Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật lễ Chúa Kitô Vua 34 TN-C Bài 101-145

Thứ bảy - 23/11/2019 10:05
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật lễ Chúa Kitô Vua 34 TN-C Bài 101-145
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật lễ Chúa Kitô Vua 34 TN-C Bài 101-145
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật lễ Chúa Kitô Vua 34 TN-C Bài 101-145
TN34-C101: Chúa Kitô Vua – ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống. 2
TN34-C102: Vị vua không ngai vàng. 4
TN34-C103: Lạy Chúa, xin nhớ đến con – ĐGH. Phanxicô. 7
TN34-C104: Để làm giá cứu chuộc'' 9
TN34-C105: Chúa Kitô Vua Tình Yêu – Radio Veritas Asia. 11
TN34-C106: Cùng chiến thắng cám dỗ với Chúa Giêsu. 13
TN34-C107: Thiên Chúa đã trở nên giống như bạn và tôi 15
TN34-C108: Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí 17
TN34-C109: Đức Giêsu Kitô, Vua vũ trụ. 21
TN34-C110: Suy niệm của Antôn P. Nguyễn Xuân Thuyên. 24
TN34-C111: Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua. 27
TN34-C112: Chúa Giêsu, Vua Yêu thương. 29
TN34-C113: KHÔNG ĐỂ CHO NGƯỜI LÀM CHÚA.. 31
TN34-C114: Ánh sáng, sức mạnh và hạnh phúc. 36
TN34-C115: Chúa Giêsu là Vua. 39
TN34-C116: Vua kỳ lạ và một thần dân kỳ thú. 42
TN34-C117: Vị Vua trên Thập giá. 45
TN34-C118: Chú giải của Lm Fx. Vũ Phan Long. 49
TN34-C119: Đức Giêsu Vua Tình Yêu. 54
TN34-C120: Suy niệm của Andre Seve. 55
TN34-C121: VUA CHÂN LÝ.. 57
TN34-C122: ĐỨC VUA CỨU THẾ.. 60
TN34-C123: NHỮNG NGỌN NÚI 63
TN34-C124: Giêsu Kitô: Vua Vũ Trụ - Huệ Minh. 65
TN34-C125: Phiên tòa bất công - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 68
TN34-C126: Tên trộm và người chủng sinh - Lm. Mark Link, SJ. 69
TN34-C127: Đây là vua người Do thái 72
TN34-C128: Vinh quang và đau khổ - Trầm Thiên Thu. 75
TN34-C129: NGƯỜI CÔNG DÂN ĐẦU TIÊN TRONG VƯƠNG QUỐC.. 79
TN34-C130: Lời hứa cứu độ – ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên. 81
TN34-C131: Xin nhớ đến tôi. 83
TN34-C132: Vâng phục đến hơi thở cuối cùng. 85
TN34-C133: Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua - Lm Giacôbê Tạ Chúc. 88
TN34-C134: Đức Vua Cứu Thế - AM. Trần Bình An. 89
TN34-C135: Đức Giêsu Vua, Người tôi tớ Thiên Chúa. 91
TN34-C136: Quyền năng tối thượng. 94
TN34-C137: Alpha & Omega - P.Trần Đình Phan Tiến. 96
TN34-C138: Vị Vua bị đóng đinh - Lm Giuse Nguyễn Hữu An. 98
TN34-C139: VUA TÌNH YÊU.. 100
TN34-C140: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI 103
TN34-C141: Vương Quốc Yêu Thương Công Lý Và Sự Thật 106
TN34-C142: Khi Tình Yêu Lên Ngôi 110
TN34-C143: Xin Vua Tình Yêu Nhớ Đến Tôi 112
TN34-C144: Đức Giê-Su Thiên Sai Vua Vũ Trụ. 114
TN34-C145: Giêsu yêu thích tước hiệu Mục tử. 121

 

TN34-C101: Chúa Kitô Vua – ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

(Trích từ ‘Nút Vòng Xoay’)
 

Trên báo Tuổi Trẻ cách đây khá lâu, tôi gặp một chuyện ngắn của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, TN34-C101

Trên báo Tuổi Trẻ cách đây khá lâu, tôi gặp một chuyện ngắn của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, mang tựa đề “Tôi thích làm vua”, truyện kể về một đội kịch khi đã dàn dựng xong một vở xoay quanh vai chính là một ông vua. Nhưng đến lúc trình diễn, người thủ vai ông vua đã không có mặt. Đang còn lúng túng thì may sao tác giả chuyện ngắn lù lù dẫn xác tới. Bằng sức ép của tình thân người ta xếp ngay ông vào vai ông vua với lời trấn an: “Làm vua dễ lắm! Chỉ cần áo mão cân đai, trong ngai bệ vệ thị oai xong liền”. Tác giả đã làm như thế và buổi diễn được xem là thành công. Truyện chỉ có thế, nhưng qua mạch kể, dẫn tới kết luận: làm vua quá dễ và xét cho cùng, làm vua cũng có nghĩa là chẳng phải làm gì cả.
Phụng vụ hôm nay cũng đặt tín hữu đối diện với một vị vua: Đức Kitô. Nhưng Người là vị Vua thế nào? Đường lối làm vua của Người có nhàn hạ không?
1. Đức Kitô khởi đầu sự nghiệp bằng việc tự hiến.
Ngay từ đời đời, Đức Kitô đã là vua trên cả tạo thành, nhưng vì không muốn cho con người chỉ thấy nơi Người tự bản tính đã là vua, mà còn muốn tỏ bài cho họ hiểu để “là vua” Người phải “làm vua” nữa. Vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Người đã trở thành Vua muôn vua.
Dẫu là Vua Trời, Người đã chấp nhận từ bỏ tất cả để bước xuống với đời sống con người. Sự bước xuống ấy chẳng phải là một chuyến vi hành như kiểu những ông vua trong truyện “Nghìn lẻ một đêm”, ban ngày thì thét ra lửa, nhưng ban đêm lại cải trang giả dạng thường dân len lỏi vào những ngõ ngách cuộc sống để nắm bắt tình hình dân chúng, rồi bước sang ngày mới, lại áo mão nghêng ngang ra dáng đức vua oai vệ.
Sự bước xuống ấy cũng chẳng phải là những chuyến du hành như những chuyến đi lại của những ông vua hiện đại luôn được bao vây bởi những vệ sĩ cận kề hoặc những fan hâm mộ cuồng nhiệt, có muốn quan sát sự tình cũng khó mà thấy sự thật.
Nhưng sự bước xuống ấy là một chuyến đồng hành theo nghĩa mạnh nhất của từ ngữ này, nghĩa là Vua Trời đã làm người thực thụ giữa muôn người trần gian để đồng hành với con người trong cuộc phiêu lưu cứu độ.
Từ trời cao hạ cố bước xuống với con người, chưa đủ; từ Thiên Chúa tự nguyện bước xuống làm người vì chúng ta, cũng chưa đủ; từ con người vô danh tiểu tốt lại khiêm nhường bước xuống làm một tội nhân dẫu chẳng mang tội gì, cũng chưa đủ. Qua Phúc Âm hôm nay, người ta còn thấy Người bước xuống nữa, từ một tội nhân lại nhận vào mình cái án của tên tử tội.
2. Đức Kitô xưng vương bằng việc tận hiến.
Đọc kỹ trang Tin Mừng hôm nay, người ta sẽ vô cùng sửng sốt, bởi vì hình ảnh vị vua thì quá nhạt nhòa trong khi hình ảnh của người tử tội lại thật đậm nét, đến nỗi cái chết của người ấy cũng không thể gọi là một cái chết bình thường nếu không muốn nói là “cái chết dữ”, theo ngôn ngữ Việt Nam. Thay vì triều thiên là một vòng gai, thay vì long ngai là một Thánh Giá, thay vì xa giá oai phong lẫm liệt lại chỉ là những tiếng nhục mạ thách thức của đủ mọi thành phần dân chúng. Kỳ mục ghen ghét nên nhục mạ đã đành, lính tráng liên quan gì mà phải lên tiếng, đến như anh trộm dữ chết đến nơi rồi mà vẫn không hết cay xè cà cuống độc mồm độc miệng.
Nhưng người ta càng sửng sốt hơn nữa khi biết rằng người tử tội ấy là Chúa Kitô, và cái chết của Người chính là đỉnh cao tận hiến, đi đến cùng trong lựa chọn hiến thân cho loài người. Nếu sinh thời Người đã nói “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến thân vì bạn hữu” thì câu nói đó trước hết đã ứng nghiệm nơi Người. Người chết thay cho nhân loại mà Người hằng yêu mến, Người chết cho họ được sống. Nhưng chính lúc Người chết lại là lúc Người tỏ mình là Vua như hàng chữ trên Thánh Giá đã ghi rõ.
Người làm Vua bằng con đường tận hiến. Như hạt lúa phải thối đi mới sinh nhiều bông hạt; như cỗ máy phải chấp nhận hao mòn đi mới phát sinh công suất; như bông hoa phải chịu ngắt đi mới trang hoàng đẹp bàn thờ; và cũng như cây nến phải chấp nhận hao mòn đi mới có thể đem cho ngày lễ ánh sáng lung linh.
3. Chúa Kitô cai trị bằng thánh hiến.
Nếu toàn cảnh Phúc Âm hôm nay là một bầu khí ảm đạm thì câu kết thúc lại là một cảnh hoàn toàn khác. Từ đỉnh cao Thập Giá, Chúa Kitô hứa Thiên Đàng cho anh trộm lành. Trong lời hứa, người ta đã thấy tỏ hiện vương quyền trời cao; trong cách hứa, người ta đã thấy vinh quang rạng ngời vương quốc; và vượt trên tất cả, trong tương quan của người trao và người nhận lời hứa, là sáng lên dung mạo của vị Vua bao dung thánh hiến tất cả để đặt vào tình trạnh sống mới.
“Hôm nay, anh sẽ ở trên Thiên Đàng với Ta”. Trong bảy lời Chúa Giêsu phán ra từ Thập Giá, đây là lời oai phong nhất, không là lời của người tử tội, mà là lời của một vị Vua quyền uy trong Vương quốc của Người là Thiên đàng. Đây cũng là lời đậm màu cứu độ nhất vì anh trộm khi chẳng còn hy vọng nào khác đã biết bám víu vào Chúa Giêsu, nên anh đã nhận được ơn cứu rỗi, tức là được thánh hiến để sẵn sàng tháp tùng Người bay thẳng vào chốn Thiên Đàng không cần qua một trạm trung chuyển nào. Sướng thật. Rõ trộm chuyên nghiệp nên phút cuối cùng còn trộm được cả Thiên Chúa.
Có lẽ cũng nên nói một chút về hai chữ “hôm nay” của lời hứa đặc biệt này, một chữ nhiều gợi ý, nhưng gắn liền với việc Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên Thánh Giá, nên chữ ấy cũng liên quan đến việc thánh hiến của vì Vua cứu độ. Ngay từ lúc Chúa Giêsu chịu chết, Vương quốc Thiên Đàng của Người đã tỏ hiện, vương quyền thánh hiến của Người đã phát huy, để chữ “hôm nay” trở thành chữ hiện thực muôn đời của tấm lòng vị Vua Cứu Thế.
Qua việc thánh hiến lòng cậy trông của ông trộm lành, Đức Kitô đã khẳng định đường lối làm vua của Người mãi mãi. Người thánh hiến trọn vẹn mỗi người và mọi người, như kiểu nói của thánh Phaolô: “Người thâu họp tất cả trong một đầu mối chính là Người, để mà dâng lên Chúa Cha”.
Tóm lại, Đức Kitô là một vị Vua rất khác lạ, Người làm tất cả chỉ vì muốn cứu độ muôn người: Người tự hiến cúi xuống với con người; Người tận hiến mạng sống cho con người, và Người thánh hiến để con người được sống muôn đời với Người trong vương quốc vĩnh cửu. Vấn đề còn lại là hãy tôn vương Chúa Kitô ngay trong cuộc sống hôm nay.
Có lần đến một xứ đạo vùng Hố Nai dâng Thánh Lễ, tôi không xác định được phương hướng, phải nhờ một bác tài xế chỉ cho. Bác bảo: tới ngã ba thấy tượng Chúa Kitô giang tay, hãy đi về phía tay phải, sẽ gặp địa chỉ muốn tìm. Rõ ràng chỉ là một câu nói, nhưng đầy gợi ý: hãy đi về phía tay phải Chúa Kitô bằng một cuộc sống tốt lành, người ta sẽ gặp được địa chỉ mong ước, đó là Nước Chúa Kitô, là quê hương hạnh phúc.

 

TN34-C102: Vị vua không ngai vàng

(Suy niệm của ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên)
 

Mặc dù có nhiều ý kiến phê phán cách dùng danh xưng “vua” để chỉ Chúa Giêsu, viện lẽ rằng danh TN34-C102

Mặc dù có nhiều ý kiến phê phán cách dùng danh xưng “vua” để chỉ Chúa Giêsu, viện lẽ rằng danh xưng này gắn liền với xã hội phong kiến lỗi thời, Giáo Hội vẫn tiếp tục dùng tước hiệu này và tôn vinh long trọng trong ngày Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ. Chúng ta tuyên xưng Đức Giêsu là vua. Nhưng Ngưởi là một vị vua không có ngai vàng. Nói đúng hơn, Người không dùng ngai vàng để biểu dương quyền lực trần thế. Ngai vua của Người là một dụng cụ tử hình, là cây thập giá đã được dựng nên trên đồi Canvê. Như thế, mặc dù dùng danh xưng vua để chỉ Chúa Giêsu, thì khái niệm vua nơi Người vẫn hoàn toàn khác với một vị vua trần thế.
Không phải vô tình mà thánh sử Luca nhấn mạnh đến tấm biển gắn phía trên của thập giá. Tấm biển này mang dòng chữ "Người Này Là Vua Dân Do Thái”, được viết bằng ba thứ tiếng: Hy lạp, Latinh và Do Thái. Thánh Gioan còn thêm một chi tiết: nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh gần cổng thành, nơi có đông người qua lại nên rất nhiều người đọc được dòng chữ này (x. Ga 19,20). Tiếng Hy Lạp là ngôn ngữ của nền văn hóa đương thời; tiếng Latinh là ngôn ngữ của chính trị; tiếng Do Thái là ngôn ngữ của tôn giáo. Tước hiệu vương đế của Đức Giêsu được giới thiệu và tuyên xưng trong mọi lãnh vực, cho cả thế giới, mọi nền văn hóa và ý thức hệ chính trị. Thực tế hôm nay cho thấy điều “tiên tri” này đã được thực hiện: danh Đức Giêsu được kêu cầu bằng mọi ngôn ngữ trên thế giới. Tin Mừng của Người đã đến với mọi nền văn hóa, thấm nhập và làm cho thăng hoa phát triển.
Phụng vụ giới thiệu với chúng ta một vị vua nổi tiếng là đạo hạnh của Cựu ước (Bài đọc I). Đó là vua Đavít. Ông là vị vua thứ hai sau Sa-un, kể từ khi Ít-ra-en thiết lập nền quân chủ. Việc Đavít được xức dầu phong vương được coi như một việc làm theo ý của Thiên Chúa. Đavít là hình ảnh của Vị Vua Vũ Trụ là Đức Giêsu là chúng ta tôn vinh hôm nay. Tuy vậy, vương quốc của Đức Giêsu không thu hẹp trong ranh giới của Ít-ra-en như Đavít, nhưng lan rộng khắp thế giới, vì “Thiên Chúa đã muốn đặt tất cả viên mãn nơi Người, và Thiên Chúa đã giao hoà vạn vật nhờ Người và vì Người; nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa ban hoà bình trên trời dưới đất”. (Bài đọc II).
Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Luca làm chúng ta ngỡ ngàng. Đức Giêsu thi hành quyền vương đế của Người không bằng phong độ của một vị vua trần thế, nhưng lại quyền uy gấp bội phần. Một người bị kết án treo trên thập giá, bị chế diễu nhục nhã, đang quằn quại đau đớn và sắp trút hơi thở cuối cùng mà lại tuyên bố sẽ cho người trộm có lòng sám hối được vào vương quốc của mình. Vương quốc ấy được chính Đức Giêsu gọi là thiên đàng, là nơi mọi người đang ước ao và cố gắng đạt được sau khi đã kết thúc cuộc sống ở trần gian. Quả thật đây là một vị vua không giống những vị vua trần thế. Ngai vàng của Người là thập giá. Thập giá là biểu tượng của hy sinh và tự hiến. Trên ngai vàng thập giá đó, Chúa Giêsu đã tỏ cho nhân loại biết tình yêu thương của Thiên Chúa đối với con người mênh mông rộng lớn tới mức nào. Và, đã hai mươi thế kỷ, vương quyền yêu thương của Người đã được một phần lớn nhân loại đón nhận. Đức Giêsu là vua của vương quốc yêu thương, công bình, vĩnh cửu (lời Tiền tụng thánh lễ). Ai sống yêu thương bác ái thì được thuộc về vương quốc của Chúa.
Việc người trộm sám hối được đón nhận vào thiên đàng là bằng chứng của tình yêu và lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Người tín hữu tìm thấy niềm hy vọng nơi nhân vật người trộm này. Mặc dù tội lỗi, anh đã tuyên xưng Đức Giêsu là vua. Anh muốn được vào vương quốc của Người và ước vọng của anh đã được chấp nhận. "Ta bảo thật ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta".
Nhận ra vương quyền của Đức Giêsu và cố gắng sống xứng đáng là công dân trong vương quốc của Người, đó là ơn gọi của người tín hữu. Có những lúc người công dân trong vương quốc của Chúa phải chấp nhận những thiệt thòi hy sinh mất mát để có thể trung thành với Chúa và được hạnh phúc Nước Trời. Nhiều khi chúng ta có khuynh hướng chọn lựa một Đức Giêsu vương hoàng theo kiểu trần gian. Lúc đó, chúng ta chỉ tôn thờ hình ảnh của Người mà chưa chắc được gặp Người.
Việc tôn vinh Đức Giêsu là Vua vào Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ mang một ý nghĩa đặc biệt. Chúng ta được mời gọi hướng về ngày cánh chung, tức là ngày tận thế, ngày tận cùng của lịch sử nhân loại. Khi ấy, mọi quyền bính trần thế sẽ chấm dứt; mọi chia rẽ hận thù và chiến tranh tàn khốc sẽ không còn. Chỉ còn vương quốc yêu thương và an bình tồn tại. Vương quốc ấy là vương quốc của Chúa Giêsu. Vị Vua Giêsu vẫn đang hiện diện trong cuộc sống của Chúng ta. Một vị vua không thực thi quyền thống trị. Người đang tiếp tục đi qua các ngả đường và ngõ xóm, ngồi trên lưng một chú lừa con, như trên đường phố Giêrusalem xưa. Người đang gõ cửa tâm hồn chúng ta, dù chúng ta không đón tiếp Người. Trước mặt chúng ta, Người cũng trần trụi như khi đứng trước Philato và mời gọi chúng ta nhận ra mình thuộc về chân lý. Mỗi tín hữu chúng ta được mời gọi nhận ra Người và cùng với Người và anh chị em chung tay xây dựng vương quốc của Người ngay từ hôm nay, khởi đi từ những cố gắng rất đơn giản dung dị trong cuộc sống đời thường.
Lạy Chúa Giê-su, chúng con tôn nhận Chúa là vua của cõi lòng mỗi người chúng con. Xin Chúa thương chúc phúc và trợ lực để chúng con xứng đáng là công dân của Nước Trời. Amen.

 

TN34-C103: Lạy Chúa, xin nhớ đến con – ĐGH. Phanxicô

(Bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong Thánh lễ bế mạc Năm Đức Tin tại Quảng trường Thánh Phêrô - Chúa nhật Lễ Chúa Kitô Vua, 24-11-2013 - Huy Hoàng chuyển ngữ - Nguồn: WHĐ)
 

Hôm nay, đại lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ, kết thúc năm phụng vụ, cũng là kết thúc Năm Đức tin đã được TN34-C103

Hôm nay, đại lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ, kết thúc năm phụng vụ, cũng là kết thúc Năm Đức tin đã được Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI công bố. Giờ đây chúng ta hướng về Đức Bênêđictô với đầy lòng yêu mến và biết ơn vì ngài đã tặng cho chúng ta món quà ấy. Nhờ sáng kiến do Chúa quan phòng này, ngài đã cho chúng ta cơ hội khám phá lại vẻ đẹp của hành trình đức tin đã khởi đầu từ ngày chúng ta lãnh nhận bí tích Rửa Tội, làm cho chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa và anh chị em với nhau trong Giáo hội. Mục tiêu tối hậu của cuộc hành trình ấy là chúng ta được gặp gỡ Thiên Chúa một cách trọn vẹn, và trong hành trình ấy Chúa Thánh Thần thanh tẩy chúng ta, nâng chúng ta lên và thánh hoá chúng ta, để đưa chúng ta vào cõi phúc lòng chúng ta hằng khát khao.
Tôi xin gửi lời chào thân ái và huynh đệ đến các vị Thượng phụ và Tổng giám mục Trưởng của các Giáo hội Công giáo Đông phương đang hiện diện ở đây. Lời chúc bình an mà tôi sẽ trao đổi với các vị trước hết muốn nói lên rằng Giám mục Roma nhìn nhận các cộng đoàn này đã tuyên xưng Danh Chúa Kitô với một lòng trung thành gương mẫu, thường phải trả giá đắt.
Đồng thời, với cử chỉ này, qua các vị, tôi cũng muốn liên kết với tất cả những Kitô hữu đang sống ở Thánh Địa, ở Syria và trong toàn thế giới Đông phương, xin cho tất cả được ơn bình an và hoà hợp.
Các bài đọc Kinh Thánh vừa được công bố có cùng một chủ đề là vị thế trung tâm của Chúa Kitô. Chúa Kitô ở trung tâm, Chúa Kitô là trung tâm. Chúa Kitô là trung tâm của tạo thành, trung tâm của dân Người và trung tâm của lịch sử.
1. Thánh Tông đồ Phaolô cho chúng ta một tầm nhìn sâu sắc về vị thế trung tâm của Chúa Giêsu. Ngài trình bày với chúng ta Chúa Kitô là Trưởng tử của mọi loài thọ sinh: trong Người, nhờ Người và với Người mà muôn vật được tạo thành. Người là trung tâm của mọi vật, là khởi nguyên: Người là Đức Giêsu Kitô, là Chúa. Thiên Chúa đã ban cho Người sự viên mãn, tất cả, để trong Người mọi vật được giao hòa (x. Co 1,12-20). Người là Chúa của tạo thành, Chúa của giao hoà.
Hình ảnh này cho chúng ta hiểu rằng Chúa Giêsu là trung tâm của tạo thành; và, vì thế thái độ phải có của người tín hữu –nếu muốn là người tín hữu– là phải nhận biết và chấp nhận vị thế trung tâm ấy của Chúa Giêsu Kitô trong cuộc sống, trong tư tưởng, trong lời nói và hành động của mình. Khi ấy tư tưởng của chúng ta sẽ là tư tưởng của người Kitô hữu, của Chúa Kitô; hành động của chúng ta sẽ là hành động của người Kitô hữu, của Chúa Kitô; lời nói của chúng ta sẽ là lời nói của người Kitô hữu, của Chúa Kitô. Trái lại, khi chúng ta đánh mất trung tâm này, vì đã thay thế bằng điều gì khác, thì sẽ chỉ là tác hại, cho môi trường chung quanh chúng ta và cho chính chúng ta.
2. Không chỉ là trung tâm của tạo thành và trung tâm của giao hoà, Chúa Kitô còn là trung tâm của dân Thiên Chúa. Và ngay hôm nay, Người ở đây, giữa chúng ta. Lúc này Người đang ở đây trong Lời Chúa, Người sẽ ở đây trên bàn thờ, sống động, hiện diện giữa chúng ta là dân của Người. Đó là điều mà bài đọc thứ nhất mô tả cho chúng ta thấy: khi các chi tộc Israel đi tìm Đavit và xức dầu tấn phong ông làm vua Israel trước mặt Chúa (x. 2 Sm 5,1-3). Khi tìm kiếm một vị vua lý tưởng, thực ra con người đang tìm kiếm chính Thiên Chúa: một Thiên Chúa trở nên gần gũi, chấp nhận trở thành người bạn đồng hành của con người, trở nên một người anh em của con người.
Chúa Kitô, hậu duệ của vua Đavit, chính là người "anh em" mà dân Chúa vây quanh, là Đấng chăm sóc dân, chăm sóc tất cả chúng ta, với cái giá phải trả là mạng sống của Người. Trong Người chúng ta nên một; một dân duy nhất được kết hiệp với Người, chúng ta chia sẻ một hành trình duy nhất, một vận mệnh duy nhất.
3. Cuối cùng, Đức Kitô là trung tâm của lịch sử nhân loại và trung tâm của mỗi người. Chúng ta có thể dâng lên Người những vui buồn, hy vọng và khó khăn trong cuộc sống của chúng ta. Khi Chúa Giêsu ở trung tâm, ngay cả những lúc đen tối nhất của cuộc sống chúng ta cũng sẽ bừng sáng. Người ban cho chúng ta hy vọng, như đã xảy ra với người trộm lành trong bài Tin Mừng hôm nay.
Trong khi tất cả những người khác nói với Chúa Giêsu một cách khinh miệt – "Nếu ông là Đấng Kitô, là Đấng Mêsia, thì hãy cứu mình đi và hãy xuống khỏi cây thập tự!" – thì người trộm đã phạm bao lỗi lầm trong cuộc sống, cuối cùng lại sám hối, níu lấy Chúa Giêsu đang chịu đóng đinh và cầu xin: "Khi ông vào Nước của ông, xin hãy nhớ đến tôi" (Lc 23,42). Và Chúa Giêsu hứa với anh: "Hôm nay anh sẽ được ở trên Thiên đàng với tôi" (c. 43). Chúa Giêsu chỉ nói lời tha thứ, chứ không nói lời kết án; và khi con người biết can đảm xin ơn tha thứ, Chúa không bao giờ bỏ rơi lời cầu xin ấy. Ngày nay, tất cả chúng ta có thể nghĩ đến câu chuyện của chúng ta, hành trình của chúng ta. Mỗi người chúng ta đều có câu chuyện của mình; mỗi người chúng ta cũng có những sai lầm, tội lỗi, những lúc hạnh phúc và những khi đen tối. Ngày hôm nay là dịp tốt để mỗi người nghĩ đến câu chuyện của mình, và nhìn Chúa Giêsu rồi chân thành lặp đi lặp lại trong thinh lặng: "Lạy Chúa, bây giờ Chúa đang ở trong Nước Chúa, xin nhớ đến con! Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến con, vì con muốn sống tốt, muốn nên tốt lành, nhưng con yếu đuối, con không thể: con là người tội lỗi. Lạy Chúa Giêsu, xin nhớ đến con. Chúa có thể nhớ đến con, vì Chúa là trung tâm, Chúa ở trong Nước Chúa!" Thật đẹp biết bao! Tất cả chúng ta hãy làm điều đó trong ngày hôm nay, mỗi người hãy làm điều đó trong tâm hồn mình, nhiều lần. "Lạy Chúa, Chúa ở trung tâm, Chúa ở trong Nước Chúa, xin nhớ đến con".
Lời hứa của Chúa Giêsu với người trộm lành cho chúng ta niềm hy vọng lớn lao: lời ấy nói với chúng ta rằng ơn Chúa bao giờ cũng phong phú hơn lời cầu xin. Chúa luôn ban cho nhiều hơn, Người rất quảng đại, luôn ban cho nhiều hơn điều con người cầu xin: bạn xin Người nhớ đến bạn, còn Người lại đưa bạn vào Vương quốc của Người! Chúa Giêsu chính là trung tâm những nỗi khát mong niềm vui và ơn cứu độ của chúng ta. Nào chúng ta hãy cùng nhau lên đường!

 

TN34-C104: Để làm giá cứu chuộc''

(Suy niệm của Lm. JB Nguyễn Minh Hùng)
 

Hôm nay chúng ta tuyên xưng Vương quyền của Chúa Giêsu, một Vương quyền tuyệt đối: Người TN34-C104

Hôm nay chúng ta tuyên xưng Vương quyền của Chúa Giêsu, một Vương quyền tuyệt đối: Người là Vua Vũ Trụ; Người là Vua của mọi tâm hồn; Người là Vua cứu độ, Vua nắm vận mệnh đời đời của từng người. Lẽ ra, với quyền cao cả như thế, khuôn mặt của Vua Giêsu sẽ đầy uy quyền, sẽ rạng rỡ, sẽ đáng khiếp sợ…
Nhưng không, trong khi tuyên xưng Vương quyền cao cả của Chúa, Hội Thánh lại trình bày khuôn mặt của một vị Vua đầy đau khổ, đầy chấp nhận, dù phải chịu roi đòn, dù phải chịu khổ hình thập giá, dù phải bị giết chết, dù phải cam chịu ruồng bỏ…
Đặc biệt, ngay phần mở đầu bài Tin Mừng, trong khi bị treo trên thánh giá, xung quanh Chúa Giêsu chỉ toàn những lời nhạo báng. Những lời nhạo báng ấy, đại diện cho mọi tầng lớp, mọi thành phần của loài người.
- Trước tiên là sự cười nhạo của các thủ lãnh. “Các thủ lãnh buông lời cười nhạo: ‘Hắn cứu được người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được Chúa tuyển chọn!’ ”.
- Lính tráng, chỉ là kẻ thừa lệnh, cũng lên tiếng cười nhạo Chúa: “Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: ‘Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!’ ”.
- Kẻ trộm cướp, dù mang thân phận đầy tội lỗi, cũng không đứng ngoài cuộc: “Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: ‘Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi nữa!’ ”.
Như vậy, với bài Tin Mừng chứa đầy lời nhạo báng, Hội Thánh không nhắm trình bày khuôn mặt Vua của Chúa Giêsu theo kiểu suy nghĩ của người trần thế, nhưng trình bày Vương quyền của Đấng đã từng phán: “Các con biết thủ lãnh của các dân tộc thì thống trị họ và những người làm lớn thì hành quyền trên họ. Giữa các con thì không được thế. Trong các con, ai muốn làm lớn, thì hãy phục vụ các con, và ai muốn cầm đầu trong các con, thì hãy làm tôi tớ các con. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người” (Mt 20.27-28).
Vì thế, nhìn vào khuôn mặt Vua của Chúa Giêsu, chúng ta không ngần ngại khẳng định: Chúa làm Vua là để phục vụ ơn cứu độ, phục vụ sự sống đời đời của loài người. Người làm Vua không phải để thống trị, không phải để thể hiện quyền bính, nhưng là “phó mạng sống làm giá cứu chuộc” loài người. Chính vì thế, trong kinh Tin Kính, chúng ta xác tín mạnh mẽ: “Vì loài người chúng ta, và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế” nhập thể làm người, chịu khổ hình, chịu đóng đinh vào thánh giá, chịu chết và sống lại…
Vậy, đứng trước Vương quyền tình yêu của Vua cao cả, chúng ta phải sống làm sao cho xứng hợp?
Trọn bài Tin Mừng, không phải chỉ bao gồm những lời nhạo báng, mà còn có lời thú tội hết sức khiêm nhường của người trộm cùng bị chết treo với Chúa Giêsu: “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. Nếu có ba lời nhạo báng của ba hạng người, thì lời cầu xin ơn tha thứ của người trộm cũng gợi lên trong ta ba tâm tình giúp ta sống, nhằm khả dĩ đáp lại phần nào tình yêu của Đức Vua. Ba tâm tình đó là:
1. Như người trộm, chúng ta hãy chân nhận Vương quyền của Chúa trên cuộc đời mình. Lời cầu nguyện: “Khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi” của người trộm, cho thấy anh nhìn nhận Chúa có quyền trên mình. Bằng sự chân nhận nhận Vương quyền của Chúa, chúng ta trung thành và tận tụy từng giây phút của đời mình sống cho Chúa, vươn lên sự thánh thiện và biết thanh luyện nội tâm để luôn luôn được là người sống trong Chúa, sẵn sàng để Chúa làm chủ đời mình.
2. Như người trộm, chúng ta tin tưởng phó mình trong tay Chúa. Lời cầu xin: “Xin nhớ đến tôi” của người trộm, cho thấy anh một lòng tín thác cho Chúa. Cũng vậy, đã là người mang lấy đức tin, chúng ta hãy tin tưởng, hãy trọn vẹn tín thác cho Chúa đời mình, mọi hoàn cảnh xảy ra trong đời mình. Chúng ta không ngần ngại hiến dâng lên Chúa mọi ngày sống, mọi năng lực sống, mọi sức sống, mọi chiều kích sống trong suốt đời mình. Quyết một lòng để Chúa dẫn đưa đến bến bờ bình yên của ơn cứu độ do Chúa thực hiện.
3. Như người trộm, chúng ta chân thành nhìn nhận lỗi lầm của mình để ăn năn chừa tội. Trong lời đối đáp với người đồng bọn, người trộm khẳng khái: “Chúng ta chịu xứng với việc chúng ta làm”. Đó là bài học về lòng sám hối tội lỗi của chúng ta. Hãy mềm lòng để ơn hoán cải Chúa ban có thể thấm vào cuộc đời, thấm vào từng hành động, từng lời ăn tiếng nói, từng biểu hiện sống, từng mối tương quan… của chúng ta. Hãy để ơn hoán cải thấm sâu vào tâm hồn, để chúng ta luôn biết ăn năn tội thật lòng, và không ngần ngại dọn tâm hồn bằng bí tích hòa giải, bằng việc xin lỗi Chúa và xin lỗi nhau.

 

TN34-C105: Chúa Kitô Vua Tình Yêu – Radio Veritas Asia

(Trích từ ‘Những Bài Suy Niệm và Cầu Nguyện Hằng Ngày’)
 

Giáo hội Kitô giáo luôn luôn kết thúc năm phụng vụ với lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ. Lễ Chúa Kitô Vua TN34-C105

Giáo hội Kitô giáo luôn luôn kết thúc năm phụng vụ với lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ.
Lễ Chúa Kitô Vua chỉ mới được thiết lập vào năm 1925 mà thôi. Trong cuộc đời Chúa Giêsu, biến cố thể hiện vương quyền của Chúa Giêsu là biến cố Chúa lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa Cha trong vinh quang. "Mọi quyền hành trên trời dưới đất đã được trao ban cho Ta". Đó là lời quả quyết của Chúa Kitô Phục Sinh trước khi sai các Tông Đồ ra đi rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật. Như vậy, ngày lễ Chúa Thăng Thiên có thể nói là ngày mừng kính vương quyền của Chúa Giêsu Kitô một cách phù hợp hơn cả. Thế nhưng tại sao Giáo Hội lại mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Vua vào Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ?
Năm phụng vụ tượng trưng cho chu kỳ thời gian bắt đầu từ Thiên Chúa và cuối cùng trở về với Ngài. Thiên Chúa là khởi đầu và là cuối cùng của lịch sử. Kết thúc năm phụng vụ, Giáo Hội nhắc lại giây phút chấm dứt, giây phút vũ trụ đạt đến cùng đích tột cùng là Thiên Chúa, giây phút Chúa Giêsu Kitô trở lại trong vinh quang. Trong viễn cảnh này thật là điều thích hợp cho việc Giáo Hội mời gọi con cái mình chiêm ngắm Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ. Ngài đã nhập thể làm người trong một lịch sử dân tộc, cụ thể để thiết lập Nước Thiên Chúa trong lịch sử con người, và kể từ giây phút đó, Nước Thiên Chúa luôn luôn được phát triển, được lan rộng, cho đến mức thành toàn cuối cùng khi Chúa Giêsu Kitô ngự đến và đưa tất cả về cùng Thiên Chúa Cha.
Chúa Giêsu Kitô là Vua không những vì Ngài đã sinh ra làm người, thuộc dòng dõi vua Đavid, mà hơn nữa vì Ngài là Con Thiên Chúa, mọi sự nhờ Ngài mà được hiện hữu sinh động. Nhưng trớ trêu thay, Chúa Giêsu Kitô không thiết lập vương quốc của Ngài như một vương quốc phàm trần và bằng những phương tiện phàm trần như chiến tranh, chiếm đoạt bằng sức mạnh bạo lực. Không, nước Thiên Chúa được Chúa Giêsu thiết lập một cách kỳ diệu bằng một hành động hy sinh cao cả trên thập giá, tột đỉnh của cuộc đời của Chúa trên trần gian để chứng tỏ tình yêu của Thiên Chúa đối với con người.
Chúa Giêsu Kitô là vua khi Người bị treo lên thập giá. Thiên Chúa đã dùng hành động bêu xấu của quan Philatô khi quan này cho khắc ghi trên thập giá Chúa dòng chữ: "Đây là Vua dân Do Thái". Thiên Chúa đã muốn dùng hành động bêu xấu này như muốn nhắc nhở con người, để mạc khải cho con người một sự thật không thể chối bỏ được rằng: Chúa Giêsu Kitô là Vua. Ngài trổi vượt lên trên mọi người không những vì Ngài là Con Thiên Chúa làm người, mà vì Ngài đã thực hiện một hành động cao cả tuyệt vời: hy sinh mạng sống mình vì yêu thương con người để cứu rỗi con người.
Truyện cổ tích Ai-len có kể lại một nhà vua không có con nối dòng. Muốn đi tìm hoàng tử để truyền ngôi lại cho, và chỉ có một điều kiện duy nhất mà vị hoàng tử phải có là chứng tỏ tình yêu của mình đối với Thiên Chúa và đối với con người ở mức độ cao nhất. Nhiều người đã đến trình diện với nhiều cách, nhiều bằng chứng về tình yêu của mình đối với Thiên Chúa và đối với anh chị em xung quanh, nhưng những bằng chứng đó không có sức thuyết phục nhà vua. Cuối cùng, có một chàng thanh niên đến trình diện với một bộ đồ cũ rách. Chàng thanh niên này được nhận. Chàng không cần phải dài dòng thuyết phục nhà vua vì chàng thanh niên này chính là người mà nhà vua đã gặp chiều hôm trước:
Số là vì nhà vua đã cải trang làm một người hành khất để thử lòng những vị hoàng tử tương lai của mình. Nhiều chàng thanh niên đã đi qua, nhìn thấy người ăn xin rách rưới, và xa tránh, chỉ có người thanh niên này dám dừng lại, hy sinh luôn cả chiếc áo mới của mình và dám mặc lại chiếc áo cũ để vào trình diện nhà vua. Tình yêu nằm trong con tim con người chứ không nằm trong chiếc áo bên ngoài.
***
Quí vị và các bạn thân mến,
Chúa Giêsu đã chứng tỏ tình yêu của mình bằng cái chết trên thập giá. Ngài đáng làm vua nêu gương cho chúng ta sống theo Ngài. Phúc Âm (Lc 23,35-43) ghi lại cảnh Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá làm căn bản cho những suy niệm cho chúng ta trong ngày lễ Chúa Giêsu Kitô Vua.
Đọc lại đoạn Tin Mừng trên, chúng ta có thể lưu ý rằng giữa bao người lăng mạ, nhạo báng Chúa và vương quyền của Ngài thì có một người nhìn nhận vương quyền của Chúa, và người đó lại chính là kẻ tội phạm cùng chịu đóng đinh với Chúa. Anh ta đã khám phá ra tình thương bao la của Chúa: Một kẻ vô tội mà bị nguyền rủa nhưng lại tha thứ cho những kẻ xúc phạm đến mình. Anh ta đã khám phá nơi hành động của Chúa như một dấu chỉ mạc khải tình thương của Ngài, và từ đó nhìn Chúa là vua và bày tỏ ước muốn được sống trong Nước Tình Thương này. "Lạy Chúa, khi nào về Nước Ngài, thì xin nhớ đến tôi cùng".
Chúa Giêsu đã mạc khải vương quyền của Ngài bằng hành động cao cả nhất của tình thương là hy sinh chính mình. Không ái có tình yêu thương hơn kẻ hiến mạng sống mình cho người mình thương và chỉ những ai khám phá ra tình thương của Chúa thì mới tin nhận Chúa làm vua và đáng bước vào trong Nước Chúa.
Xưa cũng như nay, luôn có những người không hiểu xuyên tạc, và cười nhạo vương quyền của Chúa Kitô: Nếu Chúa là vua tại sao không dùng quyền của mình để thoát chết, để trả thù, để thống trị, để hưởng lợi. Nhưng trớ trêu thay, con người đã dùng thập giá để bêu xấu, để loại trừ Chúa Giêsu Kitô, nhưng lại chính đó là dấu chỉ Thiên Chúa dùng để thiết lập và mạc khải vương quyền của Chúa trên cả mọi sự. Chúa Giêsu Kitô là vua, Ngài làm vua bằng tình yêu thương và để gieo rắc khắp nơi tình yêu thương đó.
Lạy Chúa Kitô Vua, trước sự xấu xa và ngoan cố của con người. Xin cho chúng con được can đảm bước vào trong nước yêu thương của Chúa bằng con đường thập giá mà Chúa đã đi qua. Amen.

 

TN34-C106: Cùng chiến thắng cám dỗ với Chúa Giêsu

(Suy niệm của Lm Ignatio Trần Ngà)
 

Thiên Chúa mong muốn loài người đi theo đường lối Ngài để họ được hạnh phúc và được sống muôn TN34-C106

Thiên Chúa mong muốn loài người đi theo đường lối Ngài để họ được hạnh phúc và được sống muôn đời. Trong khi đó, ma quỷ luôn tìm mọi cách để lôi kéo con người đi trật đường lối Thiên Chúa, để con người phải sa đoạ, phải đau khổ và diệt vong.
Ngay từ đầu, ma quỷ tìm cách lôi kéo tổ tiên loài người là Adam - Evà đi trật đường Thiên Chúa. Hai ông bà đã sa ngã và toàn thể con cái loài người phải mang họa.
Nay ma quỷ tiếp tục cám dỗ, lôi kéo Đức Giêsu, một Ađam mới, đi trật đường lối của Thiên Chúa Cha bằng nhiều chiêu thức khác nhau.
Mặc dầu Chúa Giêsu là Thiên Chúa Ngôi Hai, nhưng Ngài đã "hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế" (Philipphê 2, 7), do đó, "Ngài đã chịu thử thách (cám dỗ) về mọi phương diện cũng như ta..." (Do thái 4, 15). Dựa vào đó, Sa-tan không ngừng cám dỗ Chúa Giêsu đi trệch đường của Thiên Chúa Cha với hy vọng phá vỡ kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa dành cho loài người.
* * *
Lúc khởi đầu sứ vụ, Chúa Giêsu bị cám dỗ ba lần trong hoang địa khi mới chuẩn bị bước vào đời sống công khai. Ngài đã anh dũng chống lại và Ngài đã chiến thắng. Ma quỷ đành rút lui để chờ dịp khác.
Trong đời rao giảng, Chúa Giêsu từng bị cám dỗ lên làm vua (Gioan 6, 14), bị cám dỗ đừng lên Giê-ru-sa-lem để chịu khổ nạn (Mt 16, 22-23) và đặc biệt, cơn cám dỗ hết sức khốc liệt nơi vườn Dầu (Lc 22, 41-44).
Nơi đây, Chúa Giêsu bị giằng co giữa hai chọn lựa quyết liệt: uống chén đắng hay khước từ chén đắng? Chấp nhận làm theo ý Chúa Cha để rồi phải chết trong tủi nhục và vô cùng đau thương hay là làm theo ý mình để được sống an bình?
Cuộc giằng co trong nội tâm đã khiến Chúa Giêsu phải toát mồ hôi máu. Nhưng cuối cùng Đức Giêsu đã chiến thắng: "xin đừng theo ý Con, một xin theo ý Cha". (Lc 22, 42)
Nhưng Sa-tan vẫn chưa chịu lùi bước, lại còn đeo đẳng cám dỗ Chúa Giêsu đến giờ phút cuối cùng. Người ta gọi đây là những cơn cám dỗ cuối cùng của Chúa Giêsu, được thánh Luca thuật lại trong Tin Mừng hôm nay.
Trước hết, các thủ lãnh cám dỗ: "hãy xuống khỏi thập giá đi!". Lý do mà các thủ lãnh đưa ra là: "cứu được người khác, tại sao không tự cứu mình?". Nghe thật chí lý!
Quân lính cũng đưa ra cám dỗ tương tự: "hãy xuống khỏi thập giá". Lý do mà quân lính đưa ra: "Ông là vua dân Do-Thái", tương lai đầy hứa hẹn, lẽ nào lại chọn cho mình cái chết oan ức và ô nhục thế nầy, hãy tự cứu mình đi!
Ngay cả tên tử tội cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu cũng cám dỗ Ngài với lý do: "Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!"
Phải rồi, mình đã cứu được bao nhiêu người khác, lẽ nào lại không tự cứu mình? Mình là Vua dân Do-Thái, lẽ nào ông vua mà lại thảm hại thế nầy ư? Mình là Đấng Kitô được Thiên Chúa sai đến, lẽ nào Đấng Kitô lại kết thúc cuộc đời cách bi thảm thế nầy sao?
Nhưng Chúa Giêsu đã không chịu lùi bước trước các cơn cám dỗ. Chúa Giêsu đã chiến đấu oanh liệt và đã đi đến chiến thắng cuối cùng. Nhờ đó, Ngài mới được tôn vinh là Vua hoàn vũ, đã sửa lại sự sai trật của tổ tông, mang lại ơn cứu độ cho muôn người.
* * *
Hôm nay chúng ta cũng đang lâm chiến chống lại Sa-tan và tội lỗi như Chúa Giêsu ngày xưa. Vốn mang tính xác thịt nặng nề, tự sức mình chúng ta không thể nào chống lại mưu chước Satan. Phải cậy nhờ Chúa Giêsu thôi. Ngài là người bạn đồng minh đã không bao giờ thua cuộc và hôm nay vẫn đang sống bên ta và đang cùng ta chiến đấu.
Vì thế, mỗi lần bị cám dỗ, chúng ta hãy nhớ đến người bạn đồng minh và thưa với Ngài: Lạy Chúa Giêsu, xin chiến đấu cùng con và giúp con chiến thắng. Nhờ Ngài, chúng ta sẽ thắng được các cám dỗ và sẽ được thông phần vinh hiển với Ngài trên quê Trời mai sau.

 

TN34-C107: Thiên Chúa đã trở nên giống như bạn và tôi

(Suy niệm của Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
 

Có một câu chuyện cổ tích kể rằng: ở một vương quốc nọ. Có một vị vua cao sang quyền qúy, thế TN34-C107

Có một câu chuyện cổ tích kể rằng: ở một vương quốc nọ. Có một vị vua cao sang quyền qúy, thế mà lại yêu say đắm một cô thôn nữ miền sơn cước.
Nhà vua định cưới nàng làm hoàng hậu nhưng có quá nhiều trở ngại, khiến nhà vua phải nhiều đêm đắn đo suy nghĩ. Vì tục lệ chỉ cho phép nhà vua cưới các công nương vương triều. Tuy rằng ngài có đầy quyền lực để xem thường truyền thống nhưng ngài vẫn không dám quyết định. Hơn nữa, một ý nghĩ khác nảy sinh khiến nhà vua càng khó quyết định, vì nhà vua sợ sự khác biệt về địa vị khiến tương quan giữa hai người sẽ khó mà tự nhiên với nhau, cô gái có thể thán phục đức vua nhưng không thực sự yêu ngài. Vua vẫn là vua, nàng vẫn là thôn nữ chốn hồng hoang. Vua liền nảy sinh một sáng kiến, ngài từ bỏ ngôi vua để sống như một nông dân, để gần gũi và hoà đồng với nàng, nhưng nhà vua lại sợ, với cương vị một chàng nông dân liệu rằng cô thôn nữ còn yêu mình nữa hay không? Cuối cùng, vì quá yêu nàng, nhà vua vẫn đánh liều bỏ mọi sự để ngỏ lời yêu thương với nàng.
Câu chuyện bỏ ngỏ ở đây. Câu chuyện không dẫn thính giả đến lời đáp trả của nàng thôn nữ, có đón nhận tình yêu của nhà vua hay từ chối tình yêu. Nhà vua đã rời bỏ ngai vàng, đã chấp nhận trắng tay vì nàng, nhưng liệu rằng nàng có dám yêu anh “khố rách áo ôn”, khi địa vị, danh vọng, tiền bạc của nhà vua đã không còn? Câu chuyện cũng không dẫn độc giả tới tuyệt đỉnh của một tình yêu là “một túp lều tranh, hai trái tim vàng”.Câu chuyện không có đoạn kết, vì đoạn kết tùy thuộc vào tâm trạng của mỗi người đều có quyền điền vào cho hợp với ý của mình. Câu chuyện chỉ muốn gợi lên cho độc giả về một tình yêu cao cả mà nhà vua đã dành cho cô thôn nữ hèn kém này. Một tình yêu thật lớn lao đến độ dám từ bỏ ngai vàng vì một cô thôn nữ xa lạ chỉ một lần thấy thoáng qua trong đời.
Vâng, câu chuyện chưa kết thúc, nó vẫn tiếp diễn. Đây là một câu chuyện có thực về tình yêu của Thiên Chúa đối với mỗi người chúng ta. Thiên Chúa hằng yêu thương bạn, yêu thương tôi. Ngài là một vị vua đã tự bỏ ngai vàng, cung điện và cả cung cách của một vì Thiên Chúa để mặc lấy thân phận tôi đòi như chúng ta. Ngài quá yêu chúng ta đến nỗi đã trở nên “đồng hình đồng dạng vì chúng ta”. Ngài đã trở thành một “Emmanuel vì chúng ta”. Nhưng tiếc thay nhân loại hôm qua cũng như hôm nay đã không nhận ra Ngài. Họ cần một vì Thiên Chúa đánh đông dẹp tây, quyền uy sang trọng. Họ cần một vì Thiên Chúa để họ điều khiển theo ý của họ. Họ đòi Thiên Chúa đáp ứng những nhu cầu, nguyện vọng của họ hơn là chính họ phải hành động theo ý của Thiên Chúa. Năm xưa dân Do Thái đã không nhận ra Chúa khi Ngài mang thân phận của một con người như họ. Họ còn xem thường về nguồn gốc của Ngài. Cho dù họ đã chứng kiến biết bao phép lạ phi thường mà chỉ có bàn tay Thiên Chúa mới có thể thực hiện được. Thế mà, họ lại xuyên tạc là nhờ tướng quỷ mà làm được những việc này việc nọ. Từ việc xem thường gốc gác về Ngài, họ đã đẩy Ngài đến án tử trên đồi Golgotha. Chúa vẫn một lòng yêu thương tha thứ, ngài vẫn tiếp tục yêu thương và yêu thương cho đến cùng, vì Ngài là tình yêu.
Vâng, câu chuyện chưa kết thúc, nó vẫn tiếp diễn. Thiên Chúa vẫn đang gõ cửa từng cuộc đời chúng ta. Ngài hằng mong chúng ta đón nhận Ngài qua những con người túng thiếu cơ hàn, qua những mảnh đời tha phương cầu thực, qua những bất hạnh của những anh em đang ở bên cạnh chúng ta. Thiên Chúa đã trở nên đồng hình đồng dạng vì chúng ta, Ngài vẫn cần chúng ta trao ban cho Ngài những nghĩa cử yêu thương. Ngài vẫn đang cần chúng ta săn sóc Ngài trong tôn trọng và vị tha. Ngài vẫn cần chúng ta dâng hiến cuộc đời để phục vụ Ngài một cách quảng đại và bao dung. Ngài là một vì Thiên Chúa đã mặc lấy thân phận con người, nhưng liệu rằng, bạn còn yêu Ngài hay không? Chúng ta yêu một vì Thiên Chúa quyền uy thì dễ nhưng liệu rằng chúng ta có dễ dàng yêu một vì Thiên Chúa đã hoá thân làm người trong thân phận hài nhi yếu đuối, bị truy đuổi, bị loại trừ hay không? Chúng ta sẵn lòng cúi mình làm tôi cho những ai mang lại cho ta tiền bạc, danh vọng, niềm vui, nhưng liệu rằng chúng ta có muốn cùng Chúa đi trên con đường thập giá, đường hy sinh bản thân để trở nên nguồn hạnh phúc cho anh chị em mình không?
Hôm nay, là ngày lễ Chúa Giêsu là Vua, Giáo hội mời gọi chúng ta hãy sống đáp lại tình yêu mà Thiên Chúa dành cho chúng ta. Vì yêu thương ta Ngài đã tạo dựng chúng ta giống hình ảnh Ngài, chúng ta hãy phục vụ Ngài qua anh em của chúng ta. Vì yêu thương ta, Ngài đã chấp nhận chết để cứu độ chúng ta, chúng ta hãy biết chết đi bản tính ích kỷ của mình, chết đi những toan tính tội lỗi của mình để sống xứng đáng với tình yêu mà Thiên Chúa dành cho chúng ta. Nguyện xin Chúa Giêsu là Vua cai trị và dẫn dắt chúng ta đi trong đường chính nẻo ngay, và xin Ngài ngự trị thánh hoá cuộc đời chúng ta trong hồng ân và tình thương của Ngài. Amen.

 

TN34-C108: Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

ĐỨC VUA GIÊSU YÊU THƯƠNG PHỤC VỤ VÀ BẢO VỆ BẠN
(Bế mạc Năm Đức Tin 24/11/2013)
 

Chế độ quân chủ ở Việt nam đã chấm dứt năm 1945 với chiếu thoái vị của vua Bảo Đại. Từ đó đến nay, TN34-C108

Chế độ quân chủ ở Việt nam đã chấm dứt năm 1945 với chiếu thoái vị của vua Bảo Đại. Từ đó đến nay, người ta không ngừng phê phán chế độ quân chủ, coi các vua như là những kẻ chỉ biết ăn chơi hưởng thụ, và ca ngợi chế độ mới, mà không công tâm để đánh giá lại những đóng góp to lớn của các vua Nhà Nguyễn ở nước ta. Cũng vì thế khiến cho nhiều thế hệ mang một hình ảnh không tốt đẹp về các vị vua. Thế nhưng từ ban đầu các vua không phải là những con người xấu xa trụy lạc, mà là những thủ lãnh hết mình vì dân, mở rộng bờ cõi, xây dựng hòa bình, bảo vệ dân, chăm lo cho dân như cha mẹ lo cho con cái. Ngược lại, dân chúng cũng tỏ ra yêu mến kính trọng và hết sức tùng phục nhà vua của họ. Chúng ta có thể nhìn điều đó nơi thái đô cung kính và lòng yêu mến mà dân Thái Lan dành cho Đức Vua của họ, hoặc dân Anh dành sự tôn kính cho Nữ Hoàng.
Hôm nay, bước vào tuần lễ cuối cùng của năm phụng vụ, cũng là ngày bế mạc Năm Đức Tin, Giáo Hội tôn xưng Chúa Giêsu là Vua vũ trụ, để mời gọi chúng ta yêu mến, biết ơn, tôn vinh và đặt Ngài làm vua hướng dẫn và làm chủ cuộc đời của mình.
Tôn vinh Chúa Giêsu làm vua, Giáo hội muốn lấy lại hình ảnh đẹp nguyên thủy về một vị minh quân để diễn tả về quyền năng và tình yêu thương của Đức Giêsu đối với chúng ta. Đồng thời tôn vinh Ngài là Vua là Chúa, Đấng làm chủ của vũ trụ, mọi vật mọi loài trên trời và dưới đất. Ngài là Vua vì chính Ngài là vị Thiên Chúa quyền năng tạo dựng nên vũ trụ và muôn vật muôn loài, và Ngài vẫn tiếp tục quan phòng, truyền hơi thổi sức sống cho vũ trụ để vũ trụ này chuyển vần theo một trật tự tốt đẹp. Ngài là vua, là chủ, vì Ngài đã tạo dựng nên con người và còn cho con người được cộng tác với Ngài trong việc duy trì và làm cho vũ trụ và cuộc sống con nguời mỗi ngày tốt đẹp hơn.
Khác với nhiều vị vua trần thế tìm kiếm quyền lực và vinh quang cho bản thân và dòng dõi, thì Đức vua Giêsu là Đức Vua yêu thương dân Ngài như người cha yêu thương con cái, như mục tử yêu thương đàn chiên. Kinh Thánh đã dùng hình ảnh của Vua Đavít để báo trước về sứ mạng và vai trò của vua Giêsu, vì Đavít được gọi là một vi vua thánh. Ông là người được Thiên Chúa tuyển chọn để trở thành người dẫn dắt dân Chúa. Chính ông đã đem lại cho dân Chúa một thời kỳ thái bình thịnh vượng nhất trong lịch sử. Bài đọc sách Samuel hôm nay thuật lại giai đoàn đầu triều đại nhà vua, khi ông lên ngôi làm vua các chi tộc phía Nam đất Giuda, tiếng tăm về lòng đạo đức cũng như sự tài khéo, lòng yêu thương của ông đã khiến cho các chi tộc miền Bắc thuộc đất Israel kéo đến để xin ông cũng làm vua của họ, hường dẫn họ và bảo vệ họ: Chúng tôi cũng là cốt nhục của Ngài, xin Ngài cũng hãy làm vua chúng tôi. Chính Đức Chúa cũng đã nói với Ngài rằng: Chính Người sẽ chăn dắt Israel dân ta.
Chúa Giêsu là vị vua phục vụ. Khác với các vua chúa trần gian ngồi trên ngai vàng để được nguời khác phục vụ, thì Vua Giêsu đã không chỉ bước xuống khỏi địa vị Thiên Chúa của mình, mà Ngài còn bước đến với con người, và cúi xuống để phục vụ con người. Ngài phục vụ bằng cách tìm kiếm con người nhất là những con người lầm lạc để đưa họ về với con đường của Thiên Chúa, Ngài đã đem Tin Mừng tình thương cứu độ đến cho mọi người, Ngài nâng dậy những ai gục ngã, an ủi kẻ đau khổ, chữa lành kẻ bệnh tật. Ngài đã biến mình thành người phục vụ như một người tôi tớ, Ngài đã cúi xuống để rửa chân cho các tông đồ, và cuối cùng Ngài đã trao tặng cả máu thịt mình để phục vụ cho sự sống của con người.
Đức Giêsu là vị vua bảo vệ chúng ta. Giống như vị vua phải xông pha trận mạc để bảo vệ dân mình, thì Đức Giêsu, như người mục tử đã hết mình bảo vệ chúng ta là đàn chiên của Ngài khỏi sự tấn cống của sói dữ là ma quỷ, và khỏi những nguy hiểm của tội lỗi, chấp nhận mang lấy thương tích vào mình. Trong trận chiến quyết liệt cuối cùng trên thập giá, Ngài đã chấp nhận cả cái chết để thế mạng cho chúng ta và cứu chúng ta khỏi chết. Thánh Phaolô đã khuyên cộng đoàn Colose: Anh em hãy vui mừng cảm tạ Chúa Cha đã làm cho anh em xứng đáng chung hưởng phần gia nghệp…Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi uyền lực tối tăm và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái. Trong Thánh Tử, ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi.
Tuy nhiên để nhận ra Đức Giêsu là vua và tôn vinh Ngài, cần phải có một cái nhìn chính xác về Ngài đó là cái nhìn trong đức tin và đón nhận vương quyền của Ngài. Nếu nhìn theo con mắt bên ngoài, thì cuộc chiến của Chúa Giêsu trên thập giá là một cuộc thất bại nặng nề. Tiêu biểu cho cái nhìn sai lạc và kiêu ngạo này là cái nhìn của các thủ lãnh Do Thái và của tên trộm dữ. Những thủ lãnh Do Thái khi đã treo được Người lên thập giá, họ thỏa mãn với sự căm thù, lòng ghen tương ích kỷ của mình, họ tưởng rằng họ đã trả thù được ông Giêsu, và họ còn nhạo cưới thách thức: Hắn đã cứu được người khác thì hãy cứu lấy mình đi, nếu thực sự hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa! Để thỏa mãn cho sự cao ngạo của mình và gây nhục nhã cho Chúa Giêsu, họ đã dâng cho Ngài giấm chua để uống, và còn đóng phía trên thập giá bản án viết rằng: Đây là vua người Do Thái. Bản án ấy vô tình lại trở thành lời giới thiệu và xác nhận vị thế của Chúa Giêsu là vua. Không khác gì những nhà lãnh đạo do Thái, tên trộm bị đóng đinh cùng Đức Giêsu cũng dựa vào cái nhìn bên ngoài để thách thức Chúa: Nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu mình và cứu cả tôi nữa!
Ngược lại, với cái nhìn của lòng tin và sự khiêm nhường, người trộm lành đã đứng ra bênh vực Chúa Giêsu, anh ta tin rằng Ông Giêsu này là một người công chính và là Thiên Chúa và cái chết của Ngài chắc chắn khác với cái chết của anh, và anh nói cho tên trộm dữ kia biết rằng: mày cùng chịu đồng một án, mà mày không kính sợ Thiên Chúa sao? Chúng ta chịu như thế này là đích đáng với việc chúng ta đã làm, còn ông này ông có làm gì xấu đâu? Vì tin, anh đã xin được gia nhập vào vương quốc của Đức Giêsu và làm thần dân của Ngài và anh ta khiêm tốn thưa với Chúa Giêsu: Lạy Ngài khi nào về Nước của Ngài xin nhớ đến tôi! Chúa Giêsu đã đón nhận anh khi tuyên bố: Ngay hôm nay ngươi sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng.
Thưa quý OBACE, sau một năm cử hành Năm Đức Tin, chúng ta cùng với cả Giáo Hội có dịp nhìn lại và làm mới đời sống đức tin của mình, đồng thời mỗi người sẽ trở thành người bảo vệ và giới thiệu đức tin cho mọi người chung quanh. Tin Đức Giêsu là vua, có nghĩa là đón nhận và mời Ngài vào làm chủ cuộc đời của mình, của gia đình, như xưa những người Israel đã đến mời Đavit làm vua của họ, để Ngài điều khiền, hướng dẫn và bảo vệ bản thân và gia đình khỏi sự tấn công của ma qủy và những cám dỗ ngày nay. Tin và tuyên xưng Chúa là vua là dám sống phó thác cho sự chăm sóc quan phòng yêu thương của Ngài.
 Với các bậc làm ông bà cha mẹ, hãy để Đức Giêsu làm vua trong tâm hồn của mình, để Ngài điều khiển hướng dẫn nếp sống của bản thân và gia đình, biết dành ưu tiên cuộc đời và thời giờ cho Chúa. Tôn vinh Ngài làm vua còn là biết mở rộng tâm hồn đón rước Ngài bước tâm hồn vào qua Bí Tích Giải tội và Thánh Thể. Vì qua Bí tich Giải tội, Ngài thực sự là một vị vua nhân từ xét xử khoan dung và tha thứ, đồng thời chăm sóc chữa lành cho tâm hồn chúng ta. Qua Bí tích Thánh Thể, Vua Giêsu đã phục vụ chúng ta cho đến cùng, đã trao ban mình máu Người làm của ăn nuôi dưỡng linh hồn và cuộc sống chúng ta. Hãy tôn vinh Ngài là vua của gia đình, để hết mọi thành viên trong gia đình từ ông bà, cha mẹ, con cái luôn thấy Ngài hiện diện và bảo vệ cho hạnh phúc gia đình của mình.
Ngày nay giới trẻ cũng đang tìm và tôn cho mình những vị vua như vua bóng đá, vua nhạc rock, và các thứ vua khác như là thần tượng của mình, mà họ lại quên rằng vua Giêsu mới thực sự là lý tưởng là cùng đích cho cuộc đời của mỗi người. Chỉ có Ngài mới là Đấng có thể giải thoát và cứu độ chúng ta, chỉ có Ngài mới có thể giải gỡ được những băn khoăn trắc trở trong cuộc đời và chỉ có Ngài mới dẫn chúng ta tới hạnh phúc đich thực mà thôi. Vì thế đừng sợ trở thành thần dân của vua Giêsu, đừng sợ suy tôn Ngài và để Ngài dẫn dắt mình, vì Ngài không bao giờ lừa dối chúng ta trái lại, Ngài luôn yêu thương phục vụ và bảo vệ chúng ta khỏi sự tấn công của các trào lưu xấu của xã hội hôm nay. Amen.
 
 
 

 TN34-C109: Đức Giêsu Kitô, Vua vũ trụ

(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Thể Hiện)
"Lạy Đức Giêsu, khi vào Nước của Ngài, xin Ngài nhớ đến tôi!"
 

Bài tin mừng hôm nay (Lc 23,35-43) trích trong trình thuật thương khó theo Thánh Luca, kể lại những TN34-C109

Bài tin mừng hôm nay (Lc 23,35-43) trích trong trình thuật thương khó theo Thánh Luca, kể lại những giây phút cuối cùng trước khi Đức Giêsu chết trên thập giá. Nhưng chính trong khung cảnh bi thương đó, dung mạo và tư cách quân vương của Ngài đã được mạc khải một cách rõ nét.
1. “Nếu hắn là Vua Kitô” (cc.35-39)
Mở đầu bài tin mừng là ba cảnh nhạo báng Đức Giêsu, do các thủ lãnh của dân, do lính tráng và do một tên gian phi cùng chịu đóng đinh vời Đức Giêsu, thực hiện. Dân (laos) thì đứng nhìn, trong một thái độ chăm chú mang tính tôn giáo (chứ không chỉ là tò mò).
Trước tiên là sự cười nhạo của các vị thủ lãnh. “Các thủ lãnh buông lời cười nhạo: "Hắn cứu được người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được Chúa tuyển chọn!"” (c. 35). Lời của các vị thủ lãnh ở đây có hai giá trị. Trước hết, do chỗ Đức Giêsu được trình bày như một người có tài làm phép lạ (“cứu được người khác”), nên lời thách thức “cứu lấy mình đi” trong thực tế là một lời nhạo báng tương tự như trong 4,23 “thầy lang ơi hãy chữa lấy mình”. Thứ hai, đặt trong sự nghi ngờ về tư cách Mêsia của Đức Giêsu, lời yêu cầu “hãy cứu lấy mình đi” đồng nghĩa với lời yêu cầu một dấu lạ chứng thực tư cách Mêsia.
Sau lời nhạo báng của các thủ lãnh là sự chế giễu của bọn lính tráng. Đây chắc chắn phải là những người lính Rôma (x. 23,47). “Chúng lại gần, đưa giấm cho Ngài uống và nói: "Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!” (cc.36-37). Lời chế giễu của bọn lính Rôma cũng tương tự như lời chế giễu của mấy ông lãnh đạo Do Thái, nhưng tập trung trên khía cạnh chính trị, và như thế, làm nên đợt sóng thứ hai trong cuộc cười nhạo Đức Giêsu bị đóng đinh. Tiếp nối ngay vào lời chế giễu này, tấm bảng ghi bản án đặt phía trên đầu Đức Giêsu cũng là một thành phần của lời chế giễu về phương diện “chính trị”: “Phía trên đầu Người, cũng có bản án viết: "Đây là vua dân Do Thái” (c.38).
Lời nhạo báng thứ ba tiếp ngay sau đó, là của một trong hai tên gian phi cùng chịu đóng đinh với Đức Giêsu. (Chúng ta không có cơ sở nào để khẳng định chắc chắn anh này là một người Do Thái hay một người dân ngoại). “Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: "Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi nữa!" (c.39). Lần thứ ba xuất hiện ngữ đoạn “hãy tự cứu mình đi”, sau đó là một yếu tố được thêm vào cho phù hợp với hoàn cảnh của tên gian phi: “và cứu cả chúng tôi nữa”. Nhưng chính Đức Giêsu, trong thực tế, lại chỉ chờ đợi ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa, đúng theo lôgích của lời Ngài đã nói trong 9,24: “Ai đành mất mạng sống mình… thì sẽ cứu được mạng sống ấy”.
Nội dung sự cười nhạo của ba hạng người trong bài tin mừng hôm nay đối với Chúa Giêsu, cho chúng ta hiểu thế nào là niềm mong chờ phàm trần mà người ta đặt nơi vương quyền của Đức Giêsu.
Là Vua Mêsia, Đức Giêsu sẽ đem đến cho con người ơn giải thoát của Thiên Chúa? Câu hỏi trở nên vô cùng gay cấn khi người ta phải đối diện với Đức Giêsu đang quằn quại đau đớn trong những giờ phút cuối cùng trước khi chết thê thảm trên thập giá. Kẻ không thể cứu nổi chính mình khỏi thảm cảnh thập giá, sẽ có thể cứu cả nhân loại này không? Vua Mêsia đấy ư? Đặt vào trong một nhãn quan mang tính chính trị, câu hỏi xem ra càng thêm gay cấn. Những kẻ đặt hy vọng vào Ngài sẽ không phải tuyệt vọng và buồn tủi hay sao, khi đối diện với tình cảnh của Ngài trên thập giá?
Mỗi năm chúng ta đều mừng lễ Đức Kitô Vua Vũ Trụ. Nhiều lần chúng ta tuyên xưng vương quyền của Ngài. Chúng ta vẫn trông chờ Ngài sẽ tỏ vương quyền của Ngài trong gia đình, trong nhóm, trong cộng đoàn và trong xã hội mà chúng ta đang sống, nhưng hình như Ngài có vẻ yếu thế (vì Ngài vẫn là Đấng chịu đóng đinh). Thực ra, chúng ta chờ đợi gì nơi Ngài? Một vị vua sẽ phô trương quyền lực trong các lãnh vực tôn giáo, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội? Nếu Ngài không phô trương quyền lực trong các lãnh vực đó cho chúng ta hưởng thụ và vinh vang, chúng ta sẽ nhìn lên Ngài với cặp mắt nào? Có lẽ sẽ không phải là nhạo báng, nhưng chắc sẽ là oán trách và than thở…
Hóa ra Đức Giêsu vẫn có thể đang bị nhạo cười theo một nghĩa nào đó bởi chính chúng ta, những đồ đệ của Ngài.
2. “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (cc.40-43)
Đối nghịch với ba lời nhạo báng và nhục mạ ở phần thứ nhất của bài tin mừng là một cảnh tượng hết sức ý nghĩa, bắt đầu bằng một phản ứng của người còn lại trong hai kẻ cùng chịu đóng đinh với Đức Giêsu đối với thái độ nhục mạ vừa diễn ra: “Nhưng tên kia mắng nó rằng: "Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái" (cc.40-41). Người trộm lành thừa nhận hành vi gian ác mà anh đã phạm và tính chính đáng của bản án dành cho anh. Đó là dấu hiệu của sự sám hối.
“Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: "Lạy Đức Giêsu, khi vào Nước của Ngài, xin Ngài nhớ đến tôi!" (c.42). Người trộm lành trực tiếp thưa chuyện với Đức Giêsu sau khi đã phê bình tên gian phi đồng bọn. Anh gọi: “Giêsu!”. Đây là lần duy nhất trong Tân Ước Đức Giêsu được gọi tên riêng một cách gần gũi như thế này. Trong một số trường hợp (không nhiều), Đức Giêsu được gọi bằng tên riêng nhưng luôn luôn kèm theo một sự xác định như: “Lạy Thầy Giêsu…” hay “Giêsu Nadaret”… Người trộm lành đã sám hối bây giờ không hướng về Thiên Chúa, mà hướng về Đức Giêsu và công nhận tư cách và vai trò Mêsia của Ngài. Lời van xin của anh ta rõ ràng mang đậm tính chất một lời cầu nguyện của những Kitô hữu gốc Do Thái. Đức Giêsu, đối với anh trộm lành, là Đấng Mêsia Phục Sinh mà anh có thể có tương quan thiết thân với Ngài. Trong lời cầu nguyện này, anh tuyên xưng lòng tin mạnh mẽ vào vương quyền Mêsia của Đức Giêsu.
“Và Người nói với anh: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng" (c.43). Trong lời xin của mình, người trộm lành mong ước một ơn cứu độ tương lai sẽ được thực hiện vào lúc cùng tận, khi vương quốc Mêsia được thực hiện theo cách hiểu của niềm mong đợi Israel. Nhưng Đức Giêsu lại bảo đảm cho anh một ơn cứu độ của “hôm nay” với một lời hứa long trọng. Ngài hứa ban cho người trộm lành này một sự sống hiệp thông trọn vẹn với Ngài ngay hôm nay. Trong viễn tượng Kitô giáo, sự hiệp thông này là sự sống viên mãn phúc lạc trong vinh quang của Đấng chiến thắng sự chết và tội lỗi.
Đức Giêsu chịu đóng đinh đã cho thấy Ngài không phải là vị Vua Cứu Độ bảo đảm cho con người ta những sự thiện hảo thế tạm. Ngài chẳng giải thoát ngay cả chính bản thân Ngài khỏi cái chết thảm thương trên thập giá. Ngài cũng chẳng hứa sẽ giải thoát chúng ta khỏi bệnh tật hay đói nghèo. Quyền bính của ngài không liên quan trước hết đến những thực tại trần gian, mà là ơn cứu độ và sự sống trong Thiên Chúa. Ngài hứa với người trộm lành một sự hiệp thông trọn vẹn trong sự sống viên mãn trên Thiên Đàng. Ngài phá bỏ những rào cản không cho con người hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa trong hạnh phúc miên viễn, cho dù con người ở đây là tên gian phi đang bị kết án tử hình.
Lời tuyên bố long trọng của Đức Giêsu dành cho người trộm lành cho thấy một nội dung quan trọng của lòng tin Kitô giáo. Tương lai của nhân loại, cá nhân cũng như tập thể, là chính Đức Kitô. Thiên Đàng được trình bày ở đây không phải trong nhãn quan khải huyền, mà là trong những hạn từ diễn tả sự ở với Đức Kitô. Đàng khác, ơn cứu độ là thực tại của “hôm nay” và của cá nhân, chứ không phải chỉ là thực tại của tương lai và mang tính tập thể. Đức Kitô thực hiện vương quyền của Người ngay hôm nay và cho từng người cũng như cho mọi người.
Trong viễn tượng của tin mừng theo Thánh Luca, cảnh người trộm lành hối cải và cầu xin với Đức Giêsu này tạo nên đỉnh điểm của trình thuật về sự kiện đóng đinh Đức Giêsu. Cảnh này kết thúc chuỗi những lời nhạo báng và tạo ra một sự đảo ngược quan trọng, trong đó, người trộm lành không chỉ tuyên bố sự vô tội của Đức Giêsu, mà xa hơn nữa, anh tuyên xưng lòng tin vào vương quyền đích thực của Ngài, vương quyền bị các thủ lãnh, lính tráng và tên gian phi đem ra nhục mạ. Đức Giêsu trong đoạn tin mừng này quả thực là một vị vua, nhưng Ngài là vua theo một cách thức hoàn toàn khác với những mong đợi mang tính chính trị. Ngài thật là Đấng Cứu Độ, nhưng không phải là một nhà giải phóng chính trị và quân sự. Ba hạng người nhạo báng Ngài đều đưa ra lời thách thức rằng nếu Ngài là Vua Kitô thì Ngài hãy tự cứu mình đi và cứu cả những người khác nữa. Đức Giêsu sẽ đáp trả với thách thức ấy, nhưng không phải là theo cách thế mà những người kia mong đợi. Ngài cứu một con người, ngay khi ấy, tức là ngay khi Ngài trút hơi thở, nhưng không phải là cứu khỏi cái chết tạm thời, song là đưa người đó đi vào sự sống viên mãn và niềm phúc lạc đích thực. Ngài không làm những hành động chính trị hay những pha biểu diễn ngoạn mục. Vương quyền của Ngài là vương quyền siêu việt và vĩnh cửu.Trong ngày Lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ, chúng ta mừng kính vương quyền đích thực đó và đặt mình đầu phục vương quyền cứu độ đó, chứ không phải đi tìm hay khao khát những thực tại thế trần và mau qua.

 

TN34-C110: Suy niệm của Antôn P. Nguyễn Xuân Thuyên

Chúa nhật 34 thường niên hôm nay cũng là kết thúc năm Phụng Vụ, Giáo Hội tôn kính vương quyền TN34-C110

Chúa nhật 34 thường niên hôm nay cũng là kết thúc năm Phụng Vụ, Giáo Hội tôn kính vương quyền của Chúa Giêsu nhằm nói lên cùng đích của Phụng Vụ, là làm cho loài người được tôn vinh một khi họ được thông dự vào vương quyền của Đức Kitô vua Tình Yêu. Đây là dịp để chúng ta tìm hiểu Vị Vua Giêsu mà chúng ta tôn thờ, Ngài đã cai trị vương quốc của Ngài bằng cách nào, để rồi Ngài thông chia vương quyền ấy cho chúng ta?
Trước hết, Thánh Kinh đã hé mở cho chúng ta biết Chúa Giêsu chính là vua. Có ít nhất 3 ngày Giáo Hội đã long trọng nhắc đến tước hiệu “Vua” của Đức Kitô, tuy không rõ ràng tôn vinh tước hiệu ấy: lần thứ nhất, trong ngày lễ hiển linh: “Khi Chúa Giêsu sinh ra tại Belem, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà đạo sĩ từ phương đông đến Giêrusalem, và hỏi Đức vua dân Do thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”(Mt 2,1-2). Lần thứ hai trong Tuần Thánh, với việc Chúa Giêsu long trọng tiến vào thành thánh Giêrusalem. Rồi trước toà án Philatô, ông cho Chúa Giêsu ngồi ở Gabata, ghế dành riêng cho quan toà. Như vậy, vô tình Philatô công nhận Ngài là vua. Chính Chúa Giêsu cũng khẳng định Ngài là vua (Ga 18,37). Và Philatô đã truyền cho người ta viết tấm bảng gắn trên đầu thập giá với hàng chữ: “Giêsu Nazareth Vua dân Do thái” (Ga 19,19). Và rồi lần thứ ba, trong ngày Chúa Giêsu lên trời, Hội Thánh tôn vinh vua oai phong đi vào trong vinh quang và đợi chờ ngày Người lại đến (Mc 16,19) để phán xét kẻ sống và kẻ chết trong ngày cánh chung.
Và trong đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy nhiều người vô tình hay hữu ý đã ghi nhận Chúa Giêsu là vua: “Nếu ông là Đấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn, hãy tự cứu mình đi” (Lc 23, 37); Phía trên đầu Người có tấm bảng đề chữ Hylap, Latinh và Dothái như sau “Người này là vua dân Do Thái” (Lc 23,38); và rồi với lời van xin của tên trộm lành “Lạy Ngài, khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi” (lc 23,42).
Như thế, qua Thánh Kinh đã mạc khải cho chúng ta biết Chúa Giêsu chính là Vua. Và vị Vua Giêsu mà chúng hằng tôn thờ đó đã cai trị vương quốc của mình như thế nào?
Trước hết, Chúa Giêsu không phủ nhận mình là Vua hay vương quyền của mình, vì trước toà án Philatô, Chúa Giêsu đã xác nhận: “Tôi là Vua” (Ga 18,37). Thế nhưng, Ngài không phải là một vị vua đi tranh giành ngôi với hoàng đế Xê-sa-rê hay Hê-rô-đê mà hội đồng công toạ tố cáo (Lc 23,3). Nhưng vương quốc của Ngài không thuộc trần gian này, không có màu sắc chính trị phàm trần, xâm chiếm lãnh thổ. Ngài không xuất hiện như các ông vua khải hoàn, ngựa xe ngợp trời, tù binh cả đám. Nhưng Ngài ngồi trên con lừa khiêm tốn, hiền hoà theo lời sấm ngôn của Dacaria (Dcr 9,9; Mt 21,5), Ngài đến để đem sự bình an và ơn công chính đến cho mọi người chứ không phải mang gươm giáo, súng đạn. Ngài đến để cứu kẻ khác chứ không phải để cứu mình (Lc 23,35), bởi vì Ngài là Đấng Kitô đến để thực hiện chương trình của Chúa Cha, mà chương trình này là “phải qua đau khổ mới bước vào vinh quang”. Ngài là Vua nhưng không phải là vua bóc lột, mà là Vua “hiến mạng sống vì đoàn chiên” (Ga 10,11). Ngài là Vua “đem công lý, hoà bình, hạnh phúc” cho toàn dân. Nhưng việc này chỉ có thể thực hiện khi Ngài hoàn tất số phận của mình, một “người tôi tớ Đức Chúa”. Trên thập giá Ngài đã đánh bại Xatan, triệt tiêu tử thần, đã đem lại sự công chính hoá cho toàn dân và mở ra thời kỳ ân phúc cho nhân loại (Lc 22,29).
Điều này cho chúng ta hiểu được rằng vương quyền của Ngài không nhằm phục vụ tư lợi cá nhân. Việc Ngài thống trị toàn vũ trụ không phải để tự mãn nhưng là cho con người được sống và sống dồi dào. Chúa Giêsu Vua không cai trị Vương quốc bằng sức mạnh của vũ lực, nhưng bằng phục vụ, yêu thương. Con người xem ra mạnh hơn Chúa Kitô trong việc áp đảo và bắt bớ. Nhưng điều đó không làm cho Chúa Giêsu bận tâm. Hơn nữa, chính việc Chúa Giêsu chấp nhận bị gây thương tích và chết đi nhằm mạc khải cách tuyệt vời bản chất đích thực của Vương quốc Ngài là một Vương quốc của tình yêu thương, yêu cho đến cùng: chết vì người mình yêu.
Nói tóm lại, Vương quyền của Vua Giêsu là hoà giải trời với đất, giải thoát con người khỏi nô lệ của ma quỷ, dẹp tan tội ác, thiết lập một vương quốc “chân lý, ánh sang, bình an, sự sống, công bình và tình thương vĩnh cửu”, trong đó mọi người đều hạnh phúc, không còn cảnh người bóc lột người, không còn cảnh khổ đau (Rm 14,17; Ga 18, 38).
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
Qua lễ Chúa Giêsu Vua vũ trụ hôm nay, mỗi người chúng ta cần phải tự hỏi mình có chấp nhận vương quyền của Ngài hay không? Ta có để cho Chúa làm chủ, làm vua tâm hồn và đời sống của mình hay chưa? Ta đã tuyên xưng và loan truyền vương quốc của Chúa thế nào trong đời sống của chúng ta? Chúng ta nhận Chúa là vua vũ trụ xem ra là một việc dễ dàng, còn việc để Chúa làm vua tâm hồn và đời sống của mình không phải là một việc dễ dàng tí nào, vì chúng ta còn quá nhiều lệ thuộc cho tự do ích kỷ của chúng ta, chúng ta còn nô lệ cho quá nhiều những cám dỗ đầy ngon ngọt của vương quốc ma quỉ.
Chúa Giêsu đã được Thiên Chúa Cha phong làm vua vũ trụ và dĩ nhiên cũng là vua tâm hồn và cõi lòng chúng ta. Chúng ta chỉ có hai thủ lãnh để theo: một là Chúa Giêsu, hai là ma qủi. Chúng ta phải chọn một trong hai, hoặc là vị này hoặc là vị kia, là Chúa hay là ma qủi. Trong vấn đề này chúng ta không thể trung lập để “bắt cá hai tay”, bởi vì người ta thường nói:
Một nhà hai chủ không hòa,
Hai vua một nước, ắt là không yên.
Vậy chúng ta phải theo vị thủ lãnh nào? Chắc chắn chúng ta chọn Chúa Giêsu là vua bởi vì tất cả chúng ta đã được chịu phép rửa tội. Và qua phép Rửa tội, mỗi người chúng ta được thông phần vào cái chết và sự sống của Chúa Giêsu, được tham dự vào chức năng làm vua của Chúa Kitô. Vậy chúng ta đã làm cho vương quốc của Chúa Kitô cũng là vương quốc của chúng ta phát triển và lan toả hay chưa? Hay nói cách khác đời sống của chúng ta có nguyện cho danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến hay chưa?
Ước gì qua thánh lễ hôm nay, xin Chúa Kitô là Vua vũ trụ và là Vua của lòng trí chúng ta đổ tràn đầy tình yêu Chúa xuống trong tâm hồn mỗi người chúng ta, cho chúng ta bừng cháy lửa tình yêu Chúa để chúng ta biết đón nhận Chúa trong anh em, để từ đó ngọn lửa tình yêu Chúa lan toả ra những anh chị em sống bên cạnh chúng ta, và nhờ đó mọi người nhận ra Nước Cha đang trị đến. Amen.

 

TN34-C111: Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua.

(Bài giảng của ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên)
 

Cách đây hai ngàn năm, một tội nhân bị đưa ra trước công đường của một vị quan tổng trấn. Hai TN34-C111

Cách đây hai ngàn năm, một tội nhân bị đưa ra trước công đường của một vị quan tổng trấn. Hai người gặp nhau lần đầu, mặc dù đã nghe nói về nhau. Philatô, người tượng trưng cho quyền lực trần thế, Đức Giêsu, người đại diện cho quyền lực trên cao. Cuộc gặp gỡ này vừa là một vụ án, vừa là một vở kịch. Người sát hạch cũng là người bị hỏi, bên bị cáo cũng là người thẩm vấn. Quả thật là một sự đổi vai giữa hai nhân vật này.
“Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Một câu hỏi kỳ lạ, thậm chí vô duyên. Có lẽ nào người hiện diện trước mặt ông là một vị vua mà lại không được ông, một vị tổng trấn uy quyền, biết đến? Điều đó cho thấy Đức Giêsu không phải là một vị vua theo quan niệm thế gian. Vương quốc của Người không phải ở thế gian này.
Hai ngàn năm đã qua sau vụ án, hôm nay vẫn có những người đang đặt câu hỏi mang tính thách thức như Philatô về vương quốc của Chúa. Vẫn có biết bao người đang kiếm tìm vương quốc ấy, và cũng có vô số tín hữu sẵn sàng đổ máu đào vì vương quốc kỳ diệu này.
“Vậy ông là vua sao?” Lại một lần nữa, Philatô buông một câu hỏi vô nghĩa. Trước câu hỏi này, Đức Giêsu cũng không đưa ra một câu trả lời trực tiếp. Người nói: “Chính ngài nói rằng tôi là vua”. Tiếp đó, Người minh định rõ ràng chức năng vương hoàng của Người, đó là chức năng làm chứng cho sự thật. Vậy là đã rõ, vương quốc của Chúa là vương quốc của sự thật, mà sự thật thì không bị xiềng xích. Sự thật cũng như trái tim, không bị chi phối bởi sắc tộc, ngôn ngữ hay thế mạnh quân sự. Sự thật đã và đang đem lại chiến thắng cho con người.
“Nước tôi không thuộc chốn này”. Đức Giêsu nhấn mạnh hai lần điều này. Người không muốn để cho Philatô hiểu về chức vương hoàng của Người theo kiểu thế gian. Không chỉ Philatô, mà suốt bề dầy của lịch sử, những ai muốn quan niệm hoặc trình bày tước vị “Vua” của Đức Giêsu theo kiểu trần thế đều bị thất bại. Đã có thời trong, khá nhiều người, kể cả một số vị lãnh đạo, mang quan niệm sai lầm về sức mạnh của Giáo Hội, khi họ cho rằng Giáo Hội mạnh mẽ nhờ thế lực trần gian hoặc do sức mạnh của đồng tiền. Quan điểm ấy đã chuốc lấy những bài học chua cay. Đức Giêsu tuyên bố chức năng vương hoàng của Người vào lúc Người bị điệu ra trước pháp đình. Qua đó, người muốn khẳng định rõ: Người làm vua để phục vụ và trao gửi yêu thương. Sau bao thế kỷ, Giáo Hội cũng đã ngộ ra rằng sức mạnh của Giáo Hội không đến từ quyền lực trần thế, mà là đến từ Đấng chịu đóng đinh. Cộng đoàn tín hữu tiên khởi, mặc dù phải đối diện với biết bao khó khăn do thù nghịch đến từ phía người Do Thái và nhà cầm quyền La-mã, nhưng vẫn tăng trưởng, vì họ tìm được sức mạnh nơi Đấng đã chịu đóng đinh trên thập giá, đã chịu chết và đã Phục Sinh.
Khi mừng lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ, Phụng vụ muốn nhắc cho chúng ta về khái niệm “vương quyền” của Đức Giêsu. Vương quốc của Người đã được khởi đầu ở trần gian này rồi, như lời rao giảng của Chúa khi khởi sự công cuộc loan báo Tin Mừng: “Thời kỳ đã mãn, và triều đại Thiên Chúa đã gần đến. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Tuy thế, vương quốc của Chúa vẫn chưa được thực hiện, mà đang trong thời kỳ đạt tới thành toàn, vào thời điểm Chúa muốn. Sự thành toàn của vương quốc Thiên Chúa sẽ được thực hiện trong tương lai, lúc ấy, Con Người sẽ từ mây trời ngự đến, thống trị vinh quang mãi mãi (Bài đọc I).
Năm phụng vụ chấm dứt với chúa nhật hôm nay. Chúng ta cũng được mời gọi suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời. Là con dân của Nước Chúa, người tín hữu phải nỗ lực thực thi tình bác ái và xây đắp an bình, vì Nước Chúa là nước của bình an, nhân ái, chan hòa tình Chúa tình người. Khi cố gắng thực thi lời Chúa dạy là chúng ta làm cho vương quốc của Chúa mau trị đến.
Tuyên xưng Chúa là Vua, chúng ta cũng muốn thuộc trọn về Người. Đây cũng là dịp để chúng ta nghĩ về lòng trung thành của chúng ta với Chúa. Tấm “hộ chiếu” của vương quốc vĩnh cửu chính là đức tin vững vàng, đức cậy trung tín và đức mến thiết tha. Chúa sẽ nhận ra chúng ta, qua việc thiện chí sống và thực thi những nhân đức này.
Suy Niệm:
Đức Giêsu Kitô là Ngôi Lời Thiên Chúa. Trong Ngài muôn loài được tạo thành. Nhờ Ngài vạn vật được cứu độ. Vì thế Ngài là chủ tể là vua vũ trụ. Nước của Ngài không hạn hẹp một quốc gia nào, một dân tộc nào. Nhưng bao trùm toàn thể chúng sinh. Vinh quang uy quyền của ngai báu Ngài không tỏ hiện bằng vũ lực, bằng cao sang thế trần, nhưng êm đềm trong yêu thương, trong tình thân ái để đem hạnh phúc đích thực cho mọi tâm hồn.
Cầu Nguyện:
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã muốn cải tạo mọi sự trong Con yêu dấu Chúa, là vua vũ trụ: Xin đoái thương cho mọi loài thọ tạo đã được giải thoát khỏi vòng nô lệ, biết phụng thờ uy linh Chúa, và biết luôn luôn ngợi khen Chúa. Chúng con Cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.
 
 
 

TN34-C112: Chúa Giêsu, Vua Yêu thương

(Suy niệm của Lm Phêrô Bùi Quang Tuấn)
 

Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ Nhất chấm dứt, cả châu âu rơi vào cảnh hoang tàn đổ nát. Balan cũng TN34-C112

Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ Nhất chấm dứt, cả châu âu rơi vào cảnh hoang tàn đổ nát. Balan cũng không tránh khỏi thảm hoạ. Đất nước bị quân Đức và Nga thay nhau cày xéo. Bao thanh niên ngã gục trên chiến trường. Nhiều làng mạc, thành phố bị bom đạn thiêu rụi.
Trước tình hình đó, Toà thánh muốn tìm một giáo sĩ xứng hợp, có thể đảm trách vai trò đặc sứ tại quốc gia này. Linh mục Ambrose Ratti người Ý đã được đề cử và tuyển chọn. Ngay sau đó, cha Ambrose lên đường đi nhận nhiệm sở mới với bao sứ mạng nặng nề.
Thế nhưng công việc của cha Ambrose tại Balan đã tiến triển tốt đẹp. Toà thánh nhận ra điều đó. Rồi chẳng bao lâu sau, ngài được triệu về Rôma và được tấn phong Hồng y coi sóc tổng giáo phận Milan. Đến năm 1922, sau khi Đức Benêđictô XV qua đời, Hồng y Ambrose Ratti được bầu làm Giáo hoàng với danh hiệu Piô XI.
Năm 1925, Đức Thánh Cha Piô đã thiết lập ngày lễ Chúa Giêsu Vua, đồng thời ban sắc lệnh truyền dạy Dân Chúa khắp nơi mừng lễ này vào Chúa nhật cuối cùng của tháng Mười. Trong một bản tông huấn, Đức Thánh Cha cho biết lý do ngài thiết lập ngày lễ Chúa Kitô Vua: thế giới cần một nền hoà bình chân thật, nhưng hoà bình đó chỉ có được dưới triều đại của Đức Kitô là Vua Tình Thương và là Hoàng Tử Bình An.
Về sau, khi có cuộc cải cách phụng vụ, một số ngày lễ được thay đổi, một số khác không còn lưu lại trong lịch. Riêng lễ Chúa Kitô Vua được dời qua Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ, tức Chúa nhật thứ 34, trước khi bước vào mùa Vọng, khởi đầu một chu kỳ mới.
Một linh mục đã nhận xét: Suy tôn Chúa Giêsu Vua là việc làm hoàn toàn chính đáng và mang nhiều ý nghĩa, vì quả thực, Ngài đã chào đời như một quân vương và lìa đời như một đức vua.
Nhớ lại ngày Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, ba đạo sĩ phương Đông đã tìm đến dâng các lễ vật: vàng, nhũ hương, và mộc dược. Vàng là món quà tượng trưng cho vương quyền. Thế nên, từ thuở ấu thơ, Ngài đã được nhìn nhận như một đức vua. Và rồi, trong những giờ phút cuối cùng của cuộc sống làm người, Đức Giêsu cũng được suy tôn như một vị quốc vương cao cả.
Thói thường khi quân Rôma đóng đinh ai cũng đều kèm theo một tấm bảng ghi rõ tội danh của kẻ phạm pháp. Riêng trường hợp Đức Giêsu, quan Philatô muốn chế nhạo người Do thái bằng cách cho treo trên đầu Ngài tấm bảng có hàng chữ “Đây là Vua Dân Do thái”. Việc làm này đã vô tình khẳng định tính cách vô tội và vương quyền thực sự của Đức Giêsu: Ngài không có tội để ghi và Ngài chính là hoàng đế (x. Thomas Kemp, Homilies on the Sunday Gospel).
Việc làm vô tình của Philatô lại được một tên tội phạm nhận biết và tuyên xưng.
Số là trên đồi Gôlgotha lúc bấy giờ có hai tên trộm cướp cùng chịu đóng đinh với Đức Giêsu. Các thủ lãnh và đoàn thể dân chúng cười nhạo Ngài. Quân lính thì mắng nhiếc chế diễu. Cả một trong hai tên gian phi cũng khiêu khích sỉ nhục. Trong mớ âm thanh hỗn độn, hằn học, và thù nghịch ấy lại dội lên một vài ngôn từ đáng suy nghĩ.
Ngay trên khổ giá của mình, người gian phi thứ hai đã quan sát Đức Giêsu và suy nghĩ về những ngôn từ đó. Anh ta thấy trong bao lời trách mắng về Ngài đều hở ra những câu như: “Nếu là Đức Kitô”, “Nếu là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn”, “Nếu là Vua Do thái”. Anh ta ngước nhìn và đợi chờ những lời nguyền rủa đáp trả hay những tia nhìn hận thù giáng xuống đoàn lũ dưới kia. Thế nhưng, những gì anh thấy được lại là “Đức Giêsu ngước mắt lên trời”, và những gì anh nghe được lại là “Lạy Cha xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”.
Chính việc “thấy” và “nghe” kia đã hình thành trong anh một cảm xúc kính phục chân thành. Anh thương người chịu đóng đinh bên cạnh. Anh thấy mình bị khổ nhục là đích đáng. Nhưng con người kia đâu có hận thù, tham lam, độc ác gì. Trái lại, dù trong cảnh thê lương sầu thảm, dù khổ đau đang giằng xé từng hơi thở, dù mặt mũi hình hài tan nát mất hết hình tượng, nơi con người Giêsu đó vẫn toát lên tình thương và lòng khoan dung tha thứ. Thế rồi anh can đảm lên tiếng bênh vực cho Ngài: “Ông này đâu có làm gì sai trái”(Lc 23: 41). Và xa hơn, anh còn khám phá ra vương quyền của Ngài khi thành khẩn nài xin: “Lạy Đức Giêsu, xin nhớ đến tôi, khi Ngài đến trong Nước của Ngài”(Lc 23: 42).
Làm sao trong cảnh hấp hối tột cùng của Đức Giêsu và của chính mình mà anh “trộm lành” lại cất lên được lời thỉnh cầu như thế? Phải chăng khi rơi vào vòng xoáy của sự chết, anh đã cố bám víu bất cứ thứ gì có thể bám được? Điều gì đã giúp anh, ngay giữa lằn ranh của sự sống và sự chết, gặp thấy dung mạo của một quốc vương, Đấng đang bước vào vương quốc của mình ngay trên thập giá?
Một nhà thần học trả lời: tình thương đã giúp anh khám phá Vua Giêsu. Chính lòng yêu người, xót thương cho kẻ bị oan ức, đã giúp anh gặp gỡ Vua Tình Yêu.
Mà tình yêu sẽ tồn tại muôn đời, anh xác tín như thế. Cho nên, dù vật vã với đớn đau của thân xác, anh vẫn nhận ra tình yêu đang hiện hữu bên mình. Tình yêu đó đang rộng lòng tha thứ, xoá tan hận thù, và mang lại bình an. Niềm xác tín gia tăng cường độ khiến miệng anh bật lên lời nài van: “Xin Ngài nhớ đến tôi”.
“Ngày hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta”(Lc 23: 43). Không lời nào yên ủi cho người sắp chết bằng lời đó. Hận thù đã gây nên chiến tranh, phân ly. Nhưng tình thương lại luôn bắt cầu liên kết. Anh trộm lành chỉ xin Chúa Giêsu nhớ đến mình, nhưng Ngài lại hứa ở cùng anh. Nói đến nhớ là nói đến cách xa. Vì yêu nhau nhưng không được gần nhau nên sinh ra nỗi nhớ. Tình yêu có nỗi nhớ là tình yêu chưa được vuông tròn. Còn khi “ở làm một với nhau” thì tình yêu đã thật sự lên ngôi. Trong tình yêu của Thiên Chúa luôn là “nên một” và “ở cùng”.
Trên thánh giá, Chúa Giêsu đã lên ngôi. Ngài bộc bạch chính mình là Đức Kitô, Người Thiên Chúa tuyển chọn, Đấng Cứu Thế, Vua Tình yêu.
Suy tôn Chúa Giêsu là Vua Yêu thương, nài xin Ngài “nhớ” đến mình trên mọi hành trình dương thế, can đảm bênh vực cho chân lý tình yêu, là ta đang tìm thấy hoà bình và sự sống phong phú nơi tâm hồn, gia đình, và thế giới.

 

TN34-C113: KHÔNG ĐỂ CHO NGƯỜI LÀM CHÚA

CỦA CUỘC ĐỜI CHÚNG TA...
 

Chúng ta hân hoan chia sẻ cái rạng ngời vì chúng ta được Chúa Giêsu là Vua của chúng ta; quyền TN34-C124

Chúng ta hân hoan chia sẻ cái rạng ngời vì chúng ta được Chúa Giêsu là Vua của chúng ta; quyền lực của tình yêu Người biến đổi tội lỗi thành ân sủng, chết chóc thành phục sinh, sợ hãi thành tin tưởng...
Tuy nhiên nó sẽ chẳng có ý nghĩa mấy nếu chúng ta tin Chúa Giêsu là Vua vũ trụ
mà lại không để cho Người làm Chúa của cuộc đời chúng ta...
"Cho dù Cửa Thánh có đóng thì cửa ngõ đích thực của lòng thương xót là trái tim của Chúa Kitô bao giờ cũng vẫn rộng mở cho chúng ta. Từ cạnh sườn bị rạch toạc ra của Đấng Phục Sinh cho đến tận cùng thời gian tuôn ra lòng thương xót, ơn an ủi và niềm hy vọng".
 Lễ trọng Chúa Giêsu Kitô của chúng ta, Vua Vũ Trụ, là tột đỉnh của phụng niên cũng như của Năm Thánh Thương Xót. Thật vậy, bài Phúc Âm cho thấy vai trò làm vua của Chúa Giêsu như là tột đỉnh công cuộc cứu độ của Người, và Phúc Âm cho thấy như thế một cách lạ lùng. "Đức Kitô của Thiên Chúa, Đấng được Tuyển Chọn, Đức Vua" (Luca 23:35,37) hiện lên như môt kẻ chẳng có quyền lực hay vinh quang gì hết:
Người ở trên cây thập tự giá, Người dường như là một tên bị chiến bại hơn là một tay chiến thắng. Vai trò làm vua của Người là những gì ngược ngạo: ngai tòa của Người là cây thập tự giá; triều thiên của Người là mạo gai; Người không có vương trượng mà chỉ là một cành nứa bị dúi cầm trong bàn tay; Người chẳng có y phục sang trọng mà bị lột cả áo khoác; Người chẳng đeo nhẫn óng ánh trên ngón tay nhưng bàn tay Người bị đinh đâm thủng; Người chẳng có báu vật mà bị bán với giá 30 đồng bạc.
Triều đại của Chúa Giêsu quả thực không thuộc về thế gian này (xem Gioan 18:36); nhưng chính vì lý do này mà Thánh Phaolô đã nói với chúng ta trong Bài Đọc Thứ Hai, chúng ta được ơn cứu chuộc và tha thứ (xem Colose 1:13-14). Vì cái uy nghi cao cả của vương quốc Người không phải là quyền lực theo quan niệm trần gian này mà tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu có thể gặp gỡ và chữa lành tất cả mọi sự. Chúa Kitô vì yêu thương đã hạ mình xuống với chúng ta, Người đã sống tình trạng khốn khổ của nhân loại chúng ta,
Người đã trải qua đến tận cùng thân phận của con người chúng ta: bất công, bị phản bội, bị bỏ rơi; Người đã nếm được cái chết, mồ chôn, âm phủ.
Nhờ thế mà vị Vua của chúng ta đã đi đến tận cùng của vũ trụ để gồm tóm và cứu độ hết mọi sinh linh. Người đã không lên án chúng ta, không khống chế chúng ta, và Người không bao giờ coi thường tự do của chúng ta, song Người mở lối cho chúng ta bằng một tình yêu khiêm hạ tha thứ tất cả mọi sự, hy vọng tất cả mọi sự, bảo trì tất cả mọi sự (xem 1Corinto 13:7).
Chỉ có tình yêu duy nhất này đã có thể thắng vượt và tiếp tục thắng vượt các thứ kẻ thù tàn khốc nhất của chúng ta là tội lỗi, chết chóc và sợ hãi.
Anh chị em thân mến, hôm nay chúng ta loan báo cuộc chiến thắng đặc biệt này, một chiến thắng nhờ đó Chúa Giêsu đã trở thành Đức Vua của mọi thời đại, thành Chúa của lịch sử: chỉ bằng quyền lực của tình yêu là bản tính của Thiên Chúa, là chính sự sống của Ngài và là tình yêu vô cùng bất tận (xem 1Corinto 13:8).
Chúng ta hân hoan chia sẻ cái rạng ngời vì chúng ta được Chúa Giêsu là Vua của chúng ta;
quyền lực của tình yêu Người biến đổi tội lỗi thành ân sủng,
chết chóc thành phục sinh, sợ hãi thành tin tưởng.
Tuy nhiên, nó sẽ chẳng có ý nghĩa mấy
nếu chúng ta tin Chúa Giêsu là Vua vũ trụ
mà lại không để cho Người làm Chúa của cuộc đời chúng ta:
tất cả những điều ấy chẳng là gì nếu bản thân chúng ta không chấp nhận Chúa Giêsu và nếu chúng ta cũng không chấp nhận đường lối làm vua của Người. Tuy nhiên, có những con người được bài Phúc Âm hôm nay cho chúng ta thấy có thể giúp chúng ta trong vấn đề này. Ngoài Chúa Giêsu ra thì còn 3 loại nhân vật nữa:
thành phần dân chúng đang nhìn lên,
những người ở gần cây thập tự giá,
và tên tử tội bị đóng đanh cạnh Chúa Giêsu.
Trước hết là dân chúng:
Bài Phúc Âm nói rằng "dân chúng dừng chân nhìn xem" (Luca 23:35):
không ai nói một lời, không ai đến gần hơn. Dân chúng giữ một khoảng cách, chỉ muốn nhìn xem những gì đang xẩy ra thôi.
Họ cũng là những con người đã chen lấn nhau đến gần Chúa Giêsu khi họ cần một cái gì đó,
giờ đây là những con người tách xa khỏi Người.
Đối với các hoàn cảnh của đời sống chúng ta, cùng với những niềm trông đợi khôn nguôi của chúng ta, chúng ta cũng có thể bị cám dỗ giữ mình tách xa khỏi vai trò làm vua của Chúa Giêsu, không hoàn toàn chấp nhận cái nhục nhã nơi thứ tình yêu khiêm hạ của Người là những gì khiến chúng ta cảm thấy không ổn và bị xáo trộn.
Chúng ta thích ở tại cửa sổ, đứng tách ra, hơn là đến gần và ở với Người. Thế nhưng một dân thánh đức, nhận Chúa Giêsu là Vua của mình, được kêu gọi để theo đường lối yêu thương khả hữu của Người; họ được kêu gọi để tự vấn, mỗi người và từng ngày xem:
"Tình yêu muốn tôi làm gì, nó thôi thúc tôi đi đâu đây?
Tôi đang cống hiến câu trả lời bằng đời sống của tôi cho Chúa như thế nào?"
Còn một nhóm thứ hai, bao gồm những cá nhân khác nhau:
các vị lãnh đạo dân chúng, những binh lính và một tử tội.
Tất cả họ đều nhạo cười Chúa Giêsu. Họ khiêu khích Người cùng một cách thức: "Ngươi hãy cứu lấy bản thân ngươi đi!" (Luca 23:35,37,39).
Cái khuynh hướng này còn tệ hơn cả cái khuynh hướng của dân chúng nữa. Họ thách đố Chúa Giêsu, như ma quỉ đã làm ở đầu Phúc Âm (xem Luca 4:1-13), để Người bỏ đi việc cai trị như Thiên Chúa muốn, mà hãy cai trị theo kiểu cách của thế gian, đó là hãy xuống khỏi thập giá và hủy diệt các kẻ thù của Người!
Nếu Người là Thiên Chúa thì hãy tỏ quyền năng của Người cùng cái ưu việt của Người ra! Chước cám dỗ này là một thứ tấn công tình yêu: "hãy cứu lấy bản thân mình" (các câu 37,39); không phải cứu kẻ khác mà là chính bản thân mình.
Hãy chiếm lấy cái khải hoàn cho bản thân ngươi do bởi quyền năng của ngươi, bởi vinh quang của ngươi, bởi vinh thắng của ngươi.
Đó là một chước cám dỗ khủng khiếp nhất, chước cám dỗ đầu và cám dỗ cuối trong Phúc Âm.
Khi đối đầu với cuộc tấn công này ở chính đường lối hiện hữu của mình, Chúa Giêsu đã không nói năng gì, đã chẳng phản ứng chi. Người không tự vệ, Người không cố gắng thuyết phục họ, Người không tỏ ra bênh vực vai trò làm vua của Người. Trái lại, Người tiếp tục yêu thương; Người tha thứ, Người sống giây phút thử thách này theo ý muốn của Cha Người, tin rằng tình yêu sẽ sinh hoa kết trái.
Để chấp nhận vai trò làm vua này của Chúa Giêsu, chúng ta được kêu gọi chiến đấu chống lại chước cám dỗ này, được kêu gọi để gắn ánh mắt của chúng ta vào Đấng Tử Giá, tỏ ra trung thành với Ngài hơn bao giờ hết.
Biết bao nhiêu lần, ngay cả trong số chúng ta, chúng ta tìm kiếm những gì thoải mái và vững chắc do thế gian cống hiến. Biết bao nhiêu lần chúng ta bị cám dỗ xuống khỏi Thánh giá.
Cái lọc lừa của quyền lực và thành công dường như là một đường lối dễ dàng nhanh chóng trong việc lan truyền Phúc Âm; chúng ta sớm quên đi cách thức thể hiện của Vương Quốc Thiên Chúa.
Năm Thánh Thương Xót này mời gọi chúng ta hãy tái nhận thức cái cốt lõi, hãy trở về với những gì là thiết yếu.
Thời điểm của lòng thương xót này kêu gọi chúng ta hãy nhìn lên dung nhan đích thực của vua chúng ta, Đấng rạng chiếu ở cuộc Phục Sinh, cũng như hãy tái khám phá ra dung nhan trẻ trung mỹ lệ của Giáo Hội lữ hành, một dung nhan rạng ngời khi nó tỏ ra đón nhận, tự do, trung thành,
nghèo nàn về phương tiện nhưng giầu có về yêu thương.
Lòng Thương Xót, những gì dẫn chúng ta đến tâm điểm của Phúc Âm, thôi thúc chúng ta hãy bỏ đi những thói quen và những thực hành có thể gây ngãng trở cho việc phụng sự Vương Quốc của Thiên Chúa;
lòng thương xót thôi thúc chúng ta chỉ tập trung vào vai trò làm vua muôn thuở và khiêm hạ của Chúa Giêsu, đừng chiều theo những thứ quyền chức trôi nổi và các thứ quyền năng thay đổi của hết mọi thời đại. 
Trong Phúc Âm còn một người nữa, gần Chúa Giêsu hơn, đó là kẻ trộm van xin Người rằng:
"Hỡi Giêsu, xin hãy nhớ đến tôi khi ngài vào vương quốc của ngài" (câu 42).
Con người này, chỉ nhìn vào Chúa Giêsu, tin tưởng vào vương quốc của Người. Anh ta không khép kín bản thân mình, trái lại - với các thứ lầm lạc của mình, các thứ tội lỗi của mình, cùng các thứ rắc rối trục trặc của mình - anh ta đã hướng về Chúa Giêsu.
Anh ta đã xin được nhớ đến, và anh ta đã cảm nghiệm được lòng thương xót Chúa: "Hôm nay anh sẽ được ở cùng Tôi trên thiên đàng" (câu 43).
Vừa khi chúng ta cống hiến cho Thiên Chúa cơ hội thì Ngài nhớ đến chúng ta.
Ngài sẵn sàng xóa bỏ hoàn toàn và vĩnh viễn tội lỗi của chúng ta, vì ký ức của Ngài - không như của chúng ta - không ghi nhận sự dữ đã gây ra hay tính điểm các thứ bất công trải qua.
Thiên Chúa không có trí nhớ về tội lỗi mà chỉ nhớ đến chúng ta, nhớ từng người chúng ta, thành phần chúng ta là con cái yêu dấu của Người.
Và Ngài tin rằng bao giờ cũng có thể bắt đầu lại, để nâng bản thân chúng ta lên.
Chúng ta cũng xin được ơn có một trí nhớ cởi mở và sống động ấy. Chúng ta hãy xin ơn không bao giờ đóng cửa hòa giải và tha thứ, nhưng biết làm sao vượt trên sự dữ và những khác biệt, mở ra mọi ngõ lối khả dĩ cho niềm hy vọng.
Như Thiên Chúa tìn tưởng nơi chúng ta, một cách vô cùng ngoài bất cứ công trạng nào của chúng ta, chúng ta cũng được kêu gọi để làm thẩm thấu niềm hy vọng và cống hiến cơ hội cho người khác.
Vì, cho dù Cửa Thánh có đóng thì cửa ngõ đích thực của lòng thương xót là trái tim của Chúa Kitô bao giờ cũng vẫn rộng mở cho chúng ta. Từ cạnh sườn bị rạch toạc ra của Đấng Phục Sinh cho đến tận cùng thời gian tuôn ra lòng thương xót, ơn an ủi và niềm hy vọng.
Rất nhiều người hành hương đã băng ngang qua ngưỡng Cửa Thánh, và xa khỏi cái náo nhiệt của tin tức hằng ngày, họ đã nếm được sự thiện hảo cao cả của Chúa. Chúng ta dâng lời tạ ơn về điều ấy, khi chúng ta nhớ lại chúng ta đã lãnh nhận lòng thương xót ra sao để thương xót, để cả chúng ta nữa trở thành những dụng cụ của lòng thương xót. Chúng ta hãy cùng nhau tiến lên theo đường lối này.
Xin Đức Mẹ Diễm Phúc hỗ trợ chúng ta, Mẹ là vị cũng đứng gần Thánh giá, Mẹ là vị đã hạ sinh chúng ta ở đó như người Mẹ dịu dàng của Giáo Hội, một người Mẹ mong muốn qui tụ tất cả mọi người ở dưới áo choàng của Mẹ. Dước cây Thánh giá, Mẹ đã thấy người trộm lành được ơn tha thứ, và Mẹ đã nhận người môn đệ của Chúa Giêsu làm con Mẹ. Mẹ là Mẹ của Lòng Thương Xót, Đấng chúng ta ký thác bản thân của chúng ta: trong hết mọi hoàn cảnh chúng ta sống, với hết mọi lời cầu chúng ta nguyện, khi được nâng lên cho đôi mắt xót thương của Người đều được đáp ứng.
http://w2.vatican.va/content/francesco/en/homilies/2016/documents/papa-francesco_20161120_omelia-chiusura-giubileo.html
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và những chỗ nhấn mạnh tự ý
Vào lúc kết thúc buổi Nguyện Kinh Truyền Tin trưa ngày Chúa Nhật bế mạc Năm Thánh Thương Xót hôm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô chẳng những ngỏ lời cám ơn tất cả những ai đã góp phần vào thành quả thiêng liêng của Năm Thánh Thương Xót, cách riêng "nhiêu bệnh nhân và thành phần lão niên đã không ngừng cầu nguyện, dâng hiến khổ đau của mình cho Năm Thánh. Đặc biệt cám ơn các nữ tu dòng kín", mà còn ký ban hành Tông Thư Misericordia et Misera, một Tông Thư ngỏ cùng toàn thể Giáo Hội, kêu gọi Giáo Hội tiếp tục cảm nghiệm lòng thương xót bằng cường độ như trong Năm Thánh Thương Xóty, sẽ được ra mắt và phổ biến tại Văn phòng Báo chí của Tòa Thánh vào ngày mai, Thứ Hai 21/11/2016, Lễ Đức Mẹ Dâng Mình.

 

TN34-C114: Ánh sáng, sức mạnh và hạnh phúc.

Khi tuyên xưng Đức Kitô là vua, thì điều ấy có ý nghĩa gì? Hay nói cách khác Đức Kitô là gì đối với TN34-C114

Khi tuyên xưng Đức Kitô là vua, thì điều ấy có ý nghĩa gì? Hay nói cách khác Đức Kitô là gì đối với chúng ta?
Tôi xin trả lời:
- Trước hết Ngài là ánh sáng.
Chúng ta thường nói:
- Người là một con vật có trí khôn.
Với trí khôn, chúng ta không ngừng băn khoăn và thắt mắc, để rồi tạo được những tiến bộ trong mọi lãnh vực.
Vì thế, hai chữ “tại sao” thường được lặp đi lặp lại trên đôi môi của chúng ta, nhất là đối với những vấn đề quan trọng.
Chẳng hạn: Ai đã dựng nên tôi? Tại sao tôi lại sống trên trần gian này? Tôi từ đâu mà đến? Và tôi sẽ đi về đâu? Đâu là con đường tôi phải bức đi và đâu là những bổn phận tôi phải tuân giữ?
Nếu Đức Kitô không trả lời được cho tôi những băn khoăn và thắc mắc kể trên, thì cuộc đời tôi sẽ chìm vào trong tăm tồi, trong tuyệt vọng.
Thế nhưng, Ngài đã xác quyết:
- Thầy là đường, là sự thật và là sự sống.
Ngài không lừa dối ai. Ngài đến để tỏ lộ cho chúng ta biết những chân lý, những sự thật. Nhờ Ngài, chúng ta biết được chúng ta bởi đâu mà đến và chúng ta sẽ đi về đâu. Ngài đã chỉ cho chúng ta biết con đường và đã xác định cho chúng ta những bổn phận phải tuân giữ, nếu chúng ta muốn tiến đến với chân lý, với Nước Trời.
Vua thánh Đavít đã diễn tả niềm vui mừng và hạnh phúc của những người sống gắn bó kết hiệp với Thiên Chúa trong thánh vịnh 23 như sau:
- Chúa chăn nuôi tôi,
Tôi chẳng thiếu thốn chi.
Trên đồng cỏ xanh rì,
Ngài để tôi nằm nghỉ.
Tới nguồn nước,
Chỗ nghỉ ngơi.
Ngài hướng dẩn tôi.
Tâm hồn tôi,
Ngài lo bồi dưỡng.
Tiếp đến, Đức Kitô là sức mạnh.
Thực vậy, Chúa Giêsu không phải chỉ nói, mà Ngài còn làm gương trước cho chúng ta noi theo và bắt chước. Ngài không phải chỉ chiếu tỏa ánh sáng và truyền ban những mệnh lệnh, nhưng chính Ngài đã thực thi trước đã. Nhìn vào Ngài, chúng ta sẽ tìm thấy được niềm an ủi và sức mạnh.
Ngài không truyền cho chúng ta:
- Hãy sống hiền lành và khiêm nhường.
Nhưng Ngài đã bảo chúng ta:
- Các con hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.
Ngài cũng đã phải lần từng bước một trên con đường lên đỉnh Canvê. Ngài đã sống tinh thần nghèo khó. Ngài đã thực sự cầu nguyện, kết hiệp mật thiết với Chúa Cha. Ngài đã thực thi những hành động bác ái yêu thương trước khi truyền dạy.
Hơn thế nữa, Ngài còn ban sức mạnh để chúng ta tuân giữ những điều Ngài truyền dạy, với điều kiện là chúng ta phải gắn bó và cộng tác với Ngài.
Sau cùng, Đức Kitô còn là niềm hạnh phúc của mỗi người chúng ta.
Thực vậy, nếu chúng ta sống kết hiệp mật thiết với Ngài và chu toàn những điều Ngài mong muốn, thì định mệnh cuộc đời chúng ta sẽ được bảo đảm, như lời sách “Gương Phúc” đã viết:
- Gắn bó với Đức Kitô, chúng ta sẽ tìm thấy được niềm hạnh phúc Nước trời. Tìm thấy Đức Kitô là tìm thấy cả một kho tàng quí giá. Trái lại, mất Đức Kitô là mất tất cả.
Ngày kia, thánh Bemoit mệt mỏi vì đường xa, đã ngồi nghỉ dưới một gốc cây và dùng bữa. Bữa trưa của Ngài chỉ có bánh mì đen và nước lạnh. Giữa lúc đó có một đám người đi dự tiệc cưới trở về. Nhìn thấy thánh nhân với bữa cơm thanh đạm, họ liền tỏ lòng thương xót. Nhưng thánh nhân đã trả lời như sau:
- Không, có nhiều người còn đáng thương hơn tôi nữa. Tôi là một người bạn hữu nghĩa thiết cùng Chúa, chỉ điều này mà thôi cũng đã là làm cho tôi được hạnh phúc.
Hãy gắn bó mật thiết với Chúa, để rồi chúng ta sẽ tìm thấy hạnh phúc Nước trời, một niềm hạnh phúc tuyệt vời như lời thánh Phaolô đã diễn tả:
- Tai chưa hề nghe, mắt chưa hề thấy và trái tim chưa một lần cảm nghiệm được những gì Thiên Chúa sẽ dành cho những người trung thành phụng sự Ngài.
 
 
 

TN34-C115: Chúa Giêsu là Vua

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
 

Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo hội cử hành lễ trọng kính Chúa Kitô Vua Vũ Trụ. TN34-C115

Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo hội cử hành lễ trọng kính Chúa Kitô Vua Vũ Trụ. Đức Kitô là Chúa, là Vua chúng ta. Nhưng vương quốc của Ngài không thuộc về thế gian này. Trong năm phụng vụ chúng ta đã thấy xuất hiện các sự kiện tiên tri như sự tôn kính của các nhà đạo sĩ, xức dầu tại Bêthania, hoặc qua các dụ ngôn... xác định Đức Kitô như là "Vua", theo ý nghĩa "Thiên Sai", nghĩa là "kẻ thừa tự ngai vua Đavid, thể theo những lời hứa của các tiên tri, thừa hưởng vương quốc không bao giờ cùng tận (x. Lc 1,32-33).
Hôm nay, chúng ta cử hành với niềm vui khôn tả và quả quyết rằng Đức Giêsu là Vua. Câu hỏi được đặt ra: Vậy Ngài là Vua những gì? Câu trả lời: Đức Giêsu không là vua của những gì hết. Ngài là Vua vinh quang, Vua mọi sự. Đơn giản, Ngài là Vua, hoàn toàn là Vua. Thực tế xem ra khó chấp nhận, vì con người muốn biến Đức Giêsu trở nên trò cười khi mặc cho Ngài áo tím và đội mão gãi.
Các bản văn phụng vụ trình bày vương quốc của Đức Giêsu như một bức tranh đầy ấn tượng. Mỗi lần đọc nhấn mạnh vai trò trung tâm của Chúa Kitô. Ngài là Chúa Cứu Thế, Người đã được xức dầu (x. 1Col 1, 12-20), Ngài là Thiên Chúa duy nhất của vũ hoàn, trong đó chúng ta là anh em, Ngài là Vua khiêm nhường, luôn nhớ kẻ có tội mà phải chịu đau khổ.
Thánh giá thẳng đứng trong vinh quang. Ngai vàng, gợi lên những sự khiêu khích. Ba lần Đức Giêsu bị hỏi: "Nếu ông là Đấng Kitô" (x. Lc 23, 35-43). Mỗi nhóm cáo buộc Ngài đều hỏi về tình trạng cá nhân của chính Ngài. Các nhà lãnh đạo tôn giáo mong đợi Người Thiên Chúa tuyển chọn nên hỏi: "Nếu ông là Đấng Mê-si" (Lc 23, 35). Những tên lính bảo vệ sức mạnh của Đế chế La Mã, thách thức Ngài: "Nếu ông là vua dân Do-thái, ông hãy tự cứu mình đi"(Lc 23, 38). Một tên trôm cướp cùng bị đóng đinh cũng kêu lên trong đau đớn nhằm thoát khỏi cái chết: "Nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa" ( Lc 23, 40). Địa vị của họ khác nhau, nhưng họ lại giống nhau ở điểm thách thức Chúa: "Ông hãy tự cứu mình đi!" Như thể thách Đức
Giêsu xuống khỏi thập giá để chứng minh vương quốc của mình! Đây là cơn dám dỗ cuối cùng. Nhưng Chúa Kitô đã không đến thế gian để biểu dương sức mạnh của Ngài cho ta thấy, Ngài đến để giao hòa nhân loại với Thiên Chúa Cha và nhân loại với nhau, đồng thời ban lại cho chúng ta tự do đã bị đánh mất vì tội, nhất là trao ban cho chúng ta chính tình yêu. Khi chịu treo thên thập giá Đức Giêsu đã mạc khải vinh quang của Ngài, Ngài là Con Chiên bị sát tế để xóa tội trần gian.
Giữa những lời nhạo báng và thách thức, có một lời công nhận vương quốc của Thiên Chúa. Anh thì thầm: " Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi" (Lc 23, 42). Một tên trộm bị đóng đinh công nhận Đức Giêsu là Vua, thế là Ngài cho anh vào vương quốc của Ngài như anh xin: "Ta bảo thật ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta"(Lc 23, 42).
Vương quốc của Vua Giêsu không hão huyền, trừu tượng, vương quốc ấy có mặt ngay hôm nay, nơi Chúa Kitô hiện diện. Như vậy, bản cáo trạng chống lại Đức Giêsu viết, "Đây là Vua dân Do Thái " là thật trớ trêu, bởi từ trên thập giá vương quốc của Đức Kitô tỏa sáng vinh quang. Điều mà theo ý các kẻ thù của Người có thể là sự biện minh cho bản án của Ngài, thì trong con mắt của Cha trên trời, đó là sự công bố quyền cai trị phổ quát của Vua Giêsu. Cái chết của Ngài trên thập giá là hành động đẹp nhất chứng tỏ tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người.
"Chúng ta hãy vui mừng cảm tạ Chúa Cha, đã làm cho chúng ta trở nên xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp... trong cõi đầy ánh sáng". Cùng với Thánh Phaolô, chúng ta vui mừng hân hoan và biết ơn vì chúng ta được kêu gọi trở nên thành phần của Vương quốc Vua Kitô: "Người giải thoát ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái; trong Thánh Tử chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi" ( Cl 1, 12-20). Nhờ sự chết của Ngài, Vua Giêsu đã hòa giải tất cả mọi sinh linh; "nhờ máu Người đổ ra trên thập giá" Ngài đã đóng ấn một giao ước muôn đời. Khi phục sinh, Thiên Chúa Cha tôn phong Ngài làm Vua và là "trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại", "Người là đầu của thân thể, nghĩa là đầu Hội Thánh." Bài thánh ca được hát bởi Thánh Phaolô, kỷ niệm sự vĩ đại vô song của Chúa Kitô, và đưa chúng ta đến chiêm ngắm Thánh giá, nơi vương quyền của Chúa Giêsu Kitô được tỏ hiện.
Ai sẽ loan báo cho thế giới vương quốc của Đức Giêsu, nếu không phải là những chi thể của Thân Thể Người? Một vị vua không được thiết lập chỉ để ngưỡng mộ và tôn thờ, sứ mạng của vị vua sẽ vô hiệu, nếu đối tượng của mình không phục vụ. Câu hỏi đặt ra cho chúng ta trong ngày lễ Chúa Kitô Vua, Chúa Kitô có phải là Vua và là Chúa của đời tôi không? Ai hiển trị trong tôi, ai đặt những mục tiêu và thiết lập những ưu tiên: Chúa Kitô hay ai khác? Theo Thánh Phaolô, có hai con đường có thể để sống: "hoặc cho mình hay cho Chúa" (x. Rm 14:7-9), vậy tôi sống cho chính mình hay sống cho Chúa?
Lạy Chúa Giêsu là Vua các vua, Chúa các chúa, Vua của vũ hoàn. Chúng con cùng với muôn loại thụ tạo cung chúc tôn thờ và cảm tạ Vua Giêsu, Vua Tình Yêu. Xin cho đời chúng con thành lời ca ngợi, luôn làm theo ý Vua vũ hoàn nhiệt thành phục vụ Chúa và tha nhân. Lạy Đức Giêsu Kitô là Vua vũ trụ, mọi vinh quang và danh dự cho Thiên Chúa Cha đến muôn đời. Amen.
 
 
 

TN34-C116: Vua kỳ lạ và một thần dân kỳ thú

(Suy niệm của Lm. Anphong Nguyễn Công Minh – lấy phần chính từ cha Hàm)
 

Hôm nay Lễ Kitô Vua. Nhưng bài Tin Mừng năm C lại cho ta một cung vua khác lạ. Năm A, hoàng TN34-C116

Hôm nay Lễ Kitô Vua. Nhưng bài Tin Mừng năm C lại cho ta một cung vua khác lạ. Năm A, hoàng cung là nơi Vua phán xét: “Khi Con Người ngự đến trên mây trời…” Năm B, hoàng cung là mượn tạm dinh Philatô: “Phải tôi là Vua.” Còn năm nay, cung điện của Vua Kitô lại chỉ là 2 thanh gỗ kết hình khổ giá với hai thần dân đạo tặc hai bên.
Ta sẽ nói về một trong hai thần dân này, y là tên trộm, mà là tên trộm biết ăn năn, thậm chí ở nhiều nước đạo gốc có nơi còn thờ y như một vị thánh.
Anh ta được gọi bằng những tên khác nhau như Dismas, Demas, Dumachus. Việt phiên âm là Đích Ma. Có người kể hắn là một thứ Robin Hood của Do-thái, chuyên ăn cướp của người giàu để phân phát cho người nghèo. Nhưng chuyện rất đáng yêu kể rằng khi Chúa Giê-su còn nhỏ được gia đình đem sang Ai-cập trốn Herôđê, dọc đường bị một bọn cướp tấn công. Một thanh niên là con của thủ lãnh bọn cướp thấy con trẻ Giê-su dễ thương quá nên không nỡ ra tay, hắn tha Ngài và nói: "Hỡi con trẻ rất có phước, nếu sau này có dịp nào để thương xót tôi, thì hãy nhớ đến tôi, đừng quên giây phút này nhé!" Tên cướp đó là kẻ đã cứu Chúa Giê-su khi còn nhỏ, nay lại gặp Ngài trên thập giá tại đồi Gôn-gô-tha. Lần này thì Chúa Giê-su đã cứu lại anh ta.
Câu chuyện thực hư thế nào không ai được rõ nhưng điều rõ rệt ấy là quang cảnh đóng đinh này đã ứng nghiệm điều mà trước đó cả bảy trăm năm tiên tri I-sai-a đã tuyên sấm: "Ngài đã hiến thân chịu chết và bị liệt vào hàng phạm nhân" (53,12). Mà chẳng những trong hàng phạm nhân mà thôi, nhưng theo vị trí xếp đặt, Ngài được coi là phạm nhân thượng hạng, là xếp sòng trong bọn đầu trộm đuôi cướp nữa, nếu hai tử tội đứng bên cạnh Ngài đúng là những tên trộm cướp.
Không biết ai đã bày ra cái trò này, xếp đặt thập giá của Ngài ở giữa hai tên cướp.
- Nếu là Phi-la-tô thì quả ông quan xâm lược này muốn làm tăng vẻ khôi hài của bản án mà ông treo trên đầu "Vua Do-thái".
- Cũng có thể do các đầu mục Do-thái, theo dõi kẻ thù đến đỉnh núi Sọ, mua chuộc bọn lính sắp đặt để tăng sỉ nhục cho nạn nhân, “cho biết mặt!”
- Hay có lẽ là chính bọn lính sắp đặt như vậy vì hiển nhiên Ngài là tử tội đáng chú ý hơn cả trong bọn.
Nhưng… nếu đây là một cái gì hiểm độc về phía loài người, thì điều ti tiện trước mặt người đời, lại cao sang trước mặt Thiên Chúa. Điều mà lòng độc ác của loài người bêu xấu Ngài, thì lại tôn vinh Ngài trước mặt Thiên Chúa. Vì thế, vị trí của Ngài giữa hai tên trộm cướp đúng là địa vị của Ngài.
Bởi, từ lâu Ngài được gán cho danh hiệu "bạn của người thâu thuế và phường tội lỗi" (Mt 11,19). Giờ đây, qua hành động đóng đinh Ngài giữa hai người trộm cướp, ý tưởng ấy được thực hiện cách rõ rệt nhất. Chúa Giê-su đã đến thế gian để tự hòa mình vào đám tội nhân, Ngài đã chịu chung số phận của họ, Ngài đã sống giữa họ, và thật là thích hợp Ngài chết giữa họ. Cho đến lúc này, Ngài đang ở giữa họ. Và thái độ kỳ lạ của hai người đã bị treo hai bên Ngài, là một ứng nghiệm và và là một báo hiệu.
Ứng nghiệm điều cụ Simêon nói về Hài Nhi Giê-su trong Đền Thờ: "Con trẻ này có mệnh làm cho nhiều người trong dân vấp ngã trong khi nhiều người được giải cứu." (Lc 2,34) Và báo hiệu điều sẽ xảy ra luôn luôn sau này, một số người tin nhận Ngài và được cứu, trong lúc một số khác không tin. Lịch sử loài người luôn luôn như thế, Tin Mừng sẽ đem lại sự sống cho nhiều người, và cũng đem lại án phạt cho nhiều người. Tình trạng ấy sẽ kéo dài cho đến ngày tận cùng, Ngài sẽ ở giữa họ, kẻ ăn năn đứng một bên, bên phải, và bên trái Ngài là những kẻ không ăn năn. Mát-thêu và Lu-ca đều ghi lại: “Cả những kẻ bị đóng đinh với Ngài cũng xỉ nhục Ngài,” Lu-ca ghi rõ hơn: Kẻ bên trái mắng nhiếc, kẻ bên phải ăn năn.
Ăn năn cách nào? -Lên tiếng Bênh vực. Giữa lúc những kẻ trước đây cuồng nhiệt tung hô nay lại phản đối Ngài, giữa lúc đám môn đệ thề quyết trung tín bỏ trốn hết, thì một mình tên trộm lên tiếng bênh vực Ngài.
Nếu chàng thanh niên con của góa phụ thành Na-im, được cải tử hoàn sinh, lên tiếng tin vào quyền năng của Đấng xem ra mất hết quyền đế vương; nếu Phê-rô đã từng chứng kiến Chúa biến hình trên núi, tuyên xưng Đấng “coi vậy chứ không phải vậy”; nếu anh mù thành Giê-ri-khô đứng lên công nhận thần tính nơi Ngài …, chúng ta không ngạc nhiên. Phải, nếu một trong những người trước đây đã hưởng ân huệ của Chúa lên tiếng, có lẽ các môn đệ nhát sợ lấy lại can đảm, đám dân vô tâm sẽ tỉnh ngộ, bọn ký lục và biệt phái sẽ tin theo … Nhưng giữa lúc cái chết gần kề, giữa lúc Chúa Cứu Thế như hoàn toàn thất bại trước mặt người trần, chỉ có một người lên tiếng tin nhận Ngài, đó lại là tên trộm bị đóng đinh:
Anh thấy cây thập giá nhưng tôn thờ như ngai Vua Cả. Anh thấy người bị đóng đinh nhưng kêu cầu như Chúa Tể. Anh thấy sự sống trong cõi chết, anh thấy vinh quang trong nhục nhã … "Lạy Ngài, khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi."
Có thể đây là lần đầu tiên tên trộm cầu nguyện và có lẽ cũng là lần cuối cùng, dầu vậy Đấng đã được tiên báo "Ngài không bẻ đứt cây sậy dập gẫy, không tắt hẳn tim đèn còn khói" (Mt 12,20), lại không đáp ứng lại một niềm tin như vậy sao? Và đấng tuyên bố: "Người nào đến với Ta, chẳng bao giờ bị Ta xua đuổi" (Ga 6,37) lại đuổi xua sao? Chúa Giê-su đã giữ lời và còn giữ hơn cả điều người ta trông đợi.
Trong khi nhà cầm quyền Giê-ru-sa-lem không thể làm Ngài rời khỏi thập giá; trong lúc mọi tố cáo bất công không thắng được sự yên lặng của Ngài; trong lúc những lời gào thét "nó đã cứu được người khác, mà không cứu nổi mình" không làm Ngài hé môi …, thì Ngài nghiêng đầu về người yếu đuối cạnh Ngài, Ngài nói và cứu một tên trộm: "Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta."
Trước đây không một ai được hứa như thế, dầu người đó là Áp-ra-ham, quốc mẫu tổ phụ của Giêsu; dẫu người đó là Mô-sê, đại ngôn sứ, thủ lãnh Dân Riêng; hay Gio-an, kẻ Giêsu yêu. Ngay cả Ma-da-lê-na hay chính Đức Ma-ri-a, Mẹ Ngài cũng vậy, vậy mà, Ngài lại hứa với tên trộm, thần dân đầu tiên của Ngài trên Nước Trời.
Augustino đã tinh ý khi sánh ví: khen thay cho tên trộm này, cả một đời trộm cắp mà đến giờ chót khi ra trước toà còn trổ nghề ăn trộm được cả Nước Trời. (Không biết vào Nước Trời rồi, có ăn trộm chìa khoá của Phêrô để mở cửa thiên đàng cho đồng nghiệp bên trái nhiếc mắng Chúa hay không? Biết đâu!
Có một người ăn xin nọ ngày kia gặp một hiền sĩ ở dọc đường, ông ta đã chạy lại van xin hiền sĩ bố thí cho mình. Nhà hiền sĩ đã từ chối và cứ đi tiếp con đường ông đang đi. Người ăn xin vẫn tiếp tục đuổi theo, miệng không ngớt xin bố thí. Ông ta đã theo nhà hiền triết ra đến tận đầu phố, cuối cùng nhà hiền triết tuyệt vọng, dừng lại và nói:
- Được rồi, ta sẽ cho ngươi tiền, nhưng với điều kiện: trong hai con mắt của ta có một con mắt thủy tinh, ngươi hãy nói nó là mắt nào. Nếu nói đúng ngươi sẽ có tất cả những gì ta có.
Người ăn xin nhìn ông chăm chú, cuối cùng nghiêm giọng nói:
- Thưa thầy, con mắt trái là thủy tinh ạ.
Hiền sĩ kinh ngạc kêu lên:
- Hãy nói làm sao ngươi biết được điều đó. Con mắt đó do một người thợ giỏi nhất thế gian này làm ra, không thể nào phân biệt được mắt nào của ta là mắt thật, mắt nào là mắt thủy tinh?
- Thưa thầy, vì -người ăn xin chậm rãi đáp- mắt phải của thầy ánh lên lòng thương xót.
Vâng có lẽ người ăn trộm bên phải cây Thánh giá của Chúa Giêsu cũng có được con mắt phải “ánh lên lòng thương xót.” Chàng thương xót cho tử tội vô tội Giêsu, nên đã gặp được cặp mắt giàu lòng thương xót của Vua Giêsu bị xét là tử tội.
Tin giờ chót tôi mới nhận được qua email từ Giêsu.net, là trong vương quốc của Vua Giêsu, chỉ có những người có cặp mắt ánh lên lòng thương xót mới vào được.
Bạn muốn vào, xin hãy ánh lên lòng xót thương.

 

TN34-C117: Vị Vua trên Thập giá

(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Hữu An)
 

Năm phụng vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập thể và kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức TN34-C117

Năm phụng vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Nhập thể và kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức Kitô. Đặt lễ Chúa Kitô Vua trong Chúa nhật cuối cùng năm phụng vụ, Giáo Hội nhắc nhở rằng, Đức Kitô chính là Vua của vũ trụ, Ngài là Chủ của thời gian, Chủ của lịch sử nhân loại và là Chủ của lịch sử mỗi người chúng ta. Chúa Kitô vượt trên thời gian để mãi mãi là vị Vua vĩnh cửu.Chúa Giêsu đăng quang làm Vua khi bị đóng đinh trên Thập giá. Ngày lễ hôm nay, Giáo Hội công bố bài Tin Mừng Chúa chịu đóng đinh. Giây phút Chúa được tuyên xưng là Vua chính là khi bị treo trên Thập giá, đầu gục xuống. Thật lạ lùng! Chính vào lúc hấp hối, mọi sự tưởng như sụp đổ, Vị Vua Bị Đóng Đinh lại hé lộ vương quyền của mình cho anh trộm lành có lòng thống hối, tin tưởng: " Hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng" (Lc 23,43). Người trộm bên hữu đã nhận ra vị vua tình yêu, nên anh đã xin với Ngài nhớ đến anh khi vào vương quốc của Ngài.Anh đã tuyên xưng vị vua tình yêu chiến thắng.Tình yêu đã chiến thắng mọi trở ngại: từ những lời thách thức của những người đòi một vị vua uy quyền đến cái chết khổ đau. Trên Thập giá, Vua Giêsu đã mang lấy tất cả tội lỗi nhân loại, gánh chịu mọi khổ đau, nhục nhã. Chính tình yêu chiến thắng của Vua Giêsu đã cứu chuộc nhân loại, đã nối kết con người lại với Thiên Chúa như thánh Phaolô đã xác quyết: "Nhờ máu Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã giao hòa với mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời"(Cl 1,20).
Trong tất cả những gì đã viết về Chúa Kitô, có lời nào bi đát hơn lời của Thánh Gioan ở lời tựa sách Tin Mừng: "Ngài đã đến nơi nhà Ngài mà người nhà đã không tiếp nhận" (Ga 1,11). Bêlem không có chỗ cho Ngài sinh hạ, Nadarét không có chỗ cho Ngài sinh sống, Giêrusalem không có chỗ cho Ngài chết.
Bốn mươi ngày sau khi Ngài sinh hạ, cụ già Simêon đã nói với Mẹ Maria: "Ngài sẽ là dấu gợi lên chống đối"(Lc 2,34). Đó là một kiểu nói khác chứng thực điều Thánh Gioan đã nói. Chưa được hai tuổi, Ngài đã bị binh lính Hêrôđê lùng sục để sát hại. Suốt những năm tháng rao giảng Tin Mừng, Ngài cũng bị hiểu lầm, bị ghen ghét, bị kết án loại trừ và bị đóng đinh khổ giá.
Chúa Giêsu Kitô đã chọn Thập giá làm phương thế thực hiện Ơn Cứu Rỗi. Thập giá được tạo nên do hai thanh gỗ, một nằm và một đứng. Thanh nằm tượng trưng cho sự chết và sự hận thù ghen ghét của thế gian; thanh đứng tượng trưng cho tình yêu và sự sống vươn cao. Hai thanh bắc ngang nhau tượng trưng cho sự tương phản giữa sự sống và sự chết; giữa vui và buồn; cười và khóc; hận thù và thứ tha; ghen ghét và yêu thương; giữa ý muốn của con người và ý muốn của Thiên Chúa. Đặt thanh sự sống và tình yêu lên thanh sự chết và oán thù là cách duy nhất để làm nên một thập giá.
Chúa Kitô lên Ngôi Vua vũ trụ trên Thập giá để thiết lập vương quyền Nước Thiên Chúa. Vì vậy Giáo hội đã chọn bài Tin Mừng Đức Giêsu bị đóng đinh trên Thập giá giữa hai người trộm cướp cho ngày lễ hôm nay.
Nói đến vua, chúng ta thường nghĩ đến con người uy quyền, đầu đội vương miện, mình mặc cẩm bào, ngồi trên ngai vàng xét xử trăm họ.Ngày nay, người ta còn nói đến vua xe hơi, vua bóng đá, vua dầu lửa, vua vi tính... Đó là những thần tượng giàu có, sang trọng của con người thời đại. Chúa Giêsu là vua không phải theo kiểu trần thế, vương quyền của Ngài không theo kiểu chính trị. Chúa Giêsu là vua sự thật, vua tình yêu, vua niềm tin.Vương quyền Chúa Giêsu là vương quyền yêu thương, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.
Bài Tin Mừng đưa chúng ta về với Chúa Giêsu trên Thập giá.Vị Vua bị lăng nhục, các thủ lãnh thế gian cười nhạo, lính tráng chế diễu, một trong hai kẻ gian phi cũng tranh thủ nhục mạ. Những lời chế diễu cũng là những thách thức và cám dỗ gay gắt. Chẳng lúc nào Chúa làm Vua rõ ràng bằng lúc này. Tấm bảng trên Thập giá ghi bằng tiếng Hípri, Latinh và Hylạp chữ INRI – Jesus Nazarenus Rex Judaeorum – Giêsu Nadarét là Vua dân Do Thái.
Nhưng kiểu làm Vua của Ngài thật khác thường: không có vương miện mà chỉ có vòng gai, không có cẩm bào mà chỉ có trần trụi nhơ nhuốc, không có câu tán tụng mà chỉ có lời nhạo báng khinh chê. Bị treo trên Thập giá, Đức Giêsu nghe những lời mời mọc rất ngọt ngào và tinh vi như các cơn cám dỗ của Satan buổi đầu: "Nếu ông là Đức Kitô thì hãy cứu lấy mình.Hãy xuống khỏi thập giá" (Mt 27,40). Chỉ cần xuống khỏi Thập giá là chinh phục được mọi người, từ giới lãnh đạo đến những người chưa tin.Chỉ cần xuống khỏi Thập giá là có ngay được một thành công rực rỡ. Nhưng Đức Giêsu đã không xuống khỏi Thập giá. Cứu lấy mình là điều Ngài chẳng hề nghĩ đến. Chính vì Ngài là Con của Chúa Cha, nên Ngài không tự ý xuống khỏi Thập giá, như xưa Ngài đã từ chối nhảy xuống từ nóc Đền Thờ.
Đức Giêsu không muốn chúng ta tin Ngài vì những màn trình diễn ngoạn mục. Ngài muốn chúng ta tin, vì Ngài đã buông mình cho Cha, đón nhận cái chết với niềm vâng phục tín thác.
Mừng Lễ Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, người Kitô hữu muốn khước từ những thần tượng trần thế, muốn để Ngài làm vua của lòng mình.Người Kitô hữu muốn đưa Ngài đi vào mọi lãnh vực của cuộc sống: văn chương, khoa học nghệ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội...để xây đắp hoà bình và tình thương cho trần thế.
Vương quốc Chúa Giêsu không có sức mạnh của vũ khí và quân đội mà chỉ có sức mạnh của yêu thương và tha thứ, vương quốc ấy không có tên trên bản đồ thế giới, nhưng lại ở trong trái tim con người. Chỉ những ai tin và sống trong tình thương Thiên Chúa mới thuộc vương quốc của Ngài.
Chúa Giêsu là Vua Tình Yêu. Chính tình yêu là sức mạnh của Ngài và cũng chính tình yêu ấy đã khiến cho Ngài tuyên bố: "Khi nào Ta chịu treo trên thập giá, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta".
Qua hơn 2000 năm, lời ấy vẫn mãi được ứng nghiệm. Ngoài Đức Kitô ra không có một vị vua nào trên trần gian này được nhân loại chọn làm trọng tâm của lịch sử. Chấp nhận hay không chấp nhận, tin hay không tin, ai cũng phải lấy ngày Giáng Sinh của Đức Giêsu làm cột mốc để tính thời gian. Có một thời gian trước Đức Kitô và có một thời gian sau Đức Kitô và dù có tránh tên của Ngài để nói trước hay sau Công nguyên thì con người nói như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II: "Con người sẽ không bao giờ loại bỏ Đức Kitô ra khỏi lịch sử của mình". Đức Kitô đang lôi kéo mọi người về với Ngài, Ngài đang đồng hành trong lịch sử nhân loại và trong cuộc đời của mỗi người. Cuộc đời này có giá trị và ý nghĩa hay không là tùy thuộc ở thái độ tiếp nhận của mỗi người đối với Đức Kitô.
Tiếp nhận Ngài và tuyên xưng Ngài là Vua chính là mặc lấy thái độ tín thác của kẻ trộm lành, sẵn sàng trao phó tất cả cuộc đời trong tay Ngài và bước đi theo Ngài. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là đi theo con đường phục vụ cho đến cùng. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là cùng với Ngài xây dựng vương quốc của Ngài ngay trên trần gian này, vương quốc của huynh đệ, vương quốc của yêu thương, vương quốc của công lý và hòa bình. Và mỗi một lần chúng ta xây dựng vương quốc ấy bằng một cử chỉ yêu thương thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ nghe được lời hứa của Ngài cho người trộm lành: "Hôm nay đây con sẽ ở cùng Ta trong vương quốc của Ta".
Mỗi người tự xét mình xem Đức Giêsu đã thật sự là Vua của chính bản thân chưa? Ngài đã chiếm trọn vẹn trái tim ta chưa, đã thật sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của ta chưa? Ngài là vua của tâm hồn ta, hay là tiền bạc, quyền lực, danh vọng, địa vị, lạc thú, hoặc chính bản thân ta? "Xin nhớ đến con", chúng ta phải lập đi lập lại lời ấy mỗi ngày trong suốt cuộc sống mình.
Lạy Chúa Giêsu, Vua Tình yêu, Chúa đã yêu thế giới đến nỗi đã ban chính sự sống mình, xin Chúa chiếm trọn con người chúng con từ tư tưởng, lời nói đến việc làm, để chúng con không còn thuộc về thế giới của bóng tối, của tội lỗi, nhưng thuộc về vương quyền của Chúa, là vương quyền của sự sống và chân lý, của ân sủng và thánh thiện, của công lý và hoà bình. Amen.
 
 
 

TN34-C118: Chú giải của Lm Fx. Vũ Phan Long

ĐỨC VUA CŨNG LÀ ĐẤNG CỨU THẾ CHỊU ĐÓNG ĐINH
1.- Ngữ cảnh
 

Đây là đoạn văn trích từ bài tường thuật của tác giả Luca về cuộc Thương Khó của Đức Giêsu. Trong TN34-C118

Đây là đoạn văn trích từ bài tường thuật của tác giả Luca về cuộc Thương Khó của Đức Giêsu. Trong bản văn này, Đức Giêsu đã đến điểm chung kết số phận Người; cuộc "xuất hành" của Người (9,31) đi từ cuộc đời này đã đưa Người đến chặng cuối này. Người đã bị đóng đinh tại nơi gọi là "Cái Sọ" giữa hai tên gian phi (23,33). "Quyền lực tối tăm" (22,53) đã khép lại trên Người. Bây giờ, đến lúc các thủ lãnh và lính Rôma sỉ vả Người. Nhưng cũng trong tình cảnh này, Người được chính thức gọi là "vua dân Do Thái".
Tiếp nối cảnh tang thương này, là một bản văn chỉ có trong TM III: một tên gian phi nhục mạ Người, nhưng tên kia đã mắng lại vì nhận biết sự vô tội của Đức Giêsu và xin Người nhớ đến anh. Đức Giêsu đã ban một lời hứa thật đẹp.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Dân chúng, các thủ lãnh và lính tráng đối với Đức Giêsu (23,35-38);
2) Hai tên gian phi đối với Đức Giêsu (23,39-43).
3.- Vài điểm chú giải
- Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo (35): Theo thói quen của ngài, tác giả Lc không trích nguyên văn bản văn Kinh Thánh, nhưng bản văn thánh vẫn bàng bạc trong bài tường thuật. Ở c. 35 này, chúng ta có thể nhận ra Tv 22,8 LXX ("Thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai" [Bd CGKPV]): "Hễ thấy (theôrountes) tôi là họ nhạo cười (exemyktêrisan), họ trề môi, họ lắc đầu" (NTT), vì Lc 23,35 dùng lại hai động từ này: "Dân chúng đứng nhìn (theôrôn), còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo (exemyktêrizon)". Bằng cách này, tác giả cho thấy là quang cảnh này lại hoàn tất Kinh Thánh cách bí nhiệm.
- Đấng Kitô của Thiên Chúa, người được Chúa tuyển chọn (35): "Đấng Kitô của Thiên Chúa" là danh hiệu vương giả; "người được Chúa tuyển chọn" là danh hiệu của Đấng Mêsia.
- đưa giấm cho Người uống (36): Oxos (do tính từ oxys, "cay") được dùng trong vùng đông Địa Trung Hải thời cổ. Đây là một thứ rượu chua, hoặc cay, khác với oinos là rượu ngọt. Ta không rõ vì sao người ta lại cho Đức Giêsu uống thứ rượu này, chỉ biết là Lc đã bỏ đi thứ "rượu pha mộc dược" nhằm giảm đau (esmyrnismenon oinon) trong Mt 15,23.
- Nếu ông là vua dân Do Thái (37): Câu này gợi ý tới lời quan Philatô hỏi Đức Giêsu (23,3) cũng như tới tấm biển ghi bản án trên thập giá (23,38).
- Chúng ta chịu như thế này là đích đáng (41): Tên gian phi thứ hai nhìn nhận tội mình, và như thế là mặc nhiên diễn tả tâm tình metanoia (hoán cải) trước nhan Thiên Chúa.
- hôm nay, anh sẽ được ở với tôi (43): "Hôm nay" đây không phải là "ngày đóng đinh theo lịch", nhưng là ngày "ơn cứu độ thiên sai được ban", đặc biệt nhờ cái chết của Đức Giêsu.
- thiên đàng (43): Danh từ Hy Lạp paradeisos lấy từ tiếng Ba Tư cổ (pairidaêza) được dùng ba lần trong Kinh Thánh với nghĩa là một khu vườn có cây cối (Dc 4,13; Nkm 2,8; Gv 2,5). Bản LXX đã dịch "khu vườn" ở Êđen là paradeisos (St 2,8.9.210.15.16; 3,1…). Người Do Thái diễn tả thế giới bên kia bằng những công thức liên hệ đến không gian: "sheol" hoặc nơi cư ngụ của tất cả những người đã chết, "lòng Abraham" hoặc "thiên đàng", là nơi mà những người công chính quây quần quanh các tổ phụ mà chờ đợi được nhận vinh quang trọn vẹn vào lúc tận thế.
4.- Ý nghĩa của bản văn
Vào lúc Đức Giêsu chào đời, thần sứ Chúa đã loan báo: "Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa" (Lc 2,11). Như thế, ngay từ khi mới xuất hiện, Đức Giêsu đã có một nhiệm vụ lớn lao. Ngay từ đầu, câu hỏi này đã được nêu ra: Đức Giêsu sẽ thực hiện nhiệm vụ này như thế nào? Người có ở ngang tầm với mọi tình cảnh bần khốn của con người chăng? Phải chăng Người là Đức Kitô, là Đức Vua vĩnh viễn được Thiên Chúa sai phái đến, để đưa lại ơn cứu độ trọn vẹn?
Câu hỏi này được đặt ra hết sức trầm trọng sau khi Đức Giêsu bị đóng đinh, không phải là đặt ra trên bàn giấy, trong cuộc tranh luận, nhưng được ném ra cho Đức Giêsu đang ở trên thập giá, giữa hai tên gian phi. Toàn bản văn được đặt dưới dấu chỉ là "đức vua", có khi là đối tượng cho người ta mỉa mai (cc. 35-39), có khi là đối tượng cho người ta tin tưởng để rồi được ban thưởng (cc. 40-43).
* Dân chúng, các thủ lãnh và lính tráng đối với Đức Giêsu (35-38)
Trước tiên, có đoàn dân chúng. Họ có vẻ không hiểu những gì đang xảy ra. Rất có thể họ đang tự hỏi làm thế nào mà con người đã không kháng cư lại cái chết lại có thể là đức vua bao đời mong đợi và nếu Người là vị vua ấy, tại sao Thiên Chúa không cứu Người? Chúng ta biết tác giả Lc vẫn có thiện cảm với những người nghèo nhất, những người cùng rốt. Ngài cho thấy dân chúng đứng lặng thinh và cho biết rằng họ không chịu trách nhiệm về cái chết của Đức Giêsu. Một vài câu sau, ngài sẽ nhận xét: "Toàn thể dân chúng đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xảy ra, đều đấm ngực trở về" (c. 48). Những con người này có thể đại diện cho tất cả những người có thiện chí đang muốn hiểu được chương trình của Thiên Chúa, nhưng không thể được, vì những người có thể soi sáng cho họ đều mù quáng và không ý thức về điều dữ họ đang làm.
Dưới chân thập giá, cũng có các nhà lãnh đạo, các đối thủ của Đức Giêsu, những người chịu trách nhiệm về cái chết của Người. Bây giờ họ chỉ còn có thể chế nhạo Người về biết bao tự phụ và điên rồ mà Người đã chứng tỏ trước đây thôi. Một kẻ đã bị buộc phải đi đến thập giá và bị người ta làm cho mình tất cả những gì mình không muốn, có thể nào lại là Đức Vua Cứu thế được Thiên Chúa gửi đến? Đáng giá gì một Đức Kitô mà đến việc cứu chính mình khỏi chết cũng không làm nổi? Nếu ý đồ của hắn ta là thật, hắn chỉ việc chứng minh ngay bây giờ đi!
Câu nói chế nhạo sau đây trở đi trở lại như một điệp khúc: "Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi"; "Nếu ông là Đấng Kitô thì hãy chứng tỏ sức mạnh của mình đi!". Các lời này, các thủ lãnh nói ra để sỉ vả Người. Thật ra, khi vừa bắt đầu sứ vụ, Đức Giêsu đã bị Satan cám dỗ như thế (4,3), rồi tại Nadarét, Người cũng đã bị yêu cầu như vậy (4,23); nay là tại chặng chót của hành trình trần thế.
Còn một nhóm thứ ba có mặt là toán lính. Họ cũng là những người nghèo, nên vì một ít tiền bạc, có thể dùng vũ lực để áp đảo những người có lối ăn nói, thói tục và tôn giáo khác họ. Họ có tội, nhưng họ cũng là nạn nhân của sự điên rồ của các sĩ quan của họ; họ phải vâng lệnh. Họ đóng kịch như dâng rượu lên đức vua, để chế nhạo Người. Ngay cả tấm biển ghi bản án, "Đây là vua dân Do Thái", thật ra là một cái nhãn hiệu đầy mỉa mai do quan Philatô tạo ra (x. Ga 19,15.19.22). Tên gian phi thứ nhất cũng yêu cầu được cứu với giọng cay độc. Thập giá đặt một dấu chấm hỏi to lớn trên tất cả công trình trước đây của Đức Giêsu. Thập giá dường như đã bác bỏ cao vọng của Người. Một con người đã bị đóng cứng trên thập giá và sắp chết thì còn có thể giúp đỡ ai? Trong bầu khí đen tối này, chi tiết: "Toàn thể dân chúng đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xảy ra, đều đấm ngực trở về" (c. 48), là chi tiết đầy an ủi và hy vọng.
Trước tất cả những lời sỉ nhục và thách thức đó, Đức Giêsu không trả lời một tiếng nào.
* Hai tên gian phi đối với Đức Giêsu (39-43)
Một tên gian phi cũng cùng với tập thể kia hòa lời mỉa mai sỉ nhục Đức Giêsu. Thế nhưng tên gian phi thứ hai lại trách bạn mình. Anh nhìn nhận tội lỗi mình và nhìn nhận cái chết thập giá dành cho mình là xứng đáng, nhưng anh tuyên bố Đức Giêsu vô tội. Chẳng những thế, anh còn công nhận rằng con người bị đóng đinh và bị chế giễu này, con người không xuống khỏi thập giá dù bị thách thức, chính là Đức Vua Cứu thế. Anh đã diễn tả lòng tin vào Đức Giêsu như Đấng Mêsia vương giả bằng lời thỉnh cầu: "Khi vào Nước của Ngài, xin Ngài nhớ đến tôi"; lòng tin này được bày tỏ với một tình yêu đặc biệt qua lời kêu cầu rất thân thương: "Giêsu ơi!". Anh ta không xin Đức Giêsu cứu cho khỏi chết, vì anh chấp nhận cái chết như là hình phạt đích đáng. Nhưng anh xác tín rằng Đức Giêsu không chấm dứt cuộc đời với cái chết, mà qua cái chết, Người sẽ đi vào trong vương quốc Người. Anh tin rằng Đức Giêsu cứu người ta không phải chỉ là khỏi cái chết, nhưng là đưa sang bên kia cái chết. Như thế, câu viết trên bản án đầy vẻ bôi bác, "Đây là vua dân Do Thái", lại đạt được nội dung đích thực: Đức Giêsu đúng là Vua Cứu thế; Người đi vào vương quốc của Người và đưa vào đó tất cả những ai tín thác nơi Người.
Với anh gian phi này, Đức Giêsu trả lời: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng". Qua câu nói này, Người cho hiểu rằng, với cái chết, Người sẽ đi vào trong sự hiệp thông viên mãn với Thiên Chúa; nhưng cũng cho hiểu rằng chính Người quyết định ai sẽ vào đó với Người: chính Người bố trí để đưa người ta đi vào hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa.
+ Kết luận
Tất cả những điều xảy ra trên Núi Sọ hôm ấy có thể được nhìn theo theo nhiều quan điểm: đối với các thủ lãnh, đây là một thành công vì họ đã trừ khử được một kẻ lâu nay cứ ngáng đường họ. Đối với dân chúng, dường như họ còn chờ đợi để hiểu rõ biến cố này hơn. Nhưng đối với tác giả Lc khi suy gẫm về câu chuyện này, thì đây là chương trình của Thiên Chúa được ghi trong Kinh Thánh nay đã hoàn tất.
Ngoài ra, tư cách "Vua" của Đức Giêsu, điều mà các thủ lãnh và lính tráng đưa ra làm trò cười bởi vì họ chỉ đầy ứ sự căm hờn và mỉa mai, lại đã được khẳng định tích cực khi người gian phi thứ hai lấy đức tin nhìn nhận Người và được Người hứa cho vào thiên đàng, "Nước của Ngài". Cho đến chết, Người vẫn là Đấng cứu độ những người tội lỗi.
Chúng ta ghi nhận trong mỗi phân đoạn có một cảnh đối lập:
- Trong phân đoạn 1: Trong khi dân chúng đứng nhìn (rồi họ sẽ hoán cải: c. 38), các thủ lãnh và lính tráng lại chế giễu Đức Giêsu;
- Trong phân đoạn 2: Trong khi tên gian phi thứ nhất nhục mạ Người, tên gian phi thứ hai lại tin tưởng trao phó cuộc đời cho Người.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Ra sức làm một hành vi vĩ đại, thì đã chứng tỏ mình đáng được nể trọng. Nhưng im lặng thản nhiên, khi bị người ta khinh bỉ, sỉ nhục, bôi nhọ, thì càng chứng tỏ mình có tâm hồn cao thượng và đáng nể trọng hơn. Đức Giêsu đã chứng tỏ như thế, nhất là khi Người lại là chính Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa, và các kẻ đang nhao nhao sỉ nhục Người chỉ là những thọ tạo của Người. Đấy là bài học cho các Kitô hữu mỗi khi cảm thấy mình không được tôn trọng đủ.
2. Bản văn nói lên sự mỉa mai của loài người trước Đức Giêsu bị đóng đinh, nhưng cũng cho thấy có sự mỉa mai của Thiên Chúa đối với sự "khôn ngoan ranh mãnh" của người đời: Chính khi họ tưởng họ thắng được Thiên Chúa thì họ lại thua vĩnh viễn; chính khi công trình cứu độ có vẻ thất bại, thì lại thành công mỹ mãn.
3. TM Luca ghi lại biết bao người đã tin tưởng đến với Đức Giêsu và đã trải nghiệm sự giúp đỡ và ơn cứu độ của Người. Người thường bảo họ: "Đức tin của con đã cứu con" (7,50; 8,48; 17,19; 18,42). Cũng như người phụ nữ tội lỗi và như Dakêu, có những người đã đến với Người từ tình trạng bị đẩy ra bên lề và đã được Người ban ơn hoán cải và ơn cứu độ. Anh gian phi hoán cải là kết tinh của công trình cứu chữa này. Anh ở trong tình trạng bị loại trừ tuyệt đối, anh nhìn nhận mình đáng phải chết đóng đinh, nhưng anh cũng xứng đáng được Đức Giêsu áp dụng câu nói: "Đức tin của anh đã cứu anh". Anh đã tin vào Đức Giêsu, một con người bị đóng đinh như anh. Do đó, anh đã được ban cho ơn cứu độ toàn vẹn.
4. Đức Giêsu chịu đóng đinh là để cho thấy rằng Người không phải là một Đức Vua Cứu thế sẽ đảm bảo cho họ có sự sung túc trần thế. Người đã không cứu chính mình khỏi chết, thì Người cũng không gìn giữ chúng ta khỏi bệnh tật và cái chết. Quyền lực của Người không nhắm đến đời sống thoải mái trần tục của chúng ta, nhưng nhắm đến đời sống của chúng ta với Thiên Chúa. Ai tìm sự hiệp thông với Thiên Chúa, và biết nhờ Đức Giêsu, Đức Giêsu sẽ cứu độ người ấy, cho dù người ấy đến với Người như một tên gian phi.
 
 
 

TN34-C119: Đức Giêsu Vua Tình Yêu

(Suy niệm của Lm Nguyễn Hồng Giáo)
 

Năm phụng vụ kết thúc với lễ Đức Kitô Vua vũ trụ. Nhưng Chúa Kitô làm vua như thế nào? Vương TN34-C119

Năm phụng vụ kết thúc với lễ Đức Kitô Vua vũ trụ. Nhưng Chúa Kitô làm vua như thế nào? Vương quốc Người ở đâu?
Trong suốt cuộc đời của Người, Chúa Giêsu chưa hề một lần ngồi trên ngai vàng. Người không hề làm vua một quốc gia hay một mảnh đất nào, dù là như một ông vua lưu vong. Có một lần đám đông dân chúng phấn khởi vì Người đã làm phép lạ cho họ ăn uống no nê, đã muốn tôn Người làm vua nhưng Người đã trốn khỏi họ. Cũng có lần người ta gọi Người là vua dân Do Thái nhưng là để nhạo báng Người. Lúc đó Người chỉ là một tên tử tội. Bọn quân lính đặt Người ngồi lên ghế, khoác cho Người chiếc cẩm bào là tấm áo choàng đỏ, đặt lên đầu Người một vòng gai như vương miện và bắt cầm cây sậy làm phủ việt, rồi họ quỳ gối trước mặt Người mà nhạo rằng: "Vạn tuế Đức Vua dân Do Thái!" (x. Mt 27, 27-29) Trước lời vặn hỏi của quan tổng trấn Philatô, Đức Giêsu đã nhận mình là vua, nhưng để tránh mọi ngộ nhận, Người tuyên bố: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. " (Ga 18, 36). Nhưng trong sách Tin Mừng của thánh Matthêu và thánh Maccô, tước hiệu "vua dân Do Thái" chính là một lý do người ta trưng ra để kết án Chúa Giêsu.
Cuộc đời trần thế của Đức Giêsu đã chấm dứt trên thập giá. Bài Tin Mừng Lc 23, 35-43 trong ngày lễ năm C giới thiệu Chúa Kitô Vua của chúng ta đang bị đóng đinh giữa hai tên trộm cướp. Các đối thủ của Người muốn nói gì qua cách hành xử này thì đã quá rõ. "Hắn ta xưng mình là vua, nhưng vua cái nỗi gì, chỉ là một tên bịp bợm không hơn không kém, chỉ đáng chết như một tên gian phi mà thôi. "
Chọn đoạn Tin Mừng này mà đọc trong ngày lễ Chúa Kitô Vua, thật cũng lạ thường. Nhưng chính cái lạ thường đó lại giúp ta hiểu đúng, hiểu rõ hơn Chúa Giêsu làm vua như thế nào và Nước của Người là gì?
Trên thập giá, chính Chúa đã phong thánh cho một trong hai tên cướp bị đóng đinh cùng với Người. Anh ta đã làm gì mà được phong thánh mau lẹ vậy? Anh thật lòng nhận mình đã lầm đường lạc lối và nhìn nhận Đức Giêsu là Cứu Chúa, là Chúa cứu chuộc. Anh tin vào ơn cứu rỗi do Người mang đến. Anh phó mình cho Đức Kitô Vua Tình Thương: "Lạy Ngài, khi vào Nước Ngài, xin nhớ đến tôi!" Và Đức Giêsu đã nhận lời cầu xin của anh: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng. " Làm thánh đơn giản thật! Tên cướp sám hối đã tuyên xưng Đức Giêsu có một Nước, một Vương Quốc. Đức Giêsu xác nhận điều đó là đúng và tuyên bố Người có quyền đưa anh ta vào vương quốc của mình.
Vậy Vương Quốc của Chúa Giêsu là vương quốc tình yêu, quyền hành của Người cũng là quyền hành của tình yêu, dùng để cứu độ con người.
Làm vua tình yêu như thế, tất nhiên Chúa Giêsu đã không ngồi trên ngai vàng, đã không có dinh thự lâu đài, không có ngân hàng hay kho báu, không có quân đội chinh nam dẹp bắc..., Người không tìm kiếm thế lực, không thống trị ai, cũng như không có tôi tớ ra vào phục dịch... nhưng trái lại đã hạ mình làm tôi tớ phục vụ mọi người và hy sinh tính mạng vì hạnh phúc nọi người.
Chúa Giêsu làm vua và thống trị bằng một cuộc đời hy sinh từ bỏ, và bằng cái chết đẫm máu trên thập giá. Chính từ cái chết đó đã phát sinh sự sống. Người đã thực hiện điều Người không ngừng dạy bảo: "Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của kẻ đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình" (Ga 15, 13). Và Người cũng đòi hỏi các môn đệ mình: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả thực, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy" (Mt16, 25)
Phục sinh sẽ là tột đỉnh cuộc đời Chúa Giêsu và là sự thành tựu của công trình cứu thế Người thực hiện. Tuy nhiên đường dẫn tới phục sinh không phải là một đại lộ thênh thang mà là con đường thập giá cam go. Người tiến tới vinh quang theo con đường tự hiến, liều mấy mạng sống mình vì tình yêu. Phục sinh là cùng đích, còn thập giá là con đường dẫn tới đích. Nhưng linh hồn của thập giá là tình yêu. Thiếu tình yêu, thập giá (tức là đau khổ, hy sinh và cái chết) sẽ trở nên không những là nặng nề mà còn vô nghĩavà vô lý. Chúa Giêsu đã thiết lập vương quốc của mình bằng một cái chết-vì-tình-yêu. Sống chính là chết vì tình yêu, và thống trị là hạ mình phục vụ cho đến chết vì sự sống của kẻ khác.
Phải chăng lý tưởng sống đó hoàn toàn đi ngược với nền văn minh hiện đại?

 

TN34-C120: Suy niệm của Andre Seve

Lễ Chúa Kitô Vua (Lc 23, 35-43)
 

Vương quyền của Chúa Kitô là một dữ kiện của Tin Mừng, nhưng không dễ gì thấy được điều mà TN34-C120

Vương quyền của Chúa Kitô là một dữ kiện của Tin Mừng, nhưng không dễ gì thấy được điều mà vương quyền này mang lại cho cuộc sống chúng ta ngày nay. Chúa Giêsu có thể là vua của chúng ta theo nghĩa nào?
Chúng ta hãy khởi đi từ khái niện vương quyền: vương quyền này được làm cho rõ nét bằng mối liên quan của nó với thực tại chính trị, nghĩa là với một quyền lực trên cuộc sống tập thể. Một ông vua tạo ra hạnh phúc hoặc bất hạnh cho thần dân do nền chính trị tốt hay xấu của ông. Chúa Giêsu vua có một nền chính trị hay không? Một số người nghĩ rằng người ta có thể tìm thấy tất cả các yếu tố đó trong Tin mừng. Trong khi áp dụng các yếu tố đó thì người ta sẽ thấy Chúa Giêsu là một vị vua.
Trong thực tế, điều này đã không diễn ra xuôi chảy. Vào thời Trung Cổ chẳng hạn, Giáo hội đã nghĩ rằng Chúa Kitô có thể thực thi quyền bính qua Giáo Hội. Điều này đã làm cho Giáo Hội dấn sâu vào các hoạt động trấn áp và đàn áp. Đàn áp nhân danh Chúa Kitô, loại trừ nhân danh Chúa Kitô, đây là những điều ngày nay có vẻ không thể tưởng tượng được. Sau đó, Giáo Hội gắn bó khá chặt chẽ với các chế độ bảo thủ. Hiện nay, một số Kitô hữu muốn liên kết Chúa Giêsu và Tin mừng với những ý thức hệ tả khuynh.
Nhưng, đối với phần lớn các Kitô hữu, Tin mừng không liên quan gì đến chính trị cả. Chúa Giêsu là vua chăng? Không có vấn đề gì cả! Chỉ có vấn đề các “con tìm”, quan hệ rất cá nhân và rất riêng tư với Chúa Giêsu mà thôi. Chúng ta hãy để cái chính trị xấu xa, do bẩn cho “những người khác”. Mặc kệ nếu những cơ cấu tập thể làm cho nhiều người trong các anh em của chúng ta bất hạnh, còn chúng ta, chúng ta hát những bài thánh ca và cùng nhau đọc những bài kinh đẹp đẽ.
Trong khi giản lược hóa đến cùng cực, chúng ta thấy hai khuynh hướng trái ngược nhau: gán Chúa Giêsu vào một nền chính trị nào đó, hoặc tách Ngài ra khỏi mọi nền chính trị. Chúng ta có thể thoát ra khỏi thế phải chọn giữa đôi ngả này hay không? Tôi nghĩ là có thể được trong mức độ chúng ta thấm nhuần Bát Phúc, hiến chương “chính trị” của Chúa Giêsu: “Khó nghèo còn hơn là giàu có mà ích kỷ và bóc lột những người nghèo.”
-Các chính trị gia sẽ nhạo cười.
-Nhưng chúng ta cũng thế khi các chính trị gia này muốn thuyết phục chúng ta rằng học có thể làm cho nhiều người sống chung với nhau một cách công bằng và hạnh phúc (đay là định nghĩa của chính trị) mà không làm thay đổi các con tim.
Chúa Giêsu sẽ thực sự là vị vua của chúng ta như sau, Ngài không chỉ ngự trị trên các con tim mà còn trên các con tim đã được biến đổi. Các Kitô hữu phải ý thức hơn về tầm quan trọng của các cộng đồng, và do đó ý thức về chính trị, vì hạnh phúc của nhiều người, nhất là những người nghèo, những người thấp cổ bé miệng.
Thế là Tin mừng tỏ ra sức mạnh xã hội cua mình. Tin mừng không cung cấp cho một nền chính trị lý tưởng, mà là không ngừng phê bình tất cả các chế độ cụ thể. Tin mừng rèn luyện những con người có khả năng hình dung ra những chế độ tốt nhất là có khả năng dấn thân.
Khi con người vượt lên trên những vấn đề cá nhân để cố gắng xây dựng theo Bát Phúc một thế giới huynh đệ hơn thì ở đó Chúa Kitô ngự trị.

 

TN34-C121: VUA CHÂN LÝ                              

   (CN XXXIV/TN-C – ĐỨC KI-TÔ – VUA VŨ TRỤ)
 

 Nói đến vua thì không thể không liên tường đến những ông vua phong kiến, đó là những ông vua TN34-C121

Nói đến vua thì không thể không liên tường đến những ông vua phong kiến, đó là những ông vua thường để lại những ấn tượng không được đẹp (nào cung tần mỹ nữ nhung nhúc, nào cung đình sơn son thếp vàng choáng lộn, nào ngai vàng ỷ ngọc chói lọi; rồi thì hét ra lửa, mửa ra khói, chỉ một cái phất tay khó chịu là ít ra cũng một sinh mạng đi tong, mà gầm lên một tiếng thì … ôi chao, không dám kể nữa!). Dám viết ra những lời lẽ này, có lẽ cũng là nhờ đang sống trong thế kỷ XXI, chớ cứ giả thử như đang sống vào “hồi xửa hồi xưa” thì coi chừng cái chỗ đội nón không còn. Vâng, quả thực thời đại phong kiến thì một ông vua là một cái gì không nên nhắc tới, nói tới, kẻo mắc tội “khi quân, phạm thượng” là toi đời.
 Thực tình thì kẻ viết bài này đang muốn nói tới một ông vua sống trong thời đại phong kiến và cũng rất trẻ – một ông vua lạ lùng – lạ lùng đến không thể tưởng tượng nổi. Đó chính là ông vua Giê-su. Vua Giê-su đến thế gian đã được tiên báo từ hơn 5 thế kỷ trước Công nguyên (thời kỳ Israel bị lưu đầy: 587-538), qua ngôn sứ Isaia: “Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Emmanuel.” (Is 7, 14); “Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình.” (Is 9, 5). Đến khi Người chào đời tại Bê-lem, thì có 3 nhà đạo sĩ chiêm tinh gia ở phương Đông, đã nương theo vì sao dẫn lối tìm đến Giê-ru-sa-lem hỏi thăm: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” (Mt 2, 1-2). Đức Vua giáng trần trong một đêm đông giá lạnh không phải tại nơi cung điện nguy nga, mà tại một hang bò lừa ở một vùng quê hẻo lánh, nghèo nàn; không bạc vàng, không nhung lụa, không lò sưởi, mà được đặt trên máng cỏ, và sưởi ấm bằng hơi thở bò, lừa. Thế đó!
 Khi Đức Vua trưởng thành, Người đã hành xử vương quyền bằng cách “không ngựa xe đưa rước, không võng gấm lọng vàng, không tiền hô hậu ủng” đến với những người nghèo hèn, bệnh tật, tội lỗi. Người thu nhận môn đệ nơi những giai cấp thấp cổ bé miệng (chài lưới, nông phu, lao động…), hoặc bị xã hội lên án là tội lỗi (người thu thuế). Cũng chính trong khi Người thu nhận môn đệ thì những người được thu nhận đã nhận ra đó chính là Đức Vua mà họ hằng mong đợi (Ông Na-tha-na-en hỏi Người: "Làm sao Ngài lại biết tôi?" Đức Giê-su trả lời: "Trước khi Phi-líp-phê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi." Ông Na-tha-na-en nói: "Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ít-ra-en!" Đức Giê-su đáp: "Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa." Người lại nói : "Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người." – Ga 1, 48-51).
 Ngay đến cả Tổng trấn Phi-la-tô khi xét hỏi, cũng gọi Người là vua (“Ông Phi-la-tô cho gọi Đức Giê-su và nói với Người: "Ông có phải là vua dân Do-thái không?" Đức Giê-su trả lời : "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này." Ông Phi-la-tô liền hỏi : "Vậy ông là vua sao?" Đức Giê-su đáp : "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi." – Ga 18, 33-37). Và rồi cái bản án tử treo trên đầu Người ("Người này là Giê-su, vua dân Do-thái" – Mt 27, 37) được viết ra với ý mỉa mai, nhưng không ai ngờ rằng đó cũng lại là một “sấm ngôn” (“Bản đề án tử vừa mỉa mai nhưng cũng vừa là một lời sấm” – xc “Kinh Thánh Trọn Bộ”, trang 2404 – phần chú thich Ga 19, số 19). Rõ ràng người Do-thái đã đóng đinh chính vị vua của họ – vị vua mà đến Tổng trấn Phi-la-tô (quan xử án) cũng không tìm ra được một lỗi lầm nhỏ nào!
 Lạ lắm! Kẻ viết bài này chưa hề được đọc (chớ đừng nói là được thấy) một ông vua lại quỳ xuống rửa chân cho môn đệ, đầy tớ của mình, rồi còn nói: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.” (Ga 15, 15). Và những Lời Người giảng dậy thì toàn là khuyên bảo ăn ngay ở lành, thật thà công chính, khiêm nhường bác ái, thậm chí còn dậy người ta yêu thương cả kẻ thù (Mt 5, 43-44). Người không chỉ dậy bằng Lời, mà bằng hành động, bằng việc làm, bằng chính cả sinh mạng của Người khi bị treo trên thập giá cho đến chết để đền thay tội lỗi loài người. Trước khi chết treo trên thập tự, Người còn cầu xin Chúa Cha tha cho kẻ đã đóng đinh mình: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm." (Lc 23, 34).
 Không bút mục nào có thể ghi lại cho hết được những điều mà Đức Vua Giê-su đã nói, đã dạy và đã làm, thật đúng như lời Gio-an Thánh sử: “Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực. Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.” (Ga 21, 24-25). Đúng là một ông vua lạ lùng, quá lạ lùng, mở ra một trang sử “không tiền khoáng hậu”: Chỉ cần 3 ngày là xây xong một đền thờ Giê-ru-sa-lem mà dân Do-thái phải làm trong 46 năm. Và quả thật không sai, sau khi tử nạn, chỉ mới đến ngày thứ ba, Người đã khánh thành một Giê-ru-sa-lem mới trên Vương quốc Thiên đình. Từ Vương quốc đó, Người đã kéo mọi người lên sống một cuộc sống chan hoà Tình Yêu. Trong Vương quốc ấy, không còn chỗ cho thờ ơ lãnh đạm, đố kỵ bon chen, nhỏ nhen ích kỷ, chia rẽ hận thù. Lãnh đạo Vương quốc ấy là một vị Vương giả rất đỗi lạ lùng, lạ lùng đến không thể tưởng tượng nổi, và đó chính là Vua Tình Yêu Giê-su Ki-tô.
 Quả là một ông vua lạ đời, nếu không muốn nói là ngược đời! Không cần nói đến những lời tiên tri của các ngôn sứ, kể cả 3 vua phương Đông đến bái lạy (khi Đức Giê-su mới sinh tại Bê-lem) cũng xưng tụng Người là vua; mà chỉ cần nói tới thời gian Người đã trưởng thành cũng đủ thấy Đức Giê-su quả lả ngược đời: Khi làm phép lạ cho bánh hoá ra nhiều, dân chúng hân hoan phấn khởi, muốn tôn Người làm vua thì Người không muốn. Người phản đối bằng cách lánh mặt (“Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.” – Ga 6, 15). Cũng như hôm vinh quang vào thành Giê-ru-sa-lem, dân chúng hân hoan, cởi áo lót đường, cầm cành lá phất cao đón chào (“Họ hô lên: Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời!” – Lc 19, 38). Hôm ấy mà Chúa xưng vương thì quá thuận lợi, vậy mà Người lại phản đối bằng cách cỡi con lừa bé nhỏ, yếu ớt.
 Nhưng khi là phận tội đồ đứng trước mặt quan án, bị dân chúng khinh khi chối bỏ, thì Người lại hiên ngang nhận mình là vua (Khi nghe Phi-la-tô hỏi “Vậy ông là vua sao? Đức Giê-su trả lời: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này." – Ga 18, 35-36). Sau đó, trong bữa Tiệc Ly, Đức Giê-su đã hứa với cac môn đệ: “Còn anh em, anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp thử thách gian nan. Vì thế, Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en." (Lc 22, 28-30). Nói đến vương quốc thì người đứng đầu vương quốc ấy tất nhiên là vua rồi. Chẳng phải vô tình, nhưng là cố ý khi đối diện với quyền lực, đối diện với sự hận thù và đối diện với cái chết, Đức Vua Giê-su muốn tỏ mình ra (xưng vương) trong hoàn cảnh này để làm chứng cho sự thật. Quả thật Đức Ki-tô “là Thiên Chúa thật và là người thật”,  đã “làm chứng cho sự thật” bằng chính sinh mạng của mình để cứu độ nhân loại; vậy nên Người chính là “Vua Sự Thật – Vua Chân Lý”.
 Cũng bởi vì “Khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất, và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ.” (Pl 2, 10), nên vào ngày 11/12/1925, Đức Giáo hoàng Pi-ô XI đã chính thức thiết lập Lễ mừng kính “CHÚA KI-TÔ VUA”. Sau đó, tại Công Đồng Va-ti-ca-nô II, khi canh tân Phụng vụ, Giáo Hội đưa thêm vào một ý nghĩa mới: “ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ, VUA VŨ TRỤ” (Giáo Hội thừa nhận đặc tính vũ trụ và cánh chung được thể hiện cụ thể và đầy đủ nhất nơi mầu nhiệm Giê-su Ki-tô, vì thế nên Lễ này được đặt vào đúng vị trí của nó: Chúa nhật cuối cùng của Năm Phụng vụ, thay vì như trước đó, Đức Pi-ô XI để vào CN trước ngày Lễ Các Thánh 1/11).
 Tóm lại, khi xác tín Đức Giê-su Thiên Chúa là “Vua Sự Thật” chính là đã nói đến một “chân lý” bất biến: “Đức Giê-su Ki-tô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.” (Pl 2, 6-9). Danh hiệu đó chính là VUA CHÂN LÝ vậy. Ấy cũng bởi vì theo từ nguyên, “Chân lý là một sự thật của loài người luôn luôn đúng và tồn tại mãi mãi theo thời gian, giúp con người thoát khổ và bất tử khi áp dụng thực hành nó. Chân lý là sản phẩm của quá trình nhận thức về thế giới của con người.” Các tôn giáo (cách riêng Ki-tô giáo) đã đưa ra khái niệm siêu hình về “Chân lý tối thượng” (hay chân lý tối cao, chân lý toàn thể, chân lý của mọi chân lý), là muốn nói đến chân lý thần thánh và thiêng liêng, thuộc tính cao quý của Đấng tối cao toàn năng, Đấng thực hiện mọi phán xét thiêng liêng, toàn thể về sự sống và cái chết.
 Ôi! Lạy Chúa Giê-su Ki-tô Vua Chân Lý – Vua Vũ Trụ! Xin ban Thánh Linh soi sáng cho chúng con để chúng con không đui mù trước những thảm cảnh nơi trần thế, khỏi câm điếc trước những bất công đày đoạ con người, và nhất là xin cho chúng con được mở rộng trái tim hèn yếu của chúng con, hằng ngày kín múc Tình Yêu chan chứa nơi Ngài, để chúng con biết đến với anh em của chúng con bằng cách san sẻ nguồn Tình Yêu vô tận đó. Ôi! Lạy Đức Vua Tình Yêu! Xin cho chúng con luôn được sống trong cuộc sống “vui với người vui và khóc với kẻ u sầu”. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.
 JM. Lam Thy ĐVD.

 

TN34-C122: ĐỨC VUA CỨU THẾ

Vua Bhumibol Adulyadej ( 1927 – 2016 ) còn được gọi là Vua Rama IX, là vua Thái Lan  trị vì 70 năm, TN34-C122 Ephata

Vua Bhumibol Adulyadej ( 1927 – 2016 ) còn được gọi là Vua Rama IX, là vua Thái Lan  trị vì 70 năm, từ năm 1946 cho đến khi mất ngày 13.10.2016 vừa qua. Vua Bhumibol Aduladej được xem là một trong số những vị quân vương trị vì lâu nhất thế giới và là vị vua trị vì lâu nhất trong lịch sử Thái Lan. Trong suốt triều đại của ông, Thái Lan đã trải qua 30 đời thủ tướng. Ông xử dụng tài sản to lớn của mình, theo Forbes là khoảng 30 tỷ USD, để cung cấp tài chính cho nhiều đề án phát triển, đặc biệt là ở nông thôn.
Vua Bhumibol tham gia tích cực vào đời sống kinh tế và xã hội của đất nước, chủ yếu là qua một loạt các đề án phát triển kinh tế mà ông đề xuất, tổ chức và tài trợ. Có hơn 3.000 đề án do quốc vương khởi xướng, được thực hiện trên toàn quốc, nhằm cải thiện điều kiện sống của dân nghèo ở vùng nông thôn Thái Lan, như giới thiệu giống cây trồng đến bảo tồn nước, từ thoát nước vùng đầm lầy đến bảo vệ rừng, với mục tiêu phát triển bền vững.
Sau năm 2006, sức khỏe vua Bhumibol bị suy giảm, ông đã phải trải qua thời gian dài điều trị tại Bệnh Viện Siriraj. Ông được người dân Thái Lan hết sức tôn kính. Đối với nhiều người dân Thái, nhà vua được sùng bái gần như một thần linh. ( Wikipedia ).
Vua Bhumibol được dân Thái Lan vô cùng kính trọng, quý mến vì là bậc minh quân, yêu nước, thương nòi, đã tận tuỵ giúp dân giàu nước mạnh, thật xứng đáng là tấm gương phụ mẫu thiên hạ. Hôm nay, Giáo Hội hân hoan mừng Đức Giêsu, Vua Cứu Thế, còn vĩ đại hơn, cao cả hơn tột bậc, dù cai quản cả hoàn vũ, nhưng Người không thuộc cõi thế, như Người đã phán: “Nước tôi không thuộc trần gian này” ( Ga 18, 36 ). Người là Đức Vua vô cùng chí hiếu, rất mực khiêm nhu, cực kỳ chí ái và tận tâm phục vụ nhân loại.
Đức Vua chí hiếu
Nhập thể với thân phận thanh bần, nghèo nàn, khốn khó, Đức Vua Giêsu vẫn luôn trung thành, vâng theo Thánh Ý Chúa Cha, từ thuở thơ ấu cho đến khi chịu tử nạn. "Sao cha mẹ tìm Con ? Cha mẹ không biết rằng Con phải lo công việc của Cha Con ư ?" ( Lc 2, 49 ). Sự hiếu thảo, vâng lời tuyệt đối chính là lẽ sống của Người: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” ( Ga 4, 34 ).
Trước khi bước vào cuộc khổ nạn kinh hoàng, Người sợ hãi đến vã mồ hôi máu, nhưng vẫn kiên trung, thảo kính khấn nguyện: “Xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn” ( Mc 14, 36 ). Đức Vua Giêsu chính là hiện thân Người Tôi Tớ Đau Khổ của Giavê ( x. Is 42, 1-4 ). 
Người yêu mến và hết lòng vâng phục Cha, đến nỗi chịu chết để cứu độ nhân loại, hầu biểu lộ công khai cho nhân loại thấy Lòng Thương Xót của Thiên Chúa khoan dung biết dường nào.
Đức Vua khiêm nhu
"Nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi, nếu nó thật là Đấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn." Trước những lời khiếm nhã, khiêu khích ấy, Đức Vua Giêsu vẫn một mực khiêm nhu, nhẫn nhục, im lặng, cam chịu những lời phỉ báng, hỗn xược, thách thức, của loài thọ tạo, qua miệng những thủ lãnh, lính tráng và người gian phi bên tả. Y như Người đã từng khéo léo tránh được được ma quỷ cám dỗ về quyền lực trong hoang mạc ( x. Lc 4, 5-12 ). 
“Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" ( Mt 11, 9 ). Người từng mời gọi mọi người hãy noi gương khiêm nhu. Người chẳng tỏ ra bực dọc, hận thù, oán thán những xúc phạm thô bạo, bởi vì “Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế" ( Pl 2, 7 ).
Đức Vua chí ái
Trước những tiếng nhạo báng cay độc, hằn học, chế giễu của những kẻ ganh ghét, căm thù, Người vẫn bình thản, không chấp nhất, cũng chẳng đáp lại nửa lời. Hơn nữa, Người còn tỏ lòng thương xót, độ lượng, tha thứ, còn nài xin Cha thứ tha.“Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm” ( Lc 23, 34 ).
Ngay trong những lúc cùng quẫn nhất, Người vẫn luôn nhân từ, khoan dung, quên mình, để yêu thương người trộm bên hữu, biết tin cậy vào Người và ăn năn, hối cải: “Hôm nay, ngươi sẽ ở trên Thiên Đàng với Ta.” Lời của Đức Giêsu cũng là lời tình yêu, đem lại an ủi và bình an. Với tình thương, Người đã hành động chính xác như lời Người đã loan báo về sứ vụ của Người. “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi" ( Mc 2, 17 ).
Lề luật chính yếu của Đức Vua chí ái ban cho thần dân là tình yêu: "Đây là giới răn của Thầy, là các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” ( Ga 15, 12 ). Đỉnh điểm tình yêu là cuộc khổ nạn, Đức Vua chí ái hiến mạng sống cứu độ nhân loại.  
Đức Vua phục vụ
“Ai muốn làm đầu, thì phải làm người rốt hết và làm tôi tớ mọi người” ( Mc 9, 35 ). Người là Vua vũ trụ, là Vua cả nhân loại, nhưng Người không đến cai trị, áp bức thần dân như thói đời, mà thi hành vương quyền bằng cách yêu thương, hăng say phục vụ nhân loại, đến nỗi sẵn sàng chết cho con người, dù thế gian từ chối Người, chế giễu, thậm chí thách thức Người. “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người.” ( 2Cr 5, 21 ). 
Trước bữa Ăn Cuối Cùng ( The Last Super ), Đức Vua Cứu Thế còn quỳ xuống, rửa chân cho từng môn đệ, nêu gương cho các ông biết tận tâm phục vụ. “Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” ( Ga 13, 14 ). 
Phục vụ tha nhân là thể hiện một cách cụ thể đức ái. Nhất là phục vụ những người bé nhỏ, đau khổ, nghèo khó, bị bỏ rơi, chính là phục vụ Đức Vua Giêsu, trên hết các vua, các chúa trần gian.“Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống…" ( Mt 25, 35 ).
“Con đừng nghĩ dấn thân là lao mình vào những hoạt động hăng say náo nhiệt. Con hãy hiểu nghĩa dấn thân sâu hơn: Theo gương Chúa, yêu thương đến mức độ quên mình hoàn toàn vì người khác, hiến mình hoàn toàn, hiến mình nhưng không, để hiệp nhất với kẻ khác, hầu họ được phong phú và công việc Chúa nơi họ được thành công” ( Đường Hy Vọng, số 605 ).
Lạy Đức Vua Cứu Thế, xin cho chúng con noi theo gương tốt lành của Người, mà vâng theo Thánh Ý, sống khiêm nhu, luôn tha thiết yêu thương và tận tình phục vụ tha nhân, để có thể trở nên chứng nhân như Lòng Chúa hằng mong đợi.
Khấn xin Mẹ Maria, cầu bầu cho chúng con luôn trông cậy vào Lòng Thương Xót của Đức Vua Cứu Thế, để sớm thức tỉnh sám hối, ăn năn trở về với Chúa luôn. Amen.
 AM. TRẦN BÌNH AN 

 

TN34-C123: NHỮNG NGỌN NÚI

Dịp Đại Hội Quốc Tế Giới Trẻ tại Rio Brazil 2016, tôi đi hành hương lên ngọn núi Corcovado cao 704m, TN34-C123

Dịp Đại Hội Quốc Tế Giới Trẻ tại Rio Brazil 2016, tôi đi hành hương lên ngọn núi Corcovado cao 704m, kính viếng bức tượng Cristo Redentor – Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế Vua dang tay đứng trên đỉnh núi cao.
Có loại xe lửa nhỏ khoảng 30 chỗ ngồi đưa du khách lên núi theo đường ray. Cũng có một đường xe hơi chạy lên núi theo hình xoắn ốc, đây cũng là đường bộ cho những ai thích leo núi. Năm 1985Francisco Passos và Tegesra Suris xây dựng tuyến đường sắt thông đến núi Corcovado.
Lên đến trạm cuối, chúng tôi đi thang máy lên chỉ cách đỉnh núi khoảng 100m và tiếp tục đi bộ khoảng 120 bậc thang nữa là đến chân tượng Chúa Giêsu.
Từ đỉnh cao phóng tầm mắt nhìn thành phố Rio de Janeiro tuyệt đẹp. Tôi dành nhiều thời giờ để ngắm trời mây cảnh vật và chụp hình lưu niệm; đặc biệt chiêm ngắm tượng Chúa Cứu Thế là một trong 7 kỳ quan mới của thế giới. Bức tượng màu trắng hướng nhìn về phía ngọn núi Zuckerhut – Sugarload.
Bức tượng Chúa Giêsu Vua là một đài kỷ niệm trên đỉnh ngọn núi Corcovado ở phía Nam thành phố. Bức tượng được dự định xây dựng để kỷ niệm 100 năm độc lập của nước Brazil do kỹ sư kiến thiết Heitor da Silva Costa người Brazil phác họa vẽ mẫu. Bức tượng được khởi công thi hành năm 1922, nhưng gặp trở ngại vấn đề tài chánh. Nên việc thi hành kéo dài hằng 10 năm. Sau khi Tổng Giáo phận Rio de Janeiro, Tòa Thánh Vatican và nước Pháp cùng trợ giúp cho dự án, công trình được hoàn thành, và khánh thành ngày 12.10.1931.
Bức tượng Chúa Giêsu cao 30m, chân đế cao 8m, đủ chỗ chứa cho 150 người vào trú ẩn trong tượng. Hai cánh tay Chúa Giêsu dang ra rộng 28m. Bức tượng nặng 1.145 tấn. Đầu và hai tay Chúa Giêsu do nhà điêu khắc người Pháp Paul Landowski làm ở Paris. Bức tượng làm bằng vật liệu bêtông cốt sắt theo từng phần ráp nối lại, và được kết bên ngoài bằng những viên đá dát theo kiểu Mosaic.
Năm 2006 dịp mừng kỷ niệm bức tượng được 75 năm, Giáo Hội đã chính thức nâng nơi đây thành nơi hành hương kính viếng Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế.
Đứng nơi đây, tôi nhớ đến Tượng Kitô Vua ( Tao Phùng ) ở Vũng tàu. Với chiều dài 500m đi lên khoảng 1.000 bậc thang. Tượng được xây dựng năm 1974, do điêu khắc gia Văn Nhân và 50 thợ lành nghề thực hiện. Tượng có chiều cao 32m, chiều dài hai cánh tay là 18,4m; được đặt trên bệ khối chạm hình Tiệc Ly. Bên trong tượng là cầu thang xoắn ốc gồm 133 bậc, chạy từ bệ lên cổ tượng. Trong lòng tượng có thể chứa 100 người cùng một lúc. 
So với tượng  Kitô Vua ở Rio de Janeiro Brazil thì tượng ở Vũng Tàu cao hơn 2m. Tượng Chúa ở Brazil đứng trên đỉnh núi Corcovado cao hơn 704m so với mực nước biển, còn tượng Chúa ở Vũng Tàu đứng trên độ cao hơn 170m của núi Nhỏ. Bệ tượng ở Brazil cao 8m, còn bệ tượng ở Vũng Tàu chỉ cao 4m.
Để diễn tả vương quyền của Chúa Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ, bài Tin Mừng mỗi năm Phụng Vụ khai triển về một khía cạnh đặc biệt:
Năm A với bài Tin Mừng theo Thánh Matthêu ( 25, 31-46 ), đề cao Vua Giêsu như vị Thẩm Phán xét xử muôn loài.
Năm B với bài Tin Mừng theo Thánh Gioan ( 18, 33-37 ), một cái nhìn thần học về uy quyền của Vua Giêsu là Lời Thiên Chúa Nhập Thể đến để làm chứng cho sự thật rằng Thiên Chúa hằng yêu thương nhân loại và chờ đợi con người đáp lại tình yêu ấy bằng cách tin vào Đấng được sai đến.
Năm C với bài Tin Mừng theo Thánh Luca ( 23, 35-43 ) trình bày Vua Giêsu hiển trị từ trên thập giá. Ngai vàng là thập giá, vương miện là mão gai. Vua Giêsu tuyệt đối vâng phục Chúa Cha để đem lại sự tha thứ tội lỗi cho nhân loại. Ngài không là vị Vua Cứu Độ bảo đảm cho con người ta những sự thiện hảo thế tạm. Ngài chẳng giải thoát ngay cả chính bản thân Ngài khỏi cái chết thảm thương trên thập giá. Ngài cũng chẳng hứa sẽ giải thoát con người khỏi bệnh tật hay đói nghèo. Quyền bính của Ngài là Ơn Cứu Độ và Sự Sống trong Thiên Chúa: “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” ( Rm 14, 17 ). Ngài đã thi hành vương quyền bằng cách yêu thương loài người đến nỗi sẵn sàng chết cho loài người ngay chính lúc loài người từ chối Ngài, chế giễu Ngài, thậm chí thách thức Ngài.
 Núi Bát Phúc, nơi Chúa Giêsu công bố Hiến Chương Nước Trời. Núi Tabor, nơi Chúa Giêsu biến hình và nhận sự tấn phong của Chúa Cha: "Đây là Con Ta. Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người". Núi Sọ, nơi Chúa Giêsu bị đóng đinh vào thập giá, đây là đỉnh điểm của Ơn Cứu Độ.
Núi Corcovado hay núi Tao Phùng, nơi Chúa Giêsu giang đôi tay ôm trọn nhân loại trong tình thương cứu rỗi. Trái tim của Ngài mở ra để yêu thương mỗi người và mọi người, cánh tay của Ngài mở rộng để vươn đến mọi người. Đức Thánh Cha Phanxiô mời gọi bạn trẻ: “Chính các con là con tim và đôi tay của Đức Giêsu ! Hãy ra đi và làm chứng cho tình yêu của Ngài. Hãy trở thành một thế hệ loan báo Tin Mừng mới, được thúc đẩy bởi tình yêu và rộng mở với tất cả. Hãy theo gương mẫu những nhà loan báo Tin Mừng vĩ đại của Giáo Hội như Thánh Phanxicô Xaviê và bao nhiêu vị khác”.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

TN34-C124: Giêsu Kitô: Vua Vũ Trụ - Huệ Minh

Chúa Giêsu đã chứng tỏ tình yêu của mình bằng cái chết trên thập giá. Ngài đáng làm vua nêu TN34-C124

Chúa Giêsu đã chứng tỏ tình yêu của mình bằng cái chết trên thập giá. Ngài đáng làm vua nêu gương cho chúng ta sống theo Ngài. Tin Mừng (Lc 23,35-43) ghi lại cảnh Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá làm căn bản cho những suy niệm cho chúng ta trong ngày lễ Chúa Giêsu Kitô Vua.
Trang Tin Mừng trong lễ Chúa Giêsu Vua vũ trụ lại đưa ta về với Chúa Giêsu trên thập giá. Chẳng lúc nào Chúa làm vua rõ bằng lúc này. "Đây là vua người Do thái", tấm bảng ghi như thế. Nhưng kiểu làm vua của Ngài thật khác thường. Không có vương miện, chỉ có vòng gai. Không có cẩm bào, chỉ có trần trụi nhơ nhuốc. Không có câu tán tụng, chỉ có lời nhạo báng khinh chê.
Bằng cái chết tủi hổ trên thập giá, Ngài đã trở nên một vị mục tử nhân lành, hiến mạng sống cho đoàn chiên của mình. Ngài đã khai mạc vương quốc mới của tình yêu, một tình yêu tự hiến: Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu.
Thiên Chúa đã dùng hành động bêu xấu của quan Philatô khi quan này cho khắc ghi trên thập giá Chúa dòng chữ: "Đây là Vua dân Do Thái". Thiên Chúa đã muốn dùng hành động bêu xấu này như muốn nhắc nhở con người, để mạc khải cho con người một sự thật không thể chối bỏ được rằng: Chúa Giêsu Kitô là Vua. Ngài trổi vượt lên trên mọi người không những vì Ngài là Con Thiên Chúa làm người, mà vì Ngài đã thực hiện một hành động cao cả tuyệt vời: hy sinh mạng sống mình vì yêu thương con người để cứu rỗi con người.
Chúa Giêsu Kitô là Vua không những vì Ngài đã sinh ra làm người, thuộc dòng dõi vua Đavid, mà hơn nữa vì Ngài là Con Thiên Chúa, mọi sự nhờ Ngài mà được hiện hữu sinh động. Nhưng trớ trêu thay, Chúa Giêsu Kitô không thiết lập vương quốc của Ngài như một vương quốc phàm trần và bằng những phương tiện phàm trần như chiến tranh, chiếm đoạt bằng sức mạnh bạo lực. Không, nước Thiên Chúa được Chúa Giêsu thiết lập một cách kỳ diệu bằng một hành động hy sinh cao cả trên thập giá, tột đỉnh của cuộc đời của Chúa trên trần gian để chứng tỏ tình yêu của Thiên Chúa đối với con người.
Bị treo trên thập giá, Đức Giêsu nghe những lời mời mọc, ngọt ngào và tinh vi như các cơn cám dỗ buổi đầu. "Nếu ông là Đức Kitô thì hãy cứu lấy mình”. “Hãy xuống khỏi thập giá" (Mt 27,40). Cứu lấy mình là điều Ngài chẳng hề nghĩ đến.
Chính vì Ngài thật là Con của Cha, nên Ngài không tự ý xuống khỏi thập giá như xưa Ngài đã từ chối nhảy xuống từ nóc Đền Thờ.
Chẳng có đau khổ nào lớn hơn khi chính người đồng cảnh ngộ cũng về hùa với bọn lý hình nhục mạ Chúa: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứ mình đi, và cứu cả chúng tối với!” (Lc 23,39) Trước những thách thức ồn ào đó, Đức Giêsu vẫn im lặng. Dân chúng khi thì a dua (Lc 23,17-25), lúc lại bàng quang: “Dân chúng thì đứng nhìn.” (Lc 23,35) Thái độ bất động của dân chúng rất phức tạp. Nhưng chắc chắn không phải ai cũng như bọn binh lính hay người gian phi thiếu hiểu biết. Thật vậy, “dân chúng theo Người đông lắm.” (Lc 23,26)
Mặc dầu Chúa Giêsu là Thiên Chúa Ngôi Hai, nhưng Ngài đã "hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế" (Pl 2, 7), do đó, "Ngài đã chịu thử thách (cám dỗ) về mọi phương diện cũng như ta..." (Dt 4, 15). Dựa vào đó, Sa-tan không ngừng cám dỗ Chúa Giêsu đi trệch đường của Thiên Chúa Cha với hy vọng phá vỡ kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa dành cho loài người.
Vua Giêsu bị đóng đinh và treo trên thập giá. Tột đỉnh của kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa được thể hiện trong giờ phút này. Khi quyền lực của tội lỗi tưởng như thắng thế qua cái chết đang đến gần Chúa Giêsu thì đó lại là lúc quyền năng của Thiên Chúa sắp sửa toàn thắng tội lỗi và đem lại hiệu quả ơn tha thứ cho toàn thể nhân loại.
Đức Giêsu chịu đóng đinh là để cho thấy rằng Người không phải là một Đức Vua Cứu thế sẽ đảm bảo cho họ có sự sung túc trần thế. Người đã không cứu chính mình khỏi chết, thì Người cũng không gìn giữ chúng ta khỏi bệnh tật và cái chết. Quyền lực của Người không nhắm đến đời sống thoải mái trần tục của chúng ta, nhưng nhắm đến đời sống của chúng ta với Thiên Chúa. Ai tìm sự hiệp thông với Thiên Chúa, và biết nhờ Đức Giêsu, Đức Giêsu sẽ cứu độ người ấy, cho dù người ấy đến với Người như một tên gian phi.
Chúa Giêsu xuống trần để làm chứng về tình yêu. Rao giảng, thi ân, tha thứ. Tình yêu lên đến cực điểm trong những giây phút cuối đời khi Người quỳ xuống rửa chân cho môn đệ, khi Người chữa lành tai cho kẻ đến bắt Người, khi Người tha thứ cho kẻ phản bội, và nhất là khi Người cầu xin Đức Chúa Cha tha thứ cho những kẻ giết Người. Thật là một tình yêu nguyên tuyền không hề vương chút hận thù. Một tình yêu bao la lan tới mọi góc biển chân trời. Một tình yêu cao cả đáp lại hận thù. Thánh giá diễn tả tình yêu Chúa Giêsu dành cho Đức Chúa Cha. Thánh giá diễn tả tình yêu Chúa Giêsu dành cho nhân loại. Thánh giá diễn tả tình yêu tha thứ Chúa Giêsu dành cho những kẻ thù ghét Người.
Cái chết trên thập giá là một cuộc chiến thắng. Chiến thắng của tâm tình hiếu thảo. Chiến thắng của sự tự do nội tâm. Chiến thắng của tình yêu. Chính trên cây thập giá, Chúa Giêsu đã lên ngôi vua. Chính khi hứa cho người trộm lành vào thiên đàng, Chúa Giêsu đã khai mạc vương quốc của Người.
Tình yêu trên thập giá biến đổi tâm hồn người gian phi cùng chịu đóng đinh với Chúa Giêsu. Nó giúp anh nhìn xa hơn về tương lai. Không phải chỉ là sự sống tạm ở đời này, như tên gian phi kia đã thách thức Chúa Giêsu: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” Nhưng là sự sống đời đời. Anh khẩn cầu Chúa: “Khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!”
Tình yêu trên thập giá đã giúp người gian phi thống hối nhận biết Chúa Giêsu là ai và mình là ai. Anh đã nhìn nhận thân phận tội lỗi của mình, qua lời đối đáp tên gian phi kia: “Chúng ta chịu thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm!” Anh còn nhận ra được Chúa Giêsu là Đấng nào nữa. Ngài không chỉ là một người vô tội. Nhưng hơn thế nữa, Ngài còn là “ông Giêsu”. Đây là lần duy nhất trong sách Tin Mừng, Đức Giêsu được gọi đích danh, chứ không phải bằng các tước hiệu. Anh đã hiểu được nghĩa thực của thánh danh Người. “Giêsu” nghĩa là “Thiên Chúa cứu.” Người là Vua của Nước Thiên Chúa, là Đấng đến cứu vớt mọi kẻ tội lỗi.
Vương quốc Đức Kitô đã rộng mở chào đón tất cả mọi người. Chúng ta hãy mặc lấy tâm tình của người con hiếu thảo hoàn toàn vâng phục thánh ý Đức Chúa Cha, hãy sống tự do, dứt bỏ mọi ràng buộc của danh, lợi, thú, hãy mở rộng trái tim yêu thương. Như thế ta mới xứng đáng trở thành công dân trong Nước Chúa.

 

TN34-C125: Phiên tòa bất công - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Sống giữa cuộc đời là sống giữa biển đời đầy sóng gió nguy nan. Sống giữa thế gian là sống TN34-C125

Sống giữa cuộc đời là sống giữa biển đời đầy sóng gió nguy nan. Sống giữa thế gian là sống giữa bao hiểm nguy, bất trắc khiến lòng người luôn phải đối phó với biết bao nghịch cảnh đẩy đưa. Giữa người với người vẫn còn những hố sâu ngăn cách bởi ích kỷ, ghen ghét và tham lam. Có thể vì một chút danh lợi thú mà người ta bán rẻ nhau và bán rẻ chính nhân phẩm của mình. Cuộc đời đầy thị phi đến nỗi Nguyễn Du đã từng thốt lên rằng: “Trải qua một cuộc bể dâu – Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Ngay những người thân cận nhất vẫn có thể trở thành kẻ thù của nhau. Cha mẹ từ chối con cái. Con cái ngược đãi cha mẹ. Vợ chồng nghi ngờ và kết án lẫn nhau. Bạn bè dễ dàng quay lưng lại với nhau vì tiền tài, vì danh vọng và vì tình yêu. Một cuộc sống đầy vong ân bội nghĩa nên mấy ai còn niềm tin nơi nhau. Có mấy ai dám sống cho chân lý để rồi lại phải chịu thiệt thòi vào thân!
Hôm nay, Lời Chúa tường thuật lại một phiên tòa đầy bất công và thiếu khách quan của sự thật. Gọi là bất công vì sự ghen tỵ mà người ta đã kến án kẻ vô tội. Thiếu chân thực vì toàn bộ câu chuyện đã bị bóp méo hoàn toàn. Theo thánh Gioan kể lại: họ tố cáo Chúa Giêsu về ba điều: gây rối loạn trong dân chúng, cản trở việc nộp thuế cho hoàng đế, và tự xưng mình là vua. Thật ra, vì lòng ghen ghét, họ đã không ngần ngại bóp méo sự thật. Theo sự tra xét của họ thì Chúa Giêsu phạm tội lộng ngôn, nhưng họ biết rất rõ quan toàn quyền sẽ không chịu nghe một lời tố cáo như vậy, mà sẽ bảo đó là chuyện tranh chấp về tôn giáo và bảo họ phải tự dàn xếp. Thế nên, vì muốn loại trừ Chúa, họ đã không ngần ngại vu khống để bỏ vạ cáo gian. Nhưng Philatô lại không dám bảo vệ sự thật. Cho dù Chúa Giêsu đã cho ông hiểu rằng: Ngài là Vua và Nước của Ngài không thuộc về thế gian này, nhưng Philatô đã không quan tâm đến việc bảo vệ công lý cho bằng bảo vệ ngai tòa của mình. Ông rửa tay để làm ngơ trước sự bất công.
Và cũng từ phiên tòa này, Chúa Giêsu đã công khai nói lên sứ mạng của Ngài, Ngài đến trong thế gian này là thiết lập một vương quốc sự thật, một nền công lý và hòa bình từ chính trong tâm hồn con người. Và chính vì thế mà ngài đã sinh ra và đến trong thế gian này, đó là để làm chứng cho sự thật. Vương quốc sự thật chính là nước của Ngài. Ai đi theo đường công chính, biết ăn ở ngay lành, thực hành bác ái yêu thương chính là công dân trong Nước của Thiên Chúa. Nước của Ngài không hạn chế bởi địa dư, bởi mầu da sắc tộc mà mở rộng không gian tới tận cùng trái đất. Nơi nào có những người xây dựng hòa bình, công lý và tình thương, nơi đó Nước Chúa đang ngự trị.
Là Kytô hữu tức là công dân của Nước Thiên Chúa chúng ta được mời gọi xây dựng sự hiệp nhất yêu thương. Sự hiệp nhất đó phải được xây dựng từ nơi gia đình, nơi xứ đạo chúng ta. Phải xóa bỏ những tị hiềm, ghen ghét, những bất công, hận thù trong cuộc sống giữa người với người. Mỗi người kytô hữu khi lãnh nhận bí tích rửa tội đều được mời gọi làm chứng cho sự thật giữa thế gian. Nghĩa là phải cùng nhau loại trừ điều gian dối, chua ngoa và xây dựng tình liên đới giữa con người với nhau trong yêu thương chân thật. Như lời Đức thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “phải làm thế nào để tính thiện nơi con người được chiếu lộ ra, và giải phóng các sức mạnh của sự tiềm ẩn nơi con người, để sự thiện ấy được lớn mạnh hơn sự ác cả trong lĩnh vực luân lý lẫn xã hội". Vâng, cuộc đời này có lẽ sẽ vui hơn nếu người ta biết sống chân thành với nhau. Cuộc sống này sẽ bớt ưu sầu nếu người ta thôi nghi ngờ và kết án lẫn nhau. Cho dù cuộc đời có thay trắng đổi đen. Con người có lấy ân báo oán, nhưng người kytô hữu không vì thế mà đánh mất bản tính của mình là sống thánh giữa đời để kiến tạo một nền công lý và hòa bình trên mặt địa cầu này. Vì chúng ta vẫn mong chờ một ngày kia Nước Chúa sẽ trị đến và Ngài sẽ ngự đến trên mây trời để ban thưởng hạnh phúc trường tồn cho những ai thành tâm thiện chí sống và thực thi giáo huấn của Ngài.
Cầu nguyện
Lạy Chúa, giữa thế giới đầy sa đọa, con người ngày nay vẫn muốn loại trừ Thiên Chúa. Dường như vì ích kỷ đã làm cho họ mù loà đến nỗi không nhận ra sự bất hạnh của tha nhân để cảm thông, để nâng đỡ. Dường như vì tham lam mà con người muốn loại trừ đồng loại để bảo vệ tiền tài danh vọng cho chính mình. Đồng tiền và danh vọng đã làm mờ con mắt. Tự hủy diệt mình trong đam mê lạc thú và quyền lực thế gian.
Xin Chúa giúp chúng con dám sống cho sự thật và làm chứng cho sự thật. Ngõ hầu danh Chúa được cả sáng. Amen.

 

TN34-C126: Tên trộm và người chủng sinh - Lm. Mark Link, SJ.

Chủ đề: "Vị Vua bị đóng đinh muốn tha thứ chúng ta như Người đã tha thứ cho tên trộm lành trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đầu tiên"
 

Tập san Catholic Digest có mục thường xuyên được gọi là "The Open Door" (Cửa Rộng Mở). Trong TN34-C126

Tập san Catholic Digest có mục thường xuyên được gọi là "The Open Door" (Cửa Rộng Mở). Trong mục này thường có hai hay ba câu chuyện do độc giả gởi đến. Những câu chuyện này kể lại sự hoán cải trở lại đạo Công Giáo của độc giả.
Có một câu chuyện thật cảm động về chàng thành niên lớn lên trong một gia đình Công Giáo, từng tích cực hoạt động trong Giáo Hội, và sau đó gia nhập chủng viện.
Rồi đến những năm đầy xáo trộn thời chiến tranh Việt Nam. Trong thời gian này, ba sinh viên ở một đại học Ohio bị giết trong lúc biểu tình phản đối chiến tranh. Những cuộc dấy loạn về sắc tộc như xé nát nhiều thành phố trong nước. Các nhà lãnh đạo quốc gia bị ám sát. Mọi sự bỗng dưng trở nên rời rạc.
Chàng thanh niên này rời chủng viện, tham gia phong trào chống chiến tranh, từ bỏ Giáo Hội, và chế nhạo đức tin mà trước đây anh từng ấp ủ.
Gia đình anh bàng hoàng vì sự thay đổi này. Và khi thái độ của anh ngày càng thù nghịch với tôn giáo, họ đã hoàn toàn tuyệt vọng.
Sau đó là Tuần Thánh và trong Thứ Sáu Tuần Thánh năm 1970, chàng thành niên, lúc ấy 22 tuổi, lái xe ngang qua một nhà thờ Công Giáo. Anh nhận ra tên của cha xứ trên tấm bảng trước nhà thờ. Đó là vị linh mục anh rất kính trọng. Điều gì đó đã thúc đẩy anh dừng xe và đi vào nhà thờ.
Khi bước vào cửa, nghi thức Tôn Kính Thánh Giá bắt đầu. Anh ngồi ở hàng ghế cuối cùng. Anh theo dõi dân chúng xếp hàng lên hôn thánh giá, trong khi ca đoàn hát bài "Were You There When They Crucified My Lord?" (Bạn có ở đó khi họ đóng đinh Chúa không?)
Và rồi điều gì đó thật lạ lùng đã xảy ra. Anh viết:
"Trong con người tôi, điều gì đó đột ngột xảy ra và tôi bắt đầu khóc. Sau khi dằn được xúc động, tôi nhớ lại sự bình an mà từ lâu tôi đã bỏ lại nơi nhà thờ. Đức tin đơn sơ mà giờ đây tôi đang chứng kiến thì dường như có ý nghĩa hơn là điều tôi tuyên xưng. Tôi bước ra khỏi ghế và quỳ xuống hôn Thánh Giá. Vị linh mục nhận ra tôi, ngài đến ôm lấy tôi."
"Từ ngày đó trở đi," anh cho biết, "tôi trở nên một người Công Giáo tái sinh."
Anh kết thúc với nhận xét sau: "Tại sao tôi dừng xe ở nhà thờ đó vào ngày hôm ấy, cho đến giờ tôi vẫn không hiểu, nhưng tôi biết rằng tôi thật sung sướng với các kết quả."
Tôi thích câu chuyện này vì nó thích hợp với các bài đọc trong ngày lễ Chúa Giêsu là Vua hôm nay.
Vì bài Phúc Âm diễn tả một thanh niên vô tôn giáo, đầy giận dữ đã hoàn toàn thay đổi cuộc đời vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đầu tiên cách đây hai ngàn năm.
Và điều thay đổi cuộc đời của người thanh niên này cũng chính là điều thay đổi anh chủng sinh trong câu chuyện. Đó chính là việc đóng đinh Đức Kitô. Đó là việc đóng đinh Đức Kitô Vua.
Và điều mà Đức Kitô trên thập giá đã nói với người trộm thì Người cũng nói với anh chủng sinh:
"Ta hứa với con là hôm nay con sẽ ở với Ta trên thiên đàng."
Thật khó có bài đọc nào thích hợp hơn để kết thúc năm phụng vụ. Nó tóm lược lý do tại sao Chúa Giêsu đến trong thế gian. Chính là để tha thứ cho tội nhân, như tên trộm-và như anh chủng sinh.
Và điều này đưa chúng ta đến việc áp dụng tất cả những điều này vào thực tế đời sống chúng ta. Đó là:
Điều Chúa Giêsu đã làm cho người trộm lành và anh chủng sinh, Người cũng muốn làm cho chúng ta.
Người muốn tha thứ tội lỗi chúng ta, bất kể có to lớn đến đâu và lâu đời đến đâu.
Người muốn nói với chúng ta điều mà Người đã nói với tên trộm và anh chủng sinh:
"Ta hứa với con là hôm nay con sẽ ở với Ta trên thiên đàng."
Đây là tin mừng khiến chúng ta quy tụ nơi đây để mừng lễ Kitô Vua.
Đó là tin mừng mà Chúa Giêsu muốn đi vào cuộc đời chúng ta và thi hành cho chúng ta điều mà Người đã làm cho tên trộm và anh chủng sinh.
Thánh Phaolô diễn tả tin mừng đó trong bài đọc hai hôm nay:
[Thiên Chúa] đã cứu chúng ta khỏi quyền lực tối tăm và đưa chúng ta một cách bình an đến vương quốc của Con yêu dấu của Người, mà nhờ Người chúng ta được tự do, đó là, chúng ta được tha thứ mọi tội lỗi."

 

TN34-C127: Đây là vua người Do thái

(Suy niệm của Lm. GB. Trần Văn Hào)
 

Chế độ quân chủ tại Việt Nam với một ông vua cai trị đất nước kéo dài hàng chục thế kỷ đã TN34-C127

Chế độ quân chủ tại Việt Nam với một ông vua cai trị đất nước kéo dài hàng chục thế kỷ đã thực sự cáo chung vào năm 1945, sau khi vị vua cuối cùng là Bảo Đại bị truất phế. Ngày nay, ý niệm về một thể chế quân chủ đã hoàn toàn trở nên xa lạ đối với tâm thức con người sống trong các nước văn minh. Trên thế giới chỉ còn vài quốc gia như Anh quốc, Thái Lan, Nhật Bản… vẫn duy trì chiếc ghế của nữ hoàng hay hoàng thân, nhưng chỉ là sắc nét văn hóa theo truyền thống, còn thực quyền thì không có. Thể chế dân chủ được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng. Con người ngày càng văn minh càng thích sống bình đẳng, không ai muốn người khác đè đầu đè cổ mình. Cũng chẳng ai thích sống trong một chế độ mà quyền hành chỉ tập trung nơi một cá nhân, thậm chí vị lãnh đạo ấy nắm trong tay cả quyền sinh sát giống như các vua chúa ngày xưa.
Như vậy mừng lễ Chúa Kitô làm Vua liệu có gây ra dị ứng nơi con người thời đại ngày hôm nay hay không, đặc biệt nơi giới trẻ? Đức Giêsu có thực sự là Vua hay đây chỉ là một lối nói cường điệu hóa giống như chúng ta suy tôn lãnh tụ một cách hình thức? Còn nếu Ngài đích thực là Vua, Ngài có bóp nghẹt tự do và nhân quyền của chúng ta hay không?
Các bài đọc Lời Chúa trong phụng vụ hôm nay sẽ gợi mở cho chúng ta câu trả lời.
Ông có phải là vua không?
Hai ngàn năm trước, Philatô đã nêu ra câu hỏi này khi Đức Giêsu bị điệu đến trước mặt ông như một tên tội phạm. Sách Tin mừng thứ tư thuật lại mẩu đối thoại này. Philatô dồn dập đặt ra nhiều nghi vấn, khi ông đối diện trước một con người đã từng được dân chúng tung hô là ‘Con Vua Đavit’, đã từng được mọi người nể phục như một ngôn sứ vì đã làm nhiều điều lạ lùng không giải thích được. Philatô càng ngạc nhiên hơn bởi lẽ, một ông vua phải có dáng vẻ oai phong và hiển hách, nhưng trước mặt ông chỉ là một con người rất bình thường, trong tay không có một tấc sắt để tự bảo vệ, không có một chú lính quèn để hộ tống. Ông mở to con mắt nhìn vào Đức Giêsu với sự kinh ngạc. Nếu ở vào vị trí của Philatô chắc hẳn chúng ta cũng sẽ đặt nghi vấn giống như vậy. Tuy nhiên khi đối diện với Philatô, Đức Giêsu đã không cần che dấu căn tính của mình. Ngài trả lời: “ Chính ông nói tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về sự thật thì nghe tiếng tôi”. Đức Giêsu khẳng định Ngài chính là Vua, và Ngài đến trong trần gian để khai mở Vương quốc của sự thật. Những thần dân của Ngài sẽ nghe tiếng Ngài vì họ là những công dân của Vương quốc ấy. Philatô không hiểu và hỏi lại: “ Sự thật là gì?” Ông chắc chắn không hiểu nổi vì ông đâu có phải là thần dân của vương quốc mà Đức Giêsu đã khai sáng (Ga 18, 33-38).
Trong Tin mừng Gioan, Chúa Giêsu cũng nói khá nhiều về ‘sự thật’. Ngài mặc khải tiệm tiến về Vương quốc mà chính Ngài sẽ khai mở. Khi nói chuyện với người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp, Đức Giêsu đã vén mở một nền phụng tự mới trong Vương quốc ấy: “ Thiên Chúa là Thần khí và những kẻ thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong Thần khí và sự thật” (Ga 4, 24). Cũng vậy trong bữa tiệc ly để giã từ các môn sinh, Chúa Giêsu đã nói với Tôma: “ Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6). Đức Giêsu sẽ ra đi, tiến nhận cái chết và khai lập vương quốc của chân lý. Đồng thời Ngài cũng chính là sự thật, là con đường dẫn đưa chúng ta đi vào vương quốc vĩnh cửu để chúng ta được sống và sống dồi dào (Ga 10, 10). Đối diện trước Philatô, Chúa đã khẳng quyết căn tính của mình, nhưng chắc chắn Philatô không hiểu nổi vì ông ta không ở trong quỹ đạo Nước Trời. “Nước tôi không thuộc thế gian này”(c 36). Tuy nhiên, chính Philatô đã cho treo một tấm bảng đóng trên Thập giá với hàng chữ:‘Đây là vua người Do thái’. Có lẽ đây không phải là một sự tình cờ, song Thiên Chúa đã định liệu và sử dụng một ông quan ngoại giáo để công bố cho cả thế giới biết Đức Giêsu chính là Vua đích thật. Tuy nhiên chúng ta cần suy tư sâu xa hơn để tìm hiểu xem, trong vương quốc sự thật ấy, Chúa đã hành xử vương quyền như thế nào?
Đức Giêsu quả là một vị Vua rất khác người, chẳng giống ai. Vương miện của Ngài là một vòng gai thấm máu đầy nhục nhã. Cẩm bào Ngài khoác chỉ là một tấm thân trần trụi bị treo thân vào khổ giá như một tên tử tội. Ngai vàng cao sang của Ngài là chỗ chuyên để hành quyết những tên cướp đáng sợ. Ngài đã đi xuống tận đáy bùn đen của xã hội loài người, bị đầy đọa, bị chửi rủa, bị khinh miệt và cuối cùng bị giết chết. Vương quốc Nước Trời mà Ngài nói tới là một Vương quốc đảo lộn mọi bậc thang giá trị mà con người vẫn thường đặt định. Sống trong Vương quốc đó, ‘ai làm lớn nhất phải trở nên người bé nhất’. Chính Ngài là một vị Vua cai trị theo một cung cách khác thường, đó là “Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến ban sự sống cho nhiều người” (Mc 10,45).
Philatô không hiểu là phải, bởi vì ông chưa làm ‘thẻ chứng minh nhân dân’ để trở thành công dân của một vương quốc xem ra có vẻ quái chiêu và nghịch thường đến như vậy. Nói tắt một lời, Vương quốc mà Chúa Giêsu thiết lập chính là Vương quốc của tình yêu. Đó không phải là một quốc gia hùng mạnh về quân sự, về dầu hỏa, về đôla hay về khí tài. Vương quốc của Đức Giêsu đích thực là Vương quốc tình yêu. Chỉ sống trong tình yêu chúng ta mới có được thẻ ID, thẻ căn cước để vào Nước Trời, nước của Ngài.
Vương quốc của tình yêu
Trong bữa tiệc ly, Đức Giêsu đã cúi xuống rửa chân cho các học trò. Ngài nói với họ: “ Nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14). Việc rửa chân cho khách đến nhà là công việc của những tôi tớ, thường là những tên nô lệ được ông chủ mua về. Người nô lệ không có một quyền hành nào cả và họ phải làm mọi công việc theo ý chủ. Đức Giêsu là Chúa, là Thầy, là Vua Chúa hay là bậc Tôn sư của các môn đệ. Nhưng Ngài đã khiêm tốn hạ mình xuống để phục vụ như một tôi tớ hèn mọn. Vì thế trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu nói đi nói lại cho các học trò về khuôn mẫu của tình yêu. “Không có tình yêu nào cao quý cho bằng mối tình của người hiến ban mạng sống cho bạn hữu” (Ga 15, 13). Tình yêu chính là ‘bộ luật dân sự’, là hiến pháp căn bản của Vương quốc Nước Trời. Tình yêu cũng chính là tên gọi của Thiên Chúa, hay nói cách khác tình yêu là chính Vương hiệu của Đức Kitô. Trên Thánh giá, Đức Giêsu cũng hành xử vương quyền Ngài để phong thánh cho một tên trộm khét tiếng. Nếu không đi vào quỹ đạo tình yêu và lòng thương xót Chúa, chúng ta sẽ không thể hiểu động thái khác thường này.
Ngày 11/11/1951 trong một bài diễn từ, Đức Thánh Cha Piô 12 đã kể lại một giai thoại. Có một phụ nữ kia rất đạo đức, nhưng sức khỏe quá yếu ớt. Cô ta bị chứng sưng màng phổi và rất khó thở. Lâu lâu căn bệnh tái phát làm cô rất đau đớn. Nhưng cuối cùng cô cũng lập gia đình, mang thai và chờ ngày sinh nở. Bất hạnh bất ngờ ập đến. Căn bệnh năm xưa tái phát trầm trọng. Các bác sĩ đề nghị phải hủy bỏ thai nhi để bảo toàn tính mạng cho người mẹ. Người chồng cũng đồng ý như thế. Cô đã cầu nguyện trong nhiều ngày và kiên quyết từ chối lời đề nghị của bác sĩ. Cô nói trong nước mắt: “Tôi không thể giết con của tôi. Con tôi phải sống, cho dù tính mạng tôi có ra sao đi nữa”. Cô ta chấp nhận tình huống xấu nhất có thể xảy ra và phó thác hoàn toàn cho Chúa. Cuối cùng cô đã sinh được một bé gái kháu khỉnh, nhưng sau đó sức khỏe của cô ngày càng suy kiệt. Hai tháng sau, người phụ nữ tắt thở, trên tay vẫn ôm chặt đứa con mà cô ta hết lòng thương mến. Hơn hai mươi năm trôi qua, người ta thấy một nữ tu trẻ rất xinh đẹp đang ân cần chăm sóc cho các cháu bé mô côi trong một trại tế bần. Vòng tay thân thương và cặp mắt long lanh của vị nữ tu sáng rực lên nét yêu thương mà chị đã được truyền thụ lại từ chính người mẹ của mình. Đó là người phụ nữ năm xưa đã chấp nhận hy sinh tính mạng để cho con bà được sống. Người mẹ can đảm này đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 tôn phong Chân phước, bởi vì bà đã thực sự đi vào Vương quốc tình yêu theo dấu chân của Đức Giêsu. Chính Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo 2 đã nói: “Một đất nước nào, một chế độ nào cho phép con người sát hại lẫn nhau, thì đất nước đó, chế độ đó đang đi tới hủy diệt”. Đó là một đất nước đi ngược lại hiến pháp của Vương quốc Đức Giêsu. Sống trong Vương quốc này, Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta phải sống với một nền văn minh mới, đó là ‘nền văn minh của tình thương’. Mẹ Têrêsa Calcutta cũng đã từng nói: “Một người mẹ nhẫn tâm giết chết con của mình, thì không còn một thứ tội ác nào mà họ không dám làm”. Biết bao tội ác nhan nhản đang xảy ra trong xã hội hôm nay vì người ta đang dần đánh mất đi thẻ ID (identity card) để chứng minh mình là công dân Nước Trời.
Kết luận
Một nhà tâm lý học đã nói: “Trong tình yêu, con người rất dễ trở thành người điên.” Điều đó rất đúng nếu chúng ta ngắm nhìn Thập giá Đức Giêsu và Vương quốc của Ngài. Hêrôđê đã mặc cho Chúa chiếc áo đỏ để chế diễu Ngài như một ông vua nửa điên nửa khùng. Khi chịu đóng đanh trên Thập giá, chiếc áo đỏ của Chúa đã bị lột ra, nhưng sự điên rồ vẫn còn rất đậm nét. Cũng trên Thập giá điên rồ ấy, Đức Giêsu khai mở Vương quốc sự thật, đó là Vương quốc của tình yêu. Càng sống sung mãn ơn gọi tình yêu, chúng ta càng trở nên thần dân của Vương quốc cao cả này. Lúc bấy giờ “Ai nấy sẽ thấy Người, kể cả những kẻ đã đâm người. Kìa Người ngự đến giữa đám mây” (Kh 1, 7).

 

TN34-C128: Vinh quang và đau khổ - Trầm Thiên Thu

Hạnh phúc nào cũng có nước mắt – dù ít hay nhiều. Nước mắt thì mặn chát. Tình yêu càng nhiều TN34-C128

Hạnh phúc nào cũng có nước mắt – dù ít hay nhiều. Nước mắt thì mặn chát. Tình yêu càng nhiều đau khổ thì niềm hạnh phúc càng chan chứa. Cuộc sống cũng tương tự. Hầu như đó là “nguyên lý” của cuộc đời. Người ta ví von rằng “hạnh phúc giống như chiếc đồng hồ, loại nào ít phức tạp thì ít hư hỏng, loại nào càng đơn giản thì càng bền.
Vinh quang và đau khổ là hai lĩnh vực trái ngược nhau nhưng lại liên quan lẫn nhau. Cũng vậy sự sống và sự chết liên quan lẫn nhau. Sống mà cứ coi như mình sắp chết để có thể tránh nhiều thứ phiền toái, và thật kỳ lạ, chính cái chết lại là ngưỡng bước vào sự sống. Quá đỗi kỳ diệu!
Đức Kitô là Sự Sống (Ga 14:6), tức là Nguồn Sống, bất cứ ai muốn đến với Chúa Cha đều phải đi qua “con đường của sự sống” ấy, không thể không “đi qua” chính Đức Kitô Giêsu. Ngài là sự sống mà lại bị người ta giết chết, nhưng rồi Ngài đã chiến thắng Tử Thần và phục sinh vinh hiển, và mãi mãi Tử Thần phải thần phục Ngài. Ngài là Vua của muôn loài, và Ngài được Chúa Cha trao quyền xét xử muôn loài, ngay cả Satan cũng phải xuất đầu lộ diện mà trình diện Ngài: “Một ngày kia, con cái Thiên Chúa đến TRÌNH DIỆN Đức Chúa; Satan cũng đến trong đám họ để TRÌNH DIỆN Đức Chúa” (G 2:1).
Trình thuật ngắn gọn 2 Sm 5:1-3 cho biết: Toàn thể các chi tộc Israel đến gặp vua Đa-vít tại Khép-rôn và thưa: “Chúng tôi đây là cốt nhục của ngài. Ngay cả trước kia, khi ông Sa-un làm vua cai trị chúng tôi, chính ngài đã chỉ huy các cuộc hành quân của Israel”. Đức Chúa đã phán với ngài: “Chính ngươi sẽ chăn dắt Israel, dân Ta, chính ngươi sẽ là người lãnh đạo Israel”. Toàn thể kỳ mục Israel đến gặp vua tại Khép-rôn. Vua Đa-vít lập giao ước với họ tại Khép-rôn, trước nhan Đức Chúa. Rồi họ xức dầu tấn phong Đa-vít làm vua Israel.
Quốc Vương thời Cựu Ước là hình bóng tiên báo về Vị Thiên Vương Tối Cao thời Tân Ước là Đức Giêsu Kitô. Điều tiên báo từ ngàn xưa đã ứng nghiệm từ hai ngàn năm qua, đó là Đức Kitô đã đến thế gian, và chính Ngài đã xác định: “Ai NGHE lời tôi và TIN vào Đấng đã sai tôi thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống” (Ga 5:24).
Vua chúa trần gian có thể hét ra lửa, xử sao nên vậy, nhưng chỉ là cho sống hoặc bắt chết về phần xác mà thôi, còn Thiên Chúa là Chúa của các chúa, Vua của các vua, đặc biệt là Ngài “có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục” (Mt 10:28). Tử Thần còn khuất phục thì ai có thể làm gì trái lệnh Ngài chứ?
Thật là hạnh phúc khi chúng ta được là thần dân của Thiên Vương Giêsu, Thánh Vương Kitô. Không thể có niềm hạnh phúc nào khác khả dĩ so sánh được với niềm hạnh phúc mà chúng ta đang được tận hưởng.
Khi vui mừng, chắc chắn người ta không thể trì hoãn cái sự sung sướng ấy được. Tác giả Thánh Vịnh cũng vậy, cũng người trần mắt thịt, thế nên không thể không bày tỏ niềm hạnh phúc: “Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi: ‘Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa!’. Và giờ đây, Giêrusalem hỡi, cửa nội thành, ta đã dừng chân” (Tv 122:1-2).
Nhà Chúa là Nhà Cầu Nguyện, luôn có điều gì đó linh thiêng, khó diễn tả bằng phàm ngôn. Giêrusalem là hình bóng của Thánh Đô Thiên Quốc. Dù là Đền Thờ nơi trần gian nhưng vẫn được xây dựng một cách đặc biệt. Tác giả Thánh Vịnh mô tả: “Giêrusalem khác nào đô thị được xây nên một khối vẹn toàn. Từng chi tộc, chi tộc của Chúa, trẩy hội lên đền ở nơi đây, để danh Chúa, họ cùng xưng tụng, như lệnh đã truyền cho Israel. Cũng nơi đó, đặt ngai xét xử, ngai vàng của vương triều Đa-vít” (Tv 122:3-5).
Đức Giêsu Kitô là Vua cả vũ trụ, cả càn khôn, cách riêng Ngài là Vua của cuộc đời mỗi chúng ta. Hôm nay và mãi mãi, hãy không ngừng tôn vinh Ngài: “Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đa-vít, tổ phụ chúng ta. Hoan hô trên các tầng trời!” (Mc 11:10). Với diễm phúc này, chúng ta có dành cả đời để dâng lời cảm tạ cũng không đủ. Mong ước chúng ta được tiếp tục là thần dân của Ngài nơi Thiên Quốc Hằng Sinh để đời đời chúc tụng Ngài!
Niềm vui nối tiếp nỗi mừng, hạnh phúc tăng theo cấp số nhân. Niềm vui quá lớn, hạnh phúc dạt dào. Thật khó tả! Với kinh nghiệm từng trải và bằng cảm nghiệm tâm linh sâu sắc, Thánh Phaolô chân thành nhắn nhủ: “Anh em hãy vui mừng cảm tạ Chúa Cha, đã làm cho anh em trở nên xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp của dân thánh trong cõi đầy ánh sáng. Người đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái; trong Thánh Tử, ta ĐƯỢC ơn cứu chuộc, ĐƯỢC thứ tha tội lỗi” (Cl 1:12-14).
Quả thật, những tội nhân như chúng ta có mơ cũng chẳng thấy, thế nhưng không phải mơ mà là sự thật. Thánh Phaolô giải thích cặn kẽ: “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng NHỜ Người và CHO Người” (Cl 1:15-16). Được làm thụ tạo là hạnh phúc lắm rồi, nhưng chúng ta không chỉ là thụ tạo mà còn được làm người, hơn hẳn các loài thực vật, sinh vật và động vật, đặc biệt còn được làm con cái của Thiên Chúa. Điều đó được chứng mình qua hằng ngày, chúng ta hãnh diện được gọi Thiên Chúa là Thân Phụ: “Lạy Cha (của) chúng con, Đấng ngự ở trên trời,…”. Thật là trên cả sự tuyệt vời!
Còn nữa, chứ chưa dừng lại ở mức đó. Thánh Phaolô nói: “Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người. Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu. Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1:17-20). Chúa Giêsu là Huynh Trưởng, còn tất cả chúng ta là những tiểu đệ và tiểu muội của Ngài. Chúa Giêsu là Vua, vậy thì chúng ta là em của Vua, cũng có nghĩa là chúng ta thuộc dòng dõi Hoàng Tộc. Đặc biệt hơn là chúng ta còn được hòa tan vào Thiên Chúa, nên một với Ngài mỗi khi tiếp rước Thánh Thể. Ôi, thật là kỳ diệu quá chừng!
Huynh Trưởng Giêsu là Vua, nhưng Ngài không đăng quang, không ngai vàng, không vương trượng, không lòng bào,… như các vua chúa trần gian. Ngài là Vua-đa-không, không được tiền hô hậu ủng.
Trình thuật Lc 23:35-43 cho biết giây phút “đăng quang” đặc biệt của Vua Giêsu: Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: “Hắn đã cứu người khác thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!”. Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: “Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!”. Phía trên đầu Người, có bản án viết: “Đây là vua người Do Thái”. Vua Giêsu bị sỉ nhục đến tột cùng, nhưng Ngài vẫn im lặng. Sự im lặng của Ngài khiến những kẻ thủ ác hả hê và ngạo nghễ, tưởng mình đã chiến thắng. Sự kiêu ngạo thật tồi tệ!
Không chỉ có thế, chính một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: “Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!”. Đúng là kẻ hợm hĩnh già mồm. Chết đến nơi mà còn hống hách với người khác. Có lẽ nghe “ngứa tai” nên tên kia lên tiếng mắng nó: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!”. Xấu thì xấu, dữ thì dữ, ác thì ác, nhưng tâm hồn của anh ta không như dáng bặm trợn bề ngoài.
Và rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!”. Và Chúa Giêsu nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”. Có thể nói rằng diễm phúc nhất là tướng cướp này, có tên cúng cơm là Dismas.
Vua Giêsu quá nhân hiền và đại lượng. Tội tày trời, cả đời không hề tỏ ra chút xót thương bất cứ ai, coi trời bằng vung, mấy ai dám “chơi ngông” như Dismas. Thế mà chỉ một lời sám hối chân thành, mọi tội lỗi của anh ta được Vua Giêsu xí xóa hết, hoàn toàn trắng án, không phải vô Luyện Hình, mà được cùng Chúa Giêsu vào Thiên Đàng ngay đêm hôm đó.
Điều này nhắc nhở chúng ta đừng tuyệt vọng, dẫu có đôi khi cảm thấy thất vọng theo bản tính phàm nhân, hãy vững tin vào Lòng Thương Xót vô bờ bến của Thiên Chúa. Thất vọng về tình trạng tội lỗi của mình là một dạng kiêu ngạo, vì như vậy là không tin vào lòng đại lượng ta thứ của Thiên Chúa. Hạy vững tin, vì chính Chúa Giêsu đã xác định với Thánh Faustina: “Lòng Thương Xót của Ta lớn hơn tội lỗi của con và toàn thế giới” (Nhật Ký, số 1485). Và Ngài cũng đã hứa: “Không một linh hồn nào kêu gọi Lòng Thương Xót của Ta mà phải thất vọng bao giờ” (Nhật Ký, số 1541). Lời hứa đó đã, đang và sẽ được áp dụng với bất cứ tội nhân nào chân thành sám hối.
Với những người có chức, có quyền, lễ Chúa Kitô Vua nhắc nhở họ điều rất quan trọng qua lời Chúa Giêsu xác định với tổng trấn Philatô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài” (Ga 19:11). Đừng tưởng có “quyền” rồi thì mặc sức “hành” người khác. Tất cả mọi người đều là tôi tớ, và Chúa Giêsu nói rõ hơn: “Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị sẵn sàng, hoặc không làm theo ý chủ thì sẽ bị đòn nhiều. Còn kẻ không biết ý chủ mà làm những chuyện đáng phạt thì sẽ bị đòn ít. Hễ ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, và ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn” (Lc 12:47-48).
Thiên Chúa là ai? Kinh Thánh cho biết: “Thiên Chúa của anh em là Thần các thần, là Chúa các chúa, là Thiên Chúa vĩ đại, dũng mãnh, khả uý, không thiên vị ai và không nhận quà hối lộ, xử công minh cho cô nhi quả phụ, yêu thương ngoại kiều, và cho họ bánh ăn, áo mặc” (Đnl 10:17-18). Thiên Chúa là Vua Hòa Bình, Vua Công Lý, Vua Lòng Thương Xót, và mọi quyền hành đều phát xuất từ Ngài. Đặc biệt là Ngài chí công, nghiêm minh khi thưởng công và trừng phạt.
Vua Giêsu là Thiên Chúa, thế mà Ngài đã đi trọn con đường đau khổ mới có thể đạt tới Vương Quốc vinh quang, vĩnh hằng, chắc chắn chúng ta không thể đi bất cứ một con đường khác!
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết Ngài và biết con, xin thêm sức mạnh cho con để can đảm thú nhận tội lỗi và xin tha thứ mọi tội lỗi của con đã xúc phạm đến Ngài và đến tha nhân. Cúi xin Vua Giêsu cai trị và hướng dẫn cuộc đời con đi đúng định hướng của Chúa Cha. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

 

TN34-C129: NGƯỜI CÔNG DÂN ĐẦU TIÊN TRONG VƯƠNG QUỐC

VUA KITÔ
Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty
Trên thập giá, ngay trước khi tắt thở, Đức Giêsu đã hé mở cho thấy một điều vĩ đại vượt quá sức hiểu biết của tất cả mọi người: thiên đàng là vương quốc không chỉ dành riêng cho các kẻ đạo đức thánh thiện, mà trước hết là gia nghiệp biếu không cho tất cả các tội nhân cầu mong được xót thương tha thứ; điều này có thể làm nhiều người chúng ta ngạc nhiên, ngạc nhiên tới độ cảm thấy bị sốc, bị xúc phạm. Ta vẫn thường nghĩ: công dân thiên đàng phải là các bậc đạo đức thánh thiện, nếu không xuất chúng trổi vượt như các bậc đại thánh được tuyên phong thì chí ít cũng phải là lương thiện tốt lành tới một mức độ nào đó. Ấy vậy mà công dân đầu tiên và tiêu biểu của vương quốc Vua Kitô, công dân được chính Vua Kitô long trọng kết nạp ngay trên thập giá, lại là một tên đại gian đại ác tới độ xã hội loài người phải tìm cách loại bỏ bằng cách lên án tử.
Ngay cả Giêsu đang bị bị đóng đinh trên thập giá cũng bị thiên hạ bên dưới bêu rếu nhạo cười: nhạo cười vì chính tước hiệu ‘Vua’ mà ông đã tự gán cho mình; ‘Phía trên đầu Người có bản án viết: “Đây là vua người Do Thái”. Do Thái lúc đó đồng nghĩa với một dân tộc nhược tiểu, bị trị… và quan tổng chấn Phi-la-tô, khi cho viết, đã hàm ý đó; thậm chí cả các người Do Thái cũng cảm thấy bị nhục mạ vì cách nhạo cười bêu rếu này…, nên họ đã cực lực phản đối. Thế nhưng, người duy nhất đã nghiêm túc xác nhận lời bêu rếu trên là chính đáng, lại là chính người đang bị nhạo cười; ‘Phi-la-tô hỏi Người: “Ông là vua dân Do Thái sao?” Người trả lời: “Chính ngài nói đó!” Thế thì quả thật Đức Giêsu đã khảng định cách công khải: Người là Vua, và cùng với lời tuyên bố đó, một Vương Quốc mới đã bắt đầu lộ diện, một Dân Riêng mới, một Do Thái mới. Tuy nhiên vấn nạn được đặt ra là: vương quốc đó thực tế là gì, và sẽ dành cho những ai? ai mới xứng đáng được gia nhập vương quốc của vị Vua bị đóng đinh này? Chắc chắn đó là những câu hỏi cần tìm được lời giải đáp! Trong vương quốc Do Thái của Cựu Ước, công dân là những người như tổ phụ Áp-ra-ham, đặt trọn niềm tin vào lời hứa của Đức Chúa; và họ cụ thể hóa niềm tin đó bằng việc nắm giữ trọn vẹn các lề luật do Mô-sê để lại. Vậy thì, nếu công dân vương quốc cũ đã phải là như thế thì công dân của vương quốc Do Thái Mới sẽ phải làm gì đây, đồng thời họ phải hội đủ các điều kiện nào để được gia nhập? để giải đáp vấn nạn này ta chỉ cần nhìn vào người công dân đầu tiên và tiêu biểu của Vương Quốc ấy là đã hiểu ra ngay, cả về bản chất lẫn điều kiện để được gia nhập.
Trong trình thuật thương khó của Phúc Âm Lu-ca, diện mạo người công dân đó đã được phác họa cách rõ nét: Lu-ca mô tả tên gian phi cùng chịu đóng đinh với Đức Giêsu trên thập giá là công dân đầu tiên của vương quốc mới thiết lập. Sẽ không ai gọi hắn là ‘lành’ vì cả đời tên này đã sống gian hùng và từng phạm nhiều trọng tội tới độ xã hội phải tuyên án tử. Một tên đại gian đại ác như thế mà lại được chính Đức Giêsu trực tiếp công bố rằng: anh được kể như người thứ nhất được nhận vào Vương Quốc mình thiết lập: “Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”. Ta thắc mắc: tại sao lại như thế, hắn đã làm được gì? – thưa, điều duy nhất mà tên gian phi này đã may mắn làm được trước khi chết là kêu nài tới lòng xót thương của Tân Vương: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông xin nhớ đến tôi!” Đơn giản chỉ có thế, và thế là anh ta đã được nhận vào Vương Quốc, được trở thành công dân đầu tiên của Nước Trời!
Tín hữu của mọi tôn giáo đều có chung một tư duy: ‘thiên đàng hay thiên cung’ là nơi chỉ dành cho những con người tốt lành thánh thiện. Riêng Tin Mừng của Đức Giêsu mới cho thấy điều ngược lại: trên thiên đàng của Cha Người xuất hiện một hạng người ‘lành thánh mới’, phù hợp hơn với Vương Quốc được Thập Giá tình yêu cứu độ thiết lập. Nếu ‘lành thánh cổ điển’ là tu thân tích đức, là đạo đức khôn ngoan…, chí ít cũng phải ăn ngay ở lành, thì ‘lành thánh mới’ chỉ đơn giản là đón lấy lòng thương xót vô biên mà Thiên Chúa muốn ban tặng cho mọi người trong Đức Kitô Giêsu. Nếu tên trộm trở nên ‘lành’, hay tên tướng cướp trở nên ‘thánh’ thì cũng chỉ vì hắn đã nại tới lòng nhân ái cứu độ của Thiên Chúa.
Quan trọng hơn nữa: chúng ta không được coi người công dân đầu tiên này chỉ như một biệt lệ, một luật trừ hiếm hoi. Đúng hơn: anh ta phải được nhìn nhận như một nguyên mẫu (prototype) của mọi công dân trong Vương Quốc mới của Vua Kitô. Điều này đã được chứng minh qua thị kiến tông đồ Gio-an ghi lại trong sách Khải Huyền: “Những người mặc áo trắng kia là ai vậy?” “Họ là những người… giặt sạch và tẩy áo mình trong máu Con Chiên… Và Thiên Chúa lau sạch nước mắt họ” (Kh 7:13-14. 17). Thiên đàng mới hầu như gồm toàn những con người như thế cả, nói cách khác: mọi công dân Nước Trời đều phải là như thế. Vương quốc của Vua Kitô không phải là một thiêng đàng đầy khoái lạc được dùng để ân thưởng cho những thần dân trung tín tốt lành; Vương Quốc của Vua Kitô Giêsu Thập Giá chan hòa tình yêu tha thứ và cứu độ của Thiên Chúa. Vương quốc này sẽ đón nhận hết thảy mọi người, kể cả những kẻ gian hùng tội lỗi nhất, miễn là họ biết khiêm tốn đưa tay ra lãnh lấy tấm thẻ công dân được lòng thương xót Chúa ban tặng cho cách nhưng không. Đúng hơn, càng những ai nhận biết thân phận bất xứng tội lỗi của mình, thì lại càng dễ dàng mau mắn đưa tay ra đón nhận hơn. Như thế công việc và điều kiện duy nhất cần chu toàn để gia nhập Vương Quốc của Vua Kitô chỉ có thể là: khiêm tốn đón lấy ơn cứu độ đầy xót thương mà Thiên Chúa không ngừng trao ban!
Chúng ta được Hội Thánh nói cho biết: trong Vương Quốc ấy có một công dân rất tiêu biểu và uy tín: công dân Maria, người nữ đã từng khiêm tốn thốt lên tự đáy lòng mình: “Thiên Chúa đấng cứu độ tôi, đã đoái thương nhìn tới phận nữ tỳ hèn mọn này!” (Lc 1:48) Chính vì khiêm tốn tột độ chân nhận Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ của mình, mà Ma-ri-a mới thật sự xứng đáng trở thành Nữ Hoàng trong Vương Quốc của Vua Giêsu Kitô nhân ái.
Ngay cả một linh mục như tôi cũng không có cách nào khác để trở thành công dân Nước Trời! hơn nữa, nếu muốn trở thành công dân cao cấp hơn trong Vương Quốc đó, tôi sẽ phải nỗ lực trong diện nào hơn hết? Nếu trả lời được các vấn nạn trên, thời con đường ‘thánh thiện – công chính’ của tôi sẽ rộng mở hơn bao giờ hết; và rồi thì công tác mục vụ tôi đảm trách sẽ minh bạch và trực diện hơn nhiều!
Lạy Vua Kitô của vương quốc tình yêu cứu độ, xin hãy tiếp nhận con vào vương quốc của Người; xin cũng hãy nói với con như Chúa đã từng công bố với tên gian phi: “ngay hôm nay con sẽ ở với Cha trong vương quốc”. Xin hãy ban cho con ơn trọng đại nhất: là khi giờ chết đến, con biết ném mình vào lòng nhân hậu vô biên của Chúa. Xin cho con sở đắc vĩnh viễn được cái cảm giác tuyệt vời mà đã một lần con được nếm cảm trong giờ chết lâm sàng…, là được tan biến trong vòng tay nhân ái thứ tha, và được vòng tay này ôm ấp đến muôn đời. Amen.

 

TN34-C130: Lời hứa cứu độ – ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Nếu những tổng thống trần thế đưa ra những lời hứa hẹn chỉ để lấy lòng cử tri rồi nhanh chóng để TN34-C130

Nếu những tổng thống trần thế đưa ra những lời hứa hẹn chỉ để lấy lòng cử tri rồi nhanh chóng để những lời hứa hẹn ấy rơi vào quên lãng, thì Chúa Giêsu vị Vua trên thập giá lại chứng minh quyền năng là vua của mình bằng một lời hứa cứu rỗi.
Cuộc chạy đua vào Nhà Trắng của các ứng viên tổng thống Hoa Kỳ đã đến hồi kết thúc: ngày 8-11-2016 vừa qua, cử tri Mỹ đã chọn ra vị tân tổng thống cho đất nước của mình. Theo kết quả bỏ phiếu, ông Donald Trump, thành viên đảng Cộng hòa, đã đắc cử và trở thành vị tổng thống thứ 45 của đất nước Cờ Hoa.
Trong cuộc tranh cử tổng thống, cả hai ứng viên, bà Hillary Clinton, đại diện cho Đảng Dân Chủ và ông Donald Trump, đại diện cho đảng Cộng Hòa đều hứa hẹn rất nhiều. Họ tranh thủ cử tri bằng việc đưa ra những chiến lược đổi mới trong nhiều lãnh vực: giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, điều chỉnh chính sách thuế, ổn định vấn đề người di dân, cải cách an sinh xã hội… Giờ đây, công dân Mỹ đang chờ đợi xem vị tân tổng thống có thực hiện những điều ông đã hứa khi tranh cử hay không. Thông thường, ngôn từ của các chính trị gia được gọi là "Lời nói gỗ - Langue de bois", có nghĩa là không thực và chỉ là những "xảo ngôn", hứa cho qua.
Hôm nay, Chúa nhật cuối năm Phụng vụ, Giáo Hội suy tôn Chúa Giêsu với tước hiệu "Vua vũ trụ". Người là Vua không giống như một vị tổng thống do cử tri bỏ phiếu bầu ra, nhưng, chính Thiên Chúa Cha đã ban cho Người "mọi quyền năng trên trời dưới đất" (Mt 28, 18). Thiên Chúa Cha cũng sẽ quy phục mọi thù địch dưới chân Người (1Cr 15,25). Đức Giêsu làm vua, vì Người là Con Thiên Chúa, Đấng tác tạo vũ trụ. Người cũng là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là dung mạo đầy từ bi thương xót của Chúa Cha. Người đã vâng lời Đức Chúa Cha đến mức chấp nhận cái chết trên thập giá, để cứu độ con người (x. Phl 2,6-12). Chúa Giêsu là vị Vua đã chiến thắng sự chết và đã phục sinh vinh quang. Người là Vua của vương quốc công chính, an bình và yêu thương. Vương quốc của Người không biên giới. Mọi người bất kỳ thuộc về nền văn hóa, chủng tộc hay ngôn ngữ nào, nếu họ thực hành đức yêu thương thì trở thành công dân của Vương quốc này.
Bài đọc I giới thiệu cho chúng ta vua Đavít, là một gương mặt điển hình trong hàng ngũ các vua của lịch sử Do Thái. Đavít cũng là hình ảnh của vị Vua Giêsu trong tương lai. Nếu Đavít đã đi vào lịch sử Do Thái bằng những chiến công hiển hách tiêu diệt quân thù, và một đời sống đạo đức cầu nguyện gương mẫu, thì vị Vua Giêsu lại hy sinh mạng sống để cứu chuộc con người, phục hồi phẩm giá của họ và mặc cho họ sự thánh thiện cao sang. Người cũng không phải là một vị vua của quá khứ, cũng không phải là vị vua tương lai, mà là vị vua của hiện tại đang cai trị hoàn vũ này và cai trị các tâm hồn bằng tình yêu thương. Người mời gọi chúng ta hãy đón nhận vương quyền của Người để tâm hồn được thanh thản, và để gánh nặng cuộc đời trở nên nhẹ nhàng: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30). "Mang lấy ách" là một kiểu nói diễn tả sự đón nhận, tâm tình yêu mến và thiện chí noi gương bắt chước một bậc thầy.
Nếu những tổng thống trần thế đưa ra những lời hứa hẹn chỉ để lấy lòng cử tri rồi nhanh chóng để những lời hứa hẹn ấy rơi vào quên lãng, thì Chúa Giêsu vị Vua trên thập giá lại chứng minh quyền năng là vua của mình bằng một lời hứa cứu rỗi. Thánh Luca giới thiệu với chúng ta một vị vua không giống quan niệm trần gian. Đó là một vị vua không có hoàng bào, không ngai vàng, không đội quân danh dự. Ngai vàng của Người là cây thập giá. Bên cạnh Người là hai kẻ trộm với hai thái độ khác nhau: một người hằn học lên án, một người khiêm tốn bênh vực. Đối với người trộm bênh vực Chúa, Người hứa cho họ được vào Nước Trời: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng". Còn lời nào ngọt ngào và hy vọng hơn lời này? Bởi lẽ hành phúc thiên đàng là đích điểm cuộc đời của mỗi chúng ta. Qua lời tuyên bố này, Chúa Giêsu chứng tỏ quyền năng Thiên Chúa của Người. Quyền ấy như quyền của một vị vua, có thể cho phép một công dân gia nhập vương quốc của mình.
Nhờ bí tích Thanh tẩy, chúng ta trở nên công dân của vương quốc của vị Vua Giêsu. Khi suy tôn Người là Vua, chúng ta hãy cố gắng sống đúng với kỷ luật của vương quốc ấy. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: đừng quên rằng Đức Giêsu đã giải thoát chúng ta, đồng thời đưa chúng ta từ tối tăm vào ánh sáng kỳ diệu của vương quốc của Người, nhờ đó mà chúng ta được ơn tha thứ mọi tội lỗi (Bài đọc II).
Không chỉ hứa với người trộm biết sám hối ăn năn, Chúa cũng nhiều lần hứa ban những điều tốt lành cho những ai tin tưởng cậy trông vào Người. Người hứa hiện diện giữa chúng ta khi chúng ta tập hợp với nhau cầu nguyện nhân danh Người. Như người cha, người thày cảm thương những người con, Chúa khẳng định với chúng ta: "Thầy bảo anh em: anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho" (Lc 11,9). Tin vào lời hứa của Chúa, chúng ta hãy thực hiện những gì Người dạy, vì "Chúa là Đấng phép tắc và lòng lành vô cùng đã phán hứa sự ấy, chẳng có lẽ nào sai được" (Kinh Trông cậy).
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy ngự trị cõi lòng mỗi chúng con, để gánh nặng cuộc đời của chúng con trở nên nhẹ nhàng êm ái. Xin hãy hướng dẫn soi sáng cuộc đời chúng con để lời nói, việc làm và tư tưởng của chúng con luôn ngay thẳng và thánh thiện, đẹp lòng Chúa và thân ái với anh chị em chúng con. Amen.

 

TN34-C131: Xin nhớ đến tôi.

(Trích từ ‘Manna’ – Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.)
Suy Niệm
"Đáng lẽ tôi đã được rửa tội từ lâu, nhưng vì vấn đề gia đình và làng xóm nên chưa được. Dù vậy tôi rất ư là kitô hữu."
 

Đó là lời của nhạc sĩ Văn Cao trong một cuộc gặp gỡ riêng tư năm 1990. Cụ đã sung sướng khoe TN34-C131

Đó là lời của nhạc sĩ Văn Cao trong một cuộc gặp gỡ riêng tư năm 1990. Cụ đã sung sướng khoe với mọi người như thế, và thẳng thắn nhìn nhận: "Chúng tôi đã được đào tạo, nhờ đức tin và âm nhạc kitô giáo."
"Chúng tôi" ở đây muốn ám chỉ giới trí thức và văn nghệ sĩ thế hệ của cụ.
Đức tin đã thấm vào con người tài hoa ấy, và làm sản sinh những tác phẩm bất hủ.
"Nếu tôi không hiểu Halêluia là gì, thì đã chẳng có bài "Làng tôi", cụ bảo vậy.
Chẳng ai ngờ Văn Cao lại là con người say mê Giêsu, mà là Giêsu trên thánh giá. Từ năm 1954, cụ vẫn treo một thánh giá trước mặt.
Giêsu trần trụi, Giêsu không còn gì. Nhưng đối với Văn Cao, có ai hơn Giêsu?
Bài Tin Mừng trong lễ Chúa Giêsu Vua vũ trụ lại đưa ta về với Chúa Giêsu trên thập giá. Chẳng lúc nào Chúa làm vua rõ bằng lúc này. "Đây là vua người Do thái", tấm bảng ghi như thế. Nhưng kiểu làm vua của Ngài thật khác thường. Không có vương miện, chỉ có vòng gai. Không có cẩm bào, chỉ có trần trụi nhơ nhuốc. Không có câu tán tụng, chỉ có lời nhạo báng khinh chê.
Bị treo trên thập giá, Đức Giêsu nghe những lời mời mọc, ngọt ngào và tinh vi như các cơn cám dỗ buổi đầu. "Nếu ông là Đức Kitô thì hãy cứu lấy mình”. “Hãy xuống khỏi thập giá" (Mt 27,40). Cứu lấy mình là điều Ngài chẳng hề nghĩ đến.
Chính vì Ngài thật là Con của Cha, nên Ngài không tự ý xuống khỏi thập giá như xưa Ngài đã từ chối nhảy xuống từ nóc Đền Thờ.
Đức Giêsu không muốn chúng ta tin Ngài vì những màn trình diễn ngoạn mục. Ngài muốn chúng ta tin, vì Ngài đã buông mình cho Cha, đón nhận cái chết với niềm vâng phục tín thác.
Chính vào lúc hấp hối, mọi sự tưởng như sụp đổ, vị Vua bị đóng đinh lại hé lộ vương quyền của mình cho anh trộm lành có lòng thống hối, tin tưởng. "Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng." Như thế kẻ gian phi lại là người đầu tiên được ơn cứu độ nhờ cái chết thập giá của Đức Giêsu.
Mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ, chúng ta muốn khước từ những thần tượng giả mạo, muốn để Ngài làm vua của vũ trụ lòng mình. Chúng ta muốn đưa Ngài đi vào mọi lãnh vực cuộc sống: văn chương, khoa học, nghệ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội... Cần có đức tin mạnh mẽ mới thấy Chúa Giêsu vẫn không ngừng lôi kéo cả thế giới về với Ngài bằng trăm ngàn nẻo đường bất ngờ, trong đó có nẻo đường của cụ Văn Cao và anh trộm lành.
Gợi Ý Chia Sẻ
Có người cho rằng: "Khoa học kỹ thuật càng tiến bộ, con người càng có nhiều tiện nghi vật chất, thì lòng đạo đức càng sa sút. Nước Chúa như bị thu hẹp lại." Bạn có đồng ý với nhận xét trên không? Làm sao để tiện nghi vật chất không làm người ta xa Chúa?
Bạn đã làm gì để Nước Chúa đến với tập thể bạn đang sống như gia đình, xứ đạo, cộng đoàn, trường học, nơi làm việc? Bạn có gặp những khó khăn khi xây dựng Nước Chúa trong môi trường sống của bạn không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, Vua vũ trụ nếu Chúa là vua của hơn bốn trăm ngàn linh mục, nếu Chúa là vua của hơn tám trăm ngàn nữ tu, nếu Chúa là vua của một tỉ người công giáo, thì thế giới này sẽ đổi khác.
Chúng con không phải là một lượng men quá nhỏ.
Nếu khối bột chẳng được dậy lên, thì là vì men đã mất phẩm chất.
Chúng con phải chịu trách nhiệm về sự dữ trên địa cầu, có nhiều sự dữ do chính chúng con gây ra.
Chúng con chỉ kêu cầu cho Nước Chúa mau đến, nhưng lại không chịu xây dựng Nước ấy trên trần gian.
Lạy Chúa Giêsu Vua vũ trụ, chúng con thường cố ý thu hẹp vũ trụ của Chúa, giữ chặt Chúa ở trong nhà thờ, nên nhiều nơi vẫn vắng bóng Chúa, dù Chúa đã đến trái đất này từ 2000 năm.
Chúng con sợ Chúa đến làm phiền chúng con, và không cho chúng con được yên ổn.
Ước gì một tỉ người Công giáo chịu để Chúa chi phối đời mình và đưa Chúa đi vào những nơi Chúa chưa hề đến. Như thế vũ trụ này trở thành vũ trụ của Thiên Chúa.

 

TN34-C132: Vâng phục đến hơi thở cuối cùng

(Suy niệm của Lm Ignatio Trần Ngà)
 

Ngay từ thủa khai sinh nhân loại, Nguyên Tổ loài người là A-đam và E-va đã bị Sa-tan cám dỗ TN34-C132

Ngay từ thủa khai sinh nhân loại, Nguyên Tổ loài người là A-đam và E-va đã bị Sa-tan cám dỗ từ bỏ đường lối Thiên Chúa để theo đường lối Sa-tan. Hai ông bà đã nghe theo lời ma quỷ xúi giục, không vâng phục Thiên Chúa, không đi theo đường lối Người. Thế là một khi “Đầu Tàu” đã đi trật đường rầy thì sẽ lôi kéo các “toa tàu”, tức là vô vàn con cháu về sau đi vào ngõ cụt, lao vào cõi đau khổ trầm luân.
Để cứu nhân loại thoát cảnh lầm than do Nguyên Tổ A-đam E-và gây ra, Ngôi Hai Thiên Chúa  xuống thế đầu thai làm người, trở thành Nguyên Tổ mới, tác sinh ra một nhân loại mới, đồng thời trở nên như là “Đầu Tàu” thứ hai dẫn đưa nhân loại vào chốn hồng phúc.
Sa-tan đã hạ đo ván Nguyên Tổ A-đam E-va ngay từ thử thách đầu tiên, nay lại thừa thắng xông lên với quyết tâm lôi kéo “Đầu Tàu” thứ hai là Đức Giê-su Ki-tô đi trệch đường lối Thiên Chúa, nhằm nhận chìm nhân loại vào trong cõi trầm luân muôn đời muôn kiếp.
Mặc dầu Chúa Giê-su là Thiên Chúa Ngôi Hai, nhưng Người đã “hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Philipphê 2, 7), do đó, “Người đã chịu thử thách (cám dỗ) về mọi phương diện cũng như ta” (Do thái 4, 15). Chính vì thế, Sa-tan không ngừng cám dỗ Chúa Giê-su đi trệch đường của Thiên Chúa Cha với hy vọng phá vỡ kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa dành cho loài người.
***
Lúc khởi đầu sứ vụ, Chúa Giê-su từng bị cám dỗ ba lần trong hoang địa khi mới chuẩn bị bước vào đời sống công khai. Chúa Giê-su anh dũng chống lại và đã chiến thắng. Ma quỷ đành rút lui để chờ dịp khác.
Trong thời gian rao giảng, Chúa Giê-su từng bị cám dỗ lên làm vua (Gioan 6, 14), bị cám dỗ đừng lên Giê-ru-sa-lem để chịu khổ nạn (Mt 16, 22-23) và đặc biệt, cơn cám dỗ hết sức khốc liệt nơi vườn Dầu (Lc 22, 41-44).
Nơi đây, Chúa Giê-su bị giằng co giữa hai chọn lựa quyết liệt: uống chén đắng hay khước từ chén đắng? Chấp nhận làm theo ý Chúa Cha để rồi phải chết trong tủi nhục đau thương hay là làm theo ý mình để được sống an bình?
Cuộc giằng co trong nội tâm đã khiến Chúa Giê-su phải toát mồ hôi máu. Nhưng cuối cùng Đức Giê-su đã chiến thắng: “Xin đừng theo ý Con, một xin theo ý Cha”. (Lc 22, 42). Người cương quyết vâng theo ý Chúa Cha bước vào cuộc khổ nạn đau thương để cứu độ muôn người.
Thế nên lần nầy, Sa-tan ra sức đánh trận cuối cùng, may ra giành được chiến thắng vào phút chót. Chiến lược của Sa-tan là tìm cách cám dỗ Chúa Giê-su xuống khỏi thập giá nhằm phá vỡ hoàn toàn kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.
Trước hết, qua miệng các thủ lãnh, Sa-tan khiêu khích: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!"
Phải rồi, khi tự mình xuống khỏi thập giá, muôn người sẽ tin nhận Đức Giê-su thật sự là Đấng Ki-tô… như thế sẽ có lợi cho biết bao tâm hồn.
Tiếp theo, Sa-tan dùng lời binh lính để dụ dỗ Chúa Giê-su: “Hãy xuống khỏi thập giá đi.” Lý do được đưa ra là: “Ông là vua dân Do-Thái”. Đúng vậy, là vua thì phải xuống khỏi thập giá để lãnh đạo toàn dân thần phục Thiên Chúa, hẵn sẽ có lợi hơn nhiều.
Ngay cả tên tử tội cùng bị đóng đinh với Chúa Giê-su cũng được Sa-tan sử dụng để cám dỗ Người: “Ông không phải là Đấng Ki-tô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!”
Phải rồi, là Đấng Ki-tô thì có dư quyền năng để tự cứu mình và cứu luôn hai nạn nhân đang cùng chịu khổ nạn đau thương với mình. Thực là điều chính đáng!
Nhưng Chúa Giê-su đã không chịu lùi bước trước bất kỳ cám dỗ nào. Người quyết vâng phục Chúa Cha cho đến hơi thở cuối cùng. Người đã chiến đấu kiên cường và đã hoàn toàn chiến thắng.
Lời thánh Phao-lô trong thư Philipphê (chương 2, 6-11) sau đây như khúc khải hoàn ca tán dương Chúa Giê-su đã vẻ vang chiến thắng:
“Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa  mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.
Chính vì thế, Thiên Chúa  đã siêu tôn Người và  tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.
Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giê-su Ki-tô là Chúa.”
Ngợi ca Vua Giê-su Ki-tô toàn thắng vinh hiển muôn đời. Amen.

 

TN34-C133: Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua - Lm Giacôbê Tạ Chúc

Nói đến Vua là nói đến quyền lực, sức mạnh, sự giàu sang phú quý. Nhưng với vị vua Giêsu thì TN34-C133

Nói đến Vua là nói đến quyền lực, sức mạnh, sự giàu sang phú quý. Nhưng với vị vua Giêsu thì điều hoàn toàn ngược lại. Sức mạnh nơi Ngài là tình yêu, quyền lực của Ngài là sự khiêm hạ, và giàu sang của Ngài là phục vụ. Giáo Hội suy tôn Ngài là Vua vũ trụ, bởi chính Ngài là khởi thủy, và cùng tận.
Vua tình yêu
Thiên Chúa là tình yêu. Định nghĩa của Gioan rất đơn giản nhưng chứa đựng cả một bể khơi nguồn tình yêu. Đức Giêsu đã tế hiến cuộc đời của mình cho tình yêu nhân loại. Ngài là vua của tình yêu. Vương quốc của Ngài không xây dựng trên bạo lực, bạo quyền, mà được xây dựng trên tình yêu thương. Khí giới Ngài dùng là đỉnh cao Thập Giá. Phía trên đầu Ngài là tấm bảng được ghi: “Đây là vua người Do Thái” (Lc 23, 38).
Vua khiêm hạ
Thông thường các vị vua chúa trần gian hay kiêu căng, ác độc. Hê-rô-đê bạo chúa đã gây biết bao tội ác và đưa đến cái chết cho Gioan Tẩy Giả. Tần Thủy Hoàng với Vạn lý trường thành đã nhuộm đỏ máu xương của biết bao người. Kiêu ngạo và độc ác đã gây nên biết bao là oan khiên. Còn Đức Giêsu, vị vua không biên cương lãnh thổ, không triều đình không quân lính. Vị vua cỡi trên lưng lừa trong ngày vào thành Giê-ru-sa-lem để hoàn tất cuộc đời mình, với cái chết cô đơn trên Thập Giá, giữa những người gian phi.
Vua phục vụ
Ngài đến trần gian là để hầu hạ và phục vụ con người. Bao năm rao giảng Tin mừng, Đức Giêsu đã tận tụy phục vụ một cách nhưng không cho con người. Ngài rong ruổi khắp nơi, để tìm kiếm và cứu chữa con người. Những người đau ốm, những kẻ bị quỷ ám, những người đơn côi, những kẻ tội lội đều được Ngài tận tình chăm sóc cả hồn lẫn xác. Cử chỉ phục vụ của Ngài được thể hiện cô đọng lại trong đêm bị trao nộp. Ngài đã cúi xuống và rửa chân cho các môn đệ. Cử chỉ của một người tôi tớ phục vụ cho các ông chủ của mình. Ta đến không phải để phục vụ mà là phục vụ muôn người: “Vua các dân thì dùng uy mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng mình là ân nhân. Nhưng anh em thì không phải như thế, trái lại ai lớn nhất trong anh em thì phải nên như người nhỏ nhất, và kẻ làm đầu, thì hãy nên như người phục vụ” (Lc 22, 25-26).
Lạy Đức Vua Giêsu, xin cho chúng con là những kẻ tôi tá Ngài biết sống yêu thương, khiêm nhường và phục vụ anh chị em mình. Xin cho chúng con chỉ biết phụng sự, và tôn thờ một mình Ngài là Vua của chúng con. Amen.

 

TN34-C134: Đức Vua Cứu Thế - AM. Trần Bình An

Vua Bhumibol Adulyadej (1927- 2016) còn được gọi là Vua Rama IX, là vua Thái Lan trị vì từ năm 1946 TN34-C134

Vua Bhumibol Adulyadej (1927- 2016) còn được gọi là Vua Rama IX, là vua Thái Lan trị vì từ năm 1946 cho đến khi mất ngày 13 tháng 10, 2016. Vua Bhumibol Aduladej được xem là một trong số những vị quân vương trị vì lâu nhất thế giới và là vị vua trị vì lâu nhất trong lịch sử Thái Lan. Trong suốt triều đại của ông, Thái Lan đã trải qua 30 đời thủ tướng. Ông sử dụng tài sản to lớn của mình, theo Forbes là khoảng 30 tỷ USD, để cung cấp tài chính cho nhiều đề án phát triển, đặc biệt là ở nông thôn.
Vua Bhumibol tham gia tích cực vào đời sống kinh tế và xã hội của đất nước, chủ yếu là qua một loạt các đề án phát triển kinh tế mà ông đề xuất, tổ chức và tài trợ. Có hơn 3.000 đề án do quốc vương khởi xướng, được triển khai trên toàn quốc, nhằm cải thiện điều kiện sống của dân nghèo ở vùng nông thôn Thái Lan, như giới thiệu giống cây trồng đến bảo tồn nước, từ thoát nước vùng đầm lầy đến bảo vệ rừng, với mục tiêu phát triển bền vững.
Sau năm 2006, sức khỏe của vua Bhumibol bị suy giảm và ông đã trải qua thời gian dài tại Bệnh viện Siriraj. Ông được người dân Thái Lan hết sức tôn kính. Đối với nhiều người dân Thái, nhà vua được sùng bái gần như một thần linh. (Wikipedia)
Vua Bhumibol được dân Thái Lan vô cùng kính trọng, quý mến vì là bậc minh quân, yêu nước, thương nòi, đã tận tuỵ giúp dân giàu nước mạnh, thật xứng đáng là tấm gương phụ mẫu thiên hạ. Hôm nay, Giáo Hội hân hoan mừng Đức Giêsu, Vua Cứu Thế, vĩ đại hơn, cao cả hơn tột bậc, dù cai quản cả hoàn vũ, nhưng Người không thuộc cõi thế, như Người đã phán: “Nước tôi không thuộc trần gian này.” (Ga 18, 36) Người là Đức Vua vô cùng chí hiếu, rất mực khiêm nhu, cực kỳ chí ái và tận tâm phục vụ nhân loại.
Đức Vua chí hiếu
Nhập thể với thân phận thanh bần, nghèo nàn, khốn khó, Đức Vua Giêsu vẫn luôn trung thành, vâng theo Thánh Ý Chúa Cha, từ thuở thơ ấu cho đến khi chịu tử nạn. "Sao cha mẹ tìm Con? Cha mẹ không biết rằng Con phải lo công việc của Cha Con ư?" (Lc 2, 49) Sự hiếu thảo, vâng lời tuyệt đối chính là lẽ sống của Người: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4, 34)
Trước khi bước vào cuộc khổ nạn kinh hoàng, Người sợ hãi đến vã mồ hôi máu, nhưng vẫn kiên trung, thảo kính khấn nguyện: “Xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn”(Mc 14, 36). Đức Vua Giêsu chính là hiện thân Người Tôi Tớ Đau Khổ của Giavê. (Is 42,1-4)
Người yêu mến và hết lòng vâng phục Cha, đến nỗi chịu chết để cứu độ nhân loại, hầu biểu lộ công khai cho nhân loại thấy Lòng Thương Xót của Thiên Chúa khoan dung biết dường nào.
Đức Vua khiêm nhu
"Nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi, nếu nó thật là Đấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn." Trước những lời khiếm nhã, khiêu khích ấy, Đức Vua Giêsu vẫn một mực khiêm nhu, nhẫn nhục, im lặng, cam chịu những lời phỉ báng, hỗn xược, thách thức, của loài thọ tạo, qua miệng những thủ lãnh, lính tráng và người gian phi bên tả. Y như Người đã từng khéo léo tránh được được ma quỷ cám dỗ về quyền lực trong hoang mạc (Lc 4, 5-12).
“Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng” (Mt 11,9). Người từng mời gọi mọi người hãy noi gương khiêm nhu. Người chẳng tỏ ra bực dọc, hận thù, oán thán những xúc phạm thô bạo, bởi vì “Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế" (Pl 2,7)
Đức Vua chí ái
Trước những tiếng nhạo báng cay độc, hằn học, chế giễu của những kẻ ganh ghét, căm thù, Người vẫn bình thản, không chấp nhất, cũng chẳng đáp lại nửa lời. Hơn nữa, Người còn tỏ lòng thương xót, độ lượng, tha thứ, còn nài xin Cha thứ tha. “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm.” (Lc 23, 34)
Ngay trong những lúc cùng quẫn nhất, Người vẫn luôn nhân từ, khoan dung, quên mình, để yêu thương người trộm bên hữu, biết tin cậy vào Người và ăn năn, hối cải: “Hôm nay, ngươi sẽ ở trên Thiên Đàng với Ta.” Lời của Đức Giêsu cũng là lời tình yêu, đem lại an ủi và bình an. Với tình thương, Người đã hành động chính xác như lời Người đã loan báo về sứ vụ của Người. “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi." (Mc 2, 17)
Lề luật chính yếu của Đức Vua chí ái ban cho thần dân là tình yêu: "Đây là giới răn của Thầy, là các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con.” (Ga 15, 12) Đỉnh điểm tình yêu là cuộc khổ nạn, Đức Vua chí ái hiến mạng sống cứu độ nhân loại.
Đức Vua phục vụ
“Ai muốn làm đầu, thì phải làm người rốt hết và làm tôi tớ mọi người.” (Mc 9, 35) Người là Vua vũ trụ, là Vua cả nhân loại, nhưng Người không đến cai trị, áp bức thần dân như thói đời, mà thi hành vương quyền bằng cách yêu thương, hăng say phục vụ nhân loại, đến nỗi sẵn sàng chết cho con người, dù thế gian từ chối Người, chế giễu, thậm chí thách thức Người. “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người.” (2 Cr 5, 21)
Trước bữa Tiệc Ly, Đức Vua Cứu Thế còn quỳ xuống, rửa chân cho từng môn đệ, nêu gương cho các ông biết tận tâm phục vụ. “Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.”(Ga 13, 14)
Phục vụ tha nhân là thể hiện một cách cụ thể đức ái. Nhất là phục vụ những người bé nhỏ, đau khổ, nghèo khó, bị bỏ rơi, chính là phục vụ Đức Vua Giêsu, trên hết các vua, các chúa trần gian. “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống,…" (Mt 25, 35)
“Con đừng nghĩ dấn thân là lao mình vào những hoạt động hăng say náo nhiệt. Con hãy hiểu nghĩa dấn thân sâu hơn: Theo gương Chúa, yêu thương đến mức độ quên mình hoàn toàn vì người khác, hiến mình hoàn toàn, hiến mình nhưng không, để hiệp nhất với kẻ khác, hầu họ được phong phú và công việc Chúa nơi họ được thành công.” (Đường Hy Vọng, số 605)
Lạy Đức Vua Cứu Thế, xin cho chúng con noi theo gương tốt lành của Người, mà vâng theo Thánh Ý, sống khiêm nhu, luôn tha thiết yêu thương và tận tình phục vụ tha nhân, để có thể trở nên chứng nhân như Lòng Chúa hằng mong đợi.
Khấn xin Mẹ Maria, cầu bầu cho chúng con luôn trông cậy vào Lòng Thương Xót của Đức Vua Cứu Thế, để sớm thức tỉnh sám hối, ăn năn trở về với Chúa luôn. Amen.

 

TN34-C135: Đức Giêsu Vua, Người tôi tớ Thiên Chúa

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn An Khang)
 

Hôm nay, Chúa nhật cuối cùng năm Phụng vụ, Giáo hội mừng lễ Chúa Kitô Vua. Thật nghịch lý, để TN34-C135

Hôm nay, Chúa nhật cuối cùng năm Phụng vụ, Giáo hội mừng lễ Chúa Kitô Vua. Thật nghịch lý, để mừng lễ Đức Kitô Vua, Giáo hội đưa ra cảnh tượng Đức Giêsu mạc khải triều đại Người: ngai vàng là thập giá, vương miện là một vòng gai, lễ phong vương là một danh hiệu của việc kết án tử đóng đinh bên trên đầu Người, nam tước là hai tên gian phi. Nghịch lý cao cả của Tin mừng! Vua? Phải! Nhưng chắc chắn không hiểu theo nghĩa của những người đứng về phía Người, cũng không theo nghĩa của những đối thủ lên án Người, nhưng theo cách của Thiên Chúa.
Luca viết: "Khi đến nơi gọi là Núi Sọ, họ đóng đinh Người vào thập giá". Thực ra đây chỉ là quả đồi nằm ở cổng thành Giêrusalem, cổng Ephraim, một nơi khai thác đá cũ, nhưng thợ khai thác còn để lại tại chỗ một tảng đá cứng hơn chỗ khác, một khối đá biệt lập cao khoảng 5m. Vì hình dạng của tảng đá giống như cái sọ, nên gọi là núi Sọ, tiếng Dothái là Gôlgôtha tiếng Hylạp là Kranion, tiếng Latinh là Calvario. Theo truyền thuyết đó là cái sọ của Ađam được chôn cất mãi mãi ở đó. Bởi là một nơi gần đường, nên người ta hay đóng đinh các tội nhân ở đó để mọi người qua lại xỉ nhục hoặc để làm gương cho người khác.
Cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu có hai tên gian phi. Để chứng minh Đức Giêsu không phải là gian phi, Luca đặt nơi môi miệng Người một lời nguyện: "Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm". Họ đây là ai? Đó là các vị thân hào. Luca thường ghi nhận, đối với Đức Giêsu thì "dân chúng" khác với các thân hào (Lc 20,1-20.45, 21.38). Trước biến cố Đức Giêsu chịu đóng đinh, dân chúng chán ngán, yên lặng đứng nhìn. Sự yên lặng của dân chúng thật ấn tượng và đáng trân trọng. Dân chúng Israel hiền lành không hiểu gì cả. Họ chờ đợi Đức Giêsu như¬ Đấng Messia, như một vua Đavít mới.
Trong lịch sử dân tộc họ, không thiếu vua, nhưng tầm cỡ vua Đavít và Salomon thì không có, đó là thời kỳ huy hoàng của Israel. Từ nhiều thế kỷ, họ đã không ngừng mơ ước có một vị vua là Đấng Messia, hưng thịnh, chiến thắng kẻ thù, làm vị thẩm phán của Thiên Chúa, họ ngờ rằng Đức Giêsu đến để phục hưng vương quyền của Israel. Họ đã thử tôn Người làm vua, Người lại tránh né. Giờ đây, Người kia kìa, Người bị kết án tử hình, Người đang bị treo trên thập giá.
Khác với những người dân đen đang đứng nhìn ngạc nhiên, đau đớn và thất vọng. Các thủ lãnh buông lời cười nhạo, thách đố Người: "Nếu ngươi là cứu Chúa, trước tiên cứu mình đi". Đó là tiếng vang của ma quỷ trong sa mạc (Lc 4,3), của người đồng hương Nadarét (Lc 4,23). Trong thế giới ngày nay, những kẻ chế nhạo Thiên Chúa cũng cùng giọng điệu như thế: "Nếu Thiên Chúa có, hãy hiện diện đi, để mọi người thấy".
Câu trả lời của Thiên Chúa vẫn là câu trả lời của Đức Giêsu: "Người im lặng". Người không biện hộ cho mình. Người để cho mình bị lên án là bất lực, là không hiện hữu. Đức Giêsu cũng như Thiên Chúa, không bao giờ nhượng bộ sự cám dỗ, hành động vì mình, sử dụng quyền năng của mình chỉ vì chính mình.
Còn lính tráng? Lính tráng cũng chế giễu Người: "Nếu ông là vua dân Dothái thì cứu mình đi". Thế nhưng, những binh lính này vẫn còn chút lương tri, họ đã lấy một chút giấm đưa cho Ngài uống. Giấm đây là thứ rượu chua thời ấy binh lính Lamã quen dùng, nếu pha thêm một chút mộc dược, sẽ thành một thứ thuốc gây mê, các bà Dothái thường cho các nạn nhân uống như thế để giảm đau. ở đây, Luca không cho biết Chúa có uống hay không, nhưng Mátthêu nói rõ, Chúa chỉ nếm một chút để tỏ lòng biết ơn người đã có thiện chí giúp đỡ mình (Mt 27,34).
Khi phong vương, theo tục lệ Dothái, ông vua được phong ngồi trên ngai, một thượng tế nhân danh Thiên Chúa ban cho nhà vua danh hiệu như thường thấy trong Thánh vịnh 109: "Ngày đăng quang con nắm quyền thủ lãnh, vẻ huy hoàng rực rỡ tựa thần linh. Ngay trước lúc hừng đông xuất hiện, tự lòng Cha, Cha đã sinh ra Con". Ở đây, ngai vàng của Đức Giêsu là thập giá, bản văn phong vương Người chính là bản án của Philatô ghi trên đầu Người: "Đây là vua người Dothái ".
Dĩ nhiên Đức Giêsu là vua không theo cách thức thế gian, Nước Người không thuộc về thế gian này (Ga 18,36). Vương quyền của Người được thiết lập ở trần thế, nhưng không cạnh tranh với các vương quốc hoặc hệ thống chính trị trần thế. Thập giá ấy, ngai vàng ấy, danh hiệu ấy đã làm tan tành mọi niềm hy vọng hoang tưởng của Vua Israel, của chủ nghĩa Messia.
Bi kịch thập giá của Đức Giêsu, được Luca xây dựng theo kiểu căng thẳng tịnh tiến: dân chúng đứng nhìn, các thủ lãnh cười nhạo, lính tráng chế giễu, và tên gian phi nhục mạ. Đúng thế, một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: "Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!"
Cứu mình? Đó là thách thức ghê tởm nó bộc lộ luận lý khôn ngoan của loài người tội lỗi mà các thủ lãnh, lính tráng cũng như tên gian phi đã đưa ra. Phải nghĩ đến mình trước rồi mới đến người khác. Còn đâu ý nghĩa phục vụ? Câu "Mục tử tốt thí mạng vì đàn chiên" còn có ý nghĩa nào nữa? Và những câu như: "Ai tìm sự sống thì sẽ mất" bây giờ ở đâu?
Vậy, ta có thể kết luận Đức Giêsu là Vua, Người làm Vua trên thập giá, trong hành vi trở thành của lễ đền tội mọi người. Ai không bỏ mình theo Người thì không được cứu độ. Còn ai kính sợ Thiên Chúa, tin Người được đưa vào Nước của Người. Người thực hiện các lời ngôn sứ về vua thiên sai, vua hòa bình, vua cứu thế; quá sự chờ mong của mọi người vì trên thập giá, không những Người là vua mục tử hơn Đavít mà còn là người tôi tớ đau thương của Thiên Chúa sẽ thống trị địa cầu.

 

TN34-C136: Quyền năng tối thượng

(Suy niệm của JM. Lam Thy ĐVD.)
 

Để diễn tả quyền năng tột đỉnh của Đức Giêsu Ki-tô, Vua Vũ Trụ, Giáo Hội đã chọn bài Tin TN34-C136

Để diễn tả quyền năng tột đỉnh của Đức Giêsu Ki-tô, Vua Vũ Trụ, Giáo Hội đã chọn bài Tin Mừng mỗi năm Phụng vụ khai triển về một khía cạnh khác nhau. Năm A với bài Tin Mừng Mát-thêu (Mt 25, 31-46), tôn vinh Đức Vua Giêsu như một vị Thẩm phán tối cao ngự trên ngai toà vinh hiển xét xử muôn loài. Năm B với bài Tin Mừng Gio-an (Ga 18, 33-37) dùng chính miệng Phi-la-tô tuyên xưng Đức Giêsu là Vua, nhưng là Vua của một “nước không thuộc thế gian”. Từ đó, đưa ra một cái nhìn thần học về uy quyền của Đức Giêsu là Lời Thiên Chúa nhập thể và nhập thế để làm chứng cho Sự Thật: Thiên Chúa yêu thương con người đến độ sai Con Một xuống thế chịu khổ hình và chịu chết để cứu độ nhân loại. Năm C với bài Tin Mừng Lu-ca (Lc 23, 35-43) trình thuật Vua Giêsu hiển trị từ trên thập giá. Vương quyền của Người là do việc Người tuyệt đối vâng phục Chúa Cha để tiêu diệt tội lỗi, đem lại sự sống vĩnh cửu cho loài người.
Ngoài ra, đọc cả 4 sách Tin Mừng sẽ thấy các môn đệ cũng như nhiều người khác đều tuyên xưng Đức Giêsu là Thiên Chúa, là Vua It-ra-en. Đó là những chứng tích minh hoạ cho ngôi vị Vương Giả của Đức Giêsu. Thánh danh Giêsu có nghĩa là “Đấng Cứu Độ” (Mt 1, 21; Lc 2, 11) – Đấng Cứu Độ là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật – mà Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ, vậy chẳng phải Người chính là Vua Vũ Trụ đó sao? Một cách cụ thể thì có thể khẳng định ngôi vị Vua Vũ Trụ đã được tiền định từ trước vô cùng, nên trong Cựu Ước đã tiên báo (“Con Người đang ngự giá mây trời mà đến… Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong.” – Đn 7, 13-14; xc thêm Is 9, 1-6; 52, 7-10).
Cũng đã có một số người chê đạo Công Giáo vẫn còn duy trì chế độ quân chủ (vua làm chủ) lỗi thời, vẫn sùng bái tôn thờ một vị Giáo chủ một triều đại cách đây 2000 năm gọi là Vua Giêsu, thậm chí còn coi vị Giáo chủ ấy là Vua cả vũ trụ. Cái chế độ quân chủ ấy vẫn được tiếp nối đến tận ngày nay và gọi những vị Giáo chủ là Giáo hoàng (hoàng: vua), gọi nơi làm việc của Giáo hoàng là thủ đô (Giáo đô La Mã) và gọi bộ máy hoạt động là triều đình (Giáo triều Rô-ma). Trong khi đó thế giới đã hầu như không còn chế độ quân chủ, mà hầu hết đều theo chế độ dân chủ. Cứ kể xét về mặt từ ngữ, về tên gọi, thì nhận định trên không sai. Nó cũng không khác bao nhiêu với những quan điểm nhận định đánh giá con người qua cái áo, qua bộ cánh (sang trọng hay thấp hèn) và như thế là đã quên mất cái cốt lõi của vấn đề, bởi “cái áo không làm nên thầy tu”.
Danh hiệu vua thực chất chỉ là một cách gọi những người đứng đầu trị vì một quốc gia thời phong kiến, mà về sau được gọi bằng danh xưng khác như: tổng thống, thủ tướng, quốc trưởng, chủ tịch nước v.v… Với Đức Giêsu thì vì Người là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật (điều này không phải chỉ do Người tự xưng – đến nỗi đã bị nhóm Pha-ri-sêu cho là phạm thượng – mà còn được chính Thiên Chúa Cha phán bảo khi Người chịu phép rửa trên sông Gio-đan, khi Người biến hình trên núi Ta-bo, đồng thời Chúa Thánh Thần còn linh hứng, mạc khải cho các Thánh sử, các vị tiên tri, ngôn sứ nữa).
Còn một điều mấu chốt là Đức Giêsu tuy được tôn xưng là Vua Vũ Trụ, nhưng Người không hề sống như kiểu các ông vua phong kiến hay các ông trị vì quốc gia hiện đại (hét ra lửa, mửa ra khói). Người đã hành xử vương quyền bằng cách “không ngựa xe đưa rước, không võng gấm lọng vàng, không tiền hô hậu ủng”, mà đến với những người nghèo hèn, bệnh tật, tội lỗi. Người thu nhận môn đệ nơi những giai cấp thấp cổ bé miệng (chài lưới, nông phu, lao động…), hoặc bị xã hội lên án là tội lỗi (người thu thuế). Một ông vua mà lại quỳ xuống rửa chân cho môn đệ, đầy tớ của mình, rồi còn nói “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15, 15). Và những Lời Người giảng dậy thì toàn là khuyên bảo ăn ngay ở lành, thật thà công chính, khiêm nhường bác ái, thậm chí còn dậy người ta yêu thương cả kẻ thù (Mt 5, 43-44). Người không chỉ dậy bằng Lời, mà bằng hành động, bằng việc làm, bằng chính cả sinh mạng của Người khi bị treo trên thập giá cho đến chết để đền thay tội lỗi loài người. Trước khi chết treo trên thập tự, Người còn cầu xin Chúa Cha tha cho kẻ đã đóng đinh mình: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm." (Lc 23, 34). Đức Vua Giêsu là như vậy đó.
Rõ ràng Đức Giêsu Ki-tô chính là “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình” (Cl 1, 15-16). Người là Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là Đấng tạo dựng vũ trụ, muôn loài; như vậy Người là chủ muôn loài, chủ vũ trụ (Vua vũ trụ) cũng là lẽ đương nhiên. Đó là xét về mặt danh nghĩa, nhưng còn mặt thực chất của vấn đề, và cũng là điều quan trong nhất, ấy là Người đã vâng lệnh Chúa Cha xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại. Không cần nói đến những phép lạ, những linh hứng, mạc khải, mà chỉ cần suy niệm vào chính cuộc đời trần thế của Người (từ cách sống, cách giảng dạy, cách chữa trị bệnh nhân, đến chính việc hy sinh cả tính mạng mình vì yêu thương loài người tội lỗi), cũng đủ để xác tín Người chính là Vua – VUA TÌNH YÊU. Và chính điều này một lần nữa khẳng định Đức Giêsu Ki-tô thật sự là Vua trên hết các vua, Chúa trên hết các chúa, Người chính là VUA VŨ TRỤ vậy.
Ôi! Lạy Chúa! Từ xưa đến nay, chúng con vẫn luôn xưng tụng Đức Giêsu là Vua của loài người, của vũ trụ, là Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Tuy nhiên, hành động của chúng con, cách cư xử và đời sống của chúng con dường như lại đi ngượic với những lời chúng con tuyên xưng. Cúi xin Chúa thương ban Thần Khí Tình Yêu cho chúng con, để chúng con đủ can đảm sống đúng những điều chúng con tuyên xưng. Ôi! Lạy Chúa! Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, chúng con xin tuyên xưng từ ngay trong bản thân, trong gia đình chúng con, qua chính cách sống và hành động của chúng con: Đức Giêsu Ki-tô là Vua trên hết các vua, Chúa trên hết các chúa, Người chính là Vua Vũ Trụ, Vua của mỗi người, mỗi gia đình chúng con.
Ôi! “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã muốn quy tụ muôn loài dưới quyền lãnh đạo của Ðức Kitô là người Con Chúa hằng ưu ái, và là Vua toàn thể vũ trụ. Xin cho hết mọi loài thọ sinh đã được cứu khỏi vòng nô lệ tội lỗi biết phụng thờ Chúa là Ðấng cao cả uy linh và không ngớt lời ngợi khen chúc tụng. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ Đức Giêsu Ki-tô, Vua Vũ Trụ).

 

TN34-C137: Alpha & Omega - P.Trần Đình Phan Tiến

Kinh thưa quý vị!
 

Hôm nay Giáo Hội hân hoan mừng kính trọng thể và tôn thờ một Vị Vua, một Vị Vua đích thực TN34-C137

Hôm nay Giáo Hội hân hoan mừng kính trọng thể và tôn thờ một Vị Vua, một Vị Vua đích thực, Người là Vua Sự Thật, Vua Tình Yêu, Vua Sự Sống. Vâng, Vị Vua ấy là” Giêsu Nzaret”, một Vị Vua mà trong bối cảnh Tin Mừng hôm nay (Lc 23,35-43) cho chúng ta thấy về “Người Tôi Tớ của Giavê”. Có nghĩa là: Vị Vua mà chúng ta tôn thờ không phải ở trên ngai vàng, mà là ở trên một “cái ngai cao hơn ngai vàng”, vâng, cái ngai ấy chính là “Thập giá”. Thập giá là một hình phạt cao nhất dành cho tội nhân của người Dothai, nhưng Vua Giêsu đã chọn lấy, dù Người vô tội, đó là một bản án bất công nhất, vì một án phạt nặng nhất lại dành cho một “Con Người “vô tội. Nhưng đối với Vua Giêsu là một bản án “vì tình”, bởi vì Người là” Vua Tình Yêu”.
Đoạn Tin Mừng (Lc 23,35-43) hôm nay là đoạn Tin Mừng diễn tả một mầu nhiệm chóp đỉnh của sự đau khổ. Mầu nhiệm ấy gọi là mầu nhiệm Thập giá, bởi vì từ cổ chí kim và mãi mãi, duy nhất trong lịch sử loài người, không có một cảnh tưởng nào hãi hùng, khinh khiếp bằng cảnh tượng Thập giá. Vì nơi đó, đã thỏa mãn cơn điên loạn, sự độc ác, sự căm thù, sự ích kỷ, sự nhỏ nhen thâm độc nhất của loài người, tất cả cũng chỉ vì muốn thỏa mãn tính người, tính ngạo mạn của satan, phủ nhận chân lý, muốn xóa mờ tình yêu của Thiên Chúa, muốn khỏa lấp Thiên Chúa và tình yêu của Thiên Chúa đối với người công chính. Vì thế, thảm cảnh Thập giá đã xảy ra, nhưng tình yêu đã chiến thắng. Vì Thiên Chúa là tình yêu.
Lời lẽ sỉ nhục Đức Kitô, là lời lẽ thách thức Thiên Chúa. Bởi vì Thiên Chúa không theo bất cứ thế lực nào, bất cứ lời lẽ nào, vì Ngài là Thiên Chúa. Một ý nghĩa chân lý là nếu Thiên Chúa theo tư tưởng của loài người thì không có mầu nhiệm ơn Cứu Độ. Vì: “Trời cao hơn đất bao nhiêu, thì tư tưởng của Ta cũng vượt trên tư tưởng của loài người bấy nhiêu” (Isaia 55,9). Nên Đấng Cứu Thế Kitô phải chịu khổ hình và treo lên, vì chương trình cứu độ của Thiên Chúa chính là Thập giá Đức Kitô. Khi nhân tính biểu lộ trọn vẹn sự hữu hình trong mầu nhiệm tử nạn, đồng thời cũng là lúc Thiên Tính biểu lộ trọn vẹn quyền phép cao cả của Thiên Chúa, và giá trị siêu nhiên cùng với ơn Cứu Độ được hình thành nơi Đức Kitô- Giêsu.
Vinh quang Thiên Chúa không dừng lại nơi Thập giá, mà là vinh quang của Thiên Chúa chính là sự Phục Sinh của Đức Kitô. Thập giá, nơi biểu lộ tình yêu, chứ không phải nơi biểu lộ quyền năng, Thập giá, nơi biểu lộ án phạt mà nhân loại phải chịu. Nhưng, kẻ có tội, thì mất quyền tha thứ, mất quyền tự do, không thể cứu người khác được. Nên chi, theo lẽ tự nhiên là thế, Thiên Chúa phải dùng lẽ tự nhiên bởi một Người vô tội, là Đấng Cứu Thế, có nghĩa là Kitô. Đấng vô tội chịu mức án của kẻ có tội, như vậy mới có giá trị “cứu” kẻ có tội. Xét theo lẽ tự nhiên, đó là sự bất công, nhưng theo lẽ siêu nhiên, thì đây là Hy Lễ Cứu Chuộc. Như vậy, Thập giá là Hy Lễ Cứu Chuộc. Mà Hy Lễ ấy được một Con Người vô tội thực hiện, thì có giá trị vô song. Nhưng mầu nhiệm Cứu Chuộc không dừng lại nơi Thập giá, mà là bước qua Thập giá (không phải theo nghĩa đen là “quá khóa”), mới đến Vinh Quang của Thiên Chúa
Đức Kitô là Vị Vua không tự tìm vinh quang cho mình, mà là “Vị Vua” tìm vinh quang cho Thiên Chúa. Nơi trần gian, con người tìm gì? Chắn chắn là tìm vinh quang trần thế. Vinh quang trần thế chắc chắn không phải là vinh quang Nước Trời. Vì vậy, con người trần thế muốn tìm vinh quang thế trần, thì họ phải tôn thờ những thứ “vua” của trần thế. Còn thần dân của Nước Trời, thì phải tôn thờ “Vua Giêsu”, là Vua trên các Vua, Chúa của các chúa. Đó là hợp lẽ.
Theo trần gian, người nào tài giỏi về một điều gì đó, thì người ta gọi là vua, như vua dầu lửa, vua xe ơi, vua caphê, vua bóng đá v.v.... Nhưng tất cả những vị vua đó chỉ tìm vinh quang cho họ, chứ không tìm vinh quang cho Thiên Chúa. Ai tìm vinh quang cho Thiên Chúa là thần dân trong Nước Của Vua Giêsu, Vị Vua của chân lý, tình yêu và sự thật.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến thế gian không tìm vinh quang của trần thế, mà là đã chọn Thập giá là vinh quang cho Hy lễ Cứu Chuộc. Xin thương cho chúng con biết tôn thờ sự thật ấy, là vinh quang vĩnh cửu cho chúng con, vì Chúa là Vua mà chúng con tôn thờ. Amen.

 

TN34-C138: Vị Vua bị đóng đinh - Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Giêsu đăng quang làm Vua khi bị đóng đinh trên Thập giá. Vương miện là mão gai, ngai TN34-C138

Chúa Giêsu đăng quang làm Vua khi bị đóng đinh trên Thập giá. Vương miện là mão gai, ngai vàng là thập giá. Trên Thập giá, Chúa Giêsu lên ngôi Vua. Khi hứa cho người trộm lành vào thiên đàng, Chúa Giêsu đã khai mạc vương quốc của Ngài.Trên Thập giá, Vua Giêsu đã mang lấy tất cả tội lỗi nhân loại, gánh chịu mọi khổ đau, nhục nhã. Chính tình yêu chiến thắng của Vua Giêsu đã cứu chuộc nhân loại, đã nối kết con người lại với Thiên Chúa như thánh Phaolô đã xác quyết: "Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1,20).
Ngày lễ hôm nay, Giáo Hội công bố bài Tin Mừng Chúa chịu đóng đinh. Giây phút Chúa được tuyên xưng là Vua chính là khi bị treo trên Thập giá, đầu gục xuống. Thật lạ lùng! Chính vào lúc hấp hối, mọi sự tưởng như sụp đổ, Vị Vua Bị Đóng Đinh lại hé lộ vương quyền của mình cho anh trộm lành có lòng thống hối, tin tưởng: “Hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng”.
Vị Vua lên ngôi trên thập giá bị nhạo báng. Các vị thủ lãnh cười nhạo: "Hắn cứu được người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được Chúa tuyển chọn!". Bọn lính tráng chế giễu: “Chúng lại gần, đưa giấm cho Ngài uống và nói: "Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!”. “Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: "Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi nữa!". “Và có tấm bảng trên đầu Người” muốn ám chỉ điều ghi trên tấm bảng “Người nầy là Vua dân Do thái” tương phản với người đang bị đóng đinh, như thế tấm bảng nối dài lời nhạo báng của lính tráng.
Đối nghịch với ba lời nhạo báng và nhục mạ là phản ứng của người trộm lành: “Nhưng tên kia mắng nó rằng: "Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái". Anh ta thừa nhận hành vi gian ác mà anh đã phạm và tính chính đáng của bản án dành cho anh. Đó là dấu hiệu của sự sám hối.
“Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: "Lạy Đức Giêsu, khi vào Nước của Ngài, xin Ngài nhớ đến tôi!". Lời van xin của anh ta rõ ràng mang đậm tính chất một lời cầu nguyện của những Kitô hữu gốc Do Thái. Trong lời cầu nguyện này, anh tuyên xưng lòng tin mạnh mẽ vào vương quyền Mêsia của Đức Giêsu. “Và Người nói với anh: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng". Đức Giêsu bảo đảm cho anh một ơn cứu độ của “hôm nay” với một lời hứa long trọng. Ngài hứa ban cho người trộm lành này một sự sống hiệp thông trọn vẹn với Ngài ngay hôm nay. Trong viễn tượng Kitô giáo, sự hiệp thông này là sự sống viên mãn phúc lạc trong vinh quang của Đấng chiến thắng sự chết và tội lỗi.Trong viễn tượng của tin mừng theo Thánh Luca, cảnh người trộm lành hối cải và cầu xin với Đức Giêsu này tạo nên đỉnh điểm của trình thuật về sự kiện đóng đinh Đức Giêsu. Cảnh này kết thúc chuỗi những lời nhạo báng và tạo ra một sự đảo ngược quan trọng, trong đó, người trộm lành không chỉ tuyên bố sự vô tội của Đức Giêsu, mà xa hơn nữa, anh tuyên xưng lòng tin vào vương quyền đích thực của Ngài, vương quyền bị các thủ lãnh, lính tráng và tên gian phi đem ra nhục mạ. Đức Giêsu trong đoạn tin mừng này quả thực là một vị vua, nhưng Ngài là vua theo một cách thức hoàn toàn khác với những mong đợi mang tính chính trị. Ngài thật là Đấng Cứu Độ, nhưng không phải là một nhà giải phóng chính trị và quân sự. Ba hạng người nhạo báng Ngài đều đưa ra lời thách thức rằng nếu Ngài là Vua Kitô thì Ngài hãy tự cứu mình đi và cứu cả những người khác nữa. Đức Giêsu sẽ đáp trả với thách thức ấy, nhưng không phải là theo cách thế mà những người kia mong đợi. Ngài cứu một con người, ngay khi ấy, tức là ngay khi Ngài trút hơi thở, nhưng không phải là cứu khỏi cái chết tạm thời, song là đưa người đó đi vào sự sống viên mãn và niềm phúc lạc đích thực.Ngài không làm những hành động chính trị hay những pha biểu diễn ngoạn mục.Vương quyền của Ngài là vương quyền siêu việt và vĩnh cửu.Trong ngày Lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ, chúng ta mừng kính vương quyền đích thực đó và đặt mình đầu phục vương quyền cứu độ đó, chứ không phải đi tìm hay khao khát những thực tại thế trần và mau qua. (Lm Giuse Nguyễn Thể Hiện).
Chúa Kitô lên Ngôi Vua vũ trụ trên Thập giá để thiết lập vương quyền Nước Thiên Chúa. Ngài là vua sự thật, vua tình yêu, vua niềm tin.Vương quyền Chúa Giêsu là vương quyền yêu thương, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. Trong bài đọc 2, thánh Phaolô đã gọi Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử, là người tiền phong của nhân loại đã mở một lối đi cho chúng ta. Nhờ máu Ngài đổ ra trên thập giá, Ngài đã qui tụ muôn người thành một vương quốc, thành một dân riêng. Vương quốc này, dân riêng này sẽ tồn tại cho đến muôn ngàn đời.
Vương quốc Chúa Giêsu không có sức mạnh của vũ khí và quân đội mà chỉ có sức mạnh của yêu thương và tha thứ, vương quốc ấy không có tên trên bản đồ thế giới, nhưng lại ở trong trái tim con người. Chỉ những ai tin và sống trong tình thương Thiên Chúa mới thuộc vương quốc của Ngài.
Chúa Giêsu là Vua Tình Yêu. Chính tình yêu là sức mạnh của Ngài và cũng chính tình yêu ấy đã khiến cho Ngài tuyên bố: “Khi nào Ta chịu treo trên thập giá, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta”.
Qua hơn 2000 năm, lời ấy vẫn mãi được ứng nghiệm. Ngoài Đức Kitô ra không có một vị vua nào trên trần gian này được nhân loại chọn làm trọng tâm của lịch sử. Chấp nhận hay không chấp nhận, tin hay không tin, ai cũng phải lấy ngày Giáng Sinh của Đức Giêsu làm cột mốc để tính thời gian. Có một thời gian trước Đức Kitô và có một thời gian sau Đức Kitô và dù có tránh tên của Ngài để nói trước hay sau Công nguyên thì con người nói như Thánh Gioan Phaolô II: “Con người sẽ không bao giờ loại bỏ Đức Kitô ra khỏi lịch sử của mình”. Đức Kitô đang lôi kéo mọi người về với Ngài, Ngài đang đồng hành trong lịch sử nhân loại và trong cuộc đời của mỗi người. Cuộc đời này có giá trị và ý nghĩa hay không là tùy thuộc ở thái độ tiếp nhận của mỗi người đối với Đức Kitô.
Tiếp nhận Ngài và tuyên xưng Ngài là Vua chính là mặc lấy thái độ tín thác của kẻ trộm lành, sẵn sàng trao phó tất cả cuộc đời trong tay Ngài và bước đi theo Ngài. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là đi theo con đường phục vụ cho đến cùng. Tiếp nhận và tuyên xưng Ngài là Vua là cùng với Ngài xây dựng vương quốc của Ngài ngay trên trần gian này, vương quốc của huynh đệ, vương quốc của yêu thương, vương quốc của công lý và hòa bình. Và mỗi một lần chúng ta xây dựng vương quốc ấy bằng một cử chỉ yêu thương thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ nghe được lời hứa của Ngài cho người trộm lành: “Hôm nay đây con sẽ ở cùng Ta trong vương quốc của Ta”.
Mỗi người tự xét mình xem Đức Giêsu đã thật sự là Vua của chính bản thân chưa? Ngài đã chiếm trọn vẹn trái tim ta chưa, đã thật sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của ta chưa? Ngài là vua của tâm hồn ta, hay là tiền bạc, quyền lực, danh vọng, địa vị, lạc thú, hoặc chính bản thân ta? “Xin nhớ đến con”, chúng ta phải lập đi lập lại lời ấy mỗi ngày trong suốt cuộc sống của mình.
Mừng lễ Chúa Giêsu - Vua Vũ Trụ - Vua Sự Thật, chúng ta hãy để cho Vua Giêsu chiếm trọn tất cả con người mình, từ tư tưởng lời nói cho đến việc làm. Chúng ta không còn thuộc về thế giới của bóng tối và tội lỗi. Chúng ta thuộc về vương quyền của Vua Giêsu là vương quyền của sự sống và sự thật, vương quyền của niềm tin và ân sủng, vương quyền của sự thánh thiện công lý và tình yêu hoà bình (Kinh Tiền Tụng).

 

TN34-C139: VUA TÌNH YÊU

HY SINH MẠNG SỐNG CỦA MÌNH
 

Lễ Chúa Giêsu Vua được đặt vào cuối năm phụng vụ mang nặng ý nghĩa thần học. Người là điểm TN34-C139

Lễ Chúa Giêsu Vua được đặt vào cuối năm phụng vụ mang nặng ý nghĩa thần học. Người là điểm đến của thời gian và cùng đích của mọi người, cùng đích của lịch sử nhân loại. Rồi thì mọi người sẽ phải đón nhận vương quyền của Chúa Giêsu Vua vì mọi cuộc đời đều phải chịu phán xét và dựa vào tiêu chuẩn có chọn lựa Chúa Giêsu trong cuộc đời của mình không. Những bài đọc của Chúa nhật tuần này giúp chúng ta hiểu tầm quan trọng của vương quyền của Người trong cuộc đời chúng ta. Bài đọc I trích từ sách 2 Samuel 5, 1-5 tường thuật việc các chi tộc Israel phía Bắc hợp nhất với vương triều của Đavít. Họ không thể đứng chơ vơ một mình giữa những liên minh thù địch khác mạnh hơn, nhất là sự đe dọa của quân Philitinh. Vào khoảng những năm 1010, sau khi Saolê mất và vương quốc sụp đổ, nền thống nhất quốc gia bị lâm nguy. Lúc đó, vương triều Đavít được thiết lập ở Hêbron do bởi chi tộc Giuđa trong khi đó các chi tộc phương Bắc lại chọn Ishbaal là hậu duệ của Saolê. Nhưng sau đó Ishbaal bị ám sát, và các chi tộc phương Bắc hiểu rằng liên minh với nhà Đavít sẽ đem lại cho họ một tương lai ổn định và thống nhất và những dân tộc khác không thể coi thường và quấy phá họ được bởi vì nhà vua trẻ Đavít là một minh quân và được Thiên Chúa ủng hộ. Thánh kinh nhìn nhận Đavít được Thiên Chúa ưu ái bởi vì ông là người biết kính thờ và trung tín với Thiên Chúa cũng như biết nhìn nhận mình là tội nhân trước mặt người và đã biết chọn lựa Thiên Chúa hơn là những điều khác.
Tường thuật Tin mừng được chọn cho ngày lễ là lúc Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá, giữa bao lời sỉ nhục của dân chúng, và giữa hai tên trộm cướp. Việc chọn lựa bài Tin mừng này mang nhiều ý nghĩa thần học quan trọng quyết định về vương quyền của Chúa Giêsu. Thập giá là nơi diễn ra cuộc giao tranh quyết định của Vương quyền Chúa Giêsu, vương quốc Thiên Chúa mà người thiết lập và ma quỉ đang cố gắng để phá hoại mọi kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Do bởi chọn lựa và hành động của Người mà vương quốc này được thiết lập hay thất bại. Tin mừng theo Luca tường thuật  là người bị treo giữa hai tên trộm cướp và bị liệt vào số quân gian ác và hạng người không lề luật. Tin mừng muốn nhấn mạnh, dù bên ngoài trước mắt người đời là như thế, nhưng người chính là người tôi tớ đau khổ mà sách Isaia (Is 53,7) cũng như Thánh vịnh (22,19) đã nói tới. Người tôi tớ đau khổ này thực hiện đường lối cứu thế của Thiên Chúa, như đã được các tiên tri loan báo. Trong những hoàn cảnh đau khổ tột cùng giữa bao sỉ nhục, người vẫn một lòng tin tưởng vào tình yêu của Chúa Cha và xác tín vào chiến thắng của Nước Thiên Chúa. Người hứa cho kẻ trộm cướp có lòng ăn năn được hưởng hạnh phúc trong Nước vinh quang của người. Trong khi đó dân chúng và thủ lãnh người do thái cũng như quân lính, vì không hiểu biết nên diễu cợt, khinh thường lời rao giảng và sứ điệp cứu độ của người, cho rằng đó là những lời nói vô nghĩa và nhất là việc người bị kết án và treo thập giá như một tên gian phi là bằng chứng hùng hồn. Những lý luận của họ ngạo mạn đồng thời cũng là những lý luận thiếu hiểu biết, thách thức vương quyền của Đức Giêsu, lặp lại những cám dỗ của ma quỉ lúc khởi đầu công trình rao giảng: “Nếu ông là Đức Kitô, thì ông hãy tự cứu mình và cứu chúng tôi; nếu ông là vua dân do thái, ông hãy tự cứu mình đi”. Nhưng trước tất cả những lời thách thức ngạo mạn, Chúa Giêsu vẫn giữ thinh lặng, người cầu nguyện với Chúa Cha và lắng nghe lời cầu chân thành của người trộm có lòng ăn năn.
Cách thức Chúa Giêsu thiết lập vương quyền của người không giống những cách thức  vua chúa trần gian mà người ta tưởng tượng. Vương quyền của người là vương quyền của tình yêu tha thứ và hy sinh cho đến chết trên thập giá. Người không dùng sức mạnh của mình để chế ngự người khác, để biểu dương quyền lực trên mọi người hay dùng quyền lực để tự cứu lấy chính mình. Nhưng vương quyền của người biểu lộ trong sự yếu đuối thấp hèn trước mắt người đời, khi mà ai cũng nghĩ rằng người là kẻ tội lỗi đáng phải chết, khi mọi người cho rằng người là kẻ ngông cuồng ảo tưởng và lừa gạt. Thế nhưng vương quyền của Người là vương quyền của tình yêu tha thứ, làm cho mọi người phải sững sờ kinh ngạc. Không ai trong những người chứng kiến cái chết của người trên thập giá đã hiểu, duy có người trộm lành có lòng ăn năn đã hiểu điều này, vì ảnh cảm nghiệm thân phận tội lỗi của mình. Anh chân thành nhìn nhận anh đáng phải chết vì tội lỗi của mình, nhưng Đức Giêsu không có tội gì cả, Người là người công chính, người vô tội bị kết án bất công. Người trộm lành là hình ảnh của thế hệ những người tín hữu bước theo Chúa Giêsu, trước hết là các tông đồ, các môn đệ và các tín hữu đầu tiên. Họ đã bắt đầu hiểu được ý nghĩa của vương quyền Chúa Giêsu. Đức Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa, người vô tội nhưng đã chết cho chúng ta là tội nhân. 
Bức thư của thánh Phaolô tồng đồ gửi tín hữu Côlôsê là bài ca tuyên xưng vương quyền của Chúa Giêsu, làm vang vọng lại những thánh thi mà các kitô hữu đã tuyên xưng trong phụng vụ của Giáo hội, diễn tả sự hiểu biết sâu sắc của các tông đồ về mầu nhiệm Chúa Giêsu. Nhờ Vương quyền của Người mà chúng ta được xứng đáng lãnh phần gia nghiệp của các thánh, cứu chúng ta khỏi quyền lực tội lỗi và sự chết. Đây là ơn cứu độ đẫm máu mà Chúa Giêsu đã đánh đổi bằng cái chết của người trên thập giá. Bài thánh thi ca ngợi này đạt đến cao điểm khi tuyên xưng thần tính của Chúa Giêsu: “Người là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử mọi loài thụ tạo, vì trong người mọi vật được tạo thành trên trời và dưới đất”. Thời gian, lịch sử và cuộc đời mỗi người có điểm đến và điểm qui chiếu nơi Chúa Giêsu là Vua vũ trụ. Tuyên xưng vương quyền của người không phải chỉ để chúng ta ca ngợi một vương quyền đầy tràn vinh quang và sức mạnh theo hình ảnh những triều đình vua chúa thời trung cổ, nhưng tuyên xưng vương quyền này để mỗi người hiểu rằng mình được mời gọi tham dự vào vương quyền này bằng cách đón nhận mầu nhiệm thập giá trong cuộc sống hằng ngày, yêu thương tha thứ cho anh chị em của mình. Như Chúa Giêsu đã không bước xuống khỏi thập giá, thì người tín hữu cũng vững vàng trong cuộc sống hằng ngày qua những thăng trầm thử thách. Như Chúa Giêsu không ngự trên ngai vàng nhung lụa mà ngự trên thập giá đẩm máu để cứu chữa mọi anh chị em mình, người hy sinh chính mạng sống mình để cứu chuộc muôn người thì người tín hữu cũng được mời gọi bước theo bằng cách hy sinh chính mình cho anh em.

 

TN34-C140: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI

CN LỄ CHÚA KITÔ LÀ VUAIn trang nàyLượt xem: 228
Chúng con yêu quí,
 

Chúng con có biết hôm nay là lễ gì không? - Thưa cha lễ Chúa Kitô Vua. - Chúng con có biết TN34-C140

Chúng con có biết hôm nay là lễ gì không?
- Thưa cha lễ Chúa Kitô Vua.
- Chúng con có biết Chúa Giêsu muốn làm vua như thế nào không?
……
Chúa Giêsu làm vua nhưng cách Chúa là vua chẳng giống một ông vua nào trên cõi đời này. Tại sao cha dám nói thế. Đây chúng con hãy nghe câu chuyện này. Đây là câu chuyện do Cha Mark Link S.J kể. Theo ngài thì trong cuốn sách của mình có tựa đề là: The Christian Vision (Thị kiến của người Kitô hữu) ông John Powell có kể lại một truyền thuyết xưa kia của người Ái Nhĩ Lan. Truyền thuyết này nói về thời còn các vị vua đang cai trị nước họ.
Ngày xưa, có một vị vua đương cai trị nhưng không có con nối dõi ngai báu. Nhà vua muốn tìm một người thật xứng đáng để nối ngôi vua sau này. Chính vì thế, nhà vua đã truyền cho các sứ giả loan báo trên khắp các thành thị và phố phường trong toàn vương quốc, mời gọi tất cả những người đàn ông ưu tú đến cho Ðức vua phỏng vấn.
Ðức vua làm thế với hy vọng có thể chọn được một người kế vị trước khi Ngài chết. Hai tiêu chuẩn được ngài nhấn mạnh đặc biệt là kẻ ấy phải có lòng mến Chúa yêu người sâu sắc.
Có một người thanh niên cảm thấy mình có đủ hai tiêu chuẩn trên. Tự thâm tâm anh cảm thấy có tiếng thúc giục anh đi dự cuộc phỏng vấn này. Nhưng phiền một nỗi là anh quá nghèo, nghèo đến mức chẳng có quần áo tươm tất để mặc khi đi dự phỏng vấn. Đồng thời anh cũng chẳng có tiền mua đồ ăn đồ uống đi đường để đến cung điện đức vua tham dự cuốc phỏng vấn này. Bí quá anh đã cầu nguyện xin ơn Chúa soi sáng và trong thâm tâm, Chúa cho anh biết là anh có thể đi ăn xin. Những người tốt bụng đã cho anh đủ quần áo và lương thực cần thiết. Khi mọi sự đã sẵn sàng, anh bắt đầu lên đường.
Sau một tháng dài đi đường, người thanh niên này đã nhìn thấy cung điện đức vua. Anh ta ngồi xuống trên một ngọn đồi phía trước. Tình cờ anh trông thấy một ông lão ăn mày nghèo khổ đang ngồi bên vệ đường. Vừa thấy anh, ông cụ chìa tay ra xin anh giúp đỡ. Giọng nói ông ta thật yếu ớt:
- Tôi đói và lạnh quá, cậu có thể cho tôi cái gì mặc cho đỡ lạnh và ăn cho đỡ đói không?
Người thanh niên nhìn ông cự lòng tràn đầy xúc động. Và liền cởi bộ đồ ấm áp anh đang mặc bên ngoài đổi lấy tấm áo cũ rách của ông già ăn xin, đồng thời cũng cho ông cụ phần lớn số lương thực anh mang theo trong túi xách dành cho chuyến trở về nhà của mình. Thế rồi, mặc dù lòng tấy hơi ngại nhưng anh cũng liều bước tới cung điện trong bộ áo rách nát cùng với số lương thực mang theo không đủ cho chuyến trở về của mình. Khi anh ta đến gần cổng lâu đài, thì đám lính gác chận anh ta lại rồi dẫn anh đến khu vực dành cho du khách. Sau một thời gian chờ đợi lâu, anh ta được dẫn tới diện kiến đức vua.
Ðến trước bệ rồng anh thanh niên quỳ mọp, gập sâu người xuống cúi chào. Khi ngước lên nhìn, anh không thể nào tin nổi mắt mình và run rẩy thốt lên:

- Té ra ngài chính là ông lão ăn xin bên vệ đường đó sao!
Đức vua đáp:
- Ðúng thế.
Người thanh niên liền hỏi:
- Tại sao ngài lại làm điều ấy đối với kẻ tiện dân này?
Ðức vua trả lời:
- Bởi vì trẫm muốn thử xem ngươi có phải là thật là người có lòng mến Chúa yêu người hay không?
Câu chuyện kết thúc thế nào thì chúng ta có thể đoán được.
Câu chuyện cho chúng ta thấy một điều rất thật. Sự thật này là: vào ngày cuối cuộc đời, mỗi người chúng ta sẽ bị xét xử về việc chúng ta đã phục vụ Chúa Kitô Vua như thế nào nơi kẻ những người mọn nhất trong anh chị em chúng ta. Hãy nhớ lại những lời Chúa  nói: "Ðoạn đức vua sẽ nói “Xưa Ta đói các ngươi cho Ta ăn, Ta khát các ngươi cho Ta uống, Ta là khách lạ các ngươi đã đón tiếp Ta vào nhà, Ta đau ốm bệnh hoạn các ngươi đã chăm sóc Ta".
Bây giờ đám người công chính sẽ thưa với Ngài: "Lạy Chúa có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống đâu?  Ðức vua sẽ đáp lại: "Ta nói cho các ngươi hay, bất cứ  khi nào các ngươi làm điều này cho một trong những anh em bé mọn nhất trong các ngươi tức là các ngươi đã làm cho chính Ta đó".
Chúa không hỏi chúng ta về những điều cao siêu khó hiểu. Chúa cũng không đòi hỏi chúng ta về những việc anh hùng chỉ có những người có chí khí gan lỳ mới làm được. Chúa cũng không tra vấn chúng ta về những việc làm to tát chỉ có những người nhiều tiền nhiều của mới co     thể thực hiện được nhưng Chúa chỉ hỏi chúng ta về những việc làm hết sức dễ dàng, hết sức nhỏ bé ai cũng có thể làm được. Đó là những việc có liên hệ đến những nhu cầu rất cần thiết của mỗi người như việc ăn ở đi mặc.
Cha hỏi chúng con: Đọc lạ những lời Đức Vua nói với mọi người trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng con có thấy điều gì khó hiểu hay không.
Cha chắc là không!
Vậy thì vấn đề còn lại là chúng ta phải sống những điều Chúa nói. Hãy ghi tạc Lời Chúa vào lòng: "Ta nói cho các ngươi hay, bất cứ  khi nào các ngươi làm điều này cho một trong những anh em bé mọn nhất trong các ngươi tức là các ngươi đã làm cho chính Ta đó".
Cha muốn kết thúc bằng câu chuyện này: Câu chuyện trích ở  trong một cuốn sách mà cha rất thích. Truyện một tâm hồn:
Enricô ơi!
Như sáng nay, lúc đi học về, con đi trước mẹ, con đã gặp một người đàn bà nghèo bế một đứa con nhỏ xanh xao yếu đuối và chìa tay xin con. Con nhìn người ta bằng cặp mắt lạnh lùng, con chẳng cho gì cả mà chính lúc ấy túi con có tiền. Nghe mẹ, con ơi!
Con đừng tập thói làm ngơ trước cái nghèo khó nó ngửa tay xin con ; hơn nữa con lại càng không nên bước qua một người mẹ xin ăn cho con. Con hãy nghĩ đến bụng đói của đứa trẻ thơ, nghĩ đến sự đau khổ của người mẹ.
Mỗi khi mẹ bố thí cho kẻ nghèo thì bao giờ họ cũng cảm ơn và chúc cho mẹ, cho cả nhà ta được mọi sự lành. Những lời chúc tụng ấy nghe êm ái biết là dường nào! Và lòng tạ ơn họ không biết bao nhiêu.
Những lời cầu nguyện ấy sẽ thấu đến đấng Thượng đế để ngài phù hộ cho tất cả những người thân yêu của ta. Vì thế, mẹ trở về rất hài lòng và tự nhủ:
- Người ấy đã cho ta nhiều hơn là ta đãi họ!
Enricô ơi! Con hãy nghe mẹ: thỉnh thoảng nên bớt một vài xu trong túi tiền của con để cho người già không chốn nương thân, người mẹ không gạo, đứa trẻ không mẹ không cha. Những kẻ khó thích xin trẻ con vì như thế họ không nhục, vì trẻ con cũng như họ phải cần đến mọi người. Con có nhận thấy ở quanh trường thường có nhiều kẻ ăn xin không? Sự bố thí của người lớn là một việc làm phúc, nhưng sự bố thí của trẻ con không những là một việc làm phú mà còn là một sự vỗ về nữa, vì mỗi lần đứa trẻ đem cho thì hình như đồng tiền kèm với bông hoa ở trong tay nó rơi ra.
Con ơi! Con phải biết con có đủ cả, chứ kẻ khó thì thiếu hết. Khi con mong được sung sướng thì người nghèo chỉ cầu sao cho khỏi chết. Trong một đám có bao nhiêu là nhà giàu, trong một phố có bao nhiêu người sang trọng qua lại, có bao nhiêu đứa trẻ ăn mặc xa hoa, thế mà vẫn còn thấy nhiều đàn bà và trẻ con đói khát, rách rưới! Thực đáng buồn thay!
Muốn cho người ta khỏi chê con là một kẻ vô tình thì từ sau, con đừng bước qua một kẻ khó mà không cho gì".Mẹ con.
Lm Giuse Đinh tất Quý

 

TN34-C141: Vương Quốc Yêu Thương Công Lý Và Sự Thật

Lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ
2Sm 5,13; Cl 1,12-30; Lc 23,35-43
I. Dẫn vào Phụng Vụ Lời Chúa
 

Ngày 11 tháng 12 năm 1925, Đức Thánh Cha Piô XI thiết lập đại lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ. Điều TN34-C141

Ngày 11 tháng 12 năm 1925, Đức Thánh Cha Piô XI thiết lập đại lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ. Điều Ngài muốn nói khi thiết lập là nhắc nhở cho nhân loại nhớ rằng Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ nhân loại bằng cái chết trên thập giá và phục sinh để thiết lập vương quốc tình yêu công lý và sự thật.
Hôm nay Giáo Hội long trọng mừng lễ Chúa Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ, kết thúc năm phụng vụ. Năm Phụng vụ mở đầu bằng mầu nhiệm nhập thể, khai triển qua cuộc tử nạn, phục sinh để rồi kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức Kitô. Như vậy, năm phụng vụ tượng trưng cho chu kỳ thời gian bắt đầu từ Đức Kitô và cuối cùng trở về với Ngài. Ngài là nơi hội tụ của muôn vật, là thủ lãnh của muôn loài trong thời gian đã được thành toàn tiến vào nơi không còn bị lệ thuộc vào thời gian và không gian là thiên quốc vĩnh cửu. Tất cả đều nói lên Đức Kitô chính là khởi đầu và là cùng đích – là Anpha và Ômêga – của vũ trụ và lịch sử nhân loại.
Cho nên thật thích hợp khi kết thúc năm phụng vụ, Giáo Hội mời gọi con cái mình chiêm ngắm Đức Kitô, Vua Vũ Trụ. Chỉ một mình Đức Kitô mới là vua đích thực, chỉ một mình Ngài mới là Đấng để con người mến phục và tôn thờ.
Tuy nhiên để có thể sống niềm tin của người Kitô hữu một cách sống động nhân ngày lễ Chúa Kitô vua hôm nay, chúng ta cần lắng nghe lời Chúa để hiểu biết giáo huấn của Chúa về tước hiệu Vua Kitô và việc tuyên xưng Đức Kitô là Vua mang lại ý nghĩa gì cho cuộc sống người Kitô hữu.
Lời Chúa trong bài đọc thứ nhất trích sách Samuel quyển thứ hai hôm nay dẫn đưa chúng ta vào việc phong vương cho Đavit. Chung quanh ông mọi chi tộc và kỳ mục Itrael đồng thanh nhất trí tôn ông là vua Itrael. Triều đại ông khai mở một kỷ nguyên sáng chói nhất trong lịch sử Dân Chúa. Cũng như Đavit đã hiệp nhất dân Itrael thế nào thì Đức Kitô cũng sẽ qui tụ toàn thể nhân loại trong một dân duy nhất, dân của Chúa bởi máu của Người đã đổ ra trên thập giá. Bản văn này cho phép chúng ta nhận ra vai trò đích thực của Giáo Hội. Giáo Hội đích thực là Dân Chúa. Chính trong Giáo Hội, nhờ Giáo Hội, nhân loại được hiệp nhất nên một để thiết lập Nước Chúa.
Trong thư gửi tín hữu Côlôsê, Thánh Phaolô Tông đồ đã khẳng định uy quyền tối thượng của Đức Kitô: Quyền tối thượng trong công trình sáng tạo, tất cả được tạo dựng nhờ Người và trong Người; quyền tối thượng trong công trình cứu độ, nhờ máu Người đổ ra trên thập giá mà nhân loại được giao hoà với Chúa Cha, hoà bình và công lý được thực thi trên trái đất.
Còn bản văn Tin Mừng được trích từ trình thuật thương khó theo thánh Luca cho chúng ta biết rằng: Vương quyền của Đức Kitô là vương quyền của tình yêu. Thập giá là biểu tượng sống động của vương quyền Đức Kitô.

II. Dung mạo Vua Trần Thế và vua Thiên Sai
Hầu hết các dân tộc thời xưa đều mơ ước và tin rằng vua của họ là con Trời, vì chỉ có con Trời mới toàn năng và công minh, thấu suốt mọi sự, mới giúp dân, ban cho dân muôn phần tốt đẹp. Họ thường nói: Vua là Thiên Tử.
Bên Đông Phương, Khổng Tử đã thấy rõ vua Nghiêu, vua Thuấn, Vũ Vương, Văn Vương làm vua theo mệnh Trời, cho nên vương quốc thời cổ đại của các Ngài thật lý tưởng.
Dân Do Thái khi chưa có vua, họ đòi tiên tri Samuel: “Thế nào cũng phải có vua cho chúng tôi” (1Sm 8,19). Và ai được chọn làm vua đều được thánh hiến bằng xức dầu tấn phong, trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa. Thiên Chúa nói với ngôn sứ Nathanaen: “Hãy nói với Đavit: ‘Ta là Cha nó, nó sẽ là con Ta’” (2Sm 7,5.14 và Tv 2,7). Nếu vua trung thành thực hiện sự công chính trong vương quốc và bảo đảm thịnh vượng cho dân, Thiên Chúa sẽ bảo vệ vua khỏi tay quân thù (Tv 20,21 và 45,4-8).
Nhưng ngay cả Đavit được gọi là Thánh Vương và Salomon được khôn ngoan không ai bằng, vẫn bất xứng bất trung. Vì thế, Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài đến cứu độ nhân loại. Chỉ có người Con duy nhất đó mới là vua thật của nhân loại cho đến muôn đời: Đó là Đức Giêsu Kitô.
Lời Chúa trong Thánh Lễ hôm nay trình bày cho chúng ta một dung mạo Vua Kitô khác hẳn với hình ảnh vua trần thế. Ngài chính là con Thiên Chúa đã nhập thể làm người, mang lấy thân phận con người, trải qua những cảnh huống của con người, kể cả cái chết nhục nhã trên thập giá thể hiện tình yêu cao độ của Thiên Chúa để cứu độ nhân loại. Cung cách hành xử của Vua Kitô là khiêm hạ, hiền hậu, khoan dung, quảng đại, trắc ẩn, gánh tội, tha thứ, và đón nhận vào nước Thiên Chúa. Tình yêu ấy không phải là một lý thuyết trừu tượng nhưng đã trở nên hữu hình, và loài người có thể cảm nghiệm được qua con người và cuộc đời của Chúa Giêsu.
Thật vậy, Chúa Giêsu chính là tình yêu của Thiên Chúa giữa trần gian, có nghĩa là, vì yêu thương chúng ta, Thiên Chúa ban Đức Giêsu cho chúng ta. Ngài dùng con của Ngài để thực hiện ý định yêu thương của Ngài, như thánh Gioan đã viết: “Cứ dấu này chúng ta nhận ra tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta, là Ngài đã sai Con Một xuống trần gian để cứu chuộc chúng ta”.
Như thế, Đức Giêsu vua vũ trụ đã tự hiến bản thân để thực hiện kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Trước hết, Ngài là vua như mục tử nhân lành. Ngài tụ họp các con chiên bị phân tán, tìm con chiên lạc, băng bó chiên bị thương tích, chữa lành chiên bị đau ốm, chăm sóc đàn chiên theo đường công chính. Như Đức Giêsu đã tuyên bố: “Tôi là mục tử nhân lành, tôi biết chiên của tôi và chiên tôi biết tôi” (Ga 10,10.11-14), “Tôi đến để chiên tôi được sống và sống dồi dào”.
Ngài còn là vua như tôi trung đau khổ: Ngài hạ mình khiêm tốn, nhường nhịn, dịu hiền khả ái: “Ngài không đành bẻ gãy cây lau đã bị dập, chẳng nỡ dập tắt tim đèn còn khói”. Ngài đặc biệt quan tâm đến những kẻ yếu kém hoặc lầm lạc. Ngài cũng bận tâm mang lại hoà bình và công lý cho nhân loại. Cuối cùng Ngài đã bị đóng đinh vào thập giá: thập giá chính là đỉnh cao cuộc đời của Chúa Giêsu, cũng là đỉnh cao của tình yêu Thiên Chúa, như Chúa Giêsu đã nói: “Không có tình yêu nào lớn hơn là hiến mạng sống vì người mình yêu”.
Vì thế, thập giá chính là biểu tượng sống động của vương quyền Đức Kitô. Đứng dưới chân thập giá, một đàng các kỳ mục, quân lính và dân chúng chế nhạo: “Nếu ông là Vua dân Do Thái, ông hãy tự cứu mình đi”, đàng khác, ngược lại, anh trộm lành thống hối ăn năn, bênh vực sự vô tội của Chúa Giêsu, và đặc biệt là anh đã thực sự tin vào Chúa Giêsu như là vị vua thiên sai: “Lạy Ngài khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. Đáp lại lòng tin và lời khẩn cầu của anh, Chúa Giêsu đã hứa ban thiên đàng ngay cho anh, ở nơi đó anh chung hưởng vinh quang hạnh phúc với Người mà anh đã chia sẻ một khổ hình thập giá.

III. Kitô hữu là sứ giả của Vua Kitô
Thiên Chúa là tình yêu và yêu thương chính là bản tính của Ngài, đạo của Ngài hẳn là đạo yêu thương. Vì thế, Chúa dạy chúng ta phải sống yêu thương, và Chúa coi những việc chúng ta làm cho người khác là chúng ta làm cho chính Ngài, như Ngài quả quyết: “Tôi bảo thật, những gì anh em làm cho một trong những người bé nhỏ của tôi, là anh em đã làm cho chính tôi”. Như vậy, mỗi Kitô hữu là sứ giả của Vua Kitô được mời gọi để phân phát tình yêu thương, lòng tha thứ, khoan dung, những tin vui đến cho mọi người, nhất là những người cùng khổ bất hạnh. Trong cuốn sách “One heart full of love: Con tim tràn đầy yêu thương”, Mẹ Têrêsa Calcutta đã cảnh giác: Đức Giêsu đã lấy sự trao ban trọn vẹn toàn thân mình làm điều kiện để có sự sống. Người sẽ phán xét chúng ta trên những gì đã làm cho người nghèo khổ, trên thái độ chúng ta đối với họ. Người nói với chúng ta: “Ta đói, nhưng các ngươi đã không cho ăn. Ta đói bánh, đói sự công bằng, đói nhân phẩm con người, nhưng các ngươi đã bỏ mặc ta!”.
Bởi vì Chúa Giêsu cần đến đôi tay chúng ta để phục vụ; Ngài cần đến trí hiểu và con tim chúng ta để sống tình liên đới yêu thương; Ngài cần đến đôi chân của chúng ta để đến với mọi người. Đó là tiêu chuẩn, là điều kiện để được vào vương quốc Nước Trời. Bởi vì như cha Mark Link viết: “Khi Chúa đến, Ngài không cân đo trí khôn chúng ta thông minh thế nào. Nhưng Ngài sẽ cân đo trái tim chúng ta yêu thương ra sao”.
Hôm nay là Chúa nhật cuối cùng năm phụng vụ, Giáo Hội muốn chúng ta nhớ lại rằng thế giới này rồi sẽ qua đi, và chúng ta phải trình diện trước mặt Đấng vừa là vua, vừa là thẩm phán. Chúng ta tôn vinh Đức Kitô là vua khi chúng ta tưởng niệm công cuộc cứu chuộc của Ngài. Chúng ta hãy tỏ lòng biết ơn, mến phục, tin tưởng và hy vọng ngày hồng phúc chúng ta được vào vương quốc yêu thương, vương quốc công lý và sự thật của Ngài. Amen
Lm. Giuse Phạm Thanh Minh
Gp. Mỹ Tho

 

TN34-C142: Khi Tình Yêu Lên Ngôi

Lm. Giuse Nguyễn
 

Nhạc sĩ Cao Huy Hoàng viết bài thánh ca cho lễ hôn phối với tựa đề thơ mộng “Khi Tình Yêu Lên TN34-C142

Nhạc sĩ Cao Huy Hoàng viết bài thánh ca cho lễ hôn phối với tựa đề thơ mộng “Khi Tình Yêu Lên Ngôi” và nội dung sâu sắc, diễn tả đúng tình yêu của Thiên Chúa là căn bản cho mọi tình yêu: “Khi tình yêu lên ngôi ngát hương thơm cuộc đời. Khi tình yêu lên ngôi lòng yêu mến như biển khơi. Lạy Cha Rất Thánh xin tình yêu tình yêu chung thuỷ, hy sinh vì yêu, chết cho tình yêu, trăm năm tình yêu, tình yêu tuyệt vời.”
Chúa Nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, Giáo hội muốn cùng với con cái mình tôn vinh Đức Giêsu Kitô là Vua, vị vua không có vương quốc, không có vương quyền theo kiểu thế gian, vì Ngài là Vua Tình Yêu và vương quốc của Ngài là ranh giới của yêu thương. Vì vậy khi tình yêu lên ngôi là lúc vương quốc của Thiên Chúa hiển trị.
Sau khi vua Saul băng hà các chi tộc ở miền Nam Israel đã phong Đavit lên làm vua. Một thời gian sau, các chi tộc ở miền Bắc cũng đến gặp Đavit để xin ông làm vua của họ. Họ khao khát một vị vua yêu thương và tận tình chăm sóc họ. Họ đã lấy lời Chúa ra để nói với vua Đavit: “Chính ngươi sẽ chăn dắt Israel, dân Ta, chính ngươi sẽ là người lãnh đạo Israel” (2 Sm 5, 2b). Thế là họ đã xức dầu tấn phong Đavit làm vua. Kể từ đây đất nước được thống nhất dưới quyền trị vị củ vị vua yêu thương ; kể từ đây “hòa bình đã đến, xóm làng yên vui, ấm no về đây”. Tuy nhiên Đavit chỉ là hình ảnh của Đức Giêsu, là Vua toàn thể vũ trụ, và vương quốc cửa Ngài sẽ vững bền mãi mãi.
Khi bị treo trên thập giá, Đức Giêsu bị mọi người khinh bỉ, cười chê: “Dân chúng đứng nhìn, các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo,… lính tráng cũng chế giễu… Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ người” (x. Lc 23, 35-43). Xem ra Ngài đã thất bại khi đến thế gian này.
Tuy nhiên còn có một tên gian phi nói với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi” (Lc 23, 42). Chắc chắn tên gian phi này biết rằng Nước của ông Giêsu không ở trần gian, và vương quyền của Ngài không theo kiểu người đời, vì nếu tìm kiếm những điều đó thì hắn đã mất ngay trước mặt, không có gì cả. Nhưng bởi vì anh ta tin một Vương Quốc khác, một Vương Quyền mới nên anh ta đã được toại nguyện: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23, 43). Đức Giêsu đã đưa lên Thiên Đàng một người tin và đem đến sự an ủi cho Ngài trong lúc những người xung quanh đều không tin và hất hủi Ngài, dù người đó có quá khứ bất hảo. Đúng là khi tình yêu lên ngôi vương quốc của Chúa sẽ hiển trị.
Đức Giêsu đến trần gian này để giới thiệu cho chúng ta một Vương Quốc mới mà Ngài gọi là Nước Trời. Chúng ta chẳng thấy, chẳng biết Nước Trời, nhưng nhìn vào cung cách phục vụ, yêu thương của Đức Giêsu, chúng ta tin và muốn được vào Vương Quốc đó; để từ đây ta không còn gọi là Nước Trời nữa vì nghe có vẻ xa xăm, nhưng ta gọi đó là Vương Quốc Tình Yêu, vì nó hiển trị nơi Đức Giêsu và những ai biết sống yêu thương. Quả thật ở đâu có tình yêu ở đó có Nước Trời.
Giáo hội nỗ lực thực hiện mệnh lệnh của Đức Giêsu là “loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”. Tin Mừng đó chính là Nước Trời, là Vương Quốc Tình Yêu. Vì vậy người rao giảng phải hiểu cốt lõi của vấn đề để thực hiện đúng sứ mạng đó, kẻo cả và Giáo hội chỉ chú tâm đến việc làm sao rửa tội cho thật nhiều người, và cứ tính tỉ lệ người được rửa tội mà tự hào về việc loan báo Tin mừng.
Nếu hiểu việc loan báo Tin Mừng là sống tình yêu thương trong Vương Quốc của Thiên Chúa thì Kitô hữu sẽ dễ dàng thực hiện sứ mạng của mình hơn. Còn nếu quan niệm việc loan báo Tin Mừng là cho người ta biết về Chúa Giêsu, biết giáo lý của Ngài, biết những điều luật của Hội thánh…, ai tin và chấp nhận thì rửa tội cho gia nhập vào Hội thánh… quả thật mông lung và xa vời quá vì chính bản thân Kitô hữu cũng chưa hiểu biết về những điều đó.
Tuy nhiên nếu người ta thấy ở đâu có tình yêu, có sự tôn trọng, nâng đỡ, khích lệ, che chở… thì người ta sẽ tìm đến; và nếu đó là cộng đoàn người Công giáo thì người ta sẽ tin Đức Giêsu của chúng ta bằng những minh chứng cụ thể đó.
Vì vậy mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn được mời gọi loan báo Tin mừng bằng việc sống và san sẻ yêu thương. Nhìn vào cách sống của cá nhân, gia đình và cộng đoàn người ta sẽ biết có Chúa hay không.
Câu chuyện của 2 bạn trẻ đi nhặt xác thai nhi ở Hà Nội đêm 19-11-2019, trên đường về bị một người phụ nữ vượt đèn đỏ va quẹt với chiếc xe. Sau đó còn gây hấn, đạp thẳng vào xe máy của 2 bạn làm xác thai nhi đổ ra đường, lại gọi người đến đánh các bạn. Khi người dân xung quanh hay tin đã chạy đến bảo vệ các bạn, còn báo công an đến giải quyết. Khi biết việc làm của hai bạn công an và người dân đã nhanh chóng hỗ trợ kể cả việc không ai bảo ai, gom tiền lại để các bạn đưa xác thai nhi về nhà càng sớm càng tốt. Sau đó người ta còn tìm hiểu và biết rõ việc làm của 2 bạn trong nhóm thiện nguyện bảo vệ sự sống này, biết rành hằng tháng các bạn có Thánh lễ an táng các thai nhi tại một Đất Thánh ở Bùi Chu. Qua đó hình ảnh bàn thờ, tượng chuộc tội, Đất Thánh của người Công giáo… lan tràn trên các tờ báo. Rõ ràng ở đâu có tình yêu thì Vương Quốc của Chúa sẽ hiển trị. Các bạn trẻ Công giáo này đã không giới thiệu về Chúa bằng Giáo lý hay Thánh kinh mà bằng tình yêu trong việc bảo vệ sự sống.
Người Công giáo phải tự hào được sống trong Vương Quốc Tình Yêu của Vua Giêsu và phải có bổn phận làm cho Nước đó được lớn mạnh. Vì vậy khi biết quan tâm đến người nghèo, khi xót xa trước những cảnh khổ, khi nổ lực để san sẻ yêu thương… là lúc Kitô hữu đang làm cho Nước Chúa hiển trị ngay tại thế gian này.
Xin Chúa qua lời chuyển cầu của Đức Mẹ và các thánh đang sống trong Nước Trời giúp mỗi người chúng con biết để cho tình yêu lên ngôi trong chính cuộc đời mình để sẵn sàng làm “mọi sự vì Đức Ái” (1Cr 16,14). Và xin cho cộng đoàn chúng con trở thành một cộng đoàn đức tin được thể hiện bằng tình yêu thương.

 

TN34-C143: Xin Vua Tình Yêu Nhớ Đến Tôi

Ở thời nào con người cũng đề cao tình yêu, nhưng tìm được một tình yêu tinh ròng không lợi dụng TN34-C143

Ở thời nào con người cũng đề cao tình yêu, nhưng tìm được một tình yêu tinh ròng không lợi dụng, không ích kỷ mà chỉ biết yêu và hy sinh cho người mình yêu là điều rất khó. Đây chính là tình yêu cao thượng. Không giống như tình yêu lãng mạn, tình yêu cao thượng có nghĩa là cho người yêu của mình những gì mà người yêu cần mà không kỳ vọng nhận được bất cứ một điều gì đáp lại. Tình yêu cao thượng cũng hiện hữu trong các mối quan hệ khác của con người, không phải chỉ có trong tình yêu đôi lứa.
Nhưng liệu trong đời này còn có tình yêu dám chấp nhận thiệt thòi và sẵn sàng tha thứ? Hi sinh vì người khác mà không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì? Dường như trong cuộc sống ngày nay, rất khó để chúng ta tìm thấy một người sống dám sống mình vì mọi người. Hình như cách sống cao thượng quá khó với con người ngày nay?
Cách đây hơn 2000 năm người tử tội bên hữu Chúa đã nhận ra một tình yêu tinh ròng ấy. Chúng ta hãy hình dung khung cảnh đồi sọ vào giờ tử nạn của Chúa Giêsu quả thực u ám. Đám đông dân chúng từng được Chúa ban ân huệ ăn bánh của Người, thế mà hôm nay, đang hùa theo các thủ lãnh và quân lính cười nhạo và chế giễu Chúa: “Nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi, nếu nó thật là Đấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn.” Bên cạnh thập giá Chúa cũng có hai người trộm cướp bị đóng đinh. Một trong hai kẻ tử tội sỉ nhục Chúa rằng: “Nếu ông là Đấng Kitô hãy tự cứu Ông và cứu chúng tôi nữa.”
Nhưng chính vào giây phút tăm tối ấy, một ánh sáng vừa lóe lên. Một người tử tội bên phải thưa với Chúa: “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi.” Chúa Giêsu đáp: “Ta bảo thật ngươi, ngày hôm nay ngươi sẽ ở trên Thiên đàng với ta.”
Qua đây, Chúa Giêsu đã mạc khải cho người trộm lành, cho toàn thể dân chúng, quân lính, các thủ lãnh và toàn dân Isarel đang đứng dưới thập giá: Người là vua nhân hiền, đầy tình thương xót và tha thứ. Nước Người là Nước Trời, Nước Thiên Chúa. Thần dân của Ngài là tất cả những tâm hồn thành tâm thiện chí, biết mở rộng lòng đón nhận Tin Mừng Cứu Độ. Cờ hiệu của Ngài là thập giá đưa đến vinh quang. Hiến pháp của nước Thiên Chúa là giới luật yêu thương: yêu Thiên Chúa hết linh hồn, hết sức, hết trí khôn và yêu thương và anh em đồng loại như chính mình.
Tai sao giữa lúc tối tăm đó, người trộm lành lại can đảm thốt lên điều đó? Giữa lúc mà mọi người đã bỏ Chúa, giữa lúc mà mọi người đang nhục mạ Chúa, mà người trộm lành lên tôn vinh Chúa? Vâng, anh đã tôn vinh Chúa không phải vì Chúa đã thành công theo lối nhìn ở đời mà quan yếu là anh đã cảm nghiệm được tình yêu mà Chúa Giêsu đã dành cho nhân thế.
Ngay trên khổ giá của mình, anh thấy trong bao lời trách mắng về Ngài với những câu như : “Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá”. Nhưng những gì anh thấy được lại là “Đức Giêsu ngước mắt lên trời”, và những gì anh nghe được lại là “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm.”
Chính việc “thấy” và “nghe” kia đã hình thành trong anh một cảm xúc kính phục chân thành. Anh thương người chịu đóng đinh bên cạnh. Anh thấy mình bị khổ nhục là đích đáng. Nhưng con người kia đâu có hận thù, tham lam, độc ác gì. Trái lại, dù trong cảnh thê lương sầu thảm, dù khổ đau đang giằng xé từng hơi thở, dù mặt mũi hình hài tan nát mất hết hình tượng, nơi con người Giêsu đó vẫn toát lên tình thương và lòng khoan dung tha thứ. Thế rồi anh can đảm lên tiếng bênh vực cho Ngài: “Ông này đâu có làm gì sai trái.” (Lc 33:41). Và xa hơn, anh còn khám phá ra vương quyền của Ngài khi thành khẩn nài xin: “Lạy Đức Giêsu, xin nhớ đến tôi, khi Ngài đến trong Nước của Ngài.” (Lc 23:42).
Vâng, chính Tình thương đã giúp anh khám phá Vua Giêsu. Một vị vua không đăng quang trên ngai vàng mà trên cây thập giá. Một biểu tượng cho tình yêu tự hiến chết cho người mình yêu. Một biểu tượng cho tình yêu bao dung dành tình yêu cho cả kẻ làm hại mình.
Suy tôn Chúa Giêsu là Vua Yêu thương, nài xin Ngài “nhớ” đến mình trên mọi hành trình dương thế. Hành trình nào cũng có khó khăn, đôi khi cả vấp ngã, nhưng hãy tin tưởng và cầu xin Vua tình yêu nhớ đến chúng ta ngay bây giờ và trong vương quốc của Ngài.
Xin Vua Tình yêu thống lĩnh gia đình và từng người chúng con trong vương quốc của Ngài để nhờ đó chúng con luôn được che chở bình an trong sự quan phòng đầy tình yêu của Chúa. Amen
Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

 

TN34-C144: Đức Giê-Su Thiên Sai Vua Vũ Trụ

LỄ CHÚA GIÊ-SU VUA
2 Sm 5,1-3 ; Cl 1,12-20 ; Lc 23,35-43
I. HỌC LỜI CHÚA
TIN MỪNG: Lc 23,35-43
(35) Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời chế nhạo: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn”. (36) Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống, (37) và nói: “Nếu ông là Vua dân Do thái, thì cứu lấy mình đi! (38) Phía trên đầu Người có bản án viết: “Đây là Vua người Do thái”. (39) Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: “Ông không phải là Đấng Ki-tô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!”. (40) Nhưng tên kia mắng nó: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà có Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! (41) Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!”. (42) Rồi anh ta thưa với Đức Giê-su: “Ông Giê-su ơi! Khi vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (43) Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh: Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng”.

Ý CHÍNH:
 

Tin mừng hôm nay cho thấy Đức Giê-su trên thánh giá như một ông Vua ngự trên ngai vàng. Hầu TN34-C144

Tin mừng hôm nay cho thấy Đức Giê-su trên thánh giá như một ông Vua ngự trên ngai vàng. Hầu hết những kẻ hiện diện do đã quen hình ảnh một ông vua trần tục nên không nhận ra Đức Giê-su là ông Vua Mê-si-am nên có thái độ khác nhau: Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời chế nhạo… Lính tráng cũng chế giễu Người. Hai tên gian phi thì một kẻ nhục mạ Người, còn kẻ tin Chúa thì bênh vực và cầu xin Người thương xót nên đã trở thành người đầu tiên nhận được ơn cứu độ của Người.

CHÚ THÍCH:
– C 35-38: + Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời chế nhạo: Khi đối diện với thập giá của Đức Giê-su, dân chúng ngỡ ngàng đứng nhìn hậu quả của việc mình đã về hùa với kẻ mạnh mà lên án bất công cho người công chính. Còn các đầu mục Do thái thì hả hê vì đã hạ gục được một kẻ dám chống lại họ. + Là Đấng Ki-tô: Ki-tô (Christos) là tiếng Hy Lạp, tương đương với từ Mê-si-a trong tiếng A-ram hay Do thái. Cả hai từ Mê-si-a và Ki-tô đều có nghĩa là “Đấng Được Xức Dầu”. Xức dầu là một nghi thức tấn phong, giống như Sa-mu-en đã xức dầu phong Đa-vít làm Vua (x. 1 Sm 16,13) ; như Mô-sê đã xức dầu phong A-a-ron làm Tư tế (x. 1 V 19,16) ; như Ê-li-a được lệnh xức dầu phong Ê-li-sê làm Ngôn sứ thay thế mình (x. 1 V 19,16; Is 61,1). + Là người được tuyển chọn: Đây là tước hiệu đã được Chúa Cha xác nhận trước mặt ba môn đệ khi Người hiển dung (x. Lc 9,35), phù hợp với lời tuyên sấm của I-sai-a về Đức Giê-su là “người Tôi Trung, được Thiên Chúa tuyển chọn” để thực hiện công trình cứu độ, nhưng lại bị người đời khinh dể (x. Is 42,1). + Lính tráng cũng chế giễu Người: Lính tráng ở đây là binh sĩ Rô-ma. Chúng thi hành án lệnh của quan Tổng trấn Phi-la-tô đóng đinh Đức Giê-su. Bọn lính này cũng vào hùa với các đầu mục Do thái chế giễu nhục mạ Người. + Chúng lại gần đưa giấm cho Người uống: Giấm là một thứ nước có pha giấm chua gọi là Pos-ca mà lính Rô-ma hay dùng. + Đây là Vua người Do thái: Câu này do quan Phi-la-tô truyền viết gắn lên phía trên thập giá như một bản án. Ngày nay trên cây Thánh Giá, có chữ INRI, viết tắt của câu tiếng La tinh: “JESUS NAZARETH REX JUDEORUM” – Giê-su Na-da-rét Vua dân Do thái (x. Ga 19,19).
– C 39-41: + “Ông không phải là Đấng Ki-tô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!”: Tên gian phi này đã nghĩ Đức Giê-su chỉ là Vua Thiên Sai giả, không thể làm được những điều kỳ diệu, nên đã lên tiếng chế giễu Người. Đây cũng là cơn cám dỗ cuối cùng của Chúa, yêu cầu Người làm phép lạ phục vụ cho mình, giống như ma quỷ đã cám dỗ Người khi bắt đầu đi rao giảng Tin mừng: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy”… (Lc 4,3). Dân làng Na-da-rét cũng có lần đã cám dỗ Người như thế (x. Lc 4,23). + Nhưng tên kia mắng nó…: Chỉ Tin mừng Lu-ca mới nhắc đến thái độ khác biệt của người gian phi có lòng sám hối này.
– C 42-43: + Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!: Trong hoàn cảnh đau thương như vậy thì lời bênh vực và kêu xin của người gian phi, dù yếu ớt, nhưng cũng an ủi Người rất nhiều. Người đã lập tức tha tội và hứa ban hạnh phúc Thiên đàng cho anh. Thật đúng như Người đã nói: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19,10). + “Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng”: Đối với một số người Do thái thì Thiên Đàng là nơi những người công chính ở, chờ ngày sống lại (x. Lc 16,22-31). Còn đối với chúng ta thì Thiên Đàng là “Trời cao” như lời thánh Phao-lô: “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3,20). Thiên Đàng còn là “Trời Mới, Đất Mới” thay thế “trời cũ đất cũ” bị biết mất (x. Kh 21,1). Nơi đó sẽ “không có sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa” (x. Kh 21,4). +Thập giá”: Trước khi Chúa Giêsu chịu khổ hình thì cây thập tự được gọi là Thập tự giá, là một cái giá để hành hình tử tội mang hình chữ thập. Thập tự giá đối với những người không có niềm tin là sự ô nhục, điên rồ và ngu xuẩn (1 Cr 1,23), nhưng đới với người tín hữu lại là biểu tượng của sự hy sinh hãm mình: “Ai muốn theo tôi, hãy từ bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo !” (Lc. 9:23). + Thánh giá: Sau khi Chúa Giê-su phục sinh thì cây Thập giá trở thành Thánh Giá là biểu tượng của niềm tin Ki-tô. Khi dâng thánh lễ, trên bàn thờ luôn phải có cây Thánh giá.

CÂU HỎI:
1) Tin mừng Lu-ca ghi nhận thế nào về thái độ của dân chúng, các đầu mục Do thái, lính canh, hai tên gian phi khi chứng kiến thập giá của Đức Giê-su? 2) Ki-tô hay Mê-si-a nghĩa là “Đấng Được Xức Dầu”. Trong Thánh kinh, ba chức vụ nào được xức dầu tấn phong?
3) Chữ INRI gắn phía trên cây Thánh Giá nghĩa là gì?
4) Cơn cám dỗ cuối cùng Đức Giê-su trải qua trên Thánh Giá là gì?
5) Câu nào của Đức Giê-su cho thấy Người ưu ái đặc biệt đối với tội nhân có lòng sám hối?
6) Theo Thánh kinh thì Thiên Đàng là gì?
7) Tại sao lại gọi cây thập giá Đức Giê-su chịu khổ nạn là cây Thánh Giá ?

II. SỐNG LỜI CHÚA
LỜI CHÚA: Phía trên đầu Người có bản án viết: “Đây là Vua người Do thái” (Lc 23,38).
CÂU CHUYỆN:
1) ANH KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ CHO EM HƠN THẾ NỮA:
Gần đây, các thợ lặn đã tìm được một con tàu đã bị đắm ở ngoài khơi biển Bắc Ái nhĩ lan cách đây 400 năm. Trong số các báu vật tìm được trên con tàu này, có một chiếc nhẫn cưới của một người đàn ông. Sau khi được lau chùi sạch sẽ, trên mặt nhẫn hiện ra một hàng chữ kèm theo hình một bàn tay đang cầm một quả tim đưa ra. Người ta đọc được câu ấy như sau: “Anh không còn gì để cho em hơn thế này nữa”. Trong tất cả những báu vật tìm thấy trên con tàu, không vật nào khiến cho các tay thợ lặn cảm động bằng chiếc nhẫn với hàng chữ khắc ghi trên đó.

2) BỨC HỌA NGÀY THẨM PHÁN:
Trần thánh điện của Nhà thờ Sixtine tại Va-ti-can có một bức danh họa vĩ đại của Michel-Ange về Ngày Thẩm phán theo Tin Mừng Mat-thêu. Đây quả thật là một bức tranh vĩ đại. Họa sĩ phải để ra một năm, hằng ngày nằm trên sàn vẽ, vừa vẽ vừa suy niệm về ngày phán xét chung. Chúa Giê-su, Vua Thẩm Phán đến trong vinh quang để xét xử công tội của mỗi người. Bài Tin Mừng hôm nay, tuy nói đến cuộc quang lâm của Chúa, nhưng trước tiên nói đến số phận của mỗi người: “Ngài sẽ đến ngự trên ngai uy linh, có hết thảy mọi Thiên thần hầu cận và Ngài sẽ phân chia họ ra”.
Trước mặt Ngài chỉ có những người đã sống trong Tình yêu và những người đã chối bỏ Tình yêu. Mọi người đều lộ diện rõ ràng trước Vua Thẩm Phán Tối Cao. Người sẽ phán với họ: “Quả thật, Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta, là các ngươi đã làm cho chính mình Ta. Và những gì các ngươi đã không làm cho một trong các anh em hèn mọn nhất của Ta, là các ngươi đã không làm cho chính mình Ta”.
Đây là một cuộc xét xử về Tình yêu: Mến Chúa và yêu tha nhân. Nếu được xét xử khi ấy, chúng ta sẽ được xếp vào hàng chiên bên phải hay loài dê bên trái của Chúa?
3) PHỤC VỤ BỆNH NHÂN NGHÈO NHƯ PHỤC VỤ CHÍNH CHÚA KI-TÔ:
Hôm ấy, có một thiếu nữ Ấn-độ đến gặp Mẹ Tê-rê-xa Cal-cut-ƠN GỌI CỦA ta để tìm hiểu Hội Dòng của Mẹ. Mẹ liền nói với người thiếu nữ ấy rằng: “Con hãy qua nhà hấp hối. Ở đó, con sẽ gặp nhiều người bệnh tật bất hạnh đang nằm chờ chết. Con hãy săn sóc an ủi họ”.
Thiếu nữ vừa quay lưng đi thì Mẹ Têrêxa gọi giật lại: “Nầy con, khi dâng thánh lễ, con thấy linh mục trân trọng Mình Thánh Chúa Giêsu thế nào, thì con cũng hãy trân trọng những con người bất hạnh như thế”.
Nói như thế, Mẹ Têrêxa muốn dạy rằng: mỗi một con người dù bần cùng khốn khổ đến đâu cũng phải được tôn trọng như Thân Mình Chúa.
4) KÍNH TRỌNG THÂN MÌNH ĐỨC KI-TÔ NƠI NHỮNG NGƯỜI NGHÈO KHỔ:
Tại Đại hội Thánh Thể 1982 ở Lộ Đức, Đức cha Ca-ma-ra đã kể lại câu chuyện như sau:
“Có một số nông dân đến gặp tôi. Họ kể lại rằng một tên ăn trộm đã đột nhập vào nhà thờ, cậy cửa nhà tạm và lấy Mình Thánh mang đi. Hôm sau, họ đã tìm thấy Bánh Thánh nằm vương vãi trong bùn nhơ”. Nói tới đây họ òa khóc, rồi xin tôi dâng một lễ tạ ơn.
Dĩ nhiên là tôi vui lòng dâng lễ và trong buổi lễ hôm đó tôi đã nói với họ như sau:
“ Chúng ta thật mù quáng biết bao. Chúng ta đã sững sờ khi thấy Bánh Thánh nằm giữa bùn nhơ, nhưng đó lại là những hiện tượng thường xuyên xảy ra. Chúng ta cũng thường thấy Đức Ki-tô hiện diện trong những con người nghèo khổ sống trong những căn nhà ổ chuột. Đức Ki-tô hiện diện thực sự trong Bí tích Thánh Thể thế nào thì Người cũng hiện diện trong những con người khốn khổ như vậy”.
Rõ ràng việc bác ái là thành tích có giá trị thưởng phạt trong ngày phán xét. Việc bác ái là chứng chỉ duy nhất để ta được nhận vào số những người được Chúa Cha chúc phúc. Làm việc đạo đức mà thiếu tâm tình bác ái thì cũng không được Chúa thừa nhận. Đức Kitô là Vua Tình Yêu và Vương quốc của Người là Vương quốc Tình Yêu, nên chỉ những ai sống yêu thương cụ thể mới gặp được Chúa và gia nhập vào Vương Quốc của Người.

SUY NIỆM:
1) TÌNH CHÚA TÌNH NGƯỜI:
Trong câu chuyện chiếc nhẫn tình yêu: hình chạm và dòng chữ: “Anh không còn gì để cho em hơn nữa” rất phù hợp với ý nghĩa của Thánh lễ Chúa Giê-su Vua hôm nay. Bởi vì trên thập giá, Đức Giê-su đã cho chúng ta mọi sự Người có là tình yêu và mạng sống của Người. Người đã chứng tỏ tình yêu tột cùng với chúng ta khi nói với các môn đệ: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15,13).
2) ĐỨC GIÊ-SU LÀ VUA THIÊN SAI:
Chúng ta thường nghe nói rằng: Sư tử là vua vì là con vật mạnh mẽ nhất trong muôn loài thú. Ta cũng thấy người ta gọi người này là ông vua dầu lửa, người kia là ông vua thép, người khác là ông vua nhạc Rốc… Đó là những nhân vật tài giỏi nhất, làm bá chủ về một lãnh vực nào đó. Tương tự như thế, Đức Giê-su được gọi là “Vua”, vì Ngài là một con người hoàn hảo nhất, cao thượng nhất và quyền năng nhất. Thánh Phao-lô đã viết: “Nhờ đã hạ mình vâng lời chịu chết, một cái chết thập giá, mà Người đã được Thiên Chúa siêu tôn và ban một Danh trổi vượt trên muôn ngàn Danh hiệu. Để khi nghe danh Giê-su mọi loài trên trời dưới đất đều phải quỳ lạy và mọi miệng lưỡi đều phải tuyên xưng: Đức Giê-su Ki-tô là Chúa để tôn vinh Chúa Cha” (x. Pl 2,8-9).
3) GIÊ-SU NA-DA-RÉT VUA DÂN DO THÁI:
Bài Tin mừng hôm nay đưa chúng ta về với hình ảnh Đức Giê-su trên cây thập tự với bản án trên đầu: “Giê-su Na-da-rét Vua dân Do thái”.
Nhưng tước hiệu Vua của Đức Giê-su không giống các ông vua trần thế :
Đức Giê-su là VUA THIÊN SAI: Vương miện của Người là vòng gai nhọn cuốn trên đầu, cẩm bào Người khoác là sự trần trụi ô nhục. Không có những lời tung hô vạn tuế, mà chỉ có những lời nhạo báng khinh chê.
Đức Giê-su là VUA HÒA BÌNH ngồi trên lưng con lừa hiền lành thay vì ngựa chiến để khải hoàn vào thành thánh Giê-ru-sa-lem.
Đức Giê-su là VUA MỤC TỬ, chăm lo cho đoàn chiên được sống và sống dồi dào, sẵn sàng thí mạng để bảo vệ đoàn chiên khỏi bị sói rừng giết hại.
ĐỨC GIÊ-SU là VUA TÌNH YÊU, chịu lưỡi đòng đâm thâu cạnh sườn để máu và nước chảy ra thanh tẩy tội lỗi và ban ơn cứu độ cho trần gian. Chỉ Người mới xứng đáng nói với chúng ta câu khắc trên nhẫn vàng trong câu chuyện trên: “THẦY KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ TRAO CHO ANH EM HƠN THẾ NỮA”.

4) TÔN VINH VUA GIÊ-SU:
Giữa công trường Thánh Phê-rô ở Rô-ma có một ngọn tháp cao chót vót gắn một cây Thánh giá vươn lên giữa trời xanh. Ngọn tháp này có từ đời Hoàng đế Ca-li-gu-la, được đưa về dựng giữa công trường năm 1586. Trên ngọn tháp có khắc ba câu tôn vinh Chúa Ki-tô là Vua như sau:
Christus vincit: Chúa Ki-tô toàn thắng.
Christus regnat: Chúa Ki-tô hiển trị.
Christus imperat: Chúa Ki-tô thống lĩnh.
Ngày hôm nay, Hội Thánh cũng tôn vinh Chúa Giêsu là Vua vào Chúa Nhật cuối cùng của Năm Phụng vụ, để tuyên xưng đức tin: Chúa Giê-su chính là An-pha (Khởi đầu) và là Ô-mê-ga (Cùng đích) của nhân loại và toàn thể vũ trụ.

5) CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ?:
Đức Giê-su không muốn chúng ta tin Người vì đã được thấy phép lạ. Người muốn chúng ta tin nhờ được gặp gỡ và lắng nghe Lời Người, được nhìn thấy các việc tốt đẹp Người làm. Từ đó cảm nhận được tình yêu của Người và dứt khoát chọn đi theo Người. Các bà mẹ trong gia đình cần học theo gương của một bà mẹ có lòng đạo đức, đã chỉ vào cây Thánh Giá mà khuyên đứa con nhỏ như sau: “Con ơi! Hãy nhìn xem cho kỹ. Chính Chúa Giê-su đã chết đau thương trên cây thánh giá để đền tội thay cho con đó”. Mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, chúng ta cần có thái độ nào?
Đứng nhìn như dân chúng,
Chế nhạo như những kẻ đầu mục Do thái,
Hay xin Chúa tha tội như tên gian phi có lòng sám hối ăn năn và đức tin chân thành?
THẢO LUẬN: 1) Bạn có đồng ý câu: “Yêu thương là cho đi. Cho nhiều là dấu yêu thương nhiều. Cho cả mạng sống của mình là dấu chứng tỏ tình yêu tột đỉnh”? 2) Trong những ngày này bạn sẽ cho người thân những gì để biểu lộ tình yêu của bạn?
NGUYỆN CẦU
LẠY CHÚA GIÊ-SU VUA VŨ TRỤ.
Nếu chúng con chỉ nhìn Chúa vác thập giá và tuyên xưng Chúa là Vua thì chưa đủ.
Nếu chúng con chỉ ca ngợi Chúa trong thánh lễ hôm nay mà thôi thì cũng chưa đủ.
Chúng con còn phải yêu mến và sống chết cho Chúa, phải chu toàn bổn phận làm cho Vương quốc của Chúa mau trị đến.
Xin cho chúng con biết luôn quên mình và chấp nhận vác thập giá là những bệnh tật, những con người trái tính trái nết sống chung quanh, là những tai nạn rủi ro chúng con gặp phải trong cuộc sống… mà bước theo chân Chúa.
Nhờ đó, hy vọng chúng con sẽ trở nên những môn đệ trung tín và khôn ngoan của Chúa, sẽ được Chúa nói trong giờ chết: “Ta bảo thật, hôm nay, con sẽ được ở với Ta trên Thiên đàng”.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH – HHTM

 

TN34-C145: Giêsu yêu thích tước hiệu Mục tử

CHỦ NHẬT 34 TN. LỄ KI TÔ VUA
 

Giê su yêu thích tước hiệu Mục tử, Tôi tớ, Con Người, và đôi lúc, tước hiệu Thầy hoặc Messia hơn TN34-C145

Giêsu yêu thích tước hiệu Mục tử, Tôi tớ, Con Người, và đôi lúc, tước hiệu Thầy hoặc Messia hơn tước hiệu Vua. Thế mà để chế diễu vương quyền của Ngài thì đây là những thứ mà người ta dâng cho Ngài: Một triều thiên bằng gai nhọn, một chiếc áo choàng đỏ để nhạo báng Ngài, một bảng hiệu Nhà Vua đóng trên thập giá. Quả thật, như chính Ngài nói, Nước của Ngài không thuộc trần gian nầy.
Sách 2 Samuen 5,1-3:
Vương quyền của vua Đa vít cho phép ông thực hiện sự hiệp nhất tất cả các chi tộc Israel và khai mào thời đại lẫy lừng nhất trong lịch sử Dân Thiên Chúa. Đó là biểu tượng cho cuộc chiến thắng cuối cùng mà mọi người trông đợi theo Lời Hứa. Tuy nhiên cần phải có một cuộc biến chuyển thiêng liêng để từ cái nhìn còn rất phàm tục về cuộc chiến thắng ấy đi tới chiến thắng của Vương quyền Đức Ki tô.
Thánh vịnh 121:
Trên đường phố Giêrusalem, tín hữu Do thái hành hương hân hoan ca hát vì đã được đến gần Thành Thánh, thủ đô được Đa vít thiết lập, và chờ đợi ngày trở thành trung tâm thế giới. Đối với người Ki tô hữu, Giêrusalem đích thực chính là Hội Thánh.
Thư Côlôsê 1,12-20
Đối với Phao lô, sức mạnh chiến thắng của Tình yêu Thiên Chúa, được biểu hiện hoàn toàn trong Chúa Giê su là điều đã tiềm tàng sẵn trong Tạo Thành ngay từ nguồn gốc. Đức Ki tô, hình ảnh tuyệt hảo của Thiên Chúa vô hình đã hoạt động trong suốt dòng Lịch sử, trước khi tỏ hiện hoàn toàn nơi Chúa Giê su.
Tin mừng Lc 23, 35-43
NGỮ CẢNH
Đọan văn nầy nằm trong phần trình thuật cuộc Khổ nạn của Chúa Giê su (Lc 22-23). Phần cuối của chương 23 cho chúng thấy điểm đến con đường thập giá mà Chúa Giê su khởi sự từ cuộc xuất hành đi về Giê ru sa lem (9,31). Sau khi được ông Simon, người Ky rê nê vác đỡ thập giá (23,26), và an ủi những kẻ khóc thương Ngài (27-31), Chúa Giê su bị đóng đinh giữa hai tên gian phi (32). Bây giờ là thời điểm của quyền lực tối tăm: các thủ lãnh dân chúng và quân lính đứng dưới chân thập giá cười nhạo Chúa Giê su (35-38), nhưng đó chính là lúc Tình thương xót cứu độ lên ngôi: Chúa Giê su hứa ban Nước Trời cho người kẻ trộm sám hối.

TÌM HIỂU
Theo ý họ: Lc không muốn nói rằng chính người Do thái đã đóng đinh Chúa Giê su trên thập giá, nhưng nhấn mạnh rằng trong cái chết của Chúa Giê su trách nhiệm thuộc về dân chúng, các thủ lãnh của họ cũng như Phi la tô.
Theo sau: vác thập giá theo sau Chúa Giê su là một kiểu nói đặc biệt chỉ cách sống của người môn đệ theo Thầy mình: “Nếu ai muôn theo sau ta, hãy vác thập giá mình mỗi ngày và đi sau ta” (9,23; x. 14,27). Ông Si môn Ki rê nê trở thành mẫu mực cho người môn đệ.
Dân chúng: sau khi đã cho độc giả hiểu rằng chính đám đông dân chúng đã dự phần vào cuộc kết án Chúa Giê su (23,13), Lc giờ đây mô tả họ đi theo Chúa Giê su đến Can va ri ô. Đám đông đi sau  Ngài như người môn đệ.
Nhiều phụ nữ: chỉ có Lc trong cảnh nầy cho thấy phản ứng duy nhất tỏ lòng thương xót đối với Chúa Giê su. Trong sách tin mừng, ông không kể lại việc xức dầu ở Bê ta nia (Ga 12,3-8). X. c 49. Lại một lần nữa, Lc nhấn mạnh đến sự hiện diện của các phụ nữ gần Chúa Giê su.
Quay lại: ngay cả trên đường thập giá, Chúa Giê su cũng giảng dạy. Lời cảnh giác của Ngài nhắm đến độc giả chỉ biết than khóc, nhưng không được hiệu quả nào cả: sự khóc than mà Chúa Giê su chờ đợi là hoa trái của lòng thống hối chân thật (3,8), cho phép thoát khỏi án phạt dành cho “cây khô héo”.
Sẽ tới những ngày: tất cả các đoạn diễn từ ngắn nầy thuộc về loại văn khải huyền, được dùng để đưa ra giáo huấn về ngày tận cùng (c.21).
Phúc thay: mối phúc bất ngờ nầy, đã được diễn đạt theo hình thức phủ định ở câu 21,23 đối chọi với mối phúc của người phụ nữ cho con bú (11,27). Sẽ đến những ngày  khủng khiếp đến nỗi những người phụ nữ không con được gọi là có phúc; họ có thể chạy thoát khỏi cảnh tàn phá; họ không than khóc vì không có con cái bị thử thách hăm doạ.
Cây: người ta gom cành khô lại, bỏ vào lửa và đốt đi (x. Ga 15,6).
Hai tên gian phi: Ở câu 22,37, ông đã nhắc lại lời sấm của Isaia 53,12: “Người bị liệt vào hàng phạm pháp”.  Rõ ràng có nhiều ám chỉ đến CƯ trong trình thuật Khổ nạn theo Lc.
Lạy Cha: cả hai lời cầu nguyện của Chúa Giê su trên thập giá (x.c.46) cho thấy Ngài trong tương quan với Thiên Chúa được trình bày như là Cha Ngài.
Xin tha cho họ: x. Is 53,12. Ở đây lặp lại và là đỉnh cao của chủ đề về tha thứ, như thường được nhấn mạnh trong Lc (đứa con hoang đàng, người phụ nữ tội lỗi, tha thứ cho thù địch..). Trên thập giá tình yêu lạ lùng của Thiên Chúa được mạc khải nơi Chúa Giê su cũng được nhấn mạnh. Tha thứ cho cả những kẻ Ngài đến để cứu thoát nhưng đã từ khước Ngài. Công thức không nói rõ, cho phép áp dụng cho tất cả mọi người từ khước Chúa Giê su (x. 1Pr 2,22-24).
Qua câu nói nầy, Chúa Giê su được giới thiệu như là gương mẫu cho người ki tô hữu (x. 6,36-37). Tê pha nô sẽ là người đầu tiên bắt chước Thầy mình (Cv 7,60).
Họ không biết: lời khẳng định nhằm mục đích không buộc tội những người đã đóng đinh Chúa Giê su: họ từ khước Người vì họ không biết Người. “Không một ai trong các thủ lãnh thế gian nầy đã được biết lẽ khôn ngoan ấy, vì nếu biết họ đã chẳng đóng đinh Đức Chúa hiển vinh vào thập giá” (1Cr 2,8). X. Cv 3,17.
Áo của Người: ám chỉ đến câu Tv 22,19. Có nhiều ám chỉ đến khác đến Tv nầy (như 22.8-9) cho thấy, cuộc khổ nạn của Chúa Giê su không phải là một tai ương bất ngờ mà là một điều đã được dự định trước trong thánh ý Thiên Chúa Cha.
Đứng: Lc muốn đối chọi thái độ đau buồn và lòng trung tín của dân với thái độ ngạo mạn và nhạo báng của các thủ lãnh và quân lính.
Cười nhạo: x. Tv 22,8-9.
Người được tuyển chọn: kiểu nói nầy lặp lại tước hiệu mà Chúa Giê su đã nhận lãnh trong cuộc Biến hình (9,35). Người ta thấy các tước hiệu vương đế xuất hiên nhiều trong các câu nầy (23,35.37.38.39.42). Lc còn cho các người chứng kiến lặp lại ba lần: “Hãy cứu lấy chính mình đi!”. Có lẽ đó là phần đầu của lời chào tập thể: “Hãy cứu lấy mình và cả chúng ta nữa”. Điều nầy sẽ được thực hiện trong sự Phục sinh.
Giấm: x. Tv 69,22.
Tên kia: chỉ có Lc lưu ý đến cách hành xử khác biệt của hai tên gian phi nầy. “Tên trộm lành”, tự nhận mình là kẻ có tội, làm chứng cho sự vô tội của Chúa Giê su. Nhưng điều quan trọng là nó đã cho thấy mình là một người tín hữu gương mẫu: trong giây phút khó khăn cùng cực của mình và của Chúa Giê su, anh ta đã xác định đức tin của mình vào tương lai của Chúa Giê su. Do đó, Lc trình bày ông ta như mẫu mực cho các ki tô hữu bắt chước.
Tôi bảo thật: Lc tác giả duy nhất dùng kiểu nói nầy đến sáu lần nhằm nhấn mạnh đến sự trang trọng của lời tuyên bố.
Hôm nay: từ đặc biệt của Lc. Ông sử dụng từ nầy cho các thiên sứ ở  Bết lê hem (2,11), trong phép rửa của Chúa Giê su, theo một vài bản thảo (3,22), trong hội đường Nagiarét (4,21), trong việc chữa lành người tê bại (5,26), trên đường đi lên Giê ru sa lem (13,32-33), trong nhà ông Gia kêu (19,9). Ở đây, kiểu nói nầy tóm kết toàn bộ nội dung trong thời khắc mà Chúa Giê su trên thập giá hứa rằng “hôm nay” ơn cứu độ sẽ đến cho người nầy”.

SỨ ĐIỆP
Chủ nhật cuối cùng của năm Phụng vụ dành để mừng lễ Đức Ki tô Vua vũ trụ. Nhân dịp nầy, Tin mừng giới thiệu diện mạo gây ngạc nhiên của Chúa Giê su trên thập giá giữa hai tên trộm trong vòng vây các thù địch ra sức chế nhạo, còn các môn đệ bỏ Ngài chạy trốn. Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn bên kia dáng vẻ bề ngòai: thánh Luca không trình bày cuộc Khổ nạn Chúa Giê su như một thất bại, nhưng như một chiến thắng của sự Sống. Như thế, Đức Ki tô là Vua bởi vì Ngài đã là người đầu tiên đi vào sự Sống với nhân tính của Ngài. Vương quyền của Ngài là vương quyền của một vị mục tử đi trước đàn chiên để dẫn đưa về ràn. Đó không phải là một uy quyền tìm cách chế ngự, mà là để cứu thoát. Quyền bính ấy không nhằm đàn áp, nhưng thu hút mọi người đến với Ngài và mở đường cho chúng ta Con đường sự Sống.
Mừng lễ Đức Ki tô Vua vũ trụ là một cách mừng lễ Phục sinh một lần nữa. Sau khi chết trên thánh giá, Chúa Giê su đã sống lại. Ngài đi vào Sự sống và mở lối cho mọi người cùng vào với Ngài. Người mà chúng ta gọi là “người trộm lành” đã là người đầu tiên được hưởng lời hứa nầy: “Ngày hôm nay, anh sẽ lên thiêng đàng với ta”. Và có nhiều người khác đã theo anh. Ngay cả những người tội nhân nổi tiếng nhất cũng có thể hướng về phía thập giá Đức Ki tô và nghe tin mừng ấy. Ngay giữa lòng đau khổ, đã lóe lên niềm hi vọng. Sự Sống đã có tiếng nói sau cùng. Trên thánh giá, Chúa Giê su khai mạc một đời sống mới. Hơi thở cuối cùng của Ngài là một hơi thở sáng tạo.
Trong thư Côlôsê, thánh Phao lô viết rằng Thiên Chúa “đã muốn hòa giải với tất cả mọi người qua Chúa Giê su và nhờ Ngài, trên trời và dưới đất”. Thập giá của Chúa là một giao lộ. Đó là giao lộ giữa Thiên Chúa giao ước và con người được giải thoát khỏi sự dữ và tội lỗi. Đó cũng là giao lộ của con người được hòa giải và biến đổi bởi tình yêu diệu kì đã mang lấy Đức Ki tô. Thánh giá Đức Ki tô là dấu chỉ sự hòa giải, và là lời mời gọi loại bỏ bạo lực ra khỏi cuộc đời và thế giới. Chúng ta hãy nhớ lại Đa vít, cậu bé chăn chiên ở Bết lê hem. Khi đã lên ngôi, ông đã qui tụ các Vương quốc phía Bắc và phía Nam. Hình ảnh ấy là lời loan báo công trình qui tụ của Đức Ki tô đã hòa giải mọi dân tộc trên trái đất nhờ máu Ngài. Đó cũng là lời mời gọi chúng ta, những môn đệ Chúa Giê su, nỗ lực trong việc hòa giải ấy mọi nơi cần thiết.
Ngày chủ nhật hôm nay, chúng ta dành thời giờ hướng về Đức Ki tô trên thánh giá. Ngài đã chịu nhiều bất công, chế nhạo và nguyền rủa. Nhưng Ngài không đáp trả. Trái lại Ngài vẫn tỏ lòng thương xót và tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”. Thông thường, để đánh dấu ngày nhậm chức, các vua và tổng thống thường có thói quen xử dụng quyền ban ân xá của mình cho các tội phạm. Các tù nhân được miễn án. Đức Ki tô lên ngôi trên thập giá cũng tha thứ cho người trộm lành sám hối. Ngài đưa anh ta vào con đường phục sinh. Người tử tội ấy lợi dụng giây phút cuối cùng để tuyên xưng đức tin và nhờ vậy mà được cứu thoát. Anh nhận ra nơi Chúa Giê su đấng khai mạc một Vương quốc mời gọi tất cả những người tội lỗi. Người môn đệ vào những giây cuối cùng nầy là người tháp tùng bất ngờ với đấng đầu tiên sống lại từ cõi chết. Tin mừng ấy cũng là tin mừng cho mỗi người trong chúng ta. Đức Ki tô sống lại muốn nối kết tất cả vào trong chiến thắng của Ngài và đưa chúng ta vào Vương quốc của Ngài.
Khi hướng về thập giá Đức Ki tô, chúng ta sắp hàng dưới bóng cờ của vị vua đầy lòng thương xót và tha thứ ấy. Trước nhan Ngài, chúng ta nhận rằng mình là người có tội và xin Ngài thương xót: “Lạy Chúa, xin nhớ đến chúng con”. Xin hãy nhớ đến chúng con đã làm nhiều điều xấu xa cần được tha thứ và làm hòa khi chúng con bị thương tổn vì những lời nói hay bài viết của những người mà chúng con tưởng rằng bạn bè. Xin hãy nhớ đến chúng con đã muốn mắt đến mắt, răng đền răng đối với những ngừơi đã làm điều sai quấy đối với chúng con. Xin hãy nhớ đến thế giới chúng con, thường là nạn nhân của sự thù hằn và leo thang bạo lực và trả thù. Chính trong thế gian nầy mà Ngài đã sai chúng con đến. Xin hãy giúp chúng con trở thành những người kiến tạo hòa bình, công chính và huynh đệ.
Đó là Vương quốc Đức Ki tô mà chúng ta hướng về trong ngày chủ nhật hôm nay. Nó không thuộc về thế gian nầy, nhưng được du nhập vào trong thế gian qua các hành vi tha thứ và bình an của chúng ta trong cuộc sống. Vương quốc nầy được mở ra cho tất cả mọi người không trừ ai, đặc biệt những người nghèo và bé nhỏ nhất. Khi hướng về thập giá Đức Ki tô, chúng ta nhớ đến sự khốn khổ của hằng triệu người, phụ nữ và trẻ em hôm nay. Nhiều người đau khổ vì nghèo đói. Một số khác mất tất cả vì chiến tranh hay thiên tai. Và chúng ta cũng không quên tất cả những nỗi đau khổ thầm lặng có thể rất gần với chúng ta. Chính nơi những người ấy mà Đức Ki tô đang chờ đợi chúng ta. Họ có vị trí ưu tiên nơi trái tim Ngài. Hơn nữa, chính Ngài hiện thân nơi mỗi người trong họ.
Vương quyền ấy của Đức Ki tô mà chúng ta mừng hôm nay đặt nền tảng trên tình yêu của Thiên Chúa và tình yêu tha nhân. Ngài tin tưởng nơi mỗi người chúng ta để chúng ta cùng với Ngài đến gần những người đang đau khổ. Khi cử hành Thánh lễ, chúng ta dâng lên lời kinh tha thiết: “Lạy Chúa, xin hãy nhớ đến chúng con trong Nước của Chúa. Xin hãy nhớ đến những người đang sống không hi vọng, không tình yêu!” Và chúng ta xác tín rằng một ngày nọ, Ngài sẽ trả lời chúng con: “Hôm nay, con sẽ ở với Ta trên thiêng đàng”.

ĐÀO SÂU
1. HỎI: Thành Hê-bron ở đâu?
THƯA:  Hê-bron là thành phố miền núi Giu đê, nằm trên độ cao 1000 mét, cách Giê-ru-sa-lem 40 ki lô mét về phía Nam. Hê-bron là thành phố quan trọng đối với ba tôn giáo lớn, vì đó là nơi A-bra-ham mua một ngôi mộ chôn cất bà Sa-ra, trong hang Mak-pe-la. Đó cũng là nơi an nghỉ của nhiều tổ phụ: A-bra-ham và Sa-ra, I-sa-ac và Rê-béc-ca, Gia-cóp và Lê-a, và sau cùng là Giu se được đưa từ Ai cập trở về.
 2. HỎI: Bối cảnh bài đọc một như thế nào?
THƯA: Vào thời xa xưa, ở vùng Trung đông, nhà vua thường được gọi là đấng được Xức dầu, đấng Messia. Sở dĩ như thế vì các Vua được trao quyền bính trong một nghi thức xức dầu một cách long trọng. Sau khi vua Sa-un băng hà, không có người kế vị, nên toàn thể các chi tộc đồng ý tấn phong Đa- vít làm vua Ít-ra-ên.
3. HỎI: Tại sao Đa-vít đã là Vua mà các kì mục Ít ra ên lại còn đến tìm ông ở Hêbron để xin ông làm vua họ?
THƯA: Đúng là Đa vít đã được công nhận là Vua nhưng chỉ trên một phần dân thôi. Vì thế ngày hôm đó, ở Hê-bron ngài chính thức trở thành Vua của 12 chi tộc Ít ra ên.
4. HỎI: Tại sao lại có tình trạng như thế?
THƯA: Như chúng ta đã biết, con cái Ít ra ên đi vào đất hứa vào khoảng năm 1200 trước Công Nguyên, sau khi ông Mô sê qua đời. Trong khoảng hơn một thế kỉ sau đó, mười hai chi tộc sống độc lập với nhau, tuy vẫn giữ một mối dây liên kết là có một lịch sử chung, và nhất là đức tin vào một Thiên Chúa đã tạo dựng mọi sự. Đứng đầu chi tộc là một Thủ lãnh vừa lãnh đạo, vừa làm tiên tri. Về sau dân muốn có một Vua như các dân tộc chung quanh. Sau nhiều do dự, Samuên xức dầu phong Sao lê làm vua. Khi Xa-un qua đời, tình hình thêm phức tạp. Đa vít được xức dầu làm vua, nhưng chỉ trên chi tộc Giu đa ở phía Nam. Còn ở phía Bắc thì lại do một người con của Xa-un làm vua trong một thời gian. Sau khi ông nầy bị ám sát, các chi tộc phía bắc mới quay về Vua Đa vít. Và bắt đầu câu chuyện của bài đọc một.
5. HỎI: Tại sao gọi Vua là Đấng chăn dắt Ít ra ên?
THƯA: Để được làm Vua, phải được xức dầu, dầu ấy là dấu chỉ Thiên Chúa đã chọn lựa và ban Thần khí ở với Ngài. Và chính Thiên Chúa xác định cho ngài nhiệm vụ làm người chăn dắt, người mục tử cho dân Người.
6. HỎI: Bài tin mừng hôm nay có chủ đề nào?
THƯA: Bài tin mừng có chủ đề Vua: vừa là đối tượng của những lời nhạo báng (cc. 35-39); vừa là đối tượng của niềm tin phó thác và được tưởng thưởng (cc.40-43).
7. HỎI: Việc dân chúng nhìn Chúa Giê su nhắc lại điều gì?
THƯA: Việc dân chúng đứng dưới chân thập giá nhìn Chúa Giê su hoàn thành điều mà Thánh vịnh 22 đã nói đến ở câu 8: “Tất cả những kẻ nhìn con đều nhạo báng con..”.
8. HỎI: Các lãnh đạo tôn giáo nhạo báng Chúa Giê su như thế nào?
THƯA: Các lãnh đạo tôn giáo nhạo báng bằng cách nại đến việc Chúa Giê su tự xưng là vua Thiên Sai. Nếu Ngài là Đấng được xức dầu của Thiên Chúa tuyển chọn, là Đấng Cứu thế, như Ngài nói thì hãy tự cứu mình đi.
9. HỎI: Lời nhạo báng ấy nhắc lại điều gì?
THƯA: Lời nhạo báng ấy nhắc lại các cơn cám dỗ mà Chúa Giê đã trải qua: khi bắt đầu sứ vụ (4,3). Ở Na gia rét, quê hương của Ngài (4,23), trong sa mạc (4,1-13).
10. HỎI: Quân dữ nhạo báng và khiêu khích Chúa Giê su những gì?

THƯA: Mỗi người tùy theo địa vị của mình mà khiêu khích Chúa Giê su về quyền năng cứu độ của Ngài: Các thủ lãnh do thái giáo thì thách thức: “Nếu mày là đấng Messia..”. Còn quân Rôma thì: “Nếu mầy là Vua dân Do thái”. Còn tên trộm bên trái thì gọi: “Nếu mày là Đấng cứu độ.”
11. HỎI: Chúa Giê su có trả lời không?
THƯA: Trên Thánh Giá Chúa Giê su không trả lời, Ngài hoàn toàn im lặng không đáp lại những lời khiêu khích của quân dữ. Vì Ngài biết rằng chỉ có Thiên Chúa mới cứu thoát, Ngài chờ đợi ơn cứu độ từ Thiên Chúa mà thôi. Ngài chờ đợi trong lòng tín thác vì biết rằng Thiên Chúa không bỏ rơi Ngài trong sự chết. Và nhờ đó, Ngài đã chiến thằng các cơn cám dỗ và trung thành với sứ mạng cho đến cùng và cũng không trốn tránh những hậu quả theo sau.
12. HỎI: Chúa Giê su đã đáp trả lời khiêu khích của người trộm dữ như thế nào?
THƯA:  Người trộm dữ thách thức Chúa Giê su hãy tự cứu để sau đó cứu anh ta khỏi chết, Nhưng Ngài đã không chấp nhận lời thách thức ấy. Ngài đã không tìm cách né tránh cái chết nhưng biến nó thành lối đưa đến sự sống đời đời.
13. HỎI: Người trộm lành có thái độ như thế nào?
THƯA: Anh thống hối vì quá khứ tội lỗi của mình, và nói lên sự vô tội của Chúa Giê su. Đặc biệt hơn hết anh tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giê su là Đấng Messia và là Vua.
14. HỎI: “Ngày hôm nay” có nghĩa gì?
THƯA: Ơn cứu độ được thực hiện ngay tức khắc, chứ không ở tương lai, như sau khi Chúa Giê su sống lại hay vào ngày thế mạt.
15. HỎI: “Với tôi” diễn tả hạnh phúc như thế nào?
THƯA: Hạnh phúc hứa ban cho người trộm lành chính là cuộc sống thân mật với Chúa Ki tô mà anh đã chia sẻ số phận của Ngài trên thập giá.
16. HỎI: Thiên Đàng là nơi nào?
THƯA: Thiêng đàng là từ được dùng ba lần trong Kinh Thánh chỉ một khu vườn có trồng cây (Dtc 4,13; Nk 2,8; Qo 2,5). Trong bản 70 từ Thiên đàng (= paraeisos) có nghĩa là vườn địa đàng (St 2,8.9.10.15.16). Đó là vườn tuyệt diệu, hạnh phúc. Ở trên thiêng đàng là cuộc sống hạnh phúc tuyệt vời mà người Ki tô nào nhắm tới: “Ở với đức Ki tô là hạnh phúc; nơi nào có Ngài nơi đó có sự sống và có vương quốc”.
17. HỎI: Vương quyền của Đức Ki tô được diễn tả như thế nào?
THƯA: Bài tin mừng cho thấy Đức Ki tô thi hành vương quyền một cách rất thần linh, không phải bằng vũ khí khuất phục, nhưng bằng tình yêu chinh phục. Ngài không xuống khỏi thập giá để đè bẹp đối phương, nhưng bằng cách kéo mọi người lên với Ngài. Bằng cách bình tĩnh chấp nhận đau khổ, ngay trên thập giá, Ngài đã bắt đầu cuộc chinh phục mọi người. Bắt đầu là tên trộm lành (23,43), sau đó viên sĩ quan ngoại giáo (23,47), rồi đến đám đông (23,48), và sau cùng tất cả những ai tin vào Ngài.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây