Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày Xếp gọn trong Tuần 21-2025 Thường Niên

Thứ sáu - 29/08/2025 06:38
Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày Xếp gọn trong Tuần 21-2025 Thường Niên
Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày Xếp gọn trong Tuần 21-2025 Thường Niên
Suy Niệm Lời Chúa Hằng Ngày
Xếp gọn trong Tuần 21-2025 Thường Niên
Nguồn: https://giaophanlongxuyen.org/

----------------------------------
Mục Lục:

Thứ 2 TN –Tuần 21/2025. 4
Lời Chúa: Mt 23, 13-22. 4
Suy niệm 1: Đạo đức giả. 5
Suy niệm 2: Lãnh đạo sáng suốt 7
Suy niệm 3: Kết Án Tội Mù Quáng. 8
Suy niệm 4: Lắng Nghe Tiếng Nói Của Lương Tri 8
Suy niệm 5: Khốn cho kẻ giả hình. 9
Suy niệm 6: Lời rao giảng phải đi đôi với hành động. 10
Suy niệm 7: Đạo đức giả hình. 11
Suy niệm 8: Chúa khiển trách các luật sĩ và biệt phái 12
Suy niệm 9: Khiển trách luật sĩ và biệt phái 14
Suy niệm 10: Cáo trạng kinh khủng trong Tân Ước. 17
Suy niệm 11: Khốn cho các ngươi, những người dẫn đường đui mù. 19
Suy Niệm 12: Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ dẫn đường đui mù. 21
Suy Niệm 13: Những kẻ dẫn đường mù quáng. 22

Thứ 3 TN –Tuần 21/2025. 24
Lời Chúa: Mt 23, 23-26. 24
Suy niệm 1: Bên trong, bên ngoài 24
Suy niệm 2: Điều chính, điều phụ. 26
Suy niệm 3: Kết án thái độ vụ hình thức. 27
Suy niệm 4: Công bình, nhân ái, thành tín, trong sạch. 28
Suy niệm 5: Hãy hồi tâm và hoán cải 29
Suy niệm 6: Sống đạo quân bình và chiều sâu. 30
Suy niệm 7: Tâm điểm yêu thương khi giữ đạo của Kitô hữu. 31
Suy niệm 8: Chúa than trách các luật sĩ và biệt phái 32
Suy niệm 9: Đạo của cuộc sống. 34
Suy niệm 10: Những lời khiển trách tiếp theo. 36
Suy niệm 11: Phải làm những điều này, không bỏ những điều kia. 38
Suy Niệm 12: Phải làm những điều này, và không bỏ các điều kia. 40
Suy Niệm 13: Vẫn phải làm, không được bỏ. 41

Thứ 4 TN –Tuần 21/2025 - 27/08 Thánh Mônica. 42
Lời Chúa: Lc 7, 11-17. 42
Suy Niệm 1. Thánh nữ Monica. 43
Suy Niệm 2. Lễ thánh Monica. 48
Suy Niệm 3. Thánh nữ Monica. 51
Suy Niệm 4. Thánh nữ Monica. 52
Suy Niệm 5. Thánh Monica. 55
Suy Niệm 6. Thánh Monica. 57
Suy Niệm 7. Thánh nữ Monica. 59
Suy Niệm 8. Một bà mẹ thánh kiên trì và can đảm.. 61
Suy Niệm 9. Thánh nữ Monica. 63
Suy Niệm 10. Thánh nữ Monica. 64
Suy Niệm 11. Thánh nữ Monica. 67
Suy Niệm 12. Quan Thầy Của Các Bà Mẹ. 68
Suy Niệm 13. Thánh nữ Mônica: Người mẹ tuyệt vời 69
Suy Niệm 14. Sống thánh giữa đời 72
Suy Niệm 15. Mẹ hiền. 74
Suy Niệm 16. Viết cho vị thánh khóc nhiều nhất! 77
Suy Niệm 17. Thánh nữ Monica và thánh Augutinô. 79
Suy Niệm 18. Thánh Monica, một bà mẹ thánh kiên trì và can đảm.. 82
Suy Niệm 19. Suy niệm về thánh Monica. 83
Suy Niệm 20. Thánh Monica, Người Vợ, Người Mẹ Can Đảm Và Đạo Hạnh. 87
Suy Niệm 21. Thánh Monica. 90
Suy Niệm 22. Thánh nữ Monica--“làm việc bình thường cách phi thường”. 91
Suy Niệm 23. Theo con đường chịu đau khổ như Thánh Monica. 92
Suy Niệm 24. Thánh nữ Mônica và những giọt lệ của một bà mẹ có con lầm lạc. 95
Suy Niệm 25. Thánh Mônica: Tình yêu vượt thắng mọi gian khổ. 97
Suy Niệm 26. Thánh nữ Monica, người Mẹ tuyệt vời, Quan Thày Các Bà Mẹ Công Giáo Việt Nam.. 98
Suy Niệm 27. Theo gương thánh Monica. 98
Suy Niệm 28. Lễ nhớ thánh Mônica. 100
Suy Niệm 29. Nuôi thú cưng. 101
Suy Niệm 30. Năm bài học từ thánh nữ Monica- 104
Suy Niệm 31. Khóc than cầu khẩn. 105
Suy Niệm 32. Giết các ngôn sứ. 106

Thứ 5 TN –Tuần 21/2025 - 28/08 Thánh Âu-tinh. 108
Lời Chúa: Mt 24, 42-51. 108
Suy niệm 1: Hãy sẵn sàng. 108
Suy niệm 2: Trung tín và khôn ngoan. 110
Suy niệm 3: Tỉnh thức chờ Chúa. 111
Suy niệm 4: Người quản lý trung tín. 112
Suy niệm 5: Khi nào chủ về?. 114
Suy niệm 6: Tỉnh thức và sẵn sàng. 115
Suy niệm 7: Sẵn sàng canh thức chờ đón Chúa. 116
Suy niệm 8: Ngày nào cũng là ngày trông đợi và sẵn sàng. 117
Suy niệm 9: Hãy tỉnh thức và sẵn sàng. 118
Suy niệm 10: Thời cánh chung. 120
Suy niệm 11: Quyền bính thiết yếu là để phục vụ. 122
Suy niệm 12: Các con hãy sẵn sàng. 123
Suy Niệm 13: Các con hãy sẵn sàng. 125
Suy Niệm 14: Canh thức và sẵn sàng. 126

Thứ 6 TN –Tuần 21/2025 - 29/08 Thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết 127
Lời Chúa: Mc 6, 17-29. 127
Suy Niệm 1.Đầu Gioan Tẩy giả. 128
Suy Niệm 2. Can đảm làm chứng cho sự thật 130
Suy Niệm 3. Bị bách hại vì sự công chính. 131
Suy Niệm 4. Cái chết của Thánh Gioan Tẩy giả. 132
Suy Niệm 5. Thánh Gioan Tẩy giả bị trảm quyết 133
Suy Niệm 6. Nói lên sự thật 135
Suy Niệm 7. Chết vì chân lý. 138
Suy Niệm 8. “Ông Gioan là người công chính thánh thiện”. 141
Suy Niệm 9. Thánh Gioan Tẩy giả bị trảm quyết 143
Suy Niệm 10. Cái chết của một tiên tri 144
Suy Niệm 11. Vị Thánh Can Đảm Và Cương Quyết 145
Suy Niệm 12. Lễ thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết 146
Suy Niệm 13. Thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết 147
Suy Niệm 14. Thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết 150
Suy Niệm 15. Thánh Gioan Baotixita bị trảm quyết 151
Suy Niệm 16. Thánh Gioan Baotixita bị trảm quyết 154
Suy Niệm 17. Sự bất tử của thánh nhân. 155
Suy Niệm 18. Tấn tuồng của con người 156
Suy Niệm 19. Số phận của ngôn sứ. 157
Suy Niệm 20. Thánh Gioan Baotixita bị trảm quyết 158
Suy Niệm 21. Thánh Gioan Tẩy Giả Bị Trảm Quyết 162
Suy Niệm 22. Thánh Gioan Tẩy Giả Bị Trảm Quyết 165
Suy Niệm 23. Thánh Gioan tiền hô bị trảm quyết 167
Suy Niệm 24. Lễ Thánh Gioan Tẩy Giả Bị Trảm Quyết: Những Chọn Lựa. 168
Suy Niệm 25. Cái chết của Gio-an Tẩy Giả. 170
Suy Niệm 26. Sống vì yêu, chết vì chân lý. 171
Suy Niệm 27. Không im lặng trước tội lỗi và bất công. 171
Suy Niệm 28. Lương tâm chân chính. 172
Suy Niệm 29. Hãy sống trong sự thật 173
Suy Niệm 30. Sống cho chân lý và sự thật 175
Suy Niệm 31. Phúc thay người “chịu khốn nạn vì đạo ngay”. 176
Suy Niệm 32. Lễ thánh Gioan Baotixita bị trảm quyết 176
Suy Niệm 33. Đó chính là Gioan Tẩy Giả trẫm đã chặt đầu, nay sống lại 178
Suy Niệm 34. Cái đầu đặt trên mâm.. 179

Thứ 7 TN –Tuần 21/2025. 180
Lời Chúa: Mt 25, 14-30. 180
Suy niệm 1: Vào mà hưởng niềm vui 181
Suy niệm 2: Tự hào trong Chúa. 183
Suy niệm 3: Trách nhiệm của các bậc cha mẹ. 184
Suy niệm 4: Cộng tác với ơn Chúa. 185
Suy niệm 5: Sau một thời gian. 186
Suy niệm 6: Hãy sinh lời thêm.. 187
Suy niệm 7: Sức khoẻ, thời giờ, tài năng, các ơn Chúa ban, là những nén vàng Chúa trao. 188
Suy niệm 8: Dụ ngôn nén bạc. 189
Suy niệm 9: Cách thế mỗi người xử dụng những nén bạc Chúa trao. 191
Suy niệm 10: Nén bạc Chúa trao phải sinh lời 193
Suy niệm 11: Hạnh phúc người đầy tớ tín trung. 195
Suy Niệm 12: Vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi 197
Suy Niệm 13: Yến bạc tình yêu. 198

----------------------------------
 

Thứ 2 TN –Tuần 21/2025

Khốn cho các ngươi, dẫn đường đui mù …
25/08 – Thứ Hai tuần 21 thường niên.
"Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ dẫn đường đui mù".

 

Lời Chúa: Mt 23, 13-22


Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: "Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình! Vì các ngươi đóng cửa nước trời không cho người ta vào: vì các ngươi không vào, mà kẻ muốn vào, các ngươi cũng chẳng để cho vào.
"Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình! Vì các ngươi đọc kinh cho dài để nuốt tài sản của các bà goá, bởi thế, các ngươi sẽ chịu phán xét nặng hơn.
"Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình! Vì các ngươi rảo khắp biển khơi và lục địa, để tìm cho được một người tòng giáo, nhưng khi đã cho người đó tòng giáo, các ngươi làm cho nó trở thành con cái hoả ngục gấp hai lần các ngươi.
"Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ dẫn đường đui mù! Vì các ngươi nói rằng: Ai lấy đền thờ mà thề, thì không có giá trị gì, nhưng ai lấy vàng trong đền thờ mà thề, thì mắc lời thề. Hỡi kẻ ngu ngốc và đui mù, chớ thì vàng hay là đền thờ thánh hoá vàng, cái nào trọng hơn? Các ngươi còn bảo rằng: Ai lấy bàn thờ mà thề, thì không giá trị gì, nhưng ai lấy của lễ để trên bàn thờ mà thề, thì mắc lời thề. Hỡi những kẻ đui mù, chớ thì của lễ hay là bàn thờ thánh hoá của lễ, cái nào trọng hơn?

"Vậy ai lấy bàn thờ mà thề, thì lấy cả bàn thờ và mọi sự để trên bàn thờ mà thề. Kẻ nào lấy đền thờ mà thề, thì lấy cả đền thờ và Ðấng ngự trong đền thờ mà thề. Và kẻ nào lấy trời mà thề, thì lấy ngai toà Thiên Chúa và Ðấng ngự trên ngai toà ấy mà thề".

---------------------------------

 

Suy niệm 1: Đạo đức giả


(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)

Trong Bài Giảng trên núi, Đức Giêsu đã nói đến Các Mối Phúc.
Ngài chúc mừng những ai thuộc về Nước Trời bằng các lời Phúc cho.
Còn trong chương 23 của Tin Mừng Mátthêu,
Đức Giêsu lại 7 lần dùng lối nói Khốn cho,
khi nói với giới lãnh đạo Do Thái giáo là các kinh sư và nhóm Pharisêu.
Đức Giêsu không phải là người đầu tiên dùng lối nói khó chịu này.
Các ngôn sứ thời xưa như Amốt hay Isaia (Am 6, 1; Is 5, 8-24)
cũng đã lắm khi dùng lối nói này để tố cáo những người quyền thế.
Mục đích của các ngôn sứ là vạch trần những sai phạm của họ,
và cảnh báo cho mọi người biết mà tránh xa.
Đức Giêsu đã nói như một vị ngôn sứ.
Khi nói khốn cho, Ngài không có ý nguyền rủa hay kết án ai,
cho bằng nói lên sự đau xót, thậm chí giận dữ đến độ trách phạt.
“Khốn cho ngươi, hỡi Khoradin! khốn cho ngươi, hỡi Bétsaiđa!”
Đức Giêsu đã nói như thế với các thành phố từ chối Ngài (Mt 11, 21).
“Khốn cho kẻ nào nộp Con Người, thà nó đừng sinh ra thì hơn” (Mt 26, 24).
Đây không phải là một lời chúc dữ cho Giuđa,
hay kết án anh phải đời đời hư mất.
Đúng hơn đây diễn tả một tiếc nuối xót xa về tội của người môn đệ.
Vào thời thánh Mátthêu viết sách Tin Mừng, từ sau năm 70,
có một sự xung đột nghiêm trọng giữa các Kitô hữu gốc Do Thái
với những nhà lãnh đạo Do Thái giáo lúc bấy giờ.
Bài Tin Mừng hôm nay phản ánh sự căng thẳng đó.
Các vị kinh sư và những người pharisêu đầy quyền lực
không muốn đồng bào của mình tin vào một ông Giêsu bị đóng đinh.
Ai tin sẽ bị trục xuất khỏi hội đường (x. Ga 9, 22).
Như thế họ đã khóa cửa Nước Trời để chẳng ai vào được, kể cả họ (c. 13).
Các vị kinh sư và nhóm Pharisêu hăng say trong việc truyền giáo.
Họ muốn làm cho dân ngoại trở thành Dân Chúa.
Tiếc thay, sau khi đã vào đạo rồi, những người tân tòng này
có thể trở nên cứng nhắc vì nệ luật, và rơi vào thói giả hình.
Họ “trở thành con cái của hỏa ngục gấp đôi các ông” (c. 15).
Đức Giêsu cũng tố cáo sự phân biệt quá chi li về giá trị những lời thề.
Đối với Ngài, thề nhân danh Đền thờ hay vàng trong Đền thờ,
nhân danh bàn thờ hay lễ vật trên bàn thờ (cc. 16-20),
thì cũng chẳng khác gì thề nhân danh chính Thiên Chúa (cc. 21-22).
Tất cả lời thề đều phải được giữ như nhau, đều ràng buộc như nhau.
Những lời tố giác của Đức Giêsu đối với giới lãnh đạo Do Thái giáo
vẫn đặt câu hỏi cho chúng ta thời nay.
Làm sao để tôn giáo mở đường cho con người gặp gỡ Thiên Chúa,
chứ không khép lại hay gây cản trở?
Làm sao để người tân tòng thực sự trở thành con cái Nước Trời?
Làm sao để chúng ta khỏi sa vào những chi li thái quá của luật lệ?
Những lời của Đức Giêsu mời gọi chúng ta nhìn lại mình và thay đổi.
 
Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,
khi đến với nhau,
chúng con thường mang những mặt nạ.
Chúng con sợ người khác thấy sự thật về mình.
Chúng con cố giữ uy tín cho bộ mặt
dù đó chỉ là chiếc mặt nạ giả dối.
Khi đến với Chúa,
chúng con cũng thường mang mặt nạ.
Có những hành vi đạo đức bên ngoài
để che giấu cái trống rỗng bên trong.
Có những lời kinh đọc trên môi,
nhưng không có chỗ trong tâm hồn,
và ngược hẳn với cuộc sống thực tế.

Lạy Chúa Giêsu,
chúng con cũng thường ngắm mình trong gương,
tự ru ngủ và đánh lừa mình,
mãn nguyện với cái mặt nạ vừa vặn.
Xin giúp chúng con cởi bỏ mọi thứ mặt nạ,
đã ăn sâu vào da thịt chúng con,
để chúng con thôi đánh lừa nhau,
đánh lừa Chúa và chính mình.
Ước gì chúng con xây dựng bầu khí chân thành,
để chúng con được lớn lên trong bình an.
 
---------------------------------

 

Suy niệm 2: Lãnh đạo sáng suốt


(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Vận mệnh một cộng đoàn tùy thuộc rất nhiều vào lãnh đạo. Lãnh đạo sáng suốt sẽ giúp cộng đoàn phát triển. Lãnh đạo sai lầm sẽ tàn phá cộng đoàn nhanh chóng. Chúa Giêsu chê trách người Pha-ri-sêu vì họ đưa dân vào chỗ sai lạc, chết chóc.

Họ sai lạc vì giữ tín đồ lại cho mình, chứ không dẫn đưa kẻ tin đến với Chúa. Tự giam hãm, trói buộc mình trong những mớ luật lệ tỉ mỉ, phức tạp làm thui chột sức sống, họ không chịu vào Nước Trời mà còn ngăn cản không cho người khác vào.

Họ sai lạc vì dẫn đưa người khác đến chỗ chết, xô đẩy họ vào hỏa ngục khi loan truyền một thứ đạo không mến Chúa, cũng chẳng yêu người.

Họ sai lạc quá xa khi đưa ra một thứ đạo dừng lại ở vật chất, hình thức bên ngoài. Thề thốt và tin rằng những vật chất quí giá là vàng bạc và lễ vật có thể chứng giám lời thề. Nhưng không đặt mình trước mặt Chúa, thiếu đức tin vào Chúa. Đạo không có Chúa chỉ là trống rỗng. Thờ phượng chỉ dừng lại ở vật chất và lễ nghi chỉ là lừa bịp. Sống đạo chỉ vụ lề luật là một thứ vong thân, tha hóa khiến ta thành nô lệ.

Thánh Phao-lô tỏ ra là người dẫn đường sáng suốt khi không biến mình thành ngẫu tượng. Tuy được dân đón nhận, tin yêu, thánh nhân không bắt họ dừng lại nơi mình, nhưng đã dẫn họ đến với Chúa. Ngài biết rằng tín hữu có niềm tin không phải nhờ tiếng nói của ngài nhưng “còn có quyền năng của Thánh Thần” (năm lẻ).

Ngài khen ngợi dân thành Thessalonica vì họ đã biết “từ bỏ ngẫu tượng mà quay về với thiên Chúa để phụng thờ Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa thật”. Hơn nữa họ đã vượt qua những khó khăn thử thách mà vẫn vững tin vào Chúa, vẫn yêu mến Chúa và nhất là vẫn trông cậy, chờ đợi Chúa Giêsu Kito, Đấng Cứu Độ ngự đến.

Ngài mặc khải cho họ biết đạo Chúa là đạo tình yêu. Ngài chúc mừng tín hữu Thessalonica vì họ “là những người được Thiên Chúa thương mến, chúng tôi biết rằng Thiên Chúa đã chọn anh em”. Vì thế đạo không phải là một khái niệm trừu tượng hay một mớ luật lệ vô hồn. Vì trong đạo họ được sống trong tự do, được gặp gỡ Thiên Chúa sống đọng trong một tương quan liên chủ thể.

Với người lãnh đạo sáng suốt, dân Chúa được dẫn đưa trên đường ngay nẻo chính, được gặp Chúa. Và được sống. “Như thế, danh của Chúa chúng ta là Đức Giêsu, sẽ được tôn vinh nơi anh em, và anh em được tôn vinh nơi Người” (năm chẵn).

---------------------------------

 

Suy niệm 3: Kết Án Tội Mù Quáng


(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Toàn chương 23 Phúc Âm thánh Mátthêu ghi lại những lời kết án của Chúa Giêsu đối với các Luật sĩ và Biệt phái. Nhưng trước khi công bố 7 lời kết án đó, tác giả Mátthêu ghi lại nhận định chung của Chúa Giêsu (c.1-12). Chúa Giêsu, Ngài đề ra luật sống mới cho tất cả những ai muốn theo Ngài, Ngài là vị thầy duy nhất thay thế Môsê và các vị thầy nhân loại khác, Ngài muốn cho các môn đệ đừng rơi vào thái độ của những Luật sĩ và Biệt phái: mù quáng, giả hình, vụ hình thức, chú trọng đến cái phụ thuộc mà bỏ quên giáo lý làm linh hồn cho những hình thức bên ngoài.

Ba lời lên án của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay có cùng một điểm chung là sự mù quáng. Vì mù quáng, các Luật sĩ và Biệt phái chẳng những không được vào Nước Trời, mà còn cản trở những ai muốn vào đó; vì mù quáng, họ chỉ muốn khoe khoang lòng nhiệt thành tông đồ của họ, chứ không thực sự nhằm đến ơn cứu rỗi của những người họ muốn đưa về cùng Chúa; vì mù quáng, họ thay đổi luật Chúa theo ý riêng để có lợi cho cá nhân, chứ không thực sự màng đến luật Chúa.

Ðó là ba lời kết án của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã tự ví mình như người chăn chiên nhân lành đi tìm chiên lạc, như thầy thuốc cần cho bệnh nhân, như một Vị Thiên Chúa quyền năng sẵn sàng tha thứ và giải phóng con người tội lỗi. Thế nhưng, Ngài đã không sợ đưa ra những lời kết án mạnh mẽ, thẳng thắn: "Khốn cho các ngươi", không phải vì Ngài không còn lòng nhân từ và tha thứ, nhưng vì sự cứng lòng chai đá của con người đã đến mức tột cùng; không hoán cải khỏi thái độ giả hình, mù quáng, lạm dụng tôn giáo, con người không thể hưởng được tình yêu thương nhân từ của Thiên Chúa.

Ước gì Lời Chúa hôm nay thức tỉnh chúng ta khỏi thái độ mù quáng, khép kín, tư lợi, và cho chúng ta biết sống khiêm tốn, chân thành trước mặt Chúa và đối với anh em, để chúng ta xứng đáng hưởng chúc lành của Chúa.

---------------------------------

 

Suy niệm 4: Lắng Nghe Tiếng Nói Của Lương Tri


(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Những lời "khốn cho các ngươi" được lập lại nhiều lần tương ứng với những điều chướng tai gai mắt cũng là những tội của các kinh sư và biệt phái. Họ đã cố tình làm những điều phi lý, khóa cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào, nuốt hết tài sản của các bà góa, rảo khắp các biển cả đất liền rủ cho được một người theo đạo, nhưng khi họ theo rồi thì lại làm cho họ đáng xuống hỏa ngục hơn. Chúa Giêsu đã gọi các kinh sư và biệt phái là những người sống mù quáng. Ðiều đáng nói ở đây là các kinh sư và biệt phái cố tình chia lìa trong lỗi lầm của mình, họ thích danh vọng và chạy theo những bả vinh hoa, vì vậy họ cố gắng tìm mọi cách để đạt đến nó bằng bất cứ cách nào. Có thể nói đây là những người chủ trương lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện. Cứu cánh của họ đã không công minh, chính trực và phương tiện lại còn đê hèn hơn, nên họ đã lợi dụng những dân đen, là những người thấp cổ bé họng, không có khả năng tự bảo vệ mình.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta hãy lắng nghe tiếng nói của lương tri, là lời của Chúa muốn dạy chúng ta cách cụ thể trong từng trường hợp của đời sống ta.

Lạy Chúa,

Xin Chúa ban cho mỗi chúng con luôn biết xa tránh những điều xấu xa và tìm đến nguồn mạch ân sủng là Lời Chúa, nhờ đó lương tâm của chúng con mãi trong sáng để rọi lên hình ảnh sống động của Chúa và thánh ý Ngài trong mỗi giây phút của cuộc sống chúng con.

---------------------------------

 

Suy niệm 5: Khốn cho kẻ giả hình.


Đức Giêsu nói: “Khốn cho các ngươi, những kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! các ngươi khóa cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào! các ngươi đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các ngươi cũng không để họ vào.” (Mt. 23, 13)

Nếu có ai hỏi sao một người hiền lành, dịu ngọt nhất như Đức Giêsu lại có những lời như xẻ cưa, lửa đốt như vậy trong Tin Mừng của Người khi Người khiển trách những kẻ giả hình và những kẻ làm gương mù? Vì lợi ích tương lai của công trình Người, Người phải lột mặt nạ tập đoàn kinh sư lợi dụng quyền thế tách rời Người ra khỏi những người thường dân bé nhỏ. Hôm nay, Người nói rõ sự thật về họ một cách trịnh trọng:

Những kẻ giả hình xưa:

Tiếng kêu: “Khốn cho” kẻ giả hình, họ giả hình vì chỉ thực hành những nghi thức tôn giáo hoàn toàn hình thức bên ngoài, khác xa với lòng đạo đức chân thực sống động bên trong con người. Kẻ giả hình luôn lợi dụng việc thờ phượng Thiên Chúa hằng sống để thượng tôn pháp luật và nghi lễ bên ngoài một cách xảo quyệt. Chính ra việc phụng sự Thiên Chúa phải thành thực và sống động bởi lòng yêu mến chân chính.

Những lời khiển trách của Chúa còn tới chúng ta ngày nay không?

Kẻ giả hình ngày nay.

Chúng ta có là kẻ giả hình không? Không nên khóc thương những kẻ giả hình khốn khổ xưa, cũng không xét đoán ai. Nhưng chính mình chúng ta có sống chân thật không? Trong đời sống chúng ta? trong lúc hành đạo? có thể chúng ta có nhiều thái độ giả hình được biện minh nhân danh phục vụ, cần cho hợp thời dựa vào sự đổi mới của Công đồng Va-ti-can 2 hay liệng bỏ lời Giáo Hội là Thầy dạy.

Chúng ta giầu và phong phú lắm. Phải, đúng là chúng ta rất phong phú về lễ nghi. Nhưng chúng ta có biết tự hạ mình xuống giúp những kẻ không có gì chăng? có lẽ chúng ta cầu nguyện nhiều, nhưng có vừa đủ để cho người khác cầu nguyện không? và có khi họ cầu nguyện còn thành thực hơn chúng ta nhiều.

CG

---------------------------------

 

Suy niệm 6: Lời rao giảng phải đi đôi với hành động


Mahatma Gandhi là anh hùng dân tộc Ấn Độ, ông đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân của Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ với sự ủng hộ nhiệt liệt của hàng triệu người dân.

Lúc còn là sinh viên, ông say mê đọc Kinh Thánh và có ý định gia nhập đạo Công Giáo vì ông thấy giáo lý của Đức Giêsu về “đạo yêu thương” quá tuyệt vời! Nhưng vào một lần, ông đi đến nhà thờ của người da trắng để dự lễ, ngay lập tức, ông bị ngăn lại và được mời đến nhà thờ của người da đen, vì nơi đây không phải là nhà thờ của người da đen. Mahatma Gandhi ra về trong thất vọng. Kể từ đó, ông không bao giờ đến nhà thờ và quyết liệt từ bỏ ý định trở thành người Công Giáo vì hành động phản yêu thương của những người da trắng.

Thật vậy, trong xã hội ngày nay, vẫn còn đó những hình ảnh, cử chỉ của người Công Giáo như những người da trắng trong câu chuyện trên. Họ là những người giả hình “hạng ưu”!

Tại sao vậy? Thưa! Ấy là lúc chúng ta nói những lời tốt đẹp, khuyên người ta ăn ngay ở lành. Nào là: phải bao dung, tha thứ; phải nâng đỡ những cô nhi quả phụ; phải đứng về phía người nghèo; phải khước từ bóc lột, áp bức... Những lời khuyên như vậy rất “kêu”, rất “trội” và rất “thánh”...

Tuy nhiên, khi chính bản thân phải đối diện thì hẳn chúng ta lại là những người “sụt hố” đầu tiên chỉ vì một điều đơn giản là: “Nói mà không làm. Hăng say chất những gánh nặng lên vai người khác, nhưng chính mình thì lại không buồn động ngón tay vào”. Tệ hơn nữa lại tìm cơ hội để trả thù nhân danh đạo đức, lề luật...!

Những lúc như thế, chúng ta đâu có khác gì những Kinh Sư và Pharisêu mà trong bài Tin Mừng hôm nay đã bị Đức Giêsu vạch trần tội ác của họ?

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy trở nên chứng nhân cho Chúa qua hành động tốt của mình. Nói cách khác, muốn dạy người khác điều gì, chính chúng ta phải là những người đã sống và cảm nghiệm trước khi khuyên bảo người khác. Làm tất cả vì vinh danh Chúa, chứ không phải lấy Chúa làm “bình phong” để “tô son chát phấn” nhằm đề cao danh dự, tiếng tăm cho bản thân mình.

Có thế, chúng ta mới là người mang trong mình và giới thiệu một vị Thiên Chúa là Cha yêu thương. Một Vị Thiên Chúa được hiện tại hóa qua đời sống chứng nhân và lời rao giảng cũng như cảm nghiệm của chính chúng ta. Nếu không thì mọi việc chúng ta làm chỉ là hành vi của kẻ “phá hoại” sứ điệp “yêu thương” của Thiên Chúa mà thôi. Và nguy hiểm hơn nữa là “mù dắt mù cả hai cùng xuống hố”. Tyu nhiên, để làm được điều đó không phải là chuyện dễ dàng. Vì thế, rất cần lời cầu nguyện và ơn Chúa trợ giúp.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết trở nên những người loan báo Lời Chúa bằng chính đời sống của mình. Amen.

Ngọc Biển SSP

 ---------------------------------

 

Suy niệm 7: Đạo đức giả hình


(TGM Giuse Nguyễn Năng)

Sứ điệp: Chúa Giêsu nghiêm khắc chỉ trích thái độ giả hình của nhóm kinh sư và biệt phái, họ sống đạo hình thức mà quên đi cái cốt lõi của đạo: lòng mến Chúa chân thật và yêu thương con người.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã than trách nhóm kinh sư và biệt phái giả hình. Ngày hôm nay, con tự nghĩ Chúa cũng đang than trách chính con, vì con cũng có những tật xấu như họ. Thật vậy, con vẫn thường khắt khe đòi buộc người khác phải tuân giữ luật Chúa, còn con tự cho mình được miễn trừ. Con dạy người ta phải sống Tin Mừng, đang khi cuộc sống của con đầy dẫy những gương xấu. Con hăng hái làm các việc tông đồ, nhưng các việc làm của con nhằm vinh danh cho chính con hơn là cho Chúa. Con không để cho Chúa Thánh Thần soi sáng khi suy gẫm Lời Chúa, mà lại tùy tiện giải thích theo ý riêng con và có lợi cho con. Lạy Chúa, xin thương tha thứ cho con.

Xin cho con biết thờ phượng Chúa trong tinh thần và chân lý, đừng để con rơi vào một thứ đạo hình thức và giả dối. Xin cho lời nói của con luôn đi đôi với việc làm, để những gì con muốn người khác làm cho con, con cũng làm cho họ như vậy. Xin cho ngọn lửa nhiệt thành nhà Chúa thôi thúc con để con hăng say dấn thân làm tông đồ cho Chúa và chỉ nhằm vinh danh Chúa mà thôi.

Và xin Thánh Thần Chúa thanh lọc khỏi con người con những ích kỷ, giả dối, kiêu căng và tham lam, để đời sống đạo của con theo tinh thần phúc âm, sẽ trở nên dấu chỉ cho mọi người nhận biết Chúa. Amen.

Ghi nhớ: “Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ dẫn đường đui mù”.

 ---------------------------------

 

Suy niệm 8: Chúa khiển trách các luật sĩ và biệt phái


(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

1. Bài Tin Mừng hôm nay nghe thật nặng nề, vì lời lẽ Chúa Giêsu nặng lời lên án những người thuộc nhóm biệt phái sống giả hình. Thế nhưng, suy rộng ra, cách sống của họ không là cá biệt mà nó phản ánh chính cuộc sống của không ít chúng ta ngày hôm nay. Chúng ta cũng nhìn lại và suy gẫm về chính cuộc đời mỗi chúng ta lần lượt qua từng câu trong đoạn Tin Mừng hôm nay.

2. Hôm nay chúng ta thấy, Chúa Giêsu đã mạnh mẽ lên án những tội của luật sĩ và biệt phái: giải thích lề luật một cách tỉ mỉ khiến không ai có thể giữ được; chất gánh nặng trên vai người khác, mà chính mình không muốn giơ ngón tay lay thử; làm bộ đọc kinh cho nhiều, nhưng lại toan tính nuốt cả tài sản người khác; tìm hư danh ngay cả trong việc truyền đạo; cắt nghĩa lời thề bằng những giải thích hoàn toàn có lợi cho mình, nhưng đó chỉ là cách giải thích tùy tiện theo ý loài người, chứ không tuân giữ lời Chúa.

3. Ta có thể nhận thấy Chúa Giêsu lên án 5 cung cách đạo đức giả nơi người luật sĩ như sau: một là không muốn ai tiếp cận chân lý (c.13); hai là biến các tân tòng thành con cái hỏa ngục, qui về mình hơn là về Chúa (c.15); ba là an tâm tự tại với một số đồ dâng cúng mà bỏ qua những điều cần phải tuân giữ cho đẹp lòng Chúa (cc 16-19); bốn là nộp mọi thứ thuế, nhưng lại bỏ qua những điều quan trọng hơn là công lý, lòng nhân lành và thành tín (cc.23-24); năm là chú trọng nghi thức thanh tẩy bên ngoài, mà bên trong đầy chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ (cc.25-26).

Sở dĩ các luật sĩ có những cung cách đạo đức giả đáng ghét này vì họ muốn trục lợi vật chất, thích phô trương thanh thế, tôn thờ mình thay vì thật sự thờ phượng Chúa. Họ biết thế, nhưng họ không muốn làm theo điều mình lẽ ra phải làm, mà vẫn khư khư ôm chặt cái lợi về mình nên bị Chúa quở trách là giả hình, giả hiệu (5 phút Lời Chúa).

4. Các nhà sinh vật học đã tìm ra một loài bướm có đôi cánh rất lạ. Khi chúng bay, cánh có mầu sắc rất sặc sỡ, nhưng khi chúng đậu, cánh lại có mầu giống như chiếc lá khô. Nhờ sự thay đổi mầu sắc ấy, loài bướm này dễ dàng đánh lừa kẻ thù và ít bị tấn công.

Trong thế giới tự nhiên có những loài vật biết ngụy trang và thay đổi bề ngoài để đánh lừa loài khác. Trong thế giới con người, cũng có những kẻ giả hình để lừa gạt người khác như vậy.

Đức Giêsu lên án gay gắt những kẻ giả hình. Họ là những người đứng đầu, lãnh đạo và đại diện cho dân, nhưng lại bị Ngài lên án vì lối sống giả tạo của họ. Sau lời chúc dữ, Đức Giêsu vạch trần lối sống giả hình của họ. Qua đó, Ngài muốn thức tỉnh họ, cũng như chúng ta hôm nay, hãy biết thay đổi mà sống chân thật với mình, và với Chúa (Học viện Đa Minh).

5. Nói chung, các luật sĩ và biệt phái kiêu căng, háo danh, giả hình, ưa chuộng hình thức bên ngoài mà tâm hỗn rỗng tuếch, nói và làm không đi đôi với nhau, như tục ngữ Việt nam nói: “Khẩu phật tâm xà” hay “Miệng thơn thớt, dạ ớt ngâm”  để diễn tả những người mang mặt nạ giả danh đạo đức tốt lành bên ngoài với dụng ý che giấu lòng dạ hiểm độc bên trong: “Bề ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”.

6. Chúng ta hãy sống với Chúa như con đối với cha, đừng quá chú trọng đến lề luật. Mỗi khi làm một điều gì, câu hỏi trước tiên của chúng ta phải là: “Tôi làm như thế có đẹp lòng Chúa không”?, chứ không phải là “Tôi làm như thế có đúng luật không”? Luật lệ chỉ là thước giữ cho con người khỏi đi quá trớn, chứ không phải để đo mức thánh thiện đạo đức của con người.

Xin Chúa cho chúng ta biết sống chân thành với Chúa, với tha nhân, với chính bản thân, để cuộc sống chúng ta thực sự phản ánh tình yêu Chúa qua những hành vi yêu thương phục vụ của chúng ta.

7. Truyện: Nhà tu hành bất đắc dĩ.

Trong kho tàng truyện cổ của Ấn độ, có câu chuyện này: Một nhà phú hộ kia có một hồ cá rất lớn. Ông cho thả rất nhiều cá ở đó. Một đêm kia có một tên ngư phủ nghèo lén vào trong hồ cá của ông để thả lưới tính bắt trộm cá. Thế nhưng, chưa kịp kéo lưới thì người giầu đã phát hiện ra có người đang tính bắt trộm cá của ông. Ông cho gia nhân của ông bổ đi khắp nơi, quanh cái hồ mênh mông của mình để tìm cho bằng được tên trộm.

Đám gia nhân đốt đuốc đi tìm khắp nơi mà không thấy bóng dáng tên trộm đâu cả.

Trong khi đó thì anh ngư phủ nghèo lấy tro rắc lên đầy mình và đến ngồi dưới một gốc cây gần đó, y hệt một nhà hiền triết hay một đạo sĩ.

Sau nhiều giờ tìm kiếm, đám gia nhân không thấy kẻ trộm đâu mà chỉ thấy một đạo sĩ ngồi dưới gốc cây đang đắm mình suy tư và cầu nguyện.

Chỉ một ngày hôm sau, tiếng đồn đã vang đi khắp nơi rằng, có  một đạo sĩ đang tu luyện dưới gốc cây bên bờ hồ của nhà phú hộ.

Thế là thiện nam tín nữ từ các ngả đường đổ xô đến gốc cây để chiêm ngưỡng vị tu hành. Người thì mang hoa quả, kẻ thì mang tiền bạc. Không mấy chốc mà quà cáp đổ tràn lan chung quanh nhà tu hành bất đắc dĩ.

Nhà tu hành mới nhủ thầm trong bụng: thà đánh lừa bà con để sống còn hơn là đánh cá suốt ngày mà chẳng được gì. Nghĩ như thế rồi, ông ta tiếp tục đóng vai tu hành, ngày đêm tụng niệm và chờ đợi sự tiếp tế của dân làng.

Người đánh cá bất đắc dĩ phải trở thành vị tu hành trên đây cũng có thể là một hình ảnh không xa lạ bao nhiêu đối với chúng ta. Một cách nào đó, có khi chúng ta cũng tự sơn vẽ cho mình một chiếc áo đạo đức để đánh lừa bà con và đánh lừa chính mình.

---------------------------------

 

Suy niệm 9: Khiển trách luật sĩ và biệt phái


(Lm Carôlô Hồ Bạc Xái)

A. Hạt giống...

Tin Mừng của 3 ngày liên tiếp (hôm nay, thứ ba và thứ tư) ghi 7 lời khiển trách nặng nề của Chúa Giêsu nhắm vào giới luật sĩ và biệt phái vì thói giả hình của họ. Đoạn hôm nay gồm 3 lời:

1. Khóa cửa Nước Trời (c13)

- “Các ngươi khóa cửa Nước Trời… Các ngươi đã không vào, mà những kẻ muốn vào các ngươi cũng không cho vào”: các kinh sư và pharisêu là những người hiểu luật và giải thích luật nên thực sự họ là những người nắm giữ chìa khóa “Nước Trời”. “Nước Trời” ở đây có thể hiểu theo 2 nghĩa: a/ Đó là Giáo Hội thập niên 80: nhiều người do thái muốn gia nhập Giáo Hội nhưng bị các kinh sư và pharisêu ngăn cấm; b/ đó là Giáo Hội cách chung: những luật lệ do các kinh sư và pharisêu đặt ra quá khắt khe tỉ mỉ làm cho người ta khó mà giữ nổi nên không thể vào Giáo Hội (CGKPV). Chính họ không muốn vào Giáo Hội, còn những người khác muốn vào thì họ cũng ngăn cản không cho.

2. Làm hại việc Truyền giáo (c 15)

- “Khốn… Các ngươi rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người theo đạo; nhưng khi họ theo rồi các ngươi lại làm cho họ đáng xuống hoả ngục gấp đôi các ngươi”: những người do thái, đặc biệt là các kinh sư và pharisêu, rất nhiệt thành truyền giáo. Nhưng họ không đưa người tân tòng đến với Thiên Chúa mà lại đưa vào não trạng hẹp hòi và lối sống hình thức của họ.

3. Dẫn đường mù quáng (cc 16-22)

- “Khốn… những kẻ dẫn đường mù quáng…”: Những người do thái lo cho đám dân ngoại trở lại tự cho mình là “kẻ hướng dẫn những người mù” (x. Rm 2,19). Chúa Giêsu nói chính họ cũng mù không kém gì những người ngoại mới trở lại ấy. Họ là những người mù dắt người mù! Để lấy một bằng chứng về sự dẫn đường mù quáng, Chúa Giêsu đề cập đến các lời khấn hứa có kèm theo lời thề.  Những kẻ hướng dẫn ấy bám lấy những lời thề. Mà những thứ lời thề này đã bị bài giảng trên núi bác bỏ (x. 5,33-37). Hơn nữa, do bị thúc đẩy bởi lợi nhuận của hệ thống kinh tài Đền thờ, họ lại đưa ra nhiều cách giải thích theo ý muốn của họ. Vì thế chuyện thực hiện và giữ những lời khấn hứa trở thành một thứ đạo đức giả. Chính những người dẫn đường mà đã đi lạc như tế thì những kẻ được họ hướng dẫn cũng sẽ lạc theo.

B.... nẩy mầm.

1. Khóa cửa Nước Trời: Luật của Chúa Giêsu thì êm ái và nhẹ nhàng vì cốt lõi là tình thương. Thế nhưng nếu kẻ có quyền mà không có tình thương khi áp dụng luật thì thay vì luật dẫn người ta đến gần Chúa, lại đẩy người ta xa Chúa.

Ta hãy cầu nguyện cho những người lãnh đạo trong Giáo Hội và trong cộng đoàn chúng ta…

2. Truyền giáo là một việc khó, nhưng giữ những người tòng giáo trong nhiệt tình theo Chúa là việc khó hơn nhiều. Nhiều người lương hăng hái theo đạo vì thấy đạo dạy bác ái yêu thương. Nhiều người gia nhập cộng đoàn vì nghĩ cộng đoàn có tình yêu thương huynh đệ. Nhưng khi đã vào Giáo Hội hoặc cộng đoàn rồi, nhiều người ê chề thất vọng vì thấy thực tế ngược hẳn những điều họ đã nghe “quảng cáo”.

3.  Dẫn đường mù quáng: con đường chính của Đạo là mến Chúa yêu người. Thế nhưng nhiều người không lưu ý tới điều đó mà chỉ chăm chú vào những nố tỉ mỉ của luật. Chẳng hạn khi ăn chay kiêng thịt thì món nào được ăn, món nào không được; trước giờ dự lễ, lỡ uống nước trà có được rước lễ không v.v. Nhiều người khác còn giải thích đạo một cách mê tín dị đoan…

4. Sau khi li hôn, người chồng dọn đồ đạc ra khỏi nhà. Đứa con gái hỏi mẹ

- Sao mẹ đuổi bố?

- Tại bố hư.

Để nó khỏi vặn vẹo lôi thôi, người mẹ mua cho nó cái bánh. Thằng anh từ đâu phóng tới bẻ của em một miếng bánh bỏ ngay vào mồm. Con bé khóc thét bắt đền. Người mẹ dỗ:

- Anh con hư quá. Nhưng thôi nín đi con, bỏ qua cho anh một lần đi.

Đứa bé phụng phịu:

- Thế mẹ có bỏ qua cho bố đâu?

Người mẹ nhìn xa xăm:

- … Ừ, mẹ cũng hư… (Góp nhặt)

5. “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các ngươi khoá cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào! Các ngươi đã không vào, mà những kẻ muốn vào các ngươi cũng không để họ vào.” (Mt 23,13)

Chúa muốn con yêu mến mọi người mà không giữ lấy riêng ai... Chúa muốn con nắm chặt bàn tay thân tình mà không giật lại cho mình.

Thế mà hình như con lại toàn làm những điều ngược lại. Con có thể yêu người khác và sẵn sàng làm tất cả cho họ; thế nhưng kèm theo đó là gì?

- Là những đòi hỏi, những điều kiện mà con muốn người khác phải trả cho con xứng với cái mà con đã cho họ. Hoặc giả như có một ai khác đến và chiếm lấy chỗ đứng của con trong tâm hồn họ, thì con lại tỏ ra ganh tỵ, hiếm khích và hơn thế nữa con có thể nêu tiếng xấu cho người đã cướp đi vị trí của con.

Vâng, con là thế đó. Con thường nghe người ta nói: mình không ăn được thì nên phá đi, đừng để kẻ khác chiếm lấy. Và con cũng thế.

Lạy Chúa, xin cho con biết mở rộng cõi lòng vá nắm chặt bàn tay thân tình, để con được đón nhận và cho đi những gì có thể. (Hosanna)

---------------------------------

 

Suy niệm 10: Cáo trạng kinh khủng trong Tân Ước


(Lm Giuse Đinh Tất Quý)

Đoạn văn này đưa ra một cáo trạng kinh khủng nhất trong Tân Ước. Ở đây chúng ta có thể nghe điều mà Robertson gọi là “cơn thịnh nộ sấm sét của Chúa Cứu Thế”. Và Plummer viết rằng, những lời trách mắng này “giống như những sấm sét vì tính cách nghiêm nghị của chúng giống như tia chớp phơi bày, bóc trần sự thật ra. Chúng vừa đánh xuống vừa chiếu sáng”.

1. Khóa cửa Nước Trời:

a. Luật của Chúa Giêsu thì êm ái và nhẹ nhàng vì cốt lõi là tình thương. Thế nhưng, nếu kẻ có quyền mà không có tình thương khi áp dụng luật thì, thay vì luật dẫn người ta đi đến gần Chúa, lại đẩy người ta xa Chúa hơn.

Ta hãy cầu nguyện cho những người lãnh đạo trong Giao Hội và trong cộng đoàn chúng ta.

b. Truyền giáo là một việc làm khó khăn, nhưng giữ những người tòng giáo nhiệt thành theo Chúa là một việc làm khó hơn nhiều. Nhiều người lương hăng hái theo đạo vì thấy đạo dạy bác ái yêu thương. Nhiều người gia nhập cộng đoàn vì nghĩ cộng đoàn có tình yêu thương huynh đệ. Nhưng khi đã vào Giáo Hội hay cộng đoàn rồi, nhiều người lại ê chề thất vọng vì thấy thực tế ngược hẳn lại những điều họ đã nghe “quảng cáo”.

Sau khi ly hôn, người chồng dọn đồ đạc ra khỏi nhà, đứa con gái hỏi mẹ:

- Sao mẹ đuổi bố?

- Tại bố hư!

Để nó khỏi vặn vẹo lôi thôi, người mẹ mua cho nó cái bánh. Thằng anh từ đâu phóng tới bẻ ngay một miếng bỏ vào mồm. Con bé khóc thét lên bắt đền. Người mẹ dỗ:

- Anh con hư quá. Nhưng thôi nín đi con, bỏ qua cho anh một lần đi.

Đứa bé phụng phịu:

- Thế mẹ có bỏ qua cho bố đâu?

Người mẹ nhìn xa xăm:

- Ừ, mẹ cũng hư. (Góp nhặt)

c. Dẫn đường mù quáng: con đường chính của đạo là mến Chúa yêu người, thế nhưng nhiều người không lưu ý đến điều đó mà chỉ chăm chú vào những chỗ tỉ mỉ của luật. Chẳng hạn khi ăn chay kiêng thịt thì phân biệt những món nào được ăn, món nào không, trước giờ dự lễ mà lỡ uống nước trà có được rước lễ không? Nhiều người khác còn giải thích đạo là một mớ các mê tín dị đoan.

2. “Khốn cho các người hỡi các luật sĩ và Pharisêu giả hình” (Mt 23, 13).

Chúa trách những người Pharisêu và luật sĩ giả hình. Hãy coi chừng kẻo chính chúng ta cũng giả hình mà chúng ta không hay!

Trong kho tàng truyện cổ của Ấn Độ, có câu chuyện này. Một nhà phú hộ kia có một hồ nuôi cá rất lớn. Ông cho thả rất nhiều cá ở đó. Một đêm kia có một tên ngư phủ nghèo lẻn vào trong hồ cá của ông để thả lưới tính bắt trộm cá. Thế nhưng, chưa kịp kéo lưới lên thì người giàu đã phát hiện ra có người đang tính bắt trộm cá của ông. Ông cho gia nhân bủa đi khắp nơi, quanh cái hồ mênh mông của mình để tìm cho bằng được tên trộm.

Đám gia nhân đốt đuốc đi tìm khắp nơi mà không thấy bóng dáng tên trộm đâu cả.

Trong khi đó thì anh ngư phủ nghèo lấy tro rắc lên đầy mình và đến ngồi dưới một gốc cây gần đó, y hệt một nhà hiền triết hay một đạo sĩ.

Sau nhiều giờ tìm kiếm, đám gia nhân không thấy kẻ trộm đâu cả mà chỉ thấy một đạo sĩ ngồi dưới gốc cây đang đắm mình suy tư và cầu nguyện.

Chỉ một ngày hôm sau, tiếng đồn đã vang đi khắp nơi rằng, có một đạo sĩ đang tu luyện dưới gốc cây bên bờ hồ của nhà phú hộ.

Thế là thiện nam tín nữ từ các ngã đường đổ xô đến gốc cây để chiêm ngưỡng vị tu hành. Người thì mang hoa quả, kẻ thì mang tiền bạc. Không mấy chốc mà quà cáp đã tuôn đổ tràn lan quanh nhà tu hành bất đắc dĩ.

Nhà tu hành mới nhủ thầm trong bụng: thà đánh lừa bà con để sống còn hơn là đánh cá suốt ngày mà chẳng được gì. Nghĩ như thế rồi, ông ta tiếp tục đóng vai tu hành, ngày đêm tụng niệm và chờ đợi sự tiếp tế của dân làng.

Người đánh cá bất đắc dĩ phải trở thành vị tu hành trên đây cũng có thể là một hình ảnh không xa lạ bao nhiêu đối với chúng ta.

Một cách nào đó, có khi chúng ta cũng tự sơn vẽ cho mình một chiếc áo đạo đức để đánh lừa bà con và đánh lừa chính mình.

Có thể mỗi Chúa nhật tôi đều đến nhà thờ để cho bà con hàng xóm thấy rằng, tôi có giữ ngày Chúa nhật, rằng tôi là người ngoan đạo, và để lương tâm tôi cũng chuẩn nhận rằng, tôi đã giữ trọn luật Chúa và luật Giáo Hội. Nhưng tuân giữ như thế có đủ để gọi là sống đạo Chúa chưa? Nếu tôi không quan tâm đến những đòi hỏi của công bình và bác ái trong công ăn việc làm của tôi, cũng như trong quan hệ của tôi với người khác.

Lạy Chúa,

Xin Chúa cho chúng con biết khiêm nhường điều chỉnh lại lối sống của mỗi chúng con sao cho thật phù hợp với lòng mong ước của Chúa. Amen.

---------------------------------

 

Suy niệm 11: Khốn cho các ngươi, những người dẫn đường đui mù


(Lm. Micae Võ Thành Nhân)

Trong bài Tin Mừng hôm nay, bốn lần Chúa nói với những người biệt phái, luật sỹ là: “Khốn cho các ngươi”. Chúa nói vậy không phải như có những anh chị em lầm tưởng rằng là Chúa rủa xối rủa sả, Chúa trù ẻo họ. Không phải đâu, Chúa nói như vậy là Chúa quở trách họ, đôi lúc cũng có vẻ hơi nặng nề một chút, với mục đích là để Chúa cảnh tỉnh họ, Chúa kéo họ ra khỏi lối sống giả hình, lừa dối người khác, mà sửa mình để sống tốt hơn.

Sở dĩ Chúa lên án họ nặng lời là vì họ lợi dụng chức quyền Chúa ban mà lo kiếm chát, lo vun đắp cho riêng tư cá nhân về của cải, tiền bạc, vật chất mà không quan tâm lo lắng cho đoàn dân của Chúa trao phó. Họ chỉ biết vắt sữa và xén lông chiên chứ không chăm sóc đàn chiên. Họ chỉ có thương bản thân họ mà không thương dân chúng Cụ thể là chính họ không muốn vào thiên đàng mà họ cũng đóng cửa không cho ai vào. Họ đọc kinh dài để nuốt hết tài sản của các bà góa. Họ đi kiếm người tòng giáo, nhưng họ lại làm cho người đó thành con cái hỏa ngục gấp hai lần họ. Họ tự động giải thích sai các khoản luật là vì các lễ vật mà dân chúng dâng cho Chúa mà họ chiếm lấy làm của riêng. Họ giải thích sai để lừa dối dân chúng, làm cho dân mắc vào lời thề thì phải lo thực hiện và họ là người hưởng lợi. Chúng ta thấy thương dân của Chúa vì dân Chúa quá tin tưởng, quá nghe lời của họ. Còn bản thân họ khi đã lừa dối được dân chúng rồi thì họ lại càng thêm cứng lòng, chai lỳ trong tội lỗi của họ hơn: “Khốn cho các , hỡi những kẻ dẫn đường đui mù, vì các ngươi nói rằng: Ai lấy đền thờ mà thề thì chẳng có giá trị gì, nhưng ai lấy vàng trong đền thờ mà thề, thì mắc lời thề. Hỡi kẻ ngu ngốc và đui mù, chớ thì vàng, hay là đền thờ thánh hóa vàng, cái nào trọng hơn? Các ngươi còn nói rằng: Ai lấy bàn thờ mà thề, thì không có giá trị, nhưng ai lấy của lễ để trên bàn thờ mà thề, thì mắc lời thề. Hỡi những kẻ đui mù, chớ thì của lễ hay là bàn thờ thánh hóa của lễ, cái nào trọng hơn? Vậy a lấy bàn thờ mà thề, thì lấy cả bàn thờ và mọi vật để trên bàn thờ mà thề. Kẻ nào lấy đền thờ mà thề, thì lấy cả đền thờ và Đấng ngự trong đền thờ mà thề. Và kẻ nào lấy trời mà thề, thì lấy ngai tòa Thiên Chúa, và Đấng ngự trên ngai tòa ấy mà thề” (Mt 23, 16 – 22).

Những lời Chúa quở trách các người biệt phái, luật sỹ xưa kia đã làm cho chúng ta phải suy nghĩ lại bản thân của chúng ta. Chúng ta cũng bị Chúa quở trách vì lối sống giả hình, giả bộ, không thành thật của chúng ta. Nhiều lúc chúng ta sống giả hình để thực hiện mưu đồ đen tối của chúng ta, đó là tìm kiếm lợi lộc, ân huệ, ưu đãi cho riêng mình, làm cho anh chị em của chúng ta mắc mưu chúng ta, mất mát vì chúng ta. Vì thế, chúng ta hãy sống thật lòng, hãy thương yêu các người anh chị em của chúng ta, đừng bao giờ sống giả đối, giả hình lừa lọc anh chị em của chúng ta. Có những anh chị em bị chúng ta giả hình, phỉnh gạt làm người khác sống mà dỡ khóc, dỡ cười, tan gia bại sản, thân bại danh liệt, gây đau khổ cho họ. Do đó, chúng ta phải cố gắng đi trong đường lối của Chúa thì Chúa thương xót chúng ta hơn.

Lạy Chúa, Chúa vượt hết trên mọi loài mọi vật, Chúa là Đấng chúng con tôn thờ, yêu mến, chúng con nguyện suốt đời chúc tụng, ngợi khen, tôn vinh Chúa, loan truyền Chúa cho mọi người, vì Chúa luôn dạy chúng con làm những điều lành, điều thiện, điều tốt để chúng con sống tốt hơn và mang lại lợi ích cho những người sống chung quanh chúng con. Amen.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 12: Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ dẫn đường đui mù


(Lm. Micae Võ Thành Nhân)

Chúa nói những người biệt phái, luật sỹ, trưởng tế, kỳ lão là những kẻ đui mù, họ có đôi mắt bên ngoài thì sáng, còn đôi mắt lương tâm thì bị mù loà. Nguyên nhân của sự đui mù này là do lối sống giả hình, đạo đức giả. Chúa lên án họ rất gay gắt lối sống kiểu này: “Khốn cho các ngươi … ” bởi họ làm những việc nghịch với lương tâm như : Đóng cửa nước trời không cho ai vào mà chính họ cũng không muốn vào, đọc kinh dài để nuốt hết tài sản của các bà góa, đi tìm người để cho tòng giáo rồi làm cho họ sa hỏa ngục bởi gương xấu của họ, coi trọng của cải vật chất hơn sự thánh thiêng của bàn thờ và đền thờ … .

Sự mù loài bởi dục vọng đam mê của cải vật chất đã đánh mất sự thánh thiêng chức vụ của họ là luật sỹ, biệt phái, trưởng tế, kỳ lão. Họ giải thích lề luật sao cho có lợi cho chính bản thân họ: “Khốn cho các ngươi, những kẻ dẫn đường mù quáng! Các người bảo: ‘Ai chỉ Ðền Thờ mà thề, thì có thề cũng như không; còn ai chỉ vàng trong Ðền Thờ mà thề, thì bị ràng buộc’. Ðồ ngu si mù quáng! Thế thì vàng hay Ðền Thờ là nơi làm cho vàng nên của thánh, cái nào trọng hơn? Các người còn nói: ‘Ai chỉ bàn thờ mà thề, thì có thề cũng như không; nhưng ai chỉ lễ vật trên bàn thờ mà thề thì bị ràng buộc’. Ðồ mù quáng! Thế thì lễ vật hay bàn thờ là nơi làm cho lễ vật nên của thánh, cái nào trọng hơn? Vậy ai chỉ bàn thờ mà thề, là chỉ bàn thờ và mọi sự trên bàn thờ mà thề. Và ai chỉ Ðền Thờ mà thề, là chỉ Ðền Thờ và Ðấng ngự ở đó mà thề. Và ai chỉ trời mà thề, là chỉ ngai Thiên Chúa và cả Thiên Chúa ngự trên đó mà thề” (Mt 23, 16 – 22). Chúa bảo họ là ngu ngốc. Ngu ngốc là do ham mê của cải. Ham mê của cải nên đui mù. Đui mù nên sống giả hình. Sống giả hình nên ngu ngốc. Nếu họ bỏ đi lối sống giả hình thì đui mù, ngu ngốc, ham mê của cải sẽ không còn nữa. Nghĩa là khi họ thực hiện lời Chúa dạy thì họ sẽ trở nên tốt hơn, nhưng điều này không bao giờ xẩy ra đối với họ.

Xã hội chúng ta đang sống ngày hôm nay xuống cấp trầm trọng bởi lối sống giả hình, đạo đức giả, không tôn trọng sự thật của con người chúng ta. Chúng ta bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được mục đích, không cần quan tâm đến người anh chị em của chúng ta đang bị mất mát, đang bị đau khổ bởi những hành động đó của chúng ta. Chúng ta đóng kín đôi tai của mình lại để không nghe tiếng tha nhân kêu gào, than thở, cầu khẩn lượng hải hà do họ bị khổ đau. Chúng ta nhắm đôi mắt của mình lại để không nhìn thấy tình yêu Chúa khắp nơi, không nhìn thấy người hành khất nằm bên vệ đường để mà giúp đỡ: “Ôi lạy Chúa, mở cho con đôi mắt. Thấy tình yêu kỳ diệu Chúa khắp nơi. Con mù lòa, bên vệ đường hành khất. Xin chữa con để nhìn thấy mặt Ngài. Cúi lạy Ngài, cho tai con nghe rõ. Tiếng tha nhân cầu khẩn lượng hải hà. Họ khổ đau, họ kêu gào than thở. Đừng để con cứ giả điếc làm ngơ. Cúi lạy Ngài, xin mở rộng tay con. Luôn nắm lại giữ khư khư tất cả. Trước cửa nhà có người nghèo đói lả. Xin dạy con biết chia sẻ vui lòng. Cúi lạy Ngài, cho chân con vững chãi. Để tiến lên dẫu đường xá hiểm nguy. Nguyện theo Ngài, thập giá đau quản ngại. Chúa cầm tay mà dẫn bước con đi. Cúi lạy Ngài, giữ lòng con tin tưởng. Mặc ai bảo: Chúa đã chết đâu còn. Khi chiều về gánh thời gian trĩu nặng. Xin dừng chân ở lại với con luôn” (Thánh Thi thứ năm kinh sách tuần II thường niên). Tất cả những sự việc này đang xẩy ra từng giờ, từng ngày quanh chúng ta. Vì thế chúng ta cần bỏ lối sống giả hình, cầu xin Chúa cứu chữa chúng ta để chúng ta nghe và thấy mà giúp đỡ kịp thời anh chị em chúng ta. Có như vậy thì cuộc sống mới tốt đẹp và Chúa sẽ thương chúng ta hơn.

Lạy Chúa, xin Chúa giúp chúng con sống thật lòng với Chúa, vì khi chúng con sống thật lòng, không gian dối trước mặt Chúa thì Chúa mới có cách giúp chúng con sống tốt hơn, Chúa sẽ chữa sự đui mù, câm điếc, ngu ngốc phần linh hồn của chúng con. Amen.

---------------------------------

 

Suy Niệm 13: Những kẻ dẫn đường mù quáng


(Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)

Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Hai Tuần 21 Thường Niên, Năm Lẻ này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chỉ có Chúa mới làm cho chúng ta nên một lòng một ý, xin Chúa cho tất cả chúng ta biết yêu luật Chúa truyền và mong điều Chúa hứa, để dầu sống giữa cảnh thế sự thăng trầm, chúng ta vẫn một lòng thiết tha với cõi phúc chân thật.

Thiết tha với cõi phúc chân thật, như đoàn chiên bé nhỏ nghèo hèn tìm nương ẩn nơi Chúa, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Xôphônia: Thiên Chúa cứu độ kẻ nghèo hèn. Điều Dân Ítraen hy vọng là nhờ Đấng Thiên Sai, Dân Thiên Chúa sẽ nắm quyền thống trị và được hưởng vinh quang, sau khi, các dân ngoại đã phải thần phục Thiên Chúa chân thật. Isaia và Mikha đã nói đến một vương quốc trong đó công lý và hòa bình ngự trị. Phần Xôphônia thì từ chối mọi vẻ đắc thắng: Dân của Đấng Thiên Sai sẽ gồm những người nghèo hèn, bé nhỏ. Họ chẳng có gì ngoài Thiên Chúa… Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ; chúng sẽ tìm nương ẩn nơi danh Đức Chúa. Ta sẽ làm cho môi miệng chư dân nên tinh sạch, để tất cả đều kêu cầu danh Đức Chúa.

Thiết tha với cõi phúc chân thật, như đoàn chiên gắn bó với Mục Tử, được nghỉ ngơi bồi dưỡng, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích bài diễn giải của thánh Tôma Aquinô: Nhóm Dân Ítraen còn sót lại được chăn dắt và nghỉ ngơi… Ta sẽ kiểm điểm chiên của Ta. Ta kéo chúng ra khỏi mọi nơi chúng đã bị tản mác vào ngày mây đen mù mịt. Đức Giêsu nói: Không bao giờ chiên tôi phải diệt vong, và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.

Thiết tha với cõi phúc chân thật, như đoàn chiên từ bỏ ngẫu tượng quay về bên Chúa, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Phaolô Tông Đồ gửi tín hữu Thêxalônica: Anh em đã từ bỏ ngẫu tượng mà quay về với Thiên Chúa thế nào, chờ đợi Con của Người mà Người đã cho trỗi dậy từ cõi chết. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 149 kêu gọi: Chúa mến chuộng dân Người. Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, ngợi khen Người trong cộng đoàn những kẻ hiếu trung! Hỡi Ítraen, nào hoan hỷ, vì có Chúa là Đấng tạo thành ngươi. Con cái Xion, hãy nhảy mừng, vì được Chúa làm Vua hiển trị.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Chúa nói: Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng, và chúng theo tôi. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Khốn cho các người, những kẻ dẫn đường mù quáng. Chiên của Chúa thì nghe tiếng Chúa, chỉ một mình Chúa là Vị Mục Tử đích thực, bởi vì, vì đoàn chiên được mục tử dẫn dắt chăn nuôi thế nào, thì, ta cũng được Đức Kitô lấy lương thực thiêng liêng, lấy cả mình và máu Người mà nuôi dưỡng như thế. Đức Kitô đã nói mục tử qua cửa mà vào, rồi lại nói chính Người là cửa; và Người còn khẳng định Người là mục tử. Vì thế, Người cần phải qua chính mình mà vào. Thật vậy, Người qua chính mình mà vào, vì Người bày tỏ chính mình và qua chính mình, mà ta nhận biết Chúa Cha. Chúng ta phải coi chừng: không một ai khác là cửa, ngoại trừ Người, bởi vì, không một ai khác là ánh sáng thật, mà chỉ có, những người là ánh sáng, vì được nhờ: ánh sáng thật. Do đó, nếu, các Kinh Sư và những người Pharisêu khước từ ánh sáng thật, thì, họ sẽ là những người dẫn đường mù quáng. Mặc dầu trong Hội Thánh, mọi thủ lãnh, con cái của Hội Thánh, đều là mục tử, nhưng, Đức Kitô vẫn nói ở số ít: Tôi chính là mục tử nhân lành, bởi vì, không ai là mục tử nhân lành, nếu không nhờ đức mến, mà nên một với Đức Kitô, và nên thành phần trong thân thể của Vị Mục Tử đích thực. Chỉ có Chúa mới làm cho ta nên một lòng một ý, ước gì ta biết yêu luật Chúa truyền và mong điều Chúa hứa, để dầu sống giữa cảnh thế sự thăng trầm, ta vẫn một lòng thiết tha với cõi phúc chân thật. Ước gì được như thế!

---------------------------------
 

Thứ 3 TN –Tuần 21/2025

Khốn cho kẻ giả hình.
26/08 – Thứ Ba tuần 21 thường niên.
"Phải làm những điều này, và không bỏ các điều kia".

 

Lời Chúa: Mt 23, 23-26


Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: "Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình: các ngươi nộp thuế thập phân về bạc hà, hồi hương và thì là, còn những điều quan trọng hơn trong lề luật, là đức công bình, lòng nhân từ và lòng tin thì các ngươi lại bỏ qua; đáng lẽ phải làm những `điều này và không bỏ các điều kia.
"Hỡi những kẻ dẫn đường đui mù, các ngươi gạn lọc một con muỗi ra, nhưng lại nuốt trửng cả con lạc đà. Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình, vì các ngươi rửa bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong, các ngươi đầy gian tham và nhơ bẩn. Hỡi những người biệt phái đui mù, hãy rửa bên trong chén đĩa trước đã, để bên ngoài cũng được sạch".

---------------------------------

 

Suy niệm 1: Bên trong, bên ngoài


(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)

Đức Giêsu đã từng nói về tám Mối Phúc trong Bài Giảng trên núi.
Trong chương này, Ngài sẽ nói với các kinh sư và nhóm Pharisêu bảy lần:
“Khốn cho các ngươi!”
Đây không phải là lời chúc dữ cho bằng là lời trách than, buồn tiếc,
vì những sự giả hình, che đậy nơi một số nhà lãnh đạo Do thái giáo.
Nhưng giả hình không phải chỉ là bệnh của một số kinh sư ngày xưa.
Nó là bệnh của những Kitô hữu trong Hội Thánh của Mátthêu sau năm 70.
Và nó cũng là bệnh của những Kitô hữu thuộc thế kỷ hai mươi mốt.
“Khốn cho các ngươi!” là một lời cảnh báo đối với chính bản thân tôi.
Bệnh được nhắc đến trong lời Khốn cho thứ tư (c. 23)
là bệnh quá tập trung vào điều phụ thuộc mà bỏ quên điều cốt yếu.
Có một số người Pharisêu bày tỏ sự đạo đức của mình
qua việc nộp thuế thập phân về những thứ rau lặt vặt họ trồng trong vườn.
Ba thứ rau thơm: bạc hà, thì là, rau húng, đúng ra không phải tính thuế,
vì chỉ phải nộp thuế về hoa lợi của vụ mùa, của vườn cây ăn trái thôi.
Nhưng có người đã nộp thuế về mọi thứ rau cỏ trong vườn (Lc 11, 42).
Thuế thập phân chỉ đòi nộp một phần mười sản phẩm nông nghiệp làm được,
để giúp việc thờ phượng Chúa trong Đền thờ và các người làm việc tại đó.
Đức Giêsu không cản chuyện nộp thuế về những điều lặt vặt (c. 23).
Ngài chỉ tiếc là những chuyện nặng ký hơn trong Lề Luật
như công lý, lòng nhân và thành tín, lại bị bỏ quên (c. 23).
Ba điều này đều được các ngôn sứ nhắc nhở (Is 1, 17; Hs 6, 6; Hb 2, 4).
Ngôn sứ Mikha đã viết một câu nổi tiếng (Mk 6, 8):
“Đức Chúa đòi anh em điều gì nếu không phải là sống theo công lý,
mến chuộng lòng nhân và khiêm hạ đi với Thiên Chúa của anh em.”
Có thể thái độ đạo đức giả bắt nguồn từ thói háo danh và sợ khó.
Nộp thuế dễ được người ta thấy hơn
và cũng khỏi phải hoán cải nơi bề sâu của lòng mình.
Tập trung vào những cái lặt vặt để khỏi phải áy náy về chuyện hệ trọng.
Làm tốt một chuyện nhỏ, nhưng lại làm hỏng một chuyện rất lớn.
Bệnh được nhắc đến trong lời Khốn cho thứ năm (c. 25)
là bệnh quá coi trọng cái bên ngoài mà coi thường cái bên trong.
Một số người Pharisêu loay hoay với chuyện lau sạch bên ngoài chén đĩa.
Họ sợ mình trở nên ô uế nếu sử dụng đồ chưa được rửa kỹ.
Tiếc thay, họ không để ý đủ đến sự nhơ uế bên trong tâm hồn.
Mà đó mới là thứ nhơ uế thật sự đáng quan tâm.
Có nguy cơ là sự sạch sẽ bên ngoài nhằm che đậy sự nhơ uế bên trong,
và đánh lừa cái nhìn của người khác, khiến họ lầm tưởng.
Thật ra trở về với lòng mình để nhận ra những ô nhơ, thật là điều khó.
Rửa tay trước khi ăn, rửa bát đĩa trước khi dùng, là điều dễ hơn nhiều.
Trở vào lòng mình, ta dễ bắt gặp bao tham lam, gian dối, thèm muốn vô độ.
Những điều ấy ta không muốn nhìn nhận có nơi mình.
Đức Giêsu mời chúng ta tìm kiếm sự tinh tuyền bên trong trước đã,
rồi mới để ý đến cái sạch sẽ bên ngoài sau (c. 26).
Xin Chúa cho chúng ta đừng bị đui mù, nhưng được sáng mắt (cc. 24. 26),
để biết phân biệt cái chính, cái phụ, cái trong, cái ngoài.
 
Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,
khi đến với nhau,
chúng con thường mang những mặt nạ.
Chúng con sợ người khác thấy sự thật về mình.
Chúng con cố giữ uy tín cho bộ mặt
dù đó chỉ là chiếc mặt nạ giả dối.
Khi đến với Chúa,
chúng con cũng thường mang mặt nạ.
Có những hành vi đạo đức bên ngoài
để che giấu cái trống rỗng bên trong.
Có những lời kinh đọc trên môi,
nhưng không có chỗ trong tâm hồn,
và ngược hẳn với cuộc sống thực tế.

Lạy Chúa Giêsu,
chúng con cũng thường ngắm mình trong gương,
tự ru ngủ và đánh lừa mình,
mãn nguyện với cái mặt nạ vừa vặn.
Xin giúp chúng con cởi bỏ mọi thứ mặt nạ,
đã ăn sâu vào da thịt chúng con,
để chúng con thôi đánh lừa nhau,
đánh lừa Chúa và chính mình.
Ước gì chúng con xây dựng bầu khí chân thành,
để chúng con được lớn lên trong bình an.
 
---------------------------------

 

Suy niệm 2: Điều chính, điều phụ


(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Trong đời sống phân định là rất quan trọng. Nhất là phân định được điều chính điều phụ. Đối với công việc làm ăn, đánh giá sai chỉ dẫn đến thua lỗ. Nhưng đối với đời sống, đánh giá sai làm hỏng cả cuộc đời.

Chúa Giêsu chê trách người Pha-ri-sêu và kinh sư trong đời sống đạo, họ không phân biệt được điều chính điều phụ. Họ cất công giữ chi li những điều cỏn con, nhưng lại coi thường, bỏ qua những điều quan trọng. “Họ nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và thành tín”. Chúa Giêsu chê trách họ “lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà”. Thật là lầm lẫn tai hại. Bỏ những điều nền tảng cốt yếu thì dù giữ những điều nhỏ nhặt nhất cũng trở thành vô ích. Vì không phân định được nên họ thường chú ý tới hình thức bên ngoài mà bỏ quên nội dung bên trong. Rửa chén bát là việc họ rất coi trọng. Nhưng nực cười là đối với họ chỉ cần rửa bên ngoài là đủ. Thật là hình thức. Và Chúa Giêsu gọi họ là giả hình, là đạo đức giả. Vì không những họ không quan tâm rửa bên trong chén bát mà nhất là họ không quan tâm tẩy rửa linh hồn. Đạo không đi vào nội tâm thì chỉ là lừa dối.

Thánh Phao-lô khen ngợi giáo đoàn Tét-xa-lô-ni-ca, vì họ là dân ngoại mới tin Chúa nhưng đã vượt qua người Pha-ri-sêu khi biết giữ những điều chính yếu trong đạo. Khi thánh Phao-lô bị người Phi-lip-phê làm nhục và người Do thái tại Tét-xa-lô-ni-ca từ chối, dân ngoại Tét-xa-lô-ni-ca đã đón tiếp ngài, đón nhận Tin mừng Chúa Ki-tô và yêu thương đùm bọc thánh Phao-lô. Họ cũng biết giữ đạo từ trong nội tâm khi vượt qua tất cả mọi khó khăn thử thách để trung thành với đức tin (năm lẻ).

Ngài khuyên nhủ họ không nên tin vào những điều nhảm nhí, ví dụ như tin đồn về ngày tận thế: “Nếu ai bảo rằng…ngày của Chúa gần đến, thì anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ. Đừng để ai lừa dối anh em bất cứ cách nào”. Hãy giữ những điều cốt lõi của đạo: “Hãy đứng vững và nắm giữ các truyền thống chúng tôi đã dạy cho anh em”. Thánh nhân cầu nguyện cho dân thành được Chúa “yêu thương và dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cây trông tốt đẹp” (năm chẵn).

Đời sống đạo hôm nay của tôi thế nào? Có biết xây dựng điều chính yếu. Hay chỉ chú tâm đến những gì phụ thuộc? Có tập trung vào Chúa Ki-tô? Hay chỉ tin những điều nhảm nhí, mê tín?

---------------------------------

 

Suy niệm 3: Kết án thái độ vụ hình thức


(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Tin Mừng hôm nay ghi lại hai lời kết án của Chúa đối với thái độ vụ hình thức. Trước hết là việc giữ luật bên ngoài thật tỉ mỉ, mà không có lòng đạo đức thật, không thi hành công bằng và tình yêu thương.

Trong Do thái giáo, luật đóng thuế thập phân trên những sản phẩm con người làm ra là một hành động tôn giáo để nhìn nhận quyền tối cao của Thiên Chúa. Theo luật Môsê được ghi trong sách Thứ Luật, thì chỉ buộc trả thuế thập phân trên những sản phẩm chính là gạo, rượu, dầu, con vật đầu lòng. Thế nhưng, có lẽ vì quá sốt sắng, những Luật sĩ và Biệt phái muốn áp dụng thuế thập phân cho những sản phẩm nhỏ, không cần thiết như: bạc hà, thì là, rau húng.

Chúa Giêsu không kết án các Luật sĩ và Biệt phái vì sự tuân giữ luật Môsê một cách tỉ mỉ; nhưng Ngài kết án vì thái độ không trung thực: họ tuân giữ những điều hết sức nhỏ để tỏ ra mình sốt sắng đạo đức, nhưng họ lại lỗi phạm những điều lớn về đức công bằng và tình yêu thương, họ làm như thế chẳng khác nào lọc lừa con muỗi ra ngoài, nhưng lại nuốt con lạc đà nguy hiểm hơn.

Thái độ vụ hình thức thứ hai của các Luật sĩ và Biệt phái còn được thể hiện trong sự tuân giữ những nghi thức bên ngoài, mà không chăm lo tinh tuyền bên trong: họ lo rửa chén đĩa bên ngoài, mà bên trong tâm hồn thì đầy cướp bóc, tham lam. Việc tuân giữ nghi thức thanh tẩy bên ngoài, việc đến nhà thờ đọc kinh ngoài môi miệng mà thôi chưa đủ, cần phải để cho ơn Chúa biến đổi tận bên trong tâm hồn ngõ hầu trở nên con người mới. Sự hoán cải nội tâm quan trọng hơn và phải đi trước những thực hành đạo đức bên ngoài để tránh thái độ giả hình, vụ hình thức đáng bị Chúa khiển trách.

Nguyện xin Chúa thanh tẩy tâm hồn chúng ta khỏi những tham lam, ích kỷ, hẹp hòi. Xin cho chúng ta sống ngay chính bên trong cũng như bên ngoài, sống điều chúng ta nói trên môi miệng để làm chứng cho Chúa giữa mọi người.

---------------------------------

 

Suy niệm 4: Công bình, nhân ái, thành tín, trong sạch


Đức Giêsu nói: “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các ngươi nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong lề luật là công bình, lòng nhân và thành tín. Phải làm các điều này mà không bỏ các điều kia.” (Mt. 23, 23)

Tôi rất thích mấy câu Phúc Âm này. Một lần nữa Đức Giêsu tỏ ra yêu thương những người biệt phái. Người hiểu và kính trọng họ biết bao. Nhưng Người cũng khiển trách thái độ nước đôi của họ: Vừa cứu vãn những vẻ bề ngoài bằng những cử chỉ vô ích, vừa loại bỏ những điều chân thực bên trong.

Đó là kiểu mẫu người tốt thời Đức Giêsu và chúng ta ngày nay cũng thế. Một đàng họ rất khắt khe tỉ mỉ bên ngoài, đàng khác họ quá phóng túng bên trong. Họ tỏ ra rất tự do rộng rãi đối với những điều thật sự quan trọng.

Càng đọc đi đọc lại những câu Tin Mừng này, tôi càng thấy nực cười! Đó là những câu rất đúng với hiện tại! Nếu chúng ta muốn rõ, chúng ta thử tự đánh giá mình một chút xem Tin Mừng là tấm gương soi cái gì?

Ba điều:

Ba điều này làm cho chúng ta phải chú ý: “Ba điều quan trọng nhất trong lề luật là: Công bình, lòng nhân ái và thành tín”. Các ngôn sứ, Đức Kitô, thánh Phao-lô và ngày nay Giáo Hội hằng rao giảng. Chính những điều này. Những bổn phận về công bình xã hội và tình yêu thương quan trọng hơn những bổn phận về nghi lễ. Các Ngài đã không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng: Giúp những người nghèo khó, trung tín trong đời sống gia đình, công bình xã hội trong công ăn việc làm, định mức giá cả, thuế má, đồng lương. Ngôn sứ Za-ca-ri-a cũng kêu gọi: “Hãy thực hiện công bình theo chân lý, thực hành lòng yêu thương đối với nhau. Chớ áp bức kẻ góa bụa, mồ côi, khách lạ, nghèo khó và đừng mưu mô trong lòng để hãm hại nhau” (7, 9-10).

Không trong sạch:

Nhờ so sánh những lời Đức Giêsu khiển trách biệt phái, chúng ta thấy đó cũng là những lời khiển trách chúng ta. Phải, Người khiển trách tôi, khiển trách bạn: “Các ngươi lọc con muỗi, nhưng lại nhốt con lạc đà”, “Các ngươi rửa sạch chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện trộm cắp và vô độ”, bất công, lừa đảo lẫn nhau.

Chỉ con tim trong sạch mới nhìn thấy rõ Thiên Chúa. Không phải cái bên ngoài vào miệng làm cho con người ra nhơ bẩn, nhưng cái bên trong con người ra, mới làm nhơ bẩn con người thật sự. (Mt. 15, 11. 15-20)

JM

---------------------------------

 

Suy niệm 5: Hãy hồi tâm và hoán cải


Trong tình huynh đệ, Đức Thánh Cha Phanxicô đã có buổi gặp gỡ các đức giám mục Hàn Quốc vào chiều ngày 14-8-2014 nhân dịp ngài thăm đất nước này. Trong bài phát biểu, ngài đã nói:

“Anh em là con cháu của các vị tử đạo, là những người thừa kế chứng tá đức tin anh dũng của các vị nơi Chúa Kitô [... ]. Thật là điều đầy ý nghĩa sự kiện lịch sử Giáo Hội tại Hàn Quốc được khởi đầu với một cuộc gặp gỡ trực tiếp với Lời Chúa. Đó là một vẻ đẹp nội tại và sự toàn vẹn của sứ điệp Kitô, Tin Mừng và lời mời gọi hoán cải, canh tân nội tâm và sống đời bác ái”.

Khi gợi lại gương sáng chứng nhân anh dũng của các thánh tử đạo và mời gọi Giáo Hội tại Hàn Quốc noi gương các ngài để tiếp bước trên con đường chứng nhân, hẳn Đức Thánh Cha cũng muốn tất cả mọi người noi gương đời sống yêu thương, tin tưởng và cậy trông nơi Chúa tuyệt đối như các thánh. Đồng thời, ngài cũng mời gọi mọi người hãy hồi tâm, hoãn cải nếu chưa sống theo tinh thần Tin Mừng.

Thật vậy, hồn người tông đồ sẽ trống rỗng khi khái niệm hồi tâm không thường trực trong con người của mình.

Cũng vậy, chúng ta sẽ trở nên hình thức, hào nhoáng bên ngoài nếu không có những khoảnh khắc hoãn cải để canh tân đời sống nội tâm.

Và, mọi chuyện trở nên “công dã tràng” khi không gieo vào đó hạt mầm bác ái, yêu thương qua lời nói, trong hành động và nơi phụng vụ.

Sư điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy làm một cuộc “thanh tẩy nội tâm”. Tức là trở về với lòng mình để đối diện với Thiên Chúa, hầu thấy được điều nên làm và điều không nên làm. Điều đúng phát huy. Điều sai phải từ bỏ.

Nếu không “thanh tẩy nội tâm”, có lẽ chúng ta không khác gì những Kinh Sư và Pharisêu khi xưa: họ luôn quan tâm đến bề ngoài mà bên trong thì rỗng tuếch. Họ lo rửa chén đĩa bên ngoài, nhưng bên trong tâm hồn thì toàm là “hôi thối, xấu xa” bởi những tham lam, ích kỷ và hận thù. Họ nói yêu thương, nhưng thực ra họ là những người phản lại sứ điệp “yêu thương” khi bất bao dung, vô cảm với người nghèo, bà góa và những người thấp cổ bé họng.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con được trở nên chứng nhân của Chúa cách trung thành. Có thế, chúng con mới thực sự xứng đáng trở thành người loan truyền sứ điệp của Chúa cho anh chị em chúng con. Amen.

Ngọc Biển SSP

---------------------------------

 

Suy niệm 6: Sống đạo quân bình và chiều sâu


(TGM Giuse Nguyễn Năng)

Sứ điệp: Người Kitô hữu trưởng thành phải biết sống đạo cách quân bình và có chiều sâu: vừa mến Chúa và đồng thời cũng biết công bằng bác ái, có bề ngoài và có cả bề trong.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, hôm nay chính Chúa đang huấn luyện con sống đạo một cách trưởng thành, sống đạo có chiều sâu, sống đạo cách quân bình, sống đạo toàn diện.

Xuyên qua những tập tục áp dụng cho người Do thái, con nhận ra rằng Chúa đang chất vấn đời sống Kitô hữu của con. Rất nhiều lúc con đã ru ngủ lương tâm mình. Con đọc kinh dự lễ thật nhiều, trong khi đó con lại hận thù ghen ghét anh em. Con làm các việc đạo đức, nhưng chính lúc ấy con lại nói xấu nói hành, gây đau khổ cho người khác. Con gây ra bất công, và để lương tâm khỏi cắn rứt, con dâng tiền vào nhà thờ hoặc đi xin lễ. Con không dám xúc phạm đến Chúa, đang lúc ấy con lại dễ dàng chà đạp, xúc phạm, độc ác với anh em. Con giữ phong cách bề ngoài thật đẹp, nhưng tâm hồn con không được trong sạch.

Hôm nay Chúa dạy con: điều quan trọng nhất trong lề luật là công bằng, lòng nhân, và thành tín. Chắc chắn Chúa không dạy con bỏ Chúa để chỉ yêu mến anh em. Chúa chỉ muốn con nhớ rằng công bằng và bác ái cũng quan trọng như là yêu mến Chúa. Chúa chỉ muốn nhấn mạnh điều mà con thường quên sót.

Lạy Chúa, xin dạy con biết sống bác ái và công bằng như là dấu hiệu chứng tỏ lòng con mến Chúa. Xin Chúa giúp con luôn sống trong tình yêu. Xin đừng để trái tim con trở nên khép kín, hẹp hòi, nhỏ nhen, ác độc, chai cứng. Xin Chúa ban cho con quả tim biết yêu thương. Amen.

Ghi nhớ: “Phải làm những điều này, và không bỏ các điều kia”.

---------------------------------

 

Suy niệm 7: Tâm điểm yêu thương khi giữ đạo của Kitô hữu


(Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)

Câu chuyện

Lúc thanh bình Aristogiton là một nhà ái quốc thượng thặng. Chàng thở ra lửa trận, nói ra sấm sét. Chàng lợi dụng mọi hoàn cảnh để cổ võ những đức tính anh dũng kiêu hùng của người chiến sĩ yêu nước. Nghe chàng nói, thính giả có ấn tượng như chàng đang tuyên chiến với tất cả mọi cường quốc trên thế giới.

Nhưng đến khi phải thi hành nhiệm vụ quân sự, người ta thấy chàng đột nhiên bước đi khập khiễng, tay chống gậy, chân thì băng bó, trông thảm não vô cùng.

Biết rõ những bí mật của chàng, ông Photion trợn mắt nói: “Aristogiton đã làm một người què lại còn hèn nhát”.

Suy niệm

Ðức Giêsu tiếp tục lên án những người kinh sư, vì họ đã trở thành những người nô lệ Lề Luật khi nhiệt tình thực thi với Lề Luật, nhưng không hiểu tinh thần Lề Luật là công bằng và tình yêu thương.

Rửa tay là tập tục quý hóa mang ý nghĩa rất thanh cao, thánh thiện: Các tư tế rửa tay để thanh tẩy trước khi dâng của lễ lên Thiên Chúa. Sau này dân chúng bắt chước rửa tay trước khi cầu nguyện. Với ý nghĩ cao đẹp này họ đã rửa tay trước bữa ăn vừa giữ vệ sinh, vừa có ý nghĩa tôn giáo. Tuy nhiên, người biệt phái quá vụ hình thức mà quên điều thiết yếu, họ phán đoán người khác chỉ dựa trên hành vi rửa tay trước bữa ăn, coi người khác xấu hay tốt dựa trên những hình thức bên ngoài.

Chúa muốn con người đặt tinh thần, đặt tình yêu Chúa vào chỗ thứ nhất và tuân giữ giới răn của Người. Chúa muốn con người đặt Lề Luật vào đúng vị trí của nó. Điều quan trọng là thanh tẩy tâm hồn, rửa sạch trái tim, chứ không phải chỉ rửa tay, rửa các đồ vật bên ngoài. Cái cốt lõi của Lề Luật vẫn là tình yêu. Giữ những việc, những điều lệ, tập tục do con người lập ra mà quên cái cốt lõi Lề Luật là mến Chúa yêu người. Vì thế, Ðức Giêsu lên án họ là giả hình.

Noi gương thánh Phaolô, chúng ta đi vào trung tâm điểm của giới răn yêu thương trong cách giữ đạo của người Kitô hữu: “Tình yêu đòi hỏi sự kiên nhẫn và tử tế, không ganh tỵ, kiêu căng xấc láo, tình yêu khiến ta không vụng xử, không ích kỷ hay dễ nóng giận, tình yêu không để bụng chấp nhặt những sai trái. Tình yêu không bao giờ lùi bước, tình yêu thì bất diệt. Vì thế, tình yêu chính là điều anh em phải nỗ lực tìm kiếm” (1Cr 13,2-8; 14,1).

Ý lực sống:

“Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1Cr 13,3).

 ---------------------------------

 

Suy niệm 8: Chúa than trách các luật sĩ và biệt phái


(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

Chúa Giêsu tiếp tục than trách các luật sĩ và biệt phái: họ lo nộp thuế thập phân đầy đủ, còn những điều luật quan trọng như công bình, bác ái, thành tín thì họ lại không tuân giữ... Họ lại rửa sạch chén đĩa, còn lòng họ thì đầy dẫy thói gian tham, cướp bóc... Đúng thật là họ giả hình. Họ chỉ lo sạch sẽ bên ngoài, mà không lo sạch tội bên trong; họ lo giữ mọi thứ luật nhỏ nhặt, mà lại bỏ các luật quan trọng chính yếu.

Chú trọng vào cái tuỳ thuộc mà bỏ quên điều chính yếu

Chúa Giêsu gay gắt lên án các luật sĩ và biệt phái giữ tỉ mỉ các khoản luật nhỏ, nhưng lại sống thiếu đức công bằng bác ái. Họ sẵn sàng nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, là những thứ hoa màu phụ không bắt buộc, trong khi luật Maisen chỉ qui định nộp thuế thập phân các sản phẩm từ hoa màu ruộng đất, mà họ lại bỏ qua những điều quan trọng nhất trong Lề luật là công lý, lòng nhân và thành tín.

Điều Chúa muốn là: “Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ”. Nghĩa là trong khi chúng ta vẫn tuân giữ những điều luật quy định từ tôn giáo đến xã hội, nhưng cũng đồng thời phải sống đức công bình, lòng nhân và thành tín. Tóm lại, hãy tuân giữ lề luật không phải câu nệ theo mặt chữ, mà với cả lòng yêu mến và bác ái với mọi người.

Chú trọng vào cái mã bên ngoài

Các luật sĩ và biệt phái xưa lời nói không đi đôi với việc làm, nói một đàng làm một nẻo, lo tô vẽ cho cái bề ngoài nhằm che đậy sự xấu xa lợi dụng trong lòng họ: “Họ lo rửa sạch bên ngoài, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ”.

Những người biệt phái diện đồ kinh sư để giảng dạy Thánh kinh và đại diện dân để dâng của lễ, thực ra, họ làm điều đó không vì lòng mến Chúa, mà đó là cái nghề để được hưởng tiền đóng góp – tiền thuế của dân, nhất là tiền dâng cúng của những người nghèo. Họ giả bộ đạo đức để được tiếng khen và được dân tin tưởng xin họ cầu nguyện, nhưng thực chất dưới cái vỏ bọc kinh sư ấy là một sự thối nát như “mồ mả tôi vôi” (Hiền Lâm).

Thuế thập phân là loại thuế trích từ một phần mười lợi tức của vụ mùa hằng năm dâng cho Thiên Chúa (Đnl 14,22-24) dành cho việc thờ phượng Đức Chúa ở đền thờ, và chu cấp cho những người làm việc ở đó. Thuế này mang ý nghĩa: Thiên Chúa được nhìn nhận như là chủ sở hữu của mọi sự, đặc biệt dân Chúa bày tỏ lòng biết ơn với của cải Thiên Chúa ban cho. Ngoài khoản thuế thập phân trên đây, người biệt phái còn nộp thêm một phần mười hoa màu của bạc hà, thì là, rau húng, là những thứ hoa màu phụ không bắt buộc. Chúa Giêsu trách họ chú trọng đến việc nộp thuế phụ này, đang khi sao lãng những điều quan trọng, căn bản nhất trong Lề luật là sự công bằng, lòng nhân và thành tín, là những điều phải được đặt lên hàng đầu (5 phút Lời Chúa).

Tuy nhiên, vụ hình thức hay giả hình không chỉ là nét đặc thù của những biệt phái thời Chúa Giêsu. Ở thời đại nào, nó cũng vẫn là cơn cám dỗ triền miên đối với các Kitô hữu. Chúng ta dễ có khuynh hướng trau chuốt bề ngoài, để che đậy những xấu xa bẩn thỉu bên trong. Dĩ nhiên xã hội nào cũng phải có những ràng buộc nhằm tạo nên trật tự và hài hoà. Nhưng nếu sự hài hoà đó không là thể hiện của trật tự nội tâm con người, thì nó chỉ là một cái vỏ giả tạo. Triết gia Trung Hoa là Vương Dương Minh đã đưa ra lý tưởng “Nội thánh ngoại vương”, cái diện ngoại vương giả thanh lịch phải là phản ánh chính sự thánh thiện nội tâm (Mỗi ngày một tin vui).

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại cách sống đạo của chúng ta. Nếu dạ chính trực, lòng nhân nghĩa chưa thực sự là động lực thúc đẩy và hướng dẫn mọi sinh hoạt tôn giáo của chúng ta, thì có lẽ chúng ta không hơn gì những biệt phái thời Chúa Giêsu: chúng ta chỉ quan tâm đến cái bề ngoài, mà quên đi cái cốt lõi của đạo là tình yêu.

Truyện: Sống đạo nửa vời

Một buổi sáng lạnh lẽo và gió lớn, khoảng 2 giờ sáng, chuông điện thoại nhà xứ bỗng reo vang. Có tiếng hốt hoảng la lên: “Cha ơi, cha nhanh đến xức dầu cho ngoại con với”.

Vì nhà của người gọi điện thoại cách xa nhà xứ một cánh rừng lầy lội, cha xứ đành phải đi bộ. Khi đi được một đoạn giữa cánh rừng, ngài chợt thấy xuất hiện một bóng đen cầm súng bước ra từ giữa bụi cây và truyền lệnh: “Đưa tiền đây!”

Cha xứ hốt hoảng run rẩy bảo tên cướp rừng rằng: “Ví tiền của tôi ở trong áo khoác”, và khi ngài đưa tay mở nút áo khoác để lấy ví tiền, tên cướp nhận ra người đứng trước mặt mình là một linh mục, hắn liền ấp úng nói: “Ôi! Con không biết là cha. Con xin lỗi, xin cha cất tiền đi”.

Bình tĩnh lại, cha xứ mời hắn một điếu thuốc, nhưng hắn vội lắc đầu và nói: “Không, con cám ơn cha, trong Mùa chay con có thói quen không hút thuốc”.

---------------------------------

 

Suy niệm 9: Đạo của cuộc sống


(Lm Carôlô Hồ Bạc Xái)

A. Hạt giống...

Lời khiển trách thứ tư và thứ năm:

4. Về việc nộp thuế thập phân (cc 23-24)

- “Khốn… các ngươi nộp thuế thập phân về… mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề luật…”: để tỏ ra mình thông thái và nhiệt tình với Lề luật, các kinh sư vá pharisêu buộc người ta những cái tỉ mỉ thật phụ thuộc mà luật không hề nói đến (chẳng hạn bạc hà, thì là, rau húng… so sánh với Lv 24,30-33 Đnl 14,22 tt); trong khi đó lại không quan tâm gì đến những điều căn bản và chính yếu của Luật, đó là Công bình, lòng nhân và thành tín.

5. Về việc rửa sạch bên ngoài chén đĩa (cc 25-26)

- “Khốn… các ngươi rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện trộm cắp và vô độ”: các kinh sư và pharisêu rất coi trọng việc rửa tay chân chén đĩa… và đã từng tranh luận với Chúa Giêsu về vấn đề này (x. 15,10-20). Chúa Giêsu nói điều quan trọng là phải tẩy rửa nội tâm khỏi sự ham hố (“trộm cắp và vô độ”) là những chướng ngại khiến người ta mất tự chủ và chỉ lo tới cái bên ngoài.

B.... nẩy mầm.

1. “Những điều quan trọng nhất trong lề luật là công bình, lòng nhân và thành tín”: nhiều người nước ngoài đã nhận xét rằng giáo dân VN rất siêng đọc kinh dự lễ nhưng sống với người khác thì thiếu những đức tính vừa kể. Đạo ở VN là đạo nhà thờ chứ chưa phải đạo của cuộc sống.

- Công bình: trộm cắp của công và của riêng, gian lận v.v.
- Lòng nhân: chửi rủa nhau, lên án nhau, nói hành nói xấu v.v.
- Thành tín: lường gạt, không giữ lời hứa, bất trung, bất tín v.v.

2. Tại cửa hàng một thị trấn nhỏ, một thanh niên cao lớn, nhanh nhẹn đứng bán hàng. Ngày nọ, có bà già nhà quê vào mua hàng. Cậu trao cho bà món hàng và lấy tiền. Tối hôm đó, khi kiểm tiền, cậu thấy dư ra vài xu. Cậu cố nhớ lại những người mua ngày hôm đó, và thấy số tiền dư đúng là của bà già nọ. Cậu đặt mấy xu đó vào túi, lấy mũ, đóng cửa và đi bộ tới nhà bà già cách đó 3 dặm. Cậu thiếu niên đó chính là Abraham Lincoln, sau làm Tổng thống Hoa kỳ (Góp nhặt)

3. Chúng ta có quan tâm nhiều đến những vấn đề sống đạo trong cuộc sống sau đây không: giúp đỡ những người nghèo khổ, che chở bênh vực những kẻ yếu đuối và bị chèn ép, công bình xã hội, lương tâm nghề nghiệp, chung thuỷ trong hôn nhân…?

4. Một số người vẫn còn tranh cãi nhau về vấn đề rước lễ trong miệng và rước lễ trong tay, cách rước nào sạch hơn. Có mấy ai lưu ý tới sự thanh sạch trong lòng khi rước Chúa!

5. “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình, các ngươi nộp thuế thập phân, về thì là bạc hà rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong lề luật là công bình, lòng nhân và thành tín. Phải làm các điều này mà không được bỏ các điều kia.” (Mt 23,23)

Một người Do Thái nọ qua đời. Giữa lúc đang chuẩn bị hạ huyệt, người ta nghe có tiếng kêu lên trong quan tài. Mở nắp quan tài ra, mọi người nhạc nhiên khi thấy kẻ chết còn sống. Vị giáo trưởng chủ  trì buổi lễ ra hiệu cho mọi người thinh lặng và nói: “Chúng tôi không biết rõ ông đang sống hay chết. Nhưng căn cứ theo giấy chứng thực của bác sĩ, ông quả thực đã là người chết...”

Tôi cũng đã giữ luật như vị giáo trưởng đó: đi lễ hàng ngày, xưng tội hàng tháng, ăn chay kiêng thịt ngày thứ sáu... Nhưng tôi lại không biết quan tâm đến người khác, thờ ơ trước những người nghèo khó, thiếu nụ cười cảm thông hay khích lệ anh em...

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi tôi giữ cả hai điều: Trung thành giữ luật Chúa  và đồng thời yêu thương anh em mình.

Lạy Chúa! Xin cho con biết tuân giữ luật pháp của Chúa trong công bình, lòng nhân và thành tín. (Hosanna).

---------------------------------

 

Suy niệm 10: Những lời khiển trách tiếp theo


(Lm Giuse Đinh Tất Quý)

1. Lời khiển trách thứ tư và thứ năm:

a. Về việc nộp thuế thập phân (Mt 23,23-24).

Để tỏ ra mình thông thái và nhiệt tình với lề luật, các luật sĩ và Pharisêu đã buộc người ta những cái tỉ mỉ, phụ thuộc như là thì là, rau húng v.v... mà không hề nói đến những điều cơ bản và chính yếu của luật, đó là công bình, lòng nhân ái và thành tín.


b. Về việc rửa sạch bên ngoài chén dĩa (Mt 23,25-26).

Các luật sĩ và Pharisêu rất coi trọng việc rửa tay chân, chén dĩa và đã từng tranh luận với Chúa Giêsu về vấn đề này (Mt 15,10-20). Chúa Giêsu nói điều quan trọng là phải tẩy rửa nội tâm khỏi sự ham hố (trộm cắp và vô độ) là những chướng ngại khiến người ta mất tự chủ và chỉ lo tới bề ngoài.

2. “Những điều quan trọng nhất trong lề luật là công bình, lòng nhân và thành tín”:

a. Thí dụ vấn đề Công bình: Nhiều khi chúng ta tưởng: Trộm cắp của công và của riêng, gian lận mới là lỗi đức công bình. Còn những việc như 10 giờ tối mà còn kèn trống om xòm, kinh kệ to tiếng, đang lúc những người khác cần sự thinh lặng để nghỉ ngơi để ngày mai còn phải đi làm sớm… là những việc không sao cả. Công bình mà nói thì người ta cũng có quyền được hưởng sự thinh lặng chứ.

Tại cửa hàng một thị trấn nhỏ, một thanh niên cao lớn nhanh nhẹn đứng bán hàng. Ngày nọ, có bà già nhà quê vào mua hàng. Cậu trao cho bà món hàng và lấy tiền. Tối hôm đó, khi kiểm tra tiền, cậu thấy dư ra vài xu. Cậu cố nhớ lại những người mua ngày hôm đó, và thấy số tiền dư đúng là của bà già nọ. Cậu đặt mấy xu đó vào túi, lấy mũ, đóng cửa và đi bộ lại nhà bà già cách đó 3 dặm và trả lại cho bà. Cậu thiếu niên đó chính là Abraham Lincoln, sau là tổng thống Hoa Kỳ (Góp nhặt).

b. Rồi về vấn đề lòng nhân: Đâu phải chúng ta dám mở rộng tay để giúp đỡ, bố thí cho những người cần đến chúng ta mới là lòng nhân. Còn những việc như chúng ta chửi rủa nhau, lên án nhau, nói hành, nói xấu nhau, dèm pha nhau, không phải là những việc trái với lòng nhân sao.

Trịnh Tự , vợ của Sở Hoài Vương, muốn hạ tình địch của mình, thì nói cùng nàng ra vẻ thân mật: - Nhà vua có tính không thích người khác thở hơi vào mình, nên khi vào hầu vua thì phải giữ ý bịt mũi lại!

Mỹ nữ nghe theo, mỗi lần tới hầu vua là lấy tay bịt mũi. Nhà vua lấy làm lạ hỏi thì Trịnh Tự mau mắn thưa: - Người ấy sợ nhà vua thân thể hôi hám nên mới có cử chỉ như vậy!

Vua sở liền nổi giận, truyền đem mỹ nữ ra ngoài cắt mũi đi!

Hãy cẩn thận kẻo những lời nói do lòng ghen ghét hay những việc làm thiếu tình yêu thương của chúng ta, làm hại hay xúc phạm tới anh chị em chúng ta!

c. Và cuối cùng, là vấn đề thành tín: Thành tín đâu chỉ là không lường gạt ai, không giữ lời hứa, hoặc bất trung, bất tín. Thực ra thành tín còn là cái gì hơn thế nữa như biết chấp nhận lẽ phải, biết tôn trọng quan điểm của người khác kể cả của Chúa và Giáo Hội.

Vào năm 1981, tờ Nữu Ước Thời báo, đề nghị chính phủ Hoa Kỳ nên trả lương hưu trí và gắn huy chương cho ông cụ người Trung Hoa, 75 tuổi. Ông cụ không phải một nhà chính trị, quân sự kinh tế, mà chỉ là một người lao công bình thường, làm việc cho một lãnh sự quán Hoa Kỳ tại một thị trấn nhỏ bên Trung hoa.

Khi Hoa Kỳ cắt đứt liên hệ ngoại giao với Trung hoa, lãnh sự quán này bị đóng cửa và trong suốt 35 năm, ông cụ mỗi ngày đến quét sân vườn và lau sàn nhà một lần. Tờ Nữu ước Thời báo viết: “Một người thiếu trung tín chắc chắn sẽ lập luận rằng: Thôi, cần chi quét lá cây mỗi ngày cho mệt, có ai biết đâu? Nhưng ông cụ này trung tín làm bổn phận suốt 35 năm, mặc dù không nhận được lương và không có ai kiểm soát”.

Tổng thống Abraham Lincoln nổi tiếng là người chẳng những cư xử chính trực, mà còn biết tôn trọng lời hứa.

Ngày nọ, một ông lớn có tật nói mà không giữ lời, đến thăm Tổng thống. Để dụ khị đứa con nhỏ của tổng thống đến ngồi vào lòng, ông hứa là sẽ cho nó chiếc vòng đeo tay. Chú bé nghe thấy thế liền đến ngồi vào lòng ông ta. Cuối cùng, khi người ấy chuẩn bị ra về, tổng thống hỏi:

- Anh đã thực hiện lời hứa với con tôi chưa?
- Hứa gì?
- Tôi nghe anh hứa sẽ cho nó chiếc vòng mà!
- Ồ đâu được, chiếc vòng này là đồ gia bảo của tôi mà.

Tổng thống nghiêm nghị nói:

- Anh hãy cho nó đi. Tôi không muốn con tôi nghĩ rằng, bố nó giao du với hạng người không biết giữ lời hứa.

Ông nọ đỏ mặt, đau khổ tháo chiếc vòng, trao cho chú bé và tiu nghỉu ra về với bài học đắt giá mà chắc suốt đời không thể nào quên.

 ---------------------------------

 

Suy niệm 11: Phải làm những điều này, không bỏ những điều kia


(Lm. Micae Võ Thành Nhân)

Hôm nay, Chúa đã nói rõ cho chúng ta thấy những người biết phái, luật sỹ giả hình được thể hiện ở chỗ là họ lấy chính làm phụ, lấy phụ làm chính. Họ coi trọng việc đóng thuế thập phân và bỏ qua điều cốt lõi, quan trọng của lề luật là đức công bình, lòng nhân từ và lòng tin (Mt 23, 23). Sở dĩ họ coi trọng thuế thập phân về bạc hà, hồi hương, thì là, là vì những thứ vật chất mang lại lợi lộc về của cải tiền bạc cho họ, cho nên họ sẵn sàng bỏ qua điều quan trọng của lề luật. Chính điều này làm cho trí khôn của họ ra mù tối, phán đoán lệch lạc. Chúa đã nói họ là bọn đui mù là như thế: “Hỡi những kẻ dẫn đường đui mù, các ngươi gạn lọc một con muỗi ra, nhưng lại nuốt trửng cả con lạc đà” (Mt 23,24). Nghĩa là họ bất chấp tất cả, họ tham lam vô cùng, họ bán trời không chứng: “Các thủ lãnh của nó xét xử dựa theo quà cáp, các tư tế dạy bảo vì tiền, các ngôn sứ bói toán vì bạc. Chúng ỷ váo Đức Chúa mà nói: Đức Chúa chẳng ở giữa chúng ta hay sao? Tai họa sẽ chẳng giáng xuống chúng ta đâu! Bởi vậy chính vì các ngươi lầm lỗi mà Xion sẽ trở thành ruộng cày, Giêrusalem nên chốn tan hoang và núi Đền Thờ hóa ra nơi cao rậm rạp” (Mk 3, 11 – 12).

Cuộc sống của họ mâu thuẫn nhau, bên trong thì đầy tội lỗi, cướp bóc, gian lận, dối trá, ăn chơi vô độ, không thể nào gột rửa được, còn bên ngoài thì ăn mặc sang trọng, quý phái, đẳng cấp, rửa chén, rửa bình cho sạch, nhưng lại làm khổ sở người khác. Thật như Chúa nói họ đui mù là quá đúng. Họ phải rửa trong tâm hồn, phải tẩy sạch tội lỗi bên trong bằng cách lo chừa tội, lo ăn năn sám hối, đổi mới cuộc sống thì cuộc đời của họ mới có ý nghĩa.

Như vậy, điều đáng chúng ta phải suy nghĩ là vì lối sống giả hình và lòng đầy tội lỗi như thế, họ sẽ làm sa đoại đời sống đạo của dân Chúa, làm cho nhiều người đi trật đường lối của Chúa và làm cho đạo của Chúa thành đạo bề ngoài, đạo hình thức, đạo biểu diễn, chẳng biết phải làm điều gì được coi là chính để nên hoàn thiện đây. Chúng ta thấy như vậy để chúng ta theo Chúa, giữ đạo Chúa,  không phải bằng hình thức bề ngoài mà là bên trong. Chúng ta phải sống đạo một cách trưởng thành hơn, sâu sắc hơn, toàn diện hơn.

Sự sâu sắc, toàn diện, trưởng thành hơn trong việc giữ đạo Chúa là chẳng những chúng ta đi lễ, đọc kinh nhiều rồi, mà chúng ta cần phải sống đức bác ái yêu thương, sống lòng nhân hậu, từ bi, khoan dung, tha thứ, cảm thông, không hận thù, gây xích mích, ghen ghét, nói hành, nói xấu, gây khó xử, gây đau khổ cho người anh chị em của chúng ta. Đàng khác, chúng ta cũng phải biết sống quảng đại chia sẻ, giúp đỡ, cứu vớt những người anh chị em chúng ta  đang lâm vào cảnh khó khăn, thiếu thốn, khổ cực, nợ nần, khắc nghiệt, bần cùng và cả những anh chị em đang đau đớn bệnh tật. Chúng ta làm như Chúa dạy trên đây, chúng ta sẽ được Chúa thương xót chúng ta nhiều hơn.

Lạy Chúa, chúng con cần phải có một đức tin mạnh mẽ vào Chúa thì chúng con mới sống công bình với anh chị em của chúng con tốt hơn. Khi có đức công bình, chúng con không dám sống độc ác, chà đạp, xúc phạm đến anh chị em của chúng con, vì anh chị em của chúng con là hình ảnh của Chúa. Chúng con sẽ không dám gây oán, chuốc thù, nợ nàn với anh chị em chúng con trong cuộc sống đời này. Và khi chúng con có đức công bình thì chúng con sống lòng nhân từ, bác ái, yêu thương anh chị em chúng con theo ý Chúa để rồi Chúa thưởng công đời sống vĩnh cửu cho chúng con sau này. Amen.

---------------------------------

 

Suy Niệm 12: Phải làm những điều này, và không bỏ các điều kia.


(Lm. Micae Võ Thành Nhân)

Chính Chúa là người vạch trần lối sống giả hình của những người biệt phái, luật sỹ, trưởng tế, kỳ lão cho những người Do Thái ngày xưa và chúng ta ngày hôm nay thấy mà bấy lâu nay nó được che phủ dưới lớp bọc đọc kinh cho dài, may dài tua áo, nới rộng thẻ kinh: “Họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài” (Mt 23, 5). Vì giả hình cho nên họ chuộng những hình thức bên ngoài, cố gắng đánh bóng nó để che phủ những điều xấu xa bên trong như gạn lọc một con muỗi ra mà nuốt chửng con lạc đà, rửa bên ngoài chén đĩa nhưng bên trong thì nhơ bẩn, gian tham. Nộp thuế thập phân về bạc hà, hồi hương và thì là để bên ngoài có vẻ như chu toàn luật Chúa nhưng lại bỏ qua đức công bình, lòng nhân từ và lòng tin.

Chúa cho họ thấy những xấu xa đó và rồi Chúa đánh động cõi lòng của họ, cho họ thức tỉnh, nhìn lại cuộc sống mà sửa đổi để sống tốt hơn. Chúa còn chỉ cho họ cách thức: “Hãy rửa bên trong chén đĩa trước đã, để bên ngoài cũng được sạch” (Mt 23, 26).

Rửa bên trong tâm hồn của họ, từ “Rửa” gợi cho chúng ta nhớ đến nước trong bí tích Rửa tội, dòng nước của bí tích Rửa tội sẽ rửa chúng ta sạch hết mọi tội lỗi. Do đó, những người biệt phái và luật sỹ muốn rửa sạch trong tâm hồn thì phải đến với Chúa. Chúa dùng Lời Chúa và quyền năng của Chúa thanh tẩy họ, giúp họ sống tốt hơn, nhưng vì họ tự tạo cho họ sự đui mù nên không bao giờ họ chạy đến với Chúa, ăn năn sám hối để Chúa tha thứ: “Hỡi những kẻ dẫn đường đui mù, các ngươi gạn lọc một con muỗi ra, nhưng lại nuốt trửng cả con lạc đà. Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình, vì các ngươi rửa bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong, các ngươi đầy gian tham và nhơ bẩn. Hỡi những người biệt phái đui mù, hãy rửa bên trong chén đĩa trước đã, để bên ngoài cũng được sạch” (Mt 23, 24 – 26).

Bởi đó, Chúa nói rất nặng lời: “Khốn cho các ngươi, hỡi những Luật sỹ và Biệt phái giả hình” (Mt 23, 13 – 32). Lời Chúa nói nặng nề như vậy nhưng chẳng đánh động được cõi lòng của họ, do lòng họ quá chai cứng như mảnh đất vệ đường, Lời Chúa gieo vào rồi ma quỷ đến lấy mất.

Lạy Chúa, xin Chúa đừng để chúng con lòng chai dạ đá như những người biệt phái luật sỹ ngày xưa để rồi chúng con không được Chúa chúc phúc. Xin cho lòng chúng con ra mềm dẻo trước thánh nhan Chúa để Chúa dừng Lời Chúa dạy dỗ, uốn nắn, sửa đổi chúng con sống theo ý Chúa, sống tốt hơn. Amen.

---------------------------------

 

Suy Niệm 13: Vẫn phải làm, không được bỏ


(Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)

Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Ba Tuần 21 Thường Niên, Năm Lẻ này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chỉ có Chúa mới làm cho chúng ta nên một lòng một ý, xin Chúa cho tất cả chúng ta biết yêu luật Chúa truyền và mong điều Chúa hứa, để dầu sống giữa cảnh thế sự thăng trầm, chúng ta vẫn một lòng thiết tha với cõi phúc chân thật.

Thiết tha với cõi phúc chân thật, cậy trông vào lời Chúa hứa, tin rằng Chúa sẽ giải cứu đúng lúc, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Giêrêmia: Thiên Chúa gọi ông Giêrêmia làm ngôn sứ. Giêrêmia hầu như miễn cưỡng nhận lời mời gọi lãnh một sứ mạng nặng nề. Sau này ông sẽ nếm mọi mùi cay đắng, và sẽ trách Thiên Chúa không giữ lời hứa trợ giúp ông. Điều này càng làm ta khâm phục hơn thái độ trung kiên của một kẻ anh hùng, hầu như một mình đương đầu với tất cả. Nhưng khi ông chu toàn sứ mạng, chính Thiên Chúa ban sức mạnh cho ông… Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi. Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi. Ta là Đức Chúa, Ta đã gọi ngươi, vì muốn làm sáng tỏ đức công chính của Ta, Ta đặt ngươi làm giao ước với dân, làm ánh sáng chiếu soi muôn nước.

Thiết tha với cõi phúc chân thật, thực hành các việc đạo đức và tập tành các nhân đức để tỏ lòng sám hối, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích bài giảng của thánh Gioan Kim Khẩu: Năm cách sám hối… Cầu nguyện, ăn chay là việc tốt, làm phúc bố thí thì đẹp hơn là tích trữ vàng bạc, vì việc bố thí tẩy sạch mọi tội lỗi. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Anh em hãy cho thì sẽ được Thiên Chúa cho lại.

Thiết tha với cõi phúc chân thật, chu toàn sứ mạng Chúa trao phó, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Phaolô Tông Đồ gửi tín hữu Thêxalônica: Chúng tôi sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 138 cho thấy: Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ, biết cả khi con đứng con ngồi. Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Lời Thiên Chúa là lời sống động và hữu hiệu, lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ. Điều này vẫn cứ làm, điều kia không được bỏ, Lời Chúa là gươm sắc bén: phân tách được tâm với linh, cốt với tủy, sẽ soi sáng cho ta biết được điều nào vẫn phải làm, điều nào cũng không được bỏ. Trước khi cho ta thành hình trong dạ mẹ, Chúa đã biết ta; trước khi ta lọt lòng mẹ, Chúa đã thánh hóa ta. Chúa đã đặt Lời Chúa vào miệng ta, Người đã đặt ta làm giao ước, làm ánh sáng chiếu soi muôn dân. Cầu nguyện, ăn chay là việc tốt; làm phúc bố thí, thì, đẹp hơn là tích trữ vàng bạc, vì việc bố thí tẩy sạch mọi tội lỗi. Chúng ta hãy khiêm nhường, hãy tha thứ cho nhau, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Chúng ta hãy quý mến hết tất cả mọi người, thậm chí, sẵn sàng hiến dâng cho nhau, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà, cả mạng sống của ta nữa, vì tất cả chúng ta đều là con cùng một Cha trên trời: Miệng lưỡi ta chưa thốt nên lời, thì, Người đã am tường hết. Người bao bọc ta cả sau lẫn trước, bàn tay của Người đặt lên ta, kỳ diệu thay, tri thức siêu phàm, quá cao vời, ta chẳng sao vươn tới: từ ruộng đất, Người sản sinh cơm bánh, và chế rượu ngon làm phấn khởi cõi lòng. Chỉ có Chúa mới làm cho ta nên một lòng một ý, ước gì ta biết yêu luật Chúa truyền và mong điều Chúa hứa, để dầu sống giữa cảnh thế sự thăng trầm, ta vẫn một lòng thiết tha với cõi phúc chân thật. Ước gì được như thế!

---------------------------------

 

Thứ 4 TN –Tuần 21/2025 - 27/08 Thánh Mônica

Chúa động lòng thương
27/08 – Thứ Tư tuần 21 thường niên – Thánh nữ Mônica. Lễ nhớ.
Bổn mạng Giới Hiền Mẫu.
"Hỡi thanh niên, Ta truyền cho ngươi hãy chỗi dậy"

* Thánh nữ MONICA sinh năm 331 tại Ta-gát, châu Phi trong một gia đình theo Kitô giáo. Lúc còn thanh xuân, thánh nữ đã kết hôn với anh Pa-tri-xi-ô và sinh được những người con, trong đó có thánh Âu-tinh. Khi Âu-tinh mất đức tin, thánh nữ đã dâng những dòng lệ tựa những lời cầu nguyện âm thầm lên Thiên Chúa. Khi thấy Âu-tinh trở lại, thánh nữ đã tràn ngập vui mừng. Người không còn gì để chờ đợi ở trần gian này nữa, Thiên Chúa đã gọi người về ở Ốt-ti-a, năm 387, khi người đang sửa soạn trở về châu Phi, quê hương của người. Thánh nữ là tấm gương sáng chói cho những người làm mẹ: nuôi dưỡng lòng tin bằng lời cầu nguyện và chiếu tỏa ra bên ngoài bằng các nhân đức.

---------------------------------

 

Lời Chúa: Lc 7, 11-17


Khi ấy, Chúa Giêsu đến một thành gọi là Naim. Các môn đệ và đám đông dân chúng cùng đi với Người. Khi Người đến gần cửa thành, thì gặp người ta đang khiêng đi chôn người con trai duy nhất của một bà goá kia và có đám đông dân thành đi đưa xác với mẹ nó. Trông thấy bà, Chúa động lòng thương và bảo bà rằng: "Đừng khóc nữa". Đoạn tiến lại gần, Người chạm đến quan tài và những người khiêng đứng lại. Bấy giờ Người phán: "Hỡi thanh niên, Ta truyền cho ngươi hãy chỗi dậy". Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Rồi Người trao lại cho mẹ nó.
Mọi người đều sợ hãi và ngợi khen Thiên Chúa rằng: "Một tiên tri cao cả đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã thăm viếng dân Người". Và việc này đã loan truyền danh tiếng Người trong toàn cõi Giuđêa và khắp vùng lân cận.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 1. Thánh nữ Monica


--Lm Carôlô Hồ Bặc Xái

A- Phân tích (Hạt giống...)

Chúa Giêsu cứu sống con trai bà goá thành Naim:

- Tất cả mọi người hôm đó chẳng ai mở lời xin Chúa giúp. Ngài ra tay cứu giúp chỉ vì động lòng thương.

- Chúa chạnh lòng trước cảnh mẹ goá con côi, tre già khóc măng non.

- Cứu sống đứa con trai xong, Chúa còn tế nhị trao nó lại cho mẹ nó.

B- Suy gẫm (...nẩy mầm)

1. Trái tim con người vốn giàu tình thương. Nhưng vì nhiều lý do, trái tim có thể bị chai lì đi, không còn xúc động gì trước cảnh khổ của người khác.

Thấy người nghèo thường quá, tôi không còn cảm động cái khổ của người nghèo.

Thấy người bệnh thường quá, tôi không còn cảm được nỗi đau của họ.

Thấy người tội lỗi quen quá, tôi dửng dưng nhìn người ta càng ngày càng chìm sâu trong tội.

Lạy Chúa, xin đổi trái tim bằng đá của con bằng trái tim bằng thịt.

2. Xin Chúa cũng dạy con biết tế nhị: thấy được nhu cầu người khác trước khi họ xin con giúp, và giúp họ một cách tế nhị nhẹ nhàng như hôm xưa Chúa đã trao đứa con lại cho người mẹ.

3. “Tiến lại gần, Ngài chạm đến quan tài”: việc làm này bị luật coi là ô uế. nhưng để an ủi gia đình người chết, và để “tiến lại gần” (ý muốn được gần gũi với người đau khổ), Chúa không ngại gì cả. Yêu thương giúp đỡ đòi hỏi phải can đảm và hy sinh.

4. Chuyện người mẹ Naim đau khổ được Chúa cứu giúp khiến tôi nghĩ tới cảnh khổ của bản thân mình. Bà không biết người đàn ông đúng ở cổng thành hôm ấy là Chúa Giêsu, Đấng có quyền năng cứu sống. Bà không ngỏ lời xin Chúa. Nhưng Chúa chạnh lòng thương, tự động Chúa lại gần và Chúa kéo bà ra khỏi cơn đau khổ.

Chúa lúc nào cũng ở gần tôi. Khi tôi phải khổ, Chúa cũng chạnh lòng và Ngài sẵn sàng cứu giúp. Tôi không bao giờ cô đơn.

5. “Chúa Giêsu tiến lại gần, Người chạm đến quan tài và phán: ‘Hỡi thanh niên, Ta truyền cho ngươi hãy chỗi dậy.’ Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói.”. (Lc 7,14-15).

Bữa nay mình không muốn đến nhà thờ, Chúa Nhật nào Giang cũng đi câu cá. Mai nằm lì trên gường. Tin và Sơn phóng xe đi chơi. Bích thì gọi điện thoại cho bạn. Này có ai gọi mình thì phải?

Bữa nay mình không muốn đến nhà thờ, Bài giảng dài lê thê và khó hiểu quá. Xem phim hoạt hình trên Tivi, hay mở máy hát nghe nhạc, hoặc gọi điện thoại “tám” với bạn bè còn thích hơn. Này rõ ràng có ai gọi mình mà!

Lạy Chúa, con chỉ nghe toàn những tiếng nhu cầu của bản thân. Còn tiếng gọi của Chúa sao mơ màng quá, khó nghe quá. Chúa đã gọi người thanh niên chỗi dậy từ cõi chết, xin Ngài cũng gọi con từ những đam mê bất chính của con. (Hosanna)

6. Hôm nay tôi muốn được chia sẻ đôi điều với anh chị em, đặc biệt với những ai được mang danh hiệu cao quí là Mẹ.

Khi viết về người Mẹ một nhà văn Pháp đã có những lời diễn tả như thế này: “Bà mẹ không phải như một họa sĩ vẽ cái đẹp lên tranh, không như một nhà điêu khắc chạm hình trong đá, không như nhà văn diễn đạt tư tưởng hay bằng những lời chọn lọc, cũng không như một nhạc sĩ ký thác tâm tình đẹp trong tiếng đàn. Phận sự của bà mẹ chính là nhờ ở sức Chúa giúp đỡ, hình thành nên trong linh hồn những người con hình ảnh của Chúa trên trời."

Vâng kính thưa anh chị em,

Có lẽ không có lời nào hay hơn thế để mô tả về một người mẹ, một người mẹ rất nổi tiếng trong Giáo Hội mà hôm nay chúng ta mừng kính. Đó là thánh nữ Monica.

7. Chúng ta chỉ biết Thánh Mônica qua quyển Tự Thuật của người con là Thánh Augustino.

Bà sinh khoảng năm 332 ở Tagaste miền bắc Châu Phi, là con trong một gia đình có đạo. Lúc 18 tuổi, bà phải kết hôn với một người ngoại tên là Patricius theo ý của gia đình và sau đó sinh được 3 người con: người con cả là Augustinô. Bà luôn theo dõi sự phát triển của con với niềm vui lẫn âu lo.

Bà đã phải khóc lóc vì thấy nơi người con của bà có những dấu hiệu sai lạc về luân lý và tinh thần. Dầu vậy bà luôn luôn lấy tình thương khuyên nhủ con. Sau một thời gian quá dài nhưng chưa chinh phục được người con của mình, bà đã được một vị Giám mục, nói chính xác là thánh Ambrosiô, đã an ủi bà: "Không lẽ một người con đã làm cho bà rơi biết bao nhiêu nước mắt, lại phải hư mãi sao?".

Như vậy là chúng ta thấy không những bà đã lo lắng cho chồng để ông được trở lại đạo một năm trước khi ông qua đời, khoảng năm 371. Rồi sau khi chồng mất, bà đã từ Roma theo người con cả Augustino lên tận Milan nơi ông dạy học để ở nơi đây Bà được chứng kiến cảnh con của mình từ bỏ lạc giáo trở về với Chúa, chịu rửa tội vào đêm Vọng Phục Sinh năm 387 dưới sự hướng dẫn và dìu dắt của Giám Mục Ambrôsiô. Sau khi trở lại, Augustinô, em và mẹ đã quyết định trở về Tagaste.

Mùa thu năm 387 cả ba mẹ con từ bỏ Rôma, lên đường về Châu Phi. Chúng ta hãy nghe chính Augustinô thuật lại những giờ sau hết của mẹ mình trên dương thế: "Con không nhớ rõ con đã trả lời làm sao. Nhưng phỏng năm ngày sau, hay hơn một chút, mẹ con ngã bệnh sốt rét. Đang khi nằm bệnh, thì ngày nọ ngài bất tỉnh, không còn nhận ra những người chung quanh. Chúng con chạy tới thì ngài tỉnh lại ngay, nhìn con và em con đang đứng đó; ngài có vẻ tìm kiếm cái gì đó và bảo chúng con” “Mẹ ở đâu thế này?”

Rồi thấy chúng con buồn sầu và lo sợ, ngài nói: "Các con hãy nhớ chôn mẹ ở nơi đây!' Con thinh lặng và kìm hãm nước mắt. Nhưng em con nói mấy lời tỏ ý ước ao thấy ngài được chết tại quê nhà hơn là ở tha hương. Nghe thấy vậy, ngài tỏ vẻ không bằng lòng. Ngài quắc mắt nhìn em con, vì nó đã có những tư tưởng như vậy, rồi nhìn con mà nói: "Con xem, nó nói như vậy đó!” Đoạn ngài bảo hai chúng con: "Các con chôn xác này ở đâu cũng được; các con đừng quá lo về việc đó. Mẹ chỉ xin các con một điều, là bất cứ các con ở đâu, các con hãy nhớ đến mẹ trước bàn thờ Chúa". Sau khi cố gắng nói được điều đó rồi, mẹ con ở lặng và cơn bệnh gia tăng, làm cho ngài càng đau đớn. Vậy, sau khi thụ bệnh được 9 ngày, thì linh hồn thánh thiện và đạo đức đó đã lìa khỏi xác: ngài được 56 tuổi còn con được 33 tuổi" đúng tuổi sống trên đời của Chúa Giêsu.

Augustinô đã chôn cất mẹ tại Ostia.

Sau này khi nhớ về cái chết của Mẹ mình Augustinô đã viết: "Con mất mẹ cách đột ngột, nhưng con cảm thấy an ủi khi dâng cho Chúa nước mắt con khóc mẹ. Con dâng nước mắt ấy cầu nguyện cho mẹ con. Nếu ai đoán xét con, phạm tội vì khóc thương một bà mẹ chết đi và tạm thời mắt con không còn trông thấy được nữa, thì con xin họ nhớ rằng chính bà đã khóc than biết bao năm trường để mắt bà được trông thấy con sống lại với Chúa, xin họ đừng nhạo cười con, nhưng xin họ cũng khóc lóc vì tội lỗi con đã phạm trước mặt Chúa. Chúa là cha của tất cả anh chị em chúng con trong Đức Kitô.

Ngày nay xác bà được dời về thánh đường kính Thánh Augustinô tại Rôma.

Vâng đó là cuộc đời của người mẹ thánh. Và sự thánh thiện đã đổ tràn qua người con. Một niềm vui vô cùng lớn lao nhưng là một niềm vui phải trả bằng một giá thật lớn. Rõ ràng một người mẹ nhờ ở sức Chúa giúp đỡ hình thành nên trong linh hồn người con của mình hình ảnh của Chúa trên trời."

8. Hình như số phận của những người làm mẹ muốn cho con của mình được thành đạt, thành đạt trong cuộc sống đời thường hay thành đạt trong lãnh vực thiêng liêng đều phải như thế.

Ông Comolet Sue, nhà giáo dục danh tiếng, đã điều tra và kể lại trong bản báo cáo về Hội Hôn nhân Thiên Chúa giáo ở Pháp câu truyện này:

Có lần ông gặp một bà góa. Các con bà giữ đạo sốt sắng và thành công một cách vinh quang trên đường đời. Ông hỏi bà:- Bà đã làm gì trong công việc giáo dục con cái bà? Bà đã dìu dắt con bà một cách thực tế như thế nào trong cuộc đời? Bà đã một mình làm tròn sự nghiệp phức tạp ấy!

Bà trả lời cách gọn gàng, giản dị: - Tôi không biết.

Ông gặng hỏi: - Bà giấu đấy chứ? Các con trai bà đã làm cách nào để tạo được những địa vị danh giá mà đồng thời vẫn là tín đồ đáng nể phục? Các con bà hình như rất bằng lòng với cuộc sống của mình. Có bao bà phải thất vọng không...?

Bà mỉm cười và hỏi: - Ông có tin tưởng Thiên Chúa không?

- Chắc là Thiên Chúa cai trị sóng gió, nhưng nếu bà không biết lo liệu thì thuyền cứ chìm.

- Lo liệu phòng ngừa là phải cầu nguyện cho nhiều.

- Không đủ, thưa bà. Bởi chắc không phải lúc nào bà cũng chắp tay quỳ gối trong nhà thờ?

Bị hỏi dồn, bà nói thiệt: - Ngày chồng tôi chết, để lại cho tôi mười đứa con nhỏ, đứa lớn chưa đầy 15 tuổi. Tiền của eo hẹp, nên tôi phải quả quyết... Trước hết là... Là xét lại lương tâm, khi xét mình tôi đã nhận thấy cần phải tu chỉnh, cải tạo đời sống mình cho tốt hơn, thêm nhiều đức tính tốt hơn nữa. Tôi làm ngay... và cứ thế mà tiến...

- Có thế thôi sao? Bà còn làm gì hơn nữa cho con bà?

-  Không có gì khác cả, thưa ông. Tôi tự sửa mình và chính Chúa đã đào tạo chúng nó.

Ngạn ngữ của người Roma có câu: “Không ai có thể cho cái mình không có.” Bà Monica thánh thiện cho nên sự thánh thiện của bà đã tràn qua người con.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

Chúng con thật hạnh phúc vì Chúa luôn đồng hành với chúng con. Chúa lúc nào cũng ở gần chúng con. Khi chúng con gặp đau khổ, chắc chắn Chúa cũng chạnh lòng thương xót chúng con như xưa Chúa đã chạnh lòng trước nỗi khổ của người mẹ mất con thành Nain. Chúng con xin phó thác cuộc đời trong tay Chúa. Xin Chúa gìn giữ hộ phù chúng con trong sự quan phòng của Chúa.

Lạy Chúa Giêsu mến yêu, trái tim con người là họa ảnh của Chúa vốn giầu lòng thương xót và thành tín. Nhưng Chúa ơi, sao chúng con lại quá chai lỳ, thờ ơ trước nỗi khổ của người khác. Chúng con không quan tâm đến cái chết của người hàng xóm. Chúng con không cảm thông với nỗi bất hạnh của tha nhân. Chúng con bỏ ngoài tai tiếng van xin của anh em. Xin tha thứ cho hành vi thiếu bác ái của chúng con. Xin ban tặng cho chúng con trái tim của Chúa để chúng con biết cảm thông trước những thống khổ của tha nhân và mau chóng giúp đỡ trong khả năng của mình.

Lạy Chúa, xin cho chúng con đủ can đảm và đầy hy vọng để vượt qua những thử thách gian nan trong cuộc đời. Chúng con biết rằng chính lúc khó khăn nhất, Chúa đang ở bên cạnh, đồng hành, và nâng đỡ chúng con. Xin dạy chúng con biết nương tựa nơi Chúa là khiên che, thuẫn đỡ cho cuộc đời chúng con. Amen.

---------------------------------

 

Suy Niệm 2. Lễ thánh Monica


--GM Đaminh Nguyễn Văn Mạnh

I. NGƯỜI MẸ TRONG CÁC BÀI ĐỌC LỜI CHÚA

– Hôm nay Phụng vụ mừng lễ thánh nữ Mônica bổn mạng các bà mẹ. Ba bài đọc lời Chúa chúng ta vừa nghe nói gì về các bà mẹ và nói gì với các bà mẹ chúng ta?

– Về bà mẹ, chúng ta có hình ảnh người đàn bà góa chồng trong Phúc Âm Luca mất đứa con trai duy nhất khóc nức nở đau thương khiến Chúa Giêsu chạnh lòng, đến bảo bà đừng khóc nữa, rồi cứu sống cậu con trai và tận tay trao cho bà. Bà thật sự được thương.

– Cũng về bà mẹ, chúng ta còn có bài đọc 1 trích sách Huấn Ca, ca tụng người phụ nữ với những nét phác họa “thật hút”: nào vợ hiền, vợ đảm đang, vợ duyên dáng, vợ khôn khéo; rồi nào người phụ nữ ít nói, nết na, tiết hạnh… Bà được ca tụng “đẹp như vầng hồng trên chốn cao xanh của Đức Chúa”, nhưng cả câu là thế này: “Người vợ hiền với cửa nhà ngăn nắp đẹp như vầng hồng trên chốn cao xanh của Đức Chúa”. Nét đẹp của người vợ hiền hết tình với chồng con.

– Đấy là nói về bà mẹ, còn nói với bà mẹ, bài đọc 2 trích thư 1 Cr 13 chỉ ra cho các bà mẹ ĐỨC ÁI như con đường trọn hảo nhất và mời gọi bước theo.

II. MÔNICA DƯỚI ÁNH SÁNG LỜI CHÚA

– Thánh nữ Mônica như hiển hiện nơi những trang lời Chúa đó. Mônica là người phụ nữ đã sống hết tình với chồng con, trong cầu nguyện và đặc biệt với nước mắt. Chúng ta biết những câu chuyện về Mônica là do Augustinô con của bà viết trong quyển “Tự thú” rất hay.

– Thánh Augustinô kể về mẹ mình: “Mẹ tôi là một người đằm thắm, dịu dàng; bà là một người cầu nguyện và đạo đức thực sự. Bố tôi coi thường mẹ tôi, luôn chế giễu, chẳng bao giờ tỏ được một tình cảm dịu dàng yêu thương nào với vợ mình. Thế nhưng, ngay cả những lúc ông nóng giận, ngay cả những lúc ông muốn tỏ thái độ vũ phu lỗ mãng của một người đàn ông, thì ông… nhìn bà và ông sợ; hay nói cách khác, ông sợ kính bà”. Người ta nói: “Đức trọng thì quỉ thần kinh”. Vì cái đức trọng của Mônica mà ông chồng không dám nặng tay hành động vũ phu trên Mônica. Một điều thật diệu kỳ.

– Augustinô cũng kể về bà nội, tức mẹ chồng của Mônica. Mẹ chồng Mônica, khi thấy chồng chế diễu Mônica, bà không nương tay, còn đổ thêm dầu vào lửa, nói những lời chì chiết. Mônica ứng xử thế nào trong hoàn cảnh cay cực này? Bà cư xử dịu dàng. Mỗi lần mẹ chồng nói điều gì không phải, bà không bao giờ tỏ một thái độ nghịch lại, mà luôn luôn dùng một thái độ biết lắng nghe cách trang trọng. Bà để đấy, rồi khi có dịp bà dùng hành động và ngôn ngữ của đức bác ái, và ngôn ngữ bác ái ấy đã chạm tới trái tim của bà mẹ chồng. Lại một điều đẹp diệu kỳ nữa. Đức trọng, giờ là đức bác ái.

– Còn chính Augustinô con bà thì sao? Khi Augustinô lớn lên, nó học tính của bố. “Cha nào con nấy”. Có lần Mônica nói với Augustinô: “Nếu con không đổi tính nết, mẹ sẽ đuổi con ra khỏi nhà”. Và bà đã quyết định đuổi. Nhưng được cha linh hướng khuyên: “Đứa con của nước mắt thì sẽ không bao giờ bị hư mất”, Mônica đã nén lòng, rút lại quyết định. Và sau này bà nói đó là một quyết định khôn ngoan. Ở đây là đức nhẫn nại, chịu đựng.

– Augustinô còn cố tình bỏ đi xa, thoát ra khỏi tầm tay của mẹ mình, nhưng bà không vì vậy mà chịu thua. – Chúa đến một lúc nào đó, và cho bà thấy phần thưởng của mình. Người mẹ chồng khi thấy đứa con dâu đã để lại cho cuộc đời mình biết bao điều tích cực hơn là tiêu cực, cuối cùng trước khi chết, đã gọi người con dâu: “Mônica, mẹ cám ơn con vì con đã đem đến cho mẹ niềm tin”. Và bà đã xin với Mônica để được rửa tội trước khi chết.

– Chồng bà, trước khi lâm bạo bệnh, đã nhận ra tình yêu đằm thắm, dịu dàng, nhẫn nhục của vợ suốt 17 năm trường dù ông đã gây cho bà bao đau khổ và cả ô nhục, ông đã hối lỗi. Thế là trước khi chết, ông xin được quay trở lại, và bà có mặt ở ngay bên giường bệnh để được thấy chồng mình trở thành công giáo.

– Đau khổ nhất là đứa con Augustinô. Đã 30 năm khóc cho con, nhưng là khóc trong niềm hy vọng của ngày hôm nay, chứ không trong ngậm đắng nuốt cay của ngày hôm qua để giận hờn, thất vọng. Bà cộng tác với ơn Chúa để rong ruổi theo con, sang tới Rôma, đến tận Milan. Bà chạy theo đứa con của mình và cuối cùng bà chinh phục được Augustinô. Augustinô được rửa tội đêm Vọng Phục Sinh năm 387, lúc khoảng 33 tuổi. Lúc bấy giờ bà đã 56 tuổi.

– Lâm trọng bệnh, bà nói với Augustinô: “Mẹ chẳng còn trông mong gì trên đời này nữa. Trước đây, lý do duy nhất khiến mẹ ước mong được nán lại thêm một chút trong cuộc sống này là để nhìn thấy con thành một Kitô hữu trong Hội Thánh công giáo trước khi mẹ nhắm mắt lìa đời. Thiên Chúa đã ban cho mẹ quá lòng mẹ mong ước. Mẹ còn đang được thấy con khinh chê hạnh phúc trần gian mà làm tôi tớ phụng sự Người. Bây giờ mẹ ở đây làm gì nữa?…Mẹ chỉ còn xin con một điều là dù ở đâu, hãy nhớ đến mẹ trước bàn thờ Chúa”.


– Con đường đức mến trọn hảo trong bài đọc 2 như từng bước được thể hiện trong cuộc đời người mẹ Mônica đầy nước mắt này. Chúng ta đọc lại bài ca đức mến ở 4 nét cuối mang tính toàn thể: “Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,7).

III. NGƯỜI MẸ-KHẢ NĂNG “HY VỌNG TẤT CẢ”

– Năm nay, chúng ta hãy nhấn mạnh nét “hy vọng tất cả” trong câu chuyện cuộc đời Mônica mà chúng ta vừa theo dõi.

– “Hy vọng tất cả” có nghĩa là hy vọng người khác có thể thay đổi; luôn hy vọng người khác một ngày nào đó có thể bất ngờ tỏa ra vẻ đẹp hay những tiềm năng chưa bao giờ thấy. – Niềm hy vọng này đặt nền trên đức hy vọng đối thần: hy vọng rằng Thiên Chúa vẫn có thể hoàn toàn uốn thẳng những đường cong của người đó, và rút ra điều tốt lành nào đó từ sự dữ mà chúng ta phải chịu trong cuộc đời này.

– Ở đây niềm hy vọng đạt tới mức trọn hảo, vì nó vươn tới tận sự sống bên kia cái chết. Con người yếu đuối đời này, trong cõi phục sinh, được ánh sáng của Chúa Kitô Phục sinh biến đổi hoàn toàn. Mọi yếu đuối, bóng tối và bệnh tật của người ấy không còn tồn tại. Niềm hy vọng này cho phép chúng ta hôm nay, giữa những phiền muộn chồng chất của cuộc đời này, biết chiêm ngắm con người ấy bằng một cái nhìn siêu nhiên, trong ánh sáng của đức cậy, và trông đợi sự viên mãn mà một ngày nào đó người ấy sẽ nhận được trong Nước Trời, dù hiện nay chưa thấy.

IV. KẾT

– Nét riêng biệt của người mẹ là sinh con; bản năng tự nhiên của người mẹ là yêu thương chăm sóc con, và nét thiêng liêng cao cả mà cũng vô cùng thâm sâu của người mẹ là hy sinh, hao mòn và sẵn sàng hiến cả mạng sống mình vì con.

– Nếu lời Chúa Giêsu “cho có phúc hơn là nhận”, thì lời này được kiểm chứng nơi các bà mẹ, đặc biệt nơi thánh Mônica. Hạnh phúc của bà là chồng là con. Bà đã hy sinh cả một đời cho chồng cho con, để rồi cuối cùng đạt tới và cảm nhận niềm hạnh phúc bất diệt ngay khi còn ở dưới thế.

---------------------------------

 

Suy Niệm 3. Thánh nữ Monica


--GM Giuse Võ Đức Minh
Anh chị em rất thân mến,

Dựa trên Lời Chúa trong ngày lễ thánh Mônica, bổn mạng các hiền mẫu, tôi muốn chia sẻ một vài tâm tình, để càng hiểu về thánh Mônica, chúng ta càng quí trọng những người mẹ trong gia đình và trong giáo xứ. Thánh Mônica sẽ cùng với Mẹ Maria dâng lời tạ ơn Thiên Chúa Ba Ngôi, chắc hẳn ngài mượn lời Mẹ Maria để nói rằng: Muôn đời ngợi khen tôi là người diễm phúc.

Niềm hạnh phúc của thánh nữ Monica là trở nên gương mẫu cho các bà mẹ Công giáo, Monica là bổn mạng của các người mẹ Công giáo trong mọi thời đại. Xuyên thời gian, niềm hạnh phúc lớn lao của Monica vang vọng và lan tỏa trong Hội Thánh...

Monica còn diễm phúc trong tư cách là người mẹ, bởi Monica đọc Lời Chúa và hiểu rằng con cái là triều thiên của cha mẹ. Ðương nhiên triều thiên phải trả giá bằng nhiều đau khổ. Triều thiên của Monica là Augustinô. Chính Augustinô trở nên tiến sĩ của Hội Thánh không chỉ ở thế kỷ thứ tư mà người ta luôn nhắc đến Augustinô với lòng trọng kính và biết ơn. Trong lịch sử Hội Thánh, nhiều người không ngần ngại nói rằng chính thánh Augustinô đã giúp nền văn minh thời bấy giờ đượm màu sắc Hylạp và Dothái đón nhận đức tin Công giáo.

Thưa anh chị em,

Monica thật sự là người diễm phúc: diễm phúc trong Hội Thánh và trong chính gia đình của mình. Monica phải nói lời tạ ơn theo gương của Mẹ Maria. Nhưng làm thế nào Monica có thể lãnh nhận được những triều thiên vô cùng cao quí đó ?

Phải là một người vợ, một người mẹ hiền. Người vợ hiền (như trong sách Huấn Ca) sưởi ấm gia đình, quy tụ con cái. Như mặt trời mọc lên sưởi ấm thế nào, người vợ làm cho mọi người trong gia đình cảm nhận được tình thương yêu hòa thuận. Monica đã thực hiện điều đó khi hết sức nhẫn nhục, yêu thương, tòng phục chồng, không nản chí và luôn dâng lên Chúa những lời kinh cầu nguyện trong nước mắt cho chồng. Hạnh phúc cho Monica khi thấy người chồng của mình được ơn trở lại. Chắc chắn người chồng vô cùng mãn nguyện và hãnh diện về người vợ hiền của mình.

Trong vai trò là người mẹ, Monica cũng hết sức hiền lành. Hiền lành khi đối diện với những người con khó tính, muốn làm ngược ý mẹ mình, làm những điều phiền lòng mẹ mình. Yêu mến, biết ơn mẹ mình về sự hiền lành, nhẫn nhục, kiên trì và về niềm tin vững vàng, Augustinô kể lại: "Tôi đã làm nước mắt mẹ tôi chảy nhiều như dòng suối, mẹ đã khóc rất nhiều nhưng không làm tôi mềm lòng. Một vị Giám Mục đã an ủi mẹ tôi và nói rằng: "Con bà không hư đâu vì Chúa nhìn tới nước mắt của bà. Một người mẹ đã khóc nhiều và cầu nguyện kiên trì cho con mình thì người con không bao giờ hư mất."

Khi con cái đã được quy tụ trong một niềm tin và lòng yêu mến, Monica mãn nguyện về cùng Chúa, tâm tình cuối cùng Monica nói với con: "Mẹ không chờ mong, không tha thiết điều gì hơn, cha các con đã bình an về cùng Chúa trong thánh thiện. hãy cầu nguyện cho mẹ mỗi khi các con nhớ đến mẹ. Hướng về bàn thờ Chúa, hãy tin rằng nơi đó mẹ cùng cầu nguyện với các con."

Thưa anh chị em,

Người mẹ hiền trong cuộc sống trần gian, người mẹ hiền bên cạnh Chúa, người mẹ hiền luôn quy tụ con cái của mình. Trong truyền thống của Hội Thánh, hay ngay như trong giáo xứ bé nhỏ của chúng ta, chính thánh Monica đã quy tụ các thế hệ hiền mẫu. Các hiền mẫu tiền bối đã yêu mến và đi theo con đường của Monica, các thế hệ hiền mẫu ngày hôm nay cũng được quy tụ lại để cầu nguyện, ăn chay, hãm mình, dâng biết bao nhiêu hy sinh từ cuộc sống gia đình, phục vụ trong giáo xứ và xã hội, kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu trong Mầu Nhiệm Thánh Giá.

Ngày lễ Monica cũng quy tụ tất cả chúng ta. Yêu mến, biết ơn, kính trọng các hiền mẫu, chúng ta ước mong các thế hệ hiền mẫu tiếp tục đi theo con đường của Monica. Không những tại nhà thờ, mà còn nơi mỗi gia đình, các hiền mẫu trở nên những người mẹ hiền thật sự, làm cho gia đình mình được ấm cúng thuận hòa, làm cho các thế hệ con cháu trong gia đình và trong giáo xứ được vẻ vang. Như Monica có con cái là triều thiên của mình thế nào, các hiền mẫu trong giáo xứ cũng có các thế hệ con cháu làm vẻ v

---------------------------------

 

Suy Niệm 4. Thánh nữ Monica


--Lm Giuse Đinh Tất Quý

Khi viết về người Mẹ một nhà văn Pháp đã có những lời diễn tả như thế này: “Bà mẹ không phải như một họa sĩ vẽ cái đẹp lên tranh, không như một nhà điêu khắc chạm hình trong đá, không như nhà văn diễn đạt tư tưởng hay bằng những lời chọn lọc, cũng không như một nhạc sĩ ký thác tâm tình đẹp trong tiếng đàn. Phận sự của bà mẹ chính là nhờ ở sức Chúa giúp đỡ, hình thành nên trong linh hồn những người con hình ảnh của Chúa trên trời."

Có lẽ không có lời nào hay hơn thế để mô tả về một người mẹ, một người mẹ rất nổi tiếng trong Giáo Hội mà hôm nay chúng ta mừng kính. Đó là thánh nữ Monica.

Chúng ta chỉ biết Thánh Mônica qua quyển Tự Thuật của người con là Thánh Augustino. Bà sinh khoảng năm 332 ở Tagaste miền bắc Châu Phi, là con trong một gia đình có đạo. Lúc 18 tuổi, bà phải kết hôn với một người ngoại tên là Patricius theo ý của gia đình và sau đó sinh được 3 người con: người con cả là Augustinô. Bà luôn theo dõi sự phát triển của con với niềm vui lẫn âu lo. Bà đã phải khóc lóc vì thấy nơi người con của bà có những dấu hiệu sai lạc về luân lý và tinh thần. Dầu vậy bà luôn luôn lấy tình thương khuyên nhủ con. Sau một thời gian quá dài nhưng chưa chinh phục được người con của mình, bà đã được một vị Giám mục, nói chính xác là thánh Ambrosiô, đã an ủi bà: "Không lẽ một người con đã làm cho bà rơi biết bao nhiêu nước mắt, lại phải hư mãi sao?".

Như vậy là chúng ta thấy không những bà đã lo lắng cho chồng để ông được trở lại đạo một năm trước khi ông qua đời, khoảng năm 371. Rồi sau khi chồng mất, bà đã từ Roma theo người con cả Augustino lên tận Milan nơi ông dạy học để ở nơi đây Bà được chứng kiến cảnh con của mình từ bỏ lạc giáo trở về với Chúa, chịu rửa tội vào đêm Vọng Phục Sinh năm 387 dưới sự hướng dẫn và dìu dắt của Giám Mục Ambrôsiô. Sau khi trở lại, Augustinô, em và mẹ đã quyết định trở về Tagaste.

Mùa thu năm 387 cả ba mẹ con từ bỏ Rôma, lên đường về Châu Phi. Chúng ta hãy nghe chính Augustinô thuật lại những giờ sau hết của mẹ mình trên dương thế: "Con không nhớ rõ con đã trả lời làm sao. Nhưng phỏng năm ngày sau, hay hơn một chút, mẹ con ngã bệnh sốt rét. Đang khi nằm bệnh, thì ngày nọ ngài bất tỉnh, không còn nhận ra những người chung quanh. Chúng con chạy tới thì ngài tỉnh lại ngay, nhìn con và em con đang đứng đó; ngài có vẻ tìm kiếm cái gì đó và bảo chúng con: “Mẹ ở đâu thế này?”

Rồi thấy chúng con buồn sầu và lo sợ, ngài nói: "Các con hãy nhớ chôn mẹ ở nơi đây!' Con thinh lặng và kìm hãm nước mắt. Nhưng em con nói mấy lời tỏ ý ước ao thấy ngài được chết tại quê nhà hơn là ở tha hương. Nghe thấy vậy, ngài tỏ vẻ không bằng lòng. Ngài quắc mắt nhìn em con, vì nó đã có những tư tưởng như vậy, rồi nhìn con mà nói: "Con xem, nó nói như vậy đó!” Đoạn ngài bảo hai chúng con: "Các con chôn xác này ở đâu cũng được; các con đừng quá lo về việc đó. Mẹ chỉ xin các con một điều, là bất cứ các con ở đâu, các con hãy nhớ đến mẹ trước bàn thờ Chúa". Sau khi cố gắng nói được điều đó rồi, mẹ con ở lặng và cơn bệnh gia tăng, làm cho ngài càng đau đớn. Vậy, sau khi thụ bệnh được 9 ngày, thì linh hồn thánh thiện và đạo đức đó đã lìa khỏi xác: ngài được 56 tuổi còn con được 33 tuổi" đúng tuổi sống trên đời của Chúa Giêsu.

Augustinô đã chôn cất mẹ tại Ostia.

Sau này khi nhớ về cái chết của Mẹ mình Augustinô đã viết: "Con mất mẹ cách đột ngột, nhưng con cảm thấy an ủi khi dâng cho Chúa nước mắt con khóc mẹ. Con dâng nước mắt ấy cầu nguyện cho mẹ con. Nếu ai đoán xét con, phạm tội vì khóc thương một bà mẹ chết đi và tạm thời mắt con không còn trông thấy được nữa, thì con xin họ nhớ rằng chính bà đã khóc than biết bao năm trường để mắt bà được trông thấy con sống lại với Chúa, xin họ đừng nhạo cười con, nhưng xin họ cũng khóc lóc vì tội lỗi con đã phạm trước mặt Chúa. Chúa là cha của tất cả anh chị em chúng con trong Đức Kitô.

Ngày nay xác bà được dời về thánh đường kính Thánh Augustinô tại Rôma.

Đó là cuộc đời của người mẹ thánh. Và sự thánh thiện đã đổ tràn qua người con. Một niềm vui vô cùng lớn lao nhưng là một niềm vui phải trả bằng một giá thật lớn. Rõ ràng một người mẹ nhờ ở sức Chúa giúp đỡ hình thành nên trong linh hồn người con của mình hình ảnh của Chúa trên trời."

Hình như số phận của những người làm mẹ muốn cho con của mình được thành đạt, thành đạt trong cuộc sống đời thường hay thành đạt trong lãnh vực thiêng liêng đều phải như thế.

Ông Comolet Sue, nhà giáo dục danh tiếng, đã điều tra và kể lại trong bản báo cáo về Hội Hôn nhân Thiên Chúa giáo ở Pháp câu truyện này:

Có lần ông gặp một bà góa. Các con bà giữ đạo sốt sắng và thành công một cách vinh quang trên đường đời. Ông hỏi bà:

- Bà đã làm gì trong công việc giáo dục con cái bà? Bà đã dìu dắt con bà một cách thực tế như thế nào trong cuộc đời? Bà đã một mình làm tròn sự nghiệp phức tạp ấy!

Bà trả lời cách gọn gàng, giản dị:

 - Tôi không biết.

Ông gặng hỏi:

 - Bà giấu đấy chứ? Các con trai bà đã làm cách nào để tạo được những địa vị danh giá mà đồng thời vẫn là tín đồ đáng nể phục? Các con bà hình như rất bằng lòng với cuộc sống của mình. Có bao bà phải thất vọng không...?

Bà mỉm cười và hỏi:

 - Ông có tin tưởng Thiên Chúa không?

 - Chắc là Thiên Chúa cai trị sóng gió, nhưng nếu bà không biết lo liệu thì thuyền cứ chìm.

 - Lo liệu phòng ngừa là phải cầu nguyện cho nhiều.

 - Không đủ, thưa bà. Bởi chắc không phải lúc nào bà cũng chắp tay quỳ gối trong nhà thờ?

Bị hỏi dồn, bà nói thiệt:

 - Ngày chồng tôi chết, để lại cho tôi mười đứa con nhỏ, đứa lớn chưa đầy 15 tuổi. Tiền của eo hẹp, nên tôi phải quả quyết... Trước hết là... Là xét lại lương tâm, khi xét mình tôi đã nhận thấy cần phải tu chỉnh, cải tạo đời sống mình cho tốt hơn, thêm nhiều đức tính tốt hơn nữa. Tôi làm ngay... và cứ thế mà tiến...

 - Có thế thôi sao? Bà còn làm gì hơn nữa cho con bà?

-  Không có gì khác cả, thưa ông. Tôi tự sửa mình và chính Chúa đã đào tạo chúng nó.

Ngạn ngữ của người Roma có câu: “Không ai có thể cho cái mình không có.”

Bà Monica thánh thiện cho nên sự thánh thiện của bà đã tràn qua người con.

---------------------------------

 

Suy Niệm 5. Thánh Monica


--Lm Giuse Đinh Lập Liễm

Nước Thiên Chúa được ví như bữa tiệc cưới, mà trong đó chỉ những ai có thái độ tỉnh thức và sẵn sàng, mới có cơ hội được chú rể là Đức Giêsu dẫn vào đồng bàn với Người trong vương quốc vĩnh cửu. Hình ảnh năm cô khôn và năm cô khờ cùng cầm đèn đi đón chàng rể, nhưng khác nhau ở chỗ là cô khôn mang đèn mang thêm dầu, còn cô dại thì mang đèn không dầu, là hình ảnh tiêu biểu của hai kiểu sống đạo của chúng ta hôm nay. Chúng ta cùng chung đức tin (là cùng tin có Chúa và Chúa sẽ đến) như ai cũng mang theo đèn, nhưng khác nhau ở chỗ có thực hành đời sống đức tin hay không, hay là tin nơi đầu môi chót lưỡi, còn cuộc sống thì vô thần, tựa như cái đèn rỗng ruột, không còn tỏa sáng mà đã tắt ngấm tối thui từ khi nào.

Chúng ta có thể hiểu qua dụ ngôn này: Chàng rể đặc biệt chính là Chúa Kitô, mười trinh nữ phù dâu là toàn thể nhân loại, được Thiên Chúa yêu thương và đón mời vào dự tiệc cưới Nước trời, dầu và đèn là các điều kiện cần có để tham dự tiệc cưới. Mười cô phù dâu, có năm cô khôn và năm cô dại. Đó là hình ảnh con người, có người khôn, có người dại. Khôn hay dại là căn cứ vào thái độ họ có biết sẵn sàng hay không.

Năm cô khôn ngoan cũng ngủ như năm cô khờ dại, thế mà được coi là có thái độ tỉnh thức, bởi vì tuy ngủ, nhưng họ đã chuẩn bị sẵn sàng những thứ cần thiết. Như thế, tỉnh thức không phải là lúc nào cũng lăng xăng làm việc, tỉnh thức không phải là không được nghỉ ngơi. Tỉnh thức là chu toàn trách nhiệm: khi trách nhiệm chưa xong thì phải lo cho xong, khi đã xong rồi thì có quyền ngơi nghỉ.

Chúng ta cũng thấy Đức Phật dạy các môn đệ mình: “Phải trấn tĩnh cho tâm thanh tịnh để mà giác thức”. Trong cuộc sống, không phải lúc nào chúng ta cũng có một tâm trạng an tĩnh để mà suy xét mọi điều, bởi vì có rất nhiều mối bận tâm, lo toan, tính toán đang xâm chiếm tâm trí ta hằng ngày. Trong câu chuyện Tin mừng hôm nay, đang khi các trinh nữ ngủ thiếp đi, thì có tiếng hô to: “Chú rể kia rồi, ra đón đi”. Thế nhưng trong số mười cô chờ đợi chàng rể, chỉ có năm cô đem đủ dầu mà thôi. Năm cô này được gọi là “những người khôn ngoan”, vì họ đã biết lo liệu, tính toán trước sự việc.

Qua câu chuyện này, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy luôn sống với thái độ sẵn sàng, vì Người có thể đến bất cứ ngày nào, giờ nào. Như năm cô khôn ngoan đã chuẩn bị đầy đủ dầu, chúng ta hôm nay cũng được mời gọi chuẩn bị tâm hồn đón Chúa bằng đời sống đức tin, đức ái và đầy công phúc.

Trong bài Tin mừng này có một chi tiết hơi lạ là khi 5 cô khờ dại thấy đèn mình hết dầu, họ đã đến xin dầu nơi 5 cô khôn ngoan. 5 cô khôn ngoan này mỗi cô có cả một bình dầu đầy ắp, thế mà lại không chia sẻ cho 5 cô kia. Có phải là quá ích kỷ không? Thưa, nếu là chuyện dầu đèn bình thường thì đúng là ích kỷ. Nhưng đây là những hình ảnh tượng trưng cho phần rỗi đời đời, nên nó không có nghĩa là ích kỷ. Bởi vì đối với phần rỗi đời đời của mỗi người, nói cách khác, đối với chuyện công đức và tội lỗi, thì không ai có thể chia cho ai và cũng không ai có thể xin ai được. Anh bạn tôi chết, tôi thương anh ta lắm, nhưng tôi không thể chia cho anh những công lao phúc đức của tôi, tôi cũng không thể xin Chúa san sẻ cho tôi gánh chịu dùm một số tội lỗi của anh (Giải thích của Lm. Carôlô).

Đời người là một cuộc đợi chờ, và đợi chờ nào cũng bao hàm tình yêu trong đó, bởi vì con người chỉ hết lòng đợi chờ mong mỏi người nào hay điều gì mình hết lòng yêu thương hay quý chuộng. Người mẹ chờ đợi đứa con sắp ra đời, bằng cách chuẩn bị tất cả những gì cần thiết, để bao bọc săn sóc con mình; một người chờ đợi bạn đến thăm, bằng cách chuẩn bị thật chu đáo để đón tiếp bạn.

Chúng ta mong đợi Chúa đến. Nhưng khi nào Ngài đến, chúng ta không biết. Có điều chắc chắn là Ngài sẽ đến trong một cuộc viếng thăm thân tình, bởi vì chỉ những người thân tình mới dành cho nhau những cuộc viếng thăm bất ngờ (Mỗi ngày một tin vui).

Tóm lại, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta ý thức về giờ của từng cá nhân mình phải ra trước toà Chúa. Đó là lúc được phân định dứt khoát và vĩnh viễn, nên không còn cơ hội để lựa chọn về phần rỗi của mình nữa. Vì thế, chúng ta phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng, bởi sự lỡ làng trong công ăn việc làm chúng ta có thể bắt đầu lại và có thể sửa chữa được. Nhưng sự lỡ làng trong giờ cuối cùng của cuộc đời sẽ không còn cơ hội để làm lại và lúc đó sẽ hư mất đời đời.

Truyện: Thái độ của mỗi người

“Bạn sẽ làm gì nếu bạn biết rõ bạn chỉ sống đúng một ngày nữa thôi?” Đó chính là câu hỏi của một nhà giáo đã đặt cho 625 học sinh người Đức trong 12 trường, và có kết quả:

20% được hỏi liền trả lời: Chúng tôi sẽ dùng thời giờ còn lại, để uống say sưa, hút ma tuý, để vui chơi cho thoả thích. Cuối cùng một nữ sinh 18 tuổi trả lời rằng: Tôi sẽ dùng thời gian còn lại, để chuẩn bị cho giờ cuối cùng của tôi. Tôi sẽ dành buổi tối cuối cùng, để gặp Chúa và cảm tạ Chúa đã ban cho tôi một đời sống hạnh phúc và đầy đủ.

---------------------------------

 

Suy Niệm 6. Thánh Monica


--Lm Nguyễn Vinh Sơn SCJ

Thánh Mônica sinh vào năm 332 tại một thành phố nhỏ thuộc vùng Bắc Phi, trong một gia đình theo Kitô giáo giữa nhiều người ngoại giáo. Lúc còn thanh xuân, ngài đã kết hôn với anh Patrixiô và sinh được những người con, trong đó có thánh Augustinô mất đức tin. Vào năm 370, Augustinô đã trốn nhà và đi đến Carthago, tức Tunisie ngày ngay. Sau đó ngài đi tới Rôma và Milan. Thánh Mônica không còn có điều gì đặc biệt ngoài việc dành trọn thời gian để cầu nguyện cho đứa con ngỗ ngược đó. Ngài đã dâng những dòng lệ tựa những lời cầu nguyện âm thầm lên Thiên Chúa. Vào năm 385, khi biết được Augustinô đang ở Milan, ngài đã đến đó để đồng hành với con. Dưới sự ảnh hưởng tích cực của thánh Ambrôsiô, giám mục Milan hồi đó, Augustinô đã trở lại và xin lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. Khi thấy Augustinô trở lại, ngài đã tràn ngập vui mừng. Ngài không còn chờ đợi gì ở trần gian này nữa, Thiên Chúa đã gọi ngài về ở Ostia - Ý năm 387, khi ngài đang sửa soạn trở về châu Phi, quê hương của ngài.

Thánh nữ Mônica là tấm gương sáng chói cho các người làm mẹ: nuôi dưỡng lòng tin bằng lời cầu nguyện và chiếu toả ra bên ngoài bằng các nhân đức.

Câu chuyện

Ngày kia, có một phụ nữ đến van xin tha thiết với hoàng đế Napoléon cho con trai của bà. Anh thanh niên đó đã phạm một tội nặng. Lề luật đã rõ rệt. Công lý đòi buộc anh ta phải chết. Hoàng đế quả quyết rằng đảm bảo phải thi hành công lý.

Nhưng bà mẹ năn nỉ:

- Thưa bệ hạ, tôi đến van xin lòng thương xót của ngài, không phải vì công lý.

Hoàng đế Napoléon trả lời:

- Nhưng hắn ta không xứng đáng được thương xót.

Bà mẹ nói:

- Thưa bệ hạ, nếu nó xứng đáng, thì không cần gọi là lòng thương xót nữa.

Hoàng đế Napoléon đáp:

- Thôi được. Ta sẽ rủ lòng thương xót nó.

Và ông sai thả người thanh niên đó ra (Theo Flor Mc  Carthy, Phụng vụ Chúa nhật, năm C, tr. 192).

Suy niệm

Chúa Giêsu chạnh lòng thương xót người quả phụ có đứa con duy nhất qua đời…  mọi người cảm thương và đưa ra nghĩa địa… Bà góa phụ cũng như đang chết. Như đang có hai con người rời bỏ cuộc sống: Người con trai chết được đem ra nghĩa địa chôn cất, người mẹ góa không nơi nương tựa và không người chăm sóc, bảo vệ mình trong đời sống, cho nên bà góa phụ cũng như đang đi vào cõi chết.

Chúa Giêsu nhìn rõ nỗi buồn của người mẹ mất con, Ngài hiểu thấu nỗi cô đơn của bà góa không nơi nương tựa: bà cũng như đang chết, Ngài liền an ủi: “Bà đừng khóc nữa” (Lc 7,13). Không chờ đợi người ta cầu xin, nài nỉ, Ngài sờ vào quan tài và nói: “Hỡi thanh niên, Ta truyền cho ngươi hãy trỗi dậy” (Lc 7,14). Chúa Giêsu đã can thiệp mau lẹ: Ngài giật lại khỏi tay thần chết con trai duy nhất của bà góa thành Naim. Chúa làm sống lại con trai bà góa, như thế Ngài cũng mang lại sự sống tinh thần, niềm hy vọng cho người mẹ.

Đứa con trai duy nhất của bà góa thành Naim được sống lại và chính bà cũng được sống lại. Đức Giêsu đã phục sinh cho cả hai mẹ con bà. Sự việc thật kỳ diệu làm cho mọi người tham dự đám tang đang sầu khổ thành niềm hân hoan, mừng vui cho hai mẹ con bà góa.

Sự kiện con trai bà goá thành Naim được Chúa Giêsu cho sống lại, cũng chính là hình ảnh loan báo trung tâm điểm của Kitô giáo: Nhờ sự chết và sống lại của Chúa Giêsu mà tất cả chúng ta được giải thoát khỏi cái chết muôn đời. Thật thế, sự chết và Phục sinh của Đức Giêsu đã trở nên nguồn mạch sự sống và là sự sống lại của mỗi người chúng ta như Ngài quả quyết: “Ta là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25).

Ý lực sống

“Ta truyền cho ngươi hãy trỗi dậy” (Lc 7,14).

---------------------------------

 

Suy Niệm 7. Thánh nữ Monica


--Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi CSsR

Có những giọt nước mắt đem lại hạnh phúc cho người khác. Có những giọt lệ làm lay chuyển tâm hồn người khác. Giọt nước mắt của người mẹ luôn có tác dụng rất lớn đối với con cái. Giọt nước mắt của thánh nữ Monica đã biến đổi cả cuộc đời của Augustinô, người con trai, đầu lòng thông minh nhưng ngang tàng, trụy lạc. Thánh nữ Monica đã cầu nguyện, đã khóc lóc, Chúa đã nhậm lời và ban cho con của thánh nữ là Augustinô ơn cải hóa từ tâm, ơn đổi mới tâm hồn, ơn làm đẹp con tim: con tim mới, cái nhìn mới.

Một con người

Có một người nữ được sinh ra trong một gia đình đạo hạnh, thánh thiện: tên người nữ ấy là Monica. Monica sinh vào năm 332 tại làng Sucara bên Phi Châu. Gia đình Monica vốn có truyền thống đạo đức, yêu thương tha nhân, yêu thương người nghèo. Được sống trong bầu khí đạo đức của gia đình, Monica sớm trở thành một cô bé ngoan hiền, nhiệt thành, sốt sắng. Ngay từ lúc còn nhỏ Monica đã có tâm hồn quảng đại yêu thương người nghèo: mỗi bữa cơm Monica thường dành ra một phần cho người đói túng thiếu, và Monica thường tìm chỗ vắng vẻ để thân mật nói chuyện với Chúa. Monica đã biết biến những phút giây gặp gỡ người nghèo, chia sẻ cho người nghèo, cầu nguyện làm hạnh phúc cho đời mình. Cô đã biết biến những phút giây ấy làm phút giây cứu độ cho mình và cho người khác.

Con người đạo đức vẫn thường gặp truân chuyên như nhiều người thường nói. Ông Gióp đã là chứng minh hùng hồn cho cuộc đời thánh thiện, nhưng gặp toàn những chuyện thử thách, rắc rối.

Thánh Giuse là người công chính nhưng cũng gặp đắng cay: nếu không hiểu được ý Chúa, chắc chắn Người đã đứt gánh giữa đường. Monica cũng nằm trong diện ấy.

Năm 22 tuổi, vì vâng lời cha mẹ, thánh nữ đã kết hôn với Patricius thuộc dòng dõi quí phái, nhưng tính tình xấu xa, ngang ngược, độc ác, và lại hơn Monica cả hai con giáp. Đau khổ nhưng Monica đã chấp nhận ý cha mẹ, và âm thầm cầu nguyện cho chồng, vì thánh nữ xác tín mình sẽ cứu được một linh hồn trở về với Chúa. Nhờ lòng quả cảm, đức tính khiêm nhường, và nhờ cầu nguyện vững tin vào Chúa, Monica đã cảm hóa được người chồng, và sau này bà sinh được 3 người con mà Augustinô là con đầu lòng. Sau này chính nhờ những giọt lệ thành tâm và nhờ lời cầu nguyện liên lỉ của thánh nữ, Augustinô đã trở lại và trở nên thế giá, trở nên thánh.

Vẫn giọt nước mắt của Monica

Monica tuy sống trong một gia đình ngoại giáo, đã luôn chứng tỏ bà có Chúa ở cùng. Sự thánh thiện, lòng quảng đại, yêu thương của Monica đã cảm hóa được người chồng ác độc, ngang tàng, ích kỷ. Monica luôn dậy con cái biết mến Chúa, yêu người. Bà luôn yêu thương con cái với tất cả con tim, với tâm hồn đầy ắp Chúa. Bà đã biết biến mọi giây phút trong cuộc đời của bà trở thành những giây phút, những cơ hội hồng ân để thay đổi lòng người khác. Chính cái phút giây bà vâng lời cha mẹ kết hôn với Patricius đã thay đổi đời bà, nghĩa là bà đã chấp nhận điều mình không ưa thích để biến nó thành phút giây cứu độ cho mình và cho người mình sẽ sống, sẽ nhận làm chồng, dù rằng bà biết bà sẽ phải đau khổ nhiều, phải hy sinh, phải từ bỏ. Tình yêu Đức Kitô thúc bách bà. Bà đã đi tới cùng, bà đã làm thay đổi chồng, con, và biến đổi người con trụy lạc, ham chơi, ham lạc thú là Augustinô trở nên người con tốt, người con đẹp cho Giáo Hội. Qua những giọt lệ của Monica, qua lời cầu xin tha thiết của bà, Monica đã làm thay đổi tất cả, đã làm mới mọi sự để bà có thể nói được như ông già Siméon: ”Giờ đây xin để tôi tớ ra đi bình an…”.

Thánh nữ Monica đã qua đời năm 387, sau khi Augustinô được thánh Giám mục Ambrosiô rửa tội. Thánh nữ được an táng tại Otti. Đức Thánh Cha Martinô truyền đem xác thánh nữ về nhà thờ Thánh Augustinô ở Roma vào năm 1430.

Lạy Thánh nữ Monica, xin ban cho các bà mẹ công giáo luôn có tâm hồn thánh thiện và đạo đức  như thánh nữ.

 Xin cho các bà mẹ luôn biết giáo dục con cái mình biết mến Chúa và yêu người.

 Xin cho các bà mẹ công giáo luôn biết nêu gương sáng cho con cái trong đời sống, để con cái nhiệt thành mến Chúa và yêu tha nhân.

---------------------------------

 

Suy Niệm 8. Một bà mẹ thánh kiên trì và can đảm


--Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi CSsR

Ca dao Việt Nam có câu:

"Công Cha như núi Thái Sơn

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra…"

Hoặc trong bài hát "Lòng Mẹ“, nhạc sĩ Y Vân đã viết: “Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào”. Vâng, người mẹ nào mà chẳng thương con, người mẹ nào lại nỡ bỏ con khi bà mang nặng, đẻ đau, thức khuya, dậy sớm để lo cho con từng ngụm sữa, nâng niu, ấp ủ con như gà mẹ ủ con trong đôi cánh. Anh Vũ Đức Nhuận đã viết bài “ Em có ba, em có má” có câu gợi cảm và nói lên tình thương bao la của cha mẹ: ”Em có ba, em có má. Má yêu em như suối trên nguồn, từ ngày sinh ra mẹ nâng như trứng, mẹ hứng như hoa, mẹ ôm vào lòng”. Nói về mẹ quả không sao có thể diễn tả hết, lột hết được tình thương lao la của người mẹ. Do đó, thánh Augustinô sau một quãng đời xa Chúa, dấn thân vào con đường lầy lội đã nghiệm ra tình mẹ, tình cha. Ngài đã trở lại với Chúa nhờ lời cầu nguyện và những giọt nước mắt chân tình, đau khổ nhưng đầy tình yêu của người mẹ, bà thánh Monica.

Năm 332, thánh nữ Monica chào đời tại vùng Sucara, nước Phi Châu trong một gia đình đạo đức và luôn biết kính sợ Chúa. Được giáo dục trong bầu khí đạo đức của gia đình, thánh nhân sớm trở thành cô bé đạo hạnh, thánh thiện và luôn kính Chúa yêu người. Với tâm hồn đơn sơ, khiêm nhượng, kèm theo đức bác ái tuyệt vời, thánh nữ Monica ngay từ nhỏ đã biết dành một phần cơm mỗi bữa để giúp đỡ người nghèo, đồng thời những khi nhàn rỗi, thánh nữ luôn tìm nơi thanh vắng để cầu nguyện và trò chuyện thân mật với Chúa.

Với đức vâng lời và lòng yêu thương cha mẹ, thánh nữ lúc lên 22 tuổi đã chấp nhận kết hôn với một chàng trai tên Patricius, con nhà giầu, quí phái nhưng tính tình lại ngang ngược, hung hăng, ngạo mạn, và tuổi lại gấp đôi thánh nữ. Tuy rất khổ tâm, nhưng thánh nữ vẫn vâng lời cha mẹ với ước nguyện sẽ cứu được một linh hồn trở về đàng ngay nẻo chính. Nhờ tâm hồn thánh thiện, lòng đạo đức sâu xa và nhờ lời cầu nguyện thánh nữ đã cải hoá được chồng của mình và sau đó sinh được 3 người con mà Augustinô là con đầu lòng. Sống trong một gia đình hoàn toàn ngoại giáo, nhưng thánh nữ Monica luôn tỏ ra mình là con của Chúa, sống nghe lời Chúa, tuân theo lời của Chúa và luôn giáo dục con cái biết kính Chúa, yêu người. Augustinô càng lớn càng trở nên người con hư hỏng, dù mẹ cha yêu thương hết mực. Augustinô có trí rất thông minh, nhưng càng thông minh, cậu càng ỉ lại đâm ra lười biếng và lơi là ăn chơi trác táng. Bị sửa phạt, Augustinô đâm ra lừa dối, lường gạt cha mẹ, thầy cô, từ đó đâm ra ăn chơi trác táng và trụy lạc. Càng đi học ở ra, ở tỉnh Augustinô càng bị cuốn hút vào những trào lưu xấu và càng hư hỏng. Đau khổ hơn nữa cho thánh nữ Monica con trai Augustinô của mình đi theo bè rối và chống lại đức tin. Tuy rất đau khổ nhưng thánh nữ Monica tin tưởng vào tình thương và sức mạnh của Chúa, bà tin tưởng kiên trì cầu nguyện và làm việc lành bác ái.

Lời cầu nguyện, tin tưởng, cậy trông phó thác nơi Chúa và những giọt nước mắt chân thành, tha thiết của Chúa đã được Chúa đoái thương nhậm lời. Augustinô sau những thất bại, cay đắng ê chề đã trở về với Chúa. Augustinô giờ đây có thể nói như thánh Phaolô: “ …lao mình về phía trước”. Ngài đã đẩy lùi tội lỗi, đẩy lui những xấu xa để làm lại cuộc đời mới, làm lại một tương lai tốt đẹp, trong sáng. Chúa có cách nhìn và con đường của Chúa. Vào chính đêm phục sinh năm 364, Augustinô đã được lãnh nhận bí tích rửa tội do thánh giám mục Ambrosiô cử hành. Hai mẹ con tràn đầy hạnh phúc: thánh nữ Monica sung sướng khôn lường, bà và Augustinô trở về Phi Châu trong cuộc hành trình dài ngày, nhưng ý Chúa nhiệm mầu, thánh nữ đã ra đi về với Chúa trong bình an vào năm 387. Thánh nhân được mai táng tại Otti. Đức Thánh Cha Martinô vào năm 1430 đã truyền đem xác thánh nữ về chôn cất tại nhà thờ thánh Augustinô ở Roma.

Cuộc đời của thánh nữ Monica là một cuộc đời đầy gian truân, đau khổ và thử thách. Tuy nhiên, thánh nữ đã kiên cường, can đảm sống tín thác nơi Chúa và luôn cậy trông, hy vọng vào tình thương vô biên của Chúa. Thánh nữ cảm nghiệm thực sâu xa lời của thánh Phaolô tông đồ: ”Tôi có thể làm được tất cả mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho Tôi” hay “… Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Giêsu, Chúa của tôi” (Philip 3, 8).

Thánh Monica đã ra đi về với Chúa vì bà đã toại nguyện vì người con yêu dấu của bà đã quay trở về với Chúa. Bà an bình vì “…Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta” (Philip 3, 20).

Thánh nhân là người mẹ gương mẫu, người mẹ đạo đức, thánh thiện và bây giờ nhiều nơi giới hiền mẫu đã chọn thánh Monica làm bổn mạng của giới mình.

Lạy thánh nữ Monica, xin giúp các bà mẹ công giáo luôn có tấm lòng quảng đại, kiên nhẫn và yêu thương để góp tay giáo dục con cái mình trở thành những con người tốt.

Amen.

---------------------------------

 

Suy Niệm 9. Thánh nữ Monica


--tgpsaigon.net

Thánh nữ Monica sinh năm 332 trong một gia đình đạo hạnh làng Sucara bên Phi Châu. Với bầu khí đạo đức, Monica sớm trở thành một cô bé ngoan ngoãn và sốt sắng: mỗi bữa ăn cô thường dành một phần cho người nghèo và những lúc nhàn rỗi thường tìm nơi vắng vẻ để cầu nguyện.

Năm 22 tuổi, Monica vâng lời cha mẹ kết hôn với Patricius thuộc dòng dõi qúy phái, nhưng tính tình ngang tàng, độc ác và tuổi lại gấp đôi. Dù rất khổ tâm nhưng Monica vẫn vui vẻ vâng lời cha mẹ với hy vọng sẽ cứu được một linh hồn. Quả vậy, nhờ lời cầu nguyện và đức kiên nhẫn, Monica đã cải hóa được người chồng và mấy năm sau sinh được ba người con mà Augustinô là con đầu lòng. Dù sống trong một gia đình ngoại đạo, nhưng Monica đã chu toàn sứ mệnh làm mẹ, luôn giáo dục con cái biết yêu mến Chúa, yêu người. Bà luôn yêu thương con cái, nhất là đối với Augustinô. Nhưng càng lớn, Augustinô càng biểu lộ các tính hư tật xấu. Ỷ vào trí thông minh, Augustinô đâm lười biếng. Bị sửa phạt, Augustinô bèn lừa dối, lường gạt cha mẹ, thầy dạy, rồi từ đó ham mê lạc thú, ăn chơi, kiêu căng và ham hố danh vọng. Nhất là từ khi chàng được gửi đi học ở tỉnh thì những làn sóng tội lỗi lại tràn ngập tâm hồn. Rồi chàng lại theo bè rối Manikê chống lại đức tin. Còn gì đau khổ hơn cho Monica khi thấy người con yêu quý của mình ngày càng bước sâu vào con đường tội lỗi. Nhưng tin vào tình yêu và sức mạnh của Thiên Chúa, bà lại càng kiên tâm cầu nguyện và làm các việc lành.

Lời cầu nguyện và nước mắt của Monica đã được Chúa chấp nhận. Sau những thất bại, Augustinô đã tìm đường trở lại cùng Thiên Chúa. Monica vui mừng dâng lời tạ ơn. Thánh nữ cùng tĩnh tâm với Augustinô ở Cassicicum và có mặt trong lễ rửa tội của con. Ðêm Phục Sinh năm 387, Augustinô đã được lãnh bí tích Rửa Tội do thánh Giám Mục Ambrosiô. Lòng tràn ngập vui sướng, hai mẹ con cùng trở về Phi Châu. Tại Ostia, thánh nữ chia sẻ với con mình sự hoan lạc trong tâm hồn mà thánh Augustinô ghi lại trong cuốn IX “bộ tự thuật”. Thánh Monica đã nói như sau:

- Con ơi, phần mẹ, mẹ không còn thấy vui sướng vì bất cứ điều gì ở đời này nữa. Mẹ không hiểu sẽ phải làm gì và tại sao lại còn sống ở đây. Niềm hy vọng của mẹ trên thế gian này đã được hoàn thành. Chỉ có một điều mẹ ao ước là được thấy con trở thành người công giỏo trước khi mẹ lìa đời. Thiên Chúa cho mẹ được toại nguyện và hơn nữa đã cho mẹ thấy con chán ghét hạnh phúc trần gian và hiến thân phụng sự Ngài. Mẹ còn làm gì nữa đây?

Chẳng bao lâu sau đó, thánh nữ mang bệnh và chết bình an trong Chúa năm 387, tại Ostia, khi đó thánh nữ đã 56 tuổi.

Xác thánh nữ được mai táng ở Otti. Năm 1430, Ðức Thánh Cha Martinô truyền đem về nhà thờ Thánh Augustinô ở Rôma.

---------------------------------

 

Suy Niệm 10. Thánh nữ Monica


--Lm Anphong Trần Ðức Phương

Người phụ nữ luôn kiên vững trong Niềm Tin vào Chúa và liên lỉ cầu nguyện giữa bao gian truân khốn khó trong đời sống Gia Đình.

Thánh Nữ Monica sinh năm 331 tại thành phố Tagaste, Phi Châu (bây giờ thuộc nước Algeria), trong một gia đình Công Giáo. Khi cò là một thiếu nữ, vâng lời cha mẹ, Monica lập gia đình với Ông Patricius, một người không công giáo. Ông Patricius là một viên chức hành chánh ở Tagaste. Monica sống với chồng và mẹ chồng. Ông Patricius hơn Thánh nữ nhiều tuổi. Hai ông bà sinh được ba người con: Augustinô, Navigio, và Perpetua. Mặc dầu thánh nữ muốn các con được chịu phép Thánh Tẩy theo lễ nghi Công Giáo, nhưng Patricius nhất định không chịu. Ông là một người tốt bụng, nhưng tính tình nóng nảy và thích sống đời sống ăn chơi phóng khoáng. Vì thế, mặc dầu vẫn kính nể đời sống tốt lành của Monica, những lại không thích lối sống mà ông cho là quá đạo đức, nhiệm nhạt. Hơn nữa mẹ của Patricius cũng bênh vực chủ trương không tôn giáo và đời sống phóng khoáng, tự do của Patricius, con bà. Vì những lý do đó, cuộc sống gia đình của Monica gặp rất nhiều khó khăn, đau khổ. Tuy nhiên, vì có đời sống đức tin vững mạnh và luôn sống theo tinh thần Phúc Âm theo tình thương của Chúa Kitô, Monica vẫn kiên trì chịu đựng mọi sự khó hằng ngày theo thánh ý Chúa. Monica vẫn một lòng yêu mến và kính trọng chồng và mẹ chồng; trong cách sống bà luôn nêu gương sáng cho các con và giáo dục các con theo tinh thần Phúc Âm của Chúa, dậy các con biết làm Dấu Thánh Giá, đọc kinh và cầu nguyện. Vì có lòng thương người và hay giúp đõ những nười nghèo khó, Monica được mọi người trong vùng yêu mến; hơn nữa, mọi người lại nể phục Monica như một người vợ và người mẹ rất gương mẫu.

Monica phải sống những chuỗi ngày trong đau khổ cả về tinh thần lẫn thể xác, trong nước mắt và cầu nguyện tha thiết với Chúa. Sau cùng, chính Ông Patricius và bà mẹ chồng cũng ăn năn hối hận và xin lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy và trở nên người Công Giáo vào năm 371. Ít lâu sau trong năm 371, ông Patricius qua đời trong niềm tin nơi Chúa Giêsu Kitô. Hai người con là Navigio và Perpetua cũng xin chịu phép Thanh Tẩy và gia nhập giáo hội Chúa. Sau này cả hai đã đi tu dòng.

Nhưng Chúa vẫn để Monica tiếp tục vác Thánh Giá theo chân Chúa. Thánh Giá đó là chính người con trưởng của bà, ông Augustinô. Augustinô là một người rất thông minh, lanh lợi và hoạt bát, lại thích giao du bạn bè và thích sống đời sống tự do, phóng khoáng như người bố trước đó. Vì thế, dù mẹ nói mấy mặc lòng, Augustinô nhất định không chịu gia nhập đạo thánh Chúa, vì ông không thích lối sống theo lề luật của Chúa và Giáo Hội. Trái lại ông thích sống theo các quan niệm của các triết thuyết và giáo phái có quan điểm sống tự do và buông thả hơn.

Sau khi học xong, Augustinô trở nên một Giáo Sư và càng ngày càng nổi tiếng tại quê hương Tagaste của ông. Sau một thời gian Augustinô di chuyển đến thành phố phồn thịch là Carthage ở Bắc Phi, cũng là nơi Augustinô đã theo học trước đó (Carthage là phần đất gần thủ đô Tunis của nước Tunnisia bấy giờ).

Thế rồi vào năm 383, lúc Augustinô 29 tuổi, vì muốn bay nhảy cho “thỏa chí tang bồng”, muốn thăng tiến đường công danh sự nghiệp, muốn nghiên cứu và học hỏi thêm, lại muốn xa cách người mẹ cúc lúc nào cũng theo sát bên mình khuyên nhủ, Augustinô quyết định rời bỏ quê hương Phi Châu để đi Rôma (thủ đô của Đế Quốc Rôma thời đó, cũng là trong tâm văn minh của thế giới đương thời).

Nhưng dù đi đâu xa xôi mặc lòng, Augustinô cũng không thể xa được người mẹ quyết tâm đi theo con mình đến bất cứ chân trời góc biển nào. Vừa đi theo tìm con, vừa khóc lóc, cầu xin Chúa cho con mình hồi tâm ăn năn trở về với chúa và Giáo Hội.

Khi Augustinô rời bỏ Rôma để đến Milan (ở miền Bắc nước Ý và là một Thành Phố cũng nổi tiếng thời đó về văn chương và nghệ thuật), Monica cũng đi theo.

Trên đường đi theo con, Monica thường đến gặp các linh mục và tu sĩ, và bất cứ ở đâu cũng xin các Ngài cầu nguyện người con “cứng lòng” của mình. Nhiều người lúc đó quen biết tính tình của Augustinô, thì coi như đã “hết thuốc chữa”. Nhưng bà Monica thì không bao giờ thất vọng, luôn vững tin rằng Chúa sẽ cứu vớt con mình. Một ngày kia, Bà gặp một linh mục để xin cầu nguyện. Cha này đã nói với Monica: “Không thể nào có một ngưòi con mà bà mẹ đã đổ ra bao nước mắt để khóc thương và cầu nguyện cho, lại có thể hư mất được!” Nhờ lời khuyến khích của vị linh mục này mà Monica càng vững lòng trông cậy nơi Chúa và cứ tiếp tục cầu nguyện, cầu nguyện và cầu nguyện với nước mắt và hy sinh hãm mình.

Cuối cùng sau 17 năm trường, sống trong khóc lóc, hy sinh, hãm mình, làm việc bác ái và cầu nguyện nhiệt tình với Chúa, Monica đã cứu được người con “vô hy vọng” của mình. Vào năm 386, lúc 33 tuổi, Augustinô đã nhận ra “chân lý vĩnh cửu” và tin vào Phúc Âm tình thương của Chúa là chân thật và là con đường cứu rỗi.

Augustino đã từ bỏ tất cả chủ trương sai lạc, quyết tâm gia nhập Giáo Hội Chúa và xin chịu phép Thánh Tẩy do chính tay Đức Tổng Giám Mục thành Milan lúc đó là Ambrosio, cũng là một người gia nhập đạo Thánh Chúa lúc 34 tuổi, ngay khi đươc bầu lên làm Tổng Giám Mục Milan và là Thánh Ambrosio, một vị Thánh Giáo Phụ thời danh của Giáo Hội, mà chúng ta mừng kính Ngài vào ngày 7 tháng 12.

Sau khi gia nhập Giáo Hội Chúa, Augustinô đã từ bỏ mọi tham vọng và vui thú trần gian, trở về quê hương Phi Châu, bước vào cuộc đời tu trì khổ hạnh, rồi được chọn làm Giám Mục thành phố Hippo. Sau 34 năm tận tụy chăn dắt đoàn chiên Chúa, Ngài đã được Chúa gọi về Nước Chúa vào năm 430, lúc Ngài 76 tuổi.

Thánh Augustinô viết nhiều tác phẩm về thần học và triết học. Ngài được kính như một Thánh Giáo Phụ thời danh và là Thánh Tiến Sĩ trong Giáo Hội. Chúng ta kính lễ Ngài vào ngày 28 tháng 8 hằng năm (ngay sau lễ kính Thánh Monica 27 tháng 8). Thánh Augustinô cũng nổi danh là nhà triết học nhân bản, các tác phẩm có tính cách triết học của Ngài vẫn được các Giáo sư và sinh viên trong các trường đại học ngày nay trên thế giới nghiên cứu. Ôi sự kỳ diệu của ơn Thánh Chúa!

Riêng Monica, sau khi con mình trở về với Chúa và Giáo Hội, bà vô cùng vui mừng tạ ơn Chúa và đã cùng các con trở về Phi Châu. Nhưng thánh ý Chúa nhiệm mầu, trên đường trở về quê hương, Chúa đã cất Monica về với Chúa tại Ostia, một hải cảng gần cửa sông Tibre ở Roma, vào năm 387, hưởng thọ 56 tuổi.

Thánh Nữ Monica đã được Chúa thương thực hiện những gì bà cầu xin, mà nhiều người cứ cho là vô vọng. Bà thật là một tấm gương tuyệt diệu cho mọi người chúng ta, nhất là các Bà Mẹ Công Giáo, để tất cả chúng ta luôn biết kiên trì hãm mình cầu nguyện trong niềm tin tưởng và tuyệt đối phó thác mọi sự trong tình thương và sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa là Cha nhân từ của mọi người chúng ta.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 11. Thánh nữ Monica


--Lm. Giacôbê Tạ Chúc

Không có gì cao sang trong cuộc đời bình thường, cũng không phải là “đấng nam nhi” hay “bậc anh hùng hảo hán”. Mônica chỉ là phận gái “liễu yếu đào tơ”, nhưng cuộc đời của người phụ nữ này, đã trở thành tấm gương ngời sáng cho những người phụ nữ khác, đặc biệt là những người vợ, người mẹ trong các gia đình. Dù Mônica không sinh trưởng tại quê hương Việt nam, nhưng ở Thánh nữ chúng ta vẫn thấy đầy chất Á Đông của người phụ nữ đất Việt: “Công, Dung, Ngôn, Hạnh” và “Tam tòng, Tứ đức”.

Cuộc đời Thánh Mônica

Thánh nữ sinh tại Thagaste, thuộc Bắc Phi châu vào năm 332 trong một gia đình công giáo. Lập gia đình với ông Patricius, một người ngoại giáo và có được ba người con. Chồng Mônica là một người giàu có, nhưng tính tình nóng nảy và không chung thủy. Người mẹ chồng của thánh nữ cũng gắt gỏng và khó chịu. Patricius thường hay rầy la vợ, vì Mônica hay tỏ ra thương yêu và giúp đỡ mọi người. Dù vậy, thánh nữ vẫn luôn âm thầm hy sinh, kiên trì, chịu đựng trong nước mắt của nguyện cầu. Cuối cùng, Mônica cũng chinh phục được mẹ chồng cùng với chồng, và họ đã trở lại cùng Thiên Chúa. Patricius qua đời năm 371, sau khi đã lãnh nhận Bí tích rửa tội. Hết chồng rồi lại đến con, Augustin học theo tính khí của cha, sống phóng đãng và chạy theo bè rối Manichée, trong chín năm. Mônica theo con để mong ngày con được trở lại cùng Chúa. Những hy sinh của Mônica thật không uổng tí nào. Đêm Phục sinh, ngày 24 tháng tư năm 387, bà vui mừng dự lễ rửa tội cho thánh Augustin. Cuối năm 387, khi mẹ con đang chuẩn bị trở về quê hương là Phi châu, thì Thiên chúa đã gọi Mônica về, lúc 56 tuổi. Thánh nữ được chôn cất tại Ostite và sau được dời về Rôma vào năm 1430.

Gương thánh nhân

Thánh Mônica lập gia đình và hoàn thành sứ mạng mà Thiên Chúa trao ban qua ơn gọi làm vợ và làm mẹ. Làm vợ, ngài hết tình yêu thương và chiều chuộng chồng, tính nết hiền lành và đạo đức, đó là bí quyết mà thánh nhân dùng để bảo vệ hạnh phúc gia đình. Làm mẹ, ngài tận tình chăm sóc và giáo dục con cái, nhất là đời sống đạo đức. Nhờ đó mà chồng con đều lần lượt trở lại đạo Chúa. Mônica nên thánh trong một đời sống gia đình, rất bình thường như những gia đình của mỗi người. Điều đó cũng làm cho chúng ta, nhất là các bà mẹ công giáo thử đặt lại vấn đề, tại sao tôi không dùng chính đời sống gia đình của mình để làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hằng ngày? Là một người vợ hay một người mẹ, tôi đã cầu nguyện với Chúa mỗi khi chồng con khô khan, nguội lạnh hay thậm chí mất đức tin…

Lạy Thánh Monica, bổn mạng của giới Hiền mẫu, qua lời bầu cử của Ngài, xin cho các người vợ, người mẹ có đời sống thánh thiện, hiền lành, yêu thương và nhẫn nhục, để hướng dẫn gia đình trong tình thương của Thiên Chúa. Giữa một cuộc sống đầy thử thách, tình trạng chối bỏ sự sống ngày càng lan tràn, giáo dục con cái trở nên đầy thách đố. Xin cho các gia đình luôn biết lắng nghe và thực thi lời dạy của Chúa qua những giáo huấn của Giáo hội. Amen.

---------------------------------

 

Suy Niệm 12. Quan Thầy Của Các Bà Mẹ


--‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’

Hôm nay chúng ta mừng lễ thánh Monica, Nữ vương của các bà mẹ nói chung và của các bà mẹ công giáo nói riêng. Sự kiên tâm bền chí của thánh nhân trong cầu nguyện là một lời chứng hùng hồn về đời sống đức tin sâu xa của một người nữ trong cương vị là một người mẹ.

Thánh Monica đã nếm mùi đau khổ trong việc nuôi dạy người con ngỗ nghịch của mình là thánh Augustino. Như chúng ta biết, thánh Monica là người đã đau khổ nhiều vì thánh Augustino, có lúc tưởng chừng như tuyệt vọng, nhưng đức tin đã cung cấp cho thánh nữ sức mạnh, lòng tin tưởng và kiên trì trong lời cầu nguyện cho người con xa Chúa, và phần thưởng cho sự kiên trì đó là ơn trở lại của Augustino và cuối cùng, thánh nhân đã được hạnh phúc chứng kiến người con của mình trở thành người của Chúa, được tận hiến cho Chúa để chăm sóc cho một cộng đoàn. Có thể nói thánh Monica đã thành thật sống đức tin của mình để nêu gương cho người con đã một thời sống ngoài luật Chúa. Thật là trái ngược với thái độ sống giả hình của những người biệt phái và kinh sư mà Chúa Giêsu đã nặng lời khiển trách.

---------------------------------

 

Suy Niệm 13. Thánh nữ Mônica: Người mẹ tuyệt vời


--Jos. Vinc. Ngọc Biển

Đối với văn hóa của người Á Đông thì vai trò người phụ nữ luôn bị giảm nhẹ. Từ quan niệm trên, người phụ nữ đôi khi bị coi thường. Chính vì vậy, bản thân người phụ nữ cũng trở nên tự ty, co cụm lại trong những công việc như nội chợ, cơm núc... Nói chung là lo những chuyện lặt vặt trong nhà.

Tuy nhiên, hôm nay, phụng vụ mừng kính một vị thánh nữ là vợ, là mẹ trong gia đình. Ngài được biết đến bằng những chuyện bình thường nhưng đã thi hành cách phi thường. Mang trong mình phận gái: “liễu yếu đào tơ”, nhưng cuộc đời và lối sống ngang qua những hành động, hẳn ngài thật giống một: “đấng nam nhi” hay “bậc anh hùng hảo hán”.

Con người đó là ai? Thưa! Ngài chính là thánh nữ Mônica, mẹ của thánh giám mục Augustinô.

Thật vậy, cuộc đời của ngài đã trở nên tấm gương: anh dũng, can trường, nhân hậu, hiền từ, kiên trì, trung thành trong đời sống thường ngày, nhất là  gương hy sinh và cầu nguyện.

Mừng lễ thánh Mônica, chúng ta cùng nhau tìm hiểu cuộc đời của thánh nhân, để ngang qua đó, như một bài học cho đời sống đức tin của chúng ta.

1. Thân thế cuộc đời thánh Mônica

Gia đình của thánh nữ Mônica không có gì nổi nang trong làng. Cha mẹ ngài là những người bình dân nhưng đạo hạnh, hay thương người. Thánh nữ sinh năm 332, tại làng Sucara bên Phi Châu.

Ngay từ nhỏ, Mônica đã được hấp thụ truyền thống đạo đức, và một nền giáo dục có thể nói là “linh đạo tình yêu”. Những đặc tính như: nhân từ, hiền hậu, thương người là nét đẹp nơi gia đình của thánh nhân mà ngài được thừa hưởng.

Quả thật, tấm lòng quảng đại, yêu thương người nghèo dường như đã thường trực trong tâm hồn cô, khiến cô không thể ngồi yên và no bụng trong khi nhiều người chung quanh mình phải đói khát! Vì thế, mỗi bữa cơm Mônica thường dành ra một phần cho kẻ khó nghèo. Việc chia sẻ cho kẻ nghèo đã làm cho Mônica coi là niềm hạnh phúc của mình vì được diễm phúc đụng chạm, gặp gỡ trực tiếp Thiên Chúa ngang qua những người kém may mắn đó.

Một điểm đáng lưu ý khác nữa là Mônica thường xuyên ẩn mình nơi vắng vẻ để thân mật, cầu nguyện với Chúa lâu giờ.

Tuy nhiên, tưởng chừng một con người đạo hạnh như Mônica, ắt phải được tận hưởng một cuộc sống bình yên, hạnh phúc! Ai ngờ cô lại gặp phải cảnh éo le và truân chuyên quá đỗi!

Năm 22 tuổi, vì vâng lời cha mẹ, Mônica đã kết hôn với Patricius. Chồng cô thuộc dòng dõi quý tộc. Vì thuộc về thành phần giàu sang trong làng, nên ngay từ khi còn nhỏ, chàng Patricius đã được nuông chiều thái quá, dẫn đến tình trạng ngang tàng, hách dịch, nghiện rượu, tính tình nóng nảy và không chung thủy, độc ác và tàn nhẫn.... Ông luôn tỏ vẻ khó chịu mỗi khi thấy vợ làm từ thiện và cầu nguyện.

Hơn nữa, sẵn có lợi thế con nhà giàu, lại hơn tuổi của Mônica quá nhiều, nên Patricius thường xuyên thể hiện vai trò chủ - tôi đối với cô. Mặt khác, cô lại còn phải chịu cảnh hất hủi của mẹ chồng. Điều làm cho cô Mônica buồn nhất, đó là bà lại hùa theo con trai để bênh vực chủ trương không tôn giáo và đời sống phóng khoáng, tự do cho Patricius. Vì những lý do đó, cuộc sống gia đình của Mônica gặp rất nhiều khó khăn, đau khổ.

Thêm vào đó, sau khi sinh được Augustinô, người con trai đầu lòng, bà vui mừng phấn khởi, nhưng chẳng bao lâu, Augustinô buông theo lối sống của cha, nên cũng trở nên lêu lổng, phóng túng...

Nhưng khi gặp những nghịch cảnh ngập đầu, Mônica không hề oán trách, nhưng ngài đã tìm ra những liều thuốc giải độc tốt nhất cho linh hồn mẹ chồng, chồng và các con, đó là sự hy sinh, lời cầu nguyện liên lỷ, cộng thêm những đức tính tuyệt vời như  lòng bác ái, tình yêu thương, tinh thần quả cảm, đức tính khiêm nhường, và vững tin vào Chúa. Vì thế, chúng ta không lạ gì khi Mônica vẫn một lòng yêu mến, kính trọng chồng và mẹ chồng; lại luôn sống làm gương sáng cho các con; yêu thương giúp đỡ dân làng.

Vì vậy, mưa dầm thấm lâu. Thiên Chúa đã thưởng công Mônica, đó là mẹ chồng và Patricius đã xin Rửa Tội và tin theo Chúa. Còn Augustinô đã chia tay bè rối Manichê (Nhị Nguyên) là một tà thuyết chống lại Giáo Hội và đức tin của Công Giáo mà ông đã dồn toàn tâm toàn trí trong suốt chín năm trường. Sau đó ngài được Rửa Tội. Hai người con còn lại là Navigio và Perpetua cũng xin chịu phép Thanh Tẩy và gia nhập Giáo Hội Chúa. Sau này cả hai đã đi tu dòng.

Niềm vui tột cùng đó đã làm cho Mônica thốt lên với Augustinô trong những giây phút cuối đời: “Con ơi, không gì trên thế gian này làm mẹ vui. Mẹ không biết có gì còn lại cho mẹ làm hoặc tại sao mẹ lại vẫn ở đây, mọi hy vọng trên thế gian này mẹ đã được mãn nguyện”.

Cuối năm 387, khi mẹ con đang chuẩn bị trở về quê hương là Phi Châu, thì Thiên Chúa đã gọi Mônica về với Ngài, hưởng thọ 56 tuổi. Thánh nữ được chôn cất tại Ostite và sau được dời về Rôma vào năm 1430.

2. Gương sáng của thánh nhân

Cuộc đời và gương sáng của thánh nhân cho chúng ta thấy rằng: ngài đã “làm những chuyện bình thường cách phi thường”. Tại sao vậy?

Trước tiên: là chu toàn bổn phận. Chu toàn bổn phận cách trung thành, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác thì quả là anh hùng. Ngài đã hoàn thành sứ mạng Chúa trao trong ơn gọi làm vợ và làm mẹ. Làm vợ, thánh nhân đã hết lòng quý trọng, yêu thương và trung thủy với chồng. Làm mẹ, thánh nhân hết mực yêu thương, hy sinh cho con cái. Tận tụy giáo dưỡng con cái nên người. Khi không được như ý của mình, ngài vẫn không bỏ cuộc. Thánh nhân đã cầu nguyện và hy sinh liên lỷ cho con. Nhờ đó mà ngài đã cải hóa được Augustinô trở về với Chúa và phục vụ Giáo Hội.

Thứ đến: là cảm hóa bằng gương sáng. Khi bị ngược đãi bởi mẹ chồng và chồng, thánh nhân đã nêu cao gương khiêm nhường, yêu thương và tha thứ. Sẵn lòng thông cảm cho tính khí của mẹ và chồng. Yêu thương, phục vụ, khiêm nhường và tha thứ là lựa chọn của thánh nhân trong những lúc khó khăn và gặp chuyện chẳng lành.

Thứ ba: là mẫu gương cầu nguyện và hy sinh. Thánh nhân đã kết hợp với Chúa cách liên lỷ và hoàn toàn phó thác nơi Ngài.

Cuộc đời của ngài với những biến cố vui buồn, thành công hay thất bại đều kết hợp với Chúa. Ngài luôn phó thác mọi sự trong sự an bài của Thiên Chúa.

Thứ tư: là sự kiên trì và trung thành. Kiên trì trong cầu nguyện. Trung thành trong niềm tin, dù nhiều khi phải quặn đau.

Quả thật, cả cuộc đời của thánh nhân đã để lại cho chúng ta gương sáng tuyệt vời nơi những người vợ, người mẹ và cho hết mọi người.

3. Bài học cho chúng ta

Mỗi khi mừng lễ thánh Mônica, chúng ta hãy học nơi ngài những gương sáng để xây dựng hạnh phúc gia đình ngày càng tốt đẹp.

Bài học thứ nhất: Chu toàn bổn phận hằng ngày trong lòng mến. Làm những việc tầm thường cách phi thường trong sự kết hợp với Chúa và phó thác cho Ngài.

Bài học thứ hai: Biết dùng gương sáng như công cụ số một để cảm hóa người khác, nhất là người đó lại là người ngang tàng mất nết...

Bài học thứ ba: Cần xác định thật rõ: “mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên”. Làm mọi việc trong tâm tình tín thác. Đón nhận tất cả, miễn sao điều đó đẹp lòng Chúa và ích lợi cho phần hồn mọi người.

Bài học thứ tư: Đó là sự kiên trì, trung thành. Đời sống đức tin của chúng ta cần có những nhân đức này. Nếu không kiên trì, chúng ta dễ bỏ cuộc. Không kiên trì khó có thể trung thành.

Lạy Chúa, xin nhận lời thánh nữ Mônica chuyển cầu mà ban cho chúng con, nhất là những người vợ, người mẹ trong các gia đình luôn có đời sống thánh thiện, hiền lành, yêu thương và nhẫn nhục, kiên trì và trung thành, tin tưởng và phó thác nơi Chúa như thánh Mônica khi xưa. Amen.

------------------------------

 

Suy Niệm 14. Sống thánh giữa đời


--tinmung.net

Có bao nhiêu vị thánh mà cả mẹ lẫn con đều được tuyên phong là thánh? Trong lịch sử Giáo hội, con số này rất ít, có lẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay….

Tuy nhiên, mẫu số chung nơi tất cả các vị thánh đó là các ngài đều có những người mẹ đạo hạnh thánh đức. Quả đúng như vậy. Mẹ hiền mới có con thảo. Mẹ lành mới có con thánh. Nhờ người mẹ thánh thiện Mônica hôm nay, mà Giáo hội có vị đại thánh Augustinô ngày mai.

Thế nhưng thử hỏi Mônica đã nên thánh như thế nào?

- Trước hết, Mônica đã nên thánh nhờ sự hiền hoà nhẫn nhục

Năm 22 tuổi, Mônica vâng lời cha mẹ kết hôn với Patricius, một người ngoại đạo dòng dõi quý phái, nhưng tính tình ngang tàng độc ác, và tuổi tác lại gấp đôi Mônica! Với tính hiền lành và nhẫn nhục, Mônica đã biến cuộc hôn nhân "khập khễnh" của mình thành êm đềm. Thánh nữ đã đối xử tốt đẹp với cả chồng lẫn mẹ chồng, khiến sau một thời gian ngài đã hoàn toàn chinh phục được chồng lẫn mẹ chồng và các em của chồng. Lý do khiến người chồng không mạnh tay với thánh nữ vì ngài đã giữ không bao giờ mạnh miệng với chồng. Và nhất là không bao giờ bà nóng giận hay mất kiên nhẫn với chồng và với đứa con hư hỏng là Augustinô, kể cả khi bị Augustinô lừa dối và làm tổn thương.

- Thứ đến, Mônica đã nên thánh nhờ sự kiên tâm cầu nguyện

Không phải chỉ cầu nguyện một năm, hai măm mà cầu nguyện bền bỉ suốt một đời, cầu nguyện trong nước mắt, trong đau khổ. Khi thấy con mình mất đức tin, theo lạc giáo chống lại Thiên Chúa, chống lại Giáo hội, và ngày càng dấn sâu trên con đường tội lỗi, thì Mônica càng tha thiết cầu nguyện, càng cậy trông vào Chúa. Đêm đêm trước bàn thờ Chúa, ngài vẫn sốt sắng cầu nguyện cho chồng, cho con. Cầu nguyện kiên trì, cầu nguyện liên lỉ.

- Sau nữa, Mônica đã nên thánh nhờ sự âm thầm hy sinh

Không lúc nào không nghĩ đến con, lo lắng cho con, và tìm mọi cách để đưa con về đời sống tốt lành. Chính vì thế, bà đã không hề lùi bước trước bất kỳ một hy sinh nào, chỉ để mong con quay về với Chúa. Hy sinh trong kinh nguyện, trong hãm mình, trong chay tịnh; hy sinh trong đau khổ, trong nước mắt. Bà đã khóc nhiều, đến nỗi người ta nói rằng bà không còn nước mắt để khóc nữa. Thánh Amrôsiô đã an ủi bà: “Nước mắt bà sẽ không vô ích đâu, bà hãy cứ vững lòng trông cậy. Augustinô con bà sẽ trở lại”.

Chính tình yêu hải hà đối với chồng, đặc biệt đối với con, là Augustinô, đã khiến thánh Mônica trở nên hiền hoà nhẫn nhục, kiên tâm cầu nguyện, âm thầm hy sinh. Và phần thưởng Chúa ban cho thánh Mônica là gì?

Phần thưởng Chúa ban cho thánh Mônica còn hơn cả những gì mà ngài cầu mong và ước nguyện. Chồng của Mônica đã trở lại cùng Chúa, đã chịu phép rửa và đã được chết trong ân nghĩa của Chúa. Còn đối với Augustinô, con mình, Mônica chỉ xin cho được ơn trở lại làm Kitô hữu, làm con cái Chúa. Thế nhưng, Chúa đã ban cho ngài nhiều hơn thế. Augustinô chẳng những trở thành một Kitô hữu chân chính, mà còn trở thành một linh mục. Không chỉ dừng lại ở đó, ngài còn trở thành một giám mục tài đức và hơn nữa còn là một trong bốn vị đại tiến sĩ lừng danh của Hội Thánh.

Tuy nhiên, phần thưởng mà Chúa ban cho thánh Mônica trên trời còn lớn lao và bội hậu gấp ngàn lần. Đúng như lời Thánh vịnh: “Gieo trong nước mắt, gặt trong vui cười”. Sau khi đã chinh phục được chồng, và đưa được người con về với Chúa, thánh nữ Mônica đã hân hoan giã từ cõi đời khi mới có 56 tuổi đời: “Con ơi, phần mẹ, mẹ không còn thấy vui sướng vì bất cứ điều gì ở đời này nữa. Chỉ có một điều mẹ ao ước là được thấy con trở thành người công giáo trước khi mẹ lìa đời. Thiên Chúa cho mẹ được toại nguyện ”.

Xin Chúa ban cho các bà mẹ trên thế giới, cách riêng cho các bà mẹ trong giáo xứ luôn biết sống theo gương thánh nữ Mônica để nhờ đó gia đình được hạnh phúc và yên vui. Amen.

------------------------------

 

Suy Niệm 15. Mẹ hiền


--Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Có một đứa bé sắp chào đời. Nó bèn hỏi Thượng Đế:Họ nói ngày mai Người sẽ đưa con xuống trần gian, nhưng làm sao con sống nổi ở đó khi mà con quá nhỏ bé và bất lực như thế này?.

Thượng Đế đáp: Trong số những thiên thần, ta đã chọn cho con một người. Thiên thần của con sẽ đợi con và săn sóc con chu đáo.

Đứa bé lại nài nì:  Nhưng này con không phải làm việc gì ngoài ca hát và vui cười hạnh phúc chứ?. Thượng Đế đáp: Thiên thần của con sẽ hát cho con nghe và cũng sẽ tươi cười với con mỗi ngày. Con sẽ cảm nhận được tình thương của người dành cho con và con sẽ thấy rất hạnh phúc.

Đứa bé lại hỏi: Và làm sao con có thể hiểu được khi họ nói chuyện với con bằng một ngôn ngữ mà con chưa hề biết đến?

Thượng Đế trả lời: Thiên thần của con sẽ nói với con bằng những ngôn từ nhẹ nhàng và đẹp đẽ nhất mà con chưa từng được nghe, đồng thời với sự nhẫn nại và cẩn trọng, thiên thần của con sẽ dạy con biết nói.

- Con nghe nói chốn trần gian lắm kẻ xấu xa. Ai sẽ bảo vệ con?

- Thiên thần của con sẽ hộ trì con ngay cả khi điều đó đe dọa đến tính mạng của người.

- Nhưng con sẽ rất buồn vì không còn được nhìn thấy Ngài nữa.

- Thiên thần của con sẽ luôn nói với con về Ta, và dạy con cách thức quay về với Ta dù rằng Ta luôn cận kề con.

Vào giây phút đó, ở nơi thiên đường ngâp tràn an lạc nhưng người ta vẫn có thể nghe thấy những tiếng gọi vang vọng từ cõi thế, và đứa bé vội vàng hỏi Thượng Đế:

- Thưa Ngài, nếu con phải đi ngay bây giờ, xin hãy cho con biết tên thiên thần hộ mạng của con.

- Tên của người không quan trọng, con chỉ đơn giản gọi người là "Mẹ".

Thiên chức làm thiên thần bảo trợ, được Thượng đế ủy thác cho các người Mẹ ở trần gian. Thiên chức làm mẹ là vinh dự lớn nhất của người phụ nữ. Vì thế, Liên Hiệp Quốc đã xác định: “Tương lai thế giới nằm trong tay các Bà Mẹ” (LHQ 1995). Mẹ là quà tặng vô giá Thiên Chúa ân ban cho nhân loại.

Thánh Mônica đã hoàn thành sứ mạng Thiên Thần mang tên Mẹ. Ngài là mẫu gương cho mọi người mẹ trần gian trong sứ mạng Thiên Thần chăm sóc bảo vệ con cái.

Từ một gia đình có nhiều yếu tố mâu thuẫn. Từ hoàn cảnh bi đát của cuộc sống gia đình, nhiều thách đố và khó khăn trong niềm tin, trong giáo dục. Mẹ hiền Mônica vẫn luôn tín thác vào tình thương và sức mạnh của Chúa. Mẹ hiền Mônica tin tưởng cậy trông, kiên trì cầu nguyện, làm việc bác ái, gương sáng đức tin. Thiên Chúa đã thi ân giáng phúc. Mônica đã giúp mọi người trở lại, người chồng nóng nẩy, người mẹ chồng ưa gắt gỏng và người con thông minh nhưng bướng bỉnh. Augustinô trở về với Chúa và đã theo tiếng gọi của Thiên Chúa, dâng hiến cuộc đời cho sứ mạng Tin Mừng và Ngài trở nên Giám Mục tại Thành Hippon và là một vị thánh vừa uyên bác vừa thánh thiện. Từ nay mẹ hiền Mônica đã có một gia đình hạnh phúc và thánh đức. Ngài hoàn thành sứ mạng và về với Chúa trong an bình.

Mẹ hiền Mônica trở nên gương mẫu cho các Bà Mẹ Công Giáo. Ngài là bổn mạng của các người mẹ Công Giáo trong mọi thời đại. Xuyên thời gian, niềm hạnh phúc lớn lao của Mônica vang vọng và lan tỏa trong Hội Thánh.

Mẹ hiền Mônica diễm phúc trong tư cách là người mẹ. Con cái là triều thiên của cha mẹ.Triều thiên phải trả giá bằng nhiều đau khổ. Triều thiên của Mônica là Augustinô. Chính Augustinô trở nên tiến sĩ Hội Thánh, xuyên dòng lịch sử luôn nhắc đến với lòng trọng kính và biết ơn.

Nhưng làm thế nào mà Mônica có thể lãnh nhận được những triều thiên cao quí đó?

Thưa rằng: phải là một người vợ hiền, một người mẹ hiền.

Người vợ hiền sưởi ấm gia đình, quy tụ con cái. Như mặt trời mọc lên sưởi ấm thế nào, người vợ làm cho mọi thành viên trong gia đình cảm nhận được tình thương yêu hòa thuận. Mônica đã sống nhẫn nhục, yêu thương, tùng phục chồng, không nản chí và luôn dâng lên Chúa những lời kinh cầu nguyện trong nước mắt cho chồng… Hạnh phúc cho Mônica khi thấy người chồng của mình được ơn trở lại. Chắc chắn người chồng rất mãn nguyện và hãnh diện về người vợ hiền của mình.

Mônica người mẹ hiền. Hiền lành khi đối diện với những người con khó tính, muốn làm ngược ý mẹ, làm những điều phiền lòng mẹ. Yêu mến, biết ơn mẹ, một người mẹ hiền lành, nhẫn nhục, kiên trì, niềm tin vững vàng, Augustinô kể lại: “Tôi đã làm nước mắt mẹ tôi chảy nhiều như dòng suối, mẹ đã khóc rất nhiều nhưng không làm tôi mềm lòng. Một vị Giám Mục đã an ủi mẹ tôi và nói rằng:  “Con bà không hư đâu vì Chúa nhìn tới nước mắt của bà. Một người mẹ đã khóc nhiều và cầu nguyện kiên trì cho con mình thì người con không bao giờ hư mất…”

Khi con cái đã được quy tụ trong một niềm tin và lòng yêu mến, Mônica mãn nguyện về cùng Chúa. Tâm tình cuối cùng Mônica nói với con: “Mẹ không chờ mong, không tha thiết điều gì hơn, cha các con đã bình an về cùng Chúa trong thánh thiện … hãy cầu nguyện cho mẹ mỗi khi các con nhớ đến mẹ. Hướng về bàn thờ Chúa, hãy tin rằng nơi đó mẹ cùng cầu nguyện với các con …”.

Hạnh phúc gia đình là một cây xanh tươi cần được nuôi dưỡng mỗi ngày. Đó là trách nhiệm của vợ chồng và con cái. Tuy nhiên người mẹ luôn là trái tim của gia đình, là trung tâm điều hành mọi sinh hoạt của gia đình, là nơi mọi thành viên cần đến để nương tựa và tìm sự an ủi. Với trái tim mang hình ảnh của tình yêu quảng đại vô vị lợi của Thiên Chúa, các bà mẹ có khả năng thấm thấu vào lòng người, hấp dẫn, thu hút, chinh phục chồng con, và có khả năng biến đổi cả thế giới này.

Mẹ hiền là hồng ân Thiên Chúa tặng ban.
Mẹ hiền là một nhà giáo dục.
Mẹ hiền là người gương mẫu và cẩn trọng.
Mẹ hiền là người quân bình trong tương giao và thái độ cương nhu.
Mẹ hiền là người biết chuẩn bị cho tương lai của con.
Mẹ hiền là người dạy lòng tự trọng cho con.
Mẹ hiền là người sống vì con và yêu con.

Xin Thánh Nữ Monica mẹ hiền ban cho các Bà Mẹ Công Giáo luôn có tâm hồn thánh thiện và đạo đức như ngài.

Xin cho các bà mẹ luôn biết giáo dục con cái mình biết mến Chúa và yêu người.

Xin cho các Bà Mẹ Công Giáo luôn biết nêu gương sáng cho con cái trong đời sống để con cái nhiệt thành mến Chúa và yêu tha nhân. Amen.

------------------------------

 

Suy Niệm 16. Viết cho vị thánh khóc nhiều nhất!


--Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Mẹ Monica kính mến,

Nếu được bình chọn vị thánh nào khóc nhiều nhất, chắc người ta luôn ưu tiên chọn Mẹ như một người cả đời khóc vì chồng con. Mẹ khóc để cầu xin cho chồng con được yêu mến Thiên Chúa. Nước mắt Mẹ thống thiết đến tận trời cao và Người đã nhận lời ước nguyện của Mẹ. Đúng như nhận xét của thánh Augustinô: “Làm sao Chúa có thể nhắm mắt khi bà khóc, những giọt lệ khẩn khoản không phải xin vàng bạc, hay danh vọng trần gian mau qua, nhưng chỉ cho đứa con xa lạc được cứu rỗi?” Nhờ vậy mà đến cuối cuộc đời, Mẹ mỉm cười bay về Thiên quốc với niềm vui hoan hỷ. Hôm nay Giáo Hội mừng lễ của Mẹ, chúng con thích thú lắng nghe câu chuyện cuộc đời Mẹ.

Mẹ Monica mở mắt chào đời năm 332 trong một gia đình đạo đức ở làng Sucara bên Phi Châu. Từ nhỏ người ta chứng kiến cô bé Monica với nhiều nhân đức. Họ hy vọng lớn lên cô sẽ được hạnh phúc trong đời sống gia đình. Tuy nhiên Thiên Chúa lại trao cho Mẹ thánh giá mà tưởng chừng quá nặng đối với một người mẹ chân yếu tay mềm như Monica. Ở độ tuổi 22, Mẹ vâng lời kết hôn với Patricius thuộc dòng dõi qúy phái. Ông là người ngoại đạo với tính tình ngang ngược, độc ác mà tuổi lại gấp đôi. Hơn nữa, làm dâu trong một gia đình không cùng tôn giáo, với mẹ chồng không mấy tốt lành, người ta chứng kiến biết bao bất công mà Mẹ phải chịu đựng. Nước mắt mẹ tuôn rơi, nhưng mẹ vẫn vui vẻ sống cảm hóa chồng và gia đình bên chồng. Mẹ hy vọng một ngày nào đó, Thiên Chúa sẽ đoái thương Mẹ và cả gia đình.

Sau mấy năm nên nghĩa vợ chồng, Mẹ đã có ba người con mà Augustinô là con đầu lòng. Nhẫn nại trong lời cầu nguyện và không ngừng than thở với Thiên Chúa, Mẹ đã dần cảm hóa được chồng. Ngày Patricius rửa tội, đánh dấu một thời gian lâu dài Mẹ thưa với Chúa: “Lạy Chúa, thánh giá này Chúa đã gởi đến cho con, con xin lãnh nhận. Là phận hèn yếu đuối, xin giúp sức cho con lãnh nhận linh hồn Patriciô để hoán cải chàng.” Nước mắt mẹ tưởng chừng như vơi đi khi thấy chồng mỗi ngày yêu mến Chúa hơn. Nhưng không! Thiên Chúa quả muốn hun đúc đức tin của Mẹ. Ngài muốn Mẹ cộng tác vào việc huấn luyện nuôi dạy con cái theo đường lối của Chúa.

Dĩ nhiên Mẹ hằng yêu thương con cái, nhất là đối với Augustinô. Mẹ đặt nhiều hy vọng vào cậu. Với trí thông minh và tinh thần ham học hỏi, Mẹ chờ đợi con Mẹ sẽ nên người tài đức. Nhưng càng hy vọng, nước mắt Mẹ càng tuôn rơi. Cậy vào trí thông minh lanh lợi, Augustinô không ít lần hỗn hào với bố mẹ. Càng lớn cậu càng rơi vào con đường ham mê lạc thú danh vọng. Cậu sẵn sàng lừa dối Mẹ để thỏa mãn bản tính tự nhiên. Đến nỗi trong sách Tự Thuật, Augustinô thú nhận rằng: “Mẹ khóc cho tôi còn hơn bà mẹ mất đứa con một. Theo mẹ tôi đã chết, chết vì không tin, chết về tinh thần. Kết quả là bà không thể đem tôi ngồi cùng bàn ăn với bà hay về nhà. Bà không chịu nổi những câu nói lộng ngôn của tôi hay những sự đả phá của tôi.”

Vì là người học giỏi nên Augustinô được du học ở Cathage. Tại đây Mẹ lại tiếp tục khóc vì những thói ăn chơi của con mình. Thời gian này Augustinô ham mê tri thức chạy theo bè rối Manikê vốn chống lại Giáo Hội. Là người con tốt lành của Chúa, dĩ nhiên Mẹ đau lòng chứng kiến con mình rơi vào đường tội lỗi như thế. Mẹ khóc nhiều hơn. Khóc để kêu cầu Thiên Chúa giúp con Mẹ thoát khỏi vòng u mê đó. Và Thiên Chúa đã nhận lời để Augustinô nhận ra bè rối Manikê không hợp lý chút nào.

Sau đó con của Mẹ nhận được một công việc tại Milan nước Ý. Thế là trong vai trò giáo sư cho thành phố Milan, Augustinô phải làm việc gần gũi với vị giám mục Milan là thánh Ambrosiô. Không yên tâm với con mình nơi đất khách quê người, Mẹ lên đường để tìm kiếm và tiếp tục khuyên nhủ con. Thế là Augustinô lúc này vừa có Mẹ bên cạnh như nguồn tình cảm nâng đỡ cho cậu, vừa có Đức Giám mục như nguồn tri thức giúp cậu nhận ra chân lý.

Thiên Chúa không để Mẹ khóc nhiều hơn nữa. Mẹ vui sướng khi biết Augustinô quyết định trở về với Giáo Hội. Như lời chia sẻ của Augustinô: “Tôi muốn thành dự tòng đi học giáo lý cho đến khi tôi thấy được chân lý chắc chắn. Khỏi cần phải nói, mẹ tôi sung sướng lắm.” Dĩ nhiên bất cứ cha mẹ nào cũng đều vui sướng khi thấy con mình chọn đường ngay nẻo chính để bước đi. Mẹ cũng thế. Lúc này chắc nước mắt Mẹ cũng rơi, nhưng đó là hai dòng cảm xúc của hạnh phúc dâng trào. Từ đây con của Mẹ không những là con của Chúa, mà là Linh mục, giám mục tài đức, và là vị thánh nổi tiếng trong lẫn ngoài Giáo Hội.

Sau khi hạnh phúc chứng kiến con mình chịu phép rửa, Mẹ đã qua đời năm 387 và được an táng tại Ostia. Sau này Mẹ hạnh phúc được chôn cất bên người con mà Mẹ tốn rất nhiều nước mắt. (Xác thánh nữ được đem về nhà thờ Thánh Augustinô ở Rôma vào năm 1430.)

Mẹ biết không, khi chiêm ngắm cuộc đời Mẹ đắm chìm trong nước mắt, chúng con có dịp nhớ đến những người mẹ Công giáo đang đau khổ vì chồng con. Thời đại hôm nay tiếc là còn nhiều người vợ, người mẹ giống như hoàn cảnh của Mẹ năm xưa.

Là bổn mạng các bà mẹ Công giáo, xin Mẹ giúp mỗi người nữ trong vai trò làm vợ, làm mẹ có được tinh thần tín thác nơi Chúa như Mẹ Monica. Rồi khi gia đình gặp nhiều khó khăn khiến người vợ, người mẹ đau lòng, xin Mẹ cầu thay nguyện giúp cho họ được mạnh mẽ trong đức tin. Xin Chúa lau khô nước mắt của họ. Được như thế, chúng con hy vọng trong gia đình công giáo lúc nào cũng tràn ngập niềm vui hạnh phúc.

------------------------------

 

Suy Niệm 17. Thánh nữ Monica và thánh Augutinô


--Trầm Thiên Thu

Chắc hẳn chẳng ai xa lạ gì với hai vị thánh là mẹ con, đó là thánh mẹ Monica và thánh con Augustinô – Giám mục Tiến sĩ. Hằng năm, ngày 27-8 là lễ kính nhớ người mẹ, và ngày 28-8 là lễ kính nhớ người con.

Thánh Monica (331-387) là bổn mạng của những cha mẹ chịu đựng đau khổ vì gánh nặng gia đình, đặc biệt là những người mẹ Công giáo. Bà được mệnh danh là “Người Bạn của Thánh Giá.”

Thánh Monica sinh năm 332 tại Tagaste, Bắc Phi (nay là Souk Ahras, thuộc Algeria). Bà sống các nhân đức Kitô giáo nổi bật, nhất là chịu đựng sự ngoại tình của người chồng, bà khóc hằng đêm vì thương “cậu ấm” Augustinô, chuyên cần cầu nguyện cho con hoán cải, điều mà chính thánh Augustinô đã viết trong cuốn Tự Thuật (Confession).

Dù bà là một Kitô hữu, cha mẹ vẫn bắt bà sớm kết hôn với một người ngoại giáo tên là Patrixiô, dân thành phố Tagaste, một người chồng có tính nóng như lửa, nghiện rượu, ngoại tình, phóng đãng, luôn khó chịu vì vợ hay làm việc từ thiện và cầu nguyện.

Thánh Monica có 3 người con: Augustinô là con trai trưởng, Navigius là con trai thứ hai, và Perpetua là con gái út. Thánh Augustinô bướng bỉnh, lười biếng, và được gởi vào học tại trường Madaurus. Thánh Monica bị coi là một người vợ hay bị cằn nhằn, là con dâu đau khổ và là người mẹ thất vọng, nhưng bà không đầu hàng trước mọi nghịch cảnh. Thánh Monica còn phải chịu đựng bà mẹ chồng cực kỳ khó tính. Nhưng lời cầu nguyện và gương lành của thánh Monica đã khiến chồng và mẹ chồng trở lại Công giáo. Patrixiô mất năm 371, sau khi đã được rửa tội một năm, lúc này Augustinô 17 tuổi. Thánh Monica ở vậy nuôi dạy các con. Augustinô tiếp tục theo học tại trường Carthage, và tại đây chàng Augustinô bắt đầu ăn chơi trác táng.

Tại Carthage, biết Augustinô theo tà thuyết Manichean (*), thánh Monica đã thẳng thắn đuổi Augustinô đi chỗ khác, không được ăn uống và không được ngủ trong nhà. Đêm đó, thánh Monica đã có thị kiến lạ là “đứa con trời đánh” sẽ trở lại, thế nên bà giải hòa với con. Từ đó, bà luôn theo sát con mọi nơi mọi lúc, đêm ngày cầu nguyện và ăn chay vì con.

Rồi bà đã gặp một giám mục thánh thiện là thánh Ambrôsiô, giám mục này khuyên bà và nói tiên tri: “Đứa con của nước mắt sẽ không hư mất.” Thánh Monica bí mật theo con đi khắp nơi để tìm cách cứu con ra khỏi vũng lầy tội lỗi. Tại Manila (Ý), thánh monica đã gặp thánh Ambrôsiô và được chứng kiến con trai Augustinô trở lại sau nhiều năm ròng rã.

Lúc 29 tuổi, Augustinô quyết định đi Rôma để dạy khoa hùng biện. Thánh Monica cũng quyết định đi theo con. Một đêm nọ, Augustinô nói với mẹ là sắp đi tạm biệt một người bạn. Nhưng không, Augustinô lại lên tàu đi Rôma. Thánh Monica rất đau khổ khi biết con lừa dối mình, nhưng bà vẫn âm thầm đi theo. Bà vừa đến Rôma thì biết tin con trai “trời đánh” Augustinô đã đi Milan. Dù việc đi lại khó khăn, thánh Monica vẫn theo con tới Milan và bất cứ nơi nào khác.

Tại Milan, Augustinô chịu ảnh hưởng thánh giám mục Ambrôsiô, đồng thời là linh hướng của thánh Monica. Bà nghe lời khuyên của thánh Ambrôsiô và khiêm nhường từ bỏ mọi sự. Thánh Monica trở thành trưởng nhóm của các phụ nữ đạo đức ở Milan cũng như khi bà ở Tagaste. Bà vẫn tiếp tục cầu nguyện cho Augustinô.

Lễ Phục Sinh năm 387, thánh Ambrôsiô đã rửa tội cho Augustinô và vài người bạn của Augustinô tại Nhà thờ Thánh Gioan Tẩy Giả ở Milan (Ý quốc). Ngay sau đó, nhóm của Augustinô đi Phi châu. Biết mình không còn sống bao lâu nữa, thánh Monica nói với Augustinô: “Con ơi, không gì trên thế gian này làm mẹ vui. Mẹ không biết có gì còn lại cho mẹ làm hoặc tại sao mẹ lại vẫn ở đây, mọi hy vọng trên thế gian này mẹ đã được mãn nguyện.”  Sau đó bà lâm bệnh, và sau 9 ngày bệnh nặng thì bà qua đời. Hầu như những gì chúng ta biết về thánh Monica là nhờ các tác phẩm của thánh Augustinô, đặc biệt là cuốn Tự Thuật.

Thánh Augustinô được rửa tội lúc 33 tuổi, rồi làm linh mục lúc 36 tuổi, và làm giám mục lúc 41 tuổi. Ngài là một tội nhân trở thành thánh nhân. Đó là nhờ nước mắt và sự kiên trì cầu nguyện của người mẹ là thánh Monica, sự hướng dẫn của thánh giám mục Ambrôsiô, và nhất là chính Thiên Chúa đã nói với thánh Augustinô qua Kinh thánh để soi dẫn Augustinô từ tình-yêu-cuộc-sống đến cuộc-sống-tình-yêu.

 Trong những năm đầu đời, thánh Augustinô đắm chìm trong kiêu ngạo, hoang đàng và tội lỗi, nhưng ngài đã trở lại và sống thánh thiện, chống lại mọi thủ đoạn của ma quỷ thời đó – suy đồi về chính trị, xã hội và luân lý. Chính kinh nghiệm “xương máu” của đời mình mà ngài đã để lại cho chúng ta những câu nói bất hủ, chẳng hạn: “Ngài có đó khi ta tưởng mình đơn côi, Ngài nghe ta khi chẳng ai đáp lại, Ngài thương ta khi tất cả hững hờ;” hoặc:“Hát hay là cầu nguyện hai lần;” hoặc:“Chúa dựng nên con thì Ngài không cần đến con, nhưng để cứu độ con thì Ngài cần đến con.”

Thánh Augustinô không thể im lặng, như ngôn sứ Giêrêmia xưa đã phải thú nhận: “Có lần con tự nhủ: ‘Tôi sẽ không nghĩ đến Người, cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa.’  Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được!” (Gr 20:9).

Thánh Augustinô viết về người mẹ của mình: “Trong chiếc rổ đầy trái cây, mẹ tôi biết đem cả một trái tim đầy ắp lời cầu xin thuần khiết tới nhà thờ Các Thánh Tử Đạo, và trao hết cho người nghèo – để việc rước Mình Thánh Chúa được cử hành ở đúng vị trí. Noi gương Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, các thánh Tử Đạo đã hy sinh và đã nhận triều thiên” (Tự Thuật 6.2.2).

Khi con trai Augustinô trở lại, hai mẹ con sống bên nhau sáu tháng an bình tại Rus Cassiciacum (ngày nay là Cassago Brianza). Thánh Monica qua đời ở tuổi 55. Sau khi an nghỉ trong Lòng Thương Xót bao la của Thiên Chúa, thánh Monica được an táng tại Ostia, và hầu như chẳng còn ai nhớ đến bà.

Thế kỷ XIII, lòng sùng kính thánh Monica bắt đầu lan rộng. Lúc đó, lễ thánh Monica vào ngày 4-5. Năm 1430, dưới thời Đức Giáo Hoàng Martin V, hài cốt thánh Monica được dời tới Nhà thờ thánh Augustinô ở Rôma, đặt ngay bên phải bàn thờ. Nhà thờ này do Đức Hồng Y Estouteville của Tổng Giáo Phận Rouen đã cho xây dựng. Nhiều phép lạ đã xảy ra trong tháng Năm. Mãi đến thế kỷ XVI, lễ thánh Monica mới được ấn định trong Lịch Phụng Vụ.

Thành phố Santa Monica ở California (Hoa Kỳ) là đặt theo tên thánh Monica. Tương truyền rằng, hồi thế kỷ XVIII, linh mục Juan Crespí đặt tên cho một dòng suối là Las Lagrimas de Santa Monica (Nước mắt của thánh Monica), ngày nay gọi là Serra Springs, gợi nhớ những giọt nước mắt mà thánh Monica đã nhiều năm ròng rã khóc vì nghịch tử Augustinô. Tượng thánh Monica được dựng tại Santa Monica’s Palisades Park (Công viên Hàng rào Thánh Monica), tượng do điêu khắc gia Eugene Morahan hoàn tất vào năm 1934.

Lạy Thánh Monica và Thánh Augustinô, xin cầu thay nguyện giúp. Amen!

(*) Manichaeism: Mani giáo, hệ thống tôn giáo nhị nguyên do tiên tri Manes (khoảng 216–276) sáng lập ở Ba Tư hồi thế kỷ III, dựa trên vụ xung đột nguyên thủy giữa ánh sáng và bóng tối, kết hợp với các yếu tố của Kitô giáo ngộ đạo (Gnostic Christianity), Phật giáo (Buddhism), Bái hỏa giáo (Zoroastrianism), và các yếu tố ngoại giáo khác. Thuyết này bị chống đối từ phía Hoàng đế La mã, các triết gia tân Platon (Neo-Platonist) và các Kitô hữu chính thống.

------------------------------

 

Suy Niệm 18. Thánh Monica, một bà mẹ thánh kiên trì và can đảm


Thánh nữ Monica chào đời năm 332 tại vùng Sucara, Phi Châu trong một gia đình đạo hạnh và luôn biết kính sợ Chúa. Nhờ vậy, Monica sớm trở thành cô bé đạo đức, thánh thiện và luôn kính Chúa yêu người. Với tâm hồn đơn sơ, kèm theo đức bác ái tuyệt vời, ngay từ nhỏ Monica đã biết dành một phần cơm mỗi bữa để giúp đỡ người nghèo, đồng thời những khi nhàn rỗi, Monica luôn tìm nơi thanh vắng để cầu nguyện và trò chuyện thân mật với Chúa.

Với đức vâng lời và lòng yêu thương cha mẹ, thánh nữ lúc lên 22 tuổi đã chấp nhận kết hôn với một chàng trai tên Patricius, con nhà giầu, quí phái nhưng tính tình lại ngang ngược, hung hăng, ngạo mạn, và tuổi lại gấp đôi thánh nữ. Tuy rất khổ tâm, nhưng thánh nữ vẫn vâng lời cha mẹ với ước nguyện sẽ cứu được một linh hồn trở về đàng ngay nẻo chính. Nhờ tâm hồn thánh thiện, lòng đạo đức sâu xa và nhờ lời cầu nguyện thánh nữ đã cải hoá được chồng của mình và sau đó sinh được 3 người con mà Augustinô là con đầu lòng. Sống trong một gia đình hoàn toàn ngoại giáo, nhưng thánh nữ Monica luôn tỏ ra mình là con của Chúa, sống nghe lời Chúa, tuân theo lời của Chúa và luôn giáo dục con cái biết kính Chúa, yêu người. Augustinô càng lớn càng trở nên người con hư hỏng, dù mẹ cha yêu thương hết mực. Augustinô có trí rất thông minh, nhưng càng thông minh, cậu càng ỉ lại đâm ra lười biếng và lơi là ăn chơi trác táng. Bị sửa phạt, Augustinô đâm ra lừa dối, lường gạt cha mẹ, thầy cô, đi vào con đường ăn chơi trác táng và trụy lạc. Càng đi học ở ra, sống giữa thành thị, Augustinô càng bị cuốn hút vào những trào lưu xấu và càng hư hỏng. Đau khổ hơn nữa cho thánh nữ Monica, con trai Augustinô của mình đi theo bè rối và chống lại đức tin. Rất khổ lòng nhưng thánh nữ Monica tin tưởng vào tình thương và sức mạnh của Chúa, bà tin tưởng kiên trì cầu nguyện, làm việc lành bác ái.

Lời cầu nguyện, tin tưởng, cậy trông phó thác nơi Chúa và những giọt nước mắt chân thành, tha thiết của bà đã được Chúa đoái thương nhậm lời. Augustinô sau những thất bại, cay đắng ê chề đã trở về với Chúa. Augustinô giờ đây có thể nói như thánh Phaolô: ”…lao mình về phía trước”. Ngài đã đẩy lùi tội lỗi, đẩy lui những xấu xa để làm lại cuộc đời mới, làm lại một tương lai tốt đẹp, trong sáng. Chúa có cách nhìn và con đường của Chúa. Vào chính đêm phục sinh năm 364, Augustinô đã được lãnh nhận bí tích rửa tội do thánh giám mục Ambrosiô cử hành. Hai mẹ con tràn đầy hạnh phúc: thánh nữ Monica sung sướng khôn lường, bà và Augustinô trở về Phi Châu trong cuộc hành trình dài ngày, nhưng ý Chúa nhiệm mầu, thánh nữ đã ra đi về với Chúa trong bình an vào năm 387. Thánh nhân được mai táng tại Otti. Đức Thánh Cha Martinô vào năm 1430 đã truyền đem xác thánh nữ về chôn cất tại nhà thờ thánh Augustinô ở Roma.

Cuộc đời của thánh nữ Monica là một cuộc đời đầy gian truân, đau khổ và thử thách. Tuy nhiên, thánh nữ đã kiên cường, can đảm sống tín thác nơi Chúa và luôn cậy trông, hy vọng vào tình thương vô biên của Chúa. Thánh nữ cảm nghiệm thực sâu xa lời của thánh Phaolô tông đồ: “Tôi có thể làm được tất cả mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi” hay “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Giêsu, Chúa của tôi” (Philip 3,8).

Thánh Monica đã ra đi về với Chúa, lòng toại nguyện vì người con yêu dấu đã quay trở về với Chúa. Bà an bình vì “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta” (Philip 3,20).

Thánh nhân là người mẹ gương mẫu, người mẹ đạo đức, thánh thiện và bây giờ nhiều nơi giới hiền mẫu đã chọn thánh Monica làm bổn mạng của giới mình.

Lạy Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Thánh nữ Monica, xin giúp các bà mẹ Công giáo luôn có tấm lòng quảng đại, kiên nhẫn và từ tâm để luôn mang lại nguồn yêu thương và bầu khí đạo đức thánh thiện trong gia đình của mình.

------------------------------

 

Suy Niệm 19. Suy niệm về thánh Monica


1) Có những giọt nước mắt đem lại hạnh phúc cho người khác. Có những giọt lệ làm lay chuyển tâm hồn người khác. Giọt nước mắt của người mẹ luôn có tác dụng rất lớn đối với con cái. Giọt nước mắt của thánh nữ Monica đã biến đổi cả cuộc đời của Augustinô, người con trai đầu lòng thông minh nhưng ngang tàng, trụy lạc. Thánh nữ Monica đã cầu nguyện, đã khóc lóc, Chúa đã nhậm lời và ban cho con của thánh nữ là Augustinô ơn cải hóa từ tâm, ơn đổi mới tâm hồn, ơn quay về với Chúa.

2) Có một người nữ được sinh ra trong một gia đình đạo hạnh, thánh thiện: tên người nữ ấy là Monica. Monica sinh vào năm 332 tại làng Sucara bên Phi Châu. Gia đình Monica vốn có truyền thống đạo đức, yêu thương tha nhân, yêu thương người nghèo. Được sống trong bầu khí đạo đức của gia đình, Monica sớm trở thành một cô bé ngoan hiền, nhiệt thành, sốt sắng. Ngay từ lúc còn nhỏ Monica đã có tâm hồn quảng đại yêu thương người nghèo: mỗi bữa cơm Monica thường dành ra một phần cho người đói túng thiếu và Monica thường tìm chỗ vắng vẻ để thân mật nói chuyện với Chúa. Monica đã biết biến những phút giây gặp gỡ người nghèo, chia sẻ cho người nghèo, cầu nguyện làm hạnh phúc cho đời mình. Cô đã biết biến những phút giây ấy làm phút giây cứu độ cho mình và cho người khác.

3) Năm 22 tuổi, vì vâng lời cha mẹ, thánh nữ đã kết hôn với Patricius, thuộc dòng dõi quí phái, nhưng tính tình xấu xa, ngang ngược, độc ác và lại hơn Monica cả hai con giáp. Đau khổ nhưng Monica đã chấp nhận ý cha mẹ và âm thầm cầu nguyện cho chồng, vì thánh nữ xác tín rằng mình sẽ cứu được một linh hồn trở về với Chúa. Nhờ lòng quả cảm, đức tính khiêm nhường và nhờ cầu nguyện vững tin vào Chúa, Monica đã cảm hóa được người chồng và sau này bà sinh được 3 người con mà Augustinô là con đầu lòng. Chính nhờ những giọt lệ thành tâm và nhờ lời cầu nguyện liên lỉ của thánh nữ, Augustinô đã trở lại và trở nên có thế giá, trở nên vị Đại thánh.

4) Monica tuy sống trong một gia đình ngoại giáo, đã luôn chứng tỏ bà có Chúa ở cùng. Sự thánh thiện, lòng quảng đại, yêu thương của Monica đã cảm hóa được người chồng ác độc, ngang tàng, ích kỷ. Monica luôn dậy con cái biết mến Chúa, yêu người. Bà luôn yêu thương con cái với tất cả con tim, với tâm hồn đầy ắp tình yêu Chúa. Bà đã biết biến mọi giây phút trong cuộc đời của bà trở thành những giây phút, những cơ hội hồng ân để thay đổi lòng người khác. Chính cái phút giây bà vâng lời cha mẹ kết hôn với Patricius đã thay đổi đời bà, nghĩa là bà đã chấp nhận điều mình không ưa thích để biến nó thành phút giây cứu độ cho mình và cho người mình sẽ sống, sẽ nhận làm chồng dù rằng bà biết bà sẽ phải đau khổ nhiều, phải hy sinh, phải từ bỏ.

5) Tình yêu Đức Kitô thúc bách bà. Bà đã đi tới cùng, bà đã làm thay đổi lòng chồng con và biến đổi người con trụy lạc, ham chơi, ham lạc thú là Augustinô trở nên người con tốt, người con đẹp lòng Giáo Hội. Qua những giọt lệ của Monica, qua lời cầu xin tha thiết của bà, Monica đã làm thay đổi tất cả, đã làm mới mọi sự để bà có thể nói được như ông già Siméon: ”Giờ đây xin Chúa để tôi tớ ra đi bình an…”.  Thánh nữ Monica đã qua đời năm 387 sau khi Augustinô được thánh Giám mục Ambrosi-ô rửa tội. Thánh nữ được an táng tại Otti. Đức Thánh Cha Martinô truyền đem xác thánh nữ về nhà thờ Thánh Augustinô ở Roma vào năm 1430.

6) Monica phải sống những chuỗi ngày đau khổ cả về tinh thần lẫn thể xác, trong nước mắt và cầu nguyện tha thiết với Chúa. Sau cùng, chính ơng Patricius và bà mẹ chồng cũng ăn năn hối hận và xin lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy và trở nên người Công Giáo vào năm 371. Ít lâu sau trong năm 371, ông Patricius qua đời trong niềm tin nơi Chúa Giêsu Kitô. Hai người con là Navigio và Perpetua cũng xin chịu phép Thanh Tẩy và gia nhập giáo hội Chúa. Sau này cả hai đã đi tu dòng.

7) Nhưng Chúa vẫn để Monica tiếp tục vác Thánh Giá theo chân Chúa. Thánh Giá đó là chính người con trưởng của bà, ông Augustinô. Augustinô là một người rất thông minh, lanh lợi và hoạt bát, lại thích giao du bạn bè và thích sống đời sống tự do, phóng khoáng như người bố trước đó. Vì thế, dù mẹ nói mấy mặc lòng, Augustinô nhất định không chịu gia nhập đạo thánh Chúa, vì ông không thích lối sống theo lề luật của Chúa và Giáo Hội. Trái lại ông thích sống theo các quan niệm của các triết thuyết và giáo phái có quan điểm sống tự do và buông thả hơn.

8) Trên đường đi theo con, Monica thường đến gặp các linh mục và tu sĩ, và bất cứ ở đâu cũng xin các Ngài cầu nguyện người con “cứng lòng” của mình. Nhiều người lúc đó quen biết tính tình của Augustinô, thì coi như đã “hết thuốc chữa”. Nhưng bà Monica thì không bao giờ thất vọng, luôn vững tin rằng Chúa sẽ cứu vớt con mình. Một ngày kia, Bà gặp một linh mục để xin cầu nguyện. Cha này đã nói với Monica: “Không thể nào có một ngưòi con mà bà mẹ đã đổ ra bao nước mắt để khóc thương và cầu nguyện cho, lại có thể hư mất được!” Nhờ lời khuyến khích của vị linh mục này mà Monica càng vững lòng trông cậy nơi Chúa và cứ tiếp tục cầu nguyện, cầu nguyện và cầu nguyện với nước mắt và hy sinh hãm mình.

9) Cuối cùng sau 17 năm trường, sống trong khóc lóc, hy sinh, hãm mình, làm việc bác ái và cầu nguyện nhiệt tình với Chúa, Monica đã cứu được người con “vô hy vọng” của mình. Vào năm 386, lúc 33 tuổi, Augustinô đã nhận ra “Chân lý vĩnh cửu” và tin vào Phúc Âm tình thương của Chúa là chân thật và là con đường cứu rỗi.

10) Không có gì cao sang trong cuộc đời bình thường, cũng không phải là “đấng nam nhi” hay “bậc anh hùng hảo hán”. Mônica chỉ là phận gái “liễu yếu đào tơ”, nhưng cuộc đời của người phụ nữ này, đã trở thành tấm gương ngời sáng cho biết bao người phụ nữ khác, đặc biệt là những người vợ, người mẹ trong các gia đình. Dù Mônica không sinh trưởng tại quê hương Việt nam, nhưng ở Thánh nữ chúng ta vẫn thấy đầy chất Á Đông của người phụ nữ đất việt: “Công, Dung, Ngôn, Hạnh” và “Tam tòng, Tứ đức”.

11) Nhưng khi gặp những nghịch cảnh ngập đầu, Mônica không hề oán trách, nhưng ngài đã tìm ra những liều thuốc giải độc tốt nhất cho linh hồn mẹ chồng, chồng và các con, đó là sự hy sinh, lời cầu nguyện liên lỷ, cộng thêm những đức tính tuyệt vời như lòng bác ái, tình yêu thương, tinh thần quả cảm, đức tính khiêm nhường, và vững tin vào Chúa. Vì thế, chúng ta không lạ gì khi Mônica vẫn một lòng yêu mến, kính trọng chồng và mẹ chồng; lại luôn sống làm gương sáng cho các con; yêu thương giúp đỡ mọi người.

12) Vì vậy, mưa dầm thấm lâu. Thiên Chúa đã thưởng công Mônica, Augustinô đã chia tay bè rối Manichê (Nhị Nguyên) là một tà thuyết chống lại Giáo Hội và đức tin của Công Giáo mà ông đã dồn toàn tâm toàn trí trong suốt chín năm trường. Sau đó ngài được Rửa Tội. Những niềm vui tột cùng đó đã làm cho Mônica thốt lên với Augustinô trong những giây phút cuối đời: “Con ơi, không gì trên thế gian này làm mẹ vui. Mẹ không biết có gì còn lại cho mẹ làm hoặc tại sao mẹ lại vẫn ở đây, mọi hy vọng trên thế gian này mẹ đã được mãn nguyện”.

Cuối năm 387, khi mẹ con đang chuẩn bị trở về quê hương là Phi Châu, thì Thiên Chúa đã gọi Mônica về với Ngài, hưởng thọ 56 tuổi. Thánh nữ được chôn cất tại Ostite và sau được dời về Rôma vào năm 1430.

13) THEO GƯƠNG SỐNG THÁNH CỦA NGÀI:

a) Trước tiên: là chu toàn bổn phận. Chu toàn bổn phận cách trung thành, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác thì quả là anh hùng. Ngài đã hoàn thành sứ mạng Chúa trao trong ơn gọi làm vợ, làm mẹ.

***Làm vợ, thánh nhân đã hết lòng quý trọng, yêu thương và chung thủy với chồng.

***Làm mẹ, thánh nhân hết mực yêu thương, hy sinh cho con cái. Tận tụy giáo dục con cái nên người. Khi không được như ý của mình, ngài vẫn không bỏ cuộc.

***Thánh nhân đã cầu nguyện và hy sinh liên lỷ cho con. Nhờ đó mà ngài đã cải hóa được Augustinô trở về với Chúa và phục vụ Giáo Hội.

b) Thứ hai: là cảm hóa bằng gương sáng. Khi bị ngược đãi bởi mẹ chồng và chồng, thánh nhân đã nêu cao gương khiêm nhường, yêu thương và tha thứ. Sẵn lòng thông cảm cho tính khí của mẹ và chồng. Yêu thương, phục vụ, khiêm nhường và tha thứ là lựa chọn của thánh nhân trong những lúc khó khăn và gặp chuyện chẳng lành.

c) Thứ ba: là mẫu gương cầu nguyện và hy sinh. Thánh nhân đã kết hợp với Chúa cách liên lỷ và hoàn toàn phó thác nơi Ngài.  Cuộc đời của ngài với những biến cố vui buồn, thành công hay thất bại đều kết hợp với Chúa. Ngài luôn phó thác mọi sự trong sự an bài của Thiên Chúa.

d) Thứ tư: là sự kiên trì và trung thành. Kiên trì trong cầu nguyện. Trung thành trong niềm tin, dù nhiều khi phải gặp khổ đau.  Quả thật, cả cuộc đời của thánh nhân đã để lại cho chúng ta gương sáng tuyệt vời nơi những người vợ, người mẹ và cho hết mọi người.

14) NHỮNG BÀI HỌC:

Bài học thứ nhất: Chu toàn bổn phận hằng ngày vì lòng mến Chúa.

Bài học thứ hai: Biết dùng gương sáng để cảm hóa người thân và mang lại hạnh phúc cho gia đình.

Bài học thứ ba: Làm mọi việc trong tâm tình tín thác. Đón nhận tất cả mọi sự khốn khó, miễn sao điều đó đẹp lòng Chúa và ích lợi cho phần rỗi linh hồn mọi người.

Bài học thứ tư: Muốn sống đức tin của chúng ta cần kiên trì và trung thành. Nếu không kiên trì, chúng ta dễ bỏ cuộc. Nếu không trung thành chúng ta khó lòng đạt được ơn cứu rỗi.

------------------------------

 

Suy Niệm 20. Thánh Monica, Người Vợ, Người Mẹ Can Đảm Và Đạo Hạnh


--Trần Mỹ Duyệt

TÓM LƯỢC LỊCH SỬ

Monica sinh năm 332 tại Thagaste, Numidia, đế quốc Roma. Ngày nay là Souk Ahras, Algeria.

Qua đời năm 387 tại Ostia, Italy, đế quốc Roma. Hưởng dương 55 tuổi. Góa chồng năm 38 tuổi.

Được tôn kính tại Giáo Hội Chính Thống Đông Phương, Cộng Đồng Anh Giáo, Chính Thống  Đông Phương (gồm các giáo hội Ethiopian, Coptic, Armenian, Syrian, Indian và Eritrean) và Tin Lành Lutheran.

Lễ kính ngày 27 tháng 8.

Thánh Monica là vị thánh giúp giải quyết những cuộc hôn nhân gặp khó khăn, đổ vỡ,

Giúp những con cái hư hỏng quay trở về,

Giúp những nạn nhân của ngoại tình, những nạn nhân bị hành hung, thóa mạ, và hoán chuyển những người thân trong gia đình. 

CUỘC ĐỜI CỦA THÁNH NỮ

Thánh Monica (c.331/2−387), (AD 322-387), còn được gọi là Thánh Monica thành Hippo, là một trong những vị thánh thuộc Công Giáo tiên khởi, thế kỷ thứ ba, và là mẹ của Thánh Augustine, Giám Mục, Tiến Sỹ Hội Thánh. Thánh Monica được tôn kính trong hầu hết cộng đồng và cộng đoàn Kitô giáo, các nữ tu viện vì những nhân đức anh hùng, phi thường, đặc biệt là sự can đảm, hy sinh, và bền bỉ trong kinh nguyện trước những đau khổ gây ra bởi người chồng ngoại tình, và người con hoang đàng. Nhờ liên lỷ cầu nguyện, siêng năng trong gương sáng và sự hy sinh, Monica đã đưa bà mẹ chồng, chồng và con là Augustine trở lại với Chúa, với Giáo Hội. Chính Thánh Augustine sau đó đã viết về người mẹ và cuộc trở lại của mình trong cuốn Tự Thuật (Confessions) của ngài.

Monica được cho là đã sinh ra tại Thagaste, ngày nay gọi là Souk Ahras thuộc Algeria. Monica kết hôn rất trẻ với Patricius, một viên chức ngoại đạo người Roma cai trị Thagaste. Ông được biết đến như một người với tính tình nóng nảy, cộc cằn, và có lối sống thiếu đạo đức. Những điều này là do di sản ông được truyền thụ từ mẹ của ông. Do đó, những việc làm đạo đức như cầu nguyện, thăm hỏi, giúp đỡ người cùng khổ của Monica đã làm cho Patricius bực bội, tuy vậy, ông vẫn giữ được sự kính nể đối với vợ mình. Nhờ lời cầu nguyện của Monica, một năm trước khi Patricius qua đời cả ông và mẹ ông đã được rửa tội.

Monica có ba người con, hai trai là Augustine và Navigius, và một gái là Perpetua, nhưng không một người con nào được rửa tội. Trường hợp Augustine hơi đặc biệt, trong lúc còn nhỏ, Augustine bị bệnh nặng, Monica đã nài nỉ chồng cho phép Augustine được rửa tội, Patricius đã đồng ý, nhưng khi Augustine khỏe lại, ông đã rút lại lời hứa.

Thời gian đi qua, trong khi Perpetua và Navigius bước vào đời sống đạo hạnh, thì Augustine lại bắt đầu cuộc sống lêu lổng, lười biếng. Augustine sau đó đã được gửi vào trường ở Madauros. Khi lên 17 tuổi, trong lúc ông đang theo học khoa tu từ học (rhetoric) tại Carthage thì cha ông, Patricius qua đời.  

Cũng trong thời gian tại Carthage, Augustine đã theo giáo phái Manichaeism (Giáo phái Nhị Nguyên). Một giáo phái coi thế giới nguyên thủy xung đột giữa ánh sáng và bóng tối. Sau khi chết, con người được đưa khỏi thế giới vật chất để trở lại thế giới của ánh sáng, nơi mà từ đó sự sống của nó được tạo thành, và điều này khiến cho thánh Monica rất đau khổ. Monica đã có lần đuổi Augustine ra khỏi nhà. Mặc dầu vậy, thánh nữ vẫn tin tưởng rằng với lời cầu nguyện, Augustine sẽ sớm được ơn ăn năn trở lại.

Một hôm, trong khi viếng một vị giám mục, ngài đã an ủi Monica rằng “một đứa con với những giọt nước mắt của người mẹ sẽ không bao giờ bị hư mất”. Can đảm, nhẫn nại và tin tưởng vào sức mạnh của lời cầu nguyện, Monica đã theo người con đi hoang này đến tận Roma, khi Augustine âm thầm trốn nhà. Nhưng khi Monica đến Roma thì Augustine lại trốn mẹ đi Milan. Không thất vọng, Monica đã đến Milan, ở đó gặp được Thánh Ambrose, nhờ ngài, Monica đã vui mừng nhìn thấy Augustine được ơn về lại với Chúa sau 17 năm trong nước mắt và kinh nguyện của mình.

Mẹ con đã trải qua sáu tháng hạnh phúc tại Rus Cassiciacum (ngày nay là Cassago Brianza), sau khi Augustine lãnh phép rửa tội tại thánh đường Gioan Tẩy Giả tại Milan. Trên con đường trở lại cố hương, cả hai đã dừng chân tại Civitavecchia và Ostia. Chính ở đây Monica đã trút hơi thở cuối cùng để lại cho Augustine một sự nhớ thương và ông đã kết thúc cuốn Tự Thuật của mình ở đây.

Monica qua đời tại Ostia gần Roma vào năm 387. Thánh nữ được an táng tại Ostia. Những năm đầu hầu như bị quên lãng, mặc dù xác của thánh nữ được đưa về một hầm mộ dưới thánh đường Thánh Aureus vào thế kỷ thứ sáu. Vào thế kỷ thứ 13, phong trào tôn kính thánh nữ lan rộng, và lễ kính vào ngày 4 tháng Năm. Năm 1430, Giáo Hoàng Martin V truyền mang xác thánh nữ về Roma. Tại đây có rất nhiều phép lạ đã được thực hiện do lời cầu bầu của thánh nữ. Sau này, Tổng Giám Mục Rouen là Hồng Y d’ Estouteville đã truyền xây một thánh đường dâng kính thánh Augustine ở Roma, và thánh tích của thánh nữ đã được mang về đây đặt tại bàn thờ bên trái thánh đường này.

Năm 1850 một hội được thành lập tại Notre Dame de Sion ở Paris do các bà mẹ Công Giáo dưới sự bảo trợ của Thánh Monica chuyên về cầu nguyện cho những người con và người chồng hoang đàng. Năm 1856 hội này được nâng lên thành Đoàn Thể Công Giáo lan rộng khắp thế giới có trụ sở tại Dublin, London, Liverpool, Sydney, Buenos Aires. Trước đó đã lâu, Giáo Hoàng Eugenius IV cũng đã cho phép thành lập một đoàn thể tương tự để hoạt động dưới sự phù trợ của Thánh Monica.

KINH CẦU VỚI THÁNH MONICA

Lạy Thánh Monica,
Con xin Ngài cầu cùng Chúa cho con.
Ngài thấu hiểu con đang cảm thấy như thế nào vì chính ngài cũng đã từng trải qua những đoạn trường ấy.
Con đang đau khổ, vô vọng, và thất vọng.
Con ao ước đứa con của con được trở về với Chúa Kitô và Giáo Hội, nhưng con không thể làm gì một mình.
Con cần ơn Chúa giúp.
Xin ngài cùng với con cầu xin ân sủng quyền năng của Thiên Chúa tuôn đổ trên đời sống của con con.
Xin ngài cầu cùng Chúa Giêsu làm tan chảy trái tim con của con, để chuẩn bị con đường ăn năn trở về, và xin ban Chúa Thánh Thần xuống trong đời sống của con con. Amen.

------------------------------

 

Suy Niệm 21. Thánh Monica


--Phó Tế JB Huỳnh Mai Trác

Thánh Monica là người Phi châu, sinh vào khoảng năm 332 tại Carthage. Bà kết hôn với một người ngoại đạo có chức phận nhưng tánh tình nóng nảy thô bạo và ham chơi bời. Nhờ vào đức tin Công giáo và sự nhẫn nại, bà đã cải hóa được người chồng và đem ông trở lại đạo Công giáo. Bà có được ba người con. Người con cả là Augustin, một người thông minh tài hoa nhưng đã làm cho bà đau buồn và khóc lóc rất nhiều

Tánh tình phóng khoáng và hư đốn của Augustin lúc tuổi thanh xuân làm bà đau khổ và chua xót với những năm tháng dài đằng đẵng. Augustin công khai ăn ở với người bạn gái, theo đòi lối ăn chơi và tư tưởng vô luân của thời đại bỏ ngoài tai những lời khuyên nhủ, năn nỉ của người mẹ hiền.

Bền chí trong lời cầu nguyện, Monica đã có được niềm vui tràn đầy và hạnh phúc chan chứa khi người con hoang đàng trở về nhận lãnh Bí tích rửa tội. Từ đây nếp sống và tư tưởng của vị thánh tương lai Augustin ở Hippo trở thành rường cột cho Giáo Hội Công giáo.

Khi Augustin rời Phi Châu đến định cư tại Milan thì bà Monica đã quyết định đi theo với con dù Augustin đã trốn đi không lời từ biệt. Lúc bây giờ trong thành Milan có một Giám mục nổi tiếng là thánh Ambroise, ngài đã cảm hóa được Augustin. Vị Giám mục thánh thiện này đã an ủi bà Monica: “Tôi khuyên bà cứ yên tâm, một người mẹ đã chảy quá nhiều nước mắt cho một đứa con như bà thì làm sao nó có thể hư mất được!.” Sau khi được rửa tội Augustin lại trở vế Phi châu cùng với mẹ.

Đến hải cảng Ostia, gần Roma thì bà Monica đau nặng. Lúc sắp lìa đời bà trăn trối với Augustin là bà không còn lý thú gì để sống ở đời nữa: “ Mẹ chỉ có một mục đích, một mục đích duy nhất mà thôi là tại sao mẹ muốn sống lâu thêm ở đời này. Mẹ muốn nhìn thấy con trở thành một người Công giáo khi mẹ rời khỏi cuộc đời này. Chúa đã ban cho mẹ lời ước nguyện đó.! Như vậy mẹ còn sống ở đời này làm gì nữa!”Nói xong thánh Monica từ gỉa cuộc đời. Bà được chôn cất tại đây. Đến thế kỷ XV thì hài cốt của bà được dời về tôn kính trong thánh đường Saint Augustin ở Roma.

------------------------------

 

Suy Niệm 22. Thánh nữ Monica--“làm việc bình thường cách phi thường”


--danang

(https://giaoxuchinhtoadanang.org)

Với những người làm con, hãy noi theo mẫu gương vâng lời của Thánh Monica. Vì vâng lời cha mẹ, Thánh nữ đã chấp nhận lấy Patricius- người đàn ông ngoại, tính tình ngang ngược, hung hăng, ngạo mạn, và tuổi lại gấp đôi tuổi mình.

Với những người làm vợ, hãy luôn nhớ rằng: Hôn nhân, nếu tốt đẹp- đó là hồng ân- hãy cảm tạ Chúa, nếu không tốt đẹp- đó là Thánh Giá- hãy cầu nguyện và can đảm gánh vác. Chính Thánh nữ đã một đời vác thập giá mang tên Patricius- và dùng lời cầu nguyện và lối sống đạo đức của chính mình để cảm hóa chồng, để rồi một năm trước khi qua đời, ông đã trở lại đạo.

Với những người làm dâu, hãy yêu thương cha mẹ chồng như chính cha mẹ đẻ. Mặc dù bị mẹ chồng hất hủi, và hùa theo bênh vực đời sống phóng khoáng, tự do, chủ trương không tôn giáo của con trai, nhưng Thánh nữ vẫn giữ trọn đạo làm con- một lòng yêu thương và chăm sóc. Tình yêu thương cảm hóa con người, nhờ thế, mẹ chồng Thánh nữ sau đó cũng xin được Rửa tội.

Với những người làm mẹ, hãy kiên trì giáo dục đức tin cho con cái mình như Thánh nữ đã kiên trì với con trai Augustine. Nước mắt người mẹ rơi không ngừng vì sự lầm đường lạc lối của con, nhưng với niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự quan phòng của Chúa, Thánh nữ vẫn liên lỉ cầu nguyện. “Một đứa con với những giọt nước mắt của người mẹ sẽ không bao giờ bị hư mất”- Augustine đã trở lại đạo sau 17 năm kiên trì cầu nguyện của mẹ mình.

Với những con chiên của Chúa, hãy yêu thương tha nhân, một lòng cậy trông, tin tưởng và đón nhận mọi Thánh ý Chúa. Ngay từ nhỏ, Thánh nữ đã biết dành một phần cơm mỗi bữa để giúp đỡ người nghèo, đồng thời những khi nhàn rỗi, Monica luôn tìm nơi thanh vắng để cầu nguyện và trò chuyện thân mật với Chúa. Mặc dù sống một lòng đạo đức, nhưng khi Chúa trao vào cuộc đời Ngài những khó khăn, thử thách, Ngài không hề trách Chúa mà vẫn đón nhận và vượt qua bằng chính lời cầu nguyện và lối sống đức tin của mình.

Hôm nay, 27/8- mừng kính Thánh nữ Monica. Xin cầu nguyện cho những chị em, hội đoàn nhận Thánh nữ làm bổn mạng, luôn noi gương và thực hành mẫu gương trong chính đời sống của mình. Cầu cho những người làm vợ, làm mẹ- khi gặp những bế tắc trong đời sống gia đình- sẽ lấy Thánh nữ làm điểm tựa, để dùng đức tin mà vượt qua tất cả.

------------------------------

 

Suy Niệm 23. Theo con đường chịu đau khổ như Thánh Monica


--vinhlong

( https://giaophanvinhlong.net/theo-con-duong-chiu-dau-kho-nhu-thanh-monica.html)

St 1:1-5,11-12; Tv 96:1-2,2-3,4-5; Mt 23:13-22

Thánh Monica là bổn mạng của những cha mẹ chịu đựng đau khổ vì gánh nặng gia đình. Thánh nhân  được mệnh danh là “Người Bạn của Thánh Giá”.

Niềm hạnh phúc của thánh nữ Monica là trở nên gương mẫu cho các bà mẹ Công giáo, Monica là bổn mạng của các người mẹ Công giáo trong mọi thời đại. Xuyên thời gian, niềm hạnh phúc lớn lao của Monica vang vọng và lan tỏa trong Hội Thánh...

Hoàn cảnh cuộc đời Thánh Monica đã có thể biến ngài thành một người vợ hay mè nheo, một nàng dâu nhiều cay đắng, và một người mẹ tuyệt vọng, tuy nhiên ngài đã không chịu thua bất cứ cám dỗ nào.  Mặc dù ngài là một Kitô Hữu, cha mẹ ngài đã gả cho một người ngoại giáo, ông Patricius, là người sống trong cùng tỉnh Tagaste ở Bắc Phi Châu.  Patricius là người tốt nhưng ông vô cùng nóng nẩy và phóng túng.

Ngoài ra Thánh Monica còn phải chịu đựng bà mẹ chồng hay gắt gỏng.  Ông Patricius thường rầy la vợ vì bà hay thương người.  Nhưng sự cầu nguyện và gương mẫu đời sống của Thánh Monica sau cùng đã chinh phục được người chồng cũng như mẹ chồng, ngài đã đưa họ trở về với đức tin Kitô Giáo.

Thánh Monica sinh năm 332 tại Tagaste, Bắc Phi (nay là Souk Ahras, thuộc Algeria). Ngài đã sống các nhân đức Kitô giáo một cách nổi bật, nhất là chịu đựng sự nóng nảy và một đời sống phóng túng của người chồng.  Ngài cũng đã  khóc hằng đêm vì “cậu ấm” Augustinô và chuyên cần cầu nguyện cho con hoán cải, điều mà chính Thánh Augustinô đã viết trong cuốn Tự Thuật.

Năm 22 tuổi, vì vâng lời cha mẹ, Mônica đã kết hôn với Patricius. Chồng cô thuộc dòng dõi quý tộc. Vì thuộc về thành phần giàu sang trong làng, nên ngay từ khi còn nhỏ, chàng Patricius đã được nuông chiều thái quá, dẫn đến tình trạng ngang tàng, hách dịch, nghiện rượu, độc ác và tàn nhẫn và không chung thủy… Ông luôn tỏ vẻ khó chịu mỗi khi thấy vợ làm từ thiện và cầu nguyện.

Hơn nữa, sẵn có lợi thế con nhà giàu, lại hơn tuổi của Mônica quá nhiều, nên Patricius thường xuyên thể hiện vai trò chủ – tôi đối với cô. Mặt khác, cô lại còn phải chịu cảnh hất hủi của mẹ chồng. Điều làm cho cô Mônica buồn nhất, đó là bà lại hùa theo con trai để bênh vực chủ trương không tôn giáo và đời sống phóng khoáng, tự do cho Patricius. Vì những lý do đó, cuộc sống gia đình của Mônica gặp rất nhiều khó khăn, đau khổ.

Kèm theo đó, sau khi sinh được Augustinô, người con trai đầu lòng, bà vui mừng, phấn khởi khôn xiết. Nhưng chẳng bao lâu, Augustinô buông theo lối sống của cha, nên cung cách và lối sống của con trai chính là bản sao của chồng.

Thế nhưng, điều ta thấy tuyệt với là khi gặp những nghịch cảnh ngập đầu, Mônica không hề oán trách, nhưng ngài đã tìm ra những liều thuốc giải độc tốt nhất cho linh hồn mẹ chồng, chồng và các con. Liều thuốc đó là sự hy sinh, lời cầu nguyện liên lỷ, cộng thêm những đức tính tuyệt vời như  lòng bác ái, tình yêu thương, tinh thần quả cảm, đức tính khiêm nhường và niềm tin vào Chúa.

Vì vậy, mưa dầm thấm lâu. Thiên Chúa đã thưởng công Mônica bằng việc hoán cải mẹ chồng. Patricius chồng cô đã xin Rửa Tội và tin theo Chúa. Augustinô quyết định chia tay bè rối Manichê (Nhị Nguyên) là một tà thuyết chống lại Giáo Hội và đức tin Công Giáo mà ông đã dồn toàn tâm toàn trí trong suốt chín năm trường, sau đó ngài được Rửa Tội. Hai người con còn lại là Navigio và Perpetua cũng xin chịu phép Thanh Tẩy và gia nhập Giáo Hội Chúa. Sau này cả hai đã đi tu dòng.

Đây là ân huệ lớn lao do lòng thương xót của Người đã dành cho Mônica. Niềm vui tột cùng đó đã làm cho Mônica thốt lên với Augustinô trong những giây phút cuối đời: “Con ơi, không gì trên thế gian này làm mẹ vui hơn được nữa… Vì mọi hy vọng … mẹ đã được mãn nguyện”.

Cuối năm 387, khi hai mẹ con đang chuẩn bị trở về quê hương là Phi Châu, thì Thiên Chúa đã gọi Mônica về với Người, hưởng thọ 56 tuổi. Thánh nữ được chôn cất tại Ostite và sau được dời về Rôma vào năm 1430.

Trong vai trò là người mẹ, Monica cũng hết sức hiền lành. Hiền lành khi đối diện với những người con khó tính, muốn làm ngược ý mẹ mình, làm những điều phiền lòng mẹ mình. Yêu mến, biết ơn mẹ mình về sự hiền lành, nhẫn nhục, kiên trì và về niềm tin vững vàng, Augustinô kể lại: "Tôi đã làm nước mắt mẹ tôi chảy nhiều như dòng suối, mẹ đã khóc rất nhiều nhưng không làm tôi mềm lòng. Một vị Giám Mục đã an ủi mẹ tôi và nói rằng: "Con bà không hư đâu vì Chúa nhìn tới nước mắt của bà. Một người mẹ đã khóc nhiều và cầu nguyện kiên trì cho con mình thì người con không bao giờ hư mất."

Thánh Monica rất được mộ mến, nên nhiều người đã nhận tên Thánh Monica.  Giáo Hội tôn vinh ngài là bổn mạng của các bà mẹ, cách riêng các bà mẹ Công Giáo.  Nhờ có được một Người Mẹ Tuyệt Vời, sau này Augustinô trở thành nhà giảng thuyết hùng biện, học giả uyên bác, một Thánh Giám Mục được phong là Tiến sĩ Hội Thánh.

Trong xã hội ngày nay, mọi thứ đều sẵn sàng, từ mì ăn liền, cà phê uống liền, đến việc tiêu xài liền khiến chúng ta không còn kiên nhẫn. Tương tự như thế, chúng ta cũng muốn lời cầu xin của chúng ta được đáp trả ngay lập tức.  Thánh Monica là gương mẫu của sự kiên nhẫn.  Những năm trường cầu nguyện, cộng với đức tính kiên cường và kỷ luật, sau cùng đã đưa đến sự trở lại của người chồng nóng nẩy, người mẹ chồng ưa gắt gỏng, và người con thông minh nhưng bướng bỉnh, là Augustine.

Ngày lễ Monica cũng quy tụ tất cả chúng ta. Yêu mến, biết ơn, kính trọng các hiền mẫu, chúng ta ước mong các thế hệ hiền mẫu tiếp tục đi theo con đường của Monica. Không những tại nhà thờ, mà còn nơi mỗi gia đình, các hiền mẫu trở nên những người mẹ hiền thật sự, làm cho gia đình mình được ấm cúng thuận hòa, làm cho các thế hệ con cháu trong gia đình và trong giáo xứ được vẻ vang. Như Monica có con cái là triều thiên của mình thế nào, các hiền mẫu trong giáo xứ cũng có các thế hệ con cháu làm vẻ vang cho chính các bà mẹ Công giáo như vậy.

------------------------------

 

Suy Niệm 24. Thánh nữ Mônica và những giọt lệ của một bà mẹ có con lầm lạc


-- Aliénor Goudet--Lê Hưng chuyển ngữ

TGPSG / Aleteia -- Nhiều người biết tên và truyện thánh Augustino - một con người lêu lổng trở thành tiến sĩ Hội Thánh hồi thế kỷ thứ tư. Nhưng họ thường quên cột trụ của sự trở lại này chính là mẹ ngài, thánh Mônica, người đã cầu nguyện và rơi lệ vì sự lầm lạc của con mình suốt nhiều năm dài đằng đẵng. Sau đây là câu chuyện về một số lần bà phải chảy nước mắt vì con.

Vào năm 373 ở thành Thagaste (thuộc nước Algeria ngày nay). Đêm đã buông xuống từ lâu trên thành phố và đa số người dân đã đi ngủ yên bình. Thế mà một ánh đèn vẫn le lói trong nhà của công chức Patricio. Một mình trong phòng, trong ánh đèn dầu nhạt mờ, Mônica nằm co quắp và khóc thổn thức trên giường.

Cơn giận sôi sục - đã khiến bà đuổi Augustino, cô vợ ngoại hôn và con trai của hai người ra khỏi nhà cách đây vài ngày - đã nguôi ngoai, để lại một nỗi buồn sâu thẳm trong lòng bà. Trái tim bà bị giằng xé giữa sự hối tiếc đã đuổi con trai một cách tàn nhẫn ra khỏi nhà và sự thất vọng khi biết con mình thuyết giảng những lời khuyên rỗng tuyếch và báng bổ của tà phái Manikê.

Từ lâu bà đã cảm nhận được khoảng cách ngày càng lớn giữa con trai bà và giáo huấn kitô giáo mà bà đã dạy con mình. Thói ăn chơi và mê cờ bạc của con thì thật là rõ ràng, không thể chối cãi được. Nhưng chưa bao giờ bà tưởng tượng được rằng con trai bà lại rơi xuống thấp, xa cách Thiên Chúa và Đức Kitô đến vậy.

Nỗi sợ Augustino của bà mãi mãi mất linh hồn làm bụng bà quặn thắt. Bà cố cầu nguyện nhưng lời cầu xin của bà mau chóng biến thành những tiếng kêu thảng thốt.

- Lạy Chúa, con phải làm gì để cứu vớt con trai Augustino của con? Bà lặp đi lặp lại lời này, không thể kêu xin thêm điều gì khác nữa.

Kiệt sức vì xúc động và buồn tủi, cuối cùng Mônica thiếp đi khi miệng vẫn cứ lặp đi lặp lại lời cầu xin ấy. Nhưng khi mở mắt ra, bà thấy mình đang đứng trên một cây thước gỗ. Ngay trong giấc mơ, bà cũng thấy mình rơi lệ. Một giọng nói gọi bà:

- Mônica, tại sao con khóc?

Ngước mắt lên, bà nhìn thấy một người chói sáng vẻ đẹp tuyệt vời đang cười dịu dàng với bà.

- Con trai tôi ngày càng rời xa Chúa - bà trả lời - tôi không biết phải làm sao.

- Đừng lo - người đó lại gần, nói với bà - Hãy nhìn con mình đi. Anh ta đang ở chỗ bà đứng.

Mônica quay lại. Quả nhiên, Augustino đang đứng sau bà vài bước chân, cũng trên cái thước đó. Thế rồi bà giật mình thức giấc, đúng lúc cô hầu gái vào phòng, hỏi thăm xem sức khỏe bà thế nào.

- Ừ, ta đã khỏe hơn rồi - bà nói. Cô hãy nhờ ai đó đi tìm con trai ta và cho nó biết rằng nó có thể trở về nhà này.

Vài ngày sau, những giọt nước mắt khác lại tuôn trào khỏi khóe mắt Mônica. Augustino chẳng muốn nghe về thị kiến của bà và thậm chí còn cố gắng biến những lời nói của nhân vật chói sáng kia có lợi cho mình và bọn tà giáo Manikê. Quả là lì như lừa! Trước trí thông minh sắc sảo của anh, cuộc tranh luận không kéo dài lâu. Làm sao mà người ta có thể vừa mẫn tiệp lại vừa lạc đường, lạc lối đến như thế được?

Chính vì vậy, Mônica phải đến nhà thờ để lại cầu xin, van nài ơn cứu độ cho con trai mình. Bà cố nhớ lại giấc mơ để không mất niềm hy vọng, nhưng bà vẫn thấy chẳng còn gì để có thể bám víu vào được nữa. Lúc đó, một bàn tay nồng ấm đặt lên vai bà khiến bà giật mình.

- Tại sao con lại khóc vậy?

Trong khoảnh khắc, bà hy vọng đó là nhân vật chói sáng (bà từng thấy trong giấc mơ), nhưng đấy lại chính là vị giám mục của thành Thagaste. Bà bèn kể cho ngài nghe những trăn trở trong lúc nước mắt vẫn tuôn trào. Nhưng giống như nhân vật chói sáng kia, Đức giám mục trả lời bà rất đơn giản:

- Đừng lo. Đứa con trai của bao nhiêu nước mắt như thế sẽ không thể hư mất được.

Trên đường về, Mônica tự hỏi những lời của vị giám mục có giống với những lời của nhân vật trong giấc mơ hay không. "Đừng lo", cả hai đều nói với bà như vậy. Hai lần, Thiên Chúa đã gởi đến bà cùng một sứ điệp. Bà biết rõ ít nhất một điều: Chúa không có ý định bỏ rơi con trai bà.

Nhưng khi bà trở về nhà, gia nhân báo với bà rằng Augustino đã lên tàu đi Rôma mà không báo trước. Một lần nữa Mônica lại khóc. Nhưng dù buồn giận không sao tả xiết trong lòng, một tia sáng vẫn lóe lên trong tâm trí bà khi một niềm xác tín mới đã bắt rễ trong lòng: cho dù sự lầm lạc của con bà có kéo dài đến đâu đi nữa, hay nước mắt của bà sẽ còn đổ ra bao nhiêu nữa vì con thì cũng không sao cả, vì nhất định Augustino sẽ quay về với Chúa.

Trong nước mắt, bà ra lệnh cho gia nhân chuẩn bị hành lý.

Mônica phải mất đến hơn 15 năm rơi lệ và cầu nguyện mới thấy con trai bà trở lại hoàn toàn vào năm 387, đúng năm bà lìa đời. Đức Giáo hoàng Piô 5 đã ghi tên bà trong lịch phụng vụ hồi thế kỷ thứ 16. Bà là thánh bảo trợ các bà mẹ công giáo. Người ta nói rằng bà đã hai lần sinh ra thánh Augustino, một lần ở trần gian và một lần ở trên trời.

------------------------------

 

Suy Niệm 25. Thánh Mônica: Tình yêu vượt thắng mọi gian khổ


--Suy niệm Tin Mừng hằng ngày

Từ tình yêu thương của người mẹ dành cho mình, nhạc sĩ Y Văn đã viết lên những ca từ tha thiết về tình mẫu tử: “Lòng mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu. Tình mẹ yêu mến như làn gió đùa mặt hồ. […] Thương con khuya sớm bao tháng ngày, lặn lội gieo neo nuôi con tới ngày lớn khôn”.

Những giọt nước mắt đau khổ của bà mẹ góa thánh Naim trong Tin Mừng đã chạm đến lòng thương xót của Đức Giêsu. Người đã chạnh lòng thương khi nhìn thấy “người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh”. Đức Giêsu đã biến những giọt nước mắt đau khổ của bà mẹ thành những giọt nước mắt hạnh phúc khi cho con của bà sống lại.

Thánh Mônica mà Giáo hội mừng kính hôm nay đã khóc rất nhiều. Những giọt nước mắt cùng với việc kiên trì cầu nguyện của thánh nữ đã chạm đến lòng của Chúa và Người đã đáp lại lời cầu nguyện của bà bằng việc cho con của bà là Thánh Augustinô ơn hoán cải.

Cầu nguyện: Noi gương thánh nữ Monica, chúng ta hãy kiên trì cầu nguyện cùng Chúa Giêsu để nhận ra đâu là chân lý đích thực của đời mình. Amen.

------------------------------

 

Suy Niệm 26. Thánh nữ Monica, người Mẹ tuyệt vời, Quan Thày Các Bà Mẹ Công Giáo Việt Nam


--Đinh Văn Tiến Hùng

*Sơ lược tiểu sử:

Thánh Nữ Monica sinh năm 332 tại Tagaste, Bắc Phi trong một gia đình Công Giáo đạo đức. Năm 22 tuổi cô kết hôn với 1 người ngoại đạo dòng dõi quí tộc, tính tình cộc cằn thô lỗ. Nhưng nhờ đức tính hiền lành kiên nhẫn luôn cầu nguyện, Monica đã cảm hóa được chồng trở lại đạo và chết an lành sau 20 năm chung sống.

Bà sinh được 3 người con, Augustinô con trưởng tư chất thông minh, nhưng lại ham mê danh vọng sắc dục, đi theo bọn du đãng và bè rối. Bà kiên tâm nhẫn nhục, không ngại nguy hiểm vượt biển sang Mi-lăng, Ý để sống gần con và nhờ thánh Giám mục Ambrosiô giúp đỡ. Với lòng kiên nhẫn luôn cầu nguyện cùng sự quyết tâm của thánh Giám Mục, cuối cùng Augustinô đã tìm ra chân lý để hoán cải cuộc đời. Ngày Lễ Phục Sinh năm 387 chàng cùng một số bạn hữu đã nhận bí tích Thánh Tẩy. Đây là giây phút sung sướng nhất đời Mẹ Monica vì đã hoàn tất nguyện vọng bao năm khổ cực theo đuổi.

Hai tuần sau Monica ngã bệnh và từ giã cõi đời lúc mới 55 tuổi. Đám tang Mẹ, Augustino không khóc vì Mẹ đã chết thánh thiện, Ngài đã bày tỏ cảm xúc trong cuốn Tự Thú: ‘ Lạy Chúa! Sở dĩ con được làm con Chúa, vì Chúa đã ban cho con một người mẹ như thế đó ! ‘

Thánh Monica rất được mộ mến, nên nhiều người đã nhận tên Thánh Monica và Bà cũng là Quan Thày của các bà mẹ, bà vợ. Nhiều đoàn thể hay thành phố lấy tên Ngài như thành phố Santa Monica, Los Angeles để kỷ niệm lần đầu tiên các nhà truyền giáo đến đây đúng ngày Lễ kính Thánh Monica 27/8.

Nhờ có được một Người Mẹ Tuyệt Vời, sau này Augustinô trở thành nhà giảng thuyết hùng biện, học giả uyên bác, một Thánh Giám Mục được phong là Tiến sĩ Hội Thánh.

------------------------------

 

Suy Niệm 27. Theo gương thánh Monica


--Giuse Luca

1: Trước tiên: là chu toàn bổn phận. Chu toàn bổn phận cách trung thành, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác thì quả là anh hùng. Ngài đã hoàn thành sứ mạng Chúa trao trong ơn gọi làm vợ, làm mẹ.

-Làm vợ, thánh nhân đã hết lòng quý trọng, yêu thương và chung thủy với chồng.

-Làm mẹ, thánh nhân hết mực yêu thương, hy sinh cho con cái. Tận tụy giáo dục con cái nên người. Khi không được như ý của mình, ngài vẫn không bỏ cuộc.

-Thánh nhân đã cầu nguyện và hy sinh liên lỷ cho con. Nhờ đó mà ngài đã cải hóa được Augustinô trở về với Chúa và phục vụ Giáo Hội.

2: là cảm hóa bằng gương sáng. Khi bị ngược đãi bởi mẹ chồng và chồng, thánh nhân đã nêu cao gương khiêm nhường, yêu thương và tha thứ. Sẵn lòng thông cảm cho tính khí của mẹ và chồng. Yêu thương, phục vụ, khiêm nhường và tha thứ là lựa chọn của thánh nhân trong những lúc khó khăn và gặp chuyện chẳng lành.

3: là mẫu gương cầu nguyện và hy sinh. Thánh nhân đã kết hợp với Chúa cách liên lỷ và hoàn toàn phó thác nơi Ngài. Cuộc đời của ngài với những biến cố vui buồn, thành công hay thất bại đều kết hợp với Chúa. Ngài luôn phó thác mọi sự trong sự an bài của Thiên Chúa.

4: là sự kiên trì và trung thành. Kiên trì trong cầu nguyện. Trung thành trong niềm tin, dù nhiều khi phải gặp khổ đau. Quả thật, cả cuộc đời của thánh nhân đã để lại cho chúng ta gương sáng tuyệt vời nơi những người vợ, người mẹ và cho hết mọi người.

* NHỮNG BÀI HỌC:

Bài học thứ nhất: Chu toàn bổn phận hằng ngày vì lòng mến Chúa.

Bài học thứ hai: Biết dùng gương sáng để cảm hóa người thân và mang lại hạnh phúc cho gia đình.

Bài học thứ ba: Làm mọi việc trong tâm tình tín thác. Đón nhận tất cả mọi sự khốn khó, miễn sao điều đó đẹp lòng Chúa và ích lợi cho phần rỗi linh hồn mọi người.

Bài học thứ tư: Muốn sống, đức tin của chúng ta cần kiên trì và trung thành. Nếu không kiên trì, chúng ta dễ bỏ cuộc. Nếu không trung thành, chúng ta khó lòng đạt được ơn cứu rỗi.

*CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa, xin nhận lời thánh nữ Mônica chuyển cầu mà ban cho chúng con là những người vợ, người mẹ trong các gia đình luôn có đời sống thánh thiện, biết yêu thương, nhẫn nhục, kiên trì và phó thác mọi sự nơi Chúa để chúng con mang lại cho chồng, cho con niềm an vui hạnh phúc như thánh nữ Monica đã sống thuở xưa. Amen.

------------------------------

 

Suy Niệm 28. Lễ nhớ thánh Mônica


--NguoiTinHuu.com

Hoàn cảnh cuộc đời Thánh Monica đã có thể biến ngài thành một người vợ hay mè nheo, một nàng dâu nhiều cay đắng và một người mẹ tuyệt vọng, tuy nhiên ngài đã không chịu thua bất cứ cám dỗ nào. Mặc dù ngài là một Kitô Hữu, cha mẹ ngài đã gả cho một người ngoại giáo, ông Patricius, là người sống trong cùng tỉnh Tagaste ở Bắc Phi Châu. Patricius là người tốt nhưng ông vô cùng nóng nẩy và phóng túng. Ngoài ra Thánh Monica còn phải chịu đựng bà mẹ chồng hay gắt gỏng. Ông Patricius thường rầy la vợ vì bà hay thương người. Nhưng sự cầu nguyện và gương mẫu đời sống của Thánh Monica sau cùng đã chinh phục được người chồng cũng như mẹ chồng, ngài đã đưa họ trở về với đức tin Kitô Giáo. Ông Patricius chết năm 371, sau khi rửa tội được một năm để lại người vợ goá và ba con nhỏ.

Người con cả, Augustine Hippo, nổi tiếng nhất (sau này là thánh). Vào lúc cha chết, Augustine mới 17 tuổi và là sinh viên trường hùng biện ở Carthage. Thánh Monica thật đau buồn khi thấy con mình đi theo tà thuyết Manikê và sống cuộc đời phóng đãng. Có những lúc Thánh Monica không cho con được ăn ngủ ở trong nhà. Và rồi một đêm kia, ngài được thị kiến và được đảm bảo là Augustine sẽ trở về với đức tin. Từ đó trở đi ngài sống gần với con hơn để ăn chay và cầu nguyện cho con. Quả vậy, ngài ở gần đến nỗi Augustine cũng phải bực mình.

Khi 29 tuổi, Augustine quyết định đi Rôma để dạy về hùng biện. Một tối kia, Augustine nói với mẹ là anh ra bến tầu để từ giã bạn bè. Nhưng, anh lại lên tầu đi Rôma. Thánh Monica thật đau lòng khi biết mình bị lừa, nhưng ngài nhất định đi theo. Vừa đến Rôma thì ngài lại biết là Augustine đã đi Milan. Mặc dù việc di chuyển khó khăn, Thánh Monica vẫn nhất định bám sát.

Ở đây, Augustine bị ảnh hưởng bởi một giám mục, Ðức Ambrôsiô, là vị linh hướng sau này của Thánh Monica. Augustine chấp nhận mọi lời khuyên của đức giám mục và tập được đức khiêm tốn đến độ ngài có thể từ bỏ được nhiều tật xấu. Thánh Monica trở thành người lãnh đạo của nhóm phụ nữ đạo đức ở Milan cũng như khi ở Tagaste.

Ngài tiếp tục cầu nguyện cho Augustine trong những năm anh theo học với đức giám mục. Vào Phục Sinh năm 387, Ðức Ambrôsiô rửa tội cho Augustine và một vài người bạn của anh. Không lâu sau đó, cả nhóm đi Phi Châu. Lúc ấy, Thánh Monica biết cuộc đời ngài sắp chấm dứt, ngài nói với Augustine, "Con ơi, không có gì trên trần gian này làm mẹ vui lòng cả. Mẹ không biết có gì còn phải thi hành và tại sao mẹ lại ở đây, vì mọi hy vọng của mẹ ở trần gian này đều đã được hoàn tất." Sau đó không lâu ngài bị bệnh và chịu đau đớn trong chín ngày trước khi từ trần.

Tất cả những gì chúng ta biết về Thánh Monica là trong tác phẩm Tự Thú của Thánh Augustine.

Lời Bàn

Trong xã hội ngày nay, mọi thứ đều sẵn sàng, từ mì ăn liền, cà phê uống liền, đến việc tiêu xài liền (instant-credit) khiến chúng ta không còn kiên nhẫn. Tương tự như thế, chúng ta cũng muốn lời cầu xin của chúng ta được đáp trả ngay lập tức. Thánh Monica là gương mẫu của sự kiên nhẫn. Những năm trường cầu nguyện, cộng với đức tính kiên cường và kỷ luật, sau cùng đã đưa đến sự trở lại của người chồng nóng nẩy, người mẹ chồng ưa gắt gỏng và người con thông minh nhưng bướng bỉnh, là Augustine.

Lời Trích

Khi Thánh Monica từ Bắc Phi Châu sang Milan, ngài nghĩ ra những thói quen đạo đức mới cho ngài và cho những người thời ấy, tỉ như ăn chay ngày thứ Bảy, là điều không phổ thông ở Milan. Ngài hỏi Thánh Ambrôsiô là nên giữ những thói quen nào. Câu trả lời nổi tiếng của Thánh Ambrôsiô là: "Khi cha ở đây, cha không giữ chay ngày thứ Bảy, nhưng khi ở Rôma thì cha sẽ giữ chay; hãy làm theo những phong tục và huấn thị của Giáo Hội như đã được ban bố đặc biệt cho địa phương mà con đang sống."

------------------------------

 

Suy Niệm 29. Nuôi thú cưng


--Lm. Anmai, CSsR

Khuôn mặt thánh Monica làm sáng lên khuôn mặt của một người mẹ đau khổ

Thánh nữ Monica đồng sở hữu 2 con người không thể tưởng. Chồng thì cũng chả ra gì mà con cũng chả ra chi.

Đứng trước đau khổ đó, chắc có lẽ nhiều người đã buông xuôi. Với Monica, bà đã thay đổi được đứa con ngỗ nghịch của mình bằng đời sống cầu nguyện. Cùng với cầu nguyện, Bà nhờ đức cha Ambrosiô (sau này là thánh Ambrosiô) để hướng dấn cho đứa con yêu của mình.

Bà thành công nhờ lời cầu nguyện là bám vào Chúa. Bà thành công nhờ tâm huyết của mình dành cho con.

Nếu so với người đời, bà xem chừng như thỏa mãn vì Augustinô con của bà quá tuyệt vời.

Augustinô là chàng thanh niên thông minh, giỏi dang và thành công ở đời. Đang khi đó thì thánh Monica đau khổ.

Thánh Monica thấy con của mình giỏi thật nhưng con mình lại xa Chúa, bỏ Chúa và gạt ý của Chúa ra khỏi cuộc đời và sống theo ý riêng nên bà đau khổ. Bà làm mọi cách để đưa con mình về với Chúa. Ta thấy Monica xác tín giá trị tinh thần và thiêng liêng quan trọng hơn giá trị vật chất.

Điều mà ta thấy nơi thánh Monica rất quan trọng trong cuộc sống ngày hôm nay. Hơn bao giờ hết, các bà mẹ ngày hôm nay do áp lực của cuộc sống không những cho con mình ăn ngon mặc đẹp, học giỏi, làm nhiều tiền, đem nhiều tiền về cho gia đình nở mày nở mặt. Nhiều khi vì áp lực đó mà các bà để con cái mình làm những điều không phù hợp với tinh thần của Tin Mừng và Giáo Huấn của Chúa.

Thánh Monica không chỉ cho con mình làm người mà cho ước mong cho con mình là người và là con Chúa.

Ngày hôm nay, ta thấy thực trạng trong một số gia đình, con cái được cha mẹ sinh ra làm người chứ không là người.

Một nữ tu quen biết nói một câu xem chừng chua chát: “Cha ơi! Ngày hôm nay nhiều gia đình nuôi “thú cưng” lắm Cha !

Chua chát nhưng xem chừng đúng và đau!

Gia đình nọ có 2 đứa con (1 trai, 1 gái). Tính ra thì chả ra làm sao mà thật đúng là “thú cưng”. Đơn giản là nhờ sự “giáo dục” của bà mẹ như thế nào đó để rồi cho con cái ăn xong chỉ biết đứng dậy chứ hoàn toàn không hề biết đưa cái chén vào cái bồn để cho dì rửa.

Biết cháu mình là con người lập dị, là con người vô cảm nhưng người dì cứ vui vẻ cho cháu mình ngày mỗi ngày sống trong thái độ vô cảm.

Mẹ của con người vô cảm ấy luôn miệng khoe con mình. Nào là con mình du học, nào là con mình học giỏi. Ờ! Thì cho là học giỏi đi nhưng nơi con người này hoàn toàn dị dạng bởi lẽ làm người mà ăn không biết dọn và rửa chén thì xem chừng như … con thú.

Thử hỏi trong một gia đình mà khi những thể loại như thế làm chồng, làm mẹ trong gia đình thì gia đình đó đi về đâu khi gia đình toàn là nhữg người vô cảm. Như thế chuyện học giỏi và kiếm tiền nhiều liệu chừng còn ý nghĩa gì không?

Thật vậy, trong gia đình ta thấy chỉ có con thú mới ăn xong không biết đụng tay đụng chân vào phụ dọn hay rửa. Ấy vậy mà cha mẹ và cả người dì đều ủng hộ cho cung cách sống ấy. Phải chăng gia đình đó đang nuôi “thú cưng”.

Thực trạng ê chề ngày hôm nay mà nhiều gia đình phải lãnh hậu quả từ việc xem chừng ra là phi giáo dục từ phía cha mẹ. Cũng bởi vì cưng con quá để rồi biến con thành một cỗ máy để học không hơn không kém. Vịn vào lý do học để sản sinh ra những con người vô cảm, hoàn toàn không có cảm thức về người. Sống như thế liệu chừng có phải là người hay chỉ là làm người.

Làm người thì dễ nhưng là người rất khó và là con Chúa cách thật sự lại càng khó.

Thực trạng gia đình ngày hôm nay là chả ai quan tâm ai, chả ai biết ai cảm thức thế nào. Cơm thì chẳng có chung, và kinh hạt thì chắc chắn là không. Vịn vào tự do cá nhân để rồi mẹ một tô, con một dĩa, cha một hộp. Cơm thì mạnh ai nấy ăn, kinh thì mạnh ai nấy đọc (chưa biết có đọc hay không). Hóa ra gia đình cũng chỉ là nơi ở trọ của những người vui tính.

Giá trị, nền tảng của gia đình đặt trên đời sống luân lý, trên đời sống đức tin. Ấy vậy mà nhiều gia đình, nhiều bậc cha mẹ chỉ lo cho con cái mình học chữ, học nhạc, học vi tính mà quên đi chuyện học là người và là con Chúa.

Ngày hôm nay thật sự đáng buồn là có những gia đình đúng thật là nuôi “thú cưng” mà thôi. Dường như họ bất lực trước sự giáo dục con cái, nhất là giáo dục về đời sống đức tin.

Nếu như ngày xưa, Monica bỏ mặc con của mình thì ta thấy 2 mẹ con chẳng biết đi về đâu. Chính nhờ đời sống cầu nguyện và bám vào Chúa để rồi 2 mẹ con được làm thánh.

Tưởng nghĩ khi nhớ về thánh nữ Monica, ta cũng cần nhìn lại vai trò làm mẹ của mỗi gia đình. Khi và chỉ khi người mẹ đạo đức đủ cũng như lo lắng con con về tinh thần, về thiêng liêng thì con mình mới trở nên thánh và trở nên con người thật sự. Bằng không, trong gia đình những đứa con chẳng khác gì những con thú cưng mà ta thấy nhiều người đang nuôi vậy.

------------------------------

 

Suy Niệm 30. Năm bài học từ thánh nữ Monica-


-Tâm Linh, SDB chuyển ngữ

Thánh Monica (331-387 sau Công Nguyên) đã trải qua phần lớn cuộc đời của mình với những nỗi khổ ưu phiền và sự lầm đường lạc lối của những người thân thiết nhất của thánh nhân, nhưng cuối cùng đã thành công và chứng kiến cả Patricius và Augustine được rửa tội thành Kitô hữu; đồng thời cải đạo nhiều người khác trong quá trình này nhờ sự kiên trì, cầu nguyện, kiên nhẫn, hy sinh và lòng dũng cảm của thánh nhân.

1. KIÊN TRÌ TRONG CẦU NGUYỆN

Thánh nữ Monica, với đức tin được hình thành từ khi còn nhỏ, đã phó thác niềm tin vào Chúa qua lời cầu nguyện chuyển cầu cho cả chồng và con trai của thánh nhân.

2. KIÊN NHẪN GIỮA NHỮNG MẪU THUẪN

Thánh nữ Monica đã giữ im lặng trong cuộc tranh cãi với Patricius, người chồng của thánh nhân, không phải vì ông đúng mà vì phản ứng khi ông phi logic sẽ chẳng có ích gì.

3. HY SINH BẢN THÂN

Thánh nữ Monica được dạy rằng những hy sinh nhỏ bé cuối cùng sẽ giúp thánh nhân đạt được những hy sinh lớn hơn.

4. ĐỨC TIN TUYỆT VỜI

Thánh nữ Monica thể hiện sự chắc chắn rằng lời hứa về tình yêu của Chúa sẽ không làm thánh nhân thất vọng, dù phải mất một thời gian rất dài mới có kết quả.

5. TÌM KIẾM SỰ GIÚP ĐỠ TỪ NGƯỜI KHÁC

Thánh nữ Monica tìm kiếm sự giúp đỡ của chính quyền và những người có kinh nghiệm trên con đường hoán cải của con trai bà.

 ------------------------------

 

Suy Niệm 31. Khóc than cầu khẩn


--Lm. Micae Võ Thành Nhân

Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Thánh Mônica hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa là Đấng an ủi những ai sầu khổ, Chúa đã đoái thương nhậm lời thánh Mônica khóc than cầu khẩn, mà cho con bà là thánh Autinh được ăn năn trở lại cùng Chúa. Xin Chúa cũng nhậm lời hai thánh chuyển cầu, mà cho chúng ta biết thật tình ăn năn hối lỗi, để được Chúa khoan hồng thứ tha. Thánh nữ sinh năm 331 tại Tagát, Châu Phi, trong một gia đình theo Kitô giáo. Lúc còn thanh xuân, thánh nữ đã kết hôn với anh Patrixiô và sinh được những người con, trong đó có thánh Autinh. Khi Autinh mất đức tin, thánh nữ đã dâng những dòng lệ tựa những lời cầu nguyện âm thầm lên Thiên Chúa. Khi thấy Autinh trở lại, thánh nữ đã tràn ngập vui mừng. Người không còn gì để chờ đợi ở trần gian này nữa, Thiên Chúa đã gọi người về ở Ốttia, năm 387, khi người đang sửa soạn trở về Châu Phi, quê hương của người. Thánh nữ là tấm gương sáng chói cho những người làm mẹ: nuôi dưỡng lòng tin bằng lời cầu nguyện và chiếu tỏa ra bên ngoài bằng các nhân đức.

Khóc than cầu khẩn, kiên trì trong mọi cơn gian nan thử thách sẽ cho ta sức mạnh để chu toàn sứ mạng, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, ngôn sứ Giêrêmia cho thấy: Ông hầu như miễn cưỡng nhận lời mời gọi lãnh một sứ mạng nặng nề. Sau này ông sẽ nếm mọi mùi cay đắng, và sẽ trách Thiên Chúa không giữ lời hứa trợ giúp ông. Điều này càng làm ta khâm phục hơn thái độ trung kiên của một kẻ anh hùng, hầu như một mình đương đầu với tất cả, nhưng khi ông chu toàn sứ mạng, chính Thiên Chúa ban sức mạnh cho ông. Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi. Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi… Ta là Đức Chúa, Ta đã gọi ngươi, vì muốn làm sáng tỏ đức công chính của Ta, Ta đặt ngươi làm giao ước với dân, làm ánh sáng chiếu soi muôn nước.

Khóc than cầu khẩn, chỉ tin tưởng, cậy trông, bám víu một mình Chúa mà thôi, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Mônica nói: Xác này, cứ chôn chỗ nào cũng được. Đừng bận tâm lo lắng gì chuyện đó. Mẹ chỉ xin hai con một điều, là dù chúng con ở đâu, thì cũng nhớ đến mẹ trước bàn thờ Chúa… Thời gian chẳng còn bao lâu; vậy ai vui mừng, hãy sống như chẳng mừng vui; kẻ hưởng dùng của cải đời này, hãy làm như chẳng hưởng. Vì bộ mặt thế gian này đang biến đi.

Khóc than cầu khẩn, để đứng vững trước những lời dối trá của thế gian, nếu lỡ sai đường, hãy sám hối trở về, để được Chúa xét xử khoan hồng, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, thánh Phaolô nói: Anh em hãy đứng vững và nắm giữ các truyền thống, mà chúng tôi đã dạy cho anh em, bằng lời nói hay bằng thư từ. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 95, vịnh gia đã cho thấy: Chúa ngự đến xét xử trần gian. Hãy nói với chư dân: Chúa là Vua hiển trị, Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu chẳng chuyển lay, Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Lời Thiên Chúa là lời sống động và hữu hiệu, lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ. Hỡi những kẻ dẫn đường mù quáng! Lời Chúa sống động hữu hiệu, phê phán tâm tình, tư tưởng của lòng người, ước gì chúng ta hằng biết tin tưởng cậy trông ở Lời Chúa, chứ không nghe theo những lời xu nịnh của thế gian; biết thực hành những gì chính yếu mà Chúa dạy, chứ không chạy theo những gì phụ tùy để thỏa mãn những nhu cầu chóng qua, mà bỏ quên luật Chúa. Chúa đã đoái thương nhậm lời thánh Mônica khóc than cầu khẩn, mà cho con bà là thánh Autinh được ăn năn trở lại cùng Chúa. Ước gì chúng ta cũng biết thật tình ăn năn hối lỗi, để được Chúa khoan hồng thứ tha. Ước gì được như thế!

---------------------------------

 

Suy Niệm 32. Giết các ngôn sứ


--Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Thánh Mônica hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa là Đấng an ủi những ai sầu khổ, Chúa đã đoái thương nhậm lời thánh Mônica khóc than cầu khẩn, mà cho con bà là Autinh được ăn năn trở lại cùng Chúa. Xin Chúa cũng nhậm lời hai thánh chuyển cầu, mà cho chúng ta biết thật tình ăn năn hối lỗi, để được Chúa khoan hồng thứ tha. Thánh nữ sinh năm 331 tại Tagát, Châu Phi, trong một gia đình theo Kitô giáo. Lúc còn thanh xuân, thánh nữ đã kết hôn với anh Patrixiô và sinh được những người con, trong đó có thánh Autinh. Khi Autinh mất đức tin, thánh nữ đã dâng những dòng lệ tựa những lời cầu nguyện âm thầm lên Thiên Chúa. Khi thấy Autinh trở lại, thánh nữ đã tràn ngập vui mừng. Người không còn gì để chờ đợi ở trần gian này nữa, Thiên Chúa đã gọi người về ở Ốttia, năm 387, khi người đang sửa soạn trở về Châu Phi, quê hương của người. Thánh nữ là tấm gương sáng chói cho những người làm mẹ: nuôi dưỡng lòng tin bằng lời cầu nguyện và chiếu toả ra bên ngoài bằng các nhân đức.

Thật tình ăn năn hối lỗi, chứ đừng chai lì trong tội lỗi, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Giêrêmia: Chúng đã bỏ Ta là mạch nước trường sinh. Hôsê đã báo trước ngày hiền thê của Chúa trở về tìm lại ân nghĩa sau thời gian hối cải ăn năn trong sa mạc. Nhưng nay thì hiền thê đã vượt ra ngoài mọi giới hạn: chai lì trong tội ác, mất hết mọi tình cảm. Thiên Chúa và ngôn sứ của Người biết làm gì hơn là khóc cho dân bội nghĩa vong ân… Đức Chúa phán: Ta đã trồng ngươi như cây nho hảo hạng, cây nho thuần chủng. Sao ngươi lại thoái hóa thành những cành nho tạp chủng? Đức Giêsu nói: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi, không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi. Chúa những mong dân Chúa sống công bằng, mà chỉ thấy toàn là đổ máu, đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than.

Thật tình ăn năn hối lỗi, mọi sự trên đời chỉ là phù vân, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích sách Tự thuật của thánh Autinh: Ta hãy tìm cách đạt tới sự khôn ngoan vĩnh cửu… Thời gian chẳng còn bao lâu; vậy ai vui mừng, hãy sống như chẳng mừng vui; kẻ hưởng dùng của cải đời này, hãy làm như chẳng hưởng. Vì bộ mặt thế gian này đang biến đi. Phần chúng ta, chúng ta đã không lãnh nhận thần trí của thế gian.

Thật tình ăn năn hối lỗi, đón nhận Lời Chúa đúng theo bản tính của Lời đó, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Phaolô Tông Đồ gửi tín hữu Thêxalônica: Đêm ngày chúng tôi đã làm việc, loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa cho anh em. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 138 cho thấy: Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ. Đi mãi đâu cho thoát thần trí Ngài, lẩn nơi nào cho khuất được Thánh Nhan? Con có lên trời, Chúa đang ngự đó, nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Ai giữ lời Đức Kitô dạy, thì nơi kẻ ấy, tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Các người là con cháu của những kẻ đã giết các ngôn sứ. Không giữ lời Đức Kitô dạy, thì, Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi, không cho ta nữa, mà, ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi. Chúa đã trồng ta như cây nho hảo hạng, cây nho thuần chủng, sao ta lại thoái hóa thành những cành nho tạp chủng, Chúa những mong dân Chúa sống công bằng, mà, chỉ thấy toàn là đổ máu; đợi chờ ta làm điều chính trực, mà, chỉ nghe vẳng tiếng khóc than, lại còn, chống đối và giết chết các ngôn sứ của Chúa. Thánh Autinh được ăn năn trở lại cùng Chúa, nhờ lời thánh Mônica chuyển cầu, ước gì ta cũng biết thật tình ăn năn hối lỗi, để được Chúa khoan hồng thứ tha. Ước gì được như thế!

---------------------------------

 

Thứ 5 TN –Tuần 21/2025 - 28/08 Thánh Âu-tinh

Tỉnh thức và sẵn sàng.
28/08 – Thứ Năm tuần 21 thường niên. – Thánh Âu-tinh, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh. Lễ nhớ.
"Các con hãy sẵn sàng".

* Thánh nhân sinh năm 354 tại Ta-gát, châu Phi. Người đã trải qua giai đoạn thanh xuân đầy náo động cả về đạo lý lẫn cách sống cho tới khi được thánh Am-rô-xi-ô thanh tẩy cho năm 387. Người trở về quê hương và sống một cuộc đời khắc khổ. Rồi người được chọn làm giám mục giáo phận Híp-pôn. Trong suốt ba mươi bốn năm làm giám mục, người đã tận tụy chăm sóc đoàn chiên. Nhưng đáng kể nhất là tư tưởng và chứng tá đời sống của người đã lan tỏa. Người đã sống một cuộc đời hoàn toàn lo tìm kiếm Thiên Chúa và phục vụ Hội Thánh. Đối với người, Hội Thánh là cộng đoàn tín hữu Híp-pôn và đồng thời cũng là Thân Thể Chúa Kitô trải rộng khắp thế giới. Người qua đời năm 430.

---------------------------------

 

Lời Chúa: Mt 24, 42-51


Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con hãy tỉnh thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến. Nhưng các con phải biết điều này, là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông ta sẽ canh phòng, không để cho đào ngạch khoét vách nhà mình. Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến.
"Vậy các con nghĩ ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan mà chủ đã đặt lên coi sóc gia nhân, để cứ giờ mà phân phát lương thực cho họ? Phúc cho đầy tớ ấy, khi chủ nó đến thấy nó đang làm như vậy. Thầy bảo thật các con, chủ sẽ đặt người ấy lên coi sóc tất cả gia sản ông. Nhưng nếu đầy tớ ấy xấu, nghĩ trong lòng rằng: "Chủ tôi về muộn", rồi nó đánh đập các bạn đầy tớ, lại còn chè chén với lũ say sưa: chủ đầy tớ ấy trở về vào ngày nó không ngờ, vào giờ nó không biết, ông sẽ xé xác nó ra, và cho nó chung số phận với những kẻ giả hình: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng".

---------------------------------

 

Suy niệm 1: Hãy sẵn sàng


(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)

Châm ngôn của hướng đạo sinh là Sắp Sẵn, nghĩa là hãy sẵn sàng.
Không rõ ông tổ của phong trào hướng đạo
có được gợi hứng từ bài Tin Mừng hôm nay không.
Nhưng hãy sẵn sàng đúng là châm ngôn của mọi Kitô hữu,
từ những Kitô hữu sống ở thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ 21 và cho đến tận thế.
Hãy sẵn sàng vì từng Kitô hữu cũng như cả Kitô giáo
vẫn luôn ở trạng thái chờ Chúa Kitô trở lại.
Ngài đã đến làm người cách đây hai ngàn năm,
Ngài đã cứu độ nhân loại bằng cuộc sống và cái chết trên thập giá,
Ngài vẫn đang ở với Giáo Hội nhờ Thánh Thần,
nhưng Ngài sẽ trở lại trong vinh quang như Đấng phán xét cả thế giới.
Đó là điều chúng ta chờ mong, điều duy nhất Ngài chưa thực hiện.
Nếu chủ nhà biết canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông sẽ canh thức,
không để nó khoét vách nhà mình (c. 43).
Còn người Kitô hữu, vì không biết ngày nào, giờ nào Chúa trở lại,
nên họ phải canh thức luôn luôn, phải sẵn sàng liên lỉ.
Canh thức không phải là không ngủ.
Canh thức là sống đời sống Kitô hữu của mình cách trung tín, quảng đại.
Canh thức không làm chúng ta bị căng thẳng thường xuyên,
vì thấy mình như bị đe dọa bởi một tai họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Chúa cũng không cố ý đến bất ngờ, để ta không kịp trở tay.
Đơn giản là chúng ta biết chắc chắn Ngài sẽ đến,
nên chúng ta luôn sẵn sàng.
Chuyện khi nào Ngài đến, không làm chúng ta lo âu và sợ hãi nữa,
vì cả cuộc sống của chúng ta đã là một chuẩn bị, một đợi chờ.
Canh thức cũng có nghĩa là làm tròn phận sự được Chúa trao.
Ông chủ đi vắng nên trao cho người đầy tớ quyền cấp phát lương thực.
Đó là quyền hành mà cũng là phận sự trên các gia nhân.
Nếu khi trở về, ông chủ thấy người đầy tớ ấy đang phục vụ nghiêm chỉnh,
thì phúc cho anh ấy, vì anh sẽ được coi sóc toàn bộ tài sản của ông (c. 47).
Nhưng nếu anh ấy nghĩ rằng ông chủ sẽ về muộn,
anh còn nhiều thời giờ để vui chơi hơn là chu toàn bổn phận.
Nếu anh ấy lạm dụng quyền lực trong tay để đánh đập các đầy tớ khác,
nếu anh ấy nhậu nhẹt với bọn say sưa, nên không còn tỉnh thức đủ,
thì ông chủ sẽ về bất ngờ, vào ngày và giờ sớm hơn anh nghĩ.
Lúc ấy khuôn mặt thật của anh sẽ lộ ra, khuôn mặt giả hình.
Và anh sẽ chịu chung số phận với những người đạo đức giả (c. 51).
Anh đầy tớ xấu xa nghĩ chủ sẽ về trễ, nào ngờ chủ về sớm.
Kitô giáo đã chờ Chúa quang lâm từ gần hai mươi thế kỷ.
Có người nản lòng, nên cho rằng chắc còn lâu lắm mới đến ngày đó.
Có người đồn thổi lung tung về ngày tận thế sắp đến tới nơi rồi.
Cả hai thái độ đều không đúng.
Điều quan trọng đối với người môn đệ là trung tín chu toàn công việc.
Tỉnh thức và sẵn sàng giúp ta luôn bình an, dù ngày mai tận thế.
 
Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,
nếu ngày mai Chúa quang lâm,
chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng.
Thế giới này còn bao điều khiếm khuyết, dở dang,
còn bao điều nằm ngoài vòng tay của Chúa.
Chúa đâu muốn đến để hủy diệt,
Chúa đâu muốn mất một người nào...
Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa
xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng,
vui tươi và hạnh phúc,
để ngày Chúa đến thực là một ngày vui trọn vẹn
cho mọi người và cho cả vũ trụ.
Xin nuôi dưỡng nơi chúng con
niềm tin vững vàng
và niềm hy vọng nồng cháy,
để tất cả những gì chúng con làm
đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại.
 
---------------------------------

 

Suy niệm 2: Trung tín và khôn ngoan


(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Chúa Giê-su cho ta biết mỗi người đều là quản gia của Chúa. Mỗi người được Chúa trao cho một số tài sản và một số nhân sự để ta chăm sóc phục vụ. Theo Chúa, người quản gia tỉnh thức phải là người trung tín và khôn ngoan.

Trung tín là biết rằng mọi sự ta có là của Chúa, nên không được dùng theo ý riêng. Phải dùng mọi của cải Chúa ban để phục vụ Chúa và phục vụ anh em. Người đầy tớ xấu xa lạm dụng quyền thế, thay vì phục vụ thì lại áp bức hành hạ anh em. Người này cũng lạm dụng của cải của chủ, thay vì dùng cho lợi ích chung thì lại vun quén cho bản thân trong việc chè chén say sưa.

Khôn ngoan cho bản thân là biết lo xa, phòng ngừa, không để bị bất ngờ bằng cách tỉnh thức lúc nào cũng sẵn sàng, lúc nào cũng chu toàn nhiệm vụ, dù chủ có về bất ngờ cũng đang nghiêm chỉnh thi hành nhiệm vụ. Khôn ngoan trong nhiệm vụ với anh em là biết đúng giờ đúng lúc phân phát lúa thóc. Phục vụ anh em đúng người, đúng việc, đúng lúc. Đây là điều khó đòi hỏi phải rất tỉnh thức đối với từng người, từng việc và thời cuộc. Người không khôn ngoan tưởng thời giờ còn dài nên sinh ra ăn chơi hưởng thụ và sẽ bất ngờ bị chủ trở về trừng phạt.

Thánh Phao-lô tỏ ra là một người quản gia trung tín và khôn ngoan. Nhận biết mình được tuyển chọn để rao giảng Tin Mừng, ngài đã trung tín với nhiệm vụ cho đến cùng. Được Chúa trao cho các giáo đoàn, ngài trung tín với họ. Khi ở gần, hết lòng rao giảng, dậy dỗ, khuyên bảo, sửa trị. Khi đi xa thì viết thư thăm hỏi và tiếp tục giáo huấn. Và mong ước được gặp gỡ để tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ: “Đêm ngày chúng tôi tha thiết nài xin Chúa cho được thấy mặt anh em, và bổ túc những gì còn thiếu trong đức tin của anh em”. Trung tín nên luôn gắn bó với giáo đoàn đến nỗi giáo đoàn trở thành lẽ sống, thành niềm an ủi của ngài: “vì anh em có lòng tin, nên khi nghĩ đến anh em, chúng tôi được an ủi giữa mọi thống khổ gian truân chúng tôi phải chịu” (năm lẻ).

Khôn ngoan nên ngài hiểu biết rõ mặt mạnh mặt yếu của từng giáo đoàn mà uốn nắn họ. Sửa chữa những lầm lỗi, nhưng khen ngợi và khích lệ những ưu điểm: “Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, vì ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Giêsu Ki-tô”. Khôn ngoan nên ngài luôn hướng lòng các giáo đoàn về ngày cánh chung: “Thiên Chúa sẽ làm cho anh em nên vững chắc đến cùng, nhờ thế không ai có thể trách cứ được anh em trong Ngày của Chúa” (năm chẵn).

Tôi có là người quản gia trung tín và khôn ngoan của Chúa không?

---------------------------------

 

Suy niệm 3: Tỉnh thức chờ Chúa


Các nhà chú giải thường đề nghị đọc và Suy niệm những dụ ngôn của Chúa Giêsu về việc Chúa trở lại trong vinh quang trên hai bình diện: Kitô học và Giáo Hội học. Trên bình diện Kitô học nhấn mạnh đến việc Chúa trở lại vào cuối lịch sử như một quan tòa xét xử mọi người. Trên bình diện Giáo Hội học nhắc đến thời giờ của Giáo Hội trong thời gian, từ khi Chúa lên trời cho đến lúc Ngài trở lại; trong thời gian này, mỗi Kitô hữu phải tích cực chờ đợi và chu toàn bổn phận của mình một cách tốt đẹp.

Hai dụ ngôn trong Tin Mừng hôm nay cho thấy ý nghĩa bổ túc cho nhau: dụ ngôn thứ nhất nói về kẻ trộm đến bất ngờ trong đêm, do đó người chủ phải sẵn sàng luôn; sự sẵn sàng này được giải thích trong dụ ngôn thứ hai về người đầy tớ trung tín và khôn ngoan thi hành mệnh lệnh của chủ, cứ đúng giờ mà cấp phát lương thực cho người nhà.

Thật không dễ dàng mà có thái độ sẵn sàng theo đúng ý Chúa muốn. Vào thời các Tông đồ, có những tín hữu quá sốt sắng chờ đợi Chúa trở lại đến độ lơ là việc bổn phận của mình. Ðó là thái độ của tín hữu cộng đoàn Thessalonica mà thánh Phaolô đã phải khuyến cáo: "Thưa anh em, về ngày Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, quang lâm và tập hợp chúng ta về với Ngài, thì tôi xin anh em điều này: nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã viết thư quả quyết rằng ngày của Chúa gần đến, thì anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ. Ðừng để ai lừa dối anh em bất cứ cách nào".

Sống chờ đợi Chúa lại đến không phải bằng thái độ thụ động, nhưng bằng thái độ tích cực. Thánh Phaolô mô tả thái độ đó như sau: "Anh em không ở trong bóng tối, để ngày ấy như kẻ trộm bắt chợt anh em. Vì tất cả anh em là con cái ánh sáng, là con cái của ban ngày. Chúng ta không thuộc về đêm, cũng không thuộc về bóng tối. Vậy chúng ta đừng ngủ mê như những người khác, nhưng hãy tỉnh thức và sống tiết độ, hãy mặc áo giáp là đức tin và đức mến, hãy đội mũ chiến là niềm hy vọng ơn cứu độ".

Sống đức tin, đức cậy, đức mến, trong khi chờ đợi Chúa đến, không có nghĩa là chúng ta bỏ quên sự dấn thân của mình. Mỗi người chúng ta cần phải luôn tỉnh thức với thái độ tích cực, đồng thời nỗ lực góp phần xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.

---------------------------------

 

Suy niệm 4: Người quản lý trung tín


(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Bài Tin Mừng hôm nay gồm có hai phần: Phần thứ nhất là lệnh truyền của Chúa là hãy sống tỉnh thức; và phần thứ hai là câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu muốn nói về người quản lý trung tín, để chỉ cho chúng ta phải biết sống tỉnh thức như thế nào.

Sống tỉnh thức, chờ mong Chúa đến không có nghĩa là án binh bất động, không làm gì cả, chỉ ngồi yên mà chờ. Ðây là một thái độ tỉnh thức thụ động không được Chúa Giêsu khuyến khích qua dụ ngôn người quản lý trung tín. Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta một thái độ tỉnh thức tích cực, luôn sinh động, thực hiện công việc Chúa muốn chúng ta thực hiện với hết khả năng của mình. Chúng ta biết rằng tất cả những gì Chúa ban cho ta là bảo chứng cho sự tốt lành và tình thương của Ngài, đồng thời cũng là lời nhắc nhở chúng ta nhớ đến Chúa và gắn bó với Ngài. Ðó cũng là phương tiện để chúng ta tự hoàn thiện bản thân và đạt được cùng đích cuối cùng là Nước Trời. Hơn nữa, những gì Chúa ban cho chúng ta không chỉ nhằm sinh ích cho chúng ta, mà chúng ta còn phải chia sẻ cho anh chị em chung quanh. Những gì Chúa ban cho chúng ta đều do lòng quảng đại của Ngài. Ngài ban cho chúng ta một cách nhưng không, và đến lượt chúng ta, chúng ta có bổn phận phải sẵn lòng chia sẻ những điều tốt lành ấy cho anh chị em chung quanh một cách quảng đại.

Vai trò của chúng ta như Chúa muốn thì chúng ta là những người quản lý trung tín và tốt lành, là những người quản lý ân sủng thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa trong thời gian chúng ta chờ đợi Chúa tỏ bày vinh quang của Ngài cho chúng ta. Khi chúng ta chia sẻ cho anh chị em, chúng ta phải luôn ý thức rằng chúng ta phải có bổn phận và trách nhiệm trong vai trò của một người quản lý và phân phát, rồi hãy để cho Chúa được tỏ lộ. Tất cả những gì chúng ta làm phải được định hướng và làm cho danh Chúa được rạng rỡ vinh quang.

Xác định mọi sự là của Chúa, còn mình chỉ là người quản lý và phải làm người quản lý trung tín và khôn ngoan thì sẽ bảo quản những gì Chúa trao cũng như coi sóc gia nhân và cấp phát lương thực cho họ đúng giờ, đúng lúc. Hơn nữa, khi ý thức mình là người quản lý thì cũng sẽ cho đi một cách khiêm nhường và vị tha như Chúa đòi hỏi, chúng ta sẽ không thể có thái độ kẻ cả hay coi thường người khác.

Khi tiếp xúc với những người mà họ chưa biết Chúa, chưa biết Tin Mừng Chúa, chưa nhận ra ân sủng và tình thương của Chúa, chúng ta không được hành xử như người quản lý xấu xa trong dụ ngôn trên là đánh đập các đồng bạn và chè chén với những bọn say sưa. Mỗi chúng ta hãy luyện cho mình có được thái độ sống, sống cho tròn bổn phận Chúa đã trao cho chúng ta như một người quản lý tốt lành và khôn ngoan, luôn thức tỉnh, sẵn sàng bảo quản ân huệ Chúa ban để không hao hụt mà còn biết sinh lợi và chia sẻ với anh chị em. Thái độ đó sẽ giúp chúng ta sống trọn vẹn hơn, dám đi ra khỏi chính mình, luôn hăng say và nhiệt thành đến với anh chị em ở mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh, để gặp gỡ, chia sẻ tình thương, ân sủng và tất cả những gì Chúa ban cho chúng ta. Nhờ đó chúng ta và mọi anh chị em sẽ được lãnh phần thưởng muôn đời mà Chúa đã hứa cho những ai trung thành.

Lạy Chúa,

Mọi sự con có là của Chúa, xin ban cho chúng con luôn sống đúng vai trò người quản lý trung tín của Chúa, để qua chúng con, mọi người sẽ nhận ra lòng quảng đại và yêu thương cũng như sự tốt lành của Ngài.

 ---------------------------------

 

Suy niệm 5: Khi nào chủ về?


Đức Giêsu nói: “Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.” (Mt. 24, 43-44)

Người ta đặt tên cho những dụ ngôn này là tỉnh thức: hôm nay bàn về người quản lý, mai là mười cô trinh nữ, thứ bảy đến những nén bạc. Người ta nói toàn bộ chương này là tối tăm nhất của sách Tin Mừng, nhưng may thay chương này không phải là chương quan trọng nhất.

Phải, khi nào?

Trước hết câu dụ ngôn nói: “Anh không biết bao giờ chủ về”. Vì thế, cần phải thỉnh thức, phải canh gác luôn luôn. Đức Giêsu nói thêm: “Con Người sẽ đến vào giờ người ta không ngờ”. Vậy phải canh thức thật đặc biệt, nếu người ta không muốn bỏ lỡ giờ này. Sự canh gác này không chỉ có nghĩa đến ngày tận thế, còn hiểu là giờ chết mỗi người chúng ta. Không ai biết ngày giờ nào mình chết, không ai có thể tính toán, thấy trước lúc nào mình chết, chuẩn bị chết cũng là chuẩn bị ngày giáng lâm của Chúa.

Nếu ta không ngừng chuẩn bị đón Chúa đến, ta sống với thái độ Công giáo chân thành để đón rước Chúa.

Người đầy tớ trung tín

Những câu dụ ngôn này rõ ràng liên quan trước nhất đến những người có trách nhiệm với cộng đoàn Giáo Hội. Phải truyền lại cho tín hữu những của cải bởi trời mà họ có bổn phận phải phân phát. Sự trung tín này và để xứng đáng với sự tin cậy chứng tỏ họ sẵn sàng luôn luôn với chủ nước trời đang trông đợi họ. Sự tỉnh thức của họ chứng tỏ lòng trung tín hăng say phục vụ Ngài. Sự phục vụ này, quả thật không để cho họ có thể lo nghĩ đến thân phận mình; Hằng ngày, họ được hướng dẫn tới mức chỉ chuyên cần thi hành trách nhiệm họ đã nhận.

Ngược lại, thật kinh khủng cho kẻ phí phạm thời giờ, thật kinh khủng cho kẻ bỏ bê nhiệm vụ đã được trao phó, thật kinh khủng cho kẻ sống bê bối, buông thả và lạm dụng những người đồng nghiệp. Nó bị đồng hóa với những kẻ giả hình và sẽ bị trừng phạt dành sẵn cho nó. Một đời sống đào sâu cái hố giữa lời nói và việc làm, giữa dáng vẻ bên ngoài với thực thể con người đều bị xét xử.

JM

---------------------------------

 

Suy niệm 6: Tỉnh thức và sẵn sàng


Trong xã hội hôm nay, tình trạng trộm cắp diễn ra nhan nhản. Kẻ trộm lấy cắp ban ngày, ban đêm, buổi sáng, buổi tối. Chúng lấy của người ngoài, người giàu, người nghèo và đôi khi nó lấy luôn của người thân.

Như vậy, tình trạng trộm cắp diễn ra thường xuyên, nhanh nhạy và nhiều thủ đoạn, nên khó mà lường trước được!

Hôm nay, Đức Giêsu ví giờ Chúa gọi mỗi người chúng ta chẳng khác gì kẻ trộm. Thiên Chúa không giống như kẻ trộm, nhưng Ngài đến gõ cửa và mời gọi chúng ta ra khỏi thế giới này rất bất ngờ, nhanh nhạy và sắc bén như kẻ trộm. Vì thế, phải tỉnh thức.

Tỉnh thức là người luôn sống trong ân sủng của Chúa. Luôn sẵn sàng đón chờ Chúa đến bất cứ lúc nào...;

Tỉnh thức là luôn biết hồi tâm để nhận ra cái sai cần sửa, để ngày càng đẹp lòng Chúa hơn;

Tỉnh thức là luôn biết lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành trong đời sống;

Tỉnh thức là người luôn cầm đèn sáng trên tay với đầy đủ dầu, để khi Chúa đến, họ sẵn sàng ra đi đón Ngài.

Ngược lại với người tỉnh thức là những kẻ ngủ mê.

Vì ngủ mê nên nghĩ đời mình vẫn còn dài, chưa vội dừng cuộc chơi, phí đời trai trẻ;

Ngủ mê là những người không nhận ra tội của mình mà sửa sai;

Ngủ mê là những người luôn kết án kẻ khác, trong khi bản thân mình lại dung túng cho những sự xấu xa lên ngôi.

Và khi giờ đã đến, “Ông Chủ” hiện diện, người tỉnh thức thì hân hoan ra đón, còn kẻ lơ là thì nghĩ chủ chưa về, nên: “Đánh đập các bạn đầy tớ, lại còn chè chén với lũ say sưa”. Tuy nhiên, bất chợt, chủ trở về vào đúng: “... ngày nó không ngờ, vào giờ nó không biết”. Nên ông chủ sẽ cho nó “...chung số phận với những kẻ giả hình: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng".

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết tỉnh thức với những nhân đức và sẵn sàng đón chờ Chúa đến với chúng con trong niềm tin và hy vọng. Amen.

Ngọc Biển SSP

---------------------------------

 

Suy niệm 7: Sẵn sàng canh thức chờ đón Chúa


(TGM Giuse Nguyễn Năng)

Sứ điệp: Chúa đến với con người vào lúc hết sức bất ngờ, vì thế, chúng ta cần phải chuẩn bị sẵn sàng luôn và canh thức chờ đón Ngài.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, con xin dâng Chúa tâm tình cảm tạ, vì Chúa đã thương báo trước cho con biết rằng: Chúa sẽ đến bất ngờ. Cuộc đời của con sẽ có ngày kết thúc. Ngày ấy là lúc Chúa đến đón con về trời. Chúa muốn con phải chuẩn bị cho biến cố quan trọng ấy từ bây giờ và suốt cả cuộc đời con.

Lạy Chúa, xin giúp con biết canh thức để đón Chúa đang đến với con mỗi ngày. Chúa đến với con qua Lời Chúa và qua Thánh Thể. Chúa đến với con trong công việc bổn phận. Chúa đến với con khi con đọc kinh cầu nguyện và cả khi vui chơi giải trí. Chúa đến với con khi con cảm thấy hân hoan và cả những khi đau buồn. Và Chúa cũng đến với con nơi những người mà con gặp gỡ tiếp xúc, cho dù người đó không có thiện cảm với con. Xin Chúa mở mắt tâm hồn để con dễ dàng nhận ra dấu chỉ Chúa đang hiện diện nơi cuộc đời con. Xin Chúa giúp con luôn biết sẵn sàng chờ đón Chúa với những việc làm cụ thể: gặp gỡ Chúa một cách riêng tư và thân mật trong những giờ cầu nguyện, hoặc làm những công việc thường ngày một cách chu đáo như đang thực hiện cho chính Chúa, hoặc tìm đến những phương tiện giải trí lành mạnh giúp cho tâm hồn vươn cao hơn, và nhất là luôn sống bác ái với tha nhân.

Lạy Chúa, mỗi ngày sống là mỗi lần con bắt đầu lại cuộc đời. Con ước mong đời sống của con mỗi ngày sẽ qua đi trong bình an, để con tiếp tục hành trình dấn thân phục vụ, như một món quà sẵn sàng kính dâng Chúa mỗi ngày. Amen.

Ghi nhớ: “Các con hãy sẵn sàng”.

 ---------------------------------

 

Suy niệm 8: Ngày nào cũng là ngày trông đợi và sẵn sàng


(Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)

Câu chuyện

Thánh Tôma More có người bạn sang trọng nhưng đạo đức lơ là. Ngài khuyên ông ta ăn năn trở về với Chúa nhưng ông cứ nói: “Khi sắp chết, tôi sẽ nói: “Lạy Chúa, xin tha cho con và tôi sẽ được tha thứ”.

Ngày kia, khi hai người đang cưỡi hai con ngựa đi ngang qua cầu Luân Đôn, thánh Tôma More thấy con ngựa của ông bạn hất ông ta vào thành cầu, làm cho đầu ông bị dập, lúc đó, thánh Tôma More nghe ông bạn thốt ra lời: “Đồ quỷ!”, và chết tươi ngay.

Cái chết thường xảy đến rất thình lình. Ta không kịp sửa soạn gì đâu. Và nếu ai đã được sửa soạn, thì đó là một ơn Chúa ban rất quý!

Suy niệm

Ngày của Thiên Chúa đến xét xử rất bất ngờ. Cho nên để được cứu cần phải sống trong tinh thần chờ đợi và chuẩn bị sẵn sàng như Ngài dạy: “Vậy anh em hãy tỉnh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến” (Mt 24:42). Ngày Thiên Chúa trở lại bất ngờ như kẻ trộm “viếng thăm”, vì thế hãy tỉnh thức như Chúa Giêsu nhấn mạnh: “Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ thì Con Người sẽ đến” (Mt 24:44).

Tỉnh thức là dấn thân như Chúa Giêsu gợi ý để chu toàn bổn phận như người quản gia được giao trách nhiệm phân phát lương thực cho các gia nhân (x. Mt 24:45-51; Lc 12,42-46). Nếu chủ về mà gặp thấy anh vẫn thức tỉnh đang siêng năng làm công việc được giao thì được chủ cất nhắc. Ngược lại anh mê ngủ, hay anh lạm dụng quyền hành và chè chén say sưa (x. Mt 24:49), anh bỏ bê trách nhiệm sẽ bị luận phạt.

Ngày Thiên Chúa đến để phán xét những việc làm của con người trên trần gian như thánh Phaolô khẳng định “đêm sắp tàn, ngày gần đến” (Rm 13,12). Tỉnh thức để được “Đấng sẽ đến” bảo vệ và dẫn dắt trên đường chờ đợi như thánh Grégoire le Grand nói về một ngôi vị đồng hành và thức tỉnh với những người thức tỉnh: “Đấng ấy thức để trông nom ai đang mang con mắt luôn hướng về sự đến của ánh sáng thật; Đấng ấy thức tỉnh người trong những công trình của đời mình luôn được gợi hứng với đức tin; Đấng ấy thức tỉnh và để ý cho người không ngừng xa lánh những bóng đêm của u mê, và của sự hờ hững (Homélie XIII sur les péricopes évangélique, 3). Thức tỉnh như lời kêu gọi tỉnh thức của Phaolô: “Hãy từ bỏ công việc của đêm tối và mặc lấy mã giáp của sự sáng” (Rm 13,12).

Thánh Grégoire le Grand đã gợi ý cho chúng ta thức tỉnh, bằng mọi công trình lớn nhỏ trong đời được xây dựng trên nền tảng đức tin. Vì thế tôi luôn sống trách nhiệm với tất cả tôi có, những gì tôi là, tôi làm trong hôm nay và cả ngày mai: Ngày nào cũng là ngày trông đợi của tôi, ngày nào cũng là ngày sẵn sàng, để dù Chúa đến bất ngờ như kẻ trộm, tâm hồn tôi thức tỉnh.

Ý lực sống

“Người tín hữu hiện tại không biết và sẽ không biết ngày giờ phán xét chung, cho nên người Kitô hữu phải trung thành mỗi ngày; họ luôn kính sợ bởi vì luôn hy vọng” (Văn sĩ Tertullianô).

---------------------------------

 

Suy niệm 9: Hãy tỉnh thức và sẵn sàng


(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

Bài Tin mừng hôm nay đề cập đến việc Chúa sẽ đến bất thình lình, mời gọi mọi người biết sống tỉnh thức và sẵn sàng, để khi cái chết ập đến, chúng ta sẵn sàng nghênh đón Chúa để đi vào đời sống vĩnh cửu. Trong khi chờ đợi, Chúa muốn mỗi người sống trung tín và trách nhiệm đối với tha nhân. Thiên Chúa được ví như ông chủ đi dự tiệc cưới sẽ trở về bất cứ lúc nào, vì thế các đầy tớ không được lơ là việc bổn phận, luôn tỉnh thức sẵn sàng đợi chờ để mở cửa cho ông chủ.

Dụ ngôn kẻ trộm

Cũng như chủ nhà không biết khi nào kẻ trộm đến “viếng” nhà mình, nên phải luôn canh chừng sẵn sàng để khỏi mất mát, thì việc Chúa đến với mỗi người trong giờ chết cũng bất ngờ như vậy, nên phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng, nghĩa là phải luôn sống trong ơn nghĩa Chúa, để khi Chúa đến bất cứ lúc nào cách nào cũng không sợ gì.

Dụ ngôn ông chủ đi ăn cưới về

Ông chủ đi ăn cưới về bất ngờ. Nếu ông trở về bất cứ lúc nào mà gặp thấy đầy tớ đang hăng say tận tâm làm việc, đang tín trung với phận vụ được trao, thì sẽ được uỷ thác cho những trách nhiệm lớn lao hơn, nghĩa là được hưởng hạnh phúc đời đời với Chúa. Ngược lại, nếu ông gặp thấy đầy tớ bê trễ công việc, nhậu nhẹt say sưa, thì sẽ loại bỏ, nghĩa là bị loại ra khỏi hạnh phúc đời đời.

Những tai hoạ xảy ra liên tiếp gần đây khiến người ta phải bàng hoàng bởi sự tàn khốc và bất ngờ. Trận lũ lụt và sạt lở đất vào ngày 8/7/2020 tại miền tây Nhật Bản làm hơn 200 người chết, hay sự cố vỡ đập thuỷ điện Attapeu ở Lào vào ngày 23/7/2018, với hơn 5 tỷ mét khối nước nhấn chìm hạ lưu Sanamsay làm hàng trăm người chết và mất tích, hàng ngàn người lâm cảnh màn trời chiếu đất.

Những biến cố này khiến chúng ta liên tưởng đến câu chuyện nạn lụt đại hồng thuỷ trong Kinh thánh. Đó là lời nhắc nhở về ngày Chúa đến lúc bất ngờ, và mỗi người phải luôn biết tỉnh thức và sẵn sàng, để chờ đón như người đầy tớ thức tỉnh làm việc và đợi chủ về. Tỉnh thức là luôn sống trong ân sủng, tránh xa những đam mê tội lỗi, luôn tìm kiếm và thực thi ý Chúa trên cuộc đời mình (5 phút Lời Chúa).

Với một số người Việt Nam, ngày chết là ngày trở về với tổ tiên, ông bà. Với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, ngày chết là ngày con người trở về cát bụi.

Truyền thống Giáo hội dạy, ngày chết là ngày Chúa đến viếng thăm ta. Vì thế, chúng ta hãy tỉnh thức, chờ đợi để nghênh đón Người. Sự chờ đợi của chúng ta không phải là sự chờ đợi trong buồn sầu và lo lắng, nhưng trong tư thế sẵn sàng; nói đúng hơn, đó là sự chờ đợi trong hy vọng và niềm vui, trong tâm tình yêu mến, tinh thần phục vụ hăng say.

Đây cũng chính là tâm tình và thái độ tỉnh thức chờ đợi mà Đức Giêsu nói đến trong dụ ngôn về người quản lý trung tín và khôn ngoan, luôn “cấp phát lương thực cho gia nhân đúng giờ đúng lúc”. Như vậy, tỉnh thức chờ đợi Chúa là chu toàn bổn phận, là biết mở mắt tâm hồn để nhận ra sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống thường ngày.

Vai trò của chúng ta như Chúa muốn thì chúng ta là những người quản lý trung tín và tốt lành, là những người quản lý ân sủng thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa trong thời gian chúng ta chờ đợi Chúa tỏ bày sự vinh quang của Ngài cho chúng ta. Khi chúng ta chia sẻ cho anh chị em, chúng ta phải luôn ý thức rằng: chúng ta phải có bổn phận và trách nhiệm trong vai trò của một người quản lý và phân phát, rồi hãy để cho Chúa được tỏ lộ. Tất cả những gì chúng ta làm phải được định hướng và làm cho danh Chúa được rạng rỡ vinh quang (R.Veritas).

Là Kitô hữu, chúng ta phải luôn nghĩ tới cuộc sống vắn vỏi của mình ở trần gian. Thật vậy, cuộc đời con người đem so sánh với thời gian thì thật là tạm bợ và mong manh. Người ta đã từng ví von: đời người như hơi nước dễ tan, như cánh chim lưng trời mất hút, như bông hoa sớm nở chiều tàn...Cuộc đời không những phù du mà còn kèm theo tính cách bất ngờ nữa: không ai biết được khi nào mình chết. Ngày giờ chết là bất ngờ như kinh nghiệm vẫn chứng minh và Kinh thánh đã nói tới từ khi có con người.

Truyện: Đừng ảo tưởng mình còn sống lâu

Có một câu chuyện ngụ ngôn về ba con quỷ học việc, chúng đến trần gian để tập sự. Chúng trình bày với Satan là tướng quỷ về những kế hoạch cám dỗ loài người.

Tên quỷ thứ nhất nói: “Tôi sẽ bảo với loài người là không có Thiên Chúa”. Satan nói: “Mày sẽ thất bại, vì càng ngày người ta càng tin có Thiên Chúa”.

Tên quỷ thứ hai nói: “Tôi sẽ bảo với họ là không có địa ngục”. Satan bảo: “Mày sẽ không lừa dối ai được bằng cách đó, vì loài người vẫn biết có một địa ngục dành cho tội nhân”.

Tên quỷ thứ ba nói: “Tôi sẽ bảo với loài người đừng có vội vã làm gì, còn nhiều thời giờ, cứ vui chơi cho thoải mái đi”. Satan nói: “Hay, hay lắm, mày sẽ làm hại được vô số người bằng cách đó”.

Đúng vậy, ảo tưởng nguy hiểm nhất là ảo tưởng mình còn nhiều thời giờ.

---------------------------------

 

Suy niệm 10: Thời cánh chung


(Lm Carôlô Hồ Bạc Xái)

* Đặt trong sơ đồ chung của Mt:

Hai chương 24-25 (Từ hôm nay đến Thứ Bảy) là bài giảng về thời cánh chung. Ý chính của bài giảng này là ngày tận thế và việc Đức Kitô quang lâm. Ý tưởng đi liền với ý tưởng trên là những biến cố vô cùng hệ trọng này buộc người ta phải chọn lựa dứt khoát hoặc đón nhận hoặc từ chối Đức Kitô. Nhưng không phải chờ tới lúc đó mới chọn, mà phải chọn ngay từ bây giờ. Do đó những biến cố ấy và sự chọn lựa ấy có ảnh hưởng tới cách sống hằng ngày trong hiện tại.

A. Hạt giống...

Hai dụ ngôn về tên trộm và người quản gia:

- Dụ ngôn tên trộm: vì không ai biết giờ nào trộm sẽ đến, do đó lúc nào cũng phải đề cao cảnh giác.

- Dụ ngôn quản gia: người quản gia trung tín làm việc theo tinh thần trách nhiệm, lúc nào cũng chu toàn những việc được giao, chứ không phải lúc có mặt chủ thì làm tốt còn khi vắng mặt chủ thì bê tha.

B.... nẩy mầm.

1. Áp dụng bài học của dụ ngôn tên trộm: ta biết luôn đề cao cảnh giác để bảo vệ tài sản vật chất, sao không làm như thế đối với tài sản thiêng liêng vốn quý giá hơn nhiều.

2. Ta cũng có thể áp dụng bài học của dụ ngôn người quản gia trong hai bình diện:

- Đối với bề trên: cách tôi làm bổn phận khi có mặt và khi không có mặt bề trên có khác nhau không?

- Đối với Chúa: phải chăng khi gặp nguy hiểm, khi đau yếu, khi đụng chuyện khó khăn… tôi mới cư xử đàng hoàng với Chúa?

3. Trách nhiệm: “Con người là tạo vật duy nhất gánh lấy trách nhiệm đối với chính bản thân, đối với tha nhân, đối với thiên nhiên và trước mặt Thiên Chúa” (Chờ đợi Chúa)

4. Một ngôi trường bị nổ. Cả trăm học sinh và giáo viên thiệt mạng. Nhiều gia đình chết 2 hay 3 em. Chính quyền địa phương bí mật sai người đến điều tra nguyên nhân vụ nổ. Trong một cuộc dò hỏi, vợ một công nhân xây dựng ngôi trường đó nói: trước khi thảm kịch xảy ra, chồng bà đã biết là việc xây đường ống dẫn khí đốt ở đó có vấn đề.

- Cái gì? Chồng bà biết rõ việc đặt đường ống dẫn khí có vấn đề?

- Đúng vậy.

- Thế chồng bà có báo cho ai biết việc đó không?

- Không.

- Vậy chồng bà phải chịu trách nhiệm về sự cố đó, chồng bà cũng là một tội phạm. (Góp nhặt)

5. Một người dân thuộc một bộ lạc miền núi được đưa đi thăm một đô thị. Ngay đêm đầu tiên ông đã giật mình thức giấc vì tiếng trống vang cùng khắp đô thị. Người ta cho anh biết đó là tiếng trống báo động về một cuộc hoả hoạn vừa xảy ra tại một khu phố. Chẳng bao lâu cuộc hoả hoạn được dập tắt. Trở về làng, ông đã báo cáo với các chức sắc trong làng như sau: người thành thị có một hệ thống chữa cháy rất kỳ diệu: khi có hoả hoạn, người ta chỉ cần đánh trống là ngọn lửa được dập tắt ngay tức khắc. Nghe thế, các chức sắc liền sai người đi mua đủ loại trống phát cho dân làng. Không bao lâu sau đó, hoả hoạn xảy đến trong làng, mọi người đều đem trống ra khua inh ỏi vì tin chắc tiếng trống sẽ xua đuổi được thần lửa. Thế nhưng ngọn lửa vô tình cứ thiêu rụi từ căn nhà này đến căn nhà khác trước cái nhìn ngỡ ngàng thất vọng của mọi người.

Tình cờ ghé thăm bộ lạc và được nghe kể lại, một người dân thành thị giải thích: Các người tưởng tiếng trống có thể dập tắt ngọn lửa ư? Không phải thế. Người ta đánh trống để đánh thức dân chúng và kêu gọi họ tích cực tham gia chữa cháy chứ không phải ngồi đó mà chờ ngọn lửa tắt đâu.

Trong Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu nói đến sự tỉnh thức. Nhưng tỉnh thức không có nghĩa là ngồi đó khoanh tay mà chờ đợi. ("Mỗi ngày một tin vui")

 ---------------------------------

 

Suy niệm 11: Quyền bính thiết yếu là để phục vụ


(Lm. Giuse Đinh Tất Quý)

Những lời Chúa nói hôm nay là một bài học quí giá cho những ai đang nắm quyền bính trong tay, cũng như cho mọi Kitô-hữu vốn là những người được tham dự vào chức vị vương giả của Chúa Giêsu. Dụ ngôn về kẻ trộm và người đầy tớ được liên kết với nhau, để nói lên ý nghĩa của quyền bính: quyền bính thiết yếu là để phục vụ.

Quyền bính là để phục vụ, vì mọi quyền bính đều bởi Chúa mà ra. Con người dù nắm địa vị nào trong xã hội cũng chỉ là người quản lý mà thôi. Từ sự sống, tài năng, của cải và tất cả những gì con người đắc thủ và làm ra, đều thuộc về Chúa. Hình ảnh kẻ trộm đến bất tử để lấy đi tất cả nói lên chân lý ấy. Cái chết là một khẳng định rõ ràng nhất về tư cách quản lý của con người. Không gì ngu xuẩn cho bằng tưởng mình có thể chiếm hữu suốt đời, và mang theo mình những tài sản chóng qua ở đời này.

Lời Chúa hôm nay một lần nữa mời gọi chúng ta điều chỉnh lại định hướng cơ bản trong cuộc sống chúng ta. Đâu là suy nghĩ, thái độ của chúng ta đối với của cải, quyền bính và danh vọng? Đâu là niềm vui đích thực trong cuộc sống mỗi ngày.

Vua Henry thứ 4 của nước Pháp âm thầm đi dạo trong viện bảo tàng Louvre. Nhà vua bắt chuyện với một thanh niên, trông bộ điệu của anh ta giống như một người giúp việc cho một vương công quyền thế nào đó. Nhà vua hỏi:

- Anh đang giúp việc cho ai thế?

Không biết người hỏi mình là vua, nên người thanh niên đã ngẩng mặt kiêu hãnh đáp:

- Tôi sinh ra không thể phục vụ cho bất cứ người nào, nhưng cho chính bản thân tôi.

Nhà vua tiếp lời:

- Nếu vậy, chắc chắn anh đang phục vụ một người ngu xuẩn.

Bất bình, người thanh niên toan kiếm chuyện gây sự, nhưng anh đã nhận ra người đối diện mình chính là vua Henry. Kinh ngạc, sửng sờ khiến anh đứng trơ như bức tượng. Không để người thanh niên phản ứng, nhà vua vỗ vai anh vừa quay gót vừa nói:

- Nếu anh đảo ngược câu nói đó lại sẽ tốt hơn: “Tôi sinh ra không để phục vụ cho chính bản thân tôi, nhưng để cho bất cứ người nào”.

Nguyện xin Chúa cho chúng ta cảm mến được niềm vui và hạnh phúc đích thực qua cuộc sống phục vụ, yêu thương và hy sinh mỗi ngày.

 ---------------------------------

 

Suy niệm 12: Các con hãy sẵn sàng


(Lm. Micae Võ Thành Nhân)

Khi những người có chức, có quyền, có danh vọng, có địa vị gọi điện thoại hẹn giờ để đến thăm chúng ta, chắc chắn chúng ta rất vui mừng và chuẩn bị chu đáo vô cùng để chúng ta đón tiếp họ. Điều này giống như cha ông chúng ta thường nói cách ví von “Rồng đến nhà tôm”. Chúng ta chuẩn bị đàng hoàng để tiếp đón họ là do họ có quyền cao chức trọng, đồng thời nó còn thể hiện sự hiếu khách, tử tế, tôn trọng khách của chúng ta.

Chúa là một vị thượng khách quá đặc biệt và cao quý của của chúng ta. Chúa là Đấng sang trọng vô cùng, Chúa sẽ đến thăm chúng ta. Và riêng bản thân chúng ta, chúng ta  hằng theo đuổi, hằng ước mơ chúng ta sẽ được gặp Chúa sau này. Đây là một vinh dự thật lớn lao cho chúng ta. Thế nhưng, có một điều lạ lùng là Chúa không báo trước chính xác ngày giờ Chúa đến thăm chúng ta. Do vậy mà Chúa luôn dặn dò, nhắc nhở chúng ta là hãy sẵn sàng, hãy tỉnh thức: “Các con hãy tỉnh thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến” (Mt 24, 42).

Khi Chúa nói chúng ta hãy tỉnh thức, là vì Chúa không muốn chúng ta sống vô tư, sống dửng dưng, hoặc là sống quá nuông chiều đam mê xác thịt, chơi bời, sa đoại, chè chén với lũ say sưa, đánh đập tớ trai tớ gái (Mt 24, 49), mà phải sống trong tinh thần sẵn sàng chờ đợi. Một trong những việc mà chúng ta làm để chờ Chúa đến là chúng ta hãy làm việc thiện, bác ái, chia sẻ cơm áo gạo tiền cho anh chị em của chúng ta trong cuộc sống này: “Vậy các con nghĩ ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan mà chủ đặt lên coi sóc gia nhân, để cứ giờ mà phân phát lương thực cho họ? Phúc cho đầy tớ ấy khi chủ nó đến thấy nó đang làm như vậy. Thầy bảo thật các con, chủ sẽ đặt người ấy lên coi sóc tất cả gia sản ông” (Mt 24, 45 – 47). Thế nhưng để làm được đều chờ đợi Chúa đến này, tất nhiên tự sức chúng ta không thể làm được nếu không có ơn Chúa đỡ nâng, giúp sức. Do vậy mà chúng ta phải yêu mến Chúa trước, lo giữ đạo Chúa trước, lo tìm kiếm nước Chúa trước rồi mọi sự khác Chúa sẽ ban thêm cho chúng ta (Mt 6, 33). Hạnh phúc nhất trong cuộc đời chúng ta không gì có thể đánh đổi, không gì có thể thay thế được là chúng ta làm theo lời Chúa dạy hôm nay, là tỉnh thức sẵn sàng chờ đợi Chúa đến thăm và chúng ta gặp được Chúa, Đấng mà chúng ta hằng thiết tha ước ao, thiết tha đợi trông, thiết tha mong chờ.

Còn ngược lại, nếu chúng ta biết lúc chúng ta không ngờ thì Chúa đến, nhưng chờ Chúa có vẻ hơi lâu cho nên chúng ta chân chùng gối mỏi, lơ là, buông thả, sống không ra gì với Chúa và với anh chị em của chúng ta, khi Chúa đến, chúng ta sẽ bị Chúa khiển trách nặng lời và còn bỏ rơi chúng ta: “Chủ đầy tớ trở về, vào ngày nó không ngờ, vào giờ nó không biết, ông sẽ xé xác nó ra và cho nó chung số phận với những kẻ giả hình, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiền răng” (Mt 24, 50 – 51).

Lạy Chúa, hằng ngày chúng con chúc tụng, ngợi khen, tôn vinh, thờ phượng Chúa bằng cả con người chúng con. Đây là hình thức chúng con tỉnh thức, sẵn sàng chờ đợi Chúa đến. Bên cạnh đó chúng con còn sống yêu thương anh chị em chúng con khi chúng con biết chia sẻ, biết cho đi, biết giúp anh chị em chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con và ban cho chúng con được gặp Chúa khi Chúa đến thăm viếng chúng con trong giờ sau cùng của mỗi người chúng con. Amen.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 13: Các con hãy sẵn sàng


(Lm. Micae Võ Thành Nhân)

Hôm nay Chúa dạy chúng ta: “Các con hãy tỉnh thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến” (Mt 24, 42). Chúa đến bất ngờ như kẻ trộm, vào ngày chúng ta không ngờ, vào giờ chúng ta không biết, vậy bổn phận của chúng ta:

- Nếu chúng ta là những đầy tớ trung tín và khôn ngoan, chúng ta phải canh phòng, phải ở trong tư thế sẵn sàng, làm các việc mà chủ nhà giao cho như phân phát lương thực. Điều ấy có nghĩa là chúng ta phải làm chủ bản thân chúng ta như làm chủ các giác quan, tư tưởng, ước muốn, bắt nó phải làm theo ý Chúa. Đồng thời chúng ta tập bước theo Chúa từng giây phút của cuộc sống. Phải bận rộn suốt ngày trong việc thực hiện các việc lành phúc đức, làm các công việc phục vụ giúp đỡ anh chị em chúng ta và thường xuyên tham dự các lễ nghi phụng tự của Hội Thánh: “Khi ấy, Đức Giêsu nói với các đệ rằng: Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu” (Mt 24, 42 – 43).

- Nếu chúng ta là những đầy tớ xấu, nghĩ trong lòng rằng: “Nhưng nếu tên đầy tớ xấu xa ấy nghĩ bụng: Chủ ta còn lâu mới về, thế rồi hắn bắt đầu đánh đập các đồng bạn, và chè chén với những bọn say sưa, chủ của tên đầy tớ ấy sẽ đến vào ngày hắn không chờ, vào giờ hắn không biết, và ông sẽ loại hắn ra, bắt chung số phận với những tên đạo đức giả: ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 24, 48 - 51). Nghĩa là chúng ta sống ỷ lại, sống buông thả theo những đam mê xác thịt như rượu chè, bài bạc, hút  xách, trai gái, chơi bời … Chúng ta sẽ trở tay không kịp khi Chúa đến.

Tùy theo cách sống của mỗi người mà dẫn đến kết quả số phận khác nhau:

- Nếu chúng ta là những đầy tớ trung tín và khôn ngoan thì Chúa bảo chúng ta là là người có phúc. Cái phúc là Chúa sẽ thưởng công chúng ta là gia nghiệp nước thiên đàng (Ông chủ sẽ đặt người ấy lên coi sóc tất cả gia sản của ông).

- Nếu chúng ta là những đầy tớ xấu, Chúa sẽ trừng phạt chúng ta, nơi để trừng phạt chúng ta là hỏa ngục (Ông chủ sẽ xé xác nó ra và cho nó chung số phận với những kẻ giả hình: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng).

Lạy Chúa, chúng con ao ước mình luôn là người đầy tớ trung tín và khôn ngoan của Chúa, nhưng cuộc sống chúng con quá nhiều tội lỗi, chúng con  bất trung dại khờ, xin Chúa thương xót chúng con, xin Chúa cho chúng con luôn biết tựa nương vào Chúa mọi nơi, mọi lúc, xin cho chúng con trong khi làm việc để sinh sống, biết luôn tỉnh thức sẵn sàng chờ Chúa đến. Amen

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 14: Canh thức và sẵn sàng


(Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)

Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Thánh Autinh hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin Chúa khơi dậy trong lòng Hội Thánh ơn Thánh Thần Chúa đã ban cho Thánh Giám Mục Autinh, để nhờ Thánh Thần nung nấu, chúng ta chỉ khát khao một mình Chúa là nguồn mạch sự khôn ngoan đích thực, và chỉ tìm kiếm một mình Chúa là Thiên Chúa Tình Thương. Thánh nhân sinh năm 354 tại Tagát, châu Phi. Người đã trải qua giai đoạn thanh xuân đầy náo động cả về đạo lý lẫn cách sống cho tới khi được thánh Amrôxiô thanh tẩy cho năm 387. Người trở về quê hương và sống một cuộc đời khắc khổ. Rồi người được chọn làm giám mục giáo phận Híppôn. Trong suốt ba mươi bốn năm làm giám mục, người đã tận tụy chăm sóc đoàn chiên, nhưng đáng kể nhất là tư tưởng và chứng tá đời sống của người đã lan tỏa. Người đã sống một cuộc đời hoàn toàn lo tìm kiếm Thiên Chúa và phục vụ Hội Thánh. Đối với người, Hội Thánh là cộng đoàn tín hữu Híppôn và đồng thời cũng là Thân Thể Chúa Kitô trải rộng khắp thế giới. Người qua đời năm 430.

Chỉ khát khao và chỉ tìm kiếm một mình Chúa, luôn biết sám hối, quay trở về với Chúa, không cứng lòng, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Giêrêmia: Trở về đi, hỡi lũ con phản bội! Trở về với Ta đi! Đó là lời mời gọi duy nhất Thiên Chúa gửi đến dân bất trung của Người, đó cũng là điều kiện duy nhất để được cứu độ. Biết mình lầm đường thì phải có can đảm quay gót. Đó là ý nghĩa lời mời gọi của Chúa Giêsu: Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng… Lạy Đức Chúa, nếu tội ác chúng con đã phạm lại tố cáo chúng con, thì vì Thánh Danh, xin ra tay hành động. Đã bao lần chúng con làm phản, biết bao phen đắc tội với Ngài? Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?

Chỉ khát khao và chỉ tìm kiếm một mình Chúa, thưởng thức lương thực là chính Chúa, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích sách Tự thuật của thánh Autinh: Ôi, Chúa là chân lý vĩnh cửu, là tình yêu chân thật và là sự vĩnh cửu dấu yêu… Ôi chân lý, ánh sáng của lòng con, tối tăm của con chẳng nói gì với con nữa; con đã lầm lạc và rồi tưởng nhớ Chúa. Này con đang nóng lòng, đang háo hức, đang tìm về mạch suối của Chúa. Con đâu phải là nguồn sống cho mình, tự mình con đã ăn ở xấu xa, nay con được hồi sinh trong Chúa.

Chỉ khát khao và chỉ tìm kiếm một mình Chúa, bền tâm vững chí, trở nên thánh thiện, không có chi đáng trách, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Phaolô Tông Đồ gửi tín hữu Thêxalônica: Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 89 cho thấy: Lạy Chúa, xin cho đoàn con được no say tình Chúa, để ngày ngày được hớn hở vui ca. Chúa bắt phàm nhân trở về cát bụi, Ngài phán bảo: Hỡi người trần thế, trở về cát bụi đi! Ngàn năm Chúa kể là gì, tựa hôm qua đã qua đi mất rồi, khác nào một trống canh thôi.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Anh em hãy canh thức và hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Anh em hãy sẵn sàng. Canh thức sẵn sàng là lúc nào cũng khao khát và tìm kiếm một mình Chúa mà thôi, như thánh Autinh: Chúa là vẻ đẹp vừa rất xưa vừa mới mãi. Chúa từng ở với con mà con chẳng ở với Chúa. Chúa tỏa hương thơm, con hít lấy và con khao khát Chúa. Con đã nếm thử và bây giờ con đói, con khát Chúa. Chúa đã chạm đến con và con nóng lòng tìm bình an của Chúa. Ước gì Chúa khơi dậy trong lòng  Hội Thánh ơn Thánh Thần Chúa đã ban cho thánh Autinh, để nhờ Thánh Thần nung nấu, chúng ta chỉ khát khao một mình Chúa là nguồn mạch sự khôn ngoan đích thực, và chỉ tìm kiếm một mình Chúa là Thiên Chúa Tình Thương. Ước gì được như thế!

---------------------------------

 

Thứ 6 TN –Tuần 21/2025 - 29/08 Thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết

Cái chết của một tiên tri.
29/08 – Thứ Sáu tuần 21 thường niên – Thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết. Lễ nhớ.
"Con muốn đức vua ban ngay cho con cái đầu của Gioan Tẩy Giả đặt trên đĩa".

* Thánh Gioan Tẩy Giả đã bị chém đầu ở Makêron, gần Biển Chết, do lệnh của vua Hêrôđê Antipa. Cái chết của người, vị Tiền Hô của Chúa Kitô, cho thấy rõ người có tâm hồn quả cảm như thế nào và người đã đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa trọn vẹn ra sao.

Khi chết cũng như khi còn rao giảng, người đều làm chứng cho chân lý. Người quả là “ngọn đèn cháy sáng” như lời Đức Giêsu đã nói.

---------------------------------

 

Lời Chúa: Mc 6, 17-29


Khi ấy, Hêrôđê đã sai đi bắt Gioan và giam ông trong ngục: nguyên do tại Hêrôđia, vợ của Philipphê anh vua mà vua đã cưới lấy. Vì Gioan bảo Hêrôđê: "Nhà vua không được phép chiếm lấy vợ anh mình". Phần Hêrôđia, nàng toan mưu và muốn giết ông, nhưng không thể làm gì được, vì Hêrôđê kính nể Gioan, biết ông là người chính trực và thánh thiện, và giữ ông lại. Nghe ông nói, vua rất phân vân, nhưng lại vui lòng nghe.
Dịp thuận tiện xảy đến vào ngày sinh nhật Hêrôđê, khi vua thết tiệc các quan đại thần trong triều, các sĩ quan và những người vị vọng xứ Galilêa. Khi con gái nàng Hêrôđia tiến vào nhảy múa, làm đẹp lòng Hêrôđê và các quan khách, thì vua liền nói với thiếu nữ ấy rằng: "Con muốn gì, cứ xin, trẫm sẽ cho", và vua thề rằng: "Con xin bất cứ điều gì, dù là nửa nước, trẫm cũng cho".
Cô ra hỏi mẹ: "Con nên xin gì?" Mẹ cô đáp: "Xin đầu Gio-an Tẩy Giả". Cô liền vội vàng trở vào xin vua: "Con muốn đức vua ban ngay cho con cái đầu Gioan Tẩy Giả đặt trên đĩa". Vua buồn lắm, nhưng vì lời thề và vì có các quan khách, nên không muốn làm cho thiếu nữ đó buồn. Và lập tức, vua sai một thị vệ đi lấy đầu Gioan và đặt trên đĩa. Viên thị vệ liền đi vào ngục chặt đầu Gioan, và đặt trên đĩa trao cho thiếu nữ, và thiếu nữ đem cho mẹ.
Nghe tin ấy, các môn đệ Gioan đến lấy xác ông và mai táng trong mồ.

---------------------------------

 

Suy Niệm 1.Đầu Gioan Tẩy giả


--Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.

Suy niệm:

Ngày sinh nhật của một người lại dẫn đến cái chết của một người khác.
Nếu sự kiện xảy ra đúng như truyền thống mà Máccô nhận được và ghi lại
thì thật là khủng khiếp.
Ai có thể tưởng tượng nổi chuyện trong bữa tiệc sinh nhật của Hêrôđê,
một cô bé dám bưng mâm, trên có cái đầu vừa bị chặt của một người,
máu còn chảy ròng ròng, mắt đang nhắm hay mở?
Cô bưng và vui vẻ trao cho mẹ cô.
Mẹ cô sẽ bưng và trao cho ai cái đầu của Gioan, người mà bà căm ghét?
Bài Tin Mừng hôm nay cũng cho ta một số kinh nghiệm của Hêrôđê.
Trước hết là kinh nghiệm bị giằng co giữa cái tốt và cái xấu.
Hêrôđê Antipas đã bắt ông Gioan tẩy giả và xiềng ông trong ngục.
Lý do vì Gioan đã cản trở cuộc hôn nhân sai trái của ông với Hêrôđia.
Dầu vậy Hêrôđê vẫn biết Gioan là người công chính thánh thiện,
vẫn sợ ông và che chở ông khỏi sự trả thù của Hêrôđia (cc. 19-20).
Hêrôđê còn lương tâm khi ông thích nghe Gioan nói, dù rất bối rối khi nghe.
Kế đến là kinh nghiệm về sự thiếu chín chắn của Hêrôđê khi thề hứa.
Cái gì đã xui khiến ông nói câu dại dột này với cô bé Salômê:
“Con xin gì ta cũng cho, dù một nửa nước của ta cũng được” (c. 23)?
Bầu khí cuồng nhiệt của bữa tiệc sinh nhật, hay điệu vũ đẹp mê hồn,
hay rượu đã ngà ngà say, hay muốn chứng tỏ mình đầy quyền lực?
Hay sự cộng hưởng của mọi yếu tố trên?
Có những lời nói vội vã mà sau đó ta phải hối tiếc và trả giá.
Cuối cùng là kinh nghiệm về sự mất tự do trước khi quyết định.
Khi cô bé xin cái đầu của Gioan, Hêrôđê hẳn đã sửng sốt ngỡ ngàng.
Ông buồn hết sức vì mình đã lỡ thề hứa như vậy (c. 26).
Ông có thể rút lại lời đã nói không? Dĩ nhiên là có.
Nhưng nỗi sợ đã khiến ông không dám làm.
Sợ từ chối cô bé, làm cho cô buồn và mẹ cô nổi giận,
sợ bị mang tiếng là nuốt lời trước mặt bá quan văn võ.
Nói chung ông sợ mất danh dự của mình, mất thiện cảm của người khác.
Bởi vậy, dù Hêrôđê thấy việc giết Gioan là điều sai trái,
ông vẫn không dám xin rút lại lời thề thiếu suy xét của mình.
Cần can đảm để giữ lời hứa, nhưng có khi cần can đảm hơn để không giữ.
Danh dự hão của Hêrôđê được mua bằng máu của một vị ngôn sứ lớn.
Hêrôđê đã can dự vào cái chết của Gioan.
Ông chịu áp lực từ khách dự tiệc và mẹ con Hêrôđia.
Philatô đã can dự vào cái chết của Đức Giêsu.
Ông này chịu áp lực từ dân chúng và các thượng tế.
Cả hai ông đều không có tự do, không có can đảm để tha cho người vô tội.
Cả hai ông đều nghĩ đến mình, cái ghế của mình, danh dự của mình.
Quyền lực được sử dụng như bạo lực, khiến người lành phải chết oan.
Chúng ta xin cho mình luôn có tự do, để mọi quyết định phù hợp với ý Chúa.
 
Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,
sám hối không phải là điều dễ dàng,
bởi lẽ chúng con không đủ khiêm tốn
để nhận mình lầm lỗi.
Chúng con ngỡ ngàng
khi thấy Chúa là Đấng vô tội
mà lại đứng chung với các tội nhân,
chờ Gioan ban phép Rửa.
Chúa đã muốn nên bạn đồng hành
với phận người mỏng dòn yếu đuối chúng con.
Xin cho chúng con biết thường xuyên điều chỉnh
lối nghĩ và lối sống của mình,
tỉnh táo để khỏi rơi vào ảo tưởng,
thành thật để khỏi tự dối mình.
Ước gì Chúa ban cho chúng con ơn hoán cải,
dám đi đến những hành động cụ thể,
và chấp nhận những cắt tỉa đớn đau.
Nhưng xin đừng quên ban cho chúng con
niềm vui của Giakêu,
hạnh phúc vì được tự do và được yêu mến.
 
---------------------------------

 

Suy Niệm 2. Can đảm làm chứng cho sự thật


--TGM Giuse Nguyễn Năng

Sứ điệp: Để sống ơn gọi ngôn sứ như Thánh Gioan Tẩy Giả, người Kitô hữu phải can đảm làm chứng cho sự thật, ngăn chặn sự xấu, và dám chấp nhận đau khổ vì Tin Mừng.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, thật là chua xót nhưng cũng thật hào hùng khi đầu của thánh Gioan nằm trong tay một vũ nữ. Quyền lực của sự dữ tỏ ra mạnh mẽ, thắng thế, áp đảo. Còn quyền lực của sự thiện có vẻ mong manh, yếu đuối, bị bóp dẹp trong lòng bàn tay.

Cái chết của Thánh Gioan cho con hiểu rằng đam mê tội lỗi làm cho lòng người ra mù quáng, lôi kéo từ tội này đến tội khác, từ sai lầm này đến sai lầm khác. Người này phạm tội kéo theo người khác phạm tội. Người phạm tội ngày càng đông, sự xấu ngày càng lan rộng. Trong khi đó, ít người dám sống công chính, ít người dám nói sự thật, ít người dám ngăn chặn sự ác, và lôi kéo người khác làm điều thiện. Chính con cũng chẳng sống được như vậy.

Lạy Chúa, Chúa đã đến làm chứng cho chân lý và dùng quyền năng của Tin Mừng để giải thoát thế gian khỏi tội lỗi. Chúa muốn chúng con nối tiếp sứ mạng của Chúa. Xin giúp chúng con dám sống theo Tin Mừng. Xin Chúa đừng để chúng con vì những đam mê, vì những mối lợi hay vì sợ bị thua thiệt cười chê mà rời xa lối sống Phúc Âm. Xin giúp chúng con can đảm ngăn chặn sự xấu đang diễn ra xung quanh. Chúa giao cho chúng con chịu trách nhiệm về người khác. Chúng con sẽ lỗi nặng khi thấy sai mà không lên tiếng, khi thấy đúng mà không làm, khi thấy tốt mà không kéo người khác theo. Xin Chúa tha thứ những thiếu sót, và xin Chúa giúp chúng con chu toàn sứ mạng làm chứng cho Tin Mừng. Amen.

Ghi nhớ: “Con muốn đức vua ban ngay cho con cái đầu của Gioan Tẩy Giả đặt trên đĩa”.

---------------------------------

 

Suy Niệm 3. Bị bách hại vì sự công chính


--Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ

Câu chuyện

Hoàng hậu Ideven của vua Akhap rước thần ngoại bang vào vương quốc Israel và bảo trợ cho các tư tế, phù thủy của tà thần, đuổi bắt các ngôn sứ của Thiên Chúa.

Ngôn sứ Êlia một mình chống lại các tư tế của thần dân ngoại. Sự chính trực của ông đã bị vua và hoàng hậu truy bắt đuổi giết, khiến thân phận ngôn sứ của Thiên Chúa thật gian nan, khốn khổ và luôn sống trong sự trốn tránh (1V 17 - 18).

Suy niệm

Gioan, cái tên được Thiên Chúa đặt là dấu chỉ thuộc về Thiên Chúa, sự công minh chính trực của Gioan đã được ngôn sứ Isaia nói trước:

“Chúa đã gọi tôi, từ khi tôi còn trong bụng mẹ, lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tôi. Người đã làm cho miệng lưỡi tôi như gươm sắc bén, dấu tôi dưới bàn tay Người... biến tôi thành mũi tên nhọn, cất tôi trong ống tên của Người” (Is 49,1-2).

Sứ mạng ngôn sứ và ơn thánh đã nuôi dưỡng Gioan: “Cậu bé càng lớn lên, thì tinh thần càng vững mạnh” (Lc 1,80). Vì thế, người quân tử này không sợ trước bất kỳ quyền lực nào, chỉ luôn biết sống trung tín và loan báo những gì mà Thiên Chúa muốn ông nói và làm.

Gioan bộc trực, thẳng thắn phê phán những quyền lực tôn giáo sống không đúng với chức danh (x. Mt 3,7), ông phê phán, đương đầu trực diện cả vương quyền khi họ thực hiện những điều bất nghĩa: Ông đã ngăn cản vua Hêrôđê đã cướp vợ của anh trai vua, chính vì thế mà ông bị tống ngục và Hêrôđia, người tình của vua đã tìm cách ám hại ông (x. Mc 6,17-29).

Cái chết của ông là minh chứng cho sự trung thực thẳng thắn, là triều thiên tử đạo đổ máu đào cản ngăn những điều bất nghĩa bất nhân.

Ý lực sống:

“Phúc cho những ai bị bách hại vì sự công chính; vì nước Trời là của họ” (Mt 5,10).

---------------------------------

 

Suy Niệm 4. Cái chết của Thánh Gioan Tẩy giả


--Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái

 A. Phân tích (Hạt giống...)

Bài tường thuật của Mác-cô về cái chết của Thánh Gioan Tẩy giả rất rõ ràng và dễ hiểu. Ta cần ghi nhớ 2 điều:

- Gioan đã chết vì can đảm nói sự thật, theo đúng chức năng ngôn sứ của mình.

- Cái chết của Gioan có nhiều nét tiên báo cái chết của Chúa Giêsu, vị ngôn sứ tiêu biểu: chết do can đảm sống sứ mạng của mình, chết do ác tâm của con người, chết trong sự thương tiếc của các môn đệ.

B. Suy niệm (... nẩy mầm)

1. Ta hãy nhìn vua Hêrôđê: một con người vẫn còn lương tâm (“vua nễ sợ Gioan vì biết ông là người công chính thánh thiện; vua che chở ông. Khi nghe Gioan nói, nhà vua rất phân vân nhưng lại cứ thích nghe”), nhưng không can đảm làm theo tiếng của lương tâm. Xin cho con vẫn “thích nghe” tiếng lương tâm, cho dù phải “phân vân”, và nhất là phải can đảm làm theo sự hướng dẫn của lương tâm.

2. Ta nhìn tiếp đến bà Hêrôđia: một người đàn bà hoàn toàn để cho dục tình lôi cuốn. Vì dục tình, bà đã loạn luân; khi Gioan vạch tội bà, bà không ngại tìm dịp giết Gioan để không ai còn ngăn cản được cộc sống loạn luân của mình nữa.

Lời một Thánh vịnh: “Kìa vực thẳm kêu mời vực thẳm”. Nếu không nghe tiếng lương tâm mà chỉ để cho đam mê xấu lôi kéo thì người ta sẽ phạm hết tội này đến tội khác.

3. Người da đỏ giải thích lương tâm như sau: Đó là một khối 3 góc ở trong tim ta. Khi ta làm gì tốt thì nó nằm yên. Khi ta làm gì xấu, nó quay và đâm các góc nhọn vào ta. Nếu ta cứ làm điều xấu, các góc nhọn của nó mòn dần và không làm ta cảm thấy gì nữa cả. (Weapons and Workers).

4. Ta hãy nhìn nàng Salômê: một người có tài mà không có đức. Cô đã dùng tài múa nhảy của mình để đòi phần thưởng là cái đầu của một vị ngôn sứ.

Xin cho con ý thức những tài năng của con là những nén bạc Chúa giao để cho con xử dụng mà làm việc tốt phụng sự Chúa và phục vụ anh chị em con.

5. ”Vua Hêrôđê sai người đi bắt ông Gioan và xiềng ông trong ngục. Lý do là vì vua đã lấy bà Hêrôđia, vợ của người anh là Philipphê, mà ông Gioan lại bảo: “Ngài không được phép lấy vợ của anh Ngài” (Mc 6,17-18)

Gioan đã chết chỉ vì nói lời sự thật. Một kết thúc bi tráng dành cho con người được gọi là cao trọng.

Trong khi xã hội dạy cho con biết phải ”khéo léo” chẳng nên làm chuyện thừa, Chúa lại dạy cho con một tấm gương mà nhìn vào con trở nên e ngại. Con đang bước đi trong lòng một thế giới mà người ta bảo với con: “thật thà thường thua thiệt”. Có lúc ngay bên con, sự thật bị che lấp. Tận đáy lòng, con nghe tiếng Chúa mời gọi. Nhưng lạy Chúa:

- Ông ấy là “sếp” của con mà!

- Chị ấy là ân nhân của con.

- Trách nhiệm của con với gia đình.

- Áp lực xã hội…

Con đấy, luôn tìm một sự bình an tạm bợ. Xin cho con chút can đảm, và khi con bước đi trong sự thật là lúc con nhận được sự bình an của Chúa. (Hosanna).

---------------------------------

 

Suy Niệm 5. Thánh Gioan Tẩy giả bị trảm quyết


--Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

Trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Marcô thuật lại cho chúng ta cuộc tử nạn của thánh Gioan Tẩy giả. Khi ấy, danh tiếng Chúa Giêsu lẫy lừng vì những lời giảng và hành động thật uy quyền đã đến tai Hêrôđê khiến ông ta sống bất an, lương tâm cắn rứt và nghĩ rằng chính Gioan Tẩy giả tiếp tục sống trong Đức Giêsu. Những ray rứt của kẻ giết người lại nổi lên trong con người ông và lên án chính ông. Đây chính là tâm trạng của những kẻ gây ra những điều gian ác. Tâm hồn họ đã đánh mất sự hiện diện của Thiên Chúa. Tiếng lương tâm cắn rứt chính là dấu chỉ Thiên Chúa vẫn luôn mời gọi họ hối cải.

Gioan Tẩy giả không phải là ánh sáng, nhưng chỉ đến làm chứng cho ánh sáng. Dù biết rằng mình sẽ phải chấp nhận cái bi đát nhất của cuộc đời, Gioan vẫn nói lên tiếng nói bất khuất của vị tiên tri. Mọi tiên tri đều phải trả giá cho lời minh chứng của mình. Gioan Tẩy giả đã sống anh dũng, can trường với lời nói của mình. Cái đầu phải trả giá là giá nặng nề và đáng nguyền rủa nhất của vị tiên tri sau cái chết đóng đinh nơi thập giá đối với ngưới Do thái lúc đó. Gioan Tẩy giả đã tự xoá mình để cho Đấng Cứu độ lớn lên trong lịch sử nhân loại. Lời chứng và cái chết của Ngài, đã nói lên sự thật muôn đời là Gioan đã hoàn toàn đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa: Ngài không sợ hãi, lớn tiếng trước mặt các vua chúa. Ngài đã hiến mạng sống cho công bình và chân lý.

Còn vua Hêrôđê, ông là hình ảnh của những con người yếu đuối, hướng chiều theo tội lỗi. Sở dĩ ông tống ngục ông Gioan Tẩy giả là cũng vì nghe lời Hêrôđiađê xúi giục, chứ riêng ông thì ông nể sợ Gioan Tẩy giả, vì biết Gioan là người công chính thánh thiện. Marcô viết: “Ông che chở Người. Khi nghe ông nói, nhà vua rất phân vân nhưng lại thích nghe”. Hêrôđê chính là mẫu người yếu đuối, buông theo sự dễ dãi đến khi muốn trở lại thì đã quá trễ, không thể làm lại được nữa.

Hêrôđê để cho mình bị thú vui nhục dục che khuất, loạn luân, rơi vào cái bẫy “mỹ nhân kế” của mẹ con bà Hêrôđiađê bầy ra, rồi lỡ miệng thề thốt trong cơn say, cuối cùng để bảo vệ danh dự, ông đã phạm vào tội ác giết người vô tội. Cũng vậy, xã hội ngày hôm nay, và cách riêng mỗi người chúng ta, giữa những cám dỗ thế tục, những thú vui nơi các cuộc ăn chơi – tụ điểm múa nhảy, rồi kéo theo những hệ luỵ sau đó không còn kiểm soát được. Rồi một khi, ai đó dám cảnh tỉnh chúng ta, thì thay vì quay đầu sửa lỗi, lại tìm cách ám hại người nhắc nhở mình, thậm chí sẵn sàng ám hại người khác để bịt đầu mối và bảo vệ danh dự của mình.

Còn bà Hêrôđiađê từng là vợ của tiểu vương Hêrôđê Philipphê (cũng là một trong ba người con của Hêrôđê Cả), do bị thánh Gioan Tẩy giả can ngăn, làm ảnh hưởng đến chuyện tư tình của mình với Hêrôđê Antipas, nuôi lòng thù hận và đã bầy ra trò mỹ nhân kế của cô con gái, rồi dùng bàn tay tình nhân để hãm hại người công chính. Bà là mẫu gương sống theo sự dữ. Đã pạm tội loạn luân, lấy em chồng của mình thì chớ, lại còn căm thù ông Gioan và muốn giết ông...

Giữa xã hội hôm nay cũng thế, nhiều người không ngại dùng nhiều thủ đoạn thậm chí còn tàn độc hơn cả Hêrôđiađê để trả thù những ai dám cản trở những cuộc tình mờ ám hay những việc làm sai trái của mình.

Gioan Tẩy giả đã lên tiếng tố cáo bất công và sẵn sàng chết cho công lý. Trong ý nghĩa ấy, ngài là vị tiền hô của Chúa Giêsu, ngài qua đi nhưng tinh thần ngài vẫn còn sống mãi trong các môn đệ của ngài, và một cách nào đó, ngài cũng sống trong chính con người Chúa Giêsu và nơi mỗi người Kitô hữu. Từ 2000 năm qua, Giáo hội vẫn sống trong niềm xác tín đó. Chính tinh thần Gioan Tẩy giả, của các Tông đồ, của các thánh Tử đạo, đã sống mãi trong Giáo hội và trở thành dây liên kết mọi Kitô hữu. Điều này luôn được Giáo hội thể hiện qua cử chỉ hôn kính hài cốt của các thánh được đặt trên bàn thờ.

Tập san Giáo hội Á châu do hội Thừa sai Paris xuất bản tháng 12/1995, có ghi lại chứng từ của một vị Giám mục: “Chúng tôi đã cất giữ hài cốt của vị Giám mục tiên khởi của Giáo hội chúng tôi. Chúng tôi tin rằng hài cốt này là thánh thiêng đối với chúng tôi, là dấu chỉ mà chúng tôi không bao giờ được phép quên lãng. Hài cốt này là sợi dây liên kết Giáo hội mọi thời, mọi nơi. Chúng tôi đã luôn nghĩ rằng chúng tôi không thể cất khỏi sợi dây liên kết hữu hình ấy. Đây là một dấu chỉ nối kết chúng tôi trực tiếp với Chúa Kitô. Làm sao người ta có thể đánh mất Chúa Kitô? Chúng tôi cất giữ hài cốt này, chúng tôi vẫn tiếp tục yêu mến Chúa Kitô và kết hợp với Người mãi mãi” (Mỗi ngày một tin vui).

Truyện: Một học sinh can đảm

Suy niệm gương Gioan Tẩy giả: tôi có can đảm và sống Lời Chúa bất chấp mọi khó khăn, mất mát không?

Một học sinh Nhật là Kitô hữu duy nhất trong một ngôi trường có 150 học sinh. Trước mỗi bữa ăn, em thường mạnh dạn làm dấu thánh giá và đọc kinh. Các học sinh đến tố cáo với thầy giáo là em có “hành vi ma thuật”. Nghe thấy thế, thầy cho gọi em lên đứng giữa lớp, hỏi xem em đã làm gì. Em thẳng thắn nói rằng em chỉ cám ơn Chúa đã ban lương thực hằng ngày. Nghe vậy, thầy giáo gục xuống bàn, nước mắt ràn rụa nói: “Này con, ta cũng là Kitô hữu, nhưng ta không can đảm tỏ ra cho mọi người biết. Giờ thì cảm ơn Chúa, ta đã biết là Kitô hữu, mình phải làm gì” (Góp mặt).

---------------------------------

 

Suy Niệm 6. Nói lên sự thật


--Lm. Giuse Đinh Tất Quý

1. Gương thánh nhân

Để dọn đường cho Chúa Giêsu đến cứu chuộc loài người, Thiên Chúa đã cho bà Ysave son sẻ được sinh con. Người con đó là Gioan Tẩy giả. Lớn lên, ngài vào sống khổ hạnh trong sa mạc: Mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn. (Mt. 3,4).

Năm 29 tuổi, thánh nhân đến sông Giođăng, rao giảng kêu gọi mọi người ăn năn sám hối và lãnh phép rửa sám hối của Ngài, để dọn lòng xứng đáng đón rước Chúa Cứu thế. Nhiều người đã đến lãnh nhận phép rửa thống hối, và xin ngài chỉ dạy cách thế để hoán cải đời sống. Chính Chúa Giêsu khi bắt đầu đi rao giảng Nước Trời, cũng đến nhờ Ngài làm phép rửa, để được Chúa Thánh Thần tấn phong làm Đấng Cứu Thế, và Chúa Cha công khai nhìn nhận là Con Yêu Dấu.

Thời điểm Gioan Tẩy Giả làm phép rửa sám hối bên bờ sông Giorđan trùng hợp với lúc Hêrôđê Antipa làm quận vương cai trị xứ Galilê. Cuộc sống của ông có nhiều lầm lỗi nhưng lầm lỗi lớn nhất mà ai cũng biết đó là ông ngang nhiên lấy vợ của anh làm vợ của mình. Người đàn bà xấu nết đó là bà Hêrôđia. Thấy vậy, Gioan Tẩy Giả đã lên tiếng công khai cảnh cáo và ngăn cản. Việc đó đã đến tai Hêrôđia làm cho bà hết sức tức giận. Bà đã yêu cầu Hêrôđê bắt giam Gioan Tẩy Giả. Gioan Tẩy Giả đã bị bắt giam nhưng bà ta vẫn chưa vừa lòng. Biết Gioan Tẩy Giả là một con người không thể mua chuộc cho nên bà luôn tìm dịp để giết ngài. Và đây là dịp. Chúng ta hãy nghe thánh sử Mátcô thuật lại việc làm nầy của Hêrôđia:

Một ngày thuận lợi đến: nhân dịp mừng sinh nhật của mình, vua Hêrođê mở tiệc thết đãi bá quan văn võ và các thân hào miền Galilê. Con gái bà Hêrôđia vào biểu diễn một điệu vũ làm cho nhà vua và khách dự tiệc vui thích. Nhà vua nói với cô gái:

- Con muốn gì thì cứ xin, ta sẽ ban cho con.

Vua lại còn thề:

- Con xin gì, ta cũng cho, dù một nửa nước, cũng được.

Cô gái đi ra hỏi mẹ

- Con nên xin gì đây?

Mẹ cô nói:

- Đầu Gioan Tẩy giả.

Lập tức cô vội trở vào, đến bên nhà vua và xin rằng:

- Con muôn ngài ban ngay cho con cái đầu ông Gioan Tẩy giả, đặt trên mâm.

Nhà vua buồn lắm, nhưng vì lời thề, và khách dư tiệc, nên chẳng muốn thất hứa với cô. Lập tức vua sai thị vệ đi và truyền mang đầu ông Gioan tới. Thị vệ ra đi, chặt đầu ông ở trong ngục, bưng đầu ông trên một cái mâm, trao cho cô gái, và cô gái trao cho mẹ". (Mc. 6,21-28).

Thánh Hiêrônimô còn cho chúng ta biết thêm một chi tiết thú vị này: Sau khi nhận được đầu của Gioan Tẩy Giả, Hêrođia đã lấy dao cạy miệng ra và đâm một nhát thấu qua cái lưỡi đã dám nói lên những lời xúc phạm đến bà.

Thánh Linh mục Bêđa khả kính đã giải thích ý nghĩa cái chết của ngài như sau:

“Đấng thánh loan báo Chúa sinh ra, rao giảng và chịu chết, đã tỏ cho chúng ta thấy một sức mạnh xứng đáng được Chúa nhìn. Như lời Kinh Thánh chép: “Theo nhãn giới người phàm, thì người đã gặp nhiều đau khổ, nhưng hy vọng của người đã tràn đầy bất tử.”

2. Bài học

Gioan đã chết vì can đảm nói lên sự thật. Đây là tấm gương sáng ngời cho những ai tin theo Chúa.

Ngày 27/04/1945, quân Đức Quốc Xã thất trận, phải rút quân ở Italia về biên giới nước Áo. Trên đường rút quân, họ đã bắn phá nhiều làng mạc để trả thù quân kháng chiến Italia đã cố tình tìm cách cản trở đường rút rui của họ. Trong tình cảnh này, Linh mục Decande, một Cha sở nhân lành vì muốn cứu dân làng Fiatsa gần thành phố Vêrôna khỏi bị quân Đức tàn sát, đã đích thân đến gặp viên quan chỉ huy đoàn quân Đức để van nài ông đừng bắt giết và tàn sát dân làng vô tội. Bị quẫn trí vì sự thất trận.Viên sỹ quan giận dữ ra lệnh bắt giam Cha Sở. Ông quát lên với Ngài:

- Mày phải bị xử bắn và chết thay cho những tên kháng chiến phá hoại mà chúng tao không bắt được. Mày phải đền tội thay cho những kẻ khác!

Nói rồi, viên sỹ quan ra lệnh cho toán quân hành quyết sẵn sàng. Vị Linh mục bị trói, đứng bất động chờ loạt đạn của tiểu đội hành quyết. Bỗng nhiên từ hàng quân đang chĩa súng vào ngài đợi lệnh để nổ súng, một quân nhân bước ra khỏi hàng, tiến đến trước mặt ngài và nghiêm chỉnh chào. Rồi anh quay lại nói với vị chỉ huy của mình:

- Tôi là tín hữu Công Giáo, không bao giờ tôi lại bắn vào vị Linh mục của Chúa.

Viên sỹ quan tái mặt. Ông ra lệnh trói luôn người lính can đảm kia bên cạnh vị Linh mục. Một vài phút sau đó, một loạt đạn nổ vang, hai thây người ngã gục, toán lính kéo hai xác người vùi xuống một hố bom gần đó. Dân làng Fiatsa không biết người lính Đức Công Giáo đó tên là gì, họ chỉ tìm thấy trên thi hài anh một xâu chuỗi mân côi.

Nghĩa cử của người lính Đức trên đây thật là can đảm! Anh đã nhận định được ngay điều phải làm khi đứng trước một hoàn cảnh khó khăn: Một đàng là bất tuân thượng lệnh, từ chối bắn vào người vô tội; một đàng là tuân lệnh thượng cấp để tham gia vào việc sát nhân. Anh đã biết chọn lựa đúng nguyên tắc: cương quyết tránh xa mọi tội ác dù có phải hy sinh cả tính mạng mình!

Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho thánh Gioan Tẩy giả báo trước mầu nhiệm Con Chúa sinh ra và chịu chết.

Xưa thánh nhân đã anh dũng hy sinh vì chân lý và chính đạo thế nào, thì nay xin Chúa cũng cho chúng con biết xả thân làm chứng cho Tin Mừng như vậy. Amen.

------------------------------

 

Suy Niệm 7. Chết vì chân lý


--Lm Giuse Đinh Quang Thịnh

Sứ mệnh của ông Gioan Tẩy Giả là dọn lòng nhân loại đón nhận Đức Giêsu bị giết, vì đó là cách Ngài biểu lộ tình yêu tuyệt hảo của Thiên Chúa muốn cứu loài người thoát tay tử thần. Để nhận chân giá trị đầu của ông Gioan bị cắt, ta phải đặt cuộc Tử Đạo của ông trong cơ cấu Tin Mừng Marco từ chương 3-6:

- Trước khi ông Gioan bị chém đầu, ông Marco cho chúng ta biết: Đức Giêsu bắt đầu đi vào cuộc Tử Nạn của Ngài: Giới lãnh đạo Do Thái quyết tâm giết Đức Giêsu (x Mc 3,6) ; những người thân cận trong dòng tộc của Đức Giêsu không muốn để cho Ngài làm việc, họ lôi Ngài đi và bảo với mọi người “ông này khùng điên” (Mc 3,21) ; còn dân chúng thì khinh dể Ngài (x Mc 6,4).

- Sau khi ông Gioan bị cắt đầu, tác giả Marco ghi nhận: Đức Giêsu báo trước việc Ngài lập Bí tích Thánh Thể qua dấu lạ Ngài biến bánh cá ra nhiều nuôi đám đông, ai cũng được ăn no thỏa và còn dư 12 thúng đầy (x Mc 6,30t). Từ cơ cấu Tin Mừng này, ta rút ra những bài giáo lý:

1/ Muốn giới thiệu Giao Ước Mới của Chúa Giêsu hầu nhân loại được Ngài cứu độ, thì ta phải chấp nhận gian khổ đến mất mạng vì sống chân lý. Bởi lẽ “thà chết vì chân lý còn hơn sống không chân lý”.

Chính Đức Giêsu lập Giao Ước, cũng là Di Chúc (x Dt 9,16) ban ơn cứu độ loài người, Ngài đóng ấn bằng Máu của Ngài, như Ngài nói: “Này là Giao Ước Mới trong Máu Ta, đổ ra vì nhiều người để nên ơn tha tội” (Mt 26,28).

2/ Đầu ông Gioan Tẩy Giả bị cắt và đặt trên mâm đưa vào bàn tiệc! Sự cố lịch sử này ai nhìn mà chẳng phải rùng mình, nhất là những khách đang dự tiệc, họ thấy có người bê mâm vào, thì ai cũng tưởng là tiếp món ăn, ngờ đâu lại là cái đầu của ông Gioan Tẩy Giả! Nhưng qua lăng kính Đức Tin, thì lại là dấu chỉ minh chứng giá trị: Ai chết vì chân lý thì trở nên lương thực nuôi đồng loại ! Chính vì thế mà thượng tế Caipha quyết định giết Đức Giêsu, ông nói: “Các ông không hiểu gì cả,  các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt.”  Điều đó, ông không tự mình nói ra, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giê-su sắp phải chết thay cho dân,  và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối.” (Ga 11,49b-52).

3/ Ông Gioan Tẩy Giả chết vì không muốn vua Hêrôđê đi vào con đường tội ác: cướp vợ anh mình! Đó là cách ông Gioan Tẩy Giả hoàn tất sứ mệnh dẫn đường chỉ lối cho nhân loại đến với Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất (x Cv 4,12). Cả ba tác giả Tin Mừng Nhất Lãm đều đặt cái chết nghiệt ngã của ông Gioan trước trình thuật Đức Giêsu hóa bánh nuôi dân là dấu chỉ Đức Giêsu lập Bí tích Thánh Thể. Ngài chết vì rao giảng Chân Lý đã lãnh nhận từ nơi Chúa Cha (x Ga 12,50), mà bị đóng đinh trên thập giá, và được giương cao hơn ông Gioan Tẩy Giả cũng vì Chân Lý mà bị nhỏ lại cụt mất đầu (x Ga 3,30)! Như vậy, ông Gioan Tẩy Giả đã cộng tác với Đức Giêsu trong việc thiết lập Bí tích Thánh Thể. Chân lý này đã tiên báo các môn đệ Đức Giêsu cũng phải chết vì làm chứng cho sự thật để “bù vào những gì còn thiếu nơi các nỗi quẫn bách Đức Giêsu phải chịu vì Thân Mình Ngài là Hội Thánh” (Cl 1,24). Có như thế, các môn đệ mới thực sự làm đúng ý Thầy đã dạy: “Chúng con hãy cho dân ăn” khi Ngài thấy dân chúng đói lả suýt chết vì thiếu bánh (x Mt 14,16 ; Mc 6,37 ; Lc 9,13).

Vậy ai muốn tiếp tay với Chúa Giêsu, với ông Gioan Tẩy Giả, và với các Tông Đồ để làm chứng cho sự thật, thì phải thực hành Lời Chúa dạy:

- Sống Đạo cách tích cực: “Còn ngươi, ngươi hãy thắt lưng. Hãy chỗi dậy! Hãy nói với chúng tất cả những gì Ta sẽ truyền cho ngươi. Trước mặt chúng, ngươi đừng run sợ.  Chính Ta làm cho ngươi nên thành trì kiên cố, nên cột sắt tường đồng chống lại cả xứ. Chúng sẽ giao chiến với ngươi, nhưng sẽ không làm gì được, vì có Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi.” (Gr 1,17-19). Có can đảm sống Đạo như thế, mới được Chúa chúc lành: “Phúc thay ai bị bách hại vì sự công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,10: Tung Hô Tin Mừng).

- Sống Đạo cách tiêu cực:

·Nếu có uống rượu thì vừa đủ để bảo đảm sức khỏe (x 1Tm 5,23). Rượu đem lại cho con người sức sống, nếu biết uống có chừng mực (x Hc 31,37).

·Đừng say sưa rượu chè chỉ tổ hư thân, nhưng hãy làm sao cho được no đầy Thần Khí (x Ep 5,18: Bản dịch NTT). No đầy Thần Khí chính là no đầy Lời Chúa (x Ga 6,63), để “miệng con tường thuật ơn cứu độ Ngài ban” (Tv 71/70,15: Đáp ca)

Thực vậy, vua Hêrôđê vì quá chén đến say xỉn, mất tự chủ nên đã ra lệnh chặt đầu ông Gioan Tẩy Giả! Vua Hêrôđê cũng như mọi kẻ say rượu đáng bị Lời Kinh Thánh nguyền rủa: “Dành cho ai những “Thôi rồi?”, dành cho ai  những “Hỡi ôi?” Dành cho ai những trận gây gổ? Dành cho ai lời than vãn? Dành cho ai những vết thương chẳng lý do? Dành cho ai những con mắt lờ đờ? Thưa dành cho những kẻ nán lại bên rượu, những kẻ đuổi theo rượu pha. Đừng để mắt ngó rượu: nó đỏ làm sao! Nó óng  ánh thế nào trong chén! Nó chảy thẳng thế nào! Nhưng cuối cùng nó cắn như con rắn, nó chích như rắn lục. Mắt con sẽ thấy những cái lạ lùng, và miệng con sẽ nói bậy nói bạ. Người ta đập tôi, tôi chẳng thấy đau! Người ta đấm tôi, tôi chẳng cảm thấy gì! Khi nào tôi tỉnh dậy?... Tôi sẽ lại xin nữa” (Cn 23,29-35). Đúng là “ma men khiến đứa ngu nổi khùng chuốc họa vào thân” (Hc 31,30).

·Đừng ai nghe đàn bà hư thân mất nết, vua Hêrôđê rất kính nể ông Gioan Tẩy Giả, biết ông là người công chính thánh thiện, nên vẫn chở che (x Mc 6,20: Tin Mừng). Nhưng vì nghe người đàn bà mất nết, muốn bỏ chồng là anh vua Hêrôđê để làm vợ cậu em, hầu có quyền cao chức cả, nên bà đã đề nghị cắt đầu ông Gioan Tẩy Giả. Nghe được vua rất buồn, nhưng vì đã lỡ thề với đàn bà “xin gì trẫm cũng ban cho, dù nửa nước”. Thế là vua đã bị đàn bà mất nết đẩy vào tội ác giết đấng Thánh (x Mc 6,22-23: Tin Mừng). Thật đúng với Lời Kinh Thánh đã nói: “Không vết thương nào sánh nổi vết thương lòng, không sự dữ nào bằng sự dữ do đàn bà gây nên, không độc ác nào bằng độc ác của phụ nữ! Thà tôi ở chung với sư tử hay rắn rết, còn hơn sống chung với đàn bà hư thân mất nết”(Hc 25,13.16). “Cái ác của đàn ông còn hơn đức nghĩa của đàn bà mất nết”(Hc 42,14).

THUỘC LÒNG
Người phải lớn lên, còn tôi thì nhỏ lại (x Ga 3,30)

------------------------------

 

Suy Niệm 8. “Ông Gioan là người công chính thánh thiện”


-- Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Nghe danh tiếng của Đức Giê-su, nhất là về các phép lạ Người thực hiện, Vua Hê-rô-đê cho rằng Đức Giê-su là ông Gio-an Tẩy Giả đã từ cõi chết trỗi dậy: “Ông Gioan, ta đã cho chém đầu, chính ông đã chỗi dậy!” Đó là một sai lầm; nhưng đối với chúng ta, sai lầm này lại mang nhiều ý nghĩa trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa và đã loan báo cho chúng ta mầu nhiệm Vượt Qua rồi.

Vua Hê-rô-đê loại trừ một Gioan Tẩy Giả, thì lại có một Gioan Tẩy Giả khác xuất hiện. Như thế, Sự Thiện, Ánh Sáng và Chân Lý không thể bị loại trừ bởi bạo lực, nghĩa là bởi Sự dữ, Bóng Tối và Dối Trá.

Vua Hê-rô-đê làm điều dữ và ông bị dày vò bởi điều dữ, cái nhìn của ông bị chi phối tất yếu bởi điều dữ ông đã làm. Như thế, không phải Sự Thiện dùng phương tiện của Sự Dữ chống lại Sự Dữ, nhưng Sự Dữ sẽ tự hủy diệt Sự Dữ, như lời Thánh Vịnh loan báo: “Cho bọn ác nhân mắc bẫy chính chúng gài, còn con đây, thì được thoát khỏi” (Tv 141, 10).

Đức Giê-su không phải là Gioan Tẩy Giả sống lại, nhưng Ngài là Đấng ông loan báo, Ngài là niềm hi vọng của ông, là sự sống lại của ông. Thật vậy, nơi mầu nhiệm Vượt Qua, Đức Giê-su sẽ bị giết chết cách bất công như thánh Gioan, nhưng Ngài mạnh hơn sự chết, Ngài sẽ phục sinh và làm cho mọi người phục sinh, trong đó có thánh Gioan.

Thánh Gioan, “Người đi trước mặt Chúa” (Lc 1, 17 và 76)

Cái chết của thánh Gioan Tẩy Giả được Tin Mừng Mác-cô, và hai Tin Mừng nhất lãm còn lại cũng vậy, tường thuật lại trong một bối cảnh đặc biệt, đó là những thắc mắc liên quan đến Đức Giêsu: (x. Mc 6, 16). Và để làm sáng tỏ những thắc mắc này, tác giả Tin Mừng đã kể lại thật chi tiết cái chết của Gioan. Như thế, cuộc đời của Gioan gắn liền với cuộc đời của Đức Giêsu biết bao. Vì thế, trong lời nguyện nhập lễ, chúng ta thưa với Thiên Chúa rằng thánh Gioan là người đi trước loan báo Đức Kitô cả trong cách sinh ra lẫn trong cách chết đi. Thậy vậy, khi vừa được sinh ra, bố Giacaria của Gioan đã nói rằng: “Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao: con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người.” (Lc 1, 76)

Và với bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta “chứng kiến” thánh Gioan hoàn tất thật trọn vẹn sứ mạng của mình, vì ông không chỉ đi trước chuẩn bị cho những lối bước của Đức Chúa bằng lời rao giảng và phép rửa, nhưng bằng cả cái chết nữa, và xét cho cùng, bằng cả cách mình được sinh ra nữa.

Chúng ta cũng vậy, bởi tình yêu và ân sủng nhưng không của Thiên Chúa, từ lúc sinh ra cho tới lúc chết, cũng gắn liền với Đức Giêsu, vấn đề là chúng ta có nhận ra hay không.

Thánh Gioan, người loan báo Đức Giê-su bằng cái chết

Như thế, sứ điệp của bài Tin Mừng hôm nay rất mạnh mẽ, nhưng cũng thật kín đáo: thánh Gioan chuẩn bị đường đi cho Đức Giê-su một cách hoàn hảo bằng chính cái chết của mình, đúng hơn là bằng chính cách mình bị giết chết.

Thật vậy, bài Tin Mừng kể lại cho chúng ta thật chi tiết bối cảnh dẫn đến cái chết của thánh Gioan, với sự tham dự của rất nhiều người, có thể nói của cả một vương quốc. Chúng ta có thể đọc lại từ từ và ghi lại những suy nghĩ và tâm tình mà trình thuật gợi ra cho chúng ta. Thánh Gioan bất động và im lặng trong ngục tù, nhưng lại làm bộc lộ ra những điều sâu kín nhất của con người: vô độ, sợ chân lí, ghen ghét, mưu đồ, bạo lực, phi nhân và có thể nói, thú tính. Những điều này thường được che đậy bằng những vỏ bọc vui vẻ, quảng đại, quí phái, danh dự…

Cuộc Thương Khó của Đức Giê-su và nhất cái chết trên Thập Giá của Ngài còn có sức mạnh mặc khải sự dữ triệt để hơn và tuyệt đối hơn nữa, bởi vì Người là Con Chiên Vô Tội. Trong mầu nhiệm Vượt Qua, đối diện với Người sẽ là Sự Dữ và Sự Chết tuyệt đối, bởi lẽ Người là Sự Thiện và Sự Sống tuyệt đối. Người tự nguyện trở thành nạn nhân của Sự Dữ để hủy diệt Sự Dữ và chữa lành chúng ta khỏi Sự Dữ ngay hôm nay.

Phúc của thánh Gioan

Tuy nhiên, khi nghe hay đọc trình thuật này, chúng ta có thể tự hỏi một cách tự phát: vậy đâu là phúc của thánh Gioan, được loan báo khi mới sinh ra, khi mà ông đã cho đi tất cả, dâng hiến tất cả và cuối cùng, đã phải chịu chết như thế? Thánh Gioan loan báo Đức Kitô trong sự sinh ra, trong cuộc sống và trong cái chết, thì phúc của thánh Gioan, chính là trở nên “đồng hình đồng dạng” với Đức Ki-tô. Và Tin Mừng đã kín đáo nói cho chúng ta điều này: sau khi bị giết chết, có kẻ nói về Đức Giê-su: “Đó là Gioan Tẩy Giả, từ cõi chết chỗi dậy” (c. 14). Như thế, phúc của thánh Gio-an là trở nên một với Đức Ki-tô trong mầu nhiệm Vượt Qua của Người.

Nếu là như thế, phúc của thánh Gioan, cũng là phúc của mọi người Kitô hữu chúng ta, những người sống đời sống hôn nhân, cũng như những người sống đời dâng hiến, đó là Đức Giêsu Kitô trở nên một với chúng ta, nơi mầu nhiệm Nhập Thể và nơi mầu nhiệm Thánh Thể, để cho chúng ta có thể trở nên một với Ngài trong hành trình làm người và hành trình ơn gọi của chúng ta, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi, để cùng với Người đi vào Cõi Hằng Sống, là Sự Sống của Ba Ngôi Thiên Chúa.

 ------------------------------

 

Suy Niệm 9. Thánh Gioan Tẩy giả bị trảm quyết


--Enzo Lodi

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Lễ kỷ niệm thánh Gioan Tẩy giả bị hành quyết được cử hành để kỷ niệm ngày khánh thành một nhà nguyện trong hầm mộ ở Sébaste, Samarie, nơi tôn kính thánh nhân từ nửa đầu thế kỷ IV; đến thế kỷ V, lễ được cử hành ở Jérusalem, và tại các Giáo hội phương Đông cũng như ở Roma từ thế kỷ VI, với tước hiệu thánh Gioan bị hành quyết hoặc khổ nạn.

Việc hành quyết thánh Gioan Tẩy đã gợi hứng cho nhiều nghệ sỹ như Pisano và Andrea del Sarto (Florence), Van der Weyden (Berlin), Tiepolo (Bergame)

2. Thông điệp và tính thời sự

Các kinh nguyện trong thánh lễ ca tụng “người con vĩ đại nhất trong các con cái loài người (theo Mt 11,14) được gọi là “người công chính và thánh thiện” (Điệp ca II Kinh sáng)

Lời nguyện trong ngày nhấn mạnh Thiên Chúa đã muốn “thánh Gioan Tẩy giả là người đi trước cả trong việc sinh cũng như tử của con Chúa”. Đề tài về việc thọ nạn có tính tiên báo đó của thánh Gioan được bài giảng của thánh Bêđa khả kính triển khai và Giáo hội cho chúng ta đọc trong Giờ kinh Phụng vụ: “Vị thánh Tiền Hô về việc sinh hạ, việc rao giảng và cái chết của Chúa, qua cái chết của mình, đã chứng tỏ một sự can đảm xứng đáng thu hút cái nhìn của Thiên Chúa … yêu chuộng cái chết chắc chắn sẽ tới (những con người giống thánh nhân như thế) đã lựa chọn đón nhận nó bằng cách tuyên xưng danh Đức Kitô và nhờ thế lãnh được cành lá chiến thắng của cuộc sống trường sinh”.

Lời nguyện trong ngày cũng nhắc lại “thánh nhân đã hiến mạng sống vì lẽ công chính và vì chân lý”. Ngài loan báo không chút sợ sệt trước mặt dân chúng cũng như vua quan, mặc dầu có nguy hiểm cho cuộc sống.

Lời nguyện trên lễ vật nhấn mạnh ơn gọi thánh Gioan Tẩy giả đi “rao giảng nơi hoang mạc” để loan báo Nước trời sắp tới “Tôi không phải là Mêssia, tôi được sai đi trước báo tin Người đến; Người sẽ lớn lên và tôi sẽ nhỏ đi” (xem Ga 3,28.30). Nhưng ngần ấy đã là niềm vui, vì như điệp khúc ca vịnh Zacharie nhắc lại: “Bạn của Hôn thê nghe tiếng của Hôn thê liền vui mừng” (xem Ga 3,29). Trong kinh tiền tụng, chúng ta gặp lại những biến cố đặc trưng trong sứ vụ của Vị Tiền hô. Trước hết là việc Người sinh ra đã đem lại niềm vui lớn. Thứ đến, việc nhận ra Đấng Mêssias mà ngài công nhận là Chiên Thiên Chúa và được Ngài rửa cho trong sông Giođan. Sau hết là “chứng tá đẹp đẽ nhất” của Ngài đối với Đức Kitô chính là cái chết làm chứng của mình.

Là tiền hô của Đức Kitô trong việc sinh ra cũng như trong cái chết, thánh Gioan Tẩy giả, Đấng rao giảng trong hoang địa sự sám hối, tính ngay thẳng, đã để lại cho chúng ta ý nghĩa đích thực của việc thanh tẩy: đó là dâng hiến mãi mãi cuộc đời mình, trong đức công chính và chân lý Phúc âm, đến độ hy sinh trọn vẹn bản thân mình.

------------------------------

 

Suy Niệm 10. Cái chết của một tiên tri


--‘Lẽ Sống’--R. Veritas

Qua lệnh truyền của một bạo chúa, một chiếc gươm gieo, một chiếc đầu rơi trong ngục tối. Ðó là những diễn tiến đã kết thúc cuộc đời của thánh Gioan Tẩy Giả, một biến cố mà Giáo Hội mời gọi chúng ta tưởng niệm hôm nay.

Chúng ta đã thấy một lời thề thiếu khôn ngoan, một quan niệm thiển cận về danh dự của một bạo chúa cũng như lòng hận thù của một hoàng hậu lăng loàn đã đưa Gioan Tẩy Giả vào cái chết. Nhưng đây là cái chết đã nâng ngài lên cao trên đài danh vọng, danh vọng của các vị tiên tri đích thực, vì Gioan cũng bị đau khổ, giam cầm và chết vì lời mình rao giảng.

Gioan Tẩy Giả cũng đã tự ví mình là "tiếng kêu trong sa mạc: Hãy dọn đường lối cho ngay thẳng" và ngài đã đóng trọn vai trò này qua việc tích cực rao giảng và làm Phép Rửa thống hối. Tích cực vì ngài đã dám vạch mặt chỉ tên những vấp phạm của tất cả mọi người, không nể nang, không khiếp sợ, kể cả những tội lỗi của các vua chúa là những người nắm toàn quyền sanh sát thời bấy giờ, cụ thể là tội loạn luân của vua Hêrôđê và hoàng hậu Hêrôđiađê.

Qua đó, Gioan Tẩy Giả đã sống để nói lên sự thật và đã chết để bảo vệ sự thật: sự thật về hiện tình của xã hội, sự thật về thực trạng của từng cá nhân và sự thật về chính mình. Gioan tuyên bố rõ ràng ngài không phải là Ðấng Cứu Thế, nhưng chỉ là người được kêu gọi để đóng vai trò Tiền Hô chuẩn bị cho ngày Ðấng Cứu Tinh sẽ đến.

Mọi Kitô hữu chúng ta cũng được kêu mời để đáp lại tiếng gọi. Và mặc dù không ai có thể tái diễn vai trò của thánh Gioan Tẩy Giả, nhưng mọi Kitô hữu phải tiếp diễn sứ mệnh của ngài trong mọi hoàn cảnh mình đang sống. Ðó là sứ mệnh làm chứng nhân cho Chúa Giêsu.

------------------------------

 

Suy Niệm 11. Vị Thánh Can Đảm Và Cương Quyết


-- Lm Nguyễn Hưng Lợi

Những trang Tin Mừng của thánh sử Marcô nói về Gioan Tẩy Giả quả thực gây ấn tượng mạnh cho những ai tìm gương một vị thánh can đảm dám nói lên sự thật, mặc dầu khi biết rằng nói lên điều mình phải nói sẽ nhận lại hậu quả không lường trước: “Vị Thánh đó là Gioan Baotixita, vị ngôn sứ kiên cường không bao giờ sợ chết”. Phúc Âm của thánh Marcô 6, 14 viết: “Vua Hêrôđê nghe biết về Đức Giêsu, vì Người đã nổi danh. Có kẻ nói: “Đó là ông Gioan Tẩy Giả từ cõi chết chỗi dậy, nên quyền làm phép lạ mới tác động nơi ông. “Kẻ khác nói: “Đó là ông Êlia”. Kẻ khác nữa lại nói: “Đó là một ngôn sứ như một trong các ngôn sứ”. Vua Hêrôđê nghe thế liền nói: “Ông Gioan, ta đã cho chém đầu, chính ông đã chỗi dậy!” (Mc 6, 14-16).

Những câu Tin Mừng của thánh Marcô chúng ta vừa nghe trên đây minh chứng: “Vua Hêrôđê đang lo âu về sự hiện diện của Chúa Giêsu và cho thấy sự tàn ác của một cường bạo Hêrôđê đã đang tâm truyền lệnh chém đầu Gioan Tẩy Giả vì Người dám nói lên sự thật: Vua không được lấy vợ của anh Ngài” (Mc 6, 18).

Đọc đoạn Tin Mừng 6, 17-29 của thánh Marcô trong ngày lễ kính nhớ thánh Gioan Tẩy Giả chúng ta thấy thật chua xót và mỉa mai. Cái chua xót bởi vì chỉ với một lời hứa với đứa con gái riêng của người vợ loạn luân của mình bà Hêrôđia (Mc 6, 23). Vua sẵn sàng cho lệnh chém đầu Gioan Tẩy Giả. Cái chua xót càng dâng cao khi Vua Hêrôđê cho thị vệ chém đứt đầu Gioan Tẩy Giả và đặt trên mâm theo lời xúi giục của bà Hêrôđia (Mc 6, 24-25). Sự việc càng mỉa mai hơn khi Vua vừa tỉnh vừa say và để hồn mình mê ly theo điệu vũ của đứa con gái của bà Hêrôđia (Mc 6, 22). Đối với chúng ta đọan Tin Mừng của thánh Marcô 6, 26 càng làm chúng ta ngao ngán vì con người dâm ô, bạo tàn và chà đạp sự thật, chà đạp công lý và vượt trên cả pháp luật của đất nước mà Hêrôđê trị vì: “Nhà Vua buồn lắm, nhưng vì lời thề, và khách dự tiệc, nên không muốn thất hứa với con gái Hêrôđia”.

Một lệnh truyền của một bạo Chúa trong lúc say sưa chè chén với bọn bá quan văn võ và các thân hào miền Galilê trong ngày sinh nhật của mình (Mc 6, 21). Một lời hứa dựa trên cảm tính, hết sức thô bạo và coi thường luật pháp của mình, Hêrôđê đã làm một việc hết sức tàn nhẫn, giết chết một vị ngôn sứ vô tội để thỏa mãn thú tính đê hèn của mình. Cái chết của Gioan Tẩy Giả đã là một lời cảnh tỉnh tất cả những ai quyết định thiếu khôn ngoan, thiển cận, ích kỷ, đê hèn chỉ nghĩ tới mối lợi đê tiện của cá nhân mình mà quên đi việc lớn lao hơn: “đại nghĩa”. Thánh Gioan Tẩy Giả đã chết đi nhưng sự ra đi của Ngài được nâng cao trên đài danh vọng, danh vọng của những vị ngôn sứ đích thực, những ngôn sứ dám nói lên sự thật, vì Gioan Tẩy Giả cũng đã chịu cầm tù, đau khổ trong tù ngục, và chết để làm chứng cho những lời rao giảng của mình.

Thánh Gioan Tẩy Giả đã sống hoàn toàn đúng nghĩa của một vị ngôn sứ chân chính, đích thực, Ngài đã hoàn toàn đáp trả lại lời mời gọi yêu thương của Thiên Chúa: “Ngài đã không sợ hãi, lớn tiếng trước mặt các Vua Chúa. Ngài đã hiến mạng sống cho công bình và chân lý”. Thánh Gioan Tẩy Giả đã vạch mặt chỉ tên mọi người sống bê tha, tội lỗi. Lời rao giảng sám hối và phép rửa cải tà qui chánh, cải hoá nội tâm của Ngài đã nói lên một sự thực muôn đời: “Tất cả đều phải sám hối và ăn năn”. Thánh nhân đã không chùn bước trước những thế lực mạnh nhất lúc đó là Hêrôđê. Ngài đã can đảm nói lên việc Hêrôđê cướp vợ của anh mình là Philíp, nàng Hêrôđia… Sự can đảm và cương quyết của Ngài đã bị cường bạo đè bẹp bằng lời hứa thật đê hèn và thô bạo. Nhưng cái chết của thánh Gioan Tẩy Giả đã minh chứng cho chân lý ngàn đời: “Sự thật sẽ giải phóng tất cả”.

Gioan Tẩy Giả đã chết đi để bảo vệ cho sự thật, minh chứng cho Chúa Giêsu: “Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14, 6).

Gioan Tẩy Giả chỉ là vị ngôn sứ dọn đường cho Chúa Cứu Thế: “Tôi chỉ là tiếng kêu trong hoang địa, để dọn đường cho Chúa đến” (Mc 1,23) và khi Đấng Thiên Sai đến, thánh nhân xác định rõ ràng: “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3, 30). Thánh Gioan Tẩy Giả đã trở nên chứng nhân tuyệt vời và hoàn hảo nhất nơi Đức Kitô Giêsu.

Lạy Thánh Gioan Tẩy Giả, xin cầu bầu cho chúng con trước ngai toà Chúa để niềm tin của chúng con được nâng cao hầu chúng con luôn sẵn sàng đáp trả lại lời mời gọi của Chúa: “làm chứng nhân cho Chúa Giêsu trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời”. Amen.

------------------------------

 

Suy Niệm 12. Lễ thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết


Thánh Gioan tẩy giả là người anh họ của Đức Chúa Giêsu. Thân mẫu ngài là thánh nữ Êlizabeth và thân phụ ngài là ông Zacaria. Chương đầu tiên của Tin mừng theo thánh Luca thuật lại biến cố sinh nhật tuyệt vời của thánh Gioan. Và Tin mừng theo thánh Marcô, nơi chương thứ 6, các câu 14-29, kể lại những chi tiết tàn bạo về cái chết của Gioan tẩy giả.

Vua Hêrôđê lấy vợ của anh mình là bà Hêrôđia. Gioan nói cho Hêrôđê biết điều ấy là sai, nhưng Hêrôđê và Hêrôđia không muốn nghe và giữ giới luật của Thiên Chúa. Họ chỉ muốn làm theo ý riêng mình. Và Gioan tẩy giả đã phải trả giá cho lòng tốt của ngài! Tuy nhiên, thánh nhân không thể hành động theo cách khác được. Ngài không im lặng trước tội lỗi và bất công. Sứ mệnh của Gioan là mời gọi người ta cải hối cuộc đời; và ngài mong muốn cho hết thảy mọi người được ơn giao hòa cùng Thiên Chúa.

Hêrôđia đã giữ mối hận thù đối với Gioan. Và khi dịp thuận tiện xảy đến, bà đã ra tay sắp đặt để Gioan bị chém đầu. Gioan đã phải chấp nhận những hậu quả nghiệt ngã cho việc giảng dạy chân lý Phúc âm.

Thánh Gioan tẩy giả rao giảng phép rửa sám hối, chuẩn bị cho người ta đón nhận Đấng Mêsia. Ngài đã làm phép rửa cho Chúa Giêsu trong dòng sông Giođan và được hưởng kiến niềm vui vì sứ mệnh công khai của Chúa Giêsu đã khởi sự. Gioan tẩy giả đã khích lệ các môn đồ của mình đi theo Đức Chúa Giêsu. Ngài biết rằng danh Chúa phải tỏa sáng ra, còn danh mình phải lu mờ đi. Trong chương thứ nhất Phúc âm theo thánh Gioan, thánh Gioan tẩy giả nhận mình chỉ là tiếng kêu trong hoang địa, chỉ thức tỉnh người ta hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng mà thôi! Thánh nhân mời gọi mọi người hãy sẵn sàng để chuẩn bị đón nhận Đấng Mêsia. Sứ điệp của Gioan tẩy giả phải chăng cũng là sứ điệp của mỗi người chúng ta?

Chúng ta hãy nài xin thánh Gioan tẩy giả giúp chúng ta luôn sẵn sàng để đón nhận Chúa Giêsu ngự đến trong cuộc sống của mình.

------------------------------

 

Suy Niệm 13. Thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết


Bài tường thuật của Mác-cô về cái chết của Thánh Gioan Tẩy giả rất rõ ràng và dễ hiểu.

Ta cần ghi nhớ 2 điều:

- Gioan đã chết vì can đảm nói sự thật, theo đúng chức năng ngôn sứ của mình.

- Cái chết của Gioan có nhiều nét tiên báo cái chết của Chúa Giêsu, vị ngôn sứ tiêu biểu: chết do can đảm sống sứ mạng của mình, chết do ác tâm của con người, chết trong sự thương tiếc của các môn đệ.

1. Trước hết, ta hãy nhìn vào Hêrôđê: Một con người vẫn còn lương tâm (“vua nể sợ Gioan vì biết ông là người công chính thánh thiện; vua che chở ông. Khi nghe Gioan nói, nhà vua rất phân vân nhưng lại cứ thích nghe”), nhưng rồi lại không can đảm làm theo tiếng lương tâm của mình.

Văn hào Chateaubriand của Pháp vào thế kỷ 19 đã viết về lương tâm con người như sau: “Con sư tử sau khi giết và ăn thịt con mồi có thể nằm lăn ra ngủ, nhưng con người không thể ngủ yên sau khi giết hại một người đồng loại của mình”.

Thi hào Victor Hugo trong bài thơ “Lương tâm” đã mô tả tâm trạng vô cùng đau thương của Cain sau khi đã giết em mình là Abel: “Cho dẫu Cain có đi đâu, cho dẫu ông có đào một huyệt sâu trong lòng đất để trú ẩn, ánh mắt lương tâm cũng không bao giờ buông tha cho ông”.

Con người có phẩm giá cao cả vì con người có lương tâm. Lương tâm chính là ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa không ngừng dõi theo con người để mời gọi thôi thúc con người vươn lên. Thảm trạng đau thương nhất của cá nhân cũng như của xã hội chính là tiếng nói của lương tâm bị bóp nghẹt. Xét cho cùng, thảm trạng ấy cũng đồng lõa với việc loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống. Khi ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa không còn nhìn xuyên qua tâm hồn con người nữa, thì đó là lúc con người đang dãy chết.

2. Ta nhìn tiếp đến bà Hêrôđia: Một người đàn bà hoàn toàn để cho dục tình lôi cuốn. Vì dục tình, bà đã loạn luân. Vì thế, khi Gioan vạch tội bà, bà không ngại tìm dịp giết Gioan để không ai còn ngăn cản được cộc sống loạn luân của mình nữa.

Bà Hêrôđia đã làm những điều mà có lẽ ai trong chúng ta cũng lên án. Thế nhưng, xét cho kỹ thì trong thiên hạ cũng chẳng thiếu gì những người như thế. Không phải chỉ là loạn luân mà còn biết bao nhiêu tội ác khác nhiều khi còn tệ hơn nữa.

Tại một xứ Hồi giáo nọ, có người đàn ông bị vua ra lệnh treo cổ vì ăn trộm thức ăn của người khác. Như thường lệ, trước khi bị xử, tội nhân được nhà vua cho phép xin một ân huệ. Kẻ từ tội liền xin nhà vua:

- Tâu bệ hạ, xin cho thần được chồng một cây táo. Chỉ trong một đêm thôi, hạt giống sẽ nảy mầm, mọc thành cây và có trái ăn tức khắc. Đây là một bí quyết mà cha thần đã truyền lại cho thần. Thần tiếc là khi thần chết đi rồi, bí quyết này sẽ không truyền lại cho hậu thế được.

Nhà vua truyền chuẩn bị mọi sự để sáng hôm sau người tử tội sẽ biểu diễn chồng táo. Đến giờ hẹn, trước mặt vua và các quan văn võ, tên trộm đào một cái lỗ nhỏ và nói:

- Chỉ có người nào chưa hề ăn trộm của người khác mới trồng được hạt giống này. Vì tôi đã lỡ ăn trộm nên không trồng được.

Nhà vua tin lời, nên quay sang nhìn tể tướng. Sau một lúc do dự, vị tể tướng thưa:

- Tâu bệ hạ, thần nhớ lúc còn niên thiếu thần cũng đã có lần lấy của người khác. Thần cảm thấy không đủ điều kiện trồng hạt táo này.

Nhà vua đảo mắt nhìn quanh các quan văn võ đang có mặt. Ông nghĩ may ra quan thủ kho trong triều là người nổi tiếng trong sạch có thể đủ điều kiện. Nhưng quan thủ kho cũng lắc đầu từ chối và tuyên bố với mọi người rằng ông cũng đã có lần gian tham trong chuyện tiền bạc.

Bấy giờ người tử tội mới chua xót lên tiếng:

- Các ngài là những kẻ quyền thế cao trọng, không thiếu thốn điều gì. Vậy mà các ngài không thể trồng được hạt táo này, chỉ vì các ngài cũng đã có lần lấy của người khác. Còn tôi, một con người khốn khổ, chỉ lỡ lấy thức ăn của người khác ăn cho đỡ đói, thế mà các ngài lại kết án treo cổ tôi.

Nghe thế, nhà vua và cả triều thần như xốn xao trong lương tâm. Ông bèn ra lệnh phóng thích người ăn trộm.

3. Ta hãy nhìn nàng Salômê: một người có tài mà không có đức. Cô đã dùng tài múa nhảy của mình để đòi phần thưởng là cái đầu của một vị ngôn sứ.

Tài năng của con là những nén bạc Chúa trao để cho con sử dụng mà làm việc tốt phụng sự Chúa và phục vụ mọi người. Phục vụ chứ không khai thác để thỏa mãn những đam mê hay vơ vét vào cho mình. Chỉ khi nào, con người biết phục vụ thì lúc đó họ mới thấy cuộc đời của mình đậm đà ý nghĩa.

Dương Chấn, người đất Quan Tây đời nhà Hán, làm quan Thái Úy, tính tình thanh liêm, chánh trực. Khi đang làm Thứ Sử, ông có tiến dẫn Vương Mật làm Lệnh Doãn huyện Xương Ấp.

Một hôm, trời tối đi ngang qua Xương Ấp, Dương Chấn nghỉ lại đó một đêm. Vương Mật lén đem 10 lượng vàng đến để đền ơn thuở trước. Dương Chấn thấy vậy, trách Vương Mật:

- Ta biết tài ngươi, mà ngươi không biết được lòng ta.

Vương Mật cố năn nỉ:

- Đêm hôm khuya khoắt, không có một ai hay biết, ngài sợ gì?

Dương Chấn nghiệm mặt đáp:

- Sáng thì có trời đất biết, tối thì có quỷ thần soi biết, trong có ta biết, ngoài có ngươi biết. Chỗ hay biết có nhiều như vậy, sao ngươi gọi là không ai biết?

Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta biết sống tốt đối với mọi người để cho lương tâm của chúng ta lúc nào cũng được thanh thản và bình an.

------------------------------

 

Suy Niệm 14. Thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết


--Lm Nguyễn Hưng Lợi

Có những cái chết để lại cho đời niềm thương nhớ khôn nguôi. Có những sự ra đi làm cho con người thương nhớ, nhắc nhớ tên người chết mãi mãi không ngơi. Có những cái chết khiến người khác trề môi, phỉ nhổ. Chết là trở về nơi cũ. Chết là ra đi. Chết là trở về với Thiên Chúa, Đấng tạo dựng và tác sinh. Cái chết của thánh Gioan tẩy Giả, Giáo Hội mừng kính hôm nay khiến nhân loại phải ghi nhớ, khiến nhiều người thương tiếc, nhưng cũng không khỏi nguồn rủa sự điên rồ, ngạo nghễ và dại gái, khôn nhà dại chợ của Hêrôđê, một vị vua tàn ác và thiếu tư cách làm người.

Một cái đầu, một sự trả giá vô biên

- Hêrôđê đã đi vào con đường tội lỗi. Sự dại gái, khôn nhà, dại chợ của Hêrôđê đã khiến vị vua này trở nên ngông cuồng điên dại. Sống trong tội lỗi,tâm hồn của Hêrôđê đã trở nên mù quáng, tối tăm. Ở trong bóng tối, Hêrôđê đã không còn biết phân biệt đâu là phải, đâu là trái. Ông đã hành động tùy tiện việc nước, đã ăn chơi, chè chén trác táng. Ông không còn biết nhận ra sự thật. Số là Hêrôđê đã cướp vợ của ngay người em mình. Sự loạn luân không thể tha thứ, đã làm cho Gioan Tẩy Giả phải lên tiếng quở trách nặng lời hành động vô luân của Hêrôđê và Hêrodias, vợ loạn luân của Hêrôđê. Đúng như lời Kinh Thánh nói: “Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng…” (Ga 1,6-7).

- Gioan không phải là ánh sáng, nhưng Gioan tới để minh chứng về ánh sáng. Vì chứng minh cho Chúa Giêsu là sự thật, là ánh sáng. Gioan đã không bao giờ chịu khuất phục trước những việc chướng tai gai mắt của con người, của xã hội đương thời và của nhân loại. Gioan đã có lần nói: “Có Đấng đến sau ông và ông không xứng đáng cởi giây dép của Ngài”. Gioan quả thực đã tới trần gian để dọn đường cho Chúa Cứu Thế. Làm công tác dọn đường, Gioan đã sống đích thực sứ mạng của vị tiên tri. Ngôn sứ phải nói lên sự thật và không bao giờ sợ nguy hiểm cho dù công tác của vị ngôn sứ luôn gặp sự hiểm nguy. Để làm chứng cho Đấng cứu thế, Ngài đã nói công khai với mọi người khi họ lầm tưởng Gioan là Đức Kitô: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại”. Gioan đã lớn lên trong sự minh chứng cho sự thật. Chống lại hành động loạn luân và dâm dật của đôi dâm phụ Hêrôđê và Hêrodias. Gioan Tẩy Giả đã phải chấp nhận cái bi đát nhất của cuộc đời ngôn sứ của mình: cái chết. Hêrôdias vì không chấp nhận sự thật, không chịu nổi lời quở trách của vị tiên tri. Nên đã căm thù tìm cơ hội khử trừ vị ngôn sứ đầy uy tín. Với sự nhảy múa cuồng nhiệt nhân ngày sinh nhật, Hêrodiađê đã làm ngây ngất vua Cha. Cái đầu, vẫn là sự căm tức ngông cuồng của Hêrôdias. Đầu của vị ngôn sứ Gioan Tẩy Giả đã nằm gọn trong chiếc dĩa trước mặt Hêrôđê.

Lời chứng đáng giá nhất của ngôn sứ Gioan Tẩy Giả

- Dù biết rằng mình sẽ phải chấp nhận cái bi đát nhất của cuộc đời, Gioan Tẩy Giả vẫn nói lên tiếng nói bất khuất của vị ngôn sứ. Mọi tiên tri đều phải trả giá cho lời chứng của mình. Gioan Tẩy Giả đã sống anh dũng, can trường với lời nói của mình. Cái đầu phải trả là giá nặng nề và đáng nguyền rủa nhất của vị ngôn sứ sau cái chết chịu đóng đinh nơi thập giá đối với người Do Thái lúc đó. Gioan Tẩy Giả đã tự xóa nhòa mình để cho Đấng cứu độ lớn lên trong lịch sử nhân loại. Lời chứng và cái chết của Ngài, đã nói lên sự thật muôn đời là Gioan đã hoàn toàn đáp trả hoàn toàn lời mời gọi của Thiên Chúa: “Ngài không sợ hãi, lớn tiếng trước mặt các vua chúa. Ngài đã hiến mạng sống cho công bình và chân lý”.

------------------------------

 

Suy Niệm 15. Thánh Gioan Baotixita bị trảm quyết


--tgpsaigon.com

1. Gương thánh nhân

Để dọn đường cho Chúa Giêsu đến cứu chuộc loài người, Thiên Chúa đã cho bà Ysave son sẻ được sinh con. Người con đó là Gioan Tẩy giả. Lớn lên, ngài vào sống khổ hạnh trong sa mạc: Mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn. (Mt. 3,4).

Năm 29 tuổi, thánh nhân đến sông Giođăng, rao giảng kêu gọi mọi người ăn năn sám hối và lãnh phép rửa sám hối của Ngài, để dọn lòng xứng đáng đón rước Chúa Cứu thế. Nhiều người đã đến lãnh nhận phép rửa thống hối, và xin ngài chỉ dạy cách thế để hoán cải đời sống. Chính Chúa Giêsu khi bắt đầu đi rao giảng Nước Trời, cũng đến nhờ Ngài làm phép rửa, để được Chúa Thánh Thần tấn phong làm Đấng Cứu Thế, và Chúa Cha công khai nhìn nhận là Con Yêu Dấu.

Thời điểm Gioan Tẩy Giả làm phép rửa sám hối bên bờ sông Giorđan trùng hợp với lúc Hêrôđê Antipa làm quận vương cai trị xứ Galilê. Cuộc sống của ông có nhiều lầm lỗi nhưng lầm lỗi lớn nhất mà ai cũng biết đó là ông ngang nhiên lấy vợ của anh làm vợ của mình. Người đàn bà xấu nết đó là bà Hêrôđia. Thấy vậy, Gioan Tẩy Giả đã lên tiếng công khai cảnh cáo và ngăn cản. Việc đó đã đến tai Hêrôđia làm cho bà hết sức tức giận. Bà đã yêu cầu Hêrôđê bắt giam Gioan Tẩy Giả. Gioan Tẩy Giả đã bị bắt giam nhưng bà ta vẫn chưa vừa lòng. Biết Gioan Tẩy Giả là một con người không thể mua chuộc cho nên bà luôn tìm dịp để giết ngài. Và đây là dịp. Chúng ta hãy nghe thánh sử Mátcô thuật lại việc làm nầy của Hêrôđia:

Một ngày thuận lợi đến: nhân dịp mừng sinh nhật của mình, vua Hêrođê mở tiệc thết đãi bá quan văn võ và các thân hào miền Galilê. Con gái bà Hêrôđia vào biểu diễn một điệu vũ làm cho nhà vua và khách dự tiệc vui thích. Nhà vua nói với cô gái: - Con muốn gì thì cứ xin, ta sẽ ban cho con.

Vua lại còn thề: - Con xin gì, ta cũng cho, dù một nửa nước, cũng được.

Cô gái đi ra hỏi mẹ” - Con nên xin gì đây?

Mẹ cô nói: - Đầu Gioan Tẩy giả. Lập tức cô vội trở vào, đến bên nhà vua và xin rằng: - Con muôn ngài ban ngay cho con cái đầu ông Gioan Tẩy giả, đặt trên mâm.

Nhà vua buồn lắm, nhưng vì lời thề, và khách dư tiệc, nên chẳng muốn thất hứa với cô. Lập tức vua sai thị vệ đi và truyền mang đầu ông Gioan tới. Thị vệ ra đi, chặt đầu ông ở trong ngục, bưng đầu ông trên một cái mâm, trao cho cô gái, và cô gái trao cho mẹ". (Mc. 6,2128).

Thánh Hiêrônimô còn cho chúng ta biết thêm một chi tiết thú vị này: Sau khi nhận được đầu của Gioan Tẩy Giả, Hêrođia đã lấy giao cạy miệng ra và đâm một nhát thấu qua cái lưỡi đã dám nói lên những lời xúc phạm đến bà.

Thánh Linh mục Bêđa khả kính đã giải thích ý nghĩa cái chết của ngài như sau: “Đấng thánh loan báo Chúa sinh ra, rao giảng và chịu chết, đã tỏ cho chúng ta thấy một sức mạnh xứng đáng được Chúa nhìn. Như lời Kinh Thánh chép: “Theo nhãn giới người phàm, thì người đã gặp nhiều đau khổ, nhưng hy vọng của người đã tràn đầy bất tử.”

2. Bài học

Gioan đã chết vì can đảm nói lên sự thật. Đây là tấm gương sáng ngời cho những ai tin theo Chúa.

Ngày 27/04/1945, quân Đức Quốc Xã thất trận, phải rút quân ở Italia về biên giới nước Áo. Trên đường rút quân, họ đã bắn phá nhiều làng mạc để trả thù quân kháng chiến Italia đã cố tình tìm cách cản trở đường rút rui của họ. Trong tình cảnh này, Linh mục Decande, một Cha sở nhân lành vì muốn cứu dân làng Fiatsa gần thành phố Vêrôna khỏi bị quân Đức tàn sát, đã đích thân đến gặp viên quan chỉ huy đoàn quân Đức để van nài ông đừng bắt giết và tàn sát dân làng vô tội. Bị quẫn trí vì sự thất trận.Viên sỹ quan giận dữ ra lệnh bắt giam Cha Sở. Ông quát lên với Ngài: - Mày phải bị xử bắn và chết thay cho những tên kháng chiến phá hoại mà chúng tao không bắt được. Mày phải đền tội thay cho những kẻ khác!

Nói rồi, viên sỹ quan ra lệnh cho toán quân hành quyết sẵn sàng. Vị Linh mục bị trói, đứng bất động chờ loạt đạn của tiểu đội hành quyết. Bỗng nhiên từ hàng quân đang chĩa súng vào ngài đợi lệnh để nổ súng, một quân nhân bước ra khỏi hàng, tiến đến trước mặt ngài và nghiêm chỉnh chào. Rồi anh quay lại nói với vị chỉ huy của mình: - Tôi là tín hữu Công Giáo, không bao giờ tôi lại bắn vào vị Linh mục của Chúa.

Viên sỹ quan tái mặt. Ông ra lệnh trói luôn người lính can đảm kia bên cạnh vị Linh mục. Một vài phút sau đó, một loạt đạn nổ vang, hai thây người ngã gục, toán lính kéo hai xác người vùi xuống một hố bom gần đó. Dân làng Fiatsa không biết người lính Đức Công Giáo đó tên là gì, họ chỉ tìm thấy trên thi hài anh một sâu chuỗi mân côi.

Nghĩa cử của người lính Đức trên đây thật là can đảm! Anh đã nhận định được ngay điều phải làm khi đứng trước một hoàn cảnh khó khăn: Một đàng là bất tuân thượng lệnh, từ chối bắn vào người vô tội; một đàng là tuân lệnh thượng cấp để tham gia vào việc sát nhân. Anh đã biết chọn lựa đúng nguyên tắc: cương quyết tránh xa mọi tội ác dù có phải hy sinh cả tính mạng mình!

Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho thánh Gioan Tẩy giả báo trước mầu nhiệm Con Chúa sinh ra và chịu chết

Xưa thánh nhân đã anh dũng hy sinh vì chân lý và chính đạo thế nào, thì nay xin Chúa cũng cho chúng con biết xả thân làm chứng cho Tin Mừng như vậy. Amen.

------------------------------

 

Suy Niệm 16. Thánh Gioan Baotixita bị trảm quyết


--Én Nhỏ

Trong Tin Mừng hôm nay, vua Hêrôđê mới nghe thấy danh tiếng của Đức Giêsu nổi lên thì đã hoang mang lo sợ. Có tật giật mình, vua nghe thì sợ hãi cho rằng ông Gioan mà ông cho chém đầu đã sống lại để bắt tội vua chăng? Não trạng của người Do Thái bấy giờ cho rằng người sống lại có khả năng tuyệt vời, có quyền làm phép lạ. Vua sợ là phải, vì đã nhúng tay vào vụ giết người oan nghiệt trong Tin Mừng hôm nay. Bởi sự thường nếu sai một li đi một dặm, ông thỏa hiệp với thú vui trong tiệc tùng, vì trót nhẹ dạ thề hứa nên sợ mất mặt với quan khách. Một cô gái nhảy được tán thưởng và thế là số phận vị Tẩy Giả bị quyết định. Tội này kéo theo tội khác, từ chỗ ngang nhiên cướp vợ anh mình, gây ra oán hận hờn căm nơi bà Hêrôđia với ông Gioan Tẩy Giả vì bị “cản mũi kỳ đà», nên đã gây nên cái chết không án cho người vô tội. Đó là hậu quả gây ra nỗi sợ hãi bất an của vua. Ông bị ám ảnh bởi cơn ác mộng về người công chính đã bị ông sát hại. Hôm nay, ông mới chỉ nghe đồn chứ chưa gặp Ngài mà đã run sợ. Sau này ông có cơ hội gặp Ngài mà cũng chẳng đổi thay được chuyện gì. “Vua Hêrôđê thấy Đức Giêsu thì mừng rỡ lắm, vì từ lâu vua muốn được gặp Người bởi đã từng nghe nói về Người. Vả lại, vua cũng mong được xem Người làm một hai phép lạ. Nhà vua hỏi Người nhiều điều, nhưng Người không trả lời gì cả” (Lc 23,8-10). Ông muốn gặp vì tò mò, không thiện chí nên không giải quyết được gì và thêm thất vọng.

Tin Mừng hôm nay là một thảm kịch diễn ra trong một bữa tiệc, kết thúc thật là bi thảm với cái chết oan nghiệt của Gioan Tẩy Giả. Ông đã bị bỏ tù vì dám quở trách Hêrôđê Antipa về tội ngoại tình lộ liễu. Cuối cùng ông đã phải chết cách bi thảm vì sự thật. Trình thuật này khiến ta nghĩ đến số phận đang chờ đón Đức Giêsu, báo trước cho thấy cuộc khổ nạn, cái chết và cuộc an táng sau này của chính Ngài. Ông Gioan là chính hình ảnh phản ánh Đức Giêsu, đến độ mới chỉ nghe danh tiếng Đức Giêsu, vua Hêrôđê đã bị ám ảnh, mường tượng đó chính là hiện thân của Gioan Tẩy Giả trỗi dậy nên mới quyền năng như thế.

Cả cuộc đời và cả cái chết của ông Gioan đều báo trước cho sứ mạng Tiền Hô, tiền hô cả khi sống và cả lúc chết cho Đấng Cứu Thế. Cái chết của vị Ngôn sứ cuối cùng nói lên số phận của các Ngôn sứ là thế đó. Mở đầu và kết thúc đoạn Tin Mừng này đều nhắc tới Đức Giêsu, cho thấy cái chết của ông Gioan như mối liên hệ, là báo trước cho cái chết của Đức Giêsu. “Môn đệ ông đến lấy thi hài ông đem đi mai táng, rồi đi báo cho Đức Giêsu.”

Gioan Tẩy Giả phải chết, Đức Giêsu cũng phải lãnh án tử, nhưng trổi vượt, vì chính Người đã sống lại từ cõi chết.

Ngày nay chúng con cũng được đồng hóa, nên một với Chúa, giống như Chúa. Xin cho chúng con can đảm sống Đức Tin, trung thành với chân lý như Gioan, để chúng con dám hy sinh cả mạng sống mình mà giúp anh em đến với Chúa, tin nhận Chúa và làm chứng cho sự thật. Amen.

------------------------------

 

Suy Niệm 17. Sự bất tử của thánh nhân


--gpphanthiet.com

Những bậc vĩ nhân thường được nhân gian biến thành bất tử. Người Do thái tin rằng vị tiên tri vĩ đại nhất của họ là Êlia đã không chết, nhưng được cất nhắc về Trời; khi Gioan Tẩy Giả xuất hiện, người ta lại tin rằng ngài chính là hiện thân của Êlia: rồi đến lượt Gioan Tẩy Giả bị giết chết, người ta lại cho rằng ngài đang sống lại trong con người Chúa Giêsu.

Có lẽ để xóa tan những lời đồn đoán như thế, thánh sử Marcô đã kể lại từng chi tiết cuộc xử trảm Gioan Tẩy Giả, cũng như ghi lại việc chôn cất thánh nhân. Gioan Tẩy Giả đã thực sự chết và ngài đã không bao giờ sống lại, cũng chẳng được cất nhắc lên trời như Êlia.

Gioan Tẩy Giả là nạn nhân của bất công. Có bất công khi người ta đặt chính trị lên trên những giá trị khác của cuộc sống, như tinh thần và niềm tin; có bất công khi người ta hành động theo bản năng hơn là theo tinh thần. Vua Hêrôđê lẫn nàng Hêrôđia đều đã hành động theo lối ấy. Hêrôđia sống bất chấp luân thường đạo lý, còn Hêrôđê thì cho dù vẫn sáng suốt để phân biệt được điều ngay với lẽ trái, nhưng lại chọn sống theo bản năng hơn là lý trí.

Gioan Tẩy Giả đã lên tiếng tố cáo bất công và sẵn sàng chết cho công lý. Trong ý nghĩa ấy, ngài là vị tiền hô của Chúa Giêsu, ngài qua đi nhưng tinh thần ngài vẫn sống mãi trong các môn đệ của ngài, và một cách nào đó, ngài cũng sống trong chính con người Chúa Giêsu và nơi mỗi người Kitô hữu. Từ 2000 năm qua, Giáo Hội vẫn sống trong niềm xác tín đó. Chính tinh thần của Gioan Tẩy Giả, của các Tông Ðồ, của các Thánh Tử Ðạo, đã sống mãi trong Giáo Hội và trở thành giây liên kết mọi Kitô hữu. Ðiều này luôn được Giáo Hội thể hiện qua cử chỉ hôn kính hài cốt các thánh được đặt trên bàn thờ. Tập san Giáo Hội Á Châu do Hội Thừa Sai Paris xuất bản tháng 12/1995, có ghi lại chứng từ của một vị Giám mục:

"Chúng tôi đã cất giữ hài cốt của vị Giám mục tiên khởi của Giáo Hội chúng tôi. Chúng tôi tin rằng hài cốt này là thánh thiêng đối với chúng tôi, là dấu chỉ mà chúng tôi không bao giờ được phép quên lãng. Hài cốt này là sợi giây liên kết với Giáo Hội mọi thời, mọi nơi. Chúng tôi đã luôn nghĩ rằng chúng tôi không thể cất khỏi sợi giây liên kết hữu hình ấy. Ðây là một dấu chỉ nối kết chúng tôi trực tiếp với Chúa Kitô. Làm sao người ta có thể đánh mất Chúa Kitô? Chúng tôi cất giữ hài cốt này, chúng tôi vẫn tiếp tục yêu mến Chúa Kitô và kết hiệp với Người mãi mãi".

Chúng ta cũng hãy hiên ngang nói lên niềm tin và lòng trung thành với Chúa Kitô. Cùng với thánh Phaolô, chúng ta cũng hãy thốt lên: "Không gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô".

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 ------------------------------

 

Suy Niệm 18. Tấn tuồng của con người


--gpphanthiet.com

Vua Hê-rô-đê nghe biết về Đức Giêsu, vì Người đã nổi danh. Có kẻ nói: “Đó là ông Gia-an Tẩy Giả từ cõi chết chỗi dậy, nên quyền làm phép lạ mới tác động nơi ông.” Kẻ khác nói: “Đó là ông Ê-li-a.” Kẻ khác nữa nói: “Đó là một ngôn sứ như một trong các ngôn sứ.” Vua Hê-rô-đê nghe thế, liền nói: “Ông Gio-an, ta đã cho chém đầu, chính ông đã chỗi dậy!” (Mc. 6, 14-16)

Cái chết của thánh Gioan Baotixita là một trong những trang bi thảm nhất của Phúc âm vì những hoàn cảnh éo le đã xui nên. Những tâm tình hắc ám nhất của nhân loại đều thấy cùng gặp gỡ nhau ở đây: một người có ý định sát nhân, đúng hơn lại muốn để cho người khác can tội vì muốn bảo toàn danh dự mình hoặc khỏi mất thanh danh đối với những khách dự tiệc có lẽ đang say xỉn; một cô gái nhảy đùa giỡn với mạng sống con người với tư thế ung dung như cô đang chơi trò giật dây con rối vậy. Đó là một trong những trang bi đát nhất của tất cả tấn tuồng của con người từ đó để lộ ra lẫn lộn tất cả sự hèn nhát, nhân nhượng, mưu mô, thù oán, say sưa và tàn bạo hầu làm nên cái mà Mauriac gọi là uẩn khúc nham hiểm của loài rắn độc.

Tính nhu nhược của Hêrôđê là đầu mối cho tất cả sự việc này. Từ khi nghe lời Hêrôđia xúi xiểm tống giam Gioan Tẩy giả cho đến khi bị mắc kẹt trước các khách dự tiệc, không thể rút lại mà không phơi trần một sự yếu hèn hơn, Hêrôđê sẽ vẫn là một con người bị người khác vận dụng và sẵn sàng nhượng bộ tất cả với điều kiện là “giữ được thể diện” cho mình. Ông sẽ chẳng coi chi những tâm tình vị nể và cảm phục ông Gioan, người mà tự thâm tâm ông vẫn thích nghe.

Sau đó ít lâu, một tấn tuồng khác gần tương tự sẽ còn làm nổi bật tính nhu nhược này của con người. Tại pháp đình, trước đám đông người Do thái bị các trưởng tế xúi giục hò hét, Philatô sẽ rửa tay tỏ ra vô can trong cái chết của Đức Kitô, mặc dầu ông không tìm được chứng cớ nào để kết án tử Người.

Thiết lập một danh sách liệt kê những biến cố đại loại như trên, thiết tưởng không phải là chuyện khó làm. Những vụ giết người và phản bội thường có nguồn gốc là một lô những nhu nhược, hèn nhát, yên lặng đắc tội…Những người có quyền, có địa vị mà nhu nhược thường bao che cho những kẻ quỷ quyệt để chúng hưởng lợi. Quả thực, ít có những người có sự thật và biết tôn trọng sự thật đến cùng, một sự thật ngoan cường.

Còn chúng ta, chính chúng ta thường tỏ ra khôn khéo hơn trong vai những người mềm yếu và nhu nhược khi chúng ta diễn lại tấn tuồng trên đây của con người.

------------------------------

 

Suy Niệm 19. Số phận của ngôn sứ


--Jos.Vinc. Ngọc Biển SSP

Có những cái chết đã đi vào bất tử, trường tồn, bởi nó đã trở thành biểu tượng cho một tinh thần bất khuất. Vì thế, muôn thế hệ sẽ còn tưởng nhớ chính nhân.

Cái chết đó chính là cái chết của Gioan Tẩy Giả.

Nếu các Ngôn Sứ là những người thay mặt Chúa, thông truyền sứ điệp của Thiên Chúa cho dân; sứ mệnh của các ngài chính là việc dạy dỗ, khuyên răn dân đi theo đường lối của Thiên Chúa để được sống; đồng thời, lên tiếng tố cáo những việc làm sai trái mà dân đang thực hiện. Mặt khác, các ngài cũng không quên một nhiệm vụ quan trọng, đó là nhắc dân từ bỏ con đường bất chính gian tà để trở về với Thiên Chúa. Chính vì thế, các ngài thường bị dân chúng giết chết để khỏi trướng tai gai mắt họ.

Thật vậy, Gioan cũng đã chung số phận khi lên tiếng tố cáo cuộc sống loạn luân của vua Hêrôđê khi ông ta bỏ vợ để cướp vợ của anh cùng cha khác mẹ với mình. Cuộc sống của vua đã trở thành đồi bại, vô luân, và nhất là gây nên một gương mù lớn trong dân.

Khi Gioan tố cáo Hêrôđê, thì đồng nghĩa với việc ông lên tiếng phản đối cả một hệ thống lãnh đạo suy đồi khi cùng với vua hưởng lạc trong lúc chứng kiến con gái bà Hêrôđia múa hát để chiêu mộ lòng vua!

Sự thật thì mất lòng! Gian dối lên ngôi! Tội lỗi hoành hành! Và, nhất là một con người nhu nhược, không có lập trường như Hêrôđê, Gioan đã bị giết dưới lưỡi gươm của tội lỗi!

Tiếp nối sứ vụ của Gioan, và nhất là thi hành lệnh truyền của Đức Giêsu, suốt hơn 2.000 năm nay, Giáo Hội không ngừng lên tiếng cho công lý, sự thật, bảo vệ những người nghèo, không có tiếng nói..., thế nên nhiều chứng nhân anh dũng đã can đảm nói không với ái ác, bất nhân và vô luân. Họ đã: "Vâng lời Thiên Chúa, hơn là vâng lời con người". Vì thế, biết bao nhiêu máu đào đã đổ ra và những đống xương “chất đầy thành núi” qua các cuộc tử đạo để gióng lên tiếng nói của lương tâm, hầu tố cáo những thói vô luân của con người, nhất là những vị lãnh đạo bất nhân và ham dục...

Là Kitô hữu, chúng ta được mời gọi trở nên ngôn sứ của Đức Kitô, trở nên người loan báo chân lý...

Tuy nhiên, theo bản tính tự nhiên, chúng ta khó có thể vượt qua được những toan tính thiệt hơn của con người, nên thay vì làm chứng cho Chúa, chúng ta lại phản chứng khi trở nên như Hêrôđê, ghen tỵ, oán ghét, và tàn độc.

Những lúc như thế, ấy là lúc chúng ta chưa dám sống công chính và đi theo giáo huấn của Đức Giêsu.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con lòng can đảm, trung thành với sứ vụ, đồng thời, xin cũng ban cho chúng con lòng nhân hậu, quảng đại và tha thứ cho anh chị em chúng con, khi bị thù ghét, bỏ vạ, cáo gian. Amen.

 ------------------------------

 

Suy Niệm 20. Thánh Gioan Baotixita bị trảm quyết


--ditimchanly.org

Ngày 29 tháng 8, Giáo hội kính nhớ việc thánh Gioan tẩy giả bị chặt đầu, nghĩa là cuộc tử nạn của Ngài. Vị tiền hô lừng danh này từ thiếu thời, đã lui vào sa mạc để sống khoảng 25 năm khổ hạnh. Vào tuổi 29, Ngài được lệnh từ trời cao sai đến bên bờ sông Jordanô giảng phép thống hối và loan báo việc Đấng Thiên sai sắp tới. Khắp nơi, người ta đến với Ngài.

Khi ấy, Chúa Giêsu từ Galilê tới xin Ngài rửa cho. Danh tiếng Ngài lẫy lừng khiến người Do Thái sai sứ giả đến chất vấn Ngài, Ngài khiêm tốn trả lời:

- Tôi không phải là đức Kitô.

Họ hỏi lại: - Vậy thì là ai ?

Ông đáp: - Tôi là tiếng kêu trong sa mạc: hãy bạt lối Chúa đi.

Họ lại hỏi thêm: - Vậy tại sao ông dám thanh tẩy?

Ông trả lời: - Phần tôi, tôi thanh tẩy bằng nước. Đấng ấy đến sau tôi, và tôi không đáng cởi quai dép Ngài. (x. Ga 1,19-27)

Rất mực khiêm tốn, nhưng tiếng tăm Ngài đã thấu tai Hêrôđê. Ông vua này biết Gioan "là người công chính và lành thánh nên vẫn che chở. Nghe ông thì Hêrôđê đâm phân vân nhiều nỗi nhưng lại cứ thích nghe" (x. Mc 6,20). Hêrôđê bị Gioan bắt lỗi về việc ông ta cưới Hêrôđia vợ của anh ông làm vợ mình. Gioan đã nói: - Ông không được phép lấy vợ của anh. (x. Mc 1,8)

Lời nói ấy phải trả giá bằng sự tự do. Gioan bị bắt tù. Nhưng việc tù tội của Gioan không làm giảm cơn giận của người đàn bà tội lỗi. Bà ta quyết tìm cách giết Gioan. Nhân một bữa tiệc Hêrôđê thết đãi tại hoàng cung, con gái mụ Hêrôđia vào nhảy múa giúp vui, nhà vua vui thích lắm, và hứa cho bất cứ gì nó muốn, ra hỏi người mẹ, nó trở lại hoàng cung và thưa: - Thần muốn Ngài ngự ban cho ngay trên chiếc đĩa cái đầu của Gioan Tẩy giả. (x. Mc 6,25)

Buồn phiền, nhưng vì đã lỡ thề hứa trước mặt quan khách, Hêrôđê đã sai thị vệ đi chặt đầu thánh nhân. Cái chết của thánh Gioan tẩy giả xảy ra khoảng một năm trước cuộc tử nạn của Chúa Giêsu.

Bài tường thuật của Mác-cô về cái chết của Thánh Gioan Tẩy giả rất rõ ràng và dễ hiểu.

Ta cần ghi nhớ 2 điều:

- Gioan đã chết vì can đảm nói sự thật, theo đúng chức năng ngôn sứ của mình.

- Cái chết của Gioan có nhiều nét tiên báo cái chết của Chúa Giêsu, vị ngôn sứ tiêu biểu: chết do can đảm sống sứ mạng của mình, chết do ác tâm của con người, chết trong sự thương tiếc của các môn đệ.

1. Trước hết, ta hãy nhìn vào Hêrôđê: một con người vẫn còn lương tâm (“vua nể sợ Gioan vì biết ông là người công chính thánh thiện; vua che chở ông. Khi nghe Gioan nói, nhà vua rất phân vân nhưng lại cứ thích nghe”), nhưng rồi lại không can đảm làm theo tiếng lương tâm của mình.

Văn hào Chateaubriand của Pháp vào thế kỷ 19 đã viết về lương tâm con người như sau: "Con sư tử sau khi giết và ăn thịt con mồi có thể nằm lăn ra ngủ, nhưng con người không thể ngủ yên sau khi giết hại một người đồng loại của mình”.

Thi hào Victor Hugo trong bài thơ "Lương tâm” đã mô tả tâm trạng vô cùng đau thương của Cain sau khi đã giết em mình là Abel: "Cho dẫu Cain có đi đâu, cho dẫu ông có đào một huyệt sâu trong lòng đất để trú ẩn, ánh mắt lương tâm cũng không bao giờ buông tha cho ông”.

Con người có phẩm giá cao cả vì con người có lương tâm. Lương tâm chính là ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa không ngừng dõi theo con người để mời gọi thôi thúc con người vươn lên. Thảm trạng đau thương nhất của cá nhân cũng như của xã hội chính là tiếng nói của lương tâm bị bóp nghẹt. Xét cho cùng, thảm trạng ấy cũng đồng lõa với việc loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống. Khi ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa không còn nhìn xuyên qua tâm hồn con người nữa, thì đó là lúc con người đang dãy chết.

2. Ta nhìn tiếp đến bà Hêrôđia: một người đàn bà hoàn toàn để cho dục tình lôi cuốn. Vì dục tình, bà đã loạn luân. Vì thế, khi Gioan vạch tội bà, bà không ngại tìm dịp giết Gioan để không ai còn ngăn cản được cộc sống loạn luân của mình nữa.

Bà Hêrôđia đã làm những điều mà có lẽ ai trong chúng ta cũng lên án. Thế nhưng, xét cho kỹ thì trong thiên hạ cũng chẳng thiếu gì những người như thế. Không phải chỉ là loạn luân mà còn biết bao nhiêu tội ác khác nhiều khi còn tệ hơn nữa.

Tại một xứ Hồi giáo nọ, có người đàn ông bị vua ra lệnh treo cổ vì ăn trộm thức ăn của người khác. Như thường lệ, trước khi bị xử, tội nhân được nhà vua cho phép xin một ân huệ. Kẻ từ tội liền xin nhà vua:

- Tâu bệ hạ, xin cho thần được chồng một cây táo. Chỉ trong một đêm thôi, hạt giống sẽ nảy mầm, mọc thành cây và có trái ăn tức khắc. Đây là một bí quyết mà cha thần đã truyền lại cho thần. Thần tiếc là khi thần chết đi rồi, bí quyết này sẽ không truyền lại cho hậu thế được.

Nhà vua truyền chuẩn bị mọi sự để sáng hôm sau người tử tội sẽ biểu diễn chồng táo. Đến giờ hẹn, trước mặt vua và các quan văn võ, tên trộm đào một cái lỗ nhỏ và nói:

- Chỉ có người nào chưa hề ăn trộm của người khác mới trồng được hạt giống này. Vì tôi đã lỡ ăn trộm nên không trồng được.

Nhà vua tin lời, nên quay sang nhìn tể tướng. Sau một lúc do dự, vị tể tướng thưa:

- Tâu bệ hạ, thần nhớ lúc còn niên thiếu thần cũng đã có lần lấy của người khác. Thần cảm thấy không đủ điều kiện trồng hạt táo này.

Nhà vua đảo mắt nhìn quanh các quan văn võ đang có mặt. Ông nghĩ may ra quan thủ kho trong triều là người nổi tiếng trong sạch có thể đủ điều kiện. Nhưng quan thủ kho cũng lắc đầu từ chối và tuyên bố với mọi người rằng ông cũng đã có lần gian tham trong chuyện tiền bạc.

Bấy giờ người tử tội mới chua xót lên tiếng:

- Các ngài là những kẻ quyền thế cao trọng, không thiếu thốn điều gì. Vậy mà các ngài không thể trồng được hạt táo này, chỉ vì các ngài cũng đã có lần lấy của người khác. Còn tôi, một con người khốn khổ, chỉ lỡ lấy thức ăn của người khác ăn cho đỡ đói, thế mà các ngài lại kết án treo cổ tôi.

Nghe thế, nhà vua và cả triều thần như xốn xao trong lương tâm. Ông bèn ra lệnh phóng thích người ăn trộm.

3. Ta hãy nhìn nàng Salômê: một người có tài mà không có đức. Cô đã dùng tài múa nhảy của mình để đòi phần thưởng là cái đầu của một vị ngôn sứ.

Tài năng của con là những nén bạc Chúa trao để cho con sử dụng mà làm việc tốt phụng sự Chúa và phục vụ mọi người. Phục vụ chứ không khai thác để thỏa mãn những đam mê hay vơ vét vào cho mình. Chỉ khi nào, con người biết phục vụ thì lúc đó họ mới thấy cuộc đời của mình đậm đà ý nghĩa.

Dương Chấn, người đất Quan Tây đời nhà Hán, làm quan Thái Úy, tính tình thanh liêm, chánh trực. Khi đang làm Thứ Sử, ông có tiến dẫn Vương Mật làm Lệnh Doãn huyện Xương Ấp.

Một hôm, trời tối đi ngang qua Xương Ấp, Dương Chấn nghỉ lại đó một đêm. Vương Mật lén đem 10 lượng vàng đến để đền ơn thuở trước. Dương Chấn thấy vậy, trách Vương Mật:

- Ta biết tài ngươi, mà ngươi không biết được lòng ta.

Vương Mật cố năn nỉ:

- Đêm hôm khuya khoắt, không có một ai hay biết, ngài sợ gì?

Dương Chấn nghiệm mặt đáp:

- Sáng thì có trời đất biết, tối thì có quỷ thần soi biết, trong có ta biết, ngoài có ngươi biết. Chỗ hay biết có nhiều như vậy, sao ngươi gọi là không ai biết?

Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta biết sống tốt đối với mọi người để cho lương tâm của chúng ta lúc nào cũng được thanh thản và bình an.

------------------------------

 

Suy Niệm 21. Thánh Gioan Tẩy Giả Bị Trảm Quyết


--Lm Đa-minh Thiệu O.Cist

Thánh Gio-an Tẩy Giả là một nhân vật rất nổi bật trong Tân Ước. Mặc dù không phải là môn đệ của Chúa Giê-su, nhưng cả bốn sách Tin Mừng đều nhắc tới tên Ngài với một cách thức hết sức trân trọng. Ngay cả sách Công Vụ Tông Đồ cũng nhắc tới Gio-an. Ngoài danh dự được làm Tiền Hô của Chúa, Gio-an Tẩy Giả còn được phúc đích thân “trao ban” Phép Rửa cho Chúa Giê-su nữa. Không những thế, Ngài còn trả giá bằng chính mạng sống mình để làm chứng cho chân lý.

Theo Tin Mừng Lu-ca, Gio-an Tẩy Giả chào đời trước Chúa Giê-su đúng 06 tháng. Có lẽ vào cuối năm 27, Ngài đã đến hoạt động, rao giảng và làm Phép Rửa tại khu vực hai bên bờ sông Gio-an. Phép Rửa của Ngài được coi là chỉ dấu cho sự hoán cải khỏi tội lỗi để làm hòa với Thiên Chúa. Rất nhiều người đã quy tụ lại chung quanh Ngài để nghe Ngài rao giảng và khuyên nhủ thống hối. Có lẽ sức hút của Gio-an trước dân chúng đã khiến Herode Antipas – vua chư hầu của Galilea và Perea (4tcn – 39cn) – phải lo lắng. Ông ta sợ rằng, có thể Gio-an sẽ xúi dân chúng nổi loạn. Mà nếu dân chúng nổi loạn thì ngai vàng của ông sẽ bị đe dọa, bởi dân chúng quy tụ lại quá nhiều chung quanh Gio-an Tẩy Giả.

Đã vậy, Gio-an còn ngang nhiên trách móc vua Herode về lối sống vô luân và đồi bại của ông ta. Ông ta đã ruồng rẫy người vợ cả để lấy một người đàn bà khác. Bà này tên là Hedorias, cháu họ của Herode, và đang là vợ của người em cùng cha khác mẹ với Herode, đó là Philippus. Giữa Philippus và Herodias đã có một người con gái tên là Salome. Trước lối sống đồi bại đó của nhà vua, Gio-an đã không ngần ngại nói thẳng thừng với ông ta rằng: vua không được phép cưới bà Herodias làm vợ.

Đã sẵn bực tức với Gio-an vì Ngài quy tụ bên mình quá nhiều người, giờ đây lại bị Thánh Nhân khiển trách cách công khai, nên Herode đã ngay lập tức ra lệnh tống ngục vị Tẩy Giả. Lẽ dĩ nhiên, vua Herode rất muốn kết liễu cuộc đời Thánh Nhân ngay lập tức, nhưng ông tại lại sợ rằng, làm thế sẽ bị dân chúng nổi loạn, vì dân chúng coi Gio-an Tẩy Giả là một vị Đại Ngôn Sứ.

Và rồi chuyện phải đến cũng sẽ đến. Nhân ngày sinh nhật của mình, vua Herode đã mở tiệc mừng và mời rất nhiều quan khách. Ông cũng không quên mời Salome – con riêng của Hedorias và Philippus – đến dự với tư cách là người góp vui trong bữa tiệc. Salome đã nhảy một vũ điệu làm nức lòng quan khách. Có lẽ đã có sự giàn xếp trước, nên Herode cao hứng thề với cô gái nhảy rằng, cô muốn ông ta thưởng cho cô bất cứ điều chi cũng được, kể cả một nửa quốc gia. Salome vờ đi hỏi ý kiến mẹ. Mẹ cô phán rằng, lấy cái đầu của Gio-an chứ còn cái gì nữa! Cô ta chạy vào và nói với nhà vua, xin thưởng cho tôi cái đầu của vị Tẩy Giả. Nghe thế, vua Herode cũng làm ra vẻ rất ngỡ ngàng và do dự. Nhưng rồi, lấy lý do là không muốn làm cô gái phật lòng cũng như không muốn phủi tay đối với lời tuyên bố hùng hồn của mình trước toàn thể quan khách, nên ông đã ra lệnh cho lý hình vào ngục để lấy đầu Gio-an. Tên lý hình đã làm theo và ngay lập tức mang đầu Gio-an đến cho Salome. Nhận được đầu của vị Tẩy Giả như là một món quà, Salome lập tức mang chiếc đầu đó đến cho mẹ mình. Theo sử gia Flavius Josephus, thì cuộc Tuẫn Giáo của Gio-an Tẩy Giả đã diễn ra vào năm 29 tại lâu đài Macherus thuộc miền Perea, phía Đông sông Gio-đan.

Các môn đệ của Thánh Gio-an đã đến nhận thi thể Thầy mình và tổ chức an táng cho Thầy. Có lẽ họ đã an táng ông tại thành phố Samaria, nơi trước kia thuộc quyền kiểm soát của Herode Antipas, nhưng lúc bấy giờ ông đã không còn quyền kiểm soát trên nó nữa.

Mặc dù đã ra lệnh hành quyết Gio-an Tẩy Giả, nhưng vua Herode vẫn không cảm thấy an tâm khi ông nghe thấy những phép lạ lẫy lừng của Chúa Giê-su. Ông ta cho rằng, Chúa Giê-su chính là Gio-an Tẩy Giả đã sống lại từ trong kẻ chết. Và vì thế, thay vì an tâm vì đã giết được Gio-an, giờ đây Herode lại càng cảm thấy bất an hơn.

Còn về phía mình, Gio-an Tẩy Giả đã được các Ki-tô hữu tiên khởi đánh giá rất cao. Việc ông được cả bốn Tin Mừng nhắc tới với những lời lẽ rất trân trọng là bằng chứng cho thấy điều đó. Chính Chúa Giê-su khi nói về Gio-an Tẩy Giả cũng đã khẳng định rằng: “Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả” (Mt 11,11).

Việc tôn kính Thánh Gio-an Tẩy Giả được lưu truyền từ hồi Giáo hội sơ khai cho tới tận ngày hôm nay.

Người ta cho rằng, hộp sọ của Thánh Gio-an Tẩy Giả đã được mang tới Rô-ma và đang được bảo quản cũng như tôn kính tại nhà thờ San Silvestro in Capite của Rô-ma.

Ngoài Đức Mẹ và Chúa Giê-su ra, thì Thánh Gio-an Tẩy Giả là vị Thánh duy nhất được Giáo hội mừng kính cả trong ngày Sinh Nhật lẫn trong ngày Tuẫn Giáo. Lễ mừng Sinh Nhật của Thánh Gioan Tẩy Giả được Giáo hội cử hành vào ngày 24 tháng 06, tức trước Đại Lễ Sinh Nhật của Chúa Giê-su đúng 06 tháng. Còn Lễ mừng kính ngày Ngài Tử Đạo được Giáo hội cử hành vào ngày 29 tháng 08.

Người ta có thể đọc được trong Martyrologium Romanum (Danh Mục Các Vị Tử Đạo của Giáo hội Rô-ma) những lời sau đây về ngày 29 tháng 08: “Thánh Gio-an Tẩy Giả đã bị trảm quyết. Vua Herode đã ra lệnh chém đầu Thánh Nhân để mừng Đại Lễ Phục Sinh. Hôm nay, sự tưởng nhớ sẽ được cử hành cách long trọng, vì vào ngày này, chiếc đầu đáng kính của Thánh Nhân đã được tái tìm thấy. Sau này, chiếc đầu ấy đã được mang tới Rô-ma và được bảo quản cũng như được dân chúng tôn kính trong nhà thờ Thánh Silvester nằm tại cánh đồng Mars.”

Như vậy, sở dĩ Giáo hội kính nhớ cuộc Tuẫn Giáo của Thánh Gio-an Tẩy Giả vào ngày 29 tháng 08 là vì, theo bản văn trên, ngày này được cho là ngày tìm thấy hộp sọ của Thánh Nhân.

Trong ngày Lễ kính Thánh Gio-an bị Trảm Quyết, Giáo hội cầu nguyện như sau: “Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho Thánh Gio-an Tẩy Giả báo trước mầu nhiệm Con Chúa sinh ra và chịu chết. Xưa thánh nhân đã anh dũng hi sinh vì chân lý và chính đạo thế nào, nay xin Chúa cũng cho chúng con biết xả thân làm chứng cho Tin Mừng như vậy. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giê-su Ki-tô Con Chúa, Chúa chúng con, Người hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.”

Còn sau đây là Kinh Tiền Tụng trong Lễ Kính Thánh Gio-an bị chém đầu:

“Lạy Chúa là Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi, mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con, nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con. Chúng con ca ngợi những kỳ công Chúa đã thực hiện nơi thánh Gio-an Tiền Hô. Chúa đã thánh hiến người và cho người được vinh dự đặc biệt giữa các người thế . Chưa sinh ra người đã nhảy mừng khi Ðấng cứu độ trần gian ngự đến. Lúc chào đời người đã đem lại nhiều niềm vui. Người là vị ngôn sứ duy nhất chỉ cho dân chúng nhận ra Ðức Kitô là Chiên Thiên Chúa đến cứu chuộc trần gian. Hơn nữa, trong dòng sông Gio-đan, người đã làm phép rửa cho Ðấng thiết lập bí tích thánh tẩy để thánh hoá mọi người. Sau cùng, người đã sẵn lòng chịu chết để làm chứng cho Ðức Kitô. Vì thế, cùng với Triều thần thiên quốc, chúng con ở dưới trần gian luôn ca tụng Chúa uy linh cao cả và không ngừng tung hô rằng: Thánh, Thánh, Thánh…”

------------------------------

 

Suy Niệm 22. Thánh Gioan Tẩy Giả Bị Trảm Quyết


--donggioanthienchua.net

- Hôm nay chúng ta tưởng niệm cuộc tử đạo của thánh Gioan Tẩy Giả. Tin Mừng cho biết ông Gioan Tẩy Giả bị giết như thế nào, không có việc tố tụng pháp lý, trong một bữa tiệc, là nạn nhân của sự thối nát và kiêu ngạo của vua Hêrôđê và triều đình của ông ta.    

- Mc 6:17-20:  Nguyên do ông Gioan bị bỏ tù và bị giết. Vua Hêrôđê là một viên quan làm việc cho đế chế La Mã, cai quản miền Paléstine kể từ năm 63 trước Công Nguyên. Hoàng đế Xê-da (Ceasar) trị vì Đế Quốc La-Mã. Ông ta là người đứng đầu tất cả, trong một chính quyền đương thời mà mọi nguồn lợi tức phải thuộc về Đế Chế và thuộc về hoàng đế. Mối lo lắng của vua Hêrôđê là sự thăng quan tiến chức và sự an nguy của mình. Đây là lý do tại sao ông ta đã khống chế bất kỳ một hình thức quấy rối nào. Ông ta ưa được gọi là ân nhân của dân, nhưng trong thực tế lại là một bạo chúa (xem Lc 22:25). Ông Flaviút Giôsépphê, một tác giả thời bấy giờ, cho biết rằng lý do mà ông Gioan Tẩy Giả bị bỏ tù vì vua Hêrôđê sợ rằng sẽ có một cuộc tổng nổi dậy hoặc cách mạng. Việc ông Gioan Tẩy Giả lên tiếng tố cáo chống lại sự suy đồi đạo đức của vua Hêrôđê (Mc 6:18), là giọt nước làm tràn ly, và ông Gioan đã bị tống ngục.

- Mc 6:21-29:  Âm mưu của kẻ sát nhân. Ngày sinh nhật và tiệc thết đãi thịnh soạn, với đàn ca nhảy múa và cuộc truy hoan là dịp để sát hại ông Gioan. Môi trường mà trong đó kẻ có quyền thế trong vương quốc gặp gỡ nhau và trong đó các liên minh được thành hình. Trong bữa yến tiệc có sự tham gia của “các quan đại thần trong triều, các sĩ quan và những người vị vọng xứ Galilêa”. Đây là môi trường mà trong đó việc thảm sát ông Gioan Tẩy Giả đã được quyết định. Ông Gioan, vị ngôn sứ, là một công tố viên sống vạch trần hệ thống nhũng lạm, và đó là lý do mà ông đã bị trừ khử với lý do tư thù cá nhân. Tất cả điều này cho thấy sự suy đồi đạo đức của Hêrôđê. Quá nhiều quyền lực tập trung vào tay một kẻ không có khả năng kiềm chế được bản thân mình. Trong lúc hào hứng của yến tiệc, của rượu ngon và của thịt béo, Hêrôđê đã trịnh trọng thề hứa với người thiếu nữ, một vũ công. Một kẻ mê tín dị đoan như ông ta, nhà vua nghĩ rằng ông ta phải giữ lời thề hứa. Đối với Hêrôđê, mạng sống của người dân không có giá trị gì. Đây là cách mà Thánh Sử Máccô thuật lại câu chuyện thật sự như nó đã xảy ra và cho các cộng đoàn nhiệm vụ đưa ra lời kết luận.  

-  Hàm ý, bài Tin Mừng hôm nay cho biết rất nhiều dữ liệu về thời Chúa Giêsu đã sống và về con đường mà quyền lực đã được thực hành về phần quyền thế vào thời đó. Xứ Galilêa, quê hương của Chúa Giêsu, dưới sự cai quản của Hêrôđê Antipát, con của Vua Hêrôđê Đệ Nhất, từ năm thứ tư trước Công Nguyên đến năm 39 sau Công Nguyên, 43 năm dài!  Trải qua suốt thời gian Đức Giêsu tại thế, không có thay đổi trong chính phủ tại xứ Galilêa!  Hêrôđê là chúa tể tuyệt đối của tất cả mọi thứ, và đã không đưa ra một báo cáo nào với bất cứ ai, ông ta đã tùy tiện theo ý mình. Con người ông ta là kẻ kiêu ngạo, kém đạo đức, chuyên chế, không có bất kỳ một sự kiềm chế nào từ phía dân chúng!

-  Hêrôđê kiến tạo một kinh đô mới, gọi là Tibêriađê. Cố đô Sépphori đã bị phá hủy bởi người La Mã để trả đũa lại việc tổng nổi loạn. Điều này xảy ra khi Chúa Giêsu được khoảng bảy tuổi. Tibêriađê, kinh thành mới, đã được khánh thành mười ba năm sau đó, khi Đức Giêsu độ khoảng 20 tuổi. Kinh đô đã được đặt tên đó để lấy lòng Tibêriút, Hoàng Đế La Mã. Tibêriađê là nơi xa lạ ở miền Galilêa. Đó là nơi mà nhà vua, “triều đình”, các bá quan văn võ, các thân hào của miền Galilêa đã sống (Mc 6:21). Các chủ đất, các binh sĩ, sĩ quan đã sống ở đó và có cả các quan tòa, những kẻ mà nhiều lần đã vô cảm, và thờ ơ (Lc 18:1-4). Các loại thuế và sưu và các nông sản của người dân đã bị chuyển tải về đó. Cũng tại đó, Hêrôđê đã tổ chức các cuộc truy hoan chết chóc của ông ta (Mc 6:21-29). Sách Tin Mừng không nói về việc Chúa Giêsu đã tiến vào kinh thành.

Trong suốt 43 năm cầm quyền của Hêrôđê, một tầng lớp quan lại, trung thành với đường lối của nhà vua, đã được tạo ra:  các Kinh Sư, các thương gia, chủ đất, những kẻ thu thuế chợ, những người thu thuế, quan quyền, vệ binh, quan tòa, người quảng cáo, các chức sắc địa phương. Đa số những người này sống tại kinh thành và được hưởng những đặc quyền mà Hêrôđê ban cho, ví dụ như được đặc miễn các thuế má. Còn những người khác thì sống trong các làng mạc. Trong mỗi làng hoặc phố thị luôn có một nhóm người thiên về chính quyền. Một số Kinh Sư và người Biệt Phái bị ràng buộc vào hệ thống và chính trị của nhà vua. Trong các sách Tin Mừng, các người Biệt Phái xuất hiện chung với những người theo phái Hêrôđê (Mc 3:6; 8:15; 12:13), và điều này cho thấy đang có sự liên minh giữa tôn giáo và các quyền lực dân sự. Đời sống của dân chúng trong các thôn làng miền Galilêa bị kiểm soát rất chặt chẽ, bởi cả phe chính quyền và lẫn tôn giáo. Cần phải có thật nhiều can đảm để bắt đầu một điều gì đó mới mẻ, giống như ông Gioan và Chúa Giêsu đã làm!  Điều tương tự đã lôi cuốn người ta vào sự giận dữ của những người có đặc quyền, những kẻ thuộc về giáo quyền cũng như những kẻ thuộc về chính quyền dân sự, tại cấp địa phương cũng như cấp trung ương.

Một vài câu hỏi gợi ý cho việc suy gẫm cá nhân

-  Bạn có biết ai đã chết vì là nạn nhân của sự tham nhũng và thống trị của kẻ mạnh không?  Và tại đây, giữa chúng ta, trong cộng đoàn chúng ta và trong Giáo Hội, có ai là nạn nhân của chế độ chuyên chế hoặc của chế độ quá nhiều quyền lực không?  Bạn hãy cho một ví dụ.

-  Mê tín dị đoan, tham nhũng, hèn nhát đánh dấu việc thực thi quyền lực của vua Hêrôđê. Bạn hãy so sánh điều này với việc thực thi quyền lực tôn giáo và quyền lực dân sự ngày nay, trong nhiều tầng lớp của cả xã hội lẫn Giáo Hội.

Lời nguyện kết

Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa,

xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ.

Vì Ngài công chính, xin cứu vớt và giải thoát con,

ghé tai nghe và thương cứu độ. (Tv 71:1-2)

------------------------------

 

Suy Niệm 23. Thánh Gioan tiền hô bị trảm quyết


--dongthanhthe.net

Gioan Tẩy Giả cũng đã tự ví mình là "tiếng kêu trong xa mạc: Hãy dọn đường lối cho ngay thẳng" và ngài đã đóng trọn vai trò này qua việc tích cực rao giảng và làm phép rửa thống hối. Tích cực vì ngài đã dám vạch mặt chỉ tên những vấp phạm của tất cả mọi người, không nể nang, không khiếp sợ, kể cả những tội lỗi của các vua quan là những người nắm toàn quyền sanh sát thời bấy giờ, cụ thể là tội loạn luân của vua Hêrôđê và hoàng hậu Hêrôđiađê.

Qua đó, Gioan Tẩy Giả đã sống để nói lên sự thật và đã chết để bảo vệ sự thật: sự thật về hiện tình của xã hội, sự thật về thực trạng của từng cá nhân và sự thật về chính mình. Gioan tuyên bố rõ ràng ngài không phải là Ðấng Cứu Thế, nhưng chỉ là người được kêu gọi để đóng vai trò Tiền Hô chuẩn bị cho ngày Đấng Cứu Tinh sẽ đến.

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu, thật là chua xót nhưng cũng thật hào hùng khi đầu của thánh Gioan nằm trong tay một vũ nữ. Quyền lực của sự dữ tỏ ra mạnh mẽ, thắng thế, áp đảo. Còn quyền lực của sự thiện có vẻ mong manh, yếu đuối, bị bóp dẹp trong lòng bàn tay.

Cái chết của thánh Gioan cho con hiểu rằng đam mê tội lỗi làm cho lòng người ra mù quáng, lôi kéo từ tội này đến tội khác, từ sai lầm này đến sai lầm khác. Người này phạm tội kéo theo người khác phạm tội. Người phạm tội ngày càng đông, sự xấu ngày càng lan rộng. Trong khi đó, ít người dám sống công chính, ít người dám nói sự thật, ít người dám ngăn chặn sự ác, và lôi kéo người khác làm điều thiện. chính con cũng chẳng sống được như vậy.

Lạy Chúa, Chúa đã đến làm chứng cho công lý và dùng quyền năng của Tin Mừng để giải thoát cho thế gian khỏi tội lỗi. Chúa muốn chúng con nối tiếp sứ mạng của Chúa. Xin giúp chúng con dám sống theo Tin Mừng. Xin Chúa đừng để chúng con vì những đam mê, vì những mối lợi hay vì sợ bị thua thiệt cười chê mà rời xa lối sống Phúc Âm. Xin giúp chúng con can đảm ngăn chặn sự xấu đang diễn ra xung quanh. Chúa giao cho chúng con chịu trách nhiệm về người khác. Chúng con sẽ lỗi nặng khi thấy sai mà không lên tiếng, khi thấy đúng mà không làm, khi thấy tốt mà không kéo người khác theo. Xin Chúa tha thứ những thiếu xót, và xin Chúa giúp chúng con chu toàn sứ mạng làm chứng cho Tin Mừng. Amen.

------------------------------

 

Suy Niệm 24. Lễ Thánh Gioan Tẩy Giả Bị Trảm Quyết: Những Chọn Lựa


--Giuse  Ngô Văn Kha CSsR

Cuộc sống là một chuỗi dài những chọn lựa. Những chọn lựa vừa cho thấy giá trị bản thân của một người, vừa bộc lộ tầm vóc của người ấy.

Trình thuật Gioan Tẩy giả bị trảm quyết, tác giả Mác cô cho thấy những khuôn mặt xoay quanh cái chết của ông. Mỗi khuôn mặt được họa khắc đậm nét bằng những chọn lựa của mình, và hậu quả của những chọn lựa ấy là sự bi thảm trong sự đối kháng mãnh liệt, không khoan nhượng giữa hai yếu tố đối nghịch và luôn mang tính loại trừ là thiện và ác, công chính và bất nhân.

Khuôn mặt vua Hêrôđê, một hôn quân ngạo mạn, luôn thèm khát quyền lực, nhục dục và trác táng. Ông công khai loạn luân khi lấy Hêrôđia, chị dâu của mình làm vợ. Điều này khiến Gioan Tẩy giả, vị Tiền hô cho Đấng Mêsia, với lương tâm và trách nhiệm của một ngôn sứ, đã can đảm lên tiếng can ngăn, tố cáo hành vi sai trái, kêu gọi nhà vua trở về nẻo chính đường ngay.

Rất trọng thị vị ngôn sứ nhưng cũng lấy làm chướng. Tâm trí Hêrôđê bị giằng co, xâu xé giữa việc phải chọn lựa giữa chính và tà. Bên cạnh đó là sự lồng lộn căm thù của bà Hêrôđia muốn lấy mạng Gioan Tẩy giả để lấp đầy sự nhục nhã của mình, Hêrôđê đã chọn giải pháp bắt giam và xiềng ông trong ngục thất. Nhất cử lưỡng tiện, Hêrôđê coi giải pháp đó như sự chọn lựa của lương tâm bối rối, giữa hai điều xấu, chọn cái ít xấu hơn. Nhưng có đúng như thế không, hay chỉ là sự chọn lựa “ba phải”?

Tác giả Mác cô viết: “Một ngày thuận lợi đến: Nhân dịp mừng sinh nhật của mình, vua Hêrôđê mở tiệc thiết đãi bá quan văn võ và các thân hào miền Galilê. Con gái bà Hêrôđia vào biểu diễn một điệu vũ, làm cho nhà vua và khách dự tiệc vui thích. Nhà vua nói với cô gái:’Con xin gì, ta cũng cho, dù một nửa nước của ta cũng được” (Mc 6,21-23)

“Ngày thuận lợi” này thuận lợi cho ai? Thuận lợi để làm gì?

Đó là ngày thuận lợi để mọi người phải dứt khoát trong sự chọn lựa của mình, và vì thế cái tâm nhập nhằng – dứt khoát, lương thiện – gian ác phải bộc lộ, bộc lộ với tất cả trương lực của nó.

Nỗi buồn của vua Hêrôđê không thể dùng để biện minh cho thái độ lừng khừng hoặc hối tiếc, phải trả giá vì trót hứa. Biết đó là điều sai trái, ông không thể đổ toàn bộ trách nhiệm cho người xin. Không phải ông không can đảm để từ khước lời cầu xin phi nhân, mà ông buồn phiền, bởi sự cố này đã làm “xấu” công khai bộ mặt “vốn xấu” mà ông đã khéo che đậy bấy nay.

Cô con gái bà Hêrôđia, tuy còn tùy thuộc vào bà mẹ, nhưng cô cũng thích “ngay lập tức”, có được cái đầu Gioan Tẩy giả “đặt trên mâm”.

Bà Hêrôđia nhận đầu của Gioan Tẩy giả từ tay con gái, toại nguyện và thỏa lòng, như nguyên nhân và kết quả của sự chọn lựa bấy nay.

Cái chết của Gioan Tẩy giả trở nên mối phúc “bị bách hại vì lẽ công chính”. Vì binh vực cho công lý, để làm chứng cho lẽ phải, cho dẫu phải thiệt thân, Gioan Tẩy giả trở nên  là một sự chọn lựa ngôn sứ, luôn đứng về phía nẻo chính, đường ngay, trong tất cả mức độ lớn nhỏ.

Cái chết của Gioan Tẩy giả như thế vừa dọn đường cho Đấng Mêsia đến, vừa tiên báo sự chết Cứu độ của Người, trong sự lựa chọn cao cả nhất, trở nên mẫu mực, là chọn lựa thi hành thánh ý Thiên Chúa.

Trong một xã hội tôn vinh sự dối trá, sự thật bị coi thường, công lý bị phỉ nhổ, việc chọn lựa lối sống lươn lẹo với tất cả mánh khóe bất lương, phơi bày sự độc ác, thói chữa mình, cốt để bản thân được lợi là điều hiển nhiên. Liệu những người con của Chúa có dám chọn lựa là “tiếng kêu trong sa mạc”, có dám chọn lựa sống ngay chính và dám chọn chết cho những cám dỗ thường ngày?

 ------------------------------

 

Suy Niệm 25. Cái chết của Gio-an Tẩy Giả


--Cát Biển

Tin Mừng theo thánh Mác-cô kể lại việc Hê-rô-đê đã can dự vào cái chết của Gio-an Tẩy Giả. Nhà vua chịu áp lực từ những khách dự tiệc và mẹ con Hê-rô-đi-a.

Hê-rô-đê tuy đã cho người bắt giam Gio-an trước đó. Nhưng nhà vua luôn áy náy lo sợ trong lòng vì Gio-an là người công chính, là người dám nói sự thật, dám can ngăn lối sống vô luân của nhà vua. Hê-rô-đê còn che chở cho Gio-an trước sự căm thù của bà Hê-rô-đi-a  muốn giết chết Gio-an, vì ngài đã không cho phép hôn sự sai trái giữa Hê-rô-đê và Hê-rô-đi-a tồn tại.

Tuy là người có tự do lương tâm, nhưng Hê-rô-đê lại quá nhu nhược không có can đảm để tha chết cho Gio-an – người vô tội – chỉ vì một lời hứa đầy ngạo mạn trong lúc vui say yến tiệc. Hê-rô-đê chỉ nghĩ đến địa vị của mình, vương quyền của mình, danh dự của mình trong mù quáng, trong danh vọng thấp hèn mà đã làm cho một người công chính phải chết oan.

Lạy Chúa, xin cho con đủ can đảm sống theo lời Chúa dạy, giữa một xã hội xa lạ với Tin Mừng. Xin cho con luôn biết sử dụng sự tự do một cách chính đáng, để mọi quyết định luôn phù hợp với thánh ý Chúa. Amen.

 ------------------------------

 

Suy Niệm 26. Sống vì yêu, chết vì chân lý


Cuộc đời của Gio-an Tẩy giả chính là lời chứng cho Đức Ki-tô, Đấng sẽ đến sau ông nhưng lại cao trọng hơn ông. Ông đã chết vì đã dám sống cho chân lý.  Gio-an đã cản trở cuộc hôn nhân sai trái của ông với bà Hê-rô-đi-a – vợ của Hê-rô-dê Phi-lip-phê, anh trai mình. Ông đã can ngăn nhà vua: “Ngài không được phép lấy vợ của anh ngài”. Hê-rô-đê An-ti-pa đã bắt Gio-an tẩy giả và xiềng ông trong ngục.

Hê-rô-đê vẫn biết Gio-an là người công chính thánh thiện; Hê-rô-đê luôn nể sợ Gio-an. Nhưng Hê-rô-đê đã hèn nhát không dám đối diện với sự thật khi được Gio-an can ngăn không được loạn luân. Vì thế, đã nghe lời xúi giục của Hê-rô-đi-a xử trảm ngài. Chỉ vì một chút danh dự hão, mà Hê-rô-đê đã can dự vào cái chết vô tội một vị ngôn sứ.

Đây cũng chính là bài học cho đời sống gia đình hôm nay:

Nếu gia đình không được liên kết, ràng buộc bởi sự yêu thương chân thật, thì sự giả dối, gian trá sẽ lên ngôi. Một gia đình mà thiếu vắng tình yêu thương chân thật thì gia đình đó sẽ thiếu vắng Thiên Chúa. Mà không có Thiên Chúa – là tình yêu – Không sớm thì muộn chính sự xào xáo, bất hòa, sự bất trung trong gia đình chính là nguyên nhân làm gia đình phải ly tan, đổ vỡ là điều không tránh khỏi. Vợ chồng lúc đó sẽ là những Hê-rô-đê, và Hê-rô-đi-a mới. Lịch sử sẽ được lặp lại; gia đình sẽ biến thành địa ngục, chết chóc…

Lạy Chúa, xin cho con biết sống cho chân lý đức tin khi đối diện với những thật – giả luôn xảy ra hàng ngày; xin Chúa cứu con khỏi mọi sự dữ. Amen.

 ------------------------------

 

Suy Niệm 27. Không im lặng trước tội lỗi và bất công


Thánh Gioan Tẩy Giả là người anh họ của Đức Chúa Giêsu. Thân mẫu ngài là thánh nữ Êlizabeth và thân phụ ngài là ông Zacaria. Chương đầu tiên của Tin mừng theo thánh Luca thuật lại biến cố sinh nhật tuyệt vời của thánh Gioan. Và Tin mừng theo thánh Mác-cô, nơi chương thứ 6, các câu 14-29, kể lại những chi tiết tàn bạo về cái chết của Gioan Tẩy Giả.

Vua Hêrôđê lấy vợ của anh mình là bà Hêrôđia. Gioan nói cho Hêrôđê biết điều ấy là sai, nhưng Hêrôđê và Hêrôđia không muốn nghe và giữ giới luật của Thiên Chúa. Họ chỉ muốn làm theo ý riêng mình. Và Gioan Tẩy Giả đã phải trả giá cho lòng tốt của ngài! Tuy nhiên, thánh nhân không thể hành động theo cách khác được. Ngài không im lặng trước tội lỗi và bất công. Sứ mệnh của Gioan là mời gọi người ta cải hối cuộc đời; và ngài mong muốn cho hết thảy mọi người được ơn giao hòa cùng Thiên Chúa.

Hêrôđia đã giữ mối hận thù đối với Gioan. Và khi dịp thuận tiện xảy đến, bà đã ra tay sắp đặt để Gioan bị chém đầu. Gioan đã phải chấp nhận những hậu quả nghiệt ngã cho việc giảng dạy chân lý Phúc âm.

Thánh Gioan Tẩy Giả rao giảng phép rửa sám hối, chuẩn bị cho người ta đón nhận Đấng Mêsia. Ngài đã làm phép rửa cho Chúa Giêsu trong dòng sông Giođan và được hưởng kiến niềm vui vì sứ mệnh công khai của Chúa Giêsu đã khởi sự. Gioan Tẩy Giả đã khích lệ các môn đồ của mình đi theo Đức Chúa Giêsu. Ngài biết rằng danh Chúa phải tỏa sáng ra, còn danh mình phải lu mờ đi. Trong chương thứ nhất Phúc âm theo thánh Gioan, thánh Gioan Tẩy Giả nhận mình chỉ là tiếng kêu trong hoang địa, chỉ thức tỉnh người ta hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng mà thôi! Thánh nhân mời gọi mọi người hãy sẵn sàng để chuẩn bị đón nhận Đấng Mêsia. Sứ điệp của Gioan Tẩy Giả phải chăng cũng là sứ điệp của mỗi người chúng ta?

Chúng ta hãy nài xin thánh Gioan Tẩy Giả giúp chúng ta luôn sẵn sàng để đón nhận Chúa Giêsu ngự đến trong cuộc sống của mình.

------------------------------

 

Suy Niệm 28. Lương tâm chân chính


--Cát Biển

Nhóm nhạc Lê Minh Bằng (1959), cho ra đời Đêm Nguyện Cầu – nhạc phẩm đầu tay của nhóm – được mở đầu với những ca từ như sau:

“Hãy lắng tiếng nói vang trong tâm hồn mình, người ơi

Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối…”

 Làm đánh động lương tâm nhiều người yêu hòa bình; chán ghét chiến tranh hận thù… trong những năm đất nước còn chiến tranh tương tàn.

Hôm nay, Giáo hội tưởng nhớ cái chết bi thương của một vị thánh đã dám bày tỏ lương tâm chân chính của mình để bảo vệ chân lý; can đảm chấp nhận trảm quyết để nói lên sự thật; và đã nên chứng nhân anh hùng cho Tin Mừng Cứu Độ…

Vị đó chính là Gio-an Tẩy Giả. Ngài đã bị bắt giam trong ngục và bị chặt đầu bởi sự mê muội và tàn ác của vua Hê-rô-đê cũng như của bà Hê-rô-đi-a.

Cái chết của Gio-an Tẩy Giả chính là “cú hích can đảm” cho những ai đang và sẽ làm chứng cho sự thật; làm chứng cho Đức Ki-tô, mặc dù biết rõ nếu dám làm chứng như thế sẽ bị bách hại, sẽ bị giết chết.

Gio-an Tẩy Giả đã đi qua cái chết để hoàn thành sứ mạng tiền hô của mình một cách tốt đẹp…

Lời thề hứa thiếu khôn ngoan, ích kỷ; một lương tâm hèn nhát; một sĩ diện hão của Hê-rô-đê; và sự đam mê dục tình, mưu mô hiểm độc của bà Hê-rô-đi-a vẫn còn nhan nhãn, vẫn còn đang tiếp diễn trong thế giới hôm nay dưới các hình thức: Không tôn trọng phẩm giá con người; không tôn trọng sự thật, công lý; nuôi lòng hận thù, ích kỷ, ghen ghét; mê đắm thụ hưởng khoái lạc, tôn thờ của cải vật chất, và ham thích sự bất chính…

Nếu người tín hữu Chúa Ki-tô không sống theo giá trị Tin Mừng; không biết sống yêu thương, tôn trọng nhau như Chúa đòi hỏi; không dám bảo vệ công lý, hòa bình, xây dựng nền văn minh tình thương trong môi trường sống của mình và trong đời sống gia đình của mình… thì họ cũng chính là bạo vương Hê-rô-đê và ác phụ Hê-rô-đi-a đó thôi !

Lạy Chúa Giê-su, Chúa chính là đường, là sự thật và là sự sống. Xin cho các Ki-tô hữu biết noi gương thánh Gio-an Tẩy Giả, sống chân thật và can đảm làm chứng cho sự thật để mỗi Ki-tô hữu trở nên những chứng nhân anh dũng của Chúa giữa lòng thế giới hôm nay. Amen.

 ------------------------------

 

Suy Niệm 29. Hãy sống trong sự thật


--M. Liên

1. Ghi nhớ:

Cô gái đi ra hỏi mẹ: “con nên xin gì?”. Mẹ cô nói: “Đầu Gioan Tẩy Giả”. Lập tức cô vội trở về bên nhà vua và xin rằng: “con muốn ngài ban cho con cái đầu Gioan Tẩy Giả, đặt ngay trên mâm” (Mc 6, 24-25)

2. Suy niệm:

Cái chết của Thánh Gioan Tẩy Giả mà Giáo Hội mừng kính hôm nay, đã giúp cho cả  nhân loại ghi nhớ tấm gương của Ngài để lại cho hậu thế là “hãy sống trong sự thật”. Qua đó, đây cũng là cơ hội để chúng ta nhìn lại thái độ của mình khi đứng trước bao sự bất công và những điều bất chính trong xã hội. Thánh Gioan Tẩy Giả trong suốt cả cuộc đời mình và ngay cả cái chết của Ngài cũng đều phục vụ cho sứ mạng Tiền Hô.

Chúa Giêsu đã xác nhận vai trò này của Gioan Tẩy Giả qua việc ông lên án một vua Hêrôđê đi đường tội lỗi, sống trong bóng tối, không nhìn ra sự công chính, một Hêrôđê sống loạn luân với vợ của anh mình, một sự trác táng không thể tha thứ được. Hêrôđê đã sống với cuộc sống có thể gọi là “ma-kê-nô” (mặc kệ nó) cứ vui thú đi, với lối sống băng hoại, tìm thỏa mãn cho riêng mình, hưởng thụ, bào chữa cho mình nhiều lý do mà cần đến đời sau. Gioan Tiền Hô đã đến để minh chứng cho sự thật của chân lý, một Gioan không chịu khuất phục cái chướng tai gai mắt của một xã hội đang đi vào đà suy thoái, tiếng gióng của Gioan Tiền Hô cảnh tỉnh cho nhiều người, nhiều thế hệ, sống làm chứng cho sự thật, kêu gọi mọi người sám hối.

Xã hội ngày nay cũng không khác gì hoàn cảnh sống của Gioan Tẩy Giả ngày xưa là mấy, khi chúng ta phải đối diện với nhiều căn bệnh “nan y” như “bệnh dối trá”, làm ăn gian dối, lừa đảo, phi pháp. Chỉ cần một chút lợi nhuận, người ta có thể bán rẻ lương tâm mình mà thản nhiên cung cấp, bày bán tràn lan những thực phẩm bẩn, nhiễm độc hóa chất gây ung thư gây giết người từ từ, tiếp tay cho những người xấu bán hàng chỉ vì món lợi trước mắt. Liệu mỗi người chúng ta có dám can đảm đứng lên, như Gioan Tẩy Giả khi xưa, mà nói không và kiên quyết cự tuyệt với những điều xấu xa bất lương này? Hãy sống thật với lương tâm mình, sống trong sự thật ngay trong gia đình, nơi xã hội, nơi cộng đoàn, ngay nơi huynh đoàn chúng ta đang sống, qua cách hành xử với nhau, đừng vì cái tôi, danh vọng, tiền tài, mà bẻ cong sự thật, đôi khi làm mất đi tình hiệp thông huynh đệ nơi ta đang sống.

Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người Kitô hữu sống trọn vẹn với ơn gọi và sứ mạng mình, dù ở hoàn cảnh nào chúng ta cũng có thể làm chứng cho Chúa bằng sự thật: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy”(Ga 14,6). Dù xã hội ngày nay có biến đổi và suy thoái đến mức độ nào, nhưng nếu mỗi người chúng ta vẫn giữ vững đức tin của mình để sống ngay thẳng và làm chứng cho sự thật, thì dù bất cứ nơi đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn có Chúa luôn đồng hành với chúng ta. Và sự thật hiển nhiên đó có rất nhiều minh chứng cụ thể diễn ra trên thế giới hằng ngày, như câu chuyện sau đây về một em bé người Nhật:

Một học sinh Nhật là Kitô hữu duy nhất trong ngôi trường có 150 học sinh. Trước mỗi bữa ăn, em thường mạnh dạn làm dấu thánh giá và đọc kinh. Các học sinh đến tố cáo với thầy giáo là em có “hành vi ma thuật”. Nghe thấy thế, thầy cho gọi em lên đứng giữa lớp, hỏi xem em đã làm gì em thẳng thắn nói rằng em chỉ cám ơn Chúa đã ban lương thực hằng ngày. Nghe vậy, thầy giáo gục xuống bàn, nước mắt ràn rụa nói: “Này con, ta cũng là Kitô hữu, nhưng ta không can đảm tỏ ra cho mọi người biết. Giờ thì cám ơn Chúa, ta đã biết là “Kitô hữu, ta phải làm gì.” (Góp nhặt)

Cầu nguyện:

Lạy Chúa là đường là sự thật và là sự sống, xin chỉ dẫn chúng con sống trong chân lý và sự thật, nhờ sự thật trong Đức Kitô dẫn đưa mọi người đến phúc trường sinh. Amen.

------------------------------

 

Suy Niệm 30. Sống cho chân lý và sự thật


1. Ghi nhớ: Ông Gioan lại bảo: “Ngài không được phép lấy vợ của anh Ngài” (Mc 6, 18)

2. Suy niệm:

Vốn bản tính con người, Hêrôđê cũng luôn bị giằng co giữa cái xấu và cái tốt. Sự chọn lựa của một tâm hồn yếu đuối bảo thủ thường đem sự thiệt hại cho người khác. Sự dối trá, hèn nhát của Hêrôđê cộng thêm yếu đuối xác thịt  nên ông đã lấy vợ của anh mình là Hêrôđê Philip. Ông đã bị cái xấu đánh gục trước khi kịp tìm về nẻo chính đường ngay.

Nhìn vào lối sống của Hêrôđê, mỗi người chúng ta cần nhìn lại và soi rọi lại bản thân mình đã thực sự sống làm tôi Thiên Chúa chưa hay đã làm nô lệ cho cái xấu như thế nào? Dù ở thời đại nào cũng vậy, mỗi người cần có sự can đảm, cần biết loại trừ ghen ghét, thù hận, bất công và giết người dưới mọi hình thức nào, noi gương Thiên Chúa tìm sự yêu thương, tha thứ cho kẻ thù của mình. Con người nếu không có sự yêu thương chân thành, gia đình sẽ biến thành địa ngục trần gian như gia đình Hêrôđê, đồng thời sẽ phải trả giá đắt cho việc làm của mình.

3. Sống Lời Chúa: Học cùng Chúa luôn sống cho chân lý và sự thật

4. Cầu nguyện:

Lạy Chúa! Xin giúp chúng con biết khiêm tốn nhận lỗi lầm, sẫn sàng chấp nhận mọi đớn đau thua thiệt và luôn làm chứng nhân cho Chúa Giêsu trong mọi cay đắng của cuộc đời.

------------------------------

 

Suy Niệm 31. Phúc thay người “chịu khốn nạn vì đạo ngay”


“Lập tức, vua sai thị vệ đi …. Thị vệ ra đi, chặt đầu ông Gio-an Tẩy giả ở trong ngục, bưng đầu ông trên một cái mâm trao cho cô gái, và cô gái trao cho mẹ.” (Mc 6,27-28).

Suy niệm: Dù không bị bắt phải bước qua thập giá hay phải chối bỏ đức tin như các vị thánh tử đạo, thánh Gio-an Tẩy giả bị chết tức tưởi chỉ vì một lời nói ngay, bênh vực cho đạo lý: “Nhà vua không được lấy vợ của anh mình.” Dùng lời nói, cuộc sống và cuối cùng dùng cả cái chết của mình để rao giảng cho chính đạo như thế, Gio-an Tẩy Giả xứng danh là một vị tử đạo đầy đủ ý nghĩa, đúng như Lời Chúa nói trong Tám Mối Phúc Thật: “Ai chịu khốn nạn vì đạo ngay ấy là phúc thật” – nói theo ngôn ngữ hiện đại là “ai vì bênh vực cho công lý, cho lẽ phải mà phải chịu thiệt thân” người ấy được hưởng hạnh phúc giống như những người dám liều thân làm chứng cho Đức Ki-tô vậy.

Mời Bạn: Lời Tertulianô, một văn sĩ công giáo cổ thời, vẫn còn giá trị: “Máu các thánh tử đạo là hạt giống làm trổ sinh các tín hữu.” Để có thể dám chết vì chính đạo, ta phải dám sống vì chính đạo trước đã. Chính cái chết từng ngày qua việc từ bỏ tính ích kỷ, từ bỏ những đam mê dục vọng, những việc làm bất chính sẽ dẫn đưa chúng ta đến cõi sống muôn đời và là những hạt giống âm thầm được vùi trong cuộc sống để làm trổ sinh các tín hữu mới.

Chia sẻ: Sống đạo là “sống-tử-đạo”. Để sống-tử-đạo bạn cần từ bỏ những gì?

Sống Lời Chúa: Mỗi ngày bạn sống-tử-đạo bằng cách làm một hy sinh nhỏ.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin giúp con biết từ khước những thói hư tật xấu, chết cho ý riêng con mỗi ngày để luôn sống trong tình yêu của Thiên Chúa.

------------------------------

 

Suy Niệm 32. Lễ thánh Gioan Baotixita bị trảm quyết


--GKGĐ Giáo Phận Phú Cường

Qua đoạn Tin Mừng này, Thánh Marcô đã thuật lại cho chúng ta biết về sự việc Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết. Với sự kiện này nói lên Gioan thật là một người công chính, ngay thẳng và hết sức can đảm, dám chỉ trích việc làm sai trái của một vị vua. Chắc chắn rằng, khi Gioan nói lên điều này ngài đã biết những gì sẽ xảy đến cho bản thân mình.

Quả thật, chỉ qua lệnh truyền của một bạo chúa, thì một nhát đao phát qua và một cái đầu đã phải rơi xuống trong ngục tối. Đó là những diễn tiến để kết thúc cuộc đời của thánh Gioan Tẩy Giả, một biến cố mà Giáo Hội mời gọi chúng ta tưởng niệm ngày hôm nay.

Chúng ta thấy chỉ vì một lời thề thiếu sự khôn ngoan, một quan niệm rất thiển cận về danh dự ảo của một bạo chúa mê đắm quyền lực và tửu sắc, cùng với lòng hận thù của một phụ nữ loạn luân, xấu xa, đã khiến cho Gioan Tẩy Giả phải chết không toàn thân. Thế nhưng, chính cái chết này đã nâng ngài lên cao trên đài danh vọng, danh vọng của các vị tiên tri đích thực, vì Gioan cũng bị đau khổ, bị giam cầm và bị giết chết bởi chính lời mình rao giảng.

Gioan Tẩy Giả đã từng ví mình là "tiếng hô trong xa mạc" và ngài đã thực hiện trọn vẹn vai trò này qua việc tích cực rao giảng và làm phép rửa thống hối. Tích cực vì ngài đã dám vạch mặt chỉ tên những vấp phạm của tất cả mọi người, ngài không nể nang hay phải khiếp sợ một ai, kể cả tội lỗi của các vua chúa là những người nắm toàn quyền sanh sát thời bấy giờ, mà cụ thể chúng ta thấy là tội loạn luân của vua Hêrôđê và bà Hêrôđia, là vợ của anh trai nhà vua.

Quả thật, Gioan Tẩy Giả là một con người đã sống để nói lên sự thật và đã chết để bảo vệ sự thật. Ngài đã dám nói sự thật về hiện tình của xã hội, về thực trạng của từng cá nhân và sự thật về chính mình. Gioan tuyên bố rõ ràng ngài không phải là Đấng Cứu Thế, nhưng chỉ là người được kêu gọi để thực hiện sứ mạng tiền hô chuẩn bị cho ngày Đấng Cứu Thế sẽ đến.

Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy dám sống sự thật trong xã hội mà chúng ta đang sống. Một xã hội vẫn còn đó có biết bao nhiêu chuyện bất chính và tội ác, nhưng rồi chẳng thấy mấy ai dám lên tiếng để cảnh báo hay để chống lại, có vẻ như mọi sự đang im hơi lặng tiếng.

Xin cho mỗi người tín hữu chúng ta biết can đảm sống cho sự thật, biết xây dựng cho nhau qua sự góp ý và mạnh dạn chỉ ra những lỗi lầm thiếu sót, những sai trái trong đời sống đời thường cũng như trong công tác tông đồ.

Rất ước mong mỗi người chúng ta luôn biết noi gương của thánh Gioan dám lấy lập trường khẳng khái, thẳng thắn, mạnh mẽ phản đối lại những gì đi ngược lại với chân lý, với sự thật.

Xin Chúa cho chúng con sức mạnh để dám dấn thân như thánh nhân trong xã hội ngày hôm nay. Amen.

------------------------------

 

Suy Niệm 33. Đó chính là Gioan Tẩy Giả trẫm đã chặt đầu, nay sống lại


--Lm. Micae Võ Thành Nhân

Hôm nay, Giáo Hội dâng lễ nhớ ngày thánh Gioan Tẩy Giả bị vua Hêrôđê trảm quyết. Nhìn vào cuộc đời của thánh Gioan Tẩy Giả, chúng ta nhận thấy  thánh nhân mang dấu ấn cuộc đời của Chúa:

- Cuộc thụ thai của thánh nhân báo trước cuộc thụ thai nhập thể làm người của Chúa (xLc 1, 5 – 25).

- Ngày thánh nhân sinh ra trong trần gian, báo trước ngày Chúa chào đời (xLc 1, 57 – 66).

- Cuộc xuất hiện công khai của thánh nhân bên bờ sông Giođan để làm phép rửa cho Chúa và rao giảng sự thống hối cho toàn dân báo trước sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Chúa (xLc 3, 1 – 18).

- Cuộc khổ nạn của thánh nhân hôm nay báo trước cuộc thương khó của Chúa sau này (xMc 6, 17 – 29).

Cuộc đời của thánh Gioan Tẩy Giả giống cuộc đời của Chúa. Đó là, thánh nhân làm nhiều điều tốt đẹp cho dân chúng thời bây giờ. Như giúp cho dân chúng nhìn nhận tội lỗi của mình để mà ăn năn sám hối, xin Chúa tha thứ, chuẩn bị tâm hồn một cách xứng đáng để đón Đấng Cứu Thế đến. Đặc biệt là ngài đã giới thiệu, đã chỉ Chúa cho mọi người” Đây là Chiên Thiên Chúa. Đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1, 29). Thế nhưng, dân chúng lại đối xử với ngài một cách tệ bạc. Cụ thể là vua Hêrôđê đã chém đầu ngài trong ngày sinh nhật của nhà vua. Nhân chuyện con gái bà Hêrôđia vào nhảy múa làm vui lòng nhà vua và các quan khách hôm đó, cho nên vua hứa cô xin gì vua sẽ ban cho, dù là nửa nước, và cô đã xin đầu Gioan Tầy Giả đặt ở trên mâm, vua đã làm theo ý của cô. Và rồi chúng ta thấy thánh nhân đã chết một cách đau đớn như vậy, vì ngài đã làm chứng cho Chúa, cho sự thật, ngăn cản không cho nhà vua lấy bà Hêrôđê, vợ của anh mình làm vợ của mình. Vì thế, thánh nhân là tiền hô của Chúa, và ngược lại muốn làm tiền hô cho Chúa thì phải giống Chúa thì mới được.

Chúng ta là con cái của Chúa, chúng ta là hình ảnh của Chúa, chúng ta phải trở nên giống Chúa trong mọi sự như thánh nhân. Càng giống Chúa chừng nào thì chúng ta càng dễ dàng chiếm được ngành thiên tuế tử đạo bấy nhiêu.

Lạy Chúa, cuộc đời của thánh Gioan Tẩy Giả,  là vị Tiền hô của Chúa, là sứ giả của Chúa kết thúc sao mà có vẻ bi thảm, thất bại, đau thương quá. Không lẽ cứ theo Chúa là có kết cuộc như vậy hay sao? Đối với thế gian, đó là một thất bại, thất bại nặng nề nữa là khác. Nhưng đối với chúng con, đó là một vinh dự vì được làm chứng cho Chúa, được trở nên giống như Chúa. Xin Chúa gia tăng thêm sức mạnh cho chúng con qua Lời Chúa và Thánh Thể Chúa mà chúng con rước lấy mỗi ngày, để chúng con đủ nghị lực làm chứng cho Chúa là tình yêu giữa lòng đời, dù phải hy sinh mạng sống của chúng con. Nguyện xin thánh Gioan Tẩy Giả cầu thay nguyện giúp cho chúng con. Amen.

------------------------------

 

Suy Niệm 34. Cái đầu đặt trên mâm


--Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Thánh Gioan Tẩy Giả Bị Trảm Quyết hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa đã muốn cho thánh Gioan Tẩy Giả báo trước mầu nhiệm Con Chúa sinh ra và chịu chết. Xưa thánh nhân đã anh dũng hy sinh vì chân lý và chính đạo thế nào, thì nay, xin Chúa cũng cho chúng ta biết xả thân làm chứng cho Tin Mừng như vậy. Thánh Gioan Tẩy Giả đã bị chém đầu ở Makêron, gần Biển Chết, do lệnh của vua Hêrôđê Antipa. Cái chết của người, vị tiền hô của Chúa Kitô, cho thấy rõ người có tâm hồn quả cảm như thế nào và người đã đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa trọn vẹn ra sao. Khi chết cũng như khi còn rao giảng, người đều làm chứng cho chân lý. Người quả là “ngọn đèn cháy sáng” như lời Đức Giêsu đã nói.

Xả thân làm chứng cho Tin Mừng, kêu gọi sám hối, để được Chúa xót thương, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Giêrêmia: Tai hoạ khủng khiếp đang rình rập. Dân ngoại xâm lăng là dấu Chúa trừng phạt. Ngôn sứ có nhiệm vụ báo trước những đau khổ của dân, không thể cứ trơ như đá, vững như đồng, nhưng cũng dự phần với tất cả con người ngôn sứ… Lạy Thiên Chúa, trước cơn thịnh nộ bừng cháy của Ngài, cả địa cầu run rẩy; nhưng phần Ngài, lạy Chúa, xin rủ lòng xót thương. Xin Ngài đừng phá hủy hoàn toàn. Lạy Chúa Trời, Đấng cứu độ chúng con, xin dẫn chúng con về, đừng hận chúng con nữa.

Xả thân làm chứng cho Tin Mừng, dám nói và chết cho sự thật, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích bài giảng của thánh Bêđa Khả Kính: Vị tiền hô loan báo Đức Kitô sinh ra và chịu chết… Vua Hêrôđê đã sai người đi bắt ông Gioan và xiềng ông trong ngục, vì ông Gioan dám trách vua đã lấy bà Hêrôđia là vợ của anh vua. Vua sai thị vệ chặt đầu ông Gioan ở trong ngục.

Xả thân làm chứng cho Tin Mừng, không sợ hãi chi, vì có Chúa đỡ nâng, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, trích sách ngôn sứ Giêrêmia: Hãy nói với chúng tất cả những gì Ta sẽ truyền cho ngươi. Trước mặt chúng, ngươi đừng run sợ. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 70 kêu xin: Lạy Chúa, miệng con sẽ tường thuật ơn cứu độ Ngài ban. Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. Vì Ngài công chính, xin cứu vớt và giải thoát con, ghé tai nghe và thương cứu độ.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Trong bài Tin Mừng, cô gái nói: Con muốn ngài ban ngay cho con cái đầu ông Gioan Tẩy Giả, đặt trên mâm. Phúc cho ai bị bách hại vì sống công chính, dám sống sự thật, bởi vì, Đức Kitô nói: Chính Thầy là sự thật, nên, ai đổ máu vì sự thật, thì, cũng là đổ máu vì Đức Kitô. Gioan Tẩy Giả sinh ra, rao giảng, làm phép rửa trước, để, làm chứng cho Đấng sẽ sinh ra, rao giảng và làm phép rửa sau. Chính người cũng chịu khổ nạn trước, để, báo hiệu về Đấng sẽ chịu khổ nạn sau. Sau một thời gian chịu khốn khổ vì xiềng xích, thánh nhân đã chấp nhận đổ máu, chấm dứt cuộc đời trần gian: người từng loan báo tin mừng về tự do, thứ tự do từ bình an của trời cao đem tới, lại bị kẻ bất lương giam cầm; người đến để làm chứng về ánh sáng, xứng đáng cho chính ánh sáng là Đức Kitô gọi là ngọn đèn cháy sáng, lại bị nhốt trong bóng tối ngục tù. Ước gì chúng ta như thánh Gioan, ước mong nhận được “cành thiên tuế” là sự sống vĩnh cửu, nhờ tuyên xưng danh Đức Kitô, đó là ân huệ, mà những người được Thiên Chúa tuyển chọn: có thể chịu đau khổ vì Đức Kitô. Chúa đã muốn cho thánh Gioan Tẩy Giả báo trước mầu nhiệm Con Chúa sinh ra và chịu chết. Xưa thánh nhân đã anh dũng hy sinh vì chân lý và chính đạo, ước gì chúng ta biết xả thân làm chứng cho Tin Mừng như vậy. Ước gì được như thế!

---------------------------------

 

Thứ 7 TN –Tuần 21/2025

Trung tín và sáng kiến.
30/08 – Thứ Bảy tuần 21 thường niên.
"Vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi".

 

Lời Chúa: Mt 25, 14-30


Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này rằng: "Có một người kia sắp đi xa, liền gọi các đầy tớ đến mà giao phó tài sản của ông. Ông trao cho người này năm nén bạc, người kia hai nén, người khác nữa một nén, tùy theo khả năng mỗi người, đoạn ông ra đi.
Người lãnh năm nén bạc, ra đi và dùng tiền ấy buôn bán làm lợi được năm nén khác. Cũng vậy, người lãnh hai nén cũng làm lợi ra hai nén khác. Còn người lãnh một nén, thì đi đào lỗ chôn giấu tiền của chủ mình.
Sau một thời gian lâu dài, ông chủ các đầy tớ trở về và đòi họ tính sổ. Vậy người lãnh năm nén bạc đến, mang theo năm nén khác mà nói rằng: "Thưa ông, ông đã trao cho tôi năm nén bạc, đây tôi làm lợi được năm nén khác". Ông chủ bảo người ấy rằng: "Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi làm những việc lớn, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi".
Người đã lãnh hai nén bạc cũng đến và nói: "Thưa ông, ông đã trao cho tôi hai nén bạc, đây tôi đã làm lợi được hai nén khác". Ông chủ bảo người ấy rằng: "Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi làm những việc lớn, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi".
"Còn người lãnh một nén bạc đến và nói: "Thưa ông, tôi biết ông là người keo kiệt, gặt chỗ không gieo và thu nơi không phát, nên tôi khiếp sợ đi chôn giấu nén bạc của ông dưới đất. Đây của ông, xin trả lại ông". Ông chủ trả lời người ấy rằng: "Hỡi đầy tớ hư thân và biếng nhác, ngươi đã biết ta gặt chỗ không gieo, thu nơi không phát: vậy lẽ ra ngươi phải giao bạc của ta cho người đổi tiền, và khi ta trở về, ta sẽ thu cả vốn lẫn lời. Bởi thế, các ngươi hãy lấy nén bạc lại mà trao cho người có mười nén. Vì người có sẽ cho thêm và sẽ được dư dật, còn kẻ chẳng có, thì vật gì coi như của nó, cũng lấy đi. Còn tên đầy tớ vô dụng, các ngươi hãy ném nó ra ngoài vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc, nghiến răng".

---------------------------------

 

Suy niệm 1: Vào mà hưởng niềm vui


(Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ.)

Người ta vẫn hay có cái nhìn tĩnh và buồn về đời sống Kitô hữu.
Đó là một đời sống cam chịu, nhẫn nhục, cúi đầu vâng phục Ý Chúa,
một đời sống khổ đau vì phải bước theo Chúa Giêsu vác thánh giá.
Nhìn như thế đúng nhưng không đủ.
Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta một cái nhìn khác,
tươi tắn hơn nhiều, chủ động và tích cực hơn nhiều.
Thiên Chúa được ví như một ông chủ sắp đi xa.
Vì tin tưởng các đầy tớ của mình, nên khi vắng nhà (c. 14),
ông không ngại giao phó cho họ những món tiền rất lớn, tùy khả năng.
Người được năm yến, kẻ được hai, người được một (c. 15).
Mỗi yến bạc tương đương với sáu ngàn ngày công.
Hẳn các đầy tớ hiểu ý chủ muốn mình đầu tư sinh lợi.
Anh nhận được năm yến đã đi ngay lập tức và làm ăn với số vốn ấy.
Chúng ta không rõ anh đã đầu tư thế nào và bao lâu,
chỉ biết anh đã sử dụng cách hiệu quả những gì anh nhận được.
Sau một thời gian, tiền lời bằng số vốn bỏ ra.
Anh nhận được hai yến cũng vậy, cũng sinh lợi được hai yến khác.
Anh được một yến cũng đi,
nhưng là đi đào lỗ dưới đất để chôn giấu yến bạc (c. 18).
Anh không dám đầu tư vì sợ làm ăn lỗ lã.
Anh sợ số bạc lớn bị mất, nên anh muốn chôn giấu nó cho an toàn.
Khi ông chủ trở về để nghe báo cáo sổ sách của các đầy tớ,
ông đã khen hai anh đầy tớ vất vả làm ăn bằng những lời giống nhau:
“Khá lắm! Anh đúng là tôi tớ tốt lành và trung tín!
Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh.
Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh” (c. 21. 23).
Còn anh đầy tớ chôn giấu yến bạc dưới đất vì sợ hãi ông chủ,
đã bị chủ chê là đầy tớ xấu xa và biếng nhác.
Yến bạc của chủ còn nguyên chẳng hề là điều đáng tự hào.
Ông chủ ngạc nhiên vì tại sao anh lại không gửi tiền vào ngân hàng
để đồng vốn có thể sinh lợi (c. 27).
Anh bị tước mất yến bạc anh đã giữ kỹ, và tống vào chỗ tối tăm.
Một đầy tớ không sinh lợi từ số vốn được trao là một đầy tớ vô dụng (c. 30).
Mỗi Kitô hữu cũng là một người đầy tớ, một quản lý của Chúa,
được tin cậy giao phó, được yêu cầu đầu tư, được mong mỏi sinh lợi.
Sống đời Kitô hữu là chấp nhận dùng tất cả khả năng của mình (c. 15)
để làm cho những gì Chúa ban sinh lợi nhiều nhất.
Điều đó cần đến công sức, tính toán, sáng tạo, và nhất là tình yêu.
Yến bạc là khả năng và hoàn cảnh thuận lợi để ta làm việc cho Chúa.
Kitô hữu không phải là người thích an nhàn hay hưởng thụ.
Họ nỗ lực phấn đấu từng ngày để đời mình sinh hoa trái cho Chúa.
Ngày Phán xét, chúng ta sẽ bị xét xử dựa trên nỗ lực sinh lợi của mình.
Mỗi người chúng ta không rõ mình đã nhận bao nhiêu yến bạc.
Điều quan trọng là không được giấu đi, và vui vẻ tận dụng điều mình có.
 
Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,
nếu ngày mai Chúa quang lâm,
chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng.
Thế giới này còn bao điều khiếm khuyết, dở dang,
còn bao điều nằm ngoài vòng tay của Chúa.
Chúa đâu muốn đến để hủy diệt,
Chúa đâu muốn mất một người nào...
Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa
xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng,
vui tươi và hạnh phúc,
để ngày Chúa đến thực là một ngày vui trọn vẹn
cho mọi người và cho cả vũ trụ.
Xin nuôi dưỡng nơi chúng con
niềm tin vững vàng
và niềm hy vọng nồng cháy,
để tất cả những gì chúng con làm
đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại.
 
---------------------------------

 

Suy niệm 2: Tự hào trong Chúa


(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Dụ ngôn những nén bạc thật quan trọng. Nói lên nền tảng của đời sống con người. Nền tảng đó là mọi sự ta có đều là của Chúa. Hiện hữu ta là của Chúa. Ta là hư vô. Chúa đã kéo ta từ hư vô vào hiện hữu. Sự sống ta là của Chúa. Chúa ban cho ta tất cả. Có sự sống là có tất cả. Không có sự sống là không có gì hết. Kể cả linh hồn. Kể cả thiên đàng. Sau sự sống là tất cả. Sức khoẻ. Trí tuệ. Tài năng…

Vì tất cả mọi sự là của Chúa nên ta phải làm việc cho Chúa. Nén bạc Chúa trao phải được sinh lợi. Thân xác ngày càng mạnh khoẻ. Trí tuệ ngày càng thông minh. Linh hồn ngày càng thêm đức hạnh. Phải làm việc để thăng tiến bản thân, thăng tiến gia đình, thăng tiến xã hội, phát triển thế giới trong trật tự, hoà bình, thịnh vượng. Đó là điều thánh Phao-lô khuyên nhủ dân thành Thê-xa-lô-ni-ca: “Anh em hãy tiến tới nhiều hơn nữa. Hãy gắng giữ hoà khí, ai lo việc nấy và lao động bằng chính bàn tay của mình, như chính tôi đã truyền cho anh em” (năm lẻ).

Sau khi làm việc cho Chúa ta đặt tất cả thành quả dưới chân Chúa, Chúa lại ban tất cả cho ta. Vì thế Chúa bắt ta làm việc để chính mình được hưởng. Những ai không chịu làm việc. Muốn khẳng định mình không thuộc quyền Thiên Chúa. Muốn chiếm đoạt những gì của Chúa thành của riêng mình. Cho rằng mọi sự là của mình. Mình có quyền tự quyết. Trước mặt người đời họ được xưng tụng là khôn ngoan thông thái. Nhưng trước mặt Chúa họ thật khờ dại. Vì Chúa sẽ lấy lại những gì của Chúa. Họ chỉ còn là hư vô. Là xấu xa. Là nghèo túng.

Những ai khôn ngoan theo kiểu người đời sẽ trở thành khờ dại trước mặt Chúa. Những ai tưởng là khờ dại trước mặt người đời thực ra là khôn ngoan. Vì họ nhận biết nền tảng của mình ở nơi Chúa. Mọi sự là của Chúa. Như lời thánh Phao-lô dạy: “Những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt người…Ai có tự hào thì hãy tự hào trong Chúa” (năm chẵn).

Người tôi tớ bị phạt vì muốn chối từ quyền làm chủ của Chúa. Muốn tự mình làm chủ đời mình. Nên anh trở về đúng tình trạng của mình là không có gì hết. Vì chính sự sống của anh là của Chúa. Từ chối Chúa là mất tất cả.

-------------------------------

 

Suy niệm 3: Trách nhiệm của các bậc cha mẹ


(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đề cập đến việc một ông chủ trước khi đi xa, đã trao cho đầy tớ, mỗi người một số nén bạc để làm lợi thêm, và khi trở về, ông chủ đã gọi các đầy tớ đến tính sổ. Ðã có nhiều lối giải thích suy tư về các nén bạc; ở đây chúng ta lồng dụ ngôn trong khung cảnh: ông chủ là Thiên Chúa, đầy tớ là các bậc cha mẹ, nén bạc là con cái.

Ðiều răn thứ tư dạy con cái phải thảo kính cha mẹ; điều này có nghĩa là nếu con cái lỗi phạm giới răn này thì sẽ bị Thiên Chúa trừng phạt. Bổn phận của con cái là tôn kính, yêu mến và đền đáp công ơn cha mẹ: đó là bài học cơ bản của các kẻ làm con. Tuy nhiên, Thiên Chúa sẽ không phải là vị thẩm phán chí công, nếu không xét xử những bậc cha mẹ không làm tròn bổn phận của mình. Nếu con cái phải thảo kính cha mẹ, thì cha mẹ cũng phải tôn trọng yêu thương con cái. Mỗi người con là một nén bạc Chúa trao, cha mẹ là những đầy tớ có nghĩa vụ canh giữ và làm lợi nén bạc này. Dĩ nhiên, chỉ một mình Thiên Chúa mới là chủ duy nhất và tuyệt đối trên mỗi người con: bổn phận của cha mẹ là cộng tác dưỡng nuôi thân xác, hướng dẫn tinh thần và thiêng liêng, để con cái lớn lên trong sự thật và trong niềm kính sợ yêu mến Thiên Chúa.

Nếu con cái là hình ảnh của cha mẹ tiếp liền sau hình ảnh của Thiên Chúa, thì điều này nhắc nhớ cha mẹ phải là những người sinh con hai lần: một lần cho trần gian, và một lần cho Thiên Chúa. Ðịnh mệnh vĩnh cửu của con người không phải ở trần gian này, nhưng là trời cao. Do đó, cha mẹ phải luôn hướng dẫn tâm hồn con cái hướng về trời cao khi chúng còn thơ bé, và cả khi chúng đã lớn khôn nữa.

Trách nhiệm của các bậc cha mẹ thật nặng nề, nhưng cũng vô cùng cao cả. Nếu cha mẹ chu toàn bổn phận Chúa trao, chắc chắn trong ngày Chúa đến, họ sẽ được nghe lời này: "Hỡi tôi tớ tốt lành và trung tín, hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi". Và đó là điều chúng ta phải cầu xin cho các bậc làm cha mẹ.

-------------------------------

 

Suy niệm 4: Cộng tác với ơn Chúa


(Mt 25,14-30)

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Qua đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Thiên Chúa như ông chủ đi công tác xa trao lại cho mỗi chúng ta một số bạc, tượng trưng cho tất cả những gì Ngài ban cho chúng ta và bổn phận chúng ta là dùng số bạc đó để sinh lợi. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa là Ðấng dựng nên ta và ban cho chúng ta những khả năng riêng, những nén bạc nhiều ít tùy ý Ngài. Chúa cũng chỉ đòi hỏi chúng ta sinh lợi theo khả năng của mình. Thiên Chúa không bắt chúng ta phải làm những gì vượt quá khả năng Ngài đã ban cho chúng ta, chỉ cần một chút trung thành là chúng ta có thể làm trọn công việc của Ngài trao cho chúng ta.

Sau một thời gian lâu dài, ông chủ đến và thanh toán sổ sách. Kẻ sinh lợi được năm nén cũng được khen như người sinh lợi được hai nén: "Khá lắm, hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành, được giao ít mà anh đã trung thành thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào hưởng niềm vui của chủ anh", vì cả hai cùng làm tròn nhiệm vụ của chủ giao với hết khả năng của mình. Nhưng khả năng Chúa ban cho không phải chỉ để được chôn vùi dưới đất, không phải để được cất giữ nhưng phải để được sinh lợi, phục vụ anh em.

Vậy mỗi chúng ta hãy cố gắng sống trung thành và trọn vẹn với những gì mình đã lãnh nhận, tức là chúng ta tích cực cộng tác với ơn của Chúa, với tinh thần trách nhiệm để làm cho những ân huệ, những khả năng Chúa ban và ngay cả sự hiện hữu của ta được sinh hoa kết quả trong cuộc sống hàng ngày, là thời gian dường như Chúa vắng mặt. Chúng ta không nên có thái độ như người lãnh một nén, xem Chúa như người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, nên đã lo sợ và đem chôn giấu nén bạc dưới đất, để rồi đến lúc đem trả lại y nguyên. Chúa sẽ trách chúng ta như ông chủ trong dụ ngôn trách người đầy tớ biếng nhác: "Hỡi đầy tớ tồi tệ và biếng nhác, anh đã biết ta gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, thì đáng lý anh phải gởi sổ bạc của tôi cho các chủ ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu hồi của thuộc về tôi cùng với số lời chứ. Vậy, các ngươi hãy lấy nén bạc khỏi tay nó mà đưa cho người có mười nén". Chúng ta không nên nghĩ xấu cho Chúa để rồi sống mà lúc nào cũng nơm nớp lo sợ Ngài. Nhưng hãy sống đơn sơ phó thác như con thảo đối với cha mình và yêu thương anh chị em. Khi sống trong tình thương và gắn bó với Thiên Chúa, chúng ta sẽ chẳng bao giờ thấy sợ hãi nhưng là luôn sống tích cực trong phận vụ của mình trong sự cậy trông và tin tưởng vào tình thương quan phòng của Thiên Chúa.

Lạy Chúa,

Xin ban cho chúng con một đức tin vững bền để chúng con trung thành với ơn mình đã lãnh nhận là làm phát sinh những điều thiện hảo, nhờ đó mọi người sẽ được hưởng niềm vui của ngày Chúa đến trong vinh quang.

-------------------------------

 

Suy niệm 5: Sau một thời gian


Đức Giêsu nói: “Quả thế, cũng như có người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ riêng của mình đến, mà giao phó của cải mình cho họ. Ông cho người này năm nén, người kia hai nén, người khác nữa một nén, tùy khả năng riêng mỗi người.” (Mt. 25, 14-15)

Dụ ngôn Tin Mừng hôm nay, Chúa nhắc nhở chúng ta là: trong suốt đời sống của chúng ta không phải chỉ có trung tín làm theo ý Chúa mà còn phải biết sáng kiến và làm theo những điều Chúa mong đợi mỗi người chúng ta.

Tùy theo phương tiện mỗi người.

Điều đáng chú ý là Chúa không đòi cái gì quá sức chúng ta, quá khả năng chúng ta. Không thể đòi ta phải làm cho ta lớn lên một tấc! khi người ta đòi phải “ vượt mức chỉ tiêu” thì đó chỉ là đòi theo sức tương đối không hiểu như một bổn phận. Cũng thế, Chúa đòi ta phải đổi mới con người, có ý nghĩa là sửa chữa, đào tạo, giáo dục con người đã dựng lên và con người tạo vật của mình.

Chúng ta được biết rằng chủ sẽ về sau một thời gian. Chúa cho chúng ta thời gian để thực hiện đời sống mình và sống theo thánh ý Chúa. Nếu chúng ta làm những điều xấu, sống trong lầm lạc, Chúa không đến treo giò không kết án ngay đâu.

Chúa cho chúng ta thời gian làm cho sinh hoa kết quả những ơn mà Chúa cho chúng ta mượn để rồi lại ban tất cả cho chúng ta. Ngài nắm giữ thời gian, Ngài để cho chúng ta bắt tay vào việc. Đầy tớ trung tín lo làm trọn điều mình phải làm, chủ có thể về tùy theo lúc chủ muốn, chủ sẽ vui mừng khi ý chủ đã được thực hiện, mọi sự đều tốt đẹp.

Lòng yêu mến nồng nàn.

Khi ta trung thành vui vẻ theo ý Chúa, Ngài có thể đòi hỏi ta tùy lúc Ngài thỏa lòng, Ngài mong chúng ta luôn sẵn sàng.

Vậy mọi sự đều tùy thuộc lòng mến của ta.

Đầy tớ xấu thì sao? Tại sao nó không được thưởng? Nó không làm gì, chẳng yêu ai, chỉ biết đổ lỗi thất bại cho người khác: “Thưa ông, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo thu nơi không vãi...”. Ai đáng trách? chủ hay đầy tớ lười biếng vô dụng? Ai trong chúng ta đáng trách? nếu chúng ta từ chối Thiên Chúa và thánh ý Ngài?

Ước chi chúng ta can đảm một chút để nhận lỗi, hãy chân thành thú nhận những ti tiện của mình.

JM

-------------------------------

 

Suy niệm 6: Hãy sinh lời thêm


Ngày chúng ta lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, chúng ta được thuộc về Chúa, trở thành công dân Nước Trời. Khi trở thành con cái trong nhà, chúng ta được Thiên Chúa tin tưởng và trao cho chúng ta trách nhiệm làm ngôn sứ cho Ngài. Đây chính là nén bạc Thiên Chúa ban cho chúng ta.

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã mượn hình ảnh của người làm kinh tế để nói về việc sinh lời nén bạc tinh thần. Nếu ông chủ trao cho đầy tớ những nén bạc và nhủ hãy đi sinh lời thêm, thì Thiên Chúa cũng vậy. Ngài trao ban cho chúng ta những nén bạc là Lời Chúa, là những "ơn ban...” và không ngừng mời gọi chúng ta sinh lời ra nhiều, để làm vinh danh Chúa và giúp ích cho anh chị em chung quanh mình nhiều hơn.

Thật vậy, mỗi người đều được Chúa trao cho những nén bạc khác nhau tùy vào khả năng. Điều quan trọng là chúng ta có biết sử dụng nó cho đúng mục đích cách trung tín và khôn ngoan hay không mà thôi.

Người khôn ngoan là người biết đón nhận thánh ý Chúa và mau mắn thi hành. Người quản lý trung tín là người biết nhận ra sự hiện diện của Chúa trong từng biến cố vui buồn của cuộc sống. Biết đón nhận đau khổ và sẵn sàng hy sinh vì mối lợi đời sau. Biết nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi tha nhân, nhất là những người nghèo khổ đói khát...

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tự đặt mình trước mặt Chúa để cật vấn mình rằng: Chúa đã đầu tư cho tôi những nén bạc như sức khỏe, tài năng và nhiều ơn ban khác..., nhưng tôi có thực sự sinh lời ra thêm bằng việc tạ ơn Chúa, sẵn sàng giúp đỡ anh chị em mình và có biết dâng những hy sinh đau khổ, thất bại trong cuộc đời lên Chúa để xin Chúa thánh hóa, hầu sinh ích cho mình và tha nhân hay không?

Nói chung, tôi đã dùng của cải tài năng và ân huệ Chúa ban như thế nào? Tôi có tích cực phát triển “vốn đầu tư” mà Chúa đã trao cho tôi không? Hay tôi lo chôn giấu cho thật kỹ trong sự ích kỷ, kiêu ngạo, bất nhân và hận thù?

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết tạ ơn Chúa vì những ơn lành Chúa ban, đồng thời, xin cũng cho chúng con biết sinh lời những nén bạc đó bằng những nhân đức trong đời sống hằng ngày. Amen.

Ngọc Biển SSP

---------------------------------

 

Suy niệm 7: Sức khoẻ, thời giờ, tài năng, các ơn Chúa ban, là những nén vàng Chúa trao


(TGM Giuse Nguyễn Năng)

Sứ điệp: Sức khoẻ, thời giờ, tài năng, các ơn Chúa ban, đó là những nén vàng nén bạc Chúa trao cho đời ta. Ta hãy sinh lời bằng việc sử dụng những món quà đó cho đẹp lòng Ngài.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa vì Chúa đã tín nhiệm con, ban cho con sức khoẻ, thời giờ, tài năng, và muôn ngàn ân huệ, như những nén vàng nén bạc. Vốn liếng đó Chúa mong con phát huy thành mối lợi thiêng liêng. Chúa sẽ vui lòng biết bao khi thấy con biết tận dụng thời gian để làm những điều đẹp lòng Chúa. Con biết dùng sức khoẻ, khả năng và các ơn Chúa ban, để phục vụ Chúa và giúp đỡ anh em, đó là con biết sống xứng đáng với lòng thương của Chúa.

Lạy Chúa, Chúa là Chân Thiện Mỹ, Chúa đã chẳng tiếc gì khi chia sẻ điều tốt lành cho con, nhưng với mục đích để con sử dụng các ân huệ ấy mà cộng tác vào công trình sáng tạo và cứu chuộc của Chúa.

Tuy thế, con biết Chúa ban cho mỗi người những ân huệ và với mức độ khác nhau. Chúa chỉ cần con sử dụng các ân huệ ấy hết khả năng của con. Ai được ban nhiều, Chúa đòi sinh lời nhiều, kẻ được ít, Chúa đòi ít hơn. Xin cho con đừng ghen tương phân bì với số phận anh em con.

Khi con được năm nén, xin đừng để con kiêu căng tự đắc, nhưng xin cho con biết tạ ơn Chúa: tạ ơn bằng cách quảng đại phục vụ chứ không phung phí ơn Chúa. Khi con được hai nén, xin cho con cũng biết quảng đại phục vụ với khả năng nhỏ bé của mình. Và nếu con được Chúa ban một nén, xin đừng để con vì vậy mà lười biếng, tự ti mặc cảm, than trách phận mình và oán than cả Chúa. Amen.

Ghi nhớ: “Vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi”.

---------------------------------

 

Suy niệm 8: Dụ ngôn nén bạc


(Lm Giuse Đinh Lập Liễm)

1. Đọc dụ ngôn nén bạc chúng ta thấy: Thiên Chúa trao cho mỗi người số nén bạc không đồng đều, kẻ nhiều người ít. Nhưng điều đó không quan trọng. Quan trọng là cách mỗi người sử dụng những nén bạc đó. Bởi thế người đã lãnh 5 nén và người đã lãnh 2 nén mà xử dụng tốt đều được thưởng như nhau, là “vào hưởng sự vui mừng của chủ”. Cách sử dụng tốt những nén bạc là làm cho chúng sinh lợi. Làm cho chúng sinh lợi không hệ tại số lượng nén bạc được gia tăng, mà hệ tại tấm lòng của người tôi tớ: người ấy biết chủ tín nhiệm mình nên để đáp lại anh cũng hết lòng với chủ.

2. Qua đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe Thiên Chúa như ông chủ đi công tác xa trao cho mỗi người chúng ta một số bạc, tượng trưng cho tất cả những gì Ngài ban cho chúng ta và bổn phận chúng ta là dùng số bạc đó để sinh lợi. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa là Đấng dựng nên ta và ban cho chúng ta những khả năng riêng, những nén bạc nhiều ít tùy ý Ngài, Chúa cũng chỉ đòi hỏi chúng ta sinh lợi theo khả năng của mình. Thiên Chúa không bắt chúng ta phải làm những gì vượt quá khả năng Ngài đã ban cho chúng ta, chỉ cần một chút trung thành là chúng ta có thể làm trọn công việc của Ngài trao cho chúng ta.

Sau một thời gian lâu dài, ông chỉ đến và thanh toán sổ sách, kẻ sinh lợi được năm nén cũng được khen như người sinh lợi được hai nén, vì cả hai cùng làm tròn nhiệm vụ của chủ giao bằng hết khả năng của mình. Nhưng khả năng Chúa ban cho không phải chỉ để được chôn vùi dưới đất, không phải để được cất giữ  nhưng phải để được sinh lợi (R.Veritas).

3. Ông cố của vị linh mục vừa qua đời. Có rất nhiều người đến viếng thăm với hoa, nến và nhiều kinh nguyện khác. Một em bé đến nói với vị linh mục: “Thưa cha, con không có hoa, nến, cũng không thuộc nhiều kinh. Con chỉ đọc cho ông cố một kinh Lạy Cha mà thôi”. Vị linh mục trìu mến trả lời: “Con đừng lo. Lời kinh đơn sơ của con cũng có giá trị cao quí như các kinh nguyện của những người khác”.

Đức Giêsu cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã trao cho mỗi người những nén bạc, tức là những tài năng, kẻ nhiều người ít. Điều Đức Giêsu muốn nhắn gửi, đó là mỗi người phải sử dụng những “nén bạc” là những tài năng Chúa ban, để “sinh lời” cho Chúa. Phần “lời” này không hệ tại ở số lượng nén bạc được gia tăng, mà phụ thuộc tấm lòng của chính chúng ta. Chúng ta có siêng năng làm việc để phát huy tài năng hay không, hay chúng ta lười biếng như đầy tớ vô dụng đã đem chôn bạc xuống đất?

4. Tất cả chúng ta cũng là đầy tớ được Chúa ủy thác cho những nén bạc khác nhau. Từ sự hiện hữu đến những ơn lành đều là những nén bạc Chúa ban cho chúng ta để phát triển và mang lại kết quả. Chắc chắn Chúa sẽ không đòi những gì quá sức chúng ta. Nếu Chúa chỉ ban cho chúng ta hai nén, Ngài không đòi chúng ta phải làm ra năm nén. Điều quan trọng là chúng ta phải tận dụng ơn lành Ngài ban một cách cụ thể trong việc phụng sự Thiên Chúa và yêu thương phục vụ tha nhân. Chúng ta sẽ chiếm trọn gia sản Nước Trời, nếu biết khôn khéo sử dụng nén bạc đã được giao cho. Và đó là điều chúng ta phải không ngừng cầu xin Chúa (Mỗi ngày một tin vui).

5. Chúng ta phải cám ơn Chúa từng giây phút trong mỗi ngày, vì dù mình có tài hèn sức mọn, Chúa vẫn tin tưởng trao gửi cho chúng ta những nén bạc của Ngài để chúng ta sinh lợi cho Chúa. Chúng ta hãy bắt chước người đầy tớ thứ nhất và thứ hai: siêng năng, chăm chỉ làm việc và làm lợi cho chủ, chứ đừng theo người đầy tớ thứ ba: lười biếng, không chịu làm việc. Chúng ta hãy nhớ: không có việc gì quá nhỏ mà không đáng làm, và cũng không có việc gì quá nhỏ mà không đem lại lợi ích. Vấn đề là chúng ta có chịu làm hay không. Tóm lại, chúng ta hãy tận dụng tài năng, sức lực, ân lộc Chúa ban để xây dựng sự nghiệp đời này và sự nghiệp tin yêu trên Nước Trời.

6. Truyện: Biết làm sinh lợi cho Chúa.

Sau khi đến thăm gia đình của người bạn học vừa mất, cô bé trở về nhà.

Vẻ mặt giận dữ, cha cô bé hỏi:

- Tại sao con đến nhà người ta vào lúc này?

Cô bé trả lời:

- Con đến để yên ủi mẹ bạn ấy.
- Nhưng con thì làm được gì?
- Ba ơi, con chẳng làm được gì, vì thế con ngồi vào lòng mẹ bạn ấy.

Lúc đó cô bé chỉ biết khóc, nhưng đã an ủi lòng “người mẹ”.
Và tôi, trong cuộc sống, tôi cũng biết cười
để trao tặng “nụ cười hồng” cho mọi người.
Một miếng trầu tôi tiêm cho ngoại
Tách cà phê tôi pha cho bố mỗi sáng
Một chiếc áo dài tôi thêu cho mẹ
Và chiếc nơ hồng bắt bím cho chị
Những bài học hay tôi mang đến với trẻ thơ
Tôi đã làm tất cả hết khả năng và nhiệt huyết của mình.
Tôi vui vì đã góp phần tô điểm cho cuộc sống thêm hương vị.

Lạy Chúa!
Xin giúp con biết sinh lợi những nén bạc Chúa trao,
biết trung thành với bổn phận hằng ngày (Hosana).

---------------------------------

 

Suy niệm 9: Cách thế mỗi người xử dụng những nén bạc Chúa trao


(Lm Carôlô Hồ Bạc Xái)

A. Hạt giống...

Dụ ngôn các nén bạc:

- Thiên Chúa trao cho mỗi người số nén bạc không đồng đều, kẻ nhiều người ít.

- Nhưng điều đó không quan trọng. Quan trọng là cách mỗi người xử dụng những nén bạc đó. Bởi thế người đã lãnh 5 nén và người đã lãnh 2 nén mà xử dụng tốt đều được thưởng như nhau, là “vào hưởng sự vui mừng của chủ”.

- Cách xử dụng tốt những nén bạc là làm cho chúng sinh lời. Làm cho chúng sinh lời không hệ tại số lượng nén bạc được gia tăng, mà hệ tại tấm lòng của người tôi tớ: người ấy biết chủ tín nhiệm mình nên để đáp lại anh cũng hết lòng với chủ.

B.... nẩy mầm.

1. 3 người đầy tớ trong dụ ngôn này không hề so đo phân bì với nhau vì tại sao kẻ thì được nhiều kẻ thì được ít. Họ chỉ khác nhau ở tấm lòng đối với chủ.

Tôi cũng đừng so đo với người khác về những khả năng Chúa ban cho tôi; kiêu căng đối với kẻ ít khả năng và đố kỵ đối với kẻ nhiều khả năng hơn mình. Tôi chỉ nên nghĩ tới Chúa thôi: Chúa mong chờ gì nơi tôi khi trao cho tôi những khả năng đó?

2. Người đầy tớ thứ ba có nhiều điểm xấu: ít khả năng, lại không lo phát triển những khả năng ít ỏi đó, mà còn trách chủ keo kiệt. Hình phạt của hắn là một lời cảnh giác cho tôi.

3. “Người có sẽ được cho thêm và sẽ được dư dật”: Lời hứa này là một sự khuyến khích rất lớn cho tôi. “Có” gì và “được cho thêm” gì? Thưa: cầu nguyện, tinh thần kết hợp với Chúa, sức sống thần linh của Chúa, ơn Chúa v.v.

4. Chúng ta cũng có thể hiểu nén bạc là đức tin. Đức tin được ban cho chúng ta một cách nhưng không, nhưng không bởi vì chúng ta có được đức tin mà không do bất cứ công lao nào của chúng ta. Một niềm tin được chia sẻ là một niềm tin sống động, trái lại một niềm tin chôn cất sẽ là một niềm tin bị mai một và chết dần. (Chờ đợi Chúa)

5. Ông chủ nói với người đầy tớ: “Khá lắm! Hỡi người đầy tớ tài giỏi và trung thành! Trong việc ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ đặt anh lên coi việc nhiều. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh” (Mt 25,23)

Sau khi đến thăm gia đình của người bạn học vừa mất, cô bé trở về nhà.

Vẻ mặt giận dữ, cha cô bé hỏi:

“Tại sao con đến nhà người ta vào lúc này?”

Cô bé trả lời: “Con đến để an ủi mẹ bạn ấy”.

- Nhưng con thì làm được gì?
- Ba ơi con chẳng làm được gì, vì thế con ngồi vào lòng mẹ bạn ấy.

Lúc đó, cô bé chỉ biết khóc, nhưng đã an ủi lòng “người mẹ”.

Và tôi, trong cuộc sống, tôi cũng biết cười
để trao tặng “nụ cười hồng” cho mọi người.
Một miếng trầu tôi tiêm cho ngoại
Tách cá phê tôi pha cho bố mỗi sáng
Một chiếc áo dài tôi thêu cho mẹ
Và chiếc nơ hồng bắt bím cho chị
những bài học hay tôi mang đến với trẻ thơ
Tôi đã làm tất cả với hết khả năng và nhiệt huyết của mình.
Tôi vui vì đã góp phần tô điểm cho cuộc sống thêm hương vị.

Lạy Chúa! Xin giúp con biết sinh lợi những nén bạc Chúa trao,
biết trung thành với bổn phận hằng ngày. (Hosanna)

---------------------------------

 

Suy niệm 10: Nén bạc Chúa trao phải sinh lời


(Lm Giuse Đinh Tất Quý)

Qua bài Tin Mừng này, Chúa nhắn gửi mỗi người chúng ta hiểu hai điều:

1. Thiên Chúa trao cho mỗi người một số nén bạc.

Những nén bạc, thường được hiểu như là những khả năng của mỗi người, cũng có thể hiểu là thời giờ hay chính cuộc sống của chúng ta.

Mỗi nén bạc thời bấy giờ là 6.000 đồng bạc, bằng giá của 6.000 ngày công. Một giá trị lớn.

Chúa lại trao không đồng đều, kẻ nhiều người ít.

Nhưng điều đó không quan trọng. Quan trọng là mỗi người sử dụng những nén bạc đó ra sao. Bởi thế, người đã lãnh 5 nén bạc và người lãnh 2 nén bạc mà sử dụng tốt thì cũng được thưởng như nhau.

Cách sử dụng tốt những nén bạc là làm cho chúng sinh lời.

Làm cho chúng sinh lời không hệ tại số lượng nén bạc nhiều hay ít, mà hệ tại tấm lòng của người tôi tớ: người ấy biết chủ tín nhiệm mình nên để đáp lại anh cũng hết lòng với chủ.

Bởi vậy, mỗi người phải cám ơn Chúa, vì dù mình có tài hèn sức mọn, Chúa vẫn tin tưởng trao gửi cho chúng ta những nén bạc của Người để chúng ta sinh lợi cho Chúa. Năm nén, hai nén hay một nén…không quan trọng. Điều quan trọng là sinh lợi. Cuộc sống phải sinh lợi cho nước Chúa và cho anh em như nén bạc phải sinh lợi cho chủ.

2. Thiên Chúa muốn cho mỗi người sinh lời cho Chúa.

Ba người đầy tớ trong dụ ngôn hôm nay không hề so đo phân bì với nhau tại sao kẻ được nhiều kẻ thì được ít. Họ chỉ khác nhau ở tấm lòng đối với chủ.

Người đầy tớ thứ ba có nhiều điểm xấu: ít khả năng, lại không lo phát triển những khả năng ít ỏi đó, mà còn trách chủ keo kiệt.

Trong cuộc sống, chúng ta thường thấy những người đã có, thì họ lại chịu khó làm ăn, chính vì thế mà cuộc sống của họ ngày càng tốt đẹp hơn. Ngược lại, những người đã không có, thì lại hay lười biếng và có được đồng nào thì xài hết đồng đó. Chính vì vậy mà chẳng bao giờ có thể ngóc đầu lên nổi.

A.R.Wells có thuật lại câu chuyện này: Có một trang chủ làm chủ một trang trại lớn. Một bữa kia ông giao cho bảy người thợ cưa, mỗi người phải cưa cho ông một khúc cây.

- Người thứ nhất nói: Khúc cây của tôi còn tươi quá, e lưỡi cưa sẽ mắc trong đó. Tôi chờ cho tới khi nó khô thì mới cưa. Thế là anh đi nghỉ.

- Người thứ hai: Lưỡi cưa của tôi cùn quá rồi. Tôi chờ ông chủ đổi cho tôi một lưỡi cưa sắc bén hơn rồi tôi cưa. Và anh cũng đi nghỉ.

- Người thứ ba: Khúc cây này cong bên này cong bên kia. Tôi chờ ông chủ đổi cho tôi khúc khác thẳng hơn. Anh cũng đi nghỉ.

- Người thứ tư: Khúc cây của tôi quá cứng, cứng gấp hai lần loại cây thường. Tôi chờ có khúc khác mềm hơn. Anh cũng đi nghỉ.

- Người thứ năm: Hôm nay trời nóng quá. Đợi ngày nào mát trời hãy cưa. Và anh cũng nghỉ.

- Người thứ sáu: Hôm nay tôi nhức đầu. Đợi tới khi nào khỏi, tôi mới cưa. Và anh cũng nghỉ.

- Người thứ bảy cũng nhận một khúc cây còn tươi, nó cũng cong bên này cong bên kia, thịt cũng rất cứng, lưỡi cưa của anh cũng cùn, trời hôm đó cũng nóng và hôm đó anh cũng nhức đầu. Nhưng anh đi mài lưỡi cưa và bắt tay vào việc. Nhờ lưỡi cưa đã được mài sắc, khúc cây đã được cưa xong, do trời nóng và do làm việc, anh làm việc đổ mồ hôi ra và hết nhức đầu. Anh sung sướng vì hoàn thành công tác được giao. Hôm sau anh xin ông chủ cho anh một khúc cây khác để cưa nữa.

Nếu được phép áp dụng Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay thì chắc là ông chủ sẽ nói với người đầy tớ cuối cùng rằng: "Khá lắm! Hỡi người đầy tớ tài giỏi và trung thành! Trong việc ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ đặt anh lên coi việc nhiều. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh" (Mt 25,23).

Lạy Chúa Giêsu,
con thường thấy mình không có thì giờ,
nhưng đồng thời cũng thấy mình
lãng phí bao thời gian quý báu.
Nhiều khi con tự hỏi
mình thực sự làm việc bao nhiêu giờ mỗi ngày.
Xin cho con biết quý trọng từng giây phút
đang trôi qua mà con không sao giữ lại được.
Chúa đã trao cho con nén bạc thời gian,
để con sinh lợi tối đa theo ý Chúa.
Xin cho con luôn làm việc như Chúa:
hăng say, tận tụy và vui tươi,
vâng phục, có phương pháp và đầy sáng tạo.
Vì quá khứ thì đã qua,
và tương lai thì chưa đến,
nên xin dạy con biết trân trọng giây phút hiện tại.
Xin cho con thấy Chúa
lúc này đang ở đây bên con,
và đang mời gọi con đáp lại tiếng của Ngài
bằng những hành động cụ thể.
Con xin hiến dâng Chúa giây phút này
như một hy lễ,
với tất cả những bất ngờ, đớn đau, thách đố.
Ước gì con dám sống hết mình giây phút hiện tại
để hiện tại đưa con vào vĩnh cửu của Chúa. Amen. (Rabboni).

---------------------------------
 
 

Suy niệm 11: Hạnh phúc người đầy tớ tín trung


(Lm. Micae Võ Thành Nhân)

Chúng ta sống ở trần gian này, tùy vào điều kiện, hoàn cảnh sống của mỗi người mà Chúa ban cho chúng ta các nén bạc khá nhau, tức là thời gian, công việc, khả năng, hoàn cảnh, sức khỏe…. nhằm để chúng ta sử dụng, mà mang lại lợi ích cho chúng ta  về phần hồn cũng như phần xác và cho cả anh chị em của chúng ta nữa.

Khi Chúa ban cho chúng ta các nén bạc của Chúa, Chúa không giao quá sức của chúng ta đâu, khả năng chúng ta đến đâu, Chúa ban cho đến đấy. Chúa ban như vậy để chúng ta làm được chứ bằng không chúng ta sẽ đổ thừa, trách móc  Chúa.

Chúng ta, một khi đón nhận các ơn Chúa ban, Chúa muốn chúng ta là những con người biết siêng năng làm việc, cộng tác với Chúa để các ơn đó có lợi cho chúng ta và cho anh chị em của chúng ta. Những người có năm nén bạc đã làm lợi năm nén, người hai nén làm sinh lời thêm hai nén khác, và đã được ông chủ thưởng công một cách xứng đáng theo những hy sinh cố gắng của họ. Chúa cũng thưởng công chúng ta khi chúng ta biết cộng tác với các ơn Chúa ban và làm cho các ơn đó trổ sinh hoa trái nơi chúng ta. Chúng ta cộng tác với ơn Chúa ban bằng cách chúng ta phải hy sinh, dấn thân, cố gắng rất nhiều, phải vượt qua tính ích kỷ, ươn lười cố hữu trong con người chúng ta và thực hiện thánh ý của Chúa. Ví dụ Chúa ban cho chúng ta có tri thức hiểu biết, chúng ta hãy dùng nó giúp đỡ người khác chứ không phải dùng nó là chế tạo ra các chất độc hại làm chết con người. Hoặc là Chúa ban cho chúng ta có khả năng làm ra của cải nhiều, chúng ta giàu có thì chúng ta hãy giúp đỡ những người nghèo khổ, chứ không phải dùng nó để hưởng thụ, thỏa mãn tính hẹp hòi, ích kỷ, để người khác chết trong sự đói khát….

Chúa muốn chúng ta là những đầy tớ chuyên cần, siêng năng làm các việc lành, việc thiện, việc tốt cho Chúa. Nhưng trong thực tế, chúng ta vẫn còn biếng nhát, vì con người chúng ta là tro bụi, là yếu đuối tội lỗi, là bất xứng trăm bề. Hậu quả của sự lười biếng là bị Chúa trừng phạt, đuổi chúng ta ra khỏi nhà Chúa, không cho chúng ta hưởng sự sống đời đời. Chúng ta thấy rất rõ điều này khi ông chủ quở trách người đầy tớ mà ông giao cho một nén bạc và anh lại đi chôn, rồi còn nói ông chủ là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không phát để rồi phải nhận lấy án phạt là bị ông chủ thu hồi lại nén bạc, ném anh ra chỗ tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Đã làm biếng mà không nhận tội, lại còn xấc xược cho nên bị ông chủ phạt nặng nề. Nếu chúng ta giống như thế, thì chắc chắn số phận chúng ta sẽ đau khổ mãi mãi, vô cùng mà thôi. Do vậy, chúng ta hãy biết sợ Chúa mà lo làm các việc lành phúc đức trong khi chúng ta chờ Chúa đến viếng thăm chúng ta.

Lạy Chúa, chúng con được diễm phúc ở trong nhà Chúa, được Chúa là gia nghiệp đời đời của chúng con, vì vậy Chúa luôn luôn ở với chúng con, Chúa ra tay nâng đỡ, phù trì, chở che chúng con, nhất là những lúc chúng con biếng nhát, chùng chân mỏi gối để chúng con vượt qua được những giới hạn của bản thân mà cố gắng sống theo ý Chúa, làm theo điều Chúa muốn mà được Chúa thưởng công chúng con sau này. Amen.

---------------------------------

 

Suy Niệm 12: Vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi


(Lm. Micae Võ Thành Nhân)

Ngày Chúa đến, Chúa sẽ gọi chúng ta ra trình diện Chúa. Lúc đó, chúng ta cũng giống như những người đầy tớ được ông chủ giao cho các nén vàng trước khi ông đi xa và bây giờ là lúc ông trở về gọi họ đến để tính sổ.

Những nén vàng mà Chúa trao cho chúng ta từ khi chúng ta hình thành trong dạ mẹ, chào đời, cho đến lúc chúng ta về với Chúa. Chúng ta phải tính sổ với Chúa. Nén vàng đó là thời giờ, sức khỏe, tài năng chuyên môn, tri thức, địa vị chức quyền, của cải vật chất … Chúa trao cho  chúng ta cũng giống như ông chủ đã trao cho mỗi người: Người thì năm nén, người thì hai nén, người thì một nén: “Khi ấy, Đức Giêu nói với các môn đệ rằng: Cũng như có người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ riêng của mình đến mà giao phó của cải mình cho họ. Ông cho người này năm yến, người kia hai yến, người khác nữa một yến, tùy khả năng riêng mỗi người. Rồi ông ra đi” (Mt 25, 14 – 25). Chúng ta cũng vậy, tùy vào khả năng của mỗi người mà Chúa ban cho các nén vàng. Người có khả năng làm ra của cải thì Chúa ban cho giàu có. Người có khả năng ăn nói thì Chúa ban cho được sự hùng biện. Người có khả năng học hành thì Chúa ban cho là nhà khoa học, bác học. Người có khả năng chỉ huy Chúa ban cho là người lãnh đạo … Chúng ta không có khả năng gì thì Chúa ban cho chúng ta có cuộc sống bình thường là thời giờ, là công việc mưu sinh ... Mỗi người được Chúa ban cho các ơn như vậy thì hãy tận dụng mọi hoàn cảnh để làm phát triển các ơn đó. Nghĩa là làm sinh lợi cho Chúa.

Người lãnh năm nén vàng đến trình diện ông chủ, đã làm lợi thêm năm nén vàng khác. Người lãnh hai nén vàng cũng làm lời thêm hai nén khác: “Lập tức, người đã lãnh năm yến lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm yến khác. Cũng vậy, người đã lãnh hai yến gây lời được hai yến khác” (Mt 25, 16 – 17). Ông chủ khen những người này: “Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi làm những việc lớn, ngươi hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi” (Mt 25, 21. 23). Chúng ta đến trình diện Chúa, chúng ta cũng mang theo các ơn Chúa ban và kèm theo các nhân đức mà chúng ta thực hiện trong cuộc sống. Chúa ban cho chúng ta giàu có thì kèm theo đó là chúng ta cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc. Chúa ban cho chúng ta có khoa ăn nói thì đi kèm theo là chúng ta rao giảng Tin Mừng, khuyên nhủ giảng hòa, lấy lời lành mà nối kết lại những mối bất hòa của anh chị em mình. Chúa ban cho chúng ta có trí thông minh thì kèm theo đó là những loại thuốc, những máy móc chúng ta làm ra phục vụ con người … Điểm chung của tất cả chúng ta là Chúa ban cho chúng ta có thời gian. Khi chúng ta trình diện Chúa, chúng ta đã sử dụng thời gian để làm các việc lành phúc đức thì quả là hài lòng Chúa.

Ông chủ thưởng các đầy tớ trung tín. Nghĩa là Chúa luôn thưởng những người biết siêng  năng làm các việc lành phúc đức, việc thiện, việc tốt. Ngược lại ông chủ trừng phạt người đầy tớ lãnh một nén rồi đem đi chôn, không sinh lợi cho ông chủ. Nghĩa là Chúa ghét và trừng phạt những người làm biếng làm nhác, lý luận, không nhận tội lỗi của mình trong đời sống đạo. Chúng ta cũng thế, nếu chúng ta lười biếng, không chịu tận dụng các ơn lành Chúa ban, không giữ đạo, không lo tập luyện các nhân đức, hay nói phê bình chỉ trích người này người kia. chúng ta sẽ bị ném ra ngoài, vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng, Thật quá khủng khiếp, cho nên chúng ta phải lo làm theo ý Chúa: “Rồi người đã lãnh một yến cũng tiến lại gần và nói: Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu yến bạc của ông dưới đất. Của ông đây, ông cầm lấy! Ông chủ đáp: Hỡi tên đầy tớ tồi tệ và biếng nhác! Ngươi đã biết ta gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, thì đáng lý ngươi phải gởi số bạc của ta cho các chủ ngân hàng, để khi ta đến, ta thu hồi của thuộc về ta cùng với số lời chứ! Vậy các ngươi hãy lấy yến bạc khỏi tay nó mà đưa cho người đã có mười yến. Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi. Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 25, 24 – 30).

Lạy Chúa, trong cuộc sống hàng ngày, xin cho chúng con luôn biết chu toàn công việc Chúa trao phó. Dù là việc nhỏ nhất như nội trợ, đồng án, thăm viếng người bị ốm đau, một lời kinh nguyện tự phát dâng Chúa trong lúc làm việc  …  Xin cho chúng con làm với lòng yêu mến Chúa tha thiết để nhờ đó chúng con gắn bó với Chúa và cuộc sống chúng con có ý nghĩa hơn trong lúc chờ Chúa thưởng công chúng con sau này. Amen.

 ---------------------------------

 

Suy Niệm 13: Yến bạc tình yêu


(Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB)

Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Bảy Tuần 21 Thường Niên, Năm Lẻ này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chỉ có Chúa mới làm cho chúng ta nên một lòng một ý, xin Chúa cho tất cả chúng ta biết yêu luật Chúa truyền và mong điều Chúa hứa, để dầu sống giữa cảnh thế sự thăng trầm, chúng ta vẫn một lòng thiết tha với cõi phúc chân thật.

Thiết tha với cõi phúc chân thật, chỉ kêu cầu Chúa mà thôi, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Giêrêmia: Tố cáo những hy vọng hão huyền. Hòm Bia và Đền Thờ tượng trưng cho sự hiện diện của Thiên Chúa, không hề có một sức mạnh ma thuật khiến cho kẻ thù không sao thắng nổi, như dân Giuđa đã nghĩ lầm. Lịch sử đã cho thấy điều đó. Hòm Bia đã từng bị lấy đi, đền thánh tại Silô bị phá huỷ. Niềm hy vọng của chúng ta không phải là thể chế, dù hoàn thiện đến đâu, nhưng, là Thiên Chúa, và chỉ một mình Người… Các ngươi coi nhà này, coi nơi danh Ta được kêu khấn là hang trộm cướp sao? Nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân. Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.

Thiết tha với cõi phúc chân thật, chăm lo cho Đền Thờ Chúa, là những người nghèo khổ, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích bài giảng của thánh Gioan Kim Khẩu: Khi trang trí đền thờ, đừng hờ hững với người anh em sầu khổ… Xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước. Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy. Thương xót kẻ khó nghèo là cho Đức Chúa vay mượn.

Thiết tha với cõi phúc chân thật, thực hành giới luật yêu thương, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Phaolô Tông Đồ gửi tín hữu Thêxalônica: Chính anh em đã được Thiên Chúa dạy phải thương yêu nhau. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 97 cho thấy: Chúa ngự đến xét xử muôn dân theo lẽ công bình. Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã thực hiện bao kỳ công. Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh, nhờ cánh tay chí thánh của Người.

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Chúa nói: Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Được giao ít mà anh đã trung thành, hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh. Mỗi người đều được Chúa giao cho “yến bạc tình yêu”, và nhiệm vụ của chúng ta là trung thành, làm cho yến bạc đó sinh lợi, chỉ khi nào biết cậy trông vào Chúa, chúng ta mới có thể chu toàn sứ mạng Chúa trao. “Yến bạc tình yêu”, được dùng để trang trí ngôi Đền Thờ của Chúa, để, Đền Thờ thật sự trở thành Nhà Cầu Nguyện của muôn dân, muôn dân sẽ hát mừng Chúa một bài ca mới, khi Người đến xét xử địa cầu. Đền Thờ của Chúa, chính là chúng ta, là những người anh chị em đang cần được giúp đỡ. Chúa rất hài lòng, khi chúng ta tôn kính Chúa, theo cách Người chọn, chứ không phải, theo cách chúng ta nghĩ. Chúng ta hãy bày tỏ lòng tôn kính Người, theo cách mà Người đã truyền dạy, khi ra luật cho ta: đem của cải phân phát cho người nghèo. Thiên Chúa chẳng cần bình vàng chén bạc, nhưng, cần những tấm lòng vàng. Thật vậy, ai chểnh mảng thực hành giới luật yêu thương, không làm cho “yến bạc tình yêu” sinh lợi, thì, sẽ phải bị phạt: chịu lửa không hề tắt và chịu cực hình dành cho ma quỷ. Vì thế, khi trang trí ngôi nhà, thì, cũng đừng hờ hững với người anh chị em sầu khổ, vì, người anh chị em ấy chính là Đền Thờ của Chúa. Chỉ có Chúa mới làm cho chúng ta nên một lòng một ý, ước gì chúng ta biết yêu luật Chúa truyền và mong điều Chúa hứa, để dầu sống giữa cảnh thế sự thăng trầm, chúng ta vẫn một lòng thiết tha với cõi phúc chân thật. Ước gì được như thế!

---------------------------------

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây