Suy niệm Tin Mừng Lễ các thánh tử đạo Việt Nam Bài 24/11 51-100

Thứ sáu - 17/11/2017 09:52
Suy niệm Tin Mừng Lễ các thánh tử đạo Việt Nam Bài 24/11 51-100 Làm chứng cho Đức Tin
Suy niệm Tin Mừng Lễ các thánh tử đạo Việt Nam Bài 24/11 51-100 Làm chứng cho Đức Tin
Suy niệm Tin Mừng Lễ các thánh tử đạo Việt Nam Bài 24/11 51-100 Làm chứng cho Đức Tin

24/11-51: Anh em làm chứng cho Thầy. 2
24/11-52: Cs/170- Niềm Tin. 4
24/11-53. Kỷ niệm việc thiết lập hàng Giáo Phẩm Việt Nam.. 6
24/11-54: HẠT GIỐNG ĐỨC TIN Mt 10,17 – 22. 9
24/11-55: TỬ ĐẠO VÀ TRUYỀN GIÁO.. 11
24/11-56: NHẬN DIỆN KẺ THÙ (viet lai) 13
24/11-57: NIỀM TIN PHỤC SINH.. 14
24/11-58: SƠ LƯỢC VỀ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM... 18
24/11-59: Lễ Các Thánh Tử Đạo VN.. 28
24/11-60: Lễ các thánh tử đạo Việt Nam.. 32
24/11-61: THÁNH ANRÊ DŨNG LẠC VÀ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO.. 37
24/11-62: Kính caùc Thaùnh Töû Ñaïo Vieät Nam.. 39
24/11-63: Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.. 41
24/11-64: Các thánh Tử Đạo Việt Nam.. 42
24/11-65: LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM... 43
24/11-66:  CHẾT LÀ HẠNH PHÚC.. 45
24/11-67: NHỮNG CON NGƯỜI BẤT TỬ.. 46
24/11-68: KÍNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM... 49
24/11-69: TỈNH THỨC TRƯỚC CƠN BÁCH ĐẠO MỚI 52
24/11-70: KÍNH TRỌNG THỂ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM... 56
24/11-71: LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM... 58
24/11-72: NHỮNG TẤM GƯƠNG ANH DŨNG.. 59
24/11-73: HY SINH MẠNG SỐNG BẢO VỆ ĐỨC TIN.. 61
24/11-74: CHỨNG NHÂN.. 62
24/11-75: ANH HÙNG TỬ ĐẠO.. 64
24/11-76: CHỨNG NHÂN TRONG NGHỊCH CẢNH.. 66
24/11-77: Mừng Kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam.. 68
24/11-78: CHÚNG TA LÀ “CON THẦN CHÁU THÁNH” ! 72
24/11-79: Thập giá. 79
24/11-80: Các Vị Tử Đạo Mới Của Thời Đại 81
24/11-81: Can đảm nói không với tội lỗi – Lm. Trần Ngà. 83
24/11-82: Đây Bài Ca Ngàn Trùng – Tạ Duy Tuyền. 85
24/11-83: Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.. 86
24/11-84: Bách hại 88
24/11-85: Sống vì đạo - ĐTGM. Ngô quang Kiệt 90
24/11-86: Để làm chứng cho vua quan. 92
24/11-87: CÁC TÔI TRUNG KIÊN CƯỜNG.. 94
24/11-88: HẠT GIỐNG SINH NGƯỜI KITÔ GIÁO.. 96
24/11-89: Cảm Mến Công Ơn Của Các Anh Hùng Tử Đạo. 98
24/11-90: LÀM CHỨNG CHO CHÚA.. 103
24/11-91: Như Thầy Đã Yêu : Thiên Phúc. 106
24/11-92: TỬ ĐẠO LÀ LÀM CHỨNG.. 108
24/11-93: LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM... 115
24/11-94: LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM... 117
24/11-95: HY SINH MẠNG SỐNG VÌ ĐỨC KITÔ.. 118
24/11-96: KHI CHÚA THƯƠNG GỌI CON VỀ…... 122
24/11-97: MỘT LẦN CHẾT NGÀN LẦN SỐNG.. 125
24/11-98: NHỮNG ANH HÙNG ĐẤT VIỆT.. 127
24/11-99: SỐNG HY SINH ĐỂ BẢO VỆ ĐỨC TIN.. 129
24/11-100: CHẾT TRONG TÌNH YÊU THIÊN CHÚA.. 129
----------------

 

24/11-51: Anh em làm chứng cho Thầy


Suy Niệm

 

Trong số 117 vị Tử Đạo Việt Nam, được phong thánh năm 1988, có một phụ nữ duy nhất, mẹ của: 24/11-51


Trong số 117 vị Tử Đạo Việt Nam, được phong thánh năm 1988, có một phụ nữ duy nhất, mẹ của 6 người con. Đó là bà Anê Lê Thị Thành, còn gọi là bà Đê.
Trước khi là một anh hùng tử đạo, bà đã là một người mẹ hiền gương mẫu. "Thân mẫu chúng tôi rất chăm lo việc giáo dục các con. Chính người dạy chúng tôi đọc chữ và học giáo lý, sau lại dạy cách dự thánh lễ và xưng tội rước lễ." Đó là lời khai của cô con gái út trước giáo quyền.

Nhà bà Đê là nơi các linh mục trú ẩn. Buổi sáng lễ Phục Sinh năm 1861, quan Tổng Đốc Nam Định cho quân bao vây làng của bà. Bà Đê bị bắt lúc đã 60 tuổi. Bà bị đánh đập tra tấn, bị ép phải chối đạo, bị lôi qua Thánh Giá, bị bỏ rắn độc vào người. Khi con gái đến thăm bà trong nhà giam, đau đớn vì thấy quần áo mẹ loang đầy vết máu, bà đã an ủi con với một niềm lạc quan lạ lùng: "Con đừng khóc, mẹ mặc áo hoa hồng đấy, mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu, sao con lại khóc?" Sau ba tháng chịu đủ mọi cực hình, người phụ nữ ấy đã hiến đời mình cho Chúa.

Cuộc đời của vị thánh nữ tiên khởi của Việt Nam là một sức nâng đỡ lớn cho chúng ta. Thiên Chúa đã làm điều phi thường nơi một người phụ nữ già nua, yếu  đuối. Quan "Hùm Xám" tỉnh Nam Định cũng phải bó tay trước sự yếu đuối kiên vững của bà.

Khôn ngoan và đơn sơ, can đảm chịu đau khổ, bà thánh Đê đã phó mặc cho Chúa đời mình. Bà chẳng lo phải nói gì, phải làm gì trước tòa án, vì sức mạnh của Thánh Thần ở với bà.

Hội Thánh thời nào cũng cần những người dám sống vì đức tin, dám làm chứng cho Chúa trước mặt người đời.

Sống đức tin là một loại tử đạo không đổ máu, không đòi hy sinh mạng sống, nhưng lại đòi hy sinh cả tương lai vững vàng ổn định.

Mỗi ngày, chúng ta thường bị đặt trước những chọn lựa, trước thập giá của Đức Giêsu, y hệt như các vị tử đạo ngày xưa.

Có khi chúng ta đã bước qua thập giá, khi chọn mình, đã chối Chúa bằng chính cuộc sống.

Càng có tự do, ta lại càng dễ sa sút đức tin. Tiền bạc, tiện nghi, khoái lạc vẫn là những thụ tạo gây ra những cuộc bách hại êm ả và khủng khiếp mà cuối cùng chúng ta cũng phải đối diện.

Ước gì chúng ta không để mất đức tin được mua bằng giá máu của bao vị tử đạo, và ước gì chúng ta không ngừng chuyển giao đức tin ấy cho hơn 70 triệu đồng bào trên quê hương.

Gợi Ý Chia Sẻ

Các vị tử đạo làm chứng cho Chúa bằng cách hy sinh tính mạng. Theo ý bạn, trong thời đại đất nước mở cửa, đâu là cách thức làm chứng của người kitô hữu? (làm chứng ở trường, ở nơi làm việc, ở các chỗ giải trí vui chơi...)

Theo ý bạn, xã hội hôm nay dễ nhạy cảm với cách làm chứng nào của người kitô hữu? Phải sống như thê nào để người ta dễ có cảm tình với Đức Giêsu?

Cầu Nguyện

Lạy các thánh tử đạo Việt Nam, các ngài đã dám sống đến cùng ơn gọi Kitô hữu trong một hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm. Sự hy sinh của các ngài cho thấy tình yêu mạnh hơn sự chết và chết là cửa mở vào cõi sống bất diệt. Dù mang phận người yếu đuối, nhưng nhờ ơn Chúa đỡ nâng, các ngài đã chiến thắng khải hoàn. Xin cầu cho chúng con là con cháu các ngài biết can trường sống đức tin của bậc cha anh trong một thế giới vắng bóng Thiên Chúa, biết nhiệt thành làm chứng về tình yêu bằng một đời hiến thân phục vụ. Ước gì ngọn lửa đức tin mà các ngài đã thắp lên bằng cuộc sống và cái chết, được bừng tỏa trên Tổ quốc Việt Nam. Ước gì máu thắm của các ngài thấm vào mảnh đất quê hương để công cuộc truyền giáo sinh nhiều hoa trái.


 

24/11-52: Cs/170- Niềm Tin

 

Một viên sĩ quan trẻ trong quân đội Nga xin được nói chuyện riêng với vị mục sư người Hunga: 24/11-52


Một viên sĩ quan trẻ trong quân đội Nga xin được nói chuyện riêng với vị mục sư người Hungary. Khi hai người ở trong một căn phòng đã đóng kín cửa, viên sĩ quan hung hãn chỉ lên cây thánh giá treo trên tường và nói với vị mục sư rằng:

- Ông biết không, cái đó là sự dối trá cho các ông bày đặt ra để làm mê hoặc dân chúng. Ở đây bây giờ chỉ có tôi và ông. Ông hãy thú nhận rằng : Ông không hề bao giờ tin rằng ông Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa.

Vị mục sư cười và trả lời :

- Này anh bạn ơi, tôi tin thật đấy, vì đó là sự thật.

Viên sĩ quan hét lên :

- Ông đừng có lừa dối tôi, đừng diễu cợt tôi.

Rồi anh rút ra một khẩu súng lục, chĩa vào vị mục sư và hăm dọa :

- Nếu ông không nhận rằng đó là một sự dối trá thì tôi sẽ nổ súng.

Vị mục sư điềm tĩnh trả lời :

- Dù anh giết tôi, tôi cũng không thể nói điều anh muốn tôi nói. Đối với tôi, Đức Giêsu Kitô thật sự là Con Thiên Chúa.

Cũng như vị mục sư kia, các thánh Tử đạo đã kiên cường giữ vững đức tin trước mọi thử thách, mọi gian lao, mọi giông tố của cuộc đời. Các ngài đã dám đánh đổi điều cao quí nhất là mạng sống của mình để làm chứng cho niềm tin vào Thiên Chúa mà các ngài tôn thờ. Chúng ta có thể kể ra đây một vài khuôn mặt của những vị thánh giáo dân như những chứng từ cho điều chúng ta vừa nói :

- Thánh Luca Thìn, 39 tuổi, cai tổng. Người đã viết khi bị bắt bước qua thánh giá: “Tôi là một Kitô hữu. Tôi sẵn sàng chấp nhận mọi cực hình, thậm chí cả cái chết đau đớn nhất, hơn là vi phạm một lỗi dù rất nhỏ trong đạo tôi thờ”.

- Thánh Giuse Lựu, trùm họ Mặc Bắc (Vĩnh Long) đã tâm sự với một linh mục bạn tù rằng: “Xin cha cầu Chúa ban sức mạnh và lòng can đảm cho con. Con sắp phải đi đày. Con xin trao cho Chúa tất cả mọi sự thuộc về con. Con bằng lòng dâng cho Người hy sinh lớn lao hơn hết là gia đình, vợ con của con”.

- Thánh Matthêu Gẫm, 34 tuổi, một thương gia giầu có, dù bị hành hạ, bị gông xiềng nhưng người luôn bình tĩnh vui tươi. Người nói: “Tôi có ăn trộm, ăn cướp gì đâu mà buồn. Được chết vì đạo là điều tốt lắm”.

- Thánh Laurensô Ngôn, 22 tuổi, một nông dân, đã trả lời khi các quan bắt người bước qua thánh giá: “Tôi giữ đạo tôn thờ Chúa tể trời đất. Thánh giá là phương thế Chúa dùng để cứu độ nhân loại. Tôi chỉ có thể tôn kính chứ không bao giờ chà đạp. Tôi sẵn lòng chịu chết vì đức tin vào Thiên Chúa của tôi”.

- Thánh Matthêu Phượng, trùm họ, đã nói với các con mình rằng: “Các con của cha ơi! Đừng khóc, đừng buồn làm chi vì cha đang gặp được vận hội may mắn”.

- Thánh Đaminh Ninh, 21 tuổi, nông dân, đã hiên ngang phát biểu: “Nếu làm con cái không được phép sỉ nhục cha mẹ mình, thì làm sao người Kitô hữu lại có thể chà đạp hình ảnh của Đấng tạo thành trời đất? Xin các quan thi hành điều các quan muốn. Còn tôi không bao giờ xúc phạm thập giá Chúa tôi đâu”.

- Thánh Phêrô Dũng yên ủi vợ: “Hãy vui mừng vì tôi được hy sinh mạng sống cho Chúa Kitô”.

- Thánh Anê Thành, một người mẹ của 6 người con. Trong cơn đau đớn vì bị tra tấn đã nhắn nhủ cô con gái đến thăm người trong tù rằng: “Con chuyển lời mẹ nói với các anh chị em con : Hãy coi sóc việc nhà, giữ đạo sốt sắng, đọc kinh sáng tối, dâng lễ mỗi ngày, cầu nguyện cho mẹ vác thánh giá Chúa đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta sẽ đoàn tụ trên Nước Thiên đàng”.

- Thánh Emmanuel Phụng, trùm họ, trước khi bị siết cổ đã trao cho con gái một ảnh thánh giá và nói: “Con hãy nhận lấy kỷ vật của cha. Đây là ảnh Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Anh này quí giá hơn vàng bạc bội phần. Con hãy luôn mang nơi cổ và trung thành cầu nguyện sớm chiều con nhé”.

Chúng ta không thể kể ra đây hết những hình khổ các thánh Tử đạo đã phải chịu. Chúng ta cũng không thể nói hết ở đây những lời di chúc quí báu của các ngài. Đối với các ngài, Thiên Chúa là trên hết. Thiên Chúa là tất cả. Lập trường của các ngài là: “Thà chết chứ không thà bỏ đạo, bỏ Chúa”. Có lẽ ngày hôm nay chúng ta không còn được diễm phúc đổ máu và hy sinh mạng sống để làm chứng cho Chúa nữa. Nhưng nếu phải hy sinh một món lợi vật chất, nếu phải đánh đổi một chức vụ trong xã hội, nếu phải từ bỏ một thú vui tội lỗi vì Chúa, vì luật lệ, và vì Tin Mừng của Người, chúng ta có dám không, thưa quí ông bà và anh chị em? Phải chăng lập trường của chúng ta vẫn là: “Thà bỏ đạo, bỏ Chúa chứ không bỏ những thứ đó”?


 

24/11-53. Kỷ niệm việc thiết lập hàng Giáo Phẩm Việt Nam


 - Lm Augustine S.J

Ga. 17, 11b-19

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng

 

Hôm nay mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Giáo Hội cũng mừng kỷ niệm việc thiết lập: 24/11-53


Hôm nay mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Giáo Hội cũng mừng kỷ niệm việc thiết lập hàng Giáo Phẩm Việt Nam.

Kỷ niệm 41 năm thành lập hàng Giáo Phẩm

Từ khi vị thừa sai Phan-xi-cô Bu-do-mi (Francesco Buzomi, SJ.) có công thiết lập cơ cấu giáo xứ đầu tiên ở Việt Nam bước chân lên nước này năm 1615 cho tới khi hàng Giáo Phẩm Việt Nam được thiết lập năm 1960, thời gian kéo dài xấp xỉ 3 thế kỷ rưỡi. Giai đoạn lịch sử ấy lần lượt được đánh dấu bằng việc thiết lập thành phần nhân sự quan trọng cho việc xây dựng Giáo Hội địa phương.

Khởi sự cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes, SJ.) đã khai sinh ra hội Thầy Giảng năm 1630. Nhưng quan trọng hơn gấp bội là năm 1659 Toà Thánh thiết lập hai giáo phận Đàng Ngoài và Đàng Trong và đặt dưới quyền quản trị của hai vị tân giám mục Phan Lữ (Francois Pallu) và Pierre Lambert de la Motte. Đó là hai vị đồng sáng lập hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris (M.E.P.). Chính Đức Cha Pierre Lambert de la Motte trong 3 năm 1668-1670, đã ban chức linh mục cho 9 người Việt Nam đầu tiên, hầu hết xuất xứ từ hội Thầy Giảng. Chín linh mục này làm nên hàng giáo sĩ Việt Nam đầu tiên.

Từ cuộc phong chức linh mục do Đức Cha Pierre Lambert de la Motte cho người Việt Nam đầu tiên là thầy Giuse Trang 28 tuổi năm 1668, tới cuộc phong chức giám mục cho Cha Gioan B. Nguyễn Bá Tòng do Đức Thánh Cha Piô XI năm 1933 tại Roma, giai đoạn ấy kéo dài 2 thế kỷ rưỡi. Từ khi có giám mục Việt Nam cho tới khi có hàng giáo phẩm Việt Nam, giai đoạn lịch sử ấy chỉ kéo dài 33 năm.

Về nhân sự của giáo hội địa phương, kế tiếp việc thiết lập hàng giáo sĩ Việt Nam là việc thành lập dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Kiên Lao (Nam Định) và Bái Vàng (Hà Nam) do Đức Cha Pierre Lambert de la Motte năm 1670. Khi ấy Đức Cha Pierre Lambert de la Motte cảm thấy như đã đạt được điều ngài mơ ước từ dịp viếng mộ hai thánh Phanxicô Salêsi và thánh nữ Giaoanna Chantal tại Pháp năm 1657. Ơn soi sáng đã đến trên ngài với hình ảnh một Giáo Hội có linh mục và nữ tu là hai con kinh tuôn đổ đức Tin và đức Ái tràn lan trên một đất nước: Linh mục là hiện thân của lòng nhiệt thành, liều mạng như người chiến sĩ xông pha nơi trận tuyến hiểm nguy; còn nữ tu là biểu tượng cho sự trong trắng và kết hợp đời sống cầu nguyện với công việc bác ái phục vụ.

Điều Đức Cha Pierre Lambert de la Motte mơ ước quả là hình ảnh lý tưởng về Giáo Hội không phải lúc nào cũng đạt được. Nhưng ơn đức Tin và đức Ái luôn phải có để làm nên Giáo Hội, đặc biệt trong thời cấm đạo. Cũng chính ơn đức Tin và đức Ái làm nên các thánh Tử Đạo.

Mừng kính Chư Thánh Tử Đạo Việt Nam

Lịch sử 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam ăn khít với quãng thời gian 117 năm giữa 1745, khi hai vị thánh Phanxicô Frederich Tế và Matthêu Liciniana Đậu hy sinh mạng sống cho tới năm 1862, khi thánh Phêrô Đa vừa bị thiêu vừa bị trảm quyết. Tất cả 117 vị đã chịu chết vì đức tin dưới các triều đại vú Lê Chúa Trịnh, Tây Sơn và triều Nguyễn (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức).

Trong số 117 vị Tử Đạo có 8 vị Giám Mục, 50 linh mục, 59 giáo dân, trong số này có một phụ nữ là thánh Anê Lê Thị Thành, người mẹ của sáu người con.

Các vị ấy chỉ là tượng trưng cho hàng mấy trăm ngàn người đã chịu chết vì đạo trong ba thế kỷ 17, 18 và 19. Đầu tiên phải kể trong tổng số ấy, thầy giảng Anrê Phú Yên bị trảm quyết vì đạo ngày 26.7.1644 trước sự có mặt của cha Đắc Lộ. Thi hài thầy Anrê được chôn táng trong nhà thờ dòng Tên tại Macao. Cuối năm 1645 khi về Âu Châu, cha Đắc Lộ đã đem đầu thầy sang Rôma, còn thân vẫn còn ở Macao.

Cũng phải kể tới những vụ sát hại tập thể ở Biên Hoà và Bà Rịa 1861-1862. Riêng ở Bà Rịa khi ấy có khoảng 2.300 giáo dân từ lâu sống khá yên ổn cho tới tháng 8, 1861. Chính những cuộc hành quân của binh đội Pháp tại Biên Hoà cuối năm 1861 sang năm 1862 đã làm cớ cho nhiều vụ giáo dân bị sát hại tập thể. Hồi tháng 9 năm 1861 nhà cầm quyền tại Bà Rịa nhốt những người Công Giáo bị bắt vào bốn ngục: ngục Dinh là ngục chính ở ngay Bà Rịa, nhốt 300 đàn ông; ngục Thơm ở Long Kiên khoảng 4 cây số về phía Bắc Bà Rịa, giam 135 đàn bà con nít; ngục Thành ở Long Điền giam 140 đàn bà con nít; ngục thứ bốn tại họ đạo Đất Đỏ, nhốt 125 đàn bà trẻ con. Bốn ngục chứa tổng số là 700 tín hữu ngày đêm có lính canh gác cẩn mật. Nhưng với ba ngục giam phụ nữ và trẻ em, lính gác có phần dễ dãi hơn. Vì thế một linh mục Việt Nam có thể tới thăm viếng và ban Bí Tích cho nhiều người bị giam ở ba ngục này. Đó là cha Trí giả dạng đi buôn, gánh hai tĩnh nước mắm vào bán trong ngục. Chính cha Trí ngày 8.1.1862 tới tận ngục Dinh nơi bao giáo hữu từng bị giam thì chỉ còn thấy một đống tro tàn với xác chết nằm ngổn ngang mà chính ngài cùng với một linh mục nữa đã lo chôn cất.

Nhìn về phía trước: Sứ mạng giới thiệu Chúa Giêsu

Từ ngày cha Trí lo chôn xác 288 tín hữu chết vì đạo tại Bà Rịa tới nay, 139 năm đã trôi qua. Điều không thể tưởng tượng được là phần một tập thể của gần 300 chứng nhân anh dũng tại Bà Rịa nay nằm trong lãnh thổ của giáo phận Xuân Lộc với dân số tín hữu đông đảo nhất. Từ Bà Rịa nhìn ra vùng biển Vũng Tàu ngoài tượng Chúa ở Ô Quắn đang dang tay ôm ấp thế giới, nay còn có bức tượng Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa cao 30 mét trên núi Bãi Dâu, đang giới thiệu Chúa Giêsu cho thế giới.

Bối cảnh cởi mở và lạc quan ấy xem ra không thích hợp lắm với bài Tin Mừng Ga 17,11b-19 được chọn cho thánh lễ Kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay. Xem ra có sự đối kháng không thể nào hoà giải được giữa thế gian và các môn đệ của Chúa Giêsu.

Nhưng ở đây Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly đang cầu nguyện cùng Cha cho các môn đệ. Người ngỏ lời cùng Cha là Đấng Thánh (c.11). Sự kiện các môn đệ thuộc về Thiên Chúa (c.9) là lý do tại sao các môn đệ phải tách rời khỏi thế gian vì trong Cựu Ước sự thánh thiện của Thiên Chúa đối kháng với các thế tục.

Một cách đặc thù, các môn đệ cần được thánh hiến trong sự thật tức là trong chính lời của Thiên Chúa. Các môn đệ đã lãnh nhận và đã giữ lời mà Chúa Giêsu mang lại cho họ từ Thiên Chúa (17,6.14); chính lời đó đã làm cho họ nên sạch (15,3); bây giờ lời đó đặt họ riêng ra nhằm sứ mạng là truyền lại lời đó cho người khác (17,20).

Vậy bài Tin Mừng Ga 17,11b-19 nhắc nhở chúng ta là con cháu các thánh Tử Đạo Việt Nam 3 điều sau đây.

+ Người Kitô hữu chúng ta thuộc về Thiên Chúa theo gương các thánh Tử Đạo Việt Nam. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải sống rõ nét đức tin mà Thiên Chúa ban cho ta. Giữa một thế giới xem ra dễ dàng hơn nếu ta chấp nhận điều kém hơn đức tin và kém hơn sự công chính của Thiên Chúa, ta biết ta phải về phe với ai. Rõ ràng các thánh Tử Đạo đã về phe với Chúa Giêsu và đã phải trả giá bằng chính mạng sống của các ngài.

+ Người Kitô hữu cần nhìn mọi sự và mọi người với cặp mắt yêu thương của Thiên Chúa. Thiếu đức tin là thiếu cặp mắt yêu thương của Thiên Chúa, thế giới loài người xem ra sẽ là một thế giới quá xấu để Thiên Chúa có thể sai Con của Người đến cứu chuộc. Không một vị thánh Tử Đạo nào lại bi quan như vậy. Các ngài chết là để đón nhận ơn cứu chuộc do Con Thiên Chúa xuống thế làm người.

+ Dấu chỉ thời đại cho thấy phải đối thoại thay vì đối kháng. Sẽ chẳng có đối thoại nếu không chia sẻ đức tin với người khác, nếu không đánh giá các nền văn hoá theo giá trị tương đối của mỗi nền văn hoá, nếu không quan tâm tới công bằng.

Con cháu các thánh Tử Đạo Viêt Nam cần nhìn về phía trước. Cuộc đối thoại liên quan tới điều gì đó là cơ bản nơi con tim nhân loại: Đó là lòng ước ao tìm kiếm Thiên Chúa giữa một thế giới mang đầy vết thương do tội gây nên. Các thánh Tử Đạo đã gánh lấy gánh nặng do hậu quả của tội chất lên vai các ngài. Về phần ta, để có sự khả tín trong đối thoại, ta đã có trong con tim của ta sự sẵn sàng đó chưa?

Một số câu hỏi gợi ý

1. Trên đường đi Vũng Tàu bạn có dịp dừng lại ở Bà Rịa, để viếng mộ tập thể của 288 vị tử đạo chôn gần nhà thờ Bà Rịa chưa? Trong số 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam, vị nào khiến bạn thán phục nhất? Bạn ưa thích kể lại cho con em tiểu sử của vị Thánh Tử Đạo nào?

2. Bạn hiểu thế nào là đối kháng? Thế nào là đối thoại? Thế naò là chống đối cách bất bạo động? Thế nào là đấu tranh cho quyền con người? Bạn nghĩ các thánh Tử Đạo Việt Nam đã tỏ ra lập trường như thế nào về những điều vừa nói?

3. Bạn nghĩ các thánh Tử Đạo Việt Nam đã làm chứng về điều gì với cái chết của các ngài?



 

24/11-54: HẠT GIỐNG ĐỨC TIN Mt 10,17 – 22


Ý nghĩa của bắt bớ, bách hại trong Công giáo ?

 

Chúng ta có thể khẳng định: Lịch sử của các Giáo hội cũng là lịch sử của những cuộc bách hại: 24/11-54


Chúng ta có thể khẳng định: Lịch sử của các Giáo hội cũng là lịch sử của những cuộc bách hại. Bắt bớ, bách hại luôn đi liền với những kẻ tin nhận Đức Giê-su Ki-tô là Chúa. Thật ra ngay từ trong Cựu Ước, những người tin vào Thiên Chúa Gia-vê cũng đã phải trải qua những cơn gian nan, thử thách vì Niềm Tin (bài đọc 1).

Vậy thử hỏi: Tại sao người tín hữu thường bị bắt bớ và bách hại ? Lịch sử cho ta thấy người tín hữu bị bắt bớ, bách hại thường vì một trong hai hoặc vì cả hai lý do sau: bị người đời hiểu lầm và ghen ghét. Nhưng với cái nhìn được Thánh Kinh soi sáng, thì chúng ta thấy bắt bớ, bách hại vì Niềm Tin có ý nghĩa sâu xa hơn. Đó là để Niềm Tin của chúng ta được thử thách và tôi luyện. Miếng hay thỏi vàng chỉ tinh ròng sau khi được cho vào lửa tinh luyện. Niềm Tin Ki-tô của chúng ta chỉ vững vàng, kiên định, tinh tuyền và trong sáng qua gian nan thử thách. Đức Giê-su là "hiện thân sống", là minh họa tuyệt vời về sự kiện ấy: Một đàng Đức Giê-su bị những người cầm quyền Do-thái và Rô-ma kết án loại trừ, vì họ cho rằng Người là mối nguy hiểm cho địa vị, chức quyền của họ. Mặt khác chính qua khổ nạn Thập Giá mà Đức Giê-su chứng minh được lòng thảo hiếu, tuân phục đối với Cha và lòng yêu thương đối với loài người. Sự Khổ Nạn Thập Giá ấy là con đường dẫn tới Phục Sinh.

Các vị Tử Đạo trong Giáo Hội Công giáo Rô-ma cũng đã có chung thân phận với Đức Giê-su. Gần gũi thân thiết với chúng ta hơn là 117 Thánh Tử Đạo và hàng ngàn hàng vạn các vị tiền bối Việt Nam cũng là những người đã chết vì Đạo mà nguyên nhân chính là hiểu lầm và ghen ghét. Các vị ấy đã kiên cường và anh dũng minh chứng Lòng Tin của mình. Vì thế mà ngày hôm nay toàn thể Giáo Hội Việt Nam mừng kính các Ngài một cách trọng thể và nhận các ngài làm Bổn Mạng.

2. Ngày nay chúng ta phải sống và làm chứng Niềm Tin như thế nào để không thẹn với cha ông?

Lịch sử đã qua, chúng ta không thể thay đổi được. Điều chúng ta có thể làm là từ lịch sử rút ra những bài học cho đời sống Đức Tin. Sau đây là một vài gợi ý để chúng ta suy nghĩ và thực hiện:

1. Cha ông chúng ta đã lấy máu đào để nói lên lòng tin cậy phó thác và trung thành với Thiên Chúa. Chúng ta hãy biết dùng mọi phương thế để củng cố và trau dồi Niềm Tin: cầu nguyện, tĩnh tâm, nghiên cứu, học hỏi. Chắc chắn việc ấy đòi chúng ta phải hy sinh thời giờ, tiền bạc, công sức; buộc chúng ta phải chấp nhận mất mát, thiệt thòi ở một mức độ nào đó. Nhưng so với cái chết khổ hình thập giá của Đức Giê-su, Chúa chúng ta và với bao cực hình của các Vị Tử Đạo cha ông chúng ta, thì có thấm vào đâu !

2. Dù bị hàm oan và bị hành hạ trăm điều, cha ông chúng ta không một lời than trách, không một chút hận thù đối với vua quan hay lý hình, mà trái lại luôn tôn kính, yêu thương, khoan dung, tha thứ chúng ta hãy nỗ lực sống khiêm nhường, yêu thương, hòa đồng và phục vụ đồng bào anh em theo tinh thần Phúc âm mà Thư Chung Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 1980 và 2001 đã triển khai.

3. "Máu Các Thánh Tử Đạo là hạt giống Đức Tin". Máu cha ông chúng ta đã thấm vào từng thớ đất hình chữ S này, tức hạt giống đức Tin đã được gieo vào lòng đất nước và quê hương Việt Nam yêu dấu. Chúng ta hãy đóng góp phần riêng của mình vào việc làm cho hạt giống Đức Tin ấy nẩy mầm, mọc thành cây và sinh hoa kết trái cho Mùa Gặt Nước Trời. Nói cách khác chúng ta hãy trở thành những người loan báo Tin Mừng cho đồng bào, anh em.

Lạy Thiên Chúa là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ Cha đã cho chúng con vinh dự làm con cháu các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Nhưng Cha ơi, vinh dự cũng có nghĩa là trách nhiệm, xin Cha ban sức mạnh cho chúng con để chúng con đủ sức chu toàn trách nhiệm cao trọng ấy, bằng đời sống chứng tá của chúng con trong xã hội Việt Nam hôm nay.

Lạy Chúa Giê-su là Hạt Giống Vĩ Đại mà Thiên Chúa Cha dã gieo vào lòng đất. Xin Chúa ban sức mạnh và tình yêu cho chúng con để chúng con cũng trở thành những hạt giống Tin Mừng gieo vào lòng xã hội Việt Nam hôm nay.

Lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng con hãnh diện được làm con cháu các Ngài. Xin các Ngài cầu bầu cùng Thiên Chúa cho chúng con dũng khí, lòng kiên cường, đức hy sinh, lòng trung thành với niềm Tin, để chúng con vượt thắng mọi trở ngại từ bên ngoài cũng như từ chính trong tâm hồn chúng con trong đời sống chứng tá hôm nay.

Giê-rô-ni-mô NGUYỄN VĂN NỘI


 

24/11-55: TỬ ĐẠO VÀ TRUYỀN GIÁO


LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO TẠI VIỆT NAM

 

Có lẽ ai trong chúng ta cũng quen thuộc với câu nói bất hủ của giáo phụ Tertullianô: “Máu tử: 24/11-55


Có lẽ ai trong chúng ta cũng quen thuộc với câu nói bất hủ của giáo phụ Tertullianô: “Máu tử đạo là hạt giống sinh người có đạo” (Apogeticum 50,13). Câu nói diễn tả việc TỬ ĐẠO có liên hệ rất mật thiết với việc TRUYỀN GIÁO. Nói khác đi, việc TỬ ĐẠO chính là một lời rao giảng Tin Mừng hùng hồn nhất và có khả năng đem được nhiều người về với Chúa.

Thật vậy, nhiều anh chị em lương dân thời các Thánh Tử Đạo đã phải trầm trồ khen ngợi và cảm phục những tấm gương sáng ngời về lòng can đảm, về sự trung thành với Thiên Chúa nơi những người tín hữu nói chung và nơi các Thánh Tử Đạo nói riêng. Nhiều người trong số họ đã xin trở lại đạo Công Giáo vì hấp lực của những gương sáng ấy. Và cụ thể, hạt giống đức tin mà mỗi người chúng ta đã được lãnh nhận, trước hết là hồng ân Chúa ban, nhưng bên cạnh đó, hạt giống đức tin ấy đã được tưới gội và vun trồng bằng mồ hôi, bằng nước mắt và bằng máu của các Thánh Tử Đạo, cha ông chúng ta. Chính vì vậy mà mỗi người chúng ta hôm nay sẽ không xứng đáng là con cháu của các Thánh Tử Đạo, nếu chúng ta không biết trân trọng, không biết bảo vệ và không biết làm cho hạt giống đức tin đơm bông kết trái. Một trong những dấu chỉ cho biết hạt giống đức tin sinh hoa kết trái, đó là nhờ đời sống đức tin của chúng ta, anh chị em lương dân nhận ra được rằng: Đạo là một con đường giải thoát, một con đường dẫn đến tự do và hạnh phúc đích thực.

Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II trong những giáo huấn giúp cho các Kitô hữu chuẩn bị bước vào thiên niên kyœ thứ ba, đã đề cập đến thực trạng và những thảm kịch đang diễn ra trong thế giới hôm nay. Người cho thấy: thế giới hôm nay là một thế giới có nhiều hỗn loạn về luân lý; một thế giới dửng dưng với sự thật, với niềm tin tôn giáo; một thế giới càng ngày càng giảm sút ý thức về tội lỗi; một thế giới thiếu tôn trọng sự sống con người; một thế giới hưởng thụ và buông thả; một thế giới thiếu vắng những giá trị thiêng liêng cao quý, thiếu lẽ sống, thiếu tình yêu, thiếu lòng trung thành...; một thế giới quá đề cao tự do đến độ phóng túng, tuỳ tiện; một thế giới bị trói buộc trong những giá trị trần thế đến độ không còn biết đến những giá trị siêu việt, những chuẩn mực đạo đức; một thế giới bị thống trị bởi vô vàn thứ tội lỗi và sự ác...

Và không phải nói đâu xa xôi, cứ nhìn quanh ta, nhìn vào chính môi trường mà ta đang sống, nhìn vào họ đạo, nhìn vào gia đình của mình, ta cũng thấy đang diễn ra những thảm kịch mà Đức Thánh Cha đã nói tới. Đức Thánh Cha gọi thực tế này là “một sự thụt lùi chưa từng có”. Điều này cũng dễ hiểu, bởi trong một thế giới, trong một xã hội, trong một họ đạo, trong một gia đình mà Thiên Chúa bị loại trừ, bị xua đuổi thì đương nhiên ma quyœ, sự dữ, sự ác sẽ đến chiếm chỗ. Mà ma quyœ, sự dữ, sự ác không đem đến cho con người điều gì tốt lành cả. Chúng chỉ đem đến sự đổ vỡ, sự bất hạnh và đau khổ. Có điều là những đổ vỡ, những bất hạnh và những đau khổ ấy lại được ngụy trang dưới lớp vỏ bọc đường, dưới những sắc màu óng ả của khoái lạc, của tự do... và vì thế mà con người mắc lừa.

Chính trong bối cảnh của cuộc sống như thế mà chúng ta được mời gọi để làm chứng nhân cho Thiên Chúa, làm chứng cho cuộc sống ở bên kia sự chết. Làm chứng bằng việc sống những giá trị của Tin Mừng mà Chúa Giêsu đã công bố. Tất nhiên, sống Tin Mừng trong một thế giới dị ứng với Tin Mừng, một thế giới dửng dưng với Thiên Chúa, một thế giới xa lạ với những thực tại linh thánh đó là bơi ngược dòng, là một cuộc tử đạo triền miên, là một sự chết đi cho chính niềm tin.

Điều đáng mừng là dù thế giới này ra sao chăng nữa thì cũng vẫn còn những con người, có thể là ít ỏi, dám sống và chết cho niềm tin của mình. Những con người này đã làm sáng lên bức chân dung của Thiên Chúa trong chính môi trường mà họ đang sống qua việc tử đạo liên lỉ mỗi ngày.

Còn chúng ta, nếu giờ này các Thánh Tử Đạo, nhìn vào đời sống của chúng ta, không biết các Ngài có thể nở nụ cười mãn nguyện và tự hào về sự trung kiên, về lòng đạo đức của chúng ta không? Hay các ngài sẽ phải cúi mặt hổ thẹn và thất vọng về con cháu mình?


 

24/11-56: NHẬN DIỆN KẺ THÙ (viet lai)


LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

 

Trong hội nghị quốc tế chống tham nhũng họp tại Bắc Kinh lần thứ 7 vừa qua, ông tổng thư ký: 24/11-56


Trong hội nghị quốc tế chống tham nhũng họp tại Bắc Kinh lần thứ 7 vừa qua, ông tổng thư ký của tổ chức cảnh sát quốc tế đã nói như sau: “Tham nhũng hoành hành là vì những người có quyền thế vẫn không thoát khỏi sự cám dỗ của tiền tài. Họ đã lợi dụng địa vị của mình để trục lợi cho bản thân”.

Thật vậy, nạn tham nhũng đã và đang là một đại hoạ cho nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong nhiều phiên toà xét xử những phạm nhân tham nhũng, người ta thấy có những phạm nhân đã từng là cán bộ rất đáng khâm phục thời chiến tranh. Trong thời gian ấy, họ đã mang trong mình một lý tưởng cao cả, đã sẵn sàng vào sinh ra tử, coi thường súng đạn, coi thường cái chết để chiến đấu với kẻ thù của đất nước. Nhưng hôm nay họ lại bị ngã gục vì những cám dỗ của tiền bạc, đã trở thành những ung nhọt của xã hội. Phải chăng khi còn là những chiến sĩ ở chiến trường, họ phải đối diện với những kẻ thù hữu hình mang khuôn mặt đằng đằng sát khí và súng ống trên tay, nên họ đã cảnh giác và chiến đấu? Còn bây giờ, những kẻ thù bằng xương bằng thịt ấy không còn, cũng chẳng còn kẻ thù nào khác, nên họ không cần cảnh giác và chiến đấu nữa? Thật ra, kẻ thù của đất nước vẫn có đó, vẫn còn đó, nhưng núp sau những khuôn mặt dễ thương là tiền bạc nên họ không nhận ra.

Nhìn vào đời sống đức tin ngày xưa và ngày nay ta cũng thấy một tình trạng tương tự. Thời các thánh tử đạo, những kẻ thù, những nguy hiểm của đức tin xuất hiện rõ ràng trước mắt. Đó là những sắc chỉ cấm đạo, những biện pháp tiêu diệt đạo được ban hành và áp dụng. Người có đạo chỉ có hai con đường để chọn lựa: Hoặc bỏ đạo, hoặc chết vì đạo. Không thể mập mờ, lấp lửng. Nhưng hôm nay, không còn sắc chỉ cấm đạo, cũng không có những biện pháp huyœ diệt đạo. Trái lại, được hoàn toàn tự do. Vì vậy, người ta tưởng đời sống đức tin đã được an toàn nên không cần cảnh giác, không cần đề phòng. Thật ra, kẻ thù của đức tin vẫn còn đó, nhưng mang một khuôn mặt khác nên ta không nhận ra và vì thế rất dễ dàng ngã gục.

Một trong những kẻ thù nguy hiểm nhất của đời sống đức tin là sự mất ý thức về tội. Người ta phạm tội, nhưng không bao giờ nhận rằng những hành động của mình là xấu xa, là phản đạo đức, là vô luân. Chẳng hạn ngày hôm nay người ta coi chuyện phá thai, ly dị, chuyện quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, chuyện kết hôn không có phép đạo như những chuyện rất bình thường. Ngày hôm nay người ta không còn coi chuyện mãi dâm là một sự xúc phạm nặng nề đến phẩm giá con người mà chỉ coi đó là một nghề nghiệp, một phương tiện để kiếm tiền, để thoả mãn dục tính của mình. Người ta cũng không còn coi việc tôn trọng công bình là điều cần thiết nữa. Người ta sẵn sàng bóc lột, lường gạt, chiếm đoạt tài sản của người khác làm của mình v.v... Sự mất ý thức về tội như thế là do mất ý thức về chân lý. Những chân lý tôn giáo như có Thiên Chúa, có đời sau chẳng còn ý nghĩa gì đối với nhiều người trong thời đại hôm nay nữa. Chỉ có chức quyền, lợi lộc và lạc thú mới là quan trọng.

Phải chăng tất cả những điều kể trên lại chẳng phải là những kẻ thù của đức tin đó sao? Sống một cuộc sống như thế có khác gì tuyên bố mình bỏ đạo.

Do đó, mừng lễ các thánh tử đạo ta cần tìm lại ý thức về tội, về chân lý đã mất, để có thể nhận diện những kẻ thù của đức tin. Chiến đấu chống lại những kẻ thù ấy chính là sống tinh thần tử đạo. Chấp nhận sống tử đạo mỗi ngày như thế, chúng ta sẽ lãnh nhận được triều thiên Nước Trời.


 

24/11-57: NIỀM TIN PHỤC SINH

 

Sơ sử ở Việt Nam chỉ thực sự mở đầu từ văn hoá Đông Sơn, cách đây khoảng 2.500 năm. Nước: 24/11-57


Sơ sử ở Việt Nam chỉ thực sự mở đầu từ văn hoá Đông Sơn, cách đây khoảng 2.500 năm. Nước Văn Lang của các Vua Hùng là một sự thật của lịch sử Việt nam. Sách “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” là bộ chính sử đầu tiên của nước ta ghi chép về nước Văn Lang và theo đó thì nước Văn lang “Đông giàp Nam Hải, Tây giáp Ba Thục, Bắc giáp Hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn”. Nước Văn Lang chỉ tồn tại trước sau trong khoảng 300 năm và con số 18 đời Hùng Vương cho đến nay vẫn là con số của huyền sử. Tiếp đến là nước Âu Lạc của An Dương Vương, rồi đến các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Trần, Hồ, Hậu Lê, Mạc, Nguyễn...

Lãnh thổ Việt Nam nhỏ bé chỉ đến Châu Cực nam là Hoan Châu, Hà Tĩnh ngày nay. Biên giới phía nam của An Nam là núi Hoành Sơn. Từ Đèo Ngang, Quảng Bình, Quảng Trị đến Bình Thuận là đất nước Chiêm Thành với kinh đô Trà Kiệu. Miền Nam, Miền Tây thuộc vương quốc Phù Nam, Stiêng, Chu Nại, Lục Chân Lạp, Thuỷ Chân Lạp.

Việt Nam thực hiện cuộc Nam Tiến bắt đầu từ thời Lê Đại Hành mở mang bờ cõi về phía Nam. Thời nhà Trần, Vua Trần Nhân Tông gả Công Chúa Huyền Trân cho Vua Chiêm là Chế Mân để đổi lấy 3 châu ( Quảng Bình, Quảng Trị, Huế ). Thời nhà Hồ tiến vào Quảng Nam, Quảng Ngãi. Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Nguyễn Hoàng vượt biên giới núi Thạch Bi tiến về phía Nam, cho đến năm 1697 đặt phủ Bình Thuận. Năm 1757, tháp nhập Hà Tiên vào Đại Việt, chấm dứt cuộc Nam Tiến. Việt Nam với bản đồ hình chữ S đã hình thành. Như thế chỉ dài chừng nửa đầu thế kỷ 18, người Việt đã hoàn thành cuộc bành trướng của dân tộc từ Bình Thuận chiếm trọn Nam Kỳ ( theo Lm. Aug. Nguyễn Văn Trinh, Lịch Sử Giáo Hội Việt Nam , tập I, 1994 )

Trong bối cảnh lịch sử xã hội đó, Thiên Chúa đã cử các nhà truyền giáo đến để gieo trồng hạt giống đức tin trên quê hương Việt Nam. Lịch sử Giáo Hội Việt Nam gắn liền với những thăng trầm của lịch sử dân tộc. Các Họ Đạo phát triển cùng với cuộc Nam Tiến và các cuộc bách hại. Từ khi vị Thừa Sai Phan-xi-cô Buzomi có công thiết lập cơ cấu Giáo Xứ đầu tiên ở Việt Nam năm 1615 cho tới khi Hàng Giáo Phẩm Việt Nam được thiết lập 1960, thời gian đó kéo dài 300 năm. Hơn 3 thế kỷ phát triển cùng với các cuộc bách hại dưới các thời đại Vua Lê – Chúa Trịnh, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Hạt giống Nước Trời cứ phát triển khi được gieo xuống đất. Chúng ta thấy được hồng ân Thiên Chúa tuôn tràn để sức sống Nước Trời nở rộ trên nước Việt thân yêu.

Giữa những bách hại tàn khốc, Giáo Hội vẫn lớn mạnh không ngừng. Như một Linh Mục giáo sư đã nói: Giáo Hội Công Giáo ngoài bốn đặc tính là Duy Nhất – Thánh Thiện – Công Giáo – Tông Truyền còn có thêm một đặc tính thứ năm, đó là bị Bách Hại, càng bị bách hại càng lớn lên. Các bậc Tổ Tiên đã gieo trong nước mắt và đau thương nhưng hào hùng và can trường. “Đẹp thay những bước chân gieo mầm cứu rỗi” ( Is 52, 7 ) để hôm nay Giáo Hội Việt Nam vững mạnh sánh vai cùng các Giáo Hội trên hoàn vũ. Nhìn những thành quả hiện tại như những bó lúa nặng hạt, là con cháu các Thánh Tử Đạo, người Công Giáo Việt nam không bao giờ quên ơn những Bậc Tiền Bối đã xây đắp nên Giáo Hội yêu dấu của mình.

Chúng ta có thể khẳng định: Lịch sử của các Giáo Hội cũng là lịch sử những cuộc bách hại. Bắt bớ, bách hại luôn đi liền với những kẻ tin nhận Đức Giê-su Ki-tô là Chúa. Ngay từ trong Cựu Ước, những người tin vào Thiên Chúa Gia-vê cũng đã phải trải qua những cơn gian nan thử thách vì niềm tin.

Vậy thì tại sao người tín hữu thường bị bắt bớ và bách hại ? Lịch sử cho thấy người tín hữu bị bắt bớ và bách hại thường vì một trong hai hoặc vì cả hai lý do là: bị người đời hiểu lầm và ghen ghét. Chính Đức Giê-su là một minh hoạ tuyệt vời về sự kiện ấy. Đức Giê-su bị nhà cầm quyền Do-thái và Rô-ma kết án loại trừ, vì họ cho rằng Người là mối nguy hiểm cho địa vị, chức quyền của họ. Thế nhưng, qua cuộc khổ nạn và thập giá mà Đức Giê-su bày tỏ lòng hiếu thảo, vâng phục, yêu mến Chúa Cha và tình thương đối với loài người. Cuộc Khổ Nạn là con đường dẫn tới Phục Sinh.

Các Thánh Tử Đạo của Giáo Hội, 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam và hàng ngàn hàng vạn vị Tiền Bối Việt Nam cũng là những người đã chết vì Đạo mà nguyên nhân chính là do hiểu lầm và ghen ghét. Các vị ấy đã kiên cường và anh dũng chứng minh lòng tin của mình đối với Đức Giê-su Ki-tô, bất chấp gông cùm, tù tội, bá đao hay tùng xẻo, trảm quyết hay lăng trì.

Vì thế, ngày Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam chính là dịp để Giáo Hội hoàn vũ chiêm ngắm suy tôn 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam, các chứng nhân trung kiên của Đức Ki-tô. Đặc biệt là dịp mà mỗi tín hữu Công Giáo Việt Nam ca tụng Thiên Chúa đã làm những việc vĩ đại trên quê hương mình. Mừng kính trọng thể các Ngài để cùng nhau chiêm ngưỡng, tự hào, học hỏi nơi những chứng nhân đức tin trung kiên, ý chí quật cường của các chiến sĩ Đức Ki-tô. Từ đó giúp nhau phát huy truyền thống hào hùng bất khuất, dám hy sinh mạng sống cao quý để giữ vững đức tin nơi các thế hệ con cháu Các Thánh Tử Đạo.

Chính trong ánh sáng cùa Đức Ki-tô, Vị Tử Đạo Tiên Khởi mà chúng ta có thể nói về Các Thánh Tử Đạo Việt Nam bằng câu Phúc Âm: “Đầy tớ không lớn hơn chủ” ( Ga 15, 20 ); “Nếu chúng đã bách hại Thầy, chúng sẽ bách hại các con... Đây Thầy sai các con như con chiên đi vào giữa sói rừng... Hãy coi chừng người đời, họ sẽ nộp các con nơi toà án. Khi họ bắt bớ, các con đừng lo phải nói thế nào, vì không phải các con, nhưng Thánh Linh của Thầy sẽ nói trong các con... Các con sẽ bị mọi người ghét bỏ vì danh Thầy. Nhưng ai bền đỗ đến cùng người ấy sẽ được cứu độ”. ( Mt 10, 16 – 25 )

Các Thánh Tử Đạo không tìm đến cái chết mà chỉ tìm nên giống Thầy, giống đời sống của Thầy Giê-su, nhất là giống cử chỉ yêu thương tột cùng đã đưa Thầy đến cái chết.

Các Thánh Tử Đạo là những vĩ nhân của nhân loại. Các ngài đã chết dưới ngọn đao phủ là chết cho Đức Ki-tô như chính Đức Ki-tô đã chết cho các ngài.

Các Thánh Tử Đạo hiên ngang vì đã đáng được chịu đau khổ cho Đức Ki-tô. Các ngài chẳng màng chi đến việc nhân loại trao tặng huy chương, huân chương chiến công. Các Ngài chềt Tử Đạo là chết vì Đức Ki-tô, đơn thuần và tinh khiết, trong sáng và huyền diệu, can trường và khiêm nhu.

Các Thánh Tử Đạo có chung một chọn lựa lựa khoát: theo Đức Ki-tô hay theo vua quan ? Theo Đức Ki-tô là sống trong gông cùm và chết trong đau thương. Theo vua quan là thừa hưởng vinh hoa phú quý nơi trần gian. Các ngài có chung một quyết định tối hậu là theo Đức Ki-tô. Giây phút quyết định ấy chỉ có các ngài với Thiên Chúa, chỉ có linh hồn với cõi phúc vô biên. Giây phút ấy không bị ảnh hưởng bởi gia đình, tổ quốc, nhân sinh. Người chết trong máu Tử Đạo đã coi nhẹ nghĩa phu thê, đã xem thường đường phụ tử. Họ khao khát một tình yêu vô biên mỹ lệ như giải ngân hà vời vợi, như vầng nhật nguyệt huy hoàng khôn tả.

Các ngài đã hoan hỉ chấp nhận chết để được sống một cuộc đời mà không mỹ từ nào diễn tả nổi, không bút hoạ nào vẽ thành và không hùng biện nào tuyên dương cho trọn. Người chết trong gông cùm mòn mỏi đã đặt tổ quốc đàng sau những giá trị vĩnh cửu. Ước vọng của họ không phải là được người đời tưởng niệm, được hậu thế tôn phong. Họ chết là vì đức tin thúc đẩy. Họ chỉ muốn thực hiện điều đã từng nghe biết: “Ai tuyên xưng danh Ta trước mặt trần gian, Ta sẽ tuyên danh nó trước mặt Cha Ta trên trời” ( Mt 10, 32 ). ( x. Thiên Hùng Sử trang 4 ).

Chân dung Các Thánh Tử Đạo Việt Nam được tô điểm bằng muôn ngàn vạn nét nhưng nét đẹp nhất trong chân dung các Ngài là Niềm Tin Phục Sinh. Trong nhà tù vẫn cầu nguyện và hát Thánh Ca, Thánh Vịnh. Ra pháp trường vẫn cầu nguyện và hát khúc khải hoàn Halleluia, luôn hướng về trời cao với niềm Hy Vọng Phục Sinh và cất cao hát mãi cho đến khi đầu rơi khỏi cổ. Cái chết chẳng có giá trị gì, chính sự sống mới làm nên muôn điều huyền diệu. Sự sống đó chính là tình yêu với tất cả những gì cao thượng và chân thật. Tình yêu đó bừng lên mãnh liệt trong Mầu Nhiệm Tự Huỷ và Hiến Dâng. Chết là mất tất cả, nhưng 117 hiến tế tình yêu cũng là 117 chứng từ niềm tin của những con người xác tín rằng: chết vì Đức Ki-tô, chết đi là sống lại trong cuộc sống muôn đời; chết là chiến thắng; chết là để đi về sự sống vĩnh cửu; chết là cánh cửa im lìm được mở ra để về với Đấng là Sự Sống vĩnh hằng.

Bài học của các vị Tử Đạo không phải là khơi lên máu nóng tìm đến cái chết, mà chính là sống hiến thân từng giây từng phút của đời mình cho Thiên Chúa và tha nhân. Sự sống đó luôn kêu mời chúng ta: mỗi ngày chết đi những yếu đuối tầm thường, để can đảm làm chứng và đấu tranh cho Chân Lý. Sự sống đó hứa hẹn với chúng ta một ngày sau rạng rỡ, ngày đoàn tụ với cha anh chúng ta trên cõi bất diệt. ( x. Thiên Hùng Sử, trang 495 ).

Niềm Tin Phục Sinh mãi mãi là ánh sáng soi dẫn từng suy nghĩ từng lời nói từng việc làm của người tín hữu trong cuộc sống hàng ngày.

Lm. Giu-se NGUYỄN HỮU AN, Giáo Phận Phan Thiết


 

24/11-58: SƠ LƯỢC VỀ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM


PHONG THÁNH: 19.6.1988 – KÍNH HẰNG NĂM: 24.11

 

Giu-se Túc, thiếu niên, sinh năm 1852 tại Hoàng Xá, Bắc Ninh. Tử Đạo 1.6.1862, bị xử trảm: 24/11-58


001. Giu-se Túc, thiếu niên, sinh năm 1852 tại Hoàng Xá, Bắc Ninh.
Tử Đạo 1.6.1862, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


002.  Mát-thêu Lê Văn Gẫm, thương gia, sinh năm 1813 tại Gò Công, Biên Hòa.
Tử Đạo ngày 11.5.1847 tại Chợ Đũi, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


003. Melchior Garcia Sampedro Xuyên, Giám Mục Dòng Đa-minh, sinh 1821 tại Cortes, Asturias, Tây Ban Nha.
Tử Đạo ngày 28.7.1858 tại Nam Định, bị xử lăng trì đời vua Tự Đức.


004.  Francois Gil de Fedrich Tế, Linh Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1702 tại Tortosa, Cataluna, Tây Ban Nha.
Tử Đạo ngày 22.1.1745 tại Thăng Long, bị xử trảm đời chúa Trịnh Doanh.


005.  Đa-minh Nguyễn Văn Hạnh – Diệu, Linh Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1772 tại Năng A, Nghệ An.
Tử Đạo ngày 1.8.1838 tại Ba Tòa, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


006.  Phao-lô Hạnh, Giáo Dân, sinh năm 1826 tại chợ Quán, Gia Định.
Tử Đạo ngày 28.5.1859 tại Sài-gòn, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


007.  Đa-minh Henares Minh, Giám Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1765 tại Baena, Cordova, Tây Ban Nha.
Tử Đạo ngày 25.6.1838 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

008.  Jeronimo Hermosilla Liêm, Giám Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1880 tại S. Domingo de la Calzadar, Tây Ban Nha.
Tử Đạo ngày 1.11.1861 tại Hải Dương, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


009.  Giu-se Đỗ Quang Hiển, Thầy Giảng, sinh năm 1775 tại Đồng Chuối, Ninh Bình.
Tử Đạo ngày 9.5.1840 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


010.  Phê-rô Nguyễn Văn Hiển, Thầy Giảng, sinh năm 1783 tại Đồng Chuối, Ninh Bình.
Tử Đạo ngày 28.4.1840 tại Ninh Bình, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


011. Si-mon Phan Đắc Hòa, y sĩ, sinh năm 1878 tại Mai Vinh, Thừa Thiên.
Tử Đạo ngày 12.12.1840 tại An Hòa, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


012.  Gio-an Đoàn Trinh Hoan, Linh Mục, sinh năm 1798 tại Kim Long, Thừa Thiên.
Tử Đạo ngày 26.5.1861 tại Đồng Hới, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


013.  Âu-tinh Phan Viết Huy, binh sĩ, sinh năm 1795 tại Hạ Linh, Nam Định.
Tử Đạo ngày 12.6.1839 tại Thừa Thiên, bị xử lăng trì đời vua Minh Mạng.


014.  Đa-minh Huyện, Giáo Dân, sinh năm 1817 tại Đông Thành, Thái Bình.
Tử Đạo ngày 5.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sinh đời vua Tự Đức.


015.  Lô-ren-sô Nguyễn Văn Hưởng, Linh Mục, sinh năm 1802 tại Kẻ Sài, HàNội.
Tử Đạo ngày 13.2.1856 tại Ninh Bình, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


016.  Mi-ca-e Hồ Đình Hy, quan Thái Bộc, sinh năm 1808 tại Như Lâm, Thừa Thiên.
Tử Đạo ngày 22.5.1857 tại An Hòa, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


017.  Francois Jaccard Phan, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris, sinh năm 1799 tại Onnion, Annecy, Pháp.
Tử Đạo ngày 21.9.1838 tại Nhan Biều, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.


018.  Đa-minh Phạm Viết Khảm, auan Án, Dòng Ba Đa-minh, sinh năm 1779 tại Quần Cống, Nam Định.
Tử Đạo ngày 13.1.1859 tại Nam Định, bị xử giảo đời vua Tự Đức.


019.  Giu-se Nguyễn Duy Khang, Thầy Giảng, Dòng Ba Đa-minh, sinh năm 1832 tại Trà Vinh, Nam Định.
Tử Đạo ngày 6.12.1861 tại Hải Dương, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


020.  Phê-rô Phạm Khanh, Linh Mục, sinh năm 1780 tại Hòa Huệ, Nghệ An.
Tử Đạo ngày 12.7.1842 tại Hà Tĩnh, bị xử trảm đời vua Thiệu Trị


021.  Phê-rô Võ Đăng Khoa, Linh Mục, sinh năm 1790 tại Thuận Nghĩa, Nghệ An.
Tử Đạo ngày 24.11.1840 tại Đồng Hới, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


022.  Phao-lô Phạm Khắc Khoan, Linh Mục, sinh năm 1771 tại Duyên Mậu, Ninh Bình.
Tử Đạo ngày 28.4.1840 tại Ninh Bình, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


023.  Tô-ma Khuông, Linh Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1789 tại Nam Hào, Hưng Yên.
Tử Đạo ngày 30.1.1860 tại Hưng Yên, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


024.  Vinh-sơn Lê Quang Liêm, Linh Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1732 tại Trà Lũ, Nam Định.
Tử Đạo ngày 7.11.1773 tại Đồng Mơ, bị xử trảm đời chúa Trịnh Sâm.


025.  Lu-ca Vũ Bá Loan, Linh Mục, sinh năm 1756 tại Trại Bút, Phú Đa.
Tử Đạo ngày 5.6.1840 tại Ô Cầu Giấy, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


026.  Pedro Almato Bình, Linh Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1830 tại San Feliz Saserra, Tây Ban Nha.
Tử Đạo ngày 1.11.1861 tại Hải Dương, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


027.  Matteo Alonzo Leciniana Đậu, Linh Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1702 tại Nava del Rey, Tây Ban Nha.
Tử Đạo ngày 22.1.1745 tại Thăng Long, bị xử trảm đời chúa Trịnh Doanh.


028.  Valentino Berrio Ochoa Vinh, Giám Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1827 tại Elorrio Vizcaya, Tây Ban Nha.
Tử Đạo ngày 1.11.1861 tại Hải Dương, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


029.  Jean Louis Bonnard Hương, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris, sinh 1824 tại Saint-Christo-em-Jarez, Pháp.
Tử Đạo ngày 1.5.1852 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


030.  Phao-lô Tống Viết Bường, quan Thị Vệ, sinh tại Phủ Cam, Huế.
Tử Đạo ngày 23.10.1883 tại Thở Đúc, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


031.  Đa-minh Cẩm, Linh Mục Dòng Ba Đa-minh, sinh tại Cẩm Chương, Bắc Ninh.
Tử Đạo ngày 11.3.1859 tại Hưng Yên, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


032.  Phan-xi-cô Xa-vi-ê Cần, Thầy Giảng, sinh năm 1803 tại Sơn Miêng, Hà Đông.
Tử Đạo ngày 20.11.1837 tại Ô Cầu Giấy, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


033.  Giu-se Hoàng Lương Cảng, y sĩ, Trùm Họ, Dòng Ba Đa-minh, sinh năm 1763 Làng Văn, Bắc Giang.
Tử Đạo ngày 5.9.1838 tại Bắc Ninh, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


034.  Jacinto Castaneda Gia, Linh Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1743 tại Javita, Tây Ban Nha.
Tử Đạo ngày 7.11.1773 tại Đồng Mơ, bị xử trảm đời chúa Trịnh Sâm.


035.  Phan-xi-cô Đỗ Văn Chiểu, Thầy Giảng, sinh năm 1797 tại Trung Lễ, Liên Thùy, Nam Định.
Tử Đạo ngày 12.6.1838 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


036.  Gio-an Bao-ti-xi-ta Còn, lý trưởng, sinh năm 1805 tại Kẻ Báng, Nam Định.
Tử Đạo ngày 8.11.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


037.  Jean Charles Cornay Tân, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris, sinh năm 1809 tại Loudun, Poitiers, Pháp.
Tử Đạo ngày 20.9.1837 tại Sơn Tây, bị xử lăng trì đời vua Minh Mạng.


038.  Etienne Théodore Cuénot Thể, Giám Mục Hội Thừa Sai Paris, sinh năm 1802 tại Bélieu, Besancon, Pháp.
Tử Đạo ngày 14.11.1861 tại Bình Định, chết rũ tù đời vua Tự Đức.


039.  Clemente Ignatio Delgaho Hy, Giám Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1761 tại Villa Felice, Tây Ban Nha.
Tử Đạo ngày 21.7.1838 tại Nam Định, chết rũ tù đời vua Minh Mạng.


040.  Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Đắc, Trùm Họ, sinh năm 1808 tại Kẻ Lái, Quảng Bình
Tử Đạo ngày 26.5.1861 tại Đồng Hới, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

041.  Jose Maria Diaz Sanjuro An, Giám Mục Dòng Đa-minh, sinh 1818 tại Santa Eulalia de Suegos, Tây Ban Nha.
Tử Đạo ngày 20.7.1857 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


042.  Bê-na-đô Võ Văn Duệ, Linh Mục, sinh năm 1755 tại Quần Anh, Nam Định.
Tử Đạo ngày 26.11.1839 tại Ba Tòa, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


043.  Pierre Dumoulin-Borie Cao, Giám Mục Hội Thừa Sai Paris, sinh năm 1808 tại Beynat, Tulle, Pháp.
Tử Đạo ngày 24.11.1838 tại Đồng Hới, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


044.  An-rê Trần An Dũng – Lạc, Linh Mục, sinh năm 1795 tại Bắc Ninh.
Tử Đạo ngày 21.12.1839 tại Ô Cầu Giấy, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


045.  Phê-rô Dũng, Giáo Dân, sinh tại Đông Hào, Thái Bình.
Tử Đạo ngày 6.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sống đời vua Tự Đức.


046.  Vinh-sơn Dương, Giáo Dân, sinh tại Doãn Trung, Thái Bình.
Tử Đạo ngày 6.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sống đời vua Tự Đức.


047.  Phao-lô Vũ Văn Dương – Đổng, Giáo Dân, sinh năm 1792 tại Vực Đường, Hưng Yên.
Tử Đạo ngày 3.6.1862 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


048.  Phê-rô Đa, Giáo Dân, sinh tại Ngọc Cục, Nam Định.
Tử Đạo ngày 17.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sống đời vua Tự Đức.


049.  Đa-minh Đinh Đạt, binh sĩ, sinh năm 1803 tại Phú Nhai, Nam Định.
Tử Đạo ngày 18.7.1839 tại Nam Định, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.


050.  Gio-an Đạt, Linh Mục, sinh năm 1765 tại Đồng Chuối, Thanh Hóa.
Tử Đạo ngày 28.10.1798 tại chợ Rạ, bị xử trảm đời vua Cảnh Thịnh.


051.  Mát-thêu Nguyễn Văn Đắc-Phượng, Trùm Họ, sinh tại Kẻ Lai, Quảng Bình.
Tử Đạo ngày 26.5.1861, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


052.  Tô-ma Nguyễn Văn Đệ, Giáo Dân, sinh năm 1810 tại Bồ Trang, Nam Định.
Tử Đạo ngày 19.12.1839 tại Cổ Mê, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.


053.  An-tôn Nguyễn Đích, Giáo Dân, sinh tại Chi Long, Hà Nội.
Tử Đạo ngày 12.8.1838 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


054.  Vinh-sơn Nguyễn Thế Điểm, Linh Mục, sinh năm 1761 tại Ân Đô, Quảng Trị.
Tử Đạo ngày 24.11.1838 tại Đồng Hới, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.


055.  Phê-rô Trương Văn Đường, Thầy Giảng, sinh năm 1808 tại Kẻ Sở, Hà Nam.
Tử Đạo ngày 18.12.1838 tại Sơn Tây, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.


056. Jose Fernandez Hiền, Linh Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1775 tại Ventosa de la Cueva, Tây Ban Nha.
Tử Đạo ngày 24.7.1838 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


057.  Francois Isidore Gagelin Kính, Linh Mục Thừa Sai Paris, sinh 1799 tại Montperreux, Besancon, Pháp.
Tử Đạo ngày 17.10.1833 tại Bãi Dâu, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.


058.  Phao-lô Lê Văn Lộc, Linh Mục. sinh năm 1830 tại An Nhơn, Gia Định.
Tử Đạo ngày 13.2.1859 tại Gia Định, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


059.  Giu-se Nguyễn Văn Lựu, Trùm Họ, sinh năm 1790 tại Cái Nhum, Vĩnh Long.
Tử Đạo ngày 2.5.1854 tại Vĩnh Long, chết rũ tù đời vua Tự Đức.


060.  Phê-rô Nguyễn Văn Lựu, Linh Mục, sinh năm 1812 tại Gò Vấp, Gia Định.
Tử Đạo ngày 7.4.1861 tại Mỹ Tho, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


061.  Đa-minh Mạo, Giáo Dân, sinh năm 1818 tại Ngọc Cục, Nam Định.
Tử Đạo ngày 16.6.1862 tại Làng Cốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


062.  Joseph Marchand Du, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris, sinh năm 1803 tại Passavaut, Besancon, Pháp.
Tử Đạo ngày 30.11.1835 tại Thợ Đúc, xử bá đao đời vua Minh Mạng.


063.  Đa-minh Mầu, Linh Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1808 tại Phú Nhai, Nam Định.
Tử Đạo ngày 5.11.1858 tại Hưng Yên, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


064.  Phan-xi-cô Xa-vi-ê Hà Trọng Mậu, Thầy Giảng, Dòng Ba Đa-minh, sinh năm 1790 tại Kẻ Riền, Thái Bình.
Tử Đạo ngày 19.12.1839 tại Cổ Mễ, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.


065.  Phi-líp-phê Phan Văn Minh, Linh Mục,. sinh năm 1815 tại Cái Mơn, Vĩnh Long.
Tử Đạo ngày 3.7.1853 tại Đinh Khao, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


066.  Âu-tinh Nguyễn Văn Mới, Giáo Dân, Dòng Ba Đa-minh, sinh năm 1806 tại Phú Trang, Nam Định.
Tử Đạo ngày 19.12.1839 tại Cổ Mễ, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.


067.  Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ, lý trưởng, sinh năm 1804 tại Kẻ Vĩnh, Hà Nội.
12.8.1838 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


068.  Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ, Thầy Giảng, sinh năm 1798 tại Kẻ Non, Hà Nam.
Tử Đạo ngày 18.12.1838 tại Sơn Tây, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.


069. Gia-cô-bê Đỗ Mai Năm, Linh Mục, sinh năm 1781 Đông Biên, Thanh Hóa.
Tử Đạo ngày 12.8.1838 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


070.  Pierre Francois Néron Bắc, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris, sinh năm 1818 tại Bornay, Saint-Claude, Pháp.
Tử Đạo ngày 3.11.1860 tại Sơn Tây, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


071.  Phao-lô Nguyễn Ngân, Linh Mục, sinh năm 1771 tại Kẻ Biên, Thanh Hóa.
Tử Đạo ngày 8.11.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


072.  Giu-se Nguyễn Đình Nghi, Linh Mục, sinh năm 1771 tại Kẻ Vồi, Hà Nội.
Tử Đạo ngày 8.11.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


073.  Lô-ren-sô Ngôn, Giáo Dân, sinh tại Lục Thủy, Nam Định.
Tử Đạo ngày 22.5.1862 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


074.  Đa-minh Nguyên, Giáo Dân, sinh năm 1802 tại Ngọc Cục, Nam Định.
Tử Đạo ngày 16.6.1862 tại Làng Cốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


075.  Đa-minh Nhi, Giáo Dân, sinh tại Ngọc Cục, Nam Định.
Tử Đạo ngày 16.6.1862 tại Làng Cốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


076.  Đa-minh Ninh, Giáo Dân, sinh năm 1835 tại Trung Linh, Nam Định.
2.6.1862 tại An Triêm, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


077.  Em-ma-nu-en Lê Văn Phụng, Trùm Họ, sinh 1796 tại Đầu Nước, Cù Lao Giêng, An Giang
Tử Đạo ngày 31.7.1859 tại Châu Đốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


078.  Phê-rô Đoàn Công Quý, Linh Mục, sinh năm 1826 tại Búng, Gia Định.
Tử Đạo ngày 31.7.1859 tại Châu Đốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


079.  An-tôn Nguyễn Hữu Quynh, y sĩ, sinh năm 1768 tại Mỹ Hương, Quảng Bình.
Tử Đạo ngày 10.7.1840 tại Đồng Hới, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.


080.  Augustin Schoeffler Đông, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris, sinh năm 1822 tại Mittelbonn, Nancy, Pháp.
Tử Đạo ngày 1.5.1851 tại Sơn Tây, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


081.  Giu-se Phạm Trọng Tả, cai tổng, sinh năm 1800 tại Quần Cống, Nam Định.
Tử Đạo ngày 13.1.1859 tại Nam Định, bị xử giảo đời vua Tự Đức.


082.  Gio-an Bao-ti-xi-ta Đinh Văn Thành, Thầy Giảng, sinh năm 1796 tại Nôn Khê, Ninh Bình.
Tử Đạo ngày 28.4.1840 tại Ninh Bình, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


083.  A-nê Lê Thị Thành – Đê, Giáo Dân, sinh năm 1781 tại Bá Đền, Thanh Hóa.
Tử Đạo 12.7.1841 tại Nam Định, chết rủ tù đời vua Thiệu Trị.


084.  Ni-cô-la Bùi Đức Thể, binh sĩ, sinh năm 1792 tại Kiên Trung, Nam Định.
Tử Đạo ngày 12.6.1839 tại Thừa Thiên, bị xử lăng trì đời vua Minh Mạng.


085.  Phê-rô Trương Văn Thi, Linh Mục, sinh năm 1763 tại Kẻ Sở, Hà Nội
Tử Đạo 21.12.1839 tại Ô Cầu Giấy, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


086.  Giu-se Lê Đăng Thi, cai đội, sinh năm 1825 tại Kẻ Văn, Quảng Trị.
Tử Đạo ngày 25.10.1860 tại An Hòa, bị xử giảo đời vua Tự Đức.


087.  Tô-ma Trần Văn Thiện, Chủng Sinh, sinh năm 1820 tại Trung Quán, Quảng Bình.
Tử Đạo ngày 21.9.1838 tại Nhan Biều, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.


088.  Lu-ca Phạm Trọng Thìn, cai tổng, sinh năm 1819 tại Quần Cống, Nam Định.
Tử Đạo ngày 13.1.1859 tại Nam Định, bị xử giảo đời vua Tự Đức.


089.  Mác-ti-nô Tạ Đức Thịnh, Linh Mục, sinh năm 1760 tại Kẻ Sặt, Hà Nội
Tử Đạo 8.11.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


090.  Ma-ri-nô Thọ, Trùm Họ, sinh năm 1787 tại Kẻ Báng, Nam Định.
Tử Đạo 8.11.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


091.  An-rê Nguyễn Kim Thông – Năm Thuông, Giáo Dân, sinh năm 1790 tại Gò Thị, Bình Định.
Tử Đạo 15.7.1855 tại Mỹ Tho, chết rủ trong tù đời vua Tự Đức.


092.  Phê-rô Thuần, Giáo Dân, sinh tại Đông Phú, Thái Bình.
Tử Đạo 6.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sống đời vua Tự Đức.


093.  Phao-lô Lê Bảo Tịnh, Linh Mục, sinh năm 1793 tại Trịnh Hà, Thanh Hoá.
Tử Đạo 6.4.1857 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


094.  Đa-minh Toái, Giáo Dân, sinh năm 1811 tại Đông Thành, Thái Bình.
Tử Đạo 5.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sống đời vua Tự Đức.


095.  Tô-ma Toán, Thầy Giảng Dòng Ba Đa-minh, sinh năm 1767 tại Cần Phan, Nam Định.
Tử Đạo 27.6.1840 tại Nam Định, chết rủ trong tù đời vua Minh Mạng.


096.  Đa-minh Trạch Đoài, Linh Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1772 tại Ngoại Vối, Nam Định.
Tử Đạo ngày 18.9.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


097.  Em-ma-nu-en Nguyễn Văn Triệu, Linh Mục, sinh năm 1756 tại Thợ Đúc, Phú Xuân, Huế.
Tử Đạo ngày 17.9.1798 tại Bãi Dâu, bị xử trảm đời vua Cảnh Thịnh.


098.  An-rê Trần Văn Trông, binh sĩ, sinh năm 1808 tại Kim Long, Huế.
Tử Đạo ngày 28.11.1835 tại An Hoà, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


099.  Phê-rô Vũ Văn Truật, Thầy Giảng, sinh năm 1816 tại Kẻ Thiếc, Hà Nam.
Tử Đạo ngày 18.12.1838 tại Sơn Tây, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.


100.  Phan-xi-cô Trần Văn Trung, cai đội, sinh năm 1825 tại Phan Xá, Quảng Trị.
Tử Đạo ngày 2.5.1858 tại An Hoà, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


101.  Giu-se Tuân, Linh Mục Dòng Đa Minh, sinh năm 1821 tại Trần Xá, Hưng Yên.
Tử Đạo ngày 30.4.1861 tại Hưng Yên, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


102.  Phan-xi-cô Trần Văn Trung, Cai đội, sinh năm 1825 tại Phan Xá, Quảng Trị.
Tử Đạo ngày 2.5.1858 tại An Hoà, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


103.  Phê-rô Nguyễn Bá Tuần, Linh Mục, sinh năm 1766 tại Ngọc Đồng, Hưng Yên.
Tử Đạo 15.7.1838 tại Nam Định, chết rủ tù đời vua Minh Mạng.


104.  Phê-rô Lê Tù, Linh Mục, sinh năm 1773 tại Bằng Sơn, Hà Đông.
Tử Đạo ngày 11.10.1833 tại Quan Ban, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


105.  Phê-rô Nguyễn Văn Tự, Linh Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1796 tại Ninh Cường, Nam Định.
Tử Đạo ngày 5.9.1838 tại Bắc Ninh, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


106.  Phê-rô Nguyễn Khắc Tự, Thầy Giảng, sinh năm 1811 tại Ninh Bình.
Tử Đạo ngày 10.7.1840 tại Đồng Hới, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.


107.  Đa-minh Tước, Linh Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1775 tại Trung Lao, Nam Định.
Tử Đạo ngày 2.4.1839 tại Nam Định, tra tấn đến chết đời vua Minh Mạng.


108.  An-rê Tường, Giáo Dân, sinh năm 1812 tại Ngọc Cúc, Nam Định.
Tử Đạo 16.6.1862 tại Làng Cốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


109.  Vinh-sơn Tường, Giáo Dân, sinh năm 1814 tại Ngọc Cục, Nam Định.
Tử Đạo 16.6.1862 tại Làng Cốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


110.  Đa-minh Bùi Văn Úy, Thầy Giảng Dòng Ba Đa-minh, sinh năm 1801 tại Tiên Môn, Thái Bình.
Tử Đạo 19.12.1839 tại Cổ Mễ, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.


111.  Giu-se Nguyễn Đình Uyển, Thầy Giảng Dòng Ba Đa-minh, sinh năm 1775 tại Ninh Cường, Nam Định.
Tử Đạo 4.7.1838 tại Hưng Yên, chết rũ tù đời vua Minh Mạng.


112.  Phê-rô Đoàn Văn Vân, Thầy Giảng, sinh năm 1780 tại Kẻ Bói, Hà Nam.
Tử Đạo ngày 25.5.1857 tại Sơn Tây, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


113.  Jean Theophane Vénard Ven, Linh Mục Hội Thừa Sai Pháp, sinh n8m 1829 tại St. Loup-sur-Thouet, Poitiers, Pháp.
Tử Đạo ngày 2.2.1861 tại Ô Cầu Giấy, bị xử trảm đời vua Tự Đức.


114.  Giu-se Đặng Văn Viên, Linh Mục, sinh năm 1787 tại Tiên Chu, Hưng Yên.
Tử Đạo ngày 21.8.1838 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


115.  Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh, Giáo Dân, Dòng Ba Đa Minh, sinh năm 1814 tại Phú Trang, Nam Định.
Tử Đạo ngày 19.12.1839 tại Cổ Mễ, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.


116.  Đa-minh Nguyễn Văn Xuyên, Linh Mục Dòng Đa-minh, sinh năm 1786 tại Hưng Lập, Nam Định.
Tử Đạo ngày 26.11.1839 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời Vua Minh Mạng.


117. Vinh-sơn Đỗ Yến, Linh Mục Dòng Đa-minh, sinh nam 1764 tại Trà Lũ, Nam Định.
Tử Đạo ngày 30.6.1838 tại Hải Dương, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.


Gs. TRẦN DUY NHIÊN – Gs. ĐỖ HỮU NGHIÊM sưu tập


 

24/11-59: Lễ Các Thánh Tử Đạo VN


VietCatholic News (08/11/2004 )

GIÁO HỘI VIỆT NAM KÍNH TRỌNG THỂ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM
470 NĂM, MỘT CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ

 

Hơn 2.000 năm trước, Cha Gisu đ phn cng cc mơn đệ: “Thầy đ được trao tồn quyền: 24/11-59


Hơn 2.000 năm trước, Chúa Giêsu đã phán cùng các môn đệ: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 19-20).

Từ sau ngày Chúa Giêsu phát lệnh truyền giáo đến nay, sứ vụ truyền giáo vẫn không ngừng được tiếp nối trong lòng Giáo Hội.

Riêng tại Giáo Hội Việt Nam, 470 năm truyền giáo đang đi qua là cả một đoạn đường dài chông gai đầy thăng trầm, thử thách. Đó là một chặng đường lịch sử hào hùng dệt bằng sức lực của biết bao nhiêu tâm hồn nhiệt thành nhuộm thắm mồ hôi, nước mắt, kể cả đầu rơi máu đổ. 470 năm đang đi qua. Giáo Hội Việt Nam đang bước vào những tháng cuối cùng của Năm Thánh Truyền Giáo, kỷ niệm 470 năm truyền giáo ấy, cũng là dịp nhìn lại gần một nửa thiên niên kỷ hành trình truyền giáo mà báo đáp ơn nghĩa của tiền nhân bằng chính tình yêu và lòng vâng phục trong đức tin của mỗi Kitô hữu hôm nay.

Phải đến ngày 24.11 mới là chính ngày lễ Bổn mạng của Giáo Hội Việt Nam, lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam. Nhưng tại quê hương này, Hội Đồng Giám mục cho phép mừng trọng thể vào Chúa nhật thứ XXXIII thường niên, Chúa nhật 14.11.2004. Nhân dịp này, chúng ta thử nhìn lại một cách ngắn gọn những gì đã diễn ra trong quá khứ. Dù chưa đầy đủ, nhưng vẫn có thể giúp ta soi rọi lòng mình mà sống đức tin giữa cuộc đời hôm nay và giữ nghĩa Chúa cho trọn.

1. Mối nghi ngờ đưa tới bắt đạo

Dù luôn phải đối diện với thực trạng phân tranh bờ cõi, Đàng Ngoài dưới quyền chúa Trịnh, Đàng Trong dưới quyền chúa Nguyễn, các nhà chúa nơi chốn triều đình vẫn mãi mê đắm chìm với những vui thú của riêng mình, bằng những trò giải trí rất sa hoa hoặc rất cao cấp.

Chính lúc ấy, lại xuất hiện một thứ tôn giáo mới. Thứ tôn giáo mới này thật xa lạ, có những hình thức tôn thờ khó hiểu, có thể gây nguy hiểm cho sự an dân, mạnh quốc chăng?

Vì thế, bắt đầu từ sự khó hiểu và ngộ nhận, mối nghi ngờ của hoàng triều ngày càng lớn dần, đến nỗi sau cùng, trở thành hành động bách hại khắp nơi kéo dài đến 300 năm.

Suốt 300 năm bách hại, là 300 năm viết nên một trang sử bi đát cho dân tộc VN: Chính người VN sát hại đồng bào VN thân yêu của mình. Nhưng đó lại là 300 năm Giáo Hội Việt Nam đã viết nên một trang sử đẹp lộng lẫy: vì nó được viết không phải bằng những giọt máu mà là bằng những dòng máu của đức tin.

Vì thế, nhân dịp lễ các thánh Tử Đạo, chúng ta ôn lại cái chết diễm phúc của vị tử đạo đầu tiên của Giáo Hội Việt Nam: Thầy giảng Anrê Phú yên. Ôn lại như thế để, trước là trình bày tiêu biểu mang tính chất đại diện cho đức tin; sau là vì sự nhìn lại rất cần thiết để ta sống lại những ngày gian khó của cha ông mà biết ơn tất cả những ai đã đặt nền móng đức tin trên quê hương Việt Nam thân yêu này.

Ôn lại tấm gương sáng lạn của Thầy giảng Anrê, chúng ta không dừng lại ở một tấm gương trẻ trung này. Đúng hơn, đó là một gợi nhớ cho đức tin của bạn và tôi, giúp chúng ta sống lại cả một thời kỳ rực rỡ của Giáo Hội Mẹ Việt Nam, nơi đã sản sinh hàng trăm ngàn tín hữu Công giáo Việt Nam uy hùng và anh dũng.

2. Thầy giảng Anrê Phú Yên

Lý lịch của Thầy Anrê Phú Yên được người ta biết quá đơn giản: Sinh khoảng 1624 hay 1625. Là con trai út trong một gia đình nghèo, mồ côi cha. Mẹ là bà Gioanna. Khoảng 15 tuổi lãnh bí tích rửa tội. 17 tuổi gia nhập hội thầy giảng. 18 tuổi tuyên khấn trong bậc thầy giảng. 19 tuổi được phúc tử đạo.

Ngay một cái tên thật của Thầy cũng không còn ai nhớ. Cha Đắc Lộ, người rửa tội cho Thầy, chỉ gọi Thầy bằng tên thánh. Bởi đó, lòng quí mến của mọi người đã tặng cho Thầy một tên mới: Anrê Phú Yên. Đó là tên thánh và tên của quê hương Thầy ghép lại. Nhưng suy cho cùng, lại thấy hay quá. Bởi Thầy có còn giữ cho riêng mình điều gì nữa đâu. Mạng sống, thân xác - mỗi một người sinh ra trong cuộc đời chỉ có một duy nhất, nghĩa là rất quí giá, chết là mất, chết là không còn hiện diện, dù vậy Thầy cũng đã dâng hiến.

Ở lứa tuổi còn quá trẻ trung, sức sống đang dồi dào mãnh liệt, một lứa tuổi sẽ đi qua và không bao giờ trở lại, Thầy cũng đã dâng hiến. Bởi đó một cái tên có là gì đáng để mà nói. Anrê Phú Yên, từ ngày nằm xuống, giống như muôn ngàn vị thánh, đã trở thành bất hũ trong lòng người, là gia sản chung của cả Giáo Hội, nghĩ cho cùng, được mang tên quê hương, Thầy chính là người hạnh phúc.

Cứ tưởng rằng ở tuổi 19, người ta sẽ rất nông nổi, bồng bột. Cứ tưởng 19 tuổi, người ta chẳng tha thiết gì đến chuyện đạo đức, lạnh nhạt với việc cầu nguyện, lạnh nhạt với việc sống đức tin. Nào ngờ, một chàng trai 19 tuổi như Anrê Phú Yên đã trở thành thánh nhân.

Ở lứa tuổi mới bắt đầu bước vào tuổi thanh niên, lứa tuổi đẹp nhất đời người, Anrê có quyền sống để hưởng niềm vui, hưởng hạnh phúc mà tuổi trẻ vốn có, nhưng Anrê đã khước từ tất cả để chọn cho mình một vinh quang khác thiêng liêng, sâu lắng và đẹp vô cùng: Vinh Quang Thập Giá. Vinh quang mà Chúa Giêsu đã chọn, Anrê đã bước theo và rao giảng trong suốt những chuỗi ngày làm Giáo Lý Viên của mình.

3. Cuộc tử đạo của Thầy Anrê

Cái chết của Thầy giảng Anrê được cha Đắc Lộ kể lại trong cuốn Hành trình truyền giáo: “Một tên lính lấy giáo đâm Thầy từ phía lưng thâu qua ngực chừng hai bàn tay. Lúc đó Thầy Anrê nhìn tôi âu yếm như thể vĩnh biệt tôi. Tôi bảo Thầy hãy nhìn lên trời nơi Thầy sắp tới và có Chúa Giêsu đón Thầy. Thầy ngước mắt lên trên cao và không nhìn xuống nữa. Cũng tên lính rút giáo ra, đâm lần thứ hai, rồi đâm lại lần nữa như thể muốn tìm trái tim Thầy.Nhưng người vô tội vẫn không nao núng, thật là kỳ diệu. Sau cùng một tên đao phủ thấy lưỡi giáo không làm cho Thầy lăng xuống đất, liền lấy mã tấu chém cổ, nhưng vẫn chưa xong, phải thêm nhát nữa làm đứt hẳn cổ, đầu rơi về bên tay phải chỉ còn vướng mảnh da”.

Có một điều đáng nói, cần phải nhấn mạnh đó là ngay chính lúc lý hình vung gươm chặt phăng chiếc đầu của mình, Thầy Anrê còn kịp thốt lên hai tiếng “Giêsu” đầy kính trọng và yêu quí.

Cha Đắc Lộ viết tiếp: “Nhưng tôi nghe rất rõ cùng lúc đầu rơi khỏi cổ, thì tên thánh Chúa Giêsu không phải từ nơi miệng Thầy thốt ra mà qua vết thương ở cổ, và cùng lúc hồn bay về trời thì xác lăn xuống đất”.

“Giêsu” thánh danh mà Anrê đã tin tưởng trong ngày được rửa tội ở tuổi mười lăm. “Giêsu” cũng là thánh danh mà Anrê đã từng giảng dạy trong ba năm làm Giáo Lý viên. Và trong giờ chịu tử nạn, thánh danh Giêsu trở thành sức mạnh để Anrê chấp nhận cái chết, một sức mạnh can trường giống như lời thánh Phaolô nói: “Chúng ta Chịu khổ cực tư bề, nhưng không bị đè bẹp; chúng ta long đong, nhưng không tuyệt vọng; chúng ta bị bắt bớ, nhưng không bị bỏ rơi, bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt” (2 Cr 4, 8- 9).

Thầy Anrê đã tin rằng: “Chúng ta luôn mang trên thân xác mình sự chết của Chúa Kitô, để sự sống của Chúa Kitô được tỏ hiện nơi thân xác chúng ta” (2 Cr 4, 10). Để rồi giây phú cuối cùng, khi thân xác chẳng còn toàn vẹn, Thánh Danh “Giêsu”, một lần nữa bật thốt lên, nghe sao mà mạnh mẽ, khí phách, hãnh diện và tin tưởng tuyệt đối. Đẹp! Đẹp quá cái chết của vị Anh Hùng, chết cho Danh Thánh tuyệt diệu!

Chính Chúa Giêsu, vì là Thiên Chúa, nên Người là chủ thân xác chúng ta. Nếu Chúa muốn cuộc đời mỗi Kitô hữu là làm chứng cho Người, thì khi cần, dẫu là cái chết, chúng ta cũng chết vì Chúa Kitô. Anrê đã để lại cho đời, cho Giáo Hội Việt Nam, đặc biệt cho giới trẻ Việt Nam tấm gương sáng ngời của một người trung thành trong đời sống Kitô hữu của mình.

4. 470 năm, một chặng đường lưu dấu ơn Thiên Chúa

Nhìn lại một chặng đường đã qua suốt 470 năm, chúng ta khám phá ra giữa lòng Giáo Hội Việt Nam là một đức tin quá kiên trung, quá lạ thường mà mãi mãi người đời sau vẫn cứ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, khi chiêm ngưỡng những thử thách, những gian lao của buổi đầu đặt nền móng cho Giáo Hội Việt Nam.

Đặc biệt chiêm ngắm tấm gương trung kiên của các thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta càng bắt gặp nơi dòng Lịch Sử ấy cả một mầu nhiệm lớn quá đổi: phong ba, bão táp chỉ là đổ thêm dầu cho đức tin cháy sáng.

Càng khó khăn bao nhiêu, đức tin càng biểu lộ tính anh dũng của nó bấy nhiêu. Càng khó khăn, thì lại vô tình làm cho đức tin càng được dồn nén, càng được nung nấu, càng được khẳng định, nếu có dịp sẽ cháy bùng lên, và nhanh chóng lan tỏa mãnh liệt hơn bất cứ lúc nào.

Nhìn lại dòng lịch sử của Giáo Hội Việt Nam, ta chỉ biết cảm nhận trọn vẹn một chân lý không hề sai chạy: Chính bàn tay Thiên Chúa đã hiện diện để nâng đỡ và lèo lái lịch sử Giáo Hội Việt Nam.

Ngày nay Giáo Hội Việt Nam rất hãnh diện, tự hào và tràn đầy hy vọng nhìn lại lịch sử của chính mình suốt 470 năm qua. Tạ ơn Thiên Chúa đã luôn luôn quan phòng, để tất cả những gì Người muốn đều diễn tiến tốt đẹp theo thánh ý của Người.

Cảm tạ Thiên Chúa vì hồng ân đức tin, Người đã ban cho chúng ta. Chúng ta tiếp tục cầu xin Người gìn giữ chúng ta trong ơn Đức tin hôm nay và mãi về sau, để mỗi ngày, chúng ta xứng đáng hơn với các bậc tiền nhân của mình.

Lm Vũ Xuân Hạnh


 

24/11-60: Lễ các thánh tử đạo Việt Nam


VietCatholic News (14/11/2004 )

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

24.11.2004

Dẫn nhập đầu lễ :

Kính thưa cộng đoàn,


 

Hơm nay, hồ chung niềm hn hoan sốt mến với muơn triệu tri tim anh chị em tín hữu Việt Nam: 24/11-60


Hôm nay, hoà chung niềm hân hoan sốt mến với muôn triệu trái tim anh chị em tín hữu Việt Nam, chúng ta long trọng cử hành Thánh Lễ mừng kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

Tâm tình đầu tiên của chúng ta trong Thánh Lễ nầy đó chính là tạ ơn Chúa. Bởi vì, Tử Đạo, trước hết là một hồng ân bao la của Thiên Chúa. Chính nhờ hồng ân nầy, đặc biệt, nhờ việc 117 Chứng Nhân Tử Đạo tại Việt Nam được tuyên phong Hiển Thánh trên bàn thờ của Giáo Hội, mà dân tộc Việt Nam, Hội Thánh Việt Nam được rạng rỡ vinh quang, và con cháu chúng ta hôm nay được dư tràn ân phúc.

Bàn Tiệc Thánh Thể hôm nay, với chính giòng máu tử đạo khởi đầu của Đức Kitô đang chảy ra một lần nữa cách nhiệm mầu trên bàn thờ nầy, sẽ liên kết chúng ta lại gần với Cha Ông Tiên Tổ, giúp chúng ta biết trân trọng cái di sản đức tin mà Các Ngài đã để lại cho chúng ta bằng Lời chứng cao quí là chính cuộc tử đạo anh hùng của các Ngài.

Giờ đây, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi chúng ta để xứng đáng cử hành Thánh Lễ.

Giảng Lời Chúa :

Kính thưa ông bà anh chị em, trong Thánh Thi của giờ Kinh Sách lễ kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, đã vang lên những lời thơ đẹp :

Vinh danh Chúa vì qua bao thế hệ,

Đức tin lồng vào trang sử đau thương.

Hạt chết đi ôm sức sống Tin Mừng,

Nhập vào đất nở nên hoa Giáo Hội.

Đó cũng chính là tư tưởng được nhắc đến cách rõ nét trong lời kinh kính Các Thánh Tử đạo Việt Nam mà người giáo dân nào cũng đã từng đọc : “Các Ngài đã chấp nhận nên hạt lúa gieo vào lòng đất / để Hội Thánh Việt Nam thu lượm được mùa lúa dồi dào / Nay Hội Thánh lại dâng các Ngài lên Chúa / như hoa quả đầu mùa để cám tạ tri ân…”

Và nếu hôm nay Giáo Hội tại Việt Nam kính trọng thể, thì ngày 24 tới đây, trên toàn thể hoàn cầu, Hội Thánh Công Giáo khắp nơi hân hoan kính nhớ những anh hùng Tử Đạo Việt Nam, như lời Thánh Thi Kinh Chiêu I của ngày lễ đặc biệt nầy :

Giáo Hội Năm Châu mừng Chư Vị,

Anh hùng tử đạo tại Việt Nam

Đau khổ ngàn trùng ba thế kỷ

Đầu rơi máu đổ vẫn bền gan.

Nhưng, 117 Vị Thánh Tử đạo được kính tôn trên bàn thờ Giáo Hội hôm nay là những ai mà lại được Hội Thánh hoàn vũ, Hội Thánh Việt Nam trân trọng kính nhớ đặc biệt như thế ?

Cũng chẳng có chi khác người như kiểu “Thánh Gióng, Phù Đổng Thiên Vương”, cũng chẳng làm nên những chuyện tai trời ách nước như kiểu Hít-le, bạo chúa Nê-ron hay Tần Thủy Hoàng…Đơn giản chỉ là :

- Những người nông dân thật thà chân chất : như Thánh Lô-ren-sô Ngôn, Đa-Minh Ninh, An-rê Tường, Đa-Minh Nhi…

- Những anh dân chài trên sông nước bềnh bồng : như Thánh Đinh văn Dũng, Đinh văn Thuần, Đa-Minh Toại, Đa-Minh Huyên

- Hoặc là một chàng thợ mộc nghèo nàn, đơn bạc : như Thánh Phêrô Đa.

- Họ cũng chỉ là những giáo dân rất bình thường, sống mộc mạc giản đơn, thực hành kinh bổn nơi xóm đạo nhà quê, hay lo lắng việc nhà Chúa với chức danh Trùm họ, Câu xứ : như Giuse Túc, Phaolô Hạnh, An-rê Kim Thông, Nguyễn Văn lựu.

- Đặc biệt trong số nầy có cả một người đàn bà, một người vợ đảm đang, một người mẹ hiền lành đạo đức trong một gia đình với 6 mặt con : Nữ Thánh Anê Lê Thị Thành.

- Cũng có cả những người từng là “bộ đội” của triều đình, sống cuộc đời lính : Thánh Phan Viết Huy, Bùi Đức Thể…

- Dĩ nhiên làm sao thiếu được những gương mặt sáng ngời của các Vị Mục Tử chăn dắt đoàn chiên : đó là các Thánh Giám Mục như Stê-pha-nô Thể, Va-len-ti-nô O-choa, Linh mục An-rê Dũng Lạc, Lê Bảo Tịnh, Nguyễn Bá Tuần…

- Có cả những chàng thanh niên tuổi đời đầy mộng ước như chủng sinh Tôma thiện nhưng cũng có cả những vị quan uy quyền nơi cung đình như Thánh Hồ Đình Hy…

Cho dù thân phận có khác nhau đấy, tuổi đời có cách biệt đấy, nghề nghiệp mỗi người mỗi thứ… thì đều có chung một lựa chọn : Lựa chọn đứng về phía của Thiên Chúa, phía của Đức Ki-tô, phía của Tin Mừng, phía của chân lý, của Đạo thật như những lời chứng sống động sau :

- Thánh Mỹ thưa với quan Tổng đốc rằng : “Tôi đã suy xét kỹ, và tin nhận đạo Thiên Chúa là đạo thật, nên tôi không chối bỏ bao giờ”

- Thánh Phêrô Cao đã tâm nguyện : “Xin cho con chịu đau khổ vì danh Đức Ki-tô, được đón nhận ngành lá tử đạo về tới bến thiên đàng”

- Thánh Ki-Thông đáp lại quan tỉnh rằng : “Thánh giá tôi kính thờ, tôi giẫm lên sao được”

- Thánh Phêrô Truật phát biểu như một lời tục ngữ : “Ai khôn mới biết hiến mình cho chân lý, để chiếm hữu phần gia nghiệp muôn đời”

- Thánh Em-ma-nu-en Phụng đã để lại di chúc tinh thần : “Con ơi hãy nhận lấy kỷ vật Cha trao laị : Đây là ảnh Đức Kitô, Chúa chúng ta, ảnh nầy quí hơn vàng bạc bội phần”

Và dĩ nhiên, tất cả đều có chung một kết cuộc : ngục tù, đau thương, khổ hình và cái chết tử đạo như những lời chứng đầy can đảm còn ghi lại :

- Thánh Phêrô Quí dõng dạc :

“Dù trăng trói, gông cùm tù rạc

Chén ngục hình xiềng tỏa chi nề

Miễn vui lòng cam chịu một bề

Cho trọn đạo trung thần hiếu tử”

- Thánh Phaolô Tịnh can đảm thưa với quan án : “Thân xác tôi ở trong tay quan, quan muốn làm khổ thế nào tùy ý. Nhưng linh hồn là của Chúa, không có gì khiến tôi hy sinh nó được”

- Thánh Phaolô Khoan đã hát lên lời nguyện hiến tế cuộc đời : “Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa là Chúa Cả trời đất, chúng con xin dâng mạng sống cho Ngài”

- Thánh Anrê Kim Thông : “Thà tôi bị lưu đày và phải chết vì Chúa, chứ tôi không chối đạo”.

Có khác không cái chết của các Thánh Tử Đạo với bao cái chết của các bậc anh hùng thế tục khi thất thế sa cơ? Thưa có đấy. Cái chết của những vị nầy tuy can đảm đó, anh hùng đó, nhưng tận thâm tâm vẫn pha lẫn một chút hận thù, một chút cay cú, một chút hờn căm như kiểu Chu Thần Cao Bá Quát khi sắp bị chém đầu đã để lại câu đối mang đầy uất hận :

Ba hồi trống giục mồ cha kiếp

Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời

Trái lại, Các Thánh Tử Đạo của chúng ta đã đón nhận chén đắng theo mẫu gương của Thầy Chí Thánh Giêsu trong tình yêu phó thác, trong tha thứ khoan dung, trong bình an thanh thản mà lời Thánh thi kinh Chiều, Kinh Sáng trong ngày lễ hôm nay Giáo Hội cùng ca tụng :

Quyết tâm theo Chúa lên Núi Sọ

Cam chịu đóng đinh trong một chiều

Lời Chúa muôn năm làm sáng tỏ

Thí mạng sống mình vì người yêu.

Thầy thuở xưa đứng dang tay trên đó

Lễ tình yêu lấy mạng sống hiến dâng

Môn đệ nay cùng với trọn chữ tâm

Xin hiệp nhất một bài ca hiến tế.

Dù tù ngục xích xiềng gian khổ

Dù thây căng máu đổ chan hòa

Tinh thân như vẫn hát ca

Chứng minh chân lý sáng lòa hơn gương…

Ôi Lời Chúa diệu vời mối phúc

Xây quê hương hun đúc yêu thương

Sướng vui, cực khổ khôn lường

Vẫn xin phục vụ, trọn đường hiếu trung.

Và chính cái chết của tình yêu tha thứ đó đã đem lại muôn ân thánh rạng ngời để hôm nay trỗ sinh mùa lúa mới :

Cho ơn trọng của nguồn tình lai láng

Bừng chiếu soi lịch sử của con người

Tình thứ tha, tình tái tạo đất trời

Tình dư dật sức hoàn sinh vĩnh cửu

Nhưng rồi chúng ta hôm nay mừng kính Cha Ông anh hùng Tử đạo chỉ để nhắc nhớ kỷ niệm hầu khỏi quên đi những chứng từ đẹp, những mẫu gương hay mà thôi sao ? Để rồi đâu vần hoàn đó. Không lẽ Cha Ông đã chịu thương chịu khó, chịu chết để lại gia tài đức tin cao quí nầy, đến đời con cháu chúng ta lại phá nát, lại làm cho xơ cứng hao mòn ? Không. Như thế là bất hiếu, là vô ơn là không xứng đáng được gọi là cháu con của Tổ tiên Tử Đạo. Mừng kính các Thánh Tử Đạo hôm nay cũng là một lời đoan hứa mới, một quyết tâm mới trước Anh Linh Tiên Tổ : quyết tâm “Làm Kitô Hữu đích thực” như lời xác quyết của Thánh Phaolô Hạnh, một Kitô hữu sẵn sàng thuộc về Đức Kitô và Tin Mừng trên mọi nẽo đường cuộc sống; một kitô hữu can đảm thực thi những lời dạy Phúc Âm, những việc đạo đức hằng ngày, những bổn phận trong gia đình, những ứng xử khoan dung, yêu thương và tha thứ như cuộc sống và lời chứng của Thánh Nữ Anê Lê thị Thành và bao Chứng Nhân khác.

Để được như thế, chắc chắn hôm nay chúng ta lại một lần nữa chung lời kinh kêu cầu các Thánh thử Đạo Việt nam cầu thay nguyện giúp :

“Lạy Các Thánh Tử Đạo Việt Nam / là những Bậc Tiền Nhân đã hoàn thành sứ mạng / xin chuyển cầu cho chúng con là con cháu / được noi gương các Ngài / biết đem lòng bác ái mà dấn thân phục vụ / để một ngày kia trên thiên quốc / chúng con được hợp tiếng với các Ngài / ca ngợi tạ ơn Chúa muôn đời vinh hiển. Amen.


LM. Jos. Trương Đình Hiền


 

24/11-61: THÁNH ANRÊ DŨNG LẠC VÀ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO


VIỆT NAM

 

Thánh Anrê Dũng Lạc là một trong số 117 đấng đã tử vì đạo tại Việt Nam từ năm 1820 đến: 24/11-61


VietCatholic News (16/11/2004 )

Thánh Anrê Dũng Lạc là một trong số 117 đấng đã tử vì đạo tại Việt Nam từ năm 1820 đến 1862. Các đấng được tuyên phong Chân Phước trong bốn đợt giữa năm 1900 cho đến năm 1951. Và cuối cùng các đấng được Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lồ II tôn phong hiển thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Đạo Công giáo được truyền bá đến Việt Nam vào khoảng năm 1615 trước tiên do các giáo sĩ người Bồ Đào Nha. Các Cha Dòng Tên đã đặt trụ sở đầu tiên tại Hội An.

Các vua chúa Việt Nam thời bây giờ cấm các giáo sĩ ngoại quốc đến truyền đạo và dân chúng đã theo đạo thì phải công khai chối bỏ đạo bằng cách bước qua thánh gía. Các giáo sĩ cũng như các giáo hữu phải tản mác ẩn núp trong nhà dân chúng.

Các cuộc bắt đạo dử dội và khủng khiếp nhất đã xẩy ra trong ba đợt vào thế kỷ thứ XIX. Trong khoảng 60 năm có từ 100,000 đến 300,000 người Công giáo bị tù đày và bị giêt chết. Các đấng truyền giáo ngoại quốc tử đạo gồm các linh mục và Giám mục thuộc Hội Thừa sai Paris và Dòng Đa Minh Tây Ban Nha.

Cuộc bách hại tàn ác nhất xẩy ra vào năm 1847 khi vua Tự Đức nghi ngờ các giáo sĩ ngoại quốc và các tín hữu Công giáo thông đồng với quân thù xâm lược. Các đấng chịu chết cuối cùng gồm 17 giáo dân trong đó có một em bé 9 tuổi bị giết năm 1862 vì năm đó triều đình Việt Nam phải ký kết với nước Pháp cho phép người dân Việt Nam được tự do giữ đạo Công giáo. Tuy vậy sau đó các cuộc bách hại vẫn còn tiếp diển bởi các nhóm người quá khích Văn Thân.

Đến năm 1954, sau Hiệp định Geneva thì có khoảng một triệu rưởi người Công giáo ở miền Bắc cũng bị áp bức nên có khoảng 670,000 người đã di cư vào Nam. Đến năm 1964 thì ở miền Bắc có khoảng 883,00 người Công giáo nhưng các cơ sở như trường học, tu viện, chủng viện, bệnh viện và tài sản của Giáo Hội đều bị nhà nước tịch thâu và có một số đông linh mục và giáo dân đã bị giết hoặc bị cầm tù đày ải.

Trong niềm Nam thì có được một khoảng thời gian ngắn người Công giáo được tự do giữ đạo và số lượng càng thêm đông đảo nhờ vào cuộc di cư vĩ đại. Rồi trong những năm trong thập niên 70, chiến tranh lại sôi động và người Công giáo lại bị kỳ thị và các cơ sở lại bị đập phá và tịch biên bây giờ thì toàn xứ Việt Nam tự do tôn giáo lại một lần nữa bị hạn chế.

Tuy có nhiều khó khăn nhưng Giáo Hội Việt Nam vẫn sống mạnh và phát triển nhờ lòng trung tín của các giám mục Việt Nam luôn trung thành với Tòa Thánh Vatican cùng lòng mộ đạo và can trường của giáo dân. Giáo Hội Việt Nam thực thi lời Chúa trong khó khăn trong một môi trường khắc nghiệt nhưng luôn bền đổ và trung kiên.

Phó Tế J.B. Huỳnh Mai Trác


 

24/11-62: Kính caùc Thaùnh Töû Ñaïo Vieät Nam


Kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam: Chân Phước Anrê Phú Yên

VietCatholic News (24/11/2004 )

 

Trong Năm Thánh 2000, Ịức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II đã tuyên phong 44 Chân Phước tử: 24/11-62


Trong Năm Thánh 2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II đã tuyên phong 44 Chân Phước tử đạo, trong danh sách có tên thầy giảng Anrê Phú Yên.

Khi đạo Công giáo được truyền bá vào Việt Nam, nhiều thế hệ thầy giảng đã sát cánh cùng các vị truyền giáo ngoại quốc để đi rao giảng Tin Mừng cho đồng bào của mình.

Mặc dù thầy giảng Anrê Phú Yên chỉ đi rao giảng trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng Đức Tin vững mạnh của thầy đã được lưu truyền cho người Công giáo Việt nam trong hơn 350 năm nay.

Cha Alexander de Rhodes là người đã chứng kiến cuộc bắt bớ, cuộc xử án, cuộc giam giữ cầm tù và cuộc hành quyết thầy Anrê. Cha đã ghi chép lại đầy đủ chi tiết cuộc tử đạo của thầy.

Thầy Anrê sinh năm 1625 tại Phú Yên, là con trai thứ của một bà quả phụ đạo đức.Thầy là người có thể xác yếu đuối nhưng rất thông minh và có một tâm hồn trong sáng luôn hướng về sự thiện. Mẹ thầy đã khẩn khoản Cha thâu nhận thầy làm môn đệ. Thầy học hành rất chăm chỉ và trội hơn các đồng bạn.

Lúc thấy lên 17 tuổi, thầy được chịu phép rửa tội cùng một lúc với mẹ mình. Một năm sau khi chịu phép rửa, thầy trở thành thầy giảng và khấn hứa phục vụ Giáo Hội cho đến trọn đời. Thầy được tử đạo lúc thầy vừa tròn 20 tuổi.

Chúa Nguyễn ra lệnh cấm đạo khi nhận thấy đạo Công giáo bành trướng trong xứ sở. Vào tháng 7 năm 1644, quan Tổng trấn Quảng Nam, ông Nghè Bộ ra lệnh cấm các giáo sĩ ngoại quốc đi truyền đạo và bắt giam các thầy giảng Việt nam.

Vào ngày 25 tháng 7, quân lính được sai đến bao vây nhà Cha Alexander de Rhodes để tìm bắt thầy giảng Ignatius, nhưng thầy đi vắng nên chúng bắt thầy Anrê Phú Yên. Chúng đã đánh đập, trói lại và giải đến quan Nghè và giải thích thầy cũng là một thầy giảng như thầy Ignatius, người này đã đến các làng mạc nói về luật lệ của vua Kitô và khuyến dụ dân làng theo đạo mới.

Trước công đường quan Nghè khuyến dụ thầy Anrê “đừng dại dột mà mang họa vào thân, hãy chối đạo thì sẽ được tha để trở về với gia đình.” Thầy Anrê đã khẳng khái tuyên xưng mình là Kitô hữu và muốn chịu tất cả mọi thứ cực hình chứ chẳng bao giờ chối bỏ những điều mình đã rao giảng. Dù bị hăm dọa dùng những cực hình ghê rợn cũng không làm nao núng ý chí cương quyết chịu chết để bảo vệ đức tin, chấp nhận đau khổ để được chết vinh quang. Thầy Anrê bị khép vào tội tử hình.

Ngày kế tiếp, Cha Alexander de Rhodes và vài thương gia người Bồ Đào nha vào thăm thầy trong nhà tù, thầy tỏ ra rất bình tĩnh và an vui chịu khốn khổ vì Chúa Kitô. Nước mắt rưng rưng họ cầu nguyện cho thầy, thầy xin họ cũng cầu cho chính họ được bền đổ trung thành với tình yêu vô biên của Chúa, “đấng đã hy sinh mạng sống của mình cho nhân loại”. Thầy lập lại ý tưởng đó và kết luận: “Chúng ta hãy trao tình yêu của chúng ta cho Chúa như Chúa đã yêu thương chúng ta, hãy trao mạng sống cho Chúa như Chúa đã chết cho chúng ta.”

Trưa ngày 26 tháng 7 năm 1644, ba mươi người lính đến nhà giam dẩn thầy Anrê ra pháp trường. Thầy cám ơn Chúa đã cho thầy được hy sinh tử đạo, thầy chào từ biệt các bạn tù. Cha De Rhodes xin phép được dùng một chiếc chiếu trải ra nơi hành hình để hứng lấy máu của thầy như phong tục của người Việt nam, nhưng thầy đã từ chối vì muốn máu mình sẽ thấm vào lòng đất quê hương. Thầy tiếp tục khích lệ những giáo dân giữ vững đức tin, đừng buồn về cái chết của thầy, chỉ xin cầu cho thầy được trung tín cho đến giây phút cuối cùng. Một người lính dùng chiếc dáo đâm bên hông trái, một người khác dùng mã tấu chặt đầu trong lúc thầy kêu lên: “Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa hãy chứng giám lòng trung tín của con.”

Cha De Rhodes xin nhận lảnh xác của thầy chở về Macao để chôn cất. Khi tàu ở trên biển thì bị bọn hải tặc đánh cướp, tàu đụng phải đá. Như một phép lạ, một tảng đá lớn từ trên núi rớt xuống làm vở đầu tàu rồi rơi xuống biển, làm cho bọn hải tặc bỏ đi và tàu đã chạy được về đến bến bình yên.

Qua nhiều thế kỷ, dù thầy Anrê chưa được phong hiển thánh, nhưng người Công giáo Việt nam luôn tưởng nhớ tôn kính đấng tử đạo thứ nhất đã để máu mình thấm vào lòng đất mẹ, với ước nguyện sẽ sinh hoa kết trái đức tin Kitô cho đến muôn đời.


Phó Tế J.B. Huỳnh Mai Trác


 

24/11-63: Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

 

Từ ngàn xưa và cho đến ngày hôm nay, Giáo Hội luôn duy trì một thủ tục khắt khe để phong: 24/11-63


Từ ngàn xưa và cho đến ngày hôm nay, Giáo Hội luôn duy trì một thủ tục khắt khe để phong thánh hầu tránh đi mọi lạm dụng có thể xảy ra. Khởi đầu thì bất cứ người giáo dân nào cũng có quyền làm đơn xin Giáo Hội xúc tiến thủ tục điều tra để phong thánh cho một hay nhiều Kitô hữu. Đó là những người công giáo đã qua đời, mà còn để lại những mẫu gương thánh thiện cao độ, nhất là khi họ chết vì đạo với những bằng chứng rõ rệt vì đức tin.

Tất cả 117 vị tử đạo Việt Nam mà chúng ta mừng kính hôm nay đều có đủ bằng chứng đích thực về cái chết anh hùng đó. Qua thủ tục điều tra từ hơn một thế kỷ nay, các vị ấy đã lần lượt được Giáo Hội nhìn nhận là Đấng đáng kính, vì đã nêu gương thánh thiện cho các Kitô hữu. Tiếp đến là nâng lên hàng Chân phước, tức là các vị ấy được nhìn nhận là đang được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Chúa. Tuy việc tôn kính còn giới hạn chưa phổ quát khắp nơi trên thế giới. Cuối cùng là được phong lên bậc thánh nhân, tức là được tôn vinh hiển thánh với lễ kính có thể được cử hành ở khắp mọi nơi.

Nhìn vào con số 117 vị tử đạo Việt Nam, chúng ta nhận thấy các ngài là những bậc cha ông của chúng ta, trong đó gồm đủ mọi thành phần: 8 giám mục, 50 linh mục, 16 thầy giảng, 1 chủng sinh và 42 giáo dân.

Ngoài các giám mục và các linh mục là những người lo đáp ứng những nhu cầu thiêng liêng, chúng ta thấy các ngài thuộc đủ mọi giai cấp xã hội. Thánh Hồ Đình Hy là quan thái bộc, đặc trách ngành dệt tơ lụa vải vóc trong cả nước. Thánh Phạm Trọng Khảm là quan án. Thánh Vinhsơn Tường làm chánh tổng. Thánh Nguyễn Huy Mỹ làm lý trưởng. Các thánh Đạt, Huy, Thể là quân nhân. Có người làm thầy thuốc, làm nhà buôn, làm thợ mộc, thợ may, có người làm ngư phủ hay nông dân.

Mừng lễ các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta hãy chiêm ngưỡng những mẫu gương thánh thiện các ngài để lại. Nhưng chiêm ngưỡng mà thôi chưa đủ, chúng ta còn phải cố gắng noi theo và bắt chước, vì con nhà tông không giống lông cũng giống cánh.

Là những thanh thiếu niên, chúng ta hãy chiêm ngưỡng và bắt chước một chàng trai tuấn tú 18 tuổi đã trả lời quan toà: Tôi chỉ mong chức quyền trên trời chứ không màng danh vọng trần thế. Chàng trai tuấn tú ấy là thánh Tôma Thiện.

Là những người đang sống trong bậc vợ chồng, chúng ta hãy khắc ghi lời bà lý Mỹ: Gia đình tôi luôn sống trong hoà thuật và yêu thương, nhà tôi chuyên chăm đạo đức, tham dự thánh lễ hằng ngày. Nếu vợ con hay người giúp việc vì bận rộn không đi lễ được, ông bắt phải đọc kinh chung và nghe sách thiêng liêng để suy niệm. Ông xưng tội nhiều lần trong năm. Ông không đánh bạc, không uống rượu hay to tiếng với ai bao giờ. Bà lý Mỹ đã nói như vậy về chồng bà là thánh Nguyễn Huy Mỹ.

Cụ Hoàng Lương Cảnh làm cho quan quân phá lên cười khi họ yêu cầu cụ đọc kinh, thì cụ lớn tiếng: Lạy Chúa Giêsu, xin giúp các quan trị nước cho yên, càng ngày càng thịnh. Tại pháp trường, khi chịu xử tử, thánh Lê Văn Phụng còn nhắn nhủ người con trai của mình: Con ơi, hãy tha thứ, đừng báo thù kẻ tố giác ba nhé. Là con cháu của các bậc anh hùng tử đạo chúng ta đã làm được những gì để tuyên xưng đức tin của mình?


 

24/11-64: Các thánh Tử Đạo Việt Nam

 

Mừng kính các thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta cũng kỷ niệm việc thiết lập hàng giáo phẩm: 24/11-64


Mừng kính các thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta cũng kỷ niệm việc thiết lập hàng giáo phẩm đến nay được 50 năm. Vì thế trong một vài phút ngắn ngủi này chúng ta cùng ôn lại đôi dòng lịch sử.

Kể từ khi cha Buzomi, vị thừa sai đầu tiên đặt chân lên đất nước này vào năm 1615, cho tới khi hàng giáo phẩm được thiết lập vào năm 1960, thời gian kéo dài là ba thế kỷ rưỡi. Trong khoảng thời gian này, những thành phần nhân sự dần dần được thiết lập để xây dựng cho Giáo Hội Việt Nam.

Trước hết là cha Đắc Lộ đã khai sinh ra hồi Thày giảng năm 1650. Chín năm sau, tức là năm 1659, Tòa Thánh thiết lập hai Giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài, đặt dưới quyền quản trị của hai vị Tân Giám mục là Lambert de la Motte và Francois Pallu, thuộc hồi thừa sai hải ngoại Paris. Chính Đức cha Lambert de la Motte trong ba năm, từ năm 1668-1670 đã truyền chức linh mục cho chín người Việt Nam đầu tiên xuất thân từ hội Thày giảng.

Chín linh mục này làm nên hàng giáo sĩ Việt Nam đầu tiên. Từ việc phong chức linh mục đầu tiên này tới cuộc tấn phong Giám mục cho Đức cha Nguyễn Bá Tòng năm 1933, thời gian kéo dài gần hai thế kỷ rưỡi. Rồi từ khi có giám mục Việt Nam cho tới khi hàng giáo phẩm được thiết lập, thời gian chỉ có 37 năm. Về nhân sự của Giáo Hội địa phương, kế tiếp việc thiết lập hàng giáo sĩ Việt Nam là việc thiết lập dòng nữ Mến Thánh Giá tại Kiên Lao (Nam Định) và Bãi Vàng (Hà Nam) do Đức cha Lambert de la Motte, vào năm 1670.

Cũng trong khoảng thời gian ấy, trải dài hơn ba thế kỷ, Giáo Hội Việt Nam đã gặp phải những cuộc bách hại và cấm cách đẫm máu, khiến cho hàng vạn người đã bị mất mát tài sản, hàng ngàn người đã ngã gục ngoài pháp trường, trong đó có 117 vị đã được tôn lên hàng hiển thánh, gồm tám giám mục, năm mươi linh mục và 59 giáo dân. Chính các ngài đã trở thành những hạt giống đức tin, đem lại cho Giáo Hội Việt Nam một vụ mùa bội thu.

Mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, cũng như kỷ niệm ngày thành lập hàng giáo phẩm, mỗi người chúng ta hãy hồi tâm xét mình, kiểm điểm lại cuộc sống xem chúng ta đã thực sự thuộc về Đức Kitô hay chưa? Bởi vì tinh thần của Chúa và tinh thần của thế gian là hai cái gì đối kháng, cho nên chúng ta không được phép bắt cá hai tay, hay lửng lơ con cá vàng, như lời Chúa đã nói: không nóng không lạnh, chỉ dở dở ương ương thì Ta sẽ mửa mi ra.

Hơn nữa, Chúa cũng đòi chúng ta phải dứt khoát lập trường và dành cho Ngài địa vị số một trong cuộc đời chúng ta, vì ai đã cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau thì không xứng đáng với Nước Trời. Tuy nhiên chọn lựa Chúa mà thôi chưa đủ, chúng ta còn phải thể hiện sự lựa chọn ấy trong cuộc sống thường ngày bằng cách thực thi những điều Ngài truyền dạy. Bởi vì có thực thi những điều Ngài truyền dạy, chúng ta mới thực sự trở nên là những môn đệ và chứng nhân của Ngài. Mỗi hy sinh chúng ta chấp nhận để chu toàn Lời Chúa, sẽ là một giọt máu tử đạo chúng ta đổ ra từng giây từng phút để làm chứng cho Chúa.


 

24/11-65: LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM


SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXXIII – 2001

 

Vào thời của các Thánh Tử Đạo cha ông mình, mọi người, kể cả các vua quan đều có một nhận: 24/11-65


Vào thời của các Thánh Tử Đạo cha ông mình, mọi người, kể cả các vua quan đều có một nhận định chung : các Thánh có một lối sống làm cho nhiều người bị lôi cuốn, và tố giác những tham vọng ích kỷ của xã hội. Các Thánh bằng sự liên đới và chia sẻ, trở nên người anh em chân thật của những con người bé nhỏ và đầy khổ đau. Cái chết của các Ngài là chứng từ của Tình Yêu, sự hiến tặng triệt để hầu tha thứ và thiết lập trật tự bình an. Biết bao đấng Thánh đã có một tình bạn keo sơn với ngay cả quan lại đã kết án tử cho các ngài. Các Ngài đi tới cái chết không oán thù, không đấu tranh, và dùng giòng máu thắm nhuần thấm trái tim con người, để họ yêu thương và nâng đỡ những số phận ngheò khổ lam lũ.

Cũng như chính Đức Kitô đứng trước số phận của dân tộc bị nô thuộc, trước một xã hội đầy mâu thuẫn và chia rẽ, trước những ngọn sóng hận thù đấu tranh...Ngài để "Thần Linh của Cha nói" và "làm" trong Ngài. Thần Linh của yêu thương, của tha thứ, của hiệp nhất. Đức Giêsu không coi những sức mạnh cưỡng bức từ bên ngoài là quan trọng, nhưng chính những tham vọng bất chính trong lòng con người mới là nguyên nhân của mọi khốn cùng. Nói theo thánh Phaolô tất cả mọi tham vọng theo lẽ khôn ngoan của loài người đã bị đóng đanh vào thập giá của Đức Kitô, và những tham vọng ấy của mỗi thế hệ lại được đóng đinh vào những khổ hình, những cái chết của các Thánh Tử Đạo của nó. Đối với mọi người, mọi nơi, mọi thế hệ, thì Thập Giá và các Tử Đạo đều là sự điên rồ, là cớ vấp phạm, nhưng với những người tin thì đó là quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.

Có một điều cần phải được đón nhận một cách đặc biệt trong Thập Giá của Đức Giêsu, cũng như trong những cái chết của các Thánh Tử Đạo, điều mà Chúa Giêsu long trọng tuyên bố trong đêm Ngài bị nộp : "vì chúng, Con xin hiến thánh mình con". Biết bao chứng nhân cũng đã nộp mình chịu khổ hình thay thế cho anh chị em mình. Chân lý này được Giáo Hội qua muôn thế hệ ngày đêm khắc ghi và công bố, khi Giáo Hội cử hành Hiến Tế của Đức Kitô mà Giáo Hội tuyên xưng là nguồn mạch làm ra Hội Thánh. Thánh Phaolô cũng đã từng tuyên tín " Đức Kitô đã chịu nộp và chịu chết vì tôi". Chính là "TÌNH YÊU" ấy đã đốt cháy và thiêu rụi mọi tham vọng bất chính để mở ra một vương quốc trong đó mọi con người đều nhận lại được địa vị xứng đáng của mình. Lối sống ấy thực sự "được toàn dân thương mến" như sách công vụ tông đồ đã viết. Lối sống mà tuy đông "mà chỉ có một lòng một ý". Giáo Hội Việt Nam được sinh ra trong giòng máu các Thánh Tử Đạo cũng luôn muốn chiếu giãi Tình Yêu phục vụ ấy của các Thánh Cha Ông mình trong mọi hành trình. Có thể có một hoàn cảnh lịch sử nào đó người ta quá nhấn mạnh quan điểm và hành động của một số nhân vật trong Giáo Hội để phủ nhận điều mà Giáo Hội Việt Nam đã kiên trì trong đại đa số những chứng nhân âm thầm của mình để khẳng định chân lý "Hiến Tế Tình Yêu". Sự lớn lên của Giáo Hội ở mọi nơi và mọi thời không phải là công trạng của những thế lực trần thế, mà hoàn toàn chỉ là nhờ sự hiện diện giòng máu Tử Đạo trong Hiến Tế Tình Yêu mỗi ngày. Những công trình đồ sộ dù có tính nghệ thuật tuyệt hảo trong mọi địa hạt cũng không giúp ích gì cho một giáo hội mà ngọn lửa "Hiến Tế Tình Yêu" đã tắt lịm.

Chính trong ý thức và niềm tin ấy, người Kitô Hữu luôn luôn được Giáo Hội mời gọi hãy làm sáng lên, hãy tìm kiếm những Chứng Nhân trong thời đại của mình. Trong tâm tình ấy, nhân ngày tôn vinh "Các Thánh Tử Đạo Việt Nam", chúng ta cùng với tâm tình cảm tạ tri ân, chúng ta cũng phải tha thiết nài xin Chúa nhờ lời chuyển cầu của Các Thánh Cha Ông ban cho thời đại chúng ta đang sông nhiều chứng nhân anh dũng dám khẳng định như thánh Phaolô "Đức Kitô không sai tôi đi thanh tẩy, mà là rao giảng Tin Mừng : không phải bằng sự khôn ngoan của khoa ngôn ngữ, kẻo Thập Giá của Đức Kitô bị ra hư không".

Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên


 

24/11-66:  CHẾT LÀ HẠNH PHÚC


LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Lc 19, 23-26

 

Tử đạo vẫn là động từ được mến chuộng nơi các tôn giáo và đặc biệt nơi những người theo Chúa: 24/11-66


Tử đạo vẫn là động từ được mến chuộng nơi các tôn giáo và đặc biệt nơi những người theo Chúa Kitô. Bởi vì, tử đạo chỉ là làm chứng cho Đấng là Đường, là sự Thật và là sự Sống. Đành rằng có những thời, những lúc, những nơi tử đạo xem ra bị lạm dụng, nhưng đúng nghĩa tử đạo vẫn là cái gì cao quí nhất của những con người có lòng tin đúng như ca nhập lễ, lễ các thánh tử đạo đã viết:” Các thánh đã theo chân Đức Kitô,được vui mừng trên thiên quốc.Các ngài đã đổ máu mình ra, vì lòng yêu mến Đức Kitô, nên luôn được hoan hỷ với Người”.

CHẾT LÀ MỘT MỐI LỢI : Thực tế, ai cũng muốn sống và sống lâu dài, sống vĩnh cửu. Chẳng ai muốn chết và chết là một việc bắt buộc phải chết. Quả thế, nếu chưa tới giờ Chúa gọi, Chúa gõ cửa, chắc chắn chẳng ai muốn chết, chẳng ai muốn bỏ thế trần sớm để đi vào một cõi xa xôi mà nếu không có đức tin, con người chẳng sao ngộ ra được. Nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn có nhiều suy tư về kiếp sống, về cõi hư vô, nhưng ông chỉ mới suy nghĩ, đặt vấn đề chứ chưa đưa ra kết luận cho một cõi khác với thế trần hôm nay.” Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi để một mai tôi thành hạt cát bụi…một kiếp rong chơi “. Những vị tử đạo chẳng bao giờ nghĩ xa xôi về một kiếp rong chơi, mà có trở về cát bụi là trở về với thân phận nguyên thủy của con người:” Ngươi là bụi đất, hãy trở về với bụi đất “.Mà những vị tử đạo là những vị đã thấm nhuần đạo lý của Chúa :” Ai muốn theo Thầy,phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”(Lc 9, 23-24 ). Chúa Giêsu mời gọi mọi người theo Chúa làm chứng cho Chúa, có người được hạnh phúc đổ máu cách công khai, thực tế, có những người đổ máu hy sinh bằng những đau khổ hằng ngày. Tựu trung, ai cũng phải hy sinh, ai cũng phải từ bỏ, ai cũng phải phấn đấu. Tuy nhiên, vẫn có những người được diễm phúc chết công khai vì chết là hạnh phúc:” Ai xấu hổ vì Thầy và những lời của Thầy, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy…” ( Lc 9, 26 ). Chúa vẫn mời con con người và mọi người trung thành với Người và bác ái với mọi người, kể cả những kẻ thù nghịch vv…Và khi đã trung thành làm chứng cho Chúa thì Người sẽ ban mũ triều thiên cho con người:” Anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp gian nan thử thách. Vì thế Thầy sẽ ban quyền cai trị cho anh em, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trên Vương Quốc của Thầy “  (Lc 22, 28-30 ).

NHỮNG VỊ TỬ ĐẠO: NHỮNG CHA ÔNG, NHỮNG NGƯỜI QUEN BIẾT, NHỮNG NGƯỜI KHÔNG QUEN ĐÃ MỘT LÒNG TRUNG KIÊN, TÍN THÁC VÀO THIÊN CHÚA : Chiêu bài của những người cấm đạo là dùng những sự đe dọa, những hình phạt kinh khủng để dọa nạt, để tách cha ông, những người tin vào Chúa sợ mà chối Chúa. Họ cũng dùng những chiêu bài khác là dùng những lời đường mật, danh vọng, địa vị để dụ dỗ cha ông khuất phục để bỏ Chúa. Nhưng họ đã lầm, cha ông chúng ta là những người tuyệt vời, khôn ngoan, sáng suốt một lòng trung tín và phó thác vào Chúa Giêsu. Các Ngài đã xác tín sâu xa vào Chúa và hoàn toàn không sợ :” Những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn”. Đọc sách Macabêô : gương của bà mẹ và bảy anh em không sợ vua chúa quan quyền, không sợ hình phạt, không sợ chết mà chỉ một lòng tin vào Thiên Chúa như lời Thánh vịnh 33, 20-21 viết :” Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân, nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi.Xương cốt họ đều được Chúa giữ gìn, dầu một khúc cũng không dập gẫy”. Và như thánh Phaolô viết:” Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo ?Như có lời chép : Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh “ ( Rm 8, 35-36 ). Tuy nhiên, thánh Phaolô viết tiếp:” Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta “( Rm 8, 37 ). Vâng, hàng hàng lớp lớp những người mặc áo trắng, tay cầm cành vạn tuế chiến thắng vào dự tiệc cưới trong Vương Quốc Thiên Chúa. Các thánh tử đạo đã kiên cường hiên ngang vì “Người công chính được Chúa thương cứu độ và bảo vệ che chở trong cơn ngặt nghèo “( Tv 36,39 ). Các Ngài đã hoàn toàn trung thành và hiên ngang với tình yêu cứu độ của Chúa như lời thánh Phaolô tông đồ nói:” …không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta”( Rm 8, 39 ).

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con không bao giờ chùn bước và đầu hàng trước những thử thách cam go.

Linh Mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT


 

24/11-67: NHỮNG CON NGƯỜI BẤT TỬ


CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Mt 10, 17-22

 

Hôm nay Hội Thánh Việt Nam long trọng mừng kính các thánh tử đạo, những vị anh hùng đa: 24/11-67


Hôm nay Hội Thánh Việt Nam long trọng mừng kính các thánh tử đạo, những vị anh hùng đã đổ máu đào minh chứng cho bộ mặt đầy yêu thương của Chúa Giêsu. Các thánh tử đạo Việt Nam là ai ? Lễ các thánh tử đạo Việt Nam nói gì cho chúng ta ?

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO LÀ AI ?

Đọc lại lịch sử của Giáo Hội Việt Nam chúng ta không khỏi ngạc nhiên vì tinh thần bất khuất của các thánh tử đạo. Các Ngài là những bậc tổ tiên, cha ông của chúng ta. Có những vị là bà con thân thích, là người đồng hương, là người cùng giáo xứ, giáo họ, làng thôn của chúng ta. Các thánh tử đạo Việt Nam đã sống tinh thần tám mối phúc thật. Các Ngài là những người đã dám sống đức tin, đã liều mình hy sinh, đổ máu đào để chứng minh cho Chúa Giêsu, để giới thiệu cho mọi người về con người đích thực của Chúa Giêsu. Lịch sử Giáo Hội Việt Nam thuật lại rằng:”  Ngày 19/3/1615 khi hai vị thừa sai đầu tiên là Alexandre de Rhodes và Marquès tới cử Bạng, ngoài Thanh Hóa, các Ngài đã thấy trên một mỏm đá ở giữa dòng sông, hình một cây thánh giá vẽ bằng vôi, không biết từ bao giờ và không biết ai đạ vẽ”.

Các Đấng hiểu đây là dấu chỉ Hội Thánh của Chúa sẽ gặp nhiều thử thách, khó khăn. Trong suốt lịch sử loan báo Tin Mừng đã hơn 300 năm thì 300 rao giảng Đức Kitô với nhiều thăng trầm, với nhiều biến động, nhiều người Kitô hữu nam, nữ, già, trẻ, lớn, bé đã phải đổ máu đào minh chứng cho bộ mặt đầy yêu thương là Đức Giêsu Kitô.  Hơn mười vạn người đã ra đi vĩnh viễn. Tuy nhiên, sử gia Tertullien đã viết một câu rất chí lý:” Máu tử đạo là hạt giống nẩy sinh người tín hữu”. Câu nói này phù hợp với lịch sử Hội Thánh Việt Nam. Bởi vì, Giáo Hội La Mã xưa cũng đã cống hiến rất nhiều vị tử đạo, nhưng Hội Thánh Việt Nam sau Hội Thánh La Mã, đã dâng hiến cho Thiên Chúa nhiều thánh tử đạo hơn cả. Hơn mười vạn Kitô hữu đã ra đi vĩnh viễn: Trong số ấy 117 vị đã được tôn phong hiển thánh và một vị nữa là Anrê Phú Yên đã được nâng lên hàng chân phước.

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO ĐÃ LÀM GÌ CHO GIÁO HỘI ?

Các thánh tử đạo Việt Nam là những chứng nhân cho Chúa Giêsu. Các Ngài đã sống cuộc đời như chúng ta, đã chia sẻ đức tin với chúng ta. Họ là tổ tiên, cha ông, mẹ cha và anh chị em, những người làng xóm của chúng ta. Họ đã sống niềm tin thật son sắt. Họ đã đổ máu đào, hy sinh cả mạng sống để làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô hầu họa lại con người của Chúa Giêsu  đã từ bỏ thân mình để  đem lại hạnh phúc cho nhân loại:” Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống mình vì người mình yêu”( Ga 15, 13 ). Các thánh tử đạo đã lựa chọn làm chứng tá cho Chúa Giêsu. Các Ngài đã làm môn đệ, đã loan truyền Chân Lý cho Chúa Giêsu. Họ là muối, là men cho đời. Sự hy sinh của các Ngài đã xây dựng Giáo Hội Chúa Kitô cách vững bền.

Các Ngài là những Giám Mục, Linh Mục, Nữ Tu, Thầy giảng, các Kitô hữu đã hiên ngang, kiên cường tuyên xưng đạo Chúa và chết vì Chúa. Chính vì thế, Giáo Hội Việt Nam càng ngày càng sinh hoa tươi tốt và phát triển không ngừng.

CON ĐƯỜNG CỦA CÁC THÁNH TỬ ĐẠO LÀ CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ NHƯNG ĐẦY VINH QUANG:

Các thánh tử đạo đã đi con đường của Chúa đã đi. Các Ngài đã kê vai vác thập giá để theo chân Chúa Giêsu. Trong cuộc đời theo Chúa, các thánh tử đạo đã hết lòng vì đạo, đã lắng nghe lời Chúa, thực thi lời Chúa và đem lời Chúa ra thực hành trong đời  sống của mình. Các Ngài dù gặp bất cứ hoàn cảnh nào: lúc thuận hay lúc nghịch cũng luôn trung kiên với Đạo Chúa, cũng luôn kiên vững với con đường Chúa đã vạch ra.

Là con cháu các thánh tử đạo, chúng ta noi gương bắt chước các Ngài:” Hạt lúa mì rơi vào lòng đất có chết đi, có thúi đi, mới trổ sinh bông trái”. Các thánh tử đạo Việt Nam đã thà chết chứ không thà chối bỏ đứctin. Con cháu của các Ngài há lại quên những tấm gương anh hùng của tổ tiên, cha ông trong việc tuyên xưng đức tin sao ?

TỬ ĐẠO LÀ SỐNG TÌNH YÊU:

Chính vì yêu thương loài người, yêu thương con người, Chúa đã chết nhuốc hổ trên thập giá để cứu độ nhân loại, cứu rỗi con người. Vì thương Chúa, yêu con người, các thánh tử đạo đã coi thường mạng sống không hề bỏ Chúa, không hề chối đạo. Các thánh tử đạo là những con người chết vì yêu và sống vĩnh cửu vì yêu. Thập giá là cây đẹp nhất đối Chúa và đối với những người có lòng tin. Các thánh tử đạo là những chứng nhân sáng ngời về niềm tin. Các Ngài đã thắp sáng đức tin, các Ngài mong cho con cháu của các Ngài cũng hiên ngang đốt sáng đức tin mãi mãi để Hội Thánh Việt Nam càng ngày càng tươi xinh. Mừng lễ các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta cảm tạ tri ân Chúa vì Ngài đã ban cho Giáo Hội Việt Nam nhiều thánh tử đạo tốt lành và quí giá.

Lạy các thánh tử đạo Việt Nam, xin cầu cho Hội Thánh Việt Nam và Quê hương thân yêu Việt Nam. Amen.

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT


 

24/11-68: KÍNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM


(18-11-2001)

NGHE:

* Bài đọc 1: Kn 3,1-9:

Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa, và chẳng cực hình nào động tới được nữa. Kẻ ngu dại coi họ như đã chết, cho là họ gặp điều bất hạnh, nhưng thực ra họ đang được hưởng bình an. Người đời nghĩ họ đã bị trừng phạt, nhưng họ vẫn tràn trề hy vọng được trường sinh bất tử.Thiên Chúa đã luyện cho họ như vàng trong lửa, và đón nhận họ như của lễ toàn thiêu. Họ sẽ rực sáng như tia lửa..sẽ xét xử muôn dân và cai trị muôn nước. Những ai trông cậy vào Chúa sẽ am tường sự thật và những ai trung thành thì được Chúa yêu thương và cho ở gần Người.

* Bài đọc 2: 1 Cr 1,17-25:

Quả vậy, Đức Ki-tô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng, và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo, để thập gía Đức Ki-tô trở nên vô hiệu. Thật thế, lới rao giảng về thập gía là một sự điện rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa. Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do thái hay Hy lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người.

* Bài Tin Mừng: Mt 10,17-22: Đức Giê-su tiên báo những cuộc bách hại

Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy để làm chứng cho họ và cho các dân ngoại biết. Khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em!

Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.

NGẪM:

* Câu hỏi gợi ý:

 

Ý nghĩa của bắt bớ, bách hại vì niềm Tin?  2.  Ngày nay chúng ta phải sống và làm chứng niềm Tin : 24/11-68


1.     Ý nghĩa của bắt bớ, bách hại vì niềm Tin?
2.     Ngày nay chúng ta phải sống và làm chứng niềm Tin như thế nào để không thẹn với cha ông?

* Suy tư gợi ý:

1.    Ý nghĩa của bắt bớ, bách hại trong Công giáo?

Chúng ta có thể khẳng định: Lịch sử của các Giáo hội cũng là lịch sử của những cuộc bách hại. Bắt bớ, bách hại luôn đi liền với những kẻ tin nhận Đức Giê-su Ki-tô là Chúa. Thật ra ngay từ trong Cựu Ước, những người tin vào Thiên Chúa Gia-vê cũng đã phải trải qua những cơn gian nan, thử thách vì niềm Tin (bài đọc 1).

Vậy thử hỏi: Tại sao người tín hữu thường bị bắt bớ và bách hại? Lịch sử cho ta thấy người tín hữu bị bắt bớ, bách hại thường vì một trong hai hoặc vì cả hai lý do sau: bị người đời hiểu lầm và ghen ghét. Nhưng với cái nhìn được Thánh Kinh soi sáng, thì chúng ta thấy bắt bớ, bách hại vì niềm Tin có ý nghĩa sâu xa hơn. Đó là để niềm Tin của chúng ta được thử thách & tôi luyện. Miếng hay thỏi vàng chỉ tinh ròng sau khi được cho vào lửa tinh luyện. Niềm Tin Ki-tô của chúng ta chỉ vững vàng, kiên định, tinh tuyền và trong sáng qua gian nan thử thách. Đức Giê-su là "hiện thân sống", là minh họa tuyệt vời về sự kiện ấy: Một đàng Đức Giê-su bị những người cầm quyền Do Thái và Roma kết án loại trừ, vì họ cho rằng Người là mối nguy hiểm cho địa vị, chứùc quyền của họ. Mặt khác chính qua khổ nạn thập giá mà Đức Giê-su chứng minh được lòng thảo hiếu, tuân phục đối với Cha và lòng yêu thương đối với loài người. Sự khổ nạn thập giá ấy là con đường dẫn tới phục sinh.

Các vị tử đạo trong Giáo hội công giáo Roma cũng đã có chung thân phận với Đức Giê-su. Gần gũi thân thiết với chúng ta hơn là 117 thánh tử đạo và hàng ngàn hàng vạn các vị tiền bối Việt Nam cũng là những người đã chết vì đạo mà nguyên nhân chính là hiểu lầm và ghen ghét. Các vị ấy đã kiên cường và anh dũng minh chứng lòng Tin của mình. Vì thế mà ngày hôm nay toàn thể Giáo hội Việt Nam mừng kính các Ngài một cách trọng thể và nhận các Ngài làm Bổn Mạng.

2. Ngày nay chúng ta phải sống và làm chứng niềm Tin như thế nào để không thẹn với cha ông?

Lịch sử đã qua, chúng ta không thể thay đổi được. Điều chúng ta có thể làm là từ lịch sử rút ra những bài học cho đời sống đức Tin. Sau đây là một vài gợi ý để chúng ta suy nghĩ và thực hiện:

1. Cha ông chúng ta đã lấy máu đào để nói lên lòng tin cậy phó thác và trung thành với Thiên Chúa. Chúng ta hãy biết dùng mọi phương thế để củng cố và trau dồi niềm Tin: cầu nguyện, tĩnh tâm, nghiên cứu, học hỏi. Chắc chắn việc ấy đòi chúng ta phải hy sinh thời giờ, tiền bạc, công sức; buộc chúng ta phải chấp nhận mất mát, thiệt thòi ở một mức độ nào đó. Nhưng so với cái chết khổ hình thập giá của Đức Giê-su, Chúa chúng ta và với bao cực hình của các Vị Tử đạo cha ông chúng ta, thì có thấm vào đâu!

2. Dù bị oan và bị hành hạ trăm điều, cha ông chúng ta không một lời than trách, không một chút hận thù đối với vua quan hay lý hình, mà trái lại luôn tôn kính, yêu thương, khoan dung, tha thứ chúng ta hãy nỗ lực sống khiêm nhường, yêu thương, hòa đồng và phục vụ đồng bào anh em theo tinh thần Phúc âm mà Thư Chung Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 1980 và 2001 đã triển khai.

3."Máu các thánh Tử đạo là hạt giống đức Tin". Máu cha ông chúng ta đã thấm vào từng thớ đất hình chữ S này, tứùc hạt giống đức Tin đã được gieo vào lòng đất nước và quê hương Việt Nam yêu dấu. Chúng ta hãy đóng góp phần riêng của mình vào việc làm cho hạt giống đức Tin ấy nẩy mầm, mọc thành cây và sinh hoa kết trái cho Mùa Gặt Nước Trời. Nói cách khác chúng ta hãy trở thành những người loan báo Tin Mừng cho đồng bào, anh em.

NGUYỆN:

Lạy Thiên Chúa là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ Cha đã cho chúng con vinh dự làm con cháu các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Nhưng Cha ơi, vinh dự cũng có nghĩa là trách nhiệm, xin Cha ban sức mạnh cho chúng con để chúng con đủ sức chu toàn trách nhiệm cao trọng ấy, bằng đời sống chứng tá của chúng con trong xã hội Việt Nam hôm nay.

Lạy Chúa Giê-su là Hạt Giống Vĩ Đại mà Thiên Chúa Cha dã gieo vào lòng đất. Xin Chúa ban sức mạnh và tình yêu cho chúng con để chúng con cũng trở thành những hạt giống Tin Mừng gieo vào lòng xã hội Việt Nam hôm nay.

Lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng con hãnh diện được làm con cháu các Ngài. Xin các Ngài cầu bầu cùng Thiên Chúa cho chúng con dũng khí, lòng kiên cường, đức hy sinh, lòng trung thành với niềm Tin, để chúng con vượt thắng mọi trở ngại từ bên ngoài cũng như từ chính trong tâm hồn chúng con trong đời sống chứng tá hôm nay.

(Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội).


 

24/11-69: TỈNH THỨC TRƯỚC CƠN BÁCH ĐẠO MỚI


Suy niệm Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

 

Là người Công Giáo Việt Nam, chúng ta rất hãnh diện về Cha ông của chúng ta, Các Thánh: 24/11-69


Là người Công Giáo Việt Nam, chúng ta rất hãnh diện về Cha ông của chúng ta, Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Không chỉ là 117 vị hiển thánh, mà có cả trăm ngàn tín hữu đã anh dũng làm chứng cho Thiên Chúa. Không chỉ có thời các vua Chúa cấm cách, mà ngay cả thời nay, Đức Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận và cuộc sống nhân chứng của Ngài là một tiêu biểu.

Vì niềm tin tuyệt đối và trung kiên vào Thiên Chúa, vì tình yêu mãnh liệt đáp lại tình yêu tạo dựng và cứu chuộc, vì bừng bừng ngọn lửa khát khao được sống trọn vẹn và vĩnh cửu trong thế giới mới của Ba ngôi Thiên Chúa, mà Cha ông của chúng ta đã không ngần ngại từ chối sự sống hay hư nát của thân xác phàm trần để tuyên tín cho thiên hạ biết rằng có một đời sau vĩnh cửu, hạnh phúc thiên thu.

Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã bị cấm cách, bức bách, bắt bớ, tù đày, lăng mạ, lăng nhục và cuối cùng chấp nhận chết cuộc sống mình, chết thân xác mình, bằng trăm ngàn cực hình dã man, đau đớn. Sức mạnh để vượt qua và chiến thắng của họ là nhân đức cơ bản, là nguồn ơn cơ bản Tin Cậy Mến mà Thiên Chúa ban riêng cho mỗi con người và ơn hiệp nhất ban cho cộng đoàn làm chứng tá phục sinh. Tuyệt đối không phải là sức mạnh của tập thể theo nghĩa phong trào, có tính hời hợt, nhất thời đấu tranh cho một quyền lợi thuộc phạm vi trần thế.

Họ đã không bắt chước nhau tử đạo vì danh vọng trần thế là để tiếng lại cho đời sau, nhưng là vì họ xác tín một cuộc sống mới được phục hồi sau cái chết quí giá và ý nghĩa ấy: cái chết làm chứng cho Chúa Kitô đã chết và đã sống lại, cái chết để sống lại với Đức Kitô. Họ đã thực thi lời huấn thị của Tin Mừng: “từ bỏ chính mình”: vì xác tín sự sống mình có được là do Thiên Chúa, và thuộc về Thiên Chúa; “vác thập giá mình”: chấp nhận tất cả những thương khó trong đời theo Chúa Giêsu, để ý định cứu rỗi của Thiên Chúa Cha được thực hiện, cho mình và cho mọi người.

Đối với các Thánh Tử Đạo Việt Nam, bước qua thập giá là từ chối ơn cứu chuộc của Đức Kitô, là bội tín với Thiên Chúa. Vì thế, khi cuộc bách đạo càng khốc liệt, càng đẫm máu, thì niềm tin của họ càng được nung nấu, được tôi luyện thành sắt thép vững chắc nhờ đức mến nồng nàn và đức cậy trông mạnh mẽ.

Giáo hội Việt Nam thừa hưởng một di sản Đức tin quí báu, vì nhờ máu các Ngài đổ ra, mà cánh đồng truyền giáo trổ sinh muôn hạt vàng tín hữu.

Noi gương Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Theo gương các Thánh Tử Đạo Việt Nam, các tín hữu Việt Nam đã kiên trung trong đời sống đức tin cá nhân và cộng đoàn thật đáng khâm phục. Qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử đất nước, qua bao nhiêu đổi thay của ý thức hệ… nhưng giáo lý Chúa Kitô và niềm tin vào Thiên Chúa vẫn ngời sáng trên quê hương không chỉ nghèo nàn lạc hậu mà còn chịu bao thảm họa của thiên tai, dịch nạn..

Tuy nhiên, khi mừng lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam, cũng là lúc mà mỗi chúng ta phải nhìn lại đời sống chứng tá của mình và của cộng đoàn.

Ở đấng bậc nào trong giáo hội, trong đời sống hằng ngày, tất cả chúng ta đều phải đối diện, phải đặt mình trước thập giá, không phải để chúng ta bước qua, mà là để ôm lấy, yêu mến, hôn kính và nhất là vác đi trong cuộc đời.

Ngày xưa những khổ hình có thể nói là kinh khủng lắm, man rợ lắm dành cho ai không bằng lòng bước qua thập tự giá. Thời nay, cuộc bức bách mới dùng cách làm cho tín hữu không thấy dữ tợn mà hiệu quả không kém kinh khủng hay có thể nói còn kinh khủng hơn: chiêu bài đổi hướng niềm tin và tình yêu.

Chúng ta không thấy mình đang bước qua thập giá, khi chúng ta yêu mến của cải tiền bạc, tiện nghi vật chất và những khoái lạc trần gian hơn là yêu mến Chúa. Hơn nữa, chúng ta vẫn thấy mình rất xứng đáng vì những việc đạo đức, những việc tông đồ. Chúng ta không thấy mình bước qua thập giá, khi mình đang làm việc Chúa để tìm chút hư danh cho mình. Hướng đến của Tình yêu chúng ta là Chúa, đối tượng duy nhất của lòng trí chúng ta là Thập giá Chúa Kitô, nhưng tài hoa của ma quỉ đã khéo léo chuyển hướng đến của tình yêu chúng ta là chính chúng ta.

Quả thật, chúng ta đang không làm chứng cho một Thiên Chúa, nhưng chúng ta đang làm chứng cho chính mình, khẳng định chính mình, củng cố danh dự chính mình. Chúng ta đang bước qua thập giá mà không hề hay biết. Không tỉnh thức trước những âm mưu của ma quỉ, chúng ta có thể nằm gọn trong đúng mục tiêu, đúng tầm ngắm của cuộc bách đạo mới.

Tỉnh thức trước cơn bách đạo thời nay

Mục tiêu của cuộc bách đạo thời nay vẫn là cản trở, ngăn cấm con người đến với Thiên Chúa, hoặc bằng mọi giá, cắt đứt tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Một loại gông cùm xiềng xích mới, một loại nhà tù hiện đại đang được sử dụng khắp nơi trên thế giới.

Mục tiêu của cuộc bách đạo mới không chỉ đơn thuần là việc bắt bớ, bỏ tù một vài người đấu tranh cho tự do nhân quyền, cho tự do tôn giáo, nhưng là bỏ tù cả ngàn ngàn người trong cái vỏ ốc cầu an, trong cái hố bằng lòng về sự tự do xem như là tạm đủ, trong cái túi chấp nhận một loại tự do ảo tưởng, trá hình mà thực ra đó là thứ tự do làm nô lệ.

Cũng vậy, việc đập phá một ngôi thánh đường, chưa bằng đập phá cả triệu cung điện của Thiên Chúa nơi tâm hồn các tín hữu bằng những chủ thuyết vô thần, vô luân, vô vọng tưởng một đời sau… để không còn hòn đá nào trên hòn đá nào, không còn một định luật tôn giáo nào, không còn một nguyên tắc đạo đức nào, không còn niềm tin tôn giáo nào trong chính tâm hồn người công giáo.

Nhận lãnh bí tích rửa tội để có một danh xưng, hoặc hợp thức hóa một tình trạng. Và các bí tích Kitô giáo khác được lãnh nhận tiếp theo như một thủ tục-Cung điện của Thiên Chúa là một bức họa không hơn.

- Việc đóng cửa nhà thờ, không cho các tín hữu hành đạo làm sao nguy hiểm bằng để tự họ cảm thấy việc đến nhà thờ không còn cần thiết hơn việc xem phim, giải trí và các tiêu khiển khác của một đất nước đang có đủ thứ món ăn chơi.

- Làm cho cánh cửa tâm hồn các tín hữu tự đóng lại để không đón nhận được Thiên Chúa, và tự mở ra để đón nhận những trào lưu thế tục là mục tiêu cuộc bức bách nguy hiểm vô cùng.

- Tâm hồn các trẻ thơ vừa có trí khôn, mới mở ra với cuộc đời, đã đón nhận bài học con người bởi khỉ mà ra, để sẽ sống như khỉ và chết như con khỉ - cuộc bức bách về giáo dục không Thiên Chúa.

- Mới ngày nào đây, lương tâm các đôi vợ chồng, nhất là các tín nữ còn đắn đo, do dự khi phải chọn cho mình một cách tránh thai hợp với luật Thiên Chúa, và cương quyết bảo vệ sự sống đến cùng thì hôm nay, lương tâm ấy đã chai đi và có thể chấp nhận bất kỳ một phương pháp nào để khước từ thiên chức làm Mẹ. Hơn thế nữa, không những khước từ ơn tiếp tục cuộc sáng tạo của Thiên Chúa, mà còn có thể hủy hoại quà tặng tuyệt vời của Thiên Chúa ở bất kỳ tháng tuổi nào.

- Không cần thiết phải cấm các em học giáo lý, vì biết chắc những trang giáo lý khô khan kia sẽ không hấp dẫn bằng những trò chơi vô bổ hàng giờ trên máy vi tính ở các dịch vụ internet, hoặc những trang web có sức gieo vào đầu các em một kiểu sống vô luân. Vì thế cuộc bách đạo hướng đến việc sản xuất và du nhập hàng loạt phim ảnh như những viên đạn đồng bắn nát đức tin và luân lý của cả một thế hệ.

- Còn một điểm nhắm quan trọng hơn cả của cuộc bách đạo là làm rạn nứt sự hiệp nhất giáo hội, mà phải là sự rạn nứt bắt đầu từ những vị thẩm quyền cao nhất, đến các thành phần ưu tú nhất, rồi đến những cộng sự thân cận, xuống đến các tín hữu. Tinh thần thế tục luồn lách vào trong mọi bất đồng gây nên những xáo trộn nội bộ không đáng có, dẫn đến những rẽ chia đáng tiếc.

Mừng kính lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam không ch