Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày Xếp gọn trong Tuần 8-2026 (Năm chẵn) Thường Niên

Thứ sáu - 29/05/2026 06:46
Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày Xếp gọn trong Tuần 8-2026 (Năm chẵn) Thường Niên
Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày Xếp gọn trong Tuần 8-2026 (Năm chẵn) Thường Niên

Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày

Xếp gọn trong Tuần 8-2026 (Năm chẵn) Thường Niên

Nguồn: https://giaophanlongxuyen.org/

 

----------------------------------

Mục Lục:

 

Thứ Hai tuần 8 thường niên, sau lễ Hiện Xuống 25/05/2026. 3

Lời Chúa: Ga 19, 25-27. 3

Suy Niệm 1. Đứng gần thập giá. 3

Suy Niệm 2. Vai trò Mẹ thiêng liêng của Đức Maria. 5

Suy Niệm 3. Hội Thánh Cùng Mẹ Tiến Bước. 7

Suy Niệm 4. Đức Maria, Mẹ Hội Thánh, cầu cho chúng con. 9

Suy Niệm 5. Mẹ Hội Thánh. 12

Suy Niệm 6. Đức Maria – Mẹ Giáo Hội 13

Suy Niệm 7. ĐGH Phanxicô thiết lập lễ nhớ Đức Maria là Mẹ Giáo Hội 15

Suy Niệm 8. Đức Maria – Mẹ Giáo hội 16

Suy Niệm 9. Đức Maria Là Mẹ Giáo Hội 19

Suy Niệm 10. Mẹ đau khổ. 20

Suy Niệm 11. Mẹ khả ái của Giáo Hội 22

Suy Niệm 12. Đức Maria Là Mẹ Giáo Hội 26

Suy Niệm 13. Đức Maria, Mẹ Hội Thánh. 28

 

Thứ Ba tuần 8 thường niên. – 26/05 Thánh Philipphê Nêri 31

Lời Chúa: Mc 10, 28-31. 32

Suy Niệm 1: Bỏ mọi sự vì Thầy. 32

Suy Niệm 2; Phấn đấu vì niềm hy vọng. 34

Suy Niệm 3: Phần thưởng gấp trăm.. 35

Suy Niệm 4: Phần thưởng gấp trăm.. 36

Suy Niệm 5: Theo Chúa, ta được gì?. 37

Suy Niệm 6: Từ bỏ để được gấp trăm.. 38

Suy Niệm 7: Phần thưởng cho môn đệ. 39

Suy Niệm 8: Gấp trăm lần. 41

Suy Niệm 9: Thiên Chúa quan phòng. 42

Suy Niệm 10: Sự Sống Vĩnh Cửu Ở Đời Sau. 45

 

Thứ Tư tuần 8 thường niên 27/05/2026. 46

Lời Chúa: Mc 10, 32-45. 46

Suy Niệm 1: Không được như vậy. 47

Suy Niệm 2: Phục hồi vinh quang. 49

Suy Niệm 3: Tiên báo cuộc tử nạn. 50

Suy Niệm 4: Thập giá Chúa Kitô, Tin Mừng của ta. 51

Suy Niệm 5: Qua sự chết mới đến vinh quang. 52

Suy Niệm 6: Phục vụ trong khiêm tốn. 53

Suy Niệm 7: Tinh thần phục vụ. 54

Suy Niệm 8: Muốn làm lớn làm đầu giữa giữa anh em.. 56

Suy Niệm 9: Làm lớn như là cơ hội để phục vụ. 58

Suy Niệm 10: Con Người Sẽ Bị Nộp. 60

 

Thứ Năm tuần 8 thường niên 28/05/2026. 62

Lời Chúa: Mc 10, 46-52. 62

Suy Niệm 1: Xin thương xót tôi 62

Suy Niệm 2: Xin cho con được thấy. 64

Suy Niệm 3: Ðến với Chúa. 65

Suy Niệm 4: Người mù thấy rõ hơn những kẻ sáng mắt 66

Suy Niệm 5: Nhạy bén để được dứu độ. 67

Suy Niệm 6: Anh mù sáng mắt sáng tâm hồn. 68

Suy Niệm 7: Người mù thành Giêricô. 69

Suy Niệm 8: Sáng mắt sáng lòng. 71

Suy Niệm 9: Người mù sáng mắt 72

Suy Niệm 10: Xin Cho Tôi Nhìn Thấy Được. 75

 

Thứ Sáu tuần 8 thường niên 29/05/2026. 76

Lời Chúa: Mc 11, 11-26. 76

Suy Niệm 1: Nhà cầu nguyện của mọi dân tộc. 77

Suy Niệm 2: Phục vụ Thiên Chúa. 79

Suy Niệm 3: Ðền thờ tâm hồn. 80

Suy Niệm 4: Ít lá, nhiều trái 81

Suy Niệm 5: Trả lại ý nghĩa Đền thờ. 82

Suy Niệm 6: Nhà cầu nguyện. 83

Suy Niệm 7: Dụ ngôn cây vả chết khô. 84

Suy Niệm 8: Cây vả bị chúc dữ. 86

Suy Niệm 9: Sống đạo thực sự trong Chúa. 87

Suy Niệm 10: Nhà Cầu Nguyện Của Mọi Dân Tộc. 89

 

Thứ Bảy tuần 8 thường niên 30/05/2026. 91

Lời Chúa: Mc. 11, 27-33. 91

Suy Niệm 1: Chúng tôi không biết 91

Suy Niệm 2: Truy tìm khôn ngoan. 93

Suy Niệm 3: Chất vấn về quyền. 94

Suy Niệm 4: Thượng Hội Đồng chào thua. 95

Suy Niệm 5: Ai hơn ai?. 96

Suy Niệm 6: Khiêm tốn đón nhận sự thật 97

Suy Niệm 7: Tranh luận về quyền của Đức Giêsu. 98

Suy Niệm 8: Quyền nào mà làm?. 100

Suy Niệm 9: Cố gắng mà đối xử tốt với nhau. 102

Suy Niệm 10 : Lấy Quyền Nào Làm Các Điều Ấy. 104

 

---------------------------------

Này là Mẹ con.

Thứ Hai tuần 8 thường niên, sau lễ Hiện Xuống 25/05/2026

Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Hội Thánh. Lễ nhớ.

"Này là Con Bà. Này là Mẹ con."

 

Lời Chúa: Ga 19, 25-27

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Gioan

 

Khi ấy, đứng gần thập giá Chúa Giêsu, có mẹ Người, cùng với chị mẹ Người là bà Maria, vợ ông Clêôpas và Maria Mađalêna.

 

Khi thấy mẹ và bên cạnh có môn đệ Người yêu, Chúa Giêsu nói với mẹ rằng: “Thưa Bà, này là Con Bà”. Rồi Người nói với môn đệ: “Này là Mẹ con”. Và từ giờ đó môn đệ đã đón bà về nhà mình.

 

--------------------------------- 

 

Suy Niệm 1. Đứng gần thập giá

 

-- Ga 19,25-34

 

--Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

 

Khi Đức Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá,

các Tin Mừng Nhất Lãm đều nhắc đến các phụ nữ Galilê.

Họ chỉ đứng nhìn Thầy từ xa (Mt 27,55; Mc 15,40; Lc 23,49).

Còn Tin Mừng Gioan lại mô tả nhóm phụ nữ đứng gần thập giá.

Người phụ nữ đầu tiên được kể tên là thân mẫu Đức Giêsu.

Mẹ đã theo Con đến tận núi Sọ,

dám chứng kiến và cảm nghiệm mọi nỗi đau của Con.

Mẹ can đảm nhận mình là mẹ của người tử tội,

đang ở trong giây phút cuối đời, đang đối diện với cái chết.

Người gần chết thường hay trối trăng một điều quan trọng,

một điều cần phải làm sau khi họ nhắm mắt.

Đức Giêsu trên thập giá cũng muốn để lại một lời trối.

Từ trên cao, Ngài nhìn thấy thân mẫu của mình

và người môn đệ mình yêu dấu đứng kề bên,

Ngài muốn tạo một tương quan thân thiết giữa họ.

Ngài nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà.”

Rồi nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” (Ga 19,26-27).

Hai người không ruột thịt máu mủ, bây giờ thành mẹ con.

Có người nghĩ chuyện Đức Giêsu làm ở đây cũng thường thôi.

Vì biết mình sắp chết, nên Ngài giao phó Mẹ cho môn đệ,

để anh này thay mình chăm sóc Mẹ cho tròn chữ hiếu.

Thật ra lời trăng trối của Đức Giêsu mang tầm vóc lớn hơn nhiều.

Chúng ta không rõ khi Ngài lên đường đi sứ vụ, ai đã lo cho Mẹ.

Ngài để lại Mẹ ở nhà, và Ngài đòi các môn đệ cũng làm như thế.

Không rõ lúc cuối đời, Ngài có thấy cần người chăm sóc Mẹ không?

Dù sao trước khi Ngài nói với anh môn đệ: “Đây là mẹ của anh”

thì Ngài đã giới thiệu anh với Mẹ: “Đây là con của bà.”

Ngài xin Mẹ nhận anh này làm con và chăm sóc anh.

Sau đó Ngài mới giới thiệu Mẹ với anh: “Đây là Mẹ của anh.”

Người môn đệ đã nhận bà làm mẹ, và đã đón bà về nhà mình.

Đức Giêsu đã làm xong chuyện cuối cùng mà Ngài phải làm,

đó là tạo lập một tương quan mẫu tử giữa Mẹ và anh môn đệ.

Với sự bình an thanh thản của người đã hoàn thành sứ mạng,

Ngài nói: “Thế là đã hoàn tất !” (Ga 19,28.30).

Có người nghĩ rằng Thầy Giêsu trên thập giá

chỉ muốn nối kết Mẹ Ngài và người môn đệ Ngài mến thương.

Đó là chuyện thuần túy riêng tư giữa hai người.

Anh môn đệ này không đại diện cho các kitô hữu,

nên cũng chẳng có tương quan nào giữa Mẹ Maria và chúng ta.

Truyền thống Công giáo nghĩ không nghĩ như thế,

nhưng coi cử chỉ trăng trối cuối cùng này của Đức Giêsu

đã kết nên mối dây giữa Mẹ Ngài với mọi kitô hữu.

Đức Giêsu đã chia sẻ tương quan làm con của Mẹ cho chúng ta.

để chúng ta cũng có thể coi Mẹ Maria là Mẹ của mình.

Đây là món quà quý giá Ngài ban cho ta lúc gần kề cái chết.

Chẳng thấy Mẹ hay anh môn đệ nói gì sau lời của Đức Giêsu,

nhưng chúng ta biết cả hai đã sống tương quan mới sau đó.

Đức Maria đã trở nên mẹ của từng kitô hữu.

Mẹ đã là môn đệ trung tín theo Con mình đến tận thập giá.

Người môn đệ Chúa yêu đứng gần cũng theo Thầy đến cùng.

Cả hai làm nên một gia đình thiêng liêng.

Khi vào một nhà thờ Công giáo, chúng ta thấy lòng ấm lại,

vì có sự hiện diện cảm thông của một Người Mẹ,

Người đã ở với Đức Giêsu hơn ba mươi năm,

đã sinh dưỡng, dạy dỗ, chở che, và làm cho Ngài lớn lên.

Đức Maria là thành viên và là Mẹ của Hội Thánh,

là người đứng dưới chân thập giá với nhóm phụ nữ ở Galilê,

nhưng cũng là người có phúc hơn mọi phụ nữ,

là người cầu nguyện với các môn đệ chờ Thánh Thần đến,

nhưng cũng là người được Thánh Thần ngự từ lúc truyền tin.

Chúng ta mong Chúa Giêsu cứ nói với Mẹ: “Đây là các con của Bà.”

Và nói với chúng ta: “Đây là Mẹ của anh chị em.”

Và chúng ta cũng mong Mẹ nhắc nhở chúng ta nhiều lần:

“Hãy làm những gì Người bảo!”

 

Cầu nguyện:

 

Lạy Mẹ Maria,

Chúng con tạ ơn Chúa Giêsu

đã ban cho chúng con một người mẹ

như quà tặng vô giá lúc Người sắp lìa đời.

Mẹ được chọn làm thân mẫu của Chúa

và được ban đầy ân sủng siêu phàm,

khiến muôn thế hệ phải ngợi khen chúc tụng.

Nhưng Mẹ cũng là tỳ nữ mọn hèn

luôn mau mắn thi hành ý định của Thiên Chúa,

dù Mẹ chẳng hiểu hết được mầu nhiệm cao sâu.

Chúng con tưởng Mẹ sẽ đi trên con đường đầy hoa,

nhưng thật ra Mẹ đã đi con đường của Chúa,

con đường gập ghềnh và trắc trở,

với lưỡi gươm sắc đâm thấu tâm hồn.

Trong đời Mẹ có bao tiếng xin vâng trên môi,

từ tiếng xin vâng đầu tiên đến tiếng xin vâng trên núi Sọ.

Những tiếng xin vâng này hợp với tiếng xin vâng của Con Mẹ

để Người đem ơn cứu độ cho chúng con.

 

Lạy Mẹ Maria,

là Mẹ Chúa Giêsu và là Mẹ chúng con.

Mẹ đã sống trọn phận người như chúng con,

và đã chiến thắng sau khi kết thúc cuộc đời trần thế.

Mẹ hiểu chúng con cần lời cầu bàu của Mẹ biết bao

đang khi phải chiến đấu giữa trần gian đầy sóng gió.

Ước gì chúng con cũng có phúc vì đã tin như Mẹ,

có phúc vì đã làm cho Con của Mẹ được sinh ra,

và được lớn lên trong thế giới hôm nay. Amen.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 2. Vai trò Mẹ thiêng liêng của Đức Maria

 

--Ngọc Yến, Vatican news

 

“Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với môn đệ : “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình. (Ga 19, 25-27).

 

Chính đoạn Tin Mừng này chỉ cho thấy tước hiệu Đức Maria, Mẹ Hội Thánh. Ở đây, Chúa Giêsu ủy thác thánh Gioan cho Đức Mẹ như người con được tái sinh vào đời sống thiêng liêng mà chỉ có Mẹ mới làm được. Như thế đây không phải đơn giản là lòng sùng kính Mẹ, cầu nguyện với Đức Trinh Nữ với tước hiệu này, nhưng là tuân theo ý muốn của Chúa Giêsu, vì điều này được truyền lại cho chúng ta từ Kinh thánh: Chúa Giêsu, với những lời tuyên bố ngay lúc cận kề cái chết, xin Đức Maria chăm sóc mỗi người. Nhưng Chúa Giêsu cũng đòi hỏi mỗi người phải cảm thấy được ở trong mối tương quan tình con thảo với Mẹ.

 

Đức Maria trung tâm giáo lý về ơn Cứu độ

 

Lòng sùng kính đối với Đức Maria - giống như tôn kính Thánh giá và Bí tích Thánh Thể - luôn luôn là một trụ cột cơ bản của đức tin, nhưng với lễ nhớ Đức Maria, Mẹ Hội Thánh được thiết lập vào năm 2108, Đức Thánh Cha Phanxicô muốn làm nhiều hơn nữa. Trước hết, ĐTC muốn làm thế nào để lòng sùng kính này có thể là điều tốt cho Giáo hội và có thể làm gia tăng ý nghĩa vai trò làm Mẹ trong Hội Thánh của Đức Maria, nhưng trên tất cả là đặt Đức Maria ở trung tâm giáo lý về ơn cứu độ. Thực tế, trong mối tương quan với Chúa Kitô, lòng đạo đức đối với Đức Maria xuất phát trực tiếp từ đức tin vào Chúa Ba Ngôi. Bởi vì Chúa muốn Mẹ, một người phụ nữ, là Mẹ của Con Thiên Chúa, qua mẹ, con người có thể đạt tới lòng thương xót của Thiên Chúa. Vai trò làm mẹ của Đức Maria bắt đầu bằng việc Truyền tin: Với lời xin vâng, Đức Mẹ ưng thuận để Chúa đi vào lịch sử. Và vì thánh ý Thiên Chúa, việc làm mẹ của Đức Maria không kết thúc dưới chân Thánh giá, mà trở nên vĩnh cửu. Hơn nữa, trong ngày Lễ Ngũ Tuần Mẹ còn hiện diện cùng với các tông đồ - các tín hữu đầu tiên chờ đợi Chúa Thánh Thần: đây là mối liên kết giữa việc kính nhớ Mẹ Hội Thánh với Lễ Chúa Thánh Thần mà Đức Giáo hoàng Phanxicô muốn nhấn mạnh.

 

Lòng sùng kính Đức Trinh Nữ trong giáo huấn của các Giáo hoàng

 

Tước hiệu Đức Maria Mẹ Hội Thánh có nguồn gốc xa xưa và đã hiện diện trong Giáo Hội thời của Thánh Augustinô và Thánh Leo Cả. Trong nhiều thế kỷ, lòng sùng kính Đức Mẹ với nhiều tước hiệu, nhưng với tước hiệu Mẹ Hội Thánh xuất hiện trong một số văn bản của các tác giả thiêng liêng và trong giáo huấn của ĐTC Benedict XIV và Leo XIII. Tuy nhiên, phải đợi đến ĐTC Phaolô VI mới có bước ngoặt; đó là ngày 21 tháng 11 năm 1964, khi kết thúc phiên thứ ba của Công đồng Vatican II, Đức Giáo hoàng tuyên bố Đức Trinh Nữ Maria “Mẹ Hội Thánh”, nghĩa là của mọi Kitô hữu". Với quyết định này, ĐTC Phaolô VI lấy nội dung chủ yếu trong Tín điều của Công đồng Nicea năm 325 và trên hết là các quyết định của các giáo phụ Công đồng Êphêsô (430), xác định Đức Maria là "Mẹ Thiên Chúa". Trong Năm Thánh (1975), có Thánh lễ tạ ơn sùng kính Đức Maria, Mẹ Hội Thánh, sau đó lễ này được đưa vào Sách lễ Rôma, nhưng chưa phải là lễ nhớ bắt buộc trong lịch phụng vụ. Tuy nhiên, ở một số quốc gia - ví dụ Ba Lan và Argentina - và trong một số hội dòng, lễ Đức Maria, Mẹ Hội Thánh được đưa vào lịch riêng. Vào năm 1980 ĐTC Gioan Phaolô II đưa lòng sùng kính Đức Maria, Mẹ Hội Thánh vào trong kinh nguyện. Và đến ngày 11 tháng 02 năm 2018, kỷ niệm 160 năm lần đầu tiên Đức Trinh Nữ hiện ra tại Lộ Đức. Nhân dịp này, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã ấn định lễ nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Giáo hội, được ghi vào Lịch Rôma và được cử hành hàng năm, vào thứ hai sau Chúa Thánh Thần hiện xuống.

 

--------------------------------- 

 

Suy Niệm 3. Hội Thánh Cùng Mẹ Tiến Bước

 

--Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

Với Sắc lệnh của Bộ Phụng Tự và Kỷ luật các Bí tích ký ngày 11 tháng 2 năm 2018, ngày kính nhớ Đức Mẹ Lộ Đức truyền dạy chúng ta cử hành lễ kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh. Thứ Hai, sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Hội Thánh cử hành với niềm vui khôn tả, khởi đi từ: “Khi đón nhận Lời Chúa với tâm hồn trong trắng, Mẹ đã cưu mang Ngôi Lời trong cung lòng khiết trinh, và khi hạ sinh Đấng thiết lập Hội Thánh, Mẹ đã cộng tác trong việc khai sinh Hội Thánh. Khi đứng bên thập giá, Mẹ đón nhận lời trối đầy yêu thương của Con Chúa, và đã nhận tất cả mọi người làm con, những người được tái sinh vào đời sống siêu nhiên nhờ cái chết của Đức Kitô” (Kinh Tiền tụng: Đức Maria là khuôn mẫu và là Mẹ của Hội Thánh).

 

Trong ngày này Hội Thánh dâng lời ngợi khen tung hô Chúa, đồng thời tôn vinh Mẹ là Ðấng Tuyệt Ðẹp “Tota Pulchra”, vì Mẹ đã được Thiên Chúa Cha yêu thương và tuyển chọn làm Mẹ Chúa Con. Mẹ được gìn giữ khỏi mắc tội nguyên tổ, là Ðấng đầu tiên đã được Con Mẹ cứu chuộc. Nét đẹp cao cả của Mẹ phản chiếu nét đẹp của Chúa Kitô, là bằng chứng cho tất cả mọi tín hữu về chiến thắng của tình thương Thiên Chúa trên tội lỗi và sự chết, khi đạp nát đầu con rắn đã cám dỗ Adong và Evà phạm tội. 

 

Thiên Chúa là Cha nhân từ

 

Thiên Chúa khôn ngoan và nhân từ, nên mọi việc Ngài làm đều tốt đẹp. Ngài đã sáng tạo con người theo hình ảnh Ngài, cho họ sống tình thân với Chúa. Vậy Sự Dữ do đâu mà có ? Đâu là nguyên nhân khiến cho tình thân nghĩa thiết giữa con người với Thiên Chúa và con người với nhau bị phá vỡ?

 

Sách Sáng Thế (x. St 1-3) cho ta câu trả lời. Thiên Chúa không tạo nên sự chết, nhưng sự chết đã đi vào thế giới vì sự ghen tương của ma quỉ (x. Kn 1,13-14; 2,23-24). Khi nổi loạn chống lại Thiên Chúa, ma quỉ đã lường gạt và lôi kéo con người theo chúng. Thiên Chúa hỏi Ađam: “Ai đã chỉ cho ngươi biết rằng ngươi trần truồng, há chẳng phải tại ngươi đã ăn trái cây mà Ta cấm ngươi không được ăn ư?” Thiên Chúa hỏi Evà: “Tại sao ngươi đã làm điều đó? ”  Evà trả lời: “Con rắn đã cám dỗ tôi” (x. St 3, 11-13).

 

Là thụ tạo tinh thần, con người chỉ có thể sống tình thân ấy khi tự do tùng phục Thiên Chúa. Ðiều đó được diễn tả trong lệnh cấm con người ăn trái cây biết lành, biết dữ “vì ngày ngươi ăn nó, ngươi sẽ chết” (St 2, l7). Bị ma quỉ cám dỗ, con người đánh mất lòng tín thác vào Ðấng Sáng Tạo, lạm dụng tự do, bất tuân lệnh của Thiên Chúa. Ðó là tội đầu tiên của con người (x. Rm 5, l9). Hậu quả là Adong và Evà đánh mất sự thánh thiện nguyên thủy (x. Rm 3, 23). Sự hài hòa với vạn vật bị phá vỡ: thế giới hữu hình trở nên xa lạ và thù nghịch với con người (x. St 3, l7-l9). Sự kết hợp nam nữ trở nên căng thẳng (x. St 3, ll-l3); tình huynh đệ tương tàn (x. St 4, 3-15); tiếp đến là sự sa đọa của cả loài người. Cuối cùng, vì bất tuân: “Con người là tro bụi sẽ trở về bụi tro” (St 3, l9).

 

Sau khi sa ngã, Thiên Chúa không lỡ bỏ rơi con người. Trái lại, vì tình thương, Thiên Chúa nâng con người lên. Chúa bảo con rắn: “Bởi mi đã làm điều đó, mi sẽ vô phúc ở giữa mọi sinh vật và mọi muông thú địa cầu; mi sẽ bò đi bằng bụng, và mi sẽ ăn bùn đất mọi ngày trong đời mi”. (St 3, 9-15. 20). Đó là thảm kịch tự do mà Thiên Chúa chấp nhận đến cùng vì yêu thương, nhưng Ngài hứa: “ Ta sẽ đặt mối thù nghịch giữa mi và người phụ nữ, giữa miêu duệ mi và miêu duệ người đó, người miêu duệ đó sẽ đạp nát đầu mi, còn mi thì sẽ rình cắn gót chân người” (St 3,15).

 

Ðoạn sách Sáng Thế trên được gọi là "Tiền Tin Mừng" vì đó là lời loan báo đầu tiên về Ðấng Cứu Thế, về cuộc chiến đấu giữa con rắn với người nữ và chiến thắng cuối cùng của một hậu duệ người nữ này. Tình mẫu tử của Đức Maria đối với nhân loại được biểu lộ “Ađam đặt tên cho vợ mình là Evà, vì bà là mẹ của chúng sinh” (St 3, 20).

 

Mẹ Hội Thánh

 

Đức Maria đã được Thiên Chúa tiền định từ muôn thủa trong yêu thương và chọn Mẹ làm Đấng cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và đồng hành cùng Chúa Giêsu Con Mẹ trong công trình cứu chuộc loài người, Mẹ đã cộng tác trong việc khai sinh Hội Thánh. Trong tình thương, Ngài đã tiền định cho chúng ta được làm dưỡng tử đối với Ngài, qua Đức Giêsu Kitô (x. Ep 1 4-5). Do đó, Đức Maria là Mẹ chúng ta.

 

Thật hiển nhiên: “Lúc bị treo trên thập giá, Chúa Giêsu nói với môn đệ Người yêu: Này là Mẹ con” (Ga 19, 26-27). Bên chân thập giá (x. Ga 19,25), Mẹ đã đón nhận lời trối đầy yêu thương của Chúa Giêsu Con Mẹ, và nơi người môn đệ được Chúa sủng ái, Mẹ đã tiếp nhận mọi người như những người con phải được tái sinh vào đời sống thần linh, và như thế, Mẹ đã trở nên người mẹ từ ái của Hội Thánh đã được tác sinh trên Thánh giá khi Chúa Kitô trao ban Thần Khí. Trong khi đó, cũng nơi người môn đệ yêu dấu, Chúa Kitô muốn tất cả các môn đệ thay mặt Người thể hiện tình yêu thương đối với Đức Maria, Người trao gửi để họ đón nhận Mẹ trong tâm tình thảo hiếu kính yêu” (Sắc Lệnh về việc cử hành lễ kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh). Vì thế, Mẹ là Mẹ Hội Thánh.

 

Hội Thánh cùng với Mẹ tiến bước

 

Trong diễn từ của Đức Giáo hoàng Phaolô VI ngày bế mạc kỳ họp thứ ba của Công đồng Vatican II – 21.11.1964 viết: “Thiên chức Thánh Mẫu đã làm cho Mẹ có những mối liên hệ đặc biệt với Chúa Kitô và hiện diện trong công trình cứu rỗi nhân loại do Chúa Giêsu Kitô thực hiện, cũng chính thiên chức đó tạo nên mối tương quan giữa Đức Maria và Hội Thánh; vì Đức Maria là Mẹ của Chúa Kitô, Đấng đã nhận lấy bản tính nhân loại trong cung lòng khiết trinh của Mẹ, Đấng là Đầu của Nhiệm thể là Hội Thánh. Vì thế Đức Maria, Mẹ của Chúa Kitô, cũng là Mẹ của tất cả các tín hữu và mục tử, nghĩa là của Hội Thánh”.

 

Vì là Mẹ của Hội Thánh, nên suốt cuộc đời Mẹ luôn là máng thông ơn Thiên Chúa xuống cho Hội Thánh. Để sống tốt hành trình dương thế, chúng ta hãy chạy đến với Mẹ, cầu xin Mẹ, để có thể khám phá ra niềm vui về sự dịu dàng của Thiên Chúa. Không ai đã bước vào mầu nhiệm sâu xa của việc nhập thể như Mẹ Maria. Toàn bộ cuộc sống Mẹ được hun đúc theo Chúa Giêsu Con Mẹ. Mẹ minh chứng rằng tình yêu của Con Mẹ là vô cùng vô tận và mở rộng cho tất cả mọi người, không một ngoại lệ nào. Chúng ta hãy tiếp bước theo Mẹ.

 

Lạy Đức Mẹ Hội Thánh, xin cầu cho chúng con. Amen.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 4. Đức Maria, Mẹ Hội Thánh, cầu cho chúng con

 

-- Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

(St 3, 9-15.20; Ga 19, 25-27)

 

Thứ Hai, sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Giáo Hội truyền dạy chúng ta cử hành lễ kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh với niềm vui khôn tả.

 

Thiên Chúa nhân hậu và khôn ngoan khi muốn thực hiện công việc cứu chuộc thế giới vào thời cuối cùng, “đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà” (Gl 4,4), và Người Con đó “đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria” (Kinh Tin Kính).

 

Đức Mẹ Chúa Kitô

 

Không có gì lạ, khi có người đặt câu hỏi: chúng ta có nên gọi Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa không?Chẳng lẽ Đức Maria, Đấng đã hạ sinh Chúa Giêsu lại không phải là Mẹ Chúa Kitô?

 

Ngôi Lời Thiên Chúa đã làm người, có hồn có xác. Thánh Công đồng Nicêa dạy, chính Con duy nhất của Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha, đồng bản thể với Chúa Cha, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, và tất cả tồn tại trong Người, vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế, nhập thể, làm người, chịu chết, đã sống lại, và Người sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét; Công đồng tuyên phán: chỉ có Chúa Giêsu Kitô là Ngôi Lời Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha, giống Chúa Cha. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi sánh sáng, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha… Nên Đức Maria được gọi là Mẹ Chúa Kitô.

 

Đức Maria đã được các giáo phụ ca ngợi, đặc biệt là thánh Ambrôsiô thành Milan (thế kỷ IV) khi nói: “Đức Maria là Đền Thờ của Thiên Chúa chứ không phải Thiên Chúa của Đền Thờ”. Thánh Ignatiô thành Antiokia (+ 110) là người đầu tiên nêu tên Đức Maria sau các sách Tin Mừng: “Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô đã được Đức Maria cưu mang trong lòng theo nhiệm cục cứu độ” và “Đức Giêsu cũng được sinh ra bởi Đức Maria và bởi Thiên Chúa”.

 

Tại Đông phương, kể từ năm 350, người ta đã tuyên dương Mẹ là “Mẹ của Ngôi Lời Nhập Thể ”. Như thánh Grégoire de Nazianze (330 – 390) đã viết: “Đức Kitô sinh bởi một Trinh Nữ, người nữ ấy là Mẹ Chúa Kitô”.

 

Đức Mẹ Hội Thánh

 

Hiến chế tín lý Lumen Gentium, số 53 của Công Đồng Vatican ô II viết: Vì đã cưu mang, sinh hạ và nuôi dưỡng Chúa Giêsu, đã dâng Con lên Chúa Cha trong đền thánh, và cũng đau khổ với Con mình chết trên thập giá, Ðức Maria đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Ðấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt, để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Bởi vậy, trên bình diện ân sủng. Ngài thật là Mẹ chúng ta” (LG 61).

 

“Thật vậy, Đức Trinh Nữ Ma-ri-a… được nhận biết và tôn kính với tư cách là Mẹ thật của Thiên Chúa là Đấng Cứu Chuộc… Mẹ cũng ‘thật là Mẹ các chi thể của Đức Ki-tô’… bởi vì đã cộng tác bằng đức mến để các tín hữu được sinh ra trong Hội Thánh, được làm chi thể của Đức Kitô là Đầu của Hội Thánh.” 525 “Đức Ma-ri-a,… Mẹ Đức Ki-tô, cũng là Mẹ… Hội Thánh” (x.GLHTCG số 963).

 

Công việc cứu chuộc vẫn tiếp tục trong Hội Thánh, là thân thể Chúa Kitô. Trong thân thể này, Ðức Maria có mặt như một chi thể trổi vượt, liên kết mật thiết với Ðầu, và hằng yêu thương, bảo vệ hướng dẫn các chi thể khác là các tín hữu, với lòng của người Mẹ hiền.

 

Sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống Giáo Hội lễ kính Mẹ

 

Việc sùng kính Mẹ vào thứ Hai sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống nhắc nhớ chúng ta rằng, sau khi Ðức Giêsu lên trời, Ðức Maria đã ở giữa các Tông đồ, như người Mẹ “giữa một đàn em đông đúc” của Ðức Giêsu (Rm 8,29), Con của Mẹ. Đức Mẹ cùng cầu nguyện với Hội Thánh sơ khai: “Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Ðức Giêsu, và với anh em của Ðức Giêsu” (Cv 1,14). Hơn nữa: “Ðức Maria cũng tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban Thánh Thần, là Ðấng đã bao phủ lấy Người trong ngày Truyền Tin” (LG 59), và “ai nấy được tràn đầy ơn Thánh Thần” (Cv 2-4) trong ngày lễ Ngũ Tuần. Sau cuộc đời trần thế, Ðức Maria đã được đưa lên trời cả hồn lẫn xác để hưởng vinh quang thiên quốc. Mẹ là người đầu tiên được tham dự vào cuộc Phục Sinh của Con Mẹ, và như vậy Mẹ là dấu chỉ báo trước và bảo đảm cho các Kitô hữu được sống lại với Chúa Kitô. Mẹ ở trên trên vẫn tiếp tục thiên chức làm mẹ bằng việc chuyển cầu cho tới khi Hội Thánh đạt tới quê trời (LG 62).

 

Hội Thánh luôn dành cho Ðức Maria lòng yêu mến và tôn kính rất đặc biệt, vượt trên các thiên thần và các thánh. Mẹ là mẫu mực của Hội Thánh trên bình diện đức tin, đức ái và hiệp nhất hoàn hảo với Chúa Kitô” (GH 63). Là hình ảnh của Hội Thánh tại thế “Hội Thánh vì ôm ấp những kẻ có tội trong lòng” (GH 8) hướng nhìn lên Ðức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội, một phần tử ưu tú của mình, đã chiến thắng tội lỗi, nhờ hồng ân Chúa Kitô. Vì thế, Hội Thánh luôn luôn kiên trì và tin tưởng trong hành trình đức tin trên trần gian. “Ngày nay, trên trời Mẹ Ðức Giêsu đã được vinh hiển cả hồn và xác, là hình ảnh và khởi thủy của Hội Thánh phải hoàn thành đời sau; đồng thời, dưới đất này, cho tới ngày Chúa đến (2Pr. 3,10).

 

Lạy Mẹ Hội Thánh, trong hoàn cảnh bi đát hiện nay, đầy đau khổ và lo lắng đang bao trùm cả thế giới vì đại dịch, chúng con cầu xin Mẹ, chúng con tìm nương ẩn dưới sự che chở của Mẹ. Xin chớ chê chớ bỏ lời chúng con nguyện trong cơn gian nan khốn khó, xin giải thoát chúng con khỏi mọi hiểm nguy.

 

Đức Mẹ Hội Thánh, cầu cho chúng con. Amen.

 

--------------------------------- 

 

Suy Niệm 5. Mẹ Hội Thánh

 

(https://ctqn.org)

 

Sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, mừng long trọng vào Chúa nhật sau lễ Thăng Thiên, Giáo Hội mừng lễ Mẹ Hội Thánh. Việc phụng vụ Hội Thánh mừng lễ này liền kề với lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống cho thấy Hội Thánh nhận thức được vai trò của Đức Maria trong Giáo Hội.

 

Từ sau Công đồng Vatican II, hạn từ Mẹ Hội Thánh được sử dụng rộng rãi, không chỉ vì đây là gợi ý của Đức Phaolô VI, mà còn là một kinh nghiệm đức tin được soi dẫn qua dòng lịch sử Hội Thánh. Điều này cũng mặc nhiên nói cho các tín hữu về một viễn kiến đầy hy vọng mà sách Khải huyền đã nêu lên, trong một cuộc chiến không khoan nhượng giữa con rồng và người nữ. Người nữ ấy chính là hình ảnh Đức Maria, tượng trưng cho Hội Thánh.

 

Cơ sở cho kinh nghiệm đức tin này là đoạn Thánh Kinh mà chúng ta đọc và hôm nay. Hội Thánh đã được Chúa Giêsu thiết lập. Đã được khai sinh từ cạnh sườn bị đâm thủng, từ đó máu và nước chảy ra. Nhiều nhà thần học đã cho đây là hình ảnh tượng trưng cho giây phút Hội Thánh được sinh ra giống như trẻ sơ sinh được sinh ra từ cung lòng người mẹ. Máu và nước tượng trưng cho sự sống. Đó cũng là hình ảnh mang tính Thánh Thể của mầu nhiệm Hội Thánh, mà từ Thánh Thể, Hội Thánh được nuôi sống do chính Mình và Máu Chúa. Hội Thánh lại tiếp tục mọi ngày làm cho hình ảnh của hy tế Chúa Kitô được sống động qua việc hiện tại hóa mầu nhiệm yêu thương này trong mỗi thánh lễ cử hành.

 

Thế nên, một Hội Thánh non trẻ được Chúa Giêsu sinh ra và cưu mang, rồi trong giây phút Người chết trên thập giá đến việc trao phó thánh Gioan làm con Đức Mẹ, gợi lên cho chúng ta đầy hình ảnh mang tính biểu trưng về Hội Thánh. “Này là con Bà” và “Đây là mẹ con”, hai câu nói này hàm chứa một nội hàm sâu xa. Rằng Hội Thánh thực sự là con của Mẹ Maria. Chúa Giêsu chuyển giao Hội Thánh non trẻ và nhỏ bé ấy cho Đức Mẹ trông nom. Và “Đây là mẹ con”, đây thực sự là lời căn dặn, Hội Thánh chính là mẹ của chúng ta, Hội Thánh đó bao hàm tất cả mọi người chúng ta, những kẻ tin và cử hành mầu nhiệm cứu độ của Chúa Kitô Con Mẹ.

 

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là Mẹ Hội Thánh và Mẹ của mỗi chúng con. Xin ban ơn nâng đỡ Hội Thánh Chúa trong mọi cơn nguy khó, và cũng xin nâng đỡ đức tin cho mỗi người chúng con. Amen.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 6. Đức Maria – Mẹ Giáo Hội

 

(https://tinmungmoingay.com)

 

Bài Tin Mừng hôm nay xác nhận vai trò làm mẹ trong bình diện cứu độ của ân sủng đạt tới đỉnh cao, đó là lúc hy tế thập giá của Đức Kitô, cũng là mầu nhiệm vượt qua của Người, được hoàn tất.

 

Đọc kỹ đoạn tường thuật, thoạt đầu chỉ thấy đó là một sự lo lắng của Đức Giêsu dành cho mẹ mình, người mẹ mà Người để lại trong một nỗi đau khổ tận cùng. Thế nhưng, ý nghĩa bản tường thuật này có thể đi xa hơn vì hai lý do:

 

Thứ nhất “môn đệ thương mến” ở đây còn là một ẩn số, không chắc chắn là Gioan, theo các nhà Thánh Mẫu Học thì có thể là một biểu trưng (symbol): người được Chúa Giêsu yêu là nghe và tuân giữ Lời (x. Ga 14,21). Mặt khác, nếu trên thập giá, Đức Giêsu chỉ coi Gioan là một cá nhân, thì Đức Giêsu không phải lo, vì Gioan vẫn còn đầy đủ cha mẹ là ông bà Dê-bê-đê. Chính vì vậy, có thể hiểu hình ảnh “người môn đệ được Chúa yêu” là đại diện cho loài người nhận Đức Maria làm mẹ.

 

Thứ hai, trong thứ tự của lời trối, rõ ràng mang ý nghĩa Đức Giêsu chính thức đặt Đức Maria làm mẹ nhân loại hơn là một sự nhờ cậy “người môn đệ thương mến” nhận chăm sóc Đức Maria. Đức Giêsu nói với Đức Maria trước rồi nói với môn đệ sau. Theo lẽ thường nếu muốn gởi gắm Đức Maria cho “môn đệ thương mến” thì Đức Giêsu phải nói với “môn đệ thương mến” trước xem môn đệ có đồng ý không. Như vậy, nghĩa là Đức Giêsu trao cho Đức Maria một sứ mệnh là làm mẹ “môn đệ thương mến” đại diện cho các tín hữu, nghĩa là Đức Maria sẽ là Mẹ của chúng ta.

 

“Vai trò làm mẹ thật mới mẻ này” của Đức Maria, được thiết lập trong đức tin, là hoa trái của tình yêu “mới mẻ”, một tình yêu thấm sâu vào Mẹ dưới chân thập giá, qua việc Mẹ chia sẻ vào tình yêu cứu độ của Đức Kitô.

 

1. Giờ hiến tế: đặc trưng của sự hy sinh.

 

Việc Đức Giêsu ngỏ lời với Đức Maria dưới chân thập giá, đặt trong một hoàn cảnh hết sức rất long trọng được lồng trong cái chết của Đức Giêsu vào giờ Người được tôn vinh. Hôm nay, giờ Đức Giêsu đã đến, đó là “giờ” Người được tôn vinh vì Người đã vâng ý Cha mà chịu hiến tế hy sinh. Đức Maria được liên kết với giờ hiến tế này và trái tim Mẹ cũng chịu hiến tế như lời tiên báo của Simêon là “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Mẹ” (x. Lc 2,35). Điều này cũng cho thấy Đức Maria là “thiếu nữ Sion” nên cuộc đời của Mẹ sẽ mang dấu ấn của số phận dân Người. Vì là Mẹ Đấng Messia, Đức Maria nằm trong cuộc chiến, chia sẻ mọi đau khổ với con mình. “Lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà” gợi lên lưỡi gươm trong sách ngôn sứ Ezechiel 14,17, cắt đứt Israel, chỉ còn để lại một “số sót”. Lưỡi gươm nói lên sự đau khổ nội tâm của người mẹ, đau khổ ở đây là đau khổ của người mẹ nhìn người ta ruồng bỏ con mình. Lưỡi gươm trong Ezechiel vừa cắt đứt Israel vừa sinh ra số sót; ngay dưới chân thập giá, Đức Maria là “Mater dolorosa” đau xót vì sự phủ nhận của nhân loại đối với Đức Giêsu, nhìn Con chết tức tưởi, sự cắt đứt này cũng làm cho Mẹ buốt xót, sinh ra “số sót” cho nhân loại, đó là những kẻ tin vào Đức Kitô. Lưỡi gươm đâm thấu lòng Mẹ để Mẹ luôn chia sẻ khổ đau với Con, vừa đứng về phía những kẻ tin vào Đức Giêsu, ôm lấy tất cả vì Đức Giêsu đã gửi gắm tất cả cho Mẹ: “Này là Con của Mẹ”. Giờ phút hiến tế dưới chân thập giá là đỉnh điểm của lời “xin vâng”, và cả cuộc đời xin vâng của Đức Maria hướng về giờ phút hy sinh này. Cùng với Chúa Giêsu, Đức Maria đã chịu sát tế tâm hồn và làm cho lời “xin vâng” viên mãn khi Đức Giêsu kêu lên: “mọi sự đã hoàn tất”.

 

2. Đặc trưng hiện diện và hiệp thông cứu chuộc.

 

Đức Maria rõ ràng đã đóng vai trò trổi vượt trên bất cứ phàm nhân nào trong sự hiệp thông với Đức Giêsu cứu chuộc. “Hiệp thông cứu chuộc” không phải “tự thân cứu chuộc” mà là cộng tác hoặc tháp nhập vào sự cứu chuộc đó. Chỉ có một mình Đức Giêsu là Đấng Cứu Chuộc duy nhất, nhưng khi sinh hạ Hội Thánh trên thập giá, Đức Giêsu không chỉ có một mình, mà Người còn có Đức Maria đứng dưới chân thập giá, để cùng chia sẻ sự đau khổ và giúp Người chấp nhận hiến dâng. Và sau hết là “hiệp thông cứu chuộc” vì Đức Maria đã tham gia vào công trình sinh hạ Hội Thánh.

 

Thánh Alberto Cả viết: “Đức Maria đã tham dự vào cuộc khổ nạn để cứu nhân loại. Khi mà những Tông Đồ và môn đệ bỏ trốn, thì Người ở lại đứng dưới chân thập giá và chịu trong lòng những vết thương Chúa Giêsu phải chịu ngoài thân; chẳng phải lúc đó lưỡi gươm đã đâm thấu qua tâm hồn Mẹ sao?”

 

Chính sự liên kết những đau khổ và ý chí Mẹ với những đau khổ và ý chí của Đức Giêsu, và cũng chính nhờ sự từ bỏ những quyền lợi của một người mẹ mà Đức Maria đã cùng với Đức Giêsu cứu chuộc nhân loại: Sự liên kết những đau khổ của Đức Maria với những đau khổ của Đức Giêsu đã làm cho người nên Mẹ đau thương cũng như Đức Giêsu đau khổ. Có thể nói, Đức Giêsu phải chịu những đau khổ nào trong thân xác và linh hồn thì Đức Maria cũng phải chịu những đau đớn ấy trong lòng người. Và cũng như Đức Giêsu đã muốn gánh chịu những đau khổ thể xác và tinh thần tới tột độ khả năng chịu đựng của Người, thì cũng như Người, Mẹ Người cũng phải chịu trong lòng tất cả những đau khổ mà trái tim vô nhiễm người có thể chịu được. Mặt khác, ý chí của Đức Maria vốn kết hiệp với ý chí của Con, tức là ý chí của người luôn kết hiệp với ý chí Thiên Chúa. Đức Giêsu nhập thể là để hồi phục vinh quang Thiên Chúa và cứu chuộc thế gian bằng cuộc khổ nạn – chết – phục sinh của Người. Và Đức Maria cũng muốn cho vinh quang Thiên Chúa và phần rỗi của nhân loại nhờ cùng cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Giêsu. Đó là một sự tuân phục tuyệt đối… Ngoài ra, khi dâng hiến người Con thì cũng đồng nghĩa với việc “từ bỏ” quyền lợi của một người mẹ của người, vì con là lẽ sống của mẹ, lấy mạng sống của con thì chẳng khác nào huỷ lẽ sống của mẹ. Đó là sự dâng hiến cao cả trong việc hiệp thông cứu độ.

 

Sau cùng, trên thập giá, lúc Đức Giêsu tưởng chừng như đã bị bỏ rơi hoàn toàn, thậm chí Chúa Cha dường như vắng bóng, thì còn đó Mẹ Người đứng dưới chân thập giá như là một động lực cuối cùng nâng đỡ Người – Thiên Chúa Cha giờ này đang ở trong sự hiện diện của Đức Maria và Thánh Thần vẫn phủ bóng trên Đức Maria để trợ lực Người trong giờ hiến tế…

 

Lạy Mẹ Maria là Mẹ chúng con, xin cho chúng con biết “xin vâng” như Mẹ trong mọi biến cố của cuộc đời, để cộng tác với Chúa trong việc sinh thêm nhiều con cái cho Giáo hội bằng đời sống chứng nhân truyền giáo của mình. Amen.

 

--------------------------------- 

 

Suy Niệm 7. ĐGH Phanxicô thiết lập lễ nhớ Đức Maria là Mẹ Giáo Hội

 

--G. Trần Đức Anh OP

 

ĐTC Phanxicô đã quyết định thiết lập lễ kính Đức Maria là Mẹ Giáo Hội và cử hành hằng năm vào ngày thứ hai sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, theo lịch chung của Giáo Hội.

 

Trong sắc lệnh công bố hôm 3-3-2018, DHY Robert Sarah, Tổng trưởng Bộ Phụng Tự và kỷ luật bí tích cho biết ĐTC đưa ra quyết định trên đây xét vì việc thăng tiến lòng sùng kính này có thể giúp gia tăng cảm thức của các vị mục tử, các tu sĩ và tín hữu về Mẹ Giáo Hội, cũng như lòng kính mến chân thành đối với Đức Mẹ.

 

Chính Đức Giáo Hoàng Phaolô 6, ngày 21-11 năm 1964, khi bế mạc khóa III của Công đồng chung Vatican 2 đã tuyên bố Đức Trinh Nữ Maria là ”Mẹ Giáo Hội, nghĩa là của toàn thể dân Kitô giáo, các tín hữu cũng như các vị Chủ Chăn, họ gọi Đức Maria là Mẹ rất quí mến” và Ngài thiết định rằng ”toàn thể dân Kitô giáo ngày càng gia tăng lòng tôn kính Mẹ Thiên Chúa dưới danh hiệu rất dịu dàng này”.

 

Sắc lệnh của Bộ Phụng tự khẳng định: Lễ kính Đức Maria là Mẹ Giáo Hội, do ĐGH Phanxicô ấn định, ”sẽ giúp chúng ta nhớ rằng đời sống Kitô, để tăng trưởng, cần phải ăn rễ sâu nơi mầu nhiệm Thánh Giá, nơi hy tế của Chúa Kitô trong Tiệc Thánh Thể, nơi Đức Trinh Nữ hiến dâng, Mẹ Đấng Cứu Chuộc và Mẹ của những người được cứu chuộc”.

 

Vì thế, lễ này cần được ghi trong tất cả các lịch và sách phụng vụ để cử hành thánh lễ và phụng vụ các giờ kinh. Các văn bản phụng vụ liên hệ được đính kèm, sắc lệnh này và các bản dịch, được các HĐGM chấp thuận, sẽ được công bố sau khi Bộ Phụng Tự và kỷ luật bí tích phê chuẩn. Tại những nơi nào lễ kính Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Giáo Hội đã được cử hành theo luật riêng được phê chuẩn, vào một ngày khác, với bậc phụng vụ cao hơn, thì trong tương lai vẫn được cử hành theo cùng thể thức ấy”.

 

Theo quyết định trên đây, thứ hai 21-5-2018 sẽ là lễ kính Đức Maria là Mẹ Giáo Hội. (Rei 3-3-2018)

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 8. Đức Maria – Mẹ Giáo hội

 

(Michael R. Heinlein //Văn Việt chuyển ngữ từ simplycatholic.com// https://hdgmvietnam.com/)

 

WHĐ (31-05-2020) – Vào ngày 11 tháng 2 năm 2018, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã quyết định thêm vào lịch chung Rôma một lễ mới về Đức Mẹ, lễ Đức Maria - Mẹ Giáo hội. Trước đây lễ này đã được cử hành ở cấp độ địa phương tại một số giáo phận và dòng tu. Bây giờ lễ này được cử hành trong toàn thể Giáo hội hoàn vũ, và được ghi trong Nghi thức Sách Lễ Rôma. Lễ mới này không có ngày cố định trong năm Dương lịch, vì nó phụ thuộc vào chu kỳ lễ Phục sinh. Lễ được cử hành vào ngày thứ Hai sau Chúa Nhật lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống.

 

Người ta có thể tự hỏi danh hiệu mới này của Đức Maria có nghĩa gì? Và tại sao chúng ta mừng lễ này? Như câu thành ngữ cổ: “de Maria numquam satis” (về Đức Maria, thì nói không bao giờ đủ). Lý do theo nhà Thánh Mẫu học, Linh mục Hugh Rahner, SJ, giải thích là vì “bất cứ điều gì được nói về sự khôn ngoan vĩnh cửu của Thiên Chúa, đều có thể được áp dụng theo nghĩa rộng đối với Giáo hội, theo nghĩa hẹp hơn đối với Đức Maria, và theo một cách cụ thể đối với mọi tâm hồn tín hữu.”

 

Có nhiều ý nghĩa thần học từ việc thiết lập lễ nhớ này. Những ý nghĩa đó bắt nguồn từ việc nhận biết Giáo hội là Thân thể của Chúa Kitô và vai trò của Đức Maria trong đời sống các tín hữu.

 

Vai trò của Đức Maria

 

Đức Thánh Cha Phaolô VI đã chính thức dành cho Đức Maria danh hiệu “Mẹ Giáo hội” khi bế mạc kỳ họp thứ III của Công Đồng Vatican II, vào năm 1964. Truy nguyên về nguồn gốc từ thế kỷ thứ IV với Thánh Ambrôsiô, thì tước hiệu “Mẹ Giáo Hội” gợi lên mẫu tính thiêng liêng của Đức Mẹ, một đặc tính gắn liền với bản tính của Giáo hội.

 

Phần lớn quan điểm Giáo hội học của Công Đồng Vatican II, đặc biệt trong Hiến chế về Giáo hội (Lumen Gentium), được phát triển nhờ sự nhận biết cách phong phú về quan điểm thần học của Thánh Phaolô. Trong đó, các tín hữu nhận biết sự liên kết giữa họ với Đức Kitô như là chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Ngài. Thánh Phaolô đã nói rõ ràng và hùng hồn về chân lý này, và đây cũng là chân lý mà Thánh Phaolô nhận biết trước tiên sau khi trở lại. Khi bị ngã xuống đất và bị mù lòa, Phaolô - Kẻ bắt bớ Kitô giáo lúc đó – nghe thấy một giọng nói hỏi mình: “Saul, Saul, tại sao ngươi lại bắt bớ Ta? (Cv 9: 4). Qua câu nói này, rõ ràng Đức Kitô đã xác định mối hiệp nhất nên một giữa Ngài với những người theo Ngài. Cả hai cùng tạo thành một khối, một thể thống nhất – đó là những gì mà Thánh Augustinô sau này mô tả là “Chúa Kitô toàn thể” (totus Christus) – vì Đức Kitô và người được rửa tội là một thân thể.

 

Thánh Augustinô đã áp dụng chân lý này vào bối cảnh Thánh Mẫu học một cách rất thích hợp: Đức Maria là “mẹ của những chi thể thuộc về Đức Kitô... những ai tin vào Ðức Kitô, vì được kết hợp chặt chẽ với Người, nhất là trong Bí tích Thánh Thể, thì cũng kết hợp với nhau nhờ đức ái, tạo thành một thân thể duy nhất là Giáo hội, có Đức Kitô là đầu... Đức Maria đã sinh ra Người Con Một, và Giáo hội sinh ra những người mà nhờ Người Con Một mà nên một”.

 

Vì Đức Maria là mẹ của Đức Kitô, và chúng ta là chi thể của thân thể Đức Kitô – tức Giáo hội – nên chúng ta cũng là con của Đức Maria. Lễ nhớ mừng mẫu tính của Đức Maria đối với Giáo hội được cử hành hàng năm là dịp để suy ngẫm về chân lý rất ý nghĩa này và những hệ lụy từ đó. Và cũng vì tầm quan trọng của mối liên hệ mẫu tính của Đức Maria đối với Giáo hội mà những nghị phụ của Công Đồng Vatican II đã quyết định để phần suy tư dài về Đức Maria ở trong Hiến chế về Giáo hội (Lumen Gentium), chớ không tách ra để viết thành một tài liệu riêng về Đức Mẹ.

 

Mẫu gương và sự trợ giúp cho Giáo hội

 

Sự liên kết của Đức Maria với Con mình là không thể tách rời. Lễ nhớ mới này cũng thúc đẩy lòng sùng kính Đức Mẹ, bởi vì lễ này giúp chúng ta hướng về Đức Mẹ là mẫu gương cho cả nhân loại, đặc biệt là các tín hữu. Mẹ là chi thể “ưu tú nhất... và nguyên tuyền nhất của Giáo hội” (LG, số 53).

 

Thiên chức làm mẹ của Đức Maria được tìm thấy trong sự vâng lời, đức tin, đức cậy và đức ái của Mẹ. Những đặc điểm này là mảnh đất màu mỡ, ở đó Lời Chúa được gieo vào và trổ sinh sự sống dồi dào. Sự sống siêu nhiên đã đến với thế giới qua tiếng thưa “xin vâng” của Mẹ. Đó là tiếng thưa đem lại sự sống mới cho thế giới. Do đó, Đức Maria là Evà mới. Như sự chết đã đến thế giới qua Evà củ thế nào, thì sự sống đã đến thế giới qua Evà mới như vậy.

 

Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên bố rằng, “với mẫu tính trong Chúa Thánh Thần, Đức Maria ôm lấy từng người trong Giáo hội, và ôm lấy từng người qua Giáo hội. Theo nghĩa này, Đức Maria – Mẹ Giáo hội cũng là gương mẫu của Giáo hội” (Redemptoris Mater, số 47).

 

“Ðức Maria đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Ðấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt, để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn.” (LG, số 61). Vì toàn bộ cuộc đời của Đức Maria là một niềm ước mong của các tín hữu, nên Đức Mẹ lôi cuốn chúng ta đến với ơn cứu rỗi. Đồng thời, qua tấm gương và sự chuyển cầu từ thiên đàng, Đức Mẹ giúp chúng ta vượt qua tội lỗi và biết làm điều tốt. Mẹ không mong muốn gì khác hơn, ngoài ước mong dẫn chúng ta đến với Con của Mẹ.

 

Sự mẫu mực trong đức vâng phục, đức tin, đức cậy và đức ái được tỏ bày nơi Đức Maria cũng cần được tỏ bày nơi các Kitô hữu. Hay nói một cách đơn giản như Chúa Giêsu: “Đúng hơn phải nói: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa” (Lc 11:28).

 

Nhờ sự vâng lời của Đức Maria, Giáo hội có một gương mẫu để sống theo ý muốn của Chúa Cha. Nhờ đức tin của Mẹ, Giáo hội học được cách đưa Đức Kitô đến với thế giới. Nhờ đức cậy của Mẹ, Giáo hội học được cách trông cậy vào Chúa (xem Tv 130: 5). Và nhờ đức ái của Mẹ, Giáo hội học được con đường cứu rỗi.

 

Các Kitô hữu đã hướng về Đức Maria vì những ân sủng đặc biệt và sự chuyển cầu từ thiên đàng của Mẹ trong suốt nhiều thế kỷ, “đã được Giáo hội kêu cầu với nhiều danh hiệu như Trạng Sư, vị Bảo Trợ, Ðấng Phù Hộ và Ðấng Trung Gian” (LG, số 62). Việc thiết lập lễ Đức Maria – Mẹ Giáo hội mang đến một cơ hội nữa cho các chi thể trong thân thể Con của Mẹ, hân hoan kêu cầu trong tình yêu mẹ hiền của Mẹ - Đấng là gương mẫu và sự trợ giúp của chúng ta.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 9. Đức Maria Là Mẹ Giáo Hội

 

Mẹ Giáo Hội (tiếng La-tinh: Mater Ecclesiae) là một trong nhiều tước hiệu của Đức Maria. Với tước hiệu này, Mẹ Thiên Chúa được tôn kính với tư cách là Mẹ của Giáo Hội, thân mình mầu nhiệm của Chúa Ki-tô. Ngay từ hồi thế kỷ thứ IV, tước hiệu này đã được Giáo Phụ Am-brô-xi-ô nhắc tới. Ngài đã liên kết hình ảnh Mẹ Giáo Hội với Đức Maria như là nguyên mẫu „có tính hiện thân“ của Giáo hội. Vào giữa thời Trung Cổ, tước hiệu trên của Đức Maria đã được phổ biến khá rộng rãi trong Giáo hội.

 

Vào ngày 11 tháng 02 năm 2018, nhân ngày Lễ Kính Đức Mẹ Lộ Đức, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã bổ sung ngày Lễ Kính Đức Mẹ là Mẹ Giáo hội vào trong lịch chung của Giáo hội Rô-ma. Và Ngài ấn định rằng, ngày Lễ này sẽ được cử hành trên toàn Giáo hội vào ngày thứ Hai ngay sau Đại Lễ kính Đức Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, như Tòa Thánh Vatican đã công bố vào ngày 03 tháng 03 năm 2018. Theo đó, thứ Hai ngày 21 tháng 05 năm 2018 sẽ là ngày đầu tiên Lễ Kính Đức Maria là Mẹ Giáo Hội được cử hành trên toàn Giáo hội với bậc Lễ nhớ buộc, tức Lễ bậc III.

 

Từ trước tới nay, ngày Lễ Kính Đức Maria là Mẹ Giáo hội chỉ được cử hành riêng lẻ trong một số Giáo phận và một số cộng đoàn Dòng Tu, và được cử hành vào những ngày khác nhau!

 

Hiến Chế tín lý về Giáo Hội Lumen gentium của Công Đồng Vatican II đã mô tả Đức Maria chính là thành phần của Giáo hội và là „Mẹ đáng mến“ của Giáo hội.

 

Tước hiệu Đức Maria là Mẹ Giáo Hội đã luôn luôn được sử dụng bởi nhiều Đức Giáo Hoàng, trong đó có cả Đức Bê-nê-đíc-tô XIV (1748), Đức Lê-ô XIII (1885), Đức Gio-an XXIII, Đức Phao-lô VI và Đức Gio-an Phao-lô II. Vào năm 1944, Hugo Rahner mới khám phá ra rằng, ngay từ thế kỷ thứ IV, Thánh Am-brô-xi-ô cũng đã sử dụng tước hiệu Đức Maria là Mẹ Giáo hội rồi. Khoa Thánh Mẫu học của Hugo Rahner được đặt nền tảng trên Thánh Am-brô-xi-ô cũng như trên các Giáo Phụ khác, và khoa Thánh Mẫu học của ông đã có một ảnh hưởng rất lớn trên Đức Phao-lô VI và Công Đồng Vatican II. Vào ngày 21 tháng 11 năm 1964, tức Lễ Kính Đức Trinh Nữ thành Giê-ru-sa-lem, trong diễn văn bế mạc phiên họp thứ III của Công Đồng trên, Đức Phao-lô VI đã chính thức công bố tước hiệu Đức Maria là Mẹ Giáo Hội. Vào năm 1980, tước hiệu này đã được bổ sung vào trong Kinh Cầu Đức Bà, cụ thể là vào vị trí thứ hai sau tước hiệu Đức Bà là Mẹ Chúa Ki-tô.

 

Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo đã diễn giải tước hiệu Đức Maria là Mẹ Giáo hội như sau: Đức Maria không chỉ là Mẹ Thiên Chúa, nhưng cũng còn là Mẹ của tất cả các tín hữu nữa, như Thánh Augustinô đã trình bày trong tác phẩm De sancta virginitate: „Mẹ đồng cộng tác trong Đức Mến để các tín hữu được sinh ra trong Giáo hội, mà các tín hữu ấy chính là chi thể của Đầu“, tức Chúa Ki-tô.

 

Theo cách trình bày của Thánh Gio-an Phao-lô II Giáo Hoàng, thì nhờ vào việc Mẹ được tôn kính với tư cách là Mẹ ơn Cứu Độ, Mẹ Sự Sống, Mẹ ân sủng, Mẹ của những kẻ được cứu chuộc và Mẹ của những kẻ sống, Đức Maria thực sự là Mẹ của toàn Giáo hội.

 

Đức Bê-nê-đíc-tô XVI lưu ý rằng, ngay từ đầu, Công Đồng Vatican II đã hiểu về Thánh Mẫu Học như là một phần của Giáo Hội Học, và vì thế, trong thực tế, một trong những đặc tính có tính nội tại nhất của Giáo hội, đó là sự đồng nhất hóa với Đức Maria, đã được diễn tả tại Công Đồng này.

 

--------------------------------- 

 

Suy Niệm 10. Mẹ đau khổ

 

--Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ

 

Câu chuyện

 

Vào ngày thứ sáu tuần thánh tại các nước châu Mỹ La Tinh được cử hành với một truyền thống rất đặc biệt, ở đó người ta sống lại sự hiện diện của Mẹ Maria dưới chân thập giá Chúa Giêsu: Các phụ nữ tập trung lại dưới chân thập giá, họ đi lại từng bước những khổ nạn của Chúa Giêsu trong tiếng hát, trong những lời cầu nguyện và cả trong tiếng khóc nữa.

 

Các tín hữu còn giữ một truyền thống khác gọi là “chia buồn”. Truyền thống này được cử hành sau nghi thức phụng vụ của Giáo hội vào chiều thứ sáu tuần thánh: Mọi người trở vào nhà thờ để an ủi Đức Mẹ Sầu Bi, như thể được ở bên Mẹ khi Mẹ đứng dưới chân thập giá Chúa Giêsu, dân chúng chia sẻ nỗi đau của Ngài, vừa nói lên chính nỗi đau của họ. Trong nghi thức truyền thống chia sẻ nỗi đau buồn này là bức tượng của người phụ nữ mặc áo đen đứng dưới chân thập giá, khi xác Chúa Giêsu được tháo gỡ khỏi thập giá, thì bức tượng của người phụ nữ được đặt ở đầu chiếc quan tài.

 

Người phụ nữ mặc áo đen ấy dĩ nhiên tượng trưng cho Mẹ Maria, là Mẹ của Người Con bị hành quyết, là người đàn bà luôn phấn đấu để tin vào sứ điệp của Con. Mẹ đã phải dằn lại cơn giận dữ trước thái độ phản bội của dân chúng, và của những người môn đệ thân tín của Chúa Giêsu. Mẹ đã phải tha thứ cho tất cả mọi người… (Theo R. Veritas).

 

Suy niệm

 

Cuộc đời Đức Maria là cuộc đời của Bà Mẹ sống trong trăm nghìn đau khổ nối tiếp. Chính trong đau khổ Mẹ sống đức tin thông phần mầu nhiệm cứu độ của Con Mẹ.

 

Mẹ sầu khổ khi bạn đời Giuse cùng thề hứa trinh khiết chưa hiểu Mẹ khi Mẹ mang thai Chúa Giêsu bởi phép Chúa Thánh Thần (x. Lc 1,27-38) theo ý Thiên Chúa. Khi Mẹ và thánh Giuse dâng hiến Chúa vào đền thánh theo Luật của Môisê, Maria lo âu khi cụ già Simêon nói tiên tri về Chúa Giêsu Con Mẹ, còn Mẹ: “Một lưỡi gươm sẽ xuyên thấu hồn bà, nhờ vậy mà ý nghĩ trong những tâm hồn khác được phơi bày” (x. Lc 2,33-35).

 

Mẹ sợ hãi, lo lắng, khổ đau khi cùng thánh Giuse đem Chúa Giêsu trốn qua Ai Cập tránh sự truy bức của Hêrôđê (x. Mt 2,13-14). Mẹ càng đau khi Con Mẹ ở lại Giêrusalem, khi hai bậc phụ huynh Giuse và Maria cứ tưởng con mình đã bị lạc mất vất vả tìm kiếm đến ba ngày (x. Lc 2,41-50). Mẹ ngạc nhiên đau khổ tột bậc khi nhìn Con Mẹ vác thập giá tiến lên núi Sọ trong cuộc hành trình cứu độ nhân loại. Nhất là còn gì đau đớn hơn khi Mẹ đứng dưới chân thập giá, nhìn Giêsu, Con Mẹ chết tả tơi, trần trụi trong tư cách tên tử tội (x. Ga 19,25-28). Khi hạ xác Con xuống khỏi cây thập giá, lòng Mẹ tan nát vì Mẹ chỉ còn ôm một cái xác lạnh ngắt, mình mẩy đầy vết thương bầm tím mà các bức tượng Pièta trong lịch sử đã diễn tả lại.

 

Khi Con Mẹ được các đồ đệ an táng trong huyệt đá, nấm mồ tuyệt vọng mang khoảng cách trời, đất (x. Ga 19,38-42) làm Mẹ cảm thấy mất tất cả…

 

Dưới chân thập giá Chúa Giêsu và trong mọi sầu khổ, Mẹ Maria ôm lấy tất cả mọi con cái nhân loại, tất cả đều được ủy thác cho Mẹ như Chúa đã uỷ thác Mẹ cho thánh Gioan (x. Ga 19,25-27). Mẹ đang đứng bên cạnh tất cả những ai đang đau khổ. Mẹ âm thầm chia sẻ và chịu đựng nỗi khổ đau của từng người như thể của riêng Mẹ với tình liên đới và cảm thông trong đau khổ.

 

Mẹ đau khổ, nhắc nhở chúng ta: Ðời của người Kitô hữu gắn liền với thập giá của Chúa Giêsu: “Hạt giống có mục nát đi mới sinh nhiều hoa quả” (Ga 12,24). Cùng với Mẹ, chúng ta tin tưởng như thánh Phaolô xác quyết: “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai mến yêu Người” (Rm 8,28).

 

Ý lực sống :

 

‘‘Bà mẹ hiền nhìn xem nỗi khổ hình của người con chí thánh mà đau lòng thổn thức tâm can” (Trích Ca Tiếp Liên Stabat Mater).

 

--------------------------------- 

 

Suy Niệm 11. Mẹ khả ái của Giáo Hội

 

--P.K.M,CMC

 

Đức Maria luôn là Mẹ khả ái của Giáo Hội, là Mẹ đích thực của mỗi người chúng ta:

 

Dù ta đi suốt cuộc đời,

 

Cũng không đi hết những lời mẹ ru.

 

Dù ta đi trọn kiếp người,

 

Cũng không đi hết những lời mẹ khuyên.

 

Mẹ hằng cầu xin tuôn đổ tràn đầy ân sủng Chúa Thánh Thần và hướng dẫn nhắn nhủ các môn đệ và dân Chúa tới gần Chúa Giêsu hơn.

 

Công Đồng Vaticanô II trong hiến Chế Lumen Gentium sau khi tuyên bố Đức Maria là “thành viên trổi vượt” là “kiểu mẫu” và ‘gương sáng” của Giáo Hội, Công Đồng dạy tiếp: “Giáo Hội Công Giáo, được Chúa Thánh Thần chỉ dạy, dâng lên Người tình con thảo, như đối với một người Mẹ rất dấu yêu (LG 53).

 

Khi mô tả những tình cảm con thảo của mình, Giáo Hội nhìn nhận Đức Maria là người Mẹ yêu quý nhất của mình, gián tiếp tuyên bố người là Mẹ Giáo Hội, vì những lý do sau:

 

- Mẹ làm Mẹ Giáo Hội khi nhận làm Mẹ Chúa Giêsu: “Đức Maria, với tư cách là Mẹ Đức Kitô cũng là Mẹ của tất cả mọi tín hữu và các chủ chăn, nghĩa là Mẹ Giáo Hội” (Đức Phaolô VI).

 

- Mẹ làm Mẹ Giáo Hội khi đứng dưới chân Thánh Giá Chúa Kitô: “Đây là con Bà… Đây là mẹ con” (Ga 19,26-27).

 

- Mẹ là Mẹ Giáo Hội khi ở nhà Tiệc Ly, ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống.

 

Một ngày kia, thánh Gioan Bosco rao giảng về vinh quang của Mẹ Maria tại nhà thờ chính toà Torino. Giữa lúc đang thao thao bất tuyệt, ngài bỗng dừng lại thinh lặng một hồi lâu rồi đặt câu hỏi với cử toạ như sau: "Ai trong anh chị em có thể nói cho tôi biết Đức Mẹ là ai?" Thánh nhân phải lập lại câu hỏi đó đến ba lần mới nghe được một tiếng trả lời yếu ớt từ phía cuối nhà thờ như sau: "Thưa Cha, Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa".

 

Thánh Gioan Bosco gật đầu nói tiếp: "Đúng thế, Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, nhưng nói thế vẫn chưa đủ. Tôi muốn anh chị em kể hết những tước hiệu của Mẹ Maria". Liền sau đó, cử toạ liền kể ra tất cả những tước hiệu của Mẹ: Mẹ là cửa Thiên Đàng, Mẹ là Đấng an ủi những kẻ có tội, Mẹ là Đấng phù trợ các tín hữu, Mẹ là Đấng cứu chữa kẻ bệnh tật v.v...

 

Sau khi nghe kể hết những tước hiệu mà người ta gán cho Đức Maria, thánh Gioan Bosco mỉm cười nối tiếp: "Đức Maria là tất cả những gì anh chị em vừa kể ra, nhưng vẫn chưa hết. Tôi muốn nói thêm về Đức Maria...". Chờ mãi vẫn không thấy có câu trả lời nào, thánh nhân mới nói: "Tôi xin được nói với anh chị em Đức Maria là ai: Ngài là Mẹ chúng ta. Phải, Mẹ chúng ta. Đó là điều đáng nói nhất về Mẹ Maria. Trên trần gian này, không ai có thể gần gũi thiết thân với chúng ta cho bằng Mẹ chúng ta, không ai yêu thương chúng ta hơn Mẹ chúng ta. Cũng thế trên Thiên Đàng không có vị thánh nào yêu thương chúng ta và sẵn sàng lắng nghe chúng ta cho bằng Mẹ Maria...".

 

Tước hiệu nói lên tương quan mẫu tử của Đức Maria với Giáo Hội.

 

Tước hiệu này ít được sử dụng trong quá khứ, nhưng mới đây trở nên phổ biến hơn trong những công bố của huấn quyền Giáo Hội và trong sự sùng kính của dân Kitô hữu. Đầu tiên, người tín hữu kêu cầu Đức Maria với tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa”, “Mẹ tín hữu” hay là “Mẹ chúng con” để nhấn mạnh tới tương quan với từng đứa con của mình.

 

Về sau, do sự chú ý nhiều hơn tới mầu nhiệm Giáo Hội và mối tương quan của Đức Maria với Giáo Hội, nên Đức Trinh Nữ Rất Thánh bắt đầu được kêu cầu thường hơn là “Mẹ Giáo Hội”.

 

Trước Công Đồng Vat. II, kiểu nói này được huấn quyền Đức Lêo XIII sử dụng, quả quyết rằng Đức Maria “đúng thật là Mẹ Giáo Hội” (Acta Leonis XIII, 15, 302). Tước hiệu này về sau được sử dụng nhiều lần trong các bài giảng của Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI.

 

Cho dù tước hiệu “Mẹ Giáo Hội” được gán cho Đức Maria mới đây thôi, nhưng tước hiệu ấy lại diễn tả tương quan mẫu tử giữa Đức Trinh Nữ Rất Thánh và Giáo Hội như nhiều bản văn Tân ước đã chứng minh.

 

Khởi từ ngày Truyền Tin, Đức Maria đã được kêu mời thuận ý khai mở Vương quốc cứu thế mà sau này sẽ xuất hiện với sự hình thành của Giáo Hội (Lc 2, 26-35).

 

Tại Cana (Jn 2, 2-11), khi xin Con mình thi hành quyền năng cứu thế của Người, Đức Maria đã góp phần cơ bản vào việc ghi dấu đức tin trong cộng đoàn các môn đệ đầu tiên và hợp tác trong việc khai mở Nước Chúa, một nước đặt “mầm giống” và “khởi điểm” nơi Giáo Hội (LG 5).

 

Trên Núi Sọ (Jn19, 27-27), Đức Maria kết hợp với hy lễ của Con và đã góp phần hợp tác mẫu tính của mình vào công trình cứu chuộc dưới hình thức của cơn đau đẻ, sinh ra nhân loại mới.

 

Khi nói lời: “Thưa Bà, nầy là con Bà” Đấng chịu đóng đinh tuyên bố Người là Mẹ không những đối với tông đồ Gioan mà còn với tất cả các môn đệ. Chính tác giả Tin mừng, khi nói Chúa Giêsu chết “để qui tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối” (Ga 11, 52), đã chỉ rõ sự sinh ra Giáo Hội như là hoa quả của hy lễ cứu chuộc mà Đức Maria đã kết hợp với mẫu tính.

 

Về điểm này chúng ta cùng nhau chiêm ngắm sâu hơn về mẫu tính của Mẹ dưới chân Thập giá.

 

Chính lúc Đức Maria đứng câm lặng dưới chân thập giá, mà Chúa Giêsu đã long trọng trối phó Ngài cho thánh Gioan và đồng thời cũng trao phó thánh Gioan cho Mẹ. Sự sinh nở nào cũng diễn ra trong đớn đau. Chính trong niềm đau tột cùng của những giây phút đứng kề bên thập giá Chúa Giêsu mà Đức Maria mới sinh hạ chúng ta, đã trở thành Mẹ của chúng ta. Thánh Gioan cũng tiếp nhận Mẹ trong niềm hiệp thông sâu xa vào thập giá của Chúa Giêsu.

 

Thập giá là nguồn ơn cứu rỗi, nhưng mãi mãi vẫn là biểu trưng của tội ác. Sự độc ác tột cùng mà người Do Thái và La Mã ngày xưa đã trút xuống trên Chúa Giêsu qua thập hình, ngày nay vẫn còn được con người tiếp diễn dưới muôn hình thức khác. Tựu trung khi con người chối bỏ chính mình, khi con người chà đạp người khác, thì đó là lúc con người dựng thêm những thập giá mới.

 

Thập giá vẫn luôn có mặt trong cuộc sống con người như một nhắc nhở về tội ác của mình. Kết hiệp với Chúa Giêsu trong cuộc tử nạn của Ngài chính là cố gắng chiến đấu chống lại tội lỗi.

 

Sứ điệp của Đức Maria trong tất cả những lần hiện ra đều có chung một nội dung: đó là kêu gọi loài người ăn năn sám hối, cải thiện cuộc sống. Cũng như ngày xưa, đứng dưới chân thập giá Chúa Giêsu, Mẹ đã câm lặng nuốt từng nỗi đớn đau, ngày nay khi nhìn thảm cảnh của những người con cái đang chối bỏ lẫn nhau, đang chém giết nhau, đang đóng đinh nhau, Mẹ cũng bày tỏ một niềm đau.

 

Thánh sử Luca nhắc tới sự hiện diện của Mẹ Chúa Giêsu trong cộng đoàn đầu tiên ở Giêrusalem (Cv 1, 14; 2, 3-4). Như vậy Thánh sử nhấn mạnh vai trò người mẹ của Đức Maria trong Giáo Hội mới sinh; bằng cách so sánh vai trò đó với vai trò của Người khi sinh ra Đấng Cứu Thế. Chiều kích Mẹ như thế trờ thành một yếu tố cơ bản trong tương quan của Đức Maria với Dân mới được cứu chuộc.

 

Căn cứ theo Kinh Thánh, giáo huấn của các giáo phụ nhìn nhận chức làm Mẹ của Đức Maria trong công trình Chúa Kitô và do đó, trong công trình của Giáo Hội.

 

Theo thánh Irênê, Đức Maria “trở nên nguyên nhân cứu rỗi cho toàn dòng giống loài người” (PG 7, 959), và lòng thanh sạch của Đức Trinh Nữ “tái sinh người ta trong Thiên Chúa” (PG 7, 1080). Điều đó được thánh Ambrôsiô lặp lại: “Một Trinh Nữ đã sinh ra Đấng cứu rỗi cho thế gian, một Trinh Nữ đã mang đến sự sống cho mọi sự” (PL 16,1198), và nhiều giáo phụ khác cũng lập lại khi gọi Đức Maria “Mẹ của sự cứu rỗi”.

 

Thời trung cổ, thánh Anselmô thưa với Đức Maria thế này: “Mẹ là Mẹ của sự công chính hoá và cả những kẻ được công chính hoá, là Mẹ sự hoà giải và cả những kẻ được hoà giải, là Mẹ sự cứu rỗi và cả những kẻ được cứu rỗi” (PL 158, 957), còn nhiều tác giả khác lại gán cho Người tước hiệu “Mẹ ân sủng” và “Mẹ sự sống”.

 

Đức Maria là “Mẹ Giáo Hội”

 

Như thế tước hiệu “Mẹ Giáo Hội” phản chiếu niềm xác tín sâu xa của người tín hữu Kitô, họ nhìn thấy nơi Đức Maria không những là người Mẹ của con người Chúa Kitô, mà còn của người tín hữu. Người được nhìn nhận là Mẹ sự cứu thế, Mẹ sự sống và Mẹ ân sủng, Mẹ những người được cứu chuộc và Mẹ kẻ sống, thì thật chính đáng khi tuyên bố Người là Mẹ Giáo Hội. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã muốn Công Đồng Vaticanô II tuyên bố “Đức Maria là Mẹ Giáo Hội, nghĩa là của toàn thể Dân Chúa, của người tín hữu và các mục tử của họ”. Chính Đức Giáo Hoàng thực hiện điều đó khi đọc bài diễn văn bế mạc khoá thứ 3 Công Đồng (21.11.1964), Người cũng bảo: “từ nay toàn thể dân Kitô hữu hãy tôn kính và kêu cầu Đức Trinh Nữ Rất Thánh với tước hiệu này”.

 

Tâm tình con thảo

 

Trong cuốn sách tựa đề “Đồng Hành” có thuật lại câu chuyện về cuộc đời của một nhà thừa sai Canada, Giám mục Emile Crôa, Ngài thú nhận: Ngay từ thuở nhỏ, tôi là một đứa trẻ nghịch ngợm, phá phách và cứng đầu, lười biếng. Có một lần thầy giáo đã phải giận dữ thốt lên rằng: “Chưa bao giờ tao thấy một học sinh nào quá quắt như mày”. Ngày nọ, thay vì đến trường, tôi lại trốn học ra đồng. Cha tôi biết được, ông giận dữ và thay vì đưa tôi về nhà, ông lại dẫn tôi vào một nhà nguyện. Ông xô tôi đến trước bàn thờ Đức Mẹ đang mỉm cười và quát: “Thằng khốn nạn, qùy xuống”. Và rồi ông ngước nhìn lên tượng Đức Mẹ và nói: “Xin Mẹ nhận lại thằng nhỏ này, vì quả thực con không còn biết phải làm gì với nó nữa. Xin Mẹ lo lắng cho nó để một ngày kia, nó khỏi trở thành một tướng cướp, bị treo cổ trên dây”.

 

Nhưng lời nói của cha tôi như một làn roi quất mạnh vào tôi. Tôi cảm thấy đau hơn tất cả các trận đòn từng bị đánh trước đây. Và nhìn lên Đức Mẹ đang mỉm cười tôi tự nhủ: “Nếu cha tôi đã phó thác tôi cho Đức Mẹ thì tôi phải minh chứng được Đức Mẹ đã làm điều gì đó tốt đẹp cho tôi’. Với sự trợ giúp của Đức Mẹ, Emile đã thay đổi, đi tu, thụ phong Linh mục, Giám mục và truyền giáo ở vùng thổ dân ngoại giáo ở Canada.

 

Kể lại câu chuyện này, đức cha không chỉ muốn dạy cho chúng ta cách thức hay nhất để chúng ta có thể dạy dỗ, uốn nắn sửa sai con cái, nhất là những đứa ngỗ nghịch, khó dạy hay bướng bỉnh quậy phá như Emile. Điều mà Chúa muốn xác tín với chúng ta cũng như với tất cả các gia đình Công giáo: “Mẹ Maria rất gần gũi, gắn bó và quan tâm đến những nhu cầu, khó khăn và cay cực của các gia đình”.

 

KẾT LUẬN

 

Đức Maria là “Mẹ Giáo Hội” phản chiếu niềm xác tín sâu xa của cộng đoàn Dân Chúa, họ nhìn thấy nơi Đức Maria không những là người Mẹ của con người Chúa Kitô, mà còn của người tín hữu. Người được nhìn nhận là Mẹ sự cứu thế, Mẹ sự sống và Mẹ ân sủng, Mẹ những người được cứu chuộc và Mẹ kẻ sống… và là Mẹ đích thực của mỗi người chúng ta.

 

P.K.M,CMC (Nguồn: timung.net)

 

--------------------------------- 

 

Suy Niệm 12. Đức Maria Là Mẹ Giáo Hội

 

Mẹ Giáo Hội (tiếng La-tinh: Mater Ecclesiae) là một trong nhiều tước hiệu của Đức Maria. Với tước hiệu này, Mẹ Thiên Chúa được tôn kính với tư cách là Mẹ của Giáo Hội, thân mình mầu nhiệm của Chúa Ki-tô. Ngay từ hồi thế kỷ thứ IV, tước hiệu này đã được Giáo Phụ Am-brô-xi-ô nhắc tới. Ngài đã liên kết hình ảnh Mẹ Giáo Hội với Đức Maria như là nguyên mẫu „có tính hiện thân“ của Giáo hội. Vào giữa thời Trung Cổ, tước hiệu trên của Đức Maria đã được phổ biến khá rộng rãi trong Giáo hội.

 

Vào ngày 11 tháng 02 năm 2018, nhân ngày Lễ Kính Đức Mẹ Lộ Đức, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã bổ sung ngày Lễ Kính Đức Mẹ là Mẹ Giáo hội vào trong lịch chung của Giáo hội Rô-ma. Và Ngài ấn định rằng, ngày Lễ này sẽ được cử hành trên toàn Giáo hội vào ngày thứ Hai ngay sau Đại Lễ kính Đức Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, như Tòa Thánh Vatican đã công bố vào ngày 03 tháng 03 năm 2018. Theo đó, thứ Hai ngày 21 tháng 05 năm 2018 sẽ là ngày đầu tiên Lễ Kính Đức Maria là Mẹ Giáo Hội được cử hành trên toàn Giáo hội với bậc Lễ nhớ buộc, tức Lễ bậc III.

 

Từ trước tới nay, ngày Lễ Kính Đức Maria là Mẹ Giáo hội chỉ được cử hành riêng lẻ trong một số Giáo phận và một số cộng đoàn Dòng Tu, và được cử hành vào những ngày khác nhau!

 

Hiến Chế tín lý về Giáo Hội Lumen gentium của Công Đồng Vatican II đã mô tả Đức Maria chính là thành phần của Giáo hội và là „Mẹ đáng mến“ của Giáo hội.

 

Tước hiệu Đức Maria là Mẹ Giáo Hội đã luôn luôn được sử dụng bởi nhiều Đức Giáo Hoàng, trong đó có cả Đức Bê-nê-đíc-tô XIV (1748), Đức Lê-ô XIII (1885), Đức Gio-an XXIII, Đức Phao-lô VI và Đức Gio-an Phao-lô II. Vào năm 1944, Hugo Rahner mới khám phá ra rằng, ngay từ thế kỷ thứ IV, Thánh Am-brô-xi-ô cũng đã sử dụng tước hiệu Đức Maria là Mẹ Giáo hội rồi. Khoa Thánh Mẫu học của Hugo Rahner được đặt nền tảng trên Thánh Am-brô-xi-ô cũng như trên các Giáo Phụ khác, và khoa Thánh Mẫu học của ông đã có một ảnh hưởng rất lớn trên Đức Phao-lô VI và Công Đồng Vatican II. Vào ngày 21 tháng 11 năm 1964, tức Lễ Kính Đức Trinh Nữ thành Giê-ru-sa-lem, trong diễn văn bế mạc phiên họp thứ III của Công Đồng trên, Đức Phao-lô VI đã chính thức công bố tước hiệu Đức Maria là Mẹ Giáo Hội. Vào năm 1980, tước hiệu này đã được bổ sung vào trong Kinh Cầu Đức Bà, cụ thể là vào vị trí thứ hai sau tước hiệu Đức Bà là Mẹ Chúa Ki-tô.

 

Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo đã diễn giải tước hiệu Đức Maria là Mẹ Giáo hội như sau: Đức Maria không chỉ là Mẹ Thiên Chúa, nhưng cũng còn là Mẹ của tất cả các tín hữu nữa, như Thánh Augustinô đã trình bày trong tác phẩm De sancta virginitate: „Mẹ đồng cộng tác trong Đức Mến để các tín hữu được sinh ra trong Giáo hội, mà các tín hữu ấy chính là chi thể của Đầu“, tức Chúa Ki-tô.

 

Theo cách trình bày của Thánh Gio-an Phao-lô II Giáo Hoàng, thì nhờ vào việc Mẹ được tôn kính với tư cách là Mẹ ơn Cứu Độ, Mẹ Sự Sống, Mẹ ân sủng, Mẹ của những kẻ được cứu chuộc và Mẹ của những kẻ sống, Đức Maria thực sự là Mẹ của toàn Giáo hội.

 

Đức Bê-nê-đíc-tô XVI lưu ý rằng, ngay từ đầu, Công Đồng Vatican II đã hiểu về Thánh Mẫu Học như là một phần của Giáo Hội Học, và vì thế, trong thực tế, một trong những đặc tính có tính nội tại nhất của Giáo hội, đó là sự đồng nhất hóa với Đức Maria, đã được diễn tả tại Công Đồng này.

 

 Thần học gia Hugo Rahner cho biết rằng, cách hiểu về Đức Maria với tước hiệu là Mẹ Giáo Hội như được trình bày ở trên bởi các Đức Thánh Cha, cũng đã có ngay từ thời các Giáo Phụ rồi.

 

Việc kêu cầu Đức Maria là Mẹ Giáo hội đứng trong mối liên hệ khắng khít với đặc tính nguyên thủy của chính Giáo hội với tư cách là Mẹ (Mater Ecclesia).

 

Lm Đa-minh Thiệu O.Cist – (biên soạn, biên dịch và tổng hợp)

 

--------------------------------- 

 

Suy Niệm 13. Đức Maria, Mẹ Hội Thánh

 

(Trích đoạn từ sách: “Theo Mẹ Maria đến với Chúa Giêsu: Đức Mẹ là Mẹ, là thầy và là người biện hộ” của Cha Andrew Apostoli, CFR // Chuyển ngữ: Giới trẻ thừa sai Chúa Cứu Thế Miền Nam)

 

Đức Maria chính là Evà mới để đem sự sống của Chúa Giêsu cho chúng ta, Mẹ là Mẹ Hội Thánh và là Mẹ Chúng ta.

 

Một Evà mới

 

Như là một “người nữ” ở trung tâm của kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, Đức Maria là “Evà mới”. Từ rất sớm, danh hiệu này được gán cho Đức Maria trong các tác phẩm của các Giáo phụ. Bản thân thánh Phaolô đã giới thiệu Chúa Giêsu như là một “Ađam mới” (Rm 5,14; 1 Cr 15,45). Đó là logic khi nhìn về Đức Maria như là “Evà mới” bởi vì vai trò của Mẹ là mang lại sự sống cho tất cả những đứa con trong tinh thần của Mẹ. Chúng ta cũng đề cập đến Hội Thánh như một “Evà mới”, bởi vì Hội Thánh chính là tân nương, là hiền thê của Chúa Giêsu, như Evà là hiền thê của Ađam.

 

Cái tên Evà có nghĩa là “Mẹ của sự sống” (x. St 3,20). Nhưng bởi vì Evà đã phạm tội cùng Ađam, tội lỗi của bà đã truyền lại, không phải sự sống mà là cái chết cho những người con của bà. Cái chết này là cả về thể chất và tâm linh. Cái chết về thể xác có nghĩa là cái chết của cơ thể. Trước khi phạm tội tổ tông truyền, tổ tiên của chúng ta đã được tận hưởng món quà của sự bất tử. Tuy nhiên, cái chết là một hình phạt cho tội lỗi của họ đã được truyền lại cho tất cả con cháu. Linh hồn sẽ lìa khỏi thân xác. Ngay cả sau cái chết của thể xác, linh hồn vẫn giữ hy vọng được tái hợp với thể xác trong Ngày Quang Lâm của Chúa Giêsu. Cái chết linh hồn có nghĩa là chúng ta, với tư cách là con cháu của Evà, được sinh ra mà không có ân sủng của Thiên Chúa. Chúng ta không thể tự chuộc lại ân sủng mà chúng ta đã đánh mất bởi vì cái giá cứu chuộc quá lớn so với chúng ta. Lối vào Thiên Đàng sẽ đóng kín mãi mãi trừ khi có một điều gì đó xảy ra!

 

Nhưng đối với Đức Maria, Evà mới, mọi thứ đã đảo ngược hoàn toàn, bởi vì Mẹ đã thông phần vào công cuộc cứu độ của Con Thiên Chúa, chính là Ađam mới. Chúa Giêsu đã đến để mang đến cho chúng ta sự sống trọn vẹn: “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Nhờ sự cứu chuộc của mình, Chúa Giêsu đã phục hồi cho chúng ta cuộc sống ân sủng đã mất thông qua Bí tích Rửa tội. Đồng thời, qua sự phục sinh thân xác của mình, Chúa Giêsu hứa rằng Ngài sẽ cho thân xác chúng ta sống lại khi trở lại trong vinh quang vào ngày sau hết. Bởi Đức Mẹ đã tham gia mật thiết vào chương trình cứu độ của Con Thiên Chúa, Mẹ đã mang lại sự sống thần linh cho những đứa con của mình.

 

Mẹ Hội Thánh

 

Là Evà mới, thực sự là Mẹ của sự sống, Đức Maria cũng là Mẹ của Hội Thánh. Thánh Phaolô đã nhắc nhở chúng ta rằng, Hội Thánh là thân mình mầu nhiệm của Đức Kitô. Chúa Giêsu là đầu, trong khi chúng ta là những người đã được rửa tội, trở nên chi thể (x. Ep 5,23). Đầu và các chi thể tạo nên thân thể toàn vẹn của thân mình mầu nhiệm Chúa Giêsu. Ở Bêlem, Đức Maria đã hạ sinh Chúa Giêsu, đầu của chúng ta.

 

Trên đồi Canvê, Đức Maria trở thành mẹ một lần nữa. Chúa Giêsu đã chỉ ra cho ta biết khi Người nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” (Ga 19,26). Để có thể hiểu được mầu nhiệm này, chúng ta hãy xem xét cách mà Gioan mô tả cuộc khổ hình của Chúa Giêsu. Lúc chạng vạng tối, những tên lính Rôma đã đánh giập ống chân của hai tên trộm bị đóng đinh cùng với Chúa Giêsu. Cách duy nhất để thở được trên thập giá là dùng chân để nâng cơ thể lên, nên việc đánh giập ống chân phạm nhân là để họ chết nhanh hơn. Khi đến gần Đức Giêsu và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng để chắc chắn người đã chết, một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Thánh Gioan lúc này cho chúng ta thấy, máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Người (Ga 19,31-34). 

 

Từ rất sớm, các Giáo phụ đã nhìn máu và nước như là biểu tượng của việc khai sinh Hội Thánh. Đức Giêsu là Adam mới. Đức Maria, trong tư cách cá nhân là Evà mới, mẹ của các chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Chúa Giêsu. Hội Thánh cũng là một Evà mới, là hiền thê của Chúa Giêsu. Giống như cách mà tổ tiên Evà được tạo ra từ cạnh sườn Ađam trong vườn địa đàng thì Hội Thánh cũng được sinh ra từ cạnh sườn của Đức Giêsu trên cây thập giá tại đồi Canvê. Sách Sáng thế nói rằng, Chúa đã đưa Ađam vào một giấc ngủ sâu, lấy ra một trong những xương sườn và tạo thành Evà (x. St 2,21-22). Các Giáo phụ đã đối chiếu đến sách Sáng thế trong Kinh Thánh về cái chết của Đức Kitô. Theo quan điểm đó, Đức Giêsu (Ađam mới) đang trong giấc ngủ của tử thần trên thập giá, thì ngọn giáo của người lính đã làm cho máu và nước tuôn trào từ cạnh sườn Đức Giêsu và trở thành biểu tượng (việc khai sinh) Hội Thánh. Nước tượng trưng cho Bí tích Rửa Tội, cho chúng ta bắt đầu cuộc sống mới trong Chúa Kitô; Máu tượng trưng cho Bí tích Thánh Thể, tặng ban cho chúng ta chính mình Người, tác giả cuộc sống mới của chúng ta. Và đây cũng là hai bí tích lớn nhất, Bí tích Rửa tội và Bí tích Thánh Thể diễn tả chính Hội Thánh.

 

Đức Tổng Giám mục Fulton Sheen đã nói, Hội Thánh được sinh ra một cách mầu nhiệm từ cạnh sườn Chúa Kitô, đã có một cuộc hạ sinh thì phải có một người mẹ. Đức Maria đã ở dưới chân thập giá và nhận được từ Con một vai trò mới là mẹ sự sống: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” (Ga 19,26). Thưa Bà – Chúa Giêsu một lần nữa sử dụng danh hiệu đó để nói với mẹ mình, như cách Người đã làm ở tiệc cưới Cana. Có một lý do sâu xa cho việc Người sử dụng từ “Bà – người phụ nữ” mà chúng ta thấy khi đọc sách Sáng thế. Trong vườn địa đàng, Thiên chúa đã phán với con rắn rằng bởi nó mà Ađam (đầu tiên) và Evà (đầu tiên) đã phạm tội,

 

“Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó.” (St 3,15).

 

Lúc ở tiệc cưới Cana cũng như ở đồi Canvê, Chúa Giêsu đã gọi Mẹ mình là “thưa Bà”, chúng ta có thể kết luận rằng, Người đã xác nhận Đức Maria sẽ trở nên thù địch với tội lỗi (ma quỷ) và hậu duệ của Mẹ sẽ đối đầu với hậu duệ của tội lỗi (ma quỷ).

 

Trong cơn hấp hối, khi Đức Giêsu nói với Mẹ của mình rằng, “Thưa Bà, đây là con của Bà”, Ngài cũng đồng thời khẳng định rằng Đức Maria cũng là Mẹ của chúng ta. Khi sinh ra Chúa Kitô, Đấng là đầu của chúng ta, Mẹ Maria cũng ban cho chúng ta sự sống, vì cùng một sự sống trong Chúa Giêsu cũng hiện diện trong chúng ta, những người là chi thể của thân mình mầu nhiệm.

 

Mẹ chúng ta

 

Thánh Aelred thành Rievaulx, một tu sĩ dòng Xitô và là người cùng thời với Thánh Bernard thành Clairaux, đã chỉ ra cho chúng ta thấy vai trò thần linh của Đức Maria:

 

Chúng ta nợ Mẹ Maria sự tôn kính, vì Mẹ là Mẹ của Chúa chúng ta. Ai không tôn kính Người Mẹ thì làm mất lòng Người Con. Ngoài ra, Kinh thánh nói: Hãy tôn vinh cha và mẹ của bạn. . . Như chúng ta đã biết và tin tưởng, khi tất cả chúng ta chết đi trong tội lỗi, bóng tối và đau khổ. Trong cái chết, vì chúng ta đã mất Thiên Chúa; trong tội lỗi, vì sự tham lam của chúng ta; trong bóng tối, vì chúng ta không có ánh sáng của sự khôn ngoan, và do đó đã bị diệt vong hoàn toàn. Nhưng sau đó chúng tôi được sinh ra, tốt đẹp hơn nhiều so với Evà, nhờ Đức Maria, vì Chúa Kitô được Mẹ sinh ra. Chúng ta được phục hồi cuộc sống mới thay cho tội lỗi, sự bất tử thay cho sự chết, ánh sáng thay cho bóng tối. Mẹ là mẹ của chúng ta, mẹ của Nguồn Sống [Chúa Giêsu], mẹ của sự cứu chuộc [Chúa Giêsu], mẹ của ánh sáng [Chúa Giêsu]. Thánh Phaolô tông đồ nói về Chúa của chúng ta: “Người đã trở nên vì chúng ta, nhờ quyền năng của Chúa Cha, sự khôn ngoan và công chính, sự thánh thiện và sự cứu chuộc cho chúng ta. [Mẹ Maria] sau đó, với tư cách là mẹ của Chúa Kitô, là mẹ của sự khôn ngoan và công chính của chúng ta, về sự thánh thiện và cứu chuộc của chúng ta. Mẹ là Mẹ của chúng ta nhiều hơn mẹ của chúng ta. Được sinh ra từ Mẹ là tốt đẹp hơn, vì từ Mẹ sinh ra là sự thánh thiện, sự khôn ngoan, công chính, sự thánh hóa, sự cứu chuộc của chúng ta.

 

Tất cả chúng ta đã nhận được sự sống mới trong Chúa Kitô và Mẹ Maria đã thụ thai và sinh ra Người. Chính vì thế, ta có thể nói với Thánh Aelred rằng, cũng chính Đức Maria đã cho ta cuộc sống này, ngay từ lúc ta được chia sẻ sự sống với Đức Kitô từ Mẹ. Trong thân thể người, sự sống của Chúa Giêsu, đầu của chúng ta chảy vào chúng ta là chi thể của Người. Điều này làm cho Mẹ Maria đóng vai trò là một người mẹ của sự sống. Mẹ truyền sự sống cho chúng ta thông qua và trong Chúa Kitô, người sống trong chúng ta.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày 

Thứ 3 TN –Tuần 8 năm 2026 (năm chẵn)

Nguồn: https://giaophanlongxuyen.org/

 

Sẽ được gấp trăm.

 

Thứ Ba tuần 8 thường niên. – 26/05 Thánh Philipphê Nêri

 

linh mục. Lễ nhớ.

 

"Ngay ở đời này, lúc bị bắt bớ, các con lãnh được gấp trăm, còn đời sau các con sẽ được sự sống vĩnh cửu".

 

* Sinh năm 1515 tại Phirenxê, thánh nhân đến Rôma và dấn thân lo cho thanh thiếu niên. Người đi vào con đường trọn lành và lập một hội chuyên phục vụ người nghèo. Lãnh chức linh mục năm 1551, người lập Dòng Ô-ra-toa, chuyên lo cầu nguyện và làm việc bác ái trong giới thanh thiếu niên, các bệnh nhân, các tù nhân. Nét nổi bật trong đời của thánh nhân là người yêu thương tha nhân cách thiết thực, đơn sơ và vui vẻ. Người qua đời năm 1595.

 

---------------------------------

 

Lời Chúa: Mc 10, 28-31

 

Khi ấy, Phêrô thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Ðây chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy?"

 

Chúa Giêsu trả lời rằng: "Thầy bảo thật các con, chẳng ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đồng ruộng vì Thầy và vì Phúc Âm, mà ngay bây giờ lại không được gấp trăm ở đời này về nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái và ruộng nương cùng với sự bắt bớ, và ở đời sau được sự sống vĩnh cửu. Nhưng có nhiều kẻ trước nhất sẽ nên rốt hết, và những kẻ rốt hết sẽ nên trước nhất".

 

--------------------------------- 

 

Suy Niệm 1: Bỏ mọi sự vì Thầy

 

(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)

 

Bình thường con người làm gì cũng ít nhiều nghĩ đến cái lợi cho mình.

Không lợi vật chất thì cũng lợi tinh thần.

Không lợi đời này thì cũng lợi đời sau.

Không lợi cho cá nhân mình

thì cũng lợi cho gia đình mình, tôn giáo của mình, quê hương của mình.

Con người dám hy sinh bỏ cái này để được cái kia lớn hơn.

Nếu biết giữ cho đúng mực, khuynh hướng này không phải là xấu.

Anh thanh niên giàu có đã không dám bán và cho tất cả tài sản

để nhẹ nhàng thanh thản bước theo Thầy Giêsu.

Đối với anh, cái mất ở đời này lớn quá so với cái được ở tương lai.

Ngược lại, các môn đệ đã bỏ gia đình và nghề nghiệp ổn định

để đi theo một vị Thầy không chỗ tựa đầu,

sống cuộc sống bấp bênh, vất vả, thiếu thốn.

Khi nghĩ về cuộc sống hiện tại của cả nhóm đang theo Thầy,

Phêrô đại diện anh em đặt câu hỏi:

“Phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!” (c. 28).

Vậy chúng con sẽ được gì? (x. Mt 19, 27).

Thầy Giêsu không coi thường hay gạt bỏ câu hỏi này của Phêrô.

Thầy còn muốn long trọng trả lời câu hỏi này

cho cả những người ở thế hệ kế tiếp.

Bất cứ ai vì Thầy và vì Tin Mừng

mà bỏ những điều được coi là thiết yếu đối với cuộc sống

như tương quan máu mủ: cha mẹ, anh chị em, con cái,

như phương tiện để sống và sống còn: nhà cửa, ruộng đất (c. 29),

những người ấy, ngay bây giờ, ở đời này,

sẽ được gấp trăm về những điều đã mất.

Hơn nữa, họ còn được sự sống vĩnh cửu ở đời sau (c. 30),

điều mà anh thanh niên giàu có mơ ước.

Nhưng Thầy cũng không giấu những bách hại đang chờ đợi họ.

Hẳn các môn đệ sau khi theo Chúa đã chẳng có thêm nhà đất, vợ con.

Nhưng họ đã thuộc về một cộng đoàn rộng lớn hơn gia đình xưa của họ.

Nơi cộng đoàn Kitô này, gia đình nào cũng là nhà của họ,

mảnh đất nào cũng là nơi họ gắn bó thân quen như của mình.

Và rõ ràng họ có nhiều anh chị em và con cái hơn xưa.

Hạnh phúc đến ngay từ đời này khi con tim và vòng tay rộng mở.

Hạnh phúc này chỉ là hưởng trước chút hạnh phúc đời sau.

Người kitô hữu hôm nay sống ở thế kỷ hai mươi mốt

cũng có lúc nghĩ về cái mất, cái được của việc một đời theo Giêsu.

Chúa Giêsu đòi chúng ta đặt mọi sự dưới Ngài và sau Ngài.

Điều đó kéo theo những từ bỏ đớn đau, những thập giá thầm lặng.

Theo Giêsu, chúng ta thấy mình phải bỏ thế gian với bao quyến rũ.

Theo Giêsu, chúng ta thấy mình không thể chiều theo cái tự nhiên.

Nhưng theo Giêsu, chúng ta được điều lớn hơn cả.

Đó là chính Giêsu.

 

Cầu nguyện:

 

Lạy Chúa,

khi đến với Chúa

con tháo bỏ đôi giày: những tham vọng của con

con cởi bỏ đồng hồ: thời khóa biểu của con,

con đóng lại bút viết: các quan điểm của con,

con bỏ xuống chìa khóa: sự an toàn của con,

để con được ở một mình với Ngài,

lạy Thiên Chúa duy nhất và chân thật.

Sau khi được ở với Ngài,

con sẽ xỏ giày vào

để đi theo đường của Chúa,

con sẽ đeo đồng hồ

để sống trong thời gian của Chúa,

con sẽ đeo kính vào

để nhìn thế giới của Chúa,

con sẽ mở bút ra

để viết những tư tưởng của Chúa,

con sẽ cầm chìa khóa lên

để mở những cánh cửa của Chúa. Amen. (Graham Kings)

 

--------------------------------

 

Suy Niệm 2; Phấn đấu vì niềm hy vọng

 

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

 

Chúa Ki-tô là niềm hy vọng. Đó là điều các tiên tri loan báo từ ngàn xưa: ngày Chúa Ki-tô sẽ tỏ hiện. Bằng chịu đau khổ và đạt tới vinh quang. Nhưng thánh Phê-rô cho biết, để niềm hi vọng trở thành hiện thực, cần phải có thái độ tích cực chuẩn bị. Muốn mục đích phải muốn phương tiện. Muốn được thấy Chúa Ki-tô tỏ hiện, phải từ bỏ lối sống xưa cũ theo xác thịt để sống một đời sống mới theo thần khí, tiết độ, từ bỏ bản thân.”Đừng chiều theo những đam mê trước kia, lúc anh em còn mê muội. Anh em hãy sống thánh thiện trong cách ăn nết ở, đên giống Đấng Thánh đã kêu gọi anh em” (năm chẵn).

 

Sách Huấn ca hướng dẫn cách bày tỏ niềm hy vọng bằng việc từ bỏ. Trước hết là từ bỏ tội lỗi. “Từ bỏ gian tà thì đẹp lòng Đức Chúa. Chấm dứt bất công là dâng lễ đền tội”. Kế đến là từ bỏ đường tà. Đi theo đường ngay chính. Đó là tuân giữ Lề Luật của Chúa. “Tuân giữ Lề Luật là làm cho lễ phẩm thêm phong phú. Gắn bó với lệnh truyền là dâng lễ kỳ an”. Và sau cùng từ bỏ của cải. Dâng của lễ trọng hậu lên Chúa. Nhưng cũng phải dâng với tấm lòng quảng đại. Và nhất là với nét mặt vui tươi. Chắc chắn Chúa sẽ hài lòng. Và sẽ ban lại cho gấp bội. Đó chính là niềm hy vọng. “Hãy tôn vinh Đức Chúa với tấm lòng quảng đại…Dâng cúng chi, cũng phải giữ nét mặt tươi cười; dâng hiến của thập phân, hãy hân hoan vui vẻ. với tấm lòng quảng đại, hãy dâng hiến Đấng Tối cao, tuỳ theo nhưng gì Người ban tặng và tuỳ theo khả năng con có. Vì Đức Chúa là Đấng thưởng công, sẽ trả lại cho con gắp bảy lần” (năm lẻ).

 

Thánh Phê-rô cũng chính là người hỏi Chúa Giê-su về niềm hi vọng: Chúng con đã bỏ hết mọi sự mà theo Thầy, chúng con sẽ được gì bù lại? Chúa Giê-su không ngần ngại loan báo trước niềm hi vọng: Các con sẽ được lại gấp trăm.

 

Niềm hi vọng là được thấy Chúa tỏ hiện, được hưởng hạnh phúc trong Nước Chúa. Nhưng cần phải trải qua giai đoạn thanh luyện bằng từ bỏ. Địa vị trong Nước Chúa không được sắp xếp, đo lường bằng chức vị trong Giáo hội hay bằng thời gian theo Chúa, nhưng bằng mức độ từ bỏ. Càng từ bỏ nhiều thì càng gần Chúa. Càng gần Chúa thì càng hạnh phúc. Có những người theo Chúa đã lâu, nắm giữ những địa vị cao trọng trong Giáo hội, nhưng mức độ từ bỏ chưa cao. Trong khi có những người mới theo Chúa, giữ địa vị thấp kém trong Giáo hội, nhưng mức độ từ bỏ lại cao hơn. Vì thế Chúa Giê-su cảnh báo: “Quả thật, nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu”.

 

--------------------------------

 

Suy Niệm 3: Phần thưởng gấp trăm

 

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

Bài Tin Mừng hôm nay tiếp liền những lời dạy của Chúa Giêsu cho các môn đệ về sự nguy hiểm của tiền của. Sau khi người thanh niên rời lìa Chúa, vì anh ta không thể từ bỏ của cải, Chúa Giêsu đã nói: "Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa". Ở đây rõ ràng Chúa Giêsu sử dụng kiểu nói khuyếch đại như người Ðông phương thường dùng để kích thích sự chú ý. Hình ảnh con lạc đà chở nặng trên mình cho thấy sự say mê dính bén tiền của là một ngăn trở không cho con người trở thành môn đệ đích thực của Chúa Giêsu.

 

Trước sự sửng sốt của các môn đệ: "Thế thì ai có thể được cứu?", Chúa Giêsu xác quyết rằng ơn cứu độ hoàn toàn vượt quá những khả năng của loài người; đó là một ơn nhưng không của Thiên Chúa, vì chỉ mình Ngài mới có thể cứu độ con người. Nhưng quan điểm này còn khiến các môn đệ hoang mang hơn. Bằng chứng là phản ứng của Phêrô. Nhân danh Nhóm Mười Hai, ông thắc mắc muốn biết sự dấn thân của các ông có được thưởng gì không? Chẳng lẽ lòng quảng đại của các ông lại vô ích sao? Nếu những người giàu có, mặc dù nhiều của cải không thể vào Nước Thiên Chúa đã đành, còn những người đã từ bỏ những của cải hợp pháp nhất, liệu họ không có cơ may được vào đó được sao?

 

Trả lời cho câu hỏi của Phêrô, Chúa Giêsu hứa ban gấp trăm ngay ở đời này và đời sau được hưởng sự sống đời đời. Kiểu nói "gấp trăm ở đời này" cần được hiểu theo nghĩa phẩm chất hơn là theo nghĩa số lượng: từ bỏ cha mẹ không có nghĩa là để được một trăm cha mẹ ngay ở đời này, nhưng là để được điều quý giá hơn cha mẹ, đó là cộng đoàn anh em sống hiệp nhất với nhau trong đức tin. Trong câu trả lời của Chúa, cần lưu ý một chi tiết, đó là ngoài những gì nhận được bây giờ, còn có sự bách hại nữa. Bị bách hại, bị ngược đãi là vận mệnh của người môn đệ; bước theo Chúa là chấp nhận phiêu lưu với Ngài trên con đường sống đức tin với những đau khổ, thử thách không thể tránh được.

 

Nguyện xin Chúa ban sức mạnh tình yêu để chúng ta sống trọn ơn gọi và chu toàn sứ mệnh Chúa đã trao phó.

 

--------------------------------

 

Suy Niệm 4: Phần thưởng gấp trăm

 

Ông Phê-rô lên tiếng thưa Người: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!” Đức Giêsu đáp: “Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái, ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà bây giờ ngay ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống đời đời ở đời sau.” (Mc. 10, 28-30)

 

Ai mà đã không có lần mơ tưởng đến phần thưởng gấp trăm ấy được hứa cho những ai từ bỏ tất cả: ly kỳ nữa là được cả một lô mẹ, anh em, chị em, nhà cửa… nhưng, ôi thôi!, lại cùng với sự ngược đãi nữa chứ? Giống như việc mua bán ở chợ, còn gì hấp dẫn cho bằng “bán chạy như tôm tươi”. Mơ ước hình như chưa bao giờ thực hiện được, ít ra là đối với những ai đã chơi bài. Sẽ được thực hiện ở thế giới bên kia không? Chẳng ai đã khẳng định điều đó bao giờ. Chẳng có gì ngạc nhiên, khi họa hoằn mới có những người dám đánh cuộc, một cái nắm trong tay còn hơn một trăm cái chưa có là vậy.

 

Hãy mở rộng nhãn giới của ta

 

Lời hứa như thế cho Phêrô và những người giống như ông là một lời hứa có tính tiên tri liên quan tới tương lai của cộng đồng các Kitô hữu sẽ sống những gía trị mà Chúa Giêsu đã loan báo. Không phải là loan báo thưởng gấp trăm lần hơn những gì người ta sẽ từ bỏ, nhưng là sự mô tả trước về những cộng đoàn sẽ sinh ra từ những ai sẽ mở rộng tâm hồn của họ tới chiều kích toàn cầu, những ai mà tình huynh đệ và yêu thương của họ sẽ không đóng khung trong gia đình, quê hương hay cục bộ, nhưng vươn tới hết mọi người bất kỳ họ là ai và ở nơi nào. Ở đây, chúng ta có được bài miêu tả có tính tiên tri về Giáo hội, và đại gia đình nhân loại, nơi đây tình huynh đệ và quyền sở hữu của cải sẽ không bị một quyền độc đoán nào khác giới hạn.

 

Giáo hội, gia đình của các con cái Thiên Chúa sẽ chỉ đạt được sự hoàn thiện tròn đầy, trọn vẹn ngày mà chúng ta sẽ chỉ là một trong Chúa Kitô, ngày mà người ta gọi là ngày sau hết, ngày thế mạt. Giáo hội ấy, cộng đồng không biên giới ấy, đã được thể hiện hôm nay trong những cơn bách hại, trong đau khổ của thập giá, nhưng cũng đang được hân hoan khi đi theo con đường Chúa đã đi và sống theo đường lối Đức Kitô đã muốn.

 

Giáo hội ấy, cộng đồng của những người anh em thuộc mọi chủng tộc, với những mái nhà đủ kiểu, với những môi trường văn hóa muôn vẻ thật đúng là phần thưởng gấp trăm đầy phấn khich cho những người biết sông yêu thương.

 

Giáo hội ấy có bành trướng không phải là để loại trừ những cộng đồng địa phương; mà sự bành trướng có chiều kích toàn cầu ấy còn bị những tâm hồn hẹp hòi ích kỷ tranh giành và bách hại vì nghĩ rằng họ sẽ bị tổn thương.

 

--------------------------------

 

Suy Niệm 5: Theo Chúa, ta được gì?

 

Sự nguy hiểm của tiền bạc đã làm cho người thanh niên có tiếng là đạo đức lầm lũi ra đi, vì tiền của anh ở đâu thì lòng anh ở đó!

 

Thật là một sự xót xa cho số phận chàng thanh niên giàu có này! Thấy được sự nguy hiểm như vậy, nên  tiếp theo đó, Đức Giêsu đã thốt lên với các môn đệ: “Người giàu có khó vào Nước Thiên Chúa biết bao”; “Con lạc đà chiu qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa”.

 

Nghe đến đây, các môn đệ hiểu được sự nguy hiểm của tiền của, tuy nhiên, nó đã làm cho các ông hoang mang, bởi vì khó như thế thì có lẽ không ai vào được! Vì vậy, Phêrô đã đứng lên thay lời anh em và thưa với Đức Giêsu rằng: “Thế thì ai có thể được cứu?”; “Và chúng con đã bỏ mọi sự để đi theo Thầy thì được gì?”. Để giải thoát cho các ông về sự lo lắng này, Đức Giêsu đã mặc khải cho các ông biết: đối với loài người thì không thể làm được, nhưng đối với Thiên Chúa thì hoàn toàn có thể. Vì ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa chứ không phải đến từ cố gắng hay phấn đấu thuần túy của con người. Nhân đây, Đức Giêsu cũng nói rõ để các môn đệ nhận ra những ân huệ mà Chúa ban cho những ai trung thành với Ngài, đó là sự sống đời sau.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con biết trung thành đi trên con đường Chúa đã đi, để chúng con gặp được Chúa là nguồn bình an, hạnh phúc ở cuối con đường cuộc đời trần gian. Amen.

 

Ngọc Biển SSP

 

--------------------------------

 

Suy Niệm 6: Từ bỏ để được gấp trăm

 

(TGM Giuse Nguyễn Năng)

 

Sứ điệp: Chúa sẽ thưởng bội hậu cho những ai từ bỏ mọi sự vì Chúa. Nhưng phần thưởng cao cả nhất là được chung số phận đau khổ và sự sống vinh quang với Chúa.

 

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, trên hành trình đi theo Chúa, đã có những lúc con tự hỏi như thánh Phêrô: con từ bỏ mọi sự mà theo Chúa, vậy con sẽ được phần thưởng gì? Vì Chúa, con đã hy sinh bỏ mình, đã ép mình ép xác giữ các giới răn. Vì Chúa, con chấp nhận bị thua lỗ thiệt thòi, thậm chí bị nhạo cười khổ đau. Nhưng con sẽ được gì để bù lại? Nhất là nhiều lúc con nhìn thấy những người sống bất nhân thất đức lại gặp nhiều may mắn thành công sung sướng, còn con theo Chúa lại gặp khổ đau thất bại nghèo đói. Dường như theo Chúa là dại khờ.

 

Lạy Chúa, không, con không tin như vậy. Chúa đã hứa ban phần thưởng gấp trăm cho con ngay từ đời này. Dù con không thấy được rõ ràng điều ấy, nhưng con tin cuộc sống con hôm nay là điều quá tốt đẹp mà Chúa đang thưởng cho con. Chúa luôn ban cho con gấp trăm ngàn lần điều con không dám cầu xin hay nghĩ tới. Chúa vẫn luôn quảng đại với con hơn con đáng được.

 

Lạy Chúa là gia nghiệp con, xin cho con cảm nếm niềm hạnh phúc theo Chúa và đồng số phận với Chúa. Xin ban cho con một đức tin vô vị lợi, được theo Chúa vô điều kiện, không mặc cả, không tính toán.

 

Cùng với thánh I-nhã, con xin Chúa dạy con biết sống quảng đại, biết phụng sự Chúa cho xứng đáng, biết cho đi mà không cần tính toán, biết chiến đấu mà không sợ thương tích, biết làm việc mà không tìm an nghỉ, biết xả thân mà không mong tìm một phần thưởng nào khác, hơn là biết làm theo Ý Chúa. Con chỉ xin Chúa ban tình yêu và ân sủng, và thế là đủ cho con. Amen.

 

Ghi nhớ: “Ngay ở đời này, lúc bị bắt bớ, các con lãnh được gấp trăm, còn đời sau các con sẽ được sự sống vĩnh cửu”.

 

--------------------------------

 

Suy Niệm 7: Phần thưởng cho môn đệ

 

(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

 

1. Sau khi người thanh niên giầu có bỏ Chúa mà đi, Phêrô liền hỏi Đức Giêsu: chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, chúng con sẽ được lại gì? Chúa đáp: Thầy bảo thật, ai bỏ cửa nhà, cha mẹ, con cái, ruộng vườn vì Thầy và vì Phúc âm, thì ngay ở đời này sẽ được lại gấp trăm cùng với các cơn bắt bớ, và ngày sau sẽ được sống đời đời, vì ai theo Thầy sẽ lật ngược được mọi giá trị ở đời: Ai bỏ đi thì được lại, ai ở sau thì trở nên trước.

 

2. Khi nói tới hai chữ “từ bỏ”, tức là không còn hoặc mất đi một cái gì đó mà trước đây mình đã có hay đã sở hữu. Tâm lý con người thường không chịu thua thiệt, luôn luôn đòi hỏi sự cân xứng, hoặc “có qua có lại mới toại lòng nhau”. Thánh Phêrô đã hỏi Chúa thay cho chúng ta: Từ bỏ mọi sự, theo Ngài chúng con sẽ được gì?

 

Nhìn chung khi làm bất cứ việc gì có thể là tốt, có thể là xấu, thì điều đầu tiên mà ai cũng nhắm đến, đó là phải có lời, có lợi.

 

Sau khi đưa ra một loạt những việc từ bỏ: cha mẹ, anh em, ruộng vườn, nhà cửa... Đức Giêsu khẳng định sẽ trọng thưởng gấp trăm ngay ở đời này cùng với sự ngược đãi, nhất là được sự sống đời đời mai ngày.

 

3. Trả lời câu hỏi của Phêrô, Đức Giêsu hứa ban gấp trăm ngay ở đời này và đời sau được hưởng sự sống đời đời. Kiểu nói “gấp trăm ở đời này” cần được hiểu theo nghĩa phẩm chất hơn là theo nghĩa số lượng: từ bỏ cha mẹ không có nghĩa là để được một trăm cha mẹ ngay ở đời này, nhưng là để được điều quí giá hơn cha mẹ, đó là cộng đoàn anh em sống hiệp nhất với nhau trong đức tin.

 

Nếu hiểu theo nghĩa đen, thì việc bỏ cha mẹ, anh em, chị em hay con cái, hoặc nhà cửa và ruộng đất mà theo Chúa xem ra không bình thường, thậm chí còn mất tính nhân bản, hay đi ngược lại với nền giáo dục gia đình nữa. Thực ra, phải hiểu là Đức Giêsu mời gọi chúng ta luôn biết chọn Chúa làm ưu tiên số một, những điều khác là thứ yếu. Những gì ở đời này chỉ là tạm bợ, chóng qua, chỉ có Chúa mới là vĩnh cửu. Đức Giêsu không muốn chúng ta quá bám víu vào vật chất, tiền bạc để rồi khước từ Nước Thiên Chúa.

 

4. Đừng bắt cá hai tay (tục ngữ).

 

Có nghĩa là đừng tham lam, hai tay bắt hai con cá, như thế chẳng bắt được gì. Về vấn đề này, Đức Giêsu đã nhiều lần cảnh cáo trong suốt thời gian rao giảng Tin Mừng: “Các ngươi không thể phục vụ Thiên Chúa và tiền tài cùng một lúc (x.Lc16,13). Người giầu có thể đi đến chỗ không cần Thiên Chúa nữa. Họ từ từ đóng cửa con tim và không còn thấy anh em của mình đang đau khổ bên cạnh mình (Lc 16,19-31). Sự giầu sang bóp nghẹt Lời Chúa (x.Mt 13,22).

 

Truyện: Con lừa trước sự lựa chọn.

 

Ông viện trưởng đại học Paris ở thế kỷ 14 đã làm một thí nghệm như sau: ông để cho một con lừa nhịn đói, nhịn khát trong mấy ngày. Sau đó, ông đưa nó đến sân ăn, ông đặt nó giữa một thùng nước và một bó cỏ non. Lừa ta tuy đói lắm nhưng hễ nhìn đống cỏ này lại ngó thùng nước kia, nó lưỡng lự giữa nước và cỏ, để rồi cuối cùng kiệt sức mà chết.

 

Cuộc sống không ngừng đòi hỏi chúng ta phải lựa chọn, và chọn lúc nào cũng đòi hỏi hy sinh. Kẻ bắt cá hai tay vẫn luôn luôn là người thua thiệt nhiều nhất. Hãy nhớ lại Lời Chúa đã phán: “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ kia. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được” (Mt 6,24).

 

5. Kẻ sau hết sẽ nên trước hết...

 

Đức Giêsu nói: “Kẻ đứng đầu sẽ nên sau chót, và kẻ sau chót sẽ lên hàng đầu”. Trước hết phải hiểu sự ám chỉ về dân Do thái tự phụ là những người biết Thiên Chúa trước, nhưng rồi chính họ lại tự đánh mất cơ hội nhận ra Tin Mừng nơi Người.

 

Ngoài ra, câu nói này, Đức Giêsu muốn chúng ta đừng bao giờ ỷ lại, hay chểnh mảng trong nhiệm vụ, nhưng phải luôn hy sinh cố gắng và kiên trì trên bước đường theo Chúa. Ở đời tốt xấu trở như bàn tay. Có khi trước đây họ là người tội lỗi xấu xa, nhưng giờ họ lại ăn năn hối lỗi và có đời sống đạo đức tốt lành. Trái lại, có những người trước đây là tốt lành thánh thiện, nhưng giờ họ lại bê tha, tội lỗi, xấu xa.

 

5. Truyện: Hoàng tử và thanh kiếm.

 

Vua Charles một lần kêu hoàng tử và cho hoàng tử được chọn. Trên bàn vua đặt một thanh kiếm và một vương miện (triều thiên). Vua hỏi:

 

- Con chọn cái nào?

 

Ngần ngừ một lúc hoàng tử cầm lấy thanh kiếm.

 

Vua cha hỏi:

 

- Sao con lại chọn thanh kiếm?

 

Hoàng tử cầm thanh kiếm chỉ vào vương miện đáp:       

 

- Nhờ thanh kiếm này, con sẽ được vương miện kia.

 

--------------------------------

 

Suy Niệm 8: Gấp trăm lần

 

(Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)

 

“Quả thật, ta bảo các ngươi: không ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em hay cha mẹ, con cái, ruộng nương vì Ta và vì Tin Mừng mà lại không lĩnh gấp mấy trăm lần bây giờ” (c.30)

 

Chúa Giêsu cho chúng ta thấy giá trị thực sự của tiền tài và tình yêu mà người Do Thái cho là nhất, là được chúc phúc. Giờ đây, Chúa đưa ra một giá trị thiêng liêng cao cả vượt trên những thứ đó. Chúa bảo: “Ai từ bỏ cha mẹ ruộng nương... lại không nhận được... gấp trăm”: lời gấp trăm đây không phải là về số lượng toán học, nhưng Chúa muốn so sánh cái hạnh phúc Chúa dành cho kẻ từ bỏ mọi sự theo chân Ngài, được một hạnh phúc mà người đó không thể ngờ được ở trên Trời - nơi có đông đảo các thánh và triều đình thiên quốc, nơi đã ghi tên họ, đã dành phần sẵn cho họ.

 

Chữ gấp trăm lần đây còn hiểu là họ sẽ được thử thách gấp bội - mà trong Bát Phúc đã nói tới (Mt 5,11-12), vì môn đệ không trọng hơn thầy mình được. Nhưng sau khi vượt qua những thử thách ấy, họ sẽ được hạnh phúc gấp trăm lần là Nước Trời.

 

Điều kiện đạt được hạnh phúc ấy trước tiên là việc từ bỏ. Chúa bảo Phêrô, cũng như các môn đệ phải theo Ngài vô điều kiện. Chúa dùng ví dụ so sánh là bầy cáo có hang để trú ẩn trong giờ nguy hiểm, vào lúc trời lạnh giá, mưa sa. Chim trời có tổ sau những ngày mỏi cánh. Nhưng Chúa nói: “Con người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8,18). Người môn đệ phải sống một đời hoàn toàn bất định và tạm thời, hiến thân trọn vẹn ngay khi không có gì, và khi bất an nhất. Người môn đệ phải lội ngược dòng suối để đi tìm về nguồn, phải vẫy vùng giữa dòng nước cuốn trôi để đi tìm về đại dương vĩnh cửu...

 

Nói tóm lại, người môn đệ của Chúa trước hết phải từ bỏ chính mình đi: ”Hạt lúa giống nếu không mục nát ...” (Ga 12,24). Xin hãy nghĩ tới việc đời này: chính cái việc làm âm thầm của một bác nông phu đã chuẩn bị cho một ngày mùa cơm trắng đầy xôi. Chính sự nghiền nát của cối xay bột đã biến hạt lúa gạo thành bột làm bánh thơm lành. Một đứa trẻ chỉ xuất hiện trên đời sau bao nhiêu đau khổ của người mẹ. Chính cái dao mổ của y sĩ đã trừ diệt được căn bệnh. Tất cả minh chứng: từ bỏ để lời lãi mai sau.

 

Từ bỏ là con đường hẹp của Phúc Âm. Chính Chúa xác định như thế. Con đường của Chúa đã hẹp mà lại còn phải vác thập giá nữa, nên con đường phải vất vả vấp váp, giống như đầy khúc khuỷu, mô ụ, ổ gà. Nhưng cuối con đường ấy là vinh quang Nước Trời. Và còn hơn thế nữa, “ngay bây giờ, ở đời này, còn nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm lần.” (Mt 10,30). Chỉ những người thực sự từ bỏ khi theo Chúa mới cảm nhận được sự kỳ diệu này.

 

Từ bỏ không phải theo nghĩa là chối bỏ, vứt bỏ đời sống trần gian. Không phải thế. Con người vẫn sống giữa trần gian, nhưng là từ bỏ những tham vọng trần gian để đi về vĩnh cửu.

 

Có thể chúng ta cũng đang hỏi Chúa như Phêrô: “Lạy Chúa chúng con từ bỏ mọi sự mà theo Chúa, chúng con được gì?” Có chắc là đã từ bỏ hết chưa? Và nếu đúng như thế thì cứ an tâm, chắc chắn nơi quê trời kia, ta đã có một phần tốt nhất. Thánh Phêrô hẳn đã hiểu ý Chúa rồi, nên chắc là rất vui lòng theo Chúa. Và Chúa cũng đang cần chúng ta là những Phêrô của cuộc sống hôm nay. Chúa đang cần những người thợ gặt của giờ thứ 11, cần những thợ gặt cho cánh đồng lúa chín vàng với tinh thần từ bỏ cần thiết...

 

--------------------------------

 

Suy Niệm 9: Thiên Chúa quan phòng

 

(Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

 

Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe là một trong những bài Tin Mừng  khó hiểu và gây nhiều tranh luận nhất.

 

1. Nhìn vào cuộc sống thực tế, nếu không có cái nhìn bằng đức tin thì chúng ta khó mà thấy được những gì Chúa Giêsu nói: nào là được gấp trăm về đất đai nhà cửa, nào là ruộng nương, anh chị em, cha mẹ con cái.

 

Riêng thánh Marcô lại thêm một câu: cùng với sự bắt bớ, làm cho đoạn Tin Mừng này thêm khó hiểu hơn. Vậy phải hiểu như thế nào về đoạn Tin Mừng này của thánh Marcô? Chúng ta phải nhớ, thánh Marcô viết Tin Mừng theo cái nhìn thần học chứ không theo cái nhìn lịch sử như thánh Luca.

Khi Chúa bảo với các môn đệ: Ai bỏ nhà cửa, anh em chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này lại không nhận được nhà cửa, anh em chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, gấp trăm, thì chúng ta phải hiểu rằng: từ bỏ một gia đình nhỏ để nhận được một gia đình lớn, gia đình của Thiên Chúa, trong đó Thiên Chúa là Cha. Chính Chúa Giêsu cũng đã nói: Ai là anh em, chị em và mẹ Ta? Đó là những người làm theo ý Cha trên trời, người đó là anh, là chị là em và là mẹ Ta. Theo ý của Chúa Giêsu thì gia đình thiêng liêng này còn quan trọng hơn gia đình huyết thống.

 

Khi Egerton Young giảng đạo lần đầu tiên cho người da đỏ ở Saskatchewan, về Thiên Chúa là Cha mọi người thì ông đã làm cho những người từ trước đến giờ chỉ thấy Thiên Chúa trong sấm sét giông bão ngạc nhiên. Một tù trưởng cao niên hỏi Young:

 

- Có phải ông thưa với Thiên Chúa rằng "Lạy Cha của chúng tôi không?"

 

Young đáp:

 

- Phải.

 

Vị tù trưởng tiếp tục hỏi:

 

- Vậy thì Ngài cũng là cha của ông chứ gì?

 

Young đáp:

 

- Phải.

 

Rồi vị tù trưởng nói tiếp:

 

- Và Ngài cũng là cha của tôi phải không?

 

Young đáp:

 

- Chắc chắn như vậy.

 

Gương mặt vị tù trưởng bỗng sáng rực lên cách khác thường, ông ta vung tay lên và nói như người mới khám phá được một điều gì khác thường, ông bảo:

 

- Vậy thì tôi với ông là anh em.

 

Có người phải hi sinh nhiều mối dây ràng buộc với người thân yêu để trở thành Kitô hữu, nhưng khi làm như vậy người ấy đã trở thành một thuộc viên và anh em trong một gia đình rộng lớn bằng cả thế gian này kể cả Thiên Đàng.

 

2. Hơn nữa khi từ bỏ những gì thuộc về trần gian, các môn đệ của Chúa còn nhận được sự quan phòng che chở đặc biệt của Cha trên trời.

 

Có lần Chúa Giêsu cũng đã khuyến cáo các Tông Đồ: Bông huệ ngoài đồng có canh cửi thêu dệt gì đâu mà đến như vua Salomon sang trọng tột bậc, cũng không có cái áo cẩm bào đẹp như vậy. Chim chóc trên trời có gieo vãi gì đâu mà Cha trên trời cũng nuôi sống. Và Chúa còn nhấn mạnh: đến tóc trên đầu của các con cũng đã được đếm cả rồi! Cha chúng con biết chúng con thiếu những gì. Nói cách khác, người Tông Đồ bỏ mọi sự mà theo Chúa thì nhận được một gia tài quí báu hơn bội phần, gấp trăm, đó là tình thương của Cha trên trời. Thiên Chúa biểu lộ tình thương của Người qua sự quan phòng trong suốt cuộc đời của mình.

 

Qua cuộc sống hiến thân phục vụ các người nghèo khổ, Mẹ Têrêsa thành Calcutta đã từng được chứng kiến những cử chỉ từ bi và âu yếm của Chúa quan phòng thật lạ lùng. Ở Calcutta, các nữ tu Dòng Bác Ái của mẹ hằng ngày phải chăm sóc cho 7.000 người, và còn phải cung cấp thực phẩm cho họ nữa. Một ngày thứ sáu trong tuần nọ, chị nữ tu coi nhà bếp đến thưa với mẹ:

 

- Thưa mẹ, trong nhà không còn gì ăn cho hôm nay và ngày mai. Tốt hơn hết là chúng ta nên báo trước cho mọi người biết điều đó.

 

Nghe tin đó, mẹ không biết trả lời với chị này thế nào... Thế nhưng, vào khoảng 09 giờ sáng hôm đó, không hiểu vì lý do gì, chính quyền Ấn Độ tuyên bố đóng cửa các trường công. Thế là số bánh mì đã được dành cho các học sinh được chở đến cho mẹ. Và tất cả hơn 7.000 người, từ nhỏ chí lớn có đủ bánh mì ăn trong hai ngày!

 

Thật vậy, chưa bao giờ những người nghèo lại được ăn những bữa no nê như thế, và không một ai trong cả tỉnh Calcutta biết lý do vì sao chính phủ đã tuyên bố đóng cửa các trường công hôm ấy. Nhưng đối với Mẹ Têrêsa thì đã quá rõ! Đó chính là dấu hiệu tình thương của Chúa, Người Cha giàu lòng yêu thương con cái mình!

 

Lạy Chúa Giêsu,

xin cho con dám hành động

theo những đòi hỏi khắt khe nhất của Chúa.

Xin dạy con biết theo Chúa vô điều kiện,

vì xác tín rằng

Chúa ngàn lần khôn ngoan hơn con,

và Chúa yêu con hơn cả chính con yêu con.

Ước gì khi dâng lên Chúa

những hy sinh làm tim con rướm máu,

con cảm nghiệm được niềm vui bất diệt

của người một lòng theo Chúa. Amen.

 

--------------------------------

 

Suy Niệm 10: Sự Sống Vĩnh Cửu Ở Đời Sau

 

Qua Lời Tổng Nguyện của thánh Philípphê Nêri hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa nâng lên hàng chư thánh hiển vinh tất cả những ai trung thành phụng sự Chúa. Xin Chúa cử Thánh Thần đến đốt lửa yêu mến trong lòng chúng ta, như xưa Người đã hun đúc tâm hồn thánh Philípphê Nêri một cách lạ lùng. Sinh năm 1515 tại Phirenxê, thánh nhân đến Rôma và dấn thân lo cho thanh thiếu niên. Người đi vào con đường trọn lành và lập một hội chuyên phục vụ người nghèo. Lãnh chức linh mục năm 1551, người lập dòng Ôratoa, chuyên lo cầu nguyện và làm việc bác ái trong giới thanh thiếu niên, các bệnh nhân, các tù nhân. Nét nổi bật trong đời của thánh nhân là người yêu thương tha nhân cách thiết thực, đơn sơ và vui vẻ. Người qua đời năm 1595.

 

 

 

Thánh Thần đốt lửa yêu mến trong lòng chúng ta, để ta trung thành phụng sự Chúa, như trong bài đọc một Kinh Sách, trích sách Gióp: Sao cứ phải chịu trăm bề đau khổ, nếu toàn bộ Sách Thánh là một bản trường ca mừng sự sống, thì thật là ngạc nhiên, khi tác giả ca ngợi cái chết. Đó quả là điều gây vấp phạm: khi một Kitô hữu ca mừng âm phủ, nhưng, làm sao hiểu được phản ứng của một người đau khổ, khi chính bản thân ta chỉ là người ngoài cuộc mà thôi… Bánh tôi ăn chỉ là tiếng nức nở, tiếng tôi gào thét tựa nước lũ ngập tràn. Những gì khiến tôi kinh hoàng sợ hãi nay đã xảy đến rồi. Những gì khiến tôi rụng rời khiếp sợ nay ập xuống trên tôi. Chẳng lẽ hư không lại là nguồn trợ lực giúp tôi chờ đợi, hay khôn ngoan tài giỏi đã bỏ tôi mà trốn mất rồi?

 

 

 

Thánh Thần đốt lửa yêu mến trong lòng chúng ta, để ta vui vẻ chu toàn sứ mạng Chúa giao, như trong bài đọc hai Kinh Sách, trích Bài Giảng của thánh Âutinh: Anh em hãy vui luôn trong Chúa… Anh em hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hòa. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an, sẽ ở cùng anh em. Thiên Chúa là nguồn hy vọng, xin Người ban cho anh em được chan chứa niềm vui và bình an nhờ đức tin.

 

 

 

Thánh Thần đốt lửa yêu mến trong lòng chúng ta, để ta vững dạ đợi trông điều Chúa hứa, như trong bài đọc một Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Phêrô: Các ngôn sứ loan báo về những điều sẽ xảy ra cho anh em, vì thế, anh em hãy tỉnh thức, và bền lòng trông cậy. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 97: Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ. Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã thực hiện bao kỳ công. Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh, nhờ cánh tay chí thánh của Người.

 

 

 

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã mặc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Anh em nhận được gấp trăm ở đời này cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau. Chúng ta hãy hát bài ca dâng Chúa vì phúc lộc Chúa ban. Chúa đã thương bênh đỡ phù trì, vì yêu thương ta nên Người giải thoát. Các ngôn sứ loan báo về những điều sẽ xảy ra, ta hãy tỉnh thức, và bền lòng trông cậy. Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ. Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Bỏ hết mọi sự theo Chúa, ta sẽ nhận được gấp trăm ở đời này cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau: Bánh ta ăn chỉ là tiếng nức nở, những gì khiến ta kinh hoàng sợ hãi sẽ xảy đến, nhưng, ta hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an, sẽ ở cùng ta. Chúa nâng cao tất cả những ai trung thành phụng sự Chúa. Ước gì Chúa cử Thánh Thần đến đốt lửa yêu mến trong lòng ta, như xưa Người đã hun đúc tâm hồn thánh Philípphê Nêri một cách lạ lùng. Ước gì được như thế!

 

---------------------------------

 

Tiên báo Thương Khó.

Thứ Tư tuần 8 thường niên 27/05/2026.

"Giờ đây chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp".

 

Lời Chúa: Mc 10, 32-45

 

Khi ấy, các môn đệ và Chúa Giêsu lên đường đi Giêrusalem, Chúa Giêsu dẫn đầu đi trước họ, và các ông hết sức bỡ ngỡ, những người theo sau thì sợ hãi. Người gọi mười hai ông lại gần và nói cho các ông biết những gì sẽ xẩy đến cho Người: "Giờ đây chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế, các luật sĩ và các kỳ lão. Họ sẽ kết án tử hình Người và nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo cười Người, phỉ nhổ vào Người, đánh đòn và giết Người, và ngày thứ ba Người sẽ sống lại".

 

Giacôbê và Gioan, con ông Giêbêđê, đến gần Người và thưa Người rằng: "Lạy Thầy, chúng con muốn Thầy ban cho chúng con điều chúng con sắp xin Thầy". Người đáp: "Các con muốn Thầy làm gì cho các con?" Các ông thưa: "Xin cho chúng con một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy trong vinh quang của Thầy". Chúa Giêsu bảo: "Các con không biết các con xin gì. Các con có thể uống chén Thầy sắp uống và chịu cùng một phép rửa Thầy sắp chịu không?" Các ông đáp: "Thưa được". Chúa Giêsu bảo: "Chén Thầy uống, các con cũng sẽ uống, và phép rửa Thầy sắp chịu, các con cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì không thuộc quyền Thầy ban, nhưng là dành cho những ai đã được chỉ định".

 

Mười môn đệ khác nghe chuyện đó liền bực tức với Giacôbê và Gioan.

 

Chúa Giêsu gọi các ông lại gần mà bảo: "Các con biết rằng những người được coi là lãnh tụ các nước thì sai khiến dân chúng như ông chủ, và những người làm lớn thì lấy uy quyền mà trị dân. Còn các con không như thế. Trái lại, ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đầy tớ anh em. Và ai muốn thành người cầm đầu trong các con, thì hãy tự làm nô lệ cho mọi người. Vì chính Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người".

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 1: Không được như vậy

 

(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)

 

Khi nghĩ đến những đau khổ Đức Giêsu phải chịu

chúng ta thường nghĩ ngay đến cuộc Khổ nạn của Ngài.

Chúng ta ít nghĩ đến một đau khổ khác,

đó là Ngài phải chịu đựng sự chậm hiểu của các môn đệ.

Bài Tin Mừng hôm nay là một thí dụ khá rõ.

Khi đang trên đường lên Giêrusalem,

Thầy Giêsu kéo riêng Nhóm Mười Hai để loan báo cho họ lần thứ ba

về những gì sắp xảy đến cho mình trong cuộc Khổ nạn (c. 32).

Tiếc thay, hai môn đệ thân tín là Giacôbê và Gioan,

vẫn loay hoay ở lại trong tham vọng về chức quyền của mình.

Họ nói với Thầy Giêsu một câu không được lịch sự lắm:

“Chúng con muốn Thầy làm cho chúng con bất kỳ điều gì chúng con xin.”

Vậy mà Thầy vẫn nhẹ nhàng trả lời họ:

“Các anh muốn Thầy làm gì cho các anh?” (c. 36).

Họ đã dám xin được ngồi hai chỗ cao nhất trong vinh quang Nước Thầy.

Thầy Giêsu thú nhận mình không có quyền cho điều đó,

nhưng Thầy lại mời hai ông chia sẻ chén đắng Thầy sắp uống

và dìm mình thật sâu trong phép rửa Thầy sắp chịu (c. 38).

Khi thấy mười môn đệ kia tức giận với Giacôbê và Gioan,

Thầy Giêsu đã huấn dụ cho cả nhóm về cách lãnh đạo trong Giáo Hội.

Cách lãnh đạo này khác hẳn cách lãnh đạo ngoài đời,

thường dùng quyền uy để thống trị và mưu cầu tư lợi.

“Giữa anh em thì không được như vậy!” (c. 43).

Mọi chức vụ và quyền bính là để phục vụ cho Dân Chúa.

Thầy Giêsu chỉ cách hành xử cho những ai muốn làm lớn, làm đầu.

Đó là sống như người đầy tớ, người phục vụ (c. 44).

Thầy Giêsu đã không nói suông, nhưng sống điều Ngài giảng.

Rõ ràng Thầy là người có uy quyền (Mc 1, 22.27; 2, 10).

Nhưng quyền uy đó chỉ được dùng để rao giảng và để giải phóng.

Suốt đời Thầy đã sống như một người phục vụ.

Và giờ đây, cái chết của Thầy chính là một việc phục vụ cao nhất.

Lần đầu tiên Thầy Giêsu nói rõ ý nghĩa cái chết của mình.

Như người Tôi Trung trong ngôn sứ Isaia (Is 52,13 - 53,12)

Thầy phải trả giá bằng mạng sống để cứu chuộc muôn người (c. 45).

Không dễ kéo các môn đệ ra khỏi những tham vọng trần tục.

Thầy Giêsu vẫn thấy mình lạc lõng bên cạnh các môn đệ.

Họ không hiểu được Thầy, và cũng chẳng muốn đi đường Thầy đi.

Làm sao để chúng ta cảm được hạnh phúc của việc phục vụ?

Làm sao để chúng ta hiểu rằng phục vụ không làm con người hèn hạ,

nhưng lại nâng cao con người và ban cho nó sự lớn lao đích thực?

Chính Chúa Giêsu, Đấng được thành toàn nhờ suốt đời phục vụ,

là chỗ dựa đầy hy vọng của chúng ta.

 

Cầu nguyện:

 

Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận,

xin dạy con biết phục vụ âm thầm.

Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt,

xin dạy con biết yêu thương tự hiến.

Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ,

xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.

Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị,

xin dạy con biết coi mọi người như anh em.

 

Lạy Chúa Ba Ngôi,

Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng,

xin cho các Kitô hữu chúng con

trở thành tình yêu

cho trái tim khô cằn của thế giới.

Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài,

biết sống nhờ và sống cho tha nhân,

biết quảng đại cho đi

và khiêm nhường nhận lãnh.

 

Lạy Ba Ngôi chí thánh,

xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa

ở sâu thẳm lòng chúng con,

và trong lòng từng con người bé nhỏ.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 2: Phục hồi vinh quang

 

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

 

Bị ngoại bang xâm lấn. Mất nước. Nô lệ. Nhục nhã. Người Do thái nhớ lại thời huy hoàng. Được Chúa phù trợ. Ngẩng đầu hiên ngang trước các cường quốc. Vì thế họ nài xin Chúa hãy trở lại. Hãy tái diến những kỳ công thuở xa xưa. Hãy phục hồi dân Chúa. Để cho mọi người nhận biết và tôn thờ Chúa. “Xin cho tái diễn những điềm thiêng và lại làm những dấu lạ khác. Các chi tộc Gia-cóp, nguyện chúa thương quy tụ cả về. Xin thương trả lại phần gia sản, như Chúa đã cho họ thuở ban đầu…Xin làm cho khắp cả Xi-on vang lời tường thuật những kỳ công của Chúa, và làm cho thánh điện, được rực rỡ ánh vinh quang của Ngài.. Và mọi người trên mặt đất sẽ nhìn nhận Ngài là Đức Chúa, là Thiên Chúa muôn thuở muôn đời” (năm lẻ).

 

Thiên Chúa đáp lời. Gửi Con Một từ trời xuống cứu độ con người. Nhưng không phải bằng bạo quyền thống trị theo thói người đời. Như hai anh em nhà Dê-bê-đê lầm tưởng. Nhưng bằng khiêm nhường phục vụ. Đến hi sinh mạng sống. Như Chúa dạy dỗ các tông đồ: “Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em, thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến, không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Con đường của Chúa là con đường khiêm nhường. Hạ mình để phục hồi anh em. Chịu chết để cứu sống anh em. Chịu nhục nhã để anh em được vinh quang. Vì thế Chúa quả quyết lên Giê-ru-sa-lem để chịu chết. Điều đó khiên các môn đệ kinh hoàng. Nhưng đó mới là con đường vinh quang. Chúa được vinh quang. Và Chúa phục hồi ta trong vinh quang.

 

Vì thế thánh Phê-rô khuyên nhủ chúng ta. Trước hết phải nhận biết sự thật. Chúng ta được phục hồi không phải do thế lực trần gian. Nhưng do bửu huyết của Chúa Giê-su. Chúa đi vào con đường khiêm nhường phục vụ. Chịu chết rồi phục sinh. Đó là niềm hi vọng của chúng ta. Nếu đã biết sự thật. Ta hãy thanh luyện tâm hồn khỏi các thế lực trần gian. Hãy biết khiêm nhường phục vụ lẫn nhau. Yêu thương nhau: “Anh em hãy tha thiết yêu mến nhau với tất cả tâm hồn. Vì anh em đã được tái sinh, không phải do hạt giống mục nát, mà do hạt giống bất diệt, nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống và tồn tại mãi mãi” (năm hẵn).

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 3: Tiên báo cuộc tử nạn

 

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

Dù không có ghi lại những chỉ dẫn địa lý chính xác, người ta cũng biết rằng Chúa Giêsu đang tiến đến gần các biến cố trọng yếu của định mệnh Ngài. Ngài đã băng ngang vùng Galilê từ Bắc tới Nam. Thánh sử Marcô đã nhấn mạnh hành trình lên Yêrusalem này qua ba lần loan báo về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, và đây là lần loan báo thứ ba.

 

Thật vậy, trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đề cập đến cái chết của Ngài như một con đường tất yếu phải đi qua. Giữa lúc mọi người đang thán phục về những lời rao giảng và các phép lạ của Ngài, giữa lúc mọi người đang chờ những điều phi thường hơn nữa, thì Chúa Giêsu lại tuyên bố: "Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, sẽ bị đánh đòn và bị giết chết".

 

Chết là điều tất yếu của thân phận làm người. Ðã nhập thể làm người, Chúa Giêsu cũng không thoát khỏi định luật ấy. Thế nhưng, khi loan báo về cái chết của mình, Chúa Giêsu muốn nối kết nó với sứ mệnh của Ngài. Sứ mệnh của Ngài chỉ được thực hiện bằng con đường sự chết. Người ta chống đối Ngài, người ta giết chết Ngài vì cuộc sống, lời nói và việc làm của Ngài là một tố cáo tội ác của con người; Ngài bị chống đối đến cùng, vì cuộc sống và sứ mệnh của Ngài là một hành trình đi ngược dòng đời.

 

Người Kitô hữu đích thực cũng không thể tránh được số phận ấy. Là chứng nhân của Ðấng đã đi ngược dòng đời, họ cũng không thể thoát khỏi những chống đối. Cái chết âm thầm, cái chết từng giây phút chống lại tội lỗi và sự dữ là điều tất yếu trong cuộc sống người môn đệ Chúa Kitô; có chết như thế, họ mới biết rằng mình đang đi đúng con đường của Chúa Kitô, con đường dẫn đến sự sống đích thực.

 

Dù sống trong nghèo nàn, dù sống trong cơ cực, khổ đau, xin cho chúng ta luôn vững tin vào Ðấng đã đi qua con đường sự chết để dẫn đưa chúng ta vào cõi trường sinh.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 4: Thập giá Chúa Kitô, Tin Mừng của ta

 

“Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào mặt Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau Người sẽ sống lại.” (Mc. 10, 33-34)

 

Trên đường lên Giêrusalem, Chúa Giêsu lại loan báo cho Nhóm Mười Hai, cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Người. Đây là lần loan báo thứ ba và cũng là dài hơn cả. Câu trả lời của các môn đệ xác nhận các ông đã quen cả rồi, ngay cả không còn sững sờ về điều tiên tri này nữa. Các ông vẫn bận tâm muốn biết mình sẽ có được địa vị nào trong cái vương quốc trần gian, mà theo các ông ước đoán, thì Thầy của họ sẽ gặp phải đau khổ và phải chết.

 

Khi thuận lợi và khi không thuận lợi

 

Chẳng lạ gì một sứ điệp phải loan báo đi mà lại mang vẻ ít hấp dẫn như vậy, gặp phải và luôn luôn sẽ gặp phải sự không hiểu; bao giờ sứ điệp ấy cũng vẫn sẽ là dấu hiệu bị người đời chống đối; phần chúng ta cho đến tận cùng thời gian sẽ bị cám dỗ muốn quên đi hay lẩn tránh sứ điệp ấy. Mầu nhiệm ấy, sứ điệp ấy vừa khó sống, lại vừa khó loan đi và ở mọi thời sẽ là đối tượng tầm thường cho bộ máy tuyên truyền nhắm vào. Tuy nhiên chính đó lại là nét đặc trưng của chúng ta. Nếu ta đánh mất đi thì còn gì để nói cũng như còn gì khôn ngoan hơn để dạy.

 

Hạnh phúc, công bình, chính trực chúng ta đâu có độc quyền. Nhưng “sự điên rồ của thập giá, nguồn tràn chảy ơn phục sinh” mới thật sự là của chúng ta. Khi ta loan báo điều gì khác không phải là “Đức Giêsu chịu đóng đinh, đã sống lại từ cõi chết”, ta đua tranh với những người giầu lòng nhân ái yêu thương, những bậc hiền nhân quân tử, và những vị ân nhân của nhân loại, điều đó tốt, nhưng không biện minh được cho hiện hữu cuộc đời Kitô hữu của ta. Không có ta, người ta vẫn có thể sống hạnh phúc và chính trực. Nhưng nếu ta không sống và loan đi sứ điệp của ta bằng một tình yêu nhưng không, tự do chấp nhận hiến thân, chết không chỉ cho bạn hữu mình mà còn cho cả những ai xa lạ, thù địch thì người ta sẽ không bao giờ hiểu biết được tình yêu sâu thẳm khôn lường của Thiên Chúa là thế nào.

 

Chẳng ai đã trông thấy Thiên Chúa bao giờ, mà chỉ thông qua những dấu chỉ, những bí tích mà con người được tiếp xúc với Người. Chỉ có một dấu chỉ tương xứng với một Thiên Chúa yêu thương chính là Đức Giêsu chết vì yêu thương, chính là những Kitô hữu nối gót Người, nhờ Người, và trong Người góp phần làm cho cái mầu nhiệm của một tình yêu đã làm nên những việc lạ lung của Thiên Chúa được trải dài đến thiên thu bất tận. Phúc âm không phải là công bố một hiệp ước xã hội đã được soạn thảo cách khoa học, nhưng là việc của Thánh Thần ngự trị trong Vương quốc tình yêu điên dại tuyệt vời, xâm nhập trái tim con người vậy.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 5: Qua sự chết mới đến vinh quang

 

Câu chuyện Tin Mừng hôm nay có thể ví như nước thủy triều dâng. Tại sao thế? Thưa! Vì Đức Giêsu đang tiến dần đến cái chết của Ngài. Ngài tiến gần cả về địa lý lẫn thời gian cũng như khung cảnh bề ngoài.

 

Về mặt địa lý, Ngài đang lên gần đến thành Giêrusalem;

 

Về thời gian, đây là thời điểm thuận lợi để những người Pharisêu, Kinh Sư và những kẻ không ưa Ngài dễ dàng thực hiện ý định giết Ngài;

 

Về tâm lý, việc Ngài giảng dạy hấp dẫn và những việc Ngài làm thu hút dân chúng, nên người ta không ngớt lời khen ngợi, đây là dịp châm ngòi cho sự ghen tương sẵn có nơi giới lãnh đạo Dothái.

 

Vì thế, Ngài đã loan báo lần cuối cùng về số phận của Người Tôi Trung: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, sẽ bị đánh đòn và bị giết chết”.

 

Chết là quy luật không thể bỏ qua cho những ai muốn sống. Không có sự chết, không có phục sinh. Nhưng điều quan trọng là chết như thế nào và làm sao phải chết? Đây mới là điều cốt lõi.

 

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta noi gương Đức Giêsu, đó là vì yêu thương mà không chịu xã hội mua chuộc; không chấp nhận sợ tiếng chửi và ăn mày tiếng khen mà đánh mất tinh thần vâng phục cũng như sứ vụ cứu rỗi nhân loại... Vì thế, Đức Giêsu đã chấp nhận chết vì yêu, vì sứ vụ.

 

Mỗi người Kitô hữu cần phải xác định rõ quy luật tất yếu này là: nếu ta thuộc về Đức Kitô, ấy là chúng ta chấp nhận đi cùng Ngài để lội ngược dòng. Khi lội ngược dòng như thế, chúng ta sẽ không tránh khỏi sự thù nghịch, khinh khi, và ngay cả mạng sống.

 

Như Đức Giêsu, chúng ta chỉ có được sự sống viên mãn khi chấp nhận quy luật ngược đời như vậy mà thôi.

 

Lạy Chúa Giêsu, tin và theo Chúa thật không dễ! Nhưng xin cho con hiểu rằng, vinh quang và hạnh phúc vĩnh cửu chỉ có được nơi những tâm hồn trung thành đến cùng. Amen.

 

Ngọc Biển SSP

 

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 6: Phục vụ trong khiêm tốn

 

(TGM Giuse Nguyễn Năng)

 

Sứ điệp: Lý tưởng cao cả nhất của Kitô giáo là phục vụ trong khiêm tốn. Chúa Giêsu ở giữa chúng ta như một người tôi tớ. Chúa mời gọi chúng ta từ bỏ chính mình, để cùng Ngài đi vào con đường thập giá bằng đời sống phục vụ mọi người.

 

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, các môn đệ và người Do Thái ngày xưa, đã mong chờ Chúa là Đấng cứu tinh uy quyền và đầy sức mạnh. Nhìn thấy phép lạ Chúa thực hiện, cảm nhận uy tín trong lời Chúa giảng dạy, họ hy vọng một cuộc đổi mới, và họ sẽ được vinh quang. Nhưng chính lúc tưởng rằng sắp đạt tới tột đỉnh uy quyền, thì các ông lại ngỡ ngàng thất vọng khi nghe Chúa nói đến cái chết. Lạy Chúa, quyền bính mà Chúa thiết lập là thứ quyền bính của phục vụ. Cái chết của Chúa trên thánh giá là đỉnh cao của phục vụ, như một tên nô lệ. Nếu một người nô lệ sống là sống cho người khác, và chết cũng là chết cho người khác, thì Chúa đã chấp nhận sống và chết như một tên nô lệ.

 

Lạy Chúa Giêsu, hôm nay Chúa đang phục vụ con nơi bàn tiệc Thánh, Chúa phục vụ con nơi bà tiệc Lời Chúa, và bàn tiệc Thánh Thể. Chúa đã hoán đổi địa vị một cách bất ngờ. Con được trở thành người ngồi bàn, còn Chúa tự nguyện đi lại hầu hạ con. Chúa đã dọn bữa sẵn sàng và mời con hưởng dùng. Con xin dâng lời tạ ơn Chúa.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa giúp con biết sống tinh thần phục vụ theo kiểu của Chúa: muốn làm lớn thì phải làm nhỏ. Xin giúp con biết khám phá rằng: cuộc sống không phải để hưởng thụ, nhưng là để phục vụ. Và trong phục vụ, con sẽ có hạnh phúc. Bởi vì nếu con thông phần vào thập giá của Chúa thì con cũng được chia phần sự sống phục sinh với Chúa. Amen.

 

Ghi nhớ: “Giờ đây chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp”.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 7: Tinh thần phục vụ

 

(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

 

Địa vị và quyền hành đã gây ra chia rẽ giữa các môn đệ. Điều đó cho thấy mục đích theo Đức Giêsu của các môn đệ còn thấp kém. Chính vì thế, trước lời loan báo của Đức Giêsu về cuộc khổ nạn, các ông vẫn không hiểu, dù Ngài đã nói đến lần thứ ba.

 

Đức Giêsu thì cương quyết lên Giêrusalem để chấp nhận khổ nạn, còn các môn đệ thì sợ hãi kinh hoàng. Đức Giêsu nói rõ, con đường của Ngài là con đường đau khổ, là chấp nhận chén đắng. Sự thanh tẩy tức là từ bỏ mình, là chấp nhận khiêm tốn phục vụ như một đầy tớ của mọi người. Đó là vinh quang đích thực của Đức Giêsu và của những môn đệ Ngài.

 

Trên đường đi Giêrusalem, Đức Giêsu loan báo cho các môn đệ: “Ngài sẽ bị nộp cho các thượng tế và luật sĩ. Họ sẽ lên án xử tử Ngài... nhưng ba ngày sau Ngài sẽ sống lại” (Mc 10, 33). Đây là lần thứ ba Chúa nói cho các môn đệ biết về điều này. Nhưng thật đau lòng, khi nghe Chúa nói như vậy, các môn đệ không quan tâm gì, các ông lại tranh giành ngôi thứ với nhau. Nhân cơ hội này Chúa đã sửa bảo các ông một cách tế nhị, và dạy các ông bài học sâu xa về lòng khiêm nhường phục vụ và thắng vượt tính ghen tương.

 

Khởi đầu câu chuyện là hai ông Giacôbê và Gioan, hai anh em ruột, xin Chúa cho mỗi ông được ngồi bên hữu bên tả Chúa, nghĩa là muốn xin được địa vị cao trong nước Chúa khi Ngài được làm vua dân Do thái. Đây cũng là điều bình thường, ai lại không muốn cho mình được chỗ tốt nhất, được vinh dự?

 

Đức Giêsu quá biết tâm lý tự nhiên của mỗi người, muốn được làm lớn, được vinh dự, được làm thủ lãnh sai khiến người khác. Bởi vì các môn đệ hãy còn suy nghĩ về nước Đức Giêsu ở trần gian này, nên các ông còn thích quyền hành danh vọng và muốn người ta phục vụ mình.

 

Nhưng Đức Giêsu lại suy nghĩ khác, nước Ngài không thuộc về thế gian, cho nên người có quyền hành không được dùng địa vị của mình để cai trị áp bức người khác, để lên mặt ta đây, và bắt người khác phục vụ mình, nhưng trái lại phải biết phục vụ, không phải chỉ dành quyền lợi cho cá nhân mình, nhưng để bảo vệ quyền lợi cho tất cả mọi người.

 

Các môn đệ được coi như những con người còn rất “thô sơ”, còn đầy những nết xấu ví dụ như trường hợp hôm nay, các ông có tính ghen tị. Lòng kiêu ngạo muốn tranh đấu để làm đầu mọi người là điều không tốt, nhưng lòng ganh tị cũng không tốt đẹp gì. Khi thấy hai ông Giacôbê và Gioan xin Chúa được ngồi bên hữu bên tả Chúa, các môn đệ khác khó chịu, bực mình. Các ông ghen tị, không muốn cho hai anh em kia được phần hơn. Các môn đệ của Chúa cũng vẫn còn hẹp hòi, ích kỷ. Điều này cũng chứng tỏ các ông còn suy nghĩ về nước Đức Giêsu ở trần gian. Vì thế, Chúa cũng sửa bảo các ông phải loại bỏ tính xấu này.

 

Kiêu ngạo và ghen tị là hai nết xấu đã cản trở sự phát triển đời sống chúng ta về mọi phương diện. Chúng ta phải loại bỏ hai tật xấu này để sống hòa hợp, vui vẻ với nhau, cộng tác với nhau, đừng ai kiêu ngạo muốn hơn người, và cũng đừng ai phân bì, ghen tị khi thấy người khác hơn mình.

 

Đối với Đức Giêsu, chức quyền là để phục vụ. Chức quyền cũng như tiền bạc, tự nó không xấu. Bất cứ nhóm nào cũng cần có một người phụ trách. Nhưng theo ý Chúa, phụ trách trước hết không phải là một địa vị thống trị hưởng lợi, hưởng uy thế, mà là một địa vị để phục vụ nhiều hơn: “Con Người đến không phải được phục vụ, nhưng là để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người” (Mc 10, 45).

 

Người lãnh đạo trong Hội thánh là “đầy tớ”. Trong các văn kiện, Đức giáo hoàng thường dùng danh hiệu “Servus servorum”: đầy tớ của các đầy tớ. Những chức vụ có vai trò đặc biệt chỉ nên gọi là “thừa tác” hay “trợ tá” theo đúng nghĩa của chữ Latinh “Minister” là tôi tớ; hoặc tiếng Hy lạp “Diakonos” là đầy tớ và “Doulos” là nô lệ.

 

Trong các vị lãnh đạo của Giáo hội cũng phải có phẩm trật như người ta nói: “Kim chỉ phải có đầu” (tục ngữ), cần phải có một người đứng đầu điều khiển một cộng đoàn, chứ không thể có cảnh “Cá đối bằng đầu” (tục ngữ) mà mọi việc được xuôi lọt, vì sẽ không ai muốn phục tùng ai. Điều quan trọng mà Đức Giêsu muốn nhấn mạnh: không phải là huỷ bỏ chức vụ của những người đứng đầu, chức vụ của những người lãnh đạo, nhưng đừng dùng địa vị và quyền bính của mình để áp bức người khác.

 

Truyện: Gương Đức Giáo hoàng Gioan 23

 

Một lần kia, phái đoàn tòa Giám mục ra đón Đức Hồng y Roncalli mới đi xa về, vừa từ trên xe xuống. Mọi người ngạc nhiên, vì trên áo Hồng y có vương mấy cọng rơm đồng quê.

 

Ai hỏi, ngài cũng cười, nhưng các người đi cùng thì hiểu. Vì xe của Ngài đang từ hướng bắc về miền nam, đi qua đồng ruộng. Giữa đường có chiếc xe bò chở rơm sa hố. Ngài liền cho xe của Ngài dừng lại, xắn tay áo, ngài hò dô ta đẩy phụ, và chiếc xe rơm sa lầy lại chuyển bánh lên đường.

 

Những cọng rơm trên áo Hồng y, ngài chỉ cười xòa cho qua. Nhưng sự thực tỏ rõ cho chúng ta một Hồng y không quản ngại khó khăn hay sợ bẩn chiếc áo dòng sang trọng.

 

Sau này lên ngôi Giáo hoàng, với tước hiệu Gioan 23, Ngài vẫn tiếp tục nếp sống bình dị phục vụ như thế.

 

Lần khác, cả giáo triều Rôma báo động: “Đức Giáo hoàng mất tích”. Nhân viên an ninh đi tìm. Cuối cùng gặp ngài đang nói chuyện với tù nhân trong khám đường Rôma.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 8: Muốn làm lớn làm đầu giữa giữa anh em

 

(Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)

 

A. Hạt giống...

 

Hai cảnh tượng đối nghịch nhau một cách trắng trợn:

 

- Chúa Giêsu loan báo (đây đã là lần thứ ba) rằng Ngài sắp chịu nạn, chịu chết và sống lại.

 

- Hai môn đệ Giacôbê và Gioan lại xin hai địa vị ưu tiên trong "nước" mà họ nghĩ Chúa Giêsu sắp thành lập. 10 môn đệ kia bực tức. Không phải vì cho rằng hai môn đệ này sai mà vì nghĩ họ đã muốn "chơi trội" hơn mình trong cuộc chạy đua tranh dành địa vị.

 

Trong bối cảnh đó, Chúa Giêsu dạy về Nước Thiên Chúa và nước trần gian, về cách cư xử của những người lớn trong hai nước đó:

 

- Trong nước trần gian, kẻ làm lớn thì lấy quyền mà trị dân, bắt dân phục vụ mình.

 

- Trong Nước Thiên Chúa, làm lớn là làm đầy tớ, càng làm lớn thì càng phải phục vụ.

 

B.... nẩy mầm.

 

1. "Chúa Giêsu lên đường đi Giêrusalem. Chúa Giêsu dẫn đầu đi trước họ, và các ông hết sức bỡ ngỡ, những người theo sau thì sợ hãi": Khi viết câu này, có lẽ thánh Mác-cô cũng muốn nói lên tâm trạng của các kitô hữu trong giáo đoàn của ngài. Họ đang bị đế quốc rôma bắt bớ. Họ biết rằng làm môn đệ là phải đi theo Chúa Giêsu. Họ cũng biết có Chúa Giêsu dẫn đầu đi trước họ. Nhưng họ vẫn bỡ ngỡ và sợ hãi. Đó cũng là tâm trạng của chúng ta ngày nay.

 

Lạy Chúa, chúng con sợ. Nhưng xin Chúa nâng đỡ chúng con, để chúng con kiên trì theo chân Chúa cho đến cùng.

 

2. "Các con không biết các con xin gì": nhiều khi tôi cũng xin Chúa những điều mà tôi không hiểu, những điều hoàn toàn ngược với thánh ý Chúa.

 

3. "Lãnh tụ các nước thì sai khiến dân chúng như ông chủ…. Còn các con… ai muốn làm lớn thì hãy làm đầy tớ…": Trong cộng đoàn, tôi cũng có một chút "quyền", một chút "địa vị". Tôi đã dùng chúng như thế nào: như một ông chủ hay như một đầy tớ?

 

4. "Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em, ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em." (Mc 10,43-44)

 

Lượm cuốn sách lên cho nội, bé Thảo thắc mắc:

 

- Tại sao bà không cúi xuống được hở bà?

 

- Chân người già yếu lắm con, vả lại, khi cúi xuống bà thường bị chóng mặt, hoa mắt chỉ chực té thôi!

 

- Ồ, "cúi xuống" mà khó đến vậy sao? cô bé thốt lên đầy kinh ngạc...

 

... Đã từ lâu, người ta thường nhắc tới căn bệnh "sĩ" trong thời sinh viên, những kẻ "coi trời bằng vung". Vì "sĩ" người ta có thể làm tất cả, người ta học giỏi, chấp nhận nghèo khổ; vì "sĩ" người ta ăn chơi, người ta đánh nhau vì một câu nói vô tình v.v... Nhưng mấy ai vì "sĩ" mà "cúi xuống" để phục vụ người?

 

Lạy Chúa, xin cho đôi chân con thật vững, trái tim con đầy ắp yêu thương, để con biết "cúi xuống", dẫu có lúc chỉ vì thế mà phải chịu nhiều chuyện rắc rối, bởi xác tín rằng ngày xưa và mãi mãi, Ngài vẫn luôn làm như thế. (Hosanna)

 

5. Đây là câu chuyện vui của thầy Anrê với cây Thập giá bị bỏ lại. Trước khi bắt đầu cuộc hành hương về Núi Thánh, thầy tu viện trưởng dẫn các tu sĩ của mình đến nơi có trưng bày nhiều loại Thập giá lớn nhỏ khác nhau và nói: “Nào chúng ta mỗi người hãy chọn lấy cho mình một cây Thập giá để vác trong suốt cuộc hành hương này.” Các tu sĩ chạy đến tranh nhau dành cho mình cây Thập giá nhỏ nhất bao nhiêu có thể. Họ nghĩ thầm rằng đó là cây Thập giá nặng nhất, tiện đường vì cuộc hành hương còn xa.

 

Khi mọi tu sĩ đã chọn cho mình cây Thập giá rồi, thì còn lại một cây Thập giá to nhất cho thầy tu viện trưởng. Thầy bước đến vác lấy cây Thập giá đó mà chỉ dùng có một tay nhấc cây Thập giá lên cùng đi. Ai cũng có vẻ thích thú vì có thái độ “Lãnh nặng, tìm nhẹ” để vác lấy Thập giá trên đường hành hương, nhưng người dành được cây Thập giá nhỏ nhất mới vỡ lẽ ra rằng Thập giá mà mình cầm lấy lúc đầu lại là Thập giá nặng nhất.

 

Câu chuyện vui phơi bày tâm lý tầm thường của mỗi người. Miệng chúng ta quyết mạnh mẽ là mình vác lấy Thập giá theo Chúa nhưng có thể trong thâm tâm chúng ta ước ao có một cây Thập giá nhẹ nhàng, tiện lợi theo ý muốn riêng của mình hơn là vác lấy Thập giá theo thánh ý Chúa gởi đến cho mình. Hay tệ hơn nữa, chúng ta có thể xin Chúa cho mình được vâng lời, hay ngồi bên hữu, bên tả Chúa, như lời cầu xin của hai anh em con ông Giêbêđê được kể lại trong Phúc Âm (Mc 10,32-45).

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 9: Làm lớn như là cơ hội để phục vụ

 

(Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

 

1. Hai cảnh tượng đối nghịch nhau một cách trắng trợn:

 

* Chúa Giêsu loan báo (đây đã là lần thứ ba) rằng, Ngài sắp chịu nạn, chịu chết và sống lại. Trong lúc đó thì hai môn đệ Giacôbê và Gioan lại xin hai địa vị ưu tiên trong “Nước” mà họ nghĩ Chúa Giêsu sắp thành lập. 10 môn đệ kia bực tức. Không phải vì cho rằng, hai môn đệ này sai mà vì nghĩ họ đã muốn “chơi trội” hơn mình trong cuộc chạy đua tranh dành địa vị.

 

* Trong bối cảnh đó, Chúa Giêsu muốn dạy về Nước Thiên Chúa và nước trần gian, về cách cư xử của những người lớn trong hai nước đó:

 

- Trong nước trần gian, kẻ làm lớn thì lấy quyền mà trị dân, bắt dân phục vụ mình.

 

Mẹ Têrêsa kể ở Hội nghị thượng đỉnh được tổ chức tại Johannesburg. Trong lúc người dân đói khổ, không cơm ăn, không nước uống, các phái đoàn hùng hậu của các quốc gia tham dự Hội Nghị, sống tại các khách sạn bốn sao, năm sao, với những thực phẩm hảo hạng, cả rượu “champagne” được chở từ các nước Tây Phương đến Johannesburg, để thỏa mãn khẩu vị của các phái đoàn trong 10 ngày Hội nghị thượng đỉnh.

 

Còn trong Nước Thiên Chúa, làm lớn là làm đầy tớ, càng làm lớn thì càng phải phục vụ.

 

Chúa Giêsu đã không coi việc cai trị như là cơ hội để hưởng thụ mà là để phục vụ.

 

Ngày xưa, vua nước Tề sai sứ giả đem thư sang thăm bà Uy Hậu nước Triệu, là mẹ của Triệu Uy Vương được giữ quyền nhiếp chính. Khi nhận được thư của sứ giả, bà Uy Hậu chưa vội xem nhưng hỏi ngay sứ giả:

 

- Tề năm nay không mất mùa chứ? Dân tình yên chứ? Vua cũng mạnh khoẻ chứ?

 

Sứ giả nghe hỏi, không bằng lòng, nói:

 

- Tôi vâng mạng vua nước tôi sang xứ bên này, Thái Hậu không hỏi đến vua tôi mà lại hỏi thăm mùa màng với dân sự trước, thế chẳng ra, tôn trọng kẻ hèn hơn người sang ư?

 

Uy Hậu mỉm cười bảo:

 

- Không phải! nếu không có mùa màng thì lấy đâu có dân, không có dân thì lấy đâu có vua? Ai lại bỏ gốc mà hỏi ngọn bao giờ!

 

Đoạn, Uy Hậu lại hỏi luôn một loạt:

 

- Chung Ly Tử là sử sĩ bên ấy vẫn được bình yên chứ? Người ấy có lương ăn cũng thế, không có ăn cũng thế. Có áo mặc cũng thế mà không có áo mặc cũng vậy. Ấy là người có thể giúp vua mà phục vụ dân đấy. Sao nhà vua đến bây giờ vẫn chưa triệu người ấy ra làm quan?

 

Còn Nghiệp Dương Tử bên ấy vẫn bình yên chứ? Người ấy thương xót kẻ quan quả, chu tuất kẻ cô độc, chân tế kẻ khốn cùng, giúp đỡ kẻ túng bấn, đó là một người có thể giúp vua để sinh lợi cho dân.

 

Còn người con gái Bắc cung tên Anh Nhi Tử vẫn bình yên đấy chứ? Người ấy bỏ cả đồ trang sức, đến già không lấy chồng để phụng dưỡng cha mẹ. Ấy là người làm gương mẫu cho dân, bắt chước ăn ở với cha mẹ cho có hiếu có đạo, sao đến bây giờ nhà vua chưa cho người ấy vào chầu? Nếu hai kẻ sỹ ấy không được làm quan, người con gái ấy không được vào chầu thì làm sao vua nước Tề trị được vạn dân?

 

À, còn tên Tử Trọng ở Ô Lăng vẫn còn đấy chứ? Tên này trên không làm nên tôi vua, dưới không trị được việc nhà, giữa không kết giao với ai, thế là tên này chuyên dạy dân làm điều vô dụng, sao đến bây giờ nhà vua chưa đem ra xử tử?

 

Hỏi xong, bấy giờ Uy Hậu mới xem thư.

 

3.”Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em, ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em.” (Mc 10, 43-44).

 

Gần chúng ta bên nhà thờ Chí Hòa, có một cộng đoàn nữ tu gọi là tu hội Eau-Vive (Nước hằng sống). Tu hội này có nguồn gốc từ Bỉ. Ngoài công việc đạo đức ra, họ còn mở quán ăn phục vụ khách hàng. Cái đặc biệt của họ là sau giờ cơm tối, thông thường vào tối 9 giờ, tu hội có giờ cầu nguyện, chia sẻ Tin Mừng giữa các chị. Các chị thường thưa với khách hàng: “Giờ đây chúng tôi có giờ cầu nguyện, quý vị nào muốn tham gia, chúng tôi xin kính mời, ai không tham gia xin cứ tự nhiên”. Thế rồi các chị cùng một số thực khách sắp ghế vòng quanh lại và bắt đầu cầu nguyện với những bài thánh ca sốt sắng, truyền cảm. Có nhiều người mới đầu không tham gia, dần dần thấy hay hay cũng lắng tai nghe, rồi những lần kế tiếp xách ghế ngồi phía sau tìm hiểu. Khi đã quen, đã mê thì tuần nào cũng ít là một vài lần đến để ăn cơm, nhưng cốt là để tham dự các giờ cầu nguyện ban tối mà họ cho là rất tự nhiên, hấp dẫn và cảm động. Quán ăn đã trở nên nhà nguyện, vì có Chúa hiện diện giữa họ.

 

Lạy Chúa, xin cho đôi chân con thật vững, trái tim con đầy ắp yêu thương, để con biết “cúi xuống”, dẫu có lúc chỉ vì thế mà phải chịu nhiều chuyện rắc rối, bởi xác tín rằng, ngày xưa và mãi mãi, Ngài vẫn luôn làm như thế. (Hosanna).

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 10: Con Người Sẽ Bị Nộp

 

Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Tư Tuần 8 Thường Niên, năm Chẵn này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin Chúa an bài cho mọi việc ở trần gian luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, để tất cả chúng ta được nhờ, và Hội Thánh được an vui thờ phượng Chúa.

 

An vui thờ phượng Chúa, cho dẫu thực tại trước mắt thật nghiệt ngã, như trong bài đọc một Kinh Sách, trích sách Gióp: Đối với con người, phải chăng Thiên Chúa chỉ là người xử tội? Kiếp sống càng phù du, nỗi bất hạnh của con người càng bi thảm. Nhưng nào có ai trả lại những ngày đã mất! Chính vì xác tín như vậy mà tác giả đã có được một lời cầu nguyện tuyệt vời. Mãi sau này Thiên Chúa mới trả lời thôi. Chúa Giêsu sẽ nói: Những người khác đã làm lụng vất vả, còn anh em, anh em sẽ gặt hái những gì anh em không vất vả làm ra… Thịt tôi chai ra, giòi bọ lúc nhúc, da tôi nứt nẻ, máu mủ đầm đìa. Ngày đời tôi thấm thoát hơn cả thoi đưa, và chấm dứt, không một tia hy vọng. Lạy Đức Chúa, xin Ngài nhớ cho, cuộc đời con chỉ là hơi thở.

 

An vui thờ phượng Chúa, cho dẫu chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng cho những đau khổ mình đang phải chịu, như trong bài đọc hai Kinh Sách, trích sách Tự Thuật của thánh Âutinh: Con đặt tất cả niềm hy vọng nơi lượng từ bi hải hà của Chúa… Con yêu Chúa quá muộn, lạy Chúa là vẻ đẹp vừa rất xưa, vừa mới mãi, con yêu Chúa quá muộn! Chúa gọi con, Chúa la to, và đã phá tan sự điếc lác của con. Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.

 

An vui thờ phượng Chúa, cho dẫu dường như chẳng còn chi để hy vọng, như trong bài đọc một Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Phêrô: Anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn là Đức Kitô. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 147: Giêrusalem hỡi, nào tôn vinh Chúa! Này Xion, hãy ca ngợi Thiên Chúa của ngươi! Then cửa nhà ngươi, Chúa làm cho thêm chắc, con cái trong thành, Người giáng phúc thi ân.

 

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Con Người đến để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Này chúng ta lên Giêrusalem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Con sẽ hát bài ca dâng Chúa vì phúc lộc Ngài ban, con sẽ đàn ca mừng danh Chúa, Đấng cao cả muôn trùng. Chúa đã thương bênh đỡ phù trì, Người kéo ta ra chỗ thảnh thơi, vì yêu thương ta nên Người giải thoát. Chúng ta đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Kitô. Cõi biên cương, Người thiết lập hòa bình, và cho ta no đầy lúa mì tinh hảo. Người tống đạt lệnh truyền xuống đất, lời phán ra, hỏa tốc chạy đi. Con Người đến, không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người, vì thế, chúng ta hãy tin tưởng cậy trông vào Chúa, cho dẫu thực tại trước mắt thật nghiệt ngã: Thịt ta chai ra, giòi bọ lúc nhúc, da ta nứt nẻ, máu mủ đầm đìa. Ngày đời ta thấm thoát hơn cả thoi đưa, và chấm dứt, không một tia hy vọng. Một khi ta gắn bó hết mình với Chúa, ta sẽ không còn cảm thấy đau đớn vất vả nữa. Cuộc đời ta sẽ trở nên sống động, vì được đầy tràn Chúa. Thật thế, kẻ nào đầy tràn Chúa sẽ được Chúa làm cho nhẹ gánh; vì ta chưa được đầy tràn Chúa, nên, ta còn là gánh nặng cho chính bản thân. Nơi ta, có những niềm vui mà lẽ ra ta phải than khóc, và những nỗi phiền muộn mà lẽ ra ta phải hân hoan. Chúng ta đã được tái sinh, không phải do hạt giống mục nát, mà do hạt giống bất diệt, nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống và tồn tại mãi mãi, Lời đã được loan báo cho ta như một Tin Mừng. Như vậy tất cả niềm hy vọng của ta chỉ còn đặt nơi lượng từ bi hải hà của Chúa mà thôi. Ước gì Chúa an bài cho mọi việc ở trần gian luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, để tất cả chúng ta được nhờ, và Hội Thánh được an vui thờ phượng Chúa. Ước gì được như thế!

 

---------------------------------

Chữa người mù Bartimê.

Thứ Năm tuần 8 thường niên 28/05/2026.

 

"Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy".

 

Lời Chúa: Mc 10, 46-52

 

Khi ấy, Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô cùng với các môn đệ, và một đám đông, thì có con ông Timê tên là Bartimê, một người mù ăn xin đang ngồi ở vệ đường. Khi anh ta nghe biết đó là Chúa Giêsu Nagiarét, liền kêu lên rằng: "Hỡi ông Giêsu con vua Ðavít, xin thương xót tôi". Và nhiều người mắng anh bảo im đi, nhưng anh càng kêu to hơn: "Hỡi con vua Ðavít , xin thương xót tôi".

 

Chúa Giêsu dừng lại và truyền gọi anh đến. Người ta gọi người mù và bảo anh: "Hãy vững tâm đứng dậy, Người gọi anh". Anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo rằng: "Anh muốn Ta làm gì cho anh"? Người mù thưa: "Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy". Chúa Giêsu đáp: "Ðược, đức tin của anh đã chữa anh". Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 1: Xin thương xót tôi

 

(Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.)

 

Con mắt là một bộ phận hết sức mong manh,

dễ bị tổn thương, dễ bị nhiễm trùng,

nhất là trong điều kiện vệ sinh ngày xưa.

Chúng ta không rõ nguyên nhân khiến anh Báctimê bị mù,

chỉ biết anh không mù từ lúc lọt lòng mẹ.

Anh đã từng được thưởng thức ánh nắng ban mai

hay nhìn ngắm những người thân yêu, bè bạn.

Bây giờ chỉ có bóng tối triền miên.

Anh Báctimê sống bằng nghề hành khất,

ngồi ăn xin bên vệ đường, sống bên lề xã hội.

Danh tiếng của Ðức Giêsu Nadarét, anh đã được nghe nhiều.

Ngài có thể làm người mù bẩm sinh sáng mắt.

Anh tin vào Ngài, thầm mong có ngày được gặp.

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại cuộc hạnh ngộ ấy.

Rất tình cờ, Ðức Giêsu đi ngang qua đời anh.

Anh mù lòa, ngồi đó như chỉ chờ giây phút này.

Khi nghe biết là Ðức Giêsu cùng với đám đông đi qua,

anh thấy cơ may đã đến.

Tất cả sức mạnh của anh nằm ở tiếng kêu,

tiếng kêu thống thiết bi ai của một người đau khổ,

nhưng cũng là tiếng kêu đầy tin tưởng, hy vọng.

“Lạy ông Giêsu, Con vua Ðavít, xin thương xót tôi!”

Tiếng kêu báo hiệu một sự hiện diện, một cầu cứu.

Nhiều người muốn bịt miệng anh,

nhưng anh chẳng sợ gì đe dọa.

Càng bị đe dọa, anh càng gào to hơn nhiều.

Cuối cùng tiếng của anh đã đến tai Ðức Giêsu.

Ngài dừng lại và sai người đi gọi anh,

vì Ngài cũng chưa rõ anh đang ở đâu.

Khi biết mình được gọi, anh vội vã và vui sướng

vất bỏ cái áo choàng vướng víu,

nhẩy cẩng lên mà đến với Ðức Giêsu.

Anh đi như một người đã sáng mắt,

bởi thực ra mắt của lòng anh đã sáng rồi.

Khi được khỏi, lòng tin của anh thêm mạnh mẽ hơn.

Anh thấy lại mặt trời, anh gặp Ðấng cho anh ánh sáng.

Không ngồi ở vệ đường nữa, anh đứng lên đi theo Ðức Giêsu.

“Xin thương xót tôi. Xin cho tôi nhìn thấy lại.”

Ðây có phải là tiếng kêu của tôi không?

Khả năng thấy là một khả năng mỏng dòn.

Ta có thể thấy điều này mà không thấy điều kia.

Tôi có thể lúc thấy lúc không, hay cố ý không muốn thấy.

Lắm khi tôi không đủ sức để ra khỏi sự mù lòa của mình.

Tôi có kêu gào với Chúa để xin được ơn thấy lại không?

Một người mù chữ, dù đã được xóa mù, vẫn có thể mù lại.

Chính vì thế tôi cứ phải xin cho mình được thấy luôn.

Thấy mình bé nhỏ, thấy Chúa bao la, thấy anh em dễ mến.

Thấy là đi vào một con đường dài hun hút.

Chúng ta phải được Chúa xóa mù suốt đời.

Chỉ trong ánh sáng của Chúa, tôi mới nhìn thấy ánh sáng.

 

Cầu Nguyện

 

Như người mù ngồi bên vệ đường

xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy.

Xin cho con được thấy bản thân

với những yếu đuối và khuyết điểm,

những giả hình và che đậy.

Cho con được thấy Chúa hiện diện bên con

cả những khi con không cảm nghiệm được.

Xin cho con thực sự muốn thấy,

thực sự muốn để cho ánh sáng Chúa

chiếu dãi vào bóng tối của con.

Như người mù ngồi bên vệ đường

xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 2: Xin cho con được thấy

 

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

 

Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan và quyền năng. Người làm ra biết bao điều kỳ diệu. “Vinh quang Đức Chúa bao phủ công trình Người sáng tạo. Các thánh của Đức Chúa không tài nào kể lại mọi kỳ công của Người”. Vì những công trình quá lớn lao. Vượt quá tầm hiểu biết của con người. Bao thiên niên kỷ qua rồi mà người ta chưa hiểu thấu hết những bí mật Chúa đặt vào trong vũ trụ. Bao nghiên cứu tìm hiểu, nhưng “những gì thấy được chỉ như một ánh lửa” nhỏ bé. (năm lẻ).

 

Chính vì thế mà điều con người cần cầu xin là xin cho được thấy. Thấy những kỳ công Chúa thực hiện. Thấy những bí mật của đời mình. Và quan trọng nhất thấy Chúa và thấy được con đường mình phải đi để đạt tới Chúa. Đó chính là điều anh mù Ba-ti-mê đã xin. Trong cảnh mù loà anh tuyệt vọng. Vì chẳng ai có thể cho anh được thấy. Chỉ mình Chúa Giê-su. Anh đã tin Người là Đấng Cứu Thế khi anh tuyên xưng Người là Con Vua Đa-vít. Lòng tin lớn mạnh vượt qua được những chướng ngại. Nên đã được Chúa nhận lời. “Lòng tin của anh đã cứu anh”. Và khi được thấy anh đã làm điều cơ bản nhất. Không dùng ánh sáng để đi tìm trần gian. Tìm tiền của. Nhưng anh “nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi”. Thật khôn ngoan. Và cơ bản. Thấy Chúa và đi theo Chúa. Đó là đi vào điều cốt lõi trong đời sống. Đi vào ơn cứu độ. Đi vào sự sống đời đời. Đó là thành đạt lớn nhất đời.

 

Đó chính là điều thánh Phê-rô khuyên nhủ ta. “Hãy khao khát sữa tinh tuyền là Lời Chúa, nhờ đó anh em sẽ lớn lên để hưởng ơn cứu độ”. “Hãy tiến lại gần Đức Ki-tô”. Vì do lòng thương xót, Chúa “mời gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền”. Chúng ta đang trên đường từ bỏ bóng tối để tiến về ánh sáng. Chúng ta hãy noi gương anh mù Ba-ti-mê đi theo Chúa trên đường Chúa đi. Nghĩa là “tránh xa những đam mê xác thịt, vốn gây chiến với linh hồn”. Hãy làm chứng cho Chúa bằng đời sống ngay chính giữa ban ngày. “Anh em hãy ăn ở ngay lành giữa dân ngoại, để ngay cả khi họ vu không, coi anh em là người gian ác, họ cũng thấy các việc lành anh em làm, mà tôn vinh Thiên Chúa trong ngày Người đến viếng thăm” (năm chẵn).

 

Lạy Chúa, xin cho con được thấy ánh sáng của Chúa. Đi theo ánh sáng của Chúa. Và chiếu sáng ánh sáng của Chúa.

 

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 3: Ðến với Chúa

 

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

Trước cửa Thiên Ðàng, một tu sĩ gõ cửa và cầu khẩn: "Lạy Chúa, xin cho con được vào". Cánh cửa vẫn đóng kín, nhưng có tiếng hỏi: "Con có mang theo điều gì không?". Vị tu sĩ đáp: "Con mang theo một bị chứa đầy những nhân đức của con". Có tiếng vọng lại: "Ðiều ấy tốt, nhưng Ta không thể mở cửa cho con vào".

 

Vị tu sĩ ra đi, nhưng buổi chiều ông lại đến gõ cửa để xin được vào. Lần này, khi được hỏi có đem theo điều gì không?, ông cho biết có đem theo công nghiệp của việc Suy Niệm và cầu nguyện lâu giờ. Tuy nhiên, ông vẫn chỉ nhận được lời này: "Thật là tốt, nhưng Ta vẫn không thể mở cửa cho con vào".

 

Vị tu sĩ lại ra đi, đến tối, ông trở lại. Lần này, ông chỉ đến với con người của ông mà thôi. Nhưng tức khắc cánh cửa mở rộng để cho ông bước vào.

 

Câu chuyện trên đây nhắc chúng ta về thái độ tinh thần cần phải có để đến với Chúa, đó là đến với Chúa bằng chính thực tế con người mình; bằng tâm tình tin tưởng và cậy trông vào lòng nhân từ của Chúa, hơn là dựa vào sức riêng của mình. Ðó cũng là thái độ chúng ta có thể thấy được nơi anh mù gần thành Yêricô mà Tin Mừng hôm nay ghi lại.

 

Anh mù đến với Chúa bằng chính thực tại đau thương của mình và trông cậy vào tình thương của Chúa: "Lạy con vua Ðavít, xin dủ lòng thương tôi". Ðây là lời cầu xin của một tâm hồn khiêm tốn và tin tưởng, như Chúa Giêsu đã ghi nhận sau khi chữa lành anh: "Lòng tin của anh đã cứu chữa anh". Ðức tin nơi anh mù đã giúp anh vượt qua thử thách, người ta càng ngăn cản anh, anh càng kêu to hơn cho đến khi được Chúa nghe thấy và cho gọi anh lại.

 

Liệu chúng ta có đủ khiêm tốn, kiên trì chờ đợi gặp Chúa không? Chúng ta có ý thức mình cần đến ơn Chúa, cần đến tình yêu và sự tha thứ của Chúa không? Như anh mù, chúng ta hãy thưa: "Lạy Chúa, xin thương xót con". Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta nhìn thấy những kỳ công Chúa đã và đang thực hiện trong lịch sử nhân loại và trong chính đời sống chúng ta, để chúng ta trở thành bài ca tôn vinh Chúa luôn mãi.

 

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 4: Người mù thấy rõ hơn những kẻ sáng mắt

 

Vừa nghe nói đó là Đức Giêsu Nagiarét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!” Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy con vua Đa-vít xin dủ lòng thương tôi!” (Mc. 10, 47-48)

 

Thời Chúa Giêsu y khoa chưa phát triển, những bệnh tật về mắt ở thời đó thật là bi thảm, hy vọng chữa khỏi thực tế coi như không có. Người mù chẳng có cách thế phục hồi và sớm muộn phải lâm vào số phận những người đi ăn xin. Việc chữa khỏi mù thời ấy hầu như mang tính chất một cuộc cải tử hoàn sinh. Người ta coi những người mù và phong hủi là những “đại diện ưu tiên” của nỗi khốn khổ của con người. Trong mọi tập tục tôn giáo, thể thức chữa trị tật nguyền này đóng một vai trò quan trọng. Ở thời Chúa Giêsu, người ta coi đó là dấu chỉ thiên sai. Chẳng thế mà khi người ta hỏi Người có phải thật là Đấng Mêsia không, thì Người đã trưng dẫn việc Người chữa lành những người mù dể làm bằng chứng.

 

Người mù Giêricô phát hiện ra

 

Ai cũng biết rằng những người mù phát triển một sự chú ý mà những người sáng mắt hiếm khi có được. Điều họ cảm nhận dù chỉ nhỏ nhoi, thì họ lại suy nghĩ sâu xa, và nhờ sự chú tâm như thế, họ cảm nhận được bằng trực giác nhiều thực tại mà ta không thấy; phương ngôn ta đã chẳng nói “kẻ có tật, có tài” là gì. Đám đông đi theo Chúa Giêsu mù tịt về sứ mệnh đích thực của Người, đang khi người mù Giêricô, trong mịt mù đêm tối của đôi mắt, anh lại thành công: “Lạy ông Giêsu, con vua Đavít! Xin dủ lòng thương tôi!”

 

Tiếng kêu của anh lạc lõng trong tiếng huyên náo của mọi người. Vậy mà Chúa Giêsu nghe thấy và gọi anh. Giữa đám đông, một người nào đó nhận ra Người và người nào đó ấy lại mù cả đôi mắt. Một người không trông thấy Người lại nói đúng tên Người!!! Từ vực sâu khốn khổ của đời anh, người con trai ông Timê đã thấy rõ được cái bí mật thiên sai, đang khi các môn đệ của Người là những chứng nhân thường ngày nghe Người nói thấy Người làm, thì lại luôn luôn mơ tưởng những địa vị đặc biệt người ta dành cho mình trong cái tôi chẳng biết là vương quốc trần gian nào.

 

Chuyện đẹp mắt trong câu chuyện này không phải là chuyện người mù đã được chữa khỏi, mà là chuyện con người hèn mọn này, con người bé nhỏ này của Nước Trời đã là người, trước cả mọi người, làm chứng về Đức Giêsu là Đấng Kitô của Thiên Chúa. Nếu có bao giờ câu nói “Tin là thấy” có được trọn vẹn ý nghĩa, thì đúng là ở đây Với lòng khiêm tốn, chúng ta hãy cầu xin cho những người chưa có hay đã từ bỏ con đường của Chúa.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 5: Nhạy bén để được dứu độ

 

Trước mỗi dấu chỉ hay sự kiện, mỗi người nhìn dưới góc độ khác nhau. Người thì trầm trồ khen ngợi; người thì chê bai không ngớt, kẻ thì dửng dưng...

 

Sự xuất hiện của Đức Giêsu cũng vậy. Ngài đi đến đâu cũng có nhiều người tin và theo Ngài, nhưng cũng không thiếu kẻ chống đối kịch liệt, lại có những người vô tình đến vô tâm, nên họ không cần quan tâm gì đến sự xuất hiện của Ngài.

 

Hôm nay, bài Tin Mừng trình thuật cho chúng ta thấy phản ứng nhạy bén của anh mù. Anh vừa nghe thấy nói là Đức Giêsu thành Nazarét, anh ta đã cố nhoi lên và không ngừng kêu xin: “Lạy ông Giêsu, con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi”. Lời kêu cầu này của anh mù không chỉ đơn thuần là lời van xin, mà còn là lời tuyên xưng niềm tin mãnh liệt của anh vào một Đức Giêsu đã được loan báo từ bao đời nay, hôm nay anh đã được gặp. Điều này đã được chứng minh bằng lời khen ngợi và sự chữa lành của Đức Giêsu: “Đức tin của anh đã cứu anh”.

 

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay nhắc cho chúng ta về tinh thần sống đạo. Liệu trong cuộc sống, chúng ta có nhạy bén với Lời Chúa, với các dấu chỉ, hay nhiều khi chúng ta dửng dưng với những sứ điệp mà hằng ngày Thiên Chúa không ngừng gửi đến cho chúng ta qua nhiều hình thức???

 

Thực tế, nhiều khi thay vì nhạy bén và thi hành, chúng ta lại ngụy biện và phớt lờ như người không biết. Như vậy, anh mù trong bài Tin Mừng hôm nay chỉ mù về thể lý, còn tâm anh thì sáng, trong khi đó chúng ta thì ngược lại!

 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho tâm hồn chúng con luôn biết nhạy bén với sứ điệp Lời Chúa, để chúng con thi hành và được cứu độ. Amen.

 

Ngọc Biển SSP

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 6: Anh mù sáng mắt sáng tâm hồn

 

(TGM Giuse Nguyễn Năng)

 

Sứ điệp: Khi chữa lành anh mù Bac-ti-mê, không những Chúa Giêsu cho anh được sáng mắt, mà còn cho anh được sáng tâm hồn. Đó là anh tin tưởng hoàn toàn nơi Chúa.

 

Cầu nguyện: Lạy Chúa, mù bao giờ cũng đáng buồn. Thân xác mù thì chỉ thiệt hại cho bản thân mình, còn tâm hồn mù thì thiệt hại cho cả xã hội. Xã hội hôm nay đang nỗ lực mang ánh sáng đến cho người mù. Đó là điều cần thiết vì mang lại hạnh phúc cho người tàn tật. Nhưng điều cần thiết hơn là giúp con người tìm thấy ánh sáng cho cuộc đời. Lạy Chúa, ngày nay xã hội đang nỗ lực thực hiện công việc từ thiện là chữa mắt miễn phí cho những người mù lòa. Đó là việc cụ thể của tình người. Từ đó, xin cho con biết trao tặng ánh sáng Lời Chúa cho các tâm hồn khi chính mình đi trong ánh sáng của Chúa.

 

Lạy Chúa, xin cho con biết học thái độ của anh mù Bac-ti-mê. Đó là biết rằng mình đang mù. Đó là tin rằng: chỉ một mình Chúa mới có thể chữa lành. Xin cho con can đảm vượt qua mọi chướng ngại, sẵn sàng từ bỏ mọi quyến luyến ràng buộc, sẵn sàng từ bỏ mọi tính hư tật xấu, như anh mù can đảm vất bỏ cả áo khoác, để đến với Chúa. Lạy Chúa, xin thương xót con.

 

Lạy Chúa Giêsu, biết bao kẻ gặp Chúa nhưng không biết Chúa. Trong khi đó, anh mù đã nhận ra Chúa là Đấng cứu độ duy nhất và tin tưởng nơi Chúa. Xin cho con biết đến với Chúa mỗi ngày, để đón nhận hồng ân cao cả, là nhận biết Chúa là Đấng Toàn Năng, và con là người mang thân phận yếu hèn cần được cứu giúp. Xin Chúa chữa lành con và giúp con đi theo Chúa tiến về Giêrusalem với nhiều hứa hẹn đau khổ và vinh quang. Lạy Chúa, xin thương xót con. Amen.

 

Ghi nhớ: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 7: Người mù thành Giêricô

 

(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

 

Thánh Marcô thuật lại cho chúng ta việc Đức Giêsu chữa người mù từ mới sinh tại cổng thành Giêricô. Lời kêu van của người mù: “Lạy Con vua Đavít, xin thương xót tôi”, cho thấy dân chúng tin Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, là Đấng khôi phục và giải phóng dân tộc. Nhưng khi Đức Giêsu chữa lành cho người mù được sáng mắt, Ngài muốn hướng người ta về sứ mạng đích thực của Ngài là cứu độ muôn dân. Ngài đến để giải thoát nhân loại khỏi đau khổ và tối tăm của sự dữ. Như thế, tin vào Đức Giêsu, con người mới được ánh sáng, được giải phóng và được tự do làm con Thiên Chúa.

 

Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Nhờ cặp mắt chúng ta có thể nhận biết và tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Chúng ta có thể nhìn thấy mọi người, mọi vật. Có những người mù từ thuở mới sinh, hay bị mù do tai nạn, bệnh tật. Họ giống như ngọn đèn bị tắt, suốt đời phải chịu lần mò trong bóng tối, không còn được hưởng ánh sáng mặt trời và những vẻ đẹp của thế tới sự sáng, họ phải buồn phiền khổ cực biết bao. Vì thế, anh mù thành Giêricô hôm nay đang phải ở trong tình trạng đó, anh đau khổ nên anh đã phải tha thiết xin Chúa giúp đỡ: “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương xót tôi”.

 

Hôm nay, nghe biết Đức Giêsu đi qua, anh mù kêu xin Chúa cứu chữa, người ta cấm anh, anh càng kêu lớn hơn. Anh không xin tiền, xin gạo, xin bánh như mọi khi, nhưng xin được xem thấy. Khi nghe tiếng Đức Giêsu gọi, anh vội vàng vứt áo choàng, nhảy chồm về phía Chúa. Lời kêu xin và thái độ của anh chứng tỏ anh tin tưởng sâu xa mạnh mẽ vào quyền năng của Chúa, chính vì niềm tin này Đức Giêsu đã cứu chữa anh, và khi được sáng mắt anh đã đi theo Chúa.

 

Mắt là cảm hứng cho thi sĩ làm thơ, cho nhạc sĩ viết nên cung nhạc. Mắt là hồn cho thơ, là sóng cho nhạc. Có người nhìn đôi mắt như mùa thu. Có người nhìn đôi mắt như dòng sông. Trong văn chương và nghệ thuật, cảm hứng về mắt bao giờ cũng đẹp. Trái lại khi nói về mắt, Phúc âm lại nói về đôi mắt mù. Mù đôi mắt thân xác đã bất hạnh, còn mù đôi mắt tâm hồn lại là một bất hạnh lớn. Mù đôi mắt tâm hồn là “mù” mà không chấp nhận mình “mù”, vì nghĩ rằng mình vẫn sáng suốt để nhìn ra Chúa. Nhưng đâu ngờ, đàng sau đôi mắt ấy, có thể chỉ là một màn đêm lạnh lẽo. Một tâm hồn trống trải, buồn tênh. Chẳng buồn nghe và thực thi Lời Chúa nữa (Hosanna).

 

Ngày nay trên thế giới số người mù về thể xác có lẽ suy giảm đi đôi chút, nhưng ai dám nói số người mù về tinh thần đã giảm đi? Số người “thấy mà xem chẳng thấy” (kinh cám ơn rước lễ xưa) thì rất nhiều. Người ta biết mọi cái trên thế giới, kể cả cung trăng, một số hành tinh và một vài vì sao, nhưng có cái gần nhất người ta lại không thấy, đó là cái “tôi” của mình, là con người của mình, là bản thân mình.

 

Nói chi đến thực tại siêu nhiên, người ta mù tịt trước những vấn đề thiêng liêng. Anh mù Bartimê đã nhìn ra Đức Giêsu là ai, là Đấng Cứu Thế trong khi đám đông chưa nhìn ra con người thật của Ngài. Họ có con mắt sáng, nhưng lòng họ vẫn còn u tối. Họ cần được Chúa soi sáng cho họ để họ nhìn ra chân lý.

 

Còn chúng ta, những người sáng mắt thì sao? Không những chúng ta phải cảm tạ Chúa, phải quí trọng giữ gìn, bảo vệ tâm hồn nữa. Nếu chúng ta đã lỡ để cho tâm hồn không còn trong sáng vì nhìn xem những hình ảnh xấu... thì chúng ta hãy bắt chước anh Bartimê cương quyết, can đảm và dứt khoát ném áo choàng, đến với Chúa Giêsu trong phép Giải tội để xin Ngài chữa lành, lấy lại ánh sáng tươi đẹp cho đôi mắt.

 

Truyện: Chiếc đèn lồng

 

Có một người mù, một đêm kia đến thăm người bạn thân. Hai người trò chuyện thân mật với nhau cả mấy tiếng đồng hồ. Trời đã khuya, khi chia tay nhau, người bạn sáng mắt tặng anh một chiếc đèn lồng để đi đường cho an toàn. Nhưng người mù nói:

 

- Tôi không cần đèn. Đối với tôi, tối và sáng như nhau.

 

Người bạn trả lời:

 

- Tôi biết anh không cần đèn để soi đường, nhưng nếu anh không cầm một cái đèn thì trời tối người ta có thể đụng phải anh, nguy hiểm lắm, anh nên cầm đi.

 

Nghe hợp lý, anh mù ra về với chiếc đèn lồng trong tay. Đi được một quãng đường, đột nhiên anh bị một người đụng phải anh. Với vẻ tức giận, anh mù nói:

 

- Người nào kỳ vậy, đui hay sao mà không thấy đèn của tôi?

 

Người kia đáp:

 

- Xin lỗi anh, đèn của anh tắt rồi nên tôi không trông thấy. Mong anh thông cảm.

 

Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy anh mù tưởng mình “thấy”, còn người kia không thấy đèn. Nhưng ngược lại, chính anh mù mới không thấy đèn mình tắt. Tác giả câu truyện kết luận: con người tưởng mình thấy nhiều chuyện, nhưng lại quên hay cố ý quên nhiều cái mình không thấy.

 

Nhiều khi cuộc đời chúng ta chỉ là chiếc lồng đèn bị tắt lửa không còn ánh sáng để soi chiếu cho người khác, chúng ta bắt chước anh mù Bartimê mà kêu lên: “Lạy Chúa, xin thương xót con”.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 8: Sáng mắt sáng lòng

 

(Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)

 

A. Hạt giống...

 

Liền sau chuyện Giacôbê và Gioan xin địa vị ưu tiên trong "nước" Chúa Giêsu sắp thành lập, Mc viết tiếp chuyện anh Bartimê như để "sửa lưng" các môn đệ. Bartimê là tấm gương cho tất cả những ai muốn "thấy" Chúa Giêsu thực sự là ai và thực lòng muốn "đi theo" Ngài.

 

- Mặc dù mù, nhưng anh tha thiết "xin cho tôi được thấy", và cuối cùng anh đã thấy. Khi thấy rồi, anh còn "đi theo" Chúa Giêsu lên Giêrusalem (ở đó Ngài sẽ chịu nạn chịu chết và sống lại).

 

- Trước đó, khi được Chúa Giêsu gọi, anh đã từ bỏ ("liệng áo choàng"), thay đổi nếp sống (từ "ngồi ở vệ đường" đến "đứng dậy"), quy hướng về Chúa Giêsu ("nhảy đến với Chúa Giêsu").

 

B.... nẩy mầm.

 

1. "Xin cho con được thấy": Đây cũng là lời cầu xin của các tín hữu trong cộng đoàn của Mác-cô. Họ đang sống trong một thời kỳ bị bách hại, nghi kỵ và khinh miệt. Họ không biết phải sống như thế nào. Họ xin Chúa cho họ thấy con đường mà họ phải sống và đi theo Ngài. Một phần nào đó, tôi cũng không biết phải sống thế nào trong hoàn cảnh hiện tại của tôi. Tôi hãy mượn lời anh Bartimê để cầu xin với Chúa: "Lạy Chúa, xin cho con được thấy".

 

2. "Nhiều người mắng anh… Người ta gọi anh mù và bảo ‘Hãy vững tâm đứng dậy. Ngài gọi anh đó": tha nhân có khi là cản trở, có khi là trợ lực giúp ta đến với Chúa. Xin Chúa giúp con, khi bị tha nhân cản trở, vẫn cương quyết một lòng hướng về Chúa; và khi được tha nhân trợ lực, con càng tiến đến Chúa cách tích cực hơn.

 

3. "Mỗi năm một lần vào mùa xuân, những sức mạnh ẩn mình của trái đất bỗng bừng dậy. Hoa nở, lá cây đâm chồi, cỏ mọc, lúa vươn lên… Sức sống mà Thiên Chúa dấu ẩn bấy lâu trong lòng đất bỗng đột ngột vươn dậy. Vài tháng trước đó, nếu không có kinh nghiệm của những mùa xuân đã qua, thì có ai mà ngờ sẽ thấy được cảnh sống lại huy hoàng của thiên nhiên như vậy. Đối với mùa xuân vĩnh cửu cũng thế. Có nhiều điều rất kỳ diệu tự ta không thấy nhưng Chúa có thể cho ta thấy… Lạy Chúa, xin mở mắt con" (Newman)

 

4. Lời kể của một bà mẹ:

 

Tôi có một đứa con mù từ lúc mới sinh. Khi cháu được 20 tháng, lần đầu tiên tôi đưa cháu đến một siêu thị. Cứ vài bước, nó lại dừng lại để lắng nghe những tiếng động chung quanh: tiếng chân của những người đi bộ, tiếng xe chạy, tiếng chim đang hót, tiếng gió mát từ xa thổi đến…

 

Trên đường về, tôi nhận thấy con tôi vui vẻ rộn rã hơn bao giờ hết. Nụ cười của nó nói với tôi rằng buổi sáng hôm đó là buổi sáng đẹp nhất đối với nó vì nó đã khám phá được những điều mới mẻ kỳ diệu.

 

Riêng tôi, tôi tự hỏi: con tôi và tôi, ai thực sự là kẻ mù loà? (Chờ đợi Chúa)

 

5. "Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy tới gần Chúa Giêsu. Người hỏi: Anh muốn tôi làm gì cho anh? Anh mù đáp: Thưa Thầy, xin cho con nhìn thấy được". (Mc 10,50-51)

 

"Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn"

 

Mắt là cảm hứng cho thi sĩ làm thơ, cho nhạc sĩ viết nên cung nhạc. Mắt là hồn cho thơ, là sóng cho nhạc. Có người nhìn đôi mắt như mùa thu. Có người nhìn đôi mắt như dòng sông. Trong văn chương và nghệ thuật, cảm hứng về mắt bao giờ cũng đẹp. Trái lại khi nói về mắt, Phúc Âm lại nói về đôi mắt mù. Mù đôi mắt thân xác đã bất hạnh, còn mù đôi mắt tâm hồn lại là một bất hạnh lớn. Mù đôi mắt tâm hồn là "mù" mà không chấp nhận mình "mù", vì nghĩ rằng mình vẫn sáng suốt để nhận ra Chúa. Nhưng đâu ngờ, đằng sau đôi mắt ấy, có thể chỉ là một màn đêm lạnh lẽo. Một tâm hồn trống trải, buồn tênh. Chẳng buồn nghe và thực thi lời Chúa nữa.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin mở mắt tâm hồn con vì con cần được khai mở để nhận ra Chúa và bước theo Ngài là Đường, là sự Thật và là sự Sống của con (Hosanna)

 

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 9: Người mù sáng mắt

 

(Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

 

1. Người mù sáng mắt.

 

Trình thuật người hành khất mù lòa được sáng mắt đã được thánh Marcô diễn tả thật rõ ràng và vô cùng sinh động, khiến chúng ta có cảm tưởng như được chứng kiến tận mắt sự kiện xảy ra. Chúa Giêsu, các môn đệ và đoàn lũ dân chúng đang theo Ngài rảo qua đường phố. Bên lề đường, một người hành khất mù lòa đang nhẫn nại nài xin của bố thí từ các khách bộ hành. Người hành khất ngồi đó, và với thời gian, có lẽ anh không còn hy vọng tìm được một phương thế chữa trị sự mù lòa của mình, anh buồn tủi chấp nhận định mệnh và sống bằng của bố thí từ những người giàu lòng bác ái.

 

Với một người sống trong hoàn cảnh đó, thì sự ồn ào xao động chung quanh có lẽ không làm cho anh ta bận tâm. Tuy nhiên, sự ồn ào xao động của buổi sáng hôm ấy có gì khác thường, khiến anh ta không thể không lưu ý. Anh hỏi thăm những người chung quanh, và khi được biết có Đức Giêsu thành Nazareth đang đi qua nơi ấy, anh cảm thấy như bừng lên sức sống và cất tiếng kêu gào át cả tiếng ồn ào của đám đông: “Lạy Giêsu Con vua Đavid, xin thương xót tôi” (Mc 10, 47). Lời kêu gào của anh nhẫn nại, tha thiết, đánh động lòng người, nhưng nhiều người chung quanh đã bảo anh im đi, có lẽ vì họ nghĩ rằng Chúa Giêsu trong sứ mệnh rao giảng của Ngài, Ngài phải thực hiện những việc vĩ đại hơn là quan tâm đến người hành khất mù lòa ngồi bên vệ đường.

 

Nhưng Chúa Giêsu cho gọi anh đến. Người hành khất mù lòa như nhận được một sức sống mãnh liệt, và dường như quên là mình đang mù lòa cần người dẫn dắt, anh vứt áo choàng sang một bên và chạy về phía Chúa Giêsu. Chúa Giêsu hỏi anh: “Anh muốn Tôi làm gì cho anh” (Mc 10, 51). Người mù đáp: “Lạy Thầy xin cho con được thấy” (Mc 10, 51). Chúa Giêsu trả lời: “Hãy đi, lòng tin của anh đã chữa anh” (Mc 10, 52). Người hành khất mù lòa được sáng mắt và đi theo Chúa.

 

2. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại đời sống đức tin của chúng ta.

 

Đã bao lần qua nhiều phương nhiều cách, Chúa muốn gọi chúng ta như đã gọi người hành khất mù loà thuở xưa, nhưng hình như nhiều lần tiếng gọi ấy đã bị tắt lịm vì tiếng ồn ào của xã hội chung quanh. Chúa gọi, nhưng chúng ta đã không quảng đại đáp trả, chính vì thế chúng ta vẫn còn dẫm chân trong đống tội của sự đui mù thiêng liêng.

 

Người hành khất mù loà trong bài Tin Mừng hôm nay, khi vừa được biết cho gọi mình, đã mau mắn vất bỏ cái áo anh đang mang trên người, cái áo rất cần thiết cho một người sống trong vùng đất sa mạc, để chạy nhanh về phía Chúa. Việc anh làm như thế chứng tỏ niềm tin anh đặt vào Chúa rất mạnh. Chính Chúa đã xác nhận điều đó: “Lòng tin của anh đã cứu chữa anh” (Mc 10, 52).

 

Xét như thế thì chúng ta thấy niềm tin có một chỗ đứng rất quan trọng trong cuộc sống.

 

Abraham là một người dân quê ở thành Ur, thuộc xứ Kalđê. Một ngày nọ, Thiên Chúa nói với ông: “Hãy đi khỏi xứ sở ngươi, khỏi quê quán ngươi, khỏi nhà của cha ngươi, đến đất ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ cho ngươi thành một dân lớn …” (St 12, 1-2). Abraham ra đi. Đâu là đất Chúa hứa? Làm sao trở thành tổ phụ một dân lớn với một người vợ không con lại đã quá già? Bao nhiêu câu hỏi đã được đặt ra, nhưng Abraham cứ đi, lao mình vào nơi vô định. Khi đã sinh được một cậu con trai đầu lòng Thiên Chúa lại phán: “Ngươi hãy đem con ngươi, đứa con một ngươi yêu dấu là Isaac, mà đi tới đất Hôria và ở đó, hãy dâng nó làm của lễ thượng hiến cho Ta” (St 22, 2). Abraham, ruột đau như cắt vì quá yêu con, nhưng vẫn thắng lừa dắt con lên núi tế lễ Chúa.

 

Suốt đời ông là một thử thách không ngừng, nhưng ông hoàn toàn tin Chúa, sẵn sàng nghe Chúa mọi nơi, mọi lúc. Bởi thế, ông được Chúa gọi là “cha các kẻ tin” (Rm 4, 11).

 

Mẹ Têrêsa nói: “Biết đón nhận đau khổ trong đức tin, chúng ta sẽ có cơ hội san sẻ nỗi thống khổ của Đức Giêsu và bày tỏ tình yêu với Ngài.”

 

Ước gì trong từng giây phút, chúng ta luôn biết lắng nghe tiếng Chúa và đến với Ngài để được Ngài nâng đỡ trong cuộc sống thiêng liêng của chúng ta.

 

Lạy Chúa,

xin ban cho chúng con ánh sáng đức tin

để nhận ra Chúa hôm nay và hằng ngày,

nơi khuôn mặt khốn khổ

của tất cả những người bị thử thách:

những kẻ đói không chỉ vì thiếu của ăn,

nhưng vì thiếu Lời Chúa;

những kẻ khát, không chỉ vì thiếu nước,

nhưng còn vì thiếu sự bình an, sự thật,

công bằng và tình thương;

những kẻ vô gia cư,

không chỉ tìm kiếm một mái nhà,

nhưng còn tìm trái tim hiểu biết, yêu thương;

những kẻ bệnh hoạn và hấp hối,

không chỉ trong thân xác,

nhưng cả trong tinh thần,

bằng cách thực thi lời hy vọng này:

“Điều các con làm cho

người bé mọn nhất trong anh em

là các con làm cho chính Ta”.

(Mẹ Têrêxa Calcutta).

 

-------------------------------

 

Suy Niệm 10: Xin Cho Tôi Nhìn Thấy Được

 

Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Năm Tuần 8 Thường Niên, năm Chẵn này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin Chúa an bài cho mọi việc ở trần gian luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, để tất cả chúng ta được nhờ, và Hội Thánh được an vui thờ phượng Chúa.

 

An vui thờ phượng Chúa, kiên nhẫn khi bị thử thách, bị dồn ép tư bề, như trong bài đọc một Kinh Sách, trích sách Gióp: Một trong ba người bạn ép ông Gióp phải nhận rằng ông đắc tội. Đối diện với mầu nhiệm đau khổ, bạn bè của ông Gióp chỉ bập bẹ những câu đã thuộc lòng. Gặp người bất hạnh mà nói năng như thế thì thật là quá dở… Chúng tôi bị dồn ép tư bề nhưng không bị đè bẹp, hoang mang, nhưng không tuyệt vọng. Chúng tôi bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi.

 

An vui thờ phượng Chúa, sống giới luật yêu thương của Chúa, như trong bài đọc hai Kinh Sách, trích sách của thánh Ghêgôriô Cả: Luật Chúa là luật đa diện… Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật. Yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy. Tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.

 

An vui thờ phượng Chúa, loan báo ơn cứu độ của Chúa cho muôn dân, như trong bài đọc một Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Phêrô: Anh em là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã kêu gọi anh em. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 99: Hãy vào trước thánh nhan Chúa giữa tiếng hò reo. Hãy tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu, phụng thờ Chúa với niềm hoan hỷ.

 

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Chúa nói: Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống. Trong bài Tin Mừng, anh mù Batimê đáp: Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được. Hãy vào cửa thánh điện cất tiếng tạ ơn, tới khuôn viên đền vàng dâng lời ca ngợi, tạ ơn Chúa và chúc tụng danh Người. Chúng ta sẽ hát bài ca dâng Chúa vì phúc lộc Chúa ban, ta sẽ đàn ca mừng danh Chúa, Đấng cao cả muôn trùng. Chúa đã thương bênh đỡ phù trì, Người kéo ta ra chỗ thảnh thơi, vì yêu thương ta nên Người giải thoát. Chúng ta là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người: Chúng ta bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng. Chúng ta bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi. Chúng ta luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng ta. Anh mù Batimê đã nhìn thấy được và đi theo Đức Giêsu trên con đường Người đi. Con đường Đức Giêsu đi chính là con đường tình yêu, yêu đến hy sinh tính mạng vì người mình yêu, vì thế, chúng ta đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật. Tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Thật vậy, không có gì diễn tả luật Đức Kitô cách thích đáng hơn đức ái; luật ấy, chúng ta giữ trọn được khi chúng ta lấy tình thương mà mang gánh nặng cho anh chị em mình; luật ấy là luật đa diện, vì đức ái có mặt trong mọi hành vi của các nhân đức khác: Đức ái thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tuông, không tham lam, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Ước gì Chúa an bài cho mọi việc ở trần gian luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, để tất cả chúng ta được nhờ, và Hội Thánh được an vui thờ phượng Chúa. Ước gì được như thế!

 

---------------------------------

Nhà cầu nguyện của mọi dân tộc.

Thứ Sáu tuần 8 thường niên 29/05/2026

"Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của mọi dân tộc. Các ngươi hãy tin vào Thiên Chúa".

 

Lời Chúa: Mc 11, 11-26

 

 (Khi nghe dân chúng hoan hô), Chúa Giêsu vào thành Giê-rusalem, lên đền thờ và sau khi đã đưa mắt quan sát mọi sự, và lúc trời đã xế chiều, Người ra về Bêtania cùng với nhóm mười hai. Hôm sau, khi thầy trò rời bỏ Bêtania, Người thấy đói. Và khi thấy ở đàng xa có một cây vả nhiều lá, Người đến xem coi có trái nào không. Nhưng khi lại gần, Người chỉ thấy có lá thôi, vì không phải là mùa có trái. Người phán bảo cây vả rằng: "Cho đến muôn đời sẽ không còn ai ăn trái của mi nữa". Và các môn đệ đã nghe Người nói.

 

Các ngài đến Giêrusalem. Và khi vào đền thờ, Chúa liền đuổi những người mua bán ở đó. Người xô đổ bàn của những người đổi tiền và ghế của những người bán chim câu. Người không để cho ai mang đồ vật đi ngang qua đền thờ. Người dạy bảo họ: "Nào chẳng có lời chép rằng: "Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của mọi dân tộc ư? Thế mà các ngươi đã biến thành hang trộm cướp". Ðiều đó đến tai các trưởng tế và luật sĩ, họ liền tìm cách giết Người, vì họ sợ Người, bởi tất cả dân chúng say mê giáo lý của Người. Chiều đến, Người ra khỏi thành.

 

Sáng hôm sau, khi đi ngang qua, các ngài trông thấy cây vả đã chết khô tận rễ. Phêrô nhớ lại và thưa Chúa rằng: "Lạy Thầy, hãy coi, cây vả Thầy nguyền rủa đã chết khô rồi". Chúa Giêsu đáp: "Hãy tin vào Thiên Chúa. Thầy bảo thật các con, nếu ai bảo núi kia: "Hãy dời đi và gieo mình xuống biển", mà trong lòng không hồ nghi, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì người ấy sẽ được như ý. Vì vậy Thầy bảo các con: Tất cả những gì các con cầu xin, hãy tin rằng các con sẽ được, thì các con sẽ được điều đó. Và khi các con đang đứng cầu nguyện, nếu các con có điều gì bất thuận với ai, hãy tha thứ để Cha các con trên trời cũng tha cho các con. Nếu các con không tha thứ, thì Cha các con trên trời cũng không tha tội cho các con".

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 1: Nhà cầu nguyện của mọi dân tộc

 

(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)

 

Khi thánh sử Máccô viết đoạn Tin Mừng này,

thì có thể Đền thờ ở Giêrusalem đã bị phá hủy bởi quân Rôma.

Ngôi đền thờ nguy nga này được vua Hêrôđê Cả trùng tu và nới rộng,

mất 84 năm mới hoàn thành, để rồi chỉ tồn tại được vỏn vẹn 6 năm.

Đức Giêsu đã lên Đền thờ này nhiều lần, vào các dịp lễ lớn.

Đây là lần cuối Ngài lên đây giữa tiếng tung hô của đám đông.

Khi chiều tà, Ngài và các môn đệ qua đêm ở làng Bêtania gần đó.

Hôm sau, trên đường từ Bêtania trở lại Đền thờ, Ngài thấy đói.

Trông thấy từ xa một cây vả xanh tốt, Ngài lại gần để tìm trái ăn.

Nhưng tiếc thay cây này chỉ có lá thôi, vì chưa đến mùa vả.

Vậy mà Đức Giêsu lại có vẻ nổi giận,

và nói: “Muôn đời sẽ chẳng còn ai ăn trái của mày nữa!”

Buổi sáng hôm sau, Thầy trò lại lên Đền thờ, đi ngang qua cây vả.

Mọi người thấy nó chết rồi, “chết khô tận rễ” (c. 20).

Phêrô cho rằng cây vả chết vì bị Thầy rủa (c. 21).

Chúng ta không hiểu tại sao Đức Giêsu lại rủa cây vả cho nó chết.

Nó có tội tình gì đâu, chỉ tại chưa đến mùa đó thôi!

Thánh sử Máccô đã đặt chuyện Đức Giêsu thanh tẩy Đền thờ

vào ngay giữa câu chuyện đầy kịch tính về cây vả.

Điều đó khiến chúng ta không hiểu chuyện cây vả theo nghĩa đen.

Đúng là cây vả chẳng mắc tội gì khi chưa đến mùa có trái.

Nhưng khi các nhà lãnh đạo Do Thái giáo cố ý từ khước Đức Giêsu,

thì họ mắc tội, như cây vả không trái.

Rốt cuộc cả họ và Đền thờ phải chịu số phận như cây vả héo khô.

Khi vào khu vực Đền thờ, Đức Giêsu giận dữ với chuyện buôn bán,

dù đây là chuyện buôn bán được phép,

ở một khu vực được phép, để phục vụ cho việc thờ tự.

Đức Giêsu đã làm một hành động rất khác thường,

đó là đuổi người buôn bán, lật bàn, xô ghế của họ (c. 15).

Thậm chí Ngài còn cấm người ta mang đồ đi qua Đền thờ (c. 16).

Chắc đã xảy ra một cuộc xô xát nhỏ, trong một thời gian ngắn.

Ngài hành động như người có quyền ở nơi thờ tự này.

Điều đó khiến các nhà lãnh đạo tôn giáo tìm cách giết Đức Giêsu.

Đối với Đức Giêsu, ngôi Đền thờ tráng lệ ở Giêrusalem

không còn là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc nữa (Is 56,7).

Vì giới lãnh đạo, nó đã không đạt mục tiêu Thiên Chúa muốn.

Như cây vả xanh lá, nhưng không trái, nó sẽ bị héo khô.

Ngày nay, dấu tích còn lại của ngôi Đền thờ xưa chỉ là một bức tường,

nơi người Do Thái đến than khóc.

Bài Tin Mừng hôm nay không gây sự thù ghét đối với người Do Thái.

Đúng hơn đây là một nhắc nhở nghiêm chỉnh của Đức Giêsu

đối với mọi đền thờ, nhà thờ của các Kitô hữu.

Phải làm sao để nơi thờ tự không trở thành nơi buôn bán kinh doanh.

Phải làm sao để nhà thờ thực sự là nơi cầu nguyện cho mọi người,

không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, quê mùa hay trí thức.

Phải làm sao để các ngôi thánh đường ngày nay của chúng ta

khỏi rơi vào số phận của Đền thờ Giêrusalem ngày xưa,

xanh lá nhưng không trái, nên bị chết khô.

 

Cầu nguyện:

 

Lạy Chúa Giêsu,

xin thương nhìn đến Hội Thánh

là đàn chiên của Chúa.

Xin ban cho Hội Thánh

sự hiệp nhất và yêu thương,

để làm chứng cho Chúa

giữa một thế giới đầy chia rẽ.

Xin cho Hội Thánh

không ngừng lớn lên như hạt lúa.

Xin đừng để khó khăn làm chúng con chùn bước,

đừng để dễ dãi làm chúng con ngủ quên.

Ước gì Hội Thánh trở nên men

được vùi sâu trong khối bột loài người

để bột được dậy lên và trở nên tấm bánh.

Ước gì Hội Thánh thành cây to bóng rợp

để chim trời muôn phương rủ nhau đến làm tổ.

Xin cho Hội Thánh

trở nên bàn tiệc của mọi dân nước,

nơi mọi người được hưởng niềm vui và tự do.

Cuối cùng xin cho chúng con

biết xây dựng một Hội Thánh tuyệt vời,

nhưng vẫn chấp nhận cỏ lùng trong Hội Thánh.

Ước gì khi thấy Hội Thánh ở trần gian,

nhân loại nhận ra Nước Trời ở gần bên. Amen.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 2: Phục vụ Thiên Chúa

 

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

 

Dân Do thái là dân riêng được Thiên Chúa tuyển chọn. Để phục vụ Thiên Chúa. Để làm chứng về Thiên Chúa. Khi Dân Chúa không phục vụ Thiên Chúa. Họ bị biến chất. Và sẽ bị thay đổi.

 

Cây vả là một minh hoạ. Trong Kinh Thánh, cây vả và cây nho thường được dùng để chỉ Dân Chúa. Cây vả này không phục vụ Thiên Chúa. Không có quả khi Chúa đến tìm. Nên nó bị thay thế. Nó phải chết.

 

Đền thờ là một minh hoạ càng rõ nét hơn. Đền Thờ để phục vụ Thiên Chúa. Nhưng đã biến thành nơi phục vụ lợi nhuận của con người. Đó là hang trộm cướp. Vì con người cướp quyền Thiên Chúa. Vì thế nó phải được thanh tẩy. Đền thờ cũ bị thay thế. Đền thờ mới sẽ là thân thể Chúa Giê-su. Thân thể con người. Của lễ không còn phải là chiên, bò, bồ câu. Nhưng là chính Chúa Giê-su.

 

Con người để phục vụ Thiên Chúa. Những ai không phục vụ Thiên Chúa sẽ mau chóng tàn lụi. Những con người đánh mất căn tính. Như cây vả và đền thờ. Sẽ mau chóng tàn lụi. “Có những người không còn ai nhớ nữa. Họ qua đi như chẳng bao giờ có”. Còn những người kiên trì phục vụ Thiên Chúa. Chuyên chăm giữ vững giao ước, thực thi Lề Luật. Thì dòng dõi tồn tại. Và vinh quang chói sáng: “Các vị sau đây là những người đạo hạnh, công đức của các ngài không chìm vào quên lãng. Dòng dõi các ngài sẽ muôn đời tồn tại. Vinh quang các ngài sẽ chẳng phai mờ” (năm lẻ).

 

Có biến chất là vì những ích kỷ quy về bản thân luôn là một cơn cám dỗ lớn. Vì thế thư Phê-rô khuyên nhủ ta kiên trì phục vụ Thiên Chúa. Bằng tuân giữ điều răn Chúa truyền: Hãy yêu thương. Phục vụ. Đừng phí phạm ơn Chúa. “Ai có nói thì nói lời Thiên Chúa. Ai phục vụ, thì phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban. Như thế, trong mọi việc, chúng ta tôn vinh Thiên Chúa”. Để được như thế phải kiên trì vượt qua mọi cám dỗ thử thách. Như thế, “khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em cũng được vui mừng hoan hỷ” (năm chẵn).

 

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 3: Ðền thờ tâm hồn

 

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

Thiên Chúa là tình yêu, nên nơi Ngài ở không thể có đố kỵ, hận thù, oán ghét. Thiên Chúa là sự thánh thiện, nên nơi Ngài ở không thể có những dâm bôn, chè chén, tục tằn. Thiên Chúa là sự thật, nên nơi Ngài ở không thể có gian manh, lọc lừa, tham lam và trộm cướp.

 

Chính vì không muốn để cho con người biến Ðền Thờ Thiên Chúa thành hang trộm cướp, mà theo thuật trình Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã tẩy uế Ðền Thờ. Ngài đuổi những kẻ buôn bán, lật bàn của những kẻ đổi bạc và xô ghế của những người bán bồ câu. Ngài bảo: "Nhà Ta được gọi là nhà cầu nguyện của các dân tộc, thế mà các ngươi đã biến thành hang trộm cướp".

 

Ngày nay, có những ngôi thánh đường vì hậu quả của chiến tranh, hay vì lý do này lý do khác, đã trở nên hoang tàn, không còn được dùng làm nơi thờ phượng nữa. Cũng có những ngôi thánh đường nguy nga, đồ sộ, nhưng chẳng ai đến dự lễ cầu kinh nữa, mà chỉ để cho du khách đến tham quan như một di tích lịch sử, một kiến trúc nghệ thuật. Bên cạnh đó, tại những miền quê hẻo lánh, có những tín hữu nghèo muốn dựng lên một nhà nguyện đơn sơ để làm nơi đọc kinh cầu nguyện chung với nhau mà không sao làm được. Tuy nhiên, có một điều mà không mấy người tín hữu nghĩ tới, đó là chính tâm hồn của mỗi người là Ðền Thờ của Chúa Ba Ngôi.

 

Thật thế, nhờ Bí tích Rửa tội, tâm hồn người tín hữu đã trở thành Ðền thờ nơi Thiên Chúa ngự trị. Nhưng thay vì ý thức sự hiện diện sống động của Thiên Chúa trong tâm hồn để sống thân tình với Ngài, chúng ta lại đưa vào đó biết bao chuyện gian tham, lọc lừa, trộm cắp, mưu mô, hận thù, ghen ghét. Chúa Giêsu có lý để khiển trách chúng ta, như Ngài đã phẫn nộ với những kẻ buôn bán trong Ðền Thờ ngày xưa: "Nhà Ta là nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi đã biến thành hang trộm cắp".

 

Xin Chúa thanh tẩy tâm hồn chúng ta khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, gian tham, lọc lừa, kiêu căng và ích kỷ, để tâm hồn chúng ta mãi mãi là Ðền Thờ của Thiên Chúa, và nhờ thế, Thiên Chúa sẽ mãi mãi ở với chúng ta từ nay và cho đến muôn đời.

 

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 4: Ít lá, nhiều trái

 

Hôm sau Thầy trò rời khỏi Bê-ta-ni-a, thì Đức Giêsu thấy đói. Trông thấy ở đàng xa có một cây vả tốt lá, Người đến xem có tìm được trái nào không. Nhưng khi lại gần Người không tìm được gì cả, chỉ thấy lá thôi, vì không phải là mùa vả. Người lên tiếng bảo cây vả: “Đời đời không còn ai ăn trái của mày nữa!” Các môn đệ đã nghe Người nói thế.

 

Thầy trò đến Giê-ru-sa-lem. Đức Giêsu vào đền thờ, Người bắt đầu đuổi kẻ đang mua bán trong đền thờ, lật bàn của những người đổi bạc và xô ghế của của những kẻ bán bồ câu. (Mc. 11, 12-15)

 

Bài Phúc âm hôm nay cho chúng ta có cái mà người ta gọi là một dụ ngôn thực sự, một kịch câm mang tính tiên tri. Các ngôn sứ kỳ cựu thời xưa vẫn thường hay làm những cử chỉ kịch cỡm, có vẻ chướng tai gai mắt cốt thu hút chú ý, và khiến người ta phải suy nghĩ nhiều hơn cả ngàn bài giảng thuyết. Chúa Giêsu họa hoằn lắm mới dùng lối này. Thế mà ở đây Người lại tỏ ra chơi trội. Người nguyền rủa một cây vả không có trái! (Lúc đó có phải là mùa vả không? Tác giả không nói đến điều đó. Dầu sao cử chỉ ấy là phi lý và khác thường. Người ta vẫn dựa vào câu chuyện tẩy uế đền thờ, tiếp theo ngay sau lời nguyền rủa kỳ lạ này để soi sáng và cho cử chỉ kia một ý nghĩa. Như ta biết, nơi Chúa Giêsu, những cơn nổi giận bừng bừng như thế thường ít xảy ra trong cuộc đời của Người, thế mà trong chương mười một này của thánh Maccô, chúng ta lại có đến những hai lần liên tiếp, hẳn không phải là không có lý do.

 

Phải tôn trọng Đền thờ Chúa và đừng làm hư những kế hoạch của Cha

 

Xét cho cùng cả hai hành động của Chúa, xua đuổi con buôn khỏi đền thờ cũng như phẫn nộ với cây vả không trái đều có vẻ phi lý phần nào. Bởi lẽ thời ấy người ta công nhận thói quen buôn bán ở trong đền thờ. Những người đổi tiền ở đó một cách nào đó là cần thiết, bởi vì đồng tiền chính thức mang hình và ký hiệu hoàng đế Rôma không được dùng trong phượng tự, và buộc phải đổi sang một đồng tiền không dơ. Còn bọn bán chiên bò, chim bồ câu ở đó để bán những lễ vật cần cho những khách hành hương đến dâng hi lễ.Thái độ giận dữ của Chúa có một tầm mức lớn hơn người ta tưởng, lón hơn nỗi bực tức do cây vả không trái, cũng như do con buôn đền thờ gây nên. Thực ra việc dùng vũ lực và giận dữ của Chúa ở ơây là một hành động tiên tri. Chúa muốn tỏ cho biết hy lễ trong đền thờ của giao ưỡc cũ đã hết thời, phải nhường chỗ cho một đền thờ khác, nơi sẽ lập giao ước mới. Chính ở nơi bản thân Người mà từ nay Thiên Chúa tỏ ra sự hiện diện ở giữa loài người. Chính Đền Thờ mới, Thân Thể của Đức Kitô và nhà của Cha là nơi mà chúng ta cần tránh buôn bán, và tránh làm dơ bẩn.

 

Ngoài ra cử chỉ giận dữ của Chúa còn có một ý nghĩa đặc biệt khác; ngụ ý rằng trước mặt Thiên Chúa thực là đáng ghê tởm tất cả những gì làm biến chất cứu cánh của người và vật, làm hư hoại kế hoạch của Chúa. Ai lại đã không có lần lợi dụng lòng tốt ngây ngô của một người để khai thác họ? Ai đó lại đã không ham hố thu tích những của cải mà lẽ ra phải được chia sẻ? Những người tham lam như thế cũng đáng phải nhận những làn roi của Chúa!

 

Như thế chúng ta phải tỏ lòng kính trọng biết bao đối với thân thể hy tế của giao ước mới (Thánh Thể), hy tế thay thế cho lễ vật của đền thờ ngày xưa! Chúng ta phải trân trọng biết bao thân thể mầu nhiệm mà Đức Kitô là đầu và ngày nay là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa loài người (Giáo hội)! Đó chính là đền thờ Thiên Chúa đã thiết lập, để nơi đây con người yêu mến nhau, tôn trọng nhau và chia sẻ cho nhau những của cải vật chất, tinh thần và thiêng liêng vậy.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 5: Trả lại ý nghĩa Đền thờ

 

Khi nói đến Thiên Chúa, người ta nghĩ ngay đến bản chất của Ngài, đó là: Tình Yêu. Toàn bộ lịch sử cứu độ muốn nói lên phẩm tính đó nơi Thiên Chúa. Đến thời Đức Giêsu, từ lời nói đến hành động cũng đều nhằm diễn tả tính chân thực này.

 

Tuy nhiên, hôm nay, Tin Mừng thuật lại việc Đức Giêsu lấy thừng làm roi, đánh đuổi những người buôn bán trong đền thờ và xô đổ bàn ghế của họ. Liệu cử chỉ này có bị mâu thuẫn với chính Đức Giêsu và lời dạy của Ngài trước đó không? Chúng ta cần trả lời ngay rằng: Không! Tại sao vậy?

 

Nếu Đức Giêsu làm lơ, thì họ sẽ hiểu sai mục đích của đền thờ và biến nó thành nơi buôn bán, gian tham, không đúng mục đích. Khi có buôn bán là sẽ có nhiều nguy cơ lọc lừa, trộm cướp...

 

Ngày nay cũng vậy, trong đời sống đức tin, nhiều người chỉ có vỏ mà không có chất lượng. Tức là chỉ có con người mà những phẩm tính tốt đẹp thì không có. Chỉ mang danh là Kitô hữu, còn làm chứng thì không, nên nhiều khi trong tâm hồn đủ thứ xấu xa tội lỗi!

 

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay nhắc cho chúng ta rằng: ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, mỗi người là một đền thờ của Chúa Ba Ngôi. Đền thờ ấy phải là đền thờ sống động nhờ trong trắng, không gian tham, lọc lừa, trộm cắp, mưu mô, hận thù, ghen ghét.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa thanh tẩy linh hồn chúng con, để tấm lòng chúng con được sạch tội và trở nên trong trắng, ngõ hầu xứng đáng đón Chúa ngự vào trong tâm hồn mỗi ngày. Amen.

 

Ngọc Biển SSP

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 6: Nhà cầu nguyện

 

(TGM Giuse Nguyễn Năng)

 

Sứ điệp: Tâm hồn ta là đền thờ Thiên Chúa ngự, nên phải giữ gìn thật trong sáng, không bị hoen ố bởi dục vọng xấu xa.

 

Cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa vào đền thờ Giêrusalem và chứng kiến cảnh hỗn độn bán buôn ồn ào. Chúa đã không để nhà Chúa biến thành sào huyệt trộm cướp. Chúa quả quyết: “Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện”. Chúa đuổi tất cả những kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ. Chúa muốn những gì dành cho Thiên Chúa phải xứng đáng với Thiên Chúa.

 

Lạy Chúa, nhà thờ là trung tâm của cộng đồng giáo xứ. Mỗi khi đến nhà Chúa con mong được tận hưởng bầu khí trang nghiêm thánh thiện. Con quyết tâm góp phần mình, cả vật chất và tinh thần, để nhà Chúa luôn trở nên xứng đáng là nơi nguyện cầu, là điểm hẹn cho mọi người đến gặp gỡ Chúa. Ước gì từ nơi nhà thờ Giáo xứ, đời sống tâm linh của con được nuôi dưỡng và thăng tiến từng ngày.

 

Hôm nay, Chúa đến với tâm hồn con như một ngôi đền thánh đầy vẻ tôn nghiêm và thánh thiện. Đó là điều Chúa mong muốn và chờ đợi. Xin ban cho con lòng mến yêu tôn thờ để con biết dành phần tốt nhất trong cõi lòng dâng lên Chúa. Chúa biết con hơn chính bản thân con. Xin đừng để con tính toán cầu lợi và mặc cả với Chúa trong những lời cầu xin.

 

Lạy Chúa, mỗi ngày giờ, từng phút giây, đang có biết bao tâm hồn vươn cao hướng về Chúa. Con xin hợp lời ca tụng Chúa. Nhưng cũng có bao kẻ thờ ơ, lãnh đạm hoặc bôi bác, lợi dụng với lời cầu xin. Xin Chúa thanh luyện để con giữ được đền thánh phúc vinh trong tâm hồn. Con xin dâng tâm hồn con trong tay Chúa. Xin Chúa thánh hóa con. Amen.

 

Ghi nhớ: “Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của mọi dân tộc. Các ngươi hãy tin vào Thiên Chúa”.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 7: Dụ ngôn cây vả chết khô

 

(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

 

Bài Tin mừng hôm nay, thánh Marcô ghi lại cách tóm tắt nhiều sự kiện và lời dạy của Đức Giêsu: Ngài nguyền rủa cây vả không sinh trái, xua đuổi quân buôn bán ra khỏi đền thờ giáo huấn về sức mạnh của niềm tin, giá trị của lời cầu nguyện và lời mời gọi sống tha thứ để được tha thứ. Chúng ta chú trọng tới hai vấn đề là dụ ngôn cây vả và việc thanh tẩy đền thờ.

 

Bài Tin mừng kể lại hai câu chuyện có liên hệ với nhau và giải thích cho nhau. Đó là câu chuyện cây vả bị chúc dữ chết khô và câu chuyện xua đuổi những người buôn bán ở Đền thờ./Tại sao Đức Giêsu lại chúc dữ cây vả làm nó chết khô như vậy? Một lời chúc dữ thật kỳ lạ. Đối với Đức Giêsu, nếu chỉ nhằm thỏa mãn cơn đói, thì việc làm trên xem ra là cách phản ứng của một kẻ mất trí bất bình thường: nổi giận với một cây vào không thể sinh hoa trái./Đức Giêsu muốn làm một việc bí ẩn, được giải thích bởi câu chuyện xua đuổi những người buôn bán ở đền thờ liền sau đó. Nghĩa là Đức Giêsu không nhắm tới cây vả, nhưng là Đền thờ. Bởi vì Đền thờ đã không đáp lại sự trông chờ của Thiên Chúa, nó biến thành cái chợ, thành hang trộm cướp, nó khơi dậy sự phẫn nộ của Thiên Chúa và nó sẽ bị tàn phá. Như vậy, cây vả bị chúc dữ và chết khô là hình ảnh của đền thờ Giêrusalem sẽ bị tàn phá bình địa sau này (Lm. Phạm Văn Phượng, OP, Chia sẻ TM hằng ngày, tập 1, tr 81).

 

Để hiểu rõ hơn, cây vả và đền thờ là hai biểu tượng có liên hệ mật thiết với nhau. Chúng nói lên thực trạng đạo đức lúc bấy giờ của một dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn.

 

Dân Do thái là dân được Thiên Chúa tuyển chọn để đón chờ Lời hứa Cứu Thế, nhưng sau bao nhiêu phép lạ Chúa làm, bao nhiêu những hồng ân Chúa trao, tới lúc này lòng dạ của họ vẫn chẳng có gì thay đổi. Họ chẳng khác gì một cây vả bên ngoài rất xanh tươi, nhưng bên trong nó không còn khả năng sinh hoa kết trái. Cây vả không hoàn thành được nhiệm vụ của nó. Nó đáng nhận hình phạt bị chết khô./Đền thờ cũng vậy. Chức năng của Đền thờ là giúp người ta được gần gũi Chúa qua lời cầu nguyện, qua việc tạ ơn, qua việc tiếp xúc với Chúa. Nhưng Đền thờ đã không còn giữ được chức năng đó nữa. Đức Giêsu đã thanh tẩy Đền thờ với ước mong để trả lại cho Đền thờ những chức năng phải có. Nhưng rồi công việc của Chúa cũng chẳng thành công. Và cuối cùng Đền thờ đã bị tàn phá vào năm 70. Các nhà chú giải Kinh thánh coi đây là những hình ảnh Chúa muốn dùng để “thức tỉnh” chúng ta. Người Kitô hữu chúng ta cũng vậy, nếu không cộng tác với ơn Chúa, để làm trổ sinh những hoa trái của đức tin và nếu cứ sống mãi trong cảnh tội lỗi như Đền thờ bị tục hóa, thì rồi cũng sẽ phải chung số phận như vậy.

 

Chính vì không muốn để con người biến Đền thờ Thiên Chúa thành hang trộm cướp mà Đức Giêsu đã tẩy uế Đền thờ. Ngài đuổi những kẻ buôn bán, lật bàn của những kẻ đổi tiền và xô ghế của những người bán bồ câu. Ngài bảo: “Nhà Ta được gọi là nhà cầu nguyện của các dân tộc, thế mà các ngươi đã biến thành hang trộm cướp”. Thật thế, nhờ Bí tích Rửa tội, tâm hồn người tín hữu đã trở thành Đền thờ nơi Thiên Chúa ngự trị. Nhưng thay vì ý thức sự hiện diện sống động của Thiên Chúa trong tâm hồn để sống thân tình với Ngài, chúng ta lại đưa vào đó biết bao chuyện gian tham, lừa lọc, trộm cắp, mưu mô, hận thù, ghen ghét. Đức Giêsu có lý để khiển trách chúng ta, như Ngài đã phẫn nộ với những kẻ buôn bán trong Đền thờ ngày xưa.

 

Qua bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu cũng lưu ý chúng ta phải tôn trọng Nhà thờ là nơi tôn nghiêm, quy tụ các tín hữu, cử hành Phụng vụ Lời chúa và phụng vụ Thánh Thể, mọi người có chung một niềm tin, một lời cầu tôn vinh Thiên Chúa. Nhà thờ chính là Hội thánh thu nhỏ, không phải là ngôi nhà kín luỹ cao, trái lại phải mở rộng để đón tiếp mọi người, không phân biệt màu da sắc tộc, ngôn ngữ, tốt xấu, miễn là có thành tâm đến để gặp gỡ Thiên Chúa.

 

Truyện: Tâm sự của ông Mahatma Gandhi

 

Mahatma Gandhi, vị thánh của dân tộc Ấn độ, trong nhật ký tự thuật của mình, ông kể lại rằng: khi còn theo học ở Nam Phi, ông rất thích và say mê đọc Kinh thánh, đặc biệt là “Bài giảng trên núi”.

 

Ông xác tín rằng Kitô giáo chính là đạo để giải đáp cho hệ thống đẳng cấp đã gây thương tổn cho đất nước Ấn độ của ông từ bao thế kỷ. Ông thực sự nuôi ý định trở thành Kitô hữu.

 

Ngày kia, ông vào Nhà thờ để dự lễ và nghe giảng. Người ta chặn ông lại ở cửa Nhà thờ và nhẹ nhàng cho ông hay rằng: nếu ông muốn dự lễ, xin mời ông đến một Nhà thờ dành riêng cho người da đen.

 

Ông đã ra đi và không bao giờ trở lại Nhà thờ nữa.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 8: Cây vả bị chúc dữ

 

(Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)

 

Miền Palestin hay trồng cây vả, cây nho, cây Oliva. Xin đừng lầm cây vả của Do Thái với cây sung của chúng ta. Cây vả của Do Thái: thấp, quả cây ăn ngon bổ, dùng làm bánh Gatô.

 

Hôm nay, Chúa Giêsu dùng hình ảnh cây vả bị chúc dữ, để lại cho chúng ta bài học riêng. Chúng ta biết là Chúa Giêsu đang lên Giêrusalem dự lễ Vượt qua, người Biệt phái càng tranh luận gay gắt với Chúa. Trước những chống đối cứng lòng ấy, Chúa Giêsu dùng một hình ảnh bóng bẩy. Số là hôm ấy lên Giêrusalem, Chúa thấy đói và đảo mắt nhìn lên cây vả không có trái, mà chỉ thấy cành lá xanh um (c.12). Thánh Máccô nói là chưa phải mùa quả vả (c.13). Thật ra, Chúa lên Giêrusalem vào đầu tháng 4 là lễ Vượt qua. Vào tháng tư, có thể nhìn thấy ít ra những quả nho nhỏ rồi, vào tháng hè quả chín. Nhưng Chúa Giêsu đã không tìm được một quả nào.

 

Cây vả là tượng trưng cho dân Do Thái được bàn tay yêu thương của Thiên Chúa quan phòng vun trồng trong đất hứa. Dân đó có sứ mệnh đón nhận Đấng Cứu Thế. Cây vả đó được săn sóc kỹ lưỡng bởi Maisen, các Quan án, Tiên tri... cây vả được chăm sóc bón tỉa bằng giới luật, bằng ơn huệ. Thân cây sần sùi tươi tốt sống qua bao nhiên biến cố của Ai Cập, nô lệ Babylon. Trở về đất hứa, họ cũng đã xây Đền thánh cử hành đại lễ, cũng có những lề luật về Sabát, ăn chay, cầu nguyện, việc lành. Nhưng tất cả trở thành thứ màn trình diễn mà trong lòng không nhắm hướng về Giavê, và cuối cùng Đấng Cứu Thế đến qua dân tộc Israel thì họ từ chối.

 

Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh cây vả được ươm trồng, đáng lẽ phải sinh hoa trái cho nhà nông, thì đã không được gì lại choán đất. Chúa đã nguyền rủa chúc dữ “Từ nay chẳng còn ai ăn trái cây mi” (c.14). Đấy là cây “trái cấm.” Kinh Thánh mô tả “Sáng sớm hôm sau cây vả đã chết khô đến tận gốc” (c.20). Các môn đệ ngạc nhiên, một phép lạ xảy ra dĩ nhiên làm ngạc nhiên. Nhưng Chúa Giêsu còn làm các ông ngạc nhiên hơn nữa, vì Ngài ban quyền năng cao hơn phép lạ đó. Đó là quyền năng của đức tin và của lời cầu nguyện. Phép lạ làm những chuyện hữu hình như “Cây cối héo tàn, chuyển núi dời non...” Nhưng lời cầu nguyện với đức tin sẽ làm Thiên Chúa “xúc động” mà làm như ý kẻ xin: “Tất cả những gì các ngươi cầu xin với lòng tin, thì sẽ được” (c.24).

 

Điều này không có nghĩa là khi chúng ta cầu nguyện có thể thay đổi chương trình của Thiên Chúa. Nhưng từ đời đời, Thiên Chúa đã biết đến lời cầu nguyện của chúng ta như thế và Ngài đã phác họa chi tiết chương trình cứu rỗi của Ngài. Cho nên đức tin và cầu nguyện cần hơn cả phép lạ vậy. Nếu không có đức tin và cầu nguyện thực sự thì giống như một thân cây xanh um và rồi chết khô héo úa ngày Chúa phán xét. Ngược lại, sống trong đức tin và cầu nguyện sẽ sinh thêm nhiều hoa trái, và bên ngoài thân cây có sù sì nhưng nhựa sống thật sự và âm thầm vì “Ai ở trong Ta sẽ sinh nhiều hoa trái” (Ga 15,5)

 

Cây chết khô là một lời cảnh báo nghiêm trọng là đời sống tín hữu phải luôn có hoa trái khi Chúa tới. Điều mà Chúa đòi không phải là hoa lá cành hay chỉ là những tư tưởng tốt, chưa đủ, mà là những việc tốt, những việc lành phúc đức, chứ không phải chỉ lời nói suông. Cho nên một người, một tâm hồn nhận nhiều ơn thánh mà không sinh hoa trái thiêng liêng thì càng bị án nặng nề. Phép lạ này chứng tỏ Chúa uy quyền toàn năng. Nhưng cũng nói lên giá trị của kinh nghiệm bằng lòng tin về phía con người chúng ta.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 9: Sống đạo thực sự trong Chúa

 

(Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

 

Bài Tin Mừng hôm nay hơi dài và đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau:

 

A. Trước hết, là việc Chúa quở trách cây vả không trái và việc Ngài đuổi con buôn ra khỏi Đền thờ. Đây là hai hình ảnh có tính biểu tượng rất cao.

 

Hai biểu tượng này có liên mật thiết với nhau. Chúng nói lên thực trạng đạo đức lúc bấy giờ của một dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn.

 

Dân Do Thái là dân được Chúa tuyện chọn để đón chờ Lời hứa Cứu Thế, nhưng sau bao nhiêu phép lạ Chúa làm, bao nhiêu những hồng ân Chúa trao, tới lúc này lòng dạ của họ vẫn chẳng có gì thay đổi. Họ chẳng khác gì một cây vả bên ngoài rất xanh tươi nhưng bên trong nó không còn khả năng sinh hoa kết trái. Cây vả không hoàn thành được nhiệm vụ của nó. Nó đáng nhận hình phạt bị chết khô.

 

Đền thờ cũng vậy. Chức năng của Đền thờ là giúp người ta được gần gũi Chúa qua lời cầu nguyện, qua việc tạ ơn, qua việc tiếp xúc với Chúa. Nhưng Đền thờ đã không còn giữ được chức năng đó nữa. Chúa Giêsu đã thanh tẩy Đền thờ với ước mong để trả lại cho Đền thờ những chức năng phải có. Nhưng rồi công việc của Chúa cũng chẳng thành công. Và cuối cùng Đền thờ đã bị tàn phá vào năm 70.

 

Các nhà chú giải Kinh Thánh coi đây là những hình ảnh Chúa muốn dùng để thức tỉnh chúng ta. Người Kitô hữu chúng ta cũng vậy, nếu không biết cộng tác với ơn Chúa, để làm trổ sinh những hoa trái của đức tin và nếu cứ sống mãi trong cảnh tội lỗi như Đền thờ bị tục hóa, thì rồi cũng sẽ phải chung số phận như vậy.

 

Trong một xưởng lắp ráp tàu thuyền ở Belford xứ Irlande, người ta chuẩn bị hạ thủy một con tàu xuyên đại dương với cái tên gọi thật uy nghiêm: TITANIC.

 

Người ta tin rằng chiếc tàu vĩ đại này sẽ ngạo nghễ vượt sóng và coi thường những bão tố của biển cả.

 

Rất nhiều thợ đang bận rộn vào việc hoàn tất con tàu to lớn này. Trong số những thợ này có khá nhiều kẻ nghịch đạo. Họ đã viết trên vỏ tàu đủ loại lời lộng ngôn và đùa nghịch bất kính, phạm thượng, nhất là để tỏ vẻ khinh miệt các bạn bè có tín ngưỡng của họ.

 

Trong số những câu họ đã viết, có câu: “Chính ông Kitô cũng không thể làm cho nó chìm được”. Còn rất nhiều câu khác tương tự như thế nữa, mặc dù bị nước sơn phủ lên, nhưng chẳng bao lâu lại lộ ra. Có một người Công giáo làm việc tại đây. Người này đã tận mắt thấy những câu viết phạm thượng ấy, nên anh đã viết cho cha mẹ của anh ở Dublin những dòng chữ này:

 

“Con nghĩ rằng chiếc tàu sẽ không thể nào đến Mỹ Châu được vì những câu nói lộng ngôn tràn đầy ở hai bên hông tàu”.

 

Cha mẹ anh cho đến bây giờ vẫn còn giữ lá thư này như kỷ niệm cuối cùng của con họ. Linh tính đau buồn của anh đã trở thành hiện thực. Chiếc tàu Titanic đã không đến được Mỹ quốc. Trong đêm tối, nó đụng phải đá ngầm và đã chìm xuống đáy biển cùng với hầu hết số hành khách đi trên chiếc tàu ấy.

 

B. Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em hãy tin vào Thiên Chúa.” (Mc 11, 22)

 

Bà mẹ kia có đứa con gái. Nhưng con bà đâm hư hỏng và đi làm chiêu đãi ở những hộp đêm. Lúc đầu bà buồn phiền và ngồi than thân trách phận, cho mình là vô phúc vì có một đứa con như thế. Nhưng rồi bà suy nghĩ lại, bà tự nhủ:

 

- Nếu thực sự tin Chúa, tin vào tình yêu ngài đối với mỗi con người, tin vào lòng quan phòng của ngài, thì tại sao ta lại không lên tiếng ca tụng Ngài dù trong bất cứ mọi hoàn cảnh nào. Vì nếu Ngài muốn thì cái gì cũng có thể cả.

 

Thế rồi từ đó trở đi, bà không còn buồn phiền mỗi khi nghĩ đến người con nữa, nhưng luôn lên tiếng ca khen Chúa. Lần kia, gặp người bạn tới chơi, bà nói với ông về đứa con gái của bà…

 

Ông này dò hỏi và biết cô con gái của bạn mình làm ở đâu. Biết được chỗ làm việc của người con gái, một lần kia ông đích thân đến quán snack bar nơi cô làm việc.

 

Đúng như dự tính, ông đã gặp người con gái ấy trong quán bar này. Lúc đầu khi gặp cô, xem ra cô hơi ngạc nhiên một chút. Nhưng rồi cố lấy lại bình tĩnh và hành xử như là không có gì xảy ra. Sau khi đã kêu hai ly nước, ông mời cô ngồi xuống bên cạnh mình. Ông nhìn cô bằng một cặp mắt cảm thông. Thay vì cô được nghe những lời xàm xỡ như bao lần, cô đã nghe được từ người đàn ông này những lời khác:

 

- Đức Kitô yêu cô lắm!

 

Nói xong, ông nhìn cô với một cặp mắt trìu mến rồi thanh toán những thứ cần thanh toán và lẳng lặng ra về.

 

Không bao lâu sau, người ta thấy người con gái đó bên cạnh mẹ mình tại nhà thờ với tất cả sự thanh thản của một tâm hồn đã được đổi mới.

 

Vâng! Một bông hồng có thể mọc lên từ một đống phân!

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 10: Nhà Cầu Nguyện Của Mọi Dân Tộc

 

Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Sáu Tuần 8 Thường Niên, năm Chẵn này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin Chúa an bài cho mọi việc ở trần gian luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, để tất cả chúng ta được nhờ, và Hội Thánh được an vui thờ phượng Chúa.

 

An vui thờ phượng Chúa, tìm kiếm sự khôn ngoan và sức mạnh nơi Chúa, như trong bài đọc một Kinh Sách, trích sách Gióp: Thiên nhiên cũng như lịch sử đều tố cáo những lời nói vô hiệu quả. Bằng giọng mỉa mai chua chát, ông Gióp cho thấy nói suông là chuyện quá dễ, đối với người đang đau khổ, thì, không gì vô hiệu và dễ làm nản chí cho bằng lời nói suông… Nơi Thiên Chúa có cả khôn ngoan lẫn sức mạnh; mưu lược cũng như tài thông hiểu đều thuộc về Người. Người phá huỷ, chẳng ai xây lại được. Người giam cầm, không ai cứu thoát nổi. Người quyết định rồi, ai làm Người đổi ý, điều lòng Người muốn, ắt Người sẽ thi hành.

 

An vui thờ phượng Chúa, bước đi dưới ánh sáng Lời Chúa, như trong bài đọc hai Kinh Sách, trích sách của thánh Ghêgôriô Cả: Vị Chứng Nhân ở trong tâm hồn… Con ghét mọi đường nẻo gian tà. Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi. Lạy Chúa, bỏ Chúa thì chúng con biết đến với ai? Chúa mới có những lời đem lại sự sống đời đời.

 

An vui thờ phượng Chúa, kêu cầu ơn cứu độ của Chúa cho tất cả mọi người, như trong bài đọc một Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Phêrô: Anh em là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 95: Chúa ngự đến xét xử trần gian. Hãy nói với chư dân: Chúa là Vua hiển trị, Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu chẳng chuyển lay, Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng.

 

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Chúa nói: Chính Thầy đã chọn anh em từ giữa thế gian, để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của mọi dân tộc. Anh em hãy tin vào Thiên Chúa. Hỡi cây cối rừng xanh, hãy reo mừng trước tôn nhan Chúa, vì Người ngự đến, Người ngự đến xét xử trần gian. Người xét xử địa cầu theo đường công chính, xét xử muôn dân theo chân lý của Người. Chúa đã thương bênh đỡ phù trì, Người kéo ta ra chỗ thảnh thơi, vì yêu thương ta nên Người giải thoát. Chúng ta sẽ hát bài ca dâng Chúa vì phúc lộc Chúa ban, ta sẽ đàn ca mừng danh Chúa, Đấng cao cả muôn trùng. Chúng ta là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa. Ai có nói, thì nói lời Thiên Chúa; ai phục vụ, thì phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban. Nơi Thiên Chúa có cả khôn ngoan lẫn sức mạnh; mưu lược cũng như tài thông hiểu đều thuộc về Người. Người phá huỷ, chẳng ai xây lại được. Người giam cầm, không ai cứu thoát nổi. Người quyết định rồi, ai làm Người đổi ý, điều lòng Người muốn, ắt Người sẽ thi hành. Ai kiên trì làm điều thiện, sẽ bị người đời cười nhạo, bởi vì, những kẻ khôn ngoan theo kiểu thế gian cho rằng giữ lòng thanh sạch là điên dại. Người công chính đặt tất cả niềm hy vọng vào Chúa: khi bị lăng mạ cười chê, họ chỉ biết cầu xin Chúa: họ càng xa lòng ái mộ và tiếng khen của người đời bao nhiêu, thì, họ càng gần Thiên Chúa bấy nhiêu; khi bị thúc ép tư bề, họ tìm sức mạnh trong cầu nguyện, và sở dĩ bên trong họ được Thiên Chúa nhậm lời, là vì bên ngoài họ không được người đời ngợi khen. Ơn cứu độ là ơn huệ nhưng không của Thiên Chúa, nhưng, chúng ta phải cộng tác bằng cách đặt hết niềm tin tưởng nơi Chúa và kêu cầu ơn cứu độ của Chúa cho chính mình và cho người khác. Hội Thánh là Bí Tích Cứu Độ Phổ Quát, là Nhà Cầu Nguyện của muôn dân: Chúa đã chọn ta từ giữa thế gian, hãy ra đi, và sinh nhiều hoa trái. Ước gì Chúa an bài cho mọi việc ở trần gian luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, để tất cả chúng ta được nhờ, và Hội Thánh được an vui thờ phượng Chúa. Ước gì được như thế!

 

---------------------------------

Do quyền phép nào?

Thứ Bảy tuần 8 thường niên 30/05/2026

"Ông lấy quyền nào làm sự đó?" 

 

Lời Chúa: Mc. 11, 27-33

 

Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ lại đến Giêrusalem. Và trong khi Chúa Giêsu đi lại trong đền thờ, thì những trưởng tế, luật sĩ và kỳ lão đến hỏi Người: "Ông lấy quyền nào mà làm sự đó? Và ai đã ban quyền cho ông để làm như vậy?"

 

Chúa Giêsu đáp: "Tôi sẽ hỏi các ông một câu thôi, hãy trả lời cho Tôi thì Tôi sẽ bảo cho các ông hay Tôi lấy quyền nào mà làm việc đó: Phép rửa của Gioan bởi trời hay bởi người ta? Hãy trả lời Tôi đi". Họ liền bàn riêng với nhau rằng: "Nếu chúng ta trả lời "Bởi trời", ông ấy sẽ nói: "Vậy sao các ông không tin Người?" Nhưng nếu chúng ta nói "Bởi người ta", chúng ta sợ dân chúng, vì mọi người đều coi Gioan thật là một tiên tri.

 

Vậy họ thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Chúng tôi không biết". Và Chúa Giêsu bảo họ: "Vậy thì tôi cũng không nói cho các ông biết bởi quyền phép nào Tôi làm sự đó".

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 1: Chúng tôi không biết

 

(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)

 

 “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy

hay ai đã cho ông quyền làm các điều ấy?” (c. 28).

Ba giới chức cao nhất của Do Thái giáo

đã đặt câu hỏi như vậy với Đức Giêsu khi Ngài đi đi lại lại

trong Đền Thờ Giêrusalem vào những ngày cuối đời.

Ông lấy quyền nào mà dám đuổi những kẻ buôn bán ở đây?

Ông lấy quyền nào mà lật bàn của những người đổi tiền,

và xô đổ ghế của những người bán bồ câu? (c. 15).

Tất cả những người làm chuyện buôn bán

đều nhằm phục vụ cho nhu cầu tế tự của Đền Thờ.

Nếu không cho buôn bán ở đây thì người dân lấy gì mà dâng cúng?

Có phải ông định phá hoại các sinh hoạt ở Đền Thờ không?

Tại sao ông dám nói nơi Thánh này đã trở nên hang ổ của bọn cướp?

Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục muốn giết Đức Giêsu (c. 18).

Họ nghiêm chỉnh đến gặp Ngài và đòi Ngài phải trả lời câu hỏi của họ.

Họ muốn biết người nào đã cho Đức Giêsu quyền đó.

Đức Giêsu dùng phương pháp của các rabbi,

trả lời một câu hỏi bằng cách đặt ngược một câu hỏi khác.

“Tôi chỉ xin hỏi các ông một điều thôi.

Các ông trả lời đi, rồi tôi sẽ nói cho các ông biết

tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy” (c. 29).

Ngài đặt cho họ câu hỏi về nguồn gốc của phép rửa bởi Gioan:

“Phép rửa của ông Gioan là do Thiên Chúa hay do loài người?” (c. 30).

Câu hỏi tưởng như đơn giản này lập tức đưa họ vào thế kẹt.

Nếu trả lời phép rửa của Gioan là bởi Thiên Chúa

thì họ sẽ bị tố cáo vì đã không tin vào lời giảng của Gioan.

Hơn nữa khi tin vào Gioan, họ cũng phải tin vào Đức Giêsu,

Đấng đã được Gioan hết lòng khiêm cung làm chứng.

Nếu trả lời phép rửa của Gioan là bởi loài người

thì họ sẽ vấp phải sự chống đối từ phía dân chúng,

vì họ tin Gioan là một vị ngôn sứ đích thực.

Như thế câu hỏi của Đức Giêsu đã đưa họ vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Câu hỏi của Ngài dồn họ vào thế phải trả lời:

“Chúng tôi không biết.” (c. 33).

Có thật họ không biết hay chỉ là né tránh sự thật?

Họ đã không tin Gioan, vì sợ tin Gioan sẽ phải tin cả Giêsu nữa.

Nhưng họ lại sợ không dám nói ra điều đó cho dân chúng biết.

Nỗi sợ bị mất uy tín, mất chỗ đứng, khiến họ trở nên câm lặng.

Câu hỏi của Đức Giê su đòi họ trở về với lòng mình

để tự tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi của họ: “Ông lấy quyền nào?”

Quyền của Đức Giêsu là quyền năng của Thánh Thần Thiên Chúa.

Làm thế nào để chúng ta thoát khỏi thành kiến và nỗi sợ hãi

để có được sự tự do khi trao đổi với nhau?

Làm thế nào để chúng ta không tìm cách tránh né sự thật,

dù chấp nhận sự thật đòi chúng ta phải thay đổi tận căn và trả giá?

Làm thế nào để chúng ta can đảm nhận mình sai để lại bắt đầu?

 

Cầu nguyện:

 

Lạy Cha,

xin dạy chúng con biết cộng tác với nhau

trong việc xây dựng Nước Trời ở trần gian.

Xin cho chúng con đến với nhau

không chút thành kiến,

và tin tưởng vào thiện chí của nhau.

Khi cộng tác với nhau,

xin cho chúng con cảm thấy Cha hiện diện,

nhờ đó chúng con vượt qua

những tự ái nhỏ nhen,

những tham vọng ích kỷ

và những định kiến cằn cỗi.

Ước gì chúng con dám từ bỏ mình,

để tìm kiếm chân lý

ở mọi nơi và mọi người,

nhất là nơi những ai khác quan điểm.

 

Lạy Cha,

xin sai Thánh Thần đến trên chúng con,

để chúng con biết lắng nghe nhau bằng quả tim,

và hiểu nhau ngay trong những dị biệt.

Nhờ sống mầu nhiệm cộng tác,

xin cho chúng con được triển nở không ngừng

và Thánh Ý Cha được thể hiện trên mặt đất. Amen.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 2: Truy tìm khôn ngoan

 

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

 

Thượng tế, kinh sư và kỳ mục hỏi Chúa một câu hỏi. Chúa Giê-su trả lời bằng một câu hỏi khác. Theo triết học thì câu hỏi là một truy tìm khôn ngoan. Câu hỏi của các thượng tế hướng về quyền lợi. Đó là khôn ngoan theo trần gian. Vì Chúa Giê-su xua đuổi người buôn bán ra khỏi Đền Thờ. Giới thượng tế mất uy tín và lợi nhuận. Câu hỏi của Chúa Giê-su xoáy vào lương tâm. Hỏi về sự thật. Mở ra khôn ngoan theo Nước Trời. Họ không dám trả lời. Vì nếu trả lời theo lương tâm và sự thật thì họ mất uy tín và quyền lợi. Họ không tìm khôn ngoan. Họ tìm lợi nhuận. Nói đúng ra họ chọn khôn ngoan theo thế gian. Nên không nghe lời Chúa.

 

Giới kinh sư, thượng tế và kỳ mục không có niềm vui. Vì họ né tránh sự thật. Tuy họ không dám trả lời câu hỏi của Chúa Giê-su, nhưng câu hỏi vẫn còn đó. Chất vấn lương tâm họ. Đặt họ đối diện với sự thật. Vì họ không tìm sự khôn ngoan. Nên lương tâm họ ray rứt. Trái lại tác giả sách Huấn ca tha thiết tìm sự khôn ngoan. Nên tâm hồn ông bình an. Hạnh phúc. Và tin tưởng. “Như hoa tươi nở, tựa chùm nho chín, đức khôn ngoan làm hoan hỷ lòng tôi…Vì tôi đã cương quyết sống theo đức khôn ngoan, tôi hăng say tìm điều thiện, và sẽ không xấu hổ thẹn thùng”. Biết rằng đức khôn ngoan ở nơi Chúa, nên ông tha thiết cầu nguyện xin Chúa ban cho sự khôn ngoan. “Nơi thánh điện tôi hằng cầu xin, và cho đến mãn đời, tôi vẫn tìm kiếm đức khôn ngoan”. Khi tìm được ông tha thiết giữ gìn: “Trong đức khôn ngoan, hồn tôi đã phấn đấu, và chuyên cần tuân giữ Lề Luật”. Và ông tạ ơn Chúa ban cho ông sự khôn ngoan: “Trong đức khôn ngoan, tôi tiến lên mãi, và tôi sẽ tôn vinh Thiên Chúa, Đấng đã cho tôi được khôn ngoan”.

 

Thư Giu-đa rõ ràng hơn. Cho biết do dự là thiếu khôn ngoan. Sẽ dẫn đến hoả ngục. “Đối với những người do dự thì anh em phải thương xót; hãy lo cứu họ, kéo họ ra khỏi lửa thiêu”. Người khôn ngoan theo Nước Trời phải dứt khoát mạnh mẽ trung thành với một chọn lựa duy nhất: sống theo đức tin. Tin vào Chúa Giê-su. Cậy trông vào lòng thương xót của Chúa. Đó là khôn ngoan. Vì sẽ dẫn ta đến sự sống đời đời: “Anh em hãy xây dựng đời mình trên nền tảng đức tin rất thánh của anh em, hãy cầu nguyện nhờ Thánh Thần, hãy cố gắng sống mãi trong tình thương của Thiên Chúa, hãy chờ đợi lòng thương xót của đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, để được sống đời đời” (năm chẵn).

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 3: Chất vấn về quyền

 

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

Theo Tin Mừng Marcô, Chúa Giêsu đã bắt đầu tranh luận với những người Do thái không tin khi Chúa Giêsu lên Yêrusalem lần cuối cùng. Bầu không khí đối đầu giữa Chúa và các vị lãnh đạo Do thái khởi sự với biến cố Chúa đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi Ðền Thờ. Ngày hôm sau, khi Chúa và các môn đệ trở lại Ðền Thờ, các Thượng tế, Luật sĩ và Kỳ mục đến chất vấn Chúa: "Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy?". Tin Mừng hôm nay ghi lại cuộc tranh luận đầu tiên trong năm cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và các vị lãnh đạo Do thái, trước khi Chúa Giêsu bước vào cuộc tử nạn của Ngài.

 

Tinh thần chân thành và đối thoại vốn là tinh thần của Phúc Âm. Là con người hiếu hòa, Chúa Giêsu cũng tỏ ra chân thành và thích đối thoại. Tuy nhiên, khi những người đối thoại với Ngài tỏ ra gian manh, thì Chúa Giêsu lại giữ thái độ yên lặng, như khi Ngài đứng trước Caipha, Hêrôđê, Philatô. Nhưng trường hợp những kẻ đối thoại bắt bẻ điều gì, thì Chúa lại chứng tỏ sự trổi vượt của Ngài. Ngài cũng đáp lại bằng một phương thế khác, khi những người đối thoại muốn gây áp lực để buộc Chúa phải trả lời, như khi họ hỏi Chúa có nên nộp thuế cho hoàng đế Cesar không, hoặc có nên ném đá người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tính không?

 

Hôm nay, chúng ta chứng kiến một cảnh đối ngoại, nhưng thật ra đó chỉ là một cách gài bẫy để bắt bẻ Chúa: "Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy?" Chúa Giêsu nhận thấy thái độ không thành thật của họ nên Ngài hỏi vặn lại: "Phép rửa của Gioan là do Trời hay do người ta?". Cách thức trả lời của những kẻ chống đối Chúa cho thấy họ đã tìm ra giải đáp cho câu hỏi họ đặt ra. Họ không thể chối cãi sự kiện phép rửa của Gioan là từ Trời, do quyền của một vị Tiên tri. So sánh phép rửa của Gioan với những việc làm và những phép lạ của Chúa Giêsu mà họ đã chứng kiến, thì chắc chắn những phép lạ của Chúa hơn phép rửa của Gioan. Do đó, theo lý luận nghiêm chỉnh và thành thật, những kẻ chống đối Chúa phải biết Chúa đã lấy quyền từ đâu để làm các điều ấy.

 

Như thế, câu hỏi của Chúa Giêsu: "Phép rửa của Gioan là do Trời hay do người ta?" là câu hỏi để đánh thức lương tâm và kêu gọi đến sự thành thật nơi những kẻ chống đối Ngài. Chỉ những ai chấp nhận đi theo con đường sự thật với lòng chân thành, người đó mới vào được Nước Chúa và được cứu rỗi. Ðể có thể vào Nước Chúa, những kẻ chất vấn Chúa trong Tin Mừng hôm nay, cần phải canh tân đời sống, cần phải có lòng chân thành, lương tâm ngay chính và tinh thần phục thiện.

 

Chúng ta hãy nhìn về cuộc sống của mình và xét xem chúng ta đã sống thế nào? Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta nhận biết sự thật, khiêm tốn đón nhận và sống sự thật của Chúa cho đến cùng.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 4: Thượng Hội Đồng chào thua

 

Đức Giêsu và các môn đệ lại vào Giê-ru-sa-lem. Người đang đi trong đền thờ, thì các thượng tế, kinh sư và kỳ mục đến cùng Người và hỏi: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy? Hay ai đã cho ông quyền đó để ông làm các điều ấy?” (Mc. 11, 27-28)

 

Việc tẩy uế đền thờ đến tai nhà chức trách tôn giáo Do thái, không phải chuyện chơi. Người ta cử một phái đoàn chính thức của Thượng hội đồng (gồm các trưởng tế, luật sĩ và trưởng lão) đến điều tra sự việc. Thoạt nhìn, cuộc điều tra có vẻ “lô-gích”. Chúa Giêsu qua hành động mới đây đã đòi cho mình có quyền đối với Nhà Chúa, còn đối với những người Do thái thì đây là một đòi hỏi ngạo mạn chưa từng có. Thực tế, những người đến điều tra đều là những quan tòa nặng óc thành kiến. Họ đến không phải để tìm biết một sự thật, mà là để gài bẫy. Chúa Giêsu trả lời không phải để lẩn tránh vấn đề, nhưng cốt lột cái mặt nạ che dấu tính xảo quyệt của họ: “Vây, phép rửa của ông Gioan là do Trời hay do người ta?” Sau khi cân nhắc ảnh hưởng lợi hại của câu trả lời, những người được sai đi ấy không dám bày tỏ ý kiến riêng, bởi lẽ biết sự thật về ông Gioan thì họ cho là điều ít quan trọng, điều quan trọng đối với họ là phải giữ thể diện. Bởi họ có thái độ như thế, nên Chúa Giêsu nghĩ có nói cho họ biết ý nghĩa thật về sứ mạng của Người thì cũng vô ích. Bởi Người đến không phải để thỏa mãn óc tò mò của con người. Người đến làm cuộc đổi thay những cuộc đời, và để có được sự đổi thay này, bước đầu của con người là phải mở rộng tâm hồn mình ra.

 

Chúa Giêsu không muốn mở những cuộc phỏng vấn

 

Kitô giáo không phải là một cuộc đọ tài giữa những kẻ tài trí như những đấu thủ quần vợt giao banh khéo léo và hiểm hóc. Người ta sẽ không tìm đưa ra những lý lẽ chứng minh chân lý đức tin cho những con người không muốn tin. Ai không tự mình khâm phục bản thân con người Đúc Giêsu, thì cũng đừng nghĩ rằng những lý luận hay ho sẽ làm cho người ấy chịu thuyết phục.

 

Nếu Chúa Giêsu không để cho người ta phỏng vấn hôm nay và giải thích quan niệm của Người về cuộc sống, về thế giới, Người cũng sẽ không bắt ai phải chịu phục Người, bởi lẽ không phải vì những lời giảng giải hay nói truyện của Người mà người ta gắn bó với Người, mà vì Người là ai, sống như thế nào và đã làm gì. Chúng ta không phải là những nhà kỹ thuật đã sáng nghĩ ra một mô hình sống cao hơn, chúng ta là những chứng nhân hèn mọn của AI ĐÓ đã sống đời mình như là Thiên Chúa, đã yêu thương con người đến chết vì con người, nên Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi sự chết và đã ban tặng Người “một Tên cao trọng hơn mọi tên”.

 

Chúng ta coi chừng đừng ỷ mình hiểu biết về Chúa mà thay đổi được lòng người, chính khi yêu thương mà chúng ta sẽ là những chứng nhân của Tình yêu.

 

---------------------------------

 

Suy Niệm 5: Ai hơn ai?

 

Sau khi đánh đuổi con buôn trong đền thờ, Đức Giêsu bị các vị lãnh đạo Dothái đến chất vấn Ngài về nội dung việc đuổi dân chúng ra khỏi đền thờ. Đây cũng chính là một trong 5 cuộc tranh luận sôi nổi giữa Ngài với những người lãnh đạo Dothái trước khi chịu chết.

 

Khởi đi từ việc họ cất tiếng hỏi Đức Giêsu: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy?”. Đây là câu hỏi ranh mãnh và đầy nguy hiểm. Nếu Đức Giêsu trả lời là Ngài tự ý lấy quyền của riêng mình mà làm vậy, thì họ ngay lập tức có lý để bắt Ngài vì những lời nói đầy ngông cuồng. Nếu Ngài nói là lấy quyền của Thiên Chúa thì họ cũng thừa cớ để loại trừ Ngài vì những lời nói lộng ngôn.

 

Tuy nhiên, tình thế được lật ngược khi Đức Giêsu đặt họ vào một thế bí khi thức tỉnh lương tâm bằng câu hỏi: "Theo ý các ông, thì công việc của Gioan Tẩy giả là theo ý người ta hay theo ý muốn của Thiên Chúa?". Câu hỏi này đã đẩy họ vào đường cùng, khiến họ gặp phải một nan đề khó giải quyết, bởi lẽ, nếu trả lời là đến từ Thiên Chúa thì họ đoán trước có thể sẽ bị Đức Giêsu nói rằng: tại sao các ông lại chống? Hay nếu đến từ Thiên Chúa thì tại sao không tin Gioan đã làm chứng về Ngài? Và tại sao không công nhận Ngài là Mêsia? Còn nếu nói là đến từ con người thì chắc chắn họ bị dân chúng chống đối và phản loạn, bởi vì Gioan được coi như Ngôn Sứ và là chứng nhân. Đứng trước tình thế bí bách đó, họ chỉ còn biết thốt lên: chúng tôi không biết!

 

Khi sự thật lên ngôi thì những sự gian trá ranh mãnh phải lui về vị trí của chúng.

 

Trong xã hội hôm nay vẫn còn đó những người sống giả hình, man trá, tránh né hoặc trốn chạy sự thật. Khi không chấp nhận chân lý, thì họ chỉ còn sống trên sự tàn ác, độc địa, giã tâm khi bóp méo sự thật, bẻ cong ngòi bút để dồn anh chị em chúng ta vào chân tường.

 

Tuy nhiên, cũng như những nhà lãnh đạo Do thái thời bấy giờ. Nếu không dám đối diện với sự thật và nâng đỡ nhau trong chân lý, thì ắt sẽ lãnh nhận hậu quả là rơi vào trong tình trạng tuyệt vọng và đáng xấu hổ, lầm lũi ra về.

 

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay sẽ đánh thức lương tâm của mỗi người, nếu chúng ta đang sống trong sự giả trá, thiếu chân thành và không phục thiện.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa ban cho chúng con biết sống đơn sơ, chân thành để gặp được Chúa và thuộc về Chúa để được sống đời đời. Amen.

 

Ngọc Biển SSP

 

 ------------------------------

 

Suy Niệm 6: Khiêm tốn đón nhận sự thật

 

(TGM Giuse Nguyễn Năng)

 

Sứ điệp: Có nhiều người đến gặp Chúa Giêsu với nhiều mục đích khác nhau. Hôm nay, các thượng tế, các kinh sư, và các kỳ mục đến để bắt bẻ, gài bẫy Chúa. Chúng ta thường đến gặp Chúa với mục đích gì?

 

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, khi gặp những người đối thoại muốn bắt bẻ điều chi, thì Chúa chứng tỏ sự trổi vượt của Chúa bằng sự im lặng, như khi Chúa đối diện với vua Hêrôđê, hoặc với quan Philatô. Bởi vì đạo Chúa không phải là cuộc đấu trí giữa những người thông minh khéo léo. Chúa cũng không đến để thỏa mãn tính tò mò của con người. Nhưng Chúa đến để thay đổi đời sống của nhân loại. Tuy nhiên, muốn đổi mới cuộc sống, con người cần mở rộng lòng mình để đón nhận chân lý.

 

Lạy Chúa, Chúa không chỉ hướng dẫn con bằng lời nói, nhưng trên hết, Chúa đã để lại mẫu gương sống động về tình yêu. Xin giúp con biến đổi bản thân mình bằng cách sống yêu thương, chứ không phải bằng sự hiểu biết lý thuyết về Thiên Chúa. Và xin loại khỏi con những thành kiến để con có thể chấp nhận tất cả mọi người với lòng yêu mến chân thật. Ước gì qua những lần gặp gỡ anh em, con biết biểu lộ tấm lòng chân thành, biết tôn trọng và yêu mến họ, vì tất cả mọi người đều được Chúa yêu thương. Con quyết tâm bắt tay anh em như một cử chỉ cảm thông yêu mến. Con dốc lòng sẽ nói lời dịu dàng để nối kết tình nghĩa anh em.

 

Lạy Chúa, những ai đi theo con đường sự thật với lòng chân thành, sẽ được vào Nước Chúa và mới được cứu rỗi. Chúa đã dạy con biết sự thật và muốn con khiêm tốn đón nhận sự thật ấy. Xin giúp con biết sống chân thành theo sự thật của Chúa cho đến cùng. Amen.

 

Ghi nhớ: “Ông lấy quyền nào làm sự đó?”

 

------------------------------

 

Suy Niệm 7: Tranh luận về quyền của Đức Giêsu

 

(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

 

1. Việc Đức Giêsu đánh đuổi những người buôn bán trong Đền thờ đã khiến các trưởng tế, luật sĩ và kỳ lão nổi giận. Họ đến chất vấn Ngài: “Ông lấy quyền nào mà làm sự đó”?

 

Đức Giêsu không tự đưa ra câu trả lời, nhưng hỏi ngược lại họ về nguồn gốc của phép rửa của Gioan Tẩy Giả. Không phải ngài tránh né vấn đề, nhưng là cách Ngài khuyến khích họ suy nghĩ: nếu họ đừng có thành kiến nhưng biết sáng suốt nhận định thì họ sẽ thấy rõ sứ mạng của Gioan là bởi trời, và sứ mạng cùng quyền năng của Đức Giêsu cũng bởi trời.

 

Nhưng vì họ muốn bám chặt vào thành kiến nên họ đã không chịu suy nghĩ. Họ hỏi Đức Giêsu không phải để tìm biết sự thật mà tin, nhưng để lập mưu tìm kế giết Chúa. Họ là hạng lòng khác miệng khác, hay đúng hơn là “khẩu phật tâm xà”.

 

2. Sau việc Đức Giêsu đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền thờ, những người cầm đầu Do thái căm giận Đức Giêsu. Họ đã ra lệnh bắt Ngài. Nhưng họ chưa dám cương quyết thi hành, vì sợ dân chúng. Trong lúc chờ cơ hội, họ tìm đến mở cuộc tranh luận với Ngài.

 

Qua sự kiện đó, các thượng tế và kỳ lão trong đền thờ hội họp nhau lại để chất vấn Chúa. Họ hỏi Chúa hai câu: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy”, “Ai đã ban quyền ấy cho ông”? Cả hai câu hỏi đó đều minh chứng họ không tin gì vào sứ mệnh thần linh của Đức Giêsu. Họ không hỏi để biết nhưng là để gài bẫy Chúa và muốn đưa Ngài vào ngõ bí.

 

3. Tinh thần chân thành và đối thoại là tinh thần của Phúc âm. Là con người hiếu hòa, Đức Giêsu cũng tỏ ra chân thành và thích đối thoại. Tuy nhiên, khi những người đối thoại với Ngài tỏ ra gian manh, thì Đức Giêsu lại giữ thái độ yên lặng, như khi Ngài đứng trước Caipha, Hêrôđê, hay Philatô. Nhưng trường hợp những kẻ đối thoại bắt bẻ điều gì, thì Chúa lại chứng tỏ sự trổi vượt của Ngài. Ngài cũng đáp lại bằng một phương thế khác, khi những người đối thoại muốn gây áp lực để buộc Chúa phải trả lời, như khi họ hỏi Chúa có nên nộp thuế cho hoàng đế César không, hoặc có nên ném đá người phụ nữ  bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình không?

 

4. Nhưng hôm nay, đúng là “vỏ quít dầy có móng tay nhọn”, thay vì trả lời, Đức Giêsu đảo ngược thế cờ bằng cách đưa ra một câu hỏi ngược lại: “Các ông trả lời cho tôi biết: “Phép rửa của Gioan bởi đâu? Bởi trời hay bởi người ta”?

 

Bây giờ đến lượt họ lúng túng. Nếu trả lời bởi trời, thì tại sao lại không tin Chúa, vì Gioan Tiền Hô đến trước để loan báo về Đấng Cứu Thế, do Thiên Chúa sai đến và có uy quyền Thiên Chúa. Ngược lại, nếu trả lởi bởi người ta thì sẽ gặp phản ứng của dân chúng, vì họ tin Gioan là tiên tri bởi trời đến  loan báo về Đấng Cứu Thế.

 

Trả lời đằng nào cũng không được, nên họ cũng khôn khéo trả lời: “Chúng tôi không biết”, đây là một lần nói dối công khai trước Chúa và mọi người. Nhưng Chúa biết và Chúa trả lời: “Vậy thì tôi cũng không nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy”.

 

5. Các nhà lãnh đạo Do thái luôn có thành kiến với Đức Giêsu nên họ không chịu nhận ra sứ mạng cao quí của Ngài. Thành kiến là ngục tù giam hãm con người. Thành kiến làm cho người ta phán đoán sai lệch vì “Đã thương quả ấu cũng tròn, ghét nhau quả bồ hòn cũng méo”.

 

Có một nhà thiên văn nọ sáng chế được một viễn vọng kính. Đêm nọ ông bỗng phát hiện một con rồng trên mặt trăng. Ông chạy khắp thành phố mời bạn bè đến xem khám phá của ông. Mọi người đến xem tấm tắc khen ngợi tài năng của ông. Nhưng trong đám đông hiếu kỳ, có một nhà thiên văn học kỳ cựu cũng đến để tìm hiểu thực hư. Vừa đưa mắt vào viễn vọng kính, ông mỉm cười một cách bí ẩn rồi mở ống kính ra, cho mọi người thấy một con ruồi đã chết cứng trong đó. Thì ra con rồng trên mặt trăng không là gì khác hơn là con ruồi nằm trong ống kính.

 

Chúng ta dễ có khuynh hướng nhìn người khác qua lăng kính những thành kiến có sẵn.

 

6. Truyện: Gậy ông đập lưng ông.

 

Hẳn chúng ta đã nghe câu chuyện “Cò với Cáo”. Chuyện kể thế này: Có một dạo cáo và cò rất hay thăm viếng nhau, có vẻ như hai người bạn thân. Rồi cáo mời cò đến ăn cơm, và để chơi xỏ bạn, cáo chỉ đặt trước mặt cò một chiếc đĩa bằng.

 

Món này thì cáo liếm sạch dễ dàng, nhưng cò chỉ nhúng ướt đầu cái mỏ của mình trong đĩa xúp và ăn xong vẫn thấy đói. “Xin lỗi”, cáo nói: “Món xúp này không hợp với bạn”.

 

 “Thôi mà, đừng xin lỗi”, cò nói: “Hy vọng rằng mình đã đến chơi với bạn thì bạn cũng ghé chơi với mình, mai kia mời bạn đến chơi ăn cơm với mình nhé”. Và đôi bạn xếp ngày cho cáo đến thăm cò. Lúc cáo đến, cả hai ngồi vào bàn ăn.

 

Mâm cơm hôm đó chỉ có một cái bình, cổ dài, miệng hẹp, cáo không thể nào cho mồm vào được, chỉ ngồi đó mà liếm bên ngoài bình. Cò liền nói: “Ăn như thế này mình chẳng có gì phải xin lỗi, ác giả ác báo mà”.

 

------------------------------

 

Suy Niệm 8: Quyền nào mà làm?

 

(Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)

 

A. Hạt giống...

 

1. Việc Chúa Giêsu đánh đuổi những người buôn bán trong đền thờ đã khiến các trưởng tế, luật sĩ và kỳ lão nổi giận. Họ đến chất vấn Ngài: "Ông lấy quyền nào mà làm sự đó?"

 

2. Chúa Giêsu không tự đưa ra câu trả lời, nhưng hỏi ngược lại họ về nguồn gốc phép rửa của Gioan tẩy giả. Không phải Ngài tránh né vấn đề, nhưng đây là cách Ngài khuyến khích họ suy nghĩ: nếu họ đừng có thành kiến nhưng biết sáng suốt nhận định thì họ sẽ thấy rõ sứ mạng của Gioan là bởi trời, và sứ mạng cùng quyền năng của Chúa Giêsu cũng bởi trời.

 

3. Nhưng vì muốn bám chặt vào thành kiến nên họ đã không chịu suy nghĩ.

 

B.... nẩy mầm.

 

1. Thành kiến là ngục tù giam hãm con người. Thành kiến làm cho người ta phán đoán sai lệch "Thương ai thương cả đường đi, ghét ai ghét cả tông chi họ hàng"; "Đã thương quả ấu cũng tròn, không thương bồ hòn cũng méo". Tôi có thành kiến không? Thành kiến với ai? Thành kiến chuyện gì?

 

2. Chúa cũng thích đối thoại với tôi. Nhưng nếu Ngài bảo "Hãy trả lời Ta đi" mà tôi tránh né "Con không biết", thì Ngài cũng lại nói "Vậy thì Ta cũng không nói cho con biết". Xin cho con biết lắng nghe những câu Chúa chất vấn con. Xin cho con cảm đảm trả lời thành thật. Và xin cho con được biết Chúa muốn dạy con làm gì.

 

3. Có một nhà thiên văn nọ sáng chế được một viễn vọng kính. Đêm nọ ông bỗng phát hiện một con rồng trên mặt trăng. Ông chạy khắp thành phố mời bạn bè đến xem khám phá của ông. Mọi người xem đều tấm tắc khen ngợi tài năng của ông. Nhưng trong đám đông hiếu kỳ, có một nhà thiên văn học kỳ cựu cũng đến để tìm hiểu thực hư. Vừa đưa mắt nhìn vào viễn vọng kính, ông mỉm cười một cách bí ẩn rồi mở ống kính ra, cho mọi người thấy có một con ruồi đã chết cứng trong đó. Thì ra con rồng trên mặt trăng không là gì khác hơn là con ruồi nằm trong ống kính.

 

Chúng ta dễ có khuynh hướng nhìn người khác qua lăng kính những thành kiến có sẵn.

 

4. "Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy?" (Mc 11,28)

 

Các thượng tế và ký lục đã chất vấn Chúa Giêsu như thế, khi Người xua đuổi những kẻ buôn bán trong đền thờ.

 

Tôi cũng là đền thờ của Chúa nhưng tội lỗi đã làm ô uế đến thời ấy. Tôi cũng hỏi Chúa câu trên khi Ngài yêu cầu tôi đánh đổ những thành kiến, xua đuổi các tật xấu và ý nghĩ xấu xa...

 

Chúa Giêsu muốn con người hiểu rằng Ngài có quyền đòi hỏi mọi người phải tôn trọng đền thờ Cha Ngài.

 

Tại sao tôi lại chất vấn quyền của Chúa nhỉ?

 

Lạy Chúa, xin cho con đừng tra hỏi Ngài nhưng biết khẳng định quyền của Ngài trên đời sống hàng ngày của con. (Hosanna).

 

 ------------------------------

 

Suy Niệm 9: Cố gắng mà đối xử tốt với nhau

 

(Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

 

1. Các thượng tế và Kinh sư dùng một câu hỏi hóc búa để gài bẫy Chúa: Ông lấy quyền nào mà làm các chuyện ấy (tức là truyện Thanh tẩy Đền thờ).

 

* Nếu Chúa trả lời ngài lấy quyền của Thiên Chúa thì họ sẽ có đủ lý do để tố cáo và bắt giết Ngài, vì theo luật lệ của họ, ai xưng mình là Thiên Chúa thì đáng tội chết.

 

* Nếu Chúa nói ngài tự lấy quyền mình mà làm thì trước mắt họ Ngài là một người vô danh tiểu tốt mà dám chống lại hàng thượng tế và Kinh sư sao được, như thế ngài cũng mắc tội

 

Nhưng họ thật không ngờ là Chúa đã dùng ngay cái bẫy họ giăng để làm họ bị kẹt, không trả lời được. Chúa hỏi: “Tôi cũng xin hỏi các ông một điều thôi. Các ông trả lời đi, rồi tôi sẽ nói cho các ông biết, tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy? (Mc 11, 30) Họ không trả lời được. Chân họ đã vướng vào bẫy do chính mình bày ra. “Tôi cũng vậy, tôi cũng không nói cho các ông biết là tôi lấy quyền nào mà làm” (Mc 11, 33). Thế là huề cả làng.

 

2. Vâng chúng ta hãy cố gắng mà đối xử tốt với nhau.

 

Người ta thường nói: ác giả ác báo. Đi đêm nhiều thế nào cũng có lúc gặp ma; cố tình làm điều ác, làm điều dữ thì sẽ có ngày bị trừng phạt. Đó là lẽ thường tình của cuộc sống.

 

Hẳn mỗi người chúng ta còn nhớ câu truyện giữa cò với cáo. Truyện thế này: Có một dạo cáo và cò chơi thân với nhau. Chúng rất hay thăm viếng nhau, chẳng khác gì hai người bạn thân. Một hôm cáo mời cò đến ăn cơm, và để xỏ bạn, cáo chỉ đặt trước mặt cò một chiếc dĩa trẹt. Với món ăn ở trong dĩa này, thì cáo có thể liếm sạch một cách dễ dàng, nhưng cò chỉ có thể nhúng ướt đầu cái mỏ dài của mình trong dĩa xúp và ăn xong vẫn thấy đói. “Xin lỗi”, cáo nói, “món xúp này có lẽ không hợp với bạn”.

 

Có cũng chẳng vừa, nó nói

 

- Thôi mà, đừng xin lỗi. Hy vọng rằng mình đã đến chơi với bạn thì bạn cũng ghé chơi với mình, mai kia đến chơi ăn cơm với mình nhé

 

Và đôi bạn thu xếp hẹn ngày cho cáo đến thăm cò. Lúc cáo đến, cả hai ngồi vào bàn ăn. Mâm cơm hôm đó chỉ có một cái bình, cổ dài, miệng hẹp, cáo không thể nào cho mồm vào được, chỉ ngồi đó mà liếm bên ngoài bình.

 

- Ăn như thế này, mình chẳng có gì phải xin lỗi, ác giả ác báo mà. Cò nói.

 

Ngược lại, khi chúng ta cố gắng ăn ngay ở lành thì niềm vui, ơn lộc sẽ đến với chúng ta.

 

Đây là câu chuyện từ Internet:

 

Hôm đó, tôi đến một tiệm hoa nhỏ để mua hoa. Sau khi nghe tôi kể tên một số loại hoa tôi định mua, cô gái bán hoa quay người vào trong phòng trữ hoa. Sau đó, tôi nghe thấy có tiếng nói chuyện thì thầm từ trong phòng vọng ra.

 

Tôi tự hỏi, không biết cô ta nói chuyện với ai vậy?

 

Không kiềm chế nổi sự tò mò, tôi gõ cửa hỏi cô ta:

 

- Cô đang nói chuyện với ai vậy?

 

Cô quay đầu mỉm cười, trả lời:

 

- Tôi đang nói chuyện với hoa của tôi.

 

Tôi vô cùng ngạc nhiên, hỏi lại:

 

- Nói chuyện với hoa của cô ư?

 

Bằng đôi tay mảnh mai đang bận rộn chọn những bông hoa cho tôi, cô đáp lại:

 

- Tôi trò chuyện với hoa của tôi. Nói với bông hoa này, mi nở tốt lắm, rực rỡ lắm, nhưng ta cũng không giữ nổi mi lại đâu. Rồi tôi nói với bông hoa kia, mi vội gì chứ, nụ hoa vẫn còn chặt như thế, một hai ngày nữa bán vẫn chưa muộn.

 

Tôi sững sờ đứng nghe. Sau khi từ biệt cô gái, trong lòng tôi tràn ngập cảm giác khó tả, bất giác tôi nhớ đến một câu chuyện khác.

 

Một tài xế lái xe buýt trên một tuyến đường ngoại ô. Ngày nào anh cũng vui vẻ lái xe trên con đường đầy cát bụi này. Cô nhân viên bán vé trêu anh:

 

- Chẳng ai được như anh, ngày nào cũng có hẹn.

 

Anh ấy hạnh phúc mỉm cười, hỏi:

 

- Ghen tị rồi phải không?

 

Hành khách đều đoán già đoán non, chắc là chàng trai này có người yêu ở vùng ngoại ô.

 

Chiếc xe buýt lắc lư tiến về phía trước trên con đường đầy ổ gà. Gần đến một thôn nhỏ, cô nhân viên bán vé phấn khích chỉ vào một chiếc ao trước mặt nói:

 

- Vẫn còn ở đó? Không sai một phút!

 

Người lái xe bấm còi, 3 tiếng ngắn, 1 tiếng dài giống như “ám hiệu”.

 

Hành khách ngẩng cổ lên nhìn: Trời ơi, hóa ra là một bầy ngỗng trắng! Nghe tiếng còi xe, chúng lập tức dang rộng đôi cánh tranh nhau chạy về phía chiếc xe, vừa chạy vừa vui sướng kêu lên, giống như những cô gái chờ đợi lâu ngày mới gặp được người yêu.

 

Chàng lái xe hò hẹn với những con ngỗng trắng, cô gái thì thầm to nhỏ với những cành hoa, khiến tôi hiểu được một điều: cuộc sống có thật nhiều niềm vui nếu ta biết trân trọng nó.

 

Lạy Chúa, xin giúp chúng con trở nên những chứng nhân cho tình yêu Chúa giữa anh chị em xung quanh chúng con. Amen.

 

-------------------------------

 

Suy Niệm 10 : Lấy Quyền Nào Làm Các Điều Ấy

 

Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Bảy Tuần 8 Thường Niên, năm Chẵn này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin Chúa an bài cho mọi việc ở trần gian luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, để tất cả chúng ta được nhờ, và Hội Thánh được an vui thờ phượng Chúa.

 

An vui thờ phượng Chúa, luôn đặt hết niềm tin tưởng vào Chúa, dù, đang phải khổ cực trăm bề, như trong bài đọc một Kinh Sách, trích sách Gióp: Ông Gióp nhất mực quả quyết mình vô tội. Phải ở trong tình trạng ông Gióp, ta mới hiểu được những lời lẽ táo bạo của ông khi ông cả gan tranh luận với Thiên Chúa. Ít lâu nữa ta sẽ thấy ông lên án thái độ của chính ông… Lạy Chúa, xin đừng giấu con trong âm phủ, không cho thấy nhan Ngài; đừng để tay Ngài đè nặng lên con. Xin đừng làm con kinh hoàng sợ hãi. Lạy Đức Chúa, xin sửa trị con theo lẽ công minh, chứ đừng theo cơn thịnh nộ, kẻo con phải diệt vong.

 

An vui thờ phượng Chúa, luôn kiên trì nhẫn nại chịu khổ vì Chúa, dù, đang bị thử thách bách hại, như trong bài đọc hai Kinh Sách, trích Khảo Luận của thánh Dênô Vêrônê: Ông Gióp là hình ảnh tiên báo Đức Kitô… Chúng ta hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Trong gian nan, khốn quẫn, lo âu, đòn vọt, tù đày, ta hãy chứng tỏ mình rất mực kiên trì chịu đựng.

 

An vui thờ phượng Chúa, luôn tìm kiếm sức mạnh và quyền năng của Chúa, dù, chẳng thấy Chúa đâu cả, như trong bài đọc một Thánh Lễ, trích thư của thánh Giuđa: Thiên Chúa có quyền phép gìn giữ anh em khỏi sa ngã. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 62: Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa. Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước.

 

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Ước chi lời Đức Kitô ngự giữa anh em thật dồi dào phong phú, anh em hãy cảm tạ Thiên Chúa Cha, nhờ Đức Kitô. Trong bài Tin Mừng, các thượng tế, kinh sư và kỳ mục đến cùng Đức Giêsu và hỏi: Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy. Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, linh hồn con đã khao khát Chúa. Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện, để thấy uy lực và vinh quang của Ngài. Thiên Chúa có quyền phép gìn giữ chúng ta khỏi sa ngã, kính dâng Người vinh quang, oai phong, sức mạnh và quyền năng, trước mọi thời, bây giờ và cho đến muôn đời! Chúa đã thương bênh đỡ phù trì, Người kéo ta ra chỗ thảnh thơi, vì yêu thương ta nên Người giải thoát. Chúng ta sẽ hát bài ca dâng Chúa vì phúc lộc Chúa ban, ta sẽ đàn ca mừng danh Chúa, Đấng cao cả muôn trùng. Chúng ta là con cái Thiên Chúa, ắt hẳn, chúng ta sẽ bị con cái thế gian bách hại, nhưng, chúng ta hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Trong gian nan, khốn quẫn, lo âu, đòn vọt, tù đày, ta hãy chứng tỏ mình rất mực kiên trì chịu đựng. Khi những khó khăn thử thách dường như vượt quá sức ta, ta hãy cầu xin như ông Gióp: Lạy Chúa, xin đừng giấu con trong âm phủ, không cho thấy nhan Ngài; đừng để tay Ngài đè nặng lên con. Xin đừng làm con kinh hoàng sợ hãi. Tin vào quyền năng của Chúa, ta sẽ không phải thất vọng bao giờ: Ông Gióp được lại cả sức khoẻ lẫn tài sản; còn Đức Giêsu, khi sống lại, đã ban cho những ai tin vào Người: không những sức khoẻ mà cả phúc trường sinh bất tử; Người còn lấy lại quyền thống trị mọi loài, như chính Người đã xác nhận: Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Ông Gióp sinh thêm con cái, thay thế những đứa đã chết; còn Đức Kitô, sau các ngôn sứ, cũng sinh thêm con cái là các Tông Đồ, và vô số con cái của Hội Thánh khắp tận cùng trái đất. Hãy vững tin vào Chúa. Ước gì Chúa an bài cho mọi việc ở trần gian luôn diễn tiến trong hòa bình trật tự, để tất cả chúng ta được nhờ, và Hội Thánh được an vui thờ phượng Chúa. Ước gì được như thế!

 

---------------------------------

 

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây