Chữ Tiếng Việt từ đâu mà ra ?
Chữ Tiếng Việt từ đâu mà ra ?
Bạn thân mến,
"Hôm nay, 15/12/2025, mọi người Việt biết chữ Quốc ngữ hãy thắp hương thành kính tưởng nhớ Thầy Francisco de Pina, người Thầy chữ Quốc ngữ đầu tiên, giáo sĩ người Bồ Đào Nha, nhân ngày giỗ Đầu tiên sau 400 năm Thầy tử nạn tại cửa biển Hội An, xứ Đàng Trong, ngày 15/12/1625, mãi mãi nằm lại đất Việt mến yêu. Amen!"
BIẾT ƠN "CHỮ VÀ NGƯỜI 400 NĂM"
(Sao Mai, 15/12/2025)
(Viết nhân đọc xong tiểu thuyết “ Chữ và Người 400 năm của nhà văn Hoàng Minh Tường )
Có bao nhiêu người trong hơn 100 triệu dân Việt Nam, một ngày nào trong cả cuộc đời biết chữ của mình, tự hỏi : "Chữ Tiếng Việt từ đâu mà ra"?
Ở đây, ngay bây giờ, khi bạn vô tình bắt gặp những dòng chữ này trên Facebook, bạn có dừng lại, tò mò đọc xem tôi sắp viết điều gì về "chữ"?
Bạn đang đọc chữ. Vâng, "thứ" mà ai cũng biết, cũng sử dụng mọi nơi, mọi lúc. Đến nỗi, nó thậm chí hiện hữu thản nhiên, mặc nhiên, hồn nhiên, “thiên nhiên”... như đời sống. “Thứ” đã quen thân và ràng buộc như "vật" bất ly thân trong mọi hoạt động ấy nhằm vận hành cuộc sống, để gửi gắm yêu thương, trao đổi thông tin, học hỏi kiến thức, trao đổi văn hóa... phát triển bản thân và cộng đồng, để hòa nhập và giao lưu với Thế giới văn minh của loài người.
"Chữ"- vì thế, mang sứ mệnh thiêng liêng của tri thức và tâm hồn.
Suốt gần một Thế kỷ nay, hơn 100 triệu dân Việt Nam, sử dụng thành thạo chữ Quốc ngữ. Từ 4-5 tuổi, em bé đi học vỡ lòng, lớp 1... rồi đến đại học hay học lên nhiều bậc cao hơn. Tận khi đã trở thành một người già, cần tâm thư hay viết những dòng di chúc gan ruột để lại cho con cháu... có bao nhiêu người bỗng nhiên sực nhớ ra và giật mình tự hỏi: mình đang dùng công cụ gì để trao đổi những tâm can, nỗi niềm ấy?
Xa xưa, trước Thế kỷ 16. Chữ Hán dù rất phức tạp và khó học nhưng ta vẫn bắt buộc phải vay mượn bên Tàu. Bất cập quá, rồi chữ Nôm của người Việt cũng ra đời. Nhưng cũng là thứ tượng hình ngoằn ngoèo, rối rắm khó học không kém gì chữ Hán. Vì thế, chỉ có vài cụ đồ Nho trong cả một vùng thôn quê rộng lớn là biết chút đỉnh, may ra.
Dải đất An Nam xưa nghèo hèn, lạc hậu. Liên miên chỉ có chém giết, chiến tranh tàn khốc giữa các miền đất mà mỗi lãnh địa giành giật được trị vì một Chúa. Lịch sử vô cùng rối ren. Dân chúng cơ cực và tăm tối. Bản sắc văn hóa người Chăm ở Đàng trong, hay người An Nam ở Đàng ngoài tuy rực rỡ nhưng sự giao thoa văn hóa hay giao thương kinh tế còn rất hạn chế.
Khi ấy ở phương Tây, con người đã có tri thức và kỹ năng phát triển văn hoá và nhiều mặt xã hội văn minh hơn hẳn phương Đông đến vài trăm năm. Đạo Kito giáo phổ biến ở phương Tây mang giá trị lớn của tình thương, lòng bác ái, sự chở che đến con dân muôn loài, và hướng đến những dân tộc nhỏ bé, lạc hậu ở phía bên kia Đại dương.
Theo tiếng gọi thiêng liêng từ nước Chúa, việc truyền đạo vào An Nam bắt đầu từ dải đất miền Trung( Đàng trong) và sau đó ra Thăng long kinh kỳ( Đàng ngoài), bởi các Giáo sĩ dòng Tên người Bồ Đào Nha được đào tạo chuẩn mực khắt khe ở mọi lĩnh vực trong rất nhiều năm, suốt từ những năm tháng tuổi thơ đến ngoài 30 tuổi ở các trường dòng danh tiếng và các bậc Đại học bách khoa uyên thâm trực thuộc Toà thánh Mẹ La Mã. Họ buộc phải quên gia đình, không xây dựng hạnh phúc lứa đôi,toàn tâm, toàn lực học hành, sống khổ hạnh. Khi trở thành linh mục, họ dốc lòng một đời phụng thờ Chúa.
Có lẽ, về tâm linh, đây chính là một Thiên duyên mà Đức Chúa Trời toàn năng ban cho con dân nước Việt. Ngài đã từ tâm rủ lòng từ bi cao cả trước số phận những dân tộc nghèo nàn, nhỏ bé, tăm tối, từng chịu ách đô hộ nhiều ngàn năm đau thương ... mà cử một đoàn Giáo sĩ Bồ vượt biển sang Phương Đông truyền giáo, trong đó có dân tộc An Nam khổ đau.
Hai Giáo sĩ dòng Tên Kito, hai con người thấm nhuần tư tưởng "tử vì đạo" vĩ đại có tên là Francisco de Pina (mất năm 1625) và Alexandre de Rhodes (mất năm 1660)đã hy sinh tất cả tuổi xuân đẹp đẽ nhất của đời mình, (kể cả tính mạng,) trên mảnh đất An nam khốn khó trong nhiều giai đoạn lịch sử tàn khốc, để nghiên cứu ra bộ ký tự Việt- Bồ. Từ ÂM của giọng nói đến xây dựng CHỮ VIẾT theo ký tự BỒ ĐÀO NHA và LA TINH phục vụ mục đích truyền đạo và phát triển văn hóa .
Sau này, Cha Francisco de Pina mất do bão lật thuyền trên vùng biển Hội An khi mới 40 tuổi. Khi Cha vừa kịp hoàn thành cuốn sách Việt - Bồ "Phép giảng 8 ngày", và bộ chữ viết gồm 26 chữ cái - 6 thanh âm với hơn 8 ngàn từ Tiếng Việt trong suốt 9 năm Cha truyền đạo trên mảnh đất này.
Song song và tiếp tục sự nghiệp của Cha Pina, Cha Alexandre de Rhodes cũng đã để lại trên mảnh đất An Nam công cuộc truyền giáo hơn 20 năm tuổi trẻ, với thành tựu rực rỡ bằng cuốn Từ điển VIỆT- BỒ- LA. Một tuổi xuân đầy trầm luân khổ ải nhiều phen chết đi, sống lại với gươm đao, với những chuyến vượt biển kinh hoàng, với lòng người đầy hắc ám. Khi ông trở về thành LA MÃ để báo cáo thành tựu vĩ đại và cao cả này lên Đức Chúa, ông chỉ còn là một ông già gầy gò, còm cõi, xác xơ, đi đứng xiêu vẹo vì chuyến vượt biển ba năm rưỡi trời đầy kinh hoàng, cùng với nhà tù, cùng với bị cướp bóc, kể cả phải đi ăn xin để tồn tại... Nhưng trên hết là đôi mắt rực sáng với tinh thần hiến dâng và quyết tử vì đạo, với hai bảo vật lớn trong đó có bộ từ điển VIỆT- BỒ- LA quý giá!
Năm 1865, tại Sài Gòn, xuất hiện lần đầu tờ báo AN NAM bằng ký tự Latin.
Năm 1918, vua Khải Định chính thức bãi bỏ khoa cử Nho học, thay bằng các kỳ thi chữ Quốc Ngữ trên toàn cõi Việt Nam!
Và cách đây chừng 80 năm, ngay sau khi lập Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo toàn dân học tập xóa mù, diệt giặc dốt. Nay, hầu như không còn bất cứ ai mù chữ. Thử hỏi dân tộc ta đã tiến xa thế nào trong công cuộc phát triển văn hóa và mọi lĩnh vực khác. Ngõ hầu thu hẹp dần khoảng cách tiến bộ so với các nước trong khu vực.
Thực ra, chữ Quốc Ngữ đã có cách đây 400 năm, trên đất Việt, tuy không phải hình thành từ người Việt.Nhưng rất lâu sau này, người Việt mới được học và phổ biến rộng rãi, nhất là gần một Thế kỷ gần đây.
Tất cả những điều ấy, bên trên, có ở đây, trong cuốn tiểu thuyết lịch sử:
"CHỮ VÀ NGƯỜI 400 NĂM" mà người kể chuyện là Nhà văn tài hoa HOÀNG MINH TƯỜNG.
Tôi đã từng nghe anh kể nhiều lần về 2 chuyến đi vượt trùng dương xa xôi của anh sang IRAN và BỒ ĐÀO NHÀ cùng đoàn trí thức Việt Nam ( tự phát chứ không có đoàn thể nào thuộc về nhà nước). Họ sang quê hương của 2 vị Giáo sỹ khả kính với một lòng kính ơn và tri ân sâu sắc. Cả 2 chuyến đi ấy đều là tự túc về tiền bạc. Mỗi chuyến đi mỗi người mất hàng hơn trăm triệu.
Đủ thấy tấm lòng các trí thức Việt Nam ấy cao quý đến nhường nào.
Nhà văn Hoàng Minh Tường trải lòng rằng: Ban đầu, chuyến đi là sự trải nghiệm để anh về nghỉ sau nhiều tháng năm vật lộn cày sâu cuốc bẫm trên cánh đồng chữ nghĩa. Sự nghiệp Văn chương của anh, như độc giả thấy, vốn đã nhiều lừng lẫy.
Nhưng, anh về, sống không yên.
Giống như một kẻ mắc nợ tiền nhân.
Giống như một kẻ "vong ơn, vong bản khi hàng ngày nhìn vào các trang chữ..."
Anh thấy mình cần phải "kể" lại câu chuyện lịch sử huyền thoại này cho hậu thế Việt Nam
Anh viết để trả nợ.
Anh viết để Cha Francisco de Pina, Cha Alexandre de Rhodes đang yên nghỉ dưới bia đá ngàn năm kia, cũng có thể đọc được lời tri ân sâu sắc của một dân tộc.
Anh đã thay mặt tất cả chúng ta, những người Việt lớn lên bằng chữ Tiếng Việt- không chỉ nghiêng mình kính cẩn trước anh linh hai vị Giáo sĩ người Bồ mà còn quỳ xuống trước ánh hào quang của Chúa kính yêu!
Anh vốn là một nhà tiểu thuyết chuyên nghiệp và tài ba. Tiểu thuyết lịch sử theo tôi lại còn là thế mạnh của anh. Tôi nhớ, 10 năm trước, khi bắt đầu được giới thiệu để đọc anh, tôi đã mê ngay cuốn tiểu thuyết lịch sử NGUYÊN KHÍ. Chỉ tiếc, nhiều khi tôi không nhớ hết nổi quan hệ giằng rịt giữa các nhân vật trong các câu chuyện lịch sử ấy. Dù bạn đọc cả nước gọi anh là nhà văn "Thời của Thánh Thần" -Tên một cuốn sách có số lượng in lậu lớn nhất tôi từng biết. Tôi nghĩ, bằng hình thức khác,cuốn sách cũng là một tiểu thuyết có giá trị lịch sử lớn thời cận hiện đại.
Văn anh vốn đẹp, lãng mạn,hào hoa, đặc biệt khi tả cảnh, tả tình. Ngữ nghĩa trong sáng, mạch lạc dù giữa cả một núi tư liệu lịch sử ngồn ngộn, tưởng chừng giữa những con chữ dày đặc kia phải có một bản đồ gia phả. Anh có biệt tài xây kịch tính và giật đổ sân khấu cái... rầm bằng ngôn ngữ quyết đoán đầy bạo liệt, đôi khi gây chấn thương cho con tim người đọc.
Nói như nhà văn Phạm Lưu Vũ: "Tiểu thuyết CHỮ và NGƯỜI 400... của Hoàng Minh Tường, thực sự là một BÀN THỜ CHỮ, cho nên là một cuốn sách đặc biệt, không thể đọc và giới thiệu theo lối văn chương nói chung, mà phải đọc bằng cả tiềm thức và vô thức, nghĩa là cả các Ngài Francisco de Pina, Ngài Alexandre de Rhodes... cũng đang đọc cùng với chúng ta."
Nhà văn Hoàng Minh Tường với tiểu thuyết “Chữ và Người 400 năm” đã thay mặt tất cả chúng ta, những người Việt lớn lên bằng chữ Tiếng Việt- không chỉ nghiêng mình kính cẩn trước anh linh hai vị Giáo sĩ người Bồ mà còn quỳ xuống trước ánh hào quang của Chúa kính yêu để nói lời tri ân sâu sắc nhất!
*** (Sao Mai 19/11/2025)
---------------------------------
Tác giả: Nguyễn Văn Mễn
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn