Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật PS 3-A Bài 151-190 Hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh

Thứ năm - 27/04/2023 06:10
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật PS 3-A Bài 151-190 Hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật PS 3-A Bài 151-190 Hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật PS 3-A Bài 151-190 Hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh

-----------------------------
Phúc Âm: Lc 24, 13-35: "Hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra. Ðang khi họ nói truyện và trao đổi ý kiến với nhau, thì chính Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ, nhưng mắt họ bị che phủ nên không nhận ra Người. Người hỏi: "Các ông có truyện gì vừa đi vừa trao đổi với nhau mà buồn bã vậy?" Một người tên là Clêophas trả lời: "Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất ở Giêrusalem mà không hay biết những sự việc vừa xảy ra trong thành mấy ngày nay". Chúa hỏi: "Việc gì thế?" Các ông thưa: "Sự việc liên can đến ông Giêsu quê thành Nadarét. Người là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ, trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng. Thế mà các trưởng tế và thủ lãnh của chúng ta đã bắt nộp Người để xử tử và đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel. Các việc ấy đã xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi, quả thật, đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng sáng. Và không thấy xác Người, họ trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng: Người đang sống. Vài người trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ đã nói; còn Người thì họ không gặp".
Bấy giờ Người bảo họ: "Ôi kẻ khờ dại chậm tin các điều tiên tri đã nói! Chớ thì Ðấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vinh quang sao?" Ðoạn Người bắt đầu từ Môsê đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người. Khi gần đến làng hai ông định tới, Người giả vờ muốn đi xa hơn nữa. Nhưng hai môn đệ nài ép Người rằng: "Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều, và ngày sắp tàn". Người liền vào với các ông.
Ðang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Ðoạn Người biến mất. Họ bảo nhau: "Phải chăng lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong ta, khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó ư?" Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem, và gặp mười một tông đồ và các bạn khác đang tụ họp. Họ bảo hai ông: "Thật Chúa đã sống lại, và đã hiện ra với Simon". Hai ông cũng thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào. - Ðó là lời Chúa.

--------------------------------------
PS3-A151: CẢM THÔNG.. 2
PS3-A152: ĐIỂM TỰA VỮNG CHẮC – XIN THẦY Ở LẠI VỚI CHÚNG CON! 4
PS3-A153: NÓNG BỎNG CON TIM... 8
PS3-A154: HÀNH TRÌNH EMMAU.. 9
PS3-A155: ĐỒNG HÀNH VỚI CHÚA TRONG CUỘC ĐỜI 12
PS3-A156: EMMAUS. 21
PS3-A157: CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH_A.. 24
PS3-A158: CHẬM HIỂU VÀ CHẬM TIN.. 26
PS3-A159: LỜI CHÚA VÀ THÁNH THỂ.. 28
PS3-A160: CON ĐƯỜNG EMMAUS VÀ NIỀM TIN PHỤC SINH.. 30
PS3-A161: ĐIỀU GÌ NGĂN CẢN NGƯỜI MÔN ĐỆ KHÔNG NHẬN RA CHÚA GIÊSU?. 31
PS3-A162: GẶP GỠ CHÚA KITÔ PHỤC SINH TRÊN ĐƯỜNG ĐỜI 34
PS3-A163: EM-MAU, ĐƯỜNG ĐI KHÔNG ĐẾN.. 37
PS3-A164: CHẲNG HIỂU GÌ 40
PS3-A165: CHÚNG TA LÀ NHỮNG LỮ KHÁCH EM-MAU.. 46
PS3-A166: Xin ở lại với chúng tôi 48
PS3-A167: Con tim đã vui trở lại 51
PS3-A168: Trên đường Emmaus. 52
PS3-A169: Đổi đời 54
PS3-A170: Đức Giêsu Kitô- Niềm hy vọng. 56
PS3-A171: Đón nhận hay khước từ lời Chúa?. 58
PS3-A172: Ánh Sáng: Ơn Ban của Chúa Kitô Phục Sinh. 60
PS3-A173: Họ nhận ra Người 62
PS3-A174: Lạy Chúa xin hãy ở lại với chúng con”. 64
PS3-A175: Niềm tin và hy vọng. 67
PS3-A176: Nhận ra Chúa hiện diện trong cuộc sống gia đình. 69
PS3-A177: Chuyện kể trên đường Emause. 72
PS3-A178: Chúa Nhật 3 Phục Sinh. 75
PS3-A179: Sợi chỉ đỏ Chúa nhật 3 Phục Sinh. 76
PS3-A190: Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt. 82

----------------------------

 

PS3-A151: CẢM THÔNG


Lm. Trần Việt Hùng

 

Cùng ngày thứ nhất trong tuần, Có hai môn đệ, thấm nhuần đau thương. Em-maus dẫn lối lên PS3-A151


Cùng ngày thứ nhất trong tuần,
Có hai môn đệ, thấm nhuần đau thương.
Em-maus dẫn lối lên đường,
Trở về quê cũ, tựa nương tháng ngày.
Truyện trò trao đổi hăng say,
Mỗi người một ý, chăng hay tình hình.
Giê-su tiến bước đồng tình,
Hỏi han giải thích, Thánh Kinh từ đầu.
Các ông khờ dại bao lâu,
Tiên tri loan báo, khổ sầu tôi trung.
Ki-tô cứu thế bao dung,
Đánh đòn hành hạ, tới cùng xót xa.
Khổ hình thập giá vì ta,
Hy sinh chịu chết, thứ tha tội đời.
Ba ngày sống lại rạng ngời.
Hoàng hôn ghé quán, xin mời cùng vô.
Giê-su cầm bánh tung hô,
Tạ ơn chúc tụng, tông đồ ngạc nhiên.
Đọan Người biến mất nhãn tiền,
Các ông sáng mắt, nhân hiền Thầy ơi!

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã hiện ra rất nhiều lần với các môn đệ. Khi Chúa hiện ra, họ đã không nhận ra Chúa ngay. Bà Maria Mađalêna thấy Chúa đó, nhưng tưởng là người làm vườn. Ngoài bãi biển, Chúa nói hãy thả lưới bên hữu thuyền, các tông đồ cũng không nhận ra Chúa. Trên đường về quê Emmaus, hai môn đệ cũng không nhận ra Chúa đang đồng hành với các ông. Vậy sau khi sống lại, Chúa đã biến đổi hình dạng khác thường.

Được nhìn biết Chúa là một ơn Chúa ban. Chúa chỉ xuất hiện với người mà Chúa muốn tỏ bày. Câu truyện trong bài phúc âm kể rằng hai môn đệ trên đường Emmaus bước đi trong thinh lặng và chán nản. Các ông đã bỏ cuộc, nhưng trong lòng vẫn thao thức. Chọn cơ hội tốt, Chúa xuất hiện đồng hành để giải thích ý nghĩa sự đau khổ, sự chết và sự sống lại mà các tiên tri đã loan báo về Đấng Cứu  Thế. Tuy hiểu lời Kinh Thánh, nhưng mắt các ông vẫn bị che kín.

Chúa kiên nhẫn đợi chờ sự thức tỉnh của hai môn đệ. Chúa biết hai ông là người chân thành và nhiệt tình. Chấp nhận lời mời ở lại quán trọ với bạn trong lúc chán nản. Nơi đây Chúa đã dâng thánh lễ thứ hai, qua nghi thức bẻ bánh như dấu chỉ và các môn đệ đã nhận ra Thầy. Lòng các ông phấn khởi và vui tươi. Tinh thần các ông như sống lại trong niềm hy vọng. Khởi đầu cho sứ mệnh mới, hai môn đệ lập tức trở lại Giêrusalem đem tin vui đến các môn đệ khác.

Trong cuộc đời chúng ta cũng thế, đã bao lần chúng ta chán nản rơi vào thất vọng. Chúng ta toan tính bỏ cuộc. Đôi khi chúng ta tìm giải quyết theo cách thức và nhãn quan của chúng ta. Tốt nhất, chúng ta hãy mời Chúa cùng đồng hành. Chúa sẽ đem lại nguồn an vui.

Chúng ta nghe câu truyện dấu chân trên cát. Trong giấc mơ, người đó bước bộ dọc theo bờ biển với Chúa. Bỗng nhiên những biến cố cuộc đời xuất hiện trong chớp nhoáng. Nhìn lại dấu chân trên cát, người đó thấy rằng trong những lúc vui tươi và hạnh phúc, có hai hàng dấu chân xuất hiện trên cát. Nhưng những lúc đau khổ, chỉ còn lại một hàng dấu chân. Người đó thưa với Chúa: Con không hiểu sao, trong lúc con cần Chúa, Chúa lại rời xa con. Chúa phán: Cha không bao giờ xa con, trong những lúc con gặp nguy nan và buồn nản. Khi con chỉ thấy một hàng dấu chân. Khi đó, Cha mang vác con trên vai.

Chúng ta hãy mời Chúa đồng hành trên đường lữ thứ. Chúng ta hãy rước Chúa cư ngụ trong nhà. Chúng ta hãy đón Chúa ngự trong tâm hồn chúng ta. Mừng Chúa phục sinh, chúng ta hãy mở rộng cửa đón Chúa. Chúa chính sẽ là nguồn ủi an, nâng đỡ và dẫn dắt chúng ta vào cuộc sống vĩnh cửu.

---------------------------

 

PS3-A152: ĐIỂM TỰA VỮNG CHẮC – XIN THẦY Ở LẠI VỚI CHÚNG CON!


Lm. Giuse Nguyễn

 

Ngày 18-04-2017, báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Liên Hiệp Quốc đã khẳng PS3-A152


Ngày 18-04-2017, báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Liên Hiệp Quốc đã khẳng định “đạo đức Công Giáo” giúp giải thích tại sao thanh thiếu niên ở Mêxicô lại hạnh phúc hơn thanh thiếu niên ở Anh. Lý do là bởi vì Nước Anh, một trong những nước giàu có, phụ thuộc một cách bấp bênh vào phúc lợi từ hệ thống an sinh xã hội của nhà nước; trong khi tại Mêxicô và Balan, người ta trông cậy vào gia đình và cộng đồng, là những thể chế đáng tin cậy, được xây dựng vững mạnh trên niềm tin tôn giáo. Điều đó cũng có nghĩa là sự bảo đảm an toàn của người đời không làm cho người ta hài lòng với cuộc sống; ngược lại, dù cuộc sống có những gian nan thử thách, nhưng khi có niềm tin vào Chúa, vào sự sống đời sau, con người cũng cảm thấy hạnh phúc và hài lòng với cuộc sống của mình. Chính vì vậy, điều quan trọng là con người tìm ở đâu để có một điểm tựa vững chắc cho cuộc đời mình.

I.  PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài Đọc I: Cv 2, 14.22b-33

Tiếp tục loạt bài giảng về cái chết và sự Phục sinh của Đức Giêsu Kitô để mời gọi người ta tin vào Ngài, Thánh Phêrô đã nói đến sự gian ác của con người: “Đức Giêsu đã bị nộp, và anh em đã dùng ban tay kẻ dữ mà đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi” (Cv2, 23b). Sự gian ác đó xuất phát bởi những tính toán riêng tư của con người. Họ muốn loại trừ ông Giêsu ra khỏi cuộc sống để họ được bình an với những gì họ đang có; trong khi Đức Giêsu nói lên những chân lý, những sự thật và những đòi buộc… chính những điều đó đã khuấy động tâm hồn họ, đòi buộc họ phải từ bỏ lối sống không đúng đắn để đón nhận Tin Mừng… Nhưng vì họ không muốn nên họ đã giết chết Ngài. Hay nói cách khác, họ đã có một điểm tựa khác ngoài điểm tựa Giêsu.

Bài Đọc II: 1Pr 1, 17-21

Cũng là những lời rao giảng của Tông đồ trưởng Phêrô, ngài đã nhắn nhủ giáo đoàn của mình: “Anh em hãy biết rằng, không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại. Nhưng anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Kitô” (1Pr 1, 18-19). Như thế Phêrô bằng tất cả tấm chân thành của một Tông đồ, của một kẻ đã từng chối Thầy, của một người đã được chứng kiến Đấng Phục Sinh, của một môn đệ đã mạnh rao giảng về niềm tin mà mình đã xác quyết, giờ đây ông chỉ cho các Kitô hữu biết đâu là điểm tựa vững chắc cho cuộc đời của họ: là chính Đức Kitô.

Tin Mừng: Lc 24, 13-35

Hai môn đệ được nhắc tới trong bài Tin Mừng hôm nay, đã một thời dám từ bỏ nhà cửa, quê hương, sự nghiệp của mình để làm môn đệ ông Giêsu. Như lời họ chia sẻ với người “khách lạ”, họ theo ông Giêsu để mong chờ sự giải phóng cho dân tộc Israel. Nhưng với cái chết của ông Giêsu họ hoàn toàn thất vọng nên đã quay về với những gì họ đã từ bỏ. Có lẽ họ cũng đã chuẩn bị để khi trở về sẽ bị gia đình, bị lối xóm cười chê, mai mỉa; chắc phải một thời gian lâu lắm người ta mới hết chọc quê mình. Nhưng thà như vậy còn hơn là ở lại Giêrusalem, sẽ mất tất cả.

Khi được người “bạn đồng hành” giải thích Thánh Kinh, rồi làm cử chỉ quen thuộc là “cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho họ” (Lc 24, 30), lúc đó “mắt họ liền mở ra, và họ nhận ra Người” (Lc 24, 31).

Khi nhận ra Thầy mình đã sống lại từ cõi chết, họ lập tức quay lại Giêrusalem ngay đêm hôm đó, kể tất cả mọi sự cho anh em mình. Bắt đầu từ ngày hôm đó, cuộc đời của họ đã biến đổi hoàn toàn. Họ không còn theo ông Giêsu vì để mong chờ sự giải phóng cho Israel, nhưng họ tin tưởng và bước theo Đấng đã chết và sống lại để họ được Sự Sống Mới.

Như vậy điểm tựa của 2 môn đệ trong bài Tin mừng hôm nay đã thay đổi từ một con người Giêsu sang một Đấng Phục Sinh.

II.  ĐIỂM TỰA CHO CON NGƯỜI

Những giá trị tự nhiên

Con người luôn cần “những điểm tựa”. Từ khi được sinh ra đứa bé đã nương tựa hoàn toàn vào cha mẹ hoặc những người chăm sóc chúng. Trưởng thành, điểm tựa để hình thành nhân cách của một con người chính là gia đình, trường học và xã hội. Lớn lên, điểm tựa đó là nơi để họ nghỉ ngơi sau một thời gian làm việc mệt mỏi, là chốn để họ tìm về sau những lúc đi hoang. Và luôn luôn trong suốt cuộc đời, điểm tựa cho con người chính là niềm tin vào những con người mà mình gặp gỡ, vào cuộc sống mà mình đang hiện diện…

Thế nhưng thực tế ngày nay cho thấy điểm tựa cho con người không còn vững chắc. Hàng loạt những vụ án dâm ô với trẻ em, trong đó có cả những người thân, người lân cận, người làm công tác giáo dục… đã đến lúc phải gióng lên hồi chuông báo động ; những câu chuyện giáo viên mầm non bạo hành trẻ em… cho thấy những điểm tựa vốn vững chắc một thời đã trở thành cái bẫy cho trẻ em. Những cô gái mới lớn, vô tư, muốn có nhiều tiền để đổi đời, đặt niềm tin vào những người giới thiệu việc làm, nhưng đã vô tình rơi vào tay những kẻ buôn người. Những nam sinh, những chàng trai mới lớn muốn tìm “điểm tựa trên mây” nên đã rơi vào cái bẫy của sự tò mò, đến lúc muốn thoát ra cũng không được bởi vòng vây của dâm ô, của chất gây nghiện… Những con người và môi trường sống cũng không còn là chỗ dựa an toàn cho nhau, vì không biết người ta lợi dụng, lường gạt và hãm hại nhau lúc nào… Thức ăn, nước uống, cũng không còn an toàn cho con người vì thực phẩm bẩn và ô nhiễm môi trường…

Tất cả những phản ánh nêu trên chính là tâm trạng của 2 môn đệ trên đường Emmaus. Họ đã mất đi điểm tựa, họ đã thất vọng về tất cả. Họ buông xuôi, bỏ cuộc. Họ biết tìm nơi đâu một điểm tựa an toàn, chắc chắn?

Điểm tựa Giêsu

Lời Thánh Vịnh 61: “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn”. Đức Giêsu đã khẳng đinh: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga14, 6). Và: “Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Và khi Thầy đã ra đi dọn chỗ cho các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu, thì các con cũng ở đó”.

Trên đường Emmaus ngập tràn đêm tối, chán nản và thất vọng, 2 môn đệ gặp lại Thầy mình đã Phục Sinh từ trong cõi chết. Mầu nhiệm đó làm cho lòng các ông bừng cháy lên. Các ông quay trở lại Giêrusalem mà không còn sợ hãi, vì các ông đã tìm lại được điểm tựa nơi Thầy Giêsu, nơi Đấng Phục Sinh.

Người ta kể một câu chuyện về cây táo. Lúc còn nhỏ, ngày nào đứa bé cũng chạy ra leo trèo, chơi giỡn dưới gốc cây táo. Thời gian trôi qua, đứa bé giờ đã lớn, không còn đến chơi với cây táo nữa. Một hôm nó trở lại vẻ mặt u buồn. Cây táo mừng rỡ reo lên: “Hãy đến chơi với ta đi!”. Đứa bé nói cháu đã lớn và cháu không thích chơi giỡn nữa, cháu cần tiền. Cây táo nói: “Vậy con hãy leo lên hái trái ta đem bán và lấy tiền”. Nó hái tất cả trái trên cây táo và sung sướng ra đi. Một thời gian sau, nó lại quay về với vẻ mặt u buồn. Cây táo lại vui mừng: “Hãy đến chơi với ta đi!”. Nó nói “cháu không có thời gian, giờ cháu còn phải lo cho gia đình, cháu cần một mái nhà”. Cây táo vui vẻ nói: “Vậy cháu hãy đốn những cành cây của ta về cất nhà đi!” Và chàng trai đã chặt hết những cành cây và ra đi không trở lại. Một thời gian sau, đứa bé giờ đã lớn tuổi, quay trở lại với vẻ mặt u buồn. Cây tạo lại vui vẻ: “Hãy đến chơi với ta đ!” Đứa bé năm nào nói: “ Cháu đang buồn, vì thấy mình già đi, cháu muốn chèo thuyền đi khắp nơi cho khuây khỏa”. Cây táo liền nói: “Vậy cháu hãy đốn thân ta để làm một chiếc thuyền đi!” Chàng trai chặt thân cây táo làm thuyền và chèo đi xa, xa mãi. Nhiều năm sau, chàng trai giờ đã già nua quay lại với gốc cây táo. Cây táo u buồn và nói: “Ta xin lỗi vì ta chẳng còn gì cho con, không còn trái nữa”, “nhưng cháu đâu còn răng để ăn” ; “Ta cũng chẳng còn cành cho con leo”, “Nhưng cháu không đủ sức để leo nữa” ; “Ta thật sự chẳng còn gì cho con, ngoài bộ rễ đang chết dần, chết mòn”, “Con cũng chẳng cần gì ngoài một chỗ nghỉ ngơi sau những tháng ngày mệt mỏi”. Cây táo mừng rỡ reo lên: “Vậy thì gốc cây già cỗi này là nơi rất tốt để làm điểm tựa cho con nghỉ ngơi sau một cuộc đời mệt mỏi”. Và đứa bé năm nào giờ là một ông già ngồi xuống, tựa lưng vào bộ rễ cây táo, nhắm mắt lại, ngủ một giấc thật ngon. Còn cây táo thì mừng rơi nước mắt.

Cây táo là hình ảnh của Thiên Chúa đã hy sinh tất cả mọi sự cho con người, nhưng con người đi tìm một điểm tựa khác, họ chỉ quay về với Ngài mỗi khi cuộc đời không cho họ một điểm tựa. Nhưng đến lúc cuối đời, chỉ Thiên Chúa mới là điểm tựa vững chắc cho họ mà thôi.

Qua lời Chúa hôm nay, tôi muốn giới thiệu với anh chị em, đặc biệt các bạn trẻ một điểm tựa vững chắc mà Thiên Chúa đã ban tặng cho con người, đó là Đức Giêsu Kitô. Hãy từ bỏ những điểm tựa khác như tiền bạc, những thú vui, những tò mò…để tìm đến với điểm tựa Giêsu. Cụ thể sau một ngày sống hãy tìm đến với Ngài trong giờ kinh hôm. Đến với Ngài trong các thánh lễ, các bí tích và các việc đạo đức…

Chúng ta có giờ đi hát Karaoke trong căn phòng máy lạnh với chúng bạn, nhưng lại không có giờ để đi tham dự thánh lễ. Chúng ta có thể ngồi hàng giờ để chơi facebook, zalo, nhưng không thể ngồi nửa giờ để đọc kinh gia đình, hay lần chuỗi lòng thương xót….

Hãy thay đổi điểm tựa cho cuộc đời chúng ta vững chắc!

----------------------------

 

PS3-A153: NÓNG BỎNG CON TIM


Lm Vũđình Tường

 

Nóng bỏng con tim là con tim yêu mến, nồng cháy tình yêu. Ngày xưa Môisen trong Cựu Ước PS3-A153


Nóng bỏng con tim là con tim yêu mến, nồng cháy tình yêu. Ngày xưa Môisen trong Cựu Ước nhận biết Thiên Chúa qua bụi gai lửa cháy bập bùng nhưng bụi gai vẫn xanh tươi. Trong Tân Ước hai môn đệ trên đường về quê làng Emmaus cũng nhận biết Đức Kitô Phục Sinh khi tâm tư các ông bừng cháy lửa tình yêu và các ông nhận ra Thầy Phục Sinh. Mặc dầu không đồng í với cách đối xử của chính quyền, họ vừa lạm dụng quyền hành vừa xử án tử hình bất công với Đức Kitô nhưng các môn đệ vẫn dùng ngôn từ của người tỏ ra có tư cách, lịch sự để diễn tả tâm tình đau khổ của người đang mất niềm hy vọng nơi các nhà lãnh đạo.

Nhờ tâm tình bác ái và lòng nhân các ông đã biến con tim đau khổ thành con tim nồng cháy tình yêu. Bác ái và lòng nhân với người xa lạ không quen, các ông gặp trên đường về quê. Dù hai người đang to nhỏ, tâm sự về nỗi đau đớn trong lòng, các ông vẫn chào đón người lạ trên đường và cùng với người lạ chia sẻ tâm sự riêng của hai người. Người lạ không những chỉ lắng nghe với tâm tình chân thành, cởi mở và mau chóng trở thành người chủ toạ, hướng dẫn cuộc đối thoại, giải thích cho các ông về mọi biến cố xảy ra cho Đức Kitô. Chính những đau khổ, tủi nhục đó lại trở thành vinh quang để nhân loại nhận biết tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Các môn đệ lắng nghe và thầm cảm tạ người lạ về những điều người đó giải thích cho các ông. Người lạ đó nói với tất cả tấm lòng chân thành, yêu mến và chính tình yêu đó để lại trong tâm các môn đệ lòng yêu mến thiết tha. Chiều đến người lạ còn định đi tiếp nhưng các môn đệ tỏ í mời người lạ cư ngụ tại nhà các ông qua đêm. Điều này bao gồm cả việc đãi bữa cơm tối, chỗ ngủ và có lẽ bữa ăn sáng ngày hôm sau.

Các môn đệ nhận ra Đức Kitô Phục Sinh khi Ngài bẻ bánh. Thay vì được phục vụ nơi bàn tiệc, người xa lạ làm công việc của chủ nhà, chủ tiệc. Ngài cầm bánh trong tay, dâng lời chúc tụng, tạ ơn trước khi trao cho các ông. Việc làm trên nhắc các ông về bữa Tiệc Li Đức Kitô thực hiện trước khi chịu khổ hình. Đúng lúc đó các môn đệ nhận ra Đức Kitô, Ngài liền biến khỏi các ông. Lúc đó các ông mới nhận biết người xa lạ dọc đường, nói với tất cả tâm tình chính là Đức Kitô Phục Sinh dưới hình thức người đi đường. Dù sau một ngày vất vả, cực nhọc nhưng tâm tình các ông chan hoà lòng mến và tình yêu, ngay đêm đó các ông lên đường trở về nơi mà lúc sáng các ông dời bỏ, chạy trốn. Các ông trở lại nơi đó để báo tin vui cho các bạn hữu là các ông đã gặp lại Đức Kitô Phục Sinh và tin vui các người phụ nữ loan báo là tin thật bởi chính các ông đã gặp Ngài, được Ngài giảng dậy dọc đường và chính các ông chứng kiến việc Ngài bẻ bánh và biến khỏi mắt các ông. Câu chuyện trên đường Emmaus cho biết các môn đệ gặp Đức Kitô bởi tâm tình yêu mến Thiên Chúa và hành động bác ái của các ông. Hành động bác ái là cách Đức Kitô dùng để mở con mắt tâm linh, con mắt trong tâm hồn con người. Các ông thể hiện bác ái qua việc mời người lạ cùng chia xẻ tâm tình của mình. Các ông thực hiện bác ái bằng tâm tình lắng nghe, nghe một cách chân thành. Các ông thực hiện bác ái bằng việc mời người lạ trú ngụ qua đêm. Các ông thực hiện bác ái bằng việc cho kẻ đói ăn, khát uống, lạnh cho chăn ấm. Các ông thực hiện bác ái bằng lời nói thành thật và nhẹ nhàng, nhưng không kém phần sắc bén, quyết đoán, khi nói về người lãnh đạo lạm quyền và đối xử bất công.

Đức Kitô Phục Sinh nói với chúng ta qua tiếng nói của con tim yêu mến. Điều răn mới Đức Kitô truyền lại là điều răn yêu thương và điều này được cho miễn phí. Điều răn mới không phải bằng lời nói suông mà được thể hiện qua việc bác ái, yêu thương và lòng nhân dành cho tha nhân. Điều mà các môn đệ trên đường Emmaus thực hiện trong cuộc sống.

Câu chuyện trên cho biết thực phẩm, thức ăn, thức uống, ngôn ngữ, bác ái yêu thương gắn liền với cuộc sống. Chúng quan trọng cho cuộc sống trần gian và khi chúng ta dùng chúng một cách khôn ngoan chúng trở thành giá trị thiết thực cho cuộc sống tâm linh.

------------------------------

 

PS3-A154: HÀNH TRÌNH EMMAU


Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

 

Câu chuyên hai môn đệ trên đường đi Emmau thường được biểu trưng hành trình đức tin của PS3-A154


Câu chuyên hai môn đệ trên đường đi Emmau thường được biểu trưng hành trình đức tin của Kitô hữu. Nói đến hành trình đức tin của Kitô hữu thì chúng không thể không nói đến một hành vi thờ phượng đỉnh cao trong Phụng Vụ là các buổi cử hành Thánh Thể hay còn gọi là Thánh Lễ. Dõi theo chân hai môn đệ năm xưa, xin được chia sẻ đôi tâm tình.

1. Các cơn giông tố hay nhũng thách đố của cuộc đời:

Hai môn đệ chán chường, mỏi mệt, rời Giêrusalem về quê cũ, Emmau. Thế là hết. Hết mọi hy vọng về một vương triều mới dưới sự lãnh đạo của Thầy Giêsu. Tất cả như vô vọng. Còn gì để mong khi xác Người đã nằm im bất động ngay trong huyệt lạnh. Một vài tin đồn khá giật gân từ miệng các phụ nữ. Ôi, phụ nữ! Ôi đàn bà! Thời nào chẳng vậy, từ không thành có cũng thường do các bà dựng nên. Chẳng còn lý do gì để lưu lại chốn kinh thành. Thôi đành về quê xưa, mang lại cảnh kiếp “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”.

Hành trình đức tin Kitô hữu hôm nay và mọi thời, hẳn không thiếu những thì, những lúc, thấy mình chơi vơi, lạc hướng. Niềm tin đã nhiều lần chao đảo trước bao thử thách, cam go và cảnh hẩm hiu của số phận. Hình như Chúa bỏ tôi hay là Chúa có hiện hữu chăng? Nếu thực có Người và Người đang sống thì tình người sẽ không như thế và cuộc đời sẽ không như vậy. Bao ngang trái vẫn dẫy đầy. Người ngay gặp cảnh dữ, kẻ ác lại gặp vận may. Đâu phải là chuyện hoạ hiếm, mà trái lại, nó đang nhan nhãn thật khó chối cãi. Đôi lần và đã nhiều lần, bản thân tôi và cả bậc thánh nhân như muốn buông xuôi. Cứ mặc dòng đời trôi. Người ta sao, mình vậy. Anh hùng làm gì cho thiệt thân. Sao lại phải vất vả bơi ngược dòng cho khác người?

2. Tình yêu luôn cần đó một lời mời:

Một đôi khi đến Nhà Thờ nghe Lời Chúa, nghe giảng dạy, lòng cũng nóng lên như hai môn đệ đi Emmmau ngày nào. Quyết tâm ăn năn: không thiếu. Quyết tâm thay đổi: có nhiều. Nhưng rồi, ra khỏi Nhà Thờ, về với cuộc sống đời thường thì đâu lại hoàn đấy. Ánh sáng của Lời Chúa vừa le lói: “có qua đau khổ mới đến vinh quang” chợt vụt tắt. Hết lưỡng lự lại phân vân và rồi không thắng nổi cái sức ì của kiếp nhân sinh.

Ta có ngờ đâu, như xưa với hai môn đệ đi Emmau, Chúa Kitô Phục Sinh mãi đang đồng hành bên ta. Không nhận ra Người cũng là điều dễ hiểu. Tại mắt đức tin ta mờ tối hay lòng ta đang nặng trĩu muôn sự đời? Dẫu gì đi nữa thì Người chẳng để ta đơn côi. “Thầy ở lại với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Người vẫn đang đồng hành với ta khi vui cũng như lúc buồn, lúc chán chường cũng như khi hân hoan vui sướng. Người đang đợi ta. Người đang chờ ta. Tình yêu luôn mở ngõ với một lời mời.

3. Chuyện nghịch lý của tình yêu:

May thay, hai môn đệ đi Emmau đã mở lời nài ép người khách lạ vào quán trọ dùng bữa, qua đêm. Một nghĩa cử bình thường của tình nhân loại, thế thôi, nhưng cũng đủ thành duyên cớ để Chúa Kitô lưu lại cùng hai ngài và tái diễn các hành vi của Bữa Tiệc Thánh. Thiên Chúa chẳng hề bỏ qua một nghĩa cử nào của ta, dù là bé nhỏ, để bắt đầu một cuộc gặp gỡ. Này Ta đứng ngoài cửa mà gõ. Ai mở cửa thì Ta sẽ vào dùng bữa với họ (x. Kh 3,20).

Chuyện nghịch lý đã xảy ra. Khi chủ mời khách dự tiệc đời thì khách lại trao ban cho chủ lương thực bởi trời. Vị khách lạ cầm lấy bánh bẻ ra, trao cho hai môn đệ. Khách chủ đổi ngôi. Tình yêu quả thật kỳ diệu. Chính khi trao ban là lúc lãnh nhận. Càng chia sẻ thì càng có thêm nhiều. Nhận ra Chúa Kitô Phục Sinh là một hạnh phúc không gì so sánh.

4. Tình yêu là để thông chia chứ không phải để độc chiếm:

Vừa nhận ra Thầy Chí Thánh, Thầy vụt biến mất. Hạnh phúc là điều cần phải dệt xây chứ không phải để hưởng thụ. Ai càng cố nắm giữ thì sẽ mất. Hiểu được điều này, hai môn đệ vội vàng trở về Giêrusalem ngay giữa đêm khuya báo tin cho anh em. Tình yêu, hạnh phúc thúc bách ta cần chia sẻ, dù lúc trời nắng nhẹ hay giữa đêm khuya lạnh giá. Gặp gỡ, hiệp thông với đấng Phục Sinh để rồi chia sẻ cho tha nhân những gì mình đã lãnh nhận.

Loan báo Tin Mừng là một hệ luận tất yếu của người đã nhận hồng ân, được cảm nhận Chúa Phục Sinh. Gian truân, bắt bớ, tù đày chẳng hề ngăn được bước chân các tông đồ, các môn đệ. Vừa được giải thoát khỏi tù ngục, các tông đồ đã lại hiên ngang rao giảng tại Đền Thờ (x.Cvtđ 5,17-26).

5. Thánh Lễ: một hành trình Emmau.

Người ta dễ dàng nhận ra bản trình thuật của Thánh Sử Luca về chuyện hai môn đệ đi làng Emmau được cấu trúc như tiến trình của Thánh Lễ gồm hai phần chính là Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể. Mỗi ngày đầu tuần tức là ngày Chúa Nhật, Kitô hữu tiên khởi quy tụ lại để họp mừng mầu nhiệm Chúa Phục Sinh. Truyền thống của Hội Thánh từ xưa đến nay đều mừng Chúa Phục Sinh trong ngày Chúa Nhật, kể cả trong các mùa đặc biệt như mùa Vọng và mùa Chay.

Thật đẹp thay cứ mỗi tuần chúng ta họp nhau ít là một lần vào ngày Chúa Nhật để dâng lên Chúa mọi bao vui buồn sướng khổ của đời ta. Không một ai là khách lạ trong buổi cử hành Thánh Thể. Không một ai đến Nhà Thờ ngày Chúa chỉ vì luật buộc. Và ước gì không một ai đến họp mừng Chúa Phục Sinh với đôi bàn tay trắng trơn, khi họ không thực sự tham dự mà chỉ xem Lễ cách bàng quang, chiếu lệ.

Dâng lên Chúa trọn cuộc sống buồn vui và bao trăn trở của mình để rồi lắng nghe Chúa nói qua phần Phụng Vụ Lời Chúa. Xin đừng quên phần diễn giải Lời Chúa của giám mục, linh mục hay của thầy phó tế trong Thánh Lễ là một phần của Phụng vụ Lời Chúa. Ước gì tất cả mọi người không chỉ nói với Chúa và nghe Chúa nói mà còn được kết hiệp với Chúa Kitô Phục Sinh trong Bí tích Thánh Thể. Và rồi cái gì đến sẽ phải đến. Những bước chân của chúng ta sau khi ra khỏi Nhà Thờ sẽ là những bước chân trong hân hoan, sẵn sàng chia sẻ niềm vui, chia sẻ hồng ân mình đã lãnh nhận. Mong sao cứ mỗi lần ra khỏi Thánh đường, lòng chúng ta lại rộng mở hơn xưa, cho kẻ lạ cũng như người thân, cho người đạo hạnh cũng như kẻ bất nhân bạc tình. Nếu được vậy thì đó là một trong những dấu chỉ nói lên rằng ta đã gặp gỡ Đấng Phục Sinh, Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân trần.

-----------------------------

 

PS3-A155: ĐỒNG HÀNH VỚI CHÚA TRONG CUỘC ĐỜI


Lm. Đan Vinh

I.  HỌC LỜI CHÚA

TIN MỪNG: Lc 24,13-35

(13) Cùng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem sáu mươi dặm. (14) Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. (15) Đang lúc trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. (16) Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. (17) Người hỏi họ: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. (8) Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay”.  (19) Đức Giê-su hỏi: “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa: “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một Ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. (20) Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá (21) Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. (22) Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, (23) không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. (24) Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói: còn chính Người thì họ không thấy”. (25) Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng: “Ôi những kẻ tối dạ, những lòng chậm tin vào lời các ngôn sứ ! (26) Nào Đức Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? (27) Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh. (28) Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. (29) Họ nài ép Người rằng: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn”. Bấy giờ Người vào ở lại với họ (30) Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. (31) Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. (32) Họ mới bảo nhau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?” (33) Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở về Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp lại đó (34) Những người này bảo hai ông: “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-mon” (35) Còn hai ông thì thuật lại những việc đã xảy ra dọc đường, và mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.

Ý CHÍNH: CHÚA PHỤC SINH HIỆN RA VỚI HAI MÔN ĐỆ LÀNG EM-MAU:

 

Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giê-su đã hướng dẫn hai môn đệ về đức tin để họ từ tâm trạng PS3-A155


Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giê-su đã hướng dẫn hai môn đệ về đức tin để họ từ tâm trạng chán nản và vấp ngã trước mầu nhiệm thập giá (18 và 21), đã tìm lại được niềm tin yêu vào mầu nhiệm Phục Sinh qua việc nghe lời Người giải thích Kinh Thánh (25-27.32), và được tham dự nghi thức Bẻ Bánh do chính Người thực hiện (30-31).

CHÚ THÍCH:

– C 13-16: + Cùng ngày hôm ấy: Tức là ngày Thứ Nhất trong tuần. + Có hai người trong nhóm môn đệ: Hai môn đệ này thuộc nhóm 72 (x. Lc 10,1), không thuộc nhóm 12. Tin Mừng nhắc đến tên một trong hai ông là Cơ-lê-ô-pát (18). Còn ông thứ hai không được nêu tên và được suy đoán là chính Lu-ca, tác giả đã tường thuật câu chuyện này. + Làng Em-mau: Một nơi cách Giê-ru-sa-lem khoảng 11 km về phía Tây. Nhưng cho tới nay các nhà chú giải vẫn chưa xác định được vị trí của ngôi làng này. + Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra: Biến cố tử nạn của Đức Giê-su là mối bận tâm sâu đậm của các môn đệ, đến nỗi dù đang buồn chán thất vọng, các ông vẫn bàn tán với nhau đang khi đi đường. + Chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ: Đức Giê-su Phục Sinh luôn yêu thương và quan tâm đến các môn đệ. Khi họ gặp hoàn cảnh khó khăn nan giải, thì Người liền hiện đến để ban ơn nâng đỡ. + Mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người: Bị ngăn cản có thể do tâm trạng buồn sầu thất vọng, nên không nghĩ người khách lạ kia lại có thể là Thầy Giê-su của họ. Cũng có thể do khuôn mặt Đức Giê-su Phục Sinh đã được biến dạng khác với khi còn sống. Trước đó vào sáng Ngày Thứ Nhất trong tuần, bà Ma-ri-a Mác-đa-la cũng đã không nhận ra Chúa Phục Sinh khi Người hiện ra gần bên ngôi mộ đã an táng Người.

– C 17-18: + “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” : Chúa Phục Sinh chủ động bắt chuyện để các ông dễ dàng tâm sự những lo buồn chất chứa trong lòng. + Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem…: Các ông nghĩ đây là một khách hành hương đi lên Giê-ru-sa-lem dự lễ Vượt Qua, và không quan tâm đến một biến cố lớn lao mới xảy ra trong thành mấy ngày qua.

– C 19-21: + Chuyện ông Giê-su Na-da-rét…: Cho đến lúc này, các môn đệ mới công nhận Đức Giê-su là Ngôn sứ có quyền lực trong lời rao giảng và các phép lạ đã làm. Các ông đi theo Người với hy vọng có được một địa vị trong Vương quốc của Người. + Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình: Sự kiện mới xảy ra đã làm các ông chán nản thất vọng: các nhà lãnh đạo dân Ít-ra-en đã nộp Người để quan Phi-la-tô kết án đóng đinh thập giá. Còn Thiên Chúa thì không làm gì để cứu vị Ngôn sứ của Người. Sự việc xảy ra tới nay đã sang ngày thứ ba rồi !

– C 22-24: + Cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi…: Tâm trạng của các ông vẫn hoang mang, dù mấy phụ nữ và các Tông đồ đã nhìn thấy mồ trống, và thiên thần hiện ra bảo rằng “Người vẫn còn sống”, nhưng riêng các ông này thì cho điều đó thật khó tin. Câu này cho thấy hai môn đệ này không phải thuộc loại người dễ tin. Do đó, một khi họ tin thì chắc đã phải có những bằng chứng xác đáng không thể phản bác được.

– C 25-27: + Ôi những kẻ tối dạ, những lòng chậm tin vào lời các ngôn sứ !: Lời Chúa quở trách đức tin yếu kém của hai ông có hơi nặng nề, nhưng thực ra vẫn hàm chứa một tình cảm âu yếm. + Nào Đức Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?: Chúa Giê-su nhắc lại lời Người đã từng báo trước về số phận của Người trước đó: “Con Người phải chịu đau khổ, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy” (Lc 9,22; 17,25). + Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ…: Luật Mô-sê và sấm ngôn của các ngôn sứ ám chỉ tòan bộ Thánh Kinh Cựu Ước, đã làm chứng về con đường cứu thế mà Đức Giê-su đã chọn theo là: « Qua đau khổ vào trong vinh quang » (x. Lc 24,44 tt).

– C 28-31: + Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa: Thái độ giả vờ ở đây không phải là giả dối, nhưng là cách thử để xem phản ứng của các môn đệ, xem các ông có thực lòng muốn nghe và muốn Người ở lại hay không. Một đức tin chỉ có giá trị khi người tin tự nguyện mở lòng đón nhận, chứ không bị ép buộc. + Họ nài ép Người: Đây là thái độ hiếu khách quen thuộc của Người Pa-lét-tin (x. Lc 14,23). Chính Lời Chúa giải thích Kinh Thánh đã đánh tan những lo lắng bất an trong lòng hai môn đệ, nên các ông đã xin Người ở lại nhà các ông để có thể tiếp tục nói chuyện với các ông. + Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn: Đây là lời hai môn đệ mời vị khách lạ kia ở lại một cách khép léo tế nhị. Đây cũng là lời cầu nguyện tâm tình của các tín hữu muốn kết hiệp mật thiết với Chúa.

– C 32-31: + Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ: Khó có thể nghĩ rằng Đức Giê-su đã truyền phép Thánh Thể như đã làm trong bữa Tiệc Ly. Nhưng ở đây, Lu-ca cố ý dùng kiểu nói quen thuộc trong phụng vụ Thánh Thể (x. Lc 22,19). Đó là cử chỉ Đức Giê-su đã làm khi nhân bánh ra nhiều (x. 9,16), ám chỉ nghi lễ Bẻ Bánh (x. Cv 2,46; 20,7.11). Sau này mỗi khi tham dự thánh lễ, các tín hữu cũng được nghe lời Chúa giáo huấn và được tham dự bàn tiệc Thánh Thể giống như hai môn đệ làng Em-mau. + Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người: Tiến trình đức tin của các tín hữu cũng bắt đầu từ việc lắng nghe Lời Chúa, rồi tin theo Chúa và được thánh hóa nhờ tham dự bàn tiệc Thánh Thể như bà Ly-đi-a thời Giáo Hội sơ khai (x. Cv 24,13-15). + Nhưng Người lại biến mất: Từ đây Chúa Giê-su sẽ hiện diện cách thiêng liêng vô hình khi các tín hữu đọc Thánh Kinh, nghe lời giảng của các mục tử, tham dự thánh lễ hay phục vụ người nghèo…

– C 32-35: + Lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?: Nhờ được nghe giảng Thánh Kinh, các môn đệ đã thấy được ý nghĩa cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su như một chặng đường Người phải trải qua để vào trong vinh quang phục sinh. + Ngay lúc ấy, họ đứng dậy…: Việc nhận ra Chúa Phục Sinh và lòng tin yêu Chúa đã biến đổi hai môn đệ từ chỗ thất vọng muốn buông xuôi, trở thành con người mới đầy phấn khởi và hy vọng. Tâm trạng ấy làm các ông hăng hái đi lại quãng đường dài 11 cây số trở về Giê-ru-sa-lem để báo tin vui cho các tông đồ và môn đệ khác. + Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-mon: Sự kiện Si-mon Phê-rô được Chúa Phục Sinh hiện ra trước các tông đồ khác đã được chính Chúa Giê-su tiên báo trước cuộc khổ nạn (x Lc 22,31-32) và sau này cũng được thánh Phao-lô nhắc đến trong thư Cô-rin-tô (x 1 Cr 15,5). + Thuật lại những việc đã xảy ra dọc đường: Cuối cùng hai môn đệ làng Em-mau đã chia sẻ niềm vui Phục Sinh cho Nhóm Mười Một tông đồ và các môn đệ ở Giê-ru-sa-lem.

CÂU HỎI:
1) Hai môn đệ quê làng Em-mau kể trên thuộc nhóm 12 tông đồ hay nhóm 72 môn đệ ? Tên của các ông là gì ? 2) Tại sao hai môn đệ làng Em-mau và bà Ma-ri-a Mác-đa-la lại không nhận ra ngay người đang nói chuyện với mình là Chúa Phục Sinh? 3) Việc Chúa Phục Sinh hiện ra với hai môn đệ làng Em-mau nói lên điều gì về tình yêu của Người đối với các tín hữu chúng ta ? 4) Câu trả lời của hai môn đệ cho thấy đức tin của các ông về sứ mạng của Đức Giê-su thế nào ? Các ông đi theo Đức Giê-su nhằm mục đích gì ? Tại sao giờ đây các ông lại chán nản tuyệt vọng ? 5) Hai môn đệ này có phải là những người dễ tin vào mầu nhiệm sống lại của Chúa Giê-su không ? Tại sao ? 6) Chúa Giê-su trong vai khách bộ hành đã làm gì để củng cố đức tin còn non yếu của hai môn đệ ? 7) Chúa Giê-su giả vờ muốn đi xa hơn nhằm mục đích gì ? 8) Câu nào của hai môn đệ là lời cầu nguyện mẫu về lòng tin yêu Chúa cho các tín hữu chúng ta hôm nay ? 9) Hai môn đệ đã nhận ra người khách lạ chính là Thầy Giê-su Phục Sinh khi nào ? 10) Hai ông cho biết lòng mình bừng cháy lên ngọn lửa tin yêu Chúa vào lúc nào ? 11) Điều gì khiến hai môn đệ nhiệt tình loan báo Tin Mừng Chúa Phục Sinh cho người khác ?

II.  SỐNG LỜI CHÚA

LỜI CHÚA: Họ mới bảo nhau: “Dọc đường khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?” (Lc 24,32)

CÂU CHUYỆN:

1) CHÚA BỒNG TA TRÊN ĐÔI TAY CỦA NGƯỜI ?

Một người tân tòng sau khi theo đạo đã gặp phải nhiều tai ương hoạn nạn: bệnh tật, rủi ro mất xe, mất tiền bạc… Anh đã nhiều lần xin Chúa cho tai qua nạn khỏi mà xem ra Chúa vẫn ngỏanh mặt làm ngơ khiến anh đâm ra chán nản và thôi không cầu nguyện và cũng không đến nhà thờ dự lễ nữa. Thế rồi một đêm kia, anh nằm mơ thấy mình đang đi bách bộ với Chúa Giê-su trên bãi biển. Anh quay nhìn ra sau thì thấy trên nền cát ướt có 4 dấu chân: hai dấu chân lớn của Chúa, và hai dấu chân nhỏ của anh. Khi gặp chỗ lởm chởm nhiều sỏi đá thì anh không thấy Chúa đi bên cạnh nữa. Quay lại nhìn thì anh chỉ thấy hai dấu chân trên cát của anh. Anh chán nản ngồi nghỉ mệt trên một tảng đá thì Chúa Giê-su lại hiện đến ngồi bên. Anh thắc mắc hỏi Người: “Lạy Chúa, vừa qua Chúa biến đi đâu để con phải một mình đương đầu với những khó khăn như vậy ?” Bấy giờ Chúa Giê-su mới âu yếm nhìn anh và nói: “Con hãy thử nhìn kỹ lại xem hai dấu chân trên cát kia là của ai ?” Lúc đó, anh ta mới nhìn kỹ và nhận ra đó hai dấu chân to là của Chúa Giê-su. Anh lại hỏi: “Lạy Chúa, thế thì dấu chân của con đâu ?” Chúa liền trả lời: “Con ơi, hãy nhớ rằng: Ta luôn ở bên con mọi giây phút trong cuộc đời con. Những khi con gặp phải sự gian nan thử thách thì đó là lúc Ta đang bồng con trên cánh tay Ta đó !”

2) CHÚA ĐẾN VỚI CHÚNG TA QUA THA NHÂN CẦN ĐƯỢC TRỢ GIÚP :

         Vào một buổi sáng cuối đông, bác thợ giầy thức dậy rất sớm dọn dẹp nhà cửa và cho thêm củi than vào lò sưởi để đón chờ khách quý là Chúa Giê-su. Người đã hiện ra với bác trong giấc mơ ban đêm và hứa sẽ đến nhà thăm bác vào ngày hôm sau. Khi ánh bình minh vừa ló rạng, thì bác thợ  giầy đã nghe thấy có tiếng gõ ngoài cửa. Tưởng là Chúa đã đến, bác liền vội ra mở cửa. Thế nhưng kẻ đứng mặt bác không phải là Chúa Giê-su, mà là anh phát thư như mọi lần. Băng tuyết ngoài trời khiến mặt mũi và tay chân của anh ta đỏ lên như gấc. Bác thợ giầy cảm thông liền mời anh ta vào nhà ngồi bên lò sưởi và pha trà nóng mời khách. Sau khi đã được sưởi ấm, người phát thư đã nói lời cám ơn và từ giã đi lo công việc. 

Ít phứt sau, nhìn qua khung cửa kính, bác thấy một bé gái khoảng 7-8 tuổi đang co ro đứng trước cửa nhà khóc, bác liền ra hỏi thăm thì được biết em bị lạc mẹ ngoài chợ và đang tìm đường về nhà nhưng không tìm thấy đường vì tuyết rơi trắng xóa. Bác thợ giầy liền lấy bút viết vài chữ trên tờ giấy và gắn ngoài cửa nhà để thông báo cho Chúa Giê-su biết mình cần đi ra ngòai một lát. Nhưng tìm đường dẫn cô bé về nhà không đơn giản. Mất mấy tiếng đồng hồ bác mới tìm được nhà của đứa bé, và khi ra về thì trời đã xế chiều.

Về đến nhà, bác lại thấy có người đang ngồi đợi nhưng không phải là Chúa, mà là một bà mẹ trẻ gần nhà với vẻ mặt buồn bã. Chị cho biết đứa con nhỏ của chị đang lên cơn sốt ở nhà và chị chạy sang tìm bác để nhờ giúp đưa bé đi nhà thương. Bác thợ giầy liền hối hả theo chị về nhà giúp đưa cháu bé đến bệnh viện chăm sóc. Nửa đêm bác mới trở về nhà mình và nằm lăn ra giường ngủ quên cả việc ăn uống. Trong giấc mơ, bác thợ giầy đã nghe thấy tiếng Chúa Giê-su: « Hôm nay Ta cám ơn con đã sẵn sàng tiếp đón và cho Ta vào nhà để sưởi ấm và còn dọn trà nóng cho Ta uống. Cám ơn con đã dẫn Ta bị lạc có thể trở về nhà mình. Cám ơn con đã giúp đưa Ta đến bệnh viện để kịp thời thuốc thang chữa trị ». Thì ra hôm nay Chúa Giê-su đã giữ lời hứa đến thăm bác thợ giầy không phải một mà là ba lần. Người hiện thân qua những người cần được trợ giúp như Người đã nói: « Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy » (Mt 25,40).

3) TÍN THÁC VÀO TÌNH THƯƠNG QUAN PHÒNG CHA TRÊN TRỜI :

Một sĩ quan công giáo, người Anh được sai đến phục vụ tại một nơi xa xôi hẻo lánh. Ông cùng với gia đình xuống tầu đến một nơi được chỉ định. Tầu rời bến được vài ngày thì biển động dữ dôi. Một cơn bão ập đến làm tầu có nguy cơ bị đắm.  Mọi người trên tầu hết sức sợ hãi. Bà vợ của vị sĩ quan là người mất bình tĩnh hơn cả vì bà đã không tiếc lời trách móc chồng  đã đưa cả gia đình vào mối nguy hiểm, nhất là khi thấy chồng vô tư chẳng mấy quan tâm.  Chính thái độ bình tâm này của chồng mà bà vợ  xem như là một biểu hiệu thiếu lo lắng, thông cảm, yêu thương đối với vợ con nên bà càng tức giận xỉ vả hơn.

          Trước tình thế khó xử đó, khi đã có đôi lời giãi bầy vắn tắt, viên sĩ quan rời căn phòng một lát rồi quay trở lại  với thanh kiếm tuốt trần trên tay. Bằng ánh mắt đau khổ ông tiến lại bên vợ và dí mũi kiếm vào ngực bà. Mới đầu bà ta tái xanh mặt mày, nhưng sau đó bà bỗng cười lớn tiếng không chút gì nao núng cả.

 Viên sĩ quan hỏi :

– Làm sao mình có thể cười khi nhận thấy mũi kiếm sắp đâm vào ngực?

Bà vợ trả lời :

– Làm sao em lại phải sợ khi biết lưỡi kiếm ấy nằm trong tay một người thương yêu em.

Bấy giờ viên sĩ quan nghiêm giọng nói :

– Vậy tại sao em lại muốn anh sợ hãi cơn bão tố này khi anh biết rằng nó ở trong tay của Chúa  là Đấng luôn luôn yêu thương anh ?

4) LỜI CHÚA PHÁN KHIẾN MỌI SÓNG GIÓ LIỀN YÊN LẶNG :

          Được thăng  giáo hoàng là một việc rất trọng đại. Khi Đức Pi-ô  XI đăng quang, sau khi thực hiện xong các lễ nghi rồi, ngài về phòng riêng, ngồi vào chiếc bàn viết của Đức Giáo hoàng trước ngài Bê-nê-dic-tô XV, thì tự nhiên ngài cảm thấy một mối lo âu ập xuống trên ngài, vì Giáo hội đang bị kẻ thù tấn công tư bề, Hội Thánh đang phải trải qua một giai đoạn thử thách mới : Tuy Thế Chiến Thứ Nhất đã chấm dứt, nhưng Thế chiến Thứ Hai lại đang âm ỉ và có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nghĩ đến những chuyện ấy, lòng Đức Pi-ô XI lại ngập tràn lo âu. Bấy giờ ngài qùi gối trước Thánh Giá và cầu nguyện sốt sắng. Đang lúc cầu nguyện, tự nhiên tay ngài chạm phải một tấm ảnh đặt trên bàn làm việc của Đức tiên giáo hoàng. Bấy giờ Đức Pi-ô liền cầm tấm ảnh lên xem và tự nhiên ngài thấy nỗi lo sợ trong lòng biến mất, và ngài lại cảm nghiệm được sự bình an trong tâm hồn. Đó là bức hình vẽ Chúa Giê-su đang đứng trên mũi thuyền và truyền cho sóng gió yên lặng. Từ ngày đó, Đức Pi-ô XI luôn để bức hình ấy trên bàn làm việc, và mỗi khi gặp hoàn cảnh khó khăn không biết phải làm gì, Đức Pi-ô XI ngồi nhìn vào bức ảnh rồi cầu xin Chúa Giê-su hãy phán một lời, thế là mọi khó khăn đang gặp phải đều tự nhiên tan biến hết (W.J. Diamond- Đồng cỏ non).

SUY NIỆM:         

1) Tâm trạng của hai môn đệ về làng Em-mau:

         Đây là hai trong số 72 môn đệ của Đức Giê-su đã được Người sai từng hai người đi giảng đạo (x. Lc 10,1a). Hai ông đã đến Giê-ru-sa-lem dự lễ Vượt Qua. Giờ đây đại lễ đã xong, hai ông quay trở về nhà riêng tại làng Em-mau. Một trong hai ông tên là Cờ-lê-ô-pát, còn người kia không được nêu tên, có thể là chính tác giả Lu-ca. Hai ông này vừa đi vừa trò chuyện với nhau với vẻ mặt buồn bã thất vọng. Sở dĩ họ mang tâm trạng như thế là vì mấy lý do như sau:

        – Một là vì Đức Giê-su « là một Ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá » (Lc 24,19b-20).

        – Hai là biến cố đau thương của Đức Giê-su đã xảy ra trái với ước vọng của các ông khi đi theo làm môn đệ của Thầy, khiến các ông hoàn toàn thất vọng muốn buông xuôi: « Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Nhưng các sự việc ấy đã xẩy ra đến nay là ngày thứ ba rồi » (Lc 24,21).

        2) Vai trò của Kinh Thánh và Phụng Vụ trong việc củng cố đức tin:

– Lời Kinh Thánh đã làm bùng cháy ngọn lửa tin yêu nơi lòng các ông: Trong vai một người khách bộ hành, Đức Giê-su đã « giải thích cho hai ông tất cả lời Thánh Kinh chỉ về Người ». Còn về “vụ ông Giê-su” thì sau khi lắng nghe quan điểm của hai ông về vụ án, về cuộc tử nạn, và việc Người bị treo trên thập giá, Đức Giê-su đã giải thích Kinh Thánh và khích lệ tinh thần của các ông như sau: ”Nào Đấng Ki-tô chẳng phải chịu đau khổ rồi mới được vinh quang sao”? (Lc 24,26). Sau đó các ông đã nói với nhau : « Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?” (Lc 24,32).

– Chính cử chỉ yêu thương đã mở mắt đức tin của các ông : Để được nhận biết tin yêu Chúa, đòi các môn đệ phải khao khát lắng nghe Lời Chúa qua lời cầu: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn”. Bấy giờ Người vào ở lại với họ (Lc 24,29). Rồi chính bầu khí yêu thương giữa cộng đoàn đã mở mắt đức tin cho các ông, như Tin Mừng thuật lại: « Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất » (Lc 24,30-31).

        3) Vai trò của Tin, Cậy, Mến trong sứ vụ loan báo Tin Mừng:

Sau khi nhận ra Chúa Phục Sinh thì Người lại biến mất. Chính lòng tin và lòng mến đã thúc bách hai môn đệ lập tức quay lại Giê-ru-sa-lem loan báo Tin Vui như Tin Mừng ghi nhận : « Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở về Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp lại đó. Những người này bảo hai ông: “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-mon” Còn hai ông thì thuật lại những việc đã xảy ra dọc đường, và mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh (Lc 24,33-35).

4) Sống và chu toàn sứ vụ loan báo tin mừng Phục Sinh cho thế giới hôm nay:

– Trong cuộc sống, mỗi lần gặp thử thách, nhiều tín hữu thường nghĩ rằng: Chúa đã bỏ rơi mình rồi. Chúa không còn quan tâm giúp đỡ mình nữa… và từ đó sinh ra chán nản, bỏ bê đọc kinh cầu nguyện, lười biếng dự lễ Chúa Nhật và có khi còn mê tín dị đoan: đi coi bói tóan, cậy nhờ thầy bùa thầy ngải…

– Lẽ ra chúng ta phải xác tín rằng: Chúa Phục Sinh luôn đồng hành với chúng ta. Không những Người ở bên chúng ta khi ta được bình an, mà ngay cả những lúc gặp gian nan khốn khó như bệnh tật tai nạn, chúng ta vẫn tin rằng Chúa đang đồng hành với chúng ta. Người luôn đi bên ta và sẵn sàng giơ tay trợ giúp và bồng ẵm ta trên tay nếu ta biết cậy trông vào Người, như « ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước và đến với Đức Giê-su. Nhưng thấy gió thổi thi ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: Lạy Thầy xin cứu vớt con. Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói: Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi! » (Mt 14,29-31). 

– Nếu mỗi ngày chúng ta quyết tâm từ bỏ các thói hư như : tham lam, gian ác, ích kỷ, tự mãn cùng các đam mê tội lỗi khác, sẵn sàng vác thập giá là chu tòan các việc bổn phận của mình mà theo chân Chúa Giê-su, thì chắc chắn chúng ta sẽ đạt tới hạnh phúc Nước Trời đời sau. Nếu chúng ta cùng chết với Chúa Giê-su, thì chúng ta sẽ cùng được sống lại với Người.

– Mỗi người sẽ làm gì để noi gương hai môn đệ làng Em-mau, lập tức đi loan báo Tin Mừng cho tha nhân và phải loan báo thế nào để giúp họ dễ nhận biết tin yêu Chúa ?

THẢO LUẬN: 1) Khi gặp một người lỡ đường xin tá túc ban đêm, chúng ta nên làm gì để vừa bảo đảm an toàn cho gia đình, vừa thực hành bác ái “Cho khách đỗ nhà” như kinh Thương Người đã dạy ? 2) Hát bài: Có Chúa đi với tôi, tôi sẽ không còn sợ chi. Có Chúa đi với tôi, tôi sẽ không còn thiếu gì. Dù trời tăm tối, bước đi không lo lạc lối. Đường dù nguy nan, không chút vấn vương tâm hồn.
NGUYỆN CẦU:
– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin ở lại với chúng con, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn rồi, vì lòng chúng con đang khao khát được nghe lời Chúa. Xin ở lại với chúng con, vì đức tin chúng con mỏng dòn yếu đuối, rất cần được Chúa trợ giúp vượt qua khó khăn của cuộc đời. Xin ở lại với chúng con, vì chúng con dễ sa chân lạc bước, hay chạy tìm kiếm thỏa mãn những đam mê bất chính, dễ chán nản buông xuôi khi gặp thử thách gian nan. Xin ở với chúng con, để chúng con thấy Chúa đang hiện diện nơi những người đau khổ và chân thành phục vụ họ như phục vụ chính Chúa. Xin ở lại với chúng con, vì khi gặp được Chúa, chúng con sẽ được ơn biến đổi cuộc đời. Xin ở lại với chúng con, vì tâm hồn chúng con vẫn còn xao xuyến mãi, cho tới khi nào được nghỉ yên trong Chúa.

– LẠY CHÚA. Hai môn đệ làng Em-mau đã sằn sàng đón tiếp một người khách lạ đang cần một bữa ăn tối và một chỗ nghỉ đêm. Chính nhờ lòng quảng đại ấy, mà hai ông đã nhận ra Chúa Phục Sinh, và được biến đổi nên vui tươi phấn khởi. Xin cho chúng con cũng biết quảng đại đi bước trước để làm quen với một người lạ đang bị đau khổ, cho chúng con biết sẵn sàng lắng nghe những tâm sự của họ và năng tham dự thánh lễ moi ngày. Nhờ được gặp Chúa, chắc chắn chúng con sẽ được ơn biến đổi trở nên người mới và chu toàn được sứ mệnh loan Tin Mừng cho tha nhân, như hai môn đệ làng Em-mau xưa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

-----------------------------

 

PS3-A156: EMMAUS


Lm Giuse Hoàng Kim Toan

 

Emmaus có thể xem như hành trình cuộc đời, đóng lại hay mở ra. Trên đỉnh của thất vọng là PS3-A156


Emmaus có thể xem như hành trình cuộc đời, đóng lại hay mở ra. Trên đỉnh của thất vọng là cánh cửa mở ra hy vọng và cũng có thể là cánh cửa khép lại trong tuyệt vọng. Cánh cửa mở ra, đó là hình ảnh của ngôi mộ Phục Sinh, tảng đá lăn ra khỏi mộ. Cánh cửa khép lại trong tuyệt vọng là chiếc hòm khóa kín bằng u mê, tự kết liễu chính mình,

Emmaus: con đường chán nản.

Hai môn đệ trên đường Emmaus, thất vọng trở về sau khi Chúa tử nạn, họ buồn bã kể lại cho nhau nghe những thổn thức ngày qua.

Không ai có thể nhốt mình, nếu mình không tự nhốt. Tự nhốt mình trong của cải xa hoa, trong những đám tiệc tốn kém, trong những vũ điệu cuồng say, trong những lối sống hưởng thụ. Tự nhốt mình trong những gian tham, cướp bóc. Tự nhốt mình trong cách thế độc tài, độc quyền. Sách Huấn ca nói về họ: “Của cải không lợi gì cho kẻ tiểu nhân, đối với con người đố kỵ, thì tài sản để làm gì? Tích luỹ mà vong thân là tích luỹ cho kẻ khác, người khác sẽ hưởng dùng của cải nó thu gom. Xấu với bản thân thì tốt với ai được? Ngay cả với tài sản của mình, nó cũng không được hưởng. Không ai tệ hơn kẻ làm hại chính mình, và đó là công trả cho sự gian ác của nó” (Hc 14, 3 – 6). Cái chết cũng là cánh cửa khép lại trong tuyệt vọng với chính họ. Bởi cái chết không mang theo được gì trong bình diện vật chất. Tinh thần có đem theo được thì toàn là những thứ rác rưởi của mưu mô, thù hằn, tính toán, cay nghiệt. Ra khỏi, đó là cách thức của con người thực sự đang sống. Đừng tự nhốt mình trong của cải hư vô, đó là hành vi xấu với chính mình.

Tự nhốt mình trong tay người khác, tự nhốt mình trong sự tùy thuộc vào người khác có quyền thế hơn, tự nhốt mình trong những thỏa hiệp với cái ác. Những trạng thái tự nhốt mình cho hay về sự nhược tiểu, ươn hèn, xu nịnh, luồn cúi, sống nhục. Sách tiên tri Isaia nói: “Khốn thay những đứa con phản nghịch, sấm ngôn của Đức  Chúa! Chúng thực hiện kế hoạch, nhưng không phải của Ta, chúng ký kết thoả hiệp, nhưng không theo thần khí của Ta, cứ chồng chất tội này lên tội khác. Chúng đâu thỉnh ý Ta khi lên đường đi xuống Ai-cập tìm sự che chở của Pha-ra-ô, và núp bóng Ai-cập. Nhưng sự che chở của Pha-ra-ô sẽ khiến các ngươi phải thẹn thùng, và việc ẩn núp dưới bóng Ai-cập sẽ làm cho các ngươi phải nhuốc hổ.” (Is 30, 1- 3). Ai cũng biết, chính mỗi người cần giải quyết vấn đề của mình, người khác chỉ cho lời khuyên, trợ giúp. Nếu không tự giúp mình thì trời cũng không giúp. Đừng dựa vào cành cây, cành cây sẽ gẫy, đừng dựa vào con người, con người sẽ chết, chỉ dựa vào một mình Thiên Chúa “Kinh Thánh nói: Mọi kẻ tin vào Người sẽ không phải thất vọng” (Rm 10, 11).

Đau khổ do thiên tai, bệnh tật, rắc rối từ nơi không mong muốn. Con người không thể tránh hết mọi đau khổ ở trong cuộc đời. Thiên tai, mắc bệnh ác tính như các vùng sống trong chất thải nhiễm độc, trong những thực phẩm không an toàn…Biết nhưng vẫn phải sống vẫn phải dùng. Đau khổ đến, sẽ đến nhưng đừng tuyệt vọng. Thất vọng trong đau khổ như ông Gióp nhưng ông vẫn không ngừng hy vọng. Bài học đến từ Thiên Chúa, ra khỏi mồ thật không dễ chịu: “Thiên Chúa dùng cái nghèo để giải thoát người nghèo, dùng khổ đau mà mở mắt họ.” (Giop 36 , 15).

Emmaus: Thánh Thể, niềm vui cuộc sống.

Ở đình cao của thất vọng là hy vọng, cũng như trên đỉnh mủa Đông lạnh gía là mùa Xuân ló dạng. Không có sầu tuyệt vọng mà chỉ có niềm hy vọng được thắp lên.

Niềm hy vọng ở Bí Tích Thánh Thể: Hai môn đệ nhận ra Chúa khi bẻ bánh; (Lc 24, 30 – 31) và các môn đệ cũng nhận ra Người “Cầm lấy và ăn trước mặt các ông.” (Lc 24, 43). Thánh lễ mỗi ngày đều được cử hành, con người có thể tìm thấy chính Chúa trong mọi biến cố cuộc đời mình, để tìm ra câu giải đáp. Thiên Chúa chờ đợi để lắng nghe và chính con người cũng cần lắng nghe Thiên Chúa nói:

“Vì sức mạnh của Ngài không dựa vào số đông, quyền lực của Ngài chẳng ở nơi người mạnh thế. Nhưng Ngài là Thiên Chúa của kẻ khiêm nhu, là Đấng cứu giúp người hèn mọn, Đấng đỡ nâng kẻ cô thế, Đấng bảo vệ người bị bỏ rơi, Đấng Cứu Tinh của những ai thất vọng.” (Giuđitha 9, 11)

“Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ, cứu những tâm thần thất vọng ê chề.  Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân, nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi” (Tv 34, 19 – 20).

“Nếu con lỡ rút gươm đe bạn, đừng thất vọng: vẫn có thể hàn gắn. Nếu con lỡ nặng lời với bạn, đừng lo sợ: con có thể giải hoà.” (Hc 22, 21 – 22)

“Ai gặp gian truân thì quen chịu đựng;4 ai quen chịu đựng, thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là trung kiên, thì có quyền trông cậy.5 Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5, 4 – 5)

Trong mọi hoàn cảnh, con người đều có thể gặp Chúa trong Lời của Người. Dùng Lời Chúa để là chìa khóa mở những cái mồ của con người, bởi chính Lời Chúa là sức mạnh mở cửa mồ để con người bước ra. Đó sẽ là những hành vi tích cực để không tự nhốt mình.

Thánh Thể đón lấy là chính Chúa, Chúa chờ đợi con người, muốn yêu và được yêu. Vừa là chủ động và là bị đông, Tình Yêu của tuyệt đối là như thế, đón nhận tất cả, chịu đựng tất cả, hy sinh tất cả và tha thứ tất cả. Tất cả đều cử hành trong mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Người.

Năng tham dự bí tích Thánh Thể sẽ củng cố con người trong nghị lực, sống tươi vui và dồi dào phong phú hơn. Chính Chúa nói với con người: “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.” (Ga 10, 10)

Mỗi người đang hành trình trên đường Emmaus. Con đường ấy dẫn đến niềm vui khi gặp được Chúa và mời Người ở lại. Trong hành vi thiện chí của con người, hòn đá cửa mộ được lăn ra và Thiên Chúa bước vào. Con người sẽ chết trong ngôi mộ chính mình khi tự ý khóa lại. Chọn lựa của con người, cần suy nghĩ  mỗi khi hành động: đóng vào hay mở ra.

----------------------------

 

PS3-A157: CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH_A


Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến.

 

Chúng ta có thể nhận ra thái độ và tâm tình buồn thảm và thất vọng và của các môn đệ sau cái PS3-A157


Chúng ta có thể nhận ra thái độ và tâm tình buồn thảm và thất vọng và của các môn đệ sau cái chết của Chúa Giê-su, Thầy của mình.  Vì sau 3 năm khổ cực theo Chúa với hy vọng sẽ hưởng được vinh quang đã hoàn toàn biến mất sau cái chết khổ nhục của Chúa trên thập giá. Thập giá đã kết liễu cuộc đời đầy hứa hẹn của Thầy, thập giá đã chôn vùi mọi hy vọng và niềm mong đợi trong lòng của họ. Mọi sự đã sụp đổ và tiêu tan hoàn toàn.  Cũng như tâm trạng của mỗi người chúng ta khi đối diện với cái chết của người thân yêu, đó là chết là hết.  Chết thì không còn gì nữa trong trần gian này. Sự nghiệp của một người thường chấm dứt khi người ấy nhắm mắt xuôi tay. Giả như người ấy sống bác ái, quảng đại hay có những sự nghiệp tinh thần lớn lao và quan trọng, thì may ra còn để lại chút ý nghĩa hay ảnh hưởng nào đó cho những người còn sống.

Thế nhưng có lẽ các môn đệ và những người yêu mến Chúa vẫn còn mang một tia hy vọng mỏng manh vào lời Chúa tuyên bố trước đây là Người sẽ sống lại.  Tin mừng cho chúng ta biết vào sáng sớm ngày Chúa nhật đầu tiên sau khi Chúa chết, mấy người phụ nữ đã đến viếng mộ Chúa, họ không thấy xác Chúa, và họ quả quyết Chúa đã hiện ra với họ.  Đó là những điều đang làm các môn đệ của Chúa băn khoăn suy nghĩ, cụ thể là hai môn đệ mà bài Tin Mừng hôm nay kể lại.  Hai ông vừa buồn, vừa sợ hãi và thất vọng, vì thế các ông quyết định bỏ Giêrusalem trở về quê cũ, nhưng trên con đường về làng Em-mau, Chúa Giêsu đã hiện ra cùng đồng hành với hai ông và trò chuyện với hai ông. Chúng ta thấy, lúc đầu hai ông chưa nhận ra đó là Chúa Giêsu phục sinh mà chỉ tưởng là một người bộ hành nào đó tình cờ gặp trên đường, nên các ông mời ghé lại quán bên đường dùng cơm và tiếp tục câu chuyện. Vào quán, khi dùng bữa, Chúa Giêsu phải dùng đến những cử chỉ quen thuộc, cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng Thiên Chúa, bẻ ra và trao cho hai ông, lúc ấy hai ông mới sáng mắt nhận ra Ngài. Nhưng khi vừa nhận ra thì Chúa Giêsu biến mất. Các ông vui mừng quay trở lại Giêrusalem để báo cho các bạn khác biết Chúa Giêsu đã sống lại thật rồi.

Ông bà anh chị em thân mến.  Câu chuyện hai môn đệ đi về làng Em-mau cũng là câu chuyện của mỗi người chúng ta. Chúng ta cũng đi theo Chúa Giêsu, cũng đã tin vào Người. Trong biết bao năm tháng, chúng ta đã nghe những lời Chúa giảng dạy, nhưng cũng như các môn đệ, nhiều khi chúng ta chán nản hay thất vọng vì điều chúng ta trông mong ước, hay điều chúng ta cầu xin, nhiều khi rất thiết tha, nhưng cầu mãi, trông hoài mà vẫn chưa được.  Chúng ta lâm cảnh đau đớn vì bệnh hoạn, gia đình không hòa thuận, con cái khó dạy bảo, công việc không thành công hay như chúng ta mong muốn  Những tình cảnh đó làm cho chúng ta chán, chúng ta buồn, chúng ta khổ, đủ thứ cả, thế mà nghe giảng, tham dự tĩnh tâm, cầu nguyện cũng không đem lại cho chúng ta hy vọng gì hơn, giống như hai môn đệ nói : “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en, nhưng việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi.”  Đợi cho đến ngày thứ ba, hai ông đâm ra thất vọng. Cũng thế, chúng ta đợi, chúng ta chờ, có khi đã hơn ba ngày, ba tuần, ba tháng, ba năm mà vẫn không thấy gì, chúng ta đâm ra thất vọng, chán nản, phàn nàn.  Nhiều khi chúng ta đổ lỗi cho người này, người kia, cho linh mục này, linh mục kia, kêu trách Chúa, thậm chí có người còn ra điều kiện với Chúa hoặc bỏ Chúa.

Nhưng cho dù ở bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta hãy bắt chước hai môn đệ này như hai ông đã thưa với Chúa: “Xin Ngài ở lại với chúng tôi.”  Và hãy xin Chúa: “Xin Chúa luôn ở lại với con trên đường đời đầy đau buồn, chông gai và gian khổ này. Xin Chúa ở lại với con trong cái xã hội đầy tội ác, nhiều hận thù và ganh ghét, còn muốn đóng đinh Chúa nữa này. Xin Chúa lưu lại đây với con để dạy con biết chết đi những tính hư nết xấu, lòng ích kỷ, tham lam và lười biếng, và được biến đổi trở nên như những Kitô hữu chính thật, để con có lòng xác tín, yêu mến Chúa hết sức, hết trí khôn và hết tâm hồn của con, và được sống mật thiết trong ân sủng của Chúa.”  Trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, chúng ta không bao giờ chán nản và thất vọng, vì biết rằng Thiên Chúa là Đấng toàn năng, là Cha nhân từ thương yêu chúng ta vô cùng, và luôn có những việc lạ lùng và bất ngờ cho chúng ta.

Tin mừng cho chúng ta thấy các môn đệ có biết đâu trên cuộc hành trình thất vọng và cô đơn đó, có một người vẫn hằng đồng hành, chú ý từng tâm sự, từng nỗi lo âu nhỏ to của các ông mà các ông nào hay biết. Các ông không nhận ra Người mặc dù Người vẫn hiện diện và chia sẻ với các ông.  Điều đó cho chúng ta vửng niềm tin Đấng Phục sinh vẫn hiện diện bên chúng ta. Nhưng cách hiện diện của Người hoàn toàn mới lạ, khác với cách hiện diện thông thường mà con mắt thể xác của chúng ta có thể nhìn thấy được. Chỉ đến khi được đồng bàn với Người, tận mắt chứng kiến Người cầm bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, bẻ ra và trao cho, mắt các ông mới bừng sáng, tâm trí các ông được Người khai mở, nhận ra và tin Thầy của các ông đã thực sự sống lại.  Vì thế, các ông không một chút nghi ngờ vị khách đồng hành, người đã giảng dạy Kinh thánh và cùng với các ông chia sẻ nghi lễ Bẻ Bánh chính là Đức Kitô Phục sinh. Tâm hồn các ông lúc đó tràn ngập niềm vui mừng vì được gặp Chúa Phục sinh, khiến cho các ông lập tức lên đường trở về Giêrusalem, báo và làm chứng cho các môn đệ khác Thầy đã sống lại như đã tuyên bố.  Những bước chân nặng nề, chán chường và cô đơn trước đó đã được thay thế bằng những bước chân vui mừng, hớn hở và hạnh phúc.  Kể từ đó, Tin mừng Phục sinh đã theo dấu chân của các ông lan rộng khắp hoàn cầu.

Ông bà anh chị em thân mến.  Như hai môn đệ trên đường Emmau,và trong bất cứ tình cảnh nào, người Kitô hôm nay cũng phải mang trong mình sự vui mừng, hân hoan và hy vọng trong cuộc hành trình đức tin nơi dương thế này.  Câu chuyện Emmau giúp mỗi người chúng ta nhận ra điều này: bất luận chúng ta là ai và đang sống trong bất cứ hoàn cảnh như thế nào, đều có sự hiện diện, có sự “quan sát” và có sự đồng hành của Chúa Giê-su Ki-tô Phục sinh. Đặc biệt Chúa đang hiện diện với tất cả chúng ta trong Bí tích Thánh thể mà chúng ta đang cử hành.  Xin Chúa cũng sẽ đi cùng với chúng ta về gia đình và cuộc sống hàng ngày.

------------------------------

 

PS3-A158: CHẬM HIỂU VÀ CHẬM TIN

 

Thánh Lu-ca là tác giả duy nhất thuật lại câu chuyện trên đường Emmaus. Câu chuyện này đã PS3-A158


Thánh Lu-ca là tác giả duy nhất thuật lại câu chuyện trên đường Emmaus. Câu chuyện này đã truyền cảm hứng cho rất nhiều suy tư và giáo huấn, như điển mẫu cho một hình thái mục vụ hiện nay, đó là sự đồng hành của Giáo hội với mọi người thời đại. Như Chúa Giê-su đã đồng hành và lắng nghe hai môn đệ đang thất vọng ê chề và giúp họ khơi lên niềm hy vọng, Giáo hội của Chúa hôm nay cũng phải đồng hành với nhân loại đang đắm chìm trong thất vọng, giúp mọi người tìm thấy niềm vui.

“Chậm hiểu và chậm tin”, đó là hai điều được nhắc tới trong lời khiển trách của vị khách lạ trên đường Emmaus, sau khi đã ân cần lắng nghe hai ông giãi bày nỗi lòng. Các ông không phải là những người không hiểu biết, vì trong lời tâm sự, các ông cho biết các ông theo Chúa Giê-su vì “vẫn hy vọng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel”. Các ông vẫn sống niềm hy vọng của Israel từ nhiều thế hệ. Tuy nhiên, niềm kỳ vọng của các ông lại mang tính trần tục. Theo các ông, Đấng Messia phải chiến thắng lẫy lừng, chinh đông dẹp bắc. Đàng này, Người lại bị giết như một kẻ gian phi. Dưới quan niệm của các ông, Đức Giê-su thành Na-gia-rét, tuy là người có uy thế trong việc làm cũng như lời nói, nhưng đã thất bại thảm hại. Chính các ông cũng đang thất vọng ê chề.

Tâm trạng của hai môn đệ trên đường Emmaus cũng là tâm trạng của nhiều người trong xã hội hôm nay, trong số đó có một số tín hữu Ki-tô. Trước những vấn nạn lớn như chiến tranh, xung đột, dịch bệnh, đau khổ, thiên tai, những dấu hỏi lớn được đặt ra mà không có câu trả lời. Nhiều người còn đặt lại vấn đề về ngay sự hiện hữu của Thiên Chúa. Ngài có hiện hữu thật không? Nếu Ngài là Thiên Chúa giàu lòng thương xót, sao nhân loại phải khổ đau như vậy?

Giữa một chuỗi những vấn nạn của thời đại, hôm nay Chúa Giê-su Phục sinh trả lời cho chúng ta. Trước hết, Chúa viện dẫn chính trường hợp cái chết của Người, để giải thích ý nghĩa của đau khổ: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ!” (Lc 24, 25). Chúa Giê-su đã mở trí cho hai ông hiểu Kinh Thánh, để thấy ở đó những điều đã tiên báo về cuộc khổ nạn của Người. Người cũng soi sáng cho các ông có một cái nhìn mới về đau khổ và thập giá. Việc hai ông nhận ra Chúa Giê-su khi Người bẻ bánh ở cuối trình thuật như đỉnh cao của mặc khải. Chúa cho các ông thấy Người vẫn sống và sự chết không thể giam hãm Người trong nấm mộ tối tăm. Vào lúc Chúa tỏ mình ra với hai ông, cũng là lúc hai ông thay đổi não trạng, không còn buồn rầu ủ dột.

Cuộc sống trần gian giống như một cuộc lữ hành. Chúa Giê-su vẫn hiện diện giữa chúng ta, mà đôi khi chúng ta không nhận ra Người. Có nhiều người không muốn gặp gỡ Chúa vì cuộc gặp gỡ với Chúa khiến họ phải đảo lộn những dự tính, phải thay đổi cách nhìn và nhất là phải từ bỏ những đam mê không phù hợp với đời sống mới của con cái Thiên Chúa.

Như Chúa Giê-su đã khai lòng mở trí cho hai môn đệ, hôm nay Chúa cũng đang giúp chúng ta hiểu Kinh Thánh. Ông Phê-rô nhờ được gặp gỡ với Chúa Phục sinh, mà từ một người dân chài chất phác ít học, đã trở nên nhà giảng thuyết hùng hồn. Bài đọc I ghi lại bài giảng đầu tiên của ông trong ngày lễ Ngũ Tuần. Với ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, ông đã lược lại lịch sử dân tộc thánh trong một bài giảng, đồng thời chứng minh những gì các ngôn sứ loan báo nay đã được hoàn thành nơi Đức Giê-su thành Na-gia-rét, Đấng đã chết và đã sống lại.

Lễ Phục sinh là lễ của niềm hy vọng. Thánh Phao-lô khuyên chúng ta như vậy. Nhờ Đức Ki-tô phục sinh mà chúng ta được sinh ra làm con cái Thiên Chúa. Tin vào sự Phục sinh của Chúa, cùng với niềm xác tín Người đang hiện diện giữa cuộc đời, sẽ giúp người tín hữu tìm thấy niềm hy vọng và bình an.

“Sao các anh chậm hiểu và chậm tin?”. Đó là câu hỏi Chúa đặt ra cho chúng ta hôm nay, vào những lúc đức tin của chúng ta bị chao đảo trước phong ba cuộc đời.

Trình thuật Emmaus kết thúc với việc Chúa bẻ bánh và trao cho các môn đệ. Trình thuật này dùng các từ vựng giống như việc Chúa lập Bí tích Thánh Thể. Chúng ta đang cử hành Thánh lễ. Tại nơi đây, vào lúc này, Chúa Giê-su vẫn đang bẻ bánh và trao cho chúng ta. Chúng ta hãy nhận ra Người.

+ ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên

-------------------------------------

 

PS3-A159: LỜI CHÚA VÀ THÁNH THỂ

 

Sự kiện Chúa Giê-su phục sinh được các Thiên Thần loan báo cho các bà Ma-ri-a Ma-đa-lê-na PS3-A159


Sự kiện Chúa Giê-su phục sinh được các Thiên Thần loan báo cho các bà Ma-ri-a Ma-đa-lê-na, bà Ma-ri-a, mẹ ông Gia-cô-bê và bà Sa-lô-mê  (x. Lc 24, 1 – 12), các bà về thuật lại cho các Tông Đồ ở Ga-li-lê-a, hai môn đệ làng Emmaus trong nhóm các bà chẳng những chưa tin mà còn lo sợ (x. Lc 24). Chúa Giê-su Phục Sinh tiếp tục hiện ra dưới dáng dấp của một người lữ hành, tỏ ra không biết, rồi đồng cảm với hai ông, đã dùng Kinh Thánh để giải thích, bẻ bánh trước mặt hai ông, giúp lòng họ sốt sắng lên và làm cho mắt họ sáng ra để nhận ra Người (x. Lc 24, 13 – 35).

Trở lại Giê-ru-sa-lem, hai ông thuật lại cho các Tông đồ trong khung cảnh cửa đóng then cài. Đang lúc đứng bàn chuyện, Chúa Giê-su hiện đến với họ khiến họ kinh hoàng khiếp sợ “bối rối tưởng mình thấy ma” (Lc 24, 37).

“Bình an cho các con! Thầy đây, đừng sợ” (Lc 24, 36). Đó là lời cầu chúc đầu tiên của Đức Ki-tô Phục sinh, kèm theo là những chứng tích ở tay chân với những vết thương, họ “vẫn còn chưa tin” (Lc 24, 41). Chúa phải nghĩ đến cách ăn cá nướng và mật ong, trích dẫn luật Môi-sen, lời các tiên tri và Thánh vịnh là những bằng chứng không thể sai lầm về sự phục sinh và cuộc sống mới của Chúa. Chính Chúa thực hiện những lời Sách Thánh đã chép, và tiếp theo bằng miệng: “Chính Thầy đây” (Lc 24, 39), đúng Thầy là sự thật và là sự sống. Đó là lý do tại sao các Tông đồ, những người ban đầu nghi ngờ, thậm chí khi nhìn thấy cơ thể sống của Chúa cũng chưa tin đã trở nên những chứng nhân rao giảng về sự sống lại của Chúa cách hùng hồn (x. Cv 4).

Lời Chúa sưởi ấm con tim

Giả bộ khách đồng hành, tham gia vào cuộc hành trình buồn bã của hai môn đệ, giữa bóng đêm của ngày đang qua và bóng tối đang phủ kín tâm trí họ, Chúa Giê-su Phục sinh bắt đầu gợi chuyện, nghe họ bộc bạch về đau khổ và thất vọng cũng như đắng cay của chính mình sau khi Thầy chết, các môn đệ tản mác mỗi người một ngả, đức tin của họ bị tan vỡ, mọi sự xem ra đã hết, các xác tín sụp đổ, niềm hy vọng tắt ngóm. Thấy họ buồn sầu như thế, Chúa nói chuyện với hai ông và  “giải thích” Kinh Thánh, “bắt đầu từ Mô-sê và các tiên tri“, giúp họ hiểu rằng cuộc khổ nạn và cái chết của Ðấng Cứu Thế đã được thấy trước trong chương trình của Thiên chúa và được loan báo trước trong Thánh Kinh (x. Lc 24, 27). Như thế, Chúa đốt cháy lên trong con tim họ một ngọn lửa hy vọng. Khi đó hai mộn đệ cảm thấy một sức thu hút ngoại thường nơi con người bí mật ấy và mời Người ở lại với họ chiều hôm đó: “Mời ông ở lại với chúng tôi“, lý do“vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn ” ( Lc 24, 29 ).

Thánh Thể mở mắt đức tin

“Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn” (Lc 24, 29 ). Đây là lời mời xin tha thiết của hai ông vào ngày thứ nhất trong tuần, lúc mà tâm hồn đang trĩu nặng vì buồn nản, đang trên đường trở về quê. Chúa Giê-su chấp nhận và cùng họ vào nhà và khi ngồi vào bàn Người làm phép và bẻ bánh, thì họ nhận ra Người, nhưng Người đã biến khỏi cái nhìn của họ, để họ lại đầy kinh ngạc. Họ không bao giờ nghĩ rằng người khách lạ ấy lại chính là Thầy mình mới sống lại. Hai ông đã nhận ra Người tại bàn ăn chỉ với một hành vi “bẻ bánh” đơn giản (Lc 24, 35). Khi trí khôn được chiếu sáng, con tim được đốt nóng, những dấu chỉ bắt đầu gợi lên lòng sốt mến và thôi thúc họ “Trỗi dậy trở về Giê-ru-sa-lem” (Lc  24, 33) để thuật lại tất cả những gì họ đã thấy và đã nghe cho “Mười một Tông đồ và các bạn khác đang tụ họp” (Lc 24, 33).

Lời Chúa và Thánh Thể trong đời sống người tín hữu

Lời Chúa giúp tâm hồn các ông nóng lại, mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh. Cử chỉ bẻ bánh giúp các môn đệ nhận ra Chúa Giê-su (x. Lc 24,35). Như thế, con đường về làng Emmaus trở thành con đường lòng tin của chúng ta: Thánh Kinh và Thánh Thể là hai yếu tố không thể thiếu được cho cuộc gặp gỡ với Chúa. Bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể luôn dọn sẵn cho chúng ta, chúng ta nghe Chúa nói, gặp gỡ và đón rước Chúa trong khi cử hành Thánh lễ và rước lễ. Hai môn đệ nhận ra Ðức Giê-su khi người bẻ bánh, liền về Giê-ru-sa-lem kể lại kinh nghiệm ngoại thường mà họ đã sống: đó là cuộc gặp gỡ với Ðấng Phục sinh.

Trong đời sống thường ngày của người tín hữu, có những lúc gặp khó khăn, thất vọng, dẫn đến buồn sầu trở về “làng Emmaus“, quay lưng lại với chương trình của Thiên Chúa, rời xa Thiên Chúa. Lời Chúa và Thánh Thể luôn luôn làm cho chúng ta tràn đầy niềm vui như hai môn đệ làng Emmaus, sau khi đã “nhận ra” Chúa trong việc bẻ bánh, thì mau mắn trở lại Giê-ru-sa-lem lòng tràn đầy niềm vui, kể cho anh em mình tất cả những gì đã xảy ra. Niềm vui gặp gỡ Đấng Phục sinh, niềm vui phải lây sang người khác làm cho Giáo hội tăng trưởng và lớn mạnh nhờ những chứng tá nảy sinh từ niềm vui được đón nhận và được biến thành lời loan báo. Ðó là một niềm vui tông đồ, lan tỏa.

Thánh Phao-lô cũng bảo chúng ta: “Mỗi khi anh em ăn bánh và uống chén này, anh em loan truyền sự chết của Chúa cho tới khi Người đến“ (1 Cr 11,26 ). Như thế, chúng  ta phải nỗ lực phấn đấu trở thành những chứng nhân, sẵn sàng loan báo cái chết và sự phục sinh của Ðức Ki-tô với lòng hăng say và niềm vui vì được gặp gỡ Chúa. Hãy để cho Lời Chúa sưởi ấm con tim và Thánh Thể Người mở đôi mắt đức tin của chúng ta và nuôi dưỡng chúng ta bằng niềm hy vọng và tình bác ái, để chúng ta có thể đồng hành với các anh chị em buồn sầu và tuyệt vọng, sưởi ấm con tim họ với Tin Mừng, và bẻ bánh tình huynh đệ với họ.

Cùng với Mẹ Ma-ri-a, chúng ta nhìn lên Mẹ Ma-ri-a như gương mẫu để  bắt chước. Xin Mẹ giúp chúng ta chiêm ngắm Chúa Giê-su Thánh Thể và nghe Lời Chúa, nhất là hăng say loan báo Tin Mừng Chúa sống lại để mọi người tin mà được cứu độ. Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

-------------------------

 

PS3-A160: CON ĐƯỜNG EMMAUS VÀ NIỀM TIN PHỤC SINH

 

Câu chuyện Chúa sống lại từ cõi chết hầu như đã ngã ngũ mà có người vẫn còn hồ nghi, trong đó PS3-A160


Câu chuyện Chúa sống lại từ cõi chết hầu như đã ngã ngũ mà có người vẫn còn hồ nghi, trong đó lại là hai môn đệ của Chúa. Họ rong rủi trên đường đi Emmaus. Để làm gì? Không ai biết. Làng Emmaus ở đâu? Không thấy có trên bản đồ. Tất cả chỉ là mơ hồ, nghi ngờ và hoang mang. Nhưng chính sự nghi ngờ này đã được Chúa dẫn đưa họ đến tin tưởng. Bẻ bánh.

Bài Tin Mừng Phúc Âm Luca (Lc 24:13-35) hôm nay kể lại câu chuyên hai môn đệ Chúa trên đường đi Emmaus. Khi Luca kể câu chuyện này thì biến cố Chúa Giêsu sống lại cũng xẩy ra cùng một ngày. Chúng ta nhận thấy hai môn đệ Chúa Giêsu đã cùng nhau bàn bạc không ngừng nghỉ trên đường họ đi Emmaus, cách Jerusalem khoảng bảy dặm. Người kể truyện ghi chú rằng họ tỏ ra rất buồn phiền và tinh thần thì rất sa sút. Bỗng chốc Chúa sống lại xuất hiện với họ giữa đường mà họ không hề nhận biết.

Khi trực tiếp hội thoại, cùng bàn luận với hai ông, Chúa cũng nói với họ về câu chuyện thời sự đặc biệt vừa xẩy ra ở Jerusalem. Các ông đáp trả lời Chúa cũng chỉ như một câu chuyện bình thường về tôn giáo mà không hề nói về bất cứ điều gì liên quan đến việc Chúa sống lại. Nó chẳng ăn khớp gì với những việc sẽ xẩy ra sau này là tin Chúa sống lại đã được tuyên bố và báo cho họ biết vào ngày hôm trước. Thực vậy, việc Chúa phục sinh đã hiện diện ngay trước mắt họ mà họ hoàn toàn không hay biết, khiến họ thành như những kẻ điên rồ, chậm hiểu về những điều mà Kinh Thánh đã nói là Chúa Giêsu cần phải chịu đau khổ rồi được vinh hiển. Chúng ta không biết thánh Luca có trong đầu bản văn nào, nhưng điều quan trọng hơn cả là sứ điệp Chúa Giêsu chết và sống lại tất cả đều nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa ngay từ thuở khởi đầu.

Diễn biến quang cảnh câu chuyện đã cho chúng ta biết mắt và lòng trí của hai môn đệ sau cùng đã mở ra thế nào và tại sao. Đến Emmaus họ mời Chúa Giêsu ở lại với họ vì trời đã tối, đêm đã đến, dập dình nỗi sợ Chúa mình đã chết. Làm sao đây?

Thế rồi vào bữa ăn chiều, Chúa Giêsu chúc phúc, bẻ bánh và chia cho các ông giống y như Chúa đã làm vào bữa tiệc ly trước khi Chúa chịu chết. Họ bừng trí mở mắt nhớ lại và nhận ra Chúa Giesu chính là người đã đồng hành với các ông trên đường đi Emmaus vừa mới đây. Họ cũng nhớ lại và cảm thấy thế nào khi Chúa giảng dạy cho các ông trên hành trình Emmaus, và lòng trí họ bừng cháy lên lửa tin yêu, thân xác họ mạnh mẽ trở lại. Cuối cùng khi bẻ bánh, hành trình của họ đã hoàn thành, từ chỗ không tin gì cả đến chỗ hoàn toàn tin cậy. Đúng vậy, đây chắc chắn là lý do của một niềm vui vĩ đại. Làng Emmaus là đây, đã có thực trên bản đồ, có vị trí rõ ràng. Tất cả đã rõ ràng. Không hồ nghi áy náy bâng khuâng. Tôi tin Chúa đã phục sinh thực sự từ cõi chết, để cho tôi cũng được sống lại vào ngày sau cùng. -

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

----------------------------

 

PS3-A161: ĐIỀU GÌ NGĂN CẢN NGƯỜI MÔN ĐỆ KHÔNG NHẬN RA CHÚA GIÊSU?

 

Khi đọc sơ qua bài Phúc Âm của Chúa Nhật hôm nay, tôi rất lấy làm lạ. Lạ là bởi vì hai môn đệ PS3-A161


Khi đọc sơ qua bài Phúc Âm của Chúa Nhật hôm nay, tôi rất lấy làm lạ. Lạ là bởi vì hai môn đệ này đã đi theo Chúa vài năm chứ không phải ít. Và các Thánh Sử đều tường thuật, thân xác của Chúa Giê-su trước và sau khi Phục Sinh chỉ là một. Ngài đã phục sinh cũng với chiều cao, vóc dáng, cũng những vết thương, với những lỗ đinh ở tay, ở chân, và bên cạnh sườn… Vậy mà tại sao họ lại không nhận ra Người? Cái gì đã ngăn cản đôi mắt họ như vậy?

Nhưng đọc kỹ một chút, và sau khi suy niệm, tôi thấy thánh Luca đã cho biết có hai lý do khiến các ông không nhận ra Người:

• Thứ nhất là vì các ông KHÔNG HIỂU KINH THÁNH. “Các anh chẳng hiểu gì cả!”

• Thứ hai là các ông CHẬM TIN: “Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ!”

Họ không hiểu Kinh Thánh không phải là vì họ không được học, hay không có ai giải thích cho họ. Chính Chúa Giê-su đã nhiều lần giảng dạy, và đã cắt nghĩa Kinh Thánh, cũng như giúp cho các ông hiểu thêm về sứ mạng Ngài sẽ phải chịu.

• "Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và tất cả những gì các ngôn sứ đã viết về Con Người sẽ được hoàn tất. Quả vậy, Người sẽ bị nộp cho dân ngoại, sẽ bị nhạo báng, nhục mạ, khạc nhổ. Sau khi đánh đòn, họ sẽ giết Người, và ngày thứ ba Người sẽ sống lại" (Lc 18: 31-33).

• "Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Mô-sê, các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm." Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh” (Lc 24:44-45)

Như vậy rõ ràng là, mặc dù hai môn đệ này đã từng nghe, từng được Chúa mạc khải cho họ biết về cuộc thương khó và sự phục sinh của Ngài. Mặc dù các ông cũng đã từng được nghe lời các ngôn sứ tiên báo về Đấng Cứu Thế trong các Hội Đường, nhưng họ vẫn không hiểu Kinh Thánh và vẫn chậm tin. Chính vì thế, việc đầu tiên Chúa Giê-su Phục Sinh đã làm, là đã giảng giải và cắt nghĩa cho các ông hiểu biết về Kinh Thánh. Và sau khi đã được nghe giải thích và đã hiểu Kinh Thánh, lòng của họ đã bừng cháy…mắt của họ đã mở ra và nhận ra Người. Nói một cách khác, nhờ được học hỏi Kinh Thánh, niềm tin của các môn đệ cũng như của các tông đồ đã được củng cố, và đã kiên vững hơn.

Bạn thân mến, qua bài Tin Mừng của Chúa Nhật thứ 3 Phục Sinh hôm nay, Giáo Hội cho chúng ta thấy việc đọc và học hỏi Kinh Thánh rất quan trọng trong đời sống đức tin. Nếu bạn và tôi không biết và không hiểu gì về Kinh Thánh, thì thánh Jerome khẳng định, chúng mình sẽ không biết Đức Kitô Phục Sinh là ai cả!

Nếu ngày xưa, niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh của hai môn đệ trên đường đi Em-mau nói riêng, và của các Tông đồ nói chung, đã được vững mạnh hơn, nhờ vào việc các ông hiểu biết về Kinh Thánh, thì hôm nay, bạn và tôi cũng hãy cố gắng đọc, học hỏi và suy niệm Kinh Thánh, để nhờ vậy, niềm tin của bạn và của tôi vào Chúa Kitô Phục Sinh sẽ được kiên vững hơn, được sâu đậm hơn, và được mạnh mẽ hơn.

• Xin hãy cố gắng đọc Kinh Thánh mỗi ngày. Chỉ cần đọc 5-10 phút thôi, không cần đọc nhiều đâu.

• Trước khi đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ, xin hãy đọc qua bài đọc, và các bài suy niệm ở các trang mạng truyền thông xã hội.

• Trước khi đi ngủ, cả gia đình quây quần bên nhau, cử một người đọc một đoạn Phúc Âm, lý tưởng nhất là đọc bài Phúc Âm của ngày lễ hôm sau.

• Khi đọc Kinh Thánh, nếu có điều gì không hiểu hoặc có thắc mắc, bạn hãy viết xuống, sau đó email hỏi các linh mục, các tu sĩ… Xin đừng ngại ngùng, học luôn luôn đi đôi với hỏi, chả có gì phải ngại cả!

Kinh Thánh có một vị trí rất cao trọng trong đời sống đức tin của chúng mình, vì thế cho nên Thánh Công Đồng, trong Hiến Chế Tín Lý Về Mạc Khải dạy rằng: “Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu” (# 21).

Ước mong bạn và tôi luôn luôn nỗ lực và cố gắng hơn nữa trong việc đọc, học hỏi và suy niệm Kinh Thánh. Tôi tin chắc rằng, nếu bạn và tôi siêng năng đọc, học hỏi và suy niệm Kinh Thánh, thì đức tin của chúng mình sẽ mỗi ngày triển nở hơn, và sẽ bén rễ sâu hơn vào Chúa Kitô Phục Sinh. Và nhờ có một đức tin vững mạnh vào Ngài, chúng mình sẽ vượt qua tất cả mọi đau khổ, thử thách, và sóng gió trong cuộc đời.

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

-------------------------

 

PS3-A162: GẶP GỠ CHÚA KITÔ PHỤC SINH TRÊN ĐƯỜNG ĐỜI


1. Không có thập giá, không có Chúa Kitô phục sinh.

 

Hai môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay rời Giêrusalem hoàn toàn thất vọng. Họ đang trên đường PS3-A162


Hai môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay rời Giêrusalem hoàn toàn thất vọng. Họ đang trên đường trở về, và trở lại cuộc sống trước đây của họ, có lẽ như một cách để bỏ lại đằng sau trải nghiệm đã làm họ mất tinh thần: Đấng Thiên Sai của họ đã bị hành hình trên thập giá, như một tên tội phạm, và cùng với cái chết của Ngài, ước mơ phục hồi Vương quốc Israel của họ cũng tiêu tan. Thập giá đã làm tiêu tan hy vọng của họ. Họ đã can đảm rời bỏ nhà cửa và gia đình để theo Chúa Giêsu. Họ đã lắng nghe lời Ngài, họ đã chứng kiến ​​những phép lạ của Ngài, và thậm chí họ còn đi rao giảng nhân danh Ngài. Họ nghĩ rằng Chúa Giêsu sẽ được chào đón nhiệt tình như Đấng Mêsia được chờ đợi từ lâu. Và chính vào thời điểm mà Chúa Giêsu gọi là “giờ của Ngài”, thời điểm mà Ngài hoàn thành công việc vĩ đại nhất của mình, thì một chuyện không ai trong các môn đệ ngờ tới lại xảy đến! Chuyện gì đã xảy ra thế ? Thiên Chúa đã chọn con đường mà các môn đệ không lường trước được và họ không chấp nhận. Thập giá và đau khổ không nằm trong trù tính của họ. Bóng cây thập giá hiện ra, họ bỏ cuộc, quay trở lại lối sống cũ với mong muốn quên đi những đau thương trong trái tim nặng trĩu. Họ trao nhau những lời không niềm tin, không còn Chúa: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Ngài là Đấng sẽ cứu chuộc Israel” (Lc 24: 21). Họ chưa bao giờ hiểu những gì Chúa Giêsu rao giảng, bởi vì trong đáy sâu lòng mình, họ không muốn có một Đấng Cứu Thế như vậy, một Đấng Thiên Sai hoàn toàn yếu ớt, bị đánh đòn, bị sỉ nhục, bị đóng đinh chết trên thập giá.

Mỗi khi chúng ta cố gắng loại bỏ thập giá khỏi cuộc sống của mình, thì rốt cuộc chúng ta cũng loại bỏ Chúa Giêsu. Con người không thể thoát khỏi thập giá đủ mọi loại trong đời mình, dù họ cố tránh bao nhiêu chăng nữa! Không có thập giá, thì không có Chúa Kitô, như Thánh Phaolô nói với chúng ta: “Tôi cùng chịu đóng đinh với Chúa Kitô vào thập giá. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi” (Gl 2: 19-20). Trong bài đọc thứ hai hôm nay, Thánh Phêrô khẳng định Ơn Cứu Độ không đến từ nơi đâu khác ngoài cái chết đổ máu của Con Chiên vẹn toàn là Chúa Kitô trên thập giá. Vinh quang phục sinh chỉ có được khi chúng ta nghiệm được và hiểu ra rằng “…không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại. Nhưng anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Chúa Kitô… Nhờ Ngài, anh em tin vào Thiên Chúa, Đấng đã cho Ngài trỗi dậy từ cõi chết, và ban cho Ngài được vinh hiển, để anh em đặt niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa” (Bài đọc thứ hai, 1 Pr 1: 18-19, 21).

2. Chúa Giêsu luôn đi bước đầu tiên.

Các môn đệ đã vứt bỏ mọi thứ, bỏ Thánh Đô Giêrusalem, nơi họ theo Thầy Giêsu của họ trong nhiều cuộc hành trình với nhiều biến cố lớn lao kỳ diệu. Nay mọi thứ lớn lao kỳ diệu đã chấm hết trên Đồi Sọ, đã bị chôn vùi trong mộ đá. Còn cách nào khác để tiếp tục sống và nuôi hy vọng ngoài việc trở về quê cũ: “Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Emmau, cách Giêrusalem chừng mười một cây số” (Lc 24: 13).

Đôi khi chúng ta phản ứng giống như họ: chúng ta từ bỏ Chúa Kitô và cố gắng tự sửa chữa mọi thứ theo tính toán riêng mình, nhưng điều này luôn dẫn chúng ta đến nản lòng. Để có năng lượng sống mới, chúng ta cần đến Chúa Kitô. Chính Ngài, chứ không phải ai khác, biết rõ cõi lòng của chúng ta rõ nhất. Chúa Kitô Phục Sinh sẽ đến đúng lúc, dù nhiều khi một cách bất ngờ chúng ta không nhận ra Ngài: “Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Chúa Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Ngài” (Lc 14: 15-16). Hai môn đệ quá bận tâm đến những lo lắng và vết thương lòng của mình đến nỗi họ không nhận ra người đang đi bên cạnh mình. Tự thương hại không giúp chúng ta nhìn thấy Chúa, mà chỉ làm chúng ta chìm sâu hơn trong sự bất lực của chính mình. Chúa Giêsu quan tâm đến những âu lo, những đổ vỡ trong tâm khảm của chúng ta. Ngài muốn chúng ta thổ lộ tất cả những điều ấy với Ngài: “Ngài hỏi họ: "Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” (Lc 24: 17). Một câu hỏi bất ngờ làm thay đổi hoàn cảnh đáng thương này: “Họ thưa: "Chuyện ông Giêsu Nadarét. Ngài là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Ngài để Ngài bị án tử hình, và đã đóng đinh Ngài vào thập giá. Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Ngài là Đấng sẽ cứu chuộc Israel. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Ngài đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Ngài vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Ngài thì họ không thấy” (Lc 24: 19-24). Trải nghiệm đó cũng ghi dấu trong cuộc sống của chính chúng ta và hành trình tâm linh của chúng ta, vào những thời điểm mà chúng ta buộc phải điều chỉnh lại những kỳ vọng và đương đầu với những thất bại cũng như những mơ hồ và sai lầm của cuộc sống. Khi những lý tưởng cao đẹp của chúng ta trong cuộc sống bị đổ nát, chúng ta từ bỏ mục tiêu của mình, vì nhận ra những yếu đuối và kém cỏi của chúng ta. Khi chúng ta bắt tay vào những dự án vĩ đại, nhưng sau đó lại thấy rằng chúng ta không thể thực hiện được: “Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7:18). Khi tất cả chúng ta, sớm hay muộn, trong cuộc sống hàng ngày và trong các mối tương quan của mình, trải qua một thất bại, một sai lầm, hay một cú ngã, và thấy những gì chúng ta đã tin tưởng, hoặc cam kết trở nên vô nghĩa. Khi chúng ta cảm thấy bị đè bẹp bởi tội lỗi của mình và bởi cảm giác hối hận. Tất cả những khi ấy Chúa Giêsu luôn đi bước đầu tiên trong cuộc đời chúng ta. Bất kể nghề nghiệp, thân phận của chúng ta là gì, Ngài quan tâm đến cõi lòng của chúng ta và muốn giúp chúng ta; chúng ta cần khiêm hạ chấp nhận mình “chẳng hiểu gì” về Kế hoạch Cứu độ của Thiên Chúa, vì thế chất tâm trí chất chứa nhiều nghi nan: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ!” (Lc 24: 25). Một câu trả lời bác bỏ những nghĩ suy sai lầm của hai lữ khách và mời họ nhìn xa hơn các dự án riêng và những hy vọng hạn chế của họ, cũng là của chúng ta hôm nay. Chúng ta cần bình tâm, lắng lòng lại và nghe Lời Ngài và để Lời Ngài bừng sáng lên trong trái tim chúng ta: “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Ngài sao? Rồi bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Ngài giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Ngài trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24: 26-27). Thánh Phêrô, trong trình thuật Công vụ Tông đồ cũng đã kêu gọi: “Thưa đồng bào Israel, xin nghe những lời sau đây. Chúa Giêsu Nadarét, là người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em. Và để chứng thực sứ mệnh của Ngài, Thiên Chúa đã cho Ngài làm những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ giữa anh em. Chính anh em biết điều đó. Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Chúa Giêsu ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Ngài vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Ngài sống lại, giải thoát Ngài khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Ngài mãi...Vậy toàn thể nhà Israel phải biết chắc điều này: Chúa Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Ngài làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô” (CvTđ 2: 22-24).

3. Đức tin được chữa lành.

Chúa Giêsu Kitô là chủ chăn đi tìm hai con chiên lạc này. Như mọi khi, Ngài nhẹ nhàng soi sáng lương tâm của họ và khéo léo dẫn dắt họ đến với sự thật. Việc lắng nghe Lời Chúa chuẩn bị cho hai môn đệ nhận ra Ngài khi Ngài cầm lấy bánh, bẻ ra, chúc tụng và trao cho họ: giống như những cử chỉ như trong Bữa Tiệc Ly. Nhận ra Chúa trong việc “bẻ bánh”, mọi nghĩ suy của họ đều thay đổi. Lòng các môn đệ tràn ngập niềm vui biết bao khi nhận ra Chúa Giêsu, nhưng Ngài đã biến mất! Điều kỳ diệu xảy ra: các môn đệ không còn rơi vào tình trạng chán nản “vẻ mặt buồn rầu” (Lc 24: 17) vì họ đã “đánh mất” Chúa Giêsu như mấy ngày trước. Ngược lại, trái tim của họ bừng cháy: “Họ mới bảo nhau: "Dọc đường, khi Ngài nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24: 32). Không thể kìm nén sự hân hoan vui mừng để ngủ lại Emmau như dự tính, họ liền chạy trở lại Giêrusalem ngay trong đêm tối, tin chắc rằng Chúa Giêsu còn đang sống. Đức tin của họ đã sống lại. Bây giờ đức tin đó dựa trên Sách thánh và Bí tích Thánh Thể. Chúa Giêsu đã phục hồi đức tin của họ.

Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Tất cả chúng ta đều đã từng trải qua những khoảnh khắc khó khăn trong cuộc đời, những khoảnh khắc tăm tối khi bước đi trong buồn bã, trầm ngâm, không có chân trời, chỉ có một bức tường trước mặt. Và Chúa Giêsu luôn ở bên cạnh chúng ta để ban cho chúng ta niềm hy vọng, sưởi ấm trái tim chúng ta và nói: “Hãy bước tới, Thầy ở cùng anh em. Hãy bước tới”. Bí mật của con đường dẫn đến Emmaus đơn giản là thế này: mặc dù bề ngoài có vẻ trái ngược, chúng ta vẫn tiếp tục được yêu thương và Thiên Chúa sẽ không bao giờ ngừng yêu thương chúng ta. Chúa Giêsu luôn đồng hành với chúng ta, luôn luôn, ngay cả trong những lúc đau khổ nhất, ngay cả trong những lúc tồi tệ nhất, ngay cả trong những lúc thất bại. Đó là nơi Chúa có mặt. Và đó là hy vọng của chúng ta. Chúng ta hãy tiến lên với niềm hy vọng này! Bởi vì Ngài ở bên cạnh chúng ta và bước đi cùng chúng ta. Mọi nơi mọi lúc!” (Buổi tiếp kiến chung, thứ Tư 24/5/2017)

Cùng với Đức Thánh Cha, chúng ta nguyện xin:

“Lạy Chúa Giêsu là đường đi, là sức mạnh và là niềm an ủi của chúng con, giống như các môn đệ Emmaus, chúng con nài xin Chúa: “Xin ở lại với chúng con vì trời đã xế chiều” (Lc 24:29). Lạy Chúa Giêsu, xin ở lại với chúng con khi niềm hy vọng lụi tàn và đêm tối thất vọng ập xuống. Xin hãy ở lại với chúng con, vì cùng với Chúa, cuộc hành trình của chúng con tiếp tục và từ những con hẻm mù mịt của sự ngờ vực, niềm vui kinh ngạc được tái sinh. Xin ở lại với chúng con, vì với Chúa, đêm đau thương biến thành bình minh rạng ngời của cuộc đời. Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con! Vì nếu Chúa đi bên cạnh chúng con, thất bại sẽ nhường chỗ cho hy vọng của sức sống mới. Amen.”

Phêrô Phạm Văn Trung

------------------------------

 

PS3-A163: EM-MAU, ĐƯỜNG ĐI KHÔNG ĐẾN


Anh chị em thân mến,

 

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại các việc xẩy ra cho hai môn đệ trên đường đi Em-mau. Câu chuyện PS3-A163


Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại các việc xẩy ra cho hai môn đệ trên đường đi Em-mau. Câu chuyện này rất thú vị, giống như một tin vui xuất hiện để cất đi những phiền muộn có thể dẫn đến tuyệt vọng. Nó đã như một luồng sáng chiếu tỏa và làm tan đi lớp mây mù ngăn cản các môn đệ nhận ra Thầy mình. Nó không chỉ nói đến việc nhận ra Đức Giê-su phục sinh của hai môn đệ mà còn của mỗi người chúng ta nữa.

Thật thú vị khi nhận ra việc Thánh sử chỉ nhớ tên một môn đệ, Clê-ô-pát, còn tên người môn đệ thứ hai thì không được nhắc đến. Phải chăng đây là chủ ý của Thánh sử để mỗi người chúng ta có thể tự đặt mình vào vị trí của người môn đệ thứ hai này. Nói khác đi, kinh nghiệm gặp gỡ Đức Giê-su phục sinh của các môn đệ trên đường Em-mau mãi mãi là kinh nghiệm cần phải có của mỗi người chúng ta, môn đệ của Chúa trong mọi thời.

Đối với những môn đệ trên đường đi Em-mau, tương lai của họ thực sự rất đen tối. Trước đây, trên hành trình theo Chúa, họ đã nhìn nhận Người là một ngôn sứ đầy uy quyền. Họ đã không sai lầm khi đặt trọn niềm hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Thế mà Người lại chết, và cho đến nay đã sang ngày thứ ba rồi! Dù có mấy phụ nữ ra thăm mộ về báo tin là họ đã không còn thấy xác của Thầy đâu nữa nhưng họ vẫn không tin. Tin tức về sự xuất hiện của Thầy chỉ làm cho họ càng thêm hoang mang. Chính mắt họ đã nhìn thấy cảnh người ta chôn xác Chúa. Thế là hết! Bao nhiêu hy vọng ở nơi Chúa giờ này bị chôn vào ngôi mộ của Người. Đối với họ thế là hết.

Sau cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá, họ cảm thấy tất cả đã mất. Họ đã mất thời gian và nỗ lực trong mấy năm qua, giấc mơ đã tan thành mây khói. Họ cần làm lại từ đầu. Họ cần hoạch định một dự án cho tương lai. Tuy rằng như thế, có một chi tiết thật thú vị mà chúng ta không nên bỏ qua, đó là hai môn đệ vừa đi vừa nói về những gì vừa xẩy ra cho Đức Giê-su. Như vậy, tuy không còn hy vọng nhưng hai môn đệ trên đường Em-mau vẫn khao khát tìm kiếm một lời giải thích cho tất cả sự việc vừa mới xẩy ra.

Trong khi hai môn đệ đang bàn tán thì Đức Giê-su đến và cùng đi với họ. Theo Thánh Luca cho biết thì đó là Đức Giê-su, còn các môn đệ lại không nhận ra Người. Khi Đức Giê-su lên tiếng thì họ dừng lại và với vẻ buồn phiền họ đã kể cho Người biết về những chuyện vừa xẩy ra.

Chúng ta hiểu được nỗi buồn phiền của các môn đệ. Nỗi buồn phiền về những gì vừa xẩy ra. Tất cả đều diễn ra không theo ý muốn của họ. Đây cũng là nguyên nhân khiến họ không nhận ra người đang đi với họ là Đức Giê-su. Người đã đến và mở lời trước để trò chuyện với họ. Cách hành xử của Clê-ô-pát rất thật khi ông đã nói cho người khách lạ biết về những ý nghĩ và tâm tư của họ về những việc vừa xẩy ra tại Giê-ru-sa-lem. Họ đã bị bí lối.

Đến đây, người khách lạ mà hai môn đệ nghĩ rằng ông ta không biết những gì vừa xây ra lại là người cầm chìa khóa mở cho họ nhận biết những điều bí nhiệm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa muốn Đức Giê-su thực hiện. Bắt đầu từ Mai-sen, người khách lạ trích dẫn các lời tuyên bố của các ngôn sứ, từ từ tiết lộ kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa.

Kinh thánh có sức mạnh như một dòng điện và được Thần khí kích hoạt và hướng dẫn. Có lẽ những gì mà người khách lạ nói hôm nay cũng không khác gì những gì mà Đức Giê-su đã giảng dậy khi còn sống với các ông. Nhưng hôm nay các ông nghe và đón nhận bằng một chiều kích mới cho nên lòng các ông mới được bừng cháy lên. Ngọn lửa của Thánh linh đã thiêu đốt tâm hồn và xóa tan đi những u mê để họ nhận ra ý nghĩa của Lời Chúa. Từ đó, họ bắt đầu hiểu con đường đau khổ và thập giá của Đức Giê-su dưới ánh sáng hoàn toàn mới. Họ thấy đó không phải là một thảm họa, một sự thất bại mà là khởi đầu của một thời đại ân sủng mới.

Đang say mê nghe giảng giải, lòng trí của họ được khai sáng thì trời đã tối. Hai môn đệ nài ép Đức Giê-su ở lại với họ. Việc này nói lên lòng quảng đại và say mê lắng nghe lời Chúa của các môn đệ. Về phần Đức Giê-su, sau khi sống lại, Người hiện diện theo cách thức của Người. Người không ép buộc ai nhưng chờ một lời mời. Như một khách lạ, Người đứng bên cửa rồi gõ, ai mở ra đón nhận thì Người bước vào và dùng bữa với họ.

Sau đó, để đáp lại lòng quảng đại và tâm hồn hiếu khách của hai môn đệ, Đức Giê-su trong khi đồng bàn, Người đã cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra rồi trao cho các môn đệ. Tất cả các cử chỉ này quá quen thuộc làm cho các môn đệ nhớ lại việc Thầy mình đã làm phép lạ Bánh Hóa Nhiều để nuôi ăn 5000 người, nhớ lại cử chỉ của Chúa trong bữa Tiệc Ly. Nhìn thấy các cử chỉ đó, mắt họ liền mở ra và lập tức nhận ra Người. Cử chỉ của Chúa Giê-su lúc Người bẻ bánh là một chi tiết khá hấp dẫn, mang một nét đặc thù mà chỉ có Chúa mới làm được. Cử chỉ nhắc lại tinh thần tự hiến của Chúa mà các môn đệ đã trải nghiệm. Vì thế, hai môn đệ nhận ra Người.

Anh chị em thân mến,

Câu chuyện hai môn đệ trên đường Em-mau có thể áp dụng cho mọi người ở mọi lứa tuổi. Chúng ta có thể thấy mình trong hai người khách lạ, mệt mỏi đi về Em-mau. Niềm tin và hy vọng đã mất, tương lai mà họ hy vọng bây giờ đã sụp đổ. Tuy nhiên, họ đã gặp một người bạn vô danh đang đi trên đường với họ, người lữ khách mà họ chưa từng quen biết đã cho họ một cái nhìn sâu sắc và kết nối thế giới mới với thế giới mà họ biết.

Em-mau không còn là đích điểm mà họ nhắm đến. Với lòng vui sướng, thanh thoát họ hân hoan trở về nơi mà các bạn của họ đang chờ, đó chính là Giê-ru-sa-lem. Nghĩ đến đó, họ lập tức lên đường trở về.

Giống như tâm trạng của người con đi hoang, chỉ nghĩ đến nhà nơi có hình ảnh của Cha khiến anh không thể chần chừ được nữa, cần lên đường về nhà ngay. Các môn đệ cũng thế, nhận ra Thầy là niềm vui cả thể. Họ không còn muốn nán ở lại Em-mau thêm một giây, một phút nào nữa. Họ khởi hành và trên đường về Giê-ru-sa-lem, tâm tư của họ không còn nặng chĩu và buồn chán nữa. Trái lại, họ nhận ra trong khi chia sẻ của ăn với Chúa tại Em-mau, họ nhớ lại một trải nghiệm trước đây họ đã chứng kiến khi Chúa nuôi ăn 5000 người trong bữa tiệc bẻ bánh ra nhiều. Họ nhận ra Người.

Thật vậy, sự hiện diện của Chúa đã chạm đến cơn đói sâu thẳm nhất của họ, và của ăn mà Chúa chia sẻ tại Em-mau không chỉ là của ăn vật chất mà là thức ăn giúp họ mở rộng tâm hồn và thân xác để đón nhận. Và, tất nhiên, đó là cách thức Người hiện diện, trong Bí tích Thánh Thể, nơi việc bẻ bánh. Và đây chính là ý nghĩa mà việc bẻ bánh của Chúa Giêsu muốn dành cho họ sau khi Người phục sinh. Người sẽ hiện diện một cách thức như thế cho đến ngày Người lại đến trong vinh quang.

Trong tâm tình đó, những lời của Người nói, cử chỉ Người làm trong bài Tin Mừng hôm nay chạm đến trái tim chúng ta, cho chúng ta thêm can đảm, kiên tâm, hy vọng và tiếp tục kéo chúng ta lại gần Chúa và gần nhau nhiều hơn nữa. Như vậy, tại bất cứ nơi nào mà chúng ta lắng nghe Lời Chúa và cùng nhau chia sẻ bữa tiệc lòng mến thì có Chúa hiện diện, không hẳn chỉ tại các nơi thờ phượng. Thiết yếu là niềm tin và lòng mến mà chúng ta noi gương Đức Giê-su sẵn sàng san sẻ cuộc đời cho nhau thì sẽ gặp Chúa. Amen!

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

--------------------------------

 

PS3-A164: CHẲNG HIỂU GÌ

 

Mau chóng lan truyền tin nóng về Chúa Giêsu chết trên Thập Giá làm rúng động dân chúng, tin PS3-A164


Mau chóng lan truyền tin nóng về Chúa Giêsu chết trên Thập Giá làm rúng động dân chúng, tin đó chưa lắng xuống thì bất ngờ có tin nóng hơn về sự phục sinh của Ngài tiếp tục khuấy động lòng người. Chuyện lạ này nối tiếp chuyện lạ khác, chỉ chưa đầy 3 ngày.

Cũng chính ngày hôm ấy có hai người trong nhóm môn đệ buồn bã trở về làng Emmau, cách Giêrusalem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Họ cũng thấy thất vọng vì ước mơ tan thành mây khói, tương lai không biết thế nào, đành về quê cắm câu, chứ chưa biết chuyện ngã ngũ ra sao. Tướng mất thì quân cũng tan hàng. Buồn vô cùng!

Qua trình thuật Lc 24:13-35, Thánh sử kể rằng đang lúc họ vừa đi đường, trò chuyện và bàn tán, Chúa Giêsu xuất hiện và đồng hành với họ, nhưng họ không hề nhận ra Ngài. Ngài “giả nai” hỏi họ: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” Họ dừng lại, tỏ vẻ buồn rầu vì chuyện xảy ra xôn xao khắp nơi mà ông ta chẳng biết gì ráo trọi. Ông khách lạ này đúng là người vô tình nhất thế giới rồi!

Hai ông nghe hỏi vậy thì một người tên Cơlêôpát trả lời: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” Chúa Giêsu vẫn “vô tư” hỏi họ: “Chuyện gì vậy?” Họ kể lại vụ ông Giêsu Nadarét là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân, thế mà các thượng tế và thủ lãnh đã kết án tử hình cho Ngài, rồi đóng đinh Ngài vào thập giá. Họ bảo trước đây họ vẫn hy vọng rằng chính Ngài là Đấng sẽ cứu chuộc Israel, thế nhưng những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. Họ cũng nói rằng họ kinh ngạc khi mấy người đàn bà ra mộ hồi sáng sớm, nhưng không thấy xác Ngài đâu cả, mấy bà còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo Ngài vẫn sống, và họ kết luận: “Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Ngài thì họ không thấy.”

Chúa Giêsu nói với họ: “Các anh CHẲNG HIỂU GÌ CẢ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” Rồi bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Ngài giải thích cho hai ông những gì liên quan Ngài trong tất cả Sách Thánh.

Vậy mà hai ông vẫn chẳng hiểu gì. Nghe Chúa Giêsu trách họ “chậm tin” mà chúng ta cảm thấy “nhột” lắm. Thật vậy, hằng ngày cuộc sống cứ lặng trôi, chúng ta cứ sống theo hoàn cảnh của mình riết thành quen, đến nỗi mọi thứ trở thành như một phản xạ, và rồi hầu như cũng mất luôn cảm xúc. Cứ thế và cứ thế, ngay cả việc làm dấu Thánh Giá cũng như một hành động của robot được lập trình sẵn, hoặc đọc kinh như được nhấn play, gắn thẻ nhớ hoặc gắn USB, rồi cứ thế mà “phát âm” thôi. Và rồi chúng ta vẫn cho rằng mình đang sống đức tin, nhưng khi gặp chuyện gì không “như ý” thì cảm thấy… ái ngại. Hóa ra chúng ta vẫn “chậm tin” lắm, chẳng oan ức gì!

Khi gần tới nơi họ cần đến, Chúa Giêsu giả bộ còn phải đi xa, nhưng họ mời Ngài ở lại với họ vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn. Chúa Giêsu đồng ý. Khi ăn tối, Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra vì thấy hành động này quen lắm, mới vài ngày thôi mà. Thế là họ nhận ra Thầy Giêsu, nhưng rồi Ngài lại biến mất. Ôi chao, tiếc thật! Họ tròn mắt bảo nhau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” Chính xác Thầy Giêsu đã sống lại. Họ liền quay trở lại Giêrusalem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. Những người này bảo hai ông: “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Simôn.” Hai ông vui vẻ thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và đã nhận ra Chúa khi Ngài bẻ bánh. Nhất định không thèm về quê nữa, mọi sự sáng tỏ rồi. Alleluia!

Thật chí lý khi người ta nói là “chữ nghĩa” – Chữ phải có Nghĩa. Trong Việt ngữ, chữ “gặp gỡ” cũng độc đáo quá chừng: GẶP để GỠ chuyện gì hoặc việc gì đó. GẶP thì mới GỠ được, không thì không thể. Tương tự, NHẬN thì phải BIẾT, nếu KHÔNG BIẾT thì chắc hẳn “có vấn đề.” Những người được gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh đều biến đổi hoàn toàn, thay đổi cả con người từ trong ra ngoài, bởi vì họ nhận biết Ngài. Họ được “gặp” Đức Kitô Phục Sinh và được Ngài “gỡ” mọi khúc mắc của con người cũ để trở nên con người mới hoàn toàn. Họ nhận biết Ngài nên họ cũng muốn nên giống Ngài. Đơn giản thế thôi, nhưng đó là vấn đề quan trọng.

Chắc chắn rằng có tin thì mới yêu, có yêu thì mới muốn gặp, và khi đã gặp rồi thì “hai năm rõ mười,” nhận biết tỏ tường, sự thật minh nhiên – đúng hoặc sai, yêu hoặc ghét. Không thể chối cãi. Đó là một quy trình đơn giản mà cần thiết, có mối liên kết chặt chẽ với nhau. Trong cuộc sống đời thường, có nhiều dạng khoảng cách – địa lý, tinh thần, tâm linh. Tuy nhiên, chúng ta đi được khoảng cách xa bao nhiêu cũng không quan trọng bằng những người chúng ta gặp dọc đường, và những gì chúng ta khả dĩ nhận biết. Quả thật, sự nhận biết rất quan trọng, không thể không gặp gỡ nhau, nhưng gặp nhau rồi có nhận biết nhau hay không lại là chuyện khác.

Gặp nhau không chỉ nhìn thấy nhau, mà quan trọng là đối thoại với nhau – có thể bằng ngôn ngữ, ánh mắt, động thái, cử chỉ, thậm chí có thể đối thoại ngay trong sự im lặng – gọi là “ngôn ngữ không lời.” Gặp nhau làm gì? Gặp nhau để nhận ra nhau, để yêu thương, để chia sẻ với nhau, để giúp đỡ nhau, để biến đổi nhau,… Rất đa dạng. Gặp người đời mà còn cần thiết như vậy huống chi được gặp gỡ Thiên Chúa, đặc biệt là nhận biết chính Đức Kitô là Đấng Phục Sinh.

Cuộc gặp gỡ đó rất diệu kỳ, có sức mạnh khó cưỡng lại, và cuộc gặp gỡ đó có thể biến đổi cuộc đời mình. Cuộc gặp gỡ đó có kết quả tốt là nhận biết Đức Kitô qua tha nhân. Quá trình gặp gỡ Đức Kitô cũng là một dạng được sống lại – tâm linh hoặc thể lý. Trường hợp sống lại của Ladarô, (Ga 11:1-44) em trai của Mácta và Maria, và con trai bà góa thành Nain (Lc 7:11-17) chỉ là sống lại về thể lý bình thường, không đổi khác và sẽ lại chết, nhưng trường hợp sống lại của Đức Kitô là sống lại đặc biệt và không thể chết nữa.

Thân xác nhục thể và thân xác phục sinh vẫn là một, nhưng chắc chắn khác thường, rất kỳ diệu, vì thế mà chính Chị Maria Mácđala và hai môn đệ trên đường Emmau đều không nhận ra Thầy Giêsu của mình, mặc dù rất quen. Chị Maria Mácđala chỉ có thể nhận ra Ngài khi Ngài gọi đích danh mình bằng giọng nói thân thương và quen thuộc, còn hai môn đệ kia chỉ có thể nhận ra Ngài khi Ngài làm động tác quen thuộc: bẻ bánh. Thật vậy, khi các tông đồ thấy Chúa hiện ra đứng ở giữa và chúc bình an cho họ mà họ lại kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma và ngờ vực. Nỗi lo sợ đã khiến họ hoa mắt chăng? Cửa thì đóng kín, thế mà bỗng dưng có người “đi xuyên tường.” Thảo nào các môn đệ tưởng là ma thật!

Chúa Giêsu thấy tội nghiệp các trò lắm, thế là Ngài cho họ rờ vào Ngài, họ thấy Ngài vẫn có xương thịt và Ngài còn ăn khúc cá nướng họ đưa cho, lúc đó họ mới thấy mình không hề mộng du và tin là Thầy mình đã sống lại thật. (Lc 24:36-43) Thân xác phục sinh khác thật và lạ thật đấy, nhìn giống như xưa mà lại không như xưa. Thảo nào chẳng ai nhận ra Ngài. Bất kỳ ai gặp gỡ Đức Kitô thì đều biến đổi từ trong ra ngoài, biến đổi hoàn toàn, biến đổi thực sự chứ không “có vẻ.” Thấy ai biến đổi thì biết chắc người đó gặp được Đức Kitô. Biến đổi ở đây phải hiểu theo nghĩa tích cực, khiêm nhường và can đảm làm chứng về Chúa, chứ không “ra vẻ” để được khen.

Cuộc đời các thánh đã cho chúng ta biết chắc về việc họ được gặp gỡ Đức Kitô một cách thần bí. Cuộc đời họ biến đổi mau chóng và lạ lùng đến nỗi bị người khác nghi ngờ, thậm chí có những vị thánh bị cho là tâm thần. Nhưng sự thật vẫn mãi là sự thật. Không thật thì không bao giờ có thể giả vờ hoặc ra vẻ như thật được.

Tông đồ Phêrô được Thầy Giêsu tín cẩn trao trọng trách làm giáo hoàng tiên khởi, đã từng nói dám liều chết với Thầy, nhưng rồi chính ông đã chối bỏ vì khiếp nhược khi Thầy bị bắt, nhưng sau khi ông nhận biết Đức Kitô Phục Sinh thì ông hoàn toàn khác hẳn, không còn nhát đảm như trước. Cụ thể là vào một ngày nọ, ông Phêrô đứng chung với Nhóm Mười Một (không còn Giuđa Ítcariốt), và lớn tiếng nói: “Thưa anh em, miền Giuđê và tất cả những người đang cư ngụ tại Giêrusalem, xin biết cho điều này, và lắng nghe những lời tôi nói đây.” (Cv 2:14)

Sự biến đổi rất rõ nét. Và rồi ông Phêrô dõng dạc: “Thưa đồng bào Israel, xin nghe những lời sau đây. Chúa Giêsu Nadarét, là người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em. Và để chứng thực sứ mệnh của Người, Thiên Chúa đã cho Người làm những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ giữa anh em. Chính anh em biết điều đó. Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Chúa Giêsu ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi. Quả vậy, vua Đavít đã nói về Người rằng: Tôi luôn nhìn thấy Đức Chúa trước mặt tôi, vì Người ở bên hữu, để tôi chẳng nao lòng. Bởi thế tâm hồn con mừng rỡ, và miệng lưỡi hân hoan, cả thân xác con cũng nghỉ ngơi trong niềm hy vọng. Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc linh hồn con trong cõi âm ty, cũng không để Vị Thánh của Ngài phải hư nát. Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống, và cho con được vui sướng tràn trề khi ở trước Thánh Nhan.” (Cv 2:22-28)

Phêrô của ngày hôm nay hoàn toàn biến đổi tích cực, không còn là Phêrô hèn nhát và tiêu cực của ngày hôm qua. Ông thực sự trở nên một nhân chứng sống động, nhiệt thành. Quả thật, khi đã biết đúng cái gì là thật thì người ta không còn sợ bất cứ thứ gì khác, kể cả cái chết. Rồi ông quả quyết: “Thưa anh em, xin được phép mạnh dạn nói với anh em về tổ phụ Đavít rằng: người đã chết và được mai táng, và mộ của người còn ở giữa chúng ta cho đến ngày nay. Nhưng vì là ngôn sứ và biết rằng Thiên Chúa đã thề với người là sẽ đặt một người trong dòng dõi trên ngai vàng của người, nên người đã thấy trước và loan báo sự phục sinh của Đức Kitô khi nói: Người đã không bị bỏ mặc trong cõi âm ty và thân xác Người không phải hư nát. Chính Chúa Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng. Thiên Chúa Cha đã ra tay uy quyền nâng Người lên, trao cho Người Thánh Thần đã hứa, để Người đổ xuống: đó là điều anh em đang thấy, đang nghe.” (Cv 2:29-33) Thật tuyệt vời khi người ta được Thiên Chúa biến đổi thành con người mới!

Thiên Chúa rất vui khi chúng ta hoàn toàn tâm phục khẩu phục Ngài. Thực sự Ngài muốn chúng ta hoàn toàn tín thác nơi Ngài để được hưởng Lòng Thương Xót của Ngài – hoàn toàn có lợi cho chúng ta chứ chẳng thêm gì cho Ngài. Khi đã gặp gỡ và nhận biết Đấng Kitô Phục Sinh, đồng thời tín thác vào Ngài, chúng ta sẽ không thể không vui mừng thân thưa: “Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con, vì bên Ngài, con đang ẩn náu. Con thưa cùng Chúa: Ngài là Chúa con thờ, ngoài Chúa ra, đâu là hạnh phúc?” (Tv 15:1-2)

Chúng ta biết chắc chỉ có Thiên Chúa mới thực sự là cứu cánh và là cùng đích của đời chúng ta: “Lạy Chúa, Ngài là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ.” (Tv 16:5) Do đó, chúng ta có thể không ngần ngại thề hứa: “Con chúc tụng Chúa hằng thương chỉ dạy, ngay cả đêm trường, lòng dạ nhắn nhủ con. Con luôn nhớ có Ngài trước mặt, được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ. Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn. Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ. Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi!” (Tv 16:7-11) Thật là tuyệt vời với niềm tin tưởng như vậy, đẹp biết bao niềm tín thác như thế!

Thực sự tin tưởng nhau thì người ta có thể gặp nhau bất cứ lúc nào. Phàm nhân thường có mức độ ưu tiên khác nhau, thường thì ai “ngon” hơn sẽ được “ưu tiên” hơn – “ngon” hơn về ngoại hình, vật chất, chức tước, học vị,... Nhưng Thiên Chúa không hề như vậy, vì Ngài không thiên vị bất kỳ ai! Thật vậy, Thánh Phêrô cho biết: “Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử. Vậy nếu anh em gọi Người là Cha, anh em hãy đem lòng kính sợ mà sống cuộc đời lữ khách này.” (1 Pr 1:17) Rất rõ ràng, rạch ròi, công minh, nghiêm túc.

Thánh Phêrô giải thích thêm: “Anh em hãy biết rằng không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại. Nhưng anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Kitô. Người là Đấng Thiên Chúa đã biết từ trước, khi vũ trụ chưa được dựng nên, và Người đã xuất hiện vì anh em trong thời cuối cùng này. Nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa, Đấng đã cho Người trỗi dậy từ cõi chết, và ban cho Người được vinh hiển, để anh em đặt niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa.” (1 Pr 1:18-21) Có vẻ “dài dòng” một chút, nhưng không thừa chút nào.

Lạy Thiên Chúa, xin cho chúng con nhận ra Ngài trong bất kỳ ai, nhất là nơi những người hèn mọn, và xin cho mọi người cũng nhận ra Ngài khi gặp chúng con. Xin giúp chúng con biết cầm “tấm bánh cuộc đời chúng con, tạ ơn, bẻ ra và trao cho mọi người, và luôn làm chứng về Đức Kitô Phục Sinh. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Phục Sinh, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

------------------------------------

 

PS3-A165: CHÚNG TA LÀ NHỮNG LỮ KHÁCH EM-MAU

 

Thánh Lu-ca chỉ kể lại hai cuộc hiện ra của Chúa Phục sinh (24,13-33 và 24,36-49), còn cuộc hiện PS3-A165


Thánh Lu-ca chỉ kể lại hai cuộc hiện ra của Chúa Phục sinh (24,13-33 và 24,36-49), còn cuộc hiện ra thứ ba (x. câu 34) thì ông chỉ nói rất vắn gọn. Thêm nữa, cuộc hiện ra đầu được ban cho hai môn đệ, vốn chẳng có vai trò nào trong Tin mừng Lu-ca lẫn Công vụ Tông đồ, được kể dài dòng hơn cuộc hiện ra thứ hai, vốn xác nhận Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang ở với họ như những chứng nhân chính thức của cuộc Phục sinh. Sau cùng, đối với Phê-rô, Lu-ca nêu lên cuộc hiện ra dành cho ông, nhưng chẳng kể lại. Dù thế, đây là cuộc hiện ra đầu hết và quan trọng hơn cả.

Trình thuật «hai môn đệ làng Em-mau» có mục đích cho thấy làm sao sau khi đã trò chuyện với Chúa trên đường (cc.13-27), cuối cùng họ đã nhận ra Đức Giê-su khi dùng bữa tối (cc.28-35); nó chẳng chứa việc sai đi truyền giáo nào cả. Sở dĩ Lu-ca gán cho nó tầm quan trọng lớn lao, là vì ông muốn lôi kéo các độc giả vào, cho họ thấy câu chuyện mang tính thời sự và một giá trị thường xuyên đối với họ. Đời sống Giáo hội, với những cuộc hội họp thờ phượng, lúc đưa ra lời giải thích Thánh Kinh và xảy ra việc cử hành Thánh Thể, chính là nơi mà tín hữu có thể nhận ra hôm nay sự hiện diện của Đấng Phục Sinh. “Bạn đường vô danh của ông Cơ-lê-ô-pát mang tên của mỗi một tín hữu” (Charles Perrot) đang đọc hay nghe trang Tin mừng thời danh này.

1. Hy vọng rồi tuyệt vọng

“Hỡi những kẻ ngu độn và trí lòng chậm tin vào mọi điều các tiên tri đã nói ! Thế thì Đức Ki-tô lại không phải chịu khổ nạn như thế đã, rồi mới vào vinh quang của Người sao ?” (bản dịch của Nguyễn Thế Thuấn). Ngay cả trong ngày Phục sinh, ngay cả khi hát Alleluia, chúng ta cũng hãy để cho Đấng Sống Lại “đối xử thô bạo” với mình như thế. Có lẽ khi nói những lời ấy, Đức Giê-su đã nở nụ cười của lối mắng yêu, và hai môn đệ cũng nhanh chóng mỉm cười; rất tốt khi được Người, Đấng Hằng Sống, gọi là ngu độn !

Hãy trao đổi cũng nụ cười ấy với Người. Vì chúng ta cũng là những lữ khách Em-mau. Chúng ta tiến bước trên con đường đời mình với nhiều hy vọng đầu tiên rất ư thuần khiết, rồi ngày càng pha trộn, pha trộn chất Ki-tô giáo lẫn chất ngoại giáo, sáng sủa lẫn tối mờ, xả thân và ích kỷ. “Chúng tôi đã từng nuôi hy vọng chính Người sẽ giải thoát Ít-ra-en”, hai môn đệ nói thế, hàm ý Người sẽ lên ngôi vinh hiển để họ cũng được thông phần, và chúng ta cũng y như họ. Rồi các thất vọng đã đến: với Đức Giê-su thế là chấm dứt vĩnh viễn. Mộng vàng nay đã tan mây ! Trở về làng cũ cấy cày cho xong!

Thình lình xảy ra cuộc Gặp gỡ. Khó tin đến nỗi thoạt tiên hai môn đệ chẳng thấy gì: “Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ”. Nhưng họ chẳng nhận ra Người, một đàng vì tham vọng tiêu tùng đã làm ý thức họ mờ tối, đàng khác vì cuộc Phục sinh đã làm cho hình dạng bên ngoài của Đức Giê-su thay đổi. Chúng ta từng có cuộc gặp gỡ giống thế nhưng cũng đã khép kín như họ trước cái không ngờ : Thiên Chúa trước mặt chúng ta, Thiên Chúa ở với chúng ta !

Tuy nhiên, dẫu biết điều ấy, đức tin chúng ta vẫn không thức tỉnh đủ, con tim chúng ta quá chậm rì, chúng ta tiếp tục tiến bước trong cuộc đời như thể Người chẳng có đó. Vì chúng ta luôn mong ước bản thân Người hiển linh, Giáo hội Người hiển thắng.

2. Rạo rực rồi bừng sáng.

Nhưng đôi khi tâm hồn cũng cháy lên : “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?” Kinh Thánh ! Đừng hy vọng tiến tới trong đức tin nếu không đọc Kinh Thánh, tất cả Kinh Thánh, kho tàng lớn lao của Mạc khải mà hôm nay Đức Giê-su cho chúng ta chìa khóa để hiểu : “Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình đã rồi mới vào trong vinh quang của Người”. Các ngôn sứ (tức Cựu Ước) đã tiên báo như vậy ! Khó thấu hiểu, khó chấp nhận thật, tuy nhiên Đức Giê-su sẽ thân thương gọi chúng ta là ngu độn bao lâu chúng ta chưa thật sự nội tâm hóa bí mật của mọi bí mật này.

Quỹ đạo lớn đi từ thập giá đến vinh quang, đó chính là chuyện đời của Đức Ki-tô, chuyện đời của thế giới, chuyện đời của mỗi một con người. Ai hiểu con đường gian khổ này thì đã hiểu tất cả. Chúng ta chỉ có thể sống một cái gì đó với Đức Giê-su khi xin vâng đối với tình yêu, và lúc đó chúng ta cũng xin vâng đối với gian khổ. Ai nghĩ rằng yêu thương không phải trả giá gì hết thì xin mời đi chỗ khác vậy ! Nhưng khi chúng ta đau khổ để thương yêu, thì sẽ thấy Đức Giê-su có đó.

Chẳng hoàn toàn như thế. Các môn đồ đã nhận lấy bí mật lớn lao, lòng họ đã rạo rực (“Xin ở lại với chúng tôi”), thế nhưng họ vẫn chưa nhận ra Người. Phải có cuộc bẻ bánh (tức Thánh Thể, Thánh Lễ) và lần này họ đã hiểu. Dẫu cho Người “biến mất trước mắt họ”, từ nay Người sẽ luôn có đó, ta sẽ có thể tiến bước với Người từ thập giá đến vinh quang. Ngay lập tức hai môn đồ có một phản xạ tốt : đi loan báo điều kỳ diệu: “Chúa sống lại thật rồi ! ” Và tất cả trả lời : “Đúng thế”. Làm Ki-tô hữu sẽ là sống niềm xác tín đó và thông truyền đó ra.

Như thế đức tin chúng ta nẩy sinh nhờ ba yếu tố lớn, với ba thời điểm lớn : Lời Chúa, Thánh Thể và Chứng từ. Ba yếu tố này ngày nọ đã biểu lộ ra qua cuộc đối thoại giữa một tín hữu Công giáo (vốn là một tông đồ xã hội nổi tiếng) với một mục sư Tin lành. Vị mục sư nói với anh: “Tôi nghĩ rằng Kinh Thánh đã đủ giúp chúng ta gặp Chúa và hiểu Chúa thực sự rồi. Thánh lễ chỉ là bịa đặt vô ích của Công giáo các anh” - “Thưa mục sư, tôi nghĩ rằng Thánh Kinh chưa đủ mà còn phải có Thánh Thể, Thánh Lễ nữa! Bằng chứng là câu chuyện hai môn đệ làng Em-mau. Khi nghe Đức Giê-su giải thích Kinh Thánh, họ chỉ mới thấy lòng rạo rực. Phải đợi đến lúc Người bẻ bánh, họ mới nhận ra được Người !” Đúng là Lu-ca đã đẽo gọt trang Tin Mừng này để nêu bật cho ta ba phương thế gặp gỡ Chúa (Thánh Kinh, Thánh Thể, Chứng từ) cũng như để biến nó thành sơ đồ của cuộc sống Ki-tô hữu : sống đời mình như một thánh lễ và thành thử như một việc chấp nhận thập giá mỗi ngày đời ta.

Một sự chấp nhận mà ngược đời thay, sẽ đem lại hạnh phúc : tiến về vinh quang Thiên Chúa cùng với Đức Giê-su! “Xin ở lại với chúng con” như thế là một lời tình yêu có nghĩa “Con muốn ở với Người”.

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

---------------------------------------

 

PS3-A166: Xin ở lại với chúng tôi


(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu)

SUY NIỆM

 

Nhiều khi chúng ta hay quên chuyện này, Đức Giêsu phục sinh là người tràn đầy niềm vui. Ngài PS3-A166


Nhiều khi chúng ta hay quên chuyện này,
Đức Giêsu phục sinh là người tràn đầy niềm vui.
Ngài vui vì Ngài được Cha phục sinh.
Ngài vui vì Cha đã đóng ấn trên toàn bộ cuộc đời Ngài,
chứng nhận mọi việc Ngài làm, mọi lời Ngài nói.
Cha cho cả thế giới biết rằng Đấng không xuống khỏi thập giá
không phải là người bị Thiên Chúa nguyền rủa hay bỏ rơi,
nhưng là Chiên Thiên Chúa, Đấng mang cho trần gian bao tội lụy.
Đức Giêsu đã trải qua đức tin tăm tối như chúng ta.
Ngài vẫn luôn tin rằng Cha sẽ cứu Ngài, cứu theo cách của Cha.
Ngài đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện lên Cha.
Rốt cuộc, Ngài đã được Cha nhậm lời (Hr 5,7).
Cha không cứu Con khỏi thập giá và cái chết,
nhưng Cha cứu Con khỏi nấm mộ và âm phủ.
Phục sinh là món quà quý Cha tặng cho Chúa Giêsu,
Người Con Một đã vâng lời Cha cho đến chết trên thập giá (Pl 2,8).
Chúa phục sinh vui thật là vui, và Ngài muốn đem niềm vui cho môn đệ.
Khi hai môn đệ bỏ cuộc, bỏ cộng đoàn để về quê ở Emmau,
Ngài không muốn mất họ và muốn hiện ra gặp họ.
Ngài muốn dựng lên một “kịch bản” đáng nhớ cho cuộc gặp gỡ này.
Trước hết Ngài cùng đi với họ như một người tình cờ đi chung đường.
Ngài thấy rõ vẻ buồn bã trên khuôn mặt của họ,
Và cũng biết rõ họ đang đắng lòng về chuyện của thầy Giêsu.
Vậy mà Ngài vẫn làm như không biết,
và khiêm tốn xin được tham dự vào câu chuyện của hai người:
“Hai anh đang trao đổi chuyện gì vậy?”
Ngài chỉ nhận được câu trả lời thiếu thiện cảm của Clêôpát:
“Chắc ông là người duy nhất không biết chuyện mới xảy ra.”
Chúa Giêsu kiên nhẫn, không vội cắt đứt câu chuyện.
Ngài hỏi: “Chuyện gì vậy?”
Dĩ nhiên Chúa quá biết chuyện mới xảy ra về cái chết của Ngài,
nhưng Ngài vẫn làm như không biết.
Ngài làm bộ hỏi để cho họ có cơ hội trải lòng.
Hai môn đệ đã tha hồ kể về niềm hy vọng đã vỡ tan, về nỗi đau.
Họ không nuốt trôi được chuyện Thầy của họ là người công chính,
mà phải chết như một tên tội phạm, bị Thiên Chúa ruồng rẫy.
Chỉ sau khi đã lắng nghe hết mọi chuyện,
Chúa mới dùng Kinh Thánh để giúp họ hiểu được biến cố vừa qua.
Thầy của họ phải đi ngang qua cây cầu khổ đau và cái chết
để qua bên kia cầu là sự sống vinh quang.
Khi biết sắp đến lúc phải chia tay, để hai ông vào làng của họ,
Chúa Giêsu làm ra vẻ mình phải đi xa hơn.
Ngài làm thế để cho họ được tùy ý mời Ngài vào nhà.
Đây cũng là cách Ngài xem họ đã đón nhận đến mức nào
những soi sáng của Ngài dựa trên Kinh Thánh.
Quả thật hai ông đã mê người khách lạ đi chung với mình rồi.
vì lời của ông này làm ấm lại trái tim lạnh giá của họ.
Hai ông đã ép người khách lạ vào nhà để nghỉ ngơi qua đêm.
Dĩ nhiên Chúa Giêsu đồng ý ngay.
Chính trong lúc Ngài bẻ bánh trao cho họ, thì họ nhận ra Ngài.
Hai ông chắc đã bỏ dở bữa ăn để về ngay Giêrusalem.
Đi lại mười một cây số nữa trong đêm, nhưng lòng rất vui.
Họ huyên thuyên với nhau suốt đường dài,
ôn lại những chi tiết về những gì đã xảy ra dọc đường,
nhất là lúc mắt họ mở ra để thấy Chúa khi bẻ bánh.
Không phải Chúa phục sinh chỉ đi với hai môn đệ này một lần.
Ngài đi với từng người chúng ta nhiều lần trong đời,
khi chúng ta bỏ cuộc, chán chường, buồn sầu và thất vọng.
Ngài biết những thử thách chúng ta phải chịu trên đường đời.
Ngài mong đưa chúng ta về với đức tin, về với cộng đoàn.
Mỗi lần đến, Ngài lại theo m