Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 2-B Bài 51-100 Các môn đệ đầu tiên

Thứ năm - 11/01/2018 09:29
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 2-B Bài 51-100 Các môn đệ đầu tiên
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 2-B Bài 51-100 Các môn đệ đầu tiên
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 2-B Bài 51-100 Các môn đệ đầu tiên

TN2-B51. GIỚI THIỆU ĐỨC KITÔ.. 2
TN2-B52. CÁI GIÁ PHẢI TRẢ ĐỂ LÀ MÔN ĐỆ CHÚA.. 3
TN2-B53. NƠI NGƯỜI Ở.. 8
TN2-B54. GIỚI THIỆU.. 11
TN2-B55: “TUYẾT XUỐNG PHƯƠNG NÀO, LẠNH LẮM KHÔNG ?...”. 13
TN2-B56: “YÊU KẺ THÙ VÀ CẦU NGUYỆN CHO NHỮNG NGƯỜI 17
TN2-B57. Các Môn Đệ Đầu Tiên. 20
TN2-B58. CÁC ANH TÌM GÌ THẾ?. 30
TN2-B59. “HÃY QUÊN ĐI CÁI TÔI .. . ”. 32
TN2-B60: HÃY ĐẾN MÀ XEM... 34
TN2-B61: ĐẾN MÀ XEM... 36
TN2-B62: Chúa Nhật 2 Thường niên, B.. 37
TN2-B63: CHÚA NHẬT 2 MÙA THƯỜNG NIÊN.. 41
TN2-B64: THEO TIẾNG CHÚA GỌI 45
TN2-B65: CHÚA NHẬT 2 QUANH NĂM... 46
TN2-B66: THỜI ĐIỂM CHÀNG DŨNG SĨ VÀ CON NGỰA HỒNG.. 49
TN2-B67: Trở nên Đền Thờ Thiên Chúa. 52
TN2-B68: Đây thật là Con Chiên Thiên Chúa. 53
TN2-B69: DẪN ĐƯỜNG THEO CHÚA.. 55
TN2-B70: Cuộc Hội Ngộ Thần Linh Sơ Khởi 57
TN2-B71: CHÚA GỌI 62
TN2-B72: Thi hành sứ vụ nhân danh Ngài. 65
TN2-B73: Này Chiên Thiên Chúa – Charles E. Miller. 67
TN2-B74: CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN.. 68
TN2-B75: Ơn gọi 70
TN2-B76: Gặp gỡ Tin Mừng. 71
TN2-B77: Giới thiệu Chúa cho anh em mình. 72
TN2-B78: Hãy đến mà xem – Lm. Ignatiô Trần Ngà. 74
TN2-B79: Hãy đến mà xem – ViKiNi 76
TN2-B80: Nghề mai mối 78
TN2-B81: Bước theo Đức Kitô trong cuộc sống hôm nay. 80
TN2-B82: Ơn gọi – Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm.. 83
TN2-B83: Chúng tôi đã gặp Đấng Cứu Thế. 85
TN2-B84: Họ đến và ở lại với Người 87
TN2-B85: Tiếng Chúa gọi – AM Trần Bình An. 91
TN2-B86: Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Văn Nam.. 95
TN2-B87: Chiên Thiên Chúa – Lm Vũ Đình Tường. 97
TN2-B88: Đây là Chiên Thiên Chúa. 98
TN2-B89: Chúa Nhật 2 Thường Niên. 100
TN2-B90: Được kêu gọi để ở lại 103
TN2-B91: Cách thức Thiên Chúa kêu gọi con người 105
TN2-B92: Hãy đến, xem và ở lại cùng Người 108
TN2-B93: Hãy đến mà xem.. 110
TN2-B94: Môn đệ Chúa Giêsu. 112
TN2-B95: Chúa Nhật 2 Thường Niên. 114
TN2-B96: Đến và ở lại – Anmai 116
TN2-B97: Lạy Thầy, Thầy ở đâu?. 119
TN2-B98: Ơn gọi theo Chúa. 122
TN2-B99: Hành trình hay là biến đổi 124
TN2-B100: Chúa Nhật 2 Thường Niên. 128

-----------------------------
 

TN2-B51. GIỚI THIỆU ĐỨC KITÔ

 

Ngày nay, vấn đề quảng cáo sản phẩm là không thể thiếu trên truyền hình, báo chí, phim ảnh: TN2-B51


Ngày nay, vấn đề quảng cáo sản phẩm là không thể thiếu trên truyền hình, báo chí, phim ảnh. Người ta dùng phương tiện truyền thông để làm thương mại giới thiệu sản phẩm. Khi đã xem, nghe, nhìn nhiều lần rồi, chúng ta sẽ nhớ và nghĩ đến nó. Ngay cả giới nhà tu bây giờ cũng cần có những chương trình giới thiệu các nhà dòng để tìm kiếm ơn gọi với nhiều hình thức khác. Dù dưới mọi hình thức nào, thì giới thiệu luôn là cách thức nhằm cho người khác biết về điều chúng ta muốn trình bày.

Thánh Gioan Tẩy giả giới thiệu Chúa Giêsu cho hai môn đệ đầu tiên là Anrê và Gioan, hai ông đã đi theo Chúa Giêsu.Trong Tin mừng thuật lại khi Chúa Giêsu đi ngang qua giữa đám đông, thì thánh Gioan nói: “ Đây là Chiên Thiên Chúa”. Câu nói rất đơn giản ấy lại có sức lôi cuốn hai môn đệ, cho dù các ngài vẫn chưa biết mình đi đâu và phải làm gì cho tương lai. Vậy đâu là động lực cho các ngài đi theo Chúa Giêsu? Vì đi theo Chúa thì các ông phải từ bỏ mọi thứ: gia đình, vợ con, của cải, nghề nghiệp… Tôi thiết nghĩ một trong những lý do, các môn đệ không những nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Messia mang lại ơn cứu độ cho họ, mà còn là Người có thể thay đổi cuộc đời của họ, để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn qua cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu. Đức cố Giáo Hoàng Gioan Pl II nói: “Gặp gỡ Đức Kitô là khởi điểm của mọi hành trình Đức Tin”.Thật vậy, chúng ta không thể sống đức tin mà lại không tin Chúa Đức Kitô là Đấng Cứu Độ thì thật là vô lý. Đức tin đó là đức tin chết và cũng chẳng mang lại lợi ích gì cho chính mình.

Hiện nay, chung quanh ta có biết bao người không tin thật sự vào Đức Giêsu, vào chân lý cứu độ. Trong số đó, có biết bao người mang danh là tin Ngài, nhưng thật sự chỉ là tin trên danh nghĩa, vì trong thực tế họ chỉ biết về Ngài rất mơ hồ, sự biết ấy không đủ sức mạnh để thúc đẩy họ sống và hành động trong đức tin. Ngay trong số chúng ta, những người tự xưng là Kitô hữu, chúng ta có thể tuyên xưng rất mạnh niềm tin của mình, thậm chí kết án những ai tin khác với mình, nhưng giữa niềm tin ấy và cuộc sống của ta là cả một sự xa cách.Tin trên lý thuyết và sống trong thực tế không trùng hợp với nhau, lý và sự, chủ trương và hành động, nói và làm khác xa nhau. Điều đó chứng tỏ chúng ta chưa thật sự tin.

Thánh Giacôbê nói: “Một thân xác không hơi thở là một xác chết, cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2,26; x.2,17). Nhiều khi chúng ta tưởng mình có đức tin, nhưng đức tin ấy xét cho nghiêm túc lại là thứ “đức tin chết”, những đức tin giả hiệu, là “hàng giả”, loại rẻ tiền vì được mua với giá rẻ. Chính vì thế, Giáo Hội ngày nay mới nói đến vấn đề “tái phúc âm hóa”, nghĩa là giới thiệu lại Đức Giêsu cho những người đã biết Ngài, đã mang danh là tin Ngài, để họ tin Ngài một cách đích thực hơn.

Hình ảnh đã đánh động trong tôi đã xẩy ra vào một buổi sáng khoảng 5 giờ sáng tại phi trường Washington Dulles. Khi tôi tỉnh vừa dậy thì thấy ba chàng thanh niên khoảng 25-30 tuổi. Họ quỳ gối, cúi mặt xuống đất và quay về hướng mặt trời mọc để cầu nguyện. Qua hành động của họ, tôi thấy họ có một đức tin rất mạnh mẽ. Chính thái độ tôn kính của họ cho tôi nghĩ về đến hành động đức tin của mình, nhiều khi đức tin chỉ có ở trong nhà thờ, nên chất muối men của ta rất nhạt nhẽo không có tác dụng gì cho người chung quanh. Tệ hơn nữa, chính thái độ sống của ta đã làm méo mó hình ảnh của Đức Kitô qua thái độ sống. Trong khi đó, mỗi người chúng ta đều mang danh là người Kitô hữu, là con cái của Chúa Kitô.

Các tông đồ đi theo Chúa là chấp nhận từ bỏ, bị kết án và chết cho Đức Kitô, để chứng minh niềm tin cho anh em lương dân nhận ra khuôn mặt của Chúa Giêsu. Các ngài giới thiệu Chúa cho người khác bằng chính đời sống và việc làm cụ thể chứ không phải trên môi miệng. Một sản phẩm tốt không chỉ bao bì đẹp mắt bên ngoài nhưng là chất lượng sản phẩm bên trong. Một người sống đức tin đích thực là không chỉ tin và thực hành lời Chúa dạy, mà là trở nên muối men cho mọi người chung quanh, đó là chính cách giới thiệu Chúa Giêsu cho người khác.

Lạy Chúa, xin cho chúng con khi gặp gỡ Đức Kitô là biến đổi cuộc đời mình. Khi gặp Đức Kitô là chúng con đón nhận ơn tái sinh. Khi gặp gỡ Đức Kitô là chúng con chân thành mình gặp mình. Khi gặp gỡ Đức Kitô là chúng con nảy sinh tình đệ huynh”. Amen.


 

TN2-B52. CÁI GIÁ PHẢI TRẢ ĐỂ LÀ MÔN ĐỆ CHÚA


(Suy niệm Phúc Âm Chúa Nhật 2 thường niên B)
(1Samuel 3:3b-10; 1Corinthians 6:13c-15a,17-20; John 1:35-42)
Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD


 

Khi suy niệm những bài đọc của Chúa Nhật hôm nay, đặc biệt lời Chúa kêu gọi Samuel, An Rê: TN2-B52


Khi suy niệm những bài đọc của Chúa Nhật hôm nay, đặc biệt lời Chúa kêu gọi Samuel, An Rê và em ông, tôi nhớ đến một điều mà Dietrich Bonhoeffer, mục sư Tin lành Lutheran người Đức đã viết từ trong nhà tù Đức Quốc Xã:“Chỉ có sống thành thật với bổn phận, những khó khăn, những thành công hay thất bại, những kinh nghiệm hay những xáo trộn của cuộc đời…một cách thoải mái, không chút dè dặt gì cả, mới có thể làm cho người ta trở thành con người thực sự và một Kitô hữu đích thực”. Bonhoeffer đã trải qua những kinh nghiệm về điều mà ông đã gọi một cách cay đắng là “Cái Giá Phải Trả Đề Làm Môn Đệ”.

THÒI ĐẠI MỚI CỦA SAMUEL

Tiên tri Samuel, ông An Rê và Simon Phêro đã trải qua cái giá này trong chính cuộc đời của các ông. Chúng ta thử coi lại câu chuyện Chúa kêu gọi Samuel xem nó thế nào. Đây là câu chuyện khá cảm động, nói lên lời kêu gọi rất sống động của Chúa, đồng thời cũng đưa ra cho chúng ta một mẫu mực phải theo trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Eli thì đã già rồi, mắt thì gần như mù, không còn trông thấy gì nữa. Các con trai ông lúc đó là những thầy cả ở trong đền thờ, thì lại chẳng còn tin vào Chúa gì cả. Thời đại của họ coi như gần tàn, do đó Chúa đã kêu gọi Samuel bắt đầu một thời đại mới.

Samuel cần sự giúp đỡ để ý thức được tiếng Chúa kêu gọi mìnhh. Sự khôn ngoan của Eli và tình bạn nơi một người trẻ lúc đó quả là cần thiết để Samuel có thể thực sự nghe ra tiếng gọi của Chúa. Có lần Samuel nhận ra là Chúa đã gọi ông thực sự, và ông đã trở thành một nhà đại tiên tri, có thể nhận ra được ý Chúa muốn đối với dân Ngài về những vấn đề chính trị, xã hội và tôn giáo.

CHÚA NÓI, TA NGHE hay TA NÓI, CHÚA NGHE ?

Khi chúng ta đến quì gối trước mặt Chúa để lắng nghe tiếng Chúa nói thì lời cầu khẩn thắm thiết của chúng ta từ đáy lòng sẽ phải là: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy nói, tôi tớ Chúa đang lắng nghe đây.” Nhưng phải chăng tiếng kêu van đó lại thường đổi thành: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy lắng nghe, tôi tớ Chúa đang nói đây!”

NHỮNG TIẾN TRÌNH LẮNG NGHE

Trong kỳ Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới năm 2008 bàn về “Lời Chúa trong cuộc sống và sứ mạng của Giáo Hội”, Giám mục Luis Antonio Tagle thuộc giáo phận Imus ở Phi Luật Tân, đã đưa ra một tiến trình lắng nghe rất đặc sắc. Giám mục trình bày cách bố cục của sự lắng nghe lời Chúa hầu có thể giúp con người đạt tới đời sống thực. Ngài nói:

-“Lắng nghe là một việc hệ trọng. Giáo Hội cần phải đào tạo ra những người biết nghe lời Chúa. Nhưng việc lắng nghe không thể chỉ chuyển đạt bằng giảng dạy mà còn

phải có được môi trường để lắng nghe.”

Giám mục Tagle đề nghị ba điểm để phát triển cách nghe:

1. Lắng nghe trong niềm tin, nghĩa là phải mở rộng lòng mình ra để đón nhận lời Chúa, để lời Chúa thấm nhuần trong ta hầu biến cải chúng ta rồi đem ra thực hành. Cách thức này tương đương với đức vâng lời trong niềm tin. Học tập lắng nghe liên hệ đến tạo lập đức tin

2. Thiếu lắng nghe, những biến cố ở đời sẽ đưa tới những hậu quả thảm hại, sẽ gây ra những sung đột trong gia đình, những khác biệt giữa thế hệ này với thế hệ nọ, quốc gia này với quốc gia kia, giữa bạo động và an bình. Con ngưới bị đóng khung trong môi trường độc thoại, hững hờ, ồn ào, cố chấp và vị kỷ. Do đó, Giáo Hội cần phải cung ứng một môi trường đối thoại, mọi người biết nể trọng, hỗ tương nhau hầu giúp con người thăng tiến khá hơn.

3. Thiên Chúa phán và Giáo Hội là tôi tớ, lấy tiếng nói của mình làm Lời Chúa. Nhưng Thiên Chúa không chỉ nói mà thôi, Ngài cũng lắng nghe, nhất là lắng nghe những người công chính, góa bụa, mồ côi, những kẻ bị áp bức truy nã và nghèo hèn không có tiếng nói. Giáo Hội phải học tập cách lắng nghe của Thiên Chúa và phải dùng tiếng nói của Chúa thay cho tiếng nói của những người không có tiếng nói.

TIẾNG CHÚA NÓI: HÃY ĐẾN MÀ COI

Trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay, chính Chúa Giêsu đã khởi sự bước đầu tiên. Câu Ngài hỏi các môn đệ hàm chứa một thắc mắc: “Các ông đang tìm kiếm cái gì đó?” (Ga 1: 38). Đây không phải là một câu hỏi đơn giản, mà là cả một vấn nạn rất thâm uyên và sâu sắc về tôn giáo và thần học. Chúa hỏi:

-“Tại sao các ông lại quay nhìn về ta để tìm câu trả lời?”

-“Thưa Thầy –các môn đệ trả lời- Thầy đang ở đâu?” (v 38)

Động từ “sống”, “ở lại”, “trú ngụ”, “trọ”, “ở”, “nghỉ” đếm thấy cả thảy có tới 40 lần trong Tin Mừng thánh Gioan. Đó là một động từ diễn tả rất rõ ràng ý nghĩa thần học của thánh Gioan về sự hiện diện của hai chữ “trú ngụ”.

Các môn đệ không phải chỉ quan tâm đến chuyện đêm nay Chúa sẽ ngủ ở đâu, mà thực ra còn muốn hỏi Chúa là “Chúa sống ở đâu”. Chúa hiểu ý các ông và đã trả lời:

-“Hãy đến mà coi.” (v 39).

Hai tiếng “đến” và “coi” đã trải dài xuyên suốt Tin Mừng thánh Gioan. Đối với Chúa Giêsu, tiếng “hãy đến” được dùng để diễn tả niềm tin vào Chúa (cf.Ga 5: 40; 6: 35,37,45; 7:37). Đối với ông Gioan, tiếng “hãy coi” có nghĩa là hãy nhìn kỹ chúa Giêsu để có một nhận thức thực và chính xác về Ngài mà tin Ngài.

CÁC MÔN ĐỆ ĐÃ TIN VÀO CHÚA

Các môn đệ bắt đầu cuộc sống môn đệ khi đi theo Chúa để coi xem Chúa ở lại đâu, và “các ông cũng ở lại với Chúa ngày hôm đó”(Ga 1: 39). Các ông đã đáp ứng lời mời gọi của Chúa và tin, các ông đã khám phá ra cuộc sống của Chúa là gì, và họ đã “ở lại” với Chúa. Các ông bắt đầu sống trong Chúa và Chúa ở trong các ông. Sau khi ông An Rê đã hiểu biết chín chắn và chính xác Chúa Giêsu là ai thì ông đã “đi kiếm anh mình”là Simon Phêro và “dẫn đến với Chúa”.(v 41, 42). Tất cả những kinh nghiệm này sẽ được hoàn thành khi mà các môn đệ nhìn thấy sự vinh quang khải hoàn của Chúa trên thập giá.

CHÚA GỌI CHÚNG TA VÌ LỢI ÍCH CỦA THA NHÂN

Cái gì có thể giúp chúng ta học hỏi được ở những bài đọc hôm nay nói về lời mời gọi của Chúa? Chúa không bao giờ mời gọi chúng ta vì lợi ích của chúng ta, nhưng là vì lợi ích của tha nhân. Chúa đã kêu gọi dân Israel vì lợi ích của những kẻ chưa nhận biết Chúa ở chung quanh họ. Chúa gọi tất cả những Kitô hữu vì lợi ích của cả thế giới mà chúng ta đang sống.

Để được mời gọi, chúng ta không cần phải là hoàn hảo, nhưng đòi hỏi phải trung thành và biết lắng nghe lời thánh. Samuel và các tiên tri của Israel, dân thuyền chài ở Galilee và ngay cả những người thu thuế mà Chúa Giêsu đã gọi, chắc chắn là họ được gọi không phải vì họ có đủ điều kiện hay đã làm được những việc trọng đại. Thánh Phaolo chả nói là Chúa Giêsu đã mời gọi những kẻ “điên khùng” làm cho những người khôn ngoan phải xấu hổ. Đó là một kiểu kêu gọi rất linh động có thể thích hợp với tất cả mọi đáp ứng của chúng ta. Chúng ta sẽ hoàn toàn đổi mới, bởi lẽ Chúa đã gọi chúng ta, đã yêu chúng ta, biến đổi chúng ta và làm cho chúng ta trở nên giống Chúa. Chúa đã gọi chúng ta, chúng ta không có chọn lựa nào khác ngoài việc kêu gọi mọi người đi theo Chúa.

ĐÔI LỜI KẾT

Chúng ta đã được gọi để thoát ra khỏi cuộc sống bình thưòng của chúng ta, khỏi những thất bại trong công việc đời sống hàng ngày của chúng ta thế nào? Mục đích mới của chúng ta là gì khi chúng ta bước theo con đường Chúa gọi? Qua ai và làm thế nào để chúng ta có thể tiếp nhận được tiếng Chúa gọi? Trong quá khứ hay gần đây chúng ta có kêu gọi được ai trở lại với Chúa không? Hay chúng ta không những đã chẳng gọi được ai theo Chúa mà ngược lại đã làm nhiều người, vì chúng ta mà xa rời Chúa.

Chúa đã gọi tôi, tôi có trách nhiệm kêu gọi mọi người bước theo Chúa, dù có gặp gian nan khổ ải. Đó là cái giá phải trả để là môn đệ Chúa.Thánh Phêro, thánh Phaolo đều chết treo trên thập giá như thày mình là Chúa Giêsu đã chết trên thập giá. Gần 200 thánh tử đạo Việt Nam đã chịu bao nhiêu cực hình, hy sinh mạng sống mình vì lời Chúa gọi; một Tgm Nguyễn Kim Điền, một cha chính Nguyễn văn Vinh của Hanoi và biết bao linh mục, tu sĩ, giáo dân anh hùng khác đã hiên ngang tuyên xưng danh Chúa để rồi phải chết trong những trại tù cực hình khốn khổ của csVN đã thực sự trả cái giá để là môn đệ Chúa.

Gian nan, khốn khổ, cơ cực, thánh giá…

Chắc chắn nó không phải là an thân, nhàn hạ, bổng lộc, chức quyền và hưởng thụ.

Fleming Island, Florida

Jan.26, 2012 (4 tháng Giêng, Nhâm Thìn)

NTC

CA VỊNH

(Cv 40: 2, 4, 7-10)
Rx. Lạy Chúa, con đây,…
con đến để nhận lời Chúa.

* Con đang đợi …
đợi chờ Chúa,
Chúa nghiêng mình trên con…
Và nghe tiếng con kêu cầu
Chúa cho con bài ca mới…
miệng lưỡi con ca tụng vinh danh Người. Rx.

* Chúa chẳng mong hy sinh hiến tế,
Chúa mở tai con để vâng nghe lời Chúa.
Lễ toàn thiêu, tạ tội Chúa không màng,
Con bèn nói “Lạy Chúa, con đã đến”. Rx.

*“Trong sách quí, Người đã chép cho con
lời Chúa dặn thì con phải làm.
Lạy Chúa, đấng làm con hoan lạc.
Luật của Chúa ghi tạc tim con”. Rx.

* Sự công chính con truyền loan
giữa hội trường, trước muôn loài…
Miệng lưỡi con không hề khép kín

Lạy Chúa, Chúa biết lòng con mến Chúa… Rx.


 

TN2-B53. NƠI NGƯỜI Ở

 

Ngay đêm Con Thiên Chúa đến trần gian trong thân phận bé thơ, lời kêu gọi của sứ thần đã: TN2-B53


Ngay đêm Con Thiên Chúa đến trần gian trong thân phận bé thơ, lời kêu gọi của sứ thần đã thôi thúc các mục đồng, các đạo sĩ có lòng đơn sơ ngay chính tìm đến viếng thăm “nơi người ở”. Thật là diễm phúc !

Lời Chúa hôm nay chỉ ra cho chúng ta “nơi Người ở” không đâu xa, chính ngay trong con người của chúng ta.

Qua trang Tin Mừng: Chúa Giêsu được Gioan giới thiệu “Đây là Chiên Thiên Chúa”, hai môn đệ Gioan đã đi theo Người. Người muốn xác minh ý định của hai ông: “Các ông tìm gì ?” Câu trả lời của hai ông lại là một câu hỏi “Thầy ở đâu ?”, cho thấy thành ý ban đầu của họ là cứ tin tưởng mà đi theo, và thành ý nối tiếp là xin được hiểu con đường mình đang đi, nơi mình sẽ đến. Chúa Giêsu đã không từ chối thành ý đơn sơ của họ, ngược lại, Ngài tha thiết mời gọi: “Hãy đến mà xem”. Và cuối cùng, “Họ đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy” ( x. Ga 1, 35 – 42  ).

Thế là đã có những ơn gọi “Kitô Hữu” đầu tiên trong Giáo Hội.

Ơn gọi Tân Ước dành cho những con người có lòng đơn sơ nhỏ bé cũng giống như ơn gọi trong Cựu Ước dành cho chú bé giúp lễ Samuen ngày xưa: “Dạ ! Con đây”, “Dạ, con đây, Thầy gọi con”. "Lạy Ðức Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe".

Và cũng vậy, khi đã ơn gọi đã hoàn tất, nghĩa là có kêu gọi, có đáp lời thì Thiên Chúa lại chọn cho mình một địa chỉ để cư ngụ: “Samuen lớn lên. Ðức Chúa ở với ông và Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu”. ( x. 1 Sm 3, 3b – 10 . 19  ).

Thiên Chúa cũng đã và đang mời gọi mỗi chúng ta và chờ nghe tiếng lòng đơn sơ của chúng ta đáp lời, để ‘Người ở với chúng ta, và chúng ta ở lại trong Người’.

Tôi bỗng nhớ chuyện người hành hương từ muôn nơi đổ về thánh địa, mong nhìn lại “nơi Người sinh ra, nơi Người lớn lên, nơi Người tử nạn, nơi Người Phục Sinh…”. Hình như ai cũng vui mừng, hãnh diện, và hân hoan trong lòng nếu được hành hương về Thánh Địa ít là một lần trong đời người. Thật là quí hóa. Nhưng từ Lời Chúa hôm nay, gợi cho tôi suy niệm rằng: Thánh Địa không ở đâu xa. Thánh Địa đang rất gần, đang ở đây: Thánh Địa chính là cõi lòng tôi, thân xác tôi. Đấng Emmanuen đã đến và đang ở trong mỗi con người. Chính trong thân xác yếu hèn đầy tội lỗi của mỗi con người lại là “nơi Người đã sinh ra, lớn lên, rao giảng Tin Mừng, tử nạn và phục sinh”.

Đó là chân lý của Tình Yêu Thiên Chúa dành cho con người. Vì quả thật, nếu con người không yếu hèn, không tội lỗi, thân xác con người không mang tính hay chết, thì Thiên Chúa đã không sai Con của Người xuống thế làm người. Con Người đến trong thế gian vì con người, để ở với con người. Vậy địa chỉ của Con Thiên Chúa, chính là con người. Người đã đến, và mời gọi con người mở cửa cõi lòng mình và thân xác mình ra để cho Người được sống cùng, sống với.

Như vậy, ơn gọi Kitô Hữu qua Bí Tích Thánh Tẩy, chẳng khác nào một lời van xin tha thiết của Thiên Chúa với mỗi con người rằng: hãy chấp nhận cho Đức Giêsu Kitô “ở với”, “ở trong” con người của mỗi con người. Và khi đã chấp nhận là Kitô Hữu, hẳn là chấp nhận hiến thánh cả thân xác linh hồn lòng trí mình cho xứng đáng làm “nơi Người ở” và “ở lại với Người”.

Thánh Phaolô đã quả quyết:

“Anh em không biết thân xác anh em là chi thể của Chúa Kitô sao ?” – “Anh em không biết thân xác anh em là đền thờ Chúa Thánh Thần, Đấng ngự trong anh em mà anh em đã nhận lãnh nơi Thiên Chúa, vì anh em không còn thuộc về chính mình nữa sao ?” Và Ngài khuyên bảo: “Anh em hãy xa lánh dâm dật… Hãy tôn vinh Chúa trong thân xác anh em” ( x. 1 Cr 6, 13c – 15a, 17 – 20  ).

Hóa ra, thân xác hay chết này, lòng trí ám muội này, con người tồi tệ này lại là địa chỉ của Thiên Chúa, là “nơi Người ở, nơi Người lớn lên, nơi Người rao giảng Tin Mừng, nơi Người chịu thương khó và phục sinh” đó sao ? Vâng ! Thân xác con người là Thánh Địa mới. Thật là diễm phúc cho thân xác con người. Thân xác được cứu chuộc.

Thế thì, dù ở bậc độc thân với lời khấn khiết tịnh, hay ở bậc hôn nhân gia đình, mỗi Kitô Hữu đều phải gìn giữ cho thân xác mình nên tinh tuyền, nên xứng đáng là “nơi Người ở”.

Đã và đang có những báo động đỏ về một cuộc suy đồi luân lý trầm trọng trên khắp thế giới, đặc biệt là suy đồi về Đức Trong Sạch. Con người ta đang để cho thân xác mình ra tự do buông tuồng theo hướng tự do dùng chính thân xác mình để tìm những lạc thú chóng vánh: tự do luyến ái, tự do sống thử, tự do đổi vợ đổi chồng, tự do kinh doanh trên thân xác phụ nữ, tự do ly dị, tự do phá thai… Người lỗi Đức Trong Sạch không chỉ là giới trẻ, mà còn là những người sống đời lứa đôi và kể cả những người sống đời dâng hiến.

Đáng tiếc cho những người ở bậc Giáo Dân, khi họ tự làm mờ nhạt đi, hoặc đánh mất sự thánh thiện của Hôn Nhân Công Giáo, dẫn đến tình trạng: cũng một hành vi nên công phúc, thánh thiện, đã biến thành một hành vi nên án phạt, tội lỗi.

Bởi vậy, không ít người cho rằng trong bậc sống hôn nhân thì thân xác không thể tinh tuyền được. Cách nào đó, cũng có lý của nó ! Có thể, vì họ không được giáo dục kỹ về Đức Trong Sạch vợ chồng chăng ? Hoặc còn tệ hơn nữa, họ lạm dụng Bí Tích Hôn Phối thành một bức màn che cho những tội về điều răn thứ sáu ngay đối với người bạn đời, mà họ cứ tưởng là không có tội. Thậm chí, có một số người làm cha mẹ cho rằng “lo tiến hành lễ hôn phối cho con, để tránh cho con mang tội dâm dục”, hoặc “để thực hiện hành vi vợ chồng mà không mắc tội…” Thực là sai lầm ! Họ không biết rằng việc tìm thỏa mãn dục vọng thấp hèn trong đời sống vợ chồng là nguyên nhân trước tiên làm ô uế “nơi Người ở”, ô uế “đền thờ Chúa Thánh Thần”, và sau là nguyên nhân của những hướng ngoại, dẫn đến những đổ vỡ, tan nát, đau thương bất hạnh…

Tuy nhiên, không nên quá bi quan trước bóng tối đang dày đặc này, bởi chúng ta tin tưởng Lời Chúa hôm nay như một thông điệp vừa cấp bách vừa có hiệu quả. Và còn đó, chung quanh chúng ta, những chứng nhân âm thầm nhưng anh dũng trong các gia đình Công Giáo vẫn giữ vững một “Hội Thánh tinh tuyền thu nhỏ”. Một cô Việt kiều trong Giáo Xứ tôi về ăn Tết kể rằng: “Mấy người Mỹ hỏi em: “Có gia đình chưa ?” – “Dạ có rồi” – “Được bao lâu rồi ?” – “Được gần 20 năm rồi”. Họ ngạc nhiên lắm: “Sao mà giỏi thế !?! Sao giữ được lâu vậy ?!? Sống với nhau 5 năm là đã quá lâu rồi !”

Hoặc, trong một cuộc “hội thảo về gia đình” nọ, có một thuyết trình viên nặng lời quá đáng với những người sống bậc lứa đôi. Đến giờ thu lại những sẻ chia trên giấy, ban tổ chức nhận được mấy mẩu giấy có ghi những hàng chữ dễ thương như sau: “Là những người sống đời lứa đôi, chúng tôi không chấp nhận bị mang tiếng là những người dâm dật, nhưng là những người khó khăn nhất trong việc chọn lựa giữa hai con đường thanh khiết và thấp hèn. Hãy cầu nguyện cho chúng tôi”.

Ơn gọi Kitô hữu, một ơn gọi quí giá, vì được Thiên Chúa chọn “con người” của bạn, của tôi đầy bất toàn, nếu không nói là đầy tội lỗi, nhơ uế… làm nơi định cư cho Thiên Chúa, làm Thánh Địa, để Ngài thực hiện ơn cứu rỗi cho chính bạn, chính tôi. Như vậy, Kitô hữu phải là người bằng lòng để cho Con Thiên Chúa “sinh ra, lớn lên, rao giảng Tin Mừng, Thương Khó và Phục Sinh” ngay trong thân xác hư đốn của mình, để thân xác ấy không còn hư đốn muôn đời nữa. Thiết nghĩ, chính khi đáp lại lời mời tinh tuyền cho xứng đáng “nơi Người ở” đã là một lời Tôn Vinh và Tạ Ơn Thiên Chúa vậy.

“Hãy đến xem nơi Người ở và ở lại với Người”. Đó là lời mời gọi, là ý định đầy yêu thương và cứu rỗi của Chúa dành cho những ai đơn sơ nhỏ bé tinh tuyền, trong sạch.

Ước gì mỗi chúng ta sẵn sàng đáp lại lời mời gọi ấy: “Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa” ( Tv 39, 8a và 9a  ).

Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa, tôn vinh Chúa, vì “con người hư hèn tồi tệ” của chúng con được Thiên Chúa chọn làm nơi định cư cho Con Thiên Chúa. Xin cho thân xác và lòng trí chúng con nên tinh tuyền xứng đáng là “nơi Người ở” và chúng con được “ở lại với Người luôn mãi”. Amen.

PM. CAO HUY HOÀNG, 11.1.2012


 

TN2-B54. GIỚI THIỆU

 

Con người vốn dĩ rất thích được nổi danh. Ai cũng muốn có địa vị nổi nang để mà nghênh mặt với: TN2-B54


Con người vốn dĩ rất thích được nổi danh. Ai cũng muốn có địa vị nổi nang để mà nghênh mặt với đời. Người càng làm lớn, càng thích chỗ nhất, càng mong được chúc tụng. Thế nên, nhân loại coi trọng việc giới thiệu. Đến dự bất kỳ một buổi lễ, hội họp cũng như giao tiếp nào, người ta cũng đều đặt nhu cầu giới thiệu lên hàng đầu. Giới thiệu, nguyên nghĩa chỉ là phép giao tế lịch sự nhưng dần dần đã bị tham vọng của con người làm cho biến chất. Giới thiệu trở thành nhu cầu không thể thiếu mà nhân loại dùng để mưu cầu tham vọng, để tôn vinh những con người hám danh, hám lợi.

Thánh Gioan Tiền Hô trong bài Tin Mừng hôm nay, đã làm công việc giới thiệu, nhưng động lực thúc đẩy lại chính là niềm xác tín mãnh liệt vào Thiên Chúa. Mọi ân huệ ông lãnh nhận cùng với sự am hiểu và ý thức cao độ về Đấng mà ông bước theo, đã khiến ông mạnh mẽ, can đảm tuyên xưng. Giới thiệu đây không còn dừng ở khía cạnh nhân văn, nhưng vượt lên, trở thành biểu hiện của niềm tin, một lời tuyên tín đẹp: “Đây là Chiên Thiên Chúa” ( Ga 1, 36 ).

Thánh Gioan được nhận biết ơn cứu độ, nhưng đã không giữ riêng cho mình, mà loan báo cho muôn người. Ông đã làm một hành động loan truyền Ơn Cứu Độ. Khi được nghe giới thiệu Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa, các Tông Đồ đã tìm đến trong thái độ tin nhận: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu ?” ( Ga 1, 38 ). Để đáp lại lòng khao khát của các ông, Đức Giêsu mời gọi: “Hãy đến mà xem” ( Ga 1, 39). Các ông đã đến và ở lại với Người ngày hôm ấy ( x. Ga 1, 39 ).

Sở dĩ các Tông Đồ đã được gặp Chúa, chính là vì các ông đã tin, đã đón nhận lời giới thiệu của Đức Giêsu. Ngài mời các ông đến chỗ Người ở, Ngài giới thiệu chính mình cho các ông. Và bất kỳ ai thành tâm tìm gặp Chúa, đều được ở lại với Ngài.

Khi được giới thiệu, người giới thiệu, và cả kẻ được giới thiệu đều mong muốn có những cuộc gặp gỡ, giao hảo để nối kết tình thân, kéo dài tình bằng hữu, để tiếp tục có những mối thâm giao bền vững hơn. Khi con người gặp Chúa, ở lại trong Chúa, nối kết tình thân với Ngài, thì đều được Thiên Chúa chiếm đoạt. Chính Ngài đã mặc khải, biểu lộ cho các ông tin: “Chúng ta đã gặp Đấng Mesia” ( Ga 1, 41 ). Để minh chứng cho niềm tuyên tín ấy, Thánh Anrê đã giới thiệu cho em mình. Và kể từ giây phút đó, Thánh Phêrô đã hoàn toàn được biến đổi, trở nên người của Thiên Chúa “Anh là Simon, con ông Giôna, anh sẽ được gọi là Kêpha” ( Ga 1, 42 ).
Thiên Chúa đang mời gọi, luôn mời gọi nhân loại tin vào Ngài để được đón nhận Tin Mừng cứu độ. Thế nhưng, con người vẫn khước từ Thiên Chúa. Những con đường Thiên Chúa mặc khải mình cho nhân loại, dường như đã bị nhân loại đạp đổ từ khước. Những biến cố trong lịch sử cứu chuộc, tiếng lương tâm đã bị nhân loại bỏ quên. Thế giới không còn muốn đến mà xem Thiên Chúa nữa. Ngược lại, họ ồ ạt đổ xô nhau chạy đua theo những mớ danh vọng, tiền tài, chức quyền, địa vị.

Giáo Hội ngày ngày hằng kêu gọi mọi tín hữu Kitô ra sức loan truyền Ơn Cứu Độ cho muôn người được nhận biết Chúa bằng chính hành động sống cụ thể của mình trong cuộc sống thường nhật. Lời chứng phải đi đôi với hành động, đó là điều cần thiết nhất trong cuộc sống đương đại. Thế giới nghèo nhân chứng, thế giới khát người làm chứng. Giáo Hội đau đầu vì những phản chứng… Thiên Chúa đã không còn được quan tâm giới thiệu.

Lạy Chúa, Ngài chỉ cần con đến mà xem và ở lại với Ngài, để con được cảm nghiệm sâu sắc quyền năng và tình thương của Ngài, nhưng như bao người, con mải miết chạy đua theo những lời xu nịnh giá trá, hào nhoáng thế gian, để rồi đánh mất Chúa. Thế nên, ngay trong cách sống thường nhật, tha nhân đã không nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong con.

Xin Ngài hãy giúp con biết dùng cuộc sống của mình như là một lời giới thiệu, để ai ai cũng có thể tìm đến với Thiên Chúa và đón nhận Ơn Cứu Độ. Xin giúp con trở thành lời chứng sống động cho tình thương và lòng nhân hậu của Ngài, hầu con năng tìm đến Chúa mỗi ngày, ở lại bên Ngài mỗi khi đối diện với cuộc sống đầy gian nan thử thách.

Chớ gì cung lòng Thiên Chúa sẽ là nơi cho con khám phá, nhận biết Đấng Mêsia để mà tín thác bước đi trong niềm hân hoan loan truyền Ơn Cứu Độ.

M. HOÀNG THị THÙY TRANG


 

TN2-B55: “TUYẾT XUỐNG PHƯƠNG NÀO, LẠNH LẮM KHÔNG ?...”


“Tuyết xuống phương nào, lạnh lắm không ?

Mà đây lòng trắng một mùa đông…”

 ( dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương )

 

Tuyết rơi, có rơi xuống mười phương hay tám hướng đi nữa, vẫn cứ lạnh. Tuyết vẫn lạnh, còn: TN2-B55


Tuyết rơi, có rơi xuống mười phương hay tám hướng đi nữa, vẫn cứ lạnh. Tuyết vẫn lạnh, còn hơn cơn bão của “lòng trắng một mùa đông” khi hội lễ Chúa Giáng Hạ vừa mới dứt. Và nay, người người về lại với mùa thường niên để rồi sẽ bước vào mùa Chay tịnh, có trình thuật rất sưởi ấm.

Trình thuật Tin Mừng hôm nay ghi lại sứ vụ công khai của Đức Giêsu luôn sưởi ấm con người bằng tình thương yêu cứu độ. Trình thuật, thánh sử viết ngay ban đầu về nhận định của Thánh Gioan Tẩy Giả khi thấy Đức Giêsu đi ngang: “Này là Chiên Thiên Chúa” ( Ga 1, 36 ).  Qua nhận định này, Gioan Tẩy Giả xác nhận vai trò của Chúa trong công trình cứu độ, Chúa Cha gửi. Nhận định ấy, được diễn bày vào tuần tới, ở các bài Tin Mừng do Thánh Máccô ghi. Thế nên, đây là dịp tốt để người người tìm hiểu ý lực được Máccô làm nền cho Tân Ước, để ta hiểu.

Với Máccô, Tin Mừng là tin rất mừng gửi đến dân con cái Chúa sống ở Rôma, ít năm sau ngày Giêrusalem bị đập phá. Đó, là lúc dân Chúa bị thúc ép làm nô lệ đến cùng tột, để rồi cũng chết khổ nhục như Thầy mình. Đó, cũng là lúc Dân-Chúa-chọn bị bách hại đủ điều dưới chế độ đầy bạo lực của đế quốc Rôma tàn ác. Nhưng, trình thuật theo Thánh Máccô vẫn viết theo chiều hướng tư riêng, sâu sắc không bị ảnh hưởng của những hành xử từ người của đế quốc.
Thánh Máccô coi thế giới ta đang sống như một pháp trường đầy sức chiến đấu. Pháp trường này, có đủ sinh lực để chống lại mãnh lực của sự chết, hệt như bi kịch cuộc đời. Thế nên, ngay ở đầu sách Tin Mừng, Máccô đã vẽ lên cảnh trí Chúa chìm ngập trong mãnh lực của sự chết, khi Ngài dầm mình nơi sông Giođan để nhận thanh tẩy, từ Gioan Tẩy Giả. Và từ đó, Ngài nhận sức sống đầy Thần Khí khi rời sông nước. Thánh nhân lại viết thêm cảnh Chúa bước vào sa mạc, chốn miền của những khô cằn đầy chết chóc không một ai sống sót; nhưng Ngài tồn tại sau 40 ngày, bởi nơi Ngài tràn đầy sự sống. Và, sứ vụ của Ngài thắng vượt sức mạnh của cái chết xảy đến với Ngài cũng như cho chúng ta.

            Thánh Máccô nhận xét cho ta thấy: ngay trong mãnh lực của sự chết vẫn có kẻ “xuất quỷ nhập thần” vẫn kềm chế được. Chính vì thế, phần đầu Tin Mừng, thánh sử kể cho mọi người nghe truyện Chúa tống khứ đám quỷ sứ khỏi người bị ma nhập, nơi đền thờ. Rồi, Chúa lại chữa lành kẻ mắc bệnh phung, một bệnh bị người đời coi như đã chết dần chết mòn. Sau đó, thánh nhân giải thích về sinh lực sự sống nơi Đức Chúa. Đó không là “mãnh lực của tà thần”, nhưng trái lại, chính Ngài đã tống xuất uy lực của sự chết bằng việc chứng tỏ Ngài mạnh hơn chúng. Ngài làm thế, qua việc chữa lành cho người bệnh, khỏi mãnh lực của tà thần mà họ từng bị uy hiếp. Ngài chữa lành bằng sờ chạm đầy xót thương.

Đức Giêsu chứng tỏ cho mọi người thấy tình thương yêu/đùm bọc tiếp cận được mọi người sẽ mạnh mẽ hơn mọi uy lực, dù là uy lực của sự sống hay nỗi chết. Đây, là điểm nhấn mà các Đức Giáo Hoàng từ Đức Phaolô VI đến các vị về sau, vẫn gọi sự kiện này là “văn hoá của thương yêu”.  

            Kịp đến khi Gioan Tẩy Giả bị vua quan giết chết, Máccô lại kể cho người đọc Tin Mừng biết những ám muội do sức mạnh của tà thần, sự chết tập hợp và trực chỉ vào chính Chúa. Ngài thân hành đi Giêrusalem để giáp mặt với chúng. Giáp mặt không theo kiểu của giác đấu có người thắng, kẻ thua. Ở tình huống này, Ngài tuyên bố Ngài đến không phải để toàn thắng mọi chuyện nhưng là để “phục vụ”, tức cho đi trọn vẹn con người của Ngài như một bảo đảm cho tất cả những ai bị sức mạnh của tà thần sự chết ám hại.

Ngài đã cho đi chính mình Ngài, cho mọi người, không để sử dụng theo cung cách khuynh loát, thống trị mà như món quà dịu hiền để giải thoát con người khỏi mọi loại hình quyền lực. Cách duy nhất giúp Ngài thực hiện điều ấy là bằng cách tự thăng hoá tình thương yêu đối với những người bị hãm hại. Bằng vào con đường sống đem đến cho Ngài vì mục đích cao cả ấy. Máccô cho thấy Đức Giêsu luôn chọn lập trường chống lại quyền hành và ưu đãi để Ngài có thể làm được thế. Thánh nhân còn cho biết: ngay đến môn đồ Ngài cũng hiểu sai hoặc không nhìn thấy mục tiêu Ngài đi tới.

Thánh Máccô nhìn về Hội Thánh như Hội Thánh hành xử khác với đồ đệ của Chúa. Nhưng, ngay sau khi Chúa sống lại, Hội Thánh biết dấn bước theo bước đường Ngài đi ngõ hầu làm sống lên sức sống đã được Thần Khí Chúa hỗ trợ bằng mọi ân lộc của ngày Lễ Ngũ Tuần.

Với Máccô, điểm đặc trưng nơi Đức Giêsu là tính nhân hiền, hiện thực. Đức Giêsu ở Tin Mừng theo Thánh Máccô là Đấng sống trong cảnh dậy sóng, rất phong ba. Ngài không như người Galilê nhàn nhã, với tướng tá lãnh tụ. Ngài cũng chẳng có nét vẻ anh hùng Rôma, Hy Lạp hay Do Thái. Ngài chỉ trải rộng cho người sống chung quanh sự kinh ngạc, hoảng hốt đến độ khao khát sự cao cả. Với họ, lời Ngài rất phức tạp, khó hiểu. Toàn ý tưởng làm đồ đệ rối trí. Ai thích chuyện nổ dòn hoặc nệ cổ đều không ưa kiểu Ngài giảng dạy. Họ chỉ muốn Ngài toàn thắng quan chức đô hộ, lộng hành bằng tính quả cảm dám ăn dám nói trước mãnh lực của sự dữ. Nhưng ở nơi Ngài là Đấng duy-thực-tiễn cao cả chưa từng thấy. Dám trực-diện sự chết. Cung cách của Ngài hiền từ, êm dịu hơn mọi người. Nơi Ngài, mọi người thấy phát tiết ra sự hiền dịu trỗi dậy từ sự chết.

Với Tin Mừng theo Thánh Máccô, người đọc không thấy nói việc Chúa sinh ra. Nhưng, tác giả đi thẳng vào việc gặp gỡ Đức Kitô trưởng thành dính dự vào những vấn đề của đời Ngài. Ngài giữ kín lý lịch. Ngài chẳng muốn làm phép lạ để tỏ ra là mình cao cả. Nhưng Ngài liều lĩnh đưa mạng sống mình ra để giải thoát sự sống rất hiền dịu là Nước Trời cho mọi người. Dù có bị hành hình đến nỗi chết, Ngài vẫn hiên ngang tiến tới. Ngài không có uy lực trên mọi người, nhưng lại có “quyền lực” trên mọi sức mạnh phi nhân bản chỉ muốn kềm chế con người.

Sống như thế, Đức Giêsu chừng như thách thức các nhóm người Do Thái đã vững chãi vào thời Ngài. Thế nên, họ đáp trả bằng việc ly cách Ngài khỏi dân và cuối cùng bằng cái chết rất khổ nhục. Tin Mừng của Thánh Máccô viết về Chúa là viết về thân phận của Đức Giêsu đặt trong tay của những con người không niềm tin.

Cuối cùng, Ngài chết trong bóng tối. Và lúc ấy, không có dấu hiệu của sự trỗi dậy và các phụ nữ đành bỏ về trong lặng thinh. Nhưng, Đấng Dịu Hiền đã trổi dậy, về với Galilê để tiếp tục làm sạch nhân trần khỏi uy lực bạo tàn của sự chết. Với Máccô, sống lại không phải là kết hậu cho truyện kể rất sầu buồn mà đó mới chỉ là khởi đầu của truyện kể mới. Của một hiện hữu mới đem đến với Chúa, với đồ đệ và với người đọc Tin Mừng, do Thánh nhân viết. Vào cuối trang Tin Mừng, Máccô nói các phụ nữ bỏ chạy vì hãi sợ. Lời thánh nhân viết như thể nói với người đọc rằng: hãy cứ từ từ rồi xem sao. Vâng, có thể là, câu trả lời của Thánh Máccô là: sao quý vị lại cứ nghĩ là chính tôi phải viết những đoạn kế tiếp ? Và chính quý vị mới là người lãnh trách nhiệm tiếp tục viết Tin Mừng chứ !

Nơi Thánh Máccô, quả có sự hiện thực bất thường, trên thực tế. Bất thường thứ nhất là ở điểm: thánh nhân đề nghị chúng ta hãy nên lĩnh hội khá nhiều thực tế, rất như thế. Thánh Máccô trình và thuật cho ta thấy Đức Giêsu có thể đảm nhận trọng trách ấy. Bất thường thứ hai là, nơi Máccô lại có sự hiền dịu rất lạ lùng. Trong khi đa số con dân Chúa chỉ có rất ít tính hiền dịu như thế. Phần đông chúng ta đều nhìn thấy được sự hiền dịu ở nơi nào sự hiện thực đang nhạt phai. Thánh Máccô còn cho thấy nơi Đức Giêsu, sự hiền dịu đã lên đến cực điểm ngay giữa hiện thực. Đó là nghịch thường của Tin Mừng do thánh nhân viết. Chính đó vừa là sự chết và sống lại hiện hữu cùng một lượt.

Phụng Vụ năm nay còn trưng dẫn nhiều chương đoạn của Tin Mừng Thánh Máccô viết. Và, người đọc cũng còn học được nhiều điều về cuộc sống. Về sự sống có nỗi chết. Về sự sống ngay chính giữa nỗi chết. Có người quan niệm: Mùa Chay năm nay sẽ bắt đầu hơi sớm. Nhưng nếu đọc kỹ Tin Mừng theo Thánh Máccô viết, ta sẽ còn thấy rõ theo chừng mực nào đó, mùa chay tịnh đã bắt đầu từ lâu rồi. Bắt đầu từ khi cuộc sống mới chớm nơi ta.

Trong tâm tình nhận ra Mùa Chay trong đời người, cũng nên ngâm lên lời thơ trên để vui sống: 

                                    “Tương tư nổi đuốc thâu canh đợi
Thoảng gió ..trà mi động mấy bông…”

( Vũ Hoàng Chương – Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai ? )

Có nổi đuốc thâu canh đợi mấy đi nữa, cũng chẳng thấy rõ Mùa Chay đời người đã có đó nơi con người. Bởi sự sống của mỗi người đều đính kèm mãnh lực của sự chết rất dễ biết. Biết rõ khi nhận thức được sự hiền dịu của Đức Chúa, nơi hiện thực ở đời người.

 Lm. NGUYỄN ĐỨC VINH SANH, bản dịch của MAI TÁ


 

TN2-B56: “YÊU KẺ THÙ VÀ CẦU NGUYỆN CHO NHỮNG NGƯỜI


 NGƯỢC ĐÃI”

 

Thông điệp Lời Chúa ngay ngày đầu năm như gửi đến mỗi chúng ta một thách đố không nhỏ: TN2-B56


Thông điệp Lời Chúa ngay ngày đầu năm như gửi đến mỗi chúng ta một thách đố không nhỏ: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” ( Mt 5, 43  ). Nhưng thông điệp ấy, thách đố ấy lại là yêu cầu số một của Thiên Chúa dành cho con cái Ngài: “Hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Ðấng toàn thiện” ( Mt 5, 48  ).

Tưởng không nên nhắc chỉ chuyện của năm cũ, cho thêm đau lòng, nhưng không ai chối cãi được là năm cũ có quá nhiều chuyện đau lòng cho Giáo Hội Chúa, khắp nơi trên thế giới, và đau lòng nhất vẫn là ở Việt Nam. Nhưng thiết nghĩ, “năm cũ nào rồi cũng qua đi với đầy dẫy những ngược đãi, bạo hành, đàn áp, bất công, đòn vọt, tù đày… của xã hội dành cho con cái Chúa” như một định luật rằng: “Bao lâu còn Chúa Kitô, còn những người theo Chúa, thì bấy lâu còn tử đạo”.

Giáo Hội chấp nhận tử đạo là Giáo Hội Chúa Kitô. Giáo Hội không chấp nhận tử đạo thì không phải là Giáo Hội Chúa Kitô.

Cũng vì thế, mà “yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những người ngược đãi anh em” có thể nói là một cách tử đạo đúng với Thánh ý Chúa nhất. Bởi, nếu Nước của Thiên Chúa là một thực tại chính trị, quân sự, hoặc chỉ cần là một tập đoàn đấu tranh thuộc về thế gian này, thì có lẽ những người đàn áp, ngược đãi kia không thể giởn mặt, đùa dai hay lì lợm thách thức với những người có vũ khí, có súng đạn, gươm đao.

Về phía các tín hữu, thiết nghĩ, cũng không nên lệch lạc về căn tính của Đạo Thánh Chúa, không nên cổ xúy lòng thù hận phải trả thù những người ngược đãi theo cách của xã hội trần gian: xuống đường bạo động, lật đổ, đảo chánh… nhưng cứ theo các chủ chiên hướng đi theo đúng luật Chúa là “yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những người ngược đãi anh em” như đã làm, và còn sẽ làm tích cực hơn, đông đảo hơn, hiệp thông hơn, đồng loạt hơn, thành tâm hơn, tha thiết hơn, là đã đủ làm cho lay chuyển cả thế giới, thay đổi lòng người nên hoàn thiện, hoán cải người nên công chính, giác ngộ người từ bỏ những tà tâm mà quay đầu về với chính nghĩa…

Làm tích cực hơn. Đúng vậy ! Tất cả các việc của Kitô Hữu hẳn là phải phát xuất từ tình thương, không thể phát xuất từ lòng thù hận. Vì thế, thiết nghĩ phải tự xác định lại mục đích ý nghĩa của việc mình làm: “Tất Cả Vì Yêu”. Và còn phải minh chứng cho những người ngược đãi rằng: Vì “yêu kẻ thù, vì yêu người ngược đãi” như Lời Chúa dạy, mà chúng tôi đã thắp nến cầu nguyện cho anh em.

Chúng tôi không cầu nguyện cho trời tru đất diệt anh em, nhưng cầu nguyện cho anh em được biết phải sửa đổi thế nào cho khỏi bị trời tru đất diệt.

Chúng tôi cũng không cầu nguyện cho chế độ nào sụp đổ, nhưng cầu nguyện cho chính quyền biết làm thế nào để được lòng dân, để chế độ của họ không bị sụp đổ.

Chúng tôi càng không cầu nguyện cho ai trong anh em phải tai họa, nhưng cầu nguyện cho anh em cải tà qui chánh mà tránh những tai họa ắt tới cho mình, gia đình và đất nước.
Vì quả thực, Thiên Chúa của chúng tôi sẽ không nhậm những lời cầu xin đã không khởi đi từ tấm lòng thành, lòng ngay, lòng yêu mến. Bởi vậy, chúng tôi cầu xin Thiên Chúa tha thứ cho anh em, vì anh em “không biết” việc anh em đang làm là chống lại Thiên Chúa. Sự “không biết” của anh em có thể do lòng “ngu muội” về Thiên Chúa, nhưng cũng có thể là do anh em cố tình sống trong tình trạng “không cần có Thiên Chúa” để anh em dễ sống theo cách của con người anh em. Chúng tôi vẫn tin rằng khi lòng yêu thương của chúng tôi đã đạt đỉnh thì Thiên Chúa sẽ nhậm lời, và Ngài sẽ ban cho chúng tôi điều chúng tôi xin: anh em được tha thứ và trở về thờ phượng Thiên Chúa.

Xin đừng xem cách sống đạo, sống Lời Chúa như thế là mơ hồ, là ảo vọng. Đó vẫn luôn là một thực tế sống động của Tình Yêu Thiên Chúa. Đừng bao giờ phân vân, hay băn khoăn rằng: “Làm sao mà thương nổi ? Làm sao mà yêu nổi những con người ngược đãi với Giáo Hội, tàn ác với các Kitô hữu như thế ?” Đó vẫn là những trăn trở quay quắt tiềm ẩn trong lòng người tự nhiên, nhưng lại không thể có trong lòng những ai đang sống với sức mạnh siêu nhiên của Thiên Chúa, đang sống với sứ mạng rao giảng cho thiên hạ biết về một “tình yêu lớn lao làm cho người mình yêu được hạnh phúc”, không giống loại “tình yêu cầu lợi cho mình” của thiên hạ trần gian này.

Luật yêu thương hôm nay, ngày đầu năm, là luật mới của Chúa Giêsu, là luật yêu thương với lòng bao dung tha thứ, luật căn bản để làm nên một “trời mới đất mới”, một mùa xuân mới trên thế gian, và nhất là trên quê hương này đã cũ rích những mùa đông trơ trụi niềm tin, lạnh lùng tình người, héo tàn công lý, ô uế luân lý, sinh sôi tràn lan đủ kiểu gian tà, giả dối, điếm xảo, điêu ngoa, lừa đảo….

Chính luật yêu thương này, chính sự tử đạo vì lòng yêu thương này, sẽ cải tạo thế giới, sẽ canh tân đất nước, hoán cải lòng người. Đó phải là niềm tin tưởng tuyệt đối, không chỉ của một người, một gia đình, một Giáo Xứ, một Hội Dòng, một Giáo Phận, mà phải là của cả cộng đoàn Dân Chúa trên khắp 26 Giáo Phận của Quê Mẹ Việt Nam.

Cùng hiệp thông trong một niềm Tin, Cậy, Mến, cùng hiệp thông trong lời cầu nguyện cho kẻ thù và cho người ngược đãi, là cùng chết với nhau cho Niềm Tin lớn lên, cho Công Lý trổ hoa, cho Thái Bình kết trái, cho Danh Chúa cả sáng, cho cả nhà Việt Nam vang khúc ca chúc tụng tôn vinh Thiên Chúa trong một mùa xuân mới: Mùa Xuân ân lộc Thiên Chúa chan hòa khắp quê hương.

Sẽ không còn một người Việt Nam nào mà không biết, hay ngu muội về Thiên Chúa. Sẽ không còn một người Việt Nam nào chống lại Thiên Chúa, giơ chân đạp mũi nhọn, hay tự nhận hình phạt trời tru đất diệt cho mình. Sẽ không còn một nước Việt Nam mang tiếng là chống Thiên Chúa, đàn áp Hội Thánh Chúa, nhưng sẽ có một Nước Việt Nam mới của Thiên Chúa hòa bình, thịnh vượng, vững bền. Hoặc là, sẽ không còn người Việt Nam nữa, sẽ không còn đất nước Việt Nam nữa vì bị các thế lực gian tà tru diệt. Điều ấy đang tùy thuộc vào lòng yêu thương và lời cầu nguyện cách thành tâm và hiệp nhất của tất cả những người Công Giáo Việt Nam chúng ta.

Làm thế nào để mọi người có thể hiểu rằng: mất niềm tin vào Thiên Chúa là nguyên nhân gây ra bao sự dữ trong đời người, trong xã hội và cũng là nguyên nhân mất nước ? Mất nước ở đời này, và cả mất nước ở đời sau !

Ngày đầu năm mới, trong niềm vui Tạ Ơn Chúa đã ban thêm cho chúng ta thời gian, thêm tuổi, thêm khôn ngoan, thêm thánh thiện nhân đức, và cũng thêm bổn phận cộng tác với Thiên Chúa trong việc xây dựng một thế giới, một đất nước biết tôn thờ Thiên Chúa, và phụng sự Chúa trong mọi người.

Ước gì Thiên Chúa được vui mừng vì Ngài “không còn nghe thấy tiếng than khóc kêu la” ( Is 65, 19  ), vì Ngài đã “sáng tạo một trời mới, đất mới” ( Is 65, 17  ), do bởi Ngài động lòng thương nhậm lời con cái Ngài đồng lòng đồng dạ “yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi”.

Ước gì Mùa Xuân mới trên quê hương sẽ là mùa xuân hạnh phúc, vì Thiên Chúa nhậm lời con cái ngài cầu xin mà “đổi mới mọi sự” ( Kh 21, 5  ) và Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ biến mất" ( Kh 21, 4  ).

Lạy Chúa, Lời của Chúa là quà tặng mùa xuân quí giá cho chúng con: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”. Xin cho chúng con trân quí quà tặng và tuân giữ Lời Ngài mà thực hiện tất cả mọi việc trong đời “chỉ vì Yêu” để được “nên hoàn thiện như Cha chúng con trên trời là Đấng Toàn Thiện”. Amen.

PM. CAO HUY HOÀNG, Mùa Xuân 2012


 

TN2-B57. Các Môn Đệ Đầu Tiên


Lm. PX. Vũ Phan Long, ofm

 

Cuộc đời mỗi người là một chuyến “đi tìm” Đức Giêsu, được Người dẫn dắt, rồi sau khi đã thực: TN2-B57


Cuộc đời mỗi người là một chuyến “đi tìm” Đức Giêsu, được Người dẫn dắt, rồi sau khi đã thực sự “tìm ra, tìm thấy” Người, thì đi giới thiệu cho người khác.

1.- Ngữ cảnh

Trong Tin Mừng Gioan, bài tường thuât ơn gọi các môn đệ được ghép vào bên trong cái mà người ta gọi là “Tuần lễ khai mạc sứ vụ của Đức Giêsu”.

- hai ngày đầu: Gioan Tẩy Giả làm chứng (phủ định - khẳng định) ;
- ngày thứ ba (“hôm sau”, 1,35): lần này Gioan Tẩy Giả giới thiệu Đức Giêsu cho hai môn đệ: “Đây là Chiên Thiên Chúa” (cc. 35-36);
- đoạn văn của chúng ta (1,35-42) nằm ở vị trí này;
- ngày thứ tư (“hôm sau”, 1,43): Đức Giêsu gọi Philípphê và Natanaen;
- “ngày thứ ba” (2,1): Đức Giêsu “bày tỏ vinh quang” (2,11) tại Cana miền Galilê.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba phần:

1) Hai môn đệ đầu tiên (1,35-39);
2) Anrê (1,40-42a);
3) Simôn (1,42b).

3.- Vài ghi chú về chú giải

- Ông Gioan đang đứng... (35): Có một nhóm môn đệ thường xuyên ở quanh Vị Tẩy Giả (x. Mc 2,18t và //; Mt 11,2; 14,12; Lc 11,1; Ga 3,25). Bản văn xác định tiếp rằng một trong hai môn đệ là Anrê, em của Simôn (41); còn người thứ hai thì vô danh.

Tìm cách dung hòa bài tường thuật của TM IV với bài của các TMNL nói về ơn gọi của các môn đệ (x. Mc 1,16-20) là chuyện vô ích. Chỉ có một điểm gặp nhau: hai anh em Simôn và Anrê ở trong số những người được gọi đầu tiên. Còn các khác biệt quá lớn:

+ Theo Mc 1,29: Simôn ở Caphácnaum; theo Ga 1,44: hai anh em gốc Bétxaiđa.

+ TM IV không nói gì tới các con ông Dêbêđê, trong khi theo Mc 1,18-20, họ là cặp môn đệ thứ hai; Mc lại không hề nói đến Philípphê và Natanaen.

+ Bối cảnh cũng khác nhau: theo TM IV, các môn đệ đầu tiên thuộc nhóm của Vị Tẩy Giả, đã được ông hướng dẫn tới với Đức Giêsu; theo Mc, Đức Giêsu chỉ kêu gọi các môn đệ sau khi Vị Tẩy Giả bị bắt, và kêu gọi tại bờ hồ Ghennêsarét, chứ không tại bờ sông Giođan, lúc đó họ đang làm nghề chài lưới.   

+ Ý hướng tổng quát khác nhau: Theo Mc, đây là một biến cố bất ngờ lôi kéo người ta ra khỏi cuộc sống hằng ngày để thi hành sứ mạng tông đồ. Dường như bản văn Ga còn ghi giữ lại kỷ niệm lịch sử, đó là các môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu, và có thể chính tác giả, đã có lúc thuộc về nhóm Gioan Tẩy Giả.

- thấy Đức Giêsu đi ngang qua (36): Hôm sau ngày làm chứng (cc. 29-34), trong khi Vị Tẩy Giả còn đứng đó, Đức Giêsu đã bắt đầu tiến đi: thái độ của Gioan tượng trưng rằng sự nghiệp của ông đã đến lúc chấm dứt; thái độ của Đức Giêsu đánh dấu khởi đầu cuộc đời của Người là một cuộc tiến bước thiêng liêng, sẽ đưa Người về với Chúa Cha (x. Ga14,28). Còn Gioan thì tức khắc nói với hai người trong nhóm môn đệ đã đến để tìm ơn cứu độ nơi ông, rằng: “Đây là Chiên Thiên Chúa”.

- Các anh tìm gì thế? (38): “Tìm” (zeteô: 34 lần trong TM IV) có nghĩa là “tìm cách có lại những đồ vật đã bị mất hoặc để lạc”. Trong tiếng Hy Lạp LXX, đây là từ ngữ chuyên môn để nói về việc đi tìm Thiên Chúa, đặc biệt tìm sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa (x. Hn 1,1-2a; 8,2.18 …). Trong tiếng Híp-ri, “tìm” là darash; darash ha Torah, “tìm Torah”, có nghĩa là giải thích Kinh Thánh.

- Thưa Rabbi, Thầy ở đâu?  Trên môi họ, câu hỏi chỉ nhắm nơi Đức Giêsu đang sống, để họ đến gặp, nhưng tác giả là người đã quen sử dụng các từ ngữ theo hai ý, có lẽ cũng hiểu câu hỏi theo một nghĩa sâu hơn: “Thầy ở đâu về phương diện thiêng liêng?”. Đối với ông, các môn đệ đã mặc nhiên thưa với Đức Giêsu lời thỉnh cầu của Philípphê và của bất cứ người nào: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha (nơi Chúa Cha, Thầy đang cư ngụ), như thế là chúng con mãn nguyện” (14,8).

- Đến mà xem (39): Dịch sát là “Hãy đến và các anh sẽ xem thấy, erchesthe kai opsesthe. Mệnh lệnh cách erchesthe có thể hiểu theo nghĩa điều kiện là “nếu như, với điều kiện”. Còn opsesthe là thì tương lai của động từ horaô, có thể hiểu như một lời hứa của Đức Giêsu: TM IV có bốn động từ để diễn tả cái nhìn, từ cái nhìn thể lý nhất đến cái nhìn chiêm ngưỡng sâu sắc nhất, đó là: blepein, theasthai, theôrein, horan [idein]. Động từ sau cùng thuộc về lãnh vực đức tin. Trong Ga 1,39, Đức Giêsu mời các ông di chuyển về phía Người và có cái nhìn đức tin.

Câu trả lời của Đức Giêsu ở đây cũng có một mức sâu hơn: việc khám phá ra nơi ở trần thế của Người tượng trưng và chuẩn bị cho việc khám phá ra nơi ở thiêng liêng của Người. Bước đi theo Người theo cách thể lý, các môn đệ thấy nơi trú ngụ của Người; hơn nữa, đã bước đi theo Người cách thiêng liêng bằng lòng tin, họ cũng bắt đầu thấy được nơi ở thiêng liêng của Người, tức Chúa Cha: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (14,9).

- Họ ở lại với Người (39): Đây là chặng đầu của một cuộc chung sống đưa tới sự hiệp thông sâu xa nhất (x. 15,4). Trọn buổi chiều, kể từ 4g, họ xem và ở lại với Đức Giêsu, về thiêng liêng cũng như về thể lý. Buổi chiều hoặc đêm đáng ghi nhớ ấy mở đầu cho đời sống đức tin tròn đầy, đã đưa Anrê và người môn đệ vô danh kia vào trong mầu nhiệm của đời sống Đức Kitô và làm cho họ rất phấn khởi: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia”, Anrê reo lên như thế khi gặp Simôn. Một niềm vui thiêng liêng bùng ra: đây là niềm vui được ban cho những tâm hồn khám phá ra viên ngọc quí và kho tàng trên trời (x. Mt 13,44).

- Khoảng giờ thứ mười (39): tức khoảng 4g chiều. TM IV quen ghi chú về thời gian chính xác (x. 4,52 ; 18,28 ; 19,14 ; 20,19), nhưng hẳn là có một ý hướng biểu tượng. Trong một số bản văn của Cựu Ước hoặc của Do Thái giáo đương thời, số 10 là con số hoàn hảo; vậy “giờ thứ 10” hẳn là giờ hoàn tất và đánh dấu khởi đầu công trình của Đức Giêsu. Quả thế, ở 11,9, ngày là một hình ảnh được dùng để gọi thời gian Đức Giêsu hoạt động ở trần gian (x. thêm 9,4-5; 12,35). “Mười” là một con số hoàn hảo đối với các triết gia phái Pythagore và triết gia Philô khiến Bultmann gợi ý rằng đây là giờ của sự hoàn tất. Cũng có những tác giả cho rằng ngay hôm sau, bắt đầu vào lúc mặt trời lặn, là một ngày sa-bát; do đó hai môn đệ đã phải ở lại với Đức Giêsu  để tránh di chuyển vào ngày ấy.  

- Trước hết (prôton) (41): Cuộc trò chuyện đã kéo dài trong đêm. Do đó, chúng ta hiểu là sáng hôm sau, Anrê trước hết vội vã đi tìm anh trước khi làm bất cứ việc gì.

- Chúng tôi  đã  gặp Đấng Mêsia (41): Dịch sát là “Chúng tôi  đã tìm thấy/tìm ra Đấng Mêsia” Heuriskein, tìm thấy, được dùng thường xuyên trong phân đoạn này và phân đoạn sau. Anrê “tìm thấy/ra” Simôn, báo rằng họ đã “tìm thấy/ra” Đấng Mêsia. Sau được Đức Giêsu “tìm thấy/ra”, Philípphê “tìm thấy/ra” Natanaen và bảo rằng đã “tìm thấy/ra” Đấng Mêsia.

- Anh sẽ được gọi là Kêpha, tức là Phêrô (42): Kêphas là từ A-ram kêpha được hy-hóa, có nghĩa là “tảng đá”. Cũng như từ rabbi (c.38) và Mêsia (c.41), kêpha là từ A-ram (Chúng ta lưu ý là có ba từ A-ram trong cùng một đoạn văn). Hẳn là tác giả suy tư trong ngôn ngữ này, hay ít ra ông cũng rất quen thuộc các thuật ngữ A-ram. Bản RSV dịch thành một câu hỏi: “So you are Simon the son of John? Vây anh là Simôn con ông Gioan à?”. Người ta đặt tên cho những người hoặc những vật thuộc quyền kiểm soát của mình (x. St 2,20; Đn 1,7); người cha đặt tên cho con cái (Mt 1,25; Lc 1,63).

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Hai môn đệ đầu tiên (35-39)

Truyện hai môn đệ này chắc chắn có dấu vết những hoài niệm về một vài môn đệ. Nhưng dưới ngòi bút của tác giả, truyện mang tính điển hình để chia sẻ với độc giả cái nhìn về đời môn đệ. Các biến cố xảy ra rất nhanh, trong cái khung giả tạo bảy ngày: các môn đệ đầu tiên đến gặp Đức Giêsu, rồi Đức Giêsu gọi Phêrô, Philípphê, Nathanaen. Cuối cùng toàn chương kết thúc với lời Đức Giêsu long trọng mạc khải về chính mình: “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên sứ của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người” (Ga 1,51).

Trước khi truyện đạt tới đỉnh cao này, tác giả ghi lại lời chứng của Gioan. “Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: «Đây là Chiên Thiên Chúa»” (Ga 1,36). Lời này nhắc lại lời nói trong hoạt cảnh ở c. 29, chỉ khác là thuộc về ngày hôm sau. Đây là “cấu trúc trôn ốc” quen thuộc của tác giả. Ngài thường xuyên trở lại với những đề tài cũ, cứu xét chúng từ những viễn tượng khác, thăm dò, và chia sẻ với các độc giả sự phong phú đặc biệt của những thực tại ngài đề cập đến (x. Ga 20,19-23).

Lúc đó Gioan [và hai môn đệ] được mô tả là “đang đứng” (heistêkei). Có vẻ như thể ông đang chờ chuyện gì đó xảy ra. Trong TM IV, hành động duy nhất có ý nghĩa mà Gioan làm, đó là làm chứng. Vì lúc này Đức Giêsu chưa xuất hiện, hành động đó chưa xảy ra được. Như ngày hôm trước, Gioan thấy Đức Giêsu bước đi và đã giới thiệu Người (Ga 1,29), sang ngày hôm sau, một lần nữa, Gioan lại công bố Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa. Hoạt cảnh của ngày hôm qua cho biết ý nghĩa của tên gọi bí ẩn này; hoạt cảnh hôm nay cho thấy hậu quả của lời loan báo ấy. Ông mời họ rời ông để gắn bó với Đấng Cứu thế duy nhất chân thật.

Do được thầy giới thiệu, hai môn đệ đã quyết định đi theo Đức Giêsu. Ơn gọi của họ, cũng như của Samuen, được đánh thức bởi một người khác, không phải bởi “ánh sáng” nhưng bởi “chứng nhân của ánh sáng” (1,8; 3,3). Tác giả không nói gì đến hoàn cảnh thời gian, không gian, tâm lý của các nhân vật: đây cũng là một lược đồ. Ý thức về sự khác biệt giữa tiếng nói và Đấng được tiếng nói làm chứng cho, hai môn đệ bước theo Đức Giêsu.

Hẳn là vì nghe tiếng bước chân, Đức Giêsu quay lại, và thấy các ông đi theo mình. Người hỏi thẳng: “Các anh tìm gì thế?” (Ga 1,38). Những người đi theo thưa với Người là “Rabbi”, không trả lời câu hỏi của Người, mà lại hỏi Người ở đâu. Thay vì cung cấp một câu trả lời trực tiếp, Đức Giêsu mời hai người đến và xem nơi Người ở. Hai ông đã nhận lời mời và đi với Người đến nơi Người ở, nơi này là nơi nào chúng ta không biết. Lúc đó vào khoảng giờ thứ 10 (= 4g chiều, hay là 5/6 ngày đã trôi qua), tức đã muộn. Có lẽ họ đã qua đêm với Người. Chi tiết về thời gian này có ý nghĩa gì với tác giả không? Điều đánh động trong mẩu đối thoại giữa Đức Giêsu và các môn đệ đầu tiên của  Gioan, đó là họ xưng hô với Đức Giêsu là Rabbi. “Thưa Ngài” (Kyrie) là từ ngữ thường được dùng để bày tỏ lòng tôn kính; TM IV thường dùng từ ngữ này vào những dịp tường thuật các cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với người khác. Những người được hưởng nhờ quyền lực siêu phàm của Đức Giêsu cũng gọi Người là “Kyrie”. Rabbi có nghĩa chữ là “thầy tôi” (didaskalos), thường được các môn sinh dùng để gọi vị thầy họ trân trọng, nhưng sau này chỉ còn nghĩa là “thầy”.

Trong TM IV từ đầu cho đến đây, không chi tiết nào cho thấy Đức Giêsu là một thầy giáo. Không một điều gì gợi ý là dân chúng mong ước Đấng đang đến là một thầy dạy. Trong TM này, từ ngữ Rabbi cũng không được sử dụng nhiều: 7 trên 8 lần được các môn đệ Đức Giêsu sử dụng (1,38.49; 3,2; 4,31; 6,25; 9,2; 11,8); lần còn lại được đặt trên môi của các môn đệ nhìn nhận Gioan là thầy họ (3,26).

Hai môn đệ vô danh “bước theo” Đức Giêsu. Trong ngôn ngữ Hy Lạp, “bước theo” (akoloutheô) có nghĩa là “đi đàng sau một người”; “trở thành môn đệ” (nghĩa ẩn dụ). Thay vì theo Gioan, bây giờ họ bước theo Đức Giêsu. Họ đã học với Gioan; nay họ phải học với Đức Giêsu. Chính vì thế, họ gọi Người là “Rabbi”. Đây là cách tác giả diễn tả đòi hỏi từ bỏ tận căn được nói đến trong các TMNL (x. Mt 19,21; Mc 10,21; Lc 18,22): hoặc họ là môn đệ của Đức Giêsu hoặc họ là môn đệ của Gioan. Không thể có thỏa hiệp. Đây không còn phải là quyết định triệt để trở thành môn đệ bằng cách từ bỏ những của cải vật chất nữa để đi theo một vị thầy du thuyết; đúng hơn, đây là từ bỏ một dấn thân đầu tiên trong đức tin của mình.

Nhưng ở đây không chỉ có vấn đề một dấn thân tận căn. Tác giả diễn tả xác tín của mình là những ai đã thật sự học nơi Gioan, những ai đã thật sự hiểu ý nghĩa của lời chứng của Gioan, thì trở thành môn đệ của Đức Giêsu. Các môn đệ của Gioan tìm được vị trí đúng đắn của họ trong cuộc đời khi họ trở thành môn đệ của Đức Giêsu. Những ai đã chú ý thật sự đến lời chứng của Gioan thì phải đi vào nhóm môn đệ của Đức Giêsu. Đây là ý nghĩa biểu tượng và cũng là ý nghĩa đích thật của bài tường thuật.

Câu hỏi mở đầu của Đức Giêsu cũng lạ: “Các anh tìm gì thế?”, một câu hỏi trên bình diện tường thuật thuần túy chỉ có nghĩa là “Các anh muốn gì?”. Họ không đáp lại bằng một câu trả lời, nhưng bằng một câu hỏi: “Thầy ở đâu?”. Nếu so sánh với ba TMNL, ta thấy những lời đầu tiên Đức Giêsu nói công khai được các TM ấy ghi lại đều có chất chứa một chương trình cho toàn thể Tin Mừng (Mt 3,15; Mc 1,15; Lc 4,21), còn TM IV thì thế nào?

Có thể cho rằng tác giả trình bày các môn đệ đầu tiên của Gioan như là những cá nhân đang theo đuổi sự Khôn Ngoan thần linh. Tuy nhiên, Đức Giêsu chính là hiện thân của sự Khôn Ngoan thần linh. Thật khôi hài, những người đi tìm sự Khôn Ngoan thần linh lại tìm thấy sự Khôn Ngoan hiện thân khi họ bước theo Đức Giêsu. Rồi tác giả cũng cho thấy Đức Giêsu giải thích Kinh Thánh, và thường quy chiếu về bản thân Người. Chẳng hạn, Người thực hiện một midrash[1] về Tv 78,24 trong Diễn từ về bánh ban sự sống (Ga 6,26-51). Từ cách hiểu tổng quát về Đức Giêsu như thế, rất có thể tác giả mô tả hai môn đệ đi đến với Đức Giêsu như đến với người có thể giải thích Kinh Thánh. Nếu vậy, hẳn là họ đã có lý khi thưa “Rabbi” (Ga 1,38),  nhưng danh hiêu này cũng phản ánh cách các thành viên của cộng đoàn tác giả hiểu về Đức Giêsu. Do đó, câu hỏi của hai ông “Thầy ở đâu?” đã được Đức Giêsu nâng lên một bình diện ý nghĩa khác (x. phản ứng của Đức Giêsu đối với câu nói của Đức Maria tại tiệc cưới Cana: Ga 2,3-4), khi Người bảo các ông bằng một câu nặng chất đức tin: “Hãy đến và các anh sẽ xem thấy”.

Hai môn đệ hỏi: “Thầy ở đâu?”. Câu hỏi này không đơn giản như thoạt nhìn. “Ở/ở lại”, menô, là một động từ tác giả rất ưa chuộng (67 lần trong truyền thống Gioan; 40 lần trong TM IV; 51 lần trong phần còn lại của Tân Ước).

Mặc dù thỉnh thoảng tác giả sử dụng động từ này theo nghĩa thông thường là “ở lại, stay” hoặc “sống, live”, ngài rất thường dùng từ này theo một nghĩa thần học sâu sắc. “Ở [lại]” thường gợi lên một khoảnh khắc đặc biệt quan trọng trong lịch sử cứu độ (Để diễn tả ý nghĩa này, có những tác giả dịch là “abide”). Đức Giêsu “ở lại” với các môn đệ đang tin vào Người (Ga 2,12; 4,40; 7,9; 10,40; 11,6.54; 14,25). Đám đông nói rằng Đấng Kitô “ở lại” (tồn tại) mãi mãi (Ga 12,34), nhưng tác giả gợi ý rằng Đức Giêsu ở lại Nhà của Cha Ngài (Ga 8,35). Trong các bài diễn từ cáo biệt (Ga ch. 13–17), tác giả trình bày rộng rãi ý nghĩa đích thực của “ở lại”. Đức Giêsu trở về với Chúa Cha để chuẩn bị một chỗ cho các môn đệ để họ được ở với Người (Ga 14,2-3).

Chúa Cha ở lại trong Đức Giêsu (Ga 14,10) và Thánh Thần ở lại trong các môn đệ của Đức Giêsu (Ga 14,17). “Ở lại” không chỉ là “ở với”, mà còn có nghĩa là “ở trong”. Trong thực tế, có một sự “ở lại trong nhau” giữa Đức Giêsu và các môn đệ. Họ ở lại trong Người và Người ở lại trong họ (Ga 15,4.5.7). Các môn đệ ở lại trong tình thương của Đức Giêsu (Ga 15,9.10), và các lời Người ở lại trong họ (Ga 15,7). Ý nghĩa tối hậu của Bí Tích Thánh Thể là: đây là một phương tiện để ở trong nhau và hiến mạng sống cho nhau (Ga 6,56).

Tất cả những điều này đã được tiên báo khi Đức Giêsu mời hai môn đệ vô danh đến và xem Người ở đâu. Không phải là Người muốn họ đến mà thăm cái lều người Ả-rập du cư (bedouin) hoặc một nhà trọ nào bên đường. Người mời họ đến mà nhận thấy rằng Người đang ở với Chúa Cha và Chúa Cha đang ở với Người. Họ đến mà trải nghiệm rằng sống chung với Người chính là điều duy nhất quan trọng của đời sống Kitô hữu.

Cũng như Gioan đã thấy (horaô) Thần Khí ở lại (menô) trên Đức Giêsu, các môn đệ được mời xem/thấy (horaô) nơi Đức Giêsu ở (menô). Đây không phải là một vấn đề nhìn xem bằng cặp mắt thể lý, mà là một nhận thức nhờ đức tin. Như ông Gioan đã trải nghiệm cái nhìn mà Thiên Chúa đã hứa (cc. 32.34), các môn đệ cũng chấp nhận lời mời của Đức Giêsu: “Hãy đến và các anh sẽ xem thấy, erchesthe kai opsesthe” (1,39). Một lời mời gọi (các anh hãy đến) và một lời hứa (các anh sẽ thấy). Họ đã đến, tức là rời bỏ vị trí, quan điểm, lập trường của họ, để đi vào vị trí, quan điểm, lập trường của Đức Giêsu, và họ đã “xem thấy”. Họ đã nhận ra nơi Đức Giêsu đang ở thật sự.

* Anrê (40-42a)

Đến đây, tác giả cho biết một trong hai môn đệ ấy là Anrê, em của Simôn Phêrô. Truyền thống và nhiều nhà chú giải hiện đại nghĩ rằng người môn đệ vô danh kia chính là người môn đệ Chúa thương mến. Truyền thống cũng đã đồng hóa tác giả TM IV với người môn đệ Chúa thương mến và đồng hóa người môn đệ Chúa thương mến với Gioan, con ông Dêbêđê. Các học giả Kinh Thánh hiện đại khá dè dặt đối với các kiểu đồng hóa này. Dù sao, không có gì chắc chắn để chúng ta có thể đồng hóa người môn đệ vô danh trong Ga 1,35-39 với con ông Dêbêđê (Giáo sư Boismard nghĩ là Philípphê). Quả thế, nếu con ông Dêbêđê là bạn của Anrê vào dịp họ được gọi làm môn đệ, thì đây hẳn là lần duy nhất trong toàn bộ Tân Ước, Gioan con ông Dêbêđê đi đôi với Anrê. Thông thường Gioan đi đôi với anh là Giacôbê (x. chẳng hạn Mt 4,21; Mc 3,17; Lc 5,10…), còn Anrê thì đi đôi với anh là Phêrô (x. Ga 1,40-42). Simôn Phêrô chưa xuất hiện, nhưng vì ông được biết nhiều, nên chỉ cần nêu tên ông ra là có thể xác định được Anrê. Trong truyền thống của Họi Thánh sơ khai, Anrê chỉ là em của Phêrô thôi (Mt 4,18; 10,2; Mc 1,16 (29); Lc 6,14). Tuy nhiên tác giả TM IV có cách phác họa riêng Anrê.

Trong các TMNL, tên Anrê luôn xuất hiện trong một danh sách. Danh sách này có khi chỉ có hai tên (Mt 4,18; Mc 1,16.29), có khi bốn tên (Mc 3,18; Cv 1,13), có khi mười hai tên (Mt 10,2; Mc 3,13; Lc 6,14), nhưng không cho thấy Anrê có phận vụ gì cả. Anrê chỉ là em và bạn đồng hành của Phêrô hoặc là một trong Nhóm Mười Hai. Nhưng với TM IV, Anrê được phác họa ra như một người môn đệ đích thực của Đức Giêsu. Thậm chí ông còn là một môn đệ có điều gì đó mà nói ra. Ông nói với anh mình (Ga 1,41), và ông nói với Đức Giêsu (Ga 6,9; x. 12,22). Rõ ràng là tác giả có một “luận đề về đời môn đệ” (Ga 1,35-39) và ngài tìm cách minh họa luận đề này bằng “ví dụ Anrê”.

Đối với ngài, Anrê là một con người bằng xương bằng thịt, xuất thân từ một thành phố có thật: Bétxaiđa (Ga 1,44), một thành của miền Galilê (Ga 12,21). Anrê là một môn đệ đã đi theo trọn chương trình về đời môn đệ. Ông đã nghe lời chứng về Đức Giêsu. Ông đã bước theo Đức Giêsu. Ông đã nêu chứng từ về Đức Giêsu cho những người khác. Nhận lời chứng về Đức Giêsu, trở thành một môn đệ, và cống hiến chứng từ về Đức Giêsu cho những người khác như một cách diễn tả đời môn đệ của mình, đây là cái pattern (mô hình đơn giản) thông thường về đời môn đệ theo cái nhìn của TM IV. Cũng như Anrê có điều gì đó mà nói về Đức Giêsu cho anh mình (Ga 1,41), Philípphê cũng có điều gì đó mà nói về Đức Giêsu cho Nathanaen (Ga 1,45), và người phụ nữ Samari cũng có điều gì đó mà nói về Đức Giêsu cho các dân trong thành của bà (Ga 4,29.39). Trong cái chuỗi phản ứng từ chứng từ đến chứng từ này, Tin Mừng tiếp tục được loan báo và người ta có thể tin.

Tác giả ghi nhận là “trước hết (prôton), ông đi tìm gặp (heuriskei) anh mình” (Ga 1,41). Điều đầu tiên mà người môn đệ mới này đã làm là đi tìm anh mình và nói về Đức Giêsu cho ông. Đã được đưa vào trong “phong trào” của các môn đệ Đức Giêsu, Anrê phải kể cho ai đó về Đức Giêsu, và anh ông là Simôn là người may mắn hưởng nhờ chứng từ của ông đầu tiên. “Chúng tôi đã tìm thấy Đấng Mêsia”. Một lần nữa, tác giả dịch một công thức Híp-ri ra tiếng Hy Lạp: “nghĩa là Đấng Kitô”. Vì tác giả cho thấy Anrê làm chứng cho Đức Giêsu là Đấng Mêsia (Kitô), ta có một sự xác nhận là lời chứng của ông Gioan nói rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa (Ga 1,34) là chứng từ về tư cách Mêsia của Người. Qua cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu, Anrê đã nhận ra sự thật của lời chứng của ông Gioan. Trước đây, Anrê đã được mô tả như là một người đang đi tìm (Ga 1,38); bây giờ ông được giới thiệu như là người đã tìm thấy. Kẻ đi tìm đã tìm thấy nơi Đức Giêsu điều ông vẫn đang đi tìm lâu nay.

Lúc đầu Anrê đã gọi Đức Giêsu là Rabbi, “thầy của con”, bây giờ ông gọi Người là Mêsia, “Đấng được xức dầu”. Khi tác giả phác họa các môn đệ thưa với Đức Giêsu như một rabbi, thường ngài mô tả cho thấy các môn đệ này đến với Đức Giêsu và đặt một câu hỏi (Ga 1,38; 6,25; 9,2;11,8) để được chỉ giáo thêm. Đấy là thói quen của các học trò Do Thái. Các môn đệ ra khỏi cuộc gặp gỡ, đã học thêm được điều gì từ nơi thầy. Đây là trường hợp của Anrê, cũng như sau này là trong của Nathanaen (Ga 1,49) và Maria Mácđala (20,16.18).

Nói rằng tác giả coi Anrê là một môn đệ đích thực của Đức Giêsu, điều này được nêu rõ qua lời tuyên xưng đức tin của ông vào Đức Giêsu. Ông công bố: “Chúng tôi đã đã tìm thấy (heurêkamen) Đấng Mêsia” (Ga 1,41). Ở bình diện tường thuật, “chúng tôi” đây là Anrê và người môn đệ vô danh. Ở một bình diện sâu hơn, “chúng tôi” đây, theo truyền thống Gioan, là toàn thể nhóm của tác giả đang tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu Mêsia qua môi miệng Anrê.

Như thế, trong bài tường thuật rất ngắn về vai trò của Anrê (Ga 1,[35-39].40-41), tác giả phác họa Anrê như là người môn đệ đích thật. Điều đáng lưu ý, đó là Anrê được thúc đẩy mạnh mẽ bởi lý tưởng dấn thân làm môn đệ đến nỗi ông đi tìm anh để kể về Đức Giêsu và đưa anh tới với Đức Giêsu. Nếu có một nét căn bản, không thay đổi, mà TM IV rút ra được từ dung mạo Anrê, đó là Anrê đưa người ta đến với Đức Giêsu.

* Simôn (42b)

Simôn Phêrô là một dung mạo quen thuộc với độc giả, vì ông được nêu tên như thế (Ga 1,40), dù sau đó hai câu, tác giả xác định là tên thật của ông là Simôn (Ga 1,42), còn Phêrô là biệt danh Đức Giêsu ban cho ông.

Simôn được em là Anrê giới thiệu về Đức Giêsu là Đấng Mêsia rồi cũng được em giới thiệu với Đức Giêsu. Như thế, con đường Simôn Phêrô theo để đến với Đức Giêsu là con đường thông thường: ông được một người đã tin làm chứng và đưa đến với Đức Giêsu; ông chấp nhận chứng từ đó và đích thân đến gặp Đức Giêsu và khám phá ra quan hệ duy nhất giữa ông với Ngài.

Vậy Simôn Phêrô là một môn đệ khác của Đức Giêsu. Nhưng có điều gì đó chỉ có nơi người môn đệ này. Được đưa đến với Đức Giêsu nhờ lời tuyên xưng của em vào Đấng Mêsia, Phêrô được Đức Giêsu ngỏ lời với theo cách huyền bí: “Anh là Simôn, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha” (Ga 1,42). Công thức này, được Đức Giêsu nói ra trong khi Ngài nhìn ông, tương tự công thức mạc khải có ở Ga 1,29.36.47; 19,26-27.

Đức Giêsu đặt cho Simôn một tên mới, tác giả ghi nhận điểm này để nêu bật quan hệ có một không hai giữa Simôn Phêrô và Đức Giêsu, nhưng cũng để cho thấy Đức Giêsu có một uy quyền. Khi đặt tên cho Phêrô, Đức Giêsu cũng còn muốn xác định cho ông một căn tính mới, một vai trò mới trong cuộc sống, thậm chí một định mệnh mới (x. Abram và Giacóp: St 32,38; 35,10). Nói đến tầm quan trọng của tên mới của Simôn, chúng ta đều nhớ đến đoạn văn Mt 16,15-19. So với hoạt cảnh tương đối dài đó được Mt mô tả, bản văn của TM IV thật quá ngắn; nó chỉ tương tự với những câu ngắn nói về việc đổi tên ở Mt 10,2; Mc 3,16 và Lc 6,14, chứ không sánh được với bản văn Mt 16. Có thể nói kịch bản này là do tác giả TM IV sáng tác ra cho phù hợp với phần tường thuật của ch. 1 của TM. Tuy nhiên, tác giả không suy diễn gì về việc đổi tên hay về ý nghĩa của tên mới cả. Ngài chỉ dịch tên A-ram mới “Kêpha” thành một tên Hy Lạp mới tương đương là “Phêrô” (Petros) thôi. Ngài cũng chẳng nói gì đến tảng đá, và càng không nói đến Họi Thánh xây trên một tảng đá. Ngài cũng không có một suy tư gì về vai trò của Phêrô như người giữ cửa với quyền chìa khóa. Dù sao, đối với tác giả, tên mới này quan trọng, bởi vì ngài thường xuyên gắn nó vào tên Simôn (trừ hai lần chỉ có tên Simôn, tất nhiên: Ga 1,41.42, và vài lần chỉ có tên Phêrô: 1,44; 13,37; 18,11.16.17.18.26.27; 20,3.4; 21,7.17.20.21). Chúng ta sẽ có một dung mạo Simôn rõ ràng hơn khi đọc trọn TM IV.
+ Kết luận  

Trong bài tường thuật này, có những yếu tố chính của một ơn gọi làm môn đệ: 1) gặp gỡ đích thân Đức Giêsu; 2) khám phá ra Đức Giêsu là một con người siêu phàm; 3) cuối cùng, thay đổi định mệnh. Cuộc đời mỗi người là một chuyến “đi tìm” Đức Giêsu, được Người dẫn dắt, rồi sau khi đã thực sự “tìm ra, tìm thấy” Người, thì đi giới thiệu cho người khác. Đấy là một chu kỳ giúp mọi người tin Đức Giêsu và được cứu độ.    

5.- Gợi ý suy niệm

1. Chúng ta nghĩ đến sự thẳng thắn và cương trực của Gioan Tẩy Giả. Ông đã làm chứng về Đức Giêsu, đã giới thiệu Người là Đấng Mêsia. Sau đó, ông đã chứng kiến các môn đệ rời bỏ ông mà đi theo Đức Giêsu: điều ông nói đang được thể hiện, “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (3,30). Báo trước những thất thế của mình đã là khó, nhưng vẫn còn dễ hơn là bình thản sống những thất thế đó khi chúng xảy đến. Gioan biết mình là ai và đã can đảm sống sứ mạng cho đến cùng.

2. Lời mời gọi và lời hứa của Đức Giêsu hết sức quan trọng: “Hãy đến và các anh sẽ thấy!”. Tất cả mọi chuyện đều nhắm đến cuộc gặp gỡ sống động và riêng tư. Đức Giêsu không giao cho những kẻ đi theo Người một quyển sách chứa đựng các giáo thuyết và điều luật phải học và phải tuân giữ, nhưng Người kêu gọi họ đi vào một tương quan riêng tư với Người, đi vào hiệp thông với Người. Phần họ, họ không được giữ một khoảng cách an toàn với Người để mà chỉ việc quan sát, nhưng phải dấn thân vào, phải đi với Người, phải đưa bước trên nẻo đường Người đi.

3. Có những thành kiến nào có thể ngăn cản người ta nhận biết Đức Giêsu? Có điều gì đang ngăn cản tôi, về phương diện trí thức hoặc tình cảm, khiến tôi không nhận ra Người là Con Thiên Chúa, ngang bằng với Thiên Chúa? Lâu nay tôi tự hào là mình đi theo Đức Giêsu, mình là môn đệ của Người, thật ra quan hệ của tôi với Người có thật sự sống động? Vì sao? Dường như tôi chưa thật sự “đến” với Người, nên cũng chưa thật sự “thấy” được điều Người muốn mạc khải cho?

4. Anrê không gặp Simôn Phêrô tình cờ, nhưng đã chủ ý đi tìm ông này, để đưa ông tham dự vào kinh nghiệm mới mẻ và lạ lùng của ông: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia”. Anrê không chỉ giới hạn vào việc làm chứng, ông còn dẫn Simôn đến gặp Đức Giêsu. Có vô số nẻo đường cụ thể đưa người ta đến với Đức Giêsu: tôi nghĩ đến những nẻo đường đã đưa tôi đến với Người. Trên các nẻo đường này, có lời chứng và gương sáng của những người khác góp vào. Nhưng chắc chắn phần quan trọng vẫn là kinh nghiệm thiết thân tôi có về Đức Giêsu. Hôm nay, phải chăng tôi là một Anrê đưa được người khác đến với Đức Giêsu, không phải chỉ bằng lời nói suông, mà bằng chính kinh nghiệm sống tôi đã và vẫn đang có?

-------------------------------------------------
[1] Midrash: Một cách chú giải Kinh Thánh theo kiểu các kinh sư. Thường các kinh sư lấy các câu văn Cựu Ước rồi diễn dịch, và ghép vào bản dịch của mình những chi tiết mang tính huyền thoại hoặc tưởng tượng, để giáo dục dân chúng.



 

TN2-B58. CÁC ANH TÌM GÌ THẾ?


Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

 

Nhiều nhà chú giải Kinh Thánh cho rằng, tông đồ Gio-an, tác giả cuốn Tin Mừng thứ tư đã: TN2-B58


Nhiều nhà chú giải Kinh Thánh cho rằng, tông đồ Gio-an, tác giả cuốn Tin Mừng thứ tư đã phỏng theo Sáng Thế Ký mô tả cuộc sáng thế phân bổ trong thời gian bảy ngày để nói về cuộc gặp gỡ và khám phá con người đức Giê-su cũng trong bảy ngày (số bảy là con số hoàn hảo chăng?) (Xem cc1,29.35.43 và 2,1). Tuần lễ khám phá khởi đầu bằng một khảng định của Gio-an Tẩy Giả: “Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết” (c.1,26) tương tự như sự hỗn mang của vũ trụ lúc khởi thủy. Trong tuần lễ ấy Gio-an Tẩy Giả sẽ là người đầu tiên khám phá đức Giê-su; sau đó đến lượt các ông Gio-an, An-rê và Si-mon, Phi-lip-phê và Na-tha-na-en. Ngày cuối của ‘tuần lễ khám phá’ chính là ngày tiệc cưới tại Ca-na khi ‘Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên… và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người’ (c. 2,11). Đúng là ngày sung mãn, ngày nghỉ ngơi của cả một công trình vĩ đại!

Có thể nào cuộc gặp gỡ và khám phá đức Giê-su lại được coi là quan trọng tới thế sao?

Đúng là như thế, nhất là đối với môn đệ Gio-an. Vì nhiều năm tháng sau, khi đã về già, ông vẫn còn nhớ như in tới từng chi tiết cuộc gặp gỡ và tìm hiểu đầu tiên, ‘lúc đó vào khoảng giờ thứ mười’ của ngày thứ ba (hôm sau c. 35) của tuần lễ khám phá. Và nếu quả thực là như thế thì các chi tiết của lời thoại cũng như hành động trong cuộc gặp gỡ này cũng hoàn toàn chính xác và đầy ý nghĩa.

-         Các anh tìm gì thế?

Câu nói đầu tiên của đức Giê-su được tác giả Gio-an ghi nhận trong sách Tin Mừng của ông cũng thật kỳ lạ. Lẽ ra khi phát hiện ra hai môn đệ ông Gio-an Tẩy Giả đang đi theo mình, câu hỏi tự nhiên phải là, ‘các anh đang tìm ai vậy?’ Đó phải chăng chính là điều hai môn đệ đang muốn biết sau lời giới thiệu của Gio-an Tẩy Giả ‘Đây là Chiên Thiên Chúa!’ Hai ông muốn biết thêm về nhân vật bí ẩn ‘đang đứng giữa các ông mà không ai hay biết’. Câu hỏi của đức Giê-su đòi các ông phải nhìn việc khám phá Con Người từ một góc cạnh hoàn toàn khác. Biết đức Giê-su là ai sẽ chỉ là lý thuyết và chẳng đưa tới đâu nếu không xuất phát từ một khát vọng thâm sâu tự chính cõi lòng mỗi người. Nhiều người (kể cả không phải là Ki-tô hữu) tra cứu học hỏi về đức Giê-su, nhưng chỉ có Ki-tô hữu mới biết được Người là Đấng Cứu Độ của chính bản thân mình. Có phải đức tin hệ tại ở điều này hơn là ở hiểu biết?

-         Thưa Thầy, Thầy ở đâu? – Hãy  đến mà xem – Họ đã đến, xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy.

Cả câu hỏi lẫn câu trả lời, và sự việc sau đó trong cuộc gặp gỡ này đều không có chút gì là tri thức, là trừu tượng, là giải thích. Đơn giản chỉ xoay quanh một trải nghiệm. Lẽ ra người môn đệ phải lấy việc học tập nghiên cứu học thuyết làm chính, phải tìm tòi, hiểu biết tinh thần Người trước khi chấp nhận theo. Đàng này Gio-an cho biết tất cả những gì họ thỏa thuận với Người chỉ là có được với nhau một chia sẻ sống, một trải nghiệm thân mật và một tiếp xúc cá nhân. Thế thì ta phải gọi điều này là gỉ? Hạn từ ‘môn đệ’ (discipulus) không đủ để diễn tả nội dung này. Sau này đức Giê-su sẽ triển khải thêm bằng nhiều kiểu nói rất khác thường như: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em… Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy… Để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta…” (Ga 15, cc 4.9; 17,21). Đối với Gio-an, giờ phút trở thành môn đệ không phải là lúc được nghe thầy Giê-su gọi “Các anh hãy theo tôi…” (Mc 1,17), mà là chính là lúc đi vào trải nghiệm sống động này, ‘Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười’.

Đối với tôi cũng vậy, nếu chưa đi được vào trải nghiệm này, tôi sẽ chưa phải là một Ki-tô hữu thực thụ, chứ chưa nói là một linh mục hay tu sĩ. Do đó cử hành Thánh Lễ và Rước Lễ chính là giây phút tôi trở thành ‘người môn đệ’ hơn khi nào hết! Tôi có xác tín điều đó không?

Lạy Chúa Cứu Độ, lẽ ra con phải sẵn sàng đánh đổi mọi hiểu biết tri thức con có về Chúa để lấy một chút trải nghiệm kết hiệp, nhưng con vẫn chưa dám làm thế. Lý do thâm sâu là tại con vẫn chưa hề dám trả lời cách trung thực và khiêm tốn câu Chúa đã hỏi , ‘các anh tìm gì thế?’ Xin cho con tới với Chúa trong ý thức ngày càng sâu hơn về thân phận yếu hèn cần tới ơn cứu độ, để con ‘đến và nghiệm thấy’ thầy thuốc đầy từ tâm và nhân ái sẵn sàng tha thứ và xót thương. Amen

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB


 

TN2-B59. “HÃY QUÊN ĐI CÁI TÔI .. . ”


Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

 

Có một bài hát sinh hoạt quen thuộc vẫn mời gọi chúng ta: “Hãy quên đi cái tôi để mang Chúa: TN2-B59


Có một bài hát sinh hoạt quen thuộc vẫn mời gọi chúng ta: “Hãy quên đi cái tôi để mang Chúa đi vào đời”. Xem ra để mang Chúa vào đời phải quên đi cái tôi của riêng mình để sống cho Thiên Chúa. Xem ra để mang Chúa vào đời phải từ bỏ tham vọng của cái tôi ích kỷ để Chúa được lớn lên trong đời sống chứng nhân của chúng ta. Vì ở đời ai cũng thích danh vọng. Ai cũng mong cho mình được nổi tiếng, được trở thành ân nhân của xã hội. Xem ra từ thích danh vọng đến hám danh hám lợi thật gần, gần đến nỗi nhiều người đã trơ trẽn nhận phần vinh quang về mình, cho dù vinh quang đó không do công của mình.

Ngày nay ai cũng sợ bệnh thành tích. Vì nó là nguyên nhân dẫn để ham danh hão huyền. Vì nó  là nguyên nhân dẫn đến biết bao tiêu cực bởi sự gian dối, lường gạt. Những con người ham danh thường là sống giả dối, thiếu chân thật. Những con người ham danh thường tìm vinh quang về mình. Thích được tán thưởng. Thích được biết ơn. Nhưng đôi khi họ chỉ là một loại Lý Thông cướp công Thạch Sanh như trong truyện dân gian Việt Nam.

Có một nhà truyền giáo tâm sự rằng: ngài đã từng truyền giáo tại Đông Timor. Đó là một đất nước nghèo nàn và lạc hậu. Người dân còn thiếu rất nhiều phương tiện tối thiểu của cuộc sống. Ngài đã vận động rất nhiều các cá nhân và tổ chức từ thiện ở mọi nơi để giúp đỡ cho người dân Đông Timor. Nhiều nơi hưởng ứng và nhờ đó ngài đã có rất nhiều tặng phẩm để tặng cho người nghèo. Tự nhiên ngài được người dân kính nể, yêu mến và biết ơn. Thế nhưng, ngài lại mắc cở khi được người đời ca tụng. Vì ngài biết rất rõ, ngài chỉ là kẻ phân phát, là trung gian chứ không phải là chủ nhân. Ngài chẳng có chỉ ngoài đôi tay để đón nhận và trao ban. Ngài không có quyền nhận cái không phải của mình. Vì tiền bạc, của cải là của những nhà hảo tâm trao cho ngài để ngài trao đến cho anh em nghèo khó. Từ đó, ngài đã rút ra kinh nghiệm rằng: cái khó của người làm công tác từ thiện là làm sao đừng nhận mình là người ban phát, đừng tưởng rằng những tặng phẩm đó là của mình cho người nghèo. Hãy khiêm tốn đừng nhận phần đó về mình là những lời khen, những lới tán dương . . . Hãy biết cho đi cả danh dự của mình, vinh quang của mình. Hãy tự biết mình chỉ là tôi tớ hèn mọn được Chúa sử dụng mang lại niềm vui cho những anh em nghèo khó.

Đó cũng là cung cách của thánh Gioan Baotixita. Ngài luôn sống khiêm tốn trước mặt mọi người. Ngài đã từng không dám nhận phần vinh dự về mình, khi ngài nói: “Có Đấng đến sau tôi. Ngài cao trọng hơn tôi. Tôi không đáng cởi dây giầy cho Người”. Ngài đã từng mong ước cho đời sống chứng nhân của ngài luôn “nhỏ bé để Chúa được lớn lên”. Ngài chỉ muốn những việc ngài làm sẽ dẫn người khác đến với Chúa. Ngài muốn dùng cuộc đời chứng nhân của mình để tôn vinh Thiên Chúa.

Hôm nay, ngài cũng sẵn sàng để các môn đệ của mình đến với Chúa. Ngài không dám giữ các môn đệ cho riêng mình. Ngài đã giới thiệu cho các môn đệ về danh tính của Đấng Messia. Đây mới chính là Chiên Thiên Chúa. Đây mới xứng đáng là Thầy mà các ngươi cần đi theo. Ngài sẵn lòng để các môn đệ ra đi. Ngài biết phận mình chỉ là kẻ dọn đường cho Đấng Cứu Tinh nhân trần.

Ước gì ở đời có nhiều tâm hồn quảng đại sẵn lòng dấn thân làm chứng cho tin mừng của Chúa nhưng vẫn luôn khiêm tốn và ẩn mình đi. Dấn thân một cách vô vị lợi. Dấn thân một cách quên mình. Dấn thân để tôn vinh Thiên Chúa, chứ không tôn vinh mình. Dấn thân để làm vinh quang Thiên Chúa, chứ không nhằm rạng danh mình. Dấn thân để mang anh em đến với Chúa, để tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa, chứ không phải đến với mình để tâng bốc tán dương. Ước gì mỗi người chúng ta luôn có lòng quảng đại để cho đi cái riêng của mình để làm giầu có cho Thiên Chúa, như Gioan đã cho các môn đệ đến với Thầy Giê-su, như Anre đã mang em mình là Simon đến với Chúa. Ước gì chúng ta luôn nhỏ bé, khiêm tốn, đừng đề cao mình quá đáng, đừng tìm cách tán dương mình mù quáng. Hãy để những công việc mình làm cho danh Chúa được cả sáng.

Lạy Chúa, ở đời ai cũng thích được tán dương, được khen thưởng, được đề cao giữa mọi người. Người đời thường đua nhau danh vọng. Chính vì vậy mà cuộc đời không thiếu những thị phi, những bất công. . . Xin cho chúng con luôn khiêm tốn, bé nhỏ để Chúa được lớn lên trong cuộc đời chúng con. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền


 

TN2-B60: HÃY ĐẾN MÀ XEM


 Lm. Inhaxiô Trần Ngà

 

Thời gian trước năm 1950, vì chưa có vô tuyến truyền hình, nên mỗi lần có trận giao đấu: TN2-B60 


Thời gian trước năm 1950, vì chưa có vô tuyến truyền hình, nên mỗi lần có trận giao đấu giữa hai đội bóng đá mạnh, thính giả toàn quốc chỉ được nghe tường thuật về trận đấu qua làn sóng của đài phát thanh.

Thật khó hình dung nổi diễn tiến trận đấu với những pha đi bóng gay cấn, những cú sút ngoạn mục khi chỉ được nghe bằng tai.

Hiện nay, chuyện theo dõi trận đấu qua đài phát thanh đã thuộc về dĩ vãng vì ưu thế vượt trội của công nghệ truyền hình. Nhờ đủ dạng sóng truyền hình hiện đại bao trùm trái đất, người hâm mộ bóng đá từ phần nửa bên nầy địa cầu có thể chứng kiến, như thể tại trận, từng chi tiết, từng pha đi bóng của những cầu thủ trong những trận đấu diễn ra ở nửa bên kia trái đất.

Thế là từ khi có truyền hình, không ai mê bóng đá lại theo dõi trận đấu qua đài phát thanh nữa. Từ công nghệ truyền thanh chuyển qua truyền hình là cả một bước tiến vượt bậc. 
 
Hai hình thức mặc khải

Tiến trình mặc khải cũng trải qua hai chặng đường như thế.

Khởi đầu, Thiên Chúa không trực tiếp tỏ mình cho loài người xem thấy nhưng chỉ phán dạy qua các ngôn sứ, - như thể qua xướng ngôn viên trên các đài phát thanh - nên chân dung của Thiên Chúa còn rất mờ mịt đối với loài người. Thư Do-thái viết: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ” (Do-Thái 1, 1a).

Tiến sang giai đoạn hai, Thiên Chúa không còn mặc khải chính Mình bằng lời qua trung gian các ngôn sứ nữa, nhưng đã bày tỏ qua Con chí ái là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người. Thư Do-thái viết: “Nhưng vào thời sau hết nầy, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.” (Do Thái 1, 1b)

Thế là từ đây, Lời của Thiên Chúa - tức Ngôi Lời - không còn là tiếng nói từ cõi xa xăm vọng lại, nhưng đã mặc lấy một hình hài, một thân xác để cho mọi người không những được nghe tiếng mà còn có thể nhìn ngắm, đụng chạm, tiếp xúc với Ngôi Lời.

Tin Mừng thứ tư xác nhận: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” (Gioan 1, 14)

Thế là chương trình mặc khải của Thiên Chúa đã chuyển sang một khúc quanh mới: giai đoạn mặc khải qua hình ảnh, qua chân dung - như công nghệ vô tuyến truyền hình hiện nay - đã được khai mở. Nhờ đó, nhân loại không những có thể “nghe”, mà còn được “thấy tận mắt, được chiêm ngưỡng và được chạm đến Lời” của Thiên Chúa là Chúa Giê-su Ki-tô. (thư I Gioan 1, 1
)
Hãy đến mà xem

“Hôm ấy, ông Gio-an đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. Thấy Đức Giê-su đi ngang qua, ông lên tiếng nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa." Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giê-su. Đức Giê-su quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi: "Các anh tìm gì thế? " Họ đáp: "Thưa Thầy, Thầy ở đâu?" Người bảo họ: "Đến mà xem."  (Ga 1, 35-39)

Thế là hai anh em nầy không những đến xem mà còn ở lại với Chúa Giê-su, sống gắn bó với Người và trở thành môn đệ của Người.

Hôm nay, cũng như với hai môn đệ xưa, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta “hãy đến mà xem” Người. Nhưng chúng ta có thể nhìn xem Chúa ở đâu?

Hãy đến mà xem Chúa Giê-su tự trao hiến thân mình vì ta trong bí tích Thánh Thể: “Nầy là Mình Thầy sẽ bị nộp vì anh em… Nầy là Máu Thầy đổ ra cho anh em và nhiều người được tha tội”, để nhờ đó, chúng ta cảm nhận tình yêu tự hiến cao vời của Chúa Giê-su. “Không có tình yêu nào cao quý cho bằng tình yêu của người đã hiến mạng vì bạn hữu mình.”

Hãy đến mà xem Chúa Giê-su chịu khổ hình và chết thay cho chúng ta trên thánh giá để cảm nhận Thiên Chúa Cha yêu thương loài người đến mức tuyệt đối: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người”.

Hãy đến mà xem chân dung Chúa Giê-su được phác hoạ qua những trang Tin Mừng, qua đó, chúng ta xem thấy lòng thương xót của Chúa Giê-su rộng mở để đón nhận hết tất cả những người tội lỗi, bần cùng, bệnh tật yếu đau …

Ước gì chúng ta thường xuyên “đến mà xem” Chúa Giê-su trong Kinh Thánh, “ở lại với Người” nơi bí tích Thánh Thể, để rồi trở thành môn đệ thân tín của Người như An-rê và người bạn của ông.

Lm. Inhaxiô Trần Ngà


 

TN2-B61: ĐẾN MÀ XEM


AM Trần Bình An

 

Hành trình đến với Chúa ai cũng đều trải qua nhiều bước, lắm khi thăng trầm gian lao, thử: TN2-B61


Hành trình đến với Chúa ai cũng đều trải qua nhiều bước, lắm khi thăng trầm gian lao, thử thách, chứ chẳng mấy khi êm ả như hai ông Anrê và Gioan, đã khéo léo theo một lộ trình khá suôn sẻ đến ơn gọi. Tiên quyết, hai ông đã được ông Gioan Tẩy Giả chuẩn bị sẵn sàng hành trang. Nếu không có tấm lòng thành khẩn, hai ông đã không tìm đến với vị Tiền Hô khổ tu, để qua từng bước Thanh tẩy và khởi sự truy tầm ơn gọi.

Khi từ biệt gia đình thân quyến, bạn bè, xóm làng để ra di làm môn đẹ ông Gioan Tiền Hô, hai vị cũng dã nhiệt tình hưởng ứng lời kêu gọi thống hối, ăn năn, hầu sẵn sàng và xứng dáng diện kiến Đấng Cứu Thế. Một điều kiện ắt có cho bất cứ ai muốn tìm gặp Chúa.

San bằng những hầm hó tham lam, ham muốn đê tiện xấu xa, uốn nắn những khúc khuỷu lắt léo, điêu ngoa, man trá, dối gian, cùng tẩy xóa tội nhơ qua Phép Rửa, hai vị mới có truy tìm Ơn Gọi trên con đường thiên lý.

Nhưng kìa lạ thay, chính Chúa Giêsu lại chủ động mời gọi nhị vị, khi thấy họ chỉ dám lẽo đẽo, đeo bám theo Ngài từ xa xa. Nên Ngài mới ngoảnh mặt ngó lại, thân thương hỏi họ: “Các anh tìm gì thế?” Họ đáp: “Thưa Rabbi, Thầy ở đâu?” Người bảo họ: “Đến mà xem”.

Điều kỳ lạ trong đoạn Tin Mừng này theo Thánh sử Gioan, là câu trả lời của nhị vị đó lại là một câu hỏi ngược lại Chúa. Có lẽ họ quá sức bối rối, vì cảm thấy Chúa đã nhìn thấu tâm can, biết tỏ tường mong muốn nhiệt thành của họ, nên thay vì trả lời Ngài: “Chúng con tìm Ngài” thì họ lại mau mắn tôn Ngài làm sư phụ, tình nguyện làm đệ tử chân truyền: “Thưa Rabbi, Thầy ở đâu?”

Nhưng Sư phụ Giêsu không vộ trả lời cho họ, vì thực ra Ngài sống vô gia cư, làm gì có nhà cửa, dinh thự, lầu son gác tía. Ngài cũng chăng có nơi trú ẩn cố định, thì biết lấy địa chỉ nào cho các tân đệ tử. Bởi chưng “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9, 58). Vậy dưới con mắt thế gian, theo Thầy Rabbit Giêsu thì cũng như phiêu lưu cùng Thầy.

Người ngoài không hiểu được tại sao người ta theo tiếng gọi của Chúa, họ cho ta là điên. Chính Chúa Giêsu cũng bị Hêrôđê gọi là điên, và chúng ta hãnh diện được ở trong “nhà thương Biên Hòa” của Chúa. (ĐHY Fx Nguyễn Văn Thuận, ĐHV 68)

Chưa hết, khi đến xem tận mắt, biết nơi tạm trú xuềnh xoàng, nghèo nàn, xác xơ của Sư phụ, họ đã ở lại với Người ngày hôm ấy. một quyết định dại dột và bất ngờ với thiên hạ, nhưng là chọn lựa sáng suốt tuyệt vời của người theo Chúa. Bởi chưng họ đã tìm được Minh Chủ, đấng mà thầy cũ của họ đã loan báo vô cùng tôn kính:

“Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người.”(Ga 1, 27)

Thật vậy, gặp và sống bên Chúa Giêsu còn gì vui thích hơn, chẳng có gì trên thế gian có thể sánh nổi. Nên Chúa đã mời gọi: “Tất cả hãy đến với ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng. Ta sẽ bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách ta và hãy học cùng ta, vì ta dịu hiền và khiêm nhường trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ bình an. Vì ách của ta êm ái, gánh của ta nhẹ nhàng” (Mt 11, 30).

Lạy Chúa Giêsu, khi xưa Ngài đã kêu gọi các môn đệ, nay xin luôn nhắc nhở con dấn bước theo Ơn Gọi, để con được sống trong tình yêu vô biên của Ngài.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ cầu bầu con luôn biết tìm đến nương náu bên Chúa Giêsu qua Lời Chúa và Thánh Thể, hầu con được sung mãn hồng ân cứu độ. Amen.

AM Trần Bình An


 

TN2-B62: Chúa Nhật 2 Thường niên, B


(2009)

 

Phụng vụ mùa Thường niên bắt đầu với lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa, đánh dấu khởi đầu: TN2-B62 


          Phụng vụ mùa Thường niên bắt đầu với lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa, đánh dấu khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Người.  Tuy nhiên Chúa không thi hành sứ vụ đơn độc, nhưng Người kêu gọi một số anh em cộng tác với Người.  Ơn gọi là đề tài của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay.  Dù việc Chúa gọi xảy ra trong thời Cựu Ước hay trong Tân Ước thì nội dung cũng đều giống nhau.  Cậu Sa-mu-en được Chúa gọi trong Đền Thờ hoặc các môn đệ đầu tiên được Chúa Giê-su gọi là những câu truyện được lập lại ngay trong cuộc sống Ki-tô hữu mọi thời mọi nơi, dù mỗi người ở một hoàn cảnh đặc biệt.  Những câu truyện này còn đưa ta đi xa hơn, không chỉ làm môn đệ Chúa mà còn kết hợp mật thiết với Người.

1.  Đức Chúa gọi Sa-mu-en trong Đền thờ (bài đọc Cựu Ước – 1 Sm 3:3b-10.19)

          Nước Ít-ra-en dưới thời các Thủ lãnh đang tiến dần đến chế độ quân chủ.  Về phương diện chính trị, đây là dấu chỉ nói lên sự lớn mạnh của Ít-ra-en.  Nhưng đó cũng là mối đe dọa cho đời sống đức tin của dân Chúa.  Họ có thể mất sự thăng bằng, quá để ý đến thế quyền mà lơ là bổn phận phụng thờ Thiên Chúa.  Do đó cần phải có những người làm công việc nhắc nhở các nhà lãnh đạo và dân chúng Ít-ra-en phải gắn bó với Thiên Chúa, chứ đừng buông thả đi theo các thần ngoại và lối sống ngược lại với giao ước Thiên Chúa đã ban cho họ qua ông Mô-sê.  Chính trong bối cảnh này, Sa-mu-en đã chào đời và được cha mẹ dâng hiến cho Thiên Chúa để trong tương lai sẽ đảm nhận trách nhiệm ngôn sứ Người kêu gọi và trao phó.

          Câu truyện mô tả một cậu bé sống trong nhà Chúa và chăm chỉ phụ giúp công việc cho thầy tư tế Ê-li.  Mẹ của cậu đã tự nguyện dâng hiến cậu cho Thiên Chúa để Người hoàn toàn sử dụng.  Bà khẳng định với thầy Ê-li:  “Tôi đã cầu nguyện để được đứa trẻ này, và Đức Chúa đã ban cho tôi điều tôi đã xin Người.  Đến lượt tôi, tôi xin nhượng nó lại cho Đức Chúa.  Mọi ngày đời nó, nó sẽ được nhượng cho Đức Chúa” (1 Sm 1:27-28).  Sống với công việc phục vụ Đền thờ, “cậu bé Sa-mu-en lớn lên và đẹp lòng cả Đức Chúa lẫn người ta” (1 Sm 2:26).  Có những nét tương tự giữa Sa-mu-en với Chúa Giê-su, như ta đọc thấy trong Tin Mừng Lu-ca:  “Còn Đức Giê-su, ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến” (Lc 2:52). 

          Cuộc đời thơ ấu được ghi lại, đó là điều quan trọng, nhưng thời điểm được Chúa gọi còn quan trọng hơn nữa, vì tất cả được chuẩn bị cho một sứ mệnh cao cả.  Cho nên việc Chúa gọi Sa-mu-en quan trọng vì nó đánh dấu khởi đầu sứ mệnh ngôn sứ của ngài.  Điểm cảm động trong câu truyện này là thái độ sẵn sàng lắng nghe và đáp lại của Sa-mu-en.  Khi được thầy tư tế Ê-li chỉ bảo cách trả lời, cậu Sa-mu-en đã thưa với Chúa:  “Xin Ngài phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe” (1 Sm 3:10).  Phải lắng tai, không phải với đôi tai bằng thịt, nhưng đôi tai tâm hồn, thì mới nghe được tiếng Chúa gọi.  Rồi sau khi đã nghe Chúa gọi, ta còn phải tiếp tục nghe lời gọi của Người ngay khi ta đang thi hành sứ vụ Chúa trao.  Sa-mu-en đáp lời Chúa gọi, chu toàn tác vụ ngôn sứ, vì “Đức Chúa ở với ông và Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu” (1 Sm 3:19).

          Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế mặc lấy thân phận người phàm như ta.  Suốt cuộc đời trần thế, Người cũng sẵn sàng lắng nghe và đáp trả lời gọi của Thiên Chúa.  Đáp lởi gọi, Chúa Giê-su đã được cha mẹ đưa về quê hương sau những ngày trốn tránh bên Ai-cập (Mt 2:15).  Người được cha mẹ hiến dâng cho Thiên Chúa tại Đền thờ.  Năm 12 tuổi, Người đã ý thức rõ ràng tiếng gọi của Chúa Cha.  Người đã thẳng thắn giãi bày với cha mẹ:  “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2:49).  Khi đã trưởng thành và thi hành sứ vụ cứu thế, không lúc nào Người không tâm niệm làm theo thánh ý Chúa Cha, ngay cả đến vâng lời nhận cái chết cực hình để xóa tội trần gian.  Tóm lại, lời Thánh vịnh “Này con xin đến!” là châm ngôn đời sống của Chúa Giê-su (Tv 39:8a).  Người đã thực hiện lời Sách Thánh nói về Người:  “Trong sách có lời chép về con rằng:  con thích làm theo thánh ý, và ấp ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con” (Tv 39:8b-9).

2.  Như Chúa Giê-su đã gọi các môn đệ đầu tiên, Người cũng gọi ta làm môn đệ Người (bài Tin Mừng – Ga 1:35-42)

          Câu truyện Chúa Giê-su gọi các môn đệ đầu tiên gần gũi với ta hơn, so với việc Đức Chúa gọi Sa-mu-en trong Đền thờ, vì đó là câu truyện một vị Thầy (Ráp-bi) mời gọi người khác làm môn đệ mình.  Kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên không trực tiếp như trường hợp Chúa gọi ông Mát-thêu, nhưng qua sự giới thiệu hay đề cử của một người khác.  Cho dù gọi trực tiếp hay qua trung gian, Chúa Giê-su vẫn tôn trọng tự do của những người được gọi và mời họ trước hết “Đến mà xem”, rồi quyết định dứt khoát theo Người.  Ngay cả trường hợp ông Si-môn cũng vậy.  Ông không đích thân đến mà xem như hai môn đệ của ông Gio-an Tẩy giả, nhưng ông đã đến mà xem bằng cách lắng nghe anh mình là ông An-rê nói về Chúa, để rồi ông để cho anh dẫn mình đến với Chúa.

          Ta được mời gọi hãy “đi tìm” Chúa, “đến xem chỗ Người ở” và “ở lại với Người”.  Đó là tiến trình làm môn đệ Chúa.  Chúa gọi ta làm môn đệ.  Ta đáp lại lời gọi bằng cách tiến tới qua ba bước như trên, nghĩa là phải rời bỏ từ chính bản thân mình để làm cuộc hành trình đi tìm, đến xem và ở lại với Chúa.  Hành trình làm môn đệ Chúa đòi hỏi giá đắt, là phải rũ bỏ tất cả để chỉ còn tín thác vào một mình Chúa mà thôi.  Đây chính là hành vi của đức tin, giống như ông Áp-ra-ham đã “tin” vào Đức Chúa.  Chẳng vậy mà Chúa Giê-su thường lập lại nhiều lần việc “hãy tin vào Người”.  Cử chỉ Chúa “nhìn” ông Si-môn quả thực rất có ý nghĩa.  Cái nhìn của Chúa hàm chứa biết bao ý nghĩa.  Có thể là Chúa chấp nhận đức tin của ông.  Có thể là cái nhìn chan chứa tình yêu, diễn tả những gì lời nói không diễn tả nổi.  Có thể là cái nhìn của Thiên Chúa, Đấng “thấu suốt tâm can” con người.  Dầu sao cái nhìn ấy luôn luôn đem lại khích lệ, mời gọi đáp trả.

          Một chi tiết trong câu truyện Tin Mừng rất ý nghĩa đối với ta ngày nay, đó là việc hai môn đệ “đã đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm ấy”.  Thử hỏi chỗ Chúa Giê-su ở có gì thu hút ghê gớm đến độ hai ông quyết định ở lại luôn với Người?  Chắc chắn không phải là một biệt thự sang trọng, mà chỉ là một túp lều tạm bên bờ sông Gio-đan.  Cho nên chỗ Người ở chẳng có gì đáng xem cả.  Nhưng điều quan trọng là chính Đấng ở nơi ấy là ai.  Tiếp xúc với Chúa một buổi chiều là đủ để các ông đổi đời, quyết định làm môn đệ Người.  Như vậy, ta có thể hiểu khi nói “chỗ Người ở” là thánh Gio-an muốn nói đến lối sống và giao tiếp của Chúa Giê-su.  Cũng thế, ta không đến trước Nhà Tạm trong nhà thờ để “xem chỗ Người ở”, nhưng ta đến đó với mục đích duy nhất là để “gặp” Người và “ở lại” với Người.  Mỗi khi ta đến nhà thờ để gặp và ở lại với Chúa là ta sống việc làm môn đệ Chúa.  Nói như vậy thì có lẽ không ít người tuy đến nhà thờ mỗi Chúa Nhật, nhưng vì họ không gặp và ở lại với Chúa – sống quan hệ yêu mến – nên họ thực ra không phải là môn đệ Chúa.

3.  Hành trình làm môn đệ Chúa:  “Ai đã kết hợp với Chúa, thì nên một tinh thần với Người” (bài đọc Tân Ước – 1 Cr 6:13c-15a.17-20)

          Thánh Phao-lô được Chúa gọi trên đường ông đi Đa-mát để bắt bớ tín hữu Chúa.  Cuộc gặp gỡ với Chúa phục sinh tuy ngắn ngủi, nhưng lại gây một hiệu năng vô cùng sâu xa, biến đổi con người thù địch với Chúa Ki-tô thành một Tông đồ dân ngoại hết sức nhiệt thành.  Không được diễm phúc sống với Chúa những ngày Người thi hành sứ vụ rao giảng nên Phao-lô cố gắng “ở lại” với Chúa bằng cuộc đời tận hiến để chiếm hữu được Đức Ki-tô (xem Pl 3).  Với Phao-lô, làm môn đệ Chúa Ki-tô có nghĩa là “kết hợp với Chúa để nên một tinh thần với Người”.  Làm môn đệ Chúa đâu phải chỉ là cái danh, mà là phải thực sự kết hợp với Người và sống cũng như hành động theo tinh thần và lối sống của Người.  Có biết bao người vỗ ngực xưng mình là Ki-tô hữu, nhưng qua lối sống của họ ta chẳng nhận thấy tinh thần của Chúa đâu cả.

Tinh thần của Chúa là cao điểm người Ki-tô hữu phải đạt tới nếu họ muốn làm môn đệ Người.  Tinh thần biểu lộ tất cả những gì là tinh túy và đặc biệt nhất của một người hay một đoàn thể.  Mà tinh thần của Chúa Ki-tô chính là Thánh Thần hay tinh thần của Thiên Chúa.  Có “kết hợp” thì mới “nên một tinh thần” được.  Do đó, muốn thấm nhuần và hoàn toàn chịu ảnh hưởng tinh thần của Chúa Ki-tô, ta phải kết hợp với Người.  Kết hợp bằng cách “đi tìm Người, đến với Người và ở lại với Người”.  Những cách thức kết hợp này luôn luôn ở trong tầm tay của ta.  Ta có Kinh Thánh là nơi Chúa dạy dỗ ta, có Nhà Tạm Thánh Thể là nơi Người hiện diện mầu nhiệm, có đền thờ là chính tâm hồn ta làm nơi Người ngự trị.  Đọc và suy niệm Kinh Thánh là cách để ta hiểu biết tinh thần của Chúa.  Các bí tích, nhất là Thánh Lễ, là những môi trường đặc biệt để ta gặp gỡ Chúa.  Cuộc kết hợp ấy liên tục kéo dài suốt cuộc đời dương thế của ta sẽ đưa ta đến sự kết hợp vĩnh cửu với Chúa mai sau vậy.

4.  Sống Lời Chúa

          Làm môn đệ Chúa là đề tài hết sức rộng rãi, nhưng không kém phần lý thú và an ủi.  Chúa luôn mời gọi ta đi theo Người.  Ta quảng đại rũ bỏ mọi sự để đến và ở lại với Người.  Nhưng quan trọng hơn cả, đó là phải tạo một quan hệ yêu thương, nhờ đó ta để cho Thầy chí thánh rèn luyện ta, biến đổi ta thành một Ki-tô hữu đích thực, khiến cho ta sống nhưng không còn là ta, mà là Đức Ki-tô sống trong ta.

Suy nghĩ:  Chúa hỏi hai môn đệ ông Gio-an Tẩy giả đến với Người:  “Các anh tìm gì thế?”  Nếu Chúa cũng hỏi tôi câu hỏi như thế, tôi sẽ trả lời Người thế nào?  Câu trả lời ấy có được thực hiện trong cuộc đời tôi lúc này không?

Cầu nguyện:  Lạy Thiên Chúa là Đấng yêu thương loài người, chúng con khiêm tốn dâng lời khẩn nguyện:  xin gìn giữ chúng con luôn sống dưới quyền năng Chúa Thánh Thần và chúng con sẽ quảng đại hơn khi đáp lại ơn gọi làm Ki-tô hữu.  Nhờ đó chúng con có thể làm chứng cho chân lý và tích cực góp phần xây dựng sự hiệp nhất giữa những người tin, và đem lại bình an cho mọi người.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, lễ cầu cho các Ki-tô hữu được hiệp nhất)

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi


 

TN2-B63: CHÚA NHẬT 2 MÙA THƯỜNG NIÊN


(Gio-an 1: 35-42)

 

Một trong những đề tài lớn của các sách Tin Mừng là làm môn đệ Chúa Giê-su.  Chúa gọi ta: TN2-B63 


          Một trong những đề tài lớn của các sách Tin Mừng là làm môn đệ Chúa Giê-su.  Chúa gọi ta làm môn đệ Người.  Lời gọi của Chúa là khởi đầu cho ta đáp trả và hành trình lên đường đi theo Chúa để học với Người và thay đổi cuộc sống.  Mùa Thường niên của năm Phụng vụ (bắt đầu từ lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa cho đến mùa Chay và sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống cho đến mùa Vọng năm sau) là thời gian Giáo Hội dành cho ta học hỏi với Chúa để làm môn đệ Người.  Bài Tin Mừng hôm nay kể lại Chúa gọi các môn đệ đầu tiên đi theo Người.  Tuy biến cố đã xảy ra từ lâu, nhưng việc Chúa kêu gọi ta làm môn đệ Người ngày hôm nay thì vẫn như vậy.  Do đó ta có thể ôn lại truyện cũ để học lấy điều mới, hoặc để giúp ta hăng hái và quảng đại hơn trên đường theo Chúa.

 a)  Câu truyện Chúa Giê-su gọi những môn đệ đầu tiên

          Đọc câu truyện thánh Gio-an kể lại, thoạt đầu ta có cảm tưởng tất cả đều như chuyện tình cờ.  Chẳng lẽ Chúa gọi mấy môn đệ đầu tiên một cách đơn giản như vậy sao?  Chắc chắn không phải thế.  Lối viết của thánh sử rất đặc biệt.  Ngài không thuật lại câu truyện một cách chi tiết, nhưng chỉ nêu lên những hành động chính, để cho ta tự ý ráp nối lại.  Mà muốn ráp nối lại thì ta phải suy nghĩ, phải sắp đặt câu truyện, để rồi lúc nào đó biến câu truyện ấy thành câu truyện của chính mình.

          Trước hết, ta để ý tới một chi tiết nhỏ nhưng rất quan trọng, đó là “hôm sau”.  Ghi lại thời gian như thế, thánh Gio-an muốn ta đọc lại những gì đã xảy ra hôm trước.  Vậy hôm trước đã có cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và ông Gio-an Tẩy giả.  Ông đã làm chứng về Chúa và nói cho mọi người biết Chúa Giê-su là “Đấng Thiên Chúa tuyển chọn”.  Hôm sau, Chúa trở lại, đi ngang qua nơi ông Gio-an Tẩy giả và hai người môn đệ của ông đang đứng.  Ông Gio-an Tẩy giả đã chờ đợi giây phút Chúa trở lại để xin Chúa nhận những môn đệ của ông làm môn đệ Người.  Điều tâm niệm của ông là “Chúa Giê-su phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3:30).  Sứ vụ của ông là dọn đường cho Chúa, cho nên chuẩn bị môn đệ cho Chúa lại là việc càng nên làm hơn.  Hôm trước gặp Chúa, ông nhận biết Người là “Đấng Thiên Chúa tuyển chọn”.  Nhưng hôm nay, ông nói cho môn đệ ông biết thêm về Chúa, ông tuyên xưng Chúa Giê-su là “Chiên Thiên Chúa” và ông giới thiệu Chúa cho hai môn đệ của ông.  Nhờ lời ông Gio-an giới thiệu về Chúa, môn đệ ông mới đi tìm hiểu xem Chúa Giê-su là ai và sau đó quyết định đi theo Người.

          Trường hợp Chúa gọi ông Phê-rô cũng tương tự, nghĩa là qua lời giới thiệu của người khác.  Người anh của ông Phê-rô là An-rê, một trong hai người môn đệ của ông Gio-an Tẩy giả đã đi theo Chúa, về nhà nói cho Phê-rô biết về Chúa Giê-su.  Lời giới thiệu của ông An-rê lại cho ta biết thêm về Chúa Giê-su với một danh hiệu mới:  “Đấng Mê-si-a” nghĩa là Đấng Ki-tô.  Nếu Phê-rô chỉ “biết” Chúa Giê-su qua sự giới thiệu, thì Chúa Giê-su lại “biết” Phê-rô như một Chủ chiên biết con chiên mình.  Thánh sử viết:  “Đức Giê-su nhìn ông Si-mon và nói:  “Anh là Si-mon, con ông Gio-an, anh sẽ được gọi là Kê-pha” (tức là Phê-rô)”.  Cái nhìn của Chúa luôn đầy ý nghĩa, ngầm hiểu một mối quan hệ mật thiết giữa hai thầy trò.  Hơn nữa, việc đặt tên cho Simon còn có nghĩa là Chúa làm chủ Si-mon và trao cho ông một sứ mệnh cao cả.

 b)  Câu truyện Chúa gọi những môn đệ đầu tiên dạy ta điều gì? 

           Trước hết, Chúa đến với ta trước và gọi ta.  Thánh sử Gio-an gọi hành động Chúa đến với ta là Người “đi ngang qua”.  Hành động đi ngang qua ít gây chú ý, nên ta khó mà nhận ra Người.  Chính vì thế Chúa dùng một người nào đó để giúp ta ý thức sự hiện diện của Người.  Trong cuộc sống ta, chắc chắn rất nhiều lần Chúa đã “đi ngang qua”, nhưng ta đã không nhận ra, hoặc không muốn nhận ra Người.  Một khi ta đã nhận ra Chúa, Người sẽ gọi ta tiến thêm nữa.  Hai môn đệ ông Gio-an Tẩy giả đã cho ta thấy bước tiến ấy, tức là họ nhận ra Chúa theo lời thầy họ giới thiệu và đi theo Chúa, rồi họ đến nơi Người ở, và cuối cùng họ ở lại với Người.  Nói khác đi, hành trình làm môn đệ Chúa có những bước khác nhau.  Khởi đầu là nhận ra sự hiện diện của Chúa do sự giới thiệu hoặc lời chứng của người khác.  Kế tiếp là ra đi để tìm hiểu Người và yêu mến Người.  Sau cùng là trung thành theo Người.

          Hành trình làm môn đệ Chúa đòi ta phải luôn luôn đặt Chúa làm trọng tâm.  Câu hỏi Chúa Giê-su hỏi hai môn đệ:  “Các anh tìm gì thế?”  nhắc nhở chúng ta về đối tượng của việc làm môn đệ.  Nếu ta trả lời câu hỏi của Người:  “Lạy Chúa, con đang tìm Chúa đây!” thì Người sẽ mời gọi ta cứ tiến bước theo Người.  Còn nếu câu trả lời thành thực của ta là:  “Lạy Chúa, con đang tìm những thứ không phải là Chúa, con đang tìm danh vọng, tiền bạc, chức quyền...” thì câu hỏi ấy nhắc bảo ta phải quay về với Người là mục tiêu ta tìm kiếm.  Lời mời gọi “Đến mà xem” luôn luôn khích lệ ta đi sâu mỗi ngày một hơn vào mối quan hệ mật thiết với Chúa.

          Hành trình làm môn đệ cũng đưa ta đến gần Chúa đến độ “ở lại với Người”.  Tin Mừng Gio-an thường lập đi lập lại từ “ở lại với”, diễn tả một sự gắn bó chặt chẽ trong tình yêu của Chúa.  Chương 15 Tin Mừng Gio-an, câu 4 đến câu 10 lập đi lập lại mười lần từ “ở lại” diễn tả sự gắn bó tha thiết giữa Chúa và môn đệ, giống như cành nho gắn liền với cây nho. 

Có gắn bó và quan hệ mật thiết với Chúa như thế, ta mới thấy cần phải nói về Chúa cho người khác.  Những người ta sẽ nói cho họ biết về Chúa không phải là những người xa lạ, mà trước hết là chính những người thân thương của ta.  Ông An-rê đã nói với em mình biết về Chúa.  “Trước hết, ông gặp em mình là ông Si-mon và nói:  ‘Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a’”.  Như vậy, nơi môn đệ làm chứng cho Chúa trước hết phải từ gia đình mình.  Nói cho người khác biết về Chúa là công việc mỗi người phải làm để chuẩn bị cho Chúa có thêm nhiều môn đệ.

Sau hết, làm môn đệ Chúa là lãnh nhận một sứ mệnh.  Tiêu biểu là ông Si-mon Phê-rô.  Để lãnh nhận sứ mệnh của Chúa, ta phải từ bỏ mình và chấp nhận hy sinh.  Ông An-rê và người bạn đã từ giã thầy mình là Gio-an Tẩy giả để đi theo Chúa Giê-su.  Ông Si-mon từ bỏ cái tên cúng cơm cha mẹ đặt cho để mang một cái tên mới.  Việc này mang ý nghĩa ông trở thành một con người mới với một sứ mệnh mới sau khi theo làm môn đệ Chúa.  Thánh sử Mát-thêu thì diễn tả việc Phê-rô thay đổi con người qua lời dạy của Chúa Giê-su:  “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mt 4:19).

 c)  Suy nghĩ và cầu nguyện

          Chúa Giê-su đã “đi ngang qua” cuộc sống tôi trong những hoàn cảnh nào?  Tôi có nhận ra Người không?  Tại sao không?

          Câu hỏi của Chúa Giê-su “Các anh tìm gì thế?” đòi tôi phải trả lời thế nào?  Tôi có thường xét mình lại với câu hỏi này để luôn luôn lấy Chúa làm trọng tâm cuộc sống không?

          Chúa mời gọi tôi:  “Đến mà xem”.  Vậy tôi đã đến chưa?  Nếu đã đến, tôi thấy được gì nơi Chúa?  Những gì tôi đã thấy có giúp tôi đi thêm một bước nữa là học biết Chúa và lối sống của Người để yêu mến Người hơn không?  Nói khác đi, muốn theo Chúa trung thành thì phải biết Người rõ hơn và yêu mến Người nồng nàn hơn.  Vậy tôi có đi theo những bước tiến đó không?

          Tôi phải diễn tả việc tôi “ở lại với Chúa” như thế nào?

 Cầu nguyện

          “Lạy Chúa Giê-su, nhiều bạn trẻ đã không ngần ngại chọn những cầu thủ bóng đá, những tài tử điện ảnh làm thần tượng cho đời mình. Hôm nay Chúa cũng muốn biết chúng con chọn ai và chúng con thật sự đắn đo  trước khi chọn Chúa. Bởi chúng con biết rằng chọn Chúa là lội ngược dòng, theo Chúa là bước vào con đường hẹp: con đường nghèo khó và khiêm nhu, con đường từ bỏ và phục vụ. Hôm nay, chúng con chọn Chúa không phải vì Chúa giàu có, tài năng hay nổi tiếng, nhưng vì Chúa là Thiên Chúa làm người. Chẳng ai đáng chúng con yêu mến bằng Chúa. Chẳng ai hoàn hảo như Chúa. Ước gì chúng con can đảm chọn Chúa nhiều lần trong ngày, qua những chọn lựa nhỏ bé, để Chúa chiếm lấy toàn bộ cuộc sống chúng con, và để chúng con  thông hiệp với toàn bộ cuộc sống của Chúa.  A-men.”

(Trích RABBOUNI, lời nguyện 26)

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi


 

TN2-B64: THEO TIẾNG CHÚA GỌI


Ga 1, 35-42

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

Thiên Chúa luôn có cái nhìn, có cách và hoàn toàn tự do chọn, tuyển lựa những người đi theo: TN2-B64


Thiên Chúa luôn có cái nhìn, có cách và hoàn toàn tự do chọn, tuyển lựa những người đi theo Ngài, làm môn đệ của Ngài. Các người đi theo Chúa nghe tiếng gọi của Ngài, đã mau mắn tới với Chúa, ở lại và rồi đi theo Ngài. Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và các môn đệ đầu tiên được Tin Mừng giới thiệu hôm nay muốn gợi lên cho nhân loại ý tưởng ấy.

 DÕI THEO MỘT TIẾNG GỌI

Gioan Tẩy giả đã gặp gỡ Chúa, Ông không chỉ giữ cho riêng mình mà giới thiệu Chúa Giêsu cho các môn đệ của mình. Các môn đệ của Gioan Tẩy giả đã tới tìm gặp Chúa và ở lại với Chúa suốt ngày hôm ấy.Anrê là một người trong nhóm môn đệ đã gặp Chúa và về đưa em của mình là Simon đến gặp Chúa. Xem ra những cuộc gặp gỡ của những những người được Chúa để ý cũng tương tợ như vậy. Trở vể cựu ước ta sẽ thấy những ơn gọi đặc biệt và lạ lùng. Samuel trong đền thờ đang đêm nghe tiếng Chúa gọi. Lần thứ ba Ông đã thưa với Chúa:" Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe". Môsê gặp gỡ Chúa trong bụi gai rực đỏ. Đavít, chàng chăn chiên nhỏ bé, có mái tóc hoe hoe vàng được Chúa tuyển chọn. Nhiều ngôn sứ đáp lại tiếng Chúa gọi mời.Những cuộc gặp gỡ trong Tin Mừng đều na ná xẩy ra tương tự: một người gặp được Chúa, họ nong nả giới thiệu Chúa cho người khác.Các môn đệ đều được Chúa kêu mời trong những hoàn cảnh cụ thể: có người đang ngồi ở bàn thu thuế, có người đang ở dưới gốc cây vả, có người đang giặt lưới hoặc đang vá lưới với cha mình trên bãi biển vv.Mỗi cuộc gặp gỡ trong cuộc sống là một dịp nhận ra Tin Mừng, mỗi dấu chỉ trong cuộc đời là lời mời gọi gặp gỡ Chúa. Chúa là Tin Mừng, gặp gỡ, tìm ra được Tin Mừng là nhận ra Chúa đang hiện diện giữa dòng đời, giữa cuộc sống. Mẹ Têrêsa Calcutta đã tìm và nhận ra Chúa nơi những con người nghèo, nơi những người vất vưởng, hấp hối. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, mỗi lần tiếp xúc với giới trẻ là đem Chúa cho họ và họ nhận ra Ngài là hiện thân của Chúa Giêsu. Thi sĩ Paul Claudel nhận ra tiếng Chúa trong tiếng chuông ngân của giáo đường. Charles Foucauld đã nhận ra Chúa trong những giờ tĩnh lặng. Phanxicô khó nghèo đã nhận ra Chúa nơi vẻ đẹp của muôn loài muôn vật vv và vv. Mỗi người đều có những cảm nghiệm về ơn gọi và gặp gỡ Chúa. Samuen trong Cựu Ước, Đavít, Môsê và các ngôn sứ đã nghe tiếng Chúa v2 đã bỏ mọi sự để theo Chúa dù họ bất tài, kém cỏi. Trong Tân Ước, suốt lịch sử cứu độ là một lời mời gọi liên lỉ của Chúa. Con người cứ dần dần đáp trả tiếng Chúa kêu mời.

 TIẾNG CHÚA VẪN CÒN ĐÓ

Ngày nay nhiều nước rất hiếm ơn gọi. Sở dĩ ơn gọi bị khủng hoảng vì con người chạy theo những khoa học, những văn minh, vật chất vượt quá sức tưởng tượng của con người. Họ vẽ ra khuôn mặt của Chúa Giêsu bị méo mó. Họ tự nghĩ ra Chúa Giêsu hơn là chính khuôn mẫu Ngài đã hiện diện, đã có. Một nhà Kinh Thánh đã viết:" Đức Giêsu loan báo nước trời nhưng Giáo Hội đã đến"( Loisy ). Tìm gặp Đức Giêsu phải như mẫu mực của hai môn đệ tiên khởi. Người ta không thể gặp được Chúa trong sự xa hoa, tráng lệ và không phù hợp với nước trời. Một Giáo Hội nghèo với những con người chân thành, đơn sơ, chất phác, đó là Hội Thánh của Chúa Giêsu. Cuộc sống của con người chứa đựng biết bao chặng đường, nẻo đi, nơi đến của sự hiện của Chúa và lời mời gọi của Chúa Giêsu. Con người có niềm tin luôn sẵn sàng, chóng vánh và tỉnh thức để nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện, đang có mặt trong mọi trạng huống của cuộc đời. Chúa Giêsu trên thập giá là sự hiện diện tột đỉnh và mầu nhiệm nhất nói lên sự có mặt của Chúa giữa trần gian để cứu độ gian trần.Tin Mừng là Đức Kitô luôn là niềm vui, sự hạnh phúc mà con người có lòng tin đang lần mò tìm kiếm và đòi được chia sẻ, đòi được cảm thông. Tin Mừng luôn thúc bách con người cần phải được loan báo. Con người chỉ có thể sống Tin Mừng khi Tin Mừng được loan báo. Cuộc sống chứng nhân là lời loan báo mãnh liệt nhất và ý nghĩa nhất để rao truyền và giới thiệu Chúa Kitô cho người khác. Ơn gọi và tiếng gọi của Chúa vẫn vang lên. Nhưng thử hỏi con người có sống ơn gọi và nhận ra tiếng gọi của Chúa đang thôi thúc con người hay không ?

Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi người chúng con luôn mau mắn nhận ra tiếng Chúa trong cuộc sống của chúng con.

 GỢI Ý CHIA SẺ

Ơn gọi là gì ?
Bạn có lần nào đã nhận ra tiếng Chúa gọi hay không ?
Bạn cảm nghiệm gì về ơn làm con Chúa ?


 

TN2-B65: CHÚA NHẬT 2 QUANH NĂM


 Thánh ca và lời nguyện mở đầu

Kinh Thánh:       1 Cô-rin-tô 6: 13-15, 17-20

 

Để giúp hiểu và suy niệm bài thánh thư hôm nay, chúng ta nên nhìn lại mạch văn của đoạn: TN2-B65


          Để giúp hiểu và suy niệm bài thánh thư hôm nay, chúng ta nên nhìn lại mạch văn của đoạn Kinh Thánh. Trong đoạn 1 Cr 5:1-6:20, thánh Phao-lô nói đến ba vấn đề sau: trường hợp một người ăn ở với vợ kế của cha mình (5:1-13); việc tín hữu kiện nhau ở tòa đời (6:1-8); và tình trạng sống vô luân vẫn tiếp diễn trong cộng đoàn (6:9-20). Mặc dù ba vấn đề trên có vẻ không liên hệ với nhau, nhưng thực ra có cùng một nguyên nhân chính. Đó là tín hữu Cô-rin-tô chưa trưởng thành nên vẫn chưa hiểu được thế nào là một cộng đoàn được thánh hóa, theo như sự khôn ngoan của Tin Mừng đã dạy rằng Đức Ki-tô chịu đóng đinh để họ "loại bỏ men cũ để trở thành bột mới" (5:7). Vì không hiểu ý nghĩa của cộng đoàn được thánh hóa, nên: 1) họ đã không loại khỏi cộng đoàn hạng người sống loạn luân; 2) đã đem nhau ra tòa đời mà kiện tụng; và 3) đã tiếp tục sống dâm dục và vô luân. Bài đọc hôm nay đề cập tới vấn đề thứ ba này.

 a)Men cũ: sống dâm dục

          Cuộc trở lại Ki-tô giáo của tín hữu Cô-rin-tô không phải chỉ rửa tội là xong, nhưng là cả một tiến trình thay đổi từ từ. Trước khi nói đến đời sống mới trong Đức Ki-tô, thánh Phao-lô nghĩ là cần phải nhắc nhở tín hữu Cô-rin-tô về lối sống của họ trước khi họ trở lại. Trước khi được rửa tội, được thánh hóa và được nên công chính, họ là những người đã sống cuộc sống thiếu đạo đức, vô luân (6:11). Men cũ của vô luân đã tác dụng vào quan niệm sống của họ. Một trong những tác dụng của men cũ là đề cao đời sống vật chất thể xác với khẩu hiệu "Tôi được phép làm mọi sự." Người ta lấy khẩu hiệu này để biện minh rằng dâm dục là một nhu cầu chính đáng giống như ăn uống, chẳng khác gì "thức ăn dành cho bụng, và bụng dành cho thức ăn," hoặc thân xác dành để dâm dục và dâm dục dành cho thân xác.

Nhưng thánh Phao-lô lên án lối sống này khi ngài khẳng định: "Thân xác con người không phải để gian dâm, mà để phụng sự Chúa, vì Chúa làm chủ thân xác" (c.13b). Ngài trả lời tại sao không thể sống gian dâm. Bởi vì nhu cầu ăn uống đi liền với đời sống thể xác, không ăn uống là chết; còn đời sống tính dục thì liên quan tới con người toàn diện, tức là liên quan tới cái thân xác vừa có chiều kích xã hội (sống cho tha nhân), vừa có chiều kích đối thần (sống cho Thiên Chúa). Như vậy, con người được liên kết với Đức Ki-tô Phục Sinh, tức là đã được thánh hóa, cần phải có một đời sống tính dục xứng với một chi thể của Đức Ki-tô. Thế nào là một đời sống tính dục xứng hợp với một chi thể của Đức Ki-tô? Lấy một thí dụ cụ thể cho dễ hiểu: đôi vợ chồng thì sống đời sống tính dục để sống cho nhau và cho Chúa, còn một tu sĩ hay linh mục thì tình nguyện tiết dục để phục vụ tha nhân và phụng sự Thiên Chúa.

 b)Men mới:nên một tinh thần với Đức Ki-tô

          Thánh Phao-lô đã nói đến chiều kích thể lý của mầu nhiệm kết hợp với Đức Ki-tô (câu 15). Để tránh cho người ta đừng hiểu một cách quá thô thiển chiều kích kết hợp đó, ngài nhấn mạnh đến việc "trở nên một tinh thần với Đức Ki-tô."Rõ ràng việc kết hợp tinh thần này đòi chúng ta phải để cho Thần Khí của Đức Ki-tô ngự trị trong chúng ta (Rm 8:9), đến độ "tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi" (Gl 2:20). Sống đời sống mới trong Thần Khí của Đức Ki-tô là một chủ đề lớn, tư tưởng chính của Phao-lô, được lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần trong toàn bộ các thư của ngài.Kết hợp với Đức Ki-tô là lẽ sống và là phương thế duy nhất để chúng ta được cứu rỗi (Rm 6:5).

 c) Một quan niệm mới: thân xác chúng ta là Đền Thờ của Thánh Thần

          Từ bài học về lối sống Ki-tô, thánh Phao-lô rút ra một bài học mới về cách sử dụng thân xác của chúng ta. Khi khẳng định thân xác chúng ta là Đền Thờ của Thánh Thần, thánh Phao-lô muốn nói lên đâu là mục đích khi chúng ta sống cuộc sống thể lý này. Đây chỉ là cách nói khác đi, nhưng diễn đạt cùng một tư tưởng ở trên, tức là: thân xác con người không phải để gian dâm, mà để phụng sự Chúa. Thần Khí của Thiên Chúa nơi thân xác Đức Ki-tô luôn hướng dẫn Người phục vụ: thi hành thánh ý Chúa Cha và giúp đỡ tha nhân. Chính Đức Ki-tô đã sử dụng "Đền Thờ của Thánh Thần" của Người để ra đi rao giảng Tin Mừng, chữa lành và diệt trừ sức mạnh của ma quỷ.

          Thiên Chúa cũng muốn biến tất cả chúng ta thành "Đền Thờ của Thánh Thần" như Người đã thực hiện nơi Đức Ki-tô. Người "đã trả giá đắt" để chuộc lấy chúng ta và làm cho chúng ta trở nên Đền Thờ của Thánh Thần.Cái giá đắt đỏ ấy chính là cái chết tủi nhục của Con Một Người trên thập giá. Cho nên có lẽ chúng ta hãy gạt bỏ đi ý nghĩ thân xác là hèn mọn (như chúng ta thường hiểu trước kia), để nhận thức phẩm giá đích thực của nó, và nhất là biết sử dụng nó để tôn vinh Thiên Chúa.

 Câu hỏi gợi ý chia sẻ

          Những công thức "được phép/bị cấm" thường làm mất đi tinh thần giữ luật một cách trưởng thành, và cũng thường làm cho chúng ta trở thành "nô lệ cho lề luật." Vậy tôi có thực sự sống tinh thần tự do của những người làm con cái Chúa? hay là sống theo tinh thần vị luật của những người Pha-ri-sêu?Đan cử một vài thí dụ cụ thể để chia sẻ.

          Kết hợp với Chúa Ki-tô là một đề tài tôi gặp đi gặp lại khi suy niệm thư thánh Phao-lô. Nhưng đó có phải là "biết rồi, khổ lắm, nói mãi" không?Hay tôi vẫn chưa tiến triển chút nào trong lý tưởng sống kết hợp với Chúa Ki-tô? Tại sao chưa?

          Xét lại cuộc sống, tôi thấy mình đã dung dưỡng thân xác như thế nào?Tôi có thực sự tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác tôi không? Tôi đã sử dụng nó như thế nào để làm vinh danh Chúa?

 Cầu nguyện kết thúc

          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng đọc kinh Dâng hiến của thánh I-Nhã:

                   Lạy Chúa, xin nhận lấy trọn cả tự do, trí nhớ, trí hiểu, và trọn cả ý muốn của con, cùng hết thảy những gì con có, và những gì thuộc về con. Mọi sự ấy, Chúa đã ban cho con, lạy Chúa, nay con xin dâng lại cho Chúa. Tất cả là của Chúa, xin Chúa sử dụng hoàn toàn theo ý Chúa.  Chỉ xin ban cho con lòng mến Chúa và ân sủng. Được như thế, con hoàn toàn mãn nguyện. A-men.

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi


 

TN2-B66: THỜI ĐIỂM CHÀNG DŨNG SĨ VÀ CON NGỰA HỒNG

 

Ngày xưa còn bé mình có cái trò trêu em hơi kỳ cục. Mẹ đi chợ về thường trao công tác phát quà: TN2-B66 


Ngày xưa còn bé mình có cái trò trêu em hơi kỳ cục. Mẹ đi chợ về thường trao công tác phát quà cho các em. Đây đúng là cái màn lam lũ vất vả “chân lấm tay bùn” lắm. Bởi vì bao giờ cũng xẩy ra cảnh có đứa khóc lóc vật vã đòi phần hơn. Nên mình phải bày trò giải trí, bằng cách giấu bớt quà đi, chỉ phát cho mỗi đứa một miếng nhỏ cho đỡ thèm. Thế là chúng bất mãn lăn ra đất mà ăn vạ. Đợi cho đến lúc chúng khóc một hồi, mắt mũi nhắm nghiền còn biết trời trăng mây nước gì nữa đâu, mình mới lấy tấm bánh lớn ra để trước ngay trước mặt chúng rồi lỉnh đi chơi. Khóc chán mà không thấy động tĩnh gì, chúng mới từ từ mở mắt thì thấy thộn mặt ra “quê một cục”, vì bánh đã nằm sẵn đây rồi mà còn khóc cái nỗi gì!

CÁC BẠN TÌM GÌ?

Hình ảnh này nói lên một phần cái cảnh nhiều người đang nhớn nhác đi tìm một cái gì trong cuộc sống. Đi tìm mọi nơi mọi chốn, bon chen chôm chỉa giành giật đấm đá mọi người, vật vã khóc lóc kiếm chác, cuối cùng trở về thấy mọi sự mình tìm kiếm đã có sẵn cả rồi. Cũng như nhiều người có kinh nghiệm là phải mất nhiều giờ đi tìm chùm chìa khóa, để sực nhận ra rằng chùm chìa khóa mình vẫn cầm trong tay.

Trong những ngày đầu tiên bắt đầu giảng đạo, một hôm đang đi ở bờ sông Gio-Đan trong vùng sa mạc, Chúa Giêsu thấy hai thanh niên là An-Di và Duy-An đang đăm chiêu đi về hướng đông vùng tĩnh lặng sa mạc để tìm một cái gì. Thì ra họ đang đi tìm đạo sư, tìm một phương cách giải thoát để sống thảnh thơi hơn. Đọc được tâm trạng của họ, Ngài hỏi ngay: Các bạn tìm gì?

Thế là như cá gặp nước, họ như vớ được thứ thiệt bèn hỏi ngay: Sư phụ ở đâu? Chúa Giêsu biết trong đầu họ đang nẩy sinh nhiều điều mà người ta thường tìm nơi một sư phụ, là cơ sở lớn và vững cỡ nào, lý thuyết ra sao, nhiều đệ tử theo không hay chỉ là loại thầy “giổm” chẳng ma dại nào ngó, vân vân và vân vân... Vì thế Ngài không trả lời thẳng câu hỏi, mà nói một cách thân tình:

“Hãy đến mà xem... Thế là họ đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng 4 giờ chiều” (Gioan 1:35-42).

Thì ra Đạo là Đường, không phải là lý thuyết hay cơ sở tổ chức nào cả. Qua bao thời, nhiều đạo sư đã giới thiệu những con đường giải thoát khác nhau: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ, nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Con của Người” (Do Thái 1:1-2).

Như vậy Đạo không còn chỉ là đường của vị này hay của vị kia sáng lập nữa, mà là chính Đức Giêsu “là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.” Chỉ có Đức Giêsu mới dám tuyên bố mình là Đạo. Mà Chúa Kitô thì ở ngay đây, lúc này, bên cạnh mình, trong lòng mình, chứ có phải dẫn đạo tìm đường đi đâu xa. Vườn địa đàng là đây, vì có Chúa hiện diện. Thì ra mình đang có quyền năng làm phép lạ, cho thấy được vườn Địa Đàng. Phép lạ phát khởi từ con mắt của niềm tin, cũng chính là con mắt của Tâm, của Thần Khí.

XE BUÝT ĐI VƯỜN ĐỊA ĐÀNG

Nhà tâm lý Leo Buscaglia kể câu truyện thật về một chuyến đi du lịch của ông: Một hôm đứng chờ xe buýt, ông nhìn lên bảng chỉ dẫn những chuyến khác nhau thì thấy có chuyến đề rõ: “Xe buýt số 9 đi Vườn Địa Đàng“ (Bus 9 to Paradise). Trời ơi, hấp dẫn chưa! Cứ tưởng tượng mà coi: mình đang ngồi trên xe đi tới vườn địa đàng, đầu óc tự hỏi không biết vườn sẽ như thế nào.

Mỗi người chắc sẽ vẽ lên những hình ảnh rất khác nhau. Có thể có cảnh núi cao trùng điệp thật thơ mộng, hồ nước trong xanh ẩn hiện dưới sương mù mờ ảo buổi sáng như dẫn vào động thiên thai. Nhưng rồi đến thành phố có tên là Paradise chưa chắc mình đã hài lòng hoàn toàn. Khí hậu có thể nóng quá, mưa bất tử, đồ ăn không hợp hoặc mắc quá ...

Vậy thì đừng mong cứ phải tìm vườn địa đàng ở nơi khác. Mình đang ngồi trên xe hạnh phúc rồi mà. Chỉ có cách là tập thích mọi sự thôi, những cái đang có trước mắt mình, trong tầm tay của mình. Xe buýt đang chạy qua những con đường ngoằn ngoèo, cảnh bên đường hấp dẫn quá. Nhìn ngắm đi. Thưởng thức đi. Đừng cứ chờ phải tới đích rồi mới bắt đầu ngoạn cảnh. Vậy là dại lắm, phí của Trời! Và Leo Buscaglia kết luận: “Đời sống là thiên đàng đối với những ai mê thích mọi sự”, nghĩa là chấp nhận được mọi thứ không phân biệt và so sánh.

Ông bà Ađam-Evà đang ở ngay trong vườn địa đàng hạnh phúc mà lại ước ao phải hơn thế nữa, ăn thêm một vài “trái cấm” may ra khấm khá hơn chăng. Vì thế mà hạnh phúc đã buột ra khỏi tầm tay. Những gì đang được trao ban là hạnh phúc địa đàng, sao mình không biết hưởng nhận mà còn ham muốn đi tìm gì nữa đây?!

Riết rồi mình cũng giống như chàng dũng sĩ và con ngựa hồng. Chàng cỡi ngựa rong ruỗi suốt cuộc đời đi tìm hạnh phúc, đi hết chỗ này tới chỗ kia cho đến xế chiều cuộc đời, áo đã sờn vai, phải dừng chân bên bờ suối vì mỏi mệt không qua nổi nữa. Bỗng chàng thấy con ngựa hồng hóa thân thành người yêu xinh đẹp tuyệt vời biến mất. Thì ra suốt quãng đường đời, chàng vẫn ngồi trên hạnh phúc mà không nhận ra.

Xe buýt hay con ngựa hồng là chính căn phòng hay ngôi nhà đang ở, cái ghế đang ngồi, cái bút đang viết, đôi giầy đang đi, con mắt đang đọc, đang có thể nhìn được mầu sắc, tai đang nghe được tiếng người nói trầm bổng, hưởng được giọng chim hồng y hót líu lo, mũi đang hít thở, tim đang đập, tay đang cử động, bao nhiêu cơ năng trên óc đang làm việc hơn máy điện toán xa, nháy mắt là hình ảnh “CD-Rom” cách đây cả mấy chục năm hiện lên ngay... Tất cả là phép lạ đời sống.

TIN VUI TÌM THẤY CÁI ĐANG TÌM

Vậy thực sự mình đang tìm gì trong đường đời? Mình đang tìm hưởng được sung sướng, được vẻ vang huy hoàng, được nhiều quyền năng? ? Thì đây là câu trả lời: cái mình đang tìm thì đã nằm sẵn trong tay. Chỉ có cách đơn giản nhất là “Hãy đến mà xem và ở lại với Người”, vì “Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. Người là phản ảnh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật”. (Do Thái 1:2-3). Tin hay không tin. Thế thôi. Tin thì thấy như vậy và đạt được như vậy, ngay ở đây, lúc này. Đó là khám phá lạ lùng mà Thánh Phaolô đã công bố:

“Tôi rao giảng bí mật đã được giữ kín từ bao thời đại và qua bao thế hệ, nhưng nay đã được tỏ ra cho các thánh của Thiên Chúa. Người đã muốn cho họ được biết bí nhiệm này phong phú và hiển hách biết bao giữa các dân ngoại: đó là chính Đức Kitô đang ở giữa anh em, Đấng ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinh quang” (Col 1:26-27).

Đúng là Thánh Phaolô đã trúng được Chúa. Khi đã trúng Chúa rồi thì mọi giá trị khác trở thành rơm rác: “Tôi coi mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Chúa Kitô Giêsu, Chúa của tôi, vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như đồ bỏ, để được Chúa Kitô, và được kết hợp với Người”. (Phil 3:8).

Chúa cũng đang hỏi tôi: Bạn tìm gì? Có thể tôi đang nhớn nhác chưa biết trả lời sao, thì được nghe rõ: Chỉ có cách đơn giản nhất là “Hãy đến mà xem và ở lại với Người”.

Vâng, con muốn đến để Thầy đón nhận con và con đón nhận Thầy, và cảm nghiệm được Thầy.

Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường


 

TN2-B67: Trở nên Đền Thờ Thiên Chúa

 

Tìm kiếm, lắng nghe và thực hành Thánh Ý Thiên Chúa trong cuộc đời phải là nỗi bận tâm: TN2-B67


Tìm kiếm, lắng nghe và thực hành Thánh Ý Thiên Chúa trong cuộc đời phải là nỗi bận tâm lớn nhất, là ưu tiên hàng đầu của hết mọi Kitô hữu, những người đã chịu phép Rửa, chứ chẳng phải chỉ là công việc của những người sống đời tu trì. Hiệu quả tất yếu của điều ấy là hạnh phúc và bình an, thứ hạnh phúc và bình an thật xuất phát từ Thiên Chúa sẽ đến với những ai biết tìm kiếm và sống thánh ý Thiên Chúa trong cuộc đời.

Câu chuyện Samuel trong bài đọc thứ nhất thuật lại: Dù ngủ trong đền thờ, cận kề với Thánh Điện, nơi đặt hòm bia giao ước, nơi Giavê Thiên Chúa hiện diện giữa lòng Dân Ngài, cậu vẫn ngủ không ngon, ba lần thức dậy trong đêm vì nghe tiếng vọng gọi tên mình. Không biết đích xác chủ nhân của tiếng gọi ấy, và chỉ khi qua trung gian thầy tư tế Hêli mách bảo, cậu mới nhận ra đó là tiếng Chúa và cũng nhờ thầy mình chỉ dẫn, cậu mở lòng đón nhận lời ấy bằng cách thân thưa: "Xin Ngài phán vì tôi tớ ngài đang lắng tai nghe". Chỉ khi biết đích xác, chỉ khi nghe, hiểu và đối thoại với Thiên Chúa, cậu mới thực sự có một giấc ngủ ngon và một đời sống an bình. Câu chuyện kết thúc bằng một kết luận thật có hậu: "Samuel lớn lên. Đức Chúa ở với ông và Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu".

Bài đọc thứ hai cũng định hướng cho chúng ta trong cùng một vấn đề. Với mầu nhiệm nhập thể, Ngôi Hai Thiên Chúa đã thông phần và chia sẻ nhân tính với loài người. Thân xác con người đã được vinh thăng, được trao ban cho những giá trị mới: trở nên Đền thờ của Thiên Chúa. Thiên Chúa ngự trong thân xác ấy, một thân xác được tạo thành từ bụi đất, với những giới hạn và bất toàn, một thân xác chất đầy những tham-sân-si và hỉ-nộ-ái-ố. Phaolô đã chiêm nghiệm và thấu hiểu những giá trị ấy. Ngài khuyên các Kitô hữu sơ khai ở giáo đoàn Corintô đừng dùng thân xác để gian dâm nhưng hãy phụng sự và tôn vinh Thiên Chúa trong thân xác ấy. Ngài nhấn mạnh: "Thiên Chúa đã trả một giá đắt mà chuộc lấy anh em" (1 Cor 6:20).

Thân xác ta là Đền Thờ để Thiên Chúa ngự, và từ Đền Thờ thiêng liêng ấy, ta nghe tiếng Chúa mời gọi mỗi ngày thông qua tiếng lương tâm. Lương tâm mách bảo ta những việc phải làm và những việc không nên làm, lương tâm sẽ cảnh báo, khuyến dụ hay chỉ dẫn ta trong mọi tình huống dù lớn hay nhỏ của cuộc đời. Từng giây, từng phút của một ngày sống, có biết bao lần lương tâm ta rung động, lên tiếng mời gọi, thúc giục hay khuyến cáo chỉ cho ta biết nên hành xử, nói năng và suy nghĩ thế nào. Nghe theo tiếng lương tâm là nghe theo tiếng Chúa, vì Chúa luôn ngự trong thân xác ta. Nghe và sống theo tiếng Chúa thì hạnh phúc và bình an thật sẽ đến với ta.

Đền thờ Thiên Chúa đã được kiến thiết và xây dựng ngay trong thân xác ta; việc tìm kiếm và lắng nghe thánh ý Chúa có thể thực hiện qua tiếng mách bảo của lương tâm. Đừng bao giờ cưỡng lại tiếng nói ấy và cũng đừng bao giờ làm ngược lại tiếng nói ấy. Đừng phá đổ đền thờ của Thiên Chúa nơi thân xác ta bằng những tội như kiêu ngạo, dối trá, gian dâm... Hãy để Thiên Chúa luôn ngự trị nơi đền thờ ấy và sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn và thân xác ta sẽ là bảo chứng cho hạnh phúc ở đời này và đời sau.

Cs. Louis Kim


 

TN2-B68: Đây thật là Con Chiên Thiên Chúa


 (Jn 1:35-42)

 

Anh em muốn tìm được điều gì ở nơi Con Chiên Thiên Chúa? Ý tưởng nổi bật trong Chúa Nhật: TN2-B68 


Anh em muốn tìm được điều gì ở nơi Con Chiên Thiên Chúa?

Ý tưởng nổi bật trong Chúa Nhật hôm nay là ƠN GIỚI THIỆU CHÚA cho người anh em. Như trong bài đọc I: Thầy cả Elia giới thiệu Chúa cho Samuel: "Khi con nghe tiếng gọi thì hãy thưa: Lạy Chúa, xin hãy nói vì tôi tờ Chúa đang lăng tai nghe". Và Chúa đã đặt Samuel làm tiên tri hướng dẫn dân Ngài.

Trong bài Phúc Âm: Thánh Gioan Tẩy giả giới thiệu cho hai môn đệ mình biết Đấng Kitô khi ngài nói:"Ngài chính là Con Chiên Thiên Chúa" đấy và hai môn đệ liền đi theo Ngài. Cũng trong đoạn Phúc Âm này sau khi hai môn đệ đã đến chung sống và chứng kiến những việc Ngài làm, rồi thì Andrê về gặp Simon anh mình và giới thiệu Ngài cho anh khi nói: "Tôi đã đến và xem thấy đúng Ngài là Đấng Messia".

Khi Phêrô đến gặp Ngài thì Ngài đã đặt tên cho ông là Phêrô, nghĩa là nền móng Giáo Hội của Ngài. Người môn đệ thứ hai không được nói tên chính là Gioan Tông Đồ, ngài không nói tên mình ra trong bút tích của mình. Gioan cũng giới thiệu anh mình là Giacôbê với Chúa Giêsu như Anrê đã làm cho Phêrô. Đây là ơn gọi tông đồ đầu tiên, khởi sự cho đoàn người đông đảo liên tiếp hiến thân cho tin mừng ở mọi nơi, mọi thời đại cho đến tận thế qua chức Linh Mục, qua bậc Tu Trì và qua Kitô hữu, người đã được chịu phép Rửa tội.

Sứ mạng giới thiệu Chúa Giêsu cho những người chưa biết là sứ mạng của mọi cấp bậc, không chỉ riêng Linh Mục, Tu Sĩ, nhưng kể cả mọi tín hữu. Không chỉ dành cho những chuyến công du mục vụ của Đức Giáo Hoàng, cho các đấng có khả năng giảng thuyết trong các seminar. Không chỉ cho Mẹ Térèsa Calcutta rao giảng bằng việc bác ái, không chỉ cho Thêrêsa Lixieur ẩn dật trong Tu Viện kín cổng cao tường, mà cho cả những người anh em ngày ngày biết chia sẽ niềm an ủi, tình thương, niềm vui, sự giúp đỡ...... dưới hình thức tông đồ "Người ta cứ dấu này mà nhận biết Cha các con ở trên trời".

Chúng ta ai cũng có bổn phận phải giới thiệu Chúa Giêsu, chia sẻ đức tin cho những người chưa biết Chúa. Trung thành làm bổn phận của ơn gọi là đường dẫn tới hạnh phúc bây giờ và sau này trên quê trời.

Có câu chuyện kể rằng: Một hôm mẹ Térèsa đi thăm người bệnh ở nhà dưỡng lão, mẹ ân cần hỏi han bệnh nhân, đến lượt một bà già ngoài 70 tuổi đang hoi hóp trên giường bệnh, mẹ cầu nguyện cho bà và móc trong túi áo ra một hộp đựng Mình Thánh, bẻ một miếng bánh, đọc lời cầu nguyện rồi đút cho bà chịu. Một lúc sau khi chịu bà khoẻ lại, ngồi lên giường và khen lao mẹ đã cho bà thuốc khỏe lại. Lúc trở lại, mẹ thấy bà ngồi trên giường, mẹ đến hỏi thăm. Bà già hỏi mẹ: "Thưa mẹ, lúc trước mẹ cho con thuốc gì mà con khỏe lại được?". Mẹ mỉm cười nói: "Tạ ơn Chúa, đó là Mình Thánh Chúa, là Con Chiên Thiên Chúa, tôi trao cho bà và Chúa đã chữa bà lành bệnh đó, chư không phải thuốc chữa bà đâu".

Lạy Chúa là Chiên Thiên Chúa, xin mở lòng soi trí cho chúng con được nhận biết Chúa, để chúng con kính thờ và yêu mến Đấng hằng yêu thương chúng con vô bờ, đã từ trời xuống thế và đã hiện thân trong Thánh Thể để ở lại với chúng con mọi ngày cho đến tận thế. Chúng con thờ lạy và yêu mên Chúa.

Lm. Thu Băng, CMC


 

TN2-B69: DẪN ĐƯỜNG THEO CHÚA


LỜI CHÚA:

Bài đọc1: 1Sm.3,3b-10.19: Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe.
Bài đọc 2: 1Cr.6,13c-15a.17-20: Thân xác anh em là chi thể của Chúa Kitô.
Phúc âm: Ga.1,35-42: Họ xem chỗ Người ở và ở lại với Người.

SUY NIỆM:

 

Các binh sĩ Syrie xâm chiếm đất Israel và bắt dân này làm nô lệ. Trong số những kẻ bị bắt có một: TN2-B69 


Các binh sĩ Syrie xâm chiếm đất Israel và bắt dân này làm nô lệ. Trong số những kẻ bị bắt có một cô gái. Cô này làm đầy tớ cho sĩ quan nước Syrie tên là Naaman. Ông ta rất tài giỏi được nhà vua trọng dụng quí mến . Nhưng rủi thay ông ta mắc bệnh cùi không ai trong nước chữa khỏi.

Thấy vậy cô tớ gái nói với vợ quan:

-Nếu ông chủ chịu đến với ngôn sứ Êlisa ở Samarie, chắc chắn ngài sẽ chữa ông khỏi bệnh.

Nghe giới thiệu như thế. Naaman xin vua Syrie viết thơ cho vua Israel và ông mang thơ lên đường. Khi vua Syrie viết thơ. Vua Israel đọc thơ, ông rất lo sợ, nghĩ rằng vua Syrie muốn gây chiến. Nhưng ngôn sứ Êlisa nghe biết, ông yêu cầu vua để ông chữa bệnh cho quan Naaman. Ông bảo quan đi tắm sông Giodan bảy lần sẽ hết cùi. Naaman không chịu đi, nhưng các người tuỳ tùng khuyên nên ông ta đi tắm và khỏi bệnh.

Hôm nay Lời Chúa thuật lại câu chuyện khởi đầu cuộc công khai của Ngài khi tiếp nhận các môn đệ nói lên hai ý nghĩa rõ rệt:

-Thứ nhất là linh hồn con người luôn khao khát tìm kiếm Chúa. Đó là lẽ đương nhiên, vì Chúa đã dựng nên ta theo hình ảnh của Ngài, và người con ấy luôn ước ao nhận biết Cha mình. Chính Chúa cũng ghi dấu ân tình Cha nơi tâm linh và ban ơn soi sáng để loài người nhận ra dung nhan khả ái của Ngài.

-Ý nghĩa thứ hai là Chúa dùng hoàn cảnh bên ngoài, bàn tay con người, để dẫn dắt chúng ta đến với Chúa.

Như thế là Thiên Chúa muốn kiện toàn nơi ta cả linh hồn và thân xác. Nhất là Chúa muốn mọi người cộng tác vào chương trình Cứu Độ của Ngài.

1.Khao khát Chúa: Tận thâm tâm mỗi người đều khát vọng tìm gặp yêu thương vị Cha khả ái đã tạo dựng nên mình. Điển hình như thánh Augustino đã thưa lên rằng: “Lạy Chúa, tâm hồn con còn xao xuyến mãi cho tới khi được nghỉ yên trong Chúa”. Niềm khát vọng này nảy sinh bởi sự nhận biết Thiên Chúa, mà bất cứ ai chân thành và không bị bao vây bởi thành kiến hay đam mê, đều có thể cảm nghiệm được Chúa từ nơi nội tâm hay mọi khía cạnh của tạo vật: vẻ đẹp thiên nhiên làm ta tưởng nhớ đến nhà “Nghệ Sĩ Tối Cao”. Công trình khoa học giúp ta suy tưởng đến nhà “Kỹ Sư Toàn Năng”. Dù ta có nhắm mắt lại, Thiên Chúa vẫn luôn hiện hữu nơi tạo vật. Chính sự Thiên Chúa hiện hữu trong ta và nhất là nơi những linh hồn giầu ân sủng, chúng ta sẽ cảm nghiệm và luôn thôi thúc mong tìm kiếm Chúa. Cũng như những môn đệ tiên khởi hôm nay, họ thao thức tìm chân lý, họ theo thánh Gioan để tìm chân-thiện-mỹ. Họ là những người mong đợi từ mấy ngàn năm trước. Để đáp lại sự thao thức chờ đợi, Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho họ qua lời giới thiệu của Gioan: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Lập tức hai môn đệ của Gioan đi theo Chúa Giêsu: “Họ đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người”. Rất nhiều vị thánh và những tâm hồn đạo đức cùng có tâm trạng của các môn đệ ấy. Họ không dừng lại ở thế gian mau qua. Họ coi sắc đẹp là hão huyền, duyên dáng là gỉa dối, danh vọng là tầm phào. Như thánh Têrêssa Hài Đồng tâm sự: “Chỉ có niềm vui trong Chúa mới là niềm vui đích thực”.

2.Dụng cụ tay Chúa: Hiểu biết Chúa từ tâm linh, Thiên Chúa còn dẫn ta đến với Ngài qua bàn tay con người. Như cô tớ gái giới thiệu ngôn sứ Êlisa cho Naaman để được chữa lành bệnh cùi. Gioan tiền sứ giới thiệu Chúa cho hai môn đệ mình. Thánh Anrê giới thiệu Chúa cho Simon v.v. Phần chúng ta là con của Giáo Hội, con của Chúa, chúng ta cũng phải giới thiệu Chúa cho lương dân. Thánh Phaolo xác quyết: “Nếu không có người rao giảng làm sao anh chị em biết Chúa”. Điều chúng tôi đã nghe, đã thấy tận mắt, đã chiêm ngưỡng và tay đã chạm đến… Chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi” (1Ga.1,1-3).

Ở trần gian người ta đi tìm sự nghiệp, danh vọng, địa vị, tình yêu, tiền của… Tất cả mọi thứ đó Thiên Chúa đã ban cho con người được quyền hưởng dụng. Nếu vui hưởng cách chính đáng là điều rất hoan nghênh. Nhưng mục đích tìm cầu thỏa mãn những sự trần gian đó chỉ là thứ yếu và tầm thường, hay đúng ra những thứ đó chỉ là phương tiện phục vu cho đời sống tinh thần. Còn con người được cao cả bền vững là nhờ ở những khát vọng siêu nhiên. Do hiệp nhất với Thiên Chúa, con người sẽ được lãnh nhận những phẩm tính thiêng liêng và hạnh phúc vĩnh cửu.

Diễn tiến bài Phúc Âm hôm nay thật lý thú: Các môn đệ từ lâu khao khát Đấng Cứu Thế. Với thiện chí sẵn có các ông đã theo lời chỉ dẫn đến với Chúa Giêsu. Sau khi ý thức tường tận nơi Chúa, họ ở lại với Ngài. Lúc đó là giờ thứ mười. Theo quan niệm Do Thái giáo, con số 10 tượng trưng cho con số hoàn hảo và đánh dấu khởi đầu việc công khai của Chúa Giêsu.

Lời Chúa hứa sẽ ngân vang mãi ở đời này và đời sau, đó là: “Ai ở trong Thầy, Thầy ở trong kẻ ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái” (Ga. 15,5). Những hoa trái phong phú cho Nước Trời. Ứơc gì chúng ta được Thiên Chúa mời gọi, chiếm hữu và trở thành tông đồ cho tha nhân bằng gương sáng, lời nói việc làm, sống đời cầu nguyện để làm vinh danh Chúa và đưa các linh hồn vào phúc trường sinh muôn đời.

Br. B.M.Thiện Mỹ, CMC


 

TN2-B70: Cuộc Hội Ngộ Thần Linh Sơ Khởi

 

Chúa Nhật tuần này, niên lịch phụng vụ của Giáo Hội bước vào tuần thứ hai của Mùa Thường: TN2-B70 


Chúa Nhật tuần này, niên lịch phụng vụ của Giáo Hội bước vào tuần thứ hai của Mùa Thường Niên, một mùa phụng vụ được chia làm hai phần, phần sau Mùa Giáng Sinh và phần sau Mùa Phục Sinh. Chính vì theo ngay sau Mùa Giáng Sinh, ý nghĩa phụng vụ của mùa thường niên phần đầu này gắn liền với Mùa Giáng Sinh. Ở chỗ, Chúa Giêsu tiếp tục việc tỏ mình ra cho dân Do Thái. Đó là lý do chúng ta thấy, ngay sau biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa tuần trước mở màn cho Mùa Thường Niên, mở màn cho việc Chúa Giêsu bắt đầu công khai tỏ mình ra nơi dân Do Thái, Giáo Hội đã không đọc ngay đến bài Phúc Âm về biến cố Chúa Giêsu chay tịnh trong hoang địa 40 đêm ngày ở tuần này, một biến cố xẩy ra ngay sau khi Người Chịu Phép Rửa, như được bộ ba Phúc Âm Nhất Lãm ghi nhận, mà là một bài Phúc Âm khác, bài Phúc Âm của Thánh Gioan, bài Phúc Âm trình thuật về cuộc hội ngộ sơ khởi giữa Chúa Giêsu và những người đầu tiên muốn tìm đến với Người.

Một điểm khác cũng cần lưu ý về phụng vụ ở đây nữa là, Giáo Hội bao giờ cũng lấy bài Phúc Âm của Thánh Gioan cho tuần thứ hai của Mùa Thường Niên thay các bài Phúc Âm Nhất Lãm của từng chu kỳ A với Thánh Mathêu, B với Thánh Marcô và C với Thánh Luca. Và bài Phúc Âm theo Thánh Gioan cho Chúa Nhật Hai Thường Niên này mang một ý nghĩa chuyển tiếp liên quan đến biến cố Chúa Giêsu bắt đầu công khai tỏ mình ra. Thật vậy, theo tiến trình Phụng Vụ, một tiến trình cử hành trong một năm tất cả Mầu Nhiệm về Chúa Kitô, thì trước khi Chúa Giêsu bắt đầu công khai tự tỏ mình ra cho dân Do Thái đang trông đợi Đấng Thiên Sai, Người cần phải được giới thiệu với thành phần dân này.

Trước hết, qua biến cố Phép Rửa ở sông Dược-Đăng, Người đã được Chúa Cha giới thiệu đặc biệt với Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, vị sau đó đã chứng thực rằng: “Thực ra tôi không biết Người. Đấng sai tôi đến lấy nước mà làm phép rửa bảo tôi rằng ‘khi nào ngươi thấy Thần Linh xuống đậu trên ai thì đó là Đấng làm phép rửa bằng Thánh Thần’. Giờ đây chính mắt tôi đã thấy và chứng thực ‘Vị này là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn’” (Jn 1:33-34). Thế rồi, sau khi đã nhận diện thực sự ai là Đấng Đến Sau mình nơi biến cố làm phép rửa cho Người, “ngày hôm sau” Thánh Gioan liền giới thiệu Người với dân Do Thái nói chung, như bài Phúc Âm Thánh Gioan cho chu kỳ Năm A cho thấy, cũng như cho môn đệ của mình nói riêng, như bài Phúc Âm Thánh Gioan cho chu kỳ Năm B tuần này. (Còn chu kỳ Năm C của Chúa Nhật Hai Thường Niên, Phúc Âm Thánh Gioan thuật lại biến cố tiệc cưới Cana, nơi các môn đệ đầu tiên được thấy vinh hiển của Thày mình lần đầu tiên tỏ ra qua việc can thiệp của Mẹ Maria, Vị ở trong trình thuật này như cũng đóng vai giới thiệu Con Mẹ cho các môn đệ của Người).

So sánh giữa bài Phúc Âm của Thánh Gioan cho chu kỳ Năm A và Năm B của Chúa Nhật Hai Thường Niên, chúng ta thấy có điểm giống nhau và điểm khác nhau ở ngay câu mở đầu của bài Phúc Âm. Nơi chu kỳ Năm A, Phúc Âm Thánh Gioan cho thấy Tiền Hô Gioan Tẩy Giả giới thiệu với dân Do Thái về Chúa Giêsu là “Chiên Thiên Chúa” khi “Gioan thấy Chúa Giêsu tiến đến với mình”; còn nơi chu kỳ Năm B, bài Phúc Âm Thánh Gioan, bài Phúc Âm liên tục với bài Phúc Âm của chu kỳ Năm A, cho thấy Tiền Hô Gioan Tẩy Giả giới thiệu với hai môn đệ “đang ở Bêthany bên kia sông Dược-Đăng” về Chúa Giêsu là “Chiên Thiên Chúa” khi “ông thấy Chúa Giêsu đi ngang qua”. Như thế, bối cảnh của việc Tiền Hô Gioan Tẩy Giả giới thiệu “Chiên Thiên Chúa” khác nhau, trước hết, khác nhau ở đối tượng được giới thiệu, lần đầu cho chung dân Do Thái và lần sau cho riêng hai môn đệ; sau nữa, khác nhau ở hành động của vị được giới thiệu, lần đầu khi Tiền Hô thấy “Chúa Giêsu tiến đến với mình”, lần sau khi Chúa Giêsu “đi ngang qua” chỗ của ông; còn nữa, khác nhau ở thời điểm giới thiệu, lần đầu xẩy ra trước khi Chúa Giêsu vào hoang địa chay tịnh, lần sau xẩy ra sau biến cố chay tịnh, vì Chúa Giêsu không chọn môn đệ trước biến cố này; sau hết khác nhau ở vị trí giới thiệu, lần đầu ở bên này sông Dược-Đăng, lần sau “ở Bêthania bên kia sông Dược-Đăng”. Nên lưu ý ở đây là không phải tự nhiên có chuyện ngẫu nhiên xẩy ra sự kiện vị trí giới thiệu khác nhau này đâu. Bởi vì, vị trí ban đầu này, tức ở “Bêthania” xứ Galiêa này, chính là vị trí Đấng Phục Sinh hẹn gặp “anh em” của Người (x Mt 28:10), để lập Bí Tích Rửa Tội cho các vị thi hành (x Mt 28:16-19) trước khi Người thăng thiên về trời (x Lk 24:50).

Vấn đề của bài Phúc Âm Thánh Gioan cho Chúa Nhật Hai Thường Niên Năm B hôm nay không dừng lại ở những chi tiết giống nhau hay khác nhau nơi việc Tiền Hô Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giêsu, mà là nhấn mạnh đến tác dụng của việc giới thiệu này. Thật ra, không biết Tiền Hô Gioan Tẩy Giả có ý giới thiệu Chúa Giêsu cho hai môn đệ của mình bấy giờ hay chăng, hoặc chỉ tự nhiên hô lên như thế khi thấy lại Đấng Thiên Sai vô cùng cao trọng hơn mình (x Jn 1:27), một phản ứng không thể nào cầm hãm của một con người cao trọng nhất trong thành phần được nữ giới sinh ra (x Mt 11:11). Và không biết có phải Chúa Giêsu cũng cố ý đi ngang qua chỗ của vị tiền hô này để âm thầm kêu gọi hai môn đệ này của thánh nhân hay chăng? Chỉ biết rằng, sau khi nghe thấy thày mình nói “Chiên Thiên Chúa kìa!”, hai môn đệ của thánh nhân liền, như Phúc Âm thuật lại, “đi theo Chúa Giêsu”. Tại sao lần đầu Tiền Hô Gioan Tẩy Giả cũng giới thiệu Chúa Giêsu là “Chiên Thiên Chúa” với chung dân Do Thái, hai môn đệ này không “đi theo” Người như lần này? Phải chăng vì lần đầu Chúa Giêsu mới có ý đến với chung dân Do Thái thôi, chưa có ý gọi họ nên họ chưa cảm nhận được tiếng Người gọi để đi theo Người, đúng như Người sau này đã khẳng định trong Bữa Tiệc Ly: “Không phải các con đã chọn Thày, mà là Thày đã chọn các con” (Jn 15:16).

Thật thế, chính vì Chúa Giêsu muốn gọi hai người môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này mà lời Tiền Hô nói “Chiên Thiên Chúa kìa” đã đánh động họ. Tại sao hai môn đệ này lại bị tác động theo Chúa Giêsu qua danh xưng “Chiên Thiên Chúa” mà không phải với danh xưng “Đấng Thiên Sai” như một trong hai người họ sau này tuyên xưng trong cùng bài Phúc Âm hôm nay? Phải chăng lý do hai môn đệ này theo Chúa Giêsu là vì muốn biết xem vị được thày mình nói là “Chiên Thiên Chúa”, đến sau thày mình nhưng trổi vượt hơn thày mình, có thực sự là “Đấng Thiên Sai”?

Chỉ biết rằng, sau khi “họ đến nơi Người ở và ở với Người hôm đó”, thì cả hai người môn đệ này đã phải chứng thực là “Chúng tôi đã gặp Đấng Thiên Sai”, thậm chí một trong hai đã thúc giục anh em mình đến gặp Đấng Thiên Sai ấy nữa. Thế nhưng, Chúa Giêsu ở đâu và đã làm gì hay nói gì với hai người môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này mà cả hai đã nhận thực “Chiên Thiên Chúa” là “Đấng Thiên Sai”? Phúc Âm không cho chúng ta biết thêm những chi tiết hy hữu và ly kỳ này, nhưng thái độ của Chúa Giêsu ngay từ ban đầu đã thu phục được lòng người thiện chí muốn tìm kiếm sự thật rồi vậy. Tức là, nếu cả hai tìm nhau thế nào cũng gặp nhau. Trước hết, hai môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả chẳng muốn tìm gặp Đấng Thiên Sai là gì, ở chỗ, đã bỏ thày mình để đi theo Chúa Giêsu, và sau nữa, Chúa Giêsu cũng đã không tìm kiếm những ai thành tâm thiện chí khao khát chân lý là gì, ở chỗ, đã tỏ ra cởi mở với họ, đúng hơn đã chủ động tìm họ trong chính lúc họ đang bối rối và âm thầm tìm kiếm Người, qua lời Người mời gọi họ, vừa khách quan “các người tìm kiếm gì đó?” vừa chủ quan “hãy đến mà xem”.

Một vấn đề nữa liên quan đến vấn đề đức tin nhận biết và mạc khải thần linh cần phải đặt ra ở đây nữa là, tại sao các hai người môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả không căn cứ vào một dấu hiệu nào khác để xem “Chiên Thiên Chúa” như thày họ nói có phải là “Đấng Thiên Sai” hay chăng, mà lại căn cứ vào nơi Người ở? Khi được Chúa Giêsu hỏi “các người đang tìm kiếm gì đó?”, họ đồng thanh thưa bằng một vấn nạn: “Thưa Thày, Thày hiện đang ở đâu vậy?”. Cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và loài người được mở đầu bằng hai câu hỏi được hai bên đặt ra cho nhau, Thiên Chúa hỏi trước, con người hỏi sau.

Câu con người hỏi Thiên Chúa rất ư quan trọng, vì câu này, theo ý nghĩa sâu xa của nó, liên quan đến nguồn gốc thần linh của Đấng đến sau Tiền Hô Gioan Tẩy Giả. Hai môn đệ của vị Tiền Hô này không hỏi “tên Thày là gì?” hay “Thày là ai?”, mà là “Thày hiện đang ở đâu?”. Dĩ nhiên, câu con người hỏi Thiên Chúa mở đầu cho cuộc hội ngộ thần linh này có thể không sâu xa quá như vậy, mà chỉ liên quan đến nơi ở về không gian của “Con Chiên Thiên Chúa” này thôi. Tuy nhiên, câu hỏi này là tất cả vấn đề chủ yếu vô cùng quan trọng liên quan đến thân mệnh của Chúa Giêsu, một vấn đề Người đã phải giải đáp trong ba năm công khai của Người, bằng lời nói vô cùng khôn ngoan và việc làm vô cùng quyền năng, nhất là vào những ngày cuối đời, bằng cuộc Vượt Qua của Người, để chứng thực Người từ Cha mà đến, tức Cha đã sai Người, và Người phải trở về cùng Cha, tức Người làm trọn ý Cha (x Jn 17:8), nghĩa là để chứng thực rằng “Thày ở trong Cha và Cha ở trong Thày” (Jn 14:10).

Về phần mình, Thiên Chúa đã không trả lời con người một cách dứt khoát: “Ta là Đấng Thiên Sai đây”, “Ta là Thiên Chúa làm người đây”, mà là một cách thách thức, một cách khách quan, một cách mời gọi, hoàn toàn tôn trọng quyền tự do và sự chọn lựa của con người, tùy theo tầm nhận thức và lòng thành thực của họ: “Hãy đến mà xem”. Có thể Chúa Giêsu đã dẫn hai người môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này đến coi chỗ Người đã ăn chay 40 đêm ngày trong hoang địa chăng, một địa điểm giống như nơi ở của thày họ cũng trong hoang địa (x Mk 1:6; Mt 11:7-9, 3:1), một vị thày đã được dân Do Thái cho là Đấng Thiên Sai (x Jn 1:19-20)? Tuy nhiên, dù xem gì thì xem, thấy gì thì thấy, nếu con người thực sự khao khát thiện hảo và tha thiết tìm kiếm chân lý, chắc chắn họ sẽ gặp được những gì họ tìm kiếm và ước mong: “Ai khao khát nhân đức trọn lành ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được no thỏa vậy” (Mt 5:6). Quả thế, chính vì “chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi” (Jn 10:27), mà hai người môn đệ thành tâm thiện chí hết sức mong đợi nhân vật được Thiên Chúa hứa sai ấy đã thực sự gặp Người: “Chúng tôi đã gặp được Đấng Thiên Sai”.

Như thế, chỉ cần con người chẳng những thành tâm thiện chí khao khát chân thiện mỹ, như một Samuel dù ngủ nhưng vẫn nghe được tiếng Chúa gọi trong đền thờ, một sự kiện được thuật lại trong bài đọc một hôm nay, mà còn dám dấn thân tìm kiếm khi thấy những dấu chỉ thời đại, như ba chiêm tinh vương Đông Phương trong Lễ Chúa Hiển Linh, hay như hai môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả trong bài Phúc Âm hôm nay, nhất là, sau đó, tức sau khi đã nhận ra dấu chỉ của Người, nhận ra “ngôi sao của Người” (Mt 2:2), còn dám đến tận nơi để triều bái Người, chứ không sợ Sự Thật như một quận vương “Hêrôđê tìm giết con trẻ” (Mt 2:13), hay như con người thời đại văn minh ngày nay đang sống theo chủ nghĩa luân lý tương đối, “vì những việc họ làm đều gian ác” (Jn 3:19), hoặc, sau khi đã được Chúa mở đường “hãy đến mà xem”, còn dám ở lại với Người, như trường hợp hai môn đệ trong bài Phúc Âm hôm nay, chứ không dập tắt sự thật như trường hợp tổng trấn Philatô muốn tránh né sự thật và hàng đầu trước cái hóc búa lẫn rùng rợn của vấn đề “chân lý là gì?” (Jn 18:38), chắc chắn họ sẽ gặp được Đấng hằng muốn tỏ mình cho chung loài người và cho riêng từng người.

Dầu sao, lời tuyên xưng “chúng tôi đã gặp được Đấng Thiên Sai” của hai môn đệ này cũng chỉ là cảm thức ban đầu của họ, một cảm thức tin tưởng, một Cảm Nghiệm Thần Linh. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có nhiều cảm nghiệm thần linh, nhiều cảm thức tin tưởng, đã trở thành hão huyền, hoang tưởng, vì sự thật không phải như họ nghĩ. Đó là lý do, cảm thức đức tin này nơi con người tuyên xưng “Chúng tôi đã gặp Đấng Thiên Sai” còn cần phải được thử thách về tính cách chân thực của nó nữa mới được, mới xác thực, mới đúng như vậy. Bởi thế chúng ta không lạ gì với sự kiện hay hiện tượng, cho dù tuyên xưng như thế mà họ vẫn còn hay vẫn có thể chối bỏ sự thật, điển hình nhất là trường hợp của trưởng đoàn tông đồ Phêrô (x Mt 16:16; Mk 14:27-31). Đó cũng là lý do mạc khải là một tiến trình của sự thật, cho tới khi sự thật hoàn toàn chiếm hữu con người, đến nỗi khiến con người chẳng những không thể chối bỏ sự thật, mà còn rao giảng và sẵn sàng chết đi để làm chứng cho sự thật, như trường hợp của phó tế Stephanô, Vị Tử Đạo Tiên Khởi được Giáo Hội kính nhớ ngay sau Lễ Giáng Sinh hằng năm, hay của thành phần Kitô hữu tử đạo khắp nơi qua mọi thời đại.

Như thế, đời sống của một người Kitô hữu từ khi lãnh nhận Phép Rửa đến khi lìa đời là một cuộc Hành Trình Đức Tin, một cuộc Cảm Nghiệm Thần Linh cho tới khi họ trở thành chứng nhân đích thực và sống động của Chúa Kitô, tức là cho đến khi Chúa Kitô hoàn toàn chiếm đoạt và sống động trong họ, nhờ đó, thế gian có thể, qua bản thân họ và nhờ đời sống họ, nhận biết Sự Thật, nhận biết Đấng Cứu Thế duy nhất, Đấng “là đường, là sự thật và là sự sống” (Jn 14:6).

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL


 

TN2-B71: CHÚA GỌI

 

Bạn đã bao giờ được “Chúa gọi” chưa? Nếu chưa, bạn có muốn nghe “Chúa gọi” không? Bạn: TN2-B71 


Bạn đã bao giờ được “Chúa gọi” chưa? Nếu chưa, bạn có muốn nghe “Chúa gọi” không? Bạn nghĩ sao về việc Chúa gọi bạn, nhưng tôi, tôi thâm tín và xác tín rằng mình đã được “Chúa gọi”. Không những một lần, mà Ngài đã gọi tôi nhiều lần. Có điều là lần thì tôi nghe, lần thì tôi không nghe. Và lần thì tôi nghe và tôi làm, cũng có lần tôi nghe nhưng lại không làm những gì Ngài bảo tôi phải làm.

Thông thường, khi nghe hai tiếng “Chúa gọi”, phần đông chúng ta, cách riêng những Kitô hữu Việt Nam, thường cho rằng đó là tiếng gọi theo đời sống tu trì, tiếng gọi để làm linh mục. Nhưng ít người nghĩ rằng, đó là tiếng Chúa gọi mỗi người để làm việc Ngài muốn. Ngài gọi chúng ta đến gần với Ngài hơn. Thí dụ, người cha gọi người con để bảo ban, khuyên nhủ, hoặc trao đổi những suy tư và nói truyện với con mình.

Thật vậy, Chúa đã gọi tôi và gọi bạn từ lâu lắm rồi. Thánh Kinh đã ghi nhận: “Thiên Chúa đã gọi tôi từ lúc mới sinh. Ngài đã gọi tên tôi ngay khi tôi còn trong lòng thân mẫu” (Isaia 49:1). Ngài không những gọi chúng ta bằng tên gọi của riêng mình, mà còn gọi chúng ta là “con” qua Đức Kitô, người Con duy nhất của Ngài, và cũng là Đấng Cứu Chuộc chúng ta: “Con là Con Cha, hôm nay Cha đã sinh ra Con” (Ps 2:7).

Chúa Cha sinh ra Chúa con từ muôn thuở, như vậy, qua Chúa Con, chúng ta cũng đã được Chúa cha biết đến không phải hôm qua, hôm nay, ngày mai, mà là từ muôn thuở và mãi mãi. Ngài không gọi chúng ta ra khỏi hư vô, mà còn kêu đích danh của từng người. Và khi chúng ta đã có mặt trên trần gian, thì Ngài vẫn gọi chúng ta bằng cách trao cho chúng ta những nhiệm vụ khác nhau, và hơn nữa, gọi chúng ta đến gần với Ngài hơn.

1. CHÚA GỌI RIÊNG MỖI NGƯỜI:

Như tiên tri Samuen được Thiên Chúa gọi lúc cậu đang ngủ trong Đền Thờ Giêrusalem. Các Tông Đồ được Chúa gọi trong khi đang lo sinh kế, thả lưới, hoặc vá lưới. Chúng ta mỗi người cũng được Chúa gọi đi vào một cuộc sống riêng tư và cần thiết cho xã hội, cũng như Giáo Hội.

Với những người Ngài gọi vào đời sống tu hành, Ngài trao cho mỗi người một địa vị riêng biệt: nữ tu, nam tu, linh mục, giám mục, hồng y, hay giáo hoàng.

Với những người Ngài gọi sống đời hôn nhân gia đình, Ngài cũng trao cho mỗi người một địa vị khác nhau: làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ, làm con, cháu, làm anh chị em với nhau trong cùng một gia đình. Ngoài ra, vì phải sống giữa dòng đời, phải tham gia vào nhiều công tác xã hội, Ngài lại kêu gọi và trao cho mỗi người một vai trò khác nhau. Thí dụ, bác sĩ, luật sư, giáo sư, kỹ sư, nhân viên, hay bất cứ ngành nghề nào mà Ngài biết là cần thiết và phù hợp với mỗi người.

Để có một cái nhìn về loại ơn gọi này, chúng ta hãy hình dung thế giới này là một sâu khấu rộng lớn, và trên sân khấu đang diễn ra một vở kịch vỹ đại, trong đó mỗi người chúng ta đóng một vai. Thượng Đế là nhà soạn kịch và cũng là nhà đạo diễn. Ngài biết tâm lý và đòi hỏi của mỗi vai nên trao cho từng người chúng ta thủ một vai. Do đó, sự có mặt của mỗi người chúng ta trong thời gian và không gian, việc chúng ta đóng những vai trò khác nhau trong Giáo Hội cũng như xã hội không những được nhìn với cái nhìn ơn gọi, mà còn là một trách nhiệm cần thiết của mỗi người cần chu toàn trong một không gian và thời gian nhất định.

2. CHÚA GỌI TA ĐẾN GẦN NGÀI:

Việc Ngài gọi riêng mỗi người và đặt chúng ta vào mỗi vai trò riêng là điều cần thiết cho lịch sử và cho lợi ích chung. Mỗi người cần phải hoàn tất ơn gọi hay đời sống riêng mỗi người như chúng ta hiện có và đang có.

Nhưng điều ấy xem như không quan trọng. Điều quan trọng là Ngài muốn gọi chúng ta đến gần với Ngài. Ngài muốn chúng ta hiểu Ngài, và qua sự hiểu biết ấy, yêu mến Ngài. Và đây là lý do tại sao Chúa Giêsu đã nói với 2 môn đệ trong đó có Andrê khi hai ông muốn theo Ngài: “Hãy đến mà xem” (Gioan 1:39).

Đây là tiếng gọi cần thiết mà mỗi người chúng ta cần phải nghe, mặc dù chúng ta đã được Ngài đặt để vào mỗi vai trò khác nhau bằng tiếng gọi riêng tư của mỗi người. Như hai môn đệ đầu tiên, chúng ta phải “đến mà xem”. Có nghĩa là chúng ta phải đến gần Chúa. Phải khám phá Ngài bằng cặp mắt tâm linh và phải hài lòng với Ngài cũng như để Ngài hài lòng với ta. Chỉ khi nào chúng ta làm được như vậy, chúng ta mới có hy vọng đáp lại tiếng gọi của Ngài.

Thánh ký Gioan kể tiếp về cuộc hội ngộ giữa Chúa Giêsu và Andrê: “Việc đầu tiên ông làm là tìm anh mình là Simon và nói với ông: “Chúng tôi đã gặp Đức Kitô” (Có nghĩa là Đấng được xức dầu). Ông đã mang anh mình đến gặp Chúa Giêsu” (Gioan 40-42). Ông Andrê nếu không được Chúa kêu gọi, chắc chắn không đến với Ngài được. Nhưng dù là được Ngài kêu gọi, nếu Andrê không đến và không xem Chúa tỏ tường, như một hình thức chấp nhận và khâm phục thì chắc chắn ông cũng không giới thiệu anh mình với Đức Giêsu.

“Đến mà xem”. Đây là một tiếng gọi mà chúng ta phải chú ý lắm mới nghe rõ, vì nó phảng phất trong tất cả những biến cố lớn, nhỏ của cuộc sống. Nghe rồi thì phải suy nghĩ kỹ mới mong thấu hiểu Ngài muốn làm gì và làm như thế nào trong từng cảnh ngộ ấy. Như vậy, chúng ta mới thật sự biết được Ngài, mới mới làm trọn vẹn và sáng tỏ ơn gọi của mình. Tóm lại, vợ đẻ, con đau, cha mẹ già yếu, bản thân mình bệnh tật. Bị khinh bỉ, bị coi thường, bị nghèo túng, bị đối xử bất công. “Hãy đến mà xem”.

Chúng ta phải mở mắt tâm linh ra để xem Chúa Giêsu đối xử, và sống như thế nào trong những cảnh ngộ ấy. Ngài đang nói với ta những gì qua những biến cố ấy. Phải chăng, Ngài đang lợi dụng những biến cố ấy để gây chú ý đối với chúng ta, hoặc qua đó, Ngài muốn chúng ta tìm hiểu hơn về Ngài. Trong tâm lý học, khi cần một sự chú ý của người khác, ngoài việc con người dùng những phương thế tích cực như nụ cười, ánh mắt, bắt tay, thăm hỏi. Nhiều người còn dùng cả những phương tiện tiêu cực như la hét, cáu giận, hoặc bực tức. Tại sao một em vị thành niên nhuộm tóc, cạo đầu, đeo bông tai, xâm mình, đeo vòng khuyên ở ngực, ở môi, ở mũi... Đó là vì em muốn được sự chú ý của người bạn trai, bạn gái, của cha mẹ, anh chị em, hoặc của người khác. Để mời gọi và kéo sự chú ý của chúng ta, Thiên Chúa cũng xử dụng cả phương tiện tiêu cực lẫn tích cực tùy vào hoàn cảnh và tâm lý của mỗi người. Nhưng điểm sau cùng vẫn là Ngài muốn thu hút và lôi kéo chúng ta đến việc hiểu và yêu mến Ngài. Vì hiểu và yêu mến Ngài là điều cần thiết cho sự sống đời đời của chính mỗi người chúng ta.

3. NGÀI GỌI TA LÀM CHỨNG NHÂN CHO NGÀI:

“Việc đầu tiên ông làm là tìm anh mình là Simon và nói với ông: “Chúng tôi đã gặp Đức Kitô” (Có nghĩa là Đấng được xức dầu). Ông đã mang anh mình đến gặp Chúa Giêsu” (Gioan 1:40-42). Đó là truyền giáo, là đem Chúa đến cho mọi người. Là làm chứng nhân cho Ngài.

Thiên Chúa gọi chúng ta. Ngài đặt chúng ta vào mỗi môi trường và hoàn cảnh sống riêng biệt với những ơn gọi riêng biệt. Trong đó, Ngài vẫn tiếp tục nói với chúng ta, gọi chúng ta, và tâm sự với chúng ta bằng những biến cố lớn, nhỏ vây quanh cuộc sống ấy. Hai môn đệ đầu tiên sau khi đã “đến” và “xem” thì đã nhận ra Ngài. Vì mến Ngài và cảm Ngài nên đã giới thiệu Ngài với người khác.

Thánh Kinh không nói gì về việc Chúa Giêsu bảo Andrê gọi Phêrô đến với Ngài. Trước đó, Ngài cũng không chiệu dụ cả Andrê. Andrê nghe thầy mình là Gioan Tiền Hô nói về Chúa Giêsu và đã tìm đến xin gặp. Sau khi gặp thì mến. Sau khi mến thì đã giới thiệu anh mình.

Ơn gọi mà Thiên Chúa gọi mỗi người chúng ta đã được Andrê diễn tả một cách đầy đủ. Chúng ta không là gì cả. Nhưng chúng ta được Thiên Chúa gọi. Nhưng để cảm được Ngài, chúng ta phải đến với Ngài, tức là nghe và hiểu tiếng Ngài gọi. Sau khi đã hiểu Ngài rồi, thì lại giới thiệu người khác đến gặp Ngài. Đó là ơn gọi thật. Đó là lối sống ơn gọi. Và đó là cách làm chứng cho ơn gọi. Ơn gọi không phải là đi tu làm linh mục, giám mục, hồng y hay giáo hoàng. Ơn gọi không phải là bỏ trần thế vào chốn viện tu làm nam, nữ tu sĩ. Ơn gọi cũng không phải là lập gia đình rồi sinh con đẻ cái. Ơn gọi là là tiếng Chúa kêu mời chúng ta đến với Ngài, hiểu Ngài, yêu Ngài, và làm chứng nhân cho Ngài ở ngay trong chính cuộc đời và cuộc sống mỗi chúng ta: “Chúng tôi đã gặp Đức Kitô” (Có nghĩa là Đấng được xức dầu). Ông đã mang anh mình đến gặp Chúa Giêsu” (Gioan 1:40-42).

T.s. Trần Quang Huy Khanh


 

TN2-B72: Thi hành sứ vụ nhân danh Ngài.


(Suy niệm của Yvane Fournier-Guérard)

 

Sứ vụ được thực hiện do các chứng nhân. Nhờ tiếp xúc với Chúa Giêsu, họ hiểu được vai trò: TN2-B72 


Sứ vụ được thực hiện do các chứng nhân. Nhờ tiếp xúc với Chúa Giêsu, họ hiểu được vai trò Phúc Âm hóa của họ.

Một vị tiền hô.

Khi Chúa Giêsu bắt đầu cuộc đời công khai của Ngài, chiếc rìu đã đặt bên gốc cây. Một vị ẩn sĩ, Gioan Tẩy Giả, loan báo Nước Trời và lớn tiếng đòi hỏi người ta hoán cải con tim để đón tiếp Đấng Mêsia đang đến. Bằng dấu chỉ Phép rửa trong đó tín đồ được dìm vào dòng nước sông Giođan để lấy lại sự thanh sạch của con tim. Gioan nhắc nhở mọi người rằng một Đấng khác sẽ đến và thanh tẩy trong Thánh Thần.

Những gì Gioan đã làm trong hoang địa: quy tụ môn đệ, rao giảng sự thống hối và mong đợi một vương quốc sắp tới, đều đã chuẩn bị người ta nghe lời Chúa Giêsu. Bởi vì trước đó quần chúng đã thức tỉnh trước sứ điệp thiêng liêng của Gioan nên họ đón tiếp Chúa ân cần hơn và đã hiểu lời Ngài hơn.

Tỉnh thức là giai đoạn đầu tiên của việc gặp gỡ Thiên Chúa.

Một lời sống động.

Rồi chiên Thiên Chúa mà Gioan Tẩy Giả nhìn nhận là lớn hơn mình đã đến. Mảnh đất đã sẵn sàng nên hạt giống có thể gieo được. Chúa Giêsu thực sự bị thu hút bởi lời rao giảng của Gioan. Ngài đã nhìn thấy những đám đông được Gioan thuyết phục và những con người tự nhìn nhận mình là kẻ tội lỗi. Ngài đã xin Gioan làm phép rửa cho Ngài. Ngài đã nhận ra mảnh đất tốt lành, nơi đó cỏ dại ích kỷ, hận thù, tội lỗi của dân Ngài đã được nhổ sạch.

Chúa Giêsu đã đi theo Gioan và từ nay ông sẽ theo Ngài và sẽ khuyên các môn đệ của ông cũng làm như vậy nữa.

Giai đoạn thứ hai của sứ vụ là tiếp đón Đấng đang đến cùng với sứ điệp và chân lý của Ngài.

Đây không chỉ là một trò chơi.

Anh chị em còn nhớ trò chơi điện thoại được dùng trong những buổi sinh hoạt hay trong những lớp dạy về truyền thống chứ? Người thứ nhất tham gia trò chơi rỉ tai người thứ hai một sứ điệp ngắn và người này nói lại cho người thứ ba, v.v… đến người cuối cùng thì ít khi sứ điệp còn giữ được nguyên vẹn như ban đầu. Vì nghe không rõ nên các sứ giả liên tiếp nhau thay đổi sứ điệp được truyền đi và như vậy đã phản bội chính sứ điệp.

Các môn đệ đầu tiên không phản bội sứ điệp. Sau khi đi theo Chúa Giêsu theo lời giới thiệu của Gioan, sau khi nhìn thấy và đích thân nghe vị tôn sư, họ đã mời anh em và bạn bè của họ đến gặp Ngài.

Chính nhờ lưu lại với Ngài mà việc hoán cải con tim đã được thực hiện. Ngôn sứ Samuel cũng đã sống kinh nghiệm này, và dân Samari đã diễn tả đúng chân lý này khi nói với người phụ nữ Samari: “Không phải vì những gì chị kể cho chúng tôi mà chúng tôi tin, nhưng bởi vì bản thân chúng tôi đã được nghe Ngài”. Nhưng cần phải có ngôn sứ Êlia trong Cựu Ước, cần phải có các môn đệ đầu tiên và người phụ nữ Samari để cho người ta đến với Chúa Giêsu.

Đây là giai đoạn thứ ba của việc Phúc Âm hóa: chúng ta được mời gọi loan báo cho kẻ khác con đường dẫn đến Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin hãy phán, tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe.

Chúng ta là những lời sống động của Thiên Chúa bằng cuộc sống hơn là bằng lời nói. Phải đích thân gặp gỡ Ngài, lắng nghe Ngài, lớn lên trước mặt Ngài và tôn vinh Ngài bằng thân xác chúng ta được xem như đền thờ của Ngài. Chứng nhân không vượt qua giai đoạn cuối này là một chứng nhân giả. Lời của họ trống rỗng và sứ điệp của họ rất có nguy cơ bị méo mó bởi chính những cách nhìn riêng của họ.

Bài Tin Mừng hôm nay nói về sứ vụ như sau: “Hãy đến mà xem”. Kẻ lớn lên trước mặt Chúa, như Samuel, có lẽ không tự mình ý thức được rằng “không lời nào của họ là không có hiệu quả”, nhưng đã xảy ra đúng như vậy.

Được gọi với tư cách là ông bà, cha mẹ, với tư cách là giới trẻ, với tư cách là những người đã chịu phép rửa để truyền đạt đức tin, chúng ta hãy xin Chúa Giêsu giữ chúng ta lại bên cạnh Ngài. Xin cho luật tình yêu của Ngài trở nên thiết thân với chúng ta như tác giả thánh vịnh và cho chúng ta biết nói: “Này con đây” trong mọi hoàn cảnh, trong lúc “miệng chúng ta loan báo tình yêu và chân lý của Ngài cho toàn thể đại hội”. Khi đón tiếp Ngài đến trong Thánh lễ này, chúng ta hãy thưa: “Lạy Chúa, này con đây, con xin đến để thực thi ý Chúa”.


 

TN2-B73: Này Chiên Thiên Chúa – Charles E. Miller.


(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’)

 

Môn chơi chữ có thể rất vui. Một số người nói một từ và bạn có thể trả lời theo những gì đến: TN2-B73 


Môn chơi chữ có thể rất vui. Một số người nói một từ và bạn có thể trả lời theo những gì đến trong tâm trí bạn. Thí dụ, tôi nói “nhỏ” và bạn nói “lớn”. Tôi nói “bóng đá”, bạn nói “bóng chày”. Gioan Tẩy Giả nói Đây Chiên Thiên Chúa” và chúng ta có thể nói “cái gì?”.

Để trình bày Chúa Giêsu. Thánh Gioan Tẩy Giả đã có thể làm tốt hơn khi tuyên bố: “Hãy chiêm ngắm, đó là Chúa của các ngươi” hoặc ”Đó là Đấng Cứu Độ” hay “đấy là Đức Kitô” không hay hơn sao? Tất cả những tước hiệu này xem ra diễn tả rõ ràng hơn: “Chiên của Thiên Chúa”.

Thật ra, đối với người Do thái, tước hiệu mà Gioan Tẩy Giả rao giảng thì từ: “Chiên Thiên Chúa” gợi lên trong tâm trí họ toàn bộ giáo lý đức tin của dân riêng Thiên Chúa. Ngay lập tức, họ nghĩ rằng không phải là một con chiên nhỏ bé nhưng là sự lớn lao của quyền năng và lòng thương xót Chúa hướng đến họ qua dấu máu của con chiên, nhờ đó họ được cứu thoát khỏi ách nô lệ ở Ai Cập và được mang đến sự tự do và đời sống mới nơi đất Hứa. Mỗi năm và dịp lễ Vượt Qua, họ lại tưởng nhớ và mừng lễ Cứu Độ bằng việc tham dự vào bữa ăn tối Vượt Qua.

Trong Thánh Lễ, việc mừng sự cứu độ của chúng ta trong Đức Kitô, chúng ta nhìn lên Mình và Máu Chúa, chúng ta nhận biết Người bởi chúng ta hiểu những lời của vị linh mục: “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian”. Khi chúng ta nghe những lời này trước khi rước lễ, chúng ta được mời gọi nhớ lại những gì mà Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta, Người như Chiên Vượt Qua. Chúng ta diễn tả niềm tin của chúng ta trong những lời tuyên xưng Thánh Thể. Khi nhớ chiên Vượt Qua đã bị hy sinh sát tế như thế nào, chúng ta được mời gọi suy niệm về chung kết là việc Chúa ngự đến như là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ thế gian này: “Đức Kitô đã chết, Đức Kitô đã sống lại, và Chúa Giêsu Kitô sẽ đến trong vinh quang”.

Khi suy niệm về sự giải thoát đã ban cho các tổ phụ chúng ta, trong đức tin, chúng ta được mời gọi suy niệm về việc được giải thoát khỏi tội lỗi của chúng ta: “Lạy Chúa, bằng thánh giá và sự Phục Sinh của Người, Người đã cho chúng con được tự do. Chúa là Đấng Cứu Độ thế gian”. Khi suy nghĩ về đời sống mới của các tổ phụ tinh thần của chúng ta nơi đất Hứa, chúng ta được mời gọi suy niệm đời sống mới của chúng ta trong Đức Kitô: “Bằng cái chết, Người đã tiêu diệt sự chết nơi chúng ta, bằng việc sống lại, Người đã phục hồi sự sống cho chúng ta”. Khi suy niệm về các tổ phụ đã kỷ niệm sự giải thoát của mình bằng việc dự phần vào bữa tối Vượt Qua, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm việc chúng ta cử hành ơn cứu độ của chúng ta nơi bữa tiệc Thánh Thể: “Lạy Chúa Giêsu Kitô khi chúng con ăn bánh và uống chén này, chúng con tuyên xưng việc Chúa chịu chết, cho tới khi Chúa lại đến”.

Khi mời gọi mọi người lên hiệp lễ, vị linh mục nói: “Phúc cho những ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa” hay là câu “Hạnh phúc thay những người được gọi đến dự bữa tối với Người”. Bữa tối hoặc tiệc đây không phải ám chỉ bữa tối sau hết nhưng là tiệc cưới của Con Chiên Thiên Chúa trên thiên đàng nơi mà các tín hữu của Chúa mừng Giao Ước tình yêu và trung tín (Kh 19,9). Bữa tiệc huy hoàng và đời đời là số phận của chúng ta bởi vì chúng ta nên một với Chiên Thiên Chúa ở trên trời.

Không có từ đơn giản nào mà thích hợp như một câu trả lời khi chúng ta nghe xướng: “Đây Chiên Thiên Chúa”, nhưng một cuộc suy niệm sâu xa về sự phong phú của tước hiệu này sẽ giúp chúng ta hiểu biết Chúa Giêsu tốt hơn và dẫn chúng ta tới dự phần đầy đủ hơn nơi bữa tiệc Thánh Thể của Chiên Thiên Chúa.


 

TN2-B74: CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN



Ga 1,35-42

GAY LẮM NGƯỜI ƠI! MỘT CHỮ THEO

 

Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giêsu. Đức Giêsu quay lại, thấy các ông đi THEO mình: TN2-B74


Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giêsu. Đức Giêsu quay lại, thấy các ông đi THEO mình, thì hỏi: “Các anh tìm gì thế?” Như người bị hớp hồn, sau lời giới thiệu của Gioan, khi Đức Giêsu vừa đi ngang qua: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Hai môn đệ của Gioan liền đi THEO Đức Giêsu. Theo là gì?

          1/ Theo là từ bỏ.

          Bỏ thầy lại sau lưng mà đi! Khi vừa trong thấy Chúa. Có tiếc nuối lắm không, khi phải từ bỏ thầy? Bỏ mất hạnh phúc đang từng ngày đan dệt. Hai ông có nghe trái tim rướm máu? Phải can đảm và dứt khoát thật nhiều trước sự quan trọng này. Bao nhiêu là tình nghĩa thầy trò, bây giờ phải từ biệt cái ấm êm, cái an toàn đang có. Bỏ đi gay cấn lắm chứ đâu chơi! Nhưng biết sao được. Muốn đi theo Chúa, thì điều tiên quyết là phải từ bỏ. Không từ bỏ một cách mạnh mẽ và dứt khoát, sẽ dở dang ở giữa dòng đời. Đức Kitô đi phía trước. Đi theo Ngài là đi cùng một lối với Chúa. Còn dùng dằng, còn nửa vời, còn phân vân sẽ bị lạc mất, chơi vơi!

          2/ Theo là bước đi.

          Nhưng bước đi đâu? Lối nào? Giữa chợ đời đông đặc những người. Thật giả khó phân. Tiên tri giả, thần thánh giả. Nếu không nắm chắc bóng dáng Thầy, không nhìn kỹ dấu chân Thầy, coi chừng, thế nào cũng lạc lối. Đi theo Thầy, mà không nắm chắc về tư tưởng, về cung cách, về đường lối, về chân lý Thầy dạy thì sẽ dễ bị lẫn lộn với một ai đó, giả danh làm Thầy. Nhưng có một nguyên tắc vô cùng quan trọng, mà người muốn bước đi theo Thầy không bao giờ được phép quên. Đó là: Đường Thầy đi, là đường hẹp, lối Thầy đi, là lối bước có nhiều chông gai, cứ phon phon trên con đường rộng, với nhiều sảng khoái, với nhiều tiếng vỗ tay hoan hô. Dừng lại, lạc đường rồi. Vì, anh em hãy đi đường hẹp, vì đường rộng thênh thang, sẽ dẫn đến hư mất.

          Nhưng theo Chúa để làm gì? Như Chúa, vừa quay lại và hỏi hai kẻ theo Người: Các anh đi tìm gì? Câu hỏi ngắn nhưng gay cấn.  Đi theo Ngài, đâu phải tìm tiền bạc, hay một đời sống xa hoa. Nơi Ngài ở quá đỗi xuềnh xoàng, đơn sơ. Ngài chẳng có nhiều tiền đâu mà cho. Đi theo Ngài, là tìm một sự bình an sâu thẳm cho cuộc sống; cái yếu tố cốt lõi, để mang lại cho con người sự hạnh phúc đích thực. Mà một chân lý vô cùng hệ trọng, để có được sự bình an và hạnh phúc, đó là sự biết quên mình. Cho đi, như Thầy Chí Thánh Giêsu, đã cho tất cả những gì mình có, kể cả vinh quang, kể cả quyền lực, cả lẽ sống, nghĩa là Ngài đã cho đi tất cả.

          Gợi ý suy niệm:

          1- Nhìn kỹ lại coi, bạn đang đi theo ai đó?
          2- Theo đạo, là theo Đức Kitô. Bạn muốn tìm gì ở Ngài?

 Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm  Long Xuyên


 

TN2-B75: Ơn gọi

 

Chúa nhật hôm nay có thể được coi là Chúa nhật của ơn gọi. Thực vậy, bài đọc một ghi lại câu chuyện Chúa TN2-B75  Lương


Chúa nhật hôm nay có thể được coi là Chúa nhật của ơn gọi.

Thực vậy, bài đọc một ghi lại câu chuyện Chúa gọi Samuel một cách đích danh và cậu đã đáp lại tiếng gọi ấy: Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe.

Đoạn Tin Mừng ghi lại câu chuyện Chúa Giêsu thâu nhận những môn đệ đầu tiên, được ghi lại trong Phúc âm theo thánh Gioan, thì mọi sự dường như đã bắt đầu từ các môn đệ. Các ông đến với Chúa trong những trường hợp khác nhau. Có người đang là môn đệ của Gioan tiền hô. Có người được anh rủ tới. Có người đến với Chúa sau lời giới thiệu: Đây chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian. Cũng có người đến vơi Ngài sau lời xác quyết Ngài là Đấng Messia, Đấng Cứu Thế. Tin Mừng còn nói là họ đã đến với Ngài và sau khi đã xem chổ Ngài ở, họ đã ở lại với Ngài.

Chỗ Ngài ở, hiển nhiên không phải là đền đài nguy nga lộng lẫy, bởi vì chính Ngài đã từng tuyên bố: Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu. Họ đến với Ngài chỉ vì Ngài và chỉ vì được Ngài lôi cuốn. Chúa Giêsu đã lôi cuốn họ và sự lôi cuốn này có sức biến đổi hẳn con người của ho.

Chúa Giêsu không muón thực hiện sứ mạng của Ngài một cách đơn độc và lẻ loi, trái lại Ngài luôn mong muốn sứ mạng ấy phải được thực hiện bởi chính Ngài và được tiếp nối bởi những người đã từng chứng kiến những việc Ngài đã làm. Sứ mạng ấy là rao giảng Tin Mừng cứu độ cho mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc.

Chúng ta cũng đã đến với Chúa qua Bí tích Rửa tội và Thánh Thể. Chúng ta cũng đã trở thành Kitô hữu bằng nhiều cách khác nhau: qua sự giới thiệu của một người bạn hay của một người thân, sau một biến cố đáng ghi nhớ trong đời hay sau khi đọc xong một cuốn sách. Và thông thường nhất đó là chúng ta được diễm phúc sinh ra trong một gia đình Kitô hữu. Vấn để thiết yếu của mỗi người chúng ta, đó là đi theo Chúa và ở lại với Ngài. Nghĩa là trở thành môn đệ của Ngài, trở thành người được Ngài mời gọi và sai đi, trở thành người loan báo Tin Mừng về tình thương cứu độ của Thiên Chúa cho mọi người.

Sự gắn bó với Chúa cũng như với lời Ngài, sự lắng nghe để nhận ra ý nghĩa chương trình cứu độ của Chúa trong từng sự kiện, trong gừng biến cố của cuộc sống thường ngay phải là thái độ người môn đệ trung tín của Chúa Giêsu cần phải có.


 

TN2-B76: Gặp gỡ Tin Mừng

Tin Mừng là để được loan báo, và chia sẻ cho người khác. Thực vậy, trong đêm giáng sinh, các thiên t TN2-B76


Tin Mừng là để được loan báo, và chia sẻ cho người khác.

Thực vậy, trong đêm giáng sinh, các thiên thần đã loan báo cho các mục đồng: Này tôi báo cho anh em một Tin Mừng trọng đại, cũng là Tin Mừng cho toàn dân: Hôm nay Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho anh em trong thành của vua Đavít. Còn đối với các đạo sĩ Phương Đông, con đường dẫn đến Tin Mừng lại là một ngôi sao lạ xuất hiện trên bầu trời.

Thực vậy, có muôn ngàn cách thế và nẻo đường khác nhau để Thiên Chúa hướng dẫn con người nhận ra Tin Mừng, Lời Chúa hôm nay cũng muốn gợi lên cho chúng ta ý tưởng đó.

Gioan Tiền Hô đã gặp Chúa Giêsu và giới thiệu Ngài cho các môn đệ: Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian. Và các môn đệ đã từ giã Gioan là thầy mình, để đi theo Chúa Giêsu và ở lại với Ngài suốt ngày hôm đó. Rồi đến lượt Andrê đã trở về và dẫn anh mình là Simon đến gặp Chúa Giêsu và đã được Ngài đổi tiên cho ông là Kêpha.

Những cuộc gặp gỡ trong Tin Mừng luôn có những diễn tiến như vậy. Một người nào đó gặp Chúa, họ trở về và loan báo cho người khác. Như các mục đồng chăn chiên, như ba nhà đạo sĩ phương Đông, như Andrê với Simon, như Philipphê với Nathanael...

Hoặc nếu không qua trung gian, thì chính Chúa Giêsu lại gặp gỡ con người trong chính cuộc sống của họ: Người thì đang giặt lưới dưới thuyền, kẻ thì đang trầm tư suy nghĩ dưới gốc cây vả, kẻ khác thì đang ngồi ở bàn thu thuế hay đang ở trên cây cao như ông Giakêu...

Thiên Chúa luôn đến với chúng ta qua một trung gian: Trung gian của một người đã gặp Chúa, trung gian của một cuộc sống hay của một biến cố nào đó. Có thể nói: Bao nhiêu cuộc gặp gỡ và biến cố trong cuộc sống là bấy nhiêu dịp để nhận ra Tin Mừng, là bấy nhiêu dấu chỉ mời gọi để gặp gỡ Chúa.

Thánh Phanxicô Xaviê đã nhận ra con đường Chúa muốn ngài đi qua lời nhắc bảo của thánh Ignatio: Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì có ích lợi chi. Thi sĩ Paul Claudel đã nhận ra tiếng Chúa trong tiếng hát của lời kinh Magnificat vào buổi chiều ngày lễ Giáng sinh. Văn sĩ Andrê Frossard cảm nhận được sự hiện hữu của Thiên Chúa qua ánh nến lung linh trên bàn thờ. Đức Hồng Y Lustiger vào năm 14 tuổi, đã nhận ra Đấng Cứu Thế trong một buổi chiều thứ sáu Tuần Thánh. Còn chúng ta thì sao?

Chúng ta có nhận ra tiếng Chúa mời gọi qua những biến cố, qua những sự việc của đời thường hay không? Và hơn thế nữa, liệu bản thân và cuộc đời chúng ta có trở nên là một dấu chỉ cho sự hiện diện và tình thương của Chúa hay không?


 

TN2-B77: Giới thiệu Chúa cho anh em mình


(Trích trong ‘Như Thầy Đã Yêu’ của Thiên Phúc)

 

Nhiều nhóm binh sĩ có vũ trang từ Syrie xâm chiếm đất Israel. Sau khi bắt dân Israel làm tù binh, TN2-B77


Nhiều nhóm binh sĩ có vũ trang từ Syrie xâm chiếm đất Israel. Sau khi bắt dân Israel làm tù binh, chúng tàn phá thành phố và làng mạc. Chúng bắt những tù binh này làm việc như những đầy tớ trên đất Syrie. Trong số những người bị bắt, có một bé gái. Người ta không nói tên của cô ta.

Cô trở thành đầy tớ của viên sĩ quan nổi tiếng người Syrie, tên là Naaman. Vua Syrie rất hài lòng về Naaman vì ông là một sĩ quan rất gan dạ. Rủi thay ông vừa mắc bệnh phong.

Một ngày kia, cô tớ gái nói với bà chủ: “Giá mà ông chủ Naamna được gặp tiên tri Elisa, đang sống ở Samaria, thì ngài sẽ chữa cho ông chủ tôi khỏi bệnh”. Nghe vậy, Naaman xin vua Syrie viết thư giới thiệu cho vua Israel. Ông cũng mang theo vải vóc, vàng bạc làm quà tặng.

Khi vua Israel đọc thư, ông rất lo, vì ông nghĩ vua Syrie muốn gây chiến. Nhưng Elisa nghe biết, ông xin nhà vua dể mình chữa bệnh cho Naaman. Elisa không gặp Naaman, nhưng chỉ gởi một lá thư: “Hãy đi tắm trong dòng song Giodan 7 lần và ông sẽ được khỏi”.

Naaman rất tự ái, ông không chịu tắm, nhưng đây tớ khuyên ông cứ làm như lời nhà Tiên tri. Và quả nhiên, Naaman đã được chữa khỏi, da của ông trở nên mịn màng như da đứa trẻ. Naaman dâng cho Elisa quà tặng, nhưng người của Thiên Chúa không nhận, chỉ chúc cho ông “Hãy về bình an”.

Chúng ta đừng bao giờ quên đứa tớ gái nhỏ bé ở đầu câu chuyện, em đã mau mắn giới thiệu tiên tri Elisa cho Naaman. Nếu cô bé giữ im lặng, thì Naaman sẽ không bao giờ được chữa lành.

Hôm nay, Anrê cũng giới thiệu Phêrô em mình cho Đức Giêsu: “chúng tôi đã gặp Đấng Mesia” (Ga 1,41). Rồi dẫn