Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 4-A: Bài 101-110 Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó.

Chủ nhật - 01/02/2026 02:04
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 4-A: Bài 101-110 Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó.

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 4-A: Bài 101-110 Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó.

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 4-A: Bài 101-110 Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó.

------------------------------------------

Mục Lục:

 

Phúc Âm: Mt 5, 1-12a "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó". 1

TN 4-A101: TÂM HỒN NGHÈO KHÓ.. 2

TN 4-A102: Đức Giêsu chịu phép rửa. 3

TN 4-A103: Chúa Nhật 4 Thường Niên. 4

TN 4-A104: Chúa Nhật 4 Thường Niên. 9

TN 4-A105: Công Dân Nước Trời 11

TN 4-A106: Hạnh phúc đích thực. 13

TN 4-A107: Chúa Nhật 4 Thường Niên. 15

TN 4-A108: Chúa Nhật 4 Thường Niên. 18

TN 4-A109: Chúa Nhật 4 Thường Niên. 20

TN 4-A110: Chúa Nhật 4 Thường Niên. 22

 

---------------------------------

 

Phúc Âm: Mt 5, 1-12a "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó".

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng:

"Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp. Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời". - Ðó là lời Chúa.

 

----------------------------------------

 

------------------------------------------

 

TN 4-A101: TÂM HỒN NGHÈO KHÓ

 

(CHÚA NHẬT TUẦN 4 TN NĂM A) 

 

Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Tuần 4 Thường Niên, Năm A hôm nay, các nhà phụng vụ TN 4-A101

 

Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Tuần 4 Thường Niên, Năm A hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin Chúa cho tất cả chúng ta biết hết lòng thờ phượng Chúa, và thành tâm yêu mến mọi người. 

 

Hết lòng thờ Chúa và thành tâm yêu người, trong khi đợi chờ Chúa quang lâm, như trong bài đọc một Kinh Sách, trích thư thứ nhất của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Thêxalônica: Thánh Phaolô và cộng đoàn Thêxalônica. Thánh Phaolô không giấu nổi mối ưu tư lo lắng về cộng đoàn còn non trẻ. Phải rời cộng đoàn sau khi đã loan báo Tin Mừng, người mong ước sao cho sự sống của Chúa Kitô được tăng triển thêm mãi nơi những anh em mới trở lại này... Anh em đã quay về với Thiên Chúa để phụng sự Người là Đấng hằng sống, chân thật, để chờ đợi Con của Người từ trời ngự đến, người Con mà Người đã cho trỗi dậy từ cõi chết là Đức Giêsu, Đấng cứu chúng ta thoát cơn thịnh nộ đang đến. Xin Chúa Giêsu cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết, khiến anh em được bền tâm vững chí, được trở nên thánh thiện trong ngày quang lâm của Người.

 

Hết lòng thờ Chúa và thành tâm yêu người, thông dự vào thập giá của Đức Kitô, như trong bài đọc hai Kinh Sách, trích thư của thánh Inhaxiô Antiôkhia: Đức Kitô đã kêu gọi chúng ta vào vương quốc hưởng vinh quang của Người… Tôi đã chết đối với Lề Luật, để sống cho Thiên Chúa. Hiện nay tôi sống trong xác phàm, là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa. Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi. Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá; tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.

 

Hết lòng thờ Chúa và thành tâm yêu người, đơn sơ nghèo khó, chỉ trông chờ vào một mình Chúa mà thôi, như trong bài đọc một Thánh Lễ, trích sách ngôn sứ Xôphônia: Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 145: Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Chúa là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời, xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn. Trong bài đọc hai Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Côrintô: Những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn.

 

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó. Tâm hồn nghèo khó là chìa khóa mở cửa Nước Trời, Chúa sẽ không để ta phải tủi nhục, vì ta đã kêu cầu Người, Người sẽ tỏa ánh Tôn Nhan rạng ngời trên ta, và lấy tình thương mà cứu độ. Những gì thế gian cho là điên dại, thì, Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan; và những gì thế gian cho là yếu kém, thì, Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; Chúa phù trợ những khách ngoại kiều, Người nâng đỡ cô nhi quả phụ, nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân; Đức Chúa sẽ cho sót lại một dân nghèo hèn và bé nhỏ biết tìm nương ẩn nơi danh Đức Chúa, chúng sẽ được chăn dắt và nghỉ ngơi, mà, không còn bị ai làm cho khiếp sợ; Chúa sẽ quy tụ chúng ta về, từ giữa muôn dân nước, để ta xưng tụng Thánh Danh và được hiên ngang tán dương Chúa. Thiên Chúa đã thử luyện ta và giao phó Tin Mừng cho ta, thì ta cứ vậy mà rao giảng, không phải để làm vừa lòng người phàm, mà để làm đẹp lòng Thiên Chúa. Chúng ta tôn vinh Đức Kitô, Đấng đã cho ta biết lựa chọn sự khôn ngoan của khó nghèo thập giá, nhờ đó, ta không hề nao núng và giữ vững đức tin cách tuyệt vời: chịu đóng đinh cả xác lẫn hồn vào thập giá Đức Kitô. Ước gì chúng ta biết hết lòng thờ phượng Chúa, và thành tâm yêu mến mọi người. Ước gì được như thế!

 

--------------------------------

 

TN 4-A102: Đức Giêsu chịu phép rửa

 

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm - ViKiNi)

 

Nếu tôi là dân Do thái lúc đó, có thể tôi cũng đi từ Galilê bên Đức Giêsu suốt bốn năm ngày đường TN 4-A102

 

1- Nếu tôi là dân Do thái lúc đó, có thể tôi cũng đi từ Galilê bên Đức Giêsu suốt bốn năm ngày đường, tới sông Gióc đan để chịu phép rửa, mà không ngờ rằng Người là Đấng mà Gioan đang rao giảng. Khi tới nơi chắc chắn tôi sẽ chen lấn Người để tôi được tới gần Gioan hơn. Tôi trố mắt nhìn và lắng tai Gioan kêu gọi tôi sám hối. Tôi cảm động và rán lội tới sát Gioan. Tôi đẩy Người ra để xin Gioan rửa tôi trước, vì tôi nóng lòng mong đợi điều Gioan đang nói: “Hãy dọn đàng cho Đấng Cứu thế đến”. Rửa xong tôi an tâm ra về mà không ngờ Người là Đấng Cứu thế đồng hành với tôi, đứng sát bên tôi, đã bị tôi gạt Người ra ngoài.

 

Thực tế hàng ngày đã xẩy ra trăm ngàn lần tôi cư xử như thế đối với những người bên cạnh tôi. Tôi không ngờ rằng họ là chi thể Đấng Cứu thế. Tôi bao nhiêu lần xô lấn những người bên cạnh tôi để tôi được hơn, được trước họ mà chẳng nhớ gì lời Chúa dậy: “Con phải kính nhường và yêu mến người bên cạnh con”. Thành thử ra tôi cũng không nhận ra Đấng Cứu thế đang ở với tôi.

 

2- Nếu tôi được làm địa vị của Gioan tiền hô, thì khi vừa thấy Đấng Cứu thế, tôi sẽ tự đắc hô to: đấy tôi nói có sai đâu, Ngài đến đây nè... rồi tôi kêu gọi mọi người ủng hộ Ngài, hoan hô Ngài, đón rước Ngài, xin Ngài phất cờ giải phóng dân tộc, làm cho nước ta độc lập tự do, giầu mạnh, đem quân xâm chiếm các nước, trở thành bá chủ hoàn cầu. Tôi rất phàn nàn và lấy làm tiếc vì không thể ngờ được rằng Gioan không làm như tôi mong muốn. Trái lại, ông đã cúi mình xuống nhỏ nhẹ thưa với Ngài rằng: “Tôi không đáng cởi quai dép cho Ngài. Tôi chỉ rửa anh em trong nước, còn chính Ngài mới rửa chúng tôi trong Thánh Thần. Vậy xin Ngài rửa cho tôi đi để tôi được ơn cứu độ”. Thật là con người đầy khiêm tốn, đầy tin tưởng để rồi Gioan đã phó thác trót mạng sống mình cho Đấng Cứu thế: dù phải chặt đầu ông vẫn luôn luôn quyết tâm chu toàn nghĩa vụ Thiên Chúa trao.

 

3- Còn Đức Giêsu, Người rất từ tốn và ẩn mình tuyệt diệu hơn nữa. Người đã thưa lại Gioan: “Chúng ta cần phải chu toàn nghĩa vụ thánh như thế”. Người đồng hóa mình với dân chúng, chịu những kẻ cậy sức mạnh xô đẩy, chèn ép để thông cảm với mọi nỗi xót xa của cuộc đời những kẻ thấp mũi bé miệng, neo đơn, cô thế, cô thân. Người đã cúi mình trước Gioan làm phép rửa cho Người để cho những tội nhân biết cúi mình xuống trước tòa giải tội. Người đã dìm mình xuống nước để cứu vớt những kẻ chết trong giòng đời, cho họ được sống lại làm con chí ái với Người trong gia đình thiên quốc. Người chôn mình trong bản tính hư nát của loài người để cho con người được trường sinh vinh phúc.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết kính nhường nhau, đó chẳng phải là kính mến Chúa sao? Xin cho chúng con biết phó thác thân phận làm người, làm Kitô hữu cho Đấng Cứu thế, chắc chắn chúng con sẽ được Người thanh tẩy và kết nạp chúng con vào nhà Cha chí ái trên trời.

 

--------------------------------

 

TN 4-A103: Chúa Nhật 4 Thường Niên

 

CHÚA GIÊSU CÔNG BỐ HIẾN CHƯƠNG NƯỚC TRỜI

 

MINH HỌA LỜI CHÚA

 

1. Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó.

 

Chúa Giêsu nói: "Phúc cho ai có tâm hôm nghèo khó, vì Nước Trời là của họ" (Mt..5,3).

 

Một ngụ ngôn Ấn độ kể về hai người bạn: một cái bánh đất và một chiếc lá khô. Ngày kia hai TN 4-A103

 

Một ngụ ngôn Ấn độ kể về hai người bạn: một cái bánh đất và một chiếc lá khô. Ngày kia hai người bạn nầy quyết định hành hương đến thành thánh Benares. Biết rằng gió mưa sẽ là kẻ thù của họ suốt cuộc hành hương, họ lập ra một kế hoạch chống đỡ. Khi gió thổi, chiếc bánh sẽ ngôi trên chiếc lá khô để nó khỏi bị cuốn đi, còn khi mưa tuôn, chiếc lá sẽ trùm lên cái bánh để nó khỏi ướt. Mọi việc tiến triển tối đẹp cho đến một hôm gió thổi lên và mưa cũng tuôn đổ, kết quả là chiếc lá thì bay đi mất, còn cái bánh cũng an tành hư không.

 

Có tinh thần nghèo khó có nghĩa là nhận ra rằng chúng ta không thể đơn độc trong hành trình của cuộc sống. Có khi ngay cả bạn bè cũng không thể giúp được gì. Lúc đó chúng ta cần đến Chúa. 'Chúa Giêsu nói: "Thầy là cây nho, các con là cành... Không có Thầy các con chẳng làm gì được" (Ga.15,5). (Trích "Viễn tượng 2000")

 

2. Sứ giả hoà bình

 

'Phúc cho ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa" (Mt.. 4,9).

 

Lúc thánh Phanxicô Assisi ở Agodio thì có một con chó sói to lớn hung dữ xuất hiện, quấy nhiễu và gieo rắc tai hoạ cho dân làng. Mỗi lần đi ra nhà, ai cũng phải trang bị khí giới để sẵn sàng giao chiến với nó. Có người sợ nó không dám ra khỏi nhà. Thánh Phanxicô thấy vậy, tìm cách gặp nó. Vừa thấy thánh nhân, nó nhe răng chuẩn bị tấn công ngài, nhưng thánh nhân làm dấu thánh giá trên nó và gọi nó đến và trò chuyện thân mật với nó:

 

- Nầy sói, con đừng làm hại ai nữa.

 

Như một phép lạ, con chó sói hung dữ trở lại ngoan ngoãn quấn quít bên thánh nhân. Ngài nói tiếp:

 

- Con đã giết hại không những súc vật mà cả con người là hình ảnh của chúa. Con có lỗi với Chúa đó, và mọi người đều ta thán oán ghét con. Thôi từ nay con sống ngoan ngoãn, làm hoà lại với mọi người, không làm hại bất cứ người nào vật nào nữa.

 

Con vật cúi đầu như cam hứa. Thánh nhân đặt tay trên nó và khen nó. Và giai thoại kể rằng con chó sói đó sống 2 năm nữa. Ngày ngày nó ra vào nhà mọi người như nhà nó. Nó chẳng làm gì hại ai mà cũng không ai làm hại nó, và cho nó ămuống đầy đủ.

 

Thánh Phanxicô là sứ giả hoà bình, là hiện thân của bất bạo dộng. Giai thoại về con chó sói tại Agodio trên đây và Bài ca vạn vật của Ngài nói lên khát vọng của ngài là ngài giao hoà ngay cả với vạn vật, ngay cả đối với vật vô tri. Theo thánh nhân, con người cần phải sống hoà bình với súc vật và cần tỏ ra bất bạo động với thiên nhiên, với chim trời, với núi rừng, với nước non. Chỉ với một tâm hồn thanh thản và hài hoà như thế, con người mới có thể sống hoà bình với con người. Quả thế, chăm sóc bảo vệ thiên nhiên là thể hiện của ý chí hoà bình cao độ nhứt, hoà bình ở đây chính là trách nhiệm đối với con người, không những con người của hiện tại mà còn con người của mai sau nữa. Vì trong Tin mừng hôm nay chúa Giêsu bảo: "Phúc ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa " (Mt..5,9) (Theo "Phút cầu nguyện cuối ngày" , tập IV).

 

3. Đặt trọn niềm tín thác vào Chúa

 

Năm 1950, cả thế giới đều biết bác sĩ Tom Dolley. Một chiều tháng 7, ông đã vớt được nhiều người tỵ nạn ngoài khơi Việt Nam: nhiều người trong số nầy bị ốm đau, ông phải một mình lo điều trị cho họ. Công việc thật vất vả, nhưng ông khám phá rằng: chỉ cần một ít thuóc là đủ đề giúp cho các bệnh nhân nầy. Ông nói: "Sau những lúc vất vả, tôi khám phá ra điều vĩ đại nhất trong đời tôi, Chính lúc điều trị cho họ, tôi cảm thấy hạnh phúc hơn bao giờ hết. Và cảm nghiệm đó đã vĩnh "Viễn biến đổi cuộc đời Dolley.

 

Sau khi rời hải quân, ông trở lại rừng rậm Á châu, dựng lên một bệnh viện, phục vụ người nghèo khó yếu đau. Vì Chính vịêc làm này đã giúp ông hiểu cách mới mẻ ý nghĩa của tám mối phúc trên núi của chúa Giêsu.

 

"Có tinh thần nghèo khó " là những người dấn thân phục vụ như bác sĩ Đolley "Có tinh thần nghèo khó" là những người mà tình cảnh vô vọng trong cuộc đời đòi buộc họ đặt trọn niềm tín thác vào chúa, là những người khiêm tốn mà ngôn sứ Xôphônia nói đến trong bài đọc thứ nhứt hôm nay và là những người bị rẻ rúng được thánh Phaolô đề cập đến trong bài đọc thứ hai hôm nay... Bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại đời sống chúng ta, và tự hỏi mình có được xếp vào loại người nào mà Chúa Giêsu nói là "được chúc phúc"' không. Nếu thấy mình không thể được xếp vào loại người nào, chúng ta phải tập luy ện sống ngay từ hôm nay "các mối phúc đó" (Theo "Giảng lễ Chúa nhật")

 

4. Nghèo khó 

 

Một nhà truyền giáo kể:

 

Bangladesh là một trong những nước nghèo nhất thế giới, có một người đàn ông đi bộ về nhà sau một ngày làm lụng vất vả vì quá mệt mỏi. Ông dừng lại dưới bóng cây bên đường và thiếp ngủ. Khuôn mặt tiều tuỵ đến nỗi người ta tưởng ông là người hành khất. Và không ai bảo ai, kẻ qua người lại đều dừng chân, bỏ vào chiếc mũ của ông vài đồng xu nhỏ. Chẳng mấy chốc chiếc mũ cũ kỹ của ông đã khá nhiều tiền.

 

Khi thức giấc, ông hết sức ngạc nhiên trước sự quãng đại của khách qua đường. Ông đếm từng xu nhỏ, số tiền còn lớn hơn một ngày công của ông. Ông mỉm cười về "người hành khất bất đắc dĩ" của mình.

 

Trên đường về, ông thấy nhiều người hành khất đui mù tàn tật, ông lặng lẽ đến với họ, chia đều cho họ số tiền mà ông đã thu được. Ông trở về lòng tràn ngập niềm hân hoan vui sướng.

 

Hiến chương Nước Trời của chúa Giêsu trong Tin mừng hôm nay mở đầu bằng câu: "Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Trời là của anh em ".

 

Chúa không bao giờ có ý nói sựï thiếu thốn vất chất là đáng được chúc phúc. Ngài không bao giờ tán đồng sự khốn khổ trong những dẫy nhà tôi tàn, các khu ổ chuột. Vậy Đức Giêsu muốn ám chỉ ai và điều gì khi nói: "Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó?

 

"Nghèo khó " mà Chúa Giêsu dùng tiếng Hy-bá-lai gọi là "ani". Nó trải qua bốn giai đoạn trước khi có được ý nghĩa chúa dùng trong bài giảng trên núi:

 

Trước hết nó ám chỉnm người thiếu thốn của cải vật chất. Vì không có của cải vật chất cho nên từ ngữ đó cũng ám chỉ người không có quyền kực, nói rõ hơn là những người bơ vơ cô thân cô thế. Từ chỗ cô thân cô thế,những người này thường bị áp bức bóc lột. Cuối cùng những người này vì không có của cải, bơ vơ không ai che chở nên họ đã "đặt trọn niềm tin vào Chúa"

 

Đây mới là ý nghĩa chúa Giêsu muốn ám chỉ trong bài giảng trên núi hôm nay. Vậy chúng ta có thể đọc lại lời tuyên bố trên theo cách thức nầy: "Phúc cho anh em là những kẻ nhận thức rằng: Không thể tìm hạnh phúc bằng cách cậy dựa vào của cải vật chất, mà bằng cách đặt trọn niềm tin thác vào chúa".

 

Chúng ta cũng có thể gọi đó là tinh thần nghèo khó đích thực. Vì khi chúng ta có được tinh thần nghèo khó ấy chúng ta mới cân lường được sự chóng qua của tiền của vật chât. Có tinh thần nghèo khó ấy chúng ta mới nhìn thấy cảnh nghèo khổ của anh em. Có tinh thần nghèo khó ấy chúng ta mới dễ thông cảm và chia sẻ cho tha nhân. (Trích "Như lòng chúa khoan dung").

 

5. Phúc ai chịu bách hại

 

Tuổi thanh xuân là tuổi nguồn sống và hy vọng, nhưng cũng là tuổi hăng say nồng nhiệt. Nếu không kềm chế hướng dẫn nó, có thể nó sẽ đưa đến hư vong truỵ lạc. Trái lại nếu biết điều khiển lèo lái nó, nó sẽ đi vào dường ngay nẻo chánh tốt đẹp, nó sẽ đem lại niềm an vui hạnh phúc cho con người. Giuse Tú còn là một thanh niên biết điều khiển tuổi thanh xuân của mình, sống đạo sốt sắng, nên được phúc chết vì đạo, được tôn phong hiển thánh, nêu gương đức tin cho mọi người, đặc biệt là giới trẻ.

 

Dưới thời vua Tự Đức bách hại đạo, Giuse Túc bị bắt lúc mới lên 19 tuổi. Thân nhân thấy cậu còn trẻ muốn cứu sống cậu, định cho quân lính tiền để xin thả cậu, nhưng cậu từ chối, sẵn sàng hy sinh chịu chết vì Chúa, làm chứng cho chúa để được hưởng phúc Nước Trời. Cậu bị giam cầm 4 tháng trời, ngày dêm phải mang gông cùm xiềng xích kỷhổ sở. Nhiều lần cậu bị đem ra tra tấn đánh đập, buộc bước qua thánh giá bỏ đạo chối Chúa, nhưng lần nào cậu cũng cương quyết không quá khoá, nên ngày 01 tháng 06 năm 1862, cậu bị điệu ra pháp trường xử trảm vì tin theo chúa. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tôn Giuse Túcònên bậc Hiển thánh Tử đạo.

 

Trong Tin mừng hôm nay chúa Giêsu đã long trọng tuyên bố: "Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta xỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao " (Mt..5,10-2).

 

Như thế Thánh tử đạo Giuse Túc thật hạnh phúc vì đã hy sinh chịu chết vì Chúa, như Lời CHúa hứa trên đây và như lời thánh vịnh: "Ai gieo trong nước mắt sẽ gặt trong hân hoan". Trong thực tế khi gieo trong nước mắt, các thánh tử đạo Việt nam đã khởi sự công cuộc đối thoại sâu xa và có tính cách giải phóng đối với dân tộc và văn hoá quốc gia Việt Nam. Họ rao giảng trước mặt mọi người tính cách chân thật và phổ quát niềm tin vào Thiên Chúa. Và hơn nữa, các vị đã làm chứùng: cần phải thờ lạy một chúa tể duy nhất, Đấng đã tác tạo trời đấât muôn vật ; các vị xác quyết quyền tự do tín ngưỡng và can đảm khẳng định Thiên Chúa là Đấng Tốt Cao, có quyền thưởng phạt: mọi người, đặc biệt Người thưởng những ai trung thành theo Người, hy sinh chịu chết để làm chứng cho Người, đế nên hạt giống đức tin cho nhiều người"

 

--------------------------------

 

TN 4-A104: Chúa Nhật 4 Thường Niên

 

(Suy niệm của Lm. GB. Phạm Hồng Thái)

 

Chúng ta mới trải qua tuần lễ đầu năm. Gặp nhau dịp Tết, chúng ta chúc cho nhau năm mới được TN 4-A104

 

Chúng ta mới trải qua tuần lễ đầu năm. Gặp nhau dịp Tết, chúng ta chúc cho nhau năm mới được hạnh phúc, bình an, mạnh khỏe. Phúc, Lộc, Thọ là qui tụ mọi ước mong của người Á đông chúng ta. Hôm nay trong Tin Mừng, Chúa Giêsu rao giảng cho chúng ta tám mối phúc thật. Thoạt mới nghe có lẽ nhiều người cảm thấy những điều Chúa tuyên phúc không có gì là phúc mà còn cảm thấy ngược lại với ước mong của người đời, nhưng nếu chúng ta biết suy niệm và đón nhận thì đó chính là hạnh phúc chân thật và sâu sa cho con người chúng ta.

 

Các mối phúc của Chúa mở ra tương quan ba chiều trước hết là tương quan với Thiên Chúa, rồi tới tha nhân và tới bản thân mỗi người. Có lẽ quan niệm của Chúa Giêsu về cuộc sống con người khác với quan niệm của Phật giáo vì Đức Phật nói đời là bể khổ và mỗi người ví như cánh bèo trôi dạt trên đại dương khổ đau này. Ông Nguyễn công Trứ nhìn cuộc đời theo hướng đó nên có vần thơ:

 

“Thoạt sinh ra thì đã khóc chóe,

Trần thế có vui sao chẳng cười khì?”.

 

Tiếng khóc chào đời theo các thi sĩ là báo hiệu cuộc đời đầy đau khổ sau này. Trong kinh “Lạy Nữ Vương Mẹ nhân lành”, chúng ta thưa với Đức Mẹ: “Chúng con ở nơi khóc lóc than thở kêu khẩn Bà thương”. Nơi khóc lóc nếu dịch sát chữ phải là “nơi thung lũng nước mắt” (lacrimarum valle).

 

Cuộc sống tuy có nhiều đau khổ, nhiều nước mắt nhưng người tin Chúa Kitô vẫn có niềm hy vọng, có niềm vui sống. Chúa Giêsu đã kêu gọi: “Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Tôi, Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng (Mt 11, 28)”

 

Trong tám mối phúc, Chúa Giêsu hứa cho ta được Nước Trời, được Đất Hứa, được thấy Thiên Chúa, được an ủi, được no thỏa, được hưởng Lòng Thương xót Chúa, được nhìn xem Thiên Chúa, được là con cái Chúa, được hạnh phúc viên mãn trong Nước Chúa. Nhưng để được hưởng những lời hứa này, Chúa đòi ta phải phấn đấu rất nhiều trong cuộc sống hiện tại, thể hiện bằng việc sống tinh thần nghèo khó: đó là tuy ta không có nhiều của cải vật chất, không có địa vị cao sang trong xã hội nhưng có lòng phó thác trông cậy Chúa. Gặp phải khó khăn sầu khổ, chúng ta biết chạy đến cùng Chúa, quay về với Chúa. Các tông đồ khi bị bách hại vẫn có niềm vui tràn đầy trong tâm hồn vì được chịu đau khổ vì Chúa (Cv 5,41). Chúng ta sẽ có được đức tính hiền lành khi biết học ở Chúa Giêsu là Đấng dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng (Mt 11, 29) nên người thi hành tinh thần tám mối phúc không hiềm thù báo oán ai. Trong thời đại này, theo Đức Giáo Hoàng Yoan Phaolô II, chúng ta phải học ở Chúa Giêsu lòng Thương xót và thực thi lòng thương xót đối với anh em bằng việc cảm thương đau khổ của anh em bà con, chia sẻ tình thương và cả của cải vật chất cho họ nữa.

 

Chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc khi biết cho đi như lời Chúa dạy: “Cho thì có phúc hơn là nhận (Cv 20,35)”. Thực vậy cuộc sống có ích cho tha nhân mới là cuộc sống đáng sống. Một ví dụ cụ thể nơi thiên nhiên vạn vật: ở miền đất Palestine có Biển Hồ Galilê nước ngọt nhiều cá sinh sống. Mấy ông tông đồ trước khi theo Chúa đã làm nghề đánh cá ở Biển Hồ này, trái lại Biển Chết nằm ở cuối dòng sông Giođan thì nước lại có độ mặn rất cao đến nỗi không con cá con tôm hay sinh vật nào có thể sinh sống được trong hồ này. Vì độ mặn hơn nước biển nhiều nên nếu đi tắm ở đây thân thể ta sẽ tự động nổi trên mặt nước dù có biết bơi hay không. Tại sao cả hai biển hồ đều tiếp nhận cùng một dòng nước từ sông Giođan mà biển Hồ Galilê thì nước ngọt có nhiều cá, còn Biển Chết thì cá không sống nổi? Câu trả lời là vì Biển Hồ Galilê nhận nước rồi dòng nước đó tiếp tục lưu thông chảy đi, còn Biển Chết thì chỉ có tiếp nhận nước mà không có lưu thông: dòng nước trở thành nước tù cùng với lượng muối trầm tích có ở dưới đáy nên Hồ có độ mặn cao. Cũng thế con người chúng ta nếu chỉ ích kỉ giữ lại mọi ân huệ thiêng liêng và vật chất Chúa ban cho mình mà không biết san sẻ cho đi thì sẽ trở nên như Biển Chết và tất nhiên cũng không có hạnh phúc. Trái lại nếu thực hành các mối phúc Chúa dạy tức là chúng ta biết mở lòng ra cho Chúa, cho anh em và cho chính bản thân mình thì chúng ta sẽ có hạnh phúc và tha nhân cũng được nhờ.

 

Tám mối phúc là tám nẻo đường Chúa đã đi và Chúa dạy chúng ta. Chúng ta hãy bước theo nếu không được cả tám thì ít nữa chúng ta cũng chọn cho mình một mối phúc làm nẻo đường chính để đi nhờ đó chúng ta sẽ tới được cùng Chúa là nguồn Hạnh phúc và được Đất Hứa là Nước Trời Chúa dành cho những người kiên trì dõi theo con đường của Chúa. Amen.

 

--------------------------------

 

TN 4-A105: Công Dân Nước Trời

 

(Suy tư Tin Mừng của Lm. Giuse Hoàng Thanh Phong, SJ.)

 

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,

 

Trong những ngày đầu năm mới, chúng ta thường cầu chúc cho nhau những gì là tốt đẹp nhất TN 4-A105

 

Trong những ngày đầu năm mới, chúng ta thường cầu chúc cho nhau những gì là tốt đẹp nhất, như được sức khỏe được dồi dào và công việc làm ăn được thịnh vượng phát đạt. Ấy vậy, một số lời chúc phúc của Chúa Giêsu trong Hiến Chương Nước Trời không dễ dàng để chúng ta có thể đón nhận. Ai mà lại mong muốn cho mình sự nghèo khó, sầu khổ, bị sỉ vả, bách hại, hay bị vu khống. Tuy vậy, những đặc tính dường như đi ngược lại với những gì người đời vẫn tìm kiếm, lại là những đặc tính quan trọng cho thấy một người đang là ‘công dân nước Trời’, hay vẫn chỉ là ‘công dân của thế gian’.

 

Trước hết, đặc tính của một công dân nước Trời đó là một người không cậy dựa vào sức riêng của mình nhưng cậy dựa nơi Thiên Chúa.

 

Mối phúc “tâm hồn nghèo khó” là mối phúc đầu tiên được Đức Giêsu truyền dạy cho các môn đệ. Chúng ta tự hỏi tại sao “nghèo khó” lại là có phúc, trong khi chẳng có ai lại mong cho mình có cuộc sống vất vả cả. Sự thực là Chúa Giêsu cũng làm phép lạ hóa bánh nuôi dân chúng đang đói khát. Chúng ta có thể hiểu rằng người nghèo chẳng bao giờ chắc chắn về tương lai của mình: ăn bữa sáng chưa xong đã phải lo cho bữa tối. Người nghèo rất nhiều khi phải cúi mình để xin sự giúp đỡ của người khác. Người nghèo có khi chẳng có gì đáng giá để mà tự hào với đời. Người nghèo chẳng có gì để trông mong cậy dựa nữa ngoại trừ việc chạy đến với Thiên Chúa. Một tâm hồn nghèo khó ở đây là một tâm hồn không tự cao tự đại, không cậy vào sức riêng của mình, chẳng bám víu vào điều gì, nhưng chỉ biết khiêm tốn cố hết sức mình, và rồi phó thác mọi sự cho sự quan phòng của Thiên Chúa.

 

Thật ra, chẳng ai trong chúng ta hay bất cứ ai là giàu có cả, và chúng ta thực sự là những người nghèo theo một nghĩa nào đó. Đơn giản vì những gì chúng ta đang có đều là ơn ban từ Thiên Chúa cả. Trước khi được sinh ra, chúng ta thậm chí ‘chẳng là gì, là không có, là hư vô.’ Thế nên, thật phúc cho chúng ta dù có nhiều hay ít của cải, nhưng chúng ta luôn nhận ra mình là ‘nghèo khó,’ vì mọi sự đều là ơn ban cho chúng ta. Ngược lại, thật không phúc cho những ai vì cậy vào tiền của hay tài năng của mình, mà lãng quên những ơn ban của Thiên Chúa. Những ai cậy dựa vào Thiên Chúa được xem là khôn ngoan và được Thiên Chúa chúc phúc. Đơn giản vì khi ta cậy dựa vào tiền của, danh vọng… những thứ ấy sẽ một ngày nào đó tan biến mất. Ngược lại khi ta cậy dựa vào Thiên Chúa, chúng ta được vững vàng vì Thiên Chúa là thường hằng bất biến.

 

Kế đến, một người được xem là công dân nước Trời khi cuộc sống của họ không ích kỷ nhưng vị tha.

 

Thiên Chúa chúc lành cho những ai biết xót thương người khác, vì đây chính là đặc tính của Thiên Chúa hay thương xót. Chúng ta học được sự thương xót từ chính Thiên Chúa, vì Người đã xót thương chúng ta trước. Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô điều kiện nên Người vẫn luôn sẵn lòng tha thứ mỗi khi chúng ta quay trở về nẻo chính đường ngay. Chúng ta chỉ có thể thương xót người khác khi chúng ta thấy được những đau khổ những khó khăn của tha nhân. Khi chúng ta sống ích kỷ, chúng ta chỉ thấy được những nhu cầu của bản thân mình. Khi tâm hồn ta sống vị tha, ta sẽ dễ dàng thấy được những thiếu thốn và những nhu cầu của anh chị em mình. Cũng như với tâm tình của thánh Phaolô, chúng ta cũng được mời gọi để sống tâm tình “vui với người vui, khóc với người khóc.” Mối phúc sầu khổ ở đây không phải là sự ủ dột bi quan, nhưng là sự sầu khổ mang tính tích cực. Họ sầu khổ với những ai đang sầu khổ vì họ có sự đồng cảm với những nỗi đau của họ. Họ sầu khổ khi thấy sự dữ vẫn còn mạnh thế trong thế giới hôm nay. Họ thấy sầu khổ khi bản thân hoặc thấy người khác sống trong tình trạng tội lỗi.

 

Người có lòng vị tha cũng là một người luôn mang lại sự bình an và hạnh phúc cho người khác. Họ luôn cố gắng bắt chước sự hiền lành của Đức Giêsu và cuộc đời của họ không phải là mối đe dọa cho người khác. Một người sống cho người khác cũng là một người mà cuộc sống của họ nhắm đến việc kiến tạo hòa bình. Họ không dùng bạo lực để đối lại bạo lực mà trong cuộc sống hằng ngày có thể họ vẫn phải đối diện. Giữa bao con đường khác nhau, thì họ chọn con đường của tình yêu và sự tha thứ. Chính tình yêu mới có khả năng mang lại bình an cho con người, còn bạo lực sẽ chỉ đổi lấy bạo lực. Tâm hồn của những ai biết sống cho người khác thì trong suốt vì họ chẳng mưu mô hại người, và luôn sống công chính trước mặt Thiên Chúa.

 

Và để có thể sống những đặc tính của một công dân nước Trời, đòi buộc mỗi người phải nỗ lực từng ngày. Đây không phải là cố gắng một hai ngày, nhưng là nỗ lực để sống cả cuộc đời. Để được như vậy, đôi khi họ cũng chịu sự ‘bách hại’ từ chính bản thân mình cũng như từ người khác. Họ bị bách hại khi phải sống ngược với những gì thế gian vẫn luôn tìm kiếm. Người ta thật có phúc khi vẫn kiên trì sống như vậy suốt cuộc đời. Bởi vì, phần thưởng nước Trời là điều tất cả chúng ta mong đạt tới, và đây là phần thưởng mà họ thấy đáng để hy sinh cả cuộc đời của mình.

 

--------------------------------

 

TN 4-A106: Hạnh phúc đích thực

 

Trước cổng một nghĩa trang kia, một hôm người ta thấy có một chiếc xe hơi sang trọng dừng lại TN 4-A106

 

Trước cổng một nghĩa trang kia, một hôm người ta thấy có một chiếc xe hơi sang trọng dừng lại. Người tài xế bước ra khỏi xe tiến lại người giữ cổng và nói: "Xin anh giúp một tay cho người đàn bà xuống xe vì bà ta rất yếu. Vừa ra khỏi xe, người đàn bà tự giới thiệu và nói với người giữ cổng: "Từ hai năm qua, mỗi tuần, tôi là người đã gửi đến cho anh mười đô-la để mua hoa và đặt trên mộ con trai tôi. Nhưng nay bác sĩ cho tôi biết tôi không còn sống được bao lâu nữa, nên tôi đến để cám ơn anh".

 

Nhưng người đàn bà không thể ngờ rằng người giữ cổng nghĩa trang đã trả lời: "Thưa bà, tôi lấy làm tiếc bà đã làm công việc ấy". Người đàn bà ngạc nhiên hỏi: "Anh nói như vậy nghĩa là thế nào? Tại sao lại lấy làm tiếc về một cử chỉ đẹp như thế?”. Người giữ cổng giải thích: “Thưa bà, tôi lấy làm tiếc vì những người chết như con trai của bà chẳng hạn, chẳng bao giờ còn được thấy một cánh hoa nào nữa". Bị chạm tự ái, người đàn bà nói: "Anh có biết anh nói như thế là anh đã làm tổn thương đến một người như tôi không?”. Người giữ cổng bình tĩnh trả lời: "Thưa bà, tôi xin lỗi, tôi chỉ muốn nói với bà rằng: có rất nhiều người khác đang cần đến những cánh hoa của bà hơn. Tôi là hội viên của một tổ chức chuyên đi thăm những người già yếu tại các nhà dưỡng lão, các bệnh nhân tại các bệnh viện, và nhiều người đang sống cô độc. Chính họ mới là những người đang cần đến những cánh hoa của chúng ta, họ có thể nhìn thấy mầu sắc tươi đẹp và ngửi được hương thơm của những cánh hoa ấy".

 

Nghe thế, người đàn bà không nói gì nữa, đứng im lặng một lúc rồi chào người gác cổng lên xe ra về. Vài tháng sau người đàn bà trở lại nghĩa trang. Nhưng lần này không cần ai giúp đỡ bà tự động xuống xe với một dáng vẻ vui tươi nhanh nhẹn hơn, và điều đáng ngạc nhiên hơn nữa, chính bà là người lái xe. Với một nụ cười rạng rỡ bà nói với người giữ cổng: "Anh nói có lý, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về lời khuyên của anh từ lần gặp anh cách đây sáu tháng, từ đó, thay vì gửi tiền nhờ anh mua hoa, tôi đã dùng số tiền ấy mua quà và đem đến tặng cho những người già lão, bệnh tật. Quả thật, điều đó đã làm cho họ được hạnh phúc, nhưng người được hạnh phúc hơn chính là tôi. Các bác sĩ không biết được cái bí quyết làm cho tôi được khoẻ mạnh và hạnh phúc. Nhưng tôi đã khám phá ra cái bí quyết ấy, tôi đã tìm ra lẽ sống".

 

Người đàn bà trên đây đã tìm được cái bí quyết mà ai trong chúng ta cũng biết nhưng chúng ta thường quên hay chúng ta ít khi thực hiện, bởi vì bí quyết ấy Chúa Giê-su đã dạy chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay. Khi đến trần gian Chúa đã loan báo cho con người biết thứ hạnh phúc chân thật nhất, đó là hạnh phúc của Nước Trời. Và Ngài cũng chỉ bảo cho con người biết những cách thế để đạt được hạnh phúc, đó là tám phương thế hay tám bí quyết mà chúng ta quen gọi là "Tám mối phúc thật". Nhưng chúng ta đừng vội nghĩ rằng "hạnh phúc Nước Trời" là thứ hạnh phúc chỉ có trong tươnglai, và ở mãi tít cao trên trời, không thuộc trần thế này, và do đó không vừa tầm tay của con người. Không, "hạnh phúc Nước Trời" là hạnh phúc chân thật, không phải Thiên Chúa chỉ hứa ban cho con cái Ngài, nhưng còn chính là thực tại mà Ngài muốn cho họ được hưởng ngay hôm nay trong cuộc đời tại thế này. Có nghĩa là nếu chúng ta biết sống theo tám mối phúc Chúa dạy bảo, chúng ta sẽ đạt được hạnh phúc và còn đem lại hạnh phúc cho người khác nữa.

 

Sống theo tám mối phúc hay thực hiện tám mối phúc cũng chẳng phải là gì khác mà là sống và thể hiện tình yêu thương. Do đó, chúng ta có thể nói rằng: chỉ có một con đường duy nhất dẫn đến hạnh phúc, đó là tình yêu. Và con người chỉ cảm nhận được hạnh phúc khi biết sống và thể hiện tình yêu thương. Như vậy, hạnh phúc của chúng ta là tấm lòng của chúng ta đối với người khác. Hạnh phúc của chúng ta là biết quan tâm đến người khác. Hạnh phúc của chúng ta là khi chúng ta đem niềm vui, tình yêu thương và hạnh phúc cho người khác.

 

Tôi xin gợi ý chia sẻ rõ hơn về điều này. Trong một cộng đoàn, dù lớn hay nhỏ, nếu mỗi cá nhân chỉ biết sống cho mình mà không đồng thời sống cho người khác, thì chẳng cá nhân nào được hạnh phúc cả. Cá nhân muốn có hạnh phúc thì phải biết sống cho người khác nữa. Tại sao vậy? Vì giữa ta và người khác có một mối quan hệ mật thiết, đến độ nếu ta không sống cho người khác tức là ta đã không sống cho chính mình. Các nhà thần bí và những người có đời sống tâm linh cao đều nhận thấy rằng: ta và người khác là một, giống như hai trang giấy của cùng một tờ giấy. Vì thế, nếu ta hại người khác, thì chẳng bao lâu sự hại đó sẽ quay trở lại với chính ta. Và nếu ta làm cho người khác được hạnh phúc, thì sớm muộn gì hạnh phúc đó cũng trở lại với chính ta. Tục ngữ Việt Nam chúng ta có câu: "ác giả ác báo" nói lên chân lý đó. Ta không thể hại người mà không hại mình, cũng như ta không thể làm lợi cho người mà mình không được lợi.

 

Tóm lại, sống cho tha nhân chính là một chiều kích tất yếu của sống cho chính mình. Người sống cho chính mình mà bỏ rơi chiều kích sống cho người khác sẽ tự biến mình thành một ốc đảo, cô đơn giữa dòng đời. Mình không sống cho ai khác, nên cũng chẳng ai muốn sống cho mình. Cuộc sống đòi hỏi phải có sự trao đổi, có qua có lại. Chính tâm lý chúng ta cũng đòi hỏi như thế: chúng ta không thể cứ cho đi hoài mà không hề nhận lại gì cả. Cho đi rồi nhận lại chúng ta mới có thể tiếp tục cho đi nữa. Càng yêu thương nhiều người thì chúng ta càng được nhiều người thương mến, tương quan của chúng ta với xã hội càng được mở rộng, khiến cho cuộc sống của chúng ta càng phong phú hơn, và cuộc đời chúng ta càng có ý nghĩa hơn. Xin Chúa cho tất cả chúng ta biết sống theo bí quyết ấy để đời chúng ta được thoải mái, hạnh phúc và người khác cũng được bình an, hạnh phúc.

 

--------------------------------

 

TN 4-A107: Chúa Nhật 4 Thường Niên

 

(Suy niệm của Lm. Ga. Phan Tiến Dũng)

 

Kính thưa ACE, 

 

Sau những ngày đón Tết vui Xuân, khi chúng ta đã và đang bắt đầu quay trở lại với nhịp đập thường TN 4-A107

 

Sau những ngày đón Tết vui Xuân, khi chúng ta đã và đang bắt đầu quay trở lại với nhịp đập thường ngày của cuộc sống với bao công ăn việc làm, với cơm áo gạo tiền… vậy thì, đâu là mục đích, là lý tưởng và là lẽ sống của chúng ta trong những ngày tháng sắp tới đây? Trong những ngày Tết, chúng ta đã cầu chúc cho nhau, cũng như đón nhận được rất nhiều lời cầu chúc từ những người thân yêu, bạn bè, thế nhưng, liệu rằng, những điều tốt đẹp đó, những ước nguyện cầu mong đó có trở nên hiện thực cho chúng ta hay không? Thật may mắn thay, các bài đọc Lời Chúa hôm nay như soi sáng, hướng dẫn và gia tăng thêm sức mạnh hầu cho chúng ta được thỏa chí toại lòng và trên hết sẽ giúp chúng ta sống đẹp lòng Chúa, trở nên người được Chúa yêu thương, chúc phúc.

 

Tin mừng hôm nay (Mt 5, 1-12a) Thánh Matthêu tường thuật cho chúng ta lời dạy của Chúa Giêsu để làm sao chúng ta có thể trở nên người có phúc. Hay nói đúng hơn, chính Chúa Giêsu đang trình bày, hướng dẫn và làm gương mẫu cho chúng ta về cách sống có phúc, cách sống đẹp lòng Thiên Chúa Cha của Ngài, đồng thời, đây cũng là cách sống đem lại thiện ích tốt lành cho tha nhân. “Sống tinh thần nghèo khó, chịu ưu phiền, sống hiền lành, khao khát điều công chính, thương xót người, có lòng trong sạch, ăn ở thuận hoà, bị bách hại vì lẽ công chính, hay bị người ta ghen ghét, bách hại…” Thật vậy: Khi suy niệm về những mối phúc mà Chúa dạy cùng nêu gương, chúng ta sẽ không khỏi ngạc nhiên, vì những điều này dường như đều đi ngược lại với những ý định, dự tính, suy nghĩ cũng như hành động của con người chúng ta.

 

Nếu không có niềm tin vào Chúa, nếu không biết khiêm tốn để đặt trọn niềm tín thác vào tình thương cùng ơn thánh Chúa, hoặc nếu chúng ta không để cho sức mạnh và sự khôn ngoan của Lời Chúa soi dẫn, thì chúng ta sẽ thấy rằng, những điều Chúa dạy, những điều mà Chúa gọi là mối phúc thì chúng ta sẽ cho là điên rồ, là khờ khạo, ngu xuẩn và không muốn thực thi. Đây chính là điều rất nguy hại cho đời sống của mỗi người chúng ta, vì con người thường quá tự cao tự đại khi nghĩ và cho rằng, bản thân mình làm tốt hơn cả Chúa, để rồi, mình muốn Chúa và muốn người khác làm theo ý riêng của mình mà thôi. Thật vậy, con người của không biết bao nhiêu thế hệ đã đi vào vết xe đổ của sự tự mãn, kiêu ngạo đó và đã gây nên không biết bao nhiêu tang thương, đau khổ cho tha nhân, cũng như con người tự chuốc lấy sự chúc dữ, hay điều “khốn” cho chính bản thân mình.

 

Thưa ACE, tại sao Chúa lại dạy và nêu gương cho chúng ta cách sống có phúc như vậy? Phải chăng, Chúa chỉ dạy và muốn chúng ta có cách sống bi quan, khờ dại hay không? Chắc chắn là không phải như vậy. Vì Thiên Chúa biết rõ con người thật của chúng ta với bao giới hạn, yếu đuối của kiếp người, đồng thời, vì Chúa cho chúng ta được sự tự do để lựa chọn, thế nên, Chúa biết, bao lâu con người lạm dụng sự tự do để làm theo ý riêng ích kỷ hẹp hòi của bản thân, thì con người sẽ rơi vào những điều khốn khổ và tội lỗi. Do vậy, qua chính Con Người và sứ vụ của Chúa Giêsu, chính Con Thiên Chúa đã làm người để biểu lộ và minh chứng cách cụ thể cho chúng ta thánh ý khôn ngoan, thánh thiện, đầy yêu thương và phúc lành của Chúa cho con người.

 

Điều này chúng ta cũng đã được nghe dạy trong bài đọc một (Xp 2, 3; 3, 12-13) qua lời tuyên phán mà Chúa dùng Tiên tri Xôphônia để loan báo cho dân của Ngài: “Hãy tìm Chúa, hỡi tất cả các người hiền lành trong nước, là những kẻ tuân giữ luật Chúa; hãy tìm công lý, hãy tìm sự khiêm nhường”. Thật vậy, con đường và cứu cánh duy nhất để con người chúng ta được hạnh phúc là tìm kiếm Chúa, tin tưởng vào Chúa, khiêm tốn để thực thi theo thánh ý Chúa hướng dẫn, chỉ dạy.

 

 Thánh Phaolo trong bài đọc hai (1 Cr 1, 26-31), hơn bất cứ ai khác đã cảm nghiệm và chia sẻ lại bí quyết tuyệt vời này cho chúng ta: “Điều mà thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những người khôn ngoan phải xấu hổ; điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những gì là mạnh mẽ phải hổ ngươi”. Thật hạnh phúc, vì Thánh Phaolo đã nhận ra rằng, nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng mà Ngài tin theo, Đấng mà Ngài yêu thương phục vụ chính là Thiên Chúa thật, Đấng đến từ Thiên Chúa, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan, sự công chính, sự thánh hoá và sự cứu rỗi cho tất cả con người chúng ta. Điều này chỉ dành cho những ai biết khiêm tốn để chấp nhận và sống theo giáo huấn cùng thánh ý của Chúa. Thật là chí lý để chúng ta cùng nhau gẫm suy lời dạy và bí quyết sống có phúc mà Thánh Phaolo truyền lại: “Ai tự phụ, thì hãy tự phụ trong Chúa”.

 

 Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết khiêm tốn để sống tín thác vào tình Chúa yêu thương cùng với những ơn Thánh Chúa ban, nhờ đó, chúng con sẽ trở nên người hạnh phúc, người sống đẹp lòng Chúa khi tin theo và thực hành thánh ý cùng huấn lệnh Chúa trong mọi ngày sống của chúng con. Amen.

 

--------------------------------

 

TN 4-A108: Chúa Nhật 4 Thường Niên

 

(Suy niệm của Victor Cancino, S.J. - Nhóm Sao Biển chuyển ngữ từ America

Magazine)

 

SỰ ĐẢO NGƯỢC HIỆN TRẠNG TRONG THÁNH KINH

 

Trong âm nhạc, đoạn nhạc khởi ý (motif) là một giai điệu ngắn được lặp đi lặp lại để tạo nên TN 4-A108

 

Trong âm nhạc, đoạn nhạc khởi ý (motif) là một giai điệu ngắn được lặp đi lặp lại để tạo nên đặc trưng chủ đạo của toàn bản nhạc. Trong văn học cũng vậy, mô típ là những chủ đề hoặc cách diễn đạt làm cho các phân đoạn thêm phần sinh động. Kinh Thánh bao gồm nhiều chủ đề như vậy. Một chủ đề phổ biến là Thiên Chúa tôn vinh những người mà thế gian coi là thấp kém. Các bài đọc Chúa nhật IV Thường niên minh họa rõ rệt sự đảo ngược hiện trạng này.

 

Trong bài đọc I, ngôn sứ Xôphônia mô tả sự phán xét sẽ đến “trong ngày thịnh nộ của Đức Chúa” (Xp 2,3). Sách Xôphônia dù ngắn đã mô tả sự thất vọng của nhiều người đối với việc lãnh đạo tại Giuđa trong những năm trước khi thành Giêrusalem sụp đổ và trước cuộc lưu đày ở Babylon vào năm 587 TCN. Giới tinh hoa của Giêrusalem cai trị những người phận nhỏ bằng sự bạo ngược, các thẩm phán như những con sói, các ngôn sứ là hạng người khoác lác ba hoa, dân thì bất trung bất tín và các tư tế làm ô uế đền thờ và vi phạm Lề Luật (x. Xp 3,1-4). Đây là những vị trí được tôn vinh trong con mắt của xã hội: những người cai trị, thẩm phán, ngôn sứ và các chuyên gia tôn giáo. Đáp lại, Xôphônia tuyên bố những người phận nhỏ hơn sẽ được tôn vinh trước mắt Đức Chúa: “Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ” (Xp 3,12). Chủ đề của Chúa Nhật tuần này là ‘những người phận nhỏ và khiêm nhường’ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

 

Thánh vịnh Chúa nhật tuần này nằm gần cuối sách Thánh vịnh. Vài thánh vịnh ở phần cuối này ước mơ về một vương quốc mới gần hơn với nền hòa bình mà Thiên Chúa sẽ thiết lập. Trọng tâm của giấc mơ này là niềm tin rằng, ngay cả bây giờ, Thiên Chúa tôn vinh những kẻ thấp hèn bị thế gian lãng quên. Kẻ đói có thức ăn, tù nhân được trả tự do, người mù được sáng mắt và cô nhi quả phụ được Thiên Chúa nâng đỡ (x. Tv 146, 6-10). Một lần nữa, mô típ đảo ngược số phận được tuyên bố: “Chúa cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên” (Tv 146, 8).

 

Trong bài đọc II, thánh Phaolô nhắc nhở các thành viên trong cộng đoàn Côrintô về chân lý Kinh Thánh này. Họ sống trong một nền văn hóa có hệ thống lâu đời phân biệt danh dự và nhục nhã, và thực tại của những người “phận nhỏ” dường như là một ví dụ về sự hèn kém mà những người vị vọng nên tránh. Thánh Phaolô nhắc nhở họ hãy thử nghĩ lại xem hoàn cảnh ơn kêu gọi của chính họ (1 Cr 1, 26). Người Côrintô không hùng mạnh, xuất thân cao quý hay khôn ngoan theo chuẩn mực người đời. Tuy nhiên, thánh Phaolô nói rằng những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh (1Cr 1,27).

 

Giống như một tiết nhạc, mô típ “Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp,” đã được vận dụng một cách tinh tế trong suốt các bài đọc này. Giờ đây, nó đạt đến tột đỉnh trong bài Tin mừng Chúa nhật tuần này với các mối phúc trong Tin mừng Mátthêu. “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó… Phúc thay ai sầu khổ… Phúc thay ai hiền lành… Phúc thay ai khát khao nên người công chính …” (x. Mt 5,1-6). Đây là những người phận nhỏ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

 

Nguyên bản tiếng Hy Lạp của đoạn này đọc giống như một giai điệu du dương dành cho người phận nhỏ. Việc sử dụng cụm từ ‘phúc thay’ (makarioi) được lặp lại qua tám hoặc chín câu tùy theo cách đếm. Bốn mối phúc đầu tiên được xác định bằng những từ bắt đầu bằng chữ p trong tiếng Hy Lạp: tâm hồn nghèo khó (ptochoi to pneumati), người sầu khổ (penthountes), hiền lành (praeis) và những người đói khát (peinontes). Bản văn gần giống như một bài hát này có thể là cách mà các thế hệ môn đệ về sau lưu nhớ và lặp lại giáo huấn đã được Chúa Giêsu mặc khải cho các môn đệ thân cận. Thánh sử Matthêu xem mô típ ‘Chúa tôn vinh những người mà thế gian xem là thấp kém’ hệ trọng đến mức phải chuyển thể thành một dạng văn chương phù hợp để dễ dàng ghi nhớ.

 

Mô típ của các bài đọc tuần này cũng sẽ tiếp tục trong tuần tới, khi Chúa Giêsu dạy những người phận nhỏ và khiêm nhường là muối và ánh sáng cho thế gian. ‘Muối đất’ sẽ được mô tả như những người được chúc phúc trong những dòng mở đầu của Tin mừng của Chúa nhật tới. Có lẽ tuần này đã đủ khi chỉ cần tập trung vào những điều nhỏ bé trong cuộc sống và cách đáp trả mà những bài đọc này khơi dậy trong chúng ta.

 

Những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có (1 Cr 1,28).

 

“Nhưng điều mà thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những người khôn ngoan phải xấu hổ; điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những gì là mạnh mẽ phải hổ ngươi”. (1Cr 1,27)

 

CẦU NGUYỆN

 

- Chúng ta có nghe được bài ca của những người phận nhỏ và khiêm tốn mà các bài đọc nhấn mạnh trong tuần này không?

- Các mối phúc có luôn đúng không? Làm thế nào để các mối phúc đảo ngược hiện trạng?

- Làm thế nào chúng ta có thể đi từ chủ đề ‘kẻ hèn mọn được nâng cao’ trong lời cầu nguyện sang hành động cụ thể trong hành trình làm môn đệ của mình?

 

--------------------------------

 

TN 4-A109: Chúa Nhật 4 Thường Niên

 

Phụng vụ hôm nay đọc lại cho chúng ta nghe bài giảng đầu tiên của Chúa Giêsu mà người ta quen TN 4-A109

 

Phụng vụ hôm nay đọc lại cho chúng ta nghe bài giảng đầu tiên của Chúa Giêsu mà người ta quen gọi là bài giảng trên núi hay bài giảng về tám mối phúc thật. Đây là bản tổng hợp xúc tích nhất của Tin mừng Đức Kitô. Và “Tám Mối Phút Thật” chính là nền tảng căn bản nhất của “Bài Giảng Trên Núi” đó.

 

Hiến chương Nước Trời là một trong năm loạt bài diễn văn được Chúa Giêsu long trọng tuyên bố trên núi. Ở trên núi chứ không phải ở đồng bằng như trong Tin mừng Luca, điều đó cho thấy dụng ý thần học của thánh sử Mátthêu. Thật vậy, hình ảnh này giống như Môsê ngày xưa trên núi Sinai lãnh nhận lời Giavê Thiên Chúa để ban lại cho dân Israel. Chúa Giêsu là Môsê mới. Ngày hôm nay, Chúa Giêsu – Lời của Thiên Chúa, truyền lại cho dân Israel mới, mà các môn đệ là những đại diện, những mối phúc làm kim chỉ nam cho hết những ai mưu tìm Nước Thiên Chúa.

 

Thánh sử Mátthêu nhấn mạnh đến sự khó nghèo về tinh thần hơn là sự thiếu thốn về tiền bạc, vật chất. Người khó nghèo về tinh thần không cho phép mình sinh ra kiêu căng, ỷ lại vào tiền của, nhưng luôn hướng mình đến kẻ khác và nhất là trông cậy vào Thiên Chúa. Mátthêu dùng từ ngữ “nghèo khó” mang chiều kích tôn giáo như được nói đến trong Cựu ước để nói đến những người nghèo khổ khiêm tốn biết chạy đến Chúa, chỉ trông cậy vào Chúa mà thôi.

 

Hai mối phúc về “hiền hoà” và “ưu phiền” được nhắc đến không phải do bản tính mà là do hoàn cảnh của xã hội hoặc tôn giáo tạo nên. Chúa Kitô là Đấng “hiền lành và khiêm nhường”, chính vì thế Người cũng muốn chúng ta noi gương của Người, sống khiêm nhường. Cũng vậy, người ưu phiền lo lắng được khuyên hãy trở nên như những người nghèo sống trong tình trạng không có niềm vui. Người nghèo lo lắng cho tình trạng sống còn của mình như thế nào thì “người nghèo của Tin mừng” cũng lo cho tội lỗi và những hậu quả của nó gây ra cho mình và cho nhân loại như vậy để chỉ biết chạy đến nguồn an ủi duy nhất nơi Thiên Chúa.

 

Ba mối phúc tiếp theo nói đến sự chính trực, lòng xót thương và tâm hồn trong sạch được xem như những người vâng theo thánh ý Chúa, thực thi công bình bác ái, chu toàn mọi giới luật của Thiên Chúa và với tha nhân. Lòng ngay thẳng và đời sống nhân đức đưa con người đến việc thực thi lòng bác ái yêu thương cách vô vị lợi nhằm kiến tạo hoà bình cho nhân loại.

 

Những mối phúc kể trên chính là những giá trị Nước Thiên Chúa dành cho những ai hết lòng tuân giữ và đem ra thực hành. Tuy nhiên, những giá trị đó luôn gặp phải những chướng ngại, những đối nghịch và bách hại. Chính vì thế Chúa Giêsu muốn đưa hai mối phúc sau cùng về sự bách hại như là hiệu quả tất yếu của những con người trung thành và bước theo đường chân lý. Chấp nhận những giá trị nước Thiên Chúa nghĩa là chấp nhận việc đi ngược lại với những giá trị thông thường vốn được xem là chuẩn mực cho cuộc sống mà con người đặt ra.

 

Bước theo Chúa Giêsu, người Kitô sẽ bị bách hại vì sống công chính, sống ngay thẳng và thực thi công bình bác ái chính là những người hoạ lại hình ảnh của mối phúc thứ nhất, họ phải gánh chịu sự đau khổ… Như thế, người chịu bách hại vì danh Chúa Kitô cũng chính là người nghèo thật sự và phần thưởng cho họ chính là Nước Trời mai sau.

 

Hiến chương Nước Thiên Chúa thực chất là những tin vui mà Thiên Chúa muốn dành cho những ai sống tinh thần nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, công chính, biết xót thương, trong sạch, mưu tìm hoà bình và chịu bách hại vì danh Chúa Kitô. Ai tiếp nhận mối phúc này, chắc chắn Nước Trời sẽ là phần thưởng cho họ ngay tại thế này.

 

--------------------------------

 

TN 4-A110: Chúa Nhật 4 Thường Niên

 

(Trích trong ‘Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật’)

 

“Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó”

 

I. Ý CHÍNH:

 

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Mt ghi lại phần đầu bài giảng trên núi của Chúa Giêsu nói về TN 4-A110

 

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Mt ghi lại phần đầu bài giảng trên núi của Chúa Giêsu nói về những mối phúc thật như là một hiến Chương Nước Trời.

 

II. SUY NIỆM:

 

1/ “Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo”:

 

Đoàn lũ đông đảo gồm các Tông đồ, các môn đệ và dân chúng kéo đến từ Galilêa bên kia sông Giođan, từ miển Thập tỉnh, miền Giuđêa và Giêrusalem. Trong đám đông này có những người Do thái thuộc tất cả mọi học thuyết khác nhau, lại có cả dân ngoại đến từ Tyr và Siđom (Lc 6,17, Mt 4,25). Như vậy đoàn lũ đông đảo nói lên tính cách phổ quát của sứ điệp và của giáo huấn Chúa Kitô, đồng thời cũng gợi al5i hình ảnh toàn dân tập hợp lại lúc ban lể luật trên núi Sinai, và như vậy “đoàn lũ đông đảo” ở đây là hình ảnh dân mới của Chúa Giêsu tuyển chọn tức là Giáo Hội vậy.

 

“Người lên núi”: “Núi” theo nghĩa Thánh Kinh là nơi Thiên Chúa ngự, vì thế khi đặt bài diễn từ Chúa Giêsu trên núi, Matthêô xem ra có ý muốn nói lên tầm mức quan trọng của bài diễn từ này, Chúa Giêsu nói với tính cách như một người có quyền, vì Người là Thiên Chúa, đồng thời cũng nhắc lại việc ban lề luật trên núi Sinai (Xh 24,9).

 

“Lúc người ngồi xuống”: Thế ngồi của Chúa Giêsu khi giảng dạy gợi lên cử chỉ của vị giáo sĩ Do thái giải thích Thánh Kinh cho môn đồ. Ở đây muốn gợi lên hình ảnh các cộng đoàn sơ khai, gồm “môn đồ” lẫn “đám đông” lương dân tụ họp lại để nghe và chủ toạ cộng đoàn công bố Lời Chúa.

 

2/ “Bấy giờ Người mở miệng dạy họ”:

 

Bài diễn từ này Matthêô và Luca cũng kể lại, nhưng chúng ta nhận thấy có mấy điểm cần lưu ý:

 

a) Về số lượng mối phúc:

 

Tất cả có 9 cái phúc, nhưng Mt qui vào 8 mối phúc vì cái phúc cuối cùng chỉ diễn giải và áp dụng mối phúc thứ tám.

 

Còn Luca chỉ ghi có 4 mối phúc và bù lại ông ghi 4 lời nguyền rủa và như vậy cũng đủ con số 8 (Lc 6,20-23).

 

b) Về cách xưng hô:

Matthêô dùng ngôi thứ ba “Phúc thay những ai…” vì ông muốn nhấn mạnh đến các Tông đồ, các môn đệ và dấn chúng trong mọi thời đại và khắp mọi nơi.

 

Luca dùng ngôi thứ hai. “Phúc cho các ngươi…”: là vì ông muốn nói đến những người đang hiện diện lúc Chúa Giêsu đang giảng dạy là những người mà Chúa Giêsu coi như là những người nghèo khó đang nghe Người vậy.

 

c) Về cách trình bày:

 

Nơi mỗi phúc đều nêu lên một nhân đức rồi kèm theo đó là phần thưởng hứa ban. Phần thưởng hứa ban tuy cách diễn tả nơi mỗi phúc có khác nhau, nhưng cùngc hung một mục đích là được về ở với Thiên Chúa tức là Nước Trời. Đến đây chúng ta tìm hiểu riêng từng mối phúc.

 

3/ “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó”:

 

Tinh thần nghèo khó: Matthêô muốn nhấn mạnh đến thái độ tâm hồn hơn là đến giai cấp khó nghèo trong xã hội. Người có tinh thần nghèo khó là người:

a) Có tinh thần từ bỏ và siêu thoát bên trong đối với của cải vật chất.

 

b) Không những biết dứt bỏ của cải mà còn biết khước tứ chính mình để phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa. Sự khó nghèo này chẳng những liên hệ đến của cải vật chất mà còn lan rộng đến các loại tài sản khác nữa như: ý riêng, tài năng, danh vọng, các công nghiệp tinh thần…

 

c) Vì thế cái nghèo ở đây không phải là cái nghèo bất đắc dĩ, đau khổ vì mình không có gì, vì mình bị thần tài hất hủi, nhưng vì sự khiêm nhường đơn sơ biết khước từ tất cả để được tự do, thong dong theo Chúa và gắn bó với Ngài.

 

4/ “Phúc cho những ai hiền lành…”:

 

Hiền lành không phải là nhút nhát thụ động, nhưng là bình tĩnh can đảm chịu đựng và dịu dàng trong cách cư xử.

 

Hiền lành thiết yếu là nhân từ, có quan hệ một đàng với sự khiêm nhường, đàng khác với lòng thương xót tha nhân… (Mt 11,28. 21,3).

 

Lời hứa “Được Đất Nước” ý nói về Đất hứa, cũng là kiểu nói để chỉ “Nước Trời” (Tv 37, 11).

 

5/ “Phúc cho những ai đau buồn…”:

 

Đau buồn là những nỗi buồn vì đã phạm tội và đã xa lìa Thiên Chúa, buồn vì hậu quả tinh thần của tội lỗi (1Cr 5,2. 12,21. Ge 4,9), buồn cũng là tâm tình của người mong đợi nguồn an ủi khi được ơn tha thứ tội lỗi và an ủi đầy đủ và trọn vẹn, nhất là được tha thứ vào lúc phán xét sau cùng.

 

6/ “Phúc cho những ai đói khát điều công chính…”:

 

 Sự công chính của Matthêô đề cập đến là cách ăn nết ở của người Kitô hữu rập theo thánh ý của Thiên Chúa mà Đức Kitô đã công bố. Đói khát sự công chính là ước mong sống sao cho vừa ý Thiên Chúa bằng cách chu toàn những điều Ngài muốn (Mt 3,15. 5,17. 5,20. 6,1. 21,32).

 

Vì vậy hạnh phúc Nước Trời dành cho những ai hết sức ước ao thực thi sự hàon thiện theo đường lối của Thiên Chúa trong cuộc đời mình.

 

7/ “Phúc thay cho những ai hay thương xót người…”:

 

Lòng thương xót được biểu lộ qua lòng nhân từ với tha nhân:

 

+ “Ta muốn lòng nhân ái chứ không muốn hy lễ” (Mt 9,13. 12,7).

 

+ Điều này cũng được nhắc tới trong dụ ngôn đầy tớ không có lòng thương người (Mt 18,23-35).

 

Lòng thương xót này là điều kiện để được Chúa xót thương. “Vì nếu các ngươi tha thứ cho người ta, những điều họ xúc phạm, thì Cha các ngươi trên trời cũng tha thứ cho các ngươi…” (Mt 6,14-15).

 

Lời hứa về lòng thương xót của Thiên Chúa được biểu lộ vào ngày cánh chung khi Đức Kitô đem những kẻ “biết xót thương” vào Nước Trời (x. Gđa 21,2. 2Tm 1,18).

 

8/ “Phúc cho những ai có lòng thanh sạch…”:

 

Chữ “lòng” có nghĩa như chữ “tinh thần” ở mối phúc thứ nhất, nhấn mạnh đến tính cách nội tâm hơn là hình thức bên ngoài.

 

“Trong sạch”: ở đây có nghĩa là sự ngay thẳng lương tâm. Người có lòng thanh sạch là người phục vụ Thiên Chúa và tha nhân hết tâm hồn, không tính toán tư lợi hay giả bộ đạo đức. Vì thế sự trong sạch ở đây gồm các chủ ý về các phương diện, chứ không nguyên về phương diện đức trinh khiết.

 

Lời hứa “nhìn xem Thiên Chúa” có nghĩa là trình diện trước Nhan Thánh Thiên Chúa và vì vậy nơi Matthêô, thành ngữ chỉ ạhnh phúc Nước Trời được gợi lên hình ảnh một sự tham dự vào phụng tự diễn ra trước mắt Thiên Chúa (x. Xh 12,3-4. Dt 12,14).

 

Mối phúc này cho thấy: để được nhận vào Nước Trời thì cần phải trong sạch. Sự trong sạch này không chỉ có tính cách nghi lễ bên ngoài, nhưng còn có tính cách hoàn toàn ngay thẳng bên trong nữa. Đây không phải chỉ là những àhnh vi song là một thái độ của tâm hồn. Thái độ làm căn nguyên cho hành vi của ta. “Thèm lòng chứ ai thèm thịt” là vậy.

 

9/ “Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà…”:

 

Đây là một đức tính có tính cách xã hội, vì thế nó không chỉ nhắm tới thái độ nội tâm như các mối phúc khác, song là một hành vi bên ngoài. Làm một con người hiền hoà, yêu mến bình an thì chưa đủ, mà còn phải ra công xây đắp bình an, thuận hoà bất cứ nơi nào có bất hoà ngự trị (x. Mt 5,23-24).

 

Lời hứa “được gọi là con Thiên Chúa” có nghĩa là trở thành con Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Thiên Chúa Hoà Bình (2 Cr 13,11).

 

10/ “Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính…”:

 

Bị bách hại: đây là một đặc điểm của Tin Mừng nhưng lại là một mối phúc mới lạ đối với đạo Do thái, vì công trình cứu chuộc của Đấng Thiên Sai bằng việc chịu thương khó, tử nạn và phục sinh là điều mà người Do thái đương thời khó hiểu và khó chấp nhận.

 

Vì lẽ công chính: nghĩa là vì Thầy (Mt 5,11) vì danh Thầy (Mc 13,9-13, Lc 21,12-19) điều này cho thấy người bị bách hại được đồng hoá với Chúa Giêsu. Theo nghĩa hẹp hơn từ sự sống chung ở đây cũng đồng nghĩa với chữ công chính ở trong mối thứ bốn, nghĩa là công chính vì lý tưởng Kitô. Vì vậy những đau khổ các môn đệ Đức Kitô phải chịu là sống phù hợp với lý tưởng Kitô giáo của mình. Thánh Phêrô cũng xác quyết điều này khi tuyên bố: “Nếu anh em phải khổ vì sự công chính thì phúc cho anh em” đó là những đau khổ mà các Kitô hữu phải chịu dầu chẳng đáng.

 

11/ “Phúc cho các con khi người ta ghen ghét…”:

 

Đây không phải là mối phúc thứ 9, mà chỉ là lời giải thích và áp dụng mối phúc thứ 8 ở trên, nhất là Chúa muốn áp dụng cho các môn đệ.

 

12/ “Các con hãy vui mừng hân hoan…”:

 

Kiểu nói này Cựu ước thường dùng để suy tôn, ca mừng những hành vi cứu rỗi của Thiên Chúa (x. Hb 3,18) với tính cánh chung:

 

Matthêô dùng kiểu nói này ở đây để chỉ niềm vui của các Kitô hữu bị bắt bớ (1 Pr 1,8. 4, 13-14) lúc mà người Kitô hữu cảm thấy niềm vui được liên kết mật thiết với cuộc tử nạn của Chúa Kitô, thì họ nhận ra rằng Nước Trời thật sự đã đến.

 

III. ÁP DỤNG:

 

A/ Ap dụng theo Tin Mừng:

 

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn nhắc lại cho chúng ta con đường vào Nước Trời, đó là 8 mối phúc thật sống tinh thần nghèo khó, hiền lành đau buồn vì tội lỗi, khao khát điều công chính, có lòng thương xót người, có lòng trong sạch vui vẻ đón nhận sự bách hại vì đức tin và sống thuận hoà.

 

B/ Áp dụng thực hành:

 

1/ Nhìn vào việc Chúa làm:

 

a) Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo: noi gương Chúa chúng ta cũng phải có cái nhìn phổ quát đối với những người chung quanh để gây cho chúng ta ý thức về trách nhiệm trong việc cứu rỗi tha nhân.

 

b) Người đi lên núi: hoàn cảnh đi lên núi là nơi gặp gỡ Thiên Chúa, đã tạo cho việc giáo huấn của Chúa trở thành quan trọng đối với người nghe. Noi gương Chúa chúng ta cũng phải tạo môi trường và hoàn cảnh thích hợp cho công việc và về lời giảngd ạy về Chúa cho tha nhân: như nơi trang nghiêm, môi trường yên tĩnh, thanh vắng hoặc sự trang hoàng chung quanh gợi lên sự sốt sắng cho lòng người.

 

c) Người ngồi xuống: cử chỉ này nói lên sự thân mật và tương giao giữa Chúa Giêsu và người giảng dạy với đám đôngd ân chúng là người nghe. Noi gương Chúa chúng ta phải tỏ lộ những cử chỉ thân mật tâm giao để khơi dậy sự chú ý và tin tưởngc ho người nghe.

 

2/ Nghe lời Chúa nói:

 

Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, phúc cho chúng ta khi gặp cảnh thiếu thốn vật chất mà biết đón nhận cách sẵn sàng vì Chúa.

 

Phúc cho những ai hiền lành: phúc cho chúng ta khi biết chịu đựng những xúc phạm của tha nhân trong tinh thần khiêm nhường và tha thứ.

 

Phúc cho những ai đau buồn: phúc cho chúng ta biết khi biết mau mắn nhận thức để thống hối những lỗi lầm khuyết điểm của mình.

 

Phúc cho những ai đói khát sự công chính, phúc cho chúng ta khi biết tỏ lòng từ bi thương xót đối với tha nhân nhất là những người đang cần sự giúp đỡ của ta.

 

Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà: phúc chúng ta khi biết sống bình an và đem lại an hào cho mọi người.

 

Phúc cho những ai có lòng trong sạch: phúc cho chúng ta khi có lương tâm ngay thẳng và tính đơn sơ thật thà, trong việc thờ phượng Thiên Chúa và giao tiếp tha nhân.

 

Phúc cho những ai bị bách hại: phúc cho chúng ta khi gặp thử thách vì đức tin, về đời sống đạo hằng ngày và vì tất cả khó nhọc vì Chúa.

 

--------------------------------

 

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Công ty chủ quản
Chuyển giao diện: Tự động Máy Tính