sai, điều nào quan trọng nhiều hay ít, việc nào cần làm trước hay làm sau… Nhờ biết xét đoán cách đúng đắn và đề ra phương pháp hữu hiệu thì việc làm mới đạt kết quả tốt. Vậy “Đừng xét đoán” nói đây phải hiểu là đừng xét đoán ý trái cho người khác cách vô lý bất công. Việc kết án cũng chỉ dành riêng cho mình Thiên Chúa là “Đấng thấu suốt mọi bí ẩn” vào ngày tận thế. Còn trong hiện tại, Thiên Chúa không phán xét ta, không kết tội ta, sẵn sàng bao dung tha thứ cho kẻ tội lỗi…Và yêu cầu ta hãy noi gương Người. Sự phán xét và kết án đối với chúng ta ở đời sau sẽ căn cứ trên chính thái độ của chúng ta đối với tha nhân ở đời này : “Anh em đong bằng đấu nào, thì sẽ được đong lại bằng đấu ấy”; Hoặc căn cứ trên sự tha thứ của ta đối với lỗi lầm của tha nhân, như lời Chúa dạy cầu nguyện trong kinh Lạy Cha : “Xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con” (Lc 11,4).

II. HỌC SỐNG LỜI CHÚA

1) LỜI CHÚA: “HÃY YÊU KẺ THÙ”

2) CÂU CHUYỆN 1 : THA THỨ CHO KẺ GIẾT HẠI MÌNH :

Vào ngày 13.05.1981, cả thế giới đều sửng sốt kinh hoàng trước cái tin Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bị ám sát tại chính công trường thánh Phêrô. A-li Ac-ca (Ali Agca), một thanh niên Thổ Nhĩ Kỳ thủ phạm bắn ngài, ngay lúc đó đã bị bắt giam. Về phần Đức Giáo Hoàng, sau một thời gian chữa trị đã bình phục và việc đầu tiên Ngài làm là đến nhà tù thăm A-li, nói chuyện lâu giờ với anh ta và sẵn sàng tha thứ tội ám sát ngài của anh ta.

Chính tình yêu mến Đức Giêsu đã thúc đẩy vị đại diện của Người dưới trần gian, có lòng bác ái vô biên, là tha thứ cho kẻ giết hại mình, giống như Thầy chí thánh cũng đã từng cầu xin Chúa Cha tha tội cho những kẻ thù ghét giết hại mình : “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).

3) CÂU CHUYỆN 2 :

Văn hào Lê-ông Tôn-toi (Leon Toltoi) có kể câu chuyện đề cao sự tha thứ như sau:

Có một gã hành khất kia đến trước cửa nhà một ông giàu có để xin của bố thí. Nhưng mặc cho người khốn khổ van xin, ông nhà giàu vẫn cố tình ngoảnh mặt làm ngơ. Đuổi mãi không đi. Cuối cùng ông nhà giàu đã lượm một cục đá ném vào trúng mặt của gã ăn xin.

Con người khốn khổ kia lặng lẽ nhặt lấy hòn đá ném trúng mình, cất vào bị mang theo bên mình, rồi nhủ thầm trong lòng rằng : “Ta sẽ giữ hòn đá này cho đến ngày mi bị sa cơ thất thế. Bấy giờ ta sẽ dùng nó để ném trả lại vào mặt của mi !”. Năm tháng qua đi, lời nguyền của người hành khất một ngày kia đã thành hiện thực. Vì nhúng tay vào vụ biển thủ công quĩ, ông nhà giàu kia bị ra tòa và toà ra lệnh tịch thu toàn bộ tài sản để trả nợ. Ngoài ra ông ta còn bị kết án tù 20 năm. Trong ngày ông nhà giàu bị bắt, gã hành khất kia đã được chứng kiến từ đầu đến cuối. Hắn ta thấy ông nhà giàu bị quân lính bắt trói và áp giải vào nhà tù, Nỗi căm tức do bị xua đuổi và bị ném đá chảy máu đầu trước kia lại bùng lên trong lòng người hành khất. Hắn ta đi hòa lẫn vào trong đám đông dân chúng hiếu kỳ, trên tay hắn là hòn đá mà cách đây mười mấy năm hắn đã từng bị người kia ném trúng. Hắn muốn ném hòn đá này vào mặt tên tù nhân để rửa hận.

Nhưng khi chen chân đến gần được cỗ xe và nhìn thấy rõ gương mặt tiều tụy của người giàu có thật thảm hại, kèm theo đôi tay bị trói bẻ quặt ra sau, gã hành khất tự nhiên buông bàn tay cho cục đá kia rơi xuống đất và tự nhủ rằng : “Ta thật uổng công khi cất giữ cục đá kia suốt bao năm nay ! Bây giờ ta không cần gì phải ra tay ném đá vào hắn ta nữa, vì con người này đã bị quả báo trở thành một kẻ còn khốn khổ hơn ta gấp nhiều lần !”

4)CÂU CHUYỆN 3 : Một gã khùng kia nghe biết Đức Phật dạy người ta phải có lòng đại từ đại bi như sau : “Lấy oán báo oán, oán thù chồng chất. Lấy ơn báo oán, hóa giải oán thù !”. Một ngày nọ hắn ta đến xin gặp Đức Phật và thử xem ngài có thực hành được điều đã rao giảng hay không ? Hắn bắt đầu tuôn ra đủ mọi lời để tháo mạ và phỉ báng ngài. Hắn gọi ngài là một tên ngông cuồng và đần độn nhất trên đời ! Trong khi hắn liên tiếp tuôn ra những lời lăng mạ, phỉ báng, thì Đức Phật vẫn kiên trì im lặng nghe. Chờ hắn nói xong và im lặng nghỉ lấy sức, Đức Phật mới từ tốn ngỏ lời với hắn như sau : “Này anh, nếu một người không nhận món quà của người khác trao tặng, thì món quà đó sẽ đi về đâu ?”. Gã khùng kia đáp lại : “Ai chẳng biết là nó sẽ quay về với người đã gửi nó đi !”. Bấy giờ Đức Phật nói tiếp : “Này anh, chính anh vừa tặng ta rất nhiều lời khiếm nhã để lăng nhục thóa mạ ta. Nhưng ta chẳng dám nhận đâu nhé !”. Gã khùng đàng câm miệng không nói thêm được lời nào. Sau đó, Đức Phật nói tiếp : “Này anh, kẻ nào lăng mạ một người tốt lành thì cũng giống như tung đám bụi cát vào trong cơn gió. Bụi đó sẽ chẳng bay đi đâu xa, nhưng quay lại và bay vào mắt của chính anh ta !”

Câu chuyện trên minh họa cho ta hiểu rõ hơn về “định luật quả báo”. Nghĩa là : Người ta cho kẻ khác thế nào thì cũng sẽ nhận được kết quả y như vậy. Nói lời lăng nhục thì sẽ nhận lại lời lăng nhục; Gieo rắc tình thương thì sẽ nhận lại được tình thương ! Sở dĩ nhiều người ngày nay bị cô độc phiền muộn vì bị người thân bỏ rơi không đến thăm nuôi chăm sóc thì cũng chỉ là kết quả đương nhiên của luật quả báo nói trên mà thôi. Chính vì họ đã không chịu đến với tha nhân trước, nên cũng chẳng ai thèm đến thăm viếng họ !

5) CÂU CHUYỆN 4 :

Cách đây ít lâu có một phụ nữ viết một bài đăng trên một tạp chí tôn giáo. Trong đó bà kể lại kinh nghiệm về định luật quả báo trong quan hệ giao tiếp với tha nhân như sau :

“Tôi là một phụ nữ tuổi trung niên và tính tình khép kín. Tôi không thích giao tiếp với bất cứ ai vì sợ bị họ quấy rầy. Chính vì thế mà tôi đã sống cô đơn nhiều năm trong một căn hộ chật hẹp với tiền trợ cấp xã hội được hưởng mỗi tháng. Thời gian này tôi dể nổi giận khi buộc phải giao tiếp với tha nhân. Thái độ khép kín đó đã dần dần làm cho tôi bị chứng suy nhược thần kinh. Một ngày nọ tôi bị đau phải vào điều trị trong một bệnh viện phí. Tôi phải nằm viện để điều trị kéo dài đã khá lâu mà bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Trong thời gian này tôi cảm thấy thật cô đơn vì không có người nào đến thăm viếng. Mỗi năm vào dịp cuối năm chỉ có cô em gái của tôi ở nước ngoài gửi biếu tôi một thùng quà và một cánh thiệp chúc mừng Giáng Sinh. Một ngày kia, tôi lại nhận được tin cô em gái duy nhất của tôi đã bị chết vì tai nạn giao thông. Tin này khiến cho tôi lại càng thêm tuyệt vọng hơn nữa.

Rồi một hôm, tình cờ tôi đọc được một thông báo trong tập san của bệnh viện như sau : “Tổ chức thiện nguyện chúng tôi đang cần thêm người tình nguyện đến phục vụ các bệnh nhân tê liệt tại tầng lầu ba của bệnh viện”. Tôi quyết định đăng ký xin làm thử công việc thiện này để tránh thời giờ nhàn rỗi không biết làm gì. Chỉ có Chúa mới biết tại sao tôi lại tình nguyện làm một công việc khá vất vả mà lại không được trả lương này. Nhưng theo tôi hiểu thì chắc là Người muốn dùng việc ấy để chữa cho tôi lành bệnh.

Một hôm, tôi được tổ chức thiện nguyện phân công giúp đỡ cho một bà cụ bị tê liệt và không có người thân thăm viếng. Bà cụ hay tủi thân và thường than vãn trách móc con cháu đã đối xử tệ bạc với bà. Nhận thấy cu cần được động viên an ủi, nên tôi hay đến ngồi bên cụ. Tôi vừa bóp tay chân cho cụ vừa lắng nghe cụ tâm sự. Cụ hồi tưởng lại quá khứ và kể về những nỗi đau khổ mà chồng con đã xử tệ bạc với cụ. Một hôm tôi ghé tai khẽ nói với cụ rằng : Tôi có một bà mẹ có nét mặt phúc hậu rất giống với cụ, tôi cảm thấy yêu cụ như yêu mẹ ruột của tôi. Nghe vậy, nét mặt bà cụ đột nhiên biến đổi : Cụ im lặng nhìn thẳng vào mắt tôi và hỏi : “Có thật vậy không hả cô ?”. Tôi trả lời : “Đúng thật như vậy ! Con rất yêu cụ như yêu mẹ ruột của con !”. Và ngay lúc ấy, tôi cảm thấy có một sự biến đổi lạ lùng nào đó trong con người của tôi. Trước đây tôi không có thiện cảm với bất cứ ai, nhưng giờ đây tôi thấy mọi người đều dễ thương và muốn tiếp xúc với những ai đang đau khổ để đem lại niềm vui và tình thương đến cho họ. Cũng từ ngày đó tôi không còn cảm thấy căng thẳng và quyết định không tiếp tục uống thuốc chữa bệnh thần kinh nữa. Trong lần tái khám định kỳ, bác sĩ chữa trị cho tôi rất ngạc nhiên khi thấy tôi tự nhiên bình phục rất nhanh mà không còn phải uống thuốc chữa bệnh mỗi ngày như trước ?

6)SUY NIỆM :

+ Người xưa có câu : “Ác gỉa ác báo”; “Gieo gió gặt bão”; Làm điều ác thì sẽ gặp điều ác. Lấy oán báo oán chỉ tăng thêm hận thù mà thôi. Chỉ có ánh sáng mới xóa tan bóng tối. Chỉ có tình thương mới dập tắt được hận thù. Nếu chúng ta không sống theo lời dạy của Chúa Giêsu để tha thứ cho tha nhân những sự xúc phạm của họ đối với mình thì phản ứng dây chuyền của sự ác là hận thù sẽ tăng thêm, bạo lực sẽ kéo theo bạo lực, và tất cả chúng ta sẽ rơi vào hố sâu diệt vong.

+ Một nhà tâm lý đã nói rằng : “Nếu anh nuôi lòng thù hận muốn giết kẻ thù đã làm hại anh, thì anh hãy sắm sẵn hai chiếc quan tài : Một chiếc để dành cho kẻ thù sẽ bị anh giết chết, còn chiếc thứ hai sẽ dành cho chính anh. Vì anh cũng sẽ bị chết dần chết mòn do lòng thù hận gây ra”. Thực vậy, hận thù gây tác hại cho chính người thù ghét kẻ khác. Nó làm tổn thương tinh thần của người nuôi sự oán thù trong lòng. Nó hủy diệt nhân cách của họ. Ba-con nói : “Khi trả thù, người ta biến mình ngang hàng với kẻ thù. Còn khi tha thứ thì người ta vượt cao hơn hẳn kẻ thù”.

+ Các chuyên gia tâm lý ngày nay đều công nhận rằng : “Hận thù thì hủy diệt, còn yêu thương thì phát triển nhân cách một cách lạ lùng và hữu hiệu”. Tình yêu có phép mầu sẽ biến thù thành bạn. Ap-ram Lanh-côn (Abraham Lincon) nói : “Biến thù thành bạn, tức là ta đã tiêu diệt kẻ thù rồi vậy !”. Chính Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đã dạy chúng ta : “Anh em hãy yêu kẻ thù…Hãy tha thứ thì sẽ được thứ tha. Hãy cho đi thì sẽ được cho lại !” (Lc 6,35.37b-38a).

7) THẢO LUẬN: 1) Đã có khi nào nhờ làm việc tốt cho kẻ thù mà bạn đã biến kẻ thù trở thành bạn hay không ? 2) Bạn có quyền xét đoán kẻ khác hay không ? Tại sao ? Phải hiểu thế nào về lời Chúa dạy “đừng xét đoán” trong Tin Mừng hôm nay?

III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU

1) Lạy Chúa Giêsu, Xin cho con quả tim Chúa. Xin cho con đừng khép lại trước tha nhân, nhưng biết quảng đại mở ra, biết vương lên cao, vượt mọi tình cảm ích kỷ tầm thương của loài người, để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ của Thiên Chúa. Xin cho con đủ sức vượt qua mọi hờn oán nhỏ nhen, mọi sự trả thù ti tiện. Xin cho con luôn giữ được tâm hồn bình thản, không để cho bất cứ yếu tố bên ngoài nào làm xáo trộn, không để bất cứ đam mê nào khuấy động tâm hồn con. Xin cho con không quá hồ hởi khi thành công và được người khác động viên khen ngợi, mà cũng đừng quá buồn chán thất vọng khi gặp phải sự chống đối và phê bình chỉ trích. Xin cho quả tim con đủ lớn để yêu được những người ganh ghét, vu khống và bách hại con.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

2) Lạy Mẹ Maria. Trong Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đã dạy rằng : “Đừng xét đoán ý trái cho người khác để con khỏi bị Thiên Chúa xét đoán”. Đây là lời con đã nghe nhiều, nhưng chưa thực hành được bao nhiêu. Dưới cái nhìn của con, thì các việc làm hay lời nói, thái độ của người mà con có ác cảm, đều là xấu, đều là xấu vì có ý đồ xấu, đều có nhiều khuyết điểm thiếu sót…Nên con hay lên tiếng phê bình chỉ trích và chê bai cách quá đáng !

Lạy Mẹ, người ta thường nói :“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ !”. Khi con đeo cặp kính màu đen thì mọi người hay sự vật con trông thấy đều nhuộm một màu đen tăm tối. Cũng vậy, qua cái nhìn đầy thành kiến của con, mọi việc của những kẻ con không ưa, đều có vấn đề. Những tật xấu của họ sẽ được con phóng đại cho thêm to lớn, còn những việc tốt của họ thì con lại cố tình bóp méo. Con coi là họ làm vì có ý đồ xấu, là gỉa hình, là vụ lợi…Xin Mẹ giúp con có được cái nhìn bao dung của Chúa Giêsu. Xin cho con biết nhìn ra và thành thật khen ngợi những điều tốt đẹp của tha nhân, sẵn sàng bỏ qua và không chấp nhất những lời nói xúc phạm của những kẻ thù ghét con, để con xứng đáng với danh hiệu là “con của Đấng Tối Cao. Vì Chúa vẫn luôn tỏ lòng nhân hậu với phường vô ơn và quân độc ác” (Lc 6,35b).

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

Trích Hiệp sống Lời Chúa.

Lm. Đan Vinh

 

TN7-C30: ĐỪNG CHỌN VIỆC CỦA CHÚA - Phaolô Ngô Suốt

VietCatholic (Chúa Nhật 7 Thường Niên C)

Chúa nhật 7 Thường niên C

L 6, 27-38

 

Đức cố Tổng Giám Mục Fulton J. Sheen viết :  “ Bạn muốn một tôn giáo không bắt đầu bằng mức: TN7-C30

Đức cố Tổng Giám Mục Fulton J. Sheen viết :  “ Bạn muốn một tôn giáo không bắt đầu bằng mức độ tốt lành của bạn, mà bắt đầu bằng tình trạng lộn xộn, mơ hồ của bạn. Tri thức hiện có của bạn, đang làm cho bạn sống trong sự nô lệ của những ước muốn hư hỏng, từ chối một cách ích kỷ và bủn xỉn trước những yêu cầu khẩn thiết của người khác, bạn thét lên với câu thơ:” Ôi tội lỗi của tôi qúa mức : mùi của nó xông lên đến tận thiên đàng”.

Bạn có thể yêu những kẻ đáng yêu mà không cần phải có tôn giáo; bạn có thể quý trọng những kẻ quý trọng bạn cũng không cần có tôn giáo, bạn có thể trả những món nợ mà không cần đến tôn giáo, nhưng bạn không thể yêu thương những kẻ ghét bạn nếu bạn không có tôn giáo; bạn không thể chuộc những lỗi lầm do lương tâm bất chính của bạn gây nên nếu không có tôn giáo. Có lẽ lý do duy nhất trên trái đất này làm cho người ta yêu thương được những kẻ không đáng yêu, tha thứ được cho kẻ thù của mình, đó là: vì Thiên Chúa là tình yêu; cũng vì thế Ngài đã yêu thương tôi dù tôi chẳng xứng đáng chút nào với tình yêu đó, bời vậy tôi cũng phải yêu thương những kẻ ghét tôi”.

Tôi xin mượn đoạn văn này để mở đầu cho phần chia sẻ bài Tin Mừng hôm nay : Chúa ra lệnh cho chúng ta hãy yêu thương kẻ thù.

Thiên Chúa không bao giờ bắt buộc, hoặc đòi hỏi con người điều gì quá sức chịu đựng cả. Cũng như khi ban các giới luật, Chúa luôn ban ân sủng của Ngài hầu giúp chúng ta có thể giữ được các giới luật đó. Tuy nhiên, trên thực tế, không biết bao nhiêu lần chúng ta vi phạm giới luật yêu thương của Chúa, vi phạm một cách nghiêm trọng là đằng khác. Không riêng gì các cộng đồng Việt Nam luôn có những bất hòa, xáo trộn, mà nhìn lại chính Dân Thiên Chúa chúng ta cũng tệ hại không kém. Có rất nhiều giáo xứ -nhất là những giáo xứ đông người- người giáo dân kéo phe, kéo nhóm, bắt đầu bằng bất hòa, xung khắc, rồi trở thành thù địch lẫn nhau, có nhiều nơi, đến Cha xứ họ cũng không tha ! Chúng ta thử tìm hiểu xem tại sao lại xẩy ra “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” như vậy ?

Thánh Tiến Sĩ Tôma Aquinô giải thích rằng sở dĩ người ta tranh chấp, cãi cọ triền miên, bởi vì người ta luôn giải thíchxét đoán theo ý kiến và cảm nghiệm riêng của mình. Với bản tính tự nhiên, hậu quả của tội nguyên tổ, thường thì ai cũng cho mình đúng, mình hay hơn kẻ khác, chỉ có tôi hoặc nhóm của tôi mói làm được điều này việc nọ v.vv.. Chính đức cố Hồng y Nguyễn văn Thuận đã quay quắt trong tâm trạng này khi Ngài bị bắt và biệt giam trong tù. Là một Giám mục trẻ tuổi, nhiều tài năng, đầy nhiệt huyết, với bao nhiêu chương trình tốt đẹp, mang lợi ích thiết thực cho dân chúa, đang và sẽ tiến hành. Thế mà Chúa để cho ngã gục, nằm bó gối trong lao tù nghiệt ngã ! Ngài tâm sự -trong tác phẫm “năm chiếc bánh và hai con cá”- rằng : hoàn toàn nản chí, tuyệt vọng ! Vì ngài sử dụng lý trí của mình để giải thích và xét đoán sự việc, cũng như bối cảnh hiện tại, nên ngài cùng đường, quẩn trí là điều không tránh khỏi. Chính trong lúc hoàn toàn bế tắc này, tia lửa đức tin bùng sáng, một ánh sáng huyền nhiệm đã chiếu vào lý trí cùa ngài, ngài đã thoát chết, vì đã kịp nhận ra rằng : Chọn Chúa, chứ Đừng Chọn Việc Của Chúa.

Không ai hiểu biết việc của Chúa bằng chính Chúa, Ngài là Thiên Chúa mà không biết nên giao việc của Ngài cho ai là tốt nhất sao ? Thiết nghĩ đây là một bài học “ngàn vàng” cho mỗi tín hữu, mỗi tu sĩ.

Tóm lại, trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa muốn chúng ta tiến đến một trong những đỉnh cao của đức ái đó là hãy yêu thương kẻ thù của mình. Dĩ nhiên, nếu chúng ta có muốn cũng chưa chắc kẻ thù đồng ý hòa giải, “tay bắt mặt mừng” đâu. Chúa muốn chúng ta dù biết kẻ thù đang rình rập, vây quanh, nhưng hãy gạt bỏ điều đó ra khỏi trí óc, suy nghĩ của mình. Đừng bận tâm đến chuyện ấy. Chỉ có như thế chúng ta mới có thể đối xử bình thường với kẻ ấy được, mới có thể giúp đỡ khi họ cần đến ta. Điều này không đơn giản tí nào. Trước khi có thể yêu thương được người ngoài, có lẽ chúng ta nên tập đối xử tốt đẹp với anh chị em trong giáo xứ mình trước đã. Thiết nghĩ nếu ai cũng sống trong tinh thần : không giải thích, xét đoán theo ý riêng, chọn Chúa chứ đừng chọn việc của Chúa, cộng đoàn dân Chúa sẽ tốt đẹp, và Giáo Hội sẽ vui mừng biết mấy.

Phaolô Ngô Suốt

 

TN7-C31: ANH EM ĐỪNG XÉT ĐOÁN - Pt. Huyền Đồng

VietCatholic (Chúa Nhật 7 Thường Niên C)
Chúa nhật 7 Thường niên C / 7th Sunday in Ordinary Time

Lời Chúa cho hôm nay: ANH EM ĐỪNG XÉT ĐOÁN * Do not Judge *

 

Ông Đavit nói: Xin Đức Chúa thưởng công cho mỗi người tùy theo sự công chính và lòng trung thành: TN7-C31

* BÀI ĐỌC 1: 1 Samuel 26, 2, 7-9;12-13;22-23= Ông Đavit nói: Xin Đức Chúa thưởng công cho mỗi người tùy theo sự công chính và lòng trung thành của họ./The Lord will reward each man for his justice and fithfulness.

* BÀI ĐỌC 2: 1 Cor.15, 45-49=Con người đầu tiên là Adam được dựng nên thành một sinh vật, còn Adam cuối cùng là Thần Khí ban sự sống /Adam, the first man became a living soul, the last Adam has become a life-giving spirit.

* TIN MỪNG (Gospel) Luca 6, 27-38= Chúng ta phải nhớ trong tâm trí lời này: là cho đi thì sẽ được cho lại, phải có lòng nhân từ / We must keep in mind that the words : Give, and it shall be given to you, to be generous.

A- Bạn và tôi cùng Cảm - Nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share)

1/ Bài Phúc âm hôm nay Chúa dạy tôi nhiều việc cần phải làm hàng ngày như: Yêu kè thù, làm ơn cho kẻ ghét mình; hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa; cầu nguyện cho kẻ vu khống…” Tất cả tôi đều phải hành động ngược lại với bản tính của con người, tôi thấy khó quá! Tức là Chúa muốn tôi hành động, nói năng, phản ứng, suy nghĩ như Ngài. Tôi có thể làm được nếu tôi suy niệm Lời Chúa mỗi ngày, rồi dần dần Ngài sẽ gíup tôi trở nên giống Ngài. Chia sẻ cách tôi áp dụng Lời Chúa vào đời sống?(Hành đạo)

“Love your enemies; do good to those who hate you; bless those who curse you and pray for those… (Lc. 6, 27-28)

2/ Chúa Giêsu nói câu naỳ thật nhân bản qúa, mà tôi đã thuộc lòng: “Anh em muốn người ta làm gì cho mình thì cũng hãy làm cho họ như vậy…” Còn nhiều câu khác Chúa nói rất thực tế trong đời sống như: chỉ yêu kẻ yêu mình, chỉ làm ơn cho kẻ giúp mình…thì còn gì là ân với nghĩa, kẻ có tội cũng làm được như thế! Thật tuyệt vời! Bạn đã thực hành được mấy điều trong kinh Hòa bình?(Sống đạo)

“Do to others what you would have them do to you…(Lc. 6, 31-34)

3/ Nói về lòng nhân từ, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến: “Anh em đừng xét đoán thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án.” Điều này tôi sai lỗi nhiều nhất, dù ở địa vị nào tôi cũng dễ phê phán anh em, mà quên những thiếu sót của mình. Vì thế nhiều người đã xa cách tôi và mất niềm tin. Có Tín hữu dung uy quyền sức mạnh cá nhân tự lên án người khác là xấu để dễ bề thao túng riêng. Tôi nói vài tấm lòng quảng đại của mình trong Gia đình? (Sùng đạo)

“Do not judge, and you will not be judged. Do not condemn, and you will not be condemned.” (Lc. 6, 37)

4/ Trong thư gởi Tín hữu Corintô, thánh Phaolô cho biết: “Con người đầu tiên là Adam được dựng lên thành một sinh vật, còn Adam cuối cùng là Thần Khí ban sự Sống.” Theo sách Sáng thế 2, 7: Adam đầu tiên là một hữu thể động vật, còn Adam cuối cùng là thần linh cho sự Sống. Tôi không muốn là hữu thể động vật nhưng là kẻ giống như Đấng từ trời đến. Điều gì đã giúp tôi là Tín hữu tốt lành?(Học đạo)

“Adam, the first man, became a living soul; the last Adam has become a life-giving spirit.” (1 Cor. 15, 45)

B- Câu Kinh Thánh thúc đẩy tôi chọn Sống tuần này: (The best word of God)

ANH EM ĐỪNG XÉT ĐOÁN THÌ ANH EM SẼ KHÔNG BỊ XÉT ĐOÁN (Lc 6, 37)

Do not judge, you will not be judged.

Vatican II: Tất cả những ai kết hiệp với Chúa Kitô qua phép Rửa thành sự đều được gọi là Kitô hữu (HN#3)

Mẹ Maria: Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia, hằng bao bọc những người kính sợ Chúa.(Luca 1, 50)

C- Ngay tuần này tôi phải làm gì theo Lời Chúa dạy: ( So what am I doing / For Action )

Tôi có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A đế thực hành trong đời sống.

D- Tôi dựa vào Lời Chúa để cầu nguyện và Sống cầu nguyện: ( I pray and practice / Pray in Action )

Lạy Cha! Đức Kitô đã daỵ con phải yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét mình, đối với con thật khó qúa; nhưng con thấy kẻ thù cũng cần tới lòng từ bi nhân hậu của con và họ sẽ là bạn của con, nên con giúp đỡ và tha thứ cho họ.

 
Lời hay ý đẹp: CHỈ TRÍCH LÀ NGƯỜI THẦY TỐT, NẾU BẠN SẴN SÀNG HỌC HỎI TỪ NÓ
Criticism is a good teacher, if you are willing to learn from it
Pt. Huyền Đồng

 

TN7-C32: Cách sống của con cái Thiên Chúa - Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

VietCatholic (Chúa Nhật 7 Thường Niên C)
Chúa nhật 7 Thường niên C

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

 

Lời Chúa Chúa Nhật 06 Thường Niên đã đề cập đến vấn đề PHÚC HỌA theo quan điểm của: TN7-C32

Lời Chúa Chúa Nhật 06 Thường Niên đã đề cập đến vấn đề PHÚC HỌA theo quan điểm của Chúa Giêsu Kitô và của Thiên Chúa. Lời Chúa Chúa Nhật 07 Thường Niên dạy chúng ta phải sống như thế nào cho phù hợp với tư cách là con cái Thiên Chúa. Chúng ta hãy để cho Thánh Thần dẫn chúng ta vào cuộc hội kiến trực diện với Chúa Giêsu Kitô để lắng nghe và đón nhận sự chỉ dạy của Người mà đem ra thực hành.

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA

2.1 Bài đọc 1: 1 Sm 26, 2.7-9.12-13.22-23 :

(a) Sách Samuen quyển 1 và 2 khởi đầu với nhân vật là Samuen như là vị “thủ lãnh” cuối cùng và là người thiết lập chế độ quân chủ theo yêu cầu của dân. Ong vua thứ nhất đã được Samuen xức dầu tấn phong đã không trung thành với Thiên Chúa nên bị Thiên Chúa phế bỏ. Ong vua thứ hai được Samuen xức dầu tấn phong nổi bật như gương mẫu của sự trung thành với Thiên Chúa. Ông đã hoàn thành cuộc chinh phục và thống nhất miền Đất Hứa, loại trừ mối đe dọa là dân Philitinh, mở rộng biên giới phía đông và phía bắc. Ong chiếm được Giêrusalem, lập làm thủ đô và đưa Hòm Bia Giao Ước về đây. Ông đã được Thiên Chúa hứa cho dòng dõi mãi mãi ngồi trên ngai (Kinh Thánh trọn bộ, Dẫn Nhập Cựu ước, trang 24).

(b) 1 Sm 26, 2.7-9.11-13.22-23: là câu chuyện ông Đavít tha chết cho vua Saun. Saun là vị vua đầu tiên của Ítraen, đã được chính Samuen xức dầu tấn phong lên ngôi vua. Nhưng Saun đã không trung thành với Thiên Chúa và sinh ra ghen tỵ với Đavít. Vì thế mà Saun tìm cách giết hại Đavít và hai người trở thành thù địch của nhau. Điều bất ngờ kỳ diệu là khi Đavít bắt gặp Saun đang ngủ trong trại không hề hay biết sự có mặt của Đavít và Avisai (là viên cận thần và cũng là cháu của Đavít) mà không giết chết Saun: “Hôm nay Thiên Chúa đã nộp kẻ thù của cậu vào tay cậu. Bây giờ xin cho cháu dùng giáo ghim nó xuống đất, một nhát thôi; cháu không cần đâm nhát thứ hai”, Avisai đã đề nghị với Đavít như thế. Nhưng Đavít đã ngăn cản mà nói: “Đừng giết vua! Có ai tra tay hại đấng ĐỨC CHÚA đã xức dầu tấn phong mà vô sự đâu? Có ĐỨC CHÚA hằng sống! Chính ĐỨC CHÚA sẽ đánh phạt vua, hoặc khi ngày của vua đến mà vua phải chết, hoặc khi vua xuống giao chiến mà vua thiệt mạng. Nhưng xin ĐỨC CHÚA đừng bao giờ để tôi tra tay hại đấng ĐỨC CHÚA đã xức dầu tấn phong! Bây giờ anh hãy lấy cây giáo ở phía đầu vua, cùng với bình nước, rồi chúng ta đi.”

(c) Bài học của bài đọc 1 này là: Đavít đã không giết vua Saun theo như thói thường của người đời mà đã tha chết cho ông, vì Đavít tôn trọng Thiên Chúa, làm theo tinh thần của người yêu mến và thợ phượng Thiên Chúa.

2.2 Bài đọc 2: 1 Cr 15,45-49:

(a) Thánh Phaolô so sánh Ađam cũ tức nguyên tổ loài người (cũng được gọi là Ađam thứ nhất) với Ađam mới là Đức Giêsu Kitô. Có sự khác biệt lớn lao giữa hai nhân vật ấy: Ađam cũ được (Thiên Chúa) tạo nên từ đất, nên thuộc về đất. Ađam mới không được tạo nên mà từ trời cao mà đến, vì Người là đấng hằng hữu, là Thần Khí. Vì thế mà có sự khác biệt lớn lao giữa con cái của Ađam cũ và con cái của Ađam mới: “Những kẻ thuộc về đất thì giống như kẻ bởi đất mà ra; còn những kẻ thuộc về trời thì giống như đấng từ trời mà đến”

(b) Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu sẽ chỉ cho các môn đệ biết phải sống như thế nào cho phù hợp với tư cách là con cái của Ađam mới, và con cái Thiên Chúa, vì Ađam mới là Trưởng Tử mọi loài thọ sinh, là Anh Cả trong gia đình Thiên Chúa.

2.3 Bài Tin Mừng : Lc 6,27-38: (a) Là bài giảng về cách sống cụ thể của những ai muốn làm môn đệ Chúa Giêsu Kitô, làm con Thiên Chúa. Cách sống ấy gồm hai điều: “yêu kẻ thù” và “có lòng nhân từ”:

* “Hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em, và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại. Anh em muốn người ta làm gì cho mình thì cũng hãy làm cho người ta như vậy. Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có ân nghĩa gì đâu? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương người yêu thương họ. Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho anh em, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa? Cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại xóng phẳng. Trái lại anh em hãy yêu thương kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy phần thưởng dành anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phuờng vô ân và quân độc ác.”

* “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy

(b) Xuyên qua những giáo huấn trên, chúng ta thấy Đức Giêsu làm nổi bật tính “vô vị lợi” hay “nhưng không” và tính “cống hiến” hay “cho đi” trong cách sống của người môn đệ. Chính những tính chất “vô vị lợi” và “cho đi” ấy làm cho đời sống có giá trị lớn trước mặt Thiên Chúa và khiến chúng ta trở nên giống Thiên Chúa: “như Cha anh em.” Hơn nữa Đức Giêsu muốn người môn đệ đạt tới điểm cao nhất tức tột cùng của yêu thương là yêu thương kẻ thù, là làm ơn cho kẻ ghét mình và chúc lành cho kẻ nguyền rủa mình. Và để khuyến khích những người yếu tin hay nhất gan, Đức Giêsu hứa cam kết: “Anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại bằng đấu ấy, nhưng Người sẽ đong bằng đấu đủ lượng, đã dằn, đã lắc và đầy tràn

(c) Chúng ta tự hỏi: Đức Giêsu có đòi hỏi ở môn đệ điều “bất khả thi” không? Có và không, chúng ta phải trả lời như thế. Có, vì những đòi hỏi của Đức Giêsu đúng là đi ngược với xu hướng tự nhiên và vượt xa khả năng tự nhiên của con người. Không, “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37). Chìa khóa cuối cùng của vấn đề là chúng ta có đủ quảng đại, tin tưởng và phó thác tuyệt đối vào quyền năng của Thiên Chúa để Người hành động trong và thay chúng ta hay không. Ai có được sự quảng đại, tin tưởng và phó thác ấy thì là những con người thánh thiện, còn nếu không có thì chỉ là những người tín hữu tầm thường.

III. ĐÓN NHẬN & SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA

3.1 Sống sứ điệp Lời Chúa hôm nay quả thật rất khó, thậm chí vô cùng khó:

(a) Để sống được như lời Chúa Giêsu dạy chúng ta phải hy sinh, từ bỏ rất nhiều. Mà chúng ta thì rất ngại phải hy sinh, từ bỏ. Hoặc có hy sinh từ bỏ, thì chúng ta chỉ muốn hy sinh từ bỏ một phần nào đó thôi. Chứ hy sinh, từ bỏ thật nhiều, thậm chí tất cả, thì hoặc chúng ta không đủ gan, không dám liều, hoặc chúng ta cho rằng đó không phải là việc của chúng ta. Đó là cản trở thứ nhất cho hành trình nên thánh. Thật vật, con đường nên thánh của Kitô giáo (cũng như con đường vào Niết Bàn của Phật giáo) lại chính là con đường từ bỏ. Càng từ bỏ nhiều, càng nên thánh lớn. Càng từ bỏ nhiều càng nên giống Chúa Giêsu Kitô -Đấng đã từ bỏ tất cả để yêu thương và cứu độ chúng sinh- hơn.

(b) Khó khăn cản trở thứ hai là trong tương quan với người khác, chúng ta không lấy Tin Mừng làm chuẩn mà chúng ta thường theo cảm tính và để cho ý thức hệ hay quan điểm chính trị chi phối cách sống của mình. Cảm tính phân loại tha nhân ra làm hai hạng: những người được ưa thích và những người không được ưa thích. Còn ý thức hệ hay quan điểm chính trị thì loại bỏ tất cả những người không cùng suy nghĩ, hành động như chúng ta, không thuộc phe, nhóm, địa phương của chúng ta. Kết cục là: những người không được chúng ta ưa thích (theo cảm tính) và những người khác ý thức hệ hay quan điểm chính trị với chúng ta không bao giờ được là đối tượng để chúng ta yêu thương, giúp đỡ, thứ tha, tôn trọng cả. Sống và xử sự theo cảm tính hay ý thức hệ là sống xa, thậm chí sống ngược, với tinh thần Tin Mừng.

3.2 Quyết tâm thực thi sứ điệp Lời Chúa trong tuần:

Để thực thi Lời Chúa hôm nay, mỗi ngày tôi có gắng theo hai hướng:

* Tự nguyện hy sinh từ bỏ một cái, một điều gì đó mà tôi rất quyến luyến,

* Có một hay nhiều hành động thứ tha, cống hiến hay phục vụ tha nhân một cách vô vị lợi.

IV. CẦU NGUYỆN:

Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con cảm tạ Cha vì Cha đã ban cho chúng con, Đức Giêsu Kitô, Con Một Yêu dấu của Cha, để Người vạch đường chỉ lối cho chúng con biết sống như thế nào cho phù hợp với tư cách làm con cái của Cha và trở nên giống Cha là Thiên Chúa yêu thương và nhân từ.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, chúng con cảm tạ Chúa đã ân cần dạy dỗ các môn đệ xưa và chúng con ngày nay, cách sống phù hợp với tư cách làm con cái Thiên Chúa. Cách sống ấy đòi chúng con phải hy sinh, từ bỏ rất nhiều. Cách sống ấy cũng đòi chúng con phải có lòng quảng đại và tinh thần cho đi một cách vô vị lợi. Cách sống ấy khác hẳn với lối sống của người đời và vượt xa khả năng tự nhiên của chúng con. Vì thế, chúng con khẩn khoản nài xin Chúa ban ân sủng và Thần Khí Chúa cho chúng con, để chúng con có đủ sức mạnh vượt thắng chính mình và dũng cảm đi vào con đường “bác ái, hy sinh, từ bỏ, cho đi nhưng không” mà Chúa đã đi và đã chỉ cho chúng con đi theo Chúa.

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

 

TN7-C33: Yêu thương kẻ thù - Lm. Thu Băng, CMC

VietCatholic (Chúa Nhật 7 Thường Niên C)

Chúa nhật 7 Thường niên C

 

Nhìn em bé kháu khỉnh, má đỏ hồng hồng, tóc mây đen mịn màng, bạn nghĩ và nói gì? Bạn sẽ trả lời: TN7-C33

Nhìn em bé kháu khỉnh, má đỏ hồng hồng, tóc mây đen mịn màng, bạn nghĩ và nói gì? Bạn sẽ trả lời:

- Thương thiệt. Coi mặt dễ ghét.

Thực ra bạn rất thương em bé, thương đến độ dễ ghét, một cái nồng độ "thương" cao tuyệt vời.

Vào một buổi chiều đẹp, anh hẹn em tới, hai đứa chúng mình gặp nhau tâm sự. Em nhoẻn miệng cười má lúm đồng tiền. Anh buông câu: "Coi mặt dễ ghét". Thế là em xịu mặt xuống như hoa mùa đông và buông lên lời "Ghét mặt". Cái nồng độ yêu cao vời đến "Dễ ghét" của anh, lại biến thành cái "Ghét" của chị.

Hai ví dụ ấy cho tra thấy cái yêu và cái ghét nó hòa trộn với nhau: Yêu ghét hòa lẫn, lộn xộn.

Khi yêu thì mặt mày hơn hở, cử điệu xoắn xuýt, tâm tư rạo rực và cái gì cũng muốn nhúng tay vào.

Khi ghét bộ mặt biến đổi, nhăn nhăn nhó nhó như khỉ ăn gừng, trợn trừng như mặt Tào Tháo nổi cơn giận. Dáng điệu thì nghí ngoảy, lắc lư lắc léo như giơ rung cây. Ghét hơn nữa thì phùng mang trợn mỏ, mặt đỏ như trái ớ, nhìn thủng cả gan, moi đến tận ruột.

Khi yêu thì buông lời tha thiết, ngọt ngào. Người ta chửi cũng xấn đến.

Khi ghét thì buông lời nguyền rủa, đay nghiến, xỉa xói. Người ta biết lỗi có van xin cũng không thèm chấp nhận.

Yêu và ghét tuy nghịch chiều nhau, nhưng cùng chung một đích, giống như cái ná cao xu: Kéo sâu vào chiều này đễ đạn văng ra chiều kia.

Cha mẹ yêu con, thương con nên ngăn chặn việc này, chắn giữ chuyện kia, tránh những điều xấu và dạy con điều tốt thì ghét con, con chạy xa, con tránh né.

Con cái ghét cha mẹ thì nói dối, trốn tránh, không tránh được thì lầm bầm, ngóng ngoảy. Khi cha mẹ hạch hỏi thì trả lời: Con thương ba má nên con làm thế để ba má khỏi buồn. Nên nhớ rằng đó là câu chạy tội. Không bao giờ có sự yêu thương trong hành động tội lỗi cã.

Một khi để cái ghét lọt vào tâm, nó sẽ chi phối hết cả mọi cái: Cảm nghĩ lệch lạc, lương tâm bị xoay chiều, thiên vị, ngờ vực và yên trí.

Giáo thuyết tuyệt vời của Đạo Chúa: là Yêu thương, yêu thương sâu thẳm nhất là yêu người thù của mình. Làm ơn cho kẻ ghét mình và Chúa cho biết: Phần thưởng trọng hậu nhất, qúy nhất, cao cả nhất Chúa dành cho họ là: Tha thứ cho kẻ thù, thương kẻ thù, giúp kẻ thù mình.

Chúa Giêsu đã làm gương điều đó bằng chính cái chết của mình trên Thánh Giá, bằng chính lời Người thốt ra: Xin tha cho chúng vì chúng không biết việc mình làm.

Bài đọc thứ nhất hôm nay: David đã lén đến bên cạnh vua Saolê, đã lấy được cả gươm của vua là người đang tìm giết David. Vậy mà khi Abisai là cận vệ muốn giết Saolê đi, Đavid đã trả lời: "Đừng giết người được Chúa xức dầu. Tha chết cho vua". Lần khác Saolê đang tìm giết David, vua vào trong hang đi vệ sinh, Đavid đã lén đến bên cắt vạt áo của vua mà vua không biết, rồi chờ vua làm việc xong đi ra, David đến cầm vạt áo nói với vua rằng: "Mạng sống của vua, Chúa để ở trong tay tôi, nhưng tôi không nỡ giết. Đây là bằng chứng". Đavid đưa vạt áo vừa cắt lên cho vua coi. Người có lòng yêu thương luôn được Chúa gìn giữ và bảo vệ.

Chuyện một người nô lệ da đen rất mực trung thành với chủ, nên được ông mến chuộng. Mỗi khi cần có thêm đầy tớ trong nhà, chủ thường dẫn theo người nộ lệ này để cô chọn cho chủ. Một hôm cô chọn một ông già có tật, chủ nhất định không chịu mua, vì nghĩ rằng hắn không làm được việc gì cả, lại còn thêm họa nữa. Nhưng vì cô nô lệ nài nỉ, nên ông bằng lòng. Ít lâu sau khi người nô lệ già lâm bệnh nặng cô nữ tì săn sóc ông với hết cả tâm tình của một người con hiếu thảo. Ông chủ ngạc nhiên hỏi: "Bộ ông ấy là cha mày hả? Sao mày chăm sóc ông ấy tận tình như con vầy?" Người nô lệ trả lời: "Thưa ông, người này không phải cha tôi, cũng không phải bà con của tôi, không có liên hệ gia đình gì cả. Trái lại ông ta còn là kẻ thù của tôi nữa. Bởi vì khi tôi còn nhỏ, ông ta đã bắt cóc tôi khỏi vòng tay cha mẹ, bán tôi làm nô lệ. Nhưng vì tôi là người Công Giáo, nên tôi thực hành lời Chúa dạy: "Hãy tha thứ và yêu thương kẻ thù". Đó là phần thưởng trọng hậu nhất của người biết yêu thương".

Chúng ta không có những kẻ thù đến cỡ này, nhưng có những kẻ thù đối nghịch, kẻ thù không ưa không thích, đã gây nên ý nghĩ ghét bỏ, xa tránh.... Chúng ta hãy theo gương bắt chước David, bắt chước Chúa, bắt chước người nô lệ:

- Tìm dịp thông cảm với họ.

- Tìm cách đối xử tốt với họ thay vì trả đũa, báo thu như người nô lệ.

- Tìm dịp hoán cải họ nên bạn như Chúa Giêsu "Xin tha cho họ vì họ không biết".

- Hãy cầu xin Chúa ban ơn tha thứ cho cha mẹ, ơn hoán cải cuộc sống cho con cái.

- Hãy cầu xin Chúa giúp cách, xếp đặt phưong tiện để có thể làm hòa được với những ai mình không ưa không thích.

-Hãy sống an bình với lòng không thù không oán, không giận không ghét ai. (2.2004).

Dongcong.net
Lm. Thu Băng, CMC


 

TN7-C34: Lòng nhân từ Chúa - Lm. Minh Vận, CMC

VietCatholic (Chúa Nhật 7 Thường Niên C)

Chúa nhật 7 Thường niên C

 

Người ta thuật: Có hai người thổ dân Nam Phi rất giận ghét hiềm khích nhau, mối thù mỗi ngày càng: TN7-C34

Người ta thuật: Có hai người thổ dân Nam Phi rất giận ghét hiềm khích nhau, mối thù mỗi ngày càng sâu đậm, chỉ mong ước có dịp thuận tiện nào để phục thù cho hả cơn giận. Ngày kia, một trong hai người gặp thấy một bé gái con của kẻ thù mình trong một khu rừng, anh ta bỗng nổi cơn xung giận tóm lấy cô bé, rút dao chặt cụt hai ngón tay, rồi thả cho đi. Cô bé vừa chạy về nhà vừa khóc nức nở, bàn tay máu chảy ròng ròng. Còn tên hung thủ vừa đi vừa la lớn tiếng tỏ vẻ thỏa chí lắm: "Ta đã trả thù được rồi!"

Ngày tháng trôi qua, thấm thoát đã mười mấy năm, cô bé đã lập gia đình, có chồng con và cảnh gia thất đầm ấm sung túc. Bỗng một buổi chiều kia, có một người hành khất đến xin của bố thí. Bà chủ nhà trẻ nhận diện ra, người hành khất đó chính là kẻ đã chặt hai ngón tay mình, vội vã trở vào trong nhà tìm cách "Báo thù", bằng cách bảo người giúp việc đem sữa bánh ra cho ông ta ăn. Khi người hành khất đã ăn no nê, bà chủ nhà còn trao cho hắn một số tiền để có kế sinh nhai; đồng thời, bà dơ bàn tay cụt hai ngón ra cho hắn coi và nói: "Tôi cũng đã trả thù được rồi! Xin Chúa chúc lành cho cả hai chúng ta!"

Người hành khất xúc động khóc ròng, vì cảm phục trước tấm lòng nhân từ tha thứ "Lấy ân trả oán" cho người đã làm hại mình.

I. BÀI HỌC BÁC ÁI YÊU THƯƠNG

Theo thường tình, người ta yêu thương kẻ mến thương mình, đền ơn cho người ân nhân của mình, cho vay mượn để được hoàn lại với lời lãi xòng phẳng. Đó chỉ là luật công bằng giao hoán, không ân nghĩa gì, ai cũng làm được, cả những kẻ thù nghịch cũng đáp trả nhau cân xứng, mắt đền mắt, răng thế răng, ân đền ân, oán trả oán, ân oán công minh.

Đây giáo huấn bái ái yêu thương Thầy Chí Thánh dạy chúng ta hôm nay: "Thầy bảo các con đang nghe Thầy đây: Các con hãy yêu thương kẻ thù, hãy làm ơn cho kẻ ghét mình, hãy cầu nguyện cho kẻ vu khống mình. Ai vả má bên này, thì các con hãy đưa cả má bên kia; ai lột áo ngoài của các con, thì các con cũng đừng cản họ lấy cả áo trong nữa. Ai xin thì các con hãy cho và ai lấy vật nào của các con, thì các con đừng đòi lại". Và, "Điều gì các con muốn tha nhân làm cho các con, thì các con hãy làm cho tha nhân như vậy. Làm được như thế: Phần thưởng của các con sau này sẽ lớn lao bội hậu, và các con sẽ trở nên con cái Đấng Tối Cao, vì Người hằng nhân hậu với những kẻ bội bạc và những người gian ác". Rồi Chúa kết luận: "Vậy các con hãy sống nhân từ như Cha các con trên trời là Đấng Nhân Từ" (Lc 6:27-38).

Đó là một giáo thuyết cao siêu trổi vượt, ngược lại với quan niệm và sự khôn ngoan phàm trần, mà chỉ có Đấng là Thiên Chúa cao cả từ trời xuống mới có thể công bố và ban truyền cho nhân loại. Đặc biệt, nó phải trở nên khuôn vàng thước ngọc, nên luật sống, nên kim chỉ nam cho các con cái Chúa, để cải hóa nhân loại trụy lạc, canh tân xã hội hận thù, biến đổi trần gian cũ kỹ trở nên Thiên Đàng an bình, hạnh phúc và thánh thiện.

II. NHỮNG MẪU GƯƠNG SÁNG NGỜI

Thánh Kinh đã kể lại cho chúng ta những mẫu gương sáng ngời về lòng bái ái yêu thương và nhân từ tha thứ, giúp chúng ta thêm nghị lực và can đảm thi hành giáo huấn yêu thương Chúa Kitô đã dạy, để chúng ta được noi theo lòng nhân từ của Chúa, Cha chúng ta ngự trên trời là Đấng rất nhân từ.

Bài sách Samuel hôm nay tường thuật việc vua Đavít đối xử nhân đạo với vua Saolê thế nào? Đavít, người đã được Chúa sai tiên tri Samuel đến xức dầu phong ngài làm vua dân Israel thay thế vua Saolê đã bị Chúa sa thải; nhưng ngài vốn tự nhận mình là tôi tớ, tận tâm phục vụ vua Saolê như một trung thần, giúp vua chiến thắng quân Philitinh, hạ sát tên dũng sĩ khổng lồ Goliat. Vì cuộc chiến thắng oanh liệt này mà danh tiếng Đavít đã trổi lên như sóng cồn nơi dân Israel, khiến vua Saolê phát ghen. Do đó, vua Saolê và ba ngàn quân sĩ tinh nhuệ đi vây bắt Đavít. Đang giữa đêm khuya, Đavít và Abisai cận vệ của ngài, tiến vào giữa trại quân địch lúc vua Saolê và các quân sĩ đang ngủ say. Cận vệ thưa với vua Đavít: "Hôm nay, Thiên Chúa đã trao kẻ thù trong tay ngài; vậy giờ đây xin cho tôi lấy giáo đấm ông ta một phát thâu xuống đất, không cần đến phát thứ hai". Vì lòng nhân từ bao dung, vua Đavít đã nói với viên cận vệ: "Chớ giết ngài, vì có ai dám đưa tay phạm đến Đấng đã được Chúa xức dầu". Thánh Kinh kể tiếp một dịp khác tương tự, vua Đavít cũng không nỡ giơ tay giết Đấng đã được Chúa xức dầu, mà chỉ lén cắt mảnh áo cẩm bào của vua để làm bằng chứng. Trước lòng nhân từ tha thứ của vua Đavít, đã khiến vua Saolê hối hận cất tiếng than khóc nói với Đavít: "Quả thật, con công minh hơn cha, con làm ơn cho cha, mà cha lại trả oán cho con. Hôm nay, con đã chứng minh rõ rằng: Con cư sử nhân đạo với cha, vì mặc dầu Chúa đã trao cha tận tay con, mà con cũng không thủ tiêu cha. Há có ai gặp kẻ thù mình lại để nó đi bình an? Vậy cầu mong Chúa báo đáp lại cho con về ơn huệ con đã làm cho cha hôm nay. Vả, nay cha xác nhận rằng: Con sẽ làm vua và nước Israel sẽ trường cửu nơi tay con" (I Sam 24:17-21).

Chúng ta còn đọc thấy trong sách Tông Đồ Công Vụ: Thánh Stephanô, vị Tử Đạo tiên khởi, khi bị điệu ra pháp trường để chịu ném đá chết. Đang lúc bị hành xích, ngài dâng lời khẩn nguyện lên Chúa: "Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận linh hồn con!" Rồi ngài qùi gối xuống kêu lớn tiếng: "Lạy Chúa, xin đừng chấp họ vì tội lỗi này!" Đây là môn sinh đầu tiên của Thầy Chí Thánh, đã học thuộc bài giáo huấn bác ái Chúa dạy và hôm nay đã đi tới cùng đích, theo chính mẫu gương Thầy Chí Thánh, Đấng trước khi tắt thở trên Thánh Giá đã dâng lên Chúa Cha lời khẩn nguyện: "Lạy Cha, xin tha thứ cho họ, vì họ lầm không biết việc họ làm!" (Lc 23:34)

III. CHÚNG TA CẦN CÓ THÁI ĐỘ NÀO

Là con cái Chúa, chúng ta cần có thái độ nào trước những lời giáo huấn và mẫu gương nhân từ cao cả Chúa để lại cho chúng ta?

Đã bao nhiêu lần Chúa tha thứ cho chúng ta, những lỗi lầm chúng ta đã phạm đến Người, khi chúng ta thật lòng sám hối và hứa quyết chừa cải nơi Tòa Cáo Giải? Không những Chúa sẵn sàng tha thứ tất cả, mà Chúa còn quên đi mọi lỗi lầm của chúng ta và thương yêu chúng ta hơn nữa, dường như chúng ta chưa hề lỗi phạm đến Người.

Để chúng ta ghi tâm khắc cốt bài học bác ái, nhân từ tha thứ như một lẽ sống, giúp chúng ta biết tạo nên một cuộc sống an bình hạnh phúc, biến đổi trần gian nên Thiên Đàng được Chúa hiển ngự, Chúa đã dạy chúng ta hằng ngày dâng lên Chúa lời nguyện này: "Lạy Cha chúng con ngự trên trời... Xin Cha tha thứ những lỗi lầm chúng con đã phạm đến Cha, như chúng con cũng tha thứ những lỗi lầm cho anh chị em đã xúc phạm đến chúng con". Vì tha thứ cho anh chị em là điều kiện để chúng ta được Chúa thứ tha.

Kết Luận

Lời kinh "Lạy Cha" Chúa dạy chúng ta cầu nguyện đây, là một lời nguyện bao gồm một chân lý cao cả rất an ủi và vinh dự, vì tất cả chúng ta có cùng một "Cha Chung" trên trời. Tất cả chúng ta đều là anh chị em với nhau. Chúa truyền: "Các con hãy ở nhân từ như Cha các con là Đấng Nhân Từ". Chúa đòi chúng ta phải tha thứ những lỗi lầm cho nhau, như chính Chúa đã thứ tha những lỗi lầm cho chúng ta. Chúng ta chỉ được Chúa tha thứ, khi chúng ta biết tha thứ cho anh chị em chúng ta.

Dongcong.net
Lm. Minh Vận, CMC


 

TN7-C35: Hãy thương xót như Cha là Đấng xót thương - Sr. Diễm Trang, CMR

VietCatholic (Chúa Nhật 7 Thường Niên C)

Chúa nhật 7 Thường niên C

 

Chuyện kể rằng, ở nước Ả Rập có một vị linh sư nổi tiếng về sự thánh thiện và khôn ngoan. Người: TN7-C35

Chuyện kể rằng, ở nước Ả Rập có một vị linh sư nổi tiếng về sự thánh thiện và khôn ngoan. Người người đổ tuôn đến xin làm môn đệ mỗi ngày một đông. Ngày kia, một môn đệ bị phát hiện có lối sống buông thả, ai ai cũng chờ đợi vị linh sư trừng phạt anh cách nghiêm khắc. Sau một tháng chờ đợi, nhưng không thấy thầy sửa dạy người bạn hư thân kia, một môn đệ lên tiếng, "Chúng ta không thể làm ngơ những việc đã xảy ra, bởi vì Thiên Chúa đã ban cho chúng ta đôi mắt." Vị linh sư đáp lời, "Con nói đúng, nhưng Chúa cũng ban cho chúng ta mí mắt nữa." (Anthony de Mello, SJ.)

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su đề cập đến lòng nhân từ. Chính Thiên Chúa, Đấng tác tạo vũ trụ, trăng sao, Đấng đã dựng nên hình hài con người khi nó chỉ là hư không, Đấng thông suốt mọi sự đã sai Con Ngài xuống thế không phải để phán xét, nhưng để cứu độ. Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta những bước tiến dần đến lòng nhân từ là chính bản tính của Thiên Chúa. Trước nhất Ngài vừa khuyên vừa cấm chúng ta: "Đừng xét đoán, thì các con sẽ khỏi bị xét đoán." Nếu chính Chúa Kitô khi xuống trần gian cũng không phải để xét phạt nhân loại thì chúng ta, những con người hữu hạn và mang tội lỗi, tại sao chúng ta lại có thể xét đoán người khác. Ra khỏi sự xét đoán, Chúa Giêsu dẫn chúng ta đến một bước cao hơn, đó là sự công bằng tối thiểu trong cuộc sống, "Các con muốn người ta làm điều gì cho các con, thì hãy làm cho người ta như thế". Đi xa hơn sự công bằng, Chúa mời gọi chúng ta sống "cái bất công của Phúc Âm", nghĩa là đi ngược lại với bản chất tự nhiên của mình để có thể sống nhân từ: "Các con hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn cho những kẻ ghét mình, hãy chúc phúc cho những kẻ nguyền rủa mình, hãy cầu nguyện cho những kẻ vu khống mình." Và sau cùng, Chúa dẫn chúng ta tới chóp đỉnh trọn lành của cuộc sống Kitô hữu, đó là "Hãy thương xót như Cha các con là Đấng xót thương".

Vì Thiên Chúa chính là Đấng Thương Xót, nên khi trao cho nhau tình thương là con người trao cho nhau chính Thiên Chúa, một qùa tặng đẹp nhất. Tình thương, theo nghĩa văn chương, có nghĩa là "chịu đau khổ với" - là con đường đến với sự thật, là trở nên chính mình hơn hết, không phải để khác với người khác, nhưng để chúng ta nên giống nhau. Sẽ không có câu hỏi: "Bạn làm gì khác?" nhưng là "Chúng ta có cái gì chung?" Không phải là "trội hơn" nhưng là "phục vụ". Không tỏ ra mình tốt hơn người khác nhưng tuyên xưng rằng mình như người khác. Đối diện với chính mình là một qùa tặng của cuộc sống yêu thương. Một qùa tặng rất khó đón nhận, nhưng là món qùa nếu thiếu nó chúng ta khó có thể tìm kiếm điều trọn hảo và thánh thiện. Đây cũng chính là con đường chữa lành và hòa giải.

Tình thương là sống với tha nhân đang chịu đau khổ bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu, và đi vào trong tương quan đồng cảm với những đau khổ của họ cách nhiệt tình. Cuộc sống yêu thương là một cuộc sống đi xuống dưới thấp, là con đường nghịch lại trong xã hội mà việc đi lên được nhận làm chuẩn mực. Con đường đi xuống đây chính là con đường Đức Kitô đã đi: đường đi qua sự nghèo khó, đau khổ, sống ngoài lề xã hội, tù đầy, trốn tránh, cô độc, đói khát, hấp hối, bị dày vò, không nhà cửa; hướng về tất cả những ai xin được yêu thương. Chúng ta cần cho gì? Không phải thành công, vinh dự hay quyền lực, nhưng là một sự chia sẻ đích thực, là trao niềm vui và bình an của con cái Thiên Chúa. Điều này không đòi những thái độ anh hùng hay một việc làm ngược đời có tính cách giật gân. Cuộc sống tình thương được dấu ẩn vào những cái tầm thường của đời sống hàng ngày: lời nói, ánh nhìn, sự chia sẻ, phục vụ trong những việc nhỏ mọn. Gương đời sống của Mẹ Têrêxa giúp chúng ta biết bước trên con đường đi xuống này.

Trong thời đại của chúng ta có qúa nhiều thông tin về đau khổ của nhân loại, đến nỗi con tim của chúng ta dễ dàng chai cứng. Nhưng trái tim yêu thương của Thiên Chúa không có giới hạn, và Ngài muốn ban trái tim ấy cho chúng ta để chúng ta có thể yêu thương không tàn lụi cũng không trở nên chai cứng.

"Lạy Chúa, xin tạo cho con qủa tim trong sạch, xin đặt Thần Khí mới trong lòng con".

Chúa Thánh Thần được ban cho chúng ta để giúp chúng ta trở nên thành phần tình thương của Thiên Chúa, và vươn tới tất cả mọi người trong mọi thời với con tim của Thiên Chúa.

NS. Trái Tim Đức Mẹ
Sr. Diễm Trang, CMR


 

TN7-C36: Tinh thần công bằng và yêu thương của Kitô giáo – JKN

VietCatholic (Chúa Nhật 7 Thường Niên C)

Chúa Nhật 7 Thường Niên C

ĐỌC LỜI CHÚA

 

Ông Avisai nói với ông Đavít: «Hôm nay Thiên Chúa đã nộp kẻ thù của cậu vào tay cậu. Bây giờ,: TN7-C36

* 1Sm 26,2.7-9.12-13.22-23: (8) Ông Avisai nói với ông Đavít: «Hôm nay Thiên Chúa đã nộp kẻ thù của cậu vào tay cậu. Bây giờ, xin cho cháu dùng giáo ghim nó xuống đất, một nhát thôi; cháu không cần đâm nhát thứ hai». (9) Ông Đavít nói với ông Avisai: «Đừng giết vua! Có ai tra tay hại đấng Đức Chúa đã xức dầu tấn phong mà vô sự đâu!».

* 1Cr 15,45-49: (48) Những kẻ thuộc về đất thì giống như kẻ bởi đất mà ra; còn những kẻ thuộc về trời thì giống như Đấng từ trời mà đến.

* TIN MỪNG: Lc 6,27-38 Yêu thương kẻ thù (Mt 5,38-48; 7,12a)

(27) «Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, (28) hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. (29) Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. (30) Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại. (31) Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy. (32) Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ. (33) Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. (34) Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa? Cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẳng. (35) Trái lại, anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác.

Phải có lòng nhân từ (Mt 7,1-2)

(36) «Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. (37) Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. (38) Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy».

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1. Giới bụi đời, dân giang hồ chủ trương «ân đền oán trả», đó có phải là luật công bằng không? luật này có tốt không? Ta đã sống khá hoàn hảo luật này chưa?

2. Sự công bằng mà Đức Giêsu chủ trương, có phải là công bằng kiểu «ân đền oán trả» không? hay Ngài chủ trương không công bằng? Thứ công bằng của Ngài là công bằng gì?

Suy tư gợi ý:

Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy Đức Giêsu đưa ra hai cách hành xử: một là hành xử dựa trên luật công bằng không tình thương của phường tội lỗi, và hai là hành xử dựa trên luật yêu thương của người môn đệ Chúa.

1. Luật công bằng thiếu tình thương của phường tội lỗi

Theo Đức Giêsu, cách hành xử thường tình của những người thu thuế hay phường tội lỗi là «yêu thương kẻ yêu thương mình», «làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình», «cho vay để được trả lại sòng phẳng». Như vậy, dù là người tội lỗi, họ vẫn chủ trương luật công bằng, sòng phẳng, trong cả chuyện yêu thương, nghĩa là ai yêu thương mình, thì mình phải yêu thương lại người ấy. Vì thế, họ chỉ yêu thương người thân hay bạn bè mình mà thôi, vì yêu những người ấy thì họ sẽ được yêu lại. Họ đòi hỏi: «Có qua có lại mới toại lòng nhau».

Một cách tương tự, giới giang hồ, bụi đời ở khắp nơi đều chủ trương «ân đền, oán trả». Mang ơn ai, thì họ nhất quyết phải biết ơn và đền ơn người ấy. Họ gây oán hay làm thiệt hại ai, thì theo luật giang hồ, họ sẵn sàng bồi thường cho người ấy. Còn ai gây oán hay gây bất công cho họ, thì họ cũng sẵn sàng trả thù, nghĩa là phải tạo thiệt hại trở lại một cách tương xứng cho kẻ đã gây thiệt hại cho mình. Họ chủ trương không khác gì luật Cựu ước: «Mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, vết bỏng đền vết bỏng, vết bầm đền vết bầm, vết thương đền vết thương» (Xh 21,24).

Theo Đức Giêsu, phường tội lỗi hay gian ác đều hành xử như thế. Nếu ta cũng hành xử như thế thì ta có hơn gì họ đâu? Còn nếu ta gây bất công, làm thiệt hại người khác mà không đền bù, sống thiếu công bằng (cho dù là thứ công bằng không tình thương), v.v… thì ta còn xấu xa và tệ hại hơn họ nữa. Hạng người tội lỗi mà còn tôn trọng luật công bằng, nếu ta không tôn trọng luật ấy thì ta thật không đáng được gọi là Kitô hữu, là người theo Chúa. Thế mà khá nhiều người lỗi luật công bằng hằng ngày nhưng vẫn vỗ ngực tự hào mình theo Chúa, mình là môn đệ Chúa!

2. Luật công bằng và yêu thương của người Kitô hữu

Là người Kitô hữu, là môn đệ Đức Giêsu, nếu ta tự cho rằng mình không thuộc hạng người tội lỗi, thì ít ra ta cũng phải giữ được khá hoàn chỉnh những luật mà chính hạng tội lỗi cũng tôn trọng, đó là luật công bằng. Luật công bằng là luật tối thiểu, là luật nền tảng trong xã hội mà chính người xấu cũng chủ trương phải tuân giữ, huống gì những người tự cho mình là tốt.

Nhưng người Kitô hữu không thể tự hài lòng khi mình chỉ giữ được những luật tối thiểu ấy. Đức Giêsu mời gọi những kẻ theo Ngài phải đi xa hơn sự công bằng đó, vì nếu không đi xa hơn thì ta có hơn gì hạng tội lỗi, vì chính họ cũng chủ trương sự công bằng và có thể thực hiện được sự công bằng ấy. Nhưng cho dù có chủ trương và thực hiện được luật ấy, họ vẫn bị liệt vào hàng tội lỗi.

Theo lập luận của Đức Giêsu, nếu ta chỉ giúp đỡ những người mà ta biết họ sẽ giúp đỡ lại ta, chỉ cho vay những ai ta nghĩ là sẽ hoàn trả lại ta, còn nếu cho ai vay mà người ấy không trả được thì ta bực tức, nói xấu, dùng đủ mọi biện pháp để đòi cho bằng được, bất chấp họ bị kẹt, v.v… nếu chỉ hành xử được như thế thì ta tốt hơn hạng tầm thường hay tội lỗi ở chỗ nào? Vì kẻ tầm thường và tội lỗi cũng hành xử y như thế!

Điều quan trọng mà người Kitô hữu - tức những người theo Chúa - phải làm là có tình thương đích thực. Tình thương luôn luôn vượt khỏi sự công bằng thường tình. Nghĩa là: để là một Kitô hữu đích thực, thì một đằng phải luôn giữ luật công bằng một cách hoàn hảo đối với người khác, một đằng phải thực hiện tình thương. Tình thương khiến chúng ta không đòi hỏi những người nghèo khó hơn, những người lâm cảnh khó khăn hơn mình phải giữ sự công bằng như thế đối với mình. Nghĩa là «hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả». Không đòi hỏi như thế không phải là không công bằng, mà là thực hành một thứ công bằng cao hơn: công bằng có tình thương.

3. Công bằng có tình thương

Công bằng có tình thương khác với thứ công bằng máy móc, là công bằng thiếu tình thương. Thứ công bằng có tình thương là thứ công bằng mà ta vẫn áp dụng trong nội bộ gia đình chúng ta. Trong gia đình, chúng ta có thể tốn rất nhiều tiền cho đứa con tàng tật, tốn cho nó hơn tất cả mọi người khác - vì tiền thuốc thang, vì phải ăn uống cách đặc biệt - đang khi chính nó không làm ra tiền và cũng chẳng làm được gì. Những cha mẹ có tình thương đích thực sẽ thương những đứa con tàn tật hoặc hư đốn một cách đặc biệt và sẵn sàng hy sinh cho chúng nhiều hơn những đứa con khác. Đó chính là công bằng có tình thương, thứ công bằng «làm theo khả năng, nhưng hưởng thụ theo nhu cầu».

Phân phát của cải cho người giầu và người nghèo, người cần ít và người cần nhiều, theo cùng một tiêu chuẩn như nhau, thì đúng là công bằng, nhưng là một thứ công bằng thiếu tình thương, và một cách nào đó không hợp lý. Người giầu mà đòi người nghèo cũng phải sòng phẳng với mình trong vấn đề vật chất tiền bạc, thì đúng là theo luật công bằng, nhưng không phải là thứ công bằng mà Đức Giêsu chủ trương. Ngài chủ trương: «Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại. Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy».

Có những chế độ xã hội chủ trương thứ công bằng này - là «làm theo khả năng, nhưng hưởng thụ theo nhu cầu» - nhưng không thực hiện nổi. Chính Đức Giêsu Chúa chúng ta cũng chủ trương thứ công bằng này khi tuyên bố: «Khi đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế bạn mới thật có phúc» (Lc 14,13-14). Vì thế, đây là thách đố đối với người Kitô hữu. Nếu chúng ta không thực hiện nổi thứ công bằng này trong đời sống chúng ta - ít nhất là giữa Kitô hữu với nhau, hay ít hơn nữa là giữa đám thân nhân bạn bè thân quen của mình - thì một cách nào đó, chúng ta đang chứng tỏ điều Đức Giêsu chủ trương cũng không tưởng như chủ trương của những chế độ xã hội không tưởng kia.

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, con vẫn tự hào mình là Kitô hữu, nhưng rất nhiều khi con lại chủ trương và ủng hộ một thứ công bằng không tình thương. Xin cho con một trái tim bằng thịt biết yêu thương, để con sống công bằng với mọi người, nhưng là thứ công bằng có tình thương, thứ công bằng mà Đức Giêsu chủ trương như trong bài Tin Mừng hôm nay. Amen.
JKN


 

TN7-C37: Đều bị mù mắt - Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb

VietCatholic (Chúa Nhật 7 Thường Niên C)

ĐỀU BỊ MÙ MẮT

 

Ông chủ muốn làm một then cài nơi cửa, nhưng thợ mộc lại làm cho ông cái then ngoài cửa. Ông: TN7-C37

Ông chủ muốn làm một then cài nơi cửa, nhưng thợ mộc lại làm cho ông cái then ngoài cửa. Ông chủ trách và nói : “Làm gì có chuyện làm then bên ngoài cửa, ông bị mù rồi sao ?”.

Thợ mộc không phục nói : “Ông mới là người bị mù.

Chủ nhà hỏi : “Sao anh nói tôi là người bị mù chứ ?”

Thợ mộc nói : “Giả sử con mắt của ông mà sáng, thì tại sao ông lại thuê người mù mắt là tôi làm chứ!?”

(Tiếu phủ)

Suy tư :

Con người ta khi vì tức giận mà cãi nhau thì lí trí “buồn tình” chạy mất, lòng yêu mến và kính trọng vốn có thì ẩn mặt, lời lẽ ôn nhu thường ngày biến dạng, khuôn mặt khả ái dịu dàng trở thành nhăn nhó khó coi và khó chịu, và thế là trở thành người mù không thấy đức bác ái...

Người sáng mắt tâm hồn là người có đức bác ái, nghĩa là họ nhìn thấy cái khó chịu của người khác để sửa mình, họ nhìn thấy cái kiêu ngạo của người khác để răn mình, họ nhìn thấy cái đau khổ của người khác để giúp đỡ an ủi, nhìn thấy cái quá lố nơi người khác để điều chỉnh lại cái ưu cái khuyết nơi mình cho phù hợp với đức bác ái của Chúa Kitô.

Con mắt tâm hồn sáng là ở đó vậy !
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.


 

TN7-C38: YÊU KẺ THÙ, LÒNG NHÂN ÁI TỪ BI

Lc 6,27-38
 

Những người giàu có mà CGS đã chúc dữ trong đoản văn trước đây đã ra đi, nên bây giờ CGS: TN7-C38

1. Những người giàu có mà CGS đã chúc dữ trong đoản văn trước đây đã ra đi, nên bây giờ CGS quay lại nói với các môn đệ đang có mặt. Ngài phán bảo với họ cách uy quyền: “Nhưng Ta bảo các con”. Lời Ngài mói là lời đến từ TC. Ngài nói như kẻ có quyền, chứ không như các tiến sĩ luật và các người biệt phái (Mt 7,28). CGS đã thu tóm cả lề luật tức là việc chu toàn ý muốn TC vào giới luật tình yêu: “ngươi phải yêu mến TC, TC ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi; và yêu đồng loại như chính mình” (10,27). Được phần trước với những lời chúc phúc và chúc dữ, CGS đã cho biết cách thế để yêu mến TC hết lòng. Bây giờ Ngài đề cập đến vấn đề yêu thương tha nhân.
CƯ cũng nói đến giới luật yêu thương tha nhân: “Hãy yêu thương tha nhân như chính mình” (Lv 19,18). CGS tách riêng giới luật này và nâng nó lên trên mọi giới luật khác trong lề luật để nói lên tầm quan trọng to lớn của nó: Ngài cũng đem lại một lối giải thích mới. Tha nhân chính là mỗi người. Dù là kẻ thù ta. Từ lối giải thích căn bản về tình yêu, nghĩa là phải yêu cả kẻ thù. Trong Lc, toàn bộ luân lý trong diễn từ công bố trên đồng bằng dựa trên cơ sở lối chú giải căn bản về tình yêu kể cả việc yêu kẻ thù.
“Kẻ thù các con” (c.27) chính là những người thù nghịch với nhóm môn đệ, những kẻ vu khống, những người bách hại, những kẻ thù của mỗi một môn đệ. CGS buộc phải yêu thương họ. Tình yêu lòng thiện cảm, có thể bị ép buộc không ? Người ta có thể dễ dàng chiếm được tình cảm, tình yêu chăng ? Tình yêu mà CGS truyền dạy chính là làm điều thiện, là chúc phúc, là cầu bầu. Theo CGS, yêu không nhất thiết là cảm nghiệm một tình cảm nào đó (càng tốt nếu từ một tâm tình tiêu cực biến đổi thành một tâm tình tích cực, tuy nhiên, không phải luôn luôn như thế); yêu chích là điều gì đó cho một ai, cho cả người ghét ta, nguyền rủa ta, bạc đãi ta.
Tình yêu tha nhân không chỉ hệ tại việc tha thứ những bất công mình phải chịu. Yêu thì không còn nói đến tha thứ, phải giả thiết là đã tha thứ trước rồi. Môn đệ CGS dĩ nhiên phải chu toàn tát cả những gì có lợi cho kẻ thù. Người môn đệ phải lấy ơn báo oán, chúc phúc cho những người chúc dữ, cầu nguyện cho những người bạc đãi mình. Ai yêu kẻ thù mình thì không chỉ tự mình dấn mình phục vụ kẻ thù bằng việc thiện mình làm cho họ, nhưng còn làm TC nhập cuộc giúp đỡ kẻ thù bằng cách cầu xin Ngài ban cho kẻ thù mình điều mình không có khả năng thực hiện. Đối với các môn đệ thì lòng yêu thương kẻ thù phải thâm nhập vào trong mọi lãnh vực của cuộc sống họ: trong hành động cụ thể bên ngoài, trong những ước muốn, trong lời nói, ngay cả trong tâm hồn.
2. Yêu kẻ thù thật khó, chúng ta phải tự vệ chống bất công, muốn trả thù khi người cư xử bất công với chúng ta. Một cách nào đó chúng ta muốn ngăn cản điều ác lan tràn bằng cách trả đũa, báo phục nghiêm khắc: “Ta làm cho ngươi điều mà ngươi đã làm cho ta: mắt đền mắt, răng đền răng” (x. Mt 5,38). CGS đòi buộc không được lấy ác báo ác, cũng như đừng nên làm gì chống lại điều ác. Ngài đòi buộc phải lấy thiện thắng ác. Những nguyên tắc này có giá trị đối với những bất công cá nhân chúng ta phải chịu: “Với người tát má con...” (c.29) chúng cũng có giá trị khi người ta vi phạm tư sản của chúng ta: “Với người lấy áo choàng con...” (c.29).
Người môn đệ của CGS phải vui mừng phân phát, ban tặng cách vô giới hạn. “Phàm ai xin, con hãy cho” (Lc 30), chứ đừng xét đến quốc tịch, tính ngưỡng, tư tưởng hay thái độ cá nhân, phẩm giá của người đó...” CGS còn đi xa hơn nữa: dù tài sản ta có bị cướp mất do bạo lực hay mưu mô, ta chớ đòi bồi hoàn. Ai phải chịu hoàn cảnh như thế, đừng tự vệ, đừng tìm cách lấy lại những gì đã mất. Sự bất công phải chăng phải trở nên công bình ?
Chúng ta không thể bình thản nghe những yêu sách như thế của CGS ? Không có gì trong chúng ta phản kháng lại các đòi buộc như thế ? Phải chăng thâm tâm ta không có gì biện bác chống lại hay sao ? Phải chăng như thế là đã chối bỏ nhân vị và quyền lợi cá nhân ? Phải chăng như thế là mở ngõ cho sự ác hoành hành ? Là khuyến khích cho những bản năng xấu xa đê hèn nhất của con người tăng triển ?
Những gì được đưa ra ở đây gây quá nhiều ngạc nhiên, chúng ta xem ra có vẻ nghịch lý, bởi vì thực tế con người cư xử với nhau theo những luật lệ hoàn toàn khác thế. Các ví dụ này cho thấy lối cư xử thường tình của con người trái ngược biết bao với ý muốn TC và cũng cho thấy Nước TC cần chiếm hữu họ để biến đổi họ. Chúng ta nghĩ sự ác sẽ bị tiêu diệt, nếu chúng ta chống lại sự ác, lấy ác báo ác. Nhưng CGS công bố: chỉ có điều thiện mới thắng điều ác. Ngài mang nước TC đến, và nhờ mọi thiện hảo trong Ngài lan tỏa, sự thiện sẽ chiến thắng sự ác.
Cách thức CGS diễn tả rất gợi hình, cụ thể, cứng rắn. Ngài muốn gieo rắc ưu tư lo lắng, muốn thức tỉnh lay động, hoán cải những tâm hồn xấu xa. Những thí dụ Ngài đưa ra đây minh giải cho một thái độ, một trạng thái tinh thần mà Ngài muốn phổ biến. Đây không phải là một bài học luân lý với những điều kiện này thì phạm tội, những tuân giữ kia thì không phạm tội. Ngài không có chủ ý ban hành một lề luật mới gồm bốn phần: phần thứ nhất: khi ai đánh con má này...Thứ hai: khi ai lấy áo con... Thứ ba: ...Nếu hiểu như thế là chưa quán triệt lời Ngài. Những thí dụ này là những hình ảnh nói lên cách cụ thể một thái độ căn bản. Đó là thái độ mà chính CGS muốn có, và môn đệ là người thể hiện hành động trong muôn vàn hoàn cảnh của cuộc sống hiện tại cụ thể.
Làm thế nào để thể hiện lòng yêu thương kẻ thù bằng hành động cụ thể ? Tôi phải làm gì cho tha nhân ? Cho cả kẻ thù tôi ? Các bậc khôn ngoan, các tiến sĩ luật Do thái và ngoại giáo đã nói về điều này qua “luật vàng”. Ông già Tobia đã truyền luật này lại cho con: “Điều chính con không thích, đừng làm cho kẻ khác” (Tob 4,15). Một tiến sĩ luật Do thái, ông Hillel, phát biểu một châm ngôn tương tự: “Đừng làm cho tha nhân điều ngươi không thích” (x. J.Bonsirven, Textes rabbiniques số 633). Học thuyết khôn ngoan của người Hy lạp cũng đã biết luật này từ lâu. Những người thuộc phái hắc kỷ đã diễn dịch luật này như sau: “Điều ngươi không muốn người ta làm cho chính ngươi, thì ngươi cũng đừng làm cho kẻ khác”. Con người mang sẵn trong mình sách Lề luật và qui tắc đích thực về thái độ phải có đối với những người đồng loại. Chính những hoài bão, nhu cầu con người muốn tạo cho họ dạy họ điều phải làm.
“Điều các con muốn... các con hãy làm cho người ta như vậy” (c.31). Các bậc khôn ngoan đưa ra một qui luật để con người đừng làm cho tha nhân điều gì có thể làm cho chính mình khó chịu. Hiển nhiên ở đây họ cũng trình bày “luật vàng” ấy cách tích cực, nhưng họ chú ý ngay đến cả những hậu quả tốt mà người thực thi luật đó được hưởng đến nỗi châm ngôn ấy một cách luẩn quẩn nói lên tính ích kỷ: tôi chỉ làm cho kẻ khác điều tôi mong chờ họ làm cho tôi, hay hơn nữa, tôi có thể làm cho họ điều tôi ước ao cho chính tôi. CGS đổi mới “luật vàng” này trong hai điểm: không phải làm điều tiện để được lại điều thiện, nhưng phải khai mào cho điều thiện mà không cần được đáp trả. Đàng khác (nhưng bản văn Lc không nói đến điểm này vì Lc viết phúc âm cho những Kitô hữu từ ngoại giáo trở lại) luật này được trình bày như là bảng tóm lược tư tưởng thánh kinh: lề luật và các tiên tri (Mt 5,12 và 22,40).
4. “Và nếu các con yêu mến những kẻ yêu mến các con, thì còn ân nghĩa gì ?” (c.32). Các môn đệ CGS phải chu toàn ý muốn TC trong một mức độ toàn vẹn và triệt để hơn các người khác. Họ không thể sống như các người tội lỗi. Họ là muối đất, là ánh sáng, là thành xây trên núi (Mt 5,13tt). Chính vì thế họ phải yêu thương mà không cần đáp trả, tình yêu của họ không đặt nền tảng trên tính cách hỗ tương. Nếu chỉ yêu thương những kẻ yêu thương họ, thì họ không hơn gì người tội lỗi. Họ phải yêu thương ngay cả những kẻ mà họ không thể mong chờ đáp trả hay thưởng công. Phải yêu thương như vậy bởi vì đó là ý muốn của TC, bởi TC cũng hành động như thế. “Khi con bố thí, thì tay trái đừng biết việc tay phải làm, hầu việc con bố thí được giữ kín; và Cha là Đấng thấu suốt mọi bí ẩn sẽ hoàn trả lại cho các con” (Mt 6,3tt).
Tình yêu biểu lộ qua việc thiện ta làm, qua việc cho vay mà không hy vọng lấy lại (c.34). Kẻ biết yêu thương đều có mặt ở những nơi khốn khổ. Tình yêu mà Chúa Kitô muốn nói là một tình yêu sinh động. “Hỡi các con nhỏ, chúng ta đừng yêu thương bằng lời nói, bằng đầu lưỡi, nhưng bằng việc làm và chân lý” (1Gio 3,18). Vậy CGS có thể đòi buộc yêu thương, bởi vì đó là một tình yêu, biểu lộ qua hành động. Tình yêu đó có thể tỏ hiện trong người sẵn sàng cởi mở và cảm thông những nỗi cùng cực của tha nhân. Kẻ nào thực sự quan tâm đến tha nhân thì có năng lực yêu thương thật sự.
CGS hứa ban thưởng cho kẻ biết yêu thương như thế. Thì còn ân với nghĩa gì ? TC biết rõ những hành động của con người. Ngài thi ân giáng phúc và ân cần săn sóc cho những ai hành động đẹp lòng Người.
5. “Không trông báo đền” (c.35), đó là dấu chỉ tình yêu nơi các môn đệ. Không được người ta biết ơn, tán tụng, đền đáp. Yêu thì không tính toán. Tình yêu phát xuất từ thâm sâu con người và lan rộng. Ngay cả khi cho vay, người môn đệ cũng đừng trông mong được bồi hoàn nhưng cho vay chỉ vì muốn giúp đỡ kẻ khác. Vì khi yêu thương kẻ thù phải loại bỏ hy vọng được yêu lại; chính vì thế yêu kẻ thù là tình yêu đích thực nhất của các môn đệ CGS. Điều thúc đẩy các môn đệ yêu thương chính là ý muốn của TC, quyền năng của Ngài, gương mẫu của CGS thày chúng ta, và lời Ngài.
Người môn đệ chu toàn giới luật yêu thương kẻ thù này sẽ được thưởng lớn, người đó sẽ được gọi là con Đấng tối cao. Đây chính là danh từ được gán cho CGS trong cảnh truyền tin: “người này sẽ được nên cao trọng và sẽ được gọi là Con Đấng Tối cao; TC sẽ ban cho người ngôi báu Đavit, tổ phụ Ngài” (1,31). Kẻ nào chu toàn giới luật yêu thương kẻ thù, sẽ được quyền làm con TC và như thế sẽ được tham dự vào quyền cai trị của chính CGS.
Làm con TC không chỉ là một thực thể đáng mong ước và chỉ xảy ra vào thời thế mạt; con người đã được làm con TC ngay từ lúc thực sự biết yêu thương kẻ thù. Do tình yêu không vụ lợi không đòi đáp trả người môn đệ trở nên giống TC; bởi TC cũng hoàn toàn tốt lành đối với kẻ vô ơn và ác đức. Người môn đệ trở nên con của Đấng tối cao, của Đấng tốt lành vượt trên mọi hành động của con người.
6. Người “xót thương” là người biết cảm xúc trước nỗi cùng cực của con người, biết mở lòng cảm thông nỗi khắc khoải và cùng cực của tha nhân, biết cứu giúp tất cã những ai thống khổ.
CGS công bố TC là một người Cha đầy thương xót. Nước TC được khởi đầu bằng việc loan báo ơn giải thoát cho kẻ bị giam cầm, bằng việc giải chiếu ánh sáng cho người mù tối, giải phóng những kẻ bị áp bức. CGS được sai phái đến thế gian để loan báo thời cứu độ đã đến và mang ơn cứu độ đến. Ngài đã rảo khắp xứ để thực thi việc thiện. Ngài tha tội lo lắng cho tội nhân, nói đến niềm vui của Chúa Cha trên trời khi có tội nhân trở về với Ngài trong thời kỳ ân sủng này (5,11-32). Sứ mệnh của CGS được diễn tả một cách chủ yếu trong lời Ngài kêu mời vào giao tế với các tội nhân (Lc 15,4-10; 7,36-47; 18,10-14; 19,1-10).
Lòng thương xót của Chúa Cha dạy cho các môn đệ biết điều chính họ phải làm. CGS đòi hỏi người ta phải thực hiện điều mà người Do thái gọi là “bắt chước TC”. Cũng như TC đã cho con người trần truồng áo mặc. Cũng như TC đã viếng thăm những kẻ bịnh hoạn (Stk 18,1), ngươi cũng hãy thăm viếng bệnh nhân... Cũng như TC được gọi là Đấng đầy xót thương và tốt lành, ngươi cũng hãy cố gắng sống để được gọi là người biết xót thương và tốt lành, ngươi hãy bố thí mà không chờ phần thưởng... Cũng như TC được gọi là tốt lành... Cũng thế ngươi hãy sống tốt lành.
Vậy tình yêu có hai qui tắc nhờ đó con người có thể đo lường và cảm nghiệm được lối cư xử cụ thể của mình. Đó là ước muốn của chính tâm hồn mình: yêu tha nhân như chính mình - và lòng xót thương của Cha trên trời. Hai qui tắc đó trong thực tế chỉ là một; vì người môn đệ là con của Đấng tối cao, là hình ảnh của TC. CGS tái tạo hình ảnh của TC trong con người bởi vì Ngài đến loan báo quyền thống trị của Đấng tối cao, là Cha đầy thương xót của chúng ta.
7. Thương xót và yêu thương con người trước tiên là không xét đoán họ: “Đừng xét đoán...” (c.37). Kẻ nào tìm hiểu xem tha nhân có đáng được xót thương và yêu mến không, người đó đã vi phạm giới luật yêu thương; vì tình yêu là nhưng không, do lòng xót thương trước nỗi cùng cực của tha nhân. Xét đoán chỉ có hai giai đoạn: lượng giá và kết án. CGS không muốn lượng giá và xét đoán ai. Hẳn nhiên, ở đây không có vấn đề xử dụng quyền tư pháp như trong một xã hội nào đó (CGS đã không bao giờ lên án việc xử dụng quyền tư pháp trong các dụ ngôn của Ngài hay ở những nơi khác). Ở đây chỉ có những phán đoán được thể hiện qua tư tưởng hay lời nói. Những lời phán đoán đó không bỏ lượng giá luân lý về hành động, nhưng cấm tuyên bố người hành động như thế là có tội.
CGS đã đòi buộc phải yêu thương kẻ thù và phải có lòng thương xót: “Hãy yêu thương kẻ thù - hãy biết xót thương”. Chỉ có TC là Đấng xét đoán mới có thể đòi hỏi con người trả lẽ vào thời của Ngài. Kẻ nào đặt mình là người xét xử tha nhân, thì TC sẽ xét đoán người ấy. Cách thức tôi đối xử với tha nhân sẽ định rõ cách thức TC đối xử với tôi.
8. Tội phạm và lầm lỗi mà tha nhân đã có thể gây ra cho tôi, rất có thể ngăn cản tôi xót thương và yêu mến họ. CGS chỉ cho ta hai con đường để vượt qua trở ngại đó: là biết tha thứ và ban tặng chính mình. Nhờ tha thứ, hàng rào ngăn cách giữa tôi và tha nhân không còn nữa; nhờ trao ban chính mình, tôi được nối kết với tha nhân.
Đòi buộc phải tha thứ cũng như đừng kết án lại được đặt vào trong viễn tượng Ngày Thẩm phán cuối cùng đang đe dọa con người. “Các con sẽ được tha thứ” và “các con sẽ được người ta cho lại”, hai câu này qui chiếu về ngày thẩm phán sau hết. Bấy giờ, TC sẽ xét đoán chúng ta theo lối cư xử của chúng ta. Một cách nào đó, lời phán xét chung thẩm đang ở trong tầm tay ta. “Xin tha tội chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” (11,4).
Ngày thưởng công sẽ đến. Đó là một ngày thu hoạch rất phong phú cho những ai đã biết ban phát. TC giống như một nông gia trả lương rất hậu cho công nhân của Ngài (đồng lương ở đây được diễn tả qua hạt lúa). Một nông gia hà tiện đổ đầy đấy lúa, rồi gạt cho sát, hầu khỏi phải cho quá số lượng cần thiết. Một nông gia đại độ sẽ lấy đấu hảo hạng, đã dằn đã lắc, hầu có thể ban phát nhiều hơn số lượng cần thiết, ông đổ đầy, tràn đấu lúa. TC giống như nông gia đại độ ấy. Ngài rất đại lượng trong việc thưởng công. Đồng lương Ngài ban phát cho không phải là đồng lương người ta đáng được, nhưng là một món quà tặng do lòng rộng rãi của Ngài, Ước gì ý niệm thưởng công, trả lương, không làm cho chúng ta thu hẹp lối diễn tả tình yêu vô biên của TC nơi chúng ta. Điều mà TC ban, luôn là vô hạn nhiều hơn điều chúng ta đã phân phát. “các con hãy vui mừng và hoan lạc vì phần thưởng các con trên trời rất lớn lao”.
Dầu vậy, dù TC không hẹp hòi khi ban ân huệ, Ngài cũng chỉ ban phát cho những ai đã biết trao ban.
Diễn từ về lòng thương yêu kẻ thù được loan báo trong viễn tượng ngày chung thẩm cuối cùng. Nhưng nó không kết thúc sau lời đoán xét và án phạt của TC, mà lại kết thúc với lời mô tả lòng tốt vô biên của Ngài. Lối hành văn của các câu trước có một nhịp điệu như nhau, nhưng đến câu nói của lời Chúa ban ân huệ: “Và các con cũng sẽ được ban cho” lại có cung điệu trang trọng hơn. Như thế trọng tâm của vấn đề được dời từ sự nghiêm khắc qua lòng tốt của TC, từ xét đoán qua hạnh phúc, từ lời đe dọa qua lời hứa, từ sợ hãi qua hy vọng.
Phần kết luận (c.38b) là một lời canh chừng: đong đấu nào, trả đấu ấy. Kẻ nào cho ít, sẽ nhận được ít. Kẻ nào cho dư đầy - hình ảnh về TC đại độ hiểu ngầm dưới đây - sẽ nhận được dư đầy. Tuy nhiên lòng thương xót vượt quá mọi giới hạn, mọi điều công bình mà TC sẽ chứng tỏ trong ngày Ngài thẩm phán không phải là không có điều kiện. Kẻ nào biết trao ban và tha thứ cho con người, sẽ nhận được dư đầy ân huệ và được TC tha thứ. Kẻ nào không biết trao ban và tha thứ thì đừng có hy vọng được TC ban và tha thứ.
KẾT LUẬN
Điều CGS muốn dạy qua những câu nói thẳng thừng này, với một cung giọng đông phương và rất gần với não trạng của thính giả là: trong các tương giao xã hội của con cái TC, dù đối xử với nhau, dù đối xử với kẻ khác hay ngay cả với kẻ thù, thì họ phải dùng một thứ lề luật khác vì lề luật báo thù hay luật công bình giao hoán mà con người thời cổ thường dùng. Bởi thế, các mối tương giao ấy nhất thiết phải là có tính cách huynh đệ: chúng ta tất cả là con cùng một cha trên trời. Qui luật tối thượng trong các tương quan giữa con người không phải là công bình nhưng là tình yêu.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Kẻ thù mà đoạn sách phúc âm này nói đến là kẻ thù ở trong nhóm, hay trong quốc gia đang sống. Vấn đề không phải là thay đổi các tâm tình sâu xa đối với kẻ thù, vì những tâm tình này độc lập với ý muốn chúng ta cho con. Nhưng vấn đề được đặt ra lúc có dịp cụ thể chúng ta phải có những hành động cụ thể giúp đỡ kẻ thù: cho kẻ thù đói khát ăn, săn sóc nếu họ bị thương, chôn cất một tử thi... Điều này đôi lúc đòi ta phải anh hùng can đảm, không những chỉ để vượt lên trên mối ghê tởm tự nhiên đối với họ, nhưng để tỏ ra mình cũng có “thiện cảm” với kẻ thù dân tộc. Hẳn nhiên, ở đây không có vấn đề giúp đỡ về quân sự (vì như thế là chống lại huấn lệnh về tình yêu, bởi chưng giúp đỡ về quân sự chính là trở lại chống đối người thân cận mình). Nhưng vấn đề ở đây là khi có thể trả thù kẻ thù bị ta bắt giam, ta hãy đối xử cách nhân bản và theo đức ái Kitô giáo.
2. “Kẻ thù” mà chúng ta thường gặp trong cuộc sống hàng ngày là tất cả những ai lân cận hay quen biết chúng ta mà lại phỉnh gạt chúng ta dưới bất cứ hình thức nào, là tất cả những ai tự nhiên có ác cảm với chúng ta, tất cả những ai luôn chống đối lại chúng ta khi chúng ta lên tiếng. Tất cả những ai lợi dụng sự cộng tác của chúng ta, tất cả những ai không tôn trọng chúng ta, tất cả những ai nói xấu sau lưng chúng ta, tất cả những ai bóc lột, chà đạp, vô ơn với chúng ta... Những kẻ thù ấy luôn đi sát ta. Chính CGS đòi chúng ta phải yêu thương giúp đỡ họ khi gặp cơ hội thuận tiện, phải tha thứ họ tận đáy lòng. Hẳn nhiên một thái độ như thế không có gì là “tự nhiên” hay tự phát cả. Trong một vài trường hợp chúng ta có lẽ muốn chết đi hơn là làm hòa với một ai đó sống cạnh chúng ta mà đã phỉnh gạt chúng ta. Và đó chính là điều mà CGS đòi buộc nếu chúng ta muốn trở nên môn đệ Ngài: chết đi cho những cảm tình tự nhiên để mặc lấy một lần thay cho tất cả tâm hồn quảng đại của Đức Kitô, Đấng đã tha thứ cho kẻ thù khi hấp hối trên thập giá. Điều CGS đòi buộc chúng ta không thể thực hiện được nếu chúng ta chỉ cậy dựa vào bản tính con người. Nhưng TC sẽ ban ân sủng, sức lực siêu nhiên để giúp chúng ta vượt lên trên sự đối kháng nội tâm, và thực sự trở nên những con người mới phát sinh từ Chúa Thánh Thần, những con người đích thực của Đấng tối cao (c.35). Không thể trở nên môn đệ đích thực của CGS khi chưa chịu chết đi cho chính mình. Nhưng nếu bằng lòng chết đi cho chính mình, bấy giờ chúng ta sẽ khám phá ra một cuộc sống mới trong Chúa Kitô, vì chính Chúa Kitô sẽ biến đổi tâm hồn chúng ta và ban cho chúng ta tâm tình yêu thương tất cả mọi người như anh em. Bấy giờ, trong vui mừng và hoan lạc, chúng ta có thể nói với thánh Gioan: “Chúng tôi biết chúng tôi đã đi từ cõi chết đến sự sống bởi vì chúng tôi đã yêu mến anh em mình” (1Gio 3,14)

 

TN7-C39: Triều đại của những con người mới

VietCatholic News (22/02/2004 )

CHÚA NHẬT 7 THƯỜNG NIÊN. C

Lc 6,27-38

Thưa quý vị,

 

Mấy hôm trước đây tôi đang đi dạo phố thì có người đàn ông tiến lại gần. Ông ta ngửa tay xin vài đồng: TN7-C39

Mấy hôm trước đây tôi đang đi dạo phố thì có người đàn ông tiến lại gần. Ông ta ngửa tay xin vài đồng, nói là để trả tiền xe buýt về nhà. Tôi thọc tay vào túi định kiếm vài tiền lẻ, nhưng khi ngửi nơi ông ta sặc mùi rượu, lại thôi và từ chối khéo. Tôi không muốn phí tiền để ông ta uống rượu. Thực bụng tôi muốn mua cho ông một ổ bánh mì hoặc ngay cả một vé xe buýt. Nhưng phản ứng tự nhiên của tôi lúc ấy là vậy. Tuy nhiên Lời Chúa hôm nay nhắc nhớ tôi về thái độ của mình. “Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh em thì đừng đòi lại”, xa chút nữa, Ngài nói thêm: “Hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả”. Rõ ràng là bác ái triệt để, chẳng còn kẽ hở để chúng ta thoái thác. Và cứ như tiêu chuẩn này thì cách hành xử của chúng ta hàng ngày sẽ thay đổi vô cùng rõ nét. Xã hội không còn người nghèo đói, hoạn nạn và khổ đau, không còn trẻ bụi đời, người ăn xin lang thang hay khuyết tật. Ngay cả trong gia đình, bầu khí sẽ đổi khác hơn.

Tuy vậy, tôi dám đoan chắc nhiều người trong thánh đường hôm nay nghe đọc Lời Chúa và bài diễn giải sẽ nhún vai buông câu bình luận: “không thực tế” (impractical), giống như một tu sĩ nọ khi nghe bài Phúc Âm Chúa sai môn đệ đi rao giảng Nước Trời không mang bị, mang dép, đã phán một câu xanh rờn “không tưởng”. Ay là chưa kể phần đông chúng ta cảm nghĩ “Lời Chúa khó quá” không thực hiện nổi. Nhưng có đúng Lời Chúa trong bài giảng “trên chỗ đất bằng” mà thánh Luca ghi lại, quá lý thuyết, đến độ những tín hữu trung bình cảm thấy khó hiểu hoặc xa vời? Đúng là Chúa đòi hỏi chúng ta quá mức chịu đựng không?

Để dễ trả lời câu vấn nạn, chúng ta nhìn sâu hơn vào bản văn. Bài giảng trên chỗ đất bằng diễn ra liền sau việc Chúa Giêsu từ trên núi xuống với các tông đồ. Trên núi Người cầu nguyện và chọn nhóm 12. Những lời Người là dành riêng cho họ: “Thầy nói với anh em là những kẻ đang nghe Thầy đây” tức là Ngài có ý muốn huấn luyện môn đệ. Nhưng đám đông cũng được nghe: “Đức Giêsu đi xuống với các ông, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó đông đảo môn đệ của Người và đoàn lũ dân chúng từ các miền Giuđêa, Giêrusalem,…” (6,17). Cho nên phần đầu của bài giảng, Ngài khuyên nhủ môn đệ đừng hành động như những người độc ác, kẻ thù của mình. Nhưng phải phản ứng theo cách thức ngược lại, tức: “Hãy làm cho người khác những gì anh em muốn thiên hạ làm cho anh em”. Lấy ác báo ác không giải quyết được hận thù mà chỉ thêm dầu vào lửa, chồng chất điều ác thêm lên, chỉ có tha thứ mới hoá giải được điều xấu mà thôi. Phần thứ hai (từ câu 32-36): “Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình thì còn gì là ân với nghĩa…”. Chúa đi xa hơn thói thường thế gian. Dạy họ không nên bắt chước hạnh kiểm bình thường của thiên hạ, mà phải theo gương lành của chính Đức Chúa Trời, Đấng yêu thương hết thảy, kể cả những kẻ không đáp trả, Đấng làm cho mưa xuống trên kẻ dữ người lành, không hề phân biệt, kỳ thị. Như vậy chúng ta được kêu mời suy xét thầy dạy đích thực của mình là ai: Thiên Chúa hay thế gian? Chúng ta phải học xử thế với ai, Đức Chúa Trời hay người đời? Những câu cuối cùng của bản văn xem ra dễ bị hiểu lầm. Cứ như chữ đen thì người ta phải thi hành điều tốt cho thiên hạ trước, để được đong lại bằng đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và tràn đầy mà đổ vào vạt áo mình. Nói theo tiếng Latinh thì “quid pro quo” (hòn đất ném đi hòn chì ném lại). Thực tế ngược lại mới đúng. Thiên Chúa tưới gội chúng ta trước với muôn ơn lành của Người, Ngài đong đầy tràn mà chúng ta chưa hề đáp lại. Ơn của Ngài hoàn toàn nhưng không. Cho nên bản văn chữ đen chưa diễn tả chính xác ý tưởng của Chúa Giêsu. Chúng ta chứng kiến một trường hợp bất lực của ngôn ngữ loài người. Thực ra Chúa Giêsu đòi hỏi các tín hữu một tinh thần độ lượng như Thiên Chúa đối xử với họ: Khoan dung, rộng rãi, hy sinh, mến yêu… bí tích Thánh Thể ở trước mặt chúng ta là gương mẫu. Thiên Chúa ban trước cho chúng ta hơn là chúng ta xứng đáng. Chúng ta phải cư xử theo mẫu mực đó đối với đồng bào mình. Thực ra thì tự thân loài người chẳng thể làm được như vậy. Cần phải có ơn Chúa. Lời Ngài đòi hỏi chúng ta đường lối hoàn toàn mới khi ứng phó với thế giới chung quanh mình. Ngài lôi chúng ta ra khỏi dòng chảy chung của đường lối hành xử thông thừơng. Ngài thức tỉnh mỗi người khỏi giấc ngủ mơ màng về hạnh kiểm của mình. Chúng ta thừơng tự mãn, tự kiêu tưởng mình đang tiến bộ về luân lý, mà kỳ thực đang xuống dốc thê thảm. Ngài ép buộc chúng ta nghĩ lại “modus vivendi et operandi” (cách sống, cách hành động) mà chúng ta lấy làm mẫu mực cho kẻ khác phải theo. “Thói đời như vậy đó”, không phải là tiêu chuẩn của một người tín hữu tốt. Chúa Giêsu mới là mẫu mực thật sự. Ngài là nguồn mạch, là năng lực, là định hướng đời sống mới trong ơn Thiên Chúa. Nói cách khác, Ngài ban cho chúng ta cùng một Thần Khí của Ngài, sống như Ngài, suy nghĩ như Ngài và hành xử như Ngài. Đó là điều khác biệt trong đời sống những kẻ tình nguyện theo Chúa Giêsu.

Dĩ nhiên, Chúa ban Thần Khí đó không chỉ riêng cho từng cá nhân, mà cả toàn thể Hội Thánh. Tác giả John Markey nhận xét sau đây: “Như thượng trí Đức Chúa Trời, Thần Khí (pneuma) biến đổi Hội Thánh, để rằng chúng ta chia sẻ tinh thần của Đức Kitô mà phục vụ chương trình của Thiên Chúa, tham dự vào đời sống và sứ vụ của Đấng Cứu Thế”. Cho nên nếu chúng ta nhận thấy Giáo Hội địa phương hợp tác hay o bế thế lực phần đời, hoặc chịu ảnh hưởng nặng nề của nó, thì lúc ấy lời Chúa Giêsu đã bị phản bội. Chúng ta không còn là môn đệ của Chúa nữa, mà là của Mămmom (thần tài), chúng ta cố tránh đụng chạm, bẻ cong lời Ngài cho thích hợp với lỗ tai thế gian. Nói cách khác chúng ta đã bịt tai không muốn nghe sự thật từ miệng Chúa Giêsu Kitô. Hy vọng Lời Chúa hôm nay gột rửa lòng trí chúng ta, thanh tẩy tai mắt để chúng ta tiếp nhận lại ơn Ngài ban khi chịu phép rửa tội.

Tôi đề nghị trước khi vất bỏ Lời Chúa như “quá lý tưởng, không thực tế” đối với thế giới thực dụng của mình, chúng ta hãy cho lời Ngài một cơ hội nghi ngờ. Bởi lẽ chúng ta tin tưởng vào Ngài khá đủ để biết rằng khi thực sự ấp ủ nó trong lòng, Lời Chúa có khả năng cải hối chúng ta trở về với Đức Chúa Trời nhân lành và anh em mình. Việc hối cải này có nghĩa là trước mắt chúng ta đã mở ra một con đường mới, một thế giới hoàn hảo hơn cho nhân loại. Thế giới mới này Chúa Giêsu gọi là Nước Trời: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,2) Xin nhớ lại tuần vừa qua, (tuần 6). Chúa Giêsu trong bài giảng tám mối đã tuyên bố: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Trời thuộc về anh em”. Như vậy chúng ta là những kẻ khó nghèo, chẳng thể tự mình đem lại trật tự mới. Chúng ta cần đến ơn Chúa, hy vọng Ngài sẽ thực hiện ước mong đó trong mỗi người và trong Giáo Hội. Chúng ta là những kẻ ăn mày và chờ đợi Thiên Chúa đáp ứng. Ngài sẽ ban cho Hội Thánh đầy đủ lương thực nuôi dưỡng phần hồn và phần xác. Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta ăn thịt và uống máu Ngài, như vậy chúng ta lại được mời gọi đi sâu hơn nữa vào bản tính thần linh của Ngài trong Nước Trời.

Những ai chấp nhận Triều Đại Thiên Chúa sẽ được Ngài ban ân huệ, sống nếp sống hoàn toàn mới trong thế gian. Nếp sống làm con Thiên Chúa, quảng đại, độ lượng, thánh thiện như Thiên Chúa Ba Ngôi: “Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ơn và quân độc ác”. Trái tim họ luôn hướng về Thiên Chúa và xa tránh tội lỗi. Họ sẽ khám phá ra những ưu tiên mới trong đời sống. Họ chỉ khao khát những gì Thiên Chúa muốn, thực hiện những gì Thiên Chúa đòi hỏi. An lành cho mọi người, hoà hợp giữa các dân tộc, tự do khỏi mọi hình thức áp bức, nô lệ, đổi mới mọi giao tiếp, sung mãn cho mọi nếp sống con người. Ngôn ngữ Do Thái dùng từ “Shalom” (hoà bình) để chỉ trạng thái này. Họ nói “shalom” khi gặp nhau như một lời chào hỏi, chúc phúc cho nhau và cho đất nước. Shalom là lời hứa của Thượng Đế cho dân tộc Do Thái và từng người Israel. Nó là sự bình an thẳm sâu và đời sống trọn vẹn trong Đức Chúa của Abraham. Như vậy nếu chúng ta vội vã coi “bài giảng trên chỗ đất bằng” là không tưởng thì chứng tỏ chưa hiểu Lời Chúa, nông cạn và ngu xuẩn. Nó là tuyên ngôn Nước Trời, là sự thật vĩnh cửu, giải phóng con người khỏi mọi tối tăm lầm lạc, ban cho loài người hạnh phúc và tự do.

Theo như mạch văn Chúa Giêsu rao giảng mà thánh Luca ghi lại thì nước Đức Chúa Trời sẽ xuất hiện vào ngày sau hết. Nhưng nội dung bài giảng hôm nay biểu lộ tính tức thời của nước đó. Chúng ta chẳng phải đợi đến tận cùng thời gian mới hưởng lời hứa “shalom” của Thiên Chúa. Nó liên tục xuất hiện trên trái đất, trong những linh hồn lành thánh lắng nghe Lời Chúa. Phần thưởng của Ngài không phải vàng bạc, lợi lộc, chức quyền mà là nếp sống mới, tước vị làm Con Đấng Tối Cao, sống theo lối sống của Đức Chúa Trời, hành động như Ngài. Quả thực nó còn hơn “đấu đong đầy, đã dằn và đã lắc mà đổ vào vạt áo chúng ta”. Do đó đòi hỏi của Chúa Giêsu không khó khăn đối với những linh hồn thánh thiện. Nó thay đổi tư duy để có trái tim thanh sạch, nhiệt tình đón nhận Tin Mừng. Cảm tạ Thiên Chúa, Đức Giêsu không đề nghị suông kiểu cách sống mới hoặc danh sách những lệnh truyền “cực kỳ nghiêm nhặt”. Nhưng Ngài còn ban Thánh Thần trên những tâm hồn nghe theo để họ nồng cháy tình yêu Thiên Chúa, được yêu thương, tha thứ, hối thúc lòng ao ước sống như con cái Nước Trời.

Cho nên, khôn ngoan nhất mực là coi trọng Lời Chúa hôm nay. Đừng vất bỏ như “không thực tế”. Chúng ta phải vật lộn với thế gian, để áp dụng cho bằng đựơc lời Ngài trong gia đình, học đường, nơi làm việc và giải trí. Tuy nghĩa đen không dễ giúp chúng ta hiểu được nội dung Chúa muốn nơi chúng ta, nhưng điểm rõ ràng là Ngài mong đợi chúng ta phải hành động theo tiêu chuẩn mới: Tha thứ, tin cậy, yêu thương, rộng lượng và hy sinh triệt để, nếu chúng ta muốn chứng tỏ mình là môn đệ Ngài. Tại sao? Câu trả lời là bởi lẽ triều đại của Ngài đang đến gần, thực sự, đã bắt đầu rồi và chúng ta là những công dân. Chúng ta phải chứng tỏ cho thế gian thấy điều mới mẻ trong Hội Thánh, tức tình yêu cứu rỗi của Ngài đã lan tràn khắp năm châu bốn bể. Ân huệ của Ngài tưới gội mọi linh hồn, bạn cũng như thù. Chúng ta phải hành động khác với thế gian, ngõ hầu thiên hạ khi nhìn vào lối sống người Kitô hữu, nhận ra những điều hoàn toàn mới và đi đến kết luận: “Thời đại Kitô đang hiện diện. Thiên Chúa đang mưa móc ơn phước xuống trên nhân loại, chẳng bao lâu nữa sẽ có trời mới đất mới. Mọi người sẽ được hưởng hạnh phúc tràn trề”. Họ không còn phải chờ đợi ở lời hứa hão huyền nào khác nữa. Trong lịch sử nhân loại đã có rất nhiều thể chế “lý tưởng”, đến rồi lại đi, mà chỉ gây cho loài người nhiều chết chóc đau thương. Chúng ta phải chứng tỏ cho mọi dân tộc, mọi quốc gia, Đức Kitô là hy vọng duy nhất của nhân loại. Triều đại của Ngài là giải pháp hữu hiệu cho mọi vấn đề của con người. Nếu chúng ta thất bại trong nếp sống thì chẳng còn hy vọng nào nữa giữa biển đời trần gian. Xin Chúa Giêsu Thánh Thể, bánh ăn hàng ngày của các linh hồn, giúp đỡ mọi người xem xét lại cuộc sống, khơi dậy tinh thần đang chao đảo, vững tin vào Lời Chúa hôm nay, nhận ra ý nghĩa sâu thẳm của nó và phản ánh đúng niềm vui, sự giàu sang Chúa đổ vào lòng khi thực hiện lời Ngài. Amen.
Lm. Jude Siciliano,OP.


 

TN7-C40: Đừng thù ghét lại nhưng hãy yêu thương

Lc 6,27-38
A. Hạt giống...
 

Những lời Chúa Giêsu dạy về cách đối xử với kẻ thù ghét mình : - Đừng thù ghét lại nhưng hãy: TN7-C40

1. Những lời Chúa Giêsu dạy về cách đối xử với kẻ thù ghét mình :
- Đừng thù ghét lại nhưng hãy yêu thương, làm ơn, chúc phúc và cầu nguyện cho họ.
- Đừng trả đũa nhưng hãy nhường nhịn.
2. Những lời dạy về cách đối xử va tha nhân cách chung :
- Làm ơn và cho đi mà không cần đáp trả.
- Cư xử nhân hậu
- Đừng xét đoán và kết án.
- Hãy tha thứ.
3. Lý do của tất cả những cách cư xử trên là vì Cha trên trời : “Các con hãy ở nhân từ như Cha các con là Đấng nhân từ” ; “Đừng xét đoán thì các con sẽ khỏi bị (Cha trên trời) xét đoán, hãy tha thứ thì các con sẽ được (Cha trên trời) tha thứ ; hãy cho thì (Cha trên trời) sẽ cho lại các con…”
B.... nẩy mầm.
1. Những chữ “vì” trong tương giao :
- Nếu “vì tôi”, thì tương giao sẽ ích kỷ.
- “Vì người ấy” thì tương giao sẽ vụ lợi hoặc thất thường (người ấy tốt thì tôi sẽ tốt, ngược lại…)
- Khi biết “vì Chúa”, các tương giao sẽ vô cùng cao thượng và tốt đẹp.
2. “Các con muốn người ta làm gì cho các con thì các con hãy làm cho người ta như vậy” : Tôi thường đòi hoặc mong người ta làm cho tôi thế này thế nọ. Đó là cách tương giao lấy mình làm trung tâm quy chiếu. Cách tương giao này khiến người khác nặng nề và cũng thường làm tôi thất vọng. Hôm nay tôi thử cách tương giao quên mình để nghĩ đến người khác xem : chắc là mọi người đều sẽ vui, phần tôi cũng sẽ cảm thấy một niềm vui sâu xa khó tả.
3. “Đừng xét đoán thì các con sẽ khỏi bị (Cha trên trời) xét đoán… Hãy tha thứ thì các con sẽ được (Cha trên trời) tha thứ ; Hãy cho thì (Cha trên trời) sẽ cho lại các con” : những thứ mà người khác dùng để đáp lại tôi chắc chắn không tốt bằng chính Thiên Chúa đáp lại, vì Ngài rất quảng đại, Ngài “sẽ lấy đấu hảo hạng đã dằn, đã lắc mà đổ vào vạt áo các con”.
4. “Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây : Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em” (Lc 6,27)
Lần nọ trong một ngôi thánh đường, hàng ngàn người say sưa ngồi lắng nghe vị mục sư giảng về lòng yêu thương. Khi bài giảng đã kết thúc, vị mục sư bước ra khỏi ngôi thánh đường. Bỗng một người tiến lại và chìa tay về phía ông. Đó chính là người đã hại ông khi xưa. Ngập ngừng hồi lâu, vị mục sư ngượng ngùng đưa tay bắt.
Sự ngập ngừng của vị mục sư cũng chính là thái độ của tôi trong cuộc sống hôm nay. Tôi không dễ dàng tha thứ để đón nhận và yêu thương kẻ thù. Tôi đã quay lưng lại khi phải đối diện với họ.
Lạy Chúa, xin cho con con tim của Chúa, để con bao dung, yêu thương và tha thứ cho hết mọi người như chính Chúa đã yêu thương và tha thứ cho chúng con. (Hosanna)
5. “Anh em đừng xét đoán thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán” (Lc 6,37)
Giêsu ơi, lời Ngài dạy “đừng xét đoán” con được nghe đã nhiều, nhưng chẳng giữ được bao nhiêu. Hàng ngày chung quanh con có bao người với bao việc làm, xấu có, tốt có. Nhưng dưới mắt con, tất cả đều có những thiếu sót. Không chỉ nhìn thấy những thiếu sót mà con còn chỉ trích, chê bai.
Lạy Chúa, con mắt con nào khác những tấm gương trong nhà cười, nơi mà những người tham quan đều phải buồn cười vì qua những tấm gương ấy, hình ảnh của họ thật kỳ dị : mặt mũi chân tay đều biến dạng. Cũng vậy, qua con mắt con, những tật xấu của anh em thì to ra, những điều tốt đẹp thì nhỏ lại.
Xin cho con biết đến với Ngài để được biến đổi. Từ đó, con nhìn thấy được những điều tốt đẹp nơi mỗi anh em và cùng sửa đổi những khuyết điểm của nhau trong tình yêu của Ngài (Hosanna)
6. “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36)
Trong cơn đau khổ vì con mình bị giết, người cha thật bình tĩnh. Ông không khóc nhưng tâm hồn tan nát. Ông đã chủ động giải hòa với gia đình thủ phạm, cũng là một gia đình công giáo như ông : “Tôi không muốn có mối thù nào giữa hai gia đình chúng ta”.
Nếu tất cả mọi người trên thế giới đều biết đối xử với nhau như vậy thì cuộc đời đáng yêu biết chừng nào !
Lạy Cha, xin cho mọi người trên thế giới biết đối xử nhân ái với nhau hơn. (Epphata)
7. Mầm khác :

 

TN7-C41: CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN

Lu-ca 6, 27-38
"Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây : Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại. Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy. Nếu anh em yêu thương mình, thì có ân nghĩa gì đâu. Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ. Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa ? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa ? Cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẳng. Trái lại, anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác.
Anh em phải có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy."
***
 

Phân đoạn Thánh Kinh này thấy ngay sau lời công bố về phước hạnh, phước hạnh cho những kẻ: TN7-C41

Phân đoạn Thánh Kinh này thấy ngay sau lời công bố về phước hạnh, phước hạnh cho những kẻ theo Chúa Giê-su, về tai họa cho những kẻ chối bỏ Ngài. Thầy đã dùng những phước và họa ấy để chỉ về nhân cách và phẩm hạnh của nhửng môn đệ thật của Ngài : Bản chất của cuộc sống người môn đệ phải là cuộc sống của tình yêu, và tình yêu cao cả nhất là yêu kẻ thù.
Không có giới răn nào gây ra nhiều tranh cãi cho bằng giới răn dạy yêu kẻ thù. Trước khi có thể vâng giữ luật đó, chúng ta phải tìm hiểu ý nghĩa của nó. Ngôn ngữ Hi-lạp có ba tiếng để chỉ yêu thương :
 
  • Eros : ái tình : chỉ tình yêu hướng về xác thịt như nam nữ yêu nhau.
  • Philo : yêu mến : tình yêu giữa người thân thuộc, có tính cách tự nhiên.
Cả hai từ này đều không được dùng ở đây.
- Agape : bác ái : tình yêu không đến cách tự nhiên, nhưng do cố gắng, được hướng dẫn của ý chí. Một lòng trắc ẩn đối với người khác, dầu người đó có xử tệ, ăn ở xấu thế nào đi nữa, chỉ mong sao cho người ấy được hạnh phúc, được lợi ích, tình nguyện và quyết tâm hi sinh để ăn ở tốt với người ấy.
Điều này rất ý nghĩa, chúng ta không thể yêu kẻ thù như yêu những người thân của chúng ta, vì như thế là phản tự nhiên, không thể có được. nhưng chúng ta có thể nhận thấy rằng, bất kể người nào đó làm gì đối với chúng ta, dầu họ làm nhục chúng ta, bạc đãi, tổn thương chúng ta, thì chúng ta cũng cứ tìm điều lành cho họ. Điều khác biệt ở chỗ này là tình yêu của chúng ta đối với người thân thuộc là điều tất yếu tự nhiên không tránh được, tự nhiên lòng chúng ta hướng về đó, nhưng tình yêu đối với kẻ thù không những là một việc của trái tim, của tấm lòng, mà còn là việc của ý chí nữa. đó là việc mà nhờ ơn Chúa giúp chúng ta sẽ thực hiện được.
Có hai điều lời Chúa dạy ta ở đây về luân lý Ki-tô giáo :
 
  1. Luân lý Ki-tô là tích cực :
Nó không bao gồm những việc cấm kỵ, mà nói đến những việc phải làm. Chúa Giê-su ban cho chúng ta luật vàng này : Chúng ta hãy làm cho kẻ khác y như chúng ta muốn người khác làm cho mình vậy. Luật vàng cũng tìm thấy nơi lời dạy dỗ của nhiều bậc thầy nhưng dưới hình thức tiêu cực. Hillel, một trong những rab nổi tiếng của Do-thái đã trả lời cho người xin ông dạy cho tất cả Luật Pháp chỉ trong thời gian anh ta có thể đứng cò một chân, ông bảo : "Điều chi đáng ghét cho ngươi thì ngươi đừng làm cho kẻ khác, đó là tất cả Luật Pháp, các sự khác chỉ là sự giải thích." Philô, một vĩ nhân tại Alexandria đã nói : "Điều gì anh ghét chịu đựng thì đừng làm cho bất cứ ai." Isocrates, một nhà hùng biện Hi-lạp dạy : "Những gì khiến anh bực bội bởi tay kẻ khác gây ra, thì đừng làm những sự ấy cho kẻ khác." Các triết gia của phái Khắc kỷ có một điều luật căn bản : "Điều gì anh không muốn cho kẻ khác làm cho anh thì anh đừng làm cho ai khác." Khi người ta hỏi Đức Khổng Tử rằng : "Có lời nào có thể làm luật thực tiễn cho cả cuộc sống con người không ?" Ông trả lời : "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân."
Các hình thức trên đều là tiêu cực. Dù không phải dễ mà giữ mình đừng làm các việc đó, nhưng càng vô cùng khó khi chúng ta phải ép mình để làm cho kẻ khác điều mà chúng ta muốn họ làm cho mình. Chính bản chất của luân lý Ki-tô giáo là không phải chỉ tránh làm điều xấu, mà còn phải tích cực làm điều tốt.
 
  1. Luân lý Ki-tô đặt nền tảng trên điều vượt mức bình thường.
Chúa Giê-su nhắc lại đường lối chung của đời sống rồi Ngài loại bỏ bằng câu hỏi : "Thì còn ân nghĩa gì ?" Thường thì người ta khoe mình cũng tốt như những người chung quanh. Rất có thể họ đúng như vậy. Nhưng Chúa Giê-su hỏi : "Ngươi tốt hơn người thường được bao nhiêu ?" Tiêu chuẩn để chúng ta so sánh không phải là với người lân cận, có thể chúng ta bằng họ. Nhưng chúng ta phải so sánh mình với tiêu chuẩn của Thiên Chúa, và như vậy chúng ta còn xa lắm với tiêu chuẩn của Ngài.
 
  1. Lý do cho lối sống Ki-tô là gì ?
Ấy là để chúng ta nên giống như Thiên Chúa, vì đó là ý muốn của Thiên Chúa trong các hoạt động của Ngài. Chúa khiến mưa xuống trên kẻ lành và kẻ dữ. Chúa nhân từ đối với kẻ làm vui lòng Ngài mà cũng nhân từ đối với những kẻ làm buồn lòng Ngài. Tình yêu Thiên Chúa bao bọc thánh nhân cũng như tội nhân. Chúng ta phải noi gương mẫu tình yêu đó. Nếu chúng ta cũng tìm lợi ích cho kẻ thù nghịch, thì chúng ta mới thực sự là con cái Thiên Chúa.
Một người Ba-lan đã kể câu chuyện cảm động và người đã chứng tỏ lòng thương yêu kẻ thù – là anh ta – như sau : "Tôi đã bị bắt, cảnh sát đã tìm thấy tôi. Tôi đã giết bà Hammelmann, và tôi cũng bắn luôn bốn người con của bà. Tôi nhìn thấy họ chết trong vũng máu. Sau khi cảnh sát bắt được tôi, tôi bị đưa ra tòa. Quan tòa tuyên án : "Anh đã làm một việc vô cùng tàn bạo, anh phải ngồi tù hai mươi năm."
Đang khi ở trong tù, tôi có nhận được một lá thư. Đây là một lá thư hết sức lạ lùng của ông Hammelmann. Ông đã viết lá thư này cho tôi vì ông đã nhận được tin chánh quyền Polish sẽ không cho phép tôi trở về quê hương của tôi là Ba-lan. Ngay cả chánh quyền Đức cũng đã nói rằng : "Chúng tôi không muốn anh sống tại nước Đức." Bức thư của ông Hammelmann viết : "Tôi tha thứ cho anh về việc anh giết vợ và bốn con tôi. Tôi cũng đang vận động với chánh quyền Đức để họ cho phép anh có thể ở trong nhà tôi và tôi sẽ giúp anh sống một đời sống lương thiện."
Trong thư ông cắt nghĩa : "Tại sao tôi giúp đỡ anh ? Tại sao tôi lại có thể tha thứ cho anh về tội anh tàn sát gia đình tôi ? Tôi có thể làm điều này vì Thiên Chúa đã làm một điều lạ cho tôi. Ngài đã ban cho tôi Thánh Thần của Ngài. Thánh Thần của Thiên Chúa bây giờ dẫn dắt đời sống tôi và Ngài ban sức cho tôi có thể tha thứ cho anh."
Bây giờ tôi biết được rằng Thánh Thần của Thiên Chúa phải có một quyền năng siêu việt. Ngài đã cất mối tử thù khỏi lòng một người và ban cho ông ta một tấm lòng muốn giúp đỡ tôi mặc dầu tôi đã giết vợ con ông ta." (Creslaw Godlewski).

 

TN7-C42: YÊU THƯƠNG THÙ ĐỊCH.

Giới luật yêu thương kẻ thù là giới luật đặc thù của Kitô giáo, một giới luật khó và phức tạp: TN7-C42

Giới luật yêu thương kẻ thù là giới luật đặc thù của Kitô giáo, một giới luật khó và phức tạp nhất. Khó vì nó đi ngược lại bản năng tự vệ của một sinh vật, nhất là sinh vật có lý trí như con người! Phức tạp, vì chính Chúa khi làm người, xem ra Ngài cũng dạy một đàng, Ngài làm một lối. Biết đâu mà bắt chước Ngài?
Ngài dạy: "Chúc lành cho kẻ thù" (Lc 6,28a) trong khi chính Ngài không tiếc lời nguyền rủa bọn luật sỹ và biệt phái! (xem Mt23).
Ngài dạy: "Kẻ tát má này, hãy đưa má kia" (Lc 6,29) thế mà khi Ngài bị kẻ thù tát má, Ngài đâu có đưa má kia cho nó, mà còn nói lại: "Nếu tôi nói sai, hãy chứng minh tôi sai chỗ nào, mà nếu tôi nói đúng, sao lại đánh tôi?" (Ga 18,23). Vậy muốn hiểu giáo huấn yêu kẻ thù:
1/ Phó mặc cho Chúa xét xử:
Bài đọc 1 đã diễn tả: hoàn cảnh thuận lợi cho Đavít, có thể hiểu như là Chúa đã trao Saul vào tay Đavít, nên Abyshay hí hửng nói với Đavít: "Để cho tôi đâm Saul, chỉ cần một nhát gươm ghim xác hắn xuống đất!". Nhưng Đavít lại cản: "Đừng hãm hại Ngài, vì ai nào tra tay trên Đấng Chúa đã xức dầu, mà lại được vô sự!"(I Sm 26).
Hình ảnh đẹp trên đã mô tả cho Lời Chúa dạy hôm nay: Đừng lên án và các ngươi sẽ không bị lên án. Hãy tha đi và các ngươi sẽ được tha" (Lc 6, 37). Bởi vì: "Chỉ mình Chúa là Đấng lập luật và là Thẩm Phán, là Đấng có quyền cứu hay tiêu diệt" (Ga 4,12).
Chỉ có tội lỗi và ma quỷ là kẻ thù của con người, còn đã là người thì đều là anh em với nhau, cùng là con một Cha trên trời, vì Chúa là Đấng công bằng và là người Cha hằng thương xót, nên khi giữa chúng ta có điều xích mích, thì Ngài đòi cả hai bên: "Muốn người ta làm gì cho mình thì mình hãy làm cho người ta như vậy" (Lc 6,31). Nghĩa là ai cũng muốn người khác làm điều tốt cho mình, thì mình hãy làm điều tốt cho người ta, vì thế Chúa phán: "Sao các ngươi tự mình không xét lấy cái gì là phải? Như khi các ngươi cùng đối phương đi lên quan tòa, dọc đường hãy lo sao cho ổn với nó (tức là hãy làm lành với nó). Kẻo nó lôi ngươi đến thẩm phán, và thẩm phán nộp ngươi cho lý hình, và lý hình tống ngươi vào ngục!" (Lc 12,57-58).
Bởi vậy: "Hãy cho đi, thì các ngươi sẽ được cho lại, người ta sẽ lấy đấu hảo hạng đã dồn, đã lắc đầy tràn tóe ra, mà đổ vào vạt áo các ngươi. Vì các ngươi đong bằng đấu nào thì sẽ được đong lại bằng đấu ấy" (Lc 6, 37-38), nghĩa là Chúa sẽ trao cho các ngươi điều lành hoặc sự dữ, xứng với việc ta đã làm cho đồng loại! (2 Cor 5,10).
2/ Hãy diễn tả khuôn mặt: những người con của Đấng Tối Cao.
a, Chỉ được phép lấy lành mà báo ác: đó là ý nghĩa của mệnh lệnh: "Hãy chúc lành, cầu nguyện cho kẻ thù". (Lc 6, 28).
b, Làm lành hơn điều kẻ thù tưởng: Đấy là ý nghĩa của lệnh truyền: "Kẻ tát má này, hãy chìa má kia; kẻ đoạt áo choàng, đừng cản nó lấy áo lót!" (Lc 6, 29).
c, Phục vụ không phân biệt bạn hay thù: Do đó Chúa dạy: "Phàm ai xin, ngươi hãy cho; ai đoạt của ngươi, ngươi chớ đòi lại" (Lc 6,30).
d, Phục vụ không đòi người đời bù đắp cân xứng: Bởi vì kẻ tội lỗi cũng chỉ yêu ai yêu chúng, và có cho vay cũng trông lấy lại (xem Lc 6, 32-34).
Nói tóm lại, như lời thánh tông đồ dạy: "Nếu kẻ thù đói, hãy cho nó ăn; nó khát, hãy cho nó uống. Làm thế như người chất than hồng lên đầu nó" (Rm 12, 20) vì lấy lành mà báo ác là lối "trả thù" của con Đấng Tối Cao.
3/ Sự chiến thắng của con Đấng Tối Cao không đặt ở đời này:
Bài đọc II, Thánh Phêrô nói về sự Phục Sinh: sống trong mầu nhiệm Phục Sinh, chúng ta không còn phải là người trần gian, thuộc dòng giống của Adam, như Cain, như Lamek đòi báo thù (xem St 4), mà chúng ta thuộc về người thiên thai, người thiên thai kia sao (như Giêsu, như Stêphanô), các người thiên thai khác (chúng ta) cũng như vậy.
Thực vậy:
Ngày thứ Sáu Tuần Thánh, Đức Giêsu là kẻ thua cách nhục nhã; nhưng Chúa Nhật Phục Sinh: mọi kẻ thù đều làm bệ kê chân Ngài! (Tv 110,1).
Saulô ôm áo cho người ta ném đá Stêphanô chết cách thê thảm, nhưng Stêphanô "hạ" Saulô chỉ bằng một lời cầu nguyện: "Lạy Chúa Giêsu, xin tha cho nó", do Chúa đã "xử" Saulô cho té ngựa, để ông trở lại làm "Tay sai đắc lực" cho Stêphanô. (xem Cv 7-9).
Bởi vậy, vào ngày cách chung mới biết tay nhau, mới biết rõ ai thắng ai thu. Vì lúc ấy Thiên Chúa sẽ thưởng bội hậu cho những ai đã yêu mến, đã thi ân cho địch thù! (Lc 6, 35a).
Góp ý vài thắc mắc trong cách cư xử người với người:
H. Cư xử thế nào cho phải đạo với người hiện đang không có cảm tình?
Đ.  Tự bản tính con người không ai ghét điều tốt, một khi đã ghét là phải do cái gì, hoặc khách quan, hoặc chủ quan là xấu. Có thể cái đó đi ngược lại với quyền lợi của mình. Nên nhớ, người cao thượng thì làm gì cũng cao thượng, dầu cho ghét người khác, thì cũng ghét cách cao thượng!
Truyện kể: Khi ông Jean Jacques Rousseau gởi ông Votaire cuốn "Luận về nguồn gốc sự bình đẳng" trong đó Rousseau mạt sát văn minh, mạt sát văn học, và đề nghị trở về đời sống thiên nhiên như các dân tộc sơ khai. Ông Votaire viết thư với các lời lẽ như sau: "Thưa ông, tôi thừa nhận được cuốn sách của ông mới viết để mạt sát nhân loại, tôi xin cám ơn ông, đọc tác phẩm của ông, người ta sinh ra cái ý muốn bò đi bốn cẳng, nhưng vì sáu mươi năm nay, tôi đã bỏ mất cái thói bò rồi, cho nên tôi đau khổ thấy mình không thể tập lại thói đó được nữa!"
Nhưng về sau, khi ông Votaire hay tin nhà cầm quyền Thụy Sỹ đốt tác phẩm của Rousseau, thì Votaire lại viết thư cho Rousseau thế này: "tôi không cùng ý kiến với ông, nhưng suốt đời tôi sẽ bênh vực ông được tự do bày tỏ ý kiến đó". Khi Rousseau bị lùng bắt, thì Votaire mời ông ta đến ở chung nhà, nơi ranh giới giữa Thụy Sỹ và Pháp.
Đó là bài học cho ta: Khi ta ghét ai, thì ghét cái bậy của họ, chứ không ghét con người của họ, vì con người của họ cũng là một nhân vị như mình, mình phải biết tôn trọng. Có nhiều người khi ghét người khác, gọi người ta bằng thằng, bằng con! bất chấp người ta là người có địa vị trong xã hội, và có khi họ đáng cha đáng chú mình. Là con Chúa, ta không bao giờ học cái thói mất dạy đó. Nếu không ưa ai, và muốn họ nhận ra cái sai cái trái của họ, thì hãy cầu nguyện cho họ trước, và từ từ nhã nhặn vạch cho họ biết điều không thích hợp, chứ đừng ào ào, như vậy người ta mới nể mình. Nhất là kẻ ta cho là đối phương của ta, có chức vị gì đó trong giới của họ, ta phải dùng cách xưng hô cho đúng, đừng gọi họ bằng từ cho thỏa lòng căm tức của mình, có ý mạ lý người ta, thì rõ ràng mình còn sống trong môi trường bán  khai giữa một thế giới văn minh. Mình không ưa người ta, nhưng làm cho họ nể mình, cái đó mới là văn minh là cao thượng.
H. làm sao tránh ghét người?
Đ. Khoa phâm tâm học nói: Ghét chính là do sợ mà ra, thì rõ ràng khi ghét ai, là sợ người đó, hoặc sợ người đó đoạt của cải của mình, hoặc sợ người đó đoạt danh vọng mình đoạt quyền lợi mình, đoạt tình yêu mình, hoặc sợ người đó vạch mặt chỉ cái sai trái của mình. Ví dụ: Các bà đánh ghen, các bà ghen đối thủ, đánh đối thủ, vì sợ người ta giựt chồng mình! Hoặc bọn Mafia thủ tiêu nhau như ngoé, chỉ vì sợ đối phương đưa ra ánh sáng hình vi ám muội của mình.
Vậy muốn tránh ghét người khác, thì đừng sợ ai cả, mà muốn không sợ ai, thì cứ đường hoàng công chính sống giữa thanh thiên bạch nhật, biết trên có ai, dưới có ai, bốn phương tám hướng có ai? Và cố gắng thực hiện trong đời sống của mình câu: "Thiên địa nhân hòa", tức là sống hợp với ý trời, hợp với lòng người, hay nói như Phaolô: "Hãy sống yêu, mọi sự sẽ trở nên tốt đẹp". (xem Rm 8,28).
Khi sống như thế thì hết sợ ai, khi không sợ ai, không đề phòng ai, thì ghét ai làm gì cho mệt tâm trí, vì người có công lý là người mạnh!

 

TN7-C43: THIN CHA YU TH? GIAN ...

Ga 3,16 - Lm. Giuse Trần Ngọc Thao. DCCT
LTS: Linh mục Giuse Trần Ngọc Thao, nguyên là Giám Tỉnh và Giám Đốc Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt nam. Hiện nay, cha là Bề Trên và Chánh Xứ Giáo Xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Kỳ Đồng. Sau đây là bài giảng trong Thánh Lễ Tạ Ơn của tân Linh Mục Gioan Baotixita Nguyễn Minh Phương vào ngày 22 tháng 02 năm 2004.
Tin Mừng: Lc 6,27-38 (CN VII TN)
I- Linh Mục và “thế gian”
 

Cách đây 186 năm, một linh mục 32 tuổi mặc áo chùng đen cũ đã bạc mầu lững thững bước: TN7-C43

Cách đây 186 năm, một linh mục 32 tuổi mặc áo chùng đen cũ đã bạc mầu lững thững bước vào con đường làng nhỏ bé, mang theo một chiếc giỏ đựng quần áo và một số đồ dùng. Không có ai tháp tùng; chẳng một người ra đón. Một lúc sau, khi gặp một trẻ em đang đứng ở dọc đường, ngài hỏi thăm đường dẫn tới nhà thờ. Đứa trẻ chỉ tay về một nơi xa xa, rồi cùng đi vài bước với ngài... Đó là cha Gio-an Ma-ri-a Vi-a-nê lãnh sứ vụ linh mục được ba năm. Ngài hỏi thăm đường tới nhà thờ ở Ars, 35 cây cách thành phố Lyon, để lãnh trách nhiệm làm cha xứ mới của làng đó. Hiện nay, một tượng đài được xây lên, ở phía trên có tượng cha xứ họ Ars, tay phải giơ lên chỉ trời cao, mắt nhìn đứa trẻ; dưới chân hai tượng có ghi “con đã chỉ cho cha đường tới Ars; cha sẽ chỉ cho con đường về trời”. Vị linh mục đầy thiện chí, khắc khổ, với tinh thần siêu nhiên bước vào một hoang địa, một thế giới bị tục hoá, lãnh đạm thờ ơ với con người chuẩn bị sống với họ... Thế giới đó một phần nào giống như thế giới thù nghịch. Cha Gio-an Ma-ri-a Vi-a-nê cứ can đảm tiến bước, đi vào môi trường giá lạnh đó, không ngã lòng, vẫn sống với những con người sống xa Thiên Chúa, sống xa cách mình.
Thế giới thù nghịch bao gồm tất cả những con người vì não trạng, vì cuộc sống theo xu hướng tự nhiên, vì sự thiếu hiểu biết về mặt tôn giáo, không chấp nhận sự có mặt của linh mục, dị ứng với mọi hình thức Ki-tô giáo, không đón nhận mạc khải và lời rao giảng về mạc khải, không chịu uốn nắn đời mình theo đòi hỏi của Tin Mừng, không muốn thay đổi nếp sống cũ...
Trong những hoàn cảnh cụ thể đó, linh mục không thể không sống trong bầu khí căng thẳng, vì bị đặt trong thế “người hùng cô đơn”, phải đương đầu với sức đề kháng của “thế gian” thù nghịch.
Nhưng Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ (1Tm 2,4), Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Người, để phàm ai tin vào Con của Người thì có sự sống đời đời (Ga 3,16). Đức Ki-tô cũng yêu thương Hội Thánh (Ep 5,25), nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh (Ep 5,29), hiến mình vì Hội Thánh (Ep 5,25). Mà Hội Thánh không chỉ gồm những con người hoàn hảo, thánh thiện. Chính vì mối tương quan đặc biệt mà Thiên Chúa và Đức Ki-tô dành cho nhân loại và Hội Thánh, chính vì ý định cứu độ phổ quát của các Ngài về nhân loại, mà linh mục cứ phải tiến vào những môi trường chông gai đó, cứ phải đến gặp và sống với những con người đó, cứ phải kiên trì lo công tác làm chứng rao giảng Tin Mừng cứu độ. Hơn bao giờ hết, Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay lại vang lên: “Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em”, hãy yêu thế gian thù nghịch, hãy yêu những con người không muốn tiếp xúc với chúng ta, hãy yêu những con người không chịu nghe chúng ta.
Nhiều khi linh mục còn đứng trước những con người đưa ra những yêu sách không chính đáng và không mấy thiện cảm với linh mục, với Ki-tô giáo. Sự kiện này đòi hỏi linh mục phải khôn ngoan trong cách phản ứng và đối xử, kiên trì chịu đựng và vững tâm lo nhiệm vụ đã nhận. Ác tâm của con người không thể là lý do khiến linh mục bỏ cuộc. Ý định của Thiên Chúa giao phó trách nhiệm cho linh mục và muốn cho linh mục thực hiện bằng mọi giá công tác đó mới là yếu tố quan trọng đòi linh mục phải tiếp tục sứ mạng trong mọi hoàn cảnh.
Cũng có khi linh mục phải nghe những yêu sách và sự thật chính đáng và đau đớn về con người và cách làm mục vụ của mình. Đó là những lời mời gọi sửa sai về mặt nhân bản trong nếp sống, cách đối xử với tha nhân; đó cũng là lời mời gọi thay đổi cách hoạt động, phương pháp mục vụ. Khi ấy, thái độ phục thiện là điều cần thiết cho một công tác mục vụ hữu hiệu, cho ơn cứu độ của người khác và của chính linh mục. Về mặt tự nhiên, những nhận xét đó có thể được coi như xuất phát từ những con người thù nghịch với mình. Nhưng theo cái nhìn của đức tin, Thiên Chúa và Đức Ki-tô dùng những hoàn cảnh đó để gây ý thức, để lay tỉnh tâm hồn của linh mục, làm cho linh mục phải giật mình và bừng tỉnh dậy...
II- “ Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì hãy làm cho người ta như  vậy” (Lc 3,31)
 Hôm nay, Chúa Giê-su  cũng muốn dùng một lời trong Lc 6,31 để dạy các linh mục, những con người dấn thân để phục vụ Tin Mừng của Thiên Chúa: “Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì hãy làm cho người ta như vậy”.
Theo xu hướng tự nhiên, ai cũng yêu mình hơn hết, ai cũng ước mong người khác đối xử tử tế với mình, làm những điều tốt lành cho mình; và điều tốt lành cao quý hơn cả, đó là ơn cứu độ, là phần rỗi của con người. Hôm nay, Đức Giê-su cũng muốn  cho linh mục hết mình xả thân phục vụ tất cả mọi người, nhất là trong lãnh vực cứu độ. Phục vụ ơn cứu độ: đó là nhiệm vụ cần thiết và khẩn cấp! Lo cho hết mọi người: đó là ý định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa theo 1Tm2,4: “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ”. Lo cho hết mọi người, kể cả những người nghịch thù với cá nhân linh mục và Hội Thánh: đó là mệnh lệnh của Đức Giê-su: “Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em” (Lc 6,27; x. 6,35a).
III- “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại” (Lc 6,38).
Đức Giê-su Ki-tô còn nhấn mạnh trong bài Tin Mừng hôm nay: “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại” (Lc 6,38). Linh mục đã nhận biết bao hồng ân của Thiên Chúa: ơn làm người, ơn được làm con Thiên Chúa và bao ân huệ khác, cách riêng ơn được tuyển chọn làm người lãnh nhận chức linh mục để thi hành sứ vụ linh mục.
Linh mục lĩnh nhận chức linh mục trong nghi lễ Đức Giám mục trao ban sứ vụ (thường được gọi là “lễ phong chức”, “lễ truyền chức”). Chức linh mục thuộc một loại riêng biệt; vì thế, không thể coi linh mục như người mà “từ bụi tro Chúa nâng con lên hàng khanh tướng”(x. bài hát “Từ ngàn xưa Cha đã yêu con”) hoặc người được “nên bạn tâm phúc từ đây giữa hàng khanh tướng quyền uy”(x. bài hát “Tình yêu Thiên Chúa”), vì “hàng khanh tướng” là hàng quan văn, quan võ trong triều đình vua. Chức linh mục không thuộc thế giới này, do dó không thuộc một tổ chức trần gian nào, cũng chẳng tương đương với hàng khanh tướng, hàng quan văn quan võ trong triều đình vua. Chức linh mục thuộc thế giới linh thiêng, là chức do Thiên Chúa ban nhưng không cho phàm nhân vì mục đích cứu độ. Như thế, chúng ta không có quyền dừng lại ở chức linh mục, ở địa vị linh mục, nhưng phải đi tới sứ vụ linh mục. Thi hành sứ vụ linh mục là để phục vụ con người về mặt cứu độ. Và phục vụ là hạ mình xuống như người tôi tớ (Mc 10,44) để lo cho người khác, để làm ích cho họ. Không dừng lại ở chức linh mục, ở địa vị linh mục, nhưng phải đi tới sứ vụ linh mục: làm như thế, chúng ta không làm gì khác Đức Giê-su Ki-tô, Đấng “vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế”(Pl 2,6-7); làm như thế, chúng ta không làm gì khác Con Người là Đấng đã “đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”(Mc 10,45).
“Anh em hãy cho”: đó là lời kêu gọi linh  mục đáp lại bao hồng ân đã nhận trong cuộc đời, đặc biệt là ơn được phục vụ cộng đoàn dân Chúa, ơn được thi hành sứ vụ linh mục! Như thế, linh mục được mời gọi cống hiến cho những người được ngài phục vụ, tất cả những gì thuộc sứ mạng linh mục: lời Chúa, công việc rao giảng, giáo huấn, công cuộc bồi dưỡng và củng cố đức tin, việc cử hành và ban các bí tích cũng như cung cấp mọi phương tiện cứu độ khác ... Công cuộc phục vụ đó sẽ được thực hiện cách nào ? Tác giả Tin Mừng thứ nhất theo Thánh Mát-thêu lặp lại lời Đức Giê-su đã nói với các Tông Đồ trước khi các ông được sai đi rao giảng: “Anh em được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8). “Cho không” là xả thân vô vụ lợi cho tha nhân, không nhắm tư lợi trần thế (địa vị, chức quyền ...) hay lợi ích cho nhóm của mình. Linh mục sẽ không được ngại hy sinh, vất vả, không sợ mất thời giờ, mất sức lực vì ơn cứu độ của tha nhân ...
IV- “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5)
Trong thời gian chuẩn bị cho ngày lễ nhận sứ vụ linh mục và các thánh lễ tạ ơn, cha mới chọn lời sau đây để ghi trên thiệp mời: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5). Lời này, nằm trong trình thuật về tiệc cưới Ca-na theo Tin Mừng IV là lời Đức Ma-ri-a nói với các gia nhân dọn đường cho dấu lạ biến nước thành rượu, sau khi Người nhận thấy thiếu rượu và xin Đức Giê-su, Con của Người, can thiệp. Đức Mẹ, người Mẹ nhân lành, hằng muốn cho con cái của mình luôn lắng nghe lời Chúa, ý của Chúa. Đó là thái độ linh mục phải có trong suốt thời gian thi hành sứ vụ, để có thể đáp ứng đúng yêu cầu của Thiên Chúa, của Đức Ki-tô và thực sự thành công: linh mục là người tôi tớ của Lời khi sống sứ mạng của sứ giả rao giảng Tin Mừng cứu độ, quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa (1Cr 4,1).
V- Lời cầu chúc.
Cha mới thân mến,
Hôm nay, trong bầu khí tràn ngập niềm vui và hy vọng này, cộng đoàn dân Chúa hướng về cha, nghĩ tới sứ mạng cao cả, nhưng rất khó khăn và phức tạp của cha. Chắc chắn, ai nấy đều đồng tâm nhất trí cầu nguyện nhiều cho cha, kể từ giai đoạn khởi đầu của đời sống linh mục, và còn tiếp tục cầu nguyện, xin Thiên Chúa và Đức Ki-tô ban phúc lành cho cha để cha luôn sống sứ mạng linh mục theo lòng Thiên Chúa mong ước, nhằm đáp ứng những nhu cầu khẩn cấp của Hội Thánh Việt Nam và các linh hồn tất bạt. Ở sau cha, để hỗ trợ và hậu thuẫn cho cha, có tất cả cộng đoàn dân Chúa: anh em trong Dòng, các thân nhân, các linh mục tu sĩ, bà con giáo dân và các thân hữu khác.
Cầu chúc cha: 
* không ngừng có một tấm lòng nhân hậu đối với mọi người, nhất là trong một thế giới  ngày càng có xu hướng sống xa Thiên Chúa và Ki-tô giáo,
* luôn nhiệt thành lo cho ơn cứu độ,
* luôn tận tâm và đại độ cho đi,
* không ngừng lãnh trách nhiệm của người tôi tớ của Lời, của sứ giả Tin Mừng cứu độ.
Cầu chúc cha can đảm “chèo ra chỗ nước sâu”, can đảm ra khơi mà thả lưới bắt cá (Lc 5,4), và luôn nói với Chúa: “Dựa vào lời Thầy, con sẽ thả luới” (Lc 5,5) .

 

TN7-C44: YÊU NGƯỜI NHƯ CHÚA- Đc. Ngô quang Kiệt

Bài đọc I và bài Tin mừng hôm nay đều nói về sự tha thứ. Nhưng ở mức độ khác nhau. Bài đọc: TN7-C44

Bài đọc I và bài Tin mừng hôm nay đều nói về sự tha thứ. Nhưng ở mức độ khác nhau.
Bài đọc I tường thuật sự tha thứ của Đa-vít. Đa-vít làm ơn mà mắc oán. Sau khi chiến thắng Gô-li-át, giải phóng dân Do thái khỏi tay người Phi-li-stinh, ông được dân chúng ca ngợi. Sự ngưỡng mộ của dân chúng đối với Đa-vít khiến vua Sa-un ghen tỵ. Sa-un tìm bắt Đa-vít để giết đi. Hôm nay, sau một cuộc săn lùng mệt mỏi, Sa-un ngủ thiếp đi trong hang đá. Đa-vít đến mà không ai hay biết. Có thể giết Sa-un, nhưng Đa-vít đã không làm. Trong Đa-vít có cái mà ta gọi là bao dung, độ lượng, cao thượng. Tuy nhiên sự tha thứ của Đa-vít vẫn chưa hoàn toàn tự phát. Ông không dám giết Sa-un một phần vì sợ xúc phạm đến “người được Thiên chúa xức dầu”.
Trong quan hệ giữa người với người, nếu tha thứ bạn sẽ được tiếng là độ lượng, còn người được tha thứ bị coi là thua kém bạn. Bạn được lợi còn người kia bị thiệt.
Trong bài Tin mừng, Đức Giê-su đòi hỏi người môn đệ phải vượt qua cái thường tình. Người muốn môn đệ vươn đến sự tha thứ hoàn hảo. Sự tha thứ hoàn hảo của Tin mừng phải biểu lộ bằng hành động cụ thể : “Ai vả anh em má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh em, thì cũng đừng cản họ lấy áo trong. Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh em, thì đừng đòi lại”.
Không chỉ dừng lại ở hành động bên ngoài, sự tha thứ hoàn hảo phải thấm sâu vào lý trí, không lấy ác báo ác, nhưng cũng không nghĩ xấu về người khác : “Anh em đừng xét đoán, thì sẽ khỏi bị Thiên chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ khỏi bị Thiên chúa lên án”.
Thấm vào lý trí đã là một bước tiến dài nhưng vẫn chưa đủ, sự tha thứ còn phải lan đến tận trái tim là trung tâm của tình yêu. Khi đã chiếm lĩnh được trái tim, sự tha thứ trở nên một sức mạnh kỳ diệu dẫn đến những hành động tích cực, lấy đức báo oán, đem yêu thương xoá bỏ hận thù. Khi ấy ta mới có thể thực hành Lời Chúa dạy : “Anh em phải yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ oán ghét mình, phải chúc lành cho kẻ nguyền rủa mình và cầu nguyện cho kẻ nhục mạ mình”.
Với những lời dạy dỗ trên, Đức Giê-su muốn cho môn đệ của Người tha thứ và yêu thương không phải như người thường nhưng như Thiên Chúa “Người nhân hậu cả với những phường vô ân, với những quân độc ác”. Người muốn cho các môn đệ của Người “từ bi như Cha trên trời là Đấng từ bi”.
Với những lời dạy dỗ trên, Đức Giê-su muốn thanh tẩy thế giới sạch mọi oán thù. Không phải chỉ sạch oán thù ngoài mặt nhưng sạch từ trong thâm tâm mỗi người. Không phải chỉ bằng mặt mà còn phải bằng lòng. Sào huyệt vững chắc nhất của oán thù không phải ở nơi người khác nhưng ở trong lòng ta. Muốn thế giới hết oán thù, chính bản thân ta phải từ bỏ oán thù trước. Muốn thế giới sống trong yêu thương, chính ta phải yêu thương trước. Yêu thương giống như ngọn lửa thắp lên rồi sẽ cháy lan mạnh mẽ. Yêu thương giống như bầu khí toả ra sẽ lan tới từng buồng phổi, sẽ thấm vào từng mạch máu. Yêu thương chính là sức mạnh biến đổi thế giới sâu xa nhất. Yêu thương là cuộc cách mạng bền vững nhất.
Đức Giê-su không chỉ nói suông. Chính Người đã thực hành những điều Người nhắn nhủ các môn đệ. Người để cho quân lính bắt đi như con chiên hiền lành đứng trước người thợ xén lông. Người chữa lành tai cho kẻ đến bắt Người. Người không nói một lời nào trách móc những kẻ làm điều ác cho Người. Sau cùng, lúc bị treo trên thánh giá, Người còn cầu nguyện cho những kẻ giết Người. Người đã minh chứng một tình yêu nguyên tuyền không bợn chút oán thù. Người đã minh chứng một tình yêu mãnh liệt vượt qua mọi ghen ghét.
Hạt giống yêu thương Người đã gieo xuống. Người mong ta tiếp tục vun tưới cho cây yêu thương kết trái đơm hoa. Ngọn lửa yêu thương Người đã thắp lên. Người mong ta hãy đem lửa ấy chiếu soi khắp thế giới.
Lạy Trái Tim Chúa Giê-su hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ
1- Khi có người xúc phạm đến bạn, bạn thường tìm cách báo thù hay tìm cách tha thứ ?
2- Mỗi khi mang mối oán thù trong lòng, bạn cảm thấy thế nào ? Thanh thản hay bứt rứt ?
3- Bạn đã tha thứ cho ai bao giờ chưa ? Bạn cảm thấy thế nào sau khi đã tha thứ ?
4- Bạn đã được tha thứ nhiều. Bạn cảm thấy thế nào mỗi khi lầm lỗi mà được tha thứ ?

 

TN7-C45: CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN

Lc 6,27-38
Anh chị em thân mến.
 

Câu chuyện tình đã đi vào lịch sử, được nhiều nhà thơ, nhạc sĩ dùng những điệu thi ca để ca tụng: TN7-C45

Câu chuyện tình đã đi vào lịch sử, được nhiều nhà thơ, nhạc sĩ dùng những điệu thi ca để ca tụng, và có cả những vỡ kịch những cuốn phim diễn tả lại mối tình của đôi tình nhân trẻ Roméo và Juliette. Nếu câu chuyện tình của họ được kết thúc một cách tốt đẹp và bình thường, chắc sẽ không có ai nhắc đến. Nhưng đôi tình nhân trẻ lại là nạn nhân của một sự thù hận giữa hai gia tộc, sự thù hận mà không ai có thể tìm cách để giải hòa được. Sự thù hận đã đem đến sự mất mát cho cả hai bên, chính sự thù hận đã cướp đi mạng sống của hai tâm hồn vô tư, và cũng chính sự thù hận đã cướp đi một mối tình đẹp để ngàn đời còn nuối tiếc. Sự thù hận là kết quả của một tâm hồn ích kỷ, càng muốn bảo vệ mình bằng sự trả thù, thì sẽ càng bị mất mát hơn và hận thù ngày càng dâng cao.
Chúa Giêsu đã cho một phương cách để hóa giải thù hận, đó là tình yêu. Chỉ có tình yêu mới làm cho hận thù bị tiêu hủy. "Các con muốn người ta làm cái gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy". Ngài không chỉ nói suông, nhưng còn chỉ cho những việc làm cụ thể: yêu thương kẻ thù, làm ơn cho kẻ ghét mình, chúc lành cho kẻ nguyền rủa. Còn cụ thể hơn nữa: Ai vả má. . . Ai đoạt áo. . . Ai xin thì hãy cho. Đó là những thí dụ cụ thể mà Chúa Giêsu muốn chỉ dạy. Để trở nên những môn đệ chân chính của Ngài, Ngài đòi hỏi phải có một tình yêu thật sự, chứ không phải một tình yêu thường tình như những người tội lỗi và ngoại giáo thường làm. Ngài đã làm gương cho chúng ta. Trong suốt những ngày sống hữu hình ở trần gian, Ngài đã thi ân cho tất cả mọi người không trừ ai. Cái chết trên thập giá, Ngài chết để cứu chuộc mọi người. Trong giờ hấp hối, Ngài đã tha thứ cho những người đã làm khổ Ngài. Một tình yêu bao la tuyệt vời, tất cả mọi người đều được mời gọi đến với tình yêu để tận hưởng được hồng ân mà tình yêu ban phát.
Trong cái thường tình của con người, thì không thể chấp nhận được những gì mà tình yêu Ngài kêu gọi như thế. Nhưng trãi qua suốt những chuổi ngày dài của hai mươi thế kỷ, những gì mà tình yêu kêu gọi, đã được nhiều tâm hồn đáp ứng và đã mang lại kết quả tốt đẹp không thể ngờ được. Nhờ những tâm hồn quảng đại đã bước theo tình yêu của các vị anh hùng tử đạo; Nhờ những tâm hồn bước theo tình yêu mà không mong đền đáp; Cũng nhờ những người vì yêu thương mà dám cho đi những gì mình đang có, cho đi cả mạng sống, mà chúng ta có được ngày hôm nay, chúng được trở thành người công giáo, được giữ đạo, được ngồi trong nhà thờ này. Nhưng những môn đệ của Chúa Giêsu trong thời đại mới có thực hành được lời vàng ngọc của Ngài hay không. "Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy."
Mỗi người trong chúng ta đang nghe lại một lần nữa lời Chúa Giêsu chỉ dạy để hóa giải hận thù. Chúng ta cũng biết rất rõ, chỉ có yêu thương mới làm cho thù hận bị tiêu diệt. Nhưng giữa sự hiểu biết và cuộc sống hoàn toàn trái ngược nhau. Chúng ta đã không có được cuộc sống bình thường của những người ngoại giáo và tội lỗi thường làm, vì họ biết yêu thương những người yêu thương mình, biết trả ơn những người làm ơn cho mình, biết đền trả những người cho họ vay mượn cách sòng phẳng. Đó là họ biết giữ công bình. Còn chúng ta, nhìn lại đời sống đã qua, cho đến ngày hôm nay, chắc mỗi người cảm thấy hổ thẹn, vì mình đã sống cách vô ơn. Biết bao người đã yêu thương, đã hy sinh, đã lo lắng. Nhưng họ đã nhận được sự đền đáp như thế nào của chúng ta. Chẳng những chúng chúng ta không đền đáp xứng đáng mà có khi còn tìm cách hãm hại để khỏi phải nhìn thấy người đã làm ơn cho mình. Chúng ta không có kẻ thù, nhưng chính bản thân mình lại tạo ra và xem những người chung quanh như kẻ thù. Đó là khi chúng ta không bằng lòng với những gì mình đang có, chúng ta quá ích kỷ và quá đòi hỏi mà không được đáp ứng, nên thù ghét và không chấp nhận được người khác. Nếu chúng ta biết dẹp đi một chút tự ái, nhìn thấy được những hồng ân mà mình đã được, để biết sống ngay thẳng trong sự công bình ngay chính, khi đó tình yêu mới có thể phát triển và hận thù sẽ không còn có cơ hội trong con người của mình được nữa.
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa đốt nóng Tình yêu trong mỗi người chúng ta, để biết yêu như Chúa yêu.

 

TN7-C46: TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC

Lc 6,27-38
 

Ngay từ thủơ tạo thiên lập địa, Thiên Chúa đã không sáng tạo con người riêng rẽ nhưng Ngài: TN7-C46

Ngay từ thủơ tạo thiên lập địa, Thiên Chúa đã không sáng tạo con người riêng rẽ nhưng Ngài sáng tạo con người có chung một nguồn gốc là Ađam và Eva, hầu để cho con người biết rằng mình có chung một nguồn gốc là Thiên Chúa, là con chung một nhà, là anh em với nhau. Nay trong thời Tân Ước tất cả mọi người đã được cứu chuộc nhờ máu Đức Kitô nên càng yêu thương gắn bó với nhau hơn nữa. Là anh em nên phải yêu thương nhau đó là điều đương nhiên nhưng vì những khuynh hướng xấu, những đam mê xấu che lấp đi tình cảm chính yếu, liên hệ chính yếu dẫn đến chia rẽ, thù ghét nhau. Chúa Giêsu Ngài nhắc lại cho các môn đệ cũng là nhắc cho chúng ta mối liên hệ mà chúng ta đã cố tình lãng quên.
Trong bài Tin Mừng chúng ta đọc hôm nay, thánh Luca cho thấy chủ đề mà Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh hôm nay trong bài giảng của Ngài đó là tình yêu. Chẳng những phải yêu hết mọi người mà ngay cả phải yêu kẻ thù nghịch, kẻ ghét mình. Chúa đòi hỏi Người môn đệ Chúa phải vượt lên trên những cái bình thường, những con người bình thường “ Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình thì có gì là ân với nghĩa? ” ... có lẽ những lời dạy của Chúa Giêsu quả là khó thực hiện và như đi ngược lại với cách cư xử bình thường của con người nhân thế. Con người đối xử với nhau thì “ Hòn đất ném đi hòn chì ném lại ” hay “ Có vay có trả ” ... Nhưng nếu muốn sống vượt lên trên cuộc sống thường ngày hay đúng hơn là sống làm con cái Chúa thì ta sẽ thấy những điều Chúa Giêsu dạy quả là chân lý vì hai lý do sau :
Thứ nhất người môn đệ Chúa Kitô là người “ dám lội dòng nước ngược ” , dám chết đi cho những tính tự nhiên để đạt đến sự sống siêu nhiên, chết đi những tình cảm tự nhiên để mặc lấy Chúa Kitô, mặc lấy tâm hồn quảng đại của Chúa Kitô Đấng đã tha thứ cho kẻ đã treo Ngài trên thập giá. Chúa Giêsu cũng muốn người môn đệ của Ngài cũng phải như thế. Phải yêu thương kẻ thù. Kẻ thù là ai? Có thể là những người thân cận, những người quen biết lại lừa gạt chúng ta. Yêu thương kẻ thù là một thái độ mà ta không thể thực hiện được nếu ta chỉ dựa vào bản tính con người. Chúng ta không thể trở thành môn đệ của Chúa Kitô nếu chúng ta không chết đi cho bản tính của mình. Khi chết đi cho chính mình ta sẽ khám phá ra một cuộc sống mới trong Chúa Kitô, Chúa Kitô sẽ biến đổi tâm hồn chúng ta và ban cho chúng ta tâm tình yêu thương tất cả mọi người như anh em. Tình yêu Chúa Kitô đòi hỏi ở đây là một tình yêu nhưng không, yêu mà không đợi người ta đáp trả, không đợi người ta tán tụng... một tình yêu không tính toán, không vụ lợi, một tình yêu luôn mở rộng, cảm thông với tất cả anh chị em chung quanh. Điều quan trọng không phải là việc trả ơn trả nghĩa giữa người với người mà là việc sống theo tình yêu mời gọi của Chúa Kitô thì sẽ sống xứng đáng là con cái Chúa Cha trên trời, đó là phần thưởng mà Chúa Giêsu đã hứa.
Thứ hai Chúa Giêsu là người đã thực hiện trưóc tiên lời Ngài dạy, Ngài là mẫu gương cho tất cả chúng noi theo. Chúa Giêsu đãhy sinh cho đến chết cho con người tội lỗi. Ngài hết lòng cầu nguyện cho kẻ đã giết Ngài. Ngài yêu thương tất cả mọi người không phân biệt công chính hay tội lỗi, chống đối hay ủng hộ Ngài “ Ngài yêu thương họ đến cùng ” . Ngài đón nhận tất cả, Ngài thực hiện ý định Chúa Cha. Chúa Giêsu muốn cho môn đệ của Ngài cũng biết yêu thương như thế, yêu thương là hướng về Thiên Chúa tình yêu. Qua yêu thương ta hướng mình về Thiên Chúa. Chỉ trong Thiên Chúa ta mới có thể yêu thương mọi người không loại trừ, chỉ trong Thiên Chúa mới có thể có một tình yêu hoàn toàn vô vị lợi.
Là người Kitô hữu, là con cái Chúa chúng ta hãy thực hiện lời dạy của Thầy Chí Thánh “ Hãy yêu thương kẻ thù ” . Nếu nhìn với cái nhìn của Chúa thì ta không thể có kẻ thù vì tất cả mọi người là anh em, là con cái Chúa. Tuy nhiên, khi sống cuộc sống nơi dương thế ắt hẳn chúng ta không thiếu những nghi kỵ, những hiềm khích. Chúng ta hãy xin ơn Chúa phù trợ để ta biết nhìn xuyên qua những đố kỵ, hiềm khích là một tình yêu Thiên Chúa muốn ta phải vượt thắng để đạt lấy, để khám phá, để hiệp thông với Chúa. Chắc chắn khi chúng ta chết đi cho những tính tự nhiên nơi chính mình thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho ta những ơn của Ngài đã được dằn được lắc và đổ vào vạt áo nhỏ bé của chúng ta. Và hơn thế nữa Ngài còn ban chính mình Ngài cho những ai biết sống theo ý Ngài.

 

TN7-C47: TÌNH YÊU ĐÁP TÌNH YÊU

Lc 6,27-38
 

Con người ngay tử thuở ban đầu được Thiên Chúa tạo dựng để sống chung với nhau. Khi sống: TN7-C47

Con người ngay tử thuở ban đầu được Thiên Chúa tạo dựng để sống chung với nhau. Khi sống chung tất nhiên sẽ có nhiều đụng chạm với nhau. Hiểu rõ điều ấy nên hôm nay Lời Chúa chỉ cho ta những cách xử sự cho đúng nhân cách của một người Kitô hữu. Lấy tình yêu thương và tha thứ cho nhau để đáp đền tình yêu Thiên Chúa ban là cách xử sự đẹp nhất.
Bài đọc 1 cho thấy cách xử sự của Đavit đối với vua Saolê. Vì ghen tức nên vua Saolê tìm mọi cách triệt hạ Đavit đến nỗi ông phải trốn chui trốn nhủi. Đavit hoàn toàn không có lỗi gì với vua Saolê cả. Chỉ vì vua không được mọi người tung hô như Đavit thôi nên ông đã có thái độ như vậy. Một ngày kia tình thế thay đổi, vua Saolê hoàn toàn bị rơi vào tay của Đavit. Lúc ấy Đavit dư khả năng để hạ gục vua Saolê. Tuy nhiên vì yêu thương mà Davít đã không giết vua Saolê.
Đoạn Tin mừng Chúa Giêsu chỉ cho hàng loạt những cách xử sự như: “ hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. ” Mới nghe qua có lẽ ta sẽ cho là điều vô lý. Tuy nhiên, khi ta suy nghĩ kỹ và ý thức rồi đem thực hiện vào cuộc sống chung thì ta sẽ thấy được giá trị hết sức cao quý. Cuộc sống lúc ấy sẽ thêm vui tươi và thật đáng sống.
Hơn nữa, khi thực hiện được như thế là ta đang được giống Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu đã vì yêu thương mà Người đã thực hiện trước để làm gương cho ta trong những chỉ dẫn này. Đối với những kẻ sỉ nhục và đóng đinh mình, Chúa Giêsu đã xin Chúa Cha tha thứ cho họ. Với Phêrô khi chối mình trước người khác, Chúa Giêsu cũng đã có cái nhìn yêu mến và tha thứ.
"Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy. ” Thực vậy, nếu như anh em có xúc phạm đến ta thì cũng hết sức nhỏ khi đem so sánh với sự xúc phạm của ta với Thiên Chúa, với Giáo hội của Chúa và với những anh chị em của Chúa. Có ai mà không muốn được yêu thương, được tha thứ chăng. Xin Chúa Giêsu cho ta biết cư xử như Người đã làm. Vì Thiên Chúa Cha sẽ rất hài lòng khi thấy những con cái mình biết cư xử tốt với nhau như vậy.

 

TN7-C48: YÊU THƯƠNG KẺ THÙ

Lc 6,27-38
 

Hẳn chúng ta còn nhớ vào ngày 13.05.1981, cả thế giới kinh hoàng về tin Đức Giáo Hoàng: TN7-C48

1. Hẳn chúng ta còn nhớ vào ngày 13.05.1981, cả thế giới kinh hoàng về tin Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bị ám sát tại công trường Thánh Phêrô. Ali Agca, một thanh niên Thổ Nhĩ Kỳ đã nã những phát đạn vào Đức Gioan Phaolô II, cố ý giết ngài, nhưng ngài đã thoát chết. Sau đó ngay trên giường bệnh, ngài đã nói lên những lời tha thứ dành cho anh. Điều càng làm cho chính kẻ sát nhân này và nhiều người ngạc nhiên hơn là ngày 27.12.1983, chính Đức Gioan Phaolô II đã vào nhà tù Rebibbia, nơi giam giữ Ali Agca, để thăm anh. Điều gì đã thôi thúc ngài đã thực hiện như thế? Thưa, chính nhờ tình yêu, lời dạy và gương của Thầy Chí Thánh là Đức Giêsu, đã thúc đẩy vị đại diện Người ở trần gian đã đối xử như vậy với kẻ mưu sát mình.
2. “Hãy yêu thương kẻ thù” được nhắc hai lần trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe. Đối xử tốt với người yêu thương mình đó là chuyện bình thường, nhưng đối xử tốt với người không yêu mến ta mà thậm chí còn luôn tìm cách hãm hại ta, thiết nghĩ đó là một việc khó và có thể nói là phi thường nữa. Nhưng đó lại là điều mà Chúa đòi hỏi chúng ta phải thực hiện. Đối với những kẻ không ưa thích ta, những kẻ thù ghét ta, người đời thường có những cách ứng xử rất khác nhau :
- Có người cho rằng “ân đền oán trả”, nếu ai đối xử tốt với ta, thì ta cũng sẽ đối xử tốt với họ, và ngược lại. Cách xử sự như thế không khác gì luật công bình giao hoán trong Cựu Ước (x. Xh 21,24) và pháp luật các nước hiện hành : công thưởng, tội phạt. Nhưng lắm khi vì “ân đền oán trả” đã vượt quá công bình giao hoán cho nên không thiếu những trường hợp đau lòng. Chỉ vì một tấc đất ranh, một con gà con vịt bươi phá… mà đưa đến những tai hoạ không lường do việc thù hằn : kẻ bị giết, người bị thương, người thì lâm cảnh tù tội!
- Cũng có người ý thức hơn, cho rằng tránh đụn chạm đến kẻ thù, đó là điều khôn ngoan, bởi vì họ nhận ra rằng “ác giả, ác báo”, làm điều ác thì sẽ gặp điều ác. Tránh đối mặt với kẻ thù nghịch, bởi họ đã hiểu “một câu nhịn, chín câu lành, hay “tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Có người cho rằng ứng xử như vậy là nhu nhược, là yếu đấy! Thưa không, đây là cách ứng xử của những bậc cao minh, khôn ngoan. Họ biết tránh đi những điều tồi tệ hơn cho mình và cho kẻ khác. Họ đã tìm lối thoát, sự an lành cho chính họ và đối phương. Cách này đã hay, nhưng chưa tích cực lắm.
3. Một cách tích cực hơn trong cách đối xử với kẻ thù, điều mà ta chỉ thấy có nơi luân lý Kitô giáo: “Hãy yêu thương kẻ thù”. Vấn đề đặt ra cho chúng ta : Tại sao ta phải yêu mến họ ? Nếu ta chỉ mong sự an lành, có lẽ không buộc ta phải yêu thương họ, mà chỉ dàn xếp cho êm thoả với đối phương là được. Nhưng Đức Giêsu lại dạy “Hãy yêu thương kẻ thù”. Đây là một điều khó, nhưng phải giữ ! Trong niềm tin vào Thiên Chúa, chúng ta thấy có nhiều lý do để chúng ta phải tuân giữ lệnh truyền nầy :
- Mọi người đều được Thiên Chúa dựng nên theo và giống hình ảnh của Ngài (x.St 1,26), đều được mời gọi lãnh nhận ơn cứu độ của Đức Giêsu.
- Ai trong chúng ta dám nói mình là người vô tội, tất cả chúng ta đều là những người có lỗi đối với Chúa, với nhau. Vì vậy, chúng ta cũng phải thông cảm và tha thứ cho nhau.
- Yêu thương, tha thứ cho anh em mình là thước đo, là cơ sở để Thiên Chúa đối xử lại với ta như trong lời Kinh Lạy Cha mà Chúa dạy ta. Chính Người cũng quả quyết rằng: “Anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy ” (Lc 6,38) .v.v…
4. Phải thành thực nói rằng yêu thương kẻ thù là một điều khó thực hiện trong lĩnh vực tình cảm, nhưng có thể thể hiện qua hành động yêu thương. Với ơn Chúa giúp, mọi sự đều có thể được. Vậy người Kitô hữu, nhờ ơn Chúa giúp, hãy hành động yêu thương tha nhân không chỉ là việc bên ngoài mà phải xuất phát từ lòng yêu mến Chúa và yêu tha nhân thực sự, có như vậy việc yêu thương tha thứ mới có giá trị và bền lâu. Đức Giêsu là mẫu gương tuyệt hảo về việc yêu thương tha thứ. Ngay trên thánh giá, Người đã xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ nhục mạ, giết mình (Lc 23,34). Theo gương Thầy chí thánh, phó tế Stêphanô, vị tử đạo tiên khởi cũng đã xin Thiên Chúa tha thứ cho kẻ ném đá mình. Theo tinh thần của Chúa, thực tế rất nhiều người đã sống tinh thần ấy, như Đức Gioan-Phaolô II trong câu chuyện trên.
5. Lời Chúa hôm nay là dịp tốt để mỗi người chúng ta hãy nhìn lại, ta đã đối xử như thế nào đối với kẻ không ưa thích ta, kẻ làm điều xấu cho ta ? Thưa, cùng với việc cầu nguyện, xin được đề nghị một vài việc làm cụ thể nho nhỏ, thiết nghĩ ai cũng có thể làm được và có thể đem lại kết quả rất lớn :
- Đó là đừng quên nhìn lại đời sống hằng ngày qua việc xét mình không những đối với Thiên Chúa mà còn với tha nhân nữa. Đối với tha nhân, xem coi nguyên nhân nào đã gây ra những buồn phiền ấy. Nếu lỗi do ta, thì ta phải mạnh dạn xin lỗi, làm hoà ngay, không chần chừ. Nếu lỗi không do ta thì ta xin Chúa cho ta được lòng khiêm tốn tha thứ những thiếu xót của họ đối với ta. Xin Chúa ban cho ta đủ can đảm đối xử tốt với họ và cũng xin Chúa biến đổi lòng họ…
- Mọi người chúng ta hãy cố gắng sống yêu thương tha thứ cho nhau, khởi đầu từ những người gần gũi với ta. Bởi đời sống chung làm sao tránh khỏi những va chạm xích mích, hiểu lầm và khoảng cách giữa bạn - thù rất ngắn, chỉ cần một sự hiểu lầm, một sự vô tình cũng có thể biến bạn thành thù.
6. Nếu mọi người chúng ta biết sống như lời Chúa dạy: “yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em ” (Lc 6,27-28), thì ta mới thật xứng là môn đệ của Đức Kitô. Có như vậy, ta không những tạo được niềm an vui cho mình, cho tha nhân, mà ta càng được Chúa và mọi người yêu mến. Với cách ứng xử tốt đẹp của người Kitô hữu như thế, chắc chắn cũng sẽ làm cho anh chị em lương dân mộ mến đạo Chúa hơn. Như vậy, đây cũng là phương thức rất tốt để loan truyền tin mừng của Đức Kitô.

 

TN7-C49: SUY NIỆM CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN

(18-2- 2001)
 

Lời Chúa hôm nay gợi lại cho tôi hành trình 4 tháng rưỡõi rong ruổi qua các cộng đoàn 6 tháng: TN7-C49

Lời Chúa hôm nay gợi lại cho tôi hành trình 4 tháng rưỡõi rong ruổi qua các cộng đoàn 6 tháng trước đây để trang trải nợ cho nhà thờ. Tôi đã gặp những tâm hồn sống Tin Mừng: làm phúc không cần biết tới sự đền đáp. Thậm chí, cũng chẳng cần biết tới thành qủa thực tế. Nhưng đôi khi tôi cũng gặp những thắc mắc, những khó chịu, những bất đồng quan điểm. Người ta đã nói tới giáo hội phải từ bỏ, phải là giáo hội của người nghèo, phải là giáo hội đồng hành với những con người khốn cùng... họ nói đúng. Và nhiều đêm suy nghĩ về những món nợ khổng lồ chỉ vì cái nhà thờ "qúa tầm mức" của mình, tôi cũng rất trăn trở. Nhưng tôi không phải là người khởi xướng, tôi chỉ biết hôm nay tôi phải có bổn phận trả nợ. Và tôi đành phó thác và tiếp tục lặn lội. Trên cái hành trình ấy, một lần có người bảo cho tôi hay người ta còn cảnh báo đừng cho tôi, vì rằng nghe nói tôi lợi dụng để có tiền chi cho ... thôi, tôi không dám nghĩ đến. Cái quyền của mỗi người là có thể và phải hành động theo lẽ phải. Và tôi tiếp tục lên đường.
 Thực tình mà nói, cái ông Đavid hôm nay có một quyết định lạ đời. Xét về mọi mặt, chính ông mới là Vua của Israel, và Saolê chỉ còn là kẻ tham quyền cố vị, là tai hoạ của Dân Chúa. Đavid giết Saolê đó phải là lẽ thường tình thuận lòng người và thuận đạo trời. Nhưng Đavid lại không làm thế! Chắc chắn Đavid đã làm theo lẽ phải, cho dù có thể không ít người chê ông ấy điên khùng.
Có một thời người ta thường nhắc đến câu nói của Chúa "ai vả con má phải, hãy chìa má trái..." để nhớ tới một người đàn bà cách đây hằng mấy chục năm đã vịn vào để phê phán người công giáo...dù sao thì chính con người Giêsu cũng đã bị chê là dại dột. Xem ra ngay trên bình diện đạo đức nhất và cũng ít mâu thuẫn về quyền lợi nhất, thì con người vẫn còn bị xâu xé bởi những quan điểm khác biệt.
 Có lẽ chỉ còn cách phân biệt của Phaolô, có thể giúp chúng ta vững lòng bước đi trên nẻo đường đã chọn: Phaolô nói về con người điạ giới và con người thiên giới. Và như vậy chỉ nơi một mình Đức Giêsu 2 con người ấy trở nên Một. Đavid đã là hình ảnh của Đức Kitô. Cái suy nghĩ của Đavid, cũng như của Chúa Giêsu về con người đối diện rất đơn giản: bản thân họ là một mầu nhiệm của tình yêu Thiên Chúa, Đavid và Đức Giêsu tiếp nhận mỗi con người như là mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa. Tình Yêu ấy thật kiên trì và bao dung lạ lùng. Tình yêu nâng con người bất xứng và tội lỗi lên ngang tầm với sự sống và sự chết của CON MỘT YÊU DẤU. Trong cách nhìn đó, mỗi con người, dù là kẻ thù, vẫn còn là đối tượng của Tình Yêu.
 Tôi cũng đã cố gắng trong hành trình trên đất Mỹ để nghiền gẫm về sự lựa chọn của mình. Để rồi như anh biết, cuối cùng bản thân tôi sau hành trình ấy tôi nghiệm ra Chúa vẫn yêu thương tôi, cho dù tôi hết lầm lỗi này tới lầm lỗi khác. Và như thế mỗi con người tôi gặp gỡ đều thật đáng yêu hơn chính con người tôi. Tôi suy nghĩ là Lời Chúa hôm nay chỉ có thể hiểu được trong niềm vui của con người tội lỗi cảm nhận được lòng thương xót vô bờ của Chúa.
 Nhưng cái khó là trong cái điạ giới này, ở đâu cũng chỉ thấy con người "công chính", không ai chân nhận mình là "tội nhân", thành ra Lời Chúa xem ra qúa ngây dại ?
 Linh Mục Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

TN7-C50: CHÚA NHẬT 7 QUANH NĂM

(Lu-ca 6: 27-38)
 

 Theo Tin Mừng Mát-thêu, trong bài giảng trên núi, Chúa Giê-su đã đề cập tới những đức tính: TN7-C50

          Theo Tin Mừng Mát-thêu, trong bài giảng trên núi, Chúa Giê-su đã đề cập tới những đức tính cốt yếu của người môn đệ Chúa.  Đã là cốt yếu thì hẳn cũng là khó khăn vất vả mới tập tành và thể hiện trong cuộc sống.  Đặc điểm của những đức tính này là đi ngược với cách ứng xử của con người trong xã hội, do đó những đức tính ấy làm cho khuôn mặt Ki-tô hữu không giống ai, nhiều khi họ thấy mình lạc lõng giữa dòng đời.  Nhưng tất cả những đức tính ấy được gồm tóm trong câu kết luận của Chúa Giê-su:  “Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48).
          Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Lu-ca sau khi trình bày bài giảng khai mạc của Chúa Giê-su dưới đất bằng, cũng ghi lại một câu kết luận của Chúa về một vấn đề vô cùng gai góc – yêu thương kẻ thù – khi Người lấy Chúa Cha làm tiêu chuẩn:  “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6:36).  Thật là “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”!  Thánh Mát-thêu trình bày con đường nên thánh của Ki-tô hữu một cách bao quát, pháp lý và nguyên tắc.  Còn thánh Lu-ca thì vẽ con đường nên thánh cho ta một cách đơn sơ hơn, thực tế hơn, tuy không có nghĩa là dễ dàng hơn đâu.  Vậy vấn đề thánh Lu-ca nêu lên gợi cho ta mấy thắc mắc:  ai là kẻ thù của ta và tại sao lại lấy lòng nhân từ mà đối xử với kẻ thù?
 
  1.   Ai là kẻ thù?
          Tôi nhớ câu đầu trong bài hát “Kẻ thù ta” của một ông nhạc sĩ Việt Nam (Phạm Duy) là:  “Kẻ thù ta đâu có phải là người.  Giết người đi thì ta ở với ai?”  Khi xác định một người là “kẻ thù của ta” thì ta đã ngầm hiểu rằng người ấy có tội đối với ta.  Tội lớn thì thù lớn, khó mà tha và quên được; còn tội nhỏ thì cũng có thể tha và quên được vì khi nhìn lại chính mình ta thấy mình cũng có nhiều tội nhỏ đối với người khác.
          Trong bài giảng, Chúa Giê-su đã nêu lên một số hành động của kẻ thù ta:  nguyền rủa, vu khống, vả má, đoạt áo ngoài của ta.  Chắc chắn một điều là thực sự ta không có lỗi gì để đáng chịu những hành vi bất công ấy.  Vậy khi làm những hành vi bất công ấy cho ta, họ đã có lỗi với ta và trở thành kẻ thù của ta.
          Nói người lại ngẫm đến ta!  Khi ta xúc phạm đến một người là ta có tội với người ấy và ở mức độ nào đó ta trở thành kẻ thù của người ấy.  Nếu quả như vậy, thì tất cả chúng ta đều là kẻ thù của Thiên Chúa.  Đúng thế, kẻ thù đích thực của Thiên Chúa là ma quỷ và sự dữ.  Ma quỷ còn muốn kéo theo con người cùng với chúng làm kẻ thù của Chúa khi nó hoạt động trong ta, cám dỗ ta sa ngã phạm giới răn Chúa.  Mà ai trong thế gian này chẳng có tội, ngoại trừ Đức Ki-tô?  Cho nên tội nguyên tổ đã đưa toàn thể nhân loại vào tư thế kẻ thù của Thiên Chúa.  Giả như Thiên Chúa không yêu thương “kẻ thù” của Người là nhân loại tội lỗi, thì Người đã để họ hư mất luôn cho rồi và Người sẽ tạo dựng một nhân loại khác thay thế!  Nhưng bản chất của Thiên Chúa là yêu thương và nhân từ, nên Người không hành xử trái với bản tính của Người.  Cũng giống như trong Tin Mừng Mát-thêu, bản chất của Thiên Chúa là hoàn thiện, nên ta được mời gọi trở nên hoàn thiện như Người.  Do đó, Thiên Chúa mới hoạch định một kế hoạch gọi là nhiệm cục cứu rỗi, để Người lấy lòng nhân từ mà đối xử với kẻ thù của Người.
 
  1.   Tại sao phải lấy lòng nhân từ mà đối xử với kẻ thù và biểu lộ lòng nhân từ cách nào? 
          Một cách cụ thể qua con người Chúa Giê-su, ta có thể nhận ra nhân loại đã xúc phạm Thiên Chúa như thế nào và Thiên Chúa đã đối xử lại với họ ra sao.  Ai nói Chúa Giê-su không bị nguyền rủa và chúc dữ?  Thân nhân Người cho Người là một tên khùng (Mc 3:21).  Các kinh sư bảo Người bị quỷ vương Bê-en-dê-bun ám (Mc 3:22).  Trước giờ chết trên thập giá, Thiên Chúa còn bị nguyền rủa và chúc dữ:  “Ông không phải là Đấng Ki-tô sao?  Hãy tự cứu mình đi và cứu cả chúng tôi với!” (Lc 23:39). Chúa Giê-su đã bao lần bị vu khống lân la với những kẻ xấu nết và tội lỗi.  Kẻ thù Chúa muốn kết luận về Người:  Gần mực thì đen mà!  Bị vả má và đánh đòn thì vô kể, đến nỗi Phi-la-tô muốn dùng hình ảnh đau thương của Thiên Chúa làm người (Ecce homo) để gợi lòng thương hại của con người, vậy mà cũng không xong.
          Nhưng Đấng dạy ta phải thương yêu kẻ thù đã sống trọn vẹn bài học ấy trước khi dạy ta.  Người chúc lành cho mọi người.  Người vẫn một lòng thương cả ông Phê-rô lẫn Giu-đa.  Người đã cầu nguyện cho họ, xin Cha tha thứ cho họ.  Từ trên thập giá Người đã tha thứ cho kẻ thù của Người.  Những tên lính chia nhau áo ngoài, Người cho luôn cả áo trong.  Người còn cho nhân loại luôn cả những giọt nước và máu cuối cùng trong trái tim yêu thương của Người.  Đó là tất cả những cách cụ thể Chúa Giê-su biểu lộ lòng nhân từ của Thiên Chúa dành cho nhân loại.
          Chúa Giê-su bao giờ cung thực tế.  Dạy nhiều quá, chúng ta đâu có nhớ và làm nổi.  Cho nên Người đưa ra một vài điều thực tế nhất, những điều ta hay gặp nhất trong đời sống hằng ngày.  Đó là đừng xét đoán, đừng lên án, và hãy tha thứ.  Lòng nhân từ sẽ là cặp kính để ta nhìn người khác, cặp kính đó chính Thiên Chúa ban cho ta.  Nhìn qua đó, ta sẽ không thấy được ai là kẻ thù ta, mà chỉ thấy người khác là con Chúa, là người anh chị em của ta.
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
          Yêu thương kẻ thù và tha thứ cho kẻ thù là hành vi của duy Thiên Chúa nên loài người không thể làm được.  Nhưng Thiên Chúa đã cho con người khả năng có thể yêu thương kẻ thù và tha thứ kẻ thù khi Người cho chúng ta một con người mẫu là Chúa Giê-su.  Vậy tôi đã học nơi Chúa Giê-su ở những điểm này chưa?  Tôi có kết hiệp với Người để yêu thương và tha thứ kẻ thù của tôi không?  Nếu không, thì tôi phải làm gì để kết hiệp với Chúa Giê-su?
          Ai là kẻ thù gần nhất của tôi?  Hoàn cảnh thù ghét như thế nào?  Tôi có cách thức cụ thể nào để yêu thương và tha thứ người ấy?
          Tôi tập cách nào để không lên án và xét đoán người khác?
 ***
          “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con,
          có những ngày
          đón nhận người khác là điều vượt quá sức con,
          vì con kiêu hãnh, tự hào và yếu đuối.
          Lạy Chúa là Thiên Chúa của con,
          có những ngày
          con không thể nào kính trọng kẻ khác được,
          vì ý kiến, vì màu da, vì cái nhìn của người ấy.
          Lạy Chúa là Thiên Chúa của con,
          có những ngày
          mà yêu mến người khác làm cho tim con đau nhói,
          vì nỗi sợ hãi, nỗi khổ đau và những giới hạn của bản thân con.
          Lạy Chúa là Thiên Chúa của con
          trong những ngày khó khăn đó,
          xin hãy nhắc cho con nhớ rằng
          tất cả chúng con đều là con cái Chúa
          và đừng để con quên lời Chúa nói:
          “Điều gì chúng con làm cho người bé nhỏ nhất
          là làm cho chính Ta.”  -  Trích trong PRIER
                             (Trích  RABBOUNI, lời nguyện 112)  
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
20-2-2004
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây