Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật lễ Chúa Kitô Vua 34 TN-C Bài 1-50

Thứ tư - 20/11/2019 09:25
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật lễ Chúa Kitô Vua 34 TN-C Bài 1-50
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật lễ Chúa Kitô Vua 34 TN-C Bài 1-50
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật lễ Chúa Kitô Vua 34 TN-C Bài 1-50
TN34-C1. Ánh Sáng, Sức Mạnh và Hạnh Phúc. 2
TN34-C2. HRK/210- Vua Vũ Trụ. 4
TN34-C3. HRK/453- Vua Vũ Trụ. 6
TN34-C4. CSTM/263- Trộm Lành. 8
TN34-C5. NTGT/302 - Vua Vũ Trụ. 10
TN34-C6. PV/714- Viên Đá. 12
TN34-C7. PV/716 – Nhân Từ. 14
TN34-C8. SCĐ/841 – Giêsu Vua. 15
TN34-C9. SCĐ/846- Cám Dỗ. 17
TN34-C10. Vương Quốc Tình Yêu. 19
TN34-C11. Đức Giêsu, vua tình yêu- Lm. Jos. Phạm Thanh Liêm.. 21
TN34-C12. Suy Niệm của Nhóm Đồng Hành. 23
TN34-C13. Xin Nhớ Đến Tôi 24
TN34-C14. Tên Trộm Lành Và Người Chủng Sinh. 26
TN34-C15. Nếu Ông Là Vua- Lm Âu Quốc Thanh. 27
TN34-C16. Chúa Giêsu, Vua Tình Yêu - Lm Bùi Quang Tuấn. 29
TN34-C17. Xin nhớ đến tôi - Lm. Bùi Thượng Lưu. 31
TN34-C18. Chúa Kitô, Vua Vũ Trụ - Lm Jos.Phạm Ngọc Ngôn. 32
TN34-C19. Chấp nhận vương quyền của Chúa- Lm Trần Bình Trọng. 34
TN34-C20. Đức Giê-su là Vua của vũ trụ - JKN.. 35
TN34-C21. Đức Giêsu là Vua của vũ trụ - JKN- 2. 38
TN34-C22. ĐỨC GIÊSU , VUA VŨ TRỤ - Lm Augustine S.J. 42
TN34-C23. CHÚA KITÔ VUA - Lm Vũ Khắc Nghiêm.. 45
TN34-C24. MẦU NHIỆM CÁNH CHUNG: CHÚA HIỂN TRỊ 47
TN34-C25. VƯƠNG QUYỀN CỦA CHÚA KITÔ - Đức Ông Trần Văn Khả. 51
TN34-C26. CHÚA GIÊSU LÀ VUA/Vua Giêsu trên Thập giá. 52
TN34-C27. Ý nghĩa về vương quyền của Đức Giê-su Ki-tô. 63
TN34-C28. GIÊSU  LÀ VUA của VƯƠNG QUỐC YÊU THƯƠNG.. 65
TN34-C29. Kitô Vua. 67
TN34-C30. HAI TÊN TRỘM... 69
TN34-C31. CHƯỚNG NGẠI VẬT HAY BÀN ĐẠP ĐI TỚI 70
TN34-C32. ĐIỀU TỐT GỢI LÊN ĐIỀU TỐT.. 71
TN34-C33. MỘT VỊ VUA KHÔNG GIỐNG AI 73
TN34-C34. KITÔ VUA - NMS/192. 76
TN34-C35. ÔNG VUA TỘI NGHIỆP - CS/157. 78
TN34-C36. LỄ CHÚA KITÔ VUA - LS II/563. 79
TN34-C37. Vương quốc Đức Kitô - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt. 81
TN34-C38. LỄ KITÔ VUA - ASTY/237. 83
TN34-C39. CHÚA KITÔ VUA - TMCN/ 252. 85
TN34-C40. VƯƠNG QUYỀN CỦA CHÚA - TMCN/ 177. 86
TN34-C41. CHÚA GIÊSU BỊ LĂNG NHỤC TRÊN THẬP GIÁ.. 88
TN34-C42. Ta Tuyên Xưng Gì Khi Nói Về Chúa Kitô?. 91
TN34-C43. Chúa Giêsu - Vua Tình Thương. 95
TN34-C44. Ở thiên đàng hôm nay. 100
TN34-C45. Chúa Giêsu Vua Vũ Trụ. 102
TN34-C46. Vua Đích Thực. 105
TN34-C47. Chân dung Đức Kitô. 108
TN34-C48. Thiên Chúa được tôn vinh trên thập giá. 110
TN34-C49. Chúa Giêsu Vua. 114
TN34-C50. LỄ CHÚA KI-TÔ VUA VŨ TRỤ.. 115
 

TN34-C1. Ánh Sáng, Sức Mạnh và Hạnh Phúc

Khi tuyên xưng Đức Kitô là vua, thì điều ấy có ý nghĩa gì ? Hay nói cách khác Đức Kitô  là gì: TN34-C1

Khi tuyên xưng Đức Kitô là vua, thì điều ấy có ý nghĩa gì ? Hay nói cách khác Đức Kitô  là gì đối với chúng ta ?
Tôi xin trả lời :
- Trước hết Ngài là ánh sáng.
Chúng ta thường nói :
- Người là một con vật có trí khôn.
Với trí khôn, chúng ta không ngừng băn khoăn và thắt mắc, để rồi tạo được những tiến bộ trong mọi lãnh vực.
Vì thế, hai chữ “tại sao” thường được lặp đi lặp lại trên đôi môi của chúng ta, nhất là đối với những vấn đề quan trọng.
Chẳng hạn : Ai đã dựng nên tôi ? Tại sao tôi lại sống trên trần gian này ? Tôi từ đâu mà đến ? Và tôi sẽ đi về đâu ? Đâu là con đường tôi phải bức đi và đâu là những bổn phận tôi phải tuân giữ ?
Nếu Đức Kitô không trả lời được cho tôi những băn khoăn và thắc mắc kể trên, thì cuộc đời tôi sẽ chìm vào trong tăm tồi, trong tuyệt vọng.
Thế nhưng, Ngài đã xác quyết :
- Thầy là đường, là sự thật và là sự sống.
Ngài không lừa dối ai. Ngài đến để tỏ lộ cho chúng ta biết những chân lý, những sự thật. Nhờ Ngài, chúng ta biết được chúng ta bởi đâu mà đến và chúng ta sẽ đi về đâu. Ngài đã chỉ cho chúng ta biết con đường và đã xác định cho chúng ta những bổn phận phải tuân giữ, nếu chúng ta muốn tiến đến với chân lý, với Nước Trời.
Vua thánh Đavít đã diễn tả niềm vui mừng và hạnh phúc của những người sống gắn bó kết hiệp với Thiên Chúa trong thánh vịnh 23 như sau :
- Chúa chăn nuôi tôi,
  Tôi chẳng thiếu thốn chi.
  Trên đồng cỏ xanh rì,
  Ngài để tôi nằm nghỉ.
  Tới nguồn nước,
  Chỗ nghỉ ngơi.
  Ngài hướng dẩn tôi.
  Tâm hồn tôi,
  Ngài lo bồi dưỡng.
Tiếp đến, Đức Kitô là sức mạnh.
Thực vậy, Chúa Giêsu không phải chỉ nói, mà Ngài còn làm gương trước cho chúng ta noi theo và bắt chước. Ngài không phải chỉ chiếu tỏa ánh sáng và truyền ban những mệnh lệnh, nhưng chính Ngài đã thực thi trước đã. Nhìn vào Ngài, chúng ta sẽ tìm thấy được niềm an ủi và sức mạnh.
Ngài không truyền cho chúng ta :
- Hãy sống hiền lành và khiêm nhường.
Nhưng Ngài đã bảo chúng ta :
- Các con hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.
Ngài cũng đã phải lần từng bước một trên con đường lên đỉnh Canvê. Ngài đã sống tinh thần nghèo khó. Ngài đã thực sự cầu nguyện, kết hiệp mật thiết với Chúa Cha. Ngài đã thực thi những hành động bác ái yêu thương trước khi truyền dạy.
Hơn thế nữa, Ngài còn ban sức mạnh để chúng ta tuân giữ những điều Ngài truyền dạy, với điều kiện là chúng ta phải gắn bó và cộng tác với Ngài.
Sau cùng, Đức Kitô còn là niềm hạnh phúc của mỗi người chúng ta.
Thực vậy, nếu chúng ta sống kết hiệp mật thiết với Ngài và chu toàn những điều Ngài mong muốn, thì định mệnh cuộc đời chúng ta sẽ được bảo đảm, như lời sách “Gương Phúc” đã viết :
- Gắn bó với Đức Kitô, chúng ta sẽ tìm thấy được niềm hạnh phúc Nước trời. Tìm thấy Đức Kitô  là tìm thấy cả một kho tàng quí giá. Trái lại, mất Đức Kitô là mất tất cả.
Ngày kia, thánh Bemoit mệt mỏi vì đường xa, đã ngồi nghỉ dưới một gốc cây và dùng bữa. Bữa trưa của Ngài chỉ có bánh mì đen và nước lạnh. Giữa lúc đó có một đám người đi dự tiệc cưới trở về. Nhìn thấy thánh nhân với bữa cơm thanh đạm, họ liền tỏ lòng thương xót. Nhưng thánh nhân đã trả lời như sau :
- Không, có nhiều người còn đáng thương hơn tôi nữa. Tôi là một người bạn hữu nghĩa thiết cùng Chúa, chỉ điều này mà thôi cũng đã là làm cho tôi được hạnh phúc.
Hãy gắn bó mật thiết với Chúa, để rồi chúng ta sẽ tìm thấy hạnh phúc Nước trời, một niềm hạnh phúc tuyệt vời như lời thánh Phaolô đã diễn tả :
- Tai chưa hề nghe, mắt chưa hề thấy và trái tim chưa một lần cảm nghiệm được những gì Thiên Chúa sẽ dành cho những người trung thành phụng sự Ngài.

 

TN34-C2. HRK/210- Vua Vũ Trụ

Hôm nay Chúa nhật cuối cùng trong năm phụng vụ, Giáo Hội mừng kính lễ Chúa Kitô Vua: TN34-C2

Hôm nay Chúa nhật cuối cùng trong năm phụng vụ, Giáo Hội mừng kính lễ Chúa Kitô Vua. Đặt lễ Chúa Kitô Vua trong Chúa nhật cuối cùng năm phụng vụ, Giáo Hội nhắc nhở chúng ta rằng, Đức Kitô chính là Vua của vũ trụ, Ngài là Chủ của thời gian, của lịch sử nhân loại và Chủ của lịch sử mỗi người chúng ta.
Với tâm tình của người trộm lành bên cạnh Chúa Giêsu trong những giờ phút cuối cùng, chúng ta cũng hãy tuyên xưng vương quyền của Ngài và nói lên với Ngài tất cả niềm tín thác của mình, xin Ngài tiếp tục đồng hành và gìn giữ chúng ta trong cuộc sống hằng ngày.
Thật vậy, nếu phong thánh là một cữ hành, qua đó Giáo Hội long trọng tuyên bố rằng, một người nào đó đang được hưởng phúc trên thiên đàng, thì con người đầu tiên phải được phong thánh chính là một trong hai người cùng chịu đóng đinh với Chúa Giêsu, tức là người thường được mệnh danh là “kẻ trộm lành”.
Trong một số tài liệu không được Giáo Hội nhìn nhận là linh hứng thì kẻ trộm có tên là Dysmas, theo truyền thuyết thì ngay cả thập giá của Dysmas cũng đã được mang về bên Italia. Nhiều vị thánh trong những thế kỷ đầu của Kitô giáo đã kính nhớ một cách đặc biệt vị thánh Dysmas này. Dysmas kẻ trộm lành quả thật là một vị thánh đầu tiên trong Giáo Hội đã được chính Đức Giêsu phong thánh khi Ngài tuyên bố rằng : “Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”. Còn bằng chứng nào hùng hồn hơn chính lời của Chúa Giêsu. Dysmas đã được Chúa Giêsu phong thánh, bởi vì ông là người đầu tiên trong nhân loại đã tuyên xưng niềm tin vào vương quyền của Chúa Giêsu, khi ông thưa với Chúa rằng : “Lạy Ngài, khi nào về về Nước Ngài, xin Ngài nhớ đến tôi”.
Vậy có thể nói được rằng, hẳn phải có một niềm tin sâu sắc của một vị thánh thì người ta mới có thể thốt lên được một lời tuyên xưng như thế trong một hoàn cảnh nghiệt ngã hầu như tuyệt vọng. Dysmas kẻ trộm lành đã có thể thách thức và nguyền rủa Chúa Giêsu như người bạn cùng treo với ông hoặc như đám lý hình đang đứng dưới chân thập giá. Thế nhưng ông đã không làm thế, ông đã có tâm hồn của một vị thánh khi ông biết nhìn xuyên qua cái bề ngoài tất tưởi thương đau bất lực của Chúa Giêsu để thấy được quyền năng của một vị vua mà vương quốc của Ngài không thuộc về trần thế này. Chính trong cái cảnh trơ trụi và tàn bạo nhất do con người tạo ra đó mà Chúa Giêsu đã đăng quang như một vị vua.
Thật thế, các sách Tin Mừng đã đặt lễ đăng quang của Chúa Giêsu trong chính cuộc tử nạn của Ngài. Khởi đầu là cuộc khải hoàn tiến vào thành Giêrusalem, trong đó Chúa Giêsu đã ngồi trên lưng của một con lừa con. Qua cử chỉ này, Chúa Giêsu đã khẳng định rằng Ngài là Vua, nhưng Ngài là Vua không theo các cung cách của vua chúa trần gian. Tất cả bản án của Chúa Giêsu đều xoay quanh tước hiệu Vua của Ngài.
Mặt khác, lời tố cáo mà nhiều người đã đưa ra để buộc tội Ngài là : “Hắn đã tự xưng mình là vua”, và quan tổng trấn Philatô đại diện cho chính quyền Lamã cũng hỏi Ngài : “Ông có phải là vua dân Do thái không ? Và Chúa Giêsu đã trả lời : Ta là Vua”. Sau cùng, bản án của Ngài được ghi trên thập giá và được viết bằng ba thứ tiếng : Hy lạp, Latinh và tiếng Do thái, bản án được ghi như sau : “Jesu Nazareth, vua người Do thái”.
Chính trong niềm đau tột cùng và cái chết tất tưởi trên thập giá mà Chúa Giêsu đã đăng quang như một vị vua, nhưng cũng chính trong cuộc tử nạn ấy mà Ngài đã xác quyết rằng : “Vương quốc của Ngài không thuộc về thế gian này”, và Ngài không làm Vua theo các cung cách của vua chúa ở trần gian. Chúa Giêsu là Vua, nhưng Ngài là Vua của phục vụ, của khiêm hạ, của quên mình và nhất là của tha thứ trong yêu thương.
Thật vậy, còn gì vương giả cho bằng khi Ngài cầu nguyện với Thiên Chúa Cha để xin ơn tha thứ cho những kẻ đã làm hại Ngài. Chúa Giêsu là Vua của Tình Yêu, chính tình yêu là sức mạnh của Ngài và cũng chính tình yêu ấy đã khiến cho Ngài tuyên bố : “Khi nào Ta chịu treo trên thập giá, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta”.
Qua hơn 2000 năm, lời ấy vẫn mãi được ứng nghiệm. Ngoài Đức Kitô ra không có một vị vua nào trên trần gian này được nhân loại chọn làm trọng tâm của lịch sử. Chấp nhận hay không chấp nhận, tin hay không tin, ai cũng phải lấy Đức Giêsu làm cái mốc để tính thời gian. Có một thời gian trước Đức Kitô và có một thời gian sau Đức Kitô và dù có tránh tên của Ngài để nói trước hay sau Công nguyên thì con người nói như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II : “Con người sẽ không bao giờ loại bỏ Đức Kitô ra khỏi lịch sử của mình”. Đức Kitô đang lôi kéo mọi người về với Ngài, Ngài đang đồng hành trong lịch sử nhân loại và trong cuộc đời của mỗi người. Cuộc đời này có giá trị và ý nghĩa hay không là tùy thuộc ở thái độ tiếp nhận của mỗi người đối với Đức Kitô.
Tiếp nhận Ngài và tuyên xưng Ngài là Vua chính là mặc lấy thái độ tín thác của kẻ trộm lành, sẵn sàng trao phó tất cả cuộc đời trong tay Ngài và bước đi theo Ngài. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là đi theo con đường của phục vụ và phục vụ cho đến cùng. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là cùng với Ngài xây dựng vương quốc của Ngài ngay trên trần gian này, vương quốc của huynh đệ, vương quốc của yêu thương, vương quốc của công lý và hòa bình. Và mỗi một lần chúng ta xây dựng vương quốc ấy bằng một cữ chỉ yêu thương thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ nghe được lời hứa của Ngài cho người trộm lành : “Hôm nay đây con sẽ ở cùng Ta trong vương quốc của Ta”.

 

TN34-C3. HRK/453- Vua Vũ Trụ

Các tông đồ ngày xưa, từ khi bắt đầu theo Chúa cho đến khi được Chúa Thánh Thần biến đổi: TN34-C3

Các tông đồ ngày xưa, từ khi bắt đầu theo Chúa cho đến khi được Chúa Thánh Thần biến đổi sau biến cố Phục sinh, và chúng ta hôm nay nếu không được Chúa Thánh Thần soi sáng thì không thể nào hiểu được mầu nhiệm thập giá. Trong cuộc đời của Chúa cũng như trong cuộc đời của mỗi lần Chúa mạc khải mầu nhiệm thập giá mà chính Ngài đã thực hiện là mỗi lần các tông đồ hoặc né tránh hoặc hiểu sai ý nghĩa và tranh nhau chỗ vinh quang tả hữu, nhất nhì trong Nước Chúa.
Trong ngày lễ Chúa Kitô Vua hôm nay, kết thúc năm phụng vụ theo chu kỳ C, để rồi vào tuần tới Chúa nhật I Mùa vọng, khai mào năm phụng vụ mới theo chu kỳ A, Giáo Hội mời gọi chúng ta suy niệm và sống mầu nhiệm Nước Chúa, tôn vinh Chúa Kitô làm Vua vũ trụ dựa theo Tin Mừng thánh Luca mà chúng ta vừa đọc lại trên đây, mô tả cảnh Chúa Giêsu chịu chết treo trên thập giá giữa hai kẻ trộm, một kẻ dữ buông lời xúc phạm và một kẻ lành thành tâm thống hối ăn năn và nhận được lời bảo đảm của Chúa : “Hôm nay con sẽ được ở với Ta trên thiên đàng”.
Tại sao trong ngày lễ Chúa Kitô Vua mang màu sắc đầy vinh quang chiến thắng, Giáo Hội lại nêu cao biến cố đau thương Chúa chịu chết treo trên thập giá như vậy ? Chúng ta không có nhiều giờ để chú giải sâu rộng đoạn Phúc âm trên, nhưng một cách vắn tắt chúng ta có thể nói trước hết bản chất của Nước Chúa được Chúa Giêsu mạc khải nơi đây cho người trộm lành, đó là được ở với Chúa. Nước Chúa là nơi Chúa ở với ta, ta ở với Chúa, được vui hưởng sự hiện diện của Ngài và Chúa Giêsu đã thực hiện Nước Chúa là ban ơn cứu rỗi cho con người qua cái chết hy sinh trên thập giá, không có con đường nào khác và Chúa Giêsu đã nhiều lần xác nhận : “Ai muốn theo Ta hãy từ bỏ mình vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta”.
Chúa Giêsu chiến thắng những sự dữ, những bạo lực, những sự ác ôn âm mưu mánh mung trong tâm hồn con người bằng cái chết hy sinh trên thập giá và Chúa vẫn còn tiếp tục làm như vậy, tiếp tục chịu chết như vậy, cả trong ngày hôm nay nữa để thực hiện quyền làm chủ của Ngài trên mọi sự.
Thật ra, là Đấng Tạo Hóa mọi loài, mọi vật, Chúa làm chủ mọi loài mọi vật, Chúa đã làm vua mọi loài mọi vật, nhưng Chúa đã tạo dựng con người có tự do và con người đã dùng tự do này để thoát ra khỏi bàn tay Chúa, thoát ra khỏi quyền làm chủ của Ngài. Không những con người thoát ra khỏi quyền làm chủ của Ngài, mà con người còn dùng quyền tự do của mình để làm cho vạn vật này thoát ra khỏi quyền làm chủ của Thiên Chúa.
Chúa làm vua, nhưng Chúa muốn cho con người nhìn nhận Ngài làm vua qua con đường thập giá. Chúa biết rõ đây là cách thế duy nhất để chiến thắng sự tự do của con người, để chiến thắng sự dữ mà tự do của con người gây ra trên trần gian này đó là cái nhìn từ Thiên Chúa, Thiên Chúa Cha luôn nhìn về lịch sử của con người từ trên cao xuống qua thập giá của Chúa Giêsu.
Nói đến đây tôi nhớ lại một bức tranh của một nghệ sĩ tài ba về cảnh Chúa Giêsu chịu chết treo trên thập giá không theo cách thông thường nhìn từ dưới lên, mà một cách đặc biệt nhìn từ trên cao xuống. Thiên Chúa Cha nhìn vào trần gian qua thập giá của Chúa Giêsu từ trên cao xuống và nhìn từ phía con người thì sao ?
Bài Phúc âm hôm nay cũng gợi lại cho chúng ta một khía cạnh căn bản thường bị bỏ quên, đó là khía cạnh được người trộm lành thực hiện việc ý thức về tội lỗi của mình, anh đã thống hối nhìn nhận lỗi lầm, khiêm tốn xin Chúa tha thứ. Thiên Chúa không thể cứu rỗi con người, nếu con người không muốn được cứu rỗi. Con người có tự do, họ có thể chống lại Ngài, khước từ ơn cứu rỗi Ngài ban, hoặc lãnh nhận một cách tích cực và sốt sắng. Chúa Giêsu chỉ thực hiện quyền làm vua của Ngài, quyền làm Chủ của Ngài trên con người, khi con người biết thống hối ăn năn quay trở về với Ngài. Chúng ta chỉ có thể nhìn nhận Chúa Giêsu là Vua, nhìn nhận ơn cứu rỗi của Chúa để Chúa thực hiện nơi mình và để mình được hiện diện với Chúa.
Đây là bước đầu tiên căn bản không thể thiếu được. Chính vì thế mà tác giả Phúc âm thánh Marcô khi mô tả giây phút khởi đầu cuộc đời rao giảng Tin Mừng của Chúa đã xác nhận một cách mạnh mẽ qua lời Chúa Giêsu : “Nước Trời đã gần đến. Hãy ăn năn thống hối và tin vào Tin Mừng”.
Mừng lễ Chúa Kitô Vua hôm nay, chúng ta không nên dừng lại ở nơi những khẩu hiệu hoan hô bên ngoài : “Chúa là Vua”, nhưng mỗi người chúng ta cần phải ý thức về những lỗi lầm của mình và thống hối ăn năn trở lại xin Chúa tha thứ. Xin Chúa thực hiện quyền làm chủ của Chúa trên con người của chúng ta, trên cuộc đời chúng ta. Xin Chúa tha thứ tất cả tội lỗi mà chúng ta đã xúc phạm đến Chúa, để chúng ta được trở nên con cái Chúa, để Chúa thực sự là chủ, là Vua trên cuộc đời của mỗi người chúng ta. Xin Chúa củng cố đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh tin kính.

 

TN34-C4. CSTM/263- Trộm Lành

Khi nói Chúa Giêsu là vua, chúng ta có thể thắc mắc ngay : Chúa là vua của nước nào ? Nước: TN34-C4

Khi nói Chúa Giêsu là vua, chúng ta có thể thắc mắc ngay : Chúa là vua của nước nào ? Nước Chúa ở đâu ? Và ai là dân của Chúa ? Những thắc mắc này, chính Chúa đã trả lời khi Chúa nói với tổng trấn Philatô : “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Câu trả lời ấy cho chúng ta biết : đâu không phải là Nước Chúa và đâu là Nước Chúa. Nước Chúa không thuộc về thế gian, có nghĩa là bất cứ nước nào, bất cứ chế độ nào, với nền văn minh nào, cũng không thể đồng hóa với nước Chúa. Vậy Nước Chúa ở đâu ? Thưa Nước Chúa ở trong các tâm hồn, những tâm hồn khao khát sự thật, tôn trọng sự thật, và nhất là đón nhận sự thật. Như vậy, Nước Chúa gồm tất cả các tâm hồn yêu chuộng sự thật. Do đó, Nước Chúa rộng hơn Hội thánh, bởi vì ngoài Hội thánh, vẫn có biết bao nhiêu người yêu chuộng sự thật. Đang khi đó, trong Hội thánh cũng có thể có nhiều người không thuộc về Nước Chúa, vì họ không yêu chuộng sự thật, không đón nhận sự thật. Sự thật đó là tình yêu cứu độ Chúa Giêsu đem đến.
Vậy, tất cả những ai đón nhận tình yêu cứu độ đó, họ sẽ được nhận vào Nước Chúa, điển hình như người trộm lành kể lại trong bài Tin Mừng. Khi Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá, những người chứng kiến đã có những thái độ khác nhau : có kẻ xót thương, có người lãnh đạm vô tình, có kẻ thách thức, nhục mạ, nhưng cũng có người nhận ra Chúa và van xin Chúa. Đó chính là người trộm lành. Anh không dám thách thức Chúa như người trộm khác cùng bị đóng đinh với anh hay như những người vô lễ khác, nhưng anh biết tội mình và suy đoán rằng vương quyền mà Chúa liều chết vì nó phải là một vương quyền tốt đẹp vô lường nên anh kêu xin Chúa cứu vớt để được đưa vào vương quốc ấy. Đúng vậy, giữa đám đông mù quáng, ngược ngạo, ít ra cũng còn một tâm hồn ngay tình. Đó là người trộm lành trong một hoàn cảnh thật bi đát bị treo trên thập giá, anh đã biết nhận tội của mình và nhìn nhận sự vô tội của Chúa Giêsu. Giữa lúc mọi người đều bỏ rơi Chúa, đã quên hết những phép lạ, những lần đi theo Chúa lúc Ngài được tôn vinh, người trộm đã nhận ra vương quyền của Chúa và tuyên xưng đức tin của mình bằng một lời van xin đầy hy vọng sâu xa : “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Lời cầu nguyện khiêm hạ của anh đã mở được cửa vương quốc đó cho anh.
Đó, chúng ta thấy, cả hai người trộm cùng có những hoàn cảnh như nhau, nhưng chỉ có người trộm lành bên phải Chúa đã được cứu rỗi, vì anh đã nhận ra tình yêu cứu độ và biết cầu xin. Chắc chắn anh ta không phải là loại người thuộc giáo lý, hiểu biết lý thuyết về đạo, nhưng vì anh ta đã tin và cầu nguyện với lòng khiêm tốn chân thành, nên anh đã được cứu độ. Thánh Âu tinh đã nói về người trộm này như sau : “Từ tội giết người, y được dẫn đến thẩm phán, từ thẩm phán đến thập giá, từ thập giá đến thiên đàng”. Và thánh Gioan Kim Khẩu cũng nói : “Từ thập giá y đã bay bổng lên trời. Thực vậy, tự thân là một tên ăn trộm chuyên nghiệp, y đã dùng ngón nghề của mình để cướp lấy Nước Trời, bằng lòng sám hối và lời tuyên xưng đức tin”.
Ngoài ra, về hai người trộm này còn cho chúng ta một bài học khác nữa, đó là vác thập giá có công và vác thập giá không có công. Chúng ta thấy : người trộm bên trái Chúa đã vác thập giá, hơn nữa, đã bị đóng đinh trên thập giá nhưng không có công gì. Trái lại, người trộm bên phải cũng vác thập giá và bị đóng đinh vào thập giá, sau cùng đã được thưởng công lên thiên đàng. Cái khác nhau về sự thưởng phạt giữa hai người là do cách vác thập giá của mỗi người : người trộm bên trái đã kiêu căng, khích bác và chỉ trích Chúa, nên đã không có công trạng gì. Trái lại, người trộm bên phải Chúa đã khiêm nhường, cậy tin vào Chúa, nên anh đã được công, được Chúa ban phúc thiên đàng.
Trong Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa hứa trả công cho mỗi người tùy theo công việc họ đã làm. Công việc của mỗi người chúng ta là vác thập giá theo Chúa. Lời Chúa hứa thật khích lệ chúng ta. Giả sử Chúa căn cứ vào những thành tích to lớn hay lấy lương trả công cho mỗi người, thì nhiều người chúng ta chắc sẽ là tay không, vì mình chẳng có công trạng gì như thế. Nhưng Chúa nói Chúa sẽ căn cứ vào công việc của mỗi người vác thập giá theo Chúa mà thưởng công. Như vậy thì tất cả chúng ta : những người già yếu, những người khốn khó, những người nghèo túng, những người bệnh tật, những người neo đơn, những người kém cõi… tất cả những ai đang vác thập giá vì Chúa đều là đối tượng được Chúa thưởng sau này.
Lễ Chúa Kitô Vua kết thúc năm phụng vụ là đoạn cực mạnh trong bản Allêluia của Giáo Hội, hô vang niềm hy vọng, niềm vui và sự phấn khởi của người có lòng tin vào Chúa. Ngày lễ hôm nay đem lại cho chúng ta một tâm tình lạc quan tin tưởng, một lòng quảng đại vô bờ bến, một sức mạnh để vươn lên mà không chông gai nào làm chùn được, không đau khổ nào ngăn được, Chúa Kitô Vua đã toàn thắng đau khổ và sự chết để cho chúng ta được toàn thắng đau khổ và sự chết. Allêluia, Allêluia, Allêluia.

 

TN34-C5. NTGT/302 - Vua Vũ Trụ

Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Kitô – Vua vũ trụ, kết thúc năm phụng vụ. Năm phụng vu: TN34-C5

Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Kitô – Vua vũ trụ, kết thúc năm phụng vụ. Năm phụng vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập thể, khai triển qua cuộc tử nạn, Phục sinh để rồi kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức Kitô. Như vậy, năm phụng vụ tượng trưng cho chu kỳ thời gian bắt đầu từ Đức Kitô và cuối cùng trở về với Ngài. Đức Kitô chính là khởi đầu và là cùng đích của vũ trụ và lịch sử nhân loại.
Cho nên thật thích hợp khi kết thúc năm phụng vụ, Giáo Hội mời gọi con cái mình chiêm ngắm Đức Kitô, Vua vũ trụ. Chỉ một mình Đức Kitô mới là vua đích thực. Chỉ một mình Ngài mới là Đấng để con người lệ thuộc và tôn thờ.
Tuy nhiên để có thể sống nội dung đích thực của ngày lễ Chúa Kitô vua hôm nay, chúng ta cần suy nghĩ xem : tước hiệu Vua Kitô phải được hiểu như thế nào ? Và việc tuyên xưng Đức Kitô là vua mang lại ý nghĩa gì cho cuộc sống người Kitô hữu ?
Lần giở những trang Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Giêsu không có thiện cảm lắm với tước hiệu vua, một tước hiệu vốn gắn liền với hình ảnh độc tài, độc đoán. Và vì thế cũng dễ gây cảm giác khó chịu cho con người thời đại dân chủ hôm nay. Đức Giêsu đã dứt khoát thắng được cơn cám dỗ về quyền bính khi Ngài ở trong sa mạc chuẩn bị cho sứ vụ công khai. Có lần, sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, dân chúng tôn phong Ngài làm vua, nhưng Ngài tránh đi nơi khác.
Vậy mà trong những giờ đau đớn nhất, khi bị nộp trước quan tổng trấn của đế quốc Lamã, tay bị trói, đầu đội mão gai, thì Đức Giêsu lại nhận mình là vua, nhưng Ngài minh định ngay : Nước tôi không thuộc về thế gian này. Và Ngài không làm vua theo cung cách của các vua chúa trần gian. Đức Giêsu là vua nhưng Ngài là vua của phục vụ, của khiêm hạ, của quên mình, nhất là của vua tha thứ trong yêu thương.
Chính trong niềm đau tột cùng và cái chết tất tưởi trên thập giá mà vương quyền của Đức Kitô được tỏ hiện. Và điều này một số người đã không nhầm lẫn. Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe nói về anh trộm lành. Anh trách mắng người bạn cùng chịu hình phạt với mình đã chế nhạo vương quyền Đức Kitô, rồi quay sang Đức Kitô, anh bày tỏ với hết lòng tin tưởng : “Lạy Ngài, khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. Và Đức Giêsu nhận lời anh : “Ngay hôm nay, anh sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.
Cái vương quyền ấy, vào thời điểm ấy mới đẹp làm sao ! Đức Kitô trên thập giá hoàn toàn là kẻ bại trận. Chỉ có người đặt lòng tin vào sự phục sinh của Ngài mới có thể hiểu được vương quyền ấy. Ở đây, chúng ta đứng trước một vương quyền thiêng liêng, nghĩa là vương quyền theo Thánh Thần Thiên Chúa, được trang bị chỉ bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Nếu vị vua ấy có giải phóng thì theo một nghĩa sâu sắc là giải phóng tâm hồn.
Vị vua ấy đòi hỏi gì ở thần dân mình ? Một điều duy nhất, đó là đức tin. Nghĩa là tin tưởng vào lời Ngài, Ngài mới làm cho chúng ta nên cao trọng. Thay vì bắt buộc phải sống sát mặt đất, đến với đêm đen, đối diện với một tương lai u tối và vô định, nhất thiết dẫn đến sự chết thì Ngài lại cho phép chúng ta tin tưởng cậy trông. Và như thế không phải Ngài đã làm cho chúng ta nên trưởng thành đó sao ? Sự tin tưởng cậy trông khiến con người lớn lên, chính là điều dẫn con người đến với sự yêu thương. Sự tin tưởng cậy trông chính là điều cho phép con người trực diện với cái chết bởi vì đã có lời loan báo sự yêu thương và sự sống vĩnh cửu.
Vua của chúng ta là như thế đó ! Chức vị vua của Ngài là để phục vụ cho thần dân. Uy quyền của Ngài, sự toàn năng của Ngài đó là quyền tối thượng để yêu thương và tha thứ. Ngài đã thi hành vương quyền ấy bằng cách lôi kéo con người ra khỏi tội lỗi và sự chết để đưa vào vương quốc của sự sống vĩnh cửu. Không, vương quốc của Ngài không thuộc về thế gian này. Nguồn gốc và uy quyền chính đáng của Ngài không tìm thấy trong thế gian này. Ngài múc lấy nó từ Thiên Chúa để rồi Ngài cho phép chúng ta đi suốt cuộc đời trần thế này, không phải trong điệu nhạc buồn thảm chết chóc nhưng là trong lời ca vẻ vang của ngày lễ Phục sinh, vì được cùng Ngài sống lại vinh quang.
Mừng lễ Chúa Kitô – Vua vũ trụ, có nghĩa là chúng ta tuyên xưng vương quyền của Đức Kitô để bước đi trong vương quốc của Ngài. Do đó việc tuyên xưng Đức Kitô là Vua phải dẫn đưa người tín hữu đến một thái độ cần có trong đời sống đức tin.
Tuyên xưng Đức Kitô là Vua chính là mặc lấy thái độ của anh trộm lành trong bài Tin Mừng hôm nay : biết sám hối, ăn năn, tin vào quyền năng yêu thương của Ngài. Chỉ những ai biết kính sợ Thiên Chúa và tin tưởng vào sự sống đời sau mới được ban cho Nước Trời.
Tuyên xưng Đức Kitô là Vua là đi theo con đường của phục vụ và phục vụ cho đến cùng.
Khi vua Hêrôđê được các đạo sĩ báo tin sự ra đời của vị Vua Israel, ông ta run sợ, ông sợ một sự cạnh tranh… Xin tất cả các vua Hêrôđê trên trần gian hãy an tâm, vương quyền của Đức Kitô không cạnh tranh với ai cả. Ngược lại, nó mời gọi tất cả những ai, cách nào đó đang thực thi quyền bính, hãy noi theo vua vũ trụ, làm tôi tớ cho những người mà họ cai trị.
Dĩ nhiên lời mời gọi này ưu tiên hướng đến những Kitô hữu, những người mà nhờ Bí tích Rửa tội, đã được tham dự vào vương quyền của Đức Kitô. Nếu Đức Kitô là Vua Tình Yêu thì người Kitô hữu cũng được mời gọi đi theo con đường của Đức Kitô đã đi : con đường của yêu thương, phục vụ để xây dựng vương quốc của Ngài trên trần gian này ;vương quốc của huynh đệ, vương quốc của tình thương, vương quốc của công lý và hòa bình.
Và mỗi một lần, chúng ta xây dựng vương quốc ấy bằng một cữ chỉ yêu thương, dù nhỏ bé nhất, thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ nhận được lời hứa của Đức Giêsu: Hôm nay đây, con sẽ ở cùng ta trong vương quốc của Ta.
Lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ nhắc nhớ cho mỗi người Kitô hữu chúng ta về một vương quốc đích thực mà mỗi người phải mong đợi bước vào, về một vương quyền đích thực mà mỗi người phải tôn nhận và quy phục. Hãy thực sự chọn Đức Kitô là Vua và là Cứu Chúa của đời ta và hãy bước đi trong đường lối của Ngài, vì chỉ nơi Đức Kitô chúng ta mới tìm được sự sống viên mãn cho chính mình.
Giáo hội luôn nhắc nhở chúng ta về phẩm giá cao cả của mỗi người Kitô hữu, đó là được tham dự vào vương quyền của Đức Kitô. Mỗi người chúng ta được mời gọi tham dự vào vương quyền của Đức Kitô bằng cuộc sống phục vụ, yêu thương quên mình. Lạy Chúa Kitô Vua vũ trụ và Vua của mỗi người chúng con. Xin Chúa đón nhận chúng con vào vương quốc của Chúa và thêm sức để chúng con sống xứng đáng với tước hiệu là thần dân của Chúa.

 

TN34-C6. PV/714- Viên Đá

Một lần nọ, hai người lữ khách đi qua một khu rừng khi màn đêm buông xuống. Chỉ trong ít: TN34-C6

Một lần nọ, hai người lữ khách đi qua một khu rừng khi màn đêm buông xuống. Chỉ trong ít phút, con đường nhỏ hẹp mà họ đang đi trở nên tăm tối. Một bóng tối khủng khiếp bao trùm mọi vật. Kế đó sự việc còn tệ hại hơn, một cơn bão có sấm sét nổ ra trong khu rừng. Anh sáng của chớp lóe lên kèm theo những tràng sấm làm rung chuyển mặt đất dưới chân họ. Mưa đổ xuống như trút nước trên người họ. Cây cối rung chuyển một cách nguy hiểm.
Người thứ nhất coi cơn bão như một tai họa ghê gớm. Mỗi khi có chớp lóe ra, anh ta nhìn lên bầu trời và nguyền rủa. Kết quả là anh ta đi chệch khỏi con đường và lạc vào rừng. Người thứ hai trái lại coi cơn bão như như một ơn lành hóa trang. Mỗi lần tia chớp lóe lên, soi sáng một đoạn đường trước mặt anh, và do đó anh có thể tiến lên từng bước một. Luôn giữ đầu cúi xuống sẵn sàng nhìn cho rõ, anh vẫn luôn theo đúng con đường. Và cứ thế, bước đi từng bước một, anh theo con đường để ra khỏi khu rừng.
Một đôi khi, đó là con đường trong cuộc đời : chỉ có đủ ánh sáng để bước được bước kế tiếp ; chỉ có đủ sức mạnh để làm nhiệm vụ hiện nay.
Cơn bão có sấm chớp đều như nhau đối với hai người lữ khách. Tuy nhiên, đối với người kia, nó là viên đá dùng để bước qua.
Những người lữ khách ấy nhắc chúng ta nhớ đến hai người gian phi trong câu chuyện Tin Mừng. Cả hai đều bị rơi vào bóng tối khủng khiếp. Trước hết là bóng tối của đời sống tội lỗi của họ. Rồi bóng tối khủng khiếp bao trùm trên núi Canvariô lúc Đức Giêsu bị đóng đinh.
Một người thì nguyền rủa bóng tối. Người kia đã thấy một tia sáng yếu ớt xuyên qua bóng tối. Anh sáng ấy đến từ sự hiện diện của Đức Giêsu, Đức Giêsu người bạn của những người tội lỗi, đã đến để tìm và cứu những người lạc mất. Lời xưng tội trong sáng và khiêm nhường đi thẳng vào tâm hồn của Đức Giêsu để rồi anh ta nhận được không những ơn tha thứ, mà còn nhận được chính thiên đàng.
Sau cùng, Đấng duy nhất biết và hiểu chúng ta trọn vẹn là Thiên Chúa. Người là nhà viết tiểu sử mà chúng ta hoàn toàn tín thác vào sự chính xác của Người bởi vì chỉ có Người nhìn thấu suốt tâm hồn chúng ta. Người thấy ở đó những tổn thương và đau buồn, những tì vết và tật nguyền, những hy vọng và khát khao của chúng ta. Đức Giêsu nhìn vào người gian phi và thấy những mảnh vụn đau buồn của đời anh, và động lòng trắc ẩn, thương xót anh.
Người gian phi tốt lành đem lại niềm hy vọng cho tất cả chúng ta, nhưng đặc biệt cho những người mà đến cuối đời không có gì để khoe mình ngoài những việc làm của bóng tối. Cho dù là giờ thứ mười một, người ta vẫn còn có khả năng để ánh sáng mặt trời chiếu vào. Nhờ lòng nhân hậu tuyệt đối của Người, Đức Giêsu biến đổi bóng tối thành ánh sáng.
Sự cứu chuộc luôn luôn là một ơn của Thiên Chúa. Người ban một cách quảng đại nhất cho những người (giống như người gian phi tốt lành) biết mình nghèo khó và cầu xin với đôi bàn tay không và tâm hồn trông cậy.

 

TN34-C7. PV/716 – Nhân Từ

Vào một đêm khuya ơ Dublin, một cô y tá vội vã đi dọc theo một bến cảng để đón xe buýt: TN34-C7

Vào một đêm khuya ơ Dublin, một cô y tá vội vã đi dọc theo một bến cảng để đón xe buýt, bỗng cô thấy một thanh niên đang nằm trên vỉa hè ngay phía trước cô. Anh ta có vẻ bị bệnh hoặc bị thương. Cô dừng lại để xem cô có thể giúp gì cho anh ta. Nhưng khi cô cúi xuống, anh ta nhảy dựng lên và giật cái túi xách của cô. Cô ghì chặt lại. Sau đó một cuộc chiến đấu xảy ra. Đến một lúc nào đó, hai cặp mắt gặp nhau. Thình lình, người thanh niên buông ra và nói : Ồ, cô có phải là y tá O’Reilly !”
Họ bắt đầu chuyện trò thân mật. Thì ra trước đó ít lâu, anh ta phải vào bệnh viện vì bị gãy chân, và y tá O’Reilly đã rất tử tế với anh ta. Anh hỏi cô định đi đâu. Cô nói cô định đón xe buýt. Anh ta đưa cô đến trạm xe buýt và chờ cho đến khi xe buýt đến. Rồi xin lỗi những gì đã xảy ra, anh ta nói lời chào.
Đó là một câu chuyện có thật. Nó dạy chúng ta điều gì ? Có lẽ bài học chính là : Người ta không bao giờ hoàn toàn đánh mất mình trong điều xấu chừng nào người ta còn nhận ra lòng nhân từ và đáp lại nó.
Một đôi khi chỉ cần nhìn sự nhân từ tỏa sáng nơi một người khác đủ để người ta khám phá ra sự nhân từ ấy nơi chính mình. Một kỷ niệm tốt đẹp sẽ cứu được một số tính cách  vào những lúc quyết định. Sự thấu cảm là điều kêu gọi một người quay lưng lại bóng tối.
Nếu đêm hôm ấy, một người phụ nữ khác đi dọc theo bến cảng thì người thanh niên sẽ không hành động như thế. Anh ta sẽ cướp giật người ấy và không cảm thấy hối hận vì đã làm thế. Nhưng vì là một người mà bản thân anh có kinh nghiệm là một cô y tá tốt lành, anh không thể tìm thấy điều gì làm anh đối xử tồi tệ với cô. Lòng nhân từ của cô làm cho anh ta thấy điều xấu anh đang làm. Điều gì còn quan trọng hơn nữa : sự việc làm cho anh ta nhận thức khả năng của mình về lòng nhân từ. Nó đánh thức chút nhân từ vẫn còn sót lại trong anh.
Câu chuyện trên nhắc chúng ta đôi điều về sự gặp gỡ giữa Đức Giêsu và các gian phi trên núi Canvariô. Một gian phi đã hoàn toàn lạc mất trong bóng tối của điều xấu đến nỗi không còn thích ánh sáng. Người kia nhận ra ánh sáng của lòng nhân từ của Đức Giêsu và đáp lại lòng nhân từ ấy.
Người gian phi tốt lành nhận ra rằng Đức Giêsu vô tội. Và hơn thế nữa, người ấy còn bênh vực Người trước người gian phi kia. Anh ta là người duy nhất làm chứng về sự vô tội của Đức Giêsu. Lòng nhân từ của Đức Giêsu làm cho anh nhìn thấy cuộc đời anh ta quả là xấu nhưng cũng đánh thức lòng nhân từ đã mất của anh ta. Anh ta quay về với Đức Giêsu, nhận biết rằng Người là Đấng duy nhất có thể giúp anh trong phút cuối cùng của đời mình. Và Đức Giêsu đã không làm cho anh thất vọng.
Dĩ nhiên, Đức Giêsu là vua, nhưng là một loại vua lạ lùng. Người đã đến không phải để chinh phục mà để hoán cải, không phải để thống trị nhưng để giải phóng, không phải để chỉ huy nhưng để phục vụ. Người đã chết như một tội phạm, nhưng trị vì từ trên thập giá. Người đáp lại điều xấu nhất với điều tốt nhất trong Người. Tại sao Người không phản ứng lại những kẻ xử Người ? Thi sĩ Seamus Heaney nói về thứ “quyền lực không được thi hành bằng quyền lực”.
Tất cả những gì chúng ta có thể làm là lặp lại lời thánh Phaolô đã nói : “Hãy cảm tạ Chúa Cha, Đấng đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái ; trong Thánh Tử, ta được ơn cứu chuộc, được tha thứ tội lỗi”.

 

TN34-C8. SCĐ/841 – Giêsu Vua

Một triết gia đã đưa ra một nhận định rất bi quan : “Homo homini lupus” : con người là lang: TN34-C8

Một triết gia đã đưa ra một nhận định rất bi quan : “Homo homini lupus” : con người là lang sói của con người. Lang sói là một loài thú dữ, bản tính thích tấn công, cắn xé và giết chóc. Thế mà loài người lại giống với loài thú dữ đó, luôn luôn tấn công nhau, cấu xé và giết chóc nhau.
Bởi vậy một sử gia đã đưa ra một kết luận tương tự với nhận định bi quan của triết gia trên : lịch sử loài người là một chuỗi những cuộc chiến tranh liên tiếp nhau. Từ khi có loài người trên mặt đất này cho đến nay, có mấy khi mà loài người được hưởng thái bình ? Hầu hết thời gian lịch sử của loài người đều là chiến tranh. Gần đây nhất là 2 cuộc thế giới đại chiến, cuộc thứ nhất kéo dài từ năm 1914 đến 1918, làm cho 8.700.000 người chết ; cuộc thứ hai từ năm 1939 đến năm 1945, giết chết trên 40 triệu sinh mạng nữa. Và hiện nay cả loài người đều phập phồng lo sợ sẽ xảy ra một cuộc đại chiến lần thứ 3 với những vũ khí hạt nhân. Lần này không phải chỉ có 8.700.000 người chết hay 40 triệu người chết mà là tất cả mọi người, trái đất sẽ nổ tung, toàn thể loài người sẽ bị tiêu diệt.
Tại sao loài người chúng ta, một loài người có trí khôn, biết suy nghĩ, một loài cao hơn tất cả mọi loài vật khác mà lại cư xử với nhau một cách ngu xuẩn như vậy ? Thưa vì trong con người chúng ta vừa có tính thú vừa có tính người ; tính thú thì giống như loài lang sói hung dữ cấu xé lẫn nhau, còn tính người là có trí khôn biết suy nghĩ, biết tính toán. Khi buông trôi theo tính thú thì loài người chiến tranh với nhau ; và nếu con người lại dùng cái trí khôn ngoan của tính người để phục vụ cho cái tính thú kia thì con người lại càng dã man hung dữ làm hại nhau còn hơn loài lang sói đích thực nữa. Điều đáng tiếc là trong hầu hết lịch sử quá khứ, con người đã buông theo cái tính thú đó. Vì thế mà lịch sử loài người đã là lịch sử của một chuỗi những cuộc chiến tranh liên tiếp nhau.
Cho nên trong bối cảnh giữa 2 cuộc chiến tranh thế giới làm chết hàng mấy chục triệu sinh mạng con người như thế, ngày 11.12.1925, Đức Giáo Hoàng Piô XI đã thiết lập lễ Chúa Kitô Vua, mục đích là để cầu nguyện cho loài người thôi đừng buông theo tính thú mà cấu xé lẫn nhau, các nước đừng nuôi mộng bá chủ hoàn cầu mà chinh chiến với nhau ; nhưng mọi người hãy suy phục vương quyền của Chúa Kitô và xây dựng vương quốc của Ngài, Đức Giáo Hoàng coi đó là chấm dứt chiến tranh.
Sở dĩ loài người cứ luôn làm hại làm khổ lẫn nhau là vì loài người còn sống theo cái tính thú trong mình. Vậy nếu muốn cho loài người hòa thuận với nhau để cùng nhau chung hưởng thái bình thì loài người phải sống theo cái tính người, gồm có những đức tính mà Chúa đã dạy chúng ta trong Tin Mừng. Con người sống đúng là con người. Chúa Giêsu gọi đó là sự thật ; còn ngôn ngữ phụng vụ hôm nay thì gọi đó là vương quyền, vương quốc của Chúa Kitô. Nước Chúa. Ai sống theo những giá trị Tin Mừng để thành người hơn thì người đó thuộc về Nước Chúa ; ai giúp cho người khác sống theo những giá trị Tin Mừng ấy thì người đó đang mở mang Nước Chúa ; và khi mọi người, dù có đạo hay không có đạo, đều sống theo những giá trị Tin Mừng ấy, thì đó là thời Nước Chúa đã trị đến.
Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ. Giáo Hội đặt lễ Chúa Kitô Vua vào Chúa nhật cuối cùng này, cũng có ý nghĩa : đó là ước nguyện sao cho cuối cùng tất cả mọi người đều ở trong Nước Chúa, một nước chỉ có hòa thuận yêu thương, một nước thái bình hạnh phúc.
Phần mỗi người chúng ta, hãy cố gắng xứng đáng là một công dân Nước Chúa, nghĩa là biết sống đúng tính người, sống theo lương tâm, sống hòa thuận, yêu thương, làm việc lành theo lời dạy của Tin Mừng. Chúng ta cũng hãy cố gắng mở mang Nước Chúa bằng cách làm cho thêm nhiều người khác cũng biết sống hòa thuận yêu thương, sống theo lương tâm và làm việc lành như vậy.

 

TN34-C9. SCĐ/846- Cám Dỗ

Vua Cảnh Công nước Tề, một hôm lên chơi núi Ngưu Sơn. Nghĩ rằng có ngày sẽ phải chết và: TN34-C9

Vua Cảnh Công nước Tề, một hôm lên chơi núi Ngưu Sơn. Nghĩ rằng có ngày sẽ phải chết và giang sơn gấm vóc lại lọt vào tay kẻ khác, vua liền trào nước mắt tiếc thương. Đoàn tùy tùng thấy vua khóc cũng khóc theo. Duy chỉ có An Tử là chúm miệng cười. Vua chau mày hỏi : - Tại sao người ta ai cũng khóc cả, mà nhà ngươi lại cười
An Tử trả lời :
- Nếu các vua đời trước mà sống, thì vua ngày nay hẳn còn phải mặc áo tơi đội nón lá. Nhờ thế sự thăng trầm mà nay đến lượt vua được mặc áo gấm, đội mũ ngọc. Thế mà vua lại khóc. Thấy đấng làm vua bất nhân, bầy tôi siểm nịnh, tôi không cười sao được ?
Vua trần gian có thần dân để cai trị, có quan quân để sai khiến, có tiền của mỹ nữ để truy hoan.
Chúa Giêsu trái lại, Người không làm vua theo kiểu thường tình ấy. Người đã khẳng định : “Nước tôi không thuộc về thế gian này”. Vì thế, cung cách của vị vua Giêsu hoàn toàn mới lạ. Tin Mừng hôm nay sẽ nói lên tính cách Vương Quyền ấy của Người.
Dưới hình thức nhạo báng của các thủ lãnh Do thái, của lính tráng, của bản án treo trên thập giá, đã nói lên vương quyền của Chúa Giêsu : “Hắn đã cứu được người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, người được Thiên Chúa tuyển chọn” “Đấng Kitô” chính là người được xức dầu, là tước hiệu của vua. “Người Thiên Chúa tuyển chọn” chính là tước hiệu Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. Nhất là lời tuyên xưng của người trộm lành đã nói lên vương quyền của Người : “Khi nào về Nước của Người, xin nhớ đến tôi”.
Tuy nhiên, Nước của Chúa Giêsu không nhằm tư lợi cá nhân như các thủ lãnh khiêu khích, cũng không để ra oai quyền uy như bọn lính thách thức. Nước của Người là Nước Tình Yêu, vương quyền của Người là để phục vụ. Vì thế, Người đã không “xuống khỏi thập giá” cách ngoạn mục, nhưng đã “kéo mọi người” lên với Người. Người đã không “cứu lấy chính mình”, nhưng đã “cứu lấy mọi người” khỏi chết muôn đời nhờ cái chết của Người.
Người đã sẵn lòng chịu chết giữa hai tên gian phi, như lời Kinh thánh rằng : “Người đã hiến thân chịu chết và bị liệt vào hàng phạm nhân”. Người đã hòa mình trong đám người tội lỗi, đã chịu chung số phận của họ, Người đã sống và đã chết giữa đám tội nhân, như lời đồn đại về Người : “Bạn của người thu thuế và phường tội lỗi”.
Vâng, vương quyền của Người không cai trị bằng sức mạnh biểu dương, nhưng chinh phục bằng “khối” tình yêu thương. Chính vì thế mà Người đã chiến thắng cơn cám dỗ cuối cùng, là lời thách thức xuống khỏi thập giá, để sẵn lòng chịu chết hầu cứu chuộc con người tội lỗi, chính là thần dân của Người.
Thần dân đầu tiên mà vị vua có vương miện là mão gai, và ngai vàng là gỗ thánh giá đã chinh phục, chính là người trộm lành. Giữa lúc những kẻ trước đây tung hô vạn tuế nay lại nhạo báng Người, giữa lúc các môn đệ thề sống chết với Người nay lại bỏ trốn hết, thì chỉ có một mình anh, người trộm lành, lên tiếng bênh vực Người : Anh mắng người trộm dữ : “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này có làm điều gì trái !” Anh tỏ lòng kính sợ Chúa và ăn năn sám hối, đó là thái độ của người sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ.
Hơn nữa giữa lúc chương trình của Chúa Giêsu dường như thất bại, không còn hy vọng cứu vãn ; giữa lúc thập tử nhất sinh, gần kề cái chết, thì chỉ mình anh, người trộm lành, đã tin vào Chúa, tin vào sự sống đời sau, và tin vào vương quyền của Người. Anh cầu nguyện : “Lạy Ngài, khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. Người nhận lời tức khắc : “Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.
Một lời hứa mà Người chưa hề ban cho ai dù đó là người thân tín và yêu quí nhất của Người.
Một lời hứa được thực hiện ngay tức thì, không đợi đến sáng Phục sinh hay ngày thế mạt.
Một lời hứa đi vào vương quốc của những người công chính, qui tụ quanh vua Giêsu vinh hiển.
Lời hứa ban hạnh phúc cho anh trộm lành chính là cuộc sống thân mật với vua Giêsu, mà anh đã chia sẻ số phận của Người trên thập giá. Cuộc đời của anh tưởng chừng như vĩnh viễn khép lại, nhưng chỉ với một chút niềm tin trong anh bừng sáng, một lòng sám hối chân thành, đã khiến cửa trời rộng mở, đón tiếp anh thênh thang bước vào. Chính từ khi anh trộm lành nhận ra người tử tù bị đóng đinh là vua trời, nhận ra sự sống trong cõi chết, phục sinh trong tử nạn, thì vua Giêsu tiếp tục lan rộng cuộc chinh phục đến viên đại đội trưởng khiến ông cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa : “Người này quả thật là công chính”.
Và trong suốt 2000 năm qua, Người vẫn luôn đón nhận vào trong vương quốc tình yêu của Người ; những thần dân biết duy trì tinh thần hiệp nhất, phục vụ và yêu thương. Chỉ những ai biết sám hối ăn năn, tin nhận vào quyền năng và tình thương của Chúa như anh trộm lành, mới được vào trong vương quốc của Người. Chỉ những người biết kính sợ Thiên Chúa và tin tưởng vào sự sống đời sau mới được ban cho Nước Trời.

 

TN34-C10. Vương Quốc Tình Yêu

Benjamin Franklin, một con người say mê sách vở, đã viết một tấm bia cho chính ông, mà ông: TN34-C10

Benjamin Franklin, một con người say mê sách vở, đã viết một tấm bia cho chính ông, mà ông hy vọng rằng nó sẽ được đặt trên phần mộ của ông. Tấm bia như thế này: "Thân xác của Benjamin Franklin, tựa như bao bìa của một cuốn sách cũ, những gì của nó bị xé bỏ và tẩy đi cả chữ khắc mạ vàng của nó nữa, và nó nằm đây cho dòi bọ; nhưng tác phẩm của nó sẽ không bị mất, vì nó sẽ được tái hiện một lần nữa trong hình thức mới với nhiều vẻ đẹp huy hoàng hơn, và được tu sửa bởi tác giả, như nó đã tin.
Franklin đã nói đúng: "Tác phẩm của ông sẽ không bị mất!" Benjamin Franklin cũng không bị mất! Quí bạn sẽ không bị mất! Cả tôi cũng không bị mất! Thiên Chúa, Cha chúng ta, sẽ không bỏ rơi chúng ta. Đức Kitô, Vua chúng ta, đã hứa cho chúng ta được vào Vương Quốc Tình Yêu muôn thuở của Ngài trong đời sống mới.
Vương Quốc Tình Yêu được thể hiện qua tình yêu của chúng ta đối với mọi người. Qua cảm nghiệm của tình yêu, ở nơi đây và trong lúc này, Thiên Chúa nhân từ đã ban cho chúng ta một chút cảm nghiệm của sự toàn hảo để vào Nước Tình Yêu Vĩnh Hằng của Ngài. "Chúa Giêsu đến không chỉ mang nhân loại vào thiên đàng, nhưng còn mang thiên đàng vào trong nhân loại; lại nữa không chỉ mang nhân loại ra khỏi địa ngục, nhưng còn mang địa ngục ra khỏi nhân loại."
Thật là lạ lùng cao cả thay những chương trình và mục đích Mầu Nhiệm của Thiên Chúa! "Đây là Vua dân Do-thái," những chữ này có thể nhìn thấy nơi bảng viết được treo phía trên đầu Chúa Giêsu trên Thánh Giá. Vua gì? Chắc chắn không phải con người đầy thương tích và máu me bị án phạt dã man đã bị treo trên Thánh Giá! Thưa Vâng! Chính là Con Người này! Người đã nhận lấy dụng cụ xử hình mà biến đổi thành biểu ngữ hy vọng chiến thắng của sự nhân từ.
Trong sách Samuel, chúng ta đọc thấy Chúa phán cùng Đa-vít rằng, "Ngươi sẽ là người dắt dân Israel của Ta, và ngươi sẽ là lãnh tụ của chúng. Bởi đó họ đã xức dầu tấn phong Đa-vít làm vua Israel ... và ông đã cai trị suốt 40 năm trên toàn Israel và Giuđa" (2 Sam. 5:3,5). Kể từ đó Giáo Ước giữa Thiên Chúa, Vua Đa-vít, và toàn dân được thiết lập, và Giao Ước đó ngày nay vẫn còn uy quyền.
Hiện nay, ở Jerusalem, Pari, New York, Madrid, Morocco, Buenos Aries, trên toàn thế giới, và ngay tại đây, Đức Kitô, Con Vua Đa-vít, được xưng tụng là Vua Kitô! Vua Kitô đã mang ý nghĩa đến cho sự hiện hữu vô lý và không quan trọng mỗi người chúng ta. Vua Kitô bảo đảm cho chúng ta rằng bất sự gì là sự thật, tốt lành, và đẹp đẽ -- bất kể nó bị xem như hiện nay bị đả bại -- thì sẽ được bào chữa và hoàn hảo khi Thiên Quốc ngự đến.
"Nước Ta không thuộc thến gian này," Chúa Giêsu đã nói với Philatô như thế. Vương Quốc của Đức Kitô không xây dựng như những vương quốc trần ai khác. Vương Quốc của Đức Kitô không xây trên nền móng những hiến pháp, sắc lệnh, súng ống, và khủng bố, cũng không dựa trên những giao tiếp xã hội mơ hồ, như những nhà chính trị triết gia đặt nó. Không, Vương Quốc của Đức Kitô được thiết lập trên Giao Ước Tình Yêu. Nhưng thế giới chưa được sẵn sàng để sống bằng Giao Ước này. Chỉ khi nào Tình Yêu Thiên Chúa hoàn toàn ngự trị trong mỗi tâm hồn và đời sống của mọi người thì Vương Quốc đó sẽ toàn vẹn. Thời gian đó sẽ đến! Thiên Chúa đã hứa như thế.
Qua cuộc chiến thắng sự chết của Chúa Giêsu, Quyền Lực Hồi Sinh của Thiên Chúa đã ban phát. Từ khi sự chết bị đánh gục, sợ hãi không còn thị oai hay đánh ngã được những ai sống trong Chúa nhờ đức tin. Chúng ta, con dân của Giao Ước tin tưởng rằng: cùng một Thiên Chúa, Đấng đã làm Chúa Giêsu phục sinh từ cõi chết cũng sẽ nâng dậy tất cả những ai tin nơi Ngài.
Như một điệp khúc được lập đi lập lại nhiều lần trong Phúc Âm, Chúa Giêsu dạy rằng sự toàn hảo của chúng ta là vô kỷ và vị tha. Chúa Giêsu nói, "Hãy yêu tha nhân như chính Ngài đã yêu chúng ta." Chúa Giêsu đã dạy bài học này, bằng lời nói cũng như việc làm cho tới hơi thở cuối cùng trên Thánh Giá. Ngài bị treo giữa hai tên cướp, mà một kẻ thì chỉ lo cho riêng thân mình, còn người kia lại tỏ lộ sự lo lắng cho Chúa Giêsu. "Chúng ta chỉ phải trả cho những gì chúng ta đã làm," người ấy nói, "Nhưng ông này đã làm gì sai đâu." Bởi đó mà Chúa Giêsu dù đang hấp hối cũng đã trả lời, "Ta bảo thật: ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên Thiên Đàng với Ta" (Lk. 23:43).
Có một câu chuyện ở Đông Phương kể rằng có một người đàn ông kêu xin từ vực sâu địa ngục cho được thả ra. Ông ta bị hỏi là đã làm được gì tốt khi còn sống. Ông ta chỉ có thể nhớ có một việc duy nhất là ông đã không giết một con nhện khi ông tản bộ trong vườn. Ngay lúc ấy một sợi tơ nhện mong manh màu bạc được thà xuống cho ông. Ông vội vã nắm thật chặt vào sợi tơ và ông đã từ từ kéo lên khỏi nơi khốn khổ ấy. Lúc bấy giờ, những người cùng khổ với ông, thấy ông được cứu thoát, cũng vội bám vào áo và chân ông ta, và thế là mọi người được kéo lên. Song ông ta sợ rằng sợi tơ bạc mỏng manh ấy sẽ bị đứt nên ta đã la lên, "Bỏ ra! Buông tôi ra!" Và khi những người kia buông ông ta ra, sợi tơ cũng bị đứt theo và thế là tất cả lại tỏm xuống địa ngục. Mặc dầu sợi tơ nhện bền đủ để nâng tất cả mọi người lên nhưng lại không đủ chắc để chịu sức nặng của một linh hồn ích kỷ.
"Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến tôi khi Ngài vào nước Ngài." Chúa Giêsu nhìn rõ chúng ta là ai và yêu chúng ta như chúng ta là: Con cái yêu dấu của Thiên Chúa.

 

TN34-C11. Đức Giêsu, vua tình yêu- Lm. Jos. Phạm Thanh Liêm

Ngày Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo Hội mừng kính trọng thể Đức Yêsu Kitô: TN34-C11

Ngày Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo Hội mừng kính trọng thể Đức Yêsu Kitô Vua.
Vua: người trổi vượt trên tất cả
Vua là người trổi vượt hơn người khác, thắng được tất cả, nên có quyền trên người khác. Lịch sử Việt Nam cho thấy, sau “ngàn năm nô lệ giặc Tàu” Đinh Bộ Lĩnh là người đầu tiên thắng được các sứ quân và là vị vua đầu tiên “Đinh Tiên Hoàng”. Ngày nay khi người ta nói vua bóng đá, người ta nhắc tới người chơi bóng đá rất giỏi và trổi vượt hơn người khác, chẳng hạn như Pélé và Maradona. Khi nhắc tới môn cờ vua, người ta nhắc tới tên những vua cờ như Karpov và Kasparov.
Đức Yêsu là Vua. Ngài là vua các vua, ngài làm vua cả hoàn vũ này, vì mọi quyền năng trên trời dưới đất đều đã được ban cho Ngài (Mt.28, 18). Đức Yêsu chấp nhận thân phận con người trọn vẹn, Ngài bất lực như tất cả mọi người khi Ngài đang sống đời tại thế, nhưng khi Ngài chấp nhận cái chết ô nhục trên thập giá, Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại, và ban cho Ngài quyền năng trên tất cả trời và đất. Đức Yêsu là vua cả hoàn vũ này.
“Chính để anh em được tự do mà Đức Yêsu đã giải phóng anh em” (Gl.5, 1). Với tình yêu và bằng tình yêu, Đức Yêsu đã giải phóng chúng ta khỏi tất cả, để chúng ta được tự do và làm chủ tất cả. Tình yêu giải phóng chúng ta khỏi nô lệ, và giúp chúng ta làm chủ, làm vua và là người tự do.
Đức Yêsu: người “yêu” trổi vượt tất cả những người đang yêu
Thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu ở Colôsê cho thấy Thiên Chúa biểu lộ quyền năng và tình yêu của Ngài nơi Đức Yêsu. Đức Yêsu là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình. Nhờ Ngài, mọi vật được tạo thành, hữu hình hay vô hình. Mọi vật được tạo thành nhờ Ngài và cho Ngài. Ngài là đầu của Giáo Hội, là người đầu tiên sống lại từ cõi chết. Ngài hoà giải tất cả với Thiên Chúa trong máu Ngài.
Đức Yêsu trổi vượt trên tất cả vì yêu. Ngài là vua tình yêu, không ai yêu mãnh liệt như Ngài. Ngài dám chết, để người Ngài yêu được sống. Ngài hiến mạng Ngài, để thành lương thực nuôi dân Ngài. Ngài để lại cho họ một mệnh lệnh rất đơn sơ: hãy yêu nhau như Ngài yêu họ: “Cứ dấu này mà người ta nhận biết các con là môn đệ của thầy, là các con yêu thương nhau” (Ga.13, 35). Ngài không đòi con người làm điều gì khác ngoại trừ yêu thương, ngài muốn tất cả những người thuộc về Ngài làm mọi công việc vì yêu thương. “Yêu thương là chu toàn tất cả lề luật”.
Trước những lời nhạo báng của những người ghét Ngài, Ngài vẫn không oán hận. Ngài tha thứ. Ngay trong những lúc cùng quẫn nhất, Ngài vẫn luôn độ lượng, quên mình để yêu thương người khác: “hôm nay, ngươi sẽ ở trên Thiên Đàng với Ta”. Lời của Đức Yêsu cũng là lời tình yêu, đem lại an ủi và ban bình an.
Con vua lại được làm vua: chúng ta được mời gọi làm vua
Vua là nét đặc trưng của Thiên Chúa. Thiên Chúa có quyền trên tất cả, Ngài thống trị vũ trụ, vì vũ trụ đều do Ngài tạo dựng, tất cả phải tùng phục Ngài. Thiên Chúa khi tạo dựng nên con người, Ngài đã trao cho con người sứ mạng và quyền thống trị trên cá biển chim trời (St.1, 28). Làm chủ vũ trụ này, là sứ mạng của con người và của mỗi người chúng ta.
Thiên Chúa là Cha chúng ta, Ngài tạo dựng chúng ta qua cha mẹ mỗi người chúng ta. Ngài không tạo dựng chúng ta như những người nô lệ, nhưng như những người tự do, để chúng ta làm chủ vũ trụ này, để chúng ta được cai trị vũ trụ này. “Con vua lại được làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”. Chúng ta là con Thiên Chúa, Ngài cho chúng ta quyền thống trị trên mặt đất, và Ngài muốn chúng ta làm chủ vũ trụ này với lý trí và tài năng Ngài ban cho chúng ta.
“Được làm vua, thua làm giặc”. Người thắng, làm chủ, làm vua. Người thua, làm nô lệ, làm tôi đòi. Thiên Chúa muốn chúng ta làm chủ, Ngài không muốn chúng ta làm nô lệ, Ngài mời gọi chúng ta chiến thắng chính con người chúng ta, chiến thắng những khuynh chiều xấu nơi mỗi người. Nếu chúng ta thua, chúng ta làm nô lệ cho những khuynh chiều hạ đẳng, chúng ta làm nô lệ xác thịt, nô lệ tiền bạc, nô lệ danh vọng hão huyền. Thiên Chúa muốn chúng ta chiến thắng, Ngài muốn chúng ta làm vua với Ngài, với Đức Yêsu Kitô.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Điều gì quý nhất Đức Yêsu đã làm cho bạn?
2. Cách hành xử của bạn có giống cách hành xử của Đức Yêsu không, khi có ai chọc tức làm cho bạn muốn nổi khùng, hoặc khi bạn bị oan ức? Trên đời, liệu có ai có cách hành xử giống cách hành xử của Đức Yêsu không?
3. Nếu được gọi Đức Yêsu với một tước hiệu mà bạn ưng ý nhất, thay vì gọi Đức Kitô Vua thì bạn gọi Ngài bằng tước hiệu nào?

 

TN34-C12. Suy Niệm của Nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay
 

Bài Phúc Âm Lễ Chúa Kitô Vua hôm nay không phải là bài kể lại việc Chúa Giê-su vào thành: TN34-C12

Bài Phúc Âm Lễ Chúa Kitô Vua hôm nay không phải là bài kể lại việc Chúa Giê-su vào thành Giêrusalem và được đón tiếp như một vị Vua. Nhưng việc dùng bài đọc hôm nay cho thấy rằng vương vị của Chúa Giê-su là tình yêu và hy sinh chứ không phải là quyền lực và thống trị.
(c. 35) Kẻ thù của Chúa Giê-su thách thức rằng nếu Ngài là "Con Thiên Chúa", thì có thể tự cứu sống mình và sẽ không chết. Nhưng ngược lại, bởi vì Ngài chính thực là "Con Thiên Chúa" nên Chúa Giê-su sẽ chịu chết trong sự vâng phục thánh ý Chúa Cha.
(c. 35) Sự thách đố của kẻ thù của Chúa Giê-su giống như sự thách đố của Satan. Trong cả hai trường hợp, Chúa Giê-su bị cám dỗ tránh né sự chết, chối bỏ thập giá. Cùng trong cả hai trường hợp, Chúa Giê-su đều chiến thắng vinh quang.
Trớ trêu thay, khi nhạo báng Chúa Giê-su chính họ lại tuyên xưng những căn tính của Ngài: Đấng Kitô của Thiên Chúa, Đấng Được Tuyển Chọn, Vua dân Do-Thái và Đấng Cứu Chuộc nhân loại.
(c. 42) "khi nào Ngài vê đến vương quốc của Ngài": Câu nói này chứng tỏ người gian phi sám hối đã tin tưởng Chúa Giê-su sẽ thống trị sau sự chết. Kẻ tội phạm biết hối cải này đã được tỏ cho biết là Chúa Giê-su đang chết trên thập giá chính thật là một vị Vua và Ngài có thể tha thứ và thương xót mà chỉ một vị vua đích thực mới làm được. Theo thánh Lu-ca, kẻ tội phạm này là người cuối cùng được Chúa Giê-su ban cho một lời trước khi Ngài chết trên thập giá.
Một Điểm Chính
Xuyên qua lịch sử, đã có hàng ngàn và hàng triệu người chết cho vua của họ. Nhưng Chúa Giê-su lại là một vị Vua đã chết cho chúng ta. Ngài chấp nhận bị đóng đinh vào thập giá như một sự vâng phục tuyệt đối thánh ý Cha của Ngài.
Suy Niệm
Làm sao chúng ta có thể giải thích được thái độ thụ động của quần chúng? Họ giống với chúng ta như thế nào?
Kẻ tội phạm biết ăn năn tượng trưng cho chúng ta như thế nào? Anh ta giống chúng ta như thế nào?

 

TN34-C13. Xin Nhớ Đến Tôi

Suy Niệm
 

Đáng lẽ tôi đã được rửa tội từ lâu, nhưng vì vấn đề gia đình và làng xóm nên chưa được. Dù: TN34-C13

"Đáng lẽ tôi đã được rửa tội từ lâu, nhưng vì vấn đề gia đình và làng xóm nên chưa được. Dù vậy tôi rất ư là kitô hữu."
Đó là lời của nhạc sĩ Văn Cao trong một cuộc gặp gỡ riêng tư năm 1990. Cụ đã sung sướng khoe với mọi người như thế, và thẳng thắn nhìn nhận: "Chúng tôi đã được đào tạo, nhờ đức tin và âm nhạc kitô giáo."
"Chúng tôi" ở đây muốn ám chỉ giới trí thức và văn nghệ sĩ thế hệ của cụ.
Đức tin đã thấm vào con người tài hoa ấy, và làm sản sinh những tác phẩm bất hủ.
"Nếu tôi không hiểu Halêluia là gì, thì đã chẳng có bài "Làng tôi", cụ bảo vậy.
Chẳng ai ngờ Văn Cao lại là con người say mê Giêsu, mà là Giêsu trên thánh giá. Từ năm 1954, cụ vẫn treo một thánh giá trước mặt.
Giêsu trần trụi, Giêsu không còn gì. Nhưng đối với Văn Cao, có ai hơn Giêsu?
Bài Tin Mừng trong lễ Chúa Giêsu Vua vũ trụ lại đưa ta về với Chúa Giêsu trên thập giá. Chẳng lúc nào Chúa làm vua rõ bằng lúc này. "Đây là vua người Do thái", tấm bảng ghi như thế. Nhưng kiểu làm vua của Ngài thật khác thường. Không có vương miện, chỉ có vòng gai. Không có cẩm bào, chỉ có trần trụi nhơ nhuốc. Không có câu tán tụng, chỉ có lời nhạo báng khinh chê.
Bị treo trên thập giá, Đức Giêsu nghe những lời mời mọc, ngọt ngào và tinh vi như các cơn cám dỗ buổi đầu. "Nếu ông là Đức Kitô thì hãy cứu lấy mình”. “Hãy xuống khỏi thập giá" (Mt 27,40). Cứu lấy mình là điều Ngài chẳng hề nghĩ đến.
Chính vì Ngài thật là Con của Cha, nên Ngài không tự ý xuống khỏi thập giá như xưa Ngài đã từ chối nhảy xuống từ nóc Đền Thờ.
Đức Giêsu không muốn chúng ta tin Ngài vì những màn trình diễn ngoạn mục. Ngài muốn chúng ta tin, vì Ngài đã buông mình cho Cha, đón nhận cái chết với niềm vâng phục tín thác.
Chính vào lúc hấp hối, mọi sự tưởng như sụp đổ, vị Vua bị đóng đinh lại hé lộ vương quyền của mình cho anh trộm lành có lòng thống hối, tin tưởng. "Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng." Như thế kẻ gian phi lại là người đầu tiên được ơn cứu độ nhờ cái chết thập giá của Đức Giêsu.
Mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ, chúng ta muốn khước từ những thần tượng giả mạo, muốn để Ngài làm vua của vũ trụ lòng mình. Chúng ta muốn đưa Ngài đi vào mọi lãnh vực cuộc sống: văn chương, khoa học, nghệ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội... Cần có đức tin mạnh mẽ mới thấy Chúa Giêsu vẫn không ngừng lôi kéo cả thế giới về với Ngài bằng trăm ngàn nẻo đường bất ngờ, trong đó có nẻo đường của cụ Văn Cao và anh trộm lành.
Gợi Ý Chia Sẻ
Có người cho rằng: "Khoa học kỹ thuật càng tiến bộ, con người càng có nhiều tiện nghi vật chất, thì lòng đạo đức càng sa sút. Nước Chúa như bị thu hẹp lại." Bạn có đồng ý với nah65n xét trên không? Làm sao để tiện nghi vật chất không làm người ta xa Chúa?
Bạn đã làm gì để Nước Chúa đến với tập thể bạn đang sống như gia đình, xứ đạo, cộng đoàn, trường học, nơi làm việc? Bạn có gặp những khó khăn khi xây dựng Nước Chúa trong môi trường sống của bạn không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, Vua vũ trụ nếu Chúa là vua của hơn bốn trăm ngàn linh mục, nếu Chúa là vua của hơn tám trăm ngàn nữ tu, nếu Chúa là vua của một tỉ người công giáo, thì thế giới này sẽ đổi khác.
Chúng con không phải là một lượng men quá nhỏ.
Nếu khối bột chẳng được dậy lên, thì là vì men đã mất phẩm chất.
Chúng con phải chịu trách nhiệm về sự dữ trên địa cầu, có nhiều sự dữ do chính chúng con gây ra.
Chúng con chỉ kêu cầu cho Nước Chúa mau đến, nhưng lại không chịu xây dựng Nước ấy trên trần gian.
Lạy Chúa Giêsu Vua vũ trụ, chúng con thường cố ý thu hẹp vũ trụ của Chúa, giữ chặt Chúa ở trong nhà thờ, nên nhiều nơi vẫn vắng bóng Chúa, dù Chúa đã đến trái đất này từ 2000 năm.
Chúng con sợ Chúa đến làm phiền chúng con, và không cho chúng con được yên ổn.
Ước gì một tỉ người Công giáo chịu để Chúa chi phối đời mình và đưa Chúa đi vào những nơi Chúa chưa hề đến. Như thế vũ trụ này trở thành vũ trụ của Thiên Chúa.

 

TN34-C14. Tên Trộm Lành Và Người Chủng Sinh

Trong mục “Cánh cửa rộng mở” của báo Catholic Digest có câu chuyện rất cảm động về một: TN34-C14

Trong mục “Cánh cửa rộng mở” của báo Catholic Digest có câu chuyện rất cảm động về một chủng sinh. Anh lớn lên trong một gia đình Công giáo. Anh là một tín hữu rất mộ đạo và thường tham gia vào các công việc ở nhà thờ. Anh đi chủng viện để học làm Linh mục.
Trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam, người chủng sinh đó đã bỏ chủng viện và gia nhập đảng chống chiến tranh. Không những thế, anh còn bỏ luôn cả Giáo hội, và còn hơn nữa, anh bắt đầu tìm cách chống lại đức tin và những lý tưởng anh đã một lầm ôm ấp. Càng ngày, anh càng coi tôn giáo như là một kẻ thù. Gia đình anh rất buồn và họ đều mất hy vọng cứu vãn được anh.
Vào một ngày thứ Sáu Tuần thánh, người thanh niên đó lái xe đi ngang một nhà thờ Công giáo. Anh nhận ra tên của linh mục mà anh đã kính trọng được ghi trên tấm bảng ở trước nhà thờ.
Một cái gì đó đã thúc đẩy anh ngừng xe lại và vào trong nhà thờ. Khi anh vừa bước vô thì nghi lễ Suy tôn Thánh giá cũng vừa bắt đầu. Anh ngồi xuống ở hàng ghế cuối hết và nhìn những người lên thờ lạy và hôn Thánh giá trong khi ca đoàn hát bài : “Trong khi người ta đóng đinh Chúa tôi, bạn có ở đó không?”
Một sự việc đáng ghi nhớ đã xảy ra. Người chủng sinh trẻ bỏ đạo đó đã viết lại như sau: “Trong tâm hồn, tôi cảm thấy rất xúc động và tôi bắt đầu khóc. Cố gắng kìm hãm lại cảm xúc, tôi nhớ lại những năm trước đây khi tôi còn là một chủng sinh sống trong sự bình an. Đức tin đơn sơ của những ngày tháng xa xưa , đã bị phủ lấp và nằm chìm sâu kín trong tâm hồn tôi bao năm qua nay vụt bùng dậy. Một sức lực nội tại giục giã bắt tôi phải đứng lên, rời khỏi ghế đang ngồi và đến quì sụp lạy trước Thánh giá và hôn Thánh giá. Vị linh mục trong nhà thờ đã nhận ra tôi và đã đến ôm lấy tôi. Trong ngày đó, tôi lại được tái sinh trong đức tin Công giáo.”
Câu chuyện ở trên rất phù hợp với các bài đọc trong ngày Lễ Chúa Kitô Vua hôm nay. Bài Phúc âm hôm nay thuật lại một người thanh niên mà chúng ta thường gọi là tên trộm lành, đã được ơn trở lại trong ngày thứ Sáu Tuần thánh cách đây hai ngàn năm.
Điều mà Chúa Giêsu đã nói với tên trộm lành trên Thánh Giá cũng chính là điều mà Ngài đã phán với người chủng sinh trẻ: “Amen, Ta nói thật với con... hôm nay con sẽ ở trên Thiên đàng với Ta.”
Chúng ta nhận thấy không có bài đọc nào thích đáng hơn bài đọc hôm nay để kết thúc một năm phụng vụ. Nó tóm tắt lý do tại sao Chúa Giêsu đã đến thế gian. Lý do đó là vì để tỏ lòng tha thứ khoan nhân cho các tội nhân, giống như tên trộm lành và người chủng sinh trẻ.
Điều đó đưa chúng ta đến một điểm áp dụng thực tế trong cuộc sống của mỗi người chúng ta. Chúa Giêsu muốn tha tất cả tội lỗi của chúng ta cho dù tội lỗi của chúng ta có chất đống đến đâu đi nữa. Ngài muốn nói với chúng ta rằng: “Amen, Ta nói thật với con... hôm nay con sẽ ở trên Thiên đàng với Ta.”

 

TN34-C15. Nếu Ông Là Vua- Lm Âu Quốc Thanh

Các thánh sử đều kể lại câu truyện tang thương của cuộc khổ nạn một cách hết sức vắn gọn: TN34-C15

Các thánh sử đều kể lại câu truyện tang thương của cuộc khổ nạn một cách hết sức vắn gọn, mặc dù trong truyền thống Do Thái tường thuật những vụ tử vì đạo rất tỉ mỉ ( 2 Macc 7:3-19). Phúc âm theo thánh sử Luca kể lại cách sơ sài sự kiện một tử tội mang danh là Giêsu thành Nazareth đang hấp hối trên cây thập giá. Thánh Luca còn bỏ cả chi tiết cho ông Giêsu uống rượu pha mật đắng. (Mk 15:22; Mt27:33). Tuy nhiên trong bài trích Phúc âm cho Lễ Chúa Kitô Vua hôm nay, thánh Luca đã tỉ mỉ nói lên bốn phản ứng của những người hiện diện tại đồi Golgotha để chứng minh con người và căn tính siêu việt của Chúa Giêsu.
Thái độ thứ nhất là thái độ dửng dưng của những người qua đường. Là khách bàng quang, họ đến xem cho biết chuyện gì đang xảy ra. Thánh Luca phân biệt rõ những người dân và các vị lãnh đạo. Đám dân thường chỉ đứng quan sát sự việc cách thụ động. Họ không biết rõ căn tính và con người ông Giêsu. Chính vì thế mà họ được ơn thống hối ăn năn. (Lc 23:48)
Còn hàng lãnh đạo tôn giáo thời đó thì chủ động nhạo báng ông Giêsu. Họ không tin ông Giêsu là Vua dân Do thái, đấng được tuyển chọn để cứu dân Chúa khỏi ách thống trị của tội lỗi và sự dữ. Họ chế nhạo : “Nếu ông là vua dân Do thái. ông hãy tự cứu mình đi.” Họ hiểu “Vua” theo nghĩa trần gian, một vị lãnh đạo chính trị sẽ giải thoát dân Chúa thoát ách thống trị của Đế quốc Rôma. Một tử tội đang hấp hối trên thập tự không thể giúp họ thực hiện ước mộng đó của họ.
Thái độ của người trộm dữ cũng giống như thái độ của đám lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ. Hắn buông lời hằn học và sỉ nhục: “Nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa.” Hắn biết mình đã rơi vào tình trạng “thập tử nhất sinh” và biết chẳng còn ai có thể cứu mình khỏi chết. Có thoát lời thóa mạ ai cũng chẳng thiệt thòi gì hơn. Đối với hắn, chết là hết.
Nhưng người trộm lành đã thực sự được ơn giải thoát khỏi sự ngu muội và sự không tin. Hắn nhận ra Đức Giêsu là người vô tội nhưng lại bị án tử hình như những kẻ phạm trọng tội như hắn. Hắn nhận ra rằng vị Vua này không phải là một nhà lãnh đạo chính trị, nhưng là một lãnh đạo tinh thần, và nước của Ngài chính là thiên đàng vĩnh cửu. Chính vì được ơn giác ngộ và thống hối, hắn đã thốt lên lời đầy tin tưởng: “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi.” (Bản dịch mới của nhóm Phiên Dịch VN, 1998, có lẽ chính xác hơn: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Người trộm lành đã kêu đích danh của Chúa Giêsu, danh hiệu có nghĩa là “Chúa chữa.” Chính vì niềm tin nơi Chúa Giêsu, người trộm lành đã được tha thứ mọi lỗi lầm và được hưởng phúc thiên đàng.
Chúng ta là những Kitô hữu có lẽ chúng ta không bao giờ dám nhạo báng Chúa Giêsu như tay trộm dữ và những vị lãnh đạo cứng lòng tin. Cùng lắm khi vì tính yếu đuối xác thịt để cho mình rơi vào tình trạng dửng dưng với Chúa Kitô và công việc của Giáo Hội, nhiệm thể của Ngài. Đôi khi chúng ta muốn Chúa Giêsu trở thành một vị lãnh đạo chính trị giải thoát chúng ta khỏi những đau khổ phần xác và những bất công xã hội. Bằng chứng của lòng mong ước này là phong trào thần học giải phóng, là phong trào phụ nữ bình quyền... Dĩ nhiên khi còn ở thế gian, Chúa Giêsu đã cứu chữa biết bao nhiêu tật nguyền và đả phá những hủ hóa của giới lãnh đạo. Nhưng Ngài đã không giải phóng dân Israel khỏi ách thống trị Rôma và không làm phép để giải vòng vây cho chính Ngài. Lý do: vì Ngài không phải là Vua trần gian. Như Chúa Giêsu nói rõ với Philatô khi Ngài bị bắt: “Nước ta không thuộc về thế gian này.” (Ga 18:36) Nước của Ngài là Thiên đàng mai sau, chỉ có nơi đó mới không còn đau khổ phần hồn phần xác, không còn áp bức và bất công xã hội.
Chắc hẳn, chúng ta đều muốn được ơn giác ngộ và trở lại như người trộm lành. Chúng ta muốn tôn thờ Chúa Giêsu là Vua của vũ trụ và là vị Vua của từng tâm hồn mỗi người. Lời nguyện nhập lễ trong thánh lễ Chúa Kitô Vua: “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã muốn quy tụ muôn loài dưới quyền lãnh đạo của Đức Kitô là Người Con Chúa hằng ưu ái, và là Vua toàn thể vũ trụ. Xin cho hết mọi loài thọ sinh đã được cứu khỏi vòng nô lệ tội lỗi biết phụng thờ Chúa là Đấng cao cả uy linh và không ngớt lời ngợi khen chúc tụng.”

 

TN34-C16. Chúa Giêsu, Vua Tình Yêu - Lm Bùi Quang Tuấn

Năm 1925, Đức Thánh Cha Piô XI đã thiết lập ngày lễ Chúa Giêsu Vua, đồng thời ban sắc lệnh: TN34-C16

Năm 1925, Đức Thánh Cha Piô XI đã thiết lập ngày lễ Chúa Giêsu Vua, đồng thời ban sắc lệnh truyền dạy Dân Chúa khắp nơi mừng lễ này vào Chúa Nhật cuối cùng của tháng Mười. Trong một bản tông huấn, Đức Thánh Cha cho biết lý do ngài thiết lập ngày lễ Chúa Kitô Vua: thế giới cần một nền hòa bình chân thật, nhưng hòa bình đó chỉ có được dưới triều đại của Đức Kitô là Vua Tình thương và Hoàng tử Bình an.
Về sau, khi có cuộc cải cách Phụng vụ, một số ngày lễ được thay đổi, một số khác không còn lưu lại trong lịch. Riêng lễ Chúa Kitô Vua được dời qua Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vu, tức Chúa nhật thứ 34, trước khi bước vào mùa Vọng, khởi đầu một chu kỳ mới.
Một linh mục đã nhận xét: Suy tôn Chúa Giêsu Vua là việc làm hoàn toàn chính đáng và mang nhiều ý nghĩa, vì quả thực, Ngài đã chào đời như một quân vương và lìa đời như một đức vua.
Nhớ lại ngày Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, ba đạo sĩ phương Đông đã tìm đến dâng các lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Vàng là món quà tượng trưng cho vương quyền. Thế nên, từ thuở ấu thơ, Ngài đã được nhìn nhận như một đức vua. Và rồi, trong những giờ phúc cuối cùng của cuộc sống làm người, Đức Giêsu cũng được suy tôn như vị quốc vương cao cả.
Thói thường khi quân Rômma đóng đinh ai cũng đều kèm tho một tấm bảng ghi rõ tội danh của kẻ phạm pháp. Riêng trường hợp Đức Giêsu, quan Philatô muốn chế nhạo người Do thái bằng cách cho treo trên đầu Ngài tấm bảng có hàng chữ “Đây là Vua dân Do thái.” Việc làm này đã vô tình khẳng định tính cách vô tội và vương quyền thực sự của Đức Giêsu: Ngài không có tội để ghi và Ngài chính là Hoàng đế (x. Thomas Kemp, Homilies on the Sunday Gospel).
Việc làm vô tình của Philatô lại được một tên tội phạm nhận biết và tuyên xưng.
Số là trên đồi Gôlgotha lúc bấy giờ có hai tên trộm cướp cùng chịu đóng đinh với Đức Giêsu. Các thủ lãnh và đoàn thể dân chúng cười nhạo Ngài. Quân lính thì mắng nhiếc chế diễu. Cả một trong hai tên gian phi cũng khiêu khích sỉ nhục. Trong mớ âm thanh hỗn độn, hằn học, và thù nghịch ấy lại dội lên một vài ngôn từ đáng suy nghĩ.
Ngay trên khổ giá của mình, người gian phi thứ hai đã quan sát Đức Giêsu và suy nghĩ về những ngôn từ đó. Anh ta thấy trong bao lời trách mắng về Ngài đều hở ra những câu như : “Nếu là Đức Kitô”, “Nếu là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn”, “Nếu là Vua Do thái”. Anh ta ngước nhìn và đợi chờ những lời nguyền rủa đáp trả hay những tia nhìn hận thù giáng xuống đoàn lũ dưới kia. Thế nhưng, những gì anh thấy được lại là “Đức Giêsu ngước mắt lên trời”, và những gì anh nghe được lại là “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm.”
Chính việc “thấy” và “nghe” kia đã hình thành trong anh một cảm xúc kính phục chân thành. Anh thương người chịu đóng đinh bên cạnh. Anh thương người chịu đóng đinh bên cạnh. Anh thấy mình bị khổ nhục là đích đáng. Nhưng con người kia đâu có hận thù, tham lam, độc ác gì. Trái lại, dù trong cảnh thê lương sầu thảm, dù khổ đau đang giằng xé từng hơi thở, dù mặt mũi hình hài tan nát mất hết hình tượng, nơi con người Giêsu đó vẫn toát lên tình thương và lòng khoan dung tha thứ. Thế rồi anh can đảm lên tiếng bênh vực cho Ngài: “Ông này đâu có làm gì sai trái.” (Lc 33:41). Và xa hơn, anh còn khám phá ra vương quyền của Ngài khi thành khẩn nài xin: “Lạy Đức Giêsu, xin nhớ đến tôi, khi Ngài đến trong Nước của Ngài.” (Lc 23:42).
Làm sao trong cảnh hấp hối tột cùng của Đức Giêsu và của chính mình mà anh “trộm lành” lại cất lên được lời thỉnh cầu như thế? Phải chăng khi rơi vào vòng xoáy của sự chết, anh đã cố bám víu bất cứ thứ gì có thể bám được? Điều gì đã giúp anh, ngay giữa lằn ranh của sự sống và sự chết, gặp thấy dung mạo của một quốc vương, Đấng đang bước vào vương quốc của mình ngay trên thập giá?
Một nhà thần học trả lời: Tình thương đã giúp anh khám phá Vua Giêsu. Chính lòng yêu người, xót thương cho kẻ bị oan ức, đã giúp anh gặp gỡ Vua Tình yêu.
Mà tình yêu sẽ tồn tại muôn đời anh xác tín như thế. Cho nên, dù vật vã với đớn đau của thân xác, anh vẫn nhận ra tình yêu đang hiện hữu bên mình. Tình yêu đó đang rộng lòng tha thứ, xóa hận thù, và mang lại bình an. Niềm xác tín gia tăng cường độ khiến miệng anh bật lên lời nài van: “Xin Ngài nhớ đến tôi.”
“Ngày hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta” (Lc 23:43). Không lời nào yên ủi cho người sắp chết bằng lời đó. Hận thù đã gây nên chiến tranh, phân ly. Nhưng tình thương lại luôn bắt cầu liên kết. Anh trộm lành chỉ xin Chúa Giêsu nhớ đến mình, nhưng Ngài lại hứa ở cùng anh. Nói đến nhớ là nói đến cách xa. Vì yêu nhau nhưng không được gần nhau nên sinh ra nỗi nhớ. Tình yêu có nỗi nhớ là tình yêu chưa được vuông tròn. Còn khi “ở làm một với nhau” thì tình yêu đã thật sự lên ngôi. Trong tình yêu của Thiên Chúa luôn là “nên một” và “ở cùng.”
Trên thánh giá, Chúa Giêsu đã lên ngôi. Ngài bộc bạch chính mình là Đức Kitô, Người Thiên Chúa tuyển chọn, Đấng Cứu Thế, Vua Tình Yêu.
Suy tôn Chúa Giêsu là Vua Yêu thương, nài xin Ngài “nhớ” đến mình trên mọi hành trình dương thế, can đảm bênh vực cho chân lý tình yêu, là ta đang tìm thấy hòa bình và sự sống phong phú nơi tâm hồn, gia đình, và thế giới.

 

TN34-C17. Xin nhớ đến tôi - Lm. Bùi Thượng Lưu

Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi.
 

Khung cảnh đồi sọ vào giờ tử nạn của Chúa Giêsu quả thực u ám. Đám đông dân chúng trước: TN34-C17

Khung cảnh đồi sọ vào giờ tử nạn của Chúa Giêsu quả thực u ám. Đám đông dân chúng trước đây theo Chúa, được chứng kiến những phép lạ nhãn tiền như việc Lazarô chết chôn ba ngày được sống lại, phép lạ năm chiếc bánh và hai con cá nuôi năm ngàn người, không kể đàn bà trẻ con, ăn no nê... Chính đám đông đã có lần định tôn Chúa lên làm vua, đã trải áo và ngành ô liu đón mừng Chúa vào thành Thánh Giêrusalem hôm đầu tuần, đám đông ấy đang hùa theo các thủ lãnh và quân lính cười nhạo và chế giễu Chúa: “Nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi, nếu nó thật là Đấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn.” Bên cạnh thập giá Chúa cũng có hai người trộm cướp bị đóng đinh. Một trong hai kẻ trộm sỉ nhục Chúa rằng: “Nếu ông là Đấng Kitô hãy tự cứu Ông và cứu chúng tôi nữa.”
Nếu đứng về khía cạnh và quan điểm của nhân loại, thì quả thực Chúa Giêsu đã hoàn toàn bị thảm bại, đúng như lời than thở của hai môn đệ Emmau: “Về Đức Giêsu Nagiarét, là Đấng tiên tri, có quyền phép trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và cả dân chúng: mà các trưởng tế, các nghị viên ta đã nạp Ngài để xử tử và đóng đinh vào thập giá. Chúng tôi vốn trông mong Ngài sẽ cứu chữa dân Isarel: dầu thể ấy, việc đã xảy ra đã được ba bốn hôm nay rồi.” Nhưng chính vào giây phút tăm tối ấy, một ánh sáng vừa lóe lên. Một người trộm thưa với Chúa: “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi.” Chúa Giêsu đáp: “Ta bảo thật ngươi ngày hôm nay ngươi sẽ ở trên Thiên đàng với ta.” Lời tuyên xưng của người trộm lành vào lúc sắp kết thúc tấn bi kịch thương khó của Chúa đã đảo ngược thế cờ: Chúa Giêsu đã mạc khải cho người trộm lành, cho toàn thể dân chúng, quân lính, các thủ lãnh và toàn dân Isarel đang đứng dưới thập giá: Người là vua nhân hiền, đầy tình thương xót và tha thứ. Nước Người là Nước Trời, Nước Thiên Chúa. Thần dân của Ngài là tất cả những tâm hồn thành tâm thiện chí, biết mở rộng lòng đón nhận Tin Mừng Cứu Độ. Cờ hiệu của Ngài là thập giá đưa đến vinh quang. Hiến pháp của nước Thiên Chúa là giới luật yêu thương: yêu Thiên Chúa hết linh hồn, hết sức, hết trí khôn và yêu thương và anh em đồng loại như chính mình.
Người trộm lành là hình ảnh của cả nhân loại hư đốn và sa ngã, nhưng được cứu thoát nhờ biết nhìn nhận ra Đấng Cứu Chuộc là Vua đầy tình lân mẫn. Đúng như thánh Phaolô đã ca ngợi trong thư gửi cho tín hữu thành Colossê: “Chúa đã cứu chúng ta thoát khỏi quyền lực u tối, đem chúng ta về nước Con yêu dấu của Chúa, trong Người chúng ta được ơn cứu rỗi nhờ máu Người, và được ơn tha tội. Người là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử mọi tạo vật, vì trong Người, muôn loài trên trời dưới đất đã được tác thành, mọi vật hữu hình và vô hình... Mọi vật đã được tạo thành nhờ Người và trong Người và Người có trước mọi loài và mọi loài tồn tại trong Người, Người là đầu thân thể tức là Hội Thánh, là nguyên thủy và là trưởng tử giữa kẻ chết, để Người làm bá chủ mọi loài. Vì chưng Thiên Chúa đã muốn đặt tất cả viên mãn nơi Người, và Thiên Chúa đã giao hòa vạn vật nhờ Người và vì Người, nhờ máu Người đã đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa ban hòa bình trên trời dưới đất.” Vương quyền của Chúa đã được thánh Phaolô tuyên xưng và tung hô. Quả thực, Đức Kitô là đầu và là tận điểm của lịch sử nhân loại: Hội Thánh đã tôn vinh vương quyền Chúa vào Chúa Nhật kết thúc năm phụng vụ.
Trước kia khi còn ở Việt Nam, nhiều gia đình đã có thói quen mời cha xứ đến làm phép nhà mới và đặt tượng Chúa là Vua trong bàn thờ của gia đình. Chính người gia trưởng đã đem tượng Chúa lên bàn thờ, giữa lúc tất cả gia đình, thân tộc và hàng xóm láng giềng đọc kinh tôn vương hay hát bài: “Lạy trái tim Chúa Giêsu, làm vua cai trị mọi loài, xin trái tim Chúa làm vua, cai trị lòng con suốt đời.” Cảm động và ý nghĩa thay hành động nhận Chúa làm vua gia đình và vua tâm hồn chúng ta. Chớ gì thói quen tốt lành ấy được tái diễn ngay trong hoàn cảnh sống mới của chúng ta ở xã hội Âu Mỹ này.

 

TN34-C18. Chúa Kitô, Vua Vũ Trụ - Lm Jos.Phạm Ngọc Ngôn

Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo hội quy hướng về Chúa Kytô với tôn hiệu “Vua: TN34-C18

Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo hội quy hướng về Chúa Kytô với tôn hiệu “Vua các vua, Chúa các chúa” với niềm tin triều đại thái bình, công chính, thánh thiện và hạnh phúc của Thiên Chúa sẽ đến và hết những ai trung tín với Người sẽ được tận hưởng niềm hạnh phúc tuyệt vời ấy trong nước Thiên Chúa.
Đức Thánh Cha Piô XI thiết lập lễ Chúa Kytô, Vua vũ trụ vào ngày 11.12.1925 không nhằm mục đích loan báo với thế giới rằng, chiến tranh và bạo lực không bao giờ là cách thế để làm cho thế giới này bớt xung đột, bớt đi những chết chóc và tội ác. Đồng thời khẳng quyết rằng, thế giới này sẽ bình yên không còn xung đột, tội ác sẽ không còn đất sống nếu nhân loại biết nhìn lên thập giá Chúa Kytô và nhận ra chân lý : chỉ có tình yêu và tha thứ mới chiến thắng tất cả. Chính Chúa Kytô dưới tôn danh “Vua muôn vua” sẽ là mẫu giương cho hết những ai mưu tìm chân, thiện, mỹ.
Không ngẫu nhiên, Tin mừng hôm nay đặt trong bối cảnh đồi Canvê- nơi Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá vì nhân loại, nhằm tôn vinh danh hiệu vương đế của Chúa Kytô. Đây phải chăng là trò hề của những kẻ dại khờ? Vâng, trước mặt thiên hạ, trên đồi Canvê năm ấy, Chúa Giêsu chỉ là một tên tử tội không hơn không kém. Những lời nhục mạ của dân chúng, những khinh khi nhạo cười của thủ lãnh Dothái rồi binh lính và ngay cả lời chê bai đồng tình của tên gian phi, tất cả đều cho thấy Chúa Giêsu đã thất bại, không thể cứu vãn được tình thế!
Tuy nhiên, ngay chính trong hoàn cảnh đen tối ấy, xen giữa tiếng cười man rợ của thủ lãnh Dothái, quân lính và tên gian phi, một ánh sáng loé lên, tiếng nói từ trong trái tim của một con người cùng khốn cất lên khác hẳn với tiếng cười nhạo báng kia : “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm gì trái” và “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Có thể nói anh gian phi này quả là điển hình cho mẫu người biết hối cải, là mẫu mực cho những ai cùng khốn biết nhận ra thân phận tội lỗi của mình và chấp nhận án phạt. Chưa hết, đang khi từ thủ lãnh Dothái, quân lính cho đến dân chúng nhạo báng tư cách làm Vua của Chúa Giêsu mà đối với họ, Chúa Giêsu chỉ là một ông “vua giấy”, ông “vua hề” không hơn không kém, thì chính anh, con người cùng khốn đó lại nhận ra chân dung của một ông Vua uy quyền - Đấng mà anh tin rằng có thể giúp anh sau khi lìa đời. Anh tuyên xưng lòng tin của mình thật khảng khái : “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi”.
Quyền vương đế của Chúa Giêsu không đi từ trong cung điện rực rỡ nguy nga đi ra mà phát xuất từ chính cây thập giá. Lời tuyên bố của Chúa Giêsu với anh trộm lành trên thập giá cho ta thấy Chúa Kytô chính là Vua, chính Người mới có quyền cứu thoát và uy quyền của Người sẽ trở thành hiện thực vào lúc tận cùng của thế gian. Và do đó, cây thập giá không còn là cây khổ hình kinh tởm nữa, nó trở thành cây Sự sống, cây đem lại phúc trường sinh và Đấng treo mình trên đó sẽ quy tụ hết những ai tin theo Người. Chính Người là Vua, là lẽ sống, và là niềm hy vọng của con người.
Mừng lễ Chúa Kytô, Vua vũ trụ là dịp nhắc nhớ chúng ta biết rằng chúng ta có một vị Vua trên muôn vua là chính Đức Kytô. Vương quyền của Chúa Kytô không cai trị bằng sức mạnh, bằng những quân binh hùng tráng nhưng bằng trái tim, bằng tình yêu. Ngai vàng của Ngài không gì khác hơn chính là cây thập giá sần sùi khô cứng và mũ triều thiên của Người chính là vòng gai quấn trên đầu. Và cuối cùng công dân của Người là hết những ai biết chấp nhận thử thách gian lao, hy sinh chính mình vì anh em, vì đồng loại.

 

TN34-C19. Chấp nhận vương quyền của Chúa- Lm Trần Bình Trọng

Có những người mang cái tên họ nhà vua như họ Trần, họ Nguyễn, họ Lý, họ Lê, họ Trịnh, ho: TN34-C19

Có những người mang cái tên họ nhà vua như họ Trần, họ Nguyễn, họ Lý, họ Lê, họ Trịnh, họ Đinh.. Mang cái tên họ hoàng tộc có thể có liên hệ gần hay xa đến hoàng tộc đó, có thể làm người ta hãnh diện hoặc mắc cở với hoàng tộc nào liên hệ. Riêng người công giáo, họ còn thuộc dòng tộc Kitô giáo, mang dòng máu đức tin vào Đức Kitô, vua vũ trụ. Như trong kinh Tiền tụng Chuá nhật Thường niên I, Giáo hội tuyên xưng qua miệng chủ tế: Bởi đó, chúng con được hân hạnh mang danh là giống nòi được tuyển chọn, là hoàng tộc chuyên lo tư tế, là dân thánh, dân riêng của Chúa.
Hôm nay Giáo hội mừng lễ Chúa Kitô vua. Khi quan Philatô hỏi Chúa Giêsu xem Người có phải là vua dân Do thái không? Chúa trả lời đó là ý tưởng của Philatô. Philatô phải hiểu rằng câu trả lời của Chúa có nghĩa là Ngài chối từ danh hiệu là vua dân Do thái. Tuy nhiên Philatô vẫn cho khắc trên Thánh giá dòng chữ: Đây Là Vua Dân Do Thái (Lc 23:38). Thực ra dòng chữ khắc trên Thánh giá là một tính toán sai lầm của Philatô. Bởi vì các thày cả thượng phẩm trong dân không muốn Chúa Giêsu làm vua của họ. Và Chúa cũng không muốn tước hiệu là vua của dân Do thái. Sau khi chứng kiến phép lạ hoá bánh ra nhiều, dân chúng muốn tôn vinh Chúa làm vua. Còn Chúa thì lại không muốn can dự vào việc cai trị một vương quốc trần thế.
Vậy thì vương quốc của Đức Kitô là gì và ở đâu? Theo Phúc âm thánh Gioan, Chúa trả lời Philatô rằng: Vương quốc của tôi không thuộc thế gian này (Ga 18:36). Đứng bên Thánh giá Chúa, ta thấy có hai loại người: một loại chế diễu và nhạo báng Chúa, một loại người khác khóc than và thương tiếc Chúa. Trong số những người khóc than và thương tiếc Chúa, có một người Trộm lành, cũng chịu đóng đinh với Chúa, đã nhận ra được tội lỗi mình. Anh ta có lòng kính sợ Chúa và tin vào sự sống vĩnh cửu. Người Trộm lành có tên là Điđimô nhận ra Đức Kitô đích thực là Con Thiên Chúa và là Vua vũ trụ nên đã xin với Chúa: Lạy Ngài Giêsu, khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi (Lc 23:42). Bằng lời nói đó, người Trộm lành đã tuyên xưng vương quốc và chấp nhận vương quyền của Chúa. Và Chúa hứa với anh ta: Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng (Lc 23:43).
Hôm nay mỗi người cần tự hỏi xem mình có chấp nhận vương quyền của Chúa chưa? Ta có để Chúa làm chủ tâm hồn và đời sống chưa? Ta đã tuyên xưng và loan truyền vương quốc của Chúa như thế nào? Nhận Chúa làm Vua là việc xem ra dễ dàng. Còn để Chúa làm vua và làm chủ tâm hồn và đời sống mình lại là chuyện khác. Để Chúa làm chủ tâm hồn và đời sống có nghĩa là gì? Điều đó có nghĩa là để Chúa làm chủ tư tưởng, lời nói, ước muốn và hành động. Còn khi ta bực mình về những sự việc xẩy ra ngoài ý muốn như mưa bão làm hỏng chương trình đi du ngoạn là ta không muốn để Chúa làm chủ đời sống. Để Chúa làm chủ tâm hồn sẽ gặp khó khăn khi ta được thành công. Còn khi gặp thất bại, người ta sẽ nảy sinh ta hai thái độ: hoặc là hận Chúa rồi bỏ Chúa hay phó thác vào Chúa, để Chúa làm chủ. Có những người nghĩ nếu để Chúa làm chủ, họ sẽ mất đi cái tự do. Những ai đã sống theo đường lối vã thánh ý Chúa, chắc hẳn đã cảm nghiệm được thế nào là tự do của con cái Chúa. Cái tự do đó chính là sự bình an trong tâm hồn. Vậy hiện thời thì ai đang làm chủ tâm hồn và đời sống ta? Có phải Chúa làm chủ đời sống hay ta đã để cho tiền tài, danh vọng, thú vui làm chủ? Ta có mở rộng tâm hồn đón nhận ơn Chúa để quyền năng Chúa có thể biến đồi hay ta vẫn còn chần chừ trong bóng tối của sự chết, tính ích kỷ, đam mê và lười biếng.
Giáo hội thiết lập lễ Chúa Kitô vua để kêu gọi loài người công nhận vương quyền của Chúa trên đời sống cá nhân và gia đình. Lời kêu gọi này rất là cần thiết trong thời đại ta đang sống khi mà những tham lam thế gian và tham vọng trần thế đang lôi kéo tâm trí loài khỏi Thiên Chúa và những lãnh vực thiêng liêng.

 

TN34-C20. Đức Giê-su là Vua của vũ trụ - JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Đức Giê-su là Vua của vũ trụ. Nhưng là Vua theo nghĩa nào? 2. Ngài là Vua của cả vũ trụ. Nhưng: TN34-C20

1. Đức Giê-su là Vua của vũ trụ. Nhưng là Vua theo nghĩa nào?
2. Ngài là Vua của cả vũ trụ. Nhưng thử hỏi: Ngài đã đích thực là Vua của chính bản thân bạn chưa? đã là Vua trong trái tim bạn chưa?
3. Miệng bạn tuyên xưng về Đức Giê-su thế này thế kia, nhưng hành động và cách cư xử của bạn đối với mọi người có tuyên xưng đúng như vậy không?
Suy tư gợi ý:
1. Đức Giê-su là Vua, nhưng là vua theo nghĩa nào?
Trên trần gian này, có nhiều cách làm vua. Có những vị vua hay tổng thống cai trị đất nước với quyền lực trong tay, ngồi trên ngai vàng và ra lệnh, buộc các thần dân phải tuân phục. Có những vị vua không ngai, không lãnh thổ, nhưng làm chủ một lãnh vực kinh tế nào đó trên thế giới. Họ cũng được gọi là vua, như vua dầu lửa (Rockfeller), vua xe hơi (Ford), v.v…
Hôm nay, Giáo Hội suy tôn Đức Giê-su là Vua, không phải chỉ của thế giới này, mà của toàn vũ trụ. Nhưng chúng ta cần phải xác định xem Ngài là Vua theo nghĩa nào? Vì quả thật Ngài chưa bao giờ làm vua theo kiểu các vua chúa ở trần gian, cũng chưa bao giờ làm chủ một lãnh vực kinh tế nào. Ngài là Vua theo một nghĩa hoàn toàn khác.
2. Một phần ba nhân loại tôn Ngài là Vua của tâm hồn mình
Hiện nay trên thế giới, 34,86% nhân loại – tức khoảng 2 tỷ trên 6 tỷ người – là Ki-tô hữu thuộc nhiều giáo phái khác nhau (Công giáo, Tin Lành, Chính Thống…). Họ là những người theo Ngài, làm môn đệ Ngài, đồng thời nhìn nhận Ngài là lẽ sống, là gương mẫu hoàn hảo nhất cho cuộc đời mình, và coi giáo huấn của Ngài là kim chỉ nam cho mọi hành động của mình. Họ theo Ngài chủ yếu không phải vì giáo huấn của Ngài cao siêu, vì nhân cách của Ngài đáng phục nhất (mặc dù họ tin đích thực là như vậy). Họ theo Ngài vì họ tin Ngài là Con Thiên Chúa, là thần linh cao cả vô cùng, lại là người yêu thương họ hơn bất kỳ ai khác trên đời, yêu họ đến nỗi sẵn sàng đau khổ và chết cho họ. Nhất là Ngài là người duy nhất có thể đem lại hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu cho họ.
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy một cảnh tượng cảm động chứng tỏ tình yêu thương vô bờ bến của Ngài đối với nhân loại. Ngài đã chấp nhận một cái chết thật đau khổ và nhục nhã, giữa sự chế giễu của mọi người, vì yêu thương con người. Và câu cuối cùng của bài Tin Mừng là «Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng» cho thấy Ngài có khả năng ban hạnh phúc vĩnh cửu cho con người. Ngài có thể ban hạnh phúc vĩnh cửu cho chúng ta, cho dẫu chúng ta tội lỗi đến đâu, miễn là chúng ta thành tâm sám hối và liên kết chặt chẽ với Ngài.
Tin và cảm nhận được tình yêu thương vô bờ bến của Ngài, nhiều Ki-tô hữu đã tự nguyện đáp lại bằng tình yêu thương của họ. Thế là cuộc đời họ trở nên hạnh phúc và mang một ý nghĩa cao đẹp vì yêu và biết mình được yêu. Tương tự như một cô gái yếu đuối hèn mọn được một chàng trai cao sang để ý yêu thương, yêu thương đến độ sẵn sàng hy sinh tất cả cho mình, kể cả mạng sống. Thế là cô thấy đời mình hạnh phúc và có ý nghĩa hoàn toàn khác trước. Để đáp lại tình yêu cao cả ấy, cô tự nguyện dâng hiến đời mình cho chàng, làm tất cả những gì chàng muốn để chàng được hạnh phúc. Hạnh phúc lớn nhất của nàng là được biết chàng hạnh phúc, vì chính chàng cũng đối xử như thế với nàng. Chàng trở thành vua lòng nàng, và nàng trở thành hoàng hậu của lòng chàng.
Biết bao Ki-tô hữu trên đời đã có một tình yêu song phương như thế đối với Đức Giê-su. Đối với họ, Đức Giê-su chính là vị Vua duy nhất của lòng họ, chiếm trọn vẹn trái tim họ. Họ đã hiến trọn cuộc đời mình để phụng sự Ngài nơi những hiện thân cụ thể của Ngài là những người chung quanh họ, những người họ gặp trong cuộc đời, nhất là những người nghèo khổ nhất, bị bỏ rơi hoặc chịu áp bức bất công nhất trên đời.
Với họ, tình yêu đối với Đức Giê-su được biến thành tình yêu đối với tha nhân. Vì Đức Giê-su đã nhiều lần tự đồng hóa Ngài với những người nhỏ bé nhất, đau khổ nhất trên đời (xem Mt 25,40.45; 10,40; 18,5; Lc 10,16). Hai tình yêu ấy chỉ là hai mặt khác nhau của một tình yêu duy nhất. Đối với họ, sự phân biệt giữa yêu Đức Giê-su và yêu tha nhân chỉ có trong lý thuyết chứ không có trong thực tế của đời sống. Nghĩa là yêu Đức Giê-su thì tất nhiên phải yêu tha nhân, và yêu tha nhân chính là yêu Đức Giê-su. Họ đã yêu Ngài, và phụng sự Ngài trong tha nhân đến mức sẵn sàng chịu tất cả mọi đau khổ có thể xảy đến, thậm chí hy sinh mạng sống mình (điển hình: gương của 2 linh mục Ba Lan Maximilianô Kôlbê và Jerzy Pôpiêlúskô).
3. Đức Giê-su đã là Vua của bản thân ta chưa?
Nếu phải tranh luận về thần học xem Đức Giê-su có phải là Vua của nhân loại, của vũ trụ không, thì chắc chắn biết bao người trong chúng ta sẽ tỏ ra hăng say nhiệt tình như thể sẵn sàng sống chết để bảo vệ luận điểm ấy. Nhưng nếu phải tự xét mình xem Đức Giê-su đã thật sự là Vua của chính bản thân ta chưa, nghĩa là đã chiếm trọn vẹn trái tim ta chưa, đã thật sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của ta chưa, thì chắc chắn rất nhiều người sẽ phải ngập ngừng, hoặc phải trả lời «CHƯA!» Thực tế thật đau lòng: Ngài là Vua của cả vũ trụ, nhưng đời sống và cách hành xử của ta lại chứng tỏ Ngài chưa phải là Vua của chính bản thân ta! Chân lý kia chỉ được ta công nhận trên lý thuyết, chứ không trở thành thực tế trong đời sống. Trong thực tế, vua của tâm hồn ta, thường xuyên ảnh hưởng mạnh mẽ đến những động lực của ta không phải là Ngài, mà là tiền bạc, quyền lực, danh vọng, địa vị, lạc thú, hoặc chính bản thân ta!
Nói một cách cụ thể hơn, nhiều khi miệng chúng ta tuyên xưng rất mạnh mẽ rằng Đức Giê-su là Vua của cả vũ trụ, là Đấng Cứu Độ duy nhất của toàn nhân loại, đồng thời kết án và tẩy chay những ai tuyên xưng bằng miệng khác với chúng ta, dẫu chỉ là một chút… Nhưng hành động và cách cư xử của chúng ta đối với mọi người lại tuyên xưng rất rõ ràng rằng tiền hay quyền bính mới là Vua của vũ trụ, mới là đấng cứu độ duy nhất của nhân loại! Thế mà chẳng ai kết án ta cả?! Liệu tuyên xưng kiểu ấy có phù hợp với tinh thần Ki-tô giáo chăng? Dẫu sao, ta có thể chắc chắn một điều là: nó không phù hợp với tinh thần của Đức Giê-su.
Nếu Ngài chỉ là Vua của thế giới, của vũ trụ, mà không phải là Vua của tâm hồn ta, thì việc tuyên xưng hùng hồn kia ấy có ích lợi gì cho ta? Tuyên xưng thật mạnh mẽ trên lý thuyết, mà thực tế đời sống của ta lại chứng tỏ trái ngược lại, thì sự tương phản ấy chỉ cho thấy sự giả dối hay giả hình của ta thôi! Tôi rất thích lời của tổng thống Bush: «Show, but don’t tell!»: Hãy chứng tỏ (bằng thực tế, bằng hành động) chứ đừng nói xuông!
Trong ngày sau cùng, khi Đức Giê-su phán xét chúng ta như vị Vua của vũ trụ, Ngài sẽ không thèm hỏi ta đã chấp nhận và tuyên xưng những giáo điều nào, những luận điểm nào, hay đã tuyên xưng Ngài là Vua của cả vũ trụ chưa… Ngài chỉ xét chúng ta những điểm rất thực tế: ta đã thực hành ý muốn của Ngài như thế nào? nhất là đã yêu thương và đối xử với Ngài như thế nào qua hiện thân của Ngài là những người chung quanh ta? Ngài có phải là Vua đích thực của chính bản thân ta không?
Thiết tưởng việc sống đạo của chúng ta cần phải xây dựng trên căn bản là thực tế của đời sống, chứ không phải trên lời nói, lý thuyết, sách vở. Có như thế chúng ta mới là «người khôn ngoan xây nhà trên đá» (Mt 7,24). Nhân dịp này, ta thử xét lại xem cách sống đạo hiện tại của chúng ta là «xây nhà trên đá» hay «trên cát»?
Cầu nguyện
Lạy Cha, từ xưa đến nay, con luôn luôn xưng tụng Đức Giê-su là Vua của nhân loại, của vũ trụ, là Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Nhưng hành động của con, cách cư xử và đời sống của con dường như muốn nói rằng không phải như thế. Xin Cha hãy ban cho con nhiều tình yêu hơn nữa, để con đủ can đảm sống đúng những điều con tuyên xưng. Con xin bắt đầu việc tuyên xưng Đức Giê-su là Vua từ ngay trong bản thân con, qua chính cách sống và hành động của con, chứ không phải từ bên ngoài và lời nói xuông. Amen.

 

TN34-C21. Đức Giêsu là Vua của vũ trụ - JKN- 2

Câu hỏi gợi ý:
 

Đức Giêsu hoàn toàn vô tội và hết sức thánh thiện lại cùng chịu chung một hình phạt ghê gớm: TN34-C21

1. Đức Giêsu hoàn toàn vô tội và hết sức thánh thiện lại cùng chịu chung một hình phạt ghê gớm nhất với những kẻ tội lỗi nhất. Bạn nghĩ gì về điều này?
2. Để nâng con người tội lỗi lên hàng thánh thiện, phải chăng Đức Giêsu – vốn đồng hàng thánh thiện với Chúa Cha – phải tự hạ đến mức trở nên đồng hàng với những kẻ tội lỗi nhất của trần gian? Phải chăng đó là cái giá phải trả cho sự cứu chuộc tội lỗi? Ta có thể rút ra bài học gì cho công việc tông đồ của ta?
3. Đức Giêsu là Vua của vũ trụ, điều đó có liên quan hay ảnh hưởng gì tới ta, nếu Ngài vẫn chưa phải là Vua của lòng ta? Ta đã nhận Ngài là Vua của lòng mình thật sự bằng cuộc sống chưa? Hay chỉ bằng những lời tuyên xưng thôi?
Suy tư gợi ý:
1. Bối cảnh bài Tin Mừng
Bài Tin Mừng mô tả cảnh ba tử tội bị hành quyết, trong đó có 2 tên gian phi và 1 thầy đạo. 2 tên gian phi bị tử hình thì cũng đáng đời, họ là những cặn bã xã hội, bị coi là những phần tử xấu xa nhất của con người, cần phải loại trừ. Nhưng thầy đạo Giêsu thì chẳng những hoàn toàn vô tội, mà còn là con người thánh thiện nhất nhân loại, thậm chí nhất vũ trụ. Thật là hai thái cực cùng gặp nhau trong một cảnh ngộ đặc biệt. Chính trong cảnh ngộ này, một trong hai tên gian phi, từ một kẻ đầy tội lỗi, trong phút chốc, đã trở nên vô tội và công chính trước mặt Thiên Chúa, xứng đáng được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Còn tên kia thì «mèo vẫn hoàn mèo», tội lỗi vẫn hoàn tội lỗi. Sự biến đổi nội tâm của tên gian phi diễm phúc ấy sở dĩ thành tựu là do hội đủ hai yếu tố quan trọng này: một đằng là quyền năng cứu chuộc và tha tội của Đức Giêsu, Ngài đã chết như thế là để cứu loài người chúng ta trong đó có hắn; một đằng là niềm tin của tên trộm vào Đức Giêsu và lòng hối cải thành thật của hắn. Thiếu một trong hai yếu tố đó, sự biến đổi hay cứu rỗi không thành tựu được.
2. Đức Giêsu, một vị vua hy sinh và chết cho thần dân mình
Câu chuyện xảy ra mang một ý nghĩa hết sức sâu xa. Đức Giêsu là Thiên Chúa, nhưng để cứu chuộc nhân loại, Ngài đã tự xóa, tự hạ mình từ địa vị Thiên Chúa, mức cao nhất của vũ trụ, xuống đến mức thấp hèn nhất của loài người. Từ Thiên Chúa hạ mình xuống làm người đã là một hành động xóa mình không thể hiểu nổi. Thế mà khi đã làm người, Ngài còn tiếp tục xóa mình hơn nữa bằng cách hạ mình đến cùng tột trong trật tự con người: sinh ra nghèo nàn trong chuồng bò, làm con của một phụ nữ và con nuôi của một ông thợ mộc rất tầm thường về mặt xã hội và tôn giáo thời đó, cả cuộc đời sống rất nghèo nàn, và cuối cùng chết một cách thảm thiết, nhục nhã, dường như mất hết danh dự. Ngài chết không một mảnh quần áo che thân, giữa hai tên trộm cướp: khó có một cái chết của một đạo sư thánh thiện nào lại thê thảm và nhục nhã như vậy.
Như vậy, để nâng phẩm giá con người lên trước mặt Thiên Chúa thì Đấng có phẩm giá cao nhất đã phải tự hạ đến mức tận cùng thấp nhất. Để con người được hạnh phúc thì Đấng hạnh phúc nhất phải chịu đau khổ đến tận cùng. Để thánh hóa con người, Đấng thánh thiện nhất phải hòa mình và trở nên đồng hàng với những con người tội lỗi nhất. Để cứu chuộc con người, Đấng cứu chuộc phải chấp nhận cảnh cùng khốn nhất, nguy hiểm nhất, và vô phương cứu chữa nhất. Để thực hiện công lý, Đấng công bình nhất phải chịu cảnh bất công nhất của con người… Theo luật công bằng, đó là cái giá tất yếu phải trả để cứu chuộc. Và hành động cứu chuộc như thế đó chính là tư cách phải có – theo quan điểm của Thiên Chúa – của một Vị Vua Vũ Trụ, Vua Thế Giới. Muốn là Vua cách xứng đáng nhất thì phải yêu thương và phục vụ đến tận cùng, phải tự xóa mình để mọi tạo vật được nổi bật lên. Chính Thiên Chúa đã tự hạ đến tận đất đen để đưa con người lên tận mây xanh! Đó là đường lối và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa: «Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người» (Mc 9,35; x. Mt 20,26).
Nhờ hòa nhập vào cảnh cùng cực và nhục nhã của hai tên gian phi, Ngài đã tạo cơ hội cho hai tên này được cứu rỗi. Không vào hang cọp, làm sao bắt được cọp? Không ra khơi, làm sao bắt được cá? Người muốn cứu rỗi linh hồn mọi người, mà không chịu ra khỏi tháp ngà đầy nhung lụa của mình để đến với họ, cứ đòi họ phải đến với mình, làm sao cứu ai được? Làm tông đồ kiểu đó, chắc chắn không phải là tông đồ của Đức Giêsu. Nếu Ngài cũng như ta, đòi ai muốn được cứu phải lên trời gặp Ngài, Ngài mới cứu, thì liệu chính ta có được cứu không?
3. Hai yếu tố quan trọng để được cứu rỗi hay nên thánh
Cùng chịu đóng đinh bên cạnh Đức Giêsu, hai tên gian phi đều có cơ hội được cứu rỗi như nhau. Nhưng họ có được cứu rỗi hay không còn tùy thuộc vào chính bản thân họ có thiện chí và có muốn được cứu hay không. Cũng như trước hai dĩa đồ ăn như nhau, cả hai đều có cơ hội no bụng như nhau, nhưng no hay không còn tùy thuộc vào việc họ có chịu ăn đồ ăn đó hay không. Không ai có thể ăn dùm ta mà ta no được! Việc cứu rỗi cũng thế, cũng tùy thuộc hai yếu tố: «Có Trời mà cũng có ta» (Nguyễn Du). Thiên Chúa đã làm đủ mọi sự để ta có thể được cứu rỗi, sẵn sàng ban đủ ân sủng để ta nên công chính, nhưng ta có được cứu, được nên công chính hay không, còn do ta nữa. Thánh Âutinh nói: «Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta. Nhưng để cứu rỗi ta, nếu ta không cộng tác, Thiên Chúa không thể thực hiện được». Không có ta cộng tác, Thiên Chúa đành chào thua! Việc nên thánh, việc tông đồ, hạnh phúc gia đình và bản thân, việc làm ăn… của ta ở đời này cũng thế, thành công hay thất bại một phần do hoàn cảnh khách quan, và một phần do chính bản thân ta.
Để được cứu, được nên công chính trước mặt Thiên Chúa – như trong trường hợp của hai tên gian phi kia – xem ra quá dễ dàng, thế mà chỉ có một người được cứu. Vấn đề không hệ tại ai tội lỗi hay tốt lành hơn ai, chưa chắc tên trộm được Chúa tha thứ kia trước đó đã phạm ít tội ác hơn tên kia. Vấn đề cốt yếu nằm ở chỗ: có tin vào quyền năng và lòng nhân từ của Thiên Chúa, của Đức Giêsu, và có thật sự muốn sống theo niềm tin đó hay không. Đức Giêsu nói: «Ai tin sẽ được cứu độ; còn ai không tin sẽ bị kết án» (Mc 16,16); Phaolô nói với viên cai ngục: «Hãy tin vào Chúa Giêsu, thì ông và cả nhà sẽ được cứu độ» (Cv 16,31). Niềm tin không chưa đủ, còn phải sống theo niềm tin ấy, là tinh thần của Tin Mừng: «Nhờ Tin Mừng đó, anh em được cứu thoát nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo; bằng không thì anh em có tin cũng vô ích» (1Cr 15,2); «Ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng?» (Gc 2,14).
4. Đức Giêsu có thật sự đang là Vua của lòng ta không?
Theo tinh thần trên thì Đức Giêsu có làm đủ mọi thứ cho ta để ta được cứu rỗi cũng trở nên vô ích cho ta nếu không có sự tự nguyện cộng tác của ta. Cũng vậy, Đức Giêsu có là Vua của vũ trụ, có xóa mình tự hạ, có yêu thương và hy sinh chết cho ta cả trăm lần đi nữa cũng vô ích cho ta, nếu ta không nhận Ngài là Vua của lòng ta, và ta không sống đúng tinh thần từ bỏ mình và yêu thương của Ngài. Thật vậy, ta chỉ nhận được sức mạnh từ nơi Ngài khi nào ta từ bỏ mình đi trước mặt Ngài, để Ngài hoàn toàn làm chủ bản thân ta, và ta hoàn toàn sống theo thánh ý của Ngài. Điều rất nghịch lý nhưng lại rất đúng là chỉ khi nào ta để Ngài làm chủ bản thân ta, thì ta mới thật sự làm chủ bản thân mình. Vì Ngài mới chính là bản thân đích thực của ta: «Thiên Chúa còn thân mật với tôi hơn chính bản thân tôi» (Thánh Âu Tinh), nghĩa là Ngài là tôi hơn chính tôi.
Nếu không để Ngài làm chủ bản thân ta, thì kẻ làm chủ bản thân ta sẽ là dục vọng hay ý ngông của ta. Và vì bản thân ta đã bị hư hoại bởi tội nguyên tổ và tội riêng, nên kẻ âm thầm làm chủ dục vọng hay ý ngông của ta lại chính là ma quỷ. Vì thế, rất nhiều khi ta tưởng ta đang làm theo ý muốn của ta, nhưng rốt cuộc là ta đang làm theo ý muốn của ma quỷ, là kẻ luôn luôn muốn làm hại ta.
Nhân dịp Giáo Hội mừng kính Đức Giêsu là Vua Vũ Trụ, ta cần nghiêm túc xét lại xem ta đã thật sự để Ngài làm Vua của tâm hồn ta chưa? Nếu chưa, hãy thống hối và quyết tâm để Ngài làm Vua thật sự của ta. Việc làm Vua của Ngài trong tâm hồn ta phải được thể hiện thật sự và cụ thể trong cuộc sống, chứ không chỉ qua lời tuyên xưng xuông của ta.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, con vẫn tuyên xưng Cha là Thiên Chúa, tuyên xưng Đức Giêsu là Vua cả vũ trụ. Nhưng trong thực tế của đời sống con, dường như Cha chưa phải là Thiên Chúa của lòng con, Đức Giêsu chưa phải là Vua của lòng con. Có lẽ vua của lòng con từ xưa tới nay vẫn là danh vọng, tiền bạc, quyền hành, lạc thú chứ chưa phải là Đức Giêsu. Thực tế là như thế, nhưng con lại không đủ can đảm để nhìn nhận thực tế đó để ăn năn hối cải. Con vẫn chưa sống thực với chính mình. Chính vì thế, con chưa được sống trong bình an và hạnh phúc đích thực của Cha. Xin cho con biết thật sự nhận Cha là Thiên Chúa của bản thân con, và nhận Đức Giêsu là Vua của lòng con, trong thực tế hằng ngày của đời sống con.

 

TN34-C22. ĐỨC GIÊSU , VUA VŨ TRỤ - Lm Augustine S.J

Vào thời Đức Giêsu, dân Do Thái mong chờ Đấng Mêsia. Đây là một vị vua sẽ đứng lên giải: TN34-C22

Vào thời Đức Giêsu, dân Do Thái mong chờ Đấng Mêsia. Đây là một vị vua sẽ đứng lên giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của người Roma. Trong niềm háo hức cuồng nhiệt đó, có lúc người ta đã tưởng Đức Giêsu chính là vị vua mà toàn dân trông đợi. Sau phép lạ bánh hoá nhiều, dân chúng định tôn Ngài lên làm vua, nhưng Ngài lại rút lui trên núi một mình (Ga 6,15). Khi ở trước toà, Philatô hỏi: "Ông có phải là vua của người Do Thái không?" Đức Giêsu chỉ đáp lại: "Chính quan nói điều đó." (Lc 23,3). Như thế Đức Giêsu không nhận mình là vua theo nghĩa chính trị. Ngài không phải là người gây rối trong nước hay ngăn cản nộp thuế cho Xê-da (Lc 23,2). Ngài chẳng bao giờ công khai xưng mình là Vua Mêsia, vì tước vị này có thể gây ra nhiều hiểu lầm trong dân chúng. Vậy mà Ngài đã bị đóng đinh trên thập giá với bản án "Đây là vua của người Do Thái" (Lc 23,38). Ngài đã chết như một tội phạm chính trị.
Hôm nay khi mừng lễ Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ, phụng vụ mời gọi chúng ta chiêm ngắm Đức Giêsu bị treo trên thập giá giữa hai kẻ gian phi. Đức Giêsu phục sinh hôm nay là Vua theo một ý nghĩa hết sức đặc biệt. Ngài không chỉ là Vua dân Do Thái, Ngài là Vua của cả vũ trụ mà Ngài đã tạo dựng. Đức Giêsu phục sinh vẫn không ngừng xây dựng Nước của Ngài, vẫn không ngừng thu hút cả nhân loại về với Ngài (Ga 12,3). Bất cứ ai "đứng về phía sự thật" thì nghe tiếng Ngài và trở nên thần dân của Ngài (x. Ga 18,37). Rồi đến ngày tận thế, Đức Kitô sẽ trao lại vương quyền cho Thiên Chúa Cha sau khi đã tiêu diệt mọi thế lực chống đối Thiên Chúa, và cuối cùng Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài (x. 1C 15,24-28).
Một Vị Vua vâng phục
Đức Giêsu trên thập giá là vị Vua bị lăng nhục, là đấng Mêsia bị thách thức. Trong cái nhìn của Luca, dân chúng không góp phần vào việc kết án Đức Giêsu. Trên đường lên Núi Sọ, có đám đông dân chúng đi theo, trong số đó có các phụ nữ khóc than và đấm ngực (Lc 23,27). Khi Đức Giêsu đã bị đóng đinh, thì thái độ của dân là "đứng nhìn" trong sự lặng lẽ kính cẩn (Lc 23,35).
Ngược lại với thái độ của dân là thái độ của ba hạng người khác: các thủ lãnh cười nhạo, lính tráng chế diễu, một trong hai kẻ gian phi nhục mạ Đức Giêsu, chúng ta cần cảm mến nỗi đau trên thân xác Đức Giêsu, nhưng cũng không được quên nỗi đau tinh thần của Ngài. Những lời chế giễu cũng là những thách thức và cám dỗ gay gắt. Đây là cơn cám dỗ cuối cùng trong đời Đức Giêsu, không phải là cám dỗ vui hưởng lạc thú êm đềm của bậc sống hôn nhân, nhưng là cám dỗ về sự vâng phục và tín thác đối với Cha.
Ba lời nói mỉa mai trước Đức Giêsu chịu đóng đinh khiến ta nhớ đến ba cơn cám dỗ vào buổi đầu sứ vụ "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy biến viên đá này thành bánh" (Lc 4,3). "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống đi" (Lc 4,9). Đó là cơn cám dỗ của ma quỷ. Còn bây giờ là cơn cám dỗ của con người. "Nếu ông là Đức Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn", "nếu ông là Vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi" (Lc 23,35.37). "Tự cứu mình", đó là cơn cám dỗ vẫn thường xảy ra. Cứu mình khỏi cơn đói cồn cào hay cứu mình khỏi nỗi đau và cái chết. Dùng quyền năng Cha ban để tự cứu mình, tự lo liệu cho đời mình, đứng ngoài sự xếp đặt của Thiên Chúa.
Đức Giêsu bị cám dỗ xuống khỏi thập giá để minh chứng cho mọi người thấy Ngài thật là Đức Kitô, là Mêsia mà bao người mong đợi. Cơn cám dỗ quá đỗi tinh vi và hấp dẫn! Chỉ cần xuống khỏi thập giá là chinh phục được bao con người, từ giới lãnh đạo đến những người chưa tin. Chỉ cần xuống khỏi thập giá là gặt hái ngay được một chiến thắng huy hoàng, một thành công rực rỡ, nhờ đó Cha được tôn vinh nơi Con; ở lại thập giá là làm tan vỡ biết bao hy vọng đã được thắp lên trong những năm qua, là làm tắt đi niềm tin mới được nhen nhúm.
Nhưng Đức Giêsu đã không xuống khỏi thập giá, như trước kia Ngài đã từ chối nhảy xuống từ nóc Đền Thờ. Cả hai đều là những hành vi ngoạn mục và gây ấn tượng. Đức Giêsu không muốn chúng ta xây đức tin trên cái ngoạn mục, vì như thế vẫn còn là ở bình diện tự nhiên. Ngài muốn chúng ta tin vào Ngài, dù Ngài là kẻ đã chết trơ trụi trên thập giá. Đức Giêsu không tự cứu mình, chính vì Ngài thật là Người được Thiên Chúa tuyển chọn. Vì Ngài là Con mà Ngài không tự lo liệu cho mình, Ngài buông đời mình trong tay Cha. Bởi thế, việc Đức Giêsu ở lại trên thập giá trong sự vâng phục đầy tình con thảo lại là một dấu chỉ hùng hồn cho thấy Ngài thuộc trọn về Cha: Ngài không tìm mình nên Ngài là người đáng tin. Đức Giêsu "đã cứu người khác" (Lc 23,35), kể cả việc cải tử hoàn sinh, vì đó là ý Cha. Nhưng Ngài không tự cứu mình, vì Cha muốn Ngài cứu độ nhân loại qua việc hiến dâng mạng sống. Đức Giêsu là vị Vua Mêsia đầy lòng vâng phục trước Thiên Chúa, vâng phục đến chết (Pl 2,8)
Một vị Vua nhân hậu
Chính vào lúc Đức Giêsu hấp hối trên thánh giá, giữa những lời lăng nhục và thách thức, thì tiếng nói của anh "trộm lành" bất ngời vang lên, làm ta ngây ngất. Anh chấp nhận hình phạt: "chúng ta chịu như thế này là đích đáng". Anh nhìn nhận tội mình đã phạm: "vì xứng với việc đã làm". Anh tuyên xưng sự vô tội của Đức Giêsu: "Còn ông này đâu có làm điều gì trái". Điều lạ lùng hơn nữa là anh đã tuyên xưng niềm tin của mình vào Đức Giêsu, tin Ngài là Đấng Mêsia-Vua vào lúc mà mọi sự dường như sụp đổ: "Ông Giêsu ơi! Khi ông trở lại trong tư cách là vua, xin nhớ đến tôi." Như thế trong cái nhỉn của người trộm lành, cái chết nhục nhã của Đức Giêsu trên thập giá không phải là một dấu chấm hết. Anh vẫn tin có ngày Ngài đến trong nước của Ngài, và anh mong được dự phần trong ngày đó.
Đức Giêsu đã ban ơn quá lòng anh ước ao. Ngay khi còn ở trên thánh giá, vị vua bị đóng đinh đã hé lộ vương quyền của Ngài qua một lời hứa long trọng. Bossuet đã viết: "Hôm nay: nhanh biết mấy! Ở với tôi: thân tình biết mấy! Thiên đàng: nơi an nghỉ miên trường." Như thế người trộm lành là người đầu tiên được hứa ban ơn cứu độ; Kẻ gian phi lại là người đầu tiên được hưởng hoa trái của cái chết trên thập giá của Đức Giêsu. Tất cả nói lên lòng nhân hậu của Vua Giêsu đối với những người bị gạt ra ngoài lề xã hội. Vị Vua bị đóng đinh đã bắt đầu cuộc chinh phục của Ngài trên các tâm hồn. Sau khi Ngài tắt thở, viên bách quản đã nhìn nhận Ngài là người công chính, và dân chúg cũng đấm ngực mà lui về (Lc 23,47-48).
Đức Giêsu làm vua một cách khác thường. Ngài không thống trị bằng sức mạnh nhưng Ngài phục vụ bằng yêu thương. Cho đến ngày tận thế, Ngài vẫn thu hút con người đến với Ngài. Thập giá là nơi vương quyền Ngài tỏ lộ mà không sợ bị hiểu lầm. Chúng ta cần ngắm nhìn Đức Giêsu chịu treo, để biết cách chinh phục thế giới. Thế giới hôm nay dễ rung động trước lòng tha thứ, yêu thương và sự phục vụ của chúng ta. Chẳng cần thi thố những hành vi ngoạn mục và đạt được những thành công vượt mức, chúng ta vẫn có thể làm chứng cho Đức Kitô bằng sự vâng phục và kiên nhẫn trong khổ đau.
Mừng lễ Đức Giêsu Kitô Vua vũ trụ, chúng ta muốn khước từ những thần tượng giả mạo, muốn để cho Ngài chiếm trọn từng khoảnh khắc của cuộc đời, từng rung động nhỏ của con tim. Ước gì qua chúng ta mà Chúa Kitô có mặt ở mọi lãnh vực khoa học, ở mọi nền nghệ thuật, ở giữa chốn chợ đời xô bồ và bon chen. Ước gì chúng ta cộng tác với Ngài để làm cho vũ trụ này càng ngày càng trở thành vũ trụ của Thiên Chúa.
Một số câu hỏi gợi ý
1. Có người nhận xét: "Khoa học kỹ thuật càng tiến bộ, đời sống con người càng có nhiều tiện nghi vật chất thì lòng đạo đức lại sa sút, Nước Chúa như bị thu hẹp lại…" Bạn có đồng ý với nhận xét trên không?
2. Chúng ta thường thấy mình bị quyến rũ bởi bạc tiền, quyền lực và khoái lạc: Đó là những ông vua đang được thế giới tôn thờ. Làm sao thoát khỏi sự quyến rũ ấy và đón nhận Vua Giêsu vào đời mình, một vị Vua đơn sơ khiêm hạ và hiến mình vì yêu thương?

 

TN34-C23. CHÚA KITÔ VUA - Lm Vũ Khắc Nghiêm

2 Sm 5:1-3; Cl 1;12-20; Lc 23:35-43
 

Họa sĩ Louis David đã vẽ một bức tranh thời danh về cái chết của Socrate: : một con người: TN34-C23

Họa sĩ Louis David đã vẽ một bức tranh thời danh về cái chết của Socrate: một con người tráng kiên, một tay chỉ lên trời, một tay giơ ra cầm chén thuốc độc, mặt quay nhìn các môn đệ với ánh mắt sáng ngời. Ông mặc chiếc áo vải thô, sống rất tầm thường, khác với bọn ngụy biện ăn mặc sang trọng để lôi cuốn dân thủ đô Athen. Ông cũng khác với các hiền triết xưa: ông không có chức vụ gì quan trọng. Ông bị Quốc hội Athen Hy lạp văn minh nhất thời đó kết án phải uống thuốc độc chết, vì tội đầu độc thanh niên và tôn sùng vị thần khác với các thần của thành phố (năm 470-399 trước công nguyên).
Suốt đời ông rảo khắp đất nước rao giảng chân lý với đôi chân trần chai sạn. Mục đích của ông giúp thanh niên thức tỉnh, tự truy tìm chân lý ở nội tâm mình: “Anh hãy tự biết mình” (Connais-toi toi même) bằng phương pháp đối thoại gợi ý (maieutikê). Tự biết mình để giải thoát mình khỏi những thành kiến sai lầm, những độc đoán ngụy biện, những chính sách chính trị. Trước khi chết, ông đã cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cho con sự trong sáng nội tâm (“Mon Dieu, donne-moi la purité intérieure”). Triết gia Hégel đã gọi ông là “anh hùng của nhân loại” (héro de l’humanité). Giáo sư Didier Julia gọi ông là điển hình của một tông đồ đem lại tự do chân chính. Socrate đã làm chấn động tận gốc những tập tục cổ hủ, và chuẩn bị lương tri con người đón nhận một sứ điệp khác: Sứ điệp Kitô giáo (Dictionnaire de la philosophie: Larousse). Platon , môn đệ của ông, đã chứng kiến cái chết của Socrate, đã tôn thầy mình là Đấng sáng lập nền trí thức tình yêu, về Thiên Chúa, về lời mời gọi đi tới huyền nhiệm. Socrate là “vạn tuế tư phụ của Tây phương” cũng như Khổng tử là “vạn tuế sự biểu của Đông phương.”
Còn Đức Giêsu là “vạn tuế vương đế của thế giới”. Cũng như Socrate, Đức Giêsu là thường dân áo vải, đã rảo khắp đất nước và các lân bang để rao giảng chân lý: chân lý về tình yêu muôn thuở, về mầu nhiệm nước trời, về Thiên Chúa là Cha nhân lành hằng ban sự sống vinh quang để giải phóng con người khỏi nô lệ cổ truyền bất nhân, khỏi gông cùm sự dữ. Những chân lý đó đánh bật tận gốc những tham vọng ích kỷ, hẹp hòi, đê tiện của các tầng lớp xã hội bất công. Các chân lý đó giống như luật lệ chống tham nhũng, chống mafia. Những ai can đảm thực thi những luật lệ chân chính đó đều bị bọn tham ô và mafia diệt trừ.
Đức Giêsu là Vua công chính, lại bị bọn bất chính kết án tử hình. Bọn bất chính đó là các thủ lãnh trong hàng ngũ biệt phái, sađốc, thương tế, tư tế và quyền đời như Hêrôđê và Philatô. Họ đang đắc thắng nhạo báng Đức Giêsu rằng : “Hắn cứu được thiên hạ, có giỏi thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô, được Thiên Chúa tuyển chọn.” Họ đã biết rõ Người cứu thiên hạ, đã chữa bao nhiêu bệny nhân, cho những kẻ chết sống lại, trử khử quỷ ám. Nhưng họ kiêu ngạo chụp mũ Người đã dùng tướng quỷ mà trừ quỷ, kết án Người là kẻ tội lỗi vì cứu chữa bệnh nhân trong ngày nghỉ Sabát, ghép Người vào hàng ô uế tội lỗi và bọn thâu thuế. Họ cho mình trong sạch, không đi lại với dân ngoại, không động đến kẻ phong cùi, đến kẻ bị cướp đánh nửa sống nửa chết nằm giữa đường. Và khi đã đóng đanh Người, họ còn bất nhân, tàn nhẫn chế nhạo và thách thức Người. Họ như thằng quỷ cám dỗ Người khi Người ăn chay 40 đêm ngày: “Nó đến nói với Người: Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho hòn đá này hóa bánh”. Họ cũng giống những người Nazaret nói với Người: “Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm ở Capharnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào” (Lc 4: 3-23). Trước những lời mỉa mai đó, Đức Giêsu đã lặng thinh. Người không tự bào chữa. Người để họ tố cáo Người như một kẻ bất lực, bất tài. Họ cứ tưởng rằng Đấng Kitô là Vua Do thái, sẽ giải phóng dân tộc, sẽ là anh hùng vĩ đại bách chiến bách thắng như xưa David, khôn ngoan bắt cả thế gian phải thần phục mình như Salômôn.
Noi gương các xếp thủ lãnh nhạo báng, bọn lính cũng a dua chế diễu: “Nếu ông là Vua dân Do thái, thì tự cứu mình đi”, chua chát thay! Chúng vừa nói móc, vừa đóng bảng án phía trên đầu Người để kết tội: “Người này là Vua dân Do thái”. Đó là cách phong vương của quân dữ.
Nghi thức phong vương thường lệ là: thầy thượng phẩm nhân danh Thiên Chúa xức dầu tấn phong ai làm vua trước mặt đông đảo dân chúng chứng kiến và nhiệt liệt tung hô (Bài I). Còn nghi lễ phong vương của Thiên Chúa thì khác: Thiên Chúa sai ngôn sứ đến xức dầu cho người Chúa chọn, như Thiên Chúa đã bảo Samuel đến xức dầu cho David. Thần khí Thiên Chúa đã đáp xuống David làm cho con người bé nhỏ trở nên phi thường. Nhờ đó, David đã tung ná bắn đá vào trán Gôliat té nhào chết. Gôliat là điển hình sức mạnh vũ bảo của loài người, còn David là đứa bé hèn mọn đã đánh Gôliat với danh Thiên Chúa (1 Sm 16: 11-13;17:4-50). Việc tấn phong Đức Giêsu làm vua, không phải do con người mà do chính Thiên Chúa dùng Thánh Thần xức dầu phong vương cho Đức Giêsu, khi Người chịu phép rửa trên sông Gióc đan: “Trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình chim bồ câu, lại có tiếng từ trời phán rằng: “Con là con của Cha...” (Lc 3:22). Với sức mạnh Thánh thần, Đức Giêsu đã thực hiện sứ mệnh là Vua Cứu thế đến tột đỉnh trên ngài vàng thập giá, đầu đội triều thiên gai. Đó là những dụng cụ để chiến thắng sức mạnh của các thủ lãnh và quân lính thế gian, chiến thắng đau khổ và thần chết.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết đứng kề Thánh Giá với Đức Mẹ, Thánh Gioan và các thánh nữ, biết nhìn vào Trái tim Chúa đang chảy máu và rỉ nước, như viên sĩ quan đã cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa: “Lạy Ngài, khi Ngài vào nước Ngài, xin nhớ đến tôi.” Hay ít nhất cho con biết đấm ngực ăn năn như dân chúng, để thú tội và mến yêu Ngài là Vua Tình Thương tha thứ, Vua Hy Sinh chịu chết cứu độ con. Amen.

 

TN34-C24. MẦU NHIỆM CÁNH CHUNG: CHÚA HIỂN TRỊ

 Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh
 

Hôm nay là Chúa Nhật cuối cùng của riêng Mùa Thường Niên cũng như của chung Phụng Niên: TN34-C24

Hôm nay là Chúa Nhật cuối cùng của riêng Mùa Thường Niên cũng như của chung Phụng Niên. Giáo Hội luôn cử hành Lễ Chúa Kitô Vua vào Chúa Nhật kết thúc cho cả một năm phụng vụ này. Bởi vì, việc Chúa Hiển Trị là thực trạng cho thấy cuối cùng “Nước Cha trị đến” trong lịch sử, cho thấy dự án cứu độ của Thiên Chúa, Đấng, “là nguyên ủy và là cùng đích, là Alpha và Omega” (Rev 21:6), đã hoàn toàn hiện thực, như “ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Mt 6:10). Ở chỗ, như Thánh Phaolô xác tín và ngưỡng vọng trong Thư Thứ Nhất gửi Giáo Đoàn Côrintô của ngài ở đoạn 15 câu 28 thế này: “Sau hết, khi mà tất cả qui phục Con, bấy giờ Người sẽ qui phục chính mình cho Đấng đã bắt mọi sự phải qui phục Người, để Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự”.
Thế nhưng, căn cứ vào các bài Phúc Âm Nhất Lãm, việc Chúa Hiển Trị hay Chúa Kitô Làm Vua hình như khác nhau nơi các chu kỳ phụng vụ A, B và C. Thật vậy, bình thường, Giáo Hội hay chọn các trình thuật Phúc Âm Nhất Lãm giống nhau về một biến cố hay một sự kiện liên quan đến Chúa Giêsu cho cùng một Thánh Lễ, chẳng hạn như các bài Phúc Âm Nhất Lãm giống nhau cho Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa hay Lễ Chúa Giêsu Biến Hình Trên Núi v.v. Thế nhưng, đối với Lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu, Giáo Hội chọn ba bài Phúc Âm khác nhau, hai Nhất Lãm và một Gioan: Năm A, Phúc Âm theo Thánh Gioan, thay cho Phúc Âm theo Thánh Mathêu, về Bánh Hằng Sống từ trời xuống, đoạn Phúc Âm chỉ có ở Phúc Âm Thánh Gioan; Năm B, Phúc Âm theo Thánh Marcô, về việc Chúa Giêsu thiết lập Bí Tích Thánh Thể, đoạn Phúc Âm cũng có cả trong Phúc Âm Thánh Mathêu và Luca; và Năm C, Phúc Âm theo Thánh Luca, về việc Chúa Giêsu làm phép lạ bánh hóa ra nhiều để nuôi dân chúng đi theo nghe lời Người, đoạn Phúc Âm cũng có cả trong Phúc Âm Thánh Mathêu và Marcô. Cũng thế, trong Lễ Chúa Kitô Vua hôm nay, Giáo Hội cũng muốn dùng ba bài Phúc Âm khác nhau, hai thuộc Nhất Lãm và một thuộc Gioan, để tỏ cho con cái của mình thấy được các khía cạnh khác nhau về Chúa Kitô Vua, về thực tại Chúa Hiển Trị. Vẫn biết Phúc Âm Thánh Marcô Năm B và Phúc Âm Thánh Luca Năm C không có đoạn trình thuật về việc Chúa Kitô Vua phán xét thế gian như Phúc Âm Thánh Mathêu, tuy nhiên, cả hai Phúc Âm này đều nhắc đến sự kiện “Con Người đầy quyền năng và vinh hiển đến trên mây trời” (Lk 21:27; Mk 13:26). Thế mà Giáo Hội không chọn ba bài Phúc Âm có đoạn tương tự nhau về việc Chúa Kitô đến lần hai này. Trái lại, Năm A, Giáo Hội chọn Phúc Âm theo Thánh Mathêu về việc Chúa Kitô Vua phán xét chung; Năm B, Giáo Hội chọn Phúc Âm theo Thánh Gioan, thay Phúc Âm theo Thánh Marcô, về việc Chúa Kitô Vua trước tổng trấn Philatô, trong khi đó, chính Phúc Âm theo Thánh Marcô cũng có đoạn này, tuy ngắn hơn; và Năm C, Giáo Hội chọn Phúc Âm theo Thánh Luca về Chúa Kitô Vua hiển trị trên Thập Giá, đoạn Phúc Âm cũng có trong Phúc Âm theo Thánh Marcô.
Sở dĩ Phúc Âm Thánh Marcô cũng thuật lại sự kiện Chúa Kitô Vua trước tổng trấn Philatô như Phúc Âm theo Thánh Gioan, cũng như sự kiện Chúa Kitô Vua hiển trị trên thập giá như Phúc Âm theo Thánh Luca, nhưng Phúc Âm này chỉ nhắc lại rất vắn tắt chứ không đầy đủ và sáng tỏ bằng hai Phúc Âm kia. Chẳng hạn, về sự kiện Chúa Kitô Vua trước tổng trấn Philatô, Phúc Âm Thánh Marcô chỉ ghi nhận: “Họ trói Đức Giêsu, dẫn Người đi mà nộp cho Philatô. Philatô chất vấn Người: ‘Ngươi có phải là vua dân Do Thái chăng?’ Đức Giêsu đáp: ‘Quan chính là người nói điều này’” (Mk 15:1-2). Trong khi đó, Phúc Âm Thánh Gioan thuật lại chi tiết về sự kiện Chúa Kitô Vua trước tổng trấn Philatô như sau: “Philatô nói cùng Đức Kitô rằng: ‘Ông có phải là vua dân Do Thái chăng?’ Đức Giêsu trả lời: ‘Quan tự mình nói thế hay có kẻ khác nói với quan về Tôi?… Nước Tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước Tôi thuộc về thế gian này thì thuộc hạ của Tôi sẽ chiến đấu để Tôi khỏi bị rơi vào tay người Do Thái rồi. Nước Tôi thực sự không thuộc về chốn này’. Nghe thế Philatô nói với Người: ‘Thế thì ông là vua chứ gì?’ Đức Giêsu đáp: ‘Ông là người nói Tôi là vua. Lý do Tôi được sinh ra, lý do Tôi đến thế gian là để làm chứng cho chân lý. Ai tìm kiếm chân lý thì nghe thấy tiếng Tôi’”. Cũng vậy, về sự kiện Chúa Kitô Vua hiển trị trên thập giá, Phúc Âm Thánh Marcô chỉ thuật lại vỏn vẹn thế này: “họ đóng đanh Người vào thập giá vào khoảng chín giờ sáng. Tấm bảng ghi lỗi phạm của Người đề là ‘Vua người Do Thái’” (Mk 15:25-26). Trong khi đó, Phúc Âm Thánh Luca trình thuật về sự kiện Chúa Kitô hiển trị trên thập giá như sau: “Dân chúng đứng đó nhìn xem Người, thành phần lãnh đạo không ngớt cười nhạo Đức Giêsu mà rằng: ‘Hắn đã cứu được những kẻ khác; hắn hãy tự cứu lấy mình đi, nếu hắn là Đức Kitô của Thiên Chúa, Đấng được tuyển chọn’. Bọn lính cũng trêu chọc Người, tiến đến đưa cho Người dấm chua mà nói: ‘Nếu ngươi là vua dân Do Thái thì hãy cứu lấy mình đi’. Một tấm bảng phía trên đầu Người ghi rằng: ‘Đây là Vua dân Do Thái’…”.
Qua những phân tích trên, đúng như đã nhận định, “hôm nay Giáo Hội cũng muốn dùng ba bài Phúc Âm khác nhau, hai thuộc Nhất Lãm và một thuộc Gioan, để tỏ cho con cái của mình thấy được các khía cạnh khác nhau về Chúa Kitô Vua, về thực tại Chúa Hiển Trị”. Thật vậy, căn cứ vào tính cách chuyên biệt của ba bài Phúc Âm của cả ba chu kỳ A, B và C được Giáo Hội chọn cho Chúa Nhật Lễ Chúa Kitô Vua kết thúc Phụng Niên hôm nay, trước hết, bài Phúc Âm Năm A cho thấy Chúa Kitô Vua là vua toàn quyền năng trên trời dưới đất, sau đó, bài Phúc Âm Năm B cho thấy Chúa Kitô Vua là vua tự bẩm sinh, và sau hết, bài Phúc Âm Năm C cho thấy Chúa Kitô Vua là Vua Tình Yêu, Vua Lòng Người, Vua ngay trên dương thế này.
Đúng thế, nếu Phúc Âm theo Thánh Gioan là Phúc Âm về Lời Nhập Thể, tức về “ánh sáng chiếu trong tăm tối” (Jn 1:5), một Phúc Âm cho thấy Lời tỏ mình ra nơi Con Người Đức Giêsu, qua những chân lý cao siêu Người mạc khải cho biết, cũng như qua các phép lạ Ngài làm cho con người nhờ đó họ có thể tin vào Người, (chứ không cần phải có đức tin trước rồi mới được phép lạ sau, như xẩy ra nơi các Phúc Âm Nhất Lãm), thì Chúa Kitô Vua, theo Phúc Âm Thánh Gioan, qua trình thuật về Người trước Philatô trên đây, là một Chúa Kitô Vua tự bẩm sinh (xem Mt 2:2), đúng như ý nghĩa của câu Người khẳng định: “Nước Tôi thực sự không thuộc về chốn này. Lý do Tôi được sinh ra, lý do Tôi đến thế gian là để làm chứng cho chân lý”. Còn về hai bài Phúc Âm Nhất Lãm cho Năm A và C của Lễ Chúa Kitô Vua hôm nay, căn cứ vào nhận định ở bài chia sẻ cho Chúa Nhật 30 cách đây 4 tuần, nhận định là “nếu so sánh với đa số dụ ngôn của Chúa Giêsu, được Phúc Âm Thánh Mathêu là Phúc Âm nhắm đến đối tượng dân Do Thái, thì dụ ngôn trong Phúc Âm Thánh Mathêu thiên về Nước Trời, tức liên quan đến mạc khải thần linh, hay đến ‘những gì trên cao’ (Jn 3:12), còn dụ ngôn trong Phúc Am Thánh Luca là Phúc Âm nhắm đến Dân Ngoại, lại thiên về ‘những gì trần thế’ (Jn 3:12), tức về nhân bản, về con người, đúng hơn, về đức tin cứu rỗi con người cần có”, thì trong khi Phúc Âm Thánh Mathêu Năm A cho thấy một Chúa Kitô Vua đầy uy quyền của Nước Trời, được tỏ ra qua việc phán xét và thưởng phạt công minh, Phúc Âm Thánh Luca Năm C lại cho thấy một Chúa Kitô Vua đầy lòng xót thương trên ngai tòa thập giá đối với thần dân của mình, như trường hợp của tên tử tội bị đóng đanh bên tay hữu Người: “Hỡi Đức Giêsu, xin Ngài hãy nhớ đến tôi khi Ngài trị vì triều đại của Ngài”. Người tử tội thống hối này không ngờ đã chớp nhoáng cướp đoạt được Thiên Đàng vào chính giây phút cuối cùng của cuộc đời tội lỗi của mình, và đã là nhân vật đầu tiên được diễm hạnh hộ tống Đứa Vua của mình vào Thiên Đàng: “Tôi bảo đảm với anh là hôm nay anh sẽ được ở với Tôi trên thiên đàng”.
Tóm lại, ba bài Phúc Âm cho chu kỳ phụng vụ năm A, B và C trong Lễ Chúa Kitô Vua hôm nay chẳng những cho chúng ta thấy một Chúa Kitô Vua toàn quyền trên trời dưới đất, theo bài Phúc Âm Thánh Mathêu Năm A, một Chúa Kitô Vua tự bẩm sinh, theo bài Phúc Âm Thánh Gioan Năm B, và một Chúa Kitô Vua của tình yêu cai trị lòng người, theo bài Phúc Âm Thánh Luca Năm C, mà còn cho chúng ta thấy, một Nước Thiên Chúa trị đến vào Ngày Cánh Chung, như ý nghĩa của bài Phúc Âm Năm A, một Nước Thiên Chúa không thuộc về thế gian, như ý nghĩa của bài Phúc Âm Năm B, và một Nước Thiên Chúa ở ngay trên đời này, như ý nghĩa của bài Phúc Âm Năm C hôm nay, đúng như lời Chúa Giêsu khẳng định cũng trong Phúc Âm Thánh Luca của chu kỳ phụng vụ năm C: “Nước Thiên Chúa ở giữa các người” (Lk 17:21).
Để có một cái nhìn tổng quát song đầy đủ về Mầu Nhiệm Cánh Chung, như bốn tuần cuối cùng của Phụng Niên Năm C, trong đó có cả Chúa Nhật tuần này, cho thấy, cả về vấn đề Ơn Cứu Độ, Xác Phục Sinh, Ngày Thế Mạt và Chúa Hiển Trị, Giáo Hội đã tóm gọn Mầu Nhiệm Cánh Chung này trong Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo ở các số 1042, 1043, 1045, 1046 và 1047 như sau:
· “Vào lúc tận cùng thời gian Vương Quốc của Thiên Chúa sẽ hoàn toàn trị đến. Sau cuộc phán xét chung, kẻ lành sẽ cùng với Chúa Kitô muôn đời cai trị, được vinh quang cả xác lẫn hồn. Chính vũ trụ cũng sẽ được canh tân đổi mới” (số 1042).
· “Thánh Kinh gọi cuộc canh tân mầu nhiệm này, một cuộc biến đổi cả nhân loại và thế giới, là ‘trời mới đất mới’ (2Pet 3:13; x Rev 21:1). Dự án của Thiên Chúa trong việc đem ‘tất cả mọi sự, những sự trên trời cũng như những sự dưới đất’ (Eph 1:10) qui tụ lại dưới một thủ lãnh sẽ hoàn toàn được hiện thực” (số 1043).

 “Đối với con người, cuộc hoàn thành này sẽ là tình trạng hiện thực cuối cùng của mối hiệp nhất loài người lại với nhau, mối hiệp nhất Thiên Chúa đã dự định từ khi tạo thành và là một mối hiệp nhất Giáo Hội lữ hành đóng vai ‘bản chất là một bí tích’ (x Hiến Chế Lumen Gentium, 1). Những ai hiệp nhất với Chúa Kitô sẽ làm nên một cộng đồng của thành phần được cứu độ, ‘thánh đô của Thiên Chúa’, ‘Hôn Thê, bạn đời của Con Chiên’ (Rev 21:2, 9)…... Phúc Kiến sẽ trở thành một suối nguồn tràn lan hạnh phúc, an bình và hiệp thông với nhau”. (số 1045)
· “Đối với vũ trụ, Mạc Khải xác định số mệnh chung sâu xa giữa thế giới vật chất và con người: ‘Vì tạo vật ngong ngóng mong đợi việc tỏ hiện của con cái Thiên Chúa... trong hy vọng, vì chính tạo vật sẽ được giải thoát khỏi số phận hư hoại...’ (Rm 8:19-23)” (số 1046).
· “Bấy giờ cả vũ trụ hữu hình được ấn định biến đổi, ‘để chính thế giới, lấy lại tình trạng nguyên thủy của mình, không còn gặp những trục trặc, phải góp phần vào việc phụng sự kẻ lành’, thông dự vinh quang với Chúa Giêsu Kitô phục sinh (Thánh Irênêô, Adv. Haeres. 5, 32, 1: PG 7 / 2, 210)” (số 1047).

Vấn đề thực hành sống đạo: Nếu Nước Thiên Chúa đã được Chúa Giêsu thiết lập bằng cuộc Vượt Qua của Người và chắc chắn sẽ trị đến vào Ngày Cánh Chung, thì trong khi chờ đợi Chúa Kitô đến lần thứ hai, Kitô hữu chúng ta có cần phải dấn thân nỗ lực làm cho Nước Thiên Chúa trị đến vào thời điểm hay thời đại của mình hay chăng? Nếu không, tại sao? Nếu có, bằng cách nào?
(Tin Mừng Sự Sống www.tinmungsusong.org buổi phát thanh thứ sáu mươi ba, Chúa Nhật 25/11/2001)

 

TN34-C25. VƯƠNG QUYỀN CỦA CHÚA KITÔ - Đức Ông Trần Văn Khả

Lk 23:35-45
 

Bài Phúc âm giúp chúng ta suy tư về vương quyền của Chúa Kitô nhưng luôn theo con đường: TN34-C25

. Bài Phúc âm giúp chúng ta suy tư về vương quyền của Chúa Kitô nhưng luôn theo con đường Phúc âm mà Chúa Kitô đã vạch ra và đã đi qua trước, để chúng ta cũng bước theo qua đó, nếu chúng ta muốn tôn vinh Ngài thực sự. Vì thế có một tác giả đã đề tựa cho tất cả bài tường thuật cuộc thương khó và tử nạn của Chúa là: con đường dẫn tới cuộc đăng quang lên ngôi vua. Chúng ta hãy đọc lại bản văn để nhận ra điều này.]
Bài Phúc âm đã đưa ra những nét liên hệ tới vương quyền theo kiểu nghĩ của thế gian: (1) việc quân lính nói chế diễu Chúa: nếu ông là vua dân Do thái, ông hãy tự cứu mình đi. (2) Rồi bảng viết trên đầu Chúa: người này là Vua dân Do thái. (3) Rồi chi tiết thứ ba là lời cầu xin của người trộm lành: Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi. Tất cả ba chi tiết này đều thốt ra từ miệng của người khác nhau: như từ miệng quân lính, thì là lời chế nhạo; còn từ người trộm lành, thì đó là lời tuyên xưng chân thành. Ngoài ra chúng ta cũng còn có những tước hiệu khác nói về Chúa: như coi Chúa là Đức Kitô, người được Thiên Chúa tuyển chọn. Tất cả đều làm cho tước hiệu là Vua, được trọn vẹn ý nghĩa hơn.
Nhưng thực hiện chức vụ là Vua, đối với Chúa, cần hiểu một cách thức khác. Chúng ta hãy nghĩ tới việc Chúa Giêsu đã phải chống trả với ba lời khiêukhích cám dỗ từ các vị lãnh đạo tôn giáo: Nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi, nếu nó thậ là Đấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn; rồi lời khiêu khích thứ hai của quân lính: Nếu ông là vua dân Do thái, ông hãy tự cứu mình đi; và sau cùng là cơn cám dỗ của một người trộm: Nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa. Có lẽ ba lần cám dỗ này, gợi tới cơn cám dỗ đầu cuộc đời của Chúa, mà chủ đích vẫn là biểu lộ uy quyền cứu thế bằng một phép lạ, bằng sức mạnh bên ngoài, thay vì con đường đau khổ và tử nạn.
Trong bài Phúc âm này, chúng ta cũng nhận ra hai thái độ khác nhau trước vị vua Kitô: thái độ thân thiện, tin tưởng của đám dân chúng và người trộm lành; dân chúng thụ động đứng ngắm nhìn; người trộm lành lên tiếng bênh vực Chúq; còn bọn người lãnh đạo tôn giáo, lại kiêu căng khinh thường Chúa với tất cả ác 1y và khiêu khích, vì đã làm cho Chúa phải chết và đóng đanh, cũng một người trộm cùng đóng đanh với Chúa, cũng ra chiều thách thức Chúa; còn bọn lính lý hình thì nhạo cười như một thái độ khinh thường.
Tất cả đều đang chứng kiến một cảnh tượng thật bi thảm, đau đớn, cái chết của một người, mà người ta tưởng không thể chết như thế; hoặc có thể tự cứu mình khỏi cái chết đó, thảm kịch của vị Vua mà họ cười nhạo; hay vị Vua mà họ tin nhận.
Còn Chúa Giêsu, Ngài không lưu ý gì tới những lời xỉ nhục, nhưng chỉ tiếp tục rộng lòng tha thứ ban ơn cho những kẻ thành tâm trở lại và tin vào Ngài. Lời cầu xin của người trộm lành với Chúa thật biểu lộ lòng tin mạnh mẽ và sâu xa của ông vào Chúa, không phải là con người uy quyền, nhưng là Chúa uy quyền, như người Do thái vẫn cầu khẩn với Đức Giavê. Bản văn Hy lạp thì viết: ông thưa với Chúa và xưng rõ tên Chúa: Lạy Chúa Giêsu; còn bản dịch Latin thì dùng tước hiệu Chúa, một tước hiệu dành cho Chúa Giêsu, sau khi Ngài sống lại. Cả hai cách xưng tụng đều biểu lộ lòng tin sâu xa vào Chúa Giêsu uy quyền, torng chính lúc Ngài đang bị đóng đinh vào thập giá, thời điểm mà người đời cho là vô hiệu và bất lực. Rồi trong khi người trộm lành xin Chúa nhớ tới mình khi Ngài được vinh quang, nghĩa là thời kỳ cánh chung; thì Chúa Giêsu lại nhấn mạnh về tính cách hiện thực ngay hôm nay của ơn cứu rỗi của Ngài. Đó là tóm gọn uy quyền chúa của chúa, là mặc khải đường lối hành xử của Chúa như là một vị vua trong chính lúc Ngài bị hạ nhục, bị loại trừ và bị liệt vào hàng trộm cướp.
Tóm lại bản văn Phúc âm giúp chúng ta hiểu hơn về Chúa Kitô, được xưng tụng là Vua, và về vương quyền vua chúa của Ngài. Đó là cũng là lời mời gọi chúng ta theo Chúa Kitô trong con đường theo Tin mừng mà Chúa đã nêu ra cho chúng ta.

 

TN34-C26. CHÚA GIÊSU LÀ VUA/Vua Giêsu trên Thập giá

Lc 23,35-43
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I : Vua Đavít là hình ảnh Chúa Giêsu là Vua.
- Tin Mừng : Lúc Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá chính là lúc Ngài lên ngôi làm vua, ban ơn cứu độ cho tất cả mọi người.
- Bài đọc II : Chúa Giêsu được Thiên Chúa đặt làm vua của hết mọi loài trên trời dưới đất.
Minh họa
- Mille images 169 E
- Vua Giêsu trên Thập giá (Lc 23,35-43)
I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến
 

Hôm nay là Chúa nhựt cuối cùng của năm phụng vụ. Lời Chúa vạch cho chúng ta thấy lúc tận: TN34-C26

Hôm nay là Chúa nhựt cuối cùng của năm phụng vụ. Lời Chúa vạch cho chúng ta thấy lúc tận cùng của thời gian Đức Giêsu sẽ làm vua ngự trị trên toàn thể mọi sự và mọi người. Nhưng từ nay cho đến lúc đó, Chúa vẫn làm vua trong lòng những người tin cậy và yêu mến Ngài.
Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy cầu xin Chúa giúp chúng ta nhận thức vị trí và vai trò làm vua của Chúa trên cuộc đời chúng ta, đồng thời xin Chúa cũng giúp chúng ta phụng thờ Ngài cho xứng đáng.
II. Gợi ý sám hối
- Chúng ta đã tôn thờ những "vua" khác không phải là Chúa, như tiền bạc, danh vọng, lạc thú v.v.
- Chúng ta không sống theo sự dẫn dắt của Chúa.
- Chúng ta không sống theo luật của Nước Chúa là luật yêu thương.
III. Lời Chúa
1. Bài đọc I (2 Sm 5,1-3)
Đoạn này thuật cuộc phong vương lần thứ hai cho Đavít. Cần nhớ rằng sau khi Vua Saun chết, các chi tộc miền Nam đã phong Đavít làm vua của họ. Một thời gian sau, vì mến mộ tài đức của Đavít nên các chi tộc miền Bắc cũng phong Đavít làm vua họ nữa. Như thế là đất nước thống nhất dưới quyền lãnh đạo một vị vua duy nhất.
Trong biến cố này, Thiên Chúa cũng lên tiếng. Ngài nói với Đavít : "Chính ngươi sẽ chăn dắt Israel, dân của Ta". Câu này rất ý nghĩa : vua Đavít chỉ là "người chăn dắt" dân "của Thiên Chúa". Chính Thiên Chúa mới là Vua thật của "dân Ngài".
2. Đáp ca (Tv 121)
Đây là một ca khúc lên đền, nghĩa là ca khúc mà những người hành hương hát khi họ tiến đến gần đền thờ Giêrusalem.
Tuy những người hành hương tiến đến nơi có đặt "ngai vàng của vương triều Đavít", nhưng họ ý thức rằng họ là những "chi tộc của Chúa" vì chính Chúa mới là vua thật của họ.
3. Tin Mừng (Lc 23,35-43)
Đoạn Tin Mừng này mô tả cảnh Đức Giêsu trên thập giá :
- Phía dưới thập giá, dân chúng "đứng nhìn" cách bàng quan như không liên can gì đến mình, các thủ lãnh do thái thì chế nhạo "Hắn đã cứu người khác thì hãy cứu lấy mình đi nếu thật hắn là Đấng Kitô", lính tráng cũng chế diễu "Nếu ông là vua dân do thái thì hãy cứu lấy mình đi".
- Trên đầu Ngài có bảng viết "Đây là vua người do thái"
- Bên cạnh Ngài có hai tên gian phi : một tên hùa theo đám người phía dưới để chế diễu Ngài ; tên kia công nhận Ngài là vua nên nói với Ngài "Khi ngài vào Nước của Ngài thì xin nhớ đến tôi".
Nghĩa là : thánh Luca đã cố ý trình bày Đức Giêsu trên thập giá như một vị vua đang ngự trên ngai của mình. Nhưng đa số những người ở dưới và bên cạnh, vì đã quá quen với hình ảnh một ông vua trần gian nên chẳng những không nhận ra Ngài mà còn chế nhạo Ngài.
4. Bài đọc II (Cl 1,12-20)
Thánh Phaolô trích dẫn một bài thánh thi trình bày địa vị của Chúa Giêsu Kitô :
- Đối với Thiên Chúa : Chúa Giêsu là hình ảnh của Thiên Chúa.
- Đối với công trình sáng tạo : nhờ Chúa Giêsu mà muôn vật được tạo thành.
- Đối với công trình cứu độ : nhờ cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá mà mọi người được giao hòa lại với Thiên Chúa.
Như thế, Chúa Giêsu là Vua tối cao trên toàn thể vũ trụ.
IV. Gợi ý giảng
1. Nguồn gốc và ý nghĩa Lễ Chúa Giêsu là Vua
Một triết gia đã đưa ra một nhận định rất bi quan : "Homo homini lupus" : con người là lang sói của con người. Lang sói là một loài thu dữ, bản tính thích tấn công, cắn xé và giết chóc. Thế mà loài người lại giống với loài thú dữ đó, luôn luôn tấn công nhau, cấu xé và giết chóc nhau.
Bởi vậy một sử gia đã đưa ra một kết luận tương tự với nhận định bi quan của triết gia trên : lịch sử loài người là một chuỗi những cuộc chiến tranh liên tiếp nhau. Từ khi có loài người trên mặt đất này cho đến nay, có mấy khi mà loài người được hưởng thái bình ? Hầu hết thời gian lịch sử của loài người đều là chiến tranh. Gần đây nhất là 2 cuộc thế giới đại chiến, cuộc thứ nhất kéo dài từ năm 1914 đến 1918, làm cho 8.700.000 người chết ; cuộc thứ hai từ năm 1939 đến năm 1945, giết chết thêm 40 triệu sinh mạng nữa. Và hiện nay cả loài người đều phập phòng lo sợ sẽ xảy ra một cuộc đại chiến lần thứ 3 với những vũ khí hạt nhân. Lần này không phải chỉ có 8.700.000 người chết, hay 40 triệu người chết mà là tất cả mọi người, trái đất sẽ nổ tung, toàn thể loài người sẽ bị tiêu diệt.
Tại sao loài người chúng ta, một loài người có trí khôn, biết suy nghĩ, một loài cao hơn tất cả mọi loài vật khác mà lại cư xử với nhau một cách ngu xuẩn như vậy ? Thưa vì trong con người chúng ta vừa có tính thú vừa có tính người : tính thú thì giống như loài lang sói hung dữ cấu xé lẫn nhau, còn tính người là có trí khôn biết suy nghĩ biết tính toán. Khi buông trôi theo tính thú thì loài người chiến tranh với nhau ; và nếu con người lại dùng cái trí khôn ngoan của tính người để phục vụ cho cái tính thú kia thì con người lại càng dã man hung dữ làm hại nhau còn hơn loài sang sói đích thực nữa. Điều đáng tiếc là trong hầu hết lịch sự quá khứ, con người đã buông theo cái tính thú đó. Vì thế mà lịch sử loài người đã là lịch sử của một chuỗi những cuộc chiến tranh liên tiếp nhau.
Cho nên trong bối cảnh giữa 2 cuộc chiến tranh thế giới làm chết hàng mấy chục triệu sinh mạng con người như thế, ngày 11.12.1925, Đức Giáo Hoàng Piô XI đã thiết lập Lễ Chúa Kitô Vua, mục đích là để cầu nguyện cho loài người thôi đừng buông theo tính thú mà cấu xé lẫn nhau, các nước đừng nuôi mộng bá chủ hoàn cầu mà chinh chiến với nhau ; nhưng mọi người hãy suy phục vương quyền Chúa Kitô và xây dựng vương quốc của Ngài, ĐGH coi đó là chấm dứt chiến tranh.
Sở dĩ loài người cứ luôn làm hại làm khổ lẫn nhau là vì loài người còn sống theo cái tính thú trong mình. Vậy nếu muốn cho loài người hoà thuận với nhau để cùng nhau chung hưởng thái bình thì loài người phải sống theo cái tính người, gồm có những đức tính mà Chúa đã dạy chúng ta trong Tin Mừng. Con người sống đúng là con người. Chúa Giêsu gọi đó là Sự Thật ; còn ngôn ngữ phụng vụ hôm nay thì gọi đó là vương quyền, vương quốc của Chúa Kitô. Nước Chúa. Ai sống theo những giá trị Tin Mừng để thành người hơn thì người đó thuộc về Nước Chúa ; ai giúp cho người khác sống theo những giá trị Tin Mừng ấy thì người đó đang mở mang Nước Chúa ; và khi mọi người, dù có đạo hay không có đạo, đều sống theo những giá trị Tin Mừng ấy, thì đó là thời Nước Chúa đã trị đến.
Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ. Giáo hội đặt lễ Chúa Kitô Vua vào Chúa Nhật cuối cùng này, cũng có ý nghĩa : đó là ước nguyện sao cho cuối cùng tất cả mọi người đều ở trong Nước Chúa, một nước chỉ có hoà thuận yêu thương, một nước thái bình hạnh phúc.
Phần mỗi người chúng ta, hãy cố gắng xứng đáng là một công dân Nước Chúa, nghĩa là biết sống đúng tính người, sống theo lương tâm, sống hoà thuận, yêu thương, làm việc lành theo lời dạy của Tin Mừng. Chúng ta cũng hãy cố gắng mở mang Nước Chúa bằng cách làm cho thêm nhiều người khác cũng biết sống hoà thuận yêu thương sống theo lương tâm và làm việc lành như vậy.
2. Chân lý cuối cùng
Trong những Chúa nhựt cuối của năm phụng vụ, Lời Chúa mời chúng ta nghĩ đến lúc tận cùng của thời gian, để thấy trước khi ấy tình hình sẽ như thế nào, và nhờ đó mỗi người cũng biết điều chỉnh cuộc sống mình trong hiện tại cho phù hợp với viễn ảnh cuối cùng ấy.
- Bằng ngôn ngữ khải huyền, các sách Tin Mừng mô tả lúc đó mặt trời mất sáng, mặt trăng tối sầm lại và các tinh tú trên trời rụng xuống. Qua những hình ảnh lạ lùng ấy, tác giả muốn nói rằng khi đến lúc tận cùng của thời gian, tất cả mọi thứ mà xưa nay người ta coi là quyền lực đều sụp đổ hết, để chỉ còn quyền lực của Thiên Chúa tồn tại và ngự trị.
- Còn sách Huấn ca Ben Sira thì mô tả một cách thi vị hơn và bằng những hình ảnh gần gũi hơn :
"Phù hoa nối tiếp phù hoa, trần gian tất cả chỉ là phù hoa...
Hoa nào không phai tàn. Trăng nào không khuyết
Ngày nào mà không có đêm. Yến tiệc nào không có lúc tàn
Phù hoa nối tiếp phù hoa..."
- Một thi sĩ khác cũng có những suy nghĩ tương tự, ông suy nghĩ về thời gian :
"Khi tôi là một đứa trẻ... tôi thấy thời gian bò tới
Khi tôi là một thanh niên... tôi thấy thời gian đi bộ
Khi tôi trưởng thành... tôi thấy thời gian chạy
Cuối cùng khi tôi bước vào tuổi chín muồi thì thấy thời gian bay
Chẳng bao lâu nữa tôi chết, lúc đó thời gian đã đi mất
Ôi lạy Chúa Giêsu, khi cái chết đến, thì ngoài Ngài ra, không còn gì là quan trọng nữa"
Những dẫn nhập khá dài dòng trên chỉ nhằm giúp chúng ta hiểu bài Tin Mừng lễ Chúa Kitô Vua hôm nay theo đúng hướng mà Phụng vụ của ngày Chúa nhựt cuối năm Phụng vụ muốn chúng ta hiểu. Trong hướng đó, chúng ta thấy được một số chân lý sau đây :
- Thứ nhất : Đến lúc tận cùng của thời gian, nghĩa là đến ngày tận thế, hoặc ngày chết của mỗi người, thì chúng ta sẽ thấy tất cả đều sẽ sụp đổ : tiền bạc, danh vọng, sức khoẻ, thế lực, thú vui.... Tất cả đều không còn ý nghĩa và tầm quan trọng gì đối với bản thân mình hết. Đúng như lời của bài thơ chót mà tôi vừa đọc : "Lạy Chúa Giêsu, khi cái chết đến thì ngoài Ngài ra không còn gì là quan trọng nữa".
- Thứ hai : Nếu khi đó chỉ có Chúa là quan trọng thì từ trước tới lúc đó trong cuộc sống, chỉ những ai gắn bó và nương dựa vào Chúa mới thấy yên lòng ; còn những người quen tìm kiếm, chạy theo và nương dựa vào những thế lực khác như tiền bạc, quyền lực, thú vui v.v. sẽ thấy chới với, cô đơn, trơ trụi...
- Thứ ba : Khi đó, đối với tất cả mọi người, dù tin hay không tin, dù tốt hay xấu, mọi người đều mở mắt và nhận thực rằng Đức Giêsu chính là Kitô và là Vua thật. Kitô nghĩa là Đấng Cứu Vớt, Vua nghĩa là Đấng thống trị. Nhiều người trong lúc còn sống đã tưởng rằng nguồn cứu vớt của họ và thế lực hỗ trợ họ là tiền tài danh lợi thế gian, nhưng khi đó họ sẽ biết họ lầm. Chẳng hạn các nhân vật trong bài Tin Mừng hôm nay : Các thủ lãnh do thái, quân lính, Philatô và tên gian ác ở bên trái Ngài. Chiều hôm đó trên đồi Sọ, họ tưởng Chúa Giêsu đang thất thế vì rõ ràng Ngài đang bị treo, bị đóng đinh dính cứng vào thập giá. Họ chế nhạo Ngài "Nào có giỏi thì thử xuống khỏi thập giá đi". Họ cũng gọi Ngài là Kitô đó, cũng gọi Ngài là Vua đó, nhưng gọi một cách mỉa mai, gọi để nhạo báng : chẳng qua hắn chỉ là một tên Kitô dỏm, một ông vua cỏ mà thôi ! Nhưng đến ngày cùng tận, tất cả những người ấy sẽ sửng sờ khi thấy kẻ bị họ nhạo báng ấy lại xuất hiện với tất cả uy quyền và vinh quang, để xét xử và trừng phạt họ. Ngài đúng là Kitô và là Vua. Chiều hôm ấy trên đồi sọ, chỉ có một người đã nhận biết Ngài, đó là người trộm lành ở bên phải. Anh đã tin Ngài là Vua nên anh nói "Khi nào Ngài vào Nước của Ngài" ; anh cũng tin Ngài là Đấng Kitô cứu thế nên mới thưa "Xin Ngài cứu tôi, xin hãy nhớ đến tôi". Và chúng ta hãy suy nghĩ : hiện bây giờ người trộm lành ấy đang ở đâu ? Chắc chắn anh đang ở bên Chúa và hưởng hạnh phúc trong nước Chúa, như lời Chúa Giêsu đã hứa với anh chiều hôm ấy : "Ta bảo thật, ngay hôm nay anh sẽ được ở với Ta trên thiên đàng". Thật hạnh phúc thay cho người trộm lành, cả một đời gian ác tội lỗi, nhưng cuối cùng đã gặp được hạnh phúc thiên đàng, nhờ anh đã hiểu được phải trao cuộc đời cho ai và bám víu vào ai.
Cái chân lý mà mãi đến phút cuối đời người trộm lành mới thấy được ấy, Phụng vụ muốn chỉ cho chúng ta thấy ngay từ hôm nay : Chúa Giêsu chính là Đấng Kitô cứu vớt, Ngài chính là Vua. Ngoài Ngài ra không có ai, không có cái gì là vua thật và có thể cứu chúng ta thật. Vậy ngay từ hôm nay chúng ta hãy quyết định trao gởi cuộc đời mình cho Ngài, sống gắn bó với Ngài, và từ bỏ tất cả những gì nghịch với Ngài. Có như thế chúng ta mới có thể hưởng hạnh phúc muôn đời bên cạnh Ngài, là Kitô thật và là Vua thật của chúng ta.
3. Cơn cám dỗ cuối cùng
Vua Cảnh Công nước Tề, một hôm lên chơi núi Ngưu Sơn. Nghĩ rằng có ngày sẽ phải chết và giang sơn gấm vóc lại lọt vào tay kẻ khác, vua liền trào nước mắt tiếc thương. Đoàn tuỳ tùng thấy vua khóc cũng khóc theo. Duy chỉ có Án Tử là chúm miệng cười. Vua chau mày hỏi :
- Tại sao người ta ai cũng khóc cả, mà nhà ngươi lại cười ?
Án tử trả lời :
- Nếu các vua đời trước mà sống, thì vua ngày nay hẳn còn phải mặc áo tơi đội nón lá. Nhờ thế sự thăng trầm mà nay đến lượt vua được mặc áo gấm, đội mũ ngọc. Thế mà vua lại khóc. Thấy đấng làm vua bất nhân, bầy tôi siểm nịnh, tôi không cười sao được ?
*
Vua trần gian có thần dân để cai trị, có quan quân để sai khiến, có tiền của mỹ nữ để truy hoan.
Đức Giêsu trái lại, Người không làm vua theo kiểu thường tình ấy. Người đã khẳng định : "Nước tôi không thuộc về thế gian này" (Ga 18,36). Vì thế, cung cách của vị vua Giêsu hoàn toàn mới lạ. Tin Mừng hôm nay sẽ nói lên tính cách Vương Quyền ấy của Người.
Dưới hình thức nhạo báng của các thủ lãnh Do thái, của lính tráng, của bản án treo trên thập giá, đã nói !ên vương quyền của đức Giêsu : "Hắn đã cứu được người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki tô của Thiên Chúa, người được Thiên Chúa tuyển chọn" (Lc 23,35). "Đấng Kitô" chính là người được xức dầu, là tước hiệu của vua. "Người Thiên Chúa tuyển chọn" chính là tước hiệu Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. Nhất là lời tuyên xưng của người trộm lành đã nói lên vương quyền của Người : "Khi nào về Nước của Người, xin nhớ đến tôi" (Lc 35,42).
Tuy nhiên, nước của Đức Giêsu không nhằm tư lợi cá nhân như các thủ lãnh khiêu khích, cũng không để ra oai quyền uy như bọn lính thách thức. Nước của Người là Nước Tình Yêu, vương quyền của Người là để phục vụ. Vì thế, Người đã không "xuống khỏi thập giá" cách ngoạn mục, nhưng đã "kéo mọi người" lên với Người (Ga 13, 32). Người đã không "cứu lấy chính mình", nhưng đã "cứu lấy mọi người" khỏi chết muôn đời nhờ cái chết của Người.
Người đã sẵn lòng chịu chết giữa hai tên gian phi, như lời Kinh Thánh rằng : "Người đã hiến thân chịu chết và bị liệt vào hàng phạm nhân" (ls 53,12). Người đã hoà mình trong đám người tội lỗi, đã chịu chung số phận của họ, Người đã sống và đã chết giữa đám tội nhân, như lời đồn đại về Người : "Bạn của người thu thuế và phường tội lỗi" (Mi 11,19).
Vâng, vương quyền của Người không cai trị bằng sức mạnh biểu dương, nhưng chinh phục bằng "khối" tình yêu thương. Chính vì thế mà Người đã chiến thắng cơn cám dỗ cuối cùng, là lời thách thức xuống khỏi thập giá, để sẵn lòng chịu chết hầu cứu chuộc con người tội lỗi, chính là thần dân của Người,
Thần dân đầu tiên mà vị Vua có vương miện là mão gai, và ngai vàng là gỗ thánh giá đã chinh phục, chính là người trộm lành. Giữa lúc những kẻ trước đây tung hô vạn tuế nay lại nhạo báng Người, giữa lúc các môn đệ thề sống chết với Người nay lại bỏ trốn hết, thì chỉ có một mình anh, người trộm lành, lên tiếng bênh vực Người : Anh mắng người trộm dữ : "Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này có làm điều gì trái !" (Lc 35,40-41). Anh tỏ lòng kính sợ Chúa và ăn năn sám hối, đó là thái độ của người sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ.
Hơn nữa giữa lúc chương trình của Đức Giêsu dường như thất bại, không còn hy vọng cứu vãn ; giữa lúc thập tử nhất sinh, gần kề cái chết, thì chỉ mình anh, người trộm lành, đã tin vào Chúa, tin vào sự sống đời sau, và tin vào vương quyền của Người. Anh cầu nguyện : "Lạy Ngài, khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi". Người nhận lời tức khắc : "Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta" (Lc 35,43).
Một lời hứa mà Người chưa hề ban cho ai dù đó là người thân tín và yêu quí nhất của Người.
Một lời hứa được thực hiện ngay tức thì, không đợi đến sáng phục sinh hay ngày thế mạt.
Một lời hứa đi vào vương quốc của những người công chính, qui tụ quanh vua Giêsu vinh hiển.
Lời hứa ban hạnh phúc cho anh trộm lành chính là cuộc sống thân mật với Vua Giêsu, mà anh đã chia sẻ số phận của Người trên thập giá. Cuộc đời của anh tưởng chừng như vĩnh viễn khép lại, nhưng chỉ với một chút niềm tin trong anh bừng sáng, một lòng sám hối chân thành, đã khiến cửa trời rộng mở, đón tiếp anh thênh thang bước vào. Chính từ khi anh trộm lành nhận ra người tử tù bị đóng đinh là vua trời, nhận ra sự sống trong cõi chết, phục sinh trong tử nạn, thì Vua Giêsu tiếp tục lan rộng cuộc chinh phục đến viên đại đội trưởng khiến ông cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa : "Người này quả thật là công chính" (Lc 23,48).
Và trong suốt 2000 năm qua, Người vẫn luôn đón nhận vào trong vương quốc tình yêu của Người ; những thần dân biết duy trì tinh thần hiệp nhất, phục vụ và yêu thương. Chỉ những ai biết sám hối ăn năn, tin nhận vào quyền năng và tình thương của Chúa như anh trộm lành, môi được vào trong vương quốc của Người. Chỉ những người biết kính sợ Thiên Chúa và tin tưởng vào sự sống đời sau mới được ban cho Nước Trời.
*
Lạy Chúa, xin cho đức tin chúng con đủ mạnh để thấy Chúa không ngừng lôi kéo cả thế giới về với Người.
Xin dạy chúng con luôn cộng tác với Chúa để xây dựng Nước Trời ngay trong cuộc sống này, nhờ biết đẩy lui sự dữ trên địa cầu, trong khi kiến tạo an bình và yêu thương. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu", năm C)
4. Hai tên gian phi
Các sách Tin Mừng ghi nhận rằng cùng bị đóng đinh chung với Chúa Giêsu hôm ấy còn có hai tên gian phi. Phần Tin Mừng theo thánh thì phân biệt có một người đã sám hối, còn người kia thì không. Chúng ta hãy xem xét từng người.
Trước tiên là tên gian phi không sám hối. Hắn chẳng còn tình cảm, chẳng còn lương tri, chẳng còn nhân tính gì nữa cả. Bởi vì tới lúc sắp chết mà hắn cũng không chút hối hận. Ngay cả Chúa Giêsu cũng chẳng thể cứu hắn. Thực vậy, chẳng ai có thể cứu được người không chịu để cho mình được cứu. Tấm lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn có sẵn đấy, nhưng tối thiểu con người phải muốn đón nhận. Oscar Wilde viết : "Kẻ đang ở trong tình trạng nổi loạn không thể nhận được ơn sủng".
Chúng ta nhìn sang tên gian phi sám hối. Nhiều người đã nghĩ rằng người này được cứu độ dễ dàng quá : sau một đời tội lỗi, anh ta chỉ cần nói với Chúa Giêsu một lời thôi thì được tha thứ hết. Anh đã ăn trộm mọi thứ, và cuối cùng lại ăn trộm luôn thiên đàng nữa. Có người khắt khe nghĩ rằng ít ra Thiên Chúa phải bắt anh ta ở trong luyện ngục một thời gian nào đó mới phải.
Thực ra nếu tìm hiểu kỹ trường hợp anh ta, chúng ta sẽ thấy rằng anh đã làm được một việc không phải là nhỏ và cũng không phải là dễ :
- Khi bị treo trên thập giá, anh không buông theo khuynh hướng xấu có sẵn trong mình mà bực bội và bất mãn để rồi có những phản ứng như tên gian phi kia, là thù người và hận đời rồi chửi bới lung tung. Thay vào đó, anh nhìn lại chính cuộc đời của mình. Anh đã thấy gì ? Thấy cả đời anh chỉ là một đống rác rưởi chẳng có chút gì tốt cả. Từ đó anh ý thức rằng mình đã làm hỏng tất cả : không phải chỉ làm hỏng nhiều việc, mà còn làm hỏng chính cuộc đời mình. Anh biết tội mình, anh nhận trách nhiệm về đời mình.
- Sau đó anh lên tiếng can gián tên gian phi kia đừng chửi rủa Chúa Giêsu nữa. Và anh quay sang kêu xin Ngài "Ông Giêsu ơi, khi nào Ông vào Nước của Ông, xin nhớ đến tôi".
Người ta vẫn có khuynh hướng đổ lỗi cho người khác chứ không chịu nhận trách nhiệm vào mình. Chuyện gì cũng nói "tại cái này", "bị cái khác", "do người này", "vì người khác" v.v. Nhiều người còn viện vào khoa tâm lý mà ngụy biện rằng chẳng có gì là tội thực sự cả, tất cả chỉ do hoàn cảnh đẩy đưa ; con người bị tác động bởi nhiều động cơ vượt tầm kiểm soát của mình.
Người gian phi sám hối bị tác động bởi hoàn cảnh bên ngoài nhiều lắm chứ : những đau đớn thể xác làm anh khó chịu, những tiếng la ó của dân chúng làm anh tự ái, án tử hình thập giá làm anh nhục nhã… Những thứ ấy đều xúi anh nổi loạn. Ngoài ra cái chết gần kề cũng xúi anh thất vọng : tới giờ phút này còn hy vọng gì sửa đổi tình thế được nữa ; vả lại tội anh đã quá nhiều và quá rõ…
Có thể sám hối được trong hoàn cảnh như thế không phải là một việc dễ. Tuy nhiên anh đã sám hối. Việc sám hối ấy đã mang lại cho anh chẳng những ơn tha thứ, mà còn cả thiên đàng.
Người gian phi sám hối dạy cho chúng ta biết rằng : không bao giờ là quá trễ để quay về với Chúa, không tội nào là quá nặng để không được thứ tha, bao lâu ta còn thở là ta còn cơ hội để hưởng lòng thương xót Chúa.
5. Đức Giêsu là vua như thế nào ?
a. Làm vua có thể có nhiều cách, không nhất thiết cứ phải có đất đai, lãnh thổ, có quân đội, triều đình… mới là vua. Người ta vẫn nói : «vua dầu lửa», «vua xe hơi», «vua bóng đá», v.v… mặc dù những ông vua này không có quân đội, không cai trị ai. Đức Giêsu không những làm vua hiểu theo nghĩa bóng, mà đích thực Ngài là vua hiểu theo nghĩa đen, nghĩa chính thức của từ «vua».
Trước hết, Ngài là vua, vua của cả vũ trụ, của cả trần gian, của cả nhân loại, vì Ngài chính là Ngôi Lời, một trong Ba Ngôi Thiên Chúa đã tạo dựng nên muôn loài vạn vật trong vũ trụ. Thánh Kinh viết : «Nhờ Ngài, vạn vật được tạo thành, và không có Ngài thì chẳng có gì được tạo thành» (Ga 1,3 ; xem 1,10). Ngài là vua của thế giới, nên đến ngày chung cuộc, chính Ngài sẽ là người đến phán xét trần gian với tư cách một vị vua (Mt 25,34).
Thế gian này có nhiều nước, mỗi nước có một ông vua. Nhưng Ngài là vua cả thế gian, cả vũ trụ, nên Ngài là Vua trên hết các vua, là Vua của muôn vua.
b. Đức Kitô là vua. Nhưng Ngài khác với các vua khác ở chỗ : để cai trị, các vua khác dùng quyền lực, còn Ngài dùng tình thương. Thật vậy, Ngài yêu thương mọi người, mọi con dân của Ngài như người mục tử tốt lành yêu thương chăn dắt đoàn chiên, biết rõ từng con chiên một, và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì lợi ích của chiên (xem Ga 10,11-16). Ngài hành xử như thế vì Ngài là Thiên Chúa, mà «Thiên Chúa là tình yêu» (1 Ga 4,8). Trong thực tế, Ngài đã hy sinh chết trên thập giá một cách khổ nhục để cứu nhân loại, là con dân được Thiên Chúa trao cho Ngài quyền cai trị.
c. Đức Giêsu không chỉ là vua vũ trụ, vua của cả trần gian, mà Ngài còn là vua của tâm hồn mỗi người. Vì yêu thương, vị vua ấy ngự ngay trong thâm cung tâm hồn của mỗi người để sẵn sàng thi ân giáng phúc, ban sức mạnh, thánh hóa, làm cho họ ngày càng tốt đẹp, mạnh mẽ và hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, Ngài có làm được điều đó hay không còn tùy thuộc vào sự tự do chấp nhận và sự tự nguyện cộng tác của chúng ta. Ngài sẽ không làm được gì cho chúng ta nếu chúng ta không muốn Ngài làm, hoặc nếu chúng ta hoàn toàn thụ động không cộng tác gì vào công việc mà Ngài muốn làm cho ta.
Để Ngài có thể hành động biến đổi con ta nên tốt đẹp, mạnh mẽ, thánh thiện hơn, ta cần tôn Ngài làm vua tâm hồn mình, bằng cách :
– Trước tiên, phải thường xuyên ý thức về sự hiện diện của Ngài ở trong ta.
– Kế đến là ý thức rằng Ngài là tình thương, Ngài yêu thương ta hơn tất cả mọi người, và sẵn sàng làm tất cả những gì ta cần cho sự phát triển và hạnh phúc của ta.
– Đồng thời ý thức Ngài là sức mạnh toàn năng, có thể thực hiện tất cả những gì Ngài muốn nơi ta.
– Vì thế, ta nhường quyền làm chủ bản thân ta cho Ngài, để Ngài hoàn toàn làm chủ bản thân ta. Ta không còn hành động theo ý riêng ta nữa, mà hoàn toàn hành xử theo ý của Ngài.
– Vì Ngài yêu thương ta, sáng suốt và khôn ngoan hơn ta rất nhiều, lại có khả năng làm tất cả những gì Ngài muốn, nên ta hãy hoàn toàn phó thác vận mệnh của ta cho Ngài.
– Và cuối cùng là luôn luôn sống trong bình an, hạnh phúc của một người được Đức Kitô yêu thương và phù trợ. Hãy hưởng niềm hạnh phúc của một người được Vua của cả trần gian này yêu thương và quan tâm săn sóc. Hãy tin tưởng và luôn luôn an tâm rằng nhờ quyền năng của Ngài, tất cả những gì xảy đến cho ta đều hết sức có lợi, đều trở nên vô cùng tốt đẹp cho ta, cho dù hiện nay ta chưa hiểu rõ.[1]
Nắm vững điều đó, ta sẽ thấy có Đức Kitô ngự trong tâm hồn mình là như có được một «cây đèn thần» trong tay, một «bùa hộ mạng» an toàn, một «vị thần bảo trợ» hữu hiệu, một «người tình chung thủy» luôn luôn ở với ta suốt cuộc đời. Lúc đó ta sẽ sung sướng cảm nghiệm được như thánh Phaolô : «Tôi làm được tất cả mọi sự nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi» (Pl 4,13). (Nguyễn chính Kết)
V. Trong Thánh Lễ
- Trước kinh Lạy Cha : Trong ngày lễ kính Chúa Giêsu là Vua hôm nay, chúng ta hãy đặc biệt cầu xin cho Nước Chúa mau trị đến trong cõi lòng mọi người.
- Trước rước lễ : Vua Giêsu đã thương mời chúng ta đến dự tiệc của Ngài. Chúng ta hãy đến dự tiệc thánh trong tâm tình biết ơn và cảm mến. "Đây Chiên Thiên Chúa…"
VI. Giải tán
Trong khi chờ đợi ngày Chúa Giêsu hoàn toàn làm Vua toàn thể nhân loại, mỗi người chúng ta hãy cố gắng làm một công dân xứng đáng của Nước Chúa, đó là hằng ngày thực hiện giới luật yêu thương.

 

TN34-C27. Ý nghĩa về vương quyền của Đức Giê-su Ki-tô

* Bài đọc 1: 2 Sm 5, 1-3; * Bài đọc 2: Cl 1, 12-20; * Bài Tin Mừng: Lc 23, 35-43 
* Câu hỏi gợi ý:
 

Ý nghĩa về vương quyền của Đức Giê-su Ki-tô. 2. Được tham dự vào chức vụ vương đế của Đức Ki-tô: TN34-C27

1. Ý nghĩa về vương quyền của Đức Giê-su Ki-tô.
 2. Được tham dự vào chức vụ vương đế của Đức Ki-tô, chúng ta phải sống như thế nào?
* Suy tư gợi ý:
Ý nghĩa về vương quyền Đức Kitô
             Các bài đọc hôm nay đều quy hướng về chủ đề “Đức Ki-tô là vua vũ trụ”
* Sách Sa-mu-en  quyển 2 thuật lại việc vua Đa-vít được xức dầu tấn phong làm vua toàn thể Is-ra-en. Đây là vị vua sáng giá nhất trong lịch sử dân Chúa. Chính nơi dòng dõi vị vua này, Chúa Cứu Thế, Đấng muôn dân mong đợi, đã giáng sinh .
* Thư Cô-lô-sê nhấn mạnh hình ảnh Chúa Giê-su là Đầu. Ngài là Trưởng Tử của vương quốc ánh sáng. Nơi Người muôn vật được tạo thành, trên trời cũng như dưới đất, hữu hình với vô hình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập gía mà muôn loài được hòa giải với mình, và  Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài.
* Hội thánh, khi xếp lễ Chúa Giê-su Ki-tô Vua vào cuối chu kỳ phụng vụ, cũng có ý nhấn mạnh vai trò của Đức Ki-tô, Đấng là đầu và là sau hết (An-pha và O-mê-ga). Ngài là trung gian duy nhất giao hòa loài người tội lỗi với Thiên Chúa.
* Đặc biệt Tin Mừng Thánh Lu-ca hôm nay cho chúng ta hình ảnh  Đức Giê-su trong thân phận giống như một tội nhân. Ngài chịu sỉ nhục, đánh đòn  và kết cục là cái chết trần trụi trên thập gía. Phía trên đầu Người có bản án viết:” Đây là vua người Do Thái.”
*  Đức Giê-su Ki-tô là vua, nhưng không như các vua chúa thuộc các chế độ phong kiến, quân chủ trần gian. Người là vua theo truyền thống Thánh Kinh từ Cựu ước: Vua là người thay mặt Thiên Chúa cai trị dân trong yêu thương và công lý. Vì thế vua là người chở che, bênh vực những người nghèo cô thế cô thân (bà góa, trẻ thơ, ngoại kiều) bị quan quyền, địa chủ áp bức bóc lột. Vua Giê-su Ki-tô sống trong cảnh đơn sơ, nghèo hèn không hề biết đến cảnh nhung lụa sa hoa. Vua Giê-su Ki-tô tỏ vương quyền của mình nơi hài nhi nằm trong máng cỏ Bê-lem. Vua Giê-su Ki-tô xác định  vương quyền của mình trước Đại hội đồng Do thái  kết án tử hình Người. Và vua Giê-su Ki-tô tỏ vương quyền của mình  trên thập giá, vì ở đấy Tình Yêu đạt mức độ cao nhất, tuyệt hảo nhất. Vua Giê-su Ki-tô đã đổ hết  máu mình ra mà cứu độ chúng sinh. Vua Giê-su Ki-tô cai trị là để cho vũ trụ hài hòa với thiên nhiên đã được Thiên Chúa tạo dựng trong tình thương và quyền năng. Vua Giê-su Ki-tô cai trị là để mọi người, nhất là những người nghèo và bị loại trừ- vui hưởng bình an, hạnh phúc.
2.Được tham dự vào chức vụ vương đế của Đức Kitô, chúng ta phải sống như thế nào?
 Giáo lý dạy chúng ta rằng: khi chịu phép Thánh Tẩy, chúng ta trở thành chi thể của Đức Giê-su Ki-tô và tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương đế của Người. Tham dự vào chức vụ vương đế của Đức Giê-su Ki-tô không có nghĩa là chúng ta có quyền “làm vua làm chúa” thiên hạ, sống trên đầu trên cổ người khác. Trái lại tham dự vào chức vụ vương đế của Đức Giê-su Ki-tô có nghĩa là chúng ta được tham dự vào sứ mạng phục vụ của Người. Tham dự vào chức vụ vương đế của Đức Giê-su Ki-tô có nghĩa là chúng ta có nghĩa vụ bênh vực người nghèo, người cô thế cô thân, người bị đàn áp bóc lột bởi cường quyền ác bá. Tham dự vào chức vụ vương đế của Đức Giê-su Ki-tô có nghĩa là chúng ta được mời gọi trở thành kẻ hầu người hạ, tôi tớ của anh em đồng loại. Tham dự vào chức vụ vương đế của Đức Giê-su Ki-tô còn có nghĩa là chúng ta hoạt động hết sức, hết khả năng để mở mang Nước Chúa tức mở rộng phạm vi cai trị của Vương Quyền Chúa.
Muốn được như thế, chúng ta phải có tinh thần khiêm tốn, quên mình, phục vụ tha nhân và Nước Chúa của chính Đức Giê-su Ki-tô. Trong cụ thể, chúng ta sống chức vụ vương đế trong gia đình máu mủ, trong gia đình thiêng liêng,  trong giáo xứ và giáo hội, trong khu xóm và xã hội. Chúng ta càng hy sinh cho người khác, càng phục vụ người khác thì chúng ta càng sống vai trò làm vua theo nghĩa Thánh Kinh, theo nghĩa mạc khải. Chúng ta càng giúp cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh em chị em trong gia đình riêng của mình cũng như  giúp giáo dân trong giáo xứ, người dân trong khu xóm, trong xã hội sống công bình, chính trực, đoàn kết, yêu thương, bác ái bao nhiêu là chúng ta càng mở rộng Nước Chúa Ki-tô bấy nhiêu.
CẦU NGUYỆN
Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, xin Chúa hãy làm vua tâm hồn con, để lòng trí con luôn hướng về Chúa, con mắt con luôn nhìn ngắm Chúa, miệng lưỡi con hằng chúc tụng ngợi khen Chúa, tâm trí con luôn suy niệm Lời Chúa, cuộc sống con luôn lấy đời sống của Chúa làm mẫu mực noi theo!
Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, xin Chúa hãy làm vua gia đình con, để mọi người thân của con sống mật thiết gắn bó với Chúa, sống luật Phúc Am của Chúa!
Lạy Chúa Giê-su Ki-tô xin Chúa hãy làm vua gia đình thiêng liêng của con để anh chị em chúng con ai nấy đều sống dưới sự che chở của Chúa và hăng say phục vụ  Nước Chúa. Amen.
P. Đamiano Đinh Ngọc Thiệu và Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

 

TN34-C28. GIÊSU  LÀ VUA của VƯƠNG QUỐC YÊU THƯƠNG

1.Chúa Giêsu, Vua tình yêu :
 

Ngày 11/ 12/ 1925, dịp kết thúc năm thánh cứu độ, Đức Piô XI long trọng công bố thiết lập lễ Chúa: TN34-C28

Ngày 11/ 12/ 1925, dịp kết thúc năm thánh cứu độ, Đức Piô XI long trọng công bố thiết lập lễ Chúa Giêsu Vua. Cử hành lễ Chúa Giêsu Vua, chúng ta tuyên xưng quyền năng và vinh quang của Chúa Giêsu. Thế nhưng, Tin Mừng  lễ Chúa Giêsu Vua không cho chúng ta thấy một vị vua uy quyền với hào quang như chúng ta thường thấy qua sách vở hay phim ảnh, mà ngược lại chỉ thấy một con người rơi vào hoàn cảnh thê thảm. Chúa Giêsu bị chính quyền đạo đời kết án, bị treo trên thập giá như một tội phạm. Các  thủ lãnh Do thái cười nhạo Ngài. Các quân lính chế diễu Ngài. Kẻ trộm bên tả Ngài thì chê trách, xỉ nhục Ngài. Hình ảnh Vua Giêsu mà Tin mừng phát họa làm ta liên tưởng tới hình ảnh cựu tổng thống Najibullah bi quân Taliban treo trên cột đèn giao thông  (năm 1996 phe Taliban vào Kabul bắt cựu tổng thống Najibullah, cột vào xe tải kéo lê trên đường phố cho đến chết rồi treo cổ lên cột đen giao thông).
Đâu là khuân mặt Vua Giêsu ? Muốn nhìn ra Vua Giêsu, cần phải bỏ đi kiểu cách suy nghĩ trần thế và nhìn bằng con mắt đức tin. Lúc đó chúng ta sẽ thấy Vua Giêsu khong phải là vị vua quyền uy thống trị với những oai phong trần thế. Một kiểu cai trị mà Chúa Giêsu chối từ.
Tin mừng ghi lai : Sau khi hoá bánh ra nhiều, dân chúng hồ hởi phấn khởi muốn suy tôn Ngài lên ngai vua, một vị vua quyền uy theo nghĩa trần thế đức Giêsu đã trốn lên núi ( x.Ga 6,15).
Đức Giêsu là Vua với cung cách một vị vua tình yêu va phục vụ. Ngài dùng tình yêu va hy sinh để cứu độ nhân loại khỏi vòng tội lỗi. Yêu thương đồng nghĩa với trao ban. Trao cho nhau một tặng vật, là trao một phần yêu thương. Trao cho nhau chính mình, là trao trọn vẹn tình yêu, là tận hiến, là yêu đến cùng. Chúa Giêsu đã nói về tình yêu ấy :”Không có  tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga. 15,13). Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá diễn tả hùng hồn và sâu sa nhất tình yêu tận hiến,tình yêu đến cùng. Với cái nhìn đưc tin, việc Chúa Giêsu tình nguyện hiến dâng trên thập giá là biểu tượng một tình yêu  trao ban đến cùng, một tình yêu hiến tặng trọn vẹn : Chúa Giêsu quả là Vua tình yêu.
Các môn đệ Chúa Giêsu vì thiếu cái nhìn đức tin nên đã không nhận ra tình yêu lớn lao đó, họ sợ hãi bỏ rơi vị Thầy như là Ngài thất bại.
Người trộm bên hữu đã nhận ra vị vua tình yêu, nên anh ta xin với Ngài nhớ đến anh khi vào  vương quốc của Ngài. Quả thật anh trộm lành đã tuyên xưng  vị vua tình yêu chiến thắng. Tình yêu đã chiến thắng mọi trở ngại : Trở ngại thứ nhất là những lời thách thức của  những người đòi một vị vua uy quyền. Họ đòi Ngài dùng quyền năng xuống khỏi thâp giá. Trở ngại thứ hai là cái chết khổ đau. Chính tình yêu chiến thắng của Vua Giêsu đã  cứu chuộc chúng ta, đã nối kết chúng ta lại với  thiên Chúa như thánh Phaolô đã xác quyết :” Nhờ máu Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã giao hòa với mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời”.(Cl. 1,20).                                                
2.Sống trong vương quốc  yêu thương : Khi ta nhận ra đức  Giêsu  là Vua tình yêu, chúng ta cần ghi nhận một số dấu chỉ để nhờ đó chúng ta biết được bản thân chúng ta có thuộc về vương quốc yêu đó hay không.Chúng ta chú ý 2 dấu  chỉ :
- Dấu chỉ 1: Dấn thân theo Vua Giêsu:  Trên thập giá Vua Giêsu đã dấn thân mang  lấy tất cả tội lỗi nhân loại, gánh chịu mọi khổ đau, nhục nhã. Nhờ sự dấn thân này, nhân loại được hưởng ơn cứu độ.Ngày nay, là thần dân của Vua Giêsu, chúng ta cũng cần theo con đường dấn thân chia sẻ những bất hạnh của những con người cô đơn, bệnh tật, già yếu, nghèo khổ, thất bại trong cuộc đời.Chia sẻ bang những lần viếng thăm, những lời ủi an, và nếu có thể bằng sự chia sẻ tiền của.
- Dấu chỉ  2: Sống tình huynh đệ : Vua Giêsu nói : “ Người ta cứ dấu này mà biết chúng con là “dân ta”, là chúng con có lòng thương nhau”
Chúa Giêsu là Vua tình yêu. Con đường Vua Giêsu đi, là con đường tình yêu. Đó cũng là con đường mỗi người chúng ta đi để theo Ngài .
Không có con đường nào khác. Con đường tình yêu là con đường thập giá.Tình yêu không thánh giá, tình yêu không hy sinh là tình yêu trong tiểu thuyết, tình yêu trên màn hình tivi. Vì ảo tưởng cho rằng: tình yêu không hy sinh, không thánh giá, nên nhiều va chạm với thực tế, nhiều người đã vỡ mộng, dẫn tới cảnh gia đình tan nát, xã hội nhiễu nhương.
Vua Giêsu đã yêu và đã chết vì tình yêu. Chính Ngài kêu gọi chúng ta chết đi cho những tự ái, những hờn giỗi, những hiềm tỵ, những nhỏ nhen, những thù hằn để tất cả những thứ đó thành chất bón cho cây tình yêu đơm hoa kết trái .  Cầu xin Vua Giêsu giúp chúng ta tiến bước trên con đường tình yêu mà Ngài đã khai mở và đang vẫy gọi chúng ta.
Lm ĐINH HOÀN NĂNG


 

TN34-C29. Kitô Vua.

Vào thời Chúa Giêsu, dân Do Thái đang mong chờ một vị vua sẽ đến để giải thoát họ khỏi ách: TN34-C29

Vào thời Chúa Giêsu, dân Do Thái đang mong chờ một vị vua sẽ đến để giải thoát họ khỏi ách đô hộ của đế quốc Lamã. Chính vì thế, sau phép lạ bánh hoá nhiều, họ đã tôn Chúa Giêsu lên làm vua, nhưng Ngài lại rút lên núi một mình.
Rồi trước câu hỏi của Philatô: Ông có phải là vua không? Chúa Giêsu chỉ đáp lại: Ông nói đúng. Và Ngài đã chết với bản án: Giêsu Nagiarét, vua dân Do Thái.
Tuy nhiên, nếu suy nghĩ chúng ta sẽ thấy: Ngài là một vị Vua, không giống bất kỳ vị vua nào trên trái đất. Một vị vua không ngai vàng, không cung điện, không binh đội và không bờ cõi. Một vị vua nghèo túng và khổ đau, một vị vua bị lăng nhục, bị nguyền rủa. Và đặc biệt, Ngài là một vị vua nhân hậu.
Đoạn Tin Mừng hôm nay cho thấy, chính vào lúc Ngài hấp hối trên thánh giá giữa những lời sỉ nhục và thách thức của các thủ lãnh và lính tráng, thì tiếng nói của anh trộm lành bất ngờ vang lên. Anh ta chấp nhận hình phạt: Chúng ta chịu như thế này thật là đích đáng vì xứng với việc chúng ta đã làm. Rồi anh tuyên xưng sự vô tội của Chúa Giêsu: Còn ông này, ông có làm điều gì trái đâu.
Điều lạ lùng hơn nữa là anh đã tuyên xưng vương quyền của Ngài, khi mà mọi sự dường như đã sụp đổ: Khi nào Ngài về nước Ngài, xin nhớ đến tôi cùng. Trong cái nhìn của anh, thì cái chết nhục nhã của Chúa Giêsu trên thập giá không phải là một dấu chấm hết, anh vẫn tin có ngày Ngài sẽ đến trong nước của Ngài và anh hy vọng mình sẽ được dự phần vào ngày đó.
Và Chúa Giêsu đã ban một ơn trọng đại vượt quá lòng anh mong ước: Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta.
Đức giám mục Bossuet đã chú giải như sau: Hôm nay, quả là nhanh biết mấy. Ở với Ta, quả thân tình biết bao. Trên thiên đàng, quả là nơi hạnh phúc vĩnh cửu. Như thế anh trộm lành là người đầu tiên được hứa ban ơn cứu độ. Kẻ gian phi lại là người trước hết được hưởng hoa trái của cái chết trên thập giá.
Tất cả những việc ấy đều nói lên lòng nhân hậu của Vua Giêsu đối với những kẻ bị gạt ra bên lề xã hội. Vị vua bị đóng đinh đã bắt đầu cuộc chinh phục của Ngài trên các tâm hồn. Và sau khi Ngài trút hơi thở cuối cùng, thì viên đội trưởng đã nhìn nhận Ngài là Con Thiên Chúa và đã đấm ngực ăn năn.
Chúa Giêsu là một vị vua khác thường, Ngài không thống trị bằng sức mạnh, nhưng Ngài phục vụ trong yêu thương. Cho đến ngày tận thế, Ngài vẫn thu hút chúng ta đến với Ngài. Thập giá là nơi vương quyền của Ngài được tỏ lộ mà không sợ bị hiểu lầm. Chúng ta cần ngắm nhìn Ngài trên thập giá để biết cách chinh phục thế giới. Bởi vì thế giới hôm nay xúc động trước lòng tha thứ.
Với những hành động bác ái và yêu thương, cho dù là tầm thường và nhỏ bé, chúng ta vẫn có thể làm chứng cho Đức Kitô. Mừng lễ Đức Kitô Vua, chúng ta hãy hạ bệ những thần tượng giả mạo, để cho Ngài chiếm hữu từng khoảng khắc cuộc đời, và ngự trị trong cõi lòng chúng ta.

 

TN34-C30. HAI TÊN TRỘM

Chúng ta hãy so sánh hai tên trộm. Trước hết, tên trộm không muốn hối lỗi. Hắn có cá tính ương: TN34-C30

Chúng ta hãy so sánh hai tên trộm. Trước hết, tên trộm không muốn hối lỗi. Hắn có cá tính ương bướng. Trong con người hắn không còn chỗ cho sự thông cảm, thương hại và lòng nhân đạo. Ngay cả khi cái chết gần kề, hắn vẫn không hề tỏ ra ăn năn.
Chúa Giêsu cũng không thể đến với hắn. Không ai có thể cứu vớt một người mà chính bản thân người đó không hề muốn được cứu rỗi. Ánh mặt trời không soi chiếu vào phía sau bức màn đã khép. Sự tha thứ của Chúa luôn sẵn có, nhưng ta phải sẵn lòng đón nhận. "Ai đang sống trong tình trạng nổi loạn, thì không thể đón nhận được ân sủng" (Oscar Wilde).
Giờ thì ta hãy nhìn đến tên trộm có lòng hối cải. Nhiều người có thể nghĩ rằng anh đã ra đi rất nhẹ nhàng. Sau quãng đời tội lỗi, anh mau mắn ăn năn sám hối, và lên thẳng thiên đàng. Ít là, chúng ta cho rằng anh đã thực hiện một nghĩa cử của lòng ăn năn hối lỗi.
Tuy nhiên, thật kinh khủng khi anh nghĩ lại những gì anh đã hành động trong quá khứ. Bị treo trên thập giá, anh suy gẫm về cuộc đời mình. Anh đã thấy những gì ? Một đống hoang tàn đổ nát. Anh đã phí phạm cuộc đời mình. Những cơ hội bị bỏ lỡ chỉ là chuyện nhỏ, anh đã bỏ lỡ cả cuộc đời mình.
Anh có thể bào chữa hoặc quy trách nhiệm cho người khác, những người nuôi dạy anh, môi trường sống, bạn bè ... Nhưng anh đã không làm như thế. Thực tế anh đã nói "Tôi là kẻ có tội và tôi đáng phải chịu như vậy." Anh nhận trách nhiệm hoàn toàn về mình.
Đó là một thái độ độc đáo. Ngày nay, người ta có khuynh hướng không nhận lỗi về mình mà lại thường đổ lỗi cho người khác. Theo các nhà tâm thần học, thì tội lỗi của chúng ta thực sự không phải là tội, nhưng chỉ là những sự cố gây nên trong quá trình những tác động mạnh mẽ vận hành vượt quá sự tự chủ của ta.
Thực hiện theo điều mà anh trộm hối cải đã làm chẳng dễ dàng. Tính tự phụ làm cho người ta cố tìm cách thoát khỏi điều đó. Thực hiện được như thế thật thuyết phục, trong một bầu khí tại đồi Gôngôtha trước sự chế giễu của những kẻ lãnh đạo tôn giáo và sự nhạo báng của những tên lính cũng như tên trộm kia, bạn của anh. Hơn nữa, giờ thì đã quá trễ để có thể làm được điều gì đó, đã quá trễ để có thể dọn sạch những đống đổ vỡ và làm lại từ đầu.
Tuy nhiên, hành động hối cải của anh rất cao quý, mặc dù điều đó sẽ vô ích cho anh, nếu như không có người có khả năng để giúp đỡ anh vào lúc đó. Nhưng Chúa Giêsu, bạn của những người tội lỗi, đã hiện diện ngay đó. Thái độ sám hối khiêm nhường và triệt để của anh đã làm Chúa động lòng thương. Chúa đã đem đến cho anh, không những ơn tha thứ mà còn trao ban cả Nước Trời.
Tên trộm có lòng hối cải đã đem đến cho chúng ta niềm hy vọng, đặc biệt cho những ai đang đi đến đoạn kết của cuộc đời mà không có gì để cho họ cảm thấy là tốt đẹp, không có gì để họ có thể tự hào trong cuộc đời của họ. Ngay cả vào giờ thứ mười một, vẫn còn có thể có tia nắng mặt trời. Bao lâu chúng ta còn thở, thì sẽ không có sự phán xét cuối cùng và sự phán xét cuối cùng sẽ tùy thuộc vào Chúa.

 

TN34-C31. CHƯỚNG NGẠI VẬT HAY BÀN ĐẠP ĐI TỚI

Lần nọ, hai khách du lịch đi ngang qua một khu rừng khi màn đêm phủ xuống. Chỉ trong vòng: TN34-C31

Lần nọ, hai khách du lịch đi ngang qua một khu rừng khi màn đêm phủ xuống. Chỉ trong vòng vài phút, con đường mòn họ đang đi mất hút. Trong bóng đêm, nỗi sợ hãi ẩn núp khắp nơi. Rồi thì, sự việc càng tệ hơn khi một cơn bão khủng khiếp kéo đến tàn phá khu rừng. Những ánh chớp khủng khiếp, tiếp theo sau là tiếng sấm giật loé sáng ngay dưới chân họ. Mưa như trút nước trên đầu họ và cây cối nghiêng ngả chung quanh.
Người đàn ông thứ nhất nhìn cơn bão với nỗi bi quan. Mỗi khi có ánh chớp loé sáng lên, ông ta lại nhìn bầu trời và nguyền rủa. Hậu quả là ông đã không tìm ra được con đường mòn và lạc trong rừng. Người đàn ông thứ hai thì nhìn cơn bão và cho đó là chuyện may vì mỗi khi ánh chớp loé sáng lên, ông ta lại tìm thấy lối mòn để đi và do đó ông ta có thể tiếp tục con đường của mình. Bằng cách chăm chú nhìn mặt đất, ông ta đã không lạc đường và dần dần mỗi bước, ông ta đã có thể đi ra khỏi khu rừng.
Đôi khi, điều đó lại là quy luật của cuộc sống : chỉ có đủ ánh sáng để nhìn thấy bước kế tiếp ; chỉ có thể có đủ nghị lực để làm công việc hiện tại.
Cùng một cơn bão cho cả hai người. Tuy nhiên, nó có thể là chướng ngại vật cho người này, trong khi lại là bàn đạp để đi tới cho người kia.
Hai người khách du lịch nhắc chúng ta về hai tên trộm trong Tin Mừng. Cả hai đều bị bắt trong đêm tối kinh hoàng. Đầu tiên là bóng tối của chính cuộc đời tội lỗi của họ. Sau đó là bóng tối khủng khiếp trên đỉnh đồi Gôngôtha khi Chúa Giêsu bị đóng đinh.
Một trong hai tên đã nguyền rủa bóng tối. Nhưng người kia lại thấy một tia sáng từ đó. Ánh sáng đó đến từ sự hiện diện của Chúa Giêsu, người bạn của những người tội lỗi, người đến để tìm kiếm và cứu những gì đã hư mất. Thái độ sám hối khiêm nhường và triệt để của anh đã làm Chúa động lòng thương. Chúa đã đem đến cho anh, không những ơn tha thứ mà còn trao ban cả Nước Trời.
Cuối cùng, người duy nhất có thể biết và hiểu chúng ta thấu đáo hoàn toàn là chính Chúa. Người sẽ viết tiểu sử chúng ta một cách chính xác nhất và chúng ta có thể tin tưởng hoàn toàn ở Người, vì Người có thể nhìn thấu tâm hồn chúng ta. Người thấy những vết thương và nỗi buồn, những vết sẹo và sự khổ cực, những niềm hy vọng và nỗi mong chờ của ta. Chúa Giêsu đã nhìn tên trộm và thấy nỗi đau buồn đã làm cho cuộc sống của anh bầm dập, Người đã cảm động.
Tên trộm có lòng hối cải đã đem đến cho chúng ta niềm hy vọng, đặc biệt cho những ai đang đi đến đoạn kết của cuộc đời mà không có gì để cho họ cảm thấy là tốt đẹp, không có gì để họ có thể tự hào trong cuộc đời của họ. Ngay cả vào giờ thứ mười một, vẫn còn có thể có tia nắng mặt trời. Với tấm lòng nhân từ tuyệt đối của Chúa Giêsu, Người sẽ đem đến ánh sáng cho những vùng mù tối.
Mãi mãi ơn cứu rỗi luôn là món quà của Chúa. Người ban phát nhưng không cho những ai (như cho tên trộm có lòng hối cải) ý thức thân phận nghèo khó của mình và những ai khao khát với đôi tay trống rỗng và một tâm hồn mong đợi.

 

TN34-C32. ĐIỀU TỐT GỢI LÊN ĐIỀU TỐT

Vào một buổi tối tại Dublin, một y tá đang khi đi vội vã dọc theo bến cảng để bắt kịp chuyến: TN34-C32

Vào một buổi tối tại Dublin, một y tá đang khi đi vội vã dọc theo bến cảng để bắt kịp chuyến xe buýt thì cô thấy một thanh niên nằm trên vệ đường trước mặt cô. Dường như anh bị bệnh hoặc bị thương. Cô dừng lại để xem mình có thể giúp gì được. Nhưng khi cô cúi xuống người thanh niên, thì anh ta nhảy chồm lên và giật túi xách của cô. Cô chống cự lại và xảy ra cuộc giằng co sau đó. Trong khoảnh khắc, mắt họ gặp nhau và bất thình lình người thanh niên ngừng lại sau khi nói : "Ồ, cô là y tá O’Reilly !".
Họ bắt đầu trò chuyện. Qua cuộc trò chuyện này cho biết rằng thời gian trước, người thanh niên này đã ở trong bệnh viện vì bị gãy chân và y tá O’Reilly đã chăm sóc hết sức tử tế cho anh. Anh hỏi thăm cô đang trên đường đi đâu. Cô nói cô đang đợi xe buýt. Anh ta đã đi cùng cô đến trạm xe và đợi cho tới khi có xe đến. Sau khi xin lỗi về những gì anh đã gây ra, anh chào tạm biệt cô.
Đây là một câu chuyện có thật. Nó dạy chúng ta điều gì ? Có lẽ bài học chính yếu là : người ta không hoàn toàn bị hư mất trong tội lỗi bao lâu mà họ còn có thể nhận ra đâu là điều tốt và đáp lại.
Đôi khi chỉ cần ta nhìn thấy được những điều tốt đẹp xuất phát từ những người chung quanh, lại có thể là tất cả những gì giúp ta tái khám phá chính bản thân mình. Trong những khoảnh khắc quyết định, một ký ức tốt đẹp có thể cứu vãn tính cách của ta. Một sự thấu cảm là điều có thể đưa con người trở về từ bóng tối.
Có thể cũng có người phụ nữ khác đi trên bến cảng đêm đó, nhưng người thanh niên có thể sẽ không hành động như trên. Anh ta có thể đã giật đồ của cô và không hề cảm thấy hối hận khi làm những điều ấy. Nhưng bởi vì người phụ nữ đó lại không phải là ai khác ngoài người mà anh ta đã từng biết, trong quá khứ của anh đó là một phụ nữ đã đối xử tốt với anh và anh ta không thể nào đối xử với cô ta một cách tàn ác như vậy. Sự tốt lành của cô càng khiến cho anh nhận rõ tội lỗi mà anh đang phạm phải ; và điều quan trọng hơn cả là : nó làm cho anh nhận ra bản chất tốt đẹp vẫn còn hiện hữu nơi con người anh. Điều đó đã giúp khơi dậy lên bản chất tốt đẹp cho dẫu ít ỏi vẫn còn sống động trong con người anh.
Câu chuyện này nhắc nhớ chúng ta về một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa Chúa Giêsu và hai tên trộm trên đồi Gôngôtha. Một trong hai tên trộm đã bị lấn quá sâu vào bóng tối của tội lỗi đến nỗi hắn ta không muốn tìm đến với ánh sáng. Tên trộm kia thì nhận ra ánh sáng từ sự thiện hảo của Chúa Giêsu và đã đáp lại.
Tên trộm có lòng hối cải đã nhận ra Chúa Giêsu là một con người vô tội. Điểm nổi bật, anh đã kêu lên lớn tiếng với Chúa trước tên trộm kia. Anh là người duy nhất làm chứng về sự vô tội của Chúa Giêsu. Sự thánh thiện của Chúa Giêsu khiến anh ta nhận ra tình trạng đáng thương của chính cuộc đời mình, nhưng đồng thời thức tỉnh bản chất tốt đẹp đã mất của anh. Hướng về Chúa, anh nhận ra rằng Chúa là người duy nhất có thể cứu rỗi anh trong phút cuối cùng của cuộc đời. Và Chúa Giêsu đã không làm anh thất vọng.
Chúa Giêsu là Vua đích thực, nhưng lại là một vị vua lạ kỳ so với các vua trần thế khác. Người đến không phải để chiếm đoạt mà là để biến đổi, không phải để thống trị nhưng là để giải thoát, không phải để thống trị mà là để phục vụ. Người đã chết như một tội phạm, thế nhưng Người đã trị vì từ thánh giá. Người đã dùng những điều tốt nhất nơi Người để đáp trả lại với điều tồi tệ nhất. Tại sao Người không chống trả lại những kẻ đã kết tội Người ? Nhà thơ Seamus Heaney, nói rằng "Người quyền lực thì không sử dụng quyền lực."
Điều mà tất cả chúng ta có thể làm chính là lặp lại những gì thánh Phaolô đã dạy : "Anh em hãy vui mừng cảm tạ Chúa Cha, đã làm cho anh em trở nên xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp của dân thánh trong cõi đầy ánh sáng. Người đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái ; trong Thánh Tử, ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi" (bài đọc 2).
LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế : Chúng ta nguyện xin Cha trên trời, Đấng đã thương giải thoát chúng ta khỏi quyền lực của bóng tối tội lỗi và dẫn đưa chúng ta vào Vương quốc của Con yêu dấu Người.
Xướng : Cầu nguyện cho Giáo Hội để các thành viên của Giáo Hội trở nên những sứ giả cho tình yêu của Đức Kitô đến với thế giới.
Xướng : Cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo để họ phấn đấu xây dựng nền công lý và hoà bình trong xã hội.
Xướng : Cầu nguyện cho những ai chưa nhận biết Đức Kitô là Đấng Cứu Độ và là Vua của họ : để họ nhận ra được Người và bước đi theo Người.
Xướng : Xin ơn thánh Chúa giúp chúng ta đừng sợ hãi tuyên xưng niềm tin của chúng ta vào Đức Kitô trước một thế giới còn nhiều dị biệt và chống đối.
Chủ tế : Lạy Thiên Chúa quyền năng và yêu thương, xin cho chúng con thực thi những điều Chúa mời gọi chúng con với hết tâm tình, để chúng con được chia sẻ cuộc sống mà Chúa hứa ban trong Vương quốc Con yêu dấu của Chúa, là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

 

TN34-C33. MỘT VỊ VUA KHÔNG GIỐNG AI

Mừng lễ Đức Kitô vua, phải chăng là một điều đã lỗi thời ? Thực vậy, con người hôm nay và: TN34-C33

Mừng lễ Đức Kitô vua, phải chăng là một điều đã lỗi thời ?
Thực vậy, con người hôm nay và nhất là giới trẻ thường khao khát được độc lập, mong ước được tự do và hạnh phúc. Họ không muốn chấp nhận quyền bính và vâng phục. Mỗi người tự cho mình là chủ và muốn làm gì thì làm.
Vậy tại sao chúng ta lại mừng kính Đức Kitô với tước hiệu là   vua ?
Đức Giáo Hoàng Piô XI đã thiết lập ngày lễ này vào năm 1925 với những lý do đặc biệt.
Trước hết, lúc bấy giờ những trào lưu vô thần đang bành trướng khắp nơi. Người ta chối bỏ Thiên Chúa và cố gắng xây dựng một xã hội hoàn toàn trần tục và vật chất. Đức Giáo Hoàng thấy có bổn phận phải công bố quyền lợi bất diệt của Đức Kitô. Ngài là vua vũ trụ.
Mặt khác Đức Giáo Hoàng cũng lên tiếng để ngăn ngừa những quan niệm sai lạc của một số người đạo đức cũng như của một số phong trào Công giáo Tiến hành. Những người này chỉ muốn coi Đức Kitô là một người anh, một người bạn cùng đi với họ trong lao động và cực nhọc.
Dầu vậy, chúng ta không bao giờ được quên rằng Đức Kitô trước hết và trên hết phải là Đấng quyền năng vĩnh cửu. Ngài là vua muôn vua. Và bổn phận của chúng ta là phải thờ lạy và thần phục Ngài.
Đức Kitô là vua vũ trụ, là vua muôn loài. Chỉ cần đọc lại phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay chúng ta sẽ thấy được như vậy.
Trong bức thư gửi tín hữu Côlossê, thánh Phaolô đã xác quyết :
- Đức Kitô là con Thiên Chúa. Nơi Ngài chúng ta được  tha thứ và cứu độ. Tất cả được dựng nên vì Ngài và cho Ngài. Ngài có trước mọi sự và mọi sự tồn tại trong Ngài.
Chúng ta là thần dân của Ngài. Và nếu suy nghĩ, chúng ta sẽ thấy Ngài là một vị vua đặc biệt, một vị vua lạ đời, một vị vua không giống ai.
Thực vậy, vua chúa trần gian luôn ưa thích những thành công và vinh quang. Họ dùng võ lực và sức mạnh để chinh phục bờ cõi. Họ yêu chuộng những kẻ luồn cúi, quì gối chúc tụng và phục vụ họ.
Trong khi đó, Chúa Giêsu hoàn toàn khác biệt.
Ngài sinh ra trong hang lừa máng cỏ với cảnh nghèo hèn. Ngài đã phải chạy trốn trong đêm tối. Suốt quãng đời thơ ấu, Ngài đã phải lao động vất vả tại xưởng mộc Nagiarét, kiếm sống bằng những giọt mồ hôi như những người thợ cần cù khác.
Từ năm ba mươi tuổi, Ngài đi khắp các làng mạc để rao giảng Tin mừng. Môn đệ của Ngài là những người quê mùa dốt nát. Ngài không xu thời, không mị dân, nhưng luôn luôn nói lên sự thật. Ngài đã sống một cuộc sống khắc khổ và đạm bạc, không có cả chốn tựa đầu. Và ban đêm Ngài thường lên núi cầu nguyện.
Đám đông vây quanh Ngài là những kẻ túng thiếu, ốm đau, bệnh tật. Ngài không đến để được phục vụ, nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình. Ngài hứa hạnh phúc bất tận cho những ai trung thành với Ngài.
Liệu có vị vua nào đã dám nói và dám làm như Ngài hay không ?
Khi người ta muốn tôn Ngài lên ngôi vua, thì Ngài lại âm thần bỏ trốn ra đi. Ngài là vị vua tối cao,  nhưng trong tay không có binh đội, không có vũ khí, thậm chí không có lấy cả một tấc sắt. Ngài là một vị vua không giống ai.  Một vị vua không cung điện, không triều thiên, không phủ việt. Có chăng cung điện của Ngài là đầu đường xó chợ. Triều thiên của Ngài là mạo gai. Phủ việt của Ngài là cây thập giá.
Ngài không chống cự kẻ thù,trái lại đã hôn Giuđa kẻ phản bội mình. Ngài đã yên lặng khi bị cáo gian, khi bị cười nhạo và sau cùng đã chết trên thập giá như một tay tội phạm. Phải chăng đó là một thất bại cay đáng ?
Thế nhưng không phải là như vậy. Bên cạnh những khổ đau ấy vẫn tỏa sáng nét hào quang. Các thiên thần đã hát vang trên cánh đồng Bêlem.  Ngôi sao lạ đã dẫn đường cho ba nhà đạo sĩ phương đông đến thờ lạy. Sứ thần Gabriel đã báo tin để chạy trốn sang Ai cập. Ngài đã giảng dạy một cách tuyệt vời đến nỗi không ai nói được như Ngài. Ngài đã làm phép lạ cho kẻ đau yếu được lành mạnh, kẻ chết được sống lại và truyền cho sóng biển phải yên lặng. Ngài đã biến hình trên đỉnh Taborê và loan báo những sự việc sắp xảy đến. Bị mai táng trong mồ, nhưng Ngài đã sống lại khải hoàn.
Hỏi có vị vua nào được như Ngài ?
Ngài đã lên trời và một ngày nào đó sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Kể từ ngày Ngài về trời đến nay đã được hai ngàn năm và đạo quân hòa bình của Ngài vẫn không ngừng gia tăng.
Vì lòng yêu mến Ngài, ngày hôm nay hàng ngàn, hàng vạn và hàng triệu người đã từ bỏ tất cả để  bước theo Ngài. Chấp nhận tù ngục, đau khổ và thậm chí cả cái chết để được trung thành với Ngài. Liệu bây giờ có ai sẵn sàng chết cho Quang Trung, cho Lê Lợi hay không ?
Các vị thừa sai hôm nay vẫn còn đi cho đến tận cùng trái đất để rao giảng Tin mừng của Ngài. Liệu có vị vua nào được như Ngài hay không ?
Tuy nhiên, điều quan trọng đó là Đức Kitô có thực sự là một vị vua trong tâm hồn, trong gia đình và trong xã hội của chúng ta hay không ? Liệu chúng ta có dám chấp nhận những hy sinh gian khổ để góp phần mở mang bờ cõi thiêng liêng của Ngài hay không ?

 

TN34-C34. KITÔ VUA - NMS/192

Trong một phiên họp mật để bầu Giáo hoàng, các Hồng y do dự giữa ba ứng cử viên nổi bật nhất: TN34-C34

Trong một phiên họp mật để bầu Giáo hoàng, các Hồng y do dự giữa ba ứng cử viên nổi bật nhất : một vị rất thánh thiện, vị thứ hai rất thông thái và vị thứ ba có óc thực tế. Và một vị Hồng y đã chấm dứt sự do dự ấy bằng cách trích dẫn bức thư của Thánh Bernard de Clairvaux như sau : “Không cần phải do dự làm chi   nữa ! Trường hợp bầu Giáo hoàng mới của chúng ta hôm nay đã được phân tích rõ ràng trong bức thư thứ 24 của Thánh Tiến sĩ Bernard de Calairvaux. Bây giờ, chỉ cần áp dụng theo đó là tất cả đều êm xuôi : ứng cử viên thứ nhất thánh thiện thì hãy để yên cho Ngài cầu nguyện, đọc kinh Lạy Cha cho chúng ta là kẻ tội lỗi ; ứng cử viên thứ hai thông thái hãy để cho Người viết sách dạy dỗ chúng ta ; còn ứng cử viên thứ ba khôn ngoan, thực tế, chúng ta hãy bầu Ngài làm Giáo hoàng để cai trị chúng ta.
Chắc chúng ta không ai phản đối việc nhận định sáng suốt của Thánh Bernard de Clairvaux và sự phân tích hợp lý của Vị hồng y kia, nhưng còn một điều kiện hết sức quan trọng mà có lẽ các Ngài đã bỏ qua không đề cập tới. Bởi vì, nếu không có điều kiện này thì những kẻ cầm quyền cai trị, nhất là nắm giữ những vai trò tối cao, sẽ dễ dàng đi vào con đường không bạo tàn độc ác thì cũng bất nhân, xảo quyệt.
Cứ nhìn vào lịch sử nhân loại sẽ thấy một Tần Thủy Hoàng bạo ngược đến độ đốt sách, giết cả nhà trí thức, học trò giỏi trên 2000 mạng để dễ bề cai trị ; một Néron hung tàn vì thỏa mãn lòng kiêu căng đã đốt sạch đế đô La Mã để có cớ xây lại huy hoàng hơn ; một Napoléon tham vọng đã đẩy hàng triệu người vào cái chết và gần đây một Hitler hiếu chiến hiếu sát đã lôi kéo cả thế giới vào một cơn lốc chém giết, tàn phá nhau khủng khiếp. Và biết bao nhiêu vua chúa quan quyền khác đã cai trị thần dân bằng cách bắt họ lụy phục mình hơn là phuc vụ họ.
Tuy nhiên, có một vị Vua mà vương quyền Ngài bao trùm cả vũ trụ, thống trị mọi tạo vật, thế mà Ngài đã cai trị bằng một đường lối khắc hẳn đến độ nhiều người lầm tưởng cho Ngài bất tài, yếu đuối, nhu nhược. Và đôi khi có những người xưa cũng như nay đứng lên thách thức Ngài cách ngạo mạn, khiêu khích Ngài cách trắng trợn, nhưng Ngài vẫn nhẫn nhục, im lặng, vui vẻ, bao dung.
Bởi vì, các vua chúa, quan quyền thế gian mang trong mình sự hèn yếu, hữu hạn thì lại hay dùng quyền uy, bạo lực, còn Chúa Giêsu Kitô với quyền năng cao cả, vô song, thường chỉ dùng sự độ lượng, khoan dung, tha thứ, yêu thương để phục vụ thần dân. Đó là điều khác biệt và cũng là yếu tố quan trọng nhất mà những kẻ quyền thế đời này ít dùng.
Chính vì thế, Chúa đã thi hành vương quyền của mình không phải bằng cách xuống khỏi thập giá rồi dùng vũ lực siêu phàm để đè bẹp, đàn áp đối phương, nhưng bằng cách can đảm chấp nhận sỉ nhục, đau khổ, cái chết để phục vụ, yêu thương mọi người, cốt sao lôi kéo họ lên với Ngài và đưa họ vào vương quốc của Ngài như người trộm lành trong bài Phúc Âm hôm nay. Ngoài ra, qua thái độ, lời nói, nhất là cách sống mà Chúa đã để lại cho nhân loại, chứng tỏ Ngài thực thi quyền bính không nhằm phục vụ lợi lộc trước mắt, mà để làm cho mọi người được hạnh phúc mãi mãi.
Như vậy, có thể nói rằng vương quốc của Chúa là vương quốc tình thương ; quyền lực của Chúa là quyền lực tình thương ; vũ khí, binh lính của Chúa cũng bằng tình thương và cách cai trị của Chúa tất nhiên chỉ có tình thương.
Thế mà, chúng ta được mệnh danh là con cái và thần  dân của Chúa thì lại chủ trương cách suy nghĩ và cách sống đối lập với đường lối cai trị của Chúa khiến nhiều người ngoài khi nhìn vào chúng ta không biết chúng ta theo đạo nào, thờ phượng ai ?
Trước hết là lối suy nghĩ của chúng ta quá thiển cận và lố bịch. Nói rõ hơn, nhiều khi gặp những trái ý, khó khăn ở trong uộc sống, chúng ta thường có ý nghĩ đòi hỏi Chúa tại sao không ra tay tiêu diệt đau khổ, bất công, bệnh tật, loạn lạc bằng quyền phép thành thông cho con người được nhờ. Đôi khi vì quá thất vọng đến độ như điên dại, nhiều người cả dám thách thức Chúa làm điều này điều nọ như là một điều kiện để họ tin Ngài là Thiên Chúa thật. Nhưng Chúa vẫn im lặng, không trả lời sự khiêu khích của họ bằng những điềm thiêng dấu lạ, trái lại Ngài một mực yêu thương, tha thứ cho họ.
Thứ đến là cách sống của chúng ta cũng thường mang tính cách nổi loạn, nghĩa là chúng ta không tuân theo lời Chúa chỉ dạy, đã đối đãi với Chúa và với anh em chẳng những thiếu tình yêu nồng thắm, rộng lượng, baao dung, trái lại bằng hèn nhát, nhỏ nhen, ích kỷ, độc ác. Đôi khi, chúng ta còn hành động trái ngược luân thường đạo lý, giới răn luật lệ của Chúa cách nghiêm trọng như làm gương mù gương xấu, phạm thượng.
Với cách suy nghĩ và cách sống như thế làm sao chúng ta là thần dân của Vua tình thương và làm sao có thể được vào sống trong vương quốc tình thương được, nếu chúng ta không hết lòng khiêm tốn xin Chúa tha thứ và quyết tâm ăn năn chừa cải như tên trộm lành để được Chúa hứa ban hạnh phúc thiên đàng.

 

TN34-C35. ÔNG VUA TỘI NGHIỆP - CS/157

Khi nói đến vua chúa người ta nghĩ ngay đến quyền lực, danh vọng, đến nhung lụa, đến lầu son: TN34-C35

Khi nói đến vua chúa người ta nghĩ ngay đến quyền lực, danh vọng, đến nhung lụa, đến lầu son gác tía v.v… Vậy mà trong thánh lễ hôm nay, thánh lễ suy tôn Chúa Giêsu là Vua Vũ trụ, bài Tin mừng lại chỉ đề cập tới cái chết tủi nhục và đau đớn của Chúa Giêsu trên thập giá. Thay vì những lời tung hô vạn tuế vua trời đất, lại chỉ là những lời mỉa mai và nguyền rủa.
. Những bậc lão thành trong dân nói với nhau: “Hắn đã cứu được thiên hạ, có giỏi thì cứu lấy mình đi, nếu quả thật hắn là Đức Kitô, là người Thiên Chúa tuyển chọn”.
. Bọn lính tráng thì chế diễu: “Nếu ông là vua dân Do thái thì hãy tự cứu mình đi:.
. Ngay cả đến anh tội phạm bị đóng đinh với Chúa Giêsu cũng thách thức Người: “Ông không phải là Đấng Kitô hay sao? Hãy tự cứu mình và cứu chúng tôi với chứ?”.
Thế đấy. Chính lúc Chúa Giêsu tuyên bố mình là vua thì lại là lúc Người lâm vào hoàn cảnh bi thương nhất. Chính lúc Người được gọi là vua cũng là lúc Người cô đơn nhất vì bị bỏ rơi. :Lạy Cha, sao Cha đành bỏ con”.
Quả là điều nghịch lý và khó hiểu. Nhưng nếu chúng ta biết được rằng Chúa Giêsu đón nhận tất cả những nỗi bi thương, những đớn đau tủi nhục ấy vì ai và vì mục đích gì, thì chúng ta cũng sẽ hiểu được điều nghịch lý nói trên. Thật vậy, chính điều nghịch lý và khó hiểu này lại làm sáng lên nội dung của ngày lễ Chúa Giêsu làm Vua Vũ trụ. Chúa làm Vua, nhưng không phải như các vua chúa trần gian, với binh hùng tướng hậu, với vinh quang và quyền lực, với lầu son gác tía, với kẻ hầu người hạ… Người làm Vua trong chính sự nghèo nàn tột cùng, khổ đau tột cùng để nói với con người hai tiếng Yêu thương. Người làm Vua trong một vương quốc có tên gọi là Tình Yêu. Người thiết lập vương quốc của Người bằng tình yêu chứ không phải bằng chiến tranh và súng đạn. Những giọt máu và nước cuối cùng trong thân thể Người đã đổ ra như một chứng tích của tình yêu vô tận ấy. Như thế thì những ai muốn làm công dân trong vương quốc của Người không thể có một cách sống nào khác hơn là Sống Tình Yêu Thương trong cuộc đời mình.
. Một tình yêu biết tha thứ như Người đã tha thứ: “Lạy Cha xin tha cho họ vì họ lầm.
. Một tình yêu biết vượt ra khỏi cái tôi ích kỷ hẹp hòi của mình để quan tâm tới những nhu cầu và hạnh phúc của anh em mình.
. Một tình yêu dám sống và chết cho tha nhân như Chúa Kitô đã sống và chết cho ta.
Chúa nhật hôm nay là Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ, nó gợi cho mỗi kitô hữu nhớ tới giây phút cuối cùng của đời mình. Giả như chính lúc này là những giây phút cuối cùng ấy thì sao, thưa quí ông bà và anh chị em. Liệu ta có đang ở trong vương quốc của Vua Giêsu hay đang ở ngoài.
Mừng lễ Chúa Kitô Vua, Hội thánh mời gọi chúng ta hồi tâm và tự tra vấn về tình yêu thương trong cuộc sống của mình, bởi lẽ mai này chúng ta sẽ bị xét xử về tình yêu thương ấy.

 

TN34-C36. LỄ CHÚA KITÔ VUA - LS II/563

Ý nghĩa của những bài đọc lễ Chúa Kitô Vua thật rõ ràng. Bài đọc thứ nhất và thứ hai mô tả: TN34-C36

Ý nghĩa của những bài đọc lễ Chúa Kitô Vua thật rõ ràng. Bài đọc thứ nhất và thứ hai mô tả đặc điểm chính dung mạo của Đấng làm chủ tể của vũ trụ này, làm chủ cả cuộc đời chúng ta. Ngài là Đấng chăm sóc chúng ta như mục tử chăm sóc từng con chiên và hy sinh chính mình trên Thập giá để cứu rỗi chúng ta. Ngài qui tụ chúng ta lại thành một cộng đoàn của Chúa, và có Chúa là có tất cả. Nhưng bài Phúc âm nhấn mạnh đến thái độ của chúng ta trong cộng đoàn dân Chúa, đó là thái độ duy nhất để theo đó chúng ta được xét xử vào lúc cuối cùng “ai làm cho một trong những người anh em bé mọn nhất của Ta là làm cho chính Ta”.
Quen với tâm thức mới, từ ngữ mới, con người ngày nay không còn tinh thần quân chủ của con người ngày xưa. Mừng lễ Chúa Kitô Vua có thể chúng ta bị phê bình như kẻ mơ ước một dĩ vãng đã qua đi, một tâm thức đã lỗi thời, vì thời nay còn có mấy vua cai trị đất nước của họ. Nhưng nếu xét như vậy thì chính chúng ta đã hiểu sai lầm về sứ mạng của Chúa Giêsu Kitô và cũng hiểu lầm, hiểu sai về sứ mạng của chính mình trong xã hội. Từ ngữ được sử dụng không quan trọng cho bằng nội dung mà người sử dụng đó muốn nói lên. Chúa Giêsu Kitô đã muốn nói gì khi Ngài sử dụng từ ngữ “Vua” để chính thức xác nhận thực thể của Ngài hiện nay.
Trước mặt quan Philatô tra hỏi: “Ông có phải là vua hay không?” Rõ ràng quan Philatô đã hiểu hay đúng hơn bị lèo lái để hiểu Chúa Giêsu Vua như một đối thủ nguy hiểm với hoàng đế Rôma. Philatô và nhiều người khác trong dòng lịch sử đã chính vị hóa sứ mạng cứu rỗi của Chúa Giêsu Kitô, và khi trả lời quả quyết cho quan Philatô: “Ta là Vua, Ta đến để làm chứng cho sự thật” , Chúa Giêsu đã muốn nói lên cho Philatô và cho những ai muốn cáo gian Ngài rằng Ngài không phải là Vua theo quan điểm tục hóa chính trị hóa của họ, nhưng Ngài là Vua, là Chủ của mọi sự. Chúa Giêsu lại là một người chủ hy sinh chính mạng sống mình để cứu rỗi, để dạy cho bất cứ ai, cho mỗi người chúng ta muốn bước vào vương quốc của Ngài. Trong cộng đoàn của Ngài thì phải sống như Ngài, thực hành yêu thương, đón nhận phục vụ anh em như chính Ngài. Còn có vị vua nào trên trần gian này đã làm và sống như Chúa Kitô đã sống hay không?
Mừng lễ Chúa Kitô Vua ở giai đoạn cuối của năm phụng vụ để rồi vào Chúa nhật tới chúng ta bước vào năm phụng vụ mới theo chu kỳ năm B, chúng ta hãy xét lại chính cuộc sống của mình trong thời gian vừa qua đi và cũng vừa lặp lại. Chúng ta mỗi ngày càng một lớn thêm lên về thể xác, tuổi tác và kiến thức tinh thần, về kinh nghiệm sống ở đời, nhưng hằng ngày chúng ta cũng được nghe lại, được dịp để sống lại, để thực hành lại giáo huấn của Chúa, có thể chúng ta đã bỏ qua bao dịp may để phát triển tình yêu thương của mình, chúng ta đã bỏ qua bao dịp may để học lấy bài học yêu thương từ Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta cho đến cùng và muốn chúng ta cũng phải yêu thương anh em cho đến cùng như Chúa.
Cô Maria được Chúa báo tin là sẽ đến thăm ngày hợm đó, cô vui mừng chuẩn bị quét dọn sạch sẽ mọi nơi có thứ tự và nao nức ngồi chờ. Chuông reo ngoài cửa, cô vội vã chạy ra mở cửa nhưng rồi thất vọng vì cô phải đối diện với người ăn mày xin giúp đỡ, cô gắt gỏng từ chối viện lý do là không còn thời giờ để làm gì được nữa, vì phải lo tiếp một vị khách quan trọng sắp đến.
Đến trưa lại có tiếng chuông reo, cô chạy nhanh ra cửa, nhưng rồi cũng thất vọng và gắt gỏng xua đuổi một người láng giềng già cả cô đơn đang run rẩy trong cơn sốt đến nhờ cô giúp đỡ đưa ra nhà thương, cô khước từ viện lý do là phải ở nhà để đón tiếp vị khách quí, nhưng người khách quí đó chưa đến.
 Trời đã xế chiều, cô Maria càng nao nức hơn nữa, chuông lại reo ngoài cổng cô mừng thầm chắc lần này là chính Chúa Giêsu đến theo lời Ngài đã hứa, nhưng cũng không phải mà đó là một người khách lạ ăn mặc rách rưới đói khát đang cần một chỗ nghỉ qua đêm, cô tức giận xua đuổi không cho vào nhà vì sợ làm dơ căn phòng để tiếp rước Chúa.
 Một ngày qua đi mà Maria không thấy bóng dáng Chúa đâu cả, cô buồn phiền trong lòng, mệt mỏi đợi chờ nên ngủ thiếp đi. Trong giấc mơ, cô mơ thấy Chúa đến.. Việc đầu tiên là cô trách: “Tại sao Chúa không đến như đã hứa?” , Chúa Giêsu trả lời: “ Ta đã đến với con ba lần trong ngày, nhưng đều bị con từ chối, vì con đã không nhìn thấy Ta trong kẻ đến gõ cửa nhà con” . Tỉnh giấc Maria đã hiểu nhưng cũng đã quá muộn rồi, những dịp may để gặp Chúa không còn nữa.
 Chúng ta đừng bỏ mất dịp may như cô Maria trong truyện trên, chúng ta còn nhiều dịp để thực tập và thực tập lại mãi mãi bài học yêu thương của Chúa cho đến ngày Chúa đến tính sổ với mỗi người chúng ta.
 Xin Chúa Kitô là Vua đổ tràn tình yêu xuống trong tâm hồn chúng ta, cho chúng ta bừng cháy lên tình yêu và biết đón nhận Chúa trong anh em. Lạy Chúa, xin hãy ban cho con tình yêu và đức tin.

 

TN34-C37. Vương quốc Đức Kitô - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt.

Nghe bài Tin Mừng hôm nay, có lẽ nhiều người thắc mắc: Giáo Hội có nhầm không? Ngày: TN34-C37 FB

Nghe bài Tin Mừng hôm nay, có lẽ nhiều người thắc mắc: Giáo Hội có nhầm không? Ngày lễ Chúa làm Vua mà lại đọc bài tường thuật cái chết tủi nhục của Chúa. Thật khó hiểu.
Ta không hiểu, vì trí ta luôn vẽ ra hình ảnh một ông Vua theo kiểu trần gian. Trong khi Chúa Giêsu đã cho biết: “Nước tôi không thuộc trần gian này” (Ga 18,36). Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy ba tính cách của Vương quốc Đức Kitô.
Đó là Vương quốc của lòng hiếu thảo. Thiên Chúa muốn thiết lập Vương quốc này ngay từ buổi sơ khai. Nhưng ma quỷ phá hoại bằng cách xúi giục con người chống lại Thiên Chúa. Chúa Giêsu xuống thế để tái lập mối liên hệ Cha-Con giữa Thiên Chúa với loài người. Người đã sống như một người Con Hiếu Thảo của Đức Chúa Cha. Sống kết hiệp với Đức Chúa Cha. Trong Phúc Âm, lời đầu tiên Người nói là nói về Đức Chúa Cha: “Cha mẹ không biết con phải lo việc của Cha con ư?” (Lc 2,49). Lời cuối cùng của Người cũng hướng về Đức Chúa Cha: “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Trọn cuộc đời Người luôn thi hành thánh ý Cha, cho dù có những lúc phải đổ mồ hôi máu mới bỏ được ý riêng mình. Người đã sống đến cùng tâm tình của người con hiếu thảo. Trên thập giá, Người đã hoàn tất việc thiết lập Vương quốc ban đầu theo ý định của Thiên Chúa; quy tụ những người con hiếu thảo trong nhà Cha trên trời.
Đó là Vương quốc của sự tự do. Con người rời xa Thiên Chúa rơi vào vòng tay ma quỷ. Ma quỷ trói buộc con người bằng những sợi dây nô lệ: nô lệ cho danh vọng, nô lệ cho tiền bạc, nô lệ cho thú tính. Đức Giêsu xuống trần gian để giải thoát con người khỏi ách nô lệ ma quỷ. Người cứu con người khỏi mọi thứ sợ hãi. Người giải phóng ta khỏi mọi áp lực, mọi mặc cảm. Trọn đời Người nêu gương một đời sống tự do. Thoát khỏi sự ràng buộc của của cải vật chất, Người sống như một người nghèo: “Con chim có tổ, con chồn có hang, nhưng Con Người không có hòn đá gối đầu” (Mt 8,20). Người đã chống lại những cơn cám dỗ về quyền lực từ ngày đầu tiên trong sa mạc cho đến phút cuối đời trên thập giá: “Nếu Ông là Con Thiên Chúa, hãy biến đá thành bánh mà ăn” (Mt 4,3). “Nếu Ông là Đức Kitô, hãy xuống khỏi thập giá, chúng tôi sẽ tin”. Rất tự do, Người đã đi vào cái chết. Chính khi bị treo trên thập giá, thân trần trụi, mất hết mọi uy tín, danh dự, Người đã phá tung hết mọi thứ xiềng xích nô lệ, khai mạc một triều đại tự do cho con người.
Đó là Vương quốc của tình yêu. Chúa Giêsu xuống trần để làm chứng về tình yêu. Rao giảng, thi ân, tha thứ. Tình yêu lên đến cực điểm trong những giây phút cuối đời khi Người quỳ xuống rửa chân cho môn đệ, khi Người chữa lành tai cho kẻ đến bắt Người, khi Người tha thứ cho kẻ phản bội, và nhất là khi Người cầu xin Đức Chúa Cha tha thứ cho những kẻ giết Người. Thật là một tình yêu nguyên tuyền không hề vương chút hận thù. Một tình yêu bao la lan tới mọi góc biển chân trời. Một tình yêu cao cả đáp lại hận thù. Thánh giá diễn tả tình yêu Chúa Giêsu dành cho Đức Chúa Cha. Thánh giá diễn tả tình yêu Chúa Giêsu dành cho nhân loại. Thánh giá diễn tả tình yêu tha thứ Chúa Giêsu dành cho những kẻ thù ghét Người.
Cái chết trên thập giá là một cuộc chiến thắng. Chiến thắng của tâm tình hiếu thảo. Chiến thắng của sự tự do nội tâm. Chiến thắng của tình yêu. Chính trên cây thập giá, Chúa Giêsu đã lên ngôi vua. Chính khi hứa cho người trộm lành vào thiên đàng, Chúa Giêsu đã khai mạc vương quốc của Người.
Vương quốc Đức Kitô đã rộng mở chào đón tất cả mọi người. Chúng ta hãy mặc lấy tâm tình của người con hiếu thảo hoàn toàn vâng phục thánh ý Đức Chúa Cha, hãy sống tự do, dứt bỏ mọi ràng buộc của danh, lợi, thú, hãy mở rộng trái tim yêu thương. Như thế ta mới xứng đáng trở thành công dân trong Nước Chúa.
Lạy Chúa Giêsu là Vua của tâm hồn con, xin nhận con vào Vương quốc của Người. Amen.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1) Đã bao giờ bạn cảm nghiệm được sự tự do hoàn toàn, không còn ham hố tiền tài, danh vọng, lạc thú chưa? Nếu có, bạn cảm thấy thế nào?
2) Hình ảnh về Vua Giêsu nghèo hèn, khiêm nhường, chịu thiệt thòi, luôn tha thứ gợi lên trong bạn tâm tình nào?
3) Tuần này bạn sẽ làm gì để Vương quốc Chúa Giêsu lan rộng tới những người chung quanh?

 

TN34-C38. LỄ KITÔ VUA - ASTY/237

Trong Tin mừng hôm nay, thánh Mattheu tường thuật lại quang cảnh lễ Chúa Kitô vua. Đặt lễ: TN34-C38

Trong Tin mừng hôm nay, thánh Mattheu tường thuật lại quang cảnh lễ Chúa Kitô vua. Đặt lễ Chúa Kitô vua trong Chúa nhật cuối cùng năm Phụng vụ, Giáo Hội nhắc nhở chúng ta rằng: Đức Kitô chính là Vua của vũ trụ, Ngài là chủ của thời gian, của lịch sử nhân loại và chủ của lịch sử mỗi người chúng ta.
Với tâm tình của người kẻ trộm lành bên cạnh Chúa Giêsu trong những giờ phút cuối cùng, chúng ta cũng hãy tuyên xưng vương quyền của Ngài và nói lên với Ngài tất cả niềm tín thác của mình, xin Ngài tiếp tục đồng hành và gìn giữ chúng ta trong cuộc sống hằng ngày. Và giờ phút này trước khi tưởng niệm cái chết và sự phục sinh của Ngài, chúng ta hãy xin Ngài thứ tha những lầm lỗi mà chúng ta đã xúc phạm đến Ngài, cũng như đã xúc phạm đến anh chị em bằng cách này hay cách khác.
Nếu phong thánh là một cử hành qua đó Giáo Hội long trọng tuyên bố rằng : một người nào đó đang được hưởng phúc trên thiên đàng, thì con người đầu tiên phải được phong thánh chính là một trong hai người cùng chịu đóng đinh với Chúa Giêsu, tức là người thường được mệnh danh là kẻ trộm lành.
Trong một số tài liệu không được Giáo Hội nhìn nhận là linh hứng thì kẻ trộm có tên là Dysmas, theo truyền thuyết thì ngay cả thập giá của Dysmas cũng đã được mang về Bolognia bên Italia. Nhiều vị thánh trong những thế kỷ đầu của Kitô giáo đã kính nhớ một cách đặc biệt vị thánh Dysmas này. Dysmas kẻ trộm lành quả thật là một vị thánh Dysmas đầu tiên trong Giáo Hội đã được chính Đức Giêsu phong thánh khi Ngài tuyên bố rằng : “Ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”. Còn bằng chứng nào hùng hồn hơn chính lời của Chúa Giêsu. Dysmas đã được Chúa Giêsu phong thánh bởi vì ông là người đầu tiên trong nhân loại đã tuyên xưng niềm tin vào vương quyền của Chúa Giêsu, khi ông thưa với Chúa rằng : “Lạy Ngài, khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi”.
Vậy có thể nói được rằng : Hẳng phải có một niềm tin sâu sắc của một vị thánh thì người ta mới có thể thốt lên được một lời tuyên xưng như thế trong một hoàn cảnh nghiệt ngã hầu như tuyệt vọng. Dysmas kẻ trộm lành đã có thể thách thức và nguyền rủa Chúa Giêsu như người bạn cùng treo với ông hoặc như đám lý hình đang đứng dưới chân Thập giá. Thế nhưng ông đã không làm thế, ông đã có tâm hồn của một vị thánh khi ông biết nhìn xuyên qua cái bề ngoài tất tưởi thương đau bất lực của Chúa Giêsu đệ thấy được quyền năng của một vị Vua mà vương quốc của Ngài không thuộc về trần thế này. Chính trong cái cảnh trơ trụi và tàn bạo nhất do con người tạo ra đó mà Chúa Giêsu đã đăng quang như một vị vua.
Thật thế, các sách Tin Mừng đã đặt lễ đăng quang của Chúa Giêsu trong chính cuộc tử nạn của Ngài. Khởi đầu là cuộc khải hoàn tiến vào thành Jêrusalem, trong đó Chúa Giêsu đã ngồi trên lưng của một con lừa con. Qua cử chỉ này, Chúa Giêsu đã khẳng định rằng : “Ngài là Vua” nhưng Ngài là Vua không theo các cung của các vua chúa trần gian. Tất cả bản án của Chúa Giêsu đều xoay quanh tước hiệu của Ngài.
Thật thế, lời tố cáo mà nhiều người đã đưa ra để buộc tội Ngài là : “Hắn đã tự xưng mình là vua”. Quan Tổng trấn Philatô đại diện cho chính quyền amã cũng hỏi Ngài : Ông có phải là vua dân Do thái không ? và Chúa Giêsu đã trả lời : “Ta là Vua”. Sau cùng, bản án của Ngài được ghi trên thập giá, viết bằng ba thứ tiếng : Hylạp, Latinh và tiếng Do Thái, bản án được ghi như sau : “Jêsu Nazareth, vua người Do thái”.
Chính trong niềm đau tột cùng và cái chết tất tưởi trên Thập giá mà Chúa Giêsu đã đăng quang như một vị vua, nhưng cũng chính trong cuộc tử nạn ấy mà Ngài đã xác quyết rằng : “Vương quốc của Ngài không thuộc về thế gian này” và Ngài không làm Vua theo các cung cách của các vua chúa ở trần gian. Chúa Giêsu là Vua những Ngài là Vua của phục vụ, của khiêm hạ, của quên mình và nhất là của tha thứ trong yêu thương.
Thật vậy, còn gì vương giả cho bằng khi Ngài cầu nguyện với Thiên Chúa Cha để xin ơn tha thứ cho những kẻ đã làm hại Ngài. Chúa Giêsu là Vua của tình yêu, chính tình yêu là sức mạnh của Ngài, và cũng chính tình yêu ấy đã khiến cho Ngài tuyên bố : “Khi nào Ta chịu treo trên Thập giá, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta”.
Qua 2000 năm, lời ấy vẫn mãi được ứng nghiệm. Ngoài Đức Kitô ra, không có một vị vua nào trên trần gian này được nhân loại chọn làm trọng tâm của lịch sử. Chấp nhận hay không chấp nhận, tin hay không tin ai cũng phải lấy Đức Giêsu làm các mốc để tính thời gian. Có một thời gian trước Đức Kitô và có một thời gian sau Đức Kitô, dù có tránh trên của Ngài để nói : trước hay sau Công nguyên thì con người nói như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II : “Con người sẽ không bao giờ loại bỏ Đức Kitô ra khỏi lịch sử của mình”. Đức Kitô đang lôi kéo mọi người về với Ngài, Ngài đang đồng hành trong lịch sử của nhân loại và trong cuộc đời của mỗi người, và cuộc đời này có giá trị và ý nghĩa hay không là tùy thuộc ở thái độ tiếp nhận của mỗi người đối với Đức Kitô.
Tiếp nhận Ngài và tuyên xưng Ngài là Vua, chính là mặc lấy thái độ tín thác của kẻ trộm lành, sẵn sàng trao phó tất cả cuộc đời trong tay Ngài và bước đi theo Ngài. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là đi theo con đường của phục vụ và phục vụ cho đến cùng. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là cùng với Ngài xây dựng vương quốc của Ngài ngay trên trần gian này, vương quốc của huynh đệ, vương quốc của yêu thương, vương quốc của công lý và hòa bình. Và mỗi một lần chúng ta xây dựng vương quốc ấy bằng một cử chỉ yêu thương thì chắc chắn chúng ta sẽ nghe được lời hứa của Ngài cho người trộm lành : “Hôm nay đây con sẽ ở cùng Ta trong vương quốc của Ta”.

 

TN34-C39. CHÚA KITÔ VUA - TMCN/ 252

Có chuyện rất đáng yêu kể rằng khi Chúa Giêsu còn nhỏ được gia đình đem sang Ai cập, dọc: TN34-C39

Có chuyện rất đáng yêu kể rằng khi Chúa Giêsu còn nhỏ được gia đình đem sang Ai cập, dọc đường bị một bọn cướp tấn công. Một thanh niên là con của thủ lãnh bọn cướp thấy con trẻ Giêsu dễ thương quá nên hắn không nở ra tay, hắn tha Ngài và nói :”Hỡi con trẻ rất có phước, nếu sau này có dịp nào để thương xót tôi, thì hãy nhớ đến tôi, đừng quên giây phút này nhé !” Tên cướp đó là kẻ đã cứu Chúa Giêsu khi còn nhỏ đã gặp Ngài trên thập giá tại đồi Gôngôtha, lần này thì Chúa Giêsu đã cứu anh ta.
Câu chuyện thực hư thế nào không ai được rõ nhưng điều rõ rệt ấy là quang cảnh đóng đinh này đã thực hiện điều mà trước đây cả bảy trăm năm Isaia đã tuyên sấm :”Ngài đã hiến thân chịu chết và bị liệt vào hàng phạm nhân”. Mà chẳng những trong hàng phạm nhân mà thôi, nhưng theo vị trí xếp đặt, Ngài được coi là phạm nhân hạng nặng, đứng đầu trong bọn đầu trộm đuôi cướp nữa, nếu hai tử tội đứng bên cạnh Ngài đúng là những tên trộm cướp. Không biết ai đã bày ra cái trò này, xếp đặt thập giá của Ngài ở giữa hai tên cướp. Nếu là Philatô thì quả ông quan xâm lược này muốn làm tăng vẻ khôi hài của bản án mà ông treo trên đầu “Vua Do thái”, cũng có thể do bọn đầu mục Do thái, theo dõi kẻ thù đến đỉnh núi sọ, mua chuộc bọn lính sắp đặt để tăng sỉ nhục cho nạn nhân, hay có lẽ chính là bọn lính sắp đặt như vậy vì hiển nhiên Ngài là tử tội đáng chú ý hơn cả trong bọn. Sự thật ấy là có một cái gì hiểm độc trong hành động này về phía loài người. Thế nhưng, điều ti tiện trước mặt người đời, lại cao sang trước mặt Thiên Chúa, điều mà lòng độc ác của loài người bêu xấu Ngài, thì lại tôn vinh ngài trước mặt Thiên Chúa. Vì thế, vị trí của Ngài giữa hai tên trộm cướp đúng là địa vị của Ngài. Từ lâu Ngài được gán cho danh hiệu “ bạn của người thâu thuế và phường tội lỗi”. Giờ đây, qua hành động đóng đinh Ngài giữa hai người trộm cướp, ý tưởng ấy được thực hiện cách rõ rệt nhất. Chúa Giêsu đã đến thế gian để tự hòa mình vào đám tội nhân, Ngài đã chịu chung số phận của họ, Ngài đã sống giữa họ, và thật là thích hợp Ngài đã chết giữa họ. Cho đến lúc này, Ngài đang ở giữa họ. Và thái độ kỳ lạ của những người đã bị treo hai bên Ngài, là một thực hiện và là một báo hiệu. Thực hiện điều cụ Simêon nói về Chúa Giêsu trong đền thờ :”Con trẻ này có mệnh làm cho nhiều người trong dân vấp ngã trong khi nhiều người được giải cứu”, và báo hiệu điều sẽ xảy ra luôn luôn sau này, một số người tin nhận Ngài và được cứu, trong lúc một số khác không tin. Lịch sử loài người luôn luôn như thế, Tin mừng sẽ đem lại sự sống cho nhiều người, và cũng đem lại án phạt cho nhiều người. Tình trạng ấy sẽ kéo dài cho đến ngày tận cùng, Ngài sẽ ở giữa họ, kẻ ăn năn đứng một bên phải, bên trái Ngài là những kẻ không ăn năn. Nhưng giữa lúc cái chết gần kề, giữa lúc Chúa Cứu thế như hoàn toàn thất bại trước mặt người trần (ngoài ba người đứng dưới chân thập giá), chỉ có một người lên tiếng tin nhận Ngài, đó lại là tên trộm bị đóng đinh. Anh thấy cây thập giá nhưng tôn thờ như ngai vua cả, thấy người bị đóng đinh nhưng kêu cầu như Chúa tể, thấy sự sống trong cõi chết, vinh quang trong nhục nhã…”Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi.” Có thể đây là lần đầu tiên tên trộm cầu nguyện và có lẽ cũng là lần cuối cùng, dầu vậy Đấng đã được tiên báo “Không bẻ đứt cây sậy dập gẫy, không tắt hẳn tim đèn còn khói”, lại không đáp ứng lại một niềm tin như vậy sao? “Người nào đến với Ta, chẳng bao giờ bị Ta xua đuổi.” Chúa Giêsu đã giữ lời và còn giữ hơn cả điều người ta trông đợi. Minh chứng của tên trộm là một chiến thắng vĩ đại của Chúa Giêsu, và Ngài đã dùng nghị lực mạnh mẽ hơn khi chế ngự thiên nhiên, Ngài mất sự sống nhưng cứu một linh hồn, tay Ngài bị đóng chặt vào thập giá vẫn có thể mở được cửa trời. Trong khi nhà cầm quyền Giêrusalem không thể làm Ngài rời khỏi thập giá, trong lúc mọi tố cáo bất công không thắng được sự yên lặng của Ngài, trong lúc những lời gào thét “Nó đã cứu được người khác, mà không cứu nổi mình” không làm Ngài hé môi… Ngài nghiêng đầu về người yếu đuối cạnh Ngài, Ngài nói và cứu một tên trộm: Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với ta”. Từ thiên đàng dịch từ Paradi, và theo nguyên ngữ từ tiếng Ba tư có nghĩa là “một khu vườn rào kín”. Khi vị vua Ba tư muốn đặc biệt tôn trọng một bày tôi nào của ngài, thì người ấy được cùng dạo mát với vua trong vườn thượng uyển. Chúa Giêsu đã hứa cho tên trộm ăn năn đó một sự gì quí báu hơn là sự bất tử, Ngài hứa cho hắn vinh dự được làm bạn của Ngài trong vườn cực lạc trên trời.

 

TN34-C40. VƯƠNG QUYỀN CỦA CHÚA - TMCN/ 177

Một vị tướng nói :”Với 300 binh sĩ, tôi sẽ chinh phục cả thế giới”. Nói vậy mà chưa ai làm được: TN34-C40

Một vị tướng nói :”Với 300 binh sĩ, tôi sẽ chinh phục cả thế giới”. Nói vậy mà chưa ai làm được như vậy. Chỉ có Chúa Kitô. Một vị tướng tài ba, một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một vị vua cao cả và uy quyền, Ngài chỉ dùng 12 binh sĩ (Ngài gọi 12 tông đồ) đã chinh phục cả thế giới.
Một số người Do thái lúc bấy giờ, đã đóng đinh Chúa Kitô trên đồi Golgotha, họ muốn dập tắt ngọn lửa đức tin đang cháy lên trong lòng những kẻ tin theo Chúa. Nhưng chỉ chết sau ba ngày, Chúa Kitô đã sống lại. Ngài sai các tông đồ đi rao giảng tin mừng khắp muôn dân. Tin mừng được loan đi, số người theo Chúa đông thêm.
Khắp đế quốc La mã đều tràn ngập những kẻ tin theo Chúa.
Các vua Néron tìm đủ mọi cách cấm đạo, và tìm đủ mọi hình khổ để đe dọa các tín hữu. Nhưng điều lạ lùng thay đạo Chúa càng cấm, số người tin càng đông. Đạo Chúa như cây cải cứ lớn mạnh, và đạo Chúa cứ lan tỏa đến tận cùng bờ cõi trái đất.
Đạo Chúa được các giáo sĩ Tây phương đem đến Việt Nam. Các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức thi nhau triệt hạ. Nhưng càng triệt hạ, đạo càng lớn mạnh, số người theo đạo càng đông. Năm 1933, chỉ có 1 Giám mục (Đức cha Nguyễn Bá Tòng). Đến nay đã có Hồng y, có hơn 40 vị Giám mục, mấy ngàn linh mục, mấy chục ngàn tu sĩ nam nữ và hơn 6 triệu tín hữu ở khắp nẻo đường đất nước. Đúng như lời Chúa Giêsu đã phán :”Ngày nào ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta”.
Chúa kéo mọi người vào nước Chúa, và Ngài cũng gìn giữ, bảo vệ nước Ngài tồn tại đến muôn đời.
Vào buổi hoàng hôn, khi mặt trời đang xuống dần trên đỉnh non xa, sau một ngày làm việc cực nhọc, Chúa Giêsu và môn đệ ngồi nghỉ và chiêm ngắm cảnh huy hoàng tráng lệ của đền thờ Jérusalem, các tông đồ trầm trồ khen ngợi đền thờ kiên cố, đẹp đẽ Chúa Giêsu nói :”Chúng con tưởng đền thờ này kiên vững lắm sao ? Sau này chúng con sẽ thấy không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào”. Đúng vậy, vào năm 70 sau Chúa Kitô, tướng Titô đã vây hãm thành Jérusalem, và phá bình địa. Kiên cố như đền thờ Jérusalem mà còn bị phá hủy. Vậy thế gian này có chi là bền vững?
Uy quyền như hoàng đế Césarê, mạnh như Alexandre đại đế, bách chiến bách thắng như vua Napoléon, anh hùng như vua Quang Trung… Tất cả họ đều qua đi, và vương quyền của họ không còn nữa.
Chỉ có Đức kitô và vương quốc của Ngài tồn tại mãi mãi cho đến muôn đời. Thánh sử Luca viết :”Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngôi báu Đavid tổ phụ Ngài, Ngài sẽ cai trị đời đời trong nhà Jacob và nước Ngài sẽ vô cùng tận”.
Vậy suy tôn Chúa Kitô Vua, chúng ta hãy yêu mến Chúa hết lòng, hãy thực thi lời Ngài dạy. Vì chỉ có Chúa là Đấng thánh, chỉ có Chúa là Thiên Chúa, chỉ có Chúa là Đấng tối cao. Xin Chúa Kitô hãy làm vua chiến thắng, vinh quang, hiển trị mọi tâm hồn và mọi quốc gia.

 

TN34-C41. CHÚA GIÊSU BỊ LĂNG NHỤC TRÊN THẬP GIÁ

NGƯỜi TRỘM LÀNH (Lc 23,35-43)
 

Trong câu đầu của đoản văn này, dù không minh nhiên trích dẫn một câu nào của kinh thánh: TN34-C41

1. Trong câu đầu của đoản văn này, dù không minh nhiên trích dẫn một câu nào của kinh thánh, Lc đã ám chỉ đến thánh vịnh 22,8: “Tất cả những kẻ nhìn con (thêôrountes) đều nhạo báng con (exemuktêrisan) chúng vừa bĩu môi vừa lắc đầu”, bản văn này môt cách nào đó đã được phản ảnh lại khi Lc mô tả dân chúng và các đầu mục: “Dân chúng đứng đó và nhìn xem (theorôn). Còn các đầu mục nhạo báng (exemuktêrizon)”, qua việc dùng hai lần cùng một động từ, Lc gợi ý cho thấy cảnh đang diễn ra đây cần phải được hiểu sâu xa hơn nữa, chứ đừng dừng lại ở cử điệu bên ngoài: cảnh này hoàn tất thánh kinh cách kỳ diệu. Ở câu tiếp theo (c. 36) cũng thế, việc nhắc đến dấm chua cũng gợi lại cách xa xa Thánh vịnh 69,22: “Con khát, chúng cho uống dấm chua”.
2. Toàn bộ đoản văn này, trong phụng vụ cũng như trong phúc âm, đã được dưới dấu chỉ “Vua”, vừa là đối tượng của cười chê nhạo báng (cc.35-39) vừa là đối tượng của niềm tin phó thác và được tưởng thưởng (cc.40-43).
Trong lúc dân chúng nhìn xem và chiêm ngưỡng cảnh này (không bản văn nào nói đến tâm tình của dân chúng) vương quyền Chúa Kitô bị các đầu mục, bộ đội, bản án và người trộm dữ nhạo cười. Các đầu mục tôn giáo nhạo báng bằng cách nại đến việc CGS tự xưng là Vua thiên sai. Nếu Ngài là đấng được xức dầu của TC (tước hiệu của Vua) là người TC tuyển chọn, (tước hiệu thiên sai) là đấng Cứu Thế, như Ngài nói thì hãy tự cứu mình đi ! Chính qua một cơn cám dỗ tương tự mà CGS đã bắt đầu sứ vụ của mình (4,3). Ngài cũng đã bị cám dỗ như thế ở Nazareth, quê hương của Ngài (4,23), đó là cơn cám dỗ đầu đời trần thế; bây giờ là cơn cám dỗ cuối cùng trước khi được tôn vinh. Lời cám dỗ đó thực ra là của ma quỉ: tự bản chất nó là lời satan đề nghị khi cám dỗ Ngài trong sa mạc. Bộ đội cũng nhạo báng, khi dâng Ngài dấm chua để uống. Bản viết treo trên thập giá mà tác giả phúc âm đã ghi lại ý nghĩa hơn là dòng chữ của nó, cũng vậy CGS là dân Do thái. Đây là lối châm biếm sâu sắc của Philatô (Gio 19,15.19.22), người trộm dữ cũng châm biếm yêu cầu đấng mà y xem như một Messia giả (đó là một vua giả ban cho y ơn cứu rỗi mà y nghĩ là không thể thực hiện được vào chính lúc mà cả 3 tử tội sắp chết).
Thái độ ngược lại của người trộm lành thật đẹp: thống hối ăn năn các tội đã phạm, tuyên xưng sự vô tội của CGS. Nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn là việc anh tuyên xưng đức tin vào CGS như là Đấng Messia và là Vua, trong chính lúc mà mọi sự xem ra như sụp đổ. “Xin hãy nhớ đến tôi, khi Ngài đến trong nước của Ngài”. Hiển nhiên theo ý anh, mọi sự không chấm dứt với cái chết của CGS: đối với bản thân CGS, đối với chủ nghĩa thiên sai, đối với chính bản thân anh: còn việc tìm biết anh ta tưởng nghĩ cách rõ ràng về cuộc sống bên kia thế giới và các nhãn giới tương lai, thì không thể xác định được.
Tuy nhiên , câu CGS trả lời cũng soi sáng thêm ít điều vì để anh ta hiểu, câu trả lời phải phù hợp với tâm lý và môi trường Do thái của anh. Có ba chữ biểu thị điều đó: hôm nay, với tôi, trên thiên đàng.
a/ Hôm nay: đây là một việc thực hiện ngay tức khắc chứ không phải là một việc xảy ra hoặc sau khi CGS phục sinh, hoặc vào ngày thế mạt.
b/ Với tôi: đây là điểm then chốt chính yếu. Hạnh phúc hứa ban cho người trộm lành chính là cuộc sống thân mật với Chúa Kitô, mà anh đã chia sẻ số phận của Ngài trên thập giá.
c/ Trên thiên đàng: thành ngữ này đưa ta đi từ ngôn ngữ thực nghiệm (với tôi) sang một kiểu nói tượng hình, mà ta chớ vật chất hóa. Người Do thái đã qui ước với nhau trong việc diễn tả thế giới bên kia bằng các công thức thuộc không gian và thời gian: shéol hay địa ngục, nơi yên ngủ chung của người chết, lòng Abraham hay thiên đàng (nghĩa tự nguyên: vườn là nơi mà các người công chính qui tụ quanh các tổ phụ, chờ đợi được hoàn toàn vinh hiển trong ngày thế mạt, đây là niềm hy vọng có tính cách tiên sai và cánh chung).
CGS không phủ nhận hình ảnh, nhưng đã thay đổi điều thiết yếu. Vì các người được chọn sẽ không qui tụ quanh các tổ phụ, nhưng quanh Ngài. Hơn nữa, giờ chờ đợi thiên đàng đã trở nên vô ích, vì đã đến giờ được sống thân mật với đấng Cứu thế.
3. Vương quyền đó, xem ra bị hủy hoại vì các lời thóa mạ lăng nhục. Giờ đây sắp được CGS tỏ hiện ngay trong khi Ngài bị sỉ nhục. Ngài thi hành vương quyền theo cách riêng của Ngài, cách hoàn toàn thần linh, không phải bằng cách xuống khỏi thập giá và đè bẹp đối phương, nhưng bằng cách kéo mọi người lên cùng Ngài, bằng cách bình tĩnh chấp nhận đau khổ. Ngay chính trên thập giá, vị vua bị đóng đinh đã bắt đầu các cuộc chinh phục tiên khởi. Thay vì xin phép lạ được xuống khỏi thập giá ngay lập tức, người trộm lành thống hối xin Đấng mà anh đã nhận biết quyền năng trong một thế giới cao siêu đừng quên anh. Anh tuyên xưng niềm trông cậy vào sự phục sinh tương lai. Anh phó thác bản thân anh vào Chúa Kitô với một tình yêu mãnh liệt nồng nàn, được diễn tả qua cách gọi thân mật: “Hỡi Giêsu”.
Và cuộc chinh phục của vị vua bị đóng đinh lan rộng đến viên sĩ quan, ông “tôn vinh TC khi nói: ông này thật là một người công chính” (23,47), đến đám đông dân chúng hết thảy “đều đấm ngự và lui về” (23,48) và sau cùng đến với tất cả những ai qua muôn thế hệ sẽ tin vào Ngài.
KẾT LUẬN
Cho đến chết, CGS vẫn luôn là Đấng Cứu rỗi, cũng như đã bênh vực người đàn bà tội lỗi trong nhà người biệt phái, những gì Ngài đã nói bằng dụ ngôn về những kẻ bị lạc mất, việc Ngài âu yếm tiếp đón Giakêu - tất cả những điều này đạt đến cao điểm trong lời hứa cứu rỗi cho người trộm lành vào giờ sau hết. Lòng thương xót của TC được mạc khải trong thập giá của Chúa Kitô, đấng đã chết thay và chết vì nhiều người.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Hôm nay chúng ta cử hành lễ kính Chúa Kitô Vua, Ngài là Con Một, là Con muôn đời của Chúa Cha. Vương quyền Ngài bao trùm toàn vũ trụ và không gì thoát khỏi quyền thống trị mọi tạo vật khi đến ngày Ngài trở lại, dịp thế mạt.
Để có thể khám phá vương quyền của Chúa Kitô và để sống vương quyền đó cách phong phú, phải công nhận hôm nay giáo hội đưa ra một trang phúc âm thật lỳ lạ.
Trong khi xung đột với các đầu mục của toàn dân, CGS có vẻ như là người bại trận và ai nấy đều chứng kiến cảnh thất bại của Ngài. Đối với toàn thể, đối với môn đệ, thế là hết hy vọng. Đó là tình trạng của CGS khi xảy ra cảnh mà chúng ta vừa nghe phúc âm kể lại. Vị vua không mấy quyền thế ! Tuy nhiên, vào giũa trình thuật, chúng ta nghe đọc có treo trên đầu Ngài một bảng ghi: “Người này là Vua dân Do thái”. Thánh Gioan còn xác định rõ: dòng chữ đó đã được ghi bằng tiếng Hy bá, Latinh và Hy lạp. Vương quyền bị chi phối bởi các điều kiện nhục nhã đo là vương quyền nào ?
2. Vị vua đó, khi người ta khiêu khích, thách thức Ngài tỏ sức mạnh, sức mạnh mà Ngài luôn xác quyết, đã không phản ứng. Ngài có thể dùng sức mạnh để khỏi bị đóng đinh ở tay chân, xuống khỏi thập giá và cai trị mọi người cách uy quyền; nhưng Ngài không làm gì hết. Ngài không tìm tư lợi cho riêng mình. Ngay từ lúc sống trong sa mạc, sau khi được G.B làm phép rửa, Ngài đã bị một cám dỗ tương tự; người ta yêu cầu Ngài dùng uy quyền để mưu cầu tư lợi; chúng ta nhớ lại cách Ngài đã khéo từ chối.
Điều này cho chúng ta hiểu: vương quyền Ngài không nhằm phục vụ tư lợi cá nhân. Việc Ngài thống trị toàn vũ trụ không phải để tự mãn. Nếu Ngài thực thi vương quyền Ngài trức khi chết, chỉ là để đưa người trộm lành vào vương quốc Ngài. Ngài thực hiện điều đó mà không cần biểu dương quyền năng, chỉ một lời hứa là đủ vì lời Ngài là sức mạnh.
CGS Vua không cai trị bằng vũ lực, nhưng bằng phục vụ, yêu thương. Con người xem ra mạnh hơn Chúa Kitô trong việc áp đảo, bắt bớ và thắng Ngài. Nhưng điều đó không làm CGS bận tâm. Hơn nữa, chính việc CGS bình thản chấp nhận bị gây thương tích mạc khải cách tuyệt diệu bản chất đích thực của Vương quyền Ngài. Cái chết chỉ là một rắc rối nhỏ không ảnh hưởng gì đến sự tự do hành động của Ngài, chỉ là một giai thoại tạm thời trong đời sống vĩnh cửu.
Qua thái độ và lối sống, CGS bị đóng đinh (mà phúc âm ghi lại) đã mạc khải bản chất vương quyền bí nhiệm của Ngài: không muốn thống trị con người, có thể bị con người tấn công. Tuy nhiên vương quyền đó có khả năng giúp mọi người thắng vượt cái chết cách vẻ vang.
3. Cả giữa những người Kitô hữu, phải chăng đã có lắm kẻ đòi Chúa Kitô dẹp tan sự đau khổ, bất công, chiến tranh... cách thần thông đó sao ? Có người nói: nếu Chúa Kitô là vua thì hãy tạo cho chúng tôi một xã hội tốt đẹp hơn và bấy giờ chúng tôi sẽ tin vào Ngài. CGS không trả lời điều đó bằng phép lạ, điềm thiêng. Ngài chỉ làm gương bằng một tình yêu và lòng tha thứ tuyệt đối. Với những người thành tâm thiện ý hằng ao ước Vương quốc Ngài chóng đến, thì gương sáng và ân sủng Ngài ban cho các tâm hồn, là đủ.

 

TN34-C42. Ta Tuyên Xưng Gì Khi Nói Về Chúa Kitô?

Trong gần nửathế kỷ, từ năm 1870-1914, Giáo Hội liên tục đối diện với nhiều khó khăn. Trong: TN34-C42

Trong gần nửathế kỷ, từ năm 1870-1914, Giáo Hội liên tục đối diện với nhiều khó khăn. Trong những khó khăn ấy, rất nhiều đe dọa có thể gây nguy hiểm cho Giáo Hội về mặt đức tin cũng như về ngoại giao, kinh tế và nền hòa bình. Bằng chứng là vào năm 1870, nước Tòa Thánh đã từng bị giải thể. Đó là ngày 22.9.1870, khi người Ý tiến vào Rôma và chiếm đóng Rôma. Chưa đầy nửa tháng sau, ngày 2.10, Tòa Thánh và chính quyền Rôma tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý. Người ta đi đến nhất trí nước Tòa Thánh phải thuộc về đất Ý. Ngay sau đó ba tuần, chính quyền Ý tuyên bố Rôma trở thành thủ đô của nước Ý.

Tuy lãnh thổ bị mất, nhưng sứ mạng của Giáo Hội không mất. Cùng với cuộc phát kiến đất mới khắp nơi, lịch sử của Giáo Hội cũng từ đó mở sang trang mới: Giáo Hội bung ra toàn thế giới. Đúng là việc Chúa làm, Người đã sử dụng những khó khăn để tạo ra những thuận lợi lớn lao: phong trào truyền bá Phúc Âm lan nhanh. Công tác truyền giáo gặt hái nhiều thành công.

Tuy nhiên, thuận lợi trong việc mở mang đức tin, chỉ là thuận lợi riêng cho giới Công giáo. Thực tế, Tòa Thánh đã bị giải thể. Nhưng đó chỉ là một sự kiện nằm trong toàn bộ những đe dọa và bất ổn chung cho cả nhân loại. Đọc lại lịch sử thế giới, chúng ta thấy, từ cuối thế kỷ XVII, do các đế quốc đi tìm thuộc địa, tranh giành thuộc địa và nhiều lý do khác, đã có những mâu thuẫn ngấm ngầm hay trở thành những cuộc chiến lớn nhỏ. Chúng ta ghi nhận bốn cuộc chiến lớn như:

- Chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha (1898) dẫn đến việc Mỹ chiếm Cuba và Philippin.

- Chiến tranh Anh - Buren (1899-1902): Anh chiếm hai quốc gia của người Buren, sáp nhập họ vào Nam Phi.

- Liên quân tám đế quốc can thiệp vũ trang vào Trung Quốc (1900) đàn áp phong trào Nghĩa Hòa Đoàn.

- Và từ 1904-1905, Nga - Nhật tuyên chiến.

Sự đe dọa và bất ổn ấy âm ỷ lâu ngày như thế, đã đến lúc phát nổ mạnh. Năm 1914, một trong hai cuộc chiến tranh tàn khốc nhất thế giới, và có chiều rộng kinh khủng: bao trùm cả thế giới, đã làm cho cả nhân loại phải sống trong bầu khí của hận thù, giết hại, máu đổ khắp nơi. Đó chính là cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Lý do chủ yếu của cuộc chiến là bởi các đế quốc tranh chấp về ảnh hưởng và quyền lợi trên các thuộc địa. Từ đó, thế giới hình thành hai phe kình địch nhau: Khối Liên Minh gồm các nước Đức, Áo Hung và Ý - và Khối Hiệp Ước gồm Anh, Pháp, Nga. Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất này đưa tới một kết quả thảm khốc: tám triệu người chết; 20 triệu người bị thương; nền kinh tế thế giới kiệt quệ; bản đồ thế giới được sắp xếp lại.

Nhưng giữa những cảnh thương tâm cho cả thế giới như thế, người Công giáo lại đón nhận một tin mừng vô cùng trọng đại, đó là một niềm hạnh phúc vĩ đại: Năm 1917, liên tiếp sáu tháng từ tháng Năm đến tháng Mười, tại làng Phatima ở Bồ Đào Nha, Mẹ Thiên Chúa đã nhiều lần viếng thăm thế giới. Qua ba trẻ chăn súc vật ngoài đồng là Phanxicô, Giacinta, Lucia, Đức Maria, Đấng được tuyên xưng là Nữ Vương Hòa Bình, đã an ủi thế giới nói chung và con cái mình là Giáo Hội nói riêng.

Tại Phatiama, ngoài những mệnh lệnh Đức Mẹ đòi người tín hữu phải thực hiện, đó là: ăn năn đền tội, siêng năng lần chuỗi và tôn sùng Trái tim Đức Mẹ, Đức Mẹ còn tiên báo: chiến tranh thế giới sắp kết thúc.

Đúng như lời Đức Mẹ, cuối năm sau, tức năm 1918, cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất kết thúc. Chiến tranh tự nó đã là một điều khủng khiếp. Giờ đây, chiến tranh đi qua, Nhưng hậu quả của chiến tranh còn khủng khiếp hơn: hàng chục vạn người nghèo đói khắp nơi. Nó còn để lại cho nhân loại vô vàn sự đổ nát, tan vỡ và thiếu thốn trầm trọng. Bây giờ thế giới phải bắt tay xây dựng lại.

1. Tuyên xưng Chúa Kitô Vua Bình an và Hiến dâng thế giới cho Người.

Sau những năm tương tàn, giết hại nhau quá sức đau lòng như thế, năm 1925, Đức Thánh Cha Piô XI thiết lập lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ. Đức Giáo hoàng lập lễ này với một lý do quan trọng: Hiến dâng thế giới và nền hòa bình của nhân loại cho Chúa Kitô.

Thiết lập và tiếp theo là mừng lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ hàng năm, Giáo Hội xin Chúa Kitô, vì tình thương của Người, hãy làm cho thế giới được bình an. Xin Chúa Kitô giải phóng con người khỏi nỗi sợ hãi của chiến tranh bạo tàng. Nhất là trong thời buổi chúng ta đang sống đây, hầu như không ngày nào thế giới được bình yên, nhân loại hưởng hạnh phúc trọn vẹn. Hầu như ngày nào thế giới cũng có cảnh chém giết lẫn nhau. Bởi đó, ta cầu xin Chúa Kitô, Vua Tình Yêu ban cho thế giới ơn bình an và xin cho lòng ta cũng được bình an, đừng hận thù, đừng nuôi lòng oán ghét anh em mình. Xin Chúa thương giải thoát thế giới khỏi chiến tranh, tai ương và giết chóc kinh hoàng.

Nhưng lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ được thiết lập, không chỉ có một lý do duy nhất này mà thôi. Lễ này còn có hai ý nghĩa khác:

2. Tuyên xưng Vương quyền vĩnh cửu và không giới hạn của Chúa Kitô. Chúa Kitô làm vua không phải trong một thời đại nào, nhưng là làm vua đời đời. Vương quyền của Chúa không bao giờ mất đi, không bao giờ lung lay hay bất cứ ai có thể lấy được. Chúa là Vua tối cao: Vua trên các vua, Vua của các vua; Chúa trên các chúa, Chúa của các chúa. Các vua chúa trần gian phải thờ lạy một mình Vua Kitô.

Chúa Kitô làm vua, nhưng Vương quyền của Người không phải là một quốc gia, một dân tộc, càng không bị giới hạn bởi bất cứ một ranh giới nào. Nhưng Vương quyền của Chúa thể hiện trên toàn cõi vũ trụ này. Cả vũ trụ này là của Chúa Kitô. Người nắm tất cả trong tay của Người. Vận mạng của vũ trụ thuộc về Vua Kitô.

Nhưng vẫn còn một điều hơn cả vũ trụ bao la: Chúa Kitô làm vua trong lòng người ta. Nếu các vị vua chúa hoặc bất cứ nhà lãnh đạo nào, nếu cai trị, thì cùng lắm cai trị những gì là vật chất, và gìn giữa nề nếp, kỷ cương trong một khuôn phép. Nếu có cai trị thần dân của mình, chỉ là một hình thức cai trị, nắm lấy cái bên ngoài, nắm lấy những biểu hiện bên ngoài mà mọi người có thể để lộ ra đúng hoặc sai. Cùng lắm chỉ nắm được thể xác của người khác, để trong một hoàn cảnh nào đó bắt họ phải chết, cho họ sống, hay giam cầm họ. Chỉ một mình Chúa Kitô làm Vua và chiếm trọn tấm lòng con người. Làm vua ở bề nổi, làm vua về mặt vật chất, hay tỏ uy quyền của mình nơi thân xác con người không khó. Làm vua lòng người, làm vua trong tâm hồn con người, làm vua nơi nội tâm của từng người, trong cả nhân loại, đó là diều không dễ thực hiện chút nào. Chỉ một mình Vua Kitô chiếm trọng vẹn nơi mỗi một người vừa tinh thần, vừa vật chất như thế.

Nói một cách chính xác hơn, trong cuộc trần này, chẳng ai có thể làm vua. Chỉ Vương quyền của Chúa Kitô mới là Vương quyền đúng nghĩa, tuyệt đối. Vì thế, ta tuyên xưng Vương quyền của Chúa Kitô là Vương quyền vĩnh cửu, không giới hạn.

3. Tuyên xưng Chúa Kitô là Vua Tình Yêu.

Dù chỉ duy nhất một mình Chúa Kitô nắm quyền. Mọi quyền hành nằm trong tay Người. Người là Vua vĩnh cửu và tuyệt đối, Vương quyền Người không giới hạn, nhưng Chúa Kitô không bao giờ cai trị bằng quyền lực của mình. Ngược lại, Người cai trị bằng tình yêu. Đúng hơn, nếu hiểu theo nghĩa của loài người, cai trị là thị uy, là bắt mọi người lụy phục mình, là “ăn trên ngồi trước”, thì nơi Chúa Kitô chẳng phải là cai trị. Nhưng Người là Nguồn yêu thương rót đầy nơi chúng ta và nơi cả thế giới này lòng yêu thương ấy. Tình yêu thương ấy chảy tràn trề, chảy lai láng, bất cứ ai chân thành tìm gặp đều có thể bắt gặp và nương nhờ, để được triều mến và được ấp ủ.

Vương quyền dẫu lớn lao, tuyệt đối là thế, nhưng Chúa Kitô, trước sau vẫn chỉ có một đường lối duy nhất là yêu thương, săn sóc và cứu chữa mà thôi. Chính vì tình yêu vời vợi như thế, Chúa Kitô đã chấp nhận chết cho thần dân của mình. Người hiến thân hy sinh cho cả Hội Thánh. Như vậy, qua cuộc hiến tế của Chúa, chúng ta nhận ra, Vua Kitô không chỉ là Vua hiền lành, nhân từ, Người còn là vị Vua hạ mình đến tận cùng. Đến nổi khi nhìn ngắm sự hạ mình của Người trong cuộc hiến tế thương đau, ta chỉ còn biết lặng người đi, chiêm ngắm, thờ lạy, cảm ta, chúc tụng, nguyện một lòng mang ơn Người và trung thành theo Người đến trọn cuộc đời. Bởi chỉ có thể là một vị Vua yêu thương tận cùng nên mới hạ mình đến tận cùng như thế.

Cũng bởi Chúa yêu thương như thế, nhiều anh chị em Kitô hữu nhiệt thành đã để Người chiếm trọng bản thân mình, và lấy làm hạnh phúc vì được sống trong chiếc nôi tình yêu của Vua Giêsu. Cũng giống một người mẹ yêu thương con mình, hình ảnh của người mẹ ấy lấp đầy trong tâm hồn đứa con. Bằng lòng yêu thương không gì bằng, người mẹ đã chiếm trọn đứa con của mình. Tình yêu giữa Chúa Kitô và những ai khám phá ra tình yêu của Người, cũng sẽ được Người chiếm trọn vẹn như thế.

Vì thế, đối với tôi, tuyên xưng Chúa Kitô là Vua Tình yêu vẫn chưa có thể nói hết được nội dung của lòng yêu thương mà Chúa trao ban. Chỉ có ai sống bằng một đời sống cầu nguyện thâm sâu và cảm nghiệm bằng tất cả nội tâm và lòng yêu mến của mình, mới hiểu được tròn đầy ba tiếng VUA TÌNH YÊU.

Bạn thân mến, bằng một vài suy niệm như thế trong lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ, chúng ta chân thành nhận ra rằng: trên thế giới hiện nay có gần năm trăm ngàn linh mục, hơn một triệu bốn trăm ngàn tu sĩ nam nữ và hơn một tỷ người Công giáo. Chỉ cần bằng ấy số lượng người biết để Chúa làm vua lòng mình thực thụ, thế giới đã có một khối lượng men và muối cho cuộc đời lớn không thể tả. Nhưng thật nghịch lý và mâu thuẫn làm sao, khi trong chính cộng đồng ấy, cộng đồng của những con người nhìn nhận Vương quyền đích thực của Chúa Kitô, lại có bao nhiêu người để cho Chúa làm vua lòng mình hẳn hoi, bao nhiêu người miệng thì tuyên xưng Chúa là Vua Tình Yêu, nhưng lòng lại xua đuổi Chúa? Chính vì thế, ngay trong cộng đồng ấy, lẽ ra phải là một cộng đồng chan chứa yêu thương như chính Vua Kitô yêu thương mình, thì lại cũng có quá nhiều những chia rẻ, mất bình an, mất tình huynh đệ, gây gương mù, thậm chí không thiếu thù hận và nuôi lòng thù hận thay vì tha thứ!

Chúng ta cầu nguyện cho thế giới được bình an, Giáo Hội được bình an, đó là điều hợp lý. Chúng ta cầu xin cho ngày càng có nhiều người nhìn nhận Vương quyền của Chúa Kitô, đó lại càng là trách nhiệm phải làm. Nhưng có một điều trước tiên ta phải thực hiện, thì mình lại hay quên, đó là để cho lòng mình bình an, hòa nhã, yêu thương và chấp nhận anh chị em xung quanh. Có như thế, ta mới có thể làm chứng tá cho Vương quyền của Chúa Kitô cách hữu hiệu. Đàng khác, nếu mỗi cá nhân có bình an, thế giới sẽ bình an. Mỗi Kitô hữu có bình an, Giáo Hội mới bình an. Người với người theo đuổi ơn bình an, người với người thật sự bình an… Vậy từ nay, bạn và tôi hãy để Chúa Kitô làm vua lòng mình, để với Vương quyền của Người, ta sẽ sống cùng anh chị em xung quanh như Người đã sống.

Lạy Chúa Giêsu Vua Vũ Trụ, ước gì mỗi người Công giáo chúng con chịu để Chúa chi phối đời mình, và tha thiết mang Chúa trong tâm hồn mình, chúng con sẽ dễ dàng, chứ không để một trở ngại nào cản lối mình đưa Chúa đến mọi nơi trên thế giới, nhất là những nơi đầy thác ghềnh, chông chênh, để với tình yêu của Chúa, chúng con đủ sức mang hòa bình biếu tặng thế giới và mỗi anh chị em. Chỉ có như thế, vũ trụ này xứng đáng là vũ trụ của Chúa.Lm. VŨ XUÂN HẠNH

Lm Vũ Xuân Hạnh

 

TN34-C43. Chúa Giêsu - Vua Tình Thương

Lc 23,35-43

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

 

Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giêsu trên thập giá như một ông Vua ngự trên ngai vàng của TN34-C43

1) Ý CHÍNH : Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giêsu trên thập giá như một ông Vua ngự trên ngai vàng của mình. Hầu hết những kẻ hiện diện vì đã quen với hình ảnh một ông vua trần tục nên không nhận ra Đức Giêsu là vua : Dân chúng thì im lặng đứng nhìn. Các đầu mục Do thái thì lên tiếng cười nhạo. Lính tráng cũng chế giễu Người. Trên đầu Người có bản án viết như sau : “Đây là vua người Do thái”. Hai tên gian phi thì một tên vì không tin nên đã nhục mạ Người. Trái lại, tên kia đã bênh vực và cầu xin Người thương xót nên cuối cùng đã được Người ban ơn cứu độ.

2) CHÚ THÍCH :

 
  • Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời chế nhạo : “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn”. Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đứa giấm cho Người uống, và nói : “Nếu ông là vua dân Do thái, thì cứu lấy mình đi ! Phía trên đầu Người có bản án viết : “Đây là vua người Do thái” (Lc 23,35-38) :
+ Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời chế nhạo : Khi đối diện với thập giá của Đức Giêsu, dân chúng thì ngỡ ngàng đứng nhìn hậu quả của việc vào hùa với kẻ mạnh mà lên án bất công một người công chính. Còn các đầu mục Do thái thì hả hê vì đã hạ gục được kẻ dám chống lại họ.

+ Là Đấng Kitô : Kitô (Christos) là tiếng Hy lạp, tương đương với từ Mêsia trong tiếng A-ram hay Do thái. Cả hai từ Mêsia và Kitô đều có nghĩa là “Đấng Được Xức Dầu”. Xức dầu là một nghi thức tấn phong như Samuen đã xức dầu phong vương cho Đa-vít làm vua (x. l Sm 16,13); như Môsê đã xức dầu phong A-a-ron làm tư tế (x. Xh 29,7); như Elia được xức dầu phong Elisê làm ngôn sứ thay thế mình (x. l V 19,16). I-sai-acó lần đã tường thuật mình được Chúa xức dầu để trở thành ngôn sứ của Người (x. ls 61,1).

+ Là người được tuyển chọn : Đây là tước hiệu đã được Chúa Cha xác nhận trước mặt ba môn đệ khi Người hiển dung (x. Lc 9,35), phù hợp với lời tuyên sấm của I-sai-a về Đức Giêsu là Người Tôi Trung được Thiên Chúa tuyển chọn để thực hiện công trình cứu độ, nhưng lại bị người đời khinh dể (x. ls 42,1).

+ Lính tráng cũng chế giễu Người : Lính tráng ở đây là binh sĩ Rôma. Chúng thi hành án lệnh của quan tổng trấn Philatô đóng đinh Đức Giêsu. Bọn này vào hùa với các đầu mục Do thái chế diễu nhục mạ Đức Giêsu.

+ Chúng lại gần đưa giấm cho Người uống : Giấm là một thứ nước có pha giấm chua gọi là Pos-ca mà lính Rôma hay dùng.

+ Đây là vua người Do thái : Đây là dòng chữ do quan Philatô ra lệnh viết và gắn lên thập giá như một bản án. Ngày nay trên các cây thánh giá, ta đều thấy có chữ INRI, là 4 chữ viết tắt của câu bằng tiếng Latinh : JESUS NAZARETH REX JUDEORUM. Câu này nghĩa là : “Giêsu Na-da-rét vua dân Do thái” (x. Ga 19,19).

 
  • Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người : “Ông không phải là Đấng Kitô sao ? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với !” Nhưng tên kia mắng nó : “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà có Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái !” (Lc 23,39-41) :
+ “Ông không phải là Đấng Kitô sao ? Hãy tự cứu mình đi và cứu cả chúng tôi với !” : Tên gian phi này đã coi Đức Giêsu như một Vua Thiên Sai giả, không thể làm được những điều kỳ diệu, nên đã chế giễu Người. Đây cũng là cơn cám dỗ cuối cùng của Chúa, yêu cầu Người làm phép lạ phục vụ cho mình, giống như ma quỷ đã cám dỗ Người lúc khởi đầu rao giảng Tin Mừng : “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy…” (Lc 4,3). Dân làng Nadarét cũng có lần đã cám dỗ Người như thế (x. Lc 4,23).

+ Nhưng tên kia mắng nó… : Chỉ Tin Mừng Luca mới nhắc đến thái độ của người gian phi có lòng sám hối này.

 
  • Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu : “Ông Giêsu ơi ! khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !” Và Người nói với anh ta : “Tôi bảo thật anh : Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42-43) :
+ Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi ! : Trong hoàn cảnh đau thương như vậy thì lời bênh vực và kêu xin của người gian phi, dù có yếu ớt, nhưng cũng an ủi Người rất nhiều. Người đã lập tức tha tội và hứa ban hạnh phúc thiên đàng cho anh ta. Thật đúng như lời Người đã nói : “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19,10).

+ “Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” : Đối với một số người Do thái thì Thiên Đàng là nơi những người công chính ở, chờ ngày sống lại (x. Lc 16,22-31). Còn đối với chúng ta thì Thiên Đàng là “Trời cao” như lời thánh Phaolô : “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3,20). Thiên Đàng còn là “Trời Mới, Đất Mới” thay cho “trời cũ đất cũ” bị biến mất (x. Kh 21,1). Nơi đó sẽ “không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa” (x. Kh 21,4).

II. HỌC SỐNG LỜI CHÚA :

1) LỜI CHÚA :

- Phía trên đầu Người có bản án viết : “Đây là vua người Do thái” (Lc 23,38).

- “Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43).

2) CÂU CHUYỆN :

- ANH KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ CHO EM HƠN THẾ NỮA

Gần đây, các thợ lặn đã tìm được một con tàu đã bị đắm ở ngoài khơi biển Bắc Ai Nhĩ Lan cách đây 400 năm. Trong số báu vật tìm được trên tàu, có một chiếc nhẫn cưới của một người đàn ông. Sau khi được lau chùi sạch sẽ, trên nhẫn hiện ra một hàng chữ kèm theo hình một bàn tay cầm quả tim đưa ra. Người ta đọc được câu ấy như sau : “Anh không còn gì để cho em hơn thế này nữa”. Trong tất cả những báu vật tìm thấy trên con tàu, không vật gì khiến các tay thợ lặn cảm động cho bằng chiếc nhẫn và hàng chữ khắc ghi trên đó.

- NGƯỜI NÀY ĐÃ CHẾT CHO CON ĐÓ

Vào thánh Tư năm 1865, Tổng Thống A-Ra-Ham Lanh -Côn (Abraham Lincoln) của Hoa Kỳ đã bị ám sát. Sau đó thi hài của ông được đưa từ thủ đô Oa-Sinh-Tơn (Washinton) trở về quê hương của ông thuộc bang In-Li-Noi (Illinois). Trên đường đi, thi hài của ông được đón rước trọng thể tại Cờ-Li-Vơ-Len (Cleveland) thuộc bang Ô-Hai-Ô (Ohio). Tại đây, trong đoàn người đi theo linh cửu có một người đàn bà da đen nghèo khổ và đứa con trai bé nhỏ của bà. Khi đi ngang qua thi hài vị Tổng Thống, bà mẹ liền nhấc bổng cậu bé lên và nói : “Con ơi, hãy nhìn kỹ, nhìn kỹ đi. Chính người này đã chết cho con đó !”

3) SUY NIỆM :

- Trong câu chuyện thứ nhất, hình chạm với hàng chữ : “Anh không còn gì để cho em hơn nữa” rất phù hợp với ý nghĩa ngày lễ Chúa Giêsu làm Vua hôm nay. Bởi vì trên thập giá, Chúa Giêsu đã cho chúng ta tất cả những gì Ngài có là tình yêu và chính mạng sống của Ngài. Ngài đã chứng tỏ tình yêu tột cùng đối với chúng ta như Ngài đã nói : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).

+ Tại sao lại gọi Đức Giêsu là Vua ? : Chúng ta thường nghe người ta nói : Sư tử là vua vì nó là con vật mạnh mẽ nhất trong muôn loài thú. Ta cũng thấy người ta gọi ông vua dầu lửa, vua thép, vua nhạc Rốc… Đó là những nhân vật tài giỏi nhất, làm bá chủ về một lãnh vực nào đó. Tương tự như thế, Đức Giêsu được gọi là “vua”, vì Ngài là một con người hoàn hảo nhất, cao thượng nhất, tài giỏi và quyền năng nhất. Nhờ đã hạ mình vâng lời chịu chết, một cái chết thập giá, mà Người đã được Thiên Chúa siêu tôn và ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu là : “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (x. Pl 2,8-9).

+ Bài Tin Mừng trong thánh lễ Chúa Giêsu Vua vũ trụ đứa chúng ta về với Chúa Giêsu trên cây thập tự với bản án trên đầu : “Đây là vua người Do thái”. Nhưng tước hiệu Vua của Ngài không giống các vua trần thế khác : Vương miện là vòng gai nhọn cuốn trên đầu, cẩm bào là sự trần trụi ô nhục, không có những câu tung hô vạn tuế, mà chỉ có những lời nhạo báng khinh chê, Đức Giêsu là Vua, nhưng là Vua Hòa bình qua việc ngồi trên lừa thay vì ngựa để khải hoàn vào thành Giêrusalem. Ngài là Mục Tử, luôn chăm lo cho chiên được dồi dào, sẵn sàng thí mạng để bảo vệ chiên. Ngài là Vua Tình yêu, chịu lưỡi đòng đâm thâu để cho máu chảy ra tẩy sạch tội lỗi thế gian. Chỉ Ngài mới xứng đáng nói với chúng ta câu khắc trên chiếc nhẫn vàng : “Thầy không còn gì để cho các con hơn thế nữa”.

+ Ngày nay Đức Giêsu không muốn chúng ta tin Ngài vì thấy phép lạ. Ngài muốn chúng ta tin, nhờ được gặp gỡ và lắng nghe lời Ngài, được nhìn thấy các việc tốt đẹp Ngài làm. Từ đó cảm nhận được tình yêu và tin theo Ngài. Các bà mẹ công giáo cũng nên dạy con, như bà mẹ trong câu chuyện trên. Hãy chỉ vào Chúa Giêsu trên cây thánh giá mà nói với con rằng : “Con ơi ! Hãy nhìn xem cho kỹ. Chính Chúa Giêsu đã chết thay cho con đó”. Mỗi lần nhìn lên thánh giá, chúng ta sẽ có thái nào : đứng nhìn như dân chúng, chế nhạo như những kẻ đầu mục Do thái, hay xin Chúa tha tội như người gian phi sám hối ?

4) THẢO LUẬN :

a) Bạn có đồng ý câu : “Yêu thương là cho đi. Cho nhiều là dấu yêu thương nhiều. Cho cả mạng sống của mình là dấu chứng tỏ tình yêu tột đỉnh” ? Trong những ngày này bạn sẽ cho người thân những gì để biểu lộ tình yêu của bạn ?

b) Để xứng đáng là thần dân trong Vương Quốc của Vua Giêsu như người gian phi, thì ngay từ bây giờ bạn cần làm gì ?

III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU

1) LẠY CHÚA GIÊSU VUA VŨ TRỤ, nếu chúng con chỉ nhìn Chúa vác thập giá và công bố Chúa là Vua chúng con thì chưa đủ. Nếu chúng con chỉ ca ngợi Chúa trong ngày lễ hôm nay mà thôi thì cũng chưa đủ. Chúng con còn phải yêu mến và sống chết cho Chúa, còn phải chu toàn bổn phận làm cho Vương Quốc của Chúa sớm trị đến.

LẠY CHÚA, xin cho chúng con biết luôn quên mình và vác thập giá là những bệnh tật, là những người sống chung quanh trái tính trái nết, những tai nạn rủi ro gặp phải hằng ngày…mà theo chân Chúa. Nhờ đó, hy vọng chúng con sẽ trở nên những môn đệ trung tín và khôn ngoan của Chúa, sẽ được Chúa đoái thương tha tội và đến giờ chết, chúng con sẽ được Chúa nói : “Ta bảo thật, hôm nay, con sẽ được ở với Ta trên Thiên Đàng”.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. -Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

2) LẠY MẸ MARIA, nếu mọi người tin thờ Thiên Chúa trên khắp hoàn cầu đều thực sự nhận Chúa làm Vua của họ, thì thế giới này sẽ biến đổi, bộ mặt của Giáo Hội sẽ đổi mới. Ngày nay thế giới còn quá nhiều sự dữ như chiến tranh, và các tệ nạn xã hội…Nếu mọi tín hữu đều là men tốt, thì cả khối bột nhân loại sẽ được dậy lên men tình yêu của Chúa.

LẠY MẸ, dù Chúa Giêsu đã khởi sự rao giảng Tin Mừng hai ngàn năm qua, thế mà nhiều nơi vẫn còn vắng bóng cây Thánh Giá. Nguyên nhân của tình trạng này là do các tín hữu chúng con chưa sống đúng con đường Hiệp nhất, Xin vâng và Phục vụ như Chúa Giêsu. Ước gì chúng con ý thức sứ mệnh, biết sống yêu thương cụ thể, biết hợp tác để đẩy lùi sự dữ. Nhờ đó, thế giới này sẽ sớm trở thành Thiên Đàng, và mọi người sẽ được hưởng hạnh phúc đời đời với Chúa.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. -Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

Trích Hiệp sống Lời Chúa

Lm. Đan Vinh

 

TN34-C44. Ở thiên đàng hôm nay

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA KITÔ VUA / Christ the King - C

Lời Chúa cho hôm nay : Ở THIÊN ĐÀNG HÔM NAY

* Today in Paradise *

 

Chính ngươi sẽ chăn dắt Ít-ra-en dân ta, chính ngươi sẽ là người lãnh đạo Ít-ra-en./ You shall: TN34-C44

  • BÀI ĐỌC 1: 2 Samuen 5, 1-3= Chính ngươi sẽ chăn dắt Ít-ra-en dân ta, chính ngươi sẽ là người lãnh đạo Ít-ra-en./ You shall shepherd my people Israel and shall be commander of Israel
  • BÀI ĐỌC 2: Cô-lô-xê 1, 12-20= Thánh Tử (Giêsu) là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo./ - He is the image of the invisible God, the first born of all creation.
  • TIN MỪNG(Gospel): Luca 23, 35-43=Anh trộm lành nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nứơc cuả ông, xin ông nhớ đến tôi.!” - Then he said: “Jesus, remember me when you come into your Kingdom.”
A-Bạn và tôi cùng Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: (Some points of Reflection and share)

1/ Đức Kitô là mẫu gương chịu người ta xỉ nhục, nhạo cười, khinh chê: “Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi..” (Lc 23,35)Bấy lâu nay tôi đã hăng hái tham gia đủ đoàn thể và các giờ phụng vụ; nhưng khi bị cười chê, quở trách thì laị làm mặt giận hoặc thấy ai cỏ vẻ không đạo đức thì lại chán nản, hồ nghi..!. Những nhân đức tôi đang tập luyện?

2/ Lời Chúa hôm nay nói cho bạn và tôi hình ảnh hai người Tín hữu hiện tại đang có: người trộm xấu có thể là tôi hay đòi hỏi Chúa phải làm thỏa mãn dục vọng của mình. Người trộm tốt có thể là bạn đang nhận ra lỗi lầm của mình để xin Chúa tha thứ và cho sống lại, đổi mới: “Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm…Ông Giêsu ơi! Khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23,41-42) Nước Trời thật sự đang ở trong bạn khi bạn mở lòng đón nhận Chúa. Cho biết điều kiện để bạn sống lại?

3/ Lên Thiên đàng mà Đức Giêsu nói với người trộm lành không phải là lên mây xanh như tôi tưởng; mà anh đã được gặp Chúa trong viên mãn, là Thần Khí; anh đã vui nhận hình phạt cuả mình và kính sợ Thiên Chúa. Vì thế Chúa Giêsu nói với anh trộm lành: “Tôi bảo thật anh, HÔM NAY, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng.” (Lc 23,43) Chuá ban ơn cứu chuộc cho ai tin người, nếu tôi thật lòng đón tiếp Ngài, tôi được trở nên công chính, trong Sự Sống Lại với Ngài. Chia sẻ niềm vui Sống lại trong Gia đình và Cộng đoàn?

4/ Trong thư gởi Cô-lô-xê, thánh Phaolô đã nói đến bản tính nhân loại của Đức Kitô qua việc Người Phục sinh, để hòa giải muôn vật với Người: “Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người…được hòa giải với mình…” (Col 1,19) Chính nhờ mầu nhiệm Thập giá, Chúa đã thực hiện việc hòa giải và ban bình an cho mọi người. Ngài muốn bạn hãy chết đi con người đầy tham lam ích kỷ cuả mình để làm hòa Thiên Chúa và Sống lại với Ngài từ bây giờ. Kể những hòa hợp và bình an tôi đang đạt được?

B - Câu Kinh Thánh đánh động tôi chọn Sống tuần này: (The Best God’s Word)

TÔI BẢO THẬT ANH, HÔM NAY ANH SẼ ĐƯỢC Ở VỚI TÔI TRÊN THIÊN ĐÀNG VỚI TÔI.

“Amen, I say to you, today you will be with me in Paradise (Luca 23,43)

C- Bây giờ tôi, Nhóm phải làm gì để lên Thiên đàng ngay Hôm Nay: (So what am I doing / For Action)

Tôi có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A trên, hoặc 1 việc làm cụ thể khác.

D- Bạn và tôi cùng cầu nguyện với Lời Chúa và Sống cầu nguyện: (I pray and practice / Pray in Action)

Lạy Cha, Đức Kitô đã nói với người trộm lành: Tôi bảo thật anh, HÔM NAY, Anh sẽ ở với tôi trên Thiên đàng. Xin Thần Khí Chúa giúp con biết nhận thấy lỗi lầm để thay đổi và đón nhận làm chủ tâm hồn con.

Lời hay ý đẹp: KHÔNG GÌ TỐN KÉM NHIỀU BẰNG YÊU THƯƠNG -- NGOẠI TRỪ KHÔNG YÊU
Nothing costs as much as loving - except not loving
Phó tế Nguyễn Định

 

TN34-C45. Chúa Giêsu Vua Vũ Trụ

Bài đọc 1: 2 Sm 5, 1-3

Bài đọc 2: Cl 1, 12-20

Tin mừng: Lc 23, 35-43

Vua Giêsu

 

Nhìn lại lịch sử các dân tộc, chúng ta thấy các cuộc đăng quang của các vị vua chúa thường được: TN34-C45

Nhìn lại lịch sử các dân tộc, chúng ta thấy các cuộc đăng quang của các vị vua chúa thường được tổ chức rất trọng thể, yến tiệc linh đình. Trong ngày đó, khách mời thường là các vị nguyên thủ của các quốc gia, những người vị vọng trong cả nước. Và cùng với bữa tiệc mừng, là biết bao lời chúc tụng, ngợi khen. Và một trong những lời chúc tụng thường được xưng tụng nhiều nhất là “Vạn tuế, vạn vạn tuế”. Và rồi khi lên ngôi, các vị vua này cũng tìm mọi cách để triều đại của mình được kéo dài mãi mãi.Thế nhưng, qua dòng thời gian, không có vị vua nào là “vạn tuế”, chứ đừng nói đến “vạn vạn tuế”. Tất cả đều đã chết để lại ngai vàng cho người khác, có khi đó lại là kẻ thù của mình nữa.

Hôm nay, tôi muốn giới thiệu với quý OBACE một vị Vua rất đặc biệt. Vị Vua này trong ngày đăng quang không có yến tiệc linh đình, không lời chúc tụng. Thế nhưng, triều đại của Ngài đã kéo dài suốt 2000 năm qua và còn kéo dài mãi mãi. Vị vua đó chính là Đức Giêsu Kitô mà hôm nay, chúng ta đang cùng với toàn thể Giáo Hội long trọng mừng kính.

Đức Giêsu đã được mọi người xưng tụng là vua do bởi tình yêu tự hiến và phục vụ của Ngài. Nhờ đó, vương quyền của Ngài không bị giới hạn, nhưng bao trùm toàn thể vũ trụ, vạn vật vô hình cũng như hữu hình.

1. Vua của tình yêu và phục vụ:

Nhìn lại các cuộc vận động tranh cử, chúng ta thấy hình như có một qui ước bất thành văn, đó là các ứng cử viên cho dù ở đâu đi chăng nữa, thì bằng cách này, hay cách khác họ luôn trình bày cho mọi người dân thấy mình là người phục vụ tốt nhất cho dân, để kêu gọi người dân ủng hộ cho họ. Phục vụ đã trở thành một trong những tiêu chuẩn quan trọng của một người lãnh đạo. Chính dân Israel khi tôn David lên làm vua của họ, họ đã nói với ông: “Từ trước đến giờ, khi Saolê đang làm vua chúng tôi, thì chính ngài đã dẫn dắt Israel”, hay nói một cách khác, sỡ dĩ hôm nay các chi tộc Israel nhận David làm vua của mình bởi vì trước đó, David đã từng tận tâm, dấn thân phục vụ họ. Ông đã chiến đấu và liều mạng sống mình vì họ. Do đó, giờ đây ông đủ tư cách để làm vua trên họ.

Kể từ đó, tinh thần đạo đức và phục vụ của vua David đã trở nên chuẩn mực để lịch sử Israel đánh giá về các vị vua sau này. Tuy nhiên trong thực tế, các vua chúa và các nhà lãnh đạo, kể cả vua David sau khi lên nắm quyền vẫn chưa thực sự dấn thân để phục vụ đoàn dân họ được giao phó. Nếu không muốn nói đến việc khi nắm quyền, những người này lại thường muốn vơ vét cho bản thân, lợi dụng quyền thế để thu lợi về cho bản thân mình. Các vua chúa, các nhà lãnh đạo trần gian, và cả vua David cũng chỉ là hình ảnh báo trước về một vị vua sẽ đến, cao cả hơn, đó là Đức Giêsu Kitô. Ngài chính là Con Thiên Chúa được sai đến để phục vụ và hiến mạng mình vì đoàn chiên (x. Mt 20, 28). Đức Giêsu đã chứng tỏ tình yêu của Ngài đối với chúng ta, một tình yêu cho “đến cùng” bằng cách chấp nhận chịu đóng đinh trên thập giá

và trao ban cho chúng ta chính Thân Thể Ngài làm của ăn.

Như thế, vương quyền của Đức Giêsu không dựa vào sức mạnh chính trị, hay quân sự, nhưng là sức mạnh của tình yêu. Yêu đến độ dám chết cho người mình yêu (x. Ga 15, 13). Và giới hạn của tình yêu, đó là yêu không giới hạn. Do đó, vương quyền của Đức Giêsu cũng không bị giới hạn bởi một dân tộc hay bất cứ một lãnh thổ nào, nhưng bao trùm lên toàn thể vũ trụ.

2. Vua cả vũ trụ:

Sau khi đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá, có lẽ với cái nhìn của người Do thái và cả Philatô thì mọi sự đối với Đức Giêsu đã chấm dứt. Họ đã đóng đinh Đức Giêsu cho dù không tìm ra được một lỗi lầm nào nơi Ngài. Nhưng có lẽ thấy không ổn, nên Philatô đã cho đóng một tấm bảng trên thập giá với hàng chữ: “Người này là vua dân Do thái”. Philatô đã cho đóng tấm bảng này như là một bản cáo trạng về tội chống lại đế quốc Rôma của Đức Giêsu.

Thế nhưng, có một điều ông không ngờ, đó là cho dù trước mắt, có vẻ như Thiên Chúa và Đức Giêsu đã thất bại, nhưng thực ra tất cả vẫn nằm trong chương trình của Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn là Đấng làm chủ và điều khiển vũ trụ và lịch sử. Chính lúc Philatô đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá, là lúc ông làm cho chương trình của Thiên Chúa được thực hiện (x. Rm 8, 28). Đó là lúc Đức Giêsu “được giương cao” để đem lại ơn cứu độ cho muôn người như lời Ngài đã báo trước với Nicôđêmô (x. Ga 3, 14-15). Chính lúc Đức Giêsu bị đóng đinh vào thập giá, cũng là lúc vương quyền của Ngài được tỏ lộ. Philatô đã ghi hàng chữ trên bằng ba thứ tiếng Hy lạp, La tinh và Do thái là những thứ tiếng thông dụng lúc bấy giờ. Tiếng Do thái là tiếng mẹ đẻ của người Do thái; tiếng Hy lạp là tiếng phổ thông để các dân tộc trong toàn đế quốc dùng để trao đổi với nhau; còn tiếng La tinh là ngôn ngữ chính thức được dùng trong các văn bản Nhà nước.

Như thế, khi viết tấm bảng bằng ba thứ tiếng: “Người này là vua dân Do thái”, Philatô đã trở nên khí cụ của Thiên Chúa để loan báo cho tất cả mọi dân tộc biết về vương quyền phổ quát của Đức Giêsu. Ngài không chỉ là vua dân Do thái, nhưng là vua của mọi dân tộc và toàn thể vũ trụ. Sau này thánh Phaolô đã viết lên một bài Thánh thi tuyệt vời để ca tụng vương quyền bất tận này của Đức Giêsu, như chúng ta vừa nghe trong bài đọc hai: “Người là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử mọi tạo vật; vì trong Người, muôn loài trên trời dưới đất đã được tác thành, mọi vật hữu hình và vô hình, dù là các Bệ thần hay là Quản thần, dù là Chủ thần hay là Quyền thần. Mọi vật đã đựơc tạo thành nhờ Người và trong Người. Và Người có trước mọi loài và mọi loài tồn tại trong Người. Người là đầu thân thể tức là Hội Thánh… và là trưởng tử giữa kẻ chết, để Người làm bá chủ mọi loài”.

Khi đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá, các thế lực sự dữ tưởng chừng như đã tiêu diệt được Đức Giêsu, nhưng đó lại là lúc Ngài thực hiện vương quyền của mình, đó là lúc mà “mọi quyền năng trên trời dưới đất được trao cho Ngài” (Mt 28, 17b). Quyền năng đó của Đức Giêsu đã được Ngài thực hiện, khi hứa với tên trộm cùng chịu đóng đinh với Ngài: “Ta bảo thật ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”. Như thế rõ ràng, dù đang bị đóng đinh, nhưng Đức Giêsu vẫn là Đấng làm chủ mọi sự trên trời dưới đất.

3. Chúng ta hôm nay:

Nhờ phép Rửa, mỗi người chúng ta đã được tháp nhập vào Thân Thể nhiệm mầu của Đức Kitô là Giáo Hội, như lời thánh Phêrô: “Anh em, dòng giống được lựa chọn, hàng tư tế hoàng vương, nước thánh thiện, dân được chọn làm sở hữu” (1 P 2, 9). Được trở nên chi thể trong Nhiệm Thể của Đức Giêsu, chúng ta cũng được thông phần vào vương quyền của Ngài, nghĩa là được mời gọi dự phần vào sứ mạng phục vụ của Đức Kitô.

Chớ gì, sau Thánh lễ này trở về nhà, mỗi người chúng ta can đảm dấn thân phục vụ cách nhiệt thành ngay trong môi trường mình đang sống. Mỗi người hãy phục vụ bằng cách chu toàn việc bổn phận của mình một cách tốt nhất. Nhờ đó, vương quyền của Đức Giêsu sẽ ngày càng lan rộng, để rồi vào ngày Ngài trở lại, tất cả chúng ta cũng được dự phần lời hứa của Ngài: “Ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”. Amen.

Lm Trần Thanh Sơn

 

TN34-C46. Vua Đích Thực

 (Lc.23,35-45)
Lễ Chúa Kitô Vua

VUA ĐÍCH THỰC

 

Tòan bộ các bài đọc Chúa Nhật 34 hôm nay tập trung giới thiệu Vương Quyền hay Con Người: TN34-C46

Tòan bộ các bài đọc Chúa Nhật 34 hôm nay tập trung giới thiệu Vương Quyền hay Con Người của Vua Giêsu, một vị Vua mà cái chết là đối tượng để người ta cười nhạo (Lc. 23,35-39), nhưng để ta phó thác, tin tưởng và được cứu (c.40-43), để cả vũ trụ đều phải phản ứng và Thiên Chúa phải giải thích cái chết của Ngài (c.44-45). Chúng ta sẽ tìm hiểu:

Thế nào mới thực là vua ?

Theo quan niệm của các đầu mục, lính tráng và người trộm thì một vị vua phải biết cứu lấy mình trước “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi…Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi…..Hãy tự cứu mình đi và cứu cả chúng tôi nữa”(cc.35.37.39). Còn dân chúng thì tò mò đứng nhìn vị vua của họ(c.35), Philatô chế nhạo vua của người Do Thái. Các tông đồ sợ hãi bỏ trốn Thầy mình, Vua của lòng mình !

Satan cho rằng một vị vua đích thực thì phải biết dùng quyền mà cứu lấy mình “Nếu ông là con Thiên Chúa thì truyền cho hòn đá này hóa bánh đi”(Lc.4,3), và dân chúng cười chê “ thầy lang ơi hãy chữa lấy mình …”(Lc4,23a).Thánh Phaolô nhận định rằng : Một Quân Vương đích thực, một vị Cứu Thế đích thực, một Đức Kitô đích thực, đó là một Người bị đóng đinh “ Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô đã bị đóng đinh Thập Giá, cớ vấp phạm cho người Do Thái, điên rồ cho dân ngọai”(1Cor. 1,23)

Thiên Chúa và Đức Kitô của Ngài quan niệm vị Vua đích thực, Đức Kitô đích thực như sau :

Tấm biển(c.38) : Chính Thiên Chúa để xẩy ra việc Philatô cho viết tấm biển “ Vua dân Do Thái”, Ngài muốn cho mọi người, qua tấm biển viết bằng ba thứ tiếng để mọi người thấy : Vị vua theo ý của Thiên Chúa là như thế đó, Ngài mới là vua vĩnh viễn.

Anh gian phi bên hữu nhìn ra vương quyền của Chúa Giêsu “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”(c.42). Chỉ có vua mới có nước riêng. Đây cũng là một mạc khải của Thiên Chúa qua anh ta.Hiện tượng trời đất u ám, màn đền thờ xé ra (cc.44-45) : Thiên Chúa giải thích về cái chết của Chúa Giêsu, bênh vực cái chết của Chúa Giêsu, Vua muôn Vua.

Sau đó viên bách quản hô lên “hẳn thật ông này là người công chính”(c.47b). Dân chúng đấm ngực lui về, trong khi trước đó họ chỉ đứng nhìn, đây là một sự biến chuyển lạ lùng.

Tất cả những điều xẩy ra cho thấy Thiên Chúa nhìn nhận Đức Kitô là vị Vua đích thực, một vị Vua theo kiểu Người Tôi Tớ đau khổ, vị Vua đích thực thì không lo cứu mình mà chỉ lo cứu người. Vì bản chất của Chúa Giêsu là sống cho người khác, vị tha. Bản chất của Chúa Giêsu là Vua : “ Ta sinh ra là để làm Vua”. Nhưng quan niệm Vua của Chúa Giêsu hòan tòan khác quan niệm trần gian. Quan niệm này chỉ hiểu được khi đặt trong viễn tượng của tình yêu, vì chỉ có tình yêu mới lo cứu người mình yêu. Như vậy, Thập Giá chính là Vương Quyền đích thực được mạc khải và đây chính là lý do tại sao phụng vụ lại chọn đọc đọan Tin Mừng này cho lễ Đức Giêsu làm vua.Người ta có thái độ trước Vương Quyền của Đức Kitô ?

Trước Vương Quyền Đức Kitô người ta có hai thái độ :

Tin : Tin gồm có viên bách quản, dân chúng và một trong hai gian phi. Qúa trình đức tin của người trộm lành hay nói đúng hơn tiến trình sám hối của anh được khởi đầu từ lòng kính sợ Thiên Chúa, nhìn nhận tội lỗi của mình, nhận hình phạt tương xứng và nhận ra Chúa Giêsu vô tội (c.40-41). Có lẽ anh đã nghe nói về Chúa Giêsu, Ngài chỉ làm những việc tốt cho người ta. Thấy việc Philatô xử án Chúa bất công. Nhất là thấy việc Chúa Giêsu xin Cha tha cho những kẻ giết mình. Nhờ đó, anh đã khám phá ra con người của Chúa Giêsu, đồng thời với ơn của Thiên Chúa anh tiến tới một bước nhẩy vọt : nhận ra Vương Quyền của Chúa Giêsu, nhận ra Ngài là vua trong Nước của Ngài. Quả chúng ta rất đỗi ngạc nhiên về đức tin của anh. Anh nhận ra Đức Giêsu ngay trong lúc mà người đời nhìn thấy là bất lực. Đức tin của anh thật thuần khiết, nên Thiên Chúa đã cho anh có một cặp mắt đức tin lạ lùng. Đức tin của anh hơn hẳn đức tin của các tông đồ và các môn đệ.

Không tin : Đó là các đầu mục Do Thái, họ không hề biến đổi. Sau đó là các binh lính, trừ viên bách quản. Và sau cùng là một trong hai người gian phi.

Sứ điệp Tin Mừng :Thập giá chính là Vương Quyền đích thực được mạc khải, nên mỗi người hãy yêu mến Thập Giá mà vị Vua muôn Vua nằm trên đó.

Hành trình đức tin của người trộm lành giúp chúng ta quan niệm về hành trình đức tin của mỗi người chúng ta, vì chúng ta cũng là những người tội lỗi.

Trước cái chết của Chúa Giêsu với những điều kỳ lạ kèm theo, mỗi người phản ứng mỗi cách khác nhau kẻ tin người chối. Những điều đó có dậy chúng ta bài học gì không ?

Lạy Chúa, xin cho con can trường trước những thử thách đau thương của cuộc đời, biết sát nhập đời mình vào Thập Giá Chúa, để Chúa làm Vua an bình và thánh thiện, biến đổi chúng con nên chứng nhân tình yêu Chúa trong cuộc sống hôm nay, hầu góp phần kiến tạo Nước Chúa đang hình thành giữa lòng thế giới.

Sr Mai An Linh, OP

 

TN34-C47. Chân dung Đức Kitô

VietCatholic News (18/11/2004 )

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ

CHÂN DUNG ĐỨC KITÔ

 

Mừng Lễ Chúa Giêsu Vua vũ trụ mỗi năm là dịp thuận tiện cho chúng ta suy niệm một lần nữa về: TN34-C47

Mừng Lễ Chúa Giêsu Vua vũ trụ mỗi năm là dịp thuận tiện cho chúng ta suy niệm một lần nữa về những đặc tính của Vua Giêsu và Vương quốc của Người. Thông thường, khi nói đến danh hiệu Vua, người ta liên tưởng ngay đến những hào quang trần thế gắn liền với tước vị đó trong mọi nền văn hóa nhân loại từ đông sang tây và từ cổ chí kim.Có thể nói ngôi vua là tột đỉnh của danh vọng và vinh quang trần thế, là niềm mơ ước của biết bao nhiêu người vì làm Vua để được hưởng mọi uy quyền giầu sang và lạc thú trên đời.

Nhưng Chúa Giêsu có làm Vua với những đặc tính, đặc quyền đó của các vua chúa trần gian này không ?

Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta hãy đọc lại lời than sau đây trích trong Sách Ngắm Mùa chay của Địa phận Hà Nội : “ Lậy Chúa tôi, giờ này làm Vua mọi sự khốn khó, vì chẳng thiếu giống gì dữ mà Chúa tôi chẳng chịu : con mắt xem những kẻ nghịch vây chung quanh, tai nghe những lời xỉ vả nhiếu nhóc nhạo cười, miệng uống những của đắng đót, chân tay đanh sắt thâu qua, cả và mình chẳng con nơi đâu lành…”

Đó là hình ảnh sống động của Chúa Giêsu Vua Vũ trụ mà Giáo Hội mừng kính hôm nay.. Vì thương yêu và muốn cứu nhân loại mà Chúa Giêsu đã trở nên Vua của mọi sự khốn khó, nhục nhã, ê chề, với vương miện là vòng gai bén nhọn đâm sâu quanh đầu, lấy thân mình trần trụi làm áo hoàng bào nhuộm đỏ với những giọt máu ứa ra từ những vết thương bầm giập khắp thân thể và ngự trên ngai vàng là cây thập giá giữa hai tên trộm cướp trên Núi Sọ năm xưa.

Đó là chân dung của Vua Giêsu, Vua của đau khổ, sỉ nhục, và cũng là Vua của vâng phục, khiêm cung, Vua của tình thương và tha thứ. . như chúng ta đã thấy thể hiện rõ rệt những đặc tính này trong suốt cuộc đời và qua những việc Chúa đã làm từ khi sinh ra cho đến ngày chết trên thập giá.

Thật vậy, Chúa Giêsu Kitô “ vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vi ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ,trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự ...” ( Pl 2:6-8)

Những lời ca tụng trên đây của Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Philipphê đã tô đậm thêm những nét độc đáo về Vua Giêsu khác biệt với mọi vua chúa loài người từ xưa đến nay.

Khác biệt với mọi vua chúa trần gian quen ở trong cung điện ngọc ngà, mong đợi mọi người đến bái phục, suy tôn, và hưởng thụ mọi lạc thú. Vua Giêsu, ngược lai, sinh ra trong hang bò lừa và chết không có nơi an táng, phải mượn ngôi mồ trống của người khác để nằm tạm trong 3 ngày ! Khác với mọi vua chúa loài người chỉ biết sống ích kỷ, không màng gì đến ai, Vua Giêsu đã xót thương trước hết những người tội lỗi, và thứ đến những người đau khổ vì bệnh tật, tai ương, nghèo đói nên đã nhiều lần làm phép lạ chữa lành cho biết bao người mù què, câm điếc cũng như biến bánh ra nhiều để nuôi bao ngàn người đi theo, nghe giảng dạy và không có của ăn trong ngày… Sau hết, khác với mọi vua chúa trần gian chỉ biết ra oai và nghiêm khắc trừng phạt, Vua Giêsu đã đi tìm những người tội lỗi như lang y đi tìm bệnh nhân để chữa trị, đã luôn tha thứ và đặc biệt còn cầu nguyện cho cả kẻ thù, cho những kẻ đã sỉ nhục và đóng đinh Người. vào thập giá !

Đó là tất cả những đặc tính độc nhất vô nhị của Vua Giêsu, Vua tình yêu, Đấng đã đến “ không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống của mình làm giá chuộc muôn người” ( Mt. 20: 28).

Với những đặc tính ấy thì Chúa Giêsu là Vua của ai và Vương Quốc của Ngài ở đâu ?

Chúa đã trả lời rõ cho Phi latô : “ Nước tôi không thuộc về thế gian này ” (cf. Jn 19,36). Không thuộc về thế gian này, nghĩa là không tranh giành quyền lợi chính trị, kinh tế, đảng phái với ai. Và cũng không làm Vua để cai trị những người sống thiếu công bình, bác ái, không tôn trọng sự sống và mọi giá trị nhân luân, vì Vương Quốc của Ngài là Vương Quốc của yêu thương, bình an, công chính và thánh thiện..

Như vậy, là thần dân của Vua Giêsu với những đặc tính quá lạ lùng nói trên, chúng ta phải làm gì để xứng đáng với danh vị cao quí ấy ? Phải chăng chúng ta hãy cố gắng sống cân xứng với những đòi hỏi của Phúc Âm để tôn vinh Vua Giêsu và góp phần mở mang Vương Quốc của Người trên trần thế này ?


 

TN34-C48. Thiên Chúa được tôn vinh trên thập giá

 (Lc 23, 35-43)

Thưa quý vị.

 

Thời đại văn minh, thể chế dân chủ được nhiều quốc gia lựa chọn làm hệ thống chính trị điều hành đất: TN34-C48

Thời đại văn minh, thể chế dân chủ được nhiều quốc gia lựa chọn làm hệ thống chính trị điều hành đất nước. Trong xã hội này người ta chỉ nói đến tổng thống, quốc hội, bộ ngành, cho nên ý niệm về vua chúa và quyền bính tuyệt đối của ông không còn phổ thông nữa, mà đang bị lu mờ, mai một dần, ngoại trừ ở vài quốc gia kì cựu như Anh quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Thụy Điển... Tuy nhiên ở những nước này quyền nhà vua đã bị Quốc hội hạn chế tối đa, chỉ còn tính cách tượng trưng cho nền quân chủ và ý chí thống nhất của nước đó. Thỉnh thoảng xem ti vi chúng ta thấy các buổi đăng quang, đám rước, đám cưới hoàng gia với những lễ nghi, xe thổ mộ do ngựa kéo, màu sắc rực rỡ, chúng ta không khiếp sợ như thời phong kiến nữa mà chỉ còn hiếu kỳ, lạ lẫm. Thời phong kiến dân chúng sợ hãi quyền bính nhà vua. Vì nó là thứ quyền lực tuyệt đối của kẻ thống trị, ai chống đối phải lãnh hậu quả thảm khốc, thường là tử hình và chu di tam tộc (giết tới ba đời con cháu). Đất nước Hoa Kỳ được khai sinh từ một cuộc nổi loạn chống lại quyền bính vua nước Anh trên 13 thuộc địa ở Châu Mỹ. Ngày nay tuy còn ngưỡng mộ vẻ đẹp của triều đình ngoại quốc, nhưng chúng ta rất sợ quyền bính phong kiến, cha truyền con nối, kìm kẹp và thống trị nhân dân. Chúng ta ưa thích nền chính trị dân chủ hơn. Tuy nhiên những cuộc tranh cử, bầu cử, thăm dò ý kiến, gian lận kết quả của mấy tháng vừa qua cho hay dân chủ cũng chưa phải là hoàn toàn lý tưởng.

Hôm nay là chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ C. Ba tuần qua Giáo hội đã cho chúng ta suy gẫm về thời kỳ cuối cùng của mỗi người, của thế giới, với động đất, đói kém, ôn dịch, bách hại và mọi loại khốn khổ. Tin Mừng tuần này về cái chết thê thảm của Chúa Giêsu trên thập tự sau khi bị xỉ nhục, chế giễu. Đây là một biến cố trớ trêu, soi sáng cho các linh hồn tôn phong Chúa là “vua” và chấp nhận quyền tối thượng của Ngài trên cuộc sống mình. Nếu so sánh với vua chúa thế gian thì quyền bính của Đức Giêsu khác hẳn. Nó là một trò cười để thiên hạ tiêu khiển, nếu nhìn theo quan điểm thường tình thế gian và chúng ta chẳng thể gán tội “phạm thượng” cho những kẻ không tin chế giễu tước hiệu “Vua Thượng Vị” của Chúa Giêsu mà hôm nay chúng ta mừng kính. Nếu hiểu hết ý nghĩa của ba bài đọc thì họ hẳn phải ôm bụng cười. Bởi vì họ không thể liên kết được những sang trọng thế gian với vị vua của người có đạo! Một vị vua người ta đem bêu diếu, trói chân tay, đánh nhừ đòn, rồi giết chết trên thập giá. Từ đó, ông làm vua những kẻ bé mọn của xã hội, những kẻ bị loại trừ, khinh bỉ, những tội nhân khốn kiếp, những đĩ điếm, xì ke, những phường lường gạt, buôn gian bán lận biết ăn năn sám hối... Đúng vậy, cả bốn phúc âm đều mô tả cái chết của Chúa Giêsu trong chiều hướng đó và mạc khải căn cước thật của Ngài là Vua Công Chính, là con Đức Chúa Trời, được tôn vinh trên vạn vật ở đúng thời điểm Ngài gục đầu trút hơi thở cuối cùng trên thập tự! Nói cho ngay, dù mỗi Phúc âm trình bày cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu một cách khác, với những chi tiết gần như cách biệt nhau khá xa, mang màu sắc của cộng đoàn địa phương, mang cả tính tình của người viết, nhưng khi đến mạc khải Ngài là vua, thì họ đều hợp nhất về quyền bính và chức vị của Ngài trên những kẻ tin kính.

Chúng ta có thể giải thích quan điểm đó như sau: Đối với người Do thái, chỉ Thiên Chúa là “vua” duy nhất của dân tộc và tôn giáo. Ngoài ra không có vua nào khác. Khi ra khỏi Ai Cập, dân Israel chỉ có quan án ngồi xét xử cho dân. Đến thời tiên tri Samuel dân muốn bắt chước các nước xung quanh, xin một vị vua, thì tiên tri bực mình đi cầu nguyện cùng Đức Chúa. Đức Chúa phán bảo ông: “Ngươi cứ nghe theo tiếng của dân trong mọi điều chúng nói với ngươi, vì không phải chúng gạt bỏ ngươi, mà là chúng gạt bỏ Ta, không chịu để Ta làm vua của chúng” (1Samuel 8,5). Người đầu tiên được xức dầu làm vua Israel là Sa-un. Ông được chọn không phải vì tài cao, sức mạnh, nhưng vì ông phản ảnh hình ảnh Thiên Chúa là vua. Ông đại diện Đức Chúa cai trị dân chúng. Ông lãnh trách nhiệm trước mặt Đức Chúa, cầm cân nẩy mực công lý trong dân. Vua Sa-un đã thất bại trong nhiệm vụ của mình, bị Đức Chúa loại bỏ, chọn Đa-vid lên thay thế. Đavid được sức dầu cũng không phải vì địa vị của mình trong nhà cha mình, mà vì ông có phẩm chất của người thay thế Đức Chúa lãnh đạo dân Do thái. Ông là một vị vua mục tử thay thế Thiên Chúa chăn dắt Israel: “Ngươi sẽ là mục tử chăn dắt dân Ta là Israel. Ngươi sẽ chăn dắt chúng như người mục tử chăn dắt chiên cừu”. Như vậy bài đọc 1 cho ta hiểu ý nghĩa của ngày lễ hôm nay. Đavid, người mục tử dẫn dắt tuyển dân Thiên Chúa, hợp nhất các bộ lạc còn đang tản mác, chọn Giêrusalem làm thủ đô và trị vì trong suốt 40 năm. Tuy có nhiều nhược điểm, nhưng đức tính nổi bật nhất của ông là tài dẫn dắt dân tộc Israel đạt tới nền thịnh vượng chưa từng có. Phụng vụ nhớ đến ông vì ông là hình ảnh của Đức Kitô dẫn dắt Hội thánh. Có điều khác biệt: Ông cai trị trên ngai vàng cung điện nguy nga ở giữa Giêrusalem. Còn Chúa Giêsu trên cây thập giá bên ngoài thành thánh. Ngài chịu đóng đinh ở đấy, cai trị và được tôn vinh ở đấy, bởi vì đó là nơi người mục tử chăn dắt đoàn chiên, những kẻ tội lỗi, sa đoạ bị loại trừ...

Người trộm thứ hai theo tiêu chuẩn của xã hội và tôn giáo lúc ấy đúng là một kẻ bị loại trừ. Nhưng ông đã nhìn thấy triều đại Thiên Chúa hiện thân nơi Đức Kitô tan nát và giẫy chết. Chẳng có chi sang trọng và vương giả nơi con người khốn khổ ấy. Bề ngoài chỉ là một tội nhân khác bị nhà nước thần quyền kết án. Tuy nhiên người trộm lành đã được ơn soi sáng công nhận Đức Giêsu đích thật là vua, oai phong và vinh hiển hơn các vua trần thế, nên đã khiêm tốn tùng phục Ngài, xin Ngài một đặc ân mà chỉ Thiên Chúa mới có quyền ban: “Lạy ông Giêsu, khi nào về nước Ngài xin nhớ đến tôi cùng”. Bằng lời cầu xin ngắn gọn, người trộm lành đã tuyên xưng đức tin, ăn năn hối cải vì các lỗi lầm đã phạm, và công nhận uy quyền của Chúa Giêsu kéo dài ngay cả sau cái chết. Nói cách khác mọi sự không chấm dứt sau khi tắt thở. Trái lại, tồn tại vĩnh viễn: “Khi nào về nước Ngài xin nhớ đến tôi”. Ông đã nhận ra căn tính Thiên sai nơi Đức Kitô bên cạnh. Vì thế, vị vua mục tử mà Phúc âm luôn mô tả như tìm kiếm và cứu chữa những con chiên thất lạc, đã vội vã thâu nhận anh vào nước Trời: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên thiên đàng”. Nghĩa là anh được sống ngay lập tức trong nước Đức Chúa Trời, không phải chờ đợi đến ngày tận thế, khi mọi người sống lại. “Anh được ở với Tôi” là lời hứa anh hoàn toàn được hạnh phúc trong tình thân thiết với Chúa Giêsu. Điều mà mỗi người chúng ta đều khát khao. Mặc dầu lúc ấy anh đang bị đóng đanh bên Chúa Giêsu, đau đớn và tủi nhục.

Vậy thì vương quyền của Chúa Giêsu là thế nào? Ngài làm vua ra sao? Lời đối đáp trên kia cho ta câu trả lời. Ngài hoàn toàn phản ánh hình ảnh Thiên Chúa- mục tử, mà dân Israel luôn tôn thờ. Ngài phân phát lòng thương xót và ơn tha thứ cho những ai kêu xin và người đầu tiên được hưởng ơn ấy là một kẻ trộm, cùng chịu án tử hình với Ngài. Cho nên bất cứ ai tìm kiếm ơn cứu độ đều được thỏa mãn nếu tin vào Ngài, không có chỗ cho thất vọng, đắng cay. Suy niệm đến đây hẳn chúng ta phải ngỡ ngàng về thượng trí khôn ngoan của Đức Chúa Trời, lo liệu cho loài người phương thế vô song để thoát khỏi bàn tay tội lỗi, được cứu độ tức thời và được sống thân thiết với Chúa Giêsu. Đồng thời phải trào dâng lòng cảm tạ tri ân lên Thiên Chúa toàn năng, và vua Giêsu hiển trị muôn đời, không ngu xuẩn như những thủ lãnh Do thái chế nhạo Chúa. Họ hô lớn: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa”. Thực tế, chẳng những Chúa đủ quyền năng cứu lấy mình mà còn cứu lấy người trộm lành và muôn vàn linh hồn khác nữa. Ngài không những là vua dân Israel mà còn là vua của toàn thể vũ trụ.

Cái chết trên thập tự của Chúa đã rõ ràng xác định ý nghĩa chức vụ làm vua của Ngài và vương quyền Ngài thực hiện trên thân phận nhân loại. Đó là sự thật hiển nhiên đối với ai có lòng tin. Quyền bính của Ngài không phải để ngự trị hống hách như kiểu thế gian, bóc lột và kìm kẹp. Nhưng là cứu giúp và giải thoát. Nó hiện diện trong những kẻ yếu đuối, tội lỗi, những kẻ thua thiệt trong xã hội, biết ngước trông lên Ngài. Suốt trong các sách Phúc âm người ta tìm ra Chúa Giêsu giữa những người tội lỗi, thu thuế, gái điếm, cùi hủi, mù loà, què quặt. Những người mà xã hội loại bỏ. Một số chấp nhận Ngài đồng thuyền đồng hội với họ, số khác từ chối. Những ai chấp nhận Ngài ban phát ơn tha thứ và hoà giải, họ được chữa lành phần xác và phần hồn. Dưới chân cây thập giá cũng vậy, không có người trung lập, hoặc là họ chế nhạo Chúa hoặc là họ tin kính Ngài. Thánh Luca kể: “Khi Đức Giêsu bị đóng đinh trên thập giá, dân chúng thì đứng nhìn còn các thủ lãnh thì buông lời chế nhạo”. Những ai cười nhạo đều dùng từ “cứu”. Dĩ nhiên họ muốn thấy hiệu quả tức thời, xuống khỏi thập giá và đi lại mạnh khoẻ như một phép lạ. Các binh lính, các thủ lãnh và một người trộm cùng chịu đóng đanh đều thách thức Chúa Giêsu tự cứu mình, tự giải thoát mình khỏi cây thập giá. Nhưng họ đã lầm, từ “cứu” trong Phúc âm có nghĩa rộng hơn nhiều. Nó bao gồm mọi khía cạnh của cuộc sống con người, ngay cả của toàn thể vũ trụ. Hẳn chúng ta còn nhớ câu văn nổi tiếng của thánh Phaolô: “Vạn vật quằn quại chờ ngày được cứu”. Đối với các tín hữu, từ “cứu” còn có nghĩa thoát khỏi tội lỗi và sự chết. Cho nên họ nhìn thấy cái chết của Chúa Giêsu một ý nghĩa to lớn hơn, to lớn vô cùng. Nếu như Ngài muốn cứu chúng ta và thế giới, Ngài phải đi qua cái chết trên thánh giá, số phận đã được Thiên Chúa Cha quyết định từ khi sinh ra ở Bêlem. Vậy thì quyền cai trị của Chúa Giêsu không phải trong đường lối sang trọng thế gian. Trái lại, được biểu lộ qua cái chết khiêm nhường, hoàn toàn không vương giả. Điều trớ trêu là lời nhạo báng của các binh lính La-mã: “Nếu ông là vua Do thái thì ông hãy tự cứu mình đi”. Lại là sự thật rõ ràng đối với thế giới Công giáo.

Người trộm lành đã nhìn thấy ý nghĩa đó. Đức Kitô là vua, dáng vẻ bề ngoài là một tử tội đáng ghê tởm, hoàn toàn thất bại, hoàn toàn bị hạ nhục, không một chút uy thế nào. Nhưng lại là Cứu Chúa có quyền năng chiến thắng sự chết, ban cho ông ta sự sống và hạnh phúc đời đời: “Lạy ông Giêsu, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi cùng”. người trộm lành không nghi ngờ chút nào về sứ vụ cứu độ của Chúa Giêsu, mặc dầu trước mặt chỉ là một tử tội đang chịu đóng đinh. Một đức tin, đúng hơn một sự soi sáng, dũng mạnh biết bao! Nếu chúng ta cũng được ơn như vậy trong cuộc sống hằng ngày, hẳn chúng ta đã không ăn ở lạnh nhạt như hiện trạng. Tuy nhiên, bài học quan trọng cho chúng ta là: Khi phải gánh chịu thiệt thòi trong cuộc sống. Khi các thế lực sự dữ bao vây chung quanh. Khi không còn một khả năng nào trong tay. Khi thất vọng về những cố gắng thay đổi nếp sống. Khi phải đối đầu với khó khăn kinh tế, luân lý, chính trị. Khi phải đấu tranh chống tham nhũng, hối lộ, áp bức, bất công. Khi phải lo lắng về các cơ cấu thối nát trong Giáo hội, xã hội. Lúc than khóc thân nhân qua đời. Khi tuyệt vọng về tình hình thế giới: Luân lý đồi bại, phá thai, xì ke, ma tuý, tội ác có tổ chức... Chúng ta hãy nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh và nhận ra có lẽ đấy là những dạng khác nhau của biến cố trên đồi Can-vê mà Phúc âm hôm nay ký thuật. Chúng cũng đang chế nhạo Chúa Giêsu. Nhưng kỳ thực Ngài vẫn là vua. Người trộm lành đã ngoảnh mặt làm ngơ trước những chê cười đó và trong đau đớn ông kêu xin Chúa cứu chữa mình. Ông đã đặt niềm tin vào nơi xem ra chẳng có chút hy vọng gì. Chúng ta hãy noi gương ông. Điều mà ông đã được nghe thì chúng ta cũng sẽ được nghe. Điều mà lòng tin của ông đã đạt được chúng ta cũng sẽ đạt được: “Hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”. Thiên Chúa hiện diện ở những nơi xem ra không thể được: ngục tù, tối tăm, hèn hạ... Trên thập tự ai có thể tưởng tượng Thiên Chúa có mặt? Đôi mắt người trộm lành ngắm nhìn Chúa Giêsu ai có thể nói rằng ông ta đang ngắm nhìn ơn cứu độ? Vua của những kẻ ngoài lề lại chết trên thập giá. Việc đó am hợp với Phúc âm. Bởi lẽ Ngài luôn tuyên bố: Thiên Chúa là mục tử tối cao của nhân loại và Đức Kitô có nhiệm vụ dẫn dắt đoàn chiên trở về ràn. Vậy trong thánh lễ hôm nay, chúng ta phải cúi đầu bái lạy Ngài, vì chỉ có Ngài mới là vua đích thực của mọi tâm hồn. Amen.

Lm. Jude Siciliano, OP.

 

TN34-C49. Chúa Giêsu Vua

Lc 23,35-43
A. Hạt giống...
 

Đoạn Tin Mừng này mô tả cảnh Đức Giêsu trên thập giá : - Phía dưới thập giá, dân chúng “đứng: TN34-C49

Đoạn Tin Mừng này mô tả cảnh Đức Giêsu trên thập giá :
- Phía dưới thập giá, dân chúng “đứng nhìn” cách bàng quan như không liên can gì đến mình, các thủ lãnh do thái thì chế nhạo “Hắn đã cứu người khác thì hãy cứu lấy mình đi nếu thật hắn là Đấng Kitô”, lính tráng cũng chế diễu “Nếu ông là vua dân do thái thì hãy cứu lấy mình đi”.
- Trên đầu Ngài có bảng viết “Đây là vua người do thái”
- Bên cạnh Ngài có hai tên gian phi : một tên hùa theo đám người phía dưới để chế diễu Ngài ; tên kia công nhận Ngài là vua nên nói với Ngài “Khi ngài vào Nước của Ngài thì xin nhớ đến tôi”.
Nghĩa là : thánh Luca đã cố ý trình bày Đức Giêsu trên thập giá như một vị vua đang ngự trên ngai của mình. Nhưng đa số những người ở dưới và bên cạnh, vì đã quá quen với hình ảnh một ông vua trần gian nên chẳng những không nhận ra Ngài mà còn chế nhạo Ngài.
B.... nẩy mầm.
1. “Nếu ông thật là vua thì hãy tự cứu lấy mình đi”. Câu này được lặp đi lặp lại nhiều lần trên môi miệng của hầu hết những người chứng kiến cảnh Đức Giêsu trên thập giá. Câu này chứng tỏ một quan niệm rất ích kỷ và vụ lợi về tước hiệu làm vua : làm vua trước hết là để lo cho bản thân mình. Nhân loại đã đau khổ biết bao nhiêu vì đã có biết bao người làm vua theo kiểu đó.
Còn Đức Giêsu, Ngài làm vua không phải để hưởng thụ, không phải vì bản thân. Một vị minh quân thì trước tiên phải thương dân, nghĩ đến dân, lo cho dân.
2. Hàng ngày tôi cũng đứng dưới thập giá Chúa rất nhiều lần. Thái độ và tâm tình của tôi giống ai : như dân chúng “đứng nhìn” ? như những kẻ thù ghét “chế nhạo” ? hay như người trộm lành “Xin Ngài nhớ đến tôi” ?
3. Lời anh trộm lành rất đáng làm gương cho chúng ta. Lúc bị hành hạ đau đớn, anh nói “Chúng ta chịu như thế này là đích đáng vì xứng với việc chúng ta đã làm”. Trong những lúc bị khổ, nhiều người cứ làm như tên trộm dữ, đã không nghĩ đến tội mình mà còn bực tức với người khác. Làm như thế, chẳng những không hết khổ mà lại còn khổ thêm, nhất là những cái khổ ấy chẳng mang lại ích lợi gì cả.
4. Vào thời Nga hoàng, một thanh niên vì chịu ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng của đại văn hào Tolstoi và nhất là giáo huấn của Chúa Giêsu, nên đã từ chối thi hành nghĩa vụ quân sự. Ra trước tòa, anh đã trình bày niềm xác tín là anh không thể cầm khí giới giết người. Sau khi nghe người thanh niên biện hộ, quan tòa mới phát biểu như sau : “Tốt lắm, tôi đã hiểu được lý tưởng của anh. Nhưng anh còn phải thực tế. Lý tưởng anh đề ra là lý tưởng của Nước Trời, mà Nước Trời thì chưa đến”. Nghe thế người thanh niên dõng dạc trả lời : “Thưa ông tôi nhìn nhận là Nước ấy chưa đến cho ông... nhưng Nước ấy đã đến cho tôi. Tôi không thể sống như Nước ấy chưa đến, để tiếp tục chém giết và gieo rắc hận thù. (Góp nhặt)
5. Mầm khác :

 

TN34-C50. LỄ CHÚA KI-TÔ VUA VŨ TRỤ

Lu-ca 23,35-43
Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo : "Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn !" Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói : "Nếu ông là vua dân Do-thái thì cứu lấy mình đi !" Phía trên đầu Người, có bản án viết : "Đây là vua người Do-thái."
Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người : "Ông không phải là Đấng Ki-tô sao ? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với !" Nhưng tên kia mắng nó : "Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái !" Rồi anh ta thưa với Đức Giê-su : "Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !" Và Người nói với anh ta : "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng."
***
 

Người ta nói nhiều về người trộm biết ăn năn, thậm chí ở nhiều nước đạo gốc có nơi còn thờ một: TN34-C50

Người ta nói nhiều về người trộm biết ăn năn, thậm chí ở nhiều nước đạo gốc có nơi còn thờ một vị thánh. Được gọi bằng những tên khác nhau như Dismas, Demas, Dumachus. Có một chuyện kể hắn là một thứ Robin Hood của Do-thái, ăn trộm của người giàu để phân phát cho người nghèo. Có chuyện rất đáng yêu kể rằng khi Chúa Giê-su còn nhỏ được gia đình đem sang Ai-cập, dọc đường bị một bọn cướp tấn công. Một thanh niên là con của thủ lãnh bọn cướp thấy con trẻ Giê-su dễ thương quá nên hắn không nỡ ra tay, hắn tha Ngài và nói : "Hỡi con trẻ rất có phước, nếu sau này có dịp nào để thương xót tôi, thì hãy nhớ đến tôi, đừng quên giây phút này nhé !" Tên cướp đó là kẻ đã cứu Chúa Giê-su khi còn nhỏ đã gặp Ngài trên thập giá tại đồi Gôn-gô-tha, lần này thì Chúa Giê-su đã cứu anh ta.
Câu chuyện thực hư thế nào không ai được rõ nhưng điều rõ rệt ấy là quang cảnh đóng đinh này đã thực hiện điều mà trước đây cả bảy trăm năm I-sai-a đã tuyên sấm : "Ngài đã hiến thân chịu chết và bị liệt vào hàng phạm nhân." (53,12). Mà chẳng những trong hàng phạm nhân mà thôi, nhưng theo vị trí xếp đặt, Ngài được coi là phạm nhân hạng nặng, đứng đầu trong bọn đầu trộm đuôi cướp nữa, nếu hai tử tội đứng bên cạnh Ngài đúng là những tên trộm cướp. Không biết ai đã bày ra cái trò này, xếp đặt thập giá của Ngài ở giữa hai tên cướp. Nếu là Phi-la-tô thì quả ông quan xâm lược này muốn làm tăng vẻ khôi hài của bản án mà ông treo trên đầu "Vua Do-thái", cũng có thể do bọn đầu mục Do-thái, theo dõi kẻ thù đến đỉnh núi Sọ, mua chuộc bọn lính sắp đặt để tăng sỉ nhục cho nạn nhân, hay có lẽ là chính bọn lính sắp đặt như vậy vì hiển nhiên Ngài là tử tội đáng chú ý hơn cả trong bọn. Sự thật ấy là có một cái gì hiểm độc trong hành động này về phía loài người. Thế nhưng, điều ti tiện trước mặt người đời, lại cao sang trước mặt Thiên Chúa. điều mà lòng độc ác của loài người bêu xấu Ngài, thì lại tôn vinh Ngài trước mặt Thiên Chúa. Vì thế, vị trí của Ngài giữa hai tên trộm cướp đúng là địa vị của Ngài. Từ lâu Ngài được gán cho danh hiệu "bạn của người thâu thuế và phường tội lỗi." (Mt 11,19). Giờ đây, qua hành động đóng đinh Ngài giữa hai người trộm cướp, ý tưởng ấy được thực hiện cách rõ rệt nhất. Chúa Giê-su đã đến thế gian để tự hòa mình vào đám tội nhân, Ngài đã chịu chung số phận của họ, Ngài đã sống giữa họ, và thật là thích hợp Ngài đã chết giữa họ. Cho đến lúc này, Ngài đang ở giữa họ. Và thái độ kỳ lạ của những người đã bị treo hai bên Ngài, là một thực hiện và và là một báo hiệu. Thực hiện điều cụ Si-mê-on nói về Chúa Giê-su trong Đền Thờ : "Con trẻ này có mệnh làm cho nhiều người trong dân vấp ngã trong khi nhiều người được giải cứu." (Lc 2,34), và báo hiệu điều sẽ xảy ra luôn luôn sau này, một số người tin nhận Ngài và được cứu, trong lúc một số khác không tin. Lịch sử loài người luôn luôn như thế, Tin Mừng sẽ đem lại sự sống cho nhiều người, và cũng đem lại án phạt cho nhiều người. Tình trạng ấy sẽ kéo dài cho đến ngày tận cùng, Ngài sẽ ở giữa họ, kẻ ăn năn đứng một bên phải, bên trái Ngài là những kẻ không ăn năn. Mát-thêu và Lu-ca đều ghi lại : Cả những kẻ bị đóng đinh với Ngài cũng xỉ nhục Ngài, Lu-ca ghi rõ hơn : Kẻ bên trái mắng nhiếc, kẻ bên phải ăn năn. Có thể lúc đầu hắn cũng hùa theo tên bạn rồi sau mới tỉnh ngộ. Nếu thế, thì đây không phải lần đầu tiên, hắn ta bị lôi cuốn vào vòng tội lỗi, có lẽ tên đồng bạn này từ lâu vốn là ác quỷ bên cạnh hắn, đã phá đổ cuộc đời hắn, và cuối cùng đưa hắn vào kết thúc nhục nhã này. Một con người, mà cuộc đời đã đến chỗ sắp tàn như thế, mà lại còn đi mắng nhiếc người đồng cảnh ngộ, thì hèn hạ không biết chừng nào ! Đau quá hóa điên, làm liều tất cả để tạm quên những đau đớn của mình, y như một con vật mắc bẫy cắn bất cứ cái gì nó gặp … Đó là tình trạng của tên cướp không chịu ăn năn ! Còn tên kia thì kinh hãi lùi xa bạn, chính tội ác ấy đến mức lằn tối đã khựng lại và quay ngược lại. Lần đầu tiên trong đời, hắn nhận thức được con người thực của hắn : hèn hạ xấu xa. Ý thức ấy hắn có được, là nhờ nét tương phản với vẻ mặt bình tĩnh của Đức Giê-su. Đã từ lâu, tên bạn tàn bạo kia vẫn là lý tưởng của hắn, thế nhưng, giờ đây đối chiếu với thái độ bình tĩnh chịu đựng của Đức Giê-su, sự hung bạo kia chỉ là thấp hèn. Để giải thích sự ăn năn đột ngột này, có người cho rằng tên cướp này đã gặp Đức Giê-su rồi, chắc chắn là hắn đã nghe Ngài cầu xin tha thứ cho kẻ thù, đã thấy thái độ của Ngài trên đường dẫn tới Núi Sọ, được nghe lời Ngài nói với nhóm phụ nữ thương hại Ngài. Rồi, chính những tiếng nhục mạ của kẻ thù đứng dưới chân thập giá ném vào Ngài những danh hiệu mà Ngài tự xưng hay bị ghép cho, giúp hắn nhận ra Chúa Giê-su là ai ! Có thể, hắn còn được chứng kiến, hay nghe được vụ xử của Ngài trước tòa Phi-la-tô … Còn lùi xa hơn nữa thì quả chúng ta không có bằng chứng chắc chắn. Hắn được nghe Ngài giảng chưa, đã được thấy phép lạ nào của Ngài chưa ? Hắn đã biết được gì về vương quốc mà hắn đã cầu xin với Ngài không ? Dầu sao đi nữa, thì lúc này, lòng hắn cũng tràn ngập đau đớn hối hận vì tội lỗi, và tràn đầy tin yêu, nên chỉ cần một tàn lửa phát xuất từ thánh giá Chúa Cứu Thế, cũng đủ làm cho đức tin bùng lên. Lòng ăn năn được biểu lộ qua câu nói với đồng bạn : "Mày không sợ Thiên Chúa sao ?" Chắc hẳn, trước đây hắn đã quên Chúa, dẹp Ngài qua một bên trong suốt thời gian tội lỗi, nhưng giờ đây Chúa đang ở gần, và trong ánh sáng của Ngài, hắn đang nhìn ra tình trạng tội lỗi của mình. Hắn công khai thú nhận, chẳng những trong lòng, mà còn bằng lời nói. Như vậy là vứt bỏ dĩ vãng, quá khứ tội lỗi, mà còn cắt đứt liên hệ với tên cướp không chịu ăn năn. Lại nữa, nhìn lại cuộc đời đã qua, hắn thấy đã bị nhơ nhuốc vì những hành động mà hắn biết rằng chỉ có cái chết là hình phạt xứng đáng. Kẻ thống hối sợ đến với Chúa là chuyện rất bình thường, vì nghĩ rằng tội họ quá lớn không thể tha thứ được. Thế nhưng, trường hợp của tên cướp ăn năn, là một bảo đảm rằng Chúa ban đầy đủ ơn tha thứ cho những người như thế. "Máu Chúa Giê-su Con Thiên Chúa, rửa sạch tất cả mọi tội lỗi chúng ta." (1 Ga 11,7) "Lạy Chúa, khi nào về nước Chúa, xin nhớ đến con." Câu nói thật đơn sơ và khiêm nhường, nhưng biểu lộ rõ ràng niềm tin nơi Chúa ; tất cả điều dám mơ ước là Chúa nhớ đến anh ta khi về nước Ngài. Chúa Cứu Thế được nhận biết giữa những tiếng kêu gào của đám quần chúng bị sách động, giữa những tiếng kêu than ai oán vì tội ác, giữa những tiếng cuồng loạn của đám người chống đối. Thiên Chúa chỉ nghe thấy có một tiếng vang lên để ca tụng Ngài, đó là tiếng kêu của một tên trộm bị đóng đinh. Giữa lúc, những kẻ trước đây cuồng nhiệt tung hô nay lại phản đối Ngài, giữa lúc đám môn đệ thề quyết trung tín bỏ trốn hết, thì một mình tên trộm lên tiếng bênh vực Ngài. Nếu thiếu niên con của góa phụ thành Na-im, được cải tử hoàn sinh, lên tiếng tin vào quyền năng của Đấng xem ra mất hết quyền đế vương, nếu Phê-rô đã từng chứng kiến Chúa biến hình trên núi, nếu anh mù thành Giê-ri-khô đứng lên công nhận thần tính nơi Ngài … chúng ta không ngạc nhiên. Phải, nếu một trong những người trước đây đã hưởng ân huệ của Chúa lên tiếng, có lẽ các môn đệ nhát sợ lấy lại can đảm, đám dân vô tâm sẽ tỉnh ngộ, bọn ký lục và biệt phái sẽ tin theo … Nhưng giữa lúc cái chết gần kề, giữa lúc Chúa Cứu Thế như hoàn toàn thất bại trước mặt người trần (ngoài ba người đứng dưới chân thập giá), chỉ có một người lên tiếng tin nhận Ngài, đó lại là tên trộm bị đóng đinh. Anh thấy cây thập giá nhưng tôn thờ như ngai vua cả, thấy người bị đóng đinh nhưng  kêu cầu như Chúa Tể, thấy sự sống trong cõi chết, vinh quang trong nhục nhã … "Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi."
Có thể đây là lần đầu tiên tên trộm cầu nguyện và có lẽ cũng là lần cuối cùng, dầu vậy Đấng đã được tiên báo "Không bẻ đứt cây sậy dập gẫy, không tắt hẳn tim đèn còn khói" (Mt 12,20), lại không đáp ứng lại một niềm tin như vậy sao ? "Người nào đến với Ta, chẳng bao giờ bị Ta xua đuổi." (Ga 6,37). Chúa Giê-su đã giữ lời và còn giữ hơn cả điều người ta trông đợi. Minh chứng của tên trộm là một chiến thắng vĩ đại của Chúa Giê-su, và Ngài đã dùng nghị lực mạnh mẽ hơn khi chế ngự thiên nhiên, Ngài mất sự sống nhưng cứu một linh hồn, tay Ngài bị đóng chặt vào thập giá vẫn có thể mở được cửa trời. Trong khi nhà cầm quyền Giê-ru-sa-lem không thể làm Ngài rời khỏi thập giá, trong lúc mọi tố cáo bất công không thắng được sự yên lặng của Ngài, trong lúc những lời gào thét "Nó đã cứu được người khác, mà không cứu nổi mình" không làm Ngài hé môi … Ngài nghiêng đầu về người yếu đuối cạnh Ngài, Ngài nói và cứu một tên trộm "Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta." Trước đây không một ai được hứa như thế, dầu người đó là Áp-ra-ham, Mô-sê hay Gio-an, ngay cả Ma-da-lê-na hay chính Đức Ma-ri-a, Ngài hứa và nói về thế giới vô hình ấy như một nơi quê hương quen thuộc, nơi mà Ngài nắm quyền hành, Ngài ban cho ai tùy ý …
Trong lời Chúa hứa : "Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta", từ thiên đàng dịch từ Paradi, và theo nguyên ngữ từ tiếng Ba-tư có nghĩa là "một khu vườn rào kín". Khi vị vua Ba-tư muốn đặc biệt tôn trọng một bày tôi nào của ngài, thì người ấy được cùng dạo mát với vua trong vườn thượng uyển. Chúa Giê-su đã hứa cho tên trộm ăn năn đó một sự gì quý báu hơn là sự bất tử, Ngài hứa cho hắn vinh dự được làm bạn của Ngài trong vườn cực lạc trên trời.
Để được vinh dự như người trộm lành, thánh Phê-rô đã khuyên bảo các tín hữu đầu tiên cũng như tất cả chúng ta : "Anh em hãy nỗ lực chứng tỏ mình đã thật được Thiên Chúa kêu gọi và tuyển chọn, anh em sẽ không còn vấp ngã nữa. Thiên Chúa sẽ mở rộng cửa tiếp đón anh em vào nước vĩnh cửu của Chúa Cứu Thế Giê-su, Đấng cứu rỗi anh em." (2 Pr 1,10.11). Và trước đó thánh Phê-rô đã khai triển việc nỗ lực chứng tỏ ơn gọi chọn đó bằng : "Không phải chỉ có tin là đủ, mà còn phải sống cuộc đời đạo đức. Lại phải học hỏi để biết rõ Chúa hơn và tìm hiểu Chúa muốn mình làm gì. Lại phải biết tự chủ và kiên tâm sống cuộc đời tin kính. Nhờ đó, anh em biết đối xử với người đồng loại trong tình huynh đệ và nhất là yêu thương họ cách chân thành" (2 Pr 1,5s).
 
[1]        «Thiên Chúa khiến mọi sự rốt cuộc đều trở nên ích lợi cho những ai yêu mến Ngài» (Rm 8,28).

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây