Giải đáp thắc mắc cho người trẻ công giáo Bài 61-80

Thứ sáu - 21/03/2025 05:21
700 giải đáp cho người trẻ công giáo
700 giải đáp cho người trẻ công giáo
Giải đáp thắc mắc cho người trẻ công giáo Bài 61-80
Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/giai-dap-thac-mac-cho-nguoi-tre-cong-giao-50477
---------------------------------

Nội Dung:

Bài 61: HOÀN THIỆN TRONG ĐỨC KITÔ.. 1
Bài 62: CHỈ MỘT LẦN SỐNG TRÊN ĐỜI, NÊN SỐNG SAO CHO TRỌN VẸN?. 5
Bài 63: KITÔ HỮU LÀ AI?. 8
Bài 64: GIÁO HỘI VÀ VẤN ĐỀ ĐỒNG TÍNH.. 13
Bài 65: KÍNH NHỚ TỔ TIÊN THEO TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC.. 17
Bài 66 (65): CHÚA ƠI! CON LÀ NGƯỜI NGOẠI GIÁO.. 22
Bài 67: Ý NGHĨA CỦA BÍ TÍCH GIAO HÒA.. 25
Bài 68: VƯỢT QUA LƯỜI BIẾNG.. 30
Bài 69: GIA ĐÌNH KHÁC ĐẠO.. 35
Bài 70: BẤT KHẢ PHÂN LY.. 38
Bài 71: NHẪN NHỤC LÀM NÊN HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH.. 43
Bài 72: SỐNG TRUNG THÀNH TRONG GIAO ƯỚC HÔN NHÂN.. 47
Bài 73: TÌNH YÊU THỰC SỰ LÀ GÌ?. 52
Bài 74: VẤN ĐỀ ĐỘC THÂN CỦA LINH MỤC.. 58
Bài 75: CÁCH GIÁO HỘI ĐỒNG HÀNH VỚI CON NGƯỜI 64
Bài 76: MỘT GIÊSU CHO NGƯỜI TRẺ.. 68
Bài 77: KHÔNG BIẾT KHÔNG THỂ PHỤC VỤ.. 71
Bài 78: NGƯỜI KITÔ HỮU SỐNG ĐỨC TIN GIỮA LÒNG THẾ GIỚI 76
Bài 79: HỖ TRỢ SINH SẢN THÔNG QUA Y HỌC, NÊN HAY KHÔNG?. 80
Bài 80: KINH THÁNH CÓ THẬT LÀ LỜI CHÚA?. 85

---------------------------------

 

Bài 61: HOÀN THIỆN TRONG ĐỨC KITÔ


Nữ tu Maria Antôn Quỳnh Thoại

Hỏi: Thiên Chúa hoàn hảo, con người tại sao không đạt được điều này?

Trả lời:

Con người luôn khát khao sự hoàn hảo

Tôi đã từng đứng thật lâu trước gương để chải tóc. Nhưng đầu tôi vẫn cứ rối.

Tôi đã từng rất chân thành, hết mình với bạn bè. Nhưng vẫn bị phải bội.

Tôi đã từng ngại, chẳng muốn xưng tội. Vì xưng xong rồi lại phạm, cứ như mình đang giỡn mặt với Chúa vậy.

Tôi đã từng cầu xin Chúa hãy lấy lại sự tự do mà Ngài đã ban tặng cho tôi, để tôi không phải chịu trách nhiệm việc mình làm. Nhưng vừa thủ thỉ với Chúa xong, tôi lại xin Ngài đừng có nhận lời. Chỉ là nhiều lúc tôi không biết sử dụng quà tặng này như thế nào cho có ích cho sự rỗi linh hồn mình.

Tôi đã từng nghĩ rằng hoàn hảo là không phạm tội, không vấp ngã, và sự rỗi linh hồn là tùy thuộc vào công sức và nỗ lực sống tốt của riêng mình. Không nổ lực hết mình, tôi trách cứ bản thân. Yến hèn trong tội làm tôi chán nản.

Tôi đã từng ưa thích sự hoàn hảo một cách cực đoan. Tôi muốn mọi sự diễn ra cách tốt đẹp nhất có thể. Và vì thế, tôi rất dễ khó chịu với sự bất toàn, giới hạn của chính mình. Tôi hay tự trách bản thân sao cứ phạm lỗi, cứ va vấp hoài.

Tôi đã từng nghĩ như thế, có thái độ như thế, và sống như thế. Cho đến một ngày tôi gặp em…

Em đang tham gia một cuộc thi hát thánh ca, và em là thí sinh khiếm thị duy nhất trong cuộc thi đó. Ở vòng ba có tên gọi “Vòng Bản Lĩnh”, em buộc phải chọn một ca khúc mới và trình bày ca khúc này theo cách riêng em. Và thế là, em đã chọn một trong những ca khúc mới của tôi. Em gọi điện nhờ tôi chia sẻ đôi điều về tâm tình của bài hát, và tôi được biết em qua âm nhạc.

Em có giọng hát rất ngọt ngào. Ngày thi, người ta dìu em lên giữa sân khấu, tôi hồi hộp, sợ em vấp ngã. Tôi sợ em quên lời. Sợ em không nghe được nhạc... Thế nhưng mọi thứ không như nỗi sợ đang diễn ra trong tôi.

Em đứng yên một chỗ. Bản lĩnh. Và làm rung động bao con tim. Chính lúc ấy, tôi thấy em thật hoàn hảo trong giới hạn của chính mình. Vì sao tôi nói vậy?

Vì em đã không sợ. Em sống với tâm tình bài hát, và em hát với hết tâm tình. Lời ca không trao chuốt nhưng bình dị như một lời tự sự, chuyện trò cùng Chúa. Có vài chỗ trong bài hát em xử lý chưa tốt lắm, nhưng tiếng vỗ tay của mọi người thì rất nồng nhiệt. Em đã làm cả khán phòng lắng động, và tôi nghĩ, đối với một nghệ sĩ, đó là một tiết mục hoàn hảo. Tôi bắt đầu tò mò, và tìm hiểu về em ở các vòng thi trước. Và tôi được đánh động. Có một phỏng vấn nhỏ sau bài dự thi dành cho em. Khi được hỏi: “nếu Chúa tiếp tục gửi cho bạn những khó khăn thử thách, thì bạn vẫn cảm ơn Chúa chứ?” Em đã trả lời một cách xác tính rằng: DẠ CÓ. Và em giải thích: “khi Chúa trao cho em một cây thánh giá nặng, thì Chúa sẽ đồng hành cùng với em…”

Thật sự lúc đó, tôi thán phục em! Có lẽ trong mắt nhiều người, em không may mắn. Cuộc đời em không hoàn hảo. Nhưng với tôi, em rất khác. Tuy em không nhìn thấy mình, nhưng lại biết mình, và đã ôm lấy sự giới hạn của bản thân như thánh giá Chúa dành cho em. Chính lúc ấy, tôi thấy em thật hoàn hảo.

Em hoàn hảo, vì biết dùng đôi mắt đức tin để nhận ra sự đồng hành của Thiên Chúa trong cuộc đời mình.

Em hoàn hảo, vì biết tạ ơn Chúa trong thuận cảnh và ngay cả trong nghịch cảnh.

Em hoàn hảo, vì em tin có một Thiên Chúa luôn thấu hiểu em.

Và cứ như thế, em hoàn hảo theo cách của riêng mình: Trong thử thách, đêm tối của thể lý, em tỏa sáng như vì sao trên bầu trời lấp lánh triệu vì sao. Và tôi chợt nghiệm ra một điều: không có sự hoàn hảo tuyệt đối trong cuộc đời này! Con người chỉ có thể hoàn thiện mình hơn mỗi ngày mà thôi. Và quả thật, đó cũng là lời mời gọi của Chúa Giê Su, khi ngài nói “hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời” (Mt.3:48).

Con người được mời gọi để nên hoàn thiện

Tôi lật lại Kinh Thánh, và đọc thật chậm lời mời gọi này:

“Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao? Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện. (Mt 5,43–48)

Chính Chúa Giê Su đã trả lời cho ta biết rằng, nên hoàn thiện là một ơn gọi dành cho tất cả mọi người, và điều kiện căn bản để nên hoàn thiện, đó là phải có tình yêu thương (Mt 5,38) Thật vậy, tình yêu dưới ánh sáng Tin Mừng của Chúa Giêsu sẽ làm mọi người, mọi sự trở nên hoàn thiện. Bởi nơi tình yêu Chúa, “yêu thương chưa bao giờ vắng bóng, tha thứ chưa bao giờ là điều không thể, và chưa từng có ai bị lãng quên.” (Azgraybebly Josland).

Tình yêu Chúa là thế. Hoàn hảo trong bao dung, tha thứ, luôn muốn ôm tất cả quy về Ngài, để hưởng hạnh phúc viên mãn. Tình yêu con người tuy không bền vững và giới hạn, nhưng cũng là nguồn động lực giúp ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống để đến với ngưỡng giá trị mình khao khát, mong chờ. Giá trị đó có thể là một đối tượng, một người ta thương, hay một ngành nghề ta yêu thích, hoặc một phạm trù nào đó trong cuộc sống. Mục tiêu chính yếu của những giá trị này, cũng là mang đến cho con người hạnh phúc, và đó cũng chính là ý muốn của Thiên Chúa: Dù trong bất kỳ bậc sống nào: hãy hạnh phúc! Và một điều chắc chắn, là chúng ta không thể hạnh phúc, nếu không có Chúa.

Con người cần Chúa để nên hoàn thiện

Tôi rất ấn tượng câu nói này “Thiên Chúa có thể chữa lành một con tim tan vỡ, nhưng điều bạn cần làm là dâng hết cho Ngài những mảnh vỡ ấy”. (Khuyết Danh). Chắc có thể nhiều người nghĩ tôi thật điên rồ, nhưng với tôi, một con tim bị tổn thương vì yêu thì quý giá hơn một con tim khép kín, vô tâm. Điều con người cần là được chữa lành. Nói một cách mạnh mẽ hơn, chúng ta cần Chúa để nên hoàn thiện. Và chỉ một lý do duy nhất dưới đây thuyết phục tôi cần Người, đó là tôi tin Người là Đấng hoàn hảo, và là nguồn của sự thiện toàn. Tôi cần Người là điểm xuất phát cho mọi nỗ lực, và động lực cho mỗi bước tiến trên đường hoàn thiện bản thân.

Thật vậy, chúng ta được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, là Đấng hoàn hảo. Chúng ta giống Thiên Chúa, chứ không phải là Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng “hoàn toàn khác” với chúng ta. Do đó, con người chúng ta không hoàn hảo như Thiên Chúa là điều hiển nhiên.

Mặc dù vậy, con người vẫn được Thiên Chúa mời gọi trở nên hoàn thiện nhờ, với, và trong Chúa. Vì “con người được tạo dựng do Thiên Chúa và cho Thiên Chúa. Thiên Chúa không ngừng lôi kéo con người đến với mình, và chỉ nơi Thiên Chúa con người mới tìm gặp chân lý và hạnh phúc mà họ không ngừng tìm kiếm”. (GLHTCG 27). Một khi con người được kết hợp với Thiên Chúa qua đức tin, đức cậy, và đức mến, thì dù chúng ta có thức dậy với mớ tóc rối bù, bị phản bội dù chân thành, hay là một con người cứ sa đi ngã lại trong tội… nếu biết quay về bên Chúa, thành tâm hối lỗi và làm lại cuộc đời, chắc chắn, chúng ta sẽ tìm thấy bình an, và hạnh phúc. Và cuộc sống đó, đối với tôi, được xem là hoàn hảo rồi.

Ước gì những tâm tình trên có thể giúp các bạn thở phào nhẹ nhõm vì bấy lâu nay, ta cứ khắc khoải đi tìm sự hoàn hảo “không tì vết” như Thiên Chúa. Thay vào đó, hãy tìm hoàn thiện bản thân trong Chúa, và với Chúa. Dù gì chăng nữa, tôi cầu chúc các bạn sẽ luôn hạnh phúc trên con đường tìm kiếm sự hoàn hảo cho riêng mình.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (17.10.2022)

---------------------------------

 

Bài 62: CHỈ MỘT LẦN SỐNG TRÊN ĐỜI, NÊN SỐNG SAO CHO TRỌN VẸN?


Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ

Hỏi: Có nhiều người vẫn tin rằng đời người chỉ có một lần, nên hàng ngày đã đi làm, cuối tuần phải tranh thủ đi chơi, đi tiệc. Nhiều khi chọn đi tiệc, đi chơi, bỏ Lễ Chủ nhật. Có tiệc là có mặt, còn Lễ thì ít khi thấy. Làm sao để giáo dân hiểu, ăn tiệc với Chúa quan trọng hơn?



Câu hỏi của Bạn đưa tôi về lại với một kinh nghiệm cách đây vài năm.

Mùa Thu trời bắt đầu trở lạnh, lá vàng thay nhau rụng rơi, bầu khí ảm đạm hơn, trong ngôi thánh đường của Đất Thánh, chúng tôi cử hành Thánh Lễ đưa tang cho một người mới qua đời trong sự ngỡ ngàng của tất cả.

Ngỡ ngàng và bất ngờ, vì suốt cả cuối tuần vừa qua anh còn nhậu nhẹt vui vẻ với bạn bè. Say sỉn về nhà vào tối Chúa Nhật rồi ngủ luôn. “Ngủ luôn” đến nỗi, sáng thứ hai ông chủ hãng không thấy bóng dáng đâu, nên phải gọi điện cho người thân. Người thân đến nhà mở cửa mới thấy anh nằm chết trên giường sau một cuối tuần chỉ có bạn bè và rượu chè, mà không màng tới Thiên Chúa và cũng chẳng Thánh Lễ chi cả.

Làm đám tang mà Lời Chúa kêu gọi “tỉnh thức” không ngớt vang lên trong tâm trí: “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,42-44).

“Vậy anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em, vì Ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất. Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (Lc 21,34-36).

Những lời kêu gọi tỉnh thức đưa chúng ta vào thực tế cuộc sống của chúng ta, cuộc sống mang một giá trị cao quý mà Chúa đã ban cho mỗi người.

Giá trị cao quý của cuộc sống

“Tại sao Bạn và tôi có mặt trên trái đất này?” Với tôi câu trả lời thành thật là: chúng ta không thể trả lời tường tận. Chúng ta chỉ nhận ra rằng, sự sống của mỗi người là một quà tặng và ân ban của tình yêu, tình yêu của Mẹ Cha, tình yêu của Thiên Chúa. Trong tình yêu, mỗi người chúng ta là viên ngọc quý giá của Thiên Chúa, và là kho tàng của Cha Mẹ chúng ta. Vì thế cuộc sống của mỗi người mang một giá trị thật cao quý.

Chúng ta thử chiêm ngắm một em bé được sinh vào đời xem. Ôi một sự sống tuyệt vời của tình yêu huyền nhiệm và vô điều kiện. Được sinh ra bởi tình yêu, được vào đời bằng tình yêu, được nuôi nấng với tình yêu và được lớn lên trong tình yêu.

Sự tuyệt vời của sự sống không chỉ ở nơi các em bé, mà tôi còn nhận ra nét tuyệt vời của sự sống nơi những người vô gia cư. Tại Paris, trong ngôi nhà mở rộng cửa đón nhận người nghèo của các thầy Dòng Bác Ái sống theo tinh thần của Mẹ Tê-rê-sa Can-cút-ta, chúng tôi được phép dâng Thánh Lễ với 50 người vô gia cư thuộc mọi chủng tộc. Trong bài giảng và với sự xúc động về tình yêu Thiên Chúa làm nên giá trị của đời người, đặc biệt với các anh chị vô gia cư nghèo khó ở trước mặt, tôi nghẹn ngào nói: “Anh Chị Em thân mến, Thiên Chúa yêu thương và dựng nên chúng ta, và tình yêu của Ngài đưa lại phẩm giá cao quý cho cuộc sống của mỗi người chúng ta. Dù chúng ta là ai và ở trong hoàn cảnh nào đi nữa, thì ‘trong đôi mắt của Chúa, mỗi người chúng ta đều rất quý giá”, và luôn được Chúa trân trọng mến thương (x.Is 43,4)”.

Sự nghẹn ngào của tôi bắt gặp những giọt nước mắt đang tự động chảy thật chậm trên khuôn mặt của một số anh chị em. Sau Thánh Lễ, một số người đã đến và cám ơn về những lời thật an ủi và tràn đầy yêu thương họ được nghe. Lời yêu thương này là lời của chính Chúa gởi đến chúng ta. Lời yêu thương này là lời của Cha trên trời, Đấng Tạo dựng nên chúng ta nhắc lại và tiếp tục nhắc lại cho chúng ta trên mọi nẻo đường đời. Mẹ Tê-rê-sa Can-cút-ta có nói rằng: “Khi bạn cảm thấy cô đơn, khi bạn cảm thấy mình thừa thãi, khi bạn thấy yếu ớt và bị quên lãng, hãy nhớ rằng bạn vẫn là đứa con yêu dấu đối với Chúa. Ngài yêu bạn. Hãy đáp lại tình yêu đó bằng tình yêu đối với người khác, đó là tất cả những gì Chúa Giêsu đến để dạy chúng ta”.

Bạn là con yêu dấu của Chúa, dù bạn thế nào đi nữa. Từ ngày Thiên Chúa tạo dựng nên bạn và tôi, Thiên Chúa đã nói: “Ôi, tốt đẹp chừng nào” (St 2,24). Cái tốt đẹp nhất Thiên Chúa cấy vào trong chúng ta, là Ngài đã ban tặng cho cuộc sống của mỗi người một giá trị cao quý: “con người mang hình ảnh của Thiên Chúa”. Hơn nữa, Thiên Chúa cũng mời gọi con người  biết sống cuộc sống cho thật trọn vẹn, đầy ý nghĩa và tốt lành, hầu trở nên người như lòng Chúa ước mong.

Đời người chỉ một lần sống, nên cần sống cho ra người thật

“Con người không nhất thiết đã là người”. Câu nói “trêu trọc và gây khó chịu” của một triết gia giúp cho chúng ta biết mở ra và ý thức hơn. Được Chúa cho sinh vào đời là người nhưng vẫn luôn ở trên đường để “trở nên người”.

Trong yêu thương Thiên Chúa đã “cấy vào” trong chúng ta những khả năng phát triển để cuộc sống được sung mãn hoàn toàn. Sự phát triển của thân thể với những kỹ năng và ý thức chăm sóc thân thể qua tập thể dục thường xuyên. Cơ thể phát triển cao hơn qua sự khéo tay và tôi luyện của con người trong các ngành nghề khác nhau.

Rồi khả năng tâm trí qua việc học biết suy nghĩ cho hợp lý, biết phân định cái xấu, cái tốt và cái tốt hơn để chọn lựa và quyết định. Khả năng tâm trí phát triển còn làm cho con người mỗi ngày càng có tri thức cao hơn trong mọi ngành nghề với những sáng tạo và thích ứng. Khả năng tâm trí phát triển kéo theo sự phát triển của cảm xúc. Con người biết nhìn đến mình, để hồi tâm xét mình, để làm chủ được cảm xúc và sống ý thức về chính mình hơn. Một kiểu “biết mình” rất quan trọng trên hành trình tâm linh.

Nhưng con người không bao giờ là “một hòn đảo” lẻ loi, mà con người còn là “con vật có xã hội tính”. Vì thế, con người học biết để phát triển các giao tiếp. Từ sâu thẳm trong bản chất của con người, Thiên Chúa đã “lập trình” để tất cả đều có lòng ao ước muốn mở ra với người khác, và đặc biệt mở ra với Thiên Chúa. Con người không thể là người thật, khi chỉ sống một mình trên hoang đảo; con người không bao giờ là người thật, khi vắng bóng Thiên Chúa.

Giao tiếp với người khác để có tình bạn, để có những quan hệ tin tưởng, qua đó có thể mở lòng chia sẻ, trao đổi các suy tư, dự định, kế hoạch, cũng như để được đồng hành và đồng hành với người khác. Một cách sống chú tâm, tương trợ đỡ nâng nhau trên hành trình “trở nên người thật”. Vì thế, gặp gỡ, kết nối, hiệp thông luôn cần thiết cho sự phát triển làm người thật. Nhưng ông bà cha mẹ rất chí lý khi khuyên nhủ: “Nhớ chọn bạn mà chơi”. Chọn bạn tốt để được đón nhận “vết dầu loang tốt lành” của bạn, để cùng bạn phát triển làm người thật như lòng Chúa ước mong.

Phát triển theo hướng tốt, nghĩa là con người được mời gọi luôn hướng về “Chân Thiện Mỹ”.

Tất cả đều hướng về Chân Lý, về sự thật. Vì thế, thật phúc cho các Ki-tô hữu không bao giờ đui mù mải miết chỉ đi tìm tiệc tùng, nhậu nhẹt, đi tìm của ăn vật chất, đến nỗi quên luôn cả của ăn thiêng liêng và bàn tiệc tạ ơn là chính Thánh Lễ, cũng như quên cả Thiên Chúa, Đấng là Chân Lý, nguồn mạch, lẽ sống, con đường, đích đến và là Đấng cầm quyền sinh tử của đời người.

Tất cả đều mong sao đời mình tràn đầy sự thiện và tốt lành. Vẫn nhớ những lời la mắng, những làn roi của Cha Mẹ làm cho đôi tay đau nhói, vì thằng bé nghịch ngợm, lỗi phạm. Vì yêu thương mà Cha Mẹ phải “lèo lái” con mình hướng về Sự Thiện.

Tất cả đều hướng về vẻ đẹp. Ai lại không ngây ngất trước khung cảnh thiên nhiên tuyệt vời. Ai lại không thích ngồi trên bàn ăn với những món ăn không chỉ “ngon miệng” mà “ngon cả đôi mắt”, vì nét trưng bày thật đẹp của người chuẩn bị. Và ai lại không thích tiếp xúc với những tâm hồn đẹp với những nét đẹp trong lời nói và cung cách hành xử của họ.

Để sống và trở nên là người thật sự, con người luôn ý thức “mình đang ở trên đường” và tiếp tục hướng về phía trước để nỗ lực trau dồi và phát triển. Có như vậy, đến một lúc nào đó con người sẽ trở thành người thật, một kiểu người trưởng thành trong mọi khía cạnh của cuộc sống, đặc biệt với Ki-tô hữu là trong đời sống Đức Tin vào Thiên Chúa.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (24.10.2022)

---------------------------------

 

Bài 63: KITÔ HỮU LÀ AI?


Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ

Hỏi: Sống thế nào để “Ki-tô hữu có thể là Ki-tô hữu đúng nghĩa”?

Trả lời:

“Ki-tô hữu là người luôn ở trên đường trở nên Ki-tô hữu đích thật”, triết gia hiện sinh người Đan Mạch, Søren Kierkegaard đã trả lời vậy. Nhưng con đường chúng ta bước đi là con đường nào vậy? Đó chính là Chúa Giêsu Ki-tô, Đấng đã nói với chúng ta rằng: “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6).

Như thế, Chúa Giêsu chính là chuẩn mực cho hành trình trở nên Ki-tô hữu thật sự và đúng nghĩa.

Bạn có là Ki-tô hữu đúng nghĩa, khi bạn chọn bàn tiệc nhậu nhẹt với bạn bè, thay vì bạn chọn Chúa Ki-tô và chạy đến với Ngài trong Thánh Lễ?

Mang danh Ki-tô hữu, nghĩa là người có Chúa Ki-tô trong lòng, người thuộc về Chúa Ki-tô, mà bạn lại “trốn tránh” Chúa để bước vào một thế giới chỉ lo vui chơi, ăn uống, say xỉn, chơi bời và hưởng thụ thôi sao? Kiểu lý luận “đời người chỉ có một lần, hàng ngày đã đi làm, cuối tuần phải tranh thủ đi chơi, đi tiệc, đi để hưởng đời, không thôi sẽ trễ”, là kiểu lý luận của cách sống quy về mình toả ra mùi vị ích kỷ, chỉ thích hưởng thụ và thiếu trưởng thành.

Đấng đáng kính, Đức cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn Văn Thuận đã phê phán kiểu sống đạo hời hợt chỉ đi tìm mình như sau: “Công giáo vụ lợi: Có mùi vật chất thì tới, không thì miễn. Công giáo danh dự: Chỉ siêng năng xuất hiện khi có lễ lạc được mời lên ghế danh dự, không thì biệt tăm chẳng bao giờ thấy” (Mười căn bệnh làm băng hoại người Công giáo).

Theo lối sống hưởng thụ, quy về cái tôi và quên Chúa là lúc Ki-tô hữu đang “thiếu Chúa Ki-tô” trong lòng. Vì thế, điều quan trọng và cấp thiết là phải trở về với Chúa, Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.

Trở về luôn là một hành trình gay cấn, vì trở về đòi hỏi “ra khỏi cái tôi ích kỷ” cứng ngắc, để trở nên mềm mại cho Chúa. Không bao giờ trễ để trở về cả. Trở về để rồi trở nên người Ki-tô hữu đúng nghĩa. Đó là hình ảnh của người con hoang đàng. Sau một thời đi hoang với bạn bè bên bàn tiệc với kết cục đau thương là không được dự “bàn tiệc” với đàn heo, anh đã trở về với Cha. Với tấm lòng thương xót Cha đã mở rộng vòng tay đón nhận, tha thứ, trao lại phẩm giá cao quý của người con. Rồi Cha còn mở tiệc ăn mừng con mình trở về nữa chứ. Ôi bữa tiệc của Cha chuẩn bị trong chính ngôi nhà của Cha, ngập tràn bầu khí và hương thơm của lòng thương xót Cha dành cho con, sao mà cao quý đến vậy!

Bữa tiệc Lòng Thương Xót của Cha là chính Thánh Lễ chúng ta cử hành. Trong mỗi Thánh Lễ bàn tiệc tình yêu được dọn ra với lương thực cao quý là Lời Chúa và Mình Máu Thánh Chúa. Lương thực từ trời cao trao tặng quý thế nào, đôi khi chúng ta là người Ki-tô hữu chưa hiểu và chưa nhận ra.

Ngồi ăn sáng với một anh trung niên tại một quán ăn ở Sài-gòn. Anh kể cho tôi câu truyện đời anh với những thăng trầm, điểm tối và điểm sáng. Trước đây, là người làm ra rất nhiều tiền, nên anh chìm mình trong hưởng thụ. Hết bạn này đến bạn khác, bàn nhậu này đến bàn tiệc kia, rồi còn biết bao đam mê xấu xa khác nữa. Là người Công giáo đấy, nhưng có biết gì về Chúa đâu, có biết chi về giá trị của Thánh Lễ. Lâu lâu đi dựa cột “nghe Thánh Lễ” cho xong bổn phận, để vợ con không cằn nhằn, để ít nhất “tâm hồn cũng ổn”. Một thời gian dài “hưởng thụ” đời này, bỗng chợt anh được Chúa “vặn cổ” qua biến cố quan trọng đời anh. Từ đó, anh đã thay đổi hướng đi. Anh trở về. Từng bước anh đến với Chúa trong Thánh Lễ, anh khám phá ra món ăn Lời Chúa và Thánh Thể sao mà tuyệt vời đến vậy. Từ từ anh quyết tâm học hỏi trau dồi Lời Chúa và sống bí tích Thánh Thể một cách thật sống động trong cuộc sống hằng ngày. Anh không còn dựa cột ngoài khuôn viên nhà thờ để “nghe Thánh Lễ”, mà giờ đây anh ngồi đàng hoàng trên ghế trong nhà thờ và chú tâm để nghe Lời Chúa.

“Đó là Lời Chúa”. Anh đã đến với bạn bè, với tất cả mọi người anh quen biết, và đi khắp mọi nơi ở Sài-gòn cùng những miền đất khác, để rao giảng Lời Chúa, để làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa. Anh say mê kể câu chuyện đời Anh đã được món ăn Lời Chúa biến đổi thế nào, được Chúa chạm đến, xóa tội và yêu thương ra sao.

“Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng Xoá Tội trần gian, phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”. Anh mừng vui “vẽ lên” dung mạo tràn đầy lòng thương xót của Chúa Giêsu qua bí tích Thánh Thể cho mọi người cùng chiêm ngắm. Hơn nữa, anh còn mở lòng để sống bí tích Thánh Thể và lòng thương xót của Chúa cách cụ thể, qua việc giúp đỡ người nghèo khổ, bất hạnh. Những chuyến đi nhân ái đến với bà con cô bác ở vùng sâu vùng xa đã làm hiển lộ sống động “bữa tiệc Thánh Thể” trong đời sống anh.

Ôi hồng phúc biết bao cho mỗi người chúng ta, khi ý thức đón nhận cao lương mỹ vị từ trời cao, là Lời Chúa và Thánh Thể. Vì vậy, mong sao đừng có Ki-tô hữu nào tự loại mình ra khỏi bữa tiệc cao quý này, như lời thánh I-rê-nê đã nói rằng: “Vì Ngài đã sai nhiều người đi mời khách tới dự tiệc cưới, nhưng những kẻ đã không nghe Ngài, chính họ đã tự ý nhịn bữa tiệc Nước Trời”.

Đừng “tự ý nhịn bữa tiệc Nước Trời, vì lo mất bữa tiệc đất thấp”. Đó chỉ là cái lo lắng hão huyền, là sự cám dỗ tinh vi của sự dữ, của thế gian. Hơn nữa, khi bàn tiệc thiêng liêng và bàn tiệc trần thế hoà điệu với nhau, thì bạn càng “được lời” hơn nữa.

“Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta chuẩn bị cho Bí Tích Thánh Thể. Trong Bí Tích Thánh Thể chúng ta chuẩn bị cho cuộc sống thường ngày. Qua đó Thánh Thể và cuộc sống hằng ngày của chúng ta hoà quyện lại và trở nên lời tạ ơn Thiên Chúa luôn mãi” (Thánh Edith Stein).

Lời của thánh Edith Stein cho chúng ta nhận ra, bàn tiệc nuôi sống linh hồn trong Thánh Lễ ở nhà thờ và bàn tiệc nuôi sống thân xác ở gia đình và với bạn bè không bao giờ là hai mảnh tách rời nhau. Sự hoà quyện của bí tích Thánh Thể, của Thánh Lễ với từng nhịp chân, với từng hơi thở của chúng ta trong đời sống thường ngày là điều rất giá trị.

Chính khi Chúa Giêsu Thánh Thể có mặt trong từng khoảnh khắc sống của chúng ta, thì cuộc sống thường ngày của chúng ta là Ki-tô hữu được sống động và mang một giá trị đích thật hơn.

Giá trị đích thật đó mang hương vị của lời tạ ơn, của lòng biết ơn. Chúng ta có gì mà không bởi ơn Thiên Chúa ban? Dù là chén rượu ngon với bạn bè hay là giây phút sốt sắng bên Chúa trong nhà thờ, đều là ân ban của Thiên Chúa.

Giá trị đích thật đó mang tâm tình của người Ki-tô hữu luôn đi tìm Chúa trong mọi sự. Tìm Chúa trong thánh đường với bầu khí thật linh thiêng, và tìm Chúa ngay trong câu chuyện của bàn cơm gia đình và bàn tiệc với bạn bè. Tìm Chúa cũng là cầu nguyện, là sống thân mật với Chúa đó. Mà sống thân mật với Chúa thì hồng phúc biết bao nhiêu. “Có Chúa là có tất cả” và “được sống thân mật với Chúa là một diễm phúc”, thánh Tê-rê-sa Avila đã chia sẻ như vậy.

Giá trị đích thật đó được hiển lộ trong đời sống của người tín hữu ngập tràn Lòng thương xót. “Anh em hãy có lòng thương xót như Cha trên trời là Đấng thương xót” (Lc 6,36). “Con giống cha là nhà có phúc”. Câu châm ngôn của cha ông như là lời hướng dẫn chúng ta biết sống thế nào để đẹp lòng Cha trên trời: “Cha trên trời sống thương xót ra sao, chúng ta từng bước học sống thương xót như Ngài vậy”. Khi thương xót người khác, tôi tìm thấy giá trị đời mình. Khi anh chị em được thương xót, anh chị em tìm thấy phẩm giá cao quý của anh chị em.

Giá trị đích thật đó còn đưa lại niềm hy vọng tràn ngập niềm tin. Tin vào Thiên Chúa và sự sống vĩnh cửu đời sau, để rồi không bao giờ ngu ngơ chỉ bám vào những điều thuộc về đời này, là vật chất, là cái ăn và cái uống, là tiền bạc và của cải... Của ăn và nước uống đưa lại sự sống trường sinh và kho tàng vĩnh cửu không bao giờ bị mối mọt đục khoét luôn ở nơi Chúa. Hồng phúc cho ai ý thức hướng về chính cuộc sống đời sau với Chúa, để nhờ đó có thể sống ngày hôm nay như là ngày cuối cùng cho thật chất lượng, cái chất lượng mang “hồn Chúa”.

“Hãy sống mỗi ngày hôm nay như là ngày cuối cùng của đời mình!”

Lời thánh hiền nhắc nhớ thật chí lý. Ý thức điều này, mỗi người chúng ta tỉnh táo sống như thể Chúa gọi mỗi người về với Chúa ngay hôm nay.

Đồng hành với một số anh chị em bỗng chợt bị trọng bệnh và đối diện với cái chết, tôi khám phá ra điều mà anh chị em ao ước. Ai ai cũng ao ước được thanh thoát nhẹ nhàng và không còn bị bất cứ điều gì ám ảnh và làm nặng lòng, nặng người anh chị em cả. Hành trang anh chị em muốn đưa theo để về với Chúa là “tâm hồn trong sạch”. Vì thế, ai ai cũng xin được đón nhận bí tích Hoà Giải và bí tích Xức Dầu. Trong chiều sâu của bí tích Hoà Giải, mặt nạ được tháo xuống, xấu hổ “không có chỗ” trong lúc này. Trải lòng và trải lòng với Thiên Chúa, Đấng Giàu Lòng Thương Xót. Tha thứ và được tha thứ là ân ban lớn lao để “quét sạch” mọi rác rưởi trong căn nhà tâm hồn, để rồi tâm hồn của mỗi hối nhân được Chúa yêu thương trở thành Cung Thánh thật đẹp cho Chúa ngự.

Làm sao để tâm hồn chúng ta mỗi ngày luôn là Cung Thánh cho Chúa ngự đây?

Hãy sống mỗi ngày hôm nay như là ngày cuối cùng của đời mình, bằng cách chạy đến với Chúa trong Lời Chúa, trong bí tích Thánh Thể, bằng cách tập yêu Chúa mãi và bám chặt vào Chúa như cành nho bám vào thân cây nho, như trẻ thơ được Chúa ôm ấp trong lòng.Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu chia sẻ như sau: “Đừng sợ nói với Chúa Giêsu rằng bạn yêu thương Người, cho dù không cảm thấy gì, đó là cách để buộc Người giúp đỡ bạn, và bồng lấy bạn như một em nhỏ quá yếu không thể bước đi”.

Hãy sống mỗi ngày hôm nay như là ngày cuối cùng của đời mình, bằng cách sống mỗi giây, mỗi phút cho thật tốt, thật chất lượng, cái chất của Tin Mừng, cái chất của “hồn Chúa Giêsu”, là theo gương Chúa Giêsu mở vòng tay đến với Anh Chị Em. Bên Anh Chị Em cùng chia sẻ lòng thương xót, cùng tha thứ và cảm thông, cùng ủi an và nâng đỡ. Mẹ Tê-rê-sa Can-cút-ta để lại lời thật đẹp:

“Những gì chúng ta cần làm là yêu thương không mệt mỏi. Nhờ đâu ngọn đèn cháy lên? Nhờ những giọt dầu không ngừng đổ vào. Những giọt dầu ấy là gì trong ngọn đèn của chúng ta? Chúng là những điều rất nhỏ trong cuộc sống hằng ngày: chút lòng thành, đôi lời tử tế, một ý nghĩ hướng về người khác, cách chúng ta thinh lặng, cách chúng ta nhìn, nói và hành động”.

Để kết những hàng chia sẻ này, xin mời bạn cùng tôi sống mỗi ngày hôm nay như là ngày cuối cùng của đời mình, bằng cách chúng ta luôn bắt đầu ngày sống với Chúa Giêsu và kết thúc ngày sống trong Ngài, như lời nhắn nhủ của thánh nữ Edith Stein:

“Tận đáy lòng, tôi chỉ nói về một thực tế đơn giản và nhỏ bé:

ta có thể bắt đầu sống bằng cách nắm tay Chúa”.

“Dù là ngày hôm nay hay ngài mai, và cả ngày hôm qua đã qua đi.

Trong tay Cha, con xin phó thác hồn con”.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (01.11.2022)

---------------------------------

 

Bài 64: GIÁO HỘI VÀ VẤN ĐỀ ĐỒNG TÍNH


Lm. Cao Gia An, S.J.

Hỏi: Người đồng tính có được lên Thiên Đàng không? Tại sao Giáo hội vẫn chưa cho phép kết hôn đồng tính?

Trả lời:

Con người theo hình ảnh Thiên Chúa

Tự nền tảng, Giáo Lý Giáo hội Công giáo dạy rằng con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Thiên Chúa là khởi nguồn và là cùng đích của mọi con người. Con người được tạo dựng không phải chỉ để sống cuộc đời chóng qua này, nhưng để hướng đến Thiên Đàng vinh phúc, theo nghĩa hướng đến một sự kết hợp viên mãn và trọn vẹn với Thiên Chúa. Chỉ cần là con người, ai cũng có cơ hội được lên Thiên Đàng. Vì thế, cơ hội lên Thiên Đàng đương nhiên sẽ có cho cả người đồng tính.

Tuy nhiên, câu hỏi của bạn chừng như không đơn giản chỉ dừng lại ở đó, phải không?

Trong não trạng bình dân, mẫu câu hỏi ai đó “có được lên Thiên Đàng không” hay được sử dụng cho những trường hợp ngoại thường. Chẳng hạn: Giu–đa có được lên Thiên Đàng không? Những kẻ chịu trách nhiệm về cái chết của Chúa Giêsu có được lên Thiên Đàng không? Những người tự tử có được lên Thiên Đàng không?...  Mẫu câu hỏi ấy hay được dùng cho những người thường bị xem là “có vấn đề” về mặt luân lý, những kẻ tội lỗi.

Vậy thì điều gì ẩn đằng sau câu hỏi “người đồng tính có được lên Thiên Đàng không”? Phải chăng tâm trí của chúng ta quan niệm rằng những người đồng tính là những người có vấn đề theo nghĩa luân lý? Họ là những kẻ tội lỗi?

Giáo hội chưa bao giờ khẳng định điều này! Ngược lại Giáo hội thường lên tiếng bảo vệ phẩm giá của những người đồng tính. Trong Thư gởi Các Giám Mục trên toàn thế giới về vấn đề chăm sóc mục vụ cho những người đồng tính (Letter to the Bishops of the Catholic Church on the Pastoral Care of Homosexual Persons), ban hành tại Rôma ngày 01/10/1986, Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin đã lên tiếng rằng những hành động xâm phạm hoặc phân biệt đối xử đối với người đồng tính, dù là qua lời nói hay qua hành động, đều đáng lên án. Bởi lẽ, phẩm giá của mọi con người đều phải được tôn trọng (số 10).

Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, và do đó, không thể đánh giá một con người cách giản lược chỉ qua xu hướng giới tính của người đó. Mọi con người sống trên mặt đất đều có những vấn đề cá nhân riêng và những khó khăn riêng. Nhưng ai cũng được mời gọi phải trưởng thành, phải lớn lên, phải phát triển những khả năng của mình. Giáo hội đặc biệt lưu tâm đến việc chăm sóc cho con người, và từ chối nhìn con người qua lăng kính đồng tính hay không đồng tính. Thay vào đó, Giáo hội khẳng định rằng mỗi con người đều có một căn tính nền tảng: là thụ tạo được tạo dựng bởi ân sủng của Thiên Chúa, là con cái Thiên Chúa và là người kế thừa phần gia nghiệp sự sống đời đời (x. số 16).

Bạn có thể hỏi thêm: nếu Giáo hội đã “nói tốt” về những người đồng tính như vậy, tại sao vẫn chưa cho phép kết hôn đồng tính? Đây lại là một câu hỏi rất khác. Câu hỏi này vừa đụng chạm đến căn tính của Bí Tính Hôn Nhân trong Giáo hội Công giáo, lại vừa có liên quan đến quan điểm của Giáo hội Công giáo về việc thực hành quan hệ tình dục giữa những người đồng tính. Cần tìm hiểu rõ hơn từng vấn đề một để có thể có một câu trả lời hợp tình và hợp lý.

Giáo hội nhìn về xu hướng đồng tính

Giáo hội phân biệt rõ giữa người đồng tính và xu hướng đồng tính. Giáo hội tôn trọng phẩm giá của người đồng tính như là những con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Nhưng điều đó không có nghĩa là Giáo hội ủng hộ xu hướng tình dục đồng tính. Trong “Tuyên ngôn về một số vấn đề liên quan đến luân lý tính dục”, Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin đưa ra một phân biệt quan trọng giúp nhìn và hiểu rõ hơn những người có xu hướng đồng tính. Theo đó, có những người trở nên đồng tính do kết quả của một nền giáo dục sai lầm, do thiếu sự phát triển bình thường về sinh lý, do những thói quen xấu, do theo những mẫu gương xấu, hay những nguyên do tương tự. Với những người này, xu hướng đồng tính là tạm thời, và có thể điều chỉnh được. Trong khi đó, cũng có những người thật sự đồng tính do bản năng bẩm sinh hoặc do cơ cấu bệnh lý của cơ thể, và không thể điều chỉnh được (x. số VIII).

Trong trường hợp nào đi nữa, Giáo hội dạy rằng cần nhìn ra tính bất thường và mất trật tự của xu hướng này. Quan niệm sai lầm về đồng tính sẽ dẫn đến những hành động sai lầm. Chẳng hạn, việc quan hệ xác thịt giữa những người đồng tính là điều Giáo hội không thể ủng hộ, vì đi ngược lại với sự an bài khôn ngoan của Thiên Chúa và làm xói mòn phẩm giá con người. Giáo hội gọi đó là hành động đi ngược luân thường đạo lý. Với những người có xu hướng đồng tính tạm thời, xu hướng ấy cần được điều chỉnh để vượt qua, với phương thế là những chăm sóc mục vụ và những điều trị về tâm lý, thuốc men, và những mối tương quan xã hội. Với những người mà xu hướng này là không thể điều chỉnh và không thể vượt qua, họ được mời gọi bước theo những phương thế trong lòng Giáo hội để hướng đến một đời sống lành mạnh, chẳng hạn: tập làm chủ tâm trí và các giác quan, tỉnh thức và cẩn trọng để tránh những dịp có thể khiến mình phạm tội, tập thói quen tiết chế và điều độ trong lối sống, giữ thói quen cầu nguyện thường xuyên và năng tham dự các Bí Tích, nhất là Bí Tích Hoà Giải và Thánh Thể (x. số VIII).

Bí Tích Hôn Nhân Công giáo

Để hiểu tại sao Giáo hội không cho phép kết hôn đồng tính, trước hết cần hiểu đôi điều căn bản về Bí Tí Hôn Nhân của Giáo hội Công giáo.

Khởi đi từ nền tảng Kinh Thánh, Giáo Lý của Giáo hội Công giáo dạy rằng hôn nhân Công giáo là một Bí Tích. Bí Tích không phải là phát minh của con người, nhưng có khởi nguồn từ ý định của Thiên Chúa. Trong hôn nhân, Thiên Chúa kết hợp một người nam và một người nữ, để khi họ trở thành “một xương một thịt” (St 2,24), họ có thể truyền lại sự sống con người theo lệnh truyền của Thiên Chúa “hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều, cho đầy mặt đất” (St 1,28). Khi truyền lại sự sống con người cho dòng dõi mình, con người cộng tác một cách độc đáo vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa (GLCG, số 372). Hôn nhân Công giáo có nền tảng vững vàng từ chính lời dạy của Đức Giêsu: “Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa làm nên con người có nam có nữ. Bởi thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mc 10,6–9).

Khi Giáo hội Công giáo gọi hôn nhân là một Bí Tích, Giáo hội xác định rằng hôn nhân ấy bắt nguồn từ lệnh truyền của Thiên Chúa. Giáo hội chỉ là người thừa hành, và hoàn toàn không có quyền ‘sáng tạo’ ra Bí Tích theo ý của mình. Trong hôn nhân của con người, chính Thiên Chúa, chứ không phải bất cứ một thành viên nào của Giáo hội, mới là người liên kết. Và hôn nhân ấy được xác định rõ: là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ.

Từ những giáo huấn khởi nguồn từ Kinh Thánh và truyền thống, Giáo hội Công giáo đã đúc kết: “Hôn nhân là đời sống chung vĩnh viễn giữa người nam và người nữ, hướng đến việc sinh sản con cái bằng quan hệ vợ chồng” (Giáo Luật, số 1096).

Cần biết thêm rằng trong đời sống Bí Tích của Giáo hội, ngoài việc phải có nguồn gốc từ chính ý định của Thiên Chúa, bất cứ một Bí Tích nào cũng đòi hỏi phải hội đủ những điều kiện để có thể thành sự, đặc biệt là điều kiện chất thể. Thí dụ: trong Bí Tích Thánh Thể, điều kiện chất thể quan trọng là phải có Bánh và Rượu để có thể được thánh hoá thành Mình và Máu Thánh Chúa Kitô. Không thể thay Bánh bằng, cơm, bún, hay một loại chất thể nào khác. Cũng không thể thay Rượu bằng nước trà, nước lọc, hay một loại chất thể nào khác. Nguyên nhân là chính Đức Giêsu trong bữa Tiệc Ly đã dùng Bánh và Rượu để biến thành Mình và Máu Người. Cũng vậy, điều kiện chất thể của Bí Tích Hôn Nhân là một người nam và một người nữ, như từ ý định nguyên thuỷ của Thiên Chúa. Giáo hội không có quyền ‘sáng tạo’ Bí Tích Hôn Nhân theo ý mình, không thể thay người nam và người nữ bằng người nam với người nam hoặc người nữ với người nữ.

Hôn nhân đồng tính và ngăn trở

Cần biết rằng có thể có nhiều hôn nhân hợp pháp nhìn từ góc độ tự nhiên và dân sự. Nhưng không phải hôn nhân nào cũng được xem là có giá trị Bí Tích từ góc nhìn Công giáo. Có nhiều trường hợp hôn nhân mắc ngăn trở, và không thể được công nhận là Bí Tích Hôn Phối của Giáo hội. Chẳng hạn: Hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, nhưng một trong hai người bị bất lực trong quan hệ vợ chồng, hoặc tự ý loại khỏi mình khả năng truyền sinh; hôn nhân của những người đã chịu chức Thánh hoặc khấn trọn, khi chưa hoàn tất thủ tục giải gỡ lời khấn hoặc miễn chức; hôn nhân của những người đã có gia đình và ly hôn bất hợp pháp; hôn nhân giữa bà con họ hàng gần; hôn nhân trong trường hợp bị cưỡng ép, v.v… (x. Giáo Luật 1073–1094).

Cũng vậy, trong Giáo hội Công giáo không thể có hôn nhân đồng tính được nhìn nhận như là Bí Tích, cả khi hôn nhân ấy là hợp pháp và được chính quyền dân sự công nhận. Sự kết hợp ấy không thoả điều kiện chất thể của hôn nhân Công giáo, không thể hướng đến việc truyền sinh và do đó không phải là sự kết hợp theo ý định của Thiên Chúa. Thế nên trong thư chăm sóc mục vụ cho những người đồng tính, Thánh Bộ Giáo Lý và Đức Tin cũng khẳng định: Vâng theo ý định của Thiên Chúa, Giáo hội tuyên bố rằng chỉ có trong tương quan vợ chồng thì việc quan hệ tình dục mới là điều chính đáng và tốt lành. Do đó, từ góc nhìn của Giáo hội, quan hệ đồng tính là điều phi luân lý. Việc chọn một ai đó cùng giới tính với mình để quan hệ là điều đi ngược lại với kế hoạch của Đấng Tạo Hoá khi sáng tạo con người có nam có nữ. Quan hệ đồng tính không phải là một sự kết hợp bổ trợ theo nghĩa có thể thông truyền sự sống (x. số 7).

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (07.11.2022)

---------------------------------

 

Bài 65: KÍNH NHỚ TỔ TIÊN THEO TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC


Rômualđô M. Bùi Văn Nghĩa, CRM

Hỏi: Việc chưng trái cây, hoa nến lên trước hình ảnh ông bà tổ tiên có trái luật Công giáo không ạ? Người Công giáo có nên tổ chức làm lễ giỗ cho ông bà tổ tiên không? Trường hợp làm dâu gia đình ngoại giáo, có được phép tham dự nghi lễ gia tiên của nhà chồng không?

Trả lời:

Những câu hỏi các bạn nêu ra ở trên nói chung xoay quanh vấn đề thờ cúng tổ tiên, là vấn đề đã được bàn thảo khá nhiều, và đã được Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc S.J. giải đáp trong tập đầu của bộ sách này. Giờ đây chúng ta bàn thêm về vài chi tiết nhỏ: việc chưng trái cây, hoa nến, và việc cúng giỗ.

Đối với truyền thống văn hóa và tín ngưỡng dân gian Việt Nam thì đây là những việc làm hay lễ nghi tỏ lòng hiếu thảo. Những việc làm này đã in sâu vào trong lối sống và tâm hồn hầu hết người Việt Nam chúng ta. Trong chuyên luận Thực Trạng Văn Hóa Gia Đình Việt Nam, nhà nghiên cứu văn hóa Lê Minh đã đưa ra những số liệu khảo sát tại 5 tỉnh thành là Hà Nội, tp. Hồ Chí Minh, Hà Tây, Hòa Bình và Cần Thơ như sau:

- 100% các gia đình có bàn thờ tổ tiên.

- 96,75% bàn thờ được đặt ở vị trí tôn nghiêm nhất trong nhà.

- 95,85% các gia đình nhớ ngày giỗ của người thân.[1]

Những con số trên cho thấy người Việt Nam trân trọng và có ý thức duy trì tinh thần đạo Hiếu biết chừng nào! Vì thế, người Việt Nam nói chung khó có thể chấp nhận được một gia đình nào mà lại không có bàn thờ tổ tiên, không chưng đĩa quả và chăm lo hương khói trên bàn thờ. Đối với họ, đó là thái độ bất hiếu không thể hiểu được.

Trong quá khứ, vì nhiều lý do, quả thật đã có những hiểu lầm và đối kháng giữa việc thực hành đức tin Công giáo và lễ nghi thờ kính tổ tiên. Ngày nay, vì những hủ tục và mê tín của đại đa số người Việt Nam đã bớt đi nhiều, Giáo hội cũng đã có cái nhìn cởi mở hơn về văn hóa của các dân tộc và xác định rằng hoạt động loan báo Tin Mừng không nhằm tiêu diệt nhưng nhằm “thanh luyện và nâng cao phong hóa các dân tộc”[2]. Cho nên những nghi thức tôn kính tổ tiên nói chung được chấp nhận và trân trọng.

Xét vì tinh thần hiếu thảo phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa, qua điều răn thứ tư; và việc tưởng nhớ người đã khuất không khác xa so với tín điều các thánh thông công, các đức Giám mục Việt Nam đã ra nhiều văn bản hướng dẫn thực hành. Cụ thể, Quyết nghị của HĐGM/NVN tại Nha Trang năm 1974 đã nêu rõ những cử chỉ, thái độ, lễ nghi sau đây được thi hành và tham dự cách chủ động:

1. Bàn thờ Gia Tiên được phép đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình.

2. Việc đốt nhang hương, đèn nến, và vái lạy trước bàn thờ tổ tiên được phép làm.

3. Ngày giỗ được “cúng giỗ” theo phong tục địa phương… và giảm thiểu, cải cách những lễ vật như như dâng hoa trái, hương đèn. (Nghĩa là được dâng hoa trái hương đèn nhưng tránh đừng bày biện rườm rà.)

4. Trong hôn lễ, dâu rể được làm “Lễ Tổ, Lễ Gia Tiên” trước bàn thờ.

5. Trong tang lễ được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương.

6. Được tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng quen gọi là phúc thần, là những người có công với dân tộc hoặc ân nhân của làng.

Trong 6 điều trên, văn bản luôn nhắc nhở phải loại bỏ những gì là mê tín dị đoan.

Mới đây, vào tháng 10 năm 2019, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã ra thêm Văn kiện “Hướng dẫn việc tôn kính Tổ tiên”. Văn kiện này nhắc lại các văn kiện trước và thay thế từ “được phép” bằng từ “khuyến khích”: “Chúng tôi khuyến khích mỗi gia đình Công giáo nên lập bàn thờ gia tiên... nhưng không bày biện những gì có tính cách mê tín”.

Như vậy là đã quá rõ, chúng ta thấy việc “làm lễ giỗ” và việc “chưng trái cây, hoa, nến” để biểu trưng lòng biết ơn không trái với đức tin Công giáo và chúng ta rất nên thực hành. Vấn đề chúng ta cần lưu ý là phải tránh “những gì có tính cách mê tín”, là những điều chúng tôi trình bày ngay sau đây.

Những điều không phù hợp với đức tin Công giáo

Qua các văn kiện hướng dẫn, chúng ta có thể liệt kê ra những điều không phù hợp với đức tin Công giáo như sau:

– Đặt hồn bạch hay linh vị trên bàn thờ: là những vật mà dân gian tin rằng hồn người chết hiện diện ở đó, việc này không phù hợp với đức tin Công giáo, vì người Công giáo tin rằng “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa” (Kn 3,1). 

– Đặt tượng Thần Tài, Ông Địa trong nhà: là trái với điều răn thứ nhất “thờ phượng và kính mến một Thiên Chúa duy nhất”.

– Coi tuổi, coi “ngày lành tháng tốt”: đây là việc làm đi ngược với xác quyết “Đức Kitô... là chủ thời gian và muôn thế hệ”.

– Mở Cửa Mả: Dân gian quan niệm rằng sau khi chôn cất sau 3 ngày thì hồn phách người chết hội tụ lại, vì vậy cần làm lễ mở cửa mả để cho vong linh tỉnh hẳn để có thể lên dương thế và tìm đường về nhà (nơi đặt bàn thờ).

– Tin hồn người chết đi đầu thai kiếp khác: cũng là điều không phù hợp với đức tin Công giáo. Vì người ta chỉ sống một đời và chết một lần.

– Đốt vàng mã: đây là một tập tục vừa vô lý vừa hao tốn tiền của mà ngày nay, ngay cả người ngoài Công giáo cũng đang hô hào nhau loại bỏ, vì nhận biết đó là một việc làm vô minh.

Việc chưng đĩa trái cây / mâm quả

Nói đến việc chưng trái cây, thiết nghĩ chúng ta cũng nên tìm hiểu đôi chút về ý nghĩa và quan niệm dân gian về việc này, để nếu có thực hiện, chúng ta thực hiện cách tinh tế chứ không tùy tiện.

Tùy vào từng địa phương với các sản vật riêng mà việc chưng trái cây cũng có sự khác nhau.

Người Miền Bắc từ xa xưa thường bày mâm quả gồm 5 loại, nên được gọi là mâm ngũ quả. Việc này xuất phát từ quan niệm về ngũ hành trong triết học cổ phương Đông: thế giới được tạo nên từ 5 yếu tố vật chất đầu tiên là Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ, được thể hiện bằng năm màu sắc: Trắng, đen hoặc xanh dương, xanh lục, đỏ, vàng. Mâm ngũ quả vì thế cũng thường có 5 màu sắc, coi như một vũ trụ thu nhỏ, đồng thời cũng thể hiện sự đầy đủ, trọn vẹn.

Việc chưng đĩa quả của người miền Trung thường không quá câu nệ hình thức, do mảnh đất miền Trung khí hậu khắc nghiệt nên các loại trái cây không phong phú đa dạng như các vùng khác, nên họ có gì cúng nấy, thành tâm là chính.

Người miền Nam thì thường căn cứ vào tên gọi các loại quả để chọn lựa sao cho ghép thành một lời khấn nguyện. Chẳng hạn mâm quả gồm: mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, những thứ trái cây này ghép lại và được đọc chệch thành "cầu vừa đủ xài". Thật thú vị là lời khấn nguyện khiêm tốn ấy có vẻ phù hợp với tinh thần của Kinh Lạy Cha trong Kitô giáo: “xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực đủ dùng”. Dĩ nhiên lời kinh trên chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa Cha, nhưng sẽ chẳng sai khi chúng ta xin ông bà tổ tiên chuyển cầu cho chúng ta, trong niềm tin vào mầu nhiệm Các thánh thông công.

Tuy nhiên, ngày nay những ước nguyện đơn thành này đang bị lòng tham làm biến dạng, người ta tìm những thứ trái cây khác để thay thế, chẳng hạn thay dừa bằng chùm sung để thành “cầu xài sung”, hoặc đưa lên bàn thờ một thứ trái cây lạ gọi là dư, có lẽ không phải là cái tên sơ khai của chúng, cũng không phải là thứ trái cây ăn được, vậy mà đưa lên bàn thờ để “cầu dư”. Việc chưng trái cây trở thành vụ lợi và bất kính. Ngoài ra người miền Nam cũng kiêng kỵ một số thứ trái cây mà tên gọi của chúng gợi sự liên tưởng đến điều xui rủi như chuối (chúi nhủi), lê (lê lết), cam (cam chịu). Việc chưng trái cây với những kiêng kỵ như thế này hẳn nhiên là nhuốm màu mê tín.

Việc tổ chức ngày giỗ

Ngày giỗ là ngày kỷ niệm người thân đã từ trần. Vào ngày đó, người ta làm cỗ bàn để dâng cúng tổ tiên, đồng thời tạo dịp cho con cháu tưởng nhớ người đã khuất và chia sẻ nỗi buồn thương với nhau.

Người Công giáo “được phép cúng giỗ theo phong tục”, nhưng tuyệt đối không tin linh hồn người quá cố về hưởng các thứ vật chất. Chúng ta tin linh hồn người đã chết hoặc được về thiên đàng với Chúa, hoặc đang phải thanh luyện trong luyện ngục, nếu vô phúc thì phải vào hỏa ngục đời đời, chứ không có chuyện linh hồn trở về trần thế để hưởng dùng của cúng hoặc “ăn uống” với thân nhân còn sống nữa.

Thực ra, việc bày biện thức ăn trong ngày tưởng nhớ không phải là vì nhu cầu của người chết nhưng là của người sống. Chính người sống muốn dùng những dấu hiệu cụ thể này để bày tỏ sự hiệp thông với người đã khuất,[3] đồng thời cũng là để con cái cháu chắt hưởng dùng trong ngày sum họp. Điều tốt nhất chúng ta có thể làm cho người đã khuất là cầu nguyện, làm việc lành để xin ơn giải thoát cho họ, nếu họ đang phải chịu thanh luyện nơi luyện ngục.

Ngay cả đối với anh chị em lương dân có hiểu biết thì bàn thờ tổ tiên luôn được giữ cho thanh tịnh. Lễ vật đặt trên đó chỉ có thể là hương, hoa, trà, quả… Những ngày giỗ Tết, con cháu muốn dâng cúng cỗ mặn phải đặt ở một chiếc bàn phía trước và dưới bàn thờ chính, rồi thắp hương hành lễ cung thỉnh bái vọng. Người Công giáo chúng ta càng không nên đặt đồ ăn trên bàn thờ người quá cố, bởi vì chúng ta không có ý dâng của ăn cho người đã khuất. Chúng ta chỉ nên đặt hoa quả lên bàn thờ, còn mâm cỗ thì cốt để anh chị em trong gia đình sum họp, đoàn tụ.

Trước bữa ăn giỗ, thân nhân và khách mời quây quần cầu nguyện. Để làm tốt việc này, các bạn hãy sắm cho gia đình quyển Kinh nguyện gia đình và Gia lễ Công giáo, do Ủy ban Mục vụ Gia đình của HĐGMVN phát hành để được hướng dẫn cặn kẽ về Lời cầu nguyện trong bữa giỗ, lời nguyện trên của ăn, những chỉ dẫn về việc niệm hương… Lưu ý không được dùng những mẫu văn khấn trong sách vở của người ngoài Công giáo vì lời văn trong đó có nhiều điều không hợp với đức tin Công giáo.

Người Công giáo chúng ta cũng không được mang tâm lý sợ sệt rằng nếu không cúng giỗ đàng hoàng thì sẽ bị tổ tiên quở trách, thậm chí nổi giận mà gây xui xẻo cho con cháu. Việc cúng giỗ của chúng ta chỉ mang ý nghĩa tỏ lòng thảo hiếu thuần túy mà thôi.

Đối với các bạn đang làm dâu, làm rể trong các gia đình lương dân

Trường hợp người Công giáo đang làm dâu làm rể trong gia đình ngoài Công giáo, các bạn thường cảm thấy khó xử trước những việc thờ cúng của gia đình bên ấy, băn khoăn giữa việc chu toàn bổn phận làm dâu, làm rể, và việc giữ đúng đức tin. Các bạn yên tâm, Văn kiện “Hướng dẫn việc tôn kính Tổ tiên” của HĐGMVN năm 2019, đã có chỉ dẫn cụ thể như sau:

“Để giữ tình thuận thảo với gia đình đôi bên, những người con dâu, con rể này và con cái của họ có thể sắm sửa lễ vật và dâng lễ vật trên bàn thờ gia tiên, vái hương trước di ảnh tổ tiên nhưng cần hiểu: trong lòng chỉ tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất, đồng thời cũng sẵn sàng bày tỏ lòng thảo hiếu biết ơn tổ tiên qua các nghi thức lễ gia tiên và xác nhận thảo hiếu với tổ tiên là bổn phận của Kitô hữu.”[4]

Ngay cả khi trên bàn thờ gia tiên có đặt tượng Đức Phật, Văn kiện trên cũng đã chỉ dẫn: chúng ta nhìn nhận Đức Phật như là một bậc thầy đáng kính, chứ không phải như một vị thần linh.

Bạn thân mến, giữa một thế giới đang chạy theo tiện nghi vật chất và hưởng thụ như ngày hôm nay, các giá trị văn hóa truyền thống đang bị mai một dần, người trẻ Công giáo Việt Nam chúng ta cần góp phần duy trì, hoàn chỉnh và nâng cao những nét đẹp văn hóa dân của tộc mình, đồng thời làm nổi bật lên những giá trị của Kitô giáo, giúp cho anh chị em lương dân nhận ra một chiều kích rộng lớn hơn của lòng thảo hiếu: không chỉ thảo hiếu ông bà tổ tiên, mà còn thảo hiếu với Cha trên trời, là Đấng sinh ra vạn vật.


Thiết nghĩ, những điều nhỏ nhặt trên đây, nhưng chính là những nhịp cầu nối kết giữa Đạo với đời, để nhờ đó người ngoài Công giáo không còn cảm thấy Công giáo là một đạo xa lạ, nhưng là đạo có những nét đẹp về sự thảo hiếu rất gần gũi và dễ thương. Từ đó mà dễ đón nhận Tin Mừng hơn.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (14.11.2022)

-------------
[1] X. Lê Minh, Thực trạng văn hóa gia đình Việt Nam, Nxb Lao Động, 1994.
[2] Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong Thế giới ngày nay - Gaudium et Spes, số 58.
[3] Sách kinh nguyện gia đình và nghi lễ gia tiên, tr. 215.
[4] HĐGMVN, Văn kiện hướng dẫn việc tôn kính tổ tiên, 2019, tr 9.

---------------------------------

 

Bài 66 (65): CHÚA ƠI! CON LÀ NGƯỜI NGOẠI GIÁO


Thùy Trang, DHM

Hỏi: Con muốn nói Chúa nghe nỗi lòng của con, nhưng con không biết làm sao để Chúa hiểu con nói, vì con là người ngoại đạo, nhưng con tin Chúa?

Trả lời:

Bạn mến, bạn đã có câu trả lời ngay chính trong câu hỏi của bạn rồi. Mình rất vui để trò chuyện với bạn ngang qua câu hỏi này.

Con tin Chúa ơi

Để nói chuyện với ai, bạn cần biết người đó đang hiện diện, và bắt đầu làm quen. Qua thời gian, bằng nhiều cách thức khác nhau, gián tiếp hay trực tiếp, bạn cảm thấy tin tưởng người đó. Tới lúc này, bạn muốn đi vào một mối tương quan thân tình hơn và khao khát được ở gần người đó.

Với Thiên Chúa cũng tương tự như thế. Dù Ngài là Đấng ta không thấy được bằng mắt, không nghe được bằng tai, không chạm được bằng tay, không thể ngửi hay nếm được Ngài, nhưng bạn cũng như nhiều người khác tin “có Ông Trời”. Hơn chút nữa, Ông Trời chạm đến đời bạn qua việc ban cho bạn thời tiết bốn mùa, cảnh sắc trời đất, hoa màu, con người đầy kỳ thú… Ông Trời ấy dun dủi cho bạn gặp những cơ may điềm lành, được an ủi khi gặp đau khổ, được giúp đỡ khi gặp khó khăn. Để tỏ lòng biết ơn, con người lập Bàn thờ Thiên, tế đàn… Con người không chỉ tin có Ông Trời mà còn muốn nối kết với Ông Trời.

Nỗi lòng

Bạn không chỉ muốn kết nối với Ông Trời để kể chuyện nắng mưa, bạn muốn kết nối với Đấng mà bạn gọi tên là Thiên Chúa để kể cho Ngài nghe nỗi lòng của bạn. Tuyệt vời làm sao! Bạn đã chạm đến điều căn cốt nhất của việc tất cả những người tin gọi là cầu nguyện.

Công giáo định nghĩa: “Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa để gặp gỡ và hiệp thông với Ngài trong tình yêu, để cầu xin những ơn cần thiết” (GLCG. 2590). Bạn hướng lòng về Ngài, nói gì đó với Ngài bằng lời hay thầm nghĩ trong lòng. Khi đó bạn đang diễn đạt nỗi lòng của mình – điều chân thật nhất nơi mình – cho Đấng mà bạn tin là Ngài đang nghe bạn.

Muốn nói Chúa nghe

Khi than trách “Ông Trời không có mắt”, bạn muốn nói rằng Ngài biết mọi sự, nghe thấy mọi sự sao không hành động gì trước hoàn cảnh bất công này, lẽ sai trái kia. Nếu Ông Trời cứ tự động hành động thì đó là tình yêu đơn phương! Chắc chắn Ngài vẫn hành động để chăm sóc bạn cách kín đáo, nhưng tình yêu chỉ đẹp khi đó là tình yêu song phương.

Trong mối tương quan song phương đó bạn muốn nói cho Chúa nghe nỗi lòng của bạn—dù đó là một nỗi đau, một lời than trách hay một tâm tình biết ơn—thì đó luôn là cách bạn đang diễn đạt tình yêu bạn dành cho Ngài. Bạn đang tương quan với Ngài. Bạn muốn tương quan với Ngài.

Làm sao để Chúa hiểu điều con nói

Có người sau khi gia nhập đạo Công giáo một số năm, khi được mời dâng một lời cầu nguyện trước nhóm thì vội từ chối mà rằng: tôi là đạo mới, không biết cầu nguyện thế nào. Vâng, người ấy cảm thấy mình không thuộc kinh, không biết nên dùng từ ngữ hay phải mở đầu kiết thúc thế nào thì mới đúng là cầu nguyện!

Bạn mến, đọc kinh hay biết cách cử hành bất cứ nghi thức đạo nào thì cũng mới chỉ là một trong những cách thế cầu nguyện thôi. Bạn cứ tự tin hướng lòng về Chúa, nói với Chúa bằng ngôn ngữ của bạn, theo cách bạn cảm nghiệm và nhìn nhận cuộc sống. Chẳng lẽ Đấng đã tạo dựng nên bạn, ban cho bạn trí hiểu, trí nhớ, cảm xúc… và luôn đồng hành bên bạn lại chẳng thể hiểu những gì bạn đang muốn diễn đạt sao?

Một số cách thức cầu nguyện

Để bạn cảm thấy tự tin hơn, mình gợi tóm ở đây vài cách thức cầu nguyện để bạn tham khảo.

* Khẩu nguyện: Đọc kinh, riêng một mình hoặc với một nhóm.

* Trí nguyện: Dùng khả năng suy tư để suy tư về cuộc đời và suy xét làm chọn lựa để sống tốt hơn hoặc đọc hiểu Kinh Thánh và các lời Kinh quan trọng.

* Thân nguyện: về tư thế, có thể quỳ gối, phủ phục hoặc nằm ngửa mặt lên trời, ngồi, đứng, chắp hoặc ngửa bàn tay (x. Linh Thao số 76), ngồi kiểu thiền định, hướng về một phương hướng nào đó phù hợp; có thể kết hợp với nhịp thở (x. Linh Thao số 258–260). Về nội dung, niệm một câu Kinh Thánh ngắn, hoặc lặp đi lặp lại một câu hay từ nào đó để lòng mình thấm và chìm sâu vào nội tâm.

* Tâm nguyện: Dùng khả năng cảm nếm nhờ việc nhớ lại, quan sát, tĩnh lặng bên Chúa… để ở với Chúa và nhận biết Ngài đang ở bên bạn, đồng hành với bạn. Bạn lắng nghe Ngài và cảm nghiệm về Ngài hơn là “nói” với Ngài.

Các hình thức cầu nguyện này đôi khi đan xen vào nhau.

Chuyện kể

Có câu chuyện kể về một ông cụ nọ lần kia đến nhà thờ và quên mang theo sách kinh. Ông cụ lúng túng không biết phải đọc kinh gì và bắt đầu như thế nào. Một lát sau, ông thưa với Chúa rằng: “Chúa ơi, hôm nay con quên sách kinh ở nhà, mà con lại không thuộc kinh nào cả. Con biết Chúa rất thông minh, nên con sẽ đọc một lượt bảng chữ cái từ đầu đến cuối, xin Chúa tự sắp xếp lại thành bản kinh nhé!”

Thiên Chúa không cần bản kinh của ông cụ, nhưng chắc chắn Chúa sẽ mỉm cười với ông vì tâm tình đơn sơ, chân thành và dễ thương như thế mà cụ dành cho Chúa.

Khi người ngoại giáo cầu nguyện…

Có nhiều bài hát viết về tâm tình cầu nguyện của người ngoại giáo. Xin gợi lên hai bài như món quà dành tặng cho bạn, người con ẩn danh của Chúa.

Bài thứ nhất là Lời người ngoại đạo của nhạc sĩ Phạm Duy. Bài thứ hai là bài Trời chưa muốn sáng của nhạc sĩ Thiện Thanh. Bạn có thể tìm nghe và đọc lời bài hát để cảm nghiệm về cách thức họ cầu nguyện, nội dung và ngôn ngữ họ dùng.

Hãy tự tin bạn nhé! Cầu nguyện kiểu nào Chúa cũng hiểu, thậm chí Ngài còn vượt trên cả ngôn ngữ để hiểu bạn qua một tiếng thở não lòng, qua tiếng cười sảng khoái, qua ánh mắt đong đầy hy vọng…

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (21.11.2022)

---------------------------------

 

Bài 67: Ý NGHĨA CỦA BÍ TÍCH GIAO HÒA


Phêrô Dương Hải Văn, SDB

Hỏi: Thưa cha, con thấy nhiều lúc xưng tội xong được vài hôm thì phạm tội lại, rồi lại tiếp tục đi xưng tội. Nhiều khi con chán nản, chẳng muốn đi xưng tội nữa. Xưng tội rồi phạm tội, vậy xưng làm gì? Và Giáo hội khuyên con cái mình như thế nào trong việc lãnh nhận Bí tích Giao hòa?

Trả lời:

Bạn thân mến,

Câu hỏi của bạn là một kinh nghiệm rất thực tế mà có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng đã trải qua. Hẳn rằng ai trong chúng ta sau khi xưng tội xong đều muốn được sống trong sạch, luôn cố gắng để không phạm tội, chứ không ai muốn phạm tội trở lại. Thế nhưng, với bản tính mỏng dòn và yếu đối của con người, nhiều lúc chúng ta đã không thể chiến thắng được sự yếu đuối của bản thân, và rồi chúng ta đã phạm tội. Có lẽ chính sự thất vọng vì cứ xưng tội rồi lại phạm tội khiến chúng ta nhiều lúc chán nản, muốn buông xuôi, hoặc không muốn đi xưng tội, hay cũng có khi nảy sinh ý nghĩ chờ đến lúc cuối đời rồi xưng tội cho chắc ăn. Vì thế, với thao thức này của bạn cũng là cơ hội để mỗi người chúng ta biết nhìn lại giá trị và ân sủng của Bí tích Hòa giải mà Chúa Giêsu đã ban cho nhân loại, qua đó, giúp chúng ta thấu hiểu hơn về tình thương tha thứ của Thiên Chúa dành cho nhân loại, cũng như biết nỗ lực vươn lên với ơn thánh Chúa sau mỗi lần xưng tội, hầu sống những giá trị đích thực trong ơn gọi làm người và làm con Chúa nơi hành trình dương thế của chúng ta.

Kinh nghiệm về tội lỗi

Trong hành trình cuộc sống nơi dương thế này, con người luôn trải qua những thử thách và cám dỗ, khiến đời sống nhiều lúc bị đắm chìm trong sự dữ và tội lỗi. Con người dễ bị những cám dỗ lôi cuốn và dẫn đến phạm tội: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7,19). Những lúc như thế, con người thấu hiểu chính mình hơn trong sự yếu đuối và giới hạn của bản thân trước những cám dỗ của dòng đời: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta” (1Ga 1,8). Đó không chỉ là nỗi khổ đau, là sự dằn vặt lương tâm về những điều sai trái, và những sự xấu xa, nhưng còn là dấu chỉ để con người nhận ra được bản chất mỏng dòn yếu đuối của mình, cũng như tỏ lộ sự khiêm nhường hầu đón nhận tình thương tha thứ từ Thiên Chúa.

Thực tại tội lỗi là điều con người không thể chối từ và tránh né. Nó luôn ẩn tàng, lôi cuốn và hấp dẫn con người trước những đòi hỏi và quyết định cho cuộc sống, để rồi trong giới hạn và yếu đuối của bản thân, nhiều lúc con người đầu hàng trước sự dữ, chọn lấy những điều xấu xa và tội lỗi.

Vì thế, con người cần chạy đến với tình thương tha thứ và chữa lành các vết thương do tội gây ra nơi Bí tích Giao hòa nhiều hơn: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội” (Lc 18,13). Để từ đó tội nhân biết mở lòng mình ra, để thấy được những hậu quả của tội, ý thức về sự yếu đuối của bản thân, và để cảm nếm được tình thương tha thứ từ Thiên Chúa. Người nào càng nhận thức được sự mỏng dòn yếu đuối của bản thân trong việc ăn năn hối cải cách đơn sơ và chân thành, trong ý thức về việc cần thiết của ơn tha tội, thì lại càng thấy được tình thương tha thứ của Thiên Chúa lớn lao và dịu ngọt bấy nhiêu; cũng như giúp bản thân biết nỗ lực để vươn lên và vượt thắng được những đam mê tội lỗi trong cuộc đời mình.

Xưng tội để sống tình thương tha thứ của Thiên Chúa

“Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho chúng ta, và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính” (1Ga 1,9). Thiên Chúa là Đấng luôn yêu thương và sẵn sàng tha thứ tội lỗi cho chúng ta. Tình thương tha thứ đó đã được diễn tả qua những trang Kinh Thánh, nơi mà con người thường xuyên phạm tội, còn Thiên Chúa thì giàu lòng thứ tha cho con người (x. Lc 15,11–32; Mt 18,21–22; Mc 2,5). Sự tha thứ của Thiên Chúa quảng đại đến độ, chỉ cần con người biết hối cải ăn năn, biết tìm về với nẻo chính đường ngay, thì Ngài không chấp cứ tội con người. Bởi vì Thiên Chúa còn thiết tha và sẵn sàng tha thứ hơn là chính chúng ta xin Người tha thứ[1].

Vì thế, khi đến với Bí tích Giao hòa, con người không chỉ được Thiên Chúa tha thứ tội lỗi, nhưng còn cảm nhận được tình thương nơi ơn tha thứ đó. Tình thương tha thứ cho tội nhân chính là món quà nhưng không của Thiên Chúa; một món quà để chữa lành những vết thương do hậu quả của tội gây ra, cũng như để trao ban sức mạnh giúp con người có thể vượt thắng những cám dỗ trong đời sống thường ngày[2].

Càng ý thức mình là tội nhân bao nhiêu, con người lại càng cần đến tình thương tha thứ của Thiên Chúa bấy nhiêu. Bởi sự tha thứ trong yêu thương của Thiên Chúa chính là tình thương của một người Cha hằng chờ đợi chúng ta trở về với Ngài. Tình thương tha thứ của Thiên Chúa nhằm chữa lành những thương tích do tội gây ra cho con người, và cho chính cả Thiên Chúa, Đấng cũng bị thương tích khi con người phạm tội; cũng như ban lại mối tương quan thân tình giữa tội nhân với Thiên Chúa và với tha nhân[3]. Tình thương tha thứ của Thiên Chúa cao cả đến mức chính Ngài cũng biết rằng, con người với bản tính mỏng dòn yếu đuối, với tính xác thịt và sự hướng chiều về tội sẽ không thể tránh khỏi phạm tội trong đời sống của mình sau khi xưng tội, nhưng Ngài vẫn sẵn lòng tha thứ và yêu thương, bởi vì bản chất của Thiên Chúa là tha thứ và yêu thương: “Thiên Chúa là Đấng chờ đợi chúng ta, Thiên Chúa là Đấng tha thứ cho chúng ta. Ngài không mệt mỏi tha thứ cho chúng ta là những người luôn mệt mỏi cầu xin sự tha thứ”[4].

Ý thức mình là tội nhân, con người chạy đến với Chúa qua Bí tích Giao hòa để được tha thứ, được yêu thương và chữa lành. Thiên Chúa yêu thương và tha thứ cho chúng ta, không những chúng ta chỉ là thụ tạo Thiên Chúa ưu ái dựng nên, mà Ngài còn muốn cứu độ ta từ thuở đời đời. Ngài yêu thương và tha thứ vì chúng ta là những kẻ đáng để lãnh nhận tình yêu nhưng không của Thiên Chúa.

Khi chúng ta nhận ra rằng Thiên Chúa là Đấng yêu thương, là người yêu chứ không phải ông chủ hà khắc, chúng ta sẽ đáp trả bằng tình yêu, chứ không phải sợ hãi: “Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi” (1Ga 4,18). Chính khi cảm nhận và sống tình yêu, chúng ta biết chạy đến với Bí tích Giao Hòa như một cuộc gặp gỡ đầy yêu thương, với sức mạnh của tha thứ và chữa lành[5]. Bao lâu ở trong tình yêu, chúng ta không cảm thấy mệt mỏi và chán chường để được gặp gỡ, chia sẻ, tha thứ và nâng đỡ đời sống của mình trong và qua Bí tích Giao hòa. Vì tình yêu chính là sức mạnh giúp chúng ta nhận ra được thực tại yếu đối của bản thân, để rồi cũng nhờ tình yêu, chúng ta được chữa lành, và đón nhận niềm vui của người được yêu thương.

Xưng tội để thăng tiến mỗi ngày nhờ ơn Chúa.

Mỗi lần chúng ta xưng tội, thì tình yêu và ân sủng Chúa giúp ta nhận ra được vẻ đẹp của đời sống thánh thiện, giá trị của sự bình an nội tâm, và sự dạt dào của tình yêu thương được chữa lành. Chính những lúc đó, nỗ lực để quyết tâm sống thánh thiện lại thôi thúc mỗi người tiến bước trong niềm vui và ân sủng của Thiên Chúa cách dạt dào và đầy sức sống; dẫu rằng những phút giây đó có thể qua đi cách nhanh chóng, khi chúng ta lại tiếp tục đối diện với thực tại cuộc sống của những cám dỗ, thực tại của bản thân với những yếu đuối và đam mê, để rồi chúng ta lại đi vào lối mòn của những tội lỗi trước đó. Những lúc như thế, Giáo Hội giúp chúng ta hiểu rằng, Bí tích Giao hòa là ơn ban giao hòa chúng ta với Thiên Chúa, và “với sự trợ lực của ân sủng của Đức Kitô, họ vượt qua được những thử thách trong cuộc chiến đấu của đời sống Kitô hữu” (GLHTCG, 1427). Đây là một cuộc chiến đấu liên lỉ để hoàn thiện chính mình, và từng bước sống thánh mỗi ngày trong đời sống Kitô hữu.

Bởi vì, Bí tích Giao hòa không nhằm hủy diệt sự yếu đuối và hướng chiều về tội nơi con người tự nhiên của chúng ta, nhưng là giúp chúng ta hoán cải, và biến đổi mỗi ngày nhằm có khả năng chọn lấy những tốt, điều thiện để đưa chúng ta đạt tới sự thánh thiện trong đời sống Kitô hữu, như lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Anh  em phải nên hoàn thiện, như Cha anh  em ở trên Trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).

Tình yêu Thiên Chúa được tỏ lộ và trao ban trong Bí tích Giao hòa nhằm: “mang lại sự bình an và thư thái trong lương tâm, kèm theo là niềm an ủi dạt dào trong tâm hồn,… hoàn trả lại phẩm giá và những điều thiện hảo cho đời sống làm con Thiên Chúa, mà cao quý nhất là tình thân nghĩa với Thiên Chúa” (GLHTCG, 1468). Chính khi đón nhận tình thương tha thứ đó, mỗi người được mời gọi để nỗ lực biến đổi đời sống mình ngày một nên tốt hơn, nên thánh thiện hơn, nhằm từng bước thăng tiến trên con đường nhân đức Kitô giáo. Tình yêu tha thứ của Thiên Chúa trong Bí tích Giao hòa giúp ta ý thức rằng, xưng tội không phải là một cuộc phán xét, nhưng là gặp gỡ với Thiên Chúa, Đấng tha thứ mọi tội lỗi cho chúng ta, và vui mừng vì chúng ta biết cậy nhờ vào tình yêu thương của Ngài.

Chỉ khi chúng ta cảm nhận và sống trong tình thương yêu của Thiên Chúa, thì việc xưng tội không còn là nỗi sợ hãi, là gánh nặng cho chúng ta, nhưng là cơ hội để ta được gặp gỡ cách cá vị với Thiên Chúa. Chính nơi cuộc gặp gỡ này, Thiên Chúa kéo con người ra khỏi tình trạng tội lỗi, tỏ cho họ thấy họ được yêu vì chính họ; cũng như cho thấy tình thương Thiên Chúa luôn đi bước trước và luôn tha thứ, không đặt giới hạn cho lòng thương xót, cả về thời gian lẫn trong ý định, để từ đó giúp con người từng bước vươn lên, thay đổi bản thân trước những yếu đuối tội lỗi, và thăng tiến để đạt được những giá trị cao quý của ơn gọi làm con Chúa[6].

Tạm kết

Khi mỗi người chúng ta sống trong ý thức về mối tương quan tình yêu với Thiên Chúa, thì việc xưng tội không còn là nỗi lo sợ, hoặc là một sự tránh né vì cứ xưng rồi lại tái phạm, nhưng là một cuộc gặp gỡ đầy yêu thương và thân tình giữa tội nhân với Đấng giàu lòng thương xót và thứ tha:

“Hạnh phúc thay, kẻ lỗi lầm mà được tha thứ,
người có tội mà được khoan dung.

Hạnh phúc thay, người Chúa không hạch tội,
và lòng trí chẳng chút gian tà.

Bao lâu con lặng thinh không thú lỗi,
thì gân cốt rã rời, cả ngày con gào thét.

Vì ngày đêm con bị tay Ngài đè nặng,
nên sức lực hao mòn, như bị nắng mùa hè thiêu đốt.

Bởi thế, con đã xưng tội ra với Ngài,
chẳng giấu Ngài lầm lỗi của con.

Con tự nhủ: “Nào ta đi thú tội với Chúa,”
và chính Ngài đã tha thứ tội vạ cho con”.

(Tv 32, 1–5).

Sự tha thứ của Thiên Chúa dành cho con người không hề có giới hạn. Ngài sẵn sàng tha thứ và đón nhận những ai lầm đường lạc lối, khi biết ăn năn thống hối và quyết tâm trở về qua việc xưng tội. Mỗi lần chúng ta chạy đến với Bí tích Giao hòa, là mỗi lần ta được gặp gỡ trong yêu thương và tha thứ của Thiên Chúa, là ý thức hơn về thân phận mỏng dòn của mình và cảm nếm tình yêu dịu ngọt của Chúa; để rồi chính qua cuộc gặp gỡ này, chúng ta được biến đổi, được trao ban sức mạnh nhằm nỗ lực sống đức tin cách trung kiên hơn, tốt lành hơn trong đời sống của mình.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (28.11.2022)

--------------
[1]  x. Peter Kreeft, Chúng tôi hỏi, Chúa trả lời, (Nguyễn Anh Tân chuyển ngữ), Học Viện Đa Minh, 2018, 85.
[2]  Sđd, 87.
[3]  x. Raniero Cantalamessa, Cái nhìn của Lòng Thương Xót, (Trần Đình Quảng chuyển ngữ), Nxb Đồng Nai, 2020, 13-22.
[4]  ĐTC Phanxicô,  Bài giảng Sáng thứ Sáu 28 tháng Ba tại nhà nguyện Santa Marta.
[5]  x. Peter Kreeft, Chúng tôi hỏi, Chúa trả lời, (Nguyễn Anh Tân chuyển ngữ), Học Viện Đa Minh, 2018, 90.
[6]  x. Raniero Cantalamessa, Cái nhìn của Lòng Thương Xót, (Trần Đình Quảng chuyển ngữ), Nxb Đồng Nai, 2020, 52-54.

---------------------------------

 

Bài 68: VƯỢT QUA LƯỜI BIẾNG


Thiên Di CND - CSA

Hỏi: Dù là sinh viên phải học tập, nhưng nhiều khi trong con vẫn bị cám dỗ lười biếng. Không biết có cách nào giúp con siêng năng học tập, chăm chỉ làm việc hay không ah?

Trả lời:

Bạn thân mến,

Khi đọc câu hỏi của bạn, tôi cũng mỉm cười với mình vì đôi khi chính tôi cũng rơi vào tình trạng uể oải, trì hoãn một vài việc không làm ngay hoặc khó tập trung vào công việc mình được giao. Để vượt qua tình trạng này, tôi xin mách bạn một vài gợi ý, bạn hãy áp dụng thử xem. Tôi hi vọng bạn sẽ sớm khắc phục tình trạng lười của mình.

Nguyên nhân của sự lười biếng?

Tình trạng lười biếng, uể oải, chây lỳ, thiếu sức sống, trì hoãn công việc. Đó là những từ ngữ dùng để diễn đạt sự thiếu nhanh nhẹn, thiếu sự sẵn sàng trước công việc, học tập hay một trách nhiệm nào đó của chúng ta. Ở đây bạn dùng từ lười biếng.

Người rơi vào tình trạng này có những nguyên nhân rất khác nhau:

- Có thể bạn lười vì không muốn đối diện với việc gì đó mà bạn không thích, hay “việc đó chán phèo”, nó không phải sở trường của bạn, bạn đang thiếu động lực, hoặc bạn quá nhiều việc và bạn không biết bắt đầu từ đâu.

- Đôi khi bạn cảm thấy căng thẳng với người cùng cộng tác chung với mình hoặc việc đó quá sức mình làm dẫn đến tình trạng “ngao ngán” mỗi khi bắt đầu.

- Cũng có thể cơ thể bạn rơi vào tình trạng bão hòa, mệt mỏi trước hằng tá những công việc ùa đến…

- Bạn bắt đầu điệp khúc “để mai tính” và ngày mai sẽ mãi là ngày mai vì bạn chưa thể bắt đầu.

Thực sự mà nói, lười biếng, biếng nhác không phải là tính cách mà chúng ta mong muốn, nó là những khoảnh khắc cơ thể muốn trống rỗng không thiết tha với công việc, học tập. Nếu cứ để tình trạng lười biếng này kéo dài thì không ổn chút nào bạn ah.

Cùng nhìn lại trước sự biếng nhác

Vì vậy, mỗi khi rơi vào tình trạng này, bạn nên ngồi lại trong tĩnh lặng, cầu nguyện và suy nghĩ xem điều gì khiến bạn nản chí, chưa dám bắt đầu? Phải chăng bạn đang mệt mỏi, bị tổn thương, bạn bị kẹt trong sự kỳ vọng quá sức mình. Hay đơn giản bạn chưa có nguồn cảm hứng, động lực để bắt tay vào học tập hay làm bất cứ việc gì… Một khi biết được nguyên nhân cản trở bạn siêng năng nhanh nhẹn trong mọi việc bạn sẽ sớm vượt qua sự uể oải của bản thân thôi.

1. Lên kế hoạch và theo đuổi những mục tiêu ưu tiên

Đầu tiên bạn nên lập kế hoạch cho một ngày sống của mình, có những mục tiêu – mục đích rõ ràng, phân bố thời gian hợp lý. Nên xác định rõ đâu là việc ưu tiên cần giải quyết trước mắt, việc gì quan trọng nhất cần hoàn thành trước tiên.

Chỉ làm một việc ở một thời điểm cho hoàn thành rồi chuyển sang việc tiếp theo. Một người làm việc tùy hứng, làm 2 -3 việc một lúc, quá thoải mái về thời gian và cách xử lý tình huống sẽ khó thành công trong cuộc sống.

Trong việc học tập, bạn hãy lập kế hoạch cho những môn học mình cần phải hoàn thành, đưa ra những mục tiêu rõ ràng, giới hạn thời gian để hoàn thành mục tiêu của môn học đó. Với chương trình học mỗi ngày, bạn cần phải có lịch học cụ thể, tập trung hoàn thành những môn học đưa ra, có thời gian đọc sách nghiên cứu tài liệu, nghỉ ngơi hợp lý, ăn uống điều độ.

Bạn không nên dễ dàng bỏ qua kế hoạch mỗi ngày, nếu ngày hôm nay không hoàn thành thì ngày mai việc học sẽ bị nhiều hơn… và nếu mãi trì hoãn thì bài vở dồn lại sẽ thật khủng khiếp.

2. Hãy sống kỷ luật bản thân

Xin đừng nghiền phim “Để Mai Tính”, tiếng Anh là: Fool for Love, trong đó có “fool- người bị lừa phỉnh”. Bạn cần tỉnh táo để sắp xếp thời khóa biểu của mình. Bạn cần bắt đầu kỷ luật trật tự với việc sắp xếp gọn gàng gian phòng riêng của mình, sắp xếp căn phòng có trật tự ngăn nắp, loại bỏ những thứ không cần thiết. Những thói quen hằng ngày như đọc sách, học bài, nghiên cứu tài liệu luôn được duy trì. Việc rèn luyện bản thân có một tinh thần minh mẫn, một thể xác khỏe mạnh rất cần thiết cho cuộc sống của bạn.

Bạn nên duy trì thói quen tập thể dục, đi ngủ sớm thức dậy sớm… Đây là cách rèn luyện cơ bản để cuộc sống có trật tự kỷ luật, theo thời gian thói quen kỷ luật này trở thành nếp sống lành mạnh của bạn. Nếu có lý do nào khiến bạn muốn thoái lui với những kỷ luật rèn luyện kia, bạn cần nghiêm túc đối diện với chính mình và vượt qua sự lười biếng nhé.

3. Nghĩ đến kết quả của công việc

Bên cạnh đó, để vượt qua sự lười biếng, trì hoãn công việc… bạn không nên nghĩ đến những khó khăn tiêu cực của công việc bạn phải làm. Thay vào đó bạn nghĩ đến điều tích cực, phần thưởng, kết quả tốt đẹp sau khi hoàn tất công việc mình làm. Tỉ như “Công việc này kết thúc sẽ rất thú vị đây!”, “môn học này thật thú vị!” (Tự kỷ ám thị trong trường hợp này cũng tốt!) Một khi hoàn thành tốt công việc của mình, bạn có thể tự thưởng cho mình như một sự khuyến khích bản thân (ví dụ: tự mua sách tặng mình, ăn một cây kem, uống một ly trà sữa… Tất nhiên là tự thưởng lành mạnh nha bạn).

4. Sống trọn vẹn giây phút hiện tại

Khoảnh khắc quan trọng nhất của cuộc đời bạn là ngay chính lúc này đây. Giây phút hiện tại là món quà mà Thiên Chúa dành cho chúng ta. Tương lai sẽ như thế nào hoàn toàn tùy thuộc giây phút hiện tại. Nhưng nhiều khi người ta lại thích sống với hoài niệm; với ảo vọng tương lai xa xôi. Cố nghĩ về quá khứ, ráng tưởng tượng về tương lai, họ quên luôn giây phút hiện tại để bắt tay vào hành động.

Bạn đừng để sự chần chừ, lưỡng lự ngăn cản bạn bắt tay vào dự định kế hoạch của mình. Bạn không bắt đầu thì chẳng bao giờ đạt đến mục tiêu, và sẽ không có kết thúc. Thời gian hiện tại chính là tài sản quý giá nhất của mỗi chúng ta. Có ai đó đã từng nói “sự trì hoãn là nấm mồ chôn vùi các ý tưởng”. Bạn có ý tưởng về một bản thiết kế thời trang, nhưng lại cứ trì hoãn bắt tay vào những nét vẽ đầu tiên, sự trì hoãn này cùng với thời gian sẽ làm mất đi ý tưởng sáng tạo của bạn.

Thật là tiếc, đến một lúc nào đó, ý tưởng của bạn đã biến mất cùng với sự tiêu biến của thời gian. Một nhà tư tưởng đã nói: “Có hai điều lấy đi sự bình yên tâm hồn của chúng ta đó là những việc chưa hoàn thành và những việc còn chưa bắt đầu” (Khuyết danh).

5. Tự ám thị “tôi có thể làm được”

Nỗi sợ luôn là một yếu tố đắc lực cho sự trì hoãn lảng tránh thực tế cuộc sống. Sự sợ hãi ngự trị khiến chúng ta suy nghĩ tiêu cực, không kiểm soát được nỗi sợ bạn có thể căng thẳng và bạn chẳng thể làm gì ngoài việc co lại với chính mình. Vì sợ nên chúng ta không dám đối diện với thử thách, không dám bắt tay với bất cứ một điều gì mới lạ. Chúng ta cần khống chế nỗi sợ bằng những câu nói động viên, tự ám thị chính mình:

“Tôi làm được việc đó!”; “Tôi sẽ không lùi bước!”; “Chuyện đó không đáng để tôi quá lo lắng như vậy!”.

Ở đây, chúng ta đang cần một sự can đảm, lòng dũng cảm để đối mặt với sợ hãi của chính mình. Lòng dũng cảm sẽ giúp ta có một năng lực tích cực để khởi động lại tất cả, bứt phá sự lười biếng nhút nhát đang không chế chúng ta.

Ở góc độ niềm tin Kitô giáo, chúng ta cảm thấy an lòng vì trước sự sợ hãi, khó khăn của cuộc sống Thiên Chúa luôn là Đấng chở che bảo vệ và yêu thương quan phòng cho chúng ta. Ngài luôn dành cho con người những gì tốt nhất. “Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.” (Tv 23 (22),4). Trong Tin Mừng thuật lại, trước nỗi lo âu của môn đệ, Đức Giêsu củng cố niềm tin của họ “Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.” (Ga 14,27). Giống như các môn đệ xưa bạn hãy can đảm lên vì Đấng Quan Phòng vẫn luôn bên cạnh bạn “chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mc 6,50)

6. Buông bỏ máy móc – điện thoại

Phải nhìn nhận rằng công nghệ thông tin đã trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho cuộc sống của con người. Những tiện ích của nó mang lại thật nhiều và hiệu quả, nhưng cũng phải thừa nhận phương tiện này đã chiếm lĩnh cuộc sống và chi phối nhiều đến mối bận tâm của con người.

Chúng ta tiêu phí hàng giờ để lướt mạng và dễ dàng quên luôn một vài công việc cần giải quyết trong ngày. Phương tiện tìm kiếm Google quá tiện ích dễ khiến người ta không cần phải suy nghĩ tư duy chỉ cần một cái click là có hàng triệu triệu những đáp án.

Sự trì hoãn, bê trễ công việc, học tập nảy sinh từ những “cái lỡ hẹn” của chúng ta. Hãy để điện thoại qua một bên và vận động cơ thể cho linh hoạt, hãy sắp xếp cuộc sống cho gọn gàng và hoàn thành những kế hoạch đang chờ bạn. Đừng tiêu phí thời gian chỉ để lướt qua cuộc sống trên chiếc Iphone, đừng để tin nhắn điện thoại cắt ngang sự tập trung của chúng ta.

7. Cần có những người bạn nâng đỡ bạn

Ở một hoàn cảnh nào đó, sự uể oải, thiếu sức sống không muốn động tay chân là do tình trạng chán nản. Sự chán nản chiến lĩnh con người bạn khiến bạn chẳng muốn đối diện với thực tế cuộc sống. Lúc này, bạn rất dễ bị tổn thương, bạn nghĩ: “Sự thu mình vào vỏ óc giúp tôi thật an toàn”.

Thật nguy hiểm sự chán nản đang giết bạn từ từ trong sự buồn nản của bản thân. Bạn cần vượt qua cuộc khủng hoảng này bằng một sự mở lòng, lắng nghe những lời khuyên từ những người bạn, người thầy, người thân... Tình thương, sự khích lệ chân thành, những lời động viên đúng lúc sẽ là động lực giúp bạn vượt qua sự ngờ vực của bản thân. Bạn bè chân thành, chính trực sẽ giúp bạn ra khỏi vỏ ốc của mình để bước ra thế giới trong tin yêu và phó thác.

Con đường dẫn đến thành công không có chỗ cho kẻ lười biếng. “Ngồi mát ăn bát vàng” không xứng với anh hùng, hào kiệt. Thành công là kết quả của một quá trình rèn luyện, chiến đấu, cố gắng không ngừng. Sống không có hoạch định là ta đã tự hoạch định cho sự thất bại của bản thân. “Thua keo này, ta bày keo khác” sẽ giúp ta chiến thắng.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (05.12.2022)

---------------------------------

 

Bài 69: GIA ĐÌNH KHÁC ĐẠO


Cao Gia An, S.J.

Hỏi: Con được sinh ra trong gia đình có Bố là người bên lương và Mẹ là người Công giáo. Bố con vẫn giữ những nghi thức cúng bái, đưa tang, ăn cơm cúng… Bà nội con thường đi gặp Thầy ở Chùa để xin giải hạn cho con. Con đã được rửa tội, và hiểu rõ những bối rối của Mẹ con. Vậy, chúng con có được tham gia những nghi thức mà Bố và Bà con tham gia không?

Trả lời:

Đây là một câu hỏi thường gặp, vì thật ra trường hợp của gia đình bạn không phải là trường hợp hoạ hiếm ngày nay. Sau hơn 400 năm Tin Mừng đến Đất Việt, người Công giáo ở thời điểm hiện tại vẫn chỉ là một thiểu số trong lòng dân tộc Việt Nam. Trước đây, Đạo Công giáo ở Việt Nam đã phải trải qua một thời gian dài sống khép và kín theo hướng tự vệ. Khi đó người Công giáo chỉ được phép lấy người Công giáo và không có nhiều gia đình sống theo hôn nhân khác đạo. Nhưng khi cuộc sống mở ra, nhất là khi Giáo hội Công giáo Việt Nam đã chọn “sống đức tin giữa lòng dân tộc”, nhiều khả thể khác được mở ra với các gia đình Công giáo. Hôn nhân khác đạo đã không còn là chuyện quá lạ lùng hay cấm kỵ.

Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là phủ nhận những khó khăn và thử thách trong đời sống đạo của hai mẹ con bạn. Mẹ của bạn đã theo tiếng gọi của con tim, đã can đảm chọn đi một con đường khó. Trên con đường ấy, nỗ lực gìn giữ đức tin và việc nuôi dưỡng bạn lớn lên theo truyền thống Công giáo là điều rất đáng trân trọng. Những bối rối và trăn trở của cả hai mẹ con bạn trong trong việc làm sao để sống đúng đức tin của mình cho chính đáng và phù hợp cũng là điều rất đáng trân trọng.

Để phần nào giãi gỡ những bối rối và trăn trở ấy, trước hết, chúng ta cần nhận ra những điều tích cực trong gia đình của bạn.

Nếu ngay từ đầu, bố mẹ của bạn và gia đình nội ngoại hai bên đã đồng thuận trong việc Đạo ai nấy giữ, đồng thời Giáo hội đã chuẩn nhận việc hôn nhân khác đạo, thì điều quan trọng nhất là việc thực hành đức tin riêng của mỗi bên cần phải được tôn trọng, đúng không? Bạn đã được cho rửa tội để làm người Công giáo, nghĩa là gia đình bên nội đã có một sự tôn trọng nhất định đối với mẹ bạn và tôn giáo của mẹ bạn rồi. Việc chấp thuận để cho bạn được rửa tội và được giáo dục theo đức tin Công giáo cũng cho thấy gia đình bên nội cũng đã giữ lời hứa so với cam kết ban đầu của mình. Nếu hai mẹ con bạn đã có đủ tự do để sống đức tin Công giáo của mình, bố của bạn cũng xứng đáng có được sự tự do ấy để sống đức tin của mình, phải không?

Vì thế, việc bố của bạn theo những nghi thức của Phật Giáo, hay của niềm tin tự nhiên theo truyền thống gia đình bên nội, là điều cần được tôn trọng. Việc thực hành những nghi thức cúng bái, đưa tang, ăn cơm cúng… cho thấy bố của bạn là một người có đời sống tâm linh, có tâm tình tôn giáo. Đây là phẩm chất rất quý của con người sống trong thời hiện đại. Cũng vậy, việc bà nội đi Chùa cầu siêu cho cháu của mình cũng là một điều chính đáng, phải không? Đó là cách bà thể hiện tình thương và sự chăm sóc cho cháu mình. Bạn nên nhận sự quan tâm và chăm sóc ấy, nên cám ơn bà nội của mình về điều ấy. Hơn nữa, cả gia đình bên nội của bạn theo Phật Giáo, chắc chắn những ngày giỗ chạp hay đám tiệc của nhà nội sẽ phải được tổ chức theo nghi thức tôn giáo của bên ấy. Đối với những nghi thức ấy, bạn nên có sự tôn trọng đúng mực.

Sự hiện diện của mẹ con bạn với cả đại gia đình trong những dịp họp mặt và lễ truyền thống như thế là cách sống sự hiệp thông và nuôi dưỡng tình thân gia đình. Đó là một phần của gia đình mà mẹ bạn đã chọn để sinh bạn ra và nuôi dưỡng bạn lớn lên. Vì vậy, hai mẹ con bạn không nên tự tách mình ra khỏi bầu khí gia đình chỉ vì lý do khác biệt về tôn giáo. Bởi lẽ, nếu nại vào lý do khác biệt tôn giáo để hai mẹ con bạn sống tách biệt và cô lập, thì hoá ra tôn giáo lại trở thành duyên cớ của sự phân biệt và chia rẽ trong cùng một gia đình hay sao?

Cần phân biệt rõ rằng việc vái hương hay cúi đầu tỏ lòng tôn kính trước Đức Phật không phải là việc tôn thờ ngẫu tượng. Cũng giống như việc người Công giáo thắp nhang và cúi đầu trước bàn thờ của ông bà tổ tiên: đó là cách thể hiện lòng hiếu thảo và tôn kính, chứ không phải là tôn thờ. Chúng ta chỉ tôn thờ một mình Thiên Chúa. Trong đức tin của chúng ta, Đức Phật là một Đấng đáng kính, đáng để chúng ta bày tỏ lòng kính ngưỡng mộ và tôn trọng.

Thêm nữa, có thể phân biệt rằng tham dự thì khác với tham gia. Bạn có thể tham dự vào những nghi lễ trong gia đình bên nội bằng sự hiện diện và sự tôn trọng, bằng mối dây hiệp thông gia đình. Nhưng sự tham dự ấy không có nghĩa là bạn tham gia vào việc thờ phượng của một tôn giáo khác. Bởi vì bạn mang một đức tin khác, một văn hoá khác, lòng của bạn hướng về một Đấng khác.

Chúng ta thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất. Tuy nhiên, cần nhớ rằng việc thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất không loại trừ và cấm chúng ta bày tỏ lòng tôn kính đối với những bậc đáng kính, dù là trong tôn giáo mình hay trong các tôn giáo bạn. Cần nhìn nhận rõ ràng rằng những người thuộc các tôn giáo khác không phải là đối thủ, càng không phải là kẻ thù nguy hiểm cho đức tin chúng ta. Chúng ta luôn có thể chung sống trong an bình và dành cho nhau sự tôn trọng sâu sắc với những người khác niềm tin với chúng ta. Đó là cách để chúng ta xây dựng một thế giới hoà bình. Thế giới ấy khởi đi từ chính gia đình của bạn.

Đây là lời khuyên quan trọng dành cho bạn: khi bạn và mẹ của bạn đã cùng chia sẻ với gia đình bên nội những sinh hoạt của họ, thì thỉnh thoảng cũng nên mời họ tham dự vào các sinh hoạt cầu nguyện của bên mình, phải không? Nếu bạn đã cùng tham dự những buổi cầu nguyện với gia đình nhà nội, bạn có từng thử cũng mời họ tham dự giờ cầu nguyện và giải thích cho họ về ý nghĩa của việc cầu nguyện trong đạo Công giáo không? Nếu bạn đã một vài lần đến Chùa cùng với bố và nội, bạn có từng thử mời họ một vài lần đến Nhà Thờ với mình không? Chẳng hạn: vào những dịp quan trọng như Giáng Sinh, Phục Sinh, các buổi diễn nguyện thánh ca, hay các hoạt động bác ái xã hội… Đã bao giờ bạn thử mời bố cùng tham dự vào giờ kinh tối, phút hồi tâm cuối ngày, hay một giờ trầm lắng cầu nguyện nào đó với mẹ con bạn không?

Mục đích của chúng ta ở đây không phải là việc “dụ khị” bố của bạn hay nhà bên nội của bạn vào đạo Công giáo. Mục đích chính ở đây, trước hết là giúp cho bố bạn và nhà bên nội có cơ hội để hiểu và có thiện cảm với Đạo của mẹ con bạn. Đừng trình bày với gia đình bên nội về Đạo của mình như là Đạo cho phép làm điều này, cấm làm điều kia… như thể Đạo chỉ là một bộ luật và một mớ nguyên tắc. Hãy giới thiệu cho họ về một Thiên Chúa là Cha bao dung và yêu thương, một Thiên Chúa không nhất thiết phải luôn luôn đòi hỏi và áp đặt, một Thiên Chúa dám đặt niềm tin của mình vào tự do của con người.

Biết cách sống tốt đức tin của mình trong gia đình, biết bám rễ từ tinh thần đại đồng Kitô giáo để xây dựng hạnh phúc gia đình, biết đâu bạn và mẹ của bạn có thể thuyết phục được bố và chia sẻ được với bố về niềm tin của mình thì sao! Chân lý luôn có cách tự tỏ lộ mình. Sau khi bạn đã làm hết mọi sự tốt đẹp trong khả năng của mình, phần còn lại Chúa sẽ lo.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (12.12.2022)

---------------------------------

 

Bài 70: BẤT KHẢ PHÂN LY


Thiên Di CND - CSA

Hỏi: Con thấy bên luật pháp cho phép ly hôn, nhưng tại sao Giáo hội Công giáo vẫn không cho phép ly hôn?

Trả lời:

Mới hôm qua trời vẫn còn hanh nóng, vậy mà chỉ sau trận mưa rào cùng những đợt gió rít lách qua khe cửa. Sáng nay, cái lạnh đầu mùa đã bao trùm khắp vùng Bắc Bộ. Ông Toan khoác vội chiếc áo dạ cũ, ngồi bên chiếc bàn nhỏ quen thuộc, tay ông vân vê nhúm thuốc lá cho vào chiếc điếu cầy cũ kỹ, ông rít một hơi thật dài. Ông nhả đám khói lên trần nhà, mắt nhắm nghiền mông lung nghĩ suy, khuôn mặt ông hiện rõ những đường nhăn nheo của tuổi tác. Cùng làn khói thuốc ông càng trầm tư, những nếp nhăn lại càng hằn sâu trên khuôn mặt xạm nắng của ông.

Có lẽ trong sáu đứa con, ông Toan nặng lòng nhất với Thu Vân, con gái thứ tư của ông. Thu Vân năm nay đã ngoài 30, mới năm ngoái ông còn bận lòng với cảnh “ế chồng” của Thu Vân. Ông nói: “con gái lớn chưa chồng như cảnh hũ mắm treo đầu giường”. Vậy mà năm nay, khi Vân đã có nơi có chốn, ông lại đứng ngồi không yên. Ông âu lo vì con rể tương lai nhà ông khác tôn giáo. Khi bàn đến chuyện cưới xin, bên nhà trai quả quyết “đạo ai người đó giữ”... Ông thở dài não nề khi nghĩ về cuộc sống tương lai của Thu Vân.

Thu Vân bước vào nhà trong bộ quần áo xinh đẹp, mặt tươi như hoa nhưng vừa thấy ông Toan ngồi đó trầm tư, mặt cô liền đổi sắc. “Con chào Bố, con mới về”. Ông Toan nói với Vân: “Con ngồi xuống bố nói chuyện!”. Vân nhẹ nhàng ngồi vào ghế.

“Chuyện cưới xin của hai đứa, con tính sao?”

Nghe bố hỏi vậy, Vân nghĩ ngay đến nghi thức tôn giáo, bởi Vân biết rõ bố rất lo lắng việc cưới xin khác đạo của cô.

Thu Vân trả lời: “Dì Hoan đang lo giúp con liên lạc với cha xứ chuẩn bị nghi thức làm phép tha…” (nghi thức phép chuẩn dành cho đôi tân hôn không cùng Công giáo).

Ông Toan: “Thằng Vinh nhất định không theo đạo sao con?”

“Vâng! Anh ấy là cháu đích tôn nên ông bà bên đó không cho theo đạo. Anh Vinh phải giữ đạo ông bà để sau lo việc đạo hiếu với tổ tiên nhà anh bố ah!”

Ông Toan nhăn nhó: “Vợ chồng với nhau, chung nhà chung cửa, chung một chiếc giường, chung con chung tài sản… vậy là niềm tin tôn giáo lại hai hướng khác nhau. Bố thấy cuộc sống gia đình con phiêu lưu quá. Lại còn bao nhiêu cái chuẩn mực luân lý Công giáo trong đời sống gia đình mà cả hai phải biết và sống, bố không an lòng…”

Thu Vân im lặng nhìn vào khoảng không xa xăm đầu ngõ. Ông Toan nói tiếp: “Hôn nhân Công giáo là chuyện hệ trọng, con lấy ai kể như sống chết với người đó. Đời con kể như ràng buộc với chồng con vĩnh viễn. Chồng con tử tế con hưởng, mà chồng con lỗ mãng con ráng chịu... Khi đã bước vào nhà thờ làm nghi thức rồi thì vợ chồng con vĩnh viễn sống – chết với nhau. Con suy nghĩ kỹ chưa? Con lấy chồng chứ không phải chọn một chiếc áo, nay thích mặc, mai có thể thay áo khác được đâu…!”.

Ông Toan uống vội ly trà vối, rồi nhìn vào vết loang lổ trên nền xi măng. 

Thu Vân không nói gì, cô vân vê gấu áo như đứa trẻ lên 4 lên 5 bị bố bắt quả tang làm chuyện sai. Trong lòng cô ruột gan rối bời, cô không biết mình phải làm gì đây, “Bên tình bên hiếu biết chọn đường nào”. Cô yêu Vinh, Vinh cũng yêu cô. Cô có thể chứng minh tình yêu của Vinh dành cho mình bằng sự quan tâm, chăm sóc anh dành cho cô, thứ tình yêu ở tuổi ngoài 30 cô mới cảm nhận.

Trong mắt Vân, Vinh là người tốt; trong tim Vân, anh yêu cô chân tình. Mặc dù Vinh cộc tính, hơi gia trưởng… Lúc này Vân nghĩ: “Ừ ! Đàn ông mà, như vậy mới làm chủ gia đình được.” Cô biện minh cho tình yêu của mình. Còn bố cô thì lo lắng đủ điều. Vân gặp Vinh như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao cứu sinh. Khi ở tuổi 30 Cô đã sợ cảnh “hết thì” của mình. Cô không muốn mình giống cảnh bà Miến không chồng – không con, ngày ngày thui thủi một mình, vậy mà cũng có lắm kẻ nói dọc nói ngang bà, Vân nghe cũng chạnh lòng. Vân không muốn mình vướng cảnh của bà Miến. Vinh đến với Vân làm cuộc đời cô nở hoa, rạo rực và muốn yêu. Thu Vân không thể từ chối tình yêu này được.

Trước ngày cưới, Dì Hoan dẫn Thu Vân, Vinh lên gặp cha xứ. Vị linh mục lớn tuổi nhìn đôi bạn chuẩn bị kết hôn nhắn nhủ:

- “Đời sống gia đình êm ấm khi cả hai thương yêu nhau thật, cùng nhau nhìn về một hướng, tôn trọng nhau, san sẻ công việc cho nhau, đặc biệt là bao dung, tha thứ cho nhau. Hai con đã chín chắn trong tuổi lập gia đình, Cha tin hai con có cách để xây dựng hạnh phúc gia đình mình…”

Vinh nhanh nhẹn thưa vâng một cách xác quyết sau những lời nhắn nhủ đầy ưu ái của cha xứ.

Trong ngày Thu Vân và Vinh làm phép chuẩn hôn nhân, cha xứ tâm tình với đôi bạn:

“Để gia đình các con hạnh phúc trọn đời yêu thương nhau, sinh con và giáo dục chúng cho tốt thì đòi buộc các con phải một vợ một chồng chung thủy với nhau và bất khả phân ly. Đó cũng là mục đích của hôn nhân Công giáo[1]. Đặc tính  đơn hôn và bất khả phân ly trong hôn nhân Công giáo xuất phát từ ý định của Thiên Chúa “…Bởi thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24). Trong Tin Mừng Matthêu khi trả lời với các nhà biệt phái về việc ly dị, Đức Giêsu quả quyết: “Tại các ông  chai đá cứng lòng, nên ông Môsê cho phép rẫy vợ, chứ thửa ban đầu không có thế đâu.” (Mt 19,9). Lời Chúa đã phán: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19, 6). Khi hai con ưng thuận đến đây và để Thiên Chúa chứng nhận và chúc phúc, hai con đã trở nên MỘT – một xương một thịt – trọn đời bên nhau. Thu Vân con phải là ánh sáng, là muối, là Tin Mừng cho Vinh và Vinh cũng vậy... Hai con phải thực sự yêu thương nhau và tha thứ cho nhau… thì hôn nhân mới bền chặt… Cha cầu chúc hai con trăm năm hạnh phúc.”

Sau ngày cưới, Thu Vân và Vinh vào miền Nam sinh sống. Thấm thoát con gái đầu lòng của Vân cũng đã 3 tuổi. Thu Vân tạm ổn công việc trong một trường mầm non của các sơ, còn Vinh nghề nghiệp tự do nên cũng bấp bênh. Cuộc sống nơi đất khách quê người phụ thuộc hoàn toàn vào đồng lương ít ỏi của người vợ. Dần đà tính khí gia trưởng cọc cằn của Vinh lộ rõ khi người chồng sống lệ thuộc vợ, mất hết uy thế của người đàn ông. Vinh viện cớ cấm cản vợ đi nhà thờ, đọc kinh liên gia…

Trước đây, khi Thu Vân nhờ Vinh chở đi viếng Đức mẹ Fatima Bình Triệu, anh lừng khừng, nhăn nhó rồi cũng chở đi rồi đứng bên ngoài chờ Vân khấn nguyện. Nhiều lần Vinh nói: “Có chân tự mà đi!  Bà ấy có cho tiền không mà bà cứ đi đến đó…” Thu Vân chỉ biết khóc trong lòng trước những câu nói vô tình đến bạc bẽo của chồng. Vân cầu nguyện với Chúa: “Con muốn làm ánh sáng, làm muối men của Chúa ngay trong chính gia đình con mà sao khó quá Chúa ơi!”. Vân lấy tay quệt vội giọt nước mắt khi nghĩ về câu nói của bố trước ngày cưới: “Cuộc đời con kể như sống chết với chồng con, hôn nhân này, gia đình này là của con…”.

Nhiều lần trong cơn say Vinh đấm đá vợ vô cớ, đập phá đồ đạc mỗi khi có chuyện bất bình trái ý. Vân chỉ biết cắn răng chịu đựng cho êm cửa yên nhà. Bố mẹ hỏi thăm gia đình cuộc sống vợ chồng nơi xa quê thế nào, Cô tỏ vẻ gia đình mình hạnh phúc cho ông bà yên tâm, nhưng trong lòng cô ngổn ngang những cảm xúc. Cô nuôi hi vọng mình phải là ánh sáng cho chồng vì hôn nhân này Thiên Chúa đã liên kết, con người không được phân ly.  

Đã lâu lắm rồi Thu Vân thèm một bữa cơm tối có đủ chồng con. Cũng từng ấy  ngày, Thu Vy, con của Vân, không nhìn thấy mặt bố. Con dậy đi học bố còn ngủ, con ngủ bố mới về. Khi Vinh về đến nhà là nồng nặc mùi rượu, Thu Vân lại trở thành kẻ hầu hạ cho Vinh khi anh nôn ói khắp nhà, có khi lên cả chăn màn, Vinh rên la văng tục chì chiết vợ con. Lúc này Vinh khác hẳn so với hình ảnh Vinh trước đây.

Đêm nay, Thu Vân cảm thấy rùng mình ớn lạnh cảm giác có chuyện chẳng lành. Đêm đã quá khuya, tiếng cho sủa inh xóm, Vân nghe tiếng xe máy đổ rầm trước khu nhà trọ, cô chạy ra thấy Vinh nằm sõng soài trên đất. Hàng xóm đỡ phụ Vân đưa Vinh vào nhà. Vinh nửa tỉnh nửa mê chửi rủa thóa mạ Vân vô cớ, rồi hất tung mâm cơm trên bàn Vân chuẩn bị cho chồng, Vinh như một tên hung thần lao xuống bếp cầm dao đòi chém Vân. Vân chỉ kịp túm lấy con gái lao đi trong màn đêm xám xịt.

Hai tuần sau, Thu Vân nghe tin chồng bị đột quỵ, cô liền đến bệnh viện chăm sóc chồng. Cô không nhận ra hình dáng của chồng: Vinh gầy gò, hốc hác, khuôn mặt đen sạm nhìn Vinh thật thảm hại. Vinh nằm bất động, nhưng miệng vẫn ú ớ nói được từng chữ. Gia đình ở xa nên mọi việc chăm sóc Vinh đều một tay Vân đảm nhận. Sức khỏe Vinh ngày một yếu đi vì thêm căn bệnh sơ gan cấp tính. Vinh có bịt tai bịt mắt anh vẫn cảm nhận tình vợ chồng Thu Vân dành cho mình, nhìn vợ hao gầy, xơ xác Vinh bọc bạch: “Anh xin lỗi đã làm cuộc đời em khổ. Anh không xứng đáng nhận tình thương này của em!”

Thu Vân mặt quay đi hướng khác với hai dòng lệ. Vinh cũng nước mắt lưng tròng. “Tại sao em tốt với anh vậy, anh đã hành hạ em đủ điều, mà sao em….?” Vân không cho Vinh nói nữa vì sợ anh mệt, Thu Vân trả lời: “Vì em phải mang Tin Mừng của Chúa cho anh, em phải là ánh sáng cho anh, anh còn nhớ cha xứ đã giảng trong lễ cưới của anh và em không?” Vinh gật đầu rưng rưng xúc động.

Vinh thỏ thẻ trong đau đớn: “Có lẽ anh không còn sống bao lâu, em có thể giúp anh một việc không?”

Thu Vân gật đầu như ngày Vinh cầu hôn mình, Vinh nói: “Anh có thể theo đạo của em được không?” Vân không thể tin những gì mình vừa nghe, Vân sung sướng ôm trầm lấy vai Vinh khóc thút thít như một đứa trẻ.

Vân xin một cha Dòng Thánh Thể đến giúp Vinh xét mình trước khi được rửa tội. Trong ngày Vinh rửa tội, bố mẹ và một số anh chị của Thu Vân cũng có mặt chúc mừng Vinh theo Chúa. Vinh mặc chiếc áo trắng nằm trên trước băng ca trong bệnh viện, nghi thức rửa tội diễn ra thật xúc động ngay nơi con người cận kề với các chết.  Bố Vân giúp Vinh làm dấu thánh giá, ông nở nụ cười mãn nguyện. Khóe mắt Vinh hai dòng lệ ứa tràn xúc động, khuôn mặt Vinh rạng ngời hạnh phúc, mắt anh hướng nhìn mọi người như muốn thổ lộ nhiều điều trong cõi lòng mình.

Sau một tuần rửa tội, Vinh được Chúa gọi về bình an trong vòng tay của Thu Vân và gia đình. Anh được gia đình Vân đưa xác về Bắc chôn cất cho gần tổ tiên dòng họ. Nhìn cảnh vợ goá con côi ai cũng thương cảm cho Thu Vân thân phận phụ nữ long đong vất vả.

Trời cuối Xuân, bầu trời còn trong vắt và mát dịu. Thu Vy nắm tay mẹ đứng bên mộ bố trên cánh đồng lúa vàng trĩu hạt, những con chim ri ríu rít chuyền cành xua tan bầu khí ảm đạm của đám tang hôm trước.

Thu Vân nhìn cây hoa gạo đỏ rực giữa cánh đồng lúa vàng, lòng cô cảm thấy bình an - thanh thản sau gia biến của gia đình. Cô chợt nhớ đến mùa hoa gạo năm nào Vân đã được Vinh ngỏ lời yêu, mắt cô rưng rưng hai dòng lệ khi nhớ về ngày ấy.

Thu Vân nắm tay con gái đặt lên mộ Vinh một nén nhang rồi chắp tay nguyện cầu, khói hương lan tỏa lên cao, rồi tản ra biến mất trong không gian mang theo cõi lòng người ở lại.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (19.12.2022):

-----------
[1] Xem: Giải Đáp Thắc Mắc Tập 1 – Lập gia đình theo luật Công giáo (hdgmvietnam.com)

---------------------------------

 

Bài 71: NHẪN NHỤC LÀM NÊN HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH


Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Hỏi: Khi học giáo lý hôn nhân, con hay nghe Giáo hội mời gọi các gia đình phải chịu đựng, nhường nhịn nhau. Đó là điều cần thiết, nhưng con thấy có khi người ta chịu đựng trong đau khổ. Chẳng hạn, vợ phải chịu đựng chồng hoặc ngược lại, điều đó có mất đi tự do của mỗi người? Vậy đâu là nguyên nhân để vợ chồng cần nhẫn nhục với nhau?

Trả lời:

Kiến tạo gia đình hạnh phúc luôn là mối bận tâm của mỗi người. Nhất là những đôi bạn chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân, họ phấn khởi cùng nhau dựng xây một gia đình mới. Nơi đó, làm sao để hạnh phúc luôn đong đầy như ngày hôn lễ? Điều ấy không dễ chút nào, nhất là trong một xã hội có quá nhiều thách đố cản trở đôi bạn.

Chỉ có tình yêu mới giúp cho đôi bạn được bền chặt trong hạnh phúc. Đó là chân lý, là sự thật, nhưng cũng thật mông lung với hai chữ: Tình yêu[1]. Để cụ thể, khi cùng các gia đình chiêm ngắm về tình yêu, Giáo hội mô tả một trong những đặc tính của tình yêu là nhẫn nhục.

Nếu tra từ điển, chúng ta dễ dàng bắt gặp những từ ngữ quen thuộc liên quan đến nhẫn nhục: Nhịn, nén lòng, chịu đựng, gắng nhịn, vững lòng chịu đựng. Đó là phản ứng của một người không để cho cảm xúc lấn át, nhưng để lý trí và tình yêu làm dịu cơn giận. Họ biết cơn bực tức đến, nhưng họ cũng biết cách hóa giải nó trong hòa bình. Vì đây là đức tính tốt, nên đòi hỏi người ta phải tập luyện mới có được. Xin đừng hiểu lầm nhẫn nhục chỉ cần trong hạnh phúc gia đình, nhưng nó là sức mạnh để xây dựng mọi mối tương quan trong xã hội, Giáo hội.

Cụ thể chúng ta thấy gia đình cần nhẫn nhục biết bao. Điều ấy có nghĩa là người vợ, người chồng và con cái cùng để cho sự nhẫn nhục làm chỗ dựa trong những lúc xung đột xảy ra. Bất hòa và to tiếng là không tránh khỏi trong đời sống gia đình, vợ chồng. Tuy nhiên, chỉ những ai biết nhường nhịn, chịu đựng và “chậm giận” mới là người thực sự có tình yêu cao cả. Qua những lần như thế, các thành viên hiểu nhau hơn.

“Sau cơn mưa, trời lại sáng”, khi các thành viên trong gia đình biết nhường nhịn nhau. Chẳng hạn, không ít lần vợ chồng không cùng quan điểm, người này làm trái ý người kia, người vợ gây lỗi lầm với người chồng, người chồng thiếu tôn trọng người vợ, v.v… nếu cả hai hung hãn được thua, thử hỏi, làm sao có được gia đình êm ấm? Ngược lại, chỉ khi người ta biết đối thoại sau cơn giận, họ mới thực sự có mẫu số chung là tình yêu để giải quyết vấn đề. Những gia đình hạnh phúc đều ít nhiều theo con đường này, tôi nghĩ thế.

Ngày xưa triết gia Socrate (470–399 TCN), người Hy Lạp, chẳng may có một người vợ khó tính cực kỳ. Bà giống như Sư Tử Hà Đông vậy[2]. Nhưng người đời ngả mũ khen cho tính nhẫn nhục, chịu đựng của ông trước những dở chứng của bà một cách kỳ diệu. Ví dụ một ngày nọ, ông đang luận bàn triết học với các môn sinh ngay trước cửa nhà, bà vợ bắt đầu dùng lời lẽ thô tục để rủa, sau đó là sả ông. Lạ thay, ông vẫn một mực điềm nhiên như không nghe biết gì. Bà vợ không cầm nổi cơn giận, đã múc một gáo nước tạt vào người ông. Nhà hiền triết cũng không để lộ một phản ứng. Mãi một lúc sau, ông mới bông đùa với đám môn sinh:

– “Sau cơn sấm sét thì lại có mưa giông!”

Câu chuyện trên, chúng ta có thể xét đoán bà vợ kia cũng hung tợn quá thể, ông triết gia kia chắc cũng yếu nhược quá, nhục như con cá nục. Kết quả là nhờ không nóng giận mà triết gia trên đây có thể giữ cho gia đình mình được hạnh phúc. Nhờ đó, ông để lại cho đời biết bao bài học về đạo đức gia đình và cung cách hành xử đúng mực của con người.

Tuy nhiên, trong gia đình cũng cần nhớ rằng: “nhẫn nhục không có nghĩa là cho phép mình thường xuyên bị xử tệ, hoặc dung túng cho những bạo hành trên thân xác, hay cho phép người khác đối xử với mình như một đồ vật.”[3] Tiếc là trong các gia đình Việt Nam không thiếu những chuyện đau lòng như thế. Bạo lực gia đình[4] đang là tiếng chuông báo động. Để giải thích cho hiện tượng này, những chuyên viên về gia đình chỉ ra rằng:

“Vấn đề xảy ra là khi chúng ta đòi các mối tương quan phải êm ả hay người ta phải hoàn hảo, hoặc khi chúng ta đặt mình ở trung tâm và mong đợi duy nhất một điều là mọi sự đi theo ý muốn của mình. Rồi thì mọi sự làm chúng ta mất kiên nhẫn, mọi sự làm chúng ta phản ứng cách hung hăng.”[5]

Như thế, liều thuốc để chữa tính tình hung hăng, nóng giận là đừng đặt mình ở vị trí trung tâm. Cái rốn của vũ trụ chưa bao giờ thuộc về chúng ta. Trong gia đình cũng thế, mỗi thành viên đều có vai trò và trách nhiệm khác nhau. Nơi đó là tập hợp những thành phần khác nhau, được liên kết trong tình yêu.

Chắc là chỉ có ai lấy gia đình là ưu tiên, muốn gìn giữ hạnh phúc, họ mới biết tôn trọng người vợ, người chồng và con cái. Khi đó, nhẫn nhục thực sự là phép mầu để người ta cùng ngồi xuống, nhìn nhận vấn đề đang xảy ra và cùng nhau tháo gỡ trong tình yêu thương. Ai cũng biết thế, nhưng làm được điều ấy không dễ chút nào. Thậm chí chúng ta thuộc lòng: “Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thóa mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác.” (Ep 4,31). Nhưng mấy ai làm được!

Đã đến lúc gia đình phải là số một. Mọi ưu tiên để gầy dựng một gia đình hạnh phúc là trách nhiệm của mỗi thành viên. Trách nhiệm trong tình yêu luôn là điều nhẹ nhàng và thú vị. Nhẹ nhàng để cư xử với nhau trong tôn trọng; thú vị để thấy sau những lần ấy, mối dây tình yêu liên kết giữa các thành viên thêm bền chặt hơn. Cứ để đức tính nhẫn nhục lớn lên trong con tim của mỗi người. Khi đó, gia đình hạnh phúc là điều hoàn toàn có thể kiến tạo trong một xã hội nhiều đổ vỡ này.

Lạy Chúa Giêsu, tính khí mỗi người trong gia đình có khi rất khác nhau. Tuy vậy, khi đôi bạn với tình yêu thúc đẩy, họ quyết định tự do nên nghĩa vợ chồng. Trong cuộc sống gia đình mới, ước gì vợ chồng cùng nhau làm cho đời sống thêm thi vị, mặn nồng và hạnh phúc. Xin giúp vợ chồng biết rằng: “Tình yêu luôn luôn bao hàm một ý thức thương cảm sâu xa dẫn tới việc chấp nhận người khác như một phần của thế giới này, ngay cả khi người ấy hành động khác với kỳ vọng của tôi.” Thay vì nhìn về mình, xin cho mỗi thành viên nhìn về Chúa, và sau đó nhìn về nhau trong tình yêu nhẫn nhục, chịu đựng và hạnh phúc chấp nhận những khác biệt rất cần thiết của nhau. Xin Chúa chúc lành cho gia đình của chúng con. Amen.

Tái bút: Khi trả lời câu hỏi của bạn, chúng tôi chợt nhớ đến cuốn sách rất hay về đời sống gia đình của Dale Carnegie: Tâm lý vợ chồng. Trong đó ông chỉ ra tâm lý của hai phái:

Quan niệm của người con trai về người nữ:

- Trước nhất là bài học thành thật.
- Đức tình thứ hai là thùy mị đoan trang.
- Đức tính thứ ba là hiền thục.
- Đức tính cuối cùng là biết nhường nhịn chồng.

Quan niệm của người con gái về người nam:

- Một người đàn ông lý tưởng, hoàn hảo.
- Đức tính thứ hai là biết thương vợ, thương con.
- Đức tính thứ ba phải có ở người đàn ông là lòng chung thủy.
- Đức tình thành thật.
- Đức tính cuối cùng là khôn ngoan và quân tử.

Hẳn nhiên đó là những đức tính tốt nhưng khó tập. Dẫu sao đó cũng là con đường vợ chồng hạnh phúc cùng nhau bước đi. Nếu khi nào đi chệch đường rầy là những giá trị hạnh phúc gia đình, cả hai có thể trở về để bước tiếp.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (26.12.2022)

----------------

[1] Một đôi vợ chồng mới cưới hỏi: “Chúng con sẽ làm gì để tình yêu của chúng con thêm bền bỉ luôn mãi?” Minh Sư đáp: “Các con hãy cùng nhau yêu thương những điều khác nữa.” (Anthony de Mello, S.J., Một Phút Minh Triết).

[2] Tới 50 tuổi mới cưới vợ: bà Xanthippe, nổi danh với hình ảnh một bà vợ hung dữ, khó tính. Không phải không có lỗi của ông: chẳng mang được đồng xu nào về nhà! Khác với những biện sĩ đương thời bán trí khôn kiếm tiền, ông dứt khoát dạy miễn phí. Không rõ bà hay cãi cọ có phải vì ông cương quyết không chịu… thương mại hoá giáo dục hay không, nhưng “chân lý” sáng giá được ông khám phá là: “Nên lấy vợ! Gặp vợ hiền, bạn được hạnh phúc; gặp vợ dữ, bạn thành… triết gia; đàng nào cũng có lợi!” (Xem thêm, Bùi Văn Nam Sơn, Trò Chuyện Triết Học, phần Socrates và nghệ thuật đối thoại.

[3] Tông Huấn Amoris Laetitia số 92

[4] Wikipedia giải thích đại khái là: Bạo hành gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là “hành vi cố ý của các thành viên gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại… với các thành viên khác trong gia đình” (Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình). Nói một cách dễ hiểu hơn, đó là việc “các thành viên gia đình vận dụng sức mạnh để giải quyết các vấn đề gia đình”. Gia đình là tế bào của xã hội, là hình thức thu nhỏ của xã hội nên bạo lực gia đình có thể coi như là hình thức thu nhỏ của bạo lực xã hội với rất nhiều dạng thức khác nhau.

[5] Như trên.

---------------------------------

 

Bài 72: SỐNG TRUNG THÀNH TRONG GIAO ƯỚC HÔN NHÂN


Giuse Lê Đắc Thắng, SJ

Hỏi: Thời đại nay nhiều vợ chồng dễ dàng bỏ nhau, ly thân hoặc ly dị. Lời hứa trước mặt Chúa thuở ban đầu đã không đủ mạnh để họ chung thủy với nhau. Xin hỏi chúng ta làm cách nào để vợ chồng có thể trung thành với nhau trước mặt Chúa?

Trả lời:

Bạn thân mến,

Nếu bạn là người đang chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân thì hẳn đây là mối bận tâm lớn nhất đối với bạn trong lúc này. Bạn cảm thấy hoang mang vì thấy nhiều người đi trước đã không có được một cuộc hôn nhân trọn vẹn như mơ ước, và rồi không biết đến lượt bạn sẽ như thế nào. Bạn không biết liệu mình có thể sống trung thành trọn đời với một người hay không; mà cho dù bạn giữ lời cam kết thì vẫn không dám chắc người kia có chung thủy với mình hay không. Dường như đầy những bất trắc đang chờ chực phá hoại cuộc sống hôn nhân tương lai của bạn.

Là một người Công giáo, bạn càng có lý do để lo sợ nhiều hơn, vì hôn nhân của bạn được đóng ấn bởi bí tích hôn phối, bất khả phân ly theo luật Giáo hội. Khi hai người tuyên xưng tình yêu của mình trước mặt Thiên Chúa và Giáo hội, họ cam kết sẽ sống trung thành với nhau cho đến trọn đời. Thế nhưng thực tế như bạn thấy, nhiều người Công giáo đã không thể chu toàn lời hứa của họ. Chắc chắn bạn không muốn mình phải lâm vào hoàn cảnh giống như họ, vì thế bạn luôn thao thức làm cách nào để lời thề hứa chung thủy trong hôn nhân được thực hiện trọn vẹn trước mặt Chúa. Tôi nghĩ rằng đó không chỉ là mối bận tâm của riêng bạn mà còn là của những người Công giáo nói chung. Tôi muốn được chia sẻ với bạn đôi điều về vấn đề này.

Trước hết, việc bạn đặt vấn đề về sự chung thủy chứng tỏ bạn rất nghiêm túc và có trách nhiệm với đời sống hôn nhân của mình. Đây là nền tảng cần thiết cho đời sống gia đình. Chỉ khi nào bạn thực sự quan tâm đến một giá trị nào đó thì bạn mới cố gắng tập trung vun đắp xây dựng nó. Trong hôn nhân cũng vậy, nếu bạn đề cao sự chung thủy thì chắc chắn bạn sẽ đặt “chế độ ưu tiên” và tìm mọi cách để bảo vệ nó trong bất cứ hoàn cảnh nào. Theo lẽ thường thì hầu hết mọi người đều hướng đến sự chung thủy trong đời sống hôn nhân. Tôi không nghĩ rằng có một người nào đó tiến tới hôn nhân lại giả định rằng nó sẽ sớm kết thúc hay để mặc tới đâu thì tới!

Tuy nhiên, ý muốn chung thủy chỉ trở thành hiện thực khi vợ chồng cùng vun đắp xây dựng chứ không thể tự nhiên mà có được. Sự chung thủy không phải là một phép mầu được ban một lần qua lời hứa trong ngày lễ hôn phối và có hiệu ứng trong suốt phần còn lại của đời sống vợ chồng. Trái lại, nó là hạt giống cần được tưới tắm, che chở, bảo vệ trước mưa gió và nắng nôi của cuộc đời để có thể dần dần lớn lên thành cây to cứng cáp và đơm hoa kết quả. Hứa một lần, sống cả đời! Khi bạn muốn một cuộc hôn nhân trọn vẹn, bạn cũng hãy sẵn sàng đóng góp công sức đầu tư xây dựng nó trong suốt cuộc đời bạn.

Hôn nhân phải bắt đầu từ khâu chuẩn bị và tiếp tục kéo dài trong suốt thời gian vợ chồng chung sống với nhau. Trong nghi thức hôn phối, trước khi hai người bạn đời nói lên lời ưng thuận với nhau trước mặt Chúa và Giáo hội, họ tuyên xưng rõ ràng rằng họ “tự do đến với nhau chứ không bị ép buộc.” Tự do không chỉ là không có bất cứ sự ép buộc nào từ bên ngoài mà còn là tự do với chính mình. Tự do với chính mình nghĩa là mỗi bên đã dành đủ thời gian tìm hiểu bên kia, ý thức rõ những điều kiện hai bên cần có để có sống hòa hợp với nhau. Một khi đã nói lên lời ưng thuận rồi thì mỗi bên phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với quyết định của mình.

Do đó, để được tự do đến với nhau, đôi bạn cần phải trải qua một thời gian tìm hiểu, cân nhắc kỹ càng về gia thế, công việc và tính cách của nhau. Thời gian tìm hiểu đòi hỏi sự chân thành từ cả hai phía, phát xuất từ thái độ cởi mở và tin tưởng lẫn nhau. Nếu một bên nào đó nghĩ rằng đây chỉ là thời gian để “lấy le” hay thậm chí là “lừa lọc” nhau bằng cách phô diễn những hành vi giả tạo, hoặc dùng tiền của, thậm chí là xác thịt, để lôi cuốn người kia thì sớm muộn gì cuộc hôn nhân đó nếu có cũng sẽ tan thành mây khói, bởi vì ngay từ đầu hai bên đã mất tự do khi đến với nhau.

Sự tự do gắn liền với trách nhiệm của mỗi người khi đưa ra quyết định của mình. Có những cặp vợ chồng sau khi về chung sống với nhau một thời gian thì quyết định chia tay với một lý do đơn giản là hai bên “không hợp nhau.” Có phải đến lúc đó họ mới nhận ra hai bên “không hợp nhau” hay không? Tôi không tin rằng tính cách một người nào đó có thể thay đổi hoàn toàn sau vài năm kết hôn. Nếu như nơi một người có điểm nào đó không thể chấp nhận được thì chắc chắn điều nó đã được biểu hiện manh nha trong thời gian tìm hiểu trước đó rồi. Vấn đề là trong khi tìm hiểu, dù hai người đã biết “thói hư tật xấu” của nhau nhưng vì tình yêu nên họ vui lòng đón nhận và sẵn sàng bổ túc cho nhau. Do đó, nếu một người lấy lý do là người kia thay đổi khiến họ không thể chấp nhận được thì sự thật đôi khi là người kia không hề thay đổi, chỉ có khả năng đón nhận hay tình yêu của họ dành cho người kia là thay đổi mà thôi.

Để tránh phải hối hận muộn màng, tôi khuyên bạn đừng chọn bạn đời theo kiểu “cố đấm ăn xôi,” ví dụ như dù không thích tính em lẳng lơ nhưng vì em đẹp, hoặc là không chịu nổi anh cộc tính nhưng vì nhà anh giàu. Bạn nên hiểu rằng đến một lúc nào đó “xôi” sẽ không còn ngon lành như trước, và lúc ấy bạn cũng không còn đủ sức hay không muốn chịu “đấm” nữa. Bởi vậy ngay từ đầu bạn hãy thành thật với chính mình và khôn ngoan sáng suốt khi chọn lựa bạn đời. Giữa những thang giá trị khác nhau thì bạn phải biết nên dành ưu tiên cho giá trị nào.

Bạn phải xác định trước tính cách nào có thể chấp nhận được, còn tính cách nào khiến hai bên không thể sống với nhau. Tìm hiểu là do bạn, quyết định là ở bạn, và đó là cuộc đời bạn chứ không phải của bất cứ người nào khác. Như thế, trong thời gian tìm hiểu, và đặc biệt là khi nói lên lời ưng thuận của mình, bạn phải chịu trách nhiệm với quyết định của mình trong việc đón nhận không những điểm tốt mà cả điểm chưa tốt của người kia, không chỉ trong ngày lễ hôn phối mà còn trong suốt cả đời bạn.

Vì thời gian tìm hiểu là cực kỳ quan trọng, giống như việc đổ nền móng để xây dựng tòa nhà hôn nhân sau này nên đòi hỏi cả hai bên phải đầu tư nghiêm túc. Nhiều nơi khuyến khích đôi bạn nên trải qua các kỳ kiểm tra tâm lý để chuẩn bị tốt cho việc chung sống với nhau về sau. Thậm chí có nơi còn bắt buộc các cặp vợ chồng tương lai phải xét nghiệm bệnh lý, tránh trường hợp có những căn bệnh lây lan.

Ông bà mình ngày xưa dù không tìm hiểu nhau một cách trực tiếp và không có kiểm tra tâm lý hay thể lý gì cả, nhưng thực ra gia đình hai bên đã dòm ngó và có thể nói là đã dò xét nhau rất kỹ, không chỉ về đương sự mà còn cả tông ti họ hàng bên kia nữa. Yếu tố làm nên hạnh phúc của những đôi bạn được “sắp đặt” như vậy không chỉ là sự chuẩn bị lâu dài từ hai bên gia đình mà quan trọng hơn, đó là hai người sẵn sàng đón nhận nhau trong yêu thương và cả trong đức tin nữa.

Đây là điều mà thế hệ trẻ ngày nay thua xa ông bà của họ và cũng chính là nguyên nhân chính khiến nhiều gia đình chia ly. Sống kiểu “vui ở, dở đi” thì hôn nhân chẳng mấy chốc sẽ đổ vỡ thôi. Thật vậy, chọn bạn đời không phải là đi tìm một nửa mảnh ghép của mình để tạo ra một “cặp đôi hoàn hảo” nhưng là tìm người sẵn sàng cùng mình chung tay xây dựng tổ ấm, đón nhận mọi khác biệt và đôi khi là cả những xung đột. Cứ theo lẽ thường thì không dễ để bất cứ hai con người nào có thể sống hòa hợp trọn vẹn với nhau suốt cả cuộc đời. Mỗi người một tính cách, để trung thành với nhau thì cần một sức chịu đựng nhất định từ cả hai phía. Nói cách khác là hai bên phải hy sinh cho nhau thì mới có thể cùng nhau vun đắp hạnh phúc bền lâu.

Bạn đời không phải là một người bạn nhảy phối hợp ăn ý theo điệu nhạc vui thích nhằm mang lại sự khoái cảm trong chốc lát. Trái lại, họ là người đồng hành với bạn trên suốt chặng đường dài phía trước. Nơi đó hai người không chỉ cùng nhau chiêm ngắm vẻ đẹp của ánh sáng bình minh nhưng còn dắt tay nhau bước đi trong đêm đen dày đặc. Hai người không chỉ lâng lâng bên nhau trước cảnh sương mù lãng mạn mà còn phải biết nâng đỡ nhau trong những lúc giông tố bão bùng. Theo ngôn từ được sử dụng trong nghi thức hôn phối, đôi bạn phải giữ lòng chung thủy với nhau trong mọi hoàn cảnh, “khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe.”

Do đó, khi đi đến quyết định sống đời hôn nhân với một người nào đó, từ phía bạn phải chuẩn bị cho mình đầy đủ hành trang tình yêu. Chỉ có tình yêu mới mang lại cho bạn sức mạnh và lòng quảng đại để chấp nhận và nâng đỡ người bạn đời của mình trong suốt chặng đường dài. Một khi cả hai cùng chuẩn bị tâm thế sẵn sàng đồng hành bên nhau đi đến hết đường đời thì sự hấp dẫn của những thứ hoa lá cỏ cây hay trời mây chim chóc hai bên đường chỉ làm cho cuộc hôn nhân thêm thi vị chứ không thể khiến hai người rời tay nhau trong từng nhịp bước.

Tiếp đến, muốn có được hạnh phúc bền lâu trong đời sống chung thủy vợ chồng thì đôi bạn cần nhận ra đâu là giá trị nền tảng giúp xây dựng và củng cố giao ước hôn nhân của mình. Cho dù hai bên có tìm hiểu kỹ càng như thế nào đi nữa thì khi hai mảnh đời ghép lại với nhau, xung đột vẫn phải xảy ra. Do đó, để giao ước hôn nhân mang lại ý nghĩa trọn vẹn, hai người cần phải tuyên xưng lời hứa “yêu thương và tôn trọng nhau” mọi ngày trong suốt cuộc đời mình. Lời hứa này không chỉ nằm trên môi miệng cô dâu chú rể trong ngày làm phép cưới mà còn phải được thực hiện trong những tình huống cụ thể của cuộc sống, nhất là những lúc gặp khó khăn.

Muốn yêu thương nhau thì trước hết phải tôn trọng người bạn đời của mình, tức là đón nhận sự khác biệt cũng như điểm mạnh, điểm yếu của nhau. Điều kiện tiên quyết của việc tôn trọng nhau đó là hai bên phải mở lòng ra với nhau, không giấu giếm hay lừa dối nhau bất cứ chuyện gì, đến mức “hai người trở thành một xương một thịt” mới được. Tâm hồn mỗi người là một thế giới riêng tư cần nhiều thời gian để khám phá tìm hiểu. Như thế, việc mở lòng ra với nhau để hiểu nhau hơn, cũng như thái độ tôn trọng và đón nhận nhau, không chỉ cần thiết trong bước đầu chuẩn bị hôn nhân mà còn phải là một tiến trình liên tục suốt cả đời chung sống với nhau.

Thật ra không dễ dàng để yêu thương đón nhận người khác, đặc biệt là trong đời sống vợ chồng. Theo lẽ thường thì chúng ta chỉ muốn yêu thương và đón nhận những gì đáng yêu đối với chúng ta, còn những gì không đáng yêu hay thậm chí là đáng ghét nữa thì chúng ta tìm cách tránh xa hay loại bỏ khỏi cuộc đời mình. Thế nhưng trong đời sống hôn nhân chúng ta không được phép hành xử như vậy. Một khi đã quyết định gắn bó với nhau trong bậc vợ chồng thì chúng ta cần phải đón nhận tất cả mọi điều đáng yêu lẫn không đáng yêu từ người bạn đời của mình.

Điều này đòi hỏi sự kiên nhẫn chịu đựng, biết tha thứ, nhường nhịn từ người vợ lẫn người chồng, và chung quy nhất là phải biết sống quảng đại hy sinh cho nhau. Trong nhiều trường hợp, hai vợ chồng không chỉ hy sinh cho nhau mà còn cùng nhau hy sinh cho con cái nữa. Tuy nhiên, sức hy sinh chịu đựng của con người không phải là không có giới hạn.

Do đó, sự hy sinh đòi hỏi phải đến từ cả hai phía. Hai người chung vai vác cùng một gánh nặng thì vẫn nhẹ nhàng hơn là để một người phải chịu đựng. Thật khó để một người có thể hy sinh nếu người kia không biết trân trọng sự hy sinh của họ. Tóm lại, đời sống hôn nhân không thể tự nhiên mà hòa hợp được. Nó cần được điều chỉnh, uốn nắn và đòi hỏi sự hy sinh của cả hai bên. Thế nên các cặp vợ chồng cần biết ơn nhau vì sự hy sinh dành cho nhau trong suốt cuộc đời hôn nhân.

Cuối cùng, để có thêm động lực và thắp lên hy vọng cho một cuộc hôn nhân hạnh phúc, bạn hãy nhìn vào mẫu gương của những cặp vợ chồng trung tín với nhau trọn đời mà bạn quen biết. Chúng ta dễ bi quan khi thấy nhiều gia đình tan vỡ nhưng thực ra chúng ta hoàn toàn có lý do để lạc quan tin tưởng rằng Chúa ban cho con người đủ sức giữ được lời cam kết chung thủy trong đời sống hôn nhân. Không cần tìm đâu xa, bạn hãy nhìn về bố mẹ, ông bà hay những người trong họ hàng của bạn để thấy được họ sống chung thủy với nhau như thế nào.

Chúng tôi đoán là bạn đã nghe biết hoặc tận mắt chứng kiến những lần rạn nứt trong mối quan hệ của họ. Thế nhưng, bạn cũng hiểu ra rằng nhờ kinh nghiệm đức tin mà họ đã vượt qua mọi sóng gió thử thách trong đời sống gia đình. Do đó, sự chung thủy trong đời sống vợ chồng không phải là vấn đề may rủi, kiểu như do hên mà gặp được anh chàng kia hiền lành hoặc cô nàng nọ đảm đang. Trái lại, động lực sâu xa giúp gắn kết mọi cặp vợ chồng Công giáo không chỉ là tình yêu đối với nhau mà còn là đức tin của cả hai người. Người Công giáo tin rằng hôn nhân là kế hoạch tác thành của Thiên Chúa. Tình yêu chung thủy Thiên Chúa dành cho Hội thánh của Người trở thành khuôn mẫu của sự chung thủy trong hôn nhân Công giáo.

Để kết thúc bài chia sẻ này, tôi xin nhắc lại một điều là trong hôn nhân Công giáo, không chỉ là hai người tìm đến với nhau mà còn là Chúa dẫn hai người đến với nhau. Do vậy câu “sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly” không nên được hiểu như một gánh nặng bó buộc vợ chồng. Đúng hơn, đó là một lời chúc phúc đến từ Thiên Chúa từ thuở tạo dựng con người. Theo nghĩa đó, hôn nhân Công giáo được Thiên Chúa chúc phúc nên không một thế lực loài người nào có thể phá hoại được. Nói cách khác, nếu bạn tin tưởng vào tình yêu thương quan phòng của Thiên Chúa trong cuộc hôn nhân của bạn thì bạn sẽ không phải lo sợ về sự phân ly, trừ khi chính bạn muốn sử dụng tự do của mình để khước từ sự tác thành của Thiên Chúa và lựa chọn con đường phân ly mà thôi.

Chúng ta biết rõ thân phận yếu đuối của con người, tự sức mình không thể vượt qua những thách đố của việc hy sinh chịu đựng nhau trong đời sống vợ chồng. Tuy nhiên, vì tin tưởng rằng hôn nhân Công giáo được Chúa chúc phúc nên chúng ta luôn cậy nhờ ơn Chúa giúp qua lời cầu nguyện và cả những nỗ lực hy sinh cộng tác của mình trong đời sống gia đình. Như vậy sự trung thành trong giao ước hôn nhân của người Công giáo minh chứng một điều rằng tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa chiến thắng mọi thế lực sự dữ gây chia rẽ vợ chồng ở trần gian này.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (03.01.2023)

---------------------------------

 

Bài 73: TÌNH YÊU THỰC SỰ LÀ GÌ?


Rômualđô M. Bùi Văn Nghĩa, CRM

Hỏi: Tình yêu thực sự là gì? Đôi khi con nghe nhiều thứ tình yêu quá, tình vợ chồng, tình yêu quê hương đất nước, tình yêu Thiên Chúa.

Trả lời:

Nhà thơ Xuân Diệu, một người được mệnh danh là ông hoàng thơ tình, đã định nghĩa tình yêu bằng một câu thơ nổi tiếng: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!”[1]. Đối với ông cũng như đối với biết bao người bao thế hệ, tình yêu là một thứ cảm xúc đặc biệt không thể nào lý giải nổi theo lý lẽ tự nhiên. Một nhà thơ tình khác là Hàn Mặc Tử, có lẽ với vốn liếng đức tin của một người Công giáo, đã quy hướng lời giải đáp về với siêu nhiên:

Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều
để nghe trong đáy nước hồ reo
để nghe tơ liễu run trong gió
và để nghe Trời giải nghĩa yêu.[2]

Vậy, theo hướng này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu xem Trời giải nghĩa yêu như thế nào nhé!

TÌNH YÊU THỰC SỰ LÀ GÌ?

Đối với người Công giáo chúng ta, câu trả lời đã có sẵn ngay trong Kinh Thánh, mạc khải từ trời cao, đã tỏ cho chúng ta biết: “THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU” (1Ga 4,16). Nói cách khác, tình yêu đích thực là chính Thiên Chúa. Tình yêu là trung tâm trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Ba Ngôi luôn hiệp nhất với nhau trong tình yêu. 

Tự bản tính, tình yêu có chiều hướng bung ra, thông đạt cho người khác. Thiên Chúa, vì là tình yêu, nên Ngài tạo dựng vạn vật để thông đạt tình yêu của Ngài. Đó là lý do Ngài dựng nên chúng ta. Thánh nữ Catarina Sienna đã nói lên niềm xác tín này trong lời cầu nguyện ngài dâng lên Ba Ngôi Thiên Chúa như sau: “Lạy Cha hằng hữu, vì sao Cha đã tạo dựng những thụ tạo của Cha? Ngọn lửa tình yêu đã thúc bách Cha, ôi tình yêu khôn tả… Cha đã soi sáng cho con chân lý của Cha, nghĩa là tình yêu đã thúc bách Cha tạo nên muôn loài”.[3]

Vì thế, chúng ta hiện hữu trên đời là vì được yêu, được Thiên Chúa yêu thương, chứ không phải do ngẫu nhiên hay do tình cờ mà có, không phải tất cả những gì chúng ta đương đầu chỉ là những thực tế trơ trọi, vô nghĩa. Chân lý này hẳn sẽ làm cho chúng ta cảm thấy cuộc sống này có ý nghĩa và tươi đẹp hơn.

Không chỉ được yêu, con người còn được Thiên Chúa ban cho khả năng biết yêu thương. Nghĩa là trong tình yêu vĩnh cửu tràn đầy của Thiên Chúa, loài người chúng ta được dự phần vào, được chia sẻ.[4]

CÁC HÌNH THỨC CỦA TÌNH YÊU

Có nguồn gốc từ Thiên Chúa, nhưng tình yêu của con người được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Tiếng Việt chúng ta không có nhiều từ để diễn tả sự khác nhau ấy, nhưng trong ngôn ngữ Hy Lạp, là ngôn ngữ mà các tác giả Kinh Thánh đã sử dụng, thì có nhiều từ khác nhau diễn tả tình yêu như: Eros, Storge, Philia và Agapé. Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu ý nghĩa của mỗi từ.

Eros (ἔρως) = Tình ái: là tình yêu nồng nàn, ham muốn nhục dục và khát khao. Đây là dạng tình yêu đã được Đấng Sáng tạo trù liệu để thu hút hai người khác phái kết hợp với nhau trong đời sống hôn nhân. Khi đôi vợ chồng tự hiến cho nhau, họ biểu lộ tình yêu và làm phát sinh sự sống. Tình yêu này tự bản chất là lương thiện. Tuy nhiên, đừng nhầm lẫn tình ái với tình dục thuần túy. Nếu con người chỉ tìm thỏa mãn thú vui tình dục mà không có tình yêu bền vững và trách nhiệm, là làm mất đi giá trị con người, và thoái hóa con người thành phương tiện chơi bời. Điều này làm thiệt hại cho cả xác lẫn hồn. Trong Kinh Thánh, từ eros được sử dụng hai lần trong Cựu Ước.

Storge (στοργή) = Tình ruột thịt: là tình cảm tự nhiên giữa những người cùng huyết thống, như tình yêu của cha mẹ dành cho con cái, tình yêu giữa anh chị em trong gia đình. Tình yêu này cao cả, nhưng vẫn là tình yêu giới hạn.

Philia (φιλία) = Tình bằng hữu: Trong cuộc sống chúng ta thấy có nhiều tình bạn đẹp đã trở thành giai thoại. Chẳng hạn như tình bạn giữa Lưu Bình với Dương Lễ, tình bạn giữa Bá Nha với Tử Kỳ. Ở trong Kinh Thánh chúng ta thấy có đôi bạn thân giữa Đavít là Gionathan, một tình yêu “diệu kỳ hơn cả tình nhi nữ.” (2Sm 1,26). Sau này trong Giáo hội cũng có nhiều tình bạn đẹp như đôi bạn thánh Basiliô Cả và Grêgôriô, được kính nhớ chung vào ngày 2/1. Trong Tin Mừng thứ tư, thánh Gioan đã sử dụng và đào sâu thêm từ Philia này để diễn tả mối quan hệ giữa Đức Giêsu với các môn đệ của Người.

Agapé (ἀγάπη) = Tình yêu hoàn hảo, vô điều kiện, hy sinh và thuần khiết: Từ Agapé rất ít dược dùng trong ngôn ngữ Hy Lạp nhưng được dùng nhiều trong các tác phẩm Kinh Thánh Tân Ước. Trong Tân Ước, Agape được dùng để chỉ tình yêu vô lượng vô song của Thiên Chúa đối với loài người, sau đó được dùng để chỉ tình bác ái giữa con người với nhau. Agapé diễn tả một tình yêu mà qua đó con người vượt thắng ích kỷ để chăm lo cho người khác. Người có tình yêu này thì không còn tìm cho chính bản thân mình mà chỉ hướng về người mình yêu, chỉ muốn điều tốt cho người mình yêu. Tình yêu này được diễn tả rất hay trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, chương 13. Bạn hãy tìm đọc nhé.

Người ta cũng thường phân chia tình yêu thành hai loại chính, đặt đối kháng với nhau giữa tình yêu “ham muốn” và tình yêu “ban tặng”, giữa tình yêu “chiếm đoạt” và tình yêu “cho đi”, giữa tình yêu “vị kỷ” và tình yêu “vị tha”, như đôi câu thơ của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh:

“Ta yêu người con trai không phải vì mình;
Mà họ yêu ta vì họ yêu chính họ”.[5]

Trong thực tế, các thứ tình yêu nêu trên thường không tách biệt nhau một cách rõ ràng. Chúng có thể hợp nhất với nhau trong một tình yêu duy nhất. Một người có thể khởi đầu yêu một người với tình yêu ham muốn, chiếm đoạt, nhưng rồi người ấy cũng nảy sinh ước muốn đem lại hạnh phúc cho người mình yêu nữa, muốn chăm sóc cho người yêu, tự hiến chính mình và cho người mình yêu. Đó là lúc tình yêu agape xen vào trong họ. Agape là tình yêu mẫu mực, chính vì thế, Kinh Thánh dạy: “Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh... Còn vợ thì hãy kính sợ chồng” (Ep 5,25.33). Trong thông điệp “Thiên Chúa là tình yêu”, Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI khẳng định: “Trên căn bản, tình yêu là một thực tại duy nhất, dù có nhiều chiều kích khác nhau”.[6]

THIÊN CHÚA YÊU CHÚNG TA NHƯ THẾ NÀO?

Nhân nói về tình yêu Thiên Chúa, chúng ta hãy dành thêm một chút thời gian để cùng nhau tìm hiểu. Dĩ nhiên chúng ta không thể nào đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu của tình yêu Thiên Chúa, là tình yêu thương vượt quá sự hiểu biết của chúng ta (x. Ep 3,18–19), nhưng ít ra chúng ta cũng có thể hiểu được phần nào, dựa trên mạc khải Kinh Thánh. Thiên Chúa là tình yêu. Đó là chân lý trung tâm của Kitô giáo. Qua mạc khải Kinh Thánh, tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được diễn tả như sau:

Tình yêu đó như tình yêu của người cha, người mẹ

Qua ngôn sứ Hôsê, Thiên Chúa nói với dân Israel, dân riêng của Ngài, qua dân tộc này, Ngài thực hiện việc cứu chuộc toàn thể nhân loại:

Khi Israel còn là đứa trẻ, Ta đã yêu nó,
Ta đã tập đi cho nó, đã đỡ cánh tay nó,
Ta lấy dây nhân nghĩa, lấy mối ân tình mà lôi kéo chúng.
Ta xử với chúng như người mang trẻ thơ nâng lên ấp vào má.
Ta cúi xuống gần nó mà đút cho nó ăn...
Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi. (Hs 11,1–8)

Qua ngôn sứ Giêrêmia, Thiên Chúa cũng nói những lời tương tự: “Mỗi lần nhắc tới nó, Ta lại thấy nhớ thương, nên lòng Ta bồi hồi thổn thức, Ta thương nó, thương nó thật nhiều” (Gr 31,20).

Qua ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa bày tỏ tình yêu của Ngài với những lời thật tha thiết:

Có phụ nữ nào mà quên được đứa con thơ của mình,
hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau?
Cho dù nó có quên đi nữa,
thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,15).

Nơi con người chúng ta, tình cha và tình mẹ thường được phân chia và bổ sung cho nhau. Tình yêu của người cha thì ngoài việc ân cần săn sóc còn có việc sửa dạy và nghiêm khắc để con nên người. Tình yêu của người mẹ thì dịu dàng, âu yếm, bao dung. Nơi Thiên Chúa, hai thái độ ấy kết hợp với nhau. Dụ ngôn người cha nhân hậu trong Luca (15,11–32) cho thấy Ngài là điểm tựa vững chắc như “núi đá” và “thành lũy” (x. Tv 18,2–3); đồng thời, nơi khuôn mặt người cha già ấy còn biểu lộ những nét dịu dàng, thứ tha và nhạy cảm của người mẹ.

Tình yêu đó như tình yêu phu phụ

Thiên Chúa yêu ta như người chồng yêu vợ mình, yêu si mê đến nỗi bất chấp cả sự phụ bạc nơi người vợ. Qua ngôn sứ Hôsê, tình yêu Thiên Chúa được diễn tả qua hình ảnh người chồng đi tìm chuộc người vợ phản bội đàng điếm trở về (x. Hs 3,1–3). Quả thế, khi Dân Chúa “ngoại tình”, “lăng loàn”, đi theo các tà thần và vi phạm giao ước, Thiên Chúa lẽ ra trừng phạt thì Ngài lại đi tìm kiếm, đưa họ trở về nẻo chính đường ngay.

Bởi thế, này Ta sẽ quyến rũ nó,
đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình. (Hs 2,16)

Ta sẽ lập với ngươi một hôn ước vĩnh cửu,
Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong công minh và chính trực,
trong ân tình và xót thương;
Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong tín thành,
và ngươi sẽ được biết Đức Chúa (Hs 2,21–22).

Tình yêu Thiên Chúa là tình yêu nhưng không

Dù sao, những lối diễn tả như trên không đủ để nói hết về tình yêu Thiên Chúa. Bởi lẽ tình yêu ấy vượt trên mọi tình yêu của con người. Trước mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa, tác giả Thánh Vịnh như đã ngạc nhiên tự hỏi:

“Con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến,
phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm?” (Tv 8,5).

Thiên Chúa yêu thương chúng ta, không phải vì Ngài thiếu thốn tình yêu, không phải Ngài cần gì nơi con người. Ngài yêu ta, không phải để làm cho mình được đầy đủ, nhưng chính là để làm cho ta được đầy đủ. Ngài yêu ta vì Ngài là Sự Thiện, và Sự Thiện thì muốn được toả rộng.

Tình yêu Thiên Chúa vô biên vô tận

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16). Nghĩa là Ngài đã ban cho chúng ta điều quý giá nhất của Ngài. “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?” (Rm 8,32).

Vì yêu, Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người, hy sinh mạng sống của mình trên thập giá để giải hoà con người với Thiên Chúa. Nơi thập giá, Đức Giêsu đã chứng tỏ rằng, tình yêu Thiên Chúa vượt lên trên tội ác của con người. Ngài đã cho thấy tình yêu đích thực là thế nào. Tình yêu ấy cao cả đến mức “hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Tình yêu ấy quảng đại đến mức tha thứ cho những kẻ đóng đinh mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23, 34).

Tình yêu Thiên Chúa vững bền trung tín:

Loài người vốn mang những yếu đuối nên dễ sai lầm và bất trung. Hàng ngày, khi nghe các bài hát về tình yêu, khi mở đọc những trang Facebook, chúng ta dễ dàng nhận ra nhan nhản những lời than trách về tình đời bạc bẽo. Thiên Chúa là Đấng thành tín và yêu thương tuyệt đối. Dẫu cho loài người có thất tín và đổi thay, thì tình yêu thương và lòng thành tín của Thiên Chúa vẫn không hề đổi thay bao giờ.

“Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay,
tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi” (Is, 54,10).

“Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở,
nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương.” (Gr 31,3)

Bạn thân mến!

Con người sống ở đời là được yêu và để yêu. Điều quan trọng nhất đối với cuộc đời mỗi người chúng ta là nhận biết “Tình yêu thực sự” – Tình yêu Thiên Chúa. Một khi đã tin vào tình yêu Thiên Chúa thì chúng ta phải đáp lại tình yêu của Ngài. Đó là điều chính đáng và phải đạo. Đồng thời chúng ta cũng hãy yêu thương mọi người. Đó là ý muốn của Thiên Chúa, được thể hiện qua mời gọi của thánh Gioan tông đồ:

Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau,
vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa.
Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế,
chúng ta cũng phải yêu thương nhau” (1Ga 4,7.11).

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (09.01.2023)

-----------------
[1] Trích trong bài Vì sao, tập Thơ thơ 1938
[2] Trích trong bài Đà Lạt trăng mờ.
[3] Trích lại theo http://www.simonhoadalat.com/hochoi/THANHOC/37ThienChuaLaTinhYeu.htm
[4] X. Youcat, số 402.
[5] Trích trong bài Thơ viết cho mình và những người con gái khác.
[6] Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp “Thiên Chúa Là Tình Yêu” (Deus Caritas est), số 8.

---------------------------------

 

Bài 74: VẤN ĐỀ ĐỘC THÂN CỦA LINH MỤC


Lm. Phêrô Lê Hoàng Nam, SJ

Hỏi: Con thấy nếu linh mục có vợ, có gia đình cũng tốt. Là con người, họ cũng cần được mái ấm gia đình. Tại sao Giáo hội Công giáo luôn gay gắt bảo vệ luật độc thân linh mục?

Trả lời:

Chào bạn,

Cùng với vấn đề phong chức linh mục cho nữ giới, đây cũng là một chủ đề lâu nay vẫn tạo ra những cuộc tranh cãi sôi nổi. Có nhiều người trình bày quan điểm giống như bạn: linh mục cũng là con người, họ cũng có những nhu cầu căn bản của một con người, một trong số đó là có gia đình riêng, vậy tại sao Giáo hội Công giáo không cho phép các linh mục của mình lập gia đình? Bên Giáo hội Đông Phương, người ta được phép lập gia đình trước khi thụ phong linh mục. “Được phép” có nghĩa là họ có quyền chọn lập gia đình hay không. Khi đã chịu chức linh mục rồi thì không được phép nữa. Chỉ những linh mục nào chọn không lập gia đình thì mới có thể được chọn để trở thành giáo chủ (giám mục).[1] Nhiều người Công giáo đã dựa vào điều này để cho rằng bên Công giáo quá khắt khe. Tuy vậy, không có một quy định nào mà không có lý do của nó, mà nếu hiểu rõ được, chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận hơn.

Lịch sử của luật độc thân linh mục

Trong Cựu Ước, việc sống tiết dục là điều vô cùng khó hiểu, nếu không muốn nói là một trừng phạt của Thiên Chúa. Người nào không có con thì bị cho là do Thiên Chúa quyền rủa. Sự phong nhiêu, sinh con đẻ cái là một phúc lành lớn lao. Ta được biết đến câu chuyện của những người phụ nữ hiếm muộn đã bị người đời chê bai, nhưng được Thiên Chúa đoái thương ban cho mụn con dù tuổi đời đã lớn, như vợ của ông Manoac, mẹ của Samson (x.Thp 13,1 – 14,20), hay bà Anna, mẹ của tiên tri Samuel (x.1Sam 1), hay gần hơn là bà Elisabet, mẹ của Gioan Tẩy Giả. Tiên tri Giêrêmia là người bị Thiên Chúa bắt phải sống độc thân. Thiên Chúa không cho ông kết hôn, sinh con đẻ cái như một hình ảnh để ám chỉ sự khô cằn của dân Do Thái, do dân này đã bất tuân mệnh lệnh của Thiên Chúa. Sự độc thân trở nên một hình phạt, chứ không phải là điều đáng ao ước.

Đức Giêsu cũng không nói nhiều đến sự độc thân và khiết tịnh. Chỉ có một số ít trường hợp, Ngài nói một cách qua loa sơ sài để dạy các môn đệ một số vấn đề liên quan đến luân lý và mầu nhiệm Nước Trời. Chẳng hạn, nơi Mt 22,30–31, Đức Giêsu mặc khải rằng: “Trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các Thiên Thần trên trời.” Nơi khác, Ngài nói: “Quả vậy, có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ, họ đã không có khả năng; có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn; lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu!” (Mt 19,12). Trong số các Tông Đồ của Chúa Giêsu, cũng có các vị đã lập gia đình, có vợ (như Phêrô chẳng hạn – x.Mc 1,29–31 – Đức Giêsu chữa bệnh cho nhạc mẫu ông Phêrô). Lc 18,29 còn đề cập đến chuyện “bỏ nhà, bỏ vợ, bỏ anh em, cha mẹ hay con cái vì Nước Thiên Chúa”. Thánh Phaolô cũng có nhắc đến sự độc thân theo gương ngài để lo việc rao giảng Tin Mừng (x. 1Cor 7,8.25–40). Cũng chính Phaolô trong thư gửi cho Timôthê, đã đưa ra những tiêu chuẩn cần thiết để chọn giám quản (giám mục), trong đó, ngài nói đến “chỉ có một đời vợ, tiết độ, chừng mực…” (x.1Tm 3,2–8).

Thế nhưng, sau đó, ngay từ khi đời tu vừa chớm nở, các ẩn sĩ đã xem việc sống độc thân là một trong những điều kiện hàng đầu để lo chuyên tâm chiêm niệm Thiên Chúa. Họ sống một mình trong sa mạc, ngoài chuyện từ bỏ mọi của cải, ăn uống đạm bạc, hoà mình với thiên nhiên, họ còn kiêng khem cả chuyện tính dục. Bởi thế, mới có những phong trào thánh hiến trinh nữ và các goá bụa vào khoảng thế kỷ thứ 2 hoặc 3. Những ai muốn dâng hiến mình cho Chúa đều tự thấy phải tách mình ra khỏi những tương quan gắn bó trần thế khác (đặc biệt là những tương quan có dính líu đến tính dục và trách nhiệm) để chỉ chuyên chăm cho việc phụng sự một mình Ngài.

Ban đầu, các giám mục và linh mục vẫn có gia đình riêng. Chúng ta thấy “dấu vết” của quy định tiết dục dành cho các giám mục xuất hiện trong tác phẩm Didascalia Apostolorum (thế kỷ III), thậm chí đòi buộc họ phải hứa trước khi được phong chức.[2] Đến khoảng năm 300–303, công đồng Elvira (gần Granada–Tây Ban Nha ngày nay), lặp lại đòi buộc này. Lưu ý là công đồng đòi “tiết dục” chứ không phải “không được lập gia đình”. Điều 3 của công đồng Nicea (325) quy định rằng “cấm tất cả giám mục, linh mục, phó tế hay bất cứ tu sĩ (nam) ở với một phụ nữ (ngoài trừ người thân như mẹ, chị, cô dì và những người nào không gây ra nghi ngờ tương quan mờ ám). Thư của Đức Siricus ở Rôma (385) và công đồng Carthage (390) cũng nhắc lại luật này, buộc các giám mục, linh mục, phó tế đang có gia đình phải tiết dục.

Đến thế kỷ V, Giáo hội Công giáo đòi những ứng viên linh mục, giám mục phải hứa sống độc thân. Công đồng Orange (441) và Arles (524) chấp thuận đòi hỏi này. Công đồng Metz và Mainz (thế kỷ IX) chính thức cấm linh mục và giám mục lập gia đình. Cuối thế kỷ XI, Đức Gregorio, trong quá trình cải tổ giáo luật, đã buộc mọi linh mục và giám mục sống độc thân. Công đồng Laterano I (năm 1123), điều 21, nhắc lại quy định này. Công đồng Laterano II (1139), điều 6 và 7 quy định rằng những linh mục, phó tế hay phụ phó tế nào vi phạm luật độc thân sẽ bị loại trừ khỏi chức vụ và cấm giáo dân dự lễ những linh mục phạm luật này. Công đồng Trento (1542–1563), trong phiên họp thứ 24, điều 9, đã quy định rằng hôn phối được giao kết của người có chức thánh hay người có lời khấn trọng giữ mình khiết tịnh thì vô hiệu.

Giáo Lý Hội Thánh Công giáo số 1579 nói rằng:

“Trong Giáo hội La–tinh, trừ các phó tế vĩnh viễn, mọi thừa tác viên có chức thánh thường được tuyển chọn từ những người nam sống độc thân và có ý giữ độc thân “vì Nước Trời” (Mt 19,12). Ðược mời gọi tận hiến cho Chúa để “lo việc của Người” (x. 1Cor 7, 32), các ngài hiến thân trọn vẹn cho Thiên Chúa và con người. Ðời sống độc thân là dấu chỉ của sự sống mới mà các thừa tác viên của Hội Thánh được thánh hiến để phục vụ. Nếu hân hoan đón nhận đời sống độc thân này, các ngài sẽ loan báo Nước Trời hữu hiệu hơn (x. PO 16).

Giáo Luật 1983 điều 1037:

“Người sắp được tiến chức phó tế vĩnh viễn mà không kết hôn, cũng như người sắp được tiến chức Linh Mục, không được chấp nhận để chịu chức phó tế nếu họ đã không công khai đảm nhận nghĩa vụ sống độc thân trước Thiên Chúa và Giáo hội, theo nghi thức đã được quy định, hoặc nếu họ đã không tuyên khấn vĩnh viễn trong một hội dòng.”

Giáo Luật Điều 1041 quy định rằng:

“Người đã mưu toan kết hôn, dầu chỉ là hôn nhân theo luật dân sự, trong khi còn mắc ngăn trở không kết hôn được do dây hôn nhân, hoặc do chức thánh, hoặc do lời khấn công vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh, hoặc vì đương sự đã kết hôn với một người nữ đã kết hôn thành sự hay đang bị ràng buộc bởi cùng lời khấn giữ đức khiết tịnh ấy”, thì bất hợp luật để chịu chức.

Chúng ta vừa lược qua đôi nét lịch sử về những quy định liên quan đến luật độc thân linh mục. Hẳn là bạn đang thắc mắc: tại sao lại phải quy định như thế? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu lý do.

Vì sao có luật độc thân linh mục?

Có hai điều chúng ta cần lưu ý trước khi bắt đầu vào vấn đề chính. Điều thứ nhất, cần có sự phân biệt giữa các linh mục triều (linh mục giáo phận) và các linh mục dòng (linh mục thuộc về một hội dòng nào đó, bị ràng buộc bởi các lời khấn). Một linh mục dòng, vì đã tự nguyện khấn lời khấn khiết tịnh, nên không thể kết ước hôn phối được. Hay nói cách khác, người đó sống độc thân, ngoài việc phải tuân theo quy định của Giáo hội, còn do bởi chọn lựa không kết hôn với người khác của chính mình. Giả như một ngày nào đó, Giáo hội cho phép các linh mục được lập gia đình, thì các linh mục dòng cũng không thể vì họ bị lời khấn khiết tịnh mà họ tự nguyện chọn khấn trói buộc.

Điều thứ hai, chúng ta thấy rằng quy định độc thân linh mục trong Giáo hội Công giáo mang tính kỷ luật hơn là thần học. Có nghĩa là ân sủng của bí tích truyền chức thánh và bí tích hôn phối không đối nghịch và loại trừ nhau. Giả như có ai đó được lãnh nhận cách thành sự hai bí tích này thì ân sủng của Thiên Chúa vẫn ban đầy đủ cho người ấy[3]. Vì thế, những lý do để có quy định độc thân sẽ đến từ lý do mục vụ. Nó là luật do Giáo hội quy định nhằm giúp ích cho việc phục vụ của các linh mục và cho đời sống chung của Giáo hội chứ không phải là một điều gì đó xấu xa, đối nghịch với Thiên Chúa. Vậy, linh mục sống độc thân thì có lợi ích gì?

Chúng tôi tin là chính bạn cũng có thể tìm ra vài lợi ích. Trong số đó, chắc chắn là có việc giúp các linh mục thoát khỏi những mối bận tâm mà họ sẽ phải có nếu kết hôn, như trách nhiệm với vợ con. Không có gia đình riêng, họ sẽ toàn tâm toàn ý cho việc chăm sóc mục vụ. Họ không phải vừa lo cho xứ đạo, vừa phải dàn xếp những việc riêng ở nhà. Việc thuyên chuyển các linh mục cũng sẽ trở nên dễ dàng hơn. Các tín hữu cũng sẽ thoải mái hơn khi tìm đến với họ và chính họ cũng tự do hơn để lắng nghe, chia sẻ, nâng đỡ họ. Người ta sẽ không sợ những tâm tư hay thậm chí là tội của mình sẽ bị vị linh mục “vô tình” tiết lộ cho vợ. Việc điều hành giáo xứ cũng sẽ công tâm hơn, ít là không bị “hậu cung” can thiệp vào. Việc linh mục độc thân cũng giúp Giáo hội tránh khỏi những điều tiếng như phản bội, bất hoà, ly dị… (vì nếu linh mục có gia đình, khó có thể chắc rằng những chuyện này không xảy ra trong gia đình riêng của họ).

Ngoài ra, Giáo hội cũng cảm thấy không đủ khả năng để chu cấp cho các giáo sĩ có gia đình. Nếu linh mục có gia đình, linh mục cần nhiều tiền hơn để trang trải cho cuộc sống mà nơi đó họ là trụ cột. Họ sẽ phải dính dáng nhiều đến vấn đề tài chính, mà đây lại là nguồn cơn của nhiều vấn đề khác…

Đến đây có thể bạn sẽ chất vấn chúng tôi bằng những câu hỏi kiểu như: các linh mục ở Giáo hội Đông Phương có vợ con, đời sống của họ, thậm chí là Giáo hội ấy vẫn phát triển tốt đẹp đấy thôi; hơn nữa, việc linh mục sống độc thân cũng gây ra nhiều vấn nạn như họ sẽ cảm thấy cô đơn, họ sẽ có vấn đề về tâm lý, những dồn nén về tính dục có thể dẫn họ đến những sai phạm tính dục mà dạo gần đây Giáo hội đang phải đối mặt… Biết đâu, việc cho phép các linh mục được lấy vợ có thể giải quyết được những vấn đề này, mà cũng không làm mất đi những lợi ích (hoặc không làm tổn hại nhiều) đã được nói ở trên?

Trả lời cho những câu hỏi này của bạn, chúng ta buộc phải tìm hiểu ý nghĩa thiêng liêng của việc độc thân của các linh mục. Sự độc thân của các linh mục không giống như kiểu độc thân của những người bị “ế” hoặc không thích lập gia đình, nhưng là “độc thân vì Nước Trời”. Đó là kiểu độc thân giúp cho vị linh mục dâng hiến cho Thiên Chúa khả năng yêu thương của riêng mình để có thể đạt tới sự thánh hoá bản thân và mưu ích cho tha nhân cách hữu hiệu hơn, dễ dàng hơn. Họ dâng lên Chúa một trái tim không hề bị sẻ chia, để mong sao được thuộc về Chúa cách trọn vẹn hơn. Họ dâng hiến hết tất cả tâm tình, phái tính, dục tính và mọi bản năng chiếm đoạt cũng như thống trị cho Chúa Thánh Thần để được thanh luyện và thánh hoá. Con người họ sẽ được sử dụng cho tình yêu, bắt xác thịt phụ thuộc tinh thần, chứ không có sự phân tách, sẻ chia.

Chọn độc thân vì Nước Trời không phải là chọn một tình yêu đối nghịch với tình yêu nhân loại, càng không phải là khinh miệt hôn nhân, không phải biến mình trở nên khác người, nhưng là mở ra với một tương quan mới, có dính dáng đến giới tính, nhưng không qua chuyện tính dục. Các linh mục chọn yêu Chúa như đối tượng độc nhất và nguồn mạch, để rồi từ đó, họ được mời gọi yêu mọi con người bằng một tình yêu phổ quát, cho đi, không thu vén. Họ chọn không thuộc về ai để có thể thuộc về tất cả. Như thế, họ chẳng những không mất khả năng trao hiến mà còn trao hiến cách phổ quát và rộng rãi hơn. Giáo luật 599 còn nói đến sự khiết tịnh trong đời tu như một dấu chỉ cho Thiên Đàng, cho một thế giới mới sẽ đến và là nguồn sinh lực phong phú trong một con tim không chia sẻ.

Qua đời sống độc thân vì Nước Trời, các linh mục trở thành chứng nhân cho tình yêu Thiên Chúa mà họ cảm nghiệm được. Người ta cho rằng sống độc thân là kỳ cục, ấy là vì họ không hiểu được nét huyền diệu của sự quyến rũ nơi tình yêu Thiên Chúa. Sự độc thân của linh mục chứng minh cho thế giới thấy Thiên Chúa và tình yêu của Ngài hoàn toàn có thực. Họ làm chứng cho sự hiện diện của ơn Chúa trong thế gian này vì nếu không có ơn Chúa, không ai có thể sống độc thân được.

Qua đời sống độc thân vì Nước Trời, các tu sĩ làm chứng cho một tình yêu không cần đến thoả mãn nhục dục, nhờ đó, họ có thể tạo nên một sức cảm hoá lớn. Họ cũng làm chứng cho sự phục sinh, sự sống mới nơi mà người ta không còn dựng vợ gả chồng nhưng sống như các Thiên Thần (x.Mt 22,30–31). Sự độc thân giúp người tu sĩ thêm ứng trực và năng động hơn trong mọi nơi mọi lúc. Sự phục vụ thêm cảm hoá vì không giới hạn đối tượng và không gian. Không bị tương quan nào kiềm kẹp, người tu sĩ có thể đến với mọi hạng người, có thể tiếp xúc với bất kỳ người nào và hình thành những tương quan tình yêu phổ quát. Không bị mối bận tâm nào giữ, không phải lo kiếm kế sinh nhai cho gia đình riêng, người tu sĩ không có bận tâm nào khác ngoài mối bận tâm lo mở mang Nước Chúa. Tắt một lời, các linh mục chọn sống độc thân vì họ muốn nên giống như Giêsu, vị linh mục thượng phẩm đã sống độc thân vì Nước Trời.

Để minh chứng cho những gì vừa nói, chúng tôi xin trích dẫn tại đây đôi dòng của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong Tông Huấn Pastores Dabo Vobis về sự độc thân của linh mục:

“Trong sự trong trắng và độc thân, con người đợi chờ cuộc hôn nhân cánh chung của Đức Kitô và Giáo hội, nhằm dâng hiến trọn vẹn bản thân mình cho Giáo hội trong sự thật tròn đầy của cuộc sống vĩnh cửu… Dưới ánh sáng này, chúng ta có thể chấp nhận lý do mà Giáo hội Công giáo Tây Phương đã chọn và duy trì từ những thế kỷ trước về phẩm trật của hàng giáo sĩ nhằm chỉ những người nam được xác nhận là được Chúa mời gọi với ân ban sống khiết tịnh hoàn toàn và độc thân vĩnh viễn, mặc cho mọi khó khăn và phản đối nổi lên từ nhiều thế kỷ… Việc linh mục hiểu biết động cơ thần học của giáo luật về độc thân có một tầm quan trọng đặc biệt. Vì là luật, nó thể hiện ý muốn của Giáo hội, ý muốn đó được tìm thấy trong sự liên đới giữa sự độc thân và việc phong chức thánh. Qua chức thánh, linh mục đóng vai trò Chúa Giêsu với tư cách là đầu và hôn phu của Giáo hội.” (số 29).

Không ai ép các linh mục phải sống độc thân. Là chính họ đã chọn sống như thế khi được hỏi lúc truyền chức. Vì thế, đây là một chọn lựa của họ. Nếu họ không muốn, họ có thể từ chối và chọn cho mình con đường khác phù hợp hơn. Nhưng những ai chọn sống độc thân vì Nước Trời thì tin vào tình yêu Thiên Chúa và mầu nhiệm Nước Trời, vốn là nền tảng và cũng là động lực giúp họ chọn và sống đời độc thân vì Nước Trời một cách hiệu quả nhất!

Hy vọng vài giải thích ở trên có thể giúp bạn hiểu được lý do cho sự độc thân của các linh mục. Xin bạn cũng đừng quên cầu nguyện cho họ.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (16.01.2023)

Đọc thêm:

--------------
[1] Xem thêm ở Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (GLHTCG), số 1580.
[2] Họ phải hứa là “có” trước câu hỏi “liệu có sống khiết tịnh, và liệu vợ họ có là một người có đức tin và hứa sống khiết tịnh, và liệu người đó có chăm lo cho con cái trở nên những người con kính sợ Thiên Chúa không”. (Didascalia Apostolorum, chương IV, ii, 2)
[3] Như các linh mục thuộc Giáo hội Công giáo Đông Phương, hay vài trường hợp người đã có vợ, vợ qua đời, thì đi tu và được thụ phong linh mục (chẳng hạn thánh Phanxico Borgia, SJ (1510-1572)).

---------------------------------

 

Bài 75: CÁCH GIÁO HỘI ĐỒNG HÀNH VỚI CON NGƯỜI


Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Hỏi: Giáo hội có phản ứng chậm hơn Xã hội về đời sống luân lý?

Trả lời:

Trong Giáo hội thường có hai chiều hướng: bảo thủ và cấp tiến. Những người theo trường phái bảo thủ luôn bảo vệ những giá trị, chuẩn mực đạo đức có từ thời xa xưa. Họ ngại thay đổi và không muốn đương đầu với những xáo trộn. Ngược lại, những người cấp tiến lại muốn đổi mới. Họ có những đường hướng để canh tân Giáo hội. Có những phong trào muốn Giáo hội thích nghi thật nhanh với những đòi hỏi của thời đại. Dĩ nhiên cả hai chiều hướng ấy luôn cần thiết cho Giáo hội. Cả hai vừa bổ sung cho nhau, vừa lắng nghe nhau để đưa ra đường lối đồng hành tốt nhất cho con người trong thời đại cụ thể.

Thử lấy một ví dụ liên quan đến câu hỏi của bạn: hôn nhân đồng tính. Giáo hội một mặt lắng nghe và đồng hành với những người đồng tính. Sau đó, Giáo hội đưa ra những chỉ dẫn giúp đời sống của họ được thăng tiến. Bên cạnh cách tiếp cận ấy lại có người không đồng ý. Có những vị chủ chăn muốn giữ vững định chế hôn nhân thật nguyên tuyền, mà không cần thích ứng. Giữa hai ý kiến có vẻ trái ngược ấy, Giáo hội cần đưa ra giải pháp. Có những giải pháp kịp thời. Cũng có những hướng dẫn chậm chễ, như bạn ý kiến, và cũng có những đường hướng đi trước.

Bạn thân mến,

Khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô, người điều hành Giáo hội, viết cho các linh mục (là người đại diện cho Giáo hội), chúng ta bắt gặp một hình ảnh tuyệt vời của người mục tử. Ngài nhắn rằng: “Một mục tử có trái tim của người được khuyến khích là một mục tử luôn luôn di chuyển. Trong sự tiên phong của chúng ta. Đôi khi chúng ta đi trước, thỉnh thoảng đi giữa, đôi khi đi sau. Đi trước để hướng dẫn cộng đoàn; đi giữa để khích lệ và nâng đỡ; và đi sau để giữ gìn sự hiệp nhất, để không ai lạc mất ở đàng sau.”[1]

Ba chiều kích ấy chúng ta thử áp dụng vào câu hỏi của bạn!

1. Giáo hội đi trước để hướng dẫn

Điều chắc chắn là Giáo hội mong muốn dẫn dắt đoàn chiên đi đúng hướng. Nơi đó, Giáo hội một mặt đọc được dấu chỉ của thời đại, để đưa ra những dự phóng cho tương lai. Mặt khác, Giáo hội lắng nghe từ nhiều phía để có thể đúc kết được những định hướng có tính phổ quát nhất cho Giáo hội hoàn vũ.

Chẳng hạn các kỳ Thượng Hội đồng Giám mục là nơi Giáo hội bàn bạc để đưa ra những văn kiện cụ thể. Dựa vào đó, các Giáo hội địa phương có thể áp dụng. Dĩ nhiên trước đó, các ngài đã có những cuộc bàn luận từ cấp giáo phận. Nơi đó, ý kiến của chúng ta được lắng nghe. Qua mỗi vòng bàn luận, Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng cho các giám mục biết đâu là điều cần làm, chưa cần và không nên làm. Có thể nhiều người phê bình Giáo hội chậm chạp khi đọc những văn kiện này. Dẫu sao, đó là điều thường tình mà mọi tổ chức đều gặp phải.

Mấy năm nay chúng ta nghe nhiều về việc Giáo hội đang đồng hành với người trẻ. Giáo hội Việt Nam cũng dành ba năm nay để đi cùng với người trẻ trên mọi lãnh vực. Đó là thành quả của Thượng Hội Đồng về người trẻ được nhóm họp tại Rôma (10–2018). Giáo hội thực sự muốn đi trước để mở đường cho các giáo phận bước theo. Cùng một nhịp đập của chương trình mục vụ, cùng một tinh thần Tin Mừng, Giáo hội ước mong mỗi chúng ta thêm gần, yêu và theo Chúa hơn.

Một ví dụ thời sự khác về đại dịch Covid–19. Trong khi cả thế giới đang gồng mình chống dịch, chính Giáo hội đã có những chương trình hành động. Một mặt, Giáo hội đưa ra những giải pháp kịp thời để phòng chống dịch. Mặt khác, Giáo hội thành lập các ủy ban, có những dự án để tái thiết sau đại dịch. Đó là chương trình dài hơi để chữa lành cả đời sống vật chất, tinh thần lẫn tâm linh. Hẳn nhiên nơi đó toàn những nhà chuyên môn để đưa ra được phương hướng hiệu quả nhất nhằm chống lại hậu quả virus đang và sẽ gây ra.

Chúng ta biết ơn Thiên Chúa vì Giáo hội không đứng một chỗ. Nói như Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Giáo hội muốn đi ra, đến những biên cương để đồng hành với con người. Nơi đó có những dự án, những cuộc đối thoại và chương trình mục vụ. Là giáo dân, chúng ta thật khó để thấy được các ngài phải họp bàn vất vả. Trải qua nhiều thời gian, Giáo hội mới có thể tìm được những hướng đi khôn ngoan để giúp chúng ta tự tin tiến bước.

Là người con của Giáo hội, chúng ta tin tưởng Mẹ Giáo hội luôn tiên phong trên mọi lãnh vực. Người Mẹ ấy muốn thôi thúc con người hy vọng vào tương lai. Khi đi trước, Giáo hội mời gọi chúng ta bước đi trong tin tưởng. Chúng ta không cô đơn. Ngược lại, Giáo hội luôn có Thiên Chúa là người đi bước trước. Ngài có cách để hướng dẫn con thuyền Giáo hội vượt qua những bão táp phong ba.

2. Đi giữa để khích lệ và nâng đỡ

Tuy đi trước, nhưng chúng ta thấy Giáo hội cũng đi giữa lòng tín hữu. Có những vấn đề không thể giải quyết một sớm một chiều. Chẳng hạn: Có nên phong chức linh mục cho phụ nữ? Có chấp nhận hôn nhân đồng tính? Phong trào đại kết, đối thoại liên tôn? Vấn đề di dân, buôn người? Vấn đề phò sinh? Vấn đề đồng tính hoặc những vấn đề luân lý như bạn đề cập? Vấn đề môi sinh? Vấn đề tính dục, tình dục, tình yêu, hôn nhân, ngừa thai, phá thai, ly dị rồi tái kết hôn, v.v... Thực sự Giáo hội muốn ở giữa những khó khăn của mỗi người. “Sự gần gũi tạo điều kiện cho Giáo hội trở thành không gian đối thoại và làm chứng cho tình huynh đệ hấp dẫn”[2]. Giáo hội cố gắng lắng nghe và hiểu từng trường hợp của con cái mình.

Hẳn nhiên, Hội Thánh không chỉ là Đức Giáo Hoàng, giám mục hay linh mục và tu sĩ. Nhưng đó còn là những giáo dân. Tất cả chúng ta làm nên Hội Thánh. Khi chúng ta đi cùng nhau, nghĩa là mỗi người có cơ hội để nâng đỡ anh chị em mình. Đau khổ và thương tích nơi mỗi phận người luôn có. Giáo hội là chính mỗi người chúng ta cũng chia sẻ nỗi đau ấy. Vui với người vui, khóc với người khóc (Rm 12,15).

Giáo hội đi giữa cũng là để nhìn nhận những thiếu sót của mình. Phản ứng chậm chạp của Giáo hội cũng có thể làm một thiếu sót, như trong câu hỏi của bạn. Tệ hơn nữa, những gương xấu trong lòng Giáo hội cũng khiến nhiều người xa lìa Giáo hội. Hoặc như nhận xét: Giáo hội quá cổ hũ trong lãnh vực luân lý! Sao cứ phải làm điều này, cấm điều kia! Giáo điều và đóng khung cũng là những từ ngữ mà Giáo hội hứng chịu từ nhiều phía. Tiếc rằng điều ấy đã xảy ra khi Giáo hội ở giữa đoàn chiên.

Trong những bối cảnh u ám đó, Giáo hội nhận thấy mình phải canh tân. Tạ ơn Chúa vì khi đi cùng với nhau, Giáo hội hiểu hơn về giáo dân, giáo dân hiểu thêm về Giáo hội. Thật đẹp với hình ảnh Giáo hội không già cỗi và cũng không cứng nhắc. Trái lại Giáo hội vẫn luôn trẻ trung. Trong Thượng Hội Đồng Giám Mục về Người Trẻ 2018, Đức Tổng giám mục Sydney, Anthony Fisher chia sẻ: “Tôi muốn nói với người trẻ: nếu chúng tôi, như là Giáo hội, đã làm cho các bạn thất vọng, tôi xin lỗi vì điều đó. Xin đừng từ bỏ Đức Kitô vì một số chúng tôi khiến các bạn thất vọng.”

Thật tốt để chúng ta đi cùng với nhau. Đừng quên Giáo hội phải là một bệnh viện dã chiến để đón tiếp mọi người. Trên những khuôn mặt đau khổ, Giáo hội muốn hiện diện ở đó. Nơi những chết chóc đau thương, Giáo hội muốn ở cùng với họ. Trong mọi hoàn cảnh buồn vui, chúng ta có Giáo hội. Đó có thể là những người bạn, là cha xứ, là linh mục hoặc tu sĩ nào đó. Giáo hội còn là những lãnh đạo đang miệt mài tìm cách đi cùng với thân phận con người. Đấy là lời căn dặn của chính Đức Giêsu: “Hãy chăm sóc chiên con của thầy!” (Ga 21,15–19)

3. Đi sau để giữ gìn sự hiệp nhất

Đây có thể là phần trả lời trực tiếp cho câu hỏi của bạn. Tại sao Giáo hội lại đi chậm trong các vấn đề về luân lý? Chẳng hạn nhiều nơi trên thế giới cổ vũ cho phong trào đồng tính. Nhiều nước cho phép phá thai. Vài nơi cho phép thụ tinh trong ống nghiệm. Người ta đang ủng hộ lối sống tự do phóng túng, v.v... Thực tế Giáo hội đã vào cuộc từ rất lâu để đưa ra câu trả lời chung cuộc. Có điều nhiều người thấy Giáo hội thường đi ngược lại những phong trào vừa kể. Có thể vì thế mà chính tôi và bạn cảm thấy Giáo hội tụt hậu so với thời đại!

Dù muốn dù không, Giáo hội cũng cần thời gian để nhìn nhận vấn đề. Sau những suy tư, bàn thảo và xem xét vấn đề từ nhiều phía, Giáo hội cũng thận trọng để đưa ra quyết định chung cuộc.

Chúng ta sẽ ngạc nhiên khi người điều hành Giáo hội nhắn với người trẻ: “Cha sẽ rất vui khi thấy các con chạy nhanh hơn những người chậm chạp và sợ hãi. Hãy chạy và được thu hút bởi Dung Nhan yêu dấu ấy, là Dung Nhan mà chúng ta tôn thờ trong Bí tích Thánh Thể, và nhận ra trong thân xác của những anh chị em đau khổ của chúng ta. Nguyện xin Chúa Thánh Thần thúc đẩy các con về phía trước trong cuộc chạy đua này. Hội Thánh cần động lực, trực giác và đức tin của các con. Chúng ta cần chúng! Và khi các con đến nơi mà Cha và những người khác chưa đến, hãy kiên nhẫn chờ đợi Cha và họ”[3].

Trên đây là lời mời gọi chân thành: Giáo hội đi sau để gìn giữ những gì là chân lý, là đường lối của Chúa. Mặt khác Giáo hội, từ phía sau, thôi thúc người trẻ, mỗi người hãy khai mở những con đường mới. Chúa Thánh Thần luôn làm việc trong mọi thành phần dân Chúa. Khi đó, có những phong trào đổi mới, cấp tiến mà Giáo hội cần quan tâm hoặc nhìn nhận. Trong ý hướng này, “sự góp mặt của các con giúp đổi mới bộ mặt Giáo hội, làm cho Giáo hội trẻ trung ra và mang đến cho Giáo hội thêm sức năng động”[4].

Để kết thúc, chúng ta hạnh phúc vì đang sống trong một Giáo hội sẵn sàng đổi mới. Cùng với các Đức Giám Mục, chúng ta hãy cầu xin Chúa giải thoát Hội Thánh khỏi những kẻ làm cho Hội Thánh già đi, giam cầm Hội Thánh trong quá khứ, giữ Hội Thánh lại hoặc giữ cho Hội Thánh ngừng lại.[5] Dù Giáo hội có phản ứng nhanh hay chậm, kể cả trong lãnh vực luân lý, thì Giáo hội và chúng ta phải dám khác biệt. Nghĩa là Giáo hội “phải nói lên những lý tưởng khác với những lý tưởng của thế gian này, làm chứng cho vẻ đẹp của lòng quảng đại, phục vụ, trong sạch, kiên trì, tha thứ, trung thành với ơn gọi cá nhân, cầu nguyện, theo đuổi công lý và công ích, tình yêu dành cho người nghèo và tình bằng hữu xã hội.”[6]

Thân ái!

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)
WHĐ (30.01.2023)

-------------
[1] Xem https://dongten.net/2019/08/08/thu-duc-giao-hoang-phanxico-gui-cho-cac-linh-muc/
[2]  Tông Huấn Đức Kitô Sống số 38.
[3] Tông Huấn Đức Kitô Sống số 299
[4] Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16, Thông điệp Đại Hội giới trẻ thế giới 2011
[5]  Tông Huấn Đức Kitô Sống số 35.
[6]  Tông Huấn Đức Kitô Sống số 36

---------------------------------

 

Bài 76: MỘT GIÊSU CHO NGƯỜI TRẺ


Nữ tu Maria Antôn Quỳnh Thoại

Hỏi: Hiện nay, truyền đạo cho giới trẻ như thế nào thì hiệu quả?

Trả lời:

Muốn truyền đạo, phải sống đạo trước đã.

Nhóm Barna ở Mỹ đã dành ra năm năm cho dự án nghiên cứu về “Những cơ hội và những thách đố trong đức tin đối với người trẻ”.[1] Nhóm đã đưa ra sáu lý do tại sao người trẻ bỏ đến nhà thờ. Những lý do đó là gì?

1.  Nặng lý thuyết, xa rời thực tế
2.  Nhàm chán
3.  Nhiều người Kitô Hữu quá tự tôn cho rằng mình biết mọi sự
4.  Khắc khe trong vấn đề tính dục
5.  Thái độ độc tôn, thiếu tinh thần đối thoại liên tôn
6.  Không thân thiện

Đó là chuyện bên Tây. Mà Tây thì khác ta lắm, nên không hẵn tất cả những lý do trên đều đúng, và phù hợp với tâm tình, kinh nghiệm, và lối sống của giới trẻ Việt Nam. Tuy nhiên, những lý do trên cũng đáng để ta suy gẫm và đặt ra câu hỏi: Vậy xu hướng sống của người trẻ Việt Nam là gì? Họ đang nghĩ gì về Giáo hội? Hoặc họ đang cần gì, đang mong đợi điều gì nơi các nhà truyền giáo, những người đang đồng hành với họ trong đời sống đức tin?

Nếu là bảy năm về trước, tôi sẽ không mất thời gian đặt ra cho mình câu hỏi này. Thay vào đó, tôi sẽ tập trung chuẩn bị những điều tôi cần làm, chứ không quan tâm làm những điều người trẻ cần. Giáo xứ nơi tôi từng phục vụ đa số là tân tòng, nên tôi nghĩ các bạn trẻ cần tôi truyền đạt cho họ những kiến thức giáo lý cơ bản để kịp lãnh các bí tích nhanh nhất có thể, vì không khéo các bạn sẽ phải rời làng quê, lên thành phố lớn đi làm, rồi lại bỏ lỡ các bí tích. Nghĩ vậy, nên tôi tranh thủ giúp các bạn “nạp” hết những điều phải tin và phải giữ. Và thế là, tôi không có giờ để hỏi xem cuộc sống của các bạn như thế nào, các bạn đang nghĩ gì về Giáo hội, hoặc đơn giản hơn, là các bạn đang cần gì nơi tôi, nơi lớp giáo lý các bạn đang tham dự. Giờ nghĩ lại, tôi thấy mình thiếu sót quá, tôi xin lỗi các bạn ấy thật nhiều.

Từ giây phút nhận ra vai trò của người trẻ trong Giáo hội, tôi đã dành thời gian để QUAN SÁT–TIẾP CẬN–LẮNG NGHE và ĐỒNG HÀNH cùng các bạn. Chủ ý này đã giúp tôi khám phá nhiều điều.

Thứ nhất, tôi tiếp cận được xu hướng sống của họ. Chẳng hạn, một trong những xu hướng nổi bật ngày nay là YOLO. Vậy YOLO là gì? Đó là từ viết tắt của câu “you only live once”, tạm dịch là: Bạn chỉ sống một lần. Đối với người trẻ hiện nay, họ sống hết mình với hiện tại và đam mê, dám nghĩ dám làm, dám dấn thân cho những điều mình thích.[2] Bên cạnh những mặt hạn chế, xu hướng sống này phá vỡ những rào cản của sự nhút nhát, do dự nơi người trẻ vì họ có khao khát mãnh liệt được là chính mình. Từ đó, họ trân quý những gì họ có trong hiện tại: gia đình, cha mẹ, bạn bè, đam mê và thời gian.

Sau khi biết xu hướng sống của các bạn, tôi tiếp tục đặt cho mình câu hỏi: Vậy người trẻ cần gì nơi tôi? Và tôi được họ chia sẻ rằng, họ cần những người truyền cảm hứng tích cực, để giúp họ có những định hướng đúng đắn trong tư duy và khơi dậy năng lực sống bên trong. Thế là, tôi không ngần ngại giới thiệu Đức Giêsu cho họ vì tôi muốn họ biết rằng, ngoài một Thiên Chúa “phép tắc vô cùng hằng có đời đời”, Chúa Giêsu cũng là một con người, cũng trải qua thời trẻ trung như các bạn. Ngài cũng có những hoài bão, đam mê, và những định hướng sống cho cuộc đời mình và cho mọi người. Đọc lại Tin Mừng xem, thanh niên trẻ Giêsu là người đã truyền cảm hứng cho biết bao con người về thái độ sống tích cực. Những điều đó là gì?

Một, sự tự do nội tâm. Đức Giêsu chu toàn mọi lề luật trong tinh thần tự do. Ngài chịu phép Rửa bởi Gioan (Mt 3,13–17), chịu cắt bì theo truyền thống người Do Thái ((Lc 2,21), hành hương theo luật định (Lc 2,41–52), nộp thuế cho đền thờ (Mt 17,22–27).... những điều mà Ngài, Con Thiên Chúa, không buộc phải giữ. Còn các bạn, những người trẻ, các bạn có đang nhìn về những giáo lý, giáo luật, và truyền thống của Hội Thánh như phương tiện để thánh hóa bản thân và giúp mình sống đức tin, và gần gủi, bác ái hơn với tha nhân không? Điều gì đang làm các bạn do dự, hoặc ngăn cản sự tự do thi hành những điều đó?

Hai, yêu hết mình. Đức Giêsu cũng là một người trẻ. Cuộc đời Ngài sống chết cho tình yêu. Ngài bắt đầu và kết thúc mọi sự trong tình yêu. Tình yêu là nền tảng trong mọi lời nói, việc làm, và trong mọi tương quan của Ngài. Hãy nhìn về Bêlem mùa băng tuyết, nơi hang đá nghèo nèn, một Tình Yêu giáng sinh cho nhân loại. Hãy nhìn về hành trình ba năm rong ruổi khắp miền Galilê, Ngài cùng các môn đệ đã gieo rắc Tin Mừng yêu thương như thế nào. Và hãy nhìn lên cao nữa trên đỉnh đồi Golgotha, một Giêsu dám hiến mình đền thay tội lỗi thế nhân. Còn những người trẻ hôm nay, điều gì làm các bạn can đảm dấn thân? Đâu là những giá trị mà các bạn đang theo đuổi?

Ba, là bao dung, tha thứ. Các bạn trẻ giờ hay nói với nhau: “ông trời tạo ra địa chấn, và sợi dây chuyền em đeo là điểm nhấn”. Rồi nhiều câu tương tự như vậy. Những câu nói được bắt chước nhau trên mạng như thế tạo ra trend nói, thu hút rất đông đảo các bạn trẻ tham gia. Tôi cũng bị ảnh hưởng. Nhưng tôi không chắc ai tạo ra địa chấn. Ông trời? Thiên nhiên? Hay con người? Và “điểm nhấn” nơi người đối diện còn tùy thuộc vào người nhìn, và điều họ quan tâm.

Phần mình, tôi thấy sự bao dung, tha thứ thì rõ ràng là điểm nhấn nơi con người Đức Giêsu. Không ít lần Ngài dạy các môn đệ mình hãy bao dung, tha thứ: (Mt 6,14; Ep 4,32...). Bao dung với tội nhân, tha thứ cho kẻ thù, và làm ơn cho những kẻ bách hại mình. Vậy, nếu các bạn trẻ cũng muốn có “điểm nhấn” giống như vậy, thì hãy đến và học theo trend Giêsu, là hiện thân của một Thiên Chúa rất bao dung và tha thứ. Noi gương Ngài, ta sẽ sống bình an, và hàn gắn lại những vết thương trong từng mối tương quan. Đồng thời cũng góp phần kiến tạo cho mình một thế giới đầy ắp vị tha, và tình người. Ngạn ngữ Đức cũng đã từng khẳng định: “Nếu Thiên Chúa không bao dung, thiên đàng sẽ trống rỗng”. Cũng vậy, nếu chúng ta không biết bao dung, tha thứ cho nhau, thì địa ngục cũng đang hiện hữu trong lòng rồi.

Sơ sơ thôi đó, những điều tích cực tôi học được nơi con người Đức Giêsu. Và tôi muốn chia sẻ lại cho các bạn như con đường dẫn đến sự hoàn thiện, và hạnh phúc. Mỗi người Kitô hữu đều được mời gọi để đi theo, bắt chước, và sống với những điều tích cực ấy. Còn bạn thì sao? Nếu bạn đang thao thức tìm cho mình một con đường dẫn đến hạnh phúc, thì đây quả là một sự khởi đầu cho hành trình tìm kiếm giá trị mang tính bền vững. Hãy sống tự do. Hãy yêu hết mình. Và không quên bao dung, tha thứ… như Chúa.

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (06.02.2023)

----------------
[1] The Barna Group. Six Reasons Young Christians Leave Church. https://biologos.org/articles/six-reasons-young-christians-leave-church.
[2] Vi Linh. Yolo là gì? Ảnh Hưởng Của Thông Điệp YOLO đến thế hệ trẻ? https://timviec365.vn/blog/yolo-nghia-la-gi-new4135.html

---------------------------------

 

Bài 77: KHÔNG BIẾT KHÔNG THỂ PHỤC VỤ


Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Hỏi: Mỗi khi nói đến nhân quyền, nhiều người trẻ e sợ vì động đến chính trị. Vậy Giáo huấn của Giáo hội Công giáo nói thế nào về vấn đề nhân quyền? Chúng con có cần quan tâm đến chính trị nước nhà?

Trả lời:



Khi đọc câu hỏi của bạn, chúng tôi nghĩ ngay đến một tài liệu dành cho người trẻ: DOCAT[1]. Đó là những chỉ dẫn đặc biệt liên quan đến xã hội và chính trị. Đó còn là những học thuyết của Giáo hội mà chúng ta dựa vào đó để hành xử. Chẳng hạn, phần Quyền Lực và Luân Lý: Cộng Đồng Chính Trị, chúng ta sẽ hiểu hơn về cách Giáo hội hiểu và sống trong môi trường chính trị như thế nào. Chẳng hạn trong đó chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời ngắn gọn về những vấn đề: Tại sao các Kitô hữu không thể đứng ngoài chính trị? Tại sao các Kitô hữu ủng hộ tự do và công lý cho tất cả mọi người? Và tại sao trở thành công dân tốt lại là mối quan tâm ý nghĩa nhất của các Kitô hữu? (x. Docat câu hỏi 195 tới 228).

Xét về yếu tố nhân loại, Giáo hội không thể tách biệt hoàn toàn với chính trị và xã hội. Bạn và tôi cũng không thể sống mà không có căn cước, đất nước, chính quyền hoặc hệ thống chính trị. Mỗi người đều bị chính trị xã hội chi phối. Giáo hội tuy ít nhiều bị chính trị ảnh hưởng, nhưng Giáo hội luôn lấy giá trị Tin Mừng và con người làm gốc để đối thoại và hợp tác với mỗi quốc gia. Tiếc là thường có những xung đột, thậm chí là dân Chúa bị bách hại. Dẫu sao, Thiên Chúa mời gọi mỗi người cần dựng xây môi trường sống một cách tốt đẹp nhất.

Vài thuật ngữ

- Chính trị

Chính trị là một khái niệm khá rộng. Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu đó là các hoạt động hoặc quyết định liên quan đến nhiều thành phần trong xã hội, trong đó có nhà nước, chính quyền, nhân dân và hệ thống pháp luật, v.v. Từ thời xa xưa, người ta đã thấy cộng đồng chính trị thường là một cộng đồng người điều hành các vấn đề chung của một xã hội, của một quốc gia (res publica). Có thể bạn sẽ ngạc nhiên với quan điểm của triết gia Aristotle: con người là “sinh vật chính trị”. Nghĩa là ai cũng quan tâm đến chính trị. Tùy địa vị của mỗi người mà mức độ quan tâm ấy lớn hay nhỏ.

- Chính quyền

Trong khi đó, chính quyền là thế lực chính trị theo hiến định để điều hành một quốc gia hay một địa phương. Chính quyền có thể do các công dân bầu ra hoặc do một cơ quan quyền lực cao hơn đặt định. Dĩ nhiên về lý tưởng, chính quyền có trách nhiệm phục vụ công dân nhằm xây dựng, đảm bảo và duy trì sự công bằng, ổn định, an ninh và an sinh xã hội[2]. Ở chiều ngược lại, theo giáo huấn của Giáo hội, người dân cũng phải tùng phục chính quyền, vì mọi quyền bính phát xuất từ Thiên Chúa và do Ngài thiết lập[3]. Ngược lại, Giáo hội cũng mong các nhà cầm quyền là tôi trung và là tác viên của Thiên Chúa được đặt lên vì lợi ích của nhân dân. (x Rm 13,1–7).

- Nhà nước

Nếu mở từ điển Công giáo mục từ “Nhà Nước”, bạn sẽ thấy định nghĩa: “Nhà nước là chủ thể chính trị có lãnh thổ, dân chúng và có quyền theo hiến định.” Theo quan điểm của Giáo hội: Nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ và thăng tiến công ích của xã hội dân sự, của các công dân và các tổ chức trung gian. (Giáo Lý số 1910).

Có thể bạn sẽ ngạc nhiên với câu trả lời của Giáo hội: “Đối với Kitô hữu, nhà nước luôn được coi là thứ yếu so với con người, hoặc nói cách khác, là thứ yếu so với cộng đồng của những người mà ngày nay chúng ta gọi là xã hội dân sự.”[4] Giáo hội muốn nhà nước phải đặt con người làm trung tâm của mọi chính sách và điều hành đất nước. Bởi đơn giản, chúng ta biết nhân phẩm là món quà của Thiên Chúa. Ngài đòi buộc nhà nước cũng như mọi tổ chức xã hội gìn giữ và bảo vệ phẩm giá của con người. Do đó, Giáo hội luôn đòi ưu tiên là “coi trọng nhân vị của họ, rồi đến xã hội, và cuối cùng mới đến nhà nước.” Tóm lại, “Con người là nền tảng và mục tiêu của đời sống chính trị.” (Tóm Lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội 384).

Nhân phẩm và quyền con người

Do đó chính trị tốt là nền chính trị nhằm hướng đến phát triển con người chứ không phải để cai trị. Hướng đến con đường chính trị chung của thế giới, hẳn là mỗi người mong ước nền dân chủ. Về mặt lý thuyết, Việt Nam cũng đang theo hướng này; nghĩa là lấy quyền lực của nhân dân làm gốc (democracy: demo: nhân dân, kratos: quyền lực). Một trong những đặc tính của nền dân chủ là: phẩm giá mà mỗi người đều có và không phụ thuộc vào nguồn gốc, dòng dõi của mình. (Docat 205). Mặt khác, Giáo hội ghi nhận điều này: “Chế độ dân chủ không phải tốt hơn chế độ quân chủ hay chế độ quý tộc vì nó hiệu quả hơn, nhưng đúng hơn là vì nó có một đặc điểm (ethos) khác dựa trên quyền con người và còn là một khuôn khổ tổ chức tốt hơn cho sự đầy đủ trọn vẹn của con người.”[5] Dĩ nhiên Giáo hội không lý tưởng hóa nền dân chủ, vì nó cũng là một chế độ có thể vướng sai lầm và thiếu sót. (x Docat 221).

Chúng ta thường nghe đến nhân quyền hoặc quyền con người. Theo đó quyền con người là: được mưu cầu hạnh phúc, quyền hưởng cuộc sống xứng hợp trong: của ăn, quần áo, nhà ở. Đó còn là quyền tự do chọn lựa bậc sống và quyền lập gia đình, quyền được giáo dục, quyền làm việc, được bảo vệ thanh danh, được kính trọng, được thông tin đúng đắn, quyền hành động theo luật ngay chính của lương tâm, quyền bảo vệ đời sống riêng tư và có được tự do chính đáng, kể cả trong lãnh vực tôn giáo. (xem Docat số 2 và 26).

Hãy quan tâm đến đời sống chính trị!

Tới đây hy vọng chúng ta thấy vai trò của người tín hữu trong một thể chế chính trị. Một mặt, chúng ta cần quan tâm đến chính trị để cùng nhau dựng xây đất nước thật sự công bằng, dân chủ và văn minh. Mặt khác, là người chủ của đất nước, chúng ta cần thấy được những bất công hoặc những điều đang gây tổn hại đến quyền của con người, nếu có. Trong buối cảnh đó, Giáo hội có nhiệm vụ lên tiếng để bảo vệ con người. Nếu phải trưng dẫn, chúng ta cần nhớ đến lời này của Đức thánh cha Phaolô VI, sau này thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng nhắc lại:

“Giáo hội tha thiết với các vấn đề liên hệ đến nhân quyền và tự do: Việc dấn thân của Giáo hội trong lãnh vực này hoàn toàn ăn khớp với sứ mạng đạo đức và tôn giáo của mình. Giáo hội mạnh mẽ bênh vực nhân quyền vì xem các quyền ấy là một yếu tố cần thiết của bổn phận phải nhìn nhận phẩm giá của nhân vị được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa và được cứu chuộc bởi Chúa Kitô.”[6]

Trong câu hỏi trên, chúng ta phải tách chiều kích chính trị và tôn giáo ra với nhau, như Chúa Giêsu cũng đã làm với lời tuyên bố: “Những gì của Xê–da, hãy trả cho Xê–da, và những gì của Thiên Chúa, hãy trả về Thiên Chúa.” (Mt 22,21). Ngài chẳng thuộc phe phái chính trị nào. Nếu như chính trị thường chạy theo quyền lực, tiền tài, danh vọng và áp đặt, thì Giáo hội theo mẫu gương của Đức Giêsu: không phải để thống trị, nhưng để phục vụ. “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em.” (Mt 20,26).

Do đó, về mặt chính trị, Giáo hội không liên quan cơ cấu chặt chẽ với nhà nước. Hoặc nói theo Đức Phanxicô: “Giáo hội không làm chính trị nhưng phải tham dự  vào chính trị”[7]. Theo ý nghĩa này, quyền tự trị và độc lập của Giáo hội và Nhà Nước được đặc biệt nhấn mạnh. Lý tưởng mà nói, Giáo hội và Nhà Nước phải cùng làm việc với nhau cách hợp lý tốt đẹp. Dù ai đang ở trong bộ máy chính trị hoặc điều hành đất nước, Giáo hội vẫn hy vọng họ theo đuổi con đường phục vụ nhân dân!

Vô tri bất mộ

Bạn thân mến,

Là người trẻ, tôi đồng cảm nhận với bạn khi nhìn về chính trị nước nhà. Đó là ngôi nhà chúng ta sinh ra và lớn lên, là môi trường để chúng ta thành người và nên con Chúa. Nhiều người nhận xét rằng: “Giới trẻ ngày nay ít quan tâm đến chính trị nước nhà!” Điều ấy hình như đúng vì người trẻ còn nhiều mối bận tâm thú vị khác. Thực tế nhiều bạn cũng quan tâm đến chính trị, nhưng không tiện nói ra hoặc thể hiện. Có nhiều bạn sợ hãi hoặc e dè!

Với những chia sẻ về Giáo huấn của Giáo hội trên đây, chúng ta thấy chính trị quan trọng cho mỗi người. Việt Nam mình nói rất hay: “Vô tri bất mộ – Không biết không thể yêu.” Cũng vậy, không biết không thể phục vụ. Nếu bạn và tôi không biết hiện tình đất nước, làm sao chúng ta có thể phục vụ? Nếu đứng ngoài thời cuộc, làm sao chúng ta có thể cùng với Giáo hội phục vụ con người? Nếu không muốn tìm hiểu đời sống chính trị đang diễn ra, làm sao chúng ta có thể dấn bước vào đời? Dẫu sao khi mỗi người dấn thân vào đời sống xã hội, lúc đó họ dễ bị xem là có động cơ chính trị, đứng về một phe, một đảng phái hay thế lực chính trị nào đó. Thực tế là họ bị các nhóm khác coi là thù địch.

Là người trẻ, chúng ta thường có nhiều hoài bão và muốn phục vụ, cả trong Giáo hội lẫn ngoài Xã Hội. Đó là thế mạnh của người trẻ. Cụ thể mới đây cả Giáo hội, qua lời của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, đặc biệt nhắn với người trẻ:

“Mặc dù dưới một hình thức khác so với các thế hệ trước, việc tham gia xã hội là một tính năng cụ thể của giới trẻ ngày nay. Bên cạnh một số em vẫn thờ ơ, có nhiều em khác sẵn sàng tự nguyện cung cấp các sáng kiến, làm công dân tích cực và đoàn kết xã hội: điều quan trọng là phải hỗ trợ và khích lệ các em phát huy tài năng, kỹ năng và óc sáng tạo, và khuyến khích tinh thần trách nhiệm của các em. Sự tham gia xã hội và tiếp xúc trực tiếp với những người nghèo vẫn là một cơ hội cơ bản để khám phá và đào sâu đức tin cùng phân định ơn gọi của chính mình. Việc chuẩn bị để dấn thân vào đời sống chính trị ngõ hầu xây dựng công ích cũng được ghi nhận.”[8]

Cuối cùng, thiết tưởng lời sau đây của Lm. Nguyễn Hai Tính SJ có ý nghĩa quan trọng: “Những quyết định liên quan đến những tình huống cụ thể sẽ được thực hiện bằng thái độ và phương thế phân định thiêng liêng, cá nhân cũng như tập thể, để tìm ra, trong cầu nguyện và qua việc lãnh nhận các ân sủng bí tích, đâu là Ý Chúa muốn chúng ta thực hiện ở đây và lúc này.”[9]

Được như thế, hy vọng bạn và tôi mỗi ngày hiểu hơn về đời sống của người dân hơn. Càng để tâm, chúng ta càng hiểu thêm về hiện tình của đất nước mình hơn. Khi đó, chúng ta cùng với Giáo hội dấn thân vào con đường phục vụ cho đất nước thật sự công bằng, dân chủ và văn minh. Bạn nhé!!!

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (20.02.2023)

Đọc thêm:

--------------
[1] Bạn có thể mua sách này tại các nhà sách Công giáo, hoặc tải file PDF trên Internet.
[2] x. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Từ Điển Công Giáo, Tôn Giáo, 2016.
[3] Thánh Phaolô cũng nói: “Không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, các quyền bính hiện tại đều do Thiên Chúa thiết lập.” (Rm 13,1; Ga 19,11)
[4] Docat số 197.
[5] Docat 206
[6] X. Evangelii Nuntiandi số 31.
[7] https://dcctvn.org/duc-giao-hoang-phanxico-giao-hoi-phai-can-thiep-vao-chinh-tri/
[8] Tông Huấn Đức Kitô Sống số 170.
[9] Trích trong: Giáo hội dấn thân vào đời sống xã hội: Nền tảng thần học theo H.U. Balthasar và hệ luận mục vụ.

---------------------------------

 

Bài 78: NGƯỜI KITÔ HỮU SỐNG ĐỨC TIN GIỮA LÒNG THẾ GIỚI


Phêrô Dương Hải Văn, SDB

Hỏi: Đức tin Công giáo nói gì về cuộc sống trần gian này? Và người Công giáo cần phải sống với thái độ nào?

Trả lời:

Bạn thân mến,

Một trong những ưu tư và thắc mắc của nhân loại nói chung và với người Công giáo nói riêng, đó là về chính cùng đích của đời sống con người. Phải chăng cuộc sống trần gian là cùng đích của mọi sự, là giá trị trọn vẹn của cuộc đời nhân thế? Hay trần gian là nơi để giúp con người thành toàn chính mình, từng ngày nỗ lực thăng tiến để qua đó hướng đến một đời sống vĩnh cửu mai sau? Chúng ta cùng tìm hiểu, để từ đó xác tín cho bản thân về ý nghĩa của cuộc sống trần gian trong thánh ý Thiên Chúa, và lời mời gọi để sống đúng với những giá trị của ơn gọi làm người và làm con Chúa trong thế giới hôm nay.

Thế giới tạo thành trong thánh ý Thiên Chúa

Thiên Chúa dựng nên vũ trụ và con người trong ý định và tình yêu của Ngài: “Nhờ đức tin, chúng ta hiểu rằng vũ trụ đã được hình thành bởi Lời của Thiên Chúa; vì thế những cái hữu hình là do những cái vô hình mà có” (Dt 11,3). Không những thế, sau khi đã tạo dựng mọi sự, đặc biệt là sau khi tạo dựng con người, thì “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp” (St 1,31). Sự tốt đẹp đó cho thấy mọi sự trong thế giới này đều có giá trị riêng của nó, bởi nó được tạo dựng từ chính Thiên Chúa toàn năng và đầy tình yêu thương: “Vẻ đẹp của công trình tạo dựng phản chiếu vẻ đẹp vô biên của Đấng Tạo Hóa” (GLHTCG, 341).

Ngài muốn cho thụ tạo được thừa hưởng sự sung mãn và tròn đầy của nó trong chính giá trị và mục đích riêng của mỗi loài: “Các thụ tạo khác nhau, trong bản chất riêng của mình, mỗi thụ tạo một cách, đều phản chiếu một tia sáng của sự khôn ngoan vô biên và sự tốt lành vô biên của Thiên Chúa” (GLHTCG, 339). Đồng thời, chính trong mầu nhiệm sáng tạo, chúng ta hiểu rằng, mọi sự chỉ có giá trị toàn vẹn khi hướng về Thiên Chúa, Đấng là cùng đích của mọi loài.

Từ đó, con người nhận thức được sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế giới này, cũng như biết dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, và sống đúng giá trị của ơn gọi làm người: “Tín hữu phải nhận biết rằng bản tính sâu xa cũng như giá trị và định hướng của toàn thể thụ tạo là phải ca tụng Thiên Chúa, đồng thời ngay cả trong những công việc trần thế, họ phải giúp nhau sống thánh thiện hơn”[1]. Con người là một thành phần trong vũ trụ tạo thành, là chóp đỉnh trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa, vì “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1, 27). Vì thế, công trình sáng tạo của Thiên Chúa là một sự hoàn hảo và tốt đẹp mà Ngài đã làm ra, và Ngài đã trao ban cho con người, để con người cai quản vũ trụ tạo thành trong ý thức và trách nhiệm của mình: “Con người phải trung thành với nền móng này và tôn trọng những định luật mà Đấng Tạo Hóa đã khắc ghi trên đó” (GLHTCG, 346).

Tuy nhiên, vì tội bất trung của con người, tội lỗi đã xâm nhập vào thế giới tạo thành, khiến cho trật tự tốt lành của tạo dựng đã không còn sự nguyên tuyền như thửa ban đầu[2]. Chính vì tội lỗi đã đi vào thế giới tạo thành, nên sự hài hòa tốt đẹp trong vũ trụ đã bị đánh mất, khiến cho khổ đau, bất công, kiêu căng và dục vọng vây kín và lôi cuốn đời sống con người: “Sự hài hòa với công trình tạo dựng bị phá vỡ: thế giới hữu hình trở nên xa lạ và thù nghịch với con người. Vì con người, muôn loài đã phải lệ thuộc vào cảnh hư nát” (GLHTCG, 400).

Như thế, vì tội đã xâm nhập vào thế gian qua sự bất tuân của con người, nên không chỉ con người đánh mất sự thánh thiện và tốt đẹp nguyên thủy trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa, mà cả muôn loài thụ tạo cũng đều chịu tác động và ảnh hưởng bởi tội lỗi của con người: “Khi từ chối không nhìn nhận Thiên Chúa như nguồn gốc của mình, con người cũng đã phá đổ sự quy hướng cần thiết về cùng đích tối hậu, đồng thời phá vỡ toàn bộ sự hài hòa của mình đối với chính bản thân, đối với những người khác và đối với mọi loài thụ tạo”[3]. Và chính trong chiều hướng này, đời sống con người trở nên ngày càng ích kỷ và tham lam hơn. Nhiều người chỉ biết chạy theo những dục vọng trần gian, những khát khao của cải vật chất, mà quên đi cùng đích của cuộc đời mình chính là hướng về Thiên Chúa, Đấng Tạo Thành và cùng đích của mọi loài.

Tuy nhiên, tình yêu cứu độ của Thiên Chúa đã không bỏ rơi thế giới tạo thành, không làm ngơ trước thực trạng đời sống và tội lỗi của con người, Ngài đã ban Đấng Cứu Độ, là chính Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đến thế gian, để giải thoát con người và vũ trụ khỏi cảnh hư nát và khốn khổ do tội lỗi gây nên: “Đấng đã làm người để cứu chuộc mọi người khỏi tội lỗi một cách dứt khoát” (GLHTCG, 432).

Vì thế, trong tình yêu cứu độ của Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa muốn trao ban ơn tha thứ cho con người, và mời gọi con người biết nhận ra hạnh phúc đích thực của mình là hướng về và ở trong Thiên Chúa; cũng như nhận biết rằng, cuộc sống trần gian là nơi giúp con người tiến bước trong sự trưởng thành và sự thánh thiện của ơn gọi làm người và làm con Chúa cách sung mãn, chứ không phải là cùng đích của đời sống con người.

Sứ mạng của người tín hữu trong cuộc sống trần gian

“Chính anh em là muối cho đời … là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,13–14). Lời mời gọi của Chúa Giêsu chính là sứ mạng của người tín hữu sống trong thế giới này. Người Kitô hữu không coi thế gian là địa ngục, là nơi giam cầm của những nỗi thống khổ, cũng như không coi thế gian là hạnh phúc vĩnh cửu cho cuộc đời mình, nhưng là nơi để Thiên Chúa tỏ lộ tình yêu của Ngài qua sự cộng tác của con người, và là nơi để con người được thực thi ơn gọi và sứ mạng Kitô hữu của mình trong một tình yêu dấn thân và thánh hóa thế giới: “Tham dự vào lãnh vực trần thế, là phận vụ phát xuất từ bản tính nội tại và sứ mạng của mình”[4].

Thiên Chúa muốn người tín hữu trở thành muối, thành ánh sáng cho thế giới bằng chính đời sống dấn thân phục vụ của mình, qua đó thánh hóa và đưa thế giới thụ tạo đi vào đúng ý định tạo thành của Thiên Chúa, là tôn vinh quyền năng và tình yêu của Ngài: “Trần gian được tạo dựng để làm vinh danh Thiên Chúa”[5]. Đồng thời, chính khi dấn thân thánh hóa thế giới, người tín hữu đưa thụ tạo và chính mình hướng đến cùng đích tối hậu trong Thiên Chúa, trả lại cho thụ tạo giá trị hữu dụng trong bản chất của chính nó, chứ không phải tôn vinh thụ tạo thành cùng đích, thành giá trị vĩnh cửu cho đời sống con người.

Trong Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội cũng xác định:

“Do chính ơn gọi đặc biệt của mình, giáo dân có bổn phận tìm kiếm Vương Quốc Thiên Chúa bằng cách dấn thân vào các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa… Trong khung cảnh đó, họ đã được Thiên Chúa mời gọi, để nhờ việc chu toàn những bổn phận riêng của mình và được tinh thần Tin Mừng hướng dẫn, họ trở nên như nắm men góp phần vào việc thánh hóa từ bên trong, và như thế, họ làm cho người khác nhận biết Đức Kitô, đặc biệt bằng chứng từ đời sống tỏa sáng đức tin, đức cậy, đức mến”[6].

Người tín hữu được mời gọi cộng tác với Thiên Chúa trong công trình tạo dựng của Ngài, hầu canh tân và làm cho trật tự trần thế ngày càng thêm tốt đẹp. Qua việc dấn thân phục vụ vì lợi ích chung và làm dậy men Tin Mừng trong thế giới, người tín hữu từng bước hoàn thiện chính mình, hướng đến những giá trị cốt lõi của đời sống nơi và trong Thiên Chúa. Vì thế, ơn gọi nên thánh của người Kitô hữu không tách khỏi trần thế, nhưng là hội nhập để biến đổi và canh tân bằng men Tin Mừng, bằng tinh thần và đời sống nhập thể của Đức Giêsu. Nhờ đó tiếp tục làm cho tình yêu cứu độ của Thiên Chúa được thấm nhập vào thế giới, và làm cho các giá trị Tin Mừng ngày càng lan tỏa trong đời sống nhân loại.

Như vậy, là người Kitô hữu, chúng ta biết rằng hạnh phúc và đời sống vĩnh cữu của mỗi người chúng ta là được ở trong Thiên Chúa, là hướng đến những giá trị cao quý của Tin Mừng, là nỗ lực để vươn tới hạnh phúc Nước Trời mai sau. Nhưng để có thể hiện thực hóa những giá trị và hạnh phúc đó, người tín hữu đang từng bước lớn lên bằng một đức tin sống động và cụ thể ngay trong cuộc sống trần gian này: “Anh chị em không thể lớn lên trong sự thánh thiện mà không tự mình dấn thân, bằng cả thân xác lẫn linh hồn, để cố gắng hết sức cho nỗ lực này”[7].

Người tín hữu không coi cuộc sống trần gian là cùng đích, là giá trị tối hậu. Cuộc sống này là nơi để diễn tả ơn gọi làm người qua những thực hành của đời sống đức tin, dấn thân thánh hóa thế giới và trao ban bằng đức ái trọn hảo. Để nhờ đó, người tín hữu thánh hóa chính mình và từng bước làm cho công trình tạo dựng của Thiên Chúa đi đến chỗ thành toàn. Chúng ta cần “hướng đến việc phụng tự và tôn thờ Thiên Chúa” (GLHTCG, 347).

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (27.02.2023)

-----------

Đọc thêm:

 [1] CĐ Vatican II, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 36.
[2] x. St 3, 1-24.
[3] CĐ Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et Spes, 13.
[4] ĐTC Gioan Phaolô II, Tông Huấn Christifideles laici, 15.
[5] CĐ Vatican I, Hiến Chế Tín Lý Dei Filius, De Deo rerum omnium Creatore, 5: DS 3025.
[6] CĐ Vatican II, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 31.
[7] ĐTC Phanxicô, Tông Huấn Gaudete et Exsultate, 25

---------------------------------

 

Bài 79: HỖ TRỢ SINH SẢN THÔNG QUA Y HỌC, NÊN HAY KHÔNG?


Phương An, CND-CSA

Hỏi: Thời sinh viên tôi cũng nghĩ như bạn: “tại sao việc thụ tinh nhân tạo là tốt vì giúp các gia đình có niềm vui khi một sự sống chào đời, mà Giáo hội lại không ủng hộ?”

Trả lời:

Chào bạn,

Bây giờ mời bạn hãy cùng chúng tôi tìm hiểu một chút về “Thụ tinh nhân tạo trong ống nghiệm là gì?”; “Mang thai hộ là chi?”; và “ Tại sao Giáo hội không đồng ý những việc này?”

1 . Thụ tinh trong ống nghiệm

Khi tìm từ khóa này trên Google bạn sẽ thấy có nhiều thông tin về các dịch vụ “trọn gói” giúp tư vấn, khám và chữa hiếm muộn với nhiều mức giá rõ ràng, cùng với những kinh nghiệm của nhiều người chia sẻ... Thật vậy, thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization - IVF) đã trở nên phổ biến và theo một số người, nó là “giải pháp tối ưu” cho các cặp vợ chồng có vấn đề về sức khỏe sinh sản để có con.

Người được thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên trên thế giới là Louise Joy Brown. Cô sinh ngày 25-7-1978 ở Bệnh viện Đa khoa Oldham, Anh,… Tại Việt Nam, ngày 30-4-1998, Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ đã đón 3 bé chào đời - ca đầu tiên nhờ thụ tinh trong ống nghiệm.

Quy trình thụ tinh trong ống nghiệm khá phức tạp. Đó là cách chọn lọc trứng và tinh trùng để thụ tinh tạo thành phôi, phôi sau 3-5 ngày có nhiều tế bào sẽ được chuyển vào tử cung mẹ.

 Theo Bệnh viện Từ Dũ, người vợ muốn thụ tinh trong ống nghiệm sẽ được hẹn ngày để chuyển phôi, phôi trữ được rã đông trong phòng lab, tiếp tục đặt thuốc để hỗ trợ phôi phát triển.

- Trường hợp người vợ phải xin trứng: Người cho trứng đến phòng khám vào ngày thứ 2 của vòng kinh để làm các xét nghiệm cơ bản. Nếu đủ điều kiện, hai người xin và cho trứng được làm các xét nghiệm tiền mê và khám tiền mê. Sau đó uống thuốc nhằm điều chỉnh cho kinh nguyệt hai người xin – cho gần như trùng nhau. Người cho trứng được hẹn ngày tiêm thuốc kích thích buồng trứng, siêu âm theo dõi nang noãn và chọc hút trứng. Người xin trứng uống thuốc chuẩn bị nội mạc tử cung để tiếp nhận phôi và mang thai, được siêu âm theo dõi và điều chỉnh thuốc.

- Trường hợp người chồng phải xin tinh trùng: Dành cho những người chồng không có tinh trùng trong tinh dịch do bị tắc nghẽn, thì việc phẫu thuật lấy tinh trùng là phương pháp được dùng.

Vào ngày chọc hút trứng, người chồng tới bệnh viện lấy tinh trùng. Nếu người chồng ở xa, không thể tới lấy tinh trùng trong ngày bơm tinh trùng hoặc chọc hút trứng thì cần trữ tinh trùng trước.

Trứng và tinh trùng được cho thụ tinh (thường bằng kỹ thuật ICSI – Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng). Phôi được theo dõi và chuyển phôi cho vợ  2 - 3 ngày sau chọc hút trứng.

Sau khi trứng và tinh trùng thụ tinh, phôi được chuyển vào buồng tử cung để làm tổ và phát triển thành thai. Thất bại sau khi đã chuyển phôi  lớn gấp 2 lần.

Tuy nhiên, không phải trường hợp hiếm muộn nào cũng có thể thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm. Phương pháp này chỉ khả thi đối với các cặp vợ chồng có nguyên nhân gây vô sinh không làm mất đi hoàn toàn khả năng thụ tinh của trứng và tinh trùng. Bên cạnh đó thụ tinh trong ống nghiệm tốn nhiều tiền.

Tóm lại, bạn thấy việc thụ tinh nhân tạo trên không xảy ra trong bối cảnh tình yêu của đôi vợ chồng và trái tự nhiên. Một lý do rất quan trọng khiến Giáo hội cấm thụ tinh ống nghiệm là do họ tạo ra nhiều phôi, sau đó giết bỏ các phôi xấu, họ chỉ lấy một phôi tốt nhất, và như thế vi phạm điều răn thứ 5: Chớ giết người.

2. Mang thai hộ

a. Có hai trường hợp có thể diễn ra:

- Một là khi người phụ nữ bằng lòng cho sử dụng trứng của mình để phối hợp với tinh trùng của người không phải là chồng mình để tạo thành hợp tử qua phương pháp thụ tinh nhân tạo. Sau đó phôi được cấy trở lại trong tử cung của phụ nữ kia cho đến khi bé được sinh ra và trao cho vợ chồng người đã thuê theo giao kèo.

- Hai là người phụ nữ đồng ý cho mượn tử cung của mình để tiếp nhận một phôi thụ tinh bởi trứng và tinh trùng của hai người khác nào đó và chỉ mượn tử cung của mình để mang thai. Lúc này, hợp tử được thụ thai nhân tạo với trứng và tinh trùng của người khác và được cấy vào tử cung của phụ nữ ưng thuận mang thai hộ để lấy tiền của người mướn. Đây là trường hợp một người nữ mang thai cho người phụ nữ khác khi người phụ nữ này không có khả năng mang thai nhưng vẫn có tâm nguyện mong muốn làm mẹ.

Đương nhiên pháp luật Việt Nam chỉ cho phép việc mang thai hộ này khi tuân thủ đủ quy định của nhà nước về việc sinh con và với mục đích nhân đạo chứ không phải thương mại. Vì hoàn cảnh, người vợ không thể mang thai, phải nhờ một người phụ nữ khác mang bào thai của cặp vợ chồng đó. (Người này này phải là người từng có con, được chồng bà ấy đồng ý, ở độ tuổi phù hợp, là bà con bên chồng hoặc vợ của cặp vợ chồng muốn nhờ, được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý)... Đứa con do tinh trùng của chồng và trứng của vợ hoặc một phụ nữ mang thai hộ bằng lòng cho sử dụng trứng của mình để phối hợp với tinh trùng của người không phải là chồng mình để tạo thành hợp tử.

b. Những rắc rối xoay quanh

- Để thực hiện được thủ tục liên quan đến mang thai hộ thì cả phía người nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ phải đáp ứng được các quy định cụ thể của pháp luật hiện hành.

- Việc lấy trứng của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con, thông thường có chuyện phát sinh vấn đề như tranh chấp về con cái, cấp dưỡng.

- Trong trường hợp chưa giao đứa trẻ mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, thì sẽ xử lý tình huống ấy như thế nào?

- Đứa trẻ sau khi sinh ra là con ai? Người mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để hưởng lợi về kinh tế hoặc một lợi ích khác... Những điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội.

3. Giáo hội nghĩ gì về hỗ trợ sinh sản thông qua y học?

a. Giáo hội thấy trước những nguy cơ khi con người được “làm ra” chứ không phải được “sinh ra”

- Phôi sau 3-5 ngày có nhiều tế bào sẽ được chuyển vào tử cung mẹ. Bởi vì cần chọn lọc trứng và tinh trùng để thụ tinh tạo thành phôi, phôi phải được trữ và rã đông trong phòng lab trước đó. Như vậy, con người được lưu trữ theo kiểu này sao? Thế có phù hợp với phẩm giá của một người?

- Các bác sĩ sẽ chuyển 1 phôi, 2 phôi, hay 3 phôi tùy thuộc vào nhu cầu của đôi vợ chồng. Cơ hội mang song thai, đa thai là có thể xảy ra. Khả năng phá bỏ các thai còn lại để chọn thai nhi tốt nhất theo quan điểm của gia đình thì cũng dễ hiểu.

- Việc “mang thai hộ” có thể trở thành một kỹ nghệ vì biến việc sinh con, vốn là đặc quyền và là quà tặng vô cùng quý giá của Chúa ban cho những ai được mời sống ơn gọi hôn nhân, thành một việc như mọi dịch vụ kinh doanh khác trên thị trường. Hơn thế nữa, việc này càng phá giao ước hôn nhân đòi buộc vợ chồng kết hợp mật thiết với nhau, cộng tác với Chúa trong chương trình sáng tạo. Việc ấy cũng làm thương tổn thiên chức làm mẹ của phụ nữ vì đã khiến những người làm nghề này thành những “máy sinh sản”[1].

- Thụ tinh nhân tạo dị hợp xúc phạm bản chất đơn nhất của hôn nhân, vì phôi do sự gặp gỡ giữa giao tử của hai người, mà ít nhất một trong hai người ấy không thuộc cặp vợ chồng kết hợp trong hôn nhân. Ngoài ra, việc làm mẹ thay là một thiếu sót khách quan đối với bổn phận của tình mẫu tử, trung tín giữa vợ chồng. Nó còn ảnh hưởng tới đứa con và quyền được thai nghén cưu mang, sinh ra bởi chính mẹ mình. Việc đó gây thiệt hại cho gia đình khi chia cắt các yếu tố cấu thành gia đình: thể xác, tâm linh và đạo đức[2].

b. Hành vi vợ chồng mang ý nghĩa cao quý

Không phải là không quan tâm đủ đến con người với các nhu cầu yêu thương và hạnh phúc trần thế, nhưng vì Giáo hội trân trọng con người, ra sức gìn giữ phẩm giá của họ và mong muốn họ được hạnh phúc đích thật. Hiến chế Gaudium et Spes khẳng định hành vi vợ chồng trong bối cảnh hôn nhân và gia đình “là hành vi cao quí và chính đáng” (số 49.)

Thêm nữa, Huấn Quyền cho rằng nếu kỹ thuật nào không thay thế hành vi vợ chồng, mà chỉ trợ giúp hành vi ấy đạt đến mục tiêu truyền sinh thì được chấp nhận về mặt luân lý[3]. Theo lẽ đó, Giáo hội đánh giá cao các nỗ lực nghiên cứu của khoa học trong lãnh vực giúp các cặp vợ chồng vô sinh. Tuy nhiên, Giáo hội nhấn mạnh tính thánh thiêng của hôn nhân. Việc dùng kỹ thuật can thiệp vào tạo sinh phải giữ được sự kết hợp vợ chồng cách tự nhiên và tôn trọng sự sống ngay từ lúc khởi đầu.

c. Hoàn cảnh ra đời của con người phải là hôn nhân và gia đình[4]

Giáo hội dạy, “Con người ra đời phải là hoa trái của hành động trao hiến hỗ tương của cha mẹ, được thể hiện nơi hành vi vợ chồng”. Họ được mời gọi tham dự vào tình yêu của Ba Ngôi hằng sống. Chính vì phẩm giá con người cao cả, nên hoàn cảnh ra đời cũng phải xứng hợp.

Sứ điệp trung tâm mà Giáo hội loan báo là “loài người được Thiên Chúa yêu thương”, con đường Giáo hội muốn dẫn các bạn đi là “tình yêu và sự thật”.

Như vậy, cùng với Giáo hội, bạn có thể bênh vực và bảo vệ những giá trị cao quý của con người, giúp họ có cuộc sống xứng với nhân vị,...

d. Lời khuyên cho vợ chồng vô sinh

Là người Kitô hữu, “mọi người nên ý thức sự sống và nhiệm vụ lưu truyền sự sống không chỉ bị giới hạn ở đời này, việc đánh giá chân thật và ý nghĩa đầy đủ của chúng chỉ có thể hiểu được khi quy chiếu về vận mệnh vĩnh cửu của con người.” (GLGHCG 2371).

Trong Kinh Thánh Cựu Ước, chúng ta thấy Elkanak khuyên vợ mình là bà Hannah, khi bà ấy khóc lóc không chịu ăn uống vì không thể sinh con: “Tại sao em khóc, tại sao em không ăn? Anh đây không tốt hơn mười đứa con trai sao?” (1 Sm 1,1-8). Quả vậy, yêu nhau thực sự, đau khổ sẽ làm hai người gắn bó, cần đến nhau hơn.

Mong sao họ chấp nhận “thân phận người”, lạc quan để vượt qua u buồn. Trong số 178-179, tông Huấn Amoris Laetitia có nói tới “tính sinh hoa trái mở rộng”:

Hôn nhân không được thiết lập chỉ để sinh con cái... nếu họ không có con, thì hôn nhân vẫn giữ được đặc điểm như một cộng đoàn và hiệp thông sự sống trọn vẹn và vẫn duy trì được giá trị và tính bất khả tiêu của nó. Cũng thế, “chức phận làm mẹ không phải chỉ là một thực tại sinh học, nhưng được phát biểu nhiều cách khác nhau”. Tôi khuyến khích những người không thể có con hãy mở rộng tình thương của họ để bảo bọc những ai thiếu một hoàn cảnh gia đình thích đáng. Họ sẽ không ân hận vì đã quảng đại. Đó là hành vi hiến tặng ơn phúc gia đình cho một người không có ơn phúc này. Những người chấp nhận thách đố nhận con nuôi cách vô điều kiện và nhưng không quả đã trở nên máng chuyển tình yêu của Thiên Chúa...

Nói tóm lại, đành rằng Giáo hội đồng cảm với các đôi vô sinh nhưng trên phương diện nhân linh và thần linh, việc thụ tinh nhân tạo không được Giáo hội chấp nhận vì những lý do nêu trên.

Ước mong bạn kiên nhẫn tìm hiểu chiều sâu của giáo huấn trước khi các bạn thầm trách Giáo hội. Cuộc đối thoại giữa chúng ta vẫn còn tiếp diễn trong đời sống, bạn ạ!

Tham khảo thêm những bài cùng chủ đề:

Đức Giám mục Louis Nguyễn Anh Tuấn: Vấn đề “Hiếm muộn - Thụ tinh nhân tạo - Mang thai hộ”

BS Trần Như Ý Lan, CND: Phôi từ ba cha mẹ hay hiến tặng ty lạp thể: Một nhận định trên phương diện Y Khoa và Luân Lý Công Giáo

Linh mục Antôn Nguyễn Văn Tuyến: Vấn đề phá thai và hiếm muộn

(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (16.3.2023)

---------------------------------

 

Bài 80: KINH THÁNH CÓ THẬT LÀ LỜI CHÚA?


Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Hỏi: Làm sao chúng ta biết Kinh Thánh là lời của Chúa? Có bằng chứng nào xác minh?

Trả lời:

Chúng tôi xin trả lời câu hỏi của bạn bằng câu chuyện sau.

Có một người vô tín trêu người bạn mình là một tín hữu Công giáo:

Người vô tín: Tôi thấy ông thật ngớ ngẩn. Tin vào những điều tầm phào.

Người Công giáo: Tôi tin tầm phào cái gì?

Người vô tín: Rõ ràng cuốn sách Kinh Thánh gì gì đó là do con người viết, sao các ông cứ khăng khăng là lời Chúa. Làm sao ông biết đó là lời Chúa? Ông chứng minh tôi xem nào?

Người Công giáo: Ông muốn tôi chứng minh như thế nào? Tôi phải làm gì để ông tin? Chẳng lẽ bảo Chúa hiện ra nói với ông đó là lời Chúa à?

Người vô tín: Nếu Chúa hiện ra thì tốt quá. Nhưng Chúa có hiện ra đâu. Tất cả đều do mấy ông rảnh rỗi, thêu dệt, bịa chuyện để chiêu dụ người ta theo tôn giáo của mấy ông thôi.

Người Công giáo: Nếu ông nghĩ như vậy thì tôi cũng chịu thôi. Cũng có thể ông đúng, vì tôi chẳng biết làm sao để chứng minh cho ông theo kiểu của toán học được. Nhưng bỗng dưng ông làm cho tôi suy nghĩ.

Người vô tín: Ông suy nghĩ cái gì?

Người Công giáo: Tôi tự hỏi làm sao ông biết người mà ông gọi là “bố” là bố của ông thật?

Người vô tín: Này, này, ông đừng có vô duyên nhé!

Người Công giáo: Vô duyên gì chứ! Ông chứng minh tôi xem thử coi.

Người vô tín: Trong giấy khai sinh ghi như thế. Mẹ tôi nói như thế. Ông bà tôi nói như thế. Hàng xóm tôi xác nhận điều đó.

Người Công giáo: Trời, ông từng tuổi này rồi mà lại đi tin vào những gì người ta nói à. Biết đâu người ta lừa ông thì sao. Giấy khai sinh ghi sai thì sao. Báo chí vẫn đăng đầy những câu chuyện lừa gạt nhầm lẫn đấy thôi.

Người vô tín: Tôi có thể đi xét nghiệm. Kết quả xét nghiệm ADN sẽ chứng minh được thôi.

Người Công giáo: Vậy thì ông lại phải tin vào cái máy làm xét nghiệm, rồi tin vào người làm xét nghiệm nữa. Lỡ người làm xét nghiệm làm sai, hoặc ông ta nhầm lẫn với kết quả của ai đó, hoặc ông ta lừa ông thì sao? Biết đâu cái máy xét nghiệm có trục trặc gì đó khi làm xét nghiệm cho ông thì sao?

Người vô tín: Ông định bắt bẻ tôi đấy à? Làm gì có chuyện đó? Tại sao gia đình tôi phải lừa tôi chứ?

Người Công giáo: Tôi chỉ hỏi thôi mà. Còn tại sao người ta lừa ông thì ai mà biết. Nhưng ông cũng không thể chứng minh cho tôi cách chắc chắn rằng người đàn ông mà ông gọi là “bố” kia là bố thật của ông, đúng không?

Người vô tín: Ông không thấy tôi giống bố tôi như đúc à. Ai cũng bảo thế!

Người Công giáo: Thế gian này có thiếu gì người giống người, mà họ có máu mủ gì đâu. Vả lại, ông nói thế thì chẳng lẽ đứa bé sinh ra không giống cha mẹ nó như đúc thì không phải là con của họ à.

Người vô tín: Nhưng tôi khẳng định đó là bố tôi.

Người Công giáo: Này này, ông đừng có vô lý thế. Nói cái gì cũng phải có bằng chứng chứng minh thuyết phục chứ. Khẳng định là khẳng định thế nào.

Người vô tín: Tôi tin như thế, vì từ bé đến lớn, tôi cảm nhận được sự gần gũi của bố với tôi. Tôi thấy giữa tôi với ông có một mối dây gì đó rất thiêng liêng mà tôi không có với bất kỳ người đàn ông nào khác trên đời. Tôi cũng cảm nhận thấy bố tôi yêu thương tôi nhiều hơn bất cứ ai.

Người Công giáo: Vậy tại sao hồi nhỏ bố ông lại không giúp ông kinh doanh mà bắt ông phải một mình tự lập. Ông không thấy có gì đó mâu thuẫn với cái mà ông gọi là tình yêu à?

Người vô tín: Thì lúc đầu tôi không hiểu tại sao bố tôi làm thế, nhưng dần dần, khi lớn lên tôi hiểu hơn. Cũng nhờ mẹ tôi giải thích cho tôi hiểu rõ ngọn ngành, nên tôi mới hiểu ra những gì ẩn giấu trong đầu của bố. Tôi yêu bố nhiều hơn và tôi tin rằng ông ta là bố tôi thật, cộng với những bằng chứng lúc nãy tôi nói mà ông không chịu tin nữa.

Người Công giáo: Vậy rốt cuộc là mình cũng quy về chữ “tin”, đúng không? Tôi hoàn toàn đồng ý với ông. Dĩ nhiên là niềm tin của mình không phải là một niềm tin vớ vẩn, vô căn cứ. Nhưng nó dựa trên những bằng chứng được cho là khá xác thực để mình tin.

Người vô tín: Nhưng nãy giờ ông cứ vặn vẹo tôi chuyện này để làm gì?

Người Công giáo: Thì để trả lời cho cái điều mà ông vặn vẹo tôi đó?

Người vô tín: Tôi vặn vẹo ông bao giờ?

Người Công giáo: Lúc nãy, chẳng phải ông đã nói tôi là “hâm” khi tự dưng nói quyển sách Kinh Thánh là lời Chúa đấy thôi? Tôi chả có bằng chứng gì để chứng minh cho ông, cũng giống như ông chẳng có gì để thuyết phục tôi chuyện người mà ông gọi là “bố” đích thực là bố ông. Nhưng chúng tôi tin, cũng giống như ông tin rằng người đó là bố ông vậy. Và cũng giống như ông, chúng tôi không tin một điều mà chúng tôi không có căn cứ. Giáo hội Công giáo của chúng tôi không tự dưng lấy ngẫu nhiên quyển sách nào đó của ai đó rồi phán “đó là Lời Chúa”, dù người đó có nổi tiếng đến thế nào.

Niềm tin của chúng tôi trước hết đặt ở một con người tên là Giêsu. Qua những gì Người nói và Người làm, và chính Người cũng khẳng định thân phận “từ trời” của mình. Tin vào con người đặc biệt này dẫn chúng tôi đến việc tin những gì Người nói. Khi còn sống, Người đã sử dụng cái mà chúng tôi gọi là Kinh Thánh Cựu Ước như là lời của Thiên Chúa để giảng dạy cho chúng tôi. Sau khi Người về trời, các môn đệ và những người thân tín đã ghi lại những gì Người dạy cho chúng tôi biết. Những tác phẩm này được gọi là Tân Ước.

Thực ra, có rất nhiều tác phẩm về Người được viết ra, nhưng không phải tác phẩm nào cũng được xem là lời Chúa. Phải trải qua một thời gian dài thẩm định, kiểm chứng, cùng với ơn soi sáng mà Thiên Chúa ban cho một số vị Thánh, Giáo hội mới đi đến xác quyết về một số cuốn phản ánh chân thực chân lý đức tin và mặc khải của Thiên Chúa. Từ đó, chúng tôi có trọn vẹn cuốn Kinh Thánh như ngày hôm nay.

Người vô tín: Nhưng nếu Kinh Thánh là lời Chúa, thì tại sao lại có những chỗ khó hiểu, thậm chí không giống và trùng khớp với nhau?

Người Công giáo: Thì cũng giống như chuyện ông không hiểu về những quyết định của bố ông vậy. Có những cái ông phải tìm hiểu kỹ. Đôi khi ông phải nhờ đến sự giải thích của mẹ ông, là người hiểu rõ bố ông nhất thì mới khám phá ra và hiểu đúng ý của bố ông. Ban đầu, ông rất khó chịu khi bố ông có vẻ rất cương quyết với ông, nhưng dần dần, ông hiểu ra ý bố và yêu bố hơn. Chúng tôi cũng vậy. Không phải lúc nào chúng tôi cũng hiểu đủ và hiểu đúng lời Chúa. Bởi vậy, trước khi phán xét và chê bai, chúng tôi phải tìm hiểu kỹ và nhờ những người có hiểu biết giải thích cho chúng tôi. Khi hiểu rồi, chúng tôi càng tin chắc hơn Kinh Thánh là lời Chúa, vì nó đụng chạm đến từng ngõ ngách cuộc đời chúng tôi, giúp chúng tôi vươn lên một cảnh vực mới.

Người vô tín: Nhưng tôi vẫn cảm thấy nó sao sao á?

Người Công giáo: Có một loại kiến thức không đến từ chứng minh của khoa học, nhưng đến từ trực giác của con tim. Không phải tôi, hay một vài người tin rằng Kinh Thánh là lời Chúa, mà cả hơn một tỷ người. Trong số những người tin vào Kinh Thánh cũng có không ít người là những khoa học gia, bác học uyên thâm, chứ không phải là những người ít học, kém hiểu biết. Bởi thế, với tất cả những chứng cứ này, ông bảo tôi có lý không khi tin Kinh Thánh là lời Chúa? Mà thực ra, nếu ông không thể cảm nhận được thì cũng không sao, chỉ cần ông mở lòng ra, bỏ đi thành kiến, thì một ngày nào đó, ông sẽ được cho thấy thôi.

Người vô tín: Thôi, tôi không tầm phào với ông nữa. Tôi phải đi kiếm cơm đây.

Người Công giáo: Ừ, tôi cũng vậy. Chào ông nhé!

Bài cùng chủ đề: Michel Quesnel, Những câu hỏi đầu tiên về Kinh Thánh: Tổng quát


(Trích Giải Đáp Thắc Mắc cho người trẻ Công giáo, Tập 4, Nxb Tôn Giáo, 04/2021)

WHĐ (20.3.2023)

---------------------------------
 

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây